Dictionary Search

nhất thiên thất bách tắc công án

(一千七百則公案) Một nghìn bảy trăm tắc công án. Đây là con số chỉ chung cho vô số công án trong Thiền tông, chứ không phải con số thật. Tức căn cứ vào cơ duyên truyền pháp của 1.701 vị được ghi trong Cảnh đức truyền đăng lục mà có con số 1.700 tắc công án. Nói cách khác, trong Thiền tông có rất nhiều tắc công án, chứ không phải chỉ có 1.700.

Nhất thiết

(s: sarva, p: sabba, 一切) [thuật]: âm dịch là tát bà (薩婆), hết thảy, tất cả, toàn thể sự vật. Nó có 2 ý nghĩa, khi nói về toàn thể sự vật thì ám chỉ hết thảy toàn phần, còn khi đề cập đến toàn bộ phạm vi có giới hạn thì ám chỉ hết thảy phần nhỏ. Pháp Uyển Quỳnh Lâm (法苑珠林) 28 có đoạn rằng: “Nhất dĩ phổ cập vi ngôn, thiết dĩ tận tế vi ngữ (一以普及爲言、切以盡際爲語, một lấy sự rộng khắp làm tiếng, thiết lấy sự tận cùng làm lời)”. Vĩnh Bình Quảng Lục (永平廣錄) 2 có đoạn rằng: “Bách thiên chư Phật tổng tại phất tử đầu thượng, thị hiện trượng lục tử ma kim sắc chi thân, thừa kỳ quốc du lịch thập phương, thuyết nhất thiết pháp, độ nhất thiết chúng, khởi bất thị không hoa loạn trụy (百千諸佛總在拂子頭上、示現丈六紫磨金色之身、乘其國土遊歷十方、說一切法、度一切眾生、豈不是空華亂墜, trăm ngàn các đức Phật ở trên đầu cây phất trần, thị hiện thân tướng sắc vàng tía cao sáu trượng, từ nước này đi dạo khắp mười phương, thuyết tất cả các pháp, độ tất cả chúng sanh, đó chẳng phải là không hoa rơi xuống cùng khắp sao ?)”. ; 一切; C: yīqiē; J: issai;|Toàn thể, tất cả. Cũng được dịch ý ra chữ Hán là: phổ (普), biến (遍), cụ (具).|Nhất thiết bí mật tối thượng danh nghĩa đại giáo vương nghi quỹ |一切祕密最上名義大教王儀軌; C: yīqiè mìmì zuìshàng míngyì dàjiàowáng yíguǐ; J: issai himitsu saijō myōgi daikyō ō giki;|Hai quyển, gọi tắt là Bí mật danh nghi quỹ (祕密名儀軌), Thí Hộ (施護; s: dānapāla) dịch vào năm 1009 sau C.N. Là bản kế tục có tính chất luận giải (s: akhyānatantra) của Chân thật nhiếp kinh (眞實攝經; s: tattvasaṃgraha). |Phần lớn nghi quỹ nầy luận giải về ý nghĩa của các ý niệm tương ưng của Du-già (Tứ ấn, các tiến trình của Định…) và tên gọi của 37 vị Thánh trong kinh Chân thật nhiếp. Đó là một cuộc luận chiến liên tục chống lại đạo đức quy ước và việc thực hành các lễ nghi được xem là vô ích trong việc tu tập giải thoát. Thay vì vậy, nghi quỹ nầy nhấn mạnh toàn triệt vào các phương pháp quán sát bản tâm, như sự nhận ra tham, sân, si chẳng khác gì hơn là Như Lai – như là tiền đề cho giáo lí căn bản của Mật giáo sau nầy, đặc biệt là giáo lí trong Bí mật tập hội (祕密集會; s: guhyasamāja). Theo chiều hướng này, một đoạn văn được trích dẫn rất thường, có vẻ như tán thành việc thực hiện những chuyện đồi bại như giết hại, nói dối, trộm cắp và dâm dục. Bản dịch của Thí Hộ đã làm khó hiểu đoạn văn nầy – những đoạn khác thì hoàn toàn tối nghĩa –, cũng như lược bỏ nhiều thuật ngữ đề cập đến giới tính trong kinh văn Du-già (chẳng hạn dùng chữ Tướng giả 相者 để thay cho linga; dùng chữ Phá giả 破者 để thay cho bhaga. Tuy nhiên, cũng đáng chú ý khi Ratnākaraśānti giữ thái độ trung hoà dối với những thuật ngữ nầy trong luận giải của mình mang tên Śrīsarvarahasyanibaṃdho-rahaḥpradīpo-nāma; chẳng hạn sư viết: người ta nên giết chết ý tưởng về chúng sinh. Thay vì bản dịch tiếng Anh, chỉ có luận giải bằng tiếng Ấn Độ, cùng với toàn kinh văn tiếng Tây Tạng. (Xin xem Thần bí tư tưởng luận tập của Wayman, Alex: The Sarvarahasyatantra, Acta Indologica 神秘思想論集; về tác phẩm nghiên cứu trước đây của Nhật Bản từ bản dịch tiếng Tây Tạng, xem Mai Vĩ Tường Vân 栂尾祥雲; j: toganō shoūn: Issai himitsusaijō myōgi kyō no kenkyū 一切祕密最上名義經の研究, Studies in the Sarvarahasya-nāma-tantrarāja).

nhất thiết

All—The whole—Altogether. ; (一切) Phạm: Sarva. Pàli: Sabba. Hán âm: Tát bà. Từ chỉ chung cho tất cả sự vật. Luận Đại trí độ quyển 27 (Đại 25, 260 trung) nói: Tát bà, Hán dịch: Nhất thiết - Tất cả, hết thảy. Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 5 (Đại 54, 1134 hạ) chép: Nhất là nói theo nghĩa phổ cập; Thiết là nói theo nghĩa tận cùng. Phạm vi sử dụng của từ ngữ này rất rộng. Chẳng hạn như những dụng ngữ: Nhất thiết thế gian, nhất thiết chúng sinh, nhất thiết chủng trí... [X. luận Thành duy thức Q.2; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].

nhất thiết biến trí ấn

See Nhất thiết Phật tâm ấn.

nhất thiết biến xứ đạo trí lực

(一切遍處道智力) Phạm: Sarvaragàminìpratipajj ĩànabala. Cũng gọi Tri nhất thiết đạo trí tướng lực, Biến thú hành trí lực, Chí xứ đạo lực. Chỉ cho trí lực của Như lai biết khắp tất cả nhân quả hữu lậu của 6 đường và nhân quả vô lậu của Niết bàn, là 1 trong 10 lực của Như lai. [X. luận Du già sư địa Q.49; luận Câu xá Q.27]. (xt. Thập Lực).

nhất thiết bồ tát chân ngôn

(一切菩薩真言) Chân ngôn chủng tử tâm phổ thông của Mật giáo. Đó là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm ca, biểu thị ý nghĩa tất cả pháp không tạo tác. [X. Đại nhật kinh trì tụng thứ đệ nghi quĩ].

nhất thiết bồ tát ma ha tát

All Bodhisattvas and Mahasattvas.

nhất thiết chân ngôn chú

Chú “Chân Ngôn” (lời chân thật) được phô bày trong hai nhóm Thai Tạng và Kim Cang giới—All the “true word” rulers, shown in the Garbhadhatu and Vajradhatu groups.

nhất thiết chân ngôn chủ

(一切真言主) Tất cả vị chủ của chân ngôn. Chỉ cho tất cả các vị tôn của Mạn đồ la Thai tạng giới và Kim cương giới trong Mật giáo. Kinh Du kì quyển thượng (Đại 18, 255 hạ) nói: Nếu hành giả Chân ngôn trì tụng kinh này 3 trăm nghìn lần, thì tất cả Chân ngôn chủ và Đại mạn noa la vương Kim cương giới đều họp tập, cùng lúc giúp cho thành tựu, mau chóng chứng được địa vị Đại kim cương, cho đến địa vị bồ tát Phổ hiền.

nhất thiết chân ngôn tâm

Chữ Phạn đầu tiên “A” được người theo phái Chân Ngôn đọc là “AN” và được nhấn mạnh như là tâm của trí huệ—The first Sanskrit letter “A” which is pronounced “AN” by the Shingon School and emphasized as the heart of all wisdom. ; (一切真言心) Chỉ cho chữ (aô) trong chân ngôn Bách quang biến chiếu của Mật giáo. Vì chữ Aô là mẹ của các chữ, là nơi phát sinh ra tất cả chân ngôn, nên gọi là Nhất thiết chân ngôn tâm. Kinh Đại nhật quyển 2 (Đại 18, 17 trung) nói: Niệm Nhất thiết chân ngôn tâm chữ A này là trên hết không gì hơn, đây là chỗ an trụ của tất cả chân ngôn, từ chân ngôn này mà được quyết định. Phẩm Bách tự sinh trong Đại nhật kinh sớ quyển 18 (Đại 39, 766 hạ) nói: Chữ Aô này là tâm của tất cả chân ngôn, đứng đầu hết thảy chân ngôn; nên biết đây là chân ngôn Bất không giáo.

nhất thiết chúng sanh

Tất cả chúng sanh—All sentient beings—All living beings.

nhất thiết chúng sanh chi phụ

Cha của tất cả chúng sanh—The Father of all the living.

nhất thiết chúng sanh chi từ phụ

Ám chỉ Đức Phật là cha hiền của tất cả chúng sanh—The Father of all the living—The Buddha.

nhất thiết chúng sanh giai tất thành phật quả

Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và cuối cùng rồi cũng đạt được giác ngộ—All beings become Buddha, for all have the Buddha-nature and must ultimately become enlightened.

nhất thiết chúng sanh hoan hỷ kiến phật

Sarvasattva-priya-darsana (skt)—Vị Phật mà khi thấy mặt Ngài chúng sanh cảm thấy hoan hỷ—The Buddha at whose appearance all beings rejoice.

nhất thiết chúng sanh ly chư ác thú

Sarvasattva-papa-prahana (skt)—Một loại tam muội đưa chúng sanh xa rời ác đạo—A samadhi on a world free from all the evil destinies.

nhất thiết chúng sanh tinh khí

Sarvasattvaujohari (skt)—Tinh chất của tất cả chúng sanh—Vitality of all beings (the quintessence or energy of all living beings).

nhất thiết chư hành khổ

(一切諸行苦) Pàli: Sabbe saíkhàrà dukkhà. Cũng gọi Nhất thiết hành khổ. Tất cả các hành là khổ, pháp bản mạt thứ 2 trong 4 pháp bản mạt. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 18 (Đại 2, 640 trung) nói: Hết thảy các hành là khổ, đây là pháp bản mạt thứ 2 do đức Như lai nói. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.8; luận Câu xá Q.23].

nhất thiết chư hành vô ngã

(一切諸行無我) Pàli: Sabbe dhammà anattà. Cũng gọi Nhất thiết pháp vô ngã. Tất cả hành vô ngã, là pháp bản mạt thứ 3 trong 4 pháp bản mạt. Kinh Tăng nhất a hàm (Đại 2, 640 trung) nói: Tất cả các hành vô ngã, đây là pháp bản mạt thứ 3 trong 4 pháp bản mạt do đức Như lai nói. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.8]. (xt. Tứ Pháp Ấn).

nhất thiết chư hành vô thường

(一切諸行無常) Pàli: Sabbe saíkhàrà aniccà. Cũng gọi Nhất thiết hành vô thường. Tất cả các pháp hữu lậu đều không có tính thường hằng, là pháp bản mạt thứ 1 trong 4 pháp bản mạt. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 18 (Đại 2, 640 thượng) nói: Tất cả các hành đều vô thường, đây là pháp bản mạt thứ 1 do đức Như lai nói. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.8; Câu xá luận quang kí Q.1]. (xt. Chư Hành Vô Thường).

nhất thiết chư pháp

See Nhất thiết pháp in Vietnamese-English Section.

nhất thiết chư phật

Tất cả các Đức Phật—All Buddhas.

nhất thiết chư phật bí tạng chi pháp

(一切諸佛秘藏之法) Pháp bí tàng của tất cả chư Phật, chỉ cho kinh Pháp hoa. Phẩm Tín giải kinh Pháp hoa (Đại 9, 18 trung) nói: Pháp bí tàng của tất cả chư Phật chỉ được tuyên thuyết cho hàng Bồ tát.

nhất thiết chư phật mười phương tam thế

Tất cả các Đức Phật trong mười phương ba đời—Buddhas from ten directions from past, present and future.

nhất thiết chủng diệu tam muội

Tam muội mang lại mọi công đức trang nghiêm—The samadhi, which brings every kind of merit for one's adornment.

nhất thiết chủng diệu túc tam muội

(一切種妙足三昧) Tam muội là tên khác của Thiền định. Khi an trụ trong Tam muội này, thì tất cả các loại Tam muội và hết thảy công đức trang nghiêm đều đầy đủ, vì thế nên gọi là Nhất thiết chủng diệu túc tam muội. Luận Đại trí độ quyển 47 (Đại 27, 401 hạ) nói: Người nào được Nhất thiết chủng diệu túc tam muội thì các công đức trang nghiêm đều đầy đủ, nghĩa là dòng họ, gia tộc, quyến thuộc, thân tướng, thiền định, trí tuệ... đều viên mãn thanh tịnh.

nhất thiết chủng thức

Thức thứ tám trong Bát Thức—The eighth consciousness of eight consciousness.

Nhất thiết chủng trí

Trí huệ biết được tất cả mọi sự việc, trí huệ bao trùm tất cả, được dùng để chỉ trí huệ giác ngộ hoàn toàn của Phật. ; 一切種智; C: yīqiē zhǒngzhì; J: ichisetsu-shuchi; S: sarva-ākāra-jña-tā, sarvajña-jñā-na.|1. Trí hiểu biết rộng khắp, trí huệ bao trùm khắp tất cả; trí huệ nhận biết sự khác biệt giữa từng hiện tượng trong pháp giới; 2. Trí huệ nhận biết tất cả mọi hiện tượng; như Nhất thiết trí (一切智); 3. Huệ giác viên mãn của chư Phật (佛智).

nhất thiết chủng trí

See Nhất thiết chủng diệu tam muội in Vietnamese-English Section. ; (一切種智) Phạm: Sarvathà-jĩàna. Cũng gọi Phật trí. Trí tuệ này chỉ có đức Phật chứng được. Tức là dùng 1 loại trí tuệ mà biết được nhân chủng của tất cả các pháp và tất cả chúng sinh, đồng thời cũng là trí rõ suốt tướng vắng lặng và hành loại của các pháp. Là 1 trong 3 trí. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 581 trung) nói: Chư Phật Như lai xa lìa tướng thấy, có đại trí dụng, tự thể chiếu rọi tất cả vọng pháp, có vô lượng phương tiện, tùy theo căn cơ của chúng sinh, đều có thể chỉ bày các pháp nghĩa, vì thế gọi là Nhất thiết chủng trí. Luận Đại trí độ quyển 27 (Đại 25, 259 thượng) nói: Phật biết rõ hết cả tổng tướng và biệt tướng của các pháp thiền định, trí tuệ nên gọi là Nhất thiết chủng trí (...) Nhất thiết trí là trí của Thanh văn, Duyên giác. Đạo trí là trí của Bồ tát, còn Nhất thiết chủng trí là trí của Phật. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.21; luận Đại trí độ Q.50, 84; Vãng sinh luận chú Q.hạ].

nhất thiết chủng tử thức

(一切種子識) Phạm: Sarva-bìja-vijĩàna. Cũng gọi Chủng tử thức. Thức cất chứa tất cả chủng tử(hạt giống) của các pháp không để cho mất mát, là tên khác của thức A lại da. Luận Thành duy thức quyển 2 (Đại 31, 7 hạ) nói: Thức này nắm giữ chủng tử của các pháp, không để mất mát, vì thế gọi là Nhất thiết chủng tử thức. Nhiếp Đại thừa luận thích quyển 2 (Đại 31, 328 thượng) nói: Thức này có công năng sinh ra các pháp tạp nhiễm, công năng sinh ra tuy sai khác nhưng hợp với đạo lí, do tương ứng với công năng sinh ra ấy, nên gọi là Nhất thiết chủng tử thức. Để làm sáng tỏ nghĩa này, hãy dùng 1 ví dụ: Như hạt thóc có công năng nảy mầm, vì thế có tính chủng tử(hạt giống); nếu phơi quá mức, hoặc đem rang thì công năng nảy mầm của hạt thóc ấy bị hư, lúc đó hình dáng hạt thóc tuy vẫn như cũ, nhưng sức sống của nó đã bị hoại diệt, không còn tính chủng tử, thức A lại da cũng như thế. [X. Nhiếp đại thừa luận bản Q.thượng; luận Du già sư địa Q.1]. (xt. A Lại Da Thức).

Nhất thiết công đức trang nghiêm vương kinh

一切功德莊嚴王經; C: yīqiè gōngdé zhuāngyánwáng jīng; J: issai kudoku shōgonnō kyō; S: sarvadharmaguṇavyūharāja-sūtra; T: chos thams cad kyi yon tan bkod pa'i rgyal po|Kinh, 1 quyển, Nghĩa Tịnh (義淨) dịch.

Nhất thiết duy tâm tạo

一切唯心造|Nghĩa là »tất cả đều được tâm tạo«, không có gì nằm ngoài tâm, tất cả đều là sự chuyển biến của thức (thức biến); Duy thức tông, Pháp tướng tông.

nhất thiết giai không tông

(一切皆空宗) Tông phái chủ trương tất cả đều là không, tông thứ 7 trong 10 tông do tông Hoa nghiêm thành lập. Tông này y cứ vào kinh Bát nhã, Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận mà hiển bày nghĩa tất cả các pháp rốt cùng đều là không, nhưng vì chưa đạt đến lí bất không diệu hữu của Đại thừa, nên cũng gọi là Không thủy giáo, tức Đại thừa thủy giáo trong 5 giáo. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.2; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.thượng; Hiền thủngũ giáo nghi Q.2]. (xt. Ngũ Giáo Thập Tông).

nhất thiết giai thành

(一切皆成) Cũng gọi Nhất thiết giai thành Phật, Nhất tính giai thành. Đối lại: Ngũ tính các biệt. Hết thảy chúng sinh đều có thể thành Phật, đây là lập trường của các nhà Nhất thừa.Các nhà Tam thừa, như tông Pháp tướng... đề xướng thuyết Ngũ tính các biệt, chủ trương 3 chủng tính: Vô tính hữu tình, Định tính Thanh văn và Định tính Duyên giác đều không có khả năng thành Phật. Nhưng các tông phái Đại thừa khác như Thiên thai, Hoa nghiêm... thì cho rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tính đều có thể thành Phật. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 21 (Đại 12, 487 thượng) nói: Tất cả chúng sinh đều có tính Phật; Phật, Pháp, chúng tăng không có sai khác. Kinh đã dẫn, quyển 10 (Đại 12, 423 thượng) nói: Tất cả Tam thừa cùng 1 tính Phật. (...) Tất cả Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác ở đời vị lai đều sẽ qui về Đại bát niết bàn, ví như trăm nghìn dòng sông đều chảy về biển cả. [X. kinh Đại vân Q.4; kinh Niết bàn Q.36 (bản Bắc); Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2]. (xt. Phật Tính).

nhất thiết giai thành phật

Mọi chúng sanh đều sẽ thành Phật vì ai cũng có sẳn Phật tánh—All beings become Buddhas, for all have the Buddha-nature and must ultimately become enlightened.

nhất thiết hành thiền

(一切行禪) Tất cả pháp môn tu hành của Đại thừa đều hàm chứa trong thiền định, là 1 trong 9 loại thiền Đại thừa. Nhất thiết hành thiền gồm 13 thứ: 1. Thiện thiền: Loại thiền định có công năng thu nhiếp tất cả pháp lành. 2. Vô kí hóa hóa thiền: Ở trong định có thể biến hóa ra nhiều thứ mà chẳng cần phải tác ý suy tư. 3. Chỉ phần thiền: Thu nhiếp tâm ý, không để tán loạn, ứng hợp với định. 4. Quán phần thiền: Phân biệt rõ ràng, ứng hợp với tuệ. 5. Tự tha lợi thiền: Khi chính định hiện trước thì có thể làm lợi ích cho mình và lợi ích cho người khác. 6. Chính niệm thiền: Chính niệm tư duy, không sinh khởi các tư tưởng tạp nhạp. 7. Xuất sinh thần thông lực công đức thiền: Vào được đại định này thì tất cả công đức thần thông đều từ đó sinh ra. 8. Danh duyên thiền: Đối với danh tướng nhân duyên của tất cả các pháp đều có thể thông suốt vô ngại. 9. Nghĩa duyên thiền: Đối với nghĩa lí nhân duyên của tất cả các pháp đều có thể thông suốt hiểu rõ. 10. Chỉ tướng duyên thiền: Triệt để thấu suốt tướng nhân duyên tịch lặng tròn sáng, vĩnh viễn xa lìa tất cả sự tán loạn. 11. Cử tướng duyên thiền: Có khả năng phân biệt nhân duyên sinh diệt của các pháp 1 cách rõ ràng, không trở ngại. 12. Xả tướng duyên thiền: Lìa bỏ nhân duyên pháp tướng của tất cả thiện ác, được thanh tịnh không nhiễm trước. 13. Hiện pháp lạc trụ đệ nhất nghĩa thiền: Nương nơi thiền định này liền được niềm pháp lạc hiện tiền, an trụ trong đệ nhất nghĩa. [X. phẩm Phương tiện xứ thiền trong kinh Bồ tát địa trì Q.6; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.4; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.hạ, phần đầu; Đại minh tam tạng pháp số Q.34]. NHẤT THIẾT HƯ KHÔNG CỰC VI TRẦN SỐ XUẤT SINH KIM CƯƠNG UY ĐỨC ĐẠI BẢO TAM MUỘI Đại bảo tam muội của Đại nhật Như lai trong Mật giáo. Cứ theo kinh Nhiếp chân thực quyển thượng, sau khi đức Đại nhật Như lai vào Tam muội này thì từ vai bên phải của Ngài phóng ra ánh sáng màu vàng ròng, lại từ đầu đến chân, mỗi mỗi chân lông đều phóng ra ánh sáng này, những ánh sáng ấy hợp thành 1 màu, chiếu khắp vô lượng thế giới ở phương nam. Tất cả chúng sinh trong các thế giới tối tăm, cho đến những người mù lòa nhờ ánh sáng chiếu soi mà mọi khổ não đều tiêu trừ, thụ hưởng vô lượng an lạc.

Nhất thiết hạnh (hành)

一切行; C: yīqiēxíng; J: issaigyō;|Tất cả các sự tạo tác, các hoạt động (của thân, khẩu, ý). Tất cả mọi những hiện tượng. Tất cả các sự chức năng (theo Du-già luận 瑜伽論).

Nhất thiết hữu

一切有; C: yīqiè yǒu; J: issai-u;|1. Tất cả những gì hiện hữu; 2. Một quan điểm của Nhất thiết hữu bộ, cho rằng tất cả đều có.

nhất thiết hữu

Sarvabhava (skt)—Tất cả vạn hữu—All things or beings.

Nhất thiết hữu bộ

一切有部; S: sarvāstivāda; còn gọi là Căn bản nhất thiết hữu bộ (根本一切有部; s: mūlasar-vāstivāda) hoặc Thuyết nhất thiết hữu bộ (說一切有部)|Bộ phái cho rằng mọi sự đều có (Nhất thiết hữu; s: »sarvam asti«). Là một nhánh của Tiểu thừa, tách ra từ Trưởng lão bộ (s: sthavira) dưới thời vua A-dục. Giáo phái này quan niệm là tất cả, hiện tại, quá khứ, vị lai đều hiện hữu đồng thời. Tông phái này hoạt động mạnh tại Kaschmir và Càn-đà-la (gandhāra). Quan điểm của bộ này được xem như nằm giữa Tiểu thừa và Ðại thừa. Nhất thiết hữu bộ có kinh điển riêng viết bằng văn hệ Phạn ngữ (sanskrit), ngày nay chỉ còn bản dịch chữ Hán và Tây Tạng.|Tác phẩm quan trọng nhất của bộ này là A-tì-đạt-ma câu-xá luận (s: abhidharmakośa) của Thế Thân, Ðại tì-bà-sa luận (s: mahāvibhāṣā), một bộ luận được biên soạn trong lần Kết tập tại Kaschmir dưới sự chủ trì của Thế Hữu (vasumitra). Ðại tì-bà-sa luận trình bày quan điểm chính thức của Nhất thiết hữu bộ và là tác phẩm được hoàn tất cuối cùng trong bảy tác phẩm của Luận tạng (s: abhi-dharma-piṭaka). Một số tác phẩm khác cần được nhắc tới là A-tì-đàm tâm luận (abhidharma-hṛdaya), là bộ luận trung tâm của A-tì-đạt-ma với mười chương. Tì-bà-sa luận của Ca-chiên-diên tử cũng viết tổng quát về giáo lí bộ này. Tác phẩm Thế gian giả thiết (s: lokaprajñapti) trình bày quan điểm về sự hình thành thế giới đáng lưu ý. Các quan điểm về giới luật được trình bày trong Tì-nại-da Tì-bà-sa (vinayavibhāṣā).|Giáo pháp của Nhất thiết hữu bộ có tính đa nguyên, xuất phát từ sự phủ nhận cái ngã, một tính chất cá nhân hoặc linh hồn và thừa nhận những đơn vị luân chuyển theo thời gian, được gọi là pháp. Bộ này cho rằng có 75 pháp, và cho đó là những đơn vị cuối cùng, không thể chia cắt (tương tự khái niệm »nguyên tử« của Âu Châu thời thượng cổ) đều hiện hữu đồng thời. Chỉ các pháp này là »có thật.« Họ phân biệt các pháp tuỳ thuộc, Hữu vi (s: saṃskṛta) và các pháp độc lập, Vô vi (s: asaṃskṛta). |Các pháp độc lập là Hư không (s: ākāśa), Niết-bàn vô trụ (s: apratiṣṭhita-nirvāṇa) và Niết-bàn thường trụ (s: pratiṣṭhita-nirvāṇa).|Các pháp hữu vi được chia làm bốn nhóm: Sắc pháp (s: rūpadharma), Tâm (Thức) pháp (s: citta, vijñāna), các hoạt động của những Tâm sở hữu pháp (s: cetasikadharma) và Tâm bất tương ưng hành pháp (s: cittaviprayuktasaṃskāra) – các pháp không thuộc tâm không thuộc vật như già, chết, Vô thường…|Các pháp hữu vi này – theo quan điểm của Nhất thiết hữu bộ – không phải từ đâu sinh ra mà luôn luôn đã có, chỉ đổi từ trạng thái tiềm tàng qua hiện hữu. Vì quan điểm này mà Nhất thiết hữu bộ có tên »Nhất thiết hữu«, nghĩa là quá khứ vị lai đều được chứa trong một »pháp« duy nhất. Trong Nhất thiết hữu bộ, người ta cũng khám phá vài yếu tố nguyên thuỷ của Ðại thừa, như quan điểm Ba thân (s: trikāya) và niềm tin nơi Bồ Tát Di-lặc, đức Phật tương lai.

nhất thiết hữu bộ

Sarvastivadah (skt). (A) Trường phái “Thực Hữu” (người ta cho rằng La Hầu La chính là sơ tổ của trường phái nầy). Trường phái nầy chủ trương vạn hữu đều là thực hữu. Nhất Thiết Hữu Bộ, vì bắt nguồn từ Thượng Tọa Bộ chánh truyền, xướng lên một bác nạn nghiêm khắc và thừa nhận rằng quá khứ và vị lai đều là thực hữu, bởi vì hiện tại có căn để của nó trong quá khứ và hậu quả của nó trong vị lai. Ngoài ra, phái nầy còn chủ trương rằng ba giai đoạn của thời gian phải hiện hữu tách rời nhau, vì những khái niệm về quá khứ và vị lai sẽ không xuất hiện trong chúng ta nếu không có những thực tại phân ly. Trong số các trường phái Phật Giáo dùng chữ Phạn thì Nhất Thiết Hữu Bộ gần với Thượng Tọa Bộ nhất. Với sự suy thoái của Thượng Tọa Bộ tại Ấn Độ thì trường phái Hữu Bộ phải đứng hàng đầu trong cuộc chiến với phái Đại Thừa Luận sư Thế Thân (Vasubandhu), người đã viết bộ A Tỳ Đàm Câu Xá Luận, là một gương mặt lớn trước khi ngã sang phái Đại Thừa dưới ảnh hưởng của người anh là Vô Trước (Asanga). Trường phái nầy phát triển mạnh tại Ấn Độ, trong các vùng Punjab và tỉnh biên giới phía bắc, nay là Pakistan, và hoàng đế Ca Ni Sắc Ca là một nhà bảo trợ lớn cho trường phái nầy (see Ca Ni Sắc Ca). Giống như trường phái Thượng Tọa Bộ, phái nầy không công nhận những quyền năng siêu nhiên mà Đại Chúng Bộ gán cho Đức Phật cùng các Bồ Tát. Họ tin rằng chư Thiên là những người có cuộc sống thần thánh, và ngay cả những người ngoại đạo cũng có thể có những quyền năng siêu nhiên. Họ tin là có thân trung ấm, một sự tồn tại giữa đời nầy và đời tiếp theo. Họ cho rằng Bồ Tát và A La Hán cũng không thoát khỏi hậu quả của nghiệp trong quá khứ. Họ tin rằng không có một chất liệu trường cửu nào trong con người, dù rằng họ thừa nhận thực tại trường cửu của vạn pháp. Cũng như Thượng Tọa Bộ, họ tin vào sự đa nguyên của các yếu tố trong vũ trụ. Theo họ thì có 75 pháp, trong đó có 72 pháp hữu vi, có sanh có diệt, là những hợp thể; và ba pháp vô vi, không sinh không diệt, đó là hư không (akasa), đoạn diệt nhờ trí tuệ (pratisankhya-nirodha), và đoạn diệt không nhờ trí tuệ, mà do quá trình tự nhiên vì thiếu nhân duyên (apratisankhya-nirodha—The Realistic School (claimed Rahula was the founder) which asserted the reality of all phenomena. The Sarvastivada School has its origin in the orthodox Theravada School, raises a rigorous objection and asserts that the past and the future are real, because the present has its root in the past and its consequence in the future. Besides, it holds that the three periods of time ought to exist separately, because the notions of past and future would not occur in us without separate realities. Among the Buddhist schools which adopted Sanskrit for their literary medium, the Sarvastivadins come closest to the Sthaviravadins. With the decline of the Sthaviravadins in India this school bore the brunt of the battle against the Mahayanists. Acarya Vasubandhu, the writer of the Abhidharma-kosa, was a great champion of this school before he was converted to Mahayanism under the influence of his brother Asanga. This school flourished in India in the Punjab and the North-West Frontier Province, now in Pakistan, and king Kanishka, in the first century A.D., was its great patron (see Ca Ni Sắc Ca in Vietnamese-English Section). This school, like the Sthaviravadins, denied the transcendent powers ascribed to the Buddha and the Bodhisattva by the Mahasanghikas. It was their faith that holy life was possible for gods and that even heretics could have supernatural powers. They believed in the antara-bhava, an interim existence between this life and the next. They maintained that Bodhisattvas and Arhats were not free from the effects of past actions. They believed in the absence of any permanent substance in an individual (nairatmya), though they admitted the permanent reality of all things. Like the Sthaviravadins, they believed in the plurality of elements in the universe. According to them, there were seventy-five elements, seventy-two of them compounded (samskrta) and three uncompounded (asamskrta), which were akasa or space, cessation through knowledge (pratisankhya-nirodha), and cessation not through knowledge, but through natural process of the absence of required conditions (apratisankhya-nirodha)—See Bảy Mươi Lăm Pháp Câu Xá Tông. (B) Lịch sử và sự phát triển của Nhất Thiết Hữu Bộ—History and development of the Sarvastivada School: (Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo—According to Prof. Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy). 1) Sự có mặt của Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvastivada) có thể được nhận thấy trong lịch sử Ấn Độ, kéo dài từ cuộc kết tập kinh điển Phật Giáo dưới thời vua A Dục (khoảng năm 200 trước Tây Lịch) cho đến khi Nghĩa Tịnh du hành sang Ấn Độ (671-695 sau Tây Lịch). Trong tập Đối Biện (Katha-Vatthu) được soạn thảo dưới thời vua A Dục, Hữu Bộ hình như chiếm một địa vị vững chắc giữa những phần tử tranh biện. Cứ điểm chính của bộ phái nầy được giảng dạy trong tinh túy của nó và cuối cùng được khai triển thành một hệ thống hoàn toàn được gọi là Tỳ Bà Sa hay Phân Biệt Thuyết (Vaibhasika): The existence of this Sarvastivada School can be seen in Indian history from the time of the Buddhist Council held during Asoka's reign (about 200 B.C.) down to the time of I-Tsing's travel in India (671-695 A.D.). In the Kathavatthu Controversy compiled in the time of King Asoka, Sarvastivada seems to have occupied a strong position among the disputing parties. The principal seat of this school was in Kashmir where its doctrine was taught in its purity and it was finally developed into an elaborate system known as the Vaibhasika. 2) Theo thời gian, một chi lưu khác của Phân Biệt Thuyết được thiết lập ở Kiện Đà La và hình như rất khác biệt với phái Kashmir trong một vài quan điểm: In time another branch of the Vaibhasika was established in Gandhara and it seems to have differed from that of Kashmir in its opinion to some extent. 3) Một trường địa dư của bộ phái nầy rộng lớn hơn bất cứ một bộ phái nào khác, vì phổ biến khắp xứ Ấn Độ, đến cả vùng phía bắc là Persia, Trung Á, và tận miền nam là Sumatra, Java, Đông Dương và toàn thể Trung Hoa: The geographical extent of this school was much greater than that of any other school as it was found in all India, its northern frontier, Persia, Central Aisa, and also to the south in Sumatra, Java, Cochin-China and all of China. 4) Nhất Thiết Hữu Bộ liên hệ chặt chẽ với bộ phái chính truyền là Thượng Tọa Bộ. Nó tách khỏi bộ phái nầy lần đầu tiên có lẽ trước cuộc kết tập dưới thời vua A Dục. Cái ý niệm cho rằng tất cả các pháp đều hiện thực có thể ngược dòng từ thời đại của chính Đức Phật, bởi vì từ ngữ “Sabha-atthi” (tất cả đều hiện thực) được thấy ngay trong Tăng Chi Bộ Kinh: The Sarvastivada School was closely related to the orthodox Theravada School, from which it was first separated probably before the Council of King Asoka. The idea that all things exist may go back to the time of the Buddha himself, for the word 'sabban-atthi' (all things exist) is found already in the Samyukta-nikaya. 5) Bản văn A Tỳ Đạt Ma chính yếu của bộ phái nầy là Phát Trí Luận (Jnanaprasthana) của Ca Đa Diễn Ni Tử (Katyayaniputra) cũng được gọi là Bát Kiền Độ Luận (Asta-Grantha), có lẽ được tập thành rất sớm, khoảng năm 200 trước Tây Lịch. Những tác phẩm phụ theo của bộ phái nầy mà người ta gọi là Lục Túc Luận, hình như là chú giải chuyên biệt về chủ đề chứa đựng trong đó, vẫn còn được lưu truyền cho đến hôm nay: The principal Abhidharma text of this school was Katyayaniputra's Source of Knowledge (Jnana-prasthana), otherwise called Eight Books (Asta-grantha), probably compiled as early as 200 B.C. The subsequent works of the school, also called the Six Padas (Six Legs), seem to have been a special exegesis (Vibhasa) on the subject-matter contained in it. (C) Khi phán xét từ những thảo luận ghi trong văn học Đại Tỳ Bà Sa Luận, điều vô cùng quan trọng hình như được đặt trên sự phân ly của ba thời và thực tại chính của mỗi thời. Tuy nhiên, thực tại chính của ba thời không có nghĩa là ba thời tự chúng thường hằng, cũng không có nghĩa là tất cả các pháp đều thực hữu trong quá khứ và vị lai, cũng như thực hữu trong hiện tại; nhưng không kéo dài từ thời gian nầy đến thời gian khác. Liên hệ với lý thuyết nầy có bốn luận chứng mà ngài Thế Thân đã trích dẫn từ nền văn học Luận Tạng—Judging from the discussions recorded in the Mahavibhasa literature, great importance seems to have been laid on the separateness of the three periods of time and the reality of each. The reality of the three periods of time, however, does not mean that the three periods themselves are eternally extant, nor does it mean that time is a real substance. It means that all things or elements are real in the past and in the future as they are in the present, but without enduring from one period to another. In connection with this theory, four arguments are quoted by Vasubandhu from the Exegetic Literature—See Tứ Luận Chứng. (D) Theo ngài Thế Thân (Vasubandhu) trong Bảy Tác Phẩm của Ngài Thế Thân, thuyết của Nhất Thiết Hữu Bộ không thấy có trong những giáo thuyết thuần túy của Phật giáo, mà là một tân thuyết của nền văn học Luận Tạng của học phái A Tỳ Đàm, chống lại Kinh Lượng Bộ là phái bám chặt vào những bài thuyết pháp của Phật và chủ trương rằng chỉ có hiện tại là hiện hữu—According to Vasubandhu in Seven Works of Vasubandhu, written by Stefan Anacker, the theory of Sarvastivada is not found in the genuine discourses of the Buddha, but it is an innovation of the Vibhasa (Exegetic) Literature of the Abhidharma School. The opinion of the Abhidharmikas is against the Sautrantic School which clings solely to the discourses of the Buddha and maintains that only present exists. (E) Các trường phái của Nhất Thiết Hữu Bộ—Branches of the Sarvastivada: 1) Nhất Thiết Căn Bản Bộ: Mulasvarvastivadah (skt). 2) Ca Diếp Duy Bộ: Kasyapiyah or Suvarsakah. 3) Pháp Mật Bộ: Dharmagupta. 4) Di Sa Tắc Bộ: Mahisasakah or Mahisasikah. 5) Phân Biệt Thuyết Bộ: Vibhajyavadinah. 6) Đa Văn Bộ: Bà Thu Lâu Đa Bộ—Bahusrutiyah.

nhất thiết hữu căn bổn

Mulasarvastivadah (skt)—Một nhánh của trường phái Nhất Thiết Hữu Bộ cho rằng vạn hữu đều có thực hữu—A branch of the Sarvastivadin Sect which asserted the reality of things.

nhất thiết hữu ngại

(一切有礙) Chỉ chung cho tất cả cõi mê, bao gồm hết thảy chúng sinh bị chướng ngại, hoặc tất cả sự vật tạo ra sự chướng ngại. Như kẻ phàm phu thì có các phiền não Kiến hoặc và Tư hoặc; hàng Nhị thừa thì có Sở tri chướng về lí chân như; hàng Bồ tát địa tiền có Trần sa hoặc khiến không biết được hằng sa pháp môn mà chướng ngại lực dụng cứu độ chúng sinh; hàng Bồ tát địa thượng thì có Vô minh hoặc ngăn ngại khiến không thấy được diệu lí thực tướng Trung đạo. Những chướng ngại như vừa nói ở trên đều do chưa chứng được Phật địa, vì còn mê hoặc nên gọi là Nhất thiết hữu ngại. Bài Tán A di đà Phật kệ (Đại 47, 421 thượng) nói: Ánh sáng vô ngại giống hư không, Nên Phật còn hiệu Vô ngại quang; Nhất thiết hữu ngại được soi sáng, Nên đính lễ bậc Nan tư nghị.

nhất thiết hữu tình

Tất cả chúng sanh hữu tình—All sentient beings. ; (一切有情) Phạm: Sarva-sattva, hoặc Sarvabhùta. Cũng gọi Nhất thiết hàm thức, Nhất thiết chúng sinh. Chỉ cho hết thảy loài chúng sinh có sự sống, bao gồm địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, a tu la, người và trời. Kinh Đại bát nhã quyển 578 (Đại 7, 990 trung) nói: Tất cả loài hữu tình đều là Như lai tạng.

nhất thiết hữu tình chúng sanh

See Nhất thiết chúng sanh.

nhất thiết hữu vi

Tất cả pháp hữu vi—All phenomena—The phenomenal (all that is prodcued by causative action—Everything that is dynamic and not static).

nhất thiết hữu vi pháp

(一切有爲法) Hết thảy pháp hữu vi chỉ cho tất cả các pháp do nhân duyên sinh. Kinh Kim cương (Đại 8, 752 hạ) nói: Tất cả pháp hữu vi Như mộng, huyễn, bọt, bóng Như sương mai, tia chớp Nên quán xét như thế. Kinh Hoa nghiêm quyển 25 (Đại 9, 556 thượng) nói: Nên biết như thực tất cả pháp hữu vi, hư giả lừa dối, tạm dừng chốc lát, mê hoặc, phỉnh gạt kẻ ngu.

nhất thiết không

Total Voidness. 1) See Không. 2) Để chứng ngộ Nhất Thiết Không, người ta phải lìa bỏ ba sự chấp thủ—In order to realize Total Voidness, one must do away with the three attachments—See Tam Chấp Thủ.

nhất thiết khẩu nghiệp tuỳ trí huệ hành

(一切口業隨智慧行) Cũng gọi Nhất thiết ngữ nghiệp trí vi tiền đạo tùy trí nhi chuyển. Đức Phật dùng lời nói thanh tịnh vi diệu, theo trí mà chuyển, dẫn dắt làm lợi ích hết thảy chúng sinh, cho nên gọi là Nhất thiết nghiệp tùy trí tuệ hành. Là 1 trong 18 pháp bất cộng của đức Phật. [X. Pháp giới thứ đệ Q.hạ; Hoa nghiêm khổng mục chương Q.2].

Nhất thiết kinh

(一切經) [thuật]: tên gọi chung của thánh điển Phật Giáo, còn gọi là Nhất Thiết Tạng Kinh, Đại Tạng Kinh, Tam Tạng Thánh Điển, nói tắt là Tạng Kinh. ; 一切經; C: yīqiējīng; J: issaikyō;|Toàn bộ kinh điển của Phật giáo, bao gồm tất cả các Kinh, Luật và Luận.

nhất thiết kinh

The Tripitaka—Đại Tạng Kinh—The whole of the Buddhist Canon.

nhất thiết kinh hội

(一切經會) Cũng gọi Đại tạng hội. Pháp hội được cử hành để cúng dường Nhất thiết kinh (tức Đại tạng kinh).

Nhất thiết kinh âm nghĩa

一切經音義; C: yīqiē jīng yīnyì; J: issai setsu kyō ongi;|100 quyển, Huệ Lâm (慧琳) trứ.

nhất thiết kinh âm nghĩa

(一切經音義) I. Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa. Tác phẩm, nguyên tác chỉ gọi là Nhất thiết kinh âm, do ngài Đạo tuệ biên soạn vào thời Bắc Tề, đã bị thất lạc từ lâu. Tên tác phẩm này đầu tiên được thấy trong Đại đường nội điển lục, vốn không có chữ Nghĩa, nhưng người đời sau, khi đề cập đến sách này, đều ghi lầm là Nhất thiết kinh âm nghĩa, như trong Nghiêm kinh thất ngoại tập của cư sĩ Nguyễn nguyên đời Thanh. II. Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa. Cũng gọi Đại đường chúng kinh âm nghĩa, Huyền ứng âm nghĩa. Tác phẩm, 25 quyển, do ngài Huyền ứng soạn vào đời Đường, được thu vào Trung hoa đại tạng kinh tập 30. Sách này phiên âm chữ Phạm ra chữ Hán, chú giải rõ ràng những tự cú, danh tướng khó hiểu của 458 bộ kinh luận từ kinh Hoa nghiêm đến luận Thuận chính lí. Đây là bộ sách xưa nhất trong loại sách âm nghĩa của Phật giáo hiện còn. Sự giải thích trong sách này rất chính xác, được giới học giả xưa nay xem trọng. Ngài Huyền ứng vâng sắc chỉ của nhà vua soạn sách này vào cuối năm Trinh quán, vì tránh tên húy nên kí là Nguyên ứng. [X. Đường thư nghệ văn chí 49]. III. Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa. Cũng gọi Đại tạng âm nghĩa, Tuệ lâm âm nghĩa. Tác phẩm, 100 quyển, do ngài Tuệ lâm soạn từ cuối năm Kiến trung đến năm Nguyên hòa thứ 2 (783-807) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Sách này biên chép từ kinh Đại bát nhã đến Hộ danh pháp, gồm 1225 bộ, khoảng 60 vạn lời, chia làm 9 khoa: Kinh Đại thừa, luật Đại thừa, Thích kinh luận, Tập nghĩa luận, kinh Tiểu thừa, luật Tiểu thừa, luận Tiểu thừa, Tập truyện và Tập lục.Soạn giả từng thờ ngài Tam tạng Bất không làm thầy, thông thạo cả 2 âm Phạm và Hán, nên căn cứ vào kinh, luật, luận, dùng âm Phạm đối chiếu, phiên dịch và chú thích những danh tướng, tự cú khó hiểu từ chữ Phạm ra chữ Hán. Về sau, ngài Hi lân ở nước Liêu, lại nối tiếp sách này, soạn Tục nhất thiết kinh âm nghĩa, 10 quyển, cũng gọi Hi lân âm nghĩa. Tuệ lâm âm nghĩa cùng tên với Huyền ứng âm nghĩa là mở rộng từ Huyền ứng âm nghĩa và Tuệ uyển Hoa nghiêm kinh âm nghĩa, 2 quyển (cũng gọi Tuệ uyển âm nghĩa) mà thành. Những kinh được Khai nguyên thích giáo lục đưa vào Tạng đều phiên âm theo Tuệ lâm âm nghĩa, những phiên âm cũ dùng được thì giữ lại, còn ngoài ra thì do soạn giả tự phiên.

nhất thiết kiến trụ địa hoặc

(一切見住地惑) Cũng gọi Kiến nhất xứ trụ địa hoặc. Chỉ cho tất cả Kiến hoặc trong 3 cõi, 1 trong 5 Trụ địa hoặc. Chúng sinh lấy Ngã kiến làm gốc mà khởi lên các thứ Kiến hoặc, gọi là Nhất thiết kiến trụ địa hoặc. Vì hoặc này là chỗ nương nhờ, là nơi cư trú của tất cả phiền não, nên gọi là Trụ địa. Hoặc này thuộc về hoặc mê lí, cũng là cội gốc của Ngũ trụ địa phiền não. Đoạn trừ xong hoặc này mới vào được giai vị Kiến đạo. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.5]. (xt. Ngũ Trụ Địa Hoặc).

Nhất thiết lưu kinh

一切流經; C: yīqiēliú jīng; J: issairu kyō;|Nhất thiết lưu nhiếp thủ nhân kinh (一切流攝守因經).

Nhất thiết lưu nhiếp kinh

一切流攝經; C: yīqiēliú shè jīng; J: issairu shō kyō;|Nhất thiết lưu nhiếp thủ nhân kinh (一切流攝守因經).

nhất thiết lưu nhiếp thủ nhân kinh

(一切流攝守因經) Gọi tắt: Nhất thiết lưu nhiếp kinh, Nhất thiết lưu kinh, Lưu nhiếp kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này nói về các bậc có trí sáng suốt, thấy biết chân chính, muốn diệt trừ hết tất cả phiền não lậu hoặc, thì nên dùng 7 pháp là: Kiến (Chính kiến), Nhiếp (thu phục), Tị (xa lánh), Dụng (vận dụng), Nhẫn (nín nhịn), Hiểu (hiểu rõ) và Hành niệm (thực hành tu niệm). Trong 7 pháp trên, kinh này đã lấy Nhiếp(thu giữ, chế ngự các giác quan)làm chủ yếu, nên gọi là Nhất thiết lưu nhiếp thủ nhân kinh. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.4; Đại đường nội điển lục Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.1; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.1].

nhất thiết môn thiền

(一切門禪) Thiền của tất cả các môn định, 1 trong 9 loại thiền định của Đại thừa. Vì tất cả thiền định đều từ môn này mà ra, nên gọi là Nhất thiết môn thiền. Gồm có 4 thứ: 1. Hữu giác hữu quán câu thiền. 2. Hỉ câu thiền. 3. Lạc câu thiền. 4. Xả câu thiền. Bốn thứ thiền trên đây tương đương với Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền của cõi Sắc. Khi đạt đến Xả câu thiền(buông bỏ hết)thì hành giả không còn các tâm niệm thiện ác, thương ghét nữa. [X. Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.hạ, phần đầu; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.4, phần đầu].

nhất thiết nghĩa thành

Tự tánh thể không, y không hiển dụng, có dụng thì nghĩa thành, nên Trung Quán Luận nói: “Dĩ hữu không nghĩa cú, nhất thiết pháp đắc thành”, nghĩa là: vì có cái nghĩa không nên tất cả pháp mới được thành tựu. ; Sarvarthasiddha or Siddhartha (skt)—All wishes realized—Tên đặt cho Phật Thích Ca lúc Ngài mới đản sanh—Name of Sakyamuni at birth.

Nhất thiết nhân trung tôn

一切人中尊; C: yīqiē rénzhōng zūn; J: issai ninchū son;|Người được tôn kính nhất trong nhân gian. Chỉ một vị Phật, nhưng đặc biệt là Phật Tì-lô-giá-na (毘盧遮那; Đại Nhật Phật. Theo Đại Phương Quảng Phật hoa nghiêm kinh 大方廣佛華嚴經).

nhất thiết nhân trung tôn

Tất cả những bậc được loài người tôn kính nhất—The most honoured among men (Vairocana).

Nhất thiết Như Lai

一切如來; C: yīqiē rúlái; J: issai nyorai;|Tất cả các Đức Như Lai, tất cả chư Phật.

nhất thiết như lai

Sarvatathagata (skt)—Tất cả các Đức Phật—All the Buddhas—All Tathagatas.

Nhất thiết Như Lai bảo

一切如來寶; C: yīqiē rúlái băo; J: issai nyorai hō;|Bảo châu như ý của tất cả chư Phật, đặc biệt là của một vị Phật trong Man-đa-la Thai tạng giới, Ngài cầm hoa sen trên tay trái và viên bảo châu như ý trong tay phải.

nhất thiết như lai bảo

Ngọc bảo châu của chư Như Lai (trong pháp giới Mạn Đà La, Liên hoa bên tay trái và bảo châu bên tay mặt)—The talismanic pearl of all Buddhas (on the Garbhadhatu mandala, lotus on the left hand and talismanic pearl on the right hand).

Nhất thiết Như Lai chư pháp bản tính mãn tịnh liên hoa tam-muội

一切如來諸法本性滿淨蓮華三昧; C: yīqiē rúlái zhūfǎ běnxìng mănjìng liánhuā sānmèi; J: issai nyorai shohō honshō manjō renge sanmai;|Một loại Liên hoa tam-muội (蓮華三昧) của Đức Phật Tì-lô-giá-na mà từ trong đó, Đức Phật A-di-đà hoá sinh. Đây là một loại thiền định của Như Lai, quán sát bản tính của tất cả chúng sinh đều thanh tịnh như hoa sen.

nhất thiết như lai chư pháp bổn tánh thanh tịnh liên hoa tam muội

Liên Hoa Tam Muội của Phật Tỳ Lô Giá Na từ đó Phật A Di Đà được sanh ra. Như Lai thiền định, bản tánh của mọi hiện hữu đều thanh tịnh như Liên Hoa—A lotus samadhi of Vairocana from which Amitabha was born—The Tathagata meditation, that the fundamental nature of all existence is pure like the lotus.

nhất thiết như lai kim cang thệ giới

Lời thệ nguyện nguyên thủy của Như Lai như tiếng rống của sư tử, nguyện rằng tất cả chư chúng sanh rồi sẽ trở thành như Như Lai—The original oath of every Tathagata (with the roar of a lion, he declares that all creatures shall become as himself).

Nhất thiết Như Lai kim cương thệ giới

一切如來金剛誓誡; C: yīqiē rúlái jīngāng shìjiè; J: issai nyorai kongō seikai;|Lời thệ nguyện kiên cố của các đức Như Lai, như tiếng gầm của loài sư tử, tuyên bố rằng tất cả các loài hữu tình đều sẽ được thành Phật.

nhất thiết như lai kim cương thệ giới

(一切如來金剛誓誡) Chỉ cho bản thệ Tam muội da của Như lai. Khi đức Như lai chứng được Tam muội da này, Ngài thấy những động tác về thân, khẩu, ý của tất cả chúng sinh không khác với Như lai, thiền định, trí tuệ và thân thực tướng cũng bình đẳng với Như lai, hết thảy chúng sinh đều có khả năng thành Phật. Ngay lúc ấy, Ngài liền lập đại thệ nguyện, nguyện dùng vô lượng phương tiện khiến tất cả chúng sinh đều đến Vô thượng bồ đề. Nếu có chúng sinh nào theo Phật mà phát thệ nguyện này thì cũng khiến cho những sự nghiệp mà chúng sinh ấy làm đều thành tính kim cương. Đại nhật kinh sớ quyển 9 (Đại 39, 675 thượng) nói: Tam muội da tức là Tất định sư tử hống, nói nghĩa bình đẳng của các pháp; lập đại thệ nguyện khiến cho tất cả chúng sinh đều được như Phật, muốn vì tất cả chúng sinh khai thị tri kiến thanh tịnh, nên dùng Tam muội da này cảnh giác hết thảy chúng sinh và chư Phật, cho nên Tam muội da này được gọi là Nhất thiết Như lai kim cương thệ giới.

nhất thiết như lai kim cương thọ mệnh đà la ni kinh

(一切如來金剛壽命陀羅尼經) Gọi tắt: Kim cương thọ mệnh đà la ni kinh, Thọ mệnh đà la ni kinh, Thọ mệnh kinh.Kinh, 1 quyển, do ngài Tam tạng Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Toàn bộ kinh có khoảng 1.000 chữ. Nội dung kinh này đức Phật tuyên thuyết thần chú Diên mệnh và pháp đối trị sự sợ hãi về tử vong, đồng thời, nói rõ về công đức đọc tụng kinh này cho Tứ thiên vương nghe. Ngài Bất không còn dịch Kim cương thọ mệnh đà la ni niệm tụng pháp, 1 quyển, cũng gọi Kim cương thọ mệnh niệm tụng pháp (được thu vào Đại chính tạng tập 20). Nội dung là đức Phật Tì lô giá na tuyên thuyết Kim cương thọ mệnh chân ngôn, Giáp trụ chân ngôn và công đức của các Chân ngôn này. Ngài cũng nói về Hộ ma trừ tai diên thọ đàn. Bồ tát Kim cương thọ mệnh được đề cập đến trong Đà la ni này tức là tôn vị Phổ hiền diên mệnh, pháp niệm tụng thì là nghi quĩ gốc của pháp Phổ hiền diên mệnh. Kinh này có 2 bản dịch khác là Kim cương thọ mệnh đà la ni pháp, 1 quyển và Kim cương thọ mệnh đà la ni kinh, 1 quyển. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15, 29; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.5; Diên mệnh pháp trong Chư A xà lê chân ngôn Mật giáo bộ loại chủng lục Q.thượng]. NHẤT THIẾT NHƯ LAI MA HA BỒ ĐỀ KIM CƯƠNG KIÊN LAO BẤT KHÔNG TỐI THẮNG THÀNH TỰU CHỦNG CHỦNG SỰ NGHIÊP TAM MUỘI Cảnh giới thiền định của đức Phật Bất không thành tựu ở phương bắc. Sau khi đức Như lai vào Tam muội này thì từ vai bên trái của Ngài phóng ra ánh sáng 5 màu, chiếu khắp vô lượng thế giới ở phương bắc, cho đến tất cả lỗ chân lông cũng phóng ra ánh sáng 5 màu, đầy khắp cõi hư không phương bắc. Trong các thế giới ấy, xuất hiện vô lượng hóa Phật và các cõi Phật rộng lớn khó nghĩ bàn, mỗi cõi Phật đều có vô lượng vô biên hải hội chúng Đại bồ tát vây quanh, nghe Như lai nói pháp, khiến hết thảy chúng sinh trong thế giới tối tăm, cho đến những người đui mù ở chỗ không có mặt trời, mặt trăng, đều được thấy đức Như lai Tì lô giá na và tất cả chư Phật trong 10 phương thế giới; làm cho những chúng sinh ấy lìa hẳn khổ não, được vô lượng an lạc. [X. kinh Nhiếp chân thực Q.thượng].

nhất thiết như lai nhãn sắc như minh chiếu tam ma địa

Một loại tam muội của Phật Tỳ Lô Giá Na, trong đó ánh quang nhãn sắc của Như Lai chiếu khắp—A Vairocana-samadhi in which the light of the Tathagata-eye streams forth radiance. ; (一切如來眼色如明照三摩地) Chỉ cho Phật nhãn tam ma địa. Vì muốn làm cho các pháp sự, trí tuệ, ý nguyện tu hành của tất cả các vị A xà lê được thông suốt vô ngại, tất cả các thần chú cũng đều thành tựu, mau được thân Đại kim cương A xà lê pháp tính Đại nhật, khiến cho những người trông thấy đều đính lễ dưới chân, vui mừng qui phục, cho nên đức Như lai trong Kim cương giới của Mật giáo vào trong Tam ma địa này để nói Nhiếp nhất thiết A xà lê hành vị chân ngôn để cho các hành giả Chân ngôn trì tụng hàng ngày. [X. phẩm Nhiếp nhất thiết Như lai Đại a xà lê vị trong kinh Du kì Q.thượng].

Nhất thiết Như Lai nhãn sắc như minh chiếu tam-ma-địa

一切如來眼色如明照三摩地; C: yīqiē rúlái yănsè rúmíng zhào sānmódì; J: issai nyorai genshiki nyomyō shō sanmaji;|Một dạng định của Phật Đại Nhật, trong đó ánh sáng từ mắt của ngài phóng ra từng luồng hào quang. Do công đức của định nầy, Phật Đại Nhật chính thức tuyên thuyết »chân ngữ« thâu nhiếp hết tất cả các nguyên lí và tu tập các công hạnh (theo Du-kì kinh 瑜祇經).

Nhất thiết Như Lai sở hộ quán sát chúng sinh thị hiện Phật sát

一切如來所護觀察衆生示現佛刹; C: yīqiē rúlái suǒhù guānchá zhòngshēng shìxiàn fóchà; J: issai nyorai shogo kansatsu shūjō shigen bussatsu;|Trang nghiêm vương đà-la-ni chú kinh (莊嚴王陀羅尼呪經).

Nhất thiết Như Lai trí ấn

一切如來智印; C: yīqiē rúlái zhì yìn; J: issai nyorai chi in; S: sarvatathāgata-jñāna-mudrā.|Là dấu hiệu biểu tượng cho trí huệ của chư Phật trong Mật tông Phật giáo, là một hình tam giác trên hoa sen trong đồ hình man-đa-la Thai tạng giới (theo Đại Nhật kinh 大日經). Cũng có nghĩa như Nhất thiết Phật tâm ấn (一切佛心印).

nhất thiết như lai trí ấn

Dấu hiệu trí tuệ của chư Phật—A sign of the wisdom of all Buddhas (a triangle on a lotus in the Garbhadhatu group). ; (一切如來智印) Phạm: Sarvatathàgata-jĩàna-mudrà. Tạng: De-bshin-gzegs-pa thams-cad kyi ye-zes kyi phyag-rgya. Cũng gọi Nhất thiết Phật tâm ấn, Nhất thiết biến tri ấn, Chư Phật tâm ấn, Đại cần dũng ấn, Tam giác ấn. Trí ấn hình tam giác ở giữa viện Biến trí trong Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo.Ấn này là hình Tam muội da biểu thị 4 loại Pháp thân, là tiêu biểu chung của 4 Trí ấn; màu trắng tinh, dựng trên hoa sen trắng, bên ngoài có những tia sáng bao quanh. Tam giác có nghĩa hàng phục, trừ chướng, tức là đức Phật ngồi ở gốc cây Bồ đề, vận dụng uy lực mạnh mẽ, hàng phục 4 loài ma mà thành Chính giác. Màu trắng tinh biểu thị đại từ bi, nghĩa là Như lai thường phóng ánh sáng từ bi chiếu khắp pháp giới. Bên trong tam giác và trên đầu tam giác đều có chữ....(Vạn), vì tam giác là lửa trí tuệ, cũng là chỗ mới phát tâm bồ đề. Mới phát tâm bồ đề tức như lửa trí đốt vật, có năng lực diệt trừ các nghiệp tham, sân, si... trong 3 cõi, đây là gốc thành tựu muôn đức, nên có chữ Vạn. Nếu khi đến được tột cùng Phật trí thì mọi đức đều đầy đủ, giống như trăng tròn, nên ở trên tam giác lại có vòng tròn, trên vòng tròn có chữ Vạn, biểu thị tướng muôn đức của quả vị, cho nên Thai tạng giới của Mật giáo đã từ ấn này mà sinh khởi, từ ấn này mà hình thành. [X. phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật Q.5; Đại nhật kinh sớ Q.5, 16; Đại nhật kinh sớ sao Q.3].

Nhất thiết Như Lai tâm bí mật toàn thân xá-lợi bảo khiếp ấn đà-la-ni kinh

一切如來心祕密全身舍利寶篋印陀羅尼經; C: yīqiè rúláixīn mìmì quánshēn shèlì băoqièyìn tuóluóní jīng; J: issai nyorai shin himitsu zenshin shari hōkyōin darani kyō; S: sarva-tathāgata-dhiṣṭhānahṛdayaguhya-dhātu-karaṇḍamudrā-dhāraṇī; T: de bshin gshegs pa thams cad kyi byin gyi rlabs sems can la gzigs sin sangs rgyas kyi shing gi bkod pa tun tu ston pa; Gọi tắt là Bảo khiếp ấn đà-la-ni kinh (寶篋印陀羅尼經; s: karaṇḍamudrā-dhāraṇī).|Một bộ kinh thuộc Mật giáo. Có hai bản dịch tiếng Hán: 1. Bất Không (不空; s: amoghavajra) dịch 1 quyển với tên Nhất thiết Như Lai tâm bí mật toàn thân xá-lợi bảo khiếp ấn đà-la-ni kinh (一切如來心祕密全身舍利寶篋印陀羅尼經); 2. Thí Hộ (施護; s: dānapāla) dịch, 1 quyển với tên Nhất thiết Như Lai chính pháp bí mật khiếp ấn tâm đà-la-ni kinh (一切如來正法祕密篋印心陀羅尼經).

nhất thiết như lai tâm định ấn

Dấu hiệu đạt được Phật quả—The sign of the assurance of attaining Buddhahood.

nhất thiết như lai tất định pháp ấn

(一切如來必定法印) Đức hiệu của tâm Bồ đề. Hành giả nhờ công đức phát tâm bồ đề mà được Như lai thụ kí Đại bồ đề, trong tương lai nhất định sẽ thành Phật, vì thế nên tâm bồ đề được gọi là Nhất thiết Như lai tất định pháp ấn. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5].

nhất thiết như lai đỉnh bạch tản cái kinh

(一切如來頂白傘蓋經) Phạm:Sarvatathàgatowịìwasit’àta patra. Bộ kinh chữ Phạm do ông Hà cát lâm (B.H. Hodgson) phát hiện. Không có bản dịch chữ Hán. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật ở trên cõi trời Đao lợi nói thần chú từ khoảng giữa 2 chân mày của Ngài truyền ra và công đức của thần chú này.

Nhất thiết Như Lai định

一切如來定; C: yīqiē rúláidìng; J: issai-nyoraijō;|Trạng thái Định của tất cả các vị Như Lai. Bậc định cao nhất trong 108 cấp bậc định được các Bồ Tát tu tập, còn gọi là Đại không tam-muội (大空三昧; s: śūnyasamādhi) và Kim cương tam-muội (金剛三昧; s: vajrasamādhi). Cảnh giới vi diệu của thiền định, chứng đắc được nhờ thấu đạt nguyên lí tất cả các pháp đều có Phật tính.

nhất thiết như lai định

Thiền định cao nhất được các vị Bồ Tát tu tập—The highest samadhi practiced by bodhisattvas. ; (一切如來定) Cũng gọi Đại không tam muội. Tức là Tam muội vào đất Như lai, nội chứng Thánh trí, như thực quán xét hết thảy chúng sinh đều có Phật tính. Kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 9 thượng) chép: Phật nói tất cả đều là không, Đẳng trì của chính giác, Tam muội chứng biết tâm, chẳng phải từ duyên khác mà được. Những cảnh giới như thế đều là Nhất thiết Như lai định(thiền định của tất cả Như lai), cho nên gọi là Đại không, đầy đủ Nhất thiết trí. Lại theo Đại nhật kinh sớ quyển 6 nói, khi vào Chính giác tam muội thì biết các pháp vốn chẳng sinh, thấy tất cả người có tâm đều có tính Phật, tính Phật ấy được gọi là Thủ lăng nghiêm định, cũng gọi là Kim cương tam muội, Bát nhã ba la mật. Nếu những hành giả mới phát tâm mà chính quán tâm tính được như thế, thì gọi là Nhập Như lai định (vào định của Như lai).[X. Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.18]. NHẤT THIẾT NHƯ LAI KIM CƯƠNG TAM NGHIỆP TỐI THƯỢNG BÍ MẬT ĐẠI GIÁO VƯƠNG KINH Cũng gọi: Thí nhất thiết Như lai thân ngữ ý đại bí mật tụ đại vương bản tục. Gọi tắt: Thất quyển giáo vương kinh, Kim cương tam nghiệp kinh, Bí mật đại giáo vương kinh. Kinh, 7 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào đời Bắc Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 18. Nội dung kinh này nói rõ về quá trình ngắn nhất mà hành giả Du già (Phạm: Yogin) có thể đạt đến cảnh giới giải thoát Du già đát đặc la (Phạm: Yoga-tantra), gồm 18 phần: 1. An trụ nhất thiết Như lai tam ma địa đại mạn noa la. 2. Bồ đề tâm. 3. Kim cương trang nghiêm tam ma địa. 4. Nhất thiết Như lai tâm mạn noa la. 5. Nhất thiết minh cú hành. 6. Thân ngữ tâm gia trì. 7. Bí mật tinh diệu hành. 8. Cam lộ tam muội. 9. Tối thượng thanh tịnh chân thực tam muội. 10. Quán sát nhất thiết Như lai tâm. 11. Nhất thiết Như lai chân thực tam muội tối thượng trì minh đại sĩ. 12. Nhất thiết Như lai kim cương tương ứng tam muội tối thượng thành tựu. 13. Kim cương tương ứng trang nghiêm tam muội chân thực quán tưởng chính trí tam ma địa. 14. Thân ngữ tâm vị tằng hữu đại minh cú triệu vĩ nhật lâm tì đa vương tối thắng tam ma địa. 15. Nhất thiết tâm chân thực kim cương xuất sinh tam muội. 16. Nhất thiết mạn noa la thành tựu kim cương hiện chứng bồ đề. 17. Nhất thiết Như lai tam muội pháp kim cương gia trì vương. 18. Tuyên thuyết nhất thiết bí mật hạnh kim cương gia trì. Kinh này rất được Kim cương thừa của Ấn độ và Lạt ma giáo đồ của Tây tạng coi trọng. Trong Đại tạng kinh Tây tạng có hơn 50 bộ chú sớ về kinh này. [X. Đại trung tường phù pháp bảo lục Q.12; Tây tạng Đại tạng kinh tổng mục lục].

Nhất thiết nhất tâm thức

一切一心識; C: yīqiē yīxīnshì; J: issai isshinshiki;|Tất cả các pháp đều chỉ biến hiện từ tâm thức (theo Thích Ma-ha-diễn luận 釋摩訶衍論).

nhất thiết nhất tâm thức

All things are mind or mental. ; (一切一心識) Cũng gọi Đa nhất tâm, Đa nhất thức tâm. Tâm thức của tất cả các pháp, là chỗ nương cho Sinh diệt môn, thức thứ 9 trong 10 thức do Mật giáo thành lập, cũng tức là thức tâm tạo tác ra tất cả các pháp. Vì sự sinh diệt do tâm này tạo ra có vô lượng sai biệt, tùy theo sự tạo tác ấy nên gọi là Đa, còn tâm tạo tác ra ấy thì chỉ có 1, nên gọi là Nhất, hợp lại gọi chung là Đa nhất thức tâm, thuộc về Hậu đắc như lượng trí. Thích ma ha diễn luận tán quyển 2 (Vạn tục 72, 447 hạ) nói: Nên biết thức tâm thứ 9 tức là Nhất thiết nhất tâm thứ 10 trong 10 tên gọi của pháp sở nhập nói trên, vì nó hay duyên theo Như của Sinh diệt môn, mà không thường duyên theo lí của Chân như môn, nhưng chẳng phải nó không thể duyên theo chân lí của tự môn. [X. luận Thích ma ha diễn Q.2; Thích ma ha diễn luận kí Q.2; Tông kính lục Q.56]. (xt. Thập Thức). NHẤT THIẾT NHƯ LAI BẢO QUAN TAM GIỚI PHÁP VƯƠNG QUÁN ĐÍNH Pháp Quán đính mà bậc trí chứng được nhờ đã thành tựu Tam muội da Kim cương gia trì thù thắng của tất cả Như lai. Là 1 trong các pháp tu của Mật giáo. Người được pháp Quán đính này, có thể chứng Nhất thiết trí trí du già tự tại của hết thảy chư Phật, có khả năng thực hiện các sự nghiệp bình đẳng của tất cả Như lai, thành tựu tất cả thân, khẩu, ý Kim cương Như lai của đức Đại bi Tì lô giá na, thường trụ trong 3 đời để mang lại lợi ích cho loài hữu tình. Đây là thời kì Như lai còn ở giai vị tu nhân, theo thầy quán đính vào Mạn đồ la tam muội da trí, do thầy A xà lê gia trì Như lai tạng tính sẵn có trong thân của đệ tử để thành pháp khí Bồ tát tu hành Chân ngôn, thì đảm trách được giai vị Quán đính truyền thụ, trì chú, cho đến ấn khả... lấy đó làm nhân đầu tiên. Rồi lại do tam mật tương ứng với Tứ trí ấn mà được Bảo quan quán đính của tất cả Như lai, đây tức là đấng Pháp vương tột cùng trong 3 cõi. [X. kinh Kim cương đính Q.thượng; Kim cương đính kinh sớ Q.2]. NHẤT THIẾT NHƯ LAI CHƯ PHÁP BẢN TÍNH THANH TỊNH LIÊN HOA TAM MUỘI Liên hoa tam muội Đại trí tuệ môn của Diệu quán sát trí ở phương tây mà đức Đại nhật Như lai chứng nhập. Sau khi Như lai vào Tam muội này, từ trên lưng của Ngài phóng ra ánh sáng màu hoa sen hồng, chiếu khắp vô lượng thế giới ở phương tây; cho đến tất cả lỗ chân lông cũng đều phóng ra ánh sáng màu hoa sen hồng, chiếu khắp cõi hư không ở phương tây. Trong các thế giới ấy đều có vô lượng hóa thân Phật của Như lai, những hóa Phật ấy cũng hiện các cõi Phật rộng lớn và nói pháp trong đó, khiến cho hết thảy chúng sinh trong các thế giới tối tăm, chỗ không có mặt trời, mặt trăng, cho đến những người mù lòa đều nhờ ánh sáng chiếu soi ấy mà dứt hẳn mọi khổ đau, được hưởng vô lượng an lạc. [X. kinh Nhiếp chân thực Q.thượng].

Nhất thiết nhập xứ

xem Mười nhất thiết nhập.

Nhất thiết pháp

(s: sarva-dharma, p: sabba-dhamma, 一切法) [thuật]: tất cả các pháp, hết thảy các pháp, toàn bộ các pháp, còn có tên là nhất thiết vạn pháp (一切萬法, tất cả vạn pháp). Hết thảy các pháp là tên gọi chung bao gồm tất cả vạn hữu. Trí Độ Luận (智度論) 2 có đoạn rằng: “Nhất thiết pháp lược thuyết hữu tam chủng, nhất giả hữu vi pháp, nhị giả vô vi pháp, tam giả bất khả thuyết pháp, thử tam kỷ nhiếp nhất thiết pháp (一切法略說有三種、一者有爲法、二者無爲法、三者不可說法、此三己攝一切法, hết thảy các pháp nói tắt có 3 loại, một là pháp hữu vi, hai là pháp vô vi, ba là pháp không thể nói được, cả 3 loại này thâu tóm riêng hết thảy các pháp)”.

nhất thiết pháp

Sarvadharma (skt)—Tất cả các sự vật, sự hiện hữu—All things, laws, existence, or beings. ; (一切法) Phạm: Sarva-dharma. Pàli: Sabba-dhamma. Cũng gọi Nhất thiết chư pháp, Nhất thiết vạn pháp. Hết thảy các pháp. Là từ ngữ chỉ chung cho tất cả pháp hữu vi (Phạm: Saôskfta-dharma), pháp vô vi (Phạm: Asaôskfta-dharma) và pháp bất khả thuyết. Tức bao gồm hết thảy sự vật, vật chất, tinh thần cho đến sự tồn tại của tất cả hiện tượng. Nguyên ý của từ ngữ Nhất thiết pháp là chỉ cho sự tồn tại của hết thảy sự vật do nhân duyên sinh khởi. [X. luận Nhiếp đại thừa Q.31; luận Đại trí độ Q.2].

nhất thiết pháp bất sinh

Sarvadharma-anutpada (skt)—Mọi vật đều không sanh—All things are unborn. ; (一切法不生) Hết thảy pháp chẳng sinh. Nghĩa là tất cả các pháp chân thực đều vượt ra ngoài thế giới sai biệt tương đối. Vì nó là tuyệt đối nên chẳng sinh chẳng diệt, đây là lí bất biến.

Nhất Thiết Pháp Cao Vương Kinh

(一切法高王經) [kinh]: còn gọi là Phật Thuyết Nhất Thiết Pháp Cao Vương Kinh (佛說一切法高王經) hay Nhất Thiết Pháp Nghĩa Vương Kinh (一切法義王經), do Bát Nhã Lưu Chi (s: Prajñāruci, 般若流支) đời Nguyên Ngụy dịch, 1 quyển.

nhất thiết pháp cao vương kinh

(一切法高王經) Kinh, 1 quyển, do ngài Cù đàm bát nhã lưu chi dịch, được thu vào Đại chính tạng tập 17. Kinh này khen ngợi quá trình thành tựu và công đức của các bậc Bồ tát, là những bậc tối thượng trong pháp môn mà chư Phật 3 đời đã khai thị. Vì thế nên kinh này còn được gọi là Nhất thiết pháp nghĩa vương kinh, Chư pháp dũng vương kinh, Chư pháp tối thượng vương kinh. Pháp môn Nhất thiết pháp cao vương nói rõ về việc người xuất gia thụ giới, tham dự tăng đoàn, tu hành tăng nghiệp (37 phần bồ đề), cho đến được tăng lợi (4 quả Thánh), các lậu đều sạch, chứng quả A lahán; lại phát tâm bồ đề, tu hạnh Bồ tát, hồi hướng phúc đức để báo đáp ân nghĩa tất cả thí chủ và chúng sinh, rồi đem kết quả thành tựu đạo Bồ đề dâng lên cúng dường đức Như lai, vì thế đây là pháp môn tối thượng trong các pháp môn của chư Phật. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.6; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.9].

nhất thiết pháp giới quyết định trí ấn

Chân ngôn bảo chứng của Phật Tỳ Lô Giá Na, một biểu tượng qua đó mọi chúng sanh đều có thể đạt được trí huệ chắc chắn của Phật—The true word of assurance of Vairocana, the symbol through which all may attain the sure Buddha-wisdom. ; (一切法界决定智印) Chỉ cho pháp ấn thuộc chân ngôn của đức Phật Tì lô giá na, cho đến chân ngôn của Thiên long bát bộ, đều làm cho chúng sinh nhập vào pháp giới, được trí quyết định. [X. Đại nhật kinh nghĩa thích Q.8].

nhất thiết pháp giới sinh ấn

Một trong ba dấu hiệu của Mạn Đà La—One of the three signs of the mandala (the sign of producing all things or realms).

nhất thiết pháp giới tự thân biểu

Sự tự hiện thân của Phật—The Buddha's self-manifestation to all creation. ; (一切法界自身表) Biểu thị tự thân trong tất cả pháp giới. Nghĩa là đức Như lai hiện thân của Ngài trong tất cả pháp giới để cho hết thảy chúng sinh đều được trông thấy. Kinh Đại nhật quyển 5 (Đại 18, 31 thượng) nói: Bấy giờ pháp giới sinh ra thân Như lai, Như lai biểu hiện tự thân của Ngài trong tất cả pháp giới, giống như những đám mây trùm khắp các pháp giới. Ý nói thân Như lai hóa hiện ra các sắc thân, những hóa thân ấy nhiều như mây đầy khắp các thế giới trong 10 phương không kể hạn lượng. [X. Đại nhật kinh nghĩa thích Q.11].

nhất thiết pháp hữu vi

Tất cả pháp sanh diệt—All phenomena—All that is produced by causative action—Everything that is dynamic, not static.

nhất thiết pháp không

Sarvadharma-sunyata (skt)—Cái không của tất cả sự vật—The emptiness or unreality of all things.

nhất thiết pháp không vô sinh vô nhị vô tự tính tướng

Sarvadharmanam-sunyata-anutpada-advaya-nihsvabhava-lakshana (skt)—Khía cạnh hiện hữu trong đó tất cả các sự vật được xem là không, không được sinh ra, không phải hai, và không có tự tính—The aspect of existence in which all things are to be regarded as empty, unborn, non-dual, and without self-substance.

nhất thiết pháp tự tính bình đẳng vô uý

(一切法自性平等無畏) Gọi tắt: Nhất thiết pháp bình đẳng vô úy. Tự tính của tất cả các pháp bình đẳng vô úy, là 1 trong 6 vô úy của hành giả Chân ngôn Mật giáo. Nghĩa là người tu đạo Nhất thừa, quán xét tâm tính vốn không, xa lìa hữu vi, vô vi, tỏ ngộ muôn pháp là Nhất thực chân như. Đối với các pháp, không thấy có năng – sở, gốc – ngọn, mà an trú nơi tâm bồ đề thanh tịnh, không tịch. [X. phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.30]. (xt. Lục Vô Úy).

nhất thiết pháp vô ngã

Sarvadharma-niratmanah (skt)—Tất cả các sự vật đều không có tự ngã—All things are egoless.

Nhất thiết Phật hội

一切佛會; C: yīqiē fóhuì; J: issai butsue;|Pháp hội của tất cả những vị Phật. Thuật ngữ để gọi hai Man-đa-la Thai tạng giới (胎臓界; s: garbhadhātu-maṇḍala) và Kim Cương giới (金剛界; s: vajradhātu-maṇḍala; theo Thập địa kinh luận 十地經論).

nhất thiết phật hội

The assembly of all Buddhas. There are two kinds: 1) Thai Tạng giới: Garbhadhatu. 2) Kim Cang giới: Vajradhatu.

Nhất thiết Phật tâm ấn

一切佛心印; C: yīqiē fóxīn yìn; J: issai busshin'in;|Dấu hiệu ở trên ngực của Đức Phật, đặc biệt là trên ngực (s: trikoṇa) của Đức Phật Tì-lô-giá-na; dấu hiệu biểu trưng cho trí huệ của chư Phật; đó là một ngọn lửa hình tam giác hướng xuống dưới, biểu tượng cho năng lực hàng phục mọi cám dỗ; còn gọi là Nhất thiết Như Lai trí ấn (一切如來智印) và Nhất thiết biến trí ấn (一切偏智印), dấu hiệu biểu tượng cho huệ giác.

nhất thiết phật tâm ấn

Trikona (skt)—Dấu hiệu trên ngực Như Lai (Phật Tỳ Lô Giá Na). Dấu hiệu về tâm (tam giác lửa trên bông sen trắng, màu trắng tinh biểu tượng cho trí huệ, đỉnh tam giác chỉ xuống chỉ sức mạnh đốt cháy dục vọng và cám dỗ)—The sign on a Buddha's breast (on Vairocana)—The sign of Buddha-mind (a triangle of flames above a white lotus, pure white color representing wisdom, pointing downwards to indicate power over or burn up all passions, opposition, temptations)—The sign of omniscience.

nhất thiết phật đỉnh luân vương

(一切佛頂輪王) Gọi đủ: Nhiếp nhất thiết Phật đính luân vương. Chỉ cho Nhất tự kim luân sinh ra từ Phật nhãn phật mẫu. Tất cả các vị Phật đính luân vương đều cầm bánh xe báu kim cương có 8 nan hoa, vì đó là hình Tam muội da của các Ngài. Phẩm Kim cương cát tường đại thành tựu trong kinh Du kì (Đại 18, 260 trung) nói: Bấy giờ tất cả các vị Phật đính luân vương, mỗi vị đều đem bánh xe kim cương đặt dưới chân của tất cả Phật mẫu đã sinh ra các Ngài, mỗi bánh xe biến thành 2 cái, 1 cái đỡ chân, 1 cái che trên đầu. (xt. Nhất Tự Kim Luân).

nhất thiết phổ môn thân

Vị trải thân ra khắp bốn pháp giới—The one who completely fills the four realms (Dharmadhatu). ; (一切普門身) Hết thảy thân Phổ môn, nghĩa là thân trùm khắp 4 lớp pháp giới: Sự pháp giới, Lí pháp giới, Lí sự vô ngại pháp giới và Sự sự vô ngại pháp giới. Đại nhật kinh sớ quyển 8 (Đại 39, 662 hạ) nói: Nay lại lấy đó làm chất đốt cho lửa trí tuệ, cúng dường Nhất thiết phổ môn thân, tăng thêm thế lực bất tư nghị.

nhất thiết sở cầu mãn túc công đức

(一切所求滿足功德) Gọi tắt: Sở cầu mãn túc công đức. Tất cả điều mong cầu đều đầy đủ công đức, là 1 trong 17 thứ công đức làm đẹp cõi nước, thuộc 29 thứ trang nghiêm ở thế giới Cực lạc. Nghĩa là chúng sinh đã sinh về Tịnh độ thì tất cả điều mong cầu đều được đầy đủ. Luận Tịnh độ (Đại 26, 231 thượng) nói: Những điều mà chúng sinh mong muốn, tất cả đều đầy đủ. Tức là do tâm nguyện của đức Phật A di đà mà thế giới thanh tịnh trang nghiêm của Ngài thỏa mãn được tất cả những mong muốn của chúng sinh.

Nhất thiết thiên trí ấn

一切偏智印; C: yīqiē piānzhì yìn; J: issai henchi in;|Dấu hiệu biểu tượng cho Nhất thiết trí. Cũng có nghĩa như Nhất thiết Phật tâm ấn (一切佛心印).

nhất thiết thiền

(一切禪) Chỉ cho thiền định tự hành hóa tha, đầy đủ tất cả công đức, là 1 trong 9 loại thiềnĐại thừa. Nhất thiết thiền được chia làm 2 thứ là Thế gian và Xuất thế gian. Rồi tùy theo chỗ ứng dụng, mỗi thứ này lại được chia làm 3 loại: 1. Hiện pháp lạc trụ thiền: Thiền định của Bồ tát xa lìa tất cả vọng tưởng, thân tâm đều vắng lặng. 2. Xuất sinh tam muội công đức thiền: Thiền định của Bồ tát sinh ra các thứ Tam muội thuộc chủng tính thập lực vô lượng vô biên bất khả tư nghị, nhập vào công đức thắng diệu của tất cả tuệ vô ngại và nguyện trí vô tránh. 3. Lợi ích chúng sinh thiền: Chỉ cho công đức của những việc mà Bồ tát làm để mang lại lợi ích cho loài hữu tình như bố thí, trừ diệt các khổ não, nhiếp phục chúng sinh bằng chính pháp, biết ơn báo ơn, vui vẻ khen ngợi, không mang ý niệm oán ghét, hoặc vận dụng thần lực làm cho chúng sinh yên vui...[X. phẩm Phương tiện xứ thiền trong kinh Bồ tát địa trì Q.6; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.4, phần đầu; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.hạ, phần đầu].

nhất thiết thân nghiệp tuỳ trí huệ hành

(一切身業隨智慧行) Cũng gọi Nhất thiết thân nghiệp trí vi tiền đạo tùy trí nhi chuyển. Tất cả hành vi của nghiệp thân đều được hướng dẫn bởi trí tuệ, là 1 trong 18 pháp bất cộng của đức Phật. Nghĩa là đức Phật hiện các tướng thù thắng, điều phục chúng sinh, dùng trí tuệ diễn nói tất cả các pháp, làm cho chúng sinh hiểu rõ và chứng nhập. [X. Pháp giới thứ đệ Q.hạ; Hoa nghiêm khổng mục chương Q.2].

nhất thiết thí

Sarvada (skt)—Toàn trí—All-bestowing—One who who gives his all.

nhất thiết thế gian

(一切世間) Hết thảy thế gian, chỉ cho tất cả các cõi hữu vi, hữu lậu nhơ nhớp, gọi chung Ngũ uẩn thế gian, Chúng sinh thế gian và Khí thế gian. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 582 hạ) nói: Các pháp hữu vi trong hết thảy thế gian không dừng trụ lâu dài, biến hoại trong chốc lát (...) Trong thế gian, tất cả những cái có thân đều bất tịnh, toàn những thứ nhớp nhúa, không có 1 thứ gì đáng ưa thích. (xt. Thế Gian).

nhất thiết thế gian lạc kiến li xa đồng tử

(一切世間樂見離車童子) Pháp mà tất cả thế gian khó tin. Nghĩa là giáo pháp mà chúng sinh trong tất cả thế gian đều khó tin nhận vâng làm. Chỉ cho pháp sâu xa màu nhiệm, rộng lớn khó có thể nói bàn. Kinh A di đà (Đại 12, 348 thượng) nói: Vì các chúng sinh, nói ra pháp này mà tất cả thế gian đều khó tin. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa (Đại 9, 3 hạ) nói: Muốn cho chúng sinh đều được nghe pháp mà tất cả thế gian khó tin.

nhất thiết thế gian nan tín chi pháp

(一切世間難信之法) Cũng gọi Nhất thiết chúng sinh nhạo kiến lê xa đồng tử, Chúng sinh nhạo kiến tỉ khưu, Nhạo kiến li xa bồ tát. Chỉ cho đồng tử Nhất thiết thế gian nhạo kiến (Phạm: Sarvalokapriyadarzana), dòng Li xa (Phạm: Licchavi) là người hoằng dương kinh điển Đại thừa. Cứ theo kinh Đại pháp cổ quyển hạ, trước khi Chính pháp diệt vong 80 năm thì Nhất thiết thế gian nhạo kiến li xa đồng tử sinh ra ở bờ sông Thiện phương tiện, thôn Đại ba lợi, nước Văn đồ la ở phương Nam, họ Ca da lê, sau xuất gia làm Tỉ khưu, dùng Tứ nhiếp pháp hóa độ chúng sinh. Khi gặp được kinh Đại pháp cổ, đọc tụng thông lợi, Đồng tử liền xả bỏ những vật bất tịnh đã nhận lãnh trước đó, lần lượt tuyên thuyết các kinh: Đại pháp cổ, Đại thừa không, Chúng sinh giới Như lai thường trụ đại pháp cổ... cho mọi người nghe, thường dóng trống Đại pháp, thổi loa Đại pháp, dương cờ Đại pháp, đến năm 100 tuổi, Đồng tử hiện đại thần lực rồi vào Niết bàn. Cũng kinh Đại pháp cổ quyển thượng nói: Thủa quá khứ, trong thời đức Phật Kê la bà, vị Đồng tử này làm vua Chuyển luân vương, dùng Chính pháp trị hóa nhân dân, sửa sang đất nước. Về sau, thời đức Đăng quang Như lai, Đồng tử sinh làm con trưởng của vua Địa tự tại, khi Chính pháp sắp diệt, Đồng tử tuyên giảng kinh Đại pháp cổ, sau khi mệnh chung, được sinh về nước An lạc, chứng đại thần thông, trụ đệ Bát địa. Lại theo Niết bàn kiền độ trong kinh Đại phương đẳng vô tưởng quyển 4, ở đời quá khứ, vào thời đức Phật Đồng tính đăng, có vị Long vương tên Đại tinh tiến, sinh ra ở thành Bảo tụ, chính là tiền thân của Nhất thiết chúng sinh nhạo kiến lê xa đồng tử vậy.[X. phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Kim quang tối thắng vương Q.1; Pháp kinh lục Q.1; Lịch đại tam bảo kỉ Q.10].

nhất thiết thế gian tối thượng biện

(一切世間最上辯) Cũng gọi Tối thượng biện. Tài biện luận vào bậc nhất thế gian, 1 trong 7 thứ biện tài mà Phật và Bồ tát đạt được. Khi thực hành Lục độ để cứu giúp loài hữu tình, Bồ tát tuyên nói pháp Đại thừa rất sâu xa mầu nhiệm, tiếng nói của Bồ tát như sấm vang, trong trẻo rõ ràng, từ nơi xa xôi cũng nghe được, nên gọi là Nhất thiết thế gian tối thượng diệu biện. Luận Đại trí độ quyển 55 (Đại 25, 451 thượng) ghi: Nói pháp bậc nhất trong tất cả thế gian, gọi là Đại thừa, đó là thế gian tối thượng biện. [X. kinh Đại bát nhã Q.499; Pháp hoa kinh huyền tán Q.2].

nhất thiết thế gian tối tôn đặc thân

(一切世間最尊特身) Thân tôn quí thù đặc nhất trong tất cả thế gian. Đây là từ ngữ tôn xưng pháp thân bất tư nghị của đức Tì lô giá na Như lai. Nghĩa là Pháp thân Như lai tức là tự tính của pháp giới, vì bản tính thanh tịnh, đã gột sạch tất cả trần cấu, cho nên là thân tôn quí đặc thù nhất trong tất cả thế gian. Kinh Đại nhật quyển 5 (Đại 18, 36 hạ) nói: Đức Như lai, thân tôn quí thù đặc nhất trong tất cả thế gian, thân, ngữ, ý cho đến tâm địa đều siêu việt, đến được quả duyệt ý thú thắng.

nhất thiết thế giới tán thán chư phật trang nghiêm

(一切世界贊嘆諸佛莊嚴) Hết thảy thế giới đều khen ngợi sự trang nghiêm của chư Phật. Đây là 1 trong 4 thứ công đức trang nghiêm của Bồ tát, thuộc 29 thứ trang nghiêm ở Tịnh độ Cực lạc. Luận Tịnh độ (Đại 26, 231 trung) nói: Mưa hoa nhạc trời trỗi vang Hương thơm mầu nhiệm cúng dường Ngợi khen công đức chư Phật. Mảy may phân biệt chẳng vương. (xt. Nhị Thập Cửu Chủng Trang Nghiêm).

Nhất thiết thế tôn tối tôn đặc thân

一切世尊最尊特身; C: yīqiē shìzūn zuìzūn tèshēn; J: issai seison saison tokushin;|Người đáng được tôn kính nhất trong những người được thế gian tôn kính. Một danh hiệu của Phật Tì-lô-giá-na (毘盧遮那; Đại Nhật Phật, theo Đại Nhật kinh 大日經).

Nhất thiết trí

(s: sarva-jñatā, sarva-jña, sarva-jñāna, p: sabba-ñŒöa, 一切智) [thuật]: âm dịch là Tát Bà Nhã (薩婆若), Tát Bà Nhã Đa (薩婆若多), là một trong 3 loại trí (nhất thiết trí, đạo chủng trí và nhất thiết chủng trí [s: sarvajña-jñāna, sarvajñatā, sarva-jña, 一切種智]), là trí tuệ thông đạt hết thảy trong ngoài, biết hết thảy các pháp. Hữu Bộ cho đây là trí tuệ của Phật, và cũng có thuyết cho rằng trí tuệ này thông cả hai thừa Thanh Văn và Duyên Giác. Nó đối với nhất thiết chủng trí, có hai nghĩa chung và riêng. Nếu theo nghĩa chung, nó được gọi là Phật trí, cùng nghĩa với nhất thiết chủng trí. Nếu theo nghĩa riêng, nhất thiết chủng trí là trí nhìn thấy sự khác nhau của sự tướng. Nhất thiết trí là trí tuệ nhìn hiện tượng giới một cách bình đẳng, có tánh không. Nếu nói về nghĩa chung, trong Phẩm Thí Dụ của Kinh Pháp Hoa (法華經) có đoạn rằng: “Cần tu tinh tấn, cầu nhất thiết trí, Phật trí, tự nhiên trí, vô sư trí (勤修精進、求一切智、佛智、自然智、無師智, siêng tu tinh tấn để cầu được trí tuệ biết hết tất cả, trí tuệ của Phật, , trí tuệ tự nhiên, trí tuệ không cần thầy chỉ dẫn)”. Cùng kinh trên, Phẩm Hóa Thành Dụ có đọan rằng: “Vi Phật nhất thiết trí, phát đại tinh tấn (爲佛一切智、發大精進, vì trí biết hết thảy của Phật mà phát khởi sự tinh tấn lớn)”. Kinh Nhân Vương (仁王經) quyển hạ dạy rằng: “Mãn túc vô lậu giới, thường tịnh giải thoát thân, tịch diệt bất tư nghì, danh vi nhất thiết trí (滿足無漏界、常淨解脫身、寂滅不思議、名爲一切智, cõi đầy đủ vô lậu, thân thường trong sạch giải thoát, vắng lặng không nghĩ bàn, đó gọi là trí tuệ biết hết tất cả)”. Phần cuối quyển 9 của Trung Luận Sớ (中論疏) có đoạn rằng: “Tri nhất thiết pháp, danh nhất thiết trí (知一切法、名一切智, biết hết thảy các pháp được gọi là trí hiểu biết hết tất cả)”. Kế đến, nếu nói về nghĩa riêng, đó là trí tuệ biết được hết thảy lý không bình đẳng. Pháp Hoa Kinh Sớ (法華經疏) 2 của ngài Gia Tường (嘉祥) có giải thích rằng: “Bát Nhã Tam Huệ Phẩm vân: 'Tri nhất thiết pháp nhất tướng, cố danh nhất thiết trí; hựu vân tri chủng chủng tướng cố danh nhất thiết chủng trí (般若三慧品云、知一切法一相、故名一切智、又云知種種相故名一切種智, Phẩm Bát Nhã Tam Huệ dạy rằng: 'Biết tất cả các pháp một tướng nên gọi là nhất thiết trí; biết tất cả các loại tướng nên gọi là nhất thiết chủng trí')”. Cùng quyển trên có giải thích thêm rằng: “Nhất thiết trí giả, vị không trí dã (一切智者、謂空智也, trí biết hết tất cả là trí không)”. Trí Độ Luận (智度論) 27 có đoạn rằng: “Luận nhất thiết chủng trí chi sai biệt, hữu nhân ngôn vô sai biệt, hoặc thời ngôn nhất thiết chủng trí; hữu nhân ngôn tổng tướng thị nhất thiết, biệt tướng thị nhất thiết chủng trí; nhân thị nhất thiết trí, quả thị nhất thiết chủng trí; lược thuyết nhất thiết trí, quảng thuyết nhất thiết chủng trí; nhất thiết trí tổng phá nhất thiết pháp trung vô minh ám, nhất thiết chủng trí quán chủng chủng pháp môn phá chư vô minh (論一切種智之差別、有人言無差別、或時言一切種智、有人言總相是一切、別相是一切種智、因是一切智、果是一切種智、略說一切智、廣說一切種智、一切智總破一切法中無明闇、一切種智觀種種法門破諸無明, Khi luận về sự khác nhau của nhất thiết chủng trí, có người cho rằng không có khác nhau, hay có khi gọi là nhất thiết chủng trí; có người lại cho rằng tướng chung là hết thảy các trí, tướng riêng là nhất thiết chủng trí, nhân là nhất thiết trí, còn quả là nhất thiết chủng trí; nói riêng là nhất thiết trí, nói rộng ra là nhất thiết chủng trí; nhất thiết trí thì phá tan toàn bộ sự tối tăm, vô minh của tất cả các pháp; còn nhất thiết chủng trí thì quán từng loại pháp môn để phá các vô minh)”. Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章) 10 cho rằng: “Cử lục chủng chi sai biệt, hựu dĩ danh Thanh Văn, Duyên Giác chi trí (舉六種之差別、又以名聲聞緣覺之智, nêu lên được 6 loại sai biệt, đó gọi là trí của Thanh Văn và Duyên Giác)”. Trí Độ Luận (智度論) 27 giải thích thêm rằng: “Hậu phẩm trung Phật thuyết nhất thiết trí, thị Thanh Văn, Bích Chi Phật sự, đạo trí thị Bồ Tát sự, nhất thiết chủng trí thị Phật sự, Thanh Văn, Bích Chi Phật câu hữu tổng nhất thiết trí, vô hữu nhất thiết chủng trí (後品中佛說明一切智、是聲聞辟支佛事、道智是菩薩事、一切種智是佛事、聲聞辟支佛倶有總一切智、無有一切種智, trong phẩm sau đức Phật nói về nhất thiết trí là trí của Thanh Văn và Bích Chi Phật, đạo trí là trí của Bồ Tát, nhất thiết chủng trí là trí của Phật, Thanh Văn và Bích Chi Phật đều có chung nhất thiết trí, nhưng không có nhất thiết chủng trí)”. ; xem Tát-bà-nhã. ; 一切智; C: yīqiè zhì; J: issaichi; S: sarvajñatā, sarvākārajñatā;|Trí toàn vẹn, »hiểu biết tất cả«; chỉ trí huệ của một vị Phật, là điểm quan trọng, tiêu biểu nhất của một bậc Chính đẳng chính giác.|Theo quan điểm Tiểu thừa thì Nhất thiết trí được hiểu là mọi hiểu biết đưa đến giải thoát. Còn Ðại thừa cho rằng Nhất thiết trí là trí huệ hiểu biết tất cả các Pháp và thể tính thật sự của nó là Không. Trí này hay được xem là đồng nghĩa với Bát-nhã (s: prajñā). Còn gọi là Phật trí (佛智, theo Pháp Hoa kinh 法華經).

nhất thiết trí

Sarvajnana (skt)—Buddha-wisdom—Perfect knowledge—Omniscience—All-knowing. ; (一切智) Phạm: Sarvajĩa. Hán âm: Tát bà nhã, Tát vân nhiên. Chỉ cho trí biết rõ tất cả pháp tướng trong ngoài, là 1 trong 3 trí. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa quyển hạ (Đại 8, 843 thượng) nói: Đầy khắp cõi vô lậu, thân giải thoát thanh tịnh, vắng lặng chẳng nghĩ bàn, gọi là Nhất thiết trí. Luận Du già sư địa quyển 38 (Đại 30, 498 hạ) nói: Đối với tất cả giới, tất cả sự pháp, tất cả phẩm loại, tất cả thời gian, trí tự tại vô ngại gọi là Nhất thiết trí. Tức là biết rõ sự sai khác của tất cả thế giới, chúng sinh giới, sự pháp hữu vi, vô vi và nhân quả 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai 1 cách đúng như thực, gọi là Nhất thiết trí. Còn Nhất thiết trí đối với Nhất thiết chủng trí thì có 2 nghĩa tổng và biệt. - Về phương diện tổng: Nhất thiết trí là Phật trí, đồng nghĩa với Nhất thiết chủng trí. Như Hoa nghiêm kinh đại sớ quyển 16 nói: Như lai dùng trí vô tận, biết các pháp vô tận, nên gọi Nhất thiết trí. - Về phương diện biệt: Nhất thiết trí là trí của tính không, xem thế giới bình đẳng, đây là trí của bậc Thanh văn, Duyên giác. Còn Nhất thiết chủng trí là trí của sự tướng, xem thế giới sai biệt, là trí Phật biết rõ tướng bình đẳng tức là tướng sai biệt. Luận Đại trí độ quyển 27 (Đại 25, 258 hạ) nói: Tổng tướng là Nhất thiết trí, Biệt tướng là Nhất thiết chủng trí; nhân là Nhất thiết trí, quả là Nhất thiết chủng trí; nói lược là Nhất thiết trí, nói rộng là Nhất thiết chủng trí. (...) Nhất thiết trí là trí của Thanh văn và Duyên giác; Đạo chủng trí là trí của các Bồ tát, Nhất thiết chủng trí là trí của Phật. [X. luận Đại tì bà sa Q.15; luận Tạp a tì đàm tâm Q.8; Đại thừa nghĩa chương Q.19]. (xt. Nhất Thiết Chủng Trí).

nhất thiết trí cú

(一切智句) Cú hàm ý là chỗ ở. Nhất thiết trí cú là trụ xứ của Phật. Kinh Đại nhật quyển 6 (Đại 18, 42 trung) nói: Thường siêng năng tu tập, cầu nhất thiết trí cú. Bởi vì tính chất của Chân ngôn đều xa lìa cái thấy phân biệt của thế gian. Nếu biết rõ điều này rồi tu hành Chân ngôn đúng như thực, thì đó là Nhất thiết trí cú. Đại nhật kinh nghĩa thích quyển 14 (Vạn tục 36, 479 thượng) nói: Cú có nghĩa là chỗ ở. Chỗ ở của Nhất thiết trí tức là trụ xứ của Phật. Nên biết tính của Bồ đề giống như hư không, hư không đồng với tính Bồ đề. Mà tính Bồ đề chính là chữ A, là Nhất thiết trí cú vậy.

Nhất thiết trí giả

(s: sarvajña, p: sabbaññū, 一切智者) [thuật]: còn gọi là nhất thiết tri giả (一切知者), nhất thiết trí nhân (一切智人), người có trí tuệ hiểu biết tất cả, người có đầy đủ trí tuệ hiểu biết hết tất cả được gọi là Phật. Trong Phẩm Dược Thảo Dụ của Kinh Pháp Hoa (法華經) có đoạn rằng: “Ngã thị nhất thiết trí giả, nhất thiết kiến giả, khai đạo giả, thuyết đạo giả (我是一切智者、一切見者、開道者、說道者, ta là người có trí tuệ hiểu biết hết tất cả, người thấy hết tất cả, người mở ra con đường, người giảng thuyết về con đường ấy)”.

nhất thiết trí giả

(一切智者) Phạm: Sarvajĩa. Pàli: Sabbaĩĩu. Đồng nghĩa: Nhất thiết trí nhân, Nhất thiết trí tạng. Bậc giác ngộ đã thực chứng được tất cả trí tuệ. Tên khác của đức Phật. Luận Câu xá quyển 29 (Đại 29, 155 thượng) nói: Phật biết khắp tất cả, nên gọi là Nhất thiết trí giả. Phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 19 trung) nói: Ta là người biết tất cả, thấy tất cả, người biết đạo, người mở đạo, người nói đạo. Mật giáo dùng Nhất thiết trí giả làm đức hiệu của Đại nhật Như lai. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1].

Nhất thiết trí huệ

一切智慧; C: yīqiēzhìhuì; J: issaichie;|Nhất thiết trí (theo kinh Pháp Hoa 法華經).

nhất thiết trí huệ giả

The all-wise one (Vairocana). ; (一切智慧者) Tiếng tôn xưng đức Đại nhật Như lai. Kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 8 hạ) nói: Bậc Nhất thiết trí tuệ, xuất hiện nơi thế gian, giống như hoa Ưu đàm, lâu lâu hiện một lần.

Nhất Thiết Trí Kinh

(一切智經) [kinh]: đức Phật vì vua Ba Tư Nặc (s: Prasenajit, p: Pasenadi, 波斯匿王) phân biệt về trí tuệ hiểu biết tất cả, cũng như sự hơn thua của 4 giai cấp (tứ tánh, gồm Bà La Môn [s, p: brāmaṇa, 婆羅門], Sát Đế Lợi [s: kṣatriya, p: khattiya, 刹帝利], Tỳ Xá [s: vaiśya, p: vessa, 毘舍] và Thủ Đà La [s: śūdra, p: sudda, 首陀羅]). Nó nằm trong Kinh A Hàm (p: Āgama, 阿含經) 47.

nhất thiết trí kinh

(一切智經) Kinh, do ngài Cù đàm tăng già đề bà dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào kinh Trung a hàm quyển 59 trong Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật phân biệt cho vua Ba tư nặc nghe về Nhất thiết trí và sự hơn kém giữa 4 giai cấp ở Ấn độ đời xưa.

nhất thiết trí lục sư ngoại đạo

(一切智六師外道) Tên của 1 phái ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa, 1 trong 3 loại Lục sư ngoại đạo. Ma ha chỉ quán quyển 10, thượng (Đại 46, 132 hạ) nói: Từ sự cố chấp của các phái lại sinh ra 1 kiến giải, tâm trí họ sáng suốt, lanh lợi; với tâm trí ấy, họ thông hiểu tất cả pháp, vì thế nên gọi là Nhất thiết trí ngoại đạo.[X. Bách luận sớ Q.thượng; Tứ giáo nghĩa Q.2].

Nhất thiết trí nhân

(一切智人) [thuật]: đồng nghĩa với nhất thiết trí giả (s: sarva-jña, 一切智者). Trí Độ Luận (智度論) 2 có đoạn rằng: “Vấn viết: 'Hữu nhất thiết trí nhân, hà đẳng nhân thị ?' Đáp viết: 'Thị đệ nhất đại nhân, tam giới tôn danh viết Phật' (問曰、有一切智人、何等人是、答曰、是第一大人、三界尊名曰佛, Hỏi rằng: 'Có người có trí tuệ hiểu biết tất cả, đó là người như thế nào ?' Trả lời rằng: 'Đó là người vĩ đại số một, cả ba cõi đều tôn kính, gọi ngài là Phật')”.

nhất thiết trí nhãn

(一切智眼) Cũng gọi Phổ nhãn. Con mắt của tất cả trí, 1 trong 10 loại mắt của Bồ tát. Hoa nghiêm kinh sớ quyển 53 (Đại 35, 901 trung) nói: Nhất thiết trí nhãn tức là Phổ nhãn, chẳng những thấy lớp lớp pháp giới, mà còn thấy pháp giới chính là Nhất thiết trí nhãn. Nghĩa là Bồ tát có đức hạnh tịnh thắng, dùng pháp môn bình đẳng thấy pháp giới, cho nên thấy khắp các pháp chân thực bình đẳng. Nhất thiết trí nhãn ở đây tương đương với Phật nhãn trong Ngũ nhãn. [X. kinh Hoa nghiêm Q.41 (bản dịch cũ); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.17; Đại thừa nghĩa chương Q.20]. NHẤT THIẾT TRÍ QUANG MINH TIÊN NHÂN TỪ TÂM NHÂN DUYÊN BẤT THỰC NHỤC KINH Cũng gọi Nhất thiết trí quang minh tiên nhân bất thực nhục kinh. Kinh, 1 quyển, khuyết dịch, được thu vào Đại chính tạng tập 3. Nội dung kinh này kể lại sự tích bản sinh của bồ tát Di lặc làm con của người Bà la môn tên Ca ba lợi. Truyện kể: Thủa xưa, đức Phật Di lặc thị hiện xuống thế giới Thắng hoa phu tuyên thuyết kinh Từ tam muội quang đại bi hải vân, Bà la môn Nhất thiết trí quang minh do nghe kinh này mà phát tâm bồ đề, thệ nguyện trì tụng kinh này, đồng thời, nguyện đời vị lai thành Phật cũng cùng hiệu Di lặc. Sau đó, Bà la môn Nhất thiết trí quang minh xuất gia, trong khoảng 8.000 năm, 1 lòng trì tụng kinh Từ tam muội quang đại bi hải vân. Bấy giờ, trời mưa tầm tã liên tiếp nhiều ngày. Bà la môn không ra ngoài xin ăn. Có 2 mẹ con thỏ rừng, nhận thấy đã 7 ngày rồi mà vị tiên không ăn, liền nhảy vào lửa thiêu thân để cúng dường, vì mong cho chính pháp trụ thế lâu dài. Vị tiên nhân từ tâm thấy thế bèn phát nguyện rằng: Ta thề đời đời chẳng khởi ý tưởng sát sinh, không bao giờ ăn thịt. Nói xong, tiên nhân cũng nhảy vào hầm lửa. Vị tiên nhân này là Di lặc, con của Bà la môn Ca ba lợi. Ngoài ra, kinh trên còn tiên đoán khoảng 56 ức 7 nghìn vạn năm sau, ngài Di lặc sẽ thành Phật.

Nhất thiết trí nhẫn

(一切智忍) [thuật]: nhẫn thứ 6 trong Lục Nhẫn. Xem phần Lục Nhẫn.

Nhất Thiết Trí Quang Minh Tiên Nhân Từ Tâm Nhân Duyên Bất Thực Nhục Kinh

(一切智光明仙人慈心因緣不食肉經) [kinh]: còn gọi là Phật Thuyết Nhất Thiết Trí Quang Minh Tiên Nhân Từ Tâm Nhân Duyên Bất Thực Nhục Kinh (佛說一切智光明仙人慈心因緣不食肉經), không rõ dịch giả, 1 quyển.

nhất thiết trí thiên

Sarvajnadeva (skt)—The deva of universal wisdom.

nhất thiết trí thuyền

(一切智船) Con thuyền trí tuệ. Đức Phật được ví dụ như thuyền bè, đưa người sang bờ Nhất thiết trí, tức là bờ giác ngộ bên kia. Giáo hành tín chứng văn loại quyển 2 (Đại 83, 599 hạ) nói: Tát cạn biển ngu si, đưa vào biển thệ nguyện, dong thuyền Nhất thiết trí, cứu vớt hết chúng sinh. Trên đây là những lời khen ngợi tâm nguyện đại bi của đức Phật A di đà rộng lớn như hư không, các công đức nhiệm mầu không bờ bến, dẫn dắt chúng sinh về Tịnh độ.

Nhất thiết trí trí

(s: sarvajñatā-jñāna, 一切智智) [thuật]: trí tuệ tối cao trong tất cả các trí tuệ. Để phân biệt với nhất thiết trí của Thanh Văn và Duyên Giác, trí tuệ của đức Phật được gọi là nhất thiết trí trí. Đại Nhật Kinh Sớ (大日經疏) 1 có đoạn rằng: “Phạn vân Tát Bà Nhã Na tức thị nhất thiết trí, kim vị nhất thiết trí trí, tức thị trí trung chi trí dã (梵云薩婆若那卽是一切智、今謂一切智智、卽是智中之智也, tiếng Phạn là Tát Bà Nhã Na [sarva-jñāna] tức là nhất thiết trí, nay nói nhất thiết trí trí là trí tuệ trong các loại trí tuệ)”. Cùng kinh trên lại nói rằng: “Nhất thiết trí trí, như thật liễu tri, danh vi nhất thiết trí giả (一切智智如實了知、名爲一切智者, Nhất thiết trí trí là hiểu biết như thật, nên được gọi là người có trí tuệ hiểu biết hết thảy)”. Trí tuệ tối cao trong tất cả các trí tuệ giống như cõi hư không, rời xa hết thảy các phân biệt, hay giống như đại địa là nơi để cho tất cả chúng sanh nương tựa, hoặc như thế giới lửa thiêu cháy rụi hết thảy những loại củi vô trí. Nó cũng giống như thế giới gió, trừ khử hết tất cả các bụi bặm phiền não, hay giống như cõi nước, là nơi cho tất cả chúng sanh vui mừng nương tựa. Trí này lấy bồ đề tâm làm nhân, lấy tâm đại bi làm căn, lấy phương tiện làm cứu cánh. Người mà lấy bồ đề tâm làm nhân được gọi là vị hành giả biết tự tâm mình như thật. Người mà lấy tâm đại bi làm căn được gọi là vị hành giả phát nguyện thương xót, cứu độ nỗi khổ của chúng sanh và lấy đó làm niềm vui cho mình. Người mà lấy phương tiện làm cứu cánh được gọi là quả của trí tuệ tối cao trong tất cả các trí tuệ, tức lấy hạnh lợi tha để hành trì. Nhân Vương Kinh (仁王經) quyển trung có dạy rằng: “Tự tánh thanh tịnh, danh bản giác tánh, tức thị chư Phật nhất thiết trí trí (自性清淨名本覺性、卽是諸佛一切智智, tự tánh thanh tịnh là giác ngộ xưa nay, tức là trí tuệ tối cao trong tất cả các trí tuệ của các đức Phật)”.

nhất thiết trí trí

Trí tuệ của chư Phật (bồ đề, toàn giác và thanh tịnh)—The wisdom of all wisdom—Buddha's wisdom (bodhi, perfect enlightenment and purity). ; (一切智智) Phạm: Sarvajĩa-jĩàna. Hán âm: Tát bà nhã na. Chỉ cho trí của Nhất thiết trí, tức là trí tuệ của đức Phật. Nhất thiết trí là trí chung của Thanh văn, Duyên giác và Phật. Nhưng trí của Phật là trí thù thắng nhất trong tất cả trí. Nên ở đây, nhằm phân biệt với trí của Thanh văn, Duyên giác mà gọi trí của Phật là Nhất thiết trí trí. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa quyển thượng (Đại 8, 837 thượng) nói: Tự tính thanh tịnh gọi là tính Bản giác, tức là Nhất thiết trí trí của chư Phật. Kinh Đại nhật quyển 6 (Đại 18, 41 trung) nói: Nhất thiết trí trí lìa tất cả phân biệt và vô phân biệt, là trí thù thắng nhất trong tất cả trí, giống như cõi hư không. Cũng giống như đại địa, là nơi nương tựa của hết thảy chúng sinh, lại như gió, cuốn sạch tất cả bụi phiền não, cũng lại như lửa có năng lực thiêu đốt tất cả củi ngu si vô trí, lại giống như nước, chúng sinh nhờ đó mà được tươi mát, yên vui. Trí này chẳng những dùng nhất thiết chủng biết khắp tất cả pháp, mà còn biết pháp này là tướng rốt ráo thường trụ không hoại diệt, không thêm bớt, giống như kim cương, cho nên là trí tuệ tột cùng chân thực, cũng là pháp vị giải thoát tự chứng của Như lai. [X. phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.1; Đại tì lô giá na kinh trụ tâm sao Q.4].

Nhất thiết trí tâm

(一切智心) [thuật]: tâm cầu trí tuệ biết hết tất cả. Phần cuối quyển trung của bộ Vãng Sanh Yếu Tập (徃生要集, Ōjōyōshū) của Nguyên Tín (源信, Genshin, 942-1017), vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, có đoạn rằng: “Nhất thiết trí tâm giả, thị đệ nhất nghĩa không tương ứng tâm, hoặc khả thị nguyện cầu Phật chủng trí tâm (一切智心者、是第一義空相應心、或可是願求佛種智心, tâm cầu trí tuệ biết hết tất cả là tâm tương ứng với đệ nhất nghĩa không, hay có thể là tâm nguyện cầu trí tuệ thuộc loại của Phật)”.

nhất thiết trí tâm

The Buddha's wisdom mind.

Nhất thiết trí tướng

(s: sarvajñatā, 一切智相) [thuật]: âm dịch là Tát Bà Nhã Đa (薩婆若多), tướng mạo của trí biết hết tất cả. Trí Độ Luận (智度論) 27 có giải thích rằng: “Tát Bà Tần ngôn nhất thiết, Nhã Đa Tần ngôn tướng (薩婆秦言一切、若多秦言相, nhà Tần gọi Tát Bà là hết thảy, Nhã Đa là tướng mạo)”.

nhất thiết trí tướng

(一切智相) Phạm: Sarvajĩatà. Hán âm: Tát bà nhã đa. Tướng của Nhất thiết trí. Luận Đại trí độ quyển 27 (Đại 25, 260 trung) nói: Tát bà, Hán dịch là nhất thiết; Nhã, Hán dịch là trí; Đa, Hán dịch là tướng.

Nhất thiết trí tạng

(一切智藏) [thuật]: kho tàng hiểu biết tất cả, từ tôn xưng dùng cho đức Phật. Kinh Thiện Sanh (善生經) có đoạn rằng: “Như Lai tức thị nhất thiết trí tạng (如來卽是一切智藏, Như Lai là kho tàng hiểu biết hết tất cả)”. ; 一切智藏; C: yīqiē zhì zàng; J: issai chi zō;|Kho tàng chứa đựng tất cả trí huệ, bản tâm của chư Phật (theo Hoa Nghiêm kinh 華嚴經).

nhất thiết trí vô sở uý

(一切智無所畏) Phạm: Sarva-dharmàbhisaôbodhi vaizàradya. Cũng gọi Chư pháp hiện đẳng giác vô úy, Chính đẳng giác vô úy, Đẳng giác vô úy. Trí tuệ vô sở úy, 1 trong 4 vô sở úy của đức Phật. Đức Thế tôn biết rõ các pháp, trụ nơi chính kiến, tuyên thuyết chính pháp ở giữa đại chúng, như sư tử chúa, an ổn không sợ, nên gọi Nhất thiết trí vô sở úy. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.19; luận Đại tì bà sa Q.30; luận Đại trí độ Q.25].

Nhất thiết trí vô sở úy

(s: sarva-dharmābhisaµbodhivaiśāradya, 一切智無所畏) [thuật]: một trong 4 vô úy của đức Phật, còn gọi là chư pháp hiện đẳng giác vô sở úy (諸法現等覺無所畏), chánh đẳng giác vô sở úy (正等覺無所畏), đẳng giác vô sở úy (等覺無所畏). Có nghĩa rằng đức Thế Tôn biết rõ các pháp, an trú trong chánh kiến (thấy đúng), thét lên tiếng rống của con sư tử, an ổn mà không hề sợ hãi gì cả. Hơn nữa, vì tâm giáo hóa tha nhân của đức Phật vốn không khiếp sợ, nên được gọi là nhất thiết trí vô sở úy (trí tuệ hiểu biết tất cả không sợ hãi). Xem phần Tứ Vô Úy. ; xem Bốn đức chẳng sợ.

Nhất thiết trí địa

(s: sarvajña-bhūmi, p: sabba-ñāṇa, 一切智地) [thuật]: chứng đắc quả vị có trí tuệ biết hết tất cả tức là quả vị Phật, còn gọi là cứu cánh nhất thiết trí địa. Trong Phẩm Hóa Thành Dụ của Kinh Pháp Hoa (法華經) có đoạn rằng: “Kỳ sở thuyết pháp giai tất chí ư nhất thiết trí địa (其所說法皆悉至於一切智地, sự thuyết pháp của vị ấy thảy đều đạt đến quả vị có trí tuệ biết hết tất cả)”. ; 一切智地; C: yīqiēzhì dì; J: issaichi ji; S: sarvajña-bhūmi.|Cảnh giới của sự thông đạt vạn pháp (theo kinh Pháp Hoa 法華經)

nhất thiết trí địa

Nơi mà chư Bồ Tát đạt được Phật trí—The state or place for Perfect knowledge or Buddha-wisdom. ; (一切智地) Phạm: Sarvajĩa-bhùmi. Cũng gọi Cứu cánh nhất thiết trí địa. Địa vị Nhất thiết trí, tức là quả vị Phật. Phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 19 thượng) nói: Đối với tất cả pháp, dùng trí phương tiện để diễn nói, những người nghe pháp ấy đều đạt đến địa vị Nhất thiết trí. Đại nhật kinh sớ quyển 2 (Đại 39, 604 hạ) nói: Từ Tịnh bồ đề tâm trở lên đến địa vị Thập trụ đều là tu hành theo lòng tin và hiểu, chỉ có đức Như lai là ở địa Nhất thiết trí.

nhất thiết tính

(一切性) Tất cả tính. Chỉ chung cho 4 tính: Tự tính, Tha tính, Cộng tính, Li tính. 1. Tự tính: Chấp trước vào 1 niệm phát sinh từ căn. 2. Tha tính: Chấp trước vào 1 niệm phát sinh từ trần cảnh. 3. Cộng tính: Chấp trước vào 1 niệm phát sinh từ căn và trần hòa hợp. 4. Li tính: Chấp trước vào 1 niệm phát sinh từ chỗ lìa khỏi căn và trần. Nếu không chấp trước vào tướng của 4 tính này thì gọi là Giai không.

Nhất thiết tức nhất

一切即一; C: yīqiē jíyī; J: issai sokuichi;|Tất cả các pháp đều bao hàm trong Một. Tư tưởng của tông Hoa nghiêm, cho rằng thể tính của các pháp bao dung, tương nhiếp lẫn nhau. Xem Nhất tức nhất thiết (一即一切, theo Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh sớ 大方廣佛華嚴經疏).

Nhất thiết vô chướng ngại

(一切無障礙) [tạp]: thông đạt hết thảy không có cái gì ngăn trở cả. Trong Phẩm Thần Lực của Kinh Pháp Hoa (法華經) có đoạn rằng: “Năng trì thử kinh giả, ư chư pháp chi nghĩa, danh tự cập ngôn từ, nhạo thuyết vô cùng tận, như phong ư không trung, nhất thiết vô chướng ngại (能持此經者、於諸法之義、名字及言辭、樂說無窮盡、如風於空中、一切無障礙, người có thể trì kinh này thì sẽ vui nói không cùng tận nghĩa, chữ và ngôn từ của các pháp, giống như gió trong không trung, tất cả đều không ngăn trở gì cả).”

nhất thiết vô chướng ngại

Hoàn toàn thoát khỏi mọi chướng ngại—Absolutely free or unhindered—Illimitable—Universal. ; (一切無障礙) Gọi tắt: Nhất thiết vô ngại. Thông suốt tất cả, không có gì ngăn ngại. Phẩm Như lai thần lực trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 186 trung) nói: Người trì tụng kinh này Đối với nghĩa các pháp Danh tự và ngôn từ Nói đến vô cùng tận Như gió giữa hư không Hết thảy không chướng ngại.

nhất thiết vô chướng pháp ấn minh

Một dấu hiệu để vượt thắng chướng ngại—A sign for overcoming all hindrances (by making the sign of a sword through lifting both hands, palms outward and thumbs joined, saying Hail ! Bhagavat ! Bhagavatsvaha !). ; (一切無障法印明) Một trong các loại ấn tướng của Mật giáo. Ấn tướng như sau: Tay trái và tay phải đều kết Đao ấn (ấn dao), 2 ngón trỏ hướng ra ngoài dính vào 2 bên và tụng chân ngôn: Bà nga phạ đế (Thế tôn) tô bà ha (thành tựu).

nhất thiết vô ngại

Hoàn toàn thoát khỏi mọi chướng ngại—Absolutely free or unhindered.

nhất thiết vô thượng giác giả cú

(一切無上覺者句) Chỉ cho chữ (aô) trong chân ngôn Bách quang biến chiếu của Mật giáo. Kinh Đại nhật quyển 6 (Đại 18, 40 hạ) nói: Hãy siêng năng mạnh mẽ tu trì Nhất thiết vô thượng giác giả cú này, vì đây là tâm yếu của tất cả pháp môn mà chư Phật đã nói.

nhất thiết vạn

All things.

nhất thiết vạn pháp

All things—See Nhất Thiết Pháp.

nhất thiết vật

All things.

nhất thiết xả bất thủ thí tưởng

(一切捨不取施想) Buông bỏ tất cả, không giữ lấy 1 ý tưởng nào về việc bố thí. Là 1 trong 10 điều lợi ích của Bát nhã. Nghĩa là Bồ tát tu hành Bát nhã, quán chiếu muôn pháp đều vắng lặng, cho nên tuy làm việc bố thí mà không bị dính mắc vào vật để bố thí(tức không nuối tiếc). [X. kinh Nguyệt đăng tam muội Q.6].

nhất thiết xứ

Samanta (skt)—Everywhere—Universal dhyana. ; (一切處) Phạm: Kftsna-àyatana. Có 2 nghĩa: 1. Biến xứ: Bất cứ nơi nào. Vì thông suốt khắp 10 phương không gì ngăn ngại, nên gọi là Nhất thiết biến xứ. 2. Tên của thiền định: Cũng gọi Biến xứ. Vì cảnh sở quán(đối tượng bị quán sát) của thiền định, trùm khắp vạn hữu, bao gồm đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, đỏ, trắng, không, thức, tính chung có 10 loại gọi là Thập nhất thiết xứ, Thập biến xứ. [X. kinh Thập lệ trong Trung a hàm Q.6; Pháp giới thứ đệ Q.hạ].

nhất thiết xứ vô bất tương ưng chân ngôn

Chân ngôn tương ưng khắp nơi nơi—The “true word” that responds everywhere.

nhất thiết ý nghiệp tuỳ trí huệ hành

(一切意業隨智慧行) Cũng gọi Nhất thiết ý nghiệp tiền đạo tùy trí nhi chuyển. Tất cả hoạt động của ý thức đều được hướng dẫn bởi trí tuệ, là 1 trong 18 pháp bất cộng của đức Phật. Nghĩa là đức Phật chuyển ý nghiệp thanh tịnh theo trí tuệ, hiểu rõ tâm chúng sinh mà nói pháp để phá tan màn vô minh si ám của họ, gọi là Ý nghiệp tùy trí tuệ hành. [X. Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.hạ, phần cuối; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.2, 4].

Nhất Thiền

一禪; C: yīchán; J: ichizen; K: ilsǒn (1533-1608);|Nguyên là Thiền sư Hàn Quốc, thời đại Triều Tiên (朝鮮; k: chosǒn), là một trong bốn vị đệ tử thượng thủ của Hưu Tĩnh (休靜; k: hyujǒng).

nhất thoá tiêu thế giới hoả

(一唾消世界火) Nhổ 1 bãi nước bọt dập tắt ngọn lửa đang thiêu đốt thế giới. Kinh Phật tạng quyển thượng (Đại 15, 783 thượng) nói: Ví như vào lúc hết kiếp, lửa dữ bùng cháy, thiêu đốt thế giới, có người nhổ 1 bãi nước bọt dập tắt ngọn lửa ấy, rồi thổi 1 cái để hình thành lại thế giới và các cung trời. Đây là ví dụ đức Phật nói pháp bất sinh bất diệt khiến người đời tin hiểu là 1 việc còn hiếm có, khó tin hơn gấp bội việc kì đặc vừa nói ở trên.

Nhất thuyết bộ

一說部; S: ekavyāvahārika;|Bộ phái Phật giáo xuất phát từ Ðại chúng bộ. Văn-thù vấn kinh (s: mañjuśrīparivarta) gọi là »Chấp nhất ngữ ngôn bộ«, còn Tông luân luận của Khuy Cơ viết rằng, bộ này quan niệm rằng »Thế pháp, xuất thế pháp đều không thật, chỉ là danh.«

nhất thuyết bộ

Ekavyavaharika (skt)—Trường phái Tiểu thừa cho rằng vạn hữu giả định chứ không có thực thể—Hinayana school (nominalistic) which considered things as nominal without underlying reality. ; (一說部) Phạm: Eka-vyavahàrika. Cũng gọi Y kha tì bộ, Bà ha lị kha bộ, Tì bà ha la bộ, Chấp nhất ngữ ngôn bộ. Một trong 20 bộ phái Tiểu thừa, là bộ phái được tách ra từ Đại chúng bộ vào khoảng 200 năm sau đức Phật nhập diệt, do bất đồng quan điểm về thuyết Hiện tại hữu thể, quá khứ, vị lai vô thể mà Đại chúng bộ chủ trương. Vì bộ này cho rằng tất cả các pháp đều hông có thực thể, chỉ có giả danh mà thôi, nên gọi là Nhất thuyết bộ, lập trường tư tưởng khác hẳn với tông chỉ của Đại chúng bộ nên mới lập ra 1 bộ phái riêng biệt. Ngài Khuy cơ và ngài Pháp tạng chia 20 bộ phái Tiểu thừa làm 6 tông, gọi bộ phái này là Chư pháp đãn danh tông, thuộc về Phần thông Đại thừa. Vì bộ phái này chủ trương các pháp đều là giả danh, không có thực thể, nên không khác với thuyết Giai không của Bát nhã. [X. luận Dị bộ tông luân; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Dị bộ tông luân luận thuật kí phát nhận Q.thượng, trung].

nhất thuấn

(一瞬) Một nháy mắt. Theo luật Ma ha tăng kì, thì 20 nháy mắt là 1 cái búng móng tay. Pháp trì trai của người tu hành qui định chỉ ăn vào lúc đúng giờ Ngọ, nếu mặt trời đã xế qua giờ Ngọ khoảng 1 nháy mắt thì không được ăn. [X. luật Ma ha tăng kì Q.17].

nhất thuỷ tứ kiến

(一水四見) Cũng gọi Nhất xứ tứ kiến, Nhất cảnh tứ kiến, Nhất cảnh tứ tâm. Một dòng nước 4 cái thấy. Nghĩa là cùng 1 cảnh giới mà tùy theo nghiệp mỗi loài lại thấy khác nhau. Theo Duy thức học thì cùng là 1 dòng nước, mà người trời nhìn vào thì cho là ao báu trang nghiêm; người thế gian thấy thì cho là ao nước; trong con mắt của ngã quỉ thì đó là 1 hồ máu mủ; còn các loài thủy tộc như tôm, cá thì lại coi đó là chỗ ở đẹp đẽ của chúng. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.4; Đại minh tam tạng pháp số Q.18].

nhất thành

(一成) Một thành, chỉ cho 1 người thành đạo, hoặc chỉ cho 1 việc được thành tựu.

nhất thành nhất thiết thành

Với sự đại giác của Như Lai, tất cả chúng sanh rồi đây sẽ đạt thành đại giác. Một người toàn thiện mọi người rồi đây sẽ được toàn thiện—With the Tathagata's enlightenment all beings were enlightened—In the perfection of one all are perfected—One deed includes all. ; (一成一切成) Một thành thì tất cả thành. Nghĩa là nếu 1 việc thành tựu thì tất cả mọi việc đều được thành tựu. Đây chỉ cho cảnh giới của người thành đạo theo quan điểm Sự sự vô ngại pháp giới của tông Hoa nghiêm. Kinh Hoa nghiêm quyển 52 (bản dịch mới) và Hoa nghiêm kinh sớ quyển 2 nói rằng, khi đức Như lai thành Chính giác, Ngài thấy tất cả chúng sinh cũng thành Chính giác và thấy hết thảy chúng sinh đều vào Niết bàn, đều cùng 1 tính, đó là vô tính. Do lí bao hàm sự nên nói Nhất thành nhất thiết thành, còn do sự bao hàm lí thì nói Giai hữu sở thành(đều có chỗ thành tựu). Ngoài ra, trong Hoa nghiêm kinh chỉ qui và Hoa nghiêm kinh vấn đáp quyển thượng thì có nhóm từ Nhất đắc nhất thiết đắc tức đồng nghĩa với Nhất thành nhất thiết thành. [X. Hoa nghiêm ngũ thập yếu vấn đáp Q.thượng; Tân Hoa nghiêm kinh luận Q.1].

Nhất thân

一身; C: yīshēn; J: isshin;|1. Một thân, một người; 2. Chỉ một đời; đời nầy (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).

nhất thân

(一身) Một thân. Thân ở đây hàm ý là Pháp thân. Vì chư Phật trong 10 phương đã trừ sạch vô minh lậu hoặc, thể pháp tính hoàn toàn hiện bày, không có sắc tướng mình, người khác nhau, nên gọi là Nhất thân. Như kinh Hoa nghiêm nói, thân của hết thảy chư Phật chỉ là 1 Pháp thân.

nhất thông

(一通) Một hồi. Khi đánh trống, đánh bảng, đánh khánh... bắt đầu đánh chậm, sau nhanh dần, đến sau cùng đánh thật nhanh rồi đổ hồi, như thế gọi là Nhất thông. Điều Thướng đường trong Thiền uyển thanh qui quyển 1 (Vạn 111, 443 thượng) nói: Nghe 1 hồi trống, vị Thủ tọa và đại chúng lên Pháp đường.

nhất thượng thần thông

(一上神通) I. Nhất Thượng Thần Thông. Chỉ cho 1 lần hiện thần thông. II. Nhất Thượng Thần Thông. Thần thông ưu việt thù thắng nhất, là thần thông của Phật, là đại thần thông, thần thông tối thượng, khác với 6 thần thông của Phật giáo Tiểu thừa. Trong Phật giáo Tiểu thừa, thần thông là biểu hiện thần biến không thể nghĩ bàn. Trong Thiền tông thì thần thông được biểu hiện qua 4 uy nghi: Đi, đứng, ngồi, nằm tự do tự tại, không bị bất cứ việc gì ràng buộc.

nhất thải lưỡng tái

(一彩兩賽) Tiếng dùng trong Thiền lâm. I. Nhất Thái Lưỡng Tái. Chỉ cho trên mặt của 2 con xúc xắc, cùng lúc hiện ra 1 con số như nhau. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được dùng để ví dụ giữa 2 người, không phân biệt được ai hơn ai kém. II. Nhất Thái Lưỡng Tái. Thái chỉ cho sự thắng lợi, Tái chỉ cho sự tranh đua. Nhất thái lưỡng tái có nghĩa là trong 2 lần tranh tài, được 1 lần thắng lợi.

nhất thất nhật

(一七日) Cũng gọi Sơ thất nhật, Sơ nguyện kị, Thủy thiện kị, Khốc thiêm kị. Tuần thất đầu trong 7 tuần thất (7 ngày đầu tiên trong 49 ngày) của thân trung ấm. Tức là 7 ngày đầu sau khi người ta chết. [X. điều Truy kị danh số chi thứ đệ trong Chư hồi hướng thanh qui Q.4].

nhất thần giáo

Monotheism—Chủ nghĩa nhất thần giáo. ; (一神教) Tông giáo tín ngưỡng 1 vị thần duy nhất, như Do thái giáo, Cơ đốc giáo, Hồi giáo... Ba tông giáo này đều cho rằng vị thần mà họ tin thờ là chúa tể sáng tạo ra thế giới, ở khắp mọi nơi và không việc gì mà không làm được, đồng thời, tuy không phủ nhận sự tồn tại của các tinh linh ma quỉ hoặc thiên sứ, nhưng cho những loại này không đáng được gọi là thần, vì chúng không phải là thần sáng tạo ra thế giới mà trái lại là những vật bị tạo. Vị thần tối cao của Ấn độ cổ đại là từ 1 vị thần này chuyển hóa đến 1 vị thần khác gọi là Giao thế thần giáo (Kathenotheism), từ trong nhiều vị thần được tin thờ, chọn ra 1 vị làm thần tối cao, gọi là Đơn nhất thần giáo (Henotheism). Đến thời đại Phạm thư, thuyết sáng tạo đã sản sinh ra Tạo vật chủ (Phạm:Prajàpati) được xem là thần tối cao duy nhất. Tông giáo của cổ Ai cập cũng thuộc loại Đơn nhất thần giáo. Nhưng, đối với những vấn đề như: Sự quan hệ giữa vị thần duy nhất này và thế giới được sáng tạo ra, rồi giữa nhân cách tính của thần duy nhất và tính chân lí... như thế nào, thì đã phát sinh nhiều tranh luận. Riêng đối với Phật giáo thì chưa hề giả định sự tồn tại của bất cứ vị nhất thần nào và chính đức Phật cũng đã phủ nhận thuyết thần sáng tạo thế giới. Ngài chủ trương hết thảy sự vật hiện hữu đều là Pháp (dharma), do các mối quan hệ và những điều kiện hỗ tương cấu thành, chứ không phải do vị thần nào sáng tạo.

nhất thật

Chân lý tối thượng—The one reality—The bhutatathata—The supreme fact, or ultimate reality. ; (一實) Cũng gọi Nhất thực chân như, Nhất thực đế. I. Nhất Thực. Tuyệt đối, chân thực. Tức lí thể chân như thực tướng. Thực là thực tướng không điên đảo, không hư dối, bình đẳng không 2, bởi thế Thực đế là 1 trong các Thắng đế.II. Nhất Thực. Giáo pháp lấy Nhất thực làm lí thể, giáo hóa chúng sinh thành Phật, vì nó vận chuyển chúng sinh bằng Nhất thừa, nên đặc biệt được gọi là Nhất thừa giáo pháp. III. Nhất Thực. Theo tông Tịnh độ, Nhất thực chỉ cho bản nguyện của đức Phật A di đà. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.4].

nhất thật cảnh giới

(一實境界) I. Nhất Thực Cảnh Giới. Chỉ cho cảnh giới giác ngộ chân thực, bình đẳng. II. Nhất Thực Cảnh Giới. Chỉ cho tâm thể tự tính thanh tịnh của chúng sinh. Kinh Chiêm sát quyển hạ (Đại 17, 907 thượng) nói: Nhất thực cảnh giới là tâm thể của chúng sinh, từ xưa đến nay không sinh không diệt, tự tính thanh tịnh, không có chướng ngại, lìa mọi phân biệt, bình đẳng trùm khắp giống như hư không. III. Nhất Thực Cảnh Giới. Chỉ cho Pháp thân của đức Như lai.

nhất thật cảnh trí

Theo Giáo Sư Soothill trong Từ Điển Phật Học Trung Hoa—According to Professor Soothill in the Dictionary of Chinese Buddhist Terms: 1) Trạng thái nhất thật: The state or realm of “one reality.” 2) Sự chứng ngộ thật tánh của chư pháp: The realization of the spirituality of all things. 3) Như Lai pháp thân: The Tathagata-dharmakaya.

nhất thật lí

(一實理) Phạm: Ghanaika-sàra. Chỉ cho diệu lí chắc thực duy nhất. Tối thắng diệu cát tường căn bản trí tối thượng bí mật nhất thiết danh nghĩa Tam ma địa phần quyển thượng (Đại 20, 809 hạ) nói: Kim cương nhất thực lí Tối thượng trong thế giới Trí như không tự nhiên Mắt đại trí đại tuệ.

nhất thật quán

(一實觀) Pháp quán chân thực không hai. Kinh Đại bảo tích quyển 112 (Đại 11, 634 trung) nói: Cho dù kết nghiệp đã huân tập qua trăm nghìn muôn kiếp, nhưng chỉ dùng pháp quán chân thực duy nhất mà quán chiếu, thì tất cả đều bị tiêu diệt.

nhất thật thần đạo

(一實神道) Cũng gọi Sơn vương nhất thực thần đạo, Thiên thai thần đạo. Tên gọi của Thần đạo Nhật bản. Tín ngưỡng Thần đạo nương vào giáo pháp Nhất thừa chân thực trong kinh Pháp hoa mà phát triển. Đạo này xuất hiện từ đầu thời Liêm thương hoặc cuối thời kì Bình an, đến thời đại Giang hộ thì lưu hành rộng rãi. Tư tưởng Thần đạo bắt nguồn từ Nhật cát thần sơn vương –Địa chủ thần– của chùa Diên lịch ở núi Tỉ duệ, trong 21 thần xã thì Đại cung và Nhị cung là trung tâm; 21 xã này được phối với 7 xã Sơn vương thuộc Phật và Bồ tát, trong đó, 3 xã: Đại cung, Nhị cung và Thánh chân tử là Hóa thân của các đức Phật: Thích ca, Dược sư và Di đà. Lại nữa, bản địa Thích ca của Bản cung và bản địa Đại nhật Như lai của Y thế đại thần cung là cùng 1 thể, không hai. Ngoài ra, tất cả các thần đều có hể được gọi là Hóa thân của đức Phật Thích ca. Thuyết này được lưu hành khắp vùng Thiên hải vào đầu thời kì Giang hộ tại Nhật bản. Từ việc sáng lập Đông chiếu ở núi Nhật quang, đến việc trấn thủ các thành Nhật cát xã và việc thờ cúng, người ta đều có thể thấy sự thịnh hành này.

nhất thật thừa

Thừa chân thật (cứu độ chúng sanh)—The one method of salvation. ; (一實乘) Lí chân thực duy nhất. Bởi vì giáo pháp chân thực là bình đẳng không hai, có năng lực chuyên chở chúng sinh sang bờ Niết bàn bên kia, nên gọi là Thừa.

nhất thật tướng

Tướng chân như—The state of bhutatathata. 1) Vượt trên mọi sai biệt: Above all differentiation. 2) Bất chuyển: Immutable. 3) Ám chỉ Phật tánh: It implies the Buddha-nature. 4) Ám chỉ tính phi vật chất và đồng nhất của vạn hữu: It implies the immateriality and unity of all things. ; (一實相) Chỉ cho lí chân thực không hai, tức là chân như, pháp tính. Vì lí này không 2, không khác, lìa mọi hư vọng, nên gọi là Nhất thực tướng. Vãng sinh yếu tập quyển trung (Đại 84, 66 hạ) nói: Chúng sinh còn mê mộng chưa tỉnh, không thể hiểu được Nhất thực tướng, sinh ra các vọng tưởng thị phi, cho nên phải luân hồi trong 5 đường.

nhất thật tướng ấn

(一實相印) Ấn Nhất thực tướng. Nhất thực tướng là lí chân thực lìa các hư vọng; Ấn là tín, như các công văn ở thế gian có đóng dấu mới tin được. Cũng thế, các kinh Đại thừa do đức Phật nói đã được ấn định bằng lí Thực tướng, ngoại đạo không thể trà trộn, thiên ma không thể phá hoại. Hễ giáo pháp có Thực tướng ấn là do Phật nói, nếu không có là do ma nói.[X. phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa Q.1; luận Đại trí độ Q.22; Pháp hoa huyền nghĩa Q.8, phần đầu].

nhất thật viên thừa

(一實圓乘) Chỉ cho kinh Pháp hoa. Kinh Pháp hoa thuyết minh giáo chỉ viên đốn, cho nên được gọi là Nhất thực viên thừa.

nhất thật viên thừa (trong kinh pháp hoa)

Như Lai Viên Thừa—Tathagata's Perfect Vehicle (in the Lotus Sutra).

Nhất thật viên tông

一實圓宗; C: yīshíyuánzōng; J: ichijitsu-enshū;|Tên gọi khác của tông Thiên Thai (天台宗).

nhất thật viên tông

The One Real and Perfect School. ; (一實圓宗) Chỉ cho tông Thiên thai. Tông Thiên thai chủ trương giáo pháp viên đốn Nhất thừa thực tướng, cho nên được gọi là Nhất thực viên tông.

nhất thật vô tướng

Vô tướng là một sự thật không thể phân cách được—The one reality being indivisible is apart from all transient (or empty) forms, and is therefore styled the formless—The invisible. ; (一實無相) Chỉ cho diệu thể chân lí cùng tột, tuyệt đối không hai và xa lìa tất cả tướng hư vọng, đó chính là thực tướng của các pháp. Kinh Vô lượng nghĩa (Đại 9, 385 hạ) nói: Vô lượng nghĩa từ 1 pháp sinh ra, 1 pháp ấy chính là vô tướng. Vô tướng tức chẳng phải tướng, chẳng phải tướng tức vô tướng, như thế gọi là Thực tướng.

nhất thật đế

(一實諦) Lí Nhất thực tướng Trung đạo. Nhất thực tướng này vốn không hư dối, không điên đảo, dù Thánh dù phàm, bản tính không hai, vì thế gọi là Nhất thực đế. [X. kinh Niết bàn Q.13 (bản Bắc)].

nhất thế

Một đời—Lifetime.

Nhất thể

一體; J: ittai;|Chỉ kinh nghiệm »là một« với vũ trụ khi chứng ngộ chân lí. Tất cả những hiện tượng, tất cả các pháp chẳng khác Nhất thể, đều quy về Nhất thể.

nhất thể

Dù tướng có khác, tánh vẫn đồng—Though externally differing, in nature the same. ; (一體) Thể của chân tâm thường trụ. Tự tính thanh tịnh 1 thể không 2, vọng tưởng bỗng sinh, cảnh giới liền hiện. Do đó, chúng sinh hữu tình, quốc độ vô tình, từ 1 chân tâm vọng sinh làm 2; nên biết hữu tình, vô tình đều do tự tâm chúng sinh biến hiện, chẳng phải vật bên ngoài. Vì thế có câu: Tình dữ phi tình cộng nhất thể (Tình và phi tình cùng 1 thể).

nhất thể tam bảo

(一體三寶) Cũng gọi Đồng thể tam bảo, Đồng tướng tam bảo. Tam bảo cùng 1 thể, là 1 trong 3 loại Tam bảo. Tam bảo là Phật, Pháp, Tăng, tên gọi tuy khác nhưng bản thể chỉ là 1. Nhất thể có 3 nghĩa: 1. Về mặt sự: Trong Phật thể, nghĩa giác chiếu, là Phật bảo; nghĩa đáng làm khuôn phép, là Pháp bảo, nghĩa hòa hợp không tranh chấp, là Tăng bảo. Ba nghĩa này tuy có khác, nhưng đức thể không khác, nên gọi là Nhất thể. Đây là giáo nghĩa chung của cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa. 2. Về mặt thể: Sự tuy có khác nhưng thể thì đều là không. Đây là giáo nghĩa riêng của Đại thừa. 3. Về mặt tính: Tam bảo tuy có khác, nhưng đều lấy thực tính làm thể. Nghĩa này cũng chỉ giới hạn trong giáo nghĩa Đại thừa.Hoa nghiêm khổng mục chương quyển 2 (Đại 45, 554 thượng) nói: Đồng tướng tam bảo vốn là cùng 1 chân như pháp tính, có 3 nghĩa khác nhau: Giác ngộ, quĩ pháp và hòa hợp, vì thế gọi là Tam bảo. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5, hạ].

nhất thể tam phần

(一體三分) Phạm: Trimùrti. Một thể chia làm 3, chỉ cho 3 vị trời Ma hê thủ la, Na la diên và Phạm thiên có cùng 1 thể mà chia ra 3. Đây là thuyết do ngoại đạo Tiểu thừa thành lập. Ngoại đạo Tiểu thừa lấy Phạm thiên làm thần sáng tạo. Ma hê thủ la làm thần hủy diệt, Na la diên làm thần duy trì; bởi thế cho Phạm thiên là nhân, Na la diên là quả. [X. luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn].

nhất thể tam thân tự tánh phật

In one's own body to have the Trikaya.

nhất thể tam thân tự tính phật

(一體三身自性佛) Tự tính Phật 1 thể 3 thân. Hãy quay về qui y nơi 3 thân Phật: Pháp thân, Báo thân và Hóa thân mà tự tính vốn có đủ ngay trong sắc thân của chính mình. Lục tổ đàn kinh (Đại 48, 354 trung) nói: Hãy qui y thanh tịnh pháp thân Phật trong sắc thân mình; qui y viên mãn báo thân Phật trong sắc thân mình; qui y thiên bách ức hóa thân Phật trong sắc thân mình.

nhất thể tốc tật lực tam muội

(一體速疾力三昧) Gọi đủ: Nhất thiết Như lai nhất thể tốc tật lực tam muội. Tam muội 1 thể có sức nhanh chóng, tên 1 loại tam muội của Mật giáo. Tam muội là tên khác của Thiền định. Nhất thể chỉ cho chữ A. Chữ A là thể tính qui nhất của các pháp, vì thế nên gọi là Nhất thể. Chữ A này có vô lượng vô biên công đức, có năng lực chứng được tất cả phúc trí 1 cách nhanh chóng, cho nên gọi là Tốc tật lực. Đại nhật kinh sớ quyển 6 (Đại 39, 646 thượng) nói: Nhất thiết Như lai nhất thể tốc tật lực tam muội; nghĩa là khi vào Tam muội này thì hành giả chứng biết hết thảy Như lai đều cùng 1 pháp giới trí thể, trong 1 niệm có thể lần lượt quán xét các môn Tam muội nhiều như số bụi nhỏ trong vô lượng thế giới hải, biết bao nhiêu chúng sinh ở trong các Tam muội kia đã được vào đạo; biết vị thiện tri thức kia đã vì bao nhiêu chúng sinh mà làm nhân duyên chủng tử, còn vì bao nhiêu chúng sinh chưa làm nhân duyên chủng tử. Hoặc biết có các chúng sinh vào các pháp môn như thế thì có khả năng vượt ngay lên mà thành Phật, còn nếu vào các pháp môn khác thì bị chậm trễ lâu dài, không thể thành Phật. Vì các căn tính khác nhau như thế nên các phương tiện tiến tới cũng theo đó mà có bất đồng. Cho đến du hí trong đó, lần lượt tu tập, xuất nhập vượt thế gian, ở mỗi mỗi pháp môn đều có thể thành tựu vô lượng chúng sinh, vì thế nên gọi là Nhất thể tốc tật lực tam muội.

Nhất thố mao trần

一兎毛塵; C: yītùmáochén; J: ichitomōjin;|Một nguyên tử của hạt bụi trên đầu sợi lông thỏ. Là đơn vị đo lường, bằng một phần 22.588.608.000 Do-tuần (s: yojana; theo luận Câu-xá 倶舎論).

nhất thốc phá tam quan

(一鏃破三關) Cũng gọi Khâm sơn nhất thốc phá tam quan. Tên công án của Thiền tông. Một mũi tên phá 3 cửa ải. Dùng 1 mũi tên bắn phá 3 cửa ải, ví dụ cho 1 niệm vượt qua 3 A tăng kì kiếp, 1 tâm quán xét suốt Tam quán (Không, Giả, Trung), 1 gậy đánh chết chư Phật trong 3 đời, trực tiếp tham cứu bản lai diện mục mà không phải trải qua bất cứ 1 giai đoạn nào. Công án này nói về cơ duyên cuộc vấn đáp giữa Thiền sư Khâm sơn Văn thúy ở Lễ châu vào đời Đường với Thiền khách Cự lương. Tắc 56 trong Bích nham lục (Đại 48, 190 thượng) ghi: Thiền khách Cự lương hỏi ngài Khâm sơn: - Khi 1 mũi tên bắn phá 3 cửa ải thì thế nào?Ngài Khâm sơn đáp: - Hãy thả ông chủ cửa ải ra xem. Cự lương hỏi: - Làm sao biết lỗi để sửa? Ngài Khâm sơn trả lời: - Còn đợi đến bao giờ? Cự lương nói: - Như bắn tên không trúng đích. Cự lương nói xong đi ra. Ngài Khâm sơn bảo:- Hãy lại đây, Xà lê! Cự lương quay đầu lại, ngài Khâm sơn chặn lại nói: - Thôi, hãy gác việc 1 mũi tên phá 3 cửa ải lại, giờ hãy thử bắn tên với Khâm sơn này xem sao! Cự lương định nói. Ngài Khâm sơn đánh cho 7 gậy bảo: - Hãy để cho gã này ngờ 30 năm. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.17].

nhất thốn quang âm nhất thốn kim

Thời giờ là tiền bạc—Time is money.

Nhất thời

(一時): nghĩa là một lúc, một thời, một thưở nọ, v.v. Lúc đức Phật tại thế, xã hội Ấn Độ đang còn thời đại hình thức bộ lạc, rất nhiều các nước lớn nhỏ khác nhau; mỗi nước đều có lịch pháp (cách thức tính ngày giờ) khác nhau. Dưới thời đại nhà Thương Chu (商周, 1134-250 trước công nguyên) của Trung Quốc cũng có lịch pháp, nhưng đồng nhất với nhau. Hai chữ “nhất thời” này là thời gian cảm ứng đạo giao giữa chúng sanh và chư Phật; như thời gian trôi qua, có thể xoay trở lại quá khứ. Thiên Thai Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-597), người sáng lập ra Thiên Thai Tông Trung Quốc, vị cao tăng nhà Tùy (隋, 581-618), cách thời đức Phật hơn cả ngàn năm. Vậy mà khi Đại Sư đọc đến Phẩm Dược Vương (藥王品) của Pháp Hoa Kinh thì nhập định, thấy đến chỗ Phật đang thuyết giảng Pháp Hoa Kinh tại Linh Thứu Sơn (s: Gṛdhrakūṭa, p: Gijjhakūṭa, 靈鷲山) và lắng nghe thuyết pháp suốt cả hội. Sau khi ra khỏi định, Đại Sư bảo chúng đệ tử hay rằng Hội Linh Sơn vẫn còn đó vẫn chưa bao giờ tan rã. Chữ “nhất (一)” ở đây còn có nghĩa là “nhất tâm (一心)”. Nhất tâm chính là chân tâm, tức không có sự hiện hữu của thời gian quá khứ, hiện tại hay tương lai gì cả. Cho nên, người Nhật vẫn có câu ngạn ngữ xử thế là “Hito wo ugokasu ni wa magokoro wo motte (人を動かすには真心を持って, muốn làm động lòng người thì hãy lấy chân tâm mà sống).” ; 一時; C: yīshí; J: ichiji; S: ekaṃ-samayam.|1. »Một lần nọ«, »Thời ấy«, thường được dùng trong đoạn mở đầu kinh văn do đức Phật thuyết, không nhất thiết đề cập đến một thời gian cụ thể nào; 2. Cùng một lúc.

nhất thời

1) Một thuở nọ—Thus I have heard—A session of expounding a sutra. 2) Provisional—Temporary. ; (一時) Phạm: Skasmiô samaye. Pàli: Ekaô samayaô. Một thời gian nọ, thủa nọ. Tức chỉ cho đức Phật nói pháp vào 1 lúc nào đó. Các kinh Phật đều mở đầu bằng câu: Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại...(Tôi nghe như vầy, một thời kia đức Phật ở tại...). Đây là 1 trong 6 thứ thành tựu trong phần tựa của các kinh. Luận Kim cương tiên quyển 1 (Đại 25, 801 thượng) chép: Đã nói là tôi nghe thì ắt phải có thời gian, cho nên tiếp theo nói nhất thời (...). Nhưng nhất thời ở đây không nói rõ thời điểm nên không biết vào thời gian nào. Cứ theo Thiên thai quán kinh sớ thì thời có 2 thứ là Ca la và Tam ma da. Ca la, cũng gọi Thực thời, là thời gian ngắn; còn Tam ma da, cũng gọi Giả thời, là thời gian dài. Song, bất luận là thời gian dài hay ngắn, thực hay giả, cứ mỗi khi đức Phật nói xong 1 kinh, thì gọi là Nhất thời. [X. luận Đại trí độ Q.1; Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh sớ Q.thượng; Pháp hoa văn cú Q.hạ].

nhất thời nhất thiết thời

(一時一切時) Một thời tức tất cả thời. Nghĩa là trong khoảng chốc lát tức vô lượng kiếp. Bởi vì trí và cảnh của Như lai viên dung, có thể kéo dài hoặc rút ngắn 1 cách tự tại vô ngại, cho nên có thể rút ngắn nhiều kiếp lại thành 1 giờ, kéo dài 1 giờ ra thành nhiều kiếp.

nhất thụ chi ấm nhất hà chi lưu

(一樹之蔭一河之流) Một bóng cây, 1 dòng sông. Nghĩa là mọi người cùng ngồi dưới 1 bóng cây, cùng bơi qua 1 con sông, đó là do cùng nhân duyên ở đời trước mà tạo thành quả như vậy.

nhất thủ tồi nhất thủ duệ

(一手推一手拽) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một tay đẩy, 1 tay kéo. Thiền tông dùng từ ngữ này để nói về pháp đối cơ tự do vô ngại mà Thiền sư ứng dụng khi khai thị cho người học. Tắc 35 trong Thung dung lục (Đại 48, 250 trung) chép: Ngài Giáp sơn nói: Gà sao đậu trong tổ phượng? Đâu có phải đồng loại với phượng? Hãy ra đi! (Một tay đẩy, 1 tay kéo).

nhất thủ đài nhất thủ nại

(一手抬一手捺) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một tay nâng, 1 tay đè. Trong Thiền lâm, cụm từ này được sử dụng để chỉ cho phương pháp đối cơ tự do vô ngại của Thiền sư khi dắt dẫn người học. Tắc 22 trong Thung dung lục (Đại 48, 241 trung) ghi: Sư nói: Ông già Động sơn chẳng biết tốt xấu gì cả, ta lúc ấy 1 tay nâng, 1 tay đè.

nhất thủy tứ kiến

Chúng sanh nhìn nước qua 4 cách—The same water may be viewed in four ways: 1) Cõi trời nhìn nước như đất bảo thạch: Devas see it as bejewelled land. 2) Người nhìn nước như nước: Men see it as water. 3) Ngạ quỷ nhìn nước như máu mủ: Hungry ghosts see it as pus and blood. 4) Cá nhìn nước như một nơi để sống: Fish sees water as a place to live in.

nhất thức

Tông Thành Thực cho rằng vạn hữu duy tâm—The Satyasiddhi Sect considered that all things are just one mind. ; (一識) Một thức. Tông Thành thực và Kinh bộ Tiểu thừa chủ trương chúng sinh chỉ có 1 thức duy nhất. Tức là thu tóm các thức như: Nhất thiết nhất tâm thức, A lại da thức, Mạt na thức, Ý thức... mà thành lập Nhất thức. Nhất thức này nhờ vào 6 căn để nhận biết 6 cảnh và mượn ví dụ 1 con vượn 6 cửa sổ để thuyết minh. Mật giáo cũng lập Nhất thức và lấy đó làm Pháp giới thể tính trí của Trung đài Đại nhật tôn.

nhất thức ngoại đạo

(一識外道) Ngoại đạo chủ trương trong thân người ta chỉ có 1 thức duy nhất. Họ cho rằng 1 thức này thường nương vào 6 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, để duyên theo cảnh bên ngoài, giống như người ta nuôi 1 con vượn trong căn nhà có 6 cửa sổ trông ra ngoài. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển hạ (Đại 40, 151 thượng) nói: Nhất thức ngoại đạo chủ trương có 1 thức, như 1 căn phòng có 6 cửa sổ, con khỉ đi dạo khắp nơi; căn cũng như thế, 1 thức thông khắp. Đây chính là ví dụ 6 cửa sổ 1 con vượn vậy.

Nhất Thừa

(s: eka-yāna, p: ekāyana, 一乘): hay còn gọi là Nhất Phật Thừa (一佛乘), là từ dùng để đối với Tam Thừa (s: tri-yāna, 三乘, gồm Thanh Văn [聲聞], Duyên Giác [緣覺] và Bồ Tát [菩薩]). Phát xuất từ lời dạy trong Phẩm Phương Tiện của Kinh Pháp Hoa (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 法華經) rằng: “Thập phương Phật độ trung, duy hữu Nhất Thừa pháp, vô nhị diệc vô tam. Chư Phật dĩ phương tiện lực, ư Nhất Phật Thừa phân biệt thuyết tam (十方佛土中、唯有一乘法、無二亦無三、 諸佛以方便力、於一佛乘分別說三, trong quốc độ của mười phương các đức Phật, chỉ có một pháp Nhất Thừa, không có hai cũng chẳng có ba. Các đức Phật dùng sức phương tiện nơi Nhất Phật Thừa mà phân biệt nói thành ba)”, Kinh Pháp Hoa lấy ba loại xe dê, nai và trâu để ví dụ cho Tam Thừa (ba cỗ xe), còn xe trâu trắng thì ví cho Nhất Thừa (một cỗ xe).

Nhất thừa

cũng gọi là Phật thừa, Đại thừa, là pháp duy nhất đạt đến sự giải thoát rốt ráo, khác với giáo pháp của Thanh văn thừa và Duyên giác thừa là giáo pháp phương tiện dùng để dẫn dắt người sơ cơ có căn tánh chậm lụt, nên chưa thể đạt đến sự giải thoát rốt ráo. Xem thêm Ba thừa. ; 一乘; C: yīshèng; J: ichijō; S: ekayāna;|Là »Cỗ xe duy nhất« đưa chúng sinh đến Giác ngộ, thành Phật; danh từ này bao hàm hai ý nghĩa. Với cái nhìn tương đối thì danh từ Nhất thừa chính là Phật thừa (佛乘; s: buddhayāna), Bồ Tát thừa (菩薩乘; s: bodhisattvayāna) hoặc Ðại thừa (大乘; s: mahāyāna), được dùng đối ngược với Tiểu thừa (s: hīnayāna) hoặc Ðộc giác thừa (s: pratyekabuddhayāna). Với ý nghĩa tuyệt đối, Nhất thừa bao gồm cả ba cỗ xe (s: triyāna), bao gồm giáo lí có tính chất tạm thời của chúng và chuyển hoá chúng.|Sau sự xuất hiện của khái niệm Nhất thừa, không còn giáo pháp nào của Phật pháp trước đó có thể tồn tại được vì giáo pháp tối thượng đã là nội dung của Nhất thừa. Khái niệm Nhất thừa được đề xướng trong kinh Diệu pháp liên hoa, trong kinh được Phật cho là cao siêu nhất.|Theo giải thích của Khuy Cơ (窺基), giáo lí Nhất thừa của Pháp tướng tông (法相宗) có hai bậc, Nhiếp nhập đại thừa (攝入大乗) và Xuất sinh đại thừa (出生大乗). Nhiếp nhập đại thừa là phương tiện tiếp dẫn người có căn tính bất định (不定性) đến với Nhất thừa, vì thức thể của mỗi chúng sinh khó có khả năng nhận ra Phật tính, cho nên giáo lí nầy khó tương ưng toàn diện với ý nghĩa Nhất thừa. Nhưng vì tất cả đương cơ trong pháp hội kinh Pháp hoa (法華經) đều có khả năng thành Phật, nên giáo lí nầy trở nên rất chân xác và thiết thức trong trường hợp đó. Xuất sinh Đại thừa có nghĩa là tất cả các pháp môn của Phật đều chỉ »xuất sinh« từ giáo lí Đại thừa. Khuy Cơ cho rằng đây là giáo lí trong kinh Thắng-man (勝鬘經; s: śrīmālā-sūtra) và kinh Niết-bàn (涅槃經; s: nirvāṇa-sūtra). Theo Hoa Nghiêm tông (華嚴宗) và Thiên Thai tông (天台宗) thì có sự phân biệt giữa Nhất Phật thừa nầy với Bồ tát thừa trong hệ thống Tam thừa.

nhất thừa

(一乘) Phạm: Eka-yàna. Cũng gọi Phật thừa. Thừa có nghĩa vận chuyển, chuyên chở. Đức Phật nói pháp Nhất thừa, khiến chúng sinh nhờ đó tu hành, ra khỏi biển khổ sinh tử, vận chuyển đến bờ Niết bàn bên kia. Kinh Pháp hoa dùng hình ảnh của cỗ xe bằng 7 báu do trâu trắng lớn kéo để đưa chúng sinh ra khỏi vòng luân hồi sinh tử. Việc đức Phật ra đời cốt nhằm giảng nói kinh Pháp hoa, nhưng vì căn cơ của chúng sinh không giống nhau, cho nên đức Phật phải nói giáo pháp Tam thừa trước, khiến chúng sinh dần dần thuần phục, rồi sau mới dẫn dắt họ vào pháp Nhất thừa. Như kinh Pháp hoa nói: Từ 1 thừa phân biệt nói thành 3, cuối cùng đến thời Pháp hoa, đức Phật mới gom những hạnh nhỏ hẹp của Tam thừa về Nhất thừa rộng lớn. [X. phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa Q.1; phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa Q.2].

nhất thừa biệt giáo

Trong đó nhất thừa được nêu lên hoàn toàn khác biệt hay độc lập với những thừa khác như trường hợp giáo lý Hoa Nghiêm trong đó nói lên học thuyết về thế giới hỗ tương dung nhiếp. Nhất Thừa cao hơn ba thừa kia. Nhất thừa là chân thật còn ba thừa được coi như là quyền biến (tam quyền nhất thật): One Vehicle of the Distinct Doctrine in which the One Vehicle is set forth entirely distinct or independent from the other Vehicles, as in the case of the teaching of the Avatamsaka School, in which the doctrine of the world of totalistic harmony mutually relating and penetrating is set forth. The One Vehicle is higher than the other three. The One Vehicle is real while the three are considered as temporary. Theo Khuê Phong—According to Kuei-feng:

Nhất thừa Bồ Tát

一乘菩薩; C: yīshèng púsà; J: ichijō bo-satsu;|Là vị Bồ Tát đã nhận thức được chân lí Nhất thừa.

nhất thừa bồ đề

Nhất thừa giác ngộ—The One-Vehicle enlightenment. ; (一乘菩提) Đối lại: Nhị thừa bồ đề phương tiện, Tam thừa bồ đề phương tiện. Hàm ý là Bồ đề chân thực.

nhất thừa chi bảo

See Nhứt Thừa Chi Bảo.

nhất thừa chân thật tam thừa phương tiện

(一乘真實三乘方便) Nhất thừa giáo là giáo pháp chân thực, Tam thừa giáo là giáo pháp phương tiện, do tông Thiên thai và tông Hoa nghiêm thành lập. (xt. Nhất Thừa).

nhất thừa cơ

(一乘機) Chỉ cho những căn cớ có khả năng tiếp nhận giáo pháp Nhất thừa. Các tông Hoa nghiêm, Thiên thai, Tịnh độ đều nói pháp Nhất thừa, cho nên những người có thể thụ trì các giáo pháp ấy đều được gọi là Nhất thừa cơ.

nhất thừa cứu cánh giáo

Nhất thừa viên giáo được tìm thấy trong Kinh Pháp Hoa—The One vehicle in its final teaching, as found in the Lotus Sutra.

nhất thừa cực xướng

(一乘極唱) Giáo pháp Nhất thừa là lí cùng tột của Đại thừa giáo. Pháp Nhất thừa không có hai, ba, vì là thuyết liễu nghĩa nên gọi là Cực xướng. Cũng chỉ cho pháp môn Trì danh niệm Phật cầu vãng sinh Tịnh độ cực lạc. Phật thuyết A di đà kinh nghĩa sớ (Đại 37, 356 trung) nói: Nhất thừa cực xướng chung qui là chỉ cho Lạc bang; trong vạn hạnh viên tu thì trì danh niệm Phật là thù thắng hơn cả.

nhất thừa diệu điển

Toàn thiện Đại thừa quyết đoán chỉ một con đường cứu độ trong Kinh Liên Hoa—The Perfect Mahayana which declares one way of salvation—The Lotus Sutra.

Nhất thừa gia

一乘家; C: yīshèngjiā; J: ichijōke;|Các trường phái và học giả Phật giáo xiển dương giáo lí Nhất thừa như: Hoa Nghiêm tông, Thiên Thai tông, Thiền tông, v.v…

nhất thừa gia

The one-vehicle family or sect.

nhất thừa hiển tánh giáo

One of the five divisions of the Avatamsaka School.

Nhất thừa hiển tính giáo

一乘顯性教; C: yīshèng xiǎnxìng jiāo; J: ichijō kenshō kyō;|Giáo lí Nhất thừa nhằm hiển bày bản tính. Một trong 5 dạng giáo lí Phật pháp do Khuê Phong Tông Mật phân loại (Nguyên nhân luận 原人論).

nhất thừa hiển tính giáo

Trình bày Phật tánh phổ quát. Nhất Thừa Hiển Giáo bao gồm cả Đại thừa chung giáo, Đốn giáo và Viên giáo—The one vehicle which reveals the universal Buddha-nature. It includes the Mahayana in its final stage, the immediate and the complete or perfect teaching of the Hua-Yen. ** For more information, please see Ngũ Thời Giáo. ; (一乘顯性教) Giáo pháp trên hết trong 5 giáo do ngài Khuê phông Tông mật thuộc tông Hoa nghiêm thành lập. Ngài Tông mật chủ trương kinh Hoa nghiêm là giáo pháp Nhất Phật thừa cùng tột, là pháp ẩn mật không cần phương tiện, chỉ thẳng tự tâm tức là chân tính bản giác, xa lìa các vọng tưởng chấp trước, thấy được trí tuệ sâu rộng của Như lai ngay trong thân mình, vì thế phán đó là Nhất thừa hiển tính giáo. (xt. Ngũ Giáo).

nhất thừa hải

(一乘海) Biển pháp Nhất thừa, tức ví dụ giáo pháp Nhất thừa sâu rộng như biển cả. Quán kinh sớ Huyền nghĩa phần của ngài Thiện đạo, khi phán thích về kinh Quán vô lượng thọ có câu: Bồ tát tạng đốn giáo nhất thừa hải. (xt. Thệ Nguyện Nhất Thừa).

nhất thừa kinh

See Nhất Thừa Diệu điển. ; (一乘經) Chỉ cho kinh Pháp hoa. Vì kinh này nói rất rõ ràng về yếu chỉ của giáo pháp Nhất thừa, nên gọi là Nhất thừa kinh.

nhất thừa mãn giáo

(一乘滿教) Một trong 4 giáo do ngài Nguyên hiểu người Tân la (Cao li) thành lập. Ngài Nguyên hiểu chia giáo pháp do đức Phật nói trong 1 đời làm 4 giáo: Tam thừa biệt giáo, Tam thừa thông giáo, Nhất thừa phần giáo và Nhất thừa mãn giáo. Nghĩa của Nhất thừa mãn giáo cũng giống như giáo pháp kinh Hoa nghiêm, vì nói rõ đầy đủ lí của pháp giới nên gọi Mãn giáo. (xt. Hiểu Công Tứ Giáo).

nhất thừa pháp giới đồ

(一乘法界圖) Gọi đủ: Hoa nghiêm nhất thừa pháp giới đồ.Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Nghĩa tương (625-702) người Tân la soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung tác phẩm này dùng 30 câu thơ thể thất ngôn, tất cả có 210 chữ, xếp thành 1 đồ biểu gồm 54 góc, có phụ thêm lời chú thích, vịnh thuật về yếu chỉ Viên giáo nói trong kinh Hoa nghiêm và Thập địa kinh luận. Đồ biểu này được hình thành vào tháng 7, niên hiệu Tổng chương năm đầu (668) đời vua Đường cao tông, là văn hiến trọng yếu về tư tưởng Hoa nghiêm của Triều tiên. Về sách chú thích thì có: Pháp giới đồ kí tùng tủy lục, 4 quyển, trong đó có thêm đồ biểu về Nhất thừa pháp giới. Ba mươi câu thơ 7 chữ trong đồ biểu trên như sau: 1. Nhất vi trần trung hàm thập phương 2. Nhất thiết trần trung diệc như thị 3. Vô lượng viễn kiếp tức nhất niệm 4. Nhất niệm tức thị vô lượng kiếp 5. Cửu thế thập thế hỗ tương tức 6. Nhưng bất tạp loạn cách biệt thành 7. Sơ phát tâm thời tiện chính giác 8. Sinh tử Niết bàn thường cộng hòa 9. Lí sự minh nhiên vô phân biệt 10. Thập Phật thiện hiền đại nhân cảnh 11. Năng nhập Hải ấn tam muội trung 12. Phồn xuất như ý bất tư nghị 13. Vũ bảo ích sinh mãn hư không 14. Chúng sinh tùy khí đắc lợi ích 15. Thị cố hành giả hoàn bản tế 16. Hồi tức vong tưởng tất bất đắc 17. Vô duyên thiện xảo tróc như ý 18. Qui gia tùy phận đắc tư lương 19. Dĩ đà la ni vô tận bảo 20. Trang nghiêm pháp giới thực bảo điện 21. Cùng tọa thực tế Trung đạo sàng 22. Cựu lai Bất động danh vi Phật 23. Pháp tính viên dung vô nhị tướng 24. Chư pháp bất động bản lai tịch 25. Vô danh vô tướng tuyệt nhất sinh 26. Chứng trí sở tri phi dư cảnh 27. Chân tính thậm thâm cực triệt diệu 28. Bất thủ tự tính tùy duyên thành 29. Nhất trung nhất thiết đa trung nhất 30. Nhất tức nhất thiết đa tức nhất.

nhất thừa pháp môn

The one-vehicle method as revealed in the Lotus Sutra.

nhất thừa phân giáo

(一乘分教) Một trong 4 giáo do ngài Nguyên hiểu, người Tân la (Triều tiên), thành lập. Ngài Nguyên hiểu chia giáo pháp do đức Phật nói trong 1 đời làm 4 giáo: Tam thừa biệt giáo, Tam thừa thông giáo, Nhất thừa phần giáo và Nhất thừa mãn giáo. Ý nghĩa của Nhất thừa phần giáo cũng giống như những điều đã được nói trong kinh Phạm võng và kinh Anh lạc. Bởi vì Bồ tát không học chung với hàng Nhị thừa, nên gọi là Nhất thừa. Nhưng lại chưa thể làm cho lí viên dung trùm khắp của Phật pháp được sáng tỏ nên gọi là Phần giáo. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm huyền đàm Q.4]. (xt. Hiểu Công Tứ Giáo).

nhất thừa phật

The one Buddha-Yana

nhất thừa tam bảo

(一乘三寶) Một trong 6 loại Tam bảo. Pháp tu của chủng tính bất định. Cứ theo huyết của kinh Thắng man và kinh Pháp hoa thì Nhất thừa chỉ cho Tam bảo mà Nhất thừa căn bản có được, Phật, Pháp và Tăng đều bao hàm rong thể của Nhất thừa Tam bảo này; tức Pháp thân cứu cánh là Phật bảo, Pháp Nhất thừa là Pháp bảo và chúng Bồ tát tu pháp Nhất thừa là Tăng bảo. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 6 (Đại 45, 343 hạ) chép: Diễn nói pháp Nhất thừa được pháp thân cứu cánh, trên đó không còn nói pháp sự Nhất thừa. Cũng sách đã dẫn, quyển 6 (Đại 45, 345 thượng) nói: Chính pháp trụ, chính pháp diệt, Ba la đề mộc xoa, Tì ni, xuất gia, thụ Cụ túc, 6 phần này đều vì Đại thừa mà giảng nói. Bốn phần đầu là Pháp, 2 phần sau là Tăng, cho nên là Nhất thừa phương tiện, Nhị bảo cũng thuộc Nhất thừa.

nhất thừa tam thừa

(一乘三乘) Một thừa ba thừa. Giáo pháp duy nhất của Phật giáo có công năng làm cho tất cả chúng sinh đều thành Phật, nên gọi là Nhất thừa. Nhưng vì căn cơ, trình độ của chúng sinh không đều nhau, vì phải thích ứng để giáo hóa mang lại lợi ích cho tất cả chúng sinh, cho nên giáo pháp Nhất thừa được chia làm 3, gọi là Tam thừa. Danh từ Nhất thừa có xuất xứ từ các kinh như: Phẩm Minh nan trong kinh Hoa nghiêm, phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa, chương Nhất thừa trong kinh Thắng man... Nhất thừa cũng gọi là Phật thừa, Nhất Phật thừa, Nhất thừa giáo, Nhất thừa cứu cánh giáo, Nhất thừa pháp, Nhất đạo. Bộ kinh tuyên dương giáo pháp Nhất thừa được gọi là Nhất thừa kinh, còn người tin nhận và tu học theo giáo pháp Nhất thừa thì gọi là Nhất thừa cơ. Giáo pháp sâu rộng của Nhất thừa được ví dụ như biển cả, gọi là Nhất thừa hải. Vì Nhất thừa là giáo nghĩa cao nhất của Đại thừa, nên trong sách Phật có từ ngữ Nhất thừa cực xướng. Còn như kinh Pháp hoa là bộ kinh điển thuyết minh lí Nhất thừa, nên được gọi là Nhất thừa diệu điển, văn kinh của kinh Pháp hoa được gọi là Nhất thừa diệu văn. Cứ theo luận Cứu cánh Nhất thừa bảo tính quyển 2 và Đại thừa trang nghiêm kinh luận uyển 4, thì Thanh văn thừa thuộc Tiểu thừa, Hạ thừa; Duyên giác thừa thuộc Bích chi phật thừa, Độc giác thừa, Trung thừa; Bồ tát thuộc Đại thừa, Phật thừa, Như lai thừa, Thượng thừa. Bởi thế, giáo pháp của Tam thừa gọi là Tam thừa giáo. Thanh văn thừa và Duyên giác thừa không tin nhận giáo pháp Đại thừa, cho nên gọi là Ngu pháp nhị thừa; còn như hàng Bồ tát nhị thừa hồi tiểu hướng đại, thì gọi là Bất ngu pháp nhị thừa. Trong pháp Đại thừa, tông Pháp tướng chia chúng sinh làm 5 chủng tính, trong đó hàng Định tính Thanh văn, Định tính Duyên giác và Định tính Bồ tát tín thụ Tam thừa giáo, chỉ có hàng Bất định tính Bồ tát mới có thể tín thụ Nhất thừa giáo và chứng quả Phật, vì thế mới chọn lấy lập trường Tam thừa chân thực, Nhất thừa phương tiện. Nhưng tông Thiên thai và tông Hoa nghiêm thì ngược lại, xem Nhất thừa là Phật giáo chân thực, cho nên đều chủ trương Nhất thừa chân thực, Tam thừa phương tiện. Còn tông Tam luận thì cho Bồ tát thừa trong Tam thừa là chân thực, Nhị thừa là phương tiện. Ngoài Tam thừa ra, tông Thiên thai và tông Hoa nghiêm còn lập riêng Phật thừa. Vì vậy mà tông Pháp tướng và tông Tam luận được gọi là Tam xa gia; còn tông Thiên thai và tông Hoa nghiêm thì được gọi là Tứ xa gia. Sự khác nhau giữa Tam xa và Tứ xa có căn cứ trong phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa, đoạn thuyết minh về mối quan hệ giữa Tam thừa và Nhất thừa mà ra. Sau hết, tông Hoa nghiêm gọi nền giáo lí cùng tột là Nhất thừa Viên giáo mà cho các tông nghĩa khác là Biệt giáo. [X. phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa Q.1; kinh Giải thâm mật Q.2; luận Hiển dương thánh giáo Q.20; Nhiếp đại thừa luận thích Q.10 (ngài Huyền trang dịch)].

nhất thừa viên tông

Lotus school of the perfect teaching (One Vehicle—Thiên Thai Tông). ; (一乘圓宗) Chỉ cho tông Thiên thai. Vì tông này lấy diệu nghĩa của Nhất thừa viên đốn làm tông chỉ, nên có tên như trên.

nhất thừa yếu quyết

(一乘要决) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Nguyên tín, người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 74. Nội dung sách này phán quyết yếu chỉ về sự tranh luận giữa Tam thừa và Nhất thừa và thành lập nghĩa Nhất thừa chân thực, Tam thừa phương tiện. Đồng thời, soạn giả cũng suy tôn tư tưởng Nhất thừa của tông Thiên thai mà bài bác thuyết Ngũ tính các biệt của tông Pháp tướng, chủ trương tất cả chúng sinh đều có Phật tính, nên tất yếu phải dùng Nhất thừa để hóa độ hướng dẫn.

Nhất Thừa Đốn Ngộ

(一乘頓悟, Ichijōtongo): Đốn Ngộ (頓悟, Tongo) có nghĩa là đạt được sự chứng ngộ và khai mở tâm địa một cách nhanh chóng mà không trải qua từng giai đoạn theo thứ tự. Trái với Đốn Ngộ là Tiệm Ngộ (漸悟, chứng ngộ từ từ theo từng giai đoạn). Trong Lục Tổ Đàn Kinh (六祖壇經), Phẩm Bát Nhã (般若 品) có đoạn rằng: "Thiện tri thức ! Ngã ư Nhẫn Hòa Thượng xứ, nhất văn ngôn hạ tiện ngộ, đốn kiến chơn như bản tánh, thị dĩ tương thử giáo pháp lưu hành, linh học đạo giả đốn ngộ bồ đề. (善知識、我於忍和尚處、一聞言下便 悟、頓見眞如本性、是以將此敎法流行、令學道者頓悟菩提, Này thiện tri thức ! Ta nương náu nơi chỗ của Hòa Thượng Hoằng Nhẫn, một lần được nghe lời ngài dạy bèn giác ngộ, liền thấy bản tánh chơn như, nên lấy giáo pháp này mà lưu hành, khiến cho người học đạo nhanh chóng chứng ngộ bồ đề)". Nhất Thừa (s: Eka-yāna, p: Ekāyana, 一乘), hay còn gọi là Nhất Phật Thừa (一佛乘), từ dùng để đối với Tam Thừa (s: Tri-yāna, 三乘, gồm Thanh Văn [聲聞], Duyên Giác [緣覺] và Bồ Tát [菩薩]). Phát xuất từ trong lời dạy trong Phẩm Phương Tiện của Kinh Pháp Hoa (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 法華經) rằng: "Thập phương Phật độ trung, duy hữu Nhất Thừa pháp, vô nhị diệc vô tam. Chư Phật dĩ phương tiện lực, ư Nhất Phật Thừa phân biệt thuyết tam (十方佛土中、唯有一乘法、無二亦無三、 諸佛以方便力、於一佛乘分別說三, Trong quốc độ của mười phương các đức Phật, chỉ có một pháp Nhất Thừa, không có hai cũng chẳng có ba. Các đức Phật dùng sức phương tiện nơi Nhất Phật Thừa mà phân biệt nói thành ba)", Kinh Pháp Hoa lấy ba loại xe dê, nai và trâu để ví dụ cho Tam Thừa (ba cỗ xe), còn xe trâu trắng thì ví cho Nhất Thừa (một cỗ xe). Như vậy Nhất Thừa Đốn Ngộ có nghĩa là sự giác ngộ nhanh chóng của Nhất Thừa.

nhất thừa đồng giáo

One Vehicl of the Identical Doctrine—Trong đó nhất thừa được giảng thuyết bằng phương pháp đồng nhất hay tương tự với cả ba thừa. Nhất Thừa của tông Hoa Nghiêm bao gồm tất cả các thừa. Tuy nhiên, tùy theo căn cơ mà giảng ba thừa để chuẩn bị cho những kẻ khát ngưỡng. Cả ba đều tuôn chảy từ Nhất Thừa và được giảng dạy bằng phương pháp đồng nhất như là một. Theo tông Hoa Nghiêm thì ba thừa nầy là—In which the One Vehicle is taught an identical or similar method with the other three Vehicles. The One Vehicle of the Avatamsaka School is inclusive of all Vehicles. However, for the convenience the three vehicles are taught to prepare the aspirants. The three flow out of the One Vehicle and are taught in the identical method as the one. The three Vehicles recognized by the Avatamsaka School. Tiểu Thừa: Hinayana (skt)—The Small Vehicle. Đại Thừa Tiệm Giáo: The Gradual Mahayana. Đại Thừa Thủy Giáo: The Elementary Mahayana. Đại Thừa Chung Giáo: The Final Mahayana. Đại Thừa Đốn Giáo: The Abrupt Doctrine of the Great Vehicle.

nhất thực

The one reality (bhutatathata)—See Nhứt Thực. ; (一食) Sự ăn uống ở thế gian. Nếu có thể trong việc ăn uống này mà thấu suốt được Tam đế thì Nhất thực liền thành Pháp thực. Sau đó, vận dụng tâm bình đẳng, trên cúng dường chư Phật ở 10 phương, kế đến cúng dường các bậc Thánh hiền và sau hết cúng dường các chúng sinh trong 6 đường, cúng dường với tâm bình đẳng không phân biệt. [X. kinh Duy ma cật sở thuyết Q.thượng].

nhất thực cảnh giới

Cảnh giới chân như bất biến và vượt trên mọi phân biệt. Phật tánh là phi vật chất và là đồng nhất của chư pháp—The state or realm of bhutatathata (reality) which is above all differentiation, immutable. It's the Buddha-nature or the immateriality and unity of all things—The realization of spirituality of all things—Như Lai pháp thân (The Tathagata-dharmakaya).

nhất thực khuynh

(一食頃) Phạm: Eka-purobhakta. Cũng gọi Nhất thực chi khoảnh. Chỉ cho thời gian 1 bữa ăn, tức là khoảng thời gian rất ngắn. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 273 hạ) nói: Các vị Bồ tát ở nước Cực lạc, nương theo uy thần của đức Phật, chỉ trong khoảng 1 bữa ăn đã đi qua vô lượng thế giới trong 10 phương. Phẩm Tựa trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 4 thượng) nói: Bấy giờ thính chúng trong pháp hội cùng ngồi 1 chỗ, trong 60 tiểu kiếp thân tâm không lay động, nghe đức Phật nói pháp, giống như trong khoảng 1 bữa ăn. Ngoài ra, phẩm Sơ phần chúc lụy trong kinh Đại bát nhã ba la mật đa quyển 347 đã chia thời gian theo thứ tự dài, ngắn như sau: Một ngày đêm, 1 ngày, nửa ngày, 1 giờ (2 tiếng đồng hồ), khoảng bữa ăn, chốc lát, giây lát, khoảng hơi thở, khoảng nháy mắt... Như vậy, ta thấy thời gian khoảng 1 bữa ăn nằm ở giữa khoảng 1 giờ và chốc lát. [X. kinh Đại bảo tích Q.37; Pháp hoa nghĩa sớ Q.2 (Cát tạng); Pháp hoa kinh huyền tán Q.2, phần cuối; Tuệ lâm âm nghĩa Q.3].

nhất thực thừa

The one method of salvation.

nhất thực tướng

See Nhất Thật Cảnh Giới, and Nhứt Thực Tướng.

nhất thực tướng ấn

Thực tướng là bản thể của tự tánh. Đại thừa dùng tâm ấn này để ấn chứng hành giả đã ngộ nhập thực tướng, gọi là Nhất thực tướng ấn.

nhất thực viên thừa

The Tathagata's perfect vehicle.

nhất thực viên tông

The one real and perfect school.

nhất thực vô tướng

1) The one reality being indivisible is apart from all transient (or empty) forms—Formless—Invisible. 2) The invisible—The one reality being indivisible is aprt from all transient forms, and therfore styled the formless.

nhất tinh minh

(一精明) Một cái tinh minh. Chỉ cho tự tính thanh tịnh sẵn có của hết thảy chúng sinh. Tinh minh là hình dung sự trong sáng nhiệm mầu tuyệt đối. Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 6 (Đại 9, 382 thượng) nói: Vốn từ 1 cái tinh minh mà chia thành 6 thứ hòa hợp. Truyền tâm pháp yếu (Đại 48, 382 thượng) nói: Nói là cùng 1 cái tinh minh mà chia ra 6 hòa hợp. Một cái tinh minh tức là nhất tâm, 6 hòa hợp tức là 6 căn vậy.

nhất tinh sự

(一星事) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Những việc lặt vặt, nhỏ nhặt. Tinh là độ khắc trên cái cán cân để tính cân lạng, người ta thường gọi là Hoa cân. Tắc 9 trong Bích nham lục (Đại 48, 149 trung) chép: Có những kẻ tầm phào nói: Xưa nay chẳng hề có 1 mảy may việc gì (nhất tinh sự), chỉ gặp trà uống trà, gặp cơm ăn cơm. Đây là kẻ đại vọng ngữ: Chưa được nói đã được, chưa chứng nói đã chứng.

nhất tiếu

A smile.

nhất tiển đạo

Đường tên bay—An arrow's flight.

Nhất tiểu kiếp

(一小劫) [thuật]: một kiếp nhỏ. Theo thuyết của các dịch giả sau này, trong khoảng một lần tăng hoặc giảm được gọi là một kiếp nhỏ. Còn theo thuyết của các dịch giả xưa kia thì cho rằng kết hợp cả một lần tăng và giảm được gọi là một kiếp nhỏ. Trong Phẩm Hóa Thành Dụ của Kinh Pháp Hoa (法華經) có đoạn rằng: “Chư Phật pháp bất hiện tại tiền, như thị nhất tiểu kiếp nãi chí thập tiểu kiếp (諸佛法不現在前、如是一小劫乃至十小劫, pháp của các đức Phật không có ở hiện tại, như vậy một kiếp nhỏ cho đến mười kiếp nhỏ).”

nhất tiểu kiếp

A small kalpa—Thời kỳ phát triển và hoại diệt của vũ trụ—A period of the growth and decay of a universe—See Nhất Tăng Nhất Giảm. ; (一小劫) Một tiểu kiếp, là đơn vị chỉ thời gian. Theo luận Đại tì bà sa... thì lúc tuổi thọ con người chỉ 10 tuổi, từ đó, cứ hết 100 năm tăng lên 1 tuổi, tăng đến 8 vạn 4 nghìn tuổi (84.000) là mức tận cùng của kiếp tăng. Rồi lại bắt đầu từ 8 vạn 4 nghìn tuổi, cứ hết 100 năm thì giảm đi 1 tuổi, giảm đến còn 10 tuổi là mức tận cùng của kiếp giảm. Một lần tăng, 1 lần giảm như thế, tổng cộng là 1.680 vạn năm, gọi là 1 tiểu kiếp. Trong các kinh điển, danh từ Tiểu kiếp thường được nói đến, như kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 4 thượng) nói: Pháp môn giáo hóa hàng Bồ tát được Phật hộ niệm, trong 60 tiểu kiếp không rời khỏi tòa; bấy giờ thính chúng trong pháp hội cũng ngồi 1 chỗ, thân tâm bất động, nghe Phật nói pháp suốt 60 tiểu kiếp mà tưởng chừng chỉ trong khoảng thời gian 1 bữa ăn. [X. luận Câu xá Q.10; luận Đại tì bà sa Q.135].

nhất tiễn quá tây thiên

(一箭過西天) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một mũi tên vượt quá Tây thiên. Nghĩa là vượt ra ngoài ngôn ngữ, tâm đắc, không có bất cứ dấu vết nào để truy tìm. Tức hình dung cảnh giới cao xa, dứt bặt mọi tung tích.Thiên Hành lục trong Lâm tế lục (Đại 47, 506 trung) chép: Sư nói: Dù có cũng không nói được. Phong nói: Hãy nói xem! Sư bảo: Một mũi tên vượt quá Tây thiên.

nhất tiễn đạo

(一箭道) Một đường tên bắn. Tên dặm đường của Ấn độ đời xưa, tương đương với 1 cây số. Về sau, Nhất tiễn đạo được dùng để chỉ 1 quãng đường rất gần. [X. phẩm Dược vương kinh Pháp hoa; Pháp hoa gia tường sớ Q.11].

nhất tiệp phu

(一捷夫) Chỉ cho người làm việc nhanh nhẹn. Luận Đại tì bà sa quyển 136 (Đại 27, 701 trung) nói: Có 1 người nhanh nhẹn (Nhất tiệp phu) đến nói rằng: Bây giờ các ông có thể cùng bắn tên ra 1 lượt, tôi có thể tiếp lấy hết, không để 1 mũi tên nào rơi xuống.

nhất toàn nhất chú

(一旋一咒) Một vòng 1 biến chú. Nghĩa là đi nhiễu Phật 1 vòng, tụng xong 1 Đà la ni. Ma ha chỉ quán quyển 2, phần đầu (Đại 46, 13 trung) nói: Cúng dường xong, lễ trước Tam bảo đã thỉnh (...), bày tỏ lòng ăn năn sám hối rồi đứng dậy đi nhiễu 120 vòng. Một vòng 1 biến chú, không chậm không nhanh, không cao không thấp.

nhất toàn đà la ni

(一旋陀羅尼) Tên của Đà la ni thứ nhất trong 3 Đà la ni nói trong phẩm Khuyến phát kinh Pháp hoa. Đà la ni này là giáo pháp chuyển hóa toàn bộ tâm phàm phu chấp trước các pháp có hình tướng, nhằm đạt đến trí lực của lí Không, tương đương với Không quán trong 3 quán: Không, Giả, Trung của tông Thiên thai. (xt. Tam Đà La Ni).

nhất toạ thực

(一坐食) Phạm: Ekasanika. Cũng gọi Nhất thực pháp. Một bữa ăn, tức mỗi ngày chỉ ăn 1 lần và ngồi ở 1 chỗ trong lúc ăn, khi đã đứng dậy rồi thì không ngồi xuống để ăn tiếp nữa. Là 1 trong 12 hạnh đầu đà. Vì trong 1 ngày mà ăn nhiều lần thì dễ trở ngại cho việc tu đạo, bởi thế, người tu hành muốn mau thành quả thì chỉ nên ăn ngày 1 bữa vào đúng giờ Ngọ mà thôi.

nhất trang nghiêm tam muội

(一莊嚴三昧) Tam muội là tên khác của Thiền định. Nhất trang nghiêm tam muội là 1 trong 108 Tam muội. Đây là Thiền định quán chiếu tất cả các pháp đều là 1 tướng chứ không có 2 tướng. Phẩm Thích ma ha diễn trong luận Đại trí độ quyển 47 (Đại 25, 401 trung) nói: Nhất trang nghiêm tam muội là quán các pháp đều là một; hoặc vì các pháp có tướng, nên là 1, hoặc vì tất cả các pháp đều không có tướng, nên là 1; hoặc tất cả các pháp đều không, nên là 1. Như vậy, vô lượng pháp đều là 1. Vì Nhất tướng trí tuệ trang nghiêm là Tam muội, nên gọi là Nhất trang nghiêm.

nhất tri bán giải

(一知半解) Biết một hiểu nửa, nghĩa là kiến thức nông cạn. Đại tuệ Phổ giác thiền sư ngữ lục quyển 18 (Đại 47, 887 trung) nói: Văn chương mĩ thuật của thế gian còn cần phải hiểu rõ, rồi sau mới đạt đến chỗ tinh vi, huống hồ là pháp xuất thế gian, các ông làm sao thấu rõ? Một nghìn hai trăm Thiền sinh ở đây, có kiến thức nông cạn (nhất tri bán giải), người nào vào thất mà nói được, thì chắc chắn là hơn họ rồi. [X. Thiền lâm bảo huấn Q.3].

Nhất triêu

一朝; C: yī zhāo; J: itchō;|Qua một đêm, trong một ngày. Chỉ một khoảng thời gian rất ngắn.

nhất trung

(一中) Cũng gọi Điểm trà nhất trung. I. Nhất Trung. Một nhà trai, 1 thời pháp. Đây là tiếng dùng của Thiền tông trong lúc pha trà, tức là đi rót trà cho tất cả mọi người trong nhà trai. Sắc tu Bách rượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1142 hạ) nói: Hôm nay, sau khi thụ trai, vị Khố ti(người phụ trách việc nhà kho)châm trà cho đại chúng tại nhà trai (nhất trung), kính mong đại chúng thùy từ chứng giám. Phần Dạy chúng trong Thiên mục Minh bản thiền sư tạp lục quyển thượng (Vạn tục 122, 365 hạ) nói: Chiều hôm qua, vị Thủ tọa và Duy na đến am, thưa thỉnh: Mùa an cư kết hạ đã đến gần, xin Hòa thượng thăng tòa nói cho đại chúng 1 thời pháp (nhất trung). II. Nhất Trung. Tòa ngồi ở chính giữa (1 tòa ngồi được đặt riêng ở giữa), vì tòa này được đặt ở chính giữa nên gọi là Nhất trung. Đây là chỗ ngồi của chủ nhà, nếu người khác được mời ngồi vào chỗ ấy, thì đó là bày tỏ lòng tôn kính của người chủ đối với khách. [X. Ngọa vân mộng ngữ tập]. III. Nhất Trung. Ăn một bữa vào lúc giữa ngày. Người tu hành trì trai, chỉ ăn một bữa vào giờ Ngọ nên gọi là Nhất trung. IV. Nhất Trung. Nhất trung đạo, tiếng dùng của tông Thiên thai. Ma ha chỉ quán quyển 5, phần đầu (Đại 46, 55 trung) nói: Một Trung thì tất cả đều Trung, chẳng Không, Giả nào mà không Trung, đó là tất cả Trung quán vậy. (xt. Nhất Trung Nhất Thiết Trung).

nhất trung kiếp

(一中劫) Một trung kiếp, đơn vị tính thời gian của Ấn độ đời xưa. Một tiểu kiếp là tuổi thọ con người trải qua 1 chu kì tăng và 1 chu kì giảm, tổng cộng .680 vạn năm. Hợp 20 tiểu kiếp thì thành 1 trung kiếp, gồm 33.600 vạn năm, gọi là Nhất trung kiếp. [X. luận Câu xá Q.10]. (xt. Nhất Tiểu Kiếp).

nhất trung nhất thiết trung

See Nhứt trung nhứt thiết trung. ; (一中一切中) Một Trung tất cả Trung. Tông Thiên thai thành lập 3 pháp quán: Không quán, Giả quán và Trung quán, nhưng khi tu 1 pháp tức cũng gồm cả 2 pháp còn lại. Như khi tu Trung quán, thì Không quán và Giả quán cũng đều là Trung, vì thế nên gọi là Nhất trung nhất thiết trung. Đại sư Trí khải đặc biệt gọi 3 pháp quán này là Bất khả tư nghị tam quán. [X. Ma ha chỉ quán Q.5, phần đầu]. (xt. Nhất Tâm Tam Quán).

nhất trác trác đắc

(一逴逴得) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trác nghĩa là vượt qua, tức 1 bước nhảy vọt vượt qua các vọng tưởng phiền não. Cũng hàm ý ngay lúc ấy được tỉnh ngộ.

nhất trì

To adhere to one Buddha and one sutra.

nhất trí

Cùng nhau đồng ý—Unanimous—In chorus. ; (一致) Một mối, toàn thể giống nhau. Nghĩa là tông thú cùng tột của Phật thừa duy chỉ có 1 chứ không có 2. Nhưng vì căn cơ của chúng sinh khác nhau, nên đức Phật tạm thời đặt ra 3 thừa để giáo hóa cho phù hợp mọi trình độ, chung qui là nhằm hiển thực. Đó là lí nhất trí của Phật thừa. [X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.4].

nhất trước

(一著) Cũng gọi Nhất trước tử. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nguyên là dụng ngữ trong môn chơi về cờ tướng, đi 1 nước cờ gọi là Nhất trước. Trong Thiền lâm, từ này được dùng để chỉ cho 1 sự kiện, 1 việc. Tắc 6 trong Bích nham lục nói: Một việc (nhất trước) hướng thượng, nghìn Thánh chẳng truyền.

nhất trường ma la

(一場懡㦬) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một chuỗi hổ thẹn. Ma la nghĩa là tàm quí, sỉ nhục. Các bộ ngữ lục của Thiền tông thường dùng nhóm từ này. Tắc 7 trong Thung dung lục (Đại 48, 231 hạ) nói:Con nít được tiền nín khóc ngay Thấy roi lướt gió ấy ngựa hay Mây vén trăng tròn nhìn tổ hạc (Một chuỗi hổ thẹn dưới gốc cây) Lạnh thấu xương da dễ ngủ thay!.

Nhất trượng lục tượng

(一丈六像) [đồ]: nghĩa là tượng Phật cao 1 trượng 6 thước, hình hóa thân. Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經) có đoạn rằng: “Nhất trượng lục tượng tại trì thủy thượng (一丈六像在池水上, tượng cao một trượng sáu thước nằm trên mặt nước hồ)”. Nó còn được dịch là trượng lục điều hạ (丈六條下). ; 一丈六像; C: yīzhàngliù xiàng; J: ichijōroku zō;|Hình dáng cao một trượng sáu của Đức Phật, chiều cao của hoá thân Phật. Trượng lục (丈六).

nhất trảm nhất thiết trảm

(一斬一切斬) Đối lại: Nhất nhiễm nhất thiết nhiễm. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chém một tức chém tất cả. Nghĩa là nếu dứt được căn bản vô minh thì tất cả phiền não và vọng kiến tự nhiên đều dứt hết. Tắc 19 trong Bích nham lục (Đại 48, 159 thượng) nói: Như chém một cuộn tơ, chém 1 nhát là chém hết các sợi tơ, như nhuộm 1 cuộn chỉ, nhuộm 1 lần là nhuộm tất cả các sợi chỉ.

nhất trần

A grain of dust—Một hạt bụi—An atom—A particle.

nhất trần bất nhiễm

(一塵不染) Một mảy bụi không nhiễm. Trần, Phạm: Artha, hoặc Viwaya. Dịch mới: Cảnh, cảnh giới. Chỉ cho đối tượng(đối cảnh)mà 6 căn duyên theo để sinh ra cảm giác. Phật gọi 6 thứ: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp là Trần cảnh (cảnh bụi bặm) của 6 căn. Vậy, nếu 6 căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý mà hoàn toàn thanh tịnh, không ô nhiễm, thì gọi là Nhất trần bất nhiễm. Về sau, từ ngữ này của Phật giáo được người đời sử dụng để nói về nhân cách cao khiết và đức tính thanh liêm của các ông quan, hoặc các bậc cao sĩ.

nhất trần pháp giới

Cả pháp giới trong một nguyên tử, cả vũ trụ trong nhất trần—The whole in an atom, a universe in a grain of dust—Nhất trần là một vi vũ trụ của toàn vũ trụ—One grain of dust is a microcosmo of the universe whole. ; (一塵法界) Một hạt bụi dung chứa cả pháp giới. Một hạt bụi tuy là cực nhỏ, nhưng nếu dùng con mắt trí tuệ mà quan sát thì biết trong 1 hạt bụi bao hàm cả vũ trụ, vì thế gọi là Nhất trần pháp giới. Phương Tây cũng có câu ngạn ngữ tương tự: Thấy thế giới trong 1 hạt cát.

nhất tu nhất thiết tu

(一修一切修) Một tu tất cả tu. Nghĩa là bậc thượng căn đại trí vận dụng toàn tính khởi tu, hiểu biết rõ tu tức là tính, tính tu không 2, sự lí dung nhau; đốt hương, rải hoa đều là Trung đạo, ngồi thiền tụng kinh cũng là Chân như. Bởi thế, hễ tu 1 hạnh thì tất cả hạnh đều tu, cho nên gọi là Nhất tu nhất thiết tu.

Nhất Ty Văn Thủ

(一糸文守, Isshi Bunshu, 1608-1646): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, xuất thân gia đình Cửu Ngã (久我) ở kinh đô Kyoto, tự là Nhất Ty (一糸). Năm lên 14 tuổi, ông đến tham học với Tuyết Sầm Kim (雪岑崟) ở Tướng Quốc Tự (相國寺, Sōkoku-ji), sau đến tham bái Trạch Am Tông Bành (澤庵宗彭). Vào năm thứ 3 (1626) niên hiệu Khoan Vĩnh (寬永), ông theo xuất gia với Luật Sư Hiền Hậu (賢後) trên kinh đô, rồi lại đến tham vấn Trạch Am lần thứ hai. Về sau, ông theo học với Ngu Đường Đông Thật (愚堂東寔), Tuyết Cư Hy Ưng (雪居希膺) và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Ngu Đường (có thuyết cho rằng ông kế thừa dòng pháp của Không Tử Nguyên Phổ [空子元普] ở Vĩnh Nguyên Tự [永源寺]). Hậu Thủy Vĩ Thượng Hoàng (後水尾上皇) quy y theo ông, ông được vị này rất tín nhiệm, cho nên vào năm thứ 15 (1638) niên hiệu Khoan Vĩnh, ông cho xây dựng ở vùng Hạ Mậu (賀茂) ngôi Linh Nguyên Viện (靈源院), rồi ba năm sau thì cho xây dựng thêm ngôi Đại Mai Sơn Pháp Thường Tự (大梅山法常寺) ở vùng Đơn Ba (丹波, Tamba, thuộc kinh đô Kyoto); nhưng hai năm sau thì ông lại đến trú ở Vĩnh Nguyên Tự (永源寺, Eigen-ji) vùng Cận Giang (近江, Ōmi, thuộc Shiga-ken [滋賀縣]). Ông thị tịch vào ngày 19 tháng 3 năm thứ 3 niên hiệu Chánh Bảo (正保), hưởng thọ 39 tuổi đời và 20 hạ lạp. Đến năm 1678, ông được ban tặng hiệu Định Tuệ Minh Quang Phật Đảnh Quốc Sư (定慧明光佛頂國師). Dòng pháp từ của ông có Thạch Đỉnh Văn Ngoan (石鼎文頑), Như Tuyết Văn Nham (如雪文巖), Trí Minh Tịnh Nhân (智明淨因), v.v. Ông có lưu lại khá nhiều thư tịch như Đại Mai Nhất Ty Hòa Thượng Ngữ Lục (大梅一糸和尚語錄) 5 quyển, Phật Đảnh Quốc Sư Nhất Ty Hòa Thượng Ngữ Lục (佛頂國師一糸和尚語錄) 5 quyển, Nhất Ty Hòa Thượng Thi Kệ (一糸和尚詩偈) 1 quyển, Nhất Ty Hòa Thượng Pháp Ngữ (一糸和尚法語), Đại Mai Sơn Dạ Thoại (大梅山夜話), v.v.

nhất tánh tông

Nhất Tánh Tông trong Phật giáo Đại thừa quyết đoán rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh như nhau—Monophysitic or Pantheistic sect of Mahayana, which assert that all beings have one and the same nature with all Buddhas.

nhất táp

(一匝) Cũng gọi Nhất hồi. Một vòng, đi quanh 1 vòng. Thiên Quải đáp trong Thiền uyển thanh qui quyển 1 (Vạn tục 111, 440 thượng) nói: Theo vị Thủ tọa đi 1 vòng Thiền đường, đến trước Thánh tăng chào hỏi.

Nhất tâm

(s: eka-citta, 一心): chỉ cho chơn như, tâm Như Lai Tạng (s: tathāgata-garbha, 如來藏); tức là nguyên lý căn bản của vũ trụ, tâm tánh tuyệt đối không hai. Như trong Nhập Lăng Già Kinh (入楞伽經, Taishō Vol. 16, No. 671) quyển 1, Phẩm Thỉnh Phật (請佛品) thứ nhất, có câu: “Tịch diệt giả danh vi nhất tâm, nhất tâm giả danh vi Như Lai Tạng (寂滅者名爲一心、一心者名爲如來藏, vắng lặng gọi là nhất tâm, nhất tâm gọi là Như Lai Tạng).” Trong Hoa Nghiêm Kinh Hạnh Nguyện Phẩm Sớ Sao (華嚴經行願品疏鈔, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 5, No. 229) quyển 2, Tông Mật (宗密, 780-841) lấy nhất tâm phối với 5 trường phái để giải thích: (1) Giả Thuyết Nhất Tâm (假說一心), hành giả Phật Giáo Nguyên Thủy thừa nhận rằng ngoài tâm ra còn tồn tại một ngoại cảnh khác, cho nên tâm có danh mà không thật. (2) Sự Nhất Tâm (事一心), chính là A Lại Da Thức (s: ālaya-vijñāna, p: ālaya-viññāṇa, 阿賴耶識) dị thục do Đại Thừa Quyền Giáo (大乘權敎) đề cập đến. (3) Nhất tâm sự lý vô ngại, tức là Tàng Thức (藏識) của Như Lai Tạng do Đại Thừa Thật Giáo (大乘實敎) đề cập đến. (4) Nhất tâm tuyệt đối, là cảnh giới siêu việt cả ô nhiễm lẫn trong sạch được đề xướng trong Đại Thừa Đốn Giáo (大乘頓敎). (5) Nhất tâm bao hàm cả vạn hữu; là cảnh giới xả tận vạn hữu của Biệt Giáo Nhất Thừa (別敎一乘); nên gọi nhất tâm là Nhất Chơn Pháp Giới (一眞法界) hay Nhất Tâm Pháp Giới (一心法界), nghĩa là nhất tâm không ngoài bản thể vũ trụ. Trong khi đó, Thiên Thai Tông thì đưa ra thuyết Nhất Tâm Tam Quán (一心三觀), Nhất Niệm Tam Thiên (一念三千). Duy Thức Tông lấy Căn Bản Thức (s: mūla-vijñāna, 根本識) duy nhất là nhất tâm, chỉ cho tâm năng biến của vạn hữu, tức là A Lại Da Thức. Ngoài ra, Chuyên chú vào một đối tượng nào đó, không sanh khởi vọng niệm, được gọi là nhất tâm. Cho nên, chuyên tâm niệm Phật cũng được gọi là nhất tâm chuyên niệm. Theo thuyết của Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經, Taishō Vol. 12, No. 360), nhất tâm có đủ 3 yếu tố chính là chí tâm (至心, một lòng, dốc hết lòng), tín nhạo (信樂, tin tưởng và vui vẻ) và dục sanh ngã quốc (欲生我國, muốn sanh về nước ta). Bên cạnh đó, Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh (佛說觀無量壽佛經, Taishō Vol. 12, No. 365) thì cho rằng nhất tâm có 3 loại là chí thành tâm (至誠心), thâm tâm (深心), hồi hướng phát nguyện tâm (迴向發願心); đồng nghĩa với “nhất tâm bất loạn (一心不亂)” trong Phật Thuyết A Di Đà Kinh (佛說阿彌陀經, Taishō Vol. 12, No. 366). Trong Kim Cang Tam Muội Kinh Luận (金剛三昧經論, Taishō Vol. 34, No. 1730) do Sa Môn Nguyên Hiểu (元曉, 617-?), học tăng của Hoa Nghiêm Tông, người Tân La (新羅, Triều Tiên) trước thuật, giải thích rằng: “Phù nhất tâm chi nguyên ly hữu vô nhi độc tịnh, Tam Không chi hải dung chơn tục nhi trạm nhiên (夫一心之源離有無而獨淨、三空之海融眞俗而湛然, phàm nguồn của nhất tâm lìa có không mà thuần sạch, biển của Ba Không dung chứa cả chân lẫn tục mà lắng trong).” Trong Tây Quy Hành Nghi (西歸行儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1468), phần Vãng Sanh Tịnh Độ Thập Niệm Pháp Môn (往生淨土十念法門), có đoạn: “Nhất tâm quy mạng, Cực Lạc thế giới, A Di Đà Phật, nguyện dĩ tịnh quang chiếu ngã, từ thệ nhiếp ngã, ngã kim chánh niệm, xưng Như Lai danh, vị Bồ Đề đạo, cầu sanh Tịnh Độ (一心歸命、極樂世界、阿彌陀佛、願以淨光照我、慈誓攝我、我今正念、稱如來名、經十念頃、爲菩提道、求生淨土, một lòng quy mạng, Cực Lạc thế giới, A Di Đà Phật, nguyện lấy hào quang chiếu con, từ bi nhận con, con nay chánh niệm, gọi tên Như Lai, vì đạo Bồ Đề, cầu sanh Tịnh Độ).” ; 一心; C: yīxīn; J: ishin; P: ekāgattā; S: svacitta-mātra, eka-agra, eka-citta, dhyāna.|Tâm. 1. Là nền tảng căn bản nhất. Là chân như của mọi hiện hữu. »Nhất« nghĩa thông thường là đồng nhất với tuyệt đối. ›Tâm‹ có nghĩa là ›chắc thật‹. Cũng vậy, nhất tâm là căn bản của toàn thể hữu tình. Là thực tại tuyệt đối căn bản của mọi hịên tượng trong vũ trụ. Đây là tư tưởng trung tâm của Đại thừa khởi tín luận (起信論), trong đó, Nhất tâm được xem là đồng nhất với Pháp thân (法身; s: dharmakāya) và Pháp giới (法界; s: dharmadhātu); 1. Hợp nhất tâm, do vậy, nên gọi ›hợp nhất tinh thần‹ hay là sự tập trung tâm ý. Tâm an trú vào đức Phật A-di-đà khi quán tưởng đến ngài; 3. Tập trung toàn tâm toàn ý một cách nhiệt thành, không để cho tán loạn.

nhất tâm

Citta-nupassana (p)—Contempaltion of mind. 1) Bằng tất cả tâm trí: Unanimous (Unanimity)—In agreement—In chorus—With the whole mind or heart—The bhutatathata. 2) See Nguyên Tâm and Sâm La Vạn Tượng Chi Tâm. ; (一心) Phạm: Eka-citta. Chỉ cho Chân như, Tâm như lai tạng. I. Nhất Tâm. Nguyên lí căn bản của vũ trụ vạn hữu, tức là tâm tính tuyệt đối không hai. Kinh Nhập lăng già quyển 1 (Đại 16, 919 thượng) nói: Tịch diệt gọi là Nhất tâm, Nhất tâm gọi là Như lai tạng. Trong Hoa nghiêm kinh hành nguyện phẩm sớ sao quyển 2, ngài Tông mật phối hợp Nhất tâm với 5 giáo để thuyết minh như sau: 1. Giả thuyết nhất tâm: Tiểu thừa giáo thừa nhận ngoài tâm còn có một ngoại cảnh tồn tại, vì thế tâm chỉ có cái tên chứ không có thực. 2. Sự nhất tâm: Tức là thức A lại da dị thục của Đại thừa quyền giáo. 3. Lí sự vô ngại nhất tâm: Tức là Tạng thức Như lai tạng của Đại thừa thực giáo. 4. Tuyệt đối nhất tâm: Chỉ cho tâm siêu việt nhiễm tịnh của Đại thừa Đốn giáo. 5. Tổng cai vạn hữu nhất tâm: Tức là Nhất chân pháp giới hoặc Nhất tâm pháp giới của Biệt giáo đã xả bỏ hết thảy vạn hữu, cũng tức là ý Nhất tâm không ngoài bản thể vũ trụ. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2; Tông kính lục Q.37]. II. Nhất Tâm. Tông Duy thức lấy thức căn bản duy nhất làm Nhất tâm, là tâm biến hiện ra vạn hữu, tức là thức A lại da. Luận Thành duy thức quyển 2 (Đại 31, 10 hạ) nói: Do tự tâm chấp trước, tâm tựa hồ bị cảnh ngoài chuyển, chỗ thấy kia chẳng phải có, vì thế nói là duy tâm, bởi vậy khắp mọi nơi đều nói là nhất tâm. [X. luận Thành duy thức Q.7; Thành duy thức luận thuật kí Q.2, phần cuối]. III. Nhất Tâm. Chỉ cho tâm chuyên chú vào 1 đối tượng nào đó mà không khởi vọng niệm. Cho nên chuyên tâm niệm Phật gọi là Nhất tâm niệm Phật. Tông Tịnh độ đặc biệt xem trọng việc chuyên tâm trì niệm danh hiệu Phật A di đà. Cứ theo kinh Vô lượng thọ nói, thì nhất tâm có 3 niềm tin là: Chí tâm (dốc 1 lòng), Tín nhạo (tin ưa) và Dục sinh ngã quốc (muốn sinh về cõi nước của đức Phật A di đà). Còn kinh Quán vô lượng thọ thì cho rằng, nhất tâm bao gồm 3 tâm là: Chí thành tâm, Thâm tâm và Hồi hướng phát nguyện tâm, đồng nghĩa với Nhất tâm bất loạn được nói trong kinh A di đà. [X. Quán kinh sớ Q.4; Vãng sinh luận chú Q.hạ].

nhất tâm bao trùm bốn cõi

This single mind encompasses the four kinds of lands in their totality: 1) Phàm Thánh đồng cư độ: Cõi phàm Thánh cùng ở chung với nhau—The land of common residence of beings and saints. 2) Phương tiện hữu dư độ: Cõi của phương tiện—The land of expediency. 3) Thật báo vô chướng ngại độ: Cõi của thực báo không còn chướng ngại—The land of true reward. 4) Thường tịch quang độ: Cõi của ánh sáng tịch tịnh miên viễn—The land of eternally tranquil light.

nhất tâm bất loạn

Một tâm không loạn động—One mind unconfused. ; (一心不亂) Phạm: Avikwipta-citta. I. Nhất Tâm Bất Loạn. Chuyên chú vào 1 việc, khiến tâm không tán loạn, dao động. Kinh Hoa nghiêm quyển 39 (Đại 10, 842 thượng) nói: Các ông nên xa lìa các nghi hoặc, phải 1 lòng chuyên chú (nhất tâm bất loạn) lắng nghe. II. Nhất Tâm Bất Loạn. Khi tu pháp môn niệm Phật, đem lòng tin chí thành mà trì niệm danh hiệu Phật A di đà, khiến tâm không tán loạn. Tức là xả bỏ cái ta mà hợp nhất với tiếng xưng niệm Nam mô A di đà Phật. Kinh A di đà (Đại 12, 347 trung) nói: Nếu có người được nghe nói về đức Phật A di đà, rồi chấp trì danh hiệu của Ngài trong 1 ngày, 2 ngày (...) hoặc 7 ngày, 1 lòng không rối loạn (nhất tâm bất loạn), thì lúc người ấy lâm chung, Phật A di đà và các Thánh chúng sẽ hiện ở trước mặt.

nhất tâm bất sinh vạn pháp vô cữu

(一心不生萬法無咎) Một tâm niệm chẳng nảy sinh thì muôn pháp không có lỗi. Nghĩa là, nếu người ta không khởi tâm phân biệt như: lấy, bỏ, thích, ghét... thì muôn vật sẽ hiển hiện chân tướng của chúng. Tín tâm minh (Đại 48, 376 hạ) nói: Hai là do một mà có, nếu một cũng không thì tâm chẳng sinh. Tâm đã chẳng sinh thì muôn pháp không có lỗi.

nhất tâm chi

(一心支) Tâm và định hợp nhất, 1 trong 5 chi công đức của thiền định ở cõi Sơ thiền. Khi hành giả mới chứng được thiền định, thì tâm nương theo pháp giác quán hỉ lạc (cảm thấy vui mừng)nên tâm có sự tán loạn nhỏ nhiệm; nếu chấm dứt được trạng thái ấy thì tâm tự nhiên hợp với định làm một, vì thế gọi là Nhất tâm chi. [X. Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.thượng, phần cuối].

nhất tâm chuyên niệm

(一心專念) Một lòng chuyên nhớ nghĩ đến Phật. Luận Vãng sinh (Đại 26, 131 trung) nói: Tâm thường phát nguyện, một lòng chuyên niệm, cuối cùng được sinh về cõi nước An lạc.Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ quyển 4 (Đại 37, 272 thượng) nói: Một lòng chuyên niệm danh hiệu Phật A di đà, chắc chắn sẽ được vãng sinh, không còn nghi ngại gì nữa.

nhất tâm chân kiến đạo

(一心真見道) Cũng gọi Chân kiến đạo, Nhất tâm kiến đạo.Chỉ cho giai vị hiển bày chân lí thực chứng Sinh không, Pháp không và thực đoạn Sở tri chướng, Phiền não chướng. Tông Duy thức chia Kiến đạo làm 2 loại: Chân kiến đạo và Tướng kiến đạo. Chân kiến đạo thì chứng lí Duy thức, có thể dẫn sinh trí căn bản vô phân biệt, chứng ngộ lí Chân như, dứt trừ phiền não chướng và sở tri chướng, gọi là Nhất tâm chân kiến đạo. Luận Thành duy thức quyển 9 (Đại 31, 50 thượng) nói: Chân kiến đạo nghĩa là trí vô phân biệt đã thực chứng Sinh không, Pháp không, thực đoạn Phiền não chướng và Sở tri chướng mà hiển bày chân lí. Tuy phải trải qua nhiều sát na mới đạt đến chỗ rốt ráo, nhưng vì đồng như nhau nên gọi chung là Nhất tâm chân kiến đạo. (xt. Kiến Đạo).

nhất tâm chính niệm

(一心正念) Một lòng chính niệm. Nghĩa là chuyên tâm nhất ý chính niệm mà niệm Phật. Quán kinh sớ quyển 4 của Đại sư Thiện đạo (Đại 37, 273 thượng) nói: Trên bờ Tây có người gọi lớn tiếng rằng: Ông hãy nhất tâm chính niệm đi, ta sẽ giúp ông.

nhất tâm chế ý

(一心制意) Khi một lòng chuyên chú thì có thể chế phục những ý nghĩ nảy sinh phiền não. Nghĩa là khi chuyên tâm nhất ý thì sẽ chế ngự được 3 phiền não của ý: Tham muốn, tức giận và ngu si; chế ngự được 4 phiền não của miệng: Nói dối, nói thêu dệt, nói 2 lưỡi và nói ác.; chế ngự được 3 phiền não của thân: Giết hại, trộm cắp và gian dâm. Nếu người xa lìa được 10 điều xấu ác nói trên, giữ tâm hạnh ngay thẳng, thì chẳng những chính mình được lợi ích giải thoát, mà còn mang lại hạnh phúc, yên vui cho mọi người xung quanh, nói rộng ra là cho toàn xã hội.

nhất tâm hoa văn

(一心華文) Dùng lời văn hoa mĩ để hiển bày nghĩa Nhất tâm. Đây là ý khen ngợi câu nói Nhất tâm thệ nguyện vãng sinh trong luận Tịnh độ của bồ tát Thiên thân. Luận Tịnh độ (Đại 26, 230 hạ) nói: Bạch Thế tôn! Con một lòng qui mệnh hết thảy các đức Như lai Vô ngại quang trong 10 phương, nguyện sinh về cõi nước An lạc. Từ ngữ Nhất tâm hoa văn có xuất xứ từ bài tựa Hiển tịnh độ chân thực tín văn loại trong Giáo hành tín chứng quyển 3 của sư Thân loan, người Nhật bản. Bài tựa nói (Đại 83, 600 hạ): Tin theo lời nói chân thực của chư Phật Như lai, mở xem tông nghĩa của các nhà nghị luận, các nhà chú thích, nhờ sự soi sáng của 3 kinh, đặc biệt mở xem nhất tâm hoa văn để còn điều gì ngờ vực thì làm cho sáng tỏ.

nhất tâm hợp chưởng

(一心合掌) Chắp 2 tay, tâm chuyên chú vào một chỗ. Chắp tay là để biểu thị 1 lòng tôn kính. Vì 2 bàn tay hợp làm 1 là biểu thị nghĩa chuyên chú nhất tâm. [X. Quan âm nghĩa sớ Q.thượng].

nhất tâm kim cang bảo giới

See Nhứt Tâm Kim Cang Bảo Giới, Kim Cang Bảo Giới, and Bốn Mươi Tám Giới Khinh.

nhất tâm kính lễ

(一心敬禮) Một lòng kính lạy. Nghĩa là nhất tâm chuyên chú, kính lễ Tam bảo. Pháp hoa sám văn (Đại 77, 265 thượng) nói:Nhất tâm kính lễ hết thảy chư Phật thường trụ khắp 10 phương (...) Nhất tâm kính lễ Đại thừa diệu pháp liên hoa kinh, hết thảy tôn kính 10 phương, 12 bộ kinh Pháp bảo chân tịnh (...). Nhất tâm kính lễ tất cả Thánh chúng, phàm chúng trong pháp hội Pháp hoa.

nhất tâm ngũ hành

(一心五行) Cũng gọi Như lai hạnh, Bất thứ đệ hạnh, Viên ngũ hạnh. Trong 1 tâm có đầy đủ công đức của 5 hạnh do tông Thiên thai chủ trương. Ngũ hạnh gồm: Thánh hạnh, Phạm hạnh, Anh nhi hạnh, Bệnh hạnh, Thiên hạnh. Nếu phối hợp Ngũ hạnh với Tam đế tam muội, thì Thánh hạnh tức là Chân đế tam muội, Phạm hạnh, Anh nhi hạnh và Bệnh hạnh là Tục đế tam muội. Còn Thiên hạnh là Trung đạo vương tam muội. Về tâm tính thì cũng tức không, tức giả, tức trung và đầy đủ 5 hạnh không thiếu 1 hạnh nào, nên gọi là Nhất tâm ngũ hạnh. Đây là hạnh tu tính chẳng 2, nhân quả dung tức, 1 tức 5, 5 tức 1, chẳng tức chẳng li chẳng thể nghĩ bàn. [X. kinh Niết bàn Q.11 (bản Bắc); Pháp hoa huyền nghĩa Q.4, phần cuối].(xt. Ngũ Hạnh).

nhất tâm nhất thiết pháp

(一心一切法) Một tâm tất cả pháp. Nghĩa là hết thảy muôn pháp đều do tâm hiển hiện, ngoài tâm ra không có tất cả pháp; mà ngoài tất cả pháp thì cũng chẳng có tâm nào đáng nói.Đức Phật xưa dạy rằng: Nhất tâm nhất thiết pháp, nhất thiết pháp nhất tâm; tâm tức nhất thiết pháp, nhất thiết pháp tức tâm,(Một tâm là hết thảy pháp, hết thảy pháp là tâm; tâm tức là hết thảy pháp, hết thảy pháp là tâm). [X. thiên Đô cơ trong Chính pháp nhãn tạng].

nhất tâm nhị môn

(一心二門) Nhất tâm tức là tâm chúng sinh, nhị môn tức là Chân như môn và Sinh diệt môn. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 576 thượng) nói: Nương vào 1 tâm pháp mà có 2 môn. Những gì là 2? Một là tâm Chân như môn, 2 là tâm Sinh diệt môn. Hai tâm này bao gồm hết thảy pháp. Hệ thống chân thường duy tâm luận của Phật giáo gọi bản thể của vũ trụ vạn hữu là Nhất tâm, chủ trương chúng sinh và Phật đều có tâm này. Nhưng tâm này lại có phần giác và phần bất giác, vì thế chia ra làm 2 môn thì Giác gọi là tâm Chân như môn, còn Bất giác thì gọi là tâm Sinh diệt môn. Đứng về phương diện bản thể của nhất tâm này (có đủ các tính chất bất sinh, bất diệt, bất tăng, bất giảm... tuyệt đối không có tướng sai biệt) mà nói thì gọi là tâm Chân như môn; còn đứng về phương diện động tướng của nhất tâm này (có đủ các tính chất sinh, diệt, tăng, giảm... là tướng sai biệt) mà nói thì gọi là tâm Sinh diệt môn. Tâm Chân như môn là tính giác của vũ trụ bản thể, tâm Sinh diệt môn là tính bất giác của vũ trụ hiện tượng. Mối quan hệ giữa cái 1 thể 2 mặt này gọi là Nhất tâm nhị môn. Nhưng Nhị môn rốt ráo chẳng 1 chẳng 2, giống như nước và sóng, khi gió thổi làm dậy sóng, nhưng bản tính của nước và sóng thì không thay đổi, vì thế nước và sóng không khác nhau, chẳng phải là hai. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.trung].

nhất tâm quy mệnh

(一心歸命) Một lòng chuyên chú hướng về giáo pháp của đức Phật. Luận Tịnh độ của bồ tát Thiên thân (Đại 26, 230 hạ) nói: Bạch đức Thế tôn! Con nhất tâm qui mệnh đức Vô ngại quang Như lai ở khắp 10 phương, nguyện được sinh về cõi nước An lạc.

nhất tâm tam hoặc

Đồng thể tam hoặc—Theo trường phái Thiên Thai thì tâm của vị Bồ Tát có ba mối nghi hoặc làm nẩy sanh kiến tư, trần sa và vô minh—The T'ien T'ai “three doubts” in the mind of a Bodhisattva which produce: 1) Kiến tư: Sợ bị ảo tưởng—Fear of illusion. 2) Trần sa: Rối loạn vì trách vụ tư bề—Confusion through multiplicity of duties. 3) Vô minh: Sợ vì vô minh—Ignorance. ; (一心三惑) Cũng gọi Đồng thể tam hoặc. Ba hoặc (phiền não) cùng hiện hữu trong 1 tâm, mang cùng 1 thể tính. Tam hoặc (cũng gọi là Tam chướng) gồm: Kiến tư hoặc, Trần sa hoặc và Vô minh hoặc, do tông Thiên thai thành lập để phân biệt các loại phiền não, mặc dù 3 thứ chướng này có thô tế khác nhau, nhưng thể tính của chúng thì chỉ là một. 1. Kiến tư hoặc: Gồm Kiến hoặc là mê lí và Tư hoặc là mê sự. Vì Kiến tư hoặc có năng lực mang lại quả báo sinh tử trong 3 cõi, cho nên nó thuộc về lậu hoặc giới nội. Lại vì nó là loại hoặc mà hàng Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát cùng phải đoạn trừ, nên cũng gọi là Thông hoặc. 2. Trần sa hoặc: Ví dụ hoặc chướng của người ta nhiều như cát bụi, nên gọi là Trần sa hoặc. Hàng Bồ tát biết rằng chúng sinh trong 10 pháp giới có vô biên chướng hoặc và có vô lượng pháp môn để đối trị. Nhưng vì Bồ tát dùng Không quán để phá trừ Kiến tư hoặc nên dễ chấp trước lí Không, đến nỗi không thể tiến thêm 1 bước để biết rõ tướng sai biệt của vô biên chúng sinh, vì thế Trần sa hoặc còn được gọi là Trước không hoặc. Lại vì Trần sa hoặc chỉ là chướng hoặc riêng của hàng Bồ tát có tâm niệm cứu độ chúng sinh, nên cũng được gọi là Biệt hoặc. Chướng hoặc này bao gồm cả phạm vi giới nội và giới ngoại. 3. Vô minh hoặc: Phiền não phát khởi từ chỗ không nhận rõ nguyên lí Vạn hữu tức pháp giới, nó là chướng hoặc thuộc phạm vi giới ngoại. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.6].

nhất tâm tam quán

See Nhứt Tâm Tam Quán. ; (一心三觀) Cũng gọi Viên dung tam quán, Bất khả tư nghị tam quán, Bất thứ đệ tam quán. Pháp quán do tông Thiên thai thành lập, là 1 trong những giáo nghĩa cơ bản của tông này. Nhất tâm chỉ cho tâm năng quán, tam quán tức là Không quán, Giả quán và Trung quán. Biết rõ 1 tâm niệm vốn bất khả đắc, bất khả thuyết, rồi trong 1 tâm niệm ấy tu cả Không quán, Giả quán và Trung quán gọi là Nhất tâm tam quán. Đây là pháp quán của Viên giáo, không theo thứ lớp mà là viên dung. Ma ha chỉ quán quyển 5, phần đầu, nói: Nếu 1 pháp là tất cả pháp, thì pháp ấy là do nhân duyên sinh, đó là giả danh, Giả quán; nếu tất cả pháp tức là 1 pháp, thì pháp ấy là không, đó là Không quán; nếu chẳng phải 1 pháp chẳng phải tất cả pháp, thì đó tức là Trung quán. Một không tất cả không, giả, trung cũng đều không, đó là Tổng không quán; 1 giả tất cả giả, không, trung đều là giả, đó là Tổng giả quán; 1 trung tất cả trung, không, giả đều là trung, đó là Tổng trung quán. Đây chính là điều mà Trung luận gọi là Nhất tâm tam quán bất khả tư nghị. Trong đó, 1 pháp tức tất cả pháp là chỉ cho Chân như tùy duyên mà hình thành hết thảy hiện tượng, không phải thực tại, nên là giả. Quán xét về phương diện này, gọi là Giả quán. Tất cả pháp tức 1 pháp, là chỉ cho hết thảy hiện tượng đều do Chân như hiển hiện, chúng không có thực thể độc lập, cho nên là không. Quán xét về phương diện này, gọi là Không quán. Hết thảy hiện tượng chẳng phải 1 chẳng phải tất cả, đồng thời có đủ 2 tính chất không, giả, đó là trung đạo. Quán xét về phương diện này, gọi là Trung quán. Khi tu Không quán thì giả, trung cũng không, vì cả 3 pháp quán đều phá chấp. Khi tu Giả quán thì không, trung cũng giả, vì 3 quán đều có nghĩa lập pháp. Khi tu Trung quán thì không, giả cũng trung, vì chính ngay 3 quán đã là tuyệt đối. Vì trong 3 pháp quán này, mỗi 1 pháp đều gồm đủ cả 3 nên gọi là Nhất tâm tam quán. Nhưng vì pháp quán này rất sâu xa mầu nhiệm, không thể nghĩ bàn, cửa trí tuệ của nó khó hiểu, khó vào, nên chỉ có hàng Bồ tát Biệt giáo lợi căn mới tu tập được pháp quán này.Theo Duy ma kinh huyền sớ quyển 2 (Đại 38, 528 hạ) thì Nhất tâm tam quán có 3 ý: 1. Cảnh sở quán không thể nghĩ bàn: Tức 1 niệm tâm vô minh là nhân duyên sinh ra 10 pháp giới. 2. Pháp năng quán không thể nghĩ bàn: Nếu quán được 1 tâm niệm vô minh này chẳng phải không chẳng phải giả, tất cả pháp cũng chẳng phải không chẳng phải giả, mà biết được tâm không, giả thì tức là quán chiếu tất cả pháp không, giả. Thế nên chỉ cần nhất tâm tam quán, soi rọi suốt lí Tam đế, chứ chẳng cần dụng tâm đoạn trừ si ái, mà vẫn có thể chứng được minh trí và giải thoát, hệt như nước lắng trong thì trăng liền hiện. 3. Thành tựu không thể nghĩ bàn: Nếu chứng được Nhất tâm tam quán thì liền thành tựu được Nhất tâm tam trí ngũ nhẫn. Tóm lại, bất luận cảnh đối tượng nào cũng đều có thể là Nhất cảnh tam đế, nếu nương vào đó mà tu tập quán chiếu thì có thể thành tựu Tam quán viên dung. [X. luận Đại trí độ Q.27; Duy ma kinh lược sớ Q.7; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 3].

nhất tâm tam trí

See Nhứt Tâm Tam Trí. ; (一心三智) Cũng gọi Tam trí nhất tâm, Bất tư nghị tam trí. Trong 1 tâm cùng lúc chứng được 3 loại trí: Nhất thiết trí, Đạo chủng trí và Nhất thiết chủng trí. Tông Thiên thai chủ trương tu tập Không quán, Giả quán và Trung quán thì có thể chứng được 3 trí. Nếu nương vào 3 quán thứ lớp của Biệt giáo mà tu tập thì theo thứ tự có thể được 3 trí: Nhất thiết trí, Đạo chủng trí và Nhất thiết chủng trí. Nhưng nếu tu tập theo 3 quán không thứ lớp của Viên giáo thì có thể trong 1 tâm đồng thời được cả 3 trí, gọi là Nhất tâm tam trí. Ma ha chỉ quán quyển 5, thượng (Đại 46, 55 trung) nói: Nếu nói tất cả pháp đều do nhân duyên sinh, thì đó là cách nói phương tiện theo tình của Đạo chủng trí. Nếu nói tất cả pháp là 1 pháp thì đó là cách nói theo trí của Nhất thiết trí. Còn nếu nói chẳng phải 1 chẳng phải tất cả, cũng gọi Trung đạo nghĩa, thì đó là cách nói chẳng phải quyền chẳng phải thực của Nhất thiết chủng trí. Như trên nói: Một quyền thì tất cả quyền, 1 thực thì tất cả thực và tất cả chẳng phải quyền chẳng phải thực dàn trải ra khắp tất cả, đó chính là 3 trí không thể nghĩ bàn vậy. Luận Đại trí độ quyển 27 (Đại 25, 260 trung) nói: Trong 1 tâm được Nhất thiết trí, Nhất thiết chủng trí, dứt tất cả tập khí phiền não. Ngày xưa, ngài Tuệ văn ở Bắc Tề đọc đến câu này liền hoát nhiên đại ngộ, sau đó truyền cho ngài Tuệ tư, ngài Tuệ tư lại truyền cho ngài Trí khải. Ngài Trí khải bèn tu tập theo đó mà chứng được lí viên dung của Nhất tâm tam quán, Nhất cảnh tam đế. Và 2 pháp này đã trở thành giáo nghĩa nòng cốt của tông Thiên thai. [X. Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ diệu tông sao Q.2; Phật tổ thống kỉ Q.6].

nhất tâm thấy phật

Muốn thấy Phật, hành giả phải trước tiên loại trừ hay bỏ những lôi cuốn qua một bên như lo âu, sở hữu, tài sản, con cái, gia đình, vân vân—To see the Buddha, cultivators should first eliminate or put all distractions aside such as worry, possessions, properties, children, family, etc.

nhất tâm tu phật

See A true and single-minded devotion towards the Buddha.

nhất tâm tức nhất thiết tâm

See Nhứt Tâm Tức Nhứt Thiết Tâm.

nhất tâm xưng danh

Nhất tâm trì niệm hồng danh Phật A Di Đà hay Bồ Tát Quán Thế Âm—With undivided mind to call on the name of a Buddha, either Amitabha or Kuan Shi Yin. ; (一心稱名) Một lòng chuyên chú xưng niệm danh hiệu Phật và Bồ tát. Phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 56 hạ) nói: Nghe nói đến bồ tát Quán thế âm mà 1 lòng chăm chú xưng niệm danh hiệu của Ngài thì tức khắc Ngài nghe thấy âm thanh của người ấy và giúp họ được giải thoát.

nhất tâm đỉnh lễ

(一心頂禮) Một lòng kính lạy. Đính ở đây được hiểu là trán chứ không phải đỉnh đầu. Đính lễ là cách lễ bái trong đó trán của người lễ chạm sát đất hoặc đưa tay sờ vào chân của người được lễ bái, để tỏ lòng rất tôn kính.

nhất tâm ước giáo hữu dị

(一心約教有異) Một tâm ước giáo có khác. Nghĩa là một tâm được phối với 5 phần phán giáo khác nhau. Giáo tuy có 5, nhưng cũng không ngoài 1 tâm, nên gọi là Nhất tâm ước giáo hữu dị. Theo tông Hiền thủ thì 5 giáo gồm: 1. Tiểu thừa nương vào pháp Tứ đế mà tu tập, tâm được khai ngộ. 2. Thủy giáo nương vào thức thứ 8 rõ biết tất cả pháp do nhân duyên sinh đều là không, đều không có tự tính mà chịu quả dị thục.3. Chung giáo chủ trương trong tâm Như lai tạng có đầy đủ hằng sa các tính công đức vi diệu. 4. Đốn giáo nương vào tâm 1 niệm chẳng sinh mà hiển bày lí tính 1 cách mau lẹ. 5. Viên giáo chủ trương chủ bạn viên dung, pháp pháp vô ngại, 1 tức tất cả, tất cả tức 1, buông bắt tự tại, bao trùm vạn hữu.[X. Hoa nghiêm nhất thừa giáo nghĩa phần tề chương Q.2].

nhất tính

(一性) Chỉ cho Chính nhân Phật tính. Hết thảy chúng sinh đều có tính này, nhưng vì trái với tính giác, hợp với trần lao, nên mới bị các phiền não che lấp, ngăn ngại. Nếu thuận theo giác tính mà tu hành, thì sẽ vượt thoát sinh tử, ngộ nhập Niết bàn, đồng với chư Phật không 2 không khác. [X. kinh Niết bàn Q.10 (bản Bắc); kinh Hoa nghiêm Q.51 (bản dịch mới); Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2].

nhất tính ngũ tính dị

(一性五性異) Sự sai khác giữa Nhất tính và Ngũ tính. Đây là 1 trong những quan điểm dị biệt về tông nghĩa giữa tông Pháp tính và tông Pháp tướng. Theo tông Pháp tướng thì Ngũ tính các biệt(Năm tính đều khác nhau, nghĩa là có hạng chúng sinh không thành Phật)là liễu nghĩa; còn Nhất tính giai thành(Một tính đều thành, nghĩa là tất cả chúng sinh đều có tính Phật, đều có thể thành Phật)là phương tiện. Trái lại, tông Pháp tính thì chủ trương Ngũ tính các biệt là phương tiện và Nhất tính giai thành là liễu nghĩa.

nhất tông

(一宗) I. Nhất Tông. Một tông chỉ. Những giáo thuyết của Đại thừa trong các kinh tuy có khác nhau, nhưng đều cùng qui về 1 lí, lấy 1 tông chỉ làm chỗ qui hướng. II. Nhất Tông. Một nhà, một dòng họ. Thiền uyển thanh qui quyển 7 (Vạn 111, 457 thượng) nói: Bộ phận trực tuế phụ trách việc khiêng khám, chuẩn bị củi đóm trước đàn, các vị chức sự trong cùng 1 tông đều đứng làm chủ tang.

nhất tông cấu

(一宗構) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Phật giáo Nhật bản ở thời đại Giang hộ, khi trục xuất 1 vị tăng ra khỏi tông môn của mình, gọi là Nhất tông cấu. Nếu trục xuất vị tăng ra khỏi 1 phái nào đó trực thuộc tông môn, thì gọi là Nhất phái cấu.

nhất túc giác

Overnight Enlightenment—Một ngày nọ sư Huyền Giác đi thăm Lục Tổ Huệ Năng. Lần đầu tiên gặp Tổ, sư tay cầm tích trượng vai mang bình bát đi nhiễu Tổ ba vòng, đoạn đứng thẳng. Tổ thấy thế bèn nói, “Phàm sa môn có đủ ba ngàn uy nghi tám muôn tế hạnh. Đại Đức người phương nào đến mà sanh đại ngã mạn như vậy?” Huyền Giác thưa, “Sanh tử là việc lớn, vô thường qua nhanh quá.” Tổ bảo, “Sao không ngay nơi đó thể nhận lấy vô sanh, liễu chẳng mau ư?” Huyền Giác thưa: “Thể tức vô sanh, liễu vốn không mau.” Tổ khen, “Đúng thế! Đúng thế!” Lúc đó đại chúng nghe nói đều ngạc nhiên. Sư bèn đầy đủ oai nghi lễ tạ tổ. Chốc lát sau sư xin cáo từ. Tổ bảo, “Trở về quá nhanh!” Huyền Giác thưa, “Vốn tự không động thì đâu có nhanh.” Tổ bảo, “cái gì biết không động?” Huyền Giác thưa, “Ngài tự phân biệt.” Tổ bảo, “Ngươi được ý vô sanh rất sâu.” Huyền Giác thưa, “Vô sanh mà có ý sao?” Tổ bảo, “Không ý, cái gì biết phân biệt?” Huyền Giác thưa, “Phân biệt cũng không phải ý.” Tổ khen, “Lành thay! Lành thay!” Sư ở lại Tào Khê một đêm để hỏi thêm đạo lý. Sáng hôm sau sư trở về Ôn Giang, nơi mà chúng đệ tử đang chờ ông để học đạo. Thời nhơn từ đó gọi sư là “Nhất Túc Giác” hay một đêm giác ngộ—One day Hsuan-Chieh went to Cao-Xi to visit the Sixth Patriarch. Upon his first meeting with Hui Neng, Hsuan-Chieh struck his staff on the ground and circled the Sixth Patriarch three times, then stood there upright. The Sixth Patriarch said, “This monk possesses the three thousand noble characteristics and the eighty thousand fine attributes. Oh monk! Where have you come from? How have you attained such self-possession?” Hsuan-Chieh replied, “The great matter of birth and death does not tarry.” The Sixth Patriarch said, “Then why not embody what is not born and attain what is not hurried?” Hsuan-Chieh said, “What is embodied is not subject to birth. What is attained is fundamentally unmoving.” The Sixth Patriarch said, “Just so! Just so!” Upon hearing these words, everyone among the congregation of monks was astounded. Hsuan-Chieh then formally paid his respect to the Sixth Patriarch. He then advised that he was immediately departing. The Sixth Patriarch said, “Don't go so quickly!” Hsuan-Chieh said, “Fundamentally there is nothing moving. So how can something be too quick?” The Sixth Patriarch said, “How can one knows there's no movement?” Hsuan-Chieh said, “The distinction is completely of the master's own making.” The Sixth Patriarch said, “You have fully attained the meaning of what is unborn.” Hsuan-Chieh said, “So, does what is unborn have a meaning?” The Sixth Patriarch said, “Who makes a distinction about whether there is a meaning or not?” Hsuan-Chieh said, “Distinctions are meaningless.” The Sixth Patriarch shouted, “Excellent! Excellent! Now, just stay here a single night!” Thus people referred to Hsuan-Chieh as the “Overnight Guest.” The next day Hsuan-Chieh descended the mountainand returned to Wen-Chou, where Zen students gathered to study with him. ; (一宿覺) Giác ngộ trong 1 đêm. Thiền sư Vĩnh gia Huyền giác đời Đường, tham yết ngài Lục tổ Tuệ năng, chỉ trong 1 đêm hỏi đạo mà đại ngộ và được truyền tâm ấn. Sau, Thiền lâm truyền tụng giai thoại đêm ấy là Nhất túc giác. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.5].

nhất tăng nhất giảm

Kiếp tăng từ 10 lên đến 80.000 năm, rồi lại giảm xuống còn 10—A kalpa during which a human lifetime increases from ten years to 80.000 years and then decreases back to ten. ; (一增一减) Một lần thêm, 1 lần bớt. Chỉ cho tuổi thọ của con người 1 lần thêm, 1 lần bớt trong 1 kiếp. Đây là cách tính toán về số kiếp. Chẳng hạn như từ ban đầu, con người thọ 8 vạn 4 nghìn tuổi, cứ mỗi trăm năm giảm đi 1 tuổi, cho đến khi chỉ còn 10 tuổi, đó là 1 lần giảm. Lại bắt đầu từ 10 tuổi, cứ mỗi trăm năm tăng lên 1 tuổi, cho đến 8 vạn 4 nghìn tuổi, đó là 1 lần tăng. Một lần giảm, 1 lần tăng như thế, theo ngài Cưu ma la thập, là 1 Tiểu kiếp; theo ngài Pháp ý là 1 Trung kiếp.[X. luận Lập thế a tì đàm Q.9; luận Đại tì bà sa Q.135; luận Câu xá Q.12; Phật tổ thống kỉ Q.30]. (xt. Kiếp).

Nhất tướng

一相; C: yīxiāng; J: issō; S: eka-lakṣaṇa.|»Nhất thể«; tính chất không thay đổi, đồng dạng. Tuyệt đối bình đẳng, không phân biệt cũng chẳng đối lập. Thể của Chân như.

nhất tướng

Laksana (skt)—One aspect—The unique form—The one mind in all things—Common mind in all beings. ; (一相) Phạm: Eka-lakwaịa. I. Nhất Tướng. Chỉ cho tướng chân như bình đẳng vô sai biệt. Tông Thiên thai giải thích Nhất tướng này nghĩa là Một thừa không 2, cùng 1 giải thoát. Phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 19 trung) nói: Như lai thuyết pháp 1 tướng, 1 vị, nghĩa là tướng giải thoát, tướng viễn li, tướng tịch diệt, rốt ráo đến nhất thiết chủng trí. Trên đây là nghĩa Khai tam hiển nhất, nhưng tông Hoa nghiêm thì cho rằng giới hạn giữa Nhất tướng và Đồng giáo nhất thừa, chỉ mới nói rõ về phương tiện của Nhất tướng, chưa đạt đến pháp Chủ bạn cụ túc vô tận. [X. kinh Ma ha bát nhã ba la mật Q.hạ; Pháp hoa kinh văn cú Q.7, phần đầu; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1]. II. Nhất Tướng. Đối lại: Dị tướng. Ngoại đạo cho rằng hết thảy các pháp đều sinh ra từ Nhất nguyên. Để đả phá quan niệm sai lầm này, Phật giáo đề xướng thuyết Chân như tự tính phi nhất tướng. [X. luận Đại thừa khởi tín].

nhất tướng nhất tịch

(一相一寂) Một tướng 1 tịch. Chỉ cho 1 sự 1 lí. Tướng tức sự tướng; Tịch tức lí thể tịch lặng.[X. Hoa nghiêm nhất thừa giáo nghĩa phân tề chương Q.thượng].

nhất tướng pháp môn

The unitary or monistic method where all is seen as a unity. ; (一相法門) Pháp môn đưa các pháp về 1 tướng, không phân biệt, không chấp trước. Trong kinh Văn thù công đức trang nghiêm quyển hạ có chép các loại Nhất tướng pháp môn do hơn 10 vị Bồ tát tuyên thuyết.

nhất tướng tam muội

Nơi tất cả tướng mà chẳng trụ tướng, chẳng sanh tâm yêu ghét, lấy bỏ; chẳng nghĩ sự lợi hại, thành hoại, vô trụ vô y, gọi là Nhất tướng tam muội.

nhất tướng tam muội (chân như tam muội)

A sammadhi for realizing that the nature of all Buddhas is the same.

nhất tướng tam muội nhất hạnh tam muội

The Samadhi of One Mark and the Samadhi of One Conduct—Theo Kinh Pháp Bảo Đàn, Phẩm thứ Mười, Lục Tổ nhắn với tứ chúng rằng—According to the Dharma Jewel Platform Sutra, Chapter Tenth, the Sixth Patriarch told the assembly: “Các thiện tri thức! Các ông mỗi người nên tịnh tâm lắng nghe tôi nói pháp, nếu muốn thành tựu chủng trí phải đạt được nhất tướng tam muội và nhất hạnh tam muội. Nếu ở tất cả chỗ mà không trụ tướng, ở trong tướng kia, không sanh yêu ghét, cũng không thủ xả, chẳng nghĩ các việc lợi ích thành hoại, vân vân, an nhàn điềm tịnh, hư dung đạm bạc, đây gọi là nhất tướng tam muội. Nếu ở tất cả chỗ đi đứng nằm ngồi thuần một trực tâm, không động đạo tràng, chơn thành Tịnh độ, đây gọi là nhất hạnh tam muội. Nếu người đủ hai tam muội nầy như đất đã có chứa hạt giống, nuôi dưỡng lớn lên, thành thục được hạt kia, nhất tướng nhất hạnh cũng lại như thế. Nay tôi nói pháp ví như khi mưa ướt khắp cả quả đất, Phật tánh của các ông ví như hạt giống gặp được sự thấm ướt nầy thảy đều phát sanh, nương lời chỉ dạy của tôi, quyết định được Bồ Đề, y theo hạnh của tôi, quyết định chứng được diệu quả, hãy nghe tôi nói kệ: “Đất tâm chứa hạt giống, Mưa rưới thảy nẩy mầm, Đốn ngộ hoa tình rồi, Quả Bồ Đề tự thành.” The Master added, “All of you Good Knowing Advisors should purify your minds and listen to my explanation of the Dharma. If you wish to realize all knowledge, you must understand the Samadhi of one Mark and the Samadhi of One Conduct. If you do not dwell in marks anywhere and do not give rise to hate and love, do not grasp or reject and do not calculate advantage or disadvantage, production and destruction while in the midst of marks, but instead, remain tranquil, calm and yielding, then you will have achieved the Samadhi of One Mark. In all places, whether walking, standing, sitting or lying down, to maintain a straight and uniform mind, to attain the unmoving Bodhimandala and the true realization of the Pure Land. That is called the Samadhi of One Conduct. One who perfects the two samadhis is like earth in which seeds are planted; buried in the ground, they are nourished and grow, ripening and bearing fruit. The One Mark and One Conduct are just like that. Now, I speak the Dharma, which is like the falling of the timely rain, moistening the great earth. Your Buddha-nature is like the seeds, which receiving moisture, will sprout and grow. Those who receive my teaching will surely obtain Bodhi and those who practice my conduct certainly certify to the wonderful fruit. Listen to my verse" The mind-ground contains every seeds; Under the universal rain they all sprout Flower and feeling-Sudden Enlightenment The Bodhi-fruit accomplishes itself.”

nhất tướng trí

The wisdom that all is bhutatathata and a unity. ; (一相智) Trí tuệ chứng ngộ thực tướng các pháp. Luận Đại trí độ quyển 6 (Đại 25, 107 trung) nói: Tướng của các pháp đều là thực tướng, không hề chướng ngại. Dùng phương tiện ấy giáo hóa các đệ tử để thâm nhập Nhất tướng trí.

nhất tướng vô tướng

One-ness means none-ness (there is no diversity). ; (一相無相) Một tướng không tướng. Pháp chân như thực tướng tịch lặng, bình đẳng nên gọi là Nhất tướng; nhưng Nhất tướng cũng bất khả đắc nên gọi là Vô tướng. Mỗi 1 pháp gồm thu tất cả pháp, các pháp bao trùm lẫn nhau không có giới hạn; đương thể của các pháp là thực tướng vắng lặng, bình đẳng, xưa nay vốn lìa tướng ngôn thuyết, tướng danh tự, tướng tâm duyên, cho nên gọi là Nhất tướng vô tướng.

nhất tạng

(一藏) Chỉ cho Pháp luân tạng thu tóm hết thảy giáo pháp. [X. luận Thích ma ha diễn Q.1].

nhất tạt tạt đảo liễu

(一拶拶倒了) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nhất tạt có nghĩa là lời nói thúc ép, dồn người học đến đường cùng. Thiền sư dùng cách này để khám nghiệm chỗ ngộ của đệ tử. Tắc 35 trong Bích nham lục (Đại 48, 173 hạ) nói: Lúc ấy liền hét 1 tiếng, thúc ép người học đến đường cùng (Nhất tạt tạt đảo liễu dã).

nhất tầm

(一尋) Một sải, là đơn vị đo chiều dài của thời xưa, khoảng 8 thước Tàu.

nhất tế

(一際) Bên này, bên kia không phân biệt. Luận Đại trí độ quyển 19 (Đại 25, 198 thượng) nói: Niết bàn chẳng khác thế gian, thế gian chẳng khác Niết bàn; Niết bàn và thế gian chỉ là 1 (nhất tế)không sai khác. Tông kính lục quyển 22 (Đại 48, 535 thượng) nói: Pháp thân, Báo thân và Hóa thân tuy chia 3, nhưng thực ra chỉ là một (nhất tế).

nhất tề

Together like one.

nhất tọa thực

Mỗi ngày chỉ ăn một buổi trước ngọ—One meal a day, taken before noon.

nhất tồn nhất quyết

(一存一闕) Một còn 1 thiếu. Chỉ cho 2 bản dịch của kinh Vô lượng thọ, 1 bản thì còn, 1 bản đã thất lạc. Cứ theo Khai nguyên thích giáo lục quyển 12, 14 của ngài Trí thăng đời Đường, thì Nhất tồn(bản hiện còn)là bản do ngài Cương lương da xá dịch trong năm Nguyên gia (424-453) đời Lưu Tống; còn Nhất khuyết (bản đã thất lạc) thì do ngài Đàm ma mật đa dịch cũng trong khoảng năm Nguyên gia nói trên. Lại nữa, thuyết Nhất tồn nhất khuyết của ngài Lương trung nói trong Quán kinh sớ truyền thông kí, là căn cứ vào thuyết trên, rồi thêm vào 1 bản (được dịch vào đời Hậu Hán)mất tên người dịch nói trong Lịch đại tam bảo kỉ. Bản mất tên người dịch này là căn cứ vào Xuất tam tạng kí tập của ngài Tăng hựu, nhưng Xuất tam tạng kí tập lại không nêu bản dịch của ngài Cương lương da xá, mà chỉ nói có 1 bản mất tên người dịch thế thôi. Như vậy, e rằng bản mất tên người dịch này chính là bản của ngài Cương lương da xá. Cho nên, rốt cục, chỉ có 1 thuyết Nhất tồn nhất khuyết mà thôi.

nhất tức

Một hơi thở—A breath (inspiration-expiration).

nhất tức bán bộ

Một hơi thở đi nửa bước—Half a step at a breathing on arising from meditation. ; (一息半步) Một bước đi 1 hơi thở. Đây là phương pháp bước đi (kinh hành) 1 cách khoan thai, chậm rãi của người tu Thiền. Tức trong 1 khoảng hơi thở, nhấc chân phải đến đầu chân trái; ở hơi thở kế tiếp, nhấc chân trái đến đầu chân phải. Cứ như thế chân phải, chân trái bước đi phối hợp với hơi thở thì có thể khoan thai tiến lên phía trước. Ngoài ra, còn 1 cách khác, trước hết, trong khoảng 1 hơi thở, nhấc chân trái đến nửa chân phải, khoảng hơi thở kế tiếp, nhấc chân phải và chân trái ngang nhau. Kế đó thì bắt đầu từ chân trái, đi 10 bước cho đến 20 bước, chuyển sang chân phải rồi trở về chỗ cũ.

nhất tức lục

(一即六) Một tức sáu. Nghĩa là trong 6 căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, hễ bất cứ 1 căn nào trở về chân tính, thì 5 căn còn lại cũng được giải thoát. Kinh Lăng nghiêm quyển 6 (Đại 19, 131 thượng) nói: Một căn đã về nguồn Sáu căn thành giải thoát (...) Sáu căn cũng như thế Vốn nương một tinh minh Chia thành sáu hòa hợp Một chỗ nếu dừng lại Sáu dụng đều không thành.

nhất tức nhất thiết nhất thiết tức nhất

(一即一切一切即一) Cũng gọi Nhất tức thập thập tức nhất, Nhất tức đa đa tức nhất. Một tức tất cả, tất cả tức một. Nghĩa là thể dụng của 1 và tất cả dung hợp nhau không 2, tức 1 và nhiều có thể ngang bằng nhau; nghĩa này nhằm nói rõ sự quan hệ giữa các hiện tượng trong pháp giới duyên khởi. Đây là nguyên lí cùng tột của sự viên dung vô ngại do Viên giáo của tông Thiên thai và tông Hoa nghiêm thành lập.Phẩm Sơ phát tâm bồ tát công đức trong kinh Hoa nghiêm cho rằng trong tất cả biết 1, trong 1 biết tất cả. Hoa nghiêm nhất thừa giáo nghĩa phân tề chương thì luận chứng bằng 2 phương diện:1. Về phương diện quan hệ khác thể của các hiện tượng, thì 10 đối đãi với 10, 1 là số nền tảng của 10, 10 do 10 số 1 tạo thành, không có 1 thì không có 10; đã thành được 10, cho nên biết 1 tức 10, cũng cùng nguyên lí ấy, có thể luận chứng rằng 10 tức 1. 2. Về phương diện quan hệ cùng thể của các hiện tượng, thì tự thể của mỗi con số 1 trong 10, tức là con số 1 thứ nhất. Như vậy, tự thể của số 10 là không (không có tự tính độc lập), cho nên nói 10 tức là 1. Cũng thế, coi 10 là tự thể, 1 là nhân tố cấu tạo thành 10, tự thể cũng là tính không, cho nên nói 1 tức là 10. Tóm lại, nguyên lí 1 tức tất cả, tất cả tức 1 nhằm thuyết minh toàn thể và bộ phận, phổ quát và cá biệt đều là quan hệ tương tức. Cho nên, 1 hạt bụi và hết thảy cõi Phật là tương tức; 1 niệm với vô lượng thời gian cũng tương tức. Tông Hoa nghiêm vận dụng phương pháp nhận thức này trong các vấn đề lí luận và thực tiễn của Phật giáo, hoặc coi tất cả nghĩa lí và thực tiễn trong Phật giáo là 1 toàn thể mà gọi là Nhất(một), còn đối với các chi phần và các pháp môn thì gọi là Đa(nhiều); hoặc gọi tâm sinh ra vạn hữu là Nhất, còn vạn hữu do tâm sinh ra ấy là Đa. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.3, phần cuối; Ma ha chỉ quán Q.5, phần đầu; Thiên thai tứ giáo nghi tập giải Q. hạ].

nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất

Một là tất cả, tất cả là một—One is all and all is one (the essential unity of all things).

nhất tức thập

(一即十) Một tức 10. Một là duy nhất, đơn nhất, cá biệt; 10 là số nhiều, số chẵn, toàn thể. Nhất tức thập có hàm ý 1 tức là nhiều, 1 và nhiều tương tức. Đây là chủ trương của tông Hoa nghiêm. Nếu lấy 1 làm số gốc thì lìa 1 không có 2... cho đến 10, bởi thế 1 tức 2 cho đến 10. Số 2 cho đến 10, lấy số 1 làm gốc mà được thành tựu, ngoài 1 ra không có tự thể riêng, vì thế 1 và 10 tương tức. Ứng dụng nguyên tắc lí luận này vào việc thuyết minh các pháp, thì trong 1 hạt bụi có hết thảy cõi Phật, 1 lỗ chân lông hàm chứa nước của 4 đại dương. Lại như vầng trăng giữa hư không, soi bóng trên vạn dòng sông, mặt trăng chỉ có 1 mà bóng thì nhiều, 1 và nhiều không ngăn ngại lẫn nhau, tương tức tương dung.

nhất tử xuất gia cửu tộc sinh thiên

(一子出家九族生天) Một người con xuất gia chín họ được sinh lên cõi trời. Cửu tộc (9 đời trong dòng họ) gồm: Cao tổ phụ (ông Tổ cao nhất), tằng tổ phụ (ông cố), tổ phụ (ông nội), phụ mẫu (cha mẹ), kỉ (mình), tử (con), tôn (cháu), tằng tôn (chắt) và huyền tôn (chút)... Quân châu Động sơn Ngộ bản thiền sư ngữ lục (Đại 47, 516 trung) chép: ... Cho nên kinh nói: Một người xuất gia 9 họ được sinh thiên. Lương giới dù bỏ thân mệnh đời này, nguyện không về nhà, đem căn trần nhiều kiếp đốn ngộ bát nhã. Từ đó, câu Một người xuất gia 9 họ sinh cõi trời đã trở thành dụng ngữ phổ biến trong Phật giáo.

Nhất tử địa

xem Cực ái nhất tử.

nhất tử địa

(一子地) Gọi đủ: Cực ái nhất tử địa. Giai vị Bồ tát chứng được quả hóa tha. Bồ tát ở giai vị này, đem tâm từ bi, bình đẳng thương xót tất cả chúng sinh cũng như thương con mình, thấy con an ổn, tu thiện thì sinh tâm vui mừng; thấy con phiền não, bệnh khổ thì tâm sinh lo buồn. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 16 (Đại 12, 459 thượng) nói: Thấy các chúng sinh pháp thân chưa tăng, hoặc thân, khẩu, ý tạo nghiệp bất thiện, Bồ tát dùng tay trí tuệ cứu vớt, không để chúng sinh trôi giạt trong dòng sinh tử, chịu mọi khổ não (...). Thấy Nhất xiển đề rơi vào địa ngục, Bồ tát cũng nguyện cùng họ sinh trong địa ngục. Vì sao? Vì nếu khi Nhất xiển đề chịu khổ mà sinh tâm ăn năn hối cải, thì Bồ tát tức thời dùng mọi cách thuyết pháp khiến họ sinh 1 niệm thiện căn, cho nên Bồ tát ở địa vị này cũng gọi là Nhất tử. Nghĩa là Bồ tát trụ ở Nhất tử địa, tâm luôn nghĩ đến chúng sinh, tìm mọi cách để cứu giúp, không nỡ rời bỏ.[X. Đại bát niết bàn kinh tập giải Q.38; Niết bàn kinh nghĩa kí Q.5, hạ].

nhất tự

One word. ; (一字) I. Nhất Tự. Một chữ, tức chữ A trong Mật giáo được dùng để tượng trưng cho nguồn gốc của muôn vật. II. Nhất Tự. Chữ nhất. Chương Ngũ tổ Hoằng nhẫn trong Lăng già sư tư kí (Đại 85, 1289 hạ) nói: Khi ông ngồi thì thân thể phải ngay thẳng, mặt trầm lặng, buông thân tâm vào tận cõi hư không,rồi khán chữ nhất (..), từ đó sẽ có thứ lớp.

Nhất tự bất thuyết

一字不說; J: ichiji-fusetsu;|Nghĩa là »một chữ cũng chưa hề thuyết«; một danh từ thường được dùng trong Thiền tông để nhấn mạnh rằng Phật và các vị Tổ chưa bao giờ đá động đến Chân lí tuyệt đối trong những bài thuyết pháp của chư vị bởi vì cái tuyệt đối này không thể nào diễn bày được (Bất khả thuyết). Vì thế nên đức Phật ban đầu không muốn rời Giác Thành (bodhga-yā), không muốn trở về thế tục để giáo hoá chúng sinh. Nhưng, vì quá thương chúng sinh đang trôi nổi trong Vòng sinh tử nên Ngài quyết định rời chỗ toạ thiền đi hoằng hoá. Nói theo các vị Thiền sư là »để rơi mình vào cỏ mà nói chuyện« (落草譚; lạc thảo đàm) – tức là rời tâm thức sung sướng an lạc tuyệt đối để bước vào tâm thức của một phàm phu để chỉ đường chúng sinh đến bờ Giác ngộ.|Vì lí do trên mà Thiền tông quan niệm rằng, tất cả những bài Kinh (s: sūtra) của đức Phật và Ngữ lục của chư vị Thiền sư đều chỉ là »Ngón tay chỉ mặt trăng – nhưng không phải chính là mặt trăng.« Chân lí tuyệt đối chỉ có thể – nếu có thể! – được »truyền« bằng một phương pháp bí mặt, siêu việt mà Thiền tông gọi là »Dĩ tâm truyền tâm.«|Thiền tông tự nêu tông chỉ của mình là »Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật« – thay vì dựa vào lời của Phật thuyết trong các kinh sách, bởi vì ngôn ngữ trên giấy mỗi người đều hiểu một cách riêng biệt – tuỳ theo trình độ và khả năng của người đang xem nó. Thiền tông không quan niệm rằng, tất cả kinh sách đều vô dụng, nhưng chúng không thể biểu lộ hết tất cả. Chúng thật sự vô dụng trong việc miêu tả cái tuyệt đối, Chân như.

nhất tự bất thuyết

(一字不說) Không nói 1 chữ. Nghĩa là đạo mà chư Phật tự chứng được không thể dùng văn tự ngôn ngữ để diễn đạt, chỉ có Phật với Phật mới thấu suốt mà thôi. Cũng như dùng ngón tay để chỉ mặt trăng, thì ngón tay vốn chẳng phải mặt trăng. Cũng thế, tất cả ngôn ngữ văn tự hoàn toàn không phải là nội dung chứng ngộ của chư Phật. Về ý nghĩa này, tông Hoa nghiêm chủ trương Quả phần bất khả thuyết, Thiền tông chủ trương Bất lập văn tự, tông Thiên thai thì có Tứ bất khả thuyết... [X. kinh Đại bát nhã quyển 425; kinh Niết bàn Q.20 (bản Bắc)].

nhất tự bố thân đức

(一字布身德) Một chữ A bày ra khắp toàn thân. Kinh Đại nhật quyển 3 (Đại 18, 22 thượng) nói: Đài hoa môn chữ A Vòng lửa rất đẹp đẽ Ánh sáng chiếu khắp hết Soi đến mọi chúng sinh. Nghĩa là chân ngôn chữ A được chư Phật ở 10 phương dùng pháp thân cùng gia trì. Người tu chân ngôn này có thể làm được các Phật sự, cho đến hiện sắc thân ở khắp nơi, mở bày trí tuệ Phật cho hết thảy chúng sinh. Phàm những việc mà chư Phật làm thì chữ A này cũng làm được như thế; cho nên nhờ tu chân ngôn chữ A này mà thành tựu được mọi công đức. Đại nhật kinh sớ diễn áo sao quyển 44 (Đại 59, 448 hạ) nói: Tất cả chữ A nghĩa là lấy 1 chữ A bày ra khắp toàn thân để làm 1 mạn đồ la. [X. Đại nhật kinh sớ Q.12].

nhất tự chú

(一字咒) Một chữ đứng trước chân ngôn. Hành giả Mật giáo khi trì tụng Chân ngôn, dùng chữ chủng tử làm Chân ngôn để trì tụng, hoặc ở trước chữ chủng tử thêm vào từ Qui mệnh mà thành Chân ngôn, gọi là Nhất tự chú. Chủng tử ấy là (bhrùô). Do các phái hoặc pháp tu khác nhau, mà 1 chữ chủng tử này hoặc được thêm chữ Án (oô, qui mệnh), hoặc được thêm Nam mô tam mạn đa bột đà nam (Nama samanta buddhanàn, qui mệnh khắp cả chư Phật) để trì tụng.

nhất tự kim luân

(一字金輪) Phạm: Ekàkwara-uwịìwacakra. Hán âm: Ế ca ngật sa la bột đà ô sắt ni sa chước ngật la. Cũng gọi Nhất tự kim luân Phật đính vương, Đại kim luân minh vương. Chân ngôn do đức Đại nhật Như lai tuyên thuyết khi Ngài ở trong định Tối thắng, tức là nhân cách hóa của 1 chữ chủng tử (bhrùô –bột rô án), cũng là 1 trong 5 Phật đính tôn. Nhất tự đính luân vương du già nhất thiết thời xứ niệm tụng thành Phật nghi quĩ (Đại 19, 320 trung) nói kệ rằng: Đại kim luân minh vương Uy sáng hơn mặt trời Bảy báu vây chung quanh Đứng đầu hết thảy Phật Luân vương của Luân vương Vừa hiện thân kì đặc Thánh chúng đều ẩn mất Hiển thắng tuyệt không chung Chỉ có một thể Phật. Nội dung bài kệ trên cho rằng công đức của chư Phật và Bồ tát đều qui về 1 vị tôn Nhất tự kim luân này. Lại đỉnh đầu là bộ phận cao nhất trên thân thể con người, nên dùng Phật đính để ví dụ vị tôn này là bậc tôn quí nhất trong chư Phật. Lại nữa, Luân vương mà Phật giáo thường gọi có 4 loại: Kim luân vương, Ngân luân vương, Đồng luân vương và Thiết luân vương (tức vàng, bạc, đồng và sắt) thì Kim luân (bánh xe bằng vàng) được dùng để biểu thị nghĩa tối thắng của vị tôn này. Khi tu pháp mà tụng chân ngôn Nhất tự kim luân thì sẽ có được sức thần uy đức rực rỡ. [X. kinh hất tự kì đặc Phật đính; kinh Đại đà la ni mạt pháp trung nhất tự tâm chú; hất tự đính luân vương du già quán hành nghi quĩ].

nhất tự kim luân pháp

(一字金輪法) Cũng gọi Nhất tự kim luân Phật đính pháp. Tên pháp tu Nhất tự kim luân. Phật đính tôn trong các vị tôn của Mật giáo lấy chữ (bhrùô, bột rô án) làm Chân ngôn, là bậc tôn thắng trong các Phật đính, ví như các vị Chuyển luân Thánh vương ở thế gian thì Kim luân là thù thắng nhất, nên gọi là Nhất tự kim luân hay Kim luân Phật đính.Thân của Nhất tự kim luân màu vàng ròng hoặc màu trắng, ngồi trên hoa sen trắng 8 cánh, tay kết ấn Trí quyền, tượng trưng cho trí của Phật. Pháp tu lấy vị tôn này làm Bản tôn để cầu nhất thiết tất địa(thành tựu) và tiêu trừ tai nạn, gọi là Nhất tự kim luân pháp. Nếu tu pháp Du già này thì dù trong đời hiện tại tạo nhiều tội chướng sâu nặng, cũng có thể vượt khỏi các đường ác, mau chứng quả giác ngộ. [X. kinh Bồ đề đạo tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương; Nhất tự đính luân vương niệm tụng nghi quĩ; Nhất tự đính luân vương du già quán hành nghi quĩ]. (xt. Nhất Tự Kim Luân).

nhất tự kim luân phật đảnh pháp

See Nhất Tự Kim Luân Đảnh Pháp.

nhất tự kim luân đảnh pháp

The one word golden wheel magical method (Chân ngôn).

Nhất tự kinh

一字經; C: yīzì jīng; J: ichijikyō;|Kinh, xem Nhất tự Phật đỉnh luân vương kinh (一字佛頂輪王經).

Nhất tự kì đặc Phật đỉnh kinh

一字奇特佛頂經; C: yīzì qítè fódǐng jīng; J: ichiji kidoku bucchō kyō; S: uṣṇīṣacakravarti-tantra.|Kinh, 3 quyển, Bất Không (不空) dịch.

nhất tự nghiệp

(一字業) Pháp tu lấy kinh Bồ đề đạo tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương làm chủ yếu, do ngài Viên trân thuộc tông Thiên thai Nhật bản lập ra. Là 1 trong 5 nghiệp của Thai Mật(Mật giáo do tông Thiên thai của Phật giáo Nhật bản truyền).

nhất tự nhiếp đa

(一字攝多) Đối lại: Đa tự nhiếp nhất. Một chữ bao nhiếp nhiều nghĩa, là 1 trong 16 huyền môn do Mật giáo lập. Khi giải thích văn kinh và tướng chữ, Mật giáo thường dùng 1 chữ của tiếng Phạm để thu gom nghĩa lí của tất cả, gọi là Nhất tự nhiếp đa. Chẳng hạn như chữ A vốn chẳng sinh, hàm chứa nghĩa Tác nghiệp bất khả đắc của chữ Ca và nghĩa Không bất khả đắc của chữ Kha... Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 38, 656 hạ) nói: Lại nữa, trong tất cả danh ngôn, hễ có tiếng chữ Ca thì đều vào Ca tự môn; cho đến có tiếng chữ Ha thì đều vào Ha tự môn. Vì thế nên biết trong 1 Tự môn có vô lượng nghĩa. [X. Phạm tự chân ngôn thập lục huyền môn nghĩa; Pháp hoa kinh thích].

nhất tự phá đa

(一字破多) Đối lại: Đa tự phá nhất. Một chữ phá nhiều nghĩa, là 1 trong 16 huyền môn do Mật giáo thành lập. Khi giải thích văn kinh và tướng chữ, Mật giáo thường dùng 1 chữ trong tiếng Phạm để đả phá sự mê chấp đối với nghĩa lí của tất cả chữ, gọi là Nhất tự phá đa. Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 656 trung) nói: Thế nào là 1 chữ phá tất cả chữ? Như người chấp có tạo tác, thì phải phá họ bằng cách này: Nếu đã thành lập nghĩa các pháp vốn không có sinh mà ông nói có tạo tác, thì không đúng. Cho nên người chấp có nhân (..) thì cũng phá bằng cách tương tự: Nếu đã thành lập nghĩa các pháp vốn chẳng sinh mà ông chủ trương có nhân, thì không đúng... [X. Phạm tự chân ngôn thập lục huyền môn nghĩa; Pháp hoa kinh thích; Hồng tự nghĩa toàn đà la ni môn thích].

nhất tự phật đỉnh chân ngôn dữ phật nhãn chân ngôn

(一字佛頂真言與佛眼真言) Tên của Chân ngôn Phật đính và Phật nhãn. Đáp lời thỉnh cầu của bồ tát Kim cương mật tích chủ, đức Phật vào Đại tam ma địa tuyên thuyết chân ngôn Nhất tự Phật đính: Na mạc (qui mệnh) thiện mạn đà bột đà nẫm (phổ biến chư giác giả) bột lâm hồng (chủng tử). Chân ngôn này có thần lực và uy đức rất lớn. Nếu có người thụ trì chân ngôn này, thì trong phạm vi 500 do thiện na quanh chỗ ở của người ấy, không có 1 thần chú nào của thế gian hay xuất thế gian có thể thành tựu được. Cho đến hàng Bồ tát Thập địa cũng phải khiếp sợ thần lực và uy đức của chân ngôn này. Rồi sau đó trì tụng chân ngôn Phật nhãn, vì tác dụng của chân ngôn Phật nhãn là do Phật mẫu của 3 bộ sinh ra, nên cũng có uy đức rất lớn. Bởi thế, nhờ trì tụng 2 chân ngôn này mà hành giả luôn được an ổn, không bị các phiền não quấy nhiễu. [X. kinh Nhất tự Phật đính luân vương Q.1; Chân ngôn tu hành sao Q.2].

nhất tự phật đỉnh luân vương kinh

(一字佛頂輪王經) Phạm: Ekàkwara-buddhowịìwa-cakraràja-sùtra. Gọi tắt: Ngũ Phật đính kinh. Kinh, 5 quyển, do ngài Bồ đề lưu chí dịch vào đời Đường, được đưa vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật Thích ca ở đạo tràng Kim cương dưới gốc cây Bồ đề, nước Ma kiệt đà, đáp lời thỉnh cầu của bồ tát Kim cương mật tích chủ, vào Đại thiền định, hiện tướng Đại Chuyển luân vương, tuyên thuyết thần chú Nhất tự đính luân vương. Bấy giờ, cả đại thiên thế giới rúng động, bồ tát Quan âm và bồ tát Kim cương chủ nằm bất tỉnh trên đất. Đức Phật lại nói chân ngôn Nhất thiết Phật nhãn Phật mẫu, 2 vị Bồ tát liền tỉnh dậy. Đức Phật lại nói tiếp những thần chú Luân vương khác như: Bạch tản cái, Quang tụ, Cao đính... để giảng rõ về 54 loại ấn pháp trong phẩm Ấn thành tựu và 9 loại ấn pháp trong phẩm Thế thành tựu.Kinh này gồm có 13 phẩm: Phẩm Tựa, phẩm Họa tượng pháp, phẩm Phân biệt thành pháp, phẩm Phân biệt mật nghi, phẩm Phân biệt bí tướng, phẩm Thành tượng pháp, phẩm Ấn thành tựu, phẩm Đại pháp đàn, phẩm Cúng dường thành tựu, phẩm Thế thành tựu, phẩm Hộ pháp, phẩm Chứng học pháp và phẩm Hộ ma đàn.Kinh này còn có 1 bản dịch khác với tựa đề là: Kinh Bồ đề tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương, do ngài Tam tạng Bất không dịch. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9].

Nhất tự quan

一字關; J: ichiji-kan; |Tức là »ải của một chữ«; một chữ bao hàm tất cả ý nghĩa giảng dạy. Danh từ này thường dùng cho những Thoại đầu một chữ. Nổi danh về cách sử dụng nhất tự quan để dạy môn đệ là Thiền sư Vân Môn Văn Yển.|Nhất tự quan nổi tiếng nhất là »Vô« của Thiền sư Triệu Châu Tòng Thẩm (Vô môn quan, công án thứ nhất), »Quan« của Vân Môn (Bích nham lục, Công án 8).

Nhất tự tam lễ

一字三禮; C: yīzì sānlǐ; J: ichiji sanrai;| Nhất đao tam lễ.

nhất tự tam lễ

Mỗi chữ viết về Phật pháp đều phải lễ bái Tam Bảo—In writing Buddhist scriptures, at each writing thrice to pay homage to the Triratna. ; (一字三禮) Một chữ 3 lễ. Với lòng kính tin đức Phật, khi chép kinh, cứ viết xong 1 chữ thì lạy 3 lạy. Ngoài ra, khi khắc chạm tượng Phật, đưa 1 đường dao thì lễ 3 lần, gọi là Nhất đao tam lễ.

nhất tự thiền

A cryptic single-word reply to a question, requiring meditation for its apprehension. It is Zen or Ch'an method. ; (一字禪) Cũng gọi Nhất tự quan. Thiền một chữ. Chỉ dùng 1 chữ duy nhất để biểu hiện tông chỉ của Thiền. Đây là tông phong đặc thù của Thiền sư Vân môn Văn yển.Tắc 8 trong Bích nham lục (Đại 48, 148 trung) chép: Cuối hạ, ngài Thúy nham nói với đại chúng rằng: Suốt từ đầu hạ đến nay, tôi đã giảng nói cho các anh em, hãy xem lông mày của Thúy nham có còn không? Ngài Vân môn trả lời: Quan! Ngoài ra, khi các Thiền sư dùng 1 chữ để trả lời những nghi vấn của người học, cũng đều gọi là Nhất tự thiền.

nhất tự thành đa

(一字成多) Đối lại: Đa tự thành nhất. Một chữ thành nhiều, 1 trong 16 huyền môn do Mật tông thành lập. Khi giải thích văn kinh và tướng chữ, Mật tông thường dùng 1 chữ trong tiếng Phạm để thành lập nghĩa của tất cả chữ, gọi là Nhất tự thành đa. Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 656 thượng) nói: Một chữ thành tất cả chữ là thế nào? Nghĩa là tất cả pháp không tạo tác, vì chúng vốn chẳng sinh. Cho đến tất cả pháp không có nhân, vì chúng vốn chẳng sinh. Trên đây là từ nghĩa của chữ A (vốn chẳng sinh) mà giải thích nghĩa của các chữ Ca (không tạo tác) và chữ Ha (không nhân)...

nhất tự thích đa

(一字釋多) Đối lại: Đa tự thích nhất. Một chữ giải thích nhiều chữ, 1 trong 16 huyền môn do Mật tông thành lập. Khi giải thích văn kinh và tướng chữ. Mật tông thường dùng 1 chữ trong tiếng Phạm để giải thích nghĩa lí của nhiều chữ, gọi là Nhất tự thích đa. Chẳng hạn như dùng nghĩa vốn chẳng sinh của chữ A để giải thích nghĩa tác nghiệp bất khả đắc của chữ Ca, nghĩa không bất khả đắc của Kha... Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 656 thượng) nói: Một chữ giải thích tất cả chữ là thế nào? Như khi giải thích chữ Ca, chỉ cần quán xét các thứ nhân duyên vốn không sinh, thì liền thấy nghĩa không tạo tác. Cho đến khi giải thích chữ Ha, chỉ cần quán xét các thứ nhân duyên vốn không sinh, thì liền thấy nghĩa không nhân. [X. Phạm tự chân ngôn thập lục huyền môn nghĩa; Pháp hoa kinh thích].

Nhất tự tâm chú kinh

一字心呪經; C: yīzì xīnzhòu jīng; J: ichiji shinju kyō;|Đại đà-la-ni mạt pháp trung nhất tự tâm chú kinh (大陀羅尼末法中一字心呪經).

nhất tự văn thù

The single-word Manjusri. ; (一字文殊) Cũng gọi Nhất kế Văn thù. Chỉ cho bồ tát Văn thù trên đầu tết 1 búi tóc. Trong Mật giáo, bồ tát Văn thù được biểu hiện bằng nhiều hình tượng khác nhau như: Nhất tự Văn thù, Ngũ tự Văn thù, Lục tự Văn thù, Bát tự Văn thù... Chủng tử của Nhất tự Văn thù là: (zrì), hình Tam muội da là trên hoa sen xanh có bảo châu như ý. Tượng là hình đồng tử, thân màu vàng ròng, ngồi bán già trên hoa sen trắng nghìn cánh, tay trái cầm hoa sen xanh, trên hoa có viên bảo châu như ý. Tay phải hướng ra ngoài, 5 ngón duỗi xuống, kết ấn Mãn nguyện, nét mặt vui vẻ mỉm cười. Vì tóc trên đầu Ngài tết có 1 búi nên cũng gọi là Nhất kế Văn thù. [X. kinh Mạn thù thất lợi bồ tát chú tạng trung nhất tự chú vương; Đại thánh mạn thù thất lợi đồng tử ngũ tự du già pháp].

nhất tự văn thù pháp

(一字文殊法) Pháp tu của Mật giáo thờ bồ tát Nhất tự Văn thù làm bản tôn, lấy chữ (Zrhyiô, xỉ lâm) hoặc chữ (Trhyìô, thể li hi lâm) làm chân ngôn. Cứ theo kinh Văn thù sư lợi căn bản nhất tự đà la ni, thần chú này có công năng diệt trừ tất cả tà ma quỉ mị, là pháp tốt lành của hết thảy chư Phật, cũng có sức thành tựu tất cả thần chú. Người thụ trì thần chú này, có thể khiến chúng sinh khởi tâm đại từ đại bi, những chướng ngại đều bị tiêu trừ, mọi nguyện vọng đều được thỏa mãn. Ngoài ra, Đà la ni này cũng giúp chúng sinh sống trong đời hiện tại được an ổn, các đức Như lai và chúng Đại bồ tát thường làm quyến thuộc, tất cả mọi mong cầu đều thành tựu. [X. kinh Mạn thù thất lợi bồ tát chú tạng trung nhất tự chú vương; Đại thánh mạn thù thất lợi đồng tử ngũ tự du già pháp].(xt. Nhất Tự Văn Thù).

Nhất tự đỉnh luân vương kinh

一字頂輪王經; C: yīzìdǐng lúnwáng jīng; J: ichijichō rin'ō kyō;|Bồ-đề trường sở thuyết nhất tự đỉnh luân vương kinh (菩提場所説一字頂輪王經).

nhất tự đỉnh luân vương kinh

(一字頂輪王經) Cũng gọi Nhất tự kinh, Bồ đề đạo tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương kinh, Bồ đề tràng kinh. Kinh, 5 quyển, do ngài Tam tạng Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Kinh này có hình thái đặc biệt nhất trong Mật giáo tạp bộ, đứng vào địa vị thứ nhất trong Phật đính bộ, nội dung bao gồm cả 5 Phật đính; tất cả có 13 phẩm, mở đầu bằng phẩm Tựa và kết thúc với phẩm Hộ ma.Các bản dịch khác của kinh này là: Nhất tự Phật đính luân vương kinh và Ngũ Phật đính tam muội đà la ni, đều do ngài Bồ đề lưu chí dịch.

nhất vi trần

The smallest particle—An atom—A microcosm of the universe. ; (一微塵) Gọi tắt: Nhất trần. Một mảy bụi. Trong Phật giáo, từ ngữ này được dùng để chỉ cho 1 đơn vị vật chất nhỏ nhất (cực vi). Ma ha chỉ quán quyển 1, phần cuối (Đại 46, 9 thượng) nói: Trong một mảy bụi có hàng đại thiên thế giới kinh tạng; trong tâm có đầy đủ tất cả Phật pháp, như địa chủng như hương hoàn.

Nhất Viên

一圓; J: ichien;|Vô Trụ Ðạo Hiểu

nhất viên thật

(一圓實) Chỉ cho Viên giáo trong 4 giáo hóa pháp do tông Thiên thai thành lập. Theo sự phán giáo của tông Thiên thai, 4 giáo hóa pháp được chia làm 2 loại là Quyền (tạm thời) và Thực (chân thực), trong đó Tạng, Thông, Biệt đều thuộc về Quyền, chỉ có Viên giáo thuộc về Thực. Đây là Quyền, Thực đối lại với Thiên, Viên. Ba giáo Tạng, Thông, Biệt vẫn chưa được viên mãn, vì còn thiên lệch, nên gọi là Quyền giáo (giáo pháp quyền biến lâm thời), chỉ có Viên giáo mới hoàn toàn viên mãn, nên gọi là Thực giáo (giáo pháp chân thực vĩnh viễn).

Nhất vãng

一往; C: yīwăng; J: ichiō;|1. Duy nhất, chỉ, chỉ là; 2. Thông thường, tóm tắt, đại thể (theo Nhị chướng nghĩa 二障義); 3. Một lần, một vòng.

nhất vãng

See Nhứt vãng.

Nhất vãng lai

hay Nhất lai, nghĩa là chỉ còn một lần tái sanh, tức quả vị Tư-đà-hàm. Xem bốn quả thánh.

nhất vãng tái vãng

(一往再往) Tìm cầu nghĩa lí 1 lần nữa. Nhất vãng là tìm cầu lần thứ nhất, mới chỉ hiểu 1 cách hời hợt trên mặt chữ. Tái vãng là suy tìm lần nữa, tiến xa hơn mà phát huy được nghĩa lí sâu kín, nhờ đó có thể thấu suốt huyền chỉ ở ngoài ngôn ngữ, văn tự, tức là cái mà Trang tử gọi là Ý tại ngôn ngoại vậy. Nhị đế nghĩa quyển thượng (Đại 45, 87 hạ) nói: Các pháp thế gian chỉ có chữ mà không có nghĩa, nhất vãng đã thế rồi, tái vãng lại càng không. Vì sao? Vì chữ vốn để giải thích nghĩa, mà đã không có nghĩa thì chữ giải thích cái gì?.

nhất vô ngại đạo

Meditation on the one way without barrier (the end of reincarnations in nirvana). ; (一無礙道) Một con đường không ngăn ngại. Chỉ cho sự ngộ đạo sau khi đã thể nhận được Sinh tử tức Niết bàn, thì có thể dung hòa 2 cặp đối đãi này 1 cách vô ngại. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ].

nhất võng đả tựu

(一網打就) Tiếng dùng trong Thiền lâm Tung 1 mẻ lưới là bủa vây hết, ví dụ 1 câu nói của Thiền sư có thể diễn tả hết ý nghĩa cốt tủy của Phật pháp. Tắc 52 trong Bích nham lục (Đại 48, 187 thượng) nói: Độ lừa độ ngựa (1 mẻ lưới bủa vây hết, tất cả mọi người trên mặt đất không còn chỗ để thở, hễ chết là chết luôn, không sống lại).

nhất vũ

A rain—A lesson or teaching from the Buddha. ; (一雨) Một trận mưa. Ví dụ Phật pháp như 1 trận mưa rào thấm nhuần khắp tất cả chúng sinh.Đức Phật nói pháp Nhất thừa, chỉ bày rõ lí Nhất thực tướng, vốn không có 2, 3; cũng giống như 1 trận mưa rào rơi xuống thì tất cả cỏ cây được thấm nhuần tươi tốt. Tuy mưa chỉ là 1 nhưng cây cỏ tùy loại lớn nhỏ, cao thấp mà được lợi ích khác nhau. Cũng thế, pháp do Phật nói tuy là đồng nhất, nhưng căn cơ của người nghe và tiếp nhận thì thiên sai vạn biệt, nên được lợi ích không giống nhau.

nhất vấn tấn

(一問訊) Gọi đủ: Tiếp nhập nhất vấn tấn. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cùng thăm hỏi 1 lượt, là 1 trong những cách thức lễ bái thăm hỏi của Thiền tông. Nghĩa là khi vị Trụ trì đến gặp đại chúng, thì đại chúng đồng loạt lễ bái thăm hỏi, chứ không lễ bái từng người một.

nhất vật bất tương lai (zen)

Empty-handed—Nothingness—Not a thing to bring or carry away.

nhất vật bất tướng lai

(一物不將來) Tên công án trong Thiền tông. Một vật không đem đến, tức chỉ cho bản lai diện mục. Tắc 57 trong Thung dung lục (Đại 48, 263 thượng) chép: Tôn giả Nghiêm dương hỏi ngài Triệu châu: - Khi một vật không đem đến thì thế nào?Ngài Triệu châu đáp: - Bỏ nó xuống. Tôn giả Nghiêm dương lại hỏi: - Một vật đã không đem đến thì bỏ cái gì xuống? Ngài Triệu châu nói: - Thì vác nó lên mà đưa đi!.

nhất vật trường niên

(一物長年) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một vật năm dài. Một vật chỉ cho tâm tính linh diệu, Thiền tông gọi là Chủ nhân ông. Trường niên chỉ cho những năm tháng lâu dài. Nghĩa là tâm tính linh diệu là cái mà Phật Phật Tổ Tổ đã truyền cho nhau từ xưa đến nay và mãi cho đến nhiều kiếp trong vị lai. Phổ tế lục quyển thượng (Đại 82, 499 trung) nói: Kết hạ thuyết pháp, đại chúng từ 10 phương cùng về tụ họp, một vật năm dài chưa hề đụng đến, cũng chẳng theo duyên.

Nhất vị

(一味): có hai nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho loại mùi vị. Như trong Trung Luận (中論), chương Trị Học (治學) của Từ Cán (徐幹, 170-217) nhà Hán có câu: “Gia thiện chi hòa, phi thủ hồ nhất vị (嘉膳之和、非取乎一味, khen mâm cỗ hài hòa, không phải chỉ lấy một vị mà khen).” (2) Chỉ cho giáo pháp của Như Lai, giống như Cam Lộ. Như trong Phẩm Dược Thảo Dụ (藥草喻品) của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262) quyển 3 có câu: “Như Lai thuyết pháp, nhất tướng nhất vị (如來說法、一相一味, đức Như Lai thuyết pháp, một tướng một vị).” Hay trong Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 5 lại có câu: “Hựu giải thoát giả, danh vi nhất vị (又解脫者、名爲一味, lại nữa, giải thoát được gọi là một vị).” Hoặc trong Đại Thừa Khởi Tín Luận Nghĩa Ký (大乘起信論義記, Taishō Vol. 44, No. 1846) quyển Trung lại có đoạn rằng: “Phi sanh phi diệt, bất động bất chuyển, bình đẳng nhất vị, tánh vô sai biệt, chúng sanh tức Niết Bàn (非生非滅、不動不轉、平等一味、性無差別、眾生卽涅槃, chẳng sanh chẳng diệt, không động không chuyển, bình đẳng một vị, tánh không sai khác, chúng sanh là Niết Bàn).” ; 一味; C: yīwèi; J: ichimi; S: eka-rasa.|»Chỉ có một (mùi) vị duy nhất,« sự đồng nhất của tất cả những hiện hữu. Thuật ngữ này xuất xứ từ ẩn dụ đại dương, tất cả các biển chỉ có một vị mặn duy nhất.

nhất vị

One flavour—The same flavour. ; (一味) Phạm: Eka-rasa, hoặc Vimukty-ekarasatà. Một mùi vị. Chỉ cho tất cả sự(các hiện tượng)và lí (bản thể) đều bình đẳng không sai khác. Thông thường chỉ cho giáo pháp của đức Phật. Luận Bảo tính quyển 3 (Đại 31, 835 hạ) nói: Đối với pháp thân Như lai ở trong thế giới vô lậu, thì 1 vị 1 nghĩa cũng không cách rời nhau.

nhất vị nhất thiết vị

(一位一切位) Đồng nghĩa: Nhất môn phổ môn. Một vị tất cả vị. Bậc thượng căn khi chứng được 1 giai vị thì đồng thời đầy đủ công đức của tất cả giai vị. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1 (Đại 35, 115 hạ) ghi: Viên giáo nói rõ 1 vị tức là tất cả vị, tất cả vị tức là 1 vị.

nhất vị thiền

(一味禪) Thiền 1 mùi vị. Chỉ cho thiền tối thượng thừa thuần nhất, không pha tạp. Cũng tức là thiền đốn ngộ. Thiền tông chính mạch quyển 2 (Vạn tục 146, 27 hạ) chép: Vị tăng bái biệt ra đi, sư hỏi: - Đi đâu? - Đi các nơi để học Ngũ vị thiền. - Các nơi có Ngũ vị thiền, còn ở đây ta chỉ có Nhất vị thiền. - Nhất vị thiền là thế nào? Sư liền đánh, vị tăng nói: - Hiểu rồi! Hiểu rồi! Sư giục: - Nói! Nói! Vị tăng toan mở miệng, sư lại đánh. Sau đó, vị tăng đến chỗ ngài Hoàng bá thuật lại chuyện này. Ngài Hoàng bá lên Pháp đường tuyên bố: Mã đại sư có 84 vị thiện tri thức, tất cả đều đốn ngộ, được tự do tự tại. [X. Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.11; Tông môn thống yếu tục tập Q.4].

Nhất vị uẩn

一味蘊; C: yī wèi yùn; J: ichimiun; S: eka-rasa-skandha.|Một nguyên tắc được Nhất thiết hữu bộ thiết thuyết, xem như là chủ thể trải qua những biến chuyển, là cái được tái sinh, là tâm thức vi tế nhất bắt đầu từ vô thuỷ vô minh.

nhất vị uẩn

(一味蘊) Phạm: Eka rasa skandha. Uẩn 1 vị. Uẩn chỉ cho thụ, tưởng, hành và thức. Nhất vị uẩn là 4 uẩn này đắp đổi, hòa hợp với nhau thành 1 vị duy nhất, tức là ý thức nhỏ nhiệm liên tục từ vô thủy đến nay, không hề gián đoạn. Theo quan điểm của Kinh lượng bộ của Phật giáo Tiểu thừa, thì Nhất vị uẩn này là chủ thể của sự luân hồi. [X. luận Dị bộ tông luân; Dị bộ tông luân luận thuật kí mục luận Q.5].

nhất vọng

(一妄) Một niệm mê vọng không thực. Tông Kính lục quyển 1 (Đại 48, 419 hạ) nói: Một khi mắt vương bệnh Hoa đốm đầy hư không Một niệm vọng trong tâm Hằng sa sinh diệt khởi.

nhất xan

(一餐) Một bữa ăn. Trong kinh Pháp hoa quyển 2 có câu Không mong ăn được 1 bữa (Nhi vô hi thủ nhất xan), ý nói thấy thức ăn mà không ăn được. Ở đây nói về hàng Thanh văn tự cho mình là Tiểu thừa, nên đối với pháp Đại thừa không sinh tâm ưa thích, ví như thấy thức ăn mà không ăn được.

nhất xiển đề

Icchantika or Atyantika (skt)—Đoạn thiện căn giả, người không có ý hướng giác ngộ Phật, kẻ thù của thiện pháp. Người cắt đứt mọi thiện căn. Nhất Xiển Đề là hạng người cùng hung cực ác, mất hết tất cả các căn lành, không thể nào giáo hóa khiến cho họ tu hành chi được hết. Tuy nhiên, Nhất Xiển Đề cũng áp dụng cho Bồ Tát nguyện không thành Phật cho đến khi nào tất cả chúng sanh đều được cứu độ. Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật nhắc Mahamati: “Này Mahamati, vị Bồ Tát nhất xiển đề biết rằng tất cả sự vật đều ở trong Niết Bàn từ lúc khởi thỉ, nên vẫn giữ mãi không nhập Niết Bàn—One without desire for Buddha-enlightenment, or unable to become Buddha—An unbeliever (unbelief or abandoned character)—An enemy of the good—One who cuts off his roots of goodness. The Atyantika are people who are extremely evil and wicked, having lost all senses of goodness. It is impossible to change, transform, or influence them to take a cultivated path. However, this also applied to a Bodhisattva who has made his vow not to become a Buddha until all beings are saved. In the Lankavatara Sutra, he Buddha reminded Mahamati: “Oh Mahamati, the Bodhisattva-icchantika knowing that all things are in Nirvana from the beginning refrains forever from entering into Nirvana.” ** For more information, please see Vô Chủng Xiển Đề. ; (一闡提) Phạm: Icchantika, hoặc Ecchantika. Cũng gọi Nhất xiển để ca, Nhất điên ca, Nhất xiển đề kha, Xiển đề, A điên để ca, A xiển đề, A xiển để ca. Hán dịch: Đoạn thiện căn, Tín bất cụ túc, Cực dục, Đại tham, Vô chủng tính, Thiêu chủng. Người dứt hết căn lành, không có cơ hội thành Phật. Kinh Nhập lăng già quyển 2 chia Xiển đề làm 2 loại: 1. Đoạn thiện xiển đề: Người dứt hết thiện căn, vốn không có nhân giải thoát. 2. Đại bi xiển đề, cũng gọi Bồ tát xiển đề. Tức Bồ tát vốn mang tâm nguyện đại bi cứu vớt hết thảy chúng sinh, nên cố ý không vào Niết bàn. Đại trang nghiêm kinh luận cũng nêu 2 thuyết về Xiển đề: 1. Hữu tính xiển đề: Nhờ sức hộ trì của Phật, cuối cùng có thể thành Phật. 2. Vô tính xiển đề: Vĩnh viễn không có đìều kiện thành Phật. Ngoài ra, Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu quyển thượng thành lập thuyết 3 loại Xiển đề là: Đoạn thiện xiển đề, Đại bi xiển đề và Vô tính xiển đề. Trong đó, Đoạn thiện xiển đề thuộc loại Hữu tính xiển đề. Nhất xiển đề phát tâm rất khó, giống như người mù bẩm sinh rất khó chữa lành, nên được dùng để ví dụ với Xiển đề mà gọi là Sinh manh xiển đề(Xiển đề mù bẩm sinh). Thời xưa, tại Trung quốc, ngài Đạo sinh chủ trương thuyết Xiển đề thành Phật, bị giới tăng đồ thủ cựu công kích kịch liệt, mãi đến khi kinh Đại bát niết bàn do ngài Đàm vô sấm dịch xuất hiện, thì thuyết Xiển đề thành Phật của ngài Đạo sinh mới dần dần được đón nhận. Tuy nhiên, tông Pháp tướng vẫn chủ trương có những chúng sinh không có khả năng thành Phật; còn các tông Đại thừa khác như Thiên thai, Hoa nghiêm... thì cho rằng tất cả chúng sinh đều có thể thành Phật. Cho nên, Nhất xiển đề có được thành Phật hay không, vẫn còn là 1 vấn đề gây tranh luận trong giới Phật giáo. [X. kinh Niết bàn Q.9 (bản Bắc); luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.5; Hoa nghiêm kinh sớ Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.23].

nhất xoa

(一杈) Cũng gọi Thụ xoa. Cái nạng cây. Tại núi Ngũ đài ở Trung quốc, có Hòa thượng Bí ma ẩn tu trong hang Bí ma, mỗi khi tiếp hóa người học, thường dùng 1 cái nạng cây ấn vào cổ người hỏi đạo và nói (Đại 51, 280 trung): Con ma trời nào xui mi xuất gia? Đồ quỉ sứ nào bảo mi hành cước? Nói được ta cũng dí cho chết, nói không được ta cũng dí cho chết. Nói mau!. [X. tắc 19 trong Bích nham lục; Cảnh đức truyền đăng lục Q.10].

Nhất Xoa Cưu Vương

(s: Ikṣuvāku, Ikṣvāku, p: Okkāka, 一叉鳩王) [nhân]: ý dịch là Cam Giá (甘蔗), Cam Giá Vương (甘蔗王). Huệ Lâm Âm Nghĩa (慧琳音義) 26 giải thích rằng: “Hựu danh Nhật Chủng Thiện Sanh, Thích Ca tộc chi tổ tiên dã, tại Ấn Độ hà lưu vực chi Phù Đà Lạc Thành (又名日種善生、釋迦族之祖先也、在印度河流域之浮陀落城, nó còn có tên là Nhật Chủng Thiện Sanh, tổ tiên của dòng họ Thích Ca, sống tại Thành Phù Đà Lạc [浮陀落, tức Bao Đa Na, s: Potala, 褒多那] thuộc lưu vực sông Ấn Độ).”

nhất xoa cưu vương

(一叉鳩王) Phạm: Ikwvàku. Pàli: Okkàka. Hán dịch: Cam giá thị. Họ Cam giá, tức là tổ tiên của dòng họ Thích ca, sống ở thành Phù đà lạc thuộc lưu vực sông Ấn độ (Indus).

nhất xà thủ vĩ

(一蛇首尾) Đầu rắn đuôi rắn. Ví dụ chúng sinh ngu si, thường tranh giành nhân ngã mà bị rơi vào 3 đường ác. Cứ theo kinh Tạp thí dụ, ngày xưa có 1 con rắn, đầu và đuôi thường tranh cãi nhau và đều cho mình là lớn. Cái đầu nói: Ta có tai để nghe, có mắt để thấy, có miệng để ăn; lúc đi ta ở đàng trước, bởi thế ta phải là lớn. Cái đuôi thì nói: Khi ta cho mi đi thì mi mới đi được, nếu ta không đi thì mi không thể đi được, bởi vậy ta là lớn. Nói xong, cái đuôi liền quấn vào thân cây 3 vòng, luôn 3 ngày không buông ra, đói khát gần chết. Bấy giờ, cái đầu mới bảo cái đuôi:Thôi, mi hãy buông ta ra, ta chấp nhận cho mi là lớn. Cái đuôi nghe nói liền buông ra. Sau đó, cái đầu nói với cái đuôi: Cho mi đi trước. Cái đuôi liền đi trước, nhưng chưa được mấy bước thì rơi xuống hố thẳm mà chết.

nhất âm

(一音) Chỉ cho âm thanh của đức Phật. Vì cơ duyên của chúng sinh có sâu, cạn, căn tính có nhanh, chậm khác nhau, cho nên cùng 1 pháp âm của đức Phật nói ra, mà mỗi người nghe cũng khác nhau. Nếu là căn cơ người thì nghe đức Phật nói pháp Ngũ giới; nếu là căn cơ trời thì nghe đức Phật nói pháp Thập thiện; nếu là căn cơ Thanh văn thì nghe đức Phật nói pháp Tứ đế; nếu là căn cơ Duyên giác thì nghe đức Phật nói pháp Thập nhị nhân duyên; nếu là căn cơ Bồ tát thì nghe đức Phật nói pháp Lục độ... Kinh Duy ma cho rằng đức Phật dùng 1 âm diễn nói chính pháp, chúng sinh tùy căn cơ và chủng loại mà đều được hiểu. [X. phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma Q.thượng; luận Đại tì bà sa Q.79].

Nhất âm giáo

一音教; C: yīyīnjiāo; J: ittonkyō;|Còn gọi là: Nhất viên giáo (一圓教). Giáo lí của chư Phật là nhất như. Tư tưởng nầy do Bồ-đề Lưu-chi (菩提流支; s: bodhiruci) lập ra khi sư đến Trường An vào khoảng 502 sau CN. Sở dĩ có nhiều giáo lí như Tiểu thừa-Đại thừa, Không-Hữu là do căn cơ và tính tình của chúng sinh.

nhất âm giáo

Học thuyết được sáng lập bởi Cưu Ma La Thập và Bồ Đề Lưu Chi—The one-sound teaching which was founded by Kumarajiva and Bodhiruci—The totality of Buddha's doctrine ; (一音教) Cũng gọi Nhất viên âm giáo, Nhất âm thuyết pháp, Nhất âm dị giải. Nghĩa là đức Phật chỉ dùng 1 thứ ngôn ngữ diễn nói tất cả pháp, chúng sinh tùy theo căn tính bất đồng mà hiểu khác nhau, giáo nghĩa do đó cũng chia thành Đại Tiểu, Không Hữu, Đốn Tiệm... khác nhau. Luận Đại tì bà sa quyển 79 (Đại 27, 410 thượng) nói: Phật dùng nhất âm diễn nói pháp nghĩa, chúng sinh tùy theo căn cơ và chủng loại đều được hiểu. Đại chúng bộ trong thời Phật giáo bộ phái chấp nhận thuyết này. Phật giáo Trung quốc cũng lấy thuyết này làm căn cứ cho việc phán giáo. Chẳng hạn như ngài Bồ đề lưu chi đời Hậu Ngụy cho rằng trong Nhất âm giáo của đức Phật bao hàm các giáo pháp Đại thừa và Tiểu thừa; còn ngài Cưu ma la thập đời Diêu Tần thì cho rằng khi chúng sinh nghe Phật pháp vì trình độ hiểu biết của họ có sâu, cạn khác nhau, do đó mà có Đại thừa, Tiểu thừa. Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 1 (Đại 33, 801 trung) nói: Các Thiền sư ở miền Bắc bác bỏ các giáo nghĩa Tứ tông, Ngũ tông, Lục tông, Bán giáo, Mãn giáo, chỉ có một Phật thừa mà thôi. Nhất âm thuyết pháp, nhưng chúng sinh tùy theo căn cơ mà hiểu khác nhau. Do đó, chư Phật thường hành Nhất thừa mà chúng sinh thấy Tam thừa, kì thực chỉ có Nhất thừa mà thôi. [X. phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma Q.thượng; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm kinh sớ Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu; Pháp hoa huyền nghĩa Q.10, thượng].

nhất âm tự

(一音寺) Cũng gọi Ngọc tuyền tự. Chùa ở cạnh núi Ngọc tuyền, huyện Đương dương, tỉnh Hồ bắc, Trung quốc, do Đại sư Trí khải tông Thiên thai sáng lập vào năm Khai hoàng 13 (593), đời Tùy, để đáp đền ơn nghĩa nơi đã sinh ra ngài. Vua sắc ban biển ngạch là Nhất âm.

nhất đa tương dung bất đồng môn

(一多相容不同門) Môn một và nhiều khác nhau nhưng dung hòa nhau, là 1 trong 10 Huyền môn của tông Hoa nghiêm. Môn này căn cứ vào Dụng mà thuyết minh, tức là dựa vào mối quan hệ tương nhập của các pháp để phá trừ cái nghi chấp của chúng sinh cho rằng tất cả các pháp không thể dung nhiếp lẫn nhau, hòa nhập vào nhau. Trong nhiều sự vật khác nhau, đưa ra 1 sự vật nào đó thì sự vật ấy là 1 (nhất), vô số sự vật còn lại là nhiều (đa). Nếu khi 1 biến khắp nhiều, thì nhiều dung chứa 1; khi nhiều biến khắp 1, thì 1 dung chứa nhiều. Mặc dù dung chứa lẫn nhau, nhưng 1 và nhiều vẫn rõ ràng khác nhau, nên gọi là Bất đồng. Như 1 ngọn đèn và nhiều ngọn đèn cùng chiếu sáng trong 1 căn phòng, dù 1 ngọn đèn và nhiều ngọn đèn được đặt ở các vị trí khác nhau, nhưng ánh sáng của chúng vẫn giao xen với nhau, hòa nhập vào nhau, không có gì ngăn ngại. Cũng như 1 cõi Phật và tất cả cõi Phật trong 10 phương dung nạp lẫn nhau mà không làm mất đi cái tướng 1 và nhiều. [X. kinh Hoa nghiêm Q.8 (bản dịch mới); phẩm Lô xá na Phật trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ); Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm tùy sớ diễn nghĩa sao Q.10]. (xt. Thập Huyền Môn).

nhất đao lưỡng đoạn

(一刀兩段) Chặt 1 nhát đứt làm 2 khúc. Ý nói 1 nhát dao trí tuệ chặt đứt kiến giải chấp có, chấp không. Ví dụ thái độ cương quyết, dứt khoát không để bị tình cảm lôi quấn, cám dổ. Cũng ví dụ sử dụng Thiền cơ 1 cách linh hoạt. Mục Chung sơn Thiết ngưu Ấn thiền sư thị đồng hành pháp hối trong Truy môn cảnh huấn quyển 10 (Đại 48, 1094 hạ) nói: Nếu là bậc Đại trượng phu thì phải quyết liệt ngăn chặn những việc làm sai trái, từ gót chân, chặt 1 nhát đứt làm 2 khúc(nhất đao lưỡng đoạn), vượt ra ngoài Phật và Tổ, vừa nhìn qua thì liền thấu suốt, thân tâm đều rõ, cũng không phải là việc khó. (xt. Nam Tuyền Trảm Miêu).

Nhất đao tam lễ

(一刀三禮): đối với người có lòng tín ngưỡng chí thành, khi điêu khắc tượng Phật, mỗi lần vị ấy hạ một nhát đao xuống, lễ bái Tam Bảo ba lần, để biểu thị sự tôn kính. Vẽ tượng, viết kinh văn gọi đó là nhất bút tam lễ (一筆三禮, một nét bút ba lạy) hay nhất tự tam lễ (一字三禮, một chữ ba lạy). ; 一刀三禮; C: yīdāo sānlǐ; J: ittō sanrai;|Nghĩa là một nhát đao hạ xuống thực hiện ba lễ. Khi tạc hình tượng Phật, đều phải đảnh lễ Tam bảo ba lần trước khi thực hiện mỗi nét chạm khắc. Tương tự cũng có thành ngữ Nhất bút tam lễ (一筆三禮) và Nhất tự tam tạng (一字三蔵) biểu thị cùng một quy tắc cho giới hoạ sĩ và văn sĩ.

nhất đao tam lễ

Mỗi một nhát dao chạm trổ hình tượng Phật đều phải lễ bái Tam Bảo—In carving an statue (image) of Buddha, at each cut thrice to pay homage to the Triratna. ; (一刀三禮) Một nét khắc lạy ba lạy. Khi tạo tượng Phật, để bày tỏ lòng tin chân thật, thành kính, cứ mỗi nét khắc, người thợ tạo tượng lại lạy Phật 3 lạy, gọi là Nhất đao tam lễ. Cũng tương tự như trên, khi chép kinh thì gọi là Nhất tự tam lễ (một chữ ba lễ), khi vẽ tượng Phật gọi là Nhất bút tam lễ (một nét vẽ ba lễ).

Nhất Điều Kiêm Lương

(一條兼良, Ichijō Kanera, 1402-1481): vị đình thần, học giả, công khanh, Nhiếp Chính Quan Bạch, sống vào cuối thời đại Thất Đinh, con của Nhất Điều Kinh Tự (一條經嗣, Ichijō Tsunetsugu); thông xưng là Đào Hoa Tẩu (桃華叟), Tam Quan Lão Nhân (三關老人), Hậu Thành Ân Tự (後成恩寺), v.v. Năm 1429 (Chánh Trường [正長] 2), ông làm chức Tả Đại Thần (左大臣); nhưng thật quyền lại rơi vào tay của người thân tộc Nhị Điều Trì Cơ (二條持基, Nijō Mochimoto). Đến năm 1432 (Vĩnh Hưởng [永享] 4), ông làm Nhiếp Chính (攝政), nhưng rồi lại từ chức. Tuy nhiên, với tư cách là học giả lỗi lạc, ông thường tham gia ca đàn của nhà Tướng Quân. Ông đã từng làm chức Quan Bạch Thái Chính Đại Thần, bác học đa tài, thông cả cổ điển lẫn Phật Giáo, rất sở trường về Hòa Ca. Vào khoảng năm 1455 (Hưởng Đức [享德] 4), ông trước tác bộ Nhật Bản Thư Kỷ Toản Sớ (日本書紀纂疏). Ông qua đời ở độ tuổi 80, được xem như là người “năm trăm năm nay tài học đó chẳng có ai”. Trước tác của ông có khá nhiều như Xích Tố Vãng Lai (尺素往來), Công Sự Căn Nguyên (公事根源), Hoa Điểu Dư Tình (花鳥余情), Tiều Đàm Trị Yếu (樵談治要), Văn Minh Nhất Thống Ký (文明一統記), Nhật Bản Thư Kỷ Toản Sớ (日本書紀纂疏), v.v.

Nhất Điều Thiên Hoàng

(一條天皇, Ichijō Tennō, tại vị 986-1011): vị Thiên Hoàng sống vào giữa thời Bình An, Hoàng Tử thứ nhất của Viên Dung Thiên Hoàng (圓融天皇, Enyū Tennō, tại vị 969-984), tên là Hoài Nhân (懷仁, Yasuhito).

nhất điều trụ trượng lưỡng nhân phù

(一條拄杖兩人扶) Tiếng dùng trong Thiền Lâm. Một cây gậy do vị thầy cầm có thể làm chỗ dựa cho 2 người học. Ý nói đệ tử Phật cùng chứng cùng ngộ. Phù nghĩa là chống đỡ, nương tựa. Tắc 24 trong Bích nham lục (Đại 48, 165 trung) chép: Tin tức gì thế? Một cây gậy 2 người chống(Nhất điều trụ trượng lưỡng nhân phù), gọi nhau cùng đến cùng đi.

nhất điểm trụ

Theo Tỳ Kheo Piyananda trong Những Hạt Ngọc Trí Tuệ Phật Giáo, nhất điểm trụ là trạng thái sau đây—According to Bhikkhu Piyananda in The Gems of Buddhism Wisdom. 1) Nhất điểm trụ là trạng thái tập trung mà tất cả những khả năng và sức mạnh tinh thần đều nhắm vào và điều khiển bởi sức mạnh ý chí hướng về một điểm hay một đối tượng. Nhất điểm tâm là một tâm được tập trung và hợp nhất. Nhất điểm tâm là sự đối nghịch của tâm buông lung hay tán loạn. Bình thường trạng thái tinh thần của chúng ta chạy đi mọi hướng, nhưng nếu sự tập trung được dồn vào một đối tượng, bạn bắt đầu biết bản chất thực sự của đối tượng ấy. Tiến trình của sự tập trung lần lần thay đổi trạng thái tinh thần cho đến khi toàn bộ năng lượng tinh thần đồng quy vào một điểm: One-pointedness is a concentrated state in which all the faculties and mental powers are focussed and governed by the will-power and directed towards one point or one object. A one-pointed mind is the opposite of a distracted or scattered mind. Ordinarily our mental states are scattered in all directions but if the concentration is fixed on one object, then you begin to know the true nature of that object. The process of concentration gradually modifies the mental states until the whole mental energy converges towards one point. 2) Nếu bạn huấn luyện tâm vào “nhất điểm,” bạn sẽ mang lại bình tĩnh và sự tĩnh lặng cho tâm, và bạn có thể gom sự chú ý vào một điểm, cũng như có thể ngưng những vọng tưởng của tâm và những phí phạm năng lượng hữu dụng. Tuy nhiên, tâm tĩnh lặng không phải là mục đích tối hậu. Sự tĩnh lặng nầy chỉ là cần thiết để phát triển tuệ giác. Nói một cách khác, tâm tĩnh lặng cần thiết nếu bạn muốn có một cái nhìn sâu vào chính mình, và có được sự hiểu biết sâu xa về chính mình và thế giới: If you train your mind in one-pointedness, you will be able to bring calmness and tranquility to the mind and you will be able to gather your attention to one point, so as to stop the mind from frittering away and wasting its useful energy. A calm mind is not an end in itself. Calmness of mind is only a necessary condition to develop “Insight.” In other words, a calm mind is necessary if you want to have a deep look into yourself and to have a deep understanding of yourself and the world. 3) Thiền Tam Ma Địa huấn luyện tâm với nhiều giai đoạn khác nhau của sự tập trung tinh thần. Ở giai đoạn cao của sự tập trung tinh thần, tức là đắc thiền hay jnana, sức mạnh tâm linh được phát triển. Tuy nhiên, giai đoạn cao về sự tập trung không cần thiết hay thực tiển cho hầu hết mọi người sống trong nhịp độ cuồng nhiệt của đời sống hiện đại. Với hầu hết mọi người, tâm nhẩy từ quá khứ tới hiện tại vị lai, và từ chỗ nầy đến chỗ khác không ngừng nghỉ. Những người như vậy phí phạm một khối lượng năng lực tinh thần to lớn. Nếu bạn có thể huấn luyện tâm bạn duy trì đủ sự tập trung chú ý đến mỗi nhiệm vụ từng chập một thì quá thừa đủ! Khi bạn đọc sách, đi tản bộ, nghỉ ngơi, trò chuyện, hay bất cứ thứ gì mà bạn làm trong cuộc sống hằng ngày, hãy hoạt động với một tâm tĩnh lặng, đó là chú tâm vào mỗi nhiệm vụ: Samatha meditation trains the mind to various stages of mental concentration. At very high stages of mental concentration, known as jnana, psychic powers can be developed. However, such high stages of concentration are not necessary or practical for most people who have to live in the hectic pace of modern life. For most people, the mind is jumping from past to present to future and from place to place. Such people waste an enormous amount of mental energy. If you can train your mind to maintain enough concentration to pay attention to each task from moment to moment, this is more than enough! When you are reading, walking, resting, talking, whatever you do in your daily life, act with a mind that is calm and that is paying attention to each and every action. Learn to focus the mind on each task.

nhất điểm tâm

Ekaggata (p)—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), Phạn ngữ “Ekaggata” có nghĩa là một điểm duy nhất hay là trạng thái gom tâm an trụ vào một điểm duy nhất. Đây là tâm sở nằm trong các tầng thiền (jhanas). Nhất điểm tâm tạm thời khắc phục triền cái tham dục, một điều kiện tất yếu để đạt được thiền định. “Ekaggata” thực tập quán tưởng thật sát vào đề mục; tuy nhiên, “Ekaggata” không thể nào đạt được riêng lẽ, mà nó cần đến những yếu tố khác như “Tầm,” “Sát,” “Phỉ,” và “Lạc.”—According to the Abhidharma, Pali term “Ekaggata” means a one pointed state. This mental factor is the primary component in all jhanas. One-pointedness temporarily inhibits sensual desire, a necessary condition for any meditative attainment. “Ekaggata” exercises the function of closely contemplating the object; however, it cannot perform this function alone. It requires the joint action of the other jhanas such as “Vitaka” (applying the associated state on the object), “Vicara” (sustaining them there), “Piti” (bringing delight in the object, “Sukha” (experiencing happiness in the jhana).

nhất đoàn thực

(一揣食) Cũng gọi Nhất đoàn thực, Tiết lượng thực. Một nắm cơm. Các tăng sĩ Phật giáo mỗi bữa ăn chỉ tiếp nhận 1 nắm cơm cúng dường. Đây là 1 trong 12 hạnh đầu đà. (xt. Đầu Đà).

nhất đoàn tâm thức

(一團心識) Chỉ cho nhục đoàn tâm (trái tim) trong quán pháp của Mật giáo. Mật giáo cho rằng quả tim trong thân thể còn có hình giống như hoa sen, là nơi tồn tại của ý thức, vì thế dùng nhất đoàn tâm thức làm đối tượng để quán tưởng.

nhất đoạn nhất thiết đoạn

(一斷一切斷) Cũng gọi Nhất đoạn tất thành. Một dứt thì tất cả đều dứt. Tông Hoa nghiêm lấy 2 môn Pháp tính dung thông và Duyên khởi tương do làm giáo nghĩa căn bản, từ đó thuyết minh lí Nhất tức nhất thiết và tính duyên khởi trùng trùng vô tận của các pháp. Trong đó, Pháp tính dung thông nói rõ về lí và sự vô ngại, còn Duyên khởi tương do thì nói rõ về sự sự vô ngại. Mối quan hệ giữa 2 môn là trong 1 sự bao nhiếp toàn lí, vì thế, trong 1 sự hiển hiện nhiều sự; đó tức là lí và sự vô ngại, cho nên sự sự cũng vô ngại. Hai môn này được dùng để thuyết minh tất cả pháp, bởi vậy, tất cả pháp đều bao hàm trong lí Nhất tức nhất thiết (Một tức tất cả). Trong đó, căn cứ vào nghĩa đoạn hoặc tu chứng mà lập các thuyết như: Nhất chướng nhất thiết chướng, Nhất đoạn nhất thiết đoạn, Nhất hành nhất thiết hành, Nhất vị nhất thiết vị, Nhất tu nhất thiết tu, Nhất thành nhất thiết thành, Nhất chứng nhất thiết chứng... Những câu nói này chẳng phải lí luận suông, mà là việc thực tu thực chứng, nên gọi là Nhất đoạn nhất thiết đoạn.

nhất đoạn sự

Tiến trình đồng nhứt, liên tục và không đứt đoạn của thiên nhiên (vạn hữu chỉ là một tiến trình liên tục)—The unity or continuity in the unbroken processes of nature (all being is but one continuous process). ; (一段事) Một việc trọng đại, ví dụ chỉ cho tướng của bản thể. Từ trước khi trời đất chưa thành, cho đến sau khi băng hoại, tướng của bản thể vẫn liên tục tồn tại, không đầu không cuối, không được không mất. Trong Thiền lâm, Nhất đoạn sự được sử dụng để chỉ cho việc trước mắt, việc ngộ đạo, việc trọng yếu. Tắc 21, trong Bích nham lục (Đại 48, 162 thượng) chép: Lúc cha mẹ chưa sinh ra ta thì thế nào? Ngài Vân môn nói: Từ xưa đến nay chỉ có một việc trọng yếu (Nhất đoạn sự), không có đúng không có sai, không có được không có mất, không có sinh và chưa sinh.

nhất đàn chỉ

(一彈指) Đàn chỉ, Phạm: Acchaỉà. Cũng gọi Nhất đàn chỉ khoảnh. Một cái khảy móng tay. Lấy ngón tay cái và ngón giữa đè lên đầu ngón trỏ, rồi búng ngón cái ra ngoài thật mạnh.Đây là 1 phong tục thịnh hành ở Ấn độ đời xưa để bày tỏ lòng cung kính, sự đồng ý hay cảnh cáo. Trong Phật giáo, Nhất đàn chỉ được dùng chỉ cho 1 khoảng thời gian rất ngắn. Tuy nhiên, về khoảng thời gian rất ngắn ấy, trong các kinh luận cũng có chỗ khác nhau. - Theo luận Câu xá quyển 15, 1 cái khảy móng tay có 65 sát na. - Theo luận Đại trí độ quyển 83, thì 1 cái khảy móng tay có 60 niệm. - Kinh Xứ xứthì bảo trong khoảng 1 cái khảy móng tay có 960 niệm sinh diệt. - Kinh Đại an ban thủ ý (bài Tựa) thì cho rằng 1 cái khảy móng tay, tâm có 960 lần chuyển biến. - Giới sớ quyển 2, nói rằng 20 niệm là 1 chớp mắt, 20 cái chớp mắt là 1 cái khảy móng tay. - Luật Ma ha tăng kì quyển 17 cho rằng 400 niệm là 1 cái khảy móng tay, 1 vạn 2 nghìn cái khảy móng tay là 1 ngày đêm... Kinh Phật mẫu xuất sinh tam pháp tạng bát nhã ba la mật đa quyển 21 (Đại 8, 659 hạ) nói: Nếu lại có người tu tập Bát nhã ba la mật đa này trong khoảng 1 cái khảy móng tay thì phúc báo hơn trước gấp bội. (xt. Đàn Chỉ).

nhất đàn cấu

(一壇構) I. Nhất Đàn Cấu. Đối lại: Lưỡng đàn cấu. Lập một đàn. Trong Mật giáo, khi truyền trao pháp Quán đính, Mạn đồ la của Kim cương giới và Thai tạng giới thường kiến lập thành 2 đàn cho trang nghiêm; nhưng trong trường hợp đạo tràng chật hẹp thì lập 1 đàn cũng được, gọi là Nhất đàn cấu. II. Nhất Đàn Cấu. Pháp hội chỉ kiến lập 1 đàn lớn, chứ không lập đàn Biểu bạch hay đàn Hộ ma. Lại nữa, khi lập đàn Hộ ma thì pháp Cúng dường và Cúng hộ ma đều được tu chung trong 1 đàn, cũng gọi là Nhất đàn cấu.

nhất đăng

(一燈) Một ngọn đèn. Đèn phá tan bóng tối, ví dụ tâm bồ đề có năng lực diệt trừ bóng tối phiền não. Kinh Hoa nghiêm nói: Ví như để một ngọn đèn trong phòng tối, thì dù bóng tối ấy đã có từ trăm nghìn năm, cũng tan biến liền. Đèn tâm bồ đề cũng vậy, một khi đã vào trong nhà tâm chúng sinh, thì bao nhiêu nghiệp phiền não ám chướng, cho dù đã được chứa góp trong trăm nghìn muôn ức bất khả thuyết kiếp, đều tan biến hết, vì thế gọi là Nhất đăng. [X. kinh Hoa nghiêm Q.78; kinh Đại tập Q.1].

Nhất đại

一代; C: yīdài; J: ichidai;|Nghĩa là một thời đại, có liên hệ đến bậc giáo chủ của thời đại này là Phật Thích-ca Nâu-ni.

nhất đại

Một đời—A human life.

nhất đại giáo

Toàn bộ giáo pháp của Phật từ lúc mới đạt được đại giác đến lúc nhập Niết bàn (bao gồm cả Tiểu lẫn Đại thừa)—The whole of the Buddha's teaching from his enlightenment to his nirvana (including both Hinayan and Mahayana).

nhất đại kiếp

(一大劫) Một đại kiếp. Tổng quát 4 kiếp: Thành, Trụ, Hoại, Không gọi là Nhất đại kiếp. Đó là hết 1 chu kì sinh thành hoại diệt của thế giới.Luận Du già sư địa quyển 2 (Đại 30, 285 hạ) nói: Hai mươi Trung kiếp Hoại rồi đến kiếp Không; 20 kiếp Thành rồi đến kiếp Trụ. Tức hết 80 Trung kiếp là 1 Đại kiếp, tổng cộng là : 2.760.000.000 năm. [X. luận Đại tì bà sa Q.135; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.6]. (xt. Trung Kiếp).

nhất đại ngũ thời phật giáo

Năm thời thuyết pháp—The five periods of Buddha's teachings (Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhã, Pháp Hoa và Niết Bàn).

Nhất đại sự

(一大事) [thuật]: việc vô cùng quan trọng, sự nghiệp khai bày diệu lý thật tướng, sự nghiệp khai thị tri kiến của Phật. Nhất đại nghĩa là diệu lý của thật tướng, tức tri kiến của Phật, pháp mầu của Pháp Hoa. Trong Phẩm Phương Tiện của Kinh Pháp Hoa (法華經) có đoạn rằng: “Chư Phật Thế Tôn duy dĩ nhất đại sự nhân duyên cố xuất hiện ư thế (諸佛世尊唯以一大事因緣故出現於世, các đức Phật Thế Tôn vì chỉ một đại sự nhân duyên lớn mà xuất hiện trên đời này)”. Văn Cú (文句) 4, quyển thượng, có đoạn rằng: “Nhất tắc nhất thật tướng dã, phi ngũ phi tam, phi thất phi cửu, cố ngôn nhất dã, kỳ tánh quảng bác, bác ngũ tam thất cửu, cố danh vi đại, chư Phật xuất thế chi nghi thức, cố danh vi sự (一則一實相也、非五非三、非七非九、故言一也、其性廣博、博五三七九、故名爲大、諸佛出世之儀式、故名爲事, một là một thật tướng, chẳng phải năm, chẳng phải ba, chẳng phải bảy, chẳng phải chín, cho nên gọi là một. Tánh của nó rộng lớn, rộng khắp cả năm, ba, bảy, chín; cho nên gọi là lớn; nghi thức ra đời của các đức Phật được gọi là sự)”. Chỉ Quán (止觀) 1, quyển hạ, có đoạn rằng: “Vân hà vi nhất ? Nhất thật bất hư cố, nhất đạo thanh tịnh cố, nhất thiết vô ngại nhân, nhất đạo xuất sanh tử cố. Vân hà vi đại ? Kỳ tánh quảng bác, đa sở hàm dung. Sự giả thập phương tam thế Phật chi nghi thức, dĩ thử tự thành Phật đạo, dĩ thử hóa độ chúng sanh, cố danh vi sự (云何爲一、一實不虚故、一道清淨故、一切無礙人、一道出生死故、云何爲大、其性廣博、多所含容、事者十方三世佛之儀式、以此自成佛道、以此化度眾生、故名爲事, thế nào là một ? Vì một không dối, vì một đạo thanh tịnh, hết thảy những người không bị chướng ngại ra khỏi vòng sanh tử nhờ có một đạo này. Thế nào là lớn ? Tánh của nó rộng lớn, có thể dung chứa nhiều. Sự là nghi thức thành đạo của mười phương ba đời các đức Phật, các ngài lấy nó để thành Phật đạo, lấy nó để hóa độ chúng sanh, cho nên gọi là sự)”. Bên cạnh đó, việc sống chết của con người cũng được xem là việc lớn. Ngài Thiện Đạo (善導, 613-681), người sáng lập ra Tịnh Độ Giáo của Trung Quốc, khi lâm chung có dạy rằng: “Thế chi đại sự, mạc việt sanh tử, nhất tức bất lai, nãi thuộc hậu sanh, nhất niệm nhược thác, tiện tùy luân hồi (世之大事、莫越生死、一息不來、乃屬後生、一念若錯、便隨輪迴, việc lớn trên đời là không vượt qua sống chết, một hơi thở không trở lại đã thuộc về đời sau, một niệm nếu sai bèn theo luân hồi)”. Hơn nữa, đối với Thiền Tông, nó có nghĩa là chuyện vô cùng trọng yếu của việc tham Thiền biện đạo, tu hành tuyệt đối, tức là tọa Thiền.

nhất đại sự

Một việc trọng đại của Đức Phật là làm cho chư chúng sanh giác ngộ và giải thoát—The one great work of a Buddha, universal enlighenment and release.

nhất đại sự hậu sinh

(一大事後生) Một việc lớn ở đời sau. Hậu sinh là đời sau. Hiểu rõ cảnh giới mê ngộ thăng trầm ở đời sau là việc trọng đại nhất của kiếp người, nên gọi là Nhất đại sự hậu sinh.

Nhất đại sự nhân duyên

(一大事) [thuật]: nhân duyên trọng đại, mục đích duy nhất mà đức Phật xuất hiện trên đời này để khai mở tướng chân thật của con người. Văn Cú (文句) 4, quyển thượng, có đoạn rằng: “Chúng sanh hữu thử cơ, cảm Phật danh nhân, Phật thừa cơ nhi ứng, cố danh vi duyên, thị vi xuất thế bản ý (眾生有此機、感佛名因、佛乘機而應、故名爲緣、是爲出世本意, chúng sanh có căn cơ này, nhân cảm được danh hiệu Phật, đức Phật theo căn cơ mà ứng, nên gọi là duyên; đó là bản ý ra đời của quý ngài)”. Tỷ dụ như nhân duyên quan trọng nhất mà đức Thích Tôn cũng như chư Phật khác xuất hiện trên cõi đời này là lấy sứ mạng một đời để thành Phật đắc đạo hay hóa độ chúng sanh.

nhất đại sự nhân duyên

(一大事因緣) Nhân duyên của 1 việc lớn. Tức là lí do khiến đức Phật xuất hiện nơi thế gian. Theo phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa, mục đích đức Phật xuất hiện nơi thế gian là khiến cho chúng sinh mở tỏ để ngộ vào tri kiến Phật. Trong Pháp hoa kinh luận quyển hạ, ngài Thế thân đã giải thích rõ yếu nghĩa của sự ngộ vào tri kiến Phật và trình bày 4 lí do Phật xuất hiện nơi đời như sau: 1. Như lai có đầy đủ Nhất thiết trí, rõ biết nghĩa sâu xa của các pháp đúng như thực; đức Như lai muốn đem trí kiến của Ngài mở bày cho chúng sinh, khiến cho họ hiểu được nghĩa sâu xa của các pháp, nên mới xuất hiện nơi thế gian. 2. Về phương diện Pháp thân thì Nhị thừa và Phật là bình đẳng, không có sai khác. Vì muốn hiển bày nghĩa ấy nên đức Như lai xuất hiện nơi thế gian. 3. Hàng Nhị thừa không hiểu rõ được nghĩa chân thực Nhất Phật thừa rốt ráo. Vì muốn làm cho hàng Nhị thừa liễu ngộ nghĩa ấy nên đức Như lai xuất hiện nơi đời. 4. Vì muốn làm cho hàng Nhị thừa chứng vào địa vị Bất thoái chuyển, được vô lượng trí nghiệp, nên đức Như lai xuất hiện nơi thế gian. [X. Pháp hoa văn cú Q.4, phần đầu; Pháp hoa huyền luận Q.5].

Nhất đại tam thiên thế giới

(一大三千世界) [thuật]: ba ngàn thế giới lớn. Ở giữa một thế giới có núi Tu Di (s: Sumeru, 須彌山), trong biển lớn ở bốn phương thế giới ấy có 4 châu lớn, ngoài biển lớn ấy có núi Thiết Vi (s: Cakravāḍa-parvata, p: Cakkavāḷa-pabbata, 鐵圍山) bao bọc chung quanh, đó gọi là một thế giới nhỏ. Kết hợp 1.000 thế giới nhỏ ấy ta có thế giới vừa, kết hợp 1.000 thế giới vừa ta có một thế giới lớn. Như vậy một thế giới lớn bằng 1.000.000.000 thế giới nhỏ. Sự thành lập cũng như hoại diệt của chúng có khác nhau. Thế giới lớn còn gọi là quốc độ lãnh hữu của chư Phật. Trong một ngàn thế giới lớn có ba loại ngàn nhỏ, ngàn vừa và ngàn lớn, cho nên ba ngàn thế giới lớn có tên gọi là tam thiên đại thiên thế giới.

nhất đại tam thiên thế giới

Nhất đại thiên—Tam thiên đại thiên thế giới—A great chiliocosmos or universe of the three kinds of thousands of worlds.

Nhất đại tam đoạn

一代三段; C: yīdài sānduàn; J: ichidai-sandan;|Chỉ ba thời đoạn giáo hoá của đức Phật, được hiểu là thời gian đầu, những pháp hội chính và thời gian trước khi ngài nhập Niết-bàn.

nhất đại tam đoạn

See Nhứt Đại Tam Đoạn. ; (一代三段) Một đời ba đoạn. Ngài Nhật liên, Tổ khai sáng tông Nhật liên, Nhật bản, căn cứ vào giáo phán 5 thời của tông Thiên thai, đem chia giáo pháp do đức Phật nói trong 1 đời làm 3 giai đoạn, giống như 1 quyển kinh được phân làm 3 phần: 1. Phần Tựa: Như các kinh Hoa nghiêm, A hàm, Phương đẳng, Bát nhã và các kinh trước kinh Pháp hoa. 2. Phần Chính tông: Như các kinh Vô lượng nghĩa, kinh Pháp hoa và kinh Phổ hiền quán. 3. Phần lưu thông: Như kinh Niết bàn.

nhất đại thời giáo

(一代時教) Cũng gọi Nhất đại giáo, Nhất đại chư giáo, Nhất đại giáo môn. Giáo pháp do đức Phật Thích ca nói ra trong 1 đời từ khi thành đạo đến khi nhập diệt. Tức là 3 tạng, 12 thể tài kinh, 8 vạn 4 nghìn pháp môn...

Nhất đại trạch

(一大宅) [thí]: lấy nhà lớn của vị trưởng giả mà ví cho nhà lửa của Ba Cõi. Trong Phẩm Thí Dụ của Kinh Pháp Hoa (法華經) có đoạn rằng: “Thí như trưởng giả hữu nhất đại trạch (譬如長者有一大宅, ví như vị trưởng giả có một ngôi nhà lớn)”.

nhất đại trạch

Căn nhà lớn, nhà lửa đang cháy được Phật thuyết giảng trong Kinh Pháp Hoa—A great house, the burning house in the Lotus Sutra—For more information, please see Hỏa Trạch in Vietnamese-English Section.

Nhất đại tạng giáo

一大藏教; C: yīdàcángjiāo; J: ichidaizōkyō;|Toàn bộ giáo lí nhà Phật được chứa trong Ðại tạng, trong Tam tạng.|Thiền sư Viên Ngộ Khắc Cần trình bày như sau trong Bích Nham lục, lời thuỳ thị của Công án thứ hai: Ngay cả chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai — chư vị cũng chỉ tự biết. Các vị Tổ sư từ đời này sang đời khác — họ cũng không thể trình bày toàn vẹn. Nhất đại tạng giáo và những bài chú giải cũng không thể nào diễn bày hết tất cả. Và cũng có nạp tăng tự cho mình có mắt sáng — họ không biết tự cứu như thế nào (設使三世諸佛只可自知,暦代祖師全提不起,一大藏教詮注不及,明眼衲僧自救不了).

nhất đại tạng giáo

(一大藏教) Một Đại tạng giáo, chỉ cho 3 tạng giáo điển Kinh, Luật, Luận của Phật giáo. Đây là toàn bộ giáo pháp Phật giáo nên gọi là Nhất đại tạng giáo. Tắc 2 trong Bích nham lục (Đại 48, 141 trung) nói: Giả sử chư Phật 3 đời chỉ có thể tự biết, Tổ sư các đời đều không nói ra, Nhất đại tạng giáo giải thích không tới, thì vị tăng mắt sáng tự cứu mình cũng chẳng xong.

Nhất đại xa

(一大車) [thí]: lấy cỗ xe lớn mà ví cho pháp mầu của Pháp Hoa, còn gọi đại bạch ngưu xa (大白牛車, xe trâu trắng lớn). Trong Phẩm Thí Dụ của Kinh Pháp Hoa (法華經) có đoạn rằng: “Thị thời trưởng giả kiến chư tử đẳng an ổn đắc xuất, giai ư tứ cù đạo trung lộ địa nhi tọa, vô phục chướng ngại, kỳ tâm thái nhiên, hoan hỷ dũng dược, thời chư tử đẳng, các bạch phụ ngôn: 'Phụ tiên sở hứa ngoạn hảo chi bối, dương xa lộc xa ngưu xa, nguyện thời tứ dữ Xá Lợi Phất'. Nhĩ thời trưởng giả các tứ chư tử đẳng nhất đại xa (是時長者見諸子等安隱得出、皆於四衢道中露地而座、無復障礙、其心泰然、歡喜踊躍、時諸子等、各曰父言、父先所許玩好之貝、羊車鹿車牛車、願時賜與舍利弗、爾時長者各賜諸子等一大車, lúc ấy trưởng giả thấy các con mình đều yên ổn được ra ngoài, mọi người đều ngồi trên đất trống ở bốn ngã đường, cũng chẳng có chướng ngại, tâm chúng nhẹ nhõm, vui vẻ nhảy nhót. Lúc ấy các người con, mỗi người thưa với cha rằng: 'Trước kia cha có hứa cho chúng con đồ chơi tốt, xe dê, xe nai, xe trâu, nay xin ban cho Xá Lợi Phất.' Lúc bấy giờ trưởng giả đều ban cho các người con một cỗ xe lớn)”.

nhất đại xa

(一大車) Một cỗ xe lớn. Ví dụ diệu pháp Đại thừa trong kinh Pháp hoa. Theo phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa, có 1 vị trưởng giả, nhà đang bị cháy, để cứu các con ra, ông bảo chúng rằng ở ngoài cửa có nhiều đồ chơi quí báu. Các con nghe nói liền tranh nhau chạy ra khỏi nhà. Bấy giờ, trưởng giả đều cho mỗi người con 1 cỗ xe lớn, xe ấy do 1 con trâu trắng to lớn kéo.Theo tông Thiên thai và tông Hoa nghiêm thì một cỗ xe lớn là ví dụ cho Đại thừa vô thượng diệu pháp của kinh Pháp hoa, có công năng cứu độ chúng sinh ra khỏi nhà lửa 3 cõi. (xt. Tam Xa Tứ Xa).

nhất đạo

Đại Thừa—The one way of deliverance from mortality (Mahayana). ; (一道) Đồng nghĩa: Nhất thừa. Con đường duy nhất dẫn tới quả Phật. Phẩm Minh nan trong kinh Hoa nghiêm (60 quyển) quyển 5 (Đại 9, 429 trung) nói: Tất cả bậc vô ngại, chỉ có một con đường ra khỏi sinh tử. Đại nhật kinh sớ quyển 17 (Đại 39, 758 trung) nói: Nhất đạo chính là con đường nhờ đó mà tất cả bậc vô ngại vượt thoát sinh tử, thẳng đến đạo tràng.

Nhất đạo nghĩa

一道義; C: yīdàoyì; J: ichidougi;|Luận nói về giáo lí Nhất thừa của Nguyên Hiểu (元曉; k: wǒnhyo).

nhất đạo pháp môn

(一道法門) Đạo Nhất thực. Thông thường Hiển giáo gọi là pháp Nhất thừa; còn Mật giáo thì đặc biệt chỉ cho pháp môn chữ A. Vì theo Mật giáo thì tất cả pháp đều bắt nguồn từ chữ A, cho nên gọi là Nhất đạo. Đại nhật kinh sớ quyển 17 (Đại 39, 758 trung) nói: Tất cả pháp không ngoài chữ A, tức là Nhất đạo. Đạo nghĩa là nương theo pháp này mà đến được quả Phật (...) Đây chính là đạo như như, là pháp giới duy nhất, vì thế gọi là Nhất.

nhất đạo thần quang

Nội quang hay trí trực giác—Inner light—Intuitive wisdom. ; (一道神光) Một luồng ánh sáng thần diệu, tức là ánh sáng sẵn có của chính mình, là tâm sáng suốt mầu nhiệm. Tắc 31 trong Thung dung lục (Đại 48, 248 thượng) nói: Một luồng ánh sáng thần diệu (Nhất đạo thần quang) lúc ban đầu không bị che khuất tức chỉ cho cảnh giới ấy.

nhất đạo vô vi tâm

Mind apart from all ideas of activity or inactivity. ; (一道無爲心) Cũng gọi Như thực nhất đạo tâm, Như thực tri tự tâm, Không tính vô cảnh tâm, Nhất như bản tịnh tâm. Tâm một đạo thanh tịnh vô vi. Tức là tâm thanh tịnh xa lìa các thứ tạo tác, các chấp trước hữu vi, vô vi mà an trụ nơi lí Nhất đạo. Trong giáo nghĩa của Mật giáo, tâm Nhất đạo vô vi là tâm thứ 8, trong 10 Trụ tâm. Nghĩa là dùng quán trí nhất thực trung đạo mà thấu suốt Lí, trí 1 thể; cảnh, giới không 2 rồi thể chứng sự lí tương tức của tất cả các pháp. Hành giả Mật giáo trong quá trình vượt qua 3 kiếp, ở kiếp thứ 2 tuy đã rõ suốt muôn pháp duy 1 tâm, ngoài tâm không pháp khác, nhưng còn sợ chìm trong chân như vô vi, thế nên biết ở Trụ tâm thứ 8 này không lìa nhân duyên mà chứng lí pháp giới. Đồng thời, tâm cũng chẳng động pháp giới mà vẫn tùy duyên hiển hiện 1 cách tự tại để tạo thành vạn hữu. Nghĩa là hành giả Mật giáo đã thấu suốt lí nhân duyên sinh diệt tức là pháp giới sinh diệt, pháp giới bất sinh diệt tức là nhân duyên bất sinh diệt mà xa lìa những kiến chấp hữu vi, vô vi. Phẩm Trụ tâm kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 3 trung) nói: Tính Khônglìa căn và cảnh, không có tướng, không cảnh giới, vượt ngoài các lí luận, đồng đẳng với hư không vô biên, tất cả Phật pháp đều nương vào tính Không ấy mà tiếp tục sinh tồn, xa lìa cõi hữu vi, vô vi, không còn tạo tác, lìa khỏi mắt tai mũi lưỡi thân ý... Ngoài ra, giáo nghĩa của tông Thiên thai cho rằng Các pháp là thực tướng, duy sắc tức duy tâm. Tức là nói thể của sắc pháp và tâm pháp không 2, chính báo và y báo đều cùng 1 lí, căn và cảnh ở cả trong tâm, trong nhất như bặt hết trí và cảnh, cho nên giáo thuyết của tông Thiên thai có thể phối với Trụ tâm thứ 8 của Mật giáo. Nhưng có khác nhau ở tông Thiên thai cho giáo thuyết này là cùng tột, còn hành giả Mật giáo thì không chịu dừng lại ở đó. [X. Ma ha chỉ quán Q.1; Bí tạng bảo thược Q.thượng; luận Thập trụ tâm Q.8].

nhất đảm thiền

(一擔禪) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một gánh thiền. Chỉ cho loại thiền được hiểu biết nửa vời, tựa hồ như thông mà kì thực chẳng thông. Đảm nghĩa là gánh vác hành lí. Chân ý của thiền là vô cùng vô cực, còn thiền nửa vời thì ví như người gánh vác hành lí. Tắc 98 trong Bích nham lục (Đại 48, 221 hạ) nói: Gánh 1 gánh thiền (đảm nhất đảm thiền) dạo khắp thiên hạ.

nhất đắc nhất thất

(一得一失) Đồng nghĩa: Niêm đắc tị khổng thất khước khẩu. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một được một mất. Nghĩa là có được lợi ích chắc chắn sẽ có tổn thất. Chương Pháp nhãn Văn ích trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 24 (Đại 51, 399 hạ) chép: Nhân có vị tăng lên tham vấn trước giờ thụ trai, ngài Pháp nhãn đưa tay chỉ bức mành mành. Lúc ấy, có 2 vị tăng cùng đến cuốn mành, sư nói: Một được một mất.

nhất đẳng

1) Tất cả đều bình đẳng: All equal. 2) Đệ nhất: First degree. ; (一等) Đồng nghĩa: Vô biệt, Vô dị. Như nhau, bằng nhau, tâm không sai khác.Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 271 thượng) nói: Cho đến trăm nghìn do tuần, ngang dọc, sâu cạn, tất cả đều như nhau (nhất đẳng).

nhất địa

The one ground—Phật tánh của chúng sanh mọi loài, như các loại cây được trồng trên một mảnh đất, tất cả những bản chất và sự việc thiện lành đều được trưởng dưỡng từ cái Phật tánh ấy—The Buddha-nature of all living beings as all the plants grow out of the one ground, so all good character and works grow from the one Buddha-nature.

nhất định

1) Decidedly—Surely. 2) To decide—To determine—To make up one's mind.

nhất định thiền sư

Zen Master Nhất Định (1784-1847)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Quảng Trị. Khi hãy còn rất trẻ, ngài đã xuất gia làm đệ tử của Hòa Thượng Phổ Tịnh tại chùa Thiên Thọ. Sau đó ngài thọ cụ túc giới với Hòa Thượng Mật Hoằng tại chùa Quốc Ân. Sau khi thọ giới, ngài về trụ trì tại chùa Thiên Thọ. Rồi vâng mệnh vua Tự Đức đến trụ trì chùa Linh Hựu. Đến năm 1843, ngài trở thành một du Tăng rài đây mai đó. Trên đường hoằng hóa, ngài ghé lại Hương Thủy cất “Dưỡng Am” để phụng dưỡng mẹ già và trụ lại đây để hoằng trì Phật Giáo cho đến khi ngài viên tịch. Người ta nói Hòa Thượng Nhất Định xây dựng “Dưỡng Am” để phụng dưỡng mẹ già đang đau yếu bệnh hoạn. Lúc ấy thầy thuốc khuyên bà nên ăn cá hay thịt cho lợi sức. Mỗi sáng Hòa Thượng Nhất Định tự mình ra chợ mua cá về nấu cho mẹ ăn. Vì thế nên có tiếng dị nghị xấu. Tuy nhiên, vua Tự Đức rất thán phục sự hiếu hạnh của ngài nên ban tặng cho chùa tấm bảng đề “Sắc Tứ Từ Hiếu Tự.”—A Vietnamese monk from Quảng Trị. When he was very young, he left home and became a disciple of Zen Master Phổ Tịnh at Thiên Thọ Temple. Later he received complete precepts with Most Venerable Mật Hoằng at Quốc Ân Temple. He stayed at Thiên Thọ Temple. Then obeyed an order from King Tự Đức, he went to Linh Hựu temple. In 8143 he became a wandering monk. He stopped by Hương Thủy and built Dưỡng Am to serve his mother and stayed there to expand Buddhism until he passed away in 1874. It is said that “Dưỡng Am” was first built by Most Venerable Nhất Định as a thatch hut to serve his old mother. At one time, his mother was too sick so she was advised by the doctors to eat fish and meat for health recuperation. Every morning the Most Venerable went to the market place to get some fish and meat by himself to feed his ill mother. Therefore, he received a lot of bad comments from the local people. However, King Tự Đức appreciated him as a dutiful son so he gave the temple an escutcheon named Từ Hiếu (Filial Piety).

nhất ấn

Một ấn—A seal—Sign—Symbol. ; (一印) I. Nhất Ấn. Chỉ cho 1 loại ấn tướng, ấn khế hay thủ ấn. (xt. Thủ Ấn, Ấn Tướng). II. Nhất Ấn. Gọi đủ: Nhất pháp ấn. Chỉ cho thực tướng của các pháp theo chủ trương của Phật giáo Đại thừa.

nhất ấn hội

(一印會) Chỉ cho hội thứ 6 trong 9 hội Mạn đồ la của Kim cương giới, Mật giáo. Hội này nằm ở phía trên trung ương, khiến cho thực nghĩa Bốn mạn không lìa nhau của hội Tứ ấn càng sáng tỏ hơn, vì thế trụ nơi Trí quyền ấn (thể của chư Phật), của Pháp thân Đại nhật Như lai duy nhất để thống nhiếp toàn thể chư tôn của các hội khác. Ở 4 góc của hội này đều có đặt cái bình để tượng trưng cho 4 trí. Tay phải (nắm tay) của Trí quyền ấn biểu thị Phật giới, tay trái biểu thị Chúng sinh giới. Ngón trỏ (gió) của tay trái biểu thị sự dứt bặt gió chúng sinh; ngón cái (không) của tay phải biểu thị cái đại không của chư Phật. Hai tay chắp lại thì biểu thị Phật và chúng sinh là đồng nhất. [X. kinh Giáo vương Q.5, 8 (bản 30 quyển)]. (xt. Kim Giới Mạn Đồ La).

nhất ấn nhất minh

(一印一明) Một ấn và một chân ngôn (thần chú) của Mật giáo. Ấn là ấn tướng, tượng trưng cho thệ nguyện của Phật, Bồ tát. Minh là đà la ni, là câu thần chú, có năng lực phá trừ sự tối tăm của vô minh, phiền não. Vì đà la ni được nói ra từ kim khẩu của đức Phật, cũng như ánh sáng từ kim thân của Ngài phóng ra, cho nên được gọi là Minh. Chẳng hạn như tụng đà la ni Ngũ tự minh trong khi kết ấn Vô sở bất chí. Ngoài ra, Nhất ấn nhất minh cũng biểu thị ý nghĩa Bất nhị. [X. Đại nhật kinh sớ Q.12].

nhất ấn nhị minh

(一印二明) Một ấn hai chân ngôn của Mật giáo. Hành giả Mật giáo, khi kết ấn và tụng chân ngôn thì tay kết 1 ấn, miệng tụng 2 chân ngôn, gọi là Nhất ấn nhị minh. Chẳng hạn như kết ấn Vô sở bất chí, tụng 2 chân ngôn (minh) Ngũ A và Ngũ Trí. Ngoài ra, Như lai ấn của Kim cương giới và Thai tạng giới, về bản chất tuy cùng là 1 ấn, nhưng chân ngôn của 2 giới lại khác nhau. Chân ngôn của Kim cương giới là Vam, còn chân ngôn của Thai tạng giới là A tì la hồng khiếm. Bởi thế, khi kết ấn Như lai thì phải tụng 2 chân ngôn Vam và A tì la hồng khiếm, gọi là Nhất ấn nhị minh, biểu thị ý nghĩa chẳng hai mà hai. (xt. Nhất Ấn Nhất Minh).

nhất ấn đốn thành

(一印頓成) Một ấn thành ngay. Chỉ cho giáo nghĩa của Mật giáo. Vì Mật giáo chủ trương kết 1 thủ ấn, tụng 1 đà la ni có thể chứng được Bồ đề tức khắc, nên gọi là Nhất ấn đốn thành.

nhất ế tại nhãn không hoa loạn truỵ

(一翳在眼空華亂墜) Mắt bị bệnh thấy những hoa đốm giữa hư không. Trong Phật giáo, nhóm từ này thường được dùng để ví dụ cho tâm mê vọng không thể nhận thức được tướng như thực của sự vật. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 10 (Đại 51, 280 hạ) chép: Lần đầu tiên Thiền sư Linh huấn đến tham yết ngài Qui tông, hỏi:- Thế nào là Phật? Ngài Qui tông hỏi lại: - Nếu tôi nói thì ông có tin không? Thiền sư Linh huấn trả lời: - Hòa thượng dạy lời chân thực, con đâu dám không tin. Ngài Qui tông bảo: - Chính là ông đấy! Thiền sư Linh huấn thưa: - Làm sao giữ được? Ngài Qui tông bảo: - Mắt bệnh thấy toàn hoa đốm rơi.

Nhất-xiển-đề

一闡提; C: yīchăntí; J: issendai; S: icchantika.|Dịch âm từ tiếng Phạn »icchantika«; cũng được dịch ý là »Đoạn thiện căn« (斷善根), là người phá bỏ mọi căn lành của mình, hoặc Tín bất cụ túc (信不具足), là người không có đủ niềm tin vào Phật pháp. Người đã tiệt đoạn những căn lành và vì vậy, khó được cứu độ. Dù họ có tu tập tinh cần đến mức nào, họ cung không thể nào đạt giải thoát.|Thuật ngữ »icchan« nguyên đề cập đến người thường có tâm trạng ham muốn dục lạc. Ở Ấn Độ, từ nầy đề cập đến những người theo chủ nghĩa hưởng lạc hoặc là những kẻ ham muốn đời sống thế tục. Trong Phật pháp, từ nầy nói đến những người thiếu những nhân duyên tu tập căn bản để thành Phật. Giáo lí này do Du-già hành tông chủ trương. Các tông phái Phật giáo khác như Thiên Thai, Hoa Nghiêm phản bác thuyết này, cho rằng tất cả mọi chúng sinh đều có thể thành Phật. Thuyết nầy trở thành đầu mối của những cuộc tranh luận trong giới Phật học Á Đông sau này, được thảo luận rất kĩ trong tác phẩm Phật tính luận (佛性論).

nhất-xiển-đề

phiên âm từ Phạn ngữ là icchantika, chỉ người hoàn toàn không có lòng tin nơi Phật pháp, nên cũng dịch nghĩa là đoạn thiện căn hay tín bất cụ túc. Vì hạng người này không có đức tin nên không thể tiếp nhận bất cứ giáo pháp nào.

nhẫm ma

(恁麽) Ngữ trợ từ được dùng trong thể xác định hay nghi vấn với nghĩa vậy thì, như thế nào. Từ ngữ này được sử dụng từ đời Tống và thường được thấy trong các bộ Ngữ lục của Thiền tông. Các dụng ngữ tương tự có: Dữ ma, Thập ma, Tập ma, Thậm ma, Chẩm ma, Nhập ma, Tác ma...

Nhẫn

忍; S: kṣānti; P: khanti;|Một trong mười hạnh Ba-la-mật-đa (Lục độ). Nhẫn nhục có nghĩa kiên trì chịu đựng sự căm ghét hay phỉ báng của kẻ khác, chịu sự khổ ải mà không mất đạo tâm tinh tiến.

nhẫn

Endurance—Patience—Perseverance. (A) Nghĩa của Nhẫn—The meanings of “Nhẫn” (endurance): 1) Chiếc nhẫn: Ring. 2) Tàn Nhẫn: Bitter. 3) Kiên nhẫn: Ksanti (skt)—Nhẫn nại chịu đựng. Nhẫn là một đức tánh quan trọng đặc biệt trong Phật giáo. Đức Phật thường dạy tứ chúng rằng: “Nếu các ông chà xác hai mảnh cây vào nhau để lấy lửa, nhưng trước khi có lửa, các ông đã ngừng để làm việc khác, sau đó dù có cọ tiếp rồi lại ngừng giữa chừng thì cũng hoài công phí sức. Người tu cũng vậy, nếu chỉ tu vào những ngày an cư kiết hạ hay những ngày cuối tuần, còn những ngày khác thì không tu, chẳng bao giờ có thể đạt được kết quả lâu dài—Patience—Repression—Constancy—Perseverence—Endurance is an especially important quality in Buddhism. The Buddha always teaches his disciples: “If you try to rub two pieces of wood together to get fire, but before fire is produced, you stop to do something else, only to resume later, you would never obtain fire. Likewise, a person who cultivates sporadically, e.g., during retreats or on weekends, but neglects daily practice, can never achieve lasting results. 4) Theo Lục Độ Ba La Mật—According to the Six Paramitas: a) Kshanti thường được dịch là “sự kiên nhẫn,” hay “sự cam chịu,” hay “sự khiêm tốn,” khi nó là một trong lục độ ba la mật—Kshanti generally translated “patience,” or “resignation,” or “humility,” when it is one of the six Paramitas. b) Nhưng khi nó xuất hiện trong sự nối kết với pháp bất sinh thì nên dịch là “sự chấp nhận,” hay “sự nhận chịu,” hay “sự quy phục.”—But when it occurs in connection with the dharma that is unborn, it would be rather translated “acceptance,” or “recognition,” or “submission.” 5) Trong A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận, Kshanti có nghĩa ngược với Jnana. Kshanti không phải là cái biết chắc chắn như Jnana, vì trong Kshanti sự nghi ngờ chưa được hoàn toàn nhổ bật gốc rễ—In the Abhidharmakosa, Kshanti is used in a way contrasted to Jnana. Kshanti is not knowledge of certainty which Jnana is, for in Kshanti doubt has not yet been entirely uprooted. (B) Loại Nhẫn—Categories of “Nhẫn” (Endurance): 1) Nhị Nhẫn: Two kinds of endurance—See Nhị Nhẫn. 2) Tam Nhẫn: Three kinds of endurance—See Tam Nhẫn. 3) Ngũ Nhẫn: Five kinds of endurance—See Ngũ Nhẫn. 4) Lục Nhẫn: Six kinds of endurance—See Lục Nhẫn. ; (忍) Chỉ chung cho sự nhẫn nhục, nhẫn nại, kham nhẫn (gắng chịu đựng), nhẫn hứa (gắng ưng thuận), nhẫn khả (chịu được), an nhẫn... Tức bị người làm nhục, bức hại mà không sinh tâm tức giận, hoặc tự mình bị khổ mà không động tâm, khi chứng ngộ chân lí, tâm được an trụ. Trong các kinh luận, Nhẫn được chia làm nhiều loại như: Nhị nhẫn, Tam nhẫn, Tứ nhẫn, Ngũ nhẫn, Lục nhẫn, Thập nhẫn... (xt. Nhị Nhẫn, Tam Nhẫn, Tứ Nhẫn, Ngũ Nhẫn, Lục Nhẫn, Thập Nhẫn).

nhẫn ba la mật

The patience paramita—See Nhẫn Nhục Ba La Mật.

nhẫn ba la mật bồ tát

(忍波羅蜜菩薩) Nhẫn ba la mật, Phạm: Àrya-Ksànti- Pàramità. Cũng gọi Nhẫn nhục ba la mật bồ tát. Hán âm: A lị dã khất xoa để ba la mật đa. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 3 phía trái ở giữa viện Hư không tạng trong Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Một trong 10 vị bồ tát Ba la mật, mật hiệu là Đế sát kim cương(có thuyết nói Đế lợi kim cương). Về hình tượng, vị tôn này thân màu da người, ngồi trên hoa sen đỏ, mặc áo yết ma, ngón giữa, ngón vô danh và ngón út của tay phải hơi co lại, bàn tay dựng thẳng, lòng bàn tay hướng vào thân, tay trái cầm cái mâm vàng hướng vào tim. Chủng tử là (kwaô) hoặc (vaô); hình Tam muội da là cái mâm vàng, tấm gương. Theo kinh Kim cương đính du già thiên thủ thiên nhãn Quán tự tại bồ tát tu hành nghi quĩ quyển hạ thì ấn tướng của vị Bồ tát này là: Hai tay kết nội phược quyền, 2 ngón trỏ duỗi thẳng và sáp vào nhau, 2 ngón cái dựng đứng. Chân ngôn là: Phạ bà nga phạ để khất sản để đà lí ni hồng phấn tra. Nếu kết ấn này và tụng chân ngôn 3 biến thì diệt được hạt giống của nghiệp tức giận trong vô lượng kiếp, đạt được công đức của 3 nhẫn: Hại oán nại nhẫn (chịu đựng được sự oán hại), An thụ khổ nhẫn (chịu những nỗi khổ mà vẫn vui) và Đế sát pháp nhẫn (quán xét kĩ các pháp); dung mạo nghiêm trang, xinh đẹp, ai cũng muốn nhìn, không ai ghen ghét, mọi người đều thích gần gũi, tròn đầy hạnh nhẫn nhục ba la mật. [X. phẩm Xuất thế giải thoát trong kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.15; Thánh hạ dã hột lí phạ đại uy nộ vương lập thành đại thần nghiệm cúng dường niệm tụng nghi quĩ pháp phẩm Q.hạ; Huyền pháp tự nghi quĩ Q.hạ; Thanh long tự nghi quĩ Q.trung; Thai tạng giới thất tập Q.trung].

nhẫn bất tùy ác thú

Nhẫn nhục bảo đảm không bị rơi vào những đường dữ—The stage of patience ensures that there will be no falling into the lower paths of transmigration.

nhẫn cưới

Wedding (marriage)—Ring.

nhẫn gia hạnh

Sự nhẫn nhục trong việc trì giới, một trong tứ gia hạnh của Tiểu và Đại Thừa—The discipline of patience, one of the four disciplines of both Hinayana and Mahayana.

nhẫn giới

Saha or Sahloka or Sahalokadhatu (skt). 1) Sự nhẫn nhục ảnh hưởng đến luân hồi—The universe of persons subject to transmigration. 2) Thế giới Ta Bà hay thế gới của sự kham nhẫn: The universe of endurance.

nhẫn nhục

Ksanti—Patience under provocation. Tinh tấn: Virya—Zeal. Thiền định: Dhyana—Meditation. ; (忍辱) Phạm: Kwànti. Pàli: Khanti. Tạng: Bzod-pa. Hán âm: Sằn đề, Sằn để, Khất xoa để.Hán dịch: An nhẫn, Nhẫn. Dù bị người hủy nhục, bức hại, hoặc gặp những khổ đau do hoàn cảnh bên ngoài đem đến, thì thân tâm vẫn an tịnh và chịu đựng được hết. Là 1 trong 6 Ba la mật, 1 trong 10 Ba la mật. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 57, Nhẫn nhục bao hàm 3 hành tướng: Không tức giận, Không kết oán, Tâm không mang ý ác. Phật giáo đặc biệt coi trọng nhẫn nhục, nhất là Phật giáo Đại thừa, lấy Nhẫn nhục làm 1 trong 6 Ba la mật, là đức mục mà Bồ tát phải tu hành. Cứ theo phẩm Sằn đề ba la mật trong kinh Ưu bà tắc giới quyển 7, thì Nhẫn nhục mà Thanh văn, Duyên giác thực hành chỉ là nhẫn nhục, chứ chẳng phải Ba la mật; chỉ có nhẫn nhục do Bồ tát tu hành mới đặc biệt được gọi là Nhẫn nhục ba la mật (Kwànti-pàramità, Hán dịch: Nhẫn độ). Phẩm An nhẫn ba la mật đa trong kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa quyển 6 cũng cho rằng chỉ có sự an nhẫn thực hành pháp quán hết thảy pháp đều không mới được gọi là An nhẫn ba la mật, còn ngoài ra tất cả chỉ gọi là An nhẫn. Phẩm Địa ba la mật đa trong kinh Giải thâm mật quyển 4 cho rằng Nhẫn nhục ba la mật bao gồm 3 loại: Nại oán hại nhẫn, An thụ khổ nhẫn và Đế sát pháp nhẫn. Ngoài ra, trong 10 hạnh lành có hạnh nhẫn nhục, tức chỉ cho hạnh tu chịu đựng những sự nhục mạ, não hại do người ta mang lại cho mình mà không hề khởi tâm sân hận. [X. phẩm Chiến đấu trong kinh Trường a hàm Q.21; phẩm Thập bất thiện trong kinh Tăng nhất a hàm Q.44; phẩm Phúc điền tướng trong kinh Đại thừa đại tập địa tạng thập luân Q.9; luật Thập tụng Q.57; Nhiếp đại thừa luận bản Q.trung; Nhiếp đại thừa luận thích Q.7 (bản dịch đời Đường); Đại thừa ngũ chương Q.12]. (xt. Lục Ba La Mật, Ba La Mật).

nhẫn nhục ba la mật

Ksanti-paramita (skt). 1) Nhẫn nhục Ba la mật là Ba La Mật thứ ba trong Lục Ba La Mật. Nhẫn nhục Ba La Mật là nhẫn nhục những gì khó nhẫn, nhẫn sự mạ lỵ mà không hề oán hận—Nhẫn nhục Ba la mật còn là cửa ngõ đi vào hào quang chư pháp, vì nhờ đó mà chúng ta có thể xa rời được sân hận, ngã mạn cống cao, nịnh hót, và ngu xuẫn, và cũng nhờ nhẫn nhục Ba la mật mà chúng ta có thể dạy dỗ và hướng chúng sanh với những tật xấu kể trên—Endurance-paramita, or forebearance paramita, patience paramita, or ksanti-paramita is the third of the six paramitas. It means to bear insult and distress without resentment, It is also a gate of Dharma-illumination; for with it, we abandon all anger, arrogance, flattery, and foolery, and we teach and guide living beings who have such vices. 2) Vị Bồ Tát thứ ba bên trái trong Hư Không Thai Tạng Giới, một trong mười vị Bồ Tát trong Thai Tạng Giới: Its guardian bodhisattva is the third on the left in the hall of space in the Garbhadhatu. ** For more information, please see Lục Độ Ba La Mật in Vietnamese-English Section.

nhẫn nhục lục chủng công đức lực

(忍辱六種功德力) Sáu năng lực đạt được do tu hạnh nhẫn nhục. Cứ theo kinh Pháp tập quyển 3, Bồ tát tu hạnh Nhẫn nhục ba la mật, đạt được 6 thứ năng lực là: 1. Tâm vẫn thản nhiên trước những lời mắng chửi: Bồ tát được Trí lực bình đẳng như tiếng vang, tuy bị người ta chửi mắng mà vẫn an nhiên chịu đựng, không hề đáp lại. Như tiếng vang nghĩa là tiếng dội lại trong hang núi. Bồ tát nghe tiếng mắng chửi cũng như thế, vì không thật có. 2. Tâm vẫn thản nhiên khi bị người đánh đập: Bồ tát được Trí lực bình đẳng bóng trong gương, dù bị người ta đánh đập mà vẫn an nhiên chịu đựng, không đáp lại. Bóng trong gương nghĩa là hệt như những hình bóng hiện ra trong tấm gương, đều là giả, không phải thật. 3. Tâm vẫn thản nhiên trước sự bị bức não: Bồ tát được Trí lực bình đẳng như huyễn, dù bị người não hại mà tâm vẫn an nhiên chịu đựng, không đáp lại. Như huyễn nghĩa là như trò ảo thuật, không phải có thật. 4. Tâm vẫn thản nhiên trước sự tức giận: Bồ tát được Trí lực bình đẳng thanh tịnh bên trong, dù bị người tức giận quát mắng mà vẫn an nhiên chịu đựng, không đáp lại. 5. Tâm vẫn thản nhiên đối trước 8 pháp: Bồ tát được Trí lực bình đẳng thế pháp thanh tịnh, cho nên không bị 8 pháp của thế gian: Lợi, suy, khen, chê, tâng bốc, dèm pha, khổ và vui làm động tâm. 6. Phiền não không nhuốm: Bồ tát được Trí lực bình đẳng tập nhân duyên, cho nên tất cả phiền não đều không thể làm cho Bồ tát ô nhiễm.

nhẫn nhục thái tử

Vị thái tử của thành Varanasi, Ba La Nại, người đã cắt thịt mình để chữa lành bệnh cho mẹ cha mà không tỏ chút giận hờn khó chịu—The patient prince, of Varanasi (Benares), who gave a piece of his flesh to heal his sick parents, which was efficacious because he had never given way to anger. ; (忍辱太子) Vị Thái tử con vua nước Ba la nại ở Ấn độ trong thời tượng pháp ở quá khứ, sau khi đức Phật Tì bà thi nhập diệt. Đây là 1 trong những truyện tiền thân của đức Thế tôn Thích ca. Cứ theo kinh Đại phương tiện Phật báo ân quyển 3, thủa xưa, vào thời đức Phật Tì bà thi, ở nước Ba la nại có vị vua thông minh nhân từ, thường trị nước theo chính pháp, vua có 1 Thái tử, tính tình hiền hậu, không bao giờ giận hờn, vì thế được gọi là Nhẫn nhục. Một ngày kia, vua bị bệnh nặng, gian thần vì muốn giết Thái tử để mưu đồ cướp ngôi vua sau này, nên nói với Thái tử rằng chỉ có mắt và tủy của người không bao giờ tức giận để dùng làm thuốc thì mới có thể chữa bệnh cho vua được. Thái tử nghe vậy liền móc 2 mắt và chẻ xương lấy tủy làm thuốc chữa bệnh cho vua cha. Thái tử thời bấy giờ tức là tiền thân của đức Thích tôn. [X. kinh Luật dị tướng Q.31]. (xt. Nhẫn Nhục Tiên).

nhẫn nhục thân tâm

Patience of the Body and the mind—Chúng ta chỉ có thể đo lường đạo lực và sự nhẫn nhục thân tâm khi chúng ta bị khinh hủy, chưởi mắng, vu oan giá họa, cũng như mọi chướng ngại khác—We can only measure our level of attainment and patience of the body and mind when we are contempted, slandered, under calamities, under injustice and all other obstacles.

nhẫn nhục thảo

(忍辱草) Gọi tắt: Nhẫn nhục. Cỏ nhẫn nhục. Một loại cỏ mọc trên núi Tuyết sơn (Hi mã lạp sơn) ở Ấn độ. Bò ăn cỏ này thì sữa của nó có thể được biến chế thành vị đề hồ ngon nhất ở thế gian. Nhẫn nhục thảo cũng còn được dùng để ví dụ công đức thù thắng của việc niệm Phật sinh thiện. [X. kinh Niết bàn Q.27 (bản Bắc)]. (xt. Đề Hồ).

nhẫn nhục tiên

Ksantyrsi (skt)—Vị tiên nhẫn nhục trước mọi lăng nhục mạ lỵ, như Đức Thích Ca Mâu Ni trong tiền kiếp, thời ngài còn là một vị tiên tu hạnh nhẫn nhục, từng nhẫn nhục trước sự lóc thịt xẻ da bởi vua Ca Lợi mà không sanh lòng oán hận—The rsi who patiently suffers insult, i.e. Sakyamuni, in a former life, suffering mutilation to convert Kaliraja. ; (忍辱仙) Phạm: Kwàti-vàdi-fwì. Pàli: Khanti-vàdi-tàpasa. Cũng gọi Sằn đề ba lê (Phạm: Kwàntipàla), Sằn đề hòa (Phạm:Kwàntì-vàdin). Hán dịch: Thuyết nhẫn, Nhẫn ngữ. Vị tiên nhân tu hạnh nhẫn nhục ở nước Ba la nại, Ấn độ, vào thời quá khứ, là tiền thân của đức Phật Thích ca, khi Ngài còn ở giai vị tu nhân. Cứ theo phẩm Sằn đề ba lê trong kinh Hiền ngu quyển 2, vào thủa xa xưa trong quá khứ, ở nước Ba la nại, Ấn độ, dưới thời vua Ca lê (Phạm:Kàli), có vị tiên nhân tên là Sằn đề ba lê cùng với 500 đệ tử ở ẩn trong rừng, tu hạnh nhẫn nhục. Một hôm, vua cùng đoàn tùy tùng, có các cung nữ, vào rừng du ngoạn. Những cung nữ thấy tiên nhân Sằn đề, khởi tâm cung kính, liền đến nơi lễ bái cúng dường. Nhà vua thấy thế sinh lòng ghen tức, bèn chặt đứt chân tay, cắt tai, xẻo mũi của Sằn đề, nhưng Sằn đề an nhiên chịu đựng, không hề oán than và lại nguyện rằng sau này thành Phật sẽ dùng dao trí tuệ chặt đứt 3 độc tham, sân, si của vua. Lúc ấy nhà vua chợt ân hận, liền xin sám hối và cúng dường Sằn đề tiên nhân. Tiên nhân thời bấy giờ là tiền thân của đức Thích tôn, còn vua và 4 vị đại thần là 5 vị tỉ khưu Kiêu trần như... sau này. Truyền thuyết này rất nổi tiếng, trong Bản sinh đàm bằng tiếng Pàli (Khantivàdijàtaka), phẩm Nê hoàn trong kinh Xuất diệu quyển 23, Lục độ tập kinh quyển 5, kinh Kim cương bát nhã ba la mật v.v... đều có chép sự tích bản sinh này. Nhưng trong bản sinh tiếng Pàli và kinh Xuất diệu, tên vua lại là Ca lam phù (Phạm: Kalàbu) chứ không là Ca lê (Phạm: Kàli). Ngoài ra, theo điều Ô trượng na quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 3, thì việc này đã xảy ra ở nước Ô trượng na; phía đông đô thành Mông yết li có ngôi tháp thờ tiên Nhẫn nhục. Đó chính là nơi vị tiên này thủa xưa đã bị vua Ca lê chặt đứt chân tay. Thời gian gần đây, nhà Khảo cổ học người Đức là ông Grünwedel đã sưu tầm được 1 số bức bích họa tại các chùa hoang phế ở nước Kizil (Cưu tư), trong đó có bức vẽ ông vua tay phải cầm gươm và 1 vị tiên 2 tay đã bị chặt đứt (xem ảnh). Có lẽ bức họa này miêu tả truyện tích của tiên Nhẫn nhục chăng? [X. phẩm Chuyển pháp luân trong kinh Bản khởi Q.thượng; kinh Bồ tát bản hạnh Q.hạ; kinh Tăng già la sát sở tập Q.thượng; luận Tì bà sa Q.9; luận Đại trí độ Q.14, 26; On Yuan Chwang, vol. I, by T. Watters; Altkutscha, by A. Grünwedel]. (xt. Nhẫn Nhục Thái Tử).

nhẫn nhục y

Enduring-humiliation robe—Chiếc áo nhẫn nhục, cái tâm nhẫn nhục, gạt bỏ mọi tội lỗi bên ngoài. Tên gọi chung cho áo cà sa của chư Tăng Ni—The robe of patience, a patient heart which, like a garment, wards off all outward sin. A general name for the kasaya, or monk's robe. ; (忍辱衣) Áo nhịn nhục. I. Nhẫn Nhục Y. Chỉ cho tâm nhịn nhục, vì tâm nhịn nhục có thể ngăn dứt tất cả chướng ngại bên ngoài, giống như chiếc áo che kín thân thể, nên gọi là Nhẫn nhục y. [X. phẩm Pháp sư trong kinh Pháp hoa]. II. Nhẫn Nhục Y. Chỉ cho áo ca sa, vì áo ca sa có công năng làm cho người mặc áo sinh tâm nhu hòa nhẫn nhục, nên có tên như thế. [X. Thích thị yếu lãm Q.thượng]. (xt. Ca Sa).

nhẫn nhục địa

Địa vị nhẫn nhục. Có hai loại—The stage of patience. Two kinds are distinguished. 1) Sinh Nhẫn: Chịu đựng mọi lăng nhục như tức giận, chửi bới, đánh đập của loài hữu tình—Insult originating from men such as abuse or hatred. 2) Pháp Nhẫn: Chịu đựng những họa hại không do loài hữu tình gây ra cho mình, như chịu đựng sự nóng lạnh, mưa gió, đói khát, già bệnh, vân vân—Distress arising from natural causes such as heat, cold, age, sickness, etc. ; (忍辱地) Chỉ cho Sinh nhẫn và Pháp nhẫn. Sinh nhẫn là tâm vẫn bình thản nhận chịu sự giận dữ, chửi mắng, đánh đập hoặc đãi ngộ do hữu tình đối với mình; còn Pháp nhẫn là tâm vẫn vui vẻ đón nhận những tai họa vô tình ập đến như: Nóng rét, gió mưa, đói khát, già bệnh... Người tu hành trong 2 loại Nhẫn này tâm vẫn an nhiên chẳng lay động, giống như cõi đất nên gọi là Nhẫn nhục địa. Phẩm An lạc hạnh trong kinh Pháp hoa quyển 5 (Đại 9, 171 trung) nói: Bậc đại Bồ tát trụ nơi Nhẫn nhục địa, nhu hòa khéo thuận, tâm không thô bạo, cũng không kinh hãi. (xt. Nhị Nhẫn, Pháp Nhẫn).

Nhẫn nhục độ

xem bờ bên kia.

Nhẫn pháp

là pháp nhẫn nhục, pháp thứ ba của Thanh văn thừa, sau Đỉnh pháp. Người đạt được pháp này có sự nhẫn chịu đối với mọi pháp nên có thể tu tập Tứ đế để đạt tới giải thoát.

nhẫn pháp

(忍法) Cũng gọi Nhẫn vị. Chỉ cho giai vị tu hành trước Kiến đạo, đạt được khi thành tựu viên mãn Đính thiện căn, 1 trong 7 Hiền vị, 1 trong 4 Thiện căn vị. Hành giả đến giai vị này đã hiểu rõ lí Tứ đế, thiện căn đã đầy đủ và vững chắc, không còn dao động, không rơi vào đường ác, vì thế gọi là Nhẫn pháp. Có thể được chia làm 3 phẩm: - Hạ phẩm: Giống như Đính vị quán cảnh Tứ đế trong 3 cõi, tu đủ cả 16 hành tướng. - Trung phẩm: Giảm bớt dần hành tướng và sở duyên, cho đến cuối cùng chỉ còn 1 hành tướng của cõi Dục và tu quán trong 2 sát na. - Thượng phẩm: Chỉ còn 1 hành tướng Khổ đế của cõi Dục quán xét trong 1 sát na.[X. luận Câu xá Q.23]. (xt. Thất Hiền, Tứ Thiện Căn Vị).

nhẫn pháp vị

See Nhẫn Vị.

nhẫn thiện

1) Sự nhẫn nhục và thiện nghiệp: The patience and good. 2) Sự nhẫn nhục trong khi hành thiện nghiệp: The patience in doing good.

nhẫn thủy

Nhẫn sâu và rộng như nước—Patience in its depth and expanse compared to water.

nhẫn tiên

1) Vị Tiên nhẫn nhục: The patient sri—See Nhẫn Nhục Tiên. 2) Đức Phật: Immortal of patience, i.e. the Buddha.

nhẫn trí

mức độ tu chứng đạt được cả nhẫn và trí. Theo Đại thừa thì nhẫn và trí chỉ là một đức, bắt đầu tu pháp quán gọi là nhẫn, quán xét thành tựu gọi là trí. ; Nhẫn nhục và trí tuệ—Patience and wisdom. 1) Theo Tiểu Thừa Hữu Bộ thì “nhẫn” là nhân, còn “trí” là quả: In the Hinayana, patience is cause, wisdom effect. 2) Theo Đại Thừa thì “nhẫn” và “trí” không khác nhau, dù nhẫn có trước trí (tuệ tâm an trụ ở pháp gọi là nhẫn, đối cảnh quyết đoán gọi là trí; hay nhẫn là không chướng ngại, còn trí là giải thoát): In Mahayana, the two are merged, though patience precedes wisdom. ; (忍智) Từ gọi chung Nhẫn và Trí. Nhẫn là tâm an định, có khả năng chịu đựng sự nhục mạ, não hại. Trí là quyết đoán, hiểu thấu sự lí 1 cách rõ ràng. Hữu bộ của Tiểu thừa cho rằng Nhẫn là trí quán của đạo Vô gián, thuộcvề nhân; còn Trí là trí quán của đạo Giải thoát, thuộc về quả. Luận Thành thực và Đại thừa thì chủ trương Nhẫn và Trí thông nhau. Nếu theo nghĩa mà phân biệt thì bắt đầu tu quán là Nhẫn, cuối cùng thành tựu gọi là Trí. [X. luận Câu xá Q.23; Đại thừa nghĩa chương Q.9]. (xt. Nhẫn, Trí).

Nhẫn Tánh

(忍性, Ninshō, 1217-1303): tự là Lương Quán (良觀, Ryōkan), xuất thân vùng Đại Hòa (大和, Yamato, thuộc Nara-ken [奈良縣]). Ông theo Duệ Tôn (叡尊 hay 睿尊, Eison) của Tây Đại Tự (西大寺, Saidai-ji) học giới luật và Mật Giáo. Ông rất thâm tín nơi đức Bồ Tát Văn Thù và thường hay cứu giúp những người nghèo khổ cũng như bệnh hoạn. Lúc 36 tuổi, ông xuống vùng Quan Đông (關東, Kantō), nhờ sự hỗ trợ của Tướng Quân Bắc Điều Trùng Thời (北條重時, Hōjō Shigetoki), ông đã phục hưng giới luật, lấy Cực Lạc Tự (極樂寺, Gokuraku-ji) vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura) làm trung tâm. Ngoài ra, để truy niệm Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi), ông đã thiết lập bệnh viện, làm cứu tế xã hội. Ông còn dùng Cực Lạc Tự để làm đạo tràng của Quang Minh Chơn Ngôn, tạo nhiều công lao trong việc xây dựng chùa chiền và ấn loát kinh sách, tận tâm làm cho dòng phái Tây Đại Tự được phát triển. Đệ tử của ông có Vinh Chơn (榮眞, Eishin), Thuận Nhẫn (順忍, Junnin). Ông được ban thụy hiệu là Nhẫn Tánh Bồ Tát.

nhẫn tâm

To be merciless (heartless) —To be cruel.

nhẫn vị

Thời kỳ nhẫn nhục, ý nói các bậc đã chứng ngộ chân lý, bậc thứ sáu trong bảy bậc hiền, hay vị thứ ba trong tứ thiện căn—The method or stage of patience, the sixth of the seven stages of the Hinayana in the attainment of Arahanship or sainthood, or the third of the four roots of goodness.

nhẫn điều

Lấy cái tâm nhẫn (kiên nhẫn, kiên trì, nhẫn nhục) để điều khiển hay chế ngự sự tức giận—Patiently to harmonize, i.e. the patient heart tempers and subdues anger and hatred.

nhẫn địa

Bậc đã giác ngộ vô sinh pháp nhẫn—The stage of patience—The stage of enlightenment separating from transmigration.

Nhẫn độ

xem Sằn-đề ba-la-mật.

nhẫn độ

Nơi mà chúng sanh có thể kham nhẫn hay thế giới Ta Bà—The place of patience or endurance—This world.

Nhậm (nhiệm)

任; C: rèn; J: nin;|Có các nghĩa sau: 1. Từ chức, giao lại; 2. Đảm nhận một công việc hoặc vai trò; 3. Nhường vị trí của mình cho một người khác. Đảm nhận một vai trò và trách nhiệm trong đời sống. »Sự đảm đương«; 4. Gọi tắt của từ Nhậm vận (任運), nghĩa là sự việc được phát khởi một cách ngẫu nhiên, không do bởi sự tạo tác của tâm thức phân biệt hiện tại (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).

nhậm bà thụ

(紝婆樹) Nhẫm bá, Phạm, Pàli: Nimba.Cũng gọi Nhẫm bà, Nhậm bà. Tên khoa học: Azadirachta indica. Một loại cây mọc ở Ấn độ, giống như cây xoan (tên khoa học: Picrasma quassioides) ở Trung quốc. Loại cây này thân cao, mùa xuân nở hoa nhỏ màu trắng, có mùi thơm, lá giống lá cây chiên na, vỏ cây, cành, lá, hoa, quả... đều có vị đắng, có thể dùng làm thuốc. Người Ấn độ lấy cành nhỏ của cây này làm tăm xỉa răng và khi cử hành lễ chôn cất người chết thì dùng nó để nhai. Ấn độ giáo thì dùng gỗ cây nhâm bà để tạc tượng thần.[X. kinh Đà la ni tập Q.10; Hữu bộ tì nại da dược sự Q.1; luận Câu xá Q.18; Huyền ứng âm nghĩa Q.2; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26].

Nhậm bệnh

任病; C: rènbìng; J: ninbyō;|Bệnh »để mặc«. Một trong 10 kiến chấp sai lầm được trình bày trong chương thứ 10 của kinh Viên Giác.

nhậm ma

Nghĩa là cái này cái kia.

Nhậm trì

任持; C: rénchí; J: ninji; S: ādhāna, dhāraṇa, dhṛti.|Giữ gìn, duy trì, bảo tồn, hộ trì.

nhậm trần sam pha

(任陳杉坡) Tạng: Rin-chen bzaí-po. Danh tăng Tây tạng, người vùng Cát lợi (Tạng: Mía#-ris) miền Tây Tây tạng. Sư thuộc phái Trung quán, nổi tiếng là nhà cải cách và phiên dịch kinh điển của Phật giáo Đát đặc la. Những tác phẩm Đát đặc la do sư phiên dịch được gọi là Tân bí mật chân ngôn, đây là nguyên nhân làm cho việc truyền bá Mật giáo thời kì sau ở Tây tạng được thịnh hành. Những kinh luận do sư dịch có tới 150 loại, đệ tử của sư rất đông, trong đó có nhiều vị tăng phiên dịch ưu tú, nổi tiếng hơn cả là sư Tứ tinh Thần tử. [X. Tây tạng vương thống kí; Pag Sam Jon Zang by Chandra Das; The Blue Annals, 2 vols. by G. N. Roerich; Historyof Buddhism (Bu-ston), 2 vols. by E. Obermiller].

Nhậm vận

任運; C: rènyùn; J: nin'un;|Có các nghĩa sau: 1. Cam chịu số phận; 2. Tự nhiên, vốn đã như vậy. Hiện hữu một cách tự nhiên. (Pháp nhĩ 法爾). Không gắng sức, không dụng công; 3. Bẩm sinh, sinh ra đã…; cùng nương với nhau mà sinh khởi, đồng nghĩa với Câu (倶).

nhậm vận

Mặc kệ bản tánh của mọi sự mọi vật vận động tự nhiên, chẳng dính dáng đến sự tạo tác của tâm thức, gọi là nhậm vận. ; (任運) Đồng nghĩa: Vô công dụng. Không cần dụng công tạo tác để thành tựu sự nghiệp, cứ thuận theo sự tự nhiên của các pháp mà vận hành. Thông thường, từ Thất địa trở về trước thì phải dụng công tu tập, còn từ Bát địa trở lên thì không cần dụng công nữa, mà chỉ thuận theo pháp tính tự nhiên. Vãng sinh lễ tán (Đại 47, 439 thượng) nói: Tự nhiên nhậm vận, tự lợi, lợi tha, không hạnh nào chẳng đầy đủ. Đây là hiển bày cái đức nhậm vận tự nhiên của Tịnh độ cực lạc, đầy đủ các hạnh lợi mình và lợi người. [X. Ma ha chỉ quán Q.5].

Nhậm vận khởi

任運起; C: rényùnqǐ; J: ninunki;|Sinh khởi trên cơ sở tự tính; (phiền não) vốn đã sinh khởi; phiền não câu sinh. Câu sinh khởi (倶生起, theo Nhị chướng nghĩa 二障義).

Nhậm vận phiền não

任運煩惱; C: rényùnfánnăo; J: nin'un bonnō;|Đồng nghĩa với: 1. Câu sinh phiền não. Phiền não có sẵn, có từ đời sống trước, khác hẳn với phiền não mới phát sinh do tâm phân biệt hiện hành. Phiền não nầy phát sinh đồng thời với thức thứ bảy (mạt-na thức, theo Nhị chướng nghĩa 二障義); 2. Không nhất thiết phân biệt như trong mục 1, nhưng đặc biệt được định nghĩa như là Ngã với ba thứ kiến chấp của nó, Tát-cada kiến (薩迦耶見), Ngã mạn (我慢), và Ngã ái (我愛). Được nói là Câu sinh phiền não được giải trừ ở giai vị Tu đạo (修道, vì quá vi tế, không thể giải trừ ở giai vị Kiến đạo 見道; theo Du-già luận).

Nhậm vận sở khởi

任運所起; C: rényùn suǒqǐ; J: ninnun sho-ki;|Sự việc được phát sinh một cách tự nhiên (ngẫu nhiên, bẩm sinh). Đồng nghĩa với Câu sinh khởi (倶生起).

nhậm đạo lâm

(任道林) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Bắc Tề. Năm Kiến đức thứ 6 (577), Vũ đế nhà Bắc Chu diệt Bắc Tề, thi hành chính sách phế Phật, sư tâu lên vua Vũ đế xin phục hưng Phật giáo. Vũ đế biết sư là bậc tài trí, liền khuyên sư vào Thông đạo quan ở Trường an chuyên việc nghiên cứu Phật học. Tháng 5 năm Kiến đức thứ 6 (578), sư đến Trường an, tháng 6 vua Vũ đế băng, Tuyên đế lên nối ngôi, sư nhắc lại việc sư tâu xin phục hưng Phật giáo.

nhận

1) Nhận: To receive—To obtain. 2) Nhận hạt: To set—To enchase (diamond). 3) Nhận ngón tay: To press (a finger on something). 4) Thừa nhận: To recognize.

nhận biết

To recognize.

nhận biết và phân biệt

Sự nhận biết tiến hành bằng “thức,” trong khi sự phân biệt về những gì bày ra như một thế giới bên ngoài được thực hiện bởi năm thức (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý)—Cognition goes on by Vijnana, whereas the discrimination of what is presented as an external world is done by the five Vijnanas.

nhận chìm

To engulf.

nhận chắc

To affirm.

nhận diện

To identify.

nhận dạng

Identification.

nhận lầm

To recognize by mistake

nhận lỗi

To acknowledge one's mistake

nhận nhiều phước báo

To receive good blessed rewards—To collect good fruits.

nhận nhầm

To recognize by mistake.

nhận ra

To identify.

nhận ra rõ ràng

Vabodha or Sakshatkarana (skt)—Realization. Tự chứng ngộ: Self-realization—To becom aware. Tự mở mắt tâm, để biết rõ bản tánh và do đó biết rõ bản tánh của cuộc sinh tồn: Opening the Mind's eye—Awakening to one's True-nature and hence of the nature of all existence. See Enlightenment in English-Vietnamese Section.

nhận ra điều gì mình đã quên

Pratyabhijanati or Pratyabhijna (skt)—To recognize—To recover consciousness—Regaining knowledge or recognition.

nhận thấy

To perceive—To notice.

nhận thức

To recognize—To know—To perceive—To conceive—To ackowledge. ; (認識) Sự nhận biết. Đây là nói theo sự quan hệ giữa chủ quan nhận thức và khách quan (đối tượng) bị nhận thức. Phật giáo gọi chủ quan là thức, khách quan là cảnh rồi nói rõ mối quan hệ giữa thức và cảnh mà phát triển thành hệ thống Nhận thức luận, tức là Duy thức học. (xt. Duy Thức).

nhận thức thiện hữu ác hữu

Nhận ra bạn tốt và bạn xấu—To recognize good and bad friends.

nhận tặc vi tử

(認賊爲子) Cũng gọi Dĩ tặc vi tử. Nhận giặc làm con. Ví dụ sự nhận lầm vọng tâm cho là chân tâm. Kinh Viên giác (Đại 17, 919 hạ) nói: Cho tất cả ngã là Niết bàn, có chứng có ngộ, mà gọi là thành tựu, đó là nhận lầm. Ví như có người nhận giặc làm con, thì của cải, gia nghiệp của người ấy quyết không thể nào thành tựu được. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 28 (Đại 51, 438 hạ) nói: Chân tâm, vọng tâm, trí Phật, trí thế gian, tên gọi giống nhau, nhưng thể thì khác. Nếu nhận lầm vọng tâm là chân tâm thì tức là nhận giặc làm con. Có người cho trí thế gian là trí Phật, khác nào mắt cá mà nhận là minh châu?.

nhận tội

To confess a crime—To admit one's guilt or sin.

nhận xét

To judge.

nhận định

Consideration—Remark

nhập

Chứng hội hay hiểu biết sự vật—To enter—Entrance—Bring or take in—Entry—Awaken to the truth—Begin to understand—To relate the mind to reality and thus evolve knowledge. ; (入) I. Nhập. Chứng nhập chân lí. Đại thừa nghĩa chương quyển 1 (Đại 44, 481 hạ) nói: Chứng ngộ gọi là nhập. II. Nhập. Hiểu biết sự vật. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 trung) nói: Hiểu biết các ngôn ngữ, khai hóa cho tất cả. III. Nhập. Phạm, Pàli: Àyatana. Dịch cũ: Nhập. Dịch mới: Xứ. Tức căn (chủ thể) và cảnh (đối tượng) tiếp xúc nhau sinh ra thức, gọi là Nhập; như Thập nhị nhập, dịch mới là Thập nhị xứ. [X. Duy thức nhị thập luận]. (xt. Thập Nhị Xứ, Xứ). IV. Nhập. Căn cứ hoặc đầu mối của tâm hay tác dụng của tâm. Kinh Duy ma quyển thượng (Đại 14, 539 trung) nói: Thân này như rắn độc, như oán giặc, như nhà trống, do các ấm, giới, nhập hợp thành. Kinh Duy ma quyển trung (Đại 14, 546 thượng) nói: Người cầu pháp, chẳng phải cầu sắc, thụ, tưởng, hành, thức, chẳng phải cầu giới, nhập. V. Nhập. Tiến vào 1 cảnh giới nào đó. Luận Câu xá quyển 17 (Đại 29, 273 trung) nói: Người tu quán pháp nhẫn được nhập vào chính định.

nhập a tì đạt ma luận

(入阿毗達磨論) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Tắc kiến đà la soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 28. Bộ luận này là sách nhập môn cần phải có cho việc nghiên cứu luận Câu xá. Nhưng luận này hơi khác với luận Câu xá ở chỗ luận Câu xá phân loại các pháp thành 75 pháp, còn luận này lại thêm vào 2 tâm sở Hân và Yếm mà thành 77 pháp. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.11].

Nhập A-tì-đạt-ma luận

入阿毘達磨論; C: rù āpídámó lùn; J: nyū abidatsuma ron; S: abhidharma-āvatārapraka-raṇa;|2 quyển; của Tắc-kiến Đà-la (塞建陀羅; s: skandhila); Huyền Trang dịch năm 658. Luận giải được cho là bản giới thiệu về Câu-xá luận (倶舍論; s: abhidharmakośa-bhāṣya), đặc biệt tập trung vào khuôn khổ cấu trúc của 75 pháp (七十五法). Theo Nakamura, những đoạn trong bản được tìm thấy tại Tocharian và bản Tây Tạng cho biết Huyền Trang đã dịch chưa hoàn chỉnh luận nầy. Đã có bản dịch Pháp văn của Van Velthem căn cứ vào bản tiếng Hán và Tây Tạng.

nhập bình

(入瓶) Sự tích vị sa di chui vào chiếc bình. Theo A dục vương truyện quyển 7, một hôm, vua A dục thấy có vị sa di 7 tuổi đang đến 1 nơi vắng vẻ, nhà vua lễ vị sa di rồi dặn (Đại 50, 128 hạ): Chớ nói với ai là ta lễ ông nhé!. Lúc ấy, vị sa di thấy có chiếc bình đựng nước ở phía trước, liền vận dụng sức thần thông chui vào bình, rồi lại từ trong bình chui ra, nói với vua rằng (Đại 50, 129 thượng): Vua cẩn thận, chớ nói với ai là sa di chui vào bình nước để tắm rồi lại trở ra nhé!. Nhưng nhà vua bảo: Ta sẽ nói ngay với mọi người, không giấu được đâu!. Truyền thuyết này ngụ ý rằng: Sa di tuy nhỏ nhưng có thể độ người, con vua tuy nhỏ nhưng cũng có thể giết người, rồng con tuy nhỏ nhưng có thể nổi mây làm mưa, vì thế đừng nên xem thường người nhỏ, vật nhỏ.

nhập bất nhị môn

Lý thể vô nhị hay lý và thể không sai khác—To enter the school of monism (One great reality is universal and absolute without differentiation).

nhập bất nhị pháp môn

(入不二法門) Gọi tắt: Nhập bất nhị môn. Vượt ra ngoài thế giới hiện tượng sai biệt tương đối mà tiến vào cảnh giới bình đẳng tuyệt đối. Trong phẩm Nhập bất nhị pháp môn của kinh Duy ma, quyển trung, có ghi lại cuộc đàm luận về Nhập bất nhị pháp môn giữa bồ tát Văn thù sư lợi cùng với 32 vị Bồ tát và cư sĩ Duy ma cật. Trong cuộc đàm luận này, đối với nguyên lí tương đãi như sinh diệt, thiện ác... các vị Bồ tát đều đưa ra giải đáp tuyệt đãi, vượt ra ngoài vòng đối đãi và cho đó là pháp môn Bất nhị. Ngài Văn thù sư lợi thì cho rằng không nói, không bàn, không chỉ dạy, không biết là pháp môn Bất nhị. Còn cư sĩ Duy ma cật thì im lặng, không nói (Mặc bất nhị)để hiển bày pháp môn Bất nhị. Có nhiều nhận xét khác nhau về ý nghĩa nội dung của cuộc đàm luận trên. Ngài Tăng triệu cho rằng cảnh giới của cư sĩ Duy ma cật là cao hơn cả. Ngài Tuệ viễn cho rằng pháp môn tuy khác, nhưng diệu chỉ thì dung thông, tất cả chỉ là 1 nghĩa được thu tóm trong 2 môn Khiển tướng và Dung tướng mà thôi. 1. Môn khiển tướng: Quan điểm của các vị Bồ tát là xả bỏ tương đối để biểu thị tuyệt đối. 2. Môn dung tướng: Quan điểm của ngài Văn thù và Duy ma cật là không xả bỏ gì cả, vì tương đối và tuyệt đối là cùng 1 thể. [X. Duy ma kinh nghĩa kí Q.3, phần cuối; Chú Duy ma cật kinh Q.8].

nhập bồ đề hành luận

(入菩提行論) Phạm: Bodhicaryàvatàra. Tác phẩm, 4 quyển, do Luận sư Tịch thiên (Phạm: Zàntideva) thuộc phái Trung quán ở Ấn độ biên soạn vào khoảng thế kỉ VII, VIII. Sách này là 1 trong số lớn nguyên điển tiếng Phạm được ông B.H. Hodgson (1800- 1894), nhà học giả Đông phương học người Anh, tìm thấy ở Nepal. Toàn sách gồm 917 kệ tụng, chia làm 10 chương: 1. Tán thán tâm bồ đề. 2. Qui y Tam bảo và sám hối. 3. Thệ phát tâm bồ đề. 4. Tu đạo. 5. Giữ gìn chính tri. 6. Nhẫn nhục. 7. Tinh tiến. 8. Thiền định. 9. Trí tuệ (Bát nhã) và Ba la mật. 10. Khen ngợi chư Phật, Bồ tát. Nguyên văn tiếng Phạm sách này dùng toàn kệ tụng đầy thi vị để diễn đạt lòng từ bi tông giáo. Đây là tác phẩm kiệt xuất của nền văn học Phật giáo hậu kì ở Ấn độ. Sách này ban đầu chỉ có bản dịch Tây tạng và Hán dịch, nhưng sau khi nguyên văn tiếng Phạm được xuất bản, thì có các bản dịch tiếng Mông cổ, Pháp, Đức, Nhật lần lượt được ấn hành. Trong đó, bản dịch Tây tạng là Byaí-chub-sems-dpaispyodpa-la jug-pa (Nhập Bồ tát hạnh); Hán dịch là Bồ đề hành kinh, dịch giả là ngài Thiên tức tai. Sách này từ xưa vẫn được xem là do Tổ Long thụ của học phái Trung quán Ấn độ trứ tác. Nhưng nếu đem tư tưởng của ngài Tịch thiên trong 1 tác phẩm khác của ngài là Đại thừa tập Bồ tát học luận cùng với Kinh tập của Tổ Long thụ để đối chiếu, so sánh với sách này, thì có thể xác định rằng sách này không phải do Tổ Long thụ làm ra. Không những thế, ngay trong nguyên văn tiếng Phạm, bản dịch Tây tạng và trong Ấn độ Phật giáo của Đa la na tha cũng đều thừa nhận rằng ngài Tịch thiên là tác giả của sách này. (xt. Bồ Đề Hành Kinh).

Nhập bồ-đề hành luận

入菩提行論; S: bodhicaryāvatāra; cũng thường được gọi ngắn là Bồ-đề hành luận hoặc Nhập Bồ Tát hạnh luận (s: bodhisattvacaryāva-tāra);|Một tác phẩm của Tịch Thiên (s: śāntideva) rất được coi trọng trong Phật giáo Tây Tạng. Tác phẩm này nêu lên những nét tiêu biểu nhất của Ðại thừa. Bộ sách này được chia thành mười chương và đặc biệt chương thứ 9 nói về lập trường của Trung quán tông (cũng được gọi là Không tông; s: śūnyatāvāda). Văn tự của tác phẩm này rất dễ tiếp thu và có sức truyền cảm sâu đậm mặc dù nó bao hàm rất nhiều lí thuyết khó diễn bày. Có lẽ vì vậy nên Nhập bồ-đề hành luận được lưu truyền và tụng niệm hằng ngày ở Tây Tạng, Mông Cổ, Miến Ðiện, Nepāl. Ðạt-lại Lạt-ma thứ 14 cũng rất nhiều lần diễn thuyết và bình luận tác phẩm này trong những dịp sang châu Âu, Mĩ.|Tịch Thiên miêu tả rất rõ ràng nếp sống của một Bồ Tát, từ lúc phát Bồ-đề tâm thực hành Lục độ cho đến khi đạt trí huệ Bát-nhã. Ðặc biệt là Sư rất đề cao việc phát Bồ-đề tâm, cứu độ tất cả chúng sinh (ba trong mười chương đầu). Ðiều đó cho thấy, Sư không chủ ý viết một quyển sách lí thuyết khô khan. Nhập bồ-đề hành luận là một bài hướng dẫn hành động cụ thể mà ai cũng có thể thực hiện được.

nhập chúng

Người gia nhập Tăng đoàn phải tuân phục năm quy luật—To enter the assembly of monks—Entrant must respect five rules: 1) Tuân phục: Submission. 2) Nhân từ: Kindness. 3) Tôn trọng: Respect. 4) Tôn ti trật tự: Recognition of rank or order. 5) Chỉ nói chuyện đạo: None but religious conversation. ; (入衆) I. Nhập Chúng. Cũng gọi Nhập trận. Sau khi kết thúc cuộc vấn đáp với vị thầy, trở về trong đại chúng, gọi là Nhập chúng. [X. môn Tham thỉnh trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Xuất Trận). II. Nhập Chúng. Bắt đầu ở trong tùng lâm sau khi được độ, hoặc gia nhập hàng ngũ đại chúng trong tùng lâm. III. Nhập Chúng. Cùng tu hành với đại chúng. Phần Tiểu tham trong Thiền uyển thanh qui quyển 2 (Vạn tục 111, 444 thượng) nói: Huống là xuất gia hành cước, nhập chúng tham thiền (...) nên theo phép tắc trong chúng. (xt. Nhập Chúng Ngũ Pháp).

nhập chúng ngũ pháp

Năm quy luật nhập chúng—Five rules for the entrant (submision, kindness, respect, recognition of rank or order, and non but religious conversation)—See Nhập chúng. ; (入衆五法) Nhập chúng, cũng gọi Giao chúng. Có 5 việc mà người học mới vào tùng lâm cần phải biết, gọi là Nhập chúng ngũ pháp. 1. Hạ ý: Lời nói cần phải nhỏ nhẹ, 2. Từ tâm: Đem lòng từ bi đối với mọi người khác. 3. Cung kính: Phải tôn trọng bậc Thượng tọa. 4. Biết thứ tự: Cần biết thứ tự của sự vật.5. Chẳng nói việc khác: Không bàn luận những việc khác ngoài việc tu hành. [X. luật Ngũ phần Q.19].

nhập chúng nhật dụng

(入衆日用) Cũng gọi Vô lượng thọ thiền sư nhật dụng tiểu thanh qui, Nhật dụng thanh qui, Nhập chúng nhật dụng tiểu thanh qui, Nhật dụng tiểu thanh qui. Luật, 1 quyển, do ngài Tông thọ soạn vào năm Gia định thứ 2 (1209) đời Nam Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 111. Ngài Tông thọ trụ ở núi Thiên qui thuộc tỉnh Giang tây, lấy bộ Bách trượng thanh qui làm tiêu chuẩn, giảng dạy về qui củ phải giữ gìn trong 1 ngày ở Thiền lâm người học nhập chúng phải ngày đêm tuân thủ. Nội dung sách này gồm các phép tắc: Thức dậy, rửa mặt, mặc ca sa, thụ trai, vào nhà xí, vào nhà tắm, cách nằm, xem kinh cho đến cách đi lại...

nhập chúng tu tri

(入衆須知) Luật, 1 quyển, không rõ soạn giả, được thu vào Vạn tục tạng tập 111. Nội dung gồm hơn 50 hạng mục như: Tọa thiền, nhập thất, nhân duyên thỉnh ích, huấn đồng hành, khuyến đàn tín, sa di giới văn... tất cả đều là những phép tắc qui củ hàng ngày mà người mới vào tùng lâm cần phải biết để giữ gìn. Ở hạng mục Niệm tụng có đoạn nói (Vạn tục 111, 479 hạ): Bạch đại chúng! Đức Như lai nhập Niết bàn đến nay là năm Cảnh định thứ 4 (1263), như vậy đã được 2213 năm.... Căn cứ vào đó mà suy đoán thì sách này đã được soạn thành vào khoảng những năm vua Lí tông nhà Nam Tống tại vị.

nhập cốt

Để cốt vào tháp hay mộ huyệt—To inter the bones into a stupa or grave.

Nhập diệt

入滅; C: rùmiè; J: nyūmetsu;|Có hai nghĩa: 1. Thể nhập vào cõi vắng lặng, sự tịch diệt hoàn toàn thân tâm trong cảnh giới trí huệ tột cùng. Cũng như Nhập tịch (入寂; s: parinirvṛta); 2. Sự tịch diệt của một vị cao tăng Phật giáo.

nhập diệt

Đi vào cõi Niết Bàn—To enter into rest (nirvana)—To die—See Nhập Tịch. ; (入滅) Phạm: Pariịirvàti hoặc Pariịirvàyati. Pàli: ParinibbàtihoặcParinibbàyati. Gọi đủ: Nhập diệt độ, Nhập tịch diệt. Hán dịch: Nhập diệt hoặc Nhập Niết bàn, Thủ diệt độ, Thị tịch... I. Nhập Diệt. Theo chữ gốc có 2 nghĩa: 1. Diệt hết phiền não chấp trước của thế gian mà vào vô lậu giải thoát. 2. Vào cõi vô dư y Niết bàn, tức là người đã trừ sạch các lậu, xả bỏ nhục thân mà vào cõi Vô dư y. Nghĩa thứ 2 này được sử dụng nhiều hơn. Danh từ này không những chỉ sự nhập diệt của đức Phật mà về sau các vị cao tăng viên tịch cũng gọi là Nhập diệt. II. Nhập Diệt. Là 1 trong 8 tướng của đức Phật Thích ca. (xt. Bát Tướng).

nhập gia tùy tục

When in Rome, do as the Romans do.

nhập không

(入空) Ngộ nhập lí không. Về vấn đề này, giữa Đại thừa và Tiểu thừa có khác nhau: Cả 2 tuy đều từ Giả quán mà vào Không quán nhưng Tiểu thừa là do phân tích các pháp mới hiểu được lí Không (Tích sắc nhập không),còn Đại thừa thì do đã hiểu rõ lí duyên sinh của các pháp, nên ngay từ bản tính đã thấy được lí Không của mọi hiện tượng (Thể sắc nhập không).

nhập kiến

Penetrative insight

nhập liệm

To coffin a body.

nhập lăng già tâm huyền nghĩa

(入楞伽心玄義) Cũng gọi Nhập lăng già kinh tâm huyền nghĩa. Kinh sớ, 1 quyển, do ngài Pháp tạng (643-712) soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 39. Đây là bộ sách chú thích kinh Nhập lăng già, nội dung chia làm 10 môn: 1. Giáo khởi sở nhân. 2. Tạng bộ sở nhiếp. 3. Hiển giáo sai biệt. 4. Giáo sở bị cơ. 5. Năng thuyên giáo thể. 6. Sở thuyên tông thú. 7. Thích kinh đề mục. 8. Bộ loại truyền dịch. 9. Nghĩa lí phân tề. 10. Tùy văn giải thích. Đồng thời, tác giả cũng lập giáo phán 4 tông: Hữu tướng tông, Vô tướng tông, Pháp tướng tông và Thực tướng tông, mục đích để phân biệt sự khác nhau giữa Pháp tướng và Thực tướng.

Nhập Lăng-già kinh

入楞伽經; C: rù lèngqié jīng; J: nyū ryōga kyō; S: laṅkāvatāra-sūtra;|Một bộ kinh Ðại thừa, đặc biệt nhấn mạnh đến tính giác ngộ nội tại, qua đó mọi hiện tượng nhị nguyên đều biến mất, đạt tâm vô phân biệt. Ðó là tâm thức đã chứng được Như Lai tạng (s: tathāgata-garbha) vốn hằng có trong mọi loài. Kinh này chỉ rõ văn tự không đóng vai trò quan trọng gì trong việc trao truyền giáo pháp.|Kinh này có ba bản dịch Hán ngữ: 1. Bản dịch của Cầu-na Bạt-đà-la (s: guṇabhadra) dưới tên Lăng-già A-bạt-đa-la bảo kinh (楞伽阿跋佗羅寶經) 4 quyển; 2. Bản của Bồ-đề Lưu-chi (s: bodhiruci) với tên Nhập Lăng-già kinh (入楞伽經), 10 quyển; 3. Ðại thừa nhập Lăng-già kinh (大乘入楞伽經) của Thật-xoa Nan-đà (śikṣānanda), 7 quyển.|Những thuyết trong kinh này rất gần với quan điểm của Thiền tông. Cùng với kinh Kim cương bát-nhã ba-la-mật-đa và Ðại thừa khởi tín luận (s: mahāyānaśraddhotpāda-śāstra), kinh Nhập Lăng-già là một trong những bộ kinh Ðại thừa có ảnh hưởng lớn đến Thiền tông Trung Quốc. Người ta cho rằng bộ kinh này do Bồ-đề Ðạt-ma (bodhi-dharma), Sơ tổ thiền Trung Quốc chính tay truyền cho Nhị tổ Huệ Khả. Ngay cả giáo pháp tiệm ngộ (giác ngộ từng bậc) của Thần Tú cũng bắt nguồn từ kinh Nhập Lăng-già này. |Kinh bao gồm 9 chương văn xuôi trộn lẫn với các câu kệ và một chương chỉ toàn văn vần. Kinh này lần đầu được dịch ra Hán văn trong thế kỉ thứ 5. Kinh Nhập Lăng-già được Phật thuyết tại Tích Lan, theo lời mời của một nhà vua xứ này, trong đó Phật trả lời những câu hỏi của Bồ Tát Ðại Huệ (mahāmati). Giáo pháp trong kinh này là nền tảng của Duy thức tông (s: yogācāra, vijñānavāda).

Nhập Lăng-già tâm huyền nghĩa

入楞伽心玄義; C: rùlèngqiéxīn xuányì; J: nyūryōgashin gengi;|Luận giải về kinh Lăng-già (s: laṅkāvatāra-sūtra) của Pháp Tạng (法藏), 1 quyển.

Nhập lưu

xem Bốn quả thánh.

nhập lưu

Dự Lưu—Srota-apanna (skt)—Stream-entering—See Srota-apanna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Tứ Thánh Quả in Vietnamese-English Section.

nhập môn

To enter a sect (school). ; (入門) Được thầy tổ chấp nhận, cạo tóc thành người xuất gia, tiến vào cửa Phật tu hành học đạo, gọi là Nhập môn. Hoặc người mới bắt đầu vào cửa của 1 học thuyết, 1 hệ thống triết học hay 1 ngành nào đó, cũng gọi là Nhập môn.

nhập ngã ngã nhập

Như Lai nhập vào ta và ta nhập vào Như Lai—He in me and I in him (the indwelling of the Buddha). ; (入我我入) Pháp quán tưởng của Mật giáo. Chỉ cho pháp quán mà tam mật và tam nghiệp tương ứng, tướng nhập, bình đẳng không hai. Nghĩa là khi tu pháp quán này thì nhờ vào sức gia trì của đức Phật bản tôn, làm cho thân, miệng, ý, (tam mật) của Như lai tác dụng vào thân, miệng, ý (tam nghiệp) của chính mình, khiến cho mình cùng Như lai thành một thể.

nhập niết bàn

To pass (enter) into Nirvana.

nhập pháp giới

Trong Kinh Hoa Nghiêm, nhập pháp giới có nghĩa là một pháp dù nhỏ như một vi trần vẫn chứa đựng cái lớn nhất và ngược lại. Tâm chúng sanh, vũ trụ và Phật không sai khác. Kỳ thật, tâm, chúng sanh và Phật là một—Interpenetration—Basic teaching of Avatamsaka Sutra (Kinh Hoa Nghiêm) which reveals the Interpenetration of all dharmas, the smallest dharma contains the largest and vise versa—The human mind is the universe itself and is identical with the Buddha, indeed, that Buddha, mind and all sentient beings and things are one and the same. ; (入法界) Chứng vào lí pháp giới. Kinh Hoa nghiêm gọi là pháp giới, kinh Pháp hoa gọi là Thực tướng, cả 2 cùng thể mà khác tên, là lí bản chân của các pháp, là cảnh giới mà chư Phật đã chứng ngộ. Tông Hoa nghiêm lập 3 bậc nhập pháp giới: 1. Bồ tát thượng căn ở Sơ trụ phá vô minh, chứng lí pháp giới. 2. Bồ tát trung căn ở giai vị Thập hồi hướng chứng nhập pháp giới. 3. Bồ tát hạ căn ở giai vị Sơ địa nhập pháp giới. [X. Hoa nghiêm Đại sớ sao Q.7].

nhập pháp lễ

(入法禮) Phạm: Upanayana. Nghi thức cử hành lễ tiến nhập Bà la môn giáo của Tái sinh tộc ở Ấn độ. Pháp là chỉ cho pháp qui của Bà la môn giáo. Sau khi cử hành Nhập pháp lễ thì chính thức trở thành giáo đồ của Bà la môn giáo. Nhưng hạn tuổi nhập pháp của các tộc Tái sinh có khác nhau: Bà la môn từ 8 đến 16 tuổi, Sát đế lợi từ 11 đến 22 tuổi, Phệ xá từ 12 đến 24 tuổi. Nếu quá kì hạn này thì mất đặc quyền của Tái sinh tộc.

nhập phật

Rước tượng Phật—The bringing in of an image of a Buddha.

nhập phật bình đẳng giới

Với Phật giáo, mọi chúng sanh đều có thể đạt thành Phật quả—The Buddha-law by which all may attain to Buddhahood. ; (入佛平等戒) Tức Nhập Phật tam muội da, 1 trong 3 loại Tam muội da của Thai tạng giới Mật giáo. Nghĩa là đem hạt giống tâm Phật gieo vào ruộng tâm của chúng sinh, để tượng trưng nghĩa gá Thánh thai. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 9, lúc đức Thế tôn nhập Tam muội pháp giới thai tạng, Ngài thấy tất cả chúng sinh đều có hạt giống bồ đề đồng với chư Phật, nên Ngài thuyết chân ngôn Nhập Phật tam muội da. Người trì chân ngôn này được nhập vào Phật bình đẳng giới.

nhập phật cung dưỡng

(入佛供養) Cũng gọi Nhập Phật thức. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho nghi thức an vị tượng Phật tại các chùa viện mới được xây dựng. Lễ an vị tượng Phật, Bồ tát trong các chùa viện gồm có các nghi thức: Nhập Phật thức (an vị tượng Phật), Nhập tòa thức (an vị tượng Bồ tát, Tổ sư), Thiên Phật thức (nghi thức dời tượng Phật) và Thiên tòa thức (nghi thức dời tượng Bồ tát, Tổ sư).

nhập phật cúng dường

Lễ thỉnh tượng Phật—The ceremony of bringing in a Buddha's image.

nhập quan

Đưa thi hài vào quan tài—Encoffining a dead monk—To coffin a dead body.

Nhập quán

入觀; C: rùguān; J: nyūkan;|An trú trong thiền định. Ngược với Xuất quán (出觀, theo Kim Cương tam-muội luận 金剛三昧論).

nhập quán

Đi vào thiền quán để tự tâm tịch tịnh và tự quán chiếu lý (complete stillness of the mind and thought for enlightenment)—To enter into meditation—Thought and study for enlightenment in regard to truth—See Nhập Định.

nhập sơn học đạo

(入山學道) Vào núi rừng tu đạo cầu giải thoát, 1 trong 8 tướng thành đạo của đức Phật. Theo kinh Vô lượng thọ quyển thượng, đức Thích tôn lúc còn là Thái tử, vì thấy các cảnh già, bệnh, chết mà ngộ được thế gian vô thường, nên bỏ địa vị, tài sản, quốc gia, vào núi học đạo; bỏ ngựa trắng đang cỡi, bỏ mũ báu, chuỗi ngọc mà mặc áo pháp, cạo râu tóc, ngồi dưới gốc cây, tu khổ hạnh 6 năm. Tại chùa Thê hà ở núi Nhiếp sơn thuộc tỉnh Giang tô có bức khắc nổi Vào núi tu đạo ở mặt đông nam của nền tháp Xá lợi. (xt. Bát Tướng).

Nhập thai

入胎; C: rùtāi; J: nyūtai;|Vào thai mẹ (s: garbha-avakrānti). Nhập thai tướng (入胎相).

Nhập thai tướng

入胎相; C: rùtāixiāng; J: nyūtaisō;|Một trong 8 giai đoạn (Bát tướng 八相) của cuộc đời Phật Thích-ca Mâu-ni. Ngài từ cung trời Đâu-suất nhập vào thai mẹ là Hoàng hậu Ma-da (s: māya). Cũng gọi là Thác thai (托胎).

nhập thánh

Trở thành một vị A-La-Hán—To become an Arahant. ; (入聖) Vào chính định tụ, chứng quả Thánh. Người chứng lí Tứ đế, xả bỏ dị sinh tính (tính phàm phu), tiến vào địa vị Thánh nhân, gọi là Nhập thánh. Luận Câu xá quyển 18 (Đại 29, 94 trung) nói: Tăng đã bị phá, cho tới khi chưa hòa hợp lại, thì tất cả thế gian, việc nhập Thánh đắc quả, lìa nhiễm dứt lậu, đều bị ngăn ngại. Vãng sinh thập nhân (Đại 48, 98 thượng) nói: Từ Tán vị vào Định vị là phương tiện của hành giả Tam thừa nhập Thánh. [X. A tì đạt ma câu xá thích luận Q.13; Đại thừa nghĩa chương Q.17].

nhập tháp

Để xương cốt hay thi thể của một vị sư vào tháp—To enter the bones of body of a monk in a pagoda.

Nhập thất

(入室, nyūshitsu): thông thường từ này có nghĩa là vào trong thất hay căn phòng, nhưng đối với Thiền Tông thì có nghĩa là người đệ tử đã tham học lâu năm mới được phép vào trong thất riêng của Thầy để thọ nhận những lời giáo chỉ, huấn thị ân cần, hay để hỏi đạo. Cho nên người mới đến tham học thì không được vào thất Thầy. Ngày xưa không có quy chế rõ rệt nào đối với việc nhập thất, vì tùy theo cơ duyên, thời tiết, căn cơ mà cho đệ tử nhập thất. Nhưng từ sau thời Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一, 709-788), Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海, 749-814) trở đi, bắt đầu có quy định rõ ràng, có ngày nhất định để tiến hành nhập thất. Ngoài đời cho rằng đắc được pháp của Thầy tức là đệ tử nhập thất; tuy nhiên nếu bảo là người nhập thất thì người đó chưa hẳn đã đắc được pháp của Thầy. Tổ Đình Sự Uyển (祖庭事苑) quyển 8 có đoạn rằng: “Tổ Sư truyện vân: 'Ngũ Tổ Đại Sư chí dạ, mật lịnh thị giả ư Đối Phường chiêu Lô hành giả nhập thất, toại truyền y pháp.' (祖師傳云、五祖大師至夜、密令侍者於碓坊召盧行者入室、遂傳衣法, Tổ Sư truyện kể rằng: 'Đến đêm Ngũ Tổ Đại Sư lén ra lịnh cho thị giả đến Đối Phường mời Lô hành giả nhập thất, bèn truyền cho y pháp').” Trong Kinh Pháp Hoa cũng có câu: “Trước Như Lai y, nhập Như Lai thất (著如來衣、入如來室, mặc y của Như Lai, vào thất của Như Lai).” Lại trong A Hàm Kinh (阿含經) cũng có dạy rằng: “Phật cáo Bí Sô, ngô lưỡng nguyệt dục yến tọa, những đẳng bất tu tham vấn, duy trừ tống thực cập sái địa thời khả chí ư thử; ưng tri Phật Tổ đương thời hữu nhập thất chi nghi dã (佛告苾芻、吾兩月欲宴坐、汝等不須參問、唯除送食及灑地時可至於此、應知佛祖當時有入室參問之儀也, Phật bảo các Tỳ Kheo, ta muốn ở yên trong hai tháng, các người không nên đến tham vấn, chỉ trừ khi cúng dường thức ăn và rưới nước trên đất thì có thể đến nơi đây; vậy nên biết rằng đương thời Phật Tổ đã có nghi nhập thất tham vấn rồi).” Trong phần Nhập Thất (入室) của Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (敕修清規) có giải thích rằng: “Nhập thất giả, sư gia khám biện học tử, sách kỳ vị chí, đảo kỳ hư kháng, công kỳ thiên trọng (入室者、師家勘辯學子、策其未至、擣其虛亢、攻其偏重, người nhập thất là học trò được vị Thầy xem xét, làm rõ, giúp hoàn thành điều trò chưa đạt đến, lấp lổ hỏng của trò, phá tan chỗ thiên chấp của trò).” Trong Hưng Thiền Hộ Quốc Luận (興禪護國論, Gōzengokokuron), Minh Am Vinh Tây (明庵榮西, Myōan Eisai, 1141-1215), vị tổ sư khai sáng Lâm Tế Tông Nhật Bản, có dạy rằng: “Nhập thất vị ngộ Hòa Thượng gian hà chi nhật kiến lập chi, thử Tông nhất đại sự dã (入室謂遇和尚間暇之日建立之、此宗一大事也, nhập thất là gặp ngày Hòa Thượng rảnh rang mà lập nên, là việc trọng đại của Tông này).” Riêng đối với Mật Giáo, có thất riêng dùng làm cho lễ Quán Đảnh; cho nên nhập thất có nghĩa là vào trong thất thọ nhận phép Quán Đảnh.

nhập thất

1) Vào buồng thầy để hỏi đạo hay được sự chỉ dẫn: To enter the master's study for examination or instruction. 2) Cử hành lễ quán đảnh để trở thành Nhập thất đệ tử, nhưng chỉ dành cho những đệ tử cao cấp—To enter the status of a disciple, but strictly of an advanced disciple—To receive consecration. 3) Nhập thất và tự bế môn trong phòng để tự thanh tịnh và tăng trưởng định lực—To enter and shut off oneself up in the room to purify and strengthen one's concentration power. ; (入室) I. Nhập Thất. Cũng gọi Khai thất. Đệ tử tiến vào thất của thầy để tiếp nhận pháp môn mà kế thừa dòng phái hoặc tham học, hỏi đạo. II. Nhập Thất. Vua chúa vào chùa viện cũng gọi Nhập thất.III. Nhập Thất. Trong tông Chân ngôn, Mật giáo, người vào thất Quán đính để tiếp nhận pháp Quán đính được gọi là Nhập thất đệ tử.

nhập thế

Đi vào đời—To enter the world.

nhập thế gian thù thắng trí môn

Đi vào trí tuệ thù thắng nhất của thế gian—To enter into the highest knowledge in the world.

nhập trung luận

(入中論) Phạm: Madhyamakàvatàra. Tạng: Dbu-ma-la jug-pa. Hán dịch: Nhập trung luận, Nhập trung quán luận. Tác phẩm, do ngài Nguyệt xứng (Phạm: Candrakìrti, 560-640) thuộc phái Cụ duyên tông Trung quán soạn, ngài Pháp tôn dịch.Nội dung sách này gồm 329 bài tụng, trình bày đại cương giáo nghĩa của phái Cụ duyên tông Trung quán, giải thích luận Trung quán của bồ tát Long thụ; phần kết cấu căn cứ theo kinh Thập địa. Luận này là 1 trong những sách giáo khoa của chư tăng thuộc phái Cách lỗ trong Phật giáo Tây tạng. [X. Nhập Trung luận tụng giảng kí (Diễn bồi)].

Nhập trú

入住; C: rùzhù; J: nyūjū;|Có hai nghĩa: 1. Thể nhập vào và an trụ; giai vị Nhập trú (theo Câu-xá luận 倶舎論); 2. Thể nhập giai vị Thập trú (theo kinh Hoa Nghiêm).

nhập trúc

(入竺) Cũng gọi Độ thiên. Vào Thiên trúc (Ấn độ) để cầu pháp, kinh điển hoặc tượng Phật. Các vị tăng sang Ấn độ cầu pháp gọi là Nhập trúc tăng. Hai chữ Thiên trúc đầu tiên được thấy trong Tây vực truyện thuộc Hậu Hán thư quyển 18, từ đời Ngụy Tấn về sau trong sách Phật giáo phần nhiều cũng sử dụng từ ngữ này. (xt. Phật Giáo Nhập Truyền, Thủ Kinh).

nhập trọng (trùng) huyền môn

1) Bồ Tát đi vào cửa sanh tử, ngay cả địa ngục để cứu độ chúng sanh đau khổ: Bodhisatvas enter again through the dark gate into mortality, even into the hells, to save suffering beings. 2) Sự trở lại đời của một vị Bồ Tát để tiến thêm trên đường đại giác cũng như cứu độ chúng sanh: The return of a Bodhisattva to common life for further enlightenment or salvation of others.

nhập trọng huyền môn

(入重玄門) Chỉ cho việc bồ tát Đẳng giác trước khi thành Phật, trở lại nhân gian tu tập các việc đã làm từ khi còn là phàm phu cho đến bây giờ, khiến cho tất cả đều phù hợp với chân lí. Tông Thiên thai cho rằng bồ tát Biệt giáo ở giai vị Đẳng giác rất khó dứt trừ nguyên phẩm vô minh, cho nên phải trở lại phàm phu, giao tiếp với tất cả chúng sinh mà vào trùng huyền môn, rồi dùng hạnh lực này để đoạn trừ nguyên phẩm vô minh (trùng huyền của giáo đạo). Còn bồ tát Viên giáo thì hiện thân khắp cả thế giới mà vào trùng huyền môn(trùng huyền của chứng đạo). [X. Chư pháp vô tránh tam muội pháp môn Q.thượng; Duy ma lược sớ Q.1].

nhập trụ xuất tam tâm

1) Ba tâm nhập, trụ và xuất—Enter, stay and exit. 2) Trong mỗi địa của Thập Địa Bồ Tát, hành giả phải kinh qua ba tâm nhập, trụ, và xuất trước khi tiến lên địa kế tiếp—In each stage of the ten stages of Bodhisattva, one must experience three minds of entrance, staying and exiting before advancing to the next stage.

nhập tâm

Giai đoạn đầu trong ba giai đoạn “nhập, trụ và xuất” của mỗi địa Bồ Tát—To enter the heart or the mind—To fix in the memory—The first stage in the three stages of “Entrance, stay and exit” in each stage of Bodhisattva.

nhập tín

Tin tưởng—To enter into belief—To believe.

nhập tạng

(入藏) I. Nhập Tạng. Loại sách biên tập tất cả kinh điển Hán dịch và soạn thuật của các nhà tập pháp Trung quốc và Nhật bản, gọi là Nhập tạng. Bắt đầu vào cuối đời Đông Tấn, ngài Đạo an đã chỉnh lí tất cả kinh điển đang được lưu hành lúc bấy giờ, biên thành bộ Tông lí chúng kinh mục lục.Đến đời Nam Tề, ngài Tăng hựu soạn Xuất tam tạng kí tập, biên tập Mục lục các kinh được dịch vào các đời Đông Tấn, Lưu Tống và Nam Tề. Hai sách trên chỉ là các bộ Mục lục có trước Đại tạng kinh, vẫn chưa phân biệt Đại thừa, Tiểu thừa hoặc Kinh, Luật, Luận. Việc các triều vua qui định Đại tạng kinh bắt đầu từ năm Thiên giám 17 (518) đời Lương, ngài Bảo xướng ở chùa Trang nghiêm, vâng sắc chỉ soạn Lương thế chúng kinh mục lục, 4 quyển. Trong năm Vĩnh hi (532-533) đời Ngụy, cư sĩ Lí khuếch soạn Ngụy thế chúng kinh mục lục, 1 quyển. Trong năm Vũ bình (570-575) đời Cao Tề, ngài Pháp thượng soạn Tề thế chúng kinh mục lục, 1 quyển. Đến đây thì đại khái kinh điển đã được phân loại: - Lương thế chúng kinh mục lục gồm có kinh Đại thừa 262 bộ, 674 quyển; kinh Tiểu thừa 285 bộ, 400 quyển, được chia làm 12 loại: Những bản dịch các kinh đã có từ trước,Thiền kinh, Giới luật, Nghi kinh, Chú kinh, Số luận, Nghĩa kí, Tùy sự biệt danh, Tùy sự cộng danh, Thí dụ, Phật danh và Thần chú... tất cả có 1433 bộ, 3741 quyển. - Nguyên Ngụy chúng kinh mục lục chia thành 10 loại: Đại thừa kinh, Đại thừa luận, Đại thừa kinh tử chú, Kinh luận Đại thừa chưa dịch, Tiểu thừa kinh, Tiểu thừa luận, Có tên mà chưa thấy bản kinh, không phải kinh thật, không phải luận thật, kinh do người đời giả tạo... tất cả 427 bộ, 2053 quyển. - Tề thế chúng kinh mục lụcchia làm 8 loại: Tạp tạng, Tu đa la, Tì ni, A tì đàm, Biệt, Chúng kinh sao, Chúng, Nhân tác, gồm có 787 bộ, 2334 quyển. Ngoài ra, cứ theo Quảng hoằng minh tập quyển 22, vào năm Bảo định thứ 3 (563) đời Bắc Chu, có Đại tạng kinh được biên tập do triều đình qui định. Đến năm Khai hoàng 14 (594) đời Tùy, ngài Pháp kinh vâng sắc xét định kinh mục, biên thành Chúng kinh mục lục. Năm Khai hoàng 17 (597), cư sĩ Phí trường phòng biên soạn Lịch đại tam bảo kỉ, 15 quyển, trong đó, Đại lục 9 quyển, Nhập tạng lục 2 quyển, tương đương với biên soạn Kinh mục lục trong Tạng kinh. Năm Nhân thọ thứ 2 (602) đời Tùy, ngài Ngạn tông phụng chiếu biên soạn Chúng kinh mục lục. Từ đây về sau, qua các triều đại, tiếp tục có những bộ Kinh lục lần lượt xuất hiện như: Đời Đường, năm Khai nguyên 18 (730), ngài Trí thăng soạn Khai nguyên thích giáo lục, 20 quyển. Năm Trinh nguyên thứ 10 (794), ngài Viên chiếu vâng sắc biên soạn Đại đường trinh nguyên tục Khai nguyên thích giáo lục, 3 quyển. Năm Bảo đại thứ 3 (945) đời Nam Đường, ngài Hằng an vâng sắc biên soạn Tục trinh nguyên thích giáo lục, 1 quyển. Đây là bản Kinh lục viết tay cuối cùng. Nghĩa là từ cuối đời Lục triều đến cuối đời Ngũ đại, kinh điển Phật chỉ viết tay để lưu truyền. Đến đời Triệu Tống, sau khi kĩ thuật ấn loát được phát minh thì từ đó kinh sách mới được khắc in. Bản khâm định (do nhà vua qui định) Đại tạng được khắc in đầu tiên là bản đời Bắc Tống, cũng gọi Thục bản, in xong vào năm Thái bình hưng quốc thứ 8 (983). Về sau, các bản Đại tạng kinh đều căn cứ vào bản in này mà được biên tập và ấn hành. Đời Nam Tống có các bản Đại tạng kinh chùa Pháp bảo Tư phúc tại Tư khê, Đại tạng kinh Viên giác Thiền viện tại Tư khê, Đại tạng kinh Thích sa Diên thánh viện... Đời Nguyên có khâm định Đại tạng kinh bản chùa Hoằng pháp, bản tư nhân thì Đại tạng kinh bản chùa Đại phổ ninh ở Hàng châu (bản này hiện được Nhật bản bảo tồn). Đến đời Minh, khâm định Đại tạng kinh tuy có chia ra Nam tạng và Bắc tạng, nhưng ngoại trừ sự tổ chức biên tập khác nhau, còn nội dung thì chỉ xê dịch chút ít. Đến đời Thanh thì vào năm Càn long thứ 3 (1738), vua Cao tông hoàn thành khâm định Đại tạng kinh. Đây là bản Đại tạng kinh cuối cùng do triều đình ấn hành. Về phía Nhật bản thì vào thời đại Đức xuyên (1603-1867), Đại tạng kinh đầu tiên do ngài Thiên hải căn cứ vào bản đời Tống, Trung quốc, mà khắc in; sau lại có Đại tạng kinh do ngài Thiết nhãn ấn hành dựa theo bản đời Minh. Đến thời Minh trị (1868- 1911), có Đại Nhật bản hiệu đính súc khắc Đại tạng kinh (gọi tắt: Súc khắc tạng kinh: Đại tạng rút gọn), Đại Nhật bản hiệu đính tạng kinh (Tạng kinh chữ Vạn..) được ấn hành. Thời Đại chính (1912-1925) thì có Đại chính tân tu Đại tạng kinh (Đại chính tạng kinh). [X. Xuất tam tạng kí tập; Lịch đại tam bảo kỉ; Nhân thọ chúng kinh mục lục; Khai nguyên thích giáo lục; chương 4, bộ 3 trong Phật thư giải thuyết đại từ điển Phật điển tổng luận (Tiểu dã Huyền diệu)]. (xt. Đại Tạng Kinh, Trung Văn Đại Tạng Kinh). II. Nhập Tạng. Tức là người đi vào nước Tây tạng hoặc đồ vật được vận chuyển vào xứ này. Như sự kiện Công chúa Văn thành nhà Đường được gả cho vua Khí tông lộng tán (Tạng: Sroíbtsan sgam-po) là việc nhập Tạng đầu tiên được ghi chép rõ ràng trong lịch sử. Từ đó, văn hóa Trung quốc và Ấn độ cũng nối nhau nhập Tạng và người nhập Tạng theo đó cũng nhiều. (xt. Tây Tạng Phật Giáo).

Nhập tịch

入寂; C: rùjí; J: nyūjaku;|Thể nhập vào cõi vắng lặng, niết-bàn (涅槃). Có hai nghĩa: 1. Mục đích tu tập của hàng Nhị thừa, rốt ráo là thân tâm tịch diệt không còn dấu vết; 2. Sự tịch diệt của một vị cao tăng đồng nghĩa với Nhập diệt (入滅).

nhập tịch

Đi vào cõi Niết Bàn—To enter into rest or nirvana.

nhập tự

(入寺) I. Nhập Tự. Đồng nghĩa: Nhập viện, Tấn sơn. Vào trụ trì một chùa viện. II. Nhập Tự. Vào chùa viện tạm trú. Phần Trang bao trong Thiền uyển thanh qui quyển 1 (Vạn tục 111, 439 thượng) nói: Khi vào chùa, phải bỏ nón xuống để ở ngoài cửa Tam quan. III. Nhập Tự. Cũng gọi Nhập tự quải tích. Tăng sinh của tông Tịnh độ Nhật bản, mới vào Đàm lâm (Phật học viện) nhập học, gọi là Nhập tự. IV. Nhập Tự. Một cấp bậc trong Xã tăng làm các Phật sự trong chùa Thần cung tại Nhật bản.

nhập văn giải thích

Phương pháp giải thích Kinh văn bằng cách cho biết đại ý trước khi đi vào chi tiết—The method in expounding scriptures of giving the main idea before proceeding to detail exposition.

nhập vương cung tụ lạc y

Y của chư Tăng, mặc một cách bình đẳng khi vào cung vua hay khi đi khất thực trong thôn xóm—The monk's robe, worn equally for a palace or for begging in town or hamlet.

nhập xuất công đức

(入出功德) Năm niệm môn nói trong luận Tịnh độ. Môn nghĩa là nhập, xuất (vào, ra). Vì 4 niệm trước là công đức của cửa vào Tịnh độ an lạc, 1 niệm, sau là công đức của cửa ra giáo hóa lợi tha, cho nên gọi là Xuất nhập công đức. (xt. Ngũ Niệm Môn).

nhập xuất nhị môn

Hai cửa vào ra—Vào cửa tự thanh tịnh và ra cửa cứu độ chúng sanh—The two doors of ingress and egress—Enter the gate of self-purification and then go forth to benefit and save others.

nhập đàn

Đi đến đàn tràng để nhận lễ quán đảnh—To go to the altar for Baptism. ; (入壇) I. Nhập Đàn. Tiến vào đàn tràng để nhận lãnh pháp quán đính, là 1 trong những pháp tu của Mật giáo. Đàn (Phạm: Maịđala, Hán âm: Mạn đồ la, Hán dịch: Đàn) là nơi mà các vị tôn của 2 bộ Kim cương giới và Thai tạng giới tập họp. Hành giả Chân ngôn tiến vào đàn tràng này để tiếp nhận pháp Quán đính, gọi là Nhập đàn. Pháp Quán đính được cử hành vào lúc này, gọi là Nhập đàn quán đính. Phó pháp tạng quyển 2 nói: ... Liền cho nhập đàn truyền trao pháp phát Bồ đề tâm giới. II. Nhập Đàn. Cũng gọi Đăng đàn. Vào giới đàn tiếp nhận giới pháp. (xt. Đăng Đàn Thụ Giới).

nhập đường

See Nhập Chúng.

nhập đường bát gia

Tám vị sư Nhật Bản đến trung Hoa vào thời nhà Đường để tu học Mật Giáo—The eight Japanese monks who came to China in the T'ang dynasty and study the esoteric doctrine. ; (入唐八家) Cũng gọi Bát gia chân ngôn, Chân ngôn bát gia tổ sư.Tám vị cao tăng Nhật bản, ở vào đầu thời đại Bình an, đến Trung quốc du học vào đời Đường. Khi về nước, các vị có mang theo nhiều kinh điển Mật giáo về truyền bá tại Nhật. Pháp danh của 8 vị cùng số kinh điển và thời gian được thỉnh về liệt kê như sau: 1. Ngài Tối trừng, tông Thiên thai, khoảng 804-805, thỉnh về 230 bộ, 460 quyển. 2. Ngài Không hải, tông Chân ngôn, khoảng năn 804-806, thỉnh về 216 bộ, 454 quyển. 3. Ngài Viên hạnh, tông Chân ngôn, khoảng năm 838-839, thỉnh về 69 bộ, 123 quyển. 4. Ngài Thường hiểu, tông Chân ngôn, khoảng năm 838-839, thỉnh về 31 bộ, 613 quyển. 5. Ngài Viên nhân, tông Thiên thai, khoảng năm 838-847, thỉnh về 584 bộ, 802 quyển. 6. Ngài Tuệ vận, tông Chân ngôn, khoảng năm 842-847, thỉnh về 170 quyển. 7. Ngài Viên trân, tông Thiên thai, khoảng năm 853-858, thỉnh về 441 bộ, 1.000 quyển. 8. Ngài Tông duệ, tông Chân ngôn, khoảng năm 862-865, thỉnh về 134 bộ, 143 quyển.

nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí

(入唐求法巡禮行記) Cũng gọi Nhập đường cầu pháp tuần lễ kí, Nhập đường tuần lễ kí, Ngũ đài sơn tuần lễ kí. Gọi tắt: Tuần lễ kí. Truyện kí, 4 quyển, do ngài Viên nhân vị tăng Nhật bản soạn. Ngài Viên nhân đến Trung quốc du học từ năm 838 đến năm 847 trở về nước. Trong sách này, ngài đã ghi lại những điều mắt thấy tai nghe trong thời gian 9 năm ở Trung quốc, từ cuộc hành trình trên biển đầy gian khổ, vào chùa Khai nguyên ở Dương châu thụ học, chiêm bái núi Ngũ đài, đến Trường an thụ pháp, rồi gặp pháp nạn Hội xương (844) vào đời Vũ tông nhà Đường, bị cưỡng bách hoàn tục, trải qua muôn nghìn cay đắng mới quay về Nhật. Nội dung bộ sách rất sinh động, ngoài phần giáo nghĩa Phật giáo ra, nó còn là tư liệu quí báu cho việc nghiên cứu giao thông và phong tục xã hội phương đông nói chung. Sách này hiện được cất giữ ở chùa Giáo vương Hộ quốc tại Kyoto và được coi là quốc bảo của Nhật bản, nhưng chưa được thu vào Đại tạng kinh.

Nhập Đường Cầu Pháp Tuần Lễ Hành Ký

(入唐求法巡禮行記, Nittōguhōjunreikōki): 4 quyển, là ký lục khi sang nhà Đường cầu pháp của Viên Nhân (圓仁, Ennin), hiện tồn hai tả bản cổ của Quan Âm Viện (觀音院) ở Đông Tự (東寺, Tō-ji) và của Tân Kim Tự (津金寺) ở Trường Dã (長野, Nagano). Cách phát âm xưa về thuật ngữ Phật Giáo của tác phẩm này là Nittōguhōjunraikyōki. Là đệ tử của Tối Trừng (最澄, Saichō), năm 814 (niên hiệu Hoằng Nhân [弘仁] thứ 5), Viên Nhân được thọ giới, đến năm 838 (niên hiệu Thừa Hòa [承和] thứ 5) thì sang nhà Đường với tư cách là Hoàn Học Sinh (還學生). Sau khi đến Dương Châu (揚州), ông muốn lên Thiên Thai Sơn (天台山) tham bái, nhưng vì tư cách là Hoàn Học Sinh, nên không được phép đến đó. Từ Ngũ Đài Sơn (五台山), ông đến Trường An (長安), gặp phải nạn Phế Phật của vua Võ Tông, và đến năm 847 (niên hiệu Thừa Hòa thứ 14) thì trở về nước. Thành quả ông học được là pháp môn Niệm Phật trên Ngũ Đài Sơn và Mật Giáo ở Trường An. Tác phẩm này gồm 4 quyển, ký thuật rất rõ ràng quá trình ông sang nhà Đường như thế nào. Quyển 1 ghi lại chặng đường từ khi ông lên thuyền, đến Dương Châu (揚州), Sở Châu (楚州), Đăng Châu (登州). Quyển 2 là từ Xích Sơn Phố (赤山浦) cho đến Ngũ Đài Sơn. Quyển 3 từ Ngũ Đài Sơn cho đến Trường An ngay trước khi xảy ra pháp nạn. Quyển 4 tường thuật vụ Pháp Nạn Phế Phật Hội Xương, cái chết của đệ tử Duy Hiểu (惟曉), thoát nạn khỏi Trường An, từ Xích Sơn Phố cho đến sau khi trở về nước. Tất nhiên, đây là ký lục về cuộc hành trình đầy khổ nạn của bản thân Viên Nhân trong vòng 10 năm trường; nhưng cũng là ký lục rất rộng rãi về mọi phương diện như chế độ, phong tục, cảnh quan, địa lý cũng như kinh tế đương thời của Trung Quốc, về trạng huống của tăng ni, Phật sự, kinh nghiệm về sự kiện lịch sử Pháp Nạn Phế Phật Hội Xương, v.v. Bản trực bút của Viên Nhân hiện không còn nữa, nhưng nếu so sánh với các tả bản cổ, chúng vẫn thể hiện nguyên hình.

nhập đường pháp

(入堂法) Phép tắc vào Thiền đường. Đại chúng khi vào Thiền đường, bước chân trái vào trước, đi dọc theo hàng cột phía tây, mặt hướng về chính diện, chắp tay, cúi đầu, đứng thành 2 hàng 2 bên đông tây, trước hết chắp tay kính lễ Phật, rồi vái chào người đối diện. Vị trụ trì từ trung ương, bước chân phải vào trước, đến chỗ của mình, đứng ngay ngắn xướng hòa nam, bấy giờ, đại chúng đều cùng chắp tay, cúi đầu. Theo điều Phó chúc phạn trong Thiền uyển thanh qui quyển 1, lúc vào cửa trước phải vào từ phía nam (mặt hướng vào Tăng đường, chỗ cột bên trái cửa trước), bước chân phải vào trước, chứ không được vào từ cửa phía bắc, vì tôn kính vị Trụ trì. Lúc vào cửa nam, thì người ngồi ở gian trên vào từ phía bắc, bước chân trái vào trước, còn người ngồi ở gian dưới thì từ phía nam, bước chân phải vào trước. Khi đã vào, chắp tay kính lễ Thánh tăng rồi mới ngồi.

Nhập đại thừa luận

入大乘論; C: rù dàshéng lùn; J: nyū daijō ron;|Luận; gồm 2 quyển; do Kiên Ý (堅意) soạn; Đạo Thái (道泰) cùng nhiều vị khác soạn dịch.

nhập đại thừa luận

(入大乘論) Tác phẩm, 2 quyển, do bồ tát Kiên ý ở Ấn độ soạn, ngài Đạo thái dịch vào thời Bắc Lương, Trung quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Nội dung sách này bàn về giáo nghĩa Đại thừa, gồm 3 phẩm: 1. Phẩm Nghĩa: Trước hết nói về lỗi phỉ báng Đại thừa, kế đến nói rõ Đại thừa mà Bồ tát tu học là đủ cả 5 thừa, là Tam tạng chân thực. Rồi lại y theo 10 thứ hành pháp, khuyến phát dẫn vào quả Phật. 2. Phẩm Cơ luận không: Bàn về thứ bậc của Bồ tát Thập địa. 3. Phẩm Thuận tu chư hạnh: Bàn về 3 thân của quả Phật. Ngài Kiên ý gặp lúc Đại thừa đang hưng thịnh, người đời có nhiều ý kiến, kẻ khen, người chê, nên ngài kế thừa các bồ tát Long thụ, Đề bà biên soạn sách này để minh xác rằng Đại thừa là do đức Phật nói ra, không nên ngờ vực, dị nghị.

nhập đạo

Xuất gia đi vào giáo đoàn để trở thành Tăng sĩ—To enter into a religion—To become a monk—To leave home and enter the Way. ; (入道) I. Nhập Đạo. Chứng vào Thánh đạo vô lậu. II. Nhập Đạo. Gọi đủ: Nhập đạo nhân, Nhập đạo giả. Chỉ cho người bỏ đời sống thế tục, xuất gia vào Phật đạo. Tại Nhật bản, các vị Thiên hoàng và công khanh về già xuống tóc, qui y cửa Phật, cũng được kính xưng là Nhập đạo. Còn những vị thân vương xuất gia thì gọi là Nhập đạo thân vương.

nhập đạo an tâm yếu phương tiện pháp môn

(入道安心要方便法門) Tác phẩm, do ngài Đạo tín (580-651), Tổ thứ 4 của Thiền tông Trung quốc soạn. Trong sách này, Tổ Đạo tín chủ trương lấy việc ngồi thiền quán tâm làm chính, đề ra 5 điểm trọng yếu: Biết rõ thể tính của tâm, biết rõ dụng lực của tâm, thường xuyên tỉnh thức, quán thân rỗng lặng, giữ nhất tâm chẳng dời đổi. Nguyên bản đã bị thất lạc, chỉ nhờ vào điều Đạo tín trong quyển Lăng già sư tư kí mà biết được là ngài Đạo tín đã soạn sách này.

nhập địa

Đi vào một giai đoạn đặc biệt của một trong ba giai đoạn “nhập, trụ và xuất.”—To enter the state or a particular stage of one of the three stages of “entrance, stay and exit.”

nhập định

Nhập định bằng thanh tịnh thân, khẩu và ý—To meditate—To enter into meditation by tranquilizing the body, mouth and mind—A complete stillness of the mind—To enter dhyana—To enter into samadhi (utmost concentration)—See Nhập Quán. ; (入定) I. Nhập Định. Vào thiền định, tức thu nhiếp tâm loạn động, rong ruổi mà tiến vào trạng thái tinh thần an định bất động. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 343 trung ) nói: Xuất định, nhập định hằng nghe diệu pháp. Luận Đại trí độ quyển 4 (Đại 25, 87 hạ) nói: Đức Phật Phất sa ngồi trong hang báu, nhập hỏa định phóng ra ánh sáng. II. Nhập Định. Chỉ cho bậc cao tăng thị tịch, như ngài Ca diếp nhập định trong núi Kê túc. Trong Đại đường tây vực kí cũng có thuyết Luận sư Thanh biện nhập định đợi Phật Từ thị (Di lặc)ra đời. (xt. Định).

nhập định phật

(入定佛) Cũng gọi Nhục thân Phật, Tức thân Phật. Gọi tắt: Nhục thân, Chân thân. Nhục thân không hư nát của các bậc Thánh tăng đắc đạo.Cứ theo kinh Di lặc hạ sinh, thì trong vị lai đức Phật Di lặc sẽ giáng sinh ở thế giới Sabà, cứu độ tất cả chúng sinh mà đức Phật Thích ca Mâu ni chưa độ hết được. Căn cứ vào tín ngưỡng này, những vị cao tăng đắc đạo giữ gìn thân không mục nát để đợi đức Phật Di lặc ra đời, chính là nguồn gốc của Nhập định Phật vậy. Cứ theo Đại đường tây vực kí, vào thế kỉ VII, trong hang núi ở phía bắc cao nguyên Parmir có thờ Nhập định Phật. Vào đầu thời Lục triều, có nhiều Nhập định Phật của các vị tăng Tây vực. Còn Nhập định Phật ở Trung quốc thì có các vị như: Ca la kiệt (người Dương phàn), Đơn đạo khai đời Tấn (thế kỉ IV), ngài Trí khải đời Tùy; các vị Tăng triệt, Pháp thuận, Thiện vô úy... đời Đường; nhục thân của ngài Tuệ năng ở chùa Nam hoa, huyện Khúc giang, tỉnh Quảng đông là Nhập định Phật xưa nhất hiện còn, toàn thân mặc áo tô sơn. Ở Đài loan, ngài Từ hàng(người Phúc kiến) nhập định ở nội viện Di lặc tại Từ hàng đường, thuộc huyện Tịch chỉ, là Nhập định Phật nổi tiếng ở hiện đại.

nhập định ấn

(入定印) Ấn tướng được kết khi vào Thiền định. Ba bộ của Mật giáo đều có ấn nhập định khác nhau, như Phật bộ dùng Pháp giới định ấn, Liên hoa bộ dùng Diệu quan sát trí định ấn(Di đà định ấn) và Kim cương bộ thì dùng Ngoại phược định ấn. [X. Thai tạng mạn đà la đại sao Q.1]. (xt. Định Ấn).

nhật

1) Ngày: Surya (skt)—The sun—Day. 2) Nước Nhật: Japan.

Nhật Anh

(日英, Nichiei, 1346-1423): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại Nam Bắc Triều và Thất Đinh, húy là Nhật Anh (日英), hiệu Diệu Thân Viện (妙親院). Ông theo tu học với Nhật Trinh (日貞) ở Pháp Hoa Kinh Tự (法華經寺) thuộc vùng Trung Sơn (中山, Nakayama), Hạ Tổng (下總, Shimōsa); rồi sau khi thầy ông qua đời, ông theo hầu hạ Nhật Tôn (日尊), vị Tổ đời thứ 4 của chùa này. Đến năm 1390, ông được mời đến làm Tổ khai sơn Diệu Tuyên Tự (妙宣寺) vốn do anh ông là Thực Cốc Trùng Kế (埴谷重繼) tạo dựng nên. Trong khi tiến hành lễ khánh thành chùa này, xảy ra vấn đề tranh luận về pháp phục với Cửu Viễn Tự (久遠寺, Kuon-ji); nên sinh ra việc kiện tụng lên người quản lãnh vùng Quan Đông (關東, Kantō), và kết quả tại pháp đình thì Cửu Viễn Tự thắng kiện. Từ đó về sau, ông lấy mối quan hệ huyết thống với dòng họ Thiên Diệp (千葉, Chiba), tín đồ trung thành của Pháp Hoa Kinh Tự, làm cơ sở để mở ra những trung tâm hoằng pháp ở vùng Thượng Tổng (上總, Kazusa) cũng như Hạ Tổng (下總, Shimōsa), và phát triển Môn Phái Trung Sơn. Môn hạ của ông có Nhật Thân (日親), Nhật Quốc (日國), v.v. Trước tác của ông có Mạt Tự Giảng Diễn Chức Đẳng Sự (末寺講演職等事) 1 quyển, Nhượng Trạng (讓狀).

Nhật Bạch Tàn Mộng

(日白殘夢, Nichihaku Zammu, 1438-1576): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Chiến Quốc, húy là Tàn Mộng (殘夢), đạo hiệu Nhật Bạch (日白), hiệu Bảo Sơn (寶山), Đại Phong Đạo Nhân (大風道人); thụy hiệu là Đào Lâm Khế Ngộ Thiền Sư (桃林契悟禪師). Trong khoảng niên hiệu Vĩnh Hưởng (永享, 1558-1570), ông đi hành cước ở các địa phương Đông Quốc, rồi làm trú trì đời thứ 16 của Phước Tuyền Tự (福泉寺, Fukusen-ji) ở Thường Lục (常陸, Hitachi), cũng như trú trì đời thứ 22 của Thật Tướng Tự (實相寺, Jissō-ji) vùng Hội Tân (會津, Aizu), Lục Áo (陸奥, Michinoku). Tương truyền rằng Thiên Hải (天海, Tenkai), vị tăng của Thiên Thai Tông, khi còn trẻ đã từng đến tham vấn Thiền yếu với Tàn Mộng và đạt được thuật trường sinh bất tử.

nhật bài

(日牌) Đối lại: Nguyệt bài. Bài vị được thiết lập để hàng ngày tụng kinh cúng dường hồi hướng, nguyện cầu cho người chết được siêu thoát.

nhật bản

Nước Nhật, nơi mà Phật giáo đã được truyền sang từ Cao Ly vào thế kỷ thứ sáu, và từ Trung Hoa vào thế kỷ thứ bảy—Japan. Buddhism was introduced there from Korea in the sixth century, and in the seventh century from China.

nhật bản cao tăng truyện yếu văn sao

(日本高僧傳要文抄) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Tông tính ở chùa Đông đại, Nhật bản, soạn thành vào khoảng năm 1249-1251. Nội dung ghi chép tiểu sử của 42 vị từ Bà la môn Tăng chính trở xuống. Đây là bộ truyện kí đầu tiên về các vị cao tăng ở Nhật bản. Diên lịch tăng lục(đã thất lạc) cũng từng dẫn dụng sách này.

nhật bản cận đại phật học nghiên cứu

(日本近代佛學研究) Sự nghiên cứu về Phật học ở Nhật bản vào thời cận đại. Phật giáo được truyền vào Nhật bản từ năm Thiên hoàng Khâm minh 13 (522) nhưng mãi đến năm Minh trị thứ 10 (1877) thì việc nghiên cứu Phật học theo phương pháp mới mới được bắt đầu. Những người có ảnh hưởng lớn nhất trong thời kì này là các ông: Nam điều Văn hùng, Thôn thượng Chuyên tinh và Cao nam Thuận thứ lang. Các Đại học Phật giáo được thiết lập để làm những trung tâm nghiên cứu Phật học. Các học giả đến các nước Tây vực, Ấn độ để sưu tầm tư liệu, nguyên điển tiếng Phạm... Đến những năm Đại chính (1912- 1925), các ông Mộc thôn Thái hiền, Tùng bản Văn tam lang và Tá tá mộc Nguyệt tiêu đã mang lại nhiều sắc thái mới lạ cho việc nghiên cứu Phật học. Thời kì này tuy vẫn giữ khuynh hướng coi trọng việc nghiên cứu các nguyên điển của thời Minh trị, nhưng không chỉ thỏa mãn với sự học hiểu 3 tạng kinh điển Tiểu thừa và những nguyên điển Đại thừa còn rất giới hạn, mà có ý mở rộng phạm vi nghiên cứu để làm thế nào nắm bắt được bản chất của Phật giáo, cho nên các loại văn hiến Phật giáo của Trung quốc và Nhật bản rất được coi trọng, đồng thời, bắt đầu tiến hành việc biên tập Đại Chính Tạng Tân Tu Đại Tạng Kinh. Từ những năm 1926-1944, Đại tạng kinh Hán văn và Tam tạng Pàli lần lượt được phiên dịch và ấn hành. Ngoài ra, việc nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Trung quốc và Nhật bản –chủ yếu là lịch sử Phật giáo Trung quốc– cũng rất phát triển. Sau chiến tranh và cho đến gần đây, giới học giả Phật giáo Nhật bản, đại khái chuyên phiên dịch và chú giải những nguyên điển của Phật giáo mà từ trước đến giờ chưa được phiên dịch. Nổi tiếng nhất trong lĩnh vực này có các ông: Trung thôn nguyên, Trường vĩ Nhã nhân, Sơn điền Long thành, Tiền điền Huệ học... Hiện nay có rất nhiều tạp chí Phật học ở Nhật bản, tiêu biểu nhất thì có: Ấn độ học Phật giáo học nghiên cứu, Nhật bản Phật giáo học hội niên báo, Linh mộc học thuật tài đoàn nghiên cứu niên báo... [X. Cận đại Nhật bản Phật học nghiên cứu đích phát triển (Lâm truyền phương)].

nhật bản linh di kí

(日本靈异記) Gọi đủ: Nhật bản hiện báo thiện ác linh dị kí.Gọi tắt: Linh dị kí. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Cảnh giới người Nhật soạn xong vào năm 822. Đây là tập truyện cổ Phật giáo xưa nhất ở Nhật bản, gồm 112 thiên, trong đó, quyển thượng 31 thiên, quyển trung 42 thiên và quyển hạ 39 thiên. Sách này không những phổ cập trong dân gian lúc bấy giờ, mà còn ảnh hưởng đến văn học thế tục đời sau, là tư liệu quan trọng để hiểu rõ tư tưởng của Phật giáo Nhật bản.

nhật bản phật giáo

(日本佛教) Phật giáo Nhật bản. Phật giáo được truyền đến Nhật bản vào giữa thế kỉ thứ VI, dưới triều đại Thiên hoàng Khâm minh. Lúc đó, triều đình chia làm 2 phái: Phái tôn Phật do Tô ngã đứng đầu và phái bài Phật do Vật bộ lãnh đạo. Về sau, phái tôn Phật thắng lợi, bèn sáng lập chùa Hướng nguyên, là ngôi chùa Phật đầu tiên ở Nhật bản. Đến thời đại Thái tử Thánh đức (593-622), nền tảng của Phật giáo đã được thiết lập 1 cách vững chắc. Từ đó, Phật giáo dung hòa với tư tưởng văn hóa sẵn có của người Nhật mà tạo thành nét đặc thù của Phật giáo Nhật bản. Phật giáo Nhật bản ở thời kì du nhập, lấy Phật Thích ca, Phật Dược sư, bồ tát Quan âm, bồ tát Di lặc, Tứ thiên vương v.v...làm đối tượng tín ngưỡng, mục đích của sự sùng bái là mong đạt được những lợi ích thế gian như sống lâu, giầu có v.v... Đến thời Thái tử Thánh đức thì Phật giáo được tôn làm quốc giáo và địa vị này của Phật giáo kéo dài mãi đến thời đại Minh trị Duy tân, nghĩa là suốt từ cuối thế kỉ VI đến cuối thế kỉ XIX. Đây là 1 trong những đặc sắc của Phật giáo Nhật bản. Từ thời Thiên hoàng Suy cổ (593-627) về sau, các tông phái dần dần phát triển, đứng đầu là tông Tam luận, rồi lần lượt đến các tông Pháp tướng, Luật, Hoa nghiêm, Câu xá và Thành thực, gọi chung là Nam đô lục tong (6 tông ở Nam đô). Trong đó, tông Tam luận chủ trương thuyết Thành Phật, coi trọng căn cơ lợi độn; tông Pháp tướng giảng cứu thuyết Tính tướng tương đãi, Sự lí sai biệt và chủ trương Ngũ tính các biệt, được giới trí thức đón nhận nên đều hưng thịnh 1 thời. Đến thời Bình an, ngài Không hải (774- 835) đến Trung quốc học Mật giáo và đem về truyền bá tại Nhật bản, thành lập Mật tông. Ngài chủ trương Hiển giáo là do đức Phật nói, mà cảnh giới trang nghiêm bí mật là pháp do Phật chứng, nên đem tư tưởng Tâm này là Phật chuyển thành luận thuyết Thân này là Phật mà thành Ngay nơi sự là chân. Giáo nghĩa này rất thích hợp với nhân tâm đương thời. Còn ngài Tối trừng (767-822) thì lấy Thiên thai làm Kinh tông, Pháp tướng làm Luận tông; Kinh tông là gốc, Luận tông là ngọn. Về việc truyền trao pháp giới thì thiết lập giới đàn Đại thừa. Giáo thuyết Nhất thừa của tông Thiên thai truyền đến ngài An nhiên (cuối thế kỉ IX) thì lại đề xướng thuyết Hiện thế thành Phật, Tức thân tác Phật, hiện thực hóa lí tưởng tông giáo; đồng thời, đạo tràng tu dưỡng 4 loại Tam muội cũng được hình thức hóa mà thành đạo tràng Pháp hội. Vào cuối thời kì này, sự tướng Mật giáo cực thịnh; núi Tỉ duệ hoàn toàn được Mật giáo hóa và chia thành 2 phái Đông mật và Thai mật. Đến thời đại Liêm thương, Thất đinh là thời kì Tịnh độ, Thiền và tông Nhật liên được chấn hưng, cũng là thời kì rực rỡ và hoạt bát nhất trong lịch sử Phật giáo Nhật bản. Vào cuối thời kì Bình an, lấy tư tưởng mạt pháp làm bối cảnh, ngài Pháp nhiên (1133-1212) chủ trương chuyên xưng danh niệm Phật, lấy đó làm bản nguyện vãng sinh. Ngài Thân loan (1173-1262) thì lấy tín tâm làm điều kiện tiên quyết vãng sinh Cực lạc, 1 niệm tịnh tín tuyệt đối là thực tướng của vũ trụ. Chủ trương này của tông Tịnh độ tương đối dễ làm, dễ tu nên dần dần đã phổ cập khắp trong dân gian. Vì thế các tông Pháp tướng, Chân ngôn, Thiên thai, Hoa nghiêm... cũng tự giản dị hóa, dân chúng hóa giáo nghĩa của mình để thích ứng với nhu cầu của thời thế. Tông Nhật liên thì chủ trương niệm Na mô Diệu pháp liên hoa kinh có thể thành Phật ngay trong đời hiện tại... Đến thời đại Giang hộ(giữa thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XIX), Mạc phủ qui định sự quan hệ giữa những chùa gốc và chùa ngọn của các tông phái, chùa ngọn phải phục tùng và chịu sự chi phối của chùa gốc, sự phân hóa trong nội bộ các tông phái nhờ đó được chấm dứt. Thời gian này, ngài Ẩn nguyên (1592-1673) từ Trung quốc sang Nhật bản, khai sáng tông Hoàng bá, ngang hàng với các tông Lâm tế và Tào động của Nhật bản. Thực ra, tông phong của tông Hoàng bá cũng giống với tông phong tông Lâm tế, chỉ khác là đọc tụng kinh điển bằng lối phát âm theo người Trung quốc. Thời kì này học vấn rất được xem trọng, các tông phái đều mở mang các cơ sở giáo dục Phật giáo, do đó, các học giả của các tông lũ lượt xuất hiện. Đến thời đại Minh trị Duy tân (từ hậu bán thế kỉ XIX), phong trào nghiên cứu Phật học tự do được phát triển rộng rãi, về phương diện nguyên điển của Phật giáo có các học giả Nam điều Văn hùng, Địch nguyên Vân lai, Cao nam Thuận thứ lang chuyên về tiếng Phạm; Hà khẩu Tuệ hải, Tự bản Uyển nhã... chuyên về tiếng Tây tạng, Trường tỉnh Chân cầm, Cao nam... chuyên về Pàli. Về phương diện lịch sử Phật giáo, thì có các học giả Thôn thượng Chuyên tinh, Cảnh dã Hoàng dương... Đồng thời, các Đại học Phật giáo cũng lần lượt được thiết lập như: Đại học Long cốc của phái Bản nguyện tự thuộc tông Chân ngôn, Đại học Đại cốc của phái Đại cốc, Đại học Lập chính của tông Nhật liên, Đại học Cao dã sơn của tông Chân ngôn, Đại học Câu trạch của tông Tào động... Các kinh điển được chỉnh lí như: Súc loát Đại tạng kinh, Vạn tự chính tạng, Tục tạng kinh, Đại chính tân tu Đại tạng kinh... cũng lần lượt được ấn hành. Rồi đến sự biên tập các loại từ điển như: Nhật bản Phật gia nhân danh từ điển (Thứu vĩ thuận), Phật giáo Đại từ vựng (Long cốc), Phật giáo Đại từ điển (Vọng nguyệt), Phật thư giải thuyết đại từ điển... đã giúp cho nội dung của nền Phật học hiện đại Nhật bản càng thêm phong phú. Về phương diện tín ngưỡng, do ảnh hưởng của Cơ đốc giáo và triết học phương Tây, nên hình thái và quan niệm của Phật giáo Trung quốc cũng dần dần được trút bỏ, chỉ cái gì phổ cập đến dân gian mới được phát triển; đồng thời với sự bành trướng của tư tưởng dân chủ, giới tăng sĩ cũng được quyền tham chính. Về phương diện văn hóa, ngoài những tác phẩm Phật giáo chuyên môn ra, còn có tới hơn 400 loại tạp chí như: Đại pháp luân, Thế giới Phật giáo, Nữ tính Phật giáo, Đông phương Phật giáo đồ (bằng Anh văn) v.v... Phật giáo bắt nguồn từ Ấn độ, được truyền qua Trung quốc, Triều tiên rồi đến Nhật bản. Do vì thích ứng với tư tưởng, văn hóa và nếp sinh hoạt của dân tộc Nhật bản để phát triển, nên kết quả Phật giáo Nhật bản đã có những đặc điểm sau đây: 1. Phật giáo Nhật bản được xem là tông giáo trấn hộ quốc gia, nên Phật giáo đã có mối quan hệ mật thiết với Hoàng tộc. 2. Vì là trấn hộ quốc gia, nên Phật giáo Nhật bản đặc biệt quí trọng chú thuật kì đảo của Mật giáo, bởi thế chú thuật kì đảo đã thấm sâu vào đời sống của dân chúng Nhật bản mà trở thành thứ tông giáo truy cầu lợi ích trần thế. 3. Phật giáo Nhật bản ở thời kì mới du nhập, những tăng sĩ không tham dự lễ tống táng người chết. Đến thời trung cổ, sau khi Thiền tông Trung quốc được truyền vào, mang theo nghi thức tang lễ của Trung quốc, bấy giờ tăng sĩ Phật giáo Nhật bản mới đảm trách tang lễ cho người chết. Về sau, do tín ngưỡng Tịnh độ phổ cập, nên nghi thức tang lễ trở thành 1 sự vụ trọng yếu của giới tăng sĩ. 4. Chế độ đàn gia ở thời đại Giang hộ đã làm cho Phật giáo trở thành thứ tông giáo gia đình, nên phương diện tín ngưỡng cá nhân không được quan tâm đúng mức. 5. Vì sự dung hợp, đồng hóa với tư tưởng Thần đạo cố hữu của Nhật bản, nên Phật giáo Nhật bản đã sản sinh tư tưởng Bản địa thùy tích và rất đậm đà sắc thái Thần Phật hỗn hợp (Syncretism), mà chỉ có với Phật giáo Nhật bản thôi. Nếu so sánh Phật giáo Nhật bản với Phật giáo các nước khác, thì Phật giáo Nhật bản có mấy đặc điểm sau đây: 1. Phật giáo Nhật bản đã thực hiện rất nhiều các công tác cứu tế xã hội và từ thiện phúc lợi. 2. Phật giáo Nhật bản theo đuổi công việc giáo hóa dân chúng một cách kiên trì và liên tục không ngừng. 3. Về phương diện tư tưởng, Phật giáo Nhật bản có khuynh hướng thuần túy hóa, nhất là đến thời trung cổ, khuynh hướng này càng rõ rệt. Đặc sắc này của Phật giáo Nhật bản không thể bỏ qua. Tóm lại, đặc chất của Phật giáo Nhật bản là quốc gia hóa, xã hội hóa, tín ngưỡng hóa, gia đình hóa và hiện đại học thuật hóa. Ngoài ra, đối với Phật giáo các nước khác, tuy cũng có thể nêu ra những đặc sắc tương tự, nhưng chỉ có ở Phật giáo Nhật bản người ta mới thấy sự liên kết gắn bó giữa quốc dân và Phật giáo. [X. Nhật Hàn Phật giáo nghiên cứu (Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san, 82); Trung Nhật Phật giáo quan hệ nghiên cứu (Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san, 81); Nhật bản Phật giáo sử thượng thế biên;Đông phương nhân chi tư duy phương pháp (Trung thôn nguyên)].

Nhật Bản Thư Kỷ

(日本書紀, Nihonshoki): còn gọi là Nhật Bản Kỷ (日本紀, Nihongi), một trong những bộ sử ký quan trọng của Nhật Bản, một trong Lục Quốc Sử (六國史, Ritsukokushi), cuốn chánh sử tối cổ được hoàn thành vào thời đại Nại Lương (奈良, Nara). Đây là bộ sử thư gồm 30 quyển và hệ đồ 1 quyển, mang tính biên niên, bằng Hán văn với rất nhiều hình thức tu sức về thần thoại, truyền thuyết, ký lục được lưu truyền trong triều nội kể từ thời kỳ thần thoại cho đến đời Trì Thống Thiên Hoàng (持統天皇, Jitō Tennō, tại vị 690-697), được nhóm Thân Vương Xá Nhân (舍人, Tonuri) soạn vào năm thứ 4 (720) niên hiệu Dưỡng Lão (養老). Ngoài các thư tịch như Đế Kỷ (帝紀), Cựu Từ (舊辭), những ký lục xưa của Triều Tiên, ký lục của các tự viện cũng như cá nhân, truyền ký của những thị tộc, v.v., được dùng làm tài liệu để biên tập nên bộ này.

Nhật Bản Vãng Sanh Cực Lạc Ký

(日本徃生極樂記, Nihonōjōgokurakuki): truyền ký về những người có dị tướng vãng sanh, được biên tập vào giữa thời đại Bình An, do Khánh Tư Bảo Dận (慶滋保胤, Yoshishige-no-Yasutane, 931-1002) trước tác, 1 quyển; còn gọi là Nhật Bản Vãng Sanh Truyện (日本徃生傳). Từ việc ký thuật câu chuyện của Thiên Quán (千觀) qua đời năm 983 (Vĩnh Quán [永觀] nguyên niên), tác phẩm này được xem như thành lập trong khoảng thời gian từ năm đó cho đến năm 986 (Khoan Hòa [寛和] thứ 2), khi Bảo Dận xuất gia. Rồi sau đó, ông còn ghi thêm truyện của Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi), Hành Cơ (行基, Gyōki) cũng như của 5, 6 người vãng sanh khác. Tác phẩm này bắt chước theo Tịnh Độ Luận (淨土論) của Ca Tài (迦才) nhà Đường, Vãng Sanh Tây Phương Tịnh Độ Thoại Ứng San Truyện (徃生西方淨土瑞應删傳) của Văn Thẩm (文諗), Thiếu Khang (少康), thâu lục các biệt truyện của mọi người, hay hạnh nghiệp của người vãng sanh từ những truyền văn xa xưa. Ký lục về những người vãng sanh có 45 trường hợp, bao hàm cả nam nữ, tăng tục, người tu hạnh Niệm Phật, tụng Kinh Pháp Hoa hay hành trì Chơn Ngôn, v.v. Thư tịch này được thâu lục vào trong phần Truyện Bộ của Quần Thư Loại Đồ (群書類圖), Tục Tịnh Độ Tông Toàn Thư (續淨土宗全書) 17, Đại Nhật Bản Phật Giáo Toàn Thư (大日本佛敎全書), Nhật Bản Vãng Sanh Toàn Truyện (日本徃生全傳), Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ (日本思想大系) 7.

Nhật Bản Ðạt-ma tông

日本達磨宗; J: nihon (nippon) daruma-shū;|Một trường phái thiền nhỏ của Nhật Bản được Thiền sư Ðại Nhật Năng Nhẫn (j: dai-nichi nōnin) sáng lập. Tông này được thành lập dựa vào tông Lâm Tế của Trung Quốc và nổi danh là một tông với phương pháp tu tập chân chính.|Tông này không tồn tại được bao lâu vì sau khi thiền đường của họ bị thiêu huỷ (1928) sau một sự tranh chấp với các vị tăng chùa Hưng Phúc (kōfukuji) và sau khi Thiền sư Cô Vân Hoài Trang (j: koun ejō) đến Ðạo Nguyên Hi Huyền (dōgen kigen) tham học. Một thời gian sau, các vị đệ tử quan trọng của Giác Yển (kakuan) – vị kế thừa thứ hai của tông này – như Triệt Thông Nghĩa Giới (tettsū gikai), Nghĩa Diễn (義演; gi'en), Hàn Nham Nghĩa Doãn (寒巖義尹; kangan gi'-in),… đều đến gia nhập dòng thiền Tào Ðộng của Ðạo Nguyên.|Tông này chủ trương »Kiến tính thành phật« (見性成佛; kenshō jōbutsu) và »Kiến tính linh tri« (見性靈知; kenshō reichi), rất chú tâm đến hai bộ kinh Viên giác (engakkyō) và Thủ-lăng-nghiêm (shuryōgongyō). Thiền sư Giác Yển thường trích những phần trong hai bộ kinh này làm tài liệu giảng dạy. Một đặc điểm của tông này nữa là sự tu tập thiền thuần tuý, tránh không pha trộn với những khuynh hướng tu tập thịnh hành khác thời bấy giờ như niệm danh Phật A-di-đà, thực hành các nghi lễ theo Chân ngôn tông (shingon-shū). Tuy vậy, họ cũng không tránh được các ảnh hưởng của các tông giáo khác biệt này và chính sự pha trộn giáo lí của Thiền sư Triệt Thông Nghĩa Giới (tettsū gikai) sau này tại Vĩnh Bình tự (eihei-ji) – Thiền Tào Ðộng của Ðạo Nguyên và Mật giáo – là nguyên do chính của sự chia rẽ của tông Tào Ðộng thế hệ thứ ba sau này.

nhật bản động thượng liên đăng lục

(日本洞上聯燈錄) Tác phẩm, 12 quyển, do ngài Lĩnh nam Tú thứ tông Tào động Nhật bản soạn vào khoảng năm 1716-1735. Bộ sách này được hoàn thành sau 30 năm nghiên cứu và tham khảo các tư liệu như: Nguyên hanh thích thư, Phù tang tăng bảo truyện, Diên bảo truyền đăng lục, Động thượng chư tổ truyện, Tục động thượng chư tổ truyện. Nội dung ghi chép các truyện kí của hơn 700 vị, đây là sử liệu trọng yếu của tông Tào động Nhật bản.

Nhật Cao

(日高, Nikkō, 1257-1314): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Liêm Thương, húy là Nhật Cao (日高), thông xưng là Y Hạ Công (伊賀公), Soái A Xà Lê (帥阿闍梨); tự là Tối Bạch (最白); xuất thân vùng Hạ Tổng (下總, Shimōsa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]); con của Đại Điền Thừa Minh (大田乘明). Ông đã từng theo tu học với Nhật Liên ở Thân Diên Sơn (身延山). rồi sau khi Nhật Liên qua đời, ông là người thường xuyên canh giữ ngôi tháp của thầy. Năm 1299, ông được bổ nhiệm làm trú trì đời thứ 2 của Pháp Hoa Kinh Tự (法華經寺). Tiếp theo, ông khai sáng Bổn Diệu Tự (本妙寺) trên tư dinh của Đại Điền Thừa Minh, và bắt đầu chế ra quy định một người chủ quyền cả hai chùa Bổn Diệu và Pháp Hoa. Hơn nữa, nhờ sự ủng hộ đắc lực của dòng họ Thiên Diệp (千葉, Chiba), ông đã xác lập được thể chế giáo đoàn và cơ sở kinh tế vững chắc. Về sau, ông nhường chức trú trì lại cho Nhật Hựu (日祐), con nuôi của Thiên Diệp Dận Trinh (千葉胤貞). Trước tác của ông để lại có Nhật Cao Trí Văn (日高置文) 1 quyển, Nhật Cao Thân Trạng (日高申狀), Nhật Cao Nhượng Trạng (日高讓狀), v.v.

Nhật Chiêu

(日昭, Nisshō, 1221-1323): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa và cuối thời Liêm Thương, một trong Lục Lão Tăng (六老僧); Tổ của Dòng Phái Nhật Chiêu (日昭門流); húy là Nhật Chiêu (日昭), thông xưng là Biện A Xà Lê (辨阿闍梨); tự là Thành Biện (成辨), hiệu Thường Bất Khinh Viện (常不輕院); xuất thân vùng Năng Hộ (能戸), Hạ Tổng (下總, Shimōsa); con của Ấn Đông Thứ Lang Tả Vệ Môn Úy Hựu Chiêu (印東四郎左衛門尉祐昭). Năm 1249, ông xuất gia, học giáo lý Thiên Thai trên Tỷ Duệ Sơn, và rất nổi tiếng với tư cách là học tăng của Thiên Thai Tông. Năm 1253, ông cảm đắc giáo thuyết của Nhật Liên và trở thành đệ tử cuối cùng của vị này. Đến năm 1271, khi Nhật Liên bị lưu đày đến địa phương Tá Độ (佐渡, Sado) trong vụ Pháp Nạn Long Khẩu (龍口法難), ông ở lại để lãnh đạo chúng môn đệ và tín đồ. Năm 1282, khi Nhật Liên qua đời, ông chuyên trách việc tống táng ân sư, và quy định ra việc canh giữ ngôi tháp của thầy. Chính ông đã từng cùng với nhóm Nhật Lãng (日朗) chịu đựng biết bao nhiêu cuộc đàn áp từ phía chính quyền Mạc Phủ cũng như các tông phái khác. Năm 1284, ông khai sáng Pháp Hoa Tự (法華寺, Hokke-ji) ở vùng Liêm Thương, rồi đến năm 1306 là Diệu Pháp Tự (妙法寺, Myōhō-ji) và nỗ lực duy trì giáo đoàn tồn tại. Trước tác của ông có Kinh Thích Bí Sao Yếu Văn (經釋秘抄要文), Pháp Hoa Bổn Môn Viên Đốn Giới Tương Thừa Huyết Mạch Phổ (法華本門圓頓戒相承血脈譜), v.v.

nhật chiếu

(日照) Phạm: Divàkara. Hán âm: Địa bà ha la. Cao tăng người Trung Ấn độ, đến Trung quốc vào đầu năm Nghi phụng (676- 678) đời vua Cao tông nhà Đường. Sư thông suốt Tam tạng, giỏi Ngũ minh. Sư đã giới thiệu về học thuyết mới của học phái Trung quán Ấn độ. Đến khoảng năm Thùy củng đời Vũ hậu, sư dịch chung với các vị khác những kinh như: Phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm, kinh Phật đính tối thắng đà la ni, kinh Đại thừa hiển thức... gồm 18 bộ, 34 quyển. Sư thị tịch ở chùa Thái nguyên vào năm 687, thọ 75 tuổi. [X. Hoa nghiêm kinh truyện kí Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.9].

nhật chiếu tứ châu

(日照四洲) Mặt trời chiếu khắp 4 châu. Cứ theo kinh Khởi thế nhân bản quyển 1 chép, lúc kiếp sơ, cõi thế gian đang còn tối đen thì bỗng nhiên mặt trời, mặt trăng và các tinh tú xuất hiện, từ đó bắt đầu có ngày đêm, năm tháng và thời tiết. Mặt trời mọc ở hướng đông, di chuyển quanh lưng chừng núi Tu di, soi xuống 4 châu mà có ngày đêm khác nhau. Bốn châu là: Đông phất bà đề (Thắng thân châu), Nam diêm phù đề (Thắng kim châu, Thiệm bộ châu), Tây cù da ni (Tây ngưu hóa châu) và Bắc uất đơn việt (Thắng xứ, Câu lô châu). Theo Pháp uyển châu lâm quyển 4, mặt trời đi quanh núi Tu di và chiếu xuống 4 châu tạo ra 4 tình hình khác nhau về ngày đêm như sau: 1. Ở Nam diêm phù đề lúc giữa trưa, thì ở Đông châu mặt trời lặn, ở Tây châu mặt trời mọc và ở Bắc châu thì đúng nửa đêm. 2. Ở Tây cù da ni lúc giữa trưa, thì ở Nam châu mặt trời lặn, ở Bắc châu mặt trời mọc và ở Đông châu thì đúng nửa đêm. 3. Ở Đông phất đề bà lúc giữa trưa, thì ở Bắc châu mặt trời lặn, ở Nam châu mặt trời mọc và ở Tây châu đúng nửa đêm. 4. Ở Bắc uất đơn việt lúc giữa trưa, thì ở Tây châu mặt trời lặn, ở Đông châu mặt trời mọc và ở Nam châu thì đúng nửa đêm.

Nhật Chân

(日禛, Nisshin, 1561-1617): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại An Thổ Đào Sơn và Giang Hộ, húy là Nhật Chân (日禛), tự Tôn Giác (尊覺), hiệu Cứu Cánh Viện (究竟院); con của quan Quyền Đại Nạp Ngôn Quảng Kiều Quốc Quang (權大納言廣橋國康). Năm 1574, ông xuất gia với Nhật Thê (日栖) ở Bổn Quốc Tự (本圀寺) thuộc kinh đô Kyoto; và đến năm 1578 thì kế thừa trú trì chùa này. Vào năm 1583, ông mở ra Học Viện Cầu Pháp tại chùa để chấn hưng học thuật; hơn nữa, chị của Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) là Ni Nhật Tú (日秀) phát tâm quy y theo ông; nhờ vậy ông mới có thể xây dựng thêm một số kiến trúc khác tại chùa này. Thêm vào đó, cũng nhờ sự hỗ trợ đắc lực của Gia Đằng Thanh Chánh (加藤清正, Katō Kiyomasa), ông đã mở rộng thế lực của mình ở địa phương Cửu Châu (九州). Trong lễ hội cúng dường 1.000 vị tăng ở Phương Quảng Tự (方廣寺), ông cùng với Nhật Áo (日奥) chủ trương chính sách Không Nhận Không Cho; nhưng đến năm 1599 thì ông phải nhượng bộ với Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu), và giáo đoàn dần dần bị thuộc dưới quyền cai quản của chính quyền Mạc Phủ.

Nhật Chúc

(日祝, Nisshū, 1426-1513): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng hai thời đại Thất Đinh và Chiến Quốc, húy là Nhật Chúc (日祝); hiệu Diệu Quốc Viện (妙國院), Nguyệt Tàng Phòng (月藏房); xuất thân vùng Hạ Tổng (下總, Shimōsa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]). Ông theo tu học với Nhật Tát (日薩) ở Pháp Hoa Kinh Tự (法華經寺) thuộc vùng Trung Sơn (中山, Nakayama). Đến năm 1473, ông lên kinh đô, khai sáng nên Đảnh Diệu Tự (頂妙寺, Chōmyō-ji) nhờ sự hộ trì của Tế Xuyên Thắng Ích (細川勝益). Ông được vị Quan Bạch Cận Vệ Chính Gia quy y theo, rồi giáo hóa các tầng lớp nông dân, võ gia cho đến hoàng tộc nhờ tài thuyết pháp của ông. Trước tác của ông có Mạt Pháp Yếu Hành Ký (末法要行記) 1 quyển, Ngự Điều Mục (御條目) 1 quyển, Đương Môn Trọng Bảo Ký (當門重寶記) 1 quyển.

nhật chủng

Surya-Vamsa (skt)—Một trong năm họ của dòng Thích Ca. Tương truyền tổ tiên của dòng họ Thích Ca được sanh ra bởi mặt trời từ trong cây mía hai nhánh—One of the five surnames of Sakyamuni, sun-seed or lineage, his first ancestors having been produced by the sun from “two stalks of sugar-cane.” ; (日種) Phạm: Sùryavaôza. Họ của đức Thích tôn. Vị tị tổ của đức Thích tôn là Cam giá vương. Tương truyền Cam giá vương không ở trong thai, nhưng do mặt trời chiếu mà sinh ra, thế nên gọi là Nhật chủng (dòng giống mặt trời), là 1 trong 5 dòng họ Thích. (xt. Cam Giá Vương, Cù Đàm).

nhật chủng thiện sanh

Suryavamsa (skt)—An ancient king of Potala and ancestor of the Sakya line—Vị vua thời cổ của Potala và là tổ tiên của dòng Thích Ca.

nhật cung

Cung điện mặt trời, nơi trú ngụ của Nhật Thiên Tử—The sun-palace, the abode of the sun ruler. ; (日宮) Cung điện của Nhật thiên tử. Cứ theo phẩm Nhật nguyệt hành trong luận Lập thế a tì đàm, thì điện này tên là Tu dã, ở độ cao 40.000 do tuần tính từ cõi Diêm phù đề trở lên, rộng 51 do tuần, chu vi 153 do tuần, làm toàn bằng pha lê, phía trên được che phủ bằng vàng ròng.

nhật diện phật

Nhật Diện Phật với thọ mạng là 1.800 năm, ngược lại với Nguyệt Diện Phật mà thọ mạng chỉ có một ngày một đêm—The “Sun-Face” Buddha, whose life is 1.800 years, in contrast with the “Moon-Face” Buddha, whose life is only a day and a night.

nhật diện phật nguyệt diện phật

(日面佛月面佛) Cũng gọi Mã đại sư bất an, Mã tổ Nhật diện Phật Nguyệt diện Phật. Tên công án trong Thiền tông. Tắc 3 trong Bích nham lục (Đại 48, 142 hạ) nói: Mã Đại sư không được khỏe, Viện chủ hỏi: Hòa thượng gần đây có khỏe không? Đại sư đáp: Nhật diện Phật, Nguyệt diện Phật Cứ theo kinh Phật danh quyển 7, đức Phật Nhật diện sống đến 1.800 tuổi, còn đức Phật Nguyệt diện thì chỉ sống có 1 ngày 1 đêm. Trong công án trên, Thiền sư Mã tổ Đạo nhất đã mượn câu Nhật diện Phật, Nguyệt diện Phật nhằm nói rõ sự dứt bặt cái tướng thọ mệnh dài ngắn và sinh diệt đến đi, để khế hợp với tính Phật vốn có sẵn. [X. Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.9; Mã tổ Đạo nhất thiền sư quảng lục; Ngũ đăng hội nguyên Q.3].

Nhật Diệu

(日耀): tức Nhật Quang (s: Sūryaprabha, 日光), Nhật Quang Biến Chiếu (日光遍照), một trong hai vị Bồ Tát thường theo hầu bên cạnh đức Phật Dược Sư. Thân Bồ Tát có màu đỏ hồng, tay trái cầm vòng tròn mặt trời, tay phải cầm Mạn Thù Xích Hoa (蔓殊赤花). Như trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, CBETA No. 1244) quyển 2 có đoạn: “Cẩn phát thành tâm, tề tụng Đông Phương Lưu Ly Thế Giới, Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát thánh hiệu, dụng thân cứu hộ (謹發誠心、齊誦東方琉璃世界、日光遍照菩薩聖號、用伸救護, đem hết tâm thành, cùng tụng Thánh hiệu Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát ở Đông Phương Lưu Ly Thế Giới, cầu xin cứu giúp).” ; (日妙, Nichimyō, ?-1502): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng hai thời đại Thất Đinh và Chiến Quốc, húy là Nhật Diệu (日妙); hiệu Pháp Tịnh Viện (法淨院); xuất thân vùng Yamanashi-ken (山梨縣). Năm lên 18 tuổi, ông theo xuất gia với Nhật Triêu (日朝), vị Tổ đời thứ 11 của Cửu Viễn Tự (久遠寺, Kuon-ji). Ông vốn có chí muốn truyền bá Kinh Pháp Hoa, nên giữa đường lên kinh đô thì sáng lập ra Pháp Liên Tự (法蓮寺) ở vùng Vĩ Trương (尾張, Owari).

nhật diệu

Mặt trời, một trong cửu diệu, thuộc đoàn tùy tùng của Nhật Thiên, đông độ của Thai Tạng Giới—The sun, one of the nine luminaries; one of the retinue of the sun ruler shown in the Eastern part of Garbhadhatu group driving three horses—See Cửu Diệu. ; (日曜) Phạm: Sùrya. Cũng gọi Nhật thiên diệu, Nhật tinh, Thái dương mật nhật tinh. Quyến thuộc hoặc là đồng thể với Nhật thiên trong Mật giáo, 1 trong Thất diệu, 1 trong Cửu diệu. Trong Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới, hình tượng Nhật thiên mình mặc áo trời, cỡi 3 con ngựa trắng, tay phải cầm mặt trời, bàn tay trái úp vào cạnh sườn. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 4 thì mặt trời ví dụ tâm bồ đề vốn thanh tịnh, chính là tự thể của đức Tì lô giá na. [X. Tú diệu nghi quĩ; Bắc đẩu hộ ma pháp].

Nhật Duệ

(日叡, Nichiei, 1334-1397): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng thời đại Nam Bắc Triều; húy Nhật Duệ (日叡), hiệu là Lăng Nghiêm Phòng (楞嚴房), Diệu Pháp Phòng (妙法房). Ông từng che giấu thân phận của mình để đến tham bái mộ phần của cha, người trước kia đối kháng với Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏, Ashikaga Takauji), rồi bị ông này giết chết; và sau đó, ông đến vùng Liêm Thương, theo làm đệ tử của Nhật Tĩnh (日靜) ở Bổn Quốc Tự (本國寺). Sau khi Bổn Quốc Tự được dời về kinh đô Kyoto, ông ở lại Liêm Thương, rồi xây dựng nên Diệu Pháp Tự (妙法寺) trên nền đất cũ của Bổn Quốc Tự, và suốt đời chuyên tâm cầu nguyện cho thân phụ được siêu độ.

nhật dịch phật điển

(日譯佛典) Chỉ cho những kinh sách Phật giáo được dịch ra tiếng Nhật bản. Từ thời đại Bình an trở đi, đối với kinh điển Phật bằng chữ Hán, để tiện cho người Nhật đọc tụng, bên cạnh chữ Hán có thêm những Huấn điểm (ở phía bên phải chữ Hán thêm giả danh và tiêu điểm) hoặc những Phản điểm (ở phía bên trái câu văn chữ Hán thêm những phù hiệu như V... hoặc nhất, nhị, tam, tứ, thượng, trung, hạ, giáp, ất, bính... để biểu thị thứ tự của cách đọc tụng), hoặc viết thành hình thức diên thư (tương tự như trực thư nhưng không có tiêu đề) như các kinh A di đà, Vô lượng thọ, Pháp hoa... Lại như Kim tích vật ngữ là bộ sách tiếng Nhật được dịch từ những truyện cổ trong kinh điển Phật bằng chữ Hán. Rồi từ thời đại Liêm thương về sau thì có những diên thư được soạn thuật bằng Hán văn như: Vãng sinh yếu tập, Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập...Trong loại diên thứ có những pho sách lớn như: Quốc dịch Đại tạng kinh, 30 quyển (được dịch từ năm 1917 đến 1928, do Hội Văn khố quốc dân Nhật bản ấn hành), Chiêu hòa tân soạn quốc dịch Đại tạng kinh, 48 quyển (Thư viện Đông phương), Quốc dịch nhất thiết kinh, 156 quyển (nhà xuất bản Đại đông ở Nhật bản ấn hành), Quốc dịch thiền học đại thành, 25 quyển (Nhị tùng đường), Quốc dịch Mật giáo, 16 quyển, Quốc dịch bí mật nghi quĩ, 33 quyển (Hội ấn hành sách quí Phật giáo)... Từ những năm cuối thời Minh trị trở đi, những kinh điển Phật bằng các thứ tiếng Phạm,Pàli, Tây tạng, Cổ ngữ Thổ nhĩ kì... đều được dịch ra tiếng Nhật. Nam truyền Đại tạng kinh (do Hội Kỉ niệm công đức của Tiến sĩ Cao nam)chính là bản dịch toàn bộ Đại tạng kinh tiếng Pàli. [X. Phật giáo Thánh điển khái thuyết; Đại đường tây vực kí chi Hòa dịch bản (Thốc thị Hựu tường, Tông giáo nghiên cứu 8)].

nhật dụ bồ tát thập chủng thiện pháp

(日喻菩薩十種善法) Dùng mặt trời để ví dụ 10 thứ pháp lành của Bồ tát. Cứ theo kinh Bảo vũ quyển 5 thì 10 thứ pháp lành của Bồ tát là: 1. Phá bóng tối vô minh: Bồ tát hiện ra nơi thế gian, dùng ánh sáng trí tuệ phá trừ vô minh tối tăm cho tất cả loài hữu tình; giống như mặt trời vận hành trong hư không, tỏa ra ánh sáng rực rỡ, làm cho tất cả chỗ tối tăm ở thế gian đều được sáng tỏ. 2. Giác ngộ cho loài hữu tình: Bồ tát hiện ra ở thế gian, dùng phương tiện trí tuệ mở đường dẫn dắt loài hữu tình, khiến cho họ tỉnh ngộ; giống như mặt trời vận hành trong hư không, chan hòa ánh sáng, làm cho tất cả hoa sen trong các ao hồ đều nở rộ. 3. Soi sáng 10 phương: Bồ tát hiện ra nơi đời, dùng ánh sáng trí tuệ soi rọi khắp các thế giới trong 10 phương, giúp cho hết thảy chúng sinh đều được lợi ích; giống như mặt trời vận hành trong hư không, tỏa ánh sáng khắp 10 phương, hết thảy muôn vật đều được soi rọi. 4. Hiện ra pháp lành: Bồ tát sinh ra ở thế gian, dùng sức trí tuệ mở bày pháp lành, dắt dẫn chúng sinh lên bờ Chính giác; giống như mặt trời vận hành trong hư không, đem ánh sáng chiếu soi tất cả, các loài hữu tình đều nhờ đó mà được sinh trưởng. 5. Các phiền não lậu hoặc diệt sạch: Bồ tát hiện ra ở đời, dùng sức trí tuệ làm cho tất cả phiền não lậu hoặc đều bị diệt hết, vĩnh viễn dứt trừ sinh tử; giống như mặt trời lúc lặn, ánh sáng ẩn mất thì mọi sinh vật đều nghỉ ngơi. 6. Có năng lực phóng ra ánh sáng: Bồ tát xuất hiện nơi thế gian, phóng ra ánh sáng trí tuệ, nói các pháp yếu để phá trừ ngu si ám chướng của tất cả hữu tình; giống như mặt trời đi trong hư không, tỏa ra ánh sáng lớn, chiếu phá hết thảy mọi nơi tối tăm, soi rọi tới muôn vật. 7. Che khuất ngoại đạo: Bồ tát xuất hiện ở đời, giảng nói các pháp nhằm hướng dẫn chúng sinh bỏ tà theo chính, có khả năng che khuất những tà thuyết dị luận của ngoại đạo; giống như mặt trời vận hành trong hư không, chiếu ánh sáng rực rỡ xuống, làm cho tất cả ánh sáng của loài đom đóm bị che át hết. 8. Giáo hóa bình đẳng: Bồ tát hiện ra ở đời, đối với chúng sinh, dù thiện dù ác đều được nhiếp thụ, khiến họ sinh tâm khát ngưỡng và đem chính pháp giáo hóa 1 cách bình đẳng; giống như mặt trời vận hành trong hư không, chiếu xuống muôn vật, hoặc cao hoặc thấp đều được soi tới. 9. Phát khởi nghiệp thiện: Bồ tát xuất hiện nơi thế gian, phương tiện mở bày khiến tất cả loài hữu tình phát khởi tâm thiện, tu tập nghiệp lành; giống như mặt trời mới mọc làm cho mọi người đều hăng hái làm việc. 10. Người lành ưa mến: Bồ tát sinh ra ở đời, tất cả những người có trí sáng suốt đều biết có lợi ích, do đó sinh tâm ưa mến, niệm niệm hướng về; nhưng những kẻ ngu si vô trí và các tà ma ngoại đạo thấy Bồ tát xuất hiện thì sinh lòng ghen ghét; giống như mặt trời vận hành giữa hư không, rong ngoài đều sáng, tất cả người lành ai cũng ưa thích, nhưng bọn trộm cướp thì cảm thấy tức giận.

nhật dụng

Daily use—Daily expenses.

nhật giới đàn

The altar of the law.

nhật hoàng tổng bạc

(日黃總簿) Chỉ cho cuốn sổ dùng để ghi chép các việc hàng ngày trong các chùa viện Thiền tông. Nhật là hàng ngày; Hoàng là chỉ cho cây hoàng bá thuộc họ Vân hương, lá và vỏ cây có mùi rất thơm, có thể dùng làm thuốc, cũng có tác dụng trừ mối mọt. Thiền gia thường lấy lá cây hoàng bá đặt vào những tờ giấy trong cuốn Tổng bạ để phòng ngừa mối mọt, vì thế nên gọi Nhật hoàng tổng bạ. Môn Bạ khoán trong Thiền lâm tượng khí tiên nói: Ngày xưa, cuốn sổ của Thường trụ dùng loại giấy có tẩm lá của cây hoàng bá để phòng ngừa mối mọt, nên gọi Hoàng bạ. [X. điều Phó tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4].

Nhật Huy

(日輝, Nichiki, 1800-1859): học Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng cuối thời đại Giang Hộ, húy là Nhật Huy (日輝), Giác Thiện (覺善); tự Nghiêu Sơn (堯山), hiệu là Ưu Đà Na Viện (優陀那院), xuất thân vùng Kim Trạch (金澤, Kanazawa, thuộc Ishikawa-ken [石川縣]). Ông xuất gia năm lên 9 tuổi, rồi đã từng đến học các trường Đàn Lâm. Ông rất ghét học phong vốn coi trọng giáo lý Thiên Thai, sau được Nhật Lâm (日臨), Nhật Trí (日智) chỉ dẫn cho, ông có chí muốn xác lập Tông phong thích hợp với thời đại, nên mới thiết lập trường tư thục trong khuôn viên Lập Tượng Tự (立像寺) ở Kim Trạch. Chính ông đã hình thành nên hệ thống giáo học của Nhật Liên Tông thời Cận Đại vốn dựa trên cơ sở Tam Học Kiêm Tu, Quán Tâm Trọng Thị và Chủ Nghĩa Nhiếp Thọ. Về sau, ông tận lực chỉ đạo đàn hậu tấn, và nuôi dưỡng những nhân vật quan trongj sau này nắm vai trò lãnh đạo giáo đoàn Nhật Liên Tông như Nhật Tát (日薩), Nhật Giám (日鑑), Nhật Tu (日修), v.v. Trước tác của ông có Nhất Niệm Tam Thiên Luận (一念三千論) 6 quyển, Bổn Tích Quy Tông Luận (本迹歸宗論) 1 quyển, Diệu Kinh Tông Nghĩa Sao (妙經宗義抄) 17 quyển, Tổ Thư Cương Yếu Chánh Nghĩa (祖書綱要正義) 2 quyển, Sung Trị Viên Toàn Tập (充治園全集) 5 quyển, v.v.

nhật hành ngũ phong

(日行五風) Chỉ cho 5 thứ gió duy trì và di chuyển cung điện của Nhật thiên. Cứ theo phẩm Tối thắng trong kinh Khởi thế nhân bản quyển 10, cung điện của Nhật thiên chu vi 51 do tuần, 4 phương và trên dưới đều bằng nhau, tường vách lan can đều được làm bằng vàng bạc và lưu li; cung điện hình vuông, nhưng nhìn từ đàng xa thì giống như hình tròn. Bên trong có 5 thứ gió di chuyển cung điện nên gọi là Nhật hành ngũ phong. Đó là: 1. Trì: Cung điện mặt trời nhờ sức gió nắm giữ, nâng đỡ nên có thể di chuyển trong hư không mà không rơi xuống. 2. Trụ: Cung điện mặt trời nhờ sức gió nắm giữ mà đứng vững được trong hư không. 3. Tùy thuận chuyển: Cung điện mặt trời nhờ được sức gió thổi đưa, nên tùy thuận chiều gió mà di chuyển trong hư không. 4. Nhiếp trì (Ba la ha ca): Cung điện mặt trời nhờ sức nắm giữ và nâng đỡ của gió mà di chuyển được trong hư không. 5. Tương hành: Cung điện mặt trời nhờ sức gió giúp đỡ mà có thể di chuyển nhanh chóng trong hư không.

Nhật Hưng

(日興, Nikkō, 1246-1333): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Liêm Thương, vị Tổ đời thứ 2 của Đại Thạch Tự (大石寺), Tổ của Dòng Phái Phú Sĩ (富士門流); Tổ của Nhật Liên Chánh Tông (日蓮正宗), Nhật Liên Bổn Tông (日蓮本宗); một trong Lục Lão Tăng (六老僧); húy là Nhật Hưng (日興), thông xưng là Bạch Liên A Xà Lê (白蓮阿闍梨), hiệu là Bá Kì Phòng (伯耆房), Thường Tại Viện (常在院); xuất thân vùng Thu Trạch (鰍澤, Kajikazawa), Giáp Phỉ (甲斐, Kai, thuộc Yamanashi-ken [山梨縣]); con của Đại Tỉnh Quất Lục (大井橘六). Trước kia, ông từng tu học ở Tứ Thập Cửu Viện (四十九院) của Thiên Thai Tông ở vùng Tuấn Hà (駿河, Suruga); đến năm 1265 thì quy y theo Nhật Liên; và đã từng theo hầu hạ khi thầy bị lưu đày đến vùng Tá Độ (佐渡, Sado). Sau khi được tha tội, ông quy y khá nhiều tín đồ thuộc tầng lớp nông dân, võ sĩ cũng như tu sĩ của Thiên Thai Tông ở Tuấn Hà, Giáp Phỉ, Y Đậu (伊豆, Izu); và vào năm 1279, đệ tử cùng tín đồ của ông bị chính quyền Mạc Phủ đàn áp trong vụ Pháp Nạn Nhiệt Nguyên (熱原の法難, Atsuhara-no-Hōnan). Năm 1282, Nhật Liên tuyên bố Nhật Hưng là một trong 6 đệ tử chân truyền. Sau khi thầy qua đời, ông chuyên lo phụng thờ tôn tạo ngôi miếu của Nhật Liên ở vùng Thân Diên (身延, Minobu). Sau đó, ông lại đối lập với Ba Mộc Tỉnh Thật Trường (波木井實長) và Nhật Hướng (日向) ở vùng này; nên vào năm 1288, ông rút lui về địa phương Tuấn Hà, và sáng lập Đại Thạch Tự ở Phú Sĩ (富士, Fuji) vào năm 1290, rồi Bổn Môn Tự (本門寺) ở vùng Trọng Tu (重須, Omosu). Trước tác của ông có Bổn Tôn Phần Dữ Trương (本尊分與帳), An Quốc Luận Vấn Đáp (安國論問答) 1 quyển, Tam Thời Hoằng Kinh Thứ Đệ (三時弘經次第) 1 quyển, Thần Thiên Thượng Khám Văn (神天上勘文) 1 quyển, v.v.

Nhật Hướng

(日向, Nikō, 1253-1314): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương, một trong Lục Lão Tăng (六老僧); Tổ đời thứ 2 của Cửu Viện Tự (久遠寺, Kuon-ji), Tổ của Dòng Phái Thân Diên (身延門流); húy là Nhật Hướng (日向), tục danh là Đằng Tam Lang Thật Trường (藤三郎實長?); thông xưng là Tá Độ Công (佐渡公), Tá Độ A Xà Lê (佐渡阿闍梨), Dân Bộ A Xà Lê (民部阿闍梨); xuất thân vùng Tảo Nguyên (藻原, Mobara), Thượng Tổng (上總, Kazusa); con của Tiểu Lâm Dân Bộ Thật Tín (小林民部實信?). Ông xuất gia với Nhật Liên, thường theo hầu thầy và chuyên tâm tu học. Sau khi Nhật Liên đến sống ẩn cư ở vùng Thân Diên (身延, Minobu), ông thường làm sứ giả đi khắp nơi hoạt động giáo hóa. Sau khi thầy qua đời, ông lấy Diệu Quang Tự (妙光寺) ở vùng Thượng Tổng làm cứ điểm để mở rộng phạm vi giáo hóa. Ông đã từng lên Thân Diên Sơn (身延山) quy y cho lãnh chúa Ba Mộc Tỉnh Thật Trường (波木井實長), rồi sau khi phế bỏ quy chế luân phiên canh giữ ngôi tháp của Nhật Liên, ông trở về làm trú trì đời thứ 2 của Cửu Viện Tự, và xây dưng cơ cở vững chắc cho chùa này. Dòng phái của ông được gọi là Dòng Phái Nhật Hướng. Trước tác của ông có Kim Cang Tập (金剛集) 10 quyển.

Nhật Hộ

(日護, Nichigo, 1580-1649): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng đầu thời đại Giang Hộ, húy là Nhật Hộ (日護), tự Thuận Tánh (順性), hiệu Trung Chánh Viện (中正院); xuất thân vùng Kyoto, con của Thị Thôn Quang Trùng (市村光重). Năm lên 15 tuổi, ông xuất gia, rồi theo học pháp với Nhật Trùng (日重) ở Bổn Mãn Tự (本滿寺) thuộc Kyoto và Nhật Viễn (日遠) ở Phạn Cao Đàn Lâm (飯高檀林) thuộc vùng Hạ Tổng (下總, Shimōsa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]). Sau khi tham học ở các vùng Nam Đô cũng như Tỷ Duệ Sơn, ông đi tuần hóa khắp các nơi và quy tụ rất nhiều tín đồ. Năm 1629, nhờ sự hỗ trợ của nhóm Kim Xuất Xuyên Kinh Quý (今出川經季), ông khai sáng Tam Bảo Tự (三寶寺) ở vùng Minh Lang (明瀧), Sơn Thành (山城, Yamashiro). Thông qua việc sao chép Kinh Pháp Hoa cũng như tạc tượng Phật, ông đã nổ lực giáo hóa các tầng lớp đạo tục, và cuối cùng hình thành ra Học Phái Minh Lang. Về sau, ông kế thừa trú trì thứ 2 Dưỡng Châu Tự (養珠寺) ở vùng Kỷ Y (紀伊, Kii). Trước tác của ông có Minh Lang Tam Bảo Tự Pháp Độ (明瀧三寶寺法度) 1 quyển. Ngoài ra, tác phẩm của ông có tượng gỗ ngồi Thích Ca Như Lai ở Tam Bảo Tự, và 1 pho tượng Thích Ca Như Lai khác ở Thoại Quang Tự (瑞光寺), v.v.

Nhật Hợp

(日合, Nichigo, ?-1293): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa và cuối thời đại Liêm Thương; húy là Nhật Hợp (日合), thường được gọi là Trúc Tiền A Xà Lê (筑前阿闍梨). Nhờ sự hỗ trợ của người trưởng nam của vị thí chủ Tằng Cốc Giáo Tín (曾谷敎信), ông làm Tổ khai sơn Diệu Hưng Tự (妙興寺) ở vùng Dã Lữ (野呂), Hạ Tổng (下總, Shimōsa). Ông lấy chùa này làm cứ điểm để mở rộng hoạt động truyền đạo, và khuyến dụ dân chúng vùng Dã Lữ cải hóa theo Nhật Liên Tông.

Nhật Hựu

(日祐, Nichiyū, 1298-1374): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương và đầu thời đại Nam Bắc Triều, húy là Nhật Hựu (日祐); hiệu Tịnh Hành Viện (淨行院), thông xưng là Đại Phụ Công (大輔公); xuất thân vùng Hạ Tổng (下總, Shimōsa), thuộc dòng họ Thiên Diệp (千葉, Chiba). Ông là con nuôi của Thiên Diệp Dận Trinh (千葉胤貞), đến nhập môn xuất gia với Nhật Cao (日高) của Pháp Hoa Kinh Tự (法華經寺) ở Trung Sơn (中山), Hạ Tổng. Vào năm 1314, sau khi Nhật Cao qua đời, ông làm trú trì đời thứ 3 của chùa này. Ông xây dựng cơ sở làm cho giáo đoàn phát triển nhờ sự hỗ trợ về mặt kinh tế của dòng họ Thiên Diệp, và mở rộng những hoạt động tôn giáo như chú thích cũng như sao chép Kinh Pháp Hoa, kiến lập các ngôi đường vũ, tham bái Thân Diên Sơn, v.v. Thêm vào đó, ông còn có công lao rất lớn trong việc thâu tập và bảo tồn những di văn của Nhật Liên. Trước tác của ông có Bổn Tôn Thánh Giáo Lục (本尊聖敎錄), Nhất Kỳ Sở Tu Thiện Căn Lý Lục (一期所修善根記錄), Vấn Đáp Can Yếu Sao (問答肝要抄), An Quốc Luận Kiến Văn (安國論見聞), Tông Thể Quyết Nghi Sao (宗体決疑抄).

nhật khoá niệm phật

(日課念佛) Lấy việc xưng danh niệm Phật làm công khóa hàng ngày. Nhật khóa niệm Phật bắt nguồn từ câu Niệm danh hiệu Phật từ 1 ngày cho đến 7 ngày nói trong kinh A di đà và câu Biệt thời niệm Phật nói trong kinh Bát chu tam muội (Hành phẩm). Tông Thiên thai dùng tác pháp Phật lập tam muội và Trường thời niệm Phật nói trong kinh Bát chu làm 1 khóa để tu Thường hành tam muội. Các hành giả tông Tịnh độ vốn lấy Nhật khóa niệm Phật làm hạnh tu chính yếu của mình, như ngài Đạo xước mỗi ngày niệm 7 vạn danh hiệu Phật; ngài Thiện đạo, trong thời gian soạn thuật Quán kinh sớ, mỗi ngày tụng 3 biến kinh A di đà và niệm danh hiệu Phật 3 vạn biến.

Nhật Kinh

(日經, Nichikyō, 1551-1620): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại An Thổ Đào Sơn và Giang Hộ, vị Tổ đời thứ 27 của Diệu Mãn Tự (妙滿寺), húy là Nhật Kinh (日經); tự Thiện Hải (善海), hiệu là Thường Lạc Viện (常樂院), Thường Đàm Nghĩa Viện (常談義院); xuất thân vùng Thượng Tổng (上總, Kazusa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]). Ông từng tham học ở Thượng Tổng, có tài hùng biện và đi truyền đạo khắp nơi trong nước. Năm 1600, ông làm trú trì đời thứ 27 của Diệu Mãn Tự. Đến năm 1608, ông có luận tranh Tông nghĩa với Quách Sơn (廓山, Kakuzan) của Tịnh Độ Tông ở Thành Giang Hộ (江戸城, Edo-jō); nhưng do vì sự đàn áp có kế hoạch của Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu), nên ông bại luận. Ông bị bắt buộc phải gởi thư đến các ngôi chùa trung tâm của Nhật Liên Tông để chứng minh về việc ông phản đối cho rằng niệm Phật là đọa Địa Ngục, và nhóm nhật kinh đã bị xử hình hay đuổi ra khỏi tông môn. Trước tác của ông có Tịnh Độ Nhật Liên Tông Luận Ký Lục (淨土日蓮宗論記錄) 1 quyển, Tịnh Độ Tông Nan Cật Nhị Thập Tam Điều (淨土宗難詰二十三條) 1 quyển, Bổn Tích Thắng Liệt Hiện Văn Sự (本迹勝劣現文事) 1 quyển, v.v.

nhật ký

Journal—Diary.

Nhật Liên

(日蓮, Nichiren, 1222-1282): vị tăng sống vào đầu thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), vị tổ khai sáng Nhật Liên Tông Nhật Bản, người vùng An Phòng Quốc Tiểu Thấu (安房國小湊). Ban đầu ông theo học về Thiên Thai Tông, rồi tu hành trên Cao Dã Sơn (高野山, Kōyasan), kế đến Nam Đô, sau đó tìm ra được cốt tủy của Phật pháp ở trong Kinh Pháp Hoa (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 法華經), và đến năm 1253 (năm thứ 5 niên hiệu Kiến Trường [建長]), ông khai sáng Nhật Liên Tông ở Thanh Trừng Sơn (清澄山). Từ đó ông bắt đầu thuyết pháp đả kích các tông phái khác, và do ông viết cuốn Lập Chánh An Quốc Luận (立正安國論), nên bị lưu đày đến vùng Y Đậu (伊豆, Izu). Sau khi được tha tội, ông vẫn không thay đổi những lời nói cũng như việc làm của mình, nên một lần nữa bị đày đến vùng Tá Độ (佐渡, Sado). Vào năm 1274 (năm thứ 11 niên hiệu Văn Vĩnh [文永]), ông được xá tội. Ông trở về lại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), khai sáng ra Thân Diên Sơn (身延山), sau đó qua đời ở vùng Trì Thượng (池上, Ikegami) thuộc tiểu quốc Võ Tàng (武藏, Musashi). Các trước tác của ông để lại có Quán Tâm Bổn Tôn Sao (觀心本尊抄), Khai Mục Sao (開目抄). ; 日蓮; C: rìlián J: nichiren; 1222-1282;|Cao tăng Nhật Bản, Khai tổ tông Nhật Liên. Theo quan niệm của Sư, biểu hiện cao quý tuyệt đỉnh của Phật pháp chính là Diệu pháp liên hoa kinh và chỉ bộ kinh này mới có thể cứu độ chúng sinh. Sư còn cho rằng, tinh hoa của Phật giáo đã trọn vẹn cô đọng lại trong tên của kinh này và vì vậy, phương pháp tu hành chính của tông này là niệm câu »Nam-mô diệu pháp liên hoa kinh« (j: namu myōhō reng-kyō). |Nhật Liên là người chỉ trích mọi trường phái khác của Phật giáo, muốn đưa Nhật Liên tông làm quốc giáo. Sư chỉ trích cả chính quyền đương thời và cuối cùng bị lên án tử hình nhưng được cứu thoát trong một trường hợp lạ lùng, sau đó bị lưu đày trên một hòn đảo. Nhật Liên trở về Liêm Thương (kama-kura) năm 1274 và tám năm sau thì mất.|Sư là con một ngư phủ nghèo tại miền Nam nước Nhật, xuất gia thụ giới năm 15 tuổi tại chùa Thanh Trừng ở quê. Trên đường tìm đạo, Sư đến Liêm Thương (kamakura) và sau đó lên núi Tỉ Duệ (hieizan), trung tâm của Thiên Thai tông Nhật Bản. Sư nhận thấy Thiên Thai tông với giáo pháp theo Diệu pháp liên hoa kinh rất gần với tư tưởng của mình. Năm 1253, Sư trở về chùa cũ vì thấy kinh Diệu pháp liên hoa không còn đóng vai trò quan trọng nữa trong Thiên Thai tông. Sư tự lập ra môn phái mới và cho rằng chỉ có Diệu pháp liên hoa mới cứu độ con người, là con đường duy nhất dẫn đến giải thoát. Quan điểm của Sư rất cực đoan, cho rằng chỉ cần tụng đọc tên bộ kinh này là đủ. Vì thế mà Sư bị trục xuất ra khỏi chùa. Sau đó Sư truyền bá giáo pháp của mình ngay ngoài đường ngoài chợ và công kích mãnh liệt các tông phái khác. Sư tuyên truyền rằng Tịnh độ tông (jōdō-shū) chỉ dẫn người ta xuống địa ngục, Pháp Nhiên (hōnen, người sáng lập Tịnh độ tông) là »kẻ thù của chư Phật«, chịu trách nhiệm về tình trạng lụn bại tại Nhật. Thiền tông (zen-shū) chỉ là tông phái của ma quỷ, Chân ngôn tông (shingon-shū) là sự khánh kiệt và Luật tông (ritsu-shū) là sự phản bội. Sư cho rằng, muốn cứu nước Nhật cần thống nhất các môn phái dưới giáo pháp của kinh Diệu pháp liên hoa. Cuối cùng Sư bị lưu đày trên đảo Tá Ðộ (sado). Nơi đây, Sư viết một số tác phẩm và tự xem mình là tái sinh của hai vị Bồ Tát có trách nhiệm cứu quốc và truyền bá kinh Diệu pháp liên hoa. Sư coi trọng đại nguyện phải truyền bá giáo pháp này trong thời mạt pháp và chịu đựng mọi gian khổ.|Tác phẩm chính của sư gồm Quán tâm bản tôn sao (觀心本尊抄, j: kanjin honzon shō), Tuyển thời sao (撰時抄, j: senji shō), và Thủ hộ quốc gia luận (守護國家論, j: shugo kokka ron).

nhật liên

Nichiren (Jap)—Còn gọi là Tân Liên Hoa Tông, một tông phái của Phật Giáo Nhật Bản do ngài Nhật Liên sáng lập. Các tín đồ phái Nhật Liên sùng mộ tụng “Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh” hòa nhịp với tiếng trống mạnh mẽ của họ—Also called New Lotus School, a branch of Japanese Buddhism founded by Nichiren (1222-1282). Nichiren believers devotedly recite “Namo Wonderful Dharma Lotus Sutra” to the vigorous accompaniment of their own drum-beating. 1) Sư Tổ của phái Nhật Liên vào khoảng năm 1222 sau Tây Lịch. Nhật Liên là con của một ngư phủ ở Kominato, Awa, miền nam duyên hải Nhật Bản. Năm 15 tuổi, sư xuất gia và được gởi đến Thanh Từng, một ngôi già lam gần nhà để làm tiểu. Thắc mắc sớm nhất của sư là: “Thế nào là sự thật mà Đức Phật đã giảng dạy?” Tuy nhiên, không được giải thích thỏa đáng ở đây, sư đến Kiếm Thương và sau đó đến học đạo tại núi Tỷ Duệ. Mười năm tu tập tại núi nầy đã gây cho sư một niềm xác tín rằng chỉ có sự phục hoạt của triết lý Thiên Thai mới là con đường ngắn nhất bước tới Đạo. Tuy nhiên, sau đó vì bất đồng quan điểm với với các sư Từ Giác và Trí Chứng về tín ngưỡng Di Đà, nên năm 1253 sư bỏ trở về chùa cũ ở Kiyozumi. Ở đây sư đề xướng học thuyết mới, Nhật Liên Tông, cho rằng chỉ có Pháp Hoa mới duy nhất cứu độ chúng sanh khỏi thời đại suy đồi thời bấy giờ. Nhật Liên tin rằng thực chất học thuyết của Phật đã được chứa đựng trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nên chỉ có luật chứa đựng trong kinh ấy mới có thể dẫn đến sự giải thoát. Điều chủ yếu của thông điệp nầy, theo Nhật Liên, đã được tóm gọn trong nhan đề của Kinh. Do đó ông bày ra cách niệm nhhan đề của kinh nầy. Pháp thức chủ yếu là đọc tụng “Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.” Đó là niệm Pháp (Dharma-smrti) chứ không phải niệm Phật (Buddha-smrti) như là trong tụng niệm của Di Đà Giáo. Pháp là lý tưởng được thể hiện bởi Đức Phật bản hữu. Tất cả chúng sanh đều được cứu độ do xưng tụng nơi Diệu Pháp Liên Hoa, và ông tuyên bố chỉ có Pháp Hoa là thông điệp duy nhất sau cùng chân thật của Đức Phật mà thôi—The Japanese founder of the Nichiren Sect. Nichiren was born in around 1222 A.D., the son of a fisherman of Kominato, Awa, the southeastern coast of Japan. He left home at fifteen and was sent to Kiyozumi, a hill near his home, to live as a novice in a monastery. His early problem, “What was the Truth taught by the Buddha?” was not solved there. He proceeded to Kamakura and later passed to Mount Hiei in search of the Truth. His study of ten years on the mountain (1243-1253) convinced him that a revival of T'ien-T'ai philosophy alone was the nearest approach to the Truth. However, later, he disagreed with the two masters Jikaku and Chisho on the mystic rituals, he returned to his old monastery in 1253 at Kiyozumi where he proclaimed his new doctrine that the Lotus alone could save the people of the depraved age. For Nichiren, the teaching of Buddha found its highest expression in the Lotus Sutra. It was his conviction that the teaching found there alone could lead mankind to liberation. In his view the essence of the sutra's message was to be found in its title. Thus the practice that he instituted consisted in the recitation of the title of the sutra. The essential formula being “Homage to the Text of the Lotus of the True Ideal” (Veneration to the Sutra of the Lotus of the Good Law). It is thought on Dharma (Dharma-smrti) and not Buddha-smrti. Dharma is the ideal realized by the original Buddha. All beings are saved through homage to the Lotus of Truth, and this alone, he declared, is the true final message of the Buddha —See Nhật Liên Tông. 2) Nhật Liên tự coi mình như người cứu tinh của dân tộc. Ông hy vọng đem lại hòa bình cho Nhật Bản theo gương của Kinh Pháp Hoa. Ông trách cứ các quân vương đã ủng hộ các trào lưu Phật giáo “tà thuyết. Theo ông, đó là nguyên nhân của những khó khăn mà làm cho đất nước lâm nguy thời bấy giờ. Về sau ông đả kích các tông phái hiện thời một cách mãnh liệt. Ông cho rằng Tịnh Độ tông là địa ngục, Thiền tông là yêu ma, Chân ngôn tông là diệt vong quốc gia, luật tông là phản bội, và Di Đà giáo là kẻ thù của chư Phật, phải chịu trách nhiệm về những tệ hại và suy đồi trong và ngoài nước—Nichiren saw himself as the savior of his nation. He wanted to bring about peace in Japan by causing its people to live in accordance with the teachings of the Lotus Sutra. He accused the rulers of supporting “heretical” schools of Buddhism and regarded this as the reason for the difficulties in which the country found itself at the time. Later, he attacked the religious schools violently. He formulated his views as follows: the Pure Land is hell, Meditative Intuitionism is devil, Shingon or mysticism is national ruin and Vinaya sect is traitorous, and Amitabha-pietism is enemy of all Buddha, chiefly responsible for the evils and calamities within and without the nation. 3) Những cuộc công kích các tông phái của Nhật Liên ngày càng trở nên vô cùng mãnh liệt hơn trước. Ông bị xua đuổi khỏi Izu năm 1261. Ông trở về quê Kamakura. Nhân dịp sứ thần Mông Cổ sang Nhật đòi cống vật, sư kháng cáo triều đình phải đàn áp các tông phái khác và nhìn nhận Pháp Hoa là đường lối duy nhất đưa quốc gia ra khỏi họa hoạn. Năm 1271, ông bị bắt và bị kết án tử hình. Nhưng với một phép lạ, ông thoát khỏi cuộc xử tử và bị đày ra hoang đảo Tá Độ vào cuối năm đó. Sau ba năm ông trở về Kamakura. Do quan điểm khác thường của ông mà suốt cuộc đời ông liên tục bị nhà cầm quyền ngược đãi, đày đọa. Tuy nhiên, tinh thần ái quốc nồng nhiệt qua các bài thuyết pháp của ông đã tạo được nhiều thiện cảm và sùng mộ trong lòng người dân Nhật Bản. Tông phái do ông lập ra mang tên Nhật Liên, dựa theo tên ông, và ông được tín đồ Nhật Liên xem như một Đại Bồ Tát đã cứu độ quốc gia. Năm 1274, sư lui về ở ẩn trên núi Thân Diên, phía tây Phú Sĩ và sống an bình ở đây. Ông thị tịch tại Ikegami, gần Tokyo, năm 1282—Nichiren's attacks against other schools became more and more violent. In 1261, he was mobbed, attacked and banished to Izu. He returned to Kamakura. Upon the arrival of the Mongolian envoys demanding tribute, he again remonstrated the regime to suppress and adopt the Lotus doctrine as the only way out of national calamities. In 1271, he was arrested, tried and sentenced to death. In a miraculous way, he escaped the execution and was banished to the remote island of Sado at the end of the same year. After three years, he was allowed to return to Kamakura. Because of his unusual views, his life was a succession of persecutions by the government. Nevertheless, the burning patriotism he preached in his sermons as well as his simple doctrine gained for him much sympathy and devotion among Japanese people. The sect founded by him was called the Nichiren sect after him. He was looked upon by the followers of the Nichiren sect as a Mahabodhisattva who saved the nation. In 1274, he retired to Minobu, west of Mount Fuji, and lived peacefully. He died at Ikegami, near Tokyo, in 1282. ; (日蓮) Cao tăng Nhật bản, tổ khai sáng tông Nhật liên, tự Liên trưởng, người Viễn giang (huyện Tĩnh cương). Năm 12 tuổi, sư xuất gia ở chùa Thanh trừng. Sư vốn tu theo các pháp môn Thai mật và niệm Phật, nhưng sau sinh tâm nghi ngờ, bèn cầu nguyện trước bồ tát Hư không tạng, muốn trở thành bậc trí tuệ đệ nhất ở Nhật bản. Sau, sư lên núi Tỉ duệ, tu học trong 11 năm, rồi lại đến núi Cao dã, chùa Tứ thiên vương... ngộ được kinh Pháp hoa là tinh tủy của Thánh giáo mà đức Phật đã nói trong suốt đời Ngài. Sau khi trở về quê, sư đề xướng niệm 5 chữ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, đổi tên là Nhật liên và sáng lập tông Nhật liên. Sau, sư đến Liêm thương bài bác học thuyết của các tông Tịnh độ, Thiền, Luật... đồng thời, soạn luận Lập chính an quốc, dâng trình lên Bắc điều Thời lại, nhưng không được tin dùng. Niên hiệu Hoằng trường năm đầu (1261), sư bị đày đến Y đậu y đông. Đến năm Hoằng trường thứ 3 (1263) sư được đặc xá, lại trở về Liêm thương và tiếp tục phỉ báng các tông phái khác mạnh mẽ hơn nữa, đến nỗi gây ra pháp nạn Tiểu tùng nguyên. Tháng 9 năm Văn vĩnh thứ 8 (1271), sư bị án tử hình ở Lũng khẩu, nhưng vì bệnh nên thoát chết và bị đày đi Tá độ. Ba năm sau được ân xá, sư trở về Liêm thương, kết thảo am trên núi Thân diên, phát huy tông phong. Năm Hoằng an thứ 5 (1282) sư tịch ở Trì thượng tại Vũ tạng, thọ 61 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Quán tâm bản tôn sao, Khai mục sao, luận Lập chính an quốc, Báo ân sao, Soạn thời sao. [X. Tam quốc cao tăng lược truyện Q.hạ; Bản hóa biệt đầu Phật tổ thống kỉ Q.3, 8].

Nhật Liên Tông

(日蓮宗, Nichirenshū): xem Pháp Hoa Tông bên dưới.

Nhật Liên tông

日蓮宗; C: rìliánzōng; J: nichiren-shū;|Một tông phái Phật giáo Nhật Bản, lấy tên của vị tổ sáng lập là Nhật Liên. Giáo pháp của tông phái này đặt nền tảng trên bộ Diệu pháp liên hoa kinh và danh hiệu phải niệm hàng ngày chính là tên của bộ kinh đó. Tông này có tính chất quốc gia cực đoan, muốn xây dựng một nền Phật giáo Nhật Bản rồi bành trướng ra ngoài. Qua thế kỉ 20, một khuynh hướng của Nhật Liên tông mới (Nhật liên chân tông, j: nichiren-shō-shū) ra đời với Nikko, xem Nhật Liên là »đức Phật thời mạt pháp« Nhật Liên tông có nhiều ảnh hưởng đến các tôn giáo quần chúng tại Nhật.|Giáo lí chủ yếu của tông nầy là Ngũ thời phán giáo và Tam đại bí pháp (三大祕法). Thứ nhất là Man-đa-la do Nhật Liên sáng tạo, trình bày giáo pháp Diệu pháp liên hoa. Ở giữa Man-đa-la này là hình một ngôi chùa, ngôi chùa tượng trưng cho Như Lai (s: tathāgata). Ngôi chùa này cũng diễn tả năm âm của tên kinh Diệu pháp liên hoa. Chung quanh tên này người ta thấy tên các vị Bồ Tát hoặc thiên nhân bảo hộ kinh. Di bảo thứ hai chỉ là đơn thuần tên kinh Diệu pháp liên hoa. Tụng đọc danh hiệu kinh này, hành giả sẽ thanh lọc Thân, khẩu, ý và thay thế luôn cho việc quy y Tam bảo. Di bảo thứ ba là một Khai đàn. Khai đàn mới đầu chỉ là một bục dùng để mở lễ truyền pháp quán đỉnh trong thiền viện nhưng được Nhật Liên đưa lên thành vật tượng trưng. Bản thân nước Nhật cũng là một Khai đàn. Quan điểm này cuối cùng tượng trưng cho đầu óc quốc gia cực đoan của giáo phái.

nhật liên tông

Nichiren (jap)—New Lotus or Lotus-pietism (Mahayanistic)—Tông phái nầy mang tên của người sáng lập—This sect is called after its founder, Nichiren (see Nhật Liên). (A) Cương yếu về Nhật Liên tông—The preliminary of the Nichiren School: 1) Nhật Liên Tông còn có tên là Pháp Hoa Tông, được Ngài Nhật Liên, một Tăng sĩ Nhật bản sáng lập năm 1252 sau Tây Lịch, mà giáo thuyết dựa vào Tam Đại Bí Pháp. Môn đồ của phái Nhật Liên Tông thường niệm “Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.” —Nichiren sect, which is also known as the Lotus Sect (Pháp Hoa Tông), founded by Nichiren, a Japanese founder in 1252 AD. Nichiren believers devotedly recite “Namo Wonderful Law of the Lotus Sutra” (I trust in the sutra of the Lotus of the Wonderful Law). 2) Muốn tìm hiểu Nhật Liên tông, trước hết chúng ta tìm hiểu Kinh Pháp Hoa. Kinh nầy gồm 21 chương, nhưng sau đó do thêm thắt và phân chia mà thành ra 28 chương. Bản Hán dịch sớm nhất do ngài Pháp Hộ dịch năm 286 sau Tây Lịch; bản thứ hai do Cưu Ma La Thập dịch vào khoảng năm 406; và bản thứ ba đầy đủ nhất do Xà Na Quật Đa và Đạt Ma Cấp Đa dịch năm 601. Trong mấy bản nầy thì bản dịch của Cưu Ma La Thập là có văn chương hay nhất. Bản kinh 28 chương nầy được Trí Khải và Nhật Liên dùng: To know Nichiren School we must first know the Lotus text on which all his ideas and arguments are founded. Originally, the Lotus sutra consisted of twenty-one sections and was later enlarged into twenty-eight sections by additional revision. The earliest translation was by Dharmaraksa in 286 A.D., and the second by Kumarajiva in 406 A.D., and the third and complete translation by Jnanagupta and Dharmagupta in 601 A.D.. Among them, the second was the best in Chinese composition. The text of twenty-eight sections was used by Chih-I and Nichiren. (B) Giáo thuyết chính—Main doctrines of the Nichiren School: Sau nhiều năm nghiên cứu, Nhật Liên tuyên bố rằng bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa chính là sự phát triển chân lý cuối cùng. Ông đưa ra lời tán tụng kinh Diệu Pháp Liên Hoa, có lẽ là để hóa giải ảnh hưởng của việc niệm Phật suông của phái Tịnh Độ. Theo ông thì Đức Thích Ca Mâu Ni là Đức Phật vĩnh hằng và tuyệt đối, đọc kinh Diệu Pháp Liên Hoa hay chỉ cần đọc tên bộ kinh là cách tốt nhất để đạt đến giác ngộ. Giáo thuyết chính của Nhật Liên tông gồm tam mật—After many years of study, Nichiren declared the Lotus of the Good Law (Saddharma-pundarika) to be the final revelation of the truth. He introduced the formula 'homage to the sutra of the Lotus of the Good Law, perhaps to counteract the influence of the Pure Land sect (Jodo). According to him, the Sakyamuni Buddha is the eternal, absolute Buddha, and the recitation of the Saddharma-pundikara-sutra or even its title is the best way of attaining enlightenment. Its chief tenets are the three great mysteries, representing the Tripitaka: 1) Bổn Tôn: Hình tượng thờ phượng chính là mười phương vũ trụ Mạn đà la hay hóa thân của Phật—Chief object of worship being the great mandala of the worlds of the ten directions, or universe, such as the body or nirmanakaya of Buddha. 2) Đề Mục (Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh): Kinh Pháp Hoa, bắt đầu bằng chữ Nam-Mô hay sự tôn kính Bổn Kinh Pháp Hoa, vì đây chính là thân tinh thần của Phật—The title of the Lotus Sutra (Namo Wonderful Dharma Lotus Sutra or Homage to the Lotus of Truth), preceded by Namo, or Adoration to the scripture of the Lotus of the wonderful law, for it is Buddha's spiritual body. 3) Giới Đàn: Giới luật cũng dựa vào Kinh Pháp Hoa; một khi tín đồ tin tưởng, liền được vãng sanh về cõi Tịch Quang Tịnh Độ—The altar of the law, which is also the title of the Lotus Sutra; the believer, wherever he is, dwells in the Pure Land of calm light, the sambhogakaya. ** For more information, please see Nhật Liên. ; (日蓮宗) Cũng gọi Pháp hoa tông, Phật lập tông, Nhật liên pháp hoa tông. Tông Nhật liên do ngài Nhật liên sáng lập, 1 trong 13 tông của Nhật bản. Tông này lấy kinh Pháp hoa làm tông chỉ, hoằng dương tam đại bí pháp, cầu diệu ngộ Tức thân thành Phật. Giáo phán của tông này có Ngũ cương phán giáo là: Giáo, Cơ, Thời, Quốc và Tự. Còn tông chỉ của tông này là Tam đại bí pháp: 1. Bản tôn: Lấy 5 chữ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh do chính tay ngài Nhật liên viết và Mạn đồ la vẽ các vị tôn của Thiên bộ làm Bản tôn. 2. Đề mục: Tức 5 chữ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. 3. Giới đàn: Lấy đề mục làm giới thể, miệng xướng đề mục chính là giới Viên đốn. Tổng bản sơn của tông này là chùa Cửu viễn ở núi Thân diên, pháp hệ tông này truyền bá rất rộng. Ngài Nhật liên có rất nhiều đệ tử, trong đó có 6 vị ưu tú là: Nhật chiêu, Nhật lãng, Nhật hưng, Nhật hướng, Nhật đính và Nhật trì, gọi là Lục lão tăng. Nhật chiêu đứng đầu Lục lão, mở ra dòng Tân môn; đệ tử Nhật chiêu là Nhật hựu khai sáng dòng Ngọc trạch môn; đệ tử của Nhật lãng gồm 9 vị, đứng đầu là Nhật tượng, Nhật luân... người đương thời gọi là Lãng môn cửu phụng (9 con phượng dưới cửa Lãng). Sư Nhật tượng bắt đầu truyền giáo ở Kyoto vào năm Vĩnh nhân thứ 2 (1294), sáng lập chùa Diệu hiển, là 1 trong 21 bản sơn của tông Nhật liên ở vùng Lạc trung, pháp hệ của sư gọi là dòng Vương thành; pháp hệ của sư Nhật hưng gọi là dòng Phú sĩ môn. Đây là lần chia dòng phái đầu tiên của tông Nhật liên. Ngoài ra, còn có Nhật liên chính tông, Bản môn tông, Pháp hoa tông, Pháp hoa tông chính môn lưu, Bản môn pháp hoa tông, Pháp hoa tông bản môn lưu, Bản diệu pháp lưu tông, Pháp hoa tông châu môn lưu, Hiển bản pháp hoa tông,...

nhật liên tông toàn thư

(日蓮宗全書) Tác phẩm, 26 tập (bản Hòa trang 29 tập), do hội Xuất bản Nhật liên tông toàn thư biên soạn, do nhà sách Tu nguyên ốc ở Đông kinh ấn hành từ năm 1910 đến năm 1916. Đây là bộ tùng thư thu chép các tác phẩm nổi tiếng của tông Nhật liên, Nhật bản. Nội dung chia làm 4 bộ: Bản điển bộ, Chú sớ bộ, Sử truyện bộ và Luận thuật bộ.

Nhật Long

(日隆, Nichiryū, 1385-1464): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng thời đại Thất Đinh, vị Tổ khai sơn của Bổn Hưng Tự (本興寺) và Bổn Năng Tự (本能寺), vị Tổ đời thứ 7 của Diệu Liên Tự (妙蓮寺), vị Tổ của Phái Bát Phẩm (八品派, tức Dòng Bổn Môn Pháp Hoa Tông [法華宗本門流]); húy là Nhật Long (日隆), Nhật Lập (日立); tự là Thâm Viên (深圓), hiệu Tinh Tấn Viện (精進院), Quế Lâm Phòng (桂林房); xuất thân vùng Việt Trung (越中, Ecchū, thuộc Toyama-ken [富山縣]). Ông xuất gia ở Viễn Thành Tự (遠成寺) vùng Việt Trung, rồi theo hầu Nhật Tễ (日霽) ở Diệu Bổn Tự (妙本寺, tức Diệu Hiển Tự [妙顯寺]) ở kinh đô Kyoto. Sau khi Nhật Tễ qua đời, ông đối lập với Nguyệt Minh (月明), người kế thừa ngôi chùa này; rồi ông cùng với bác là Nhật Tồn (日存) rời khỏi chùa, chuyển đến sống ở Tượng Sư Đường (像師堂, tức Diệu Liên Tự). Ông đã từng kiến lập các chùa như Bổn Hưng Tự ở vùng Nhiếp Tân (攝津), Bổn Ứng Tự (本應寺, tức Bổn Năng Tự) ở kinh đô, v.v., và mở riêng một dòng phái khác. Trước tác của ông có rất nhiều như Tứ Thiếp Sao (四帖抄) 4 quyển, Bổn Môn Hoằng Kinh Sao (本門弘經抄) 113 quyển, Ngự Thư Văn Đoạn Tập (御書文段集) 5 quyển, Thập Tam Vấn Đáp Sao (十三問答抄) 2 quyển, Khai Tích Hiển Bổn Tông Yếu Tập (開迹顯本宗要集) 66 quyển, Tam Đại Bộ Lược Đại Ý (三大部略大意) 17 quyển, v.v.

Nhật Luân

(日輪, Nichirin, 1263-1333): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương và đầu thời đại Nam Bắc Triều, húy là Nhật Luân (日輪), tên lúc nhỏ là Quy Vương Ma Lữ (龜王麻呂), thông xưng là Đại Kinh A Xà Lê (大經阿闍梨), Trị Bộ Công (治部公); xuất thân vùng Bình Hạ (平賀, thuộc Chiba-ken [千葉縣]), Hạ Tổng (下總, Shimōsa); con của Bình Hạ Trung Tình (平賀忠晴). Năm 1284, ông được Nhật Tượng (日像)—đệ tử của Nhật Lãng (日朗)—cảm hóa và xuất gia với Nhật Lãng. Sau đó, ông được Nhật Truyền hướng dẫn tu tập, và đến năm 1318 thì được nhường chức Quán Thủ của hai chùa Diệu Bổn Tự (妙本寺) ở Tỷ Xí Cốc (比企谷, Hikigayatsu) và Bổn Môn Tự (本門寺) ở Trì Thượng (池上, Ikegami). Sau khi Nhật Lãng qua đời, ông trở thành người kế thừa, tận lực giáo hóa đồ chúng và duy trì giáo đoàn. Ông là một trong 9 vị lão tăng thuộc môn hạ của Nhật Lãng.

nhật luân

Ngoại viện mặt trời—The sun disc, which is the exterior of the sun palace of the sun ruler. ; (日輪) I. Nhật Luân. Chỉ cho mặt trời, là cung điện của Nhật thiên tử nhìn từ bên ngoài. Quán tưởng mặt trời gọi là Nhật luân quán, là pháp quán đầu tiên trong 16 pháp quán ghi trong kinh Quán vô lượng thọ. Mật giáo thì dùng Nhật luân để biểu thị lí của Thai tạng giới và dùng Nguyệt luân (mặt trăng) để biểu thị trí của Kim cương giới, vì thế, hành giả Chân ngôn quán tưởng nhật nguyệt luân ở trái tim trong lồng ngực. [X. luận Bồ đề tâm; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.3; luận Câu xá 11] II. Nhật Luân. Sự chứng minh của kinh luận. Giáo pháp do đức Phật nói ra được ghi trong các kinh luận, có công năng diệt trừ vô minh phiền não của chúng sinh, cũng như mặt trời phá tan bóng tối, vì thế, kinh luận được ví như nhật luân. Luận Biện Hiển Mật nhị giáo quyển thượng (Đại 77, 375 trung) nói: Ta sẽ vì ngươi tung mặt trời (nhật luân) xua tan tăm tối, vung kim cương phá dẹp mê mờ.

nhật luân tam muội

Nhật Tuyền Tam Muội—Suryavarta-samadhi (skt)—Một trong mười sáu phép tam muội được kể trong Kinh Pháp Hoa—One of the sixteen samadhi mentioned in the Lotus Sutra.

Nhật Lãng

(日朗, Nichirō, 1245-1320): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương, một trong Lục Lão Tăng (六老僧); Tổ của Dòng Phái Nhật Lãng (日朗門流); húy là Nhật Lãng (日朗), tên lúc nhỏ là Cát Tường Ma Lữ (吉祥麻呂); thông xưng là Đại Quốc A Xà Lê (大國阿闍梨), tự là Đại Quốc (大國); hiệu Chánh Pháp Viện (正法院), Trúc Hậu Phòng (筑後房); xuất thân vùng Năng Thủ (能手), Hạ Tổng (下總, Shimōsa); con của Ấn Đông Thứ Lang Tả Vệ Môn Úy Hữu Quốc (印東次郎左衛門尉有國). Ông theo học giáo lý với người chú là Nhật Chiêu (日昭), rồi sau đó xuất gia theo Nhật Liên. Năm 1271, khi chính quyền Mạc Phủ cũng như các tông phái khác đàn áp Nhật Liên Tông, ông bị bắt giam tại Liêm Thương, rồi sau đó ông ở lại đây để lãnh đạo giáo đoàn và truyền đạo. Năm 1282, khi Nhật Liên sắp lâm chung, ông được chọn làm một trong 6 đệ tử chân truyền. Rồi sau khi thầy qua đời, ông lấy hai chùa Bổn Môn Tự (本門寺) ở vùng Trì Thượng (池上, Ikegami) và Diệu Bổn Tự (妙本寺) ở Liêm Thương làm cứ điểm để phát triển giáo đoàn. Ông đào tạo ra nhóm đệ tử Nhật Tượng (日像), Nhật Luân (日輪), Nhật Điển (日典), và tạo thành một phái riêng gọi là Dòng Phái Nhật Lãng. Trước tác của ông có Bổn Tích Kiến Văn Sao (本迹見聞抄) 1 quyển, Bổn Tích Vi Mục (本迹違目) 1 quyển, Như Thiên Cam Lồ Sao (如天甘露抄) 1 quyển, Bổn Tôn Minh Kính Sao (本尊明鏡抄) 1 quyển, v.v.

Nhật Môn

(日門, Nichimon, ?-1579): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng thời đại Chiến Quốc, húy là Nhật Môn (日門); hiệu Phổ Truyền Viện (普傳院); xuất thân vùng Phì Tiền (肥前, Hizen, thuộc Saga-ken [佐賀縣]). Năm 1567, ông xuống miền Bắc để truyền bá Nhật Liên Tông và lấy Bổn Hành Tự (本行寺) ở vùng Thượng Tổng (上總, Kazusa) làm cứ điểm hành đạo. Sau đó, ông lên kinh đô, sáng lập ra Bổn Diệu Tự (本妙寺) ở vùng Bát Phan (八幡), Cận Giang (近江, Ōmi), và mở rộng truyền đạo hàng phục các phái khác dưới Thành An Thổ (安土城, Azuchi-jō). Đến năm 1579, thể theo mệnh lệnh của Tướng Quân Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga), ông làm Chấp Sự trong cuộc Luận Tranh Tông Nghĩa An Thổ, và ông bị giết chết trong kế hoạch đàn áp Nhật Liên Tông.

nhật một

(日沒) Mặt trời lặn. Chỉ cho khoảng thời gian từ giờ Mùi đến giờ Dậu, tức là từ 14 giờ đến 18 giờ chiều, 1 trong 6 thời. (xt. Tam Thời).

Nhật Mục

(日目, Nichimoku, 1260-1333): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Liêm Thương, vị Tổ đời thứ 3 của Đại Thạch Tự (大石寺), húy là Nhật Mục (日目), thông xưng là Tân Điền Hương A Xà Lê (新田郷阿闍梨), Hương Công (郷公); hiệu là Liên Tạng Phòng (蓮藏房); xuất thân vùng Y Đậu (伊豆, Izu); con trai thứ 5 của Tân Điền Trùng Cương (新田重綱). Lúc lên 15 tuổi, ông đến làm đệ tử của Nhật Hưng (日興, Nikkō) và theo hầu hạ Nhật Liên ở Thân Diên Sơn (身延山). Sau khi Nhật Liên qua đời, ông đến bố giáo ở vùng Lục Áo (陸奥, Michinoku) và sáng lập ra các chùa như Bổn Nguyện Tự (本願寺), Thượng Hành Tự (上行寺), v.v. Sau ông đi theo Nhật Hưng chuyển đến vùng Phú Sĩ (富士, Fuji), Tuấn Hà (駿河, Suruga), kế thừa Đại Thạch Tự và hoạt động tích cực trong việc truyền bá giáo lý Tông môn.

nhật ngung trung

Giờ Tỵ, 10 giờ sáng. Tông Thiên Thai cho rằng giờ nầy là giờ của trí huệ Bát Nhã—10 AM styled by the T'ien-T'ai the hour of wisdom.

Nhật Nguyên

(日源, Nichigen, ?-1609): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng thời đại An Thổ Đào Sơn, húy là Nhật Nguyên (日源); xuất thân vùng Việt Tiền (越前, Echizen, thuộc Fukui-ken [福井縣]). Sau khi xuất gia, ông đi vân du khắp các tiểu quốc; rồi trong khoảng thời gian niên hiệu Văn Lộc (文祿, 1592-1596), ông dừng chân trú tại Phước Vương Tự (福王寺) ở vùng Câu Khẩu (溝口), thuộc Trúc Hậu (筑後, Chikugo). Chính ông đã chỉ bầy cho người dân trong vùng cách làm giấy, lấy tên là Giấy Câu Khẩu và đem đi bán khắp nơi trong nước.

nhật nguyệt

Sun and moon.

nhật nguyệt luân

(日月輪) Trong Mật giáo, Nhật luân biểu thị lí của Thai tạng giới, Nguyệt luân biểu thị trí của Kim cương giới; vì thế chư Phật dùng trí phương tiện thiện xảo khiến hành giả quán tưởng Nhật nguyệt luân(mặt trời, mặt trăng) ở trong tâm mình, làm cho tâm trở nên trong sáng.[X. luận Bồ đề tâm; Bồ đề tâm nghĩa Q.1, phần cuối].

nhật nguyệt tịnh minh đức

Candra-vimala-surya-prabhasa-sri—Vị Phật mà pháp giới cũng giống như An Dưỡng Quốc của Phật A Di Đà—A Buddha whose realm resembles Sukhavati of Amitabha Buddha. ** For more information, please see Sukhavati.

Nhật Nguyệt Đăng Minh Phật

日月燈明佛; C: rìyuèdēngmíng fó; J: nichigatsutōmyō butsu;|Đức Phật có hào quang sáng chói của mặt trời, mặt trăng và đèn (s: candra-sūrya-pradīpa-buddha). Đức Phật được đề cập trong kinh Pháp Hoa, vị Phật thường giảng thuyết cùng một bài pháp vô lượng kiếp trong quá khứ.

nhật nguyệt đăng minh phật

Candra-Surya-Pradipa—Kandrarkadipa (skt)—Theo Phẩm Tự của Kinh Pháp Hoa, đời quá khứ có hai vạn vị Phật có cùng tên là Nhật Nguyệt Đăng Minh Phật, đã kế tiếp nhau xuất hiện nơi đời mà thuyết Kinh Pháp Hoa—According to the Lotus Sutra, the is the title of 20,000 Buddhas in the past kalpas, who succeeded each other preaching the Lotus Sutra. ; (日月燈明佛) Nhật nguyệt đăng minh, Phạm: Candrasùrya-pradìpa. Cũng gọi Đăng minh Phật. Danh hiệu của đức Phật nói kinh Pháp hoa ở thời quá khứ. Ánh sáng của Ngài sáng như mặt trời, mặt trăng và như các ngọn đèn ở thế gian, nên Ngài có tên là Nhật nguyệt đăng minh. Cứ theo phẩm Tựa trong kinh Pháp hoa quyển 1, vào thời quá khứ có 2 vạn đức Phật hiệu là Nhật nguyệt đăng minh nối tiếp nhau ra đời, đều tuyên thuyết kinh Pháp hoa. Kinh Ngũ thiên ngũ bách Phật danh thần chú trừ chướng diệt tội, cũng có nêu danh hiệu của đức Phật Nhật nguyệt đăng minh và nói rằng những người nào trì niệm danh hiệu của Ngài thì sẽ không bị rơi vào các đường ác. Còn kinh Phật bản hạnh tập quyển 1 thì nói, sáu vạn đức Phật đều cùng hiệu Đăng minh Như lai. Ngoài ra, kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 5 thì cho biết, trong đời quá khứ, bồ tát Di lặc đã từng theo đức Phật Nhật nguyệt đăng minh xuất gia học đạo. [X. kinh Phật danh Q.1; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1, phần đầu; Pháp hoa kinh văn cú Q.2, phần cuối; Tứ minh tôn giả giáo hành lục Q.4].

nhật ngụ trung

(日禺中) Ngu trung là 10 giờ sáng, tức giờ Tị. Tông Thiên thai phối hợp giờ này với thời thứ 4 trong 5 thời phán giáo, tức là thời kì 22 năm đức Phật nói các bộ kinh Bát nhã.

Nhật Nhân

(日仁, Nichinin, ?-1416): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại Nam Bắc Triều và Thất Đinh, vị Tổ đời thứ 3 của Diệu Mãn Tự (妙滿寺); húy là Nhật Nhân (日仁); thông xưng là Tể Tướng A Xà Lê (宰相阿闍梨); hiệu Thiện Như Phòng (善如房), Bổn Giác Phòng (本覺房). Ông được Nhật Thập (日什) giao lại cho Diệu Pháp Tự (妙法寺) ở vùng Lục Áo (陸奥, Michinoku, thuộc Fukushima-ken [福島縣]); rồi sau đó thì được bổ nhiệm làm trú trì đời thứ 3 của Diệu Mãn Tự ở kinh đô Kyoto. Ông tiếp tục kế thừa phong trào dâng lời can gián của Nhật Thập; và năm 1398 đã cùng với Nhật Thật (日實) tố cáo Túc Lợi Nghĩa Mãn (足利義滿). Nhân đó, Nghĩa Mãn nổi giận, bắt ông đem khảo tra, nhưng ông vẫn không hề khuất phục. Ông là một trong 6 đệ tử chân truyền của Nhật Thập.

nhật nhật thị hảo nhật

(日日是好日) Cũng gọi Vân môn nhật nhật thị hảo nhật.Tên công án trong Thiền tông. Ngày nào cũng là ngày tốt. Tắc 6 trong Bích nham lục (Đại 48, 145 hạ) chép: Ngài Vân môn bảo 1 vị tăng: 15 ngày trở về trước không hỏi ông, 15 ngày về sau đây ông hãy nói 1 câu xem! Rồi ngài tự nói thay: Ngày nào cũng là ngày tốt.

Nhật Niệm

(日念, Nichinen, 1634-1707): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng đầu thời đại Giang Hộ, húy là Nhật Niệm (日念), tự Hiếu Tồn (孝存), hiệu Giác Thành Viện (覺成院); xuất thân vùng Điểu Vũ (鳥羽), Sơn Thành (山城, Yamashiro). Ông xuất gia lúc còn nhỏ ở Đảnh Diệu Tự (頂妙寺), Kyoto; rồi sau trở thành môn hạ của Nhật Thẩm (日審). Sau đó, ông tham gia khóa học tại Trung Thôn Đàn Lâm (中村檀林) ở vùng Hạ Tổng (下總, Shimōsa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]), và làm trú trì đời thứ 3 của Tịnh Tâm Tự (淨心寺) ở Giang Hộ.

Nhật Quang

(日珖, Nichikō, 1532-1598): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại An Thổ Đào Sơn và Giang Hộ, húy là Nhật Quang (日珖); hiệu Long Vân Viện (龍雲院), Phật Tâm Viện (佛心院); xuất thân vùng Hòa Tuyền (和泉, Izumi, thuộc Osaka). Ban đầu, ông theo hầu Nhật Triêm (日沾) ở Trường Nguyên Tự (長源寺) thuộc vùng Hòa Tuyền; đến năm 17 tuổi thì đến tham học ở Viên Thành Tự (園城寺) cũng như Tỷ Duệ Sơn. Sau đó, ông đi bố giáo khắp các nơi, rồi đến năm 1568 thì sáng lập ra Diệu Quốc Tự (妙國寺), và cùng với Nhật Thuyên (日詮), Nhật Đế (日諦) thuyết giảng về 3 bộ kinh của Thiên Thai. Ông đã nuôi dưỡng khá nhiều học đồ, xây dựng cơ sở trường học Đàn Lâm dưới thời Giang Hộ. Vào năm 1579, với tư cách là thành viên đại biểu cho Nhật Liên Tông, ông có tham gia vào cuộc tranh luận Tông nghĩa ở An Thổ (安土), và bị đàn áp theo kế hoạch của Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga). Về sau, ông đến sống ở Pháp Hoa Kinh Tự (法華經寺) thuộc vùng Trung Sơn (中山, Nakayama), Hạ Tổng (下總, Shimōsa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]) và chuyên tâm lãnh đạo giáo đoàn. Trước tác của ông có Văn Cú Vô Tư (文句無私) 25 quyển, Kỷ Hành Ký (己行記) 1 quyển, Thần Đạo Đồng Nhất Hàm Vị Sao (神道同一鹹味抄) 6 quyển, An Thổ Vấn Đáp Ký Lục (安土問答記錄) 1 quyển, v.v.

nhật quang

Sunlight.

Nhật Quang Biến Chiếu

(日光遍照): xem Nhật Diệu (日耀) bên trên.

nhật quang bồ tát

Surya-prabhasana—Một trong hai Bồ Tát hầu cạnh Phật Dược Sư. Vị Bồ Tát nầy ở ngôi vị thứ chín trong Viện Địa Tạng của Thai Tạng Giới—Sunlight Bodhisattva, one of the two Bodhisattvas who are assistants of the Master of Healing (Dược Sư). Sunlight Bodhisattva is the ninth in the Ti-Tsang Court of the Garbhadhatu group. ** For more information, please see Nguyệt Quang Bồ Tát. ; (日光菩薩) I. Nhật Quang Bồ Tát. Nhật quang, Phạm: Sùrya-prabha. Cũng gọi Nhật diệu bồ tát, Nhật quang biến chiếu bồ tát. Một trong 2 vị Bồ tát đứng hầu 2 bên đức Dược sư Như lai. Hình tượng vị Bồ tát này mình màu đỏ, tay trái cầm Nhật luân (mặt trời), tay phải cầm vòng hoa màu đỏ thắm. [X. kinh Dược sư Như lai bản nguyện; kinh Quán đính Q.12; kinh Dược sư lưu li quang Như lai bản nguyện công đức]. II. Nhật Quang Bồ Tát. Nhật quang, Phạm:Sùrya-prabhàsana. Cũng gọi Nhật quang minh bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở đầu cực tây (hàng dưới cùng) trong viện Trừ cái chướng trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo.Kinh Đại nhật không ghi chép về vị Bồ tát này, nhưng trong Huyền pháp tự nghi quĩ quyển 2 và Thanh long tự nghi quĩ quyển trung, Ngài được xếp trong viện Địa tạng.Hình tượng vị tôn này mình màu da người, co khuỷu tay phải, bàn tay dựng đứng và hướng ra ngoài, ngón tay giữa, ngón vô danh và ngón út co lại; tay trái nắm lại thành quyền, để ở chỗ rốn, tay cầm hoa sen, trên hoa có hạt châu. Mật hiệu là Uy đức kim cương, hình Tam muội da là vật báu màu đỏ. [X. Bí tạng kí; Thai tạng giới thất tập Q.trung].

Nhật Quán Tử Ôn

(日觀子溫, Nikkan Shion, ?-1293): vị tăng họa sĩ dưới thời nhà Tống và đầu nhà Nguyên, xuất thân Hoa Đình (華亭, Tùng Giang, Tỉnh Giang Tô), tự Trọng Ngôn (仲言), hiệu Nhật Quán (日觀), Tri Phi Tử (知非子, hay Tri Quy Tử [知歸子]), còn gọi là Ôn Nhật Quán (溫日觀). Ông xuất gia lúc còn nhỏ, trú tại Mã Não Tự (瑪瑙寺) vùng Cát Lãnh (吉嶺, phía Bắc Tây Hồ, Hàng Châu), đặc biệt có năng khiếu viết chữ thảo, chuyên vẽ tranh bồ đào (nho), cho nên người đời gọi ông là Ôn Bồ Đào (溫葡萄). Tính ông thích uống rượu, mặc áo cụt, bước chân cao chân thấp say trong chợ, người ta chẳng biết là phàm hay thánh. Tương truyền Dương Tổng Thống (楊總統) mời ông uống rượu ngon, nhưng ông chẳng đụng đến một giọt nào mà chửi họ Dương là “tên giặc đào đất.”

nhật thiên

(日天) Phạm: Àditya. Hán âm: A nê để da. Cũng gọi Nhật thiên tử, Nhật thần. Tên của đấng Tạo hóa trong thần thoại Ấn độ, cũng là tên khác của thần Mặt trời (Phạm: Sùrya, Hán âm: Tô lợi da). Sau khi được đưa vào Mật giáo, Nhật thiên trở thành 1 trong 12 vị trời, tức là Đại nhật Như lai trụ trong Phật nhật tam muội, vì lợi ích của chúng sinh mà tùy duyên xuất hiện nơi đời, khi phá các tối tăm thì tâm bồ đề tự nhiên hiển bày, giống như mặt trời chiếu soi hết thảy chúng sinh, cho nên gọi là Nhật thiên. Trong viện Ngoại kim cương bộ trên Mạn đồ la Thai tạng giới, hình tượng vị tôn này ngồi trên cỗ xe 5 ngựa màu đỏ, 2 tay đều cầm hoa sen, có 2 bà phi là: Thệ da (Phạm: Jayà) và Vi thệ da hạm: Vijaya). Nếu là trong bức tranh vẽ 12 vị trời, thì trên bông sen bên tay phải của Nhật thiên còn để Nhật luân, trong Nhật luân có con quạ 3 chân. (X. Thanh long nghi quĩ; Đại nhật kinh sớ Q.5, 10; Bí tạng kí].

nhật thiên chúng

Đoàn tùy tùng của Trời Đế Thích trong cung điện Mặt Trời của ngài—The retinue of Indra in his palace of the sun.

nhật thiên tử

Supra (skt)—Tô Lợi Da—Tu Lợi—Tu Dã Thiên Tử—Tu ý Thiên Tử—Bảo Quang Thiên Tử hay Bảo Ý Thiên Tử, là biến hóa thân của Quán Âm Bồ Tát, trụ ở trong mặt trời—The sun-ruler, one of the metamorphoses of Kuan-Yin, dwelling in the sun as palace, driving a quadriga.

Nhật Thái

(日泰, Nittai, 1432-1506): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại Thất Đinh và Chiến Quốc, vị Tổ đời thứ 16 của Diệu Mãn Tự (妙滿寺); húy là Nhật Thái (日泰), hiệu Tâm Liễu Viện (心了院); xuất thân vùng Kyoto. Ông theo hầu Nhật Tuân (日遵) ở Diệu Mãn Tự thuộc kinh đô Kyoto. Sau khi đi tham học ở các vùng Nam Đô, Tỷ Duệ Sơn, Cao Dã Sơn, ông đến truyền đạo vùng Quan Đông (關東, Kantō). Ông lấy Bổn Quang Tự (本光寺) ở vùng Phẩm Xuyên (品川, Shinagawa), Võ Tàng (武藏, Musashi, thuộc Tokyo) làm cứ điểm hành đạo, rồi tái kiến Bổn Hành Tự (本行寺) ở vùng Hạ Tổng (下總, Shimōsa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]) nhờ sự hỗ trợ đắc lực của vị Thành Chủ Tửu Tỉnh Định Long (酒井定隆). Hơn nữa, ông còn khai sáng Bổn Thọ Tự (本壽寺) ở vùng Thượng Tổng (上總, Kazusa, cũng thuộc Chiba-ken [千葉縣]) và làm cho những người dân địa phương nơi đây chuyển sang Nhật Liên Tông.

Nhật Thân

(日親, Nisshin, 1407-1488): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng thời đại Thất Đinh, húy là Nhật Thân (日親); hiệu Cửu Viễn Thành Viện (久遠成院); xuất thân vùng Thực Cốc (埴谷), Thượng Tổng (上總, Kazusa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]). Ban đầu, ông theo xuất gia với Nhật Anh (日英) ở Pháp Hoa Kinh Tự (法華經寺) thuộc vùng Trung Sơn (中山, Nakayama), Hạ Tổng (下總, Shimōsa); rồi tu học với Nhật Tát (日薩), Nhật Xiêm (日暹). Với tư cách là Tổng Đạo Sư vùng Cửu Châu (九州, Kyūshū), ông chỉ đạo giáo đoàn ở Quang Thắng Tự (光勝寺) vùng Phì Tiền (肥前, Hizen, thuộc Saga-ken [佐賀縣]); nhưng vì ông quán triệt được tín ngưỡng Pháp Hoa nên bị loại trừ ra khỏi Môn Phái Trung Sơn. Về sau, ông lên kinh đô dâng lời can gián lên Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Giáo (足利義敎, Ashikaga Yoshinori), rồi viết ra cuốn Lập Chánh Trị Quốc Luận (立正治國論) và trình lên cho vị này. Sau khi ông bị bắt giam vào ngục thất và chịu hình phạt nặng, nhưng rồi được tha tội và ông đến ở tại Bổn Pháp Tự (本法寺) chuyên tâm bố giáo rất tích cực. Tương truyền trong khi bị tra tấn, ông phải chịu hình phạt đội nồi, nên từ đó người ta vẫn thường gọi ông là Nhật Thân Đội Nồi. Truớc tác của ông có Lập Chánh Trị Quốc Luận (立正治國論) 1 quyển, Chiết Phục Chánh Nghĩa Sao (折伏正義抄) 1 quyển, Thực Cốc Sao (埴谷抄) 1 quyển, Truyền Đăng Sao (傳燈抄) 1 quyển, Bổn Pháp Tự Duyên Khởi (本法寺緣起) 1 quyển, v.v.

Nhật Thông

(日通, Nittsū, 1551-1608): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại An Thổ Đào Sơn và Giang Hộ, húy là Nhật Thông (日通); hiệu Công Đức Viện (功德院), xuất thân vùng Osaka; con của Du Ốc Thường Kim (油屋常金). Ông theo hầu Nhật Quang (日珖) ở Pháp Hoa Kinh Tự (法華經寺) thuộc vùng Hạ Tổng (下總, Shimōsa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]); rồi đến năm 1588 thì làm trú trì đời thứ 10 của Bổn Pháp Tự (本法寺) ở kinh đô Kyoto. Nhờ có nhà họ Bổn A Di (本阿彌) cũng như Trường Cốc Xuyên Đẳng Bá(長谷川等伯) quy y theo, vào năm 1590, ông dời chùa này đến vùng khác và xây dựng các ngôi đường vũ của chùa sáng lạn hơn. Đến năm 1601, ông kiêm làm trú trì đời thứ 14 của Pháp Hoa Kinh Tự. Chính ông đã tiến hành sao chép lại một cách trung thành bản Quán Tâm Bổn Tôn Sao (觀心本尊抄) cũng như các di văn khác của nhật liên, rồi đem an trí tại Bổn Pháp Tự. Trước tác của ông có Văn Nghĩa Đồng Loại Tập (文義同類集) 30 quyển.

Nhật Thẩm

(日審, Nisshin, 1599-1666): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng đầu và giữa thời đại Giang Hộ, húy là Nhật Thẩm (日審), tự Văn Gia (文嘉); hiệu Linh Thứu Viện (靈鷲院); xuất thân vùng Kyoto, con trai thứ 3 của Giang Thôn Cửu Mậu (川村久茂). Lúc lên 8 tuổi, ông theo xuất gia với Nhật Huyền (日玄) ở Huệ Quang Tự (慧光寺) thuộc Kyoto. Từ năm 17 tuổi trở đi, ông theo học các khoa học tại những trường Đàn Lâm. Đến năm 1629, ông làm trú trì đời thứ 12 của Trường Nguyên Tự (長源寺) vùng Nhược Hiệp (若狹, Wakasa, thuộc Fukui-ken [福井縣]), rồi đi bố giáo ở địa phương Cửu Châu (九州, Kyūshū) cho đến năm 1640. Năm sau, ông làm Hóa Chủ cho Lục Điều Đàn Lâm (六條檀林, tức Bổn Quốc Tự [本圀寺]); đến năm 1647 thì làm trú trì đời thứ 20 của Lập Bổn Tự (立本寺) tại kinh đô Kyoto. Ông đã từng đi khắp toàn quốc mà thuyết giáo Kinh Pháp Hoa và rất nổi tiếng với tư cách là Tăng sĩ bố giáo thời Cận Đại. Trước tác của ông có Pháp Hoa Khẩu Diễn Sao (法華口演抄) 4 quyển, Pháp Hoa Tọa Đàm Nghĩa (法華坐談義) 1 quyển, Viên Đốn Giả Giảng Thảo (圓頓者講草) 1 quyển.

Nhật Thập

(日什, Nichijū, 1314-1392): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng thời đại Nam Bắc Triều, vị Tổ khai sơn Diệu Mãn Tự (妙滿寺, Myōman-ji), Tổ của Phái Diệu Mãn Tự (妙滿寺派, tức Hiển Bổn Pháp Hoa Tông [顯本法華宗]); húy là Nhật Thập, thông xưng là Huyền Diệu A Xà Lê (玄妙阿闍梨); xuất thân vùng Hội Tân (會津, Aizu, thuộc Fukushima-ken [福島縣]), họ Thạch Trũng (石塚). Trước kia, ông đã từng theo hầu Từ Biến (慈遍) ở Thượng Trí Viện (上智院) trên Tỷ Duệ Sơn, tu học giáo lý Thiên Thai và nỗ lực giáo hóa đồ chúng ở Đông Quang Tự (東光寺) vùng Hội Tân. Sau đó, ông ngộ được lý trong bộ Khai Mục Sao (開目抄) của Nhật Liên và cải tông theo Nhật Liên Tông. Ông chủ trương trực tiếp được trao truyền từ Nhật Liên và truyền thừa quyển kinh này. Từ năm 1381 trở đi, ông thỉnh thoảng hay lên kinh đô để dâng sớ can gián nhóm Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Mãn (足利義滿, Ashikaga Yoshimitsu), rồi đến năm 1389 thì khai sáng Diệu Mãn Tự ở kinh đô; tách riêng khỏi phái của Pháp Hoa Kinh Tự (法華經寺) ở Trung Sơn (中山, Nakayama), Hạ Tổng (下總, Shimōsa). Trước tác của ông có Phúng Tụng Văn (諷誦文) 1 quyển, Chơn Gián Quy Phục Trạng (眞間歸伏狀) 1 quyển.

Nhật Thật

(日實, Nichijitsu, ?-1458): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng thời đại Thất Đinh, húy là Nhật Thật (日實); tự Huyền Võ (玄武), hiệu Long Hoa Viện (龍華院). Năm 1427, ông được Bổn Ứng Tự (本應寺, tức Lập Bổn Tự [立本寺]) thỉnh đến làm trú trì đời thứ 5 của chùa.

nhật thực

Solar eclipse.

nhật tinh ma ni

Tên một loại châu ngọc, người mù mà chạm vào ngọc nầy thời được sáng mắt—A pearl (mani), crystal clear as the sun, which gives sight to the blind. ; (日精摩尼) Chỉ cho hỏa châu. Trong 40 tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm thì tay thứ 8 bên phải cầm Nhật tinh ma ni. Cứ theo Thiên thủ thiên nhãn Quan thế âm bồ tát đại bi tâm đà la ni, nếu mắt của người mù được chạm vào Nhật tinh ma ni thì sẽ thấy ánh sáng trở lại. [X. phẩm Uất đơn việt trong kinh Trường a hàm Q.10; kinh Thiên quang nhãn Quán tự tại bồ tát bí mật pháp].

nhật tinh tú

Naksatratara-raja-ditya (skt)—Mức độ thiền định, chẳng hạn như nhắm vào mặt trời, tinh tú hay chòm sao mà định—A degree of meditation, such as the sun, stars and constellations samadhi.

nhật toàn tam muội

(日旋三昧) Cũng gọi Nhật luân tam muội. Một trong 16 tam muội nói trong phẩm Diệu âm kinh Pháp hoa. Trong Pháp hoa nghĩa sớ quyển 12 (Đại 34, 622 trung), ngài Gia tường nói: Nhật toàn tam muội giống như Nhật thiên ngồi trên cung điện mặt trời, chiếu rọi các chúng sinh, xoay hết vòng thì trở lại từ đầu. Tức dùng ánh sáng mặt trời chiếu xuống muôn vật để ví dụ ánh sáng bình đẳng của bồ tát Diệu âm soi rọi hết thảy chúng sinh không phân biệt. (xt. Thập Lục Tam Muội).

Nhật Triêu

(日朝, Nicchō, 1422-1500): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại Thất Đinh và Chiến Quốc, húy là Nhật Triêu (日朝); thông xưng là Gia Hạ A Xà Lê (加賀阿闍梨); tự là Kính Trừng (鏡澄), hiệu Bảo Tụ Viện (寶聚院), Hành Học Viện (行學院); xuất thân vùng Shizuoka-ken (靜岡縣). Năm lên 8 tuổi, ông theo xuất gia với Nhật Xuất (日出) khi vị này đang trên đường giáo hóa ở địa phương Y Đậu (伊豆, Izu). Sau ông đến tu học ở Vô Lượng Thọ Tự (無量壽寺, tức Hỷ Đa Viện [喜多院]) của Thiên Thai Tông. Đến năm 1462, ông kế thừa làm trú trì đời thứ 11 của Cửu Viễn Tự (久遠寺), rồi dời chùa về vị trí hiện tại và chỉnh đốn chùa hoàn bị. Hơn nữa, ông còn thâu tập những di văn của Nhật Liên, rồi chú giải, mở ra những hội thuyết giảng hỏi đáp, và tận lực chấn hưng giáo học Tông môn. Trước tác của ông có rất nhiều như Ngự Thư Kiến Văn (御書見聞) 44 quyển, Nguyên Tổ Hóa Đạo Ký (元祖化道記) 2 quyển, Bổ Thí Tập (補施集) 112 quyển, Hoằng Kinh Dụng Tâm Ký (弘經用心記) 5 quyển, v.v.

Nhật Trung

(日中, Nicchū, 1630-1701): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng đầu và giữa thời đại Giang Hộ, húy là Nhật Trung (日中); tự Tỉnh Kỷ (省己), hiệu Chánh Trú Viện (正住院), Đồng Quảng (同廣). Ông là người học rộng hiểu nhiều, có tài về văn chương cũng như Hán Thi; có mối thâm giao với Nguyên Chính (元政) ở Thoại Quang Tự (瑞光寺) vùng Thâm Thảo (深草, Fukakusa), Sơn Thành (山城, Yamashiro). Trong khoảng thời gian niên hiệu Nguyên Lộc (元祿, 1688-1704), ông sáng lập ra Khê Thiệt Luật Viện (溪舌律院) ở Thân Diên Sơn (身延山) và chuyên hành trì luật Pháp Hoa. đến cuối đời ông trở về Diệu Pháp Tự (妙法寺). ; (日忠, Nicchū, 1438-1503): ): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng thời đại Thất Đinh, húy là Nhật Trung (日忠); hiệu Thập Thừa Phòng (十乘房), Thường Trú Viện (常住院). Ông vốn là tăng sĩ của Thiên Thai Tông, sau mến mộ học phong của Nhật Long (日隆) cũng như Nhật Khánh (日慶), nên cải hóa sang Nhật Liên Tông. Vào năm 1473, khi Nhật Khánh sáng lập Đạo Luân Học Thất ở Diệu Liên Tự (妙蓮寺) vùng Kyoto, ông là người quản lý cơ sở này và làm cho giáo học Tông môn hưng thịnh. Hơn nữa, ông còn tận lực làm cho nối kết lại mối bất hòa giữa môn phái của ông với Bổn Năng Tự (本能寺) thuộc Môn Phái Nhật Long vốn đã đoạn tuyệt giao hảo từ lâu. Ông được truy tặng trú trì đời thứ 6 của Diệu Liên Tự. Trước tác của ông có Quán Tâm Bổn Tôn Sao Kiến Văn (觀心本尊抄見聞) 2 quyển, Khai Tích Hiển Bổn Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Trực Đàm Sao (開迹顯本妙法蓮華經直談抄) 1 quyển, Huyền Nghĩa Lược Đại Cương (玄義略大綱) 2 quyển, v.v.

nhật trung

(日中) Một trong 6 thời, chỉ cho khoảng thời gian từ giờ Tị đến giờ Mùi, tức 10 giờ đến 14 giờ. (xt. Tam Thời).

nhật trung bảo thạch

(日中寶石) Đá quí để dưới ánh sáng mặt trời lúc giữa trưa, hiện ra đủ các màu sắc xanh vàng đỏ trắng, không có màu nào nhất định; ví dụ cảnh giới tự do tự tại, không bị kẹt dính vào 1 chỗ nào. Ví dụ này có xuất xứ từ kinh Đại bát niết bàn quyển 22 (bản Nam). Tắc 18 trong Thung dung lục (Đại 48, 238 trung) nói: Đá quí để dưới ánh sáng mặt trời lúc giữa trưa (nhật trung bảo thạch) hiện ra màu sắc không nhất định.

nhật trung nhất thực

(日中一食) Giữa ngày ăn 1 bữa, là 1 trong 12 hạnh đầu đà. Giới luật qui định, người xuất gia tu đạo, mỗi ngày chỉ được ăn 1 bữa vào giờ Ngọ, ngoài thời gian ấy ra không được ăn. [X. kinh Thập nhị đầu đà]. (xt. Trì Ngọ).

Nhật Truyền

(日傳, Nichiden, 1482-1548): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa thời đại Chiến Quốc, vị Tổ đời thứ 13 của Cửu Viễn Tự (久遠寺), húy là Nhật Truyền (日傳); tự Thừa Hải (承海), hiệu Bảo Tụ Viện (寶聚院). Ông từng theo hầu Nhật Triêu (日朝) cũng như Nhật Ý (日意) ở Cửu Viễn Tự; rồi đến năm 1519 thì làm Tổ đời thứ 13 của chùa này. Trong khoảng thời gian 25 năm làm trú trì, ông đã kế thừa sự nghiệp tái hưng chùa của Nhật Triêu và Nhật Ý, tái kiến Tổ Sư Đường, và xây dựng một số kiến trúc khác. Nhờ vị quan Thủ Hộ vùng Giáp Phỉ (甲斐, Kai) là Võ Đa Tín Hổ (武田信虎) quy y theo, ông đã biến ngôi Diệu Thắng Tự (妙勝寺) ở vùng Vĩ Trương (尾張, Owari) thành ngôi chùa trung tâm lớn; cho đệ tử Nhật Nghiệm (日驗) đến vùng Hòa Tuyền (和泉, Izumi) để xây dựng Thành Tựu Viện (成就院), và tận lực mở rộng phạm vi giáo hóa của Môn Phái Lục Điều. Trước tác của ông có Bổn Tích Vấn Đáp Cao Quảng Nghĩa (本迹問答高廣義) 1 quyển.

Nhật Trì

(日持, Nichiji, 1250-?): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa và cuối thời Liêm Thương, một trong Lục Lão Tăng (六老僧); húy là Nhật Trì (日持), tên lúc nhỏ là Tùng Thiên Đại (松千代), thông xưng là Giáp Phỉ Công (甲斐公), Liên Hoa A Xà Lê (蓮華阿闍梨); hiệu là Bổn Ứng Viện (本應院); xuất thân vùng Tùng Dã (松野), Tuấn Hà (駿河, Suruga, thuộc Shizuoka-ken [靜岡縣]); con trai thứ 2 của Tùng Dã Lục Lang Tả Vệ Môn (松野六郎左衛門). Trước kia ông có tu học về giáo lý Thiên Thai ở Thật Tướng Tự (實相寺) vùng Tuấn Hà; sau đó, nghe theo lời khuyên của Nhật Hưng (日興), ông đến làm đệ tử của Nhật Liên, và thường theo hầu hạ thầy ở Tá Độ (佐渡, Sado) cũng như Thân Diên Sơn (身延山). Về sau, ông khai sáng ra Liên Vĩnh Tự (蓮永寺) ở vùng Tùng Dã, Tuấn Hà. Đến năm 1288, ông tạo lập tôn tượng của Nhật Liên trong dịp húy kỵ lần thứ 7, và đem an trí tại Bổn Môn Tự (本門寺) ở vùng Trì Thượng (池上, Ikegami), Võ Tàng (武藏, Musashi). Vào năm 1295, nhân dịp Nguyên Đán, thể theo nguyện ước xưa kia của Nhật Liên, ông lên đường truyền đạo ở nước ngoài. Tương truyền ông đã vượt qua vùng Lục Áo (陸奥, Michinoku), Hà Di (蝦夷, Emishi, Ebisu, Ezo), rồi đến Đại Lục Trung Hoa.

Nhật Trùng

(日重, Nichijū, 1549-1623): học Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại An Thổ Đào Sơn và Giang Hộ, vị Tổ đời thứ 20 của Cửu Viễn Tự (久遠寺); húy là Nhật Trùng (日重), hiệu Nhất Như Viện (一如院); xuất thân Nhược Hiệp (若狹, Wakasa, thuộc Fukui-ken [福井縣]). Ông đã từng học pháp ở Diệu Quốc Tự (妙國寺) vùng Hòa Tuyền (和泉), rồi làm trú trì đời thứ 12 của Bổn Mãn Tự (本滿寺) ở kinh đô Kyoto, cũng như làm Giảng Sư cho Lục Điều Đàn Lâm (六條檀林). Năm 1595, ông tham gia vào lễ hội cúng dường cho ngàn vị tăng do Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) tổ chức tại Phương Quảng Tự (方廣寺) thuộc kinh đô Kyoto. Sau đó, ông được cung thỉnh làm trú trì Cửu Viễn Tự, nhưng ông cố khước từ, mà tiến cử hai đệ tử là Nhật Viễn (日遠) và Nhật Càn (日乾). Ông đã tận lực nuôi dưỡng đồ chúng và phục hưng giáo học. Ông cùng với Nhật Càn, Nhật Viễn được xem như là ba vị Tổ thời Trung Hưng của Tông môn. Trước tác của ông có rất nhiều như Kiến Văn Ngu Án Ký (見聞愚案記) 23 quyển, Phù Trợ Sao Nghĩa (扶助抄義) 6 quyển, Côn Ngọc Tập (崑玉集) 10 quyển, Diệu Kinh Trùng Đàm Sao (妙經重談抄) 8 quyển, v.v.

Nhật Trú

(日住, Nichijū, 1406-1486): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng thời đại Thất Đinh, húy là Nhật Trú (日住), hiệu Chơn Như Viện (眞如院), xuất thân vùng Kyoto. Ban đầu ông theo hầu hạ Nhật Diên (日延) ở Diệu Giác Tự (妙覺寺) thuộc kinh đô Kyoto; rồi sau đó cũng đã từng lên tu học trên Tỷ Duệ Sơn, làm trú trì các chùa Bổn Giác Tự (本覺寺) cũng như Diệu Giác Tự. Thỉnh thoảng ông có dâng sớ can gián, rồi mấy lần xuống vùng Quan Đông để giảng hòa cuộc đối lập giữa hai phe Cửu Viễn Tự (久遠寺) ở Thân Diên Sơn (身延山) và Pháp Hoa Kinh Tự (法華經寺) ở Trung Sơn (中山); trở thành nhân vật trung tâm của giáo đoàn qua những hoạt động truyền giáo của ông. Ông đã tận lực trong việc nghiên cứu giáo học Tông phái và giáo dục giáo đoàn. Trước tác của ông có Diệu Pháp Trị Thế Tập (妙法治世集) 1 quyển, Diệu Pháp Trị Thế Tập Thỉ Mạt Ký (妙法治世集始末記) 1 quyển, Dữ Trung Sơn Tịnh Quang Viện Thư (與中山淨光院書) 1 quyển, Bổn Tôn Sao Kiến Văn (本尊抄見聞) 1 quyển, v.v.

Nhật Trợ

(日助, Nichijo, 1495-1553): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng thời đại Chiến Quốc, húy là Nhật Trợ (日助); hiệu Liên Quang Viện (蓮光院). Ông vốn là con nuôi của quan Thái Chính Đại Thần Hoa Sơn Viện Chính Trường (花山院政長), được bổ nhiệm làm chức Đại Tăng Đô, và làm trú trì đời thứ 14 của Bổn Quốc Tự (本圀寺) ở kinh đô Kyoto. Làm trú trì được 33 năm thì gặp phải cuộc tấn công dữ dội của đồ chúng Tỷ Duệ Sơn, nên các đường tháp của chùa bị đốt cháy tan tành và ông phải chạy đi lánh nạn ở vùng Hòa Tuyền (和泉, Izumi). Đến năm 1542, ông trở về kinh đô, tái kiến lại ngôi già lam như cũ ở vùng Lục Điều Quật Xuyên (六條堀川).

Nhật Trừng

(日澄, Nicchō, 1441-1510): học Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại Thất Đinh và Chiến Quốc, húy là Nhật Trừng (日澄); thông xưng là Nhất Như Phòng (一如房), tự Khải Vận (啟運); hiệu là Viên Minh Viện (圓明院). Ông xuất gia theo Nhật Viên (日圓) ở Bổn Quốc Tự (本國寺) thuộc kinh đô Kyoto; rồi đến năm 39 tuổi thì sáng lập ra Viên Minh Tự (圓明寺) ở vùng Y Đậu (伊豆, Izu). Sau ông đến ẩn cư ở Diệu Pháp Tự (妙法寺) vùng Liêm Thương, thiết lập lớp học trong chùa này, và chuyên tâm trước tác cũng như giảng nghĩa Kinh Pháp Hoa. Ông đã từng viết bộ Pháp Hoa Khải Vận Sao (法華啟運抄), chủ xướng Tín Tâm Làm Gốc, và chủ trương tông học theo kiểu của giáo tổ. Hơn nữa, bộ Nhật Liên Thánh Nhân Chú Họa Tán (日蓮上人註畫讚) của ông đã gây ảnh hưởng rất lớn cho hậu thế. Trước tác của ông có Pháp Hoa Khải Vận Sao (法華啟運抄) 55 quyển, Bổn Tích Quyết Nghi Sao (本迹決疑抄) 2 quyển, Nhật Xuất Đài Ẩn Ký (日出台隱記) 2 quyển, Trợ Hiển Xướng Đạo Văn Tập (助顯唱道文集) 7 quyển, Nhật Liên Thánh Nhân Chú Họa Tán (日蓮上人註畫讚) 5 quyển.

nhật tuyền tam muội

See Nhật Luân Tam Muội.

nhật tàng hoa nhãn thị

Năm đặc tính lấy ra từ tên của năm vị Phật trong Kim Cang Giới (Đại Nhật, Bảo Tàng, Hoa Khai Phu, Liên Hoa Nhãn, Thiên Thị Lôi Âm)—Five characters taken from the names of, representing five Buddhas in the Vajradhatu.

Nhật Tú

(日秀, Nisshū, 1383-1450): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng thời đại Thất Đinh, húy là Nhật Tú (日秀); tự Quán Tùy (觀隨), hiệu Ngọc Động Diệu Viện (玉洞妙院). Ông xuất gia năm lên 13 tuổi, rồi theo hầu Nhật Truyền (日傳) ở Bổn Quốc Tự (本圀寺) thuộc kinh đô Kyoto. Năm 1410, ông sáng lập ra Bổn Nguyện Mãn Túc Tự (本願滿足寺, tức Bổn Mãn Tự [本滿寺]) tại biệt trang của cha ông.

Nhật Tĩnh

(日靜, Nichijō, 1298-1369): vị Tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương và đầu thời đại Nam Bắc Triều, húy là Nhật Tĩnh (日靜), tự Phong Long (豐龍), hiệu Diệu Long Viện (妙龍院); xuất thân vùng Hạ Đảo (賀島), Tuấn Hà (駿河, Suruga, thuộc Shizuoka-ken [靜岡縣]), con của Thượng Sam Lại Trọng (上杉賴重). Ông xuất gia với Nhật Vị (日位) ở Bổn Giác Tự (本覺寺) vùng Tuấn Hà; sau khi vị này qua đời thì ông đến làm đệ tử của Nhật Ấn (日印) ở Bổn Thắng Tự (本勝寺) vùng Liêm Thương. Về sau, ông lên kinh đô, sáng lập nên Bổn Quốc Tự (本國寺) ở vùng Lục Điều Quật Xuyên (六條堀川). Ông được Tướng Quân Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏, Ashikaga Takauji) quy y theo, nhờ vậy mà phát triển chùa này to lớn ngang hàng với Diệu Hiển Tự (妙顯寺), và sáng lập Dòng Phái Lục Điều (六條門流). Trước tác của ông có Liêm Thương Điện Trung Vấn Đáp Ký (鎌倉殿中問答記) 1 quyển, Thử Kinh Nan Trì Thập Tam Khẩu Quyết (此經難持十三口決), Lục Điều Yếu Văn (六條要文).

nhật tưởng quán

Quán tưởng mặt trời lặn, quán tưởng đầu tiên trong 16 phép quán tưởng trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ—Meditation on, and observing of the setting sun, the first of the sixteen meditations in the Contemplations of the Infinite Life Sutra. ; (日想觀) Cũng gọi Nhật luân quán, Nhật tưởng, Nhật quán. Pháp quán thứ 1 trong 16 quán được nói trong kinh Quán vô lượng thọ. Pháp quán này được thực hành vào lúc mặt trời lặn, hành giả ngồi ngay thẳng, mặt xoay về hướng tây, chăm chú nhìn mặt trời, giữ tâm kiến cố, không di động, thì có thể thấy rõ ràng Tịnh độ cực lạc. Pháp quán này cũng để quán tưởng tướng ánh sáng của cõi Tịnh độ cực lạc. [X. Quán kinh sớ định thiện nghĩa; Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ]. (xt. Thập Lục Quán).

Nhật Tượng

(日像, Nichizō, 1269-1342): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương và đầu thời đại Nam Bắc Triều, húy là Nhật Tượng (日像), tên lúc nhỏ là Kinh Nhất Hoàn (經一丸); hiệu là Phì Hậu A Xà Lê (肥後阿闍梨), Nhật Tượng Bồ Tát (日像菩薩), Phì Hậu Phòng (肥後房), Long Hoa Thọ Viện (龍華樹院); xuất thân vùng Bình Hạ (平賀, thuộc Chiba-ken [千葉縣]), Hạ Tổng (下總, Shimōsa); con trai của Bình Hạ Trung Tình (平賀忠晴), em cùng mẹ khác cha của Nhật Lãng (日朗). Năm 1275, ông đầu sư với Nhật Lãng, rồi theo Nhật Liên tu hành, rồi khi Nhật Liên lâm chung thì ông được phó chúc truyền bá Kinh Pháp Hoa ở kinh đô Kyoto. Đến năm 1293, ông quyết tâm đến khai giáo ở kinh đô, và sau khi truyền đạo xong ở vùng Bắc Lục (北陸, Hokuriku) thì ông đến kinh đô. Nơi đây ông chuyên tâm truyền bá Kinh Pháp Hoa và được sự ủng hộ của tầng lớp thương nhân; nhưng bị phía các tông phái khác đả kích; nên ông đã 3 lần bị đuổi ra khỏi kinh đô. Vào năm 1326, ông được Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇, Godaigo Tennō) ban sắc chỉ hứa khả cho sáng lập Diệu Hiển Tự (妙顯寺) ở kinh đô. Ông có rất nhiều tín đồ thuộc tầng lớp võ gia chính quyền, nên đã xác lập được cơ sở vững chắc cho giáo đoàn Nhật Liên Tông ở vùng Tây Quốc (西國, Saigoku). Trước tác của ông có Pháp Hoa Tông Chỉ Vấn Đáp Sao (法華宗旨問答抄) 1 quyển, Bổn Tôn Tương Thừa (本尊相承) 1 quyển, Pháp Hoa Tông Hoằng Thông Sao (法華宗弘通抄) 1 quyển, Kỳ Đảo Kinh Chi Sự (祈禱經之事) 1 quyển, v.v.

Nhật Tấn

(日進, Nisshin, 1271-1346): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương và đầu thời đại Nam Bắc Triều, húy là Nhật Tâm (日心), Nhật Chân (日眞), Nhật Tấn (日進); thông xưng là Đại Tấn Công (大進公), Tam Vị Công (三位公), Đại Tấn A Xà Lê (大進阿闍梨); hiệu là Đại Tấn Viện (大進院); xuất thân vùng Cát Sức (葛飾, Katsushika), Hạ Tổng (下總, Shimōsa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]), con thứ 2 của Tằng Cốc Thứ Lang Vệ Binh Úy Giáo Tín (曾谷次郎衛兵尉敎信, tức Nhật Lễ [日禮]). Ông là một trong 18 vị lão tăng. Năm 1313, ông nhận lời phó chúc của Nhật Hướng (日向), trở thành vị tổ thứ 3 của Cửu Viễn Tự (久遠寺, Kuon-ji) ở Thân Diên Sơn (身延山). Đến năm 1320, ông lên kinh đô chuyên sao chép các thư tịch Thánh giáo. Ông rất thâm giao với Nhật Hựu (日祐) ở Pháp Hoa Kinh Tự (法華經寺) thuộc vùng Trung Sơn (中山, Nakayama), Hạ Tổng; và mở rộng giáo tuyến khắp các vùng Thượng Tổng, Hạ Tổng thông qua những lần đi tuần hóa của ông. Trước tác của ông để lại có Tam Quốc Phật Pháp Thạnh Suy Chi Sự (三國佛法盛衰之事) 1 quyển, Phá Tịnh Độ Nghĩa Luận Pháp Hoa Chánh Nghĩa (破淨土義論法華正義) 1 quyển, Nhật Liên Thánh Nhân Ngự Hoằng Thông Thứ Đệ (日蓮上人御弘通次第), v.v.

Nhật Tễ

(日霽, Nissei): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại Nam Bắc Triều và Thất Đinh; húy là Thông Nguyên (通源), Nhật Tễ (日霽), hiệu là Long Hoa Viện (龍華院); xuất thân vùng Liêm Thương (鎌倉). Năm lên 12 tuổi, ông theo xuất gia với Diệu Thật (妙實) ở Diệu Hiển Tự (妙顯寺) tại kinh đô Kyoto. Đến năm 30 tuổi, ông làm trú trì đời thứ 4 của chùa này. Ông rất tích cực trong việc giao tiếp với hàng công khanh để mở rộng thế lực của chùa mình; nhưng một mặt thì chúng đồ lại xa lánh ông, rồi mặt khác lại bị đồ chúng trên Tỷ Duệ Sơn phản bác; nên vào năm 1387, ông đã bỏ chùa này mà đi lánh nạn. Bảy năm sau, ông trở về kinh đô, được Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Mãn (足利義滿, Ashikaga Yoshimitsu) cúng đất cho xây chùa, nên ông đổi tên Diệu Hiển Tự thành Diệu Bổn Tự (妙本寺) và trùng tu lại chùa này. Trước tác của ông có Hiển Để Sao Kiến Văn (顯底抄見聞), Kỳ Đảo Kinh Áo Thư (祈禱經奥書).

Nhật Tồn

(日存, Nichizon, 1369-1421): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa thời đại Thất Đinh, vị Tổ đời thứ 5 của Diệu Liên Tự (妙蓮寺); húy là Nhật Tồn (日存), Nhật Soạn (日選), hiệu là Tinh Tấn Viện (精進院), Hảo Học Viện (好學院). Ông cùng với người bác của Nhật Long (日隆), em trai ông là Nhật Thuần (日純) theo xuất gia tu học với Nhật Tể (日霽) ở Diệu Bổn Tự (妙本寺). Sau khi thầy qua đời, ông phê phán giáo nghĩa của vị trú trì đời thứ 7 của chùa là Nguyệt Minh (月明), và rời khỏi chùa này. Ông chuyên nghiên cứu về giáo nghĩa Bổn Tích Thắng Liệt, có chí muốn phục hưng giáo nghĩa của Nhật Tượng (日像), và nổ lực tái hưng Diệu Liên Tự ở kinh đô Kyoto. Trước tác của ông có Khởi Thỉnh Văn (起請文) 1 quyển.

Nhật Viễn

(日遠, Nichion, 1572-1642): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại An Thổ Đào Sơn và Giang Hộ, vị Tổ đời thứ 22 của Cửu Viễn Tự (久遠寺, Kuon-ji); húy là Nhật Viễn (日遠), Nhật Trân (日珍); tự Nghiêu Thuận (堯順) hay Nghiêu Nhuận (堯潤); hiệu là Tâm Tánh Viện (心性院); xuất thân kinh đô Kyoto. Năm lên 6 tuổi, ông theo làm đệ tử của Nhật Trùng (日重) ở Bổn Mãn Tự (本滿寺). Đến năm 28 tuổi, ông thay thế Nhật Trùng đến giảng ở Phạn Cao Đàn Lâm (飯高檀林); rồi đến năm 1604 thì kế thừa anh ông là Nhật Càn (日乾) làm trú trì Cửu Viễn Tự ở Thân Diên Sơn. Sau đó, ông có xây dựng trường học Đàn Lâm tại chùa này. Năm 1608, nhân cuộc luận tranh Tông nghĩa của nhóm Nhật Kinh (日經), ông đến ẩn cư ở vùng Đại Dã (大野, Ōno) và sáng lập ra Bổn Viễn Tự (本遠寺). Vào năm 1615, theo mệnh của chính quyền Mạc Phủ, ông trở về sống ở Cửu Viễn Tự; rồi đến năm sau thì nhường chức trú trì lại cho đệ tử Nhật Yếu (日要). Đến năm 1630, ông dàn trận thế luận tranh Tông nghĩa ở Thành Giang Hộ (江戸城, Edo-jō), rồi Phái Không Nhận Không Cho thắng lợi, nên đã tạo được cơ sở vững chắc cho Nhật Liên Tông vốn lấy Cửu Viễn Tự làm trung tâm. Sau đó, ông đến sống ở Bổn Môn Tự (本門寺) ở vùng Trì Thượng (池上, Ikegami), Võ Tàng (武藏, Musashi); và ông cùng với Nhật Trùng, Nhật Càn được gọi là ba vị tổ thời Trung Hưng của Nhật Liên Tông. Trước tác của ông có rất nhiều như Thiên Thai Tam Đại Bộ Tùy Văn Ký (天台三大部隨聞記) 37 quyển, An Quốc Luận Tư Ký (安國論私記) 2 quyển, Bổn Tôn Sao Tư Ký (本尊抄私記) 1 quyển, Đương Gia Bổn Tôn Luận Nghĩa Lạc Cư (當家本尊論義樂居) 1 quyển, Pháp Hoa Kinh Tùy Âm Cú (法華經隨音句) 2 quyển, v.v.

nhật vực

(日域) I. Nhật Vực. Khu vực mặt trời chiếu đến. II. Nhật Vực. Người Nhật bản tự gọi nước họ là Nhật vực.III. Nhật Vực. Chỉ cho nước Triều tiên.

Nhật Xiêm

(日暹, Nissen, 1586-1648): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng đầu thời đại Giang Hộ, húy là Nhật Xiêm (暹), Nhật Tốn (日遜); tự Long Nhứ (隆恕), hiệu Trí Kiến Viện (智見院). Ban đầu, ông theo hầu Nhật Viễn (日遠) ở Cửu Viễn Tự (久遠寺), Thân Diên Sơn (身延山), và rất giỏi về biện luận. Sau ông làm Hóa Chủ cho Tiểu Tây Đàn Lâm (小西檀林) và trú trì đời thứ 11 của Bổn Mãn Tự (本滿寺) ở kinh đô Kyoto. Sau đó, ông lại làm trú trì đời thứ 26 của Cửu Viễn Tự. Đến năm 1629, ông tố cáo lên chính quyền Mạc Phủ về việc tung hoành của nhóm Nhật Áo (日奥), Nhật Thọ (日樹) thuộc Phái Không Nhận Không Cho. Đến năm sau, được sự ủng hộ của Nhật Càn (日乾), Nhật Viễn (日遠), ông làm đại biểu cho phía Thân Diên tham gia cuộc đối luận với phái trên tại Thành Giang Hộ. Sau khi giành được thắng lợi, ông chuyên tâm lãnh đạo giáo đoàn. Trước tác của ông có Tây Cốc Danh Mục Tiêu Điều (西谷名目標條) 4 quyển, Nghĩa Khoa Luận Nghĩa (義科論義) 70 quyển, Bất Thọ Bất Thí Luận (不受不施論) 1 quyển, v.v.

Nhật Xuất

(日出, Nisshutsu, 1381-1459): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng thời đại Thất Đinh, húy là Chánh Tín (正信), Nhật Xuất (日出); tự là Thị Sanh (是生), hiệu Nhất Thừa Phòng (一乘房); xuất thân vùng Võ Tàng (武藏, Musashi). Trước kia ông vốn là tăng sĩ của Thiên Thai Tông, nhưng sau khi được anh ông là Nhật Học (日學) ở Cửu Viễn Tự (久遠寺, Kuon-ji) giáo hóa, ông chuyển sang Nhật Liên Tông. Ông sáng lập ra Bổn Giác Tự (本覺寺) ở vùng Tam Đảo (三島, Mishima), Y Đậu (伊豆, Izu). Về sau, ông luận tranh về Tông nghĩa với Tâm Hải (心海) ở Bảo Giới Tự (寶戒寺) thuộc Thiên Thai Tông và thắng thế; rồi được vị quản lãnh vùng Quan Đông (關東, Kantō) là Túc Lợi Trì Thị (足利持氏, Ashikaga Mochiuji) cúng dường đất đai để kiến lập nên một ngôi Bổn Giác Tự khác, và mở rộng phạm vi giáo hóa của ông đến các địa phương như Giáp Phỉ (甲斐, Kai), Y Đậu (伊豆, Izu) và Liêm Thương (鎌倉, Kamakura). Trước tác của ông có Vĩnh Hưởng Vấn Đáp Ký (永享問答記) 1 quyển.

nhật xuất luận giả

Nhật Xuất Luận Giả là tên của vị sáng lập ra Kinh Bộ Tông, vào khoảng đầu kỷ nguyên Thiên Chúa—The sunrise exponents, a title of the founder of the Sutra Sect before the Christian Era—See Thí Dụ Luận Sư. ; (日出論者) Từ tôn xưng ngài Cưu ma la đa, 1 vị Đại luận sư của Phật giáo Ấn độ, là Tổ của tông Kinh bộ. Cứ theo Thành duy thức luận thuật kí quyển 2, phần đầu, khoảng 100 năm sau đức Phật nhập diệt, ở nước Đát xoa sí la thuộc Bắc Ấn độ, có ngài Cưu ma la đa (Phạm: Kumàralàta, Hán dịch là Đồng thụ, Đồng thủ) trứ tác 900 bộ luận, ngài được ví dụ như mặt trời mọc chiếu sáng khắp thế gian, cho nên tôn xưng ngài là Nhật xuất luận giả, Nhật xuất luận sư. Các nhà Đại thừa tôn 4 ngài: Cưu ma la đa, Mã minh, Long thụ và Đề bà là Tứ nhật luận sư. Có thuyết cho rằng Nhật xuất luận giả là thầy của ngài Ha lê bạt ma (Phạm: Harivarman), tác giả luận Thành thực, thuộc Tát bà đa bộ. [X. điều Đát xoa thủy la quốc trong Đại đường tây vực kí Q.3; Tam luận huyền nghĩa]. (xt. Cưu Ma La Đa).

nhật xưng

(日稱) Cao tăng người Trung Thiên trúc, được vua ban hiệu Tuyên Phạm Đại Sư. Vào năm Khánh lịch thứ 6 (1046) đời vua Nhân tông nhà Tống, sư đến Biện kinh, vâng chiếu chỉ tham gia việc dịch kinh. Khoảng năm Chí hòa (1054-1055) sư cùng các vị Pháp hộ, Phạm tài, Tuyên bí... cùng dịch luận Đại thừa tập bồ tát học 25 quyển. Năm Gia hựu thứ 8 (1063) sư dịch kinh Thập bất thiện nghiệp đạo 1 quyển. Niên hiệu Trị bình năm đầu (1064), sư dịch kinh Chư pháp tập yếu 10 quyển. Sau, sư lại lần lượt dịch các kinh điển như: Kinh Phụ tử hợp tập 20 quyển, kinh Phúc cái chính hạnh tập 12 quyển, Sự sư pháp ngũ thập tụng, kinh Lục thú luân hồi 1 quyển... Năm Hi ninh thứ 5 (1072), sư Thành tầm –người Nhật bản– đến Trung quốc, kết tình thân giao với sư. Tháng 3 năm sau (1073), sư Thành tầm đến thăm sư ở viện Truyền pháp tại chùa Thái bình hưng quốc và thảo luận với sư việc đưa những bộ kinh do sư mới dịch xong về Nhật bản, lúc ấy sư được 57 tuổi. Sự tích của sư từ đó về sau không được rõ. [X. Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.4, 9, 10; San bổ tham Thiên thai Ngũ đài sơn kí Q.4, 6-8].

Nhật Áo

(日奥, Nichiō, 1565-1630): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại An Thổ Đào Sơn và Giang Hộ, Tổ của Phái Không Nhận Không Cho thuộc Nhật Liên Tông, húy là Nhật Áo (日奥), Nhật Chân (日甄); tự là Giáo Anh (敎英); hiệu Phật Tánh Viện (佛性院), An Quốc Viện (安國院); xuất thân vùng Kyoto. Lúc còn nhỏ, ông đã theo hầu Nhật Điển (日典) ở Diệu Giác Tự (妙覺寺) trên kinh đô Kyoto; rồi đến năm 28 tuổi thì làm trú trì đời thứ 19 của chùa này. Vào năm 1595, trong dịp Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) tổ chức lễ cúng dường cho ngàn vị tăng ở ngay tại Chánh Điện của Phương Quảng Tự (方廣寺), ông chủ trương chính sách Không Nhận Không Cho và không đến tham dự lễ cúng dường này. Chính ông đã đối lập với nhóm Nhật Trùng (日重) ở Bổn Mãn Tự (本滿寺) chung quanh việc nhận và không nhận; rồi đến năm 1599, trong cuộc đối luận ở Thành Đại Phản (大阪城, Ōsaka-jō), ông bị xử tội cho ngựa kéo. Vào năm 1612, sau khi được tha tội, ông lại luận tranh với Nhật Càn (日乾) ở Thân Diên Sơn (身延山). Đến năm 1630, trong cuộc luận tranh ở Thân Trì (身池), Phái Không Nhận Không Cho bị đại bại. Sau khi Nhật Áo qua đời, tương truyền rằng thi hài của ông vẫn bị đem ra tra tấn vì tội luận tranh này. Trước tác của ông có Tông Nghĩa Chế Pháp Luận (宗義制法論) 3 quyển, Thủ Hộ Chánh Nghĩa Luận (守護正義論) 1 quyển, Cấm Đoán Báng Thí Luận (禁斷謗施論) 1 quyển, Gián Hiểu Thần Minh Ký (諫曉神明記) 1 quyển.

Nhật Ý

(日意, Nichii, 1421-1473): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng thời đại Thất Đinh, húy là Nhật Ý (日意); thông xưng là Thiền Ty A Xà Lê (禪司阿闍梨), tự Tông Kính (宗鏡, hay Tú Kính [秀鏡]); hiệu là Diệu Quang Viện (妙光院), Lâm Tuyền Phòng (林泉房); xuất thân Chiba-ken (千葉縣). Lúc nhỏ, ông theo hầu Nhật Phước (日福) ở Bổn Thổ Tự (本土寺) thuộc vùng Bình Hạ (平賀, Hiraga), Hạ Tổng (下總, Shimōsa); rồi học giáo học Thiên Thai ở Hỷ Đa Viện (喜多院), và đã từng tham học trên Tỷ Duệ Sơn. Vào năm 1448, ông làm trú trì đời thứ 9 của Bổn Thổ Tự. Năm sau, chùa này bị hỏa tai nên các ngôi đường vũ của chùa bị cháy rụi; nhưng nhờ sự hỗ trợ của tín đồ, ông đã xây dựng lại chùa như cũ. Đến năm 1458, ông còn khai sáng Chánh Pháp Tự (正法寺) ở vùng Thượng Tổng (上總, Kazusa), và tính ra ông đã xây dựng được 9 ngôi chùa. Trước tác của ông có Bổn Tôn Sao Kiến Văn (本尊抄見聞) 1 quyển, Ngự Bổn Tôn Khẩu Truyền (御本尊口傳) 1 quyển.

Nhật Đạo

(日導, Nichidō, 1724-1789): học Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa thời đại Giang Hộ, húy là Nhật Đạo (日導), Vinh Nhã (榮雅), Nhật Thâm (日深); thông xưng là Cương Yếu Đạo Sư (綱要導師), tự Trí Khê (智溪), hiệu Nhất Diệu Viện (一妙院), xuất thân Kumamoto-ken (熊本縣). Ông theo học trường Trung Thôn Đàn Lâm (中村檀林) ở Hạ Tổng (下總, Shimōsa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]), rồi phê phán chương trình học của trường có tính thiên nặng về Thiên Thai Học. Ông cùng với nhóm bạn Nhật Long (日龍), Nhật Đáo (日到), Nhật Nghĩa (日義), Nhật Phương (日芳) cùng thệ ước với nhau sẽ phục hưng giáo học tông môn. Sau đó, ông làm trú trì đời thứ 10 của Huệ Quang Tự (慧光寺) ở Giang Hộ. Vào năm 1785, ông lấy bộ Quán Tâm Bổn Tôn Sao (觀心本尊抄) của Nhật Liên làm cơ sở để viết nên bộ Tổ Thư Cương Yếu (祖書綱要). Năm sau, ông làm trú trì đời thứ 21 của Bổn Diệu Tự (本妙寺) ở Hùng Bổn (熊本, Kumamoto), Phì Hậu (肥後, Higo). Trước tác của ông có khá nhiều như Tổ Thư Cương Yếu (祖書綱要) 23 quyển, Pháp Hoa Tức Thân Thành Phật Nghĩa (法華卽身成佛義) 1 quyển, Thảo Mộc Thành Phật Ký (草木成佛記) 1 quyển, Tứ Chủng Tam Đoạn Sao (四種三段抄) 1 quyển, Tài Đoạn Cảm Thuyết (裁斷感說) 1 quyển, v.v.

Nhật Đảnh

(日頂, Nicchō, 1252-1317 hay 1328?): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Liêm Thương, húy là Nhật Đảnh (日頂), thường được gọi là Y Do A Xà Lê (伊予阿闍梨), hiệu là Y Do Phòng (伊予房); xuất thân vùng Trọng Tu (重須, Omosu), Tuấn Hà (駿河, Suruga, thuộc Shizuoka [靜岡]); con trai của Định Thời (定時), Trưởng Quan Kami vùng Y Do (伊予, Iyo). Ông xuất gia tại Hoằng Pháp Tự (弘法寺, Gubō-ji) của Thiên Thai Tông ở vùng Chơn Gian (眞間, Mama), Hạ Tổng (下總, Shimōsa); sau đến làm môn hạ của Nhật Liên. Năm 1271, khi Nhật Liên bị lưu đày đến vùng Tá Độ (佐渡, Sado), ông tùy tùng theo, rồi đến 1274, ông cũng theo thầy về Thân Diên Sơn (身延山) tu học. Ông cải đổi Hoằng Pháp Tự thành chùa của Nhật Liên Tông, rồi cùng với nghĩa phụ Phú Mộc Thường Nhẫn (富木常忍), lấy chùa này làm cứ điểm mở rộng hoạt động truyền giáo. Tuy nhiên, sau ông bất hòa với Thường Nhẫn, nên lui về ẩn cư ở quê nhà vùng Trọng Tu. Trước tác của ông có Lương Thật Trạng Ngự Phản Sự (良實狀御返事) 1 quyển, Bổn Tôn Đắc Ý Sao Phó Thư (本尊得意抄副書) 1 quyển.

Nhật Ấn

(日印, Nichiin, 1264-1328): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương, húy là Nhật Ấn (日印), hiệu Ma Ha Nhất A Xà Lê (摩訶一阿闍梨), xuất thân vùng Việt Hậu (越後, Echigo, thuộc Niigata [新潟]), con của Triêu Thương An Cao (朝倉安高). Ông vốn là vị tăng của Thiên Thai Tông, đến năm 1294, nhân nghe Nhật Lãng (日朗) của Nhật Liên Tông thuyết giảng về Ma Ha Chỉ Quán, ông cải tông theo tông phái này. Sau ông đến truyền đạo ở vùng Việt Hậu, sáng lập các chùa như Thanh Liên Hoa Tự (青蓮華寺, tức Bổn Thành Tự [本成寺]), Diệu Quang Tự (妙光寺), Pháp Phước Tự (法福寺), v.v., và mở rộng phạm vi thuyết giáo của ông. Sau khi Nhật Lãng qua đời, ông còn khai sáng ra Bổn Thắng Tự (本勝寺) ở vùng Liêm Thương; rồi đến năm 1321, ông thâu tập được các di thư của Nhật Lãng và tách thành một giáo phái riêng. Trước tác của ông có Bổn Thành Tự Trí Văn (本成寺置文) 1 quyển, v.v.

Nhật Ứng

(日應, Nichiō, 1433-1508): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa thời đại Thất Đinh, vị Tổ khai sơn của Diệu Liên Tự (妙蓮寺), húy là Nhật Ứng (日應). Ông tách ra khỏi Diệu Hiển Tự (妙顯寺) ở kinh đô, rồi nhờ Nhật Khánh (日慶) mà được cung thỉnh làm sơ Tổ tái hưng lại Diệu Pháp Liên Hoa Tự (妙法蓮華寺, tức Diệu Liên Tự). Sau ông được bổ nhiệm làm Tăng Chánh và làm cho chùa mình hưng thạnh lên.

nhậu

To drink wine.

nhắc nhở thế gian

To remind the mankind.

nhắm

To shut—To close (eyes).

nhắm nghiền

To close tightly.

nhắm trúng đích

To take a true (an accurate) aim.

nhắn

To send words through someone.

nhằm

To fall on.

nhằm lúc

At the very moment.

nhẵn

Completely—Totally.

nhẵn bóng

Smooth and shining.

nhẹ bổng

Very light.

nhẹm

Ém nhẹm—Secret.

Nhị

二; C: èr; J: ni;|Có hai nghĩa: 1. Hai, thứ hai; 2. Nhị nguyên; sự phân hai; »ta và người«.

nhị

Dva or Dvi (skt)—Hai—Two—Dvitiya—Second.

nhị ban

See Tri Sự Đầu Thủ.

nhị biên

Dharmadvaya (skt)—Duality—Two sides—Two extreme views—Two dualistic views expressly rejected in Buddhism: (A) 1) Đoạn kiến: Nihilism (skt)—Hoại diệt—Đoạn biên kiến, coi mọi vật không hiện hữu, ngay cả những ảo giác hiện lên, hay bất cứ thứ gì tiếp tục sau khi chết. Tà kiến nầy phủ nhận thuyết tái sanh—Annihilation—Considering that things do not exist in any sense, even the delusory manifestations of the world, nor anything continue after death—Denial of the doctrine of reincarnation. 2) Biên kiến: Eternalism (skt) Vĩnh cửu—Thường biên kiến, tin rằng có sự hiện hữu thật của sự vật, và có những thứ hiện hữu đời đời—Immortality—Believing that there is true existence of real being in objects, or that there is some entity that exists forever. (B) 1) Hữu biên: Tin có sự hiện hữu—Those who believe that things exist. 2) Vô biên: Tin rằng không có cái gì có thể tự hiện hữu—Those who believe that nothing is self-existent or thins cannot be said to exist. (C) 1) Tăng ích biên: The plus side—Những người tin rằng không có một linh hồn hay sự thường hằng; vạn pháp vốn không có tự tánh—Those who believe in a soul or permanence; all things are unreal and have no-self. 2) Tổn giảm biên: The minus side—Những người tin rằng không có cái gì hiện hữu ngay cả nghiệp báo—Those who believe that nothing exists even of karma. ; (二邊) Hai bên, tức 2 cực đoan lìa Trung đạo. Về thuyết này, trong các luận có nhiều cách giải thích khác nhau: - Luận Trung quán quyển 4: Nhị biên chỉ cho có, không hoặc thường, vô thường. - Luận Thuận trung quyển hạ: Nhị biên chỉ cho thường, đoạn. - Luận Nhiếp đại thừa do ngài Thế thân chú thích quyển 1, ngài Huyền trang dịch: Nhị biên chỉ cho tăng ích, tổn giảm. - Chỉ quán phụ hành quyển 3: Nhị biên chỉ cho không, giả.

nhị biến

(二變) Hai biến, tức là Nhân duyên biến và Phân biệt biến. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 2, thức biến hữu lậu có thể chia làm 2: 1. Nhân duyên biến: Theo thế lực của nhân và duyên mà biến. 2. Phân biệt biến: Theo thế lực của sự phân biệt mà biến. Nhân duyên biến thì có dụng, còn Phân biệt biến chỉ là cảnh. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.3, phần đầu]. (xt. Phân Biệt Biến, Nhân Duyên Biến).

nhị biểu nghiệp

Hai loại biểu nghiệp của thân khẩu ý—Two kinds of activities of the body, mouth and mind: 1) Hữu Biểu Nghiệp: Manifested activities—See Hữu Biểu Nghiệp. 2) Vô Biểu Nghiệp: Unmanifested activities—See Vô Biểu Nghiệp.

nhị bách ngũ thập giới

Cụ Túc Giới—Hai trăm năm chục giới cụ túc của Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni—The 250 commandments (precepts) or the perfect or complete commandments which are obligatory on monks and nuns. I. Tỳ Kheo 250 Giới—250 Commandments for Bhikkhus: (A) (4) Tứ Ba La Di hay Tứ Căn Bản Cực Ác: Parajika (skt)—Bốn trọng tội không thể tha thứ được. Một vị Tỳ Kheo phạm phải một trong bốn trọng tội nầy sẽ bị trục xuất khỏi giáo đoàn—The four unpardonable offenses. A monk who commits one of these offenses is expelled from the Order. 1) Sát: Sát sanh—Kiling. 2) Đạo: Trộm cắp—Stealing or theft. 3) Dâm: Sexual intercourse. 4) Vọng: Vọng ngữ, đặc biệt tự khoa trương là mình đã phát huệ trong khi mình chẳng có gì—Lying, particularly, claiming to have attained insight or understanding that one does not in fact possess. (B) (13) Thập Tam Tăng Tàn: Sanghavasesa (skt)—13 trọng giới Tăng Tàn. Một vị Tỳ Kheo phạm phải một trong 13 giới nầy sẽ tạm thời bị trục xuất ra khỏi giáo đoàn một thời gian, cách ly để sám hối (gồm lậu thất, ma xúc, thô ngữ, thán thân, môi nhân, vô chủ phòng, hữu chủ phòng, vô căn báng, giả căn báng, phá Tăng, trợ phá Tăng, ô gia tấn, cự Tăng gián)—Thirteen major prohibitions. A monk who violates these are divested of membership in the Order for a certain period of time. (C) (2) Nhị Bất Định Pháp: Aniyata (skt)—Hai trọng tội Bất Định Pháp, như một mình ở cùng nơi với người nữ, dù có ai thấy, hay không thấy. Gọi là nhóm tội bất định vì hình phạt thay đổi tùy theo tội trạng—Two major offenses such as being alone with a woman, either in a place where one cannot see, or in a place where one can see. These rules are called the indeterminate or aniyata group because the punishment for going against them varies according to their circumstances. 1) Bình xứ bất định: Prohibition relating to offenses which are committed in a place where one cannot be seen. 2) Lộ xứ bất định: Giới cấm liên hệ tới việc phạm giới tại một nơi không ai thấy—Prohibition relating to offenses which are committed in a place where one can be seen. (D) (30) Tam Thập Xả Đọa: Naihisargika-prayaschittika (skt)—Ba mươi giới xả đọa gồm những giới về y, bát, và vật dụng chung, vân vân. Người phạm phải một trong ba mươi giới nầy sẽ bị rơi vào ba đường dữ—Thirty standards whose violation is said to cause one to fall into the three evil paths. (E) (90) Cửu Thập Ba Dật Đề: Shuddha-Prayaschittika (skt)—Chín mươi tội Ba Dật Đề, hay ứng đối trị, gồm những tội linh tinh. Người phạm phải những giới nầy phải phát lồ sám hối trước chúng—Ninety standards, violation of which requires public confession. (F) (4) Đề Xá Ni: Pratiddesaniya (skt)—Bốn tội Đề Xá Ni, hay ưng phát lồ. Người phạm phải những tội nầy chỉ phát lồ sám hối khi có người biết được tội của mình (Tùng phi thân ni thủ thực, thực ni chỉ thọ thực, học gia thọ thực, lan nhã thọ thực)—Four lesser standards, the breaking of which requires confession when one becomes aware of his error. (G) (100) Bách Chúng Học: Siksakaraniya or Shaiksha-dharma (skt)—Một trăm tội nhẹ, rất dễ phạm phải. Người phạm phải những tội nầy nên nhớ trong lòng để tiến tu—One hundred very minor standards, which are easily broken but which should be borne in mind for one's self-development. (H) (7) Thất Diệt Tranh: Adhikarana-shamatha (skt)—Bảy quy luật để dàn xếp những tranh cãi trong giáo đoàn—Seven kinds of Vinaya for ending or settling disputes within the Order—See Thất Diệt Tranh Pháp. II. 348 Giới Tỳ Kheo Ni—348 Commandments for Bhikkhunis. ** Giống như của Tỳ Kheo, cộng thêm bốn giới Ba La Di, 80 giới Ba Dật Đề, 4 giới Đề Xá Ni, và mười giới Tăng Tàn—The same as commandments for Bhikkhus, plus another four Parajika, another 80 Prayascittikah, another four Pratidesaniya, and another ten Sanghavasesa. ; (二百五十戒) Cũng gọi Cụ túc giới. Hai trăm năm mươi giới, tức là giới luật do đức Phật chế định mà các vị tỉ khưu phải tuân thủ. Hai trăm năm mươi giới gồm: 4 điều Ba la di, 13 điều Tăng tàn, 2 điều Bất định, 30 điều Xả đọa, 90 điều Đơn đọa, 4 điều Đề xá ni, 100 điều Chúng học và 7 điều Diệt tránh. Nhưng theo tạng Luật do các bộ phái truyền trì có bất đồng, nên số giới điều của mỗi bộ phái cũng có hơi khác nhau. Tuy nhiên, trên đại thể thì đều lấy 250 giới làm con số cơ bản.

nhị bách nhất thập ức phật độ

(二百一十億佛土) Hai trăm mười ức cõi Phật được dự kiến để cho bồ tát Pháp tạng (tiền thân của đức Phật A di đà khi còn ở địa vị tu nhân) lập nguyện lựa chọn. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 267 trung) nói: Lúc bấy giờ, đức Phật Thế tự tại vương biết bồ tát Pháp tạng là bậc cao minh, chí nguyện sâu rộng (...) bèn nói rộng 210 ức cõi nước của chư Phật, trời người thiện ác, đất nước xấu đẹp ứng theo tâm nguyện của Bồ tát đều hiện ra hết. Khi ấy, bồ tát Pháp tạng nghe các cõi nước trang nghiêm thanh tịnh do đức Phật Thế tự tại vương nói đều được thấy tất cả, liền phát khởi nguyện thù thắng vô thượng.

Nhị báo

二報; C: èrbào; J: nihō;|Có hai nghĩa: 1. Hai dạng nghiệp báo: Chính báo (正報, nghiệp báo trực tiếp) và Y báo (衣報, không trực tiếp, tuỳ theo điều kiện xung quanh); 2. Tổng báo (總報) và Biệt báo (別報).

nhị báo

Hai loại quả báo—The dual reward: 1) Y báo: Y quả—Hoàn cảnh vật chất mà một người phải tùy thuộc vào do kết quả của nghiệp đời trước—The material environment on which a person depends, resulting from former karma. 2) Chánh báo: Chánh quả—Direct reward, body or person.

nhị bát

Mười sáu phép quán sát hay thiền định—The sixteen meditations. ; (二八) Hai lần 8 thành 16, tức chỉ cho 16 pháp quán tưởng được nói trong kinh Vô lượng thọ.Lời tựa trong luận Tịnh độ của ngài Ca tài nói (Đại 47, 83 trung): Mười sáu pháp quán tưởng được mở rộng và thịnh hành ở cõi Tịnh độ phương Tây(Nhị bát hoằng qui, thịnh hồ Tây độ).

nhị bát nhã

Hai loại bát nhã hay trí huệ—Two kinds of prajna or wisdom: (A) 1) Thế gian Bát nhã: Temporal wisdom. 2) Xuất thế gian Bát nhã: Supernatural wisdom. (B) 1) Thực tướng Bát nhã: Phần đầu của Bát Nhã Ba La Mật hay trí tuệ gốc—The first part of the Prajnaparamita—Original Wisdom. 2) Quán chiếu Bát nhã: Phần thứ nhì của Bát Nhã Ba La Mật hay trí tuệ đạt được qua tu tập—The second part of the Prajnaparamita—Wisdom acquired from cultivation or contemplation. (C) 1) Cộng Bát nhã: Bát Nhã của ba giai đoạn Thanh văn, Duyên giác và Bồ Tát—Prajna of the three stages of Sravaka and Pratyeka-buddha and the imperfect bodhisattva sect. 2) Bất cộng Bát nhã: Bát Nhã của học thuyết toàn thiện Bồ Tát—Prajna of the perfect bodhisattva teaching. ; (二般若) I. Nhị Bát Nhã. Chỉ cho Cộng bát nhã và Bất cộng bát nhã.1. Cộng bát nhã: Tức là Thông giáo của tông Thiên thai, chung cho Tam thừa: Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát cùng chung tu chứng. 2. Bất cộng bát nhã: Tức là Biệt giáo và Viên giáo của tông Thiên thai, chỉ nói cho riêng hàng Bồ tát của Biệt giáo và Viên giáo chứ không chung cho Nhị thừa Thanh văn và Duyên giác. II. Nhị Bát Nhã. Chỉ cho 2 loại Bát nhã của Bồ tát, tức Bát nhã thế gian và Bát nhã xuất thế gian.1. Bát nhã thế gian: Loại Bát nhã này không thực hành tĩnh lặng chân thực, mà thường thực hành Bát nhã có kiến giải, có hình tướng, có chấp trước. Loại Bát nhã này chung cho Nhị thừa Thanh văn và Duyên giác.2. Bát nhã xuất thế gian: Loại Bát nhã này không còn chấp trước, bình đẳng vắng lặng, lìa các danh tướng; loại Bát nhã này vượt hơn tất cả Thanh văn, Duyên giác, nên gọi là Bồ tát xuất thế bát nhã đại giáp trụ luân.[X. kinh Địa tạng thập luân Q.10]. III. Nhị Bát Nhã. Chỉ cho Thực tướng bát nhã và Quán chiếu bát nhã. [X. Hoa nghiêm đại sớ sao Q.1].

nhị bất định pháp

xem hai pháp không xác định.

nhị bần

Hai loại nghèo—Two kinds of poverty: 1) Tài bần: Nghèo vật chất—Poverty of goods. 2) Pháp bần: Nghèo tâm linh—Poverty of faith or religion. ; (二貧) Chỉ cho 2 cái nghèo, tức là nghèo của và nghèo pháp. 1. Nghèo của: Thiếu thốn tiền của và vật dụng cho đời sống hằng ngày. 2. Nghèo pháp: Tà kiến không tin chính pháp. [X. luận Đại trí độ Q.98].

nhị bật sô

(二苾芻) Bật sô tức là tỉ khưu. Có 2 loại: 1. Bật sô thế tục: Tức là tỉ khưu phàm phu.2. Bật sô thắng nghĩa: Tức là tỉ khưu đã chứng quả Thánh. [X. Câu xá luận quang kí Q.15].

nhị bố thí

Hai loại bố thí—Two kinds of dana or charity: (A) 1) Tài thí: Bố thí bằng của cải—Giving of goods. 2) Pháp thí: Thuyết giảng những lời Phật dạy để độ người—Giving the Buddha's truth to save sentient beings. (B) 1) Tịnh thí: Bố thí thanh tịnh chẳng cần báo đáp—Pure or unsullied charity, which looks for no reward here but only hereafter (expecting no return). 2) Bất tịnh thí: Bố thí mong cầu phước báo—Impure or sullied charity whose object is personal benefit (expecting something in return).

nhị bộ

Hai bộ được thành lập ngay khi Phật nhập diệt—Two divisions that took place immediately after the Buddha's death: 1) Thượng Tọa bộ: The elder monks or intimate disciples. 2) Đại Chúng bộ: The general body of disciples.

nhị bộ giới bản

(二部戒本) Hai bộ giới bản, tức chỉ cho giới bản của tỉ khưu và tỉ khưu ni, là bản kinh nói rõ về giới luật của tăng và ni. [X. thiên Thuyết giới chính nghi trong Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao].

nhị bộ ngũ bộ

The two divisions and the five divisions. (A) Nhị Bộ: The two divisions—See Nhị Bộ. (B) Ngũ Bộ: Người ta nói rằng Ngũ Bộ được thành hình một thế kỷ sau khi Phật nhập diệt—The five divisions, which are said to have occurred a century later: 1) Đàm Vô Đức bộ: Dharma-guptah (skt). 2) Tát Bà Đa bộ: Mulasarvastivadah (skt). 3) Di Sa Tắc bộ: Mahisasakah (skt). 4) Ca Diếp Di bộ: Kasyapiyah (skt). 5) Bà Thô Phú Na bộ: Vatsiputriyah (skt). ; (二部五部) Hai bộ 5 bộ. Hai bộ chỉ Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Còn 5 bộ thì chỉ cho Đàm vô đức bộ, Tát bà đa bộ, Di sa tắc bộ, Ca diếp di bộ và Bà thô phú la bộ. [X. Tam luận huyền nghĩa; chương 4, 6 trong Ấn độ chi Phật giáo (Ấn thuận)].

Nhị chuyển

二轉; C: èrzhuăn; J: niten;|Hai sự chuyển hoá. Chuyển phiền não chướng (煩惱障) và Sở tri chướng (所知障) thành Đại giác ngộ và Niết-bàn.

nhị chuyển diệu quả

(二轉妙果) Cũng gọi Nhị chuyển y quả, Nhị thắng quả.Gọi tắt: Nhị chuyển y, Nhị chuyển. Dứt hết 2 thứ chướng phiền não và sở tri mà chuyển thành 2 thứ quả thù thắng vi diệu.Luận Thành duy thức quyển 1 (Đại 31, 51 thượng) nói: Nhờ chuyển phiền não chướng mà được Đại niết bàn; nhờ chuyển sở tri chướng mà chứng Vô thượng giác. Hễ loài hữu tình chứng được quả Nhị chuyển y ấy tức là ý nghĩa Duy thức được thành lập, hoặc Y chính là Chân như duy thức vậy. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần đầu; Bát tông cương yếu Q.hạ].

Nhị chân như

二眞如; C: èr zhēnrú; J: ni shinnyo;|Hai loại Chân như (s: tathatā): 1. Theo giáo lí Du-già hành tông thì đó là An lập chân như (安立眞如), được biểu hiện qua ngôn ngữ văn tự và Phi an lập chân như (非安立眞如), siêu việt mọi phân biệt đối đãi. Dạng thứ nhất tương quan với sự chứng ngộ của hàng Nhị thừa (二乘); dạng thứ hai tương quan với sự chứng ngộ của hàng Bồ Tát; 2. Theo Đại thừa khởi tín luận, Vô cấu, Siêu việt chân như, và Chân như là cội nguồn của mọi hiện tượng.

nhị chân như

Theo Phật Giáo, có hai loại Chân Như—According to Buddhism, there are two aspects of the bhutatathata, or two truths: (A) 1) Bất biến chân như (vạn pháp tức chân như): An lập chân như—Tùy theo duyên vô minh mà khởi lên trong thế giới hiện tượng mà chân tính bất biến—The changeless essence or substance. 2) Tùy duyên chân như (chân như tức vạn pháp): Phi an lập chân như—Tùy theo duyên vô minh mà dấy lên như trong thế giới hiện tượng—Its conditioned or ever-changing forms, as in the phenomenal world. (B) 1) Ly ngôn chân như: Thể tướng của chân như vốn xa lìa tướng ngôn ngữ, tướng tâm niệm—The inexpressible absolute, only mentally conceivable. 2) Y ngôn chân như: Dựa vào ngôn ngữ lời nói giả danh để hiện rõ chân tướng—Aspects expressed in words. (C) 1) Không chân như: Lìa hết thảy các pháp nhiễm lây, dường như hư không hay tấm gương sáng, không có gì trong đó—The absolute as the void (space, the sky, the clear mirror). 2) Bất không chân như: Chơn như đủ hết thảy các pháp tịnh, như gương sáng hiện lên muôn vẻ—The absolute in manifestation or phenomenal (images in the mirror)—The womb of the universe in which are all potentialities. (D) 1) Tại triền chân như: Còn gọi là Hữu Cấu Chân Như, tức là chân như ở trong ràng buộc—The Buddha nature in bonds. 2) Xuất triền chân như: Còn gọi là Vô Cấu Chân Như, tức là chân như ra khỏi ràng buộc—The Buddha nature set free by the manifestation of the Buddha and Bodhisattvas. (E) 1) Hữu cấu chân như: Chân như có bợn nhơ, như trong trường hợp chúng sanh là những người chưa giác ngộ (lục bình bám rễ trong bùn)—The Buddha-nature defiled, as unenlightened man (water lily with its roots in the mud). 2) Vô cấu chân như: Chân như không bợn nhơ, như nơi chư Phật hiển hiện Phật tánh thanh tịnh và trong sáng như trăng rằm—The pure Buddha-nature, purified or bright as the full moon. (F) 1) An lập Chân như: See Bất biến Chân như. 2) Phi An lập Chân như: See Tùy duyên Chân như. (G) 1) Tương đãi chân như: Chơn như trong thế giới hiện tượng, y theo lời nói giả danh mà hiển hiện ra, bất biến mà tùy duyên—Relative or conventional, everyday truth of the mundane world subject to delusion and dichotomies. a) Chơn như tương đối trong thế giới hiện tượng, y theo lời nói giả danh mà hiện ra, bất biến mà tùy duyên—The relative truth, or the truth of the unreal, manifests 'stillness but is always illuminating,' which means that it is immanent in everything. b) Những nhà tư tưởng của trường phái Tịnh Độ chấp nhận dùng tương đãi chân như để diễn tả tuyệt đãi chân như, hay dùng tương đãi chân như như là cỗ xe phương tiện đưa chúng ta đến tuyệt đãi chân như. Phương thức giúp hành giả Tịnh Độ dựa trên sắc tướng để đạt đến Phật tánh là cái vô tướng—Pure Land thinkers accepted the legitimacy of conventional truth as an expression of ultimate truth and as a vehicle to reach Ultimate Truth. This method of basing on form helps cultivators reach the Buddhahood, which is formless. 2) Tuyệt đãi chân như: Chơn như tuyệt đối, siêu việt, hay chân không tuyệt đối, đây là những gì chư Phật đã dạy, tùy duyên mà bất biến—The ultimate or absolute Truth, transcending dichotomies, as taught by the Buddhas. The absolute truth, or the truth of the void, manifests'illumination but is always still,' and this isn absolutely inexplicable. ** For more information, please see Chân Như (C). ; (二真如) Hai loại chân như. Có 5 loại Nhị chân như:1. Li ngôn chân như và Y ngôn chân như: Tức là nương vào Li ngôn thuyên và Y ngôn thuyên mà chia diệu lí chân như làm Li ngôn và Y ngôn. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.5]. 2. Không chân như và Bất không chân như: Không chân như rốt ráo hiển thực, Bất không chân như có tự thể, đầy đủ công đức của tính vô lậu. 3. Bất biến chân như và Tùy duyên chân như: Bất biến chân như tùy thuận muôn pháp sai biệt, nhưng không đánh mất tự tính chân như; còn Tùy duyên chân như thì không bị hạn cuộc trong tự tính mà tùy theo duyên nhiễm, tịnh mà sinh ra pháp nhiễm, tịnh. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.5; luận Thích ma ha diễn Q.3]. 4. Hữu cấu chân như và Vô cấu chân như: Cấu chỉ cho phiền não cấu nhiễm, hễ có phiền não cấu nhiễm thì gọi là Hữu cấu chân như; còn nếu không có phiền não cấu nhiễm thì gọi là Vô cấu chân như. [X. Đại thừa chỉ quán pháp môn Q.2]. 5. Sinh không chân như và Pháp không chân như, cũng gọi Nhị không chân như, Nhị không chân lí. Chân lí từ ngã không mà hiển hiện, thì gọi là Pháp không chân như.[X. luận Thành duy thức Q.10]. (xt. Chân Như).

nhị chính

(二正) Chỉ cho thể chính và dụng chính. Tam luận huyền nghĩa (Đại 45, 7 trung) nói: Đối với pháp không có danh tướng gượng nói danh tướng, khiến cho người theo học nhờ đó mà được ngộ, cho nên lập ra Nhị chính: Một là thể chính, hai là dụng chính. Thể chính thì chẳng phải chân, chẳng phải tục, còn dụng chính thì là chân và tục. Sở dĩ như thế là vì thực tướng các pháp dứt bặt nói năng suy nghĩ, không hề có chân tục, cho nên gọi là thể. Không có thiên lệch, đó là chính, cho nên gọi là Chính thể. Còn nói về dụng chính thì thể của nó dứt hết danh ngôn, không do đâu mà ngộ được, tuy chẳng phải hữu vô mà gượng nói có chân tục, nên gọi là dụng. Chân và tục này cũng không thiên lệch, đó là chính, vì thế gọi là Dụng chính. Vì pháp thể là thực tướng và lí Bát nhã chứng được vốn không 2, xa lìa thiên lệch tà vạy, nhưng gượng gọi là chính, nên nói là Chính thể. Còn thể của vô ngôn là cái lìa danh tướng, nhưng nếu không nói thì không làm được lợi ích gì cho chúng sinh, bởi thế dùng trí lực Bát nhã để khởi lên cái dụng phương tiện hóa tha, gượng đặt ra ngôn giáo chân đế, tục đế, dùng để thuyết pháp giáo hóa. Tuy nhiên, cái dụng phát khởi từ thể chính bất nhị, không rơi vào thiên lệch, dụng của 2 đế chân tục cũng chính, cho nên gọi là Dụng chính. [X. Tam luận huyền nghĩa kiểm u tập Q.5; Tam luận huyền nghĩa giảng thuật Q.trung (Hiểu ngộ)].

nhị chúng

Hai chúng Phật giáo—Two groups of Buddhist followers: 1) Chúng Xuất gia: Tu sĩ xuất gia là những vị đã giữ từ mười giới trở lên—The monks or clergy who observe at least ten commandments. 2) Chúng tại gia: Cư sĩ tại gia là các vị chỉ giữ từ năm đến tám giới—The laity who observe the five and the eight commandments. ; (二衆) I. Nhị Chúng. Đạo chúng và tục chúng. 1. Đạo chúng: Những người xuất gia tu đạo, thụ 10 giới, giới Cụ túc. 2. Tục chúng: Những người tại gia qui y Tam bảo, thụ 5 giới, 8 giới. II. Nhị Chúng. Chỉ cho tỉ khưu và tỉ khưu ni. III. Nhị Chúng. Chỉ cho ưu bà tắc và ưu bà di (nam, nữ Phật tử).

Nhị chướng

二障; C: èrzhàng; J: nishō;|I. Hai loại chướng ngại Phân biệt chướng (分別障) và Câu sinh chướng (倶生障) theo giáo lí của Duy thức tông; II. Phiền não chướng (煩惱障), là chướng ngại đầu tiên trong 7 chuyển thức (轉識), có thể được trừ diệt qua pháp tu tiệm thứ của hàng Thanh văn và Bích-chi Phật; Sở tri chướng (所知障), là loại phiền não vi tế nhất xuất phát từ căn bản thức (A-lại-da thức 阿頼耶識) chỉ có thể được chuyển hoá bởi Bồ Tát đã trực chứng Tính không (s: āvaraṇa-dvaya). Theo kinh Viên Giác, hai loại nầy được gọi là Sự chướng (事障) và Lí chướng (理障), tương ứng với các tên gọi đã nêu trên. Xem thêm Nhị chướng nghĩa (二障義) để biết chi tiết về các loại chướng ngại nầy.

nhị chướng

(二障) Cũng gọi Nhị ngại. I. Nhị Chướng. Chỉ cho Phiền não chướng và Sở tri chướng do phái Du già hành và tông Pháp tướng phân loại. 1. Phiền não chướng: Do chấp ngã mà sinh ra, vì tất cả các hoặc tham, sân, si... phát nghiệp nhuận sinh, phiền nhiễu thân tâm loài hữu tình, khiến phải sinh tử mãi trong 3 cõi, 5 đường, gây chướng ngại cho quả Niết bàn, nên gọi là Phiền não chướng. 2. Sở tri chướng, cũng gọi Trí chướng. Do chấp pháp mà sinh ra, vì các hoặc tham, sân, si... khiến loài hữu tình trở nên ngu si, mê muội, ngăn trở diệu trí bồ đề, làm cho chúng sinh không thấy rõ được sự tướng và thực tính của các pháp, vì thế gọi là Sở tri chướng. [X. luận Thành duy thức Q.9]. II. Nhị Chướng. Chỉ cho Phiền não chướng và Giải thoát chướng. 1. Phiền não chướng: Do chấp ngã mà làm chướng ngại sự phát sinh của trí tuệ vô lậu.2. Giải thoát chướng, cũng gọi Bất nhiễm vô tri định chướng, Định chướng, Câu giải thoát chướng. Giải thoát là tên khác của định Diệt tận. Vì pháp này gây trở ngại cho bậc Thánh vào định Diệt tận, cho nên gọi là Giải thoát chướng, thể của nó là Bất nhiễm ô vô tri. [X. luận Câu xá Q.25; Câu xá luận quang kí Q.25; Câu xá luận tụng sớ Q.12]. III. Nhị Chướng. Chỉ cho Lí chướng và Sự chướng. 1. Lí chướng: Các hoặc tà kiến... mê lầm về lí làm chướng ngại chính tri kiến, tương đương với Sở tri chướng. 2. Sự chướng: Các hoặc tham, sân, si... mê lầm về sự, làm cho sinh tử nối tiếp, gây chướng ngại cho Niết bàn, tương đương với Phiền não chướng. [X. kinh Viên giác Q.hạ]. IV. Nhị Chướng. Chỉ cho Nội chướng và Ngoại chướng. 1. Nội chướng: Ba độc làm chướng ngại khiến trong tâm chúng sinh khởi lên phiền não. 2. Ngoại chướng: Bảy nạn là những chướng ngại do các cảnh bên ngoài thêm vào.[X. A sa phược sao Q.187].

Nhị chướng nghĩa

二障義; C: èrzhàng yì; J: nishōgi; K: ijang'ǔi|Giáo lí về hai loại chướng ngại. Một luận giải chi tiết đề cập nhiều lí thuyết khác nhau về giáo lí hai chướng ngại của Du-già hành phái (瑜伽行派) của Nguyên Hiểu (元曉; k: wǒnhyo). Luận giải nầy khảo sát và so sánh những giải thích khác nhau về hai thứ chướng ngại được trình bày trong các kinh văn của Du-già hành tông, nổi tiếng nhất là Du-già sư địa luận (瑜伽師地論; s: yogācārabhūmi-śāstra), kinh Giải thâm mật (解深密經; s: saṃdhinirmocana-sūtra), Đối pháp luận (對法論; s: mahāyānābhi-dharma-samuccaya-vyākhyā), kinh Thắng Man (勝鬘經; s: śrīmālādevī-simhanāda-sūtra), và Hiển dương luận (顯揚論; s: prakaranāryavāca-śāstra). Đầu tiên, Nguyên Hiểu định nghĩa những đặc điểm của các loại chướng ngại rất sâu rộng theo thuật ngữ của Hiển giáo lẫn Mật giáo. Sau đó, sư giải thích cách giải trừ chúng theo thuật ngữ của nhiều bản kinh văn khác nhau của Du-già hành tông, cách chuyển hoá phiền não đã được thủ đắc bởi nhiều tầng lớp hành giả khác nhau. Vì thế nên luận văn này là một tài liệu giáo khoa thích hợp nhất để tìm hiểu các ý niệm về phiền não, nhiễm ô trong Phật học và những chướng ngại cho tiến trình giải thoát gây ra bởi tâm phân biệt của con người.

nhị chấp

(A) Hai tà chấp hay luyến ái—Two erroneous tenets or attachments—Illusions—Do ngã pháp chấp, ảo vọng phát khởi—All illusion arises from holding to the reality of the ego and of things: 1) Ngã chấp: Nhân chấp hay chấp cái ngã có thật—Attachment of the reality of the ego, permanent personality, the atman, soul or self. 2) Pháp chấp: Chấp rằng vạn pháp có thật—Attachment of the reality of dharma, things or phenomena. (B) Hai thuyết chấp về luân hồi—Two theories on reicarnation: Hai thuyết nầy đều không đúng với luật “Luân Hồi” của đạo Phật. Theo giáo lý nhà Phật thì chúng sanh lăn lộn trong luân hồi sanh tử, vòng luân hồi xoay chuyển chúng sanh trong lục đạo. Phật tử không tin nơi đoạn diệt, vì đoạn diệt căn cứ trên sự hiểu biết không toàn hảo về chân như thực tánh; mà cũng không tin nơi thường hằng vì Phật tử không tin thế giới nầy hay thế giới nào khác lại có sự trường cửu không thay đổi—Both theories do not conform to the Buddhist law of causality. In Buddhist view, men are tied to the cycle of birth and death, the cycle of reincarnation. This cycle turns around and around, compelling men to reincarnate in one of the six realms. Buddhists believe that Nihilism is false because it is based on incomplete understanding of reality. Eternalism is also wrong, because Buddhists cannot accept that there is anything either in this world or any other world that is eternal or unchangeable. 1) Chấp Đoạn Kiến—Attachment on Nihilism: Thuyết nầy tin rằng loài người cũng như vật, chết là mất là mất hẳn, không còn gì sau đó, là cát bụi con người trở về với cát bụi. Các khoa học gia cho rằng mỗi cá nhân vào đời lúc được thọ thai do tinh cha trứng mẹ, sống cuộc đời của mình và chết, chấm dứt hiện hữu—This theory believes in nihilism, claims that after death there is nothing left. Man born from dust will return to dust. This is what scientists believe. They say every person conceived by the fusion of a sperm and egg, will live his life and will die, thus terminating his existence on earth. 2) Chấp Thường Kiến—Attachment on Eternalism: Thuyết nầy tin rằng trước khi là người, con người không có hiện hữu, rồi được tạo nên, con người được sanh vào đời do ý chí của một vị thần linh. Người ấy sống đời mình, rồi tùy theo những gì mình tin tưởng hay những hành động của mình trong đời, sẽ được về vĩnh viễn trên cõi thiên đàng hoặc bị đày vĩnh viễn nơi địa ngục—This theory believes in eternalism, believes that man was created by the will of some Deity. He will live his life and act according to his beliefs in order to return to Heaven or to be condemned forever in Hell. ; (二執) I. Nhị Chấp. Ngã chấp và pháp chấp. Cũng gọi Ngã pháp nhị chấp, Nhân pháp nhị chấp, Sinh pháp nhị chấp. 1. Ngã chấp, cũng gọi Nhân chấp. Nghĩa là vì không biết thân người là do 5 uẩn giả hòa hợp,nên cố chấp trong 5 uẩn có cái ta thường nhất và chủ tể. 2. Pháp chấp: Vì không rõ các pháp là do nhân duyên sinh ra, như huyễn như hóa, nên cố chấp các pháp có thực tính. Hai cái chấp trên đây là chỗ chấp của Tát ca da kiến (ngã kiến),1 trong 5 kiến; khởi lên ngã chấp thì sinh ra phiền não chướng,còn khởi lên pháp chấp thì sinh ra sở tri chướng. [X. chương Nhị chấp trong Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.4] (xt. Nhân Ngã Pháp Ngã). II. Nhị Chấp. Chỉ cho Tăng chấp và Giảm chấp. 1. Tăng chấp: Chấp trước các pháp là thực có, là tình chấp thiên về bên có. 2. Giảm chấp: Chấp trước các pháp là không, là tình chấp thiên về bên không. [X. luận Thành duy thức Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.1].

nhị chủng

Hai loại—Two kinds or classes. ; (二種) Hai giống, tức giống phàm và giống thánh. 1. Giống phàm: Chỉ cho hàng phàm phu không có khả năng liễu ngộ, theo nghiệp chịu báo, luân hồi sinh tử, nối tiếp không dứt. 2. Giống thánh: Chỉ cho những người nhờ sự giúp đỡ của thiện tri thức, được nghe chính pháp, hiểu rõ tất cả các pháp đều do vọng niệm mà sinh; quán xét vọng tâm ấy giống như hư không nên không chấp trước các pháp, có khả năng làm hạt giống cho quả Thánh.

nhị chủng bát nhã

See Nhị Bát nhã.

nhị chủng bạch pháp

(二種白法) Hai thứ pháp trắng sạch, tức là thẹn thùng và hổ ngươi. Vì 2 pháp này có công năng làm cho tất cả hạnh kiểm và hành vi được trong sáng, trắng sạch nên gọi là Bạch pháp. (xt. Bạch Pháp).

nhị chủng bản giác

(二種本覺) Hai thứ bản giác, tức là Tùy nhiễm bản giác và Tính định bản giác. 1. Tùy nhiễm bản giác: Nương vào tính ô uế của vọng nhiễm mà hiển bày thể tướng của bản giác, được chia làm 2 loại là Trí tịnh tướng và Bất tư nghị nghiệp tướng. a) Trí tịnh tướng bản giác: Tướng bản giác theo nhiễm trở về tịnh, tức là nương vào sức xông ướp (huân tập) của chân như bên trong và sức giúp đỡ của giáo pháp Như lai bên ngoài mà như thực tu hành, dùng phương tiện đầy đủ, cho nên phá trừ vọng tâm để hiển hiện pháp thân, làm cho trí thuần tịnh của thủy giác hợp nhất với bản giác. b) Bất tư nghị nghiệp tướng của bản giác: Tức là tướng nghiệp dụng của bản giác trở lại thanh tịnh, là vì nhờ vào tướng trí tịnh nên tướng vô lượng công đức thường không dứt mất, căn cứ theo các tướng tự nhiên ứng hợp nhau mà thực hiện nhiều việc lợi ích. Vì thế nên biết tướng trí tịnh là ương vào nhiễm duyên của chính mình mà thành, còn tướng nghiệp bất tư nghị là nương vào nhiễm duyên của người khác mà thành, cả 2 tướng đều không lìa nhiễm duyên, nên gọi là Tùy nhiễm bản giác. 2. Tính tịnh bản giác: Chân như của bản giác xa lìa tất cả các pháp ô nhiễm, đầy đủ hết thảy tính đức, thể đại và tướng đại là nhân huân tập bên trong, dụng đại là duyên giúp đỡ bên ngoài, gọi là Tính tịnh bản giác. Nếu dùng tấm gương sáng để ví dụ, thì Tính tịnh bản giác có 4 nghĩa: Gương như thực không, gương nhân huân tập, gương pháp xuất li và gương duyên huân tập. [X. Thích ma ha diễn luận Q.3]. (xt. Bản Giác).

nhị chủng bản tôn

(二種本尊) Hai loại Bản tôn. Bản tôn nghĩa là bậc tôn quí nhất vốn có từ xưa, xuất hiện ra thế gian.Theo phẩm Bản tôn tam muội trong kinh Đại nhật thì 3 thứ: Chữ, Ấn và Hình của Bản tôn, mỗi thứ được chia làm 2 loại: 1. Hai loại Chữ: a) Quán nghĩa chữ A: Chữ A là tâm bồ đề, cho nên hướng về chữ A mà quán xét tâm bồ đề của tự tính thanh tịnh. b) Xướng tiếng chữ A: Xướng tiếng này như rung chuông không ngừng, dùng nó để điều hòa hơi thở ra vào. 2. Hai loại hình Ấn: a) Hữu hình: Hình nghĩa là các màu xanh, vàng, đỏ, trắng..., các hình vuông, tròn..., các loại cong, thẳng, ngồi, đứng... Ấn là ấn được cầm, như loại chày kim cương. Tức người mới tu quán, trước quán tưởng tượng vẽ của Bản tôn có hình tướng ở ngoài tâm, nhờ đó dần dần đi vào quán tưởng Bản tôn không hình tướng trong tâm. b) Vô hình: Sau, quán tưởng dần dần nhuần nhuyễn, lại được nhờ sức gia trì, Bản tôn tự nhiên hiện trong tâm, ứng hợp với tâm, nên tâm không còn duyên theo bất cứ đối tượng nào ngoài tâm. 3. Hai loại hình Bản tôn: a) Phi thanh tịnh: Chẳng phải thanh tịnh. Nghĩa là người mới tu quán, trước hết quán tưởng Bản tôn có hình tướng, nhờ đó dần dần tiến vào chỗ thanh tịnh không hình tướng, nhưng vì Bản tôn là tôn vị có hình tướng, nên gọi là Phi thanh tịnh. b) Thanh tịnh: Trong sạch. Tức là từ chỗ có hình tướng tiến vào nơi thanh tịnh không hình tướng, hoàn toàn vắng bặt, vô tướng: Đó là thanh tịnh. [X. Đại nhật kinh sớ Q.20].

nhị chủng bệnh

(二種病) I. Nhị Chủng Bệnh. Chỉ cho 2 thứ bệnh là thân bệnh và tâm bệnh. 1. Thân bệnh: Bệnh khổ phát sinh do thân tứ đại mất quân bình. 2. Tâm bệnh: Tâm không thăng bằng, hoặc mừng vui thái quá, hoặc do sợ hãi lo âu, hoặc do tinh thần bấn loạn... mà sinh ra các chứng bệnh. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.12 (bản Bắc)]. II. Nhị Chủng Bệnh. Hai thứ bệnh, tức bệnh do nghiệp nhân đời trước và bệnh do đời này mất sự điều hòa.1. Bệnh do nghiệp nhân đời trước: Đời trước ưa đánh đập người khác, làm nhiều việc ác não hại chúng sinh, do đó mà đời này bị nhiều chứng bệnh. 2. Bệnh do đời này mất sự điều hòa: Do 4 đại không điều hòa mà sinh ra bệnh. [X. luận Đại trí độ Q.8].

nhị chủng bịnh

Hai loại bịnh—Two kinds of sickness: 1) Thân bịnh: Physical sickness. 2) Tâm bịnh: Mental or spiritual sickness.

nhị chủng bố thí

Hai loại bố thí—Two kinds of dana or charity—See Nhị Bố Thí. ; (二種布施) I. Nhị Chủng Bố Thí. Hai thứ bố thí là tài thí và pháp thí. 1. Tài thí: Đem tiền của, thức ăn uống, áo quần, ruộng vườn, nhà cửa... mà ban phát cho người, gọi là Tài thí. 2. Pháp thí: Nói pháp cho người nghe, gọi là Pháp thí. Tài thí có hạn mà pháp thí thì vô cùng. Tài thí chỉ được quả báo thế gian, rốt cuộc thì cũng sẽ mất đi, còn pháp thí thì được quả Niết bàn, không bao giờ lui sụt. [X. kinh Đại bát nhã Q.569; kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.3; luận Đại trí độ Q.33; Pháp giới thứ đệ Q.hạ]. II. Nhị Chủng Bố Thí. Chỉ cho 2 thứ bố thí là Tịnh thí và Bất tịnh thí. 1. Tịnh thí: Bố thí với tấm lòng trong sạch, không vì mong cầu quả báo ở thế gian như tiếng tăm, lợi lộc, mà chỉ vì nuôi lớn thiện căn xuất thế và nhân Niết bàn. 2. Bất tịnh thí: Bố thí với vọng tâm mong cầu phúc báo, danh lợi... [X. luận Đại trí độ Q.33].

nhị chủng bồ tát

Hai loại Bồ Tát—Two kinds of Bodhisattvas: (A) 1) Tại gia Bồ Tát: Lay Bodhisattvas. 2) Xuất gia Bồ Tát: Monastic Bodhisattvas. (B) Chư Phật và chư Bồ Tát lấy đại bi làm sự nghiệp. Vậy người đã phát tâm Bồ Đề, nếu muốn cứu độ chúng sanh, chỉ nên nguyện sanh trong ba cõi, ở nơi đời ngũ trược, vào ba đường ác mà cứu khổ cho chúng hữu tình. Nếu đã phát tâm tu theo Phật mà lại xa rời chúng sanh, tự sống riêng một cuộc đời an ổn, e rằng thiếu lòng từ bi, chuyên lo tự lợi và trái với đạo Bồ Đề. Theo Đại Sư Trí Giả và Thiên Như trong Tịnh Độ Thập Nghi Hoặc Vấn Luận, có hai hạng Bồ Tát—Great Compassion is the life calling of Buddhas and Bodhisattvas. Thus, those who have developed the Bodhi Mind, wishing to rescue and ferry other sentient beings across, should simply vow to be reborn in the Triple Realm, among the five turbidities and the three evil paths. If we abandon sentient beings to lead a selfish life of tranquility, we lack compassion. A preoccupation with egoistic needs contrary to the path of enlightenment. According to Masters Chih-I and T'ien-Ju in The Pure Land Buddhism, there are two types of Bodhisattvas. 1) Bậc tu Bồ Tát đạo đã lâu, đã chứng được Vô Sanh Pháp Nhẫn—Those who have followed the Bodhisattva path for a long time and attained the Tolerance of Non-Birth or insight into the non-origination of phenomena: Bậc nầy có thể nguyện sanh trong đời ác để cứu độ chúng sanh mà không sợ cùng chúng sanh đắm chìm trong biển sanh tử luân hồi. Luận Đại Trí Độ dạy: “Bậc Bồ Tát đã chứng Vô Sanh Nhẫn cũng ví như người có thân nhân bị nước lôi cuốn, mà có đủ đầy khả năng và phương tiện, người ấy tỉnh sáng lấy thuyền bơi ra cứu, nên cả hai đều không bị nạn trầm nịch.”—These Bodhisattvas can vow to be reborn in this evil realm to rescue sentient beings without fear of being drown in the sea of Birth and Death with sentient beings. The Perfection of Wisdom Treatise states: “Take the case of the person who watches a relative drowning in the river, a person, more intelligent and resourceful, hurries off to fetch a boat and sails to rescue his relative. Thus both persons escape drowning. This is similar to the case of a Bodhisattva who has attained Tolerance of Non-Birth, has adequate skills and means to save sentient beings.” 2) Bậc chưa chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn và hàng phàm phu mới phát tâm Bồ Tát—Bodhisattvas who have not attained the Tolerance of Non-Birth, as well as ordinary people who have just developed the Bodhi Mind: Những vị nầy cần phải thường không rời Phật mới có cơ thành tựu được nhẫn lực và có thể ở trong ba cõi, vào nơi đời ác để cứu độ chúng sanh. Cho nên Đại trí Độ Luận nói: “Hạng phàm phu còn đủ mọi sự ràng buộc, dù có lòng đại bi, nhưng vội muốn sanh trong đời ác để cứu độ chúng hữu tình khổ não, đó là điều không hợp lý. Tại sao thế? Vì trong cõi đời ác trược, nghiệp phiền não mạnh mẽ. Khi ấy mình đã không có nhẫn lực, tức tâm sẽ tùy cảnh mà chuyển, rồi bị sắc, thanh, danh, lợi trói buộc, sanh ra đủ nghiệp tham, sân, si. Chừng đó tự cứu đã không xong, nói chi là cứu độ chúng sanh? Giả sử được sanh trong cõi người thì cảnh xấu ác, kẻ tà ngoại dẫy đầy, nguời chánh chơn khó gặp, cho nên Phật pháp không dễ gì được nghe, Thánh đạo không dễ gì chứng được. Nếu là người do nhân bố thí, trì giới hay tu phước mà được làm bậc quyền quý, mấy ai không mê đắm cảnh giàu sang, buông lung trong trường dục lạc? Lúc đó dù có bậc thiện tri thức khuyên bảo, họ cũng không chịu tin làm theo, lại vì muốn thỏa mãn lòng tham dục của mình, nương quyền cậy thế sẳn có, gây ra thêm nhiều tội nghiệp. Đến khi chết rồi, bị đọa vào tam đồ trải qua vô lượng kiếp, khi khỏi tam đồ dầu có sanh được làm người cũng phải thọ thân bần tiện; nếu không gặp thiện tri thức lại mê lầm gây thêm tội ác thì lại bị đọa nữa. Từ trước đến nay chúng sanh luân hồi đều ở trong tình trạng ấy. Vì thế mà Kinh Duy Ma nói: “Chính bịnh của mình còn không tự cứu được, đâu có thể cứu được bịnh cho kẻ khác.” Luận Đại Trí Độ cũng nói: “Ví như hai người, mỗi kẻ đều có thân nhân bị nước lôi cuốn, một người tánh gấp nhảy ngay xuống nước để cứu vớt, nhưng vì thiếu khả năng và phương tiện nên cả hai đều bị đắm chìm.” Bậc Bồ Tát mới phát tâm vì chưa đủ nhẫn lực nên chẳng những không cứu được chúng sanh, mà còn hại đến chính bản thân mình. Thế nên Đại Trí Độ Luận dạy tiếp: “Bồ Tát sơ tâm như trẻ thơ không nên rời mẹ, nếu rời mẹ thì hoặc rơi vào hầm giếng, té xuống sông đầm, hoặc đói khát mà chết. Lại như chim non chưa đủ lông cánh, chỉ có thể nhảy chuyền theo cành cây; đợi chừng nào lông cánh đầy đủ, mới có thể bay xa, thong thả vô ngại. Phàm phu không nhẫn lực; chỉ nên chuyên niệm Phật A Di Đà cho được nhất tâm, đợi khi tịnh nghiệp thành tựu, lúc lâm chung sẽ được Phật tiếp dẫn vãng sanh, quyết định không nghi. Khi thấy Đức Phật A Di Đà và chứng quả Vô Sanh rồi, chừng ấy sẽ cỡi thuyền Pháp Nhẫn vào biển luân hồi cứu vớt chúng sanh, mặc ý làm vô biên Phật sự”—If these Bodhisattvas aspire to perfect that Tolerance and enter the evil life of the Triple Realm to save sentient beings, they should always remain close to the Buddhas and Good Advisors. The Perfection of Wisdom Treatise states: “It is unwise for human beings who are still bound by all kinds of afflictions, even if they possess a great compassionate Mind, to seek a premature rebirth in this evil realm to rescue sentient beings. Why is this so? It is because this evil, defiled world, afflictions are powerful and widespread. Those who lack the power of Tolerance of Non-Birth are bound to be swayed by external circumstances. They then become slaves to form and sound, fame and fortune, with the resulting karma of greed, anger and delusion. Once this occurs, they cannot even save themselves, how can they save others?” If, for example, they are born in the human realm, in this evil environment full of non-believers and externalists, it is difficult to encounter genuine sages. Therefore, it is not easy to hear the Buddha Dharma nor achieve the goals of the sages. Of those who planted the seeds of generosity, morality and blessings in previous lives and are thus now enjoying power and fame, how many are not infatuated with a life of wealth and honor, allowing in endless greed and lust? Therefore, even when they are counselled by enlightened teachers, they do not believe them nor act accordingly. Moreover, to satisfy their passions, they take advantage of their existing power and influence, creating a great deal of bad karma. Thus, when their present life comes to an end, they descend upon the three evil paths for countless eons. After that, they are reborn as humans of low social and economic status. If they do not then meet good spiritual advisors, they will continue to be deluded , creating more bad karma and descending once again into the lower more realms. From time immemorial, sentient beings caught in the cycles of Birth and Death have been in this predicament. The Vimalakirti Sutra also states: “If you cannot even cure your own illness, how can you cure the illnesses of others?” The Perfection of Wisdom Treatise further states: “Take the case of two persons, each of whom watches a relative drowning in the river. The first person, acting on impulse, hastily jumps into the water. However, because he lacks capabilities and the necessary means, in the end, both of them drown.” Thus newly aspiring Bodhisattvas are like the first individual, who still lacks the power of Tolerance of Non-Birth and cannot save sentient beings. The Perfection of Wisdom Treatise further teaches: “This is not unlike a young child he should not leave his mother, lest he fall into a well, drown in the river or die of starvation; or a young bird whose wings are not fully developed. It must bide its time, hopping from branch to branch, until it can fly afar, leisurely and unimpeded. In the same manner, ordinary people who lack the Tolerance of Non-Birth should limit themselves to Buddha Recitation, to achieve one-pointedness of Mind. Once that goal is reached, at the time of death, they will certainly be reborn in the Pure Land. Having seen Amitabha Buddha and reached the Tolerance of Non-Birth, they can steer the boat of that Tolerance into the sea of Birth and Death, to ferry sentient beings across and accomplish countless Buddha deeds at will.” ; (二種菩薩) Chỉ cho 2 loại Bồ tát là Thành tựu đại lực bồ tát và Tân phát ý bồ tát. 1. Thành tựu đại lực bồ tát: Vì cứu độ chúng sinh mà Bồ tát này không ngần ngại sinh vào những nơi biên địa, hoặc vào các nhà tà kiến để hoàn thành chí nguyện của mình. 2. Tân phát ý bồ tát: Bồ tát này mới phát tâm, chưa có đạo lực; nếu sinh vào nơi biên địa, hoặc vào nhà tà kiến, thì không những chẳng độ được người, mà còn tự làm cho thiện căn của mình bại hoại. Cho nên Bồ tát mới phát tâm không sinh vào nơi biên địa hoặc nhà tà kiến. [X. luận Đại trí độ Q.92].

nhị chủng bồ tát thân

Hai loại thân Bồ Tát—Two kinds of Bodhisattva's body: 1) Nhục thân Bồ Tát: Thân sống chết của Bồ Tát—Bodhisattva's mortal body. 2) Kim thân bất hoại Bồ Tát: Bodhisattva's immortal body. ; (二種菩薩身) Chỉ cho 2 thứ thân của Bồ tát là Sinh tử nhục thân và Pháp tính sinh thân. 1. Sinh tử nhục thân: Thân phàm phu sống chết. Nghĩa là Bồ tát ở địa vị Tam hiền, chưa chứng pháp tính, còn bị hoặc nghiệp chi phối, chịu thân Phần đoạn sinh tử trong 3 cõi. 2. Pháp tính sinh thân: Thân pháp tính sống. Nghĩa là Bồ tát đã chứng được pháp tính vô sinh, xả bỏ thân phàm phu sống chết trong 3 cõi mà thụ thân Biến dịch bất sinh bất tử, bất khả tư nghị ngoài 3 cõi. Phần nhiều kinh luận cho rằng Pháp tính sinh thân là từ Sơ địa hoặc từ Bát địa trở lên.Luận Đại trí độ quyển 74 (Đại 25, 580 thượng) nói: Bồ tát có 2 loại thân: Sinh tử nhục thân và Pháp tính sinh thân. Bồ tát được Vô sinh nhẫn, dứt các phiền não, sau khi xả bỏ thân này được Pháp tính sinh thân. Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40, 840 thượng) nói: Bình đẳng pháp thân từ Bát địa trở lên là Bồ tát Pháp tính sinh thân.

nhị chủng bồ đề tâm

Two kinds of Bodhi-mind. 1) Duyên Sự Bồ Đề Tâm: See Duyên Sự Bồ Đề Tâm, and Tứ Hoằng Thệ Nguyện. 2) Duyên Lý Bồ Đề Tâm: See Duyên Lý Bồ Đề Tâm. ; (二種菩提心) Chỉ cho 2 loại bồ đề tâm là Duyên sự bồ đề tâm và Duyên lí bồ đề tâm. 1. Duyên sự bồ đề tâm: Lấy 4 thệ nguyện rộng lớn làm thể. a) Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ: Tức là nhân của Ứng thân bồ đề, là giới Nhiêu ích hữu tình, là tâm ân đức và là duyên nhân Phật tính. b) Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn: Tức là nhân của Pháp thân bồ đề, là giới Nhiếp luật nghi, là tâm đoạn đức, là chính nhân Phật tính. c) Pháp môn vô lượng thệ nguyện học: Tức là nhân của Báo thân bồ đề, là giới Nhiếp thiện pháp, là tâm trí đức, là liễu nhân Phật tính.d) Vô thượng Phật đạo thệ nguyện thành: Nhờ thành tựu đầy đủ 3 hạnh nguyện trước mà chứng được 3 thân bồ đề viên mãn, lại làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh. 2. Duyên lí bồ đề tâm: Tất cả các pháp xưa nay vốn vắng lặng, an trụ trong thực tướng trung đạo ấy mà thành tựu hạnh nguyện trên cầu đạo giác ngộ, dưới hóa độ chúng sinh. Đó là tâm bồ đề tối thượng. [X. Lục tổ Pháp bảo đàn kinh; Vãng sinh yếu tập Q.thượng, phần cuối].

nhị chủng chúng sinh

(二種衆生) Chỉ cho 2 loại chúng sinh, đó là: 1. Tập ái chúng sinh: Tập là thói quen; ái là tham ái, yêu thích. Nghĩa là đối với 5 cảnh dục lạc ở thế gian như sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm... tất cả chúng sinh đều đã có thói quen yêu thích, đắm đuối, không thể dứt ra được, cho nên gọi là Tập ái chúng sinh. 2. Tập kiến chúng sinh: Kiến là cái thấy phân biệt, chấp trước. Nghĩa là đối với tất cả sự vật, chúng sinh đã tập quen phân biệt, chấp trước như có, không, thường, đoạn... vì thế gọi là Tập kiến chúng sinh. [X. luận Đại trí độ Q.31].

nhị chủng chấp trì

Theo Tịnh Độ tông, chấp trì có nghĩa là luôn luôn tụng niệm, niệm nào cũng phải nhớ lấy danh hiệu của Đức Phật A Di Đà. Vì thế cho nên chấp trì còn được gọi là “Trí Tuệ Suy Nghĩ.” Theo Kinh A Di Đà Yếu Nghĩa, Hán dịch bởi Ngài Cưu Ma La Thập, ngài Trí Húc giải thích, và cư sĩ Tư Nhuận Việt dịch, có hai loại “Chấp Trì”—According to the Pure Land Sect, reciting the Buddha-name is a matter of being mindful of the Buddha-name from moment to moment, thus it is the “wisdom that comes from reflecting.” According to the Amitabha Sutra (translated into Chinese by Kumarajiva, explained by Bhikshu Trí Húc, and translated into Vietnamese by lay person Tuệ Nhuận), there are two levels of practice in reciting the Buddha-name. 1) Sự Trì: Reciting the Buddha-name at the phenomenal level—Người “sự trì” là người tin có Phật A Di Đà ở cõi tây Phương Tịnh Độ, nhưng chưa thông hiểu thế nào là “Tâm mình tạo tác ra Phật, Tâm mình chính là Phật.” Nghĩa là người ấy chỉ có cái tâm quyết chí phát nguyện cầu vãng sanh Tịnh Độ, như lúc nào cũng như con thơ nhớ mẹ chẳng bao giờ quên—Reciting the Buddha-name at the level of phenomenal level means believing that Amitabha Buddha exists in His Pure Land in the West, but not yet comprehending that he is a Buddha created by the Mind, and that this Mind is Buddha. It means you resolve to make vows and to seek birth in the Pure Land, like a child longing for its mother, and never forgetting her for a moment. 2) Lý Trì: Reciting the Buddha-name at the level of inner truth—Người “lý trì” là người tin rằng Phật A Di Đà ở Tây Phương là Phật đã có sẳn trong tâm mình, là Phật do Tâm mình tạo ra, mình lấy ngay cái danh hiệu Phật lớn lao và có sẳn trong Tâm mình đó mà buộc Tâm mình vào, khiến cho nó chớ tạm quên—Reciting the Buddha-name at the level of inner truth or noumenon means believing that Amitabha Buddha and His Pure Land in the West are inherent features of our own pure Minds, the creation of our own pure Minds. It means using the great name of Amitabha Buddha, which is inherent in our Minds and the creation of our Minds, as a focal point to concentrate our minds on, so that we never forget it for a moment.

nhị chủng chứng

(二種證) I. Nhị Chủng Chứng. Hai quá trình chứng quả A la hán khi tu pháp môn Tiểu thừa. 1. Thứ đệ chứng, cũng gọi Thứ đệ đoạn. Chứng quả theo thứ lớp. Nghĩa là từ quả Tu đà hoàn đầu tiên, theo thứ tự từng bước đoạn hoặc để dần dần chứng đến quả A la hán. 2. Siêu việt chứng, cũng gọi Siêu việt đoạn. Chứng quả vượt bậc. Nghĩa là vị Thanh văn có căn tính bén nhạy, có thể trong 1 lúc dứt hết các hoặc, bỏ qua luôn các quả thứ 1, 2, 3 mà chứng ngay quả A la hán.II. Nhị Chủng Chứng. Hai loại chứng là Sự chứng và Lí chứng. 1. Sự chứng: Người tu giới. 2. Lí chứng: Người tu định, tuệ. [X. Nam sơn giới bản sớ Q.1].

nhị chủng cung dưỡng

(二種供養) Hai cách cúng dường Phật và Bồ tát. Đó là: 1. Sự cúng dường và Lí cúng dường: Dâng hương hoa, đèn nến, thức ăn uống, vật quí báu... để cúng dường là Sự cúng dường; còn cúng dường về tinh thần như lòng tin... là Lí cúng dường. 2. Tài cúng dường và Pháp cúng dường: Dâng các tài vật như hoa hương, của báu... để cúng dường là Tài cúng dường. Còn cúng dường bằng cách tu hạnh Bồ tát, làm lợi ích chúng sinh... là Pháp cúng dường. [X. luận Thập trụ tì bà sa Q.1; Di giáo kinh luận]. (xt. Cúng Dường).

nhị chủng cúng dường

See Nhị Cúng Dường in Vietnamese-English Section.

nhị chủng căn bản

(二種根本) Chỉ cho 2 loại căn bản, đó là: 1. Vô thủy căn bản sinh tử: Từ vô thủy đến nay, chúng sinh đã trải qua vô lượng kiếp, trôi lăn trong biển khổ sinh tử, vì đã mê mất bản tính, không biết bắt đầu từ bao giờ, cho nên gọi là Vô thủy (không có bắt đầu). Căn bản sinh tử chỉ cho tâm phan duyên, tức lấy tâm phan duyên làm tự tính. 2. Vô thủy bồ đề Niết bàn nguyên thanh tịnh thể: Lí thể tính tịnh rỗng rang vắng lặng, không dời không đổi, không đầu không cuối, nên gọi là Vô thủy bồ đề Niết bàn; vì nó không tiêm nhiễm phiền não, không rơi vào sinh tử, cho nên gọi là Nguyên thanh tịnh thể, tức là căn bản của bồ đề Niết bàn thanh tịnh. [X. kinh Lăng nghiêm Q.1].

nhị chủng cơ hiềm

(二種譏嫌) Chỉ cho 2 thứ cơ hiềm (chê hiềm) là Danh cơ hiềm và Thể cơ hiềm. Luận Tịnh độ của bồ tát Thiên thân cho rằng, Thể cơ hiềm có 3 thứ: Nhị thừa, nữ nhân và người không đủ các căn. Ba loại người này khiến người tu hành Phật đạo không ưa. Vì chúng hay sinh nhiều chuyện hiềm nghi và chê bai, nên gọi là Thể cơ hiềm, tên của nó gọi là Danh cơ hiềm.

nhị chủng diệt

(二種滅) Hai thứ diệt của đức Như lai. Cứ theo luận Hiển dương thánh giáo quyển 8, đức Như lai có 2 thứ diệt: 1. Tạm thời diệt: Như lai ra đời, tùy cơ giáo hóa, dắt dẫn chúng sinh, hàng Tiểu thừa và Đại thừa đều được giải thoát. Khi cơ duyên đã hết, Như lai liền nhập diệt, nhưng thể pháp thân của Ngài thì như như bất động, thực chưa từng diệt, cho nên gọi là Tạm thời diệt.2. Cứu cánh diệt: Diệu giác của Như lai tròn sáng, dứt sạch hết thảy phiền não, không còn mảy may, không bao giờ sinh trở lại nữa, vì thế gọi là Cứu cánh diệt.

Nhị chủng duyên sinh

二種縁生; C: èrzhǒngyuànshēng; J: nishu enshō;|Hai loại duyên sinh được trình bày trong Nhiếp Đại thừa luận (攝大乘論), đó là Biệt tự tính (別自性) duyên sinh và Phân biệt ái phi ái (分別愛非愛) duyên sinh.

nhị chủng dâm báo

(二種淫報) Hai thứ quả báo về tà dâm. Cứ theo Pháp uyển châu lâm quyển 70, do đời trước làm hạnh tà dâm, nên đời này chịu 2 thứ quả báo: 1. Vợ không trinh tiết: Do nhân đời trước xâm phạm thê thiếp người khác, nên chiêu cảm quả báo đời này vợ không thủy chung trinh tiết. 2. Gặp quyến thuộc không vừa ý: Do đời trước tà dâm, cướp vợ yêu của người khiến họ buồn khổ, nên quả báo đời này gặp quyến thuộc trái ý.

nhị chủng gia trì

(二種加持) Hai loại gia trì là Nhất thiết Như lai gia trì và Tứ Phật gia trì. (xt. Gia Trì).

nhị chủng giới

(二種戒) I. Nhị Chủng Giới. Chỉ trì giới và Tác trì giới. 1. Chỉ trì giới: Ngăn ngừa các việc ác của thân và miệng, như giết hại, trộm cướp, nói láo... 2. Tác trì giới: Tích cực làm các việc thiện như phóng sinh, bố thí... [X. Tứ phần luật san phồn bồ khuyết hành sự sao Q.trung, phần 4] II. Nhị Chủng Giới. Tại gia giới và Xuất gia giới. 1. Tại gia giới: Như 5 giới, 8 giới của ưu bà tắc và ưu bà di thụ trì. 2. Xuất gia giới: Như 10 giới của sa di và Cụ túc giới của tỉ khưu. [X. luận Tì ni mẫu Q.1, 3]. III. Nhị Chủng Giới. Chỉ cho Tính giới và Già giới. 1. Tính giới: Như giết hại, trộm cướp, gian dâm, nói dối. Bốn giới này tự tính của chúng đã là giới rồi, chứ không đợi Phật chế định mới thành giới, cho nên gọi là Tính giới. Nếu người giữ được thì được phúc, mà vi phạm thì phải chịu tội. 2. Già giới: Như giới uống rượu. Tính của rượu vốn không phải tội, nhưng nó có thể làm cho người uống bị say mà vi phạm các điều giới khác, cho nên đức Phật đặc biệt ngăn cấm, không cho uống rượu, vì thế gọi là Già giới. [X. luận Câu xá Q.18]. IV. Nhị Chủng Giới. Chỉ cho Tính trọng giới và Tức thế cơ hiềm giới. 1. Tính trọng giới: Những giới mà bản tính của chúng là tội rất nặng, như 4 giới: Giết hại, trộm cướp, gian dâm, nói dối, nên gọi là Tính trọng giới. 2. Tức thế cơ hiềm giới: Ngăn ngừa sự chê cười của người đời. Nghĩa là những giới điều mà vì tâm đại từ đức Phật đặc biệt chế định cho chúng tăng giữ gìn, như giới uống rượu chẳng hạn, để ngăn ngừa và chấm dứt sự chê cười của người đời, vì thế gọi là Tức thế cơ hiềm giới. [X. kinh Niết bàn Q.11 (bản Bắc)]. V. Nhị Chủng Giới. Đạo cộng giới và Định cộng giới. Đây là 2 thứ luật nghi. 1. Đạo cộng giới, cũng gọi Vô lậu luật nghi. Khi bậc Thánh Tam thừa vào định vô lậu ở cõi Sắc, thì định vô lậu kết hợp với trí vô lậu mà tự phát ra giới thể ngăn ngừa tội lỗi ở trong thân, đó là Đạo cộng giới. Luật nghi này và đạo vô lậu cùng sinh, cho nên gọi là Đạo cộng giới. 2. Định cộng giới, cũng gọi Tĩnh lự sinh luật nghi. Khi hành giả vào các thiền định như Sơ thiền, Nhị thiền... thì giới thể ngăn ngừa tội lỗi tự nhiên sinh ra cùng với thiền định, gọi là Định cộng giới. Luật nghi này nương vào tĩnh lự mà sinh ra, nên cũng gọi là Tĩnh lự sinh luật nghi. VI. Nhị Chủng Giới. Tùy tướng giới và Li tướng giới. 1. Tùy tướng giới: Thuận theo lời dạy của đức Như lai thực hành việc nhuộm áo, xuất gia, khất thực tự sống, gọi là Tùy tướng giới.2. Li tướng giới: Người giữ giới, tâm không chấp trước, tất cả giới cũng như hư không, thấy rõ không có tướng giữ giới hay phạm giới nên gọi là Li tướng giới (giới lìa tướng). [X. Hoa nghiêm đại sớ Q.5].

nhị chủng hiển thị

(二種顯示) Chỉ cho Ngôn hiển thị và Sử tu hành hiển thị. Cứ theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 1, bản tính của chúng sinh vốn có đủ các pháp nhân, quả, lí, sự... nhưng vì tướng thay đổi nên thể sai khác, tình sinh khởi thì trí cách ngăn, không thể hiển phát. Bởi thế, đức Phật nói kinh Hoa nghiêm khiến cho chúng sinh biết tâm hợp thể, trí hiển thì tình mất, cho nên có 2 cách hiển thị. Đó là: 1. Ngôn hiển thị, hiển bày bằng lời nói: Đức Phật dùng lời nói hiển bày, làm cho chúng sinh biết rằng họ đều có sẵn đức tướng trí tuệ Như lai. 2. Sử tu hành hiển thị, hiển bày bằng cách khiến chúng sinh tu hành: Đức Phật đã chỉ cho các chúng sinh biết họ có đủ đức tướng Như lai rồi, bây giờ, Phật bảo họ phải tu hành để ngộ nhập và hiển hiện đức tướng ấy.

nhị chủng huân

(二種熏) Huân tập và Tư huân. 1. Huân tập: Huân là huân phát; Tập là tập tành luôn. Nghĩa là thường huân tập duyên nhiễm tịnh, huân phát tâm thể mà thành những việc nhiễm tịnh, tức huân tập theo thói quen của mình. 2. Tư huân: Tư là giúp đỡ. Nghĩa là tâm đối với các trần cảnh hiện tiền mà khởi động và các hoặc giúp đỡ nhau, rồi huân phát mà thành các việc nhiễm tịnh. Tức giúp đỡ nhau mà huân tập. [X. luận Đại thừa khởi tín; Đại tạng pháp số Q.4].

nhị chủng huân tập

(二種熏習) Tướng phần huân và Kiến phần huân. 1. Tướng phần huân: Khi mỗi thức trong 7 chuyển thức duyên theo đối tượng bên ngoài, thì nương vào tự thể của thức ấy mà huân tập tướng phần của đối tượng kia cùng với chủng tử sẵn có trong thức thứ 8, gọi là Tướng phần huân. 2. Kiến phần huân: Huân tập kiến phần năng duyên và chủng tử của tự chứng phần, chứng tự chứng phần trong thức thứ 8, gọi là Kiến phần huân.

nhị chủng huýnh hướng

(二種迥向) Hai thứ hồi hướng do tông Tịnh độ thành lập, đó là: I. Vãng tướng hồi hướng và Hoàn tướng hồi hướng. 1. Vãng tướng hồi hướng: Đem công đức của mình hồi hướng cho tất cả chúng sinh, nguyện cùng vãng sinh về Tịnh độ của đức Phật A di đà. 2. Hoàn tướng hồi hướng: Mình đã sinh về Tịnh độ rồi, thành tựu tất cả công đức, nguyện trở lại cõi sinh tử, giáo hóa hết thảy chúng sinh, làm cho họ hướng về Tịnh độ. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ]. II. Chúng sinh hồi hướng và Phật quả hồi hướng. 1. Chúng sinh hồi hướng: Đem công đức thiện căn của mình hồi hướng cho hết thảy chúng sinh. 2. Phật quả hồi hướng: Đem công đức của mình cầu cho mình và mọi người đều thành đạt quả Phật. III. Chính hồi hướng và Tà hồi hướng. 1. Chính hồi hướng: Đem những công đức mà mình đã tạo được, hồi hướng cho chúng sinh, hồi hướng về Phật quả. 2. Tà hồi hướng: Đem công đức của mình hồi hướng để cầu mong được làm quỉ thần trong vị lai.

nhị chủng hộ trì sự

(二種護持事) Chỉ cho 2 thứ hộ trì: Hộ trì Phật chủng và Hộ trì chính pháp. 1. Hộ trì Phật chủng, giữ gìn hạt giống Phật: Chư Phật, Bồ tát dùng tâm đại bi bảo tồn và phát triển hạt giống Phật, khiến cho chúng sinh xa lìa thế tục, cạo tóc, mặc áo nhuộm, xuất gia, tu hành Thánh đạo, nối tiếp không để dứt mất. 2. Hộ trì chính pháp, giữ gìn và bảo vệ chính pháp: Chư Phật, Bồ tát dùng tâm đại bi giữ gìn và bảo vệ chính pháp của Như lai, làm cho tất cả tà ma ngoại đạo không thể phá hoại được, khiến chúng sinh chính tín và ưa thích Phật pháp, lưu hành rộng rãi, lợi ích vô cùng. [X. kinh Địa tạng thập luân Q.5].

nhị chủng hữu

Theo Thanh Tịnh Đạo, có hai loại Hữu—According to the Path of Purification, there are two kinds of becoming. 1) Nghiệp Hữu: Karma-process becoming—Chính tiến trình nghiệp là hữu, thì gọi là nghiệp hữu. Nghiệp cần được hiểu là hữu vì nó đem lại hữu hay sự tái sanh. Trước hết, nghiệp hữu nói vắn tắt là hành và các pháp tham dục, vân vân, tương ưng với hành cũng được xem là nghiệp. Nghiệp hữu bao gồm phước hành, phi phước hành, bất động hành, ở bình diện nhỏ (hữu hạn) hay bình diện lớn (đại hành). Tất cả những nghiệp đưa đến sự tái sanh đều là nghiệp hữu—The karma-process itself is karma-process becoming. The karma should be understood as becoming. The karma-process becoming in brief is both volition also and the states covetousness, etc., associated with the volition and reckoned as karma too. Karma-process becoming consists of the formation of merit, the formation of demerit, the formation of the imperturbable, either with a small (limited) plane or with a large plane. All karmas that lead to becoming are called karma-process becoming. 2) Sinh Hữu: Rebirth-process becoming. a) Chính tiến trình tái sanh là hữu thì gọi là sanh hữu. Tái sanh là hữu vì nó hiện hữu. Sanh hữu nói vắn tắt là các uẩn do nghiệp sanh—Rebirth is becoming since it becomes. Rebirth-process becoming briefly is aggregates generated by karma. b) Sanh hữu gồm chín loại: It is of nine kinds: • Dục hữu: Loại hữu có dục vọng—Sense-desire becoming, the kind of becoming possessed of sense-desires. • Sắc hữu: Loại hữu có sắc—Fine-material becoming, the kind of becoming possessed of fine material. • Vô sắc hữu: Loại hữu vô sắc—Immaterial becoming, the kind of becoming possessed of immaterial. • Tưởng hữu: Loại hữu có tưởng—Percipient becoming, the kind of becoming possessed of perception. • Vô tưởng hữu: Loại hữu không có tưởng—Non-percipient becoming, the kind of becoming possessed of non-perception. • Phi tưởng phi phi tưởng hữu: Loại hữu không có tưởng mà cũng không có không tưởng—Neither-percipient-nor-non-percipient becoming, the kind of becoming possessed of neither perception nor non-perception. • Hữu nhất uẩn: Loại hữu có một uẩn—One-constituent becoming, the kind of becoming possessed of one constituent. • Hữu tứ uẩn: Loại hữu có bốn uẩn—Four-constituent becoming, the kind of becoming possessed of four constituents. • Hữu ngũ uẩn: Loại hữu có năm uẩn—Five-constituent becoming, the kind of becoming possessed of five constituents. ; (二種有) Chỉ cho 2 loại hữu là Thực vật hữu và Thi thiết hữu. 1. Thực vật hữu: Các pháp 5 uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức) hòa hợp tạo thành thân người là những vật có thật, nên gọi là Thực vật hữu. 2. Thi thiết hữu: Thi thiết nghĩa là bày đặt. Tức là tất cả người ở thế gian đều theo nghiệp chịu báo, nhờ di thể của cha mẹ bày đặt, mà có thân người, nên gọi là Thi thiết hữu.

nhị chủng hữu tri thức

Two kinds of advisor. 1) Thiện Hữu Tri Thức: Good advisor—See Thiện Hữu Tri Thức. 2) Ác Hữu Tri Thức: Bad advisor—See Ác Tri Thức.

nhị chủng khuyến thỉnh

(二種勸請) Khuyến thỉnh chuyển pháp luân và Khuyến thỉnh trụ thế. 1. Khuyến thỉnh chuyển pháp luân: Lúc đức Phật mới thành đạo, Bồ tát khuyến thỉnh đức Thế tôn chuyển pháp luân(thuyết pháp)để độ thoát tất cả chúng sinh. 2. Khuyến thỉnh trụ thế: Lúc đức Phật sắp vào Niết bàn, Bồ tát cầu thỉnh đức Thế tôn trụ lại ở thế gian vô số kiếp nữa để cứu độ hết thảy chúng sinh. [X. luận Đại trí độ Q.7].

nhị chủng khước ma pháp

(二種却魔法) Chỉ cho 2 pháp: Tu chỉ khước ma và Tu quán khước ma. 1. Tu chỉ khước ma: Người ngồi thiền lúc tu định, thấy tất cả cảnh tượng dễ mến như cha mẹ, anh em, hình tượng chư Phật... làm cho tâm sinh đắm trước; hoặc thấy những cảnh đáng sợ như hùm, sói, la sát... làm cho tâm sinh sợ hãi, thì phải biết rõ đó là các tướng hoặc loạn của các ma, đều thuộc về hư dối, không ham thích, không khiếp sợ, chỉ nên lắng tâm tĩnh lặng thì các cảnh tướng ma ấy sẽ tự nhiên tiêu diệt. 2. Tu quán khước ma: Người ngồi thiền lúc tu định, tu Chỉ để loại trừ ma mà cảnh ma không dứt, thì nên tu Quán trở lại, quán xét cái tâm hay thấy ấy không có nơi chỗ thì ma nương vào đâu mà não loạn? Khi quán như thế thì ma liền tiêu diệt. Nếu ma còn nấn ná không đi, thì chỉ nên chính tâm, không mừng không sợ, thì chính định hiện tiền, các cảnh ma ấy sẽ tự tàn tạ.

nhị chủng khất sĩ

Hai loại khất sĩ—Two kinds of mendicant: 1) Nội Khất: Người có khả năng tự kềm chế nội tâm—Those who are able to self-control his or her internal mental or spiritual methods. 2) Ngoại Khất: Người có khả năng tự kềm chế những hình thức bên ngoài—Those who are able to self-control his or her externals such as strict diet.

nhị chủng kiến

(二種見) Chỉ cho Tưởng kiến và Chính thụ kiến. 1. Tưởng kiến, cũng gọi Tư duy kiến. Tu hạnh quán xét mà vẫn còn sự thấy biết của giác tri. 2. Chính thụ kiến: Do còn giác tri nên dù thấy cảnh thanh tịnh, cũng không được rõ ràng lắm. Diệt hết giác tri, dứt mọi cái thấy của niệm tĩnh lự, thì vào được tam muội chính thụ, tâm cảnh hợp nhất. [X. phần Định thiện nghĩa trong Quán vô lượng thọ kinh sớ Q.3].

nhị chủng kiện nhi

(二種健兒) Hai hạng người có sức mạnh: Người tự mình không làm ác và người đã làm ác mà biết sám hối, không làm lại nữa. 1. Tự mình không làm ác: Người mà 3 nghiệp thân, miệng, ý thường thanh tịnh, mãi không có lỗi xấu ác. 2. Làm ác rồi mà biết sám hối: Người trước đã làm ác, sau biết hối cải, không dám làm nữa. [X. kinh Niết bàn Q.19 (bản Bắc)].

nhị chủng kết giới

(二種結界) Hai loại kết giới là Tự nhiên giới và Tác pháp giới. 1. Tự nhiên giới: Khu vực được kết giới theo giới hạn tự nhiên, lớn đến 1 tỉnh, hoặc nhỏ bằng 1 huyện, 1 xã, gọi là Tự nhiên giới. 2. Tác pháp giới: Làm pháp yết ma để hạn định sự lớn nhỏ của khu vực chúng tăng, khu vực lìa áo, cho đến khu vực giới tràng, gọi là Tác pháp giới. Trong Tự nhiên giới, chỉ làm 1 pháp kết giới đầu tiên, còn các pháp yết ma khác thì phải được thực hành trong Tác pháp giới. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 1].

nhị chủng kệ

(二種偈) Chỉ cho 2 loại kệ là Thông kệ và Biệt kệ. 1. Thông kệ, cũng gọi Thủ lô kệ. Bất luận văn xuôi hay văn vần trong kinh điển, hễ đủ 32 chữ thì gọi là Kệ. 2. Biệt kệ: Kệ 4 câu, hoặc 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ. [X. Bách luận sớ Q.thượng].

nhị chủng luân thân

(二種輪身) Chỉ cho 2 loại thân: Chính pháp luân thân và Giáo lệnh luân thân. 1. Chính pháp luân thân: Như bồ tát Bát nhã hiện thân Bồ tát, trụ nơi tâm nhiếp thủ, nói chính pháp của Như lai, nên gọi là Chính pháp luân thân. 2. Giáo lệnh luân thân: Như Minh vương Bất động, hiện tướng Minh vương phẫn nộ. Vì muốn cứu độ những chúng sinh ương ngạnh, khó giáo hóa, không chịu nghe theo chính pháp, nên vị Bồ tát này trụ nơi tâm chiết phục, hiện hình phẫn nộ, khiến họ tuân theo lời dạy của đức Phật, nên gọi là Giáo lệnh luân thân. [X. Bí tạng kí sao Q.2; Thai tạng giới mạn đà la đại sao Q.3]. (xt. Giáo Lệnh Luân Thân).

nhị chủng luận

(二種論) Chỉ cho 2 thứ luận: Kinh tông luận và Thích kinh luận. 1. Kinh tông luận: Chỉ cho loại luận y cứ vào giáo lí của các kinh Đại thừa, Tiểu thừa mà được soạn thuật, như luận Duy thức... 2. Thích kinh luận: Chỉ cho loại luận được soạn thuật với mục đích giải thích nghĩa lí của các kinh Đại thừa và Tiểu thừa, như luận Đại trí độ...

nhị chủng luật nghi

Two kinds of rules or customs. 1) Ác Luật Nghi: Bad, or evil rules and customs. 2) Thiện Luật Nghi: Good rules and customs.

nhị chủng lưỡng thiệt báo

(二種兩舌報) Hai thứ quả báo do tội nói 2 lưỡi (lưỡng thiệt) mang lại. 1. Gặp phải quyến thuộc tệ bạc, xấu xa. 2. Gặp phải quyến thuộc oán hận, bất hòa.[X. Pháp uyển châu lâm Q.70].

nhị chủng lập đề

(二種立題) Hai cách đặt tên kinh: Đề kinh do Phật tự đặt và đề kinh do các nhà kết tập đặt sau này.1. Đề kinh do Phật tự đặt: Như kinh Kim cương (Đại 8, 750 thượng) nói: Kinh này tên là Kim cương bát nhã ba la mật, các ông nên phụng trì theo danh tự này. 2. Đề kinh do các nhà kết tập đặt: Tức là tên kinh được đặt khi kết tập sau đức Phật nhập diệt, như kinh Diệu pháp liên hoa.[X. Pháp hoa văn cú Q.1].

nhị chủng lợi hạnh

(二種利行) Chỉ cho hạnh tự lợi và hạnh lợi tha. 1. Hạnh tự lợi: Chỉ cho các pháp tu Lục độ, Thất bồ đề phần... 2. Hạnh lợi tha: Chỉ cho các pháp Tứ nhiếp, Tứ vô lượng tâm... [X. luận Thành duy thức Q.9; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần cuối].

nhị chủng lực

Two kinds of power—Hàng phàm phu nghiệp ác sâu dầy, đầy đủ tất cả phiền não, dù có ít nhiều công đức tu hành, hoặc chướng vẫn chưa vơi, được trong muôn một. Cõi Cực Lạc rất trang nghiêm thanh tịnh, còn siêu việt hơn tam giới, thế thì hạng phàm phu làm sao được vãng sanh? Theo Trí Giả và Thiên Như Đại Sư trong Tịnh Độ Thập Nghi Hoặc Vấn Luận, có hai loại lực—Ordinary people are entirely enmeshed in heavy evil karma and are full of all kinds of afflictions. Even though they may have some virtues as a result of cultivation, they find it difficult to sever even a fraction of their defilements and hindrances. The Land of Ultimate Bliss, on the other hand, is extremely purely adorned, transcending the Triple Realm. How can such depraved common mortals hope to be reborn there? According to Masters Chih-I and T'ien-Ju in the Pure Land Buddhism, there are two kinds of power. 1) Tự Lực—Self-power: Về tự lực, hàng cụ phược phàm phu ở thế giới nầy tuy có đôi chút tu hành, thật ra chưa có thể sanh về Tịnh Độ và chưa xứng đáng được ở Tịnh Độ. Kinh Anh Lạc nói: “Từ địa vị cụ phược phàm phu chưa biết Tam Bảo và nhân quả thiện ác, trước tiên mới phát tâm Bồ Đề phải lấy tín làm gốc, đến khi vào đạo Phật lại lấy giới làm nền tảng. Hạng phàm phu nầy khi mới thọ Bồ Tát giới, nếu mỗi đời cứ tiếp tục giữ giới như thế không cho khuyết phạm, trải qua ba kiếp mới đến địa vị sơ phát tâm trụ. Lại cứ như thế mà tu thập tín, thập ba la mật cùng vô lượng hạnh nguyện, nối nhau không gián đoạn, mãn một vạn kiếp mới đến ngôi đệ lục Chánh Tâm trụ. Khi tiến lên đệ thất Bất Thối trụ tức là đã vào chủng tánh vị, nhưng địa vị nầy cũng chưa được sanh về Tịnh Độ—As far as self-power is concerned, while the ordinary beings of this world, totally bound by their attachments and afflictions, may have some level of cultivation, in reality, they still cannot be reborn in the Pure Land nor deserve to reside there. The Peace and Bliss Collections states: “Those who first develop the Bodhi Mind, starting from the level of completely fettered ordinary people ignorant of the Three Treasures and the Law of cause and Effect, should base themselves initially on faith. Next, when they have embarked upon the Bodhi path, the precepts should serve as their foundation. If these ordinary people accept the Bodhisattva precepts and continue to uphold them unfailingly and without interruption for three kalpas, they will reach the First Abode of Bodhisattvahood. If they pursue their cultivation in this manner through the Ten Paramitas as well as countless vows and practices, one after another without interruption, at the end of ten thousand kalpas they will reach the Sixth Abode of Bodhisattvahood. Should they continue still further, they will reach the Seventh Abode or Non-Retrogression. They will then have entered the stage of the 'Seed of Buddhahood,' i.e., they are assured of eventual Buddhahood. However, even then, they still cannot achieve rebirth in the Pure Land. 2) Tha Lực—Other-power: Về tha lực, nếu kẻ nào tin nơi nguyện lực đại bi nhiếp lấy chúng sanh niệm Phật của Đức Phật A Di Đà, rồi phát lòng Bồ Đề tu môn Niệm Phật Tam Muội, chán thân hữu lậu trong ba cõi, thực hành bố thí, trì giới, cùng các phước nghiệp, mỗi hạnh đều hồi hướng nguyện sanh Tây Phương Cực Lạc thì cơ cảm hợp nhau, nương nhờ Phật lực liền được vãng sanh—With regard to other-power, if anyone believes in the power of Amitabha Buddha's compassionate vow to rescue sentient beings and then develops the Bodhi-Mind, cultivates the Buddha Remembrance (Recitation) Samadhi, grows weary of his temporal, impure body in the Triple Realm, practices charity, upholds the precepts and performs other meritorious deeds, dedicating all the merits and virtues to rebirth in the Western Pure Land, his aspirations and the Buddha's response will be in accord. Relying thus on the Buddha's power, he will immediately achieve rebirth.

nhị chủng nghiệp

Hai loại nghiệp—There are two kinds of karma: (A) 1) Nghiệp cố ý sẽ phải mang nghiệp quả nặng nề: Intentional karma which bears much heavier karma vipaka (phala). 2) Nghiệp không cố ý, nghiệp quả nhẹ hơn: Unintentional karma which bears lighter karma vipaka. (B) 1) Thiện nghiệp như bố thí, ái ngữ và lợi tha: Wholesome (good) karma such as giving charity, kind speech, helping others, etc. 2) Bất thiện nghiệp như sát sanh, trộm cắp, nói dối, vọng ngữ: Unwholesome (bad) karma such as killing, stealing, lying and slandering. (C) Có hai loại nghiệp theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo—There are two kinds of action and action-influence according to Prof. Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy: 1) Hai loại hành động—Two kinds of action: a) Dẫn Nghiệp: Drawing action—Dẫn nghiệp đưa một sinh vật thác sinh làm người, làm trời hay làm thú; không thế lực nào khác có thể đưa một sinh vật đến một hình thái đặc biệt nào đó của đời sống—Drawing action causes a being to be born as a man, as a deva, or as an animal; no other force can draw a living being into a particular form of life. ii) Mãn Nghiệp: Fulfilling action—Sau khi mỗi đời sống đã được quyết định, mãn nghiệp sẽ kiện toàn tính chất hữu hình của sinh vật để nó trở thành một chủng loại hoàn hảo—After the kind of life has been determined, the fulfilling action completes the formal quality of the living being so that it will be a thorough specimen of the kind. 2) Hai ảnh hưởng của hành động—Two kinds of action-influence: i) Biệt Nghiệp: Individual action-influence—Biệt nghiệp tạo ra cá biệt thể—Individual action-influence creates the individual being. ii) Cộng Nghiệp: Common-action-influence—Cộng nghiệp tạo ra vũ trụ—Common action-influence creates the universe itself.

nhị chủng nguyện

(二種願) Chỉ cho 2 thứ nguyện: Khả đắc nguyện và Bất khả đắc nguyện. 1. Khả đắc nguyện: Nguyện vọng có thể đạt được. Nghĩa là tu phúc thì có thể được sinh vào cõi người, cõi trời; còn tu giới, định, tuệ thì có thể chứng được quả A la hán, cho đến quả Phật. 2. Bất khả đắc nguyện: Nguyện vọng không thể đạt được. Như người cậy vào trí lực của mình, mà muốn đo lường hết hư không, thì không thể nào thực hiện được. [X. luận Đại trí độ Q.30].

nhị chủng ngữ

(二種語) Chỉ cho Thế ngữ và Xuất thế ngữ. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 14 (bản Bắc), đức Như lai vì hàng Nhị thừa và Bồ tát mà nói pháp khác nhau như: - Thế ngữ: Nói pháp thế gian hữu vi cho Thanh văn và Duyên giác nghe. - Xuất thế ngữ: Nói pháp xuất thế gian vô vi cho Bồ tát nghe.

nhị chủng nhân

Two groups of good and evil people. (A) 1) Người Lành (kiết nhơn, thiện nhơn)—Good people (virtuous, kind, wholesome): a) Người lành thuộc hàng thượng phẩm—Good people who are at the highest level: Hạng người nầy từ khi mới sanh ra cho đến khi khôn lớn, già chết, không cần ai dạy bảo cả mà người ấy vẫn luôn làm lành. Đây là những bậc Thánh Nhân—The people at this level, from the time of their birth until the time they are mature, and old age and death, do not need anyone to teach them, yet they always know instinctively to practice goodness. These people are Saintly Beings. b) Người lành thuộc hàng trung phẩm—Good people who are at the intermediate level: Hạng người nầy, trước cần được người nuôi dạy rồi sau đó mới biết làm lành. Hạng người nầy gọi là bậc Hiền Nhân—The people in this level, first need to be taught to live wholesomely before they know how to live a life of goodness and virtues. These people are Good Beings. 2) Người thuộc hàng hạ phẩm—People who are at the lowest level: Hạng người nầy, tuy là có được người dạy dỗ cẩn thận, mà cũng chẳng chịu làm việc thiện lành. Đây là hạng Ác Ngu—The people in this level, despite having being taught carefully, yet refuse to practice goodness, unable to love an ethical life. These people are Wicked and Ignorant Beings. (B) 1) Hạng người học rộng nghe nhiều, mà lại không bao giờ biết y theo các điều đã nghe học đó mà tu sửa và thực hành: Those who have high education, but they are never willing to practice and cultivate the knowledge they gained. a) Nếu người học rộng nghe nhiều mà trong tâm không có đạo, tất nhiên kiến văn quảng bác do đó mà sanh khởi ra tánh tự cao, xem thường những kẻ khác có sự hiểu biết chẳng bằng mình. Dần dần kết thành cái tội khinh mạn, và đưa đến việc bài bác tất cả mọi lý luận trái ngược với sở kiến của mình. Chính vì thế mà sanh ra tâm “Tăng Thượng Mạn,” nghĩa là mình không hay mà cho rằng mình hay, không giỏi mà cứ cho là giỏi, không chứng mà cho là chứng; từ đó không chịu tu sửa gì cả. Hơn nữa, nếu chỉ muốn nghiên cứu Phật pháp với mục đích biết để chơi hay biết để đem sự hiểu biết của mình đi chất vấn Thầy bạn, làm cho người chưa học tới cảm thấy lúng túng, không thể trả lời được, để từ đó cảm thấy tự mãn rồi cười chê, nhạo báng và tự cho mình là tài giỏi thì chẳng nên: If those who have a broad education and vast knowledge, and who are well-read, but their minds lack faith in religion, naturally, tis will often give rise to conceit, looking down on others as not being their equal in knowledge and understanding. Gradually, this becomes the offense of “arrogance,” which leads them to reject any other thoughts and philosophies that oppose what they believe. This then gives rise to the mind of “Highest Egotism,” meaning they are talented, not cultivating for change but claim to others they cultivate for change, not attaining enlightenment, but claim to have attained, etc. Furthermore, if you are interested only in examining the Buddhist teachings with the intention of knowing it for fun, or use that knowledge and understanding to cause harm to others, causing people who have not well-learned to feel confused, unable to answer questions you raise to them in order for you to laugh and ridicule with arrogance, assuming you are a man of great knowledge, then please do not do this. b) Nếu người có kiến thức rộng rãi về Phật pháp, lại tiếp tục nghiên cứu giáo lý của đạo Phật với mục đích học hỏi để hướng thượng và hồi tâm tu hành theo Phật, nguyện có ngày xa lìa được bể khổ sông mê, để bước lên bờ giác, thí quý hóa vô cùng, vì trong tương lai chúng ta sẽ có thêm một vị Phật: If those who have vast knowledge, and continue to study and examine the philosophical teachings of Buddhism with the intention of learning to strive for the highest peak and to gather their mind to cultivate the Buddha Dharma, and vow one day to escape the sea of suffering and the river of ignorance to cross over to the shore of enlightenment, then that would be excellent because in the future, we will have another “Future Buddha.” 2) Hạng người ngu dốt tối tăm, nhưng luôn xét mình là một kẻ phàm phu đầy tham sân si, cùng với vô số tội lỗi chất chồng trong quá khứ, hiện tại và vị lai, từ đó sanh lòng tàm quí, rồi phát nguyện tu tâm sửa tánh, sám hối, ăn năn, y theo lời Phật Tổ đã dạy mà hành trì, tu tập, như là tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền, vân vân, cầu cho nghiệp chướng chóng được tiêu trừ, mau bước lên bờ giác trong một tương lai rất gần: Ordinary people who always examine themselves and realize they are just unenlightened mortal filled with greed, hatred and ignorance, as well as an accumulation of infinite other transgressions in the past, present and future. From realizing this, they develop a sense of shame and then vow to change their way, be remorseful, repent, and give their best to cultivate with vigor such as chanting sutra, reciting the Buddha's name, or sitting meditation, seeking to quickly end karmic obstructions and to attain enlightenment in a very near future.

nhị chủng nhân chú thuật bất năng gia

(二種人咒術不能加) Hai hạng người mà chú thuật không thể gia hại được. Cứ theo kinh Ma đăng già, nàng Ma đăng già say đắm ngài A nan, xin mẹ mình dùng chú thuật đưa ngài A nan đến, mẹ nàng bảo rằng: Thế gian có 2 hạng người mà chú thuật không thể làm hại được. Đó là: 1. Người đoạn dục: Nghĩa là người đã đoạn dục thì chắc hẳn sẽ tự giữ giới, chính niệm kiên định, lập hạnh ngay thẳng, được các thần che chở, yêu tà không nhiễu hại được, cho nên chú thuật không có công hiệu gì đối với họ. 2. Người chết: Nghĩa là người đã chết thì theo nghiệp mà chuyển, tùy chỗ thụ sinh; hơn nữa, thọ yểu có hạn, chết rồi không sống lại, vì thế chú thuật không có tác dụng gì đối với họ.

nhị chủng nhân quả

Hai loại nhân quả—Two aspects of cause and effect: 1) Nhân quả thế gian: Cause and effect in the present life (khổ đế là quả: the effect or fruit; tập đế là nhân: the cause). 2) Nhân quả xuất thế gian: Cause and effect in the future (diệt đế là quả: mortality or extinction is the effect or fruit; đạo đế là nhân: the path is the cause). ; (二種因果) Chỉ cho 2 loại nhân quả trong pháp Tứ đế: Nhân quả thế gian và Nhân quả xuất thế gian. Nhân quả thế gian lấy Khổ đế làm quả, Tập đế làm nhân; Nhân quả xuất thế gian thì lấy Diệt đế làm quả, Đạo đế làm nhân.

nhị chủng như lai

(二種如來) Chỉ cho Xuất triền Như lai và Tại triền Như lai. 1. Xuất triền Như lai: Từ ngữ dùng để gọi tất cả các đức Phật đã ra khỏi mọi chướng ngại, trói buộc mà ở địa vị giải thoát tròn sáng. 2. Tại triền Như lai: Từ ngữ chỉ cho tất cả hữu tình, tuy có Phật tính, nhưng còn bị phiền não ô nhiễm ràng buộc, chưa thoát ra được. [X. Bí tạng kí sao Q.1].

nhị chủng như như

(二種如如) Chỉ cho 2 thứ như như: Như như trí và Như như cảnh. 1. Như như trí: Trí chân như mầu nhiệm xưa nay vốn thanh tịnh, không bị vô minh che lấp, cũng không bị phiền não làm cho nhiễm ô; chiếu rõ các pháp bình đẳng không hai. 2. Như như cảnh: Cảnh chân như mầu nhiệm, 1 tướng thường trụ, giống như hư không, không dời đổi, không sinh không diệt.

nhị chủng nhất tâm

Trong Kinh A Di Đà, Đức Phật dạy rằng “Nhất Tâm Bất Loạn” có thể đạt được trong khoảng thời gian từ một đến bảy ngày. Người lợi căn có thể niệm trong một ngày là được nhất tâm bất loạn; kẻ độn căn phải cần đến bảy ngày mới được nhất tâm bất loạn; còn người trung căn thì không nhất định, có thể hai ngày, hoặc 3, 4, 5, 6 ngày mới được nhất tâm bất loạn.” Nhất Tâm Bất Loạn có hai thứ—According to the Amitabha Sutra, the Buddha taught: “One Mind Without Disturb can be achieved from one to seven days. Those with sharp faculties will be able to reach complete undisturbed Buddha-remembrance after just one day of invoking the Buddha-name. Those with dull faculties will only be able to reach complete undisturbed Buddha-remembrance after seven days of invoking the Buddha-name. Those of middle faculties may take from two to six days to reach complete undisturbed Buddha-remembrance.” There are two categories for One Mind or Singleminded Practice: 1) Sự Nhất Tâm: One Mind at the Phenomenal Level—Bất luận là người “Sự Trì” hay “Lý Trì,” hễ trì đến ngày phục trừ hết mọi phiền não tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, cho đến ngày diệt hết hẳn cả kiến hoặc và tư hoặc, thì cả hai đều là “Sự Nhất Tâm.” Sự nhất tâm thì không còn bị kiến hoặc và tư hoặc làm rối loạn nữa. Khi tâm mình không còn bị kiến hoặc và tư hoặc làm rối loạn lúc lâm chung, cũng là lúc mình cảm thấy thân biến hóa của chư Phật và Thánh chúng hiện ra trước mắt, khi ấy tâm mình chẳng còn biến khởi ra ba cảnh vật điên đảo, tức là cảnh “Dục giới,” “Sắc giới,” và “Vô sắc giới” ở trong thế giới Ta bà Nầy nữa, mà mình được đi sinh sống hoặc ở cõi đồng cư, hay cõi phương tiện ở bên Thế Giới Cực Lạc—Regardless of whether you recite the Buddha-name at the phenomenal level or the inner truth level, if you invoke the name of Amitabha until you subdue all afflictions of anger, greed, ignorance, doubt, wrong views, and put an end to illusions of views and thoughts, this is the One Mind at the Phenomenal Level, which is not tainted by delusions of views and thoughts anymore. If you recite the Buddha-name until you are not deluded by delusions of views and thoughts at the moment of you death, the response you get is that Amitabha Buddha in his Emanation Body along with his whole retinue of holy ones will appear before you. Your mind will no longer create the delusions of desire, form, and formlessness characteristic of this mundane world “Endurance,” and you will go to be reborn in either the Pure Land where Saints and Ordinary beings dwell together, or the Pure Land of Expedient Liberation. 2) Lý Nhất Tâm: One Mind at the Level of Inner Truth—Bất luận là người “Sự Trì” hay người “Lý Trì,” hễ trì đến ngày Tâm mình mở ra, mình thấy được Phật của Tâm tính mình, cả hai đều là Lý Nhất Tâm. Lý Nhất Tâm không còn bị rối loạn bởi tà thuyết nhị biên như nội dung hình thức, niết bàn sanh tử, Phật và chúng sanh, vân vân. Đây chính là trí tuệ có được do sự tu hành. Lúc lâm chung mà tâm mình chẳng bị tà thuyết nhị biên làm rối loạn, thì mình sẽ cảm thấy thân Thụ Dụng của Phật cùng các vị Thánh chúng hiện ra trước mắt. Lúc ấy tâm mình chẳng còn biến khởi ra hai cảnh vật điên đảo tà kiến là những cảnh sinh lão bệnh tử của cõi Ta Bà và cảnh trầm không của cõi Niết Bàn, mà ngược lại mình được sinh sống ở cõi thực báo trang nghiêm, hoặc cõi thường tịch quang của Thế Giới Cực Lạc—Regardless of whether you recite the Buddha-name at the phenomenal level or the inner truth level, if you invoke the name of Amitabha Buddha until your mind opens and you see inherent Buddhahood, this is the One Mind at the level of inner truth. The One Mind at the inner truth level is not deluded by the supposed dualisms of essence and form, nirvana and samsara, Buddhas and sentient beings, etc. This is the wisdom that comes from cultivating practice. At the time of your death, if you are not deluded by dualisms, the response you get is that Amitabha Buddha will appear before you in his Reward Body, along with his whole retinue of holy ones. Your mind will no longer create the delusions of Samsara and Nirvana, and you will go to be reborn in either the Pure Land of Real Reward, or the Pure Land of Eternally Quiescent Light.

nhị chủng nhất xiển đề

Icchantika (skt)—Hai loại Nhất Xiển Đề—Two kinds of icchantika: 1) Nghiệp báo Nhất xiển đề: Loại người cực ác, đoạn tuyệt thiện căn vì nghiệp tiền kiến, nên không bao giờ thành Phật—The utterly depraved, abandoned, and Blasphemers of Buddha-truth owing to the previous karma. 2) Hạnh nguyện Nhất xiển đề: Vì đại nguyện mà các vị Bồ tát quyết định chưa thành Phật để tiếp tục cứu độ chúng sanh—Owing to the good vow, bodhisattvas refuse to enter upon their Buddhahood in order to continue to save all beings.

Nhị chủng nhẫn nhục

二種忍辱; C: èrzhǒng rěnrù; J: nishunin-niku;|Hai loại nhẫn nhục: 1. Chịu đựng những khắc nghiệt từ thiên nhiên như nóng, lạnh, tuyết, mưa, v.v…2. Nhẫn chịu những sự bức hại, lăng nhục do con người gây ra.

nhị chủng nhẫn nhục

Hai loại nhẫn nhục—Two kinds of patience or endurance: 1) Chúng sanh nhẫn: Patience or endurance of human assaults and insults. 2) Pháp nhẫn: Patience or endurance of the assaults of nature, heat, cold, etc. ; (二種忍辱) Chỉ cho 2 thứ nhẫn nhục: Chúng sinh nhẫn nhục và Phi chúng sinh nhẫn nhục. 1. Chúng sinh nhẫn nhục: Chịu đựng sự bách hại do chúng sinh hữu tình gây ra, như đánh giết, nhục mạ... 2. Phi chúng sinh nhẫn nhục: Chịu đựng sự bức bách do những hiện tượng vô tình gây ra, như gió mưa, lạnh nóng... [X. luận Đại trí độ Q.14].

nhị chủng niết bàn

Two Nirvanas: 1) Hữu dư Niết bàn: Hữu dư y Niết bàn, Niết bàn mà nhân đã ngừng hẳn, nhưng quả vẫn còn dư lại, như vậy một vị Thánh có thể nhập Niết bàn, nhưng phải sống trong thế giới sanh tử cho đến thân chết—Incomplete Nirvana where causes of reincarnation are ended—Nirvana in which all causes have been annihilated, but the remnant of the effect still remains, so that a saint may enter this nirvana during life, but may have to continue to live in this mortal realm till the death of his body. 2) Vô dư Niết bàn: Vô dư y Niết bàn, Niết bàn cuối cùng, nơi không còn nhân quả, không còn liên hệ với luân hồi sanh tử, vị Thánh nhập Vô dư Niết bàn khi thân chết—Final Nirvana, where all effects are ended—Remnantless nirvana, without cause and effect, the connection with the chain of mortal life being ended, so that the saint enters upon perfect nirvana on the death of his body. ; (二種涅槃) Chỉ cho 2 loại Niết bàn: Hữu dư y và Vô dư y.1. Hữu dư y Niết bàn: Phiền não đã dứt hết, nhân sinh tử đã đoạn hẳn, nhưng vẫn còn nương vào sắc thân hữu lậu, nên gọi là Hữu dư y Niết bàn. 2. Vô dư y Niết bàn: Niết bàn này không còn nương vào thân tâm hữu lậu nữa, nên gọi là Vô dư y Niết bàn. Hai loại Niết bàn này cùng 1 thể tính, nhưng Vô dư y Niết bàn chỉ hiện tiền khi mệnh chung. [X. luận Đại trí độ Q.31; Thắng man bảo quật Q.hạ, phần đầu].

nhị chủng niệm phật

Hai loại niệm Phật—Two kinds of intonation or calling on the Buddhas: 1) See Thông Niệm Phật. 2) See Biệt Niệm Phật.

nhị chủng phi khí

(二種非器) Chỉ cho 2 loại căn cơ không có khả năng nghe kinh Hoa nghiêm. Đó là: 1. Nhị thừa phi khí: Chỉ cho hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác có căn khí hẹp hòi, yếu kém, không nghe nổi kinh này, cho nên tuy ngồi trong pháp hội mà như điếc, như mù. 2. Chúng sinh phi khí: Chỉ cho tất cả chúng sinh tà kiến, không có lòng tin, tuy nghe kinh này mà sinh tâm phỉ báng, nên rơi vào ác đạo. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.3].

nhị chủng phá giới nhân

(二種破戒人) Chỉ cho 2 loại người phá giới. 1. Người không đầy đủ điều kiện phá giới: Như nghèo cùng túng quẫn, thiếu ăn thiếu mặc mà sinh tâm trộm cắp. 2. Người đầy đủ điều kiện phá giới: Như ăn mặc đầy đủ, nhưng vì thói quen xấu xa, nên thích làm việc ác. [X. luận Đại trí độ Q.91].

nhị chủng phá trước

(二種破著) Chỉ cho 2 thứ phá trước là Phá dục trước và Phá kiến trước. 1. Phá dục trước: Người đối với sắc đẹp thường sinh lòng ham muốn, nếu quán xét sắc là vô thường, nhớp nhúa, thì không sinh tâm đắm trước, được giải thoát an lạc. 2. Phá kiến trước: Người tuy quán xét sắc là vô thường, nhớp nhúa, nhưng còn vấn vương mà sinh ra kiến chấp. Nếu thấu suốt được sắc tướng vốn không, thì không khởi kiến chấp phân biệt. [X. luận Đại trí độ Q.43].

nhị chủng pháp thân

Two kinds of dharmakaya—See Nhị Pháp Thân. ; (二種法身) Hai loại pháp thân. Trong các kinh luận, về chủng loại và tên gọi của 2 loại pháp thân này có khác nhau. 1. Cứ theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 10 vàkinh Kim quang minh, thì 2 loại pháp thân là: a) Lí pháp thân: Lí tức là tính đức; nghĩa là lí tính của bản giác xưa nay vốn trong sáng, lìa niệm, giống như hư không, bao trùm tất cả, chư Phật và chúng sinh đều cùng 1 tướng, nhưng ở chúng sinh thì bị vô minh che lấp, còn ở chư Phật thì được thủy giác hiển bày, gọi là Lí pháp thân. b) Trí pháp thân: Trí tức là tu đức; nghĩa là trí thủy giác rốt ráo phù hợp với trí bản giác thanh tịnh, lí và trí dung hòa, sắc tâm không 2, trí được hiển hiện, gọi là Trí pháp thân.2. Cứ theo luận Kim cương bát nhã quyển thượng, thì 2 loại pháp thân là: a) Ngôn thuyết pháp thân: Pháp thân vốn không có hình tướng, xa lìa nói năng; tuy xa lìa nói năng, nhưng nếu không nhờ nói năng thì không được hiển bày, nên gọi là Ngôn thuyết pháp thân. b) Chứng đắc pháp thân: Thể pháp thân trùm khắp, chúng sinh đều có đủ, nhưng vì mê muội nên thể pháp thân không hiển lộ ra được, bởi thế đem trí của thủy giác khế hợp với lí của bản giác, thủy giác và bản giác không 2, tức là cứu cánh giác, cho nên gọi là Chứng đắc pháp thân. 3. Theo luận Kim cương bát nhã quyển thượng của ngài Vô trước, thì 2 loại pháp thân là: a) Trí tướng pháp thân: Chỉ cho tướng có đầy đủ trí tuệ, khéo diễn nói các pháp, do tướng trí tuệ này mà đến được trụ xứ của pháp thân, vì thế nên gọi là Trí tướng pháp thân.b) Phúc tướng pháp thân: Chỉ cho phúc tướng thụ trì, diễn nói giáo pháp còn hơn cả bố thí bảy thứ báu; nhờ phúc tướng này mà đến được trụ xứ của pháp thân, vì thế nên gọi là Phúc tướng pháp thân. 4. Theo Vãng sinh luận chúquyển hạ, 2 loại pháp thân là: a) Pháp tính pháp thân: Chân thân của Phật chứng được lí thể tính pháp hàm nhiếp trong pháp thân và báo thân. b) Phương tiện pháp thân: Ứng hóa thân của Phật từ pháp tính pháp thân thị hiện phương tiện giáo hóa làm lợi ích chúng sinh. 5. Theo kinh Bồ tát anh lạc quyển thượng, 2 loại pháp thân là: a) Pháp tính thân: Chỉ cho thực trí sinh ra từ pháp tính. b) Ứng hóa pháp thân: Chỉ cho tất cả thân do pháp tính thân ứng hiện. 6. Theo kinh Bồ tát anh lạcquyển hạ, 2 loại pháp thân là: a) Quả cực pháp thân: Tức là pháp tính pháp thân. b) Ứng hóa pháp thân: Tức là phương tiện pháp thân. Ứng hóa pháp thân như bóng theo hình, vì quả thân là thường, nên Ứng thân cũng là thường. 7. Theo luận Báo tínhquyển 4, 2 loại pháp thân là: a) Tịch tĩnh pháp thân. b) Nhân thân đắc tịch tĩnh pháp thân. 8. Ngài Nguyên chiếulập 2 loại pháp thân là: a) Lí pháp thân: Chân lí do đức Như lai chứng được. b) Sự pháp thân: Pháp công đức của 5 phần: Giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến. [X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng, phần 1, tiết 3].

nhị chủng pháp thí

(二種法施) Chỉ cho 2 loại pháp thí là Thế gian pháp thí và Xuất thế gian pháp thí. 1. Thế gian pháp thí: Bồ tát tuy vì các loài hữu tình mà giảng nói tất cả các pháp như 5 thần thông..., nhưng các pháp ấy chưa thể giúp cho chúng sinh ra khỏi thế gian, cho nên gọi là Thế gian pháp thí. 2. Xuất thế gian pháp thí: Bồ tát vì các loài hữu tình diễn nói, mở bày tất cả Thánh pháp như 3 môn giải thoát..., chúng sinh nhờ tu theo các pháp ấy mà được ra khỏi thế gian, cho nên gọi là Xuất thế gian pháp thí.

nhị chủng pháp tính

(二種法性) Chỉ cho 2 loại pháp tính là Thực pháp tính và Sự pháp tính. 1. Thực pháp tính: Tức lí nhất thực, lìa tướng hư vọng, tính vốn bình đẳng, không có thay đổi. Hết thảy chư Phật đều nhờ tu pháp tính này mà thành Chính giác. 2. Sự pháp tính: Tất cả các pháp trong thế gian đều nương vào lí mà được thi thiết kiến lập, như đất, nước, lửa, gió, 5 ấm... tùy theo chỗ thấy biết của thế tục, tuy thuộc về sự, nhưng không ngoài lí pháp tính.

nhị chủng phân biệt

Theo Kinh Lăng Già, có hai loại phân biệt, tổng phân biệt và biến phân biệt; tuy nhiên, nghĩa của chúng gần như không sai khác—According to the Lankavatara Sutra, there are two kinds of discrimination: samkalpa or general discrimination, and parikalpa; however, their meanings are almost the same.

nhị chủng phân biệt chân nguỵ thiền tướng

(二種分別真僞禪相) Phân biệt 2 thứ tướng chân và ngụy trong lúc tu thiền. 1. Biện tà ngụy thiền phát tướng: Người tu thiền trong khi thiền định, hoặc có cảm giác như thân mình bị trói, bị đè, hoặc có lúc thấy thân nhẹ bỗng muốn bay, hoặc vui mừng rộn rã, hoặc buồn thảm lo sầu, các tướng tà ngụy này phát sinh trong lúc thiền quán, nếu tâm đắm trước vào đó thì liền tương ứng với quỉ pháp, đưa đến loạn tâm điên khùng, cho nên người tu thiền định phải nhất tâm tĩnh lặng, phân biệt tà ngụy, biết các tướng ấy là hư dối, không để tâm dính mắc thì chúng tự nhiên tiêu diệt. 2. Biện chân chính thiền phát tướng: Người tu thiền, trong lúc thiền định, nhất tâm chính niệm, không hôn trầm tán loạn, cảm biết thân tâm an ổn, thanh thoát lâng lâng, vô vi tịch lặng, tương ứng với chính định nên không thấy các tướng tà ngụy như đã nói trên. [X. Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu].

nhị chủng phật cảnh

Hai cảnh giới Phật—Two Buddha domains: 1) Chứng cảnh: Cảnh giới mà chư Phật chứng được—Lý Chân Như pháp tánh—The domain or state of absolute enlightenment. 2) Hóa cảnh: Cảnh giới mà chư Phật biến hóa ra hay là Tây phương quốc độ—The domain that the Buddhas are transforming or the Pure Land. ; (二種佛境) Chỉ cho Chứng cảnh và Hóa cảnh. Chứng cảnh là cảnh giới do chư Phật chứng được, như lí chân như pháp tính. Còn Hóa cảnh là cảnh giới do chư Phật biến hóa ra, như các cõi nước trong 10 phương.

nhị chủng phật độ

(二種佛土) Chỉ cho Chân độ và Ứng độ. 1. Chân độ, cũng gọi Chân phật độ. Là trụ xứ của Pháp thân Phật: 2. Ứng độ, cũng gọi là Phương tiện độ. Là trụ xứ của Ứng thân Phật.

nhị chủng quang minh

Hai loại ánh sáng—See Nhị Quang Minh. ; (二種光明) Chỉ cho 2 loại quang minh. 1. Sắc quang và Tâm quang. a) Sắc quang: Ánh sáng từ thân Phật phóng ra, mắt nhìn thấy được. b) Tâm quang: Ánh sáng từ trí tuệ Phật phát ra, có năng lực phá trừ vô minh tăm tối, cho nên cũng gọi là Trí tuệ quang. [X. luận Đại trí độ Q.47; Lục yếu sao Q.3, phần cuối]. 2. Thường quang và Hiện khởi quang. a) Thường quang: Ánh sáng thường hiện có ở thân Phật, phàm thánh đều nhìn thấy. b) Hiện khởi quang: Ánh sáng mà Phật tùy theo cơ duyên, dùng sức thần thông đặc biệt phóng ra. [X. A di đà kinh nghĩa sớ (Nguyên chiếu)]. 3. Ma quang và Phật quang. a) Ma quang: Ánh sáng của loài ma làm cho tâm người hoảng hốt, tán loạn. b) Phật quang: Ánh sáng của Phật làm cho tâm người lắng trong, sáng láng. [X. luận Bảo vương].

nhị chủng quán

(二種觀) Chỉ cho 2 pháp quán tưởng mà người tu hành luyện tập để ngăn dứt tâm tham đắm. Đó là: 1. Tử thi xú lạn bất tịnh quán: Người tu hành ở nơi vắng vẻ, định tâm quán tưởng xác chết rữa nát, hôi thối, nhớp nhúa, sinh tâm nhàm chán. Từ đó quán biết thân mình cũng nhớp nhúa như thế, nhờ vậy mà ngăn dứt được tâm tham đắm. 2. Văn pháp ức tưởng phân biệt quán: Người tu hành nhờ nghe pháp mà nhớ tưởng thân mình là do các thứ như: Xương, thịt, lông, tóc, răng, móng, da, gân máu... tụ hợp lại mà thành, không có gì chắc thật, nhờ quán xét như thế mà diệt trừ được tâm tham muốn. [X. kinh Thiền yếu ha dục].

nhị chủng quán pháp

(二種觀法) Chỉ cho 2 pháp quán là Duy tâm thức quán và Chân như thực quán. 1. Duy tâm thức quán: Quán xét những việc do 3 nghiệp thân, miệng, ý tạo tác và tất cả cái sai khác bên ngoài như dài ngắn, thiện ác... đều do tâm tạo, không phải ngoài tâm.2. Chân như thực quán: Quán xét tâm tính không sinh không diệt, lìa tất cả vọng tưởng phân biệt. Người tu hành có lợi căn và độn căn, người lợi căn tu chân như thực quán, còn người độn căn thì tu duy tâm thức quán. Tông Thiên thai gọi đó là Sự quán và Lí quán. [X. kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo Q.hạ; Đại minh tam tạng pháp số Q.6]. (xt. Sự Quán Lí Quán).

nhị chủng quán đảnh

Hai loại quán đảnh—Two forms of esoteric baptism—See Quán Đảnh in Vietnamese-English Section.

nhị chủng quán đỉnh

(二種灌頂) Chỉ cho 2 pháp tu trong Mật giáo, đó là: 1. Truyền giáo quán đính, cũng gọi Truyền pháp quán đính, Thụ chức quán đính. Đối với những người đã chính thức tu hành đúng như pháp, thì truyền trao bí pháp và chức vụ A xà lê, gọi là Truyền giáo quán đính. 2. Kết duyên quán đính: Đối với những người chưa chính thức tu hành, thì dẫn họ vào đàn Quán đính để họ tung hoa, rồi trao cho ấn khế và chân ngôn của Bản tôn để họ kết duyên với Phật, chứ không truyền bí pháp, gọi là Kết duyên quán đính. [X. Diễn sao Q.4]. (xt. Quán Đính).

nhị chủng quảng lợi

(二種廣利) Chỉ cho 2 thứ lợi ích rộng lớn. Theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 1, 2 thứ lợi ích là: 1. Lợi ích ở hiện tại: Lúc đức Phật còn tại thế, chúng đương cơ nghe pháp ngộ đạo, được lợi ích lớn. 2. Lợi ích ở tương lai: Sau khi đức Phật nhập diệt, tất cả chúng sinh cũng nghe kinh thụ pháp, tu hành đắc đạo, được lợi ích lớn.

nhị chủng sai biệt

(二種差別) Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho Hữu pháp sai biệt và Pháp sai biệt. Sai biệt nghĩa là lời trình bày và ý chấp nhận hoàn toàn không ăn khớp với nhau. Sai biệt do danh từ trước (tiền trần) phát sinh, gọi là Hữu pháp sai biệt; sai biệt do danh từ sau (hậu trần) phát sinh, gọi là Pháp sai biệt. Chẳng hạn như người tin có ma chủ trương sau khi người ta chết, linh hồn sống dưới âm phủ; còn người không tin thì bảo sau khi chết chỉ còn xác không hồn. Khi người tin có ma đối với người không tin mà lập luận thức, nếu dùng chữ ma thì chỉ mình chấp nhận mà đối phương không chấp nhận thì Tông thể không thành lập được. Cho nên người lập luận bèn dùng từ ngữ hàm hồ, bóng gió như cái còn lại sau khi chết để thay thế chữ ma hòng lừa đối phương mà tránh lỗi Tông y bất cực hành. Từ ngữ cái còn lại sau khi chết được người lập luận sử dụng bao hàm 2 thứ sai biệt: Ma và Xác chết. Trong đó, đối phương chỉ chấp nhận xác chết chứ không chấp nhận ma. Lỗi sai biệt ở đây là trong nhóm từ cái còn lại sau khi chết có hàm ý ma. Tức là, trong trường hợp này, người lập luận đã dùng 1 danh từ cực thành để che giấu ý nghĩa bất cực thành, với hi vọng lừa được đối phương chấp nhận luận thức của mình. [X. Nhân minh đại sớ lê trắc; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích].

nhị chủng sanh tử

Hai loại sanh tử—Two kinds of life and death: 1) Phân Đoạn Sanh Tử: Quả báo trong tam đồ lục đạo của các nghiệp thiện ác, thân được tạo thành do quả báo nầy có từng phần từng đoạn (chỉ hết thảy phàm phu có đủ kiến tư hoặc)—The various karmic transmigrations. 2) Bất Tư Nghì Biến Dịch Sanh Tử: Quả báo Tịnh độ giới của nghiệp vô lậu. Đây là sự sanh tử của các bậc Thánh đã đoạn hết kiến tư hoặc—The inconceivable transformation life in the Pure Land, the transformation of the arhats and other saints.

nhị chủng sinh diệt

(二種生滅) Chỉ cho Thô sinh diệt và Tế sinh diệt. Hai loại sinh diệt này được căn cứ vào sự thô to rõ ràng và sự nhỏ nhiệm khó thấy của cái tướng sinh diệt mà có tên như trên. Trong 6 tâm ô nhiễm thì 3 thứ Tương ứng nhiễm là Thô sinh diệt, còn 3 thứ Bất tương ứng nhiễm là Tế sinh diệt. [X. kinh Lăng già a bạt đa la bảo Q.1; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ, phần đầu]. (xt. Lục Nhiễm Tâm).

Nhị chủng sinh tử

二種生死; C: èrzhǒng shēngsǐ; J: nishu-shōji;|»Hai dạng luân hồi«: Phần đoạn sinh tử (分段生死; hạng phàm phu chưa giác ngộ phải trải qua) và Biến dịch sinh tử (變易生死; những người đã giác ngộ thị hiện).

nhị chủng siêu việt tam muội

(二種超越三昧) Chỉ cho Siêu nhập tam muội (định) và Siêu xuất tam muội. 1. Siêu nhập tam muội: Tam muội từ tán tâm lần lượt tiến vào định Diệt tận. 2. Siêu xuất tam muội: Tam muội từ tán tâm vào thẳng định Diệt tận, hoặc ngược lại, từ định Diệt tận trực tiếp ra tán tâm mà không cần theo thứ tự. Nghĩa là hàng Thanh văn khi xuất nhập thiền định đều phải theo thứ tự từ cạn đến sâu, tức trước hết nhập từ Sơ thiền, rồi lần lượt qua Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, Tứ vô sắc cho đến cuối cùng là định Diệt tận. Khi xuất định thì ngược lại thứ tự trên, nghĩa là bắt đầu xuất từ định Diệt tận, cho đến cuối cùng là Sơ thiền. Nhưng, đối với chư Phật và Bồ tát thì vì định lực của các Ngài đã thành thục, nên không cần theo thứ tự trên, mà các Ngài xuất nhập thiền định 1 cách tự tại.[X. luận Đại trí độ Q.81].

nhị chủng sám hối

(二種懺悔) Chỉ cho Lí sám hối và Sự sám hối. 1. Lí sám: Quán xét lí thực tướng các pháp là muôn vật đều không, các tội ác là do vọng tâm tạo tác, mà vọng tâm thì không có thực thể, nên tội ác là không, do đó diệt trừ mọi tội. 2. Sự sám: Nhờ các sự tướng như lễ Phật tụng kinh để bày tỏ lòng ăn năn sám hối tội lỗi.[X. kinh Tâm địa quán Q.3; Ma ha chỉ quán Q.2].

nhị chủng sát sinh báo

(二種殺生報) Hai thứ quả báo của việc sát sinh. 1. Đoản mệnh: Mệnh sống ngắn ngủi. Do nhân nghiệp đời trước làm tổn hại sinh mệnh người khác, khiến họ không được tận hưởng tuổi thọ, cho nên đời này phải chịu quả báo chết non. 2. Đa bệnh: Bị nhiều bệnh tật. Do nhân nghiệp đời trước làm thương tổn, não hại chúng sinh, cho nên đời này phải chịu quả báo nhiều bệnh tật. [X. Pháp uyển châu lâm Q.70].

nhị chủng sân báo

(二種嗔報) Chỉ cho 2 thứ quả báo do đời trước nhiều sân hận. 1. Thường bị người khác bới lông tìm vết: Do nhân đời trước không bao dung người khác, động 1 tí là nổi nóng, gây ra oán hận, cho nên đời này cảm quả báo thường bị người khác tìm tòi những khuyết điểm của mình. 2. Thường bị mọi người não hại: Do nhân đời trước sách nhiễu mọi người, luôn làm cho họ rơi vào trạng thái bất an, cho nên đời này cảm quả báo bị mọi người làm não hại. [X. Pháp uyển châu lâm Q.70].

nhị chủng sắc

(二種色) I. Nhị Chủng Sắc. Nội sắc và Ngoại sắc. 1. Nội sắc: Sắc bên trong. Tức là 6 thức và 6 căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý thuộc trong thân, nên gọi là Nội sắc. 2. Ngoại sắc: Sắc bên ngoài. Tức là 5 căn: Nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân và 5 trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, đều thuộc cảnh bên ngoài, nên gọi là Ngoại sắc. [X. Tông kính lục Q.58]. II. Nhị Chủng Sắc. Hiển sắc và Hình sắc. 1. Hiển sắc: Chỉ cho các màu sắc rõ ràng như: Xanh, vàng, đỏ, trắng... và mây, khói, bụi, mù... đều là những thứ mắt có thể thấy được. 2. Hình sắc: Chỉ cho các hình tướng có thể thấy được như: Dài, ngắn, vuông, tròn, to, nhỏ, cao, thấp... [X. Tông kính lục Q.58]. III. Nhị Chủng Sắc. Tịnh sắc và Bất tịnh sắc. 1. Tịnh sắc: Chỉ cho các màu sắc thanh tịnh, tươi đẹp. Màu sắc này hay làm cho người ta nổi lòng tham muốn, tổn hoại đạo nghiệp, vì thế người tu đạo nên lánh xa thứ màu sắc này. 2. Bất tịnh sắc: Chỉ cho các màu sắc xấu ác, bất tịnh. Loại màu sắc này thường làm cho người sinh tâm chán ghét, ngăn trở đạo nghiệp, cho nên người tu đạo cũng cần xa lánh. [X. luận Đại trí độ Q.21].

nhị chủng sắc thân

(二種色身) Chỉ cho Thực sắc thân và Hóa sắc thân của các đức Phật, cũng tức là Báo thân và Ứng thân. 1. Thực sắc thân: Chỉ cho thân vô lượng tướng hảo trang nghiêm của chư Phật, do tu vô lượng công đức mà cảm được. 2. Hóa sắc thân: Chỉ cho các loại thân hình mà chư Phật, vì nguyện lực đại bi, biến hóa ra để tế độ chúng sinh. [X. Phật địa kinh luận Q.7].

nhị chủng số

(二種數) Chỉ cho 2 loại số: Số lượng số và Sắc tâm hữu vi số. 1. Số lượng số: Chỉ số lượng 1 hay nhiều. Do số 1 hay nhiều mà an lập tất cả pháp. 2. Sắc tâm hữu vi số: Sắc là sắc thân, tâm là tâm sinh khởi, cả 2 đều có sinh diệt nên gọi là hữu vi. Phân biệt 2 pháp sắc và tâm này thì có các số mục không giống nhau như 5 ấm, 12 nhập, 18 giới... vì thế mà gọi là Sắc tâm hữu vi số.

nhị chủng tam quán

(二種三觀) Chỉ cho Thứ đệ tam quán và Nhất tâm tam quán. 1. Thứ đệ tam quán, cũng gọi Biệt tướng tam quán, là pháp quán của Biệt giáo. 2. Nhất tâm tam quán, cũng gọi Bất thứ đệ tam quán, là pháp quán của Viên giáo. [X. Ma ha chỉ quán Q.3, 5; Duy ma kinh lược sớ Q.7; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.3, 5]. (xt. Tam Quán).

nhị chủng tam tâm

(二種三心) Chỉ cho Tam tâm tự lợi và Tam tín lợi tha, do Tịnh độ chân tông của Nhật bản thành lập. 1. Tam tâm tự lợi: Ba tâm lợi mình. Tức là Chí thành tâm, Thâm tâm và Hồi hướng phát nguyện tâm. Những việc do 3 nghiệp tạo tác, làm cho thân, khẩu, ý được điều hòa, đó là Chí thành tâm. Tin sâu giáo lí, tu thiện vãng sinh, không hoài nghi, đó là Thâm tâm. Đem những hạnh nghiệp mà mình đã tu được để hồi hướng cầu vãng sinh, đó là Hồi hướng phát nguyện tâm.2. Tam tín lợi tha: Ba tín lợi người. Tức là Chí tâm, Tín nhạo và Dục sinh. Đây là 3 tín của hành giả Tịnh độ, tin vào hoằng nguyện tha lực của đức Phật A di đà để cầu vãng sinh. [X. kinh Quán vô lượng thọ; Ngu thốc sao].

nhị chủng tham báo

(二種貪報) Chỉ cho 2 thứ quả báo do tham. 1. Đa dục: Nhiều ham muốn. Do đời trước buông lung tham dục, tâm không dừng nghỉ, cảm đến đời này, thói quen không quên, lại càng tăng thêm gấp bội nên sinh tham đắm. 2. Vô yếm: Không biết chán. Do đời trước tham cầu không thôi, ngược xuôi rong ruổi, cảm đến đời này nghiệp tập chẳng quên, nên tham càng mạnh, cầu không biết chán. [X. Pháp uyển châu lâm Q.70].

nhị chủng thanh tịnh

Theo kinh Hoa Nghiêm, có hai loại thanh tịnh—According to the Flower Ornament Scripture, there are two kinds of purity: 1) Tự tính thanh tịnh: Chân như thanh tịnh—The natural purity. 2) Ly cấu thanh tịnh: Đạt được tâm thể thanh tịnh bằng cách xa lìa mọi ô nhiễm—Acquired purity through avoiding pollution. ; (二種清淨) I. Nhị Chủng Thanh Tịnh. Tự tính thanh tịnh và Li cấu thanh tịnh. 1. Tự tính thanh tịnh: Tâm thể chân như của chúng sinh xưa nay vốn trong sạch, không hề ô nhiễm. 2. Li cấu thanh tịnh: Tâm thể tự tính trong sạch này xa lìa tất cả phiền não cấu nhiễm. [X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.6] II. Nhị Chủng Thanh Tịnh. Ngữ thanh tịnh và Nghĩa thanh tịnh. 1. Ngữ thanh tịnh: Lời nói thanh tịnh vì không mắc lầm lỗi. 2. Nghĩa thanh tịnh: Nghĩa lí thanh tịnh vì được diễn giải chính xác và đầy đủ, không sai lầm, thiếu sót. [X. luận Thành thực Q.1]. III. Nhị Chủng Thanh Tịnh. Chúng sinh thế gian thanh tịnh và Khí thế gian thanh tịnh. 1. Chúng sinh thế gian thanh tịnh: Tức chính báo của cõi Tịnh độ cực lạc. 2. Khí thế gian thanh tịnh: Tức là y báo của cõi Tịnh độ cực lạc. Trong 29 thứ trang nghiêm ở Tịnh độ cực lạc phương Tây, thì 8 thứ của Phật và 4 thứ của Bồ tát thuộc về Chúng sinh thế gian thanh tịnh; còn 17 thứ của quốc độ thì thuộc về Khí thế gian thanh tịnh. [X. luận Tịnh độ của ngài Thiên thân].

nhị chủng thanh văn

(二種聲聞) Hai loại Thanh văn: Ngu pháp thanh văn và Bất ngu pháp thanh văn. 1. Ngu pháp thanh văn: Thanh văn học pháp Tiểu thừa, mê chấp pháp của mình mà chẳng hiểu biết gì về diệu lí pháp không của Đại thừa. 2. Bất ngu pháp thanh văn: Thanh văn này tuy thuộc về tiểu quả, nhưng hiểu lí của Đại thừa và xoay tâm hướng về Đại thừa. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.17, phần cuối].

nhị chủng thiền

Two kinds of contemplation. 1) Sự Thiền: The dhyana of or concentration on phenomena—See Sự Thiền. 2) Lý Thiền: The dhyana of or concentration on the absolute truth—See Lý Thiền.

nhị chủng thiện cơ

(二種善機) Chỉ cho 2 thứ căn cơ tu thiện. 1. Định cơ: Căn cơ định thiện, tu tập ngăn dứt các vọng niệm. 2. Tán cơ: Căn cơ tán thiện, thường tu 3 phúc. [X. Ngu ngốc sao Q.thượng].

nhị chủng thoái

(二種退) Chỉ cho Cứu cánh thoái và Bất cứu cánh thoái. Cứ theo kinh Bồ tát địa trì quyển 1, có 2 hạng người tu hành thoái chuyển đạo tâm khác nhau:1. Cứu cánh thoái: Hạng người có tín căn cạn mỏng, mới đầu thì siêng năng tu hành, sau gặp duyên khác chướng ngại, đạo tâm liền lui sụt, cuối cùng không phát khởi được tâm bồ đề. 2. Bất cứu cánh thoái: Hạng người lúc mới tu hành gắng sức tinh tiến, nhưng nửa chừng thì sinh ra biếng nhác trễ nải, thoái thất tâm đạo; sau gặp thiện tri thức ân cần khuyên bảo, có thể phát tâm bồ đề trở lại.

nhị chủng thoát tục

Hai loại thoát tục—Two kinds of seclusion: 1) Thân thoát tục: Bodily withdrawal into seclusion. 2) Tâm thoát tục: Spiritual withdrawal from all evil, and into meditation.

Nhị chủng thuyết

thuyết dạy hai nghĩa khác nhau, như một nghĩa là hữu tánh, một nghĩa là vô tánh. Phật vì chúng sanh mà thuyết pháp tánh, lại vì các bậc hiền thánh mà thuyết là không có pháp tánh. Vì thế nên gọi là nhị chủng thuyết.

nhị chủng thuyết pháp

(二種說法) Chỉ cho 2 cách nói pháp. Đức Như lai vì Bồ tát và các chúng sinh nói pháp có tế, thô khác nhau. 1. Tế: Như lai vì các Bồ tát diễn nói pháp sâu xa mầu nhiệm (tức là diệu lí xuất thế gian mà Như lai đã chứng được). Vì Như lai nương theo đệ nhất nghĩa mà diễn nói nên gọi là Tế (vi tế). 2. Thô: Như lai nương theo tất cả pháp thế gian, vì chúng sinh mà nói các pháp văn tự chương cú sai biệt, nên gọi là Thô (thô thiển).

nhị chủng thánh

Hai loại Thánh—Two classes of saints or preachers: 1) Hữu ngôn Thánh: Those who preach with words (Pháp sư). 2) Vô ngôn Thánh: Những vị Thánh nêu gương bằng những phẩm hạnh cao tuyệt chứ không nói một lời—Those who preach without words, but examplify themselves with good morality.

nhị chủng thâm tín

(二種深信) Chỉ cho 2 thứ niềm tin sâu xa. 1. Tín cơ: Tin sâu nơi căn cơ của mình. 2. Tín pháp: Tin sâu nơi giáo pháp của Phật.Cứ theo phần Tán thiện nghĩa trong Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ quyển 4 của ngài Thiện đạo, thì hành giả Tịnh độ phải tin rằng tội nghiệp của mình rất nặng, trong thế giới luân hồi, sinh tử không ngừng (tín cơ). Đồng thời tin rằng phải nương nhờ vào bản nguyện của đức Phật A di đà mới có thể được cứu vớt (tin pháp). Tịnh độ chân tông của Nhật bản nhận định rằng 2 thứ thâm tín trên đây thực ra chỉ là 1. Tức là tin vào bản nguyện của Phật là tin chắc rằng tội nghiệp sâu nặng của mình sẽ được Phật cứu. Tín tâm và tha lực tuy có 2 mặt, nhưng thực ra chỉ là 1 thể.

nhị chủng thân hành thí

(二種身行施) Chỉ cho Sinh thân hành thí và Pháp thân hành thí. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 12, Bồ tát dùng 2 loại thân để làm việc bố thí, đó là: 1. Sinh thân hành thí: Bồ tát dùng thân do cha mẹ sinh ra, đem tất cả của báu, cho đến thân mệnh của mình để bố thí, tâm không hề sẻn tiếc. 2. Pháp thân hành thí: Bồ tát khi đã bỏ sinh thân được pháp thân, thì có thể đem các vật quí báu, y phục, thức ăn uống... cấp phát cho hết thảy chúng sinh trong thế giới ở 10 phương. Rồi trong 1 lúc, Bồ tát có khả năng tùy theo âm thanh của chúng sinh mà nói pháp cho tất cả.

nhị chủng thân độ

(二種身土) Thân là sắc thân nương ở (năng y), Độ là cõi nước để nương ở (sở y). Cứ theo Phật địa kinh luận quyển 1, Nhị chủng thân độ là: 1. Tự thụ dụng thân độ: Chỉ cho thân và độ do nhân tu hành của chính mình mà cảm được, xứng với tính mà được thụ các thứ pháp lạc 1 cách tự tại vô ngại, cho nên thân được gọi là Tự thụ dụng thân, cũng gọi là Viên mãn báo thân; độ được gọi là Tự thụ dụng độ, cũng gọi là Thực báo trang nghiêm độ. Tự thụ dụng thân độ này là quả báo của chư Phật Như lai chiêu cảm được, các vị đại Bồ tát tuy có nghe biết, nhưng không thấy được. 2. Tha thụ dụng thân độ: Chỉ cho thân và độ mà các căn cơ khác cảm thấy được, là do chư Phật Như lai vì muốn cho các chúng Bồ tát được đại pháp lạc, tiến tu thắng hạnh, nên tùy nghi hóa hiện ra, hoặc hơn hoặc kém, hoặc lớn hoặc nhỏ, chuyển biến không định, khiến các Bồ tát ấy thụ dụng.

nhị chủng thâu đạo báo

(二種偷盜報) Hai thứ quả báo ở đời này do nhân trộm cướp ở đời trước mang lại. 1. Bần cùng: Do nhân đời trước lấy tài vật của người khác, khiến họ phải chịu cảnh túng thiếu, nên đời này chính mình cũng bị quả báo nghèo cùng. 2. Không được tự tại: Do nhân đời trước cướp giật tài vật của người khác, cho nên đời này tuy có của cải nhưng lại thuộc về 5 nhà: Nước cuốn đi, lửa thiêu mất, giặc cướp lấy, con phá tán và quan tham ô, không được tự do thụ hưởng. [X. Pháp uyển châu lâm Q.70].

nhị chủng thí

See nhị bố thí.

nhị chủng thông tướng

(二種通相) Hai thứ thông tướng: Tông thông tướng và Thuyết thông tướng. 1. Tông thông tướng: Tông là trung tâm, yếu chỉ; Thông là dung thông vô ngại; Tướng là tướng thù thắng do tự tâm có được. Tông thông tướng có nghĩa là nương theo lời dạy, suy nghĩ tu tập, được ý rồi thì phải quên lời, tiến vào lĩnh vực tự giác, giác trí tròn sáng, dung thông vô ngại. 2. Thuyết thông tướng: Thuyết là thuyết pháp; Thông là biện thuyết vô ngại; Tướng chỉ cho tướng khởi dụng giáo hóa người khác. Thuyết thông tướng có nghĩa là dùng phương tiện, tùy theo căn cơ cạn sâu của chúng sinh mà nói pháp cho họ nghe, không bị chướng ngại.

nhị chủng thường trụ

(二種常住) Chỉ cho 2 thứ thường trụ: Thường trụ có hoại diệt và Thường trụ không hoại diệt. 1. Thường trụ có hoại diệt: Các vị Bồ tát trụ thế 1 trăm nghìn vạn ức năm, hoặc 1 kiếp cho đến 8 vạn kiếp rồi nhập diệt, gọi là Thường trụ có hoại diệt. Vì thường ở đây không phải là chân thường, bất biến, mà chỉ có nghĩa trụ thế lâu dài mà thôi. 2. Thường trụ không hoại diệt: Khi các Bồ tát đã diệt sạch phiền não hoặc nghiệp thì lí chân thường mới hiển hiện. Lí chân thường này không sinh không diệt, không biến không hoại, nên gọi là Thường trụ không hoại diệt. [X. luận Đại trí độ Q.43].

nhị chủng thần lực

(二種神力) I. Nhị Chủng Thần Lực. Hai thứ thần lực. 1. Thần lực khiến chúng sinh từ những nơi xa xôi đều nghe thấy được: Đức Phật có thần lực tuy ở 1 chỗ thuyết pháp, nhưng có thể làm cho chúng sinh ở nhiều phương khác đều nghe thấy được. 2. Thần lực khiến mọi chúng sinh đều thấy Phật: Đức Phật có thần lực làm cho mỗi chúng sinh đều tự thấy Phật đang nói pháp. [X. luận Đại trí độ Q.9]. II. Nhị Chủng Thần Lực. Chỉ cho 2 thứ thần lực. 1. Thần lực hiện thân nói pháp: Bồ tát Sơ địa trụ nơi thần lực của Phật, vào tam muội Đại thừa chiếu minh, lúc ấy, tất cả chư Phật ở các thế giới trong 10 phương, dùng sức thần thông hiện tất cả thân đối diện thuyết pháp. 2. Thần lực dùng tay rưới nước lên đỉnh đầu: Bồ tát Sơ địa được thần lực tam muội, ở trong nghìn kiếp tích tập thiện căn thành tựu, lần lượt vào Hoan hỉ địa cho đến Pháp vân địa, trụ ở điện Đại liên hoa vi diệu, ngồi trên tòa sư tử báu Đại liên hoa. Lúc bấy giờ, tất cả các đức Như lai từ 10 phương đến, ở trên tòa cung điện Đại liên hoa, dùng tay rưới nước cam lộ lên đỉnh đầu vị Bồ tát ấy. [X. kinh Lăng già Q.2].

nhị chủng thậm thâm

(二種甚深) Chỉ cho Chứng thậm thâm và A hàm thậm thâm. 1. Chứng thậm thâm: Chỉ cho trí tuệ của chư Phật sâu xa khó lường. 2. A hàm thậm thâm: Chỉ cho môn trí tuệ của chư Phật thậm thâm vô lượng. Chứng thậm thâm là lí sở thuyên(lí được trình bày)rất sâu xa, còn A hàm thậm thâm là giáo năng thuyên(giáo trình bày) rất sâu xa. Chứng thậm thâm được chia làm 5 thứ: Nghĩa thậm thâm, Thực thể thậm thâm, Nội chứng thậm thâm, Y chỉ thậm thâm và Vô thượng thậm thâm. A hàm thậm thâm cũng được chia làm 8 thứ: Thụ trì đọc tụng thậm thâm, Tu hành thậm thâm, Quả hạnh thậm thâm, Tăng trưởng công đức tâm thậm thâm, Khoái diệu sự tâm thậm thâm, Vô thượng thậm thâm, Nhập thậm thâm và Bất cộng Thanh văn Bích chi phật sở tác trụ trì thậm thâm. [X. Pháp hoa kinh luận Q.thượng; Pháp hoa huyền tán Q.3].

nhị chủng thắng

(二種勝) Chỉ cho Nhân thắng và Quả thắng. Cứ theo kinh Bồ tát địa trì quyển 1, Bồ tát mới phát tâm kiên cố có 2 việc: Phát tâm thành đạo thu nhiếp thiện pháp và phát tâm vượt hơn tất cả để bao gồm các thiện, cho nên có 2 thứ nhân quả hơn hẳn Nhị thừa. Đó là: 1. Nhân thắng: Nhân trội hơn. Nghĩa là Bồ tát tu thiện pháp xuất thế, đều lấy bồ đề làm nhân, hơn hẳn Nhị thừa, nên gọi là Nhân thắng. 2. Quả thắng: Quả trội hơn. Nghĩa là Bồ tát tu hành đã lấy bồ đề làm nhân thì tất nhiên cuối cùng sẽ chứng quả bồ đề, hơn hẳn Nhị thừa, nên gọi là Quả thắng.

nhị chủng thắng hạnh

(二種勝行) Chỉ cho 2 thứ Phúc thắng hạnh và Trí thắng hạnh. Bồ tát tu 2 hạnh phúc, trí, nếu nói theo tướng chung, thì tất cả đều là phúc hạnh, tất cả đều là trí hạnh. Nhưng, nếu nói theo tướng riêng, thì như trong Lục độ, 5 độ trước là phúc, độ thứ 6 là trí, đây là bàn về phương diện khắc tính xuất thể, tức nếu thể ấy là tuệ thì thuộc Trí thắng hạnh; nếu không phải tuệ thì thuộc Phúc thắng hạnh. Nhưng, cũng có thuyết cho rằng 3 độ trước (bố thí, trì giới, nhẫn nhục) là phúc, độ sau cùng (trí tuệ) là trí, còn 2 độ ở khoảng giữa (tinh tiến, thiền định) thì chung cho cả phúc và trí. Đây là nói về phương diện Lân cận xuất thể, tức là dùng 2 độ ở khoảng giữa gần kề tuệ mà phát khởi tuệ, cho nên cũng thuộc về trí. [X. luận Thành duy thức Q.9; Thành duy thức luận thuật kí Q.9].

nhị chủng thế giới

Two kinds of world. 1) Hữu Tình Thế Giới: Thế giới của loài hữu tình có thân thể—The world of the living, who are receiving their correct recompense. 2) Khí Thế Giới: Thế giới vật lý hay địa phương nơi loài hữu tình cư trú (các loài hữu tình, theo luận điểm vật chất hay tinh thần, được chia thành ba cõi—The world of the material, or that on which karma depends for expression. The world of material is divided into three realms. a) Dục Giới: Kamadhatu (skt)—See Dục Giới (B) and (C). b) Sắc Giới: Rupadhatu (skt)—See Sắc Giới, and Tứ Thiền Thiên. c) Vô Sắc Giới: Arupadhatu (skt)—See Vô Sắc Giới, and Tứ Không Xứ.

nhị chủng thọ ký

Hai loại thọ ký—Two classes of Buddha's predictions of a disciple's destiny: 1) Hữu dư thọ ký: Đức Phật nói vào thời nào trong tương lai thì vị Phật nào sẽ thọ ký cho chúng sanh—Partial or incomplete prediction—The Buddha predicted what Buddha would make a prediction for sentient being in certain periods of time in the future. 2) Vô dư thọ ký: Đức Phật thọ ký về sự thành Phật của một chúng sanh—Prediction in finality, or complete detail of becoming Buddha of a sentient being.

nhị chủng thọ mệnh

(二種壽命) Chỉ cho 2 thứ mệnh chúng sinh là Mệnh căn và Trí tuệ mệnh. Luận Đại trí độ quyển 78 (Đại 25, 610 trung) nói: Chúng sinh có 2 thứ mệnh (...) trong thọ mệnh, người được trí tuệ mệnh là hơn hết. (xt. Mệnh Căn).

nhị chủng thụ cụ giới pháp

(二種受具戒法) Thụ trì 2 loại giới pháp. Giới là nguồn gốc của muôn điều thiện. Cứ theo kinh Đại bảo tích quyển 104, nếu người nào thụ trì chính giới thì sẽ được tăng trưởng tất cả thiện pháp, trái lại thì sẽ bị mắc vào tà kiến, rơi vào ngoại đạo, cho nên giới có 2 loại khác nhau là: 1. Thụ chính bình đẳng giới: Người tu hành thụ trì chính giới của Như lai, tất cả bình đẳng, không sinh kiến giải phân biệt sai khác, dứt bặt tâm tà tư vọng tưởng, giới thể tròn sáng và được giải thoát, cuối cùng đạt đến vô thượng bồ đề, không còn trở lui. 2. Thụ tà bất đẳng giới: Người tà kiến chạy theo ác tri thức, đem tâm phân biệt thụ trì tà giới, rơi vào những tà kiến sai biệt như: Nhân ngã, đoạn thường, kiêu mạn, tham dục, sân khuể, ngu si v.v... không biết được con đường giải thoát.

nhị chủng thụ kí

(二種授記) Chỉ cho Vô dư thụ kí và Hữu dư thụ kí. 1. Vô dư kí: Phật hiện tiền thụ kí cho chúng sinh tên gì đó, ở trong kiếp nào đó sẽ thành Phật, hiệu... Như lai, có quốc độ và quyến thuộc. 2. Hữu dư kí: Nói chúng sinh nào đó ở đời vị lai vào thời đức Phật nào đó sẽ hết tội này.

nhị chủng tinh tấn

Theo Đại Trí Độ Luận, có hai loại tinh tấn—According to the Maha-Paramita-Sastra, there are two kinds of virya: 1) Thân Tinh Tấn: Như vẫn sinh hoạt mang đến của cải, nhưng lại dùng vào việc bố thí—The fortitude in body, i.e. use earned properties in almsgiving—See Bát Chánh Đạo (4) (5) (6). 2) Tâm Tinh Tấn: Dứt bỏ tham dục, ác tâm, cũng như tà kiến—The vigour in mind, i.e. cut off all passions, evil mind, and wrong views—See Bát Chánh Đạo (1) (2) (6).

nhị chủng trang nghiêm

Two kinds of adornment—See Nhị Trang Nghiêm.

nhị chủng trí

Two kinds of wisdom: 1) Tướng Trí: Hữu lậu trí hay trí nương vào sự tướng thế gian và hãy còn quan hệ với phiền não—Knowledge derived from phenomena, associated with afflictions. 2) Phật Trí: Vô lậu trí, cắt đứt liên hệ với phiền não—Buddha wisdom, no longer associated with afflictions. ** For more information, please see Nhị Trí.

nhị chủng tu đạo

Two paths of cultivation—See Hai Lối Tu Hành.

nhị chủng tà kiến

Hai loại tà kiến—The two false views: (A) 1) Thường kiến: Những người theo chủ nghĩa vật chất duy trì cuộc sống đạo đức vì lợi ích của tự thân, tìm cầu hạnh phúc trần tục, và không nắm bắt được Niết bàn—Materialistics who maintained the moral life in the interests of self, sought earthly happiness, and failed to apprehend nirvana. 2) Đoạn kiến: Người theo chủ nghĩa đoạn kiến phủ nhận hạnh phúc trần tục tùy thuộc vào cuộc sống đạo đức—Nihilistics who denied that earthly happiness is dependent on a moral life. (B) 1) Phá thế gian lạc tà kiến: Những người duy trì lối sống vì lợi ích vị kỷ—Those who maintain the moral life in the interests of self. 2) Phá Niết Bàn đạo tà kiến: Những người chủ trương theo đuổi phước báo nhơn thiên mà chẳng được Niết Bàn—Those who seek earthly happiness, and fail to apprehend Nirvana. ; (二種邪見) Chỉ cho 2 thứ Phá thế gian lạc tà kiến và Phá Niết bàn đạo tà kiến. 1. Phá thế gian lạc tà kiến: Phá tà kiến làm mất cái vui của thế gian. Nghĩa là loại tà kiến không thấy lí nhân quả, không làm việc thiện mà làm việc ác, cho rằng không tội không phúc, không có các bậc Thánh hiền... Nếu khởi tà kiến như thế thì sẽ rơi vào đường khổ não, mất đi niềm vui thế gian.2. Phá Niết bàn đạo tà kiến: Phá tà kiến làm chướng ngại Niết bàn. Nghĩa là tà kiến tham đắm cái Ta. Nhờ tu thiện nên được thú vui thế gian, nhưng vì phân biệt hữu vô nên không được Niết bàn.[X. Trung luận Q.4].

nhị chủng tà kiến báo

(二種邪見報) Hai thứ báo do nhân tà kiến ở đời trước mà phải chịu quả ở đời này. 1. Sinh vào nhà tà kiến: Vì đời trước tâm bị tà kiến che lấp, khởi lên những cái thấy sai lầm, nên đời này chiêu cảm quả báo không có tâm chính tín, phải sinh vào nhà tà kiến. 2. Tâm nịnh hót quanh co: Vì nhân đời trước tà kiến, tâm không ngay thẳng, nên đời này cảm quả tâm thường nịnh hót quanh co. [X. Pháp uyển châu lâm Q.70].

nhị chủng tâm

(二種心) Chỉ cho An ổn tâm và Khoái lạc tâm. Cứ theo kinh Bồ tát địa trì quyển 1, Bồ tát mới phát tâm kiên cố, đối với chúng sinh, khởi lên 2 tâm chân tịnh là: 1. An ổn tâm: Tức chúng sinh chịu khổ sinh tử bức bách, chìm đắm trong đường ác, Bồ tát liền phương tiện mở đường đưa họ đến những nơi tốt lành, khiến tâm họ được an ổn. 2. Khoái lạc tâm: Tức chúng sinh chịu khổ nghèo cùng túng quẫn, không nơi nương tựa, Bồ tát liền khởi tâm đại từ, thu nhận cứu giúp, mang lại no ấm cho mọi người, khiến tâm họ được vui sướng.

nhị chủng tâm tướng

Hai loại tâm tướng—Two kinds of mind: 1) Nội tâm tướng: Bản tâm thanh tịnh bình đẳng bên trong—The mind in its inner character and influence. 2) Ngoại tâm tướng: Theo duyên mà hiện ra các đối cảnh—The in its outer manifestations. ; (二種心相) Chỉ cho tướng bên trong và tướng bên ngoài của tâm. 1. Tướng bên trong của tâm: Tướng bản tính thanh tịnh bình đẳng. 2. Tướng bên ngoài của tâm: Tướng tâm theo các duyên mà sinh ra các cảnh.

nhị chủng tín

Two forms of faith—See Nhị Tín.

nhị chủng tính

Hai loại tính—Two kinds of seed-nature (the character of the alaya seed and its development): (A) 1) Tính chủng tử: Bản tính thiện từ vô thủy –The original good seed-nature. 2) Tập chủng tử: Chủng tính thiện do tu tập mà phát triển—The seed-nature in practice or development. (B) 1) Bổn tính trụ chủng tính: Bản tính tự nhiên từ vô thủy—The immanent abiding original good seed-nature. 2) Tập sở thành chủng tính: Chủng tính mới được huân tập—The seed productive according to its ground. (C) 1) Thánh chủng tính: Hạt giống chứng quả Niết Bàn của bậc Thánh tam thừa—The seed-nature of the saints, by which they attain nirvana. 2) Phàm phu chủng tính: Ngu phu chủng tính, hay chủng tính phàm phu ngu muội cố bám giữ lấy chư pháp (hạt giống nầy có khả năng sinh sản, còn tính là do rèn tập mà có chứ không phải là tính của lý tính)—The seed-nature in the foolish and ignorant.

nhị chủng tăng

(二種僧) I. Nhị Chủng Tăng. Hai hạng tăng. 1. Thanh văn tăng: Hình tướng sa môn xuất gia, tu tập tam học giới, định, tuệ của Tiểu thừa. 2. Bồ tát tăng: Hình tướng cư sĩ tại gia, tu tập tam học giới, định, tuệ của Đại thừa. [X. luận Đại trí độ Q.34]. II. Nhị Chủng Tăng. Chỉ cho Ứng cúng tăng và Tam qui tăng. 1. Ứng cúng tăng: Chỉ cho các vị từ đức Phật trở xuống đến sa di phàm phu, vì đều nhận lãnh sự cúng dường của đàn việt. 2. Tam qui tăng: Chỉ cho các vị đã được Tứ hướng Tứ quả trong hàng Thanh văn. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.10].

nhị chủng tăng vật

(二種僧物) I. Nhị Chủng Tăng Vật. Hiện tiền tăng vật và Tứ phương tăng vật.1. Hiện tiền tăng vật: Các vật của chúng tăng hiện tại thuộc cùng 1 phạm vi kết giới, như y phục và thức ăn cúng dường mỗi vị tăng hiện tiền. 2. Tứ phương tăng vật: Các vật thuộc về chúng tăng 4 phương, như lúa gạo và phòng xá trong chùa. Cũng gọi Thập phương tăng vật, Tăng kì vật. II. Nhị Chủng Tăng Vật. Hai thứ vật kiện của chúng tăng được phân biệt theo tính chất. 1. Trọng vật: Vật nặng. Như phòng xá, ruộng vườn... 2. Khinh vật: Vật nhẹ. Gồm 18 thứ vật dụng như 3 tấm áo, bát, tích trượng... Việc phân biệt các vật khinh, trọng này là cách đánh giá di sản của vị tăng mới qua đời để lại.

nhị chủng tư lương

Theo Kinh Bảo Tích, có hai loại trang nghiêm—According to The Ratna-rasi or Ratna-kuta sutra (Gem-Heap sutra), there are two kinds spiritual provender: 1) Phúc đức tư lương: Bố thí công đức thiện căn để trì giới, nhẫn nhục, và tinh tấn—Charity, the first four paramitas in the six paramitas. 2) Trí đức tư lương: Tu tập thiền quán và tinh chuyên tìm cầu Diệu Giác, hay là ba Ba La Mật sau cùng—Wisdom, the last three paramitas.

nhị chủng tất cánh

(二種畢竟) Chỉ cho Trang nghiêm tất cánh và Cứu cánh tất cánh. 1. Trang nghiêm tất cánh: Tất cánh nghĩa là quyết định. Tức tất cả chúng sinh đều có chính tính Nhất thừa, nhưng cần phải tu Lục độ để trang nghiêm, nếu không tu thì không được chính tính. 2. Cứu cánh tất cánh: Cứu cánh nghĩa là tột cùng. Tức là tính Nhất thừa mà tất cả chúng sinh đều có thể có. Nếu có được tính Nhất thừa này, thì chắc chắn sẽ đạt được đến địa vị cùng tột. [X. kinh Đại niết bàn Q.27].

nhị chủng tịch tịnh

Hai loại tịch tịnh—Two kinds of seclusion or retirement from the world: 1) Thân tịch tịnh: Tự thân lìa bỏ gia đình để sống đời thanh thản yên tĩnh—Bodily withdrawal into seclusion. 2) Tâm tịch tịnh: Nhờ tu thiền định mà tâm đoạn lìa tất cả những điều ác—Spiritual withdrawal from all evil and into meditation.

nhị chủng tử

Hai loại chủng tử—Two kinds of seeds: (A) 1) Danh ngôn chủng tử (Bổn hữu chủng tử): Chủng tử là nhân tạo ra tất cả mọi pháp thiện ác—Seed which causes moral action—Good or evil seeds produce good or evil deeds. 2) Nghiệp chủng tử: Chủng tử gây ra bởi nghiệp tạo tác thiện ác nơi tâm sở rồi huân tập nơi thức thứ tám—Karma seed, the sixth (mind consciousness) acting with the eighth (Alaya consciousness). (B) 1) Bổn hữu chủng tử: The seed or latent undivided moral force immanent in the highest of the Alaya consciousness. 2) Thân huân chủng tử: The newly influenced or active seed when acted upon by the seven other consciousness, thus becoming productive. (C) Two kinds of death: 1) Mệnh tận tử: Natural death. 2) Ngoại duyên tử: Violent death or death caused by external causes.

nhị chủng tỳ kheo

Hai loại Tỳ Kheo—Two classes of monks: 1) Đa văn tỳ kheo: Monks who hear and repeat many sutras, but are not devoted doers. 2) Quả thiển tỳ kheo: Those who read and repeat few sutras, but are devoted in their lives.

nhị chủng viễn li

(二種遠離) Chỉ cho Thân viễn li và Tâm viễn li. 1. Thân viễn li: Thân xa lánh. Nghĩa là khi tu hành Phật đạo, đối với ngoại giới, để cho thân được thanh tịnh, phải chấm dứt sự giao du với bạn ác, gọi Thân viễn li. 2. Tâm viễn li: Tâm xa lìa. Nghĩa là người tu hành, đối với nội tâm, phải hướng dẫn tư duy tránh xa những mê hoặc bất thiện, gọi là Tâm viễn li.

nhị chủng vô lượng

(二種無量) Chỉ cho 2 thứ vô lượng: 1. Thực vô lượng: Lí Phật tính Niết bàn giống như hư không, thực không có hạn lượng, tất cả Bồ tát đều không tính lường được. 2. Bất tri vi vô lượng: Không biết được vô lượng. Nghĩa là chỉ có Phật và Bồ tát mới biết được số cân lạng của núi Tu di và số giọt nước của biển cả, chứ người và trời, trí lực cạn cợt, hẹp hòi, không thể biết được. [X. luận Đại trí độ Q.20].

nhị chủng vô lậu nhân quả

(二種無漏因果) Chỉ cho Vô lậu nhân và Vô lậu quả. 1. Vô lậu nhân: Hàng Nhị thừa do tu nhân giới, định, tuệ mà dứt được quả khổ sinh tử trong 3 cõi, nên tam học giới, định, tuệ được gọi là Nhân vô lậu, tức là Đạo đế. 2. Vô lậu quả: Hàng nhị thừa đã dứt được nỗi khổ sinh tử bức bách trong 3 cõi, chứng được niềm vui chân không niết bàn vắng lặng; chân không niết bàn này được gọi là Vô lậu quả, tức là Diệt đế. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.12 (bản Bắc)].

nhị chủng vô nghĩa ngữ báo

(二種無義語報) Hai thứ quả báo do đời trước nói năng vô nghĩa mà đời nay phải chịu. 1. Không ai tin nhận: Do nhân đời trước nói năng vô nghĩa, tức là hư dối, nên đời nay chiêu cảm quả báo tuy có nói năng nhưng không ai tín nhiệm. 2. Nói không rõ ràng: Do nhân đời trước nói năng vô nghĩa, đều là mờ ám, nên đời nay chiêu cảm quả báo những điều nói ra cũng không rõ ràng. [X. Pháp uyển châu lâm Q.70].

nhị chủng vô ngại

(二種無礙) Chỉ cho Trí tuệ ư cảnh vô ngại và Thần thông tác dụng vô ngại. 1. Trí tuệ ư cảnh vô ngại: Cảnh là lí của pháp giới. Nghĩa là Bồ tát dùng trí bình đẳng mà chứng lí pháp giới, lí sự dung thông, không có chướng ngại. 2. Thần thông tác dụng vô ngại: Tác dụng của thần thông không có chướng ngại. Nghĩa là Bồ tát đã chứng lí pháp giới trong nội tâm, dùng thần thông ứng hiện ở khắp 10 phương thế giới, tùy cơ hóa độ đều không chướng ngại. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.52].

nhị chủng vô tâm ước giáo

(二種無心約教) Chỉ cho 2 thứ vô tâm do y theo (y ước) giáo pháp mà có được. 1. Trừng trạm linh vô: Lắng lặng vô tâm. Nghĩa là chúng sinh thường thu nhiếp các niệm khiến cho tâm an định, lắng thần tĩnh lự, làm cho định thể lặng trong, không bị vọng trần khuấy động, thế gọi là Trừng trạm linh vô. 2. Đương thể thị vô: Ngay cái đương thể là vô tâm. Nghĩa là chúng sinh rõ ngay nguồn tâm vốn vắng lặng, pháp cũng vô sinh, biết được ngay chỗ niệm khởi là bất khả đắc, thế nên gọi là Đương thể thị vô. [X. Tông kính lục Q.45].

nhị chủng vọng kiến

Two kinds of upside-down discriminating false views—Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Nhì, Đức Phật đã nhắc nhở ngài A Nan về hai loại vọng kiến như sau: “Ông A Nan! Tất cả chúng sanh bị trôi lăn trong vòng luân hồi sanh tử ở thế gian, là do bởi hai thứ vọng kiến. Hai thứ nhìn sai lầm đó làm cho chúng sanh thấy có cảnh giới, và bị lôi cuốn trong vòng nghiệp. Hai thứ vọng kiến đó là vọng kiến biệt nghiệp của chúng sanh và vọng kiến đồng phận của chúng sanh.”—In the Surangama Sutra, the Buddha reminded Ananda about two kinds of upside-down discriminating false views as follows: “Ananda! All living beings turn on the wheel in this world because of two upside-down discriminating false views. Wherever these views arise, there is revolution through the cycle of appropriate karma. What are the two views? The first consists of the false view based on living beings' individual karma. The second consists of the false view based on living beings' collective karma.” 1) Vọng Kiến Biệt Nghiệp là gì? Ông A Nan! Như người bị đau mắt, ban đêm nhìn vào ngọn đèn, thấy có năm màu sắc tròn chung quanh ngọn lửa sáng—What is meant by false views based on individual karma? Ananda! It is like a man in the world who has red cataracts on his eyes so that at night he alone sees around the lamp a circular reflection composed of layers of five colors. a) Ông nghĩ thế nào? Cái ảnh tròn năm màu sắc đó là màu sắc của đèn hay màu sắc của cái thấy? What do you think? Is the circle of light that appears around the lamp at night the lamp's color, or is it the seeing's colors? • Ông A Nan! Nếu là màu sắc của đèn, sao chỉ một mình người đau mắt thấy. Nếu là màu sắc của tính thấy, thì tính thấy đã thành màu sắc, còn cái thấy của người mắt đau gọi là gì?—Ananda! If it is the lamp's colors, why is it that someone without the disease does not see the same thing, and only the one who is diseased sees the circular reflection? If it is the seeing's colors, then the seeing has already become colored; what, then, is the circular reflection the diseased man sees to be called? • Lại nữa, ông A Nan, nếu cái ảnh tròn kia, rời đèn mà riêng có, thì khi nhìn bình phong, trướng, ghế, bàn, cũng phải có ảnh tròn hiện ra chứ—Moreover, Ananda, if the circular reflection is in itself a thing apart from the lamp, then it would be seen around the folding screen, the curtain, the table, and the mats. • Nếu rời tính thấy mà riêng có, thì mắt có thể không thấy. Nay mắt thấy thì biết không rời được—If it has nothing to do with the seeing, it should not be seen by the eyes. Why is it that the man with cataracts sees the circular reflections with his eyes? b) Vậy nên biết rằng—Therefore, you should know that: • Màu sắc thật ở nơi đèn. Cái thấy bệnh nhìn lầm ra ảnh năm sắc. Cái ảnh và cái thấy đều là bệnh. Nhưng cái thấy biết là bệnh đó, không phải là bệnh. Đừng nên nói là đèn, là thấy, và chẳng phải đèn, chẳng phải thấy—In fact the colors come from the lamp, and the diseased seeing bring about the reflection. Both the circular reflection and the faulty seeing are the result of the cataract. But that which sees the diseased film is not sick. Thus you should not say that it is the lamp or the seeing or that it is neither the lamp nor the seeing. • Ví dụ mặt trăng thứ hai, vì dụi mắt mà thấy, vậy không phải là mặt trăng, hay là bóng của trăng. Cái ảnh năm sắc cũng vậy, vì mắt bệnh mà thành, không nên nói là tại đèn hay tại thấy—It is like a second moon often seen when one presses on one's eye while looking up into the sky. It is neither substantial nor a reflection because it is an illusory vision caused by the pressure exerted on one's eye. Hence, a wise person should not say that the second moon is a form or not a form. Nor is it correct to say that the illusory second moon is apart from the seeing or not apart from the seeing. It is the same with the illusion created by the diseased eyes. You cannot say it is from the lamp or from the seeing: even less can it be said not to be from the lamp or the seeing. 2) Vọng Kiến Đồng Phận—False View of the collecting share: a) Ông A Nan! Trong cõi Diêm Phù Đề, trừ phần nước nơi các biển lớn, phần đất bằng ở giữa có đến ba ngàn châu. Châu lớn chính giữa bao trùm cả Đông Tây—What is meant by the false view of the collective share? Ananda! In Jambudvipa, besides the waters of the great seas, there is level land that forms some three thousand continents. East and West, throughout the entire expanse of the great continent. • Có độ hai ngàn ba trăm nước lớn. Các châu nhỏ ở giữa biển, hoặc vài trăm nước, hoặc một, hoặc hai nước, cho đến ba mươi, bốn mươi năm mươi nước—There are twenty-three hundred large countries. In other, small or perhaps one or two, or perhaps thirty, forty, or fifty. • Ông A Nan! Trong đám đó có một châu nhỏ, chỉ có hai nước. Người trong một nước cùng cảm với ác duyên, chúng sanh trong nước ấy thấy những cảnh giới không lành, hoặc thấy hai mặt trời, hoặc thấy hai mặt trăng. Họ lại thấy những ác tướng như: các quầng chung quanh mặt trời, mặt trăng; nguyệt thực, nhật thực, những vết đen trên mặt trời, mặt trăng, sao chổi, sao phướn, sao băng, nhiều sao băng thành chùm, các thứ mống, vân vân. Chỉ nước ấy thấy. Còn chúng sanh ở nước bên kia không hề thấy hay nghe những thứ trên—Ananda! Suppose that among them there is one small continent where there are only two countries. The people of just one of the countries together experience evil conditions. On that small continent, all the people of that country see all kinds of inauspicious things: perhaps they see two suns, perhaps they see two moons with circles, or a dark haze, or girdle-ornaments around them; or comets, shooting stars, 'ears' on the sun or moon, eainbows, secondary rainbows, and various other evil signs. Only the people in that country see them. The living beings in the other country from the first do not see or hear anything unusual. b) Ông A Nan! Nay tôi vì ông lấy hai thứ vọng kiến trên giải thích cho rõ—Ananda! I will now go back and forth comparing these two matters for you, to make both of them clear: • Như người đau mắt thấy cái ảnh tròn năm sắc ở đèn sáng. Đó là do lỗi bệnh mắt, chứ không phải do lỗi ở tính thấy, cũng không phải sắc đèn tạo ra—Ananda! In the case of the living being's false view of individual karma by which he sees the appearance of a circular reflection around the lamp, the appearance seems to be a state, but in the end, what is seen comes into being because of the cataracts on the eyes. The cataracts are the results of the weariness of the seeing rather than the products of form. However, the essence of seeing which perceives the cataracts is free from all diseases and defects. • Lấy đó mà so sánh, nay ông và chúng sanh thấy núi sông, cảnh vật, đều là từ vô thủy, cái thấy bệnh thấy như thế. Cái vọng kiến và cảnh vật dều là hư vọng, tùy duyên hiện tiền. Còn cái giác minh biết vọng cảnh, vọng kiến là bệnh, thì không phải bệnh hay mê lầm, mà lúc nào cũng sáng suốt. Chân kiến thấy rõ vọng kiến là bệnh, thì nó không bị bệnh, mà vẫn sáng suốt. Vậy câu lúc trước ông bảo 'kiến văn giác tri,' chỉ là vọng kiến mà thôi. Vậy nay ông thấy tôi, ông và chúng sanh đều là cái thấy bệnh. Còn cái 'kiến chân tinh tính' không phải bệnh nên không gọi là thấy—For example, you now use your eyes to look at the mountains, the rivers, the countries, and all the living beings: and they are all brought about by the disease of your seeing contracted since time without beginning. Seeing and the conditions of seeing seem to manifest what is before you. Originally my enlightenment is bright. The seeing and conditions arise from the cataracts. Realize that the seeing arise from the cataracts: the enlightened condition of the basically enlightened bright mind has no cataracts. That which is aware of the faulty awareness is not diseased. It is the true perception of seeing. How can you continue to speak of feeling, hearing, knowing, and seeing? Therefore, you now see me and yourself and the world and all the ten kinds of living beings because of a disease in the seeing. What is aware of the disease is not diseased. The true essential seeing by nature has no disease. Therefore, it is not called seeing. c) Ông A Nan! Có thể lấy cái vọng kiến đồng phận của chúng sanh đã nói trên, so sánh với cái vọng kiến biệt nghiệp của một người. Cái ảnh tròn của một người thấy do đau mắt, và những cảnh lạ do chúng sanh một nước thấy, đều là cái hư vọng kiến sinh ra từ vô thủy. Khắp cả mười phương thế giới chúng sanh đều thuộc phạm vi vọng. Các duyên hòa hợp sinh ra, các duyên hòa hợp mất. Nếu đứng về cảnh giới Phật, đều thấy đó là hư vọng. Nếu có thể xa lìa các 'hòa hợp duyên' và 'không hòa hợp duyên,' thì đã diệt trừ các nhân sinh tử, chứng được chân lý, tức cảnh giới Phật—Ananda! Let us compare the false views of those living beings' collective share with the false views of the indicidual karma of one person. The individual man with the diseased eyes is the same as the people of that country. He sees circular reflections erroneously brought about by a disease of the seeing. The beings with a collective share see inauspicious things. In the midst of their karma of identical views arise pestilence and evils. Both are produced from a beginningless falsity in the seeing. It is the same in the three thousand continents of Jambudvipa, throughout the four great seas and in the Saha World and throughout the ten directions. All countries that have outflows and all living beings are the enlightened bright wonderful mind without outflows. Because of the false, diseased conditions that are seen, heard, felt, and known, they mix and unite in false birth, mix and unite in false death. If you cane leave far behind all conditions which mix and unite and those which do not mix and unite, then you can also extinguish and cast out the causes of birth and death, and obtain perfect Bodhi, the nature which is neither produced nor extinguished. It is the pure clear basic mind, the everlasting fundamental enlightenment. ; (二種妄見) Chỉ cho 2 thứ vọng kiến: Biệt nghiệp vọng kiến và Đồng phận vọng kiến. 1. Biệt nghiệp vọng kiến: Chỉ cho các chúng sinh mê mất chân tính, tự khởi vọng kiến, thấy có tất cả cảnh giới hư dối, hoặc khổ hoặc vui, còn người không quên mất chân tính thì không thấy những cảnh giới ấy. Như người đau mắt, ban đêm nhìn đèn, thấy có quầng sáng; hoặc như người nhặm mắt, thấy có 2 ngọn đèn. Nhưng với những người không bị đau mắt hoặc không nhặm mắt thì không thấy những hiện tượng ấy. 2. Đồng phận vọng kiến: Chỉ cho những chúng sinh mê mất chân tính, cũng thấy tất cả cảnh giới hư vọng, cùng chịu khổ vui, đồng nghiệp cảm được. Như người trong 1 nước cùng thấy những việc xấu ác bất tường. [X. kinh Lăng nghiêm Q.2].

nhị chủng vọng ngữ báo

(二種妄語報) Hai thứ quả báo đời nay phải chịu do đời trước nói dối. 1. Thường bị phỉ báng: Vì nhân đời trước không giữ chữ tín, không có lòng thành thực, hay nói dối đối với mọi người, cho nên chiêu cảm quả báo đời nay, thường bị người ta phỉ báng. 2. Bị người lừa gạt: Vì nhân đời trước chuyên nói dối để gạt gẫm người, cho nên chiêu cảm quả báo đời nay bị người lừa gạt. [X. Pháp uyển châu lâm Q.70].

nhị chủng xiển đề

(二種闡提) Gọi đủ: Nhị chủng Nhất xiển đề. Chỉ cho 2 loại Xiển đề. 1. Xả thiện căn xiển đề: Sinh khởi đại tà kiến, dứt hết tất cả thiện căn, là hạng người cực ác, không thể thành Phật. 2. Phương tiện xiển đề: Bồ tát vì hóa độ chúng sinh nên dùng phương tiện giả làm xiển đề. Tức Bồ tát phương tiện thệ nguyện: Nếu chúng sinh không vào Niết bàn thì ta cũng không vào Niết bàn, do đó Bồ tát trở thành Phương tiện xiển đề để cứu giúp chúng sinh. [X. kinh Lăng già Q.1; kinh Nhập lăng già Q.2].

nhị chủng xuất gia

(二種出家) Chỉ cho 2 loại xuất gia. 1. Thân xuất gia: Chỉ cho hình thể ra khỏi sự sinh hoạt của người tại gia. 2. Tâm xuất gia: Tuy sống ở nhà thế tục nhưng tâm không tham nhiễm các cảnh, như các Bồ tát cư sĩ Đại thừa: Duy ma, Hiền hộ. Chương Ưu bà cúc đa trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 1 (Đại 51, 207 trung) chép: Tôn giả hỏi rằng: Ông thân xuất gia hay tâm xuất gia?.

nhị chủng xá lợi

(二種舍利) I. Nhị Chủng Xá Lợi. Chỉ cho Toàn thân xá lợi và Toái thân xá lợi. 1. Toàn thân xá lợi: Xá lợi còn nguyên vẹn cả thân thể, chứ không thiêu ra tro. 2. Toái thân xá lợi: Di thể đã được thiêu ra tro. Cứ theo phẩm Đề bà đạt đa trong kinh Pháp hoa quyển 4 và phẩm Thường vô thường trong kinh Bồ tát xử thai quyển 3, xá lợi của đức Phật Đa bảo là Toàn thân xá lợi, còn xá lợi của đức Phật Thích ca là Toái thân xá lợi. II. Nhị Chủng Xá Lợi. Chỉ cho Thân cốt xá lợi và Pháp tụng xá lợi.1. Thân cốt xá lợi: Chỉ cho di cốt của đức Phật. 2. Pháp tụng xá lợi: Chỉ cho pháp thân bất diệt của Phật, tức chỉ cho di pháp của đức Phật. Về sau, Pháp tụng xá lợi được chuyển thành lời kính xưng đối với tất cả kinh Đại thừa và kinh Tiểu thừa. [X. kinh Dục Phật công đức]. (xt. Xá Lợi).

nhị chủng y

(二種醫) Chỉ cho 2 loại thầy thuốc: Tiểu y và Đại y. 1. Tiểu y: Y sĩ bình thường, chỉ biết chứng bệnh, nguyên nhân bệnh và thuốc chữa bệnh, chứ không biết tất cả bệnh, tất cả nguyên nhân bệnh và tất cả thuốc chữa bệnh. Ví dụ như hàng Thanh văn không thể biết tất cả thuốc và bệnh nên gọi là Tiểu y. 2. Đại y: Y sĩ giỏi, chỉ cho người thầy thuốc biết tất cả các chứng bệnh, biết tất cả nguyên nhân của bệnh và thông thạo tất cả thứ thuốc trị bệnh, vì thế chữa bệnh cho tất cả chúng sinh. Ví như Bồ tát không bệnh nào mà không biết, không loại thuốc nào không hiểu, cho nên gọi là Đại y. [X. luận Đại trí độ Q.24].

nhị chủng yết ma

(二種羯磨) I. Nhị Chủng Yết Ma. Chỉ cho 2 loại yết ma. 1. Trị tội yết ma: Nếu có các tỉ khưu phạm tội thì đại chúng làm pháp yết ma để định tội của họ. 2. Thành thiện yết ma: Nếu các tỉ khưu mắc tội phạm giới thì đối trước chúng tăng bày tỏ sám hối, nhờ đó mà tội lỗi bị diệt trừ và thiện căn được thành tựu. [X. thiên Sám lục tụ pháp trong luật Tứ phần]. II. Nhị Chủng Yết Ma. Chỉ cho Vĩnh sấn yết ma và Điều phục yết ma. 1. Vĩnh sấn yết ma: Lúc đức Phật còn tại thế, nếu có tỉ khưu phạm tội mà không thấy lỗi của mình, lại có tính ngang bướng, cứng đầu, không chịu hối cải, thì chúng tăng làm pháp yết ma trục xuất, trọn đời không được trở lại dự vào các việc của chúng tăng. 2. Điều phục yết ma: Các tỉ khưu phạm pháp mà chưa từng sám hối, thì đối với các việc của chúng tăng như ăn uống, ngồi đứng, nói năng đều không được tham dự chung với chúng tăng. Cách xử phạt này cốt để nhiếp phục kẻ phạm tội, khiến họ biết lỗi, cầu tăng sám hối để không tái phạm nữa. [X. luận Tì ni mẫu Q.2].

nhị chủng ác mạ báo

(二種惡駡報) Hai thứ quả báo mà đời này phải chịu là do đời trước miệng hay chưởi mắng bằng những lời thô bỉ xấu ác. Cứ theo Pháp uyển châu lâm quyển 70, 2 thứ quả báo xấu ác ấy là: 1. Thường nghe tiếng xấu ác: Do nhân đời trước không giữ mồm giữ miệng, hay thốt ra những lời thô ác, làm cho những người nghe khó chịu nổi, nên chiêu cảm quả báo là đời này thường phải nghe những âm thanh nhơ nhớp, xấu xa. 2. Thường tranh tụng: Do nhân đời trước cậy có thế mạnh, ưa tranh cãi kiện cáo, ác nghịch vô đạo, nên cảm được quả báo là đời này thường bị vướng vào những vụ kiện tụng bất hòa.

nhị chủng ác sự

(二種惡事) Hai thứ ác sự, tức là chúng sinh ác sự và thổ địa ác sự. 1. Chúng sinh ác sự: Chúng sinh tham dục, sân hận, ngu si, không theo lời dạy bảo của cha mẹ, sư trưởng làm các điều ác. 2. Thổ địa ác sự: Chỉ cho những nơi mà nạn mất mùa, đói kém, dịch bệnh và khí độc thường xảy ra.

nhị chủng ái

(二種愛) Hai thứ yêu mến, tức là yêu mến có ô nhiễm và yêu mến không ô nhiễm. 1. Có ô nhiễm: Tham ái, tham đắm cảnh 5 dục lạc, không dứt ra được, như yêu mến vợ, con... Tham và ái tên tuy khác nhau nhưng cùng là 1 thể. 2. Không ô nhiễm: Tức tín ái, như kính yêu cha mẹ và sư trưởng. [X. luận Đại trí độ Q.4; luận Đại tì bà sa Q.29].

nhị chủng ái ngữ

(二種愛語) Hai thứ ái ngữ, tức là Tùy ý ái ngữ và Tùy sở ái pháp vị thuyết. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 66, Bồ tát dùng 2 thứ ái ngữ để nói pháp cho chúng sinh. Đó là: 1. Tùy ý ái ngữ: Bồ tát vì thương xót chúng sinh nên thuận theo ý của chúng sinh mà nói pháp. 2. Tùy sở ái pháp vị thuyết: Bồ tát tùy thuận pháp chúng sinh ưa thích mà nói cho họ nghe. Như đối với người giàu có mà tâm cao ngạo thì khen ngợi việc bố thí, vì người ấy thích danh tiếng và phúc đức nên sẽ sinh tâm vui mừng.

nhị chủng điên đảo

Two conditions for being upside down—Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Bảy, Đức Phật đã nhắc nhở ngài A Nan về hai loại điên đảo như sau: “Ông A Nan! Ông muốn tu chân tam ma địa, thẳng đến đại Niết Bàn của Như Lai, trước hết phải biết hai thứ điên đảo là chúng sanh và thế giới. Nếu điên đảo không sinh, đó là chân tam ma địa của Như Lai.”—According to the Surangama Sutra, book Seven, the Buddha reminded Ananda about the two conditions for being upside down as follows: “Ananda! You now wish to cultivate true samadhi and arrive directly at the Thus Come One' Parinirvana, first, you should recognize the two upside-down causes of living beings and the world. If this upside-down state is not produced, then there is the Thus Come One's true samadhi.” 1) Chúng Sanh Điên Đảo: Upside-down state of living beings—Ông A Nan! Thế nào gọi là chúng sanh điên đảo? Ông A Nan! Do tính minh tâm, cái tính sáng suốt viên mãn. Nhân cái vọnh minh phát ra vọng tính. Cái tính hư vọng sinh ra cái tri kiến hư vọng. Từ rốt ráo không sinh rốt ráo có. Do cái năng hữu ấy, mới có những cái sở hữu. Chẳng phải nhân thành sở nhân. Rồi có cái tướng trụ và sở trụ. Trọn không căn bản. Gốc không có chỗ y trụ, gây dựng ra thế giới và chúng sanh. Mê cái tính bản nguyên minh, mới sinh ra hư vọng. Vọng tính không có tự thể, chẳng phải là có chỗ sở y. Toan muốn trở lại chân. Cái muốn chân đó chẳng phải thật là chân như tính. Chẳng phải chân mà cầu trở lại chân, hóa ra thành hư vọng tướng. Chẳng phải: “sinh, trụ, tâm, pháp,” lần lữa phát sinh, sinh lực tăng tiến mãi, huân tập thành nghiệp. Đồng nghiệp cảm nhau. Nhân có cảm nghiệp, diệt nhau sinh nhau. Do đó nên có chúng sanh điên đảo—Ananda! What is meant by the upside-down state of living beings? Ananda! The reason that the nature of the mind is bright is that the nature itself is the perfection of brightness. By adding brightness, another nature arises, and rom that false nature, views are produced, so that from absolute nothingness comes ultimate existence. All that exists comes from this; every cause in fact has no cause. Subjective reliance on objective appearances is basically groundless. Thus, upon what is fundamentally unreliable, one set up the world and living beings. Confusion about one's basic, perfect understanding results in the arising of falseness. The nature of falseness is devoid of substance; it is not something which can be relied upon. One may wish to return to the truth, but that wish for truth is already a falseness. The real nature of true suchness is not a truth that one can seek to return to. By doing so one misses the mark. What basically is not produced, what basically does not dwell, what basically is not the mind, and what basically are not dharmas arise through interaction. As they arise more and more strongly, they form the propensity to create karma. Similar karma sets up a mutual stimulus. Because of the karma thus generated, there is mutual production and mutual extinction. That is the reason for the upside-down state of living beings. 2) Thế Giới Điên Đảo: Upside-down state of the world—Ông A Nan! Thế nào gọi là thế giới điên đảo? Cái có và cái bị có ấy, nhân hư vọng sinh, nhân đó giới lập. Chẳng phải nhân, sở nhân, không trụ và sở trụ, thiên lưu chẳng dừng. Nhân đó thế lập. Ba đời bốn phương hòa hợp xen nhau, biến hóa chúng sanh thành 12 loại (see Thập Nhị Loại Chúng Sanh). Bởi đó thế giới nhân động có tiếng, nhân tiếng có sắc, nhân sắc có hương, nhân hương có xúc, nhân xúc có vị, nhân vị biết pháp. Sáu thứ vọng tưởng nhiễu loạn thành nghiệp tính. Mười hai thứ phân ra khác. Do đó lưu chuyển, nên ở thế gian “tiếng, hương, vị, xúc,” cùng 12 biến hóa xoay vần thành một vòng lẩn quẩn. Nhân các tướng điên đảo luân chuyển ấy, mới có thế giới: các loài noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, loài có sắc, loài không sắc, loài có tưởng, loài không tưởng, loài chẳng phải có sắc, loài chẳng phải không sắc, loài chẳng phải có tưởng, loài chẳng phải không tưởng. Ông A Nan! Chúng sanh trong mỗi loại đều đủ 12 thứ điên đảo. Ví như lấy tay ấn vào con mắt, thấy hoa đốm phát sinh. Hư vọng loạn tưởng điên đảo và chân tịnh minh tâm cũng như thế.”—Ananda! What is meant by the upside-down state of the world? All that exists comes from this; the world is set up because of the false arising of sections and shares. Every cause in fact has no cause; everything that is dependent has nothing on which it is dependent, and so it shifts and slides and is unreliable. Because of this, the world of the three periods of time and four directions comes into being. Their union and interaction bring about changes which result in the twelve categories of living beings. That is why, in this world, movement brings about sounds, sounds bring about forms, forms bring about smells, smells bring about contact, contact brings about tastes, and tastes bring about awareness of dharmas. The random false thinking resulting from these six creates karma, and this continuous revolving becomes the cause of twelve different categories. And so, in the world, sounds, smells, tastes, contact, and the like, are each transformed throughout the twelve categories to make one complete cycle. The appearance of being upside down is based on this continuous process. Therefore, in the world, there are those born from eggs, those born from womb, those born from moisture, , those born by transformation, those with form, those without form, those with thought, those without thought, those not totally endowed with form, those not totally lacking form, those not totally endowed with thought, and those not totally lacking thought. Ananda! Each of these categories of beings is replete with all twelve kinds of upside-down states, just as pressing on one's eye produces a variety of flower-like images. With the inversion of wonderful perfection, the truly pure, bright mind becomes glutted with false and random thoughts. *** For more information, please see Thập Nhị Loại Chúng Sanh. ; (二種顛倒) Chỉ cho 2 thứ điên đảo là Chúng sinh điên đảo và Thế giới điên đảo. 1. Chúng sinh điên đảo: Chúng sinh không thấy rõ được tự tính, chạy theo vọng tưởng, mê mất chân tâm, tùy thuận vọng hoặc mà tạo tác vọng nghiệp, do vọng nghiệp này đắp đổi tương sinh, nên chúng sinh xoay vòng trong 3 cõi, không thể nào quay lưng với vọng để trở về với chân, vì thế gọi là Chúng sinh điên đảo. 2. Thế giới điên đảo: Quá khứ, hiện tại, vị lai trôi chảy là Thế, 4 phương đông, tây, nam, bắc là Giới. Thời gian và không gian tương quan nên gọi là Thế giới. Điên đảo là chỉ cho chúng sinh mê mất chân tính, niệm niệm đổi dời, trụ ở trong cảnh giới mê vọng, khởi lên những cái thấy đảo điên, cho nên gọi là Thế giới điên đảo. [X. kinh Lăng nghiêm Q.7].

nhị chủng đại thừa

(二種大乘) Hữu tướng Đại thừa và Vô tướng Đại thừa. Đây là giáo phán của 1 Thiền sư thời Nam Bắc triều. 1. Hữu tướng Đại thừa: Như kinh Hoa nghiêm, kinh Anh lạc, kinh Đại phẩm... nói về các giai đoạn, công đức và hành tướng của sự tu hành. 2. Vô tướng Đại thừa: Như kinh Lăng già, kinh Tư ích... không giải thích về chân pháp, mà lấy lí hết thảy chúng sinh thành Niết bàn tức khắc làm giáo nghĩa. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.10, phần đầu].

nhị chủng định

Hai loại định—There are two kinds of samadhi: 1) Tán Định: Thiền định tổng quát hay tản mạn của Dục Giới—Scattered or general meditation in the world of desire. 2) Thiền Định: Thiền định trong cõi Sắc giới hay Vô Sắc giới—Abstract meditation in the realms of form and beyond form.

nhị chủng độc giác

(二種獨覺) Chỉ cho 2 loại Độc giác là Bộ hành độc giác và Lân dụ độc giác. Vị Độc giác ra đời lúc không có Phật xuất hiện, tự mình quán xét ngoại vật vô thường, nội tâm sinh diệt mà giác ngộ, nên gọi là Độc giác. Cứ theo Tích huyền kí thì Độc giác có 2 loại:1. Bộ hành: Bộ là bộ loại. Vị Độc giác này hơi có tâm vì người, ví như con nai đang chạy mà đầu còn ngoái lại nhìn đàn nai phía sau, nên gọi là Bộ hành . 2. Lân dụ: Lân là con kì lân. Vị Độc giác này chỉ muốn độ mình, ít có tâm vì người khác, ví như con kì lân chỉ có 1 sừng, cho nên gọi là Lân dụ.

nhị chứng

(二證) I. Nhị Chứng. Chỉ cho Sự chứng và Lí chứng. Trong Tam học, người tu giới, giữ giới, gọi là Sự chứng; người tu định và tuệ thì gọi là Lí chứng. [X. Nam sơn giới bản sớ Q.1, phần đầu]. II. Nhị Chứng. Chỉ cho Lí chứng và Giáo chứng. Hai cách chứng đắc này là tiêu chuẩn để quyết định 1 loại học thuyết nào đó có đúng là Phật pháp không. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.1].

nhị cát la

(二吉羅) Hai tội Đột cát la: Ác tác và Ác ngôn. Ác tác là những hành vi, cử chỉ trái với giới luật; còn Ác ngôn là những lời nói không đúng sự thật. (xt. Đột Cát La).

nhị câu phạm quá

Cả hai đều phạm lỗi—Một từ ngữ nói về những chỉ trích của Thiên Thai về Hoa Nghiêm, dù cho Thiên Thai là Viên giáo, nhưng nó vẫn còn có những chỗ thô chỗ dở của Biệt giáo so với giáo pháp thực sự hoàn hảo thời Pháp Hoa—Both have mistakes—A term applied by T'ien-T'ai in criticism of Hua-Yen, which while it is a perfect or complete doctrine, yet has the “crudities” of the Avatamsaka or Lotus sects (Biệt Giáo) and comes short of the really perfect Lotus doctrine.

nhị cú

(二句) Chỉ cho Văn cú và Nghĩa cú. 1. Văn cú: Văn là chữ. Nghĩa là tất cả khế kinh đều lấy văn làm thân, văn thành lời là câu, muốn giải diễn rõ ý nghĩa, cần phải nhờ văn, đó là văn cú. 2. Nghĩa cú: Nghĩa là nghĩa lí. Nghĩa là tất cả khế kinh đều hiển bày nghĩa lí, nhưng nghĩa phải nương vào văn mới được làm cho sáng tỏ, văn cũng phải nhờ nghĩa mới thành, muốn phân tích câu văn phải căn cứ vào nghĩa, đó là nghĩa cú. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.5].

nhị căn

Hai loại căn—Two roots: (A) 1) Lợi căn: Keen (able) root. 2) Độn căn: Dull root. (B) 1) Chính căn: Thắng nghĩa căn—Khả năng sử dụng các căn để nhận thức rõ về chân lý, chứ không phải là sở kiến phàm phu—The power or ability which uses the sense organs to discern the truth. 2) Phù căn: Phù Trần căn—Năm căn hay y xứ của năm căn trên thân thể—The sense organs as aids. (C) 1) Nam căn: Male organ. 2) Nữ căn: female organ. ; (二根) I. Nhị Căn. Chỉ cho lợi căn và độn căn. 1. Lợi căn, cũng gọi Thượng căn. Nghĩa là người có căn tính bén nhạy, mau chứng được diệu quả. 2. Độn căn, cũng gọi Hạ căn. Nghĩa là người có căn tính chậm lụt, khó khai ngộ được. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ]. II. Nhị Căn. Chỉ cho chính căn và phù căn. 1. Chính căn, cũng gọi Thắng nghĩa căn. Là bản thể của 5 căn (mắt tai mũi lưỡi thân), là sắc pháp thanh tịnh do 4 đại tạo thành, hàng phàm phu và Nhị thừa không thể thấy được, hiện lượng không thể biết được, nhưng có tác dụng sinh ra thức thu lấy cảnh. 2. Phù căn, cũng gọi Phù trần căn. Là 5 khí quan bên ngoài như: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân mà người ta có thể trông thấy được. Các căn này chỉ là chỗ nương tựa của Chính căn, hư giả chẳng thật và không có tác dụng sinh ra thức thu lấy cảnh. III. Nhị Căn. Chỉ cho nam căn và nữ căn, tức sinh thực khí của con trai và con gái. [X. kinh Lăng nghiêm Q.9; luận Câu xá Q.3; luận Du già sư địa Q.57].

nhị cảnh

Two realms—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, trên đường tu không tinh tấn thì thôi, nếu dụng công tinh tấn, nhứt định có cảnh giới. Cảnh giới nầy có hai loại trong và ngoài khác nhau—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism in Theory and Practice, if we are not diligent and do not exert efforts along the path of cultivation, nothing usually happens; however, if we are diligent and exert a great deal of effort, we will definitely witness different realms. These two realms either come from within the mind or are caused by outside sources. 1) Nội Cảnh—Internal Realms: a) Nội cảnh giới cũng gọi là tự tâm cảnh giới, vì cảnh giới nầy không phải từ bên ngoài vào, mà chính do nơi công dụng trong tâm phát hiện. Những người không hiểu rõ lý “Vạn pháp duy tâm” cho rằng tất cả cảnh giới đều từ bên ngoài đến, là lối nhận định sai lầm. Bởi khi hành giả dụng công đến mức tương ưng, dứt tuyệt ngoại duyên, thì chủng tử của các pháp tiềm tàng trong tạng thức liền phát ra hiện hạnh. Với người niệm Phật trì chú, thì công năng của Phật hiệu và mật cú đi sâu vào nội tâm, tất gặp sự phản ứng của hạt giống thiện ác trong tạng thức, cảnh giới phát hiện rất là phức tạp. Các cảnh ấy thường hiện ra trong giấc mơ, hoặc ngay trong khi tỉnh thức lúc đang dụng công niệm Phật. Nhà Phật gọi trạng thái nầy là “A Lại Da Biến Tướng.”—Internal realms are also called “realms of the Self-Mind” because they do not come from outside, but develop from the mind. Those who do not clearly understand the truth that “the ten thousand dharmas are created by the mind,” think that all realms come from the outside. This is wrong. When the practitioner reaches the stage of mutual interpenetration of mind and realms, completely severing external conditions, the seeds of latent dharmas in the Alaya consciousness suddenly manifest themselves. For the Buddha Recitation or mantra-chanting practitioner, the power of the Buddha's name or the mantra penetrates deep into the mind, eliciting a reaction from the wholesome or evil seeds in the Alaya consciousness. The realms that result are very complex and usually appear in dreams, or even when the practitioner is awake and striving to recite the Buddha's name. In Buddhism, this condition is called “Changing manifestations of the Alaya consciousness.” • Trong giấc mơ, nếu do chủng tử ác phát hiện, hành giả hoặc thấy các loài sâu trong mình bò ra, hoặc thấy nơi thân có loại nhiều chân giống như bò cạp, rết, mỗi đêm mình gở ra năm bảy con; hoặc thấy các loài thú ma quái, cảnh tượng rất nhiều không tả xiết được! Đại khái người nhiều nghiệp tham nhiễm, bỏn xẻn, hiểm độc, thường thấy tướng nam nữ, rắn rết, hoặc dị loại sắc trắng. Người nhiều nghiệp sân hận, thường thấy cọp beo, hoặc dị loại sắc đỏ. Người nhiều nghiệp si mê, thường thấy loài súc vật, sò ốc, hoặc dị loại sắc đen. Tuy nhiên, đây chỉ là ước lược, không phải tất cả đều nhứt định như thế: In the dreaming scenes, if the events or scenes result from evil seeds, the practitioner may see various species of worms crawling out of his body, or witness himself, night after night, removing from his body six or seven loathsome creatures with many limbs, such as scorpions or centipedes. Or else, he may see various species of wild animals and or spirits or ghosts. Such realms are innumerable and cannot al be described. In genral, individuals greatly afflicted with greed, who are miserly and wicked, usually see marks of men and women, snakes and serpents and odd species with white features and forms. Those harboring a great deal of anger and resentment usually see tigers and leopards or strange species with red forms and features. Those who are heavily deluded usually see domestic animals, clams, oysters, snails or different species with black forms and features. The above, however, is merely indicative; it does not mean that everything will be exactly as described. • Nếu do chủng tử lành phát hiện, hành giả thấy cây cao hoa lạ, thắng cảnh tươi tốt trang nghiêm, mành lưới châu ngọc; hoặc thấy mình ăn các thứ thơm ngon, mặc đồ trân phục, ở cung điện báu, hay nhẹ nhàng bay lướt trên hư không. Tóm lại, trong tâm của chúng sanh có đủ chủng tử mười pháp giới; chủng tử lành hiện thì thấy cảnh Phật, Bồ Tát, Nhơn, Thiên; chủng tử ác hiện thì thấy cảnh tam đồ tội khổ. Như người kiếp trước có tu theo ngoại đạo, thường thấy mình phóng ra luồng điển, hoặc xuất hồn đi dạo chơi, tiếp xúc với các phần âm nói về chuyện thạnh suy, quốc sự. Hoặc có khi tâm thanh tịnh, trong giấc mơ thấy rõ việc xãy ra đôi ba ngày sau, hay năm bảy tháng sẽ đến. Đại khái người đời trước có tu, khi niệm Phật liền thấy cảnh giới lành. Còn kẻ nghiệp nhiều kém phước đức, khi mới niệm Phật thường thấy cảnh giới dữ; trì niệm lâu ngày ác tướng mới tiêu tan, lần lượt sẽ thấy điềm tốt lành: If the scenes in his dream come from good wholesome seeds, the practitioner sees tall trees and exotic flowers, beautiful scenery, bright adorned with nets of pearls. Or else, he sees himself eating succulent, fragrant food, wearing ethereal garments, dwelling in palaces of diamonds and other precious substances, or flying high in open space. Thus, in summary, all the seeds of the ten Dharma Realms are found in the minds of sentient beings. If wholesome seeds manifest themselves, practitioners view the realms of Buddhas, Bodhisattvas, human, and celestial beings; if evil karma is manifested, they witness scenes from the wretched three Evil Paths. If the cultivator has followed externalist ways in past lives, he usually sees his body emitting electric waves, or his soul leaving the body to roam, meeting demons, ghosts and the like, to discuss politics and the rise and fall of countries and empires. On the other hand, when the practitioner's mind is pure, he will know in his dreams about events that will occur three or fours days, or seven or eight months, hence. In general, those who have cultivated in previous lives will immediately see auspicious realms when reciting the Buddha's name. Those with heavy karma, lacking merit and virtue, will usually see evil realms when they begin Buddha Recitation. In time, these evil omens will disappear and gradually be replaced with auspicious omens. • Về cảnh trong khi thức, nếu hành giả dụng công đến mức thuần thục, có lúc vọng tình thoạt nhiên tạm ngưng, thân ý tự tại. Có lúc niệm Phật đến bốn năm giờ, nhưng tự thấy thời gian rất ngắn như khoảng chừng đôi ba phút. Có lúc đang trì niệm, các tướng tốt lạ hiện ra. Có lúc vô ý, tinh thần bỗng nhiên được đại khoái lạc. Có lúc một động một tịnh, thấy tất cả tâm và cảnh đều không. Có lúc một phen thấy nghe, liền cảm ngộ lý khổ, không, vô thường, vô ngã, dứt tuyệt tướng ta và người. Những tướng trạng như thế nhiều không thể tả xiết!: If the practitioner's efforts have reached a high level, there are times during his walking hours when all deluded feelings suddenly cease for a while, body and mind being at ease and free. At other times, the practitioner may recite for four or five hours but feel that the time was very short, perhaps two or three minutes. Or else, at times during recitation, wholesome omens will appear. At other times, unconsciously, his mind experiences great contentment and bliss. Sometimes, he realizes for a split second that mind and realm are both empty. At other times, just by hearing or seeing something once, he becomes awakened to the truth of suffering, emptiness, impermanence and No-Self, completely severing the marks of self and others. These occurrences are too numerous to be fully described! • Có một Phật tử đang khi thức ngồi trong đêm tối niệm Phật, thoạt thấy dưới đất khắp nền nhà mọc lên hai loại hoa đỏ trắng cao tới thành giường, trên hư không hoa rơi xuống như mưa. Có vị đang khi quỳ niệm Phật, bỗng thấy trước bàn Phật hiện ra đóa hao sen đỏ, từ búp lần lần nở tròn, độ mười lăm phút sau liền tan biến: A layman was once reciting the Buddha's name while seated in the dark. Suddenly he saw two types of flowers, red ones and white ones, springing up all over the floor, reaching as high as the edge of his bed; meanwhile, other flowers were dropping like rain from the sky. Another layman, while kneeling down to recite the Buddha's name, suddenly saw a red lotus flower appear before the altar, its bud gradually opening up and disappearing after a few minutes. • Có một Phật tử đang khi niệm Phật, cảnh giới xung quanh bỗng ẩn mất, trước mắt hiện ra biển nước mênh mông, êm tịnh không sóng gió, trên mặt biển mọc lên vô số hoa sen nhiều màu, đóa nào cũng to lớn; kế đó tướng biển ẩn mất, hiện ra cảnh núi non cỏ hoa tươi tốt, cổ thụ sum suê, có một ngôi chùa nguy nga tráng lệ; tiếp theo tướng chùa núi lại ẩn mất, hiện ra cảnh lưới châu, kết lại rồi đứt, đứt rồi kết lại. Đại loại có rất nhiều cảnh tướng như thế: There was yet another layman who, during recitation, would suddenly see everything around him disappear. In front of his eyes would appear the scene of an immense ocean, calm and still, with no wind or waves whatsoever; countless huge, multicolored lotus blossoms would spring up on the ocean surface. Afterward, the ocean scene would disappear, to be replaced by scenes of mountains, with verdant herbs and flowers, luxuriant century-old trees, and, by and by, a temple complex, sumptuous and magmificent. Then the temple and mountains would disappear, to be replaced by scenes of jewelled nets coming together then drawing apart, drawing apart then coming together again. There are, in general, many such scenes. b) Những cảnh tướng như thế gọi là nội cảnh giới hay tự tâm cảnh giới, do một niệm khinh an hiện ra, hoặc do chủng tử lành của công đức niệm Phật trì chú biến hiện. Những cảnh nầy thoạt hiện liền mất, hành giả không nên chấp cho là thật có rồi để tâm lưu luyến. Nếu sanh niệm luyến tiếc, nghĩ rằng cảnh giới ấy sao mà nhẹ nhàng an vui, sao mà trang nghiêm tốt đẹp, rồi mơ tưởng khó quên, mong cho lần sau lại được thấy nữa, đó là điểm sai lầm rất lớn. Cổ nhân đã chỉ trích tâm niệm nầy là “gải trước chờ ngứa.” Bởi những cảnh tướng ấy do sự dụng công đắc lực tạm hiện mà thôi, chớ không có thật. Nên biết khi người tu dụng công đến trình độ nào tự nhiên cảnh giới ấy sẽ hiện ra: Visionary scenes such as the above, called “internal realms” or “realms of the Self-Mind,” have their origin in a thought of peace and stillness, or are caused by wholesome seeds generated by Buddha or Mantra Recitation. They appear suddenly and are lost immediately. The practitioner should not be attached to them, thinking that they are real, nor should he remember them fondly. It is an extreme mistake to develop nostalgia for them, thinking how ethereal, calm and peaceful, beautiful and well-adorned they were, they day-dream about them, unable to forget them, longing for their reappearance. The ancients have criticized such thoughts as “scratching in advance and waiting for the itch.” This is because these scenes have their origin in diligent exertion and appear temporarily. They have no true existence. We should realize that when the practitioner exerts a certain level of efforts, the scenes and features particular to that level will appear naturally. • Ví như người lữ hành mỗi khi đi qua một đoạn đường, tất lại có một đoạn cảnh vật sai khác hiển lộ. Nếu như kẻ lữ hành chưa đến nhà, mà tham luyến cảnh bên đường không chịu rời bước, tất có sự trở ngại đến cuộc hành trình, và bị bơ vơ giữa đường chẳng biết chừng nào mới về đến nhà an nghỉ. Người tu cũng như thế, nếu tham luyến cảnh giới tạm, thì không làm sao chứng được cảnh giới thật. Thảng như mơ tưởng đến độ cuồng vọng, tất sẽ bị ma phá, làm hư hại cả một đời tu: Take the example of a traveller who views different scenery as he passes along various stretches of the road. If he has not reached home, yet develops such an attachment and fondness for a particular scene along the road that he refuses to proceed, his travel will be impeded. He will then be helplessly lost in the midst of his journey, not knowing when he will finally return home to rest. The practitioner is like that traveller; if he becomes attached to and fond of temporary realms and scenes, he will never attain the true realms. Were he to dream of them to the point of insanity, he would be destroyed by demons and waste an entire lifetime of practice! • Kinh Kim Cang nói: “Phàm có những tướng đều là hư vọng; nếu thấy các tướng chẳng phải tướng, tức thấy Như Lai.” (phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng; nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai). “Có những tướng” không phải “những tướng có” thuộc về pháp hữu vi sanh diệt, bởi các tướng ấy chẳng tự bảo rằng mình có hay không, thật hay giả, chỉ do kẻ chưa ngộ đạo lý động niệm phân biệt, chấp cho là có, không, thật, giả, nên mới thành ra hư vọng. Đến như bậc tham thiền khi nhập định, thấy định cảnh mênh mang rỗng không trong suốt, tự tại an nhàn, rồi sanh niệm ưa thích; hay khi tỏ ngộ được một đạo lý cao siêu, rồi vui mừng chấp giữ lấy, cũng đều thuộc về “có tướng.” Và đã “có tướng” tức là có hư vọng. “Thấy các tướng” là thấy những tướng lành, dữ, đẹp, xấu, dơ, sạch, có, không, Phật, chúng sanh, cho đến cảnh ăm ấm, sáu trần, vân vân, “chẳng phải tướng,” nghĩa là thấy mà đừng chấp trước cũng đừng phủ nhận, cứ để cho nó tự nhiên. Tại sao không nên phủ nhận? Bởi các tướng tuy hư huyễn, nhưng cũng chẳng phải là không; ví như bóng trăng đáy nước, tuy không phải thật có, nhưng chẳng phải không có tướng hư huyễn của bóng trăng. Cho nên trong khi tu, nếu thấy các tướng hiện, đừng lưu ý, cứ tiếp tục dụng công; ví như người lữ hành, tuy thấy cảnh bên đường, nhưng vẫn tiến bước để mau về đến nhà. “Tức thấy Như Lai” là thấy bản tánh Phật, hay thấy được đạo vậy: The Diamond Sutra states: “Everything in this world that has marks is illusory; to see marks as not marks is to see the Tathagata.” Everything that has marks refers here to compounded, conditioned dharmas. Tose marks canot be said either to exist or not to exist, or to be true or false. Delusion arise precisely because unenlightened sentient beings discriminate, become attached and think that these marks exist or do not exist are real or are false. Even the fondness which some Zen practitioners develop for samadhi, upon entering concentration and experiencing this immense, empty, still, transparent, peaceful and free realm, falls into the category of “having marks.” The same is true when these practitioners, once awakened to a certain lofty, transcendental principle, joyfully grasp at it. Once there are marks, there is delusion. “To see marks” means to see such marks as auspicious or evil, good or bad, dirty or clean, existent or non-existent, Buddha or sentient beings, even the realms of the Five Skandas or the Six Dusts, etc. “As not marks” means seeing but neither becoming attached to nor rejecting them, just letting everything be. Why should we not reject them? It is because makrs, while illusory, are not non-existent. This is not unlike the reflection of the moon in the water. Although the reflected moon is not real, this does not mean that there is no illusory mark of moonlight. Therefore, if we see marks appear while we are cultivating, we should disregard them and redouble our efforts, just like the traveller, who views varied scenery en route but must push forward to reach home quickly. “To see the Tathagata” is to see the original Buddha Nature, to see the Way. • Tóm lại, từ các tướng đã kể trên, cho đến sự nhứt tâm, lý nhứt tâm, đều là nội cảnh giới. Cảnh giới nầy có hai phương diện là Tương Tự và Phần Chứng. Cảnh tương tự là tạm thấy rồi liền mất. Cảnh phần chứng là một khi được tất được vĩnh viễn, vì đã chứng ngộ được một phần chân như. Không luận nội cảnh hay ngoại cảnh, nếu là tương tự đều không phải là chân cảnh giới, mà gọi là thấu tiêu tức, nghĩa là không thấu được một phần tin tức của chân tâm. Người thật phát lòng cầu giải thoát, chớ nên đem tướng thấu tiêu tức nhận làm chân cảnh giới. Thấu tiêu tức ví như cảnh trời âm u râm tối, hốt nhiên có trận gió thổi làm mây đem tạm tan, hé ra một chút ánh thái dương, kế đó mây đen lại che khuất. Lại như người xưa cọ cây lấy lửa, trước khi lửa bật lên, tất có tướng khói phát hiện. Chân cảnh giới ví như ánh thái dương sáng suốt giữa trời trong tạnh, và như lúc cọ cây đã lấy được lửa. Tuy nhiên, cũng đừng xem thường thấu tiêu tức, vì có được tướng nầy, mới chứng minh xác thực có chân cảnh giới. Nên từ đó gia công tinh tấn, thì chân cảnh giới mới không xa: In summary, all states of mind, from those described above to the state of one-pointedness of mind, belong to the category of “internal realms.” These realms have two aspects: “Attainment-like” and “Partial attainment.” “Attainment-like” realms appear temporarily and disappear immediately. “Partial attainment” realms are those that once achieved, we have forever, because we have actually attained a part of True Thusness. Regardless of whether it is internal or external, if it is “attainment-like” it is not a True Realm; it is merely a full understanding of some of the manifestations of the True Mind. Practitioners who truly seek liberation should not confuse these aspects, taking attainment-like marks for the True Realm. Attainment-like marks are like a dark, leaden sky which suddenly clears, thanks to the winds which temporarily push away the dark clouds, letting a few rays of sunlight through before the sky becomes overcast again. They also resemble the “mark” of smoke just before the fire, that people used to get when they rubbed two pieces of wood together. The True Realm can be likened to the bright sunlight in a clear and calm sky. It is like rubbing pieces of wood together and already having fire. However, we should not underestimate attainment-like marks, as they demonstrate the genuine existence of the True Realm. If, from that level, we diligently redouble our efforts, the True Realm is not that far away after all. 2) Ngoại Cảnh—External Realms: a) Ngoại cảnh giới là cảnh không phải do nội tâm hiện ra, mà từ bên ngoài đến. Hoặc có hành giả thấy Phật, Bồ Tát hiện thân thuyết pháp, khuyến tấn khen ngợi. Hoặc có hành giả đang khi niệm Phật, thoạt nhiên tâm khai, thấy ngay cõi Cực Lạc. Hoặc có hành giả đang tịnh niệm thấy chư thần tiên đến, chắp tay vi nhiễu xung quanh tỏ ý kính trọng, hoặc mời đi dạo chơi. Hoặc có hành giả thấy các vong đến cầu xin quy-y. Hoặc có hành giả khi mức tu cao, bị ngoại ma đến thử thách khuấy nhiễu: External realms are realms which are not created by the mind, but come from the outside. For example, some practitioners might see Buddhas and Bodhisattvas appearing before them, preaching the Dharma, exhorting and praising them. Others, while reciting the Buddha's name, suddenly experience an awakening and immediately see the Land of Ultimate Bliss. Some practitioners, in the midst of their pure recitation, see deities and Immortals arrive, join hands and circumambulate them respectfully, or invite them for a leisurely stroll. Still other practitioners see “wandering souls of the dead” arrive, seeking to take refuge with them. Yet others, having reached a high level in their practice, have to endure challenges and harassment from external demons. b) Như khi xưa có một Phật tử căn tánh ngu tối, song thường kính niệm Đức Quán Thế Âm. Một đêm nằm mơ thấy Bồ Tát đến bảo nên thường tham cứu bài kệ sau đây, lâu ngày sẽ được khai ngộ: “Đại trí phát nơi tâm Nơi tâm chỗ nào tìm? Thành tựu tất cả nghĩa Không cổ cũng không kim!” For example, there was once a layman of rather dull capacities who constantly woeshipped Avalokitesvara Bodhisattva. During a dream one night, he saw the Bodhisattva urging him to meditate on the following stanza, and in time he would experience a Great Awakening: “Great wisdom develops from the mind Where in the Mind can it be found? To realize all meanings, Is to have neither past nor present.” c) Những tướng trạng kể trên đều gọi là ngoại cảnh giới. Có người hỏi: “Thấy Phật thấy hoa sen, có phải là cảnh ma chăng? Kỳ thật, nếu nhân quả phù hợp, thì quyết không phải là cảnh ma. Bởi tông Tịnh Độ thuộc về “Hữu Môn,” người niệm Phật khi mới phát tâm, từ nơi tướng có mà đi vào, cầu được thấy Thánh cảnh. Đến khi thấy hảo tướng, đó là do quả đến đáp nhân, nhân và quả hợp nhau, quyết không phải là cảnh ma. Trái lại, như Thiền tông, từ nơi “Không Môn” đi vào, khi phát tâm tu liền quét sạch tất cả tướng, cho đến tướng Phật tướng Pháp đều bị phá trừ. Bậc thiền sĩ không cầu thấy Phật hoặc hoa sen, mà tướng Phật và hoa sen hiện ra, đó là nhân quả không phù hợp. Quả không có nhân mà phát hiện, đó mới chính là cảnh ma. Cho nên người tu thiền luôn luôn đưa cao gươm huệ, ma đến giết ma, Phật đến giết Phật, đi vào cảnh chân không, chẳng dung nạp một tướng nào cả: The realms and manifestations summarized above are called “External realms.” Some might ask, “To see Buddhas and lotus blossoms is it not to see demonic apparitions?” If cause and effect coincide, these are not “demonic realms.” This is because the Pure Land method belongs to the Dharma Door of Existence; when Pure Land practitioners first develop the Bodhi Mind, they enter the Way through forms and marks and seek to view the celestial scenes of the Western Pure Land. When they actually witness these auspicious scenes, it is only a matter of effects corresponding to causes. If cause and effect are in accord, how can these be “demonic realms?” In the Zen School, on the other hand, the practitioner enters the Way through the Dharma Door of Emptiness. Right from the beginning of his cultivation, he wipes out all marks, even the marks of the Buddhas or the Dharma are destroyed. The Zen practitioner does not seek to view the Buddhas or the lotus blossoms, yet the marks of the Buddhas or the lotus blossoms appear to him. Therefore, cause and effect do not correspond. For something to appear without a corresponding cause is indeed the realm of the demons. Thus, the Zen practitioner always holds the sword of wisdom aloft. If the demons come, he kills the demons; if the Buddha comes, he kills the Buddha, to enter the realm of True Emptiness is not to tolerate a single mark.

nhị cầu

Hai loại mong cầu—Two kinds of seeking: 1) Đắc cầu: Cầu được những điều khoái lạc sung sướng—Seeking to get something of enjoyment and happiness. 2) Mệnh cầu: Cầu được sống lâu mãi mãi—Seeking long life.

nhị cửu ngũ bộ

(二九五部) Nhị cửu: Hai lần 9 thành 18, chỉ cho 18 bộ Tiểu thừa. Ngũ bộ: Năm bộ, chỉ cho 5 bộ của Luật tông.

Nhị diệt

二滅; C: èrmiè; J: nimetsu;|Hai pháp tịch diệt, đó là: 1. Trạch diệt (pháp tịch diệt nhờ vào công phu giản trạch qua thiền định); 2. Phi trạch diệt (pháp tịch diệt tùy thuận thể tính thanh tịnh của chân như, không nhờ công phu giản trạch qua thiền định).

nhị diệt

(二滅) Chỉ cho Trạch diệt vô vi và Phi trạch diệt vô vi. 1. Trạch diệt vô vi: Pháp vô vi dùng sức chọn lựa của trí tuệ để đoạn diệt phiền não, gọi là Trạch diệt vô vi, cũng chính là Niết bàn.2. Phi trạch diệt vô vi: Pháp vô vi không nhờ sức chọn lựa mà được tịch diệt. Nghĩa là vì thiếu các duyên nên phiền não không sinh, mà tự tịch diệt, gọi Phi trạch diệt vô vi.

Nhị duyên

二縁; C: èryuàn; J: nien;|Hai loại duyên: Nội duyên (内縁) và Ngoại duyên (外縁).

nhị duyên

(二緣) Chỉ cho Nội duyên và Ngoại duyên. 1. Nội duyên: Thân của chúng sinh do các duyên vô minh, ái, nghiệp... sinh ra ấm, giới, nhập (tức 5 ấm, 18 giới, 12 nhập), gọi là Nội duyên. 2. Ngoại duyên: Cái thế giới mà chúng sinh nương ở là do các duyên vọng tưởng sinh ra, gọi là Ngoại duyên. [X. kinh Lăng già Q.2].

nhị dư

(二餘) Chỉ cho 2 cái thừa còn sót lại, tức là cái khổ và phiền não của thân chúng sinh. Nhưng, những người được sinh về thế giới Cực lạc, đều đã sạch hết 2 thứ tàn dư này. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (12, 274 thượng) nói: Sinh thân và phiền não, hai cái tàn dư đều đã hết.

nhị dực

(二翼) Hai cánh chim. Ví dụ các pháp hỗ tương, giúp đỡ nhau mà thành tựu, như Chỉ quán, Chân tục, Phúc trí...

nhị gia

(二加) Chỉ cho 2 loại gia bị. 1. Hiển gia: Gia bị rõ ràng. Nghĩa là đức Phật dùng tâm đại từ bình đẳng, tùy theo căn cơ chúng sinh, nếu ai có thiện căn ở đời trước đã thành thục thì Ngài dùng thần lực gia bị cho họ để họ thuyết pháp, bằng cách xoa đỉnh đầu của người ấy để tăng thêm uy lực cho họ và dùng lời nói khuyên dạy để thêm sức biện tài cho họ. Sự gia bị này hiển nhiên ai cũng thấy được, cho nên gọi là Hiển gia. 2. Minh gia: Gia bị âm thầm. Nghĩa là đức Phật dùng thần lực ý nghiệp gia bị cho Bồ tát để tăng thêm trí tuệ cho vị ấy, hầu thuyết pháp giữa đại chúng mà không sợ hãi. Sự gia bị này ngấm ngầm khó thấy, cho nên gọi là Minh gia . [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.1].

nhị giác

(二覺) I. Nhị Giác. Chỉ cho Bản giác và Thủy giác. 1. Bản giác: Tính giác trong thức A lại da vốn xa lìa vọng niệm, đó là Pháp thân bình đẳng của Như lai, gọi là Bản giác.2. Thủy giác: Tính giác bị vô minh huân tập, mê mờ trong nhiều kiếp, nên giác mà chẳng giác, sau nhờ công tu hành mới dần dần giác ngộ. II. Nhị Giác. Chỉ cho Độc giác và Đại giác. 1. Độc giác, cũng gọi Duyên giác, Bích chi phật. Người quán xét sự vô thường của các pháp, như hoa tàn lá rụng, thấu suốt lí 12 nhân duyên, không thầy chỉ dạy mà tự giác ngộ. 2. Đại giác: Danh xưng khác của đức Phật.[X. luận Câu xá Q.25]. III. Nhị Giác. Chỉ cho Đẳng giác và Diệu giác. Hai giác trong 52 giai vị tu hành của Bồ tát Đại thừa. 1. Đẳng giác: Giai vị thứ 51. 2. Diệu giác: Quả vị thứ 52. [X. Giáo thừa pháp số Q.2]. IV. Nhị Giác. Chỉ cho Tự giác và Giác tha. 1. Tự giác: Tự mình giác ngộ thực tướng các pháp. 2. Giác tha: Đem công đức tự giác của mình làm cho khắp tất cả chúng sinh đều giác ngộ. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.4]. V. Nhị Giác. Chỉ cho Chân giác và Vọng giác. 1. Chân giác (Quán sát giác): Trí quán xét thể tướng của hết thảy pháp chẳng phải 1 cũng chẳng phải khác mà giác ngộ. 2. Vọng giác (Vọng tưởng tương nhiếp thụ kế trước kiến lập giác): Giác trí dùng vọng tưởng tính lường phân biệt tướng của 4 đại (đất, nước, lửa, gió)rồi nắm giữ lấy mà kiến lập vọng pháp. [X. kinh Lăng già a bạt đa la bảo Q.2].

nhị giáo

(二教) Hai loại giáo pháp. Sự phân loại này được căn cứ vào sự sai khác về ý nghĩa nội dung, phương pháp thực hành, hình thức thuyết pháp, người thuyết giáo (tức giáo chủ) và đối tượng thụ giáo. Sự phân loại đó như sau: 1. Tiểu thừa giáo và Đại thừa giáo: Tiểu thừa giáo chỉ cho giáo pháp nhân không (ngã không), tự lợi... đưa hàng Thanh văn, Duyên giác đến Tiểu quả Khôi diệt (tức khôi thân diệt trí–thân tro, trí diệt); còn Đại thừa giáo thì chỉ cho giáo pháp nhị không (ngã không, pháp không), nhị lợi(tự lợi, lợi tha), đưa hàng Bồ tát đến đại quả Niết bàn. 2. Bán tự giáo và Mãn tự giáo: Bán tự giáo chỉ cho Thanh văn tạng, nghĩa lí chưa rộng khắp; còn Mãn tự giáo chỉ cho Bồ tát tạng, nghĩa lí đã đầy đủ. Thuyết này do ngài Đàm vô sám thành lập. 3. Sinh không giáo và Pháp không giáo: Sinh không giáo chỉ cho giáo pháp nói về lí nhân vô ngã; còn Pháp không giáo là giáo pháp nói về lí pháp vô ngã. 4. Đốn giáo và Tiệm giáo: Đốn giáo chỉ cho giáo pháp đối với hàng đại cơ thượng trí, trong nhất thời tuyên thuyết ngay Đại thừa; còn Tiệm giáo là giáo pháp tùy theo căn cơ tiệm ngộ, theo thứ lớp giảng nói từ A hàm cho đến Niết bàn, lần lượt trải qua 5 thời, 7 bậc... Thuyết này là chủ trương của các vị Lưu cầu đời Tề và Tuệ đản đầu đời Đường... 5. Tam thừa giáo và Nhất thừa giáo: Tam thừa giáo chỉ cho giáo pháp khu biệt Tam thừa: Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát; hoặc mới đầu tu tập Tiểu thừa, sau hướng tới Đại thừa; còn Nhất thừa giáo chỉ cho pháp môn Hoa nghiêm Nhất Phật thừa, hoặc chỉ cho giáo pháp trực chỉ. Thuyết này do ngài Tín hành thành lập vào đời Tùy. 6. Quyền giáo và Thực giáo: Quyền giáo chỉ cho giáo pháp quyền biến phương tiện chưa liễu nghĩa; còn Thực giáo là giáo pháp chân thực rốt ráo liễu nghĩa. 7. Xứng tính bản giáo và Trục cơ mạt giáo: Xứng tính bản giáo chỉ cho pháp môn Biệt giáo nhất thừa của Hoa nghiêm; còn Trục cơ mạt giáo là giáo pháp từ Biệt giáo nhất thừa lưu xuất ra, tức chỉ cho Tam thừa và Tiểu thừa. 8. Hữu tướng Đại thừa giáo và Vô tướng Đại thừa giáo: Hữu tướng Đại thừa giáo chỉ cho kinh Hoa nghiêm, kinh Anh lạc, kinh Đại phẩm bát nhã... là các kinh nói về công đức và hành tướng của bồ tát Thập địa; còn Vô tướng Đại thừa chỉ cho kinh Lăng già, kinh Tư ích... là các kinh nói tất cả chúng sinh tức là tướng Niết bàn.9. Hóa giáo và Chế giáo: Hóa giáo chỉ cho pháp môn định tuệ được giải thích rõ trong kinh luận, tức chỉ cho các kinh luận Đại, Tiểu thừa; còn Chế giáo là pháp môn giới học được giải thích trong luật giáo, tức chỉ cho luật Tứ phần... 10. Giáo và Thiền: Giáo chỉ cho các kinh luận, còn Thiền thì không lập văn tự. 11. Hiển giáo và Mật giáo: Hiển giáo chỉ cho giáo pháp hiển lộ rõ ràng, còn Mật giáo là giáo pháp bí mật kín đáo. Tông Chân ngôn tự nhận là Mật giáo mà cho các tông khác là Hiển giáo. 12. Khuất khúc giáo và Bình đạo giáo, cũng gọi Ấn giáo và Sư giáo: Khuất khúc giáo chỉ cho kinh do đức Phật Thích ca nói, phương tiện uyển chuyển, là giáo pháp thuận theo tính chất năng lực của chúng sinh, như kinh Niết bàn...; còn Bình đạo giáo thì chỉ cho kinh do đức Phật Tì lô giá na tuyên thuyết, là giáo pháp tùy thuận pháp tính, tự tại nói ra, cũng tức là nói lí pháp tính bình đẳng, như kinh Hoa nghiêm... Thuyết này do Ấn pháp sư thành lập vào đầu đời Đường. 13. Thích ca kinh và Lô giá na kinh: Thích ca kinh chỉ cho các kinh điển Khuất khúc giáo do đức Thích tôn tuyên thuyết, như kinh Niết bàn...; còn Lô giá na kinh là các kinh điển Bình đẳng đạo giáo do đức Phật Tì lô giá na nói ra, như kinh Hoa nghiêm... Thuyết này do Mẫn pháp sư ở Giang nam lập ra. 14. Đồng giáo nhất thừa và Biệt giáo nhất thừa: Đồng giáo nhất thừa chỉ cho nghĩa chung của cả Tam thừa và Nhất thừa, còn Biệt giáo nhất thừa là tư tưởng đặc biệt của Hoa nghiêm nhất thừa hoàn toàn khác với giáo nghĩa Tam thừa. Đây là giáo phán của tông Hoa nghiêm. 15. Thích ca giáo và Di đà giáo, cũng gọi Nhị tôn giáo: Thích ca giáo chỉ cho yếu môn, còn Di đà giáo là chỉ cho hoằng nguyện. Thuyết này có xuất xứ từ Quán kinh sớ huyền nghĩa phần của Đại sư Thiện đạo, về sau trở thành 1 trong các giáo nghĩa quan trọng của tông Tịnh độ Nhật bản. 16. Yếu môn giáo và Hoằng nguyện giáo: Yếu môn giáo chỉ cho giáo pháp định tán tự lực, còn Hoằng nguyện giáo thì chỉ cho giáo pháp niệm Phật tha lực. Thuyết này do Tịnh độ chân tông của Nhật bản thành lập. 17. Tướng đốn giáo và Tính đốn giáo: Do phái Trấn tây thuộc tông Tịnh độ thành lập. Ngoài ra, Nhị giáo cũng có khi được chỉ cho Phật giáo và Đạo giáo. [X. chương Tổng liệu giản trong Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1; Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh sớ Q.1; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 1; Hoa nghiêm huyền đàm Q.4; Pháp hoa huyền nghĩa Q.10; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1].

nhị giáo luận

(二教論) I. Nhị Giáo Luận. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đạo an soạn vào đời Bắc Chu, được thu vào Quảng hoằng minh tập quyển 8. Sách này gồm 12 thiên, được viết theo thể vấn đáp, nội dung trình bày yếu chỉ và so sánh sự hơn kém giữa Phật giáo và Nho giáo.[X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.11; Tục cao tăng truyện Q.23]. II. Nhị Giáo Luận. Gọi đủ: Biện hiển mật nhị giáo luận. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Không hải –vị tăng người Nhật– soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 77. Luận này thuộc về Hoành giáo trong giáo phán của tông Chân ngôn, nội dung bàn về sự hơn kém, sâu cạn của Hiển giáo và Mật giáo, chủ trương rằng những điều được nói trong Mật giáo là cảnh giới mà đức Phật đã chứng ngộ, là giáo pháp chân thực.

nhị giáo lục lí

(二教六理) Hai thứ giáo chứng và 6 thứ lí luận mà tông Pháp tướng sử dụng để chứng minh sự tồn tại của thức Mạt na. Nhị giáo: Tức là viện dẫn kinh Nhập lăng già và kinh Giải thoát để chứng minh. Lục lí: Tức là nêu ra 6 lí do để chứng minh. Đó là: 1. Bất cộng vô minh. 2. Lục nhị duyên. 3. Ý danh. 4. Định sai biệt. 5. Vô tướng hứa hữu nhiễm. 6. Hữu tình ngã bất thành. [X. luận Thành duy thức Q.5; Thành duy thức luận thuật kí Q.5, phần cuối].(xt. Mạt Na Thức).

nhị giả

(二假) I. Nhị Giả. Chỉ cho Vô thể tùy tình giả và Hữu thể thi thiết giả. 1. Vô thể tùy tình giả: Người thế gian chấp cảnh ở ngoài tâm là thực ngã, thực pháp, thể của các pháp này chỉ là vọng tình, thuộc tính Biến kế sở chấp, chứ không có thực thể, nhưng người đời theo vọng tình mà chấp ngã pháp hư giả là thực có, nên gọi là Vô thể tùy tình giả. 2. Hữu thể thi thiết giả: Nương theo tính Y tha khởi mà giả bày đặt ra ngã pháp, tức là kiến phần và tướng phần do thức bên trong biến hiện là pháp Y tha, từ chủng tử thực mà sinh ra, có thể dụng thực, căn cứ vào thể dụng này mà giả đặt cho cái tên ngã pháp, cho nên gọi là Hữu thể thi thiết giả. Đây là danh từ ngã pháp mà Phật giáo thường dùng. [X. luận Thành duy thức Q.1; Tông kính lục Q.67]. II. Nhị Giả. Chỉ cho Sinh tử giả và Kiến lập giả(Thuật ngữ của tông Thiên thai). 1. Sinh tử giả, cũng gọi Vọng giả. Nghĩa là chúng sinh vì mê vọng, chẳng biết lí không và bình đẳng của các pháp, nên mới cho các pháp là có thật. 2. Kiến lập giả, cũng gọi Thi thiết giả. Nghĩa là bậc Thánh biết rõ lí không và bình đẳng của các pháp, dùng mắt xuất thế gian, quán chiếu sinh tử giả tức là lí không mà cho các pháp là có giả. [X. Kim quang minh huyền nghĩa thập di kí Q.5].

nhị giải thoát

(二解脫) Hai thứ giải thoát. Giải thoát là gỡ bỏ sự trói buộc của nghiệp chướng mà được tự tại. Có nhiều thuyết về Nhị giải thoát như sau: I. Hữu vi giải thoát và Vô vi giải thoát. 1. Hữu vi giải thoát: Chân trí vô lậu của bậc A la hán. 2. Vô vi giải thoát: Tất cả phiền não đã bị trừ diệt, tức cũng là Niết bàn. [X. luận Câu xá Q. 25]. II. Tính tịnh giải thoát và Chướng tận giải thoát. 1. Tính tịnh giải thoát: Tự tính của chúng sinh vốn thanh tịnh, không có tướng ràng buộc ô nhiễm. 2. Chướng tận giải thoát: Dứt hết hoặc chướng mà được giải thoát, tự tại. III. Tuệ giải thoát và Câu giải thoát. 1. Tuệ giải thoát: Người có khả năng dùng trí tuệ để xa lìa tất cả phiền não chướng, nhưng chưa được định Diệt tận, tức dùng sức trí tuệ diệt trừ phiền não mà được giải thoát. 2. Câu giải thoát: Dùng trí tuệ kết hợp với năng lực của định Diệt tận mà được giải thoát. [X. luận Câu xá Q.25]. IV. Nhất thời giải thoát và Bất thời giải thoát. 1. Nhất thời giải thoát: Bậc A la hán độn căn đợi thời cơ thích hợp mới nhập định để thoát khỏi sự ràng buộc của phiền não. 2. Bất thời giải thoát: Bậc A la hán lợi căn không cần chờ thời, mà có thể nhập định bất cứ lúc nào để trút bỏ sự trói buộc của phiền não. [X. luận Câu xá Q.25]. V. Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát. 1. Tâm giải thoát: Tâm đã xa lìa tất cả hệ lụy của tham ái... 2. Tuệ giải thoát: Tuệ đã gột sạch mọi phiền não vô minh. [X. kinh Tạp a hàm Q.26; Đại thừa nghĩa chương Q.18].

nhị giới

(二戒) Căn cứ vào những điều kiện khác nhau mà giới luật có thể được chia làm những loại Nhị giới như sau: 1. Tính giới và Gia giới: Tính giới là Tính tội, Gia giới là Gia tội. Còn có các tên gọi khác như: Tân giới và Cựu giới, Chủ giới và Khách giới, Tính trọng giới và Tức thế cơ hiềm giới, Tính trọng giới và Li ác giới, Tính giới và Li giới. [X. kinh Niết bàn Q.11 (bản Nam); kinh Chính pháp niệm xứ Q.59; Ma ha chỉ quán Q.4].2. Định cộng giới và Đạo cộng giới: Dịch mới là Tĩnh lự luật nghi và Vô lậu luật nghi (Đạo sinh luật nghi). a) Định cộng giới: Giới thể ngăn sai trái, ngừa tội lỗi mà bậc Thánh Tam thừa tự nhiên phát được khi vào định cõi Sắc. b) Đạo cộng giới: Bậc Thánh Tam thừa khi phát được đạo Vô lậu thì tự nhiên khế hợp với luật nghi bỏ ác tu thiện. 3. Chỉ trì giới và Tác trì giới: Chỉ cho 2 loại Chỉ ác, Tu thiện của giới luật. (xt. Nhị Trì). 4. Thiện giới và Ác giới, cũng gọi Chính giới và Tà giới. a) Thiện giới: Tùy thuận pháp thế gian, luật Phật chế, đối với thân, khẩu, ý ngăn ngừa sai quấy, tội lỗi. b) Ác giới: Chỉ cho các giới của ngoại đạo tà kiến như giới bò, giới chó... [X. kinh Niết bàn Q.32 (bản Nam); Hoa nghiêm huyền đàm Q.4]. 5. Thế gian giới và Xuất thế gian giới, cũng gọi Tại gia giới và Xuất gia giới: a) Tại gia giới: 5 giới, 8 giới. b) Xuất gia giới: 10 giới, 6 pháp, giới Cụ túc của người xuất gia thụ trì. 6. Thanh văn giới và Bồ tát giới, cũng gọi Tiểu thừa giới và Đại thừa giới, Tiểu giới và Đại giới. a) Thanh văn giới: Giới luật do các bậc Thánh Tiểu thừa thụ trì, như: 5 giới, 8 giới, 10 giới, Cụ túc giới. b) Bồ tát giới: Giới pháp do các bậc Bồ tát Đại thừa thụ trì, như: 10 giới trọng, 48 giới khinh. [X. kinh Niết bàn Q.26 (bản Nam)]. 7. Tác giới và Vô tác giới, cũng gọi Biểu giới và Vô biểu giới, Giáo giới và Vô giáo giới.a) Tác giới: Nương theo các thứ biểu nghiệp mà thụ giới. b) Vô tác giới: Do đã thụ giới mà thân được giới thể. [X. kinh Niết bàn Q.32 (bản Nam); Đại thừa nghĩa chương Q.10]. 8. Quyền giới và Thực giới, cũng gọi Thô giới và Diệu giới. a) Quyền giới: Giới luật của Quyền giáo, tức các giới Tiểu thừa như: 5 giới, 8 giới, 10 giới, Cụ túc giới và các giới Đại thừa như: Du già, Thiện giới... đều là thô giới của Tam thừa cùng chung thụ trì và là thô giới cạn hẹp của Tạng giáo và Thông giáo trong giới nội (3 cõi). b) Thực giới: Giới luật của Thực giáo, như 10 giới trọng, 48 giới khinh nói trong kinh Phạm võng, là diệu giới của Biệt giáo, Viên giáo và Bồ tát giới ngoại (ngoài 3 cõi) thụ trì. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.4]. 9. Sự giới và Lí giới, cũng gọi Tùy tướng giới và Li tướng giới. a) Sự giới: Thụ trì những giới luật về sự tướng như 3 nghiệp, 4 uy nghi và các giới Đại thừa, Tiểu thừa như Tứ phần, Du già, Phạm võng...đều thuộc về Sự giới. b) Lí giới: Giới mà không thấy giới tướng, chỉ lấy tâm an trụ nơi 3 quán Không, Giả, Trung làm giới luật, như Viên đốn đại giới. [X. Ma ha chỉ quán Q.4, phần 1]. 10. Uy nghi giới và Tòng giới. a) Uy nghi giới: Tuy có thụ giới, nhưng bề ngoài hiện tướng uy nghi chỉ vì danh lợi và muốn được mọi người tôn kính, chứ không thực tâm giữ giới. b) Tòng giới: Thuận theo giới luật Phật chế, 3 nghiệp thanh tịnh, trong ngoài giống nhau, giữ gìn giới hạnh đúng như thực. [X. kinh Niết bàn Q.32 (bản Nam)]. 11. Cầu giới và Xả giới. a) Cầu giới: Cầu mong được quả báo trong 3 cõi mà thụ giới. b) Xả giới: Xả bỏ quả báo trong 3 cõi, chân thực thụ trì giới pháp. [X. kinh Niết bàn Q.32 (bản Nam)].

nhị hiếp sĩ

(二脅士) Cũng gọi Nhị hiệp sĩ. Hai vị Bồ tát đứng hầu hai bên đức Trung tôn. Như 2 bồ tát Quan âm và Thế chí đứng 2 bên đức Di đà Như lai, 2 bồ tát Nhật quang và Nguyệt quang ở 2 bên đức Dược sư Như lai và 2 bồ tát Văn thù, Phổ hiền ở hai bên đức Thích ca Như lai..

nhị hiện

(二現) Chỉ cho 2 loại thân tướng tốt đẹp đặc biệt tôn quí của đức Phật, 1 loại cần ứng hiện, 1 loại không cần ứng hiện. 1. Cần hiện: Ứng hiện trượng sáu mà đức Phật thị hiện để giáo hóa những người chưa khai phát mắt tuệ trung đạo, là thân tướng rộng lớn vô biên. 2. Không cần hiện: Với những người đã khai phát mắt tuệ trung đạo, thườngquán tưởng thân Phật trượng sáu là thân mầu nhiệm trùm khắp pháp giới, cho nên Phật không cần ứng hiện nữa. [X. Quán kinh diệu tông sao Q.hạ].

nhị hoa

(二花) Chỉ cho Thảo mộc hoa và Nghiêm thân hoa.1. Thảo mộc hoa: Tất cả hoa cỏ cây đều mang nghĩa nở hoa kết trái, dùng để ví dụ nhân của muôn hạnh tu, tức có khả năng thành tựu quả Phật. 2. Nghiêm thân hoa: Các loại hoa bằng vàng, ngọc... ở thế gian đều dùng để làm đẹp thân thể, ví dụ thần thông, tướng hảo, có thể trang nghiêm Pháp thân. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.3].

nhị hoà

(二和) Chỉ cho 2 loại hòa hợp là Lí hòa và Sự hòa của chúng tăng. 1. Lí hòa: Tức bậc Thánh Nhị thừa, cùng phá trừ Kiến hoặc và Tư hoặc, cùng chứng lí Vô vi. 2. Sự hòa: Tức chúng tăng cùng ở trong 1 khu vực kết giới, 3 nghiệp thân khẩu ý không chống trái. Sự hòa có 6 thứ gọi là Lục hòa:- Giới hòa cùng tu. - Kiến hòa cùng hiểu. - Thân hòa cùng ở. - Lợi hòa cùng chia đều. - Khẩu hòa không tranh cãi. - Ý hòa cùng vui. [X. Phiên dịch danh nghĩa Q.1].

Nhị hoặc

二惑; C: èrhuò; J: niwaku;|Hai thứ phiền não: 1. Kiến tu hoặc (見修惑): Kiến hoặc được đoạn trừ ở giai vị Kiến đạo và Tu hoặc được đoạn trừ ở giai vị Tu đạo; 2. Hai loại phiền não lớn và nhỏ (Đại tiểu nhị hoặc 大小二惑).

nhị hoặc

(二惑) I. Nhị Hoặc. Chỉ cho Kiến hoặc và Tu hoặc. 1. Kiến hoặc: Phiền não mê lầm nổi lên vì suy tính so đo 1 cách tà vạy, như ngã kiến, biên kiến... Các phiền não này được đoạn trừ ở giai vị Kiến đạo. 2. Tu hoặc, cũng gọi Tư hoặc. Những phiền não sinh khởi do suy tư về những sự vật thế gian, như tham, sân, si... Những phiền não này được dứt trừ ở giai vị Tu đạo.[X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng]. (xt. Kiến Hoặc, Tu Hoặc). II. Nhị Hoặc. Chỉ cho Lí hoặc và Sự hoặc. Tạng giáo và Thông giáo cho Kiến hoặc là mê lí Tứ đế như vô thường, vô ngã... nên gọi là Lí hoặc. Còn Tu hoặc là mê nơi sự tướng thế gian như sắc, thanh... đó là Sự hoặc. Biệt giáo và Viên giáo chủ trương Căn bản vô minh che lấp lí trung đạo, đó là Lí hoặc. Còn Trần sa hoặc hay làm chướng ngại Bồ đề, ngăn che pháp tục đế; Kiến - Tư hoặc thì hay chướng ngại Niết bàn, ngăn che pháp chân đế, cả 2 đều là Sự hoặc. Ngoài ra, nói theo Phiền não chướng và Sở tri chướng do tông Pháp tướng lập ra, thì Phiền não chướng mê lí Niết bàn, nên là Lí hoặc, còn Sở tri chướng thì mê về sự tướng tục đế, đó là Sự hoặc. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.7; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.6].

Nhị huệ

二慧 (惠); C: èrhuì; J: nie;|Hai loại trí tuệ, Văn tư 聞思.

nhị hà bạch đạo

(二河白道) Một đường sáng giữa 2 dòng sông nước và lửa. Ví dụ này được thấy trong Quán kinh sớ của Đại sư Thiện đạo thuộc tông Tịnh độ. Hai dòng sông nước và lửa ví dụ cho tâm tham dục và sân hận của chúng sinh, khoảng chính giữa 2 dòng sông có 1 con đường sáng là ví dụ tâm thanh tịnh nguyện vãng sinh. Sự gian nguy của đạo tâm giống như người đi trên con đường hiểm trở, một bên là nước sâu, một bên là lửa mạnh, ngã xuống bên nào cũng mất mạng. Dựa theo ý nghĩa này mà vẽ thành bức tranh gọi là Nhị hà bạch đạo đồ. [X. luận Đại trí độ Q.37; phần Tán thiện nghĩa trong Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ Q.4].

nhị hành

(二行) I. Nhị Hành. Chỉ cho sự hiện hành của Phiền não chướng và Sở tri chướng. Kinh Hoa nghiêm quyển 12 (Đại 10, 57 hạ) nói: Diệu ngộ đầy đủ, nhị hành dứt bặt.II. Nhị Hành. Chỉ cho 2 thứ tâm hành. 1. Kiến hành: Tức là Kiến hoặc. 2. Ái hành: Tức là Ái hoặc.

nhị hình

(二形) Phạm: Ubhayavyaĩjanaka. Hán dịch: Nhị tướng giả, Nhị căn giả. Người có cả 2 bộ phận sinh thực khí nam và nữ, sinh lí khác thường. Chiếu theo giới luật của Phật, hạng người này không được xuất gia, thụ giới. [X. luật Ma ha tăng kì Q.23; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.8; luận Du già sư địa Q.53]. (xt. Thập Tam Nạn Thập Già).

Nhị hạnh

二行; C: èrxíng; J: nigyō;|Có các nghĩa: 1. Kiến hành (見行) và Ái hành (愛行); 2. Hai loại hiện hành Phiền não chướng (煩惱障) và Sở tri chướng (所知障); 3. Chính hạnh (正行) và Tạp hạnh (雜行); 4. Ngã hạnh (我行) và Ngã sở nghiệp (我所業).

nhị hạnh

(二行) I. Nhị Hạnh. Chỉ cho Tự lợi hạnh và Lợi tha hạnh. 1. Tự lợi hạnh: Tu hành lợi ích cho chính mình. 2. Lợi tha hạnh: Tu hành làm lợi ích cho người khác. II. Nhị Hạnh. Chỉ cho Chính hạnh và Tạp hạnh. 1. Chính hạnh: Chỉ chuyên tâm niệm Phật cầu vãng sinh. 2. Tạp hạnh: Ngoài việc niệm Phật còn làm các điều phúc thiện khác. (xt. Ngũ Chính Hạnh, Ngũ Tạp Hạnh).

nhị hạnh phế lập

(二行廢立) Hai hành bỏ 1, lập 1. Đối với các hành nghiệp vãng sinh, tông Tịnh độ so sánh sự hơn kém giữa 2 hạnh niệm Phật và làm các việc phúc thiện, cho rằng các việc phúc thiện là kém nên bỏ, còn niệm Phật là hơn nên giữ lại. Ngài Đạo xước dùng Các việc thiện là vạn hạnh, niệm Phật là nhất hạnh làm tiêu chuẩn để quyết định hạnh nào nên bỏ, hạnh nào nên tu. An lạc tập quyển hạ (Đại 47, 15 thượng) nói: Nếu tu vạn hạnh mà hồi hướng phát nguyện thì đều được vãng sinh, nhưng niệm Phật nhất hạnh mới là con đường chính yếu.

nhị học

(二學) I. Nhị Học. Chỉ cho Đọc tụng và Thiền tư. 1. Đọc tụng: Đọc tụng kinh do Phật nói và ngữ lục của các vị Tổ sư. 2. Thiền tư: Ngồi thiền tu quán hạnh. [X. Thích thị yếu lãm Q.trung). II. Nhị Học. Chỉ cho Định học và Tuệ học. (xt. Giới Định Tuệ).

nhị hồi hướng tứ nguyện

(二回向四願) Hai thứ hồi hướng và 4 thứ nguyện. Cứ theo bộ sách Giáo hành tín chứng, Tịnh độ chân tông của Nhật bản nêu ra 2 thứ hồi hướng: Một là Vãng tướng hồi hướng, hai là Hoàn tướng hồi hướng. Đây chính là nhân quả (4 pháp: Giáo, Hành, Tín, Chứng) vãng sinh Cực lạc của chúng sinh (Vãng tướng) và năng lực trở lại thế giới Sa bà (Hoàn tướng) sau khi vãng sinh để cứu độ chúng sinh khác. Tất cả điều đó đều nhờ nguyện lực của đức Phật A di đà mà có, gọi là Nhị hồi hướng. Trong đó, Vãng tướng hồi hướng là căn cứ vào các lời nguyện thứ 17 (hành), 18 (tín) và 11 (chứng) của đức Phật A di đà mà được thành lập. Còn Hoàn tướng hồi hướng thì căn cứ vào lời nguyện thứ 22 mà được lập ra, vì thế gọi là Nhị hồi hướng tứ nguyện. (xt. Tứ Pháp Tam Nguyện, Bản Nguyện).

nhị hộ

(二護) Nội hộ và Ngoại hộ. 1. Nội hộ: Giữ gìn giới luật do đức Phật chế định, khiến cho thân tâm xa lìa những lỗi lầm của 3 nghiệp, chóng thành quả Bồ đề, gọi là Nội hộ. 2. Ngoại hộ: Phàm người tu hành, những nhu cầu hằng ngày đều do tín đồ hoặc họ hàng thân tộc cung cấp, nhờ thế mà thân tâm được an ổn để hoàn thành đạo nghiệp. Những sự hộ trì từ bên ngoài như vậy, gọi là Ngoại hộ. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.32 (bản Bắc)].

Nhị không

二空; C: èrkōng; J: nikū;|Hai loại tính không. Có nhiều thuyết: 1. Các yếu tố cấu thành sự hiện hữu (pháp) cũng như chủ thể nhận thức về hiện hữu ấy (ngã) đều là không. 2. Người biết và vật được nhận biết đều không; 3. Đãn không và Bất đãn không; 4. Tính không và Tướng không.

nhị không

(二空) Hai thứ không. Về tên gọi cũng như cách giải thích trong các kinh luận có khác nhau. I. Nhân không và Pháp không, gọi chung là Nhân pháp nhị không, Sinh pháp nhị không. Nhân không cũng gọi Ngã không, Sinh không, tức là chân lí nhân ngã không vô. Người phàm phu vọng chấp 5 uẩn(sắc thụ tưởng hành thức)là ngã, cho ngã là chủ tể, sinh ra phiền não, tạo ra các nghiệp. Để phá trừ cái vọng chấp ấy nên đức Phật nói lí 5 uẩn vô ngã, cho rằng ngã chỉ là sự hòa hợp giả tạm của 5 uẩn, hoàn toàn không có chủ tể thường nhất. Hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác nghe lời Phật dạy mà vào được lí vô ngã, gọi là Nhân không. Pháp không, tức là chân lí các pháp không vô. Hàng Nhị thừa khi chưa đạt được lí pháp không thì vẫn còn chấp 5 uẩn là thực có, vì phá trừ vọng chấp này nên Phật nói Bát nhã thâm tuệ, khiến họ thấy suốt tự tính 5 uẩn đều không. Hàng Bồ tát nghe lời dạy ấy của Phật mà vào được lí các pháp đều không, gọi là Pháp không. [X. luận Đại trí độ Q.93; luận Thành duy thức Q.1]. II. Đãn không và Bất đãn không. Có 2 nghĩa: a) Trong 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên thì Tạng giáo và Thông giáo không thấu rõ 3 đế Không, Giả, Trung, mà quán xét tất cả pháp thảy đều hư ảo, cứ theo lí không ấy mà dẫn đến lí tột bực là chỉ thấy không chứ chẳng thấy bất không, cho nên gọi là Đãn không. Còn cái không của Biệt giáo và Viên giáo là cái không của 3 đế tương tức, chẳng những chỉ thấy không mà còn thấy cả bất không, bất không tức trung đạo, cho nên gọi là Bất đãn không. b) Đứng về phương diện Tạng giáo và Thông giáo mà nói, thì Tích không quán của Tạng giáo là Đãn không, còn Thể không quán của Thông giáo là Bất đãn không. Đó là vì trong Thể không có bao hàm lí trung đạo.[X. Ma ha chỉ quán Q.3; Thất thiếp kiến văn Q.2, phần cuối]. III. Tính không và Tướng không, gọi chung là Tính tướng nhị không. Các pháp không có thực tính, gọi là Tính không; các pháp đã không có thực tính, mà chỉ có cái tướng giả danh, nhưng tướng này cũng chẳng phải thực có, nên gọi là Tướng không. [X. Ma ha chỉ quán Q.5]. IV. Như thực không và Như thực bất không: Trong thể chân như không có tất cả vọng nhiễm, nhưng hiển bày cái thực 1 cách hoàn toàn, vì thế gọi là Như thực không. Tuy nhiên, trong thể chân như có đầy đủ tất cả công đức vô lậu, cho nên gọi là Như thực bất không. [X. luận Đại thừa khởi tín]. V. Quyền không và Thực không, gọi chung là Quyền thực nhị không. Nghĩa là lí Sinh không mà hàng Nhị thừa ngộ nhập là Quyền không; còn lí Sinh pháp nhị không mà hàng Bồ tát ngộ nhập là Thực không. [X. luận Bảo tính; luận Biện trung biên Q.thượng; Đại thừa huyền luận Q.4]. Ngoài ra, trong Mật giáo, khi kết ấn khế, dùng 5 ngón tay phối hợp với 5 luân mà gọi đất là ngón út, nước là ngón vô danh, lửa là ngón giữa, gió là ngón trỏ và không là ngón cái, bởi thế, khi nói Nhị không tức là chỉ cho 2 ngón tay cái vậy.

nhị không chân như

(二空真如) Cũng gọi Nhị không chân lí. Chỉ cho Nhân không chân như và Pháp không chân như. Nhân không chân như là chân như được hiển bày khi không còn nhân ngã; Pháp không chân như là chân như được hiển bày khi không còn pháp ngã. (xt. Chân Như).

nhị không quán

(二空觀) Pháp quán xét về 2 cái không. 1. Quán xét nhân không và pháp không để đoạn trừ phiền não chướng và sở tri chướng. 2. Vô sinh quán và Vô tướng quán: a) Vô sinh quán: Các pháp không có tự tính, do nhân duyên sinh ra, tuy sinh nhưng chẳng phải thực có, nên là không; tính tự chẳng sinh nên gọi Vô sinh. Pháp quán này tương đương với Tính không quán trong Nam sơn tam quán. b) Vô tướng quán: Thể tính của pháp hư giả không vô, phàm phu vọng chấp tướng các pháp, như thấy hoa đốm giữa hư không mà cho là có thực; nếu xa lìa vọng tình thì có thể thấy tướng các pháp là không. Pháp quán này tương đương với Tướng không quán trong Nam sơn tam quán. [X. Du tâm pháp giới kí Q.thượng]. (xt. Nam Sơn Tam Quán).

nhị khổ

(二苦) Chỉ cho 2 thứ khổ là Nội khổ và Ngoại khổ.1. Nội khổ: Khổ bên trong, như 404 thứ bệnh của thân và những nỗi khổ về tâm như lo sầu, ganh ghét... 2. Ngoại khổ: Khổ bên ngoài, như bị giặc cướp, hổ lang làm hại, hoặc những thiên tai như gió, mưa, nóng, lạnh... [X. luận Đại trí độ Q.19].

Nhị kiến

二見; C: èrjiàn; J: niken;|Hai quan niệm, hai kiến giải. Có nhiều nghĩa: 1. Thường kiến (常見) và Đoạn kiến (斷見), còn được gọi là Hữu kiến (有見) và Vô kiến (無見); 2. Tỉ lượng (比量) và Hiện lượng (現量); 3. Thân kiến (身見) và Biên kiến (邊見), gồm hai loại đầu trong Thập hoặc (十惑).

nhị kiến

Chấp thật kiến giải tương đối, như: hữu vô, đoạn thường, thủy chung, sanh diệt… đều gọi là nhị tướng. ; (二見) Hai loại kiến. I. Đoạn kiến và Thường kiến, cũng gọi Hữu kiến và Vô kiến. 1. Đoạn kiến, cũng gọi Vô kiến: Vọng kiến cố chấp cho rằng thân tâm người ra đoạn diệt (chết) rồi không tiếp tục sinh ra nữa.2. Thường kiến, cũng gọi Hữu kiến: Vọng kiến cố chấp cho rằng thân tâm người ta thường trụ không gián đoạn. [X. luận Đại trí độ Q.7]. (xt. Thường Kiến, Đoạn Kiến). II. Tướng mạo kiến và Liễu liễu kiến. 1. Tướng mạo kiến: Không thực sự thấy vật mà chỉ thấy tướng dáng của nó rồi suy đoán ra. Như từ đàng xa trông thấy khói bèn cho là có lửa. 2. Liễu liễu kiến: Trực tiếp thấy rõ sự vật, như thấy quả Am ma lặc trong lòng bàn tay. Hai cái thấy trên tương đương với tỉ lượng và hiện lượng. Khi Bồ tát thấy bồ đề Niết bàn là Liễu liễu kiến (thấy rõ mồn một).[X. kinh Niết bàn Q.15 (bản Nam)]. III. Nhãn kiến và Văn kiến. 1. Nhãn kiến: Mắt trực tiếp thấy vật. 2. Văn kiến: Do nghe mà biết vật. [X. kinh Niết bàn Q.25 (bản Nam)]. IV. Trụ địa phần kiến và Cứu cánh vô kiến.1. Trụ địa phần kiến: Bồ tát Thập trụ từ cạn đến sâu, phá 1 phẩm phiền não vô minh, hiển bày 1 phần của 3 đức, gọi là Trụ địa phần kiến. 2. Cứu cánh vô kiến: Bồ tát Đẳng giác đã dứt phẩm phiền não vô minh nhỏ nhiệm cuối cùng, bước lên quả vị Phật Diệu giác, tính đức vốn có hoàn toàn hiển hiện, hết sạch các kiến, gọi là Cứu cánh vô kiến. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.6].

nhị loại chủng tử

(二類種子) Chỉ cho 2 loại chủng tử là Bản hữu chủng tử và Tân huân chủng tử. 1. Bản hữu chủng tử: Chủng tử từ vô thủy đến nay đã có sẵn trong thức dị thục, có công năng sinh ra tất cả pháp hữu vi – hữu lậu, vô lậu. 2. Tân huân chủng tử, cũng gọi Thủy khởi chủng sinh(chủng tử mới sinh khởi). Tức những chủng tử do 7 thức trước hiện hành, tùy theo những tập khí sai khác của sắc tâm, đều gieo vào thức thứ 8 để lại thành công năng sinh ra quả. [X. luận Thành duy thức Q.2].

nhị loại các sinh

(二類各生) Hai loại đều sinh. Theo nghĩa của tông Tịnh độ, không chỉ giới hạn ở những người niệm Phật mới được sinh về Tịnh độ của đức Phật A di đà, mà hành giả tu các pháp môn khác ngoài việc niệm Phật cũng được vãng sinh. Tông nghĩa này được gọi là Nhị loại các sinh. Bởi vì bản nguyện của đức Phật A di đà, trong nguyện thứ 18 tuy chỉ thề cứu giúp những người niệm Phật, nhưng trong các nguyện 19, 20 cũng thệ nguyện khiến những người tu hành các pháp môn khác cũng được vãng sinh.

nhị luân

(二輪) Chỉ cho Thực luân và Pháp luân. Thực luân nghĩa là trai luân, Pháp luân nghĩa là thuyết pháp. Trong Đại hội ắt có nói pháp, nói pháp tức là Chuyển pháp luân; cũng lại có thụ trai, gọi là Thực luân. Hai luân này phải tùy thuộc nhau mà xoay chuyển, giống như 2 cái bánh của chiếc xe, vì thế gọi là Nhị luân.

nhị lĩnh

(二領) Chỉ cho 2 thứ lãnh giải (hiểu rõ) là Thám lãnh và Tề lãnh. Cứ theo phẩm Tín giải trong kinh Pháp hoa, 4 vị Đại Thanh văn trình bày sự hiểu biết của chính mình, sự hiểu biết ấy được chia làm 2 loại: 1. Thám lãnh: Lãnh giải được ý của đức Như lai khi Ngài chưa xuất thế, còn ở địa vị Pháp thân, đã chiếu soi tới căn cơ của Thanh văn; cũng tức là đã dò xét(thám) ý sâu xa của đức Phật mà có được sự hiểu rõ (lãnh). 2. Tề lãnh, cũng gọi Tề giáo lãnh. Nghĩa là dùng thân Thanh văn thụ giáo nơi thân hiện tại của Như lai mà được hiểu biết, cho nên gọi là Tề giáo lãnh. [X. Pháp hoa văn cú (hội bản) Q.17].

nhị lưu

(二流) Chỉ cho Thuận lưu và Nghịch lưu, tức xuôi dòng và ngược dòng. Thuận lưu là xuôi dòng sinh tử: Chúng sinh trong 6 đường, khởi hoặc tạo nghiệp, xuôi dòng sinh tử, trái đường Niết bàn, đó là nhân quả lưu chuyển. Nghịch lưu là ngược dòng sinh tử: Tức là Sơ quả Tu đà hoàn dứt phiền não trong 3 cõi; nên dần dần ngược dòng sinh tử, hướng về đường Niết bàn, đó là nhân quả hoàn diệt. [X. kinh Niết bàn Q.36 (bản Bắc)].

nhị lượng

(二量) Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho Hiện lượng và Tỉ lượng. 1. Hiện lượng: Dùng 5 thức trước nhận biết sự vật chung quanh, không qua ý thức phân biệt, như mắt thấy sắc, tai nghe tiếng là biết ngay, không cần suy xét, gọi là Hiện lượng. 2. Tỉ lượng: Tỉ là so sánh. Tỉ lượng là sự nhận biết bằng sự phân biệt, suy diễn của ý thức. Chẳng hạn như khi mắt thấy bông hoa thì chỉ biết đó là hoa(tức hiện lượng)chứ chưa biết là hoa gì. Sau đó, ý thức phân biệt, biết là hoa hồng, không phải hoa mai... thì là Tỉ lượng. Hoặc từ đàng xa trông thấy khói mà suy diễn ở đó có lửa... là Tỉ lượng. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng, phần đầu; Nhân minh luận sớ minh đăng sao Q.1, phần đầu].

nhị lậu

(二漏) Hữu lậu và Vô lậu. 1. Hữu lậu: Chỉ cho pháp có phiền não, hoặc pháp làm tăng thêm duyên phiền não. 2. Vô lậu: Chỉ cho pháp thanh tịnh lìa phiền não, hoặc là pháp không làm cho duyên phiền não khác tăng trưởng.

nhị lợi

(二利) Chỉ cho Tự lợi và Lợi tha. Lợi mình và lợi người. Trên cầu đạo giác ngộ là lợi mình, dưới hóa độ chúng sinh là lợi người. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; Tán A di đà Phật kệ].

nhị lợi chân thật

(二利真實) Chỉ cho Tự lợi chân thực và Lợi tha chân thực.Trong phần Tán thiện nghĩa của Quán kinh sớ, ngài Thiện đạo có giải thích về Chí thành tâm, cho rằng chí là chân, thành là thực. Chân thực có 2 thứ: Tự lợi và lợi tha. Tự lợi chân thực lại chia làm 2: 1. Trong tâm chân thực ngăn ngừa, xả bỏ các việc xấu ác của mình và người, đi đứng ngồi nằm lúc nào cũng nghĩ rằng mình đang làm giống như tất cả các vị Bồ tát đang làm. 2. Trong tâm chân thực siêng tu các điều thiện cho mình, cho người. Về điểm này, 3 nghiệp thân, khẩu, ý có 6 điều trọng yếu là: a) Khẩu nghiệp: Trong tâm chân thực, khen ngợi đức Phật A di đà và y báo, chính báo của Ngài. b) Khẩu nghiệp: Trong tâm chân thực, nhàm chán những nỗi khổ đau, xấu xa thuộc về y báo, chính báo của mình và người trong 3 cõi, 6 đường. c) Thân nghiệp: Trong tâm chân thực, thường chắp tay, kính lễ, cúng dường đức Phật A di đà và y báo, chính báo của Ngài. d) Thân nghiệp: Trong tâm chân thực, xả bỏ y báo, chính báo của mình và người trong 3 cõi sinh tử này. e) Ý nghiệp: Trong tâm chân thực, quán xét, nhớ tưởng đức Phật A di đà và y báo, chính báo của Ngài như đang hiện ở trước mắt.g) Ý nghiệp: Trong tâm chân thực, nhàm chán, vứt bỏ y báo, chính báo của mình và người trong 3 cõi sinh tử này. Trong tâm chân thực cần phải loại trừ 3 nghiệp bất thiện, nếu 3 nghiệp thiện phát khởi thì phải thực hành, bất luận trong, ngoài, sáng, tối đều phải chân thực, cho nên gọi là Chí thành tâm. Nhưng điều đáng tiếc là trong sách có nêu ra Nhị lợi chân thực, mà ngài Thiện đạo chỉ giải thích phần Tự lợi chân thực chứ không thấy giải thích phần Lợi tha chân thực, cho nên đã nảy sinh nhiều cách giải thích khác nhau về vấn đề này. Trong Tán thiện nghĩa truyền thông kí và Lược sao, ngài Lương trung của Nhật bản có nói rõ về điều này, cho rằng ngài Thiện đạo nêu ra Nhị lợi mà chỉ giải nghĩa phần Tự lợi, chứ không nói đến Lợi tha, là vì, theo ngài, nếu đã biết nghĩa tự lợi thì nghĩa lợi tha tự nhiên cũng rõ, cho nên không cần nói lại.

Nhị lợi hạnh

二利行; C: èrlì xíng; J: nirigyō;|Pháp tu đạt đến hai lợi ích: Tự lợi và lợi tha (自利利他).

nhị lục chi duyên

(二六之緣) Nhị lục là 2 lần 6 thành 12. Nhị lục chi duyên tức là 12 nhân duyên. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên).

nhị lục chi nguyện

(二六之願) Chỉ cho 12 thệ nguyện của đức Dược sư Như lai. 1. Nguyện thân mình và người có ánh sáng rực rỡ. 2. Nguyện uy đức vòi vòi mở đường ánh sáng cho chúng sinh. 3. Nguyện chúng sinh được thỏa mãn những điều mong cầu, không bị nghèo khổ. 4. Nguyện hết thảy chúng sinh an trụ trong Đại thừa. 5. Nguyện tất cả chúng sinh thường tu phạm hạnh, đầy đủ 3 tụ tịnh giới. 6. Nguyện tất cả chúng sinh đều được đầy đủ các căn. 7. Nguyện trừ diệt các bệnh cho hết thảy chúng sinh, làm cho thân tâm họ được yên vui, mau chứng Vô thượng bồ đề. 8. Nguyện chuyển nữ thành nam. 9. Nguyện các loài hữu tình thoát khỏi sự ràng buộc của thiên ma, ngoại đạo, ra khỏi rừng rậm tà tư, ác kiến, đưa họ về chính kiến.10. Nguyện cho chúng sinh thoát khỏi nạn bạo chúa, giặc cướp... 11. Nguyện cho chúng sinh đều được no đủ.12. Nguyện cho những người nghèo túng không y phục được y phục tốt đẹp. [X. kinh Dược sư lưu li quang Như lai bản nguyện công đức].

nhị lục thời trung

(二六時中) Mười hai thời trong 1 ngày 1 đêm. Lịch pháp Ấn độ chia 1 ngày đêm là 6 thời, hoặc 8 thời. [X. Hư đường hòa thượng ngữ lục].

nhị lực

(二力) I. Nhị Lực. Chỉ cho Tư trạch lực và Tu tập lực. 1. Tư trạch lực: Sức tư duy chọn lựa giáo lí chân chính để đối trị các nghiệp chướng. 2. Tu tập lực: Sức tu tập tất cả các hạnh lành để làm cho sự tu tập ấy nhất định được bền vững. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.8]. II. Nhị Lực. Chỉ cho Tự lực và Tha lực. 1. Tự lực: Dùng sức của chính mình tu tập 3 học giới, định, tuệ để đạt được giác ngộ, giải thoát. 2. Tha lực: Nương vào sức bản nguyện của đức Phật A di đà, chuyên tâm xưng danh niệm Phật để cầu vãng sinh Tịnh độ. [X. Lược luận an lạc tịnh độ nghĩa]. III. Nhị Lực. Chỉ cho Hữu lực và Vô lực. Theo thuyết của tông Hoa nghiêm thì muôn pháp đều nhờ sự hỗ tương nhiếp nhập của 2 lực này mà tồn tại. Nghĩa là vật này có toàn lực nên có khả năng thu nhiếp vật kia; trái lại, vật kia hoàn toàn vô lực nên có thể nương vào vật này... [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.trung].

nhị môn

(二門) Cách chia giáo nghĩa trong các kinh điển thành 2 môn, như nội dung kinh Pháp hoa được chia làm Bản môn và Tích môn; định tuệ thì chia làm Định môn và Tuệ môn; Tiểu thừa, Đại thừa thì chia làm Tiểu môn và Diễn môn; Hữu giáo, Không giáo thì chia làm Hữu môn và Không môn; Như lai tạng nhất tâm chia làm Chân như môn và Sinh diệt môn; Tịnh độ tông thì chia toàn bộ giáo pháp của Phật làm Thánh đạo môn và Tịnh độ môn...

nhị mĩ

(二美) Hai nét đẹp: Chỉ cho Định trang nghiêm và Tuệ trang nghiêm. Hồng tự nghĩa của ngài Không hải (Đại 77, 407 thượng) nói: Nhị mĩ đầy đủ, tứ biện lắng trong, chính là thực nghĩa của viên đức.

nhị mật

(二密) Chỉ cho Lí mật và Sự mật. 1. Lí mật: Nói về lí viên dung bất li. 2. Sự mật: Nói về sự bí mật của thân, khẩu, ý của đức Như lai. Tông Thai mật Nhật bản cho các kinh Pháp hoa và Niết bàn là Lí mật, còn các kinh Chân ngôn là giáo pháp sự lí đều bí mật.

nhị mộc

(二木) Chỉ cho Đại thụ (cây lớn) và Tiểu thụ (cây nhỏ). 1. Đại thụ: Ví dụ cho Bồ tát Biệt giáo. Trong hội Pháp hoa, hàng Bồ tát Biệt giáo nghe nói pháp Nhất thừa, được thụ kí thành Phật, hóa độ khắp tất cả chúng sinh, như cây lớn nhờ thấm nhuần nước mưa mà được tăng trưởng, tươi tốt sum xuê, tỏa bóng mát che cho tất cả, nên gọi là Đại thụ. 2. Tiểu thụ: Ví dụ Bồ tát Thông giáo. Trong hội Pháp hoa, hàng Bồ tát Thông giáo cũng nghe nói pháp Nhất thừa, được thụ kí thành Phật, nhưng căn khí và công dụng giáo hóa của Bồ tát Thông giáo không bằng Bồ tát Biệt giáo, cho nên gọi là Tiểu thụ. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.7, thượng].

nhị nan hoá

(二難化) Hai nơi khó giáo hóa là cõi Dục và cõi Sắc. Các trời ở cõi Dục vì đắm sâu trong 5 món dục lạc thượng diệu nên khó giáo hóa; còn các trời cõi Sắc thì lại bám dính vào niềm vui thiền định thế gian, vì vậy cũng khó giáo hóa.

Nhị Nghi

(二儀): hay còn gọi là Lưỡng Nghi (兩儀), gồm trời và đất, hay âm và dương. Trong bài Thiên Địa Phú (天地賦) của Thành Công Tuy (成公綏) có câu: “Hà âm dương chi nan trắc, vĩ Nhị Nghi chi xa khoát (何陰陽之難測、偉二儀之奢闊, Sao âm dương thật khó xét, lớn đất trời quả bao la).” Trong bài thơ Thu Hồ Hành (秋胡行) của Tào Tháo (曹操, 155-220) cũng có đoạn rằng: “Minh minh nhật nguyệt quang, hà sở bất quang chiêu, minh minh nhật nguyệt quang, hà sở bất quang chiêu, Nhị Nghi hợp thánh hóa, quý giả độc nhân phủ (明明日月光、何所不光昭、明明日月光、何所不光昭、二儀合聖化、貴者獨人不, rực rỡ ánh trời trăng, nơi nào không chiếu sáng, rực rỡ ánh trời trăng, nơi nào không chiếu sáng, đất trời hợp hóa thánh, người quý một mình chăng ?).”

nhị nghiêm

(二嚴) I. Nhị Nghiêm. Chỉ cho 2 thứ trang nghiêm: 1. Trí tuệ trang nghiêm: Tu luyện trí tuệ để trang nghiêm thân mình. 2. Phúc đức trang nghiêm: Chứa góp phúc đức để trang nghiêm thân mình. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 27 (Đại 12, 523 thượng) nói: Hai thứ trang nghiêm: Một là trí tuệ, hai là phúc đức. Nếu Bồ tát nào có đủ cả 2 thứ trang nghiêm ấy thì biết được Phật tính. II. Nhị Nghiêm. Chỉ cho Hình tướng trang nghiêm và Đệ nhất nghĩa trang nghiêm. 1. Hình tướng trang nghiêm: Nếu người nào phân biệt cõi Phật là hình tướng hữu vi rồi tự cho mình đã thành tựu cảnh giới ấy, thì người đó đã chấp trước vào cảnh sắc, thanh..., chẳng phải trang nghiêm chân thực, nên gọi là Hình tướng trang nghiêm. 2. Đệ nhất nghĩa trang nghiêm: Tâm thanh tịnh không dính mắc, trí tuệ chân thực, thấu suốt cõi tự tính duy tâm hiển hiện, đó là thành tựu cõi Phật bằng chính trí, gọi là Đệ nhất nghĩa trang nghiêm.

Nhị nghiệp

二業; C: èryè; J: nigō;|Hai loại nghiệp báo: 1. Mãn nghiệp (滿業) và Dẫn nghiệp (引業); 2. Thiện nghiệp (引業) và Ác nghiệp (惡業).

nhị nghiệp

Two kinds of karma—Có hai loại nghiệp hoặc tốt hoặc xấu, hoặc cố ý hoặc không cố ý—There are two kinds of karma: One is good and the other is bad karma or intentional and unintentional karma—See Nhị Chủng Nghiệp. Tam Nghiệp: Three kinds of karma—Có nhiều loại nghiệp, nhưng đại để có ba loại: thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp—Three types of karmas: body karma, speech karma, and mental karma—See Tam Nghiệp, and Tam Báo. Tứ Nghiệp: Four kinds of karma—See Bốn Loại Nghiệp. Lục Nghiệp: Six kinds of karma—See Lục Đạo. Thập Nghiệp: Thập ác và thập thiện—Ten evil actions and/or ten paths of good action—See Thập Ác, and Thập Thiện Nghiệp in Vietnamese-English Section. ; (二業) I. Nhị Nghiệp. Chỉ cho 2 loại Nghị nghiệp: 1. Dẫn nghiệp và Mãn nghiệp: Trong 6 đường đều có 2 loại quả báo là Tổng báo (quả báo chung) và Biệt báo(quả báo riêng), như trong cõi người thì tất cả mọi người đều thuộc cõi người, đó là Tổng báo. Nhưng trong Tổng báo lại có các Biệt báo, như cùng là loài người trong cõi người mà có người thông minh, kẻ ngu đần, người mạnh khỏe, kẻ ốm yếu, người đẹp đẽ, kẻ xấu xí v.v... và v.v..., đó là do Biệt báo của mỗi cá nhân. Nghiệp nhân dẫn đến Tổng báo gọi là Dẫn nghiệp, còn nghiệp nhân hoàn thành các Biệt báo thì gọi là Mãn nghiệp. 2. Thiện nghiệp và Ác nghiệp: Thiện nghiệp là những việc làm trong đường tốt lành, như 5 giới, 10 điều thiện... có năng lực mang lại quả vui trong thiện đạo. Ác nghiệp là những hành động tội ác, như 5 tội nghịch, 10 điều ác... có năng lực đưa đến quả khổ trong ác đạo. II. Nhị Nghiệp. Chỉ cho Trợ nghiệp và Chính nghiệp. 1. Trợ nghiệp: Nghiệp có khả năng giúp đỡ thêm cho việc vãng sinh Tịnh độ. Như trong 5 hạnh tu tập chính yếu là: Đọc tụng, Quán sát, Lễ bái, Xưng danh và Tán thán cúng dường thì Đọc tụng, Quán sát, Lễ bái và Tán thán cúng dường là Trợ nghiệp. 2. Chính nghiệp: Nghiệp nhân chính yếu của việc vãng sinh, đó là hạnh Xưng danh trong 5 chính hạnh nói ở trên. [X. phần Tán thiện nghĩa trong Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ Q.4].

nhị ngu

(二愚) Chỉ cho 2 thứ mê hoặc của hàng Bồ tát Thập địa: 1. Mê hoặc chấp trước ngã pháp: Chủ thể và khách thể xưa nay vốn không có tự tính, nhưng lại cho là chúng có thực thể mà sinh ra chấp trước. 2. Mê hoặc chấp trước ác thú, tạp nhiễm: Chấp trước ác đạo, tạp nhiễm luống công làm nhơ nhớp tâm mình mà chiêu cảm quả khổ. Lâm gian lục quyển hạ (Vạn tục 148, 323 thượng) nói: Đến bậc Thập địa vẫn còn nhị ngu). [X. Bách pháp vấn đáp sao Q.7].

nhị nguyên thần giáo

(二元神教) Tông giáo chủ trương có 2 vị thần thiện và ác tồn tại đối lập nhau và chỉ lấy thiện thần làm đối tượng sùng bái. Như Tỏa la á tư đức giáo (cũng gọi Thiên giáo, Bái hỏa giáo). Nặc tư thế giáo, Ma ni giáo... đều thuộc về Nhị nguyên thần giáo.

nhị ngã chấp

(二我執) Chỉ cho Câu sinh ngã chấp và Phân biệt ngã chấp. 1. Câu sinh ngã chấp: Đối với thân do 5 uẩn giả hòa hợp, vọng chấp là thực ngã, ngã chấp này sinh ra cùng 1 lúc với thân, nên gọi là Câu sinh ngã chấp. 2. Phân biệt ngã chấp: Do chấp trước thực ngã, nên phân biệt rằng ta có khả năng làm các việc thiện, việc ác... từ đó khởi chấp trước, tức nương vào sức phân biệt của chính mình mà sinh ra chấp trước, gọi là Phân biệt ngã chấp. (xt. Ngã Chấp).

Nhị ngã kiến

二我見; C: èrwǒ jiàn; J: nigaken;|Hai quan niệm về Tự ngã. Tin rằng có sự hiện hữu của cái ta chủ thể (ngã 我) và khách thể (pháp 法).

nhị ngã kiến

(二我見) Chỉ cho 2 thứ vọng kiến là Nhân ngã kiến và Pháp ngã kiến. 1. Nhân ngã kiến: Tất cả phàm phu không hiểu được rằng thân người là do 5 uẩn giả hợp, rồi cho là có chủ tể mà chấp ta là con người có ngã thể thường nhất, gọi là Nhân ngã kiến. 2. Pháp ngã kiến: Hàng Nhị thừa không liễu ngộ được tính không của các pháp, nên chấp tất cả pháp đều có thể tính, dù được trí nhân vô ngã, nhưng còn sợ sinh tử, vọng chấp pháp Niết bàn, đối với các pháp còn có kiến chấp, cho nên gọi là Pháp ngã kiến. [X. luận Đại thừa khởi tín Q.hạ].

nhị ngũ thực

(二五食) Chỉ cho 2 loại thức ăn: Bồ thiện ni thực và Kha đãn ni thực. Mỗi loại đều có 5 món thức ăn: 1. Ngũ bồ thiện ni thực (Phạm: Paĩcabhojanìya), cũng gọi Ngũ bồ xà ni thực. Tức là 5 thức ăn chính, gồm: Cơm, xôi, miến, thịt và bánh. Ăn đủ 5 món này gọi là Túc thực (ăn đủ). 2. Ngũ kha đãn ni thực (Phạm: Paĩcakhadanìya), cũng gọi Ngũ khư xà ni thực. Tức là 5 loại thức ăn phụ, gồm: Củ, cọng, lá, hoa và quả. Nếu chỉ ăn 5 món phụ này thôi thì không thành Túc thực. Cứ theo Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da quyển 36, nếu trước dùng 5 món ăn phụ thì sau đó được ăn thêm 5 món ăn chính; ngược lại, nếu trước dùng 5 món ăn chính rồi thì sau đó không được ăn thêm 5 món phụ nữa, nếu ăn thêm thì phạm giới. [X. luật Tứ phần Q.59]. (xt. Thực).

Nhị ngộ

二悟; C: èrwù; J: nigo;|Hai dạng giác ngộ: Đốn ngộ (頓悟) và Tiệm ngộ (漸悟).

nhị ngộ

(二悟) I. Nhị Ngộ. Chỉ cho Đốn ngộ và Tiệm ngộ. Đốn ngộ là trực tiếp ngộ ngay vào chân lí tột cùng, còn Tiệm ngộ là giác ngộ dần dần theo thứ lớp. Tông Pháp tướng cho rằng Bồ tát có định tính không cần phải trải qua quá trình Thanh văn, Duyên giác mà tiến thẳng lên địa vị Bồ tát, gọi là Đốn ngộ bồ tát. Còn những người có chủng tính bất định phải trải qua quá trình Thanh văn, Duyên giác mới vào được đạo Bồ tát, thì gọi là Tiệm ngộ bồ tát. II. Nhị Ngộ. Chỉ cho Ngộ tha (Phạm: Paràrtha) và Tự ngộ (Phạm: Svàrtha). Tiếng dùng trong Nhân minh. Ngộ tha là làm cho người khác hiểu rõ, cũng tức là làm cho người khác có được chính trí. Còn Tự ngộ là làm cho chính mình liễu ngộ, cũng tức là làm cho chính mình có được chính trí. Người lập luận dùng ngôn ngữ làm cho người vấn nạn và người chứng nghĩa(trọng tài)hiểu rõ chính lí, gọi là Ngộ tha. Còn người lập luận thì trước hết cần phải tự ngộ rồi sau mới ngộ tha được. Vì Nhị ngộ có 2 điều lợi ích là Tự ngộ và Ngộ tha, cho nên cũng gọi là Nhị ích. Tự ngộ và Ngộ tha mỗi bên đều có 4 môn, gọi chung là Nhân minh bát môn (Tám môn Nhân minh). [X. Nhân minh nhập chính lí luận Ngộ tha môn thiển thích]. (xt. Nhân Minh Bát Môn).

nhị nhiếp

(二攝) Chỉ cho Tự nhiếp và Tha nhiếp. Nhiếp là bắt lấy, thu nhiếp lại. Tất cả các pháp đều có tự lực, tha lực, tự nhiếp, tha nhiếp. 1. Tự nhiếp: Người dùng sức mình mà tự thu nhiếp lấy. 2. Tha nhiếp: Người dùng sức người khác rồi bị người khác nhiếp thủ. (xt. Tha Nhiếp, Tự Nhiếp).

nhị nhân

(二因) I. Nhị Nhân. Chỉ cho Sinh nhân và Liễu nhân. 1. Sinh nhân: Nhân vốn đủ lí pháp tính, có năng lực sinh ra tất cả thiện pháp, như các loại hạt giống có năng lực nảy mầm. 2. Liễu nhân: Nhân trí tuệ chiếu soi lí pháp tính, giúp cho việc sinh thành vạn vật, như đèn soi rọi các vật khiến cho được thấy rõ ràng. Hai nhân trên đồng nghĩa với Chính nhân và Duyên nhân. [X. kinh Niết bàn Q.28 (bản Bắc)]. II. Nhị Nhân. Chỉ cho Năng sinh nhân và Phương tiện nhân. 1. Năng sinh nhân: Thức thứ 8 có công năng sinh ra các thứ mắt, tai... là nhân của tất cả thiện, ác, như các loại hạt giống có khả năng nảy mầm. 2. Phương tiện nhân: Các thức tai, mắt... có thể là phương tiện dẫn phát hạt giống thiện ác của thức thứ 8, cũng như đất, nước, ánh sáng... có khả năng làm cho các loại hạt giống nảy mầm. [X. luận Du già sư địa Q.38; Tông kính lục Q.71]. III. Nhị Nhân. Chỉ cho Tập nhân và Báo nhân. 1. Tập nhân, cũng gọi là Đồng nhân. Tức là quả khởi lên sau, lại tiếp tục tập quen nhân trước mà tăng trưởng, như tập quen tham dục thì tham dục càng tăng. 2. Báo nhân, cũng gọi Dị thục nhân. Tức quả báo đời sau là do nhân nghiệp đời trước đưa đến, như đời trước gieo nhân thiện thì đời này được quả vui, đời trước gây nhân ác thì đời này chịu quả khổ. [X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.trung; Pháp hoa văn cú Q.18]. IV. Nhị Nhân. Chỉ cho Cận nhân và Viễn nhân. 1. Cận nhân: Nhân gần. Nghĩa là nhân trực tiếp dẫn sinh ra quả, như phàm phu tu hạnh bố thí thì đời sau đó sẽ được quả báo tốt đẹp. 2. Viễn nhân: Nhân xa. Nghĩa là nhân gián tiếp dẫn sinh ra quả, như tu thiền định của thế gian sẽ gián tiếp đưa đến quả báo sinh ra ở các tầng trời thuộc cõi Sắc. [X. luận Đại trí độ Q.96]. V. Nhị Nhân. Chỉ cho Khiên dẫn nhân và Sinh khởi nhân. 1. Khiên nhẫn nhân: Nhân dắt dẫn. Nghĩa là nhân chưa đủ điều kiện đã gián tiếp đưa đến quả khổ sinh tử. 2. Sinh khởi nhân: Nhân đã đủ điều kiện, trực tiếp sinh ra quả khổ sinh tử. Như vô minh, hành, thức, danh, sắc, lục xứ, xúc, thụ trong 12 nhân duyên, thuộc về Khiên nhẫn nhân, còn ái, thủ và hữu thì thuộc về Sinh khởi nhân. [X. luận Du già sư địa Q.31].

nhị nhân câu phạm

(二人俱犯) Cũng gọi Nhị câu phạm quá. Cả 2 người đều có lỗi. Trong 4 giáo: Tạng, Thông, Biệt, Viên do tông Thiên thai thành lập thì những người thuộc 3 giáo: Tạng, Thông, Biệt gọi là Thô nhân; còn những người thuộc Viên giáo thì gọi là Tế nhân. Nhưng theo quan điểm của tông Thiên thai thì cả 2 hạng Thô nhân và Tế nhân trước thời Pháp hoa vẫn chỉ là Thô nhân (Nhị nhân câu phạm), nghĩa là Viên giáo trước thời Pháp hoa vẫn không bằng Viên giáo của thời Pháp hoa.[X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1].

nhị nhân xuất phật thân huyết

(二人出佛身血) Một người dùng tâm ác và 1 người dùng tâm thiện làm cho thân Phật chảy máu.1. Đề bà đạt đa xô đá bị tội: Đề bà đạt đa sinh tâm cực ác, từ trên núi xô đá xuống định cho đè lên thân Phật, nhưng đá chỉ trúng chân khiến chân Ngài chảy máu, vì thế nên phải chịu tội báo. 2. Kì vực châm kim được phúc: Kì vực là vị thầy thuốc giỏi, vì chữa bệnh cho Phật nên dùng kim châm chích làm cho thân Phật chảy máu, Phật liền khỏi bệnh, nhờ đó mà được phúc. [X. luận Đại trí độ Q.14].

nhị như

(二如) Hai loại chân như. Có các thuyết sau đây: I. Nhị Như. Chỉ cho Tùy duyên chân như và Bất biến chân như. 1. Tùy duyên chân như: Chân như không giữ tự tính, nếu theo duyên nhơ thì sinh ra pháp nhơ; nếu theo duyên sạch thì sinh ra pháp sạch. 2. Bất biến chân như: Chân như giữ tự tính, mặc dù theo duyên mà thành các pháp thiên sai vạn biệt nhưng không mất tính chân như. Tùy duyên chân như có năng lực sinh ra tất cả pháp thế gian và xuất thế gian, đó là An lập chân như; còn Bất biến chân như thì vốn vắng lặng vô vi, xa lìa các tướng, đó là Phi an lập chân như. Tùy duyên chân như như sóng, Bất biến chân như như nước, nước bất biến mà nổi lên sóng, còn sóng tùy duyên mà không mất tính nước. Vì chân như tùy duyên nên chân như tức vạn pháp; vì chân như bất biến nên vạn pháp tức chân như. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng]. II. Nhị Như. Chỉ cho Li ngôn chân như và Y ngôn chân như. 1. Li ngôn chân như: Bản thể của chân như là cảnh của trí quán, lìa tất cả ngôn thuyết. 2. Y ngôn chân như: Tướng trạng của chân như có thể dựa vào ngôn thuyết để phân biệt. [X. luận Đại thừa khởi tín]. II. Nhị Như. Chỉ cho Nhất không chân như và Bất không chân như. 1. Nhất không chân như: Tự thể chân như rỗng sáng, lìa tất cả vọng nhiễm, như cái không của hư không. 2. Bất không chân như: Tự thể chân như có đầy đủ tất cả tính công đức, cũng như hư không bao hàm hết thảy muôn tượng. [X. luận Đại thừa khởi tín]. IV. Nhị Như. Chỉ cho Tại triền chân như và Xuất triền chân như. 1. Tại triền chân như: Thực tính chân như của phàm phu còn bị vô lượng phiền não trói buộc (tại triền) nên không hiển hiện được. 2. Xuất triền chân như: Thực tính chân như của chư Phật, Bồ tát đã ra khỏi sự ràng buộc (xuất triền) của phiền não. Tại triền chân như gọi là Như lai tạng, Xuất triển chân như gọi là Pháp thân. [X. kinh Thắng man; Lí thú phần thuận tán Q.hạ]. V. Nhị Như. Chỉ cho Hữu cấu chân như và Vô cấu chân như. 1. Hữu cấu chân như, cũng gọi Tự tính chân như, Tại triền chân như. Tức thể của chân như tuy bị phiền não che lấp, nhưng xưa nay vốn thanh tịnh, giống như hoa sen mọc từ trong bùn nhưng không nhiễm mùi bùn. 2. Vô cấu chân như, cũng gọi Thanh tịnh chân như, Xuất triền chân như. Tức lí thể chân như được hiển bày khi chứng quả Phật, không còn bị phiền não che lấp, như vầng trăng rằm trong sáng tròn đầy. [X. luận Nhiếp đại thừa Q.5 (Chân đế)]. (xt. Chân Như).

nhị như lai tạng

(二如來藏) Chỉ cho Không như lai tạng và Bất không như lai tạng. Như lai tức là Như lai lí tính; tạng nghĩa là cất chứa. Trong tâm phiền não của tất cả chúng sinh, có đầy đủ vô lượng nghiệp thanh tịnh vô lậu bất khả tư nghị, gọi là Như lai tạng.Cứ theo Đại thừa chỉ quán pháp môn quyển 1, Như lai tạng có 2 loại: 1. Không như lai tạng: Tâm tính này tuy theo duyên nhiễm tịnh mà kiến lập các pháp sinh tử Niết bàn, nhưng tâm thể bình đẳng, xa lìa tính tướng, pháp nhiễm tịnh sở khởi và tâm năng khởi đều không, nên gọi là Không như lai tạng. 2. Bất không như lai tạng: Tâm tính này đầy đủ công đức thanh tịnh vô lậu và các nhiễm pháp hoặc nghiệp hữu lậu, tất cả đều bao hàm, không đức nào chẳng đủ, không pháp nào chẳng hiện, nên gọi là Bất không như lai tạng.

nhị nhẫn

(二忍) Hai pháp nhẫn của Bồ tát tu hành. I. Nhị Nhẫn. Chỉ cho Sinh nhẫn và Pháp nhẫn. 1. Sinh nhẫn, cũng gọi Chúng sinh nhẫn. Nghĩa là Bồ tát đối với tất cả chúng sinh không giận không bực, như mẹ hiền thương con. Cho dù chúng sinh có âm mưu hãm hại Bồ tát thì Bồ tát vẫn chịu đựng, không hề sinh tâm tức giận, ghét bỏ; hay được chúng sinh cung kính cúng dường mấy chăng nữa thì cũng không vì thế mà sinh tâm cống cao chấp trước. 2. Pháp nhẫn, cũng gọi Vô sinh pháp nhẫn. Nhẫn nghĩa là an nhẫn. Vô sinh pháp vốn chỉ cho pháp bất sinh bất diệt, ở đây chỉ nói về nghĩa bất sinh nên gọi là Vô sinh. Đối với pháp vô sinh, Bồ tát chấp nhận, an vui, không động không lui, gọi là Pháp nhẫn. [X. luận Đại trí độ Q.6]. II. Nhị Nhẫn. Chỉ cho An thụ khổ nhẫn và Quán sát pháp nhẫn. 1. An thụ khổ nhẫn: An nhiên chịu đựng các nỗi khổ như bệnh tật, nước lửa, dao gậy... mà không động tâm. 2. Quán sát pháp nhẫn: Quán xét các pháp, thể tính hư huyễn, vốn không sinh diệt, tin hiểu chân thực, tâm không vọng động, an nhiên chấp nhận. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.5]. III. Nhị Nhẫn. Chỉ cho Thế gian nhẫn và Xuất thế gian nhẫn. 1. Thế gian nhẫn: Sự an nhẫn hữu lậu, hữu tướng mà Bồ tát sơ tâm phát khởi tùy theo các quả báo, phúc nghiệp... khi duyên theo chúng sinh hữu tướng hữu thủ, thản nhiên chịu đựng các việc khổ vui, thuận nghịch của thế gian, cho nên gọi là Thế gian nhẫn. 2. Xuất thế gian nhẫn: Sự an nhẫn vô lậu, vô tướng mà Bồ tát phát khởi vì lòng đại bi lợi tha bình đẳng, khế hợp với vô vi tịch diệt, tâm không nhiễm trước, nhậm vận tự nhiên mà thực hiện các việc, chịu đựng tất cả cảnh khổ vui, thuận nghịch mà không thấy tướng các pháp sinh diệt, cho nên gọi là Xuất thế gian nhẫn. [X. kinh Đại thừa địa tạng thập luân Q.9] (xt. Nhẫn).

Nhị nhập

二入; C: èrrù; J: ninyū;|Hai lối thể nhập đạo giác ngộ xuất xứ từ giáo pháp của Bồ-đề Đạt-ma và trong kinh Kim Cương tam-muội (s: 金剛三昧經; s: vajrasamādhi-sūtra), đó là Lí nhập (理入) và Hạnh nhập (行入), gồm có 4 hạnh.

nhị nhập tứ hành

(二入四行) Nhị nhập: Hai yếu chỉ vào đạo; Tứ hạnh: Bốn hạnh. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 30, Tổ Bồ đề đạt ma có nói lược về yếu chỉ vào đạo của Đại thừa và yếu chỉ đó hông ngoài 2 đường Lí nhập và Hạnh nhập. 1. Lí nhập: Nhờ giáo pháp mà ngộ được tông chỉ, vững tin rằng mọi loài đều cùng 1 chân tính, chỉ vì khách trần vọng tưởng che khuất nên không hiểu rõ, nếu bỏ vọng về chân, ngồi yên suy nghĩ, thì không thấy có mình có người, thánh phàm là 1, trụ vững không dời, cũng không theo văn chữ. Đây tức là thầm hợp với lí, không có phân biệt, lặng lẽ vô vi, gọi là Lí nhập. 2. Hạnh nhập: gồm 4 hạnh: a) Báo oán hạnh: Người tu đạo, nếu khi chịu khổ thì nên nghĩ rằng: Đây là do đời trước ta đã tạo nghiệp ác, nay quả chín mùi, nên cam tâm nhẫn chịu, không nên oán than. Khi sinh tâm như vậy thì ứng hợp với lí mà hóa giải được oan nghiệp và vững tiến trên đường đạo. b) Tùy duyên hạnh: Chúng sinh vô ngã, đều do nghiệp chuyển, khổ vui cùng chịu, đều từ duyên sinh; nếu được quả báo thù thắng, vinh dự... thì đều do nhân đời trước mang lại, khi duyên hết thì hoàn không. Được mất tùy duyên, tâm không thêm bớt, gió vui chẳng động, ngầm thuận với đạo. c) Vô sở cầu hạnh: Người đời mê đắm, luôn luôn tham trước, gọi là Cầu; người trí hiểu lí chân thực, an tâm vô vi, vạn hữu đều không, nên chẳng mong cầu, đó là chân chính vô cầu, cứ thuận theo đạo mà làm. d) Xứng pháp hạnh: Lí tính thanh tịnh gọi là Pháp. Lí này không có các tướng, không nhiễm không dính, chẳng đây chẳng kia. Người trí tin hiểu lí này nên thực hành đúng (xứng) pháp, pháp thể không xan lận, đem cả thân, mệnh, tài bảo thực hành xả thí, tâm không luyến tiếc, thấu suốt ba không (không người cho, không người nhận, không vật cho), lợi mình lợi người, trang nghiêm đạo giác ngộ; vì trừ vọng tưởng nên tu hạnh lục độ mà không thấy mình làm gì. Cứ theo lời tựa Bồ đề đạt ma lược biện Đại thừa nhập đạo tứ hạnh do ngài Đàm lâm –đệ tử của Tổ Bồ đề đạt ma– soạn, thì Tổ Đạt ma cảm động trước sự tinh thành của 2 vị đệ tử là Đạo dục và Tuệ khả nên Tổ dạy đạo chân thực cho 2 vị rằng (Đại 51, 458 trung): Khiến an tâm như thế, phát hạnh như thế, thuận vật như thế, phương tiện như thế, đó là pháp an tâm của Đại thừa khiến không lầm lẫn. An tâm như thế là thiền định, phát hạnh như thế là 4 hạnh, thuận vật như thế là ngăn ngừa sự cơ hiềm, phương tiện như thế là trừ bỏ sự dính mắc. Vì thế nên biết Nhị nhập tứ hạnh là tương đương với An tâm (Lí nhập) và Phát hạnh (Hạnh nhập). Thuyết Nhị nhập rất giống với thuyết trong phẩm Nhập thực tế của kinh Kim cương tam muội, còn thuyết Tứ hạnh thì tương tự như thuyết Thập hạnh trong kinh Hoa nghiêm quyển 11 (bản dịch cũ) cho nên có người suy ra đó là xuất xứ của thuyết Nhị nhập tứ hạnh. Trong Truyền pháp chính tông kí quyển 5, ngài Khế tung đời Tống ngờ rằng Tứ hạnh không phải do Tổ Đạt ma nói, nhưng phổ thông người ta vẫn tin chắc đó là thuyết của Tổ Đạt ma. [X. chương 19 trong Hán Ngụy Lưỡng Tấn Nam Bắc triều Phật giáo sử (Thang dụng đồng); Bồ đề đạt ma đích Nhị nhập tứ hạnh thuyết dữ Kim cương tam muội kinh (Thủy dã Hoằng nguyên soạn, Đạt hòa dịch, Phật quang học báo số 4)].

Nhị Nhập Tứ Hành Luận

(二入四行論, Ninyūshigyōron): 1 quyển, tác phẩm được xem như là của Đàm Lâm (曇琳, ?-?), đệ tử của Đạt Ma, ghi lại những giáo thuyết và ngôn hạnh của thầy mình cũng như các nhân vật thời kỳ đầu của Thiền Tông. Nó được trích dẫn trong Tục Cao Tăng Truyện (續高僧傳) của Đạo Tuyên (道宣) và các bản của Đôn Hoàng cũng như Triều Tiên rất nổi tiếng. Bản Đôn Hoàng có S2715, S3375, S7159, P2923, P3018, P4634, P4795. Ngoài ra còn có Bồ Đề Đạt Ma Tứ Hành Luận (菩提達摩四行論) được thâu tập vào trong Thiền Môn Toát Yếu (禪門撮要). Bên cạnh đó, Nhị Nhập Tứ Hành Thuyết còn được thâu lục trong Tục Cao Tăng Truyện (續高僧傳) 16, Lăng Già Sư Tư Ký (楞伽師資記), Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄) 30, Thiếu Thất Lục Môn (少室六門). Nội dung của nó giới thiệu tổng quát con đường dẫn đến giác ngộ thông qua Lý Nhập (理入, lý luận) và Hành Nhập (行入, thật tiễn). Hành Nhập được chia giải thích làm 4 loại, cho nên Lý Nhập là niềm tin cho rằng “thông qua phép quán [bích quán], nếu trừ bỏ được lớp bụi làm che mờ chân tánh vốn sẵn có trong con người thì chân tánh ấy sẽ hiển hiện”. Bốn loại Hành Nhập gồm Báo Oán Hành (報怨行, chấp nhận cái khổ của đời này là kết quả của nghiệp quá khứ), Tùy Duyên Hành (隨緣行, sự vui sướng cũng là nhân duyên quá khứ, không đặt thành vấn đề), Vô Sở Cầu Hành (無所求行, dứt hết mọi chấp trước, không mong cầu được gì cả) và Xưng Pháp Hành (稱法行, thực hành pháp Ba La Mật thanh tịnh). Rõ ràng tư tưởng này cũng chẳng giống gì với Thiền đời sau này, thế nhưng chúng ta có thể công nhận rằng thái độ tôn trọng tư tưởng Như Lai Tạng và tính thật tiễn cũng cọng thông với tư tưởng này.

nhị nhập tứ hành luận

(二入四行論) Tác phẩm, 1 quyển, ngữ lục của Sơ tổ Bồ đề đạt ma. Sách này mới được tìm thấy thời gần đây, chưa có bản nhất định. Hiện có các nguyên bản như: 1. Bản Triều tiên mang tên: Bồ đề đạt ma tứ hạnh luận, gồm 2 loại bản khắc in, 1 vào năm Thiên thuận thứ 8 (1464) và 1 vào năm Long hi thứ 2 (1908). Bản in năm 1908 được thu vào Thiền môn toát yếu. 2. Bản chép tay phát hiện ở Đôn hoàng được cất giữ tại thư viện Bắc kinh. 3. Bản chép tay Đôn hoàng mang các số hiệu: A. Stein 2715 và 3375 được thu giữ tại Bảo tàng viện Luân đôn. 4. Bản chép tay Đôn hoàng mang các số hiệu: P. Pelliot 3018 và 4634 được tàng trữ ở Thư viện quốc gia tại Paris. Phần đầu quyển của 2 bản Đôn hoàng trên đây đều bị rách, cho nên không biết đích xác tên sách là gì. Còn trong Lăng già sư tư kí và Cảnh đức truyền đăng lục thì đều đề là: Bồ đề đạt ma lược biện Đại thừa nhập đạo tứ hạnh, đệ tử Đàm lâm tự. Nhưng, trước thời bản chép tay được tìm thấy ở động Đôn hoàng thì sách này bị ngờ là không phải do Tổ Đạt ma nói; mãi sau khi bài khảo luận Bồ đề đạt ma đích Nhị nhập tứ hạnh thuyết dữ Kim cương tam muội kinh của ông Thủy dã Hoằng nguyên –học giả Nhật bản– xuất hiện, thì giá trị của sách này mới được công nhận, đồng thời cũng được xem là tư liệu chính của Đạt ma truyện, Tuệ khả truyện trong Tục cao tăng truyện do ngài Đạo tuyên soạn. Những bản chép tay ở Đôn hoàng bao gồm Tạp lục bộ, gọi chung là Nhị nhập tứ hạnh luận, nay trở thành 1 bộ duy nhất là Đạt ma ngữ lục. [X. Đạt ma chi ngữ lục (Liễu điền Thánh sơ); Thiền tông sử nghiên cứu (Vũ tỉnh Bá thọ); Đạt ma chi nghiên cứu (Quan khẩu Chân đại); Tứ hạnh luận trường quyển tử dữ Bồ đề đạt ma luận (Điền trung Lương chiêu)]. (xt. Nhị Nhập Tứ Hạnh).

nhị nhị hợp duyên

(二二合緣) Kết hợp 2 pháp lại để quán tưởng. Nghĩa là khi ở giai vị Biệt tướng niệm trụ, hành giả quán tưởng 4 thứ: Thân, Thụ, Tâm, Pháp, thì đem Pháp kết hợp với 3 thứ kia để quán tưởng, gọi là Nhị nhị hợp duyên. Tức là kết hợp Pháp với Thân, với Thụ và với Tâm mà quán tưởng. (xt. Tứ Niệm Trụ).

nhị nữ

(二女) Chỉ cho Công đức thiên nữ và Hắc ám nữ. Công đức thiên nữ có năng lực làm cho tài bảo của người ta dồi dào, còn Hắc ám nữ thì lại hay khiến người ta hao tiền tốn của. Công đức thiên nữ là chị, Hắc ám nữ là em. Hai chị em thường không rời nhau, hễ Công đức thiên nữ ở đâu thì Hắc ám nữ cũng có mặt ở đó. [X. kinh Niết bàn Q.12 (bản Bắc)].

Nhị phiền não

二煩惱; C: èr fánnăo; J: nibonnō;|Hai dạng phiền não. Theo kinh Thắng Man (勝鬘經; s: śrīmālā-sūtra) thì đây là Trú (住) phiền não và Khởi (起) phiền não. Có 4 Trú phiền não và có vô số Khởi phiền não.

nhị phiền não

(二煩惱) Chỉ cho 2 loại phiền não và có các thuyết khác nhau. I. Nhị Phiền Não. Căn bản phiền não và Tùy phiền não. 1. Căn bản phiền não: Chỉ cho hoặc Vô minh. Loại hoặc này là gốc rễ sinh ra tất cả phiền não nên gọi là Căn bản phiền não.2. Tùy phiền não: Chỉ cho Kiến hoặc và Tư hoặc. Hai loại hoặc này thường xuyên đi theo tất cả cảnh nghịch thuận mà khởi lên các phiền não tham, sân, si... nên gọi là Tùy phiền não. [X. luận Du già sư địa Q.55]. II. Nhị Phiền Não. Nội trước phiền não và Ngoại trước phiền não.1. Nội trước phiền não: Chỉ cho các phiền não vì không biết rõ trong tâm mình mà khởi lên chấp trước như: Thân kiến, biên kiến... 2. Ngoại trước phiền não: Chỉ cho các phiền não vì không biết rõ cảnh ở ngoài mình mà khởi lên chấp trước như: Tham, sân, si... [X. luận Đại trí độ Q.7] III. Nhị Phiền Não. Tùy miên phiền não và Hiện hành phiền não.1. Tùy miên phiền não: Chỉ cho các chủng tử vô minh phiền não tiềm phục trong thức A lại da, có năng lực sinh ra tất cả vọng hoặc.2. Hiện hành phiền não: Chỉ cho các phiền não tham, sân, si... do 6 căn đối trước 6 trần cảnh mà hiện khởi. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.8].

nhị phàm

(二凡) Chỉ cho Nội phàm và Ngoại phàm. Trước giai vị Kiến đạo, hành giả Tam thừa còn là địa vị phàm phu, gọi là Phàm vị. Phàm vị được chia làm 2 là Ngoại phàm và Nội phàm. 1. Ngoại phàm: Chỉ cho những người chỉ nghe giáo pháp mà phát tâm tin, như bậc Tam hiền Tiểu thừa hay giai vị Thập tín của Đại thừa. 2. Nội phàm: Chỉ cho những người không những chỉ nghe và tin, mà chân chính tu hành giáo pháp và gần với Thánh vị, như bậc Tứ thiện căn của Tiểu thừa và giai vị Thập trụ trở lên của Đại thừa. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.3].

Nhị phàm phu

二凡夫; C: èrfánfū; J: nibonbu;|Hai loại phàm phu: 1. Nội phàm (内凡): người đã đạt được phần nào sự chứng ngộ chân lí đạo Phật. 2. Ngoại phàm (外凡): những người đang còn bị vướng mắc trong vô minh (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).

nhị pháp

(二法) I. Nhị Pháp. Hai pháp. Chỉ cho 10 cặp Nhị pháp tóm thu hết thảy các pháp. Đó là: Chân tục, Giáo hành, Tín pháp, Thừa giới, Phúc tuệ, Quyền thực, Trí đoạn, Định huệ, Bi trí và Chính trợ. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.6, phần 2]. II. Nhị Pháp. Hai loại pháp. Các pháp được chia làm 2 loại như: Sắc-tâm, nhiễm-tịnh, hữu lậu, vô lậu, hữu vi, vô vi...

nhị pháp chấp

(二法執) Hai pháp chấp: Câu sinh pháp chấp và Phân biệt pháp chấp. 1. Câu sinh pháp chấp: Từ vô thủy đến giờ, do sức huân tập thành thói quen, nên đối với tất cả pháp thường vọng sinh chấp trước. Loại pháp chấp này sinh ra cùng một lượt với thân, cho nên gọi là Câu sinh pháp chấp và phải đến giai vị Tu đạo mới đoạn trừ hết được. 2. Phân biệt ngã chấp: Đối với các pháp do tà sư, tà giáo nói ra, phân biệt, suy tính rồi chấp là thực pháp, gọi là Phân biệt pháp chấp. Loại pháp chấp này khi hành giả đến giai vị Kiến đạo thì dứt hết. [X. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.4].

nhị pháp tướng vi

(二法相違) Chỉ cho 2 pháp trái ngược nhau: Phiền não và Niết bàn. 1. Phiền não: Chỉ cho các hoặc vô minh, tham ái. Chúng sinh thuận theo phiền não trôi lăn trong dòng sinh tử nên trái với con đường Niết bàn. 2. Niết bàn: Chúng sinh nhàm chán nỗi khổ sinh tử, tu tập hạnh thanh tịnh, đoạn trừ các phiền não chứng đại Niết bàn, cho nên trái với các hoặc vô minh. [X. luận Du già sư địa Q.92].

nhị phúc

(二福) Chỉ cho Phạm phúc và Thánh phúc. Phạm phúc là phúc đức của Đại phạm thiên vương, còn Thánh phúc là phúc đức của quả Thánh Tam thừa. [X. Pháp hoa văn cú Q.10].

nhị phúc điền

(二福田) Chỉ cho 2 thứ ruộng phúc và có các thuyết khác nhau. I. Nhị Phúc Điền. Học nhân điền và Vô học nhân điền. 1. Học nhân điền: Chỉ cho bậc Thánh tu học Thánh đạo từ giai vị Kiến đế trở về sau. Ở đây căn cứ theo Thánh vị khác nhau mà có 18 bậc, gọi là Thập bát hữu học. 2. Vô học nhân điền: Chỉ cho bậc Thánh đã chứng được quả cùng tột, không còn gì để tu học. Tùy theo căn tính khác nhau mà có 9 bậc Thánh Vô học, gọi là Cửu A la hán. Cứ theo kinh Phúc điền trong Trung a hàm quyển 30, các bậc Hữu học và Vô học đều là bậc Thánh chân chính đáng tôn kính. Các Ngài là ruộng phúc của người đời, nếu cúng dường các Ngài thì sẽ được phúc. II. Nhị Phúc Điền. Bi điền và Kính điền. 1. Bi điền: Những người nghèo cùng khốn khổ là ruộng phúc đáng được giúp đỡ với lòng từ bi(tức nếu có lòng thương giúp đỡ những người này thì được phúc). 2. Kính điền: Tức Tam bảo là ruộng phúc đáng được cúng dường với tâm cung kính.[X. Trí giả đại sư biệt truyện]. III. Nhị Phúc Điền. Hữu tác phúc điền và Vô tác phúc điền. 1. Hữu tác phúc điền: Vì muốn được phúc báo mà tu hành. 2. Vô tác phúc điền: Chỉ vì khởi tâm cung kính mà tu hành, chứ không có ý niệm muốn được phúc báo. [X. kinh Đại phương tiện Phật báo ân Q.5].IV. Nhị Phúc Điền. Kính điền và Ân điền. 1. Kính điền: Cung kính cúng dường Tam bảo sẽ được vô lượng phúc đức. 2. Ân điền: Cha mẹ có ơn sinh thành và nuôi nấng, thầy tổ có ơn dạy dỗ nên người, cung kính cúng dường các bậc này thì không những để báo ân mà còn được phúc đức. [X. kinh Đại phương tiện Phật báo ân Q.3].

nhị phương tiện

(二方便) I. Nhị Phương Tiện. Chỉ cho Thế gian thiện xảo phương tiện và Xuất thế gian thiện xảo phương tiện. 1. Thế gian thiện xảo phương tiện, gọi tắt: Thế gian phương tiện. Nghĩa là những phương tiện khéo léo, vì muốn mang lại lợi ích cho mình và cho người, mà Bồ tát tạm đặt ra. Bởi phương tiện này còn có sở đắc, có chấp trước, nên gọi là Thế gian thiện xảo phương tiện. 2. Xuất thế gian thiện xảo phương tiện, gọi tắt: Xuất thế gian phương tiện. Nghĩa là những phương tiện thiện xảo, chỉ vì muốn làm lợi cho người, mà Bồ tát thị hiện ra. Bởi phương tiện này không còn sở đắc, không chấp trước, nên gọi là Xuất thế gian thiện xảo phương tiện. [X. kinh Đại thừa đại tập Địa tạng thập luân Q.10; Đại minh tam tạng pháp số Q.6]. II. Nhị Phương Tiện. Chỉ cho Tế tác phương tiện và Bất niệm phương tiện. Mục đích của 2 Phương tiện này là nhằm phá trừ sự chấp trước của chúng sinh đối với ảnh tượng của sắc thân. 1. Tế tác phương tiện: Phương tiện khéo léo phân tích 3 nghìn đại thiên thế giới thành những hạt bụi nhỏ để chỉ rõ sắc thân này vốn là giả hợp. 2. Bất niệm phương tiện: Các kinh nói bụi nhỏ chẳng là bụi nhỏ mới chính là bụi nhỏ, dùng phương tiện hiểu được như vậy mới không sinh niệm tưởng, xa lìa sự chấp trước đối với các tướng của sắc thân. [X. Kim cương bát nhã ba la mật kinh luận Q.trung; Đại minh tam tạng pháp số Q.6].III. Nhị Phương Tiện. Chỉ cho Thể nội phương tiện và Thể ngoại phương tiện, do tông Thiên thai thành lập.1. Thể nội phương tiện: Phương tiện dùng để hiển bày pháp chân thực, mở phương tiện tức chân thực. Đây là loại phương tiện được nói trong kinh Pháp hoa. 2. Thể ngoại phương tiện: Phương tiện này đối lại với chân thực, tức là Phương tiện ngoài chân thực. Đây là loại phương tiện được nói trong các kinh khác. [X. Pháp hoa văn cú Q.3; Thùy dụ kí Q.2].

nhị phạm

(二犯) Cũng gọi Chỉ tác nhị phạm. Đối lại: Nhị trì. Chỉ cho 2 hình thức phạm giới: Chỉ phạm và Tác phạm. 1. Chỉ phạm: Nhàm chán các hành nghiệp thù thắng mà không tu học, vì không làm các thiện pháp nên phạm giới thể. 2. Tác phạm: Làm những việc trái với giới luật đã thụ, vì làm các pháp ác mà phạm giới thể. Trong Tứ phần luật hành sự sao quyển trung, ngài Đạo tuyên giải thích về Nhị phạm như sau: a) Tác phạm: Tác là cổ động thân, khẩu trái với lí Chí cảnh; Phạm là làm những điều trái với giới luật đã thụ, phạm do tác mà sinh nên gọi là Tác phạm. b) Chỉ phạm: Chỉ là tâm si mê biếng nhác, trái với giới luật đã thụ, nhàm chán những thắng nghiệp, không tu tập, thế là chỉ (ngưng chỉ, đình chỉ); vì chỉ trái với giới luật đã thụ nên gọi là Chỉ phạm. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung].

nhị phần gia

(二分家) Chỉ cho thuyết Hai phần do Luận sư Nan đà thành lập. Thuyết này chủ trương Tâm thức nhị phần, tức là khi tâm thức khởi tác dụng nhận biết thì sanh ra Tướng phần và Kiến phần khác nhau. Ngoài ra còn có Nhất phần thuyết của ngài An tuệ, Tam phần thuyết của ngài Trần na và Tứ phần thuyết của ngài Hộ pháp. (xt. Tứ Phần).

nhị phật tinh toạ

(二佛幷坐) Hai đức Phật cùng ngồi chung 1 tòa. Chỉ cho đức Phật Đa bảo và Phật Thích ca cùng ngồi trong tháp báu trên núi Linh thứu khi đức Phật Thích ca tuyên thuyết kinh Pháp hoa. Phật Đa bảo biểu thị Pháp thân Phật và Định, Phật Thích ca biểu thị Báo thân Phật và Tuệ. Nhị Phật tịnh tọa biểu thị cho Pháp Báo bất nhị, Định Tuệ nhất như.

nhị phật trung gian

(二佛中間) Khoảng giữa 2 đức Phật. Tức chỉ cho khoảng thời gian từ khi đức Phật Thích ca nhập diệt đến lúc Phật Di lặc ra đời. Trong thời gian này không có Phật trụ thế, nên người đời không được trực tiếp nghe Phật nói pháp.

nhị phật tính

(二佛性) Chỉ cho 2 loại Phật tính: Lí Phật tính và Hạnh Phật tính. 1. Lí Phật tính: Tức là Phật tính mà tất cả chúng sinh đều có sẵn. 2. Hạnh Phật tính: Chỉ cho những chủng tử vô lậu trong thức A lại da. Lí Phật tính thì hết thảy chúng sinh đều có, tuy nhiên, nếu chúng sinh không có Hạnh Phật tính thì mãi mãi không thể thành Phật.[X. Phật địa kinh luận Q.2; Thành duy thức luận xu yếu Q.thượng, phần đầu]. (xt. Phật Tính).

Nhị phọc

二縛; C: èrfú; J: nibaku;|Hai loại ràng buộc: Tương ưng phọc và Sở duyên phọc. Từ điển Phật Quang còn liệt kê ba cặp khác của Nhị phọc (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).

nhị phọc

(二縛) Chỉ cho 2 sự ràng buộc. I. Nhị Phược. Tương ứng phược và Sở duyên phược. 1. Tương ứng phược: Sự ràng buộc của Kiến hoặc, Tu hoặc, như 10 Tùy miên (ngũ kiến, tham, sân, mạn, nghi, vô minh) của Khổ đế ở cõi Dục, làm cho Tâm, Tâm sở tương ứng cùng khởi không được tự do duyên theo các cảnh sở duyên. 2. Sở duyên phược: Phiền não duyên cảnh có thế lực mạnh, ràng buộc cảnh sở duyên khiến không được tự tại, như 10 Tùy miên của Khổ đế ở cõi Dục ràng buộc lẫn nhau mà trở thành Sở duyên phược đồng bộ; rồi phiền não Biến hành của Tập đế ràng buộc pháp của Khổ đế mà trở thành Sở duyên phược dị bộ... [X. luận Đại tì bà sa Q.86; Câu xá luận quang kí Q.1]. (xt. Sở Duyên Phược). II. Nhị Phược. Tướng phược và Thô trọng phược. 1. Tướng phược: Tướng phần của sở duyên gây trở ngại cho tâm của Kiến phần năng duyên, làm mất tự do, không thấy rõ được cảnh tướng như huyễn. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng quyển 5, phần đầu, cho rằng Tướng phược có 3 loại là: Tất cả tướng phần đều là Tướng phược, hoặc chỉ có tướng phần hữu lậu là Tướng phược, hoặc khi tu Lục độ chấp tướng Tam luân là Tướng phược. 2. Thô trọng phược: Tính không dịu dàng nhỏ nhẹ nên gọi là Thô trọng, tức là tính rất cứng rắn, hay trói buộc thân tâm chúng sinh trong sinh tử, hoặc khiến chúng sinh không thấy rõ các pháp như huyễn. Về thể tính của Tướng phược và Thô trọng phược tuy có nhiều thuyết, nhưng tựu trung đều cho rằng chủng tử của Phiền não chướng và Sở tri chướng là thể tính của Tướng phược và Thô trọng phược. III. Nhị Phược. Năng duyên phược và Sở duyên phược. 1. Năng duyên phược: Cảnh sở duyên (đối tượng khách quan) bị tâm năng duyên (chủ thể chủ quan) trói buộc. 2. Sở duyên phược: Tâm năng duyên bị cảnh sở duyên gây trở ngại. [X. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.5, phần đầu]. IV. Nhị Phược. Chỉ cho Tử phược và Quả phược. 1. Tử phược: Kiến hoặc và Tư hoặc là chủng tử (nhân) khiến chúng sinh thụ sinh trong 3 cõi, nên gọi là tử; vì đó mà không thể ra khỏi 3 cõi, nên gọi là phược (trói buộc). 2. Quả phược: Vì nghiệp đời trước chiêu cảm mà có thân 5 uẩn, nên gọi là Quả. Thân này bị trói buộc trong 3 cõi nên gọi là phược. Trong Tứ đế, Tập đế là Tử phược, Khổ đế là Quả phược. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 3, thượng, cho rằng nếu không dứt được 2 phược này thì không thể chứng được quả Thanh văn. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần đầu].

nhị quang

(二光) Hai thứ ánh sáng từ nơi các đức Phật phát ra. I. Nhị Quang. Chỉ cho Sắc quang và Tâm quang. 1. Sắc quang, cũng gọi Thân quang: Ánh sáng phát ra từ thân đức Phật, mắt thường có thể trông thấy. 2. Tâm quang, cũng gọi Trí tuệ quang: Ánh sáng từ trí tuệ của Phật phóng ra, có năng lực che chở cho chúng sinh. [X. Lục yếu sao Q.3, phần cuối]. II. Nhị Quang. Chỉ cho Thường quang và Thần thông quang. 1. Thường quang: Ánh sáng phát ra từ thân chư Phật, như ánh sáng rộng 1 tầm của đức Thích ca và ánh sáng vô lượng của Phật A di đà. 2. Thần thông quang: Ánh sáng do chư Phật dùng thần lực phóng ra cho chúng sinh đặc thù nào đó.

nhị quy giới

(二歸戒) Hai qui giới. Chỉ cho qui y Phật và qui y Pháp. Nghĩa là lúc đức Phật mới thành đạo chưa có Tăng bảo, cho nên chỉ lãnh thụ có 2 qui y. [X. Thích thị yếu lãm Q.thượng]. (xt. Tam Qui Y).

nhị quyết định nghĩa

(二决定義) Hai nghĩa quyết định: Thẩm nhân tâm quả giác và Thẩm phiền não căn bản. A nan không biết rằng nhân tâm mà chúng sinh vốn có tức là quả giác...... mà Như lai đã chứng, rằng quả giác mà Như lai đã chứng chính là nhân tâm sẵn có của chúng sinh, vì thế đức Như lai bảo tôn giả A nan quán xét cho thật kĩ để biết chắc rằng nhân tâm và quả giác xưa nay vốn không khác. Nếu có thể lấy ngay cái tâm không khác này làm căn bản để tiến tu thì quả Giác ngộ vô thượng quyết định sẽ thành tựu. 2. Thẩm phiền não căn bản: Xét rõ gốc rễ phiền não. Vì tôn giả A nan không biết rõ gốc rễ của phiền não, cứ tùy theo nghiệp đã tạo mà chịu sinh tử, không biết bao giờ được giải thoát, cho nên đức Phật bảo tôn giả phải quán xét cho thật kĩ, để thấy rõ 1 cách quyết định rằng, thể tính phiền não và nghiệp đã tạo tác, cũng như quả báo phải chịu, xưa nay vốn hư giả không thật. Nếu có thể thấy suốt đến tận đáy nguồn của sự điên đảo này thì chính hạnh chắc chắn được thành lập và quyết định sẽ chứng đắc vô thượng Niết bàn.

nhị quán hạnh

(二觀行) Cũng gọi Duy thức quán. Chỉ cho 2 pháp quán: Tầm tứ và Chân như.1. Tầm tứ: Tìm kiếm, dò xét. Tầm là tác dụng tinh thần tìm cầu của tâm thô mạnh; Tứ là tác dụng tinh thần phân biệt của tâm vi tế. Nghĩa là tâm do căn trần đối nhau mà khởi lên 1 niệm, tức là dùng 3 pháp quán Không, Giả, Trung để quán xét. 2. Chân như: Chân là không hư dối, Như là không sai khác. Tức là dùng diệu quán mà quán xét lí chân như vốn có đủ trong tâm tính khiến cho nó hiển phát.

Nhị quả

二果; C: èrguǒ; J: nika;|Có hai nghĩa: 1. Nhất lai, quả vị thứ hai trong bốn quả vị (Tứ quả 四果) của Tiểu thừa; 2. Hai quả vị đầu trong bốn quả vị của Tiểu thừa: Dự lưu (預流) và Nhất lai (一來).

nhị quả

(二果) I. Nhị Quả. Chỉ cho Tập khí quả và Báo quả. 1. Tập khí quả, cũng gọi Sở y quả. Tương đương với Đẳng lưu quả. Do khí phần huân tập thiện ác ở đời trước mà chiêu cảm quả báo ở đời này, gọi là Tập khí quả. Như đời trước làm thiện thì đời này có tâm thiện; đời trước tạo ác thì đời này mang tâm ác. 2. Báo quả: Tương đương với Dị thục quả. Do đời trước gieo nhân thiện ác mà đời này cảm quả báo khổ vui, gọi là Báo quả. Như đời trước gieo nhân lành thì đời này được quả vui sướng, giầu có; đời trước gây nhân ác thì đời này cảm quả khổ đau, nghèo khó... [X. Câu xá thích luận Q.3, 5; Đại minh tam tạng pháp số Q.6]. II. Nhị Quả. Chỉ cho Tăng thượng quả và Dị thục quả. 1. Tăng thượng quả: Năm căn là chỗ nương của thức, căn hàm ý là thêm lên, cho nên gọi là Tăng thượng quả. Lại như ý thức hay dẫn sinh ra niệm trước làm chỗ nương cho niệm sau của 5 thức trước và thức thứ 7 (Phân biệt thức), thức thứ 8(Tàng thức)làm chỗ nương cho thức thứ 7, cho nên đều gọi là Tăng thượng quả. 2. Dị thục quả: Quả báo chín mùi ở thời gian khác. Có thể chia ra 2: a) Chân dị thục: Thức thứ 8 có năng lực chứa đựng tất cả chủng tử của các pháp để thành thục quả của các căn thức. Đây là nghiệp báo chung của đời trước đối với quả báo của đời này. b) Dị thục sinh: Từ chủng tử trong thức thứ 8 sinh ra các căn thức tức là nghiệp báo riêng của đời trước đối với quả báo ở đời này.[X. Đại minh tam tạng pháp số Q.6]. III. Nhị Quả. Phạm: Sakfdàgamin. Quả thứ 2 trong 4 quả Thanh văn, tức là quả Nhất lai; dịch âm là Tư đà hàm. (xt. Tư Đà Hàm).

nhị quả nhị nghĩa

(二果二義) Hai nghĩa của quả vị Tư đà hàm: 1. Nhất vãng thiên thượng(Một lần sinh lên cõi trời): Bậc Thánh Tư đà hàm(Nhị quả) vẫn còn 3 phẩm hoặc ở cõi Dục, còn phải sinh ra 1 lần nữa để đoạn trừ hết. Nếu được Nhị quả ở cõi người, thì phải 1 lần sinh lên cõi trời và 1 lần sinh xuống nhân gian nữa mới chứng được Tam quả(A na hàm), gọi là Nhất vãng thiên thượng. 2. Nhất vãng nhân gian(Một lần sinh xuống nhân gian): Nếu bậc Thánh được Nhị quả ở trên cõi trời, thì phải 1 lần sinh xuống nhân gian và 1 lần sinh lên cõi trời nữa mới chứng Tam quả, gọi là Nhất vãng nhân gian.[X. luận Câu xá Q.24].

nhị song tứ trọng

(二雙四重) Hai đôi bốn lớp: Thụ xuất và Hoành xuất; Thụ siêu và Hoành siêu. Thụ xuất, Hoành xuất gọi là Nhị xuất; Thụ siêu, Hoành siêu gọi là Nhị siêu. Đây là giáo phán của Tịnh độ chân tông Nhật bản, do Sơ tổ Thân loan thành lập. Cứ theo Ngu thốc sao quyển thượng, giáo pháp do đức Phật nói trong 1 đời được chia làm Thánh đạo giáo và Tịnh độ giáo, trong đó, có Đại thừa và Tiểu thừa khác nhau. Trong Đại thừa lại chia thành Đốn giáo và Tiệm giáo, lại Đốn, Tiệm mỗi giáo đều lập Nan hành đạo và Dị hành đạo. Trong Tiệm giáo, Nan hành đạo Thánh đạo quyền giáo gọi là Thụ xuất, phối hợp với giáo pháp tu hành trải qua nhiều kiếp của tông Pháp tướng; còn gọi Dị hành đạo Tịnh độ yếu môn thì gọi là Hoành xuất, phối hợp các pháp định tán, tam phúc, biên địa vãng sinh nói trong kinh Quán vô lượng thọ. Trong Đốn giáo, Nan hành đạo Thánh đạo thực giáo gọi là Thụ siêu, phối hợp với giáo pháp Tức thân thành Phật của Thiền, Chân ngôn, Thiên thai, Hoa nghiêm...; còn Dị hành đạo Tịnh độ bản nguyện chân thực thì gọi là Hoành siêu, phối hợp với giáo pháp Tuyển trạch bản nguyện chân thực báo độ tức đắc vãng sinh được nói trong kinh Vô lượng thọ. Trong đó, Tiệm giáo là xuất, Đốn giáo là siêu, Tự lực Thánh đạo là thụ, Tha lực Tịnh độ là hoành. Ngoài ra, từ ngữ Hoành siêu có nguồn gốc từ nhóm từ Hoành tiệt ngũ ác thú(cắt ngang 5 đường ác)trong kinh Vô lượng thọ quyển thượng và Hoành siêu đoạn tứ lưu (vượt ngang dứt 4 dòng – dục, tham, tà kiến, vô minh), trong Huyền nghĩa phần Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ quyển 1 của ngài Thiện đạo. Từ ngữ Thụ siêu là đối lại với 2 nhóm từ trên mà được lập ra. Còn các từ Thụ xuất và Hoành xuất thì có nguồn gốc từ thuyết Hoành thụ nhị xuất trong Lạc bang văn loại quyển 4 của ngài Tông hiểu (1151-1214) đời Tống.

nhị sư

(二師) I. Nhị Sư. Chỉ cho 2 bậc Đại đạo sư: Đức Thích ca Như lai và đức Đa bảo Như lai. II. Nhị Sư. Chỉ cho Thánh sư và Phàm sư. Thánh sư là những bậc có đủ 3 năng lực: Mắt tuệ, mắt pháp, dẫn đường. Còn các vị phàm sư thì không có 3 năng lực nói trên. [X. Ma ha chỉ quán Q.5, phần 2].

nhị tam

(二三) Hai lần 3 là 6. Chỉ cho Lục sư ngoại đạo. Nhị tam có xuất xứ từ nhóm từ Nhị tam tà đồ trong Tam luận đại nghĩa sao quyển 1 của ngài Huyền duệ –người Nhật bản– nói về 6 phái ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa.(xt. Lục Sư Ngoại Đạo).

nhị thiên

(二天) I. Nhị Thiên. Chỉ cho Nhật thiên và Nguyệt thiên. II. Nhị Thiên. Chỉ cho 2 vị trời Đồng sinh và Đồng danh. Hai vị trời này sinh đồng thời với người, cùng tên với người, thường theo làm bạn với người. Kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) quyển 60 (Đại 10, 324 thượng) nói: Như người sau khi sinh, có 2 vị trời thường đi theo, 1 là Đồng sinh, 2 là Đồng danh. Trời thường thấy người, người thường thấy trời. III. Nhị Thiên. Chỉ cho Phạm thiên và Đế thích thiên. IV. Nhị thiên. Chỉ cho 2 vị Vương tôn, tức là tượng của 2 vị Lực sĩ Kim cương bảo vệ già lam đứng ở 2 bên cổng chùa. (xt. Nhị Vương Tôn).

nhị thiên phổ hiền hành pháp

(二千普賢行法) Gọi tắt: Nhị thiên hành pháp. Chỉ cho 2.000 hành pháp do bồ tát Phổ hiền trả lời 200 câu hỏi của bồ tát Phổ tuệ, mỗi câu hỏi có 10 câu trả lời, được chỉ bày bằng quá trình thực hành 6 giai vị: Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa và Diệu giác được nói trong phẩm Li thế gian của kinh Hoa nghiêm quyển 13 (bản dịch mới). Hai trăm câu hỏi được sắp xếp như sau: 20 câu hỏi về sự tu hành Thập tín, 20 câu hỏi về sự tu hành Thập trụ, 30 câu hỏi về sự tu hành Thập hạnh, 29 câu hỏi về sự tu hành Thập hồi hướng, 50 câu hỏi về việc tu hành Thập địa và 51 câu sau cùng hỏi về việc tu hành trong giai vị cứu cánh nhân viên quả mãn. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 17 của ngài Pháp tạng chia 2.000 hành pháp Phổ hiền này thành 5 môn: Nhân quả, Hành vị, Phổ biệt, Hỗ nhiếp và Hành tướng. [X. Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.4, phần cuối].

nhị thiên tam tiên

(二天三仙) Từ gọi chung 2 vị trời và 3 vị tiên. - Nhị thiên: Đại tự tại thiên (Phạm: Mahezvara) và Tì nữu thiên (Phạm: Viwịu), là 2 vị thần cao nhất trong Ấn độ giáo.- Tam tiên: Chỉ cho 3 vị tiên nhân hoặc 3 vị triết nhân: Ca tì la (Phạm:Kapila), Tổ của học phái Số luận, Ưu lâu tăng khư (Phạm:Ulùka), Tổ của học phái Thắng luận và Lặc sa bà (Phạm:Fwadha), Tổ của phái Ni kiền tử. Nói theo lập trường của Phật giáo thì 2 vị trời và 3 vị tiên này đều thuộc về ngoại đạo chấp trước vọng kiến. [X. Trung luận Q.1; Bách luận Q.1; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.10].

nhị thiền

(二禪) I. Chỉ thiện và Hành thiện: 1. Chỉ thiện: Cái thiện tránh làm điều ác, không phạm tội lỗi. 2. Hành thiện: Cái thiện tu tạo thiện căn, tích cực làm các việc lành. [X. Bồ tát giới kinh nghĩa sớ Q.thượng; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.thượng]. II. Định thiện và Tán thiện: 1. Định thiện: Tâm tĩnh lặng, dứt niệm lự, quán xét y báo chính báo Tịnh độ, gọi là Định thiện, tức dùng tâm thiền định tu tập thiện nghiệp. 2. Tán thiện: Điều hòa thân, khẩu, ý để bỏ ác tu thiện, gọi là Tán thiện, tức thiện nghiệp được tu tập bằng tâm tán loạn. Đại sư Thiện đạo đời Đường giải thích 16 pháp quán tưởng trong kinh Quán vô lượng thọ cho rằng 13 pháp quán trước là Định thiện, 3 pháp quán sau là Tán thiện. [X. phần Huyền nghĩa trong Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ Q.1]. III. Vị sinh thiện và Dĩ sinh thiện: 1. Vị sinh thiện: Chưa từng tu tập thiện pháp như giới, định, tuệ... 2. Dĩ sinh thiện: Đã từng tu tập các thiện pháp. [X. luận Đại trí độ Q.48] IV. Sự thiện và Líthiện: 1. Sự thiện: Cái thiện thông thường như không làm việc ác. 2. Lí thiện: Cái thiện sâu xa, như diệt trừ những điều mê lầm về lí. Tạng giáo là Sự thiện của giới nội, Thông giáo là Lí thiện của giới nội; Biệt giáo là Sự thiện của giới ngoại; Viên giáo là Lí thiện của giới ngoại. Đây đều dựa theo sự cạn, sâu đối đãi mà chia ra Sự và Lí. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.5, phần đầu].

nhị thiền thiên

(二禪天) Cũng gọi Nhị tĩnh lự. Cõi trời của những người tu Nhị thiền thành tựu sinh lên, là tầng trời thứ 2 trong cõi Sắc. Tầng này lại được chia làm 3 cõi trời là: Trời Thiểu quang, trời Vô lượng quang và trời Quang âm. Người ở cõi Nhị thiền tuy đã lìa 2 tâm sở tầm và tứ thô động của Sơ thiền, có thể tránh khỏi đại hỏa tai của kiếp mạt, nhưng vì vẫn còn có niệm hỉ, lạc nên không tránh khỏi đại thủy tai của kiếp mạt. [X. luận Câu xá Q.12].

nhị thiện

(二善) Phạm:Dvitìva-dhyàna. Chỉ cho Thiền định thứ 2 trong 4 thiền định ở cõi Sắc. Người chứng Nhị thiền tâm định trong sáng, không còn các tâm sở tầm, tứ và cảm nhận 2 thụ hỉ, lạc trong 3 thụ, vì thế nên Nhị thiền còn được gọi là Định sinh hỉ lạc.[X. luận Câu xá Q.28]. (xt. Tứ Thiền).

nhị thiện tam phúc

(二善三福) Hai thiện ba phúc. Tức các thiện căn nói trong kinh Quán vô lượng thọ. Nhị thiện: Định thiện và Tán thiện. Tam phúc: Thế phúc, Giới phúc và Hành phúc. (xt. Nhị Thiện, Tam Phúc).

nhị thuyên

(二詮) Chỉ cho 2 phương thức giải thích rõ ý nghĩa của các sự vật. Đó là: 1. Già thuyên: Dùng phương thức phủ định để hiển bày 1 ý nghĩa nào đó. 2. Biểu thuyên: Dùng phương thức khẳng định để thuyết minh. (xt. Già Thuyên Biểu Thuyên).

nhị thuỷ

(二始) Hai sự khởi đầu. Chỉ cho sự khởi đầu của Tiểu thừa và Đại thừa. Đây là thuyết của tông Thiên thai. 1. Đức Phật nói kinh A hàm ở vườn Lộc dã, đó là khởi đầu của Tiểu thừa giáo. 2. Đức Phật nói kinh Hoa nghiêm ở đạo tràng Tịch diệt, đó là khởi đầu của Đại thừa giáo.

nhị thân

(二親) I. Nhị Thân. Chỉ cho 2 loại Phật thân. 1. Sinh thân và Hóa thân: a) Sinh thân: Thân Phật giáng sinh trong cung vua, xuất gia tu hành thành đạo. b) Hóa thân: Các loại thân như trời, người, rồng, quỉ... do Phật dùng sức thần thông biến hóa ra để độ sinh. 2. Sinh thân và Pháp thân: a) Sinh thân: Theo thuyết Tiểu thừa là thân giáng sinh trong cung vua, còn theo thuyết Đại thừa thì là thân ứng hóa tùy cơ hiện sinh. b) Pháp thân: Theo thuyết Tiểu thừa là công đức giới, định, tuệ; còn theo Đại thừa thì là chân thân lí và trí thầm hợp. Tức trong 3 thân thì Pháp thân và Báo thân hợp chung lại làm Pháp thân, còn Ứng thân là Sinh thân.[X. kinh Đại niết bàn Q.34 (bản Bắc); luận Đại trí độ Q.9; Đại thừa nghĩa chương Q.19]. 3. Pháp thân và Giải thoát thân: a) Pháp thân: Thân có vô lượng công đức thù thắng. b) Giải thoát thân: Thân xa lìa sự trói buộc của các phiền não. [X. kinh Giải thâm mật Q.5; luận Du già sư địa Q.78]. 4. Pháp tính thân và Ứng hóa pháp thân, cũng gọi Nhị chủng pháp thân. a) Pháp tính thân: Thực trí từ pháp tính lưu xuất. b) Ứng hóa pháp thân: Tất cả thân từ pháp tính ứng hiện. Hai loại thân này chung cho cả Phật và hàng Bồ tát Thập địa. [X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng]. 5. Tịch tĩnh pháp giới thân và Nhân thân. 6. Pháp tính thân và Phụ mẫu sinh thân, cũng gọi Pháp tính sinh thân và Tùy thế gian thân, Pháp tính sinh thân Phật và Tùy chúng sinh ưu liệt hiện hóa Phật, Chân thân và Hóa thân. a) Pháp tính thân: Thân tướng hảo trang nghiêm, có vô lượng ánh sáng và âm thanh. b) Phụ mẫu sinh thân: Thân vì chúng sinh mà chịu các tội báo. [X. luận Đại trí độ Q.9]. 7. Ngôn thuyết pháp thân và Chứng đắc pháp thân: a) Ngôn thuyết pháp thân: Pháp thân vốn vô tướng, lìa các ngôn thuyết, nhưng nếu không nhờ ngôn thuyết thì không hiển bày, vì thế nên gọi là Ngôn thuyết pháp thân. b) Chứng đắc pháp thân: Pháp thân vốn đầy đủ, nhưng vì các phiền não vô minh che lấp nên không hiển hiện, nhờ có tu hành mới chứng được, nên gọi là Chứng đắc pháp thân.[X. Kim cương bát nhã kinh luận Q.thượng]. 8. Chân Phật và Phi chân Phật: Chỉ cho Pháp thân và Ứng hóa thân. Pháp thân là Phật gốc, Ứng hóa thân là Phật ngọn, vì thế chia ra Chân và Phi chân. [X. Kim cương bát nhã kinh luận Q.thượng]. 9. Như lưu tinh thân và Như nhật thân: a) Như lưu tinh thân: Thân như sao băng, đi đến thế giới ở các phương khác. b) Như nhật thân: Thân như mặt trời ở giữa hư không, đồng thời chiếu sáng khắp tất cả mọi nơi. [X. Thập địa kinh luận Q.1]. 10. Pháp tính pháp thân và Phương tiện pháp thân: a) Pháp tính pháp thân: Thân từ Phương tiện pháp thân sinh ra. b) Phương tiện pháp thân: Thân từ Pháp tính pháp thân sinh ra. [X. Vãng sinh luận chú]. 11. Thực tướng thân và Vị vật thân: a) Thực tướng thân: Thân do đức Phật tự chứng. b) Vị vật thân: Thân vì hóa độ chúng sinh mà thị hiện. [X. Vãng sinh luận chú]. (xt. Thực Tướng Thân Vị Vật Thân). 12. Chân thân và Ứng thân: a) Chân thân: Trí đức của chính mình, tức là Pháp thân. b) Ứng thân, cũng gọi Cộng thế gian thân: Thân vì độ thoát chúng sinh mà hóa hiện.[X. Đại thừa nghĩa chương Q.19; Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm Q.3]. 13. Lí pháp thân và Trí pháp thân: a) Lí pháp thân: Lí là tính đức, tức thể tính trong sáng xưa nay vốn lìa niệm, cũng như hư không, chư Phật và chúng sinh đều cùng 1 tướng, gọi là Lí pháp thân. b) Trí pháp thân: Trí là tu đức, tức trí thủy giác cứu cánh khế hợp với lí của bản giác thanh tịnh, lí và trí dung hòa, sắc và tâm chẳng hai, nên gọi là Trí pháp thân. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.4]. II. Nhị Thân. Chỉ cho Phần đoạn thân và Biến dịch thân.Phần đoạn thân là thân phần đoạn sinh tử; Biến dịch thân là thân biến dịch sinh tử. (xt. Sinh Tử).

nhị thí

(二施) I. Nhị Thí. Chỉ cho Tài thí và Pháp thí: Cho của và cho pháp. Phẩm Pháp tính trong kinh Đại bát nhã quyển 569 so sánh sự hơn kém giữa 2 thứ bố thí này như sau (Đại 7, 942 thượng): Cho của thì có lúc hết, cho pháp thì vô cùng. Vì sao? Vì cho của chỉ được quả báo thế gian. Quả vui cõi người, cõi trời được đó, mất đó, nay tuy tạm được nhưng mai này chắc chắn sẽ mất, còn nếu cho pháp thì được cái chưa từng được. II. Nhị Thí. Chỉ cho Thực thí và Pháp thí: Cho ăn và cho pháp. Kinh Tiến học (Đại 17, 744 trung) nói: Lại có nhị thí: Thức ăn uống ngon ngọt để nuôi thân mệnh; giảng diễn kinh điển, mở bày chỗ sâu kín, vui vẻ lắng nghe. Ăn nuôi sống thân thể, pháp thăng hoa tinh thần, 2 việc tuy đều lợi lạc nhưng pháp là hơn.

nhị thù thắng

(二殊勝) Hai điều thù thắng, đặc biệt hơn hết. Đó là: 1. Trên hợp với giác tâm mầu nhiệm của chư Phật: Giác tâm vốn nhiệm mầu, tức là chân tâm bản nhiên trong sáng rõ suốt của chư Phật. Bồ tát cực chứng tịch diệt, 10 phương tròn sáng, thể đồng với chư Phật, cho nên có năng lực phát khởi đồng thể đại từ ban niềm vui cho hết thảy chúng sinh, hiện thân khắp 10 phương thuyết pháp độ cả thánh phàm, có nguyện thì được như ý, nên gọi là Thù thắng. 2. Dưới hợp với chúng sinh cùng 1 tâm thương xót: Lí viên thông mà Bồ tát chứng được và tâm bản hữu của chúng sinh tuy có mê ngộ khác nhau, nhưng thể tính thì vẫn là 1, cho nên Bồ tát có năng lực phát khởi tâm đồng thể đại bi diệt trừ khổ não cho chúng sinh, thầm ứng hiện khắp 10 phương, bố thí vô úy cho hết thảy, nếu ai có mong cầu điều gì thì đều được toại nguyện, nên gọi là Thù thắng. [X. kinh Lăng nghiêm Q.6].

nhị thất mạn đồ la

(二七曼荼羅) Chỉ cho Mạn đồ la Ngũ luân cửu tự do ngài Giác tông, người Nhật truyền. Ngũ tự luân và cửu tự minh hợp thành 14 luân nên gọi là Nhị thất. Ngũ luân cửu tự minh bí mật thích (Đại 79, 11 thượng) nói: Nhị thất Mạn đồ la là pháp nội chứng của Đế vương Đại nhật, là tâm của đức Di đà Thế tôn, là phổ môn của bậc Đại giác đời hiện tại, là con đường vãng sinh xuôi thuận. Cửu tự minh tức là chân ngôn của đức Phật A di đà: Án A mật lí đa đế tế ha la hồng.

nhị thập bát bộ chúng

(二十八部衆) Gọi đủ: Thiên thủ Quan âm nhị thập bát bộ chúng. Chỉ cho 28 bộ chúng quyến thuộc của đức Thiên thủ Quan âm, gồm Thiện thần, Long vương, Thần mẫu nữ... mỗi vị đều có 500 quyến thuộc. Do các nghi quĩ khác nhau nên tên gọi của 28 bộ chúng được liệt kê cũng khác nhau. Cứ theo kinh Thiên thủ đà la ni (bản dịch của ngài Già phạm đạt ma) thì 28 bộ chúng ấy là: 1. Mật tích kim cương sĩ ô sô quân đồ ương câu thi. 2. Bát bộ lực sĩ thưởng ca la. 3. Ma hê na la diên. 4. Kim cương la đà ca tì la. 5. Bà cấp sa lâu na. 6. Mãn thiện xa bát chân đà la. 7. Tát già ma hòa la. 8. Cưu lan đơn tra bán kì la. 9. Tất bà già la vương. 10. Ứng đức tì đa tát hòa la. 11. Phạm ma tam bát la. 12. Ngũ bộ tịnh cư viêm ma la. 13. Thích vương. 14. Đại biện công đức sa đát na. 15. Đề đầu lại tra vương. 16. Thần mẫu nữ đẳng đại lực chúng. 17. Tì lâu lặc xoa vương. 18. Tì lâu bác xoa tì sa môn. 19. Kim sắc khổng tước vương. 20. Nhị thập bát bộ đại tiên chúng. 21. Ma ni bạt đà la. 22. Tán chi đại tướng phất la bà. 23. Nan đà bạt nan đà. 24. Bà già la long y bát la. 25. Tu la càn thát bà. 26. Ca lâu khẩn na ma hầu la. 27. Thủy hỏa lôi điện thần. 28. Cưu bàn đồ vương tì xá na.

Nhị thập bát thiên

二十八天; C: èrshíbā tiān; J: nijūhatten;|Hai mươi tám tầng trời. Sáu tầng trời cõi Dục (Lục dục thiên 六欲天), mười tám tầng trời cõi Sắc (Sắc giới 色界), và bốn cõi trời Vô sắc (Vô sắc giới 無色界).

nhị thập bát thiên

(二十八天) Chỉ cho 28 tầng trời: Sáu tầng trời cõi Dục, 18 tầng trời cõi Sắc và 4 tầng trời cõi Vô sắc. Sáu tầng trời cõi Dục gồm: Trời Tứ vương, trời Đao lợi, trời Dạ ma, trời Đâu suất, trời Lạc biến hóa và trời Tha hóa tự tại. Mười tám tầng trời cõi Sắc gồm: Trời Phạm chúng, trời Phạm phụ, trời Đại phạm, trời Thiểu quang, trời Vô lượng quang, trời Quang âm, trời Thiểu tịnh, trời Vô lượng tịnh, trời Biến tịnh, trời Vô vân, trời Phúc sinh, trời Quảng quả, trời Vô tưởng, trời Vô phiền, trời Vô nhiệt, trời Thiện kiến, trời Thiện hiện và trời Sắc cứu cánh. Bốn tầng trời cõi Vô sắc gồm: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Trong 28 tầng trời nêu trên, thì 18 tầng trời là do Thượng tọa bộ thành lập. Tát bà đa bộ thì lập có 16 tầng, Kinh bộ lập 17 tầng. Còn Đại thừa thì cũng theo Thượng tọa bộ mà lập 18 tầng. [X. Thiên thai tông tứ giáo nghi tập chú Q.trung].

Nhị Thập Bát Tú

(s: aṣṭāviṃśati nakṣatrāṇi, 二十八宿): 28 ngôi sao vận hành trong 1 tháng, thuyết 28 ngôi sao này vốn xuất phát từ Ấn Độ. Hơn nữa, trong kinh điển Phật Giáo cũng có đề cập đến như Ma Đăng Già Kinh (摩登伽經) quyển thượng, Đại Tập Kinh (大集經) quyển 41, Tú Diệu Kinh (宿曜經), v.v. Kinh Ma Đăng Già (s: Śārdūlakarṇāvadāna, 摩登伽經, Hán dịch khoảng thế kỷ thứ 3) liệt kê 28 ngôi sao như sau (theo thứ tự tên tiếng Phạn, tên Hán dịch, số ngôi sao, hình tướng): (1) Kṛttikā: Mão (昴), 6, đao cắt. (2) Rohiṇī: Tất (畢), 5, cỗ xe. (3) Mṛgaśiras: Tuy (觜), 3, đầu nai. (4) Ārdrā: Sâm (參), 1, hạt châu trên đầu. (5) Punarvasu: Tỉnh (井), 2, chân người. (6) Puṣya: Quỷ (鬼), 3, cái bình. (7) Āśleṣā: Liễu (柳), 5, lưỡi câu cong hay đầu rắn. (8) Maghā: Tinh (星), 6, khúc cong con sông. (9) Pūrva Phalgunī: Trương (張), 2, chân người. (10) Uttara Phalgunī: Dực (翼), 2, chân người. (11) Hasta: Chẩn (軫), 5, bàn tay. (12) Citrā: Giác (角), 1, hạt châu trên đầu. (13) Svāti: Cang (亢), 1, hạt châu trên đầu. (14) Viśākhā: Đê (氐), 4, sừng trâu. (15) Anurādhā: Phòng (房), 4, vòng châu. (16) Jyeṣṭhā: Tâm (心), 3, lúa mạch. (17) Mūlā: Vĩ (尾), 9, con bò cạp. (18) P. Āṣāḍhā: Ky (箕), 4, bước chân trâu. (19) U. Āṣāḍhā: Đẩu (斗), 4, chân voi. (20) Abhijit: Ngưu (牛), 3, đầu bò. (21) Śravaṣa: Nữ (女), 3, lúa mạch. (22) Dhaniṣṭhā: Hư (虛), 4, chim bay. (23) Śatabhiṣā: Nguy (危), 1, hạt châu trên đầu.(24) P. Bhādrapadā: Thất (室), 2, chân người. (25) U. Bhādrapadā: Bích (壁), 2, chân người. (26) Revati: Khuê (奎), 1, hạt châu trên đầu. (27) Aśvinī: Lâu (婁), 2, đầu ngựa. (28) Bharaṇī: Vị (胃), 3, cái đỉnh. Tuy nhiên, 28 ngôi sao của Ấn Độ và Trung Quốc không có mối quan hệ về mặt ngôn ngữ, mỗi bên tự phát triển theo cách của mình. Về phương diện chiêm tinh và lịch pháp, 12 cung đóng vai trò quan trọng nhất. Sau khi Mật Giáo phát triển, tín đồ Phật Giáo đã kết hợp 12 cung và 28 ngôi sao lại với nhau. Như trong Tú Diệu Kinh có đề cập sự cấu thành pháp chiêm tinh của Mật Giáo, và tên tiếng Phạn của chúng phần lớn được dịch trực tiếp từ Thiên Văn Học Tây phương, hay có ảnh hưởng du nhập trực tiếp từ Thiên Văn Học ấy.

nhị thập bát tú

(二十八宿) Phạm:Awỉàviôzati nakwatràni. Chỉ cho 28 ngôi sao trong thiên văn xưa của Ấn độ và Trung quốc. Thuyết Nhị thập bát tú đã có rất sớm ở Ấn độ. Trong các kinh Phật như kinh Ma đăng già quyển thượng, kinh Đại tập quyển 41, kinh Tú diệu... đều có ghi chép, được dùng để tính về số ngày, tháng, năm, hoặc để phối với giờ sinh của mỗi người mà xem lành dữ họa phúc... Trong Mật giáo, những vì sao này được vẽ thành hình tượng đặt ở 4 phía của Ngoại Kim cương bộ thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới. Thuyết Nhị thập bát tú của Trung quốc tuy tương tự như thuyết của Ấn độ, nhưng có rất nhiều điểm khác nhau. Tên Hán và Phạm của Nhị thập bát tú như sau: 1. Mão:Kftikà. 2. Tất:Rohiịì. 3. Tuy: Mfgaziras. 4. Sâm:Àrdrà. 5. Tỉnh: Punarvasu. 6. Quỉ:Puwya. 7. Liễu:Àzlewà. 8. Tinh: Maghà. 9. Trương: Pùrva-phalgunì. 10. Dực: Uttara-phalgunì. 11. Chẩn: Hasta. 12. Dốc:Citrà. 13. Cang:Svàtì. 14. Đê:Vizàkhà. 15. Phòng:Anuràdhà. 16. Tâm: Jyewỉha. 17. Vĩ:Mùlà. 18. Ki:Purva-àwàđhà. 19. Đẩu:Uttara-àwàđhà. 20. Ngưu: Abhijit. 21. Nữ:Zravaịà. 22. Hư: Dhaniwỉhà. 23. Nguy: Zatabhiwak. 24. Thất:Pùrva-bhàdrapadà. 25. Bích:Uttara-bhàdrapadà. 26. Khuê: Revati. 27. Lâu:Azvinì. 28. Vị: Bharaịì. (xt. Lịch).

nhị thập bát tổ

(二十八祖) Gọi đủ: Tây thiên nhị thập bát tổ. Chỉ cho 28 vị Tổ sư Thiền tông Ấn độ. Đó là: 1. Ma ha Ca diếp. 2. A nan tôn giả. 3. Thương na hòa tu. 4. Ưu bà cúc đa. 5. Đề đa ca. 6. Di già ca. 7. Bà tu mật. 8. Phật đà nan đề. 9. Phục đà mật đa. 10. Hiếp tôn giả. 11. Phú na da xá. 12. Mã minh đại sĩ. 13. Ca tì ma la. 14. Long thụ đại sĩ. 15. Ca na đề bà. 16. La hầu la đa. 17. Tăng già nan đề. 18. Già da xá đa. 19. Cưu ma la đa. 20. Xà dạ đa. 21. Bà tu bàn đa. 22. Ma noa la. 23. Hạc lặc na. 24. Sư tử tôn giả. 25. Bà xá tư đa. 26. Bất như mật đa. 27. Bát nhã đa la. 28. Bồ đề đạt ma(kiêm Sơ tổ Đông độ). Bản liệt kê này được thấy trong Truyền pháp chính tông của ngài Khế tung đời Tống. Trong Phó pháp tạng nhân duyên truyện không có ghi ngài Bà tu mật, từ ngài Ma ha ca diếp đến tôn giả Sư tử chỉ có 23 đời mà thôi. Ngài Khế tung thêm tổ Bà tu mật vào vị trí thứ 7 và sau tôn giả Sư tử thêm 4 vị: Bà xá tư đa, Bất như mật đa, Bát nhã đa la và Bồ đề đạt ma vào nữa mà thành là 28 vị Tổ. Ngoài ra, tên các vị Tổ Tây vực được liệt kê trong kinh Đạt ma đa la thiền cũng rất khác với bản liệt kê trong Chính tông kí. Cảnh đức truyền đăng lục ghi tên 28 vị Tổ hoàn toàn giống với Chính tông kí. Nhưng có thuyết cho rằng đó là do người sau sửa đổi chứ không phải nguyên bản.

nhị thập chư thiên

(二十諸天) Hai mươi vị trời và thần được thờ cúng trong các chùa viện thuộc tông Thiên thai. Cứ theo Chư thiên truyện do ngài Hành đình soạn vào đời Nam Tống, thì trong các chùa của tông Thiên thai từ xưa có thờ tượng 16 vị trời, về sau thêm 4 vị nữa là Nhật thiên, Nguyệt thiên, Sa kiệt la long vương và Diêm ma la vương, tổng cộng là 20 vị trời. Đó là: 1. Phạm thiên vương: Vị trời thống lĩnh Phạm chúng, làm chủ đại thiên thế giới. 2. Đế thích thiên chủ: Vị trời ở trên chóp núi Tu di, tức là Đao lợi thiên chủ. 3. Tì sa môn thiên vương: Vị vua trời ở phương Bắc, tức là trời Đa văn. 4. Đề đầu lại tra thiên vương: Vua trời ở phương Đông, tức là trời Trì quốc. 5. Tì lưu lặc xoa thiên vương: Vua trời ở phương Nam, tức là trời Tăng trưởng. 6. Tì lưu bác xoa thiên vương: Vua trời ở phương Tây, tức là trời Quảng mục. 7. Kim cương mật tích thiên: Vị trời này tay cầm chày báu kim cương, biết rõ tất cả sự tích bí mật của đức Như lai. 8. Ma hê thủ la thiên: Vị thiên chủ rất được tôn quí trong 3 cõi. 9. Tán chi đại tướng: Con thứ của Quỉ tử mẫu, thường hộ trì chính pháp, tiêu diệt các điều xấu ác. 10. Đại biện thiên: Vị trời có đủ biện tài vô ngại, giúp đời lợi người, lưu thông Phật pháp. 11. Công đức thiên: Vị trời hay giúp chúng sinh thành tựu phúc đức, thường ở trong vườn Kim chàng tối thắng. 12. Vi đà thiên tướng quân: Một trong 8 tướng quân của vua trời phương Nam, ngoại hộ Phật pháp, thống lĩnh và hộ trì 3 châu.13. Kiên cố địa thần: Vị thần làm chủ đại địa. 14. Bồ đề thụ thần: Vị thần giữ gìn cây Bồ đề, nơi đức Như lai thành đạo. 15. Quỉ tử mẫu thiên: Mẹ của tất cả quỉ, ban con cái cho người cầu con. 16. Ma lợi chi thiên: Vị trời thường đi dạo trước mặt trời, mặt trăng, cứu hộ nạn binh đao chiến loạn. 17. Nhật cung thiên tử: Vị trời phá trừ sự tối tăm, thành thục vạn vật. 18. Nguyệt cung thiên tử: Vị trời ban đêm phát ra ánh sáng, nhưng không sáng bằng Nhật cung thiên tử. 19. Sa kiệt la: Vị Long vương thứ 7 trong 177 Long vương ở biển mặn, là bậc Bồ tát đại quyền. 20. Diêm ma la vương: Vua đứng đầu địa ngục.

nhị thập chủng hộ ma pháp

(二十種護摩法) Chỉ cho 20 pháp Hộ ma, gồm có: 4 pháp Phiến để ca, 9 pháp Bố sắt trí ca, 7 pháp A tì già la ca, cộng chung thành 20 pháp Hộ ma. Nói rộng ra thì có tới 110 loại Hỏa pháp, nhưng bí mật, không dịch. [X. Kim cương đính kinh nghĩa quyết].

nhị thập chủng ngoại đạo

(二十種外道) Cũng gọi Nhị thập chủng Tiểu thừa ngoại đạo niết bàn. Hai mươi loại Niết bàn mà Tiểu thừa và ngoại đạo ở Ấn độ chấp trước do Luận sư Đề bà phân loại. Đó là: 1. Tiểu thừa ngoại đạo: Ngoại đạo chủ trương Các thụ ấm hết, như đèn tắt, gió dừng là Niết bàn. 2. Phương luận sư ngoại đạo: Chủ trương Đầu tiên sinh ra các phương, từ các phương sinh ra người thế gian, từ người sinh ra trời đất. Khi trời đất diệt mất, trở lại chỗ ban đầu là Niết bàn. 3. Phong tiên luận sư ngoại đạo: Chủ trương Gió sinh trưởng các vật có mệnh sống, cũng chính gió giết hại các vật có mệnh sống. Gió tạo ra muôn vật, rồi phá hoại tiêu diệt hết muôn vật là Niết bàn. 4. Vi đà luận sư ngoại đạo: Chủ trương Từ trong rốn của trời Na la diên sinh ra hoa sen lớn, từ hoa sen sinh ra Phạm thiên, tất cả vật có mệnh sống và không có mệnh sống đều từ trong miệng Phạm thiên sinh ra. Khắp cả đại địa là giới tràng tu phúc đức. Nếu giết hại hết thảy loài hoa cỏ và muông thú như lợn, dê, lừa, ngựa... khắp trên đại địa để cúng dường Phạm thiên thì sau khi chết được sinh về cõi Phạm thiên là Niết bàn. 5. Y xa na luận sư ngoại đạo: Chủ trương Không thể thấy hình tướng của tôn giả luận sư Y xa na dù ngài có mặt ở khắp mọi nơi. Vì không có hình tướng nên ngài có năng lực sinh ra hết thảy muôn vật có mệnh sống và không có mệnh sống là Niết bàn.6. Lõa hình ngoại đạo: Chủ trương Thấy rõ các loại hình tướng khác nhau là Niết bàn. 7. Tì thế sư, tức Thắng luận sư ngoại đạo: Chủ trương Đất, nước, lửa, gió, hư không, bụi bặm... hòa lẫn với nhau mà sinh ra hết thảy muôn vật có trí biết và không trí biết ở thế gian; khi các yếu tố trên lìa tan là Niết bàn. 8. Khổ hạnh ngoại đạo: Chủ trương Thân thể diệt, phúc đức hết là Niết bàn. 9. Nữ nhân quyến thuộc ngoại đạo: Chủ trương Trời Ma hê thủ la là thân người nữ, sinh ra các trời, người và muôn vật là Niết bàn. 10. Hành khổ hạnh luận sư ngoại đạo: Chủ trương Khi tội phúc, công đức hết sạch là Niết bàn. 11. Tịnh nhãn luận sư ngoại đạo: Chủ trương Hết phiền não, nương theo trí là Niết bàn. 12. Ma đà la luận sư ngoại đạo: Chủ trương Trời Na la diên là cha đẻ của hết thảy muôn vật, là bậc tối thắng trong tất cả chúng sinh. Muôn vật từ ngài sinh ra, sau khi diệt lại trở về với ngài là Niết bàn.13. Ni kiền tử ngoại đạo: Chủ trương Đầu tiên sinh ra 1 người nam, 1 người nữ, sau đó nam nữ hòa hợp sinh ra hết thảy muôn vật có mệnh sống và không có mệnh sống. Khi li tán, lại trở về nguyên trạng là Niết bàn. 14. Tăng khư luận sư ngoại đạo(tức là Số luận sư): Chủ trương Tự tính của 25 đế là nguyên nhân tạo ra hết thảy chúng sinh là Niết bàn. 15. Ma hê thủ la luận sư ngoại đạo: Chủ trương Quả do Na la diên tạo, Phạm thiên là nhân; Phạm thiên, Na la diên, cho đến Tự tại thiên là nhân sinh diệt, tất cả từ Phạm thiên sinh ra, rồi lại từ Phạm thiên mà diệt là Niết bàn. 16. Vô nhân luận sư ngoại đạo: Chủ trương Không nhân không duyên sinh ra tất cả vật. Chẳng có nhân dơ, cũng không có nhân sạch, cho đến gai nhọn, màu sắc chim công, chẳng do ai làm ra, đều tự nhiên mà có, không nhân không duyên là Niết bàn.17. Thời luận sư ngoại đạo: Chủ trương Thời thành thục tất cả các yếu tố, thời tạo ra mọi vật, thời phân tán tất cả vật là Niết bàn.18. Phục thủy luận sư ngoại đạo: Chủ trương Nước là gốc của muôn vật, nước sinh ra trời đất, sinh ra hết thảy vật có mệnh sống và không mệnh sống, cho đến nước hủy diệt tất cả vật là Niết bàn. 19. Khẩu lực luận sư ngoại đạo: Chủ trương Hư không là nhân của muôn vật, tối sơ sinh ra hư không, hư không sinh ra gió, gió sinh ra lửa, lửa sinh ra sức nóng, sức nóng sinh ra nước, nước đóng băng cứng tạo thành đất, từ đất sinh ra các loại cây cỏ và ngũ cốc, từ ngũ cốc sinh ra mệnh sống. Sau khi ăn tiêu mất, lại trở về hư không là Niết bàn. 20. Bản sinh an đồ luận sư ngoại đạo: Chủ trương Vốn không có mặt trời, mặt trăng, tinh tú, hư không và đất, chỉ có nước lớn. Khi Đại an đồ sinh ra, giống như trứng gà, màu vàng bao quanh, đúng thời vỡ làm 2 nửa, nửa trên làm trời, nửa dưới làm đất. Ở giữa sinh ra Phạm thiên, là ông Tổ của hết thảy chúng sinh, sinh ra tất cả vật có mệnh sống và không mệnh sống, sau khi hủy diệt mất hết, trở về nguyên trạng là Niết bàn. [X. luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn; Đại minh tam tạng pháp số Q.46].

nhị thập chủng phiền não hiện hành

(二十種煩惱現行) Hai mươi thứ phiền não hiện hành. 1. Tùy sở dục triền hiện hành: Người tại gia chưa lìa các dục vọng, đối trước những cảnh ưa thích khởi lên các thứ nghiệp trói buộc(triền), liên tục không chịu buông bỏ. 2. Bất tùy sở dục triền hiện hành: Những người xuất gia không chạy theo các cảnh vui thích của thế gian, trái lại, sinh tâm nhàm chán, xa lìa mãi mãi. 3. Vô sở liễu tri hiện hành: Người không phân biệt được các pháp thiện và ác, không biết rõ ràng tất cả cảnh giới nên thường nói ác, tâm ngu si mê hoặc này tiếp tục không dứt.4. Hữu sở liễu tri hiện hành: Người phân biệt được tất cả các pháp, tâm hướng theo pháp thiện và bỏ pháp ác, biết rõ ràng như thế nên thường nói pháp lành và tâm này liên tục không bỏ. 5. Thô phiền não hiện hành: Các phiền não tham, sân, si đều tăng thêm tính thô trọng(thô to và sâu nặng); nếu là cảnh thuận thì tham ái thô trọng, nếu là cảnh nghịch thì sân hận thô trọng... 6. Đẳng phiền não hiện hành: Các phiền não tham, sân, si cùng nổi lên 1 loạt với nhau, không phân biệt nặng nhẹ. 7. Vi phiền não hiện hành: Người tu hành mong cầu ra khỏi cõi Dục, tuy chưa thành quả nhưng ít phiền não. 8. Nội môn phiền não hiện hành: Người tu hành mong thoát li cõi Dục, tuy không tham đắm những cảnh thanh, sắc bên ngoài, nhưng tập khí trong nội tâm vẫn còn liên tục sinh khởi. 9. Ngoại môn phiền não hiện hành: Người chưa lìa cõi Dục, tâm duyên theo các trần cảnh bên ngoài mà hiện khởi các thứ phiền não không dứt. 10. Thất niệm phiền não hiện hành: Người đã thấy Thánh đạo, đắc quả, bỗng gặp duyên khác, nghe pháp bất chính, tập khí nổi lên mà mất chính niệm. 11. Mãnh lợi phiền não hiện hành: Người chưa được đạo quả, tuy siêng năng tinh tiến, nhưng khi tác ý bất chính thì phiền não nổi lên mãnh liệt. 12. Phân biệt sở khởi phiền não hiện hành: Người không tin chính pháp, khởi lên các tà kiến phân biệt, vọng sinh chấp trước, liên tục không bỏ. 13. Nhậm vận sở khởi phiền não hiện hành: Người sinh tâm lười biếng, không tu chính hạnh, đối với các cảnh 5 dục lạc, tự nhiên sinh khởi phiền não. 14. Tầm tư phiền não hiện hành: Người tu quán pháp thiền định, thường tự suy nghĩ tìm tòi, vọng sinh phân biệt, liên tục không bỏ. 15. Bất tự tại phiền não hiện hành: Người trong giấc ngủ, ý thức rong ruổi theo cảnh mộng tán loạn liên tục không bỏ. 16. Tự tại phiền não hiện hành: Người sau khi tỉnh mộng, tà niệm khởi lên, duyên theo khắp các cảnh, liên tục không bỏ. 17. Phi sở y vị phiền não hiện hành: Người như trẻ con, đối với tất cả các cảnh, không biết tốt xấu, phóng túng buông thả, liên tục không bỏ. 18. Sở y vị phiền não hiện hành: Người tu hành căn cơ đã nhuần nhuyễn, nương nơi vị chính hạnh mà đoạn trừ các phiền não, tâm năng đoạn liên tục không ngừng. 19. Khả cứu liệu phiền não hiện hành: Người siêng tu đạo hạnh, dứt hoặc nghiệp sinh tử, như cứu chữa các bệnh; tâm chỉ biết chữa bệnh sinh tử, chứ không biết đắm vui Niết bàn. 20. Bất khả cứu liệu phiền não hiện hành: Người không biết tu các chính hạnh để cứu chữa những bệnh hoặc nghiệp sinh tử, cho nên các phiền não cứ tiếp nối không dứt.[X. luận Du già sư địa Q.59]

nhị thập chủng phiền não tuỳ miên

(二十種煩惱隨眠) Hai mươi loại phiền não tùy miên. Phiền não là chỉ cho các pháp tối tăm, phiền muộn như: Kiến, tư, vô minh... làm não loạn tâm thần. Tùy miên là những phiền não ấy đeo đuổi chúng sinh, ngủ ngầm trong thức thứ 8, khi đủ nhân duyên thì hiện khởi. Hai mươi loại phiền não tùy miên là: 1. Bất định địa tùy miên: Phiền não ở cõi Dục. Bất định địa chỉ cho cõi Dục, là cõi tán loạn. Nghĩa là người ở cõi Dục vì không tu thiền định nên bị phiền não của các căn theo đuổi không bỏ. 2. Định địa tùy miên: Định địa chỉ cho cõi Sắc và cõi Vô sắc. Nghĩa là người ở 2 cõi này tuy tu thiền định, xa lìa các khổ của cõi Dục, nhưng vẫn còn bị các phiền não: Tham, si, ái và mạn theo đuổi, không bỏ. 3. Tùy trục tự cảnh tùy miên: Phiền não theo đuổi tự cảnh. Trong 3 cõi, mỗi cõi đều có cảnh sở nhiếp riêng, tùy theo các căn khởi diệt mà sinh ra các phiền não kiến chấp, đeo đuổi liên tục không ngừng. 4. Tùy trục tha cảnh tùy miên: Phiền não theo đuổi cảnh khác. Nghĩa là ở cõi Sắc mà khởi phiền não cõi Dục, hoặc ở cõi Vô sắc mà khởi phiền não cõi Sắc, hoặc ở cõi Dục mà ưa thích thiền định của 2 cõi trên, sinh ra đắm trước, không biết xa lìa. 5. Bị tổn tùy miên: Bị phiền não làm tổn hại. Nghĩa là chúng sinh luôn luôn bị các phiền não của cõi Dục làm tổn hại, vì các phiền não ấy thường ngấm ngầm theo đuổi không thôi. 6. Bất bị tổn tùy miên: Không bị phiền não làm tổn hại. Nghĩa là người đã sinh lên cõi Sắc nên không còn bị phiền não của cõi Dục làm tổn hại; hoặc chưa lìa cõi Dục, tuy phiền não thường ngấm ngầm đeo đuổi nhưng không gây tổn hại. 7. Tùy tăng tùy miên: Phiền não thêm lên. Nghĩa là chúng sinh trong 3 cõi đều khởi phiền não ở nơi cảnh của mình, tùy thời mà các phiền não ấy tăng trưởng, đeo đuổi ngầm không thôi. 8. Bất tùy tăng tùy miên: Phiền não không tăng thêm. Nghĩa là người trong thiền định ở cõi Sắc và cõi Vô sắc, không theo cảnh khác nên phiền não không tăng thêm, nhưng vì phiền não chưa bị đoạn trừ nên vẫn ngầm đeo đuổi, không rời bỏ. 9. Cụ phần tùy miên: Phiền não đầy đủ. Nghĩa là chúng sinh đối với tất cả trần cảnh khởi lên đủ các phiền não tham, sân, si... không thiếu 1 phần nào. 10. Bất cụ phần tùy miên: Phiền não không đầy đủ. Nghĩa là bậc Thánh Sơ quả Thanh văn(quả Tu đà hoàn) tuy đã dứt hết Kiến hoặc trong 3 cõi, nhưng còn Tư hoặc thì chưa dứt được toàn phần, nên gọi là Bất cụ phần tùy miên. 11. Khả hại tùy miên: Phiền não có thể gây hại. Nghĩa là bậc Thanh văn tu đạo phẩm (37 đạo phẩm), tuy đã dứt hết Kiến hoặc và Tư hoặc mà chứng Niết bàn, nhưng tập khí vô minh vẫn còn đeo đuổi ngầm, không rời, nên có thể gây tổn hại. 12. Bất khả hại tùy miên: Phiền não không thể bị hại. Nghĩa là chúng sinh phàm phu không tu 37 đạo phẩm, không đoạn trừ phiền não hoặc nghiệp, cho nên phiền não theo đuổi không thôi. 13. Tăng thượng tùy miên: Phiền não thêm lên. Nghĩa là các phiền não tham, sân, si... dần dần tăng thêm lên, theo đuổi không rời.14. Bình đẳng tùy miên: Phiền não bình đẳng. Nghĩa là các phiền não tham, sân, si... cùng khởi lên 1 lúc, theo đuổi không ngừng. 15. Hạ liệt tùy miên: Phiền não thấp kém. Nghĩa là người tu hành cầu ra khỏi cõi Dục, tâm niệm đối với các trần cảnh yếu kém, nên gọi là Hạ liệt tùy miên. 16. Giác ngộ tùy miên: Phiền não được giác ngộ. Nghĩa là người có khả năng biết tất cả phiền não và nghiệp quả đồng thời trôi lăn, tuy biết như thế nhưng chưa thể đoạn trừ được, cho nên gọi là Giác ngộ tùy miên. 17. Bất giác ngộ tùy miên: Phiền não không được giác ngộ. Nghĩa là hết thảy phiền não trói buộc, đeo đuổi căn thức, không lìa bỏ nhau, vậy mà con người không hề hay biết nên gọi là Bất giác ngộ tùy miên. 18. Năng sinh đa khổ tùy miên: Phiền não hay sinh nhiều khổ. Nghĩa là các phiền não tham, sân... của cõi Dục hay sinh ra nhiều đau khổ. 19. Năng sinh thiểu khổ tùy miên: Phiền não hay sinh ít khổ. Nghĩa là người ở trong thiền định của cõi Sắc và cõi Vô sắc tuy không có các khổ của cõi Dục, nhưng vẫn còn tâm ưa thích cõi trên, nhàm chán cõi dưới, đó cũng là phiền não, cho nên gọi là Năng sinh thiểu khổ tùy miên. 20. Bất năng sinh khổ tùy miên: Phiền não không hay sinh khổ. Nghĩa là hàng Bồ tát tuy đã lìa các khổ, nhưng vẫn còn tâm tự hành lợi tha và đó cũng là phiền não.

nhị thập chủng tuỳ phiền não

(二十種隨煩惱) Hai mươi loại Tùy phiền não. Luận Câu xá của Tiểu thừa gọi tất cả phiền não là Tùy phiền não, hoặc gọi các phiền não ngoài 6 phiền não Tùy miên căn bản là Tùy phiền não. Còn các nhà Duy thức Đại thừa thì cho rằng 20 pháp ngoài các phiền não căn bản là Tùy phiền não. Cứ theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 40, thì 20 loại Tùy phiền não là: 1. Phẫn tùy phiền não: Phẫn là cáu giận. Đối với tất cả cảnh trái ý trước mắt, sinh ra cáu giận, làm não loạn tâm tính. 2. Hận tùy phiền não: Hận là oán giận. Do cáu bực mãi kết thành oán giận, làm não loạn tâm tính. 3. Phú tùy phiền não: Phú là che giấu. Mình phạm tội lỗi, không chịu ăn năn hối cải, cố tình che giấu, lúc nào cũng nơm nớp sợ người khác biết, làm não loạn tâm tính. 4. Não tùy phiền não: Não là buồn bực. Bên ngoài gặp cảnh trái ý, trong lòng buồn bực, tấm tức không yên, làm não loạn tâm tính.5. Tật tùy phiền não: Tật là ghen ghét. Gặp cảnh bất bình, thường ôm lòng ghen tức, làm não loạn tâm tính. 6. Xan tùy phiền não: Xan là keo kiệt. Đối với tất cả của cải tài bảo, tham cầu chứa chất, không chịu bố thí, thường sợ mất mát, làm não loạn tâm tính. 7. Cuống tùy phiền não: Cuống là nói dối. Luôn lo mưu tính kế để lừa gạt người, tâm thường bất an, sinh ra não loạn. 8. Siểm tùy phiền não: Siểm là nịnh nọt a dua. Tâm thường nghĩ cách bợ đỡ, khiến không an ổn, làm cho não loạn. 9. Hại tùy phiền não: Thường muốn hãm hại người để thỏa lòng mình, luôn sợ việc không thành, làm não loạn tâm tính. 10. Kiêu tùy phiền não: Kiêu là trọng mình khinh người. Không có lòng nhún nhường, chỉ muốn tranh hơn, tự cao tự đại, làm não loạn tâm tính. 11. Vô tàm tùy phiền não: Vô tàm là không biết tự thẹn. Ở chỗ vắng vẻ làm những việc phi pháp mà không tự hối cải, làm não loạn tâm tính. 12. Vô quí tùy phiền não: Vô quí là không biết hổ với người. Trong chỗ kín đáo làm những điều xấu xa, người khác trông thấy mà không biết xấu hổ, không tự ăn năn, làm não loạn tâm tính. 13. Điệu cử tùy phiền não: Điệu cử là thô tháo, lỗ mãng. Nghĩa là đối với cảnh rối loạn, thân tâm thô lỗ, cục cằn, không biết tự chế, làm cho não loạn. 14. Hôn trầm tùy phiền não: Hôn trầm là mờ tối chìm mê. Nghĩa là đối với mọi việc, tinh thần mờ mịt, khiến cho tâm não loạn.15. Bất tín tùy phiền não: Bất tín là không tin. Do tà kiến đa nghi nên không tin chính pháp, làm cho tâm tính não loạn. 16. Giải đãi tùy phiền não: Giải đãi là biếng nhác. Nghĩa là bởi tính trây lười, không chịu tinh tiến tu tập đạo nghiệp, do đó mà tâm bị não loạn. 17. Phóng dật tùy phiền não: Phóng dật là buông lung. Nghĩa là phóng túng buông thả, đam mê cảnh dục, không biết kiềm chế, làm não loạn tâm tính. 18. Thất niệm tùy phiền não: Thất niệm là mất cảnh giác. Nghĩa là mải miết chạy theo tà vọng mà đánh mất chính niệm, đến nỗi chìm đắm, khiến cho tâm tính bị não loạn.19. Tán loạn tùy phiền não: Tán loạn là tâm thường rong ruổi. Nghĩa là vì đắm theo các cảnh nên tâm thường tán loạn, không thể tập trung, không được tĩnh lặng, do đó mà bị não loạn. 20. Bất chính tri tùy phiền não: Bất chính tri là không biết 1 cách chân chính. Nghĩa là hiểu sai chính pháp, xa lìa chánh đạo, trái giác hợp trần, lấy vọng làm chân não loạn tâm tính.

nhị thập cửu chủng trang nghiêm

(二十九種莊嚴) Hai mươi chín thứ làm đẹp cõi Tịnh độ cực lạc. Theo luận Tịnh độ của ngài Thiên thân thì 29 thứ trang nghiêm Tịnh độ cực lạc đều do tâm nguyện của đức Phật A di đà mà có. Trong đó gồm: 1. Y báo tịnh độ(tức là Khí thế gian thanh tịnh), có 17 thứ công đức làm đẹp đất nước, đó là: Thanh tịnh công đức, Lượng công đức, Tính công đức, Hình tướng công đức, Chủng chủng sự công đức, Diệu sắc công đức, Xúc công đức, Tam chủng công đức, Vũ công đức, Quang minh công đức, Diệu thanh công đức, Chủ công đức, Quyến thuộc công đức, Thụ dụng công đức, Vô chư nạn công đức, Đại nghĩa môn công đức và Nhất thiết sở cầu mãn túc công đức. 2. Chính báo tịnh độ(tức là Chúng sinh thế gian thanh tịnh)có 12 thứ, gồm 8 thứ công đức trang nghiêm Phật và 4 thứ công đức trang nghiêm Bồ tát. a) Tám thứ công đức trang nghiêm của Phật là: Tòa công đức, Thân nghiệp công đức, Khẩu nghiệp công đức, Tâm nghiệp công đức, Đại lạc công đức, Thượng thủ công đức, Chủ công đức và Bất hư tác trụ trì công đức.b) Bốn thứ công đức trang nghiêm của Bồ tát là: Bất động bản xứ biến chí thập phương cúng dường hóa sinh trang nghiêm (Trang nghiêm ở yên tại chổ cũ mà hóa sinh đến khắp 10 phương để cúng dường), Nhất niệm nhất thời biến chí Phật hội lợi ích quần sinh trang nghiêm(Trang nghiêm trong 1 niệm cùng lúc đến khắp các Phật hội làm lợi ích quần sinh), Nhất thiết thế giới tán thán chư Phật trang nghiêm(Trang nghiêm khen ngợi chư Phật ở tất cả thế giới)và Vô tam bảo xứ thị pháp trang nghiêm(Trang nghiêm nơi không có Tam bảo hiển bày chính pháp). Thuyết này rất giống với thuyết của ngài Vô trước trong luận Nhiếp đại thừa quyển hạ và với thuyết của ngài Thiên thân trong Nhiếp đại thừa luận thích quyển 15 nói về 18 thứ viên tịch của Báo độ.

nhị thập cửu phẩm

(二十九品) Chỉ cho 5 vòng nhân quả trong kinh Hoa nghiêm là: Sở tín nhân quả, Sai biệt nhân quả, Bình đẳng nhân quả, Thành hạnh nhân quả và Chứng nhập nhân quả. Năm vòng nhân quả này phối hợp với kinh Hoa nghiêm từ quyển 12 đến quyển 48 nói về pháp môn Nhân quả sai biệt và chia làm 29 phẩm là: Như lai danh hiệu, Tứ thánh đế, Quang minh giác, Bồ tát vấn minh, Tịnh hạnh, Hiền thủ, Thăng Tu di sơn đính, Tu di sơn đính thượng kệ tán, Thập trụ, Phạm hạnh, Sơ phát tâm công đức, Minh pháp, Thăng Dạ ma thiên cung, Dạ ma cung trung kệ tán, Thập hạnh, Thập vô tận tạng, Thăng Đâu suất thiên cung, Đâu suất cung trung kệ tán, Thập hồi hướng, Thập địa, Thập định, Thập thông, Thập nhẫn, A tăng kì, Như lai thọ lượng, Chư Bồ tát trụ xứ, Phật bất tư nghị pháp, Như lai thập thân tướng hải và Như lai tùy hảo quang minh công đức.

Nhị thập duy thức luận

二十唯識論; C: èrshí wéishì lùn; J: nijūyuishikiron; S: vimśatikā-śāstra;|Hai mươi luận tụng về Duy thức do Thế Thân (世親; s: vasubandhu) trứ tác, Huyền Trang (玄奘) và Chân Đế (眞諦; c: paramārtha) dịch sang Hán văn. Nội dung gồm hai mươi bài kệ bảo vệ giáo thuyết của Du-già hành tông đối với các sự phê phán. Còn được gọi là Duy thức nhị thập luận (唯識二十論).

nhị thập không

(二十空) Hai mươi thứ không. Phẩm Học quán trong kinh Đại bát nhã quyển 3 nêu lên 20 thứ không là: 1. Nội không: Sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý thuộc pháp bên trong vô thường, vô ngã, là Không. 2. Ngoại không: Sáu cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thuộc pháp bên ngoài vô thường, vô ngã, là Không. 3. Nội ngoại không: Sáu căn, 6 cảnh đều không. 4. Không không: Cái không cũng lại là không, tức không chấp trước tất cả pháp trong ngoài là không, chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tính tự nhiên như thế.5. Đại không: Mười phương đông, tây, nam, bắc, 4 góc, trên, dưới đều không. 6. Thắng nghĩa không: Niết bàn thắng nghĩa cũng là không. 7. Hữu vi không: Cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc hữu vi đều không. 8. Vô vi không: Vô vi không sinh, trụ, dị, diệt là không, nhưng cái không ấy cũng là không nên không chấp trước. 9. Tất cánh không: Không chấp trước các pháp rốt ráo không thực có. 10. Vô tế không: Quá khứ, hiện tại, vị lai không thực có, thời gian qua lại cũng không thực có, cũng không chấp trước cái không ấy. 11. Tán không: Các pháp phóng tán khí xả cũng là không. 12. Vô biến dị không: Các pháp không phóng tán khí xả, không biến dị, cái không biến dị ấy cũng là không, không thật có. 13. Bản tính không: Bản tính của tất cả pháp dù hữu vi hay vô vi, đều chẳng phải do Thanh văn, Độc giác tạo ra, mà bản tính ấy xưa nay vốn là không. 14. Tự tướng không: Tự tướng của tất cả pháp như tự tướng của sắc biến ngại, thụ, tưởng, hành, thức... đều là không. 15. Cộng tướng không: Cộng tướng của tất cả pháp, như khổ là cộng tướng của pháp hữu lậu, vô thường là cộng tướng của pháp hữu vi, không, vô ngã là cộng tướng của tất cả pháp... đều là không, không thực có. 16. Nhất thiết pháp không: 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới, hữu sắc vô sắc, hữu lậu vô lậu, hữu kiến vô kiến, hữu đối vô đối, hữu vi vô vi... hết thảy các pháp đều là không, mà cũng chẳng chấp trước cái không ấy. 17. Bất khả đắc không: Tất cả pháp Hữu trong 3 đời đều không thực có nên không chấp trước. 18. Vô tính không: Không 1 chút tính nào có thể duyên theo được nên là vô tính; cái vô tính ấy cũng không thể nào tưởng tượng được nên là không. 19. Tự tính không: Tự tính của các pháp hòa hợp không có thực thể, cho nên là không. 20. Vô tính tự tính không: Vô tính và tự tính đều là không. [X. phẩm Biện đại thừa trong kinh Đại bát nhã ba la mật đa Q.51; phẩm Quán chiếu kinh Đại bát nhã ba la mật đa Q.403] (xt. Không).

nhị thập kiền độ

(二十犍度) Hai mươi kiền độ, sự phân loại về môn Tác trì của giới luật. Kiền độ (Phạm:Skandha) nghĩa là biên tập thành các thiên, chương khác nhau. Theo luật Tứ phần thì 20 kiền độ là: 1. Thụ giới kiền độ, cũng gọi Thụ Cụ túc giới pháp, Đại kiền độ. Nói về pháp thụ giới.2. Thuyết giới kiền độ, cũng gọi Bố tát pháp, Bố tát kiền độ. Nói về pháp sám hối thuyết giới hàng tháng. 3. An cư kiền độ: Nói về pháp kết chế an cư vào tháng 5, 6 hàng năm. 4. Tự tứ kiền độ: Nói về việc vào ngày kết thúc hạ an cư, các vị tỉ khưu tự do nói ra những lỗi lầm của mình đã phạm trong 3 tháng an cư. 5. Bì cách kiền độ: Nói về pháp được sử dụng da thuộc hay không. 6. Y kiền độ: Nói về pháp 3 áo của tỉ khưu. 7. Dược kiền độ, cũng gọi Y dược pháp. Nói về 4 loại thuốc. 8. Ca hi na y kiền độ: Nói về việc người tự tin được nhận áo Ca hi na(áo công đức) trong vòng 5 tháng sau an cư. 9. Câu thiểm di kiền độ, cũng gọi Câu xá di pháp. Nói về việc các tỉ khưu dèm chê lẫn nhau diễn ra ở nước Câu thiểm di. 10. Chiêm ba kiền độ: Nói về việc chúng tăng tranh cãi xảy ra ở nước Chiêm ba. 11. Ha trách kiền độ, cũng gọi Yết ma kiền độ. Nói về pháp trị phạt các tỉ khưu xấu ác. 12. Nhân kiền độ, cũng gọi Tăng tàn hối pháp, Biệt trụ pháp, Biệt trụ kiền độ. Nói về phép dạy bảo các tỉ khưu phạm tội mà không che giấu. 13. Phú tàng kiền độ, cũng gọi Tụ tập kiền độ. Nói về pháp trị phạt những tỉ khưu phạm tội mà cố tình che giấu. 14. Già kiền độ, cũng gọi Già bố tát pháp. Nói về pháp ngăn chặn các tỉ khưu phạm pháp, không cho tham dự Bố tát khi chúng tăng thuyết giới. 15. Phá tăng kiền độ, cũng gọi Điều đạt sự. Nói về việc phá Pháp luân tăng, phá Yết ma tăng. 16. Diệt tránh kiền độ, cũng gọi Tránh sự pháp. Nói về 7 pháp dứt sự tranh luận. 17. Tỉ khưu ni kiền độ: Nói về pháp đặc thù của tỉ khưu ni. 18. Pháp kiền độ, cũng gọi Uy nghi pháp. Nói về những uy nghi của tỉ khưu như ngồi, làm, nói, im... đúng phép tắc. 19. Phòng xá kiền độ, cũng gọi Ngọa cụ pháp. Nói về phòng xá hoặc đồ dùng của các tỉ khưu. 20. Tạp kiền độ: Nói về những việc linh tinh khác ngoài 19 kiền độ nêu trên. [X. luật Tứ phần Q.31-53; luật Ngũ phần Q.15-26; luật Thập tụng Q.21-40].

nhị thập lực

(二十力) Chỉ cho 20 thứ lực dụng của Bồ tát. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ nêu ra 20 thứ lực dụng của Bồ tát ở cõi Tịnh độ cực lạc như sau: - Nhân lực: Sức thiện căn ở đời quá khứ.- Duyên lực: Thiện tri thức ở hiện tại. - Ý lực: Sức tư duy. - Nguyện lực: Do tư duy mà sinh khởi tâm bồ đề. - Phương tiện lực: Phương tiện gia hạnh. - Thường lực: Phương tiện gia hạnh và vô gián tu. - Thiện lực: Tu hành thiện pháp. - Định lực và tuệ lực: Từ gia hạnh hướng tới Chỉ quán song tu của Chính tu. - Đa văn lực: Sức hiểu rộng nghe nhiều về kinh pháp. - Thí lực, Giới lực, Nhẫn nhục lực, Tinh tiến lực, Thiền định lực, Trí tuệ lực: Do sức hiểu rộng nghe nhiều mà khởi tâm tu hành Lục độ. - Chính niệm lực: Niệm xả bỏ chấp tướng. - Chính quán lực: Trừ tạp loạn chứng thuần chân. - Chư thông minh lực: Lực dụng của lục thông, tam minh. - Như pháp điều phục chư chúng sinh lực: Có đại dụng của hạnh hóa tha. [X. Quán vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật tán văn (Cảnh hưng)].

nhị thập nan

(二十難) Hai mươi việc khó thực hiện. Cứ theo kinh Tứ thập nhị chương thì 20 việc ấy là: 1. Nghèo túng mà bố thí được là khó. 2. Giàu sang mà biết học đạo là khó. 3. Bỏ mình vì đạo hoặc vì 1 lí tưởng cao cả là khó. 4. Được thấy kinh Phật là khó(như người ở chốn rừng sâu hoặc nơi biên địa). 5. Gặp được Phật ra đời là khó. 6. Xa lìa được sắc dục là khó. 7. Thấy danh lợi mà không màng là khó.8. Có quyền thế mà chuộng nhân nghĩa là khó. 9. Bị người làm nhục mà không oán hận là khó. 10. Gặp việc mà tâm không đắm nhiễm là khó. 11. Học rộng hiểu nhiều là khó. 12. Không khinh người thua kém mình là khó. 13. Bỏ tính kiêu căng ngạo mạn là khó. 14. Gặp được thiện tri thức(bạn hiền)là khó.15. Thấy tính học đạo là khó. 16. Đối cảnh không động tâm là khó. 17. Khéo hiểu phương tiện là khó. 18. Tùy cơ duyên hóa độ người là khó. 19. Không phân biệt oán thân là khó. 20. Không nói chuyện thị phi là khó. [X. Tam tạng pháp số Q.47].

nhị thập ngũ bồ tát

(二十五菩薩) Hai mươi lăm vị Bồ tát. Cứ theo kinh Thập vãng sinh (do Vãng sinh yếu tập dẫn dụng)thì có 25 vị Bồ tát theo đức Phật A di đà khi Ngài đi tiếp dẫn những người được sinh về Tịnh độ cực lạc. Đó là các Bồ tát: Quan thế âm, Đại thế chí, Dược vương, Dược thượng, Phổ hiền, Pháp tự tại vương, Sư tử hống, Đà la ni, Hư không tạng, Bảo tạng, Đức tạng, Kim tạng, Kim cương tạng, Sơn hải tuệ, Quang minh vương, Hoa nghiêm, Chúng bảo vương, Nguyệt quang vương, Nhật chiếu vương, Tam muội vương, Định tự tại vương, Đại tự tại vương, Bạch tượng vương, Đại uy đức vương và Vô biên thân.

nhị thập ngũ bộ

(二十五部) Hai mươi lăm bộ. Mật giáo chia 5 trí của Kim cương giới làm 5 bộ, mỗi bộ lại đều có 5 trí nên cộng thành 25 bộ. Bí tạng kí quyển hạ (Đại 86, 9 thượng) nói: Kiến lập nhị thập ngũ bộ như thế nào? Năm bộ tức 5 trí, mỗi trí lại có đủ 5 trí, cho nên thành 25 bộ, cứ như thế mở rộng ra thành vô lượng bộ.

nhị thập ngũ chúng

(二十五衆) Hai mươi lăm chúng. Đây là cơ quan hóa đạo của Phật giáo được tổ chức vào đời Tùy ở Trung quốc. Năm Khai hoàng 12 (592), vua Văn đế nhà Tùy tuyển chọn 25 vị cao tăng để tổ chức thành 25 chúng. Nhà vua muốn dùng Phật giáo như 1 quốc sách để phát huy văn hóa. Lúc bấy giờ ngài Tăng xán là vị Đệ nhất Ma ha diễn trong 25 chúng, ngài có soạn bộ luận Thập chủng Đại thừa. Ngài Tăng côn giữ chức Độc kinh pháp chủ, có soạn bộ Luận tràng; ngài Tuệ ảnh giữ chức Nhị thập ngũ chúng chủ, có soạn bộ luận Thương học... [X. Tục cao tăng truyện Q.7, 9, 15; Lịch đại tam bảo kỉ Q.12].

nhị thập ngũ chủng thanh tịnh định luân

(二十五種清淨定輪) Hai mươi lăm bánh xe Thiền định thanh tịnh.Tất cả các vị Bồ tát muốn chứng viên giác đều phải tu Thiền định. Bởi vì trí tuệ thanh tịnh vô ngại đều nương nơi Thiền định mà sinh. Thiền định có 3 thứ: Xa ma tha(tĩnh lặng), Tam ma bát để(như huyễn) và Thiền na(dứt bặt). Ba loại thiền này gồm 25 phương pháp tu, gọi là Nhị thập ngũ chủng thanh tịnh định luân. Chư Phật trong 10 phương, 3 đời đều nhờ tu pháp này mà chứng được Vô lượng chính đẳng chính giác. [X. kinh Viên giác].

Nhị Thập Ngũ Hữu

(二十五有): tức 25 cảnh giới trong đó chúng sanh tồn tại, gồm Tứ Thú (四趣) là Địa Ngục (s, p: naraka, 地獄), Ngạ Quỷ (s: preta, p: peta, 餓鬼), Súc Sanh (s: tiryagyoni, p: tiracchānayoni, 畜生), A Tu La (s: asura, 阿修羅); Tứ Châu (s: catvāro dvīpāḥ, p: cattāro dīpā, 四洲) là Đông Thắng Thân Châu (s: Pūrva-videha, 東勝身洲, tức Đông Phất Bà Đề [東弗婆提]), Nam Thiệm Bộ Châu (s: Jampudīpa, 南贍部洲, tức Nam Diêm Phù Đề [南閻浮提]), Tây Ngưu Hóa Châu (s: Apara-godhānīya, 西牛貨洲, tức Tây Cù Da Ni [西瞿耶尼]), Bắc Cu Lô Châu (s: Uttara-kuru, 北倶盧洲, tức Bắc Uất Đơn Việt [北鬱單越]); Tứ Thiên Vương Thiên (s: Cāturṁahārājakāyika, 四天王天), Tam Thập Tam Thiên (s: Trayastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 三十三天), Diệm Ma Thiên (s: Yāma, 焰摩天), Tha Hóa Tự Tại Thiên (s: Paranirmita-vaśa-vartin, 他化自在天), Sơ Thiền Thiên (初禪天), Đại Phạm Thiên (s: Mahābrahmā, 大梵天), Nhị Thiền Thiên (二禪天), Tam Thiền Thiên (三禪天), Tứ Thiền Thiên (四禪天), Vô Tưởng Thiên (s: Avṛha, 無想天), A Na Hàm Thiên (阿那含天), và 4 cõi Không Xứ Thiên (空處天).

Nhị thập ngũ hữu

二十五有; C: èrshíwǔ yǒu; J: nijūgōu;|1. Hai mươi lăm cõi hiện hữu của chúng sinh. Đó là sự phân chia ba cõi chúng sinh đang luân hồi thành hai mươi lăm thành phần. Trong cõi Dục có 14 cách hiện hữu, trong cõi Sắc có 7, trong cõi Vô Sắc có 4. Hai mươi lăm cõi hiện hữu này được sắp xếp thành: Tứ ác đạo (四惡道), Tứ châu (四洲), Lục dục thiên (六欲天), Tứ thiền thiên (四禪天), Ngũ tịnh cư thiên (五淨居天), và Tứ không xứ thiên (四空處天); 2. Cũng là thuật ngữ thường được chỉ cho »Tam giới« (三界) hoặc là »tất cả chúng sinh«.

nhị thập ngũ hữu

xem hai mươi lăm cảnh giới hiện hữu. ; (二十五有) Thế giới mê vọng luân hồi sinh tử được chia thành 25 Hữu(có), vì có nhân ắt có quả, nhân quả không mất nên gọi là Hữu. Hai mươi lăm hữu tức là 25 quả thể dị thục của các loài hữu tình trong 3 cõi. Đó là: 1. Địa ngục hữu. 2. Súc sinh hữu. 3. Ngã quỉ hữu. 4. A tu la hữu. 5. Phất bà đề hữu. 6. Cù da ni hữu. 7. Uất đơn việt hữu. 8. Diêm phù đề hữu. 9. Tứ thiên xứ hữu. 10. Tam thập tam thiên xứ hữu. 11. Diệm ma thiên hữu. 12. Đâu suất thiên hữu. 13. Hóa lạc thiên hữu. 14. Tha hóa tự tại thiên hữu.15. Sơ thiền hữu. 16. Đại phạm thiên hữu. 17. Nhị thiền hữu. 18. Tam thiền hữu. 19. Tứ thiền hữu. 20. Vô tưởng hữu. 21. Tịnh cư a na hàm hữu. 22. Không xứ hữu. 23. Thức xứ hữu. 24. Bất dụng xứ hữu. 25. Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu. Trong đường trời, 6 cõi Dục, 4 Thiền và 4 Vô sắc, mỗi cõi là 1 Hữu; mở riêng cõi Đại phạm thuộc Sơ thiền, cõi Vô tưởng và Tịnh cư thuộc Tứ thiền, mỗi cõi là 1 Hữu. Tổng kết, cõi Dục 14 hữu, cõi Sắc 7 Hữu và cõi Vô sắc 4 Hữu. Phương pháp phá 25 hữu này chính là 25 Tam muội.[X. kinh Đại bát niết bàn Q.14 (bản Bắc); phẩm Pháp môn trong kinh Nhập lăng già Q.7, phần 5]. (xt. Nhị Thập Ngũ Tam Muội).

nhị thập ngũ phương tiện

(二十五方便) Hai mươi lăm phương tiện. Pháp tu quán tâm của tông Thiên thai được chia làm 2 loại là Phương tiện và Chính tu. Riêng về phương tiện thì có 25 thứ được chia ra 5 khoa. Đó là: 1. Cụ ngũ duyên: Đầy đủ 5 duyên. Tức là: Giữ giới thanh tịnh, ăn mặc đầy đủ, ở nơi vắng vẻ, dứt mọi công việc, gần thiện tri thức.2. Ha ngũ dục: Quở trách 5 dục. Tức là không tham đắm 5 trần cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc. 3. Khí ngũ cái: Bỏ 5 phiền não gây chướng ngại. Tức là tham muốn, giận hờn, ngủ gục, thô tháo, hoài nghi. 4. Điều ngũ sự: Điều hòa 5 việc. Tức là giữ cho thân, tâm, hơi thở, ăn, ngủ được điều độ, đúng mức, không thái quá, không bất cập. 5. Hành ngũ pháp: Làm 5 pháp. Tức thực hành 5 pháp: Dục, tinh tiến, niệm, xảo tuệ và nhất tâm... Ma ha chỉ quán quyển 4 phần cuối (Đại 46, 48 hạ) nói: Hai mươi lăm pháp này đều là phương tiện để tu trí tuệ và thiền định, vì các pháp quán bất đồng nên phương tiện cũng khác nhau. [X. Thiên thai tứ giáo nghi; Ma ha chỉ quán Q.4, phần đầu].

Nhị Thập Ngũ Tam Muội

(二十五三昧): 25 cảnh giới Tam Muội (, Định) dùng để phá tan 25 hình thức tồn tại (Nhị Thập Ngũ Hữu [二十五有]) được thuyết trong các kinh điển như Nam Bản Niết Bàn Kinh (南本涅槃經) quyển 13, Pháp Hoa Kinh Huyền Nghĩa (法華經玄義) quyển 4, Pháp Hoa Huyền Nghĩa Thích Thiêm (法華玄義釋籤) quyển 4, v.v., và cũng được Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-397) nhấn mạnh trong Thiên Thai Tông. Nhị Thập Ngũ Tam Muội gồm: (1) Vô Cấu Tam Muội (無垢三昧) để phá tan sự tồn tại của Địa Ngục (s, p: naraka, 地獄); (2) Bất Thối Tam Muội (不退三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Súc Sanh (s: tiryagyoni, p: tiracchānayoni, 畜生); (3) Tâm Lạc Tam Muội (心樂三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Ngạ Quỷ (s: preta, p: peta, 餓鬼); (4) Hoan Hỷ Tam Muội (歡喜三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi A Tu La (s: asura, 阿修羅); (5) Nhật Quang Tam Muội (日光三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Đông Phất Bà Đề (東弗婆提, tức Đông Thắng Thân Châu [s: Pūrva-videha, 東勝身洲]); (6) Nguyệt Quang Tam Muội (月光三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Tây Cù Da Ni (西瞿耶尼, tức Tây Ngưu Hóa Châu [s: Apara-godhānīya, 西牛貨洲]); (7) Nhiệt Diệm Tam Muội (熱燄三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Bắc Uất Đơn Việt (北鬱單越, tức Bắc Cu Lô Châu[s: Uttara-kuru, 北倶盧洲]); (8) Như Huyễn Tam Muội (如幻三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Nam Diêm Phù Đề (南閻浮提, tức Nam Thiệm Bộ Châu [s: Jampudīpa, 南贍部洲]); (9) Bất Động Tam Muội (不動三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Tứ Thiên Vương Thiên (s: Cāturṁahārājakāyika, 四天王天); (10) Nan Phục Tam Muội (難伏三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Tam Thập Tam Thiên (三十三天, cõi trời thứ 33, tức cõi trời Đao Lợi [s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 忉利]); (11) Duyệt Ý Tam Muội (悅意三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Diệm Ma Thiên (s: Yāma, 焰摩天); (12) Thanh Sắc Tam Muội (青色三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Đâu Suất Thiên (s: Tuṣita, p: Tusita, 兜率天); (13) Huỳnh Sắc Tam Muội (黃色三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Hóa Lạc Thiên (s: Nirmāṇa-rati,化樂天); (14) Xích Sắc Tam Muội (赤色三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Tha Hóa Tự Tại Thiên (s: Paranirmita-vaśa-vartin, 他化自在天); (15) Bạch Sắc Tam Muội (白色三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Sơ Thiền (初禪); (16) Chủng Chủng Tam Muội (種種三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Đại Phạm Thiên (s: Mahābrahmā, 大梵天); (17) Song Tam Muội (雙三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Nhị Thiền (二禪); (18) Lôi Âm Tam Muội (雷音三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Tam Thiền (三禪); (19) Chú Vũ Tam Muội (注雨三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Tứ Thiền (四禪); (20) Như Hư Không Tam Muội (如虛空三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Vô Tưởng Thiên (s: Avṛha, 無想天); (21) Chiếu Kính Tam Muội (照鏡三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Tịnh Cư A Na Hàm Thiên (淨居阿那含天); (22) Vô Ngại Tam Muội (無礙三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Không Vô Biên Xứ (s: Akāśānantyāyatana, 空無邊處); (23) Thường Tam Muội (常三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Thức Vô Biên Xứ (s: Vijñānānantyāyatana, 識無邊處); (24) Lạc Tam Muội (樂三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Vô Sở Hữu Xứ (s: Ākiñcanyāyatana, 無所有處); và (25) Ngã Tam Muội (我三昧) để phá tan sự tồn tại của cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ (s: Naivasaṁjñānāsaṁjñāyatana, 非想非非想處).

nhị thập ngũ tam muội

(二十五三昧) Cũng gọi Tam muội chi vương. Hai mươi lăm loại Tam muội để phá trừ 25 hữu trong 3 cõi. Đó là: 1. Dùng tam muội Vô cấu phá địa ngục hữu.2. Dùng tam muội Bất thoái phá súc sinh hữu.3. Dùng tam muội Tâm lạc phá ngã quỉ hữu.4. Dùng tam muội Hoan hỉ phá A tu la hữu.5. Dùng tam muội Nhật quang phá Đông phất bà đề hữu. 6. Dùng tam muội Nguyệt quang diệt Tây cù da ni hữu. 7. Dùng tam muội Nhiệt diệm phá Bắc ất đơn việt hữu. 8. Dùng tam muội Như huyễn diệt Nam diêm phù đề hữu. 9. Dùng tam muội Bất động phá Tứ thiên vương xứ hữu. 10. Dùng tam muội Nan phục phá Tam thập tam thiên xứ hữu. 11. Dùng tam muội Duyệt ý phá Diệm ma thiên xứ hữu. 12. Dùng tam muội Thanh sắc phá Đâu suất thiên xứ hữu. 13. Dùng tam muội Hoàng sắc phá Hóa lạc thiên xứ hữu. 14. Dùng tam muội Xích sắc diệt Tha hóa tự tại thiên hữu. 15. Dùng tam muội Bạch sắc diệt Sơ thiền hữu. 16. Dùng tam muội Chủng chủng phá Đại phạm thiên hữu. 17. Dùng tam muội Song phá Nhị thiền hữu.18. Dùng tam muội Lôi âm phá Tam thiền hữu. 19. Dùng tam muội Chú vũ phá Tứ thiền hữu.20. Dùng tam muội Như hư không phá Vô tưởng hữu. 21. Dùng tam muội Chiếu kính phá Tịnh cư a na hàm hữu. 22. Dùng tam muội Vô ngại phá Không xứ hữu. 23. Dùng tam muội Thường phá Thức xứ hữu. 24. Dùng tam muội Lạc phá Bất dụng xứ hữu. 25. Dùng tam muội Ngã phá Phi tưởng phi phi tưởng xứ hữu. [X. kinh Niết bàn Q.13 (bản Nam); Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.4, phần đầu; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.4, phần đầu].

nhị thập ngũ thần

(二十五神) Hai mươi lăm vị thiện thần che chở, bảo vệ những người thụ trì 5 giới, được chia ra như sau: 1. Năm vị thần bảo vệ người giữ giới không giết hại: - Thái sô tì dũ tha ni. - Du đa lợi du đà ni. - Tì lâu già na ba. - A đà long ma để. - Bà la hoàn ni hòa ba. 2. Năm vị thần bảo vệ người giữ giới không trộm cướp: - Để ma a tì bà đà. - A tu luân bà la đà. - Bà la ma thiện hùng thư - Bà la môn địa tì đa. - Na ma ha đa da xá. 3. Năm vị thần bảo vệ người giữ giới không gian dâm: - Phật đà tiên đà lâu đa. - Tì xa da tẩu đa sa. - Niết để hê đà da da. - A la đa lại đô da. - Ba la na phật đàm. 4. Năm vị thần bảo vệ người giữ giới không nói dối: - A đề phạm giả san da. - Nhân đài la nhân đài la. - A già lam thi bà đa. - Phật đàm di ma đa đa. - Đa lại xoa tam sát đà. 5. Năm vị thần bảo vệ người giữ giới không uống rượu: - A ma la tư đâu hi. - Na la môn xà đâu đế. - Tát tì ni càn na ba. - Đồ tì xà tì xá la. - Già ma tì na xà ni khư. [X. kinh Quán đính Q.1; Pháp uyển châu lâm Q.88].

nhị thập ngũ tắc phụ thi quỷ cố sự tập

(二十五則附尸鬼故事集) Phạm:Vetàlapaĩcaviôzatikà. Tác phẩm văn học cổ điển của Ấn độ được viết bằng tiếng Phạm, nhưng niên đại của tác giả và tác phẩm được hoàn thành vào khi nào thì đều không rõ. Nội dung sách này do 1 con quỉ nhập vào xác chết kể lại 25 câu truyện cổ mà thành. Cốt truyện như sau: Một kẻ ác đội lốt tu hành muốn giết hại nhà vua, lập mưu tính kế bằng cách bảo vua hàng đêm đến nghĩa địa vác 1 xác chết trên lưng. Bấy giờ có 1 con quỉ biết rõ âm mưu của kẻ tu hành độc ác, bèn nhập vào xác chết và mỗi đêm kể chuyện cho vua nghe. Cứ mỗi lần hết 1 câu chuyện, con quỉ lại thêm 1 câu đố để vua đoán thử. Đến đêm thứ 25, rốt cuộc nhà vua không đoán được câu đố nào, quỉ bèn hiện nguyên hình ra khỏi xác chết nói thật cho vua biết và giết chết kẻ ác đội lốt nhà tu, đồng thời giúp nhà vua được sức thần thông. Tập truyện cổ này được dịch ra bằng nhiều ngôn ngữ địa phương ở Ấn độ, bản được lưu truyền rộng rãi hơn cả là bản dịch tiếng Hindi dưới tựa đềBaitàl Pachìsì. Trung quốc thì có bản Quỉ thoại liên thiên tập(do Mi văn khai dịch). Ngoài ra còn có các bản dịch tiếng Tây tạng, Mông cổ và các nước khác trên thế giới. Cho đến các loại sách thuộc truyện cổ dân gian, văn học đồng thoại, ngụ ngôn của các nước như truyện Bốn anh em, truyện Sáu người con trai của nước Đức(Cách lâm đồng thoại), truyện Cười tỉnh ngủ của Nhật bản... đều chịu ảnh hưởng của sách này.

nhị thập ngũ viên thông

(二十五圓通) Hai mươi lăm phương pháp chứng ngộ của hàng Bồ tát và Thanh văn. Viên thông nghĩa là tròn đầy trùm khắp, dung thông vô ngại. Vì cơ duyên của chúng sinh khác nhau nên pháp tu để chứng được viên thông cũng bất đồng. Con số 25 bao gồm 6 trần, 6 căn, 6 thức và 7 đại, đó là: 1. Âm thanh: Viên thông về thanh trần của các ngài Kiêu trần na... 2. Sắc nhân: Viên thông về sắc trần của tỉ khưu Ưu ba ni sa đà. 3. Hương nhân: Viên thông về hương trần của đồng tử Hương nghiêm. 4. Vị nhân: Viên thông về vị trần của 2 vị Pháp vương tử: Dược vương, Dược thượng. 5. Xúc nhân: Viên thông về xúc trần của các ngài Bạt đà la... 6. Pháp nhân: Viên thông về pháp trần của các ngài Ma ha ca diếp. 7. Kiến nguyên: Viên thông về nhãn căn của ngài A na luật đà. 8. Tức không: Viên thông về tị căn của ngài Chu lợi bàn đặc ca. 9. Vị tri: Viên thông về thiệt căn của ngài Kiều phạm bát đề. 10. Thân giác: Viên thông về thân căn của ngài Tất lăng già bà ta 11. Pháp không: Viên thông về ý căn của ngài Tu bồ đề. 12. Tâm kiến: Viên thông về nhãn thức của ngài Xá lợi phất. 13. Tâm văn: Viên thông về nhĩ thức của bồ tát Phổ hiền. 14. Tị tức: Viên thông về tị thức của ngài Tôn đà la nan đà. 15. Pháp âm: Viên thông về thiệt thức của ngài Phú lâu na. 16. Thân giới: Viên thông về thân thức của ngài Ưu ba di. 17. Tâm đạt: Viên thông về ý thức của ngài Đại mục kiền liên. 18. Hỏa tính: Viên thông về hỏa đại của ngài Ô sô sắt ma. 19. Địa tính: Viên thông về địa đại của bồ tát Địa trì. 20. Thủy tính: Viên thông về thủy đại của đồng tử Nguyệt quang. 21. Phong tính: Viên thông về phong đại của Pháp vương tử Lưu li quang. 22. Không tính: Viên thông về không đại của bồ tát Hư không tạng. 23. Thức tính: Viên thông về thức đại của bồ tát Di lặc. 24. Tịnh niệm: Viên thông về căn đại của bồ tát Đại thế chí. 25. Nhĩ căn: Viên thông về nhĩ căn của bồ tát Quan âm. [X. Lăng nghiêm kinh viên thông sớ Q.5, 6; Thủ lăng nghiêm nghĩa sớ chú kinh Q.5, 6; Lăng nghiêm kinh tập chú Q.5, 6].

nhị thập ngũ điều

(二十五條) Tấm ca sa 25 nẹp, thuộc loại ca sa thượng thượng phẩm. Hai mươi lăm nẹp này được khâu theo chiều ngang, mỗi nẹp được khâu bằng 4 miếng vải dài, 1 miếng vải ngắn, gọi là Tứ thường nhất đoản. Ca sa 25 nẹp chỉ được mặc khi vào cung vua, thăng tòa thuyết pháp, đi khất thực và hàng phục ngoại đạo... [X. Tì ni nhật dụng thiết yếu; Pháp phục cách chính; Điều diệp thứ đệ phân Q.5].

nhị thập ngũ điểm

(二十五點) Hai mươi lăm điểm. Đây là cách khu biệt thời gian trong Thiền viện. Khoảng từ chập tối đến gần sáng được chia làm 5 canh, mỗi canh lại chia làm 5 điểm, cộng thành 25 điểm. Khi báo canh thì đánh trống, báo điểm thì đánh bảng. [X. Tăng đường thanh qui Q.1].

nhị thập ngũ đàn biệt tôn pháp

(二十五壇別尊法) Pháp Hộ ma của Mật giáo được tu để cúng dường 25 vị tôn 1 cách riêng rẽ nhằm phá trừ 25 Hữu. (xt. Hữu).

nhị thập ngũ đế

(二十五諦) Hai mươi lăm nguyên lí chân thực. Phái Triết học Số luận của Ấn độ chủ trương Nhị nguyên, cho rằng vũ trụ vạn hữu được hình thành bởi Thần ngã (Phạm: Puruwa–nguyên lí tinh thần) và Tự tính (Phạm:Prakfti–nguyên lí vật chất) rồi chia quá trình chuyển biến của thế giới làm 25 thứ, cho đó là lí chân thực nên gọi là Nhị thập ngũ đế. Quá trình chuyển biến đó là: Từ tự tính sinh ra giác(cũng gọi là đại, là quan năng giác tri tồn tại trong thể, tức trí quyết đoán); từ giác lại sinh ra ngã mạn của ý thức tự ngã(ngã chấp); rồi lại từ ngã mạn sinh ra 5 yếu tố(ngũ đại): Đất, nước, lửa, gió, không. Tám thứ nêu trên là cội gốc sinh ra muôn vật, cho nên được gọi là Căn bản tự tính. Rồi lại từ 5 yếu tố sinh ra 5 duy: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, 5 tri căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân (da),5 tác căn: Lời nói, tay, chân, sinh thực khí, bài tiết khí, cho đến sinh ra tâm căn (16 thứ nói trên đây đều từ vật khác sinh ra, cho nên gọi là Thập lục biến dị – 16 thứ đổi khác). Như vậy là từ tự tính sâu kín hiển hiện ra 23 thứ như giác, ngã mạn... cộng thêm 2 thứ Tự tính và Thần ngã thành 25 đế. Trên đây là thuyết xưa, ngoài ra còn có nhiều thuyết khác nữa. Tự tính vốn do 3 yếu tố(3 đức): Thuần chất (Hỉ, Phạm:Sattva, Hán âm: Tát đỏa –mừng), Kích chất (Phạm:Rajas, Hán âm: La xà –lo) và Ế chất (Phạm: Tamas, Hán âm: Đa ma –tối tăm) cấu tạo thành. Nếu trạng thái thăng bằng của 3 yếu tố ấy bị phá vỡ, thì phải xét đến mối quan hệ giữa Thần ngã và Tự tính, để làm cho nội trí được hoàn toàn quân bình, thì Thần ngã có thể thoát ra khỏi sự trói buộc của vật chất, mà đạt đến giải thoát để trở lại trạng thái thuần tịnh lúc ban đầu. [X. luận Kim thất thập Q.thượng]. (xt. Ngã Mạn Đế, Số Luận Học Phái).

Nhị thập nhất chủng lễ tán kinh

二十一種禮讃經; C: èrshíyīzhǒng lǐzàn jīng; J: nijūisshu raisan kyō;|Tên gọi tắt của Thánh giáo độ Phật mẫu nhị thập nhất chủng lễ tán kinh (聖救度佛母二十一種禮讃經).

Nhị thập nhị chủng ngu si

二十二種愚癡; C: èrshíèrzhǒng yúchī; J: nijūnishu guchi;|Hai mươi hai thứ ngu si phải được chuyển hoá ở hai giai vị Bồ Tát thập nhất địa (十一地; gồm Bồ Tát thập địa và Phật địa). Thêm vào mỗi một cặp nầy là tiến trình diễn biến và phiền não thô trọng (麁重) dính mắc với nhau: 1. Chấp trước bổ-đặc-già-la cập pháp ngu si (執著補特伽羅及法愚癡) và Ác thú tạp nhiễm ngu si (惡趣雜染愚癡); 2. Vi tế ngộ phạm ngu si (微細誤犯愚癡) và Chủng chủng nghiệp thú ngu si (種種業趣愚癡); 3. Dục tham ngu si (欲貪愚癡) và Viên mãn văn trì đà-la-ni ngu si (圓滿聞持陀羅尼愚癡); 4. Đẳng chí ái ngu si (等至愛愚癡) và Pháp ái ngu si (法愛愚癡); 5. Nhất hướng tác ý khí bội sinh tử ngu si (一向作意棄背生死愚癡) và Nhất hướng tác ý thú hướng niết-bàn ngu si (一向作意趣向涅槃愚癡); 6. Hiện tiền quán sát chư hành lưu chuyển ngu si (者現前觀察諸行流轉愚癡) và Tướng đa hiện hành ngu si (相多現行愚癡); 7. Vi tế tướng hiện hành ngu si (微細相現行愚癡) và Nhất hướng vô tướng tác ý phương tiện ngu si (一向無相作意方便愚癡); 8. Ư vô tướng tác công dụng ngu si (於無相作功用愚癡) và Ư tướng tự tại ngu si (於相自在愚癡); 9. Ư vô lượng thuyết pháp vô lượng pháp cú văn tự hậu hậu huệ biện đà-la-ni tự tại ngu si (於無量説法無量法句文字後後慧辯陀羅尼自在愚癡) và Biện tài tự tại ngu si (辯才自在愚癡); 10. Đại thần thông ngu si (大神通愚癡) và Ngộ nhập vi tế bí mật ngu si (悟入微細祕密愚癡); 11. Ư nhất thiết sở tri cảnh giới cực vi tế trước ngu si (於一切所知境界極微細著愚癡) và Cực vi tế ngu si (極微細愚癡).

nhị thập nhị chủng ngu si

(二十二種愚痴) Gọi tắt: Nhị thập nhị ngu. Hai mươi hai thứ ngu si mà bồ tát Thập địa và Phật địa đối trị. 1. Ngu si chấp trước ngã và pháp. 2. Ngu si đối với các tạp nhiễm trong đường ác. 3. Ngu si về việc trái phạm những lỗi lầm nhỏ nhiệm. 4. Ngu si trong việc tạo các nghiệp dẫn đến các ngả ác. 5. Ngu si đối với tâm tham muốn. 6. Ngu si về việc thụ trì Đà la ni 1 cách viên mãn. 7. Ngu si đối với việc tham đắm các thiền định.8. Ngu si đối với việc tham đắm giáo pháp. 9. Ngu si chỉ chấp trước 1 ý hướng lìa bỏ sinh tử. 10. Ngu si chỉ chấp trước 1 ý hướng đạt đến Niết bàn. 11. Ngu si trong việc quán xét những hành lưu chuyển hiện tiền. 12. Ngu si đối với các tướng thô trọng hiện hành. 13. Ngu si đối với các tướng vi tế hiện hành. 14. Ngu si đối với phương tiện chỉ chấp vô tướng. 15. Ngu si chấp trước công dụng của vô tướng. 16. Ngu si tự tại đối với các tướng. 17. Ngu si không có trí tuệ biện giải đối với vô lượng pháp, vô lượng chương cú, danh tự đà la ni. 18. Ngu si không có biện tài tự tại. 19. Ngu si đối với đại thần thông. 20. Ngu si đối với việc ngộ nhập lí bí mật vi tế. 21. Ngu si chấp trước đối với tất cả cảnh giới cực vi tế đã được ngộ nhập. 22. Ngu si đối với những chướng ngại rất nhỏ nhiệm. [X. luận Thành duy thức Q.9; luận Du già sư địa Q.78] (xt. Thập Trọng Chướng).

Nhị thập nhị căn

二十二根; C: èrshíèrgēn; J: nijūnikon;|Hai mươi hai căn (pháp tăng thượng đặc biệt về sự tướng). Gồm 6 căn: mắt (nhãn 眼), tai (nhĩ 耳), mũi (tĩ 鼻), lưỡi (thiệt 舌), thân (身), ý (意); 3 căn nam (男), nữ (女) và mệnh (命); 5 thọ căn: hỉ (喜), khổ (苦), lạc (樂), ưu (憂), và xả (捨); 5 thiện căn: tín (信), cần (勤), niệm (念), định (定), và huệ (慧); 3 vô lậu căn là: vị tri đương tri căn (未知當知), dĩ tri căn (已知) và cụ tri căn (具知).

nhị thập nhị căn

(二十二根) Phạm:Dvàviôsatìndriyàịi. Hai mươi hai pháp tăng thượng đặc biệt đối với sự. Đó là: Sáu căn(nhãn căn, nhĩ căn, tị căn, thiệt căn, thân căn, ý căn), nam căn, nữ căn, mệnh căn, 5 thụ căn(khổ, vui, mừng, lo, không khổ không vui), 5 thiện căn(tín, cần, niệm, định, tuệ)và 3 căn vô lậu(vị tri đương tri căn, dĩ tri căn, cụ tri căn). Căn có nghĩa tăng thượng (thêm lên). Năm căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, mỗi căn đều làm 4 việc tăng thượng: Làm đẹp thân, nuôi dưỡng thân, sinh ra thức và chức năng riêng, vì thế gọi là Căn. Nam căn và nữ căn có chức năng làm tăng thượng sự phân biệt về giới tính, hình tướng, giọng nói... của loài hữu tình. Đối với Chúng đồng phận thì mệnh căn có ý nghĩa tăng thượng cho sự duy trì sự sống liên tục; ý căn đối với 2 việc là duy trì thân hậu hữu và tùy hành tự tại, có tác dụng tăng thượng; 5 thụ căn tùy theo sự tăng gia của các phiền não như tham, sân... thì có ý nghĩa tăng thượng đối với nhiễm ô; còn 5 thiện căn và 3 căn vô lậu thì tăng trưởng các pháp thanh tịnh, cho nên gọi là Căn. Nếu đứng về mặt thể của 22 căn mà nói, thì nam căn và nữ căn vì là 1 bộ phận của thân căn nên hoàn toàn không có thể riêng biệt. Còn 3 căn vô lậu thì lấy 9 căn: Ý căn, 3 thụ căn(khổ, vui, không khổ không vui)và 5 thiện căn làm thể, chứ không có thể riêng; vì vậy, số thể của căn thực sự chỉ có 17. [X. luận Câu xá Q.3; luận Đại tì bà sa Q.142].

nhị thập nhị môn

(二十二門) I. Nhị Thập Nhị Môn. Chỉ cho 22 môn phân biệt 18 giới nói trong phẩm Phân biệt của luận Câu xá. Đó là: Hữu kiến vô kiến, Hữu đối vô đối, Ba tính(thiện, ác, vô kí), Ba cõi(Dục, Sắc, Vô sắc), Hữu lậu vô lậu, Hữu tầm hữu tứ, Vô tầm vô tứ, Hữu sở duyên vô sở duyên, Hữu chấp thụ vô chấp thụ, Đại chủng sở tạo, Tích tụ phi tích tụ, Năng chước sở chước, Năng thiêu sở thiêu, Năng xưng sở xưng, Ngũ loại phân biệt, Đắc thành tựu, Nội ngoại, Đồng phận pháp đồng phận, Tam đoạn, Kiến phi kiến, Lục thức nội kỉ thức sở kiến, Thường vô thường, Căn phi căn. II. Nhị Thập Nhị Môn. Chư Phật muốn nương vào sức tam muội tự tại để an tâm tất cả chúng sinh nên dùng vô lượng phương tiện của hết thảy công đức đã tu hành mà sinh ra tam muội thù thắng tự tại để độ họ, tức là từ tam muội này sinh ra 22 môn là: Môn cúng dường Như lai, môn bố thí hết thảy, môn trì giới đầy đủ, môn nhịn nhục vô lượng, môn khổ hạnh tinh tiến vô lượng, môn tam muội thiền định tĩnh lặng, môn trí tuệ đại biện vô lượng, môn thực hành hết thảy phương tiện, môn thần thông 4 vô lượng, môn 4 nhiếp đại từ đại bi, môn trí tuệ vô lượng công đức, môn giải thoát hết thảy duyên khởi, môn đạo pháp căn lực thanh tịnh, môn Thanh văn tiểu thừa, môn Duyên giác trung thừa, môn Đại thừa vô thượng, môn các khổ vô thường, môn chúng sinh vô ngã, môn lìa dục bất tịnh, môn tam muội diệt định vắng lặng, môn tùy các chúng sinh khởi bệnh và môn đối trị tất cả pháp.

Nhị thập nhị ngu

二十二愚; C: èrshíèr yú; J: nijūni gu;|Nhị thập nhị chủng ngu si (二十二種愚癡).

Nhị thập nhị ngu si

二十二愚癡; C: èrshíèr yúchī; J: nijūni guchi;|Nhị thập nhị chủng ngu si (二十二種愚癡).

nhị thập nhị phẩm

(二十二品) Chỉ cho 22 phẩm. Đó là: 4 niệm xứ, 4 chính cần, 4 như ý túc, 5 căn, 5 lực, gồm 22 thứ trước giai vị Kiến đạo trong 37 phẩm trợ đạo, được gọi chung là Nhị thập nhị phẩm. Khi hành giả bắt đầu tu tập thì tâm rong ruổi theo nhiều cảnh, để chế ngự tâm ấy, trước hết phải tu Niệm trụ, cho nên Niệm trụ được xếp vào hàng ưu tiên. Kế đến là 4 chính cần, tức nhờ chế ngự được tâm mà sức siêng năng tăng trưởng; lại do siêng năng chăm chỉ mà tâm yên vui để tu thắng định, cho nên Như ý túc được đặt vào hàng thứ 3: Lấy thắng định làm chỗ dựa, Tín, Tiến, Niệm... là duyên tăng thượng của pháp xuất thế, cho nên 5 căn được xếp vào hàng thứ 4. Nghĩa căn đã được lập, có khả năng chế phục sự hiện hành của phiền não tạp nhiễm, sinh ra Thánh pháp, cho nên 5 lực được đặt vào hàng chót. [X. luận Câu xá Q.25; luận Tạp a tì đàm tâm Q.8; luận Đại trí độ Q.19]. (xt. Ngũ Lực, Ngũ Căn, Tứ Chính Cần, Tứ Niệm Trụ, Tứ Thần Túc).

nhị thập nhị vô giảm

(二十二無减) Hai mươi hai pháp không giảm. Nghĩa là 22 tâm phẩm định tương ứng với 4 trí của Như lai, được gọi là Nhị thập nhị vô giảm. Hai mươi hai tâm ấy là: Tác ý, xúc, thụ, tưởng, tư, dục, thắng giải, niệm, định, tuệ, tín, tàm, quí, vô tham, vô sân, vô si, tinh tiến, khinh an, bất phóng dật, hành xả, bất hại và tâm vương. Trong đó, 5 pháp đầu tiên là 5 biến hành trong các tâm sở; 5 pháp kế tiếp là 5 biệt cảnh trong các tâm sở và 11 pháp, kế nữa là 11 thiện pháp trong các tâm sở. [X. luận Thành duy thức Q.10].

nhị thập thiên

(二十天) I. Nhị Thập Thiên. Hai mươi vị thiên thần đẩy lui ác ma, giữ gìn thiện pháp, đó là: Phạm thiên, Đế thích thiên, Tì sa môn thiên, Trì quốc, Tăng trưởng, Quảng mục, Kim cương mật tích, Ma hê thủ la, Tán chi đại tướng, Đại biện tài, Đại công đức, Vi đà thiên tướng quân, Kiên lao địa thần, Bồ đề thụ thần, Quỉ tử mẫu thần, Ma lợi chi thiên, Nhật cung thiên tử, Nguyệt cung thiên tử, Sa kiệt la long vương và Diêm ma vương. (xt. Nhị Thập Chư Thiên). II. Nhị Thập Thiên. Chỉ cho 20 vị trời trong viện Ngoại kim cương bộ thuộc Mạn đồ la Kim cương giới của Mật giáo. (xt. Ngoại Kim Cương Nhị Thập Thiên).

nhị thập thất hiền thánh

(二十七賢聖) Hai mươi bảy bậc Hiền Thánh. Tức là 18 bậc Hữu học của 4 hướng 3 quả trước và 9 bậc Vô học A la hán được gọi chung là Nhị thập thất Hiền Thánh. Cứ theo luận Thành thực thì 27 bậc Hiền Thánh là: Tùy tín hành, Tùy pháp hành, Vô tướng hành, Dự lưu quả, Nhất lai hướng, Nhất lai quả, Bất hoàn hướng, Trung ban, Sinh ban, Hữu hành ban, Vô hành ban, Lạc tuệ, Lạc định, Chuyển thế, Hiện ban, Tín giải, Kiến đắc, Thân chứng, Thoái pháp tướng, Thủ hộ tướng, Tử tướng, Trụ tướng, Khả tiến tướng, Bất hoại tướng, Tuệ giải thoát tướng, Câu giải thoát tướng và Bất thoái tướng. Còn theo kinh Phúc điền trong Trung a hàm, thì 27 bậc ấy là: Tín hành, Pháp hành, Tín giải, Kiến đáo, Thân chứng, Gia gia, Nhất chủng, Hướng Tu đà hoàn, Đắc Tu đà hoàn, Hướng Tư đà hàm, Đắc Tư đà hàm, Hướng A na hàm, Đắc A na hàm, Trung bát niết bàn, Sinh bát niết bàn, Hành bát niết bàn, Vô hành bát niết bàn, Thượng lưu sắc cứu cánh, Tư pháp, Thăng tiến pháp, Bất động pháp, Thoái pháp, Bất thoái pháp, Hộ pháp, Thực trụ pháp, Tuệ giải thoát và Câu giải thoát. [X. phẩm Hiền thánh trong luận Thành thực; Tứ giáo nghĩa Q.3].

nhị thập trí

(二十智) Chỉ cho 20 thứ trí do tông Thiên thai dựa theo 4 giáo để thuyết minh. Như: Tạng giáo có 7 trí: Thế trí, Ngoại phàm trí, Nội phàm trí, Tứ quả trí, Bích chi phật trí, Bồ tát trí và Phật trí. Thông giáo có 5 trí: Tứ quả trí, Bích chi phật trí, Bồ tát nhập không quán trí, Bồ tát xuất giả quán trí và Phật trí. Biệt giáo có 4 trí: Thập tín trí, Tam hiền trí(Trụ, Hành, Hướng trí), Thập địa đẳng giác trí và Phật trí. Viên giáo có 4 trí: Ngũ phẩm trí, Lục căn trí, Trụ Hành Hướng Địa trí và Phật trí. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng thuyết Q.3, phần 3].

nhị thập trọng hoa tạng trang nghiêm thế giới hải

(二十重華藏莊嚴世界海) Chỉ cho 20 lớp thế giới hải Hoa tạng đẹp đẽ. Thế giới này trụ trên hoa sen trong biển Hương thủy, được trang nghiêm bằng các thứ quí báu vi diệu, hàm chứa hết thảy thế giới, sâu rộng vô cùng tận. Cứ theo phẩm Hoa tạng thế giới trong kinh Hoa nghiêm quyển 8 (bản dịch mới) thì thế giới Hoa tạng là cõi thanh tịnh trang nghiêm do đức Tì lô giá na Như lai đã tạo ra từ thủa xa xưa khi Ngài còn tu hạnh Bồ tát, cách nay vô số kiếp nhiều như bụi nhỏ trong các thế giới hải, gần gũi vô số các đức Phật nhiều như số vi trần, ở chỗ mỗi đức Phật, tịnh tu các đại nguyện nhiều như số bụi nhỏ trong các thế giới hải. Thế giới hải này có các lớp phong luân nhiều như số bụi nhỏ của núi Tu di giữ gìn, lớp phong luân trên cùng nâng đỡ biển Hương thủy, biển Hương thủy này có hoa sen lớn tên là Chủng chủng quang minh nhụy hương chàng, thế giới hải Hoa tạng trang nghiêm trụ ở trong hoa sen này, có núi Kim cương luân bao bọc chung quanh. Tất cả đất đai trong núi Kim cương luân đều do kim cương tạo thành. Trong đất đai này lại có vô số biển Hương thủy nhiều như bụi nhỏ của các cõi Phật, chung quanh mỗi biển Hương thủy có vô số 4 thiên hạ nhiều như nước của các biển Hương thủy. Trong mỗi một biển Hương thủy cũng có vô số thế giới chủng nhiều như vi trần của các cõi Phật, mỗi mỗi thế giới chủng lại có vô số thế giới nhiều như bụi nhỏ của các cõi Phật. Biển Hương thủy ở ngay chính giữa có tên là Vô biên diệu hoa quang, mọc 1 hoa sen lớn, trên hoa sen có thế giới chủng gọi là Phổ chiếu thập phương xí nhiên bảo quang minh, 20 lớp thế giới trang nghiêm đều ở trong thế giới này, được sắp xếp có lớp lang, mỗi thế giới đều có vô số thế giới nhiều như bụi nhỏ của các cõi Phật bao bọc chung quanh, mỗi thế giới đều có Phật xuất hiện, giáo hóa chúng sinh. Nhị thập trùng thế giới cũng gọi Nhị thập trùng Phật sát, từ dưới lên trên là: 1. Thế giới Hoa tạng Tối thắng quang biến chiếu, nương vào hoa Chúng bảo ma ni mà an trụ, Phật hiệu là Li cấu đăng. 2. Thế giới Hoa tạng Chủng chủng hương liên hoa diệu trang nghiêm, nương vào lưới Bảo liên hoa mà an trụ, Phật hiệu là Sư tử quang thắng chiếu. 3. Thế giới Hoa tạng Nhất thiết bảo trang nghiêm phổ chiếu quang, nương vào các thứ ngọc báu mà an trụ, Phật hiệu là Tịnh quang trí thắng chàng. 4. Thế giới Hoa tạng Chủng chủng quang minh hoa trang nghiêm, nương vào biển Chúng sắc kim cương thi la chàng mà an trụ, Phật hiệu là Kim cương quang minh vô lượng tinh tiến lực thiện xuất hiện. 5. Thế giới Hoa tạng Phổ phóng diệu hoa quang, nương vào biển Nhất thiết thụ trang nghiêm bảo luân võng mà an trụ, Phật hiệu là Hương quang hỉ lực hải. 6. Thế giới Hoa tạng Tịnh diệu quang minh, nương vào biển Kim cương cung điện mà an trụ, Phật hiệu là Phổ quang tự tại. 7. Thế giới Hoa tạng Chúng hoa diệm trang nghiêm, nương vào biển Nhất thiết bảo sắc diệm mà an trụ, Phật hiệu là Hoan hỉ hải công đức danh xưng tự tại quang. 8. Thế giới Hoa tạng Xuất sinh uy lực địa, nương vào biển Chủng chủng bảo sắc liên hoa tọa hư không mà an trụ, Phật hiệu là Quảng đại danh xưng trí hải chàng. 9. Thế giới Hoa tạng Xuất diệu âm thanh, nương vào biển Hằng xuất nhất thiết diệu âm thanh trang nghiêm vân ma ni vương mà an trụ, Phật hiệu là Thanh tịnh nguyệt quang tướng vô năng tồi phục. 10. Thế giới Hoa tạng Kim cương chàng, nương vào biển Nhất thiết trang nghiêm bảo sư tử tòa ma ni mà an trụ, Phật hiệu là Nhất thiết pháp hải tối thắng vương. 11. Thế giới Hoa tạng Hằng xuất hiện đế quang bảo quang minh, nương vào biển Chủng chủng thù diệu hoa mà an trụ, Phật hiệu là Vô lượng công đức hải. 12. Thế giới Hoa tạng Quang minh chiếu diệu, nương vào biển Hoa toàn hương thủy mà an trụ, Phật hiệu là Siêu thích phạm. 13. Thế giới Hoa tạng Sa bà, nương vào lưới hoa sen được nâng đỡ bởi phong luân nhiều màu sắc mà an trụ, Phật hiệu là Tì lô giá na Như lai Thế tôn. 14. Thế giới Hoa tạng Tịch tĩnh li trần quang, nương vào biển Chủng chủng bảo y mà an trụ, Phật hiệu là Biến pháp giới thắng âm. 15. Thế giới Hoa tạng Chúng diệu quang minh đăng, nương vào biển Tịnh hoa võng mà an trụ, Phật hiệu là Bất khả tồi phục lực phổ chiếu chàng. 16. Thế giới Hoa tạng Thanh tịnh quang biến chiếu, nương vào biển Chủng chủng hương diệm mà an trụ, Phật hiệu là Thanh tịnh nhật công đức nhãn. 17. Thế giới Hoa tạng Bảo trang nghiêm, nương vào biển Quang minh tạng ma ni tàng mà an trụ, Phật hiệu là Vô ngại trí quang minh biến chiếu thập phương. 18. Thế giới Hoa tạng Li trần, nương vào biển Chúng diệu hoa sư tử tòa mà an trụ, Phật hiệu là Vô lượng phương tiện tối thắng chàng. 19. Thế giới Hoa tạng Thanh tịnh quang phổ chiếu, nương vào biển Vô lượng sắc hương diệm tu di sơn mà an trụ, Phật hiệu là Phổ chiếu pháp giới hư không quang. 20. Thế giới Hoa tạng Diệu bảo diệm, nương vào biển Nhất thiết chư thiên hình ma ni vương mà an trụ, Phật hiệu là Phúc đức tướng quang minh.

nhị thập tứ bất tương ưng pháp

(二十四不相應法) Hai mươi bốn pháp Bất tương ứng hành của tông Duy thức, dùng để giả lập phần vị của Sắc, Tâm, Tâm sở. Đó là: Đắc, Mệnh căn, Chúng đồng phận, Dị sinh tính, Vô tưởng định, Diệt tận định, Vô tưởng sự, Danh thân, Cú thân, Văn thân, Sinh, Lão, Trụ, Vô thường, Lưu chuyển, Định dị, Tương ứng, Thế tốc, Thứ đệ, Phương, Thời, Số, Hòa hợp tính và Bất hòa hợp tính. Tông Câu xá thì lập có 14 pháp Bất tương ứng.(xt. Tâm Bất Tương Ứng Hành).

nhị thập tứ duyên

(二十四緣) Duyên, Phạm: Pratyaya. Pàli: Paccaya. Chỉ cho 24 duyên. Duyên nghĩa là giúp đỡ cho việc sinh khởi của các pháp được thành tựu viên mãn. Hai mươi bốn duyên này là danh số đặc biệt của Phân biệt Thượng tọa bộ ở Tích lan, từPàlithất luận đến luận Phát thú mới được thành lập. Đó là: 1. Nhân duyên. 2. Sở duyên duyên. 3. Tăng thượng duyên. 4. Vô gián duyên. 5. Đẳng vô gián duyên. 6. Câu sinh duyên. 7. Tương hỗ duyên. 8. Sở y duyên. 9. Y chỉ duyên. 10. Tiền sinh duyên. 11. Hậu sinh duyên. 12. Tu tập duyên. 13. Nghiệp duyên. 14. Dị thục duyên. 15. Thực duyên. 16. Căn duyên. 17. Đạo duyên. 18. Tĩnh lự duyên. 19. Tương ứng duyên. 20. Bất tương ứng duyên. 21. Hữu duyên. 22. Phi hữu duyên. 23. Khứ duyên. 24. Bất khứ duyên.

nhị thập tứ nguyện

(二十四願) Chỉ cho 24 nguyện khác của đức Phật A di đà. Đứng về phương diện hình thức mà nhận xét thì có hơi khác với 48 nguyện của Ngài nói trong kinh Vô lượng thọ, nhưng về nội dung thì giống nhau. Hai mươi bốn nguyện là: 1. Không có 3 đường ác. 2. Không có người nữ: Người nữ vãng sinh đều là hóa sinh. 3. Đất bằng 7 báu, vật dụng tự nhiên. 4. Chư Phật khen ngợi, nghe danh hiệu được vãng sinh. 5. Chuyên tâm định sinh. 6. Trung bối vãng sinh. 7. Đến đón tiếp dẫn, trụ nơi chính định. 8. Không trở lại đường ác lần nữa. 9. Đều là màu vàng ròng, không có đẹp xấu.10. Đọc được tâm ý người khác. 11. Thường tu phạm hạnh, không có tham, sân, si. 12. Từ tâm không làm hại. 13. Cúng dường chư Phật, vật cúng dường như ý. 14. Ăn uống tự nhiên. 15. Đủ 32 tướng tốt đẹp. 16. Nói Nhất thiết trí. 17. Thần thông thù thắng. 18. Nói kinh thù thắng. 19. Tuổi thọ vô lượng. 20. Vô số Bồ tát và Thanh văn. 21. Người, trời sống lâu. 22. Có trí thần thông biết việc đời trước, thấy và nghe khắp 10 phương. 23. Quyến thuộc sáng suốt. 24. Vô lượng ánh sáng, khi tiếp xúc với ánh sáng này thì cảm thấy êm dịu. [X. kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác Q.1]. (xt. Tứ Thập Bát Nguyện).

nhị thập ức nhĩ

(二十億耳) Phạm: Zroịakotiviôza, hoặc Zrotraviôzatikotì. Hán âm: Thất lũ đa tần thiết để câu chi. Cũng gọi Ức nhĩ la hán, Văn nhị bách ức. Tên vị A la hán, con của 1 trưởng giả ở nước Y lạn noa bát phạt đa thuộc Trung Ấn độ. Sau khi được đức Phật giáo hóa, Ngài xuất gia ở nước Xá vệ, 1 mình yên tĩnh, siêng năng tu tập ngày đêm không nghỉ. Vì không dứt hết được các phiền não nên Ngài bỏ tu và trở về nhà. Sau đó, đức Phật biết tin liền cho gọi Ngài đến hỏi: Khi còn ở thế tục, ông ưa thích những gì?. Đáp: Bạch đức Thế tôn! Con thích gảy đàn. Bấy giờ đức Phật mới dạy Ức nhĩ rằng: Nếu để dây đàn căng quá thì tiếng nghe không êm tai, nếu chùn quá thì không thành tiếng; chỉ khi nào dây đàn không căng, không chùn thì tiếng đàn phát ra mới êm hòa dễ nghe. Cũng thế, người tu hành nếu tinh tiến thái quá sẽ làm cho tâm bị nhiễu loạn, mất sự điều hòa, còn nếu không tinh tiến thì tâm sẽ trở nên lười biếng. Sau khi nghe đức Phật chỉ dạy, ngài Ức nhĩ liền lập chí trở lại, tâm không buông thả, tu hành đúng mức, chứng được quả A la hán. Về sau, Ngài du hóa đến Nam Ấn độ và tịch ở nước Cung kiến na bổ la. Ngài có tướng lạ là lông chân dài 2 tấc, chân không đạp đất. Ngài là vị tinh tiến bậc nhất trong hàng đệ tử của đức Phật. [X. kinh Tạp a hàm Q.9; luận Đại trí độ Q.22]

nhị thế

(二世) Chỉ cho 2 đời: Đời này và đời sau. Như nói Nhị thế an lạc(2 đời yên vui), Nhị thế tất địa(2 đời thành tựu). Nhị thế cũng được dùng để chỉ cho 2 loại thế giới Thần và Người. [X. phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa Q.3].

nhị thế gian

(二世間) Hai thế gian: Chỉ cho Hữu tình thế gian và Khí thế gian. 1. Hữu tình thế gian: Do 5 uẩn giả hòa hợp mà có tình thức, như các loài quỉ, súc sinh, người và trời... 2. Khí thế gian: Do 4 đại tích tụ mà thành núi, sông, đất đai, cõi nước, nhà cửa... để dung nạp hữu tình. Hữu tình thế gian là Chính báo và Khí thế gian là Y báo của các hữu tình. [X. phẩm Thế gian trong luận Câu xá Q.11].

nhị thế tôn

(二世尊) Cũng gọi Pháp hoa nhị thánh. Chỉ cho đức Thích ca Như lai và đức Đa bảo Như lai trong tháp Đa bảo. [X. phẩm Bảo tháp trong kinh Pháp hoa Q.4]

nhị thỉnh

(二請) Ngôn thỉnh và Niệm thỉnh. 1. Ngôn thỉnh: Dùng lời nói mà thưa hỏi. Như trong phẩm Tam muội của hội thứ 1 kinh Hoa nghiêm, bồ tát Phổ hiền dùng lời thưa hỏi 3 phẩm kế tiếp(phẩm Thế giới thành tựu, phẩm Thế giới Hoa tạng và phẩm Tì lô giá na). 2. Niệm thỉnh: Không dùng lời nói, chỉ dùng niệm tưởng mà thưa hỏi. Như trong phẩm Như lai thọ lượng của hội thứ 2 kinh Hoa nghiêm, đức Thế tôn biết tâm niệm của các vị Bồ tát liền hiện thần thông. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.1]

nhị thị

(二氏) Hai họ. Chỉ cho đức Thích ca và ngài Lão tử, tức Phật gia và Đạo gia.

nhị thọ hành

(二壽行) Chỉ cho Lưu đa thọ hành và Xả đa thọ hành. 1. Lưu đa thọ hành: Pháp xả bỏ phúc, thêm tuổi thọ của vị A la hán để mang lại lợi ích giúp chúng sinh và làm cho giáo pháp được tồn tại lâu dài. Vị A la hán hoặc đối với tăng chúng, hoặc đối với người khác, bố thí các vật như áo, bát... Bố thí xong thì phát nguyện, rồi vào Thiền định thứ 4, tâm nghĩ miệng nói: Nếu ta chiêu cảm được nghiệp quả báo giàu có, nguyện đều chuyển thành quả báo sống lâu. Lúc đó, nếu chiêu cảm quả báo giàu có thì liền chuyển thành quả báo sống lâu đúng như nguyện. 2. Xả đa thọ hành: Pháp giảm thọ tăng phúc của vị A la hán phạm hạnh đã thành tựu, để không bị các nỗi khổ như bệnh hoạn bức não thân thể. Trong trường hợp này, vị A la hán cũng bố thí chúng tăng như trường hợp trước, bố thí xong thì phát nguyện, rồi vào Thiền định thứ 4, tâm nghĩ miệng nói: Nếu ta chiêu cảm được nghiệp quả báo sống lâu, nguyện đều chuyển thành quả báo giàu có. Lúc đó, quả báo sống lâu chiêu cảm được liền chuyển thành quả báo giàu có đúng như nguyện. [X. luận Câu xá Q.3]. (xt. Lưu Xả Thọ Hành).

nhị thời

(二時) I. Nhị Thời. Chỉ cho Ca la thời và Tam ma da thời. 1. Ca la thời(Phạm,Pàli: Kàla, Hán dịch: Thực thời): Chỉ cho thời gian có thể dùng số lượng để tính toán đo lường. Đây là thời gian nói trong giới luật như thực thời(giờ ăn), phi thực thời(không phải giờ ăn).2. Tam ma da thời (Phạm, Pàli: Samaya, Hán dịch: Giả thời): Chỉ cho 1 khoảng thời gian nào đó, như kinh nói: Nhất thời Phật tại Xá vệ quốc (Một thời nọ đức Phật ở nước Xá vệ...). Thời được nói ở đây là thời giả. [X. luận Đại trí độ Q.1]. II. Nhị Thời. Chỉ cho 2 thời sớm và tối.

nhị thụ

(二受) Thân thụ và Tâm thụ. 1. Thân thụ: Thụ là cảm nhận. Thân thụ là sự cảm nhận không phân biệt ở nơi thân, tức là 3 cảm giác khổ, vui, không khổ không vui(xả)của 5 thức: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. 2. Tâm thụ: Sự cảm nhận ở nơi tâm và khởi lên phân biệt, tức là 2 cảm giác lo và mừng của ý thức. [X. luận Câu xá Q.2, 9].

nhị thụ nghiệp

(二受業) Chỉ cho Tâm thụ nghiệp và Thân thụ nghiệp. 1. Tâm thụ nghiệp: Chỉ lấy thụ tương ứng với thức thứ 6 chiêu cảm quả dị thục làm nghiệp, tức chỉ cho thiện nghiệp ở cõi trời Trung gian trở lên đến cõi trời Hữu đính. Ở các tầng trời này không có tầm, tứ nên không có thụ tương ứng với 5 thức trước, chỉ chiêu cảm Tâm thụ mà thôi. 2. Thân thụ nghiệp: Lấy thụ tương ứng với 5 thức trước chiêu cảm quả dị thục làm nghiệp, tức chỉ cho các loại nghiệp bất thiện. Địa ngục cũng có ưu thụ tương ứng với thức thứ 6, nhưng đó không phải do quả dị thục chiêu cảm, cho nên chỉ thuộc về Thân thụ. Cũng như nghiệp ở cõi trời Sơ thiền, tuy là thiện nhưng cũng là Thân thụ nên không thuộc trong Nhị thụ. [X. luận Câu xá Q.15].

nhị thủ

(二取) Chỉ cho Kiến thủ và Giới thủ. 1. Kiến thủ: Thành kiến cố chấp lệch lạc hẹp hòi, đối với pháp chẳng phải là thù thắng sinh ý tưởng quyết định thù thắng, hoặc đối với việc chẳng thực sinh tâm quyết định cho đó là sự thực, ngoài ra đều cho là dối láo. 2. Giới thủ: Thành kiến sai lầm đối với các giới điều cho rằng không cần hành trì theo trí tuệ, mà chỉ cần tắm gội mong được thanh tịnh. [X. luận Thành thực Q.10].

nhị thủ hộ

(二守護) Gọi đủ: Môn môn nhị thủ hộ. Chỉ cho 2 vị thần thủ hộ ở viện Văn thù trong Mạn đồ la Thai tạng giới và ở cửa phía tây của viện Ngoại kim cương bộ. Vị thứ 1 là Bất khả việt thủ hộ môn, vị thứ 2 là Tương hướng thủ hộ môn. Vị thứ 1 được an trí ở bên phải của cửa trong, vị thứ 2 được an trí ở bên trái. Hai vị này vâng lãnh giáo sắc của đức Như lai bảo vệ pháp môn. [X. phẩm Tất địa xuất hiện trong kinh Đại nhật Q.3].

Nhị thức

二識; C: èrshì; J: nishiki;|Có hai nghĩa: I. Hai loại thức theo Đại thừa khởi tín luận: 1. A-lại-da thức (阿頼耶識), được diễn tả như là sự chứa đựng cả Như Lai tạng và vô minh bao gồm tất cả chủng tử của các pháp; 2. Phân biệt sự thức (分別事識, còn được gọi là Ý thức 意識) nương A-lại-da thức mà sinh khởi, và nhận biết, phân biệt sáu cảnh; II. Chỉ hai thức căn bản là Mạt-na thức (末那識) và A-lại-da thức (阿頼耶識).

nhị thức

(二識) Hai thức. Chỉ cho A lại da thức và Phân biệt sự thức. 1. A lại da thức (Phạm: Àlaya-vijĩàna, Hán dịch: Vô một thức): Như lai tạng và vô minh hòa hợp thành A lại da thức, trong đó, chủng tử của hết thảy các pháp được cất chứa không để mất mát và thường biết rõ cảnh của tự thức hiện ra. 2. Phân biệt sự thức (Phạm: Manovijĩàna), cũng gọi Ý thức. Thức này nương vào thức A lại da mà sinh ra, tức chỉ cho 6 thức: Nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý phân biệt 6 cảnh: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. [X. luận Đại thừa khởi tín].

Nhị thừa

xem Ba thừa.

nhị thừa

Duyên giác thừa với Thanh văn thừa hoặc gọi là Trung thừa, Tiểu thừa, nói chung là Nhị thừa. ; (二乘) Hai cỗ xe. Ví dụ giáo pháp của đức Phật có công năng vận chuyển chúng sinh đến quả vị giác ngộ giải thoát. Giáo pháp có 2 loại nên gọi là Nhị thừa. I. Đại thừa và Tiểu thừa. Giáo pháp đức Phật nói trong 1 đời được chia thành Đại thừa và Tiểu thừa khác nhau. Tiểu thừa là giáo pháp Phật nói cho hàng Thanh văn, Duyên giác, còn Đại thừa là giáo pháp Phật nói cho hàng Bồ tát. [X. phẩm Thánh hạnh trong kinh Đại bát niết bàn Q.14 (bản Bắc); luận Nhiếp đại thừa Q.thượng (bản dịch đời Lương)]. II. Thanh văn thừa và Duyên giác thừa. 1. Thanh văn thừa: Trực tiếp nghe đức Phật nói pháp, nương vào lí Tứ đế mà giác ngộ.2. Duyên giác thừa: Không trực tiếp nghe đức Phật nói pháp, chỉ tự mình quán xét lí 12 nhân duyên mà được giác ngộ. [X. kinh Đại bảo tích Q.28; kinh Đại bát niết bàn Q.12 (bản Bắc); Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1]. III. Nhất thừa và Tam thừa. 1. Tam thừa: Trước thời Pháp hoa, sự chứng ngộ của Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát có khác nhau. 2. Nhất thừa: Trong thời Pháp hoa, đức Phật tuyên dương pháp Nhất Phật thừa để qui cả 3 thừa về 1 thừa.

Nhị thừa (thặng)

二乘; C: èrshèng; J: nijō;|Chỉ Thanh Văn (聲聞; s: śrāvaka) và Bích-chi Phật (辟支佛; s: pratyekabuddha). Hai pháp tu nầy thường được giới thiệu trong kinh văn Đại thừa, trong đó, hai thừa nầy bị xem nhẹ như là một đại biểu được gọi là truyền thống »Tiểu thừa« (小乘; s: hīnayāna), với hệ thống giáo lí tương phản với lí tưởng thực hành Bồ Tát đạo. Họ được xem như những người tu tập theo tinh thần chỉ mong đạt đến sự chứng ngộ với quả vị A-la-hán chứ không thể thành Phật. Có nghĩa là họ có khả năng cắt đứt vô lượng phiền não phát sinh bởi ba món độc (Tam độc 三毒; e: three poisons). Nhưng họ không thể tiến xa hơn nữa trên con đường tu đạo theo lí tưởng của hàng Bồ Tát vì họ thiếu sự phát huy lòng Từ bi (慈悲), thương yêu chúng sinh cũng như thiếu sự liễu ngộ về Tính không của các pháp. Một trong các bản kinh văn Đại thừa đầu tiên trình bày chi tiết về sự khác nhau trong pháp tu tập của hàng Nhị thừa và Bồ Tát là kinh Thắng Man (勝鬘經; s: śrīmālā-sūtra).

nhị thừa dị đồng

(二乘異同) Những chỗ giống và khác trong việc tu hành của 2 thừa Thanh văn, Duyên giác. Cứ theo Pháp hoa huyền tán quyển 5, thì giữa Thanh văn và Duyên giác có 3 điểm giống nhau và 7 điểm khác nhau. Ba điểm giống nhau là: 1. Cùng đoạn trừ phiền não chướng. 2. Cùng giác ngộ lí sinh không. 3. Cùng được trạch diệt vô vi giả tạm. Còn 7 điểm khác nhau là: 1. Thanh văn căn tính chậm lụt, Duyên giác căn tính nhạy bén. 2. Thanh văn nương nhờ Phật được giải thoát, Duyên giác tự giác ngộ mà được giải thoát. 3. Thanh văn nhờ lời nói pháp, Duyên giác quán xét lí của pháp. 4. Thanh văn quán xét 4 đế, Duyên giác quán xét 12 nhân duyên. 5. Thanh văn chia làm 4 quả, Duyên giác chỉ có 1 quả duy nhất. 6. Thanh văn luyện căn(hàm ý là mài luyện, tu hành)từ 3 đời cho đến 60 kiếp, còn Duyên giác thì luyện căn từ 4 đời đến 100 kiếp.7. Thanh văn thì nói pháp, Duyên giác hiện thần thông. Ngoài ra, Đại thừa nghĩa chương quyển 17, phần cuối, nêu 5 điểm giống và 6 điểm khác; Pháp hoa kinh sớ quyển 8 của ngài Gia tường nêu 7 điểm giống, 17 điểm khác; còn Pháp hoa văn cú quyển 7 thì nêu 6 điểm giống và 10 điểm khác.

nhị thừa thành phật

(二乘成佛) Hai thừa(Thanh văn, Duyên giác) đều được thành Phật. Khi đức Phật nói kinh A hàm thì hàng Nhị thừa như các ngài Xá lợi phất... chứng được quả Nhị thừa cùng tột(A la hán), trong thời gian ấy, ngài Xá lợi phất vẫn duyên theo các kinh Đại thừa. Đến khi Phật nói kinh Pháp hoa thì Ngài bỏ tâm Tiểu thừa mà phát tâm Đại bồ đề, được Phật thụ kí thành Phật trong đời vị lai. Nhưng, về vấn đề Nhị thừa thành Phật thì giữa các tông Pháp tướng và Pháp tính có những quan điểm bất đồng. Chẳng hạn như: 1. Tông Pháp tướng chủ trương 5 chủng tính khác nhau, cho rằng hàng Nhị thừa định tính không bao giờ được thành Phật, cho nên coi việc ngài Xá lợi phất được thụ kí trong kinh Pháp hoa chỉ là phương tiện thị hiện của đức Phật. 2. Tông Pháp tính như Hoa nghiêm, Thiên thai... thì chủ trương tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật, cho dù người chỉ được tiểu quả, hoặc thân họ đã chết, vào Niết bàn vô dư đi nữa, thì cũng có thể hồi Tiểu hướng Đại, thành tựu vạn hạnh, chứng được quả Phật, bởi thế, các tông này coi việc thụ kí trong kinh Pháp hoa là chân thực chứ chẳng phải là phương tiện. (xt. Nhị Thừa Tác Phật).

nhị thừa tác phật

(二乘作佛) Hai thừa thành Phật. Tức Thanh văn và Duyên giác được thành Phật. Đây là tư tưởng nòng cốt của 14 phẩm trước trong kinh Pháp hoa. Trước thời Pháp hoa, vì phương tiện mà đức Phật nói rằng chỉ có Bồ tát mới được thành Phật. Mãi đến thời Pháp hoa, Niết bàn Phật mới nói rằng nếu nương theo Nhất thừa diệu pháp thì Nhị thừa cũng đều được thành Phật. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.6].

nhị thử giảo đằng

(二鼠嚙藤) Hai con chuột cắn dây leo, ví dụ mệnh người vô thường. Hai con chuột ví dụ ngày đêm(thời gian), dây leo ví dụ sinh mệnh. Ngày đêm nối nhau, năm tháng trôi chảy, sống chết chỉ trong nháy mắt, ví như 2 con chuột đen, trắng tranh nhau cắn sợi dây leo. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.5].

nhị thực

(二食) I. Nhị Thực. Chỉ cho Pháp hỉ thực và Thiền duyệt thực.1. Pháp hỉ thực: Thức ăn bằng niềm vui chính pháp. Nghe pháp hoan hỉ, nhờ đó mà thiện căn tăng trưởng, bổ ích cho tuệ mệnh, giống như người thế gian ăn để nuôi lớn các căn, duy trì sự sống. 2. Thiền duyệt thực: Ăn bằng niềm vui thiền định. Khi vào thiền định thì an vui tĩnh lặng, nhờ đó tăng trưởng thiện căn, giúp ích cho tuệ mệnh. [X. phẩm Ngũ bách đệ tử thụ kí trong kinh Pháp hoa]. II. Nhị Thực. Chỉ cho Chính mệnh thực và Tà mệnh thực.1. Chính mệnh thực: Nuôi thân chân chính. Các vị tỉ khưu đi khất thực để nuôi sắc thân, sống cuộc đời thanh tịnh, không kinh doanh, buôn bán, xem bói, xem tướng... 2. Tà mệnh thực: Mưu sinh bằng cách bất chính. Tỉ khưu làm các nghề trái với giới luật qui định, như chăn nuôi, thương mãi, xem tướng số, đoán lành dữ... [X. luận Đại trí độ Q.3].

nhị trung

(二中) Chỉ cho Thế đế trung và Chân đế trung của tông Tam luận. Trung nghĩa là không lệch về bên nào. Nhị trung tức là căn cứ vào 2 đế để biện minh lí Trung đạo, nghĩa là Thế đế không thiên về bên Hữu và Chân đế chẳng thiên về bên Không, cho nên gọi là Trung (chính giữa). [X. Tam luận huyền nghĩa].

nhị trì

(二持) Cũng gọi Chỉ tác nhị trì, Chỉ tác. Tức Chỉ trì và Tác trì, 2 khía cạnh của giới luật. 1. Chỉ trì: Chỉ là ngăn chặn, tức là ngăn chặn thân và miệng không làm và nói các điều xấu ác. Nương vào Chỉ để giữ gìn giới thể, gọi là Chỉ trì. Chỉ trì giới dạy người chớ làm các việc ác, tức chỉ cho các điều mục của 2 bộ giới tỉ khưu và tỉ khưu ni trong Quảng luật, hoặc chỉ cho 250 giới của tỉ khưu và 348 giới của tỉ khưu ni trong luật Tứ phần. 2. Tác trì: Tác là tạo tác, tức là khích lệ thân, khẩu, ý tạo tác các nghiệp thiện. Nương vào Tác để giữ gìn giới thể, gọi là Tác trì. Tác trì giới dạy người vâng làm các việc thiện, tức chỉ cho phần Kiền độ được liệt kê sau Bản luật, hoặc chỉ cho 20 Kiền độ thụ giới, thuyết giới... trong luật Tứ phần. [X. điều Trì phạm phương quĩ trong Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung, phần 4; Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ tự; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung, phần 4; Tứ phần luật sớ Q.1, 2]. (xt. Chỉ Ác Tu Thiện).

Nhị trí

二智; C: èrzhì; J: nichi;|Hai dạng trí huệ: 1. Tận trí (盡智, trí huệ diệt tất cả phiền não) và Vô sinh trí (無生智); 2. Căn bản trí (根本智) và Hậu đắc trí (後得智), cũng gọi là Như lí trí (如理智) và Như lượng trí (如量智); 3. Quyền trí (權智) và Thật trí (實智).

nhị trọng mạn đồ la

(二重曼荼羅) Hai lớp Mạn đồ la. Chỉ cho Mạn đồ la của Thai tạng bộ và Kim cương bộ Mật giáo, mỗi bộ đều có 2 lớp Thiển lược mạn đồ la và Bí mật mạn đồ la. 1. Thai tạng giới: a) Thiển lược mạn đồ la: Theo phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật thì đây là cảnh giới gia trì do đức Đại nhật trụ trong Tam ma địa của Phật A di đà mà hiện ra, là Mạn đồ la của Liên hoa bộ trong 3 bộ. b) Bí mật mạn đồ la: Theo phẩm Bí mật trong kinh Đại nhật thì đây là cảnh giới bản địa của đức Phật Tì lô giá na, là Mạn đồ la của Phật bộ trong 3 bộ. 2. Kim cương giới: a) Thiển lược mạn đồ la: Theo kinh Giáo vương và kinh Lược xuất thì đức Đại nhật trụ trong Tam ma địa của Phật A súc, tụng chữ Hồng mà thành Phật A súc của hội Thành thân, là Mạn đồ là của Kim cương bộ trong 3 bộ. b) Bí mật mạn đồ la: Theo phẩm Tựa trong kinh Du kì thì đức Đại nhật Như lai trụ trong Tam ma địa sẵn có của chúng sinh, là cảnh giới do tự tính vô tác sẵn có hiện ra mà thành 37 vị tôn, là Mạn đồ la thuộc Phật bộ trong 3 bộ. Tóm lại, Thiển lược mạn đồ la là Mạn đồ la do sức tu hành gia trì mà phát sinh, còn Bí mật mạn đồ la là Mạn đồ la vốn có của bản địa. Lí Phật của Thai tạng bản hữu thì trụ ở Liên hoa bộ phương tây mà gia trì Hiện mạn đồ la, còn Trí Phật của Kim cương bản hữu thì trụ ở Kim cương bộ hương đông mà hiển bày Tu sinh mạn đồ la. Do đó, 2 bộ Bí mật được kiến lập trong Phật bộ và 2 bộ Thiển lược thì lấy Liên hoa bộ và Kim cương bộ làm thể. [X. Bí tạng kí; Bí tạng sao Q.1].

nhị trọng trung đạo

(二重中道) Cũng gọi Nhị chủng trung đạo. Chỉ cho Tam tính đối vọng trung đạo và Nhất pháp trung đạo. 1. Tam tính đối vọng trung đạo, cũng gọi Ngôn thuyên trung đạo. Trong 3 tính: Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực, thì tính Biến kế sở chấp là phi hữu (chẳng phải có), còn tính Y tha khởi và tính Viên thành thực là phi vô(chẳng phải không), căn cứ vào đó mà thành lập nghĩa rung đạo phi hữu phi vô. 2. Nhất pháp trung đạo, cũng gọi là Li ngôn trung đạo. Căn cứ vào 1 pháp duyên sinh để thuyết minh nghĩa Trung đạo phi hữu phi vô. [X. Quán tâm giác mộng sao Q.trung, hạ; Duy thức luận đồng học sao Q.7, phần 3; Bách pháp vấn đáp sao Q.8].

nhị tu

(二修) Chỉ cho Chuyên tu và Tạp tu. Chuyên niệm danh hiệu đức Phật A di đà để cầu sinh về Tịnh độ cực lạc, gọi là Chuyên tu, còn tu theo các pháp môn khác thì gọi là Tạp tu. Hắc cốc thượng nhân ngữ đăng lục của ngài Nguyên không, người Nhật, nói (Đại 83, 112 thượng): Nếu bỏ tạp tu mà chuyên tu thì trăm người tu trăm người vãng sinh. (...) Nếu bỏ chuyên tu mà tạp tu thì trong nghìn người tu không có được một người vãng sinh.

Nhị tâm

二心; C: èr xīn; J: nishin;|Có ba nghĩa sau: 1. Hai dạng tâm: Chân tâm (tâm không phân biệt) và Vọng tâm (tâm phân biệt); 2. Định tâm và tán tâm; 3. Tâm luôn luôn nghi ngờ.

nhị tâm

(二心) I. Nhị Tâm. Hai tâm: Chân tâm và Vọng tâm. - Chân tâm: Tâm chân thực, xa lìa hư vọng. - Vọng tâm: Tâm vọng tưởng phân biệt. Kinh Lăng nghiêm quyển 1 (Đại 19, 106 hạ) nói: Từ vô thủy đến nay, sống chết nối tiếp đều do không biết chân tâm thường trụ, thể tính trong sáng, cứ theo các vọng tưởng nên bị trôi lăn trong dòng sinh tử. II. Nhị Tâm. Chỉ cho Định tâm và Tán tâm. - Định tâm: Ngăn dứt các vọng niệm lăng xăng, tạp nhạp, tâm trụ 1 cảnh. - Tán tâm: Tâm rong ruổi theo 6 trần. Phần Huyền nghĩa trong Quán kinh sớ quyển 1 của ngài Thiện đạo (Đại 37, 246 trung) nói: Định là ngừng suy nghĩ để lắng tâm, Tán là bỏ ác để tu thiện.

nhị tính

(二性) I. Nhị Tính. Chỉ cho Chủng tính và Biệt tính. 1. Chủng tính: Những pháp có bản tính rỗng lặng, thông tất cả pháp, như các pháp: Vô sinh, vô diệt, vô lai, vô khứ... 2. Biệt tính: Các pháp đều có tính riêng biệt của chúng, như lửa có tính nóng, nước có tính ướt... [X. luận Đại trí độ Q.31] II. Nhị Tính. Chỉ cho Hữu tính và Vô tính. 1. Hữu tính: Các pháp được bày đặt giả danh, giả có tự tính. Đây là căn bản của tất cả ức tưởng hư vọng mà thế gian chấp trước, như sắc, thụ, tưởng, hành, thức, nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý cho đến Niết bàn... 2. Vô tính: Vì là bày đặt giả danh nên các pháp không có tự tính, đương thể tức không, cho nên gọi là Vô tính.

nhị tôn

(二尊) Chỉ cho 2 đức Phật: Thích ca và A di đà. Huyền nghĩa phần trong Quán vô lượng thọ kinh sớ quyển 1, Đại sư Thiên đạo đời Đường có nêu ra Yếu môn và Hoằng nguyện. Yếu môn là giáo thuyết của đức Phật Thích ca, còn Hoằng nguyện thì là giáo thuyết của đức Phật A di đà, được gọi chung là Nhị tôn giáo.

nhị tôn giáo

(二尊教) Chỉ cho giáo thuyết của 2 đức Phật Thích ca và A di đà. Tông Tịnh độ chủ trương trong kinh Vô lượng thọ và kinh Quán vô lượng thọ đều có bao hàm giáo nghĩa của cả 2 đức Phật. Về vấn đề này, ngài Thiện đạo đời Đường đã từng nói rõ. Ngài cho rằng từ xưa, các bậc Đại đức như Tuệ viễn, Trí khải, Cát tạng... chỉ đứng trên lập trường Nhất tôn giáo(giáo nghĩa của 1 đức Phật)để giải thích kinh Quán vô lượng thọ, cho nên bây giờ ngài(Thiện đạo)đặc biệt đứng trên quan điểm Nhị tôn giáo(giáo nghĩa của cả 2 đức Phật) mà hiển bày ý nghĩa sâu xa trong giáo thuyết của Nhị tôn để đặt định lại giáo nghĩa xưa nay. Phần huyền nghĩa trong Quán vô lượng thọ kinh sớ quyển 1, ngài Thiện đạo nói (Đại 37, 246 thượng): Nay nương Nhị tôn giáo, mở bày môn Tịnh độ. [X. phần Tán thiện nghĩa trong Quán vô lượng thọ kinh sớ Q.4; Hán ngữ đăng lục Q.1]

Nhị Tôn Viện

(二尊院, Nison-in); ngôi chùa của Thiên Thai Tông, hiện tọa lạc ở Saganisonin (嵯峨二尊院), Sakyō-ku (右京區), Kyōto-to (京都市), Kyōto-fu (京都府), hiệu là Tiểu Thương Sơn Nhị Tôn Giáo Viện Hoa Đài Tự (小倉山二尊敎院華台寺), là nơi linh nghiệm thứ 17 của Viên Quang Đại Sư (圓光大師, tức Pháp Nhiên), và là nơi kiêm tu học cả bốn Tông Thiên Thai, Luật, Pháp Tướng và Tịnh Độ; hiệu núi là Tiểu Thương Sơn (小倉山). Tượng thờ chính của chùa là Thích Ca Như Lai và A Di Đà Như Lai. Tên gọi Nhị Tôn Viện là vốn xuất phát từ khi Từ Giác Đại Sư Viên Nhân (慈覺大師圓仁) phụng sắc mệnh của Tha Nga Thiên Hoàng (嵯峨天皇, Saga Tennō) kiến lập chùa, rồi an trí hai pho tượng Thích Ca và Di Đà. Pháp Nhiên (法然, Hōnen), vị Tổ khai sáng ra Tịnh Độ Tông, rất thích khung cảnh nhàn tịch thanh vắng của chùa, nên mới đến đây mà sống nhàn cư; từ đó chùa trở nên hưng thạnh lên. Sau vụ Loạn Ứng Nhân (應仁), chùa bị suy thối; nhưng lại được tái kiến vào khoảng niên hiệu Hưởng Lộc (享祿, 1528-1532), và duy trì cho đến ngày nay. Trong khuôn viên chùa có nhiều ngôi mộ dòng họ của hàng công gia như Nhị Điều (二條, Nijō), Tam Điều (三條, Sanjō), Tứ Điều (四條, Shijō), Tam Điều Tây (三條西, Sanjōnishi), Ưng Ty (鷹司, Takatsukasa). Hơn nữa, còn có mộ phần của các nhân vật nổi tiếng đương thời như cha con Y Đằng Nhân Trai (伊藤仁齋, Itō Jinsai, 1627-1705) và Y Đằng Đông Nhai (伊藤東涯, Itō Tōgai, 1670-1736); của cha con Giác Thương Liễu Dĩ (角倉了以, Suminokura Ryōi, 1554-1614) và Giác Thương Tố Am (角倉素庵, Suminokura Soan, 1571-1632), v.v.

Nhị tông

二宗; C: èrzōng; J: nishū;|Hai tông phái Phật giáo. Lưỡng tông (兩宗).

nhị tông thích đề

(二宗釋題) Hai tông Thiên thai và Hiền thủ (Hoa nghiêm)giải thích đề kinh có thông và biệt, năng và sở khác nhau. 1. Tông Thiên thai dùng nghĩa Thông và nghĩa Biệt để giải thích đề kinh, như trong 5 chữ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh thì 4 chữ trước là tên gọi riêng của kinh này nên là Biệt, còn chữ Kinh thì là Thông, vì tất cả kinh đều gọi là Kinh. 2. Tông Hiền thủ giải thích đề kinh thì dùng văn năng thuyên và nghĩa sở thuyên để phán thích. Như trong 7 chữ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinhthì 6 chữ trước là Sở thuyên, còn chữ Kinh là Năng thuyên, các kinh khác cũng thế. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.3].

nhị túc nhân lực

(二宿因力) Hai sức của nhân đời trước. Chỉ cho Đại nguyện lực và Tích hạnh lực.1. Đại nguyện lực: Khi còn ở địa vị tu nhân , đức Phật đã phát đại thệ nguyện muốn cứu độ chúng sinh, ngày nay Ngài thành Phật rồi, nương theo sức đại nguyện ấy, thị hiện trong các thế giới ở 10 phương, thuyết pháp độ sinh. 2. Tích hạnh lực: Trong vô lượng kiếp ở quá khứ xa xưa, đức Phật đã nương nguyện mà khởi hạnh, hạnh thành nên được quả, nhờ thế mới có năng lực diễn nói các pháp. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.1].

nhị túc tôn

(二足尊) Tôn hiệu của đức Phật, bậc tôn quí nhất trong loài người. Nhị túc(đủ cả 2)ví dụ phúc và trí. Phật là bậc đầy đủ cả phúc lẫn trí nên gọi là Nhị túc tôn. Sa di thụ giới văn trong Thiền uyển thanh qui quyển 9 (Vạn 111, 463 thượng) nói: Qui y Phật, lưỡng(nhị)túc tôn, qui y pháp, li dục tôn, qui y tăng, chúng trung tôn. [X. phẩm Thụ kí trong kinh Pháp hoa]. (xt. Nhị Túc).

Nhị tư lương

二資糧 (粮); C: èrzīliáng; J: nishiryō;|Hai loại lương thực thiết yếu cho con đường đến giác ngộ, phải được tích tập sớm qua các công hạnh Phúc đức (福徳) và Trí huệ (智慧). Còn được gọi tắt là Phúc trí (福智).

nhị tướng

(二相) I. Nhị Tướng. Chỉ cho Tịnh trí tướng và Bất tư nghị nghiệp tướng. 1. Tịnh trí tướng: Trí này là kết quả của việc tu hành đúng như thực do sức pháp huân tập mà có. 2. Bất tư nghị nghiệp tướng: Nhờ Tịnh trí tướng mà hiển hiện tướng của tất cả cảnh giới và công đức thắng diệu không thể nghĩ bàn. [X. luận Đại thừa khởi tín Q. thượng]. II. Nhị Tướng. Chỉ cho Đồng tướng và Dị tướng. 1. Đồng tướng: Tất cả nghiệp chủng, dù thiện hay ác, dù vô minh hay vô lậu, đều là tính tướng của chân như. 2. Dị tướng: Lí chân như bình đẳng, tùy theo các duyên nhơ hay sạch mà hiển hiện tất cả các tướng khác nhau. [X. luận Đại thừa khởi tín Q.thượng]. III. Nhị Tướng. Chỉ cho Tổng tướng và Biệt tướng. 1. Tổng tướng: Tướng chung. Như vô thường là tướng chung của hết thảy muôn vật, nên gọi là Tổng tướng. 2. Biệt tướng: Tướng riêng. Như đất có tướng cứng, nước có tướng ướt là những tướng riêng của mỗi vật nên gọi là Biệt tướng.

nhị tướng biệt

(二相別) Chỉ cho Tự tướng biệt và Cộng tướng biệt.1.Tự tướng biệt: Tự tưng khác nhau. Nghĩa là tướng riêng biệt của mỗi pháp khác nhau. Như trong 4 niệm xứ thì Thân có năng tạo, sở tạo, căn và trần khác nhau, cho nên là tướng trạng riêng của thân. Còn lại như Thụ, Tâm, Pháp cũng như thế, tức cũng có tướng riêng biệt của Thụ, Tâm, Pháp... Lại như khi quán xét về Thân thì lấy bất tịnh làm Tự tướng, quán Thụ thì lấy khổ làm Tự tướng, quán Tâm thì lấy vô thường làm Tự tướng, quánPháp thì lấy vô ngã làm Tự tướng, vì thế nên gọi là Tự tướng biệt. 2. Cộng tướng biệt: Cộng tướng khác nhau. Nghĩa là tướng chung của các pháp đều khác nhau. Chẳng hạn, khi nói chung về 4 hành tướng: Khổ, không, vô thường, vô ngã thì Thân, Thụ, Tâm, Pháp đều có, gọi là Cộng tướng. Nhưng khi nói riêng, như khi quán Thân là khổ, thì không thể quán không, vô thường, vô ngã cho đến khi quán Thân là vô ngã, thì không thể quán khổ, không, vô thường, quán các hình tướng: Thụ, Tâm, Pháp cũng lại như thế, cho nên gọi là Cộng tướng biệt.

nhị tạng

(二藏) Chỉ cho Thanh văn tạng và Bồ tát tạng. [X. phẩm Kiến lập trong kinh Bồ tát địa trì Q.10; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng].

Nhị tế

二際; C: èrjì; J: nisai;|Hai dạng hiện hữu; hai dạng hiện thật; hai thái cực. Quan niệm phân đôi về phương thức hiện hữu của vạn vật, như quan niệm vạn vật tồn tại (hữu) hay không tồn tại (vô). Thuật ngữ được dùng liên quan đế́n hai thật thể nầy là Niết-bàn (涅槃; s: nirvāṇa) và luân hồi sinh tử (生死; s: saṃsāra), các ý niệm nầy được phân biệt thành hai trong Phật giáo Tiểu thừa, nhưng Phật giáo Đại thừa xem là một (theo Hoa Nghiêm kinh 華嚴經).

nhị tế

(二際) Hai bờ. Chỉ cho 2 bên bờ đối lập nhau, như: Có và không, khổ và vui, Niết bàn và sinh tử... Tiểu thừa cho rằng 2 bên bờ khác nhau, nhưng Đại thừa thì chủ trương sinh tử tức Niết bàn, phiền não tức bồ đề... [X. Bài Tựa của ngài Tăng duệ trong Trung luận].

nhị tổ am

(二祖庵) Am của Nhị tổ ở trên ngọn Bát vu, núi Thiếu thất, cách chùa Thiếu lâm về phía tây nam 4 cây số, thuộc huyện Đăng phong, tỉnh Hà nam. Cứ theo truyền thuyết, Nhị tổ Tuệ khả chặt tay để tỏ lòng chí thành cầu pháp với Sơ tổ Bồ đề đạt ma. Sau khi được Sơ tổ truyền pháp và áo, bát, ngài đến nơi này để điều trị vết thương. Đồ chúng của ngài liền cất am để lưu niệm. Trong am có 3 gian đại điện, 1 số bia đá. Trước điện có 4 cái giếng, tuy ở gần nhau nhưng mùi vị nước của mỗi giếng đều khác; tương truyền mấy cái giếng này do ngài Tuệ khả đào khi ngài trụ ở đây. Phía ngoài am có 3 ngôi tháp, trong đó, ngôi được xây vào niên hiệu Vạn tuế đăng phong năm đầu (696) đời Chu (Đường Vũ hậu)là cao và đẹp hơn cả. Cách am về phía nam chừng 1 dặm có Mịch tâm đài, cũng gọi Luyện ma đài, là nơi Nhị tổ kinh hành.

nhị tổ đoạn tí

(二祖斷臂) Nhị tổ chặt tay cầu pháp. Tương truyền, Nhị tổ Tuệ khả đến ngọn Thiếu thất, núi Tung sơn cầu pháp nơi Tổ Đạt ma, đứng trong tuyết cầm dao chặt đứt tay trái để tỏ bày quyết tâm cầu đạo. Tổ Đạt ma thấy ý chí của ngài Tuệ khả kiên định như vậy liền chấp nhận thu làm đệ tử, đời sau gọi ngài là Đoạn tí Tuệ khả. [X. điều Bồ đề đạt ma trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.3].

nhị tội

(二罪) Hai tội. Chỉ cho Tính tội và Già tội. 1. Tính tội: Bốn giới nặng: Giết hại, ăn trộm, dâm dục, nói dối. Vì tính của 4 giới này đã là ác, nên không cần đợi Phật chế định, hễ phạm phải thì mắc tội. 2. Già tội: Chỉ cho giới uống rượu. Sự uống rượu tự nó không phải là 1 tội ác, nhưng vì nó mà đưa đến việc vi phạm các giới điều khác, cho nên Phật cấm. Nếu vi phạm thì phải tội.

Nhị tử

二死; C: èrsǐ; J: nishi;|Hai dạng chết: Chết vì phần đoạn sinh tử trong vòng luân hồi và cái chết mầu nhiệm (còn gọi là thị tịch) của người chứng ngộ.

nhị tử

1. Là phần đoạn sanh tử của phàm phu: từ thân này chuyển qua thân kia, như từ thân người chuyển qua thân thú. 2. Là biến dịch sanh tử của bậc thánh, như: từ La hán biến Bích chi, từ Bích chi biến Sơ địa Bồ tát, từ Sơ địa biến Nhị địa… gọi chung là Nhị tử.

nhị tự

(二字) I. Nhị Tự. Chỉ cho Bán tự và Mãn tự. Chương Tất đàm là gốc sinh ra các chữ, nhưng văn tự không đầy đủ nên gọi là Bán tự(có nửa chữ), còn văn tự của các chương khác thì đều đầy đủ nên gọi là Mãn tự(chữ đầy đủ). II. Nhị Tự. Chỉ cho pháp danh của mỗi vị tăng, vì thông thường ở Trung quốc, Nhật bản cũng như Việt nam, pháp danh của chư tăng trong Phật giáo có 2 chữ nên gọi là Nhị tự. Nhưng đời sau, vì tôn kính chư tăng nên thường tách riêng 2 chữ mà gọi Thượng mỗ... hạ mỗ. Ví dụ như Trí khải thì gọi Thượng Trí Hạ Khải.

nhị viên

(二圓) Hai thứ Viên giáo. Đây là thuyết của tông Thiên thai. 1. Viên giáo: Chỉ cho giáo lí Viên giáo đức Phật nói trước thời Pháp hoa, như Hoa nghiêm, Phương đẳng, Bát nhã... 2. Viên giáo: Chỉ cho giáo lí Viên giáo Phật nói trong thời Pháp hoa(Hội tam qui nhất = Đưa 3 thừa về 1 Phật thừa).

nhị vãng

(二往) Cũng gọi Tái vãng. Giải thích lại nghĩa lí một lần nữa. Ma ha chỉ quán quyển 7, phần đầu (Đại 46, 87 hạ) nói: Giải thích lần đầu thì như thế, giải thích lần thứ 2(nhị vãng)thì không như thế.

nhị vãng sinh

(二往生) Tông Tịnh độ chia hành thể và tướng trạng của sự vãng sinh Tịnh độ làm 2 phần trong 4 mục như sau: 1. Niệm Phật vãng sinh và Chư hạnh vãng sinh. - Niệm Phật vãng sinh: Do hồi hướng về nguyện lực đại bi của đức Phật A di đà, phát đại tín tâm, vào Tam muội niệm Phật mà vãng sinh Tịnh độ. Hoặc 1 lòng chí thành xưng niệm danh hiệu của Phật A di đà, hoặc hồi hướng định thiện, tán thiện mà được vãng sinh, nhưng đều lấy việc niệm Phật làm gốc.- Chư hạnh vãng sinh: Do tu các hạnh vạn thiện, như hiếu dưỡng cha mẹ, kính thờ thầy tổ, bố thí, nhẫn nhục... mà hồi hướng vãng sinh. 2. Tức tiện vãng sinh và Đương đắc vãng sinh. - Tức tiện vãng sinh: Vãng sinh liền. Nghĩa là lúc bình sinh phát được 3 thứ tâm (Thâm tâm, Chí thành tâm, Hồi hướng phát nguyện tâm)thì ở ngay nơi thân ô uế và đất nước này đã thầm được lợi ích là mau chóng chứng thân vô sinh, đồng thời đã được liệt vào hàng các Thánh chúng trang nghiêm cõi Tịnh độ. - Đương đắc vãng sinh: Sẽ được vãng sinh. Nghĩa là lúc lâm chung được đài hoa đến đón, vãng sinh về cõi Báo độ chân thực của đức Phật A di đà. 3. Tức vãng sinh và Tiện vãng sinh. - Tức vãng sinh: Vãng sinh ngay. Nghĩa là nhờ cơ duyên của nguyện thứ 18 mà vãng sinh ngay về cõi Báo độ chân thực của đức A di đà. - Tiện vãng sinh: Vãng sinh liền. Nghĩa là nhờ cơ duyên của các điều nguyện thứ 19 và thứ 20 mà vãng sinh liền về cõi Hóa độ của đức Phật A di đà. 4. Thể thất vãng sinh và Bất thể thất vãng sinh. - Thể thất vãng sinh: Thể mất vãng sinh. Nghĩa là khi uế thân này mất rồi mới được vãng sinh. - Bất thể thất vãng sinh: Không mất thể vãng sinh. Nghĩa là lúc còn sống, được nghe danh hiệu của Phật, dốc lòng tín niệm thì tức đã thành tựu sự nghiệp, được lợi ích vãng sinh rồi, chứ không phải chờ đến lúc mất uế thân này mới được vãng sinh. [X. kinh Quán vô lượng thọ; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập Q.thượng; Giáo hành tín chứng hóa độ quyển, phần đầu].

Nhị vô kí

二無記; C: èr wújì; J: ni muki;|Hai dạng hành vi đạo đức trung tính làm trở ngại đến tiến trình giải thoát: Hữu phú vô kí (有覆無記) và Vô phú vô kí (無覆無記).

nhị vô kí

(二無記) Chỉ cho 2 loại tính Vô kí chẳng thiện chẳng ác, tức là Hữu phú vô kí và Vô phú vô kí. 1. Hữu phú vô kí, cũng gọi Nhiễm vô kí. Chỉ cho những hoặc chướng rất nhỏ nhiệm, như ngã chấp và pháp chấp câu sinh khởi của thức thứ 7, thể tính của chúng tuy yếu kém, nhưng là vọng hoặc tự tính, có năng lực ngăn che Thánh đạo, cho nên gọi là Hữu phú(có ngăn che); lại vì chúng không phải là tính ác chiêu cảm quả khổ nên gọi là Vô kí(không thiện không ác). 2. Vô phú vô kí, cũng gọi Tịnh vô kí. Chỉ cho pháp vô kí lìa các hoặc chướng, như tự thể của thức A lại da, 5 căn bên trong và núi sông, cây cỏ bên ngoài... Vì chúng không phải là vọng hoặc tự tính nên gọi là Vô phú. [X. luận Thành duy thức Q.3; Bách pháp vấn đáp sao Q.3; Thất thiếp kiến văn Q.3, phần cuối].

nhị vô ngã

(二無我) Cũng gọi Nhân không Pháp không, Ngã pháp nhị không. Chỉ cho Nhân vô ngã và Pháp vô ngã. 1. Nhân vô ngã: Rõ biết thân người là do 5 uẩn giả hòa hợp, không có ngã thể chân thực. Đây là pháp quán của Tiểu thừa để diệt trừ phiền não chướng, được Niết bàn.2. Pháp vô ngã: Rõ biết các pháp do nhân duyên sinh ra, không có tự tính chân thực. Đó là pháp quán của Đại thừa để đoạn trừ sở tri chướng, chứng quả vị Bồ tát. [X. kinh Lăng già Q.1].

nhị vô thường

(二無常) Chỉ cho Niệm niệm vô thường và Tương tục vô thường. 1. Niệm niệm vô thường, cũng gọi Sát na vô thường. Nghĩa là hết thảy các pháp hữu vi sinh diệt biến hóa trong từng sát na không ngừng. 2. Tương tục vô thường, cũng gọi Nhất kì vô thường. Nghĩa là trong 1 kì hạn nào đó, rốt cuộc các pháp tương tục cũng phải hoại diệt, như mệnh người cuối cùng cũng chấm dứt, ngọn đèn cháy lâu rồi cũng tắt. [X. luận Đại trí độ Q.43].

nhị vô tri

(二無知) Hai thứ vô tri: Nhiễm ô vô tri và Bất nhiễm ô vô tri do Hữu bộ của Tiểu thừa thành lập. 1. Nhiễm ô vô tri: Chỉ cho tất cả phiền não, tức là Kiến hoặc và Tư hoặc theo thuyết của tông Thiên thai. Vì vô tri này lấy vô minh làm thể, vô minh chấp trước sự lí, tính của nó không trong sạch nên gọi là Nhiễm ô; thể của nó thì mờ tối, không biết đến chân lí Tứ đế nên gọi là Vô tri. Vô minh này cùng khởi lên 1 lượt với tất cả các hoặc khác, cho nên chỉ đơn cử vô minh là bao hàm hết thảy phiền não. 2. Bất nhiễm ô vô tri: Tức là Trần sa hoặc theo thuyết của tông Thiên thai. Vô tri này lấy trí tuệ kém cỏi làm thể, tính của nó tối tăm, không rõ lí của sự vật, nghĩa của pháp môn. Loại vô tri này không chấp trước tính nhơ nhớp của sự vật nên gọi là Bất nhiễm ô; vì nó không biết sự lí nên gọi là Vô tri. Vô tri này không ngăn ngại việc tự hành như ngộ lí Tứ đế, thoát li sinh tử, mà chỉ ngăn ngại việc hóa tha như biết rõ tất cả pháp, thành bậc Nhất thiết trí, giáo hóa khắp mọi người, vì thế Vô tri này cũng được gọi là Hóa đạo chướng hoặc. [X. Câu xá luận quang kí Q.1; Câu xá luận tụng sớ Q.1].

nhị vô tâm định

(二無心定) Cũng gọi Nhị định. Chỉ cho Vô tưởng định và Diệt tận định. 1. Vô tưởng định (Phạm: Asaôjĩisamàpatti): Loại thiền định diệt tất cả tâm tưởng. Thiền định này thuộc về Tứ thiền. Ngoại đạo tu tập thiền định này mong được quả báo sinh lên cõi trời Vô tưởng. 2. Diệt tận định (Phạm: Nirodhasamàpatti): Loại thiền định này diệt hết tâm, tâm sở của 6 thức, không cho sinh khởi. Định này còn gọi là Diệt thụ tưởng định, do các bậc Thánh từ quả Bất hoàn trở lên tu tập. [X. luận Câu xá Q.5; Đại thừa nghĩa chương Q.2, 9]. (xt. Tâm Bất Tương Ứng Hành).

nhị vương tôn

(二王尊) Cũng gọi Nhân vương, Nhị thiên vương, Nhị thiên. Chỉ cho tượng của 2 vị Kim cương lực sĩ đứng 2 bên cổng chùa, bảo vệ già lam. Cả 2 vị đều quấn tấm áo nhẹ quanh eo, gân cốt nổi lên, tóc búi, mắt trợn. Vị bên trái há to miệng, tay phải cầm chày, bàn tay trái giương ra phía trước. Vị bên phải ngậm miệng, tay trái cầm gậy, cánh tay phải giơ cao.Từ xưa, Ấn độ đã có phong tục đặt tượng chư thiên và thần Dược xoa ở cửa chùa để bảo vệ già lam. Cứ theo Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 17, đức Phật dạy trưởng giả Cấp cô độc nên tạo tượng Dược xoa cầm gậy đứng ở 2 bên cửa.Tại Ấn độ hiện nay người ta còn thấy nhiều di tích khắc tượng thần Dược xoa và Kim c ư ơ n g mật tích đứng hầu 2 bên đức Phật, như ở Bharhùt, Loriyàn Tangai... [X. hội Mật tích kim cương lực sĩ trong kinh Đại bảo tích Q.9; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.4; Thai tạng kim cương bồ đề tâm nghĩa lược vấn đáp sao Q.2, phần cuối].

nhị xan

(二慳) Chỉ cho Tài xan và Pháp xan. Xan nghĩa là bỏn sẻn, keo kiệt. 1. Tài xan: Sẻn tiếc tài vật, không có lòng thương xót, thấy những người nghèo khó khốn khổ, không ưa bố thí, gọi là tài xan(bỏn sẻn tiếc của). 2. Pháp xan: Sẻn tiếc Phật pháp, ôm lòng ghen ghét, hiếu thắng, chỉ sợ người khác hơn mình, nên chẳng chịu dạy bảo ai, gọi là Pháp xan.[X. kinh Địa trì Q.4].

nhị xứ tam hội

(二處三會) Hai nơi ba hội. Tức là đức Phật đã nói 3 hội Pháp hoa ở 2 nơi. Nhị xứ chỉ cho Linh sơn và Hư không. Tam hội là hội Linh sơn, hội Hư không và hội Linh sơn lần thứ 2. 1. Hội Linh sơn: Từ lúc bắt đầu thuyết kinh Pháp hoa đến nửa phẩm Bảo tháp, Phật nói trên núi Linh sơn. 2. Hội Hư không: Từ lúc Phật dùng âm thanh lớn bảo khắp 4 chúng cho đến hết phẩm Như lai thần lực, Phật ngồi trong tháp Đa bảo trụ trên hư không, dùng thần lực làm cho đại chúng cũng ở trên hư không. 3. Hội Linh sơn lần thứ 2: Từ phẩm Chúc lụy trở đi, đức Phật ra khỏi tháp và trở về chỗ ngồi cũ nói kinh tiếp.

Nhị y

二依; C: èryī; J: nie;|Hai dạng cấu nhiễm: 1. Dạng cấu nhiễm tiềm ẩn trong thân như máu, tinh dịch, đờm dãi…; 2. Dạng cấu nhiễm xuất hiện trên thân như da bị phỏng, phồng rộp, bị thối… (theo Du-già luận 瑜伽論).

nhị y

(二衣) Chỉ cho Chế y và Thính y. Cứ theo Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển hạ, phần 1, thì các vật dụng của tỉ khưu gồm có 2 loại: 1. Chế y: Chỉ cho 3 áo của tỉ khưu và 5 áo của tỉ khưu ni. Loại áo này do đức Phật chế định, nếu không thụ trì sẽ phạm tội. 2. Thính y: Ngoài 3 áo, đức Phật chế giới cho phép các tỉ khưu được cất giữ áo dư và 101 vật dụng. Loại áo và vật dụng này được tùy ý cất giữ hoặc không, không bắt buộc. [X. Thích thị yếu lãm Q.thượng].

Nhị y xứ

二依處; C: èryīchù; J: niesho;|Hai phương diện để y cứ được đề cập trong Du-già sư địa luận (s: yogācārabhūmi-śāstra): 1. Nhận thức đúng đắn về chân lí bao trùm pháp giới; 2. Sự hiểu biết và niềm tin vào năng lực tinh thần của một hữu thể (s: pudgala; theo Du-già luận 瑜伽論)

nhị ác

(二惡) Chỉ cho 2 điều ác là phiền não Kiến tư và phiền não Vô minh. Ngoài ra cũng chỉ cho những việc ác chưa làm và những ác đã thực hiện.

nhị ái

Hai loại ái—Two kinds of love: 1) Dục ái: Ordinary human love springing from desire—See Dục Ái. 2) Pháp ái: Bodhisattva or religious love springing from the vow to save all creatures—See Pháp Ái. ; (二愛) Dục ái và Pháp ái. 1. Dục ái: Phàm phu yêu thương nhớ nhung vợ con, tham đắm 5 dục lạc, nên gọi là Dục ái. 2. Pháp ái: Bồ tát ưa thích chính pháp, muốn dắt dẫn tất cả chúng sinh đến Phật đạo, nên gọi là Pháp ái. [X. luận Đại trí độ Q.72].

nhị ích

(二益) Chỉ cho Hiện ích và Đương ích. Hiện ích là những lợi ích có được trong đời này, còn Đương ích là những lợi ích có được ở đời sau.

nhị điểu

(二鳥) Chỉ cho 2 con chim trống và mái thuộc loại Ca lân đề hay Uyên ương. Loài chim này thường sống có đôi, không bao giờ rời nhau, nên chúng được dùng để ví dụ 2 pháp sự lí như thường và vô thường, khổ và vui, không và bất không... theo nhau chẳng rời. Phẩm Điểu dụ trong kinh Niết bàn (bản Nam) (Đại 12, 655 trung) nói: Có 2 loài chim, một là Ca lân đề, hai là Uyên ương, khi bay khi đậu đều có đôi, không bao giờ xa lìa nhau. Các pháp khổ, vô thường, vô ngã... cũng lại như thế, không tách rời nhau.

nhị đoạn

(二斷) I. Nhị Đoạn. Hai loại đoạn hoặc. 1. Tự tính đoạn: Tính chất của các phiền não vốn ô nhiễm, nếu làm cho tự thể ô nhiễm ấy không sinh khởi lại được nữa, thì phiền não tự nhiên đoạn trừ. Tức dùng trí vô lậu dứt trừ ngay tự thể của phiền não mà chứng trạch diệt thì phiền não không sinh khởi lại nữa, gọi là Tự tính đoạn. 2. Duyên phược đoạn, cũng gọi Sở duyên đoạn. Nghĩa là dứt trừ sự trói buộc của Sở duyên, nhưng không phải đoạn diệt tự tính của vật ấy, mà chỉ là đoạn trừ phiền não của Sở duyên, như đắc, tứ tướng của tất cả sắc hữu lậu, thiện hữu lậu, tâm và tâm sở vô kí... Đoạn trừ các phiền não năng duyên, năng phược thì có thể chứng được trạch diệt trên các pháp sở duyên của chúng. Tuy nhiên, vì tự thể của phiền não chưa bị đoạn trừ, cho nên chúng vẫn có khả năng sinh khởi lại nữa. Tự tính đoạn thì thông cả Kiến đạo đoạn và Tu đạo đoạn, còn Duyên phược đoạn thì chỉ hạn cuộc ở Tu đạo đoạn mà thôi. [X. luận Câu xá Q.16; luận Hiển tông Q.4; luận Thuận chính lí Q.6; Câu xá bảo sớ Q.1; Câu xá luận tụng sớ Q.16]. II. Nhị Đoạn. Hai cách đoạn trừ phiền não của Thanh văn và Duyên giác: 1. Tử phược đoạn: Đoạn trừ Kiến hoặc và Tư hoặc. 2. Quả phược đoạn: Đoạn diệt thân quả báo trong 1 thời kì. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.3].

nhị đàn

(二檀) Chỉ cho 2 loại bố thí: Thế gian đàn và Xuất thế gian đàn. 1. Thế gian đàn: Phàm phu bố thí mà tâm còn phiền não (hữu lậu). 2. Xuất thế gian đàn: Bậc thánh bố thí tâm không phiền não (vô lậu). [X. luận Đại trí độ Q.1].

nhị đáp

(二答) Hai cách trả lời. 1. Ngôn đáp: Dùng ngôn ngữ để trả lời.2. Thị tướng đáp: Dùng các tướng để bày tỏ.

nhị đạo

(二道) I. Nhị Đạo. Hai đạo. Chỉ cho Vô gián đạo và Giải thoát đạo. Tức là trí tuệ đoạn hoặc, chứng lí. 1. Vô gián đạo, dịch cũ: Vô ngại đạo: Trí tuệ chính đoạn hoặc (phiền não).Trí này không bị hoặc làm gián cách nên gọi là Vô gián.2. Giải thoát đạo: Trí tuệ chính chứng lí. Trí này lìa sự trói buộc của hoặc, tự tại chứng lí, nên gọi là Giải thoát. Phàm đoạn tất cả hoặc đều phải dùng 2 đạo (trí tuệ) này. Vô gián đạo là nhân của niệm trước, Giải thoát đạo là quả của niệm sau.[X. luận Câu xá Q.25]. II. Nhị Đạo. Hai đạo. Chỉ cho Nan hành đạo và Dị hành đạo. Đây là thuyết phán giáo của tông Tịnh độ, do bồ tát Long thụ lập ra. 1. Nan hành đạo: Đạo khó thực hành. Chỉ cho các giáo thuyết ngoài tông Tịnh độ. Như ở thế giới Sa bà mà tu pháp (đạo) Lục độ vạn hạnh để chứng nhập quả Thánh, là pháp rất khó thực hành, nên gọi là Nan hành đạo.2. Dị hành đạo: Đạo dễ thực hành. Chỉ cho giáo thuyết của tông Tịnh độ, tức như pháp niệm Phật cầu vãng sinh Tịnh độ, rồi từ đó mà thành Phật. Pháp này dễ thực hành, cho nên gọi là Dị hành đạo. [X. phẩm Dị hành trong luận Thập trụ tì bà sa; Giáo hành tín chứng Q.6, phần đầu].III. Nhị Đạo. Hai đạo. Chỉ cho Hữu lậu đạo và Vô lậu đạo.1. Hữu lậu đạo: Tất cả các pháp tu tập của hành giả Tam thừa từ giai vị Kiến đạo trở về trước. 2. Vô lậu đạo: Pháp tu tập thuận theo đế lí, từ giai vị Kiến đạo trở về sau. Lậu nghĩa là phiền não. Từ Kiến đạo trở về trước, chưa dứt được mảy may phiền não nào, cho nên gọi là Hữu lậu. Từ Kiến đạo trở lên đã dứt được 1 phần phiền não, lìa phiền não cấu nhiễm, cho nên gọi là Vô lậu. [X. luận Câu xá Q.23, 24]. IV. Nhị Đạo. Hai đạo. Chỉ cho Giáo đạo và Chứng đạo.1. Giáo đạo: Giáo pháp do đức Như lai phương tiện chỉ dạy. 2. Chứng đạo: Thực lí mà chư Phật đã chứng được. [X. Thập địa kinh luận Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.9]. V. Nhị Đạo. Hai đạo. Chỉ cho đường đại tiện và tiểu tiện.Phật tổ thống kỉ quyển 30 (Đại 49, 298 hạ) nói: Những thứ tàn dư nhơ nhớp trong thân, vì muốn tẩy trừ nên thành 2 đường nam căn và nữ căn. [X. luật Tứ phần Q.3; Phật sở hành tán Q.3].

nhị đẳng

(二等) Chỉ cho Đoạn đẳng và Đắc đẳng. 1. Đoạn đẳng: Lúc đạo cực giải thoát của Phật mới bừng lên, thì tất cả hoặc vô minh của các chúng sinh đều 1 loạt tan biến hết. Đó là vì khi đức Như lai nhìn về thế giới chúng sinh thì tất cả đều thanh tịnh. 2. Đắc đẳng: Lúc đức Phật vừa mới thành đạo, trí thủy giác của Ngài được viên mãn, thì khi ấy trí thủy giác của tất cả chúng sinh cũng đều được đầy đủ. Đây là vì khi chúng sinh nhìn về đức Phật Thế tôn thì hết thảy hoặc vô minh đều thanh tịnh, không còn gì chướng ngại.

Nhị Đế

(二諦): chỉ cho Chơn Đế và Tục Đế. Đế (諦) là lý chân thật bất hư. Chơn Đế (s: paramārtha-satya, p: paramattha-sacca, 眞諦), còn gọi là Thắng Nghĩa Đế (勝義諦), là chân lý của xuất thế gian. Tục Đế (s: saṃvṛti-satya, p: sammuti-sacca, 俗諦), còn gọi là Thế Tục Đế (世俗諦), Thế Đế (世諦); tức là chân lý thế gian. Nam Hải Ký Quy Nội Pháp Truyện (南海寄歸內法傳, Taishō Vol. 54, No. 2125) quyển 4 cho rằng việc thế tục che trùm chân lý thế gian, nên Tục Đế được dịch là Phú Tục Đế (覆俗諦). Ý nghĩa của Nhị Đế được thuyết trong các kinh điển không thống nhất với nhau. Tùy theo kinh điển mà tên gọi của Nhị Đế cũng khác nhau. Như Niết Bàn Kinh (涅槃經), Nhân Vương Bát Nhã Kinh (仁王般若經), Đại Trí Độ Luận (大智度論), Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章), v.v., thì gọi là Thế Đế và Đệ Nhất Nghĩa Đế (第一義諦). Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh Phá Thủ Trước Bất Hoại Giả Danh Luận (金剛般若波羅蜜經破取著不壞假名論), Thành Thật Luận (成實論) thì gọi là Chơn Đế và Tục Đế. Trong khi đó, Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh (大般若波羅蜜多經), Du Già Luận (瑜伽論), Duy Thức Luận (唯識論) thì gọi là Tục Đế và Thắng Nghĩa Đế. Trong đó, từ Chơn Đế và Tục Đế là thịnh hành nhất. Pháp của Nhị Đế cũng được diễn đạt khác nhau tùy theo các tông phái. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa (妙法蓮華經玄義, Taishō Vol. 33, No. 1716) quyển 2 cho rằng: “Phù Nhị Đế giả, danh xuất chúng kinh, nhi kỳ lý nan hiểu, thế gian phân vân, do lai thạc tranh (夫二諦者、名出眾經、而其理難曉、世間紛紜、由來碩諍, phàm Nhị Đế, tên có khắp trong các kinh, nhưng lý của nó khó hiểu, thế gian phân vân, tranh luận sôi nỗi xuất xứ của nó).” Quảng Hoằng Minh Tập (廣弘明集, Taishō Vol. 52, No. 2103) quyển 24 của phái Nam Sơn lại liệt Nhị Đế thuộc vào dị thuyết của xưa nay. Trong khi đó, qua Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章, Taishō Vol. 44, No. 1851) 1, Pháp Sư Tịnh Ảnh Huệ Viễn (淨影慧遠, 523-592) thì giải thích rằng: “Đệ tứ tông trung, phân vi Nhị Đế, thể vi Chơn Đế, dụng vi Tục Đế (第四宗中、分爲二諦、體爲眞諦、用爲世諦, trong tông thứ tư, chia thành Hai Đế, thể là Chơn Đế, dụng là Tục Đế).” Đại Thừa Tứ Luận Huyền Nghĩa (大乘四論玄義, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 46, No. 784) quyển 5 định nghĩa Nhị Đế là: “Cái thị Pháp Tánh chi chỉ quy, nhất chơn Bất Nhị chi cực lý dã (蓋是法性之旨歸、一眞不二之極理也, vốn là yếu chỉ quy nguyên của Pháp Tánh, là lý tột cùng của nguồn chơn Không Hai).” Tông Kính Lục (宗鏡錄, Taishō Vol. 48, No. 2016) quyển 82 cho rằng: “Đắc nhập Trung Đạo, song chiếu Nhị Đế, tâm tâm tịch diệt, tự nhiên lưu nhập Tát Bà Nhã hải, danh Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa Đế quán (得入中道、雙照二諦、心心寂滅、自然流入薩婆若海、名中道第一義諦觀, vào được Trung Đạo, song chiếu Nhị Đế, tâm tâm vắng lặng, tự nhiên trôi nhập vào biển hết thảy chủng trí, ấy gọi là quán Nghĩa Đế Thứ Nhất của Trung Đạo).” Hay trong Lạc Dương Già Lam Ký (洛陽伽藍記, Taishō Vol. 51, No. 2092) quyển 1 lại ghi rằng: “Chí ư Nhất Thừa Nhị Đế chi nguyên, Tam Minh Lục Thông chi chỉ, Tây Vức bị tường, Đông Độ mĩ ký (至於一乘二諦之原、三明六通之旨、西域僃詳、東土靡記, cho đến nguồn gốc của Một Thừa, Hai Đế; ý chỉ của Ba Trí, Sáu Thần Thông, Tây Vức [Ấn Độ] thì giải thích đầy đủ, còn Đông Độ [Trung Hoa] thì không ghi gì cả).” Trong Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Nghi (瑜伽集要焰口施食儀, Taishō Vol. 21, No. 1320) hay Lễ Xá Lợi Tháp Nghi Thức (禮舍利塔儀式, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1491) có đoạn: “Nguyện tương dĩ thử thắng công đức, hồi hướng vô thượng chơn Pháp Giới, tánh tướng Phật pháp cập Tăng Già, Nhị Đế dung thông Tam Muội Ấn, như thị vô lượng công đức hải, ngã kim giai tất tận hồi hướng (願將以此勝功德、迴向無上眞法界、性相佛法及僧伽、二諦融通三昧印、如是無量功德海、我今皆悉盡迴向, nguyện lấy công đức thù thắng này, hối hướng vô thượng chơn Pháp Giới, tánh tướng Phật pháp và Tăng Già, Hai Đế dung thông Tam Muội Ấn, như vậy vô lượng công đức biển, con nay đều xin hồi hướng thảy).”

Nhị đế

xem Hai chân lý. ; 二諦; C: èrdì; J: nitai;|›Sự thật hai mặt‹. Sự thật tuyệt đối và sự thật quy ước. Sự thật tuyệt đối, Thắng nghĩa đế (勝義諦), là cái nhìn về thật tại qua thân chứng của người đã giác ngộ. Vì sự thật nầy siêu việt ý niệm nhị nguyên nên không thể diễn đạt chính xác qua cơ cấu ngôn ngữ được. Còn sự thật quy ước, là chân lí tương đối, Thế tục đế (世俗諦), là thật tại được diễn đạt bởi người chưa giác ngộ, và được biểu hiện đễ dàng qua cơ cấu ngôn ngữ nhị nguyên.

nhị đế

(二諦) Cũng gọi Chân tục nhị đế. Chỉ cho Chân đế và Tục đế. - Chân đế(Phạm: Paramàrtha-satya, Pàli: Paramattha-sacca), cũng gọi Thắng nghĩa đế, Đệ nhất nghĩa đế. Chỉ cho chân lí xuất thế gian. - Tục đế (Phạm:Saôvfti-satya, Pàli: Sammuti-sacca), cũng gọi Thế tục đế, Thế đế. Chỉ cho chân lí thế gian. Về ý nghĩa của Nhị đế thì các kinh luận Đại thừa và Tiểu thừa nói không giống nhau, nay nêu ra mấy điểm chính như sau: I. Thuyết của Tiểu thừa. 1. Trong các kinh điển của Phật giáo nguyên thủy, như kinh A hàm nói khá nhiều về Tứ đế (khổ, tập, diệt, đạo) nhưng rất ít bàn đến Nhị đế, chỉ có kinh Phân biệt thánh đế trong Trung a hàm quyển 7 nêu ra từ Chân đế, nhưng chưa dùng chung với Tục đế. Rồi trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 3 có nói đến từ Nhị đế nhưng tiếc là nội dung không rõ ràng. 2. Luận Câu xá quyển 22 không những chỉ nêu lên danh từ Chân đế, Tục đế, mà còn trưng ra ví dụ nói rõ ý nghĩa của những từ này. Chẳng hạn các vật như cái bình, cái áo... 1 khi đã bị hủy hoại thì không thể gọi là cái bình, cái áo được nữa. Lại như nước, lửa... nếu dùng trí tuệ siêu đẳng mà phân tích thì thành các yếu tố sắc, hương, vị... nên cũng không thể gọi là nước, lửa được nữa. Đại khái những vật được đặt cho cái tên giả (có giả) như trên là những điều mà kiến thức thông thường ở thế gian đều công nhận thì gọi là Thế tục đế. Trái lại, sắc, hương, vị... là những yếu tố cấu thành sự tồn tại của muôn vật, cho dù hình thái của chúng có bị nghiền nát đến cực nhỏ nhiệm (cực vi) đi nữa, hoặc dùng trí tuệ siêu đẳng mà phân tích đi nữa, thì bản chất của chúng vẫn hằng tồn tại không thay đổi, thì gọi là Thắng nghĩa đế, là chân lí xuất thế gian.3. Phẩm Lập giả danh trong luận Thành thực quyển 1cho rằng các pháp sắc, hương, vị... và Niết bàn đều là Chân đế; trái lại, như cái bình, nước... do các yếu tố cơ bản sắc, hương... tạo thành, vì là nhân duyên hòa hợp, chỉ có cái tên giả chứ không có thực thể, cho nên gọi là Tục đế. Chẳng hạn như người là do 5 uẩn hòa hợp mà thành nên cũng thuộc về Tục đế. 4. Kinh bộ chủ trương các pháp do trí vô lậu xuất thế gian và chính trí thế gian hậu đắc công nhận, gọi là Thắng nghĩa đế; trái lại, các pháp do trí hữu lậu công nhận, gọi là Thế tục đế. 5. Theo thuyết của luận Đại tì bà sa quyển 77, những sự vật dùng kiến thức thông thường của thế gian mà hiểu biết được thì gọi là Thế tục đế; còn đạo lí chân thực do Thánh trí vô lậu thấu suốt, thì gọi là Thắng nghĩa đế. II. Thuyết của Đại thừa. 1. Cứ theo phẩm Thánh hạnh trong kinh Niết bàn quyển 13 (bản Bắc), thì điều mà mọi người thế gian đều hiểu, gọi là Thế đế; còn cái mà người xuất thế chứng biết, gọi là Đệ nhất nghĩa đế. Lại nữa, cái có tên có thực là Đệ nhất nghĩa đế, cái có tên không thực là Tục đế. Như lí của Tứ đế là Đệ nhất nghĩa đế; vòng lửa, dợn nắng, thành Càn thát bà, lông rùa, sừng thỏ... là Thế tục đế. 2. Theo phẩm Quán tứ đế trong Trung luận quyển 4, tất cả sự vật không có tính cố định bất biến (tức thực thể, tự tính),mà chúng là cái không, không sinh không diệt, biết rõ cái lí không này là Đệ nhất nghĩa đế. Còn cái tác dụng bảo trì tính không ấy lại phải dựa trên những sự vật giả hiện để hiển bày và do mối quan hệ hỗ tương đối đãi mà sinh ra tác dụng nhận thức; rõ biết được pháp giả danh ấy, gọi là Thế tục đế. Thế tục đế tuy không phải là pháp cùng tột, nhưng có thể nhờ đó mà tìm hiểu để tiếp cận với Thắng nghĩa đế. Chẳng hạn như ngôn ngữ, tư tưởng, quan niệm... của người ta đều thuộc Thế tục đế, nhưng không nhờ những thứ đó thì cũng không có cách nào tìm hiểu được Đệ nhất nghĩa đế. Mà đã không hiểu rõ Đệ nhất nghĩa đế thì cũng không thể chứng được Niết bàn. 3. Phẩm Nhị đế trong kinh Nhân vương bát nhã quyển thượng lại tiến thêm bước nữa mà nêu ra thuyết Nhị đế tương tức, Chân tục bất nhị. Tức là nếu đứng về phương diện đế lí mà nhận xét, thì có Chân đế và Tục đế khác nhau, nhưng nếu dùng trí tuệ chân thực mà quán chiếu thì 2 đế chỉ là 1, lí ấy rất rõ ràng. Ngoài ra, còn có thuyết Tứ trùng nhị đế (4 lớp nhị đế) của Tì đàm, Thành thực và Đại thừa được thuyết minh như sau: a) Lớp thứ 1 chủ trương có là Tục đế, không là Chân đế, đây là thuyết của các nhà Tì đàm. b) Lớp thứ 2 cho rằng có, không là Tục đế, chẳng phải có chẳng phải không là Chân đế, đây là thuyết của các nhà Thành thực.c) Lớp thứ 3 chủ trương có không, chẳng có chẳng không là 2, chẳng 2, là Tục đế, cho chẳng có chẳng không, chẳng phải chẳng có, chẳng phải chẳng không, là chẳng 2, chẳng phải chẳng 2, là Chân đế (thuyết của Đại thừa). d) Lớp thứ 4 cho 3 lớp trước là Tục đế, còn lớp thứ 4 này là cảnh giới tuyệt đối, dứt bặt nói năng, suy nghĩ, là Chân đế (thuyết của Đại thừa). [X. kinh Bồ tát bản nghiệp anh lạc Q.thượng; luận Du già sư địa Q.55; luận Biện trung biên Q.trung; luận Hiển dương thánh giáo Q.6; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.2; phẩm Vô tướng luận Thành thực Q.2; phẩm Kiến nhất đế luận Thành thực Q.15; luận Tạp a tì đàm tâm Q.10].

nhị đế chương

(二諦章) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Cát tạng soạn vào đời Tùy, được thu vào Vạn tục tạng tập 97. Nội dung trình bày về nghĩa chủ yếu của Chân đế và Tục đế trong giáo nghĩa của Tam luận(Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận). Toàn sách chia làm 7 khoa: Đại ý, Thích danh, Tương tức nghĩa, Vật thể, Tuyệt danh, Nhiếp pháp và Đồng dị. Năm Nguyên lộc thứ 10 (1697) Nhật bản, ngài Thực dưỡng ở chùa Long bảo tại Tiên đài, tìm được 2 quyển Nhị đế chương thượng và hạ, hiệu đính ấn hành. Đến năm Bảo vĩnh thứ 7 (1710), ngài Tuệ húc Tịch công lại căn cứ vào bản cũ sửa chữa những chỗ sai lầm, rồi bổ sung toàn văn của quyển trung và hơn 20 tờ văn bị mất trong quyển thượng mà hoàn thành trọn bộ 3 quyển, khắc in lưu hành.

nhị đế quán

(二諦觀) Tên khác của Không quán, 1 trong 3 pháp quán của tông Thiên thai. Khi Không quán thành tựu thì chẳng những thành tựu được Không đế mà Tục đế cũng hiển hiện rõ ràng, nên gọi là Nhị đế quán.

nhị đốn

(二頓) Hai loại Đốn giáo. Tông Hoa nghiêm chia Đốn giáo làm 2 loại là Tiệm đốn và Đốn đốn; chia Viên giáo thành 2 loại Tiệm viên và Đốn viên mà chủ trương kinh Hoa nghiêm là giáo pháp Đốn đốn và Đốn viên, còn kinh Pháp hoa là giáo pháp Tiệm đốn và Tiệm viên.

nhị độ

(二土) Hai loại quốc độ. 1. Tịnh độ và Uế độ. a) Tịnh độ: Cõi nước được trang nghiêm bằng các thứ vật báu, thanh tịnh, an lạc. b) Uế độ: Cõi nước có đầy dẫy điều xấu ác, nhơ nhớp, khổ não. [X. kinh Tâm địa quán Q.4; phẩm Bảo tháp kinh Pháp hoa]. 2. Sự độ và Lí độ. a) Sự độ: Cõi Sự tướng, chỗ ở của Ứng thân Phật. b) Lí độ: Cõi Thực tướng, nơi ở của Chân thân Phật. [X. Duy ma kinh văn sớ Q.1]. 3. Báo độ và Hóa độ. a) Báo độ: Cõi nước được thành tựu do nguyện lực lúc tu nhân. b) Hóa độ: Cõi nước được hóa hiện ra vì mục đích cứu độ chúng sinh. [X. An lạc tập Q.thượng]. 4. Báo độ và Ứng độ. a) Báo độ: Cõi nước do chúng sinh nhờ vào sự tu hành của mình mà có. b) Ứng độ: Cõi nước do đức Phật tùy thuận chúng sinh mà hiện ra để cứu vớt. [X. Duy ma kinh lược sớ Q.1]. 5. Thực trí độ và Biến hóa độ. a) Thực trí độ: Cõi của Căn bản trí trụ nơi Hậu đắc trí. b) Biến hóa độ: Cõi biến hóa, tịnh uế trải qua các kiếp số. [X. Hoa nghiêm kinh sớ sao Q.7].

nhị độ hoằng kinh

(二土弘經) Sự hoằng dương kinh Pháp hoa của Bồ tát ở 2 cõi Phương tiện và Thực báo. Theo tông Thiên thai thì sinh thân (thân do cha mẹ sinh ra) của Bồ tát tuy đã đạt được Nhẫn vị, dứt hết vô minh, chứng đắc Trung đạo, nhưng vẫn chưa thành tựu thân Pháp tính, còn phải mang nhục thân ràng buộc do cha mẹ sinh ra. Bởi thế, dù có ở khắp 2 cõi Phương tiện và Thực báo cũng không hoằng kinh được. Nghĩa là tuy trí Trung đạo tăng tiến, sinh tử biến dịch giảm dần, nhưng vẫn chưa thể phát khởi Ứng thân, nên chưa thể nhập vào cõi Phương tiện hữu dư để làm lợi ích cho chúng sinh. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.7; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm giảng nghĩa Q.7; Thai tông nhị bách đề Q.5].

Nhị đức

二德; C: èrdé; J: nitoku;|Hai đức hạnh. Có ba nghĩa: 1. Trí (智) và Đoạn (斷) đức của hàng A-la-hán; 2. Trí đức và Bi đức; 3. Tính đức và Tu đức.

nhị đức

(二德) I. Nhị Đức. Trí đức và Đoạn đức. 1. Trí đức: Chỉ cho trí tuệ có năng lực chiếu rọi tất cả sự lí. Đây là Liễu nhân mà hết thảy chúng sinh vốn có sẵn. 2. Đoạn đức: Trí lực đoạn trừ tất cả vọng hoặc. Đây là Duyên nhân mà hết thảy chúng sinh vốn có sẵn. Trí đức là Bồ đề, Đoạn đức là Niết bàn. [X. Quan âm huyền nghĩa Q.thượng]. II. Nhị Đức. Chỉ cho Bi đức và Trí đức. 1. Bi đức: Đức lợi tha của chư Phật và Bồ tát. 2. Trí đức: Đức tự lợi của chư Phật và Bồ tát. III. Nhị Đức. Chỉ cho Tính đức và Tu đức. 1. Tính đức: Chỉ cho Pháp thân, tức là Chính nhân Phật tính sẵn có trong hết thảy chúng sinh. 2. Tu đức: Chỉ cho Bát nhã và Giải thoát, tức là Liễu nhân và Duyên nhân do công tu hành mà thành tựu được. [X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ].

nhị ấn

(二印) Chỉ cho Vô tướng tam muội ấn và Hữu tướng tam muội ấn. 1. Vô tướng tam muội ấn: Bồ tát mới nhập vào địa vị thứ 8, trên không thấy có Phật để cầu, dưới không thấy có chúng sinh để độ, cho nên chìm vào pháp Không trong thời gian dài, đây gọi là Vô tướng tam muội ấn. 2. Hữu tướng tam muội ấn: Lúc bấy giờ, chư Phật khuyên Bồ tát ấy bước ra khỏi hiện trạng trầm không, dùng Tam muội như huyễn làm các việc lợi ích cho chúng sinh, đây gọi là Hữu tướng tam muội ấn. [X. Thập địa kinh luận Q.hạ; Diễn mật sao Q.6].

nhị ứng thân

(二應身) Chỉ cho 2 loại Ứng thân: Liệt ứng thân và Thắng ứng thân theo thuyết của tông Thiên thai. 1. Liệt ứng thân: Ứng thân kém. Nghĩa là thân Phật ứng hiện để giáo hóa hàng phàm phu và Nhị thừa từ giai vị Thập địa trở về trước. 2. Thắng ứng thân: Ứng thân hơn. Nghĩa là Báo thân của Phật thị hiện để giáo hóa hàng Bồ tát từ giai vị Thập địa trở lên.

nhổ gai nhọn trong không trung

chỉ việc không cần làm, vì thật ra cũng không thể làm vì sự việc không thật có; hoặc một vấn đề không cần đặt ra vì vốn là không thể có, và do đó là không thể thực hiện.

nhục ca sa

(肉袈裟) Sự tích 1 con voi chúa xuất gia tu đạo. Cứ theo kinh Na tiên tỉ khưu quyển thượng, thời đức Phật còn tại thế, có 1 con voi chúa, nhờ nhân duyên nghe tụng kinh và hầu Phật, nên sau khi chết được sinh vào nhà 1 Bà la môn. Khi lớn lên, không được nghe kinh Phật, cũng không thấy các vị sa môn, người này bèn bỏ nhà vào núi sâu học theo đạo khác, giao du với 1 đạo sĩ Bà la môn.Về sau, người này tự nghĩ (Đại 32, 694 trung): Ta không thể để cho sự buồn khổ già bệnh ở thế gian ràng buộc, sau khi chết phải rơi vào địa ngục, súc sinh, ngã quỉ, nghèo cùng, vì thế, ta muốn cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca sa, muốn cầu đạo Niết bàn La hán. Sau khi mệnh chung, người này lại sinh vào nước Thiên trúc. Khi mới sinh ra, người này có cuống rốn quấn trên đầu và vai, giống như vị tăng mặc ca sa, cho nên gọi là Nhục ca sa (ca sa bằng thịt).

nhục kế tướng

(肉髻相) Phạm:Uwịìwa-ziraskatà. Pàli: Uịhìsa-sìso. Hán âm: Ôn sắt ni sa, Ô sắt nị sa, Uất sắt ni sa, Uất ni sa. Gọi tắt: Ô sa. Hán dịch: Kế(búi tóc), Đính kế(búi tóc trên đỉnh đầu), Phật đính. Cũng gọi: Đính tướng nhục kế, Đính tướng kế, Đính nhục kế tướng, Đính nhục kế thành tướng, Nhục kế viên hảo cao thắng tướng, Đính nhục cốt thành tướng, Đính phát nhục cốt thành tướng, Đính thượng nhục kế cao quảng bình hảo tướng, Đính thượng hiện ô sắt nị sa tướng. Trên đỉnh đầu của Phật và Bồ tát có cục thịt xương nổi cao lên giống như búi tóc (kế), cho nên gọi là Nhục kế, là 1 trong 32 tướng hảo của đức Phật. Cứ theo kinh Phật bản hạnh tập quyển 9 thì nhục kế trên đỉnh đầu của Phật cao rộng, bằng phẳng, đẹp đẽ. Theo kinh Tam thập nhị tướng trong Trung a hàm quyển 11 thì trên đỉnh đầu của bậc Đại nhân có tướng nhục kế tròn đầy, gọi là Phát loa hữu toàn(tóc xoắn xoay về bên phải), đây là tướng của bậc Đại nhân. Còn kinh Đại bát nhã quyển 381 thì nói rằng, tướng Ô sắt ni sa trên đỉnh đầu đức Thế tôn cao và rộng như vòm trời. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 344 thượng) nói: ... Kế đến, quán tưởng nhục kế trên đỉnh đầu của bồ tát Đại thế chí giống như hoa Bát đầu ma, trên nhục kế có 1 chiếc bình báu đựng các thứ ánh sáng hiện tất cả Phật sự. Tướng nhục kế này chư Phật và Bồ tát đều có, nhưng tướng của chư Phật rất thù thắng, còn tướng của Bồ tát thì hơi kém hơn. Cứ theo kinh Quán vô lượng thọ thì trong các tướng sắc thân của bồ tát Quan thế âm thì chỉ có nhục kế trên đỉnh đầu và tướng Vô kiến đính là không bằng đức Thế tôn. Sự thành tựu tướng nhục kế có liên quan với nghiệp nhân. Cứ theo kinh Bảo nữ sở vấn quyển 4 thì nhục kế trên đỉnh đầu của đức Như lai tự nhiên hiện bày tướng Đại nhân, là tướng tu được nhờ ở đời trước biết kính thờ Hiền Thánh và bậc tôn trưởng. Theo phẩm Như lai công đức trong kinh Vô thượng y quyển hạ, thì ngoài việc tự tu 10 điều thiện, nếu Bồ tát đồng thời giáo hóa, chỉ dẫn chúng sinh tu hành và thấy họ tu hành liền vui mừng khen ngợi, lại đem lòng thương xót vô lượng, phát nguyện rộng lớn, dắt dẫn chúng sinh đưa về chính đạo thì nhờ những nhân duyên ấy, Bồ tát sẽ được 2 thứ tướng hảo, 1 trong 2 tướng đó là xương Ô ni sa trên đỉnh đầu nổi cao lên, tự nhiên thành búi tóc. Các kinh khác có nói nhờ nhân duyên trì giới, bố thí... cũng được tướng hảo này. Trong các đồ tướng do người đời sau tạo lập, phần nhiều ở phía trước phần mềm của nhục kế có nhấn 1 viên đá quí màu hồng, hoặc tô màu hồng ở chỗ không có tóc phía trước đỉnh đầu mà gọi là tướng nhục kế. Đó là làm theo câu nói trong kinh Quán Phật tam muội hải quyển 1 (Đại 15, 648 hạ): Xương đỉnh đầu của Như lai tròn đầy, giống như nắm tay, màu trắng, nếu thấy da mỏng thì là màu hồng, hoặc thấy da dày thì màu kim cương. [X. kinh Trường a hàm Q.1; kinh Thái tử thụy ứng bản khởi Q.thượng; kinh Quán Phật tam muội hải Q.4; kinh Ưu bà di tịnh hạnh pháp môn Q.hạ; luận Thập trụ tì bà sa Q.8; luận Đại tì bà sa Q.177; luận Đại trí độ Q.4]. (xt. Tam Thập Nhị Tướng, Vô Kiến Đính Tướng).

nhục nhãn

xem mắt thịt. ; (肉眼) Phạm: Màôsa-cakwus. Pàli: Maôsa-cakkhu. Chỉ cho con mắt thịt của người ta, là 1 trong 5 loại mắt. Phàm phu nhờ con mắt thịt này mà thấy được cảnh sắc 1 cách rõ ràng.Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 274 thượng) nói: Nhục nhãn trong suốt, tất cả đều thấy rõ ràng. Tuy nhiên, nhục nhãn có nhiều chướng ngại. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 33 thì nhục nhãn có thể thấy cảnh vật ở gần 1 cách rõ ràng, nhưng cảnh vật cách xa thì không thấy được; lại khi nhìn thấy cảnh vật ở trước mắt thì không thể nào cùng lúc nhìn thấy cảnh vật ở phía sau lưng; mắt thấy được những vật bên ngoài, nhưng không thể thấy những gì bên trong thân; ban ngày thì thấy vật nhưng đêm tối thì không. Trái lại, nhờ công đức tu hành, mắt của Phật và Bồ tát có năng lực nhìn thấy tất cả pháp và chân tướng của chúng. [X. luận Đại trí độ Q.39; luận Du già sư địa Q.54; Tông kính lục Q.55]. (xt. Ngũ Nhãn).

nhục sơn

(肉山) I. Nhục Sơn. Nghĩa là người xuất gia giả dối, lừa gạt tín đồ, ăn cắp của tăng, sau khi chết sẽ rơi vào địa ngục, làm núi thịt lớn, chịu nỗi khổ thiêu đốt. Cứ theo kinh Tăng hộ thì vào thời đức Phật Ca diếp ở quá khứ, có vị tăng giữ chức Điển tọa(trông nom việc ăn uống của chúng tăng), không đủ 5 đức, lấy trộm vật của chúng tăng. Do nhân duyên ấy, sau khi chết bị đọa vào địa ngục, thành 1 núi thịt lớn, suốt kiếp chịu khổ thiêu đốt. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 1, phần 5 (Đại 46, 178 thượng) nói: Nếu không có đức mà nhận của bố thí, như trong luận nói luống thụ tín thí, thì sau làm núi thịt. [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.8]. II. Nhục Sơn. Đối lại: Cốt sơn. Chỉ cho dãy núi có đất đai mầu mỡ, cây cối um tùm, lúa mạ xanh tốt. Theo thuật bói toán thì Nhục sơn chỉ cho dãy núi có phúc đức. Chúng tăng mà ở trong ngọn núi có phúc đức thì việc tham thiền tu đạ, hoằng pháp độ sinh, đều thuận lợi. Chương Qui sơn Linh hựu trong Cảnh đức huyền đăng lục (Đại 51, 264 trung) nói: Qui sơn thật tuyệt vời, có thể nhóm họp 1500 chúng, nhưng chẳng phải chỗ ở của Hòa thượng. (...) Hòa thượng là người xương (cốt nhân), mà nơi ấy(Qui sơn)là núi thịt (Nhục sơn), giả sử có ở thì đồ chúng không tới 1 nghìn. Tại Nhật bản, Nhục sơn chỉ cho ngôi chùa viện có khả năng kinh tế phong phú, đặc biệt tông Tào động hay dùng từ ngữ này.(xt. Cốt Sơn).

nhục thân bồ tát

Phàm phu chứng quả Bồ tát là nhục thân Bồ tát, còn Văn Thù, Phổ Hiền, Quan Âm… là Pháp thân Bồ tát. ; (肉身菩薩) Chỉ cho sinh thân bồ tát. Tức là thân do cha mẹ sinh ra, tu hành đạt đến địa vị Bồ tát cao thâm. Cứ theo kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 8, nếu người thanh tịnh chuyên tâm tu tập tam ma địa, thì ngay nhục thân do cha mẹ sinh ra này, không cần có thiên nhãn mà vẫn tự nhiên thấy được các thế giới trong 10 phương. Đời này đã có các vị Bồ tát nhục thân xuất hiện như: Bồ tát Long thụ, bồ tát Thế thân, Phó đại sĩ, bồ tát Hành cơ... Còn ngài Tam tạng Cầu na bạt đà la đời Lưu Tống thì huyền kí(đoán trước)Lục tổ là Bồ tát Nhục thân. Đàn kinh Đại sư sự lược (Đại 48, 362 hạ) nói: Đàn giới ấy là do Tam tạng Cầu na bạt đà la triều Tống sáng lập, dựng bia ghi rằng: Về sau sẽ có Bồ tát Nhục thân truyền giới ở đây.

nhục thực thê đới

(肉食妻帶) Cũng gọi Trì thê thực nhục, Trì thê đạm nhục, Súc thê đạm nhục. Chỉ cho tỉ khưu xuất gia có vợ, ăn thịt. Có vợ, ăn thịt vốn là việc của người tại gia, người xuất gia mà lấy vợ, ăn thịt (thịt ngoài tịnh nhục) là điều giới luật không cho phép. Xưa nay, đức Phật nghiêm cấm người xuất gia hành dâm, trong kinh điển nhiều chỗ nói vào thời mạt pháp trong vị lai sẽ xuất hiện loại tỉ khưu Nhục thực thê đới, như phẩm Ba bà li trong kinh Hiền ngu quyển 12 chép: Vào đời mạt thế, Chính pháp diệt hết, có hạng chính sử tỉ khưu dắt vợ bế con. Kinh Ma ha ma da quyển hạ thì nói: Vào thời mạt pháp, các tỉ khưu giống như người thế tục, cũng làm việc mai mối, cưới gả. Còn phẩm Lễ bái trong kinh Đại bi quyển 3 thì ghi: Trong đời vị lai, khi Chính pháp diệt hết, các tỉ khưu và tỉ khưu ni tay dắt con cùng nhau đi dạo, thường lui tới nơi quán rượu! Trong kinh luận Đại thừa thì nói Bồ tát tại gia được phép có vợ con. Theo phẩm Phụng bát trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 1, thì Bồ tát tại gia, sau khi sống cuộc đời ngũ dục là vì sức phương tiện, khi xuất gia sẽ được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Phẩm Thập hồi hướng trong kinh Hoa nghiêm quyển 15 (bản dịch cũ) thì nói: Đại bồ tát tại gia tuy có vợ con, nhưng chưa từng tạm rời tâm bồ đề. Luận Đại trí độ quyển 35 thì dẫn lời trong kinh Bất khả tư nghị nói rằng: Vợ của bồ tát Tu ma đề tên là Tu la sa nữ; vợ của bồ tát Diệu quang tên là Hỉ đức nữ... Trên đây là những trường hợp Bồ tát tại gia được phép có vợ, nhưng đối với các Bồ tát xuất gia thì tuyệt đối ngăn cấm làm hạnh bất tịnh. Còn về vấn đề ăn thịt thì các bộ phái Tiểu thừa chủ trương được dùng 9 loại thịt như sau: Không thấy giết(không thấy con vật khi bị giết), không nghe giết(không nghe tiếng con vật kêu khi bị giết), không nghi iết(không nghi ngờ con vật bị giết là vì mình), tự chết(con vật tự chết), chim ăn còn dư(con vật tự chết chim ăn không hết), thịt con vật không phải vì mình mà bị giết, thịt con vật bị chết đã khô, thịt không hẹn trước(gặp tình cờ) và thịt con vật đã bị giết trước (không phải lúc mình đến mới giết để đãi mình). Chín loại thịt trên được gọi là Tịnh nhục (thịt trong sạch) đều được phép ăn. Nhưng Đại thừa thì cho rằng ăn thịt là dứt mất hạt giống Phật đại bi, cho nên ngăn cấm hết. Tại Trung quốc, từ xưa đã có các vị tăng phá giới, thường bị dư luận chê cười, như Lí hoặc luận của Mâu tử ghi: Sa môn đương thời phần nhiều uống rượu, có vợ, thậm chí lừa dối, gạt gẫm để vơ vét tài vật của người, thật là bọn giặc hại đời!. Ở Nhật bản, trước thời đại Minh trị, nói chung, chư tăng đều bị cấm chỉ lấy vợ, ăn thịt. Nhưng từ thời Bình an về sau đã có 1 số tăng lữ có vợ, ăn thịt và việc này đã gây ra nhiều cuộc tranh luận. Đến thời sư Thân loan –Tổ khai sáng của Tịnh độ chân tông– xóa bỏ truyền thống xuất gia, áp dụng sinh hoạt tại gia thì đã hình thành tông phông ăn thịt, lấy vợ. Từ đời Minh trị trở đi thì tất cả các tông phái Phật giáo Nhật bản cũng đều cho phép ăn thịt, có vợ, chủ trương hiện đại hóa và đại chúng hóa Phật giáo.

nhục đoàn tâm

(肉團心) Phạm: Hfdaya, Hfd. Pàli: Hadaya. Hán âm: Hột lợi đà da, Hãn lật đà. Gọi tắt: Nhục tâm. Quả tim trong ngũ tạng của nhục thân phàm phu, là chỗ nương gá của ý căn và là khối thịt có 8 lá. Cứ theo Du già luận kí quyển 1, phần đầu, lúc thức A lại da mới thụ sinh thì chỗ nương gá của nó chính là nhục tâm, nếu thức A lại da lìa bỏ nhục tâm thì thân người liền chết. Mật tông quán tưởng nhục đoàn tâm này là đóa hoa sen 8 cánh, thành tựu thân Tì lô giá na, bởi thế, nhục đoàn tâm được giải thích là tâm tự tính chân thực của chúng sinh. [X. Đại nhật kinh sớ Q.4, 17; Bồ đề tâm nghĩa; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.16]. (xt. Hãn Lật Đà).

Nhứ tố

(茹素) hay nhứ thái (茹菜): ăn rau, ăn chay. Như trong Liên Tu Khởi Tín Lục (蓮修起信錄, CBETA No. 1204) quyển 4 có câu: “Nhĩ phụ nhứ tố hữu niên, phả hữu thiện căn, tích tịnh nghiệp vị tu, trần duyên nan thoát (爾父茹素有年、頗有善根、惜淨業未修、塵緣難脫, cha ngươi ăn chay có năm, lại có thiện căn, tiếc rằng tịnh nghiệp chưa tu, duyên trần khó thoát).”

nhứt thừa

Ekayana (skt)—One Vehicle or Vehicle of Oneness. 1) Nhứt Phật thừa: Đại Thừa và Nhất Thừa được dùng đồng nghĩa với nhau trong tất cả kinh điển Đại Thừa. Cái ý niệm xem giáo lý của Đức Phật là một phương tiện chuyên chở đã nảy ra từ ý niệm vượt thoát qua dòng luân hồi sanh tử để đạt đến bến bờ Niết Bàn bên kia. Trong Kinh Lăng Già, khi Mahamati hỏi Đức Phật tại sao Ngài lại thuyết giảng Nhất Thừa, Đức Phật nói: “Không có cái chân lý đại tịch diệt nào được đạt bởi hàng Thanh Văn hay Duyên Giác do tự chính họ; do đó, Ta không thuyết giảng cho họ về Thừa của nhất thể. Sự giải thoát của họ chỉ có thể được hình thành nhờ sự dẫn dắt, khai thị, dạy dỗ và điều khiển của Như Lai; sự giải thoát ấy không xãy ra do một mình họ. Họ chưa thể tự làm cho họ thoát khỏi sự trở ngại của tri thức và sự vận hành của tập khí; họ chưa thể chứng cái chân lý rằng không có tự tính trong mọi sự vật, cũng chưa đạt đến cái chết biến hóa không thể quan niệm được (bất khả tư nghì biến dị tử). Vì lý do nầy nên Ta chỉ thuyết giảng Nhất Thừa cho hàng Thanh Văn, khi cái tập khí tệ hại của họ được tẩy sạch, khi họ thấy suốt bản chất của tất cả các sự vật vốn không có tự tính, và khi họ giác tính khỏi cái kết quả gây mê đắm của tam ma địa phát xuất từ tập khí tệ hại, thì họ vượt khỏi trạng thái của các vô lậu. Kho họ tỉnh giác như thế, họ sẽ tự cung cấp cho mình những thức ăn tinh thần trên cùng một bình diện vượt khỏi trạng thái của các vô lậu mà bấy lâu nay họ vẫn trụ ở đấy.”—One Yana—The Vehicle of oneness—The one Buddha-Yana—The One Vehicle. Mahayana and Ekayana are used synonymously in all the Mahayana texts. The idea of considering the Buddha's teaching as an instrument of conveyance was doubtless suggested by that of crossing the stream of Samsara and reaching the other side of Nirvana. In the Lankavatara Sutra, when Mahamati asked the Buddha the reason why He did not speak of the Vehicle of Oneness, the Buddha said: “There is no truth of Parinirvana to be realized by the Sravakas and Pratyeka-buddhas all by themselves; therefore, I do not preach them the Vehicle of Oneness. Their emancipation is made possible only by means of the Tathagata's guidance, discretion, discipline, and direction; it does not take place by them alone. They have not yet made themselves free from the hindrance of knowledge (jneyavarana) and the working of memory; they have not yet realized the truth that there is no self-substance in anything, nor have they attained the inconceivable transformation-death (acintyaparinamacyuti). For these reasons I do not preach the Vehicle of Oneness. I will only preach the Ekayana to the Sravakas when their evil habit of memory is all purgated, when they have an insight into the nature of all things that have no self-substance, and when they are awakened from the intoxicating result of Samadhi which comes from the evil habit of memory, they rise from the state of non-outflowings. When they are thus awakened, they will supply themselves with al the moral provisions on a plane which surpasses the state of non-outflowings where they have hitherto remained.” 2) Đức Phật thường được so sánh với một đại lương y có thể chữa lành mọi thứ bệnh bằng cách chữa trị tinh diệu. Theo y học, cũng cùng một nguyên tắc độc nhất, nhưng ở trong tay của một bác sĩ giàu kinh nghiệm thì có nhiềusự áp dụng khác nhau. Giáo lý của Đức Phật không thay đổi theo thời gian và không gian, có một sự ứng dụng phổ quát; nhưng vì người thọ nhận khác nhau về tâm tính, học tập và di truyền nên họ hiểu giáo lý theo những cách khác nhau và nhờ đó mà mỗi người được chữa lành căn bệnh tinh thần riêng của mình. Đây là một nguyên lý có thể áp dụng một cách phổ quát và vô cùng, được gọi là “Nhất Thừa,” hay “Đại Thừa.” Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật dạy: “Giáo lý của Ta không bị phân chia, nó vẫn luôn luôn là một và vẫn là nó, nhưng do bởi các ham muốn và khả năng của chúng sanh vốn khác nhau đến vô cùng, nên cũng có thể biến đổi đến vô cùng. Chỉ có một Thừa mà thôi, và Bát Chánh Đạo luôn nhắc nhở.”—The Buddha is often compared to a great physician who can cure every sort of illness by skilful treatment. As far as the science of medicine goes, there is just one principle which, however, in the hands of an experienced doctor finds a variety of applications. The Teaching of the Buddha does not vary in time and space, it has a universal application; but as its recipients differ in disposition and training and heredity they variously understand it and are thereby cured each of his own spiritual illness. This one principle universally and infinitely applicable is known as “One Vehicle” or “Great Vehicle.” In the Lankavatara Sutra, the Buddha taught: “My teaching is not divided, it remains always one and the same, but because of the desires and faculties of beings that are infinitely varied, it is capable also of infinite variation. There is One Vehicle only, and refreshing is the Eightfold Path of Righteousness.” 3) Ngoài Nhất Thừa, Nhị Thừa, các kinh điển Đại Thừa còn nói đến Tam Thừa, gồm Thanh Văn, Duyên Giác, và Bồ Tát. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng Nhất Thừa kỳ thật chẳng dính dáng gì đến số “Thừa,” vì “Eka” có nghĩa là “một,” và trong trường hợp nầy nó có nghĩa là “Nhất Thể,” và “Ekayana” chỉ cái học thuyết dạy về sự nhất thể của các sự vật, qua đó tất cả chúng sanh kể cả Tiểu Thừa hay Đại Thừa đều được cứu khỏi sự ràng buộc của hiện hữu—Besides this Ekayana and Dviyana, the Mahayana sutras genrally speaks of Triyana, which consists of the Sravakayana, Pratyeka-buddha-yana, and Bodhisattvayana. But we must remember that the Ekayana has really nothing to do with the number of yanas though “eka” means “one.” Eka in this case rather means “oneness,” and “Ekayana” is the designation of the doctrine teaching the transcendental oneness of things, by which all beings including the Hinayanists and Mahayanists are saved from the bondage of existence. 4) Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật nói: “Ta thuyết giảng Tam Thừa, Nhị Thừa, Nhất Thừa và Vô Thừa, nhưng tất cả các thừa ấy đều nhằm cho phàm phu, kẻ sơ trí, và cho những kẻ mê đắm trong sự thọ hưởng sự tịch tịnh. Cánh cửa của chân lý tối hậu thì vượt khỏi cái nhị biên của tri thức. Hễ khi nào tâm còn sinh khởi thì những thừa nầy không thể nào bỏ đi được. Khi tâm kinh nghiệm sự đột biến thì sẽ không có xe mà cũng không có người lái xe.”—In the Lankavatara Sutra, the Buddha said: “I preach the Triple Vehicle, the One Vehicle, and No-Vehicle, but they are all meant for the ignorant, the little witted, and for the wise who are addicted to the enjoyment of quietude. The gate of the ultimate truth is beyond the dualism of cognition. As long as mind evolves, these vehicles canot be done away with; when it experiences a revulsion (paravritti), there is neither vehicle nor driver. 5) Cách để thể chứng con đường của Nhất Thừa là hiểu rằng quá trình của nhận thức là do bởi phân biệt; khi sự phân biệt nầy không còn xãy ra nữa, và khi người ta trú trong cái như như của các sự vật thì có sự thể chứng cái Nhất Thừa của Nhất Thể. Thừa nầy chưa được ai thể chứng bao giờ, chưa được thể chứng bởi hàng Thanh Văn, Duyên Giác, hay Bà La Môn, ngoại trừ chính Đức Phật—The way to realize the path of the Ekayana is to understand that the process of perception is due to discrimination; when this discrimination no longer takes place, and when one abides in the suchness of things, there is the realization of the Vehicle of Oneness. This Vehicle has never been realized by anybody, not by the Sravakas, not by the Pratyeka-buddhas, nor by the Brahmans, except by the Buddha himself.

Nhữ

汝; C: rŭ; J: nyo;|1. Anh, mày. Từ để xưng hô của người lớn đối với kẻ nhỏ hày đồng vai vế (s: mārsa); 2. Tên một con sông ở Trung Hoa.

Nhữ đẳng

汝等; C: rǔděng; J: nyotō; S: mārsa|Các anh, chúng mày.

những cảnh giới thấp

chỉ ba cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.

những lời phật dạy về “nói nhiều” trong kinh pháp cú—the buddha's teachings on “talkative” in the dharmapada sutra

1. Chẳng phải cậy nhiều lời mà cho là người có trí, nhưng an tịnh không cừu oán, không sợ hãi mới là người có trí—A man is not called a learned man because he talks much. He who is peaceful, without hatred and fearless, is called learned and wise (Dharmapada 258). 2. Chẳng phải cậy nhiều lời mà cho là người hộ trì Chánh pháp, nhưng tuy ít học mà do thân thực thấy Chánh pháp, không buông lung, mới là người hộ trì Chánh pháp—A man is not called a guardian of the Dharma because he talks much. He who hears little and sees Dharma mentally, acts the Dharma well, and does not neglect the Dharma, is indeed, a follower in the Dharma (Dharmapada 259).

ni

bhiksuni (skt)—Tỳ Khưu Ni—Nun—A female bhiksu.

ni ba la

Nepala (skt)—Nepal, xưa kia cũng là phần đất Nepal bây giờ, nằm về phía Đông của tỉnh Kathmandu—Nepal, anciently corresponding to that part of Nepal which lies east of Kathmandu.

ni bách giới chúng học

See Bách Giới Chúng Học Ni.

ni bạc nhĩ

(尼泊爾) Cũng gọi: Ni ba la quốc, Nê bà la quốc, Niết ni lạt quốc, Ni bát lạt quốc. Tên cũ của nước Nepal hiện nay. Nước này nằm ở Trung nam á, phía nam Tây tạng, núi Hi mã lạp nhã (Malaya) chiếm hết 90% đất đai, thủ đô là Katmandu. Dân cư khoảng hơn 4 triệu người và hầu hết sống bằng nghề nông, tương đối còn nghèo đói, lạc hậu. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 7, nước Ni bạc nhĩ chu vi hơn 4 nghìn dặm, dân cư tin cả tà lẫn chính, tu học cả Đại thừa và Tiểu thừa. Quốc vương thuộc dòng dõi Sát đế lợi và rất kính tin Phật pháp. Đây là ghi chép về tình hình nước Nepal vào thế kỉ VII. Trong khi Phật giáo suy tàn ở Ấn độ thì tại Ni bạc nhĩ Phật giáo vẫn hưng thịnh. Phật giáo được truyền đến đây vào thời vua A dục, hiện nay ở gần Katmandu vẫn còn 1 ngôi chùa Phật được xây dựng vào thời đó. Khi ngài Huyền trang đến Ấn độ, chúng tăng nước này có khoảng hơn 2 nghìn vị. Từ đó về sau, Phật giáo dần dần hòa nhập với tín ngưỡng Thấp bà giáo mà hình thành Phật giáo Đát đặc la. Từ thế kỉ XVIII trở về trước, nước Ni bạc nhĩ lần lượt bị Ấn độ, Tây tạng và các dân tộc du mục ở vùng Trung á khống chế, cho mãi đến năm 1768, Quốc vương Prithwi Narayan Shah thuộc tộc Gurkhas ở miền Tây nổi dậy, thống nhất đất nước, dời đô về Katmandu, đó là vị Thủy tổ của vương triều Ni bạc nhĩ. Phật giáo thời đó rất hưng thịnh, sau suy dần, cho đến nay ở Katmandu, Rhatgon, Patan... vẫn còn có hơn 2 nghìn 7 trăm ngôi chùa viện. Trong nước Ni bạc nhĩ có vườn Lam tì ni, nơi đức Phật giáng sinh và các di tích cổ của thành Ca tì la vệ. Hiện nay, nước Ni bạc nhĩ có các tín ngưỡng tông giáo như: Ấn độ giáo(quốc giáo), Lạt ma giáo, Phật giáo, Hồi giáo... Trong đó, tín đồ Phật giáo chiếm 10% dân số toàn quốc, tập trung ở Katmandu và vùng biên giới phía bắc. Ni bạc nhĩ có nhiều kinh điển Phật giáo bằng tiếng Phạm. Từ đầu thế kỉ XIX, các nhà học giả như: B. H. Hodgson, D. Wright, Bendall người Anh, S. Lévi người Pháp và Hà khẩu Tuệ hải, Thần lượng Tam lang, Cao nam Thuận thứ lang... người Nhật đã nối tiếp nhau đến Ni bạc nhĩ để sưu tầm và đã phát hiện 1 lượng lớn kinh sách Phật giáo bằng tiếng Phạm. Những kinh sách này đã giúp ích rất nhiều cho công trình nghiên cứu Phật giáo cận đại. Theo sự khảo chứng của các học giả thì Ni bạc nhĩ là nơi bắt nguồn của Phật giáo Tây tạng. Các kinh thuộc Mật bộ trong tạng kinh Tây tạng phần lớn đã được dịch ra ở Ni bạc nhĩ. [X. Pháp uyển châu lâm Q.16; Cựu đường thư Tây nhung liệt truyện thứ 148; History ofNepàlby D. Wright; Le Népal par Lévi; On Yuan Chwang vol. II by T. Watters]. (xt. Ni Bạc Nhĩ Phật Giáo).

ni bạc nhĩ phật giáo

(尼泊爾佛教) Phật giáo ở nước Ni bạc nhĩ. Mối quan hệ giữa Phật giáo và nước Ni bạc nhĩ phải kể từ thời đức Phật, bởi vì thành Ca tì la vệ, nơi thủa xưa đức Phật sinh ra, chính là phần đất thuộc miền Tây của Ni bạc nhĩ gần biên giới Ấn độ. Tương truyền, vào thế kỉ thứ III trước Tây lịch, lúc đi chiêm bái các nơi Phật tích, vua A dục đã từng xây 5 ngôi tháp ở nước này và nay là những di tích xưa nhất hiện còn tại Ni bạc nhĩ. Cứ theo Đại đường tây vực kí của ngài Huyền trang thì khi ngài đến đây vào thế kỉ thứ VII, Phật giáo và Ấn độ giáo ở Ni bạc nhĩ vẫn thịnh hành như ở thời đức Phật vậy. Còn theo Đại đường cầu pháp cao tăng truyện quyển thượng của ngài Nghĩa tịnh, thì Ni bạc nhĩ có ngôi chùa Thiên vương rất lớn, chư tăng trong chùa này rất giỏi về Phạm ngữ và Phạm thư. Người con nuôi của bà công chúa Văn thành xuất gia cũng trụ ở chùa này. Từ thế kỉ VII đến thế kỉ IX, Ni bạc nhĩ bị lệ thuộc Tây tạng, về sau được độc lập. Vào đầu thế kỉ XIII, Phật giáo Ấn độ bị quân Hồi giáo bách hại, rất nhiều tăng sĩ lánh nạn đến Ni bạc nhĩ, đồng thời mang theo nhiều kinh điển, gây nên 1 thời kì toàn thịnh của Phật giáo ở Ni bạc nhĩ. Rất tiếc là những kinh điển ấy không được bảo quản chu đáo, nên đã bị mối mọt hủy hoại. Mãi đến thế kỉ XIX, học giả người Anh là ông B. H. Hodgson mớiphát hiện kinh điển Phật bằng tiếng Phạm. Sau khi ông Hodgson công bố tin này (năm 1826), giới học thuật rất kinh ngạc. Đương thời, các học giả sưu tập được 381 bộ kinh Phật chép tay bằng tiếng Phạm và phân phối đến các Đại học: Calcutta, Oxford, London, Paris... để được nghiên cứu. Ông E. Burnouf người Pháp nhân đó mà trứ tác cuốn Introduction à l’histoire du Bouddhisme indien (Ấn độ Phật giáo sử tự thuyết) và dịch bộ kinh Pháp hoa ra tiếng Pháp dưới tựa đề: Le Lotus de la Bonne Loi, từ nguyên bản Phạm ngữ. Từ năm 1873 đến năm 1876, Đại học Cambridge của nước Anh cũng sưu tầm được 325 bộ kinh Phật tiếng Phạm. Rồi đến các học giả người Nhật bản là các ông: Hà khẩu Tuệ hải, Cao nam Thuận thứ lang, Thần lượng Tam lang... cũng có được 1 số lớn kinh tiếng Phạm chép tay và cất giữ tại các Đại học Tokyo, Kyoto... Từ thế kỉ VIII đến nay, Phật giáo Ni bạc nhĩ đã trải qua nhiều thăng trầm biến đổi, trong 1 thời gian dài đã rơi vào tình trạng suy đồi. Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, có chính phủ giúp đỡ nên Phật giáo mới dần dần được khôi phục. Năm 1956, Đại hội Phật giáo thế giới được tổ chức tại đây.Trong số các kiến trúc hiện còn tại Ni bạc nhĩ thì có chùaSvayambhù-nàtha ở Katmandu là nổi tiếng nhất, chùa tháp Buddha-nàtha là nơi mà người Tây tạng sống ở Ni bạc nhĩ rất tôn kính, tháp Changu Narayan khá đẹp, được xây dựng vào năm 1703. Những chùa tháp cổ này vì đã qua nhiều lần sửa chữa, nên không còn giữ được phong cách kiến trúc của thế kỉ XV trở về trước nữa. Ngoài ra, người Ni bạc nhĩ tôn thờ lốt chân của đức Phật và bồ tát Văn thù, sùng bái chày Kim cương (Phạm: Vajra), Linh (Phạm: Liíga). Chày Kim cương tượng trưng đức Phật, Linh tượng trưng Bát nhã (trí tuệ). Chày Kim cương và Linh cũng còn tượng trưng cho Mạn đồ la Kim cương giới và Thai tạng giới Mật giáo. [X. Đại đường tây vực kí Q.6, 7; Ni bạc nhĩ quốc chi Phật giáo (Lai duy, Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 83); History of Nepal by D. Wright, Cambridge 1877; Encyclopaedia Britanica vol. 16 Nepal; Unknown Nepal by R. N. W. Bishop, London 1952].

ni ca la

Niskala (skt). 1) Cây Ni Ca La: The name of a tree. 2) Không hột hay trơ trọi: Seedless or barren.

ni chính

(尼正) Cũng gọi Ni tăng chính. Chức vụ vị Ni do nhà nước thời Nam triều, Trung quốc, đặt ra để thống lĩnh ni chúng. Cứ theo Tỉ khưu ni truyện quyển 2, vào năm Thái thủy thứ 2 (466) đời Tống thuộc Nam triều, vua Minh đế sắc lệnh Ni sư Bảo hiền làm Đô ấp Tăng chính thống lĩnh ni chúng. Ngoài ra, Phật tổ thống kỉ quyển 36, 51, Đại tống tăng sử lược quyển trung, trong điều Ni chính, cũng đều có ghi chép việc này, chỉ khác về niên đại mà thôi.

ni chúng chủ

The Mistress of the nuns (Gautami—Mahaprajapati, the foster-mother of Sakyamuni).

ni càn đà nhã đề tử

(尼乾陀若提子) Phạm: Nigrantha-jĩàtaputra. Pàli: Nigaịỉha-nàtaputta. Cũng gọi: Phiệt đà ma na (Phạm: Vardhamàna) Ni kiền đà xà đề phất đala, Ni yết lạn đà thận nhã đê tử, Ni yên nhã đề tử, Ni kiền thân tử. Gọi tắt: Nhã đề tử, Ni kiền tử. Hán dịch: Li hệ thân tử. Tổ khai sáng của Kì na giáo, 1 trong các ngoại đạo Ni kiền tử, 1 trong 6 nhà ngoại đạo ở Ấn độ. Theo truyền thuyết, trước Ni kiền đà nhã đề tử, Kì na giáo còn có 23 vị Tổ sư, cho nên đời sau cũng cho Ni kiền đà nhã đề tử là Tổ thứ 24, hoặc tôn ngài là tổ Trung hưng của Kì na giáo. Thân mẫu ngài là Nhã đề (Phạm:Jĩàta) nên ngài được gọi là Nhã đề tử(con của bà Nhã đề). Ngài là người cùng thời với đức Phật, sinh ở 1 thôn xã ngoài thành Tì xá li tại Trung Ấn độ. Ngài vốn là người tại gia có vợ con. Năm 30 tuổi, cha mẹ ngài nhịn ăn mà qua đời, ngài chợt tỉnh ngộ, bèn xuất gia học giáo pháp của Ba xa bà(ngờ là Lặc sa bà)để cầu đạo giải thoát. Sau 12 năm tu luyện khổ hạnh thì ngài đại ngộ và suốt 30 năm sau đó, ngài được nhà vua giúp đỡ truyền bá đạo pháp ở các nước: Tì xá li, Ma yết đà, Ương già ... thuộc Trung Ấn độ và được tín đồ tôn xưng là Kì na (Phạm: Jina, người thắng), Đại hùng (Phạm: Mahàvìra), Hoàn toàn giả (Phạm: Kevalin,người hoàn toàn) hoặc là Phật đà. Nhưng Phật giáo thì cho rằng Kì na là tà mệnh, vì chủ trương tội phúc, khổ vui đều do nhân đời trước quyết định, chẳng phải hành đạo có thể diệt được, tất cả chúng sinh trải qua 8 vạn kiếp sẽ tự nhiên được giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử, dù có tội hay không tội. Như nước 4 sông lớn đều chảy về biển cả, không có sai biệt, tất cả chúng sinh cũng như thế, khi đã được giải thoát thì đều không khác nhau. Năm 72 tuổi, Kì na nhập tịch ở thành Ba bà (Phạm:Pàvà – vào khoảng năm 467, hoặc năm 480 trước Tây lịch). Kì na có 11 đệ tử ưu tú nhưng phần nhiều đã tuyệt thực mà chết, sau khi Kì na nhập diệt chỉ còn lại 2 người truyền bá học thuyết ngài. Cứ theo truyền thuyết, tín đồ của ngài ở thời bấy giờ có tới 480 vạn người. [X. kinh Ni kiền trong Trung a hàm Q.4; kinh Sa môn quả trong Trường a hàm Q.17; kinh Nghĩa túc Q.thượng; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.33; Phiên Phạm ngữ Q.5]. (xt. Kì Na Giáo).

ni càn đà nhược đề tử

Nirgrantha-jnatiputra (skt)—Một người chống đối Đức Phật khi Ngài còn tại thế, chủ thuyết của ông ta là thuyết “định mệnh,” mọi thứ đều có sẳn định mệnh, và không có sự tu hành nào có thể cải đổi được định mệnh của con người—An opponent of Sakyamuni. His doctrines were determinist, everything being fated, and no religious practices could change one's lot.

ni cán tử ngoại đạo

(尼幹子外道) Ni kiền tử, Phạm: Nirgrantha-putra, gọi đủ: Nirgrantha-jĩàputra. Pàli: Nigaịỉha-putta. Cũng gọi Ni kiền đà tử ngoại đạo, Ni kiền tử ngoại đạo, Ni kiền đà phất trớ la ngoại đạo, Ni kiền phất đà đát la ngoại đạo, Ni kiền tử luận sư. Một trong Lục sư ngoại đạo, 1 trong Tứ chấp ngoại đạo, 1 trong 16 tông ngoại đạo, 1 trong 20 thứ ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. Vì ngoại đạo này chủ trương tu khổ hạnh để không bị vấn đề cơm áo ở thế gian gò bó, hầu xa lìa sự bức bách của phiền não và sự ràng buộc trong 3 cõi, cho nên tên tiếng Phạm của ngoại đạo này được dịch là Li hệ (lìa trói buộc), Bất hệ, Vô kế, Vô kết. Lại vì ngoại đạo này không mặc quần áo chi cả và cũng không lấy thế làm hổ thẹn, cho nên bị người đời cười chê mà gọi là Vô tàm ngoại đạo(ngoại đạo không hổ thẹn), Lõa hình ngoại đạo(ngoại đạo ở truồng). Ông tổ khai sáng đạo này là Lặc sa bà (Phạm: Fwadha), đến Ni kiền đà nhã đề tử là tổ Trung hưng. Đời sau, ngoại đạo này được gọi là Kì na giáo (Phạm: Jaina). Những người xuất gia tu tập khổ hạnh và thực hành giáo lí của phái này thì gọi chung là Ni kiền đà. Sau khi Ni kiền đà nhã đề tử thị tịch, ngoại đạo Ni kiền tử bị chia làm 2 phái: Phái Không y (Phạm: Digambara ) và phái Bạch y ( Phạm: Zvetàmbara). Phái Không y chủ trương không mặc quần áo mà ở truồng, thông thường gọi là Lõa hình ngoại đạo, Lộ hình ngoại đạo. Còn phái Bạch y thì lưu hành ở miền Bắc Ấn độ, vì khí hậu lạnh nên mặc áo trắng(bạch y)để chống rét và có lẽ đây là nguyên nhân đưa đến việc chia rẽ thành 2 phái. Đại đường tây vực kí quyển 3 (Đại 51, 855) nói: Những pháp do Bản sư của phái này giảng nói, phần nhiều là trộm nghĩa trong kinh Phật, tùy theo loại mà thiết lập pháp, bắt chước đặt ra phép tắc; người lớn gọi là bật sô, người nhỏ gọi là sa di, uy nghi luật hạnh rất giống với pháp của chúng tăng, chỉ khác với chư tăng là người của phái này để lại một ít tóc và ở truồng, hoặc có mặc áo thì dùng màu trắng để cho khác 1 chút. Tượng Thiên sư của phái này cũng bắt chước giống như tượng đức Phật, đầy đủ tướng hảo, nhưng y phục thì khác. Cứ theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 10, thì ngoại đạo này cạo tóc, lõa thể, không cất chứa vật gì, dùng tay khất thực chứ không có bát, hễ được vật gì thì bỏ vào bát tay và ăn liền. Vì có rất nhiều điểm giống với Phật giáo, cho nên đã có thời các học giả Âu tây cận đại cho rằng Kì na giáo đã thoát thai từ Phật giáo mà ra, nhưng sau khi nghiên cứu 2 tông giáo này 1 cách sâu sát mới biết lúc đầu giữa 2 tông giáo này có những điểm khác xa nhau. Như Kì na giáo phủ nhận giáo quyền Phệ đà, cấm chỉ cúng tế, không cho giết hại..., những điểm này giống với Phật giáo; còn như khuyến khích khổ hạnh, phân biệt 4 chủng tính, thì giống với Bà la môn mà khác xa với Phật giáo. [X. kinh Tạp a hàm Q.5, 21; kinh Ni kiền trong Trung a hàm Q.4; kinh Tát già ni kiền tử sở thuyết Q.1-10; Chú Duy ma kinh Q.3; Bách luận sớ Q.thượng; Câu xá luận quang kí Q.15; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối]. (xt. Ni Kiền Đà Nhã Đề Tử).

ni câu luật thụ

(尼拘律樹) Ni câu luật, Phạm: Nyagrodha. Pàli: Nigrodha. Hán dịch: Vô tiết, Tung quảng, Đa căn. Cũng gọi Ni câu đà thụ, Ni câu lũ đà thụ, Ni câu ni đà thụ,Ni câu loại thụ, Ni câu lư đà thụ, Nặc cù đà thụ. Tên khoa học: Ficus indica. Tên 1 loại cây thuộc họ dâu, hình dáng giống cây dong, mọc ở Ấn độ, Tích lan..., cao từ 10m đến 15m, lá hình tròn mà dài, đầu lá nhọn. Từ nhánh sinh ra rễ rủ xuống, khi tới đất lại thành gốc, cành lá sum xuê tỏa ra 4 phía. Hạt của loại cây này rất nhỏ, nên trong kinh Phật, nó thường được dùng để ví dụ gieo nhân nhỏ mà được quả lớn. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 15 giải thích như sau (Đại 54, 402 thượng): Thân cây Ni câu luật tròn trịa thẳng tắp, không có lóng đốt, cách mặt đất hơn 3 trượng mới có cành lá. Hạt của nó nhỏ như hạt cây liễu. Ở Trung quốc không có loại cây này, người ta gọi nó là cây liễu, nhưng không đúng. [X. kinh Tạp a hàm Q.33; kinh Biệt dịch tạp a hàm Q.8; kinh Đại bản trong Trường a hàm Q.1; luận Đại trí độ Q.8; luận Câu xá Q.6].

ni câu luật uyển

(尼拘律苑) Phạm: Nyagrodhàràma. Pàli: Nigrodhàràma. Cũng gọi Ni câu luật viên, Ni câu luật thụ viên. Hán dịch: Vô tiết viên, Tung quảng viên. Khu vườn nằm về phía nam thành Ca tì la vệ, Trung Ấn độ, là nơi mà, sau khi thành đạo, đức Phật đã về để nói pháp cho phụ vương nghe. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 6, thì vua A dục đã từng xây chùa và dựng tháp tại khu vườn này. Ở gần đó có tòa tháp đánh dấu nơi đức Phật đã tiếp nhận áo ca sa kim lan do di mẫu của Ngài cúng dường.

ni câu đà

Nyag-rodha (skt). 1) Một loại cây giống như cây đa, tàng rộng, lá giống như lá hồng, trái gọi là “đa lặt” được dùng để làm thuốc ho—The down growing tree, Ficus Indica, or banyan; high and wide spreading, leaves like persimmon leaves, fruit called “to-lo” used as a cough-medicine. 2) Cũng được diễn dịch như là cây liễu, có lẽ do tính chất rũ xuống của tàng cây—Also interpreted as the willow, probably from the drooping characteristic.

ni câu đà phạm chí

(尼拘陀梵志) Ni câu đà, Phạm: Nyagrodha. Pàli:Nigrodha. Hán dịch: Vô khuể, Bất sân. Cũng gọi Ni câu luật đà phạm chí. Tên của 1 phạm chí ngoại đạo ở thời đức Phật, sau được Phật giáo hóa và qui y làm đệ tử của Ngài. Phạm chí Ni câu đà lúc đầu là ngoại đạo tại gia thờ Phạm thiên, thường cùng với 500 Phạm chí tụ họp ở rừng cây Ưu đàm bà la (Phạm:Udumbarikà), gần thành Vương xá để thảo luận việc nước. Bấy giờ có 1 đệ tử tại gia qui y đức Phật tên là Tán đà na (Pàli: Sandhàna) đi qua chỗ rừng này, 500 Phạm chí trông thấy Tán đà na đều im lặng nhìn nhau. Lúc đó Ni câu đà đối với Tán đà na dùng lời chê bai đức Phật, phê bình đệ tử Phật cứ ở 1 chỗ tu hành, giống như bò mù ăn cỏ. Bấy giờ đức Phật đang ở trong hang cây Thất diệp tại núi Tì ha la, nghe biết việc này liền đến hóa độ 500 Phạm chí, khiến họ từ bỏ pháp nhơ nhớp mà nhận lãnh pháp thanh tịnh. Năm trăm Phạm chí nhờ đó mà được đoan tâm chính ý, lắng nghe lời dạy bảo của đức Phật. [X. kinh Ưu đàm bà la trong Trung a hàm Q.26; kinh Ni câu đà phạm chí].

ni cô

A nun—A young Buddhist Nun—See Tỳ Kheo Ni.

ni di lưu đà

Nirodha (skt). 1) Diệt: Extinction—Annihilation. 2) Diệt Đế hay Diệu Đế thứ ba trong Tứ Diệu Đế. Một khi dây nghiệp bị bứt đứt thì sẽ không còn dính mắc vào sanh tử luân hồi nữa: The third of the four noble truths. With the breaking of the chain of karma there is no further bond to reincarnation. ; (尼彌留陀) Phạm: Nirudha. Hán dịch: Diệt Chỉ cho Diệt đế, 1 trong 4 đế. Đại thừa nghĩa chương quyển 1, (Đại 44, 467 hạ) nói: Tiếng Phạm Tì ni, Hán dịch là Diệt. Diệt có 3 thứ: Niết bàn, Ni di lưu đà (nghĩa là Diệt đế trong 4 đế) và Tì ni. (xt. Tứ Đế).

ni diên để

(尼延底) Phạm: Nyanti. Hán dịch: Thâm nhập, Thú nhập, Chấp thủ, Trầm trệ. Cũng gọi Ni cận để. Tên khác của Tham, là lòng tham muốn của cải,danh vọng, quyền lực, nam nữ, ăn uống... là tác dụng tâm đắm đuối, bám níu không chịu buông bỏ. Câu xá luận kí quyển 16 (Đại 41, 260 hạ) nói: Ngươi có vì cảnh sắc này mà nổi lòng dục, tham, thân, ái, a lại da, ni diên để và đắm trước không? Bảy thứ dục vọng này đều là tên gọi khác của Tham (...). Ni diên để Hán dịch là chấp thủ, hoặc thú nhập, hoặc trầm trệ. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.6; Huyền ứng âm nghĩa Q.25]. (xt. Tham).

ni dân đà la

Nimindhara (skt)—Nemimdhara (skt)—Ni Dân Đạt La. 1) Ni Dân Đạt La là tên của ngọn núi ở ngoài cùng của bảy vòng núi kim sơn—Nimindhara maintaining the circle, i.e. the outermost ring of the seven concentric ranges of the world, the mountain that holds the land. 2) Ni Dân Đạt La còn là tên của một loại cá có cái đầu được coi như giống núi Ni Dân Đạt La vậy—The name of a sea fish whose head is supposed to resemble this mountain.

ni dân đà la sơn

(尼民陀羅山) Ni dân đà la, Phạm: Nimiôdhara. Pàli: Nemindhara. Cũng gọi Ni dân đạt la sơn, Ni di đa la sơn.Hán dịch: Địa trì sơn, Trì biên sơn. Tên lớp núi ngoài cùng thuộc 7 lớp núi vàng.Theo thế giới quan Phật giáo, núi Tu di nằm ở giữa thế giới, phía ngoài có núi Thiết vi bao bọc. Ở khoảng giữa núi Tu di và núi Thiết vi là Thất kim sơn, tức 7 lớp núi được tạo thành bằng vàng, lớp ngoài cùng là núi Ni dân đà la, cao khoảng 625 do tuần. Cứ theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 24, thì Ni dân đạt la vốn là tên của 1 loài cá biển, vì ngọn núi này trông giống như cái đầu của loại cá ấy nên gọi là núi Ni dân đạt la. [X. luận Đại tì bà sa Q.133; luận Du già sư điạ Q.2; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ]. (xt. Thất Kim Sơn).

ni dạ da học phái

(尼夜耶學派) Ni dạ da, Phạm: Nyàyika. Hán dịch: Chính lí, Nhân luận, Nhân minh, Nhân minh xứ. Cũng gọi Na da tu ma phái, Nhã da tu ma phái (Phạm: Ĩàya-suma). Học phái Chính lí, là 1 trong 6 phái Triết học của Ấn độ, do Kiều đáp ma (Phạm: Gautama,tứcTúc mục) sáng lập vào khoảng từ thế kỉ I, II(hoặc có thuyết nói khoảng thế kỉ III, IV). Phái này lấy kinh Chính lí (Phạm: Nyàya-sùtra,tương truyền do Kiều đáp ma soạn) làm Thánh điển căn bản. Học thuyết của kinh này lấy triết học tự nhiên và Luận lí học (Phạm:Hetu-vidyà,Nhân minh, nay gọi là logic) làm nội dung chủ yếu. Về triết học tự nhiên thì kinh này hoàn toàn kế thừa nền triết học tự nhiên của học phái Thắng luận vốn đã thành lập trước đó. Còn về Luận lí học thì trực tiếp chịu ảnh hưởng của Cáp lạp ca bản tập ( Phạm: Carakasaôhità )và gián tiếp chịu ảnh hưởng Luận lí học của luận Phương tiện tâm mà ra. Như vậy, có thể nói mà không sợ sai lầm rằng, kinh Chính lí đã tập đại thành tư tưởng Luận lí học của 2 tác phẩm nêu ở trên. Trong đó, Luận lí học của phái này đặc biệt được coi là dòng chính yếu lâu dài trong lịch sử triết học Ấn độ. Sau thế kỉ X, phái này được gọi là phái Ni dạ da Thắng luận (Phạm:Nyàyavaizewika) và vì đã hoàn toàn dung hợp với học thuyết Thắng luận nên khó có thể phân biệt được mối quan hệ giữa 2 phái này. Về Luận lí học của kinh Chính lí có các sách chú thích: Bà thố da na (Phạm: Vàtsyàyana), Ưu để hữu đạt ca la (Phạm: Uddyotakara), Bà già tư bạt để di tu la (Phạm:Vàcaspati-mizra), Ưu điền diên na (Phạm: Udayana) và Chính lí từ điển (Phạm: Nyàya koza) của Tỉ ma a xà lê (Phạm:Bhìmacàrya), Cứu lí tập yếu (Phạm: Tarka saígraha) của A na bạt đạt (Phạm: Annabhatta)... Nhờ các tư liệu trên đây mà sự nghiên cứu về học phái Chính lí càng được phát triển thêm. Luận lí học của phái này đã chiếm 1 địa vị rất quan trọng trong lịch sử tư tưởng Ấn độ, nó không những chỉ có ảnh hưởng ở đương thời, mà còn mãi về sau. Luận lí học này được xây dựng trên nền tảng 4 lượng: Hiện lượng, Tỉ lượng, Thí dụ lượng và Thanh lượng. Còn hình thức biện luận thì được tổ chức bằng tác pháp 5 chi: Tông, Nhân, Dụ, Hợp và Kết. Cuối thế kỉ XII, có Càn cát sa (Phạm:Gaígeza) viết sách giải thích kinh Ni dạ da, sau hình thành học phái Tân ni dạ da. Sau thế kỉ XV, lại có phái Nô đề a (Phạm: Nadea) xuất hiện, ngày càng hưng thịnh. [X. luận Thuận trung Q.thượng; Nhiếp đại thừa luận thích Q.2; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.1 (Khuy cơ); Ấn độ lục phái triết học cương yếu (Lí thế kiệt)].

ni dạ da kinh

(尼夜耶經) Phạm: Nyàya-sùtra. Cũng gọi Chính lí kinh. Thánh điển của học phái Ni dạ da, 1 trong 6 phái Triết học của Ấn độ, tương truyền do Kiều đáp ma (Phạm: Gautama) trứ tác, đến khoảng thế kỉ III, IV mới được chỉnh lí hoàn thành. Toàn bộ kinh có 5 thiên, gồm 528 bài kệ và 8.385 lời, đem học thuyết Chính lí qui nạp thành 16 đế và 814 chủ đề; cho rằng nếu hiểu thấu 16 đế 1 cách đúng đắn thì có thể đạt được giải thoát. Nội dung kinh này gồm: 1. Bàn khái quát về 16 đế. 2. Thảo luận về Hiện lượng, Tỉ lượng, Thanh lượng, Thí dụ lượng và Vô thể lượng. 3. Tri thức luận của Lượng và Sở lượng. 4. Thế giới quan và phạm trù của triết học thực tiễn. 5. Giải thích rõ những sai lầm về Luận lí học.Sách này còn nêu ra 4 chủ trương như sau: 1. Giữa ngôn ngữ và ý nghĩa được diễn đạt chỉ là 1 sự quan hệ có tính cách phương tiện tạm thời mà thôi. 2. Tri thức và quan niệm hoàn toàn do kinh nghiệm mà có. 3. Âm thanh là vô thường. 4. Phệ đà tuy có đầy đủ uy quyền, nhưng chẳng phải uy quyền tuyệt đối. Các sách chú thích kinh này gồm có: - Ni dạ da chú (Phạm:Nyàya bhàsya) của Bà thố da na (Phạm:Vàtsyàyana). - Ni da bình thích (Phạm: Nyàya Vàrttika) của Ưu để hữu đạt ca la (Phạm: Uddyotakara). [X. A History of Indian Logic by Vidyabhùwana; Ấn độ triết học nghiên cứu của Vũ tỉnh Bá thọ].

ni dạ ma

Niyama (skt). 1) Nguyện: Restraint—Vow—Determination—Resolve. 2) Bất Thối Bồ tát: A degree of Bodhisattva progress, never turning back. ; (尼夜摩) I. Ni Dạ Ma. Phạm: Niyàma, Niyama. Cũng gọi Ni dã ma. Hán dịch: Quyết định. Du già sư địa luận lược toản quyển 13 (Đại 43, 168 hạ) nói: Ni dã ma nghĩa là quyết định. Theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển 19, vị Ni dạ ma là chỉ cho giai vị Bồ tát bất thoái chuyển. II. Ni Dạ Ma. Phạm: Niyama. Chỉ cho sự khuyên răn. Đây là pháp do các giáo phái Du già, Số luận, Kì na... lập ra. Luận Kim thất thập quyển thượng, (Đại 54, 250 hạ) nói: Ni dạ ma cũng có 5 giới: Không giết hại, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối và không nịnh hót.

ni giảng

(尼講) Chỉ cho vị sư ni giảng thuyết kinh điển. Theo điều Ni giảng trong Đại Tống tăng sử lược quyển thượng, vào năm Thái hòa thứ 3 (368) đời Đông Tấn, vị sư ni ở chùa Đông tại Lạc dương, pháp hiệu là Đạo hinh, lúc còn là sa di ni đã tụng thông 2 bộ kinh Pháp hoa và Duy ma. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư nghiên cứu giáo lí càng sâu sắc và giảng đạo rất lưu loát. Đó là vị ni sư giảng thuyết đầu tiên của Phật giáo Trung quốc. Còn theo điều tăng giảng trong Đại Tống tăng sử lược thì ngài Chu sĩ hành là vị tăng giảng thuyết đầu tiên. [X. Truyện ni Đạo hinh trong Tỉ khưu ni truyện Q.1].

ni giới

Rules for nuns (348). ; (尼戒) Đối lại: Tăng giới. Chỉ cho giới Cụ túc của tỉ khưu ni. Theo luật Tứ phần, giới Cụ túc của tỉ khưu ni là 341 giới, Luật sư Nam sơn lại thêm 7 pháp Diệt tranh nữa mà thành là 348 giới. (xt. Tỉ Khưu Ni Luật Nghi, Cụ Túc Giới).

ni kha da

(尼柯耶) Phạm, Pàli: Nikàya. Cũng gọi Ni ca da. Hán dịch: Hội chúng, Bộ phái, Bộ, Loại. Chỉ cho những bộ kinhPàli, như 5 bộ: Trường bộ, Trung bộ, Tương ứng bộ, Tăng chi bộ và Tiểu bộ, có thể gọi là Ngũ ni kha da. Nếu gọiriêng từng bộ thì là: Trường ni kha da (Pàli:Dìgha-nikàya), Trung ni kha da (Pàli: Majjhima-nikàya)... Ngoài ra, những bộ phái Phật giáo như phái Xiêm la ở Tích lan, phái Thượng Miến điện..., nếu nói theo âm của từnikàya thì có thể gọi là Xiêm la ni kha da (Pàli: Siamnikàya), Thượng Miến điện ni kha da (Pàli: Amarapura-nikàya).

ni kiền

Nirgrantha (skt)—Ni Kiện—Ni Càn Đà. 1) Vô hệ, vô kết hay không bị trói buộc bởi những hệ phược của tam giới: Freed from all ties. 2) Một loại xuất gia ngoại đạo tu theo lối khổ hạnh cởi truồng bôi tro—A naked heretic mendicant or devotee who is free from all ties, wanders naked, and covers himself with ashes.

ni kiền độ

(尼犍度) Phạm: Bhikwuịì-khaịđa. Là 1 trong 20 kiền độ của luật Tứ phần. Nội dung của Kiền độ này nói về những qui định thụ trì giới luật của tỉ khưu ni, như tỉ khưu ni phải giữ pháp Bát kính mới được phép xuất gia thụ giới; về tác pháp thụ giới Cụ túc của tỉ khưu ni và về các qui định sinh hoạt hằng ngày... [X. luật Tứ phần Q.31-53; Tứ phần luật sớ Q.7-10]. (xt. Nhị Thập Kiền Độ).

ni kiện tha ca

Một loại quỷ Dạ Xoa không có cần cổ—A kind of throatless yaksa.

ni kiện đà phất đát la

Nirgrantha-putra (skt)—See Ni Kiền.

ni kiện độ

Bhiksu-khanda (skt)—Một phần trong Tứ Phần Luật nói về luật của Tỳ Kheo Ni—A division of Vinaya, containing the rules for nuns.

ni la

Nila (skt)—Màu xanh da trời đậm hay màu xanh lá cây—Dark blue or green.

ni la bà đà la

Nilavajra (skt)—Ni Lam Bà—Kim Cang chùy màu lam—The blue vajra or thunderbolt.

ni la phù đà

Nirarbuda (skt)—See Ni Lạt Bộ Đà.

ni la tế đồ

Nilapita (skt)—Những chiếu chỉ và báo cáo hàng năm được kể đến trong Tây Du Ký—“The blue collection” of annals and royal edicts, mentioned in the record of the Voyage to the West.

ni la âu bát la

Nilotpala (skt)—Bông sen xanh—The blue lotus.

ni la ô bát la

See Ni La Âu Bát La.

ni la ô bát la hoa

(尼羅烏鉢羅華) Ni la ô bát la, Phạm: Nìlotpala. Pàli: Nìla-uppala. Cũng gọi Nê lô bát la hoa. Gọi tắt: Ưu bát la hoa. Hán dịch: Thanh liên hoa. Tên 1 loại hoa sen, cánh hoa màu xanh, lá hẹp và dài. Cứ theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển thượng, thì lá loại sen này ở gần chỗ cuống hơi tròn và nhọn dần lên phía trên. Vì mắt đức Phật giống hình lá sen này, nên trong các kinh nó thường được dùng để ví dụ mắt Phật. [X. kinh Du hành trong Trường a hàm Q.4; phẩm Địa ngục trong Trường a hàm Q.19; Đại nhật kinh sớ Q.15]. (xt. Ưu Bát La Hoa).

ni la ưu đàm bát la

Nila-udumbara (skt)—Loại hoa Ưu Đàm Bát La có hoa màu xanh đậm—An udumbara with dark blue coloured flowers.

ni lam bà la đà la

(尼藍婆羅陀羅) Phạm: Nìlavajra-dhara#. Cũng gọi Ni la bà đà la. Tên vị thần Chấp kim cương trong Mật giáo.Kinh Đà la ni tập quyển 4 (Đại 18, 815 thượng) nói: Ni lam bà la đà la, Hán dịch là Thanh kim cương (Kim cương xanh). Ni lam nghĩa là Thanh, Đà la nghĩa là chấp trì (nắm giữ), vì thế nên còn gọi là Thanh chấp kim cương, Thanh kim cương. [X. phẩm Bí mật kinh Đại nhật].

ni liên thiền

Nairanjana (skt)—Neranjara (p)—Ni Liên Thiền Na—Tên của con sông Ni Liên Thiền, một phụ lưu về hướng Đông của sông Phalgu. Bây giờ dân Ấn Độ gọi là sông Lilajana với nước trong xanh, tinh khiết và mát mẻ. Dòng sông phát xuất gần vùng Simeria, trong quận Hazaribad, miền trung tiểu bang Bihar, thuộc vùng đông bắc Ấn Độ. Nơi mà nhà tu khổ hạnh Sĩ Đạt Đa đã thăm viếng và tắm sau khi Ngài từ bỏ lối tu khổ hạnh. Trên bờ sông Ni Liên có khu rừng Sa La, nơi Đức Phật đã nghỉ ngơi vào buổi chiều trước khi Ngài lên ngồi thiền định 49 ngày dưới cội Bồ Đề và thành đạo tại Bồ Đề Đạo Tràng, cách một khoảng ngắn về phía tây sông Ni Liên—The name of a river Nairanjana (Nilajan) that flows past Gaya, an eastern tributary of the Phalgu, during the Buddha's time. It is now called by Indian people the Phalgu or Lilajana river with its clear, blue, pure and cold water. The river has its source near the Simeria region in the district of Hazaribad in the central Bihar state of the northeast India. This river was visited and bathed by Siddarttha after he gave up his ascetic practices. There was a Sala grove on the banks where the Buddha spent the afternoon before the night of his enlightenment after sitting meditation forty-nine days under the Bodhi-Tree, located in the present-day Buddha-Gaya village which is situated at a short distance to the west of this river.

ni liên thiền hà

(尼連禪河) Ni liên thiền, Phạm: Nairaĩjanà. Pàli: Neraĩjarà, Niraĩjarà. Cũng gọi Hi liên thiền hà, Ni liên thiền na hà, Ni liên nhiên hà, Nê liên hà, Hi liên hà, Ni liên thiền giang, Ni liên giang thủy, Ni liên thủy. Hán dịch: Bất lạc trước hà. Sông Ni liên thiền, 1 nhánh của sông Hằng, nằm về phía đông thành Già da, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ, từ phía nam chảy theo hướng bắc. Cứ theo kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 3, 4, thì sau khi xuất gia, đức Thích tôn ngồi tĩnh tọa tư duy, tu khổ hạnh 6 năm bên bờ sông Ni liên thiền. Về sau, Ngài bỏ lối tu khổ hạnh và xuống tắm gội trong sông này. Tắm xong, Ngài tiếp nhận bát sữa do cô gái chăn bò tên là Nan đà ba la dâng cúng, rồi đến bờ bên kia của con sông này, ngồi dưới gốc cây Tất bát la(tức cây Bồ đề)phát nguyện mà thành đạo. Do đó, ven bờ sông này hiện còn rất nhiều di tích thành đạo của đức Phật. Sông Ni liên thiền bắt nguồn từ Simeria thuộc vùng Hazaribagh của Tiểu bang Bengal, chảy đến phía bắc của Buddha Gayà, hội nhập với sôngMohanà rồi chảy về phía đông Patna mà vào sông Hằng. [X. kinh Tạp a hàm Q.39; kinh Du hành trong Trường a hàm Q.4; điều Ma yết đà quốc trong Đại đường tây vực kí]. (xt. Già Da Thành).

ni lâu đà

Nirodha (skt)—See Ni Di Lưu Đà.

ni lạt bộ đà

Nirarbuda (skt)—Ni La Phù Đà—tên gọi của địa ngục thứ hai trong tám địa ngục lạnh—Bursting tumours, the second naraka of the eight cold hells.

ni lạt bộ đà địa ngục

(尼剌部陀地獄) Ni lạt bộ đà, Phạm: Nirarbuda. Pàli:Nirabbuda. Cũng gọi Ni la phù đà địa ngục, Ni lại phù đà địa ngục, Niết phù đà địa ngục, Ni la phù địa ngục. Hán dịch: Pháo liệt, Bất tốt khởi, Vô khổng, Vô vân, Bách ức. Tên 1 địa ngục trong 8 địa ngục lạnh. Ni lạt bộ đà nghĩa là vật chương sình nứt nẻ rữa nát. Vì địa ngục này quá lạnh nên toàn thân tội nhân trong địa ngục nổi mụn nước(pháo), phồng lên và nứt nẻ, đến khi vỡ ra thì chảy nước vàng. Câu xá luận kí quyển 11 (Đại 41, 187 thượng) nói: Ni lạt bộ đà, Hán dịch là pháo liệt, nghĩa là cái lạnh như dao cắt, thân thể nổi mụn, nứt nẻ lở loét. [X. kinh Trường a hàm Q.19; kinh Đại bát niết bàn Q.11 (bản Bắc); phẩm Tình thế giới trong luận Chương sở tri Q.thượng; Kinh luật dị tướng Q.49; Pháp uyển châu lâm Q.7].

ni ma la

Nirmanarati (skt)—Ni Ma La Thiên—Hóa Lạc Thiên—Lạc Biến Hóa Thiên—Tu Mật Đà Thiên—Cõi trời hóa lạc, cõi trời thứ năm trong sáu cõi trời dục giới, nơi thọ mệnh lâu đến 8.000 năm—Devas who delight in transformations, the fifth of the six devalokas of desire, where life lasts for 8,000 years.

Ni Nhật Tú

(日秀, Nisshū, 1533-1625): vị Ni của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại An Thổ Đào Sơn và Giang Hộ, húy là Nhật Tú (日秀); tục danh là Trí Tử (智子); tự Diệu Huệ (妙慧), hiệu Thoại Long Viện (瑞龍院). Năm 1608, bà cùng với nhóm Nhật Kinh (日經) ngồi bàn luận về Tông nghĩa với Tịnh Độ Tông, rồi thay thế Nhật Viễn (日遠) làm Hóa Chủ đời thứ 2 của Tây Cốc Đàn Lâm (西谷檀林); và đến năm 1614 thì làm trú trì nơi này. Trước tác của bà có Tây Cốc Đàn Lâm Pháp Tắc (西谷檀林法則) 2 quyển.

ni pháp sư

A nun teacher—Effeminate.

ni sư

An abbess.

ni sư đàn

Nisidana (skt)—A thing to sit or lie on, a mat.

ni trưởng

Master of the nuns.

ni tát kì ba dật đề

(尼薩耆波逸提) Phạm: Naisargika-pràyazcittika. Pàli: Nissaggiya pàcittiya. Cũng gọi Nê tát kì ba dật để ca, Ni tát kì ba dạ đề, Ni tát kì bối dật đề. Gọi tắt: Ni tát kì. Hán dịch: Tận xả đọa, Xả đọa, Khí đọa. Đối lại: Đơn đọa. Ni tát kì nghĩa là bỏ hết; Ba dật đề nghĩa là rơi xuống. Tức là tội đọa nên xả bỏ hết tài vật, là 1 trong giới Cụ túc của tỉ khưu và tỉ khưu ni, 1 trong 5 thiên tội, là đoạn thứ 4 trong 8 đoạn Tăng giới, tất cả gồm 30 giới điều, gọi là Tam thập xả đọa. Giới này có tác dụng răn ngừa lòng tham cất chứa những vật thừa vô dụng, chỉ giúp cho nghiệp sinh tử lớn mạnh, khiến phải đọa vào 3 đường, cho nên xả bỏ hết những tài vật ấy cùng với lòng tham và tội nghiệp, gọi là Xả đọa(bỏ rơi xuống). Nghĩa là nếu phạm tội này sẽ bị rơi vào 3 đường ác nên gọi là Đọa. Còn pháp sám hối để trừ diệt tội này thì trước phải xả bỏ hết tài vật, cho nên gọi là Xả. Khi sám hối phải đưa hết những tài vật dư thừa ấy xả bỏ trước chúng tăng để sám hối, gọi là Tận xả. Nếu không sám hối thì bị kết tội đọa ác, gọi là Đọa. Theo luật Tứ phần và Tứ phần luật hành sự sao, thì Ni tát kì ba dật đề (Xả đọa) gồm có 30 giới điều như sau: 1. Trướng y quá hạn giới (Phạm: Dhàraịaô,giữ), cũng gọi Trướng y giới, Trướng giới. Trướng nghĩa là vật dư thừa vô dụng. Ngoài 3 áo ra, tỉ khưu không được phép cất giữ áo thừa quá 10 ngày. 2. Li tam y túc giới (Phạm:Vipravàsà#, lìa), cũng gọi Li y túc giới. Tỉ khưu không được lìa 3 hoặc 1 áo mà ngủ đêm ở chỗ khác. 3. Nguyệt vọng y giới (Phạm: Nikwepa#,cất chứa), cũng gọi Nhất nguyệt y giới. Khi 3 áo đã rách, tỉ khưu được phép nhận vải để may áo mới, nếu thừa vải thì không được cất giữ quá 1 tháng. 4. Phi thân ni giới (Phạm: Pratigraha#,lấy), cũng gọi Thủ ni y giới, Thủ thân lí ni y giới, Thủ phi thân ni y giới. Tỉ khưu không được nhận áo do tỉ khưu ni không phải trong thân tộc cúng dường. Nhưng nếu tỉ khưu nhận lầm áo của tỉ khưu ni, hay ngược lại, thì được phép trao đổi. 5. Sử phi thân ni cán cố y giới(Phạm: Dhàvanaô,giặt), cũng gọi Sử ni cán cố y giới, Sử ni cán y giới. Cấm tỉ khưu không được nhờ tỉ khưu ni không phải thân thích giặt hoặc nhuộm lại áo cho mình. 6. Tòng phi thân tộc nhân khất y giới (Phạm:Yàcĩà,xin), cũng gọi Tòng phi thân lí cư sĩ khất y giới, Khất y giới. Tỉ khưu không được hỏi các nam nữ cư sĩ không phải là họ hàng để xin áo. Nhưng trong trường hợp gặp tai nạn áo bị cướp, bị cháy hoặc bị trôi mất thì được phép hỏi những người đó để xin áo. 7. Quá phần thủ y giới (Phạm: Sàtarottaraô, đủ cả), cũng gọi Quá tri túc thụ y giới, Quá túc thụ y giới. Nếu tỉ khưu gặp nạn bị mất áo, được các nam nữ cư sĩ cho nhiều áo, thì chỉ được nhận đủ 3 áo mà thôi, không được nhận quá số đó. 8. Khuyến tăng y giá giới (Phạm: Caitanakàni,giá), cũng gọi Khuyến tán nhất cư sĩ tăng y giá giới, Khuyến nhất cư sĩ tăng giá giới, Khuyến nhất cư sĩ giới. Khi tỉ khưu được các cư sĩ dâng cúng áo, không được khuyên bảo họ dâng cúng loại áo đắt tiền. 9. Khuyến nhị gia tăng y giá giới(Phạm: Pratyekaô, riêng), cũng gọi Khuyến nhị cư sĩ tăng giá giới, Khuyến nhị cư sĩ giới. Khi có 2 cư sĩ lần lượt dâng áo cho tỉ khưu, cấm tỉ khưu không được khuyên riêng từng người dâng áo giá cao mới nhận. 10. Quá phần hốt thiết sách y giá giới (Phạm: Prewaịaô,sai khiến), cũng gọi Tam phản lục mặc hốt thiết sách y giới, Quá hạn sách y giới, Hốt thiết giới. Thí chủ nhờ người chấp sự(tịnh chủ)may áo dâng tỉ khưu, rồi báo cho tỉ khưu biết đến đó nhận áo. Nếu tỉ khưu đến đó 2, 3 lần mà chưa được, thì được đến lần thứ 6 mà không được áo thì thôi không đến đòi nữa. 11. Khất tàm miên tác ca sa giới (Phạm: Kauzeyaô,tơ tằm), cũng gọi Tạp dã tàm miên tác ngọa cụ giới, Dã tàm miên ngọa cụ giới, Khất miên tàm giới. Tỉ khưu không được dùng tơ tằm để may đồ nằm (chăn, mền)và ca sa mới. 12. Hắc mao ngọa cụ giới (Phạm: Zuddhakàlakànàô, thuần đen), cũng gọi Hắc dương mao tác ngọa cụ giới, Hắc mao giới. Tỉ khưu không được dùng lông dê đen tuyền để may đồ nằm mới. 13. Bạch mao tam y giới (Phạm: Dvibhaga#,2 phần), cũng gọi Bạch dương mao ngọa cụ giới, Bạch mao ngọa cụ giới, Bạch mao giới. Khi may đồ nằm, tỉ khưu phải dùng 2 phần lông dê đen tuyền, 3 phần lông trắng, 4 phần lông lốm đốm, không được dùng toàn lông trắng. 14. Giảm lục niên tác tam y giới( Phạm: Wađvarwàni,6 năm), cũng gọi Giảm lục niên tác ngọa cụ giới, Giảm lục niên ngọa cụ giới, Lục niên giới. Đồ nằm may chưa đầy 6 năm, tỉ khưu không được may đồ nằm mới. 15. Bất thiếp tọa cụ giới (Phạm: Vitasti#,1gang tay), cũng gọi Bất điệp ni sư đàn giới. Khi tỉ khưu may tọa cụ(đồ để ngồi, nệm)mới, phải lấy 1 miếng tọa cụ cũ vuông vức mỗi bề 1 gang tay mà đính vào tọa cụ mới, không được làm trái với qui định. 16. Trì dương mao quá hạn giới(Phạm: Adhvorịođhi#,gánh lông dê đi đường), cũng gọi Đảm dương mao quá tam do tuần giới, Đảm mao quá tam do tuần giới, Đảm mao giới. Nếu trên đường đi có người cho lông dê, mà không có ai mang hộ, thì tỉ khưu được phép tự mang, nhưng không được đi quá giới hạn 3 do tuần. 17. Sử phi thân ni cán nhiễm mao giới (Phạm: Ùrịàparikarmaịa#,giặt lông dê), cũng gọi Sử ni cán phách dương mao giới, Sử phi thân lí ni cán nhiễm phách dương mao giới, Sử ni cán mao giới. Tỉ khưu không được nhờ 1 tỉ khưu ni không phải thân thích giặt hay nhuộm lông dê. 18. Súc tiền bảo giới(Phạm:Jàtarùpa= rajatasparzanaô,giữ vàng bạc), cũng gọi Súc bảo giới. Tỉ khưu không được nhận vàng bạc tiền của, cũng không được sai người nhận. 19. Mậu bảo giới (Phạm:Rùpikavya= vahàra#,đổi tiền), cũng gọi Mậu tiền bảo giới. Tỉ khưu không được dùng tiền của vàng bạc trao đổi với người. 20. Phiến mại giới (Phạm:Krayavi= kraya#,mua bán), cũng gọi Mại mãi giới. Tỉ khưu không được mua các vật phẩm để đổi lấy thức ăn uống. 21. Súc trướng bát quá hạn giới (Phạm: Pàtradhàraịaô, chứa cất bát), cũng gọi Súc trướng bát giới, Trướng bát giới. Tỉ khưu không được cất giữ bát dư quá 10 ngày. 22. Khất bát giới(Phạm:Pàtrapari= wỉi#,xin bát): Bát tuy đã nứt nhưng chưa chảy nước, thì không được xin bát mới. 23. Tự khất lũ sử phi thân chức giới (Phạm:Vàyanaô,sai dệt), cũng gọi Khất lũ sử phi thân chức giới, Tự khất lũ sử phi thân lí ni chức y giới, Khất lũ. Tỉ khưu không được tự xin tơ sợi rồi mang đến người thợ dệt nhờ dệt thành vải để may áo. 24. Khuyến chức sư tăng y lũ giới (Phạm: Uyamànavardhanaô, sai dệt thêm), cũng gọi Khuyến tán chức sư tăng chức giới, Bình khuyến chức sư tăng lũ chức giới, Khuyến chức giới. Khi tỉ khưu biết rõ các nam nữ cư sĩ đã đặt giá cho người thợ dệt dệt vải để may áo cho mình, thì không được lén đến nhà người thợ dệt thay đổi giá cả để được sợi vải tốt hơn. 25. Đoạt y giới (Phạm: Dattvàdànaô, cho rồi cướp lấy), cũng gọi Tiên dữ tha y cưỡng đoạt giới. Cấm tỉ khưu đã đem áo cho tỉ khưu khác không được lấy áo lại vì bất cứ lí do gì, cũng không được sai người khác cướp lấy. 26. Súc thất nhật dược quá hạn giới (Phạm: Sannidhikàra#, chứa góp), cũng gọi Súc dược quá thất nhật giới, Thất nhật dược giới, Súc nạp giới. Khi tỉ khưu bị bệnh, được phép cất giữ các thứ như thuốc, dầu, thạch mật... dùng trong vòng 7 ngày, không được giữ quá hạn định ấy. 27. Quá tiền cầu vũ y quá tiền dụnggiới (Phạm: Varwàzàỉyakalaparìwỉidhà= raịaô, hoặc xin hoặc giữ áo tắm mưa trái thời), cũng gọi Vũ dục y giới. Áo tắm mưa phải xin vào ngày 16 tháng 3 hàng năm và bắt đầu được sử dụng từ ngày mồng 1 tháng 4, cấm tỉ khưu xin và dùng áo tắm mưa trước ngày qui định. 28. Quá tiền thụ cấp thí y quá hậu súc giới (Phạm: Karttikàtyayikaô,quá cuối thu), cũng gọi Cấp thí y giới. Nếu vì 1 lí do đặc thù nào đó mà được cho áo, thì khoảng 10 ngày cuối cùng của hạ an cư, tỉ khưu được nhận, được sử dụng và cất giữ đúng thời gian qui định, không được trái phạm. 29. Hữu nạn lan nhã li y giới (Phạm: Saptaràtravipravàsa#,được rời 7 ngày), cũng gọi Li y lục túc giới, Lan nhã li y lục túc giới, Lục dạ giới. Sau hạ an cư, hết tháng Ca đề(tức tháng 8 theo lịch Ấn độ, tương đương với khoảng thời gian từ ngày 15 tháng 8 đến ngày 15 tháng 9 âm lịch), tỉ khưu ở tại A lan nhã, nếu sợ nạn trộm cướp thì được phép để lại 1 áo ở A lan nhã mà đi ngủ ở nơi khác, nhưng không được quá 6 đêm. 30. Hồi tăng vật nhập kỉ giới (Phạm: Pariịàmanaô,xoay về), cũng gọi Hồi tăng vật giới, Hồi tăng giới. Khi tỉ khưu đã biết vật ấy thuộc của tăng, không được xin làm của mình. Về thứ tự trước sau của 30 giới Xả đọa thì trong các bộ luật được sắp xếp có khác nhau đôi chút. Như luật Ngũ phần và luật Thập tụng xếp giới thứ 3 làm giới 26, giới 28 là giới 27, giới 27 là giới 28, giới 26 là giới 29 và giới 29 là giới 30. [X. luật Ngũ phần Q.4, 5, 12; Di sa tắc ngũ phần giới bản; luật Ma ha tăng kì Q.8- 11, 37; Ma ha tăng kì đại tỉ khưu giới bản; luật Tứ phần Q.6-10, 23, 24; Tứ phần luật tỉ khưu giới bản; luật Thập tụng Q.5-8, 43, 44; Thập tụng tỉ khưu ba la đề mộc xoa giới bản; Tứ phần luật tỉ khưu hàm chú giới bản Q.thượng; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung, phần 2, 3; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung, phần 2, 3].

ni tát kỳ ba dật đề

Naihsargika-prayascittika (skt)—Xả Đọa, một trong ngũ thiên tội: 1) Ni Tát Kỳ (Xả): Tội được xả bỏ vì người phạm biết thú tội và sám hối—The sin is being forgiven on confession and restoration being made. 2) Ba Dật Đề (Đọa): Tội phải bị đọa vì người phạm không chịu thú nhận và sám hối—The sin is not being forgiven because of refusal to confess and restore.

ni tát đàm

Nguyên tử, thành phần vật chất nhỏ nhất—An atom, the smallest possible particle.

ni tư phật

Sugatacetana (skt)—Một vị đệ tử, người đã khinh thị Đức Thích Ca Mâu Ni Phật trong tiền kiếp khi Ngài còn là Thường Bất Khinh Bồ Tát, nhưng về sau nầy nhờ Phật Thích ca thọ ký mà thành Phật Ni Tư—A disciple who slighted Sakyamuni in his former incarnation of Never-Despite, but who afterwards attained through him to Buddhahood.

ni tự

A nunery or convent. ; (尼寺) Cũng gọi Ni am, Tỉ khưu ni tự. Chỉ cho chùa do vị sư ni trụ trì. Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện (Đại 50, 190 trung), nói: Ở nước A du xà có 3 loại chùa: Chùa của tỉ khưu ni, chùa của Tát bà đa bộ và chùa của Đại thừa. Như vậy đủ biết tại Ấn độ chùa của ni chúng đã được thiết lập rất sớm. Trong năm Kiến hưng (313-317), đời Đông Tấn, Ni sư Tịnh kiểm xây chùa Trúc lâm ở phía tây thành Lạc dương: Đó là ngôi chùa ni đầu tiên tại Trung quốc. Ở Nhật bản, chùa ni cũng gọi là Ni ốc, Ni gia, và chùa Anh tỉnh được xây dựng vào năm Mẫn đạt Thiên hoàng 12 (583) là ngôi chùa ni đầu tiên tại Nhật bản. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.50; Tỉ khưu ni truyện Q.1; Nhật bản thư kỉ Q.20].

ni tỳ khưu

Tỳ Khưu Ni—A female bhiksu (bhiksuni)—A nun.

ni viện

Ni tự—Nunnery—Ni viện đầu tiên được thành lập tại Trung Hoa dưới triều đại nhà Hán—The first nunery in China is said to have been established in the Han dynasty.

ni đà na

Nidana (skt). 1) The twelve causes or links in the chain of existence—See Thập Nhị Nhân Duyên. 2) Trong các kinh thường có bài “Tự” như lời tựa nêu lên lý do vì sao Đức Phật lại thuyết pháp—Applied to the purpose and occasion of writing sutras, Nidana means: a) Biệt Tự: Có người hỏi nên thuyết sự đó—Those written because of a request or query. b) Thông Tự: Nidana (skt)—Vì nhân duyên mà thuyết sự hay nói về một biến cố đặc biệt—Those written because of certain events. ; (尼陀那) Phạm, Pàli: Nidàna. Hán dịch: Nhân duyên, Duyên khởi. Nghĩa là nguyên do, nguồn gốc, là 1 trong 12 thể tài của kinh Phật. Tức là phần nói rõ về nguyên nhân, duyên khởi trong kinh điển do đó mà đức Phật nói ra giáo pháp và chế định giới luật. Theo Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 2, thì Ni đà na có 3 nghĩa: 1. Ứng thỉnh thuyết giáo: Theo lời thỉnh cầu mà dạy bảo. 2. Nhân phạm chế giới: Vì có sự phạm tội nên mới chế giới. 3. Nhân sự thuyết pháp: Nhân có việc mà nói pháp. Luận Đại trí độ quyển 33 (Đại 25, 307 trung) nói: Ni đà na nói về nguyên nhân đức Phật thuyết pháp, như vì lí do nào mà đức Phật đã nói việc này? Trong Tu đa la (kinh), có người hỏi nên Phật mới nói việc ấy. Trong Tì ni(luật), có người phạm tội ấy nên Phật mới chế giới ấy... Tất cả nguyên do khiến Phật nói pháp đều gọi là Ni đà na. [X. kinh Tạp a hàm Q.8; luận Đại tì bà sa Q.126; phẩm Thập nhị bộ kinh trong luận Thành thực Q.1; luận Du già sư địa Q.81; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].

ni đà na mục đắc ca

Nidana-matrka (skt)—Hai trong mười hai bộ Kinh Phật—Two of the twelve divisions of the sutras: 1) Ni Đà Na: Nidana (skt)—Kinh Nhân Duyên—Dealing with nidanas. 2) Mục Đắc Ca: Matrka (skt)—Kinh Bổn Sự—Dealing with previous incarnations. ; (尼陀那目得迦) Phạm:Nidànamàtfkà. Gọi đủ: Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ ni đà na mục đắc ca. Cũng gọi Căn bản hữu bộ ni đà na, Căn bản hữu bộ mục đắc ca, Hữu bộ mục đắc ca, Hữu bộ ni đà na. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 24. Đây là bộ sách được kết hợp giữa Ni đà na (5 quyển) và Mục đắc ca (5 quyển) mà gọi chung là Ni đà na mục đắc ca (10 quyển). Ni đà na (Phạm: Nidàna) nghĩa là Nhân duyên chế giới; Mục đắc ca (Phạm: Màtfkà) nghĩa là Quảng giải(giải thích rộng). Sách này do thu tập những việc lặt vặt còn thiếu sót về phần Nhân duyên và Quảng giải trong Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da cập chư sự, tạp sự mà thành. Nếu đối chiếu với luật Thập tụng thì sách này tương đương với phẩm Nhân duyên và Tì ni hành pháp trong luật Thập tụng. Mục ( ) đắc ca là viết lầm từ Viết ( ) đắc ca. Viết đắc ca, Phạm ngữ là Itivfttaka(Hán âm: Y đế viết đa ca, Hán dịch: Bản sự). Nếu căn cứ vào nội dung mà nói, chữMàtfkàmà phiên âm là Ma đắc lặc già và dịch ý là Hành mẫu, Quảng giải thì tương đối là chính xác. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.13].

ni đàn

The nun's altar—A convent or nunery. ; (尼壇) Đàn giới của Ni. Cứ theo Tống triều hội yếu, thì 2 chúng xuất gia thụ giới, lúc đầu tăng ni cùng thụ chung 1 đàn, nhưng đến đời Bắc Tống, vào năm Khai bảo thứ 5 (972), tháng 2, vua Thái tổ cho lập đàn giới dành riêng cho ni chúng. Đại Tống tăng sử lược quyển thượng (Đại 54, 238 hạ) nói: Trong các triều trước, ni chúng ở Giang bắc đều đến chùa tăng thụ giới. Nhưng gần đây, vua Thái tổ ban lệnh lập đàn giới dành riêng cho ni, từ đó, ni chúng không còn phải đến chùa tăng thụ giới nữa.

ni đại sư

An abbess. ; (尼大師) Từ tôn xưng tỉ khưu ni. Trung quốc thường dùng cách xưng hô này, nhưng không phải cùng gọi chung 3 chữ cho tất cả tỉ khưu ni, mà chỉ dùng 2 chữ Đại sư để tôn xưng 1 vị sư ni nào đó. Như trong Gia thái phổ đăng lục có chép các Ni sư sau đây: - Diệu trạm ni Từ giám đại sư Văn chiếu, ở phủ Bình giang, là pháp tự của Thiền sư Cam lộ Trọng tuyên. - Diệu tuệ ni Tịnh trí đại sư Tuệ quang ở Đông kinh, là pháp tự của Thiền sư Khô mộc thành. - Hương sơn ni Phật thông đại sư ở phủ Toại ninh, là pháp tự của Thiền sư Thạch môn dị... [X. điều Xưng hô, môn Ni đại sư, trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.5].

ni để

Nidhi (skt)—Pranidhana (skt)—Nghi hoặc—To be doubtful.

Ni-a-na Ti-lô-ka

P: nyanātiloka; nghĩa là Tam thế trí giả, »Trí giả thông ba thời«, 1878-1957;|Cao tăng người Ðức kiêm dịch giả lừng danh. Sư tên thật là Walter Florus Gueth, sinh trưởng trong một gia đình Thiên chúa giáo, học ngành âm nhạc và trở thành một tay chơi đàn violon xuất sắc. Trong một chuyến viếng thăm Tích Lan, Sư bỗng mộ đạo Phật và sau đó đến Miến Ðiện gia nhập giáo hội. Sư là một trong những học giả quan trọng nhất trong lĩnh vực kinh sách văn hệ Pā-li, đã dịch các tác phẩm sau đây sang Ðức và Anh ngữ: Di-lan-đà vấn đạo (p: milindapañha, 1919-1924), Tăng-nhất bộ kinh (aṅguttara-nikāya, 1922), Thanh tịnh đạo (visuddhi-magga, 1952). Những bản dịch của Sư rất hay và chính xác, đặc biệt là tác phẩm Thanh tịnh đạo của Ðại sư Phật Âm (p: buddhagosa). Ngoài ra, Sư cũng biên soạn nhiều sách giáo khoa và một quyển từ điển đạo Phật.

Ni-kiền

hay Ni-kiền-đà, phiên âm từ Phạn ngữ là Nirgrantha, là một trong 6 phái ngoại đạo đồng thời với đức Phật. Ni-kiền dịch nghĩa là ly hệ giả (lìa sự ràng buộc). Người tu theo phái Ni-kiền không mặc quần áo (lõa thể), vì họ cho rằng quần áo là các món ràng buộc. Xem Ni-kiền-đà Nhã-đề tử.

Ni-kiền-đà Nhã-đề tử

phiên âm từ Phạn ngữ Nirgranthajđtiputra, cũng gọi tắt là Ni-kiền, Hán dịch là Ly Hệ hoặc Bất Hệ, là một trong 6 vị thầy ngoại đạo (lục sư) thời đức Phật.

Ni-tát-kỳ ba-dật-đề

phiên âm từ Phạn ngữ là Naihsargik-ptayantika. Ni-tát-kỳ, Hán dịch là Tận xả, nghĩa là từ bỏ hết tất cả; ba-dật-đề, Hán dịch là đọa, nghĩa là rơi vào chỗ xấu ác. Người phạm tội này phải đọa vào địa ngục. Để sám hối trừ tội, trước hết phải mang tất cả tài vật liên quan đến trước chúng tăng mà xả bỏ hết, sau đó mới chân thành sám hối trước chúng tăng. Vì vậy, phép sám hối này cũng gọi là Xả đọa. Có ba mươi pháp được gọi là Tam thập xả đọa.

Ni-đà-na

(Nidna), dịch nghĩa là ‘nhân duyên’, là những kinh Phật thuyết giảng về lý nhân duyên, nhân quả. Xem Mười hai bộ kinh.

ninh

Thà là—Better than—Rather.

ninh an

Dễ chịu—At ease—Reposeful.

ninh mã phái

(寧瑪派) Tạng: Rĩin-ma-pa. Một trong những biệt phái của Phật giáo Tây tạng. Vào thế kỉ XI, XII, những tăng sĩ Tây tạng được gọi chung là Tam sách nhĩ: Sách nhĩ ba thả thích ca sinh, Sách nhĩ quýnh hỉ nhiêu trát ba, Sách nhĩ quýnh trác bồ ba và Nhung khước cát tang ba. Phái này thờ ngài Liên hoa sinh làm tổ khai sáng, nương vào mật chú và sự tu tập mà Ngài truyền vào Tây tạng để thành lập phái này. Lúc đầu, không có tên phái, nhưng từ hậu kì của Phật giáo Tây tạng, có những giáo phái khác phát sinh, mà phái này vẫn tu theo mật chú cựu dịch của tiền kì, vì thế, để phân biệt với các giáo phái mới phát sinh tu theo kinh điển tân dịch của hậu kì, nên phái này tự gọi là phái Ninh mã. Tiếng Tây tạng Rĩin-ma, Hán dịch là Cựu, Cổ cựu(xưa, cũ), cho nên phái Ninh mã hàm ý là phái Cựu, hoặc phái Cổ cựu; cũng tức là phái lấy kinh điển cựu dịch làm căn bản, là Mật giáo được truyền vào thời kì đầu. Lại vì tăng sĩ của phái này đội mũ màu đỏ, nên có biệt danh là Hồng giáo.Phái này thờ ngài Phổ hiền làm Phật bản sơ, mật điển căn bản là 18 bộ Đát đắc la trong Bí mật bộ của Đại tạng kinh Tây tạng, nhưng thông thường chỉ có 8 bộ được hành trì là: Văn thù thân, Liên hoa ngữ, Chân thực ý, Cam lộ công đức, Quyết sự nghiệp(5 bộ này được gọi là Ngũ bộ xuất thế pháp), Sai khiển phi nhân, Mãnh chú chú trở và Thế gian cúng tán(3 bộ này thuộc về thế gian pháp). Giáo pháp của phái này lấy Đại viên mãn pháp làm chính truyền. Ngoài ra, mật pháp thuộc Huyễn biến mật tạng và Tâm bộ do ngài Vô cấu hữu hoằng truyền; Kim cương quyết pháp, Mã đầu minh vương pháp và Chư thần hộ pháp do ngài Liên hoa sinh hoằng truyền; Văn thù pháp do ngài Tĩnh tạng hoằng truyền; Chân thực loại pháp do ngài Hồng ca la hoằng truyền vàmật pháp thuộc Vô thượng du già bộ do ngài Mặc na lakhất đahoằng truyền...đều là những Mậtpháp đặc biệt của phái này. Giáo nghĩa của phái này chia giáo pháp của đức Phật nói trong 1 đời làm 3 bộ, 9 thừa như sau: 1. Thanh văn thừa. 2. Độc giác thừa. 3. Bồ tát thừa. 4. Tác du già thừa (Sự bộ). 5. Phương tiện du già thừa(Hành bộ). 6. Du già thừa. 7. Đại du già thừa(Sinh khởi đại du già). 8. Tùy du già thừa(Giáo a nậu du già). 9. Vô thượng du già thừa(Đại viên mãn a để du già). Trong đó, 1, 2, 3 là bộ thứ nhất, thuộc về Hiển giáo, do Hóa thân Phật Thích ca mâu ni tuyên thuyết, gọi là Cộng tam thừa; 4, 5, 6 là bộ thứ 2, thuộc về Mật giáo, do Báo thân Phật Kim cương tát đỏa và Đại nhật Như lai tuyên thuyết, gọi là Mật chú ngoại Tam thừa hoặc Ngoại mật thừa; 7, 8, 9 là bộ thứ 3, do Pháp thân Phật Phổ hiền tuyên thuyết, gọi là Vô thượng nội Tam thừa hoặc Nội mật thừa, là Mật pháp đặc biệt của phái Ninh mã. Nương vào 9 thừa Hiển, Mật trên đây mà tu tập theo thứ lớp, lấy pháp Hỉ kim cương trong Vô thượng du già làm chỗ rốt ráo nhất, hành trì theo thế tục, không giữ luật nghi, lấy đó làm tu quán để tự hiển hiện trí thanh tịnh, khế chứng lí không mà được giải thoát. Đến thế kỉ XVI, XVII, phái này mới có các chùa viện tương đối qui mô, từ sau thời Đạt lai Lạt ma đời thứ 5 trở đi thì phát triển rất mạnh. Các chi phái nổi tiếng thuộc giáo phái này thì có: Phái Lạp tôn (Tạng: Lhlatsun-pa), phái Cát nhĩ thác (Tạng: Kartok-pa), phái Na đạt (Tạng: Na-dakpa), phái Mẫn châu lâm (Tạng: Mindollinpa), phái Đa cổ trát (Tạng:Dorjetakpa) v.v... Trong đó, 2 phái trước đặt tên phái theo tên người sáng lập, 2 phái sau đặt tên phái theo tên chùa viện. Các chùa nổi tiếng của phái này, ngoài chùa Đa cổ trát và chùa Mẫn châu lâm ra, còn có các chùa Trúc tinh và Cát thỏa ở Tây bộ tỉnh Tứ xuyên của Trung quốc. [X. Đông á Phật giáo sử (Kim sơn Chính bảo); The Buddhism of Tibet by L.A.Waddell; Die Religionen Tibets by H. Hoffmann]. (xt. Tây Tạng Phật Giáo).

Ninh-mã phái

T: nyingmapa [rñyiṅg-ma-pa]; cũng được gọi là Cựu phái vì được sáng lập từ lần đầu Phật giáo truyền qua Tây Tạng, hoặc Hồng giáo, vì các tu sĩ phái này thường mang y phục màu hồng (hoặc mũ màu hồng);|Một trong bốn tông phái chính của Phật giáo Tây Tạng. Tông này thống nhất truyền thống của Ðại sư Liên Hoa Sinh (padmasambhava) và của các cao tăng Tì-ma-la Mật-đa (hoặc Tịnh Hữu; s: vimalamitra), Biến Chiếu (s: vairocana) từ Ấn Ðộ truyền qua trong thế kỉ thứ 8. Từ thế kỉ 15 trở đi, giáo lí của tông này được xắp xếp theo hệ thống nhưng không được thu nhận vào Ðại tạng (Cam-châu-nhĩ/Ðan-châu-nhĩ) của Tây Tạng. Giáo pháp này lấy Ðại cứu kính (t: dzogchen) làm cơ sở và dựa trên luận giải của Long-chen-pa.|Phái Ninh-mã nguyên thuỷ gồm có cả tăng sĩ lẫn cư sĩ và giữ được truyền thống của mình qua thời kì Phật giáo bị Lãng-đạt-ma (t: langdarma) bức hại (836-842). Qua thế kỉ thứ 11, phái này bắt đầu phát triển và trong nội bộ chia làm ba dòng chính: dòng »lịch sử«, dòng »trực tiếp« và dòng »kiến chứng.«|Dòng lịch sử hay tuyên giáo (t: kama) dựa trên hiển giáo xuất phát Phổ Hiền, trong đó có các giáo pháp quan trọng của Ba thừa chỉ được tìm thấy trong dòng Ninh-mã như Ma-ha du-già (s: mahāyoga), A-nậu du-già (anuyoga) và A-tì du-già (atiyoga).|Dòng trực tiếp hay Ter-ma dựa trên các bí lục do Liên Hoa Sinh truyền lại. Ví dụ như Tử thư (t: bardo thodol) là một tác phẩm Terma.|Dòng kiến chứng dựa trên sư tiếp xúc trực tiếp với Báo thân của các vị Ðạo sư (đã nhập diệt) trong lúc nhập định, theo lời khai thị của các vị đó để tuyên giáo các giáo pháp cụ thể trong những thời kì nhất định. Qua cách truyền giáo này mà Long-chen-pa được xem là trực tiếp nhận những lời khai thị của Liên Hoa Sinh.

niêm bát phương châu ngọc tập

(拈八方珠玉集) Gọi đủ: Phật giám Phật quả chính giác Phật hải niêm bát phương châu ngọc tập. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Tổ khánh biên tập lại, được ấn hành vào năm Bảo hựu thứ 5 (1267) đời Tống, thu vào Vạn tục tạng tập 119. Nội dung sách này là niêm đề 319 cổ tắc, công án trong Thiền môn bát phương châu ngọc tập do các ngài Phật giám Thái bình Tuệ cần, Phật quả Viên ngộ Khắc cần, Chính giác Phương am Tông hiển và Phật hải Thạch khê Tâm nguyệt làm, nhằm chỉ bày cho người học phương pháp tham cứu chỗ huyền diệu để mở con mắt tuệ. Thiền môn bát phương châu ngọc tập hiện nay đã bị thất lạc.

Niêm Cổ

(拈古, Nenko): niêm đề các Cổ Tắc Công Án. Cổ tức là Cổ Tắc (古則), Niêm nghĩa là niêm đề (拈提), niêm lộng (拈弄), là phê bình và giải thích các công án của người xưa. Từ lập trường của mình, ngưòi ta thêm vào lời phê bình và giải thích cho các Cổ Tắc Công Án và nêu lên đại cương của công án ấy.

niêm cổ

Niêm Đề—Nêu lên những nguyên tắc thời xưa—To refer to ancient examples.

Niêm hoa

(拈花、拈華): đưa cành hoa lên. Từ này thường đi theo cụm từ niêm hoa vi tiếu (拈花微笑, đưa cành hoa và mĩm miệng cười); như trong Liên Đăng Hội Yếu (聯燈會要, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1557) quyển 1 có ghi rõ điển tích rằng: “Thế Tôn tại Linh Sơn Hội thượng, niêm hoa thị chúng, chúng giai mặc nhiên, duy Ca Diếp phá nhan vi tiếu. Thế Tôn vân: 'Ngô hữu Chánh Pháp Nhãn Tạng, Niết Bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, vi diệu pháp môn, bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, phú chúc Ma Ha Ca Diếp' (世尊在靈山會上、拈華示眾、眾皆默然、唯迦葉破顏微笑、世尊云、吾有正法眼藏、涅槃妙心、實相無相、微妙法門、不立文字、敎外別傳、付囑摩訶迦葉, đức Thế Tôn trên Hội Linh Sơn, đưa hoa ra dạy chúng, đại chúng đều im lặng, chỉ có Ca Diếp chuyển mặt mĩm cười. Thế Tôn bảo rằng: 'Ta có Chánh Pháp Nhãn Tạng, tâm vi diệu Niết Bàn, thật tướng không tướng, pháp môn vi diệu, chẳng lập cước trên chữ nghĩa, truyền riêng ngoài giáo lệ, nay phó chúc cho Ma Ha Ca Diếp').” Gọi cho đủ là niêm hoa thuấn mục phá nhan vi tiếu (拈華瞬目破顏微笑, đưa hoa ra, trong chớp mắt thì chuyển mặt mĩm cười). Từ thời nhà Tống trở đi, trong Thiền Tông rất thịnh hành câu chuyện này, vốn căn cứ vào Phẩm Phạm Vương Quyết Nghi (梵王決疑品) thứ 2 của Đại Phạm Thiên Vương Vấn Phật Quyết Nghi Kinh (大梵天王問佛決疑經, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 1, No. 26), cũng như nương vào thuyết cho rằng Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, p: Mahākassapa, 摩訶迦葉) là sơ Tổ của Thiền Tông Tây Trúc. Tuy nhiên, thuyết niêm hoa vi tiếu này vẫn còn nhiều vấn đề khả nghi, chưa giải quyết rõ. Còn sự kiện Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp thọ nhận phó chúc chánh pháp thì được nêu rõ trong Bắc Bản Niết Bàn Kinh (北本涅槃經) quyển 2. Trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 6 có câu rằng: “Niêm hoa ngã Phật tại Linh Sơn, Ca Diếp Đầu Đà hốt phá nhan, kim khẩu mật ngôn thân phú chúc, bất duy thiên thượng dữ nhân gian (拈花我佛在靈山、迦葉頭陀忽破顏、金口密言親付囑、不唯天上與人間, đưa hoa đức Phật tại Linh Sơn, Đầu Đà Ca Diếp chợt hiểu ràng, lời vàng mật ngôn nay phú chúc, đâu chỉ trên Trời với nhân gian).” Hay trong Tông Thống Biên Niên (宗統編年, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1600) quyển 2 lại có câu: “Thế Tôn phi thử nhãn, bất năng biện Ca Diếp chi nhất tiếu; Ca Diếp phi thử nhãn, bất năng khế Thế Tôn chi niêm hoa (世尊非此眼、不能辨迦葉之一笑、迦葉非此眼、不能契世尊之拈花, Thế Tôn không có con mắt này, chẳng thể nào hiểu được nụ cười của Ca Diếp; Ca Diếp không có con mắt này, chẳng thể nào lãnh hội được Thế Tôn đưa hoa ra).” Trong Thiền Môn có bài Tán Tổ Sư rằng: “Niêm hoa ngộ chỉ, Tổ đạo sơ hưng, miên diên tứ thất diễn chơn thừa, lục đại viễn truyền đăng, dịch diệp tương thừa, chánh pháp vĩnh xương minh (拈花悟旨、祖道初興、緜延四七演眞乘、六代遠傳燈、奕葉相承、正法永昌明, đưa hoa ngộ ý, Tổ đạo hưng long, dài lâu hai tám diễn chơn thừa, sáu đời xa truyền đăng, nối dõi kế thừa, chánh pháp mãi rạng ngời).”

Niêm hoa vi tiếu

拈花微笑; J: nenge-mishō; nghĩa là »cầm hoa mỉm cười«;|Một câu nói thường được dùng trong Thiền tông để chỉ việc truyền pháp nằm ngoài ngôn ngữ của Phật Thích-ca Mâu-ni cho Tổ thứ nhất là Ma-ha Ca-diếp (s: mahākāśyapa). Cách »Dĩ tâm truyền tâm« này là sự bắt đầu của »Giáo ngoại biệt truyền«, một danh hiệu mà chư vị Thiền sư tự đặt cho trường phái của mình.|Câu chuyện Niêm hoa vi tiếu trên được thuật lại trong một bộ Kinh với tên Ðại phạm thiên vương vấn Phật quyết nghi kinh (j: daibontennō-mombutsu-ketsugi-kyō). Tương truyền rằng, Phạm thiên vương (s: brahmā) một hôm viếng thăm một hội thuyết pháp của đức Phật trên đỉnh Linh Thứu. Ông cúng dâng đức Phật một cành hoa (có thuyết nói là hoa Sen, một thuyết khác là hoa Ưu-đàm) và thỉnh Phật vì chúng thuyết Pháp. Thay vì thuyết pháp thì Phật chỉ cầm một nhành hoa, se giữa những ngón tay và im lặng mỉm cười. Chẳng ai trong chúng hiểu được thâm ý ngoài Ma-ha Ca-diếp với một nụ cười trả lời. Theo Vô môn quan, Công án thứ 6 – một cách trình bày ngắn gọn của sự kiện này – thì Phật bảo rằng: »Ta có Chính pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, thật tướng không tướng, vi diệu pháp môn, bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, nay trao lại cho Ma-ha Ca-diếp.«|Ma-ha Ca-diếp vì vậy mà được xem là Tổ thứ nhất của Thiền tông.

niêm hoa vi tiếu

Sự việc nầy không xuất hiện cho mãi đến năm 800 sau Tây Lịch (vì không được các bậc tông sư đời Tùy và Đường nói đến. Đến đời Tống thì Vương An Thạch lại nói đến sự việc nầy), nhưng lại được coi như là điểm khởi đầu của Thiền Tông (theo Kinh Đại Phạm Thiên Vương vấn Phật thì Phạm Vương nhân đến núi Linh Thứu, đã dâng Phật một cành hoa Ba La vàng rồi xả thân làm sàng tọa thỉnh Phật thuyết pháp. Đức Thế Tôn đăng tọa, giơ cành hoa lên cho đại chúng xem, nhưng không ai hiểu Thế Tôn muốn nhắn nhủ gì, duy chỉ một mình Ca Diếp mỉm cười. Nhân đó Đức Thế Tôn lại nói: “Ta có chính pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng trao lại cho Ma Ha Ca Diếp.”)—“Buddha held up a flower and Kasyapa smiled.” This incident does not appear till about 800 A.D., but is regarded as the beginning of the tradition on which the Ch'an or Intuitional sect based its existence. ; (拈華微笑) Gọi đủ: Niêm hoa thuấn mục phá nhan vi tiếu. Đưa hoa mỉm cười. Nói về sự tích đức Phật đưa cành hoa sen lên trước đại chúng, tôn giả Ca diếp nhân đó tỏ ngộ và mỉm cười. Cứ theo Liên đăng hội yếu quyển 1, trên núi Linh thứu, đức Thế tôn thăng tòa, đưa cành hoa lên im lặng, lúc đó đại chúng đều không hiểu được ý của Ngài, chỉ có tôn giả Ma ha Ca diếp mỉm cười, đức Thế tôn liền tuyên bố trước đại chúng (Vạn tục 136, 221 thượng): Ta có chính pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, vi diệu pháp môn, không lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo, nay phó chúc cho Ma ha Ca diếp. Từ đời Tống trở đi, câu chuyện trên được truyền bá rất rộng trong Thiền lâm và cho rằng đã bắt nguồn từ kinh Đại phạm thiên vương vấn Phật quyết nghi, đồng thời, căn cứ vào đó mà suy tôn ngài Ca diếp làm Sơ tổ Thiền tông Thiên trúc. Nhưng kinh Đại phạm thiên vương vấn Phật quyết nghi chưa thấy được ghi trong các bộ Kinh lục và cũng không được đưa vào Đại tạng, mà bản hiện còn thì bị coi là kinh giả tạo, cho nên thuyết Niêm hoa vi tiếu có chỗ rất đáng ngờ. Bởi vì sự kiện ngài Ma ha Ca diếp được phó chúc Chính pháp ghi trong kinh Niết bàn quyển 2 (bản Bắc) như sau: Phật bảo các tỉ khưu, ta có Chính pháp vô thượng phó chúc cho Ma ha Ca diếp, Ca diếp sẽ là chỗ nương tựa cho các tỉ khưu, cũng giống như Như lai là nơi nương tựa cho tất cả chúng sinh. Đại để có thể suy đoán thuyết Niêm hoa vi tiếu đã do người đời sau căn cứ vào sự kiện trên mà phu diễn ra. [X. Lục tổ đại sư pháp bảo đàn kinh tự; Kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục Q.1; Truyền pháp chính tông kí Q.1; Ngũ đăng hội nguyên Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.5; Thích thị kê cổ lược Q.4].

Niêm hương

(拈香): nghĩa là trước tượng Phật, Bồ Tát cũng như chư vị Tổ sư tiến hành đốt hương, dâng hương; còn gọi là niệm hương (捻香). Vào ngày Khai Đường, niêm hương chúc thiên tử, được gọi là Chúc Thánh Niêm Hương (祝聖拈香). Vào lúc mới nhậm chức Trú Trì, hay lần đầu tiên khai đường thuyết pháp, vị thầy của chính mình niêm hương để thể hiện sự truyền thừa giữa thầy với trò và cảm niệm tình nghĩa ân sư, đó được gọi là Từ Pháp Niêm Hương (嗣法拈香). Vì chư Phật, Bồ Tát, Đàn Na tín thí mà niêm hương, rồi tuyên thuyết Pháp Ngữ, được gọi là Niêm Hương Phật Sự (拈香佛事). Trong đó, Từ Pháp Niêm Hương là do vị Trú Trì đích thân cắm hương vào lò. Về nghi thức tác pháp niêm hương, Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1245) quyển 5, phần Đường Đầu Tiên Điểm (堂頭煎點), cho biết rằng người đốt hương ở phía Đông của đài hương, hướng về vị Trú Trì hỏi han xong, hai tay nâng cao hộp hương; dùng tay phải cầm hộp bỏ vào trong tay trái, tiếp theo dùng tay phải càm nắp hộp đặt trên đài hương; tay phải đưa hương lên, hướng về đối tượng dâng cúng mà thắp. Sau đó, tay phải lấy nắp hộp đậy vào hộp, dùng hai tay nâng hộp hương đặt lên trên đài hương, rồi bắt đầu dâng hương chúc nguyện. Như trong Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 7, phần Trú Kim Lăng Thiên Giới Thiền Tự Ngữ Lục (住金陵天界禪寺語錄), có đoạn: “Thiên Vương Điện niêm hương, tùng lai nguyện lực triển từ uy, thước phá hư không hào tướng huy, Y Chánh báo trung thùy biện đắc, sơn đầu đa kiến tử vân phi (天王殿拈香、從來願力展慈威、爍破虛空毫相輝、依正報中誰辯得、山頭多見紫雲飛, niêm hương nơi Thiên Vương Điện, lâu nay nguyện lực mở từ oai, phá rạng hư không tướng rạng ngời, trong Y Chánh báo ai hiểu được, đầu non thường gặp mây tía bay).” Hay trong Ngu Am Trí Cập Thiền Sư Ngữ Lục (愚菴智及禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1421) quyển 5 cũng có đoạn: “Đạt Ma kỵ, niêm hương: 'Vạn lí Tây lai, cửu niên diện bích, tiền vô Thích Ca, hậu vô Di Lặc' (達磨忌、拈香、萬里西來、九年面壁、前無釋迦、後無彌勒, vào ngày kỵ của Tổ Đạt Ma, sư niêm hương rằng: 'Muôn dặm Tây đến, chín năm nhìn vách, trước không Thích Ca, sau không Di Lặc').”

niêm hương

Dâng hương cúng Phật—To take and offer incense. ; (拈香) Cũng gọi Niệp hương. Đốt hương, dâng hương trước tượng chư Phật, Bồ tát và Tổ sư. Theo điều Đường đầu tiễn điểm trong Thiền uyển thanh qui quyển 5, người đốt hương đứng ở phía đông đài hương, sau khi thăm hỏi vị Trụ trì xong, 2 tay bưng hộp đựng hương, dùng tay phải cầm hộp hương để trong bàn tay trái, rồi tay phải lấy nắp đậy hộp hương ra đặt trên đài hương, tay phải dâng hương, đốt hương trước tượng mà mình kính hiến, sau đó, tay phải cầm nắp hộp đậy hộp hương lại và 2 tay bưng hộp hương đặt lên đài hương, cúi đầu chúc nguyện. Điều Niêm hương trong Tổ đình sự uyển quyển 8 (Vạn tục 113, 118 hạ) nói: Các Phật sự của người Thích tử đều lấy việc niêm hương làm đầu, vì dâng hương là biểu hiện lòng kính tín của mình.

niêm ngữ

Pháp Ngữ Lục, một từ ngữ đặc biệt trong nhà Thiền—To take up and pass on a verbal tradition, a Zen term.

niêm y

Thâu nhặt quần áo—To gather up the garment. ; (拈衣) Cũng gọi Đề y. Nhận lấy ca sa để mặc. Trong Thiền lâm, khi vị Trụ trì mới nhập tự, tiếp nhận áo pháp từ tay vị Thầy, mặc vào mình, đây là phép tắc khi nối pháp. Điều Khai đường chúc thọ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 3 (Đại 48, 1126 thượng), nói: Lúc thụ thỉnh mà không niêm y thì nên cử pháp ngữ.

niêm đề

(拈提) Cũng gọi Niêm cổ, Niêm tắc. Những câu hay bài thơ kệ bình giải những cổ tắc, công án trong Thiền tông. Tông chỉ của Thiền tông là truyền riêng ngoài giáo, không lập văn tự, không nương theo kinh luận. Nhưng, để giúp người học thể ngộ được chân lí tuyệt đối vượt ngoài ngôn ngữ, nên dùng niêm đề cổ tắc công án để nêu bày yếu chỉ của tông môn. Ngoài ra, các cổ tắc, công án, cơ duyên ngữ cú... do các bậc tông sư nêu bày được gọi là Niêm ngữ. [X. Niêm bát phương châu ngọc tập tự; Hoành trí thiền sư quảng lục Q.2, 3; tắc 21 trong Thung dung lục].

niên

A year.

niên giám

Yearbook.

niên giới

Số năm thụ giới—The number of years since receiving the commandments.

niên kị

(年忌) Cũng gọi Niên hồi. Ngày giỗ được cử hành hàng năm để truy tiến cầu siêu cho người chết. Cứ theo Thứ tự danh số truy kị trong Chư hồi hướng thanh qui thức quyển 4, thì truy kị được chia làm 2 loại: Lũy thất (trai thất) và Niên kị. Lũy thất gồm 7 thất(7 ngày tổ chức 1 lần): 1. Sơ thất: Cũng gọi Sơ nguyện kị, Sở nguyện kị, Thủy thiện kị, Khốc thiêm kị. Tổ chức vào 7 ngày đầu tiên sau khi người chết.2. Nhị thất: Cũng gọi Dĩ phương kị, Dĩ phỏng kị, Đáo bỉ kị, Tổng phân kị. 3. Tam thất: Cũng gọi Sái thủy kị, Hiếulực kị, Quang hỉ kị. 4. Tứ thất: Cũng gọi A huống kị, A kinh kị, Tương đẳng kị, Diên phương kị, Viễn phương kị. Khoảng thời gian từ Sơ thất đếnTứ thất, gọi là Lương ám thời(rất tối). 5. Ngũ thất: Cũng gọi Tiểu luyện kị, Tiểu liễm kị, Tiểu phạn kị, Li diên kị, Kim li kị, Trọng khổ kị. 6. Lục thất: Cũng gọi Đàn hoằng kị, Tiền chí kị. 7. Thất thất(Đoạn thất): Cũng gọi Đại luyện kị, Đại liễm kị, Thoát quang kị, Hưu tân kị. Niên kị có thể được chia ra như sau: 1. Bách nhật: Cũng gọi Tốt khốc kị, Xuất khổ kị, U hồi kị. 2. Nhất chu: Cũng gọi Tiểu tường kị, Biên khốc kị. 3. Nhị niên: Cũng gọi Đại tường kị, Hưu an kị. 4. Thất niên: Cũng gọi Viễn ba kị, Hưu quảng kị. 5. Thập tam niên: Cũng gọi Viễn phương kị, Tịch ngữ kị. 6. Tam thập tam niên: Cũng gọi Lãnh chiếu kị, A viên kị, Bản nhiên thanh tịnh kị. 7. Bách niên: Cũng gọi Nhất hội kị. Thông thường, cúng tế người chết phần nhiều lấy Thất thất nhật(7 lần 7, tức 49 ngày)làm chính, Trung quốc gọi là Lũy thất trai, Thất thất trai. Còn Bách nhật kị và Nhất chu kị, Nhị niên kị... là theo tang chế của nhà Nho. Như Tiểu tường nói trong sách Lễ kí, tức tổ chức vào tháng thứ 13, tương đương với Nhất chu kị; còn Đại tường thì tổ chức cúng tế vào tháng thứ 25, tương đương với Nhị niên kị. Nhà Phật cũng y theo đó mà khuyên làm thiện để truy tiến người chết. [X. Thích môn chính thống Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.33].

niên kỵ

Ngày giỗ (kỵ)—Anniversary of a death and the ceremonies associated with it.

niên lạp

Cuối năm—The end of a year.

niên mãn thọ cụ

Nhận cụ túc giới, thí dụ như thọ cụ túc giới vào tuổi 20—To receive full commandments, i.e. be fully ordained at the regulation age of 20.

niên phần độ giả

(年分度者) Cũng gọi Niên liệu độ giả, Niên phần học sinh, Niên phần giả, Niên phần. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ số người nhất định được độ cho xuất gia do nhà nước chấp nhận. Nguồn gốc của chế độ này bắt đầu từ bao giờ thì không được rõ, nhưng ở Nhật bản, vào thời Nại lương (Nara) đã có rồi. Các tông phái, các chùa lớn lúc bấy giờ, tổ chức các cuộc thi tuyển, số thí sinh do nhà nước ấn định, người trúng tuyển được độ cho làm sa di; sau khi thụ giới, trong khoảng 6 đến 12 năm, phải học các bộ kinh luận đã được chỉ định, tất cả phí tổn đều do nhà nước chi cấp. Sau, theo tờ biểu của ngài Tối trừng dâng trình vào niên hiệu Đại đồng năm đầu (806), vua chế định Niên phần độ giả cho các tông là: Tông Thiên thai, tông Hoa nghiêm, tông Luật, mỗi tông 2 người; tông Tam luận và tông Pháp tướng, mỗi tông 3 người. Về sau, số Niên phần độ giả dần dần tăng gia thì mỗi chùa đều có chế độ này. Đến cuối thế kỉ X, chế độ này dần dần suy thoái ở Nhật bản. Tại Trung quốc, thời xưa cũng có chế độ tương tự như Niên phần độ giả của Nhật bản. Cứ theo Ngụy thư Thích lão chí, vua Văn thành nhà Bắc Ngụy từng hạ lệnh cho các châu, quận, huyện xây cất chùa tháp, đồng thời cho phép những người tính hạnh chân thật, thuần hậu muốn trở thành sa môn, thì bất luận lớn bé đều được xuất gia. Về số người xuất gia thì qui định: Châu lớn 50 người, châu nhỏ 40 người, những nơi xa xôi thì mỗi nơi 10 người. Đến năm Thái hòa 16 (492), vua Hiếu văn đế ban chiếu cho châu lớn 100 người, châu vừa 50 người, châu nhỏ 20 người xuất gia làm sa môn. Ngoài ra, Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện cũng có nói sơ lược về chế độ này.

niên thiếu tịnh hạnh

Người tịnh hạnh trẻ—A young brahman.

niên tinh

The year-star of an individual. ; (年星) Cũng gọi Đương niên tinh. Chỉ cho ngôi sao có ảnh hưởng đến vận mệnh của mỗi người trong 1 năm. Căn cứ vào năm sinh của mỗi người để tính toán mà biết được người ấy thuộc ảnh hưởng của sao gì trong năm. Loại sao này có 9 ngôi gọi là Cửu diệu, đó là: La hầu, Thổ tinh, Thủy tinh, Kim tinh, Nhật diệu, Hỏa tinh, Kế đô, Nguyệt diệu và Mộc tinh. Cứ theo kinh Tú diệu do ngài Bất không dịch vào đời Đường, nếu khi sao Đương niên và sao Bản mệnh của 1 người bị xâm phạm thì chắc chắn người ấy sẽ gặp tai họa, vì thế đức Như lai nói Đà la ni Đại bi để diệt trừ tai họa cho mọi người. Trong Mật giáo có pháp cúng dường sao Đương niên và sao Bản mệnh để cầu tiêu tai tăng thọ, gọi là Tinh tế, Tinh cúng. Pháp tu cúng dường sao Đương niên gọi là Thuộc tinh cúng, cũng gọi Đương niên tinh cúng; pháp tu cúng dường sao Bản mệnh thì gọi là Bản mệnh tinh cúng. [X. kinh Bắc đẩu thất tinh diên mệnh]. (xt. Tinh Cúng).

niên trai

(年齋) Vào dịp tết Nguyên đán, trong Thiền lâm, vị Giám viện dùng của riêng sắm trai soạn cúng dường đại chúng. Nếu không đủ khả năng, vị Giám viện có thể mời những người khác tham gia tổ chức, gọi là Niên trai. [X. điều Giám viện trong Thiền uyển thanh qui Q.3].

Niết

涅; C: niè; J: ne;|Phiên âm chữ nir từ tiếng Phạn. Xem mục từ kế tiếp.

niết

1) Bùn đen trong đáy ao: Black mud at the bottom of a pool. 2) Bùn lầy: Muddy. 3) Nhuộm đen: To blacken. 4) Uế nhiễm: To defile.

Niết Bàn

(s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃): âm dịch là Nê Hoàn (泥洹), Niết Bàn Na (涅槃那), Niết Lệ Bàn Na (涅隷槃那); ý dịch là Diệt (滅), Diệt Độ (滅度), Tịch (寂), Tịch Diệt (寂滅). Theo nguyên ngữ tiếng Sanskrit nirvāṇa, nó có nghĩa là thổi tiêu đi, cho nên nó nói lên trạng thái thổi tiêu tan lửa phiền não của Ba Độc tham sân si. Về định nghĩa của từ này, trong các Kinh A Hàm (p: Āgama, 阿含) thì có câu định hình là diệt tận tham dục, sân nhuế và ngu si. Tỷ dụ như trong Kinh Tạp A Hàm 19 (雜阿含經) có đoạn rằng: "Vân hà vi Niết Bàn ? Xá Lợi Phất ngôn: Niết Bàn giả, tham dục vĩnh tận, sân nhuế vĩnh tận, ngu si vĩnh tận, nhất thiết chư phiền não vĩnh tận, thị danh Niết Bàn (云何爲涅槃、舍利弗言、涅槃者、 貪欲永盡、瞋恚永盡、愚癡永盡、一切諸煩惱永盡、是名涅槃, Thế nào gọi là Niết Bàn ? Xá Lợi Phất bảo rằng: Niết Bàn là hết sạch tham dục, hết sạch sân nhuế, hết sạch ngu si. Đó gọi là Niết Bàn)". Đến thời kỳ bộ phái Phật Giáo thì Niết Bàn được chia thành 2 loại là Hữu Dư Niết Bàn (有餘涅槃, hay Hữu Dư Y Niết Bàn) và Vô Dư Niết Bàn (無餘涅槃, hay Vô Dư Y Niết Bàn). Hữu Dư Niết Bàn là trạng thái mà người giác ngộ đã diệt tận phiền não nhưng nhục thân vẫn còn sống. Vô Dư Niết Bàn là trạng thái mà người giác ngộ đã diệt tận luôn nhục thân của mình sau khi chết. Từ quan niệm đó, sự qua đời của đức Phật được gọi là Niết Bàn hay nhập Niết Bàn, viên tịch, v.v.; cho nên kinh điển mà đức Phật thuyết trước khi nhập Niết Bàn thì được gọi là Niết Bàn Kinh (涅槃經) hay Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經). Trong Thành Duy Thức Luận 10 (成唯識論) lại chia Niết Bàn thành 4 loại là Tự Tánh Thanh Tịnh Niết Bàn (自性清淨涅槃), Hữu Dư Y Niết Bàn (有餘依涅 槃), Vô Dư Y Niết Bàn (無餘依涅槃) và Vô Trú Xứ Niết Bàn (無住處涅槃). Tự Tánh Thanh Tịnh Niết Bàn là chỉ về trạng thái mà tâm tánh của hết thảy chúng sanh xưa nay vốn thanh tịnh. Vô Trú Xứ Niết Bàn là cõi Niết Bàn lý tưởng của Đại Thừa, chỉ về trạng thái của chư Phật cũng như Bồ Tát chẳng trú vào sanh tử, cũng chẳng nương vào Niết Bàn, mà cho rằng sanh tử chính là Niết Bàn, với từ bi và trí tuệ đầy đủ, sống tùy duyên tự tại, nhậm vận vô tác. Tuệ Trung Thượng Sĩ (慧中上士, 1230-1291) của Việt Nam có câu: “Niết Bàn tâm tịch tịch, sanh tử hải trùng trùng, bất sinh hoàn bất diệt, vô thỉ diệc vô chung (涅槃心寂寂、生死海重重、不生還不滅、無始亦無終, Niết Bàn tâm vắng lặng, sanh tử biển trùng trùng, chẳng sanh lại chẳng diệt, không trước lại không sau).”

niết bàn

Bản thể của tự tánh đầy khắp thời gian, bất sanh bất diệt, chẳng quá khứ, hiện tại, vị lai, vô thủy vô chung (Hán văn dịch là viên tịch, chẳng phải chết). ; Nirvana (skt)—Nibbana (p)—Bát Nê Hoàn—Bát Niết Bàn—Bát Niết Bàn Na—Nê Viết—Nê Hoàn—Nê Bạn—Niết Bàn Na. (I) Nghĩa của Niết Bàn—The meanings of Nirvana: Nirvana gồm 'Nir' có nghĩa là ra khỏi, và 'vana' có nghĩa là khát ái. Nirvana có nghĩa lá thoát khỏi luân hồi sanh tử, chấm dứt khổ đau, và hoàn toàn tịch diệt, không còn ham muốn hay khổ đau nữa (Tịch diệt hay diệt độ). Niết Bàn là giai đoạn cuối cùng cho những ai đã dứt trừ khát ái và chấm dứt khổ đau. Nói cách khác, Niết Bàn là chấm dứt vô minh và ham muốn để đạt đến sự bình an và tự do nội tại. Niết Bàn với chữ “n” thường đối lại với sanh tử. Niết bàn còn dùng để chỉ trạng thái giải thoát qua toàn giác. Niết Bàn cũng được dùng theo nghĩa trở về với tánh thanh tịnh xưa nay của Phật tánh sau khi thân xác tiêu tan, tức là trở về với sự tự do hoàn toàn của trạng thái vô ngại. Trạng thái tối hậu là vô trụ Niết Bàn, nghĩa là sự thành tựu tự do hoàn toàn, không còn bị ràng buộc ở nơi nào nữa. Niết Bàn là danh từ chung cho cả Tiểu Thừa lẫn Đại Thừa. Theo Kinh Lăng Già, Đức Phật bảo Mahamati: “Nầy Mahamati, Niết Bàn nghĩa là thấy suốt vào trú xứ của thực tính trong ý nghĩa chân thật của nó. Trú xứ của thực tính là nơi mà một sự vật tự nó trú. Trú trong chính cái chỗ của mình nghĩa là không xao động, tức là mãi mãi tĩnh lặng. Nhìn thấy suốt vào trú xứ của thực tính đúng như nó nghĩa là thông hiểu rằng chỉ có cái được nhìn từ chính tâm mình, chứ không có thể giới nào bên ngoài như thế cả.” Sau khi Đức Phật vắng bóng, hầu hết các thảo luận suy luận siêu hình tập trung quanh đề tài Niết Bàn. Kinh Đại Bát Niết Bàn, những đoạn văn bằng tiếng Bắc Phạn vừa được phát kiến mới đây, một ở Trung Á và đoạn khác ở Cao Dã Sơn cho thấy một thảo luận sống động về các vấn đề như Phật tánh, Chân như, Pháp giới, Pháp thân, và sự khác nhau giữa các ý tưởng Tiểu Thừa và Đại Thừa. Tất cả những chủ điểm đó liên quan đến vấn đề Niết Bàn, và cho thấy mối bận tâm lớn của suy luận được đặt trên vấn đề vô cùng quan trọng nầy—Nirvana consists of 'nir' meaning exit, and 'vana' meaning craving. Nirvana means the extinguishing or liberating from existence by ending all suffering. So Nirvana is the total extinction of desires and sufferings, or release (giải thoát). It is the final stage of those who have put an end to suffering by the removal of craving from their mind (Tranquil extinction: Tịch diệt—Extinction or extinguish: Diệt)—Inaction or without effort: Vô vi—No rebirth: Bất sanh—Calm joy: An lạc—Transmigration to extinction: Diệt độ). In other word, Nirvana means extinction of ignorance and craving and awakening to inner Peace and Freedom. Nirvana with a small “n” stands against samsara or birth and death. Nirvana also refers to the state of liberation through full enlightenment. Nirvana is also used in the sense of a return to the original purity of the Buddha-nature after the disolution of the physical body, that is to the perfect freedom of the unconditioned state. The supreme goal of Buddhist endeavor—An attainable state in this life by right aspiration, purity of life, and the elimination of egoism—The Buddha speaks of Nirvana as “Unborn, unoriginated, uncreated, and unformed,” contrasting with the born, originated, created and formed phenomenal world. The ultimate state is the Nirvana of No Abode (Apratisthita-nirvana), that is to say, the attainment of perfect freedom, not being bound to one place. Nirvana is used in both Hinayana and Mahayana Buddhist schools. In the Lankavatara Sutra, the Buddha told Mahamati: “Oh Mahamati, Nirvana means seeing into the abode of reality in its true significance. The abode of reality is where a thing stands by itself. To abide in one's self-station means not to be astir, i.e., to be eternally quiescent. By seeing into the abode of reality as it is means to understand that there is only what is seen of one's own mind, and no external world as such.” After the Buddha's departure, most of the metaphysical discussions and speculations centered around the subject of Nirvana. The Mahaparinirvana Sutra, the Sanskrit fragments of which were discovered recently, one in Central Asia and another in Koyasan, indicates a vivid discussion on the questions as to what is 'Buddha-nature,' 'Thusness,' 'the Realm of Principle,' 'Dharma-body' and the distinction between the Hinayana and Mahayana ideas. All of these topics relate to the problem of Nirvana, and indicate the great amount of speculationundertaken on this most important question. (II) Đặc tánh của Niết Bàn—The characteristics of Nirvana (A) Đặc tính tổng quát của Niết Bàn—General characteristics of Nirvana: 1) Thường Trụ: Permanent. 2) Tịch Diệt: Tranquil extinguish. 3) Bất Lão: No Aging. 4) Bất Tử: No Death. 5) Thanh Tịnh: Purity. 6) Giải Thoát: Release—Liberated from existence. 7) Vô Vi: Inaction—Without effort—Passiveness. 8) Bất Sanh: No rebirth. 9) An lạc: Calm joy. 10) Diệt Độ: Transmigration to extinction a) Diệt Sanh Tử: Cessation of rebirth—Extinction or end of all return to reincarnation. b) Diệt Tham Dục: Extinction of passion. c) Chấm dứt hết thảy khổ đau để đi vào an lạc: Extinction of all misery and entry into bliss. (B) Đặc Tính riêng của Niết Bàn—Special characteristics of Nirvana: 1) Niết Bàn có thể được vui hưởng ngay trong kiếp nầy như là một trạng thái có thể đạt được: Nirvana may be enjoyed in the present life as an attainable state. 2) Theo Kinh Niết Bàn thì Niết Bàn có đầy đủ những bản chất của cõi siêu việt sau đây—According to the Nirvana Sutra, Nirvana has all of the followings in the transcendental realm: a) Thường (không cón bị chi phối bởi vô thường): Permanence (permanence versus impermanence). b) Lạc: Bliss (Bliss versus suffering). c) Ngã: Personality (Supreme self versus personal ego). d) Tịnh: Purity (Equanimity versus anxiety). 3) Niết Bàn có đầy đủ những bản chất sau—Nirvana has all of the following characteristics—See Niết Bàn Bát Vị. 4) Theo Bồ Tát Long Thọ trong Triết Học Trung Quán, Niết Bàn hoặc thực tại tuyệt đối không thể là hữu (vật tồn tại), bởi vì nếu nó là hữu, nó sẽ bị kềm chế ở nơi sanh, hoại, diệt, vì không có sự tồn tại nào của kinh nghiệm có thể tránh khỏi bị hoại diệt. Nếu Niết Bàn không thể là hữu, thì nó càng không thể là vô, hay vật phi tồn tại, bởi vì phi tồn tại chỉ là một khái niệm tương đối, tùy thuộc vào khái niệm hữu mà thôi. Nếu chính 'hữu' được chứng minh là không thể áp dụng cho thực tại, thì vô lại càng không thể chịu nổi sự soi xét chi li, bởi vì 'vô' chỉ là sự tan biến của 'hữu' mà thôi.' Như vậy khái niệm 'hữu' và 'vô' không thể áp dụng đối với thực tại tuyệt đối, lại càng không thể nghĩ tới chuyện áp dụng những khái niệm nào khác, bởi vì mọi khái niệm khác đều tùy thuộc vào hai khái niệm nầy. Nói tóm lại, tuyệt đối là siêu việt đối với tư tưởng, và vì nó siêu việt đối với tư tưởng nên nó không thể được biểu đạt bằng tư tưởng, những gì không phải là đối tượng của tư tưởng thì chắc chắn không thể là đối tượng của ngôn từ—According to Nagarjuna Bodhisattva in the Madhyamaka Philosophy, the absolute is transcendent to both thought and speech. Neither the concept of 'bhava' not 'abhava' is applicable to it. Nirvana or the Absolute Reality cannot be a 'bhava' or empirical existence, for in that case it would be subject to origination, decay, and death; there is no empirical existence which is free from decay and death. If it cannot be 'bhava' or existence, far less can it be 'abhava' or non-existence, for non-existence is only the concept of absence of existence (abhava). When 'bhava' itself is proved to be inapplicable to Reality, 'abhava' cannot stand scrutiny, for abhava is known only as the disappearance of 'bhava.' When the concept of 'bhava' or empirical existence, and 'abhava' or the negation of bhava cannot be applied to the Abslute, the question of applying any other concept to it does not arise, for all other concepts depend upon the above two. In summary, the absolute is transcendent to thought, and because it is transcendent to thought, it is inexpressible. What cannot be an object of thought cannot be an object of speech. (III) Phân loại Niết Bàn—Categories of Nirvana: Theo Keith trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, có hai loại Niết Bàn—According to Keith in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, there are two kinds of Nirvana: 1) Hữu Dư Niết Bàn: Saupadisesa-nibbana (p)—Hữu Dư Y—Những vị đã đắc quả Niết Bàn, cái nhân sanh tử luân hồi đã hết, nhưng quả khổ ngũ uẩn vẫn chưa hoàn toàn dứt hẳn. Vị Thánh nầy có thể nhập Niết Bàn ngay trong kiếp nầy, nhưng phải đợi đến lúc thân ngũ uẩn chết đi thì quả khổ mới thật sự chấm dứt—Nirvana with a remnant—Nirvana with remainder—Nirvana with residue—Nirvana reached by those enlightened beings who have not yet completely rid themselves of their samsaric burden of skandhas—The cause has been annihilated, but the remnant of effect still remains. A saint may enter into this nirvana during life, but has continue to live in this mortal realm (has not yet eliminated the five aggregates) till the death of his body—See Hữu Dư Niết Bàn. 2) Vô Dư Niết Bàn: Anupadisesa-nibbana or Khandha-parinibbana (p)—Vô Dư Y—Nơi không còn nhân quả, không còn luân hồi sanh tử—Remnantless Nirvana or nirvana without residue—Where there are no more cause and effect, the connection with the chain of mortal life being ended. A saint enters this perfect nirvana upon the death of his body (the aggregates have been eliminated)—Final nirvana—Nothing remaining—No further mortal suffering—See Vô Dư Niết Bàn. (IV) Những vấn đề liên quan đến Niết Bàn—Problems concerning Nirvana: 1) Theo Kinh Pháp Cú, mỗi khi có người hỏi Phật còn tồn tại sau khi chết hay không, hay Ngài đi vào thế giới nào sau khi Niết Bàn, luôn luôn Ngài im lặng. Khi Phật im lặng trước một câu hỏi cần trả lời là “phải” hay “không,” thì sự im lặng của Ngài thường có nghĩa là thừa nhận. Nhưng sự im lặng của Ngài trước câu hỏi về Niết Bàn là bởi vì thính giả của Ngài không thể hiểu nổi cái triết lý sâu xa nằm trong đó: In the Dharmapada Sutra, whenever the Buddha was asked by a questioner whether he was to live after death or what sort of world he was to enter after Nirvana, he always remained silent. When the When the Buddha remained silent to a question requiring an answer of 'yes' or 'no,' his silence usually meant assent. Ut his silence on the question concerning Nirvana was due to the fact that his listeners could not understand the profound philosophy involved. 2) Vấn đề then chốt của đạo Phật, dù chủ trương hình thức hay chủ trương duy tâm, đều quy vào sự tận diệt phiền não; bởi vì trạng thái méo mó đó của tâm được coi như là cội nguồn của tất cả mọi tội lỗi trong đời sống con người. Phiền não có thể bị diệt tận ngay trong hiện thế. Do đó, giải thoát sự méo mó như thế của tâm là đối tượng chính của tu trì trong Phật giáo. Niết Bàn hay sự tận diệt của phiền não, của dục vọng, của giác năng, của tâm trí, và ngay cả diệt tận ý thức cá biệt của con người: The main problem of Buddhism either formalistic or idealistic, was concerning the extinction of human passion, because this distorted state of mind is considered to be the source of all evils of human life. Human passion can be extinguished even during one's lifetime. Therefore liberation from such disorder of mind is the chief object of Buddhist culture. Nirvana means the extinction of passion, of desire, of sense, of mind, and even of individual consciousness. 3) Trong tâm của người theo đạo Phật, Niết Bàn không chứa bất cứ ý tưởng thần thánh hóa nào về Đức Phật. Nó đơn giản chỉ cho sự liên tục vĩnh cửu của nhân cách của Ngài trong ý nghĩa cao nhất của chữ nầy. Nó chỉ cho việc trở về Phật tánh bản hữu của Ngài, là thân Chánh Pháp của Ngài chứ không phải là thân kinh điển như một số lầm tưởng. Pháp có nghĩa là lý thể mà Phật đã nhận được trong giác ngộ viên mãn. Niết bàn là thân lý thể không bị hạn cuộc trong ngôn ngữ nào cả: To Buddhist mind, Nirvana did not contain any idea of deification of the Buddha. It simply meant the eternal continuation of his personality in the highest sense of the word. It meant returning to his original state of Buddha-nature, which is his Dharma-body, but not his scripture-body as misunderstood by people. Dharma means the 'i'eal' 'tself which the Buddha conceived in his perfect Enlightenment. Nirvana is this ideal body which is without any restricting conditions. 4) Các nhà chủ trương hình thức chủ trương kinh điển là sự biểu dương trọn vẹn cho lý thể của Phật. Do đó họ quan niệm Phật vĩnh viễn tồn tại trong thân giáo pháp, còn Niết Bàn là diệt tận vô dư của Ngài: The formalists, on the other hand, hold that the scripture is the perfect representation of the ideal of the Buddha. Hence their opinion that the Buddha lives forever in the scripture-body, Nirvana being his entire annihilation and extinction otherwise. 5) Nguyên lý Niết Bàn hay trạng thái tắt lửa trong ánh sáng của thời gian và không gian. Đối với các triết gia, nhất là triết gia Ấn Độ, nếu tin rằng không gian và thời gian là vô hạn, thì đó là một ảo tưởng: The principle of Nirvana or the state of a fire blown out in the light of space and time. It was an illusion on the part of philosophers, especially some of the Indian philosophers, to believe that space and time were infinite. 6) Tuy nhiên, đạo Phật chưa từng nói không gian và thời gian là vô hạn, vì đạo Phật coi chúng là những chất thể vật lý. Lý thuyết không gian xoắn ốc do các nhà vật lý học hiện đại đề ra, khá đả thông thuyết Niết Bàn. Vũ trụ hay pháp giới nói theo thuật ngữ là khu vực được chiếm cứ bởi không gian và thời gian, và trong khu vực đó chúng kiểm soát những ngọn sóng của hiện hữu. Vậy trên thực tiễn, thế giới thời-không là đại dương của những làn sóng sinh tử. Nó là môi trường của chu kỳ sinh tử, thế giới của sáng tạo, của năng lực, của nhân duyên, của ý thể, của tự tạo, và của biến hành. Nó là môi trường của dục, của sắc và tâm: Buddhism, however, has never treated space and time as infinite, for Buddhism takes them to be physical matters. The theory that space is curved, set forth by modern physicists, has considerably facilitated the elucidation of the doctrine of Nirvana. The universe, or the Realm of Principle (Dharmadhatu) as it is technically called, is the region which is occupied by space and time and in which they control all the waves of existence. So in practice, the space-time world is the ocean of the waves of life and death. It is the sphere of the flowing cycles of life or samsara, the world of creation, of energy, of action, of causation and ideation, of self-creation and of dynamic becoming. It is the sphere of desire, matter (form) and mind. a) Không gian được coi như là một trong ngũ đại hay năm hành chất, và đôi khi nó được trình bày là có hình dáng tròn: Space is considered one of the five elements (earth, water, fire, air, and space), and it is sometimes represented to be of round shape. b) Một số trường phái coi thời gian là thực hữu, một số khác nói nó bất thực. Nhưng cần ghi nhận đặc biệt rằng thời gian chưa hề được coi như hiện hữu tách biệt không gian . Thế có nghĩa là, mọi loài và mọi vật đều có thời gian của riêng nó. Không gian và thời gian luôn luôn nương nhau. Loài người có trường độ sống trung bình, hay tuổi thọ khoảng trăm năm. Nhưng có người nói loài hạc lại sống cả ngàn năm , rùa sống tới vạn tuổi. Với các loài trời, người ta nói một ngày một đêm của chúng dài bằng cả 50 năm của người trần gian. Trái lại, ruồi nhặng chỉ sống ngắn ngủi trong một ngày:Time is treated as real in some schools while in other schools it is treated as unreal. But it is to be particularly noted that time has never been considered to exist separately from space. That is to say, every being or thing has time of its own. Space and time are always correlative. Men have an average lifetime of one hundred years. But a crane is said to live for a thousand years, and a tortoise even ten thousand years. And with the heavenly beings, their one day and night is said to be as long as the whole fifty years of the earthly men. A day-fly, on the other hand, live a short wave-length of only one day. (V) Lời Phật dạy về Niết Bàn trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teaching on Nirvana in the Dharmapada Sutra: Một số sinh ra từ bào thai, kẻ ác thì đọa vào địa ngục, người chính trực thì sinh lên chư thiên, nhưng cõi Niết bàn chỉ dành riêng cho những ai đã diệt sạch nghiệp sanh tử—Some are born in a womb; evil-doers are reborn in hells; the righteous people go to blissful states; the undefiled ones pass away into Nirvana (Dharmapada 126). Niết Bàn An Lạc Vĩnh Cửu: Eternal peace-Nirvana. ; (涅槃) Phạm: Nirvàịa. Pàli: Nibbàna. Cũng gọi: Nê hoàn, Nê viết, Niết bàn na, Niết lệ bàn na, Nê phạ nam, Nặc phạ nam.Hán dịch: Diệt, Tịnh diệt, Diệt độ, Tịch, Vô sinh. Đồng nghĩa: Trạch diệt, Li hệ, Giải thoát. Hoặc gọi là Bát niết bàn (Bát, dịch âm của tiếng Phạm Pari, nghĩa là hoàn toàn, dịch ý là Viên tịch), Đại bát niết bàn (Đại nghĩa là thù thắng, cũng gọi Đại viên tịch). Niết bàn nguyên nghĩa chỉ cho sự thổi tắt, hoặc biểu thị trạng thái thổi tắt, về sau được chuyển dụng để chỉ lửa phiền não thiêu đốt đã bị dập tắt, là cảnh giới hoàn toàn giác ngộ. Cảnh giới này vượt ngoài sinh tử(mê giới), cũng là mục đích thực tiễn cuối cùng của Phật giáo, cho nên được xếp vào 1 trong những pháp ấn, gọi là Niết bàn tịch tĩnh. Về Niết bàn, Đại thừa và Tiểu thừa giải thích có khác nhau: 1. Theo Tiểu thừa(Phật giáo bộ phái): Niết bàn là trạng thái diệt hết phiền não. Trong đó lại chia ra Hữu dư y Niết bàn(gọi tắt: Hữu dư Niết bàn)và Vô dư y Niết bàn (gọi tắt: Vô dư Niết bàn). Hữu dư y Niết bàn nghĩa là phiền não tuy đã bị diệt hết, nhưng nhục thể(tức y thân)tàn dư còn lại; Vô dư y Niết bàn nghĩa là phiền não đã hết mà y thân cũng không còn, tức là trạng thái khôi thân diệt trí. Hữu bộ chủ trương Niết bàn là 1 thực thể tồn tại, nhưng Kinh lượng bộ thì cho rằng Niết bàn chỉ là giả danh của cái trạng thái đã diệt hết phiền não, chứ tự nó không có thực thể. 2. Theo Đại thừa: - Trung luận chủ trương Thực tướng là Niết bàn, Thực tướng cũng tức là tính không, là pháp do nhân duyên sinh ra, bởi thế Niết bàn và sinh tử thế gian không có sai khác. - Kinh Niết bàn quyển 3 (bản Nam) cho rằng Niết bàn có 8 vị: Thường, hằng, an, thanh tịnh, bất lão, bất tử, vô cấu và khoái lạc. Nếu đem 8 vị này phối với 4 đức: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh của Niết bàn thì thường và hằng làThường, an và khoái lạc làLạc, bất lão và bất tử làNgã, thanh tịnh và vô cấu làTịnh. - Tông Duy thức chủ trương Niết bàn có 4 loại: Bản lai tự tính thanh tịnh Niết bàn, Hữu dư y Niết bàn, Vô dư y Niết bàn và Vô trụ xứ Niết bàn. Trong đó, Bản lai tự tính thanh tịnh Niết bàn(gọi tắt: Bản lai thanh tịnh Niết bàn, Tính tịnh Niết bàn)là chỉ cho Chân như, nghĩa là tướng của hết thảy sự vật xưa nay vốn là lí thể của Chân như vắng lặng. Vô trụ xứ Niết bàn là nương vào trí tuệ mà xa lìa phiền não chướng và sở tri chướng, không bị vướng mắc trong cõi mê sinh tử. Lại vì lòng đại bi nên hoạt động trong cõi mê để cứu giúp chúng sinh mà không bị kẹt nơi cảnh giới Niết bàn. Đây là 1 đặc sắc về Niết bàn của Phật giáo Đại thừa. - Tông Địa luận và tông Nhiếp luận chia Niết bàn làm 2 loại là: Tịnh tính Niết bàn và Phương tiện tịnh Niết bàn. - Tông Thiên thai thì chia Niết bàn làm 3 loại là: Tịnh tính Niết bàn, Viên tịnh Niết bàn và Phương tiện tịnh Niết bàn (cũng gọi Ứng hóa Niết bàn – đức Phật vì cứu độ chúng sinh nên thị hiện thân giả huyễn, khi nhân uyên độ sinh đã hết thì vào Niết bàn). - Tông Tịnh độ gọi thế giới Cực lạc của đức Phật A di đà là thành Niết bàn, cũng gọi là Vô vi Niết bàn giới. - Hàng Thanh văn, Duyên giác vào Vô dư Niết bàn, sau đó lại hồi tâm chuyển hướng Đại thừa giáo, gọi là Vô dư hoàn sinh. Đồng thời, Niết bàn là xa lìa tướng trạng sai biệt của hết thảy các pháp, nên cũng gọi là Li tướng. [X. kinh Tạp a hàm Q.18; kinh Niết bàn Q.33 (bản Bắc); phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Kim quang minh tối thắng vương; luận Đại tì bà sa Q. 28, 33, 34; luận Câu xá Q.6].

niết bàn bát vị

Tám loại pháp vị đầy đủ của Niết Bàn—The eight rasa, i.e. flavours or characteristics of nirvana. 1) Thường Trụ: Permanence. 2) Tịch Diệt: Peace. 3) Bất Lão: No growing old. 4) Bất Tử: No death. 5) Thanh Tịnh: Purity. 6) Hư Không Siêu Việt: Transcendence. 7) Bất Động: Unperturbedness. 8) Khoái Lạc: Joy. ; (涅槃八味) Tám loại pháp vị của Niết bàn. Cứ theo kinh Phương đẳng bát nê hoàn quyển 2, thì Niết bàn có nghĩa là Đại diệt độ. Đại là pháp thân, Diệt là giải thoát, Độ là bát nhã. Ba đức này là lí tạng bí mật của Như lai, khi thành Phật không thêm, còn là chúng sinh cũng không bớt, có đấy đủ 8 pháp vị: 1. Thường trụ: Lí của Niết bàn thông suốt 3 đời, trùm khắp 10 phương mà vẫn thường tồn tại. 2. Tịch diệt: Lí của Niết bàn vắng lặng vô vi, dứt bặt sinh tử. 3. Bất lão: Lí của Niết bàn không đổi dời, không thêm bớt. 4. Bất tử: Lí của Niết bàn vốn không sinh, cũng không diệt. 5. Thanh tịnh: Lí của Niết bàn an trụ trong lắng, các chướng đều đã thanh tịnh. 6. Hư không: Lí của Niết bàn rỗng suốt, linh hoạt, viên dung vô ngại. 7. Bất động: Lí của Niết bàn lặng yên chẳng động, dứt bặt vô vi. 8. Khoái lạc: Lí của Niết bàn không bị cái khổ sinh tử bức bách, chỉ có niềm vui chân thường tịch diệt.

niết bàn bất sinh

Anutpado-nirvanam (skt)—Nirvana means no-birth (anything that is subject to birth-and-death is not Nirvana).

niết bàn bộ

(涅槃部) Bộ thứ 5 trong 5 bộ kinh lớn của Đại thừa.Khai nguyên thích giáo lục quyển 11 gọi 6 bộ kinh gồm 58 quyển sau đây là Niết bàn bộ: 1. Kinh Đại bát niết bàn, 40 quyển, do ngài Đàm vô sấm dịch vào đời Bắc Lương.2. Kinh Đại bát niết bàn hậu dịch Đồ tì phần, 2 quyển, do các ngài Nhã na bạt đà la và Hội minh cùng dịch vào đời Đường. 3. Kinh Đại bát nê hoàn, 6 quyển, do các ngài Pháp hiển và Giác hiền cùng dịch vào đời Đông Tấn. 4. Kinh Phương đẳng bát nê hoàn, 2 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. 5. Kinh Tứ đồng tử tam muội, 3 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy. 6. Kinh Đại bi, 5 quyển, do các ngài Na liên đề da xá và Pháp trí cùng dịch vào đời Cao Tề. Duyệt tạng tri tân quyển 25, thì ngoài 6 bộ của Khai nguyên thích giáo lục đã ghi ở trên, còn thêm 10 bộ 63 quyển kinh sau đây:1. Kinh Đại bát niết bàn, 36 quyển, do ngài Tuệ nghiêm sửa lại vào đời Lưu Tống. 2. Kinh Đại thừa phương quảng tổng trì, 1 quyển, do ngài Tì ni đa lưu chi dịch vào đời Tùy. 3. Kinh Tế chư phương đẳng học, 1 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. 4. Kinh Tập nhất thiết phúc đức tam muội, 3 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần. 5. Kinh Đẳng tập chúng đức tam muội, 3 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. 6. Kinh Ma ha ma da, 2 quyển, do ngài Đàm cảnh dịch vào đời Tiêu Tề. 7. Kinh Đại phương đẳng vô tưởng, 6 quyển, do ngài Đàm vô sấm dịch vào đời Bắc Lương. 8. Kinh Bồ tát xử thai, 7 quyển, do ngài Trúc phật niệm dịch vào đời Diêu Tần. 9. Kinh Trung ấm, 2 quyển, do ngài Trúc phật niệm dịch vào đời Diêu Tần. 10. Kinh Liên hoa diện, 2 quyển, do ngài Na liên đề da xá dịch vào đời Tùy. Đại chính Tân tu Đại tạng kinh thì trừ 2 bộ kinh Đại thừa phương quảng tổng trì và Tế chư phương đẳng học ghi trên ra, rồi thêm 9 bộ kinh sau: 1. Kinh Đại vân vô tưởng, quyển 9, do ngài Trúc phật niệm dịch vào đời Diêu Tần. 2. Kinh Phật thùy bát niết bàn lược thuyết giáo giới, 1 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần. 3. Kinh Phật lâm niết bàn kí pháp trụ, 1 quyển, do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường. 4. Kinh Bát nê hoàn hậu quán lạp, 1 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. 5. Kinh Phật diệt độ hậu quan liệm táng tống, 1 quyển, mất tên người dịch. 6. Kinh Ca diếp phó Phật bát niết bàn, 1 quyển, do ngài Trúc đàm vô lan dịch vào đời Đông Tấn. 7. Kinh Phật nhập niết bàn Mật tích kim cương lực sĩ ai luyến, 1 quyển, mất tên người dịch. 8. Kinh Đương lai biến, 1 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. 9. Kinh Pháp diệt tận, 1 quyển, mất tên người dịch. Như vậy, Niết bàn bộ tổng cộng gồm 23 bộ kinh, 127 quyển. [X. Đại tạng kim cương mục chỉ yếu lục Q.3; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.3; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.21].

niết bàn châu

Niết Bàn Châu hay dòng sanh tử, nơi mà Đức Phật cứu vớt chúng sanh bằng thuyền Bát Chánh—Nirvana-island, i.e. the stream of mortality, from which stream the Buddha save men with his eight-oar boat of truth. ** For more information, please see Bát Chánh Đạo. ; (涅槃洲) Bờ Niết bàn. Chúng sinh đang chìm ngụp trong dòng xoáy sinh tử, đức Phật dùng thuyền Bát chính đạo đưa vào con đường Niết bàn, giống như vớt người rơi xuống nước đưa lên bờ, vì thế dùng bờ đất liền để ví dụ Niết bàn. [X. luận Đại trí độ Q.71].

niết bàn cung

Cung điện Niết Bàn của các bậc Thánh—The nirvana palace of the saints. ; (涅槃宮) Cung điện Niết bàn. Cảnh giới Niết bàn là chỗ ở của các bậc Thánh, cho nên dùng cung điện để ví dụ. [X. luận Câu xá Q.30; Câu xá luận quang kí Q.30].

niết bàn giới

Nirvana-dhatu (skt)—Niết Bàn có thể tàng giữ muôn đức vô vi, nơi sanh ra các việc lợi lạc thế gian và xuất thế gian, một trong tam pháp vô vi—The realm of nirvana (the abode of Nirvana), or bliss, where all virtues are stored and whence all good comes, one of the three dharmas of inaction—See Tam Vô Vi Pháp. ; (涅槃界) Giới Niết bàn. Giới có 3 nghĩa: 1. Hàm tàng: Niết bàn có thể chứa góp muôn đức vô vi. 2. Nhân: Niết bàn có thể làm nhân sinh ra mọi việc lợi lạc ở thế gian và xuất thế gian. 3. Bờ cõi: Niết bàn tuy không có bờ cõi, nhưng đối lại với cõi sinh tử mà gọi Niết bàn là cõi Niết bàn. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.12; luận Thành duy thức Q.hạ].

niết bàn hội

Lễ kỷ niệm ngày Đức Phật nhập diệt, ngày rằm tháng hai (có nơi cho là ngày 8 tháng 2, ngày 8 tháng 8, ngày rằm tháng ba, hay ngày 8 tháng chín) —The Nirvana assembly, second moon 15th day, on the anniversary of the Buddha's death (some countries believe on different dates, 8th of 2nd moon, 8th of 8th moon, 15th of 3rd moon, or 8th of 9th moon). ; (涅槃會) Cũng gọi Thường lạc hội, Niết bàn kị, Phật kị. Pháp hội được cử hành hàng năm vào ngày đức Phật nhập Niết bàn. Về ngày đức Phật nhập Niết bàn, các nước theo Phật giáo Đại thừa như Trung quốc, Hàn quốc, Nhật bản... đều cho rằng đức Phật nhập diệt vào ngày 15 tháng 2 âm lịch(riêng Nhật bản gần đây đổi dùng dương lịch)và gọi là ngày lễ Niết bàn. Cho nên hàng năm đến ngày này các chùa đều cử hành pháp hội, treo bức tranh đức Phật niết bàn và tụng kinh Niết bàn, kinh Di giáo để tưởng niệm Ngài. Tại Trung quốc, tư liệu ghi chép về hội Niết bàn sớm nhất là Phật tổ thống kỉ quyển 33. Sách này (Đại 49, 319 trung) nói: Đức Như lai nhập diệt vào ngày 15 tháng 2 năm Chu Mục vương 53, tại các già lam đều có thiết lễ cúng dường, gọi là Phật kị. Tại Nhật bản, hội Niết bàn thông thường có thêm 4 pháp hội nữa là: Niết bàn giảng, La hán giảng, Di tích giảng và Xá lợi giảng. Đơn giản nhất cũng phải tổ chức 1 trong 4 giảng này. [X. điều Phạm diễn na quốc trong Đại đường tây vực kí Q.1; Quảng hoằng minh tập Q.28; Thích thị yếu lãm Q.hạ; điều Phật thành đạo Niết bàn trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; môn Báo đảo trong Thiền lâm tượng khí tiên].

niết bàn hữu dư

Nirvana with remainder—See Niết Bàn (C) (1), and Hữu Dư Niết Bàn.

niết bàn kinh

Nirvana Sutra—Có hai bộ—There are two versions: 1) Tiểu Thừa—Hinayana: a) Phật Bát Nê Hoàn Kinh, do Bạch Pháp Tổ đời Tây Tấn dịch—The Mahaparinirvana Sutra, translated into Chinese by Po-Fa-Tsu from 290 to 306 A.D. of the Western Chin dynasty. b) Đại Bát Niết Bàn Kinh, do ngài Pháp Hiển dịch năm 118—The Mahaparinirvana Sutra, translated by Fa-Hsien around 118. c) Bát Nê Hoàn Kinh, dịch giả vô danh—The Mahaparinirvana Sutra, translator unknown. d) Tiểu Thừa Niết Bàn Kinh trong Kinh Trung Bộ—The Hinayana Nirvana Sutra in the Middle Length Discourses of the Buddha. 2) Đại Thừa—Mahayana: a) Phật huyết Phương Đẳng Bát Nê Hoàn Kinh, do ngài Pháp Hộ Đàm Ma La Sát đời Tây Tấn dịch sang Hoa ngữ khoảng những năm 256 đến 316 sau Tây Lịch—Caturdaraka-samadhi-sutra, translated into Chinese by Dharmaraksa of the Western Chin 256-316 A.D. b) Đại Bát Nê Hoàn Kinh, do ngài Pháp Hiển cùng với ngài Giác Hiền Phật Đà Bạt Đà La đời Đông Tấn dịch sang Hoa ngữ khoảng những năm 317 đến 420 sau Tây Lịch—Mahaparinirvana sutra, translated into Chinese by Fa-Hsien, together with Buddhabhadra of the Eastern Chin around 317-420 A.D. c) Tứ Đồng Tử Tam Muội Kinh: Do Xà Na Quật Đa đời Tùy dịch sang Hoa ngữ, khoảng những năm 589 đến 618 sau Tây Lịch—Caturdaraka-samadhi-sutra, translated into Chinese by Jnana-gupta of the Sui dynasty, around 589-618 A.D. d) Đại Bát Niết Bàn Kinh Bắc Bổn (đầy đủ) do Đàm Vô Sấm dịch sang Hoa ngữ vào khoảng những năm 423 sau Tây Lịch—The complete translation of the Mahaparinirvana Sutra, northern book, translated by Dharmaraksa, around 423 A.D. e) Đại Bát Niết Bàn Kinh Nam Bổn do hai nhà sư Trung Hoa là các ngài Tuệ Viễn và Tuệ Quân dịch sang Hoa ngữ—The Mahaparinirvana-sutra, produced in Chien-Yeh, the modern Nan-King, by two Chinese monks, Hui-Yen and Hui-Kuan, and a literary man, Hsieh Ling-Yun. ** For more information, please see Kinh Đại Bát Niết Bàn.

niết bàn kinh du ý

(涅槃經游意) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Cát tạng soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 38. Nội dung sách này lấy giáo nghĩa tông Tam luận làm chính để trình bày về đại cương của kinh Niết bàn. Toàn bộ chia làm 6 môn: Đại ý, Tông chỉ, Thích danh, Biện thể, Minh dụng và Liệu giản.

niết bàn kinh nghĩa kí

(涅槃經義記) Kinh sớ, 20 quyển, do ngài Tuệ viễn(chùa Tịnh ảnh) soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 55, 56. Nội dung sách này là giải thích bộ kinh Niết bàn (bản Bắc), trước hết nêu lên Thanh văn, Bồ tát và giáo lí Đốn, Tiệm để nói rõ về lập trường của soạn giả, kế đến giải thích đề kinh và sau cùng lần lượt theo văn kinh mà giải nghĩa.

niết bàn kinh nghĩa sớ

(涅槃經義疏) Kinh sớ, 15 quyển, do ngài Đàm diên (516-588) soạn vào đời Tùy. Theo ngài Đạo tuyên (596-667) đời Đường thì nội dung bộ sách này hay hơn bản Niết bàn kinh nghĩa kí của ngài Tuệ viễn (chùa Tịnh ảnh), nhưng rất tiếc là sách này đã bị thất lạc từ lâu. [X. Tục cao tăng truyện Q.18; Quảng hoằng minh tập Q.25].

niết bàn kỵ

Niết Bàn Hội—Lễ truy điệu Đức Phật nhập diệt vào ngày rằm tháng hai (treo tượng Niết Bàn, tụng Kinh Di Giáo)—The nirvana assembly, 2nd moon 15th day, on the anniversary of the Budha's death.

niết bàn lạc

Cảnh vui sướng ở Niết Bàn, một trong ba niềm an lạc—Nirvana-joy or bliss, one of the three kinds of joy. ** For more information, please see Tam Lạc. ; (涅槃樂) Cảnh giới đã thoát li sinh tử, rốt ráo an vui, 1 trong Tam lạc. Phẩm Dược thảo dụ kinh Pháp hoa (Đại 9, 20 thượng) nói: Khiến cho chúng sinh lìa hết các khổ, đều được sự an vui của thế gian và an vui của Niết bàn.

niết bàn môn

1) Cửa vào Niết Bàn: The gate or door into Nirvana. 2) Cửa bắc nghĩa địa: The northern gate of a cemetery. ; (涅槃門) I. Niết Bàn Môn. Chỉ cho Tịnh độ cực lạc, là chỗ chứng được diệu quả Niết bàn. II. Niết Bàn Môn. Chỉ cho hạnh niệm Phật và lòng tin đối với bản nguyện của đức Phật A di đà. Tông Tịnh độ chủ trương hạnh niệm Phật và lòng tin có khả năng chứng được quả Niết bàn, cho nên gọi là Niết bàn môn. III. Niết Bàn Môn. Chỉ cho cửa ở phương Bắc của Mạn đồ la Kim cương giới và Thai tạng giới Mật giáo.Trong Lưỡng giới Mạn đồ la đều có 4 cửa ở 4 phương, trong đó, cửa phương Bắc là Niết bàn môn, được phối với Thành sở tác trí trong 4 trí(Đại viên, Bình đẳng, Diệu quán, Thành sở)với Tịnh trong 4 đức (Thường, Lạc, Ngã, Tịnh), với Nhập trong 4 tri kiến Phật(Khai, Thị, Ngộ, Nhập)và với mùa Đông trong 4 mùa.

niết bàn nguyên lý

The Principle of Nirvana or Perfect Freedom. 1) Để hiểu đạo Phật một cách chính xác, chúng ta phải bắt đầu ở cứu cánh công hạnh của Phật. Năm 486 trước Tây Lịch, hay vào khoảng đó, là năm đã chứng kiến thành kết hoạt động của Đức Phật vói tư cách một đạo sư tại Ấn Độ. Cái chết của Đức Phật, như mọi người đều rõ, được gọi là Niết Bàn, hay tình trạng một ngọn lửa đã tắt. Khi một ngọn lửa đã tắt, không thấy còn lưu lại một chút gì. Cũng vậy, người ta nói Phật đã đi vào cảnh giới vô hình không sao miêu tả được bằng lời hay bằng cách nào khác: To understand Buddhism properly we must begin at the end of the Buddha's career. The year 486 B.C. or thereabouts saw the conclusion of theBuddha's activity as a teacher in India. The death of the Buddha is called, as is well known, 'Nirvana,' or 'the state of the fire blown out.' When a fire is blown out, nothing remain to be seen. So the Buddha was considered to have enetered into an invisible state which can in no way be depicted in word or in form. 2) Trước khi Ngài chứng nhập Niết Bàn, trong rừng Ta La song thọ trong thành Câu Thi Na, Ngài đã nói những lời di giáo nầy cho các đệ tử: “Đừng than khóc rằng Đức đạo sư của chúng ta đã đi mất, và chúng ta không có ai để tuân theo. Những gì ta đã dạy, Pháp cùng với Luật, sẽ là đạo sư của các ngươi sau khi ta vắng bóng. Nếu các người tuân hành Pháp và Luật không hề gián đoạn, há chẳng khác Pháp thân (Dharmakaya) của Ta vẫn còn ở đây mãi mãi: Just prior to his attaining Nirvana, in the Sala grove of Kusinagara, the Buddha spoke to His disciples to the following effect: “Do not wail saying 'Our Teacher has pased away, and we have no one to follow.' What I have taught, the Dharma (ideal) with the disciplinary (Vinaya) rules, will be your teacher after my departure. If you adhere to them and practice them uninterruptedly, is it not the same as if my Dharma-body (Dharmakaya) remained here forever?” 3) Dù có những lời giáo huấn ý nhị đó, một số đệ tử của Ngài đã nẩy ra một ý kiến dị nghị ngay trước khi lễ táng của Ngài. Do đó đương nhiên các bậc trưởng lão phải nghĩ đến việc triệu tập một đại hội trưởng lão để bảo trì giáo pháp chính thống của Phật. Họ khuyến cáo vua A Xà Thế lập tức ra lệnh cho 18 Tăng viện chung quanh thủ đô phải trang bị phòng xá cho các hội viên của Đại Hội Vương Xá: In spite of these thoughtful instructions some of his disciples were expressing a dissenting idea even before his funeral. It was natural, therefore, for the mindful elders to think of calling a council of elders in order to preserve the orthodox teaching of the Buddha. They consulted King Ajatasatru who at once ordered the eighteen monasteries around his capital to be repaired for housing the members of the coming Council of Rajagriha 4) Khi thời gian đã tới, năm trăm trưởng lão được chọn lựa cùng hợp nhau lại. Ông A Nan đọc lại kinh pháp (Dharma) và Upali đọc lại luật nghi (Vinaya). Thật ra không cần đọc lại các Luật, vì chúng đã được Phật soạn tập khi Ngài còn tại thế. Hội nghị đã kết tập tinh tấn về Pháp và Luật: When the time arrived five hundred selected elders met together. Ananda rehearsed the Dharmas (sutras) while Upali explained the origin of each of the Vinaya rules. There was no necessity of rehearsing the Vinaya rules themselves since they had been compiled during the Buddha's lifetime for weekly convocation for confessions. At the council a fine collection of the Dharma and the Vinaya was made, the number of Sutras was decided, and the history of the disciplinary rules was compiled. 5) Kết quả hoạt động của các trưởng lão được thừa nhận như là có thẩm quyền do những người có khuynh hướng chủ trương hình thức và thực tại luận. Tuy nhiên, có một số quan điểm dị biệt, Phú Lâu Na là một thí dụ, vị nầy sau bị giết chết lúc đang giảng pháp. Phú Lâu Na ở trong một khu rừng tre gần thành Vương Xá suốt thời đại hội, và được một cư sĩ đến hỏi, Ngài trả lời: “Đại hội có thể tạo ra một kết tập tinh tế. Nhưng tôi sẽ giữ những gì đã tự mình nghe từ Đức Đạo Sư của tôi.” Vậy chúng ta có thể cho rằng đã có một số người có các khuynh hướng duy tâm và tự do tư tưởng: The result of the elders' activity was acknowledged as an authority by those who had a formalistic and realistic tendency. There were , however, some who differed from them in their opinion. Purana, for instance, was skilled in preaching. Purana was in a bamboo grove near Rajagriha during the council, and, being asked by some layman, is said to have answered: “The council may produce a fine collection. But I will keep to what I heard from my teacher myself. So we may presume that there were some who had idealistic and free-thinking tendencies.

niết bàn nguyệt nhật

Ngày tháng Đức Thế Tôn nhập Niết Bàn, có nhiều thuyết, ngày rằm hay mồng 8 tháng hai; ngày mồng 8 tháng tám; ngày rằm tháng ba; ngày 8 tháng chín—The date of the Buddha's death, variously stated as 2nd moon 15th or 8th day; 8th moon 8th day; 3rd moon 15th day; and 9th moon 8th day.

niết bàn phong

Gió Niết Bàn đưa tín hữu vào nẻo Bồ Đề—The nirvana-wind which wafts the believers into bodhi. ; (涅槃風) Lí mầu nhiệm của Niết bàn có thể thổi đưa người đến đạo quả Bồ đề, giống như thuyền đi thuận gió, cho nên Niết bàn được ví như gió (phong). Kinh Niết bàn (bản Nam) quyển 9 (Đại 12, 662 thượng) nói: Lúc ấy, bỗng gặp gió Niết bàn Đại thừa thuận chiều thổi thẳng vào Vô thượng chính đẳng chính giác.

niết bàn phược

Hệ phược của niết bàn hay niềm vui bám víu vào niết bàn mà không chịu vào Bồ tát địa để làm lợi cho chúng sanh—The fetter of nirvana, i.e. the desire for nirvana, which hinders entry upon the Bodhisattva life of saving others.

niết bàn phần

Một phần của Niết Bàn—The part or lot of nirvana. ; (涅槃分) Chỉ cho phần vị của Niết bàn, cũng tức là nhân của Niết bàn. Phần là nói đối lại với Toàn và Mãn. Vãng sinh luận chú quyển hạ của ngài Đàm loan cho rằng, người phàm phu tuy có phiền não, nhưng cũng được vãng sinh, nghiệp trói buộc trong 3 cõi không thể lôi kéo được. Tức là không dứt phiền não mà vẫn được Niết bàn phần. Niết bàn phần có 3 nghĩa: 1. Do nghĩa chưa tròn đủ nên chỉ chứng được 1 phần Niết bàn. 2. Do nghĩa Nhân...mà được Niết bàn, tức là Nhân phần Niết bàn. 3. Do nghĩa tròn đủ vô ngại mà chứng Niết bàn, cũng tức là toàn phần vô ngại. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.5; Thành duy thức luận Qui kính tự].

niết bàn phật

1) Hình thức Niết Bàn của Phật (Ứng thân giáo hóa của Phật đã xong, lại thị hiện diệt độ)—The Nirvana-form of Buddha. 2) Niết Bàn Tượng: The sleping Buddha, i.e. the Buddha entering nirvana—See Niết Bàn Tượng. 3) See Câu Thi Na. ; (涅槃佛) Cũng gọi Niết bàn tượng. Tướng thị hiện diệt độ của Ứng thân Phật khi duyên hóa độ đã mãn, 1 trong 10 tướng Phật trong kinh Hoa nghiêm.

niết bàn phọc

(涅槃縛) Tham đắm cảnh Niết bàn an vui mà bỏ qua hạnh nguyện lợi ích chúng sinh. Đây là cảnh giới Niết bàn của Tiểu thừa. [X. kinh Kim cương tam muội]. (xt. Niết Bàn).

niết bàn sơn

Núi Niết Bàn vững chắc, đối lại với sự đổi thay của dòng luân hồi sanh tử—The steadfast mountain of nirvana in contrast with the changing stream of mortality. ; (涅槃山) I. Niết Bàn Sơn. Núi Niết bàn. Trong kinh Phật, núi thường được dùng để ví dụ Niết bàn và sông ví dụ sinh tử, vì thế có từ Sông sinh tử, Núi Niết bàn. Kinh Thiên thủ (Đại 20, 106 hạ) nói: Kính lạy đức Đại bi Quan thế âm, con nguyện sớm lên núi Niết bàn. II. Niết Bàn Sơn. Núi Niết bàn. Đức Phật nhập Niết bàn, giống như mặt trời khuất sau núi, cho nên núi được dùng để ví dụ Niết bàn. Đại nhật kinh sớ quyển 20 (Đại 39, 788 trung) nói: Củi duyên của chúng sinh đã hết, thì lửa phương tiện của Như lai cũng tắt, cho nên nhập Niết bàn. Mặt trời Phật đã ẩn sau núi Niết bàn, vì vậy thế gian tối đen.

niết bàn sắc

Màu sắc niết bàn, như màu đen tượng trưng cho hướng bắc—Nirvana-colour, i.e. black representing north. ; (涅槃色) Màu Niết bàn, tức màu đen. Mật giáo đem quá trình tu hành từ nhân đến quả chia làm 5 vị, 5 vị theo thứ tự mà chuyển, Niết bàn sẽ là hắc vị ở phương bắc (phương bắc thuộc màu đen), cho nên gọi màu đen là màu Niết bàn. (xt. Ngũ Chuyển).

niết bàn thành

Thành Niết Bàn, là nơi ở của các vị Thánh—The Nirvana city, the abode of the saints. ; (涅槃城) Thành Niết bàn. Theo các kinh luận, từ Niết bàn thành có 2 nghĩa: 1. Dùng thành để ví dụ Niết bàn: Niết bàn là nơi mà bậc Thánh đã chứng bất sinh bất diệt, đạt đến giải thoát an lạc cư trú, cho nên dùng thành để ví dụ. Luận Đại trí độ quyển 20 (Đại 25, 206 thượng) nói: Ba mươi bảy phẩm trợ đạo là con đường dẫn tới Niết bàn; đi hết con đường ấy là đến được thành Niết bàn. Theo ý nghĩa trong đoạn văn trích trên đây, thì thành Niết bàn là cảnh giới sau khi chứng ngộ. 2. Chỉ cho thế giới Cực lạc: Vì Cực lạc là cõi Niết bàn vô vi, cho nên là đô thành của diệu quả Niết bàn tịch tĩnh. Như trong kinh thường nói Mệnh hết, vào thẳng thành Niết bàn, tức là sau khi mạng chung, sinh về thế giới Cực lạc. [X. kinh Trường a hàm Q.4; kinh Lăng nghiêm Q.10].

niết bàn thánh

Tên thường gọi của ngài Đạo Sinh đời Tần tìm thấy bộ Niết Bàn Kinh Lược Bản, phát minh ra nghĩa Phật thân thường trụ—AKA of T'ao-Shêng, pupil of Kumarajiva, who translated part of the Nirvana sutra, asserted the eternity of Buddha. ; (涅槃聖) Chỉ cho Pháp sư Đạo sinh. Ngài Đạo sinh nghiên cứu kinh Phật thuyết đại niết bàn (bản 6 quyển) do ngài Pháp hiển dịch, rồi nêu ra thuyết Xiển đề thành Phật. Lúc đầu, người nghe không tin lời ngài nói, vả lại, bị các học giả chê trách. Nhưng về sau, bộ kinh Đại bát niết bàn do ngài Đàm vô sấm dịch được phổ biến, mọi người mới biết thuyết Xiển đề thành Phật của ngài phù hợp với thuyết trong kinh, lúc đó mới thán phục và ca ngợi ngài Đạo sinh là Thánh Niết bàn. [X. Niết bàn huyền nghĩa Q.thượng].

niết bàn thực

Thực phẩm Niết Bàn, lấy dục vọng làm củi đốt, lấy trí huệ làm lửa, hai thứ chuẩn bị nấu thực phẩm Niết Bàn—Nirvana food; the passions are faggots, wisdom is fire, the two prepare nirvana as food. ; (涅槃食) Cũng gọi Niết bàn phạn. Dùng cơm để ví dụ Niết bàn. Kinh Niết bàn (bản Nam) quyển 4 (Đại 12, 625 hạ) nói: Phiền não là củi, trí tuệ là lửa, dùng củi và lửa để nấu thành cơm Niết bàn.

Niết Bàn Tông

(涅槃宗, Nehan-shū): tên gọi của một trong 13 tông phái lớn của Phật Giáo Trung Quốc, học phái dựa trên cơ sở của Niết Bàn Kinh (s: Mahāparinirvāṇasūtra, 涅槃經) của ĐạiThừa để chuyên nghiên cứu vàtuyên dương giáo nghĩa gọi là Nhất Thiết Chúng Sanh Tất Hữu Phật Tánh (一切眾生悉有佛性, hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh) và Phật Thân Thường Trụ (佛身常住) của kinh này. Trong phẩm Kim Cang Thân (金剛身) của kinh này có đọan rằng: "Thân Như Lai là thân thường trụ, bất sanh bất diệt, là thân kim cang vĩnh viễn bất hoại, tức đây là Pháp Thân." Lại nữa, trong phẩm Sư Tử Hống Bồ Tát (師子吼菩薩) cũng có đoạn ghi rõ rằng: "Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh như nhau, chính hạng Nhất Xiển Đề cũng có Phật tánh và có thể thành Phật." Kinh Đại Niết Bàn của Đại Thừa có 2 bản là Bắc bản và Nam bản. Đàm Vô Sấm (曇無讖, 385-433) dịch bộ Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經) gồm 40 quyển xong vào năm 421 ở Bắc Kinh, và nó được truyền đến Giang Nam vào năm 430. Sau đó Huệ Quán (慧觀), Huệ Nghiêm (慧嚴, 363-433) và Tạ Linh Vận (謝靈運, 385-433) mới lấy bộ này đối chiếu với bộ Đại Bát Nê Hoàn Kinh (大般泥洹經) gồm 6 quyển do Pháp Hiển (法顯, 340?-?) dịch, và tu sửa rồi gom lại thành 36 quyển. Cho nên bộ do Đàm Vô Sấm dịch gồm 40 quyển thì được gọi là Bắc Bản Niết Bàn Kinh, và bộ sau do ba người kia hiệu đính và biên tập lại thành 36 quyển thì được gọi là Nam Bản Niết Bàn Kinh. Bắc Bản được truyền sang Giang Nam vàđược Đạo Sanh (道生) đón nhận, nên việc nghiên cứu về Niết Bàn Kinh trở nên thịnh hành và Niết Bàn Học Phái của phương Nam ra đời. Đến thời nhà Đông Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần của Nam Bắc Triều thì phong trào nghiên cứu Niết Bàn Kinh đã lên đến thời kỳ hưng thạnh tột đỉnh; nhưng đến thời đầu nhà Đường thì do vì Tam Luận Tông, Pháp Tướng Tông và Hoa Nghiêm Tông hưng thạnh, nên tông này bước vào thời kỳ suy vong của nó. Tông này cũng được truyền vào Nhật dưới thời Nại Lương ở Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji) và Đại An Tự (大安寺, Daian-ji). Có ký lục cho biết rằng tông này được gọi là Thường Tu Đa La Tông (常修多羅宗), nhưng không được chấp nhận như là một tông phái chính thống độc lập như các tông phái khác.

niết bàn tông

Tông phái dựa vào Kinh Niết Bàn (một trong 13 tông phái Phật giáo Trung Quốc). Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, dù việc nghiên cứu kinh Niết Bàn phát khởi ở cả hai miền Nam và Bắc, nhưng Niết Bàn tông lại được thành lập ở phương Nam, vì đa số học giả có tài năng đều quy tụ ở phương Nam. Về sau nầy khi tông Thiên Thai được thành lập thì Tông Niết Bàn được sáp nhập vào tông Thiên Thai—The school based on the Mahaparanirvana Sutra, one of the thirteen sects in China (Đại Bát Niết Bàn Kinh). According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, although the study of the Nirvana text started and continued in the South and in the North, the Nirvana School was founded in the South where most of the able scholars lived. When the T'ien-T'ai School appeared, the Southern branch of the Nirvana Sect merged in the T'ien-T'ai Sect. ; (涅槃宗) Cũng gọi Thường tu đa la tông, Niết bàn học phái. Tên tông phái y cứ vào kinh Niết bàn mà được thành lập, tổ khai sáng là ngài Đàm vô sấm, 1 trong 13 tông phái ở Trung quốc; hoằng truyền giáo chỉ Hết thảy chúng sinh đều có Phật tính và Như lai thường trụ, không có biến đổi. Trước hết, Pháp sư Đạo sinh, học trò của ngài Cưu ma la thập, nghiên cứu 6 quyển kinh Đại bát niết bàn do các ngài Pháp hiển và Phật đà bạt đà la cùng dịch vào đời Đông Tấn, nêu ra luận thuyết Xiển đề thành Phật, bị các học giả bài bác kịch liệt, sư phải lánh xuống miền Nam, sáng lập chùa Long quang tại Kiến khang, sau lại dời đến Lô sơn. Ba năm sau, tức là vào năm Vĩnh sơ thứ 2 (421) đời Vũ đế nhà Lưu Tống, ngài Đàm vô sấm ở Lương châu dịch kinh Đại bátniết bàn 40 quyển, trong đó nêu rõ thuyết Xiển đề thành Phật, bấy giờ các học giả mới thán phục thuyết của Pháp sư Đạo sinh và học theo luận thuyết của ngài. Trong Pháp hoa kinh sớ quyển thượng của mình, ngài Đạo sinh lập thuyết Tứ chủng pháp luân, xiển dương diệu lí thường trụ trong kinh Niết bàn và gọi đó là Đệ tứ vô dư pháp luân. Ngài Đàm vô sấm thì chẳng những theo đuổi sự nghiệp phiên dịch, mà còn hết lòng hoằng truyền, giảng thuyết để đẩy mạnh việc nghiên cứu kinh Niết bàn. Các ngài Đạo lãng, Sùng trí v.v... cũng ra sức giúp đỡ ngài Đàm vô sấm trong sự nghiệp này. Trong Đại thừa huyền luận quyển 3, ngài Cát tạng có đề cập đến Niết bàn nghĩa sớ do ngài Đạo lãng soạn, giải thích về bản dịch kinh Niết bàn của ngài Đàm vô sấm và đề xướng thuyết Trung đạo là Phật tính. Ngoài ra, ở miền Nam có ngài Tuệ quán ở chùa Đạo tràng, tiếp nối chí nguyện của ngài Đàm vô sấm, muốn tìm kiếm kinh Niết bàn bản tiếng Phạm, sau đó, có các ngài Đạo phổ... đi Tây trúc tìm cầu, nhưng không đạt được mục đích. Bấy giờ, các ngài Tuệ quán, Tuệ nghiêm và cư sĩ Tạ linh vận cùng vâng sắc của vua Văn đế nhà Lưu Tống, tham cứu kinh Đại bát nê hoàn do các ngài Pháp hiển và Phật đà bạt đà la cùng dịch, kinh Đại bát niết bàn do ngài Đàm vô sấm dịch, châm chước, sửa chữa, nhuận sắc và sắp xếp lại các phẩm mục mà thành kinh Nam bản Niết bàn gồm 36 quyển, đối lại với kinh Bắc bản Niết bàn do ngài Đàm vô sấm dịch. Từ đó, miền Bắc dùng bản Bắc, miền Nam dùng bản Nam. Trong khoảng các đời Tống, Tề, Lương, Trần, Tùy có nhiều học giả nối gót nhau nghiên cứu, chú giải, giảng thuyết kinh Niết bàn, tạo thành nền học vấn rực rỡ 1 thời. Lương Vũ đế đặc biệt tôn sùng kinh Niết bàn. Nhà vua thường tuyên giảng kinh này ở chùa Đồng thái và tu Sám pháp Niết bàn. Năm Thiên giám thứ 8 (509), vua sắc lệnh ngài Bảo lượng soạn bộ Niết bàn kinh nghĩa sớ hơn 10 vạn lời. Sang đời Tùy thì có các ngài Đàm diên, Tuệ viễn, Đạo xước, Pháp lệ... Rồi đến đời Đường thì có các ngài Linh nhuận, Đạo hồng, Đạo tuyên, Pháp bảo... tiếp tục giảng thuyết và truyền bá rộng rãi kinh Niết bàn. Những chú sớ về kinh Niết bàn của các học giả thời ấy được ngài Bảo lượng thu tập thành bộ Đại bát niết bàn kinh tập giải, 71 quyển, còn được truyền đến ngày nay, nhờ đó mà biết được học thuyết thành lập tông Niết bàn của các học giả đương thời.Về phán giáo của tông Niết bàn, đầu tiên có ngài Tuệ quán chủ trương kinh Niết bàn là giáo pháp tột bậc của đức Phật, đề xướng Ngũ thời phán giáo, đây là lập theo thuyết Ngũ vị(nhũ, lạc, sinh tô, thục tô, đề hồ)trong kinh Niết bàn. Niết bàn kinh tập giải quyển 35, dựa theo thuyết của ngài Tăng lượng, cho rằng Phật giáo phát khởi từ Tiểu thừa, nên dùng Nhũ ví dụ cho Tam tạng; Lạc ví dụ cho tạp thuyết của Tam thừa; Sinh tô ví dụ cho Phương đẳng; Thục tô ví dụ cho Bát nhã; Đề hồ ví dụ cho kinh Niết bàn. Như vậy, Ngũ thời gồm có: Tiểu thừa, Tam thừa, Phương đẳng, Bát nhã và Niết bàn. Ngài Tăng tông thì đem chia giáo pháp do đức Phật nói trong 1 đời làm 5 thời: Tiểu thừa, Tam thừa thông giáo, Tư ích duy ma, Pháp hoa và Niết bàn. Ngài Bảo lượng thì đem Ngũ thời: Tiểu thừa, Thông giáo, Duy ma tư ích, Pháp hoa, Niết bàn phối hợp với Ngũ vị: Nhũ, Lạc, Sinh tô, Thục tô, Đề hồ giải thích tỉ mỉ, rõ ràng. Tóm lại, thứ tự phán giáo 5 thời của tông này tức là thứ tự về giá trị và cho đó là giáo pháp chân thực tột cùng, là bản hoài xuất thế của đức Phật. Và các thuyết như: Tất cả chúng sinh đều có Phật tính; Xiển đề đều được thành Phật; Phật có 4 đức: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh và Như lai tạng... là những giáo pháp chủ yếu của tông Niết bàn. Đến khi tông Thiên thai hưng khởi, ngài Trí khải dùng giáo quán của chính mình làm chuẩn và dùng kinh Niết bàn bổ trợ thêm cho kinh Pháp hoa, chỉ xem kinh Niết bàn là giáo pháp lượm lặt(nghĩa là giáo pháp chỉ cứu độ những người mà kinh Pháp hoa còn bỏ sót). Từ đó về sau, những người thuyết giảng và truyền bá kinh Niết bàn 1 cách độc lập mỗi ngày một ít đi, cuối cùng thì hết hẳn. Hiện nay chỉ có Hàn quốc và Nhật bản vẫn còn truyền thừa kinh này, nhưng chỉ truyền tông chỉ giáo lí và tôn thờ như 1 tín ngưỡng phổ thông vậy thôi, chứ không có nét gì đặc biệt của 1 tông phái.[X. Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện; Đại bát niết bàn kinh tập giải Q.1; Xuất tam tạng kí tập Q.8, 12; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.10, phần đầu; Quảng hoằng minh tập Q.28]. (xt. Ngũ Thời Giáo, Niết Bàn).

niết bàn tăng

Nivasana (skt)—Nê Hoàn Tăng—Nê Phược Ta Na—Quyết Tu La—Nội y của chư Tăng Ni—An inner garment of monks and nuns. ; (涅槃僧) Phạm: Nivàsana. Hán âm: Nê phạ ta na, Nê hoàn tăng. Hán dịch: Quần. Cái quần, 1 trong 13 vật dụng về y phục của chư tăng. Cứ theo Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 2, cách mặc quần của các bộ phái có khác nhau: Nhất thiết hữu bộ xấp đôi quần và 2 bên hướng ra ngoài; Đại chúng bộ thì nắm bên phải vắt qua bên trái, rồi luồn vào bên trong để khỏi rơi. Thượng tọa và Chính lượng bộ cũng mặc giống như Đại chúng bộ, chỉ khác là lật đường thẳng ra ngoài và vắt sang bên, cạp quần cũng khác. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 1; Đại đường tây vực kí Q.2; Tuệ lâm âm nghĩa Q.82].

niết bàn tướng

Tướng nhập diệt hóa thân thứ tám của Đức Phật, tức là tướng nhập diệt của Đức Thế Tôn (Đức Phật giáo hóa chúng sanh đến năm 80 tuổi thì hóa duyên hết, ngài liền đến giữa hai cây Ta La bên bờ sông Bạt Đề, tại thành Câu Thi Na, vùng trung Ấn Độ, thuyết giảng xong Kinh Niết Bàn rồi nhập diệt)—The 8th sign of the Buddha, his entry into nirvana, i.e. his death, after delivering “in one day and night” the Parinirvana Sutra. ; (涅槃相) Chỉ cho tướng nhập diệt của đức Thế tôn, 1 trong 8 tướng thành đạo của Phật. Sau 45 năm thuyết pháp hóa độ chúng sinh, nhân duyên hóa độ đã mãn, đức Phật đến khu rừng cây Sa la bên bờ sông Bạt đề, gần thành Câu thi na, nước Trung thiên trúc, nói kinh Đại bát niết bàn trong 1 ngày đêm. Sau đó, đức Phật nằm nghiêng bên hông phải, đầu quay hướng bắc, mặt xoay về hướng tây, vào Tứ thiền rồi xuất định mà nhập diệt. Bấy giờ các cây Sa la ở 4 bên nở toàn hoa màu trắng, giống như đàn chim bạch hạc đang đậu trên cây. Bấy giờ, tôn giả Đại Ca diếp và 500 vị đệ tử Phật đang ở trong núi Kì xà quật, gần thành Vương xá, biết tin đức Phật nhập diệt, liền đến đính lễ Ngài lần cuối cùng. Bảy ngày sau, các lực sĩ thuộc chủng tộc Mạt la (Phạm, Pàli: Malla) ở thành Câu thi na, rước kim quan của Phật đến nơi đồ tì, chất củi chiên đàn để thiêu, 7 ngày mới cháy hết. Vua chúa các nước đến chia nhau lấy xá lợi, đưa về xây tháp cúng dường. [X. kinh Trường a hàm Q.4; Tứ giáo nghĩa Q.7].

niết bàn tượng

Ứng thân giáo hóa của Phật đã xong, lại thị hiện diệt độ. Chỉ còn lại tượng Niết Bàn (lúc ngài nhập diệt an nhiên tự tại giống như lúc ngài nằm ngủ)—The sleeping Buddha, i.e. the Buddha entering nirvana. ; (涅槃像) Cũng gọi Niết bàn đồ, Ngọa Phật tượng, Thụy Phật tượng, Tẩm Thích ca. Tượng Niết bàn, thông thường vẽ hoặc khắc hình đức Thế tôn nằm ghiêng bên phải trên bảo đài, giữa 4 cây Sa la, đầu đặt trên gối quay về hướng bắc, dáng như nằm ngủ, bên cạnh có các Bồ tát, đệ tử Phật, quốc vương, đại thần, Thiên bộ, ưu bà tắc, quỉ thần, các loài súc sinh gồm 52 chúng và có cả thân mẫu đức Phật là phu nhân Ma da ở trong số đó. Tượng Niết bàn có thể dùng làm hội Niết bàn. Tại Ấn độ, di phẩm tượng Niết bàn xưa nhất hiện còn là pho tượng Phật nằm bằng đá, chiều dài khoảng hơn 6 mét, được tôn trí ở nhà Niết bàn thuộc Liên tỉnh Kasia về phía tây nam(cũng là nơi đức Phật nhập diệt). Theo bài minh khắc trên tượng cho biết, thì pho tượng này được tạc vào khoảng thế kỉ V. Lại theo điều Phạm diễn na quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 1, cách đô thành nước Phạm diễn na 23 dặm về phía đông, có 1 ngôi già lam, trong có thờ pho tượng Phật nhập Niết bàn, chiều dài hơn nghìn thước (Tàu), vua nước này thường cử hành đại hội Vô già trước tượng Niết bàn. Tượng Niết bàn lớn hơn nghìn thước như vậy, xưa nay thực ít thấy. Ngoài ra, ở động 26 tạiAjantàcũng có pho tượng Phật Niết bàn nổi tiếng, là di phẩm được điêu khắc vào thời đại Cấp da. Tại Trung quốc, tư liệu ghi chép về việc kiến tạo tượng Niết bàn sớm nhất là Pháp uyển tạp duyên nguyên thủy tập mục lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 12, trong đó có nói: Trần Thái phi của Minh đế nhà Tống tạo tượng Niết bàn ở chùa Pháp luân và Tuyên phác. Nhưng, các tượng ấy hiện nay không còn. Các pho tượng Niết bàn tương đối nổi tiếng ở Trung quốc hiện nay là tượng ở bức vách phía đông của hang thứ 6 trong động Vân cương tại Đại đồng và tượng ở hang thứ 19 của động Thiên Phật tại Đôn hoàng(tượng này được tạo lập vào đời Đường và được xem là kiệt xuất trong các tượng Niết bàn), hang thứ 120 và hang thứ 135... [X. Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.38, Quảng hoằng minh tập Q.17; Đại đường tây vực kí Q.6; Thích ca phương chí Q.thượng].

niết bàn tượng mạn đà la

(涅槃像曼陀羅) Mạn đồ la dựa theo sự miêu tả trong các kinh mà vẽ các cảnh tượng lúc đức Phật nhập Niết bàn như sau: 1. Đức Phật nằm nghiêng trên giường báu, 52 chúng buồn thương đứng vây chung quanh. 2. Trong đám mây giữa hư không có tôn giả A na luật cầm tích trượng đứng ở trước, có vô số người trời theo sau tôn giả đang di xuống.(Theo kinh Ma ha Ma da quyển hạ, sau khi đức Như lai vào Niết bàn, tôn giả A na luật lên cung trời Đao lợi báo tin cho phu nhân Ma da biết, phu nhân nghe xong buồn rầu tưởng nhớ và bay xuống rừng cây Sa la). 3. Đức Phật nằm quay đầu về hướng bắc dưới cây Sa la, trên cành cây Sa la treo cái túi bát và tích trượng của đức Phật. Túi bát và tích trượng này đã được giao cho tôn giả A nan trước khi đức Phật nhập diệt. 4. Dưới chân đức Phật có 2 người già ôm chân Phật mà khóc, họ tủi thân vì nghèo khó không thể cúng dường đức Phật. 5. Trước đức Phật có 1 vị tỉ khưu nằm bất tỉnh, đó là tôn giả A nan vì quá buồn đau thương nhớ nên đã ngã lăn mê man trước đức Thế tôn, chúng tăng và tôn giả A na luật đang an úy Ngài. 6. Đại lực sĩ thương khóc chết ngất. Đó là lực sĩ Kim cương thường theo hầu đức Phật.[X. kinh Bồ tát xử thai Q.1; kinh Đại niết bàn Q.hạ; kinh Phật nhập Niết bàn Mật tích kim cương lực sĩ ai luyến].

niết bàn tế

Vùng hay khu vực niết bàn, đối lại với vùng của luân hồi sanh tử—The region of nirvana in contrast with the region with mortality or samsara (luân hồi sanh tử).

niết bàn tịch tĩnh ấn

1) Pháp ấn Niết Bàn tịch tĩnh, một trong ba pháp ấn là vô thường, vô ngã và niết bàn—The seal or teaching of nirvana (one of the three proofs that the sutra was uttered by the Buddha, its teaching of impermanence, non-ego, and nirvana). 2) Ấn khế bảo chứng để được chứng quả niết bàn: The witness within to the attainment of nirvana.

niết bàn tịnh xaù

Tên của một tịnh xá nổi tiếng trong thị xã Vũng Tàu. Tịnh xá được xây dựng vào năm 1969 trên triền núi Nhỏ ở Vũng Tàu và hoàn tất năm 1974. Tịnh xá gồm bốn tầng lầu, diện tích 1.000 mét vuông. Ở cổng vào tịnh xá có bức phù điêu long mã cao 4 mét, rộng 2 mét, làm bằng nhiều mảnh sứ tráng men bể ghép lại. Đối diện là cây trụ phướn cao 21 mét, có 42 tầng, cũng ốp bằng những mảnh sứ tráng men bể có màu vàng đỏ, phía trên đầu chia thành hình ba nhánh sen. Ở chánh điện có tượng Phật Thích Ca nhập Niết Bàn, dài 12 mét, màu nâu hồng. Trên tầng ba có thuyền Bát Nhã đầu rồng, làm bằng xi măng đắp gạch men đủ màu, dài 12 mét. Tịnh xá còn giữ chiếc lư chạm hình tứ linh vật, đắp bằng các mảnh sứ bể rất công phu và khéo léo. Tịnh xá còn có một đại hồng chung cao 3 mét 8, nặng 3 tấn 5—Name of a famous monastery, located in Vũng Tàu City. The monastery was built in 1969 on a slope of Mount Nhỏ and completed in 1974. The monastery consists of four floors built on an area of 1,000 square meters. At the gateway, there is a bas-relief of a horse-dragon, 4 meters high, 2 meters wide, made of pieces of broken China earthernware. Across the bas-relief is a pennon pillar, 21 meters high, , with 42 stairs with yellow and red enamelled tiles. On the upper part of the pilar emerge three branches of lotus. The statue of Buddha at His Parinirvana, 12 meters in height and pinkish brown in colour, is worshipped in the Main Hall. A dragon-deaded boat named Prajna, 12 meters long, is made of cement covered by multicoloured enamelled tiles and placed on the third floor. The monastery has still kept an incense burner having the shape of the four sacred animals. It was cast painstakingly by pieces of broken China earthernware. A great bell of 3.8 meters in height, 3.8 meters in circumference and 3.5 tons in weight is also placed in the monastery.

niết bàn tứ chủng đại lạc

(涅槃四種大樂) Bốn niềm vui lớn của Niết bàn. Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 23 (bản Bắc) thì Niết bàn có 4 cái vui lớn là: 1. Vô khổ lạc: Không có khổ, vui, cái vui của thế gian chính là nguyên nhân của khổ, Niết bàn không có khổ, vui; vì đã dứt được khổ và vui của thế gian. 2. Đại tịch tĩnh lạc: Cái vui tịch lặng. Nghĩa là tính của Niết bàn xa lìa tất cả các pháp ồn ào, náo loạn. 3. Đại tri lạc: Cái vui hiểu biết rộng lớn. Nghĩa là chư Phật, Như lai có trí tuệ rộng lớn, thấy biết tất cả các pháp. 4. Bất năng hủy hoại: Cái vui không bị hủy hoại. Nghĩa là thân của Như lai giống như kim cương, không thể hủy hoại được, chứ không phải là thân của phiền não vô thường. Vì thân bất hoại nên là vui lớn.

niết bàn vô dư

Nirvana without remainder—See Niết Bàn (C)(2), and Vô Dư Niết Bàn.

niết bàn điểm

(涅槃點) Dấu 2 chấm (:) thêm vào bên phải của chữ Tất đàm. Hai cái chấm này không có chữ riêng, nên sau khi được thêm vào bên phải của chữ (a) thì thường được gọi là (a#, ác). Chữ này trong Ngũ chuyển biểu thị cho đức Nhập Niết bàn, thế nên 2 cái chấm (:) thêm vào được gọi là Niết bàn điểm (chấm Niết bàn). Lại vì lửa Niết bàn có công năng đốt cháy sinh tử, cho nên cũng gọi là Viêm điểm(chấm lửa). Theo Đại nhật kinh sớ quyển 14, thì 8 chữ: (ya), (ra), (la), (va), (za), (wa), (sa), (ha), khi thêm 2 cái chấm vào bên cạnh thì chúng biểu thị nghĩa trừ bỏ và những cái chấm ấy đều được gọi là Niết bàn điểm. Còn âm của 8 chữ trên thì gọi là Niết bàn thanh(tiếng Niết bàn).

niết bàn đài

(涅槃台) Cũng gọi Hóa đàn. Cái nền cao dùng để đặt di hài của vị tăng quá cố lúc hỏa táng. Điều Đồ tì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 3 (Đại 48, 1128 hạ) nói: Lễ táng đưa đến đài Niết bàn.

niết bàn đường

Diên Thọ Đường—Tĩnh Hành Đường—Vô Thường Viện—Nơi đưa chư Tăng đau nặng đến để nhập diệt, về hướng mặt trời lặn, góc tây bắc của tự viện—The nirvana hall, or dying place of a monk in a monastery, in the direction of the sunset at the north-west corner. ; (涅槃堂) Cũng gọi Diên thọ đường, Diên thọ viện, Diên thọ liêu, Trọng bệnh các, Tỉnh hành đường, Vô thường viện, Tương tức liêu.Nơi dưỡng bệnh trong tùng lâm. Thời xưa, trong các tùng lâm, những vị tăng cao tuổi được đưa đến nhà An dưỡng, những vị bệnh tăng thì được đưa vào nhà dưỡng bệnh để được chăm sóc. [X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.30; Thiền lâm tượng khí tiên Q.2].

niết bàn đầu

(涅槃頭) Cũng gọi Diên thọ đường chủ. Chức vụ trông coi nhà Niết bàn, nơi dưỡng bệnh của các vị bệnh tăng ở trong chùa. [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].

niết bàn ấn

See Niết Bàn Tịch Tĩnh Ấn. ; (涅槃印) I. Niết Bàn Ấn. Gọi đủ: Niết bàn tịch tĩnh ấn. Một trong 3 pháp ấn. Hết thảy chúng sinh khởi lên phiền não, tạo tác các nghiệp, bị trôi lăn trong 3 cõi, chịu khổ sinh tử, vì thế đức Phật quyết định nói lí Niết bàn tịch tĩnh, khiến chúng sinh lìa khổ sinh tử phiền não, diệt hết tất cả các nghiệp, đạt đến cảnh giới tịch lặng vô vi. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.8]. II. Niết Bàn Ấn. Ấn khế chứng minh đã đạt được quả Niết bàn.Kinh Đại tập quyển 53 (Đại 13, 354 thượng) nói: Nếu có chúng sinh theo ta xuất gia, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca sa, dù chẳng giữ giới cũng được ấn chứng Niết bàn.

niết ca la

Niskala (skt). 1) Tuyệt chủng tử: Không hột—Seedless. 2) Bất khả phân: Indivisible. 3) Sống trong giây phút ngắn ngủi: A short time to live. 4) Một thời gian ngắn: A short time. 5) Tạm thời: Temporary. ; (涅迦羅) Phạm: Niskàla. Hán dịch: Tam thời. Thành duy thức luận xu yếu quyển thượng, phần đầu (Đại 43, 610 hạ) ghi: Phạm: Niết ca la a ba lợi nặc phạ nam đạt ma. Niết là tạm, ca la là thời, a là vô, ba lợi là viên, nặc phạ nam là tịch, đạt ma là pháp, nghĩa là tạm thời không có pháp viên tịch.

niết già đa

(涅伽多) Phạm: Nirghàta. Hán dịch: Thiên cẩu. Chỉ cho cuồng phong, bão táp, sấm vang, sét đánh làm cho long trời lở đất. Đại nhật kinh sớ quyển 5 (Đại 39, 634 trung) nói: Quyến thuộc Nhật thiên phân bố các Chấp diệu ở các nơi (...); còn ở phía nam của Nam vĩ tuyến thì đặt Niết già đa, tức là Thiên cẩu. Từ ngữ Thiên cẩu(chó trời) có nghĩa là sét đánh thình lình, cũng giải thích là sao băng, tức là sao Tích lịch trong quyến thuộc của Nhật thiên được vẽ trong Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Trong Cựu đồ dạng thì vẽ hình thần Sấm, thần Sét.

niết lí để vương

(涅哩底王) Niết lí để, Phạm: Nirfti. Cũng gọi Nê lí để vương, Nễ lí để vương. I. Niết Lí Để Vương. Tên vị nữ thần trong thần thoại Ấn độ cổ đại, tượng trưng cho những sự phá hoại, tai họa, bất hạnh... nên thường được coi như nữ tử thần Phạm:Mftyu). Ngoài ra, nữ thần này còn bị coi là thần Ba da (Phạm: Bhaya), chủ về tật bệnh, nguy hiểm, khủng bố, hoặc là mẹ của địa ngục. Niết lí để vương có uy lực rất lớn, thậm chí còn khủng khiếp hơn cả tai họa và trở thành người chi phối địa phủ. II. Niết Lí Để Vương. Trong Mật giáo, Niết lí để vương được chuyển làm nam thần, gọi là La sát thiên, tên 1 quỉ vương, tay cầm dao nhọn, hình tướng trông rất đáng sợ. (xt. La Sát Thiên).

niết lý để

Nirrti (skt). 1) Sự hoại diệt: Destruction. 2) Vị Nữ Thần của tử thần và sự hoại diệt, cai quản phía tây nam (Thần Niết Lý): The goddess of death and corruption, regent of the south-west.

niết lý để phương

Hướng tây nam—The south-west quarter.

niết mạt

Nimat or Calmadana (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Niết Mạt là một vương quốc và thành phố cổ, nằm về phía đông nam biên giới sa mạc Gobi—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Calmadana is an ancient kingdom and city at the south-east borders of the desert of Gobi.

Niết-bàn

phiên âm từ Phạn ngữ là Nirvṇa (Pli: Nibbna), tạm dịch nghĩa là tịch diệt, an lạc, giải thoát. Đây là mục đích cuối cùng của người tu học Phật. Mỗi tông phái trong đạo Phật hiểu Niết-bàn theo một cách không hoàn toàn giống nhau, nhưng nói chung đều nhìn nhận đây là kết quả cao nhất của việc tu tập. Không nên hiểu Niết-bàn theo nghĩa hư vô, trống rỗng như nhiều người vẫn thường lầm tưởng. Cũng không nên hiểu đây chỉ là từ đơn giản thay cho các từ khác như chết, viên tịch... Thật ra, Niết-bàn là một cảnh giới rốt ráo được Phật miêu tả trong rất nhiều kinh điển Đại thừa, qua đó có thể hiểu là cảnh giới giải thoát tuyệt đối, dứt sạch mọi triền phược và hòa nhập vào thể tánh thường tồn của vạn hữu. ; 涅槃; S: nirvāṇa; P: nibbāna; C: nièpán; J: nehan; dịch nghĩa là Diệt (滅), Diệt tận (滅盡), Diệt độ (滅度), Tịch diệt (寂滅), Bất sinh (不生), Viên tịch (圓寂), Giải thoát (解脫), Vô vi (無爲), An lạc (安樂);|Tiếng phiên âm tương đương với chữ nibban thuộc hệ ngôn ngữ Ấn âu thông dụng; 1. Tình trạng ngọn lửa phiền não; đã bị dập tắt; 2. Là động từ, có nghĩa là nhập niết-bàn; 3. Vô vi.|Niết-bàn mục đích tu hành của mọi trường phái Phật giáo. Trong đạo Phật nguyên thuỷ, Niết-bàn được xem là đoạn triệt Luân hồi (saṃsāra) và đi vào một thể tồn tại khác. Ðó là sự tận diệt gốc rễ của ba nghiệp Bất thiện (s: akuśala) là tham, sân và si. Ðồng thời Niết-bàn có nghĩa là không còn chịu sự tác động của Nghiệp (s: karma), không còn chịu quy luật nhân duyên, Vô vi (s: asaṃkṛta), đặc tính của nó là thiếu vắng sự sinh, thành, hoại, diệt.|Với sự xuất hiện của Ðại thừa (s: mahāyā-na), người ta có một quan điểm mở rộng của Niết-bàn dựa trên khái niệm Bồ Tát (s: bo-dhisattva) và trên tính nhất thể của vạn vật. Niết-bàn được xem là sự thống nhất với cái Nhất thể tuyệt đối (sự bình đẳng của chúng sinh; s: sattvasamatā) đó, sự thống nhất của luân hồi với »dạng chuyển hoá« của nó. Ở đây Niết-bàn được xem như sự lưu trú trong tính tuyệt đối, sự an lạc khi thấy mình cùng một thể với tuyệt đối, khi thấy mình giải thoát khỏi mọi ảo giác, mọi biến tướng, mọi tham ái.|Nhiều người hiểu Niết-bàn chỉ là một cõi hư vô tịch diệt. Ngay Phật giáo nguyên thuỷ đã bác bỏ quan niệm đó. Trong nhiều kinh sách, người ta mô tả Niết-bàn như một »ngọn lửa đã tắt«: Phật giáo quan niệm ngọn lửa tắt không có nghĩa là nó hoại diệt, nó đi vào Hư không (s: ākāśa), trở thành vô hình, thì như thế, Niết-bàn không phải là sự hoại diệt, đó là tình trạng đi vào một sự tồn tại khác. Như lửa phát sinh từ hư không và trở về với hư không, thì Niết-bàn là một tình trạng của tâm thức trở về với một cõi xứ không chịu sự sinh diệt. Ðó là một tình trạng không có một vị trí địa lí, mà là một dạng siêu việt, Xuất thế (出世; s: lokottara) và chỉ có những hành giả đã đạt mới biết được. Vì vậy, trong đạo Phật nguyên thuỷ, Niết-bàn hầu như được hiểu xa cách thế gian, giải thoát khỏi phiền não.|Trong một số kinh sách khác, Niết-bàn được hiểu là sự »an lạc« nhưng phần lớn được hiểu là sự giải thoát khỏi cái Khổ (s: duḥkha). Vì không có ngôn ngữ để diễn tả Niết-bàn, đó là phạm vi nằm ngoài ngôn ngữ và lí luận, nên có nhiều người hiểu Niết-bàn theo quan niệm hư vô. Cách thế dễ tiếp cận nhất về Niết-bàn là hiểu sự tồn tại là một tình trạng đầy dẫy khổ đau và Niết-bàn là dạng tồn tại thiếu vắng sự khổ đau đó. Ðối với hành giả Phật giáo thì định nghĩa liệu Niết-bàn là một dạng tồn tại thật sự hay chỉ là cõi tịch diệt không hề quan trọng. Vì lí do này mà Phật Thích-ca từ chối mọi mô tả về Niết-bàn.|Trong Tiểu thừa (s: hīnayāna), người ta phân biệt hai loại Niết-bàn:|1. Hữu dư niết-bàn (有餘涅槃; s: sopadhi-śeṣa-nirvāṇa; p: savupadisesa-nibbāna): Niết-bàn còn tàn dư, Niết-bàn trước khi tịch diệt. Niết-bàn này là trạng thái của các bậc thánh nhân đã dứt bỏ mọi Phiền não, không còn tái sinh. Các vị này còn sống trên đời nên vẫn còn Ngũ uẩn, còn có nhân trạng nên gọi »hữu dư«. Trong Hữu dư niết-bàn hành giả còn khổ vì còn chịu nghiệp cũ. Có lúc hành giả thoát được cái khổ đó một cách tạm thời trong một số tình trạng thiền định nhất định. Từ quan điểm Hữu dư Niết-bàn này của Tiểu thừa mà phát sinh khái niệm Niết-bàn vô trụ (s: apratiṣṭhita-nirvāṇa) của Ðại thừa.|2. Vô dư niết-bàn (無餘涅槃; s: nirupadhi-śeṣa-nirvāṇa; p: anupadisesa-nibbāna): là Niết-bàn không còn Ngũ uẩn (s: pañca-skan-dha), Mười hai xứ (s, p: āyatana), mười tám Giới (s, p: dhātu) và các Căn (indriya). Niết-bàn vô dư đến với một vị A-la-hán sau khi chết, không còn tái sinh. Loại Niết-bàn này cũng được gọi là Niết-bàn toàn phần hay Bát-niết-bàn (般涅槃; s: parinirvāṇa).|Ngay trong Tiểu thừa thì quan điểm của mỗi phái cũng khác nhau. Nhất thiết hữu bộ (s: sar-vāstivāda) luận về Niết-bàn với khái niệm khả quan, cho rằng Niết-bàn là thể không sinh thành hoạt diệt, có thể dần dần đạt đến bằng cách loại trừ khổ. Cứ diệt một loại khổ thì đạt được một cảnh giới của Niết-bàn. Vì thế mà có nhiều loại Niết-bàn và hầu như Niết-bàn là một cảnh giới cụ thể. Ðối với Kinh lượng bộ (sautrāntika) thì Niết-bàn chỉ là dạng chấm dứt khổ, nhưng không phải là một cảnh giới vĩnh hằng. Ðộc Tử bộ (s: vātsīputrīya) cho rằng có một cá nhân (s: pudgala) thường còn, hiểu Niết-bàn là cõi mà cá nhân đó tiếp tục tồn tại. Ðối với Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika) – được xem là tiền thân của phái Ðại thừa – thì khái niệm Niết-bàn vô dư không còn quan trọng nữa. Từ đây các bộ phái sau bắt đầu phát triển và sử dụng danh từ Vô trụ niết-bàn (s: apratiṣṭhita-nirvāṇa). Ðó là trạng thái Niết-bàn của các vị Phật đã thoát khỏi ràng buộc của thế gian nhưng chưa muốn hoàn toàn tịch diệt.|Trong Ðại thừa, người ta nhấn mạnh đến tính chất Bồ Tát nhiều hơn và vì thế khái niệm Niết-bàn không được đề cao nhưng vẫn là mục đích cao nhất trên đường giải thoát. Không có tông phái Ðại thừa nào xem Bồ Tát là mức cuối cùng của Phật đạo; đối với Bồ Tát, việc »nhập Niết-bàn« chỉ được »hoãn lại« sau khi toàn thể chúng sinh đều được giải thoát. Theo quan điểm Ðại thừa, Niết-bàn là sự thống nhất với cái tuyệt đối, không phải chỉ mỗi một cá nhân mà với mọi hiện tượng và vì vậy, Ðại thừa không thấy sự khác biệt giữa Niết-bàn và sinh tử. Ở đây, người ta phân biệt hai loại Niết-bàn: Vô trụ niết-bàn (s: apratiṣṭhitanirvāṇa) và Thường trụ niết-bàn (s: pratiṣṭhita-nirvāṇa; »thường trụ« ở đây với ý nghĩa cố định, bất động).|Trong các phái Ðại thừa, quan niệm về Niết-bàn cũng khác nhau: phái Trung quán (s: mādhyamika) cho rằng, Niết-bàn nằm trong tính Không (s: śūn-yatā), đó là sự »chấm dứt cái thiên hình vạn trạng«, cái chấm dứt đó là sự vắng bóng của mọi ràng buộc thế gian. Niết-bàn là sự thống nhất với Chân như (s: tathatā) không diễn tả được, là cái luôn luôn hiện hữu, nhưng không được nhận biết. Niết-bàn và sinh tử không hề khác nhau, đứng trên phương diện lí tính tuyệt đối mà nói. Chính cái Thức vô minh của chúng ta ngăn cản không cho nhận ra cái lí tính tuyệt đối đó.|Duy thức tông cũng cho rằng Niết-bàn và luân hồi không khác, mọi hiện tượng đều không tồn tại, không thật có. Ðối với tông này thì Niết-bàn xuất hiện khi mọi phân biệt chấm dứt. Duy thức tông cho rằng có hai dạng Niết-bàn: Niết-bàn của A-la-hán, đó là người khi chết chỉ còn Chân như tuyệt đối là tồn tại. Ðó là người »đã yên nghỉ.« Dạng Niết-bàn đó tuy nhiên không ưu việt bằng Niết-bàn của Phật, là dạng chủ động »dập tắt ngọn lửa đời sống« nhưng cũng chủ động ban phát lòng từ bi. Ðây là dạng thống nhất của Chân như với mọi chúng sinh, trong đó mỗi cá nhân vẫn còn tồn tại trong nghĩa quy ước.|Trong Thiền tông, Niết-bàn cũng không hề tách rời với thế giới này mà chính là sự trực ngộ được thể tính của Tâm, là thể tính của con người, thể tính của Phật. Thực hiện Niết-bàn phải thông qua trí huệ và vì vậy, có khi Niết-bàn được xem là đồng nghĩa với Trí huệ Bát-nhã. Niết-bàn và Trí huệ chỉ là hai mặt của một cái duy nhất. Niết-bàn là trạng thái của một người đã đạt trí huệ Bát-nhã, đã đạt tri kiến về Tâm và ngược lại Bát-nhã là trí huệ của một người đã thực hiện Niết-bàn.

Niết-bàn của Tiểu thừa

xem Bốn quả thánh.

Niết-bàn hội

涅槃會; C: nièpán huì; J: nehan'e;|Pháp hội cử hành vào ngày 15 tháng 2, ngày Đức Phật Thích-ca Mâu-ni nhập niết-bàn. Pháp hội nầy có ở các quốc gia Phật giáo Á Đông.

Niết-bàn kinh

涅槃經; C: nièpán jīng; J: nehangyō;|Một trong các kinh văn chính của Phật giáo Đại thừa Á Đông, có 3 bản dịch:|1. Đại bát Niết-bàn kinh (大般涅槃經; s: mahāparinirvāna-sūtra); 40 quyển, do Đàm Vô Sấm dịch vào thời Bắc Lương.|2. Cùng nhan đề trên; gồm 36 cuốn; Huệ Nghiêm (慧嚴; s: jñānabhadra) và Hui-ning dịch vào đời Tống.|3. Phật thuyết Đại bát Niết-bàn kinh (佛説大般泥洹經), 6 quyển; Phật-đà-bạt-đà-la (s: buddhabhadra) và Pháp Hiển (法顯) dịch vào đời Tây Tấn năm 416-418.|Kinh nầy được cho là bài pháp cuối cùng của Đức Phật trước khi ngài nhập niết-bàn, nhấn mạnh rằng tất cả các loài hữu tình đều có Phật tính; và tất cả chúng sinh, kể cả Nhất-xiển-đề, đều sẽ thành Phật. Bản kinh đầu tiên có lẽ đã được truyền bá dần vào lúc Đàm Vô Sấm dịch xong, do vì bản kinh mà Pháp Hiển mang về Trung Hoa chỉ là một phần của bộ 6 quyển, trong khi bản dịch sau nầy của Đàm Vô Sấm (s: dharmakṣema) lên đến 40 quyển. Mãi về sau, Huệ Quán (慧觀), Huệ Nghiễm (慧嚴; 363-443); Tạ Linh Vận (謝靈運, 385-433) và một số người khác vào đời Lưu Tống (420-479), đã hợp nhất và cải thiện bản dịch của Phật-đà-bạt-đà-la và Pháp Hiển thành bản dịch riêng gồm 36 quyển. Bản dịch nầy gọi là Nam bản Đại bát Niết-bàn kinh, và bản của Đàm Vô Sấm dịch được gọi là Bắc bản.

Niết-bàn tông

涅槃宗; C: nièpán zōng; J: nehanshū;|Một trong 13 tông phái Phật giáo Trung Hoa. Tông nầy, tập trung vào giáo lí trong kinh Niết-bàn, tán thành những học thuyết như sự thường tại của Pháp thân, và sự hiện hữu của Phật tính trong toàn thể chúng sinh. Khi bản Bắc của kinh Niết-bàn lưu truyền đến Hồ Nam, thì Đạo Sinh (道生), người bị phê phán do học thuyết báo trước Nhất-xiển-đề có Phật tính, mới được minh oan. Việc nghiên cứu kinh nầy trở nên thịnh hành, bản Bắc của kinh Niết-bàn được lưu truyền đến ngày nay. Huệ Quán đưa ra phán giáo Ngũ thời đốn tiệm (頓漸五時), cho rằng nội dung kinh Niết-bàn phản ánh trọn vẹn ý chỉ của Đức Phật nhất. Đỉnh cao của việc truyền bá kinh Niết-bàn là vào thời đại Nam Bắc triều (439-589). Sau thời nhà Tuỳ, nhiều luận giải về kinh nầy được viết do những cao tăng như Huệ Viễn (慧遠), Cát Tạng (吉蔵), Quán Đỉnh (灌頂), nhưng nó bắt đầu bị lu mờ dần như là một tồn tại riêng lẻ khi có sự ra đời của Nhiếp luận tông (攝論宗) và Thiên Thai tông (天台宗). Hoàn toàn biến mất vào thời nhà Đường, đặc biệt sau sự ra đời của Tam luận tông (三論宗), Pháp tướng tông (法相宗), và Hoa Nghiêm tông (華嚴宗), nhưng học thuyết căn bản của nó vẫn có ảnh hưởng sâu sắc đến những tông phái kế thừa. Tông Niết-bàn còn được truyền bá sang Hàn Quốc và Nhật Bản, nơi nó có ảnh hưởng rất đáng kể.|Như các trường phái khác của Phật giáo Trung Quốc, Niết-bàn tông cũng chia nhiều »thời giáo«, các thời kì giáo hoá của Phật. Kinh Ðại bát-niết-bàn được xem là giáo lí sau cùng của đức Phật.

Niết-bàn tông yếu

涅槃宗要; C: nièpán zōngyào; J: nehan shūyō;|Tác phẩm của Nguyên Hiểu (元曉), iảng giải nội dung kinh Niết-bàn, qua phương diện Niết-bàn và Phật tính, cũng như thảo luận về phần yếu chỉ của kinh nầy.

Niết-bàn tịch tĩnh

涅槃寂靜; C: nièpán jíjìng; J: nehan jakujō;|Niết-bàn là hoàn toàn vắng lặng (s: śāntaṃ nirvāṇam). Là một trong Tam pháp ấn trong giáo lí Phật pháp.

Niết-bàn đường

涅槃堂; J: nehandō;|Tên gọi của nhà dưỡng bệnh trong một Thiền viện. Những tên gọi khác của Niết-bàn đường là An Lạc đường (j: anrakudō) hoặc Diên Thọ đường (j: enjudō).

niềm an lạc sâu xa

A profound peace

niềm nở

Warm—To welcome someone with a warm reception.

niềm thương

Affection.

niềm tin

Belief—Faith—Saddhâ (s).

niềm tin mù quáng

Blind acceptance.

niển ngại

(碾磑) Cối đá, đặc biệt chỉ cho loại cối đá sử dụng sức nước. Vào đời Đường, trong trang trại của các nhà quí tộc và lãnh địa của các chùa viện lớn ở Trung quốc đều có đặt cối đá để xây thóc, xay bột. Loại cối đá này phải dùng sức nước. Vì phải giữ nước cho ruộng lúa, nên đã có thời cối bị cấm sử dụng. Mãi đến cuối đời Đường lệnh này mới được bãi bỏ.

Niệm

念; S: smṛti; P: sati; nghĩa là »nhớ, nghĩ«; |Trong đạo Phật, niệm chỉ sự chú tâm hay tỉnh giác. Ðó là lúc hành giả chú tâm lên các hoạt động của thân thể và tư duy. Ðó chính là chính niệm, yếu tố thứ bảy của Bát chính đạo, một trong Bảy giác chi (s: bodhyaṅga) và một trong Năm lực (s: pañcabala). Tâm thức đó được gọi là »đúng đắn« vì nó giúp hành giả giác ngộ. Nhờ chính niệm, người ta phát khởi tri kiến về vô thường, vô ngã và khổ của sự vật. Niệm là phép tu căn bản trong Bốn niệm xứ (s: smṛtyupasthāna; p: satipaṭṭhāna).

niệm

chỉ một khoảng thời gian rất ngắn, tương tự như nhiều nơi khác trong kinh dùng sát-na. Cách dùng chữ niệm để chỉ thời gian xuất phát từ khái niệm về “niệm tưởng” trong Phật giáo, vì Phật giáo cho rằng dòng tư tưởng của chúng ta thật ra là do vô số những “niệm tưởng” nối tiếp nhau tạo thành, mỗi một niệm tưởng chỉ tồn tại trong thời gian cực kỳ ngắn ngủi. ; Smrti (skt)—Sati (p). 1) Ký ức không quên đối với cảnh: Recollection—Mindfulness—Memory—Wrath—Idea—Thought—To think on—Remembrance—Thinking of or upon—Calling to mind—Reflect—To remember. 2) Niệm Kinh: To read—To recite—To say. 3) Niệm bao gồm những nghĩa sau đây—“Sati” has the following meanings: • Sự chăm chú: Attentiveness. • Sự chú tâm mạnh mẽ vào vấn đề gì: Fixing the mind strongly on any subject. • Sự chú tâm vào một điểm: Mindfulness. • Sự hồi tưởng: Remembrance. • Ký ức (sự nhớ): Memory. • Sự lưu tâm: Attentiveness. • Sự ngẫm nghĩ: Reflection. • Sự tưởng nhớ: Recollection. • Ý thức: Consciousness. • Tất cả những gì khởi lên từ trong tâm: All that arise from our mind. ; (念) I. Niệm. Phạm: Smfti, Smriti. Pàli: Sati. Ghi nhớ, tên của 1 tâm sở(tác dụng của tâm). Tâm sở này ghi nhớ những đối tượng mà nó duyên theo 1 cách rõ ràng không để quên mất. Trong tông Câu xá, Niệm được kể làm 1 trong 10 Đại địa pháp; còn trong tông Duy thức thì nó được xếp vào 1 trong 5 Biệt cảnh. [X. luận Phẩm loại túc Q.1; luận Câu xá Q.4; luận Thành duy thức Q.5; luận Đại tì bà sa Q.42; luận Du già sư địa Q.55]. II. Niệm. Chỉ cho quán niệm, khẩu niệm, tâm niệm. Quán niệm là quán tưởng Phật thân, Phật pháp; khẩu niệm là dùng miệng xưng danh hiệu của Phật; tâm niệm là dùng tâm tưởng nhớ Phật và Bồ tát. [X. luận Câu xá Q.4; luận Đại thừa quảng ngũ uẩn]. (xt. Thập Niệm). III. Niệm. Một trong Hành ngũ pháp. Nhớ nghĩ thế gian là hư dối không thực, không nên quyến luyến, mà nên xem việc tu hành thiền định và trí tuệ là quí báu. (xt. Hành Ngũ Pháp). IV. Niệm. Tên giai vị tu hành của Bồ tát, tức là giai vị thứ 2 trong Thập tín vị. (xt. Thập Tín). V. Niệm. Chỉ cho khoảng thời gian rất ngắn. Theo các kinh luận thì 1 niệm bằng 1 sát na, 60 sát na hay 90 sát na. [X. luận Đại trí độ Q.15, 60; Ma ha chỉ quán Q.3, phần 3]. (xt. Nhất Niệm, Sát Na).

niệm biết

• Biết theo trí phân biệt của phàm phu: Smriti-vijnanana (skt)—Knowing in accordance with ordinary people's knowledge—A thought of knowing—Discerning thought. • Niệm tỉnh thức: Smriti-buddhi or Smriti-jnanin (skt)—A thought of awareness

niệm bất thoái

(念不退) Không chuyển lui mất chính niệm Trung đạo, thuộc về giai vị Thánh chủng tính, là 1 trong 3 Bất thoái. (xt. Tam Bất Thoái).

niệm chuỗi

See Niệm châu.

niệm châu

Niệm chuỗi—To tell beads. ; (念珠) Cũng gọi Sổ châu, Châu sổ, Tụng châu, Chú châu, Phật châu. Chuỗi tràng hạt dùng lúc niệm Phật để ghi số danh hiệu đã xưng niệm. Niệm châu, trong nguyên văn tiếng Phạm gồm có 4 nghĩa: 1. Pàsaka-màlà, Hán âm: Bát tắc mạc, nghĩa là đếm xâu chuỗi(Sổ châu). 2. Akwa-màlà, Hán âm: A xoa ma la, nghĩa là tràng hạt châu. 3. Japa-màlà: Niệm tụng tràng hạt. 4. Akwa-sùtra: Sợi chỉ xâu tràng hạt. Tiếng Phạm Màlà (hoặc Màlya) có nghĩa là tràng, chuỗi. Người Ấn độ đời xưa có tập tục đeo chuỗi anh lạc, từ đó diễn biến thành niệm châu, như phái Tì thấp nô trong Bà la môn giáo cổ đại đã có thói quen đeo niệm châu rất sớm. Gần đây, ở vùng Tây bắc Ấn độ, 1 số tượng điêu khắc Long vương qui Phật, trong đó có 1 pho tượng Bà la môn đầu mang niệm châu. Tượng khắc này được suy định là tác phẩm ở khoảng thế kỉ II, như vậy đủ biết thời đó niệm châu đã rất phổ biến trong giới Bà la môn. Nhưng thời đại niệm châu được sử dụng trong Phật giáo có lẽ đã muộn hơn, tức phải từ sau thế kỉ II trở đi. Trong các kinh điển Phật giáo nói về nguồn gốc của niệm châu, thì phần nhiều lấy thuyết của kinh Mộc hoạn tử trong đó đức Phật chỉ dạy cách dùng niệm châu cho vua Ba lưu li làm tiêu biểu chung. Kinh Mộc hoạn tử (Đại 17, 726 thượng) ghi: Phật bảo vua rằng: Nếu muốn diệt trừ phiền não chướng, báo chướng, thì nên xâu 108 hạt mộc hoạn, thường mang theo bên mình, khi đi, đứng, ngồi, nằm, phải chuyên tâm nhất ý, xưng niệm Phật, Pháp, Tăng, khi niệm xong 1 câu thì lần 1 hạt mộc hoạn, cứ như thế dần dần lần đến 10, 20, 30, 100, 1.000, cho đến trăm nghìn vạn hạt. Ngoài ra, cũng có thuyết cho rằng nguồn gốc niệm châu bắt đầu từ việc các vị tỉ khưu dùng 30 hạt châu màu đen trắng để tính số ngày Bố tát mà có. Về con số hạt của niệm châu, các kinh nói cũng không giống nhau. Ở đây nêu 1 cách sơ lược về phép dùng thường thấy để so sánh như sau: 1. Kinh Mộc hoạn tửqui định 108 hạt. 2. Phẩm Tác sổ châu pháp tướng trong Đà la ni tập quyển 2nêu 4 loại niệm châu: Loại 108 hạt, loại 50 hạt, loại 42 hạt và loại 21 hạt. 3. Kinh Sổ châu công đức cũng nêu 4 loại: Loại 108 hạt, loại 50 hạt, loại 27 hạt và loại 14 hạt. 4. Kinh Kim cương đính du già niệm châulấy 1.080 hạt làm thượng phẩm, 108 hạt làm tối thắng, 54 hạt làm trung phẩm và 27 hạt làm hạ phẩm. 5. Phẩm Sổ châu nghi tắc trong kinh Văn thù nghi quĩcho tối thượng phẩm là 1080 hạt, thượng phẩm là 108 hạt, trung phẩm 54 hạt và hạ phẩm 27 hạt. Ngoài ra cũng có loại 36 hạt, 18 hạt. Trong các loại niệm châu nói trên, loại 108 hạt được dùng phổ biến hơn cả. Vì số hạt được dùng khác nhau nên ý nghĩa tiêu biểu cũng bất đồng: 1. 108 hạt: Biểu thị cầu chứng 108 Tam muội, dứt trừ 108 phiền não. 2. 54 hạt: Biểu thị 54 giai vị trong quá trình tu hành của Bồ tát: Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa và Tứ thiện căn nhân địa. 3. 42 hạt: Biểu thị 42 giai vị trong quá trình tu hành của Bồ tát: Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa,Đẳng giác và Diệu giác. 4. 27 hạt: Biểu thị 27 Hiền vị thuộc 4 hướng, 4 quả của Tiểu thừa, tức là 18 vị Hữu học của 4 hướng 3 quả trước và 9 vị Vô học của quả A la hán. 5. 21 hạt: Biểu thị 21 giai vị: Thập địa, Thập ba la mật và Phật quả. 6. 14 hạt: Biểu thị 14 thứ vô úy của bồ tát Quan âm. 7. 1.080 hạt: Biểu thị 10 cõi, mỗi cõi đều có 108 hạt nên cộng lại là 1.080 hạt. 8. Ý nghĩa của 36 hạt và 18 hạt: Thông thường cho rằng giống với 108 hạt, nhưng để tiện mang theo nên chia 108 làm 3 là 36 hạt hay chia làm 6 là 18 hạt, chứ không có ý nghĩa riêng. Nhưng sự sai khác về số hạt cũng như ý nghĩa tượng trưng ghi trên chỉ là do Tổ sư các đời vì sự nghiệp giáo hóa mà phương tiện phối hợp, chứ không phải từ nguyên văn kinh điển nêu ra. Về nguyên liệu của niệm châu thì các kinh ghi chép như sau: 1. Kinh Đà la ni tập quyển 2: Hạt niệm châu có thể làm bằng: Vàng, bạc, đồng đỏ, thủy tinh, hạt mộc hoạn, hạt bồ đề, hạt sen... 2. Kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni quyển 9 nêu: Hạt bồ đề, hạt kim cương, chân châu, hạt hoa sen, vàng, bạc... 3. Kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực quyển hạ nêu: Hương mộc, thâu thạch (1 thứ đá quí), đồng, sắt, thủy tinh, chân châu, hạt hoa sen, hạt kim cương, hạt bồ đề và các thứ kim loại hỗn hợp. Niệm châu thường phụ thêm Mẫu châu, Sổ thủ, Kí tử, Kí tử lưu; nếu niệm châu được xâu bằng 108 hạt, thêm 1 hạt Mẫu châu và 2 loại hạt nữa thì Mẫu châu được gọi là Đạt ma châu. Sổ thủ cũng gọi là Tứ thiên châu, là 4 hạt châu nhỏ thêm vào khoảng giữa 108 hạt. Niệm châu của Mật giáo, thông thường ở hạt thứ 7(bắt đầu tính từ Mẫu châu)và sau hạt thứ 21 thì xâu thêm hạt Sổ thủ vào. Kí tử cũng gọi là Đệ tử châu, thông thường có 10 hạt, 20 hạt, hoặc 40 hạt, xâu vào 1 dây nhỏ riêng ở đầu Mẫu châu, gồm 10 hạt, tượng trưng 10 Ba la mật, khi lần tràng niệm Phật đủ 108 biến thì đẩy 1 Kí tử để tính số. Nếu ở phần trên của Kí tử có thêm 1 hạt châu nhỏ trong suốt (thường là thủy tinh), thì gọi là Trợ minh, Tịnh minh, Duy ma, Bổ xứ bồ tát. Kí tử lưu là hạt châu được thêm vào ở đầu cuối của mỗi xâu Kí tử. Cứ theo kinh Kim cương đính du già niệm châu thì các hạt châu tượng trưng Quan âm, Mẫu châu tượng trưng Vô lượng thọ hay tu hành thành tựu quả Phật, cho nên, khi lần tràng lúc đến hạt Mẫu châu thì không được vượt qua mà phải quay ngược trở lại, nếu không sẽ phạm tội Việt pháp. Lần tràng hạt mà tụng chú và niệm Phật thì thường sinh ra công đức. Cứ theo kinh Mộc hoạn tử, nếu niệm danh hiệu Phật, Pháp, Tăng, đủ 20 vạn biến mà thân tâm không loạn, không có các tà vạy, thì sau khi chết được sinh lên cõi trời Diệm ma thứ 3, ăn mặc tự nhiên có, thường yên vui. Còn theo phẩm Tác sổ châu pháp tướng trong kinh Đà la ni tập quyển 2, nếu dùng các thứ bảo vật như vàng, bạc, đồng đỏ, thủy tinh... để làm tràng hạt, thì khi lần tràng tụng kinh, niệm Phật sẽ được đầy đủ công đức của 10 Ba la mật, hiện thân chứng được quả Phật Vô thượng chính đẳng chính giác.Trong Mật giáo, tùy theo các bộ(3 bộ Thai tạng giới và 5 bộ Kim cương giới) mà niệm châu được sử dụng có khác nhau: Nói về 3 bộ: Cứ theo kinh Tô tất địa yết la thì Phật bộ dùng niệm châu hạt bồ đề, Quan âm bộ (Liên hoa bộ)dùng niệm châu hạt hoa sen và Kim cương bộ thì dùng niệm châu hạt Rô na la xoa. Về 5 bộ: Cứ theo kinh Thủ hộ và kinh Du già niệm châu thì Phật bộ dùng niệm châu hạt bồ đề, Kim cương bộ dùng niệm châu hạt kim cương, Bảo bộ dùng niệm châu bằng các thứ báu như vàng, bạc, lưu li v.v..., Liên hoa bộ dùng niệm châu hạt hoa sen, còn Yết ma bộ thì dùng niệm châu bằng các nguyên liệu hỗn hợp. Và trong tất cả các bộ, khi trì niệm xong, hành giả phải cất niệm châu trên 1 cái mâm bằng bạc, chứ không được để lung tung, lẫn lộn với các vật khác. Ngoài ra, lần niệm châu bằng ngón tay nào thì kinh điển Mật giáo cũng nói rất rõ. Về 5 bộ: Cứ theo kinh Nhiếp chân thực thì Phật bộ phải dùng ngón cái và ngón trỏ của tay phải để lần niệm châu; Kim cương bộ thì dùng ngón cái và ngón giữa của tay phải; Bảo bộ thì dùng ngón cái và ngón áp út của tay phải; Liên hoa bộ thì dùng ngón cái và ngón út của tay phải; Yết ma bộ thì dùng cả 5 ngón của tay phải. Về 3 bộ: Cứ theo kinh Tô tất địa thì Phật bộ dùng ngón cái và đầu ngón áp út của tay phải bấm vào nhau, ngón giữa và ngón út dựng thẳng, ngón trỏ hơi co và áp sát vào lóng giữa của ngón giữa mà lần niệm châu; Liên hoa bộ thì đầu ngón cái và ngón giữa bấm vào nhau, 3 ngón kia thì duỗi thẳng; Kim cương bộ thì đầu ngón cái và ngón trỏ bấm vào nhau, 3 ngón còn lại thì duỗi thẳng. Các vị tôn trong Mật giáo có rất nhiều vị tay cầm niệm châu, như Hỏa thiên, Phật mẫu Chuẩn đề, Quan âm Thiên thủ... của Ngoại kim cương bộ thuộc Thai tạng giới, đều cầm niệm châu, trong đó, 1 tay bên phải của bồ tát Quan âm Thiên thủ cầm niệm châu, gọi là tay Sổ châu. [X. phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.1; kinh Nhất tự Phật đính luân vương Q.4; phẩm Sổ châu nghi tắc trong kinh Đại phương quảng bồ tát tạng Văn thù sư lợi căn bản nghi quĩ Q.11; Thích thị yếu lãm Q.trung; Khai nguyên thích giáo lục Q.3; truyện Đạo xước trong Tục cao tăng truyện Q.20; Loại tụ danh vật khảo Q.255].

niệm chướng

Sân hận hay giận dữ là một chướng ngại cho chánh niệm—Anger is a bar to remembrance. Định Chướng: Thù hận là một chướng ngại cho thiền định: Hatred is a bar to meditation. Tuệ Chướng: Oán ghét là một chướng ngại cho việc phát sanh trí tuệ—The discontent is a bar to wisdom. Theo Kinh Đại Nhật, có năm chướng ngại—According to the Vairocana Sutra, there are five hindrances: Phiền Não Chướng: The hindrances of passion-nature (original sin).

Niệm căn

xem năm căn lành.

niệm căn

Smrtindriya (skt)—Một trong năm căn—The root or organ of memory, one of the five indriya. ** For more information, please see Ngũ Căn.

niệm căn tương ứng với sắc vàng, có nghĩa là đạt đến chánh niệm để có định tuệ

Mindfulness corresponds to Yellow colour, signifies that cultivators try to reach right memory so that they can obtain both Concentration and Wisdom. Định Căn tương ứng với sắc Xanh, có nghĩa là Đại Không Tam Muội: Concentration corresponds to Blue colour, signifies Great Empty samadhi. Huệ Căn tương ứng với sắc Đen, có nghĩa là sắc cứu cánh của Như Lai: Wisdom corresponds to Black colour, signifies the supreme colour of the Tathagata.

niệm giác chi

Một trong bảy giác chi—Holding the memory continually, one of the Sapta bodhyanga. ** See Thất Bồ Đề Phần. ; (念覺支) Phạm: Smfti-saôbodhyaíga. Pàli: Sati-sambojjhaíga. Cũng gọi Niệm giác phần, Niệm giác ý, Niệm đẳng giác chi. Một trong 7 giác chi, 1 trong 37 phẩm trợ đạo. Giai đoạn tu đạo mà hành giả, trong quá trình chứng ngộ, phải ghi nhớ rõ các giáo pháp như Tam học, Tứ thánh đế, Bát chính đạo, không để quên mất. Ở giai đoạn này, tâm hành giả lấy Niệm làm thể tính, thường chính niệm chính tri, biết rõ sự bất tịnh, khổ, vô thường, vô ngã của thân thụ tâm pháp. (xt. Thất Giác Chi, Tam Thập Thất Đạo Phẩm).

niệm giới

(念戒) Phạm: Zìlànusmfti. Pafli: Zìlànussati. Ghi nhớ công đức của giới hạnh, 1 trong Thập niệm, 1 trong Bát niệm, 1 trong Lục niệm. Nghĩa là thường ghi nhớ giới pháp thì hay ngăn dứt các điều ác, thành tựu Phật đạo.[X. kinh Tạp a hàm Q.20; kinh Tăng nhất a hàm Q.2]. (xt. Niệm).

niệm hương buổi sáng

Incense Praise at morning recitation.

niệm kinh

Đọc kinh hay tụng kinh—To read prayers—To repeat the sutras.

niệm kiếp dung tức

(念劫融即) Cũng gọi Niệm kiếp viên dung. Một niệm tức là vô lượng kiếp, vô lượng kiếp tức là 1 niệm, niệm và kiếp tương tức, tương dung. Cứ theo phẩm Sơ phát tâm công đức hành nguyện trong kinh Hoa nghiêm quyển 9 (bản dịch cũ) và phẩm Thập địa quyển 27, thì vô lượng kiếp tức là 1 niệm, 1 niệm tức là vô lượng kiếp, 1 niệm thu nhiếp kiếp, kiếp thu nhiếp 1 niệm. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 5 giải thích: Tích niệm thành kiếp, chứ thực ra không có thể riêng của kiếp. Trên phương diện thời gian, thấy lí một tức hết thảy mà nói niệm và kiếp tương tức tương nhập, viên dung vô ngại, bởi vì thời gian không có thể tính.Các nhà Hoa nghiêm dựa theo nghĩa niệm kiếp dung tức để giải thích rõ về thuyết thời của kinh Hoa nghiêm và thời phần tu hành của bồ tát Viên giáo. Đồng thời trong Thập huyền duyên khởi y cứ vào lí niệm kiếp dung tức mà lập ra Thập thế cách pháp dị thành môn. [X. kinh Hoa nghiêm Q.2, 3 (bản dịch cũ); kinh Hoa nghiêm Q.39, 41 (bản dịch mới; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2; Hoa nghiêm kinh sớ Q.1, 19].

niệm lậu

Dòng trí nhớ của ảo tưởng—The leakages or stream of delusive memory.

niệm lục tự di đà

See Recite Amitabha Buddha.

niệm lực

Smrtibala (skt)—Một trong ngũ lực hay một trong thất bồ đề phần, sức chuyên niệm có thể diệt trừ được ảo tưởng giả tạo—Power of memory or thought (mindfulness) which destroys falsity, one of the five powers or bala, or one of the seven bodhyanga. ; (念力) Phạm: Zmfti-balàni. Pàli: Sati-balàni. Sức nhớ nghĩ. Chỉ cho việc siêng tu giữ cho ý nghĩ trụ ở cảnh sở duyên, để có thể chống lại sự chướng ngại đến từ bên ngoài mà đạt đến vô niệm, là 1 trong 5 lực. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 7, phần 1 (Đại 46, 364 thượng) nói: Niệm lực vững chắc, diệt trừ biên kiến, tà tưởng, không để bị 3 hoặc(Kiến tư, Trần sa, Vô minh)phá hoại. Kinh Di giáo nói: Nếu niệm lực vững chắc thì dù có vào trong đám giặc 5 dục, cũng không bị hại. [X. kinh Quán Phổ hiền bồ tát hành pháp]. (xt. Ngũ Lực).

niệm ngôn

Tâm niệm thế nào thì miệng nói ra thế ấy—As the mind remember, so the mouth speaks; also the words of memory. ; (念言) Tâm nghĩ miệng nói, cũng tức là đem ý nghĩ trong tâm phát ra lời nói, hoặc tự nói thầm với chính mình ở trong lòng. Phẩm Tín giải kinh Pháp hoa (Đại 9, 18 thượng) ghi: Tự nói thầm rằng: Nếu ta nán lại lâu, có thể bị bức bách.

niệm niệm

Ksana of a ksana (skt)—Khoảng cách giữa hai niệm quá ngắn, không thể xen tạp bởi bất cứ thứ gì—A ksana is the ninetieth part of the duration of a thought—An instant—Thought after thought. ; (念念) Từng giây từng lát, chỉ cho khoảng thời gian cực ngắn. Trong các kinh điển, từ ngữ niệm niệm thường được dùng để hình dung trạng thái sinh, trụ, dị, diệt, biến hóa đổi dời của thế giới hiện tượng. Phẩm Phương tiện kinh Duy ma (Đại 14, 539 trung) nói: Thân như dòng điện, niệm niệm chẳng dừng. [X. kinh Bảo tích Q.96; kinh Vô lượng nghĩa]. (xt. Nhất Niệm).

niệm niệm hoại diệt vô thường

xem ba loại vô thường.

niệm niệm tương tục

1) Sự tương tục không ngừng nghỉ: Unbroken continuity. 2) Sự tương tục của niệm niệm hay thiền quán vào một vật thể: Continuing instant in unbroken thought or meditation on a subject. 3) Niệm Phật tương tục không ngừng: Unceasing intonation (invocation) of a Buddha's name. ; (念念相續) Chỉ cho hành giả niệm Phật tâm không tán loạn, tức là niệm sau tiếp theo niệm trước, niệm niệm nối nhau không dứt, không xen lẫn niệm nào khác. Vãng sinh yếu tập quyển trung (Đại 48, 56 trung) nói: Hoặc cúi đầu, giơ tay, hoặc lễ bái xưng danh, dung nghi bề ngoài tuy khác, nhưng tâm niệm thường còn, niệm niệm nối nhau, thức ngủ không quên. [X. luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; Quán niệm pháp môn].

niệm niệm vô thường

Hết thảy các pháp hữu vi sinh diệt không dừng trụ trong từng sát na—No-permanence of Instant after instant, i.e. the impermanence of all phenomena—Unceasing change. ; (念念無常) Tất cả pháp hữu vi sinh diệt trong từng sát na. Luận Kim thất thập quyển thượng (Đại 54, 1247 thượng) nói: Vô thường có 2 thứ, 1 là tạm trụ vô thường, 2 là niệm niệm vô thường. [X. luận Đại trí độ Q.43]. (xt. Vô Thường, Tạm Trụ Vô Trụ).

niệm pháp

To pray to the Dharma—Mindfulness of the Dharma. ; (念法) Phạm: Dharmànusmfti. Pàli: Dhammànussati. Nhớ nghĩ về thắng, lợi, diệu, đức của Phật pháp, tức là nhớ nghĩ về pháp thanh tịnh, lìa 2 bên, diệt phiền não, dứt ái dục, khiến không nhơ nhớp, không chướng ngại, gọi là Niệm pháp, 1 trong 10 niệm, 1 trong 8 niệm, 1 trong 6 niệm. [X. kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.1]. (xt. Bát Niệm, Niệm).

Niệm Phật

念佛; J: nembutsu;|Là tụng niệm danh hiệu Phật; trong một nghĩa hẹp thì Niệm Phật là phương pháp tu tập chính của tông Tịnh độ và Phật ở đây chính là Phật A-di-đà. Nếu ai niệm danh hiệu Phật A-di-đà với tất cả niềm tin và hi vọng thì có thể thác sinh vào cõi Cực lạc của Ngài.|Sau đây là một vài cách niệm Phật, Bồ Tát thường gặp:|南無阿彌陀佛。Nam-mô A-di-đà Phật; Nhật ngữ: Namu Amida Butsu; Phạn ngữ: Namu Ami-tābha Buddha;|南無本師釋迦牟尼佛。 Nam-mô Bản sư Thích-ca Mâu-ni Phật; Phạn ngữ: Namu Upādh-yāya Śākyamuni Buddha;|南無大悲觀世音菩薩。 Nam-mô Ðại bi Quán Thế Âm Bồ Tát; Namu Mahākaruṇā Avaloki-teśvara Bodhisattva.

niệm phật

(I) Ý nghĩa của Niệm Phật—The meanings of Buddha Recitation: 1) Niệm hồng danh Phật ra tiếng hay không ra tiếng (gọi tên Phật bằng lời), hay quán tưởng về tướng tốt của Phật—To repeat the name of a Buddha audibly or inaudibly, or visualization of the Buddha's auspicious marks. (II) Mục đích của niệm Phật—The purpose of Buddha Recitation: 1) Mục đích trước mắt của việc niệm Phật là đạt được nhất tâm, từ nhất tâm người ta có thể từ từ thấy tánh để rồi đạt được mục đích tối hậu là Phật quả—To pray to Buddha—To repeat the name of a Buddha (audibly or inaudibly)—Mindfulness of the Buddha—The intermediate goal of Buddha Recitation is to achieve one-pointed mind; from one-pointed mind gradually one can see one's own nature or to achieve the ultimate goal of Buddhahood—See Recite Amitabha Buddha. 2) Trong Kinh Vô Lượng Thọ, Đức Thích Tôn có lời huyền ký như sau: “Đời tương lai, kinh đạo diệt hết, ta dùng lòng từ bi thương xót, riêng lưu trụ kinh Vô Lượng Thọ trong khoảng một trăm năm. Nếu chúng sanh nào gặp kinh nầy, tùy ý sở nguyện, đều được đắc độ.”—In the Long Amitabha Sutra, Sakyamuni Buddha made the following prediction: “In the days to come, the paths of the sutras will come to extinction. I, with compassion and mercy, will purposely make this sutra survive for a hundred years. Anybody who encounters this sutra will, according to his wish, surely attain Enlightenment.” 3) Trong Kinh Đại Tập, Đức Thế Tôn đã bảo: “Trong thời mạt pháp, ức ức người tu hành, ít có kẻ nào đắc đạo, chỉ nương theo Pháp môn Niệm Phật mà thoát luân hồi.”—In the Great Heap Sutra, Sakyamuni Buddha predicted: “In the Dharma-Ending Age, among multitude of practitioners, very few will attain the Way. The most they can expect is to rely on the Pure Land method to escape Birth and Death. 4) Ngài Thiên Như Thiền Sư, sau khi đắc đạo, cũng đã khuyên dạy: “Mạt pháp về sau, các kinh diệt hết, chỉ còn lưu bốn chữ A Di Đà Phật để cứu độ chúng sanh. Nếu kẻ nào không tin, tất sẽ bị đọa địa ngục.” Bởi đời mạt pháp về sau, khi các kinh đều diệt hết, chúng sanh căn cơ đã yếu kém, ngoài câu niệm Phật, lại không biết pháp môn nào khác để tu trì. Nếu không tin câu niệm Phật mà tu hành, tất phải bị luân hồi. Và trong nẻo luân hồi, việc lành khó tạo, điều ác dễ làm, nên sớm muộn gì cũng sẽ bị đọa địa ngục—Elder Zen Master T'ien-Ju, having attained the Way, also admonished: “In the Dharma-Ending Age, all sutras will disappear, and only the words”Amitabha Buddha” will remain to bring liberation to sentient beings.” This is because, in the distant future, deep in the Degenerate Age, when all sutras have disappeared and people's capacities are at a low level, they will not be aware of any method other than Buddha Recitation. If they do not believe in and practice Pure Land, they will certainly remain mired in the cycle of Birth and Death. Within that cycle, good actions are difficult to perform while bad deeds are easy to commit. Thus sooner or later they are bound to sink into the hellish realms. 5) Theo Ấn Quang pháp sư, một bậc cao Tăng thời cận đại ở Trung Hoa, cũng đã bảo: “Sự cao siêu nhiệm mầu của pháp môn niệm Phật, chỉ có Phật với Phật mới hiểu biết hết được. Những kẻ khinh chê pháp môn niệm Phật, không phải chỉ khinh chê hạng ông già bà cả tu Tịnh Độ, mà chính là khinh chê luôn cả chư Phật và các bậc đại Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh, và Long Thọ. Thời mạt pháp đời nay, chúng sanh nghiệp nặng tâm tạp. Nếu ngoài môn Niệm Phật mà tu các môn khác, nơi phần gieo trí huệ phước đức căn lành thì có, nơi phần liễu sanh thoát tử trong hiện thế thì không. Tuy có một vài vị cao đức hiện những kỳ tích phi thường, song đó đều là những bậc Bồ Tát nương theo bản nguyện để dạy dỗ chúng sanh đời mạt pháp, như trong Kinh Lăng Nghiêm đã nói. Nhưng các vị ấy cũng chỉ vừa theo trình độ của chúng sanh mà thị hiện ngộ đạo chớ không phải chứng đạo. Chỉ riêng pháp môn Tịnh Độ, tuy ít người tu chứng được niệm Phật tam muội như khi xưa, nhưng có thể nương theo nguyện lực của mình và bản nguyện của Phật A Di Đà, mà đới nghiệp vãng sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc. Khi về cõi ấy rồi thì không còn luân hồi, không bị thối chuyển, lần lần tu tập cho đến lúc chứng quả vô sanh.”—The Patriarch Yin Kuang, a Chinese Pure Land Master of recent times, also said: “The magnificence and extraordinary nature of the Buddha Recitation dharma can only be fully understood among the Buddhas. For those who look down on this dharma door of Buddha Recitation, not only will they belittle the 'old men and elderly women' who are practicing Pureland, they will also belittle the Buddhas and the Maha-Bodhisattvas such as Manjusri, Samantabhadra, Asvaghosha, and Nagarjuna. In the current Dharma-Ending Age, sentient beings bear heavy karma and their minds are deluded. If they practice other methods rather than Buddha Recitation, they can expect to sow the seeds of merit, virtue and wisdom but not to escape the cycle of Birth and Death in their present lifetimes. Although there are a few instances of great monks exhibiting extraordinary achievement, they are in reality transformation Bodhisattvas. In accordance with their vows, they act as examples for sentient beings in the Dharma-Ending Age, as is taught in the Surangama Sutra (a key Zen text). Even then, these Bodhisattvas, adapting themselves to people's 'apacities, can only take the expedient appearance of having awakened to theWay, but not having attained Enlightenment. In the specific case of Pure Land, very few sentient beings can achieve the Buddha Recitation Samadhi these days, compared to earlier times. However, through Buddha Recitation, they can take their residual karma along with them to the Pure Land by relying on their own vows and those of Amitabha Buddha. Once there, they have escaped Birth and Death, achieved non-retrogression, and can progress in cultivation until they reach the stage of Non-Birth.” (III) Tịnh Độ và Thiền—The Pure Land and Zen—Nhiều đại thiền sư Trung Quốc đã ngộ bên Thiền vẫn âm thầm hành trì và hoằng hóa pháp môn niệm Phật. Trong số các vị nầy, có những vị đã đạt được đại ngộ như Thiền sư Vĩnh Minh, Thiên Y Hoài, Viên Chiếu Bản, và Tử Tân, vân vân. Đến như ngài Bách Trượng Hoài Hải, đệ tử kế thừa pháp của Thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất ở Giang Tây, người mà những tòng lâm trong thiên hạ đều phải theo cách thức kiến lập thanh quy pháp chế. Từ xưa đến nay chưa có ai dám có lời thị phi hay trái với pháp chế nầy. Theo thanh quy của ngài, thì nghi thức tụng cầu cho những vị Tăng bệnh nặng có lời văn như sau: “Phải nhóm chúng lại, tất cả đồng tụng bài kệ tán Phật A Di Đà, rồi cao tiếng niệm Nam Mô A Di Đà Phật, hoặc trăm câu, hoặc ngàn câu. Khi niệm xong, hồi hướng phục nguyện rằng 'Nếu các duyên chưa mãn, sớm được an lành. Như hạn lớn đến kỳ, nguyện sanh về An Dưỡng Địa.' Đây rõ ràng là bằng chứng chỉ quy Tịnh Độ vậy. Lại trong nghi thức đưa những vị Tăng đã tịch có đoạn nói: “Đại chúng đồng niệm A Di Đà Phật hồi hướng phục nguyện rằng: Thần siêu cõi Tịnh, nghiệp dứt đường trần, thượng phẩm sen nở hiện kim thân, nhứt sanh Phật trao phần quả ký.” Đến như lúc trà tỳ, trong thanh quy lại dạy: “Vị Duy Na chỉ dẫn khánh niệm 'Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật' mười lần, đại chúng đồng xướng họa theo. Khi xướng xong lại hồi hướng rằng 'Trước đây xưng dương mười niệm, phụ giúp vãng sanh.'” Tất cả những thanh quy nhà Thiền vừa kể trên trong các thiền gia, chứng minh rõ ràng sự quy hướng Tịnh Độ của các ngài—Many great Zen masters in China, already achieved great enlightenment in Zen, quietly practiced and propagated Pure Land Teachings. Among them are found many Elder Masters of high achievement, including Masters Yung Ming, T'ien-I-Huai, Yuan-Chao-Pen, and Tzu-Shen, etc. Even Zen Master Pai-Chang-Huai-Hai, direct successor to the great Zen Master Ma-Tsu-Tao-I in Chiang-His. Zen communities throughout the world are established on his model and have adopted the “Pure Rules” for monasteries which he instituted. Since ancient times, no one has dared to criticize or violate this set of rules. According to these rules, prayers for the benefit of seriously ill monks and nuns include the following passage: “The fourfold assembly should gather together , and all shall recite verses of praise to Amitabha Buddha and chant his name from one hundred to one thousand times. At the end, the following words of transference should be read 'If conditions have not yet come to an end, let him quickly recover. If the time of death has arrived, we pray that he will be reborn in the Pure Land.' This is clearly pointing the way back to the Pure Land.” Moreover, the liturgy for sending off deceased monks includes this passage: “The great assembly should all recite the name of Amitabha Buddha in unison, transfering the merits and making the following vows: Let his soul be reborn in the Pure Land, his karma in the world of dust severed; let him be rborn in the upper lotus grade, with a golden body. May he also receive a prediction of Buddhahood in one lifetime.” Furthermore, at the time of burial or cremation, the Pure Rules stipulate: “The monk in charge of the service should lead the way, striking the small bell, and recite the name of Amitabha Buddha ten times, with the great assembly following the unison. After recitation, the following words of transference should be read 'We have just intoned the Buddha's name ten times to assist in rebirth.” All of the above mentioned Pure Rules clearly pointing the way back to the Pure Land. (IV) Phân loại Niệm Phật—Categories of Recitation of Buddha-name: Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Tịnh Độ Thập Nghi Hoặc Vấn Luận, có hai loại niệm Phật—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Treatise on the Ten Doubts, question number three, there are two kinds of Recitation of Buddha-name: 1) Duyên Tưởng Niệm Phật: Niệm Phật là duyên tưởng theo ba mươi hai tướng tốt của Phật, làm sao cho khi mở mắt hay nhắm mắt cũng đều thấy Phật—One method of Buddha Recitation is to focus on or visualize the thirty-two auspicious signs of the Buddha, concentrating the Mind so that, asleep or awake, you always see the Buddha. 2) Chuyên Xưng Danh Hiệu: Một phương pháp khác thông dụng hơn là chuyên xưng danh hiệu, chấp trì không tán loạn, cứ bền giữ như thế, trong đời nầy cũng được thấy Phật. Phép xưng danh cần phải lắng lòng không cho tán loạn, mỗi niệm nối tiếp nhau, buộc tâm nơi hiệu Phật. Khi miệng niệm Nam Mô A Di Đà Phật, tâm phải soi theo mỗi câu mỗi chữ cho rành rẽ rõ ràng. Khi xưng danh hiệu Phật, không luận ít hay nhiều, đều phải một lòng một ý tâm tâm nối nhau. Niệm như thế mới có thể diệt được tám triệu kiếp tội nặng nơi đường sanh tử. Nếu chẳng vậy thì tội chướng khó tiêu trừ—Another, more common employed method is to concentrate exclusively on reciting the Buddha's name, holding fast singlemindedly and without interruption. In this way, the practitioner will see the Buddha in this very life. This method requires that the Mind be calm, still and undisturbed, each recitation follows one before, the Mind focus on the Buddha name. While the mouth recites the Buddha's name, the Mind should clearly contemplate each and every utterance, so that each and every word is clear and distinct. During recitation, regardless of the number of utterances, Mind and thought should be utterly sincere and focussed. Only with such singleminded practice can each utterance erase 'eight million eons of heavy transgressions.' Otherwise, karmic obstructions are difficult to eradicate. 3) Lý Sự Niệm Phật—Theoretical and Practical Buddha Recitation: Niệm Phật đều có lý và sự—Reciting Buddha has theory and practice. a) Lý Niệm Phật—Theoretical Buddha Recitation: Lý là lẽ phải là điều suy luận. Đây là cảnh giới giải ngộ thuộc về phần chơn tánh—Theories are truths, are the matter of thoughts and reflections. This is the realm of being able to penetrate deeply into the True Nature. b) Sự Niệm Phật—Practical Buddha Recitation: Sự là phương tiện, là công hạnh hành trì tu tập, là hình thức. Đây là cảnh giới thuộc về phần tướng—Practice is a skillful method or means toward an end, the effort put forth in cultivation and application of theory. This is regarded as the ralm of Form-Characteristic. c) Tuy nhiên, nếu luận đến chỗ cùng cực thì lý là sự và sự là lý, tánh là tướng, tướng là tánh. Lý tức sự, sự tức lý; lý sự đều viên dung lẫn nhau mà Kinh Hoa Nghiêm gọi là lý sự vô ngại, sự sự vô ngại. Trên đường tu tập, lý sự làm trong ngoài cho nhau, phối hợp cùng giúp đỡ lẫn nhau cho được thành tựu. Có lý thì việc làm mới có giềng mối cương lãnh, có sự mới chứng minh và thực hiện được điều suy luận để đi đến mục tiêu và thâu đoạt kết quả vãng sanh hay giác ngộ. Lý như đôi mắt sáng để nhìn đường; sự như đôi chân khỏe để tiến bước. Nếu không có mắt hoặc có mà lờ lạc, tất dễ lạc đường. Nếu không có chân, thì dù cho mắt có sáng tỏ bao nhiêu cũng chẳng làm sao đi đến nơi đến chốn được. Nếu như có lý mà không có sự, thì cũng như người có họa đồ, biết rõ đường lối mà chẳng chịu đi. Ví bằng có sự mà không có lý, thì cũng như kẻ tuy có đi nhưng mờ mịt đường đi, không người hướng đạo. Có lý lại thêm có sự, thì cũng như người đã thông suốt đường lối rồi, vừa cất bước hành trình, tất sẽ về đến nơi bảo sở. Cho nên trên đường tu hành nếu có sự mà chẳng có lý thì chẳng đi đến đâu, đôi khi còn bị lầm đường. Tuy nhiên, đáng sợ nhất là những kẻ hiểu lý mà không hành sự, tức là không thực hành, chỉ ngồi nói suông, thì dù cho có nhàn đàm hý luận cả đời cũng chẳng tiến được chút nào. Vì vậy Phật pháp có thể độ hạng người ngu dốt chẳng thông một chữ, chớ vô phương độ những kẻ thế trí biện thông mà không chịu hành trì—However, if this discussion is taken to the ultimate level, then theory is practice, practice is theory. True nature is form characteristic, and form characteristic is true nature. Theory and practice are perfectly harmonious which the Avatamsaka Sutra called 'Theory and practice are without limitation, practice-practice without limitation.' On the path of cultivation, theory and practice are the inside and outside of each other, respectively combining to help each other achieve completeness or enlightenment. Theory is necessary to provide purpose and direction; practice gives validation and proof for reasons and deductions of theory to reach goals and achive results of gaining rebirth or enlightenment. Theory is like two shining eyes to look on the path of enlightenment; practice is like a pair of strong healthy legs making strides. If eyes are missing or blind, or are working insufficiently, it is easy to get lost on the path. If legs are missing, then no matter how sufficient the eyes are, it is impossible to reach the aimed destination. Moreover, knowing theory but not practice is similar to a person who has a map, and clearly knows the path to enlightenment, but refusing to travel. Having practice but not knowing theory is similar to a person who despite traveling finds the progress is slow, often gets lost, without anyone to rely on for guidance. Having both theory and practice is similar to a person who knows clearly the path and once the travel begins knows the proper destination will be reached. Therefore, on the cultivated path, having practice but missing theoretical understanding will not be of any help. However, the most disturbing thing is those who understand theory but refuse to practice, instead always speak hollowly, and not practice what they speak. Even though they are able to debate, discuss, and analyze theory in the most magnificent manner throughout their entire lives, they will never make any progress in their whole life. Therefore, the Buddha Dharma can help those who are ignorant and completely uneducated but have no means to help those with 'worldly intelligence' who lack practice and application of their knowledge. (V) Chơn Niệm Phật—Truthfully and genuinely recite Buddha: Theo Đại Sư Ấn Quang—According to Great Master Yin-Kuang: 1) Mỗi câu tràng hạt Phật là Tâm, 2) Phật đã là Tâm chạy uổng tìm. 3) Bể Phật dung hòa Tâm với Cảnh. 4) Trời Tâm bình đẳng Phật cùng sanh. 5) Bỏ Tâm theo Phật còn mơ mộng. 6) Chấp Phật là Tâm chẳng trọn lành. 7) Tâm Phật nguyên lai đều huyễn giả. 8) Phật Tâm đồng diệt đến viên thành. 1) Each recitation overfilled with Buddha as the Mind, 2) Buddha is Mind, do not waste time searching. 3) Buddhahood is Mind and Environment in harmony. 4) Equality of Mind is the birth of a Buddha. 5) Abandon the True Mind but wish to fllow Buddha is a delusional dream. 6) Attach to Mind is Buddha will not lead to goodness. 7) Mind, Buddha is inherently artificial and ilusory. 8) Buddha, Mind both eliminated, attains Perfection.” Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ đã chú giải—Most Venerable explained in the Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism: 1) Mỗi câu tràng hạt Phật là Tâm—Khi lần chuỗi niệm Phật, thì tâm phải thanh tịnh, nghĩa là miệng niệm, tai nghe rõ tiếng niệm Phật, và ý không suy nghĩ vu vơ, nói cách khác, chớ nên khởi sanh vọng tưởng, thì ngay đó mỗi câu niệm đều được cảm ứng đạo giao hay tương ưng với chư Phật. Đây chính là “Sự Tướng Hành Trì” là pháp thức niệm Phật của hàng liên hữu hiện nay: Each recitation overfilled with Buddha as the Mind—When Pureland cultivators count beads reciting Buddha, the Mind needs to be pure and quiescent; mouth recites Buddha, ear listens clearly to the sounds of Buddha Recitation, Mind does not wander and think about any thing else, in other words, do not let any delusional thought arise. If this is accomplished, in that very moment, each recitation will be harmonious, establishing the “miraculous connections” with Buddha. This is presently the “form-Practice,” which is the dharma practice of Buddha Recitation Lotus cultivators. 2) Phật đã là Tâm uổng chạy tìm—Phải biết Phật không phải từ bên ngoài đến, mà chính thật là do từ Tâm của mình mà thành. Vì cái tâm ấy nó bao hàm hết khắp cả mười phương pháp giới (see Tâm I-H). Một tâm mà hay sanh ra tất cả. Nếu hành giả nhất quyết cầu Phật ở ngoài Tâm mình thì kẻ đó chưa rõ pháp môn “Lý Tánh Duy Tâm.” Cổ đức dạy: “Phật tại Tây Phương vốn chẳng xa. Tây phương ngay ở tại lòng ta.” Lại nữa, tam đồ ác đạo vốn không xa, tam đồ ngay ở tại lòng ta. Cho nên hành giả luôn bình tâm kiểm điểm xem trong Tâm mình có Phật hay chỉ có Tam Đồ—Buddha is Mind, do not waste time searching—It is important to understand Buddha does not come from the outside, but is attained from within the cultivator's Mind. For the Mind encompasses all the ten directions of dharma realms (see Tâm I-H). One Mind can give rise to everything. If anyone who cultivates but is determined to find Buddha outside of his or her Mind, then such a person is one who is not clear about the dharma door of “Theory Nature Is Within The Mind” or everything comes from the Mind. Old saints taught: “The Buddha in the West is inherently not far, Western direction truly exists within our nature.” Moreover, it is necessary to know that the three domains, evil paths are inherently not far, three domains truly exist from within our nature. Therefore, sincere cultivators just calmly and peacefully re-examine our Minds to see if Buddha exists or the three domains and unwholesome paths exist. 3) Bể Phật dung hòa Tâm với Cảnh—Muốn được thành đạo giải thoát, chứng quả vị Đại Bồ Đề của Phật, hành giả phải dung hòa cả hai phần Sự và Lý. Phải biết Tâm là Lý vì nó vô hình vô tướng. Còn Sự là Cảnh vì nó có hình có tướng—Buddhahood is Mind and Environment in harmony—If anyone wishes to attain the Emancipation and the fruit of Ultimate Enlightenment of Buddhahood, it is necessary to harmonize both Practice and Theory. It is important to understand that Mind is Theory because it is formless, and Practice is Environment because it has form. 4) Trời Tâm bình đẳng Phật cùng sanh—Hễ Tâm bình đẳng thì chính là Tâm Phật, vì các pháp đều bình đẳng, đều có đủ ba môn giải thoát là Không, Vô Tướng, và Vô Nguyện như nhau cả. Phật được gọi là đấng Bình Đẳng, vì đối với tất cả các loài chúng sanh, Ngài đều dùng lòng từ bi, thương xót và hóa độ giống y như nhau. Tổ muốn nhắc chúng ta trong tu hành cho được thành đạo phải dứt bỏ cái tâm phân biệt—Equality of Mind is the birth of Buddha—If the Equality of Mind exists then that is the Buddha's Mind for all dharmas are equal, fair, non-biased, and are complete with the following three doors of emancipation and enlightenment of Emptiness, Non-Form, and Non-Vow. The Buddha is known as the “Equality One” because in associating with all sentient beings, He uses compassion, mercy, and empathy to transform and aid them regardless of their forms whether they are heavenly beings or are hell dwellers. The Patriarch wanted to remind all of us on the cultivated path, if anyone wishes to attain enlightenment, it is necessary to eliminate the “Discriminatory Mind.” 5) Bỏ Tâm theo Phật còn mơ mộng—Như có kẻ nào tu hành mà cứ để cho cái Tâm của mình cứ luôn luôn chạy theo vọng tưởng, tức là phan duyên, quên mất cái Chân Tâm của mình đi, tu như thế mà muốn được thành đạo hay được Phật rước về chốn Tây Phương Cựu Lạc, thì kẻ đó chỉ là người mơ mộng mà thôi, quyết sẽ chẳng bao giờ thành Phật được. Phật tử chơn thuần phải để cho Tâm của mình luôn thanh tịnh thì mới hợp với Tâm của Phật và mới thấy được Phật—Abandon True Mind but wish to follow Buddha is a delusional dream—Anyone who cultivates for enlightenment but always continue to allow the Mind to follow delusional thoughts or distractions, allowing for the Mind to pull and dictate one's being, and to forget about one's True Mind or Buddha Nature. If cultivated in this way but wishes to attain the enlightened path, or have Buddha delivered to the Western Ultimate Bliss World, then such a person is only a delusional dreamer, such an individual is certain never see the Buddha. Sincere cultivators should always allow their minds to be pure and quiescent in order to accord with the Mind of the Buddha, and once this happens they will see the Buddha. 6) Chấp Phật là Tâm chẳng trọn lành—Người tu hành nào mà cứ luôn miệng nói lý rằng tâm tôi đã là Phật, cần chi phải tu hành, cần chi phải lạy Phật hay niệm Phật, cần chi phải tụnh kinh, xuất gia, thọ giới, cần chi phải đi chùa nghe pháp, vân vân. Vì thế nên không chịu tu theo cách Hành Trì Sự Tướng, không chịu Y Giáo Phụng Hành. Ngược lại, Tâm chứa đầy những cống cao, ngã mạn, kẻ đó ắt chẳng được trọn lành. Khi lành chẳng được trọn, ắt phải là trọn ác. Tổ muốn nhắc chúng ta chớ nên nói lý suông “Phật là Tâm” trên đầu môi chót lưỡi, mà bỏ đi sự thực hành—Attach to Mind is Buddha then will not attain goodness—For cultivators who often speak hollowly and only in Theory, such as my Mind is already Buddha, then what is the need for a cultivated path? What is the need for prostrating to Buddha, or reciting Buddha's name? What is the need to chant sutra, leave home, or taking precepts? What is the need for going to temples to listen to the Dharma? Etc. Thus, they refuse to cultivate, refuse to apply the teaching to practice, and their minds are filled with egotism and conceit. Such people will never attain goodness. If they never attain goodness, then clearly they will attain wickedness. The Patriarch would like to remind all of us that do not speak hollowly by saying 'Buddha is Mind' and then abandon all 'form practices and applications' because to say and to do so one is guaranteed to 'not attain goodness' on the cultivated path. 7) Tâm Phật nguyên lai đều giả huyễn—Trong cái Chơn Như Pháp Tánh Giới ấy, thì Tâm cũng không có, nghĩa là Tâm bất khả đắc, Phật cũng bất khả đắc. Nếu người tu hành nào mà còn thấy có Phật có Tâm thì còn bị dính mắc vào trong các sự chấp trước, ắt sẽ không bao giờ giải thoát được. Tổ muốn khai thị cho chúng ta về Đệ Nhất Nghĩa Không là cảnh giới đại triệt, đại ngộ của các bậc Thánh nhân giải thoát, chứ không phải là cảnh giới của hàng phàm phu bạt địa chúng ta. Vì chúng ta là phàm phu chưa chứng đắc một chút gì cả nên cần phải chấp vào nơi sự tướng để mà tu. Nghĩa là thấy có vọng tâm cần dứt trừ, hay thấy có Phật để cầu tiếp dẫn—Mind, Buddha is inherently artificial and ilusory—In the True Dharma Realm Characteristic, the Mind does not existthe Buddha does not exist either. Thus, if any cultivator still sees or discriminates there is Buddha, there is Mind, that cultivator is still trapped and stucked in 'attaching to forms and discriminations' and will never attain liberation and enlightenment. The Patriarch wanted to open our Minds to follow the Highest and Most Deeply Penetrating Doctrine belonging in the realm of the 'Great Enlightenment' of the Saintly Beings who have attained liberation and does not belong to the realm of the unenlightened mortals such as ourselves. Because we are ordinary mortals who have not attained enlightenment, it is necessary for us to be attached to the practice and form characteristics in order to cultivate, in other words, we need the dharma as means for us to attain enlightenment. This means we see the existence of the delusional mind needing to be eliminated, and we see the existence of Buddha in order to pray for deliverance. 8) Phật Tâm đồng diệt đến viên thành—Nếu như ai mà tu chứng đắc đến được cảnh giới không còn thấy có Tâm nữa như ngài Huệ Khả trả lời đức Đạt Ma Tổ Sư 'Tôi tìm Tâm không được,' hay không thấy có Phật, thì các bậc ấy đã chứng đạo và trở về được cái thể Nhứt Chơn rồi vậy. Bát Nhã Tâm Kinh gọi là 'Ngũ uẩn giai không' tức là phủi chân bước lên bờ giải thoát—Buddha, Mind both eliminated: Attain Perfection—If anyone is able to penetrate fully the state where the mind no longer exists or no longer seen, as the way the Second Patriarch said to Bodhidharma 'I cannot find the Mind,' or do not see the existence of Buddha; then such a person has attained enlightenment and has returned to Oneness of emptiness and Nirvana. The Heart Sutra refers to the Mind as the 'Five Skandhas Emptiness.” If this is achieved, one has crossed over and landed on the shore of enlightenment. ; (念佛) Phạm: Buddhànusmfti. Pàli:Buddhànussati. Trong tâm nhớ nghĩ về Pháp thân của Phật(lí niệm Phật), quán tưởng thân tướng cụ thể của Phật, hoặc quán tưởng công đức của Phật, cho đến miệng xưng niệm danh hiệu của Phật... đều gọi là niệm Phật, là 1 trong những phương pháp tu hành cơ bản của Phật giáo. Trong đó, niệm Phật theo lí pháp, gọi là Pháp thân niệm Phật; trong tâm nhờ nghĩ về công đức và thân tướng của Phật, gọi là Quán tưởng niệm Phật; còn miệng xưng niệm danh hiệu Phật thì gọi là Xưng danh niệm Phật. Tiểu thừa chỉ niệm Phật Thích ca mâu ni, Đại thừa thì chủ trương trong 10 phương 3 đời có vô số Phật, cho nên danh hiệu Phật được niệm cũng rất nhiều. Nhưng thông thường thì niệm Phật A súc, Phật Dược sư,Phật Di lặc, Đại nhật Như lai, Phật A di đà v.v...Trong đó, đối tượng chính là Phật A di đà, cho nên niệm Phật A di đà được xem như niệm tất cả chư Phật. Trong các kinh A hàm, niệm Phật tức là bày tỏ lòng qui kính, lễ bái, tán thán, nhớ nghĩ đối với đức Phật Thích ca mâu ni. Nhờ công đức niệm Phật mà diệt trừ tham sân si, được sinh lên cõi trời, được chứng nhập Niết bàn. Trong các kinh Đại thừa như: Bát chu tam muội, Đại A di đà quyển hạ, phẩm Hiền thủ trong kinh Hoa nghiêm quyển 7 (bản dịch cũ)... đều có lập pháp môn Niệm Phật Tam Muội, tức buộc tâm vào danh hiệu của 1 đức Phật, quán tưởng 32 tướng hảo của Phật, cứ như thế niệm niệm nối nhau không dứt, thì có thể ở trong định thấy được Phật, cũng được sinh về cõi Phật. Tại Trung quốc, đối với việc niệm Phật, các sư nêu ra nhiều thuyết: 1. Trong luận Thích tịnh độ quần nghi quyển 7, ngài Hoài cảm nêu ra 2 loại Niệm Phật tam muội là Hữu tướng niệm Phật tam muội và Vô tướng niệm Phật Tam muội, cho rằng: Nếu muốn được Vô tướng niệm Phật tam muội thì phải niệm Pháp thân Phật, còn muốn được Hữu tướng niệm Phật tam muội thì niệm Báo thân Phật và Hóa thân Phật. 2. Trong Ngũ phương tiện niệm Phật môn, ngài Trí khải nêu ra 5 loại niệm Phật pháp môn: a) Xưng danh vãng sinh niệm Phật tam muội môn: Lúc hành giả niệm Phật thì phải khởi tâm muốn sinh về Tịnh độ. b) Quán tướng diệt tội niệm Phật tam muội môn: Nhất tâm quán tưởng tướng hảo của Phật phóng ra ánh sáng, ánh sáng ấy chiếu soi tất cả tội chướng, khiến đều tiêu diệt. c) Chư cảnh duy tâm niệm Phật tam muội môn: Đức Phật mà hành giả quán tưởng là từ nơi tự tâm hành giả mà ra, chứ không có cảnh giới nào khác. d) Tâm cảnh câu li niệm Phật tam muội môn: Chính cái tâm quán tưởng của hành giả cũng là không, chẳng có tự tướng. e) Tính khởi viên thông niệm Phật tam muội môn: Hành giả tiến vào thiền định sâu xa, lặng bặt, buông bỏ tất cả tâm thức, ý thức, được chư Phật 10 phương gia bị, hộ niệm, nhờ đó, cửa trí tuệ mở ra, tự tại vô ngại, thành tựu công đức viên mãn. 3. Trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 56, ngài Trừng quán cũng nêu ra 5 loại niệm Phật pháp môn: a) Duyên cảnh niệm Phật môn: Duyên theo cảnh mà niệm Phật. b) Nhiếp cảnh duy tâm niệm Phật môn: Thu nhiếp cảnh vào tâm... c) Tâm cảnh câu mẫn niệm Phật môn: Tâm và cảnh đều bặt... d) Tâm cảnh vô ngại niệm Phật môn: Tâm và cảnh không ngăn ngại nhau. e) Trùng trùng vô tận niệm Phật môn: Lớp này lớp khác, lớp lớp vô tận. 4. Trong Hoa nghiêm kinh hành nguyện phẩm biệt hành sớ sao quyển 4, ngài Tông mật nêu ra 4 loại niệm Phật: a) Xưng danh niệm: Chuyên tâm xưng niệm danh hiệu của Phật. b) Quán tượng niệm: Quán niệm tượng Phật. c) Quán tưởng niệm: Quán tưởng thân tướng tốt đẹp của Phật. d) Thực tướng niệm: Quán xét tướng chân thực của mình và tất cả các pháp. 5. Trong luận Niệm Phật tam muội bảo vương, ngài Phi tích nêu ra 3 pháp niệm Phật: a) Niệm hiện tại Phật: Chuyên chú vào 1 cảnh mà viên thông 3 đời. b) Niệm quá khứ Phật: Biết Phật và chúng sinh mê ngộ khác nhau, nhưng nhân quả của Phật và chúng sinh thì giống nhau. c) Niệm vị lai Phật: Nghĩ tất cả chúng sinh đều bình đẳng, đều là Phật vị lai. Ngoài ra, Đại Phật đính thủ lăng nghiêm kinh Viên thông sớ quyển 5 của ngài Truyền đăng và Ngẫu ích tông luận quyển 7 của ngài Trí húc, nêu ra 3 loại Niệm Phật: a) Niệm tha Phật: Niệm cảnh công đức trang nghiêm của Phật A di đà, hoặc niệm tướng hảo của Ngài, hoặc niệm pháp môn, thực tướng của Ngài. Đây là pháp môn tu hành của ngài Tuệ viễn và các sư ở Lô sơn. b) Niệm tự Phật: Quán xét cái tâm 1 niệm hiện tiền không có thể tính, lìa các lỗi lầm, đầy đủ trăm giới và mọi tính tướng, cùng với chư Phật 3 đời bình đẳng không 2, nếu quán xét rõ ràng đến được nhất tâm bất loạn, thì Tam muội liền thành, hoát nhiên phá trừ vô minh, vào cảnh minh tâm kiến tính. Đây là pháp môn tu hành của các sư thuộc Thiền tông và tông Thiên thai. c) Tự tha câu niệm: Tâm quán xét cùng với Phật và chúng sinh cả 3 không sai khác; biết rõ chúng sinh là chúng sinh trong tâm của chư Phật, mà chư Phật tức là chư Phật trong tâm của chúng sinh, cả 2 cảm ứng đạo giao, tự tha không cách nhau. Đây là pháp môn tu trì của các ngài Vĩnh minh, Diên thọ và Sở thạch Phạm kì. Vãng sinh yếu tập quyển hạ, phần cuối của ngài Nguyên tín, người Nhật, thì chia pháp môn niệm Phật làm 3 loại: a) Tầm thường niệm Phật: Niệm Phật hằng ngày. b) Biệt thời niệm Phật: Niệm Phật có thời gian và nơi chốn nhất định. c) Lâm chung niệm Phật: Niệm Phật lúc hấp hối mong được Phật đến đón. Ngoài ra, nhiều người kết đoàn với nhau cùng tu pháp môn niệm Phật, gọi là Niệm Phật hội, Niệm Phật giảng, Kết xã niệm Phật. Ngôi nhà dùng làm nơi tu hành niệm Phật, gọi là Niệm Phật đường. Niệm Phật liên tục gọi là Bất đoạn niệm Phật, Thường niệm Phật; tĩnh tâm niệm Phật gọi là Định tâm niệm Phật; thời khóa niệm Phật hằng ngày gọi là Nhật khóa niệm Phật... Còn có các pháp môn niệm Phật như: Nhiếp tâm niệm Phật, Sổ tức niệm Phật, Tham cứu niệm Phật, Khán thoại niệm Phật, Thích ca niệm Phật, Quan âm niệm Phật, Dược sư niệm Phật, Di lặc niệm Phật v.v... Tóm lại, ý nghĩa đích thực của việc niệm Phật là từ nơi miệng niệm Phật tiến vào niệm Phật trong tâm, niệm niệm không quên, cũng tức niệm này là Phật, thì niệm niệm thành Phật. [X. kinh Tạp a hàm Q.33; kinh Trì trai trong Trung a hàm Q.55; kinh Xà ni sa trong Trường a hàm Q.5; kinh Na tiên tỉ khưu; phẩm Niệm Phật trong kinh Phật tạng Q.thượng; luận Đại trí độ Q.21; luận Nhiếp đại thừa Q.hạ; phẩm Dị hành trong luận Thập trụ tì bà sa Q.5; phẩm Niệm Phật Q.9; luận Phân biệt công đức Q.2; Quán niệm pháp môn; Tư duy lược yếu pháp]. (xt. Ngũ Hội Niệm Phật, Thiên Thai Tông, Tịnh Độ Tông, Thiền Tông).

Niệm Phật Che Giấu

(隱し念佛, Kakushinembutsu): tên gọi một loại tín ngưỡng dân gian rất thịnh hành ở Đông bộ địa phương Đông Bắc, trung lâm là Iwate-ken (岩手縣). Mặc dầu tín ngưỡng này được tiến hành trùng lặp với Pháp Môn Bí Sự của Chơn Tông, nhưng về thể chất của nó thì thuộc hệ thống của Chơn Ngôn Niệm Phật, khác biệt với pháp môn trung tên của Chơn Tông. Chính Liễu Điền Quốc Nam (柳田國男, Yanagita Kunio) cũng như Tá Tá Mộc Hỷ Thiện (佐佐木喜善, Sasaki Kizen) đã khẳng định rõ rằng tín ngưỡng Niệm Phật Che Giấu ở địa phương Đông Bắc này thuộc hệ Chơn Ngôn; nhưng Cao Kiều Phạn Tiên (高橋梵仙, Takahashi Bonsen) đã tiến hành điều tra, báo cáo rõ ràng về nguồn gốc và thực trạng của loại tín ngưỡng này, và chứng minh cho chúng ta thấy rõ rằng nó khác với Pháp Môn Bí Sự. Theo điều tra nghiên cứu của Cao Kiều, trong các kinh điển được dùng làm truyền thừa áo nghĩa, có bản Ngũ Luân Cửu Tự Minh Bí Mật Thích (五輪九字明秘密釋) của Giác Noan (覺鑁); có việc các phái tương truyền các tượng của Hoằng Pháp Đại Sư (弘法大師), Hưng Giáo Đại Sư (興敎大師), Thân Loan Thánh Nhân (親鸞聖人); hay có nghi thức nhập môn gọi là “đan kết các ngón tay (指を組む, yubi wo kumu)”, có nghĩa là bắt ấn quyết; cho nên, đó là bản chất của Chơn Ngôn, là hình thức niệm Phật theo kiểu Chơn Ngôn. Nguyên lưu của tín ngưỡng Niệm Phật Che Giấu ở địa phương Đông Bắc này vốn phát xuất từ sự việc vào năm 1753 (Bảo Lịch [寶曆] 3) một nhóm 4 người lên kinh đô Kyoto, được Ngũ Binh Vệ Thiện Hưu (五兵衛善休), người đang tá túc tại Xương Tạng Viện (昌藏院) của Phật Quang Tự (佛光寺) của Chơn Tông, truyền trao cho pháp môn này; nên họ quay trở về và bắt đầu truyền bá; nhưng bị chính quyền của Phiên bắt giữ, xem như là tà pháp và bị xử hình kéo phanh thây vào ngày 25 tháng 5 năm 1754. Hệ thống của Ngũ Binh Vệ dần dần phân phái và phát triển qua các thời Minh Trị (明治, Meiji, 1868-1911), Đại Chánh (大正, Taishō, 1912-1926), Chiêu Hòa (昭和, Shōwa, 1926-1989). Mặt khác, phân phái của Pháp Môn Bí Sự (Thân Loan, Thiện Loan, Như Tín) thuộc hệ thống của Thường Thoại Tự (常瑞寺) ở Đại Cương (大綱, Ōzuna), Bạch Hà (白河, Shirakawa, thuộc Fukushima-ken [福島縣]), cũng rất phổ biến ở địa phương này. Nghi thức của tín ngưỡng Niệm Phật Che Giấu cũng giống như Pháp Môn Bí Sự, được tiến hành trong bóng tối với vài ngọn đèn leo lét, theo sự hướng dẫn của vị thiện tri thức thế tục, được người phụ tá trợ giúp, nhất tâm niệm Phật, xướng to rằng “cứu tôi với (助けたまえ, tasuketamae)” và vị thiện tri thức cho biết rằng khi đạt đến trạng thái gọi là phóng tâm (放心) thì quyết định vãng sanh. Người nào mới vào đạo thì phải giữ bí mật tín ngưỡng này. Khi vào đạo cũng có trường hợp người tuổi thành nhân (20 trở lên); nhưng tại địa phương này, trường hợp các em nhỏ trước khi vào tiểu học lại rất nhiều. Trong các thôn xóm, 9/10 là tín đồ của pháp môn này và ngay như trong cuộc sống thường nhật của họ cũng được các thiện tri thức giúp đỡ. Cho nên, tín ngưỡng này hoàn toàn khác với Pháp Môn Bí Sự của Chơn Tông.

niệm phật chúng sinh nhiếp thủ bất xá

(念佛衆生攝取不舍) Hào quang của đức Phật A di đà chiếu khắp tất cả các thế giới trong 10 phương, cứu độ những người xưng niệm danh hiệu Phật, không bỏ sót người nào. [X. kinh Quán vô lượng thọ].

niệm phật giả

Hành giả tu hành bằng cách niệm Phật, đặc biệt là Phật A Di Đà, với hy vọng được vãng sanh Cực Lạc—One who repeats the name of a Buddha, especially Amitabha, with the hope of entering the Pure Land.

niệm phật hành giả

(念佛行者) Chỉ cho người tu pháp môn niệm Phật, hoặc chỉ chung hành giả Tịnh độ.

niệm phật hồi hướng

(念佛回向) I. Niệm Phật Hồi Hướng. Đem công đức mình niệm Phật hồi hướng về Tịnh độ, hoặc hồi hướng cho những người khác còn sống hay đã chết. (xt. Hồi Hướng). II. Niệm Phật Hồi Hướng. Chỉ cho văn hồi hướng đọc sau khi niệm Phật.(xt. Hồi Hướng Văn).

niệm phật kính

(念佛鏡) Gọi đủ: Cầu sinh Tây phương tịnh độ niệm Phật kính. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Đạo kính và Thiện đạo soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Tác phẩm này đem môn niệm Phật so sánh với các pháp môn khác nhằm cổ xúy cho hạnh niệm Phật. Niệm Phật kính có nghĩa là tấm gương soi sáng người tu hạnh niệm Phật, giúp họ tăng thêm lòng tin và dứt trừ ngờ vực. Nội dung sách này chia làm 11 môn, giải thích rõ danh nghĩa và thể đức của việc niệm Phật. Thứ tự các môn là: Khuyến tiến niệm Phật môn, Tự lực tha lực môn, Niệm Phật đắc ích môn, Dĩ đắc vãng sinh môn, Hiệu lượng công đức môn, Hiệu lượng trai phúc môn, Nghi báng đắc tội môn, Thệ nguyện chứng giáo môn, Quảng nhiếp chư giáo môn, Thích chúng nghi hoặc môn và Niệm Phật xuất tam giới môn. [X. Tịnh độ y bằng kinh luận chương sớ mục lục].

Niệm Phật Phòng

(念佛房, Nembutsubō, 1088-?): nhân vật tùy tùng theo Nhất Biến (一遍, Ippen), hiệu là Niệm Phật Phòng (念佛房). Vào tháng 2 năm 1274, khi Nhất Biến lên đường du hành hóa đạo, thì ông cũng đi theo dưới hình thức vị Tăng, và ông được xem như là người thường hậu hạ cho Nhất Biến. Vào tháng 6 cùng năm này, ông chia tay với Nhất Biến.

niệm phật quán

(念佛觀) Phạm: Buddhànusmfti. Pháp quán niệm Ứng thân, Báo thân và Pháp thân của Phật để đối trị lại các nghiệp chướng như: Hôn trầm che lấp, ác niệm tư duy và cảnh giới bức bách. Theo Ngũ môn thiền kinh yếu dụng pháp thì Niệm Phật quán cùng với Bất tịnh quán, Từ bi quán, Duyên khởi quán và Sổ tức quán, gọi chung là Ngũ môn thiền. (xt. Ngũ Đình Tâm Quán).

niệm phật tam muội

Buddha Recitation Samadhi. (A) Khi niệm Phật, hành giả phải chú tâm nghĩ tưởng đến pháp thân Phật. Trong khi niệm Phật, hành giả nên thở ra vô đều đặn thế nào mà mình cảm thấy thoải mái nhất, chứ đừng gượng ép thở dài thở ngắn; vì gượng ép sẽ có nguy cơ bịnh đường hô hấp. Người làm công quả giúp việc nhà bếp dốt nát, mặt mày lem luốc, nhưng chuyên trì niệm hồng danh Phật sẽ thành tựu vãng sanh Cực lạc; ngược lại người thông minh đĩnh ngộ mà chỉ nhàn đàm hý luận, thì chuyện vào địa ngục là không thể nghĩ bàn—During repeating the Buddha's name, the individual whole-heartedly thinks of the appearance of the Buddha or of the Dharmakaya. During reciting the Buddha's name, one should inhale and exhale regularly and confortably; try not to lengthen or shorten your normal breath span because by trying to lengthen or shorten your breath, you may develop a respiratory problem. A person who come to the temple to help in the kitchen, dull-witted, and face is covered with soot, but diligently practises Buddha recitation will surely achieve the Pure Land rebirth; in contrast, an intelligent person spends all time in gossiping, rebirth in hells is inconceivable. There are two kinds of samadhi: 1) Định Khẩu Tam Muội: A fixed mouth samadhi. 2) Định Tâm Tam Muội: A fixed mind samadhi. (B) Theo Đại Sư Huệ Viễn trong Liên Tông Thập Tam Tổ, niệm Phật Tam Muội là nhớ chuyên và tưởng lặng—According to Great Master Hui-Yuan in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, Buddha Recitation Samadhi means “often remembering” and “having quiescence.” 1) Nhớ Chuyên—Often Remembering: Tâm trí lúc nào cũng chuyên nghĩ nhớ đến Đức Phật A Di Đà, chớ không bị chia chẻ nhiều lối, do đó mà được vào trong cảnh “chí một, tâm đồng.”—Often remembering means always to think and remember Amitabha Buddha and if this is the case, the mind will not be split into infinite directions; therefore, the cultivator is able to penetrate the state of “single mind of complete equality.” a) Chí một—One mind: Đây là tâm chỉ có duy nhất một chí quyết, ấy là “cầu vãng sanh Cực Lạc.”—The mind that has only “one determination,” that is “to gain rebirth in the Ultimate Bliss World.” b) Tâm Đồng—Complete Equality: Tâm giống y hệt như tâm của chư Phật, tức là tâm hoàn toàn lặng lẽ, thanh tịnh—This mind is similar to the Mind of Buddhas, which is a mind of complete purity and quiescence. 2) Tưởng Lặng—Having Quiescence: Tất cả các tư tưởng phù phiếm của chúng sanh đều bị lặng chìm hết cả. Làm được như vậy là được vào trong cảnh “khí thanh, thần sáng.” Hai điều nầy tự nhiên thầm hợp, nương về mà phát sanh ra diệu dụng—It is to have all our sentient beings' delusional thoughts, filled with afflictions, become completely tranquil and quiet. If this is achieved, the cultivator will be able to enter the state of “pure mind and enlightened spirit.” These two states will naturally and spontaneously combine to depend on each other to give rise to an unfathomable connection with the Budhas and Bodhisattvas. a) Khí Thanh—Pure Mind: Khi khí thanh thì trí huệ phát sanh. Trí nầy có khả năng soi ngộ đến tất cả các đạo lý nhiệm mầu—When pure mind exists, it will give rise to Wisdom. This wisdom shines through and penetrates all of the most profound and magnificient Dharma teachings. b) Thần Sáng—Enlightened Spirit: Thần sáng có nghĩa là tinh thần chiếu suốt các nơi tăm tối, không chỗ tối tăm nào mà chẳng được soi tới—Enlightened spirit means the spirit will shine to all darkness, there is no area of ignorance does not reach it. ; (念佛三昧) Tam muội quán niệm đức của Phật hoặc xưng niệm danh hiệu Phật, tức là loại thiền định lấy niệm Phật làm nội dung quán tưởng. Niệm Phật tam muội được chia làm 2 loại: 1. Nhân hành niệm Phật tam muội: Nhất tâm quán tưởng tướng hảo của Phật, hoặc nhất tâm quán tưởng thực tướng của Pháp thân Phật, cả 2 đều là quán tưởng niệm Phật. Trái lại, nhất tâm xưng niệm danh hiệu của Phật thì gọi là Xưng danh niệm Phật. 2. Quả thành niệm Phật tam muội: Ba loại nhân hành nói trên được thành tựu, như trong thiền định được thấy thân Phật hiện tiền. Nhân hành niệm Phật tam muội là tu, Quả thành niệm Phật tam muội là phát được. Kinh Quán vô lượng thọ Phật (Đại 12, 343 trung) nói: ... Lại quán tưởng thân tướng sáng chói của Phật Vô lượng thọ (...), tướng hảo sáng rỡ của Ngài cùng với hóa Phật không thể nói hết. Chỉ nên nhớ tưởng khiến tâm thấy rõ. Người thấy việc ấy tức thấy hết thảy chư Phật trong 10 phương, vì thấy chư Phật nên gọi là Niệm Phật tam muội. Luận Đại trí độ quyển 7 cũng nói: Niệm Phật tam muội có năng lực diệt trừ hết mọi thứ phiền não và các tội đời trước. Về tướng trạng và công năng của loại Tam muội này tuy đều gọi là Niệm Phật tam muội, nhưng chư Phật có 3 đời, 10 phương khác nhau và 3 thân sai biệt, cho nên niệm Phật, quán Phật và xưng danh hiệu Phật cũng bất đồng. Cứ theo Lược luận an lạc tịnh độ nghĩa của ngài Đàm loan và An lạc tập của ngài Đạo xước, thì chuyên chú và liên tục nhớ nghĩ đến tướng trạng của Niệm Phật tam muội, hoặc đến thần lực, trí tuệ, hào tướng, tướng hảo, bản nguyện, danh hiệu... của Phật đều gọi là Niệm Phật tam muội. [X. phẩm Vấn thừa trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.5; kinh Bồ tát niệm Phật tam muội Q.7; phần Bồ tát niệm Phật tam muội trong kinh Đại phương đẳng đại tập; Lạc bang văn loại Q.2].

niệm phật tam muội bảo vương luận

(念佛三昧寶王論) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Phi tích soạn vào niên hiệu Thiên bảo năm đầu (742) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng 47. Ngài Phi tích lấy Niệm Phật tam muội làm Bảo vương(vua báu) trong các thiền tam muội, đề xướng thuyết Vạn thiện đồng qui, 3 đời đều tu niệm Phật. Nội dung sách này chia làm 3 môn: Niệm Phật vị lai, Niệm Phật hiện tại và Niệm Phật trong suốt 3 đời đều là Phật; sau đó lại chia nhỏ làm 20 môn: Trì giới phá giới đãn sinh Phật tưởng môn, Vô thiện khả trạch vô ác khả khí môn, Thị tâm thị Phật thị tâm tác Phật môn, Vô tâm niệm Phật lí sự song tu môn v.v... Những kinh luận được trích dẫn trong sách này gồm có: Kinh Quán vô lượng thọ, kinh Pháp hoa, kinh Đại phẩm bát nhã, kinh Đại bảo tích, kinh Đại tập, luận Thập trụ tì bà sa, luận Đại thừa khởi tín, An lạc tập v.v... Năm Vạn lịch 36 (1608) đời Minh, ngài Trí húc đem sách này xếp vào bộ Tịnh độ thập yếu quyển 5. [X. Lạc bang văn loại Q.2, 4; Phật Tổ thống kỉ Q.22].

niệm phật tam muội pháp ngữ

(念佛三昧法語) Cũng gọi Ngự bản hoài pháp ngữ. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Chân thịnh người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 77. Nội dung sách này chỉ có 213 chữ, chia làm 3 đoạn: 1. Đoạn thứ 1 nói rõ vào Niệm Phật tam muội thì Cực lạc hiển hiện, có cả chư Phật 3 đời và các thần hiện tới. 2. Đoạn thứ 2 nhấn mạnh bản chất của Niệm Phật tam muội là lòng tin; phàm phu đời mạt thế cần phải xét lại thực trạng bất tín của mình. 3. Đoạn thứ 3 thì nói tất cả chúng sinh phải thệ nguyện trở thành người có đại tín tâm và dốc 1 lòng niệm danh hiệu đức Phật A di đà. [X. Tam pháp ngữ lược giải; Xưng danh am tạp khí; Thiên thai Chân thịnh tông tông học phiếm luận].

niệm phật thiền

(念佛禪) Niệm Phật trong lúc ngồi thiền. Niệm Phật có 4 phương pháp: Quán tượng niệm Phật, Quán tưởng niệm Phật, Thực tướng niệm Phật và Xưng danh niệm Phật. Trong đó, pháp Quán tưởng niệm Phật được truyền từ Ấn độ, như ngài Phật đà bạt đà la lấy pháp Quán tưởng niệm Phật làm chính để tu tập Quán Phật tam muội và Bát chu tam muội. Tại Trung quốc, các Thiền sư tu pháp Niệm Phật thiền thì như môn đệ của Ngũ tổ Hoằng nhẫn đời Đường có các ngài Pháp trì, Trí tân, Tuyên thập và các vị đệ tử thuộc hệ thống ngài Trí tân như: Xử tịch, Vô tướng, Vô trụ, Thừa viễn... Đến đời Tống, Thiền sư Vĩnh minh Diên thọ thuộc tông Pháp nhãn đề xướng Niệm Phật thiền của dòng Từ mẫn và, trong tác phẩm Vạn thiện đồng qui tập, nêu ra thuyết Thiền Tịnh nhất trí. Ngô Việt vương Trung ý thì xây điện Tây phương Hương nghiêm ở chùa Vĩnh minh làm đạo tràng niệm Phật. Thiền sư Thiên y Nghĩa hoài thuộc tông Vân môn và các đệ tử Dương kiệt, Tuệ lâm Tông bản... cũng đều chủ trương Thiền Tịnh song tu. Thiền sư Trường lô Tông di cũng chủ trương Thiền Tịnh song tu, trong Thiền uyển thanh qui do ngài soạn có qui định pháp A di đà Phật thập niệm để siêu tiến vong linh vãng sinh Tịnh độ. Ngoài ra, các Thiền sư Trung phong Minh bản, Thiên như Duy tắc, Bắc giản Cư giản, Sở thạch Phạm kì v.v... ở đời Nguyên, cũng là những người đề xướng Niệm Phật thiền. Đời Minh thì có các ngài Vân thê Châu hoành, Hàm sơn Đức thanh là những nhân tài lỗi lạc trong số những người chủ trương Niệm Phật thiền. Vì vậy, có thể nói, Niệm Phật thiền hầu như đã chiếm trọn địa vị trong Thiền giới Trung quốc. Tông Hoàng bá của Nhật bản cũng truyền thừa Niệm Phật thiền của Trung quốc.

niệm phật thập chủng tâm

(念佛十種心) Mười thứ tâm niệm Phật. Cứ theo hội Phát thắng chí lạc trong kinh Đại bảo tích quyển 92, nếu có chúng sinh phát 10 thứ tâm chuyên chú niệm Phật A di đà, thì lúc lâm chung sẽ được sinh về thế giới cực lạc. Mười thứ tâm ấy là: 1. Tâm không tổn hại: Người niệm Phật đối với chúng sinh thường khởi từ tâm rộng lớn, không gây tổn hại khiến cho họ được yên vui. 2. Tâm không bức não: Người niệm Phật thân tâm an tĩnh, đối với chúng sinh thường khởi tâm đại bi thương xót, làm cho họ được thoát khổ. 3. Tâm ưa giữ gìn: Người niệm Phật đối với chính pháp, hết lòng giữ gìn, không tiếc thân mệnh. 4. Tâm không chấp trước: Người niệm Phật thường dùng trí tuệ quán xét, đối với tất cả pháp, tâm không đắm trước. 5. Tâm khởi ý thanh tịnh: Người niệm Phật không những có khả năng xa lìa các pháp tạp nhiễm thế gian, mà đối với lợi dưỡng cũng thường sinh tâm biết đủ. 6. Tâm không quên mất: Người niệm Phật cầu sinh Tịnh độ, thành chủng trí Phật, trong tất cả thời, niệm niệm không buông bỏ tâm ấy. 7. Tâm không hạ liệt: Người niệm Phật thường có tâm bình đẳng, đối với chúng sinh tôn trọng cung kính, không sinh tâm khinh mạn.8. Tâm sinh quyết định: Người niệm Phật không chấp trước ngôn luận thế gian, đối với đạo Bồ đề vô thượng, sinh tâm chính tín, dứt khoát không ngờ vực. 9. Tâm không tạp nhiễm: Người niệm Phật tu tập công hạnh, bồi đắp gốc lành, tâm luôn xa lìa tất cả phiền não tạp nhiễm. 10. Tâm khởi tùy niệm: Người niệm Phật tuy quán tưởng tướng hảo của Như lai, nhưng không sinh tâm ái trước, thường niệm Phật A di đà ở trong vô niệm.

niệm phật tán loạn

To recite the Buddha's name in a disturbed and agitated way—Phật tử chân thuần không nên niệm Phật tán loạn—Devoted practitioner should never recite the Buddha's name in a disturbed and agitated way.

Niệm Phật Tông

(念佛宗, Nembutsu-shū): tông phái thuyết về việc vãng sanh Tịnh Độ nhờ Xưng Danh Niệm Phật, đặc biệt là niệm danh hiệu A Di Đà. Từ này nói một cách trực tiếp thì muốn ám chỉ đến Tịnh Độ Tông (淨土宗, Jōdo-shū) do Pháp Nhiên (法然, Hōnen, 1133-1212) sáng lập nên, nhưng nó vẫn còn được dùng như là tên gọi chung của cả Tịnh Độ Chơn Tông, Thời Tông và Dung Thông Niệm Phật Tông của Nhật.

niệm phật tông

Tông phái lấy việc xưng tụng hồng danh Đức Phật A Di Đà với chủ đích cầu nguyện vãng sanh Cực Lạc làm tôn chỉ, được sáng lập bởi các ngài Đạo Xước, Thiện Đạo và các vị khác vào thời nhà Đường—The sect which repeats only the name of Amitabha with the intention to go to (be reborn) the Western Paradise after death, founded in the T'ang dynasty by Tao-Ch'o, Shan-Tao, and others. ; (念佛宗) Cũng gọi Tịnh độ tông. Chỉ cho tông phái quán tưởng và xưng niệm danh hiệu đức Phật A di đà nguyện cầu vãng sinh Cực lạc. Ngài Long thụ y cứ vào pháp Vãng sinh Tịnh độ nói trong kinh Vô lượng thọ mà lập thành Nan hành đạo (đạo khó thực hành) và Dị hành đạo(đạo dễ thực hành). Đến các ngài Đạo xước, Thiện đạo ở đời Đường, Trung quốc, tiếp nối thuyết minh ý này, lấy pháp Thử độ nhập Thánh ( ............) (thành Thánh cõi này) làm tự lực thánh đạo(dựa vào sức tu hành của chính mình), lấy Tịnh độ vãng sinh ( .) (sinh sang Tịnh độ) làm tha lực dị hành(nhờ sức gia bị của Phật). Những tông phái vâng theo giáo chỉ này gọi chung là Tịnh độ tông, hoặc Niệm Phật tông. Nhật bản thì gọi là Tịnh độ chân tông. (xt. Tịnh Độ Tông).

niệm phật vi bổn

Phật A Di Đà sẽ rước người về Tây phương Cực Lạc dù người ấy chỉ niệm hồng danh Ngài---Amitabha Buddha will revert or receive the one who merely repeat his name.

niệm phật vi tông

(念佛爲宗) Tông phái lấy niệm Phật làm pháp môn chủ yếu, tức xưng niệm danh hiệu Phật làm pháp môn tu trì, đồng thời, lấy Niệm Phật tam muội nói trong kinh Quán vô lượng thọ làm tông chỉ. Đây là phán giáo của ngài Thiện đạo đời Đường. (xt. Niệm Quán Lưỡng Tông).

niệm phật và lục ba la mật

Theo ngài Ngẫu Ích Đại Sư, Tổ thứ Chín của Trung Quốc Liên Tông Thập Tam Tổ, niệm Phật và hành trì Lục Độ không sai khác—According to Great Master Ou-I, the Ninth Patriarch of the Chinese Thirteen Patriarchs of the Pureland Buddhism, there are no differences between practicing Buddha Recitation and practicing the Six Paramitas: 1) Niệm Phật mà buông bỏ được thân tâm và thế giới ấy là Đại Bố Thí: Reciting the Buddha's name without being attached to mind and body is the practice of “Great Giving.” 2) Niệm Phật mà không khởi tham sân si ấy là Đại Trì Giới: Reciting the Buddha's name without having greed, hatred, and ignorance, is the practice of “Great Maintaining Precepts.” 3) Niệm Phật mà không màng đến các điều nhơn ngã hay các lời thị phi, ấy là Đại Nhẫn Nhục: Reciting the Buddha's name without attachments to self, others, right, wrong, better, worse or any similar gossip is the practice of “Great Tolerance.” 4) Niệm Phật không gián đoạn, không tạp vọng, ấy là Đại Tinh Tấn: Reciting the Buddha's name without interruptions and distractions is the practice of “Great Vigor.” 5) Niệm Phật không còn tưởng nghĩ đến các việc trần tục, dù lớn hay dù nhỏ, ấy là Đại Thiền Định: Reciting the Buddha's name without delusional and chaotic thoughts is the practice of “Great Meditation.” 6) Niệm Phật mà không bị các pháp khác lôi kéo mê hoặc, ấy là Đại Trí Huệ: Reciting the Buddha's name without being allured and attracted by other cultivated paths or Dharma doors is the practice of “Great Wisdom.”

niệm phật vãng sanh

Một người chỉ cần niệm Phật, thì dù trong quá khứ người ấy có phạm phải lỗi lầm, vẫn được phước đức của Phật A Di Đà và được nhận về Tây phương Cực Lạc—If a person merely repeat the name of Amitabha, no matter how evil his life may have been in the past, will acquire the merits of Amitabha and be received into Western Paradise.

niệm phật vãng sanh nguyện

The eighteenth vow of the forty-eight vows of Amitabha—See Tứ Thập Bát Nguyện.

niệm phật vãng sinh nguyện

(念佛往生願) Cũng gọi Nhiếp thủ chí tâm dục sinh nguyện, Chư duyên tín nhạo thập niệm vãng sinh nguyện, Văn danh tín nhạo thập niệm định sinh nguyện, Thập niệm vãng sinh nguyện, Xưng danh vãng sinh nguyện, Chí tâm tín nhạo nguyện, Đệ thập bát nguyện. Thệ nguyện thu nhiếp lấy những người niệm Phật sinh về Tịnh độ của đức Phật A di đà, là nguyện thứ 18 trong 48 nguyện của Phật A di đà... Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 thượng) nói: Nếu tôi thành Phật, chúng sinh ở 10 phương, dốc lòng tin ưa, muốn được sinh về cõi nước của tôi, cho đến niệm 10 niệm mà không được sinh thì tôi không thành chính giác, chỉ trừ những người tạo tội ngũ nghịch và hủy báng chính pháp. Vì thệ nguyện của Phật A di đà sâu nặng như thế, cho nên phàm những người xưng niệm danh hiệu Phật, có đầy đủ tâm chí thành, tâm sâu xa và tâm hồi hướng phát nguyện, cầu vãng sinh, thì chắc chắn sẽ được Phật tiếp dẫn. Cứ theo Vãng sinh lễ tán của ngài Thiện đạo thì từ ngữ cho đến 10 niệm trong văn nguyện, có hàm ý là cho đến 10 tiếng, tức chỉ niệm 10 lần câu Na mô A di đà Phật cũng được sinh về Tịnh độ. Vì đức Phật A di đà đã thành Phật rồi và hiện đang ở cõi Tịnh độ, nên lời thệ nguyện của Ngài không hề hư dối. Về từ ngữ cho đến 10 niệm có nhiều thuyết. Ngài Đàm loan chủ trương cho đến 10 niệm là niệm liên tục không giá đoạn; các ngài Nguyên hiểu, Pháp vị, Huyền nhất... thì cho đó là 10 pháp 10 niệm: Từ, bi, hộ, pháp... nói trong kinh Di lặc phát vấn. Ngài Nghĩa tịch thì cho niệm tức hàm ý thời gian, xưng niệm 6 chữ danh hiệu 1 lần là 1 niệm, 10 lần tức thành 10 niệm, trong mỗi niệm ấy tự nhiên đầy đủ 10 pháp 10 niệm từ, bi v.v... Trong Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập, ngài Nguyên không, người Nhật bản, cho rằng giữ giới, tụng kinh, thực hành 6 độ, công đức tuy rất lớn, có thể hồi hướng vãng sinh, nhưng đều không thù thắng bằng công đức xưng danh niệm Phật, cho nên chỉ lấy 1 hạnh niệm Phật làm bản nguyện vãng sinh mà thôi. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng (Tuệ viễn); Quán niệm pháp môn]. (Xt. Tứ Thập Bát Nguyện).

niệm quán lưỡng tông

(念觀兩宗) Chỉ cho tông phái lấy Niệm Phật tam muội và Quán Phật tam muội của kinh Quán Vô lượng thọ làm tông chỉ. Đây là phán giáo Nhất kinh lưỡng tông do ngài Thiện đạo thuộc tông Tịnh độ Trung quốc lập ra; tức lấy kinh Quán Vô lượng thọ làm y cứ căn bản rồi chia ra 2 tông: Niệm Phật và Quán Phật. Tông Niệm Phật là hiển nghĩa(nghĩa rõ ràng)của kinh QuánVô lượng thọ, do đức Phật Thích ca chỉ dạy hồi hướng nguyện cầu mong được vãng sinh về Hóa độ.Tông Quán Phật là ẩn nghĩa (nghĩa kín đáo)của kinh Quán Vô lượng thọ, do đức Phật A di đà chỉ dạy hồi hướng nguyện sinh, mong được vãng sinh về Báo độ. [X. phần Huyền nghĩa trong Quán Vô lượng thọ kinh sớ (Thiện đạo)].

niệm thiên

Niệm dục giới Thiên hay niệm Tam Giới Thiên, một trong sáu loại Dục Thiên (Tiểu Thừa nói niệm Dục giới Thiên, Đại Thừa nói niệm Tam Giới Thiên)—One of the six devalokas, that of recollection and desire. ; (念天) Phạm: Devànusmfti. Pàli: Devànussati. Thường nghĩ đến sự vui sướng và đầy đủ của các trời, đồng thời, tu các thiện nghiệp như bố thí, trì giới... làm cho thân tâm được thanh tịnh, không tạo các nghiệp ác để cảm được quả báo thân tướng tốt đẹp của cõi trời. Phẩm Quảng diễn trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 2 (Đại 2, 555 hạ) nói: Đức Thế tôn dạy rằng: Nếu có tỉ khưu chính thân chính ý ngồi kết già, buộc niệm ở trước, không nghĩ việc khác, chuyên chú niệm thiên, miệng ý thanh tịnh, không tạo nghiệp ác, giữ giới thành thân, phóng ra ánh sáng chiếu khắp mọi nơi (...). Thường xuyên tư duy không lìa thiên niệm, liền được các công đức thù thắng. [X. kinh Tạp a hàm Q.33; kinh Tăng nhất a hàm Q.1; luận Đại trí độ Q.22]. (xt. Niệm).

niệm thuần

(念純) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Minh, người Thái hòa, tỉnh Giang tây, họ Quách, húy Trí nhất. Thân mẫu nằm mộng thấy hoa sen trắng mà mang thai sư, lúc sinh ra sư, ánh sáng soi khắp nhà. Ngay từ nhỏ sư không chịu ăn cá thịt. Lên 10 tuổi sư đã thông suốt nội điển, 18 tuổi đậu Tiến sĩ, từng làm quan đến chức Đô ngự sử, Tuần phủ Quí châu và Quảng đông. Năm 25 tuổi, gặp nạn quyền thần thao túng, sư bỏ quan và theo Thiền sư Đơn hà Đại tố xuất gia, y vào Đại sư Vân thê Liên trì thụ giới. Trong khoảng 10 năm sư đi tham học khắp nơi, Thiền Tịnh song tu, cuối cùng sư đại ngộ và được các ngài Tử bá, Hàm sơn ấn khả. Năm Thiên khải thứ 6 (1626), sư lập am Liên xã, chuyên tu Tịnh độ, mỗi ngày niệm 10 vạn danh hiệu Phật A di đà, lại cất chùa Ngao sơn, am Thanh liên, Chiên đàn lâm... Các nơi xa gần ngưỡng mộ đạo phong của sư tranh nhau đến học rất đông và nhiều người đắc độ. Tháng 7 năm Thuận trị 16 đời Thanh sư tịch, hưởng thọ 73 tuổi, 48 tuổi hạ. Sư mất được 100 ngày mà sắc mặt vẫn như sống, hương thơm không tan. Quan Tri châu là La công và tín chúng lưu giữ nhục thân của sư ở am Liên xã để cúng dường, đến nay đã hơn 300 năm mà không hư hoại. Sư có các tác phẩm: Quan châm thanh loa tập, Thiền tịnh song tu tập, Tịnh độ thi. [X. Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.4 (Hư vân)].

niệm thí

(念施) Phạm: Tyàgànusmftì. Pàli: Càgànussati. Cũng gọi Niệm bố thí, Niệm xả. Thường xuyên nghĩ đến việc bố thí không quên, 1 trong 10 niệm, 1 trong 8 niệm, 1 trong 6 niệm. Pháp uyển châu lâm quyển 34 (Đại 53, 549 thượng) nói: Niệm thí nghĩa là thường nghĩ đến việc bố thí, đối với những tài vật đã đem bố thí, không bao giờ sinh tâm hối tiếc, không mong được báo đền, mau được thiện lợi. Nếu bị người chửi mắng, dùng dao gậy đánh chém, nên khởi lòng từ, không nên tức giận. Khi ta bố thí, ý bố thí không dứt thì trừ được các loạn tưởng, tự đến Niết bàn, không lìa niệm thí, liền được công đức. [X. Tăng nhất a hàm Q.2; Chư kinh yếu tập Q.3]. (xt. Niệm).

niệm thực

(念食) Thức ăn bằng sức nhớ nghĩ, 1 trong 9 cách ăn. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 41 nêu ra 4 loại ăn thế gian và 5 loại ăn xuất thế gian, Niệm thực thuộc về loại ăn xuất thế gian. Nghĩa là nếu hành giả luôn nhớ nghĩ thiện pháp và giữ gìn không quên, thì chắc chắn sẽ nuôi lớn gốc lành, bổ ích tuệ mệnh, như thức ăn của thế gian nuôi lớn và bổ ích cho sắc thân vậy. (xt. Thực).

niệm trì

Duy trì trí nhớ không gián đoạn—To apprehend and to hold in memory. ; (念持) Nhớ nghĩ thụ trì không chút gián đoạn. Luận Đại trí độ quyển 48 (Đại 25, 405 hạ) nói: Niệm trì trí tuệ, giữ các duyên không để tán loạn, cho nên gọi là Niệm xứ.[X. kinh Hoa nghiêm Q.1 (bản 80)].

niệm trì phật

(念持佛) Cũng gọi Chẩm mộc tôn. Gọi tắt: Trì Phật. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho tượng Phật được đặt ở phòng riêng hay mang theo bên mình. Cứ theo Tứ phần luật Tỉ khưu giới bản và điều Ngọa tức phương pháp trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3, thì Ấn độ đã có phong tập an trí tượng Phật trong phòng tăng để lễ kính hàng ngày rất sớm. Ở Nhật bản, các tượng Phật cỡ nhỏ rất được nhiều người ưa thích. Những kiệt tác trước thời Thiên bình, như Niệm trì Phật của Quật phu nhân, phần nhiều được đặt trong khám thờ trong Trì Phật đường, hoặc thờ riêng 1 gian trong nhà. Nhưng, về sau, phong tục Trì Phật đường rất thịnh hành. [X. Thập di vãng sinh truyện Q.thượng; Loại tụ danh vật khảo Q.26].

niệm trước

Từ loạn niệm dẫn đến chấp trước vào ảo tưởng—Through perverted memory to cling to illusion.

niệm tăng

Mindfulness of the Sangha.

niệm tụng

1) Niệm hồng danh một vị Phật: To recite, repeat, intone the name of a Buddha. 2) Niệm Đà La Ni hay niệm chú: To recite a dharani or spell. ; (念誦) Phạm: Jàpa. Tâm niệm, miệng tụng danh hiệu Phật, thần chú hoặc văn kinh. Có thể chia 2: I. Pháp Niệm Tụng Của Mật Giáo. Mật giáo quán tụng chân ngôn của bản tôn mục đích cầu mong bản tôn và tam mật thân, khẩu, ý của hành giả trở thành 1 thể, cho đến thành Phật. Niệm tụng có Chính niệm tụng và Tán niệm tụng. Chính niệm tụng cũng gọi Niệm tụng, Thứ đệ niệm tụng, là chỉ cho việc tụng niệm chân ngôn của bản tôn 1 cách chính xác. Tán niệm tụng cũng gọi là Tùy ý niệm tụng, Chư tạp niệm tụng, thì không chỉ giới hạn ở việc tụng niệm chân ngôn của bản tôn, mà còn tụng chân ngôn của các vị tôn khác có liên quan với hành giả. Chính niệm tụng là đốt hương xông hạt châu, dùng chân ngôn Tịnh châu để gia trì, kế đến tụng Thiên chuyển minh (chân ngôn Toàn chuyển môn); sau hết, quán tưởng chân ngôn bí mật(quán chữ Luân) trong vòng tròn Tâm nguyệt(trái tim)của hành giả và bản tôn, rồi tụng Đà la ni. Ba giai đoạn tu pháp ghi trên nối nhau không gián cách, xa lìa được nghiệp nhơ nhớp mà tương ứng với Tam mật của bản tôn, thành tựu tất địa. Còn Tán niệm tụng thì trước tiên tụng chân ngôn Phật nhãn và cuối cùng tụng chân ngôn Nhất tự luân. Ngoài ra, vì pháp tu khác nhau nên có nhiều cách niệm tụng: 1. Tâm tưởng, Tiên trì tụng, Cụ chi, Tác thành tựu. 2. Âm thanh, Kim cương, Tam ma địa, Chân thực. 3. Tam ma địa, Ngôn âm, Kim cương, Hàng ma. 4. Trừ tai, Hàng phục chư ma, Tăng ích, Nhiếp triệu. [X. phẩm Trì tụng pháp tắc trong kinh Đại nhật Q.7; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1, 4; Niệm tụng kết hộ pháp phổ thông chư bộ; Đại nhật kinh cúng dường thứ đệ pháp sớ Q.hạ]. II. Pháp Niệm Tụng Của Thiền Tông. Thiền tông lấy danh hiệu của 10 đức Phật làm pháp niệm tụng. Cứ theo môn Phúng xướng trong Thiền lâm tượng khí tiên thì pháp này do ngài Đạo an đặt ra vào đời Đông Tấn. Mười đức Phật là: 1. Thanh tịnh pháp thân Tì lô giá na Phật. 2. Viên mãn báo thân Lô xá na Phật. 3. Thiên bách ức hóa thân Thích ca mâu ni Phật. 4. Đương lai hạ sinh Di lặc tôn Phật. 5. Thập phương tam thế nhất thiết chư Phật. 6. Đại thánh Văn thù sư lợi bồ tát. 7. Đại hạnh Phổ hiền bồ tát. 8. Đại bi Quán thế âm bồ tát. 9. Chư tôn Bồ tát ma ha tát. 10. Ma ha Bát nhã ba la mật. Pháp niệm tụng trên đây được chia làm 2 loại: 1. Tam bát niệm tụng: Pháp niệm tụng ở Tăng đường. Trước hết, treo bảng niệm tụng, quét dọn Tăng đường, tới giờ bày biện hương đèn, thỉnh chuông tập chúng, đại chúng lần lượt đi vòng quanh Tăng đường xưng niệm danh hiệu 10 đức Phật. Cũng được chia làm 2 loại: a) Tam niệm tụng: Niệm tụng vào các ngày 3, 13, 23 trong mỗi tháng. b) Bát niệm tụng: Niệm tụng vào các ngày 8, 18, 28 trong mỗi tháng. 2. Tứ tiết niệm tụng: Niệm tụng vào 4 ngày lễ lớn: Kết hạ, giải hạ, đông chí và đầu năm. Thứ tự của nghi thức đại khái giống với Tam bát niệm tụng, chỉ khác câu văn mà thôi. Ngoài ra còn có pháp niệm tụng vong tăng hoặc vong linh người thế tục. 1. Nhập khám niệm tụng: Niệm tụng lúc đưa thi thể vào quan tài. 2. Tỏa khám niệm tụng: Niệm tụng lúc đậy nắp quan tài. 3. Khám tiền niệm tụng: Niệm tụng ở trước khám. 4. Cử khám niệm tụng: Niệm tụng lúc di quan. 5. Sơn đầu niệm tụng: Niệm tụng lúc hạ huyệt. [X. Thiền uyển thanh qui Q.2; Nhập chúng tu tri; Tùng lâm hiệu định thanh qui Q.hạ; điều Trụ trì nhật dụng, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng].

niệm tụng kị thập ngũ địa

(念誦忌十五地) Khi lập đàn niệm tụng để cầu phúc, trừ họa, nên tránh 15 chỗ. Cứ theo kinh Nhất tự Phật đính luân vương quyển 2, nếu chúng sinh muốn cầu phúc đức, tiêu trừ tai họa, thì nên chọn nơi yên tĩnh vắng vẻ, kết giới lập đàn, 3 nghiệp(thân, khẩu, ý) trong sạch, cúng dường Thánh tượng, tụng niệm thần chú Phật đính luân vương để gia trì, thì được thành tựu. Nhưng nếu tác pháp lập đàn ở những nơi Dược xoa, La sát thường lui tới thì quỉ thần tiện dịp đến quấy nhiễu, khiến việc làm khó thành tựu, bởi thế nên tránh 15 chỗ như sau: 1. Chỗ thần long giữ gìn. 2. Chỗ Dược xoa la sát thường tụ họp. 3. Nơi rừng lạnh (nghĩa địa) thu chứa xác chết.4. Nơi không có Phật pháp, thiện thần không đến thủ hộ. 5. Nơi có hổ báo, chó sói. 6. Chỗ có nhiều rắn rết, muỗi mòng. 7. Nơi không mưa, các nguồn nước khô cạn. 8. Nơi nhiều gió, lạnh lẽo, heo hút. 9. Nơi có giặc giã, không yên ổn. 10. Chỗ có lò sát sinh. 11. Nơi bán rượu say sưa. 12. Nơi mua bán kinh điển, tượng Phật. 13. Nơi buôn bán vũ khí, dụng cụ đánh bắt chim muông. 14. Nơi có nhà chứa bán dâm. 15. Nơi nhiều nạn, nước, lửa, đao binh...

niệm tử

(念死) Phạm: Maraịasmfti. Pàli: Maraịa-sati. Cũng gọi Niệm đương chung vong. Lúc nào cũng nên nhớ rằng thân này cuối cùng sẽ phải chết, là 1 trong 8 niệm, 1 trong 10 niệm. Theo luận Đại trí độ quyển 22 thì người tu hành thường phải nhớ nghĩ, thân này nếu không bị giết thì tự nó cũng sẽ phải chết, bởi thế thân này có thể chết bất cứ lúc nào chứ không đợi đến già. Ngoài ra, chuyên niệm mệnh căn dứt tuyệt, không hình không tiếng, không tướng mạo, không có nghĩ tưởng nào khác, cũng gọi là Niệm tử. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.34]. (xt. Niệm).

niệm vô thường

Instant after instant, always think about “no permanence.”

niệm xả

cũng là niệm bố thí hay niệm thí, vì tu tập bố thí tức là buông xả, không bám giữ vật sở hữu.

niệm xứ

Smrtyupasthana (skt)—Dùng trí để quán sát cảnh—The presence in the mind of all memories, or the region which is contemplated by memory—Objects on which memory or the thought should dwell. ** For more information, please see Tứ Niệm Xứ. ; (念處) Phạm: Smfty-upasthàna. Cũng gọi Niệm trụ. Niệm là trí quán xét; Xứ là chỗ bị quán xét. Nghĩa là dùng trí tuệ quán xét đối tượng và dừng ý niệm lại ở chỗ đối tượng đó, là 1 khoa mục trong 37 pháp bồ đề phần. Niệm xứ có 4: Thân, thụ, tâm, pháp. Quán xét tự tướng, cộng tướng của mỗi xứ để đối trị 4 thứ điên đảo: Tịnh, lạc, thường, ngã. Ngoài ra, Tam niệm trụ(Tam niệm xứ) cũng gọi Tam ý chỉ, 1 trong 18 pháp bất cộng của đức Phật, chỉ cho công đức thù thắng đặc biệt chỉ đức Phật mới có. Đó là: 1. Đệ nhất niệm trụ: Đệ tử sốt sắng nghe pháp, tu hành đúng chính pháp, Như lai không vì thế mà mừng thầm, làm mất tâm tĩnh lặng của mình. 2. Đệ nhị niệm trụ: Đệ tử nếu không sốt sắng nghe pháp, không làm theo chính pháp, Như lai cũng không vì thế mà lo buồn, làm mất tâm tĩnh lặng của mình. 3. Đệ tam niệm trụ: Đệ tử hoặc sốt sắng nghe pháp, tu hành đúng chính pháp, hoặc không sốt sắng nghe pháp, không tu hành đúng chính pháp, Như lai đều không vì thế mà vui mừng hay lo buồn, làm mất tâm tĩnh lặng của mình. (xt. Tứ Niệm Trụ).

niệm định

Chánh niệm và chánh định—Correct memory and correct samadhi.

Niệt-gu-na-pa

S: nirguṇapa; »Kẻ vô dụng giác ngộ«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (siddha) Ấn Ðộ, có lẽ là đệ tử của Kan-ha-pa (s: kāṇhapa), sống trong thế kỉ thứ 10.|Niệt-gu-na-pa sinh trong một gia đình thuộc giai cấp thấp kém tại Pu-va-đê-sa (s: pūrvadeśa). Khi ông sinh ra cha mẹ rất vui mừng, nhưng chẳng bao lâu gia đình rất thất vọng vì ông là người ngớ ngẩn, không làm được gì cả. Ngày nọ, buồn quá, ông kiếm chỗ vắng vẻ ngoài chơi và tình cờ có một Du-già sư đi qua.Vị này khuyên ông tu tập, nhưng ông chỉ chịu thực hiện nếu phép tu này cho phép ông vừa nằm vừa tu! Thế mà vị Du-già sư vui lòng cho ông nhập môn và dạy phép quán Sắc với Không không hề rời nhau:|Người biết, vật được biết,|cả hai đều hư vọng.|Kẻ không biết điều này,|chỉ chuốc lấy khổ đau,|đáng thương thay cho họ.|Thế nhưng ngay khổ đau,|lại cũng chẳng có thật.|Khi tâm thức trở thành,|nguồn ánh sáng thanh tịnh.|Khi hiện tượng, tính Không,|không bao giờ lìa tách,|thì ngươi đạt tự tại,|vào xóm chợ thị thành,|như thánh nhân điên khùng.|Niệt-gu-na-pa nghe lời khai thị, lên đường khất thực, tu tập quán tưởng đến khi ông nhận thấy nhất thể của Sắc và Không chỉ là ánh sáng và đạt thánh quả. Mọi người hỏi ông là ai, ông nhìn thẳng vào mắt họ và khóc vì thương xót, họ nhìn thấy lòng từ bi trong mắt ông và cũng khóc theo. Còn những kẻ có căn cơ được ông nhận làm đệ tử. Thành đạo ca của ông như sau:|Lời dạy của Ðạo sư,|chỉ thẳng vào Trung đạo.|Lời dạy của Ðạo sư,|làm yên lành cảm thụ,|đang vùng vẫy trong tâm,|làm yên lành tư tưởng,|đang chồng chéo lẫn nhau.|Phép quán tưởng thiền định,|làm dịu mọi mâu thuẫn,|ta trở nên tỉnh giác,|hoá giải chúng dễ dàng.

niệu sàng quỷ tử

Loài quỷ luôn đi tiểu vô cùng hôi thúi—A urinating ghost. ; (尿床鬼子) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Con quỉ đái dầm. Trong Thiền tông, từ ngữ này được sử dụng để mắng trách nhưng sa di hoặc những vị tăng nhỏ tuổi hay nghịch ngợm. Cũng như người đời dùng Tiểu quỉ, Xú tiểu quỉ (đồ quỉ hôi hám)vậy, chứ thực ra không có quỉ đái dầm. Lâm tế Nghĩa huyền thiền sư ngữ lục (Đại 47, 504 hạ) ghi: Đại ngu nắm chặt lấy Lâm tế, nói: Con quỉ đái dầm này! Vừa mới nói có lỗi không lỗi, bây giờ lại bảo Phật pháp của Hoàng bá chẳng có bao nhiêu.

no chẳng đói

Cũng gọi là bảo tham (bảo là no đủ). Sau khi triệt ngộ, gốc nghi dứt hẳn chẳng còn nghi hoặc nào nữa, nên nói no chẳng đói.

no ấm

To be in comfort.

nom

To look—To visit—To see.

non

1) Non trẻ: Young. 2) Núi non: Mountain.

non choẹt

Too young.

non gan

Chicken-hearted.

noãn

Ấm—Warm—To warm.

noãn liêm

(暖簾) Bức rèm bằng vải treo ở cửa trước và cửa sau của nhà Tăng trong tùng lâm, để chắn gió lạnh lúc giao mùa thu đông, gọi là Noãn liêm(rèm ấm). [X. điều Duy ma trong Thiền uyển thanh qui Q.3].

noãn liêu

Còn gọi là Noãn Động, Noãn Tịch, hay Noãn Tự. Người mới vào tự viện được cúng dường hay được sắm sửa cho những thứ như trà, quả, vân vân. Cũng chỉ người mới vào phải mua sắm những thứ nầy để mời những người đã trụ tại đây từ trước—Presents of tea, fruit, etc., brought to a monastery, or offered to a new arrival. ; (暖寮) Cũng gọi Noãn tịch. Làm cho người ở trong phòng liêu được ấm áp trong lòng. Trong Thiền tông, người mới vào nhà Tăng phải sắm sửa trà nước, trái cây để đãi những người đã ở đó trước, gọi là Noãn liêu. Món tiền chi tiêu cho việc chiêu đãi này thì gọi là Noãn tịch tiền. Ngoài ra, khi mượn phòng ốc của chùa viện khác để tổ chức pháp hội, phải nạp tiền và khoản tiền này cũng được gọi là Noãn tịch tiền. Môn Tùng quĩ loại thứ 9 trong Thiền lâm tượng khí tiên ghi: Người nhập liêu mua sắm trà quả chiêu đãi người ở trước, gọi là Noãn liêu. Chùa Đại đức gọi là Noãn liêu, nhưng chùa Diệu tâm thì gọi là Noãn tịch. Môn Tiền tài loại 29 trong Thiền lâm tượng khí tiên nói: Khi thuê phòng xá của chùa viện khác để mở hội, hoặc thiết trai cúng dường, thì nạp Noãn tịch tiền cho chùa viện ấy.

Noãn pháp

Phạn ngữ là Uṣmagata, cũng gọi là Noãn vị, là một trong bốn pháp mà người tu tập theo Thanh văn thừa lần lượt chứng đắc, bao gồm: Noãn pháp, Đỉnh pháp, Nhẫn pháp và Thế đệ nhất pháp. Noãn pháp là pháp đầu tiên, giúp người ta có thêm trí lực và tinh tấn trên đường tu học. Noãn pháp là địa vị đầu tiên trong bốn thiện căn, tương đương với ngôi vị thứ nhất trong Tứ gia hành (Noãn gia hành). Hành giả khi đạt được pháp này bắt đầu có khả năng trừ diệt các kiến giải mê lầm, như Thánh trí thiêu đốt mọi tà kiến. Như lửa trước khi bốc cháy bắt đầu có hơi nóng, địa vị tu tập này bắt đầu có được hơi nóng của Thánh trí nên gọi là Noãn pháp.

noãn pháp

Pháp đầu tiên trong tứ gia hạnh; trong giai đoạn nầy hành giả chỉ trụ tâm nơi tứ diệu đế—The first of the four good roots; the stage in which dialetic processes are left behind and the mind dwells only on the four dogmas and sixteen disciplines. ; (煗法) Giai vị đầu tiên của Tứ thiện căn. Ở giai vị này, hành giả chuyên tâm quán xét Tứ đế bằng 16 hành tướng, trí vô lậu của Kiến đạo sắp phát sinh, trước hết sinh kiến giải tương tự, cũng như lửa sắp phát thì trước có khí ấm, vì thế gọi là Noãn pháp. Câu xá luận tụng sớ quyển 23 (Đại 41, 943 hạ) nói: Pháp này giống như khí ấm (noãn), nên có tên là Noãn pháp; Thánh đạo như lửa, có năng lực đốt cháy củi phiền não, là tướng đầu tiên của lửa Thánh đạo nên gọi là Noãn.

noãn phật tiết

(暖佛節) Ngày lễ của Phật giáo Miến điện được cử hành vào ngày trăng tròn, tháng 2 Tây lịch hàng năm. Vào ngày này, tín đồ Phật giáo trên toàn quốc tụ họp tại Thánh địa của Phật giáo Mandalay, đốt gỗ thơm ở trước Phật để sưởi ấm(noãn) tay Phật. Tương truyền, lúc đức Phật còn tại thế, Ngài từng hơ tay trên lửa để sưởi ấm thân thể, vì thế mà có lễ hội này.

noãn sanh

Những loài từ trứng mà sanh ra, một trong tứ sanh—Form of oviparous birth., as with birds, one of the four ways of coming into existence. ** For more information, please see Tứ Sanh.

noãn sinh

(卵生) Phạm, Pàli: Aịđa-ja. Chỉ cho các loài sinh ra từ trong trứng (noãn), như gà, vịt, ngan, ngỗng... 1 trong Tứ sinh. Nhưng trong kinh Phật chép cũng có trường hợp người sinh ra từ trứng. Như luận Câu xá quyển 8 ghi, anh em Thế la (Phạm:Zila) và Ô ba thế la (Phạm: Upazila); 32 người con của Lộc mẫu (Phạm: Mfgàra-màtf,phu nhân Tì xá khư, con gái của trưởng giả Di già); 500 người con của vua Ban già la (Phạm:Paĩcàlaràja) v.v... đều sinh ra từ trứng. [X. kinh Trường a hàm Q.19; luận Dị môn túc Q.9; luận Thuận chính lí Q.22; luận Đại tì bà sa Q.120; luận Tạp a tì đàm tâm Q.8; luận Câu xá Q.9]. (xt. Tứ Sinh).

noãn tháp

(卵塔) Cũng gọi Vô phùng tháp. Một loại tháp thân không có góc, cạnh, không tầng, bậc, có hình dáng tròn giống quả trứng. Tức dùng 1 tảng đá làm thành tháp có hình tròn như cái trứng chim để làm bia mộ của chúng tăng, như mộ tháp(tức tháp trứng) của Thiền sư Hoành trí Chính giác, đời Tống, ở am Đông cốc, chùa Thiên đồng, huyện Ngân, tỉnh Chiết giang, Trung quốc. [X. Lâm gian lục Q.thượng; môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Tháp).

noãn đáp thế

(暖答世) Nghi thức tiếp nhận Phật giới của các Hoàng đế Trung hoa qua các đời. Cứ theo điều Thụ Phật giới trong Xuất canh lục đời Minh, thì Hoàng đế của các triều đại, trước phải thụ Phật giới 9 lần mới chính thức trở thành Đại bảo và những nhân viên hầu cận phải có 9 người hoặc 7 người, đó là phong tục của quốc gia đương thời.

nung

1) Mủ: Pus. 2) Nấu nướng: To burn—To bake.

nung huyết địa ngục

Địa ngục đầy mủ máu của tội nhân—The hell of pus and blood.

nung đúc

To form.

nuôi

To nourish.

nuôi dưỡng

To rear—To bring up.

nuôi sống bằng thức

(thức thực): chúng sanh ở Vô sắc giới và địa ngục chỉ dùng thức để duy trì sự sống nên gọi là thức thực. Xem tứ thực.

nuốt

To swallow.

nuốt lệ

To control one's tears.

nuốt lời

To swallow (break) one's words.

nuốt nhục

To swallow an insult.

nuốt sống

To swallow something raw (uncooked).

nuốt trọng

To swallow without chewing.

nuột

Não nuột—Agonizing.

nài

To insist.

nài nỉ

To beg—To request earnestly.

nào

Which.

này

Here.

nâng cao

To raise.

nâng đỡ

To support—To help.

nâu sồng

Monk's clothes—Clothes which have been dyed in brown.

1) Giựt lấy: To take—To lay hold of. 2) Loài quỷ chuyên làm người ghê sợ: Damara (skt)—Demons that affright sentient beings.

nãi chí

(乃至) Từ ngữ được dùng trong các kinh, để biểu thị giới hạn tối thiểu hoặc lược bớt những câu ở khoảng giữa, gồm có 2 nghĩa: 1. Nếu được dùng trong trường hợp lược bớt thì có nghĩa là cho đến (Phạm: yàvat, Pàli: yavant), tương đương với liên từ as far as trong tiếng Anh. Kinh Tạp a hàm quyển 29 (Đại 2, 204 thượng) nói: Sao gọi là tà? Là tà kiếncho đếntà định (tức là lược bớt tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mệnh, tà tinh tiến, tà niệm). Sao gọi là chính? Là chính kiến cho đến chính định. 2. Nếu dùng trong trường hợp biểu thị giới hạn tối thiểu, thì có nghĩa làdù chỉ đến mức (Phạm: antazas), tương đương với từ at least trong Anh ngữ. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 thượng) nói: Mười phương chúng sinh, dốc lòng tin ưa, nguyện được sinh về đất nước ta,dù chỉ 10 niệm, nếu chẳng được sinh, thì ta không lên ngôi Chính giác. (xt. Nãi Chí Nhất Niệm, Nãi Chí Thập Niệm).

nãi chí nhất niệm

(乃至一念) Cho đến một niệm, chỉ cho số niệm ít nhất khi niệm danh hiệu Phật; hoặc chỉ cho thời gian, tâm niệm, quán niệm... Nguyện Thành tựu thứ 18 trong kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 272 trung) nói: Được nghe danh hiệu của Phật, lòng tin vui mừng, cho đến một niệm... Kinh Ma ha bát nhã ba la mật quyển 20 (Đại 8, 365 hạ) nói: Ở trong hoàn cảnh ấy, Bồ tát không sinh tâm sân hận, dù chỉ một niệm. Kinh Tô bà hô đồng tử vấn quyển thượng (Đại 18, 722 hạ) nói: Nếu khởi lên ý nghĩ bất thiện, thì lập tức phải xa lìa, dù chỉ một niệm, cũng không giữ lại trong tâm.

Nãi chí quảng thuyết

乃至廣説; C: năizhì guăngshuō; J: naishi kō-setsu;|Và vân vân…, và vân vân… Thường ở vị trí cuối cùng của một đoạn trích dẫn.

nãi chí thập niệm

(乃至十念) Dù chỉ mười niệm, biểu thị giới hạn số xưng niệm danh hiệu đức Phật A di đà, cầu vãng sinh Tịnh độ. Nói 10 niệm, tức trên nhiếp nhiều niệm, dưới đến chỉ 1 niệm. Về từ ngữ Nãi chí thập niệm có nhiều giải thích khác nhau. Ngài Đàm loan cho đó là ý niệm tương tục không gián đoạn. Các ngài Nguyên hiểu, Pháp vị, Huyền nhất v.v... thì cho rằng Thập niệm tức là Thập niệm, Thập pháp như từ bi, hộ pháp nói trong kinh Di lặc phát vấn. Còn ngài Nghĩa tịch thì cho rằng niệm hàm ý thời gian, tức là khoảng thời gian 1 lần xưng niệm 6 chữ danh hiệu Nam mô A di đà Phật là 1 niệm, xưng niệm 10 lần là Thập niệm, trong mỗi niệm đều có đủ 10 pháp, 10 niệm từ bi, hộ pháp. Riêng ngài Thiện đạo thì đề xướng thuyết không nhất định giới hạn trong 10 niệm. (xt. Thập Niệm).

nãi vãng

(乃往) Đã qua rồi. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 hạ) nói: Phật bảo ngài A nan: Từ quá khứ lâu xa đến nay đã qua (nãi vãng) vô lượng số kiếp không thể tính đếm được.

não

1) Não phiền: Rage—Irritation—Annoyance—Vexation. 2) Óc: Brain. ; (惱) Phạm: Pradàza. Hán âm: Ba la đà xá. Chỉ cho sự buồn phiền bức não, tên gọi 1 tâm sở, là 1 trong 75 pháp của tông Câu xá, 1 trong 100 pháp của tông Duy thức, cùng với sầu, thương, khổ, lo... biểu thị hiện tượng khổ của cõi mê. Cứ theo sự giải thích của tông Câu xá thì Não nghĩa là tuy tự biết tội lỗi của mình, nhưng vẫn không chịu nghe lời khuyên bảo của người khác, thành ra tâm thần luôn áo não phiền muộn. Tông Câu xá xem tâm sở này là 1 trong các pháp Tiểu phiền não, 1 trong 6 cấu thuộc cõi Dục, tương ứng với Ưu căn trong 5 thụ, là đẳng lưu của Kiến thủ kiến, có thể tính riêng biệt, đến giai vị Tu đạo mới đoạn được Tiểu phiền não này. Còn theo sự giải thích của tông Duy thức thì Não là tác dụng tinh thần khiến tâm nổi lên giận dữ, thường nhớ tưởng những việc làm quá khứ hoặc những việc không vui ở hiện tại, làm cho trong lòng buồn bực. Vì nó là 1 trong 20 Tùy phiền não, nên nếu lìa Sân ra thì Não không có thể tính cũng như tác dụng riêng biệt; bởi vậy, Não là 1 phần của Sân, tương ứng với Xả căn trong 5 thụ. [X. luận Đại tì bà sa Q.42; luận Câu xá Q.21; luận Thành duy thức Q.6; phẩm Sân khuể trong luận Thành thực Q.10; luận Tạp a tì đàm tâm Q.4; luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; luận Du già sư địa Q.55; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Đại thừa quảng ngũ uẩn; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1].

não lòng

Heart-rending.

não nuột

Agonized crying.

não nùng

Sorrowful—Sad.

não nề

Agonizing—Thrilling.

nãy

Hồi nãy—Just now.

To evade.

ném

To cast—To fling---To throw.

nén

To restrain—To control.

nén giận

To control one's anger.

nén lòng

To control oneself.

néo

To tighten.

nép vào

To draw back.

nét

1) Appearance. 2) Line—Stroke.

Bùn.

nê dung giác

(泥融覺) Chạm đúng căn cơ thì giác ngộ ngay tức khắc. Đây là sự tích của 1 vị tăng đời Tống tên Vô nhiễm, khi du ngoạn núi Lô sơn, vì trượt chân ngã mà ngộ đạo. Cứ theo điều Nê dung giác, chương Thích tộc trong Thanh dị lục, thì tỉ khưu Vô nhiễm lúc dạo núi Lô sơn, vì mưa xuân làm đường trơn, sư trượt chân ngã trên đá, ngay lúc ấy sư tỏ ngộ, do đó người đời gọi sư là Nê dung giác.

nê lê

(泥犁) Phạm: Niraya. Hán âm: Nê ra da. Chữ Niraya là lược dịch từ chữ Naraka (Hán âm: Nại lạc ca). Chỉ cho địa ngục, là nơi không có 1 chút phúc đức, nơi hoàn toàn không được yên vui, là cảnh giới thấp kém nhất trong 10 cõi. (xt. Địa Ngục).

nê lý để

Nirrti (skt)—Một trong các vua La Sát—One of the raksa-kings.

nê ngưu nhập hải

(泥牛入海) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trâu đất xuống biển. Ví dụ tuyệt dấu vết, bặt tin tức, hàm ý một đi không trở lại. Trâu đất ở đây ví dụ cho tác dụng suy tư phân biệt. Trâu đất xuống biển là ví dụ Chính và Thiên, Bình đẳng và Sai biệt giao hòa vào nhau, không còn phân biệt. Ngoài ra, trâu đất xuống biển thì hoàn toàn tan rã, không còn hình dạng, cho nên cũng dùng để ví dụ người và vật một đi không trở lại. Chương Long sơn hòa thượng trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 8 (Đại 51, 263 thượng) ghi: Ngài Động sơn hỏi Hòa thượng Long sơn: Thấy đạo lí gì mà ở núi này? Sư đáp: Tôi thấy 2 con trâu đất đua nhau xuống biển, cho mãi đến nay vẫn không thấy tin tức gì.

nê nhân

Kẻ tội đồ trong chốn địa ngục—A sufferer in niraya, or hell. ; (泥人) Chỉ cho người ở địa ngục. Thích môn chính thống quyển 4 (Vạn tục 130, 408 thượng) nói: Người nằm mộng thấy một nơi có nhiều người đã chết, mới hỏi về việc ông Phó dịch hủy báng Phật pháp. Đáp: Đã đày ông về Việt châu làm Nê nhân. (xt. Địa Ngục).

nê thuyền độ hà

(泥船渡河) Thuyền đất qua sông. Sự nguy hiểm ở thế gian cũng giống như ngồi thuyền bằng đất để qua sông; lại ví dụ sự yếu ớt, dễ tan hoại của thân người, không chịu được lâu. Kinh Tam tuệ (Đại 17, 703 hạ) nói: Thân người ở thế gian giống như ngồi thuyền làm bằng đất mà qua sông, thuyền vừa lênh đênh vừa hư hoại, thân người ta cũng như thuyền bằng đất, không thể sống lâu được, nên tu đạo cho mau.

nê tháp

Theo tục Ấn Độ, nghiền hương thành bột, trộn đặc lại như bùn, để làm tháp nhỏ cao chừng năm sáu tấc, để kinh điển bên trong mà cúng dường. Mật Giáo dùng pháp cúng dường “Nê Tháp” nầy để cầu kéo dài tuổi thọ và dứt bỏ mọi tỗi lỗi khổ đau—Paste pagoda; a mediaeval Indian custom was to make a small pagoda five or six inches high of incense, place scriptures in and make offerings to it. The esoterics adopted the custom, and worshipped for the purpose of prolonging life and ridding themselves of sins, or sufferings.

nê tháp cung tác pháp

(泥塔供作法) Cũng gọi Nê tháp cúng, Nê pháp tác pháp, Nê pháp cúng dường. Phép làm tháp nhỏ bằng đất để cúng dường, cầu được sống lâu và thành tựu những điều mong ước trong pháp tu của Mật giáo. Trước hết, làm 2 cái khuôn, lấy đất sạch, đổ nước thơm vào nhào cho nhiễn, rồi để vào khuôn, dùng 1 mẩu giấy vuông chừng 1 tấc, viết chữ (chủng tử của Đại nhật Như lai ở Thai tạng giới) trên mẩu giấy ấy rồi đặt ở dưới tháp. Tùy theo khuôn mà có các kiểu tháp khác nhau như: Ngũ luân, Đa bảo, Tam trùng, Ngũ trùng, chữ Ngật lí v.v...Quán tưởng những tháp này, đều là Tam muội da của Pháp thân thường trụ Đại nhật Như lai, đầy đủ công đức trong hằng sa pháp giới, để cầu diệt tội sống lâu, thành tựu nguyện vọng. Về công đức làm tháp, cứ theo kinh Tạo tháp diên mệnh công đức, Tác pháp tập, Bí sao tác pháp bộ, Trạch sao quyển 9 v.v... thì nhờ vào năng lực gia trì của Phật và sức công đức của chân ngôn mà những tháp đất nhỏ bé ấy sẽ biến thành các tòa tháp to lớn vi diệu và Pháp thân lí trí của chư tôn Thánh chúng đều tùy duyên trụ ở trong những tháp ấy. Nhờ quán tưởng như thế mà tiêu trừ sự bức não, thọ mệnh lâu dài, điều mong ước được thành tựu, lợi ích viên mãn. [X. kinh Vô cấu tịch quang đại đà la ni; Chư tôn yếu sao Q.5].

nê tố mộc điêu

Những bức tượng (bằng đất thì nắn, bằng gỗ thì chạm trổ)—Modelled clay and carved wood, images.

nê vi trần

Mritparamanu (skt)—Bụi đất—Clay-atom—Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật dạy: “Một khối đất sét thì không khác, cũng không phải không khác với các hạt bụi hay nguyên tử của nó—In the Lankavatara Sutra, the Buddha taught: “A lump of clay is neither different nor not-different from its atoms.”

nê đa phật đại

(泥多佛大) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Bùn nhiều Phật lớn. Bùn ví dụ người học, chúng sinh; Phật ví dụ tác dụng cơ trí của thầy và thiện tri thức. Ý nói người giúp ich càng đông thì thành tựu càng to lớn. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được dùng để chỉ cho cơ trí và thủ đoạn của bậc thầy, tùy theo căn cơ của người học và chúng sinh mà tiếp hóa một cách tự tại. Nhóm từ này thường được dùng song song với từ ngữ Thủy trường thuyền cao(sông dài thuyền cao). Bích nham lục, tắc 29, (Đại 48, 169 thượng) chép: Đại tùy nói: Mặc nó! Mũi tên trước còn nhẹ, mũi tên sau sâu hơn, chỉ cái ấy thôi mà bao nhiêu người mò tìm không ra. Sông dài thuyền cao, bùn nhiều Phật lớn (Nê đa Phật đại).

Nê đoàn

泥團; C: nítuán; J: nidan;|Bùn; lớp bùn dày (s: mrt-pinda).

nê đoàn

(泥團) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vốn chỉ cho hình dáng 1 khối bùn. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được sử dụng để chỉ cho người tu Thiền không đủ pháp nhãn tròn sáng, mà chỉ có vọng chấp phiền não. Bích nham lục, tắc 82 (Đại 48, 208 hạ) nói: Đừng đập vỡ, chỉ tăng thêm tì vết (khuấy đất bùn làm gì? Càng thấy anh chàng ấy tội lỗi đầy trời).

nê đắc

(泥得) Chỉ cho thí chủ thường cúng dường thức ăn riêng cho 1 vị tăng. Phần chú thích trong Bách nhất yết ma quyển 1 (Đại 24, 458 trung) nói: Tiếng Phạm là Nê đắc, Hán dịch là thường thí. Có một thí chủ thường cúng dường chúng tăng tiền bạc, vật thực rất nhiều. Mỗi ngày theo thứ tự làm thức ăn ngon cúng dường một vị, cứ tiếp tục như thế cho đến bất cứ ngày tháng nào.

Nê-hoàn

泥洹; C: ní huan; J: naion;|Phiên âm chữ nirvāṇa từ tiếng Phạn. Là sự chấm dứt mọi phiền não. Thường phiên âm là Niết-bàn (涅槃).

Nê-lê

泥黎; C: nílí; J: nairi;|Phiên âm chữ niraya từ tiếng Phạn, có nghĩa là nơi tối tăm cực khổ hay là nơi chịu cực hình để chuộc tội, thường dịch sang tiếng Hán là Địa ngục (地獄).

nên

To ought to—Would rather—Had better.

nên chi

Therefore.

nêu

1) To raise—To bring up a subject. 2) A pole set up in front of the house during seven first days of the year.

ních

Chật ních—Crowded.

nín

To be silent—To hold one's tongue.

nín bặt

To stop suddenly.

nín cười

To refrain from laughing

nín hơi

To hold one's breath

níu

To grab—To catch—To cling.

nòi

Race.

nói

Vatti (p)—Vakti (skt)—To speak—To say—To tell.

nói chuyện vô ích

Idle talk.

nói dông dài

To talk at length.

nói dối

Lying. (A) Nghĩa của nói dối—The meanings of lying—See Ngũ Giới (4), Bất Vọng Ngữ, Bất Ỷ Ngữ, and Vọng Ngữ. (B) Theo Đức Phật và Phật Pháp của Hòa Thượng Narada, có bốn điều kiện cần thiết để tạo nên nghiệp nói dối—According to The Buddha and His Teachings, there are four conditions that are necessary to complete the evil of lying: 1) Có sự giả dối không chân thật: An untruth. 2) Ý muốn người khác hiểu sai lạc sự thật: Deceiving intention. 3) Thốt ra lời giả dối: Utterance. 4) Tạo sự hiểu biết sai lạc cho người khác: Actual deception. (C) Theo Đức Phật và Phật Pháp của Hòa Thượng Narada, có những hậu quả không tránh khỏi của sự nói dối—According to The Buddha and His Teachings, written by Most Venerable Narada, there are some inevitable consequences of lying as follow: 1) Bị mắng chưởi nhục mạ: Being subject to abusive speech. 2) Tánh tình đê tiện: Vilification. 3) Không ai tín nhiệm: Untrustworthiness. 4) Miệng mồm hôi thúi: Stinking mouth.

nói gièm

To hint.

nói gạt

To mislead someone by lying.

nói gở

To talk of bad omen.

nói huyên thuyên

Vacala or Vagvana (skt)—To talk too much—Chattering.

nói hành

To backbite—To speak ill of someone.

nói hớt

To interrupt (intrude) in a conversation.

nói khe khẽ

To speak in a low voice.

nói khoác

To boast about—To brag.

nói khác làm khác

Talking is one thing, but doing is another.

nói khích

To give someone encouragement.

nói leo

To interrupt adult.

nói liều

To speak thoughtlessly.

nói lén

To talk secretly

nói lép nhép

Vacata (skt)—Talkative.

nói lưu loát

To speak fluently

nói lưỡng lự

To speak hesitatingly.

nói lảng

To divert by speaking on another subject.

nói lầm bầm

Japati (p & skt)—See Nói Thầm.

nói lẩy

To talk in an aggressive tone.

nói lắp bắp

To stutter—To gabble.

nói lịu

To repeat like a parrot.

nói lớn tiếng

To talk loud.

nói lời hung ác

Harsh spech.

nói lời nhảm nhí

Samphappalapa (p)—Nói lời nhảm nhí vô ích—Frivolous talk. (A) Theo Hòa Thượng Narada trong Đức Phật và Phật Pháp, có hai điều kiện cần thiết để thành lập nghiệp nói lời nhảm nhí vô ích—According to Most Venerable in The Buddha and His Teachings, there are two conditions that are necessary to complete the evil of frivolous talk: 1) Ý muốn nói chuyện nhảm nhí: The inclination towards frivolous talk. 2) Thốt ra lời nói nhảm nhí vô ích: Its narration. (B) Theo Đức Phật và Phật Pháp của Hòa Thượng Narada, đây là những hậu quả không tránh khỏi của việc nói lời nhảm nhí—According to The Buddha and His Teachings, written by Most Venerable Narada, these are the inevitable consequences of frivolous talk: 1) Các bộ phận trong cơ thể bị khuyết tật: Defective bodily organs. 2) Lời nói không minh bạch rõ ràng (làm cho người ta nghi ngờ): Incredible speech.

nói lời nhảm nhí vô ích

Samphappalapa (p)—Frivolous talk. Ba hành động bất thiện biểu hiện nơi ý—Three evil actions committed by mind: Tham lam: Abhijjha (p)—Covetousness. Sân hận: Vyapada (p)—Ill-will. Tà kiến: Micchaditthi (p)—False views. Hành động thiện, tạo quả lành trổ sanh trong dục giới: Kusala (p)—Good actions which may ripen in the sense-sphere. Hành động thiện, tạo quả lành trổ sanh trong sắc giới: Good actions which may ripen in the realms of form (rupaloka). Hành động thiện, tạo quả lành trong vô sắc giới: Good actions which may ripen in the formless realms (arupaloka).

nói lời thô lỗ

Pharusavaca (p)—Lời nói thô lỗ cộc cằn—Harsh speech. (A) Theo Hòa Thượng Narada trong Đức Phật và Phật Pháp, có ba điều kiện cần thiết để thành lập nghiệp nói lời thô lỗ—According to The Buddha and His Teaching, written by Most Venerable Narada, there are three conditions that are necessary to complete the evil of harsh speech: 1) Một người khác để cho ta nói lời thô lỗ: A person to be abused. 2) Tư tưởng sân hận: Angry thought. 3) Thốt ra lời thô lỗ: The actual abuse. (B) Theo Đức Phật và Phật Pháp của Hòa Thượng Narada, đây là những hậu quả không tránh khỏi của sự nói lời thô lỗ cộc cằn—According to The Buddha and His Teachings, written by Most Venerable Narada, these are inevitable consequences of harsh speech: 1) Không làm gì hại ai cũng bị họ ghét bỏ: Being detested by others though absolutely harmless. 2) Tiếng nói khàn khàn, chứ không trong trẻo: Having a harsh voice.

nói lời thô lỗ cộc cằn

Pharusavaca (p)—Harsh speech.

nói lời đâm thọc

Pisunavaca (p). (A) Nghĩa của nói lời đâm thọc—The meaning of “slander” or pisunavaca: Nói lời đâm thọc là có nói không, không nói có để gây chia rẽ—To slander means to twist stories. (B) Theo Đức Phật và Phật Pháp của Hòa Thượng Narada, có bốn điều kiện cần thiết để thành lập nghiệp nói lời đâm thọc—According to The Buddha and His Teachings, written by Most Venerable Narada, there are four conditions that are necessary to complete the evil of slandering: 1) Những người là nạn nhân của sự chia rẽ: Persons that are to be divided. 2) Ý muốn phân ly những người ấy hay ý muốn lấy lòng một người: The intention to separate them or the desire to endear oneself to another. 3) Cố gắng để thực hiện sự phân ly: Corresponding effort. 4) Thốt ra lời nói đâm thọc: The communication. (C) Theo Đức Phật và Phật Pháp của Hòa Thượng Narada, đây hậu quả không tránh khỏi của sự nói lời đâm thọc—According to The Buddha and His Teachings, there is one inevitable consequences of slandering: Bị chia rẽ với bạn bè—The dissolution of friendship without any sufficient cause.

nói một mình

To speak (talk) to oneself.

nói một đường làm một nẻo

To talk in one way and act in another way

nói nghiêm trang

To speak in earnest

nói ngập ngừng

To speak in a hesitating way.

nói nhiều

Talkative.

nói nhây

To be everlastingly repeating the same story.

nói như vẹt

To speak like a parrot.

nói phách

To brag—To boast.

nói phớt qua

To scratch the surface of the subject.

nói quanh

To beat about the bush.

nói quàng xiêng

Talk nonsense.

nói suồng sã

To use familiar terms with a superior person or a stranger.

nói sảng

To rave.

nói thầm

1) Nói thầm: Japati (p & skt)—Nói lầm bầm—To murmur—To mutter—To speak to oneself—To whisper. 2) Đang nói thầm: Japanam (p)—Japa (skt)—Muttering—Whispering.

nói thật

To tell (speak) the truth.

nói thẳng

To speak openly.

nói toạc ra

To speak openly.

nói trái lại

To contracdict.

nói trôi chảy

See Nói Lưu Loát.

nói trước

To speak first.

nói tỉ mỉ

To tell all the details.

nói tốt

To speak well of someone.

nói tục tĩu

To use obsene language.

nói uổng tiếng

To waste one's words.

nói vắn tắt

To speak briefly.

nói xéo

To talk at someone.

nói xía

To take part in the conversation.

nói xấu

Back biting.

nói xỏ

To talk sarcastically.

nói đúng

To speak accurately.

nói ấp úng

To speak indistinctly.

nói ứng khẩu

To speak impromptu—To speak off-hand.

nóng bức

Very hot.

nóng lòng

Impatient—Anxious.

nóng nảy

Hot-headed—Impatient.

nóng ruột

See Nóng Lòng.

nóng tính

Quick-tempered—Hot headed—Furious—Angry

nô bộc

A slave.

nô bộc tam muội

(奴僕三昧) Tam muội của các sứ giả theo hầu chư Phật, Bồ tát, Minh vương... thành tựu mọi việc. Như 18 đồng tử của bồ tát Văn thù, 36 đồng tử của Ngũ phụng giáo giả và Bất động Minh vương... Sứ giả của các vị tôn, Phụng giáo giả, Đồng tử và các Minh vương... đều trụ trong Tam muội này. Trong đó, Tam muội của Bất động Minh vương là thù thắng hơn cả; bởi vì Minh vương Bất động tự mình đã là Minh vương rồi mà còn hiện hình tướng nô bộc, làm sứ giả của Như lai để thành tựu mọi việc. Tóc của vị Minh vương này tết thành 7 lọn biểu thị đã phụng sự 7 đời chư Phật, hoa sen trên đỉnh đầu biểu thị nghĩa chuyên chở hành giả đến bờ giác. Xưa nay hoa sen trên đỉnh đầu là biểu thị cho Tam muội sâu xa của Minh vương Bất động.

nô dữu

(帑庾) Kho cất chứa của cải, hóa vật, gạo thóc... trong Thiền lâm. Tại Trung quốc, từ xưa đến nay, nơi tồn trữ tiền tệ gọi là Nô tàng; cái vựa chứa ngũ cốc gọi là Dữu, Thiền lâm cũng theo đó mà dùng từ Nô dữu. Chương Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1130 hạ) nói: Đến như ti Nô dữu, Lịch thứ vụ, các pháp thế gian và xuất thế gian, không cái gì mà không học tập.

nô hóa

To enslave.

nô lệ

Slaves.

nô tì

(奴婢) Chỉ cho đầy tớ trai và đầy tớ gái. Tại Ấn độ đời xưa, những kẻ chinh phục thường bắt dân bản xứ làm nô dịch và bị coi như đồ vật có thể dùng tiền để trao đổi, mua bán. Trong kinh Phật thường có từ ngữ Nô tì tiền tài. Kinh Bồ tát bản duyên quyển trung (Đại 3, 58 thượng) nói: Nếu các ông cần đến vàng, bạc, lưu li, các thứ xe cộ, nô tì... thì ta đều có khả năng cấp cho.

nông

1) Cạn: Shallow—Not deep. 2) Nhà nông: Farmer—Agriculture—Farming. 3) Thủ đà la: Giai cấp thấp nhứt ở Ấn Độ trong thời Đức Phật còn tại thế—Sudra caste, the lowest class in India at the time of the Buddha.

nõn nà

White and soft.

núi

Mountain.

núi kỳ xà quật

Mount Grdhrakuta.

Núi Quật

tức núi Kỳ-xà-quật, tên Phạn ngữ là Gṛdhrakṭa.

núi rừng

Mountains and forests.

núi tu di

Dịch là Diệu Cao Sơn, là núi lớn nhất trong vũ trụ. ; Mount Sumeru.

núi đao

Mountain of swords and knives—Quả núi toàn bằng đao kiếm; những kẻ có tội bị nghiệp lực mang lên tận đỉnh, kế đến gió lạnh thổi làm cho tê cóngchân cẳng. Khi họ bị té thì thân thể bị đao kiếm phanh ra từng miếng nhỏ. Núi đao dành cho những kẻ trên dương thế có tội sát sanh hay người làm nghề đồ tể—A mountain which is composed entirely of swords and knives; those with offenses will be brought to the top by their karmic power. The cold wind gusts freeze the prisoners' feet. As they fall and tumble down the mountain, their bodies are maimed to little pieces. This mountain is reserved for those who often murder sentient beings as well as those who work as butchers.

núm

To seize.

núp

To hide—To take cover or shelter.

năm

1) Five. 2) Year.

năm bộ của kim cang giới

The five groups of Vajradhatu Mandala—See Kim Cang Giới Ngũ Bộ.

Năm bộ Tăng

(Ngũ bộ Tăng): chỉ Tăng-già bao gồm Sa-di, Sa-di-ni, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni và Bồ Tát Tăng.

năm canh hay năm thời trong đêm

The five night watches. Canh thứ năm trong đêm: The fifth period or watch of the night.

Năm chướng ngại

S, P: nīvaraṇa; năm triền cái, ngũ chướng; |Năm tính chất của tâm làm tâm thức trì trệ, không đạt được Ðịnh (s, p: samādhi). Ðó là: 1. Tham (s: abhidyā), 2. Sân hận (s: pra-dośa), 3. Buồn ngủ, mệt mỏi (s: middha, styā-na), 4. Hối tiếc khó chịu (s: kaukrītya, anu-ddhatya), 5. Nghi ngờ (s: vicikitsā). Hành giả cần trừ năm uế nhiễm này mới đạt được Tứ thiền đầu tiên trong tám giai đoạn thiền định (Tứ thiền bát định).

năm chướng ngại mà phật nói tới trong kinh pháp hoa—the five hindrances which the buddha mentioned in the lotus sutra

Tín Chướng: Khi dễ hay lừa dối là một chướng ngại cho niềm tin—Deception is a bar to faith. Tiến Chướng: Lười biếng là một chướng ngại cho tinh cần tu tập—Sloth or laziness is a bar to zeal of cultivation.

Năm cõi tịnh cư

(Ngũ tịnh cư thiên– 五淨居天, Phạn ngữ: Śuddhvsa): tức năm cõi trời thanh tịnh, là nơi thọ sanh của hàng A-na-hàm, nên cũng gọi là Ngũ Na-hàm thiên hay Ngũ Bất hoàn thiên. Năm cõi trời này gồm có: 1. Vô phiền thiên (無煩天- Phạn ngữ: Avṛha), 2. Vô nhiệt thiên (無熱天- Phạn ngữ: Atapa), 3. Thiện hiện thiên (善現天- Phạn ngữ: Sudṛśa), 4. Thiện kiến thiên (善見天- Phạn ngữ: Sudarśana), 5. Sắc cứu cánh thiên (色究竟天- Phạn ngữ: Akaniṣṭha).

năm căn khác—five more faculties

Lạc Căn: Sukha (p)—Pleasant bodily feeling. Khổ Căn: Dukkha (p)—Pain. Hỷ Căn: Somanassa (p)—Gladness. Ưu Căn: Domanassa (p)—sadness. Xả Căn: Upekha (p)—Indifferent feeling.

năm căn khác—five more faculties—the five positive agents—the five roots that give rise to other wholesome dharmas

Tín Căn: Sraddhendriya (skt)—Saddha (p)—Tin tưởng vững chắc nơi Tam Bảo và Tứ Diệu Đế—Faith or virtue of belief—Sense of belief in the Triple Gem and the Four Noble Truths. Tấn Căn: Viryendriya (skt)—Tinh tấn tu tập thiện pháp—Energy (vigor) or virtue of active vigor—Sense of endeavor or vigor to cultivate good deeds.

năm căn lành

(ngũ căn): năm pháp căn bản, được xem là cội gốc, điều kiện để sanh khởi các pháp tu khác, cũng gọi là Ngũ thù thắng căn, bao gồm: 1. Tín căn (信根- lòng tin, đức tin sâu vững vào Tam bảo, vào giáo pháp giải thoát do Phật chỉ dạy, chẳng hạn như Tứ thánh đế...), 2. Cần căn (勤根) hay Tinh tấn căn (精進根), cũng gọi là Nguyện căn (tinh tấn, chuyên cần và phát nguyện dũng mãnh trong việc tu tập thiện pháp, hướng đến giải thoát), 3. Niệm căn (念根- luôn nghĩ nhớ, niệm tưởng đến Chánh pháp), 4. Định căn (定根- tu tập định lực, nhiếp tâm không tán loạn), 5. Tuệ căn (慧根- trí tuệ sáng suốt, phân biệt rõ chân lý và những điều hư dối, Chánh pháp và tà pháp). Vì các pháp này là cội nguồn sanh ra tất cả các pháp lành nên gọi chúng là căn (根), nghĩa là cội gốc.

Năm cảnh giới

(Ngũ đạo, có khi cũng gọi là Ngũ thú): chỉ năm cảnh giới mà loài hữu tình tùy nghiệp lực thọ sanh đến (nên gọi là ngũ thú), đó là cõi trời, cõi người, cõi địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Khi nói lục đạo là thêm vào cảnh giới a-tu-la.

năm dục

(ngũ dục): năm sự vui sướng, khoái lạc có được khi năm giác quan tiếp xúc với những đối tượng ưa thích, như mắt được ngắm những hình sắc thích ý, tai được nghe những âm thanh êm dịu, mũi được ngửi mùi hương ưa thích... Năm dục cũng là năm sự ham muốn được hưởng thụ những sự khoái lạc này, nên bao gồm: 1. Sắc dục: Ham muốn sắc đẹp. 2. Thanh dục: Ham muốn âm thanh êm dịu, thích tai. 3. Hương dục: Ham muốn mùi thơm. 4. Vị dục: Ham muốn vị ngon ngọt. 5. Xúc dục: Ham muốn sự đụng chạm êm ái.

Năm giới

(Ngũ giới): Năm giới của người Phật tử tại gia, bao gồm: 1. không giết hại, 2. không trộm cắp, 3. không tà dâm, 4. không nói dối và 5. không uống rượu. ; S: pañcaśīla; P: pañcasīla; Hán Việt: Ngũ giới (五戒);|Năm giới, là một trong những tụ tịnh giới nhỏ nhất mà hàng cư sĩ Phật tử phải thực hành. Đó là: 1. Bất sát sinh (不殺生), không được sát sinh; 2. Bất thâu đạo (不偸盗), không trộm cắp; 3. Bất tà dâm (不邪婬); 4. Bất vọng ngữ (不妄語), không được nói xằng bậy; 5. Bất ẩm tửu (不飲酒), không uống rượu.

năm giới căn bản của phật giáo

The Five Basic Precepts of Buddhism (no killing, no stealing, no lying, no sexual misconduct, no use of drugs or alcohol). Vùng phụ cận: Environment.

năm huyền nghĩa

Five wonderful meanings or terms—See Ngũ Huyền Nghĩa Tam Luận Tông.

năm hạnh

năm hạnh được đức Phật giảng thuyết trong kinh này là: 1. Thánh hạnh, 2. Phạm hạnh, 3. Thiên hạnh (dẫn chú xem kinh Hoa nghiêm), 4. Anh nhi hạnh, 5. Bệnh hạnh.

năm khi mười họa

Rarely

năm kiến chấp

ngũ kiến hay ngũ ác kiến, là những nhận thức sai lầm thường gặp ở kẻ phàm phu, gồm có: 1. Thân kiến còn gọi là ngã kiến, là nhận thức sai lầm cho rằng có một bản ngã riêng biệt tồn tại trong thực tại, làm chủ sở hữu các đối tượng trong vũ trụ. 2. Biên kiến là nhận thức sai lầm thiên lệch về một bên, hoặc chấp rằng đời sống là thường tồn (thường kiến), hoặc chấp rằng đời sống không tồn tại sau khi chết (đoạn kiến). 3. Tà kiến là nhận thức sai lầm về sự vật, không biết có nhân quả, nhân duyên. 4. Giới cấm thủ kiến là nhận thức sai lầm cố chấp vào các điều luật, giới luật của ngoại đạo, chẳng hạn như tu hành khổ hạnh, cho rằng bám chặt theo đó có thể dẫn đến giải thoát. 5. Kiến thủ kiến, là nhận thức sai lầm không biết tiếp nhận chân lý, cố chấp vào một quan điểm sai lầm nào đó rồi lấy đó làm nền tảng để xây dựng các quan điểm khác, vì thế chắc chắn phải dẫn đến tất cả đều sai lầm.

năm loại giác—the five states of bodhi or states of enlightenment

Bổn giác: Trí huệ hay sự hiểu biết tuyệt đối bên trong hay Bồ Đề vốn sẳn có trong mỗi người—Absolute eternal wisdom, or bodhi which possessed by everyone. Thủy giác: Thể giác hay trí huệ Bồ Đề trong giai đoạn cuối cùng, dựa vào công phu tu hành mà có—Bodhi in its initial stages or in action, arising from right observances. Tương tự giác: Bồ Tát ở ngôi Thập Tín được giác thể tương tự như Thủy Giác—Bodhisattva-attainment of bodhi in action of the ten faiths. Tùy phần giác: Bồ Tát ở ngôi Thập Trụ, Thập Hành và Thập Hồi Hướng, từng phần được thủy giác—Further Bodhisattva-enlightenment in action of the ten grounds, ten necessary activities and ten kinds of dedications, according to their capacity, attain Bodhi in its final stages. Cứu cánh giác: Diệu Giác—Thành tựu viên mãn bổn giác—To reach the final or complete enlightenment—To reach the perfect quiescent stage of orginal bodhi.

Năm loại mắt

S: pañcacakṣuṃṣi; Hán Việt: Ngũ nhãn (五眼)|Bao gồm: 1. Nhục nhãn (肉眼; s: mā-ṃsacakṣus), là con mắt thịt, con mắt của một phàm phu; 2. Thiên nhãn (天眼; s: divyacakṣus), con mắt của chư Thiên, có thể nhìn thấy được những hiện tượng siêu nhiên, quá khứ, vị lai, địa ngục …; 3. Pháp nhãn (法眼; s: dharmacakṣus), là con mắt pháp, thấy được sự đa dạng của các pháp hiện hữu; 4. Huệ nhãn (慧眼; s: prajñācakṣus), là con mắt trí huệ, nhìn thấu suốt được tính Không (s: śūnyatā) của các pháp; 5. Phật nhãn (佛眼; s: buddhacakṣus), là con mắt của một bậc giác ngộ, nhìn thấu suốt thể tính của vạn sự.

năm loại ngôn ngữ

Five courses of speech—Theo Kinh Ví Dụ Cái Cưa trong Trung Bộ, Đức Phật dạy: “Chư Tỳ Kheo, có năm loại ngôn ngữ mà các người có thể dùng khi nói với các người khác.” Đó là—According to the Kakacupama Sutta in the Middle Length Discourses of the Buddha, the Buddha taught: “Bhikkhus! There are five courses of speech that others may use when they address you.” They are: 1) Đúng thời hay phi thời: Their speech may be timely or untimely. 2) Chân thật hay không chân thật: True or untrue. 3) Như nhuyễn hay thô bạo: Gentle or harsh. 4) Có lợi ích hay không lợi ích: Connected with good or with harm. 5) Với từ tâm hay với sân tâm: Spoken with a mind of loving-kindness or with inner hate.

Năm lực

S, P: pañca-bala; Hán Việt: Ngũ lực (五力);|Năm sức mạnh tinh thần hay năm khả năng xuất phát từ năm Căn (s, p: indriya) và giúp đạt giác ngộ. Năm lực đó là:|1. Tín lực (信力; s: śraddhābala), là tâm loại bỏ các loại tin tưởng sai lầm;|2. Tinh tiến lực (精進力; s: vīryabala) là năng lực tu trì Bốn tinh tiến (s: saṃyak-pra-hanani, cũng được gọi là chính cần) để diệt trừ bất thiện pháp;|3. Niệm lực (念力; s: smṛtibala), sức mạnh do tu trì Bốn niệm xứ (s: smṛtyupasṭhāna) đem lại;|4. Ðịnh lực (定力; s: samādhibala), sức mạnh do Thiền định (s: dhyāna) mang lại nhằm loại bỏ mọi tham ái;|5. Huệ lực (慧力; s: prajñābala) là sức mạnh nhờ phát khởi tri kiến Tứ diệu đế.|Năm lực là một phần của 37 giác chi (yếu tố giác ngộ, Bồ-đề phần; s: bodhipākṣika-dharma).

năm món cay

(ngũ vị tân): 1. tỏi (đại toán), 2. hành (cách thông), 3. hẹ (từ thông), 4. kiệu (lan thông), 5. nén (hưng cừ). Năm món này có vị cay nồng, kích thích sự ham muốn nhục dục, nên người xuất gia không nên ăn.

năm món chế biến từ sữa

(ngũ chủng ngưu vị): gồm sữa, kem sữa, bơ sống, bơ chín, đề-hồ (nhũ, lạc, sanh tô, thục tô, đề-hồ) là các món ăn được chế biến ra từ sữa bò, trong đó đề-hồ là món tinh khiết nhất, ngon, quý nhất.

năm món ngăn che

Five hindrances or covers—See Ngũ Ác, Ngũ Cái, and Ngũ Triền Cái.

năm mươi hai chúng

xem ngũ thập nhị chúng

năm mươi hai tâm sở

Theo Luận Vi Diệu Pháp (A Tỳ Đạt Ma), có 52 tâm sở—According to the Abhidharma, there are fifty-two mental states: (A) Tâm Sở Phổ Thông—Universal Mental Factors: 1) Xúc: Phasso (p)—Contact. 2) Thọ: Vedana (p)—Feeling. 3) Tưởng: Sanna (p)—Perception. 4) Tác Ý (Hành): Cetana (p)—Volition. 5) Nhất Điểm: Ekagagta (p)—One-pointedness. 6) Mạng Căn: Jivitindriyam (p)—Life faculty. 7) Chú Ý: Manasikaro (p)—Attention. (B) Tâm Sở Riêng Biệt—Occasional Mental Factors: 8) Tầm: Vitakko (p)—Initial application. 9) Sát: Vicaro (p)—Sustained application. 10) Xác Định: Adhimokkho (p)—Decision. 11) Tinh Tấn: Viriyam (p)—Energy. 12) Phỉ: Piti (p)—Zest. 13) Dục: Chando (p)—Desire. (C) Tâm Sở Bất Thiện—Unwholesome Mental Factors: a) Tâm Sở Bất Thiện Phổ Thông—Unwholesome Universal Mental Factors: 14) Si: Moho (p)—Delusion. 15) Vô Tàm: Ahirikam (p)—Shamelessness. 16) Vô Quý: Anottappam (p)—Fearlessness of wrong-doing. 17) Phóng Dật: Uddhaccam (p)—Restlessness. b) Tâm Sở Bất Thiện Riêng Biệt—Unwholesome Occasional Mental Factors: 18) Tham: Lobho (p)—Greed. 19) Tà Kiến: Ditthi (p)—Wrong views. 20) Ngã Mạn: Mano (p)—Conceit. 21) Sân: Doso (p)—Hatred. 22) Ganh Tỵ: Issa (p)—Envy. 23) Xan Tham: Macchariyam (p)—Avarice. 24) Lo Âu: Kukkuc-cam (p)—Worry. 25) Hôn Trầm: Thinam (p)—Sloth. 26) Thụy Miên: Middham (p)—Torpor. 27) Hoài Nghi: Vicikiccha (p)—Doubt. ** For more information, please see Mười Bốn Tâm Sở Bất Thiện. (D) Tâm Sở Đẹp—Beautiful Mental Factors: 28) Tín: Saddha (p)—Faith. 29) Niệm: Sati (p)—Mindfulness. 30) Tàm: Hiri (p)—Shame. 31) Quý: Ottappam (p)—Fear of wrong-doing. 32) Không Tham: Alobho (p)—Non-greed. 33) Không Sân: Adoso (p)—Non-hatred. 34) Xả: Tatramjjhattata (p)—Neutrality of mind. 35) Tâm Sở Vắng Lặng: Kayapassadhi (p)—Tranquility of mental body. 36) Tâm Vắng Lặng: Cittapassadhi (p)—Tranquility of consciousness. 37) Tâm Sở Khinh An: Kayalahuta (p)—Lightness of mental body. 38) Tâm Khinh An: Cittalahuta (p)—Lightness of consciousness. 39) Tâm Sở Nhu Thuận: Kayamuduta (p)—Malleability of mental body. 40) Tâm Nhu Thuận: Cittamuduta (p)—Malleability of consciousness. 41) Tâm Sở Thích Ứng: Kayakammannata (p)—Wieldiness of mental body. 42) Tâm Thích Ứng: Citta-kammannata (p)—Wieldiness of consciousness. 43) Tâm Sở Tinh Luyện: Kayapagunnata (p)—Proficiency of mental body. 44) Tâm Tinh Luyện: Citta-pagunnata (p)—Proficiency of consciousness. 45) Tâm Sở Chánh Trực: Kayujjukata (p)—Rectitude of mental body. 46) Tâm Chánh Trực: Cittujjukata (p)—Rectitude of consciousness. (E) Tâm Sở Tiết Chế—Abstinences: 47) Chánh Ngữ: Sammavaca (p)—Right speech. 48) Chánh Nghiệp: Sammakammanto (p)—Right action. 49) Chánh Mạng: Samma-ajivo (p)—Right livelihood. (F) Tâm Sở Vô Lượng—Illimitables: 50) Bi: Karuna (p)—Compassion. 51) Hỷ: Mudita pana (p)—Appreciative joy. (G) Tâm Sở Tuệ Căn—Non-Delusion: 52) Tuệ Căn: Pannindriya (p)—Wisdom faculty. ** For more information, please see Năm Mươi Mốt Tâm Sở.

năm mươi mốt tâm sở

Theo Đại Thừa, có 51 tâm sở—According to the Mahayana, there are fifty-one Dharmas interactive with the Mind: (A) Năm tâm sở biến hành: Sarvatraga (skt)—Five universally interactive. 1) Tác ý: Manaskara (skt)—Chú tâm vào việc gì—Attention—Pay attention on something. 2) Xúc: Sparsha (skt)—Sau khi chú tâm vào việc gì, người ta có khuynh hướng tiếp xúc với nó—Contact—After paying attention on something, one has a tendency to want to come in contact with it. 3) Thọ: Vedana (skt)—Một khi “tiếp xúc” đã thành lập, thọ liền khởi lên—Feeling—Once contact is established, feeling arises. 4) Tưởng: Samjna (skt)—Khi “thọ” đã khởi lên thì tưởng liền xảy ra—Conceptualization—Once feeling arises, conceptualization occurs. 5) Tư: Cetana (skt)—Một khi đã có “tưởng” là “Tư” hay sự suy nghĩ liền theo sau—Deliberation—Once there is “conceptualization,” then “deliberation” sets in. (B) Năm tâm sở biệt cảnh: Viniyata (skt) Five particular states. 6) Dục: Chanda (skt)—Dục là mong muốn cái gì đó—Desire—Desire means to want for something. 7) Thắng giải: Adhimoksha (skt)—Hiểu biết rõ ràng, không còn nghi ngờ gì cả—Resolution—Supreme understanding. There is no doubt at all. 8) Niệm: Smriti (skt)—Nhớ rõ ràng—Recollection—Remembering clearly. 9) Định: Samadhi (skt)—Chuyên chú tâm tập trung tư tưởng vào một cái gì đó—Concentration—Exclusively pay attention to something. 10) Tuệ (Hue)ä: Prajna (skt)—Khả năng phán đoán mà một người bình thường cũng có—Judgment—Ability to judge which average person possesses. (C) Mười một thiện tâm: Eleven wholesome: Kushala (skt)—Eleven Wholesome. 11) Tín: Shraddha (skt)—Tin tưởng—Có niềm tin hay có thái độ tin—Faith—To have a sense of belief or an attitude of faith. 12) Tấn: Virya (skt)—Một khi đã có niềm tin, chúng ta phải biến niềm tin thành hành động với sự tinh cần—Vigor—Once one has faith, one should put it into action with vigor. 13) Tàm: Hri (skt)—Còn có nghĩa là “tự xấu hổ hối hận”—Shame—Also means “Repentance.” 14) Quí: Apatraya (skt)—Cảm thấy thẹn với người—Remorse—Embarrassment. 15) Vô tham (không tham): Alobha (skt)—Absence of greed. 16) Vô sân (không sân): Advesha (skt)—Absence of anger. 17) Vô si (không si): Amoha (skt)—Absence of ignorance. 18) Khinh an: Prashraddhi (skt)—Nhẹ nhàng thơ thới—Người tu thiền thường trải qua giai đoạn “khinh an” trước khi tiến vào “định”—Light ease, an initial expedient in the cultivation of Zen. Before samadhi is actually achieved, one experiences “light-ease.” 19) Bất phóng dật: Apramada (skt)—Không buông lung mà theo đúng luật lệ—Non-laxness—To follow the rules. 20) Hành xả: Upeksha (skt)—Làm rồi không chấp trước mà ngược lại xả bỏ tất cả những hoạt động ngũ uẩn—Renunciation—Not to grasp on the past, but to renounce everything within the activity skhandha which is not in accord with the rules. 21) Bất hại: Ahimsa (skt)—Không làm tổn hại sinh vật—Non-harming—Not harming any living beings. (D) Sáu phiền não căn bản: Klesha (skt)—Six fundamental afflictions. 22) Tham: Raga (skt)—Tham tài, sắc, danh, thực, thùy hay sắc, thinh, hương, vị, xúc—Greed—Greed for wealth, sex, fame, food, sleep or greed for forms, sounds, smells, tastes, and objects of touch. 23) Sân: Pratigha (skt)—Không đạt được cái mình ham muốn sẽ đưa đến sân hận—Anger—Not obtaining what one is greedy for leads to anger. 24) Si: Moha (skt)—Khi giận dữ đã khởi lên thì con người sẽ không còn gì ngoài “si mê”—Ignorance—Once anger arises, one has nothing but “ignorance.” 25) Mạn: Mana (skt)—Ngã mạn Tự cao tự phụ làm cho chúng ta khinh thường người khác—Arrogance—Arrogance means pride and conceit which causes one to look down on others. 26) Nghi: vicikitsa (skt)—Không tin hay không quyết định được—Doubt—Cannot believe or make up one's mind on something. 27) Ác kiến: Drishti (skt)—Improper views—See Ngũ kiến và Tà kiến. (E) Hai mươi tùy phiền não: Upaklesha (skt)—Twenty derivative afflictions. a) Mười Tiểu Tùy phiền não—Ten Minor Grade Afflictions: 28) Phẫn: Krodha (skt)—Phẫn tới bất thình lình và là sự phối hợp của giận hờn—Wrath which comes sudenly and is a combination of anger and hatred. 29) Hận: Upanaha (skt)—Hận xãy ra khi chúng ta đè nén sự cảm xúc giận vào sâu bên trong—Hatred—Hatred happens when one represses the emotional feelings deep inside. 30) Não: Pradasa (skt)—Não là phản ứng tình cảm nặng nề hơn “hận”—Rage, of which the emotional reaction is much more severe than hatred. 31) Phú: Mraksha (skt)—Che dấu—Covering or hiding something inside. 32) Cuống: Maya (skt)—Sự dối gạt—Deceit—False kindness or phone intention. 33) Siểm: Shathya (skt)—Nịnh bợ—Flattery. 34) Kiêu: Mada (skt)—Conceit—Think high of self and low of others. 35) Hại: Vihimsa (skt)—Muốn làm tổn hại ai—Harming—To want to harm other people. 36) Tật (Đố kỵ ganh ghét): Irshya (skt)—Bằng cách nầy hay cách khác, ganh ghét đố kỵ với người hơn mình—Jealousy—To become envious of the who surpass us in one way or other. 37) Xan (Bỏn xẻn): Matsarya (skt)—Người bỏn xẻn tự gói chặt tài sản, chứ không muốn chia xẻ với ai—Stinginess—One is tight about one's wealth, not wishing to share it with others. b) Hai Trung Tùy Phiền Não—Two Intermediate Grade Afflictions: 38) Vô tàm: Ahrikya (skt)—Làm sai mà tưởng mình đúng nên không biết xấu hổ—Lack of shame—To do wrong, but always feel self-righteous. 39) Vô quí: Anapatrapya (skt)—Vô quí có nghĩa là không biết thẹn, không tự xét coi mình có theo đúng tiêu chuẩn với người hay không—Lack of remorse—Never examine to see if one is up to the standards of others. c) Tám Đại Tùy Phiền Não—Eight Major Grade Afflictions: 40) Bất tín: Ashraddhya (skt)—Không tín nhiệm hay tin tưởng ai, không tin chánh pháp—Lack of faith—Not trust or believe in anyone, not to believe in the truth. 41) Giải đãi (Biếng nhác trễ nải): Kausidya (skt)—Không lo đoạn ác tích thiện—Laziness—Not to try to eliminate unwholesome deeds and to perform good deeds. 42) Phóng dật: Pramada (skt)—Làm bất cứ cái gì mình thích chứ không thúc liễm thân tâm theo nguyên tắc—Laxiness—Not to let the body and mind to follow the rules but does whatever one pleases. 43) Hôn trầm: Styana (skt)—Mờ tối hay ngủ gục trong tiến trình tu tập—Torpor—To feel obscure in mind or to fall asleep in the process. 44) Trạo cử: Auddhatya (skt)—Người luôn nhúc nhích không yên—Restlessness—One is agitated and cannot keep still. 45) Thất niệm: Mushitasmriti (skt)—Không giữ được chánh niệm—Distraction—To lose proper mindfulness. 46) Bất chánh tri: Asamprajanya (skt)—Biết không chơn chánh, tâm tánh bị uế nhiễm ám ảnh—Improper knowledge—One become obssesses with defilement. 47) Bất Định (Tán loạn): Wikshepa (skt)—Tâm rối loạn—Scatteredness. (F) Bốn bất định: Aniyata (skt)—Four unfixed. 48) Thụy miên: Middha (skt)—Buồn ngũ làm mờ mịt tâm trí—To fall asleep to obscure the mind. 49) Hối: Kaudritya (skt)—Ăn năn việc làm ác trong quá khứ—Regret or repent for wrong doings in the past. 50) Tầm: Vitarka (skt)—Tìm cầu sự việc làm cho tâm tánh bất ổn—Investigation (to cause the mind unstable). 51) Tư: Vicara (skt)—Cứu xét chính chắn làm cho tâm tánh yên ổn—Correct Examination (to pacify the mind).

năm ngoái

Last (year).

năm nhuần

Leap year.

năm nhân duyên khiến cho người vãng sanh tịnh độ không thối chuyển

Five reasons why those who are reborn in the Pure Land achieve non-retrogression—Kinh Vô Lượng Thọ dạy rằng những kẻ vãng sanh Tịnh Độ đều trụ nơi chánh định, và đều là các bậc A Bệ Bạt Trí, tức là bậc Bất Thối Chuyển. Cổ Đức đã dạy: “Không nguyện vãng sanh Tịnh Độ thì khó lòng vãng sanh; tuy nhiên, một khi đã thực nguyện thì tất cả đều được vãng sanh. Không sanh Tịnh Độ thì khó thành tựu Bất Thối Chuyển; tuy nhiên, khi đã vãng sanh Tịnh Độ thì tất cả đều được bất thối chuyển.” Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Tịnh Độ Thập Nghi Hoặc Vấn Luận, có năm nhân duyên khiến cho người vãng sanh Tịnh Độ không còn bị thối chuyển nữa—The Infinite Sutra confirms that those who achieve rebirth in the Pure Land always dwell in correct samadhi, and are all at the stage of “Avaivartika” or non-retrogression. The ancients have said: “Without a vow to be reborn, rebirth cannot be achieved; however, with a sincere vow, all achieve rebirth. Without rebirth in the Pure Land, the stage of non-retrogression cannot easily be reached; however, with rebirth, all achieve non-retrogression. According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in the Treatise on The Ten Doubts, question number 19, there are five reasons why those who are reborn in the Pure Land achieve non-retrogression: 1) Do nguyện lực đại bi của Phật nhiếp trì: The power of the Buddha's great, compassionate vow embraces and protects them. 2) Ánh sáng hay trí huệ Phật thường soi đến thân, nên lòng Bồ Đề của chư thiện nhân luôn luôn tăng tiến: The Buddha's light or wisdom always shines upon them, and, therefore, the Bodhi Mind of these superior people will always progress. 3) Nơi cõi Tây Phương Tịnh Độ, chim, nước, rừng cây, gió, âm nhạc thường phát ra tiếng pháp 'khổ, không, vô thường và vô ngã;' hành giả nghe rồi sanh lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng: In the Western Pure Land, the birds, water, forests, trees, wind and music all preach the Dharma of 'suffering, emptiness, impermanence and no-self.' Upon hearing this, practitioners begin to focus on the Buddha, the Dharma and the Sangha. 4) Chúng sanh được sanh về Cực Lạc, thì bạn lành toàn là các bậc Bồ Tát thượng thiện, tuyệt tất cả các chướng nạn, ác duyên, lại không có ngoại đạo tà ma, nên tâm thường an tịnh: Those who are reborn in the Pure Land have the highest level Bodhisattvas as their companions and are free from all obstacles, calamities and evil conditions. Moreover there are no externalists or evil demons , so their Minds are always calm and still. 5) Đã được sanh về Tịnh Độ thì thọ lượng vô cùng, đồng với chư Phật và chư Bồ Tát, an nhiên tu tập trải qua vô biên a tăng kỳ kiếp: Once they are reborn in the Pure Land, their life span is inexhaustible, equal to that of the Buddhas and Bodhisattvas. Thus they can peacefully cultivate the Dharma for countless eons.

năm phiền trược chưa được đoạn tận

Đức Phật dạy trong Trung Bộ Kinh, kinh Tâm Hoang Vu, có năm phiền trược chưa được đoạn tận—In the Middle Length Discourses of the Buddha, the Wilderness in the Heart Sutra, the Buddha confirmed: “There are five shackles in the heart.” 1) Phiền trược thứ nhất chưa được đoạn tận—The first shackle in the heart that he has not severed: Ở đây vị Tỳ Kheo đối với những dục, không phải không tham ái, không phải không dục cầu, không phải không ái luyến, không phải không khao khát, không phải không nhiệt tình, không phải không khát ái, thì tâm của vị Tỳ Kheo đó không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn—Here a bhikkhu is not free from lust, desire, affection, thirst, fever, and craving for sensual pleasures, and thus his mind does not incline to ardour, devotion, perseverance, and striving. As his mind does not incline to ardour, devotion, perserverance, and striving. 2) Phiền trược thứ hai chưa được đoạn tận—The second shackle in the heart that he has not severed: Vị Tỳ Kheo nào đối với tự thân không phải không tham ái, không phải không dục cầu, không phải không ái luyến, không phải không khao khát, không phải không nhiệt tình, không phải không khát ái, thì tâm của vị Tỳ Kheo đó không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn—A bhikkhu is not free from lust, desire, affection, thirst, fever, and craving for the body (the rest remains the same as in the last part of 1). 3) Phiền trược thứ ba chưa được đoạn tận—The third shackle in the heart that he has not severed: Vị Tỳ Kheo nào đối với các sắc pháp không phải không tham ái, không phải không dục cầu, không phải không ái luyến, không phải không nhiệt tình, không phải không khát ái, thì tâm của vị Tỳ Kheo đó không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn—A bhikkhu is not free from lust, desire, affection, thirst, fever, and craving for form (the rest remains the same as the last part of 1). 4) Phiền trược thứ tư chưa được đoạn tận—The fourth shackle in the heart that that he has not severed: Vị Tỳ Kheo nào ăn cho đến thỏa thê, cho đến bụng chứa đầy, sống thiên nặng về khoái lạc, về sàng tọa, khoái lạc về ngủ nghỉ, khoái lạc về thụy miên—A bhikkhu eats as much as he likes until his belly is full and indulges in the pleasures of sleeping, lolling, and drowsing… As his mind does not inclined to ardour, devotion, perserverance, and striving. 5) Phiền trược thứ năm chưa được đoạn tận: Tỳ Kheo nào sống phạm hạnh với mong cầu được sanh thiên giới với ý nghĩ: “Ta với giới nầy, với hạnh nầy, với khổ hạnh nầy hay với phạm hạnh nầy sẽ được sanh làm chư Thiên này hay chư Thiên khác.”—A bhikkhu lives a holy life aspiring to some order of gods thus: “By this virtue or observance or asceticism or holy life, I shall become a great god or some lesser god,” and thus his mind does not inclined to ardour, devotion, perserverance, and striving.

năm phiền trược đã được (một vị tỳ kheo) đoạn tận

Five shackles in the heart that he has severed—See Năm Phiền Trược Chưa Được Đoạn Tận (opposite meaning).

năm pháp ngăn che

(ngũ cái): năm loại phiền não ngăn che sự sáng suốt của tâm thức, gồm có: 1. Tham dục, 2. Sân khuể, 3. Thụy miên (biếng nhác, mê ngủ), 4. Trạo hối (xao động bất an), 5. Nghi ngờ Chánh pháp.

năm pháp nội tâm một vị tỳ kheo cần phải có nếu muốn chỉ trích một vị khác

Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có năm pháp nội tâm một vị Tỳ Kheo cần phải có nếu muốn chỉ trích một vị khác—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are five points to be borne in mind by a monk wishing to rebuke another: 1) Tôi nói đúng thời, không phải phi thời: I will speak at the right time, not at the wrong time. 2) Tôi nói đúng sự thật, không sai sự thật: I will speak (state) the truth, not what is false. 3) Tôi nói một cách từ tốn, không nói lời ác khẩu: I will speak gently, not roughly. 4) Tôi nói lời có lợi ích, không nói lời không lợi ích: I will speak for his good, not for his harm. 5) Tôi nói lời có lòng từ, không phải lời sân hận: I will speak with love in my heart, not with enmity.

năm phép cung kính của chồng đối với vợ

Theo Kinh Toát Yếu Đạo Lý Cho Người Cư Sĩ, Đức Phật đã ban hành năm phép cung kính của người chồng đối với người vợ như sau—In the Sigalovada Sutta, the Buddha laid down the five ways for a husband to show compassion and respect for his wife as follows: 1) Luôn lễ độ và thanh tao nhã nhặn với vợ: He should always minister to her by courtesy. 2) Không tỏ ý khinh thường vợ: Not to despise her. 3) Trung thành với vợ: To be faithful to her. 4) Trao quyền hành quản lý trong nhà cho vợ: To delegate authority in the household to her. 5) Mua sắm nữ trang cho vợ: To provide her with ornaments.

năm phép cung kính của vợ đối với chồng

Theo Kinh Toát Yếu Đạo Lý Cho Người Cư Sĩ, Đức Phật đã ban hành năm phép cung kính yêu thương của người vợ đối với chồng như sau—In the Sigalovada Sutta, the Buddha laid down the guidelines of five ways for a wife to show compassion and respect to her husband as follows: 1) Làm tròn bổn phận của mình: To perform her duties well. 2) Ân cần tiếp đón thân bằng quyến thuộc bên chồng: To be hospitable to her husband's relatives and friends. 3) Trung thành với chồng: To be faithful to her husband. 4) Cẩn thận giữ gìn tiền bạc của cải mà chồng kiếm được: To protect what he brings home. 5) Luôn khéo léo, siêng năng cần mẫn trong công việc: Be always skilled and industrious in discharging her duties.

năm suy tướng

Five signs of decay—See Ngũ Suy. 1)

Năm sức

(Ngũ lực): Năm nguồn sức mạnh giúp người tu tập vượt qua mọi khó khăn, chướng ngại. Năm sức mạnh đó là: 1. Tín lực (sức mạnh của đức tin), 2. Nguyện lực (sức mạnh của tâm nguyện, quyết thực hiện điều đã phát nguyện), 3. Niệm lực (sức mạnh nghĩ nhớ, niệm tưởng đến Chánh pháp, phá được tất cả mọi tà niệm, tạp niệm), 4. Định lực (sức mạnh của sự định tâm, nhiếp tâm); 5. Tuệ lực (sức mạnh của trí tuệ sáng suốt).

năm sự bố thí

(ngũ sự thí): 1. Dùng vật chất bố thí (thí sắc); 2. Dùng công sức bố thí (thí lực); 3. Dùng sự an ổn bố thí, tức là bảo vệ người khác (thí an); 4. Dùng mạng sống để bố thí (thí mạng); 5. Dùng tài biện luận bố thí, nghĩa là dùng khả năng biện luận để giúp người được lợi lạc (thí biện).

năm sự uế trược

(ngũ trược): là năm tính chất xấu xa, ô nhiễm của một thế giới uế tạp như thế giới Ta-bà này, bao gồm kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược và mạng trược.

năm thiện nghiệp tạo quả được hưởng trong sắc giới

Five kinds of kusala kamma which may ripen in the realms of form—See Mười Lăm Tâm Thiện Thuộc Sắc Giới (A).

năm thiện nghiệp tạo quả được hưởng trong vô sắc giới

Five kinds of kusala kamma which may ripen in the formless realms—See Tứ Không Xứ (B).

năm thế hệ

Five generations.

năm thời kỳ phát triển của thai nhi

The five evolutions of the embryo in the womb: 1) Thai tụ: Kalalam (skt)—Embryo-initiation. 2) Sau 27 ngày: Arbudam (skt)—After 27 days. 3) Sau 37 ngày: Pesi (skt)—After 37 days. 4) Sau 47 ngày: Ghana (skt)—After 47 days. 5) Sau 57 ngày khi tất cả các căn hình thành đầy đủ: Prasakha (skt)—After 57 days when all form and organs all complete.

năm thứ chi tiêu

Trong Kinh Pattakamma, Đức Phật nhắc nhở một người nên chi tiêu của cải của mình theo năm chỗ sau đây—In the Pattakamma Sutta, the Buddha reminded a person should spend his wealth in five areas: 1) Chi tiêu về thực phẩm, quần áo và các nhu cầu khác: Expenditure on food and clothing and other needs. 2) Nuôi cha mẹ, vợ con và người làm: Maintain of parents, wife and children and servants. 3) Chi tiêu về thuốc thang và những trường hợp khẩn cấp khác: For illness and other emergencies. 4) Chi tiêu về mục đích từ thiện: For charitable purposes. 5) Chi tiêu vào những việc sau đây—Expenditures on the followings: • Đối xử với thân quyến—Treating one's relatives. • Đối xử với khách—Treating one's visitors. • Cúng dường để tưởng nhớ đến những người đã khuất—Offering alms in memory of the departed. • Dâng lễ cúng dường chư Thiên—Offering merit to the deities. • Dâng lễ cúng dường chư Tăng Ni—Offerings to monks and nuns. • Trả thuế và lệ phí nhà nước đúng kỳ hạn—Payment of state taxes and dues in time.

Năm thứ mắt

(Ngũ nhãn): 1. Nhục nhãn: mắt thịt, chỉ mắt của người thường, chỉ thấy được trong giới hạn nhất định của mắt, 2. Thiên nhãn, 3. Huệ nhãn: là khả năng nhìn thấy do sự khai mở trí huệ, nên sáng suốt và không bị giới hạn như mắt thường, 4. Pháp nhãn, 5. Phật nhãn: là khả năng nhìn thấy sau khi chứng quả Vô thượng Bồ-đề, thành Phật, nghĩa là chỉ có chư Phật Thế Tôn mới có mà thôi. Bậc giác ngộ hoàn toàn sẽ có đủ năm thứ mắt này. Chúng sanh phàm tục chỉ có nhục nhãn. Người tu hành tùy theo mức độ chứng đắc mà lần lượt được thêm các loại mắt khác, cho đến Phật là bậc giác ngộ hoàn toàn mới có Phật nhãn.

năm thứ tà mạng

1. Giả hiện kỳ lạ mua chuộc tín ngưỡng, như tịch cốc, thần thông… 2. Tự khoe công đức, tài học; 3. Coi bói, tướng số; 4. Hùng biện hô to, nhấn mạnh oai thế; 5. Khoe được nhiều cúng dường để lấy lòng người. Đây là năm thứ để cầu lợi, nuôi sống nên gọi là tà mạng.

năm tiểu suy tướng của chư thiên khi sắp mạng chung

Theo Kinh Đại Bát Niết Bàn, chư Thiên nào khi sắp mạng chung có năm tướng suy hiện ra. Năm suy tướng nầy gọi là năm tướng “tiểu suy”—According to the Parinirvana Sutra, heavenly beings who are nearing death will have the following five deterioration signs and characteristics. These characteristics are known as the five “minor deterioration” characteristics: 1) Y phục và các đồ trang nghiêm nơi thân như vòng xuyến và chuỗi anh lạc kêu vang ra những tiếng không được thanh tao êm dịu như lúc bình thường: Clothing and other adorning items on the body such as arm gem bracelets and jewel necklaces will no longer produce soothing and enchanting sounds as they usually did. 2) Ánh quang minh nơi thân bỗng nhiên mờ yếu: The auras around their bodies will become dim. 3) Sau khi tắm gội xong các giọt nước dính đọng nơi mình chớ không khô đi như lúc trước: After bathing the water droplets will remain on their bodies and will not dry spontaneously as they usually did. 4) Tánh tình bình thường thong dong, phóng khoáng nay bị trì trệ lại một chỗ: Their personality ordinarily delightful and cheerful, today they seem uneasy and uncomfortable. 5) Mắt luôn máy động không được trong lặng như mọi khi: The eyes will twitch constantly and will not be as clear as they used to be.

năm triều đại thời cổ trung quốc

The five dynasties of Ancient China.

Năm trí

S: pañcajñāna; Hán Việt: Ngũ trí (五智);|Năm loại trí được trình bày theo Mật giáo. Năm trí này miêu tả tất cả những khía cạnh của Tuyệt đối, của Chân như (s: tathatā) mà con người có thể thực hiện được khi đã chuyển hoá thân tâm. Thân tâm gọi cụ thể ở đây là năm nhóm, Ngũ uẩn với năm cấu uế, phiền não (s: pañcakleśa) phụ thuộc là tham dục (s: rāga), sân (s: dveṣa), si (s: moha, hoặc vô minh, s: avidyā), mạn (s: māna) và ganh ghét (s: īrṣyā). Năm trí bao gồm:|1. Pháp giới (thể tính) trí (法界 [體性] 智; dhamadhātu-jñāna): trí siêu việt của Pháp giới (dharmadhātu), trí tột cùng. Căn cơ của trí này là Sắc uẩn (rūpaskandha) cùng với Vô minh (avidyā), và thuộc về Thân (kāya) trong ba động cơ tạo nghiệp là Thân, khẩu, ý (citta-vāk-kāya). Trong Man-đa-la thì Pháp giới trí thuộc về Ðại Nhật Phật (vairocana), nằm ở trung tâm.|2. Ðại viên kính trí (大圓鏡智; ādarśa-jñā-na): trí như một tấm gương lớn, trí giúp người nhìn vạn vật với một tâm thức Vô ngã (anātman), không muốn chiếm đoạt, phân biệt đúng sai, chấp nhận vạn vật với mỗi sắc thể riêng của nó. Trí này được ví như một tấm gương vì một hạt bụi nó cũng không bỏ qua nhưng nếu hạt bụi này bay đi, gương không lưu lại dấu vết gì. Nguồn gốc của trí này là Thức uẩn (vijñānaskandha) cùng với tâm trạng Sân hận (dveṣa), thuộc về ý (citta) trong ba cửa tạo nghiệp. Trong Man-đa-la thì trí này thuộc về Phật Bất Ðộng (akṣobhya), nằm ở phương Ðông.|3. Bình đẳng tính trí (平等性智; s: samatā-jñāna): trí giúp con người thấy rõ sự bình đẳng giữa mình và chúng sinh. Tinh thần Từ bi (maitrī-karuṇā) của đạo Phật cũng xuất phát từ trí này chứ không phải xuất phát từ ý nghĩ »tội nghiệp, đáng thương« – cách nhìn của một người »trên cơ« nhìn xuống. Người Phật tử phát triển Bồ-đề tâm, phát triển lòng từ bi vì đã nhận ra chính mình trong tất cả hoàn cảnh, tất cả chúng sinh. Nguồn gốc của trí này là Thụ uẩn (ve-danāskandha) cùng với tâm trạng Kiêu mạn (māna). Trong Man-đa-la thì trí này thuộc về Phật Bảo Sinh (ratnasambhava), vị trí ở phương Nam.|4. Diệu quan sát trí (妙觀察智; pratyave-kṣaṇa-jñāna): trí giúp người ta biến chuyển khả năng phân biệt, thị phi bằng trí thức bình thường thành trí huệ siêu việt (Bát-nhã), tuỳ cơ ứng biến, làm việc đúng thời điểm và địa điểm, không cần »dụng công.« Nguồn gốc của trí này là Tưởng uẩn (saṃjñā-skandha) cùng với tâm trạng Tham dục (rāga). Trong Man-đa-la thì trí này thuộc về Phật A-di-đà (amitābha), giáo chủ phương Tây.|5. Thành sở tác trí (成所作智; kṛtyānuṣ-ṭhāna-jñāna), cũng được gọi là Thành sự trí (成事智): trí giúp người hoàn thành tất cả mọi việc mà không tạo Nghiệp (karma), đó là hành động Vô vi, xuất phát từ một tâm đã chứng ngộ được Vô ngã của chính bản thân và các Pháp Hữu vi. Nguồn gốc của trí này là Hành uẩn (saṃskāraskandha) cùng với tâm trạng ganh ghét (Hán dịch là »tật« 嫉; s: īrṣyā). Trong Man-đa-la thì trí này thuộc về Phật Bất Không Thành Tựu (amoghasiddhi), giáo chủ phương Bắc.|Cách trình bày như trên thuộc về truyền thống của Kim cương thừa (vajrayāna) Tây Tạng. Truyền thống Mật giáo tại Ấn Ðộ theo Bí mật tập hội tan-tra (guhyasamāja-tantra) thì có những điểm khác, cụ thể là: Bất Ðộng Như Lai trụ trì ở trung tâm Man-đa-la với những thuộc tính là Thức (vijñāna), Sân (dveṣa), Tâm (trong ba ải tạo nghiệp) và Pháp giới thể tính trí. Ðại Nhật Như Lai trụ trì ở hướng Ðông với thuộc tính Sắc (rūpa) trong ngũ uẩn, Vô minh (avidyā), Thân trong ba ải và Ðại viên kính trí. Trong Duy thức tông (vijñānavāda) hoặc Pháp tướng tông (Hiển giáo) người ta chỉ phân biệt bốn loại trí, không nhắc đến Pháp giới trí (xem thêm dưới Pháp tướng tông).

năm trường hợp đi chùa bất đắc dĩ

Five reluctant situations the majority of people go to temple—Theo Thượng Tọa Thích Hải Quang trong Thư Gửi Người Học Phật, ít thấy có người vì thực tình muốn thoát nẻo luân hồi, xa lìa sanh tử, cầu vãng sanh Tịnh Độ mà đến chùa tu hành. Có năm trường hợp đi chùa bất đắc dĩ. Dù thế nào đi nữa, việc tu hành như thế cũng gieo được nhân lành và phước đức về sau, còn tốt hơn là không tu hành hay không có tín tâm gì cả—According to Venerable Thích Hải Quang in the Letters to Buddhist Followers, there are very few people who honestly wish to escape the cycle of rebirths, be liberated from birth and death, to seek rebirth to the Pureland to come to temple to cultivate. There are five reasons that Buddhists reluctantly go to temple. No matter what reasons, such cultivation is still producing some wholesome deeds, is still better than no cultivation or having no faith. 1) Có người vì bệnh nặng mà đi chùa vái van cho mau qua chóng khỏi: Some people go to the temple to pray to quickly overcome their sickness or ailment. 2) Vì muốn cầu siêu trả hiếu cho cha mẹ mà đi chùa tụng kinh niệm Phật: Some people go to the temple to chant sutras and practice Buddha Recitation with the purpose to pray for their deceased parents as a way to repay their parents' kindness. 3) Vì cầu cho nhà cửa, sự nghiệp vững bền mà đến chùa lạy Phật, cúng dường: Some people come to the temple to prostrate to Buddha and make offerings with the purpose to pray for their homes and daily subsistence to remain prosperous. 4) Vì sợ tai nạn mà đến chùa vái nguyện ăn chay niệm Phật: Some people are afraid of calamities and disasters so they come to the temple to vow to become vegetarians. 5) Vì muốn trả cho rồi các lời vái van đã lỡ phát nguyện khi trước: Some people come to the temple because they wish to repay something they vowed before when they experienced hardships.

năm trường hợp để phân biệt cảnh ma hay cảnh thật

See Five circumstances (criteria) that can help us to determine which events are real and which belong to the demonic realms in English-Vietnamese Section.

năm tâm hoang vu

Ceto-khila (p)—Five mental blockages—Theo Kinh Phúng Tụng trong trường Bộ Kinh, có năm tâm hoang vu—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are five mental blockages: 1) Ở đây vị Tỳ Kheo nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có thỏa mãn đối với vị Đạo Sư. Thế nên vị ấy không nỗ lực đúng hướng, không hăng hái, không kiên trì và tinh tấn: Here a monk who has doubts and hesitations about the teacher, is dissatisfied and cannot settle his mind. Thus his mind is not inclined towards ardour, devotion, persistence and effort. 2) Ở đây vị Tỳ Kheo nghi ngờ đối với Pháp, do dự, không quyết đoán, không có thỏa mãn đối với Pháp. Thế nên vị ấy không nỗ lực đúng hướng, không hăng hái, không kiên trì và tinh tấn: Here a monk who has doubts and hesitations about the Dhamma, is dissatisfied and cannot settle his mind. Thus his mind is not inclined towards ardour, devotion, persistence and effort. 3) Ở đây vị Tỳ Kheo nghi ngờ đối với Tăng, do dự, không quyết đoán, không có thỏa mãn đối với Tăng. Thế nên vị ấy không nỗ lực đúng hướng, không hăng hái, không kiên trì và tinh tấn: Here a monk who has doubts and hesitations about the Sangha, is dissatisfied and cannot settle his mind. Thus his mind is not inclined towards ardour, devotion, persistence and effort. 4) Ở đây vị Tỳ Kheo nghi ngờ đối với Học Pháp, do dự, không quyết đoán, không có thỏa mãn đối với Học Pháp. Thế nên vị ấy không nỗ lực đúng hướng, không hăng hái, không kiên trì và tinh tấn: Here a monk who has doubts and hesitations about the training, is dissatisfied and cannot settle his mind. Thus his mind is not inclined towards ardour, devotion, persistence and effort. 5) Ở đây vị Tỳ Kheo tức giận đối với các vị đồng phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu. Vì thế vị ấy không nỗ lực đúng hướng, không hăng hái, không kiên trì và tinh tấn: Here a monk who is angry and displeased with his fellows in the holy life, he feels depressed and negative towards them. Thus his mind is not inclined towards ardour, devotion, persistence and effort.

năm tâm hoang vu đã được đoạn tận

Five Wilderness in the heart have been completely abandoned (please see Năm Tâm Hoang Vu, just reversing the meaning, or place a “no” in front of each rule).

năm tâm hành sắc giới

Five kinds of Fine-Material-Sphere Functional Consciousness—See Tâm Sắc Giới (II) (C).

năm tâm quả sắc giới

Five kinds of Fine-Material-Sphere Resultant Consciousness—See Tâm Sắc Giới (II) (B).

năm tâm thiện sắc giới

Five kinds of Fine-Sphere-Material-Wholesome-Consciousness—See Tâm Sắc Giới (II) (A).

năm tướng suy

(ngũ suy tướng): năm tướng hiện ra khi chư thiên ở các cõi trời đã hưởng hết phước đức, sắp phải xả thân để sanh về một cảnh giới khác. Năm tướng suy đó là: 1. Quần áo thường dơ bẩn; 2. Đầu tóc rối bời, hoa trên đầu tàn tạ; 3. Thân thể hôi hám và nhơ nhớp; 4. Dưới nách thường ra mồ hôi; 5. Không thấy ưa thích ngai vị, chỗ ngồi của mình.

Năm tỉ-khâu

Hán Việt: Ngũ tỉ-khâu (五比丘);|Là năm vị Sa-môn (s: śramaṇa) được nghe Phật thuyết pháp đầu tiên tại Lộc uyển. Năm vị Sa-môn này trở thành năm vị đệ tử đầu tiên gia nhập Tăng-già của đức Phật. Năm vị này là: A-nhã Kiều-trần-như (s: ājñāta kauṇḍinya; p: koṇḍañña), Bà-sa-ba (s: bāṣpa; p: vappa), Bạt-đề (s: bhadriya; p: bhaddiya), Ma-ha Na-ma (s, p: mahānāma) và Át-bệ hoặc A-thuyết-thị (s: aśvajit; p: assaji).

Năm tội lớn

S: pañcanantaryakarmāṇi; Hán Việt: Ngũ nghịch (五逆), Ngũ vô gián nghiệp (五無間業);|Năm trọng tội bị đoạ Ðịa ngục (s: naraka): 1. Giết cha (sát phu 殺父; s: pitṛghāta); 2. Giết mẹ (sát mẫu 殺母; s: mātṛghāta); 3. Giết một vị A-la-hán (sát A-la-hán 殺阿羅漢; s: arhadvadha); 4. Làm tổn thương đổ máu Phật (xuất Phật thân huyết 出佛身血; s: tathāgatasyāntike duṣṭacittarudhirotpada-na) và 5. Chia rẽ Tăng-già (Phá hoà hợp tăng 破和合僧; s: saṅghabheda).

Năm tội nghịch

(ngũ nghịch tội): Tiếng Phạn là pađcanantaryakarmṇi, Hán dịch là Ngũ nghịch tội hay Ngũ vô gián nghiệp, nghĩa là năm tội nghịch, khi phạm vào phải đọa địa ngục Vô gián, chịu sự khổ sở không gián đoạn. Đây là năm tội nặng nhất đối với mọi chúng sanh. Vì đối với người có ân nhưng thay vì phụng thờ cung kính lại ngổ nghịch làm hại nên gọi là tội nghịch. Theo Tiểu thừa thì năm tội nghịch là: 1. Giết cha, 2. Giết mẹ, 3. Giết A-la-hán, 4. Phá hòa hợp tăng, 5. Làm thân Phật chảy máu. Tuy nhiên, theo Đại thừa thì khái niệm năm tội nghịch rộng hơn, do đó cũng có nhiều chúng sanh dễ phạm vào hơn. Chúng tôi nghiêng về việc hiểu khái niệm năm tội nghịch ở đây theo Đại thừa, bao gồm: 1. Phá hoại tháp Phật, tôn tượng, chùa, tinh xá... hoặc trộm, cướp tài vật của Tam bảo, hoặc tự mình làm, hoặc bảo người khác làm, hoặc thấy người khác làm như vậy mà sanh tâm vui mừng. 2. Phỉ báng, khinh chê giáo pháp của Phật, bao gồm cả giáo pháp Tiểu thừa và Đại thừa. 3. Cưỡng bức, ép buộc tỳ-kheo hoàn tục, hoặc giết hại tỳ-kheo. 4. Phạm vào một trong 5 tội nghịch của Tiểu thừa như vừa kể trên. 5. Khinh chê nhân quả, cho rằng không có nghiệp thiện, nghiệp ác, thường làm 10 nghiệp bất thiện, không sợ quả báo đời sau, thường tự làm hoặc bảo người khác làm 10 nghiệp ác. Theo cách hiểu này thì hầu hết chúng sanh tà kiến đều rất dễ dàng phạm vào năm tội nghịch nếu không biết tin nhận và học theo Chánh pháp. Trong Bồ Tát giới kinh lại có ghi chép bảy thứ tội nghịch (Thất nghịch tội) là: 1. Làm cho thân Phật ra máu, như, chém đánh; ném đá...; 2. Giết cha; 3. Giết mẹ; 4. Giết hòa thượng; 5. Giết A-xà-lê; 6. Phá yết-ma chuyển Pháp luân tăng; 7. Giết thánh nhân.

năm uẩn

xem năm ấm; xem thêm ấm, nhập, giới.

năm vóc

(ngũ thể): năm phần của thân thể, bao gồm: đầu, hai tay và hai chân.

năm xuất ly giới

Nissaraniya-dhatuyo (p)—The five elements making for deliverance—See Ngũ Xuất Ly Giới.

năm điều kiện cần thiết để thành công của người tu thiền

Five conditions to be successful for a Pure Land practitioner—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, nếu luận xét trên đường hành đạo, khi chưa được sanh về Cực Lạc, thì tu Tịnh Độ cũng có thể bị ma chướng. Song phần nhiều là do hành giả không hiểu giáo lý, chẳng khéo trị tâm, để nội ma phát khởi khiến chiêu cảm ngoại ma đến phá hoại. Nếu giữ được tâm bình tĩnh, thì với oai lực công đức của câu hồng danh, ngoại ma không làm chi được, và phiền não cũng lần lần bị tiêu trừ. Vì thế người tu Tịnh Độ, ma cảnh nếu có cũng là phần ít. Trái lại người tu Thiền, ma cảnh hiện nhiều, bởi chỉ nương vào tự lực. Bậc Thiền sĩ phải đủ năm điều kiện sau đây. Nếu vị tu thiền nào không hội đủ năm điều kiện trên rất dễ bị ma chướng làm tổn hại—While treading the Way but not yet reborn in the Pure Land, the practitioner of Buddha Recitation may also encounter demonic obstacles. However, in most cases, this is because he does not understand the Dharma and is not skillful at reining in his mind, letting internal demons or afflictions spring up, which, in turn, attract external demons. If he can keep his mind empty and still and recite the Buddha's name, external demons will be powerless and afflictions will gradually disappear. Thus, for the Pure Land practitioner, even if demonic obstacles do appear, they are few in number. Advanced Zen practitioners, on the other hand, face many demonic occurrences because they rely only on their own strength and self-power. A Zen follower should fulfill the following five conditions to be successful. If a Zen practitioner does not meet these five conditions, he is very easily subject to get harm from demons: 1) Giới hạnh tinh nghiêm: He should keep the precepts strictly. 2) Căn tánh lẹ làng sáng suốt: His nature and roots should be quick and enlightened. 3) Phải hiểu rõ đạo lý, khéo phân biệt tướng chánh tà, chân, vọng: He should have a clear understanding of the Dharma, skillfully distinguishing the correct from the deviant, the true from the false. 4) Ý chí mạnh mẽ vững bền: He should be firm and stable in his determination. 5) Phải nương nơi bậc thiện tri thức thông kinh điển, , đã có kinh nghiệm tu thiền nhiều năm để nhờ sự hướng dẫn: He should be guided by a good advisor, who has a thorough understanding of the sutras and many years experience in meditation.

năm điều kiện cần thiết để tạo nên nghiệp sát sanh

Five necessary conditions to complete the evil of killing—See Sát Sinh (B).

năm điều lợi ích của người giữ đủ giới

Theo Kinh Đại Bát Niết Bàn và Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có năm điều lợi ích cho người đủ giới—According to the Mahaparinibbana Sutta and the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are five advantages to one of good morality and of success in morality: 1) Người giữ giới nhờ không phóng túng nên được tài sản sung túc: Through careful attention to his affairs, he gains much wealth. 2) Người giữ giới tiếng tốt đồn khắp: He gets a good reputation for morality and good conduct. 3) Người giữ giới, khi vào hội chúng nào, Sát Đế Lợi, Bà La Môn, Sa Môn hay cư sĩ, vị ấy vào một cách đường hoàng, không dao động: Whatever assembly he approaches, whether of Khattiyas, Brahmins, Ascetics, or Householders, he does so with confidence and assurance. 4) Người giữ giới khi mệnh chung sẽ chết một cách không sợ sệt, không dao động: At the end of his life, he dies unconfused. 5) Người giữ giới, sau khi thân hoại mệnh chung được sanh lên thiện thú hay Thiên giới: After death, at breaking up of the body, he arises in a good place, a heavenly world.

năm điều nguy hiểm của người ác phá giới

Sampada—Five dangers to the immoral through lapsing from morality—Theo Kinh Đại Bát Niết Bàn và Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có năm điều nguy hiểm của người ác giới—According to the Mahaparinibbana Sutta and the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are five dangers to the immoral through lapsing from morality (bad morality or failure in morality): 1) Người ác giới vì phạm giới luật do phóng dật thiệt hại nhiều tài sản: He suffers great loss of property through neglecting his affairs. 2) Người ác giới, tiếng xấu đồn khắp: He gets bad reputation for immorality and misconduct. 3) Người ác giới, khi vào hội chúng sát Đế Lợi, Bà La Môn, Sa Môn hay cư sĩ, đều vào một cách sợ sệt và dao động: Whatever assembly he approaches, whether of Khattiyas, Bramins, Ascetics, or Householders, he does so differently and shyly. 4) Người ác giới, chết một cách mê loạn khi mệnh chung: At the end of his life, he dies confused. 5) Người ác giới, khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục: After death, at the breaking up of the body, he arises in an evil state, a bad fate, in suffering and hell. ** For more information, please see Năm Điều Lợi Ích Của Người Đủ Giới.

năm điểm phải biết tự xét lấy mình của người tu tịnh độ

Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, để tránh bị ma chướng trên đường tu, có năm điểm mà người tu Tịnh Độ phải tự xét lấy mình—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, to prevent demonic obstructions on the cultivating path, there are five points any Pureland practitioner should know how to reflect on one's self. 1) Muốn sanh về Tây Phương Cực Lạc, không phải chỉ dùng chút ít phước lành hay đôi chút công hạnh lơ là mà được: If wishing to gain rebirth in the Western Pureland of Ultimate Bliss, it takes much more than a few good meritorious and virtuous deeds. 2) Muốn thoát được sự thống khổ luân hồi trong vạn kiếp, không phải chỉ dùng tâm dần dà, chờ hẹn hay biếng trễ mà được: If wishing to find liberation from the eternal suffering in tens and thousands of reincarnations of the cycle of rebirths, it cannot be accomplished by procastinating and being lazy. 3) Phải nghĩ rằng cơn vô thường mau chóng, mới sáng sớm đó đã lại đến xế chiều. Đâu nên không siêng năng, lo dự bị trước hay sao?: It is necessary to think that the impermanence of life is sudden, time truly flies, the morning had just come but night has arrived. Why not be diligent and prepare in anticipation. 4) Nên nhớ rằng sức chí nguyện không thắng nổi sức tình ái được: Remember the “wheel power” is unable to overcome the “powerful forces of love, lust and desires.” 5) Lại cũng nên nhớ rằng tâm niệm Phật không hơn nổi tâm dục trần được: Also remember that the Buddha Recitation Mind is not stronger than the the mind of worldly desires.

năm đại hay năm yếu tố lớn—the five elements

Đất: Earth.

năm đại suy tướng của chư thiên lúc sắp mạng chung

Five major deterioration characteristics of heavenly beings who are nearing death—See Ngũ Suy.

năm đại tội

Five grave offenses—Five deadly sins (killing one's father or one's mother or an arahant, causing dissension within the Sangha, causing the Tathagata to bleed)—See Ngũ Nghịch.

năm đạo sĩ

The five learned monks—See Năm Đệ Tử Đầu Tiên Của Đức Phật.

năm đẳng cấp chúng sanh

Theo Kinh Lăng Già, về quan điểm tôn giáo, có năm đẳng cấp chúng sanh—According to The Lankavatara Sutra, from the religious point of view, there are five orders of beings. 1) Những chúng sanh thuộc hàng Thanh Văn—Those who belong to the Sravaka order: Các chúng sanh thuộc hàng Thanh Văn được chứng ngộ khi nghe được những học thuyết về các Uẩn, Giới, Xứ, nhưng lại không đặc biệt lưu tâm đến lý nhân quả; các ngài đã giải thoát đuợc sự trói buộc của các phiền não nhưng vẫn chưa đoạn diệt được tập khí của mình. Họ đạt được sự thể chứng Niết Bàn, và an trú trong trạng thái ấy, họ tuyên bố rằng họ đã chấm dứt sự hiện hữu, đạt được đời sống phạm hạnh, tất cả những gì cần phải làm đã được làm, họ sẽ không còn tái sinh nữa. Những vị nầy đã đạt được tuệ kiến về sự phi hiện hữu của “ngã thể” trong một con người, nhưng vẫn chưa thấy được sự phi hiện hữu trong các sự vật. Những nhà lãnh đạo triết học nào tin vào một đấng sáng tạo hay tin vào “linh hồn” cũng có thể được xếp vào đẳng cấp nầy—Those belong to the Sravaka order who are delighted at listening to such doctrines as concern the Skandhas, Dhatus, or Ayatanas, but take no special interest in the theory of causation, who have cut themselves loose from the bondage of evil passions but have not yet destroyed their habit-energy. They have attained the realization of Nirvana, abiding in which state they would declare that they have put an end to existence, their life of morality is now attained, all that is to be done is done, they would not be reborn. These have gained an insight into the non-existence of an ego-substance in a person but not yet into that in objects. These philosophical leaders who believe in a creator or in the ego-soul may also be classified under this order. 2) Những chúng sanh thuộc hàng Bích Chi Phật—Those of the Partyekabuddha order: Đẳng cấp Bích Chi Phật bao gồm những vị hết sức lưu tâm đến những gì dẫn họ đến sự thể chứng quả vị Bích Chi Phật. Họ lui vào sống độc cư và không dính dáng gì đến các sự việc trên dời nầy. Khi họ nghe nói rằng Đức Phật hiện thân ra thành nhiều hình tướng khác nhau, khi thì nhiều thân, khi thì một thân, thi triển thần thông thì họ nghĩ rằng đấy là dành cho đẳng cấp của chính họ nên họ vô cùng ưa thích những thứ ấy mà đi theo và chấp nhận chúng—The Pratyekabuddha order comprises those who are intensely interested in anything that leads them to the realization of Pratyekabuddhahood. They would retire into solitude and have no attachment to worldly things. When they hear that the Buddha manifests himself in a variety of forms, sometimes in group, sometimes singly, exhibiting miraculous powers, they think these are meant for their own order, and immensely delighted in them they would follow and accept them. 3) Những chúng sanh thuộc hàng Như Lai—Those of the Tathagata order: Chư vị có thể nghe thuyết giảng về những chủ đề như những biểu hiện của tâm hay cảnh giới siêu việt của A Lại Da mà từ đấy khởi sinh thế giới của những đặc thù nầy, nhưng chư vị lại có thể không cảm thấy chút nào ngạc nhiên hay sợ hãi. Những chúng sanh trong đẳng cấp Như Lai có thể được chia làm ba loại—Those who may listen to discourse on such subjects as manifestations of mind, or transcendental realm of the Alaya, from which starts this world of particulars, and yet they may not at all feel astonished or frightened. The Tathagata order may be again divided into three. a) Những vị đã đạt được tuệ kiến thấu suốt chân lý rằng không có một thực thể đặc thù nào đằng sau những gì mà người ta nhận thức: Those who gain an insight into the truth that there is no individual reality behind one perceives. b) Những vị biết rằng có một nhận thức tức thời về chân lý trong tâm thức sâu kín nhất của con người: Those who know that there is an immediate perception of the truth in one's inmost consciousness. c) Những vị nhận thức rằng ngoài thế giới này còn có vô số Phật độ rộng lớn bao la: Those who perceive that besides this world there are a great number of Buddha-lands wide and far-extending. 4) Những chúng sanh không thuộc đẳng cấp rõ ràng nào—Those who belong to no definite order: Những chúng sanh có bản chất bất định, vì những chúng sanh nào thuộc đẳng cấp nầy có thể nhập vào một trong ba đẳng cấp vừa kể trên tùy theo hoàn cảnh của mình—Those who are of the indeterminate nature. For those who belong to it may take to either one of the above three orders according to their opportunities. 5) Những chúng sanh vượt ra ngoài các đẳng cấp trên—Those who are altogether outside these order: Hãy còn một đẳng cấp khác nữa của những chúng sanh không thể được bao gồm trong bất cứ đẳng cấp nào trong bốn đẳng cấp vừa kể trên; vì họ không hề mong muốn cái gì để giải thoát, và vì không có mong muốn ấy nên không có giáo lý nào có thể nhập vào lòng họ được. Tuy nhiên, có hai nhóm phụ thuộc nhóm nầy và cả hai nhóm nầy đều được gọi là Nhất Xiển Đề (see Nhất Xiển Đề and Vô Chủng Xiển Đề)—There is still another class of beings which cannot be comprised under any of the four already mentiond; for they have no desire whatever for emancipation, and without this desire no religious teaching can enter into any heart. They belong to the Icchantika order. Two sub-classes, however, may be distinguished here. a) Những người đã từ bỏ tất cả các thiện căn Those who have forsaken all roots of merit: Những người phỉ báng các học thuyết dành cho chư Bồ Tát mà bảo rằng các học thuyết ấy không phù hợp với kinh luật cũng như học thuyết giải thoát. Vì sự phỉ báng nầy, họ tự cắt đứt mọi thiện căn và không thể nào vào được Niết Bàn—Those who vilify the doctrines meant for the Bodhisattvas, saying that they are not in accordance with the sacred texts, rules of morality, and the doctrine of emancipation. Because of this vilification they forsake all the roots of merit and do not enter into Nirvana. b) Những người lúc đã nguyện độ tận chúng sanh ngay từ lúc mới khởi đầu cuộc tu hành của họ—Those who have vowed at the beginning to save all beings: Họ gồm những vị Bồ Tát mong muốn đưa tất cả chúng sanh đến Niết Bàn mà tự mình thì từ chối cái hạnh phúc ấy. Từ lúc khởi sự đạo nghiệp của mình, các ngài đã nguyện rằng cho đến khi mọi đồng chúng sanh của họ được đưa đến an hưởng hạnh phúc vĩnh cửu của Niết Bàn, họ sẽ không rời cuộc đời khổ đau nầy, mà phải hành động một cách kiên trì với mọi phương tiện có thể được để hoàn tất sứ mạng của mình. Nhưng vì vũ trụ còn tiếp tục hiện hữu thì sẽ không có sự chấm dứt cuộc sống, cho nên các vị nầy có thể không bao giờ có cơ hội để hoàn tất công việc mà tịnh trú trong Niết Bàn tĩnh lặng. Cơ may cũng đến cho cả những người phỉ báng Bồ tát thừa khi nhờ lực trí gia hộ của chư Phật, mà cuối cùng họ theo Đại thừa và do tích tập thiện nghiệp mà nhập Niết Bàn, vì chư Phật luôn luôn hành động vì lợi ích của tất cả mọi chúng sanh dù chúng sanh có thế nào đi nữa. Nhưng đối với các vị Bồ Tát, không bao giờ nhập Niết Bàn vì các ngài có tuệ giác sâu xa, nhìn suốt bản chất của các sự vật là những thứ dù đang như thế, vốn vẫn ở ngay trong Niết Bàn. Như vậy chúng ta biết đâu là vị trí của chư vị Bồ tát trong công việc vô tận của các ngài là dẫn dắt hết thảy chúng sanh đến trú xứ tối hậu—They are Bodhisattvas who wish to lead all beings to Nirvana. Deny themselves of this bliss. They vowed in the beginning of their religious career that until everyone of their fellow-beings is led to enjoy the eternal happiness of Nirvana, they themselves would not leave this world of pain and suffering, but must strenuously and with every possible means work toward the completion of their mission. But as there will be no termination of life as long as the universe continues to exist, Bodhisattvas may have no chance for ever to rest themselves quietly with their work finished in the serenity of Nirvana. The time will come even to those who speak evil of the Bodhisattvayana when through the power of the Buddhas they finally embrace the Mahayana and by amassing stock of merit enter into Nirvana, for the Buddhas are always working for the benefit of all beings no matter what they are. But as for Bodhisattvas they never enter into Nirvana as they have a deep insight into the nature of things which are already in Nirvana even as they are. Thus, we know where Bodhisattvas stand in their never-ending task of leading all beings into the final abode of rest.

năm đặc tính của công án

Thiền chẳng phải là tâm lý học hay triết học, mà là một kinh nghiệm mang đầy ý nghĩa sâu xa và chứa đầy những nội dung sống động và siêu thoát. Trong Thiền, kinh nghiệm là chung quyết, là quyền năng của chính nó. Nó là chân lý cứu cánh, không do từ tri kiến thế gian mà ra; nó thỏa mãn mọi khát vọng của con người. Mỗi người phải thực hiện ngay trong chính mình, chứ không dựa vào những quyền năng từ bên ngoài. Ngay cả giáo lý của Phật Thích Ca, hay thuyết của chư Tổ, dù có thâm sâu và chân chính đi nữa, chẳng dính gì đến ai cả nếu như người ta không tiêu hóa chúng thành sinh mệnh của chính mình; ấy là nói rằng chúng phải xuất phát ngay từ những kinh nghiệm riêng tư của mình. Theo Thiền sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập II, sự thể hiện kinh nghiệm vừa kể trên gọi là 'ngộ.' Tất cả mọi công án là những phát ngôn của 'ngộ' không qua trung gian trí thức. Có năm đặc tính của việc thực tập công án—Zen is neither psychology nor philosophy, but it is an experience charged with deep meaning and laden with living, exalting contents. The experience is final and its own authority. It is the ultimate truth, not born of relative knowledge, that gives full satisfaction to all human wants. It must be realized directly within oneself: no outside authorities are to be relied upon. Even the Buddha's teaching and the master's discourses, however deep and true they are, do not belong to one so long as they have not been assimilated into his being, which means that they are to be made to grow directly out of one's own living experience. According to Zen Master D.T. Suzuki in the Essays of Zen Buddhism, Book II, the above mentioned realization of experience is called 'satori.' All koans are the utterances od satori with no intellectual meditations. There are five characteristics concerning the koan exercise. 1) Công án được đề ra cho người học là để dẫn tới tâm trạng căng thẳng cực độ: The koan is given to the student first of all to bring about a highly wrought-up state of consciousness. 2) Khả năng biện biệt được gác lại, tức là đình chỉ hoạt động phù phiếm hơn của tâm trí hầu cho những phần chính yếu và sâu xa hơn, thường thường vùi sâu, có thể được khai phát và thành tựu những bổn phận của chúng: The reasoning faculty is kept in abeyance, that is, the more superficial activity of the mind is set at rest so that its more central and profounder parts which are found generally deeply buried can be brought out and exercised to perform their native functions. 3) Những trung tâm hành xử, vốn dĩ là những căn cơ của một cá tính, được vận dụng đến mức tối đa để giải quyết công án. Đây là điều mà Thiền sư nói đến khi ông nhắc đến tin lớn và nghi lớn như hai thế lực cốt yếu nhất cần có để quy định phẩm tính của một môn đệ Thiền có khả năng. Còn như việc tất cả người xưa quyết ý dâng hết thân tâm của mình cho sự thành thục của Thiền, thì điều đó cho thấy cái vĩ đại của lòng tin tưởng của họ nơi chân lý tối hậu, và cũng chứng tỏ sức mạnh của tinh thần tham sách của họ, gọi là 'khổ cần;' cái tinh thần ấy không từng xao lãng hoạt động cho đến lúc đạt được mục đích, nghĩa là cho đến lúc hiện chứng được Phật tính: The effective and conative centres which are really the foundations of one's personal character are chargd to do their utmost solution of the koan. This is what the Zen master means when he refers to ''reat faith''and ''reat spirit of inquiry''as the two most essential powers needed in the qualification of a successful Zen devotee. The fact that all great masters have been willing to give themselves up, body and soul, to the mastery of Zen, proves the greatness of their faith in ultimate reality, and also the strength of their spirit of inquiry known as 'seeking and contriving,' which never suspends its activity until it attains its end, that is, until it has come into the very presence of Buddhata itself. 4) Khi sự viên mãn của tinh thần tới tột độ như thế ở đây nổi bật là một trạng thái trung tính của tâm thức mà các nhà tâm lý học khảo cứu về ý thức tôn giáo gọi nhầm là 'xuất thần.' Trạng thái tâm thức thhiền nầy khác hẳn xuất thần vì rằng xuất thần là đình chỉ những thế lực tâm lý trong khi tinh thần thì đắm chìm torng việc chiêm ngưỡng một cách thụ động; trái lại, trạng thái tâm thức của thiền là một trạng thái đã được thúc đẩy bởi sự thực tập vô cùng tích cực của tất cả những khả năng cốt yếu tạo thành một nhân cách. Ở đây chúng được tập trung hẳn vào một sở tri độc nhất, gọi là trạng thái 'nhất tâm.' Nó cũng được coi như là một trạng thái đại nghi. Đây là lúc tâm thức thường nghiệm với tất cả nội dung vừa hữu thức vừa vô thức, đang vượt qua ranh giới của nó, và bằng trí năng, bắt liên lạc với cái bất khả tri, siêu việt, vô thức. Trong trạng thái xuất thần, không có sự xé rào vượt qua như thế, bởi vì nó là một thứ cứu cánh tĩnh, không cho phép tiến xa thêm nữa. Trong trạng thái xuất thần, chẳng có tương đương nào với hành vi 'nhảy xuống vực thẳm' hay 'buông tay': When the mental integration thus reaches its highest mark there obtains a neutral state of consciousness which is erroneously designated as 'ecstasy' by the psychological student of the religious consciousness. This Zen state of consciousness essentially differs from ecstasy in this: Ecstasy is the suspension of the mental powers while the mind is passively engaged in contemplation; the Zen state of consciousness on the other hand, is the one that has been brought about by the most intensely active exercise of all the fundamental faculties constituting one's 'ersonality. They are here positively concentrated on a single object of thought, which is called a state of oneness (ekagra). It is also known as a state of fixation. This is the point where the empirical consciousness with all its contents both conscious and unconscious is about to tip over its border-line, and get noetically related to the Unknown, the Beyond, the Unconscious. In ecstasy there is no such tipping or transition, for it is a static finality not permitting further unfoldment. There is nothing in ecstasy that corresponds to 'throwing oneself down the precipice,' or 'letting go the hold.' 5) Sau hết, cái thoạt tiên có vẻ như đình chỉ tạm thời tất cả mọi khả năng của tâm thần nay bỗng được chất đầy những tinh lực mới mẻ chưa từng mơ tưởng đến. Sự biến đổi đột nhiên nầy diễn ra thường thường là do tác động của một âm thanh, một ảnh tượng hay một hình thức của hoạt động tính điều động. Một cái nhìn thấu suốt được phát sinh từ những vùng sâu thẳm ngay giữa lòng tâm thức, khi một nguồn suối của một đời sống mới đã tuôn trào, và cùng lúc, công án vén mở những bí mật của nó: Finally, what at first appears to be a temporary suspense of all psychic faculties suddenly becomes charged with nre energies hitherto undreamed of. This abrupt transformation has taken place quite frequently by the intrusion of a sound, or a vision, or a form of motor activity. A penetrating insight is born of the inner depths of consciousness, as the source of a new life has been tapped, and with it the koan yields up its secrets.

năm đề nghị của đức phật ích lợi thực tiễn cho hành giả

Five practical suggestions given by the Buddha will be beneficial to all. 1) Cố tạo những tư tưởng tốt , trái nghịch với loại tư tưởng trở ngại, như khi bị lòng sân hận làm trở ngại thì nên tạo tâm từ: Harbouring a good thought opposite to the encroaching one, e.g., loving-kindness in the case of hatred. 2) Suy niệm về những hậu quả xấu có thể xảy ra, như nghĩ rằng sân hận có thể đưa đến tội lỗi, sát nhân, vân vân…: Reflecting upon possible evil consequences, e.g., anger sometimes results in murder. 3) Không để ý, cố quên lãng những tư tưởng xấu xa ấy: Simple neglect or becoming wholly inattentive to them. 4) Đi ngược dòng tư tưởng, phăng lần lên, tìm hiểu do đâu tư tưởng ô nhiễm ấy phát sanh, và như vậy, trong tiến trình ngược chiều ấy, hành giả quên dần điều xấu: Tracing the cause which led to the arising of the unwholesome thoughts and thus forgetting them in the retrospective process. 5) Gián tiếp vận dụng năng lực vật chất: Direct physical force.

năm đệ tử đầu tiên của đức phật

Theo Đức Phật và Phật Pháp của Hòa Thượng Narada, năm vị đệ tử đầu tiên của Đức Phật là những vị Kiều Trần Như, Bạt Đề (Bhaddiya), Thập Lực Ca Diếp (Dasabala-Kasyapa), Ma Nam Câu Lợi (Mahanama), và Át Bệ (Assaji). Kiều Trần Như là vị trẻ tuổi nhất trong tám vị Bà La Môn được vua Tịnh Phạn thỉnh đến dự lễ quán đảnh Thái Tử sơ sanh. Bốn người kia là con của bốn trong bảy vị Bà La Môn lớn tuổi kia. Tất cả năm anh em đều cùng nhau vào rừng tu học. Ngay khi hay tin Thái Tử Tất Đạt Đa rời bỏ cung điện, cả năm anh em cùng đi tìm đạo sĩ Cồ Đàm để phục vụ Ngài. Nhưng đến khi Thái Tử chấm dứt cuộc tu khổ hạnh ép xác, các vị ấy thất vọng, bỏ Ngài đi Isipatana. Chẳng bao lâu sau khi các vị nầy rời bỏ Thái tử thì Ngài đắc quả thành Phật. Ngay sau khi Đức Phật thành đạo, Ngài cất bước đi về hướng vườn Lộc Uyển của xứ Ba La Nại. Thấy Phật từ xa đến, năm vị đạo sĩ (anh em Kiều Trần Như) bàn tính quyết định không đảnh lễ Ngài với lòng tôn kính như xưa. Các vị ấy hiểu lầm thái độ của Ngài trong cuộc chiến đấu để thành đạo quả, vì Ngài đã từ bỏ lối tu khổ hạnh cứng nhắc và chứng tỏ là tuyệt đối vô ích đó. Năm vị đạo sĩ nầy nói chuyện với nhau: “Nầy các đạo hữu, đạo sĩ Cồ Đàm đang đi đến ta. Đạo sĩ ấy xa hoa, không bền chí cố gắng và đã trở lại với đời sống lợi dưỡng. Đạo sĩ ấy không đáng cho ta niềm nở tiếp đón và cung kính phục vụ. Ta không nên rước y bát cho đạo sĩ ấy. Nhưng dầu sao chúng ta cũng nên dọn sẵn một chỗ ngồi. Nếu đạo sĩ Cồ Đàm muốn ngồi với chúng ta thì cứ ngồi.” Tuy nhiên, trong khi Đức Phật bước gần đến, với cung cách oai nghi, Ngài đã cảm hóa được năm vị đạo sĩ, và không ai bảo ai, năm người cùng đến đảnh lễ Ngài, sau đó người thì rước y bát, người dọn chỗ ngồi, người đi lấy nước cho Ngài rửa chân, vân vân. Mặc dầu vậy, họ vẫn gọi Ngài bằng danh hiệu “đạo hữu,” một hình thức xưng hô của những người ngang nhau, hoặc để người trên xưng hô với kẻ dưới. Khi đó Đức Phật mới nói: “Nầy các đạo sĩ, không nên gọi Như Lai bằng tên hay bằng danh từ “đạo hữu.” Như Lai là Đức Thế Tôn, là Đấng Toàn Giác. Nghe đây, các đạo sĩ, Như Lai thành đạt đạo quả Vô Sanh Bất Diệt và sẽ giảng dạy giáo pháp. Nếu hành đúng theo lời giáo huấn của Như Lai, các thầy cũng sẽ sớm chứng ngộ, do nhờ trí tuệ trực giác, và trong kiếp sống nầy, các thầy sẽ hưởng một đời sống cùng tột thiêng liêng trong sạch. Cũng vì muốn đi tìm đời sống cao thượng ấy nhiều người con trong các gia tộc quý phái đã rời bỏ gia đình, sự nghiệp, để trở thành người không nhà không cửa.” Năm vị đạo sĩ bèn trả lời: “Nầy đạo sĩ Cồ Đàm, trước kia, với bao nhiêu cố gắng để nghiêm trì kỷ luật mà đạo hữu không thành đạt trí tuệ siêu phàm, cũng không chứng ngộ được gì xứng đáng với chư Phật. Bây giờ đạo hữu sống xa hoa và từ bỏ mọi cố gắng, đạo hữu đã trở lại đời sống lợi dưỡng thì làm sao mà có thể thành đạt được trí huệ siêu phàm và chứng ngộ đạo quả ngang hàng với chư Phật?” Sau đó Đức Phật giải thích thêm: “Này các đạo sĩ, Như Lai không xa hoa, không hề ngừng cố gắng, và không trở về đời sống lợi dưỡng. Như Lai là Đức Thế Tôn, là Đấng Toàn Giác. Nghe nầy các đạo sĩ! Như Lai đã thành đạt đạo quả Vô Sanh Bất Diệt và sẽ giảng dạy Giáo Pháp. Nếu hành đúng theo lời giáo huấn của Như Lai, các thầy cũng sẽ sớm chứng ngộ, do nhờ trí tuệ trực giác, và trong kiếp sống nầy các thầy sẽ hưởng một đời sống cùng tột thiêng liêng trong sạch. Cũng vì muốn đi tìm đời sống cao thượng ấy mà nhiều người con trong các gia tộc quý phái sẽ rời bỏ gia đình sự nghiệp, để trở thành người không nhà cửa.” Lần thứ nhì năm đạo sĩ vẫn giữ nguyên thành kiến và tỏ ý thất vọng. Đến lần thứ ba, sau khi được Đức Phật lập lại lời xác nhận, năm đạo sĩ vẫn giữ vững lập trường, tỏ ý hoài nghi. Đức Phật hỏi lại: “Nầy các đạo sĩ! Các thầy có biết một lần nào trước đây Như Lai đã nói với các thầy như thế không?” Quả thật không. Đức Phật lập lại lần thứ ba rằng Ngài đã là Đấng Toàn Giác và chính năm đạo sĩ cũng có thể chứng ngộ nếu chịu hành động đúng lời giáo huấn. Đó là những lời nói chân thật do chính Đức Phật thốt ra. Năm vị đạo sĩ là bậc thiện trí, mặc dầu đã có thành kiến không tốt, nhưng khi nghe như vậy đã nhận định chắc chắn rằng Đức Phật đã thành tựu đạo quả vô thượng và có đầy đủ khả năng để hướng dẫn mình. Năm thầy bấy giờ mới tin lời Đức Phật và ngồi xuống yên lặng nghe Giáo Pháp Cao Quý. Trong khi Đức Phật thuyết pháp cho ba vị nghe thì hai vị kia đi khất thực, và sáu vị cùng độ với những thực vật mà hai vị đem về. Qua hôm sau hai vị nầy nghe pháp thì ba vị kia đi khất thực. Sau khi được Đức Phật giảng dạy, tất cả năm vị đều nhận định thực tướng của đời sống. Vốn là chúng sanh, còn phải chịu sanh, lão, bệnh, tử, và ái dục, các vị tìm thoát ra vòng đau khổ ấy để đến chỗ không sanh, không lão, không, bệnh, không tử, không phiền não, không ái dục, cảnh vắng lặng tột bực vô song, niết bàn, cảnh chân toàn tuyệt đối, nơi không còn sanh lão bệnh tử, phiền não và ái dục. Trí huệ phát sanh, năm vị thấu hiểu rằng sự giải thoát của các vị rất là vững chắc, không thể lay chuyển, và đây là lần sanh cuối cùng. Các vị không bao giờ còn tái sanh nữa. Đức Phật đã giảng Kinh Chuyển Pháp Luân, đề cập đến Tứ Diệu Đế, là bài pháp đầu tiên mà Đức Phật giảng cho năm vị. Khi nghe xong, Kiều Trần Như, niên trưởng trong năm vị, đắc quả Tu Đà Hườn, tầng đầu tiên trong bốn tầng Thánh. Về sau bốn vị kia cũng đạt được quả vị nầy. Đến khi nghe Đức Phật giảng kinh Anattalakkhana Sutta, đề cập đến pháp vô ngã thì tất cả năm vị đều đắc quả A La Hán—According to The Buddha and His Teaching, written by Most Venerable Narada, the first five disciples of the Buddha were Kondanna, Bhaddiya, Dasabala-Kasyapa, Mahanama, and Assaji. They were of the Brahmin clan. Kondanna was the youngest and cleverest of the eight brahmins who were summoned by King Suddhodana to name the infant prince. The other four were the sons of those older brahmins. All these five retired to the forest as ascetics in anticipation of the Bodhisattva while he was endeavouring to attain Buddhahood. When he gave up his useless penances and severe austerities and began to nourish the body sparingly to regain his lost strength, these favourite followers, disappointed at his change of method, deserted him and went to Isipatana. Soon after their departure the Bodhisattva attained Buddhahood. Right after his enlightenment, the Buddha started out to the Deer Park in Benares. The five ascetics saw him coming from afar decided not to pay him due respect as they miscontrued his discontinuance of rigid ascetic practices which proved absolutely futile during his struggle for enlightenment. They convinced one another as follow: “Friends, this ascetic Gotama is coming. He is luxurious. He has given up striving and has turned into a life of abundance. He should not be greeted and waited upon. His bowl and robe should not be taken. Nevertheless a seat should be prepared in case he wished to sit down with us.” However, when the Buddha continued to draw near, his august personality was such solemnly that they were compelled to receive him with due honour. One came forward and took his bowl and robe, another prepared a seat, and yet another prepared water for his washing of feet. Nevertheless, they addressed him by name and called him friend (avuso), a form of address applied generally to juniors and equals. At this time, the Buddha addressed them thus: “Do not, Bhikkhus, addressed the Tathagata by name, or by title “friend.” An Exalted One, O Bhikkhus, is the Tathagata. A fully enlightened one is he. Give ear, O Bhikkhus! Deathlessness has been attained. I shall instruct and teach the Dharma. If you act according to my instructions, you will before long realize, by your own intuitive wisdom, and live, attaining in this life itself, that supreme consummation of the holy life, for the sake of which sons of noble families rightly leave the household for homelessness.” Thereupon the five ascetics replied: “By that demeaner of yours, avuso Gotama, by that discipline, by those painful austerities, you did not attain to any superhuman specific knowledge and insight worthy of an Ariya. How will you, when you have become luxurious, have given up striving, and have turned into a life of abundance, gain nay such superhuman specific knowledge and insight worthy of an Ariya?” In further explanation, the Buddha said: “The Tathagata, O Bhikkhus, is not not luxurious, has not given up striving, and has not turned into a life of abundance. An exalted one is the Tathagata. A fully enlightened one is he. Give ear, O Bhikkhus! Deathlessness has been attained. I shall instruct and teach the Dharma. If you act according to my instructions, you will before long realize, by your own intuitive wisdom, and live, attaining in this life itself, that supreme consummation of the holy life, for the sake of which sons of noble families rightly leave the household for homelessness." For the second time the prejudiced ascetics expressed their disappointment in the same manner. For the second time the Buddha reassured theom of his attainment to enlightenment. When the adamant ascetics refusing to believe him, expressed their view for the third time, the Buddha questioned them thus: “Do you know, O Bhikkhus, of an occasion when I ever spoke to you thus before?” The five ascetics replied: “Nay, indeed Lord!” The Buddha then repeated for the third time that he had gained enlightenment and that they also could realize the truth if they would act according to his instructions. It was indeeda frank utterance, issuing from the sacred lips of the Buddha. The cultured ascetics, though adamant in their views, were then fully convinced of the great achievements of the Buddha and of his competence to act as their moral guide and teacher. They believed his words and sat in silence to listen to his noble teaching. Three of the ascetics the Buddha instructed, while three went out for alms. With what the two ascetics brought from their almsround the six maintained themselves. The next day, two of the ascetics he instructed, while the other three ascetics went out for alms. With what the three brought back, six sustained themselves. And those five ascetics thus admonished and instructed by the Buddha, being themselves subject to birth, decay, death, sorrow, and passions, realized the real nature of life and, seeking out the birthless, decayless, diseaseless, deathless, sorrowless, passionless, incomparable supreme peace, Nirvana, attained the incomparable security, Nirvana, which is free from birth, decay, disease, death, sorrow, and passions. The knowledge arose in them that their deliverance was unshakable, that it was their last birth and that there would be no more of this state again. The Dhammacakkappavattana Sutta, which deals with the Four Noble Truths, was the first discourses delivered by the Buddha to them. heAring it, Kondanna, the eldest, attained the first stage of sainthood. After receiving further instructions, the other four attained Sotapatti later. On hearing the Anattalakkhana Sutta, which deals with soullessness, all the five attained Arahantship, the final stage of sainthood.

năm đức tính căn bản của người tu thiền

Five basic characteristics of any Zen cultivators: 1) Giới hạnh tinh nghiêm: Strictly keep the precepts. 2) Căn tánh nhanh nhẹn sáng suốt: Nature and roots should be active (swift) and enlightened. 3) Thấu triệt chân lý và khéo phân biệt chánh tà chân ngụy: Understand clearly the Buddha teachings and skillfully distinguish right from wrong, as well as true from false. 4) Ý chí kiên định: Firm and stable determination. 5) Luôn nương theo chư thiện hữu tri thức, những người làu thông kinh điển, tinh chuyên tu hành để được hướng dẫn đúng đắn: Should always cultivate with good advisors, who have a thourough knowledge of the sutras and who zealously practise meditation to obtain the right guidance.

năm ấm

Gồm có: 1. Sắc ấm (色陰– Phạn ngữ: Rpa): Năm căn, năm trần và những vật hữu hình; 2. Thọ ấm (受陰– Phạn ngữ: vedan): Đối cảnh sanh cảm thọ vui sướng, buồn khổ hoặc không vui không khổ; 3. Tưởng ấm (想陰– Phạn ngữ: saṃjđ Pli: sađđ): Đối cảnh nhận ra sự đen, trắng, nhỏ, to, dài, ngắn, đàn ông, đàn bà.v.v...; 4. Hành ấm (行陰– Phạn ngữ: Saṃskra Pli: saṅkhra): Đối cảnh sanh lòng ham muốn hoặc ghét giận; 5. Thức ấm (識陰– Phạn ngữ: vijđna, Pli: viđđṇa): Đối cảnh liền nhận biết, phân biệt. Năm ấm cũng được gọi là năm uẩn (Ngũ uẩn –– 五蘊). Xem thêm ấm, nhập, giới.

năn nỉ

To insist.

năng

1) Khả năng: Sak (skt)—Able—Can—Capability—Power. 2) Thường xuyên: Năng lui tới—Frequent—Often.

năng an nhẫn

(能安忍) Cũng gọi An nhẫn thành tựu, An nhẫn cường nhuyến tặc. An nhẫn cường nhuyến lưỡng tặc. Pháp quán có năng lực thản nhiên chịu đựng, không để các duyên thuận, nghịch làm loạn động mà thành tựu đạo nghiệp, là 1 trong 10 thừa quán pháp do tông Thiên thai lập ra. Nếu người tu hành đã biết ngôi thứ rõ ràng mà bị các duyên trong, ngoài làm động loạn, hao tổn nhiều nội đức thì phải tu hành theo pháp này để ngăn ngừa chướng duyên. Nhưng, chẳng những nghịch duyên gây chướng ngại, mà ngay cả thuận duyên cũng cản trở bước tiến tu của hành giả. Trong trường hợp hành giả nhờ vào công phu tu quán, mới vào được giai vị Ngoại phàm, chuyển được chướng ngại, khai mở trí tuệ, tiếng tăm dần dần lan rộng thì dễ bị danh lợi bên ngoài cám dỗ, nghiệp chướng đời trước khuấy động bên trong, đến nỗi làm hỏng công phu của mình, thì nay phải tu pháp an nhẫn bất động này để tiến vào giai vị Nội phàm. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.8; Thiên thai tứ giáo nghi]. (xt. Thập Thừa Quán Pháp).

năng biến

(能變) Chỉ cho 8 thức. Tông Duy thức cho rằng tất cả muôn pháp đều do thức biến hiện, cho nên gọi 8 thức là Năng biến. Tiểu thừa chỉ lập có 6 thức, nhưng Đại thừa Duy thức thì lập 8 thức và chia làm 3 loại: Sơ năng biến (thức thứ 8), Đệ nhị năng biến (thức thứ 7) và Đệ tam năng biến (6 thức trước), gọi là Tam năng biến. (xt. Tam Năng Biến, Duy Thức).

năng biến kế

(能遍計) Đối lại: Sở biến kế. Thức thứ 6 và thức thứ 7 so đo tính toán khắp các pháp rồi vọng chấp có thực ngã, thực pháp, gọi là Năng biến kế. Trong 3 tính duy thức thì tự tính của Biến kế sở chấp là do Năng biến kế và Sở biến kế cùng hình thành. Cứ theo Nhiếp đại thừa luận bản quyển trung thì Ý thức chính là Năng biến kế, bởi vì Ý thức tự nó thường huân tập danh ngôn làm chủng tử, lại sinh khởi tác dụng phân biệt các hành tướng, cho nên đối với hết thảy muôn pháp cũng sinh ra tác dụng phân biệt so đo rộng khắp. Trong các thức, ngài An tuệ chủ trương 8 thức hữu lậu đều là Năng biến kế; còn ngài Hộ pháp thì cho rằng 5 thức trước và thức thứ 8 không có chấp trước, vì vậy chỉ có 2 thức thứ 6 và thứ 7 mới thuộc Năng biến kế. [X. luận Du già sư địa Q.74; luận Thành duy thức Q.8; Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần đầu]. (xt. Mạt Na Thức, Ý Thức).

năng biệt

(能別) Đối lại: Sở biệt. Cũng gọi Hậu trần. Tiếng dùng trong Nhân Minh. Trong luận thức Nhân minh, tiền trần (chủ từ) của Tông (mệnh đề)là cái bị hậu trần phân biệt; vì hậu trần có năng lực hay phân biệt tiền trần, cho nên gọi tiền trần là Sở biệt, hậu trần là Năng biệt. Ví dụ như Tông: Âm thanh là vô thường thì âm thanh (tiền trần, danh từ trước) là Sở biệt; vô thường (hậu trần, danh từ sau) là Năng biệt. [X. Nhân minh nhập chính lí luận Q.thượng]. (xt. Thể).

năng biệt bất cực thành quá

(能別不極成過) Năng biệt bất cực thành, Phạm: Aprasiddha-vizewaịa. Gọi tắt: Năng biệt bất thành. Tiếng dùng trong Nhân minh. Hậu trần (danh từ sau) không được thừa nhận. Đây là lỗi thứ 6 trong 9 lỗi về Tông của 33 lỗi trong luận thức Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, khi lập Tông thì tiền trần (danh từ trước)và hậu trần phải được cả 2 bên công nhận mới thành Tông. Nếu 1 trong 2 danh từ không được đối phương thừa nhận thì bị lỗi Bất cực thành. Như tín đồ Thiên chúa giáo lập luận với tín đồ Phật giáo: Tông: Vạn vật do đức Chúa trời sáng tạo. Vạn vật là tiền trần (Sở biệt). Chúa trời là hậu trần (Năng biệt). Phật giáo đồ thừa nhận vạn vật, nhưng không công nhận có 1 vị chúa tể sáng tạo ra vạn vật. Trong luận thức này, hậu trần (Năng biệt) bị phủ nhận, vì thế phạm lỗi Năng biệt bất cực thành. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận đại sớ Q.trung; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.4; Đông phương luận lí học (Nhất hạnh)]. (xt. Nhân Minh).

năng bị pháp

(能被法) Đối lại: Sở bị cơ. Chỉ cho giáo pháp cứu giúp, che chở chúng sinh.

năng duyên

Năng duyên đối lại với sở duyên, như tâm thức của nhãn nhĩ là năng duyên vì chúng phải nương vào ngoại cảnh sắc thanh (sở duyên)—The conditioning power in contrast with the conditioned, e.g. the power of seeing and hearing in contrast with that which is seen and heard. ; (能緣) Đối lại: Sở duyên. Chủ thể có đủ tác dụng nhận thức là năng duyên, còn khách thể (đối tượng) bị nhận thức là sở duyên. Duyên nghĩa là nương nhờ, nương tựa, vin theo, tức biểu thị tâm thức không thể tự sinh khởi mà phải vin theo cảnh bên ngoài (khách thể, đối tượng) mới có thể sinh ra tác dụng. Nhà Duy thức còn gọi Năng duyên là Kiến phần và Sở duyên là Tướng phần, rồi đem pháp Năng duyên chia làm 3 phần là Kiến phần, Chứng phần và Chứng tự chứng phần. Khi Năng duyên sinh ra tác dụng thì Kiến phần duyên theo Tướng phần, Tự chứng phần duyên theo Kiến phần và Chứng tự chứng phần, còn Chứng tự chứng phần thì duyên theo Tự chứng phần. Ngoài ra, luận Chuyển thức cũng chia Năng duyên làm 3 thứ là Quả báo thức (thức A lại da), Chấp thức (thức A đà na)và Trần thức (6 thức). [X. luận Thành duy thức Q.2; luận Câu xá Q.7; phẩm Lập vô số trong luận Thành thực Q.5].

năng duyên phọc

(能緣縛) Đối lại: Sở duyên phược. Cảnh sở duyên bị tâm năng duyên trói buộc, gọi là Năng duyên phược; trái lại, tâm năng duyên bị cảnh sở duyên trói buộc thì gọi là Sở duyên phược. [X. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.5 phần đầu].

năng duyên đoạn

(能緣斷) Đoạn trừ các phiền não của Năng duyên. Khi các phiền não của Năng duyên đã bị đoạn trừ thì các phiền não của Sở duyên cũng tự tiêu diệt. Đây là 1 trong 4 nhân (..) đoạn trừ phiền não. Bốn đế khổ, tập, diệt, đạo trong Kiến hoặc đều có Hoặc sở đoạn (phiền não bị đoạn trừ); trong 4 đế ấy, mỗi đế đều có 2 loại, chẳng hạn như 2 đế khổ, tập đều có Tự giới duyên hoặc và Tha giới duyên hoặc; Tha giới duyên hoặc là Sở duyên của Tự giới duyên hoặc. Bởi thế, nếu đoạn trừ được phần Tự giới duyên hoặc của Năng duyên thì Tha giới duyên hoặc cũng tự nhiên đoạn diệt. [X. luận Đại tì bà sa Q.22; luận Câu xá Q.21; luận Hiển dương thánh giáo Q.3]. (xt. Đoạn Hoặc).

năng dẫn chi

(能引支) Chỉ cho 2 chi Vô minh và Hành trong 12 nhân duyên, vì 2 chi này có khả năng dẫn phát 5 thứ quả: Thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thụ, cho nên gọi là Năng dẫn chi.

năng hiển giải thoát đạo luận

(能顯解脫道論) Gọi đủ: Thích lượng tụng vô điên đảo hiển thị giải thoát đạo luận. Tác phẩm, do ngài Giả tào kiệt đạt mã nhân khâm soạn, là trứ tác Nhân minh học của Phật giáo Tây tạng. Sách này chú giải tường tận bộ Thích lượng luận tụng. Đặc điểm là thông qua lí luận mà tìm tòi để tiến đến con đường giải thoát. Đây là bộ sách căn bản cho việc tu học của phái Cách lỗ.

năng hiển trung biên huệ nhật luận

(能顯中邊慧日論) Gọi tắt: Tuệ nhật luận. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Tuệ chiểu soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung sách này căn cứ vào tông chỉ của Pháp tướng Duy thức để nói rõ thực nghĩa Nhất thừa, Tam thừa, Chủng tính, Phật tính v.v..., bài xích Nhất thừa Phật tính cứu cánh luận do ngài Pháp bảo, môn nhân của Đại sư Huyền trang lập ra. Luận này gồm 3 chương. Trước hết, nói về chỉ thú của luận, sau đó, lược thuật 3 chương: 1. Chương Viện chân phá chấp: Gồm 7 môn như: Khai phá định thời nhân, Phá định giáo thời v.v... 2. Chương Dẫn giám trừ mậu: Gồm 11 môn như: Khai tiêu chương ngũ tính mậu, Chủng tính bất đồng mậu v.v... 3. Chương Y văn hiển chính: Gồm 7 môn như: Khai minh Phật tính bất đồng, Hữu vô sai biệt v.v...

năng hoá

(能化) Đối lại: Sở hóa. Chỉ cho người có khả năng giáo hóa người khác. Phật và Bồ tát hay giáo hóa tất cả chúng sinh, gọi là Năng hóa; còn tất cả chúng sinh đều chịu sự giáo hóa ấy thì gọi là Sở hóa. (xt. Năng Sở).

năng huân

(能薰) Đối lại: Sở huân. Hay huân tập. Như 7 chuyển thức và những tâm sở của chúng, gọi là Năng huân; thức thứ 8 là Sở huân. Tất cả chủng tử trong thức thứ 8 là do 7 chuyển thức và những tâm sở của chúng huân tập mà nảy nở. (xt. Huân Tập).

năng huân tứ nghĩa

(能熏四義) Bốn nghĩa Năng huân. Theo tông Pháp tướng thì khi huân tập, Năng huân phải có 4 điều kiện, đó là: 1. Có sinh diệt: Pháp năng huân phải hiển bày hiện tượng sinh diệt, do sự sinh diệt này mà có tác dụng biến hóa, nếu chẳng sinh diệt thì tất nhiên không có tác dụng biến hóa, cũng như hạt giống có tác dụng sinh diệt mới có thể đơm bông kết trái. 2. Có thắng dụng: Pháp năng huân phải có lực dụng năng duyên và thắng dụng mạnh mẽ; đầy đủ 2 yếu tố này mới có thể huân được, vì nó có khả năng dẫn phát tập khí. Như sắc pháp (thân nghiệp, ngữ nghiệp) có lực dụng mạnh mẽ nhưng không có thắng dụng năng duyên; còn tâm dị thục thì có lực dụng năng duyên nhưng lại không có thắng dụng mạnh mẽ, pháp Bất tương ứng thì đều không có cả 2 dụng trên nên không phải là Năng huân. 3. Có tăng giảm: Tăng là trải qua sự huân tập mà càng thêm sáng láng, bén nhạy; giảm là trong định Vô tưởng và Diệt tận là 2 định Vô tâm, hành giả chán lìa tâm huân tập thô trọng mà dần dần tiến vào giai vị tâm nhỏ nhiệm, khi ấy sự huân tập cũng sẽ diệt. Trái lại, khi Phật quả hiện hành viên mãn thì lìa tăng giảm và cũng không có tác dụng huân tập. 4.Cùng sở huân hòa hợp chuyển (gọi tắt: Hòa hợp chuyển): Tức Năng huân đối với chỗ Sở huân (thức thứ 8) hiển hiện pháp đồng thân đồng thời thì ngay nơi sự huân tập, năng sở hòa hợp, đồng thời đồng xứ, bất tức bất li. [X. luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.3 phần đầu]. (xt. Sở Huân Tứ Nghĩa, Huân Tập).

năng hành

(能行) Đối lại: Sở hành. Khả năng chủ động trong việc làm. Đứng về phương diện niệm Phật mà nói, thì ý chí, năng lực chủ quan của chúng sinh xưng niệm danh hiệu của Phật, gọi là Năng hành, còn danh hiệu Phật thì gọi là Sở hành. (xt. Sở Hành).

năng hành giả

(能行者) Chỉ cho Lục tổ Tuệ năng, vì khi mới đến Hoàng mai hầu Ngũ tổ, Tuệ năng còn là 1 hành giả (cư sĩ) nên được gọi là Năng hành giả. (xt. Tuệ Năng).

Năng Hóa

(能化, Nōke): tiếng kính xưng cũng như chức vụ đối với chư vị sư phạm, thầy dạy học, người chỉ đạo, hướng dẫn. Từ này còn chỉ cho chư Phật, Bồ Tát giáo hóa chúng sanh. Trong Tịnh Độ Chơn Tông, chức này được dùng để chỉ cho quý vị cao đức hướng dẫn, dạy dỗ chúng tăng ở các Học Lâm của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji). Chuẩn Huyền (准玄) là người đầu tiên được bổ nhiệm chức Năng Hóa ở Học Lâm của Tây Bổn Nguyện Tự vào năm 1639 (Khoan Vĩnh [寛永] 16), và trãi qua 7 đời, đến Trí Động (智洞) thì chấm dứt. Lịch đại chư vị đảm nhiệm chức này như sau: (1) Chuẩn Huyền (准玄, 1639-1647, tại chức 9 năm), (2) Tây Ngâm (西吟, 1647-1664, tại chức 18 năm), (3) Tri Không (知空, 1664-1718, tại chức 55 năm), (4) Nhã Lâm (若霖, 1718-1735, tại chức 18 năm), (5) Pháp Lâm (法霖, 1735-1741, tại chức 7 năm), (6) Nghĩa Giáo (義敎, 1755-1768, tại chức 14 năm), (7) Công Tồn (功存, 1769-1796, tại chức 28 năm), và (8) Trí Động (智洞, 1797-1801, tại chức 5 năm). Trong đó, người tại chức lâu nhất là Tri Không và ngắn nhất là Trí Động.

Năng Hóa Công Tồn

(能化功存, Nōke Kōzon, 1720-1796): xem Công Tồn (功存) bên trên.

năng kiến tâm bất tương ưng nhiễm

(能見心不相應染) Do sự khởi động của Vô minh căn bản mà thành tướng Năng kiến, là 1 trong 6 tâm ô nhiễm. Khi đạt đến địa vị tâm tự tại (địa vị thứ 9) thì đối với tha tâm được tự tại, mà tự tâm cũng được trí vô ngại. Nếu tướng Năng duyên không dấy lên nữa thì có thể xa lìa tâm ô nhiễm này. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.thượng, phần hạ; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ]. (xt. Tam Tế Lục Thô, Lục Nhiễm Tâm).

năng kiến tướng

(能見相) Cũng gọi Chuyển tướng, Kiến tướng. Tướng Năng kiến do nghiệp thức chuyển thành, là 1 trong 3 tế, 1 trong 9 tướng. Tướng này một mặt có động tác, mặt khác, cũng có tướng năng kiến; nhưng cảnh giới của giai vị này rất nhỏ nhiệm, không thể phân biệt được, cho nên gọi là tế. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.thượng, phần hạ].

năng lượng

Energy.

năng lập

Phương pháp của nhân minh luận, có đầy đủ chính nhân và chính dụ để thành lập tôn pháp gọi là năng lập—A proposition in logic that can be established, or postulated. ; (能立) Phạm: Sàdhana. Tiếng dùng trong Nhân minh. Phương thức lập luận dựa vào sự suy lí để chứng minh, chia làm 2 loại là Chân năng lập và Tự năng lập. 1. Chân năng lập: Lập luận chính xác. Một luận thức chính xác cần phải đầy đủ những điều kiện sau: a) Ba phần Tông, Nhân, Dụ đều không có lỗi lầm, nghĩa là tránh được 9 lỗi về Tông, 14 lỗi về Nhân và 18 lỗi về Dụ. b) Ở phần Nhân phải đầy đủ 3 tướng: -Phải hoàn toàn quan hệ với tính chất của Tông. -Phải có tính cách của đồng phẩm. -Tuyệt đối không được có tính cách của dị phẩm. Do đó, Chân năng lập là 1 luận thức không có lỗi lầm, có thể đạt đến mục đích lợi tha, nghĩa là làm cho người hiểu. 2. Tự năng lập: Lập luận sai. Đây là 1 luận thức được kiến lập một cách sai lầm, khác hẳn với luận thức Chân năng lập. Luận thức này không đủ làm cho rõ ý nghĩa mình chủ trương, không thể khiến cho đối phương tin phục và hiểu được ý của mình. [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề); Đông phương luận lí học (Nhất hạnh)]. (xt. Nhân Minh, Tự Năng Lập, Chân Năng Lập).

năng lập bất khiển quá

(能立不遣過) Phạm: Sàdhanàvyàvftta. Tiếng dùng trong Nhân minh. Lỗi Dị dụ không trái hẳn với Nhân (Năng lập), là lỗi thứ 2 trong 5 lỗi Tự dị pháp dụ, 1 trong 33 lỗi của luận thức Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, khi dùng Li tác pháp để luận chứng, nếu trong Dị dụ thiếu Nhân dị phẩm thì chỉ có thể loại bỏ Tông (mệnh đề) sở lập, chứ không thể loại bỏ được Nhân (lí do) năng lập, trong trường hợp này tức phạm lỗi Năng lập bất khiển. Chẳng hạn như luận thức: Tông: Âm thanh là thường còn. Nhân: Vì là không chất ngại. Dụ: Những gì vô thường đều là chất ngại, như nghiệp lực. Nghiệp lực là không chất ngại. Nghiệp lực tuy là vô thường, đầy đủ Dị phẩm của Tông, nhưng không phải là chất ngại nên không đủ Dị phẩm của Nhân, bởi vậy phạm lỗi Năng lập bất khiển. [X. Nhân minh nhập chính lí luận; Nhân minh nhập chính lí luận đại sớ Q.hạ; Đông phương luận lí học (Nhất hạnh)].

năng lập pháp bất thành quá

(能立法不成過) Năng lập pháp bất thành, Phạm: Sàdhana-dharmàsiddha. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, khi dùng : Hợp tác pháp để luận chứng mà trong Đồng dụ lại thiếu Nhân đồng phẩm, nên Nhân năng lập không thành lập được, cho nên phạm lỗi Năng lập pháp bất thành, là 1 trong 33 lỗi của Nhân minh. Như trong luận thức: Tông: Âm thanh là thường còn. Nhân: Vì là không chất ngại. Dụ: Những gì không chất ngại đều là thường còn, như cực vi. Cực vi tuy là thường còn nhưng không phải không chất ngại, cho nên không phải là đồng phẩm của Nhân, bởi vậy phạm lỗi này. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận đại sớ Q.hạ].

năng lập sở lập

(能立所立) Cũng gọi Năng thành lập sở thành lập. Tiếng dùng trong Nhân minh. Từ ngữ gọi chung Năng lập và Sở lập. Năng lập, tiếng Phạm là Sàdhana; Sở lập, tiếng Phạm là Sàdhya. Theo luận thức Nhân minh, nghĩa lí được trình bày rõ trong luận thức, gọi là Sở lập, ngôn từ giải thích rõ nghĩa lí ấy thành lập luận thức, gọi là Năng lập. Bàn về Năng lập, Sở lập có nhiều thuyết khác nhau. Ngài Di lặc và Vô trước chủ trương thuyết Hai sở lập và Tám năng lập, còn ngài Thế thân thì chủ trương thuyết Ba năng lập. A. Hai sở lập: 1. Tự tính: Có lập là có, không lập là không. 2. Sai biệt: Hữu thượng lập vô thượng, thường lập vô thường, hữu sắc lập vô sắc, hữu kiến lập vô kiến v.v... môn sai biệt nhiều vô lượng. B.Tám năng lập: 1. Lập tông (mệnh đề): Trọng điểm tranh luận giữa người lập luận và người vấn nạn, đứng về mặt nghĩa lí, người lập luận nêu rõ tông của mình, chẳng hạn khi tranh luận về âm thanh là thường hay vô thường, có thể lập Tông: Âm thanh là vô thường. 2. Biện nhân (lí do): Vì muốn thành tựu tông nghĩa của việc thành lập Tông nên phải biện minh lí do của nó. 3. Dẫn dụ (thí dụ): Để giúp cho tông nghĩa được thành tựu, người lập luận dẫn dụ các sự kiện mà từ trước đã được mọi người thừa nhận để minh chứng rằng lí do lập luận của mình là đúng đắn. 4. Đồng loại: Khi dẫn dụ, luận giả nêu lên các pháp đồng loại tương tự. 5. Dị loại: Khi dẫn dụ, luận giả nêu ra các pháp dị loại bất đồng. 6. Hiện lượng: Dùng ngũ quan nhận thức sự vật chung quanh, như mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi v.v... là biết ngay không cần suy nghĩ, là cái nhận biết bằng trực giác. 7. Tỉ lượng: Hiểu biết bằng suy xét, so sánh, tức là tầng trên của hiện lượng. Hiện lượng chỉ mới là cảm nhận thấy, nghe, chứ chưa phân biệt gì cả, còn tỉ lượng là tác dụng phân biệt, so sánh cái này, cái kia để tìm ra 1 sự thực. 8. Chính giáo lượng: Viện dẫn những lời dạy của bậc Nhất thiết trí để chứng minh thêm cho lập luận của mình. Trong 8 năng lập nói trên, 5 hạng mục trước gọi là Ngũ chi tác pháp, hoặc Ngũ phần tác pháp (luận thức 5 phần: Tông, Nhân, Dụ, Hợp, Kết), còn 3 hạng mục sau gọi là Tam lượng. Ngoài ra, cũng có thuyết chủ trương Tứ năng lập, tức là: Lập tông, Biện nhân, Đồng loại (đồng dụ) và Dị loại (dị dụ) trong 8 năng lập kể trên. Còn Tam năng lập là 3 chi: Tông, Nhân, Dụ; đây cũng là pháp thức của các nhà Tân nhân minh như ngài Trần na và ngài Thương yết la chủ v.v... Lại cũng có thuyết lấy Tông làm Sở lập, Nhân, Dụ làm Năng lập: lấy Tông làm Sở lập, Nhân làm Năng lập, Dụ là Trợ năng lập. [X. Nhân minh chính lí môn luận bản; luận Hiển dương thánh giáo Q.11; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng phần đầu; Nhân minh luận sớ minh đăng sao Q.1 phần cuối].

năng lực

Power.

năng lực cứu độ tha nhân

Đạt tới khả năng cứu độ tha nhân—Attainment of power to aid others according to need. Đạt thành quả vị Niết bàn: Attainment of Nirvana.

năng lực trí năng

Jnasaki (skt)—Intellectual faculty.

năng môn

(能門) Môn năng nhập. Trong tín ngưỡng Phật giáo, lí là pháp sở nhập, còn giáo là môn năng nhập. Pháp hoa văn cú quyển 5 thượng (Đại 34, 64 trung) nói: Chấp chặt một lí sở nhập thì sẽ nghi ngờ năng môn 3 giáo.

Năng Nhân

(能仁): dịch nghĩa của Thích Ca Mâu Ni (s: Śākya-muni, 釋迦牟尼), là người có đức nhân từ, bậc hiền nhân, cũng là tên gọi khác của đức Phật Thích Ca. Trong Phạm Võng Kinh Thuật Ký (梵綱經述記) quyển thượng có đoạn rằng: “Thích Ca Mâu Ni, Đại Đường phiên vân Năng Tịch, cựu diệc vân Năng Mãn, diệc vân Năng Nhân (釋迦牟尼、大唐翻云能寂、舊亦云能滿、亦云能仁, Thích Ca Mâu Ni, nhà Đường [Trung Hoa] dịch là Năng Tịch; xưa kia cũng dịch là Năng Mãn hay Năng Nhân).”

năng nhân

1) Có lòng nhân: Mighty in loving-kindness—Able in generosity, indicating Sakyamuni's character. 2) Người có khả năng: An able man. 3) Phật Thích Ca: Sakyamuni Buddha. 4) Một vị vua thời cổ, có lẽ do tưởng tượng, trị vì 16 xứ ở Ấn Độ, người mà Đức Phật đã đọc lại cho nghe Kinh Nhân Vương—An ancient king, probably imaginary, of the “sixteen countries” of India, for whom the Buddha is said to have dictated the Mighty in Loving-kindness Sutra. ; (能人) Phạm: Zàkya. Hán âm: Thích ca. Thích ca là tên 1 dòng họ ở Ấn độ, đức Thích tôn là bậc hiền xuất thân từ dòng họ Thích ca nên được tôn là Thích ca Mâu ni (Phạm:Zàkya-muni). Muni nghĩa là lặng lẽ, là bậc hiền. Từ Năng nhân (dịch ngữ của chữ zàkya) cũng thường được dùng để xưng gọi đức Thích tôn. Kinh Tu hành bản khởi (Đại 3, 462 trung) nói: Ông sau này sẽ được thành Phật hiệu là Thích ca văn (Hán dịch: Năng nhân).

năng nhẫn

(能忍) Biệt hiệu của đức Phật. Đức Thích tôn xuất hiện ở thế giới Sa bà, mà Sa bà tiếng Phạm làSahà, nghĩa là nhẫn; vì đức Thích tôn có khả năng chịu đựng, sinh vào cõi đời 5 trọc ác mà thực hiện được những việc rất khó làm, đó là thành Phật, độ chúng sinh, vì thế gọi là Năng nhẫn.

năng phá

(能破) Tiếng dùng trong Nhân minh. Phá luận thức của đối phương. Trong đối luận Nhân minh, người lập luận tổ chức luận thức để phá ngôn luận chủ trương của người vấn nạn, gọi là Năng phá. Năng phá lại có thể chia làm 2 loại là Chân năng phá và Tự năng phá. 1. Chân năng phá (gọi tắt: Năng phá), nghĩa là phá ngôn luận chủ trương của đối phương một cách chính xác, đúng đắn. Chân năng phá lại có 2 trường hợp: a) Lập lượng phá: Tổ chức luận thức chính xác để phá lập luận của đối phương. b) Hiển quá phá: Không tổ chức luận thức mà chỉ tìm những điểm sai lầm trong luận thức của đối phương để chỉ trích và bác bỏ luận thức ấy mà thôi. Tuy nhiên, Lập lượng phá đồng thời cũng là Hiển quá phá, vì lập luận của mình được tổ chức để một mặt công phá đối phương, mặt khác, đồng thời vạch ra những lỗi sai lầm của đối phương. Còn Hiển quá phá thì có khi không phải là Lập lượng phá, vì lúc đó mình không tổ chức luận thức. Cũng vì thế mà Chân năng phá mới được chia làm 2 trường hợp như trên. 2. Tự năng phá: Phá ngôn luận chủ trương của đối phương một cách sai lầm, cũng có 2 trường hợp. a) Tự lập lượng phá: Tự mình lập luận phá nhưng lập sai. b) Tự hiển quá phá: Chỉ trích, bài bác luận thức của đối phương một cách sai quấy. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.1; Đông phương luận lí học (Nhất hạnh)].

năng sinh chi

(能生支) Chỉ cho 3 chi Ái, Thủ, Hữu trong 12 nhân duyên, vì 3 chi này hay sinh ra quả sinh, lão tử trong tương lai, nên gọi là Năng sinh chi.

năng sở

Pháp tự động là năng, pháp bị động là sở, như khả năng chuyển hóa là “năng hóa,” và vật được chuyển hóa là “sở hóa” (năng duyên, sở duyên; năng kiến, sở kiến; lục thức và lục căn có khả năng phát khởi mối cảm gọi là năng, lục trần có sức thu lấy mối cảm gọi là sở)—Active and passive ideas , e.g. ability to transform or transformable and the object that is transformed. ; (能所) Từ gọi chung Năng và Sở. Chủ thể của 1 động tác gọi là Năng; khách thể (đối tượng) của động tác ấy gọi là Sở. Chẳng hạn như mắt hay thấy vật, gọi là Năng kiến, còn vật do mắt thấy thì gọi là Sở kiến. Cũng thế, người bị nương tựa gọi là Sở y, người nương tựa vào kẻ khác gọi là Năng y. Người tu hành gọi là Năng hành, pháp môn được tu hành gọi là Sở hành. Người qui y gọi là Năng qui, chỗ qui y gọi là Sở qui; người giáo hóa gọi là Năng hóa, người được giáo hóa gọi làSở hóa; chủ thể nhận thức gọi là Năng duyên, đối tượng bị nhận thức gọi là Sở duyên. Ngôn ngữ, văn chương, giáo pháp... biểu thị ý nghĩa, gọi là Năng thuyên, ý nghĩa được biểu thị gọi là Sở thuyên v.v... Tóm lại, Năng và Sở có đủ mối quan hệ tương tức không tách rời nhau giữa thể và dụng, nhân và quả, vì thế gọi là Năng sở nhất thể. [X. luận Tam vô tính Q.thượng; luận Phật tính Q.1; Pháp hoa văn cú Q.1 thượng].

năng thiên chủ

Able to be lord.

năng thuyên

(能詮) Đối lại: Sở thuyên. Thuyên là những câu văn giải thích kinh điển, vì chúng có khả năng giải thích rõ ràng nghĩa lí bao hàm trong kinh điển, nên gọi là Năng thuyên; còn nghĩa lí được giải thích thì gọi là Sở thuyên. [X. Tứ giáo nghĩa Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.23]. (xt. Năng Sở).

năng thuyết

Able speak.

năng thí thái tử

The great princely almsgiver—See Đại Thí Thái Tử and Đại Ý. ; (能施太子) Cũng gọi Đại thí thái tử, Phổ thí thái tử. Tiền thân của đức Phật, khi tu hạnh Bồ tát ở nhân vị. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 12 thì vào thời quá khứ vô lượng a tăng kì kiếp, có 1 vị Đại y vương muốn chữa bệnh cho tất cả mọi người, nhưng bệnh nhân lại quá nhiều mà sức mình thì có hạn, nên Ngài lo buồn quá mà chết và được sinh lên cung trời Đao lợi. Ngài tự suy nghĩ: Nay ta ở cõi trời, tuy hưởng nhiều phúc báo, nhưng chẳng có ích lợi gì cho mọi người. Nghĩ rồi, Ngài liền dùng phương tiện bỏ tuổi thọ ở cõi trời, sinh vào trong cung long vương Sa già đà, làm Thái tử của Long vương. Lớn lên, lại dùng phương tiện chết đi, rồi sinh vào cõi Diêm phù đề, làm Thái tử của 1 Đại quốc vương và được đặt tên là Năng thí. Khi trưởng thành, Ngài đem bố thí hết những vật sở hữu rồi thưa với cha mẹ rằng: Trên đầu Long vương có 1 hạt ngọc báu như ý có thể sinh ra tất cả của cải, con muốn được hạt ngọc ấy để bố thí cho hết thảy những người nghèo khổ. Được cha mẹ cho phép Thái tử liền xuống biển lớn, đến chỗ Long vương. Long vương có sức thần thông, biết ngay đó là con mình, Thái tử cũng nhớ lại kiếp trước và nhận ra cha mẹ. Long vương rất mừng, chiều theo ý muốn của con. Thái tử được ngọc báu như ý liền quay về Diêm phù đề, ngọc báu sinh ra tất cả tài vật, Thái tử bố thí cho hết thảy nhân dân, mọi người đều được đầy đủ thức ăn, quần áo và của báu. [X. kinh Hiền ngu Q.8; Kinh luật dị tướng Q.32; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1].

năng thủ

Grahaka or Grahana (skt). • Sự nắm lấy hay sự nhận thức: Seizing or perceiving. • Người nắm chấp hay nhận thức: One who seizes or perceives.

năng thủ sở thủ

(能取所取) Phạm: Gràhya-gràhaka. Năng thủ (Phạm: Gràhaka) là hay nắm bắt; Sở thủ (Phạm:Gràhya) là bị nắm bắt. Năng thủ là chủ thể nhận biết, Sở thủ là đối tượng bị nhận biết. Tức tâm thức nhận biết, gọi là Năng thủ, cảnh vật bị nhận biết, gọi là Sở thủ. Luận Hiển dương thánh giáo quyển 5 (Đại 31, 502 trung) nói: Năng thủ là tâm, ý thức và các tâm pháp; Sở thủ là ngoại cảnh sắc, thanh, hương v.v.... [X. Duy thức nhị thập luận; Trung biên phân biệt luận Q.thượng; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.2].

năng trì

Có khả năng trì giữ giới luật (theo pháp thọ giới trong Kinh Phạm Võng, Giới Hòa Thượng hướng về người thọ giới mà nói rõ từng giới tướng trong thập giới trọng cấm rồi hỏi: “Ông có thể giữ được giới đó không?” Người thọ giới trả lời: “Năng Trì hay có thể giữ được.” Sau lời đáp “năng trì” là coi như đã thọ giới đó)—Ability to keep or maintain the commandments. ; (能持) I. Năng Trì. Giữ gìn không để quên mất. Khi lên đàn truyền trao giới pháp, sau khi nói rõ từng giới một, vị Hòa thượng truyền giới hỏi các giới tử: Các ngươi có giữ được giới này không (Nhữ năng trì phủ)? Các giới tử đáp: Con giữ được (năng trì). [X. kinh Phạm võng]. II. Năng Trì. Phạm: Dhàraịì. Cũng gọi: Tổng trì. Tức là sức trí tuệ giúp cho người tu hành nhớ tất cả những lí nghĩa đã lĩnh hội, không bao giờ quên mất. (xt. Đà La Ni).

năng tác nhân

(能作因) Phạm: Kàraịahetu. Cũng gọi Sở tác nhân, Vô chướng nhân, Tùy tạo nhân. Một trong 6 nhân sinh khởi ra các pháp do Tiểu thừa thành lập. Khi 1 pháp sinh khởi, ngoại trừ tự thể của pháp ấy, tất cả các pháp khác không gây chướng ngại cho sự sinh khởi của nó, nghĩa là tất cả pháp là thể của nhân Năng tác. Các nhân khác đối với quả đều có nhân Năng tác, cho nên chúng là nhân Năng tác, nhưng vì chúng mỗi mỗi đều có tên riêng, nên chỉ dùng Năng tác nhân này để gọi chung. Theo luận Câu xá quyển 6, tất cả pháp hữu vi trừ tự thể của chúng ra, còn tất cả các pháp khác đều là Năng tác nhân của chúng. Năng tác nhân có 2 nghĩa: 1. Bất chướng ngại: Không ngăn trở sự sinh khởi của các pháp, thuộc về Năng tác nhân vô lực. 2. Hữu sở biện: Chẳng những không ngăn trở, mà còn giúp thêm sức cho các pháp để thành tựu sự sinh khởi, thuộc về Năng tác nhân hữu lực. [X. luận Đại tì bà sa Q.21; luận Câu xá Q.7]. (xt. Lục Nhân).

năng tín

Năng tín là có thể tin được, đối lại với sở tín hay cái được tin—Can believe, or can be believed, contrasted with that which is believed. ; (能信) Đối lại: Sở tín. Chỉ cho tín đồ tin theo Phật pháp. Tín đồ là Năng tín, còn Phật pháp là Sở tín.

năng tĩnh quan âm

(能靜觀音) Danh hiệu của 1 trong 33 thân ứng hóa của bồ tát Quan thế âm. Năng tĩnh nghĩa là vị Bồ tát này có năng lực đem lại sự an ổn cho những người gặp tai nạn hiểm nghèo. Phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa (Đại 9, 56 hạ) nói: Nếu có trăm nghìn muôn ức chúng sinh, vì tìm cầu các thứ báu vật như: Vàng, bạc, lưu li, xà cừ, mã não, san hô, hổ phách, chân châu v.v... mà vào nơi biển cả, giả sử thuyền bè của họ bị gió bão thổi trôi dạt, tấp vào nước quỉ La sát; trong đó nếu có người nào xưng niệm danh hiệu của bồ tát Quan thế âm, thì tất cả mọi người đều thoát khỏi nạn La sát. Hình tượng của vị Bồ tát này ngồi kết già trên mỏm đá kề bên dòng nước, 2 tay Ngài đặt trên đầu mỏm đá, hiện tướng tĩnh lặng.

năng tạo sở tạo

(能造所造) Từ gọi chung Năng tạo và Sở tạo. Bốn yếu tố lớn: Đất, nước, lửa, gió có đầy đủ 5 nhân (sinh nhân, y nhân, lập nhân, trì nhân, dưỡng nhân), có khả năng tạo các pháp (vật chất), vì thế gọi là Năng tạo (Tứ đại năng tạo); còn tất cả các sắc pháp do 4 yếu tố lớn ấy tạo ra thì gọi là Sở tạo (Tứ đại sở tạo). Theo Thuyết nhất thiết hữu bộ thì 4 yếu tố lớn là Năng tạo, còn 11 sắc pháp(5 căn, 5 cảnh và vô biểu sắc) là Sở tạo. Còn theo Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 3 phần đầu, thì Đại chúng bộ cho 4 yếu tố là Năng tạo, 4 trần (sắc, hương, vị, xúc) là Sở tạo. Ngoài ra, luận Thành thực thì cho rằng 4 trần là Năng tạo, 5 căn là Sở tạo, còn 4 yếu tố thì vừa là Năng tạo vừa là Sở tạo. [X. luận Đại tì bà sa Q.127; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1; luận Hiển dương thánh giáo Q.5].

năng tịch

(能寂) Gọi đủ: Năng nhân tịch mặc. Chỉ cho đức Phật Thích ca Mâu ni. Chữ Thích ca (Phạm: Zàkya) Hán dịch là Năng nhân (người hay làm điều nhân từ); Mâu ni (Phạm:Muni) Hán dịch là Tịch mặc (nghĩa là người ưa thích sự vắng lặng). (xt. Thích Ca Mâu Ni).

năng y

Tùy thuộc vào, từ dùng để đối lại với sở y, như cây cỏ trên đất đai; cây cỏ là “năng y” và đất đai là “sở y.”—Dependent on, that which relies on something else, e.g. vegetation on land; land is that which vegetation relies on—See Sở Y. ; (能依) Đối lại: Sở y. Khi 2 pháp đối đãi nhau, pháp chủ động gọi Năng, pháp bị động gọi là Sở. Vật hay nương vào vật khác mà sinh khởi tác dụng gọi là Năng y. Như cỏ cây nương nhờ vào đất mà sinh trưởng, thì cỏ cây là Năng y, còn đất là Sở y.

năng đoạn kim cang kinh

Vajracchedika-sutra (skt)—Kinh Kim Cang, tóm lược của Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh, được ngài Huyền Trang dịch sang Hoa ngữ—The Diamond Sutra, translated by Hsuan-Tsang, an extract from the Prajnaparamita-sutra.

năng đại sư

Còn gọi là Năng Hành Giả, hay Lục Tổ Huệ Năng của Thiền Tông Trung Hoa—The sixth patriarch, Hui-Neng of the Chinese Ch'an School—See Huệ Năng in Vietnamese-English Section, and Hui-Neng in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (能大師) Tức Đại sư Tuệ năng, Tổ thứ 6 của Thiền tông Trung quốc. (xt. Tuệ Năng).

năng động

To be dynamic.

Năng-đề Ca-diếp

曩提迦葉; C: năngtí jiāshě; J: nōdai kashō; |Là một trong những phiên âm tên của Nadī-Kāśyapa; Na-đề Ca-diếp (那提迦葉).

nơi khác

Elsewhere.

nơi sinh

Birthplace.

nơm nớp

Fearful.

nơï

To owe.

nương

Lady—Wife—Mother—Aunt. ; (娘) Chỉ cho chữ (ĩa) trong 50 chữ cái Tất đàm. Cũng gọi Nhã, Nhương, Nhưỡng, Như, Xã.Vì tiếng Phạmjĩànanghĩa là trí tuệ, có chữ Nương (ĩa)ở đầu, cho nên phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính và kinh Niết bàn quyển 8 (bản Bắc) đều cho chữ Nương nghĩa là tuệ.Ngoài ra, phẩm Thị thư trong kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4, giải thích nghĩa chữ Nương là tiếng giác ngộ hết thảy chúng sinh (Phạm: Jĩàpanazabda). Phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù sư lợi vấn quyển thượng giải nghĩa chữ Nương là an trụ. Còn phẩm Học tập kĩ nghệ trong kinh Phật bản hạnh tập quyển 11 thì giải nghĩa chữ Nương là 4 chúng đều y giáo phụng hành. Lại nữa, để phân biệt với các chữ: Nhã (ja), Xã (jha), chữ này được gọi là chữ Nhã (ĩa) trí tuệ. (xt. Tất Đàm Ngũ Thập Tự Môn).

nương củ trá trùng

(娘矩咤蟲) Phạm: Nyaíkuỉa, Nyaỉkuỉa. Cũng gọi Nương cưu đa. Hán dịch: Phẩn niệu trùng, Châm khẩu trùng. Chỉ cho loại trùng ở trong đống phân của những tội nhân ở địa ngục Du tăng thứ 16. Miệng của loài trùng này bén nhọn như kim, mình trắng đầu đen, có thể xoi thủng da thịt tội nhận để vào đục xương hút tủy bên trong. [X. luận Câu xá Q.11, luận Du già sư địa Q.4; Huyền ứng âm nghĩa Q.22; Tuệ lâm âm nghĩa Q.48].

nương nhờ

To depend on.

nương náu

To take refuge in.

nương tay

To handle with care.

nương tựa vào chính mình

To rely on oneself.

nương vào phật pháp mà hóa giải trở ngại

To base on the dharma to resolve hindrnaces.

nước

Water.

nước hình tròn

Water round. Lửa hình chữ nhật: Fire triangular. Gió hình bán nguyệt: Wind half moon. Hư không bao gồm tất cả các hình trên: Space is the combination of the other four.

nước thánh

Holy water.

nước tro

Xem tháo đậu.

nước tám công đức

(bát công đức thủy): Nước có đủ tám công đức, tức là có tám tính chất như sau: 1. Trừng tịnh: lắng gạn trong sạch; 2. Thanh lãnh: trong trẻo mát lạnh; 3. Cam mỹ: mùi vị ngon ngọt; 4. Khinh nhuyễn: nhẹ nhàng mềm mại; 5. Nhuận trạch: thấm nhuần tươi mát; 6. An hòa: yên ổn hòa nhã; 7. Trừ được đói khát và vô số khổ não; 8. Trưởng dưỡng thân tứ đại, tăng trưởng các thiện căn.

nước đổ lá môn

To preach to deaf ears—To water off a duck's back

nướng

To grill—To roast—To bake.

nườm nượp

Crowded—Flocked.

nại

1) Đè xuống: To press down. 2) Nhẫn nại—To endure—To bear. 3) Quả na: berries or musk. 4) Quả xoài: Amra (skt)—A mango.

nại hà

Con sông trong địa ngục mà mọi chúng sanh (linh hồn) phải vượt qua không thể tránh được—The inevitable river in purgatory to be crossed by all souls.

nại hà cầu (kiều)

Chiếc cầu trong địa ngục, mọi tội nhân đều phải qua và rơi xuống—The bridge in one of the hells, from which certain sinners always fall.

nại hà tân

(奈河津) Cũng gọi Tam đồ hà. Dòng sông ở địa ngục có 3 đoạn khác nhau. Trong kinh Địa tạng bồ tát phát tâm nhân duyên thập vương có thuyết Tam đồ hà, nghĩa là sau khi chết, tội nhân phải đi qua dòng sông Tam đồ ở địa ngục mới đến cõi u minh. Dòng sông này có 3 đoạn: Đoạn sơn thủy, đoạn vực sâu và đoạn có cầu bắc qua, tùy theo nghiệp đã tạo tác lúc còn sống mà tội nhân phải đi qua mỗi đoạn khác nhau. (xt. Tam Đồ Chi Xuyên).

nại lương đại phật

(奈良大佛) Cũng gọi Đông đại tự đại Phật. Chỉ cho pho tượng Phật Tì lô giá na rất lớn thờ ở Kim đường chùa Đông đại ở Nại lương (Nara) tại Nhật bản. Pho tượng này bắt đầu được đúc vào năm Thiên bình 19 (747), đến niên hiệu Thiên bình thắng bảo năm đầu (749) mới hoàn thành. Đây là pho tượng đồng lớn nhất của Nhật bản hiện nay. Tượng Đại Phật được tạo trong tư thế ngồi, cao 14,9 mét, nếu tính từ đài tòa trở lên thì cao khoảng 17 mét. Trên đài có tòa hoa sen nghìn cánh, mỗi cánh có khắc tượng Phật Thích ca, biểu hiện hình ảnh thế giới Hoa tạng. Tượng Đại Phật tuy đã được trùng tu nhiều lần, nhưng vẫn giữ được nét cổ kính thời Nại lương. [X. Đông đại tự yếu lục Q.1, 3; Đông đại tự tạo lập cúng dường kí].

nại lạc ca

Naraka (skt). 1) Địa ngục: Hell—The hells. 2) Nơi chịu khổ: The place of torment. ; (捺落迦) Phạm: Naraka. Hán âm: Na lạc, Na lạc ca, Na la kha, Nại lạc. Hán dịch: Khổ khí, khổ cụ. Chỉ cho địa ngục (Phạm: Niraya), bao hàm ý tối tăm, không ưa thích. Theo Câu xá luận quang kí quyển 8, thì Nại lạc dịch là người; Ca dịch là ác. Nghĩa là người tạo nhiều nghiệp ác, rơi vào địa ngục, cho nên gọi là Nại lạc ca. Hoặc có chỗ cho rằng Ca là tên khác của chữ nhạo (ưa thích); Nại là không, Lạc là với nhau, cùng nhau, cho nên Nại lạc ca tức là không ưa thích nhau, không thể cứu giúp nhau v.v... (xt. Địa Ngục).

nại lợi

Niraya (skt)—Địa ngục—Hell.

nại mạt đà

Narmada (skt)—Con sông mà bây giờ có tên là Nerbudda—The modern Nerbudda river.

nại nữ

Amradarika or Amrapali (skt)—Người đàn bà sanh ra trên cây xoài, người đã hiến “Nại Uyển” cho Đức Phật—A woman who is said to have been born on a mango tree, and to have given the Plum-garden to the Buddha.

nại oán hại nhẫn

Sự nhẫn nhục trước những oán hận và gây tổn hại cho chính mình—The patience which endures enmity and injury.

nại thị

(柰氏) Phạm: Àmra. Hán âm: Am la. Cũng gọi Am bà nữ, Am thụ nữ. Am la là tên cây, tức là Am la nữ, người con gái sinh ra từ cây Am la, được Phạm chí nước Duy vệ nuôi dưỡng vào thời đức Phật còn tại thế. (xt. Am Bà La Bà Lợi).

nại trọng

(耐重) Hình quỉ được khắc trên những đầu cột hoặc dưới các xà ngang, trong tư thế đứng xoạc chân, gồng người, đầu và 2 bàn tay nâng đỡ lấy mái chùa, gọi là Nại trọng (chịu đựng sức nặng). Nhân thiên nhãn mục quyển 1 (Đại 48, 305 trung) chép: Phần dương nói: Hãy ở ngoài cửa, Nại trọng đánh với Kim cương. [X. môn Linh tượng trong Thiền lâm tượng khí tiên].

nại địa ca diếp ba

Nadi-Kasyapa (skt)—Còn gọi là Na Đề, em ruột của ngài Ma Ha Ca Diếp, sau nầy sẽ thành Phật hiệu là Phổ Minh Như Lai—A brother of Maha-Kasyapa, to be reborn as Buddha Samanta-Prabhasa.

nạn

(難) I. Nạn. Chướng ngại, đặc biệt chỉ cho sự chướng ngại người tu hành đạo Phật. Kinh Trường a hàm quyển 19 nêu ra 8 loại nạn xứ làm chướng ngại người tu hành thanh tịnh hướng tới giác ngộ, gọi là Bát nạn, Bát nạn xứ, Bát nạn giải pháp, Bát vô hạ, Bát bất nhàn, Bát phi thời, Bát ác, Bát bất văn thời tiết. Đó là: 1. Nạn ở địa ngục. 2. Nạn ở ngã quỉ. 3. Nạn ở súc sinh. Chúng sinh ở trong 3 đường này, khó gặp được bậc Thánh, chịu khổ bức bách, nung nấu triền miên, không sao tu hành được. 4. Nạn ở Trường thọ thiên, người cõi trời này sống rất lâu nên khó được gặp Phật pháp. 5. Nạn ở biên địa, là nơi hẻo lánh, xa xôi, không có Phật pháp lưu hành, cho nên chúng sinh ở vùng này không được nghe Phật pháp; hoặc chỉ cho chư thiên cõi Sắc, cõi Vô sắc và người ở châu Bắc câu lô (thế giới ở phía bắc núi Tu di), chỉ đam mê hưởng lạc, không cầu Phật pháp. 6. Nạn mù điếc câm ngọng; những người mù, điếc, câm, ngọng dù có sinh vào nơi văn minh, văn hóa, cũng không được thấy nghe Phật pháp. 7. Nạn thông minh biện bác theo trí thế gian, tuy có trí tuệ nhưng chấp tà kiến nên không cầu chính pháp. 8. Nạn sinh trước Phật hoặc sau Phật, vì sinh trong khoảng thời gian này không có Phật ra đời thuyết pháp, cho nên không được nghe Phật pháp. [X. kinh Xuất diệu Q.8; kinh Ngũ khổ chương cú; kinh Phạm võng Q.hạ; phẩm Tứ pháp trong luận Thành thực Q.2; Tuệ lâm âm nghĩa Q.28]. II. Nạn. Lời gạn hỏi, như nói nạn vấn, luận nạn, tức hỏi vặn, hỏi những nghĩa khó, bàn cãi đưa ra những điều khó hiểu, mâu thuẫn nhau, dồn đối phương vào chỗ bí tắc để tranh thắng. Như trong các kinh luận thường thấy ghi chép các cuộc tranh luận về pháp nghĩa trong nội bộ các phái Phật giáo với nhau, hoặc các cuộc nạn vấn của Phật giáo đối với ngoại đạo...

nạp

1) Bá nạp: Nạp những mảnh vải rách lại với nhau—To patch rags together. 2) Dâng nạp—To offer—To pay. 3) Nạp Y: Áo của chư Tăng Ni được đùm vá bằng những mảnh vải rách: A monk's or nun's garment, supposed to be made of rags. 4) Thu nạp: To receive—To take. ; (衲) I. Nạp. Cũng gọi Nạp ca sa, Tệ nạp y, Hoại nạp. Chỉ cho áo mặc của chúng tăng, 1 trong các loại áo pháp. (xt. NạpY, Phẩn Tảo Y). II. Nạp. Cũng gọi Nạp tử, Nạp tăng. Tiếng xưng hô của chúng tăng, vì mặc áo chắp nối mà có tên gọi này. Ngoài ra, do đức tính khiêm tốn mà tự xưng như: Lão nạp, Hàn nạp, Chuyết nạp.

nạp bá

Loại áo trùm vai, được chư Tăng mặc khi thuyết pháp—A stole worn during teaching. ; (衲播) Loại áo vị tăng mặc khi giảng kinh, như áo thụng (áo lễ) của chư tăng ngày nay. Cứ theo Nam hải kí qui nội pháp truyện thì ngoài 3 áo ra còn có Nạp bá, nạp bá là áo của vị giảng sư mặc khi giảng kinh thuyết pháp.

nạp chúng

Các vị Tăng chúng mặc y áo bá nạp—Monks who wear patched robes. ; (衲衆) Chỉ cho đại chúng mặc áo nạp tham dự pháp hội, hoặc theo nghĩa rộng, Nạp chúng là danh từ gọi chung chúng tăng xuất gia.

nạp cốt

Thu lấy xương cốt đem chôn—To bury bones, or a skeleton. ; (納骨) Cũng gọi Nhập cốt, Nhập tháp. Đặt di cốt của người tại gia vào mộ sau khi hỏa táng xong, gọi là Nạp cốt. Còn di cốt của người xuất gia thì được đưa vào tháp, gọi là Nhập tháp, cũng có khi dùng tóc còn lại để thay cho di cốt. [X. môn Tang tiến trong Thiền lâm tượng khí tiên].

nạp cụ

Thọ nhận cụ túc giới nơi thân mình—To accept all the commandments, or rules. ; (納具) Nhận lãnh giới Cụ túc.

nạp già lê

Sanghati (skt)—Còn gọi là Nạp Già Lê, là loại áo Tăng Già Lê trong bộ Nạp Y, từ 9 đến 25 mảnh vá lại với nhau—The sanghati or coat of patches varying from 9 to 25 (patched of seven pieces and upwards).

nạp giới

Thụ giới hay là thụ nhận giới thể nơi thân mình—To receive or accept the commandments.

nạp kinh

(納經) Cũng gọi Lục thập lục bộ nạp kinh, Lục bộ nạp kinh, Hồi quốc nạp kinh. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chép tay 66 bộ kinh Pháp hoa, đem cúng dường 66 đạo tràng ở Nhật để hồi hướng công đức cho người chết. Từ xưa ở Nhật bản đã thịnh hành phong tục chôn kinh điển dưới đất gọi là Mai kinh. Về sau, phong tục này dần dần đã biến thành việc đem dâng nạp Đại tạng kinh vào trong Thần xã hoặc chùa Phật. Những kinh được dâng nạp phần nhiều là kinh Pháp hoa, kinh Di đà, kinh Di lặc và Bát nhã tâm kinh. Phong tục này được truyền đến đời sau, thì không những dâng nạp tạng kinh mà cả việc cúng dường tiền gạo vào đền chùa, hoặc đích thân đến đạo tràng tham bái, cũng đều được gọi là Nạp kinh.

nạp mạo

Chiếc nón được làm bằng những vật liệu vải do đàn na bố thí—A cap made of bits of given material. ; (衲帽) Chiếc mũ của tỉ khưu may bằng các miếng vải vụn xấu chắp nối lại. [X. truyện Cảnh oanh trong Tục cao tăng truyện].

nạp mộ

Namah (skt)—See Nam Mô.

nạp phùng tố ca

(納逢素迦) Phạm: Napuôsaka. Cũng gọi Nại bản sa ca. Hán dịch: Yêm nhân, Hoạn quan. Từ ngữ chỉ cho trung tính, tức chẳng phải nam, chẳng phải nữ. Trong 3 thanh của chữ Tất đàm, từ ngữ này được sử dụng để biểu thị cho thanh trung tính.

nạp phược ba

Nạp Phược Ba, tên của một thành phố cổ mà người ta đã lấy tên ngài Huyền Trang để đặt cho nó. Thành phố nầy nằm gần khu vực Y Tuần, đế đô của nhà Hán, sau nầy được biết như là Nob hay Lop trong truyện ký của Marco Polo. Bây giờ là thành phố Charkhlik—Na-Fu-Po, Hsuan-Tsang's name for a city on the ancient site of I-Hsun, capital of Shan-Shan in the Former Han dynasty, afterwards known as Nob or Lop in Marco Polo. It corresponds to the modern Charkhlik.

nạp phược tăng già lam

Navasangharama (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Nạp Phược Tăng Già lam là ngôi tự viện cổ gần thành Baktra, nổi tiếng với ba thứ xá lợi của Đức Phật, răng Phật, bồn nước nhỏ, và cây tích trượng của Phật—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Navasangharama, an ancient monastery near Baktra, famous for three relics of Sakyamuni, a tooth, a basin, and a staff.

nạp phược đề bà củ la

Navadevakula (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Nạp Phược Đề Bà Củ La, một thành phố cổ chỉ cách Kanyakubdja có vài dậm về phía đông nam, bên bờ đông sông Hằng, bây giờ là thành phố Nobatgang—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Navadevakula, an ancient city, a few miles south-east of Kanyakubdja, on the eastern bank of the Ganges. The present Nobatgang.

nạp sở

(納所) Nơi dành cho việc thu chi tiền bạc, thóc gạo trong tự viện thuộc Thiền tông, do vị dịch tăng trông coi. Nếu người thế tục đảm nhiệm chức vụ này thì nơi đó được gọi là Tục nạp sở. [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].

nạp thể

(納體) Nhận lãnh giới thể. Giới thể phát ra từ trong tâm của hành giả thụ giới, có công năng ngăn ngừa việc sai quấy. [X. Hoằng giới pháp nghi].

nạp thụ

(納受) Có 2 nghĩa: 1. Nhận lãnh quà tặng của người khác. 2. Phật, Bồ tát tiếp nhận nguyện vọng của người cầu nguyện để giúp đỡ họ. [X. phẩm Hóa thành dụ kinh Pháp hoa; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.7].

nạp tăng hành cước sự

(衲僧行脚事) Đồng nghĩa: Nạp y hạ sự, Nạp tăng bản phận sự. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tức là việc vân du hành cước, tìm thầy học đạo để giải quyết vấn đề sinh tử của nạp tăng.

nạp tăng tị khổng

(衲僧鼻孔) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho cái lỗ mũi của nạp tăng. Trong Thiền tông, nhóm từ này được sử dụng để biểu thị cho vật rất quan trọng, tức là căn bản của Phật pháp. Cùng nghĩa với dụng ngữ này còn có Nạp tăng đính môn (đỉnh đầu của nạp tăng), Nạp tăng nhãn tình (con mắt của nạp tăng).

nạp tức

(納息) Phạm: Varga. Pàli:Vagga. Có hàm ý là phân chia, tập hợp, tức chỉ các loại từ như: Phẩm, thiên, chương, bộ, loại. Luận Đại tì bà sa bản dịch cũ dịch là Bạt cừ, còn bản dịch mới dịch là Nạp tức. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.15].

Nạp tử

(衲子, nossu): nói về vị Thiền tăng, vị tăng mặc y Bá Nạp (百衲, trăm mảnh vải ghép lại), còn gọi là nạp tăng (衲僧). Như trong phần Tào Khê Bảo Lâm Thiền Đường Thập Phương Thường Trú Thanh Quy (曹溪寶林禪堂十方常住清規) của Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, CBETA No. 1456) quyển 52 có câu: “Duy ngã Lục Tổ Đại Sư, thuyết pháp Tào Khê, thiên hạ nạp tử quy chi (惟我六祖大師。說法曹溪。天下衲子歸之, cúi mong Lục Tổ Đại Sư ta, thuyết pháp Tào Khê, cho Thiền tăng khắp thiên hạ quay về).”

nạp tử

Còn gọi là Nạp Tăng, tên gọi khác của Thiền Tăng (Thiền Tăng thường mặc áo nạp y đi chu du đó đây; tuy nhiên, nạp tăng dùng chung cho tất cả Tỳ Kheo chứ không riêng Thiền Tăng)—A monk, especially a peripatetic monk.

nạp xà ư đồng

Bỏ rắn vào ống, ví với việc thiền định cột tâm—To put a snake into a tube, i.e. meditation able to confine unruly thoughts.

nạp y

áo do nhiều miếng vải vụn nhỏ kết lại với nhau, nên gọi là nạp y. Người tu hành không cầu ăn mặc đẹp, nên nhặt lấy những mảnh vải vụn đã bỏ đi của người đời mà chắp vá lại thành áo mặc, cũng gọi là áo bá nạp (trăm mảnh vụn) hay phấn tảo y. ; Phấn Tảo Y—Nhặt lấy những mảnh vải rách mà người ta vứt đi để kết lại làm áo cho Tăng Ni (bất kể vải rách ấy là của người hốt phân hay của hạng thủ đà la)—A monk's robe, garments made of castaway rags, the patch-robe of a monk. ; (衲衣) Cũng gọi là Phẩn tảo y, Tệ nạp y, Ngũ nạp y, Bách nạp y. Tấm áo pháp của vị tỉ khưu mặc, do những mảnh vải vụn được nối kết lại mà thành. Chính vì nghĩa này mà các vị tăng thường tự xưng là Lão nạp, Bố nạp, Nạp tăng, Nạp tử, Tiểu nạp v.v... [X. luật Thập tụng Q.39; điều Đầu đà nghĩa lưỡng môn phân biệt trong Đại thừa nghĩa chương Q.15; Tuệ lâm âm nghĩa Q.11]. (xt. Bách Nạp Y).

nạp y thập lợi

(衲衣十利) Mười điều lợi của việc mặc nạp y (áo chắp vá). Theo luật Thập tụng thì 10 điều lợi ấy là: 1. Thuộc về số áo thô xấu. 2. Ít phải tìm kiếm. 3. Tùy ý muốn ngồi chỗ nào cũng được. 4. Muốn nằm chỗ nào cũng được. 5. Dễ giặt giũ. 6. Ít bị côn trùng làm hư hoại. 7. Dễ nhuộm. 8. Khó rách nát. 9. Không phải kiếm áo khác. 10. Không ảnh hưởng đến việc cầu đạo. Còn theo luận Thập trụ tì bà sa thì 10 điều lợi ấy như sau: 1. Hổ thẹn. 2. Ngăn lạnh nóng trùng độc. 3. Biểu thị uy nghi phép tắc của sa môn. 4. Tất cả trời người thấy áo pháp đều tôn kính như tháp. 5. Người có tâm nhàm chán khi nhuộm áo chẳng ham đẹp. 6. Tùy thuận tịch diệt, không bị phiền não nhiễu loạn. 7. Nhờ mặc áo pháp, dễ thấy cái ác. 8. Không cần vật trang nghiêm nào khác. 9. Thuận theo Bát chính đạo. 10. Thường tinh tiến tu tập, không khởi tâm ô nhiễm dù trong khoảnh khắc.

nạp đậu

(納豆) Một loại thực phẩm được sử dụng trong các chùa viện. Phương pháp chế biến nạp đậu như sau: Vào tháng 6 nấu đậu cho chín, vớt ra, trộn lẫn với 1 ít bắp rang và men rượu rồi đem phơi nắng 3 ngày, sau đó, bỏ vào nước ấm có hòa muối, rửa sạch, gạn hết cặn cấu, rồi lại rắc thêm men rượu vào đậu và bắp, chứa vào thùng, lấy đá đè lên để ép. Sau, lấy đá ra, dùng giấy dày bịt kín miệng thùng lại; đến khoảng tiết Đông chí, dùng gừng và lá tía tô trộn lẫn để dùng. Món ăn này được dùng trước khi ngồi thiền, giúp cho việc hút nước trong cơ thể để giảm thiểu việc tiểu tiện. Các Thiền viện ở Trung quốc, xưa rất coi trọng việc dùng món nạp đậu này, về sau được truyền đến Nhật bản và cho đến nay vẫn được thịnh hành trong các tự viện. (xt. Tọa Thiền Đậu).

nạp đắc

(納得) Nhận lãnh được giới thể. Giới thể phát sinh từ trong tâm của người thụ giới, có công năng ngăn ngừa việc làm sai quấy.

nảo

Draft.

nảy

To bounce.

nảy chồi

To shoot—To sprout

nảy nở

To increase—To grow.

nảy đom đóm

To see stars.

nấp

1) To hide. 2) Lid—Cover.

nấp bóng

To be under someone's protection

nấu cát làm cơm

1) Cooking sands for food. 2) Something which is impossible to achieve.

nẩy lên

To bounce.

nắm

To grasp—To embrace.

nắm chặt

To hold tightly.

nắm cơ hội

To embrace an opportunity.

nắn nót

To write carefully.

nắng chang chang

Burning sun.

nắng gắt

See Nắng Chang Chang.

nằm

To lie down.

nằm mộng

To dream.

nằm nghiêng

To lie on one's side

nằm ngủ

To lie dormant.

nằm ngửa

To lie on one's back.

nằm đất

To lie on the ground.

nằng nằng

To insist stubbornly

nẵng

(曩) Cũng gọi Na, Noa. Chữ Tất đàn (na), là 1 trong 50 hoặc 42 chữ cái. Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính cho rằng, chữ Nẵng nghĩa là tên của tất cả pháp đều bất khả đắc. Phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù sư lợi vấn quyển thượng và phẩm Thị thư trong kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4 thì nói rằng, khi xướng chữ Nẵng là phát ra âm thanh biết khắp các danh sắc.Những nghĩa (tên, danh) trên đây đều là từ chữ đầu trong tiếng Phạm Nàma-rùpa mà ra, vì thế giải thích chữ Nẵng nghĩa là tên (nàma). Còn phẩm Quảng thừa trong luận Đại trí độ quyển 48 thì nói rằng, khi nghe chữ Nẵng tức là biết tất cả pháp chẳng đến, chẳng đi, là bất khả đắc. Đây là giải thích theo nghĩa chữ Phạm Na(không, tiếp đầu ngữ phủ định). [X. phẩm Biện đại thừa trong kinh Đại bát nhã Q.53; phẩm Văn tự trong kinh Đại bát niết bàn Q.8 (bản Bắc); phẩm Quán trong kinh Quang tán bát nhã Q.7; kinh Hoa nghiêm Q.76 (bản dịch mới); Tứ thập nhị tứ quán môn, phẩm Nhập pháp giới trong kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm; phẩm Đà la ni trong kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.3].

Nẵng-nga

曩誐; C: năngé; J: nōga; S: nāga;|Một loại rồng. Một trong 8 loại thiện thần hộ pháp xuất hiện trong kinh luận Đại thừa. Xem Long (龍).

nặc

Lời hứa hẹn—A promise—To promise.

nặc cù đà

Nyagrodha (skt)—Cây vả (sung) Ấn Độ—The Indian fig-tree.

nặc cù đà thụ

(諾瞿陀樹) Phạm: Nyagrodha. Pàli: Nigrodha, Nigoha. Cũng gọi Ni câu luật thụ, Ni câu loại đà thụ, Ni câu đà thụ. Tên khoa học: Ficus indica. Loại cây giống như cây si, thuộc họ cây dâu, mọc ở Ấn độ, Tích lan. Thân cây cao to thẳng đứng, tán rộng, có rễ từ trên thân rủ xuống, khi chạm đất thì rễ ấy lại mọc lan ra tứ phía. Đức Phật thứ 6 trong 7 đức Phật quá khứ là Ca diếp Như lai đã ngồi dưới cây này để thuyết pháp độ sinh. [X. kinh Đại bản trong Trường a hàm Q.1; kinh Tạp a hàm Q.33; luận Câu xá Q.6; Tuệ lâm âm nghĩa Q.12, 15].

nặc củ la

(諾矩羅) Phạm: Nakula. Cũng gọi Nặc củ na. Vị La hán thứ 5 trong 16 vị La hán. Cứ theo truyền thuyết thì Nặc củ la tức là Trưởng giả Nặc cổ la nói trong kinh A la hán cụ đức; vị Trưởng giả này cùng 800 vị A la hán quyến thuộc trụ ở châu Nam thiệm bộ, hộ trì chính pháp, làm lợi ích cho loài hữu tình. Đại sư Thiền nguyệt Quán hưu đời Đường, vẽ tượng Ngài ngồi trên phiến đá, 2 tay cầm cây như ý giống hình đứa bé, đặt trên vai, dáng như đang gãi lưng. Trên vách hang thứ 76 của động Thiên Phật tại Đôn hoàng có vẽ hình tượng Ngài ngồi kết già trên phiến đá, tay phải nắm lại để trước ngực, tay trái cầm phất trần đặt trên gối. Nay tên của vị A la hán này không thấy có trong Phật giáo Tây tạng. [X. Đại A la hán Nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kí; La hán đồ tán tập].

nặc cự la

Nakula (skt)—Một trong 16 vị La Hán—One of the sixteen arhats.

nặc già nặc

Nagna (skt). 1) Trần truồng—Naked. 2) Đạo sĩ lõa thể: A naked mendicant. 3) Tên của Thần Siva: A name of Siva. 4) Kim Cang vương: A Vajra-king.

nặc kiện na

(諾健那) Phạm: Mahà-nagna. Gọi đủ: Ma ha nặc kiện na. Cũng gọi Đồ kiện na, Nặc già na. Hán dịch: Lộ hình thân, Lộ hình thần, Lộ thân. Tên 1 vị thần có sức mạnh, mình trần. Theo luận Đại tì bà sa quyển 30 thì sức của 10 con voi bằng với sức của 1 con hương tượng, sức 10 con hương tượng bằng với sức Ma ha nặc kiện na. [X. luận Câu xá Q.11, 27; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.6; Huyền ứng âm nghĩa Q.24].

nặc môn hãn

(諾們罕) Danh hiệu của vị Đại lạt ma trong Lạt ma giáo ở Mông cổ, Tây tạng. Danh hiệu này nghĩa là Pháp vương, ngôi vị chỉ đứng sau vị Hô đồ khắc đồ (Phật sống).

nặc ngôn

See Nặc.

nặn óc

To puzzle one's brain.

nặng

Heavy.

nặng gánh

Heavy load.

nặng nghiệp

Heavy karma.

nặng nhọc

Hard work.

nặng tai

To be hard of hearing.

nặng trĩu

Overloaded—Overburdened.

nặng trịch

Very heavy.

nặng đầu

To have a bad headache.

nẻ

Cracked.

nẻo

Way—Direction.

nếm

To taste.

nếp sống

Life.

nết

Conduct—Behavior—Morals.

nếu có thể

If possible.

nếu cần

If necessary.

nếu không

If not.

nếu thế

If so—If that is the case.

nền móng

Foundation.

nền tảng dục vọng

Base passion.

nền tảng phật pháp

Basic Buddhist Teaching.

nể

To respect.

nễ khán giả hạt hán

(你看者瞎漢) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nhóm từ này hàm nghĩa châm biếm. Ý nói: Các ngươi có thấy gã không hiểu tông chỉ này không? Nễ chỉ cho đại chúng trong pháp hội; giả cùng nghĩa với chữ giá (này); hạt hán chỉ cho kẻ không rõ tông chỉ.

Nỉ Nghi

(禰宜, Negi): một trong những danh xưng của Thần Chức. Hiện tại, ở các đền thờ Thần Xã, chức này được đặt dưới Cung Ty (宮司), trên Quyền Nỉ Nghi (權禰宜), trở thành chức quan bổ tá cho Cung Ty. Nguyên ngữ của từ “Nỉ Nghi (禰宜)”, có ngữ có nghĩa là “làm cho hòa hợp”, tức là “hòa hợp tâm của Thần và cầu nguyện sự gia hộ”. Vào thời cổ đại, Nỉ Nghi chỉ cho người hành lễ cầu thỉnh lên chư Thần, hay người chuyên trách việc tế tự. Theo quy chế cổ, chức này được đặt dưới Thần Chủ (神主, Kannushi), hay từ tổng xưng của các Thần Chức. Tại Gia Mậu Thần Xã (賀茂神社, Kamo Jinja), Bình Dã Thần Xã (平野神社, Hirano Jinja), Nhật Cát Thần Xã (日吉神社, Hie Jinja), v.v., chức Nỉ Nghi được xem như là lớn nhất trong các Thần Chức. Trong khi đó, tại Lộc Đảo Thần Cung (鹿島神宮, Kashima Jingū), v.v., trên chức này có thêm Đại Nỉ Nghi (大禰宜). Từ cuối thời Minh Trị trở đi, chức Nỉ Nghi được đặt ở Y Thế Thần Cung (伊勢神宮, Ise Jingū) cũng như Quan Quốc Tệ Xã (官國弊社, Kankokuheisha). Sau Đệ Nhị Thế Chiến, toàn bộ các đền thờ Thần Xã đều có chức quan này. Đặc biệt, tại Y Thế Thần Cung, chức này đứng kế vị Thiếu Cung Ty (少宮司), trên Cung Chưởng (宮掌). Vị này nhận mệnh của Cung Ty mà phục vụ cho việc tế tự và quản lý việc của Thần Xã.

nịnh

To flatter.

nối duyên

To marry again—To remarry.

nối dòng

To carry on the lineage.

nối nghiệp

To succeed—To take over.

nổ bùng

To break out---To explode.

nổi bật

Prominent.

nổi danh

Famous—Celebrated—Well-known—Eminent—Distinguished

nổi giận

To get angry.

nổi loạn

Atrocities.

nổi lênh đênh

Floating.

nổi tiếng

Well-known—Celebrated.

nổi điên

To get mad.

nỗ lực

To strive—To endeavour. ; (努力) Gắng sức không ngừng, quyết chí thực hiện được mục đích. Con đường giác ngộ diệt trừ khổ não mà đức Phật chỉ dạy có 8 thứ gọi là Bát chính đạo, trong đó Chính tinh tiến tức là nỗ lực vậy. Lại nữa, Phật giáo Đại thừa lập ra 6 Ba la mật(cũng gọi Lục độ)là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định và trí tuệ là những đức mục thực tiễn cao nhất của Phật giáo, trong đó tinh tiến (Phạm:Vìrya) tức là nỗ lực, hoặc cũng có nghĩa là siêng năng, có thể thành tựu các thiện hạnh, diệt trừ ác pháp.

nỗ lực của chính mình

Own efforts.

nỗ lực giác ngộ

To struggle for enlightenment.

nỗ lực thành tựu quả vị phật

To strive to gain Buddhahood.

nỗ đạt la sái

Durdharsa (skt). 1) Hộ pháp trong nội viên Mạn Đà La của Đức Tỳ Lô Giá Na: Guardian of the inner gate in Vairocana's mandala. 2) Khó để ý: Hard to behold. 3) Khó nắm giữ: Hard to hold. 4) Khó vượt qua: Hard to overcome.

nỗi buồn

Feeling of sadness.

nỗi lòng

Feelings.

nội

Antar, Antah, Pratyag, or Pratyak (skt)—Bên trong—Within—Inner—Internal—Inside—Interior—Inward.

nội ba-la-mật

tức là các pháp Trì giới Ba-la-mật, Nhẫn nhục Ba-la-mật, Tinh tấn Ba-la-mật, Thiền định Ba-la-mật và Trí tuệ Ba-la-mật. Vì năm pháp Ba-la-mật này thuộc về sự hành trì nội tâm nên gọi là nội (bên trong).

nội bí

Tâm sâu kín bí mật bên trong của Bồ Tát, mặc dù bên ngoài có dáng vẻ của Thanh Văn—The inner mystic mind of the bodhisattva, though externally he may appears to be a sravaka (hearer—Thanh văn). ; (內秘) Ẩn kín ở bên trong. Nghĩa là Bồ tát giấu kín hạnh tự lợi, lợi tha bên trong, mà bên ngoài thì hiện tướng tự lợi của Thanh văn. Đó là vì Bồ tát biết chúng sinh sợ đại trí mà thích nghe tiểu pháp, cho nên hiện làm Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác, dùng phương tiện giáo hóa chúng sinh, như trường hợp các vị tỉ khưu Phú lâu na, Xá lợi phất... đều thuộc về nội bí. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 6 (Đại 33, 756 trung) nói: Các vị Thanh văn đều là nội bí ngoại hiện. [X. phẩm Ngũ bách đệ tử thụ kí trong kinh Pháp hoa].

nội chúng

Chỉ Tăng chúng, để phân biệt với chúng tại gia hay là ngoại chúng—The inner company, i.e. the monks, in contrast with the laity (Ngọai tục). ; (內衆) Chỉ cho chúng tăng. Đối lại với ngoại tục nên gọi là nội chúng. Đại tống tăng sử lược quyển thượng (Đại 54, 237 hạ) nói: Phật chế Tì ni khiến cho nội chúng sống trong khuôn phép.

nội chướng

Những chướng ngại xuất phát từ bên trong—The internal or mental hindrances or obstacles. ; (內障) Chỉ cho chướng ngại trong nội tâm, tức là các phiền não như tham dục, sân khuể, ngu si... Vãng sinh yếu tập quyển thượng (Đại 84, 37 trung) nói: Hoặc có loài quỉ do nội chướng nên ăn không được, nghĩa là miệng nhỏ như lỗ kim, bụng to như núi, dẫu có gặp thức uống ăn cũng không cách nào ăn được.

nội chủng

Chủng tử được chứa đựng trong thức thứ tám, là căn bản của muôn ngàn hiện tượng—The seed contained in the eighth vijnana (Alaya-vijnana), the basis of all phenomena. ; (內種) Đối lại: Ngoại chủng. Tông Pháp tướng cho tất cả chủng tử hữu lậu, vô lậu được chứa trong thức A lại da là nội chủng. Những chủng tử này thường sinh ra hiện hành, tức chủng tử làm nguồn gốc sinh ra các pháp sắc, tâm, sum la muôn tượng.

nội chứng

Pratyak-sakshatkara or Antar-sakshatkriya (skt). 1) Nội Chứng: Inner assurance—Inner-realization—Inner experience—Inner witness. 2) Chân lý mà mình chứng được từ trong tâm: The witness of realization within—One's own assurance of the truth. ; (內證) Phạm: Pratyàtmàdhigama. Cũng gọi Tự nội chứng. Chân lí mà mình thể ngộ, chứng được trong nội tâm. Cứ theo các kinh điển Đại thừa như Lăng già... thì những hoạt động lấy nội chứng làm cơ sở mà biểu hiện ra bề ngoài, gọi là Ngoại dụng. Nội chứng là cái do chính mình riêng chứng được, nên cũng gọi là Kỉ chứng. Pháp được chỉ bày từ kiến giải của riêng mình chứng được này gọi là Kỉ chứng pháp môn. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 3, phần 2 (Đại 46, 225 hạ) nói: Năm trăm tỉ khưu đều là chính thuyết, mỗi vị nói về kỉ chứng, gọi là Tùy tự ý. Luận Thành thực quyển 1 (Đại 32, 244 trung) nói: Phật pháp có thể tự mình chứng biết, nhưng không thể đem cái tự mình chứng biết ấy truyền cho người khác. [X. luận Câu xá Q.6; luận Thành duy thức Q.10; Nhiếp đại thừa luận thích Q.9 (bản dịch đời Đường); Đại nhật kinh sớ Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa Q.5, phần đầu].

Nội Chứng Phật Pháp Tương Thừa Huyết Mạch Phổ

(內証佛法相承血脉譜, Naishōpuppōsōjōkechimyakufu): tác phẩm của Tối Trừng (最澄, Saichō), 1 quyển, hình thành vào năm 819 (niên hiệu Hoằng Nhân [弘仁] thứ 10). Vào năm 818 (niên hiệu Hoằng Nhân thứ 9), Tối Trừng thành lập ra chế độ thọ giới riêng biệt ở Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan) với sự định muốn độc lập Thiên Thai Tông; nhưng ông đã gặp phải cự phản đối kịch liệt của các tông phái vùng Nại Lương (奈良, Nara). Để phản luận lại, ông viết cuốn Hiển Giới Luận (顯戒論, Genkairon) và tác phẩm này. Đây là thư tịch luận về chủ trương của Tối Trừng liên quan đến tính chính thống của Phật Giáo do chính bản thân ông đã truyền thừa trong thời gian vừa qua. Kết hợp tư tưởng của các thư tịch khác như Huyết Mạch (血脉), Đạt Ma Đại Sư Phú Pháp Tương Thừa Sư Sư Huyết Mạch Phổ (達摩大師付法相承師師血脈譜), Thiên Thai Pháp Hoa Tông Tương Thừa Sư Sư Huyết Mạch Phổ (天台法華宗相承師師血脈譜), Thiên Thai Viên Giáo Bồ Tát Giới Tương Thừa Sư Sư Huyết Mạch Phổ (天台圓敎菩薩戒相承師師血脈譜), Thai Tạng Kim Cang Lưỡng Mạn Trà La Tương Thừa Sư Sư Huyết Mạch Phổ (胎藏金剛兩界曼茶羅相承師師血脈譜), Tạp Mạn Trà La Tương Thừa Sư Sư Huyết Mạch Phổ (雜曼茶羅相承師師血脈譜), v.v., ông hình thành nên tác phẩm có giá trị này.

nội chứng trí

(內證智) Chỉ cho trí tuệ của đức Phật chứng ngộ chân lí trong nội tâm. Kinh Đại thừa nhập lăng già quyển 5 (Đại 16, 616 hạ) nói: Niết bàn là thấy chỗ như thực, lìa bỏ tâm và tâm sở phân biệt mà được Thánh trí nội chứng của Như lai, ta nói đó là Niết bàn tịch diệt.

nội chử

(內煮) Nấu nướng bên trong. Chỉ cho thức ăn mà tỉ khưu nấu nướng trong phòng tăng, là 1 trong những thức ăn không thanh tịnh. Giới luật cấm tỉ khưu không được dùng thức ăn này.

nội chữ

Các món ăn nấu trong Tăng phòng là một trong những món bất tịnh, do đó Tỳ Kheo không được ăn—Cooked food in a monastic bedroom, becoming thereby one of the unclean foods—See Nội túc thực.

Nội cung

(內宮): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ chung cho Lục Cung của thiên tử. Như trong Chu Lễ (周禮), chương Thiên Quan (天官), Nội Tể (內宰) có câu: “Hội nội cung chi tài dụng (會內宮之財用, tập trung lại tài dụng của sáu cung).” Trịnh Huyền (鄭玄, 127-200) nhà Hán giải thích rằng: “Kế phu nhân dĩ hạ sở dụng tài (計夫人以下所用財, tính từ phu nhân trở xuống đã dùng tài vật).” (2) Chỉ cho hậu cung. Như trong Pháp Hoa Kinh Chỉ Chưởng Sớ Sự Nghĩa (法華經指掌疏事義, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 33, No. 632), phần Tăng Hựu Luật Sư (僧祐律師), có đoạn: “Niên suy cước tật, sắc thừa dư nhập nội cung, vi Lục Cung thọ giới, Lương Lâm Xuyên Vương, Nam Bình Vương đẳng, tinh sùng kỳ giới phạm (年衰腳疾、勅乘輿入內宮、爲六宮受戒、梁臨川王、南平王等、幷崇其戒範, Luật Sư năm tháng suy yếu, chân bị đau, vua ban sắc chỉ cho ngồi xe vào cung nội, vì Lục Cung mà truyền giới, Lương Lâm Xuyên Vương, Nam Bình Vương, v.v., đều tôn sùng giới pháp của sư).” (3) Chỉ cho tử cung của người nữ.

nội cung phụng

Nội Cúng—Vị Tăng phụ trách bàn thờ trong đại nội (cung vua)—A title for the monk who served at the altar in the imperial palace. ; (內供奉) Cũng gọi Nội cúng, Cúng phụng. Chức vụ của vị tăng cung phụng trong Nội đạo tràng(đạo tràng trong cung vua), phụ trách việc giảng diễn, đọc tụng kinh điển. Chức danh này bắt đầu được đặt ra vào niên hiệu Chí đức năm đầu (756) đời vua Túc tông nhà Đường. Bấy giờ ngài Nguyên kiểu được bổ nhiệm giữ chức Nội cúng. Tại Nhật bản, chức vụ này từ xưa do 10 vị Thiền sư đảm nhiệm, vì thế cũng gọi là Nội cúng phụng thập thiền sư. [X. Đại tống tăng sử lược Q.hạ; Loại tụ danh vật khảo Q.3].

nội cúng

See Nội Cung Phụng.

Nội căn

内根; C: nèigēn; J: naikon;|Cảnh giới bên trong, cảnh giới của tâm.

nội duyên

Ý thức trong tâm phân biệt các pháp khởi lên từ năm thức—The condition of perception arising from the five senses—Immediate, conditional or environmental causes, in contrast with the more remote. ; (內緣) Đối lại: Ngoại duyên. I. Nội Duyên. Duyên trong. Chỉ cho ý thức phân biệt các pháp trong nội tâm. II. Nội Duyên. Chỉ cho nguyên nhân gần.

nội giám lãnh nhiên

(內鑒冷然) Cũng gọi: Nội giám lãnh nhiên, ngoại thích thời nghi. Nghĩa là cảnh giới giác ngộ trong tâm giống như tấm gương sáng; nhưng khi hướng ra ngoài thuyết pháp dẫn dắt mọi người, vì phải đáp ứng với thời cơ, đặt ra những phương pháp thích hợp, cho nên sự hiển bày có sai khác. Cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 5, phần đầu, của ngài Trí khải, luận Thập trụ tâm quyển 8 của ngài Không hải, sự nội chứng của ngài Long thụ, Thiên thân... đều đã đạt đến nghĩa chân thực của Phật pháp, nhưng vì phương tiện giáo hóa dẫn đạo chúng sinh, nên có lúc nói Không, hoặc khi nói Hữu để thích ứng với thời nghi bên ngoài.

nội giáo

Phật giáo, đối lại với ngoại tông—Buddhism, in contrast with other cults. ; (內教) Giáo trong. Phật giáo tự cho giáo pháp, kinh điển, sách vở của mình là Nội giáo, mà cho các giáo pháp, sách vở khác là Ngoại giáo.[X. Phật tổ thống kỉ Q.39].

nội giới

Tâm ý—The realm of mind as contrast with that of the body (Ngoại giới). ; (內界) Đối lại: Ngoại giới. Thân tâm của chúng sinh chia ra nội giới và ngoại giới, tâm ý vô hình là nội giới, thân thể hữu hình là ngoại giới. Trong Lục giới thì đất, nước, lửa, gió và không là ngoại giới; còn thức giới thứ 6 là nội giới.

nội huân

Inner censing—Primal ignorance or unenlightenment—Còn gọi là Minh Huân. Theo Khởi Tín Luận thì “nội huân” là bản giác huân tập vô minh trong tâm chúng sanh, nhân đó mà khiến vọng tâm chán nỗi khổ sinh tử, để cầu cảnh vui sướng của Niết Bàn—According to The Awakening of faith, inner censing acts upon original intelligence causes the common uncontrolled mind to resent the miseries of mortality and to seek nirvana—See Minh Huân. ; (內熏) Đối lại: Ngoại huân. Xông ướp ở bên trong. Trong tâm chúng sinh có chân như bản giác, nhưng từ vô thủy đến nay bị vô minh xông ướp, làm cho tâm chúng sinh mê vọng, nên phải chịu luân hồi sinh tử. Nay biết nhàm chán cái khổ sinh tử ấy, nên dùng chân như bản giác xông ướp lại vô minh để cầu giải thoát sinh tử, được cái vui Niết bàn, gọi là Nội huân. Trái lại, dùng giáo pháp của Phật và sự tu hành của chính mình để xông ướp mà cầu giải thoát, thì gọi là Ngoại huân.

nội học

Học Phật pháp—The inner learning (Buddhism).

nội học niên san

(內學年刊) Tập san nghiên cứu Phật giáo của viện Nội học Chi na, bắt đầu xuất bản vào năm Dân quốc 13 (1924), đến năm Dân quốc 17 (1928) thì đình bản. Những năm gần đây, ở Đài loan có bản lưu thông, đóng 4 tập thành 1 quyển, lấy tên là Nội học. Những người viết bài cho tập san này đều là các vị Giáo sư của viện Nội học, cũng là những nhà Phật học nổi tiếng như Âu dương tiệm, Lữ trừng, Thang dụng đồng, Nhiếp ngẫu canh, Vương ân dương, Hùng thập lực v.v... cho nên những văn phẩm của họ rất có chất lượng và được giới học thuật coi trọng.

nội hộ

(內護) Đối lại: Ngoại hộ. Chúng tăng tuân theo giới pháp mà đức Phật chế định để giữ gìn thân tâm, khiến cho 3 nghiệp thân, khẩu, ý được thanh tịnh, gọi là Nội hộ. Còn các thân tộc và tín đồ cung cấp y phục và thức ăn uống để chúng tăng yên tâm tu đạo, thì gọi là Ngoại hộ. [X. kinh Niết bàn Q.32 (bản Bắc)].

nội hộ ma

(內護摩) Hộ ma, Phạm: Homa. Hán dịch: Hỏa tế, Phần thiêu. Pháp cúng tế lửa bằng cách bỏ những vật cúng vào lửa để đốt, là 1 trong các pháp tu của Mật giáo. Mật giáo chia pháp Hộ ma thành Nội hộ ma và Ngoại hộ ma. Nội hộ ma là hành giả quán tưởng lửa trí tuệ, đem bản tôn, lò(tức lò dùng để đốt vật cúng) và hành giả hợp làm 1, tức là hợp nhất 3 nghiệp thân, khẩu, ý, quán tưởng Đại nhật Như lai trụ ở trong mình, dùng lửa trítuệ thiêu đốt tất cả vô minh, chứng được tâm Bồ đề. Vì tác pháp được quán tưởng ở trong tâm của hành giả, nên gọi là Nội hộ ma. Lại vì quán về lí của pháp Hộ ma nên cũng gọi là Lí hộ ma. (xt. Ngoại Hộ Ma, Hộ Ma).

nội không

Empty within (no soul or self within). ; (內空) Phạm: Adhyàtma-zùnyatà. Một trong 18 cái không. Nội, chỉ cho 6 nội xứ: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Vì trong 6 chỗ này, không có ta, của ta, mà cũng chẳng có mắt, tai, v.v... [X. phẩm Tựa trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.1; luận Đại trí độ Q.31]. (xt. Thập Bát Không).

nội khất

The bhiksu monk who seeks control from within himself (mental process, as compared with Ngoại Khất the one who aims at control by physical discipline such as observing moral disciplines, fasting, etc).

nội ký

Người biên chép sổ sách hay sớ trong tự viện—The clerk or the writer of petitions, or prayer in a monastery.

Nội lục xứ

内六處; C: nèiliùchù; J: nairokusho;|Sáu chỗ bên trong, đó là 6 giác quan (căn) và thức (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).

nội ma ngoại ma

Internal demons and external demons. Nếu chúng ta để nội ma khởi dậy thì lập tức ngoại ma sẽ kéo đến phá nát công trình tu tập ngàn đời của ta—If we allow internal demons arise or spring up, external demons will immediately come to infiltrate to destroy our thousand years (lives after lives) of cultivation.

nội minh

Adhyatma-vidya (skt)—Một trong ngũ minh, nói về nội giáo của Phật pháp—A treatise on the inner meaning of Buddhism. ; (內明) Phạm: Adhyàtmavidyà. Cũng gọi Nội thuật, Nội minh xứ. Một trong Ngũ minh. Chuyên tâm tư duy về giáo lí mầu nhiệm cao siêu của đức Phật, tức chỉ cho cái học thuộc về hình nhi thượng. Nhưng tín đồ Bà la môn giáo và các ngoại đạo ở Ấn độ, cũng đều gọi giáo pháp mà họ tu học là Nội minh. [X. kinh Bồ tát thiện giới Q.3; luận Du già sư địa Q.14; Đại đường tây vực kí Q.2. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.14; Đại minh tam tạng pháp số Q.24; Đại thừa pháp tướng tông danh mục Q.2]. (xt. Ngũ Minh).

nội môn chuyển

Tâm thức duyên vào pháp mà chuyển, chỉ hai thức bảy và tám trong bát thức—The psychological elements in the seventh and eighth consciousnesses (categories). ; (內門轉) Đối lại: Ngoại môn chuyển. Chuyển hóa bên trong. Nghĩa là tâm thức duyên theo pháp và lí tính trong nội tâm, có công năng nội tỉnh tự chứng, gọi là Nội môn chuyển. Trái lại, tâm thức duyên theo đối tượng bên ngoài mà khởi tác dụng, thì gọi là Ngoại môn chuyển. Trong 8 thức, thức Mạt na và thức A lại da thuộc về Nội môn chuyển, còn 5 thức trước thì chỉ duyên theo cảnh hiện tại, do đối tượng bên ngoài mà khởi tác dụng thì là Ngoại môn chuyển. Riêng ý thức thì thông cả Nội môn chuyển và Ngoại môn chuyển. [X. luận Thành duy thức Q.7].

nội ngoại

Internal and external—Subjective and objective.

nội ngoại bất nhị môn

(內外不二門) Nội tâm và ngoại cảnh chẳng phải hai. Là 1 trong 10 Bất nhị môn do ngài Kinh khê Trạm nhiên thuộc tông Thiên thai thành lập. Ngài Trạm nhiên dựa vào nghĩa trí diệu và hành diệu mà bàn về lí bất nhị của nội cảnh và ngoại cảnh: Ngoại cảnh chỉ cho chúng sinh, chư Phật và y báo; Nội cảnh chỉ cho tâm của chính mình. Quán xét tướng của nội cảnh và ngoại cảnh dung hợp nhau mà chứng nhập lí Bất nhị, gọi là Nội ngoại bất nhị môn. Tức là nương vào y báo, chính báo và sắc tâm của ngoại cảnh mà quán xét tức không, tức giả, tức trung, biết rõ tất cả sắc tâm của ngoại cảnh chỉ có 1 thực tính của tâm, Phật và chúng sinh, chứ không có tính nào khác. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.14]. (xt. Thập Bất Nhị Môn).

nội ngoại không

1) Khoảng không bên trong và bên ngoài. 2) Căn bên trong và trần bên ngoài đều không thật—The space inside and outside—Internal organ and external object are both unreal, or not material. ; (內外空) Phạm: Adhyaftma-bahirdhàsùnyatà. Cũng gọi Thân không, Tự thân không. Quán xét 6 căn bên trong và 6 cảnh bên ngoài đều không có cái ta và cái của ta, cũng không có pháp trong và pháp ngoài. Là 1 trong 18 thứ không. (xt. Thập Bát Không).

nội ngoại kiêm minh

Nội ngoại đều sáng. Trong ngũ minh thì bốn minh đầu là ngoại minh, minh thứ năm là nội minh—Inner and outer both “bright,” the first four of the Pancavidya are “outer” and the fifth “inner.” **For more information, please see Ngũ Minh. ; (內外兼明) Thông hiểu cả Nội minh và Ngoại minh. Trong Ngũ minh, 4 minh trước (Thanh minh, Công xảo minh, Y phương minh, Nhân minh)là Ngoại minh, minh thứ 5 là Nội minh. Trong Phật giáo, 3 tạng kinh điển là Nội minh; Bà la môn giáo thì lấy 4 luận Phệ đà làm Nội minh. [X. Đại đường tây vực kí Q.2]. (xt. Ngũ Minh).

nội ngoại mạn đồ la

(內外曼荼羅) Nội tâm mạn đồ la và Ngoại tướng mạn đồ la. Nội tâm mạn đồ la cũng gọi là Tâm trung mạn đồ la, Nội đàn, Tâm đàn. Ngoại tướng mạn đồ la cũng gọi là Tâm ngoại mạn đồ la, Ngoại đàn. Nội tâm mạn đồ la là Mạn đồ la bản địa do Đại nhật Như lai trụ ở cảnh giới tự chứng trong tâm mà nói ra; Ngoại tướng mạn đồ la là Mạn đồ la gia trì ngoài tâm do Như lai trụ ở Tam muội Đẳng chí mà thị hiện ra. Ngoài ra, vị A xà lê tu hành đã đến trình độ thâm sâu, dùng sức quán tưởng mà vẽ ra Mạn đồ la bí mật của chư Phật và Thánh chúng ở trong tâm, gọi là Nội tâm mạn đồ la. Còn vị A xà lê với trình độ tu hành nông cạn, dùng tác pháp tạo lập Mạn đồ la sự nghiệp trong 7 ngày ở ngoài tâm, thì gọi là Ngoại tướng mạn đồ la. [X. phẩm Nhập bí mật mạn đồ la vị trong kinh Đại nhật Q.5; Đại nhật kinh sớ Q.16; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.54, phần cuối].

nội ngoại pháp

Bahyamdhyamaka (skt)—Các pháp bên trong và bên ngoài—External and internal dharmas. 1) Nội Pháp: Thế giới bên trong—Internal Dharmas or internal world. 2) Ngoại Pháp: Bahyabhava (skt)—Thế giới bên ngoài—External world—Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật dạy: “Phật tử muốn được thanh tịnh, phải tu tập bằng cách không chấp vào sự hiện hữu hay phi hiện hữu của ngoại pháp.”—In the Lankavatara Sutra, the Buddha taught: “Buddhists who want to be purified, must not cling to the existence or non-existence of an external world.”

nội ngoại tam giáo

(內外三教) Nội tam giáo và Ngoại tam giáo. Chỉ cho Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo ở Trung quốc. Chỉ cho Thần giáo, Nho giáo và Phật giáo tại Nhật bản.

nội ngoại xá

(內外舍) Nội xả và Ngoại xả(bỏ trong, bỏ ngoài). Nội là thân thể, Ngoại chỉ cho tài sản và danh vọng. Cả 2 thứ này đều có thể đem cho người khác, nên gọi là Nội ngoại xả. Tức Nội ngoại thí trong Thập thí mà Bồ tát thực hành. (xt. Thập Thí).

nội ngoại đạo

1) Nội giáo và ngoại giáo: Within and without the religion—Buddhists and non-Buddhists. 2) Ngoại đạo trong nội đạo: Heretics within the religion. ; (內外道) I. Nội Ngoại Đạo. Nội đạo và Ngoại đạo. Chỉ cho Phật giáo và tất cả giáo thuyết khác ngoài Phật giáo. II. Nội Ngoại Đạo. Chỉ cho ngoại đạo trong Phật giáo, như Độc tử bộ của Tiểu thừa và Phương quảng đạo nhân của Đại thừa. Cứ theo Tịnh danh huyền luận quyển 1 và Duy ma kinh nghĩa sớ quyển 1, thì Độc tử bộ tuy chủ trương 5 uẩn do 4 đại hòa hợp mà thành, nhưng chưa thể thâm nhập pháp quán Không vô ngã, mà còn chấp có ngã, có pháp. Và Phương quảng đạo nhân thì cho rằng tất cả pháp không sinh không diệt, không có chi hết; đây là 1 loại ác thủ không, hiểu lầm ý nghĩa chân thực của Không mà rơi vào Đoạn kiến. Tông nghĩa của 2 thứ ngoại đạo này tuy đều xuất phát từ Phật pháp nhưng đều có chỗ vọng chấp(1 chấp có, 1 chấp không) nên bị coi là Phụ Phật pháp ngoại đạo(Ngoại đạo bám vào Phật pháp). Duy ma kinh lược sớ thùy dụ kí quyển 9 (Đại 38, 826 thượng) nói: Trong Đại thừa thường nêu ra 4 nhà: Một là Tì đàm, hai là Độc tử, ba là Thành thực, bốn là Phương quảng đạo nhân, trong đó, Độc tử và Phương quảng là Phụ Phật pháp ngoại đạo, tự dùng trí thông minh, đọc kinh sách Phật mà sinh kiến chấp. [X. luận Đại trí độ Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.2].

nội ngã

Chấp thân tâm của mình bảo đó là thường hằng, ngược lại với ngoại ngã là chấp tự tại thiên ngoài thân, coi đó là vị chúa tể—The antaratman or ego within—One's own soul or self, in contrast with bahiratman (ngoại ngã/an external soul or personal or divine ruler). ; (內我) Đối lại: Ngoại ngã. Chỉ cho tự ngã, tức là cái chủ tể thường nhất, bất biến tồn tại trong thân tâm của chính mình và có công năng vận chuyển thân này. Phật giáo chủ trương các pháp vô ngã, cho nên phủ nhận sự tồn tại của Nội ngã và cho rằng kẻ chấp trước lí này là Nội ngã ngoại đạo, 1 trong 30 loại ngoại đạo.[X. Đại nhật kinh sớ Q.7]. (xt. Tam Thập Chủng Ngoại Đạo, Ngoại Ngã).

nội ngũ cổ ấn

(內五股印) Đối lại: Ngoại ngũ cổ ấn. Gọi đủ: Nội phược ngũ cổ ấn. Cũng gọi: Kim cương ấn. Ấn khế căn bản của bồ tát Kim cương thủ, vị chủ tôn của viện Kim cương thủ, trong Mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo. Ấn tướng là Hư tâm hợp chưởng(chắp 2 tay để rỗng ở giữa), 2 ngón áp út của tay trái và tay phải tréo vào nhau trong lòng bàn tay, 2 ngón cái, 2 ngón giữa, 2 ngón út đều dựng đứng và sát vào nhau, 2 ngón trỏ hơi co lại để ở lưng 2 ngón giữa và tách rời nhau. [X. phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật Q.4, phẩm Cúng dường nghi thức kinh Đại nhật Q.7; Đại nhật kinh sớ Q.13] (xt. Ngũ Cổ Ấn).

nội ngũ pháp

(內五法) Cũng gọi Nội ngũ sự. Năm pháp phát sinh từ trong nội tâm. Theo kinh Nan đề thích thì 5 pháp ấy là: 1. Bỏ ý không tin: Đối với giáo pháp của Như lai, đệ tử Phật phải thường giữ ý chính tín, thì có thể từ đó mà vào vô lượng pháp môn; nếu có ý không tin nảy sinh thì phải trừ diệt ngay. 2. Bỏ hạnh nhơ nhớp: Đệ tử Phật phải giữ gìn giới pháp của Như lai, thường làm cho 3 nghiệp thân, khẩu, ý trong sạch, thì tất cả phiền não không làm nhiễm ô được, nếu có hành vi nhơ nhớp thì phải xả bỏ ngay.3. Bỏ tâm keo tham: Đệ tử Phật phải đem của cải và giáo pháp ban bố rộng rãi cho mọi người, thì có thể làm lợi ích cho tất cả; nếu có tâm keo tham thì phải diệt trừ ngay. 4. Bỏ tâm ngu si: Đệ tử Phật dùng tâm trítuệ để soi tỏ các pháp, thông suốt vô ngại, không để bị phiền não và nghiệp ác che lấp; nếu có tâm ngu si thì phải trừ diệt ngay.5. Phải học rộng nghe nhiều: Đệ tử Phật thường phải gần gũi bạn tốt, đối với các pháp phải học rộng nghe nhiều, thấu suốt nghĩa lí; nếu xa rời thiện tri thức, thì học vấn không được mở rộng, nghe hiểu ít ỏi, không có chỗ khai ngộ, đối với các hạnh không thể tiến tu.

Nội nhiệt

內熱; hay Nội hoả; T: tumo [gtum-mo]; S: caṇḍa, caṇḍalī;|Một trong sáu phép tu của Na-rô-pa (t: nāropa), được gọi là Na-rô lục pháp (t: nāro chodrug) tại Tây Tạng. Nhờ kiểm soát hơi thở, chú tâm vào các Trung khu (s: cakra) và tập trung vào linh ảnh của một số âm ngữ như RAṂ hoặc RAṂ (Man-tra), hành giả có thể nâng thân nhiệt lên tới mức hầu như »ngồi trong lửa.« |Phương pháp này thật ra xuất phát từ Du-già (yoga) Ấn Ðộ nhưng được phổ biến mạnh tại Tây Tạng vì, một phần nhằm đạt giác ngộ, phần khác nhằm chống lạnh.

nội nhân ngoại duyên

(內因外緣) Cũng gọi Thân nhân sơ duyên. Nhân trong duyên ngoài. Phàm là nguyên nhân bên trong trực tiếp sinh ra kết quả, gọi là Nội nhân; những nguyên nhân bên ngoài gián tiếp giúp đỡ để hình thành kết quả, thì gọi là Ngoại duyên. Như khi thụ sinh, lấy nghiệp thức của chính mình làm nội nhân và lấy tinh huyết của cha mẹ làm ngoại duyên. Còn trong môn Tịnh độ, nói 1 cách tương đối thì lấy bản nguyện của Phật làm ngoại duyên và lấy 2 hạnh định, tán hoặc tín tâm chân thực làm nội nhân vãng sinh. [X. luận Nhập a tì đạt ma Q.hạ; luận Thành duy thức Q.8; Tự phần nghĩa Quán kinh sớ; Quán kinh huyền nghĩa phần truyền thông kí Q.3]. (xt. Nhân Quả, Nhân Duyên).

Nội phàm

内凡; C: nèifán; J: naibon;|Giai vị cao của hàng đệ tử phàm (chưa xuất gia); ngược lại, người bên ngoài chưa ngộ chính lí gọi là Ngoại phàm (外凡). Theo Tiểu thừa, giai vị nầy được gọi là Tứ thiện căn vị (四善根位). Đại thừa gọi là Tam hiền vị (三賢位).

nội phàm

See Phàm Phu (2) (a). ; (內凡) Đối lại: Ngoại phàm. Một trong những giai vị dưới Kiến đạo. Người tu hành Phật đạo, đối với chính lí đã phát được trí hiểu biết tương tự, gọi là Ấn Nội Ngũ Cổ Nội phàm; người chưa phát được trí hiểu biết tương tự thì gọi là Ngoại phàm. Tiểu thừa lấy giai vị Tam hiền (Ngũ đình tâm, Biệt tướng niệm xứ, Tổng tướng niệm xứ)làm Ngoại phàm, còn lấy giai vị Tứ thiện căn (Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất pháp) làm Nội phàm. Đại thừa lấy giai vị Thập tín phục nhẫn làmNgoại phàm và lấy giai vị Tam hiền(Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng)làm Nội phàm. Tông Thiên thai đem 4 giáo phối hợp với các giai vị, mỗi giáo đều khác nhau. Tạng giáo được phối hợp với giai vị Tứ thiện căn: Noãn, Đính, Nhẫn và Thế đệ nhất pháp; Thông giáo được phối với Tính địa trong Đại phẩm thập địa; Biệt giáo được phối với 30 giai vị: Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng trong 52 giai vị; Viên giáo được phối với Tương tự tức trong Lục tức.[X. phẩm Trí tướng trong luận Thành thực Q.15; Đại thừa nghĩa chương Q.17, 18; Tứ giáo nghĩa Q.2, 4, 5; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1, phần 5; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng, hạ].

nội pháp

Buddhism, in contrast with other religions (Ngoại pháp). ; (內法) Cũng gọi Nội giáo, Nội đạo, Nội học, Nội minh. Chỉ cho Phật pháp.

nội phật

(內佛) Cũng gọi Trì Phật. Tức thờ đức Phật bản tôn ở chính giữa bàn Phật, còn 2 bên hoặc ở dưới thờ bài vị của tổ tiên nhiều đời của gia đình.

nội phọc quyền

(內縛拳) Cũng gọi Nhị thủ quyền, Nội chưởng quyền. Quyền ấn thứ 4 trong 6 quyền ấn. Tướng ấn là: Nắm 2 tay, 10 ngón giao nhau trong lòng bàn tay. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13]. (xt. Lục Chủng Quyền Ấn).

nội quyến thuộc

(內眷屬) Đối lại: Đại quyến thuộc, Ngoại quyến thuộc. Quyến thuộc bên trong. Tức là những vị thường theo hầu bên cạnh chư Phật. Trái lại, những vị giúp đỡ việc giáo hóa lớn lao bên ngoài thì gọi là Đại quyến thuộc. Như khi đức Thích ca tu khổ hạnh thì có 5 người theo hầu, khi đắc đạo thì Di hỉ, La đà, Tu na sát đa la, A nan, lực sĩ Mật tích... là những Nội quyến thuộc của Ngài; còn các bậc Thánh như Xá lợi phất, Mục kiền liên, Ma ha Ca diếp, Tu bồ đề, Văn thù sư lợi, Di lặc... thì là những vị Đại quyến thuộc. Ngoài ra, trong Mật giáo, đức Đại nhật Như lai lấy 19 vị Chấp kim cương như Hư không vô cấu Chấp kim cương... làm Nội quyến thuộc, lấy 4 vị Bồ tát như Văn thù, Phổ hiền... làm Đại quyến thuộc của Ngài. Còn ngài Thiện đạo thì lấy hàng xuất gia làm Nội quyến thuộc, hàng tại gia làm Ngoại quyến thuộc; lấy đệ tử Phật làm Nội quyến thuộc và lấy chú, bác của đức Phật làm Ngoại quyến thuộc. [X. phẩm Tựa trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.1; luận Đại trí độ Q.33; Đại nhật kinh sớ Q.1; Tự phần nghĩa trong Quán Vô lượng thọ kinh sớ].

nội quán

(內觀) Phạm: Vipazyanà. Hán âm: Tì bà xá na, Tì bà già na. Sự quán xét không hướng ra bên ngoài để tìm cầu mà lắng sâu và tỉnh thức từ bên trong, khiến cho nội tâm hướng tới chân lí. Đây là sự tu hành thực tiễn và phổ thông trong Phật giáo. Nội quán cùng với các từ ngữ như tu quán, quán tâm, quán niệm, quán tưởng, quán hành... đại khái giống nhau, nhưng thực chất thì có điểm khác nhau. Quán nguyên ý là buộc tâm vào 1 đối tượng duy nhất, dùng trí tuệ quán xét đối tượng ấy hầu đạt đến khai ngộ. Theo kinh Đại bát niết bàn quyển 30 (bản Bắc) thì Tì bà xá na (nội quán) được gọi là Chính kiến, Liễu kiến, Năng kiến, Biến kiến, Thứ đệ kiến, Biệt tướng kiến, tức chỉ cho tuệ. [X. luận Đại thừa khởi tín; luận Tịnh độ Q.hạ; Tịnh độ luận chú Q.hạ; Đại thừa nghĩa chương Q.10].

nội sứ

The clerk or writer of petitions.

nội thai

Bên trong thai tạng giới hay là tám vật trong tám cánh hoa ở trung tâm của mạn đà la—The inner Garbhadhatu or the eight objects in the eight leaves in the central group of the mandala. ; (內胎) Chỉ cho viện Trung đài bát diệp ở chính giữa Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Đại nhật kinh sớ quyển 14 (Đại 39, 727 thượng) nói: Đầu là Nội thai, từ tim trở lên là viện thứ nhất, từ rốn trở lên là viện thứ hai và từ rốn trở xuống là viện thứ ba.

nội thức

Tâm thức đối với ngoại cảnh—Internal perception.

nội trai

(內齋) Trai soạn được thiết trí trong cung vua. Tại Trung quốc, vào ngày sinh nhật của Hoàng đế, các bậc cao tăng được triệu thỉnh vào nội điện thụ trai để cầu phúc thọ cho vua. Phong tục này khởi đầu từ đời Hậu Ngụy. [X. Đại tống tăng sử lược].

nội triền

Inner tangle (network of craving).

nội trần

Sắc, thanh, hương, vị, xúc đối với ngũ căn là ngoại trần, còn pháp sanh diệt đối với ý căn là nội trần, cũng gọi là pháp trần. ; Antar-guna or Antar-alambana (skt)—Inner mental objects—Nội trần là những pháp sở duyên với ý thức (mind consciousness), còn pháp sở duyên với năm thức là ngoại trần—The inner six gunas (the inner dusts), associated with mind, in contrast with the other five gunas, qualities or attributes of the visible, audible, etc. ; (內塵) Đối lại: Ngoại trần. Trần (bụi) bên trong. Trong 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp)thì 5 trần trước là đối tượng của 5 thức trước (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) duyên theo, gọi là Ngoại trần(bụi bặm bên ngoài), còn Pháp trần là đối tượng của ý thức duyên theo; vì duyên theo ở bên trong, nên gọi là Nội trần.

nội trận

Phần trước bàn thờ nơi chư Tăng ngồi làm lễ—The inner ranks, the part of the altar where the monks sit. ; (內陣) Cũng gọi Nội trần. Đối lại: Ngoại trận. Chỉ cho chỗ chính giữa của Phật đường hoặc của bức tranh biến tướng, nơi đặt tượng bản tôn. Bên ngoài nơi này trở ra gọi là Ngoại trận. Lại nữa, chỗ ngồi của chúng tăng ở trong điện Phật cũng chia ra nội và ngoại, phía trong là Nội trận, phía ngoài là Ngoại trận. (xt. Ngoại Trận).

Nội trị

(內治): có mấy nghĩa. (1) Xưa kia chỉ cho việc tiến hành giáo dục đối với phụ nữ. (2) Chính trị trong nước. Như trong Quản Tử (管子), phần Bát Quán (八觀), có đoạn: “Hào kiệt thôn nhân, bất vụ kiệt năng, tắc nội trị bất biệt hỉ (豪桀材人、不務竭能、則內治不別矣, người hào kiệt trong thôn, không siêng năng tận hết năng lực, thì chính trị trong nước chẳng gì khác lạ cả).” (3) Chỉ việc nhà. Như trong bài Tiên Du Huyện Thái Quân La Thị Mộ Chí Minh (仙游縣太君羅氏墓志銘) của Vương An Thạch (王安石, 1021-1086) nhà Tống có câu: “Kinh kỷ nội trị, năng cần bất giải (經紀內治、能勤不懈, chăm lo việc nhà, siêng năng không biếng).” (4) Tu thân, hứa hẹn sửa đổi tự thân. Như trong Liệt Nữ Truyện (列女傳), phần Hữu Ngu Nhị Phi (有虞二妃), của Lưu Hướng (劉向, 77-6 ttl.) nhà Hán có đoạn: “Mẫu tằng Thuấn nhi ái Tượng, Thuấn do nội trị, mĩ hữu gian ý (母憎舜而愛象、舜猶內治、靡有姦意, mẹ ghét Thuấn mà thương Tượng, Thuấn còn biết tu thân, không có ý gian xảo).”

nội tâm

Insight—The mind or heart within. ; (內心) Tâm bên trong. Vì đối lại với ngoại hình nên gọi là Nội tâm. Kinh Chính pháp niệm xứ quyển 2 (Đại 17, 7 hạ) nói: Nội tâm suy nghĩ thuận theo chính pháp.

nội tâm mạn đà la

Bí Mật Mạn Đà La—Mạn Đà La trung tâm trong kinh Đại Nhựt hay là Trung Tòa trong Kim Cang Liên Hoa Giới—The central heart madala of the Vairocana Sutra, or the central throne in the diamond realm lotus.

nội tình

Hoàn cảnh hay tình hình bên trong—Internal situation.

nội túc thực

Thực phẩm dành cho các vị Tỳ Kheo, để qua một đêm trong phòng thì gọi là nội túc thực, do đó là một trong những món ăn bất tịnh, Tỳ Kheo không được ăn—Food that has been kept overnight in a monastic bedroom and is therefore one of the unclean foods. ; (內宿食) Chỉ cho thức ăn để trong phòng của tỉ khưu qua 1 đêm, là vật bất tịnh, tỉ khưu không được ăn.

nội tề

See Nội Tự.

nội tứ cung dưỡng

(內四供養) Cũng gọi: Nội tứ cúng, Nội cúng dường, Nội cúng. Đối lại: Ngoại tứ cúng dường. Bốn cúng dường ở viện trong. Tức chỉ cho 4 bồ tát Hí, Man, Ca, Vũ ở 4 góc của viện Kim cương luân trong Mạn đồ la Kim cương giới, Mật giáo. Bốn vị Bồ tát này là từ trong tâm của đức Đại nhật Như lai ở trung ương lưu xuất để cúng dường 4 đức Phật. Theo Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu, thì bồ tát Kim cương Hí cúng dường đức Phật A súc (Bất động)ở phương đông; bồ tát Kim cương Man cúng dường đức Phật Bảo sinh ở phương nam; bồ tát Kim cương Ca cúng dường đức Phật A di đà ở phương tây; bồ tát Kim cương Vũ cúng dường đức Phật Bất không thành tựu ở phương bắc. Bốn vị Bồ tát này ở trong nguyệt luân bên trái Mạn đồ la của 4 đức Phật. Theo Bí tạng kí thì bồ tát Kim cương Hí mình màu đen; bồ tát Kim cương Man thân màu vàng lợt; bồ tát Kim cương Ca màu da người và bồ tát Kim cương Vũ màu xanh. Đây là pháp tắc chung của hình tượng 4 bồ tát Cúng dường trong Hiện đồ Mạn đồ la. Nhưng Mạn đồ la của hội Lí thú thì theo thuyết của kinh Tối thượng căn bản đại lạc kim cương bất không tam muội đại giáo vương quyển 3 mà đặt Nội tứ cúng ở Ngoại viện.[X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2]. (xt. Ngoại Tứ Cúng Dường).

nội tự

Nội Đạo Tràng—Tháp Phật hay tự viện trong cung, nơi chư Tăng tề tựu về hành lễ trong ngày sanh nhật của nhà vua—The Buddhist shrines or temples in the palace where Buddhist ceremonies in the palace on the emperor's birthday.

nội viện

Thiện pháp đường hay nội đường của cung Trời Đâu Suất, nơi Phật Di Lặc ngồi thuyết giảng—The inner court of the Tusita heaven, where Maitreya dwells and preaches. ; (內院) Viện trong, 1 trong 2 viện ở trên cung trời Đâu suất. Trời Đâu suất là tầng trời thứ 4 trong 6 tầng trời của cõi Dục; tầng trời này có Nội viện và Ngoại viện. Nội viện gọi là Thiện pháp đường, do thần Lao độ bạt đề kiến tạo, là nơi ở của bồ tát Bổ xứ Di lặc, chư Thiên thường đến đây nghe Bồ tát thuyết pháp. [X. kinh Quán Di lặc thướng sinh Đâu suất thiên; kinh Phổ diệu Q.1]. (xt. Đâu Suất Thiên).

nội vô vi

Inner quiescence.

nội xá

(內舍) Bỏ bên trong, tức xả bỏ nhục thân của mình để bố thí cho người. Là Nội thí trong Thập thí của Bồ tát. Quán Vô lượng thọ kinh sớ quyển 4 (Đại 37, 273 hạ) nói: Lại nghĩ về giới của chư Phật, nghĩ về chư Phật quá khứ, các Bồ tát ở hiện tại... thường làm những việc khó làm, bỏ được những cái khó bỏ, bỏ trong, bỏ ngoài, trong ngoài đều bỏ. Các vị Bồ tát ấy, chỉ nghĩ đến pháp, chứ không tiếc thân mệnh và tài sản. (xt. Thập Thí).

nội y

xem ba tấm pháp y. ; Antaravasaka (skt)—Một trong ba loại y mà chư Tăng Ni thường mặc bên trong—One of the three regulation garments of a monk—The inner garment.

nội điển

Giáo điển của Phật—Buddhist scriptures. ; (內典) Cũng gọi Nội kinh, Nội giáo. Chỉ cho kinh luật luận và các sách vở của Phật giáo. Trái lại, các sách vở ngoài Phật giáo thì gọi là Ngoại điển. Luận Nhị giáo của ngài Đạo an (Đại 52, 136 hạ) nói: Giáo pháp cứu hình gọi là Ngoại giáo, kinh điển tế thần thì gọi là Nội điển. Từ Nội điển được dùng làm tên sách thì có: Nội điển bác yếu của Ngu hiếu kính đời Lương thuộc Nam triều; Đại đường nội điển lục của ngài Đạo tuyên đời Đường... [X. Bách luận sớ Q.trung, phần cuối; Quảng hoằng minh tập Q.19, 22; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.14; Hoa nghiêm nguyên nhân luận giải Q.thượng].

nội điển lục

(內典錄) Gọi đủ: Đại đường nội điển lục. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Đạo tuyên soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 55. (xt. Đại Đường Nội Điển Lục).

nội điển trần lộ chương

(內典塵露章) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Ngưng nhiên, người Nhật bản soạn, được thu vào Đại Nhật bản Phật giáo toàn thư quyển 3. Nội dung sách này nói đại khái về giáo nghĩa của 10 tông phái Phật giáo Nhật bản (6 tông Nam đô và 4 tông Thiên thai, Chân ngôn, Tịnh độ và Thiền). Sách này và Bát tông cương yếu đều là các sách nhập môn quan trọng của Phật giáo.

nội đạo

(內道) Đối lại: Ngoại đạo. Để đối lại với các giáo môn khác, Phật giáo gọi giáo pháp của mình là Nội đạo. Về vấn đề phân biệt Nội đạo và Ngoại đạo có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 17 (bản Bắc) thì đạo có 2 loại là Thường và Vô thường. Đạo của Nội đạo gọi là Thường, đạo của Ngoại đạo gọi là Vô thường. Cũng kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 35 nói rằng Phật tính tức là Nội đạo, vì Bồ tát dù tu tập ngoại đạo trong vô lượng kiếp, nhưng nếu lìa nội đạo thì không thể thành Vô thượng chính đẳng chính giác. Lại theo luận Nhị giáo của ngài Đạo an thì giáo pháp cứu thân hình gọi là Ngoại, giáo pháp cứu tinh thần gọi là Nội; Phật giáo là Nội, Nho giáo là Ngoại. Thông thường, Phật giáo dùng 3 pháp ấn các hành vô thường, các pháp vô ngã, Niết bàn tịch tĩnh để phân biệt Nội đạo và Ngoại đạo. Tuy nhiên, Đại thừa vô tướng thì không hạn cuộc ở trong thuyết này, như Thập nhị môn luận sớ cho rằng đạo không nội, ngoại, tùy theo đạo của người thực hành mà phân biệt nội, ngoại; tức đứng trên lập trường Trung đạo thì không chấp trước tướng sai biệt nội ngoại, nhất dị.

nội đạo tràng

See Nội Tự.

nội đạo trường

(內道場) Cũng gọi Nội tự. Chỉ cho đạo tràng của Đại nội, tức là nơi tu hành Phật đạo được thiết lập trong cung vua. Về niên đại loại đạo tràng này bắt đầu được thiết lập thì có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo điều Đế kỉ thứ 9 trong Tấn thư, vào năm Thái nguyên thứ 6 (381) đời Hiếu vũ đế nhà Đông Tấn, vua xây cất tinh xá trong cung, thỉnh các vị sa môn vào làm các Phật sự. Theo điều Lương thiên giám thập lục niên (517) trong Phật tổ thống kỉ quyển 37, Lương vũ đế sắc lệnh sa môn Tuệ siêu làm Thọ quang điện học sĩ, triệu chúng tăng vào ở trong cung cấm giảng luận Pháp tập, giải thích kinh văn (dưới điều này ghi chú rằng: Đây là Nội đạo tràng đầu tiên). Còn theo Đại Tống tăng sử lược quyển trung thì Nội đạo tràng bắt đầu từ đời Hậu Ngụy, đến thời Dượng đế nhà Tùy mới có tên là Nội đạo tràng. Đại Tống tăng sử lược quyển trung cũng cho rằng, Vũ tắc thiên nhà Đường từng thiết lập Nội đạo tràng trong cung ở Lạc dương, đến các Hoàng đế Trung tông, Duệ tông vẫn giữ nguyên. Thời Đại tông thường triệu hơn trăm vị tăng vào cung thiết trí bàn thờ Phật để tụng niệm kinh điển và gọi là Nội đạo tràng. Tóm lại, Nội đạo tràng bắt đầu được thiết lập từ đời Đông Tấn trải qua các đời Tùy, Đường, Bắc Tống, đến đời Nam Tống thì được đặt dưới sự quản chưởng của viện Truyền pháp. [X. điều Bắc Tề thiên thống nguyên niên trong Phật tổ lịch đại thông tải Q.11; truyện Nghĩa tịnh trong Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Phật tổ thống kỉ Q.43; Tục cao tăng truyện Q.12; Đại đường trinh nguyên tục khai nguyên thích giáo lục Q.thượng; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.13; Cảnh đức truyền đăng lục Q.4; Đường thư liệt truyện 70].

nội đẳng tịnh

(內等淨) Gọi tắt: Nội tịnh. Chỉ cho chi thứ nhất trong 4 chi thuộc Đệ nhị tĩnh lự. Chi này lấy Tín căn làm thể. Luận Câu xá quyển 28 nêu ra 2 thuyết về Nội đẳng tịnh: 1. Thuyết của các dị sư thuộc Hữu bộ: Đệ nhị tĩnh lự xa lìa sự khởi động của Tầm, Tứ, biến chuyển liên tục và thanh tịnh. Trái lại, nếu có Tầm, Tứ khởi động thì chuyển biến liên tục và không thanh tịnh, như trong sông có sóng thì dòng nước không tĩnh lặng. 2. Thuyết của các sư chính thống thuộc Hữu bộ: Nội đẳng tịnh lấy Tín căn làm thể, chứng được Đệ nhị tĩnh lự thì xa lìa sự ô nhiễm của Sơ định mà phát sinh niềm tin đối với định địa, xa lìa sự thô động bên ngoài, chuyển biến bên trong, niệm trước niệm sau nối nhau liên tục. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.19; luận A tì đạt ma tập Q.9; Pháp giới thứ đệ Q.thượng].

nới

To loosen.

nới rộng

To broaden.

nợ lút đầu

Deep in debt—Sunk in debt.

nợ nhà

Duty towards one's family

nợ nước

Duty towards one's country

nợ nần

Dents.

nợ đời

Debt of nature.

nức danh

Very famous.

nức lòng

Enthusiastic.

nứt

A crack.

nửa

Half.

nửa chín nửa sống

Half-cooked.

nửa thức nửa ngủ

Drowsy

nửa tỉnh nửa mê

Semi-consciousness

nửa tối nửa sáng

Half-light

nửa đùa nửa thật

Half in jest, half in earnest

nửa đường

Half way.

nữ

Woman—Female.

nữ bịnh

1) Người nữ như một căn bệnh: Woman as a disease. 2) Bệnh của người nữ: Bệnh đàn bà—Feminine disease.

nữ căn

bộ phận sanh dục nữ. ; Yoni (skt)—Bộ phận sinh dục của người nữ—The female sex-organ. ; (女根) Phạm: Strìndriya#. Chỉ cho cơ quan sinh dục của phái nữ, 1 trong 22 căn, 1 trong Ngũ tác căn. Cứ theo luận Du già sư địa thì trong 3 cõi, chỉ người cõi Dục mới có căn này, còn người cõi Sắc và cõi Vô sắc thì đều không có. (xt. Nhị Thập Nhị Căn).

nữ cư sĩ

Upasika (skt)—Nữ Phật tử tại gia phụng sự Phật giáo mà không trở thành ni cô—Laywomen—A lay woman who devotes herself to Buddhism at home without becoming a nun.

nữ hạnh

Feminine virtue.

nữ kiệt

Heroine.

Nữ Ngự

(女御, Nyogo): (1) Tên gọi của vị nữ quan có chức vị quan nhất trong số những người hầu tại tẩm cung của Thiên Hoàng; từ thời Bình An trở đi, cũng có trường hợp vị Nữ Ngự này được lập lên làm Hoàng Hậu. (2) Vợ của Thượng Hoàng hay Hoàng Thái Tử.

nữ nhân

1) Người nữ: Woman. 2) Theo Kinh Niết Bàn thì Phật nói đó là nơi cư trú của chư ác: According to the Nirvana Sutra, the Buddha described Woman as the “abode of all evil.”

nữ nhân bái

Lối chào của người nữ—A woman's salutation, greeting, or obeisance: 1) Đứng vái: performed by standing. 2) Nhún gối: Bending the knees. 3) Để hai tay trước ngực và hơi cúi mình: Putting hands together before the breast and bending the body. ; (女人拜) Cách lễ bái của người nữ. Tại Trung quốc từ xưa đến nay, cách lễ bái của người nữ phần nhiều là đứng mà vái, hoặc 2 tay để trước ngực, hơi cúi mình, hoặc 2 đầu gối quì trên đất mà không cúi đầu. Chương Nam Tuyền Phổ nguyện trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 8 (Đại 51, 258 thượng) ghi: Sư và các ngài Qui tông, Ma cốc cùng đi tham lễ Quốc sư Nam dương, sư vẽ 1 vòng tròn trên đường rồi bảo: Hễ nói được thì đi!. Ngài Qui tông liền vào ngồi ở giữa vòng tròn, còn ngài Ma cốc thì đứng vái như người nữ(Nữ nhân bái). Sư nói: Vậy thì không đi nữa!.

nữ nhân bát dục

Tám loại mà người nữ ưa thích—The eight feminine attractions: 1) Sáu dục đầu cũng giống như trong Nữ Nhân Lục Dục—See Nữ Nhân Lục Dục—From one to six are the same to that of the Six Feminine Attractions. 7) Tế hoạt dục: Attraction to Refinement. 8) Nhân tướng dục: attraction to Appearance.

nữ nhân cấm chế

Tại một vài nơi thờ phượng có bảng cấm Phụ nữ đến—“Women forbidden to approach,” a sign placed on certain altars. ; (女人禁制) Điều qui định ngăn cấm người nữ đi vào đạo tràng. Vì đối với sự tu hành của chúng tăng, nữ tính thường hay làm chướng ngại nên cấm người nữ vào đạo tràng. Trong các kinh rất nhiều chỗ ghi người nữ có các chướng ngại bất lợi cho việc tu hành, vì thế qui định chư tăng không được gần gũi nữ giới. Ở Trung quốc và Nhật bản đều có qui định cấm phụ nữ không được vào phòng của chúng tăng. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.27; kinh Siêu nhật minh tam muội Q.hạ; kinh Nguyệt đăng tam muội Q.7; luận Đại trí độ Q.14].

nữ nhân lục dục

Sáu loại dục mà người nữ ưa thích—The six feminine attractions: 1) Sắc dục: Attraction to Colour. 2) Hình mạo dục: Attraction to Looks. 3) Uy nghi dục: Attraction to Style. 4) Ngôn ngữ dục: Attraction to Talk. 5) Âm thanh dục: Attraction to Voice. 6) Hình thái dục: Attraction to Carriage.

nữ nhân quyến thuộc luận sư

Một trong 20 phái ngoại đạo cho rằng Ma Hê Thủ La Thiên tạo ra người nữ đầu tiên, rồi vị nầy sanh ra hết thảy chúng sanh—One of the twenty heretical sects, who held that Mahesvara created the first woman, who begot all creatures. ; (女人眷屬論師) Một trong 20 loại ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa.Ngoại đạo này cho rằng 8 người con gái do trời Ma hê thủ la sinh ra là thực tại thường trụ và là những người sáng tạo ra vũ trụ vạn hữu. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 8 thì ngoại đạo Đại tự tại thiên chủ trương, từ nơi tâm của Đại phạm thiên vương sinh ra 8 người con, rồi lại từ 8 người con ấy mà sinh ra trời đất, muôn vật. Những ngoại đạonày cho rằng Phạm thiên, Na la diên và Ma hê thủ la là 3 phần 1 thể, cho nên từPhạm thiên sinh ra 8 con, từ Ma hê thủ la sinh ra 8 con gái. Tám người con gái này là: A đề trí (Phạm:Aditi); Đề trí (Phạm: Diti); Tô la sa (Phạm: Surasà); Tì na đa (Phạm:Vinatà), Ca tì la (Phạm: Kapilà), Ma nâu (Phạm:Manu); I la (Phạm:Ila) và Ca đầu Phạm:Kadrù). Lại theo thứ tự sinh ra các trời, a tu la, rồng, chim, loài 4 chân, người, ngũ cốc, rắn, rết, muỗi, mòng và các loài côn trùng... Thuyết này là dựa trên cơ sở của thuyết Thiên địa sáng tạo trong 2 tác phẩm Sử thi lớn của Ấn độ cổ đại là Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata) và La ma da na (Phạm: Ràmàyaịa). Ngoài ra, theo luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn, thì các Luận sư Ma hê thủ la vọng chấp rằng hư không là đầu của Ma hê thủ la, đất là mình, nước là nước tiểu, núi là phân, tất cả chúng sinh là sâu bọ trong bụng... của Ma hê thủ la! [X. luận Đại trí độ Q.2, Epic Mythology by E.W. Hopkins].

nữ nhân vãng sanh nguyện

Lời nguyện thứ 35 trong 48 lời nguyện của Phật A Di Đà—The thirty-fifth vow of Amitabha Buddha—See Tứ Thập Bát Nguyện (35).

nữ nhân vãng sinh

(女人往生) Cũng gọi Nữ nhân thành Phật. Chỉ cho người nữ vãng sinh Tịnh độ hoặc chuyển thân nam mà thành Phật. Địa vị người nữ ở Ấn độ đời xưa rất thấp, bị cho là có 5 chướng không được làm Phạm thiên vương, Đế thích, Ma vương, Chuyển luân vương và Phật. Quan niệm này trái ngược với tư tưởng của Phật giáo Đại thừa chủ trương hết thảy chúng sinh đều có khả năng thành Phật, cho nên trong kinh mới có thuyết người nữ có thể chuyển thân nam mà thành Phật. Như con gái vua A xà thế là A thuật đạt, phát nguyện Bồ đề, chuyển thân nam mà được thụ kí thành Phật trong vị lai. Lại như con gái của trưởng giả Ưu ca nước La duyệt kì là nàng Tu ma đề, chuyển thân nữ làm sa di, được thụ kí thành Phật. Trong kinh Pháp hoa cũng có ghi chuyện Long nữ thành Phật. Về thuyết Nữ nhân vãng sinh thì trong kinh Vô lượng thọ có đề cập đến nguyện thứ 35 của đức Phật A di đà nói rằng: Nếu người nữ nghe danh hiệu Di đà mà vui mừng, tin nhận và phát nguyện vãng sinh Tịnh độ, thì có thể chuyển thành thân nam. Đây chính là căn cứ của thuyết Nữ nhân vãng sinh vậy. Lại kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn quyển 30 cũng có nói: Nếu tỉ khưu, tỉ khưu ni, tộc tính nam, tộc tính nữ... trì niệm chân ngôn tùy tâm cúng dường thì đều có thể sinh về Tịnh độ ở phương tây. Ngoài ra, trong kinh Quán Vô lượng thọ, phu nhân Vi đề hi là đối tượng chính được chỉ dạy về pháp môn Niệm Phật vãng sinh. [X. kinh Pháp hoa Q.5; kinh Vô lượng thọ Q.thượng; Pháp hoa văn cú Q.23]. (xt. Long Nữ Thành Phật).

nữ nhân vãng sinh nguyện

(女人往生願) Chỉ cho nguyện thứ 35 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà. Kinh Vô lượng thọ (Đại 12, 268 hạ) nói: Nếu tôi thành Phật, trong vô lượng bất khả tư nghị thế giới của chư Phật ở 10 phương, người nữ nào nghe danh hiệu của tôi mà vui mừng, tin ưa, phát tâm bồ đề, nhàm chán thân nữ, sau khi mệnh chung, lại làm thân nữ, thì tôi không ở ngôi chính giác.

nữ phạm

The woman offence—Sexual immortality on the part of a monk. ; (女犯) Chỉ cho vị tăng phạm giới với người nữ. Ngự truyện sao quyển thượng (Đại 83, 750 hạ) nói: Nếu như hành giả vì quả báo đời trước mà phạm giới dâm (nữ phạm) thì tôi thành thân ngọc nữ bị phạm, suốt đời trong trắng trang nghiêm, khi lâm chung dắt dẫn hành giả sinh về Cực lạc.

nữ quốc

Vương quốc Nữ nơi chánh quyền Mẫu Hệ chiếm ưu thế—The woman-kingdom, where matriarchal government is said to have prevailed.

nữ sắc

Woman beauty. 1) Đức Phật dạy nữ sắc là một chuỗi phiền não, một tai ương phiền muộn.”—The Buddha said: “Woman beauty is a chain of serious delusion, a grievous calamity.” 2) Theo Trí Độ Luận, thà dùng sắt nóng đốt cháy đôi mắt còn hơn là ngắm nhìn người nữ với trái tim rung động—According to the sastra on the Prajna-Paramita-Sutra, it is better to burn out the eyes with a red-hot iron than behold woman with unsteady heart.

nữ thiên

Thiên nhân nữ tính trong Dục giới; tuy nhiên, không có nữ thiên trong cõi sắc và vô sắc—Female devas in the desire realm; however, there are no female devas in the realms of form and formlessness.

nữ thần

Goddess.

nữ toả

(女鎖) Tỏa là cái khóa. Nữ tỏa chỉ cho nữ sắc. Vì nhan sắc của người nữ giống như gông cùm, xiềng xích, trói buộc con người, khiến họ say đắm khó gỡ ra được. Luận Đại trí độ quyển 14 (Đại 25, 166 thượng) nói: Xiềng xích người nữ trói buộc, gốc nhiễm bền chắc sâu đậm; kẻ không có trí chìm đắm, khó có thể thoát ra được.

nữ tình

Sexual desire.

nữ tính

Femaleness.

nữ tăng

Ni Cô hay Ni Sư—A Nun or Bhiksuni.

nữ tặc

According to the Sastra on the Prajna-Paramita Sutra, woman as a robber, the cause of sexual passion, stealing away the riches of religion. ; (女賊) Giặc đàn bà. Người nữ là nguồn gốc của ái chấp, hay cướp pháp tài, chướng ngại tâm người cầu đạo, cho nên dùng giặc để ví dụ. Luận Đại trí độ quyển 14 (Đại 25, 166 thượng) nói: Cầm gươm đánh địch, có thể chiến thắng; giặc nữ hại người, không thể chống cự.

nữ tử lục dục

(女子六欲) Chỉ cho 6 thứ dục vọng mà người nữ mong cầu. Đó là: Sắc dục, Hình mạo dục, Uy nghi dục, Tư thái dục, Ngôn ngữ dục và Tế hoạt dục. [X. luận Đại trí độ Q.22; Ma ha chỉ quán Q.6, phần 1].

nữ tử ngũ chướng

(女子五障) Năm điều chướng ngại của người nữ. Theo kinh Pháp hoa quyển 4 thì 5 chướng ấy là: 1. Không được làm Phạm thiên vương: Phạm thiên ở nhân vị (giai vị tu nhân)tu trì thiện giới, được quả báo thù thắng mà làm Thiên vương, nếu thân người nữ đắm nhiễm dục ái thì không được làm Thiên vương. 2. Không được làm Đế thích: Trời Đế thích dũng mãnh, ít tham muốn, giữ gìn thiện giới, được quả báo làm Thiên chủ. Nếu người nữ tạp nhiễm, đa dục, thì không làm được Đế thích. 3. Không được làm Ma vương: Ma vương ở nhân vị đầy đủ 10 điều thiện, tôn kính Tam bảo, hiếu dưỡng cha mẹ, được quả báo sinh lên cõi trời Tha hóa tự tại làm Ma vương. Nếu người nữ kiêu mạn ghen ghét, không theo chính hạnh, thì không được làm Ma vương. 4. Không được làm Chuyển luân thánh vương: Chuyển luân thánh vương ở nhân vị tu hành Thập thiện, thương xót chúng sinh, được phúc báo làm Luân vương. Nếu người nữ không có hạnh từ bi thanh tịnh thì không được làm Luân vương. 5. Không được làm Phật: Như lai tu đạo Bồ tát, thương xót tất cả, tâm không nhiễm trước, nên được thành Phật. Nếu thân khẩu ý của người nữ bị dục tình trói buộc, thì không được làm Phật.

nữ tử xuất định

Chuyện nàng Ly-Ý nhập định Tam Muội ở gần tòa Phật mà ngài Văn Thù không thể đánh thức dậy được; người nầy chỉ có thể bị đánh thức dậy bởi một vị Bồ tát đã lột bỏ được ngũ uẩn và thành đạt giác ngộ Bồ Đề mà thôi—The story of a woman named Li-I who was so deeply in samadhi before the Buddha that Manjusri could not arouse her; she could only be aroused by a bodhisattva who has sloughed off the skandhas and attained enlightenment. ; (女子出定) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cứ theo kinh Chư Phật yếu tập quyển hạ, thủa xưa, nàng Li ý nữ vào thiền định trước đức Thế tôn, bồ tát Văn thù tuy là thầy của 7 đức Phật quá khứ, nhưng không thể ngồi gần đức Phật. Ngài Văn thù dùng thần lực khiến Li ý nữ xuất định để hỏi, nhưng không được. Còn bồ tát Võng minh (bồ tát Khí chư ấm cái) thì chỉ là bồ tát Sơ địa (Hoan hỉ địa) nhưng vừa khảy móng tay là Li ý nữ xuất định ngay. Thiền tông bèn dùng câu chuyện này làm công án tham cứu. Vì ngài Văn thù dùng kiến giải nam nữ sai khác muốn Li ý nữ xuất định nên không được; còn bồ tát Võng minh thì đứng trên cảnh Thiên địa nhất thể, khuếch nhiên vô thánh, cho nên chỉ khảy móng tay mà Li ý nữ đã xuất định. [X. kinh Chư Phật yếu tập Q.hạ, Ngũ đăng hội nguyên Q.1; Vô môn quan tắc 42].

nữ đức

A woman of virtue—Vua Tống Huy Tông đời nhà Tống (1102-1126 sau Tây Lịch) đã đổi danh từ “Ni” hay “Tỳ Kheo Ni” ra “Nữ Đức”—The emperor Hui-Tsung of the Sung dyansty (1101-1126 A.D.) changed the term “Nun” or “Bhiksuni” to “A woman of virtue.”

nữa

More.

nữu mạn

(紐曼) Neumann, Karl Eugen, 1865-1915 Nhà Ấn độ học và Phật học người Áo. Ông nghiên cứu tiếng Pàli rất sâu. Ông từng xuất bản tạng kinh tiếngPàli (Sutta Piỉaka) đã được dịch sang tiếng Đức như: Trường bộ, Trung bộ, Kinh tập (Die Reden des Gotamo Nonnen Gotamo Buddhos, 1899) và kinh Pháp cú (Der Wahrhcitspfad, 1893).

nực mùi

To exhale odour.

nựng nịu

To caress.

oa

1) Cái nồi: A pan. 2) Đôi vớ hay bí tất—Socks or stockings.

oa tạng

(oa tạng) Chỉ cho Đại tạng kinh của chùa Khoan vĩnh tại Đông kinh, in bằng hoạt tự bản (sắp từng chữ lại với nhau để in) vào thời Giang hộ, Nhật bản. Bản Đại tạng kinh này do ngài Thiên hải (giữ chức Tăng chính) phát nguyện hoàn thành, bắt đầu vào năm Khoan vĩnh 14 (1637) đến niên hiệu Khánh an năm đầu (1648) thì in xong, gồm 665 hòm, 6.323 quyển. Lối ấn loát hoạt tự bản từ Triều tiên truyền vào Nhật bản, cho nên trong thời gian các năm Khánh trường, Nguyên hòa và Khoan vĩnh đã có rất nhiều sách vở được in bằng hoạt tử bản, Đại tạng kinh cũng là 1 trong số đó. Tương truyền, Oa tạng lấy Đại tạng bản đời Tống được cất giữ ở viện Pháp kim cương tại Hoa viên Kinh đô (Kyoto) làm bản thảo, nhưng văn tự bị sai lầm rất nhiều. Năm Thiên hòa thứ 3 (1683), Mục lục Đại tạng kinh đời Minh lấy Oa tạng làm gốc để ấn hành, có ghi chú thêm về sự sai khác giữa số các hòm. Trong phần Duyên khởi khắc in của Đại tạng kinh bản Hoàng bá, cho rằng Nhật bản chưa từng ấn hành Đại tạng kinh, đó là điều sai lầm. Bởi vì các chùa gốc thuộc phai Bản nguyện tự, Bản quốc tự tại Kinh đô đều có cất giữ bản hoàn chỉnh của Oa tạng.

oa tử

(鍋子) Cái nồi dùng để nấu thức ăn, vật dụng rất cần thiết trong sinh hoạt hàng ngày. Thiền lâm thì dùng Oa tử để ví dụ sự vật cực kì quan trọng. Tắc 7 trong Bích nham lục (Đại 48, 199 trung) ghi: Ngài Bách trượng hỏi ngài Qui sơn: - Cổ họng và môi mép đều bỏ thì làm sao nói? Ngài Qui sơn thưa: - Thỉnh Hòa thượng nói đi! Ngài Bách trượng bảo: - Ta không từ chối nói với ông, chỉ sợ về sau làm hại con cháu của ta. Tuy ngài Bách trượng nói như thế, nhưng cái nồi (oa tử) đã bị kẻ khác cướp đi rồi.

oa đầu

Vị Tăng lo việc nấu nướng trong tự viện—The one who attends to the cooking-stove, etc., in a monastery. ; (鍋頭) Tên 1 chức vụ trong Thiền lâm, dưới chức Điển tọa, trông coi về các dụng cụ bếp núc như nồi niêu xoong chảo v.v... Môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên có chép bài kệ nhan đề: Đông sơn ngoại tập tống Oa đầu như sau: Bạch vân sinh xứ sơ sơn tự, Vô thủy vô sài thế đắc tri; Nhược vấn đạo nhân kim nhật sự, Mộc xà toản phá thiết oa nhi. Nghĩa đen: Chùa ở trên núi rất sơ sài, chỉ thấy mây trắng; củi nước đều không có. Nếu hỏi đạo nhân việc hôm nay, thì chỉ có con rắn gỗ đục thủng cái nồi sắt.

oai nghi

Đi, đứng, nằm, ngồi, mặc áo, ăn uống cho đến đi tiêu đi tiểu, đều giữ hình dáng an nhàn trang nghiêm, gọi là oai nghi. ; Majestic or demeanors—See Ba Ngàn Oai Nghi, and Tứ Chủng Oai Nghi.

oai nghi giới

(威儀戒): dùng phân biệt với tùng giới giới. Từ điển Phật Quang giải thích về hai danh xưng này như sau: 威儀戒,雖受戒,唯外現威儀,但為名利,欲受人尊敬。從戒戒,順從佛制,清淨三業,內外相稱,如實受持戒行。。 (Oai nghi giới, tuy thọ giới, tuy ngoại hiện oai nghi, đãn vị danh lợi, dục thọ nhân tôn kính. Tùng giới giới, thuận tùng Phật chế, thanh tịnh tam nghiệp, nội ngoại tương xứng, như thật thọ trì giới hạnh.) Nghĩa là: Giới oai nghi, tuy thọ giới, bên ngoài hiện tướng oai nghi, chỉ là vì danh lợi, muốn được người khác tôn kính. Giới vâng làm, thuận theo sự chế định của Phật, làm thanh tịnh ba nghiệp, trong ngoài đều tương xứng, thọ trì giới hạnh đúng thật.

oai quyền

Power—Authority.

oan

To oppress—Wrong—Enmity.

Oan gia

(冤[寃]家): kẻ cừu thù. Như trong tác phẩm Triều Dã Thiêm Tải (朝野僉載) của Trương Trạc (張鷟, khoảng 660-741) nhà Đường có đoạn: “Lương Giản Văn Vương chi sanh, Chí Công vị Võ Đế viết: 'Thử tử dữ oan gia đồng niên sanh' (梁簡文王之生、誌公謂武帝曰、此子與冤家同年生, khi Lương Giản Văn Vương [tại vị 549-551] sanh ra, Chí Công nói với Võ Đế rằng: 'Đứa bé này sanh cùng năm với kẻ thù').” Hay trong Diệu Pháp Thánh Niệm Xứ Kinh (妙法聖念處經, Taishō Vol. 17, No. 722) lại có đoạn: “Nhược nhân thiểu trí, hư vọng tạo tội, do thử luân chuyển, oan gia tụ hội, thọ Địa Ngục khổ (若人少智、虛妄造罪、由此輪轉、冤家聚會、受地獄苦, nếu người ít trí, hư dối tạo tội, do đây luân chuyển, thọ khổ Địa Ngục).” Hoặc trong Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toản Yếu Nghi Quỹ (瑜伽燄口註集纂要儀軌, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1084) quyển Hạ cũng có đoạn khác: “Vãng tích trái chủ dĩ tương phùng, câu mông giải thoát; tích kiếp oan gia nhi cọng hội, các toại tiêu diêu (往昔債主以相逢、俱蒙解脫、積劫冤家而共會、各遂逍遙, xưa kia chủ nợ từng gặp nhau, đều được giải thoát; muôn kiếp oan gia mà cùng gặp, thảy đều tiêu diêu).” Trong Đoạn Trường Tân Thanh cũng có câu rằng: “Làm chi tội báo oan gia, thiệt mình mà hại đến ta hay gì.”

oan thân

Sự thù hằn và thân hữu—Enmity and friendship.

oan thân bình đẳng tâm

Tâm bình đẳng không phân biệt thù bạn—A mind that knows neither enmity nor friendship, no discrimination of persons.

oan uổng

Injustice.

oan ức

Being the object of injustice.

oang oang

To speak loudly

om mani padme hum

Án ma ni bát di hồng, một nghi thức trì niệm của trường phái Lạt Ma. Mỗi chữ trong sáu chữ có uy lực cứu rỗi những chúng sanh trong các đường dữ—A formula of Lamaistic branch. Each of the six syllables having its own mystic power of salvation the lower paths of transmigration.

om sòm

Noisy.

oán

Resentment—Grievance—Hatred.

oán gia

See Oán Địch.

oán hận

Hatred.

oán kết

The knot of hatred.

oán linh

An avenging spirit or ghost. ; (怨靈) Cũng gọi Tử linh, Ác linh Vong linh ôm lòng oán hận và muốn trả thù. Người lúc còn sống mà ôm lòng oán hận và muốn trả thù, thì gọi là Sinh linh; người sau khi chết mà hiển hiện cái trạng huống ấy thì gọi là Tử linh. Như Dạ xoa, ác quỉ... thường hiện ra các tướng trạng làm cho người ta sợ hãi. Xưa người ta thường nhờ sự gia trì, cầu đảo để xua đuổi oán linh; tư tưởng này bắt đầu từ thời đại Ngụy Tấn. (xt. Ác Linh).

oán thân

Sự oán ghét và sự yêu thương là hai thái cực đối nghịch nhau—Hate and affection.

oán thân bình đẳng

(怨親平等) Cũng gọi Oan thân bình đẳng. Lấy đại từ bi làm gốc, đối với kẻ oán địch, tâm không ghét giận; với những cái mình ưa thích thì cũng không tham đắm; đem tâm bình đẳng đối đãi với mọi người, kẻ oán cũng như người thân. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 5 chép, thì sau khi đức Lục tổ Tuệ năng nhập tịch, có kẻ trộm muốn lấy đầu Tổ đưa về cúng dường, sau khi nhân viên của quan phủ điều tra bắt được. Trước khi gia hình, quan phủ cho người đến Tào khê hỏi đệ tử của Lục tổ là ngài Linh thao nên xử trí như thế nào. Ngài Linh thao đáp (Đại 51, 236 hạ): Nếu nói theo phép nước thì lí đáng phải tru di; nhưng vì Phật giáo từ bi, oán thân bình đẳng; huống nữa, kẻ trộm ấy lấy đầu Tổ là để cúng dường, nên tội ấy có thể tha thứ!. [X. Phật sở hành tán Q.1; luận Đại trí độ Q.20].

oán tăng hội khổ

(怨憎會苦) Phạm: Apriya-saôprayoga-du#kha. Cũng gọi Phi ái hội khổ, Oán tăng ố khổ, Bất tương ai tương phùng hội khổ. Khi gặp gỡ người mà mình oán ghét là khổ, 1 trong 8 cái khổ, 1 trong 5 khổ. Cứ theo kinh Phân biệt thánh đế trong Trung a hàm Q.7, khi thân tâm chúng sinh tiếp xúc với những trần cảnh mà mình không ưa thích thì sẽ dẫn đến khổ đau. Còn theo Đại thừa nghĩa chương quyển 3 thì có 2 loại Oán tăng hội khổ là nội và ngoại. Nội oán tăng hội khổ là quả báo trong 3 đường ác; ngoại oán tăng hội khổ là các duyên như dao, gậy... [X. kinh Đại bát niết bàn Q.12 (bản Bắc); kinh Tứ đế; luận Đại tì bà sa Q.78].

oán tắng hội khổ

Một trong bát khổ, khổ vì phải luôn gặp gỡ người mình không thích hay người không thích mình—One of the eight sufferings, suffering of contact with those whom we dislike or those who dislike us, or meeting with the uncongenial (to have to meet the hateful).

oán tặc

Vicious thieves—The robber hatred, hurtfull to life and good.

oán địch

Oán gia—An enemy.

oánh sơn thanh quy

(瑩山清規) Cũng gọi Oánh sơn hòa thượng thanh qui, Động cốc thanh qui. Thanh qui, 2 quyển, do vị tăng người Nhật bản là ngài Oánh sơn Thiệu cẩn biên soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 82. Bộ Thanh qui được soạn dựa theo các bộ thanh qui từ trước nay, là tập đại thánh của các bộ thanh qui tùng lâm thuộc tông Tào động. Nội dung nói rõ các việc được làm hàng ngày, hàng tháng và trong năm. Đây là bộ thanh qui mà ngài Thiệu cẩn đã thực hành ở Xương thụ lâm và Động cốc. Những chỗ thái quá và bất cập trong giới qui của Phật tổ đều được điều chỉnh 1 cách chiết trung cho thích hợp, đồng thời, có phụ lục Tọa thiền dụng tâm kí và Tam căn tọa thiền thuyết do ngài Thiệu cẩn soạn. OÁNH SƠN THIỆU CẨN (1268-1325) Thiền sư Nhật bản thuộc tông Tào động, người Việt tiền (huyện Phúc tỉnh), họ Đằng nguyên, pháp danh Thiệu cẩn. Năm 13 tuổi, sư lễ ngài Cô vân Hoài trang thuộc đời thứ 2 chùa Vĩnh bình xin xuất gia. Sau khi ngài Hoài trang thị tịch, sư lại đến chùa Đại thừa thờ ngài Triệt thông Nghĩa giới làm thầy. Năm 18 tuổi, sư bắt đầu du phương hành cước, tham yết các ngài Tịch viên, Bảo giác, Tuệ hiểu... rồi lên núi Tỉ duệ học tập giáo pháp Thiên thai. Năm Chính ứng thứ 2 (1289), sư trở về chùa Đại thừa hầu ngài Nghĩa giới và được nối pháp của ngài. Sau đó, sư xiển dương

Oánh Sơn Thiệu Cẩn

(瑩山紹瑾, Keizan Shōkin, 1268-1325): vị Thái Tổ của Tào Động Tông Nhật Bản, cháu đời thứ 4 của Cao Tổ Đạo Nguyên (道元), hiệu là Oánh Sơn (瑩山). Ông sinh ra vào ngày mồng 8 tháng 10 năm 1268 nơi Quan Âm Đường ở vùng Việt Tiền (越前, Echizen, thuộc Fukui-ken [福井縣]), tên lúc nhỏ là Hạnh Sanh (行生). Mẹ ông được cảm hóa nhờ đức tin vào Quan Âm Bồ Tát. Năm lên 8 tuổi, ông lên Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji) ở Việt Tiền, tham vấn Triệt Thông Nghĩa Giới (徹通義介). Đến năm 13 tuổi, ông đắc độ thọ giới với Cô Vân Hoài Trang (孤雲懷奘), vị Tổ đời thứ 2 của chùa này. Vào ngày 24 tháng 8 năm 1280, khi Hoài Trang qua đời thì ông theo hầu Nghĩa Giới và chuyên tâm tu hành tọa Thiền. Đến năm lên 18 tuổi, ông phát nguyện đi hành cước khắp các tiểu quốc, và đến tham vấn Tịch Viên (寂圓) ở Bảo Khánh Tự (寶慶寺). Tiếp theo, ông lên kinh đô Kyoto, học về Thiền phong mang tính Mật Giáo của Phái Thánh Nhất (聖一派) thuộc Lâm Tế Tông với Đông Sơn Trạm Chiếu (東山湛照), Bạch Vân Huệ Kiểu (白雲慧皎); thêm vào đó ông còn tiếp xúc với giáo học Thiên Thai trên Tỷ Duệ Sơn. Kế đến ông đến tham học với Vô Bổn Giác Tâm (無本覺心) ở Hưng Quốc Tự (興國寺) thuộc vùng Kỷ Y (紀伊, Kii, thuộc Wakayama-ken [和歌山縣] ngày nay), và sau đó ông lại đến tham yết Tịch Viên ở Bảo Khánh Tự lần nữa. Năm lên 22 tuổi, ông phản tỉnh khi đọc được câu kệ trong Phẩm Pháp Sư Công Đức (法師功德) của Kinh Pháp Hoa rằng “phụ mẫu sở sanh nhãn tất kiến tam thiên giới (父母所生眼悉見三千界, con mắt do cha mẹ mình sanh ra tất thấy được ba ngàn thế giới)”, rồi đến năm 25 tuổi thì ông phát thệ nguyện rộng lớn. Năm lên 28 tuổi, ông được cung thỉnh đến làm Tổ khai sơn ngôi Thành Mãn Tự (城滿寺) của dòng họ Phú Kiên (富樫) ở vùng A Ba (阿波, Awa, thuộc Tokushima-ken [德島縣]). Năm sau, lúc 29 tuổi, ông lên Vĩnh Bình Tự, sao chép tập Phật Tổ Chánh Truyền Bồ Tát Giới Tác Pháp (佛祖正傳菩薩戒作法), rồi được vị trú trì chùa này là Nghĩa Diễn (義演) trao truyền Bồ Tát Giới cho. Cũng vào mùa đông năm này, lần đầu tiên ông khai đường thuyết pháp ở Thành Mãn Tự, và truyền trao giới pháp cho nhóm 5 người Nhãn Khả Thiết Kính (眼可鐵鏡). Sau đó, ông đến tham yết Hàn Nham Nghĩa Duẫn (寒巖義尹) ở Đại Từ Tự (大慈寺, Daiji-ji) thuộc vùng Phì Hậu (肥後, Higo, thuộc Kumamoto-ken [熊本縣]), rồi đến kết thảo am ở gần nơi Đông Cung Ngự Sở tại Kyoto, và tương truyền tại đây ông hội ngộ với Nga Sơn Thiệu Thạc (峨山紹碩). Cho đến năm 31 tuổi, ông khai mở giới pháp ở Thành Mãn Tự, độ cho hơn 70 người, và tận lực trong việc giáo hóa dân chúng. Đến năm 32 tuổi, ông kế thừa dòng pháp của Nghĩa Giới, được trao truyền pháp y, làm vị Thủ Tọa đầu tiên của Đại Thừa Tự, và đến năm 35 tuổi thì làm vị Tổ đời thứ 2 của chùa này. Từ ngày 11 tháng giêng năm 1300, ông bắt đầu khai thị bộ Phật Quang Lục (佛光錄). Rồi vào tháng 8 cũng như tháng 11 năm 1306, trải qua hai lần ông được Nghĩa Giới trao truyền cho bí pháp. Cho đến năm 1311, ông chuyên tâm vào việc bổ sung quy cũ ở Đại Thừa Tự, tiếp độ đồ chúng, và trước tác Tọa Thiền Dụng Tâm Ký (坐禪用心記), Tam Căn Tọa Thiền Thuyết (三根坐禪說), Tín Tâm Minh Niêm Đề (信心銘拈提), v.v. Hơn nữa, ông còn khai sáng Tịnh Trú Tự (淨住寺) ở vùng Gia Hạ (加賀, Kaga). Rồi vào năm 1317, ông còn sáng lập ra Vĩnh Quang Tự (永光寺) ở Động Cốc Sơn (洞谷山). Sau đó thể theo lời thỉnh cầu của vị quan Địa Đầu vùng Vũ Trách (羽咋, Hakui) ở Năng Đăng (能登, Noto), ông đến khai sơn Quang Hiếu Tự (光孝寺). Kế đến ông lại khai sáng thêm Phóng Sanh Tự (放生寺) ở vùng Năng Đăng này. Chính trong khoảng thời gian này, thanh danh của Oánh Sơn rất nổi bật, nên được Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇) ban sắc phong cho. Năm sau, nhờ sự cúng dường của đàn na thí chủ, ông xây dựng Điện Phật, rồi Khai Sơn Đường, Pháp Đường, và chỉnh trang toàn bộ ngôi già lam Vĩnh Quang Tự. Từ đó, vào năm đầu niên hiệu Nguyên Hanh (元亨), ông cảm ứng điềm báo mộng khai đường Tổng Trì Tự (總持寺, Sōji-ji), rồi thể theo lời thỉnh cầu của vị Viện Chủ Chư Nhạc Tự (諸嶽寺) thuộc Chơn Ngôn Luật Tông (có thuyết cho là Thiên Thai Tông) ở Quận Phụng Khí Chí (鳳氣至郡), Năng Đăng, ông đến vùng đất này, và vào ngày mồng 8 tháng 6 cùng năm, ông khai sáng ra Tổng Trì Tự tại đây. Đến ngày 22 tháng 7 thì được cúng dường đất đai của chùa, rồi đến ngày 14 tháng 9 thì nhận được sắc phong chùa, và vào ngày 28 tháng 8 năm sau thì được công nhận là ngôi chùa của Tào Động Tông. Đây là ngôi chùa trung tâm thứ hai của phái Tào Động Nhật Bản. Sau đó, chùa được dòng họ Trường Cốc Bộ (長谷部) chuyên tâm ủng hộ. Vào ngày mòng 8 tháng 8 năm 1325, ông cử Minh Phong Tố Triết (明峯素哲) làm chức Tăng Lục 8 ngôi chùa gồm Vĩnh Quang Tự (永光寺), Viên Thông Viện (圓通院), Quang Hiếu Tự (光孝寺), Tổng Trì Tự (總持寺), Bảo Ứng Tự (寶應寺), Phóng Sanh Tự (放生寺), Đại Thừa Tự (大乘寺); rồi nhường ngôi Tọa Chủ cho vị này và lui về ẩn cư. Đến nữa đêm ngày 15 tháng 8, ông thuyết pháp lần cuối cùng, để lại di kệ và thị tịch, hưởng thọ 58 tuổi đời (có thuyết cho là 62 tuổi). Xá lợi của ông được phân phối ra tôn trí tại 4 ngôi chùa Đại Thừa Tự, Vĩnh Quang Tự, Tịnh Trú Tự và Tổng Trì Tự. Môn nhân đắc độ của ông ngoài Minh Phong Tố Triết (明峰素哲), Vô Nhai Trí Hồng (無涯智洪), Nga Sơn Thiệu Thạc (峨山紹碩), Hồ Am Chí Giản (壺庵至簡), còn có Cô Phong Giác Minh (孤峰覺明), Trân Sơn Nguyên Chiếu (珍山源照) là những nhân vật xuất chúng. Đệ tử Ni của ông có Mặc Phổ Tổ Nhẫn (默譜祖忍), Nhẫn Giới (忍戒), Kim Đăng Huệ Cầu (金燈惠球), Minh Chiếu (明照), v.v. Hậu Thôn Thượng Thiên Hoàng (後村上天皇) ban tặng cho ông thụy hiệu là Phật Từ Thiền Sư (佛慈禪師); Hậu Đào Viên Thiên Hoàng (後桃園天皇) thì ban thụy hiệu là Hoằng Đức Viên Minh Quốc Sư (弘德圓明國師), và Minh Trị Thiên Hoàng (明治天皇) là Thường Tế Đại Sư (常濟大師). Trước tác của ông để lại có Truyền Quang Lục (傳光錄) 2 quyển, Oánh Sơn Hòa Thượng Thanh Quy (瑩山和尚清規) 2 quyển, Tọa Thiền Dụng Tâm Ký (坐禪用心記) 1 quyển, Tam Căn Tọa Thiền Thuyết (三根坐禪説) 1 quyển, v.v. ; 瑩山紹瑾; J: keizan jōkin; 1268-1325;|Thiền sư Nhật Bản, Tổ thứ tư của tông Tào Ðộng (j: sōtō) sau Ðạo Nguyên Hi Huyền (j: dōgen kigen). Sư nối pháp Thiền sư Triệt Thông Nghĩa Giới (tettsū gikai, 1219-1309), thành lập Tổng Trì tự (sōji-ji), một trong hai ngôi chùa quan trọng nhất của dòng Tào Ðộng song song với Vĩnh Bình tự (eihei-ji). Sư trứ tác Truyền quang lục (denkōroku), một tác phẩm được tất cả các dòng thiền Nhật Bản ưa chuộng và sử dụng cho đến ngày nay. Sư được các đệ tử trong tông môn Tào Ðộng cung kính gọi là Ðại Tổ (大祖; daiso), Ðạo Nguyên được gọi là Cao Tổ (高祖; kōso).|Sư quê tại Echizen, sớm được bà mẹ sùng tín gửi đến Vĩnh Bình tự để tu học. Sư thụ giới lần đầu (1280) nơi Thiền sư Cô Vân Hoài Trang (koun ejō, 1198-1280) – vị Tổ thứ hai của tông Tào Ðộng. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Hoài Trang quy tịch và Sư lưu lại tu học với Thiền sư Nghĩa Giới đến năm 17 tuổi. Sau đó, Sư bắt đầu một cuộc Hành cước kéo dài bốn năm (1285-1288), thu thập kiến thức cho cuộc đời hoằng hoá vinh quang của mình. Sư yết kiến nhiều vị cao tăng của nhiều tông phái khác nhau, tu tập Thiền theo Thiền sư Tịch Viên (寂圓; jakuen, 1207-1299, bạn đồng học với Ðạo Nguyên nơi Thiên Ðồng Như Tịnh) tại Bảo Khánh tự (hákyō-ji). Tại Kinh Ðô (kyōto), Sư tu tập Thiền theo tông Lâm Tế dưới sự hướng dẫn của hai vị Ðông Sơn Trạm Chiếu (東山湛照; tōzan tanshō, 1231-1291) và Bạch Vân Huệ Hiểu (白雲慧曉; hakuun egyō, 1228-1297), cả hai đều là môn đệ của Viên Nhĩ Biện Viên (enni ben' nen, 1202-1280). Một cuộc viếng thăm núi Tỉ Duệ (hieizan) được Sư sử dụng để nghiên cứu giáo lí của Thiên Thai tông (tendai-shū). Sư cũng đến tham vấn Thiền sư Tâm Ðịa Giác Tâm (shinchi kakushin, 1207-1298) – người đã đem tập Công án quan trọng Vô môn quan sang Nhật.|Khi trở về học với Nghĩa Giới – lúc bấy giờ trụ trì chùa Ðại Thừa (daijō-ji) – Sư đại ngộ (1294) khi Nghĩa Giới trao cho môn đệ công án thứ 17 của Vô môn quan để tham cứu. Trong cuộc vấn đáp trong công án này, Thiền sư Nam Tuyền Phổ Nguyện trả lời sư Triệu Châu Tòng Thẩm: »Tâm bình thường là Ðạo« (Bình thường tâm thị đạo). Khi Sư suy nghĩ trình Nghĩa Giới ›Bình thường tâm‹, Nghĩa Giới liền đánh ngay vào miệng Sư. Ngay lúc này, mắt tâm Sư liền mở sáng. Không bao lâu sau, Nghĩa Giới phó chúc Sư là người nối dõi tông đường và từ đây, Sư bắt đầu cuộc đời giáo hoá của mình.|Sau khi thừa kế Nghĩa Giới trụ trì chùa Ðại Thừa (1303), học chúng từ khắp nơi đến tham học và ngôi chùa này trở thành một trung tâm Phật giáo quan trọng của các miền Ðông bắc Nhật Bản. Nơi đây, Sư hoàn tất hai tác phẩm quan trọng của mình là Truyền quang lục (dentōroku) và Toạ thiền dụng tâm kí (坐禪用心記; zazenyōjinki). Trong Toạ thiền dụng tâm kí, Sư khuyên mọi người chú tâm đến việc Toạ thiền (zazen) và đặc biệt nhấn mạnh sự quan trọng của tư tưởng người đang toạ thiền. Tập này bắt đầu bằng những câu:|»Toạ thiền giúp con người khai sáng tâm lực và an trụ nơi cội nguồn. Ðó chính là sự thấy rõ Bản lai diện mục, là sự phát minh tâm địa. Thân tâm đều biến mất, không còn vướng mắc vào những hành động như ngồi, nằm. Vì thế nên hành giả không nên nghĩ thiện, ác, vượt hẳn ngôn ngữ như phàm, thánh, Vô minh, Giác ngộ, rời bỏ cõi của chúng sinh và Phật.«|Dựa trên các giáo lí nền tảng, Sư hướng dẫn rất tỉ mỉ về việc thực hành toạ thiền:|»Các buổi lễ long trọng và những ngôi chùa vĩ đại thờ Phật đều rất có ý nghĩa, nhưng nếu ai muốn toạ thiền rốt ráo, người ấy không được tham gia tổ chức các lễ này… Không nên toạ thiền ở nơi nào quá sáng hoặc quá tối, quá nóng hoặc quá lạnh, cũng không nên toạ thiền gần những người say đắm vào việc vui chơi hoặc kĩ nữ! Thiền đường, bên cạnh một vị thầy uy tín, cao vút trên núi hoặc tận sâu dưới thung lũng là những nơi thích hợp. Bên cạnh suối xanh, trên đỉnh núi cao là những nơi thuận tiện để kinh hành… Hành giả không được quên việc quán tất cả các Pháp đều Vô thường vì việc ấy giúp trau dồi tâm kiên cường… Lúc nào cũng giữ lòng Từ bi và chuyển tất cả những phúc đức thu thập được đến tất cả chúng sinh! Không được phát tâm kiêu mạn, không được khinh thường Phật pháp! Những phong cách này chính là phong cách của phàm phu, ngoại đạo. Nếu lúc nào cũng chú tâm đến lời nguyện đoạn tất cả phiền não để đạt Giác ngộ thì phải toạ thiền và vô tác (không làm). Ðây là quy luật quan trọng của việc toạ thiền.«|Một trong những thành công lớn của Sư là việc thành lập hai ngôi chùa lớn của tông Tào Ðộng, đó là Vĩnh Quang tự (yōkō-ji) và Tổng Trì tự (sōji-ji, 1322). Hậu Ðề Hồ (go-daigo) Thiên hoàng nâng cấp Tổng Trì tự ngang hàng với Vĩnh Bình tự (eihei-ji) và gọi là Ðại bản sơn (daihonzan) của tông Tào Ðộng.|Trong khoảng thời gian cuối đời, Sư lui về Vĩnh Quang tự và giao phó việc quản lí chùa Tổng Trì cho vị đại đệ tử là Nga Sơn Thiều Thạc (gasan jōseki, 1275-1365). Trước khi tịch, Sư còn soạn tập Oánh Sơn thanh quy (keizan shingi). Hài cốt của Sư được chia ra và thờ cúng tại bốn ngôi chùa: Ðại Thừa, Vĩnh Quang, Tổng Trì và Tịnh Trụ (jōjū-ji).

OṂ

S: OṂ (ॐ); có khi được viết là AUM, phát âm theo Việt ngữ là Ôm, kéo dài âm Ô;|Là biểu tượng âm thanh cao quý và trọn vẹn nhất trong Ấn Ðộ giáo, được một vài trường phái Phật giáo, nhất là Kim cương thừa xem như một Man-tra.||H 45: OṂ|OṂ được xem là tượng trưng của cả hai, sắc và âm. OṂ là âm thanh tượng trưng sức mạnh của tâm thức nội tại, của Phật tính trong thế giới giả tạm, trong Ảo ảnh (s: māyā) này. OṂ được biểu diễn bằng ba vòng cung và một chấm nhỏ. Ba vòng cung biểu diễn sắc thể, ý thức và vô ý thức và chấm nhỏ nằm ngoài ba vòng đó biểu hiện trí huệ cao nhất dung chứa cả ba. Hình dạng của OṂ là một biểu hiện cụ thể của Chân như. Không có khái niệm hay vật thể nào trong vũ trụ có thể tồn tại độc lập. Tất cả đều là biến thể một một Chân tâm duy nhất, có liên hệ với Chân tâm đó và vì vậy chúng liên hệ lẫn nhau.|OṂ gồm có ba đường cong, một hình bán nguyệt và một dấu chấm. Các dạng này được xem nằm trong một thể thống nhất. Ba đường cong được nối với nhau, diễn tả ba tâm trạng (s: avasthā): tỉnh (s: jāgrat, vaiśvānara), mộng (s: svapna) và say ngủ (s: suṣupti). Dấu chấm và hình bán nguyệt, đứng rời, diễn tả Chân tâm là trạng thái »Thứ tư« (s: turīya), đứng trên và là nền tảng của ba trạng thái đó. Vòng bán nguyệt chỉ sự vô cùng và dấu chấm riêng lẽ chỉ óc suy luận (vòng bán nguyệt) không thể tiếp cận được Chân tâm.|Vòng tròn lớn (số 1) diễn tả tâm trạng thông thường, đó là hoạt động tiếp xúc ngoại cảnh. Vòng số 2 diễn tả giấc mộng, đó là tâm thức nội tại, do quá trình suy luận hình thành, không phụ thuộc vào ngoại cảnh và được xem là gạch nối giữa vòng 1 và 3. Vòng cao nhất (số 3) diễn tả tầng tiềm thức, đó là tâm trạng khi con người say ngủ. Vòng số 3 cũng chỉ là giai đoạn tiếp nối, nó là cấp gần với tâm trạng tuyệt đối nhất. Tâm trạng đó chính là dấu chấm, nó chiếu rọi và chế ngự ba tầng tâm thức kia, được gọi đơn giản là »Thể thứ tư« (s: turīya). »Thể thứ tư« là nguồn gốc của tất cả. Chỉ những người tu hành đã vượt ba tâm thức thô thiển trước mới tiếp cận được với thể thứ tư này.

OṂ MA-ṆI PAD-ME HŪṂ ॐमणिपद्मेहूं

S: OṂ MA-ṆI PAD-ME HŪṂ; có thể dịch là » OṂ, ngọc quý trong hoa sen, HŪṂ.« Câu này được dịch âm Hán Việt là »Án ma-ni bát-mê hồng«;|Một Man-tra Phạn ngữ (sanskrit), được xem là Man-tra cầu đức Quán Thế Âm và là Man-tra quan trọng và lâu đời nhất của Phật giáo Tây Tạng. Thông thường người ta không giảng nghĩa Man-tra, nhưng ở đây cần nói thêm là, »ngọc quý« biểu hiện cho Bồ-đề tâm (s: bodhicitta), »hoa sen« chỉ tâm thức con người, ý nghĩa là tâm Bồ-đề nở trong lòng người. Tuy nhiên Man-tra có những âm thanh riêng biệt và những tác dụng bí ẩn theo cách trình bày của Kim cương thừa. Ðối với Phật giáo Tây tạng thì OṂ MA-ṆI PAD-ME HŪṂ chính là lòng từ bi rộng lớn, muốn đạt Niết-bàn vì lợi ích của chúng sinh. Vì vậy sáu âm của thần chú này cũng được xem là tương ưng với sáu cõi tái sinh của dục giới (Vòng sinh tử, Ba thế giới).

oản

Moi móc—To scoop out.

oản đăng

Xẻ thân móc mở làm dầu đốt đèn, đó là nói về Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong một tiền kiếp, vì muốn bố thí ánh sáng nên đã móc thân làm đèn—To scoop out one's body and turn it into a lamp, attributed to Sakyamuni in a former incarnation. ; (剜燈) Khoét thịt trên mình để làm đèn đốt cúng Phật, 1 trong những truyện tích tiền thân của Phật Thích ca. Trong 1 kiếp ở quá khứ, đức Thế tôn là vua Kiền xà ni lê, vì muốn nghe pháp của người Bà la môn tên Lao độ sai, mà khoét mình làm đèn đốt để bày tỏ lòng chí thành. [X. kinh Hiền ngu Q.1; Ma ha chỉ quán Q.7].

Pa-cha-ri-pa

S: pacaripa; »Người bán bánh mì«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thời nào.|Ông là người bán bánh mì cho chủ trong thành Cham-pa (s: campā). Ngày nọ ông không bán được chiếc nào cả, sẵn lúc đói bụng ông đành phải ăn một chiếc. Ngay lúc này một Ðạo sư xuất hiện. Vị ấy chính là một hoá thân của Quán Thế Âm. Ông tỏ lòng kính trọng và cúng dường phần bánh còn lại. Sau đó vị này cho ông Quy y Tam bảo, thụ Giới Bồ Tát và đọc Man-tra của Quán Thế Âm. Ông kiên trì tu học và sống bằng khất thực. Ngày nọ, ông gặp lại chủ bánh mì và người này đòi tiền bánh. Vì không có tiền trả nên mọi người xúm nhau đánh ông. Ông đành kêu to: »Không phải mình ta ăn bánh, cả thầy lẫn trò đều ăn.« Tiếng kêu ông cứ vang dội mãi một cách kì lạ làm chủ bánh mì sợ hãi. Sau đó ông đến tượng Quán Thế Âm cầu khẩn xin tiền, quả nhiên tượng cho ba mươi đồng tiền vàng, ông đem trả nợ. Lúc đó ông mới biết thầy mình là Quán Thế Âm. Sau đó ông định đến trú xứ của Quán Thế Âm là Pô-ta-la (s: potala) để tạ ơn nhưng giữa đường ông đạp gai nhọn. Ðau quá ông gọi tên thầy thì Quán Thế Âm hiện ra khuyên ông nên về lại Cham-pa mà giáo hoá cho người đời. Pa-cha-ri-pa mừng quá bay bỗng lên không, người đời thán phục và xin học giáo pháp. Chứng đạo ca của ông như sau:|Chẳng phải nhìn đâu xa,|hãy nhìn đúng trung tâm,|Lạc, xả, đầy hạnh phúc!|Tu tập phép Tan-tra,|Du-già sư đạt định.

Pa-li

pāli;|Một thổ ngữ Ấn Ðộ, xuất phát từ Phạn ngữ (sanskrit) và được Thượng toạ bộ dùng để viết các bộ kinh điển của mình. |Về nguồn gốc của Pā-li, các học giả có nhiều ý kiến khác nhau. Giáo sư Rhys-Davids thì cho rằng, Pā-li là ngôn ngữ của xứ Kiêu-tát-la (s: kośala) trong vùng Ðông bắc Ấn Ðộ. Max Walleser, một nhà Ấn Ðộ học người Ðức cho rằng Pā-li là ngôn ngữ của kinh đô Hoa Thị thành (pāṭaliputra) của xứ Ma-kiệt-đà (magadha). Nhiều học giả cho rằng Pā-li chính là ngôn ngữ của đức Phật khi Ngài thuyết pháp và của giới thượng lưu tại Ma-kiệt-đà. Tuy nhiên, nhiều tài liệu khảo cổ cho thấy có sự khác nhau rõ rệt giữa tiếng Ma-kiệt-đà và Pā-li. Etienne Lamotte – một học giả người Pháp – cho rằng, Pā-li là một thổ ngữ của miền Trung Ấn Ðộ và thuộc họ ngôn ngữ Prakṛta.

Pan-ka-ja-pa

S: paṅkajapa; »Liên hoa sinh Bà-la-môn«; |Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ. Ông là đệ tử của Sa-ra-ha (s: saraha), sống khoảng đầu thế kỉ thứ 9.|Tương truyền ông là một Liên Hoa tử, là người sinh ra trong một đoá sen. Gần nơi ông sinh có một bàn thờ, thờ tượng Bồ Tát Quán Thế Âm, nhưng ông không biết, cứ tưởng đó là tượng của Ðại Thiên (s: mahādeva) và ngày nào ông cũng mang hoa đến cúng dường. Lần nọ vị Ma-ha Tất-đạt Long Thụ (nāgārjuna) đi qua đền thờ, mang theo một cánh hoa cúng thì Quán Thế Âm hiện ra, ban phép lành cho Long Thụ bằng cách đặt lại một cánh hoa trên đầu. Pan-ka-ja-pa lấy làm giận hỏi Long Thụ tại sao ông dâng cúng suốt 12 năm mà thần không hiện ra còn với Long Thụ thì chỉ cần một lần duy nhất. Long Thụ nói tâm ông chưa thanh tịnh, ông liền xin thụ pháp. Long Thụ giảng:|Nhờ tu tập từ bi,|mà dục lạc thế gian,|cùng tâm thức vô thuỷ,|trở về thành một mối.|Vì trong chính tri kiến,|không hề có phân biệt,|đó là Quán Thế Âm.|Ông nghe lời dạy lĩnh hội ngay và chỉ sau bảy ngày, ông đạt thánh quả. Sau khi giáo hoá được nhiều người, ông biến mất vào cõi của các vị Không hành nữ (s: ḍākinī).

Patañjali

: âm dịch là Ba Đơn Xà Khế (巴丹闍契), Ba Đơn Xà Lê (巴丹闍梨), soạn giả Du Già Kinh (s: Yogasūtra, 瑜伽經)—tác phẩm chính chứa đựng một số cách ngôn về những khía cạnh triết lý của tâm và thức. Ông còn là tác giả của một luận thư quan trọng (Mahābhāṣya) về Ashtadhyayi của Pāṇini; mặc dầu một vài học giả không cho rằng hai tác phẩm này do tác giả cùng tên viết. Ông viết Du Già Kinh từ tri thức Phệ Đà về Ấn Độ Giáo. Trong mấy thập niên gần đây, kinh này đã trở nên phổ biến trên khắp thế giới về các giới điều liên quan đến việc thực hành Raja Yoga và cơ sở triết học của các động tác Yoga dùng cho sức khỏe cũng như làm cho hài hòa thân tâm. Vì muốn dạy Yoga cho cuộc đời, tương truyền ông từ trên trời rơi (pat-) vào lòng bàn tay (-añjali) của một phụ nữ, cho nên ông có tên như vậy. Ai cũng cho rằng ông là hóa thân của Ādi S'esha—hiện thân ngã thể đầu tiên của thần Vishnu, Sankarshana. Sankarshana là hiện thân của năng lực cũng như tính phong phú ban sơ của thần Vishnu. Như vậy, Patañjali có thể được xem như là một hóa thân của Chúa để bảo vệ ngã tính của yoga. Rõ ràng ông là tư tưởng gia nguyên thủy, chứ không phải là nhà biên soạn trí tuệ yoga. Tuy nhiên, ông đã diễn dịch và làm sáng tỏ những gì người ta luận về yoga để không có sự mâu thuẩn nào. Thiên tài của ông đã đem lại nhiều hướng lý luận về triết lý yoga.

pha lê

1) Phả Lê—Đá trong như pha lê, một trong bảy của báu: Sphatika (skt)—Rock crystal, or a green indestructible gem, one of the seven precious things—See Thất Bảo. 2) Tên một ngọn núi gần Varanasi: Name of a mountain near Varanasi.

pha lẫn

To mingle—To mix.

pha trò

To jest—To joke—To speak in jest.

phai mờ

To fade.

Phan

(幡[旛]): một loại cờ dài, hẹp, treo rũ thẳng xuống, có ghi nội dung tùy theo mục đích của buổi lễ; còn gọi là lá phướn. Như trong Sử Ký (史記) quyển 117, truyện Tư Mã Tương Như (司馬相如) có đoạn: “Thùy giáng phan chi tố nghê hề, tải vân khí nhi thượng phù (垂絳幡之素蜺兮、載雲氣而上浮, cầu vồng trắng phan đỏ chừ, chở khí mây mà nổi lên). Trong Phật Giáo, loại này thường được dùng với nhiều ý nghĩa, mục đích và tên gọi khác nhau: (1) Bạch Phan (白幡) hay Dẫn Lộ Phan (引路幡) là loại lá phướn dài, hẹp, màu trắng, được dùng bài trí trước linh cữu trong khi đám tang; với ý nghĩa là để dẫn dắt linh hồn người quá cố; trên đó ghi tên họ, quê quán, pháp danh, v.v., những thông tin liên quan đến người quá cố. Tại Việt Nam, loại này thường có màu đỏ, được gọi là lá Triệu. (2) Tràng Phan (幢幡) được xem như là một loại pháp khí, rất thông dụng trong các pháp đàn của Phật Giáo lẫn Đạo Giáo, dùng để cáo Trời đất, mời gọi chư Thần linh. Tràng (幢) khác với Phan ở điểm là trên đầu của lá Tràng thường có lọng che, cầm với cây cán; còn Phan thì không có lọng che, cầm trực tiếp bằng tay. Như trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經) quyển 1, Phẩm Tựa (序品) thứ nhất có câu: “Nhất nhất tháp miếu, các thiên tràng phan (一一塔廟、各千幢幡, mỗi một tháp miếu, có ngàn tràng phan).” (3) Bạch Hổ Phan (白虎幡) là loại lá phướn trên có trang trí hình con hổ trắng, dùng để truyền tin chiếu lệnh. Như trong Tống Thư (宋書) quyển 40, phần Bách Quan Chí (百官志) có đoạn: “Triêu hội yến hưởng, tắc Tướng Quân nhung phục, trực thị tả hữu, dạ khai thành chư môn, tắc chấp Bạch Hổ Phan giám chi (朝會宴饗、則將軍戎服、直侍左右、夜開城諸門、則執白虎幡監之, sáng gặp yến tiệc, tất Tướng Quân mặc nhung phục, hai bên có người hầu hạ, đêm về mở các cửa thành, thì cầm Phan Bạch Hổ đi giám sát). (4) Phan Cái (幡蓋) là một loại tràng phan trên có lọng che, dùng để trang trí tại các nơi tôn nghiêm như đền thờ, chùa chiền, v.v. Như trong bài thơ Đăng Thiên Phước Tự Sở Kim Thiền Sư Pháp Hoa Viện Đa Bảo Tháp (登千福寺楚金禪師法華院多寶塔) của Sầm Tham (岑參, khoảng 715-770) có câu: “Phần hương như vân đồn, phan cái san san thùy (焚香如雲屯、幡蓋珊珊垂, hương xông như mây tụ, phan cái rũ leng keng).” Trong Công Văn Đàn Tràng, thường có các loại Phan như Trùng Tang Phan (重喪旛), Thập Nhị Thần Sát Phan (十二神煞旛), Chiêu Linh Phan (召靈旛), Thiên Lôi Phan (天雷旛), Thất Như Lai Phan (七如來旛), v.v. ; (s: patākā, 旛、幡): âm dịch là Ba Đa Ca (波哆迦); hoặc có Phạn ngữ là ketu, âm dịch là Kế Đô (計都); là từ gọi chung của các cờ phan, là vật trang nghiêm để cúng dường chư Phật, Bồ Tát; thường đi chung với tràng phan (幢幡). Xưa kia tại Ấn Độ, phan có nhiều sắc thái khác nhau; nhưng tại Trung Quốc, dưới thời nhà Tùy (隋, 581-618), phan đã được sử dụng rất thịnh hành. Trong Tuyển Tập Bách Duyên Kinh (撰集百緣經, Taishō Vol. 4, No. 200) quyển 7, phần Bố Thị Phật Phan Duyên (布施佛幡緣); Phật Thuyết Quán Đảnh Kinh (佛說灌頂經, Taishō Vol. 21, No. 1331) quyển 11, v.v., đều có đề cập đến công đức tạp lập phan như hàng phục được ma, tăng tuổi thọ, xa lìa nạn khổ, v.v. Về chủng loại, phan có rất nhiều loại khác nhau, tỷ dụ như Quán Đảnh Phan (灌頂旛), Mật Giáo dùng loại này để chạm lên đầu, với ý nghĩa trước hết thọ phép Quán Đảnh của Luân Vương, sau mới thọ phép Quán Đảnh quả vị Phật; Tục Mạng Thần Phan (續命神旛), hay Thọ Mạng Phan (壽命旛), là thần phan cầu thêm tuổi thọ và bảo vệ tánh mạng; Tiến Vong Phan (薦亡旛), hay Mạng Quá Phan (命過旛), có thể khiến cho người chết có được phước đức nơi Thân Trung Ấm để vãng sanh; Tín Phan (信旛) là loại phan dùng để truyền tín hiệu; Đình Phan (庭旛) là loại phan được sử dụng trong các nghi thức cầu mưa, v.v., tại đình miếu. Ngoài ra, tùy theo hình tượng trên lá phan mà có 5 loại khác nhau như: Sư Tử Phan (獅子旛), Mạc Yết La Phan (莫羯羅旛), Long Phan (龍旛), Yết Lộ Trà Phan (揭路荼旛), Ngưu Vương Phan (牛王旛). Về màu sắc, phan có 5 màu là xanh, vàng, đỏ, trắng và đen. Về chất liệu, cũng có nhiều loại phan khác nhau như loại bằng tơ lụa, vải, kim thuộc, ngọc thạch, v.v. Trong bài thơ Tây Tái Sơn Hoài Cổ (西塞山懷古) của Lưu Vũ Tích (劉禹錫, 772-842) nhà Đường có câu: “Thiên tầm thiết tỏa trầm giang để, nhất phiến hàng phan xuất thạch đầu (千尋鐵鎖沉江底、一片降旛出石頭, ngàn thước vòng sắt chìm sông đáy, một mảnh hàng phan lộ đá đầu).”

phan

1) Cờ phướn: Pataka (skt)—Ba Đa Ca—Lá cờ hay phướn treo tại chùa trong các ngày lễ (vật trang nghiêm biểu tượng cho uy đức của Đức Phật)—Flag—Banner—Streamer—Pennant. 2) Leo lên: To climb. 3) Nắm lấy: To grasp—To detain. ; (幡) Phạm: Patàkà. Hán âm: Ba đa ca. Phạm: Ketu. Hán âm: Kế đô. Pàli: Paỉàkà. Danh từ chỉ chung các loại cờ xí. Vốn là vật được các viên tướng sử dụng để thống lãnh các binh chủng và nêu cao uy thế của quân đội trên chiến trường. Còn trong Phật giáo thì phan được dùng để hiển bày uy đức hàng ma của Phật và các Bồ tát, đồng thời là vật dùng để trang nghiêm điện Phật, cho nên làm phan cúng dường Phật và Bồ tát được rất nhiều phúc đức. Cứ theo điều Bố thí Phật phan duyên trong kinh Soạn tập bách duyên quyển 7, ở đời quá khứ, tỉ khưu Ba đa ca làm lá phan dài để cúng dường đức Phật Tì bà thi, được quả báo trong 91 kiếp không bị đọa vào các đường ác, được sinh trong cõi người, cõi trời, hưởng mọi phúc lạc. Kinh Quán đính quyển 11 cũng nói rằng, người làm phan được phúc báo lìa 8 nạn khổ, sinh về Tịnh độ của chư Phật trong 10 phương. Kinh Quán đính quyển 12 thì cho rằng tạo phan 5 sắc sẽ thoát khỏi các nạn khổ và mạng sống lâu dài. Tại Trung quốc, vào đời Tùy, phan được sử dụng để cúng dường trong mọi Phật sự. Hình dáng lá phan là: Đầu phan làm hình tam giác, thân phan hình dài liên tiếp, dưới đầu và 2 bên thân phan có những tua rủ xuống, gọi là tay phan, còn phần dưới thân phan cũng có những tua rủ xuống, gọi là chân phan. Về nguyên liệu để làm phan thì có nhiều loại như: Gấm, lụa, là, đồng đàn mỏng, ngọc báu, gỗ v.v... Về màu sắc thì có: Trắng, đỏ, vàng, xanh, vàng lợt, hồng... đó là loại phan chỉ có 1 màu duy nhất. Nhưng Mật giáo thì thường dùng phan 5 màu: Xanh, vàng, đỏ, trắng, đen. Năm màu biểu thị 5 hành, lần lượt tượng trưng cho 5 tạng trong thân thể. Dùng phan 5 màu để thờ Phật tức là mong bồi dưỡng 5 tạng để được sống lâu, thế nên khi tu pháp cầu sống lâu thường sử dụng phan 5 màu. Ngoài, ra còn có phan 8 màu, phan 9 màu, phan nhiều màu lẫn lộn... Về kích thước thì được chia làm 2 loại là phan lớn, phan nhỏ, đều có khuôn khổ nhất định. Lại tùy theo nơi treo phan mà phan có các tên gọi khác nhau như Kim đường phan (Trung đường phan, Phật điện phan), Giảng đường phan, Di lặc đường phan(các loại trên đây được gọi chung là Đường phan). Các Đường phan phần nhiều được may bằng gấm và lụa. Loại phan dùng trong pháp cầu mưa, gọi là Đình phan, phần nhiều được làm bằng ngọc, tơ và dùng màu xanh. Phan treo trên tòa của Đạo sư và Giảng sư, gọi là Cao tòa phan; phan treo ở 4 góc của Thiên cái (tàn lọng lớn) gọi là Thiên cái phan... Lại tùy theo cách sử dụng mà chia ra các loại: Quán đính phan, Tục mệnh phan, Thọ mệnh phan, Tiến vong phan, Mệnh quá phan(dùng trong lễ cầu siêu cho người chết); Tống táng phan, cũng gọi Tứ bản phan(dùng trong nghi lễ đưa ma), Thí ngã quỉ phan(dùng trong lễ cúng thí quỉ đói – chủ yếu dùng phan làm bằng giấy)... Sau hết, căn cứ vào hình vẽ mà chia làm 4 loại phan: 1. Hội phan: Phan vẽ các hình tượng Phật, Bồ tát, Minh vương, chư thiên. 2. Chủng tử phan: Phan viết các chữ chủng tử của Phật, Bồ tát để thay thế cho hình tượng vẽ. 3. Tam muội da hình phan: Cũng gọi Phật pháp phan. Phan vẽ hình Tam muội da của Phật và Bồ tát. 4. Chàng phan: Phan có hình 6 góc hoặc 8 góc. Trong các kinh điển còn nói về nhiều loại phan, như Long tử phan nói trong phẩm Bồ tát giới của kinh Văn thù sư lợi vấn quyển thượng, Sư tử phan, Mạc yết la phan, Long phan, Yết lộ đồ phan, Ngưu vương phan v.v... được nói trong Hữu bộ ni đà na mục đắc ca quyển 5. [X. kinh Tạp a hàm Q.25; kinh Đà la ni tập Q.3; kinh Đại bát niết bàn Q.trung (bản 3 quyển); Kinh luật dị tướng Q.6; A dục vương tạo bát vạn tứ thiên tháp kí trong Thích ca phổ Q.5; Mật giáo pháp cụ tiện lãm].

phan duyên

nương theo, vịn theo các duyên. Ví như nhân một chuyện này mà nghĩ đến các chuyện khác, lại đến các chuyện khác nữa, như sợi dây leo bò mãi đến không cùng, gọi là phan duyên. Tâm ý nương theo sáu trần làm duyên, nảy sanh những ý tưởng suy xét, mưu tính mãi mãi không dừng, gọi là phan duyên. ; Duyên—Tâm nương vịn vào cảnh sở mà khởi lên, giống như người già vịn vào cây gậy mà đứng lên (tâm thay đổi lúc thế nầy lúc thế khác, tùy theo sự vật của thế giới bên ngoài, giống như con vượn chuyền cây, hay con ngựa vô cương)—Something to lay hold of, a reality, cause, basis, similar to an old man relies on his cane (the mind likea monkey, the thought like a horse). ** For more information, please see Duyên in Vietnamese-English Section. ; (攀緣) ... Phạm: Àlambana. Phan là kéo lại, leo trèo, vin theo. Phan duyên có nghĩa là tâm bám dính vào 1 đối tượng nào đó(cảnh sở duyên). Chúng sinh khởi các vọng tưởng, tâm vọng vin theo các pháp. Vọng tưởng đã có chỗ vin theo thì thiện ác đã rõ; thiện ác đã rõ thì yêu ghét nổi lên. Do đó mà trong thì kết thành các phiền não, ngoài thì sinh muôn tật bệnh. Đây đều do tác dụng của tâm phan duyên mà ra. [X. phẩm Vấn tật trong kinh Duy ma Q.trung; kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.1; Ma ha chỉ quán Q.5, thượng].

phan giác

Nắêm lấy và hiểu biết những cái cạn cợt bên ngoài, như con vượn chuyền hết cành nầy qua cành khác—Seizing and perceiving, like a monkey jumping from branch to branch, i.e. attracted by external unstable. ; (攀覺) Chỉ cho tâm tán loạn chạy theo cái biết đối với ngoại cảnh. Ma ha chỉ quán quyển 5, thượng (Đại 46, 57 hạ) nói: Tâm phan giác rong ruổi, Đều từ vọng tưởng sinh. Hệt như xoay vòng lửa, Ngừng tay vòng lửa dứt; Như sóng lớn cuồng nộ, Gió lặng thì sóng yên. (xt. Phan Duyên).

Phan Đỉnh Khuê

(潘鼎珪, ?-?): tự là Tử Đăng (子登), người vùng An Khê (安溪), Phúc Kiến (福建); sống ở Tấn Giang (晉江); tánh thích ngâm vịnh, lại có sở trường về Cổ Thi, thường dạo chơi đất Giao Chỉ (交趾). Trước tác của ông có An Nam Ký (安南紀). Trong khoảng cuối thời vua Khang Hy (康熙, tại vị 1662-1722) và đầu thời vua Ung Chánh (雍正, tại vị 1722-1735) nhà Thanh, ông sang sống tại Đài Loan (臺灣); đến cuối đời thì trở về Tuyền Châu (泉州) và qua đời ở tuổi 80. Ông có để lại hơn 20 tập thơ văn.

phanh phui

To speak out the truth.

phanh phật hạ tổ

(烹佛煆祖) Đồng nghĩa: Sát Phật sát tổ, Siêu Phật việt tổ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nấu Phật nướng tổ, biểu thị cơ pháp linh hoạt của bậc thầy. Nghĩa là lĩnh hội được ý nghĩa chân thực của Phật pháp mà không dính mắc vào các hình tượng Phật và tổ. Lời tựa của ngài Phổ chiếu trong Bích nham lục (Đại 48, 139 thượng) nói: Cầm kiền chùy nấu Phật nướng tổ, tụng ra cái mũi hướng thượng của nạp tăng.

phao khước hoàng kim phụng lục chuyên

(拋却黃金捧碌磚) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vứt bỏ vàng thoi lượm lấy ngói vỡ. Hoàng kim là vật quí trọng, ví dụ Phật tính mà mọi người đều sẵn có; còn Lục chuyên, tức gạch ngói, là những vật hèn mọn tầm thường, ví dụ sự mê chấp của vọng tưởng phân biệt. Nghĩa là vứt bỏ tính Phật sẵn có mà giữ lấy vọng tưởng phân biệt, đó là cái ngu si khờ dại của chúng sinh.Hư đường hòa thượng ngữ lục quyển 3 (Đại 47, 1005 trung) chép: Vị tăng hỏi: Khi cây đổ dây khô thì ngôn cú (nói năng) qui về chỗ nào? Sư nói: Vứt bỏ vàng thoi lượm lấy ngói vỡ (Phao khước hoàng kim phủng lục chuyên).

phao ngôn

To spread a rumour.

phao vu

To slander—To calumniate.

Pháp Diễn

(法演, Hōen, ?-1104): vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, người vùng Miên Châu (綿州, thuộc Tỉnh Tứ Xuyên ngày nay), họ là Đặng (鄧). Năm 35 tuổi, ông xuất gia thọ Cụ Túc giới, sau lên Thành Đô học về Duy Thức, rồi đi về phương Nam tham yết Viên Chiếu Tông Bổn (圓照宗本), kế đến tham vấn Phù Sơn Pháp Viễn (浮山法遠), cuối cùng theo học với Bạch Vân Thủ Đoan (白雲守端) và kế thừa dòng pháp của vị nầy. Từ đó, ông đến trú tại Tứ Diện Sơn (四面山) vùng An Khánh (安慶, thuộc Tỉnh An Huy ngày nay), sau chuyển đến Thái Bình Tự (太平寺), rồi Bạch Vân Sơn Hải Hội Thiền Viện (白雲山海會禪院) ở Thư Châu (舒州). Đến cuối đời, ông chuyển đến trú tại Ngũ Tổ Sơn (五祖山) ở Kì Châu (蘄州), cử xướng tông phong của Phái Dương Kì một cách mạnh mẽ. Chính ông đã đào tạo khá nhiều bậc long tượng như Viên Ngộ Khắc Cần (圜悟克勤), Thái Bình Huệ Cần (太平慧懃), Phật Nhãn Thanh Viễn (佛眼清遠), Khai Phước Đạo Ninh (開福道寧), Đại Tùy Nguyên Tĩnh (大隨元靜), v.v. Vào tháng 6 năm thứ 3 (1104) niên hiệu Sùng Ninh (崇寧) nhà Tống, ông thị tịch, hưởng thọ 80 tuổi. Trước tác của ông có Ngũ Tổ Pháp Diễn Thiền Sư Ngữ Lục (五祖法演禪師語錄) 4 quyển.

phi

1) Bay: To fly. 2) Không phải—Chẳng phải—sai—Not—Without—Apart from—Wrong. 3) Thê thiếp của vua: An imperial concubine.

phi an lập

Không sai biệt không thiết lập bởi từ ngữ—The unestablished or undetermined; which is beyond terminology. ; (非安立) Đối lại: An lập. Không bày đặt thiết lập. Dùng ngôn ngữ, danh tướng... bày đặt ra các pháp sai khác, gọi là An lập; trái lại các pháp chân như bình đẳng, không có sai khác, chẳng phải những pháp thiết lập nên, bày đặt ra, thì gọi là Phi an lập. Phi an lập tuy chủ yếu chỉ cho Nhất chân pháp giới lìa ngôn ngữ, danh tướng (Phế thuyên đàm chỉ), nhưng cũng gọi là Nhị không chân như nhờ lời nói mà được hiển bày (Y thuyên đàm chỉ), đây tức là Phi an lập giả danh. Thành duy thức luận thuật kí quyển 9 phần cuối (Đại 43, 568 thượng) nói: Cái có danh tướng, ngữ ngôn sai biệt gọi là an lập; cái không sai biệt, lìa mọi danh tướng, ngữ ngôn gọi là Phi an lập. An lập nghĩa là bày đặt ra. [X. luận Du già sư địa Q.64; Thành duy thức luận thuật kí Q.9].(xt. An Lập).

phi an lập đế

Phi An Lập Chân Như hay cái lý của chân như thành thực, đối lại với chân như được diễn tả bằng lời nói và tư tưởng, phân biệt trong Duy Thức Học—The doctrine of the bhutatathata, the absolute as it exists in itself, i.e. indefinable, contrasted with the absolute as expressible in words and thought, a distinction made by the Sastra of Consciousness Only. ; (非安立諦) Cũng gọi Phi an lập chân như. Thể tính của chân như lìa tướng danh tự, lìa tướng tâm duyên, tịch diệt vô vi, gọi là Phi an lập đế, 1 trong 2 chân như nói trong luận Duy thức. Thành duy thức luận thuật kí quyển 1 phần đầu (Đại 42, 244 thượng) nói: Giả danh phi an lập đế, nghĩa là lí nhị không nưong nơi giả không môn nói là chân tính, nhờ chân tính ấy mà bên trong chứng trí cảnh vô ngôn. Gọi Nhị không như chỉ là bày đặt. [X. luận Du già sư địa Q.72; luận Hiển dươngThánh giáo Q.6].

phi bật sô

(非苾芻) Chẳng phải Bật sô. Chỉ cho tỉ khưu phạm 4 tội nặng: Giết hại, trộm cướp, dâm dục và nói dối. Vấn đề này, Kinh bộ và Hữu bộ của Tiểu thừa giải thích khác nhau. Trong kinh bộ, theo văn luật, người phạm 4 tội nặng đã xả bỏ giới thể, cho nên gọi là Phi bật sô. Còn trong Hữu bộ, theo văn kinh, thì người phạm 4 tội năng gọi là Ô đạo sa môn (sa môn làm ô danh đạo), tức là vẫn còn cái tên gọi Sa môn. Cho nên biết người vẫn giữ giới mà gọi là Phi bật sô là chỉ cho Phi thắng nghĩa bật sô. Thắng nghĩa bật sô là chỉ cho các bậc Thánh nhân. Nhưng vì tỉ khưu phạm 4 tội nặng, không thành quả Thánh, cho nên gọi là Phi bật sô chứ không phải chỉ cho việc xả bỏ giới thể. [X. luận Câu xá Q.15; Câu xá luận sớ Q.15].

phi bồ tát

Không phải Bồ Tát, chỉ những người tu hành mà chưa phát nguyện Đại Thừa—Not Bodhisattvas—Those who have not yet inclined their heart to Mahayana.

phi căn

(非根) Chẳng phải căn. Năm trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc và một phần pháp giới thuộc về phi căn. (xt. Nhị Thập Nhị Căn, Thập Bát Giới).

phi diệt

Sự nhập diệt của Thế Tôn không phải là sự diệt mất—The Buddha's extinction or death is not considered as real.

phi dụ

Một thí dụ tưởng tượng chứ không phải là những yếu tố cụ thể, một trong tám loại so sánh—An imaginary and not factual metaphor, one of the eight forms of comparision. ; (非喻) Một loại thí dụ. Như trong kinh nói đức Phật dùng 4 núi lớn từ 4 phương ập đến muốn làm hại chúng sinh để ví dụ 4 cái khổ sinh, già, bệnh, chết làm tổn hại chúng sinh. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.29 (bản Bắc)]. (xt. Thí Dụ).

phi hoa lạc diệp

(飛花落葉) Hoa bay lá rụng. Hàng Độc giác thừa 1 mình vào trong rừng, trông thấy hoa bay lá rụng mà cảm nhận được lẽ vô thường của cuộc đời, nhân đó mà khai ngộ.

phi hành

Có khả năng bay đến bất cứ nơi nào tùy ý—Flying anywhere at will. ; (飛行) Bay đi trong hư không một cách tự do, tự tại, tức là người đã chứng được Nhưý thông, 1 trong 6 thần thông. [X. luận A tì đàm cam lộ vị Q.hạ].

phi hành dạ xoa

Mội loại quỷ biết bay—Flying yaksas, or demons. ; (飛行夜叉) Dạ xoa, Phạm: Yakwa. Hán dịch: Uy đức, Từ tế, Tiệp tật. Loại quỉ trụ ở cõi trời Đao lợi, lệ thuộc trời Tì sa môn. Luận Thuận chính lí quyển 31 (Đại 29, 517 hạ) nói: Loài quỉ có uy thế lớn là các Dược xoa, La sát sa, Cung bạn đồ... thụ hưởng giàu sang vui sướng ngang với các trời. Loài quỉ này hoặc ở trong rừng cây, hoặc ở nơi linh miếu, hoặc ở trong núi, hoặc ở nơi cung điện trong hư không. Luận Đại trí độ quyển 12 thì nêu ra 3 loại Phi hành dạ xoa là Địa hành, Hư không và Cung điện. Trong đó, Địa hành dạ xoa được hưởng các thú vui âm nhạc, thức ăn uống...; Hư không dạ xoa có thế lực lớn, đi, đến như gió, Cung điện dạ xoa thì có rất nhiều thứ tiện nghi vui chơi. Sự hưởng thụ của các Dạ xoa này đều do quả báo của họ ở quá khứ mà có khác nhau. Theo chú Duy ma kinh quyển 1 thì Dạ xoa cũng có 3 loại: 1. Địa dạ xoa. 2. Hư không dạ xoa. 3. Thiên dạ xoa. Địa dạ xoavìbố thí tiền của nên không thể bay trong hư không; còn Thiên dạ xoa thì vì bố thí xe, ngựa nên không thể bay đi. Ngoài ra, trong các kinh thường thấy nói đến các thần Dạ xoa bay đi trong hư không.

phi hành hoàng đế

Vị Chuyển Luân Thánh Vương cưỡi xe đi trong không trung—Flying ruler, synonym for a sovereign.

phi hành phi toạ tam muội

(非行非坐三昧) Cũng gọi Giác ý tam muội, Tùy tự ý tam muội. Tam muội không đi không ngồi, 1 trong 4 thứ Tam muội do tông Thiên thai lập ra. Tuy gọi là Phi hành phi tọa nhưng thực ra thì thông cả hành, trụ, tọa, ngọa và tất cả các việc, tùy ý khởi động mà tu thiền định, cho nên cũng gọi là Tùy tự ý tam muội, Giác ý tam muội. Tức trong tất cả thời, trên tất cả việc, hễ niệm khởi liền hết, ý khởi liền tu tam muội. (xt. Tứ Chủng Tam Muội).

phi hành tiên

Vị Tiên có thể phi thân từ nơi nầy đến nơi khác—Flying genii. ; (飛行仙) Loại tiên bay đi trong hư không, 1 trong 10 loại tiên nói trong kinh Lăng nghiêm. Kinh Lăng nghiêm quyển 8 (Đại 19, 145 hạ) nói: Kiên quyếtdùng cỏ cây mà không dừng nghỉ, khi luyện thuốc được thành tựu, gọi là Phi hành tiên. (xt. Thập Hành Tiên).

phi hóa

Bay đi và thay đổi—Flying and changing.

phi hắc phi bạch nghiệp

Nghiệp Vô Lậu—Tính của nghiệp vô lậu là không nhiễm ô nên gọi là phi hắc, không đem lại cái thiện quả của hữu lậu nên gọi là phi bạch—Neither black nor white karma—Karma which does not affect metempsychosis either for evil or good. ; (非黑非白業) Nghiệp chẳng đen chẳng trắng. Chỉ cho nghiệp vô lậu, 1 trong 4 thứ nghiệp. Tính của nghiệp vô lậu không ô nhiễm, nên gọi Phi hắc; cũng không mang lại quả thiện hữu lậu, nên gọi Phi bạch. (xt. Tứ Nghiệp)

phi học giả

Những người không học Phật Pháp—Those who do not learn Buddha-truth.

phi học thế giả

Thế giới của những người không tu học Phật pháp—A world of those who do not learn Buddha-truth.

phi hữu

Abhava (skt)—Không hiện hữu, không có thật—Non-existence—Not real—Non-reality.

phi hữu phi không

Trung đạo mà Duy Thức Luận trình bày tất cả các pháp đều chẳng phải hiện hữu mà cũng chẳng phải không hiện hữu; chẳng phải vật chất mà cũng chẳng phải phi vật chất (đây là bản chất của Chân Như). Dù sự là phi hữu, lý cũng chẳng phải là phi không—Neither existing nor empty—Neither material nor immaterial (The characteristics of bhutatathata). In the light of this, though the phenomenal has no reality in itself, the noumenal is not void. ; (非有非空) Chẳng có chẳng không. Tất cả các pháp đều có 3 tính: Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực. Trong đó, Biến kế (vọng chấp) là không chứ chẳng phải có, Y tha (duyên khởi), Viên thành (chân lí) là có chứ chẳng phải không. Cũng tức là pháp ngoài tâm (Biến kế) chẳng phải có, pháp trong tâm (Y tha, Viên thành) chẳng phải không. Chẳng có chẳng không tức là Trung đạo. Đây là nghĩa Trung đạo nói trong luận Duy thức. (xt. Tam Tính).

phi hữu tình số

(非有情數) Phạm: A-sattvàkhyà, hoặc Asattvasaôkhyà. Cũng gọi Vô tình số. Đối lại: Hữu tình số. Chỉ cho tất cả số loại phi hữu tình như núi sông cây cỏ v.v... Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 172, về ngục tốt ở địa ngục có 2 thuyết: Một cho địa ngục tốt thuộc Hữu tình số, một chủ trương Phi hữu tình số. Thuyết cho ngục tốt thuộc Phi hữu tình, nhưng vì sức nghiệp của các tội nhân mà họ thấy ngục tốt giống như loài hữu tình đang dùng những khí cụ tra tấn, tàn hại thân thể họ. Nhưng thực ra thì ngục tốt không phải hữu tình số mà là Phi hữu tình số. [X. luận Đại tì bà sa Q.13; luận Câu xá Q.5]. (xt. Hữu Tình Số).

phi hữu tưởng phi vô tưởng luận

(非有想非無想論) Cũng gọi Bát chủng phi hữu tưởng phi vô tưởng luận, Bát phi hữu tưởng phi vô tưởng. Kiến giải chấp trước chẳng phải có tưởng chẳng phải không có tưởng và cho rằng sau khi người ta chết cũng như thế. Đây là 1 loại thường kiến sinh khởi do chấp trước đời vị lai, là 1 trong 62 kiến chấp của ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa, chia ra 2 loại Tứ cú: 1. Tứ cú đối nhau giữa sắc và vô sắc. a) Hữu sắc phi hữu tưởng phi vô tưởng (Có sắc, chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng), cũng gọi: Ngã hữu sắc tử hậu phi hữu tưởng phi vô tưởng (Ta có sắc, sau khi chết chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng). b) Vô sắc phi hữu tưởng phi vô tưởng, cũng gọi Ngã vô sắc tử hậu phi hữu tưởng phi vô tưởng. c) Diệc hữu sắc diệc vô sắc phi hữu tưởng phi vô tưởng (Cũng có sắc cũng không sắc chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng), cũng gọi Ngã diệc hữu sắc diệc vô sắc tử hậu phi hữu tưởng phi vô tưởng. d) Phi hữu sắc phi vô sắc phi hữu tưởng phi vô tưởng, cũng gọi Ngã phi hữu sắc phi vô sắc tử hậu phi hữu tưởng phi vô tưởng. Đây là sự nhiễm trước của người đã xa lìa cõi Vô sở hữu, họ chấp trước các uẩn vô sắc của cõi Phi tưởng phi phi tưởng làm ta, hoặc ta và sắc hòa hợp mà chấp trước ta là hữu sắc. Vì định tưởng mà họ đang ở trong không rõ ràng, nên chấp trước như ta hiện tại đang ở trong phi hữu tưởng vô tưởng thì sau khi ta chết cũng như thế. 2. Tứ cú đối nhau giữa biên và vô biên. a) Hữu biên phi hữu tưởng phi vô tưởng, cũng gọi Ngã hữu biên phi hữu tử hậu phi hữu tưởng phi vô tưởng. b) Vô biên phi hữu tưởng phi vô tưởng, cũng gọi Ngã vô biên tử hậu phi hữu tưởng phi vô tưởng. c) Diệc hữu biên diệc vô biên phi hữu tưởng phi vô tưởng, cũng gọi Ngã diệc hữu biên diệc vô biên tử hậu phi hữu tưởng phi vô tưởng. d) Phi hữu biên phi vô biên phi hữu tưởng phi vô tưởng, cũng gọi Ngã phi hữu biên phi vô biên tử hậu phi hữu tưởng phi vô tưởng. Đây là sự nhiễm trước của người đã được định ở cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, họ chấp trước uẩn vô sắc là ta, thời gian nhập định rất ngắn mà lấy 1 uẩn làm đối tượng duyên theo, gọi là Hữu biên; thời gian nhập định lâu dài mà lấy 4 uẩn làm đối tượng duyên theo, gọi là Vô biên. Định tưởng mà họ vào không rõ ràng, nên chấp trước như ta hiện tại ở phi hữu tưởng phi vô tưởng thì sau khi chết cũng như thế. [X. kinh Phạm động trong Trường a hàm Q.14; luận Đại tì bà sa Q.199; luận Du già sư địa Q.6]. (xt. Lục Thập Nhị Kiến).

phi hữu tưởng phi vô tưởng thiên

Naivasamjnanasamjnayatana (skt)—See Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên and Tứ Không Xứ.

phi khí

Theo Phẩm Đề Bà trong Kinh Pháp Hoa, “Phi Khí” là cái căn khí không đủ sức thọ trì Phật pháp, như thân của người nữ, không thanh tịnh—According to Chapter 12 (Deva) in the Lotus Sutra, a vessel unfit for Buddha or Budhism, i.e. a woman's body, which is unclean. ; (非器) Không phải căn cơ, pháp khí có khả năng gánh vác được Phật pháp. Phẩm Đề bà trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 35 hạ) nói: Thân người nữ dơ bẩn, không phải là pháp khí. Trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 3, ngài Trừng quán nêu 5 hạng người không có tư cách thụ trì kinh Hoa nghiêm, gọi là Phi khí. Đó là: Vô tin, Vi chân, Quai thực, Hiệp liệt và Thủ quyền. 1. Vô tín phi khí: Người vì nghe kinh Hoa nghiêm mà sinh phỉ báng nên phải rơi vào trong đường ác. 2. Vi chân phi khí: Nương theo sự phỉ báng của kinh này (tức kinh Hoa nghiêm), để cầu danh lợi, thuyết pháp bất tịnh, nên tập thànhtà thiện. 3. Quai thực phi khí: Dựa vào lời mà chấp văn, hoặc theo tiếng mà chấp nghĩa, nên lí sâu xa mầu nhiệm không thể nhập thần được. 4. Hiệp liệt phi khí: Chỉ chung cho hàng Nhị thừa, ở giữa pháp hội nghe giảng, mà thực giống như người điếc, người đui, chẳng nghe chẳng thấy gì. 5. Thủ quyền phi khí: Chỉ chung cho hàng Bồ tát Tam thừa cộng giáo... Giả sử bậc Bồ tát tu hành lục độ mà chưa nghe kinh này, hoặc nghe rồi mà không tin, không hiểu, không thuận, thì cũng không vào được pháp cụ đức viên dung này, vì thế không gọi được là Bồ tát chân thật. [X. kinh Đại bảo tích Q.38; kinh Hoa nghiêm Q.4 (bản dịch cũ)].

phi khô phi vinh

(非枯非榮) Chẳng héo chẳng tươi. Cứ theo phẩm Ứng tận hoàn nguyên trong kinh Đại bát niết bàn hậu phần quyển thượng và Đại bát niết bàn kinh sớ quyển 1, bên bờ sông Hi liên phía ngoài thành Câu thi na kiệt la, lúc sắp nhập diệt, đức Thế tôn nằm trên giường, 4 chung quanh có 8 cây Sa la (Phạm: Zàla), mỗi phía có 2 cây, dưới đất rễ liền nhau, trên cây cành giao nhau, giống như cây liền cành. Một cây trong 2 cây ở 4 bên, buồn thương vì đức Thế tôn nhập diệt nên biến thành màu trắng thảm đạm, dần dần khô héo, nên có Tứ khô (4 cây khô); 4 cây còn lại thì vẫn tươi, nên có Tứ vinh(cây tươi), vì lí do ấy mà gọi là Phi khô phi vinh hoặc Tứ khô tứ vinh. (xt. Sa La Thụ).

phi không

Asunya (skt)—Non-empty.

phi kị tướng quân nhập lỗ đình

(飛騎將軍入虜庭) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tướng cỡi ngựa bị giặc bắt sống. Theo điển cố Trung quốc, Lí quảng đời Hán có lần lâm trận, bị giặc Hung nô bắt sống, ông bèn giả chết để gạt tướng Phiên, về sau ông lại rình cơ hội cướp ngựa trốn thoát. Trong Thiền lâm, cụm từ này được dùng để chỉ cho người đang trong cảnh ngộ táng thân mất mạng mà vẫn có thể mạo hiểm để tự tìm cơ hội sống còn. Bích nham lục tắc 4 (Đại 48, 144 trung) nói: Tướng cỡi ngựa bị bắt sống rồi (Phi kị tướng quân nhập lỗ đình!). (Ôi! Tướng thua trận là kẻ bỏ mạng, chém làm gì nữa cho nhọc!).

phi lai

Tên một ngôi chùa tọa lạc trong xã Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh Châu Đốc, cách biên giới Việt Miên khoảng 4 dậm. Chùa được xây dựng năm 1877. Trong phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam vào thập niên 1920, chùa là một trong các trường Phật học ở miền Nam đã đào tạo nhiều vị Tăng lỗi lạc. Hòa Thượng Chí Thiền, vị trụ trì chùa, cũng là người sáng lập ra Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học—Name of a temple located in Ba Chúc village, Tri Tôn district, Châu Đốc province, about 4 miles from Vietnamese Cambodian border. It was built in 1877. During the movement of Buddhist development in Vietnam in the 1920s, the temple was one of the Buddhist schools in Southern Vietnam which formed many talented monks. Most Venerable Chí Thiền, Head of the temple, was the founder of the South Vietnam Buddhist Research Association.

phi lai phong

(飛來峰) Cũng gọi Linh thứu sơn. Núi ở tỉnh Chiết giang, Trung quốc. Ngọn núi không cao quá 160 mét, hoặc 200 mét, nhưng toàn bằng các loại đá và hang động kì lạ hơn các núi khác ở Vũ lâm. Khắp nơi trong ngọn Phi lai đều là hang sâu thăm thẳm bằng đá kì quái, thế núi như treo lơ lửng, hình dáng kì lạ, muôn vẻ, không cái nào giống cái nào, dây sắn, dây bìm chằng chịt, quấn quanh các cây cổ thụ xanh rờn. Tương truyền, khoảng năm Hàm hòa đời Tấn, sư Tuệ lí từng lên núi này, thấy hình thế ngọn núi trông giống với đỉnh núi nhỏ của núi Linh thứu bên nước Trung thiên trúc, ngờ rằng núi này đã từ Thiên trúc bay đến đây nên đặt tên núi là Phi lai phong (ngọn núi bay đến). Chùa Linh ẩn ở phía trước núi cũng do sư Tuệ lí xây dựng. Ở chân ngọn núi Phi lai có vài mươi hang động, có khắc hơn 300 pho tượng Phật bằng đá để thờ trong khám từ đời Ngũ đại đến đời Nguyên, trong đó, động Quan âm là 4319 nổi tiếng nhất, trên vách động khắc đầy tượng Phật lớn nhỏ, tượng Đa bảo thiên vương, tượng Di lặc, tượng La hán, tượng Phật Tam bảo... nổi tiếng khắp nơi. Trong động Kim quang của núi Phi lai còn có vô số tượng đá khắc rất tinh xảo, mĩ lệ, như 11 pho tượng Phật Lô xá na khắc nổi trên vách đá của cửa động là những tác phẩm của niên hiệu Càn hưng năm đầu (1022) đời vua Chân tông nhà Tống. Pho tượng Bồ tát có 3 mặt, 8 tay khắc trên sườn núi Phi lai là tác phẩm được thực hiện vào khoảng đời Nguyên. Ngoài ra, trên vách còn khắc 18 pho tượng La hán và tượng Hòa thượng Bố đại, tương truyền là những tác phẩm của vị tăng đời Nguyên tên là Dương liễn Chân già.

phi luật nghi

Bất Thiện Luật Nghi—Unwholesome rules and ceremonies.

phi luật nghi phi bất luật nghi

(非律儀非不律儀) Cũng gọi Xử trung. Một trong 3 loại Vô biểu sắc. Luật nghi (Phạm: Saôvara), cũng gọi Đẳng hộ, Phòng hộ, Cấm giới, là giới điều ngăn dứt lỗi lầm, có tác dụng ngăn ngừa 3 lỗi thân, khẩu, ý, giữ gìn 6 căn.Trái lại thì là Bất luật nghi. Phi luật nghi phi bất luật nghi không phải là cực thiện của luật nghi mà cũng chẳng phải là cực ác của bất luật nghi, mà là thiện ác tùy duyên và ứng thời mà sinh khởi; tức là thiện của Xử trung và ác của Xử trung, lực dụng của thiện ác này rất yếu ớt, cho nên được gọi là thiện, ác của xử trung, cũng tức là thiện và ác của Phi giới luật, thể của chúng chẳng sinh ra thiện hoặc bất thiện. Luận Câu xá quyển 14 (Đại 29, 72 trung) nói: Trong đây, tóm lại, Vô biểu sắc có 3 loại: Luật nghi, Bất luật nghi và Phi nhị (Phi luật nghi phi bất luật nghi). Luận Đại thừa tì đạt ma tạp tập quyển 8 (Đại 31, 730 hạ) nói: Các nghiệp thiện như bố thí, ái ngữ...và các nghiệp bất thiện như đánh nhau... không nhiếp vào luật nghi và bất luật nghi, vì thế nên gọi là Phi luật nghi phi bất luật nghi. [X. luận Du già sư địa Q.53; Pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3, phần cuối]. (xt. Vô Biểu Sắc).

phi lý

Irrational—Illogical—Extravagant.

phi lượng

Tất cả tri kiến chấp thật, sai trái với hiện lượng, tỷ lượng. ; (非量) Cũng gọi Tự lượng. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho Tự hiện lượng và Tự tỉ lượng, 1 trong 3 lượng. Tự¦ nghĩa là tựa hồ như đúng nhưng thực ra là sai; Hiện lượng tức là cái biết thuộc về trực giác; Tỉ lượng tức là cái biết thuộc về suy luận. Tự hiện lượng (gọi tắt: Tự hiện): Sự nhận biết sai lầm về đối tượng trước mắt, như trong bóng tối lờ mờ, thấy sợi dây tưởng lầm là con rắn. Tự tỉ lượng (gọi tắt: Tự tỉ): Sự nhận biết sai lầm về đối tượng suy luận, như từ xa thấy sương mù mà tưởng là khói rồi suy luận sai lầm rằng ở nơi đó có lửa. Tự hiện lượng và Tự tỉ lượng chỉ ang áng như Chân hiện lượng và Chân tỉ lượng, chứ thật ra không phải là Chân hiện lượng, Chân tỉ lượng, vì thế gọi là Phi lượng. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng, hạ; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.1, 8]. (xt. Tam Lượng, Nhân Minh).

phi lạc tu

(非樂修) Không tu vui, 1 trong 3 pháp tu kém cỏi.Chỉ cho hàng Thanh văn không biết rằng trong các pháp tự có cái vui của Niết bàn tịch diệt, mà cứ một mực quán tưởng tất cả các pháp đều là khổ, gọi là Phi lạc tu. (xt. Tam Tu).

phi lậu phi vô lậu nghiệp

Karma of neither ordinary rebirth, nor Hinayana nirvana—Neither of both—Mahayana nirvana.

phi lễ

Rude—Impolite—Uncivil—Discourteous.

phi lục sinh

Không phải phát sanh do thức thứ sáu, mà do các thức khác—Not arising directly from the mind, which is the sixth sense, but from other senses.

phi nghiệp

Cái chết vì tai nạn bất ngờ không phải do nghiệp nhân của đời trước mà do tai họa của hiện đời. Đây là cái chết hoạnh tử—Death by accident said not to be determined by previous karma—A sudden, unnatural accidental death. ; (非業) Cũng gọi Hoạnh tử. Chết non. Nghĩa là theo nghiệp đời trước thì thọ mệnh chưa hết, nhưng vì gặp tai nạn bất ngờ ở hiện tại (như tai nạn xe cộ) đến nỗi phải chết, gọi là Phi nghiệp tử. Ngoài ra, tuổi thọ của người đời thường được gọi là Định mệnh, nếu người chưa đến định mệnh(chưa hết số) mà chết yểu thì gọi là Phi nghiệp tử, đây cũng do quả báo của nghiệp ác đời trước; nếu chuyển hóa được nghiệp ác này thì có thể bảo toàn được tuổi thọ. Kinh Kim cương thọ mệnh đà la ni (Đại 12, 578 thượng) nói:Tôi dùng tất cả sức uy thần của Như lai khiến cho hết thảy chúng sinh chuyển hóa nghiệp phi mệnh mà tăng thêm tuổi thọ.

phi nghĩa

Ill-gotten.

phi nhân

hạng chúng sanh không phải người, không có thể xác như loài người. Tuy có thể biến hóa ra hình người nhưng không phải người nên gọi là phi nhân. ; 1) Không phải người, ngoài loài người ra còn có những chúng sanh phi nhân như loài Trời, Rồng, Ma, và Dạ Xoa, cũng như tất cả các loài trong bóng tối (mắt thường không thể thấy được): Not men, not of the human race, i.e. devas, kinnaras, nagas, maras, raksas, and all beings of darkness. 2) Thỉnh thoảng còn được dùng ám chỉ một vị Tăng đã cắt ái ly gia làm du Tăng khất sĩ, sống khác với người thường: Sometimes applied to monks who have secluded themselves from the world and to beggars, i.e. not like ordinary men. ; (非人) Phạm: Amanuwya. Pàli: Amanussa. Chẳng phải loài người. Chỉ chung cho các loài: Trời, rồng, Dạ xoa, Ác quỉ, Tu la, địa ngục... Tỉ khưu lục vật đồ tư sao quyển hạ ghi: Trong luật điển nói có 3 cõi là: Cõi người, cõi phi nhân và cõi súc sinh. Trong đó, cõi phi nhân chỉ cho 4 cõi: Trời, Tu la, địa ngục và ngã quỉ. Bậc sa môn xuất gia lánh tục cũng khiêm tốn tự xưng là Phi nhân. Ngoài ra, từ ngữ Phi nhân còn được dùng để chê bai người nghèo túng, xin ăn. [X. kinh Chủng đức trong Trường a hàm Q.15; phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa; luận Đại tì bà sa Q.126; luận Câu xá Q.12].

phi nhơn

Non-humans—Not men—Not of the human race—See Phi Nhân.

phi nhị tụ

(非二聚) Chỉ cho loại tụ phi sắc phi tâm pháp, 1 trong 3 tụ. Tất cả các pháp hữu vi được chia làm 3 loại tụ lớn: 1. Hữu vi tụ: Chỉ cho các pháp do nhân duyên mà li hợp, sinh diệt. 2. Vô vi tụ: Chỉ cho các pháp không do nhân duyên hòa hợp, không sinh diệt. 3. Phi nhị tụ: Chỉ cho tất cả các pháp không thuộc 2 loại tụ trên. (xt. Tam Tụ, Phi Sắc Phi Tâm).

phi nhị tựu

Đứng riêng khỏi hai thứ thân và tâm—Apart from the two categories of matter and mind—See Phi Sắc Phi Tâm.

phi phi tưởng thiên

Non-No-Thought Heaven—See Tứ Thiền Thiên.

phi phong phi phan

(非風非幡) Cũng gọi Lục tổ phong phan tâm động, Lục tổ tâm động, Phong phan động. Tên công án trong Thiền tông. Chẳng phải gió chẳng phải phan (lá phướn). Sau khi đắc pháp ở Hoàng mai, ngài Lục tổ Tuệ năng, vào niên hiệu Nghi phụng năm đầu (676), đến chùa Pháp tính ở Quảng châu, nhân gặp lúc 2 vị tăng đang tranh luận về gió và phan nên Ngài đã chỉ dạy công án này. Phẩm Hành do trong Lục tổ đại sư pháp bảo đàn kinh (Đại 48, 349 hạ) ghi: Lúc ấy gió thổi phan động, 1 vị tăng nói gió động, 1 vị tăng nói phan động, 2 người cứ tranh cãi mãi không thôi. Ngài Tuệ năng liền đến nói: Chẳng phải gió động, cũng chẳng phải phan động, mà chính là tâm của 2 vị động! Nghe Ngài nói mọi người đều kinh ngạc. [X. Vô môn quan tắc 19; Cảnh đức truyền đăng lục Q.5; Ngũ đăng hội nguyên Q.1].

phi phàm

Extraordinary—Out of the ordinary.

phi pháp

Illegal—Unlawful.

phi phạm hành

(非梵行) Phạm: A-brahma-carya. Pàli: A-brahma-cariya. Cũng gọi Bất tịnh hạnh. Chỉ cho việc hành dâm. Phạm hạnh là hạnh thanh tịnh, mà hành dâm là hạnh ô nhiễm nên gọi là Phi phạm hạnh(chẳng phải, hoặc trái với hạnh thanh tịnh). Tỉ khưu, tỉ khưu ni vi phạm hạnh này thì bị tăng đoàn trục xuất, vì là 1 trong 4 tội Ba la di. [X. Thiền giới thiên]. (xt. Tứ Ba La Di).

phi phạm hạnh

See Bất Tịnh Hạnh.

phi sanh phi diệt

The doctrine that the Buddha was not really born and did not really die for he is eternal—See Phi Sinh Phi Diệt.

phi sinh phi diệt

1) Giáo pháp của Đức Phật là bất sanh bất diệt, vì đó là chân lý tuyệt đối thường hằng: The doctrine of the Buddha as not really born and did not really die for it is eternal, or the absolute truth. 2) Đức Phật là bất sanh bất diệt vì pháp thân của Ngài là vĩnh hằng: The Buddha as not really born and did not really die, for he is eternal (his dharmakaya is eternal). ; (非生非滅) Chẳng phải sinh, chẳng phải diệt. Sự xuất sinh và diệt độ của đức Thích ca Như lai đều không phải thực sinh thực diệt. Thọ lượng củaNgài vốn là vô biên, chỉ vì muốn giáo hóa làm lợi ích cho chúng sinh nên chẳng phải sinh mà thị hiện sinh, chẳng phải diệt mà thị hiện diệt. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 2 (Đại 33, 828 hạ) nói: Chẳng phải sinh mà hiện sinh, chẳng phải diệt mà hiện diệt, mỗi thứ đều có 2 sự lợi ích: Hình thanh và Quyền thực. Sinh diệt là Thùy tích, chẳng phải sinh chẳng phải diệt là Bản địa vậy. [X. phẩm Thọ lượng kinh Pháp hoa; Pháp hoa văn cú Q.9]. (xt. Bản Tích Nhị Môn).

phi sơ phi trung hậu tiền trung hậu thủ

(非初非中後前中後取) Khi bàn về sự đoạn hoặc không phải ở 3 thời: Sơ, trung, hậu gọi là Phi sơ phi trung hậu; còn khi nói về 3 thời: Tiền, trung, hậu thì gọi là Tiền trung hậu thủ. Trong Chung giáo thuộc 5 giáo (Tiểu, Thủy, Chung, Đốn, Viên), ngài Pháp tạng của tông Hoa nghiêm đã sử dụng nhóm từ này để nói rõ cái tướng đoạn hoặc, trong đó Phi sơ phi trung hậu có xuất xứ từ phẩm Thập địa kinh Hoa nghiêm, còn Tiền trung hậu thủ thì xuất xứ từ Thập địa kinh luận quyển 2. Tuy nhiên, ý nghĩa của Phi sơ phi trung hậu trong kinh Hoa nghiêm và ý nghĩa của Tiền trung hậu thủ trong Thập địa kinh luận có vẻ mâu thuẫn nhau. Do đó mới có sự giải thích chung của các nhà để đả thông, như Thập địa kinh luận của ngài Tuệ viễn thuộc tông Tam luận cho rằng chỉ có 1 niệm đầu (sơ), hoặc 1 niệm giữa (trung) hoặc 1 niệm sau (hậu), đều không rốt ráo, mà phải thông suốt cả 3 thời mới là rốt ráo. Ngài Trừng quán phê bình thuyết của ngài Tuệ viễn, bảo rằng thuyết này chỉ biết có nghĩa đoạn hoặc, chứ không biết nghĩa đoạn mà chẳng phải đoạn, chẳng phải đoạn mà đoạn. Trong Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí quyển 3, phần đầu, thì Ngài Trí nghiễm cho rằng tính duyên khởi là nghĩa duyên sinh vô tính, tức là chân không diệu hữu. Từ nghĩa chân không vô tính mà nói Phi sơ phi trung hậu, nhưng vì vô tính tức là duyên sinh diệu hữu nên trong luận mới nói Tiền trung hậu thủ. Ngài Pháp tạng kế thừa ý này mà định nghĩa đoạn hoặc trong Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 10 như sau (Đại 35, 296 hạ): Tướng đoạn hoặc thứ 2 Luận và kinh gọi là Phi sơ phi trung hậu, nghĩa là trong 3 thời đều không có nghĩa đoạn mới là đoạn vậy. Đây chính là nghĩa duyên sinh vô tính. Lại đem nghĩa này chia ra 2 môn Tương phiên, Tương tục mà bàn giải rộng ra. Bởi thế những nghĩa nói trong kinh và luận chẳng phải mâu thuẩn nhau. Trong Hoa nghiêm kinh sớ sao, ngài Trừng quán cũng hoàn toàn kế thừa thuyết của 2 môn này, đồng thời giải thích rõ ràng chi tiết hơn. Mà thuyết đoạn hoặc của 2 môn Tương phiên và Tương tục chính là bàn nói nghĩa Phi sơ phi trung hậu của kinh Hoa nghiêm và giải thích nghĩa Tiền trung hậu thủ của Thập địa kinh luận, tức là nói rõ tướng đoạn hoặc của Chung giáo trong 5 giáo. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3; Hoa nghiêm ngũ giáo chương thính sao Q.hạ; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí nam kỉ lục Q.10].

phi sắc

Arupa (skt)—Những thứ không có hình tướng hay hình thể, không được thành lập bởi tứ đại (những thứ do tứ đại sinh ra và hình thành thì gọi là sắc)—Formless—Without rupa, form or shape—Not composed of the four elements. ; (非色) Chẳng phải sắc. Nghĩa là pháp không do 4 đại tạo thành. Các pháp được tạo thành và được sinh ra bởi 4 đại đất, nước, lửa, gió, gọi là Sắc; còn các pháp không do 4 đại tạo thành thì gọi là Phi sắc(phi vật chất). Trong 5 uẩn, ngoài sắc uẩn, 4 uẩn còn lại(thụ, tưởng, hành, thức) đều gọi là Phi sắc.

phi sắc phi tâm

Chẳng phải sắc mà cũng chẳng phải tâm (đứng riêng khỏi hai thứ thân và tâm)—Entities neither of matter nor mind—Neither phenomenal nor noumenal—Apart from the two categories of matter and mind. ; (非色非心) Không phải sắc không phải tâm. A tì đạt ma Tiểu thừa chia tất cả pháp hữu vi làm 3 nhóm: Sắc pháp, Tâm pháp và Phi sắc phi tâm pháp.Trong đó, những pháp không phải do 4 đại tạo thành (phi sắc) mà cũng chẳng tương ứng với tâm pháp (phi tâm), gọi là Phi sắc phi tâm pháp.Trong 75 pháp do tông Câu xá lập ra thì 14 pháp Bất tương ứng hành tức là các pháp Phi sắc phi tâm. còn luận Thành thực thì lấy Vô tác sắc(tông Câu xá gọi là Vô biểu sắc) làm Phi sắc phi tâm. (xt. Vô Biểu Sắc).

phi sắc tứ uẩn

Ngoại trừ sắc uẩn ra, bốn uẩn còn lại được gọi là “phi sắc tứ uẩn”—The four skandhas, excluding rupa or form.

Phi sổ diệt vô vi

xem Ba pháp vô vi.

phi sở đoạn

Pháp vô lậu của hữu vô vi (pháp hữu lậu của kiến hoặc là kiến sở đoạn)—Not to be cut off, i.e. active or passive nirvana (discipline). ; (非所斷) Phạm: A-heya. Cũng gọi Phi đoạn, Bất đoạn, Vô đoạn. Không có gì để đoạn trừ. Chỉ cho các pháp hữu vi, vô vi thuộc vô lậu xuất thế, thể tính của chúng thanh tịnh, không bị ràng buộc nên gọi là Phi sở đoạn, là 1 trong 3 đoạn. Như 3 giới sau trong 18 giới, Tầm, Tứ trong Đại địa pháp, Cần trong Đại thiện địa pháp, Đắc và 4 tướng (sinh, trụ, dị, diệt) trong Bất tương ứng hành pháp, 5 căn(tín, tiến, niệm, định,tuệ) trong 22 căn, 4 căn Ý Hỉ Lạc Xả và 3 căn Vô lậu thuộc tông Câu xá, đều thuộc Phi sở đoạn. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 66 thì Phi sở đoạn có 2 nghĩa: 1. Tự tính các pháp xưa nay vốn thanh tịnh, không có gì để đoạn. 2. Phiền não đã bị dứt hết, không có gì để đoạn. [X. luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4; luận Phẩm loại túc Q.6]. (xt. Tam Đoạn).

phi tam phi nhất

Không phải ba mà cũng không phải một, một từ của Tông Thiên Thai dùng để chỉ ba khía cạnh không, giả và trung, không phải ba mà cũng không phải một; tương tự ba thứ pháp thân, trí huệ và niết bàn không phải ba mà cũng chẳng phải một—Neither three nor one, a T'ien-T'ai phrase that noumenon, phenomenon, and madhya or mean, are three aspects of absolute truth, but are not merely three nor merely one; similarly, three powers of dharmakaya, wisdom, and nirvana are neither three nor one. ; (非三非一) Chẳng phải ba chẳng phải một. Theo Viên giáo thì 3 đức (Pháp thân, Bát nhã, Giải thoát)và 3 đế(Không, Giả, Trung), nghĩa lí cũng như đức dụng đều khác nhau, nhưng sự viên dung tương tức thì không lìa 1 vị. Một tức là 3 cho nên 3 mà chẳng phải 3; 3 tức 1 cho nên 1mà chẳng phải 1. Đó chính là phi tam phi nhất, là nghĩa lí tột cùng của Viên giáo.

phi tang

To destroy evidence.

phi thiên

A Tu La—Không phải là chư Thiên, mà phải chịu quả báo giống như chư Thiên, thí dụ như A Tu La—Not devas, i.e. asuras. ; (飛天) Những người trời bay trong hư không, dùng hương hoa, ca múa... cúng dường chư Phật, Bồ tát. Ở Ấn độ từ xưa truyền thuyết Phi thiên đã rất thịnh hành, cho nên trong những di tích quan trọng của Phật giáo, có khá nhiều các bức bích họa hoặc điêu khắc Phi thiên. Như viện Bảo tàng ở vườn Lộc dã và Mạt thố la có cất giữ pho tượng đức Thích ca thuyết pháp tạc bằng đá, trên vòng hào quang của tượng có khắc 2 vị Phi thiên. Ngoài ra, trong vòng hào quang hình chiếc thuyền ở phía sau 3 pho tượng trong điện Ngọc Phật chùa Pháp vũ, núi Phổ đà lạc, tỉnh Chiết giang, Trung quốc, cũng có khắc vài pho tượng Phi thiên, áo trời phấp phới tung bay trong gió, trông như ánh sáng của ngọn lửa.

phi thiện giới

Bất Thiện Giới—Unwholesome commandments.

phi thuyết phá

(飛說破) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Lời nói phá đối phương nhanh như bay. Trong Thiền lâm,giữa lúc Thủ tọa và đại chúng đang đối đáp qua lại, đột nhiên có những câu pháp cơ yếu sắc bén được phóng ra như bay để khiêu chiến, gọi là Phi thuyết phá.

phi thường

1) Vô thường, bằng chứng bởi tuổi già, bệnh tật, và chết chóc—Anitya (skt)—Illusory—Impermanent—Transient—Illusory, as evidenced by old age, disease, and death—See Vô Thường. 2) Extraordinary—Exceptional—Abnormal.

phi thường khổ không phi ngã

See Vô Thường, Khổ, Không, Vô Ngã.

phi thế

(披剃) Cạo tóc, mặc áo tu sĩ, chỉ cho tăng ni của Phật giáo mới xuất gia. Theo giới luật qui định, người xuất gia tu đạo phải cạo bỏ râu tóc, mặc áo tu sĩ. Cứ theo điều Giới sa di trong Thiền uyển thanh qui quyển 8 thì trước khi phi thế, phải chuẩn bị các vật như áo pháp 5 điều, y phục thường ngày, bát ăn cơm, giầy dép...; kế đến, trước thụ 5 giới, sau thụ 10 giới. [X. Khí vật môn trong Thiền lâm tượng khí tiên].

phi thời

Không đúng lúc (sau giờ ngọ)—Untimely—Not at the proper or regulation time (from dawn to noon) for meals (after-noon). ; (非時) Không phải thời, trái thời. Giới luật Phật giáo qui định từ sáng sớm (Minh tướng khi ngửa bàn tay ra mà trông rõ những đường chỉ trong lòng bàn tay, gọi là Minh tướng) đến mặt trời đứng bóng (chính ngọ) gọi là Thời. Từ mặt trời đứng bóng đến Minh tướng ngày hôm sau gọi là Phi thời. (xt. Phi Thời Thực, TraiGiới).

phi thời dược

(非時藥) Cũng gọi Canh dược. Thuốc không phải thời (trái giờ qui định). Chỉ cho nước trái cây, hoặc nước pha với bột gạo mà tỉ khưu, tỉ khưu ni vì trị bệnh được phép dùng trong giờ Phi thời thực.Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển 2, phần cuối (Đại 40, 117 hạ) nói: Phi thời dược là các thứ nước mà người bệnh được phép uống ngoài giờ ăn chính. (xt. Tứ Dược).

phi thời thực

Ăn sau giờ ngọ—To eat out of regulation hours (after-noon). ; (非時食) Phạm, Pàli: Vikàlabhojana. Ăn không phải thời (ngoài giờ qui định). Cũng gọi Phi thời thực học xứ. Từ sau giữa ngày (chính ngọ) đến Minh tướng ngày hôm sau chưa xuất hiện mà các tỉ khưu ăn uống đều gọi là Phi thời thực. Trong luật điển, điều này đã được qui định thành giới pháp. GiớiPhi thời thực cũng gọi là giới Bất quá trung thực (không ăn quá giữa ngày), giới Bất quá thời thực, Li thực phi thời thực (Phạm: Vikàlabhojana-virati). Trong các loại giới pháp như: Tám giới Quan trai của Phật tử tại gia, 10 giới của sa di và sa di ni, 6 pháp của Thức xoa ma na (Chính học nữ), 250 giới của tỉ khưu và 348 giới của tỉ khưu ni đều có giới Phi thời thực. Tuy nhiên, theo kinh Sa di thập giới nghi tắc, nếu tỉ khưu bị bệnh, thầy thuốc bảo ăn mới chữa trị được thì, trong trường hợp này, tỉ khưu được phép ăn phi thời. [X. luật Thập tụng Q.21,53; luật Ma ha tăng kì Q.30; Tứ phần tỉ khưu ni giới bản; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 3]. (xt. Phi Thời).

phi thời tương

(非時漿) Loại nước được dùng ngoài giờ qui định, 1 trong 4 thứ phi thời dược. Giới luật qui định tỉ khưu không được ăn phi thời, nhưng, nếu vì chữa bệnh thì được phép uống các loại nước như: Nước pha với bột đậu, bột gạo, với mật, đường phèn, hoặc nước trái cây...trong giờ phi thời. [X. luật Ngũ phần Q.5; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.2, phần cuối]. (xt. Tứ Dược).

phi thực

See Phi Thời Thực.

phi tiền hậu câu đắc

(非前後俱得) Sự chứng đắc không còn bị lệ thuộc vào thời gian, là 1 trong 4 thứĐắc. Chỉ cho sự chứng đắc các pháp Trạch diệt vô vi và Phi trạch diệt vô vi. Hai pháp vô vi này không sinh không diệt, không bị ba đời: Quá khứ, hiện tại, vị lai ràng buộc, vì thế đã chứng đắc 2 pháp vô vi này thì không còn dính dáng gì với thời gian nữa: Chẳng trước, chẳng sau, hoặc trước, sau cùng lúc, cho nên gọi là Phi tiền hậu câu đắc. (xt. Đắc).

Phi trí duyên diệt

pháp thứ ba trong Ba vô vi (Tam vô vi). Xem Ba pháp vô vi.

Phi trí duyên diệt vô vi

xem Ba pháp vô vi.

Phi trạch diệt

非擇滅; S: apratisaṃkhyā-nirodha;|Là diệt độ không cần sự cố gắng, vô tình, không phụ thuộc, không dựa trên Bát-nhã (s: prajñā), không phân biệt, phân tích (phi trạch). Ðây là một trong những Pháp (s: dharma) không phụ thuộc (Vô vi) trong học thuyết của Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivā-da) và Duy thức tông (s: yogācāra).

Phi trạch diệt vô vi

xem Ba pháp vô vi.

phi trạch diệt vô vi

(非擇滅無爲) Phạm: Apratisaôkhỳa-nirodhà= saôskfta. Dịch cũ: Phi số diệt vô vi. Gọi tắt: Phi trạch diệt. Pháp vô vi không do sức giản trạch, 1 trong 3 vô vi của Thuyết nhất thiết hữu bộ, 1 trong 6 vô vi của tông Pháp tướng. Phi trạch diệt cũng gọi là Phi số diệt, Phi trí duyên diệt, là 1 trong 75 pháp của Câu xá, 1 trong 100 pháp của Duy thức. Theo Thuyết nhất thiết hữu bộ, các pháp đều do nhân duyên hòa hợp, từ vị vị lai chuyển đến vị hiện tại, ở trong khoảng sát na sinh ra liền diệt ngay, trở thành phần vị quá khứ. Nếu khi sinh duyên (điều kiện để sinh ra) bị thiếu thì phi trạch diệt làm trở ngại sự sinh khởi của pháp ấy và pháp ấy vĩnh viễn sẽ ngưng lại ở phần vị vị lai, tuyệt đối không sinh ra nữa, gọi là Duyên khuyết bất sinh (thiếu duyên nên không sinh). Lúc đó, pháp ấy được Phi trạch diệt vô vi, trở thành pháp rốt ráo không sinh. Cho nên hễ pháp vô vi nào không do sức giản trạch, vì thiếu sinh duyên của pháp hữu vi mà hiển bày pháp vô vi tịch diệt bất sinh thì gọi là Phi trạch diệt vô vi. Nói tóm lại, Trạch diệt là cái mà thánh đạo chứng được, còn Phi trạch diệt là cái do thiếu duyên mà chứng được. Luận Câu xá quyển 1 (Đại 39, 1 hạ) nói: Vĩnh viễn làm trở ngại sự sinh khởi của pháp vị lai mà được diệt, gọi là Phi trạch diệt, được không nhờ trạch diệt mà chỉ vì thiếu duyên. Tông Pháp tướng chủ yếu chỉ do chân như không cần đợi trí tuệ giản trạch của hành giả mà tự tính đã thanh tịnh, gọi là Phi trạch diệt vô vi. Luận Thành duy thức quyển 2 (Đại 31, 6 hạ) nói: Không nhờ sức giản trạch mà tự tính vốn thanh tịnh; hoặc do thiếu duyên mà hiển bày, gọi là Phi trạch diệt. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.2, phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.2; Câu xá luận quang kí Q.1; Bát tông cương yếu Q.thượng]. (xt. Trạch diệt).

phi trọc

(非濁) (?-1063) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Liêu, người Phạm dương (huyện Trúc, tỉnh Hà bắc), họ Trương, tự Trinh chiếu. Đầu năm Trùng hi đời vua Hưng tông nhà Liêu, sư lễ quốc sư Viên dung làm thầy, không bao lâu bị bệnh, sư bèn ẩn ở núi Bàn sơn tu pháp Bạch tản cái, trong lúc sư ngồi yên lặng tụng trì thường có thần núi cung kính đứng hầu, ít lâu bệnh khỏi. Năm Trùng hi thứ 8 (1040), sư được vua ban cho áo đỏ, năm Trùng hi 18 (1050), vua trao cho sư chức Thượng kinh quản nội đô tăng lục, về sau, sư chuyển sang giữ chức Yên kinh quản nội tả nhai tăng lục. Đến khi vua Đạo tông lên ngôi lại ban cho sư chức Sùng lộc Đại phu kiểm hiệu thái bảo. Năm Thanh ninh thứ 2 (1056), sư tiến nhậm Kiểm hiệu thái phó thái úy, vua ban hiệu Thuần Tuệ Đại Sư. Mùa xuân năm Thanh ninh thứ 6 (1060), vua Đạo tông đến Yên kinh, thỉnh sư làm Yên kinh quản nội sám hối chủ Bồ tát giới sư để truyền giới cho vua. Năm Thanh ninh thứ 9 (1063), sư thị tịch ở chùa Trúc lâm. Sư để lại cáctác phẩm: Tùy nguyện vãng sinh tập, 20 quyển, Tam bảo cảm thông lục, 3 quyển. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3; Liêu sử nghệ văn chí bổ chứng; Tân tục cao tăng truyện Q.3].

phi tâm

Acitta (skt)—Phi tâm hay vượt khỏi ngoài tâm thức. Các thuật ngữ trừu tượng như thế nầy thường được gặp trong các kinh thuộc loại Bát Nhã Ba La Mật trong văn học Đại Thừa—Apart form mind—Without mind—No-mind or beyond mentation. Such abstract terms as these are frequently met with in the sutras belonging to the Prajnaparamita class of Mahayana literature.

phi tâm phi phật

Ngoài tâm ra không có Phật—Apart from mind there is no Buddha (Thị tâm thị Phật—This mind is Buddha)—No mind no Buddha. ; (非心非佛) Tên công án trong Thiền tông. Chẳng phải tâm chẳng phải Phật. Công án của Thiền sư Mã tổ Đạo nhất đời Đường chỉ dạy người học trừ bỏ chấp trước Tức tâm tức Phật mà trực nhận lấy tâm. Chương Mã tổ Đạo nhất trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 3 (Vạn tục 138, 43 hạ) chép: Tăng hỏi hòa thượng: Tại sao nói tức tâm tức Phật? Sư đáp: Để ngăn con nít khóc. Tăng lại hỏi: Khi thôi khóc rồi thì sao? Sư đáp: Phi tâm phi Phật! [X. Vô môn quan tắc 33].

phi tình

Các loại không có tình thức như cỏ cây, đá—Non-sentient objects such as grass, wood, or stone—See Vô Tình Chúng Sanh. ; (非情) Cũng gọi Phi hữu tình, Vô tình. Đối lại: Hữu tình. Chỉ cho các loài không có tình thức như cỏ cây, sông núi, đất đá... Vì núi sông, đất đai là do nghiệp chung của loài hữu tình chiêu cảm và tất cả hữu tình đều được thụ dụng. Cũng tức núi sông, đất đai chẳng phải do nghiệp riêng của mỗi hữu tình chiêu cảm, mà cũng không phải như quả báo của loài hữu tình, vì thế núi sông, đất đai... không được gọi là Dị thục sinh.Luận Thuận chính lí quyển 18 (Đại 29, 436 trung) nói: Nếu quả phi tình không do nghiệp chung chiêu cảm, thì lẽ ra phải theo dị thục mà khởi hết cùng một lúc. Hơn nữa, ở đời khi thấy vị quốc vương chết thì đất nước của quốc vương ấy vẫn còn, nếu đất nước chỉ do nghiệp của vị quốc vương chiêu cảm, chứ không phải nghiệpbchung của các hữu tình khác cùng chiêu cảm, thì đáng lẽ các hữu tình khác không thể thụ dụng trong đó. Lại nữa, nếu núi sông, đất đai là do nghiệp riêng chiêu cảm, thì lẽ ra tất cả nhà cửa, vườn rừng, ao hồ, thành quách, núi sông... mà thân của mỗi hữu tình đang ở đều phải riêng khác. Nhưng thực tế không phải vậy. Bởi thế biết rằng mỗi một vật đều do nghiệp của vô lượng hữu tình cùng chiêu cảm. [X. luận Câu xá Q.6; luận Thuận chính lí Q.21; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.16]. (xt. Hữu Tình).

phi tình thành phật

Học thuyết của Viên Giáo lập ra cái nghĩa các loại cỏ cây đều trở thành Phật (Viên Giáo cho rằng Phật tính trung đạo có ở khắp pháp giới bất kể hữu tình hay phi tình, nhưng do mê muội mà thấy hai pháp phân biệt, nhưng sắc tâm chỉ là một đại giác)—The insentient becomes Buddha, a tenet of the Complete Teaching, i.e. the doctrine of pan-Buddha. ; (非情成佛) Nghĩa là các loài vô tình như cỏ cây, đất đá... đều có tính Phật, đều có khả năng thành Phật. (xt. Thảo Mộc Quốc Độ Tất Giai Thành Phật).

Phi tích

(飛錫): nguyên nghĩa là vị tăng đi tuần du khắp các nơi để tham Thiền học đạo. Tích trượng (s: khakkhara, 錫杖) là vật dụng cần thiết của vị tăng. Bên cạnh đó, nó còn có nghĩa là chống tích trượng bay đi, vốn phát xuất từ câu chuyện của vị cao tăng Ẩn Phong (隱峰, ?-?). Trong Thích Thị Yếu Lãm (釋氏要覧), quyển hai có đoạn rằng: “Kim tăng du hành gia xưng phi tích, thử nhân cao tăng Ẩn Phong du Ngũ Đài, xuất Chuẩn Tây trịch tích phi không nhi vãng dã; nhược Tây Thiên đắc đạo tăng, vãng lai đa thị phi tích (今僧遊行嘉稱飛錫、此因高僧隱峰遊五臺、出准西擲錫飛空而徃也、若西天得道僧、徃來多是飛錫, ngày nay chư tăng đi du hành gọi là phi tích, việc này phát xuất từ chuyện vị cao tăng Ẩn Phong đến chơi Ngũ Đài Sơn, đến khi ra Chuẩn Tây thì chống tích trượng bay lên không mà đi, cũng như các vị tăng đắc đạo của Ấn Độ, đến đi phần nhiều đều dùng tích trượng mà bay đi)”.

phi tích

Du Tăng—Flying staff, synonym for a travelling monk. ; (飛錫) I. Phi Tích. Gậy tích bay. Nghĩa là các vị tăng đi hành cước và du hóa các nơi. Tích tức là Tích trượng, 1 trong 18 vật dụng của tỉ khưu, khi đi đâu thì mang theo. Ngoài Phi tích ra, những tiếng dùng cùng loại còn có: Tuần tích , Chú tích... v.v... II. Phi Tích (?-?). Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường. Sư thần khí vòi vọi, kiến thức cao xa, thông hiểuNho, Mặc, giỏi văn chương. Sư từng nghiên cứu luật nghi, về sau tu theo Mật giáo và được khai ngộ. Niên hiệu Vĩnh thái năm đầu (765), vua Đại tông ban sắc thỉnh sư tham dự đạo tràng dịch kinh của ngài Bất không trong cung Đại minh, dịch các kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã, 2 quyển, kinh Mật nghiêm, 3 quyển... Sư rất được mọi người kính trọng. Ngoài ra, sư còn các tác phẩm: Luận Niệm Phật tam muội bảo vương, 3 quyển, Vô lượng thâm diệu Thiền môn truyền tập pháp bảo, 1 quyển, Thệ vãng sinh tịnh độ văn, 1 quyển. [X. Trinh nguyên tục khai nguyên thích giáo lục Q.trung; Tuệ trung truyện trong Tống cao tăng truyện Q.3, 8].

phi tư lượng

(非思量) Chỉ cho sự suy nghĩ phân biệt không liên quan gi đến tốt xấu, phải trái, vượt ngoài cảnh giới suy tư của tình thức. Thiền tông chủ trương suy nghĩ về cái không suy nghĩ, phương pháp ấy gọi là Phi tư lương. Đó là chỗ cùng tột của sự tọa thiền. Chương Dược sơn Duy nghiễm trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 14 (Đại 51, 311 hạ) chép: Tăng hỏi: Sư đang đau đáu suy nghĩ về cái gì? Sư đáp: Suy nghĩ về cái chẳng suy nghĩ. Tăng lại hỏi: Cái chẳng suy nghĩ thì suy nghĩ thế nào? Sư đáp: Phi tư lương!. [X. kinh Văn thù sư lợi sở thuyết bất tư nghị cảnh giới Q.thượng; Tín tâm minh].

phi tư lượng để

1) Theo chính thống giáo, “Phi Tư Lượng Để” có nghĩa là không phân biệt lý luận: According to the Orthodox or teaching sects, not to discriminate, or reason out. 2) Theo Thiền Tông, “Phi Tư Lượng Để” có nghĩa là dẹp bỏ tà kiến (giải phóng tâm thoát khỏi chư hành): According to the Ch'an sect, to get rid of wrong thoughts (by freeing the mind from active operation).

phi tưởng

Vượt ra ngoài vòng suy nghĩ hay không suy nghĩ—Beyond the condition of thinking or not thinking, of active consciousness or unconsciousnes. ** For more information, please see Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên.

phi tưởng phi phi tưởng thiên

Naivasamjnanasamjnayatana (skt)—Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưởng Thiên—Hữu Đỉnh Thiên—Trời Tứ Không Thiên hay trời vô sắc thứ tư (tầng cao nhất trong tam giới), nơi không còn suy nghĩ hay không suy nghĩ nhờ đi vào thiền định cực kỳ tĩnh diệu. Mức độ thiền định của Phi Tưởng Phi Phi Tưởng xứ dẫn đến tái sanh vào cõi Trời vô sắc, vẫn chưa hoàn toàn giải thoát khỏi bát khổ—The heaven or place where is neither thinking nor not-thinking. It is beyond thinking, the fourth of the four Immaterial Heavens (Tứ Không Thiên). The samadhi or degree of meditation of this leads to rebirth in the rupa heaven; which is not entirely free from eight forms of distress.

Phi tưởng phi phi tưởng xứ

(Naiva-saṃjđnsaṃjđ-yatana): tên một cõi trời, cũng gọi là Hữu đỉnh thiên, là cõi trời cao nhất trong cõi Vô sắc giới (Arpya-dhtu), cũng là cao nhất trong Ba cõi. Người tu hành đạt đến mức định Phi tưởng phi phi tưởng thì thần thức có thể đến được cảnh giới Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Chư thiên cư trú ở cõi trời này có tâm thức không phải tưởng cũng chẳng phải không tưởng. Xem thêm A-ca-ni-trá.

phi tưởng phi phi tưởng xứ

Thức tính bất động, diệt hẳn sự suy nghĩ hay không suy nghĩ—The state of neither thinking nor not thinking. ** For more information, please see Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên.

phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên

(非想非非想處天) Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Phạm: Naiva-saôjĩànàsaôjĩàyatana, Pàli: Nevasaĩĩànàsaĩĩàyatana. Cũng gọi Phi phi tưởng thiên, Vô tư tưởng diệc vô vô tưởng thiên, Hữu tưởng vô tưởng trí thiên, Phitưởngphi phi tưởng thiên, Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ thiên. Tầng trời thứ 4 trong cõi Vô sắc, là tầng trời tột đỉnh trong 3 cõi nên cũng gọi là Hữu đính thiên. Phi tưởng phi phi tưởng xứ là căn cứ vào Thiền định của cõi trời này mà gọi. Tâm định ở cõi trời này cực kì tĩnh lặng, không còn thô tưởng, cho nên gọi là Phi tưởng (không phải tưởng), nhưng vẫn còn tưởng vi tế, cho nên gọi là Phi phi tưởng (chẳng phải không có tưởng). Tên gọi của trời này có 3 cách giải thích như sau: 1. Tướng suy tưởng ở cõi trời này không rõ ràng như tướng suy tưởng ở 4 thiền định thuộc cõi Sắc và 3 cõi trước thuộc cõi Vô sắc, cho nên gọi là Phi tưởng; không giống như Vô tưởng và Diệt định nên gọi là Phi phi tưởng. Vì tướng suy tưởng ở cõi này mờ tối, không rõ ràng, không quyết định, cho nên gọi là Phi tưởng phi phi tưởng. 2. Giống như tầng trời thứ 2 của cõi Vô sắc, không duyên theo Thức xứ nên gọi là Phi tưởng, giống như tầng trời thứ 3 của cõi Vô sắc, khôngduyên theo Vô sở hữu, nên gọi là Phi phi tưởng. 3. Trong Vô sở hữu xứ của cõi Vô sắc, đã trừ được tưởng của Thức xứ, nay lại trừ được Vô tưởng; vì xả bỏ được cả tưởng và vô tưởng, nên gọi là Phi tưởng phi phi tưởng. Căn cứ vào 3 cách giải thuyết trên đây, ta có thể thấy qua được tướng trạng của cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng như thế nào. Kinh Lăng nghiêm quyển 9 (Đại 19, 146 hạ) nói: Tính thức chẳng động, vì diệt cùng suốt, ở nơi vô tận, tuyên bày hết tính, như có như không, như hết chẳng hết, bởi vậy cõi trời này được gọi là Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Còn về thọ lượng của cõi trời này thì kinh Trường a hàm quyển 20 cho rằng sống lâu 8 vạn 4 nghìn kiếp, luận Lập thế a tì đàm quyển 7 thì chia ra 3 phẩm: Hạ phẩm thọ 7 vạn đại kiếp; Trung phẩm thọ 7 vạn 5 nghìn đại kiếp; Thượng phẩm thọ 8 vạn đại kiếp, cònluận Đại tì bà sa quyển 84 thì bảo thọ 8 vạn kiếp. [X. kinh Đại nhân trong Trung a hàm Q.24; luận Lập thế a tì đàm Q.6; luận Câu xá Q.28; luận Đại tì bà sa Q.185]. (xt. Vô Sắc Giới).

Phi vân

(披雲): vén mây. Thuật ngữ thường được dùng khá phổ biến trong các Ngữ Lục Thiền để diển tả tâm cảnh tự tại vô ngại, giải thoát của Thiền giả. Như trong Thiền Tông Tạp Độc Hải (禪宗雜毒海, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1278) quyển 2, phần Tặng Biệt (贈別), có đoạn của Lý Cao (李翱, ?-?) rằng: “Tuyển đắc u cư khiếp dã tình, chung niên vô tống diệc vô nghênh, hữu thời trực thướng cô phong đảnh, nguyệt hạ phi vân tiếu nhất thanh (選得幽居愜野情、終年無送亦無迎、有時直上孤峰頂、月下披雲笑一聲, chọn chốn thâm u thỏa thích lòng, trọn năm không tiễn cũng chẳng nghinh, có lúc lên thẳng non cao đỉnh, dưới nguyệt vén mây cười vọng vang).” Hay trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 37, có bài Ký Sào Pháp Sư (寄巢法師) rằng: “Phi vân đới nguyệt bão phong sương, thanh dạ điều điều hạc mộng trường, độc bãi Lăng Già hương triện tế, tri quân vô vật khả tư lường (披雲帶月飽風霜、清夜迢迢鶴夢長、讀罷楞伽香篆細、知君無物可思量, vén mây đeo nguyệt no gió sương, đêm vắng xa xăm hạc mộng trường, đọc hết Lăng Già còn ngút, biết người chẳng vật thể nghĩ lường).” Hoặc trong Liễu Am Thanh Dục Thiền Sư Ngữ Lục (了菴清欲禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1414), bài Chỉ Đường Tặng Vận Thị Giả (止堂贈運侍者), lại có câu: “Hà nhân phi vân phát trường khiếu, nhất thanh bình lạc thiên lâm gian (何人披雲發長嘯、一聲逬落千林間, ai người vén mây cười sang sảng, một tiếng rơi xa ngàn dặm rừng).”

phi y

(緋衣) Áo đỏ thắm (màu đào). Cứ theo Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển hạ, phần 1, 5, đỏ thắm thắm, đỏ phớt, đỏ tươi, xanh lục và xanh biếc đều là những màu không đúng pháp, không được dùng để nhuộm áo ca sa. Nhưng theo kinh Đà la ni tập quyển 6 và Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển hạ thì được biết ở Ấn độ đã có trường hợp các tỉ khưu mặc áo ca sa màu đỏ thắm mà không bị xem là trái phép. Còn ở Trung quốc thì từ các đời Đường, Tống về sau, triều đình thường ban cho các bậc Cao tăng áo ca sa màu đỏ tươi và đỏ thắm. Chẳng hạn như Đại tống tăng sử lược quyển hạ có ghi, thời vua Đường huyền tông có sa môn Sùng hiến tinh thông y học, chữa bệnh rất giỏi, vua hài lòng và ban cho ngài áo bào màu đỏ thắm. Bởi vì áo màu đỏ thắm ở Trung quốc vốn là 1 loại áo của các quan mặc. Về sau, loại áo này cũng được dùng để ban cho các bậc Cao tăng trong Phật giáo. Đứng trên lập trường của Phật giáo mà nhận xét, các sư nhận và mặc áo màu đỏ thắm do vua ban cũng là tùy thuận lễ nghi thế gian mà thôi. [X. luật Thập tụng Q.13; điều Phạm diễn na quốc trong Đại đường tây vực kí Q.1; Ngũ tạp trở Q.12]. (xt. Pháp Y, Ca Sa).

phi đan

(飛單) Cũng gọi Nhật đơn. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trong Tùng lâm, vị phó tự hoặc khố đầu mỗi ngày phải kiểm toán thu chi toàn chùa rồi trình lên vị Trụ trì (Phương trượng), gọi là Nhật đơn. Vì những điều mục được ghi trong mỗi ngày không nhiều, đếm những tờ giấy qua lại nhanh như bay nên gọi là Phi đơn. Ngoài ra, nhật đơn mỗi tháng kết toán 1 lần, gọi là Nguyệt đơn; 10 ngày kết toán 1 lần, gọi là Tuần đơn.[X. điều Phó tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4; Thiền lâm tượng khí tiên Q.16].

phi điểu chi tích

(飛鳥之迹) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chim bay không để lại dấu vết. Nghĩa là chim bay trong hư không chẳng để lại dấu tích gì, Thiền tông dùng từ ngữ này để ví dụ vạn vật không có thể tính chân thực.

phi đạo

Tà Đạo—Wrong ways—Heterodox views or doctrines. ; (非道) I. Phi Đạo. Đối lại: Đạo. Không phải là đạo Phật, tức các đạo ngoài Phật giáo. (xt. Đạo). II. Phi Đạo. Chỉ cho ác thú hoặc địa ngục. Phẩm Vân hà trong luận Lập thế a tì đàm quyển 6 (Đại 32, 197 hạ) nói: Tại sao địa ngục được gọi là Nê lê? Vì nơi ấy không có trò vui, không có ham thích, không có đường ra, không có phúc đức. Vì tội nghiệp nặng nên phải sinh vào nơi đó. Lại nữa, nơi ấy là chỗ thấp nhất trong cõi Dục nên gọi là Phi đạo. III. Phi Đạo. Trái với đạo lí. IV. Phi Đạo. Chỉ cho Trung đạo phi hữu phi vô. V. Phi Đạo. (xt. Phi Đạo Hành Dâm).

phi đạo hành dâm

(非道行淫) Chỉ cho việc hành dâm không chính đáng, có 2 nghĩa: 1. Trừ vợ chồng hợp pháp, hễ hành dâm với bất cứ đối tượng nào khác, kể cả với súc sinh, đều là Phi đạo hành dâm. 2. Tuy là vợ chồng nhưng nếu hành dâm không phải chỗ (phi xứ) cũng là Phi đạo hành dâm. Không phải chỗ nghĩa là hành dâm nơi miệng, nơi đại tiện... Hoặc nếu người vợ đã có thai mà hành dâm cũng là phi đạo hành dâm. Ngoài ra, gặp những ngày kỉ niệm Phật, Bồ tát, 6 ngày trai hằng tháng, ngày sinh của cha mẹ, ngày giỗ tổ tiên thân thuộc... cũng đều không được hành dâm.

phi đản

(披袒) Phi là mặc áo ca sa phủ kín cả 2 vai để hiển tướng phúc điền; còn Đản là để trần vai bên phải để tiện lúc làm việc. Cứ theo kinh Xá lợi phất vấn và Thích thị yếu lãm quyển thượng thì khi tu cúng dường, phải để trần vai bên phải để tiện làm việc, còn khi làm tướng phúc điền thì phải trùm kín cả 2 vai. Tu cúng dường chỉ cho các việc lễ Phật, vấn an sư trưởng, lúc đó phải tùy việc mà làm như lau bụi trên giường, quét nhà, gấp áo, sửa lại chiếu ngồi cho ngay ngắn... Làm tướng ruộng phúc là chỉ cho những việc đi khất thực, tọa thiền, tụng kinh, đi kinh hành dưới cây... lúc ấy phải phủ kín 2 vai để mọi người thấy tướng đoan nghiêm. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2].

phi đắc

(非得) Phạm: Apràpti. Đối lại: Đắc. Không làm cho pháp thành tựu gọi là Phi đắc, là 1 trong 75 pháp của Câu xá, 1 trong 100 pháp của Duy thức. Phi đắc có 3 loại: 1. Pháp tiền phi đắc: Pháp tuy ở vị lai nhưng chưa được, chính ở hiện tại đang sinh khởi. Chẳng hạn nói về trí vô lậu của phàm phu, thì trí ấy tuy ở vị lai nhưng nay đột nhiên xa lìa, Phi đắc liền hiện khởi. 2. Pháp hậu phi đắc: Pháp đã lui vào quá khứ, không còn sinh khởi ở hiện tại. Chẳng hạn nói về phiền não của bậc Thánh thì phiền não ấy đã bị đoạn trừ, cho nên phiền não ấy đã lùi vào quá khứ, Phi đắc liền hiện khởi. 3. Phi tiền hậu phi đắc: Đây là phi đắc trên pháp vô vi. Pháp phi đắc nhất định không hiện khởi cùng lúc với bất cứ pháp nào. Bởi vì nếu 1 pháp hiện tiền sinh khởi thì ắt dẫn thêm pháp năng đắc của nó cũng hiện tiền sinh khởi. Nếu lúc này có Phi đắc hiện khởi thì cũng giống hệt như sáng và tối đồng thời tồn tại là điều không hợp lí. [X. luận Câu xá Q.4; 21; luận Nhập a tì đạt ma Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.158, 159; phẩm Biện ngũ sự luận Phẩm loại túc Q.1]. (xt. Đắc).

phiên

1) Man di: Babarian. 2) Ngoại quốc: Foreign. 3) Phiên: Turn. 4) Phiên dịch: To translate—To interpret. 5) Phướn: Pataka (skt)—A flag—Streamer.

phiên ba thức

(翻波式) Phương thức khắc tượng gỗ ở Nhật bản vào đầu thời đại Bình an. Đặc trưng của phương thức này là ở chỗ các nếp gấp của y phục, nhìn từ bề mặt thấy nổi bật những đường cong như gợn sóng(phiên ba),rất gợi cảm. Đây là 1 trong những nghệ thuật chạm trổ tượng gỗ của Nhật bản.

Phiên Cương Sơn

(岡山藩, Okayama-han): tên gọi một Phiên lãnh hữu toàn bộ tiểu quốc Bị Tiền (僃前, Bizen) và một phần của Bị Trung (僃中, Bicchū). Cơ sở hành chính của Phiên là Thành Cương Sơn (岡山城, Okayama-jō), phần lớn thời gian đều do dòng họ Trì Điền (池田, Ikeda) quản trị. Người từng phục vụ cho Phong Thần Ngũ Đại Lão (豐臣五大老) là dòng họ Vũ Hỷ Đa (宇喜田, Ukita). Tuy nhiên, vào năm 1600 (Khánh Trường [慶長] 5), trong trận chiến Sekigahara (關ヶ原), Vũ Hỷ Đa Tú Gia (宇喜田秀家, Ukita Hideie), chủ lực của quân phía Tây, lại bị thay đổi người; nên Tiểu Tảo Xuyên Tú Thu (早小川秀秋, Kobayakawa Hideaki) tiến vào, chiếm lãnh 51 vạn thạch ở Bị Tiền và Mỹ Tác (美作, Mimasaka). Thế nhưng, vào năm 1602 (Khánh Trường 7), Tú Thu và chẳng có con nối dõi; nên dòng họ Tiểu Tảo Xuyên (早小川, Kobayakawa) xem như bị tuyệt tự. Năm sau, 1603, người con thứ 2 của Trì Điền Huy Chính (池田輝政, Ikeda Terumasa) là Trì Điền Trung Kế (池田忠繼, Ikeda Tadatsugu) đến lãnh hữu vùng Cương Sơn (岡山, Okayama) với 28 vạn thạch, và tại đây dòng họ Trì Điền bắt đầu trị thế với tư cách là nhà Đại Danh thời kỳ Giang Hộ. Vào năm 1613 (Khánh Trường 18), Phiên nhận thêm khoảng 10 vạn thạch, trở thành 38 vạn thạch. Đến năm 1615 (Nguyên Hòa [元和] nguyên niên), Trung Kế qua đời và cũng chẳng có con nối nghiệp; nên người em Trì Điền Trung Hùng (池田忠雄, Ikeda Tadakatsu) lên thay thế với 31 vạn 5 ngàn thạch. Năm 1632 (Khoan Vĩnh [寛永] 9), Trung Hùng qua đời; thay vào đó, người anh em họ là Trì Điền Quang Chính (池田光政, Ikeda Mitsumasa) lên thay thế với 31 vạn 5 ngàn thạch. Từ đó trở về sau, gia hệ của Quang Chính thay nhau thống trị Phiên Cương Sơn. Quang Chính cùng với Đức Xuyên Quang Quốc (德川光圀, Tokugawa Mitsukuni), Phiên chủ Phiên Thủy Hộ (水戸藩, Mito-han) và Bảo Khoa Chánh Chi (保科正之), phiên chủ Phiên Hội Tân (會津藩, Aizu-han), cả ba được gọi là Tam Danh Quân (三名君) vào đầu thời Giang Hộ. Quang Chính trọng dụng Hùng Trạch Phiên Sơn (熊澤蕃山, Kumazawa Banzan), nhà Dương Minh Học, vào năm 1669 (Khoan Văn [寛文] 9), ông tiên phong mở Cương Sơn Học Hiệu (岡山學校), trường Quốc Học đầu tiên. Năm sau, 1670, ông còn khai giảng Nhàn Cốc Học Hiệu (閑居學校, hiện tại Giảng Đuờng của trường được xếp hạng quốc bảo), trường học cho hàng thứ dân cổ nhất của Nhật Bản. Sau này, vào năm 1700 (Nguyên Lộc [元祿] 3), Trì Điền Cương Chính (池田綱政, Ikeda Tsunamasa), con của Quang Chính, đã dốc sức cho hoàn thành 3 đình viên nổi tiếng nhất của Nhật Bản, gồm: Giai Lạc Viên (偕樂園, Kairakuen, Mito-shi [水戸市]), Kiêm Lục Viên (兼六園, Kenrokuen, Kanazawa-shi [金澤市]) và Hậu Lạc Viên (後樂園, Kōrakuen, Tōkyō-to [東京都]). Lịch đại chư vị Phiên chủ của Phiên này có 12 đời, gồm: (1) Trì Điền Trung Kế (池田忠繼, Ikeda Tadatsugu); (2) Trì Điền Trung Hùng (池田忠雄, Ikeda Tadakatsu); (3) Trì Điền Quang Chính (池田光政, Ikeda Mitsumasa); (4) Trì Điền Cương Chính (池田綱政, Ikeda Tsunamasa); (5) Trì Điền Kế Chính (池田繼政, Ikeda Tsugumasa); (6) Trì Điền Tông Chính (池田宗政, Ikeda Munemasa); (7) Trì Điền Trị Chính (池田治政, Ikeda Harumasa); (8) Trì Điền Tề Chính (池田齊政, Ikeda Narimasa); (9) Trì Điền Tề Mẫn (池田齊敏, Ikeda Naritoshi); (10) Trì Điền Khánh Chính (池田慶政, Ikeda Yoshimasa); (11) Trì Điền Mậu Chính (池田茂政, Ikeda Mochimasa); và (12) Trì Điền Chương Chính (池田章政, Ikeda Akimasa). Các Phiên chi nhánh của Phiên Cương Sơn có Phiên Áp Phương (鴨方藩, Kamogata-han, 2 vạn 5 ngàn thạch) và Phiên Sanh Phản (生坂藩, Ikusaka-han, 1 vạn 5 ngàn thạch).

phiên dịch

To translate—To interpret. ; (翻譯) Dịch tiếng nước này sang tiếng nước khác. Phật giáo bắt nguồn ở Ấn độ, sau theo đà giáo nghĩa được truyền bá rộng và số tín đồ mỗi ngày một đông nên đã vượt ra ngoài phạm vi chủng tộc, truyền bá đến các dân tộc khác, do đó, kinh điển của Phật giáo cũng theo đà ấy mà được dịch ra nhiều thứ ngôn ngữ. Sau khi thành đạo, đức Phật chỉ dùng những lời nôm na dễ hiểu của các địa phương để nói pháp, mục đích nhằm truyền bá giáo pháp một cách phổ cập, chứ Ngài không dùng những lời văn chương cao nhã (Chandas). Sau khi đức Phật nhập diệt, kinh điển được kết tập tại Ấn độ, chủ yếu dùng tiếng Phạm vàPàli. Về sau, kinh điển Phật được phiên dịch ra các thứ quốc ngữ. Hiện nay có các Đại tạng kinh được phiên dịch từ tiếng Phạm như: Đại tạng Hán dịch, Đại tạng Tây tạng, Đại tạng Mông cổ, Đại tạng Mãn châu, Đại tạng Cao li, Đại tạng Nhật bản. VềPàli thì có: Đại tạng Tích lan, Đại tạng Miến điện, Đại tạng Thái lan, Đại tạng Kampochia, Đại tạng Lào quốc, Đại tạng Anh ngữ và Nhật bản cũng đã dịch thành Nam truyền đại tạng kinh. Ngoài ra, còn có các Đại tạng của các nước Tây vực vùng Trung á và các nơi khác. [X. Phật tổ thống kỉQ.43, 53; Tống cao tăng truyện Q.1, 3; Pháp uyển châu lâm Q.100; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.1; Tùy thư kinh tịch chí]. (xt. Dịch Kinh).

phiên dịch danh nghĩa tập

Bộ Từ Điển xếp loại theo ngôn ngữ dùng trong kinh điển theo cách gọi và duyên cách của các từ do Sư Pháp Vân đời Tống soạn vào khoảng năm 1150—A Dictionary of Buddhist Technical Terms compiled by Fa-Yun around 1150 A.D. during the Sung dynasty ; (翻譯名義集) Từ điển Phật học Phạm Hán, 7 quyển, do ngài Pháp vân biên soạn vào đời Nam Tống, suốt 20 năm mới hoàn thành, được thu vào Đại chính tạng tập 54. Nội dung sách này chia loại nhỏ hơn 2.040 từ tiếng Phạm quan trọng trong các kinh điển Phật giáo, phân ra 64 thiên để giải thích. Mở đầu mỗi thiên đều có tổng luận, trình bày đại ý, kế đến nêu ra những từ Phạm được dịch âm và mỗi từ đều có cho biết cách dịch khác, chỉ ra xuất xứ và giải thích. Về tư liệu y cứ thì ngoài kinh luận ra còn dẫn dụng âm nghĩa, chú sớ, hoặc các trứ thuật Phật giáo của các tác giả khác như Tông kính lục... Ngoài ra, còn trích dụng hơn 400 thư tịch kinh sử của hơn 100 tác giả, cũng như các học thuyết khác. Sách này cũng giải thích những từ tiếng Phạm và âm nghĩa phổ thông để nói rõ nghĩa dịch còn có giới hạn bất đồng; đối chiếu so sánh những danh tướng quan trọng thì lấy sự giải thích của tông Thiên thai làm nền tảng, rồi bàn giải rõ ràng thêm. Đối với các nhà phiên dịch trọng yếu của các thời đại cũng có ghi chép trong 1 thiên riêng. Sách này còn giữ lại 1 số ý kiến liên quan đến vấn đề phiên dịch như ở đầu quyển nêu lên 5 trường hợp không phiên dịch do ngài Huyền trang chủ xướng. Đó là (Đại 54, 1055 thượng): 1. Vì bí mật (nên không phiên dịch): Như Đà la ni. 2. Vì bao hàm nhiều nghĩa: Như Bạc già phạm có 6 nghĩa. 3. Vì ở nước Trung quốc không có: Như cây Diêm tịnh. 4. Vì thuận theo đời xưa: Như A nậu bồ đề. 5. Vì sinhthiện:Như bát nhã tôn quí, trí tuệ nông cạn. Những danh tướng và âm dịch trong các kinh luận dịch mới của ngài Huyền trang và Nghĩa tịnh phần nhiều khác với các kinh luận dịch cũ của cácnhà phiên dịch đời trước mà nhiều người cho rằng dịch cũ là sai lầm, sơ suất. Nhưng sách này (tức Phiên dịch danh nghĩa tập) thì chủ trương sở dĩ dịch cũ, dịch mới bất đồng, chỉ là vì thời gian, không gian sai khác, phương ngôn, thành ngữ dị biệt mà thôi. Sách này cùng với Thích thị yếu lãm và Giáo thừa pháp số được gọi chung là Phật học tam thư, là những sách cần thiết cho những người mới học Phật. Ngoài ra, sách này còn có bản 20 quyển được thu vào Đại tạng đờiMinh. [X. Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Duyệt tạng tri tân Q.43; Tăng bổ chư tông chương sớ lục]. (xt. Ngũ Chủng Bất Phiên).

phiên dịch danh nghĩa đại tập

(翻譯名義大集) Phạm: Mahāvyutpatti. Tạng: Lo-paṇmaṅ-pos mdsad-paḥi bye-brag-tu rtogs-parbyed-pa chen-po (gọi tắt:Bye-brag-tu rtogs che). Từ điển gồm 4 thứ ngôn ngữ: Phạm, Tây tạng, Hán, Mông cổ đối chiếu, thu chép những thuật ngữ và danh từ chuyên môn thường dùng trong giáo điển Phật giáo, rồi phân loại, nêu thí dụ và giải thích các thuật ngữ này. Khoảng thế kỉ IX, các học giả từ Ấn độ đến Tây tạng phần nhiều dùng tự vựng Phạm Tạng đối dịch làm tiêu chuẩn để dịch kinh. Ban đầu chỉ có Phạm, Tạng, sau mới thêm Hán và Mông cổ, nhưng được thêm vào thời đại nào thì không rõ. Về bộ phận Hán dịch, trong văn tự được sử dụng để dịch âm hay dịch ý đều không thấy có trong các kinh được dịch vào các đời Đường, Tống, cứ đó suy ra thì có thể biết phần Hán dịch trong Phiên dịch danh nghĩa đại tập được thực hiện vào khoảng thời đại từ Nguyên đến Thanh. Năm 1822, nhà thám hiểm người Hungary là ông Csoma de Kôrôss A. đến Tây tạng nghiên cứu văn học và tông giáo, năm 1831 ông mới phát hiện bản Phạm Tạng của sách này. Năm 1853, đội thám hiểm Đông dương của nước Nga tìm được bản viết đối dịch bằng 4 thứ tiếng Phạm, Tạng, Hán, Mông cổ ở Bắc kinh, Trung quốc và đưa về cất giữ tại thư viện Đại học Đế quốc ở Saint Petersburg. Năm 1856-1857, học giả Đông phương học người Pháp là các ông E. Foucaux, S. Julien, đem giới thiệu sách này với châu Âu, ông E. Foucaux phụ trách phần Phạm, Tây tạng, còn ông S. Julien thì phụ trách phần Hán, Mông cổ. Đến năm 1887, học giả Đông phương học người Nga là ông I.P. Minayeff khảo xét lại phần Phạm Tạng rồi đem công bố. Về sau, các ông Nam điều Văn hùng, Lạp nguyên Nghiên thọ, người Nhật bản, chép tay bản Phạm Hán ở Paris. Sau đó, lại có các ông Địch nguyên Vân lai và Thần lượng Tam lang nghiên cứu, rồi lần lượt xuất bản Phạm Hán Đối Dịch Phật Giáo TừĐiển(Phiên dịch danh nghĩa đại tập) và Phạm Tạng Hán Hòa Tứ Đối Dịch Giáo Phiên Dịch Danh Nghĩa Đại Tập vào các năm Đại chính tứ 4 và thứ 5 (1915- 1916).

phiên dịch gia

(翻譯家) Cũng gọi: Dịch sư, Dịch kinh gia. Chỉ cho các nhà phiên dịch kinh điển Phật giáo. Như vào thế kỉ V, ngài Phật âm (Phạm: Buddhaghowa) đã biên dịch các sách chú thích Tam tạng bằng tiếng Tích lan sang tiếng Pàli, đó là nhà phiên dịch nổi tiếng. Về phương diện dịch kinh Phật ra chữ Hán thì có các nhà phiên dịch quan trọng sau đây: Ngài An thế cao (người An tức) đời Hậu Hán, ngài Chi khiêm (người Nguyệt chi) đời Ngô thời Tam quốc, ngài Trúc pháp hộ (người Đôn hoàng) đời Tây Tấn, ngài Cưu ma la thập (người Cưu tư) đời Hậu Tần, ngài Cầu na bạt đà la (người Trung Ấn độ) đời Lưu Tống, ngài Chân đế (người Tây bắc Ấn độ) đời Lương + Trần, ngài Bồ đề lưu chi (người Bắc Ấn độ) đời Bắc Ngụy, ngài Xà na quật đa (người Bắc Ấn độ) đời Trần + Tùy, ngài Huyền trang (người Trung quốc) đời Đường, ngài Địa bà ha la (người Trung Ấn độ) đời Đường, ngài Thực xoa nan đà (người Vu điền) đời Đường, ngài Nghĩa tịnh (người Trung quốc) đời Đường, ngài Kim cương trí (người Nam Ấn độ) đời Đường, ngài Thiện vô úy (người Trung Ấn độ) đời Đường, ngài Bất không (người Bắc Ấn độ) đời Đường, ngài Pháp thiên (người Trung Ấn độ) đời Bắc Tống, ngài Thiên tức tai (tức Pháp hiền, người Ca thấp di la) đời Bắc Tống, ngài Thí hộ (người Ô điền nẵng) đời Bắc Tống. Những vị này đều là các bậc thông hiểu 3 tạng kinh điển, cho nên cũng được gọi là Dịch kinh tam tạng, Tam tạng pháp sư. Về kinh điển được dịch sang tiếng Tây tạng thì có các nhà phiên dịch nổi tiếng sau đây: Thon-mi-sambhoỉa (Đoan mĩ tam bồ đề) thế kỉ VII;Jinamitra (Thắng hữu – người Ấn độ) thế kỉ IX,Zìlendrabodhi (Giới đế giác – người Ấn độ) thế kỉ IX, Surendrabodhi (Cát tường đế giác – người Ấn độ) thế kỉ IX, Ye-zes-sdethế kỉ IX, Bloldan zes-rab thế kỉ XI, Mar-pa thế kỉ XIV, Zes rab rin-chen, Cho-skyoí-bzaí-po và Chos rgyal thế kỉ XV.

phiên dịch tứ lệ

(翻譯四例) Bốn nguyên tắc phiên dịch kinh điển Phật giáo. Theo thiên Đường Phạm tự thể trong Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 6 thì 4 nguyên tắc ấy là: 1. Phiên tự bất phiên âm: Dịch chữ mà không phiên âm (chữ là chữ Hán, âm là âm Phạm) như lời các thần chú trong các kinh. 2. Phiên âm bất phiên tự: Dịch âm mà không dịch chữ, như chữ ...trong kinh Hoa nghiêm; chữ là thể chữ Phạm, âm thì dùng chữ vạn của tiếng Hán để phiên, nên đọc là Vạn. 3. Âm tự câu phiên: Âm và chữ đều dịch cả, như âm và chữ trong văn kinh đều dùng âm Hán, chữ Hán để phiên dịch. 4. Âm tự câu bất phiên: Âm và chữ đều không dịch, như những bản kinh tiếng Phạm từ Ấn độ truyền đến Trung quốc, cả âm và chữ đều chưa được phiên dịch.

Phiên Hội Tân

(會津藩, Aizu-han): tên của một Phiên thống trị phần Tây bộ Fukushima-ken (福島縣) hiện tại, thuộc Quận Hội Tân (會津郡, Aizu-gun), tiểu quốc Lục Áo (陸奥, Mutsu) ngày xưa. Cơ sở hành chính của Phiên là Thành Nhược Tùng (若松城, Wakamatsu-jō, thuộc Wakamatsu-shi [若松市], Aizu [會津]). Dưới thời đại Chiến Quốc, địa phương Hội Tân vốn do Chiến Quốc Đại Danh lấy vùng Hắc Xuyên (黑川, Kurokawa), sau này là Nhược Tùng (若松, Wakamatsu), Hội Tân, làm bản cứ; là tiểu quốc lãnh hữu của dòng họ Lô Danh (蘆名, Ashina). Vào năm 1589 (Thiên Chánh [天正] 17), Y Đạt Chính Tông (伊達政宗, Date Masamune) tiêu diệt dòng họ này, chiếm cứ Hắc Xuyên. Năm sau, 1590, nhân vị xử lý ở Áo Châu (奥州, Ōshū) của Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi), địa phương Hội Tân cũng như các vùng lân cận đều bị Chính Tông thâu tóm, và ban cho Bồ Sanh Thị Hương (蒲生氏郷, Gamō Ujisato) với 42 vạn thạch, sau là 92 vạn. Thị Hương đổi tên Hắc Xuyên thành Nhược Tùng và đã đóng góp công lao lớn trong việc làm cho kinh tế lãnh quốc phát triển. Sau khi Thị Hương qua đời, vào năm 1598 (Khánh Trường [慶長] 3), con trai ông là Bồ Sanh Tú Hành (蒲生秀行, Gamō Hideyuki) bị chuyển về Vũ Đô Cung (宇都宮); thay vào đó là Thượng Sam Cảnh Thắng (上杉景勝, Uesugi Kagekatsu) từ Việt Hậu (越後, Echigo) đến với 120 vạn thạch. Trong trận chiến Sekigahara (關ヶ原), vì Cảnh Thắng đứng về phía của Thạch Điền (石田, Ishida), nên vào năm 1601 (Khánh Trường 6), thì bị chuyển về vùng Mễ Trạch (米澤), còn lại 30 vạn thạch. Người lên thay thế Cảnh Thắng là Bồ Sanh Trung Hương (蒲生忠郷, Gamō Tadasato); nhưng vào năm 1627 (Khoan Vĩnh [寛永] 4), ông mất sớm khi còn trẻ, nhưng lại không có con nối dõi. Cùng năm này, Gia Đằng Gia Minh (加藤嘉明, Katō Yoshiaki) đến kế thế với 40 vạn thạch. Người kế vị đời thứ 2 của dòng họ Gia Đằng là Minh Thành (明成, Akinari). Sau đó, nhân việc Minh Thành bị tước mất chức quyền vào năm 1643 (Khoan Vĩnh 20), Bảo Khoa Chánh Chi (保科正之, Hoshina Masayuki), con của Tướng Quân Đức Xuyên Tú Trung (德川秀忠, Tokugawa Hidetada), đến nắm quyền với 23 vạn thạch. Đến đời thứ 3 chấp quyền của dòng họ Bảo Khoa (保科, Hoshina) là Chánh Dung (正容, Masakata, con của Chánh Chi) thì đổi thành họ Tùng Bình (松平, Matsudaira), và được công nhận tên tuổi với tư cách là danh môn thân tộc của dòng họ Tướng Quân Đức Xuyên. Từ đó về sau, dòng họ Tùng Bình bắt đầu quản lãnh vùng Hội Tân. Vị Phiên chủ cuối cùng là Dung Bảo (容保, Katamori). Cuối cùng, vào năm 1876 (Minh Trị [明治] 9), Phiên này được sát nhập vào Fukushima-ken cho đến ngày nay. Lịch đại chư vị Phiên chủ của Phiên Hội Tân có 16 người, gồm: (1) Bồ Sanh Thị Hương (蒲生氏郷, Gamō Ujisato, tại nhiệm 1590-1595); (2) Bồ Sanh Tú Hành (蒲生秀行, Gamō Hideyuki, tại nhiệm 1595-1598); (3) Thượng Sam Cảnh Thắng (上杉景勝, Uesugi Kagekatsu, tại nhiệm 1598-1601); (4) Bồ Sanh Tú Hành (蒲生秀行, Gamō Hideyuki, tại nhiệm 1601-1612); (5) Bồ Sanh Trung Hương (蒲生忠郷, Gamō Tadasato, 1612-1627); (6) Gia Đằng Gia Minh (加藤嘉明, Katō Yoshiaki, tại nhiệm 1627-1631); (7) Gia Đằng Minh Thành (加藤明成, Katō Akinari, tại nhiệm 1631-1643); (8) Bảo Khoa Chánh Chi (保科正之, Hoshina Masayuki, tại nhiệm 1643-1669); (9) Bảo Khoa Chánh Kinh (保科正經, Hoshina Masatsune, tại nhiệm 1669-1681); (10) Bảo Khoa Chánh Dung (保科正容, Hoshina Masakata, tại nhiệm 1681-1731); (11) Tùng Bình Dung Trinh (松平容貞頌, Matsudaira Katasada, tại nhiệm 1731-750); (12) Tùng Bình Dung Tụng (松平容頌, Matsudaira Katanobu, tại nhiệm 1750-1805); (13) Tùng Bình Dung Trú (松平容住, Matsudaira Kataoki, tại nhiệm 1805); (14) Tùng Bình Dung Chúng (松平容眾, Matsudaira Katahiro, tại nhiệm 1806-1822); (15) Tùng Bình Dung Kính (松平容敬, Matsudaira Katataka, tại nhiệm 1822-1852); và (16) Tùng Bình Dung Bảo (松平容保, Matsudaira Katamori, tại nhiệm 1852-1868). Phiên chi nhánh của Phiên Hội Tân là Đẩu Nam (斗南, Tonami).

phiên kinh

Dịch Kinh (từ Phạn ngữ)—To translate the scriptures.

phiên kinh thai

(翻經台) Đài dịch kinh. Do lòng kính ngưỡng và khâm phục ngài Tuệ viễn ở Lô sơn, nên thi sĩ Tạ linh vận đời Lưu Tống thời Nam Bắc triều, xây đài dịch kinh Niết bàn trong chùa, lại đào ao và trồng sen trắng trong ao, gọi đài này là Phiên kinh đài. Đến đời sau, đình Bạch liên được xây cất trên nền cũ của đài này. [X. Phật tổ thống kỉ Q.26; Lô sơn kí Q.1].

Phiên Lộc Nhi Đảo

(鹿兒島藩, Kagoshima-han): tên gọi chính thức của Phiên Tát Ma (薩摩藩, Satsuma-han); là một Phiên lãnh hữu 2 tiểu quốc Tát Ma (薩摩, Satsuma), Đại Ngung (大隅, Ōsumi), cọng thêm đại bộ phận các quận huyện của tiểu quốc Nhật Hướng (日向, Hyūga), các đảo ở Tây Nam. Hiện tại Phiên này thuộc toàn bộ Kagoshima-ken (鹿兒島縣) và tây nam bộ Miyazaki-ken (宮崎縣), cọng thêm đại bộ phận Okinawa-ken (沖繩縣). Trung tâm hành chính của Phiên là Thành Lộc Nhi Đảo (鹿兒島城, tại Kagoshima-shi [鹿兒島市]). Thành chủ là dòng họ Đảo Tân (島津, Shimazu), hình thành nên một Phiên to lớn với số lượng cao nhất 90 vạn thạch. Từ khi dòng họ này được bổ nhiệm làm chức Thủ Hộ 3 tiểu quốc Tát Ma, Đại Ngung và Nhật Hướng, các nhà Thủ Hộ Đại Danh, Chiến Quốc Đại Danh đã lấy địa phương này làm căn cứ địa vững chắc cho họ. Vào năm 1587 (Thiên Chánh [天正] 15), nhân cuộc chinh phục Cửu Châu (九州, Kyūshū) của Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi), một bộ phận của 3 tiểu quốc trên mới được chính thức công nhận là sở lãnh của dòng họ Đảo Tân. Năm 1600 (Khánh Trường [慶長] 5), sau trận chiến Sekigahara (關ヶ原), con của Đảo Tân Nghĩa Hoằng (島津義弘, Shimazu Yoshihiro) là Đảo Tân Gia Cửu (島津家久, Shimazu Iehisa) được công nhận là chủ lãnh của Phiên Tát Ma. Vào năm 1609 (Khánh Trường 14), Gia Cửu xuất binh đánh Lưu Cầu (琉球, Ryūkyū) và làm cho vương quốc này phải thần phục; vì vậy, bên cạnh việc hằng năm Lưu Cầu dâng cống nạp, còn là cơ hội lớn để giao lưu mậu dịch với Trung Quốc; từ số lượng 56 lên đến 72 vạn thạch. Mãi cho đến đời Phiên chủ thứ 8 là Đảo Tân Trùng Hào (島津重豪, Shimazu Shigehide) bắt đầu cải cách chính trị của Phiên, cho thiết lập các trường Phiên Hiệu Tạo Sĩ Quán (藩校造士館), Diễn Võ Quán (演武館), Y Học Viện (醫學院), v.v. Ông cho con gái thứ 3 là Mậu Cơ (茂姫) đến làm dâu nhà Tướng Quân Đức Xuyên Gia Tề (德川家齊, Tokugawa Ienari); vì vậy đã tạo ảnh hưởng to lớn cho nền chính trị của Phiên Tát Ma; nhưng ngược lại thì cũng làm gia tăng sự khốn cùng cho Phiên. Năm 1851 (Gia Vĩnh [嘉永] 4), dưới thời của vị Phiên chủ đời thứ 11 là Đảo Tân Tề Bân (島津齊彬, Shimazu Nariakira), ông tiến hành thiết lập các thiết bị quận sự của phương Tây cũng như công trường kinh doanh; hơn nữa, ông còn người con gái nuôi là Đốc Cơ (篤姫) làm vợ kế nhà Tướng Quân đời thứ 13 là Đức Xuyên Gia Định (德川家定, Tokugawa Iesada). Vào năm 1871 (Minh Trị [明治] 4), trừ các đảo Lưu Cầu, lãnh địa của Phiên Tát Ma bị phế bỏ và sát nhập vào Kagoshima-ken. Lịch đại chư vị Phiên chủ của Phiên Tát Ma có 12 người, gồm: (1) Đảo Tân Gia Cửu (島津家久, Shimazu Iehisa); (2) Đảo Tân Quang Cửu (島津光久, Shimazu Mitsuhisa); (3) Đảo Tân Cương Quý (島津綱貴, Shimazu Tsunataka); (4) Đảo Tân Cát Quý (島津吉貴, Shimazu Yoshitaka); (5) Đảo Tân Kế Phong (島津繼豐, Shimazu Tsugutoyo); (6) Đảo Tân Tông Tín (島津宗信, Shimazu Munenobu); (7) Đảo Tân Trùng Niên (島津宗信, Shimazu Shigetoshi); (8) Đảo Tân Trùng Hào (島津重豪, Shimazu Shigehide); (9) Đảo Tân Tề Tuyên (島津齊宣, Shimazu Narinobu); (10) Đảo Tân Tề Hưng (島津齊興, Shimazu Narioki); (11) Đảo Tân Tề Bân (島津齊彬, Shimazu Nariakira); và (12) Đảo Tân Tề Bân (島津忠義, Shimazu Tadayoshi). Chi nhánh của Phiên này là Phiên Tá Thổ Nguyên (佐土原藩, Sadowara-han).

phiên phạm ngữ

(翻梵語) Từ điển tiếng Phạm, 10 quyển (không rõ soạn giả), được thu vào Đại chính tạng tập 54. Từ điển này giải thích ngắn gọn ý nghĩa các chữ Phạm trong các kinh Hán dịch và trong các sách do người Trung quốc soạn thuật có chua thêm tiếng Phạm. Nội dung chia làm 73 điều, thu tập khoảng 5.000 ngữ vựng, dưới mỗi ngữ vựng đều có nêu rõ ngữ nghĩa, dị dịch và điển cứ. Lời dịch cũng như các kinh Phật mà sách này trích dẫn đều thuộc đời Lương Nam Bắc triều trở về trước, rồi bộ Kinh luật dị tướng do ngài Bảo xướng biên tập vào đời Lương cũng được trích dẫn khá nhiều. Căn cứ vào những dữ kiện đó mà suy đoán, người ta có thể ngờ sách này là tác phẩm của ngài Bảo xướng.

phiên phạn

Dịch từ Phạn ngữ—To translate from Sanskrit.

Phiên Thủy Hộ

(水戸藩, Mito-han): tên một Phiên thống trị vùng Trung Bộ, Bắc Bộ Ibaraki-ken (茨城縣) hiện tại, thuộc tiểu quốc Thường Lục (常陸, Hitachi) ngày xưa. Cơ sở hành chính của Phiên là Thành Thủy Hộ (水戸城, Mito-jō, thuộc Mito-shi [水戸市]). Phiên chủ là mấy đời của dòng họ Đức Xuyên (德川, Tokugawa); chiếm khoảng 35 vạn thạch (đơn vị biểu hiện vị trí cao thấp và thế lực của hàng Đại Danh, Võ Sĩ, v.v.). Dòng họ Tá Trúc (佐竹, Satake) thuộc Chiến Quốc Đại Danh được Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) công nhận là người quản lãnh tiểu quốc Thường Lục; nhưng trong cuộc chiến Sekigahara (關ヶ原), vì Tá Trúc Nghĩa Tuyên (佐竹義宣), người có 54 vạn thạch, không trợ lực cho dòng họ Đức Xuyên; nên vào năm 1602 (Khánh Trường [慶長] 7), thì bị giảm xuống, chuyển về phiên Cửu Bảo Điền (久保田藩, Kubota-han) với 21 vạn thạch ở Thu Điền (秋田, Akita), Xuất Vũ (出羽, Dewa). Sau thời dòng họ Tá Trúc, ở Thủy Hộ có Võ Điền Tín Cát (武田信吉, Takeda Nobuyoshi, 15 vạn thạch), con trai thứ 5 của Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu), lên thay thế. Năm sau, 1603, Tín Cát qua đời đột ngột và Đức Xuyên Lại Tuyên (德川賴宣, Tokugawa Yorinobu, 25 vạn thạch) kế vị. Tiếp theo Lại Tuyên là Đức Xuyên Lại Phòng (德川賴房, Tokugawa Yorifusa), được tăng lên đến 28 vạn thạch. Đến thời đại Nguyên Lộc (元祿), Phiên Thủy Hộ có 35 vạn thạch. Sau này, theo sự tình diễn tiến, Lại Phòng nhường chức lại cho người con thứ ba là Đức Xuyên Quang Quốc (德川光圀, Tokugawa Mitsukuni), rồi giao cho người trưởng nam là Tùng Bình Lại Trùng (松平賴重) làm Phiên chủ của Phiên Cao Tùng (高松藩, Takamatsu-han) có 12 vạn thạch. Bản thân Quang Quốc rất chuộng học vấn, từng biên tập bộ Đại Nhật Bản Sử (大日本史), gieo khí phong Tôn Vương (尊王) đến cho Phiên Thủy Hộ. Vốn ra đời ở Phiên này, Thủy Hộ Học đã đem lại ảnh hưởng mạnh cho cuộc Vận Động Tôn Hoàng Nhương Di (尊皇攘夷運動). Vị Phiên chủ đời thứ 9 là Đức Xuyên Tề Chiêu (德川齊昭, Tokugawa Nariaki), cũng có chí tham gia vào việc cải cách chính trị của Phiên, nhưng vì khuynh hướng Tôn Vương Nhương Di quá mạnh, nên ông phải từ chức và lui về ẩn cư. Đến cuối thời Mạc Phủ, trong Phiên nảy sinh những cuộc kháng tranh giữa Phái Bảo Thủ và Phái Cách Tân, nên mất đi sự thống chế, từ đó kéo theo bao vụ biến loạn như vụ Loạn Đảng Thiên Cẩu (天狗黨の亂), Chiến Tranh Hoằng Đạo Quán (弘道館戰爭), v.v. Lịch đại chư vị Phiên chủ có 13 đời, gồm: (1) Võ Điền Tín Cát (武田信吉, Takeda Nobuyoshi, tại nhiệm 1602-1603); (2) Đức Xuyên Lại Tuyên (德川賴宣, Tokugawa Yorinobu, tại nhiệm 1603-1609); (3) Đức Xuyên Lại Phòng (德川賴房, Tokugawa Yorifusa, tại nhiệm 1609-1661); (4) Đức Xuyên Quang Quốc (德川光圀, Tokugawa Mitsukuni, tại nhiệm 1661-1690); (5) Đức Xuyên Cương Điều (德川綱條, Tokugawa Tsunaeda, tại nhiệm 1690-1718); (6) Đức Xuyên Tông Nghiêu (德川宗堯, Tokugawa Munetaka, tại nhiệm 1718-1730); (7) Đức Xuyên Tông Hàn (德川宗翰, Tokugawa Munemoto, tại nhiệm 1730-1766); (8) Đức Xuyên Trị Bảo (德川治保, Tokugawa Harumori, tại nhiệm 1766-1805); (9) Đức Xuyên Trị Kỷ (德川治紀, Tokugawa Harutoshi, tại nhiệm 1805-1816); (10) Đức Xuyên Tề Tu (德川齊脩, Tokugawa Narinobu, tại nhiệm 1816-1829); (11) Đức Xuyên Tề Chiêu (德川齊昭, Tokugawa Nariaki, tại nhiệm 1829-1844); (12) Đức Xuyên Khánh Đốc (德川慶篤, Tokugawa Yoshiatsu, tại nhiệm 1844-1868); và (13) Đức Xuyên Chiêu Võ (德川昭武, Tokugawa Yoshiatsu, tại nhiệm 1868-1869).

Phiên Tân Hòa Dã

(津和野藩, Tsuwano-han): tên của một Phiên cai trị vùng Tân Hòa Dã (津和野, Tsuwano) thuộc tiểu quốc Thạch Kiến (石見, Iwami) dưới thời Giang Hộ. Cơ quan hành chính của Phiên là Thành Tân Hòa Dã (津和野城, Tsuwano-jō). Dưới thời đại Chiến Quốc, dòng họ Cát Kiến (吉見, Yoshimi), nhà hào tộc từng phục vụ cho hai dòng họ Đại Nội (大內, Ōuchi) và Mao Lợi (毛利, Mōri), quản lãnh địa phương này. Cho nên, trước khi xảy ra cuộc chiến ở Sekigahara (關ヶ原), vùng đất này là sở hữu của dòng họ Mao Lợi. Vào ngày 15 tháng 10 năm 1600 (Khánh Trường [慶長] 5), trong trận chiến Sekigahara, Phản Khi Trực Thạnh (坂崎直盛, Sakazaki Naomori), người anh em họ của Hỷ Vũ Đa Tú Gia (喜宇多秀家), lập chiến công lớn và hình thành một Phiên mới với 3 vạn thạch. Sau đó, trong trận chiến ở Đại Phản (大阪, Ōsaka), ông xông trận cứu thoát công chúa Thiên Cơ (千姫), nên được ban cho 1 vạn 3468 thạch vào ngày 20 tháng 7 năm 1617 (Nguyên Hòa [元和] 3). Tuy nhiên, ngày 11 tháng 9 cùng năm, do những dư âm về sự kiện công chúa Thiên Cơ, Trực Thạnh bị gia thần sát hại và dòng họ Phản Khi coi như đoạn diệt. Thay vào đó, ngày 20 tháng 7 năm 1618 (Nguyên Hòa 3), Quy Tỉnh Chính Củ (龜井政矩, Kamei Masanori) của Phiên Nhân Phan Lộc Dã (因幡鹿野藩) đến nhậm chức với 4 vạn 3000 thạch. Kể từ đó cho đến thời Minh Trị, dòng họ Quy Tỉnh (龜井, Kamei) thống lãnh toàn Phiên. Chính Củ được chính quyền Mạc Phủ tín nhiệm sâu sắc, nhưng lại chế đột ngột vào năm 1619 (Nguyên Hòa 5). Quy Tỉnh Tư Chính (龜井茲政, Kamei Koremasa), người kế thế đời thứ hai của dòng họ này, lại quá nhỏ, nên tạo ra những xáo động trong Phiên; nhưng may nhờ trung thần Đa Hồ Chơn Thanh (多胡眞清) chủ đạo, khống chế phân tranh nội bộ và dốc lực xác lập nền chính trị của Phiên được ổn định. Đến thời của Quy Tỉnh Củ Hiền (龜井矩賢, Kamei Norikata), Phiên chủ đời thứ 8, sáng lập ra trường học Dưỡng Lão Quán (養老館) và mãi cho đến nay trường này vẫn còn. Vị Phiên chủ đời cuối cùng là Quy Tỉnh Tư Giám (龜井茲監, Kamei Koremi) thực hành cải cách và trọng dụng nhân tài có năng lực. Hơn nữa, ông còn tin thờ Thần Đạo và dốc toàn lực phát triển quốc học. Vào năm 1867 (Khánh Ứng [慶應] 3), ngay trước khi chuyển qua thời Minh Trị, nhân cuộc đàn áp tín đồ Thiên Chúa Giáo của chính phủ mới, các tín đồ bị lưu đày ở các địa phương. Ngay như 158 người tín đồ của tôn giáo này cũng bị lưu đày và khảo vấn khốc liệt ở Phiên Tân Hòa Dã; cho nên Phiên này chuyển vào thời kỳ u ám nhất. Đến tháng 7 năm 1871 (Minh Trị [明治] 4), Phiên bị phế bỏ và chuyển nhập vào Shimane-ken (島根縣). Lịch đại chư vị Phiên chủ của Phiên Tát Ma có 12 người, gồm: (1) Phản Khi Trực Thạnh (坂崎直盛, Sakazaki Naomori); (2) Quy Tỉnh Chính Củ (龜井政矩, Kamei Masanori); (3) Quy Tỉnh Tư Chính (龜井茲政, Kamei Koremasa); (4) Quy Tỉnh Tư Thân (龜井茲親, Kamei Korechika); (5) Quy Tỉnh Tư Mãn (龜井茲滿, Kamei Koremitsu); (6) Quy Tỉnh Tư Diên (龜井茲延, Kamei Korenobu); (7) Quy Tỉnh Tư Dận (龜井茲胤, Kamei Koretane); (8) Quy Tỉnh Củ Trinh (龜井矩貞, Kamei Norisada); (9) Quy Tỉnh Củ Hiền (龜井矩賢, Kamei Norikata); (10) Quy Tỉnh Tư Thượng (龜井茲尚, Kamei Korenao); (11) Quy Tỉnh Tư Phương (龜井茲方, Kamei Korekata); và (12) Quy Tỉnh Tư Giám (龜井茲監, Kamei Koremi).

phiên tăng

1) Vị Tăng ngoại quốc, đặc biệt từ Thiên Trúc hay Tây Vực: A foreign monk, especially from India or the West. 2) Vị Tăng có nhiệm vụ canh gác tự viện: A temple warden, or watchman.

phiêu bạt

To wander from place to place—To have no fixed home.

phiêu diêu

Lightly.

phiếm đàm

To talk idly.

phiến

1) Cây quạt: A fan. 2) Một miếng mỏng—A slice—A slip—A card. ; (扇) Cái quạt. Một dụng cụ dùng để quạt mát, hoặc dùng trong nghi lễ. Lúc đức Phật còn tại thế các đệ tử thường cầm quạt để quạt cho Ngài, điều này được thấy rải rác trong các kinh A hàm. Khi ngài Ưu ba li kết tập tạng Luật, vua Ba tư nặc có ban cho ngài1 cây quạt bằng ngà voi để ngài cầm khi tụng Luật. Còn ở Trung quốc, vua Dượng đế nhà Tùy ban cho Cao tăng Kính thoát cây quạt trúc rộng 96 cm để vào cung giảng kinh. Trên đây đều là loại quạt hình tròn ở đời sau, chứ không phải loại quạt xếp. Ngoài ra, khi có pháp sự, vị tăng cầm quạt đứng hầu trước Phật, biểu trưng nghi lễ, giống như các triều thần cầm cái hốt trước vua khi lâm triều.

phiến cung

(片供) Cúng một nửa. Theo nghi thức Quán đính của Mật giáo, những vật cúng được cúng ở đàn nhỏ chia làm 2 phần, 3 vật cúng trước, 3 vật cúng sau. Khi cúng, nếu chỉ dùng phần cúng trước để cúng dường thì gọi là Phiến cúng. Nghi thức này có xuất xứ từ kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng quyển 4, phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật quyển 1 và kinh Bất không quyên sách quyển 15. Ngoài ra, Tam muội da giới dùng nghi thức cúng trước, còn Kim cương giới và Thai tạng giới thì dùng cả cúng trước và cúng sau. Cúng trước là cúng dường Phật mới(A xà lê mới), cúng sau là cúng dường Phật cũ(Phật xưa). Các vật cúng được sắp bày theo thứ tự. Ở trước mâm Kim cương (trên mâm có đặt cây chày Kim cương) đặt lò hộ ma chữ...(Vạn), rồi phía trước phía sau lò lần lượt đặt nước át già, hươngthoa, tràng hoa...

phiến diện

Unilateral.

phiến diện tả kinh

(扇面寫經) Cũng gọi Phiến diện cổ tả kinh. Phương thức viết kinh trên mặt chiếc quạt lưu hành vào cuối thời kì Đằng nguyên ở Nhật bản. Mặt quạt được tô nhiều màu, hoặc quét 1 lớp kim nhũ rồi mới viết văn kinh lên trên. Hiện nay, loại quạt này vẫn còn được các chùa cũng như tư nhân cất giữ, đều là những di phẩm có giá trị về phương diện lịch sử. [X. Phật giáo chi mĩ thuật cập lịch sử; Thế giới ấn loát thông sử Q.1].

phiến quắc

Sandhaka (skt)—See Phiến Quắc Bán Trạch Ca.

phiến quắc bán trạch ca

Sandhaka (skt)—Dịch là Hoàng Môn, một trong ngũ chủng bất nam, người nam căn không đầy đủ—One of the five kinds of impotent males or eunuchs, a eunuch, sexually impotent—See Ngũ Chủng Bất Nam.

phiến quắc bán để ca

Sandhaka (skt)—See Phiến Quắc Bán Trạch Ca.

phiến sai

(扇搋) Phạm: ṣaṇḍha. Hán dịch: Hoàng môn. Chỉ cho những người đàn ông không có bộ phận sinh dục. Phiến đà có 2 loại: Tiên thiên (Bản tính phiến đà) và Hậu thiên (Tổn hoại phiến đà). Hai loại này tương đương với Sinh bất năng nam (người nam sinh ra không có bộ phận sinh dục) và Bệnh bất năng nam (vì bệnh tật mà hư hoại hoặc bị cắt bỏ bộ phận sinh dục) trong 5 loại Bất năng nam. [X. luận Câu xá Q.3]. (Ngũ Chủng Bất Năng Nam).

phiến thiền

Một cuộc hành thiền ngắn—A brief samadhi or meditation.

phiến đa la

Sandhila (skt)—See Đề La.

phiến để ca

Santika (skt)—Còn gọi là Sán Để, một trong những phép Hộ Ma của Mật giáo, dịch là Tức Tái Pháp, một nghi thức cầu nguyện tiêu tai của Mật giáo—One of several different kinds of homa, propitiatory, or producing ease or quiet; a ceremony for causing calamities to cease—See Hộ Ma.

phiết

Liếc mắt—A glance.

phiết địa

Một tít tắc hay nháy mắt—An instant—Quickly.

phiếu mạo

(縹帽) Cũng gọi Phiếu mạo tử, Khỏa đầu. Cái mũ hoặc chiếc khăn bằng lụa bịt kín đầu của người Ấn độ. Thời đức Phật còn tại thế, vì miền Bắc Ấn độ trời lạnh nên Phật cho phép các tỉ khưu ở đó được dùng khăn lông thú để trùm đầu. Ở Trung quốc, tương truyền, lúc Tùy dượng đế còn là Tấn vương, có lần thỉnh Đại sư Thiên thai Trí khải truyền giới Bồ tát, lúc đó trời quá lạnh nên Tấn vương phải dùng áo của mình trùm lên đầu ngài Trí khải, đó là nguồn gốc của Phiếu mạo ở Trung quốc. Tại Nhật bản, Phiếu mạo bắt đầu từ ngài Tối trừng, hoặc ngài Không hải. Đến đời sau, Phiếu mạo diễn biến thành 1 trong Kinh Pháp hoa viết trên quạt những cách trang phục của các tông Thiên thai, Chân ngôn... và người ta phải có 1 tư cách nhất định mới được sử dụng loại khăn này. Phiếu mạo ở Nhật bản ngày nay phần nhiều thuần màu trắng, không dùng để trùm trên đầu mà để quàng quanh cổ, đầu dưới của khăn rủ xuống trước ngực. Phiếu mạo may kép (2 mặt đều dùng được) gọi là Bản mạo tử, may đơn(chỉ dùng được mặt phải) thì gọi là Bán mạo tử. [X. kinh Phạm chí A nhiếp hòa trong Trung a hàm Q.37; kinh Bô lợi đa trong Trung a hàm Q.55; điều Khỏa đầu trong Hiển Mật uy nghi tiện lãm Q.hạ; Thánh đạo y liệu biên Q.hạ].

phiền

Trouble—Annoyance—Perplexity—To bother—To annoy—To disturb—To trouble.

phiền hà

To bother.

phiền lung

Dục vọng được ví như cái lồng nhốt kẻ hay đi gây phiền chuốc não—The basket of the troublers, i.e. the passions.

phiền lòng

Bored—Annoyed.

phiền muộn

Sorrowful—Sad—Grieved

phiền nhiễu

To disturb—To importune.

Phiền não

(s: kleśa, p: kilesa, 煩惱): từ chỉ về tác dụng, tính chất và trạng thái của các loại tâm làm não loạn thân tâm, không được yên tĩnh, vắng lặng. ; 煩惱; S: kleśa; P: kilesa; J: bonnō;|Ðặc tính của tâm thức chuyên sinh ra các pháp Bất thiện (s: akuśala; p: akusala) và làm con người bị vướng mãi trong Luân hồi (s, p: saṃsāra). Khi dứt bỏ tất cả phiền não, hành giả xem như đạt thánh quả A-la-hán (s: arhat).|Có nhiều cách phân loại phiền não. Trong luận Thanh tịnh đạo, Ðại sư Phật Âm chia phiền não ra làm 10 loại: tham, sân (giận dữ), si (mê mờ), Mạn (kiêu mạn), Kiến (kiến giải sai lầm, tà kiến), Nghi (nghi ngờ), hôn trầm (buồn ngủ mệt mỏi), trạo cử (lăng xăng vọng động), vô tàm (không biết tự thẹn), vô quý (không biết thẹn với người).|Người ta thường gặp tại Trung Quốc, Nhật và Việt Nam cách phân chia phiền não ra bốn loại: 1. Ngã si (我癡), 2. Ngã kiến (我見), 3. Ngã mạn (我慢) và 4. Ngã ái (我愛).|Có khi người ta cũng chia phiền não ra hai nhóm, Căn bản phiền não (根本煩惱; s: mūlakleśa) và phiền não phụ thuộc, cấu uế trong tâm, được gọi là Tuỳ phiền não (隨煩惱; s: upakleśa). Căn bản phiền não gồm có tham, sân, si, mạn, nghi, Ðảo kiến (tin có tự ngã, tin nơi sự thường hằng, tin nơi sự huỷ diệt, phủ nhận nghiệp, chấp chặt vào tri kiến sai lầm, cho rằng giáo pháp sai lầm có thể cứu độ). Tuỳ phiền não là các tâm bất thiện đi liền với các Căn bản phiền não. Ðôi lúc phiền não cũng được hiểu là Năm chướng ngại (s, p: nīvaraṇa). Nếu đảo kiến tương đối dễ đối trị thì các phiền não khác không thuộc suy luận mà thuộc về cảm giác thụ tưởng nên rất khó khắc phục. Muốn đối trị chúng, hành giả phải chuyên tu tập thiền định.

phiền não

Kiến hoặc, tư hoặc, kiến giải và tư tưởng sai lầm nhiễu loạn sự yên tịnh của thân tâm. ; Klesa or Sam-klesa (skt)—Affliction—Delusion—Distress or moral faults—Pain—Passions—Suffering—Wrong belief—Con đường của cám dỗ và dục vọng sanh ra ác nghiệp (đây chính là khổ đau và ảo tưởng của cuộc sống), là nhân cho chúng sanh lăn trôi trong luân hồi sanh tử, cũng như ngăn trở giác ngộ—The way of temptation or passion which produces bad karma (life's distress and delusion), cause one to wander in the samsara and hinder one from reaching enlightenment. There are two kinds of delusions: 1) Căn bổn phiền não: Delusions arising from the six senses. 2) Tùy phiền não: Consequent delusions. ; (煩惱) Phạm: Kleza. Pàli:Kilesa. Hán âm: Cát lệ xá. Cũng gọi Hoặc. Gọi chung những tác dụng tinh thần làm cho tâm hữu tình bấn loạn, buồn sầu, khổ não. Để đạt mục đích tham muốn, thỏa mãn những dục vọng của cái ta mà con người có ý thức hoặc vô ý thức thường đắm chìm trong cảnh buồn vui nên bị phiền não trói buộc. Trong tất cả các loại tác dụng tâm, giác ngộ là mục đích cao nhất trong Phật giáo, cho nên bất luận tác dụng tinh thần nào làm trở ngại sự thực hiện giác ngộ đều được gọi là phiền não. Phiền não tùy theo tính chất có nhiều tên gọi như: Tùy miên (Phạm: Anuzaya), Triền (Phạm:Paryavasthàna), Cái (Phạm: Nivaraịa), Kết (Phạm:Saôyojana), Phược (Phạm: Bandhana), Lậu (Phạm: Àsrava), Thủ (Phạm: Upàdàna), Hệ (Phạm: Grantha), Sử, Cấu, Bạo lưu, Ách, Trần cấu, Khách trần... Nếu phân loại thêm nữa thì rất phức tạp, nhưng thông thường cho Tham, Sân, Si là nguồn gốc của tất cả phiền não và chia làm 2 loại là Căn bản phiền não (phiền não gốc) và Chi mạt phiền não ( phiền não ngọn). Căn bản phiền não có 6: Tham, Sân, Si (Vô minh),Mạn, Nghi và Kiến (Ác kiến); trong đó, Kiến lại được chia làm 5 thứ: Thân kiến, Biên chấp kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến và Giới cấm thủ kiến, gọi chung là Thập phiền não (Thập sử). Chi mạt phiền não thì tùy thuộc vào Căn bản phiền não mà sinh khởi, theo luận Câu xá thì có 19 thứ gồm: Phóng dật, giải đãi..., còn theo luận Duy thức thì có 20 thứ gồm: Thất niệm, tán loạn, bất chính tri... Ngoài ra còn có các phương pháp phân loại như: Tam lậu, Tam kết, Tứ bạo lưu, Tứ thủ, Ngũ cái, Ngũ kết, Lục cấu, Thất lưu, Thập triền..., hoặc gọi là Bát bách phiền não (108 phiền não), hoặc vì cách tính toán khác nhau, nên có các thuyết bất đồng như Bát vạn tứ thiên phiền não (84.000 phiền não). [X. luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; luận Đại tì bà sa Q.43, 46, 60; luận Câu xá Q.20, 21; luận Phật tính Q.3; luận Thành duy thức Q.6].

phiền não băng

Băng giá phiền não hay phiền não như băng giá đóng trên bồ đề—The ice of moral affliction, i.e. its congealing, chilling influence on bodhi. ; (煩惱冰) Phiền não và băng giá. Chỉ cho phiền não tức bồ đề, là chỗ tột cùng của Phật giáo Đại thừa. Ý nói phiền não và bồ đề không phải là hai, giống như băng giá và nước không bao giờ rời nhau. Ở đây, bồ đề được ví dụ như nước, phiền não như băng giá, do đó mà có tên gọi Phiền não băng. Ma ha chỉ quán quyển 5 phần đầu (Đại 46, 56 trung) nói: Vô minh phiền não vốn là pháp tính, vì mê hoặc nên pháp tính biến thành vô minh, rồi điên đảo khởi lên các thiện và bất thiện, giống như vì lạnh mà nước đóng thành băng, như người ngủ say tâm biến thành mộng vậy.

phiền não bịnh (bệnh)

The disease of moral affliction.

phiền não chướng

Tất cả phiền não do bảy thứ tình cảm (mừng, giận, buồn, vui, yêu, ghét, ham thích) và sáu thứ dục vọng (của lục căn) sanh khởi đều làm chướng ngại sự giải thoát cái khổ sanh tử. ; Klesavarana (skt)—Affliction obstacles. 1) Những dục vọng và ảo ảnh tiếp sức cho tái sanh và làm chướng ngại Niết bàn. Phiền não chướng còn có nghĩa là những trở ngại của phiền não. Phiền não được chia làm hai nhóm, phiền não chính và phụ. Phiền não chính gồm những thúc đẩy xấu vốn nằm trong nền tảng của mọi tư tưởng và ước muốn gây đau khổ—The passions and delusion which aid rebirth and hinder entrance into nirvana. 2) Những rào cản của dục vọng và uế trược làm trở ngại sự thành đạt Niết bàn—The barrier of temptation, passion or defilement, which obstructs the attainment of the nirvana. Klesa is also means hindrance of the afflictions. Klesa is generally divided into two groups, primary and secondary. The primary comprises of such evil impulses that lie at the foundation of every tormenting thought and desire. ** For more information, please see Lục Chủng Phiền Não. ; (煩惱障) Phạm: Khezàvaraịa. Cũng gọi Hoặc chướng. Chỉ cho phiền não ngăn ngại đạo Bồ đề, làm cho chúng sinh không chứng được Niết bàn, 1 trong 2 chướng, 1 trong 3 chướng. 1. Theo luận Câu xá quyển 17, 25, phiền não thường hiện hành làm trở ngại việc phát sinh của trí tuệ vô lậu, đồng thời, làm cho không chứng được trí tuệ giải thoát, gọi là Phiền não chướng. Đến khi lìa phiền não chướng được tuệ giải thoát và định Diệt tận, nhưng lại bị chướng ngại làm cho không chứng được Câu giải thoát, thì gọi là Giải thoát chướng (Định chướng). Phiền não chướng lấy nhiễm ô vô tri làm thể, Giải thoát chướng lấy Bất nhiễm ô vô tri làm thể. 2. Theo luận Thành duy thức quyển 9, tất cả phiền não làm cho thân tâm chúng sinh bị nhiễu loạn, ngăn trở con đường đến Niết bàn, gọi là Phiền não chướng. Còn tất cả phiền não tuy không khiến khởi nghiệp để phải sinh trong 3 cõi (cõi mê), nhưng có khả năng che lấp cảnh giới sở tri(bị biết) mà ngăn ngại việc phát sinh chính trí, thì gọi là Sở tri chướng (Trí chướng). Phiền não chướng và Sở tri chướng đều thuộc Tát ca da kiến và lấy 128 phiền não căn bản làm thể. Trong đó, Phiền não chướng lấy Ngã chấp làm căn bản; Sở tri chướng thì lấy Pháp chấp làm căn bản. Nếu nói về tác dụng thì Phiền não chướng trở ngại Niết bàn, còn Sở tri chướng thì trở ngại Bồ đề. Cho nên Phiền não chướng là động lực chính làm chướng ngại Niết bàn, còn Sở tri chướng chỉ đóng vai trò phụ trợ, chứ không đủ năng lực làm trở ngại Niết bàn. Lấy phiền não chướng làm trợ duyên, có thể thụ thân Phần đoạn sinh tử; còn lấy sở tri chướng làm trợ duyên thì có thể thụ thân Biến dịch sinh tử. Bởi thế, hàng Nhị thừa lấy quả vị đoạn trừ phiền não chướng làm lí tưởng tối cao, nhưng hàng Bồ tát thì lấy đoạn từ cả 2 chướng để đạt quả vị Phật làm cứu cánh. Đối với Bồ tát mà nói, thì Sở tri chướng không có khả năng dẫn đến quả báo trong 3 cõi, nhưng có thể giúp đỡ nghiệp vô lậu để thụ thân Biến dịch sinh tử ngoài 3 cõi. Còn về các giai đoạn áp phục và đoạn trừ Phiền não chướng và Sở tri chướng của Bồ tát thì được biểu đồ như sau: 3. Đại thừa nghĩa chương quyển 5 cho rằng, trong 5 Trụ địa, hoặc của 4 Trụ trước thuộc Phiền não chướng, còn hoặc sau cùng là Vô minh trụ địa thì thuộc Trí chướng. 4. Theo Kim cương bát nhã ba la mật kinh luận quyển thượng của ngài Thế thân thì Kiến hoặc và Tư hoặc là Phiền não chướng, còn Vô tránh tam muội do chấp trước vào sự đoạn trừ Phiền não chướng mà được thì gọi là Tam muội chướng. 5. Phiền não chướng, Nghiệp chướng và Báo chướng gọi chung là Tam chướng. Các phiền não tham, sân, si luôn luôn hiện khởi, gây chướng ngại cho Thánh đạo, vì thế gọi là Phiền não chướng. [X. luận Phát trí Q.11; luận Đại tì bà sa Q.47, 115, 141; luận Thuận chính kí Q.43]. (xt. Phiền Não).

phiền não chướng cập sở tri chướng

Klesavarana and jneyavarana (skt)—Những chướng ngại gây nên bởi phiền não và tri thức—Hindrances caused by evil passions and by intellection.

phiền não gây ra bởi ngã mạn và ái kỷ

Affliction of pride and self-love.

phiền não gây ra bởi si mê

Afflictions of delusion.

phiền não hà

Phiền não có thể làm trôi dạt người và trời trong ba cõi—The river of moral affliction which overwhelms all beings in the three realms.

phiền não hải

Phiền não của chúng sanh sâu rộng như biển cả—The ocean of moral affliction which engulfs all beings.

phiền não khách trần

(khách trần phiền não): Phiền não ví như những bụi bặm từ bên ngoài bám vào (khách trần), thật không phải là yếu tố sẵn có ở nơi mình. Phiền não là từ bên ngoài đến (khách), chỉ vì người mê lầm nên ngỡ khách là chủ, luôn chạy theo sự sai sử của nó. Nếu quay về quán xét tự tâm thì sẽ biết được chính cái tâm trong sạch sẵn có mới là chủ, sẽ không còn chịu sự tác động của ngoại duyên nữa.

phiền não lâm

Rừng phiền não—The forest of moral affliction.

phiền não ma

Một trong tứ ma, có thể làm rối loạn thân tâm, chướng ngại bồ đề—Demonic afflictions—The mara or the tempter of the passions who troubles mind and body, obstructs the entrance to bodhi, one of the four kinds of mara. ** For more information, please see Tứ Ma and Bát Ma.

phiền não nghiệp khổ

Hoặc Nghiệp Khổ—Do phiền não tham sân si mà tạo ra nghiệp thiện ác. Vì đã có các nghiệp thiện ác mà phải cảm nhận các quả khổ vui của ba cõi, rồi thân phải chịu cái khổ quả đó tiếp tục tạo ra nghiệp phiền não—The suffering arising out of the working of the passions, which produce good or evil karma, which in turns results in a happy or suffering lot in one of the three realms, and again from the lot of suffering (or mortality) arises the karma of the passions. ** For more information, please see Nghiệp, Khổ, Tam Đạo, and Hoặc Nghiệp Khổ.

phiền não ngại

Một trong hai trở ngại. Phiền não kiến tư làm rối loạn thân tâm, trở ngại che lấp đường vào niết bàn—The obstruction of temptation or defilement to entrance into nirvana peace by perturbing the mind, one of the two obstructions. ** For more information, please see Nhị Chướng.

phiền não ngại trí ngại

(煩惱礙智礙) Cũng gọi Nhị ngại. Chỉ cho Phiền não ngại và Trí ngại. Theo luận Đại thừa khởi tín, Phiền não ngại (Hoặc chướng) là 6 tâm nhiễm ô thuộc vô minh chi mạt làm trở ngại trí căn bản; còn Trí ngại là 6 tâm ô nhiễm thuộc vô minh căn bản làm chướng ngại trí hậu đắc. Sở dĩ phiền não ngại ngăn trở trí chân như căn bản là vì nó nương nơi tâm ô nhiễm mà thường thấy thường hiện, rồi vọng chấp các cảnh giới, nên trái với tính bình đẳng. Còn trí ngại ngăn trở trí hậu đắc là vì tất cả pháp thường tĩnh lặng, không khởi tướng, nhưng do vô minh bất giác mà vọng trái vớipháp tướng, nên không thể tùy thuận với chủng trí của tất cả cảnh giới thế gian.

phiền não nê

Phiền não như bùn, từ nơi đó những cánh sen giác ngộ vươn lên—The soil or mud of moral affliction, out of which grows the lotus of enlightenment.

phiền não quân

The army of temptations, tempters or allurements.

phiền não rộn ràng

Full of afflictions and disturbances.

phiền não trận

Đạo quân phiền não và cám dỗ—The army of temptations, tempters, or allurements.

phiền não tân

Củi phiền não, bị lửa trí tuệ đốt sạch—The faggots of passion, which are burnt up by the fire of wisdom.

phiền não tạng

Chứa nhóm phiền não uế nhiễm—The store of moral affliction or defilement. ** For more information, please see Ngũ Trụ Địa and Ngũ Trược.

phiền não tập

Tập khí của phiền não, dù đã đoạn tận phiền não nhưng tập khí của nó vẫn còn—The habit or influence of the passions after they have been cut off. ; (煩惱習) Cũng gọi Dư tập, Tập khí, Tàn khí. Tập khí còn rớt lại do phiền não thường hiện khởi xông ướp(huân tập). Các bậc hiền thánh tuy đã dứt hết Phân biệt khởi Câu sinh khởi Hiện hành Chủng tử, Tập khí Hiện hành Chủng tử Tập khí Hiện hành Chủng tử, Tập khí Hiện hành Chủng tử, Tập khí Địa tiền phục Kiến đạo đoạn Địa 7 phục hết Định Kim cương dứt liền Đoạn trừ ở mỗi địa Địa tiền phục Kiến đạo đoạn Mỗi địa phục dần Mỗi địa đoạn trừ Phân biệt khởi Câu sinh khởi Phiền Não Chướng Sở Tri Chướng phiền não nhưng thói quen (tập khí) của nhiều kiếp vẫn còn sót lại. Như ngài Nan đà tuy đã chứng A la hán, nhưng vẫn còn tập khí dâm dục, nên khi nói pháp giữa thính chúng nam nữ, mắt thường nhìn về phía những người nữ và giọng nói rất hay. Cũng như ngài Xá lợi phất vì còn tập khí sân nên khi nghe đức Phật nói: Xá lợi phất ăn thức ăn bất tịnh liền nhả thức ăn ra và không nhận lời thỉnh thụ thực nữa. Luận Đại trí độ quyển 27 (Đại 25, 260 hạ) nói: Phiền não tập nghĩa là cái thói quen phiền não còn sót lại, như nghiệp thân, nghiệp khẩu không theo trí tuệ thì do phiền não mà sinh khởi. (xt. Tập Khí).

phiền não tặc

Giặc phiền não làm tổn hại túc mệnh, làm tổn thương pháp thân—Temptation or passion, as a thief injuring the spiritual nature. ; (煩惱賊) Giặc phiền não. Phiền não làm thương tổn pháp thân, tuệ mệnh nên gọi là giặc. Kinh Đại bát niết bàn quyển hạ (Đại 1, 205 thượng) nói: Chúng con đã xa rời đấng Pháp vương vô thượng, nên bị giặc phiền não xâm hại hằng ngày. Phẩm Bồ tát hạnh kinh Duy ma (Đại 14, 554 trung) nói: Dùng gươm trí tuệ, phá giặc phiền não. Kinh Quán Vô lượng thọ (Đại12, 341 hạ) nói: Tất cả chúng sinh đời vị lai bị giặc phiền não làm hại.

phiền não tức bồ đề

Afflictions are bodhi—Theo Phật giáo Đại thừa, đặc biệt là tông Thiên Thai, phiền não và bồ đề là hai mặt của đồng tiền, không thể tách rời cái nầy ra khỏi cái kia. Khi chúng ta nhận biết rằng phiền não không có tự tánh, chúng ta sẽ không vướng mắc vào bất cứ thứ gì và ngay tức khắc, phiền não đã biến thành Bồ đề (khi biết vô minh trần lao tức là bồ đề, thì không còn có tập để mà đoạn; sinh tử tức niết bàn, như thế không có diệt để mà chứng)—The passion or moral afflictions are bodhi. The one is included in the other. According to the Mahayana teaching, especially the T'ien-T'ai sect, afflictions are inseparable from Buddhahood. Affliction and Buddhahood are considered to be two sides of the same coin. When we realize that afflictions in themselves can have no real and independent existence, therefore, we don't want to cling to anything, at that very moment, afflictions are bodhi without any difference. ; (煩惱即菩提) Phiền não và Bồ đề không phải là hai mà cái này tức là cái kia. Thông thường, phiền não là chỉ cho tất cả tác dụng tinh thần làm trở ngại sự giác ngộ; còn Bồ đề là trí tuệ dứt hết phiền não thế gian mà thành tựu Niết bàn. Tuy nhiên, cái đương thể của các phiền não tham, sân, si chính là Bồ đề, ngoài pháp tính Bồ đề này ra thì không có 1 pháp nào khác, vì thế ở ngay nơi tính của phiền não mà lập tên gọi Bồ đề. Đây chính là ý Phiền não tức Bồ đề. Theo Nhập lăng già tâm huyền nghĩa của ngài Pháp tạng thì phiền não là tính phân biệt, cho nên thể của nó là Không. Khi thể của phiền nãođãlà Không thì cũng chẳng cần đoạn trừ phiền não mà vẫn chứng nhập chân như, cho nên nói Phiền não tức bồ đề. Ngoài ra, từ ngữ Phiền não tức bồ đề thường được dùng song song với từ ngữ Sinh tử tức niết bàn để biểu thị ý nghĩa tột cùng của Phật giáo Đại thừa. [X. luận Đại trí độ Q.6; phẩm Tùy tu trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.6; Nhiếp đại thừa luận thích Q.14 (bản dịch đời Lương)].

phiền não đạo

Con đường của dục vọng đưa đến ác nghiệp—The path of misery, illusion, mortality—The way of temptation or passion in producing bad karma.

phiền não độc

Bản chất ô nhiễm bất tịnh của phiền não, một trong năm độc—The impurity or defiling nature of the passions, one of the five kinds of impurity. ** For more information, please see Ngũ Độc.

phiền phức

Compound—Complicated.

phiền toái

Complicated.

phiền trược

To be entangled in a tangle.

phiềàn não dư

Những não phiền còn xót lại trong tam giới—The remnants of illusion after it has been cut off in the realm of desire, form and formlessness—See Nhị chướng.

phiệt

Chiếc bè—A raft.

Phiệt duyệt

(閥閱、伐閱): phiệt (閥) nghĩa là công lao, công tích; duyệt (閱) là duyệt lịch, xem xét, xem qua. Trong phần (功臣年表) của Sử Ký (史記) có đoạn: “Minh kỳ đẳng viết phiệt, tích nhật viết duyệt (明其等曰閥、積日曰閱, nêu rõ thứ bực gọi là phiệt, tích chứa số ngày gọi là duyệt).” Cho nên, các gia đình quyền thế có công trạng lớn được gọi là phiệt duyệt hay thế duyệt (世閱).

phiệt dụ

Thí dụ về chiếc bè. Pháp của Phật như chiếc bè, sang sông rồi thì bè nên bỏ, đến bờ của Niết Bàn thì chánh pháp còn nên bỏ hà huống phi pháp. Cho nên nói tất cả các pháp được nói ra đều gọi là phiệt dụ, chỉ là phương tiện giúp đáo bỉ ngạn mà thôi—Raft parable. Buddha's teaching is like a raft, a means of crossing the river, the raft being left when the crossing has been made. ; (筏 喻) Ví dụ cái bè qua sông. Giáo pháp của đức Phật ví như cái bè, một khi đã đến được bờ Niết bàn bên kia rồi thì chính pháp cũng nên xả bỏ. Cho nên tất cả các pháp do đức Phật nói được ví dụ như cái bè, không nên cố chấp vào đó mà bị trói buộc. Cũng như qua sông rồi thì phải bỏ bè lại, chứ nếu tiếc nó mà vác lên vai để đi tiếp thì lập tức mất tự do, giải thoát. Kinh Kim cương (Đại 8, 749 trung) nói: Này các tỉ khưu! Như lai nói pháp ví như chiếc bè, pháp còn nên bỏ, huống chi là phi pháp?. [X. kinh Đại phẩm a lê tra trong Trung a hàm Q.45].

phiệt ta tử

Vatsiputra (skt)—Sơ tổ của Mâu Tử Bộ—Founder of the Vatsiputra sect.

phiệt tô bàn đầu

See Vasubandhu in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

phiệt tô chỉ

Vasuki (skt)—Còn gọi là Hòa Tu Chỉ, hay Long Vương—Lord of snakes, or nagas.

phiệt tô mật đát la

Vasumitra (skt)—Còn gọi là Bà Tu Mật Đa, Bà Tu Mật Đa La, Hòa Tu Mật Đa, tên tiếng Phạn là Thế Hữu hay Thiên Hữu Bồ Tát. Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Phiệt Tô Mật Đát La được mô tả như là một Tăng sĩ thuộc phái Đại Chúng Bộ, người bắc Thiên Trúc. Trước kia theo ngoại đạo Micchaka sống đời phóng đãng, nhưng về sau quy-y Phật và trở thành vị Thượng Thủ trong lần kết tập kinh điển lần thứ tư dưới triều vua Kaniska, là tổ thứ bảy tại Ấn Độ—According to Eitel in the Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Vasumitra is described as a native of northern India, converted from riotous living by Micchaka, was a follower of the Sarvastivadah school, became president of the last synod for the revision of the Canon under Kaniska, was seventh patriarch, and wrote the Abhidharma-prakarana-pada sastra.

phong

1) Gió: Vayu (skt)—Wind—Air. 2) Mũi nhọn của vũ khí: The point of a weapon or sword. 3) Niêm phong: To seal—To close (a letter). 4) Phong phú (nhiều): Abundant. 5) Phong thư: A letter. 6) Phong tục: Custom. ; (風) I. Phong. Gió, 1 trong 4 đại chủng: Đất, nước, lửa, gió. II. Phong. Gió nói chung. Chẳng hạn như trong các thứ trang nghiêm ở cõi Cực lạc có loại gió mát tự nhiên từ 8 hướng thổi đến, hoặc chỉ cho thứ gió có tính chất thù thắng. III. Phong. Chỉ cho hơi thở và gió vô hình vận động trong thân thể người. IV. Phong. Chỉ cho 8 cảnh thế gian làm lay động lòng người gọi là 8 thứ gió, đó là: Lợi, suy, khen, chê, tâng bốc, dèm pha, buồn và vui.(xt. Bát Phong).

Phong Can

豐干; C: fēnggān; J: bukan; tk. 7;|Thiền sư Trung Quốc đời Ðường. Sư là người trụ trì chùa Quốc Thanh trên núi Thiên Thai. Ngoài ra người ta không biết gì hơn ngoài vài sự tích được ghi lại trong Hàn Sơn thi. Tương truyền cũng có một vài bài thơ của Sư trong tập thơ này (xem thêm Hàn Sơn).

phong chúc

See Phong Đăng.

phong cán

(豐千) Thiền sư thi sĩ Trung quốc, sống vào đời Đường. Lúc đầu, sư ở chùa Quốc thanh núi Thiên thai, ban ngày giã gạo, đêm thì ngâm vịnh, nói năng không đầu không cuối, phần nhiều giống như những lời sấm kí. Nếu có ai hỏi điều gì thì sư chỉ trả lời bằng 2 chữ Tùy thời chứ không nói chi khác. Có lần sư cỡi hổ(cọp), miệng hát đạo ca, đi thẳng vào chùa, làm cho chúng tăng kinh sợ, từ đó được mọi người tôn kính. Khoảng năm Tiên thiên (712-713), sư hành hóa ở Kinh triệu (Trường an), chữa bệnh cho quan Thái thú Lư khâu dận. Cảnh đức truyền đăng lục, quyển 27 và Thiền uyển mông cầu, quyển hạ, đều có ghi việc ông Lư khâu dận nhờ sự chỉ dẫn của sư mà tìm được Hàn sơn và Thập đắc. Do đó trong tùng lâm mới có câu chuyện thú vị Phong can nhiêu thiệt(Phong can lắm lời). Cảnh đức truyền đăng lục quyển 27 (Đại 51, 433 hạ) nói: Ông Lư khâu lên núi tìm, thấy Hàn sơn và Thập đắc đang nói cười quanh cái lò sưởi, Lư khâu bất giác đến lạy, Hàn sơn và Thập đắc liền quát mắng, chúng tăng trong chùa kinh ngạc nói: Sao Đại quan lại lạy 2 gã điên điên khùng khùng ấy? Hàn sơn lại cầm tay Lư khâu cười và nói: Phong can lắm chuyện(Phong can nhiêu thiệt)! hồi lâu mới buông ra. Từ đó 2 người dắt tay nhau đi ra khỏi chùa và không trở lại nữa. Hiện nay còn bài Phong can thi và 1 quyển Phong can Thập đắc thi, được chép trong Hàn sơn tử thi tập và xếp trong Tứ bộ tùng san tập 604. Sư cùng với 2 vị Hàn sơn và Thập đắc được gọi chung là Quốc Thanh Tự Tam Ẩn(Ba ẩn sĩ chùa Quốc thanh). [X. Liên đăng hội yếu Q.29; Ngũ đăng hội nguyên Q.2; Tống cao tăng truyện Q.19].

phong cảnh

Landscape—Scenery.

phong cốc thạch kinh

(風峪石經) Những cột đá có khắc kinh để ở phía tây huyện Thái nguyên, tỉnh Sơn tây, Trung quốc. Vùng thung lũng giữa Long sơn và Mông sơn có 1 ngôi miếu tên là Phong động, trong miếu có cất chứa những cột đá có khắc kinh Hoa nghiêm. Cột đá cao 1,4m rộng khoảng 0,6m, 4 mặt khắc chữ, gồm 126 cột(có thuyết nói 124 cột). Về niên đại chế tạo, cứ theo Bộc thư đình tập và Kim thạch tụy biên thì những cột kinh này được khắc vào khoảng năm Thiên bảo (550-559) đời Bắc Tề, nhưng thể chữ thì đại khái là chữ mới thuộc Vũ chu; hơn nữa, kinh Hoa nghiêm được dịch vào đời Đường, như vậy, Phong dục thạch kinh phải là tác phẩm được hoàn thành từ đời Đường về sau.

phong giới

Cõi gió là một trong bốn cõi, có tính chuyển động (địa thủy hỏa phong có thể giữ lẫn nhau mà tạo ra sắc)—The realm of wind, or air, with motion as its principle, one of the four elements. ; (風界) Phạm, Pàli:Vàyu-dhàtu. Cũng gọi Phong đại. Gió, 1 trong 4 nguyên tố tạo thành tất cả vật chất. Giới hàm có các nghĩa tự tính, năng trì, sai biệt... Gió có khả năng duy trì tự tính và tạo ra các sắc mà không thay đổi, cho nên gọi là Phong giới. Gió lấy sự chuyển động làm tính và lấy việc giúp vạn vật tăng trưởng làm nghiệp. [X. luận Câu xá Q.1]. (xt. Tứ Đại).

phong hoả vị tán

(風火未散) Cũng gọi Hỏa phong vị tán. Gió và lửa chưa phân tán, nghĩa là sinh mệnh vẫn còn tiếp tục. Phong hỏa là từ gọi chung 4 đại đất, nước, lửa, gió. Bốn đại là nền tảng cấu thành tất cả vật chất, do sự hòa hợp của nhân duyên mà có tụ có tán, bởi thế phong hỏa chưa phân tán thì con người vẫn chưa chết. Chương Trường sa Cảnh sầm trong Cảnh đức truyền đăng lục (Đại 51, 275 hạ): Có vị tăng hỏi: Con giun bị chặt làm 2 khúc, 2 đầu cùng ngọ ngoạy, chẳng hay tính Phật ở đầu nào? Sư nói: Vọng tưởng làm gì? Vị tăng lại hỏi: Sao còn ngọ ngoạy? Sư nói: Ngươi há không biết hỏa phong vị tán sao?.

Phong Huyệt Diên Chiểu

(風穴延沼, Fuketsu Enshō, 896-973): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, người vùng Dư Hàng (餘杭, thuộc Tỉnh Triết Giang), họ là Lưu (劉). Ban đầu ông học về Nho học và đỗ đến Tiến Sĩ, nhưng chẳng làm được gì nên ông xuất gia. Ông theo học pháp với Kính Thanh Đạo Phó (鏡清道怤) ở Việt Châu (越州, Tỉnh Triết Giang), rồi với vị thị giả của Nam Viện (南院) là Thủ Quách (守廓) ở Hoa Nghiêm Viện (華嚴院) vùng Nhượng Châu (襄州, Tỉnh Hồ Bắc), và cuối cùng đạt được huyền chỉ của Nam Viện Huệ Ngung (南院慧顒). Sau ông đến trú tại Phong Huyệt Sơn (風穴山) vùng Nhữ Châu (汝州, thuộc Tỉnh Hà Nam). Đến khi xảy ra loạn lạc, ông cùng với môn đệ chạy đến lánh nạn ở vùng Dĩnh Châu (郢州, thuộc Tỉnh Hà Nam). Sau ông xây dựng một ngôi chùa tại tư gia của Thái Sư Tống Hầu (太師宋候) và đến sống tại đây. Rồi ông lại quay trở về Dĩnh Châu sống nơi ngôi chùa mới khác, và đến năm 951 thì ngôi chùa này được ban sắc ngạch với tên gọi là Quảng Huệ Tự (廣惠寺). Ông đã từng sống nơi đây hơn 20 năm và đại chúng thường lên đến cả ngàn người. Tương truyền ông có để lại Phong Huyệt Chúng Khổng Tập (風穴眾吼集), còn Phong Huyệt Thiền Sư Ngữ Lục (風穴禪師語錄, 1 quyển) thì được thâu tập vào trong Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄). Vào ngày 15 tháng 8 năm thứ 6 niên hiệu Khai Bảo (開寳), ông thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi đời và 59 hạ lạp. ; 風穴延沼; C: fēngxué yànzhǎo; J: fuketsu enshō; 896-973;|Thiền sư Trung Quốc tông Lâm Tế, nối dòng của Nam Viện Huệ Ngung. Sư là thầy của Thủ Sơn Tỉnh Niệm, được xem là một trong những Ðại Thiền sư trong môn phong Lâm Tế – như lời tiên đoán của Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch. Bích nham lục có ghi lại pháp ngữ của Sư trong Công án 38 và 61.|Sư họ Lưu, quê ở Dư Hàn, lúc nhỏ đã có chí hơn người. Vì thi làm quan lần đầu không thành, Sư quyết chí xuất gia, học kinh luật nghiêm túc, và sau đó Hành cước. Ðến các vị Tôn túc như Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Thuỵ Nham Sư Ngạn, Kính Thanh Ðạo Phó, Sư đều trổ tài hùng biện của mình, ai ai cũng chấp nhận mặc dù Sư chưa phát minh đại sự. Nhân nghe thị giả Khoách của Nam Viện thuật lại, Sư ước mong đến đây đọ sức.|Ðến Thiền sư Nam Viện, Sư vào cửa chẳng lễ bái. Nam Viện bảo: »Vào cửa cần biện chủ.« Sư thưa: »Quả nhiên mời thầy phân.« Nam Viện lấy tay trái vỗ gối một cái, Sư hét. Nam Viện lấy tay mặt vỗ gối một cái, Sư cũng hét. Nam Viện bảo: »Vỗ bên trái gác lại, vỗ bên mặt là sao?«Sư đáp: »Mù.« Nam Viện liền chỉ cây gậy. Sư hỏi: »Làm gì? Con đoạt cây gậy đập Hoà thượng, chớ bảo không nói.« Nam Viện liền ném cây gậy nói: »Ba mươi năm trụ trì, hôm nay bị gã Chiết mặt vàng vào cửa hãm hại.« Sư thưa: »Hoà thượng giống như người mang bát không được, dối nói chẳng đói.« Nam Viện hỏi: »Xà-lê từng đến đây chăng?« Sư thưa: »Là lời gì?« Nam Viện bảo: »Khéo khéo hỏi lấy.« Sư thưa: »Cũng chẳng cần bỏ qua.« Nam Viện bảo: »Hãy ngồi uống trà.«|Nam Viện cũng chưa biết được mức độ ngộ nhập của Sư sau cuộc vấn đáp hào hứng này. Vài hôm sau, Nam Viện chỉ hỏi đơn giản: »Hạ này ở chỗ nào?« Sư thưa: »Ở Lộc Môn cùng thị giả Khoách đồng qua hạ.« Nam Viện bảo: »Vốn là thân kiến tác gia đến.« và hỏi thêm: »Người kia nói với ông cái gì?« Sư thưa: »Trước sau chỉ dạy con một bề làm chủ.« Nam Viện nghe vậy hiểu ngay mọi việc, đánh đuổi Sư ra khỏi phương trượng, nói: »Kẻ này là loại thua trận, dùng làm gì!«|Sư từ đây đành chịu thua, ở lại nhận chức Tri viên. Một hôm, Nam Viện vào vườn hỏi: »Phương Nam một gậy làm sao thương lượng?« Sư thưa: »Thương lượng rất kì đặc«, và hỏi lại: »Hoà thượng nơi đây một gậy thương lượng như thế nào?« Nam Viện cầm cây gậy lên bảo: »Dưới gậy vô sinh nhẫn, gặp cơ chẳng nhượng thầy.« Sư nhân đây triệt ngộ, ở lại Nam Viện sáu năm và được Nam Viện Ấn khả.|Niên hiệu Trường Hưng năm thứ ha (931), Sư sang Nhữ Thuỷ nơi chùa Phong Huyệt, một ngôi chùa đang bị hư hoại. Sư dừng lại đây, ban ngày lượm trái rụng ăn, tối đốt dầu thông, suốt bảy năm như vậy. Dần dần, đồ chúng hay tin góp sức xây dựng chùa mới và Sư bắt đầu giáo hoá.|Sư thượng đường bảo chúng: »Phàm con mắt người tham học gặp cơ liền phải đại dụng hiện tiền, chớ tự ràng buộc nơi tiết nhỏ. Giả sử lời nói trước tiến được, vẫn còn kẹt vỏ dính niệm, dù là dưới câu liền được tinh thông, chưa khỏi phạm đến lại là thấy cuồng. Xem thấy tất cả các ông đều là nhằm đến nương người tìm hiểu, sáng tối hai lối vì các ông một chút quét sạch, dạy thẳng mỗi người các ông như sư tử con gầm gừ rống lên một tiếng, đứng thẳng như vách cao ngàn nhẫn, ai dám để mắt nhìn đến, nhìn đến là mù mắt y.«|Sư thượng đường, có vị tăng bước ra hỏi: »Thầy xướng gia khúc tông phong ai, nối pháp người nào?« Sư đáp: »Siêu nhiên vượt khỏi ngoài Uy Âm, kiễng chân luống nhọc khen đất cát«. Tăng hỏi: »Hát xưa không âm vận, thế nào hoà được bằng?« Sư đáp: »Gà gỗ gáy nửa đêm, chó rơm sủa hừng sáng.«|Ðời Tống, niên hiệu Khai Bảo, năm thứ sáu, ngày rằm tháng tám, Sư lên toà ngồi kết già viên tịch, thọ 78 tuổi, 59 tuổi hạ. Trước khi tịch, Sư để lại bài kệ sau:|Ðạo tại thừa thời tu tế vật|Viễn phương lai mộ tự đằng đằng|Tha niên hữu tẩu tình tương tự|Nhật nhật hương yên dạ dạ đăng.|*Phải thời truyền đạo lợi quần sinh|Chẳng quản phương xa tự vươn lên|Năm khác có người dòng giống đó|Ngày ngày hương khói đêm đêm đèn.

phong huyệt nhất trần

(風穴一塵) Cũng gọi Phong huyệt gia quốc hương thịnh, Phong huyệt nhược lập nhất trần. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này là lời dạy của Thiền sư Phong huyệt Diên chiểu ở Nhữ châu. Bích nham lục tắc 61 (Đại 48, 193 trung) ghi: Thiền sư Phong huyệt dạy rằng: Nếu lập một mảy bụi(nhất trần) thì nước nhà hưng thịnh, nếu không lập một mảy bụi thì nước mất nhà tan. Ngài Tuyết đậu giơ gậy lên nói: Có nạp tăng nào cùng sống cùng chết không?. [X. Tông môn thống yếu tục tập Q.11; Liên đăng hội yếu Q.11].

phong huyệt thiết ngưu cơ

(風穴鐵牛機) Cũng gọi Phong huyệt thiết ngưu. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này là cơ pháp tiếp hóa đệ tử của Thiền sư Phong huyệt Diên chiểu. Bích nham lục tắc 38 (Đại 48, 175 hạ) ghi: Ngài Phong huyệt ở nha môn Dĩnh châu thướng đường nói: Tâmấn Tổ sư giống như then máy của Thiết ngưu(trâu sắt), đi thì ấn trụ, đứng thì ấn phá. Vậy nếu không đi không đứng thì ấn là đúng hay không ấn là đúng? Lúc ấy, Trưởng gia Lư pha bước ra nói: Lư pha này có then máy của Thiết ngưu, xin thầy đừng nhấc ấn. Ngài Phong huyệt nói: Những tưởng được cá kình nơi biển lớn, nào ngờ ếch nhái chỗ bùn lầy. Lư pha suy nghĩ. Ngài Phong huyệt hét: Sao Trưởng lão không nói? Lư pha toan nói, ngài Phong huyệt đánh cho 1 phất trần rồi hỏi: Có nhớ câu thoại đầu không? Hãy nói thử xem! Lư pha toan mở miệng thì ngài Phong huyệt lại đánh thêm 1 phất trần nữa. Quan Tri châu nói: Phật pháp và vương pháp giống nhau. Ngài Phong huyệt hỏi Quan châu: Thấy đạo lí gì? Quan châu nói: Đáng đoạn mà không đoạn thì sẽ tự chuốc lấy cái loạn. Ngài Phong huyệt liền bước xuống tòa. Thiết ngưu là vị thần trấn giữ sông Hoàng hà, hình con trâu mộng to lớn, được làm bằng sắt(thiết),vì bằng sắt, nên không bị nước lớn làm lay động và vì là thần nên giữ gìn được sông nước, cho nên được dùng để biểu thị tâm ấn của Tổ sư.

phong hàng

(風航) Thuyền vượt biển thuận buồm xuôi gió, ví dụ pháp môn Tịnh độ dễ tu hành. Vãng sinh luận chú quyển thượng (Đại 40, 826 trung) nói: Vô lượng thọ kinh ưu bà đề xá này, trên thì diễn bày đến chỗ rốt ráo, như phong hàng(thuyền vượt biển xuôi gió) không bao giờ trở lui.

phong hậu tiên sinh

(風後先生) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Phong hậu là 1 người thời thượng cổ, vua Hoàng đế của Trung quốc thời ấy thường nằm mộng thấy ông, bèn cho người đi tìm ông về phong làm Tể tướng. Trong Thiền lâm, cụm từ này được chuyển dụng để chỉ cho vị Thiền tăng có căn cơ sắc bén, có khả năng ngộ đạo. [X. Bích nham lục tắc 73].

phong kiến

Feudal.

phong luân

Một trong tứ luân, phong luân khởi lên từ bên trên không luân, thủy luân sanh ra trên phong luân, và kim luân sanh ra trên thủy luân, và địa luân dựa trên kim luân—One of the four wheels, the wheel, or circle, of wind below the circle of water and metal on which the earth rests; the circle of wind rests on space—See Ngũ Luân (C). ; (風輪) Phạm: Vàyu-maịđala. Tầng dưới cùng của thế giới, 1 trong 4 luân của đại địa. Gọi là luân bởi vì hình thể của các tầng tròn như bánh xe và thể tính rất cứng chắc. [X. luận Câu xá Q.11, 12]. (xt. Đại Địa Tứ Luân).

phong luân tam muội

Một trong ngũ luân tam muội hay ngũ luân quán, quán về trí tuệ như sự chuyển động của gió làm di chuyển và phá sạch sự vật, cũng như vậy trí tuệ thổi đến đâu phiền não tức thời bị phá sạch đến đó—The samadhi of the wind-circle, one of the five kinds of contemplation of the five elemens, the contemplation of the wind or air. ; (風輪三昧) Chỉ cho trí tuệ của người phạm hạnh tu thiền định mà phát được, 1 trong Ngũ luân tam muội. Loại trí tuệ này viên dung vô ngại, có năng lực phá dẹp tất cả phiền não, giống như gió đi trong hư không, hoàn toàn tự do, tự tại không bị ngăn ngại, cho nên gọi là Phong luân tam muội.

phong luân tế

Giới hạn vòng ngoài hay biên tế của phong luân—The region of the wind-circle.

phong luân đàn

(風輪壇) Cũng gọi Phong luân mạn đồ la, Phong đàn, Bán nguyệt đàn. Đàn hình bán nguyệt, màu đen sẫm, được dùng trong pháp tu Tăng ích hoặc Hàng phục của Mật giáo. Phong luân có hình bán nguyệt nên gọi là đàn Bán nguyệt; còn Mạn đồ la là phiên âm của tiếng Phạm Maịđala, nghĩa là đàn. [X. phẩm Tất địa xuất hiện trong kinh Đại nhật Q.3; Đại nhật kinh sớ Q.16].

Phong mộc hưng hoài

(風木興懷): gió cây thương tiếc, như trong Nghênh Xuân Dạ Thoại (迎春夜話) của Hứa Vân Tiều (許雲樵) có câu: “Phong mộc hưng hoài thế tự liên, Lục Nga tam phục hận chung thiên (風木興懷涕自漣、蓼莪三復恨終天, cây gió tiếc thương lệ trào tuôn, song thân quá vãng hận triền miên).”

Phong nghi

(豐儀、丰儀): thể hiện phong độ uy nghi. Như trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 55, bài Đại Minh Lô Sơn Ngũ Nhũ Phong Pháp Vân Thiền Tự Tiền Trung Hưng Tào Khê Từ Pháp Hám Sơn Đại Sư Tháp Minh (大明廬山五乳峰法雲禪寺前中興曹溪嗣法憨山大師塔銘), có đoạn: “Phục như Tào Khê, đương niên chi thất thập hữu bát, lạp chi lục thập, thị vi Thiên Khải Quý Hợi, tiên ư huyền hồ giả nhất nhật nhi thị tịch yên, sư phong nghi từ mãn, thần tình ngưng định, vọng chi tợ A La Hán (復如曹溪、當年之七十有八、臘之六十、是為天啟癸亥、先於懸弧者一日而示寂焉、師丰儀慈滿、神情凝定、望之似阿羅漢, lại như Tào Khê, năm ấy là bảy mươi tám tuổi, Hạ Lạp sáu mươi, nhằm vào năm Quý Hợi [1623] niên hiệu Thiên Khải [đời vua Hy Tông nhà Minh], trước ngày nhà vua sanh con trai thì thị tịch vậy; sư có phong thái từ bi, thần tình định tĩnh, nhìn vào giống như A La Hán).”

phong nhã

Elegant—Courteous.

phong nhập

(峰入) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Vào núi. Chỉ cho việc hành giả Tu nghiệm đạo Nhật bản vào núi Đại phong ở Đại hòa chiêm bái di tích của vị Tổ khai sáng ra phái này là ngài Dịch tiểu giác. Hàng năm, từ khoảng tháng 4 đến tháng 9, những hành giả Tu nghiệm đạo phải lên núi 3 lần, thời gian đó phải tinh tiến, giữ trai giới thanh tịnh để hoàn thành sự nghiệp tu đạo và phải do vị Tiên đặt hướng dẫn.Căn cứ vào số lần lên núi nhiều hay ít mà có danh hiệu Tiên đạt, Đại tiên đạt.

phong phan thoại

(風幡話) Tên công án trong Thiền tông. Câu chuyện gió và phướn, tức chuyện 2 vị tăng tranh luận với nhau về gió động hay phướn động. Sau khi được Ngũ tổ Hoằng nhẫn truyền pháp cho, Lục tổ Tuệ năng về ở tạm tại chùa Pháp tính thuộc Quảng châu. Vào một buổi chiều, thấy gió thổi lay động lá phướn của chùa, một vị tăng bảo gió động, 1 vị khác bảo phướn động, ngài Lục tổ nghe được cuộc tranh luận liền nói rằng (Đại 48, 394 hạ): Không phải gió động, cũng chẳng phải phướn động mà chính là tâm của 2 vị động!. [X. Lục tổ đàn kinh].

phong phanh

To hear indirectly.

phong phú

Richness

phong phương

(風方) Tên gọi khác của phương Tây bắc. Phật giáo cho rằng Phong thiên là vị trời hộ trì phương Tây bắc, cho nên gọi Phong phương là phương Tây bắc.

phong phấn tấn tam muội

See Phong Tam Muội.

phong quang

Beautiful landscape.

phong quang khả ái

(風光可愛) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Sáng sủa dễ ưa. Từ ngữ dùng để miêu tả phong thái rạng rỡ, dung nghi đĩnh đặc của Thiền sư, hoặc chỉ cho cơ dụng tự do, tự tại đáng mừng. Bích nham lục tắc 4 (Đại 48, 143 trung) nói: Ngài Đức sơn quay lưng rời khỏi Pháp đường, xỏ chân vào đôi giầy cỏ rồi đi liền.(Phong quang khả ái, công án chưa được trọn vẹn, đội được nón lá trên đầu, đánh mất đôi giầy dưới chân, đã là táng thân mất mạng rồi).

phong sắc

Lấy màu của gió để ví với những việc không thể xãy ra được, vì làm gì có màu sắc của gió, cũng giống như sừng thỏ lông rùa, hay mùi thơm của muối vậy—Wind colour, i.e. non-existent, like a rabbit's horns, tortoise-hair, or scent of salt. ; (風色) Màu sắc của gió. Gió vốn không có màu sắc, nên dùng màu sắc của gió để ví dụ vật không bao giờ có, cũng như nói lông rùa, sừng thỏ... đều là những thứ không bao giờ có ở thế gian. [X. luận Thành thực Q.2].

phong tai

xem ba tai kiếp lớn. ; Một trong ba tai nạn lớn vào cuối thời kỳ thứ ba của hoại kiếp—The calamity of destruction by wind at the end of the third period of destruction of a world.

phong tam muội

Còn gọi là Phong Phấn Tấn Tam Muội, chỉ thiền định nổi lên gió lớn làm phân hóa sắc thân ra tứ phương. Ngài A Nan thường nhập vào “phong tam muội” nầy—A samadhi in which the whole body is conceived of as scattered. Ananda used to enter such samadhi. ; (風三昧) Gọi đủ: Phong phấn tấn tam muội. Loại thiền định có năng lực phát khởi gió mạnh, làm phân tán các bộ phận trong thân thể, vì thế gọi là Phong tam muội (Thiền định gió). Ma ha chỉ quán quyển 1 (Đại 46, 1 thượng) nói: Ngài A nan nhập Phong tam muội khi đang ở trên sông, chia thân thể ra làm 4 phần.

phong thiên

Phong Thiên là một trong tứ chấp Kim Cương—The wind deva, one of the four Vajra-rulers—See Tứ Chấp Kim Cương. ; (風天) Phạm, Pàli:Vàyu. Hám âm: Phạ dữu, Phạ du, Bà dữu, Bà dũ, Phạt do. Cũng gọi: Phong thần, Phong đại thần. Vị thần giữ gìn phương Tây bắc, 1 trong 12 vị trời của Mật giáo, 1 trong 8 vị trời hộ thế ở 8 phương. Phong thiên vốn là vị thần gió trong thần thoại Ấn độ, cùng với Nhật thiên, Hỏa thiên được gọi chung là Phệ đà tam thần (3 vị thần thời đại Phệ đà), là vị thần mang lại danh dự, phúc đức, con cháu và tuổi thọ cho mọi người.Kinh Hoa nghiêm quyển 1 (bản dịch mới) có nêu tên của 10 vị Phong thần: 1. Vô ngại quang minh chủ phong thần. 2. Phổ hiện dũng nghiệp chủ phong thần. 3. Phiêu kích vân chàng chủ phong thần. 4. Tịnh quang trang nghiêm chủ phong thần. 5.Lực năng kiệt thủy chủ phong thần.6. Đại thanh biến hống chủ phong thần. 7. Thụ diểu thùy kế chủ phong thần. 8. Sở hành vô ngại chủ phong thần. 9. Chủng chủng cung điện chủ phong thần.10. Đại quang phổ chiếu chủ phong thần. Mười vị Phong thần này đều có giải thoát môn, đều có năng lực làm cho chúng sinh mê lầm bị trói buộc đều được giải thoát, nên xuất hiện ở thế gian. Trong Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, Phong thiên được bài trí ở góc tây bắc của viện Ngoại kim cương. Vị thần này thường xuất hiện trong tư thái người già, râu trắng, mình màu đỏ sậm, đội mũ, mặc giáp trụ, tay phải cầm cờ phướn, tay trái chống nạnh nơi eo, có khi cưỡi con hoãng. [X. kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.12; Cúng dường thập nhị đại uy đức thiên báo ân phẩm; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2].

Phong Thiền

(峰禪, Hōzen, 854-925): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời Bình An, Tọa Chủ đời thứ 3 của Cao Dã Sơn, húy là Phong Thiền (峰禪). Ông theo Chơn Nhiên (眞然) xuất gia, rồi đến năm 902 thì thọ phép Quán Đảnh với Thánh Bảo (聖寶), sau đó được bổ nhiệm làm Nội Cúng Phụng Thập Thiền Sư (內供奉十禪師), Truyền Đăng Đại Pháp Sư (傳燈大法師) và đến trú tại Đại An Tự (大安寺, Daian-ji) vùng Đại Hòa (大和, Yamato). Đến năm 916, ông được bổ nhiệm làm Tọa Chủ của Cao Dã Sơn, và đến năm 919 thì từ chức.

phong thánh

To canonize.

phong thần lôi thần

(風神雷神) Phạm: Vàyu Garjita. Thần Gió và thần Sấm, là 2 vị thần quyến thuộc của bồ tát Thiên thủ Quan âm, được xếp vào 28 bộ chúng. Hình tượng của Phong thần thì trên lưng mang 1 cái đãy, làm như dáng đang phát ra gió; còn Lôi thần thì tay cầm trống, có dáng như đi giữa hư không nổi lên tiếng sấm.

Phong Thần Tú Cát

(豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi, 1537-1598, có thuyết cho là 1536-1598): vị võ tướng dưới thời đại Chiến Quốc và An Thổ Đào Sơn, xuất thân vùng Vĩ Trương (尾張, Owari), con của Mộc Hạ Di Hữu Vệ Môn (木下彌右衛門); lúc nhỏ tên là Nhật Cát Hoàn (日吉丸), khi lớn có tên là Đằng Cát Lang (藤原郎). Ông đã từng làm việc cho Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga), rồi được đặt cho tên là Vũ Sài Tú Cát (羽柴秀吉). Trong cuộc chính biến ở Bổn Năng Tự (本能寺, Honnō-ji), ông tiêu diệt Minh Trí Quang Tú (明智光秀), bình định các vùng Tây Quốc (西國, Saigoku), Bắc Quốc (北國, Hokkoku), Cửu Châu (九州, Kyūshū), Quan Đông (關東, Kantō) và Áo Vũ (奥羽, Ōu), rồi thống nhất thiên hạ. Trong khoảng thời gian này, ông được ban cho các chức như Quan Bạch vào năm 1585, rồi năm sau thì được tặng cho tên Phong Thần và Thái Chính Đại Thần. Nhưng đến năm 1591, ông nhường chức Quan Bạch lại cho người con nuôi Tú Thứ (秀次) và tự xưng là Thái Các (太閤). Ông có ý định chinh phục nhà Minh, sau đem quân sang đánh Triều Tiên, nhưng bị chết trong trận chiến.

Phong Thần Tú Lại

(豐臣秀賴, Toyotomi Hideyori, 1593-1615): vị Võ Tướng sống dưới thời đại An Thổ Đào Sơn (安土桃山), con của Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi). Năm lên 5 tuổi, ông đã kế thừa gia tộc, rồi lấy con gái của Tú Trung (秀忠, Hidetada) làm vợ. Trong trận chiến ở Osaka, do bị hãm thành, ông đã tự vẫn cùng với mẹ.

phong thể

To seal up a god or Buddha in a body by secret methods.

phong tiên luận sư

(風仙論師) Cũng gọi Phong luận sư. Ngoại đạo chủ trương gió là động lực sinh thành và phá hoại muôn vật, là nhân của Niết bàn và giải thoát. Là 1 trong 30 thứ ngoại đạo của Ấn độ xưa. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 1, phái ngoại đạo Địa đẳng biến hóa thứ 2 trong 30 thứ ngoại đạo chấp trước 5 đại(đất, nước, lửa, gió, không) là chân thực, là nhân sinh ra muôn vật, nếu cúng dường phụng sự 5 đại thì được giải thoát. Trong đó, phái chấp trước phong đại có lẽ là Phong tiên luận sư. [X. phẩm Trụ tâm kinh Đại nhật Q.1; luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn].

phong tiết

(風屑) Mạt vụn bay trong gió, ở đây chỉ cho gàu trên đầu. Điều Phó chúc phạn trong Thiền uyển thanh qui quyển 1 (Vạn tục 111, 441 hạ) nói: Không được gãi đầu làm cho phong tiết(gàu)rơi vào bát cơm.

phong trào

Movement.

phong trần

Wind and dust—Hardships of life

phong tài

Wealthy.

phong tài bồ tát

(豐財菩薩) Phong tài, Phạm: Bhogavatì. Cũng gọi Tư tài chủ bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 3, hàng thứ 3 trong viện Quan âm thuộc Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo, tức là vị Bồ tát được an trí ở phía tây của bồ tát Bạch thân Quán tự tại. Vì phúc đức, trí tuệ và của cải của vị Bồ tát này rất dồi dào, có thể bố thí cho những người mong cầu như ý muốn mà không bao giờ hết, nên gọi là Phong tài bồ tát. Mật hiệu là Như ý kim cương, chủng tử là (sa), hình Tam muội da là 2 bông sen. Về hình tượng của vị tôn này thì thân màu trắng, tay trái cầm 2 hoa sen, trong đó 1 hoa đã nở, còn 1 hoa chưa; tay phải co lại đưa lên ngang vai, bàn tay ngửa ra, co ngón vô danh và ngón út, ngồi kết già trên hoa sen đỏ. Chân ngôn là: Án (oô) a lợi nhã (àrya – thánh) đà la a lợi (dharàri– trì chủ) sa hạ (svàhà); hoặc là: Án a lợi dã bổ già phạ để sa hạ. [X. phẩm Bí mật mạn đồ la kinh Đại nhật Q.5; Đại nhật kinh sớ Q.6, 16; Bí tạng kí; Thai tạng giới mạn đồ latôn vị hiện đồ sao tư Q.2].

phong tâm

(風心) Tâm gió, tức là tâm tán loạn không ngừng, luôn xao động như gió. Một trong 60 thứ vọng tâm nói trong kinh Đại nhật. Phẩm Trụ tâm kinh Đại nhật (Đại 18, 3 thượng) nói: Tại sao gọi là Phong tâm? Vì tính của tâm này như gió phát khởi ở khắp mọi nơi. [X. Đại nhật kinh sớ Q.2].

phong tính thường trụ

(風性常住) Tên công án trong Thiền tông. Tính gió thường còn. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Ma cốc Bảo triệt và 1 vị tăng. Có lần, Thiền sư Ma cốc Bảo triệt đang quạt, vị tăng hỏi: -Tính gió thường trụ ở khắp mọi nơi, tại sao Hòa thượng phải quạt? Ngài Ma cốc đáp: -Ông chỉ biết tính gió thường trụ, chứ không biết cùng khắp mọi nơi!. [X. chương Ma cốc Bảo triệt trong Ngũ đăng hội nguyên Q.3; Liên đăng hội yếu Q.4].

phong tế

(風際) Chỉ cho bờ mé dưới cùng của Phong luân. Phong luân là tầng dưới chót của thế giới. Một thế giới được hình thành trước hết phải đứng trên hư không, tức Không luân. Nương vào Không luân mà sinh ra Phong luân, Thủy luân, Kim luân... dần dần tiến tới sinh ra núi Tu di và 4 châu. (xt. Phong Luân).

phong tỏa

To blockade.

phong đao

Cây đao gió, hay gió như đao cắt, ý nói cuộc sống của con người là sự tiến gần đến cái chết và những khổ đau như dao cắt trong thân làm tan hoại thân nầy (một ngày ta sống là một ngày ta chết, là một ngày ta đi gần đến nhà mồ; để rồi lúc mệnh chung, gió trong cơ thể dao động mạnh như dao cắt, phân giải thân thể, nỗi khổ này nào khác chi đao cắt)—The wind knife, i.e. approach of death and its agonies. ; (風刀) Cũng gọi Đao phong. Dao gió. Nghĩa là khi người ta sắp chết gió trong mình dao động mạnh, thân thể đau nhức tựa như lấy dao sắc mà đâm vào, cho nên gọi là Phong đao. Theo luận Hiển tông, nếu làm người mà thích nói lời thô tục, xấu ác, dèm pha châm chọc người khác, dù thật hay đùa, làm cho lòng người se thắt, thì sẽ chiêu cảm cái khổ phong đao. [X. Ma ha chỉ quán Q.4; Thích thị yếu lãm Q.hạ].

phong điên

(風顛) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Thanh, người Thiểm tây, họ Lí. Năm 14 tuổi, sư kết hôn. Năm 18 tuổi, 1 đêm kia đang ngủ, sư bỗng giật mình, cảm ngộ vạn vật là vô thường, 3 cõi như nhà lửa, nên thuận miệng nói: Mười bốn tuổi kết duyên chồng vợ Nực cười thay đêm ngủ với ma! Bốn ân vô nghĩa nay tỉnh ngộ Chẳng rơi vào hầm lửa nữa đâu. Nói xong liền chạy đến chùa Tây sơn xin xuất gia làm tăng. Sư gắng sức tham thiền, khổ cực sáu năm, một đêm nghe tiếng gió hú trong hang mà đại ngộ. Có soạn ngữ lục hơn 6 vạn lời. Sau, sư tịch ở động Phong điên tại góc tây nam thành Tây an. Trong động hiện còn chân thântọa hóa của sư.

Phong Đô

(酆都): chỉ cho nơi trú ngụ ở quỷ thần. Như trong Tây Dương Tạp Trở (酉陽雜俎), phần Ngọc Cách (玉格), của Đoàn Thành Thức (段成式, 803?-863) nhà Đường, giải thích rằng: “Hữu La Phong Sơn, tại Bắc phương Quý địa, chu hồi tam vạn lí, cao nhị thiên lục bách lí, động thiên lục cung, chu nhất vạn lí, cao nhị thiên lục bách lí, thị vi Lục Thiên quỷ thần chi cung … tử nhân giai chí kỳ trung (有羅酆山、在北方癸地、周迴三萬里、高二千六百里、洞天六宮、周一萬里、高二千六百里、是爲六天鬼神之宮…人死皆至其中, có La Phong Sơn, tại phương Bắc đất Bắc, chu vi ba vạn dặm, cao hai ngàn sáu trăm dặm, động trời sáu cung, chu vi một vạn dặm, cao hai ngàn sáu trăm dặm, chính là sáu cung quỷ thần, … người chết đều đến các cung này).” Nguyên lai, từ Phong Đô được dùng để chỉ cho La Phong Sơn, nơi ngự trị của quỷ thần; nhưng về sau được dùng để ám chỉ Huyện Phong Đô (豐都縣) ở Tỉnh Tứ Xuyên (四川省). Trong tác phẩm Trà Hương Thất Tùng Sao (茶香室叢鈔), phần Phong Đô Âm Quân (酆都陰君), của Du Việt (兪樾, 1821-1907) nhà Thanh, còn cho biết rằng: “Phong Đô Huyện Bình Đô Sơn vi Đạo thư thấp thập nhị phước địa chi nhất, nghi vi thần tiên quật trạch, nhi thế nãi truyền vi quỷ bá sở cư, thù bất khả giải (酆都縣平都山爲道書七十二福地之一、宜爲神仙窟宅、而世乃傳爲鬼伯所居、殊不可解, Bình Đô Sơn ở Huyện Phong Đô là một trong 72 vùng đất phước của Đạo Giáo, có lẽ là nhà cửa hang động của thần tiên, mà thế gian tương truyền là nơi quỷ thần cư trú, thật lạ không hiểu được).” Trong Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Khoa Chú (地藏本願經科註, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 21, No. 384) quyển 4 có liệt kê tên một số quan viên dưới Địa Ngục như: “Đông Nhạc Phủ Hữu Thái Bảo, Truy Nhiếp Sinh Hồn Ngạc Nguyên Soái, Truy Nhiếp Tử Hồn Mạnh Nguyên Soái, Phong Đô Cửu Khúc Truy Hồn Trảm Quỷ Vi Nguyên Soái (東嶽府有太保、追攝生魂鄂元帥、追攝死魂孟元帥、酆都九曲追魂斬鬼韋元帥).” Hay trong Huyễn Trú Am Thanh Quy (幻住庵清規, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1248) có đoạn rằng: “Phong Đô giới nội Minh Phủ Thập Điện Từ Vương, Tam Đồ Lục Thú Bát Nạn Tứ Sanh chư hữu tình chúng, thống Tam Giới nhược u nhược hiển, biến thập phương nãi thánh nãi phàm (酆都界內冥府十殿慈王、三塗六趣八難四生諸有情眾、統三界若幽若顯、遍十方乃聖乃凡, trong cõi Phong Đô Minh Phủ Thập Điện Từ Vương, Ba Đường Sáu Nẻo Tám Nạn Bốn Loài các chúng hữu tình, thống lãnh Ba Cõi hoặc ẩn hoặc hiện, biến khắp mười phương ấy thánh ấy phàm).”

phong đăng

Sự phù du của thế giới và con người ví như ngọn đèn trước gió—As a lamp or candle in the wind, such is evanescence of the world and man.

phong đại

Gió là một trong tứ đại (có tính động)—Wind or air as one of the four elements—See Tứ Đại.

phong độ

Good appearance or manner.

phu

1) Người phu lao động: A laborer. 2) Người (nói chung): A man. 3) Trượng phu: A sage officer. 4) Phu quân (chồng): A husband. 5) Phổ biến: To spread—To diffuse—To promulgate—To announce. 6) See Phu Tọa.

phu bến tàu

Docker.

phu công dao đầu

(孚公搖頭) Tên công án trong Thiền tông. Phu công lắc đầu: Phu công tức là đệ tử nối pháp của Thiền sư Tuyết phong Nghĩa tồn ở cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại. Người đời gọi sư là Thái nguyên Phu thượng tọa. Nội dung công án này thuật lại cơ duyên vấn đáp giữa ngài Phu công và Thiền sư Tuyết phong Nghĩa tồn. Chương Thái nguyên Phu thượng tọa (Vạn tục 138, 135 thượng) ghi: Một hôm, ngài Tuyết phong gặp sư liền đưa tay chỉ mặt trời, sư xua tay đi ra. Ngài Tuyết phong nói: Ngươi không chấp nhận ta sao?Sư nói: Hòa thượng lắc đầu thì con vẫy đuôi, chỗ nào là không chấp nhận? Ngài Tuyết phong nói: Đến chỗ khác cũng nên kiêng cữ không nói tới.

phu cụ

1) Áo cà sa: The monk's robe. 2) Chiếc đệm trải ra trước bàn thờ Phật: The displayed, or promulgating article in front of the altar of the Buddha.

phu khuân vác

Porter.

phu lục lộ

Roadmender.

phu mạn đà la

Để tấm vải Mạn Đà La dưới đất—To spread a magic cloth, or mandala, on the ground.

phu mỏ

Miner.

phu nhân

Mistress—Wife.

phu phụ

Husband and wife.

phu quân

My husband.

phu quét đường

Street sweeper.

phu thê

See Phu Phụ.

phu tọa

Cách ngồi đặt bàn chân nầy lên đùi chân kia (có hai cách, một là kiết già, hai là bán già)—To sit cross-legged. ** For more information, please see Kiết Già, and Bán Già Phu Tọa.

phu đổ rác

Garbage collector.

phun lửa

To spit fire.

phung phí

To waste.

Phur-bu

T: phurbu;|Chỉ một loại đao trừ ma quỷ do Liên Hoa Sinh (padmasambhava) áp dụng trong các cuộc hành lễ của Phật giáo Tây Tạng. Phur-bu cũng là biểu tượng trong các phép quán tưởng, tương truyền do Ye-she Tsog-yel (t: yeshe tsogyel) bày ra, nhằm hoá giải các tà lực.|Trong các cuộc hành lễ của các Lạt-ma, ngày nay vẫn còn phép trừ tà bằng đao Phur-bu. Nơi đây, ma quỷ thường được biểu diễn bằng một hình nộm và Pháp sư dùng Phur-bu đâm vào tim. Quan niệm của Kim cương thừa cho rằng, đây là một hành động từ bi, vì ma quỷ bị Phur-bu đâm chết sẽ được giải thoát.|Phur-bu có liên hệ mật thiết với một phép Tan-tra đặc biệt, tương truyền do Liên Hoa Sinh áp dụng lúc bắt đầu lên đường đi Tây Tạng. Phur-bu là một vị Hộ thần (t: yidam) và có vai trò quan trọng trong phái Tát-ca (t: sakyapa) và Ninh-mã (t: nyingma-pa).

phuï

1) Cha: Tỷ Đa—Father. 2) Đàn bà: A woman. 3) Phụ Trợ: Subsequent—To aid—To assist. 4) Phụ Cận: Adjoin—Near. 5) Phụ Lục: Appendix—Attached to. 6) Theo giáo điển nhà Phật, không có thứ gì nguy hiểm cho cuộc sống tịnh xá hơn đàn bà. Đàn bà là cội rễ khổ đau, là chướng ngại, là sự hủy diệt, là vướng mắc, sầu khổ, hận thù và mù quáng, vân vân—A woman—According to Buddhist teaching, nothing is so dangerous to monastic chastity as woman. She is the root of all misery, hindrance, destruction, bondage, sorrow, hatred, blindness, etc. 7) Phụ phàng: To turn the back on someone. 8) Tiền phúng điếu: Pecuniary aid for funerals. 9) Vác mang trên vai hay lưng: To bear on the shoulder or back. 10) Vợ: A wife.

phuớc thành

Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chùa do bà Nguyễn thị Ngọc Cầu, một thứ phi của chúa Võ Vương Nguyễn Phước Hoạt, xây dựng vào cuối thế kỷ thứ 18. Nguyên thủy, chùa đã được xây dựng kiên cố, theo kiểu kiến trúc đương thời với kiểu chánh điện vuông hai chái. Đến năm 1832, chùa được trùng tu, chỉ là một nhà từ đường của người sáng lập ra chùa. Từ đó trở đi không rõ tiến trình trùng tu. Đến thời vua Khải Định, chùa được xử dụng như là một nhà Tăng cho chư Tăng lưu trú mỗi khi đến hành lễ tế tự trong hoàng cung. Đến năm Bảo Đại thứ 3 (1928), con cháu thuộc hệ thứ 9 của bà đã đúc một tiểu hồng chung nặng 120 cân với bài minh họa do Hiệp Tá Đại Học Sĩ Tôn Thất Tế chấp bút, hiện nay vẫn còn tại chùa. Năm 1987, vì vật liệu cũ đã quá hư hỏng không thể trùng tu được, nên chùa đã phải tái thiết theo kiểu kiến trúc mới. Chính điện được chuyển dựng ra phía trước, lấy nền cũ làm sân trong. Tiền đường được đút bằng bê tông cốt sắt và mái lợp ngói—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The temple was built in the late eighteenth century by a concubine of Võ Vương Nguyễn Phước Hoạt named Nguyễn Thị Ngọc Cầu. Formerly the temple was built with a solid structure of the style popular at that time, a square main hall with two-side rooms. In 1832, the temple was rebuilt, merely as a worship house to its founder. No records of reconstruction of the temple were known. During king Khải Định's reign, the temple was used as lodging place for monks who came to participate in the religious ceremonies held in the royal palace. In the third year of king Bảo Đại's reign (1928), the descendants if the founder of the temple dedicated a small-sized bell, 120 pounds to the temple with a eulogy written by Hiệp Tá Đại Học Sĩ Tôn Thất Tế, the bell still remains at the temple. In 1987, because the ancient construction materials had deteriorated so badly that no more reconstruction could be made. As a result, the temple was wholly rebuilt in a new design. Now the main hall stands in front, its old ground became a courtyard, and a tiled roof antechambre built of concrete.

phà

1) Chiếc phà: Ferry-boat. 2) Phà khói: To puff out (exhale) smoke.

Phàm

凡; C: fán; J: bon; S: pṛthagjana;|Có các nghĩa sau: 1. Tất cả, chung, tổng quát, mỗi; 2. Con người, thế tục, trần gian; 3. Ngu đần, đần độn (s: bala); 4. Người thế tục, kẻ phàm phu, phản nghĩa với Thánh; 5. Tất cả, hoàn toàn, tổng quát, toàn thể; 6. Theo thói quen, theo lệ thường; khoảng chừng.

phàm

Common—Ordinary—Everybody.

phàm chủng

Common seed—Ordinary people.

phàm dân

Common people.

phàm lệ

Foreword.

phàm lự

The anxieties of common or unconverted men.

Phàm ngu

凡愚; C: fányú; J: bongu;|Người chưa giác ngộ (s: bāla; theo Hiển dương luận 顯揚論).

phàm ngu

Common, ignorant, or unconverted men.

Phàm phu

凡夫; C: fánfū; J: bonbu;|Có các nghĩa sau: 1. Người ngu, người dốt nát. Người không sáng suốt, người không thông hiểu giáo lí Phật pháp (s: bāla, p: bāla); 2. Huyền Trang dùng từ nầy để dịch chữ pṛthag-jana, thay thế cho từ Dị sinh (異生), nghĩa là hàng thế tục chưa được giác ngộ, là người không thông hiểu ý nghĩa Tứ thánh đế. Trong các kinh văn của Du-già hành tông, thuật ngữ nầy chỉ cho hành giả chưa nhập giai vị Kiến đạo (見道). Nhị phàm phu (二凡夫).

phàm phu

(I) Nghĩa của Phàm Phu—The meanings of ordinary people: 1) Người phàm hay người thường: Sinner—A sane man—Ordinary man—Worldly man—The sinner—Secular people—Common people—The unenlightened—A common fellow. 2) Đệ tử Phàm phu: Đệ tử chưa chứng ngộ—Unenlightened disciples—There are two kinds of ordinary disciples: a) Nội Phàm: Đang trên đường giải thoát—The inner or higher ranks of ordinary disciples who are on the road of liberation. b) Ngoại Phàm: Chưa được tự tại—Lower grades who are not on the road of liberation yet. (II) Những lời Phật dạy về Phàm Phu trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on ordinary people in the Dharmapada Sutra: 1) Đêm rất dài với những kẻ mất ngủ, đường rất xa với kẻ lữ hành mỏi mệt. Cũng thế, vòng luân hồi sẽ tiếp nối vô tận với kẻ ngu si không minh đạt chánh pháp—Long is the night to the wakeful; long is the road to him who is tired; long is samsara to the foolish who do not know true Law (Dharmapada 60). 2) Không được kết bạn với kẻ hơn mình, không được kết bạn với kẻ ngang mình, thà quyết chí ở một mình tốt hơn kết bạn với người ngu muội—If a traveler does not meet a companion who is better or at least equal, let him firmly pursue his solitary career, rather than being in fellowship with the foolish (Dharmapada 61). 3) “Đây là con ta, đây là tài sản ta,” kẻ phàm phu thường lo nghĩ như thế, nhưng chẳng biết chính ta còn không thiệt có, huống là con ta hay tài sản ta?—These are my sons; this is my wealth; with such thought a fool is tormented. Verily, he is not even the owner of himself. Whence sons? Whence wealth? (Dharmapada 62). 4) Ngu mà tự biết ngu, tức là trí, ngu mà tự xưng rằng trí, chính đó mới thật là ngu—A foolish man who knows that he is a fool, for that very reason a wise man; the fool who think himself wise, he is indeed a real fool (Dharmapada 63). 5) Người ngu suốt đời gần gũi người trí vẫn chẳng hiểu gì Chánh pháp, ví như cái muỗng múc canh luôn mà chẳng bao giờ biết được mùi vị của canh—If a fool associates with a wise man even all his life, he will understand the Dharma as litle as a spoon tastes the flavour of soup (Dharmapada 64). 6) Người trí dù chỉ gần gủi người trí trong khoảnh khắc cũng hiểu ngay được Chánh pháp, chẳng khác gì cái lưỡi dù mới tiếp xúc với canh trong khoảnh khắc, đã biết ngay được mùi vị của canh—An intelligent person associates with a wise man, even for a moment, he will quickly understand the Dharma, as the tongue tastes the flavour of soup (Dharmapada 65). 7) Kẻ phàm phu không giác ngộ nên đi chung với cừu địch một đường. Cũng thế, những người tạo ác nghiệp nhất định phải cùng ác nghiệp đi đến khổ báo—A fool with little wit, goes through life with the very self as his own greatest enemy. In the same manner, evil doers do evil deeds, the fruit of which is bitter (Dharmapada 66). 8) Những người gây điều bất thiện, làm xong ăn năn khóc lóc, nhỏ lệ dầm dề, vì biết mình sẽ phải thọ lấy quả báo tương lai—The deed is not well done of which a man must repent, and the reward of which he receives, weeping, with tearful face; one reaps the fruit thereof (Dharmapada 67). 9) Những người tạo các thiện nghiệp, làm xong chẳng chút ăn năn, còn vui mừng hớn hở, vì biết mình sẽ thọ lấy quả báo tương lai—The deed is well done when, after having done it, one repents not, and when, with joy and pleasure, one reaps the fruit thereof (Dharmapada 68). 10) Khi ác nghiệp chưa thành thục, người ngu tưởng như đường mật, nhưng khi ác nghiệp đã thành thục, họ nhứt định phải chịu khổ đắng cay—As long as the evil deed done does not bear fruit, the fool thinks it is as sweet as honey; but when it ripens, then he comes to grief (Dharmapada 69). 11) Từ tháng này qua tháng khác, với món ăn bằng đầu ngọn cỏ Cô-sa (cỏ thơm), người ngu có thể lấy để nuôi sống, nhưng việc làm ấy không có giá trị bằng một phần mười sáu của người tư duy Chánh pháp—Let a fool, month after month, eats only as much food as can be picked up on the tip of a kusa blade; but he is not worth a sixteenth part of them who have comprehended the truth (Dharmapada 70). 12) Người cất sửa bò, không phải chỉ sáng chiều đã thành ra vị đề hồ được. Cũng thế, kẻ phàm phu tạo ác nghiệp tuy chẳng cảm thụ quả ác liền, nhưng nghiệp lực vẫn âm thầm theo họ như lửa ngún giữa tro than—An evil deed committed may not immediately bear fruit, just as newl drawn milk does not turn sour at once. In the same manner, smouldering, it follows the fool like fire covered with ashes (Dharmapada 71). 13) Kẻ phàm phu, lòng thì muốn cầu được trí thức mà hành động lại dẫn tới diệt vong, nên hạnh phúc bị tổn hại mà trí tuệ cũng tiêu tan—The knowledge and fame that the fool gains , so far from benefiting; they destroy his bright lot and cleave his head (Dharmapada 72). 14) Kẻ ngu xuẫn thường hay muốn danh tiếng mà mình không xứng: chỗ ngồi cao trong Tăng chúng, oai quyền trong Tăng lữ, danh vọng giữa các gia tộc khác—The fool always desire for an undue reputation or undeserved honour, precedence among the monks, authority in the monasteries, honour among other families (Dharmapada 73). 15) Hãy để cho người Tăng kẻ tục nghĩ rằng “sự nầy do ta làm, trong mọi việc lớn hay nhỏ đều do nơi ta cả.” Kẻ phàm phu cứ tưởng lầm như thế, nên lòng tham lam ngạo mạn tăng hoài—Let both monks and laymen think, “by myself was this done; in every work, great or small, let them refer to me.” Such is the ambition of the fool; his desires and pride increase (Dharmapada 74). 16) Một đàng đưa tới thế gian, một đàng đưa tới Niết bàn, hàng Tỳ kheo đệ tửø Phật, hãy biết rõ như thế, chớ nên tham đắm lợi lạc thế gian để chuyên chú vào đạo giải thoát—One is the path that leads to worldly gain, and another is the path leads to nirvana. Once understand this, the monks and the lay disciples of the Buddha, should not rejoice in the praise and worldly favours, but cultivate detachment (Dharmapada 75). ; (凡夫) Phạm: Pfthag-jana. Hán âm: Tất lật thác ngật na. Hán dịch: Dị sinh. Gọi tắt: Phàm. Chỉ cho người tầm thường. Nói theo giai vị tu hành thì những người có kiến thức nông cạn, chưa thấy lí Tứ đế, đều gọi phàm phu. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 1, phàm phu vì vô minh nên tùy theo nghiệp mà chịu quả báo, không được tự tại, rơi vào các ngả và sinh làm các loài khác nhau, bởi thế, đúng ra từ ngữ Pfthag-jana phải được dịch là Dị sinh (sinh làm các loài khác nhau). Nhưng các ngài Bồ đề Lưu chi, Chân đế, Cấp đa... thì đều dịch là Mao đạo phàm phu, Anh nhi phàm phu, Tiểu nhi phàm phu. Anh nhi phàm phu và Tiểu nhi phàm phu đều bắt nguồn từ tiếng PhạmBàla-pfthag-jana (Hán âm: Bà la tất lật thác ngật na),Bàla có nghĩa là ngu. Ngoài ra, đối với các bậc thánh Tứ hướng, Tứ quả mà nói thì những người chưa kiến đạo(tức chưa thấy được lí Tứ đế)đều gọi là phàm phu. Trong đó, tông Câu xá cho Tứ thiện căn là Nội phàm, Tam hiền là Ngoại phàm. Tam hiền trở xuống là Để hạ phàm phu(phàm phu dưới giai vị Thập tín, là hàng phàm phu thấp nhất). Đại thừa thì cho trước Sơ địa là phàm phu, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng (Tam hiền) là Nội phàm. Thập tín là Ngoại phàm. Ngoại phàm trở xuống gọi là phàm phu. Còn đối với Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Phật(Tứ thánh)mà nói thì những người sống chết trôi lăn trong 6 đường đều gọi là Lục phàm, tức bao gồm hữu tình ở địa ngục cho đến chúng sinh các cõi trời. Ý nghĩa nội hàm của danh từ Phàm phu, gọi là Phàm phu tính, Dị sinh tính, gọi tắt là Phàm tính. Độc tử bộ cho rằng thể của Phàm phu là Kiến hoặc ở cõi Dục; Kinh bộ không lập thể của Phàm phu nhưng cho rằng phàm phu là phần vị sai biệt tương tục của Thánh pháp; tông Duy thức thì cho rằng phàm phu là 1 trong 24 pháp Bất tương ứng hành, là tác dụng giả lập của chủng tử do phân biệt mà sinh khởi Phiền não chướng và Sở tri chướng. [X. phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa Q.2; kinh Đại bát niết bàn Q.17 (bản Bắc); kinh Phạm võng Q.thượng; luận Phật tính Q.3]. (xt. Dị Sinh).

phàm phu kiêu ngạo

Boastful secular people.

phàm phu thiền

(凡夫禪) Loại thiền định tu hành với mục đích làm cho tinh thần sảng khoái, mong cầu hạnh phúc. Trong Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng, phần 1, ngài Tông mật cho rằng người tu loại thiền định này tuy có tâm chính tín nhân quả, nhưng vì niệm tưởng ưa cõi trên, chán cõi dưới mà tu, cho nên gọi là Phàm phu thiền.

phàm phu thập trọng vọng

(凡夫十重妄) Mười lớp mê vọng bất giác trong thức A lại da của phàm phu. Trong Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển hạ, phần 2, ngài Tông mật chia sự bất giác này làm 10 lớp và mỗi lớp đều dùng giấc mộng để ví dụ. Đó là: 1. Lớp thứ nhất: Hết thảy chúng sinh đều có chân tâm bản giác; như 1 người giàu sang, đẹp đẽ và thông minh ở ngay trong nhà của mình. 2. Lớp thứ hai: Nếu chân tâm bản giác chưa được sự mở bày của thiện tri thức thì pháp tính xưa nay là bất giác; như người ngủ trong nhà không tự biết. 3. Lớp thứ ba: Vì là bất giác nên liền khởi vọng niệm; như trong giấc ngủ thấy có cảnh mộng. 4. Lớp thứ tư: Vì sinh khởi vọng niệm nên có tướng năng kiến; như các niệm tưởng trong mộng. 5. Lớp thứ năm: Vì sinh ra tướng năng kiến(tướng hay thấy)nên căn, thân, thế giới theo đó mà vọng hiện; như trong mộng lại thấy có thân chịu khổ ở nơi khác và thấy các cảnh tượng tốt, xấu. 6. Lớp thứ sáu: Thấy các cảnh tượng nhưng không biết đó là huyễn cảnh từ vọng niệm của mình sinh khởi, lại chấp là có thật, gọi là Phá chấp; như trong chiêm bao thấy những cảnh vật mình thấy là có thật, đó là vì bất giác. 7. Lớp thứ bảy: Đã chấp pháp là có thật thì liền thấy mình và người khác nhau, gọi là Ngã chấp; như trong giấc mộng tự nhận thân chịu khổ ở nơi khác là thân của chính mình. 8. Lớp thứ tám: Chấp 4 đại giả hòa hợp làm Ngã, cho nên tham đắm những cảnh thuận ý mình muốn, làm lợi ích cho Ngã, mà giận ghét những cảnh trái với ý mình muốn, sợ chúng làm tổn hại đến Ngã, vì tình ngu si này mà sinh ra các thứ so đo tính toán; như trong giấc mộng ở các chỗ khác, đối với những cảnh thuận, nghịch mà mình thấy, cũng theo đó mà sinh tâm tham, sân. 9. Lớp thứ chín: Vì khởi tâm tham, sân nên tạo các nghiệp thiện, ác; như trong chiêm bao hoặc đánh đập, cướp giật, mắng chửi lẫn nhau, hoặc ban ân bố đức cho nhau. 10. Lớp thứ mười: Nghiệp lực thiện, ác như bóng theo hình, cho nên bị nghiệp trói buộc trong 6 đường và hiện ra các cảnh khổ, vui; như trong mộng mơ vì trộm, cướp, đánh đập, chửi mắng mà bị xử phạt gông cùm, hoặc do thi ân bố đức mà được quả báo tiến cử làm quan. Mười lớp mê vọng trình bày ở trên là gốc ngọn của phàm phu, nhưng sau khi tỉnh ngộ, siêng năng tu chứng thì lại có 10 lớp phản vọng qui chân.

phàm phu tánh

The common underlying nature of all men.

Phàm phu tâm thức

凡夫心識; J: bonpu-(no)-jōshiki;|Nghĩa là tâm thức của một kẻ phàm, của một người tầm thường; tâm thức này đối nghịch lại với tâm thức của một người đã Kiến tính, ngộ đạo. Ðặc tính của phàm phu tâm thức là Vô minh (s: avidyā), sự tự nhận diện với một cái »ta« không có thật (huyễn Ngã), độc lập với thế giới »bên ngoài«, với kết quả là sự ô nhiễm với ba độc tham, sân và Si. Theo đạo Phật thì phàm phu tâm thức là tâm trạng bị bệnh và nếu ôm ấp nó – hoặc nói cách khác – bị nó vây phủ, người ta không thể nhận được cái bản tính thanh tịnh sẵn có (Tự tính thanh tịnh tâm), tức là Phật tính và cứ trầm luân trong biển khổ, bị trói buộc trong Vòng sinh tử, Luân hồi cho đến khi tâm thức này được đoạn diệt bởi kinh nghiệm kiến tính, giác ngộ.|Nếu cho rằng, tu tập thiền là một phương pháp hướng dẫn con người đi từ vô minh đến giác ngộ thì sự phân biệt giữa phàm phu và giác ngộ tâm thức có thể chấp nhận được. Nhưng nhìn từ lập trường tuyệt đối thì phàm phu tâm thức và giác ngộ tâm thức không phải là hai. Bản tính của phàm phu và giác ngộ tâm thức, Niết-bàn và Sinh tử là một. Sự khác biệt duy nhất ở đây là phàm phu không tự nhận được cái bản tính thanh tịnh sẵn có trong khi một bậc giác ngộ lúc nào cũng tự biết, tự chủ được việc này và lúc nào cũng tìm được vị an lạc nơi đó.

phàm phúc

Phước báo nhơn thiên—The ordinary blessedness of devas and men as compared with that of the converted. ; (凡福) Phạm: Bràhma-puịyatva. Phúc đức của Đại Phạm thiên. Người muốn có được phúc đức như Đại Phạm thiên, phải tu các hạnh thù thắng sau đây: 1. Xây tháp cúng dường xá lợi Phật. 2. Làm chùa, bố thí vườn rừng, cúng dường chư tăng 4 phương. 3. Tạo cơ hội cho các đệ tử Phật đã phá hòa hợp được hòa hợp trở lại. 4. Đối với hết thảy hữu tình phải tu 4 tâm vô lượng (từ, bi, hỉ, xả). 5. Xả bỏ thân mình để cứu mệnh sống của cha mẹ, mệnh sống của Như lai. 6. Xuất gia trong Chính pháp. 7. Độ cho người khác xuất gia. 8. Thỉnh Pháp sư đến thuyết pháp ở các nơi chưa có ai thuyết pháp. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.21].

phàm sư

Vị sư chưa giác ngộ chân lý mà Phật đã giảng dạy—Ordinary or worldly teachers who are unenlightened by Buddhist truth.

phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng. nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến như lai

Theo Kinh Kim Cang, Đức Phật dạy: “Bất cứ vật gì hễ có hình tướng đều là giả dối. Nếu thấy các tướng không phải hình tướng, như thế mới tạm gọi là thấy được Như Lai.”—In the Diamond Sutra, the Buddha taught: “All forms and phenomena are illusive. If one can see beyond forms, one sees the Tathagata.”

Phàm thánh

凡聖; C: fánshèng; J: bonshō;|Hàng phàm phu và bậc Thánh. Theo truyền thống Tiểu thừa, từ Sơ quả (初果) trở lên được xem là bậc Thánh. Theo tinh thần Đại thừa, từ Sơ địa của Thập địa trở lên được xem là bậc Thánh. Dưới các bậc nầy, được xem là người mê, hàng phàm phu, hay người thế tục.

phàm thánh

Sinners and Saints. ; (凡聖) Phàm phu và Thánh giả. Thánh giả cũng gọi là Thánh nhân, tức chỉ cho những người từ giai vị Kiến đạo trở lên. Tiểu thừa chỉ cho người từ Dự lưu hướng trở lên, Đại thừa chỉ cho người từ Sơ địa trở lên; còn người từ Kiến đạo trở xuống thì gọi là Phàm phu.Về phương diện bản chất, Phàm phu và Thánh giả hoàn toàn bình đẳng, không có gì khác nhau, cho nên nói Phàm Thánh nhất như, Phàm Thánh bất nhị. Trong 10 cõi mà Phật giáo Đại thừa chủ trương, thì cõi: Địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, a tu la, người và trời, gọi là Lục phàm; còn Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật, gọi là Tứ thánh; gọi chung lại là Lục phàm tứ thánh. Lục phàm là quả báo hữu vi; Tứ thánh là quả thánh vô vi. (xt. Phàm Phu, Thánh Nhân).

Phàm thánh bất nhị

凡聖不二; C: fánshèngbùèr; J: bonshōfuni;|Kẻ phàm và bậc thánh đồng nhất với nhau về phương diện bản thể, đều có Phật tính.

phàm thánh bất nhị

Phàm Thánh đều cùng có bổn tánh như nhau: Phật tánh—Sinners and saints are of the same fundamental nature: Buddha-nature.

Phàm thánh nhất như

凡聖一如; C: fánshèng yīrú; J: bonshō ichi-nyo;|Kẻ phàm và bậc thánh đồng nhất với nhau trên cơ sở Phật tính (佛性).

phàm thánh nhất như

(凡聖一如) Cũng gọi Phật phàm nhất thể, Phàm thánh bất nhị. Chỉ cho bản tính của phàm phu và thánh nhân là bình đẳng, đồng nhất; chỉ do hoạt động của ý thức có mê hoặc hay không mà làm cho phàm và thánh khác nhau mà thôi. Tức có mê hoặc là phàm phu, không mê hoặc là thánh nhân. [X. Chú duy ma kinh Q.4; Ma ha chỉ quán Q.5, phần đầu]. (xt. Phàm Thánh).

phàm thánh nhứt như

Phàm Thánh bất nhị—Sinners and Saints are of the same fundamental nature—See Phàm Thánh Bất Nhị and Sinh Phật Nhứt Như.

Phàm thánh y chính

凡聖依正; C: fánshèng yīzhèng; J: bonshō-ishō;|»Sự khác nhau giữa phàm và thánh nằm trong sự chính trực.« (Một câu văn được Hàm Hư 涵虚 lặp lại nhiều lần trong tác phẩm Viên Giác kinh thuyết nghị 圓覺經説誼 của mình).

phàm thánh đồng cư địa

Thế giới nầy nơi mà Thánh phàm đồng cư—This world, where saints and sinners dwell together.

phàm thân

The common mortal body—The ordinary individual.

phàm thức

Ordinary knowledge.

phàm tiểu

(凡小) Có 2 nghĩa: 1. Chỉ cho phàm phu. Phàm phu tức là tiểu nhân, nên gọi là Phàm tiểu. 2. Chỉ cho phàm phu và Tiểu thừa, gọi chung là Phàm tiểu. Quán Vô lượng thọ kinh sớ quyển 1 (Đại 37, 250 thượng) nói: Nay đã có Thánh giáo này để làm minh chứng, chẳng biết tất cả hành giả thời nay hiểu ý như thế nào mà đối với những lời bàn của kẻ phàm tiểu lại sinh tâm tin nhận như vậy?

phàm tiểu bát đảo

(凡小八倒) Chỉ cho 8 thứ kiến chấp điên đảo của phàm phu và Tiểu thừa. 1. Chẳng phải thường chấp là thường. 2. Chẳng phải vui chấp là vui. 3. Chẳng phải ta chấp là ta. 4. Chẳng phải sạch chấp là sạch. 5. Thường chấp là chẳng phải thường. 6. Vui chấp là chẳng phải vui. 7. Ta thì chấp chẳng phải ta. 8. Sạch thì chấp chẳng phải sạch. (xt. Bát Điên Đảo).

phàm tánh

Common nature of all men.

phàm tình

Desires or passions of the unconverted.

phàm tính

(凡性) Cũng gọi Phàm phu tính, Dị sinh tính. Chỉ cho tính của phàm phu còn vọng kiến mê lầm, chưa thấy lí Tứ đế. Là 1 trong 24 pháp Bất tương ứng hành của tông Pháp tướng. (xt. Dị Sinh Tính).

Phàm Túc Vạn Lí

(帆足萬里, Hoashi Banri, 1778-1852): Nho gia, và là nhà Lý học sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ; thông xưng là Lí Cát (里吉); tự Bằng Khanh (鵬卿); hiệu là Ngu Đình (愚亭); thân phụ là quan Gia Lão (家老) của Phiên Nhật Xuất (日出藩, Hiji-han) thuộc Phong Hậu (豐後, Bungo). Ông theo học với Hiếp Ngu Sơn (脇愚山), môn nhân của Tam Phố Mai Viên (三浦梅園); rồi sau đó làm Giáo Thọ cho trường học của Phiên này. Vào năm 1832 (Thiên Bảo [天保] 3), ông làm chức quan Gia Lão và dốc sức cải cách nền chính trị của Phiên. Ông đã từng giao du với nhóm Trung Tỉnh Trúc Sơn (中井竹山, Nakai Chikuzan), Quy Tỉnh Nam Minh (龜井南冥, Kamei Nammei), Quảng Lại Đạm Song (廣瀨淡窻, Hirose Tansō); và tư tưởng cơ bản của ông là Nho học. Ông từng lấy tư tưởng Lý Học (Vật Lý) của Tam Phố Mai Viên làm cơ sở, có chí muốn truy cho tận cùng áo nghĩa ấy và nghiên cứu các sách vở khoa học của Hòa Lan. Từ khoảng 50 tuổi, ông bắt đầu học về khoa học tự nhiên của phương Tây, và viết các tác phẩm Cùng Lí Thông (窮理通), Y Học Khải Mông (醫學啟蒙), v.v. Các trước tác khác có Đông Tiềm Phu Luận (東潛夫論), Nhập Học Tân Luận (入學新論), v.v.

phàm tăng

Phàm Tăng ngược lại với Thánh Tăng (những vị Tăng đã có công đức sâu dầy, đạo cao đức trọng)—The ordinary practicing monk, as contrasted with the holy monk (Thánh Tăng) who has achieved higher merit. ; (凡僧) I. Phàm Tăng. Cũng gọi: Ngu phàm tăng. Đối lại: Thánh tăng. Chỉ cho hàng tăng chúng bình phàm, chưa chứng Thánh quả. Lương cao tăng truyện quyển 3 (Đại 50, 339 hạ) nói: Nghiêm (Trí nghiêm) tuy giới hạnh thanh cao nhưng tu hành chưa được rốt ráo. Khi ngài tịch, lúc đầu, đưa thi hài của ngài về phía nghĩa địa Phàm tăng thì nặng trĩu không nhấc lên được. Sau chuyển hướng đưa về phía nghĩa địa Thánh tăng thì trở nên nhẹ nhàng như muốn lướt đi. II. Phàm Tăng. Chỉ cho vị tăng đảm nhiệm chức Pháp sư mà chưa giữ chức Tăng cương. Đây là chức vụ tăng chúng của Phật giáo Nhật bản.

phàm tập

The practices, good and evil, of common or unconverted men. ; (凡習) Chỉ cho những hành động phải trái, thiện ác mà phàm phu tập quen. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển hạ, phần 1 (Đại 48, 407 trung) nói: Dần dần trừ bỏ phàm tập, từng bước hiển bày Thánh đức, như gió thổi mạnh, biển dậy sóng thì hình bóng không thể hiện được, nếu gió dứt thì sóng lặng, hình bóng dần dần hiện rõ.

phàm tục

Thói thường tốt hay xấu của phàm nhân—Mundane—Earthly—Ordinary—Common—The practices, good or evil, of common or unconverted men.

phàn nàn

To blame—To complain.

Phàn Trạch Đạt

(樊澤達, ?-?): tự là Côn Lai (昆來), người vùng Nghi Tân (宜賓). Năm Ất Sửu (1685) đời vua Khang Hy (康熙, tại vị 1662-1722), ông đỗ Tiến Sĩ, từng làm quan chức Thị Độc (侍讀), chuyên biên tập sử sách. trước tác của ông có Kính Nghiệp Đường Tập (敬業堂集).

phá

1) Đả phá: To disprove—To refute—To negate—To cause schism. 2) Phá đám: To break—To disrupt. 3) Phá hoại: Phá hủy—To destroy—To demolish. ; (破) Tiếng dùng trong Nhân minh. Người vấn nạn (địch nhân) dựa vào 3 phần luận thức của người lập luận mà vạch ra những lỗi lầm để bác bỏ chủ trương của đối phương, gọi là Phá. Ngôn luận mà mình dùng để bác bỏ chủ trương của đối phương, có đủ sức thuyết phục và chính xác, có thể đánh đổ lập luận của địch, thì gọi là Năng phá. Vì Năng phá là vạch ra những lỗi lầm của người khác để đánh đổ chủ trương lập luận của họ, cho nên Năng phá tức là phá tà. Và để phân biệt với Tự năng phá(phá luận sai) nên Năng phá cũng được gọi là Chân năng phá (phá luận đúng). Năng phá giúp đối phương thấy rõ được chỗ sai lầm của mình, cho nên nó có tác dụng ngộ tha (làm cho người khác hiểu). [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích]. (xt. Tự Năng Phá, Chân Năng Phá).

Phá Am Tổ Tiên

(破庵[菴]祖先, Haan Sosen, 1136-1211): vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Phá Am (破庵), người Quảng An (廣安, Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Vương (王). Ông theo xuất gia với Đức Tường (德祥) ở La Hán Viện (羅漢院), rồi đi tham học các nơi, sau đến tham vấn Mật Am Hàm Kiệt (密庵咸傑) ở Ô Cự Sơn (烏巨山) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông theo Mật Am chuyển đến Tương Sơn (蔣山), rồi từ giã thầy mà quay về đất Thục. Thể theo lời thỉnh cầu của Thượng Thư Dương Công (楊公), ông đến trú trì Hàm Bình Thiền Viện (咸平禪院) ở Ngọa Long Sơn (臥龍山) thuộc Quỳ Châu (夔州, Tỉnh Tứ Xuyên). Sau đó, ông sống qua một số nơi khác như Tú Phong Thiền Viện (秀峰禪院) ở Phủ Bình Giang (平江府, Tỉnh Giang Tô), Quảng Thọ Huệ Vân Thiền Viện (廣壽慧雲禪院) ở Phủ Lâm An (臨安府, Tỉnh Triết Giang), Phước Trăn Thiền Viện (福臻禪院) ở Phủ Bình Giang, Phụng Sơn Tư Phước Thiền Tự (鳳山資福禪寺) ở Hồ Châu (湖州, Tỉnh Triết Giang). Vào ngày mồng 9 tháng 6 năm thứ 4 niên hiệu Gia Định (嘉定), ông thị tịch, hưởng thọ 76 tuổi đời và 49 hạ lạp. Trước tác để lại của ông có Phá Am Hòa Thượng Ngữ Lục (破菴和尚語錄) 1 quyển, Phá Am Tiên Thiền Sư Ngữ Yếu (破菴先禪師語要) 1 quyển.

phá bồ đề

Upasanti (skt)—Calm—Tranquility.

phá chánh

Phá bỏ chân lý—To deny the truth, e.g. heresy.

phá chánh hiển tà

To deny the truth and support the evil.

phá chánh mệnh

Cuộc sống không theo đúng theo chánh mệnh—An incorrect or wrong form of livelihood—See Bát Chánh Đạo (5).

phá chính mệnh

(破正命) Chỉ cho tà mệnh, nghĩa là mưu sinh trái với chính pháp của Phật và với luân lí đạo đức thế gian. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 2]. (xt. Tà Mệnh).

phá chấp

1) Phá bỏ hay phản bác những mê chấp tà kiến: To refute tenets. 2) Phản bác niềm tin nơi thực ngã hay thực pháp, nghĩa là sự có thật của một cái ngã và chư pháp: To refute the belief in the reality of the ego and things.

phá chấp nhị biên

To sever dualistic attachments.

phá gia

To ruin one's family.

phá giới

1) Người đã thọ giới lại tự mình hay do sự xúi dục mà phá giới: Theo sách Thập Luân, vị Tỳ Kheo phá giới, tuy đã chết nhưng dư lực của giới ấy vẫn còn bảo đường cho nhân thiên, ví như hương của ngưu hoàng xạ. Phật do đó mà thuyết bài kệ: “Thiệm bạc hoa tuy ny, thắng ư nhứt thiết hoa, phá giới chư Tỳ Kheo, do thắng chư ngoại đạo,” nghĩa là hoa thiệm bạc tuy héo vẫn thơm hơn các thứ hoa khác, các Tỳ Kheo tuy phá giới nhưng vẫn còn hơn hết thảy ngoại đạo)—To violate (break) religious commandments. 2) Trong Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới 48 giới khinh điều thứ 36, Đức Phật dạy: “Thà rót nước đồng sôi vào miệng, nguyện không để miệng nầy phá giới khi hãy còn thọ dụng của cúng dường của đàn na tín thí. Thà dùng lưới sắt quấn thân nầy, nguyện không để thân phá giới nầy tiếp tục thọ nhận những y phục của tín tâm đàn việt.”—The Buddha taught in the thirty-sixth of the forty-eight secondary precepts in the Brahma-Net Sutra: "I vow that I would rather pour boiling metal in my mouth than allow such a mouth ever to break the precepts and still partake the food and drink offered by followers. I would rather wrap my body in a red hot metal net than allow such a body to break the precepts and still wear the clothing offered by the followers.” 3) Những lời Phật dạy về Phá Giới trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Breaking Precepts” in the Dharmapada Sutra: a) Sự phá giới làm hại mình như dây mang-la bao quanh cây Ta-la làm cho cây nầy khô héo. Người phá giới chỉ là người làm điều mà kẻ thù muốn làm cho mình—Breaking commandments is so harmful as a creeper is strangling a sala tree. A man who breaks commandments does to himself what an enemy would wish for him (Dharmapada 162). b) Phá giới chẳng tu hành, thà nuốt hườn sắt nóng hừng hực lửa đốt thân còn hơn thọ lãnh của tín thí—It is better to swallow a red-hot iron ball than to be an immoral and uncontrolled monk feeding on the alms offered by good people (Dharmapada 308). c) Buông lung theo tà dục, sẽ chịu bốn việc bất an: mắc tội vô phước, ngủ không yên, bị chê là vô luân, đọa địa ngục—Four misfortunes occur to a careless man who commits adultery: acquisition of demerit, restlessness, moral blame and downward path (Dharmapada 309). d) Vô phước đọa ác thú bị khủng bố, ít vui, quốc vương kết trọng tội: đó là kết quả của tà dâm. Vậy chớ nên phạm đến—There is acquisition of demerit as well as evil destiny. No joy of the frightened man. The king imposes a heavy punishment. Therefore, man should never commit adultery (Dharmapada 310). e) Cũng như vụng nắm cỏ cô-sa (cỏ thơm) thì bị đứt tay, làm sa-môn mà theo tà hạnh thì bị đọa địa ngục—Just as kusa grass cuts the hand of those who wrongly grasped. Even so the monk who wrongly practised ascetism leads to a woeful state (Dharmapada 311). f) Những người giải đãi, nhiễm ô và hoài nghi việc tu phạm hạnh, sẽ không làm sao chứng thành quả lớn—An act carelessly performed, a broken vow, and a wavering obedience to religious discipline, no reward can come from such a life (Dharmapada 312). g) Việc đáng làm hãy làm cho hết sức! Phóng đãng và rong chơi chỉ tăng thêm trần dục mà thôi—Thing should be done, let's strive to do it vigorously, or do it with all your heart. A debauched ascetic only scatters the dust more widely (Dharmapada 313). h) Không tạo ác nghiệp là hơn, vì làm ác nhứt định thọ khổ; làm các thiện nghiệp là hơn, vì làm lành nhứt định thọ vui—An evil deed is better not done, a misdeed will bring future suffering. A good deed is better done now, for after doing it one does not grieve (Dharmapada 314). i) Như thành quách được phòng hộ thế nào, tự thân các ngươi cũng phải nên phòng hộ như thế. Một giây lát cũng chớ buông lung. Hễ một giây lát buông lung là một giây lát sa đọa địa ngục—Like a frontier fortress is well guarded, so guard yourself, inside and outside. Do not let a second slip away, for each wasted second makes the downward path (Dharmapada 315). ; (破戒) Phạm:Du#zìla. Cũng gọi: Phạm giới. Đối lại: Trì giới. Hủy phá giới luật đã nhận giữ. Luận Đại trí độ quyển 91 nêu ra 2 loại phá giới: 1. Nhân duyên bất cụ túc giới: Nhân duyên không đầy đủ mà phá giới. Như người nghèo cùng, cơm áo thiếu thốn, sinh tâm trộm cắp mà phá giới. 2. Nhân duyên cụ túc giới: Nhân duyên đầy đủ mà phá giới. Như người tuy cơm áo đầy đủ nhưng vì tâm thích thói xấu, ưa làm việc ác nên hủy phạm giới cấm. Kinh Tì ni mẫu quyển 3 (Đại 24, 812 trung) nói: Phạm giới có 7 thứ: Ba la di, Tăng già bà thi sa, Ni tát kì ba dật đề, Ba dật đề, Thâu lan gia, Ba la đề xá ni và Đột cát la. [X. luật Ma ha tăng kì Q.33; luật Thập tụng Q.33].

phá giới ngũ quá

(破戒五過) Năm cái hại mà người phá hoại giới luật phải chuốc lấy là: 1. Tự hại mình. 2. Bị kẻ trí chê cười. 3. Tiếng xấu đồn xa. 4. Lúc sắp chết sinh hối hận. 5. Sau khi mệnh chung rơi vào địa ngục.

phá hoà hợp tăng

(破和合僧) Gọi tắt: Phá tăng. Phá hoại sự đoàn kết của chúng tăng, 1 trong 5 tội nghịch. Có 2 loại: 1. Phá pháp luân tăng: Lập ra tà pháp để phá hoại chúng tăng đang cùng nhau nghe pháp của đức Phật. 2. Phá yết ma tăng: Cùng ở trong 1 khu vực kết giới mà lập yết ma riêng để phá hoại sự hòa hợp của chúng tăng. [X. luật Tứ phần Q.46; luật Ngũ phần Q.25; luật Thập tụng Q.36].

phá hoại

To sabotage—To destroy.

phá hoại thiện

1) Hủy hoại thiện nghiệp: To destroy good. 2) Tên của một loài ma vương: Name of a Mara.

phá hoại thiện ma vương

Mara who destroys of good.

phá hòa hợp tăng

Sanghabheda—Phá vỡ sự hòa hợp trong cộng đồng Tăng Ni và gây ra xáo trộn bởi những ý kiến tà vạy—To disrupt the harmony of the community of monks to cause schism by heretical opinions.

phá hư

To disable.

phá hạ

Phá hoại an cư kiết hạ, nghĩa là không tuân thủ theo những cấm túc của ba tháng an cư—To neglect the summer retreat. ; (破夏) I. Phá Hạ. Cũng gọi Phá an cư. Hạ an cư chưa kết thúc mà nửa chừng bỏ dở. Trong 9 tuần (90 ngày), chúng tăng không được ra ngoài khu vực đã được kết giới. Nếu nửa chừng mà bỏ thì không thể đạt thành viên mãn, nên gọi là Phá hạ. II. Phá Hạ. Chỉ cho việc an cư đã qua được nửa mùa hạ. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 4; môn Thời tiết trong Thiền lâm tượng khí tiên].

phá hại

To ruin—To ravage.

phá hủy

To destroy—To demolish.

phá hữu

1) Phá bỏ sự tin tưởng cho rằng vạn hữu là có thật: To refute the belief in the reality of things. 2) Đức Như Lai thị hiện để phá bỏ sự sinh tử trong ba cõi: To break the power of transmigration as does the Buddha. ; (破有) Phá vòng luân hồi sinh tử trong 3 cõi. Hữu chỉ cho Tam hữu hoặc Nhị thập ngũ hữu. Phá hữu là phá sự sống chết trong Tam hữu hoặc Nhị thập ngũ hữu(tức 3 cõi). Như lai vì mục đích phá vòng sinh tử trong 3 cõi mà ra đời, nên Ngài cũng được tôn xưng là Phá hữu Pháp vương. [X. phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa; kinh Tâm địa quán Q.1].

phá hữu pháp vương

(破有法王) Chỉ cho đức Phật. Đức Phật dùng phương tiện thiện xảo của trí vô ngại để phá sự chấp trước của chúng sinh cho muôn vật là thực có, khiến họ trút bỏ sinh tử mà ra khỏi 3 cõi, vì thế Phật được tôn xưng là Phá hữu Pháp vương. [X. phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa; kinh Tâm địa quán Q.1]. (xt. Phá Hữu).

phá kiến

(破見) Dùng tà kiến phá hoại chính kiến. Ngoại đạo dùng 62 thứ tà kiến để phá hoại chính kiến của đức Phật. Phá kiến cũng tức là hủy báng Phật pháp. Trong Phật pháp, Phá kiến là tội rất nặng.

phá kỷ lục

To break (beat) the record.

phá lạc tăng

(破落僧) Chỉ cho vị tăng phá hoại giới luật bị đọa lạc, vì đã mất hết tự giác, giống như cửa nẻo bị hư hỏng nên mất hết gia sản.

phá lập

Còn gọi là Già Chiếu, nghĩa là phá bỏ cái lý đặc thù để hiển hiện cái lý phổ quát, hay ngược lại. Phá vạn pháp để hiển hiện cái lý chân không gọi là phá; bàn về lẽ duyên khởi của vạn pháp để hiển hiện cái nghĩa của diệu hữu gọi là lập (Phá Lập là học thuyết của hai phái “Không Môn tông Tam Luận” và “Hữu Môn tông Pháp Tướng.” Tông Tam Luận dựa vào Không Môn mà phá chư pháp, tông Pháp Tướng dựa vào Hữu Môn mà lập chư pháp)—Refuting and establishing; by refuting to prove, or to establish, i.e. in refuting the particular to prove the universal, and vice versa. ; (破立) Cũng gọi Già chiếu. Phá vạn pháp để hiển bày lí chân không, gọi là Phá; bàn về duyên khởi của vạn pháp để làm rõ nghĩa diệu hữu, gọi là Lập. Đây tức là Không môn và Hữu môn. Như tông Tam luận y theo Không môn mà phá các pháp, tông Pháp tướng y theo Hữu môn mà lập các pháp, cả 2 đều thuộc Phá lập. [X. Tông kính lục Q.8].

phá ma

Phá diệt ác ma—To overcome the maras or exorcise demons. ; (破魔) Phạm: Màra (-sainya)-pramardana; Màra-pramathana. Đồng nghĩa: Hàng ma. Đánh dẹp quân ma. Khi đức Thích ca ngồi thiền định dưới gốc cây Bồ đề, thành bậc Chính giác, thì thường có ma Ba tuần đến quấy nhiễu, nhưng sau bị đức Thế tôn hàng phục và phải rút lui. Đây là 1 trong 8 tướng thành đạo của Phật. Trong luận Phật tính, 8 tướng thành đạo được chia ra làm 14 việc, trong đó, việc thứ 11 là nói về phá quân ma. Từ Phá ma ở đây tương đương với từ Hàng phục chư ma chúng trong phẩm Chuyển thân thanh tịnh thành bồ đề của luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính quyển 4. Ma ở đây ví dụ cho phiền não, thế nên diệt trừ phiền não cũng gọi là Phá ma. [X. Ma ha chỉ quán Q.8, phần cuối].

phá môn

Rời bỏ tông môn—To leave a sect, to break the door. ; (破門) Phá cửa. Chỉ cho vị tăng bị đuổi ra khỏi giáo đoàn hoặc tông phái. Đây là hình phạt rất nặng, tương đương với hình phạt tội Ba la di. Lại trường hợp thầy trục xuất đệ tử ra khỏi cổng chùa, cắt đứt quan hệ thầy trò, cũng gọi là Phá môn.

phá ngục

To break open a prison.

phá nhan vi tiếu

Phá lên cười, tướng giác ngộ của Ngài Ca Diếp, khi Đức Phật tuyên bố rằng pháp của Ngài là tâm truyền tâm. Đây chính là chỉ giáo của Thiền Tông—To break into a smile, the mark of Kasyapa's enlightenment when Buddha announced on Vulture Peak that he had a teaching which was propagated from mind to mind, a speech taken as authoritative by the Intuitional School. ; (破顔微笑) Nụ cười mỉm. Trong hội Linh sơn, đức Phật cầm cành hoa Kim ba la đưa cao lên để dạy đại chúng, không ai hiểu được ý Phật muốn nói gì, chỉ có tôn giả Ma ha Ca diếp mỉm cười, vì thế đức Thế tôn đem Chính pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm truyền cho ngài Ma ha Ca diếp. (xt. Niêm Hoa Vi Tiếu).

phá nát

To destroy completely.

phá phàm phu

(破凡夫) Chỉ cho kẻ phàm phu căn tính ngu độn, kém cỏi. Trong Thiền lâm, mỗi khi bậc thầy dùng từ ngữ trên để mắng trách người học 1 cách thống thiết, chính là mong cho họ 1 ngày kia sẽ trở thành người có tài năng. Vân môn lục quyển trung (Đại 47, 555 hạ) chép: Sư cầm gậy chỉ vào cái lồng đèn nói: Có thấy không? Nếu nói thấy thì đó là phá phàm phu, còn nếu nói không thấy thì 2 con mắt ở đâu? Ông hiểu thế nào?

phá pháp

Hủy bỏ chánh pháp bằng cách dùng tà kiến để phá bỏ chánh pháp của Như Lai (chẳng tu theo kinh luật, chẳng nghe lời khuyên bảo của các bậc tôn túc, mà ngược lại đui tu mù luyện theo thói của tà kiến ngoại đạo, để đi đến phạm giới và thích theo thế tục)—To break the Buddha law, e.g. by the adoption of heresy. ; (破法) Đồng nghĩa: Báng pháp. Chúng sinh dùng tà kiến phá hủy chính pháp của Như lai. [X. phẩm Dũng xuất trong kinh Pháp hoa Q.5]. (xt. Dị Đoan).

phá pháp biến

(破法遍) Cũng gọi Phá chư pháp biến, Năng phá pháp biến, Phá biến. Phá hết pháp chấp. Dùng 3 pháp quán Không Giả Trung để phá trừ hết các pháp chấp. Đây là pháp thứ 4 trong Thập thừa quán pháp do tông Thiên thai thành lập. Tâm đã an trụ nơi lí của pháp giới, nhưng vì còn chấp trước nên chưa thể ngộ nhập, nay phải phá hết các chấp trước ấy. Tuy gọi là phá pháp, nhưng chỉ trừ cái bệnh chấp trước, chứ không phải phá trừ pháp ấy. [X. Ma ha chỉ quán Q.5, phần cuối]. (xt. Thập Thừa Quán Pháp).

phá pháp luân tăng

(破法輪僧) Lập ra tà pháp để chia rẽ chúng tăng đang sống với nhau 1 cách hòa hợp, đoàn kết, 1 trong 2 loại Phá hòa hợp tăng. Chỉ cho việc Đề bà đạt đa lập ra 5 thứ tà pháp để li gián chúng tăng đang cùng nhau nghe, học giáo pháp của đức Phật. [X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng, phần 3]. (xt. Phá Hòa Hợp Tăng).

phá quấy

To disturb.

phá quỷ

To overcome all the maras.

phá sản

To go bankrupt.

phá sập

To pull down.

phá tam muội da

(破三昧耶) Tội báng pháp, 1 trong 3 loại tội nặng do Mật tông chế định. Theo Mật giáo, hành giả đã thụ giới pháp rồi mà sinh tâm nghi ngờ hoặc sinh tà kiến đối với Mật tạng, thì phạm tội phá Tam muội da. [X. Đại nhật minh sớ Q.9].

phá thai

Abortion—Terminating life of a fetus—According to Buddhist scriptures, abortion is a grave offence.

phá thân

(破申) Cũng gọi Thân phá. Phá nghĩa là phá tà; Thân nghĩa là tỏ rõ, tức là phá tà hiển chính. Tam luận huyền nghĩa lập ra 3 nghĩa để giải thích: 1. Tương vi thích: Phá bệnh mê giáo của người ngoài, nên gọi là Phá; làm sáng tỏ giáo môn nhị đế (chân đế và tục đế) của đức Phật, nên gọi là Thân. 2. Trì nghiệp thích: Làm sáng tỏ chính giáo của đức Phật thì tà mê tự phá, nên gọi là Thân phá. 3. Y chủ thích: Luận chủ làm sáng tỏ Phật pháp nên gọi là Thân phá. (xt. Phá Tà Hiển Chính).

phá trai

Ngã mặn—Phá luật trai giới của tịnh xá, hoặc ăn sái giờ, hình phạt cho sự phá giới nầy là địa ngục hoặc trở thành ngạ quỷ, những con ngạ quỷ cổ nhỏ như cây kim, bụng ỏng như cái trống chầu, hoặc có thể tái sanh làm súc sanh (Phật tử tại gia không bắt buộc trường chay; tuy nhiên, khi đã thọ bát quan trai giới trong một ngày một đêm thì phải trì giữ cho tròn. Nếu đã thọ mà phạm thì phải tội cũng như trên)—To break the monastic rule of the regulation food, or time for meals, for which the punishment is hell, or to become a hungry ghost like with throats small as needles and distended bellies, or become an animal. ; (破齋) Phá hủy giới Trai. Trong 8 giới Trai thì giới không ăn quá ngọ là chính, nếu người đã thụ giới này mà vi phạm thì gọi là Phá trai. Tội phá trai chắc chắn sẽ rơi vào địa ngục, hoặc phải đọa làm loài rồng. Cứ theo Vu lan bồn kinh sớ kí quyển hạ, thì loài quỉ có cổ họng nhỏ như lỗ kim, còn bụng lại to bằng quả núi là do phá trai ăn đêm và ăn cắp thức ăn của chúng tăng mà bị quả báo bụng to, họng nhỏ như vậy.

phá tà hiển chánh

Phá bỏ tà chấp tà kiến tức là làm rõ chánh đạo chánh kiến—To break or disprove the false and make manifest the right—Theo Tam Luận Tông, học thuyết Tam Luận Tông có ba khía cạnh chính, khía cạnh đầu tiên là 'phá tà hiển chánh.' Phá tà là cần thiết để cứu độ chúng sanh đang đắm chìm trong biển chấp trước, còn hiển chánh cũng là cần thiết vì để xiển dương Phật pháp—According to the Madhyamika School, the doctrine of the school has three main aspects, the first aspect is the “refutation itself of a wrong view, at the same time, the elusidation of a right view.” Refutation is necessary to save all sentient beings who are drowned in the sea of attachment while elucidation is also important in order to propagate the teaching of the Buddha. 1) Phá Tà—Refutation of all wrong views: Phá tà là phủ nhận tất cả những quan điểm y cứ trên sự chấp trước. Như thế những quan điểm như thuyết về 'Ngã' của các triết gia Bà La Môn, thuyết 'Đa Nguyên Luận' của các luận sư A Tỳ Đàm và Câu Xá, cũng như những nguyên tắc độc đoán của các luận sư Đại Thừa, không bao giờ được thông qua mà không bị bài bác chi ly. 'Hữu' hay tất cả đều có, cũng như 'không' hay tất cả đều không đều bị chỉ trích—Refutation means to refute all views based on attachment. Also views such as the 'self' or atman, the theory of Brahmanic philosophers. The pluralistic doctrines of the Buddhist Abhidharma schools (Vaibhasika, Kosa, etc) and the dogmatic principles of Mahayana teachers are never passed without a detailed refutation. The Realistic or all exists, and the Nihilistic or nothing exists are equally condemned. 2) Hiển Chánh—Elucidation of a right view—Theo Giáo Sư Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, Tam Luận Tông luận rằng chân lý chỉ có thể đạt được bằng cách phủ định hay bài bác các tà kiến bên trong và bên ngoài Phật giáo, cũng như những sai lầm của Đại thừa và Tiểu thừa. Khi ôm giữ tà kiến sai lầm, con người sẽ mù quáng trong phán đoán. Làm sao mà một người mù có thể có được cái thấy đúng, và nếu không có nó thì không bao giờ tránh được hai cực đoan. Cứu cánh vọng ngôn tuyệt lự là buổi bình minh của trung đạo. Phá tà và chỉ có phá tà mới dẫn đến cứu cánh chân lý. Con đường giữa hay con đường xa lìa danh và tướng là con đường hiển chánh—According to Prof. Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, the Madhyamika School strongly believed that the truth can be attained only by negation or refutation of wrong views within and without Buddhism, and of errors of both the Great and Small Vehicles. When retaining wrong views or error, one will be blind to reason. How can a blind man get a right view without which the two extremes can never be avoided? The end of verbal refutation is the dawn of the Middle Path. Refutation and refutation only, can lead to the ultimate truth. The Middel Path, which is devoid of name and character is really the way of elucidation of a right view.

phá tà hiển chính

(破邪顯正) Cũng gọi Phá tà thân chính, Tồi tà hiển chính, Phá hiển, Phá thân. Phá dẹp tà đạo, nêu rõ chính lí. Trong vũ trụ bao la, có vô lượng vô biên các pháp, nhưng thâu tóm lại thì không ngoài 2 thứ Tà và Chính. Người bị vướng mắc vào đường tà thì trôi lăn trong thế giới tối tăm; người thấy rõ con đường chính thì tiêu dao trong cõi sáng sủa. Bởi thế, các bậc Thánh hiền ngày trước đã đem lòng từ bi lân mẫn phá dẹp tà thuyết, hiển bày chính lí để hoàn thành đại sự chuyển mê khai ngộ. Các tông phái Phật giáo đều lấy phá tà hiển chính làm mục đích chủ yếu, đặc biệt tông Tam luận rất coi trọng việc này. Thuyết Phá tà hiển chính của tông Tam luận có khác với các tông khác. Thông thường, các tông cho rằng phá tà hiển chính là đối với tà đạo cần phải bài xích, bác bỏ; đối với chính lí phải làm cho sáng tỏ; thế nên, ngoài việc phá tà cần phải hiển chính. Nhưng tông Tam luận thì chủ trương lập và phá đồng thời, nghĩa là khi phá tà tức là đã hiển chính rồi, ngoài phá tà ra không cần có hiển chính. Khi các pháp tà như tà đạo, tà kiến, tà chấp đã bị phá bỏ, thì chính lí Trung đạo, Thực tướng các pháp tự nhiên hiển bày. Tông Tam luận còn cho rằng các tông khác chủ trương ngoài việc phá tà, còn có hiển chính riêng, thì hiển chính ấy lại trở thành thiên chấp; như vậy, phá tà của người khác, nhưng mình lại rơi vào tà thì không thể gọi là phá tà chân chính được. Trong Tam luận huyền nghĩa, Đại sư Gia tường thuộc tông Tam luận, chia Phá tà hiển chính làm 4 loại để thuyết minh là: Phá chẳng thu, Thu chẳng phá, Cũng phá cũng thu và Chẳng phá chẳng thu. Loại thứ 4 là phương pháp Phá tà hiển chính chân thực. [X. Đại thừa huyền luận Q.5; Trung quán luận sớ Q.1, 3, 10; Bách luận sớ Q.thượng, trung; Tam luận du ý nghĩa].

phá tà luận

(破邪論) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Pháp luân soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 52. Đầu quyển có bài tựa Tương đương Pháp lâm pháp sư tập của ông Ngu thế nam. Nội dung sách này phê bình, bác bỏ tà thuyết của Đạo giáo. Năm Vũ đức thứ 4 (621) đời Đường, quan Thái sử là Phó dịch dâng sớ tâu vua Cao tổ rằng chùa, tháp, tăng, ni nhiều chỉ có hại cho đất nước. Ông nêu ra 11 điều, trong đó, ông cực lực bài bác Phật giáo, chủ trương phế bỏ Phật giáo và buộc sa môn hoàn tục. Bấy giờ, ngài Pháp lâm vâng sắc chỉ soạn sách này bác bỏ luận điệu của Phó dịch và tà thuyết của Đạo giáo.

phá tà tức hiển chánh

See Phá Tà Hiển Chánh.

Phá Táo Ðoạ

破灶墮; C: pozàoduò; tk. 7-8;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Huệ An Quốc sư. Huệ An là môn đệ đắc pháp của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn.|Sư ẩn cư trong núi Tung Nhạc, không để ai biết tên họ của mình và có những lời nói và hành động rất kì đặc.|Trong núi có một cái miếu rất linh, dân chúng xa gần mang tài vật và giết hại rất nhiều sinh mệnh để cúng tế miếu này. Ðặc biệt là trong miếu chỉ thờ một cái bếp. Một hôm, Sư cùng thị giả vào miếu, lấy gậy gõ vào bếp ba cái và quở: »Ngươi vốn là bùn đất hợp thành, Thánh từ đâu đến, linh từ chỗ nào lại!« Nói xong Sư đập cho ba gậy, bếp liền lật đổ. Giây lát, có một người mặc áo xanh, đầu đội mão đến làm lễ trước mặt Sư. Sư hỏi: »Ngươi là ai?« Người lạ đáp: »Con vốn là thần miếu ở đây. Từ lâu chịu nghiệp báo, hôm nay nhờ Thầy nói pháp vô sinh nên con được thoát kiếp. Con riêng đến nơi để tạ ơn Thầy.« Sư bảo: »Ấy là tính sẵn có của ngươi, chẳng phải ta cưỡng nói.« Táo thần làm lễ một lần nữa rồi biến mất. Thị giả thấy vậy thưa: »Từ lâu con ở bên cạnh Hoà thượng, chưa từng được chỉ dạy. Táo thần có sở đắc gì mà được thoát kiếp?« Sư bảo: »Ta không có đạo lí gì khác để dạy y, chỉ nói với y rằng: › Ngươi vốn là bùn đất hợp thành, Thánh từ đâu đến, linh từ chỗ nào lại!‹« Thị giả đứng lặng yên. Sư hỏi: »Hiểu chăng?« Thị giả thưa: »Chẳng hiểu.« Sư hỏi: »Tính sẵn có vì sao chẳng hiểu?« Thị giả liền lễ bái Sư. Sư nói: »Bể rồi! Ðổ rồi!«|Vì tích này mà Huệ An Quốc sư gọi Sư là Phá Táo Ðọa (theo Vườn thiền rừng ngọc, bản dịch của Thông Thiền).

phá táo đoạ

(破

phá táo đọa

Theo Thiền Luận, Tập II của Thiền sư D.T. Suzuki, Phá Táo Đọa là cái tên mà Thiền sư Huệ An đặt cho một đệ tử của mình ở Tung Nhạc. Nghĩa đen là bếp hư đổ, chỉ cho biến cố trong đời sống của một Thiền sư không tên tuổi, nhờ đấy mà được chú ý—The P'o-Tsao-To is the name given by Zen master Hui-An to one of his disciples at Tsung-Yueh. It literally means, 'a broken range falen to pieces,' which illustrates an incident in the life of a nameless Zen master, whereby he became famous. • Tại một làng vùng núi Tung Nhạc, có một cái miếu bên trong điện có để một bếp lửa. Dân ở gần xa đến tế tự bếp lửa nầy không ngớt, họ luộc rất nhiều thú vật để cúng. Một hôm có nhà sư vô danh dẫn các Tăng hầu vào miếu. Sư lấy gậy gõ vào bếp ba lần, và bảo: “Chặc! Bếp ơi là bếp! Mi há không phải chỉ là bùn gạch hiệp thành sao? Thánh linh đâu nơi mi vậy? Sao mi đòi luộc nhiều mạng thú vật để cúng như thế?” Nói xong, ông lại gõ vào bếp ba lần nữa. Bếp liền nghiêng đổ xuống đất vỡ ra từng mảnh—There was a shrine in one of the Tsung-Yueh villages where a lonely range was kept. This was the object of worship for the country people far and near, who here roasted alive many animals for sacrifice. One day a nameless monk appeared in the shrine accompanied by his attendants. He struck the range three times with his staff, and said: “Tut! O you an old range, are you not a mere composite of brick and clay? Whence your holiness? Whence your spirituality? And yet you demand so many animals roasted alive for sacrifice!” So saying, the master struck the range for another three times. The range then tipped by itself, and falling on the ground broke in pieces. • Chốc lát, có một người đến gần sư cúi đầu lạy. Sư hỏi ông là ai. Y đáp: “Tôi là Táo thần của miếu nầy. Tôi ở đây rất lâu do nghiệp báo đời trước của mình. Nay nhờ nghe 'pháp vô sinh' của thầy mà thoát khỏi ràng buộc và được thác sinh lên trời. Nay tôi đến đây để bái tạ Thầy.” Sư bảo: “Vô sinh là bản tánh của ngươi, chẳng phải nhờ ta thuyết pháp.” Thần bếp lạy và biến mất—After a while there suddenly appeared a man, and approaching the master bowed reverentially to him. The master asked wo he was, and he answered: “I am the spirit of the range enshrined here. I have been here for a long time owing to my previous karma. But listening to your sermon on the doctrine of no-birth, I am now released from the bondage and born in the heavens. To offer my special thanks to you I have come.” Said the master: “No-birth is the original nature of your being. No sermonizing of mine was needed.” The heavenly being bowed again and vanished. • Sau đó, các Tăng hầu và các người khác hỏi sư: “Chúng con theo hầu thầy rất lâu, nhưng chưa hề được nghe chính ngài giảng pháp. Táo thần được ngài dạy cho pháp gì mà có thể thác sinh ngay trên trời?”—Later on the attendant-monks and others asked the master: “We have been with you for ever so ong, but we have never been permitted to listen to your personal discourses on the Dharma. What effective teaching did the range-spirit get from you which enabled him to be born immediately in the heavens?” • Sư nói: “Ta chỉ bảo nó là nó, do bùn gạch hiệp thành, chứ chẳng có đạo lý gì khác dạy riêng cho nó.”—The master said: “What I told him was simply that he was a composite of brick and clay; I had no further teaching specially meant for him.” • Các tăng hầu và những người khác đứng im không nói. Sư lên tiếng: “Hiểu không?”—The attendant-monks and others stood quietly without a saying a word. The master remarked, “Do you understand?” • Vị chủ sự thưa: “Bẩm, chúng con không hiểu.”—The chief secretary of the monastery said: “No, we do not.” • Sư tiếp lời: “Tánh bản hữu của hết thảy các pháp. Tại sao các ông không hiểu?”—The master continued: “The original nature of all beings, why do you not understand it?” • Các thầy Tăng bèn lạy, sư liền bảo: “Đổ rồi! Đổ rồi! Vỡ rồi! Vỡ rồi!”—The monks all made bows to the master, whereupon exclaimed the master: “It's fallen, it's fallen. It's broken to pieces, it's broken to pieces!” Năm và nơi sư thị tịch không ai rõ—His whereabout and when he passed away were unknown.

phá tình

(破情) Đồng nghĩa: Phá tà. Nghĩa là muốn biết bản tính của sự lí, thì trước hết phải phá cái tình cảm mê chấp đối với sự lí ấy.

phá tích hiển bản

(破迹顯本) Phá thùy tích ở Già da để hiển bày bản địa từ lâu xa, 1 trong 10 thứ Hiển bản. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.9].

phá tăng

1) Phá Pháp Luân Tăng: Phá rối sự thiền định của vị Tăng, hay đưa ra một pháp để đối lập với Phật pháp (như trường hợp Đề Bà Đạt Đa)—To break, destroy or disrupt a monk's meditation or preaching, as in the case of Devadatta. 2) Phá Yết Ma Tăng: Sanghabheda (skt)—Phá hòa hợp Tăng, cùng trong một giới mà đưa ra ý kiến ngoại đạo hay lập ra loại yết ma khác để phá vở sự hòa hợp của yết ma Tăng—Disrupt the harmony of the community of monks, to cause schism, e.g. by heretical opinions.

phá tăng kiền độ

(破僧犍度) Pàli: Saígha-bheda-khandaka. Cũng gọi Điều đạt sự. Kiền độ phá hòa hợp tăng, là kiền độ thứ 5 trong 20 kiền độ. Nội dung kiền độ này thuật lại việc Đề bà đạt đa (Điều đạt) đặt ra 5 việc phi pháp đối lập với giáo pháp của đức Phật để phá hoại sự hòa hợp của chúng tăng và lập tăng đoàn riêng ở núi Già da. (xt. Nhị Thập Kiền Độ).

phá tướng tam muội

(破相三昧) Cũng gọi Vô tướng tam muội. Tam muội quán xét hết thảy các pháp đều vô tướng, đều như mộng huyễn, không Thể nắm bắt, không thể chấp trước, là 1 trong 108 Tam muội. [X. luậnĐại trí độ Q.47].

phá tướng tông

Tông phái phá bỏ sự chấp tướng—The sect held the unreality of all things. 1) Tông phái Phá Tướng đầu tiên sáng lập bởi ngài Vĩnh Minh, phá bỏ sự chấp tướng: The first sect founded by Yung Ming (Vĩnh Minh) which held the unreality of all things. 2) Tông Phá Tướng thứ hai do ngài Tịnh Ảnh sáng lập: The second sect founded by Ching-Ying. 3) Tông Phá Tướng thứ ba do ngài Huệ Viễn sáng lập: The third sect founded by Hui-Yuan.

phá tặc quán tự tại

(破賊觀自在) Cũng gọi Kích sao Quan âm. Một trong 40 ứng thân của Bồ tát Quan âm. Hình tượng vị Bồ tát này tay trái giơ lên, cầm cái bao đựng cây kích, dài bằng chiếu cao của thân, tay phải xòe ra, để ở eo bên phải.Theo kinh Thiên quang nhãn bí mật pháp, nếu muốn thu phục tất cả nghịch tặc thì nên tu pháp Kích sao (...). Ấn tướng của vị tôn này là: Tay trái kết ấn 3 chĩa, giơ lên; tay phải nắm lại thành quyền, đặt ở cạnh sườn.

phá yết ma tăng

(破羯摩僧) Cùng ở chung 1 khu vực kết giới mà tự ý làm pháp yết ma Bố tát thuyết giới riêng biệt, phá hoại sự hòa hợp của chúng tăng. Đây là 1 trong 2 thứ phá hòa hợp tăng và là 1 trong 5 tội nghịch.

phá ác nghiệp đà la ni

(破惡業陀羅尼) Thần chú phá trừ các nghiệp ác, 1 trong 3 loại Đà la ni. Khi tụng trì chú này thì tất cả sự sợ hãi, độc hại, ác quỉ, hùm sói... đều không làm hại được. Người phá phạm hạnh, làm 10 nghiệp ác, mà được nghe thần chú này thì trừ sạch nhớp nhúa, trở lại thanh tịnh. Ngoài ra, nếu người nghiệp ác sâu nặng, xưng niệm danh hiệu bồ tát Quan thế âm và tụng trì chú này thì tiêu trừ được nghiệp chướng và thấy Phật hiện tiền. Toàn văn thần chú Phá ác nghiệp đà la ni là (Đại 20, 35 thượng): Na mô Phật đà, Na mô Đạt ma, Na mô Tăng già, Na mô Quán thế âm bồ đề tát đỏa ma ha tát đỏa, Đại từ đại bi duy nguyện mẫn ngã cứu hộ khổ não diệc cứu nhất thiết bố úy chúng sinh linh đắc đại hộ, đa điệt tha, đà hô nị, diêm bà nị đam bà nị a bà hi, mô hô ni, an trà lê, ban trà lê, du tì đế, ban trà la bà tư nị hưu hưu lâu lâu, an trà lê đâu đâu lâu lâu, ban trà lê, chu chu lâu lâu, nị lê trà lê, đậu đậu phú phú, ban trà la bà tư nị thẩn trì, niễn trì, nị niễn trì, tát bà a da yết đa tát bà niết bà bà đà già, a bà da, tì li đà, bế điện sa ha. [X. kinh Thỉnh Quan thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni chú; Ma ha chỉ quán Q.2].

phá ám mãn nguyện

Phá tan vô minh tối ám và làm tròn lời nguyện, như Đức Phật A Di Đà—To destroy darkness or ignorance and fulfil the Buddha's vow, i.e. that of Amitabha. ; (破暗滿願) Năng lực phá tối tăm, đáp ứng đầy đủ các nguyện vọng. Là tính chất của danh hiệu đức Phật A di đà, có năng lực phá tan vô minh và đáp ứng đầy đủ nguyện vọng của chúng sinh. [X. luận Vãng sinh Q.hạ].

phá đàn tác pháp

(破壇作法) Cũng gọi Phá đàn pháp. Cách thức phá bỏ đàn tu pháp trong Mật giáo, sau khi tu xong pháp và đã thực hành pháp Kết nguyện. Cách thức ấy là: Khi thực hành pháp Kết nguyện xong, miệng tụng kệ Pháp thân, tay cầm chày 1 chĩa hoặc cầm đũa gắp lửa chọc thủng pháp đàn, quán tưởng chữ (haô) phong luân thổi bay chữ (a) địa luân để biểu thị rằng địa luân đã bị phá tan. Những vật cúng trên đàn sẽ được thả xuống sông, hoặc bố thí cho những người nghèo khó, nhờ đó mà những điều mong cầu sẽ được như nguyện. [X. kinh Văn thù sư lợi bảo tạng đà la ni; luận Đại trí độ Q.18; Bí tạng kí].

phá địa ngục

Phá vỡ cửa địa ngục bằng cách tụng đọc kinh kệ giải thoát cho người quá vãng—To break open the gates of hells by chants or incantations for the release of a departed spirit. ; (破地獄) Nhờ vào Phật lực và pháp lực mà thoát khỏi được cái khổ địa ngục, gọi là Phá địa ngục. Lời văn xướng tụng phá địa ngục, gọi là Phá địa ngục văn. Người thâm tín Tam bảo thì được sinh vào đường thiện; người không những không tin mà còn phỉ báng, phá hoại Phật pháp thì rơi vào đường ác; thuyết phá địa ngục chính đã xuất phát từ quan niệm ấy. Trong các loại kinh Bản sinh và kinh Thí dụ thường nói rằng: Khi bị sa vào thành ngục La sát hoặc vào địa ngục, nếu dốc lòng xưng niệm Na mô Phật thì liền thoát nạn. [X. Từ đồng nữ duyên trong kinh Tạp bảo tạng Q.1; phẩm Dạ ma thiên cung trong kinh Hoa nghiêm Q.19 (bản dịch mới); Phật tổ thống kỉ Q.33].

phá địa ngục pháp

(破地獄法) ... Pháp môn tu trì nhờ vào công năng bản thệ, ấn khế, chân ngôn, Đà la ni... của Phật và Bồ tát để cứu giúp người chết thoát khỏi các khổ địa ngục.Theo các kinh và nghi quĩ thì các pháp môn ấy gồm có: Quang minh chân ngôn phá địa ngục pháp, Phật đính tôn thắng đà la ni phá địa ngục pháp, Bảo khiếp ấn đà la ni phá địa ngục pháp, Đại tùy cầu đà la ni phá địa ngục pháp, Địa tạng bồ tát phá địa ngục pháp v.v...

phá địa ngục văn

(破地獄文) Chỉ cho những bài văn đọc tụng nương vào pháp lực nguyện cầu thoát khỏi khổ nạn địa ngục. Những bài văn này chủ yếu được rút ra từ các kinh như: 1. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 19 (Đại 10, 102 thượng): Nhược nhân dục liễu tri Tam thế nhất thiết Phật Ưng quán pháp giới tính Nhất thiết duy tâm tạo. (Nếu người muốn biết rõ Tất cả Phật ba đời Nên quán tính pháp giới Hết thảy do tâm tạo). 2. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 273 thượng): Kì Phật bản nguyện lực Văn danh dục vãng sinh Giai tất đáo bỉ quốc Tự trí bất thoái chuyển. (Sức bản nguyện Phật kia Nghe tên muốn vãng sinh Đều được đến nước Phật Từ đó không trở lui). 3. Kinh Quán Vô lượng thọ nói: Người xưng niệm Nam mô A di đà Phật, diệt trừ được các tội, thoát khỏi khổ địa ngục. 4. Chân ngôn quang minh: Án a mô già vĩ lự tả nẵng... Ai nghe thần chú này từ 2 đến 7 biến thì tất cả tội chướng đều được diệt trừ. Nếu có người rơi vào đường ác, hành giả dùng chân ngôn này gia trì trên cát 108 biến, rồi đem cát ấy rắc lên thi thể người chết, hoặc rải trên mộ, thì người chết nhờ sức gia trì ấy liền được ánh sáng chiếu rọi vào mình, trừ diệt các tội báo, lìa bỏ thân khổ đau mà sinh về Tịnh độ cực lạc phương Tây, hóa sinh trong hoa sen, cho đến khi thành Phật không còn bị đọa lạc nữa. [X. kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.28].

phá địa ngục ấn

(破地獄印) Cũng gọi Đa la bồ tát phá địa ngục ấn. Chỉ cho ấn khế có năng lực mở toang cửa địa ngục và khiến chúng sinh chịu khổ được giải thoát. Theo kinh Quán tự tại bồ tát tùy tâm chú, khi kết ấn này, 2 ngón giữa và 2 ngón áp út co lại để trong lòng bàn tay, dựng đứng 2 ngón cái, 2 ngón trỏ, 2 ngón út, cách nhau khoảng nửa tấc và đối diện nhau. Do tâm đại từ đại bi của bồ tát Quan thế âm thương xót chúng sinh, nên khi kết ấn này thì cửa địa ngục mở toang, tất cả chúng sinh chịu khổ đều được giải thoát và vua Diêm la cũng sinh tâm vui mừng. [X. kinh Giáo vương Q.thượng (bản 2 quyển); Từ vân toàn tập Q.16].

phác họa

To outline—To sketch.

phách

1) Rọc ra hay tách ra: To split—To tear—To rend. 2) Vuông khăn—Kerchief—Veil. 3) Vỗ: To clap (hands).

phách chưởng

Phách Thủ, lệ vỗ tay lúc bắt đầu và lúc chấm dứt cuộc lễ của phái Chân Ngôn—Clapping of hands at the beginning and end of worship, a Shingon custom. ; (拍掌) Cũng gọi Kim cương phách, Phách thủ. Vỗ tay phát ra tiếng. Đây là cách làm cho Thánh chúng vui vẻ, đẹp lòng khi tu pháp trong Mật giáo. Hai tay vỗ đều vào nhau, gọi là Tề chỉ phách chưởng, Bình đẳng phách chưởng. Các ngón tay phải vỗ vào bàn tay trái, gọi là Sâm si phách chưởng. Phách chưởng có các nghĩa: Trừ chướng, đánh thức, vui vẻ... Vỗ tay trước khi tu pháp, biểu lộ sự vui mừng khi bản tôn giáng lâm; vỗ tay sau khi tu pháp biểu thị việc tu pháp đã đầy đủ trọn vẹn. Tông Chân ngôn của Nhật bản thường cử hành pháp tu này.

phách lối

To be haughty

phách tiễn cấp

Nhanh như tên lướt gió hay chẻ gió—Rapid as an arrow cleaving the air.

Phái

派; C: pài; J: ha;|1. Sự phân chia, phân nhánh, một phần, phân lớp; 2. Một nhóm, bè cánh, truyền thống, trường phái; 3. Sai khiến đi.

phái

1) Đề cử: To delegate—To detach. 2) Môn phái: School—Sect (môn phái).

Phái Diệu Tâm Tự

(妙心寺派, Myōshinji-ha): tên gọi của một tông phái trong 14 phái của Lâm Tế Tông vốn lấy Chánh Pháp Sơn Diệu Tâm Tự (正法山妙心寺) làm ngôi chùa trung tâm. Theo sắc nguyện của Hoa Viên Thượng Hoàng (花園上皇), ngôi chùa này được xây dựng trên nền tòa Ly Cung của Thượng Hoàng, và Quan Sơn Huệ Huyền (關山慧玄), pháp hệ của Đại Đăng Quốc Sư (大燈國師), là vị Tổ khai sơn chùa cũng như Tổ của dòng phái này. Thời kỳ khai sáng của chùa này cũng chưa rõ lắm, nhưng được xem như là trước năm 1342. Trong vụ Loạn Ứng Nhân, Diệu Tâm Tự bị cháy tan tành, sau được Tuyết Giang Tông Thâm (雪江宗深) phục hưng lại, và nhờ có sự quy sùng của mấy vị Võ Tướng thời Chiến Quốc mà 4 người đệ tử thuộc pháp từ của ông mới có thể phát triển phái mình về các địa phương. Đến khoảng thời đại An Thổ Đào Sơn, từ phái này xuất hiện Bạch Ẩn Huệ Hạc (白隱慧鶴), và chính vị này đã làm cho Tông phong của mình phát triển cực độ. Từ đó, trong Lâm Tế Tông, hết thảy đều bị dòng pháp hệ của Bạch Ẩn chiếm lãnh cả. Đến năm 1872, trải qua sự hợp nhất của 3 phái trong Lâm Tế Tông, rồi sau đó đến 9 phái phân lập, khi ấy Diệu Tâm Tự độc lập thành một phái riêng, và đến năm 1952 thì được chính thức công nhận là một tông phái rõ ràng. Hiện phái này là phái lớn nhất của Lâm Tế Tông, trên toàn quốc có đến hơn 3400 ngôi chùa con trực thuộc, chia thành 27 giáo khu, và có luôn cả trường Đại Học Hoa Viên (花園大學, Hanazono Daigaku).

Phái Huyễn Trú

(幻住派, Genjū-ha): tên gọi chung của những người kế thừa pháp hệ của Trung Phong Minh Bổn (中峰明本) thuộc Phái Phá Am của Lâm Tế Tông. Viễn Khê Tổ Hùng (遠溪祖雄), Phục Am Tông Dĩ (復菴宗已), Cổ Tiên Ấn Nguyên (古先印元), Vô Ẩn Nguyên Hối (無隱元晦), Nghiệp Hải Bổn Tịnh (業海本淨), Minh Tẩu Tề Triết (明叟齊哲), Đại Chuyết Tổ Năng (大拙祖能), v.v., là những nhân vật thuộc phái này. Người cháu đời thứ 4 của Cổ Tiên là Nguyệt Chu Thọ Quế (月舟壽桂) ở Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji). Đặc sắc của phái này là có tính cách ẩn dật của vị khai Tổ Trung Phong, kế thừa tư tưởng Thiền Tịnh Nhất Trí. Ban đầu phái này tách lìa với Phái Ngũ Sơn mà hoạt động giáo hóa ở các địa phương, nhưng đến dòng pháp hệ của Viễn Khê thì có Nhất Hoa Thạc Điền (一華碩田) xuất hiện, làm cho Phái Huyễn Trú có thể tiến về thâm nhập vào năm ngôi chùa lớn ở kinh đô; cho nên, tại các chùa như Tam Thánh (三聖), Kiến Nhân (建仁), Nam Thiền (南禪), Kiến Trường (建長), Viên Giác (圓覺), v.v., đều có chân của phái này, và cho đến thời kỳ Giang Hộ thì phái này đã phát triển rất rực rỡ.

Phái Không Nhận Không Cho

(不受不施派, Fujufuse-ha): tên gọi một giáo phái của Nhật Liên Tông, vị Tổ của phái này là Phật Tánh Viện Nhật Áo (佛性院日奥) ở Diệu Giác Tự (妙覺寺). Không Nhận (不受, bất thọ) ở đây có nghĩa là không thọ nhận sự cúng dường của những người chưa tin vào Pháp Hoa hay báng bổ giáo pháp. Không Cho (不施, bất thí) là không cúng dường cho chư tăng của các tông phái khác vốn khinh báng Nhật Liên Tông. Từ thời Nhật Liên trở về sau, trong giáo đoàn Nhật Liên Tông thời trung đại có chia ra hai lập trường rõ rệt, nghĩa là quán triệt toàn bộ không thọ nhận và thọ nhận với trường hợp riêng đối với sự cúng dường của những nhà có quyền lực thuộc tầng lớp Võ Gia hay Vương Hầu. Với hai lập trường như vậy, ban đầu xảy ra sự đối lập trong giáo đoàn là nhân cuộc lễ tổ chức cúng dường cho ngàn vị tăng do Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) tổ chức tại Phương Quảng Tự (方廣寺) thuộc kinh đô Kyoto. Nhật Áo thì giữ vững lập trường của mình, không đến tham dự và rời khỏi Diệu Giác Tự. Mặt khác, nhóm Nhật Trùng (日重), Nhật Càn (日乾) thì không nhận ngoài trường hợp cúng dường của các nhà công tướng, nên đã đến dự. Vào năm 1599, Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) cho tổ chức cuộc đối luận giữa hai Phái Thọ Nhận của Nhật Thiệu (日紹) thuộc Diệu Hiển Tự (妙顯寺) và Phái Không Nhận của Nhật Áo tại Thành Đại Phản (大阪城, Ōsaka-jō), và ngay chính tại đây, Nhật Áo bị xử tội cho ngựa kéo phanh thây. Từ tiền lệ này, vào năm 1630, tại Thành Giang Hộ (江戸城, Edo-jō) cũng diễn ra cuộc đối luận giữa hai Phái Thân Diên (身延派) thuộc Phái Thọ Nhận và Phái Trì Thượng (池上派) thuộc Phái Không Thọ Nhận; và nhóm Nhật Thọ (日樹) của phái sau đã bị xử tội đày ải đi xứ xa. Sự phân liệt giữa hai phái này ở các vùng Quan Tây (關西, Kansai) và Quan Đông (關東, Kantō) cũng tượng tợ như sự phân liệt thành hai phe đông và tây của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji) bên Tịnh Độ Tông vậy. Vào năm 1655, Chính Quyền Mạc Phủ Giang Hộ giao phó dấu ấn đỏ quy định lãnh vức của chùa; nên càng gây khó khăn nhiều trong việc cúng dường. Vào tháng 4 bốn năm sau, Chính Quyền Mạc Phủ lại ra lệnh cấm Phái Không Nhận Không Cho xây dựng chùa. Chính nhóm Nhật Giảng (日講) và Nhật Thuật (日述) phản đối điều này, nên bị đày ải. Mãi đến năm 1941, hai phái mới hợp nhất lại với nhau, lấy tên là Bổn Hóa Chánh Tông (本化正宗); nhưng 5 năm sau thì lại phân ly, Phái Không Nhận Không Cho thì đổi tên thành Diệu Pháp Hoa Tông (妙法華宗), rồi 6 năm sau thì lấy lại tên cũ.

Phái Ngũ Sơn

(五山派, Gozan-ha): trong Thiền Tông dưới thời đại Liêm Thương có các tông phái mà do những người đến triều đình Nhật mang vào từ Trung Hoa Đại Lục, và có những tông phái mà do những người đến Nhật truyền thừa vào. Những tông phái được mang vào do nhóm người đến triều đình Nhật gồm các phái của Lâm Tế Tông như Phái Đại Giác (大覺派) do Lan Khê Đạo Long (蘭溪道隆) làm tổ, Phái Phật Quang (佛光派) do Vô Học Tổ Nguyên (無學祖元) làm tổ, Phái Phật Nguyên (佛源派) do Đại Hưu Chánh Niệm (大休正念) làm tổ, Phái Nhất Sơn (一山) do Nhất Sơn Nhất Ninh (一山一寧) làm tổ, Phái Đại Giám (大鑑派) do Thanh Chuyết Chánh Trừng (清拙正澄) làm tổ, và Phái Cổ Lâm (古林派) do Trúc Tiên Phạn Tiên (竺仙梵僊) làm tổ, v.v.; cọng thêm đó còn có Phái Tông Hoằng (宗宏派) của Tào Động Tông do Đông Minh Huệ Nhật (東明慧日) làm tổ. Mặt khác, những tông phái do nhóm người sang đến Nhật truyền vào gồm các phái của Lâm Tế Tông như Phái Hoàng Long (黃龍派) do Minh Am Vinh Tây (明菴榮西) làm tổ, Phái Thánh Nhất (聖一派) của Viên Nhĩ Biện Viên (圓爾辨圓), Phái Pháp Đăng (法燈派) của Vô Bổn Giác Tâm (無本覺心), Phái Đại Ứng (大應派) của Nam Phố Thiệu Minh , v.v.; và phái của Tào Động Tông do Đạo Nguyên (道元) sáng lập. Đến thời đại Thất Đinh, trong số các phái như đã trình bày ở trên, trừ phái của Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji) thuộc Tào Động Tông và Phái Đại Ứng của Lâm Tế Tông ra, các phái Thiền Tông được sự bảo hộ và thống chế của chính quyền Mạc Phủ Thất Đinh, lấy những ngôi chùa quan làm cứ điểm hành đạo, phát triển rộng khắp toàn quốc, và cuối thời đại Thất Đinh thì trở thành chủ lưu của Thiền mà phồn vinh cực độ. Phái Ngũ Sơn là tiếng gọi tổng xưng của các phái Thiền Tông, hay còn gọi là Ngũ Sơn Tùng Lâm (五山叢林).

Phái Tùng Nguyên

(松源派, Shōgen-ba): tên một phái kết hợp dòng Thiền của Phái Dương Kì (楊岐派) thuộc Tông Lâm Tế Trung Quốc, trực thuộc pháp hệ của Hổ Kheo Thiệu Long (虎丘紹隆). Tùng Nguyên Sùng Nhạc (松源崇岳), người kế thừa dòng pháp của Mật Am Hàm Kiệt (密庵咸傑), là vị Tổ khai sáng phái này. Môn hạ của Sùng Nhạc có hai vị Tăng kiệt xuất là Vô Minh Huệ Tánh (無明慧性), Vận Am Phổ Nham (運庵普巖); thêm vào đó, còn có Diệt Ông Văn Lễ (滅翁文禮), Tuyết Đậu Trọng Khiêm (雪竇仲謙), Yểm Am Thiện Khai (掩庵善開), v.v. Hơn nữa, sau này môn hạ của Huệ Tánh lại có Lan Khê Đạo Long (蘭溪道隆), rồi môn hạ của Phổ Nham có Hư Đường Trí Ngu (虛堂智愚) xuất hiện. Hư Đường là người dẩn đầu để tạo ra những nhân vật quan trọng của Lâm Tế Tông Nhật Bản như Nam Phố Thiệu Minh (南浦紹明), Tông Phong Diệu Siêu (宗峰妙超), Quan Sơn Huệ Huyền (關山慧玄), v.v. Và những Thiền Tăng nổi tiếng như Đại Hưu Chánh Niệm (大休正念), Vô Tượng Tĩnh Chiếu (無象靜照), Tây Giản Tử Đàm (西礀子曇), Nguyệt Lâm Đạo Kiểu (月林道皎), Thạch Thất Thiện Cửu (石室善玖), Trúc Tiên Phạn Tiên (竺仙梵僊), Minh Cực Sở Tuấn (明極楚俊), Ngu Trung Châu Cập (愚中周及), v.v., đều xuất thân từ phái này cả.

phái đoàn

Delegation—Mission.

Phán

判; C: pàn; J: han, pan;|Có các nghĩa sau: 1. Chia, phân, cắt ra.|2. Phân biệt, nhận ra, nhận rõ sự khác nhau giữa các pháp; 3. Đánh giá, phân xử việc gì; 4. Quyết định, xác định.

phán

1) Phán lệnh: To order. 2) Phán Quyết: To judge—To try. 3) Phán định: To decide. 4) Phán xét: To examine and judge. ; (判) .. Phân biệt, so sánh giữa cái này với cái kia để làm sáng tỏ nghĩa lí. Bởi thế, trong các sách chú giải kinh Phật mới có các danh từ như Khoa phán, Phán giáo...

phán bằng thức

(判憑式) Chứng minh thư do nhà nước chứng nhận và cấp phát cho tăng sĩ. Như Độ điệp là giấy Chứng minh do Chính phủ cấp phát cho vị tăng để chứng nhận vị ấy đã xuất gia được độ. Còn Miễn đinh do(cũng gọi Miễn đinh sao) là Chứng minh thư do chính quyền địa phương cấp phát cho những người đã nộp tiền miễn đinh và phê chuẩn cho được miễn trừ quân dịch. [X. điều Thánh tiết trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1; điều Quải đáp trong Thiền uyển thanh qui Q.1]. (xt. Độ Điệp).

Phán giáo

判教; C: pànjiāo; J: hankyō;|Phân định giáo lí theo chủ đề, thời gian… Sự Phân định giáo lí là một khía cạnh chủ yếu của việc nghiên cứu nguồn gốc kinh điển của nhiều Tăng sĩ Phật giáo từ thế kỉ thứ 5-8 trong các tông phái Phật giáo Trung Hoa như Pháp tướng, Thiên Thai, Hoa Nghiêm. Một số nhà phán giáo nổi bật là Huệ Viễn (慧遠), Trí Khải (智顗), Pháp Tạng (法藏), và Tông Mật (宗密). Tứ giáo (四教), Ngũ giáo (五教).

phán giáo

Phân chia hay phân tích giáo pháp hay giáo tướng một đời của Đức Phật—Division of the Buddha's teaching. 1) Phán Giáo Thiên Thai Ngũ Thời Bát Giáo: Division of T'ien-T'ai, into the five periods and eight teachings—See Thiên Thai Ngũ Thời Bát Giáo. 2) Phán Giáo Hoa nghiêm Ngũ Giáo: Division of Hua-Yen into five teachings—See Hoa nghiêm Thời and Ngũ Giáo.

phán lự tư

Phân biệt tư tưởng—Discriminating thought.

Phán Quan

(判官): còn gọi Quỷ Phán Quan (鬼判官). Trong Thập Điện Diêm La (十殿閻羅), ở hai bên của vua Diêm La tại mỗi điện đều có một vị Phán Quan phụ tá xử lý phiên tra công việc các vong hồn và chịu trách nhiệm thẩm tra các u hồn được dẫn đến Minh Phủ. Phán Quan có thể phân làm 4 loại: Thưởng Thiện Ty (賞善司), Phạt Ác Ty (罰惡司), Tra Sát Ty (查察司) và Thôi Phán Quan (崔判官). Ba tên đầu là chức danh, chỉ có chức cuối cùng thì thấy xuất hiện nhiều trong các thư tịch. Như trong Tây Du Ký (西遊記) cũng như truyền thuyết của các địa phương thường hay có tên vị này. Tương truyền Thôi Phán Quan tên là Giác (玨), người sống dưới thời Tùy Đường. Vào năm 633 (niên hiệu Trinh Quán [貞觀] thứ 7) nhà Đường, ông ra làm quan Huyện Lịnh Trường Tử (長子), Lộ Châu (潞州). Có thuyết cho rằng ông “ban ngày quản lý việc dương gian, tối xét xử các oan hồn dưới Âm Phủ, sai khiến người và quỷ, có năng lực như thần minh.” Trong dân gian có nhiều truyền thuyết về việc xử án của Thôi Giác (崔玨); trong đó có vụ án làm sáng tỏ con hổ làm thương tổn người được lưu truyền rộng rãi nhất. Truyền thuyết kể rằng nơi giáp giới phía tây nam Huyện Trường Tử và sông Thấm (沁) có một dãy núi lớn, tên là Điêu Hoàng Lãnh (雕黃嶺); xưa kia nơi đó thường có thú dữ xuất hiện. Một hôm, có chàng tiều phu lên núi đốn củi, không may bị con mãnh hổ ăn thịt. Người mẹ góa chồng hay tin đau lòng không muốn sống nữa, bèn lên Huyện đường kêu oan. Thôi Giác tức khắc phát lịnh bài, sai lính dịch Mạnh Hiến (孟憲) cầm điệp phù lên núi bắt cọp. Hiến lấy điệp phù ra đọc tụng trước Miếu Sơn Thần và dâng cúng trước án thần; khi ấy có một con cọp từ sau miếu lủi trốn ra. Hiến bèn dùng linh phù bắt con cọp dẫn về Huyện đường. Thôi Giác tức thì thăng đường, liệt kê tội phạm do con hổ gây ra từ trước đến nay; khi nghe mỗi tội như vậy, con hổ đều cúi đầu nhận chịu. Cuối cùng, ông phán quyết rằng: “Ăn thịt mạng người, tội không thể tha.” Con hổ nghe vậy đập đầu vào bậc cấp mà chết. Sau khi Thôi Giác qua đời, bá tánh đều lập miếu thờ ông ở khắp nơi. Tuy nhiên, cũng có thuyết nêu lên tên 4 vị phán quan có tên gọi hơi khác là: Chưởng Hình Phán Quán (掌刑判官, coi về hình phạt), Chưởng Thiện Bộ Phán Quan (掌善簿判官, coi về hồ sơ việc thiện), Chưởng Ác Bộ Phán Quan (掌惡簿判官, coi về hồ sơ việc ác) và Chưởng Sanh Tử Bộ Phán Quan (掌生死簿判官, coi về hồ sơ sống chết); trong đó vị cuối cùng là thủ lãnh tất cả. Tương truyền vị danh thần nhà Tống là Bao Thanh Thiên (包青天) cũng đã từng làm việc dưới Âm Phủ, có tên là Trương Bảo (張保), chuyên giám sát những người vượt ngục, trông coi hồ sơ sanh tử của con người và tuyên phạt những cực hình. Hình tượng các vị Phán Quan thường được tạc có đội mũ mềm trên đầu, mang cân đai, chân mang đôi hài mũi đen, trừng con mắt sáng quắt, tay trái cầm sổ thiệc ác, tay phải cầm cây bút sanh tử. Như vậy Quỷ Phán Quan là vị Phán Quan cõi Âm Phủ vốn có trong truyền thống văn hóa của Trung Quốc. Vì vậy, thế gian vẫn thường xưng tụng ông rằng: “Quân mạo tranh nanh, quân tâm công chánh, thanh lâm hắc tắc, duy quân sở mạng (君貌猙獰、君心公正、青林黑塞、唯君所命, Tướng người hung tợn, tâm người công chánh, rừng xanh chốn tối, chỉ người quản hạt).”

phán quyết

Determination—Decision.

phán thích

Phán đoán ý chỉ của kinh luận, và giải thích ý nghĩa của nó. Phê phán phân tích giáo lý mà Đức Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng—To divide and explain sutras; to arrange in order, analyse the Buddha's teaching.

phán đoán

Phán quyết—To judge.

Pháp

法; C: fă; J: hō; S: dharma; P: dhamma; cũng đươc dịch theo âm Hán Việt là Ðạt-ma, Ðàm-ma; |Chữ dharma vốn xuất phát từ tiếng Ấn Độ, ngữ căn dhr, có nghĩa là »nắm giữ«, đặc biệt là nắm giữ tính năng hoạt động của con người. Thuật ngữ nầy có nhiều nghĩa:|1. Tập quán, thói quen, tiêu chuẩn của phép cư xử; 2. Điều phải làm; nghề nghiệp, bổn phận, nghĩa vụ; 3. Trật tự xã hội; quy củ trong xã hội; 4. Điều lành, việc thiện, đức hạnh; 5. Sự thật, thật tại, chân lí, luật tắc (s: satya); 6. Nền tảng của thế gian và các cõi giới; 7. Tín ngưỡng tôn giáo; 8. Tiêu chuẩn để nhận thức về chân lí, về luật tắc; 9. Giáo lí, sự giải thích; 10. Bản thể, bản tính; 11. Thuộc tính, phẩm chất, đặc tính, cấu trúc cơ bản. Ý nghĩa nầy của thuật ngữ thường được dùng trong các luận giải của Du-già hành tông, liệt kê tất cả kinh nghiệm thế gian thành 100 pháp hoặc 100 cấu trúc cơ bản. Thực tế các pháp không tồn tại trên cơ sở tự tính nầy hàng Nhị thừa không thể nào nhận thức được, nhưng là một đối tượng quán sát đặc biệt của hàng Bồ Tát. Không nhận thức được tính không của các cấu trúc cơ bản là điều rất quan trọng cho sở tri chướng. Xem Bách pháp; 12. Trong Luận lí học, là tiền đề hay là đối tượng của một động từ. |Tổng quát lại, người ta có thể hiểu pháp là »tất cả những gì có đặc tính của nó – không khiến ta lầm với cái khác – có những khuôn khổ riêng của nó để nó làm phát sinh trong đầu óc ta một khái niệm về nó« (theo Phật học đại từ điển của Ðinh Phúc Bảo, lời dịch của Thích Nhất Hạnh).

pháp

Tất cả sự vật hữu hình gọi là sắc pháp, vô hình gọi là tâm pháp, có thể tánh gọi là hữu pháp, không thể tánh gọi là vô pháp. Các pháp sắc, tâm, hữu, vô, gọi chung là Pháp giới. ; Dhamma (p)—Dharma (skt)—Doctrine—Law—Method—Phenomena—Thing—Truth—Pháp là một danh từ rắc rối, khó xử dụng cho đúng nghĩa; tuy vậy, pháp là một trong những thuật ngữ quan trọng và thiết yếu nhất trong Phật Giáo. Pháp có nhiều nghĩa—Dharma is a very troublesome word to handle properly and yet at the same timeit is one of the most important and essential technical terms in Buddhism. Dharma has many meanings: 1) Luật lệ: Rule—Law. 2) Theo Phạn ngữ, chữ “Pháp” phát xuất từ căn ngữ “Dhri” có nghĩa là cầm nắm, mang, hiện hữu, hình như luôn luôn có một cái gì đó thuộc ý tưởng “tồn tại” đi kèm với nó—Etymologically, it comes from the Sanskrit root “Dhri” means to hold, to bear, or to exist; there seems always to be something of the idea of enduring also going along with it. a) Ý nghĩa thông thường và quan trọng nhất của “Pháp” trong Phật giáo là chân lý—The most common and most important meaning of “Dharma” in Buddhism is “truth,” “law,” or “religion.” b) Thứ hai, pháp được dùng với nghĩa “hiện hữu,” hay “hữu thể,” “đối tượng,” hay “sự vật.”Secondly, it is used in the sense of “existence,” “being,” “object,” or “thing.” c) Thứ ba, pháp đồng nghĩa với “đức hạnh,” “công chánh,” “chuẩn tắc,” về cả đạo đức và tri thức—Thirdly, it is synonymous with “virtue,” “righteousness,” or “norm,” not only in the ethical sense, but in the intellectual one also. d) Thứ tư, có khi pháp được dùng theo cách bao hàm nhất, gồm tất cả những nghĩa lý vừa kể, nên chúng ta không thể dịch ra được. Trong trường hợp nầy cách tốt nhất là cứ để nguyên gốc chứ không dịch ra ngoại ngữ—Fourthly, it is occasionally used in a most comprehaensive way, including all the senses mentioned above. In this case, we'd better leave the original untranslated rather than to seek for an equivalent in a foreign language. 3) Luật vũ trụ hay trật tự mà thế giới chúng ta phải phục tòng. Theo đạo Phật, đây là luật “Luân Hồi Nhân Quả”—The cosmic law which is underlying our world. According to Buddhism, this is the law of karmically determined rebirth. 4) Hiện Tượng: Phenomenon—Mọi hiện tượng, sự vật và biểu hiện của hiện thực. Mọi hiện tượng đều chịu chung luật nhân quả, bao gồm cả cốt tủy giáo pháp Phật giáo—All phenomena, things and manifestation of reality. All phenomena are subject to the law of causation, and this fundamental truth comprises the core of the Buddha's teaching. 5) Chân Lý: Ultimate truth. 6) Dharma (skt)—Đạt Ma—Đàm Ma—Đàm Vô—Giáo pháp của Phật hay những lời Phật dạy—Con đường hiểu và thương mà Đức Phật đã dạy—Phật dạy: “Những ai thấy được pháp là thấy được Phật.” Vạn vật được chia làm hai loại: vật chất và tinh thần; chất liệu là vật chất, không phải vật chất là tinh thần, là tâm—The teaching of the Buddha (Understanding and Loving)—Law—Doctrine—Things—Events—Phenomena—The way of understanding and love taught by the Buddha—The Buddha says: “He who sees the Dharma sees me.”. All things are divided into two classes: physical and mental; that which has substance and resistance is physical, that which is devoid of these is mental (the root of all phenomena is mind). 7) Toàn bộ giáo thuyết Phật giáo, các quy tắc đạo đức bao gồm kinh, luật, giới: The doctrines of Buddhism, norms of behavior and ethical rules including pitaka, vinaya and sila. 8) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, chữ Dharma có năm nghĩa như sau—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, the word “Dharma” has five meanings: a) Dharma là cái được nắm giữ hay lý tưởng nếu chúng ta giới hạn ý nghĩa của nó trong những tác vụ tâm lý mà thôi. Trình độ của lý tưởng nầy sẽ sai biệt tùy theo sự tiếp nhận của mỗi cá thể khác nhau. Ở Đức Phật, nó là sự toàn giác hay viên mãn trí (Bodhi): Dharma would mean 'that which is held to,' or 'the ideal' if we limit its meaning to mental affairs only. This ideal will be different in scope as conceived by different individuals. In the case of the Buddha it will be Perfect Enlightenment or Perfect Wisdom (Bodhi). b) Thứ đến, lý tưởng diễn tả trong ngôn từ sẽ là giáo thuyết, giáo lý, hay giáo pháp của Ngài: Secondly, the ideal as expressed in words will be his Sermon, Dialogue, Teaching, Doctrine. c) Thứ ba, lý tưởng đề ra cho các đệ tử của Ngài là luật nghi, giới cấm, giới điều, đức lý: Thirdly, the ideal as set forth for his pupils is the Rule, Discipline, Precept, Morality. d) Thứ tư, lý tưởng là để chứng ngộ sẽ là nguyên lý, thuyết lý, chân lý, lý tính, bản tính, luật tắc, điều kiện: Fourthly, the ideal to be realized will be the Principle, Theory, Truth, Reason, Nature, Law, Condition. e) Thứ năm, lý tưởng thể hiện trong một ý nghĩa tổng quát sẽ là thực tại, sự kiện, sự thể, yếu tố (bị tạo hay không bị tạo), tâm và vật, ý thể và hiện tượng: Fifthly, the ideal as realized in a general sense will be Reality, Fact, Thing, Element (created and not created), Mind-and-Matter, Idea-and-Phenomenon. 9) Những phản ánh của các hiện tượng vào tâm con người, nội dung tâm thần, ý tưởng: Reflection of a thing in the human mind, mental content, object of thought or idea. 10) Những nhân tố tồn tại mà trường phái Tiểu thừa cho đó là nền tảng của nhân cách kinh nghiệm: Factors of existence which the Hinayana considers as bases of the empirical personality. 11) Theo phái Trung Quán, chữ Pháp trong Phật Giáo có nhiều ý nghĩa. Nghĩa rộng nhất thì nó là năng lực tinh thần, phi nhân cách bên trong và đằng sau tất cả mọi sự vật. Trong đạo Phật và triết học Phật giáo, chữ Pháp gồm có bốn nghĩa—According to the Madhyamakas, Dharma is a protean word in Buddhism. In the broadest sense it means an impersonal spiritual energy behind and in everything. There are four important senses in which this word has been used in Buddhist philosophy and religion: a) Pháp có nghĩa là thực tại tối hậu. Nó vừa siêu việt vừa ở bên trong thế giới, và cũng là luật chi phối thế giới: Dharma in the sense of one ultimate Reality. It is both transcendent and immanent to the world, and also the governing law within it. b) Pháp theo ý nghĩa kinh điển, giáo nghĩa, tôn giáo pháp, như Phật Pháp: Dharma in the sense of scripture, doctrine, religion, as the Buddhist Dharma. c) Pháp có nghĩa là sự ngay thẳng, đức hạnh, lòng thành khẩn: Dharma in the sense of righteousness, virtue, and piety. d) Pháp có nghĩa là thành tố của sự sinh tồn. Khi dùng theo nghĩa nầy thì thường được dùng cho số nhiều: Dharma in the sense of 'elements of existence.' In this sense, it is generally used in plural. ; (法) Phạm: Dharma Pàli: Dhamma. Hán âm: Đạt ma, Đà ma, Đàm ma, Đàm vô, Đàm. I. Pháp. Trong kinh điển Phật giáo, danh từ Pháp được sử dụng trong rất nhiều trường hợp và ý nghĩa cũng không đồng nhất. Nói 1 cách tổng quát thì Pháp có 2 định nghĩa là nhậm trì tự tính, quĩ sinh vật giải.1. Nhậm trì tự tính: Tất cả sự vật, hiện tượng luôn giữ gìn bản tính riêng của chúng, không thay đổi. 2. Quĩ sinh vật giải: Tất cả sự vật đều duy trì tự tính riêng biệt của chúng, như những khuôn mẫu khiến người ta dựa vào đó làm căn cứ mà hiểu 1 hiện tượng nhất định. Nói theo nghĩa Nhậm trì tự tính thì Pháp là chỉ cho tất cả cái tồn tại có đầy đủ tự tính, bản chất riêng biệt; nói theo nghĩa Quĩ sinh vật giải thì Pháp chỉ cho những tiêu chuẩn của sự nhận thức, như qui phạm, pháp tắc, đạo lí, giáo lí, giáo thuyết, chân lí, thiện hành v.v... Tóm lại, Pháp chỉ chung cho hết thảy mọi sự vật, mọi hiện tượng–cụ thể hay trừu tượng–có tự tính, bản chất riêng biệt làm căn cứ, khuôn mẫu khiến người ta nhìn vào là có thể nhận thức và lí giải được. [X. kinh Tạp a hàm Q.31; kinh Chư pháp bản trong Trung a hàm Q.28; phẩm Cú nghĩa trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.4; phẩm Sát na trong kinh Đại thừa lăng già Q.5; kinh Đại bảo tích Q.52; luận Đại trí độ Q.48]. II. Pháp. Chỉ cho cảnh sở duyên(đối tượng phân biệt) của thức thứ 6(ý thức), cũng gọi Pháp xứ (Phạm: Dharmàyatana) hoặc Pháp giới (Phạm: Dharma-dhàtu). [X. luận Đại tì bà sa Q.73; luận Câu xá Q.1; phẩm Xứ trong luận Pháp uẩn túc Q.10]. III. Pháp. Tiếng dùng trong Nhân minh. Hàm ý tính chất, thuộc tính. Trong Nhân minh, danh từ sau (hậu trần) của Tông (mệnh đề) gọi là Pháp (thuộc tính); danh từ trước(tiền trần)của Tông gọi là Hữu pháp (có thuộc tính). Như lập Tông: Âm thanh là vô thường, thì vô thường (Pháp) là thuộc tính của âm thanh (Hữu pháp). [X. Nhân minh luận sớ minh đăng sao Q.2, phần đầu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.2]. (xt. Tà Chính, Thể).

pháp a dục

Dharmasoka (skt)—Pháp danh vua A Dục trong ngày vị vua này qui-y Phật—Name given to Asoka on his conversion. ** For more information, please see A Dục Vương in Vietnamese-English Section and Asoka in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

pháp ba la mật

Dịch là phương pháp để đi đến bờ bên kia. Bờ bên kia dụ cho quốc độ tự do tự tại. Pháp Ba La Mật có sáu thứ: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ; cũng gọi là Lục độ. ; Một trong bốn vị Bồ Tát Ba La Mật trong Kim Cương Giới—One of the four Paramita Bodhisattvas in the Diamond realm.

pháp ba la mật bồ tát

(法波羅蜜菩薩) Phạm: Dharma-vajrì. Hán âm: Đạt ma phạ nhật li. Hán dịch: Pháp kim cương. Vị Bồ tát an vị ở phía tây đức Đại nhật Như lai, trong nguyệt luân ở chính giữa, thuộc hội Thành thân, trên Mạn đồ la Kim cương giới của Mật giáo, là 1 trong 4 bồ tát Ba la mật, 1 trong 37 vị tôn của Kim cương giới. Mật hiệu là Thanh tịnh kim cương, Liên hoa kim cương. Chủng tử là (hrì#), hình Tam muội da là chày 1 chĩa hoặc hoa sen đỏ. Hình tượng là hình tướng thiên nữ, toàn thân màu da người, mặc áo yết ma, 2 tay kết Di đà định ấn để ở dưới rốn, trên tay ấn dựng 1 cọng hoa sen, trên hoa có hộp đựng kinh tiếng Phạm. Chân ngôn là: Án đạt ma phạ nhật lí ngật lí. Trong các hội Vi tế, Cúng dường, Hàng tam thế yết ma v.v... thì hình Tam muội da, hình tượng, chân ngôn... đều khác nhau. Vị Bồ tát này dùng Nhất thiết pháp trí của tự tính thanh tịnh, quan sát khắp thế giới hữu tình, dứt trừ phiền não tham nhiễm, hiển bày tâm thanh tịnh vô cấu. [X. kinh Đại giáo vương Q.2 (bản 3 quyển); Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2]. (xt. Tứ Ba La Mật Bồ Tát).

pháp báo hóa tam thân

The trikaya (skt)—See Tam Thân Phật.

pháp bình

(法瓶) Chỉ cho chiếc bình dùng để đựng nước thơm trong pháp hội Bố tát. [X. môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].

pháp bình đẳng

Dharmasamata (skt). 1) Sự bình đẳng về chân lý đã được chư Phật dạy, một trong tứ bình đẳng—The sameness of truth as taught by all the Buddhas, one of the fourfold sameness—See Tứ Bình Đẳng (4). 2) Theo Kinh Duy Ma Cật, Phẩm Đệ Tử, khi Đức Phật bảo Tu Bồ Đề đi đến thăm bệnh ông Duy Ma Cật dùm Ngài. Tu Bồ Đề bèn bạch Phật như sau—According to The Vimalakirti Sutra, Chapter Three, the Disciples, when the Buddha asked Subhuti to go to visit Vimalakirti on his behalf, Subhuti said to the Buddha as follows: • Tu Bồ Đề bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh đến thăm bệnh ông. Vì sao? Nhớ lại thuở trước, con vào khất thực nơi nhà ông, lúc đó trưởng giả Duy Ma Cật lấy cái bát của con đựng đầy cơm rồi nói với con rằng 'Thưa ngài Tu Bồ Đề! Đối với cơm bình đẳng, thì các Pháp cũng bình đẳng, các Pháp bình đẳng thì cơm cũng bình đẳng, đi khất thực như thế mới nên lãnh món ăn. Như Tu Bồ Đề không trừ dâm nộ si, cũng không chung cùng với nó, không hoại thân mà theo một hình tướng, không dứt si ái sanh ra giải thoát, ở tướng ngũ nghịch mà đặng giải thoát, không mở cũng không buộc, không thấy tứ đế cũng không phải không đắc quả, không phải phàm phu cũng không phải rời phàm phu, không phải Thánh nhơn, không phải không Thánh nhơn, tuy làm nên tất cả các Pháp mà rời tướng các Pháp, thế mới nên lấy món ăn. Như Tu Bồ Đề không thấy Phật, không nghe Pháp, bọn lục sư ngoại đạo kia như Phú Lan Na Ca Diếp, Mạc Dà Lê Câu Xa Lê Tử, San Xà Dạ Tỳ La Chi Tử, A Kỳ Đa Xý Xá Khâm Ba La, Ca La Cưu Đà Ca Chiên Diên, Ni Kiền Đà Nhã Đề Tử là thầy của ngài. Ngài theo bọn kia xuất gia, bọn lục sư kia đọa, ngài cũng đọa theo, mới nên lấy món ăn. Tu Bồ Đề! Nếu ngài vào nơi tà kiến, không đến bờ giác, ở nơi tám nạn, đồng với phiền não, lìa Pháp thanh tịnh, ngài được vô tránh tam muội, tất cả chúng sanh cũng được tam muội ấy, những người thí cho ngài chẳng gọi phước điền, những kẻ cúng dường cho ngài đọa vào ba đường ác, ngài cùng với ma nắm tay nhau làm bạn lữ, ngài cùng với các ma và các trần lao như nhau không khác, đối với tất cả chúng sanh mà có lòng oán hận, khinh báng Phật, chê bai Pháp, không vào số chúng Tăng, hoàn toàn không được diệt độ, nếu ngài được như thế mới nên lấy món ăn—Subhuti said: “World Honoured One, I am not qualified to call on him and enquire after his health. The reason is that once when I went to his house begging for food, he took my bowl and filled it with rice, saying: 'Subhuti, if your mind set on eating is in the same state as when confronting all (other) things, and if this uniformity as regards all things equally applies to (the act of) eating, you can then beg for food and eat it. Subhuti, if without cutting off carnality, anger and stupidity you can keep from these (three) evils: if you do not wait for the death of your body to achieve the oneness of all things; if you do not wipe out stupidity and love in your quest of enlightenment and liberation; if you can look into (the underlying nature of) the five deadly sins to win liberation, with at the same time no idea of either bondage or freedom; if you give rise to neither the four noble truths nor their opposites; if you do not hold both the concept of winning and not winning the holy fruit; if you do not regard yourself as a worldly or unworldly man, as a saint or not as a saint; if you perfect all Dharmas while keeping away from the concept of Dharmas, then can you receive and eat the food. Subhuti, if you neither see the Buddha nor hear the Dharma; if the six heterodox teachers, Purana-kasyapa, Maskari-gosaliputra, Yanjaya-vairatiputra, Ajita-kesakambala, Kakuda-katyayana and Nirgrantha-jnatiputra are regarded impartially as your own teachers and if, when they induce leavers of home into heterodoxy, you also fall with the latter; then you can take away the food and eat it. If you are (unprejudiced about) falling into heresy and regard yourself as not reaching the other shore (of enlightenment); if you (are unprejudiced about) the eight sad conditions and regard yourself as not free from them; if you (are unprejudiced about) defilements and relinquish the concept of pure living; if when you realize samadhi in which there is absence of debate or disputation, all living beings also achieve it; if your donors of food are not regarded (with partiality) as (cultivating) the field of blessedness; if those making offerings to you (are partially looked on as also) falling into the three evil realms of existence; if you (impartially regard demons as your companions without differentiating between them as well as between other forms of defilement; if you are discontented with all living beings, defame the Buddha, break the law (Dharma), do not attain the holy rank, and fail to win liberation; then you can take away the food and eat it. • Bạch Thế Tôn! Lúc đó con nghe những lời ấy rồi mờ mịt không biết là nói gì, cũng không biết lấy lời chi đáp, con liền để bát lại muốn ra khỏi nhà ông. Ông Duy Ma Cật nói 'Thưa ngài Tu Bồ Đề! Ngài lấy bát chớ sợ! Ý ngài nghĩ sao? Như Phật biến ra một ngàn người huyễn hóa và nếu người huyễn hóa đó đem việc nầy hỏi Ngài, chừng ấy Ngài có sợ chăng?' Con đáp: “Không sợ!” Trưởng giả Duy Ma Cật lại nói: “Tất cả các Pháp như tướng huyễn hóa, ngài không nên có tâm sợ sệt. Vì sao? Vì tất cả lời nói năng không lìa tướng huyễn hóa, chí như người trí không chấp vào văn tự, nên không sợ. Vì sao thế? Tánh văn tự vốn ly, không có văn tự đó là giải thoát. Tướng giải thoát đó là các Pháp vậy—“World Honoured One, I was dumbfounded when I heard his words which were beyond my reach and to which I found no answer. Then I left the bowl of rice and intended to leave his house but Vimalakirti said: 'Hey, Subhuti, take the bowl of rice without fear. Are you frightened when the Tathagata makes an illusory man ask you questions? I replied: 'No.' He then continued: 'All things are illusory and you should not fear anything. Why? Because words and speech are illusory. So all wise men do not cling to words and speech, and this is why they fear nothing. Why? Because words and speech have no independent nature of their own, and when they are no more, you are liberated. This liberation will free you from all bondage.'

pháp bích

Similes or illustrations of the dharma.

Pháp bản

法本; C: făběn; J: hōbon; |»Nguồn gốc pháp«. Thuật ngữ Phạn chỉ cho kinh điển. Được gọi là Pháp bản vì pháp siêu việt mọi đức hạnh là nguồn gốc của lời Phật dạy.

pháp bảo

Dharmaratna (skt). 1) Kho tàng Phật Pháp hay diệu pháp mà Đức Phật đã thuyết giáo, được trân quý như của báu của người thế tục, ngôi hai trong Tam Bảo—Dharma-treasure—The Law or Buddha-truth, the second personification in the Triratna. 2) Những vật cá nhân của một vị Tăng hay Ni như Y Bát, vân vân: The personal articles of a monk or nun, i.e. robe, almsbowl, etc. ** For more information, please see Tam Bảo. ; (法寶) I. Pháp Bảo. Chỉ cho tất cả giáo pháp do đức Phật nói được ghi chép trong 3 tạng kinh điển, 1 trong Tam bảo. (xt. Tam Bảo). II. Pháp Bảo (?-?). Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, là đệ tử của Đại sư Huyền trang. Năm Vĩnh huy thứ 5 (654) đời vua Cao tông, ngài Huyền trang dịch luận Câu xá, sư soạn sớ 30 quyển để giải thích rõ nghĩa của luận ấy. Sư và sư Phổ quang là 2 môn đệ ưu tú của ngài Huyền trang. Sau, sư và sư Thắng trang đến ở chùa Phúc tiên tại Đông đô và chùa Tây minh tại Tây kinh đảm nhiệm chức chứng nghĩa trong trường dịch kinh của ngài Nghĩa tịnh. Sư có các tác phẩm: Luận Nhất thừa Phật tính 6 quyển, Đại bát niết bàn kinh sớ 2 quyển (hoặc 1 quyển), Thích thiền thứ đệ pháp môn, Hội không hữu luận, Câu xá luận bảo sớ 30 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.4; Lục học tăng truyện Q.23; Khai nguyên thích giáo lục Q.9].

pháp bảo tạng

Nơi tồn trữ kinh điển Phật Pháp—The storehouse of all law and truth, i.e. the sutras.

Pháp bảo đàn kinh

法寶壇經; C: fǎbǎo tánjīng; J: hōbōdan-gyō; trọn tên là Lục tổ đại sư pháp bảo đàn kinh; |Một quyển sách căn bản của Thiền tông, nói về cuộc đời và pháp ngữ của Lục tổ Huệ Năng, được môn đệ của Tổ là Thiền sư Pháp Hải ghi chép lại. Ðây là quyển sách duy nhất trong các tác phẩm Phật giáo được hoàn thành tại Trung Quốc được gọi là »Kinh« (經), mặc dù danh từ này chỉ được sử dụng cho những bài thuyết pháp của đức Phật.

pháp bảo đàn kinh

The Platform Sutra—See Kinh Pháp Bảo Đàn.

pháp bị

(法被) Chỉ cho bức màn treo ở phía trước điện Phật. Ngoài ra, tấm vải dùng để phủ bàn ghế trong nhà Thiền cũng gọi là Pháp bị. [X. môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].

pháp bố thí

The almsgiving of the Buddha-truth—See Pháp Thí and Tam Bố Thí.

Pháp bổn

xem Tu-đa-la.

pháp bổn

Bhutatatthata (skt)—Chân như hay tinh yếu của vạn pháp—The root or essence of al things.

Pháp chiến

法戰; J: hossen;|Chỉ các cuộc tranh luận quyết liệt về Phật Pháp. Ðó là phương pháp đặc trưng của Thiền tông, trong đó thiền giả dùng mọi cách không khoan nhượng để bày tỏ sự thật. Pháp chiến gồm có đấu khẩu, Vấn đáp, cử động, ra dấu… giữa các Thiền sư. Trong rất nhiều Công án, người ta kể lại các cử chỉ quái dị hoặc các câu trả lời lạ lùng của các Thiền sư. Người ta hay nhắc đến Phất tử, tiếng hét (Hát), cây gậy và những hành động bất ngờ của các vị Thiền sư.|Danh từ »pháp chiến« có thể gây hiểu lầm, thật ra đây không phải là ai tìm cách thuyết phục hoặc đánh bại ai. Trong các trận chiến này, mỗi thiền giả bày tỏ kinh nghiệm giác ngộ của mình và tìm nơi người đối thoại một kinh nghiệm sâu xa hơn, hầu như không có cảm giác ta-người thông thường.

pháp chiến

(法戰) Trong Thiền lâm, các Thiền sư thường dùng những câu hỏi, đáp rất sắc bén về pháp nghĩa để xét nghiệm lẫn nhau, giống như thế gian tranh chiến với nhau, nên gọi là Pháp chiến. Ngoài ra, khi bắt đầu kết chế(hạ an cư), 5 vị Trụ trì, Thủ tọa, Thư kí, Phó tự và Tri khách, mỗi vị đều nêu ra 1 công án, giao cho chúng tăng thảo luận, cũng gọi là Pháp chiến hoặc Pháp vấn.Trong Thiền lâm, Pháp chiến và Vấn đáp rất khó phân biệt. Nhưng nói 1 cách đại thể thì Pháp chiến phần nhiều do 2 vị Thiền sư đã ngộ đạo dùng cơ phong hỏi, đáp thiết tha để chứng nghiệm cho nhau; còn Vấn đáp là phương pháp trọng yếu của bậc thầy sử dụng để dẫn dắt người học.[X. điều Niên phần hành sự trong Hành trì quĩ phạm Q.1]. (xt. Vấn Đáp).

Pháp Chiếu

(法照, Hosshō, ?-?): vị tăng của Tịnh Độ Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Đường, còn gọi là Ngũ Hội Pháp Sư (五會法師), không rõ xuất thân ở đâu. Trong khoảng thời gian niên hiệu Vĩnh Thái (永泰) đời vua Đại Tông, ông thường ngao du Đông Ngô, nhân mến mộ di phong của Huệ Viễn (慧遠) mà vào Lô Sơn (廬山), tu pháp môn Niệm Phật Tam Muội. Có hôm nọ trong lúc đang nhập định, ông được Phật khai thị cho, bèn đến Nam Nhạc (南嶽) hầu hạ Thừa Viễn (承遠). Vào năm đầu (766) niên hiệu Đại Lịch (大曆), ông đến Di Đà Đài phát nguyện mỗi mùa hạ chuyên tu Ban Chu Tam Muội, và cùng năm đó thọ pháp tụng kinh Ngũ Hội Niệm Phật (五會念佛). Trong suốt 2 năm dừng chân trú tại Vân Phong Tự (雲峯寺) ở Hành Châu (衡州), ông chuyên tâm tu niệm không hề giải đãi. Có hôm nọ bỗng trong bát cháo hiện ra đám mây lành năm sắc màu và trong đám mây có Đại Thánh Trúc Lâm Tự (大聖竹林寺). Hôm khác ông lại thấy trong bát hiện ra các chùa ở Ngũ Đài Sơn (五臺山) và các tướng lành cõi Tịnh Độ. Vào mùa hạ năm thứ tư cùng niên hiệu trên, ông đến Hồ Đông Tự (湖東寺, có thuyết cho là Tương Đông Tự [湘東寺]) và tu pháp Ngũ Hội Niệm Phật trên đài cao của chùa. Ông lại cảm ứng thấy được Phật A Di Đà, Văn Thù, Phổ Hiền và các thánh chúng. Đến tháng 4 năm sau, ông đến Phật Quang Tự (佛光寺) ở Ngũ Đài Sơn, chợt có 2 đồng tử dẫn đường, lại thấy cảnh vật y như đã từng thấy trong bát cháo và hai Bồ Tát Văn Thù, Phổ Hiền cùng thọ pháp môn niệm Phật, cho nên ông dựng bia nơi chốn ấy ghi lại sự việc trên để cho người thấy nghe mà phát bồ đề tâm, được lợi lạc. Ông là người sáng lập ra Ngũ Hội Niệm Phật và trong khoảng thời gian qua lại Ngũ Đài Sơn, Trường An, ông đã tận lực tập trung vào sự nghiệp hoằng pháp. Từ trong cung nội ra ngoài xã hội bình thường, ông đều truyền bá rộng khắp pháp môn niệm Phật. Sau khi thị tịch, ông được ban cho thụy hiệu là Đại Ngộ Hòa Thượng (大悟和尚). Có người cho rằng ông là hậu thân của Thiện Đạo (善導), được tôn sùng là vị tổ thứ 4 của Liên Tông. Trước tác của ông có Ngũ Hội Niệm Phật Tụng Kinh Quán Hành Nghi (五會念佛誦經觀行儀) 3 quyển, Tịnh Độ Ngũ Hội Niệm Phật Lược Pháp Sự Nghi Tán (淨土五會念佛略法事儀讚) 1 quyển.

pháp chiếu

Sự chiếu sáng của Phật pháp—Dharma-shinning. ; (法照) Cũng gọi Ngũ hội pháp sư. Cao tăng Trung quốc, thuộc tông Tịnh độ, sống vào đời Đường. Trong năm Vĩnh thái đời vua Đại tông nhà Đường, sư từng đến Đông Ngô, vì mến mộ phong cách thanh cao của ngài Tuệ viễn nên sư vào Lô sơn tu Tam muội niệm Phật. Trong lúc thiền định, sư được Phật khai thị, sư bèn đến Nam nhạc thờ ngài Thừa viễn làm thầy. Niên hiệu Đại lịch năm đầu (766), sư đến Di đà đài phát nguyện mỗi năm 3 tháng hạ siêng tu pháp môn Tam muội Bát chu, cùng năm ấy sư còn thụ pháp Ngũ hội niệm Phật tụng kinh. Năm Đại lịch thứ 2 (767), sư ở tại chùa Vân phong thuộc Hành châu, siêng năng tu tập. Một hôm, trong bát cháo bỗng hiện rõ đám mây lành 5 sắc, trong mây hiện ra chùa Đại thánh trúc lâm. Một ngày khác, trong bát cháo lại cảm được tướng thù thắng của Tịnh độ và các chùa trên núi Ngũ đài. Mùa hạ năm Đại lịch thứ 4 (769), sư vào chùa Hồ đông(có chỗ gọi chùa Tương đông), tu Ngũ hội niệm Phật ở trên lầu cao trong chùa, lại cảm được đức Phật A di đà và chúng thánh Văn thù, Phổ hiền... Tháng 4 năm Đại lịch thứ 5 (770), sư đến chùa Phật quang trên núi Ngũ đài, bỗng có 2 đồng tử dẫn đi đến chỗ cảnh vật đã thấy hiện trong bát cháo trước kia, 2 vị bồ tát Văn thù, Phổ hiền đều trao pháp môn niệm Phật cốt yếu cho sư, sư liền dựng bia tại chỗ đó để ghi lại việc này, khiến những người nghe biết đều phát tâm bồ đề.Sư sáng lập Ngũ hội niệm Phật, dốc sức vào sự nghiệp hoằng pháp, nhờ đó, từ trong cung đình đến ngoài xã hội đều thực hành pháp môn niệm Phật. Sau khi sư tịch, vua ban thụy hiệu cho sư là Đại Ngộ Hòa Thượng. Có thuyết cho rằng sư là hậu thân của ngài Thiện đạo và tôn sư làm Tổ thứ 4 của Liên tông.Sư để lại các tác phẩm: Tịnh độ ngũ hội niệm Phật tụng kinh quán hành nghi, 3 quyển, Tịnh độ ngũ hội niệm Phật lược pháp sự nghi tán, 1 quyển. [X. truyện Pháp chiếu trong Tống cao tăng truyện Q.21; truyện Trí quân trong Tống cao tăng truyện Q.27; Tịnh độ vãng sinh truyện Q.hạ; Tân tu vãng sinh truyện Q.hạ; Tân biên cổ kim vãng sinh Tịnh độ bảo châu tập Q.1; Lạc bang văn loại Q.3].

pháp chiếu đại sư

Tên của vị Tổ thứ tư của Liên Tông, vào đời nhà Đường, khoảng năm 767 sau Tây Lịch. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, Quê ngài ở Lô Sơn, một hôm nhập định, thần thức dạo chơi nơi miền Cực Lạc, lễ cẩn Đức Phật A Di Đà, thì thấy đứng kề bên Đức Phật có một vị Tăng mặc áo rách nát đứng hầu. Đức Phật A Di Đà chỉ vị Tăng ấy mà bảo rằng: “Ngươi có biết chăng, người nầy là Sa Môn Thừa Viễn ở Hoành Sơn đấy!” Sau khi xuất định Pháp Chiếu liền đến Hoành Sơn để tìm, lúc gặp Thừa Viễn, nhìn kỹ thì quả đúng là vị Tăng mà ngài đã thấy, liền cúi lạy xin theo làm đệ tử. Chưa ai rõ ngài Pháp Chiếu là người bậc như thế nào. Trong năm Đại Lịch thứ hai đời nhà Đường, hàng đạo tục mới được biết đến ngài khi ngài ở chùa Vân Phong tại đất Hoành Châu, ngày đêm chuyên cần tu tập. Tương truyền vào một buổi sáng, vào lúc thanh trai nơi Tăng đường, ngài thấy trong bát cháo hiện ra bóng mây ngũ sắc, trong mây ấy hiện rõ một cảnh sơn tự, phía đông bắc của sơn tự ấy có một dãy núi, dưới chân núi có khe suối, phía bắc khe suối ấy có một cửa ngõ bằng đá, trong cửa ngõ ấy lại có một ngôi chùa to, biển treo trước chùa đề tên “Đại Thánh Trúc Lâm Tự.” Mấy hôm sau, ngài lại thấy nơi bát cháo hiện ra cảnh chùa lớn ấy. Trong chùa gồm có vườn cây, ao nước, lâu đài tráng lệ nguy nga. Chùa lại có một vạn vị Bồ Tát đang ở trong đó. Thấy thế, ngài bèn đem cảnh tượng ấy hỏi nơi các bậc tri thức. Có một vị cao Tăng bảo rằng: “Sự biến hiện của chư Thánh khó có thể nghĩ bàn, nhưng nếu luận riêng về địa thế, non sông, thì đây đích thực là cảnh Ngũ Đài Sơn vậy.” Sau khi nghe lời ấy, ngài có ý muốn đến viếng cảnh Ngũ Đài để thử xem sự thật như thế nào? Hai năm sau, đại sư mở “Đạo Tràng Niệm Phật” tại chùa Hồ Đông. Ngày khai mở hội cảm được mây ngũ sắc giăng che trên chốn đạo tràng, trong mây hiện ra cung điện, lầu các, Phật A Di Đà cùng hai vị Quán Âm, Thế Chí hiện thân vàng sáng chói khắp cả hư không. Tại thành Hoành Châu, bá tánh trông thấy, thảy đều đặt bàn hương án, đốt nhang đảnh lễ. Do điềm lành nầy mà có vô số người phát tâm tinh tấn niệm Phật. Đạo tràng khai mở liên tiếp được năm hội. Một hôm, đại sư gặp một cụ già đến bảo rằng: “Ông đã từng có ý niệm muốn đến Kim Sắc Thế Giới tại Ngũ Đài Sơn để đảnh lễ Đức Bồ Tát Văn Thù, vì sao đến nay mà vẫn chưa chịu thực hành ý nguyện?” Nói xong liền biến mất. Biết là thần nhân nhắc nhở nên ngài sửa soạn hành trang, cùng thêm với mấy pháp hữu nữa, đồng nhau đến viếng cảnh núi Đài Sơn. Năm Đại Lịch thứ năm, vào ngày mồng 6 tháng 4, đại sư cùng đồng bạn mới đến được chùa Phật Quang ở huyện Ngũ Đài. Đêm ấy vào khoảng canh tư, ngài thấy có ánh sáng lạ từ xa chiếu đến thân mình, ngài liền nhắm chừng theo tia sáng ấy mà theo dõi. Đi được 50 dặm thì đến một dãy núi, dưới chân núi có khe suối, phía bắc khe suối có cửa bằng đá, nơi cửa có hai vị đồng tử đứng đón chờ, một vị xưng là Nan Đà, một vị tự xưng là Thiện Tài. Ngài theo chân hai vị đồng tử dẫn đường đến một ngôi chùa cực kỳ nguy nga lộng lẫy, có biển đề “Đại Thánh Trúc Lâm Tự.” Nơi đây đất vàng, cây báu, ao sen, lầu các thảy đều kỳ diễm, trang nghiêm. Cảnh giới quả đúng như ảnh tượng mà ngài đã thấy trong bát cháo khi trước. Ngài vào chùa, lên giảng đường, thấy Đức Văn Thù Bồ Tát ở phía bên Tây, Đức Phổ Hiền Bồ Tát ở phía bên Đông. Hai vị đều ngồi trên tòa sư tử báu cao đẹp, đang thuyết pháp cho một vạn vị Bồ Tát ngồi phía dưới lặng lẽ lắng nghe. Đại sư Pháp Chiếu bước đến chí thành đảnh lễ, rồi quỳ xuống thưa rằng: “Kính bạch Đại Thánh, hàng phàm phu đời mạt pháp, cách Phật đã xa, lại thêm bị chướng nghiệp nặng sâu, trí thức kém cõi. Tuy là có Phật tánh mà không biết làm sao hiển lộ, giáo pháp của Phật thì quá rộng rãi mênh mông. Chưa rõ pháp môn nào thiết yếu để tu hành cho mau được giải thoát?” Đức Văn Thù Bồ Tát bảo: “Thời kỳ nầy chính là đúng vào lúc các ngươi nên niệm Phật. Trong tất cả các hành môn thì không chi hơn là niệm Phật và gồm tu phước huệ. Thuở đời quá khứ, ta nhờ quán Phật, niệm Phật, cúng dường Tam Bảo mà chứng được Nhất Thiết Chủng Trí. Tất cả các pháp như Bát Nhã Ba La Mật, những môn Thiền Định rộng sâu, cho đến chư Phật cũng từ nơi niệm Phật mà sanh. Vì thế nên biết Niệm Phật là Vua trong các Pháp Môn.” Ngài Pháp Chiếu lại hỏi rằng: “Kính bạch Đại Thánh, nên niệm như thế nào?” Đức Văn Thù Bồ Tát dạy: “Về phương Tây của thế giới nầy có Phật A Di Đà là giáo chủ cõi nước Cực Lạc, Đức Thế Tôn ấy có nguyện lực lớn không thể nghĩ bàn. Ngươi nên chuyên niệm danh hiệu của ngài nối tiếp nhau không gián đoạn, khi mạng chung quyết định được vãng sanh, chẳng còn bị thối chuyển nữa.” Nói xong hai vị Bồ Tát đồng đưa tay vàng xoa đầu ngài Pháp Chiếu và bảo rằng: “Do nơi ngươi niệm Phật nên không bao lâu nữa sẽ chứng được quả Vô Thượng Bồ Đề. Nếu có thiện nam tín nữ nào muốn được thành Phật, thì không còn chi hơn là niệm Phật. Kẻ ấy nhứt định sẽ mau lên ngôi Chánh Đẳng Chánh Giác.” Được hai vị Đại Thánh thọ ký xong, ngài Pháp Chiếu vui mừng đảnh lễ rồi từ tạ lui ra. Hai đồng tử khi nãy theo sau đưa tiển. Vừa ra khỏi cổng chùa, quay nhìn lại thì cả người và cảnh đều biến mất. Ngài liền dựng đá đánh dấu chỗ ấy rồi trở về chùa Phật Quang. Đến ngày 13 tháng 4, Đại sư Pháp Chiếu cùng hơn 50 vị Tăng nữa đồng đến hang Kim Cang, thành tâm đảnh lễ hồng danh 35 Đức Phật. Vừa lạy được 10 lượt, ngài bỗng thấy hang Kim Cang hiện ra, rộng lớn, thanh tịnh trang nghiêm, hai vị Bồ Tát Văn Thù, Phổ Hiền đều đồng ngự ở trong đó. Hôm khác, ngài lại một mình đi riêng đến hang Kim Cang, gieo mình đảnh lễ, nguyện thấy Đại Thánh. Đang khi cúi lạy xuống và vừa ngước lên, đại sư bỗng thấy có một vị Phạm Tăng tự xưng tên là Phật Đà Ba Lỵ. Vị nầy đưa ngài vào trong một đại điện trang nghiêm, biển đề tên “Kim Cang Bát Nhã Tự.” Toàn diện do nhiều thứ báu lạ, đẹp, sắc màu trang nghiêm, ánh sáng lấp lánh chiếu tỏa cùng khắp. Dù đã nhiều lần thấy được các sự linh dị như thế, nhưng đại sư vẫn chưa tường thuật lại với một ai hết cả. Thánh chạp năm ấy, ngài nhập đạo tràng niệm Phật nơi chùa Hoa Nghiêm, định kỳ tuyệt thực, tu hành nguyện được vãng sanh về Cực Lạc Tịnh Độ. Đến đầu hôm của ngày thứ bảy, đang lúc niệm Phật, đại sư bỗng thấy có một vị Phạm Tăng bước vào bảo: “Ông đã từng thấy cảnh giới Ngũ Đài Sơn, sao không truyền thuật lại cho người đời cùng biết?” Nói xong vị ấy liền ẩn mất. Hôm sau, trong lúc niệm Phật vị Tăng ấy lại hiện ra, bảo y như hôm trước. Ngài đáp rằng: “Không phải tôi dám dấu kín Thánh tích, nhưng chỉ sợ nói ra người đời không tin rồi sanh ra sự chê bai mà thôi.” Phạm Tăng bảo: “Chính Đức Đại Thánh Văn Thù hiện tại ở núi nầy mà còn bị người đời hủy báng, thì ông còn lo ngại làm chi. Hãy đem những cảnh giới mà ông đã được thấy truyền thuật lại cho chúng sanh, hầu làm duyên cho các kẻ nghe biết để họ phát khởi tâm Vô Thượng Bồ Đề.” Ngài tuân lời, nhớ kỹ lại những sự việc đã thấy rồi ghi chép ra truyền lại cho mọi người. Năm sau có sư Huệ Tùy ở Giang Đông cùng với chư Tăng chùa Hoa Nghiêm theo đại sư Pháp Chiếu đến hang Kim Cang lễ Phật. Kế đó lại đến chỗ dựng bia đá lúc trước để chiêm ngưỡng Thánh tích. Trong lúc đại chúng còn đang ngậm ngùi ngưỡng vọng, bỗng nghe tiếng hồng chung từ trong vách đá vang ra, giọng chuông thanh thoát ngân nga, nhặt khoan rành rẽ. Ai nấy thảy đều kinh lạ, đồng công nhận những lời của Pháp Chiếu đại sư tường thuật là đúng sự thật. Vì muốn cho mọi người viếng cảnh đều được phát khởi đạo tâm, nên Tăng chúng nhân cơ duyên ấy, cho khắc lại những sự việc của ngài nghe thấy vào trong vách đá để lưu truyền cho các đời mai hậu. Về sau, ngay ở tại nơi đó, một cảnh chùa trang nghiêm được xây dựng lên, cũng lấy hiệu là “Trúc Lâm Tự” để lưu niệm. Triều vua Đường Đức Tông, đại sư Pháp Chiếu mở đạo tràng niệm Phật tại miền Tinh Châu, cũng liên tiếp được năm hội. Mỗi đêm vua và các người trong hoàng cung đều nghe có tiếng niệm Phật rất thanh thoát từ xa đưa vẳng lại. Sau cho người dò tìm, được biết đó là tiếng niệm Phật ở đạo tràng Tịnh Độ tại Tinh Châu. Vua liền phái sứ giả mang lễ vật đến thỉnh ngài vào triều. Ngài mở đạo tràng niệm Phật tại hoàng cung, cũng gồm đủ năm hội. Vì thế người đương thời gọi ngài là Ngũ Hội Pháp Sư. Từ đó đại sư tinh tấn tu hành, ngày đêm không biếng trễ. Một hôm, ngài thấy vị Phạm Tăng khi trước là Phật Đà Ba Lỵ hiện đến bảo rằng: “Hoa sen công đức của ông nơi ao thất bảo ở cõi Cực Lạc đã được thành tựu. Ba năm sau là đúng thời kỳ hoa nở. Ông nên chuẩn bị” Đến kỳ hạn, đại sư cho gọi Tăng chúng đến căn dặn rằng: “Ta nay về Cực Lạc, mọi người ở lại phải cố gắng tinh tu.” Nói xong, ngài ngồi ngay ngắn, chắp tay lặng yên mà thoát hóa—Name of the fourth patriarch of the Chinese Lotus Sect or Pureland Buddhism, during the T'ang dynasty, around 767 A.D. According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, Great Master Fa-Chao, a native of Mount Lu region. One day while entering samadhi, his spirit came to the Ultimate Bliss World. As he prostrated to Amitabha Buddha, he saw a Bhikshu wearing a completely worn out robe attending the Buddha. Amitabha Buddha pointed at that Bhikshu and told Fa-Chao the following: “Do you know him? This good man is Sheng-Yien Bhikshu living in the region of Hung-Shan.” After coming out of the samadhi, Great Master Fa-Chao immediately went to Hung-Shan Mount to seek out the Bhikshu he had seen in his spiritual vision. Upon meeting and observing carefully the Great Venerable Sheng-Yien, he realized the Great Master was the Bhikshu he had seen in the Ultimate World. He immediately prostrated himself to the Great Master and asked to become a disciple. The Great Venerable Master Fa-Chao's true identity remains unclear. In the second year of the Đại Lịch reign period of the T'ang Dynasty, Buddhists began hearing about him. He lived at Wind Cloud Temple at Hoành Châu region, day and night always cultivating and practicing the Way. One morning, during breakfast at the Bhiksu during area, he saw in his bowl of rice soup a cloud of five colors. In this cloud clearly emerged a scene of a mountainous temple; on the Northeast side of the temple was a mountain range. Toward the bottom of the mountain lay a creek and in the North of that creek was a stone door. Inside the small door was another large temple. The sign in front of the temple read: “Great Saints Bamboo Grove Temple.” Several days later, once again, he saw the great temple appearing in his bowl of rice-soup. In this temple were a garden, a pond, large and magnificent castles and palaces, which were occupied by ten thousand Bodhisattvas at that time. After having these visions, the Great Master inquired about them to some of the great knowledgeable advisors. A highly virtuous master told him: “The appearance and transformation of the Enlightened Saints are difficult to imagine, but if we are just referring to the landscape and general region, then what you saw has to be the Wu-Tai-Shan Mountains. Taking the advice he received, the Great Master wanted to visit Wu-Tai-Shan to seek the truth. Two years later, he opened a “Buddha Recitation Congregation” at Hu-Tung Temple in Hung-Chou. His opening of the congregation caused the cloud of five colors to appear and cover the area. Within the cloud appeared many castles and palaces, the Amitabha Buddha as well as Avalokitesvara and Mahasthamaprapta Maha-Bodhisattvas' golden bodies shone and illuminated the entire sky. In the Hung-Chou City, witnessing this miracle, the people made shrines to light incense and prostrated themselves to this sighting. This miraculous appearance remained for several minutes before disappearing. Because of this magnificently virtuous event, countless people developed faith to practice Buddha Recitation diligently. In turn, the Great Master opened five congregations to practice Pureland Recitation. One day, he encountered an elderly woman who told him: “You have had the thought of going to the Golden World at the Wu-Tai-Shan Mountains to pay homage to the Manjusri Maha-Bodhisattva, but up to this time, why have you not carried out your intentions?” After speaking, the elderly woman immediately vanished. Knowing this was a reminder by a guardian angel, or Dharma protector, the Great Master made preparations to travel with several fellow Dharma friends to visit Wu-Tai-Shan Mountain. It was not until June 4th of the fifth year of the Tai-Li reign period before the Great Master and his fellow cultivators reached the Buddha's Light Temple of the Wu-Tai-Shan region. That night, approximately at four in the morning, the Great Master saw a mysterious light from afar shining toward him; he immediately followed the light to investigate. After traveling about fifty miles, he came to a mountain range. At the bottom of the mountain, there was a creek and in the North of the creek was a stone gate, at the gate, there were two young children who awaited his arrival. One of them introduced himself as Nanda and the other as Tien-Tsai. The Grat Master followed the two children to a marvelously enchanting temple; the sign read “Great Saints Bamboo Grove Temple.” In this land, the ground was made of gold. The trees were made of jewels; the lotus pond, palaces, and castles were all extremely beautiful and enchanting. This world was the exact duplicate of the vision he had seen years ago in his rice-soup. As the Great Master entered the temple and came to the large hall where the Dharma was taught, he saw Manjusri Maha-Bodhisattva in the West (represents Wisdom) and Samantabhadra Maha-Bodhisattva in the East (represents wholesome conducts). Both Maha-Bodhisattvas were sitting on beautiful precious thrones high above, preaching the Dharma to ten thousand Bodhisattvas as they sat silently below to listen. Great Master Fa-Chao stepped forward to prostrate himself sincerely to the Maha-Bodhisattvas. He then knelt down and asked the following: “Dear the Great Saints, all unenlightened beings and I of this Dharma Ending Age have been separated from the Buddha for a long time now, we are bound by heavy and deep-rooted karma as well as lacking wisdom; thus even though having the Buddha Nature within us, we do not know how to reveal it. The Buddha Dharma is too vast and great making it very difficult to be certain which Dharma Door is essential to cultivate to gain enlightenment quickly?” Manjusri Maha-Bodhisattva told him: “This period is truly the proper time for you to practice Buddha Recitation . In all the Ways or Dharma Doors of cultivation, nothing surpasses the practice of Buddha Recitation to accumulate merits and wisdom. In the past, relying on the practice of envisioning Buddha, reciting Buddha, and making offerings to the Triple Jewels, I was able to achieve the Great Perfect Wisdom or Maha-Prajna Wisdom. All the other Dharmas such as Maha-Prajna Paramita, the various deep and vast doors of Zen Meditation, including all the Buddhas themselves originated and came about by reciting Buddha. Therefore, you must know 'Buddha Recitation is the King of all Dharma Doors.'” Great Maste Fa-Chao continued to ask: “Dear the Great saint, how should I recite?” Manjusri Maha-Bodhisattva taught: “To the West of this world, there exists a Buddha named Amitabha who rules over the Ultimate Bliss World. That Lokanatha has an unimaginably great vow power. You should often and diligently recite His Name continuously without interruption; once death arrives, you are guaranteed to gain rebirth and will no longer regress from attaining Buddhahood.” After speaking, the two Maha-Bodhisattvas simultaneously used their golden hands to rub the Great Master Fa-Chao's head, saying: “Through your practice of Buddha Recitation, it will not be much longer before you will attain the Ultimate Enlightenment of Buddhahood. If any good man or faithful woman wishes to become a Buddha, there is nothing that surpasses cultivating Buddha Recitation. Such an individual is guaranteed to achieve the state of 'Ultimate and Perfect Enlightenment of Buddhahood.'” After receiving this prophecy from the two Great Saints, Great Master Fa-Chao felt contented. He then prostrated himself to them and then withdrew slowly from the assembly. The two young people from before followed behind to escort him out. As soon as he stepped outside the temple gate, when he turned around, both people and the landscape had vanished completely. He quickly assembled a rock to make a reference of the area and then returned to the Buddha's Light Temple. On April thirteenth, he and over fifty other Bhiksus came to the “Diamond Cave” to”prostrate sincerely the virtuous names of thirty-five past Buddhas. They had just completed ten prostrations when suddenly they saw the Diamond Cave transformed into its full appearance. The cave was large, tranquil, and enchantingl in it were Manjusri and Samantabhadra Maha-Bodhisattvas. On another occasion, he came to the Diamond Cave alone, prostrated himself to the ground as he prayed to witness the Great Saints. As he lifted his head from the ground after a prostration, he suddenly saw a Brahman Monk who introduced himself as Buddhabhallika. This Buddhist Master escorted the Great Master into a great and anchanting temple; the sign read: “Vajra Prajna Temple.” The inside was formed entirely of various rare, precious gems and jewels. The light reflecting from these priceless treasures reflected on one another and brilliantly radiated throughout. Despite many times witnessing these miraculous and metaphysical worlds, he did not once mention it to anyone. In December of that year, at the Avatamsaka Temple, he retreated and went on a fast for a pre-determined period in order to practice Buddha Recitation vowing to gain rebirth to the Ultimate Bliss Pureland. In the morning of the seventh day, deeply engaged in Buddha Recitation, suddenly he saw a Brahman Monk who said as he came in: “You have seen the greatly enlightened world within Wu-Tai-Shan Mountain, why have you not recounted what you saw so others will also know of it?” After speaking, the Brahman Monk disappeared. The next day, while reciting Buddha's name, the same Saintly Master once again made his appearance saying exactly what he had said previously. Great Master Fa-Chao replied: “It is not that I dare to hide the living areas of the enlightened saints, but I am just afraid if I tell of it, people will not believe but criticize and ridicule me.” The Brahman Monk said: “Even the Great Saint Manjusri currently living in this mountain is often degraded by people, what reason do you have to worry? You should recount the worlds you have witnessed to sentient beings so they will lay a foundation for those who hear and know of these worlds; perhaps it will help them develop their minds to want to attain the Ultimate Enlightenment of Buddhahood.” Great Master Fa-Chao followed these instructions as he tried to remember carefully all the details of what he had seen and then wrote them down to pass out to everyone to read. In the next year, a Buddhist Master named Hui-Tsuy of Jiang-Tung region as well as the Sangha of the Avatamsaka Temple followed Great Master Fa-Chao to the Diamond Cave to prostrate to the Buddha. Thereafter, they came to the rock formation the Great Master had built earlier to admire the sight. They prayed for a miracle, but felt sad because nothing happened. But then suddenly they heard sounds of bells resonating from the mountain walls. The ringing sounds were peaceful, enchanting, and harmonious. Everyone was overwhelmed with joy and all accepted what the Great Master Fa-Chao had said before was true. Because they wanted for everyone who visited this sight to develop a faithful mind, they used this opportunity to inscribe on the mountain wall the events the Great Master had seen and heard to pass down to future generations. Eventually, a beautiful temple was built at this site as a memorial, also using the title “Bamboo Grove Temple.” During the reign of Emperor T'ang-Te-Tsung, Great Master Fa-Chao opened five consecutive Budha Recitation Congregations at the Tinh-Chou region. For this reason, people of the day called him “Five Buddha Recitations Dharma Master.” From then on, the Great Master cultivated with vigor, day and night he was never lazy or late in getting to his practice. Then one day, he once again saw the Brahman Monk, as Buddhabhallika Master appeared to tell him: “Your lotus flower of virtues and merits in the lake of seven jewels of the Ultimate Bliss World is now complete. Three years from now your flower will blossom, prepare yourself." ”When that time arrived, Great Master Fa-Chao gathered his disciples as he advised and instructed them: “I will now go to the Ultimate Bliss World, those remaining behind must be diligent in their cultivation.” After speaking, the great master sat up perfectly, put his palms together, and peacefully entered Nirvana.

pháp chu

(法舟) Thuyền pháp, tức dùng thuyền bè ví dụ Phật pháp có công năng đưa chúng sinh qua biển sinh tử, nên gọi là Pháp chu.

pháp chung cùng

(cộng pháp) và pháp không chung cùng (bất cộng pháp). Pháp chung cùng là chỉ sự chung cùng với hàng Nhị thừa, tức là những pháp mà Bồ Tát và các vị Thanh văn, Duyên giác cùng tu tập. Pháp không chung cùng là những pháp mà chỉ có hàng Bồ Tát tu tập, còn Thanh văn, Duyên giác thì hoàn toàn không có được. Xem Mười tám pháp không chung cùng với hai thừa.

pháp châu

Thuyền Phật pháp có thể chở người ta ra khỏi biển sanh tử luân hồi để đến cõi Niết Bàn—The barque of the Buddha-truth which ferries men out from the sea of mortality and reincarnation to nirvana.

pháp chúng

Tăng lữ Phật Giáo hay một chúng hội Tăng hoặc Ni—The Buddhist monkhood; an assembly of monks or nuns. ; (法衆) I. Pháp Chúng. Từ ngữ gọi chung 5 chúng xuất gia. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 (Đại 54, 205 thượng) nói: Nếu vì những người tại gia thì chỉ nói sơ lược về 5 giới cấm, còn đối với hàng Pháp chúng thì nói rộng về 7 thiên. II. Pháp Chúng (?-?) Tên vị tăng dịch kinh người nước Cao xương ở thời đại Đông Tấn. Cứ theo Xuất tam tạng kí tập quyển 2, thì vào thời vua An đế (ở ngôi 397-417) nhà Đông Tấn, sư từng dịch kinh Phương đẳng đàn đặc đà la ni 4 quyển.

Pháp chấp

法執; C: făzhí; J: hōshū; |1. »Chấp trước vào (thực tại của) các pháp (s: dharma-grāha)«. Tin rằng dù Ngã (我) là giả hợp của ngũ uẩn, nhưng sự hiện hữu của các pháp (法) lại là một hiện thật có tự tính. Các kinh luận của Du-già hành tông chủ trương rằng hành giả pháp tu Nhị thừa có thể giải trừ chấp trước vào ý niệm về một cái ngã thường hằng và có sẵn, nhưng họ không thể nhận thức được sự chấp trước (một cách vô ý của chính họ) vào sự hiện hữu các pháp (法). Hàng Bồ Tát, nhận thức được thực tế các pháp (法) không có tự tính thường hằng, nên thoát khỏi sở tri chướng (所知障). Còn được gọi là pháp ngã chấp(法我執).|2. Chấp trước vào giáo lí. Bám chắc vào Phật pháp (s: dharma-grāha). Đồng nghĩa với Pháp phọc (法縛).

pháp chấp

Tất cả sự vật trong vũ trụ do cảm giác tư duy của bộ óc nhận thức được đều chấp là pháp thật, gọi là pháp chấp. ; Chấp vào ý niệm chư pháp hay hiện tượng là có thật. Đây là một ảo tưởng—Holding (bonding) on the concept that of the reality of dharma, things or phenomena (holding to things as realities or false tenet that things are real). This holding is an illusion. ; (法執) Cũng gọi: Pháp ngã chấp, Pháp ngã kiến. Gọi tắt: Pháp ngã, Giả danh ngã. Đối lại: Ngã chấp. Chấp trước các pháp tồn tại có thực thể cố định bất biến. Còn chấp trước con người có bản chất tồn tại, có thực thể cố định bất biến, thì gọi là Ngã chấp. Hai thứ kiến giải trên đều thuộc mê vọng. Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương con người chẳng phải có thực, chỉ có pháp là thực có, đó gọi là Pháp ngã chấp. Còn Đại thừa thì cho rằng các pháp đều do nhân duyên sinh, không thực có tự tính, chủ trương có ngã pháp chỉ là tà chấp, do đó, Đại thừa đề xướng Pháp vô ngã, Pháp không. Luận Thành duy thức quyển 2 chia Pháp chấp làm 2 loại: 1. Câu sinh pháp chấp: Do nhân hư vọng huân tập ở bên trong từ vô thủy đến nay, nên Pháp chấp có cùng 1 lúc với thân (câu sinh), chứ không phải đợi tà giáo và tà phân biệt mới có. Câu sinh ngã chấp lại chia làm 2 thứ là Thường tương tục và Hữu gián đoạn: a) Thường tương tục: Thức Mạt na thứ 7 duyên theo thức A lại da thứ 8 mà khởi tướng tự tâm, rồi chấp là thực pháp. b) Hữu gián đoạn: Thức thứ 6 duyên theo uẩn, xứ, giới do thức biến hiện mà khởi tướng tự tâm, rồi chấp là thực pháp. 2. Phân biệt pháp chấp: Do những duyên hiện tại ở bên ngoài như tà giáo và tà phân biệt mà khởi lên pháp chấp. Phân biệt pháp chấp cũng có 2 thứ: a. Duyên theo tướng của uẩn, xứ, giới do tà giáo nói mà khởi lên tướng của tự tâm, rồi phân biệt, tính toán, so đo mà chấp làm thực pháp. b. Duyên theo tướng của tự tính: Do tà giáo nói mà khởi lên tướng của tự tâm, rồi phân biệt, tính toán, so đo mà chấp làm thực pháp. Trong 2 loại Pháp chấp nói trên, thì Câu sinh pháp chấp đến giai vị Tu đạo mới diệt trừ được; còn Phân biệt pháp chấp thì đến giai vị Kiến đạo mới đoạn trừ được. Ngoài ra, ngài Hộ pháp cho rằng Pháp chấp chỉ có ở 2 thức thứ 6 và thứ 7, nhưng ngài An tuệ thì chủ trương chỉ có thức thứ 7 là không có Pháp chấp, còn 7 thức kia (tức 5 thức trước, thức thứ 6 và thức thứ 8) thì đều có Pháp chấp. [X. luận Đại tì bà sa Q.9; luận Thành duy thức Q.5; luận Nhiếp đại thừa Q.7 (bản dịch đời Lương); luận Du già sư địa Q.74;Thành duy thức luận thuật kí Q.1, 2, phần cuối]. (xt. Nhị Chấp, Ngã Chấp).

pháp chế

Law.

pháp chủ

Buddha—Dharma-lord. ; (法主) I. Pháp Chủ. Người đứng đầu trong Phật pháp. Vốn là danh từ tôn xưng đức Phật, về sau được chuyển dụng để chỉ cho người đứng đầu trong pháp hội nói pháp. Kinh Đại không trong Trung a hàm quyển 49 (Đại 1, 739 trung) nói: Thế tôn là Pháp bản (gốc của pháp), Thế tôn là Pháp chủ. Pháp là do đức Thế tôn mà có. Tại Nhật bản, thời cận đại, những vị đứng đầu trong các tông phái Phật giáo đều được gọi là Pháp chủ (hoặc Quản trưởng, Môn chủ). [X. kinh Tạp a hàm Q.1; Thắng man bảo quật Q.trung, phần cuối]. II. Pháp Chủ. Một chức Tăng quan ở thời đại Nam Bắc triều, Trung quốc. Chức Pháp chủ ở đây chỉ trông nom công việc của 1 ngôi chùa. Như vua Vũ đế nhà Tống thỉnh sa môn Đạo du vào thuyết pháp trong nội cung, rồi ban sắc cho làm Pháp chủ của chùa Tân an. Đồng thời, ban sắc cho ngài Pháp viện làm Pháp chủ chùa Tương cung. [X. truyện Đạo du trong Lương cao tăng truyện Q.7; truyện Pháp viện trong Lương cao tăng truyện Q.8; Phật tổ thống kỉ Q.36]. III. Pháp Chủ. Chỉ cho người chủ trì trong Pháp hội.

pháp cung dưỡng

(法供養) I. Pháp Cúng Dường. Cũng gọi Pháp cúng. Một trong 3 thứ cúng dường. Đức Phật nói pháp, chúng sinh tùy theo căn cơ nghe rồi tin hiểu, tu hành thực tiễn, nuôi lớn các thiện căn, giữ gìn chính pháp và nói lại cho mọi người nghe, gọi là Pháp cúng dường. Phẩm Phổ hiền hành nguyện trong kinh Hoa nghiêm quyển 40 (Đại 10, 845 thượng) nói: Thiện nam tử! Trong các thứ cúng dường, cúng dường pháp là hơn hết. II. Pháp Cúng Dường. Cúng dường pháp là cúng dường Pháp bảo trong Tam bảo, tức là cúng dường giáo lí do đức Phật nói, hoặc cúng dường kinh điển.

pháp cách sùng bái

(法格崇拜) Phạm: Dharma Ràja Pùjà. Chỉ cho 1 dòng Phật giáo ở Ấn độ sùng bái pháp Không của Bát nhã. Vào đầu thời đại Vương triều Ba la (Phạm: Pàla), từ thế kỉ IX đến thế kỉ XII, Phật giáo Ấn độ chia thành 2 dòng Quí tộc và Bình dân. Dòng Quí tộc lấy tư tưởng Bát nhã làm trung tâm, còn dòng Bình dân thì nghiêng về các pháp tu Mật giáo như Kim cương thừa (Phạm: Vajra-yàna), Thời luân thừa (Phạm: Kàlacakra-yàna), Dị hành thừa (Phạm: Sahaja-yàna) Tu nghiệm đạo v.v... Nhưng vua Pháp hộ (Phạm: Dharmapàla, ở ngôi 780-815) thì cực lực bài xích Mật giáo tả đạo và chủ trương hoằng dương tư tưởng Bát nhã, đồng thời, dốc sức vào việc phổ biến hóa Phật giáo. Cứ theo tác phẩm Không phú lan na (Phạm:Zùnya Pràịa) của ngài Ramai cho biết, thì Pháp cách sùng bái phát sinh sau thời vua Pháp hộ vào khoảng thế kỉ X. Nhưng, vào thế kỉ VIII, người Hồi giáo từng xâm lăng Ấn độ, rồi đến đầu thế kỉ XII lại xâm lăng 1 lần nữa, lần này họ tiêu diệt vương triều Ba la, cực lực bài trừ Phật giáo, giết hại tăng ni, phá hoại các chùa viện ở vườn Lộc dã, ở Phật đà già da và Na lan đà. Trong hoàn cảnh bi đát ấy, để bảo tồn tín ngưỡng của mình, những người theo Pháp cách sùng bái phải thay hình đổi dạng thành những tín đồ của tông giáo Kì đặc giống như Ấn độ giáo. Qua những ngôn ngữ đượm sắc thái tư tưởng không của Bát nhã thấy rải rác trong tác phẩm Không phú lan na, mà người ta biết được rằng đây chính là 1 phái Phật giáo, không sai, mặc dầu trong ngôn ngữ chưa biểu hiện rõ họ là những tín đồ Phật giáo.Pháp cách sùng bái hiện nay vẫn còn tồn tại trong hạ tầng xã hội ở vùng tây nam Bengal. Những tín điều của họ được ghi chép bằng tiếng Phạm và tiếng Bengal. Bản tôn mà họ thờ cúng cũng là thần tượng kì lạ, hoặc là phiến đá, hoặc là 1 bình nước đầy, thường được đặt trong chùa, tháp, dưới gốc cây hay ở những chỗ đồng hoang. Khi lễ bái, trước hết, họ tẩy rửa tượng thần sạch sẽ, dâng đèn, hoa, hương, quả... Nghi thức cúng bái này cũng giống với nghi thức của Ấn độ giáo. Điểm về hướng đông. Ngoài ra, Pháp cách sùng bái mỗi năm tổ chức đại lễ 1 lần, họ tấu nhạc và ca múa rất tưng bừng trong suốt 12 ngày. [X. Ghanàrama s Dharma-Maígala; Manikganguli’s Dharma-Maígala; Ramai-Paịđita’s Dharma pùjàvidhàna; Ramacarita by H.P. Zàstrì; History of Bengalì Language and Literature by D.C. Sen].

pháp cái

(法蓋) Cũng gọi Thiên cái. Chỉ cho cái lọng dùng trong các pháp hội. Ở Trung quốc, lọng được làm bằng lụa, ở Nhật bản thì Pháp cái được làm bằng giấy dầu. Trong Thiền lâm, khi vị Tân trụ trì nhập viện, thị giả cầm lọng che trên đầu vị Tân trụ trì trên đường vào viện. Ngoài ra, khi pháp hội được cử hành ngoài trời, Pháp cái được dùng để che đầu của Đạo sư. [X. môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].

pháp cú

Dharmapada (skt)—See Kinh Pháp Cú.

Pháp cú kinh

法句經; C: făjù jīng; J: hokkukyō; S: dharma-pada; P: dhammapada;|Một phần kinh quan trọng thuộc Tiểu bộ kinh, gồm 423 bài kệ do Phật thuyết giảng. Kinh này được nhiều người hâm mộ, thuyết tụng, nhất là ở những nước theo Nam tông Phật pháp. Tại Tích Lan, tất cả những Tỉ-khâu đều thuộc lòng tất cả 423 bài kệ bằng tiếng Pā-li của kinh này.|Hai bài kệ đầu của kinh này đã gây ấn tượng cho không ít Phật tử:|*Tâm dẫn đầu các pháp,|Tâm là chủ tạo tác.|Nếu nói hay hành động|Với tâm niệm bất tịnh|Khổ não liền theo sau|Như xe theo bò vậy.|*Tâm dẫn đầu các pháp,|Tâm là chủ tạo tác.|Nếu nói hay hành động|Với tâm niệm thanh tịnh|An lạc liền theo sau|Như bóng chẳng rời hình.|(Bản dịch và thi hoá của Tịnh Minh)

pháp cú kinh

Dharmapada (skt)—See Kinh Pháp Cú. ; (法句經) Pàli: Dhamma-pada. Cũng gọi Pháp cú tập kinh, Pháp cú tập, Pháp cú lục, Đàm bát kinh, Đàm bát kệ. Kinh, 2 quyển, 39 phẩm, 752 bài tụng (nay có 758 bài tụng), do ngài Pháp cứu, người Ấn độ soạn, ngài Duy kì nan, người nước Ngô dịch vào thời Tam quốc (có thuyết cho rằng do các ngài Chi khiêm và Trúc tướng diệm dịch vào năm 224), được thu vào Đại chính tạng tập 4. Nội dung thu chép những bài kệ do đức Phật nói trong các kinh mà biên tập thành. Nguyên bản của kinh này có nhiều loại: Loại 1.000 bài tụng, 900 bài tụng, 700 bài tụng, 500 bài tụng v.v... Năm Hòa vũ thứ 3 (224) đời vua Tôn quyền nước Ngô, ngài Duy kì nan đem về 26 phẩm, 500 bài tụng, sau lại thêm vào 13 phẩm, thành 39 phẩm, 752 bài tụng. Kinh này hiện còn 4 bản khác là: -Kinh Pháp cú (Pàli: Dhamma-pada). -Phẩm Ưu đà na (Phạm:Udàna-varga, cũng gọi Ô đà nam phẩm). -Ched-du brjod-pa#i tshoms (bản dịch Tây tạng). -Kinh Pháp tập yếu tụng, 4 quyển, do ngài Thiên tức tai dịch vào đời Tống (thuộc hệ tiếng Phạm, được thu vào Đại chính tạng tập 4). Trong các bản trên, bản Pàli gồm 26 phẩm, 423 bài tụng (1 bài trùng lắp), rất giống với bản do ngài Duy kì nan thỉnh về Trung quốc. Về kinh Pháp cú viết bằng tiếng Phạm, theo Câu xá luận quang kí quyển 1, thì Ấn độ lưu hành bản Ưu đà nam do ngài Pháp cứu sưu tập. Năm 1892, ông F.Grenard đã phát hiện 1 phần bản tiếng Phạm ở vùng Hòa điền tại Tân cương viết trên vỏ cây hoa bằng chữ Khư lô sắt tra. Theo sự nghiên cứu của học giả người Pháp là ông É.Senart, thì sách này có thể đã được viết từ thế kỉ II trở về trước, được xem là bản kinh Phật viết tay xưa nhất hiện còn. Về sau, những đoạn kinh Phật bằng tiếng Phạm cũng liên tục được tìm thấy ở các vùng Khố xa, Đôn hoàng... Những đoạn kinh này được ông N.P.Chakravarti biên tập thành sách, đề là L’Udanavarga Sanskrit (Phẩm Ưu đà na tiếng Phạm) ấn hành 21 phẩm trước vào năm 1930. Bản dịch Tây tạng và kinh Pháp tập yếu tụng giống nhau, đều có 33 phẩm. Hai bản này chỉ có hơn 200 bài kệ giống với bảnPàli mà thôi. Ngoài ra, vào thời Tây Tấn, ngài Pháp cự và Pháp lập cùng dịch kinh Pháp cú thí dụ 4 quyển (thuộc hệ Pàli, được thu vào Đại chính tạng tập 4). Kinh này cũng gọi: Pháp dụ kinh, Pháp cú dụ kinh, Pháp cú bản mạt kinh, cũng chia làm 39 phẩm. Tích truyện Thí dụ của mỗi phẩm nêu ra 1 số kệ tụng trong kinh này để giải thích nhân duyên của tích truyện, tất cả có 68 loại thí dụ. Ngài Phật âm (Pàli: Buddha-ghosa) soạn Pháp cú kinh chú (Pàli: Dhammapadaỉỉhakathà) để giải thích nghĩa của 422 bài tụng trong kinh Pháp cú bằng tiếngPàli, đồng thời nói rõ nhân duyên của kinh này, tổng cộng có 299 loại thí dụ. Còn Ưu đà na phẩm chú giải (Tạng: Ched-du-brjod-pa#i tshoms-kyi rnampar#grel-pa) được thu vào A tì đạt ma bộ (Tạng: Míon-pa) trong Đan châu nhĩ (Tạng: Bstan-#gyur) của Đại tạng kinh Tây tạng và bản Hán dịch kinh Xuất diệu 30 quyển (thuộc hệ tiếng Phạm, được thu vào Đại chính tạng tập 4) đều là sách giải thích về nhân duyên thí dụ của phẩm Ưu đà na. Kinh Pháp cú là tác phẩm phản ánh sự thể nghiệm sâu sắc, đầy đủ về đời sống thực tiễn của con người, là cuốn sách nhập môn hay nhất của Phật giáo. Năm 1855, nhà học giả Đan mạch là ông V. Fausbôll đã xuất bản nguyên vănPàli và phụ thêm bản dịch. Đây là lần đầu tiên Phật giáo được giới thiệu với phương Tây, sau đó, được dịch sang các thứ tiếng Anh, Pháp, Đức. Rồi đến ông W. Rockhill dịch phẩm Ưu đà na tiếng Tây tạng sang tiếng Anh, ông Herman Beckh thì ấn hành nguyên văn Tây tạng, S.Beal dịch kinh Pháp cú thí dụ ra Anh văn. Tại Nhật bản thì năm 1915, phòng Nghiên cứu Triết học Ấn độ thuộc Văn khoa của trường Đại học Đế quốc ở Đông kinh ấn hành kinh Pháp cú đối chiếuPàli-Hán. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; luận Đại tì bà sa Q.1; Xuất tam tạng kí tập Q.7; truyện Duy kì nan trong Lương cao tăng truyện Q.1, Khai nguyên thích giáo lục Q.2; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.9, 10; A History ofPàli Literature by B.C. Law; Le Manuscrit kharowỉhì du Dhammapada (Journal asiatique 1898) par E. Senart; Bemerkungen zu dem Kharowỉhì- Manuskript des Dhammapada, par H. Lüders; Zum Manuskript Dutreme de Rhins (Zeitsch. Morgenl. Gesell; LX. 3. 1906) par O.Franke].

pháp cú thí dụ kinh

(法句譬喻經) Phạm: Dharmapadàvadàna-sùtra. Cũng gọi Pháp cú bản mạt kinh, Pháp cú dụ kinh, Pháp dụ kinh, Pháp cú thí kinh. Kinh, 4 quyển, do các ngài Pháp cự, Pháp lập cùng dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 4. Kinh này do gom chép khoảng 2 phần 3 số bài kệ của kinh Pháp cú rồi thêm vào những tích truyện thí dụ mà được tạo thành. Nội dung từ phẩm Vô thường đến phẩm Cát tường có tất cả 39 phẩm, mỗi phẩm ghi chép từ 1 đến 5 hoặc 6 truyện Thí dụ, đồng thời, nêu lên 1 số kệ tụng của kinh Pháp cú để giải thích nhân duyên của các truyện Thí dụ ấy. (xt. Pháp Cú Kinh).

pháp cúng dường

Dharmapuja (skt). 1) Pháp cúng dường bằng cách tin pháp, giảng pháp, bảo vệ pháp, tu tập tinh thần và hộ trì Phật giáo—Serving the dharma by believing it, explaining it, obeying it, keeping it, protecting it, cultivating the spiritual nature and assisting the Buddhism. 2) Theo kinh Duy Ma Cật, chương mười ba, phẩm Pháp Cúng Dường, do oai thần của Phật, một vị trời từ trên hư không nói với chúng Bồ Tát: “Nầy thiện nam tử! Pháp cúng dường là hơn hết trong các việc cúng dường.”—According to the Vimalakirti Sutra, chapter thirteen, the Offering of Dharma, under the influence of the Buddha's transcendental power a deva in the sky said to the Bodhisattvas: “Virtuous man, the offering of Dharma surpasses all other forms of offering.” • Nguyệt Cái liền hỏi: “Sao gọi là Pháp cúng dường?”—Lunar Canopy asked: 'What is this offering of Dharma?' • Vị trời đáp: “Ông đến hỏi Đức Dược Vương Như Lai, Ngài sẽ nói rõ thế nào là Pháp cúng dường.”—The deva replied: 'Go to the Tathagata Bhaisajya who will explain it fully.' • Tức thì Nguyệt Cái vương tử đến chỗ Dược Vương Như Lai cúi đầu lễ dưới chân Phật, rồi đứng qua một bên bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Trong việc cúng dường, pháp cúng dường là hơn hết. Thế nào gọi là Pháp cúng dường?”—Thereupon, Lunar Canopy came to the Tathagata Bhaisajya, bowed his head at his feet and stood at his side, asking: 'World Honoured One, (I have heard that) the offering of Dharma surpasses all other forms of offering; what is the offering of Dharma?' • Phật dạy rằng: “Thiện nam tử! Pháp cúng dường là kinh thâm diệu của chư Phật nói ra, tất cả trong đời khó tin khó nhận, nhiệm mầu khó thấy, thanh tịnh không nhiễm, không phải lấy suy nghĩ phân biệt mà biết được. Kinh nầy nhiếp về pháp tạng của Bồ Tát, ấn đà la ni, ấn đó cho đến bất thối chuyển, thành tựu lục độ, khéo phân biệt các nghĩa, thuận pháp Bồ Đề, trên hết các kinh, vào các đại từ bi, lìa các việc ma và các tà kiến, thuận pháp nhân duyên, không ngã, không nhơn, không chúng sanh, không thọ mạng, không vô tướng, vô tác, vô khởi, làm cho chúng sanh ngồi nơi đạo tràng mà chuyển pháp luân, chư Thiên, Long thần, Càn thát bà thảy đều ngợi khen, đưa chúng sanh vào pháp tạng của Phật, nhiếp tất cả trí tuệ của Hiền Thánh, diễn nói cách tu hành của Bồ Tát, nương theo nghĩa thực tướng của các pháp, tuyên bày các pháp vô thường, khổ, không, vô ngã, tịch diệt, cứu độ chúng sanh hủy phá giới cấm, làm cho tà ma ngoại đạo và người tham lam chấp trước đều sợ sệt, chư Phật, Hiền, Thánh đều ngợi khen, trái cái khổ sanh tử, chỉ cái vui Niết Bàn, chư Phật ba đời ở trong mười phương đều nói ra, nếu người nghe những kinh như thế mà tin hiểu, thọ trì, đọc tụng, dùng sức phương tiện phân biệt giải nói, chỉ bày rành rẽ cho chúng sanh, giữ gìn chánh pháp, đó gọi là Pháp cúng dường.”—“The Tathagata replied: 'Virtuous one, the offering of Dharma is preached by all Buddhas in profound sutras but it is hard for worldly men to believe and accept it as its meaning is subtle and not easily detected, for it is spotless in its purity and cleanness. It is beyond the reach of thinking and discriminating; it contains the treasury of the Bodhi-sattva's Dharma store and is sealed by the Dharani-symbol; it never backslides for it achieves the six perfections (paramitas), discerns the difference between various meanings, is in line with the bodhi Dharma, is at the top of all sutras, helps people to enter upon great kindness and great compassion, to keep from demons and perverse views, and to conform with the law of causality and the teaching on the unreality of an ego, a man, a living being and life and on voidness, formlessness, non-creating and non-uprising. It enables living beings to sit in a bodhimandala to turn the wheel of the law. It is praised and honoured by heavenly dragons, gandharvas, etc. It can help living beings to reach the Buddha's Dharma store and gather all knowledge (sarvajna realized by) saints and sages, preach the path followed by all Bodhisattvas, rely on the reality underlying all things, proclaim the (doctrine of) impermanence, suffering, voidness and absence of ego and nirvana. It can save all living beings who have broken the precepts and keep in awe all demons, heretics and greedy people. It is praised by the Buddhas, saints and sages for it wipes out suffering from birth and death, proclaims the joy in nirvana as preached by past, future and present Buddhas in the ten directions. “If a listener after hearing about this sutra, believes, understands, receives, upholds, reads and recites it and uses appropriate methods (upaya) to preach it clearly to others, this upholding of the Dharma is called the offering of Dharma. • Lại theo các pháp đúng như lời nói tu hành, tùy thuận 12 nhơn duyên, lìa tà kiến, được vô sanh nhẫn, quyết định không có ngã, không có chúng sanh, mà đối với quả báo nhơn duyên không trái không cãi, lìa các ngã sở, y theo nghĩa không y theo lời, y theo trí không y theo thức, y theo kinh liễu nghĩa không y theo kinh không liễu nghĩa, y theo pháp không y theo người, thuận theo pháp tướng, không chỗ vào, không chỗ về, vô minh diệt hết thời hành cũng diệt hết, cho đến sanh diệt hết thời lão tử cũng diệt hết, quán như thế thì 12 nhơn duyên không có tướng diệt, không có tướng khởi, đó gọi là Pháp cúng dường hơn hết.”—“Further, the practice of all Dharmas as preached, to keep in line with the doctrine of the twelve links in the chain of existence, to wipe out all heterodox views, to achieve the patient endurance of the uncreate (anutpatti-dharma-ksanti) (as beyond creation), to settle once for all the unreality of the ego and the non-existence of living beings, and to forsake all dualities of ego and its objects without deviation from and contradiction to the law of causality and retribution for good and evil; by trusting to the meaning rather than the letter, to wisdom rather than consciousness, to sutras revealing the whole truth rather than those of partial revelation; and to the Dharma instead of the man (i.e. the preacher); to conform with the twelve links in the chain of existence (nidanas) that have neither whence to come nor wither to go, beginning from ignorance (avidya) which is fundamentally non-existent, and conception (samskara) which is also basically unreal, down to birth (jati) which is fundamentally non-existent and old age and death (jaramarana) which are equally unreal. Thus contemplated, the twelve links in the chain of existence are inexhaustible, thereby putting an end to the (wrong) view of annihilation. This is the unsurpassed offering of Dharma.”

pháp cảnh

(法境) Cũng gọi Pháp xứ, Pháp giới. Đối tượng của các giác quan, 1 trong 6 cảnh. Thông thường chỉ cho tất cả pháp, tức toàn thể 6 cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, hoặc đặc biệt chỉ cho đối tượng của ý thức. (xt. Lục Cảnh).

pháp cổ

Tiếng trống thúc quân được đem ví với tiếng Phật thuyết pháp khuyên răn đại chúng tiến lên làm việc công đức—The drum of the law which stiring all to advance in virtue. ; (法鼓) I. Pháp Cổ. Trống pháp. Ví dụ Phật pháp có năng lực khuyên bảo chúng sinh làm các việc thiện, giống như tiếng trống trong quân ngũ có công năng thôi thúc binh lính tiến lên, cho nên gọi là Pháp cổ. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa (Đại 9, 3 hạ) nói: Thổi pháp loa lớn, đánh pháp cổ lớn. [X. kinh Đại tập Q.56; kinh Vô lượng thọ Q.thượng]. II. Pháp Cổ. Chỉ cho quả trống lớn được sử dụng trong các chùa viện Thiền tông. Tại Pháp đường đặt 2 trống, trống ở góc đông bắc gọi là Pháp cổ; trống ở góc tây bắc gọi là Trà cổ. Pháp cổ dùng để thông báo cho đại chúng biết trước khi pháp hội được cử hành, hoặc thông báo giờ vị Trụ trì thướng đường, tiểu tham, phổ thuyết, nhập thất v.v... [X. môn Bái khí trong Thiền lâm tượng khí tiên].

pháp cụ

(法具) Cũng gọi Đạo cụ, Phật cụ, Tăng cụ. Chỉ cho những vật dụng cần thiết cho việc tu học Phật đạo, tức như 3 áo, 6 vật của tỉ khưu cho đến kiền chùy, thẻ, tích trượng, bình, tràng hạt, phất trần, quạt v.v... Ngoài ra, Pháp cụ cũng chỉ chung cho những vật được dùng trong các pháp tu của Mật giáo, như lò hương, cây đèn, tràng hạt, tràng hoa, phan, phướn, chuông, khánh v.v... [X. Cổ sự loại uyển tông giáo bộ]. (xt. Pháp Khí).

Pháp Cứu

法救; C: făjiù; J: hokku; S: dharmatrāta.|Phiên âm là Đạt-ma-đa-la (達摩多羅). Sơ Tổ của Nhất thiết hữu bộ Ấn Độ, có lẽ đã sống vào khoảng thế kỉ thứ 2. Sư cho rằng chúng sinh trong 3 cõi đều thật sự hiện hữu và đều khác biệt lẫn nhau.|Có sự lẫn lộn với một vị tên Dharmatrāta khác, sống vào khoảng thế kỉ thứ tư, và cũng thuộc Nhất thiết hữu bộ. Sư được xem là tác giả của Tạp A-tì-đàm tâm luận (雜阿毘曇心論).

pháp cự

Đuốc pháp—The torch of Buddhism. ; (法炬) Cao tăng Trung quốc, sống vào cuối đời Tây Tấn. Năm Vĩnh gia thứ 2 (308), khi ngài Trúc pháp hộ dịch kinh Phổ diệu thì sư làm Bút thụ để ghi chép. Ngoài ra, sư còn dịch kinh Lâu thán, kinh Đại phương đẳng Như lai tạng và cùng dịch với sư Pháp lập kinh Pháp cú thí dụ và kinh Phúc điền. Những bộ Kinh lục sau Lịch đại tam bảo kỉ như: Khai nguyên thích giáo lục, Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục... đều cho rằng, sau khi ngài Pháp lập thị tịch, một mình sư dịch hơn 130 bộ kinh điển, nhưng trong Xuất tam tạng kí tập thì không thấy ghi việc này.

Pháp Danh

(法名): tên gọi do người Phật tử thọ trì sau khi quy y Phật Giáo, còn gọi là Pháp Hiệu (法號), Pháp Húy (法諱), Giới Danh (戒名). Đối với tăng lữ, đây là tên gọi do vị thầy ban cho sau khi cử hành lễ xuất gia. Đối với người Phật tử tại gia, đây là tên gọi được ban cho sau khi quy y, thọ giới, hay khi tiến hành tang lễ. Pháp Danh còn là biểu tượng thiêng liêng đánh dấu bước thay đổi cuộc sống tâm linh của người Phật tử khi thật sự bước chân vào Đạo. Đối với thế tục, khi con người mới sinh ra được cha mẹ đặt cho cái tên, đó là Tục Danh (俗名); khi vị ấy chuyển hóa tâm thức, quyết định quy y theo Phật Giáo, có nghĩa là được sanh ra lần thứ hai; tên gọi lúc này là Pháp Danh. Nó thể hiện việc xuất gia hay quy y trở thành đệ tử của đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Śākyamuni, p: Sakyamuni,釋迦牟尼); cho nên đối với người xuất gia, thường có chữ “Thích (釋)” đi theo với Pháp Danh như Thích Từ Thiện (釋慈善), v.v. Về phía Phật tử tại gia, do có khác nhau về giới tính, tuổi tác; vì vậy sau Pháp Danh thường có thêm các danh hiệu khác như Cư Sĩ (居士), Tín Sĩ (信士), Đại Tỷ (大姉), Tín Nữ (信女), Đồng Tử (童子), Đồng Nữ (童女), v.v.; như Thanh Liên Cư Sĩ (青蓮居士), Chân Tâm Tín Nữ (眞心信女), v.v. Đối với truyền thống đang hiện hành của Việt Nam, Pháp Danh có 2 chữ; chư Tăng xuất gia thường có chữ “Thích” trước Pháp Danh, như Thích Huệ Học (釋惠學), v.v.; chư Ni xuất gia thường có chữ “Thích Nữ (釋女)” trước Pháp Danh, như Thích Nữ Huệ Học (釋女惠學), v.v. Cách đặt Pháp Danh được tuân theo thứ tự của các chữ trong các bài kệ do chư vị tổ đức thuộc dòng phái đặt ra. Như Môn Phái Thập Tháp Di Đà ở Bình Định dùng bài kệ của Thiền Sư Vạn Phong Thời Ủy: “Tổ đạo giới định tông, phương quảng chứng viên thông, hành siêu minh thật tế, liễu đạt ngộ chơn không, như nhật quang thường chiếu, phổ châu lợi nhân thiên, tín hương sanh phước tuệ, tương kế chấn từ phong (祖道戒定宗、方廣證圓通、行超明寔際、了達悟眞空、如日光常照、普周利人天、信香生福慧、相繼振慈風).” Trong khi đó, Môn Phái Liễu Quán tại Huế thì đặt Pháp Danh theo bài kệ của Tổ Sư Thật Diệu Liễu Quán (實妙了觀, 1670-1742): “Thật tế đại đạo, tánh hải thanh trừng, tâm nguyên quảng nhuận, đức bổn từ phong, giới định phước tuệ, thể dụng viên thông, vĩnh siêu trí quả, mật khế thành công, truyền trì diệu lý, diễn sướng chánh tông, hành giải tương ưng, đạt ngộ chơn không (實際大道、性海清澄、心源廣潤、德本慈風、戒定福慧、體用圓通、永超智果、密契成功、傳持妙里、演暢正宗、行解相應、達悟眞空).” Môn Phái Quốc Ân có bài kệ của Tổ Đạo Mân rằng: “Đạo bổn nguyên thành Phật tổ tiên, minh như hồng nhật lệ trung thiên, linh nguyên quảng nhuận từ phong phổ, chiếu thế chơn đăng vạn cổ huyền (道本原成佛祖先、明如紅日麗中天、靈源廣潤慈風溥、照世眞燈萬古懸).” Tại Quảng Nam, Dòng Chúc Thánh thì dùng bài kệ truyền thừa pháp phái của Tổ Minh Hải Pháp Bảo: “Minh thật pháp toàn chương, ấn chơn như thị đồng, chúc thánh thọ thiên cữu, kỳ quốc tộ địa trường, đắc chánh luật vi tuyên, tổ đạo hành giải thông, giác hoa Bồ Ðề thọ, sung mãn nhân thiên trung (明寔法全章、印眞如是同、祝聖壽天久、祈國祚地長、得正律爲宣、祖道行解通、覺花菩提樹、充滿人天中).” Ngoài ra, còn một số bài kệ khác như bài của ngài Minh Hành Tại Toại ở miền Bắc: “Minh chân như bảo hải, kim tường phổ chiếu thông, chí đạo thành chánh quả, giác ngộ chứng chơn không (明眞如寶海、金祥普照通、至道成正果、覺悟證眞空).” Hay bài kệ của ngài Tri Giáo Nhất Cú: “Tịnh trí viên thông tông từ tánh, khoan giác đạo sanh thị chánh tâm, mật hạnh nhân đức xưng lương tuệ, đăng phổ chiếu hoằng pháp vĩnh trường (淨智圓通宗慈性、寬覺道生是正心、密行仁德稱良慧、燈普照宏法永長)”, v.v. Đặc biệt, việc đặt Pháp Danh ở Nhật Bản có nét đặc trưng hoàn toàn khác với các nước Phật Giáo Đại Thừa. Tùy theo tông phái khác nhau mà Pháp Danh cũng được đặt dưới nhiều hình thức khác nhau, dưới tên gọi là Giới Danh (戒名, kaimyō). Nhìn chung, Giới Danh của Nhật Bản được kết cấu bởi ít nhất 3 yếu tố: Viện Hiệu (院號, ingō) hay Viện Điện Hiệu (院殿號, indonogō), Đạo Hiệu (道號, dōgō) và Vị Hiệu (位號, igō). Viện Hiệu được dùng cho những người trong lúc sanh tiền có cống hiến to lớn đối với tự viện, Phật Giáo, xã hội. Tỷ dụ như lịch đại chư vị Tướng Quân dưới thời đại Thất Đinh (室町, Muromachi, 1392~1573) và Giang Hộ (江戸, Edo, 1600~1867) đều được đặt cho Viện Hiệu hay Viện Điện Hiệu; như trường hợp Tướng Quân Chức Điền Tín Tú (織田信秀, Oda Nobuhide, 1510-1551) có Giới Danh là Vạn Tùng Tự Đào Nham Đạo Kiến (萬松寺桃巖道見); Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Tình (足利義晴, Ashikaga Yoshiharu, 1511-1550) là Vạn Tùng Viện Hoa Sơn Đạo Chiếu (萬松院曄山道照), hay Tướng Quân Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga, 1534-1582) có Giới Danh đặc biệt là Tổng Kiến Viện Điện Tặng Đại Tướng Quốc Nhất Phẩm Thái Nham Tôn Nghi (總見院殿贈大相國一品泰巖尊儀), v.v. Vốn phát xuất từ Trung Quốc, được chư vị Thiền tăng truyền vào Nhật, Đạo Hiệu là một tên khác được đặt trước Pháp Danh; như Nhất Hưu Tông Thuần (一休宗純, Ikkyū Sōjun, 1394-1481) có Đạo Hiệu là Nhất Hưu. Trừ Luật Tông, Tịnh Độ Chơn Tông ra, các tông phái như Chơn Ngôn Tông, Thiên Thai Tông, Tịnh Độ Tông, Lâm Tế Tông, Tào Động Tông, Nhật Liên Tông đều dùng đến Đạo Hiệu này. Vị Hiệu là tên gọi được đặt sau cùng của Giới Danh để phân biệt về giới tính, tuổi tác, v.v. Đối với trường hợp thành nhân (người lớn), một số Vị Hiệu được dùng như Tín Sĩ (信士), Tín Nữ (信女), Thanh Tín Sĩ (清信士), Thanh Tín Nữ (清信女), Cư Sĩ (居士), Đại Tỷ (大姉), Đại Cư Sĩ (大居士), Thanh Đại Tỷ (清大姉), Thiền Định Môn (禪定門, dành cho chư Tăng), Thiền Định Ni (禪定尼, dành cho chư Ni). Đối với trường hợp các em nhỏ thì có Thủy Tử (水子, dùng cho các thai nhi bị lưu sản, sút sảo tảo sa); Anh Nhi (嬰兒) Anh Tử (嬰子), Anh Nữ (嬰女) dùng cho các trẻ nhỏ đang còn bú mẹ; Hài Tử (孩子), Hài Nữ (孩女) dùng cho các em nhỏ khoảng 2-3 tuổi; Đồng Tử (童子), Đồng Nữ (童女) dùng cho các em từ 4-14 tuổi, v.v.

pháp danh

1) Pháp Danh: Tên trong đạo hay tên mà vị thầy đặt cho—Religious name—Buddha name which named by the master on the ordination. 2) Giới Danh: Từ được dùng bởi Chân Tông—The term chiefly used by the Shin Sect. ; (法名) Cũng gọi Pháp hiệu, Pháp húy, Giới danh. Tên trong Phật pháp. Chư tăng sau khi cử hành nghi thức cạo tóc xuất gia thì được sư phụ đặt cho tên riêng, khác với tên người thế tục (tục danh). Còn người tại gia thì lúc qui y thụ giới hoặc lúc làm lễ chôn cất cũng được chư tăng trao cho Pháp danh. Người được trao cho Pháp danh trong Phật giáo là chứng tỏ rằng người ấy đã là đệ tử xuất gia hoặc tại gia của đức Phật, sống theo nếp sống đạo hạnh, đúng với lời dạy của đức Phật, có như thế mới có lợi ích cho bản thân và làm rạng rỡ cho Phật pháp. [X. Quảng hoằng minh tập Q.27; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.9; Phật tổ lịch đại thông tải Q.10; Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí Q.2; môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên].

pháp dao

(法瑤) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Lưu Tống, người Hà đông, họ Dương. Thủa nhỏ sư rất ham học, đi muôn dặm tìm thầy, thông suốt các kinh và các sách vở khác. Khoảng năm Cảnh bình (423- 424), đời Lưu Tống, sư đi về Duyện dự ở miền Nam, rồi đến chùa Tiểu sơn tại Ngô hưng trụ trong 19 năm, nếu không vì Phật sự thì không ra khỏi cổng chùa. Mỗi năm, sư mở pháp hội giảng kinh 1 lần, người các nơi về tham học rất đông, sư Đàm bân là bậc học vấn nổi tiếng đương thời cũng theo sư nghiên cứu các kinh Nê hoàn, Thắng man... Năm Đại minh thứ 6 (462), sư vào Kinh đô, dừng nghỉ ở chùa Tân an. Tuy tuổi đã cao, nhưng sư vẫn sống đạm bạc, giới hạnh thanh bạch, chuyên cần thuyết giảng. Sư chủ trương Tiệm ngộ đối kháng với học thuyết đề xướng Đốn ngộ của ngài Trúc đạo sinh đương thời. Sư từng vâng sắc chỉ đến Kinh đô để cùng với sư Đạo du, đệ tử của ngài Đạo sinh, trình bày về nghĩa đốn tiệm.Khoảng năm Nguyên huy, sư thị tịch, hưởng thọ 76 tuổi. Sư có các tác phẩm: Niết bàn nghĩa sớ, Pháp hoa nghĩa sớ, Đại phẩm bát nhã nghĩa sớ, Thắng man nghĩa sớ.

pháp diên

(法筵) Chỉ cho nơi ngồi thuyết pháp. Kinh Lăng nghiêm quyển 1 (Đại 19, 106 trung) nói: Khi ấy, đức Như lai trải tòa ngồi, giảng nói pháp nghĩa sâu xa, đại chúng thanh tịnh trong pháp diên được nghe những điều chưa từng nghe. [X. điều Tôn túc nhập viện trong Thiền viện thanh qui Q.7].

pháp diễn

(法演) (?-1104) Thiền sư Trung quốc, thuộc phái Dương kì, tông Lâm tế, sống vào đời Bắc Tống, người Ba tây, Miên châu (nay là huyện Miên dương, tỉnh Tứ xuyên), họ Đặng. Năm 35 tuổi sư mới xuất gia thụ giới Cụ túc. Sau đó, sư đến Thành đô cầu học, sư học các luận Bách pháp, Duy thức và nghiên cứu nghĩa sâu xa của các bộ luận này. Một hôm, sư sinh ngờ vực đối với giáo môn, muốn thân chứng thể ngộ, nên vượt sông Hoài, sông Chiết xuống miền Nam, tham vấn khắp các bậc tôn túc về mối ngờ của mình, nhưng cuối cùng vẫn không phá vỡ được. Sư lại đến tham yết ngài Viên chiếu Tông bản, hỏi về những cổ tắc công án xưa nay, rồi lại tham vấn ngài Pháp viễn ở núi Phù sơn, sau đó, sư theo Thiền sư Bạch vân Thủ đoan, miệt mài tham cứu, bỗng nhiên triệt ngộ, được ấn khả. Sư vâng lời phân tòa, mở bày cho những người đến học. Mới đầu, sư trụ ở núi Tứ diện, sau dời đến núi Bạch vân. Về già, sư trụ ở núi Thái bình, sau lại dời đến chùa Đông thiền ở núi Ngũ tổ tại Kì châu. Ngày 25 tháng 6 năm Sùng ninh thứ 3 (1104), sư thướng đường từ biệt đồ chúng, cạo tóc, tắm gội sạch sẽ rồi thị tịch, thọ hơn 80 tuổi, người đời gọi sư là Ngũ Tổ Pháp Diễn. Sư có rất nhiều đệ tử nối pháp, nổi tiếng hơn là các vị: Phật nhãn Thanh viễn, Thái bình Tuệ cần và Viên ngộ Khắc cần, được gọi là Pháp Diễn Hạ Tam Phật(3 vị Phật dưới tòa Pháp diễn). [X. Pháp diễn thiền sư ngữ lục tự; Ngũ đăng hội nguyên Q.19; Liên đăng hội yếu Q.16; Thích thị kê cổ lược Q.4; Thiền học tư tưởng sử Q.hạ].

pháp diễn thiền sư

Fa-Yan (1024-1104)—Thiền Sư Pháp Diễn ở Ngũ Tổ sanh năm 1024, đệ tử của Thiền Sư Bạch Vân Thủ Đoan. Khởi đầu sư học triết lý Bách Pháp Luận của phái Duy Thức, ông đọc thấy câu nầy 'Khi Bồ Tát vào chỗ thấy đạo thì trí hay ý thức suy luận và lý hay tâm thể trực giác ngầm hợp nhau, cảnh hay ngoại giới và thần hay nội tâm gặp nhau, không còn phân biệt có chủ thể hay năng chứng và khách thể hay sở chứng nữa. Giới ngoại đạo Ấn Độ từng vấn nạn phái Duy Thức rằng đã không phân biệt năng chứng sở chứng thì làm sao có chứng. Các nhà Duy Thức không đáp được lời công kích ấy. Pháp sư Tam Tạng Huyền Trang lúc ấy đang ở Ấn Độ, đến cứu nguy phái Duy Thức bằng câu nói 'Như người uống nước, nóng lạnh tự biết.' Đọc câu ấy Pháp Diễn tự hỏi 'Nóng lạnh có thể biết được, vậy cái gì khiến ta tự biết.' Sư mang nỗi thắc mắc ấy đến hỏi các pháp sư thông thái của phái Duy Thức, nhưng không ai đáp được. Có người đáp: “Ông muốn rõ ý ấy hãy sang phương nam gõ cửa phái Thiền truyền Tâm ấn Phật.” Thế là rốt cùng Pháp Diễn đi đến với Thiền tông—Zen master was born in 1024, was a disciple of Bai-Yun-Shou-T'uan. He first studied the Yogacara school of Buddhist philosophy and came across the following passage, 'When the Bodhisattva enters on the path of knowledge, he finds that the discriminating intellect is identified with Reason, and that the objective world is fused with Intelligence, and there is no distinction to be made between the knowing and the known.' The anti-Yogacarians refuted this statement, saying that if the knowing is not distinguishing from the known, how is knowledge at all possible? The Yogacarians could not answer this criticism, when Hsuan-chang, who was at the time in India, interposed and saved his fellow-monks in the Yogacara. His answer was: “It is like drinking water; one knows by oneself whether it is cold or not.” When Fa-Yan read this answer, he questioned himself 'What is this that makes one know thus by oneself.' This was the way he started on his Zen tour, for his Yogacara friends, being philosophers, could not enlighten him, and he finally came to a Zen master for instruction. • Khi gặp Bạch Vân, Pháp Diễn hỏi Thủ Đoan về câu chuyện của Thiền Sư Nam Tuyền và Châu Ma Ni. Khi vừa dứt câu hỏi thì sư Bạch Vân Thủ Đoan liền nạt, ngang đây sư lãnh ngộ, bèn dâng bài kệ lên thầy “Sơn tiền nhất phiến nhàn điền địa Xoa thủ đinh ninh vân tổ tông Kỷ độ mãi lai hoàn tự mại Vị lân tùng trúc dẫn thanh phong.” (Trước núi một mảnh đất thong dong Tay chấp tận tình hỏi tổ tông Mấy thuở bán ra rồi mua lại Vui thay tùng trúc quyện thanh phong). —Upon meeting Bai-Yun, Fa-Yan inquired to him about a story concerning Nan-Xan and the Mani Jewel. Just when he finished asking this question, Bai-Yun-Shou-T'uan shouted at Fa-Yan, causing him to instantly attain enlightenment. Fa-Yan then thanked Bai-Yun-Shou-T''an by offering the following verse: “Before the mountain quietly lies a patch of farm. Repeatedly, with folded hands before my chest, I asked the elders. How often have you sold it and bought it back by yourself? I like the pines and bamboos that bring forth the cloudless wind. • Theo Pháp Diễn, Thiền là hành chứ không phải là lý luận hay nói. Do đó, ngài ít khi nói về Thiền trong các bài giảng của ngài. Một hôm sau khi nghe Viên Ngộ thuyết về Thiền, Pháp Diễn bèn quở nhẹ đệ tử là Phật Quả Viên Ngộ. Pháp Diễn nói: “Được lắm, nhưng có chút chưa ổn.” Viên Ngộ gạn hỏi hai ba lần về chút ấy là chút gì, rốt cùng Pháp Diễn mới nói: “Ông nói đến Thiền nhiều quá.” Viên Ngộ phản ứng lại: “Sao vậy? Học Thiền thì tự nhiên phải nói Thiền, sư phụ ghét là sao?” Ngũ Tổ Pháp Diễn nói: “Nếu ông nói như một cuộc nói chuyện thường ngày vậy là tốt hơn.” Một vị Tăng có mặt lúc ấy hỏi: “Tại sao Hòa Thượng lại ghét người ta nói đến Thiền chứ?” Pháp Diễn trả lời: “Vì nó làm cho ta bợn dạ.”—According to Fa-Yan, Zen is practical, not reasoning or talking. Thus, in all his preaching, he seldom talked about Zen. One day, after hearing Yuan-Wu, one of his disciples, taught about Zen, he told Yuan Wu: “You are all right, but you have a little fault.” Yuan-Wu asked two or three times what that fault was. The master said: “You have altogether too much of Zen.” Yuan-Wu protested: “If one is studying Zen at all, don't you think it the most natural thing for one to be talking of it? Why do you dislike it?” Fa-Yan replied: “When it is like an ordinary everyday conversation, it is somewhat better.” A monk happened to be there with them, asked: “Why do you specially hate talking about Zen?” Fa-Yan said: “Because it turns one's stomach.” • Ngày 25 tháng 6 năm 1104, sư thượng đường nói lời từ biệt với Tăng chúng: “Hòa Thượng Triệu Châu có lời cuối, các ông có nhớ không? Nói thử xem!” Khi không có ai trả lời, sư bèn nói: “Giàu hiềm ngàn miệng ít Nghèo hận một thân nhiều.” Nói xong sư nhắn mọi người: “Trân trọng!” Tối đêm đó sư thị tịch ---On the twenty-fifth day of the sixth month of 1104, Fa-Yan entered the hal and bade the monks farewell, saying: “Zhao-Chou had some final words. Do you remember them? Let's see if you can recite them!” When no one responded, Fa-Yan then recited Zhao-Chou's words: “Fortune few among the thousand But one has countless pains and sorrows.” Fa-Yan then said: “Take care!” Later that night Fa-Yan died.

pháp diễn thiền sư ngữ lục

(法演禪師語錄) Cũng gọi Ngũ tổ Pháp diễn thiền sư ngữ lục, Ngũ tổ lục. Ngữ lục, 3 quyển, do ngài Pháp diễn (?- 1104) soạn vào đời Bắc Tống, các vị Tài lương... biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này gồm các phần: Sơ trụ tứ diện sơn ngữ lục do ngài Tài lương biên tập, Thứ trụ Thái bình ngữ lục do ngài Thanh viễn biên tập, Thứ trụ Hải hội ngữ lục do ngài Cảnh thuần biên tập, Hoàng mai Đông sơn Diễn hòa thượng ngữ lục do ngài Duy khánh biên tập, kệ tụng, tán...Căn cứ vào bài tựa phụ lục mà biết được bộ Ngữ lục này được biên tập khoảng 10 năm trước khi ngài Pháp diễn thị tịch.

pháp diễn tứ giới

(法演四戒) Chỉ cho 4 đức mục lớn: Thế, Phúc, Qui củ và Hảo ngữ do Thiền sư Ngũ tổ Pháp diễn (?-1104) thuộc tông Lâm tế đề xướng. Đó là: Có thế lực không nên ỷ hết, có phúc không nên hưởng hết, có phép tắc không nên thi hành hết và có lời hay không nên nói hết. [X. Thiền uyển mông cầu Q.hạ].

pháp diệt

Sự tận diệt của Phật pháp, sau thời kỳ thứ ba của ba thời kỳ Chánh Tượng Mạt—The extinction of the Law, or Buddhism, after the third of the three stages. ** For more information, please Chánh Pháp, Tượng Pháp, and Mạt Pháp. ; (法滅) I. Pháp Diệt. Đồng nghĩa: Tam bảo diệt, Kinh đạo diệt tận, Bạch pháp ẩn trệ. Chỉ cho sự diệt vong của Phật pháp. Tức là sau khi đức Như lai nhập diệt, giáo pháp của Ngài tồn tại trải qua 3 thời kì: Chính pháp, Tượng pháp và Mạt pháp, sau đó dần dần diệt hết. (xt. Chính Tượng Mạt). II. Pháp Diệt. Chỉ cho quá trình hoại diệt của các pháp hữu vi. Hữu bộ của Tiểu thừa cho rằng, pháp thể của pháp hữu từ vị lai sinh đến hiện tại, rồi hoại diệt trong khoảng sát na để trở về quá khứ, quá trình pháp thể hoại diệt ấy gọi là Pháp diệt. Khi pháp thể sinh ra liền diệt ngay trong sát na ấy, thì gọi là Sát na diệt. Sát na diệt của pháp chẳng phải do bất cứ nguyên nhân nào, mà do chính bản chất của pháp xưa nay vốn là sát na diệt, đây gọi là Pháp diệt bất đãi nhân(Pháp diệt chẳng đợi nguyên nhân). Chỉ trừ Kinh lượng bộ, còn Tiểu thừa, Đại thừa đều chủ trương thuyết Sát na diệt này.

Pháp Dung

法融; C: fǎróng; J: hōyū; 594-657;|Thiền sư Trung Quốc, người sáng lập thiền phái Ngưu Ðầu. Sư là môn đệ của Tứ tổ Ðạo Tín.|Thuở nhỏ Sư theo học Nho giáo và năm 19 tuổi đã thông kinh sử. Vì không hài lòng với những gì đạt được, Sư chuyển qua tham học Phật pháp và đến núi Ngưu Ðầu ở trong hang đá gần chùa U Thê, ngày đêm tu tập thiền định. Ðạo hạnh của Sư cảm hoá được cả thú rừng nên chúng đem hoa quả đến cúng dường. Tổ Ðạo Tín nhân lúc qua đây xem khí tượng biết trên núi có bậc dị nhân, đích thân lên núi tìm Sư. Sư ngồi thiền không để ý đến ai. Tổ thấy thế bèn hỏi: »Ở đây làm gì?« Sư đáp: »Quán tâm.« Tổ hỏi: »Ai quán, tâm là vật gì?« Sư nghe không đáp được bèn đứng dậy làm lễ, hỏi và biết được Tổ là Thiền sư Ðạo Tín. Sư chỉ Tổ vào hang phía sau tạm nghỉ. Thấy thú dữ lăng xăng, Tổ ra vẻ sợ, Sư hỏi: »Ngài vẫn còn cái đó sao?« Tổ hỏi lại: »Cái đó là cái gì?« Sư không đáp được. Một lát sau, Tổ viết lên bàn toạ của Sư chữ »Phật« (佛). Sư trông thấy giật mình, Tổ hỏi: »Vẫn còn cái đó sao?« Sư nghe không hội bèn làm lễ cầu xin chỉ dạy. Tổ bèn dạy: »Phàm trăm ngàn pháp môn đồng về một tấc vuông. Diệu đức như hà sa thảy ở nơi nguồn tâm. Tất cả môn giới, định, huệ, thần thông biến hoá, cả thảy đều ở tâm ngươi… Không có tam giới có thể ra, không có Bồ-đề có thể cầu… Chỉ tâm ngươi tự tại, chớ khởi tham sân, chớ ôm lòng lo buồn, rỗng rang không ngại, mặc tính tung hoành, chẳng làm việc thiện, chẳng làm việc ác, đi đứng ngồi nằm, mắt thấy gặp duyên thảy đều là diệu dụng của Phật. Vì vui vẻ không lo buồn nên gọi là Phật.« Sư hỏi: »Tâm đã đầy đủ, cái gì là Phật? Cái gì là tâm?« Tổ đáp: »Chẳng phải tâm thì không hỏi Phật, hỏi Phật thì chính là tâm.« Sư hỏi: »Ðã không khởi quán hạnh, khi gặp cảnh khởi tâm làm sao đối trị?« Tổ đáp: »Cảnh duyên không tốt xấu, tốt xấu khởi nơi tâm, nếu tâm chẳng theo danh, vọng tình từ đâu khởi? Vọng tình đã chẳng khởi, chân tâm mặc tình biết khắp. Ngươi chỉ tuỳ tâm tự tại, chẳng cầu đối trị, tức gọi là Pháp thân thường trụ, không đổi thay.« Sư nhân đây đốn ngộ.|Sư trụ trì tại Ngưu Ðầu sơn, học chúng đến rất đông. Sau có vị quan thỉnh Sư đến chùa Kiến Sơ hoằng hoá. Sư nhận lời cầu thỉnh đến chùa Kiến Sơ nhưng chỉ một năm sau (657), ngày 23 tháng giêng, Sư viên tịch tại đây, thọ 64 tuổi, 41 tuổi hạ.

pháp dung

(法融) (594-657) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, là Tổ khai sáng tông Ngưu đầu, người Diên lăng, Nhuận châu (nay là huyện Trấn giang, tỉnh Giang tô), họ Vi. Năm 19 tuổi, sư thông suốt kinh, sử, tình cờ xem kinh Bát nhã, liền qui tín Phật pháp, rồi vào núi Mao sơn lễ Pháp sư Cảnh xin xuất gia. Trong 20 năm, sư chuyên cần tu tập, không hề trễ nải, thâm nhập được pháp môn vi diệu. Năm Trinh quán 17 (643), sư lập riêng 1 Thiền thất ở Nham hạ, phía bắc chùa U thê, núi Ngưu đầu, ẩn tu thiền quán, tăng chúng các nơi đến tham học có hơn trăm người. Tổ Đạo tín nghe tiếng sư, bèn đến trao cho sư pháp môn Đốn giáo do tổ Tăng xán truyền lại. Về sau, sư dùng núi này làm trung tâm của pháp hệ, gọi là tông Ngưu đầu, truyền đến ngài Tuệ trung thì ngưng, được tất cả 6 đời, gọi là Ngưu đầu lục tổ, cực thịnh 1 thời, đến đời Tống về sau thì suy dần. Năm Trinh quán 21 (647), sư giảng kinh Pháp hoa ở Nham hạ, cảm được trời mưa hoa báu. Năm Vĩnh huy thứ 3 (652), Ấp tể thỉnh sư đến chùa Kiếnsơ giảng kinh Đại phẩm bát nhã, mặt đất bỗng nhiên rúng động. Giảng xong, sư trở về núi. Tháng giêng năm Hiển khánh thứ 2 (657), sư thị tịch, thọ 64 tuổi. Đệ tử nối pháp là sư Trí nham. [X. Tục cao tăng truyện Q.26; Cảnh đức truyền đăng lục Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.39; Phật tổ lịch đại thông tải Q.12].

pháp dung thiền sư

Zen Master Pháp Dung. 1) Một trong những thiền sư sớm nhất của Trung Quốc, còn được gọi là Ngưu Đầu, lấy tên từ ngọn núi nơi ông sống. Pháp Dung là đệ tử của Tứ Tổ Đạo Tín; tuy nhiên, ông không được kế thừa Pháp. Do đó phái của ông không được thừa nhận—Fa-Yung (594-657), one of the earliest Chinese Zen masters. Fa-Yung is also called Niu-T'ou, named after the mountain on which he lived, founded the Niu-T'ou school. He was a student of T'ao-Hsin, the fourth patriarch of Chinese Ch'an; however, he was not confirmed as a dharma successor. Thus Niu-T'ou school was not among the acknowledged Ch'an schools. • Thời niên thiếu, Pháp Dung là một nhà Khổng học uyên bác, nhưng ông bị Phật giáo lôi cuốn và tập luyện thiền định. Cuối cùng ông lui về ngụ trong động trên núi Ngưu Đầu—In his younger years, he was a Confucian scholar. Nevertheless, he was attracted to Buddhism, and underwent Buddhist meditative training. Eventually he withdrew into a cave on Mount Niu-T'ou. • Theo Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, Đạo Tín linh cảm thấy một vị Thánh có sức mạnh tâm linh đang ngụ trên núi Ngưu Đầu, ngày ngày muôn chim đều mang hoa đến cúng dường, bèn quyết định đến thăm. Sau mấy hôm tìm kiếm, Đạo Tín tìm thấy Pháp Dung đang ngồi thiền định trên một tảng đá. Sau khi tự giới thiệu, Đạo Tín bỗng giựt mình khi nghe tiếng hổ gầm ở sườn núi. “Ta xem người vẫn chưa được giải thoát,” Pháp Dung nói, cố để cho Đạo Tín biết rằng mình vẫn còn những dấu vết ràng buộc với cái tôi. Một lát sau, khi Pháp Dung đứng lên từ chỗ tảng đá, Đạo Tín bèn viết chữ “Phật.” Khi Pháp Dung trở lại chỗ ngồi ấy, ông lùi lại chớ không dám ngồi lên chữ “Phật” nầy. Đạo Tín vừa nói vừa mỉm cười, “Ta xem người vẫn chưa được giải thoát.” Pháp Dung phản ứng một cách bối rối vì vướng phải những quan niệm Phật giáo chính thống. Ngài bèn yêu cầu Đạo Tín chỉ dạy cho mình, và Đạo Tín đã làm điều đó—According to the Ching-Te-Ch'uan-Teng-Lu, T'ao-Hsin sensed that there was a holy man of great power living on Mount Niu-T'ou, and birds brought all kinds of flowers to offer to him, so Tao-Hsin decided to go there to look for him. After searching for a few days, he found Fa-Yung on a cliff absorbed in meditation. Then suddenly T'ao-Hsin seemed to hear the roaring of a tiger reverberating from the cliff face, which startled him. “I see you're not rid of it yet.” Fa-Yung remarked, by which he certainly meant that T'ao-Hsin still showed traces of ego. A moment later, when Fa-Yung got up from his meditation, T'ao-Hsin inscribed the Chinese character for “Buddha” on the spot where he had been sitting. When Fa-Yung came back to take his place again, he in his turn was startled and unwilling to sit down on the sacred name. “I see you're not rid of it yet,” said T'ao-Hsin, smiling. Fa-Yung, who as shown by his reaction was still caught in orthodox Buddhist conceptions and did not understand this comment on the part of the fourth patriarch, asked him to instruct him in its deep meaning, which T'ao Hsin then did. • Người ta nói khi Đạo Tín đi khỏi đó, thì chim không còn mang hoa về cho Pháp Dung nữa, đó là dấu hiệu chứng tỏ ngài đã đạt tới đại giác sâu đến mức không còn để lại một dấu vết nào nữa—It is said that after T'ao-Hsin left Fa-Yung, no more birds brought (offered) flowers to Fa-Yung, a sign that his enlightenment now left no “traces.” • Về sau các môn đồ tụ tập lại quanh Pháp Dung, ông trình bày cho họ nghe về Phật Pháp theo lối hiểu của mình, do đó tạo thành trường phái Ngưu Đầu. Một nhà sư Nhật Bản tên Saichô đã đưa học thuyết nầy về Nhật, nhưng phái Ngưu Đầu không phát triển cả tại Trung Quốc lẫn Nhật Bản. Sau đó vài thế hệ thì tàn lụi—Later, disciples gathered around Fa-Yung and he taught them the Buddha-dharma in his style, thus founded the Niu-T'ou school of Ch'an. The teachings of this school were brought to Japan by the Japanese monk named Saichô. However, these teachings never became of major importance for the development of the Ch'an tradition either in China or Japan and died out after a few generations. 2) Zen Master Pháp Dung (?-1174)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Bối Lý, Bắc Việt. Ngài xuất gia làm đệ tử của Thiền sư Khánh Hỷ. Sau khi trở thành pháp tử đời thứ 15 của dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, ngài làm du Tăng đi hoằng hóa. Sau đó ngài trụ lại tại chùa Khai Giác trên núi Thứu Phong, rồi dời về núi Ma Ni ở Thanh Hóa khai sơn chùa Hương Nghiêm và trụ tại đây để hoằng pháp cho đến khi ngài thị tịch vào năm 1174—A Vietnamese Zen master from Bối Lý, North Vietnam. He left home and became a disciple of Zen master Khánh Hỷ. After becoming the dharma heir of the fifteenth generation of the Vinitaruci Zen Sect, he became a wandering monk to travel along the country to expand Buddhism. Later he stayed at Khai Giác Temple on Mount Thứu Phong, then moved to Mount Ma Ni in Thanh Hóa to build Hương Nghiêm temple and stayed there to revive and expand Buddhism until he passed away in 1174.

Pháp duyên

法縁; C: făyuàn; J: hōen; |1. Nhân duyên theo cách trình bày trong Phật pháp; 2. Nhân duyên xuất sinh các pháp, như từ bi và trí huệ.

pháp duyên

1) Nhân duyên trở thành một Phật tử: To become a Buddhist. 2) Từ Bi Pháp Duyên: Bi mẫn bố thí vì hiểu rõ pháp duyên (nhân tướng và ngã tướng)—Dharma-caused, i.e. the sense of universal altruism giving to pity and mercy. ; (法緣) I. Pháp Duyên. Nhân duyên sinh khởi hết thảy pháp. Kinh Đại bát niết bàn (bản Nam) quyển 14 (Đại 12, 694 hạ) nói: Không thấy cha mẹ, vợ con, thân thuộc, thấy hết thảy pháp đều từ nhân duyên sinh, đó gọi là Pháp duyên. [X. luận Đại trí độ Q.20]. II. Pháp Duyên. Kết duyên với Phật pháp, như qui y Tam bảo...III. Pháp Duyên. Đồng nghĩa: Pháp quyến. Chỉ cho anh em, con cháu thuộc cùng 1 pháp hệ. (xt. Pháp Quyến).

pháp duyên khởi

Dharmadhatu—Duyên khởi của mọi hiện tượng—Mọi vật đều tùy thuộc vào vật khác, do đó một trong tất cả và tất cả trong một—The environmental cause of all phenomena—Everthing is being dependent on everything else; therefore, one is in all and all is in one.

pháp duyệt

Pháp hỷ hay sự vui mừng khi nghe được pháp hay tự mình tư duy về pháp—Joy from hearing and meditating on the Law. ; (法悅) Đồng nghĩa: Pháp hỉ. Chỉ cho sự vui thích do lắng nghe hoặc tư duy về Phật pháp mà phát sinh. Kinh Quán Vô lượng thọ (Đại 12, 341 thượng) nói: Vì vua ăn miến mật và được nghe pháp, nên nét mặt tươi tắn, vui vẻ.

pháp dĩnh

(法穎) (416-482) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Nam Tề, người Đôn hoàng, họ Sách. Năm 13 tuổi, sư y vào ngài Pháp hương xuất gia ở chùa Công phủ tại Lương châu, gắng sức học luật và các kinh luận. Cuối năm Nguyên gia, sư đến chùa Tân đình ở Kim lăng, vua Hiếu vũ nhà Tống cử sư giữ chức Đô ấp Tăng chính. Sau, sư từ chức rồi về chùa Đa bảo. Sau khi lên ngôi, vua Cao đế nhà Tề lại ban sắc cử sư làm Tăng chủ. Năm 482 sư tịch, hưởng thọ 67 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Thập tụng tỉ khưu ni giới bản, Thập tụng luật yết ma tạp sự. [X. Lương cao tăng truyện Q.11].

pháp dũng

(法勇) Cũng gọi Đàm vô kiệt. Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Lưu Tống, người nước Hoàng long, U châu (nay là huyện Triêu dương, tỉnh Nhiệt hà), họ Lí. Sư xuất gia từ nhỏ, tu hành khổ hạnh, giữ giới, tụng kinh; sư thường nghe việc các ngài Pháp hiển, Bảo vân đi đến nước Phật nên lập thệ nguyện quên mình vì Phật pháp. Khoảng năm Vĩnh sơ (420-422), sư chiêu tập 25 vị đồng chí với mình là các ngài Tăng mãnh, Đàm lãng v.v... sắm các pháp cụ như phan, phướn để cúng dường, rồi phát xuất từ miền Bắc Trung quốc đi về hướng tây. Tại nước Kế tân, sư tìm được kinh Quan thế âm thụ kí bằng tiếng Phạm, sau khi về nước, sư dịch kinh này ở Dương châu. Cứ theo Lịch đại tam bảo kỉ quyển 10 thì sư đi Tây vực hơn 20 năm. Khoảng cuối năm Nguyên gia (424-453), sư đến Giang tả theo việc dịch kinh. Đồng thời, sư thuật lại các việc ở Tây vực mà soạn thành sách Ngoại quốc truyện 5 quyển. [X. Lương cao tăng truyện Q.3; Pháp uyển châu lâm Q.14, 65; Pháp kinh lục Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.5].

pháp dược

Diệu pháp có thể chữa lành phiền não cho chúng sanh—The medicine of the law (capable of healing all misery). ; (法藥) Thuốc pháp, vì Phật pháp có năng lực cứu chữa các bệnh khổ của chúng sinh nên gọi là Pháp dược. Kinh Quán đính quyển 12 (Đại 21, 532 hạ) nói: Nếu các thế giới trong 10 phương ở đời vị lai, có những người bị các khổ não bức bách mà không ai cứu hộ, thì ta sẽ ban cho pháp dược, khiến các tật bệnh được chữa lành, không còn lo khổ, đến được Phật đạo. Vãng sinh yếu tập quyển trung (Đại 48, 63 thượng) nói: Phật như thầy thuốc giỏi, pháp như phương thuốc hay (...). Nhưng nếu uống Pháp dược mà không giữ giới cấm, thì cũng chẳng có cách nào chữa khỏi được các bệnh khổ phiền não. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Đại bát niết bàn Q.4 (bản Bắc)].

Pháp dụ

法喩; C: făyú; J: hōyu; |Dùng để so sánh sự giống nhau trong giáo lí, đạo lí được truyền dạy (pháp 法) và ẩn dụ để diễn tả pháp ấy (dụ 喩, s: upamā-upameya).

pháp gia

Buddhism—See Pháp Môn.

Pháp giá

(法駕): tên một loại cỗ xe của thiên tử; tùy theo vị trí cao thấp của thiên tử mà có 3 loại: đại giá (大駕), pháp giá (法駕), tiểu giá (小駕); và cũng khác nhau về nghi thức hộ vệ, v.v. Như trong Sử Ký (史記), chương Lữ Thái Hậu Bổn Kỷ (呂太后本紀) có câu: “Nãi phụng thiên tử pháp giá, nghênh đại vương ư để (乃奉天子法駕、迎代王於邸, bèn vâng xa giá của thiên tử, đón đức vua ở tư gia).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 2, phần Phổ Biến Văn (普變文), cũng có câu: “Nghênh thỉnh thiên hiền vạn thánh, quy y Ngũ Nhãn Lục Thông, vọng pháp giá dĩ quang lâm, nhạ hương xa nhi hạ giáng (迎請千賢萬聖、歸依五眼六通、望法駕以光臨、迓香車而下降, đón thỉnh ngàn hiền vạn thánh, quy y Năm Nhãn Sáu Thông, mong xe pháp hãy quang lâm, rước xe hương mà giáng xuống).” Hoặc như trong Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1245) quyển 2, phần Tuần Liêu (巡寮), lại có câu: “Phục mông Hòa Thượng pháp giá phỏng lâm, hạ tình bất nhậm cảm kích chi chí (伏蒙和尚法駕訪臨、下情不任感激之至, cúi mong Hòa Thượng xe pháp đến thăm, chúng hạ tình thật cảm kích vô tận).”

pháp giáo

Buddhism—See Phật Giáo in Vietnamese-English Section and Buddhism in English-Vietnamese Section.

pháp giả

(法假) Nghĩa là các pháp do nhân duyên hòa hợp mà sinh, chỉ có cái tên giả chứ không có thực thể. (xt. Tam Giả Thi Thiết, Giả).

Pháp giới

(s: dharma-dhātu, p: dhamma-dhātu, 法界): chỉ cho sự vật vốn có của đối tượng duyên vào ý thức, là một trong 18 giới. A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (阿毘達磨俱舍論, Taishō Vol. 29, No. 1558) quyển 1 cho rằng Ba Uẩn Thọ (s, p: vedanā, 受), Tưởng (s: sañjā, p: saññā, 想), Hành (s: saṁkhāra, p: saṅkhāra, 行) cùng với Vô Biểu Sắc (s: avijñapti-rūpa, 無表色), Vô Vi Pháp (無爲法) được gọi là Pháp Giới; trong 12 Xứ thì gọi là Pháp Xứ (法處). Tuy nhiên trong 18 Giới, ngoài Pháp Giới ra, 17 giới kia được gọi là pháp; nên về nghĩa rộng thì Pháp Giới chỉ cho hết thảy các pháp Hữu Vi và Vô Vi. Về ngữ nghĩa mà nói, giới (界) có nghĩa là “chủng tộc sanh gốc”; tỷ dụ như trong núi tàng chứa các loại khoáng sản như vàng, bạc, v.v.; trong thân con người có đầy đủ các pháp mắt, tai, mũi, v.v., mỗi thứ đều tự tương tục mà sanh khởi. Hay giới còn có nghĩa là “chủng loại khác nhau”; tức là tự tánh của các pháp đều khác nhau. Trong Hoa Nghiêm Tông, Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Ký (華嚴經探玄記, Taishō Vol. 35, No. 1733) quyển 18 có nêu ra 3 nghĩa của Pháp Giới: (1) Là nhân sanh ra Thánh pháp, (2) Là thể tánh chân thật của các pháp, (3) Các pháp đều giữ sự phân chia đồng nhau, có thể phân biệt tướng trạng. Đồng thời, nương theo hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền mà nhập vào Pháp Giới, có 5 loại là Hữu Vi Pháp Giới (有爲法界), Vô Vi Pháp Giới (無爲法界), Pháp Giới vừa là Hữu Vi vừa là Vô Vi, Pháp Giới chẳng phải là Hữu Vi và cũng chẳng phải Vô Vi, và Vô Chướng Ngại Pháp Giới (無障礙法界, Pháp Giới không chướng ngại); và lập ra 5 loại sai biệt là Pháp Pháp Giới (法法界), Nhân Pháp Giới (人法界), Nhân Pháp Câu Dung Pháp Giới (人法俱融法界, Pháp Giới dung nhiếp của người và pháp), Nhân Pháp Câu Mẫn Pháp Giới (人法俱泯法界, Pháp Giới không có người và pháp), Vô Chướng Ngại Pháp Giới. Nếu quán từ hiện tượng và bản thể, có thể chia ra làm 4 nghĩa: gọi là Tứ Pháp Giới (四法界): (1) Pháp chỉ cho vạn pháp, giới là phân giới; các pháp đều vốn có tự thể mà phân giới bất đồng, bèn cấu thành trăm ngàn sai khác hiện tượng giới; đó gọi là Sự Pháp Giới (事法界). (2) Hiện tượng của các pháp tuy rất nhiều, nhưng thể tánh chân thật của nó thì thường trụ bất biến, bình đẳng nhất như, vượt qua cả ngôn ngữ, văn tự, là cảnh giới của Thánh trí vắng lặng; đó gọi là Lý Pháp Giới (理法界). (3) Hiện tượng giới và bản thế giới có mối quan hệ nhất thể không hai; mỗi một pháp của chúng, tương tức tương nhập, một với nhiều không ngăn ngại, tự nhiên viên dung; đó gọi là Lý Sự Vô Ngại Pháp Giới (理事無礙法界). (4) Hết thảy hiện tượng giới có tác dụng hỗ tương lẫn nhau, một là tất cả, tất cả là một, trùng trùng vô tận, sự sự vô ngại; đó gọi là Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới (事事無礙法界). Ngoài ra, do vì duyên khởi trùng trùng vô tận, nên gọi là Pháp Giới Duyên Khởi (法界緣起). Mật Giáo lấy 6 Đại đất, nước, lửa, gió, không, thức làm thể tánh của Pháp Giới; cho đó là Tam Ma Da Thân (三摩耶身) của Đại Nhật Như Lai (s: Vairocana, 大日如來). Cung điện của Ngài gọi là Pháp Giới Cung (法界宮), định của Ngài là Pháp Giới Định (法界定), ấn quyết là Pháp Giới Định Ấn (法界定印), năng lực gia trì là Pháp Giới Gia Trì (法界加持). Mật Giáo còn thuyết về Ngũ Trí Ngũ Phật (法界體性智), lấy đức Đại Nhật Như Lai biểu thị cho Pháp Giới Thể Tánh Trí (五智五佛). Thiên Thai Tông thì lấy 10 Giới Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, A Tu La, Người, Trời, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật gọi chung là Thập Pháp Giới (十法界). Trong Bồ Tát Anh Lạc Bổn Nghiệp Kinh (菩薩瓔珞本業經, Taishō Vol. 24, No. 1485) quyển Thượng có đoạn rằng: “Ư nhất Pháp Giới trung, hữu Tam Giới báo, nhất thiết hữu vi pháp, nhược phàm nhược thánh, nhược kiến trước, nhược nhân quả pháp, bất xuất Pháp Giới; duy Phật nhất nhân, tại Pháp Giới ngoại (於一法界中、有三界報、一切有爲法、若凡若聖、若見著、若因果法、不出法界、唯佛一人、在法界外, trong một Pháp Giới, có Ba Cõi báo, hết thảy pháp hữu vi, là phàm là thánh, là thấy chấp, là pháp nhân quả, không ra khỏi Pháp Giới; chỉ có một mình Phật, ở ngoài Pháp Giới).” Hay trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 10, No. 279) quyển 6, Như Lai Hiện Tướng Phẩm (如來現相品) thứ 2, lại có đoạn: “Phật thân sung mãn ư Pháp Giới, phổ hiện nhất thiết chúng sanh tiền, tùy duyên phó cảm mị bất châu, nhi hằng xử thử Bồ Đề tọa (佛身充滿於法界、普現一切眾生前、隨緣赴感靡不周、而恆處此菩提座, thân Phật tròn đầy nơi Pháp Giới, hiện khắp trước mặt các chúng sanh, tùy duyên cảm ứng cùng nơi chốn, vẫn luôn an trụ Bồ Đề tòa).” ; 法界; C: făjiè; J: hokkai; S: dharmadhātu; P: dhammadhātu; nghĩa là »Cảnh giới của các Pháp«;|Pháp (法) xuất phát từ tiếng Phạn với ngữ căn dhr, có nghĩa giữ gìn, duy trì, đặc biệt duy trì hành vi của con người. Giới (界, s: dhātu) xuất phát từ danh từ giống đực với ngữ căn dha trong tiếng Phạn, có nghĩa là »phần tử, yếu tố«, nhưng sau khi thành thuật ngữ Phật học, nó bắt đầu có nghĩa là »tính«. Trong thuật ngữ nầy, Pháp có nghĩa là các cấu trúc cơ bản (chư pháp 諸法) và giới có nghĩa là »đánh dấu phạm vi« của các pháp.|1. Là 1 trong 18 pháp giới (Thập bát giới 十八界), là đối tượng của mạt-na thức. Nơi mà các pháp được nhận biết, do vậy nghĩa nầy tương đương với »pháp xứ« (法處); 2. Phạm vi, ranh giới; 3. Đặc biệt trong giáo lí Đại thừa, pháp giới đề cập đến nền tảng ý thức hoặc nguyên lí – nguồn gốc của các hiện tượng. Trong hình thái giáo lí nầy, khi toàn thể vũ trụ hiển bày như là thế giới hiện tượng thì các hiện tượng ấy được xem như là biểu hiện cuả chân như. Do vậy, Pháp giới nầy, hiện hữu chân thật như chúng đang là, tương đương với Pháp thân (法身) Phật; 4. được xem như là 1 trong 18 giới theo giáo lí của Du-già hành tông, gồm 82 pháp được xếp vào trong các phạm trù: bất khả tư nghì pháp, sắc pháp, tâm pháp, tâm bất tương ưng hành pháp, vô vi pháp; 5. Giáo lí Hoa Nghiêm chủ trương 4 pháp giới: Sự pháp giới, Lí pháp giới, Lí sự vô ngại pháp giới, Sự sự vô ngại pháp giới; 6. Trong luận Đại thừa khởi tín, Pháp giới được đồng nhất với nghĩa Nhất tâm (一心).

pháp giới

Tất cả sự vật trong vũ trụ hoặc ẩn hoặc hiển, hoặc có hoặc không, hoặc đã biết hoặc chưa biết, đều gọi là pháp, tổng danh là pháp giới. ; Dharmadhatu or Dharmaksetra (skt)—Đạt Ma Đà Đô—Pháp Tính—Thực Tướng—Dharma realm—Dharma factor—Dharma element—Cosmos—Billion-world universe—Universe. 1) Tên của sự vật khi nói chung cả lý lẫn sự: A name for “things” in general, noumenal or phenomenal; for physical universe, or any portion or phase of it. 2) Chân lý tuyệt đối hay chân như pháp tính là nhân, nương dựa vào đó mà vạn pháp sanh ra. Đây là một trong 18 pháp giới—The unifying underlying spiritual reality regarded as the ground or cause of all things, the absolute from which all proceeds. It is one of the eighteen dhatus. 3) Pháp Giới trong Mật giáo bao gồm Thai Tạng Giới (vật chất) và Kim Cang Giới (bất hoại): In the Tantric school, Dharmadhatu includes Garbhadhatu (material) and Vajradhatu (indestructible). 4) Pháp giới còn có nghĩa là xá lợi Phật: A relic of the Buddha. 5) Trong pháp giới hay thế giới hiện tượng, có ba thế giới là dục, sắc và tâm. Hết thảy các loài tạo vật, cả Thánh lẫn phàm, nhân và quả, đều ở trong pháp giới đó. Chỉ có Phật là ở ngoài pháp giới: In the phenomenal world (dharmadhatu), there are three worlds of desire, form and mind. All created things or beings, both noble and ignoble, both cause and effect, are within the dharmadhatu. The idea in this text is practically identical with the diagram given above. 6) Pháp Giới có đến hai nghĩa—The Realm of Principle (Dharma-dhatu) has a double meaning: a) Vũ trụ hiện thực: The actual universe. b) Thế giới không hạn định hay Niết Bàn. Nó chính là Chân Như của Phật. Niết Bàn tịch diệt vừa có nghĩa là sự diệt vọng của thể xác con người (theo nghĩa tiêu cực), và vừa là sự diệt tận của các điều kiện sinh tử (theo nghĩa tích cực): The indeterminate world or Nirvana. It is identical with the Thusness of the Buddha. Nirvana or flamelessness means, on the one hand, the death of a human body and, on the other hand, the total extinction of life conditions (negatively) or the perfect freedom of will and action (positively). 7) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, pháp giới trong ý nghĩa là cảnh giới của lý tắc và vừa là sự tướng của tất cả sự tướng, đồng nghĩa với Như Lai Tạng và cũng đồng nghĩa với vũ trụ hay thế giới hiện thực, nghĩa là cảnh giới của tất cả sự tướng—According to Prof. Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy, Dharmadhatu, in its double meaning as Realm of Principle and Element of all Elements, is a synonym with Matrix of the Thus-come (Tathagata-garbha) and also with the universe or the actual world, i.e., the realm of all elements—See Lý Tắc Duyên Khởi. 8) Theo triết học Trung Quán, Pháp Giới cũng có nghĩa là Chân Như hoặc Thực Tại hay Niết Bàn. Ở đây chữ 'Giới' có nghĩa là bản chất thâm sâu nhất, hay bản chất tối hậu. Pháp Giới và Chân Như đều là siêu việt và nội tồn. Nó là siêu việt như Thực Tại tối hậu, nhưng nó hiện hữu trong mỗi người như là cơ sở và bản chất thâm sâu nhất của họ—According to the Madhyamaka philosophy, the word 'Dharmadhatu' is also called 'Tathata' or Reality, or Nirvana. Here the word 'Dhatu' means the inmost nature, the ultimate essence. Dharmadhatu or Tathata is both transcendent and immanent. It is transcendent as ultimate Reality, but it is present in every one as his inmost ground and essence. ** For more information, please see Ngũ Pháp Giới, Thập Pháp Giới, Thập Bát Giới, and Bốn Cách Nhìn Về Pháp Giới. ; (法界) Phạm: Dharma-dhàtu. Pàli: Dhamma-dhàtu. Hán âm: Đạt ma đà đô. Chỉ cho tất cả đối tượng(cảnh sở duyên) của ý thức, 1 trong 18 giới. Cứ theo luận Câu xá quyển 1 thì 3 uẩn: Thụ, tưởng, hành, cùng với vô biểu sắc và vô vi pháp, gọi là Pháp giới. Trong 12 xứ thì Pháp giới được gọi là Pháp xứ. Còn trong 18 giới thì 17 giới kia cũng được gọi là Pháp. Bởi vậy, theo nghĩa rộng thì Pháp giới là chỉ cho tất cả các pháp hữu vi và vô vi. Theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 18 thì Pháp giới có 3 nghĩa: 1. Nhân sinh ra các thánh pháp. 2. Thể tính chân thực của các pháp. 3. Các pháp đều có phần hạn của chúng, do đó mà phân biệt được tướng trạng của mỗi pháp. Pháp giới cũng chỉ cho chân như hoặc chỉ cho tất cả các pháp. Theo Phổ hiền hành nguyện thì Pháp giới có 5 môn: Pháp giới hữu vi, pháp giới vô vi, pháp giới vừa hữu vi vừa vô vi, pháp giới chẳng phải hữu vi chẳng phải vô vi và pháp giới vô chướng ngại, do đó mà lập ra 5 lớp Pháp giới khác nhau là: Pháp giới pháp, pháp giới nhân, pháp giới nhân pháp dung hợp, pháp giới nhân pháp đều vắng bặt và pháp giới không chướng ngại. Chủng loại của pháp giới tuy nhiều nhưng tất cả đều qui về Nhất chân pháp giới, đây chính là tâm thanh tịnh nguyên sơ của chư Phật và chúng sinh, cũng gọi là Nhất tâm pháp giới, Nhất chân vô ngại pháp giới. Nếu đứng về phương diện hiện tượng và bản thể mà nhận xét, thì Pháp giới có thể được chia làm 4 nghĩa, gọi là Tứ pháp giới. Đó là: 1. Sự pháp giới: Hiện tượng giới bao gồm muôn pháp thiên sai vạn biệt, mỗi pháp đều có tự thể riêng và phần hạn khác nhau. 2. Lí pháp giới: Hiện tượng các pháp tuy nhiều, nhưng thể tính chân thực của chúng thì thường trụ bất biến, bình đẳng nhất như, là cảnh giới tuyệt đối. 3. Lí sự vô ngại pháp giới: Giữa hiện tượng và bản thể có sự quan hệ nhất thể bất nhị, mỗi mỗi pháp tương tức tương nhập, viên dung vô ngại. 4. Sự sự vô ngại pháp giới: Tất cả mọi hiện tượng đều tác dụng hỗ tương, một tức tất cả, tất cả tức một, trùng trùng vô tận, sự sự vô ngại. Mật giáo lấy 6 yếu tố (6 đại): Đất, nước, lửa, gió, không, thức làm thể tính của pháp giới; 6 yếu tố này là thân Tam ma da của đức Đại nhật Như lai. Cung điện của Ngài là Pháp giới cung; định vị của Ngài là Pháp giới định, ấn khế của Ngài là Pháp giới định ấn, năng lực gia trì của Ngài gọi là Pháp giới gia trì. Trong 5 trí thì Đại nhật Như lai biểu thị Pháp giới thể tính trí. Ngoài ra, tông Thiên thai gọi chung 10 giới: Địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, A tu la, người, trời, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật là Thập pháp giới. Đây là nói theo nghĩa phần hạn sai biệt của các tướng pháp giới. Lại nữa, Pháp giới cũng là 1 trong 12 tên của Thực tướng. Mười hai tên là: Chân như, Pháp giới, Pháp tính, Bất hư vọng tính, Bất biến dị tính, Bình đẳng tính, Li sinh tính, Pháp định, Pháp trụ, Thực tế, Hư không và Bất tư nghị giới. [X. kinh Tạp a hàm Q.16; hội Bị giáp trang nghiêm trong kinh Đại bảo tích Q.23; kinh Đại bát nhã Q.360; kinh Hoa nghiêm Q.1, 3 (bản dịch cũ); luận Đại tì bà sa Q.71; luận Đại thừa khởi tín; luận Biện trung biên Q.thượng; luận Bồ đề tâm].

pháp giới an lập đồ

(法界安立圖) Tác phẩm, 6 quyển, do ngài Nhân triều biên chép vào năm Vạn lịch 12 (1584), đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 150. Nội dung trình bày về thứ tự kiến lập thế giới, gồm 115 tắc, chia làm 7 chương: Lược minh Nam châu, Quảng bộ đại địa, Biến quán tam giới, Đại thiên kiếp lượng,Du chư Phật sát, Nghiên cùng pháp giới và Pháp giới tổng luận.

pháp giới cung

Kim Cương Pháp Giới Cung hay cung điện của Đức Đại Nhật Như Lai trong Thai tạng Giới—Dharmadhatu palace, i.e. the shrine of Vairocana in the Garbhadhatu.

pháp giới duy tâm

Theo Kinh Lăng Già và Kinh Hoa Nghiêm thì vạn hữu trong vũ trụ chỉ do tâm tạo—According to the Lankavatara Sutra and the Hua-Yen sutra, the universe is mind only. ; (法界唯心) Tất cả muôn pháp trong pháp giới đều do tâm biến tạo. Kinh Hoa nghiêm quyển 19 (Đại 10, 102 thượng) nói: Nhược nhân dục liễu tri Tam thế nhất thiết Phật Ưng quán pháp giới tính Nhất thiết duy tâm tạo. (Nếu người muốn biết rõ Hết thảy Phật ba đời Nên xét tính Pháp giới Tất cả do tâm tạo).

pháp giới duyên khởi

The Principle of Universal Causation. 1) Từ ngữ “Pháp giới” (Dharmadhatu) đôi khi được dùng đồng nghĩa với chân lý. Việt ngữ dịch là “Pháp thể của Vạn Pháp.” Tuy nhiên, đôi lúc nó lại có nghĩa là “Vũ trụ,” hay “cảnh giới của tất cả các pháp.” Cả hai nghĩa vũ trụ và nguyên lý phổ biến, luôn luôn phải được in sâu trong tâm trí chúng ta mỗi khi từ ngữ nầy được dùng đến. Nghĩa nào cũng dùng được cho danh hiệu của thuyết “Duyên Khởi.”—The term “Dharmadhatu” is sometimes used as a synonym of the ultimate truth. Therefore, the translation “the Element of the Element” is quite fitting. But at other times it means the universe, “the Realm of All Elements.” The double meaning, the universe and the universal principle must always be borne in mind whenever we use the term. Either meaning will serve as the name of the causation theory. 2) Trong pháp giới duyên khởi, mọi hiện tượng đều tùy thuộc lẫn nhau, cái nầy tùy thuộc cái kia, do đó một trong tất cả và tất cả trong một—The Dharmadhatu as the environmental cause of all phenomena (everything is being dependent on everything else, therefore one is in all and all is in one). 3) Theo nguyên lý pháp giới duyên khởi nầy, không một sự hữu nào hiện hữu bởi chính nó và hiện hữu cho cái khác, nhưng toàn thể thế giới sẽ vận động và hành sự trong nhất trí, cơ hồ toàn thể được đặt dưới tổ chức tổng quát. Một thế giới lý tưởng như thế được gọi là “Nhất chân pháp giới” hay “Liên Hoa tạng.”—According to the principle of universal causation, no one being will exist by itself and for itself, but the whole world will move and act in unison as if the whole were under general organization. Such an idea world is called 'the World One-and-True' or 'the Lotus-store.' 4) Nguyên lý nầy căn cứ trên pháp giới duyên khởi của cảnh vực lý tánh (Dharmadhatu) mà chúng ta có thể coi như là sự tự tạo của chính vũ trụ. Đừng quên rằng đó chỉ là duyên khởi do cộng nghiệp của tất cả mọi loài, và nguyên lý nầy cũng dựa trên thuyết vô ngã. Trong thuật ngữ Phật giáo, nguyên lý viên dung được gọi là “Hoa Nghiêm” (Avatamsaka): The principle of universal causation is based upon the universal causation of the Realm of Principle (Dharmadhatu) which we may regard as the self-creation of the universe itself. One should not forget that it is nothing but a causation byt the common action-influence of all brings, and that the principle is also based on the theory of selflessness. In the Buddhist terminology, the principle of totality is called 'the Avatamsaka' (Wreath). ** For more information, please see Duyên Khởi (III) (4) and Tứ Duyên Sanh, Tứ Chủng Vũ Trụ, and Tứ Pháp Giới. ; (法界緣起) Cũng gọi Pháp giới vô tận duyên khởi, Thập thập vô tận duyên khởi, Thập huyền duyên khởi, Vô tận duyên khởi, Nhất thừa duyên khởi. Duyên khởi quan của giáo nghĩa Hoa nghiêm, nội dung của pháp giới Sự sự vô ngại trong 4 pháp giới. Tông Hoa nghiêm chủ trương hiện tượng giới tuy có muôn nghìn sai khác, nhưng pháp tính (Phạm: Dharmatà) là thực thể, tức tất cả pháp duyên khởi đều là thực thể, ngoài hiện tượng không có thực thể và ngoài thực thể không có hiện tượng, đây chính là Thực tướng của Pháp giới (Phạm: Dharma-dhàtu). Sự hình thành của Pháp giới là từ 1 pháp mà thành tất cả pháp, từ tất cả pháp sinh khởi 1 pháp, cho nên 1 là tất cả(nhất tức nhất thiết), tất cả là 1(nhất thiết tức nhất), tương nhập tương tức, viên dung vô ngại, lớp này lớp khác đan dệt vào nhau, không cùng không tận: Đó là pháp giới duyên khởi. Pháp giới duyên khởi có thể được thuyết minh theo 2 phương diện Nhiễm (ô nhiễm) và Tịnh (thanh tịnh). Nhiễm pháp duyên khởi là thuyết minh duyên khởi trong thế giới mê, tức trạng thái vô minh. Còn Tịnh pháp duyên khởi thì thuyết minh duyên khởi trong thế giới ngộ, tức trạng thái chân như. Giáo nghĩa Hoa nghiêm lại tiến thêm bước nữa mà phát huy pháp Duyên khởi rất tỉ mỉ, rõ ràng, như nói rõ yếu chỉ của Tam tính nhất tế, Nhân môn lục nghĩa, Lục tướng viên dung, Tứ chủng pháp giới... Ngoài ra, đứng trên phương diện bản thể mà luận về duyên khởi là thuyết Nhất niệm tam thiên của tông Thiên thai; còn đứng trên phương diện hiện tượng mà luận về tương tức tương nhập là Pháp giới duyên khởi luận của tông Hoa nghiêm. Đây là Duyên khởi luận của Thực Đại thừa được hoàn thành trên cơ sở kế thừa Nghiệp cảm duyên khởi luận của Phật giáo Tiểu thừa và A lại da thức duyên khởi luận của Quyền Đại thừa. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4; Hoa nghiêm nhất thừa thập huyền môn; Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.3, phần cuối; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1, 4, 13]. (xt. Pháp Giới, Duyên Khởi Luận).

pháp giới gia trì

Chúng sanh gia trì lẫn nhau hay sự tùy thuộc và giúp đở lẫn nhau của vạn hữu trong vũ trụ—Mutual dependence and aid of all beings in a universe. ; (法界加持) Chỉ cho thực tướng của chư Phật, của chân ngôn và của chúng sinh gia trì lẫn nhau. Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao quyển 2 (Vạn tục 37, 17 thượng) nói: Tì phú la nghĩa là rộng lớn, tức là vô cùng sâu rộng, không thể lường được; tự thể các pháp rộng lớn như thế gọi là Tì phú la pháp giới. Chư Phật thực tướng, chân ngôn thực tướng và chúng sinh thực tướng đều là Tì phú la pháp giới, vì những thực tướng này lại gia trì lẫn nhau, nên gọi là Pháp giới gia trì vậy. [X. Đại nhật kinh sớ Q.9].

Pháp giới hải huệ

法界海慧; C: făjiè hăihuì; J: hokkai kaie; |Trí huệ rộng lớn và thanh tịnh quán sát Pháp giới.

pháp giới nhất tướng

Nhất tướng nhất vị hay sự vô ngại Pháp giới—The essential unit of the phenomenal ealm.

pháp giới phật

The Dharmadhatu Buddha (skt)—Pháp Giới Phật hay Phổ Phật, chỉ những bậc đã thành Phật, đã chứng được tuệ nhất chân pháp giới đại trí, có đại quang minh phổ chiếu chúng sanh—The universal Buddha—The Buddha of a Buddha-realm, i.e. the dharmakaya.

pháp giới quán

(法界觀) Chỉ cho pháp quán nhằm ngộ nhập chân lí của pháp giới do ngài Đỗ thuận –Sơ tổ tông Hoa nghiêm– lập ra. Pháp quán này có 3 lớp: 1. Chân không quán: Quán xét tất cả các pháp vốn không có thực tính, sắc tức là không, không tức là sắc, không và sắc không trở ngại lẫn nhau và vắng bặt không dấu vết. Pháp quán này tương đương với Lí pháp giới trong 4 pháp giới. 2. Lí sự vô ngại quán: Quán xét sự pháp sai biệt và lí tính bình đẳng hiển nhiên tồn tại, cả 2 tương tức, tương nhập, viên dung vô ngại. Pháp quán này tương đương với Lí sự vô ngại pháp giới. 3. Chu biến hàm dung quán: Quán xét mọi sự mọi vật lớn nhỏ dung nhau, một nhiều tương tức, hòa nhập vào nhau, giao thoa lẫn nhau 1 cách vô ngại tự tại. Pháp quán này tương đương với Sự sự vô ngại pháp giới. [X. Hoa nghiêm pháp giới quán môn]. (xt. Pháp Giới Tam Quán).

pháp giới quán môn

(法界觀門) Cũng gọi Tu đại phương quảng Phật Hoa nghiêm pháp giới quán môn, Hoa nghiêm pháp giới quán môn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đỗ thuận (557-640) soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung sách này nói về 3 pháp quán: 1. Chân không quán: Bao gồm: Hội sắc qui không quán, Minh không tức sắc quán, Không sắc vô ngại quán, Mẫn tuyệt vô kí quán. 2. Lí sự vô ngại quán: Bao gồm: Lí biến ư sự môn, Sự biến ư lí môn, Y lí thành sự môn, Sự năng hiển lí môn, Dĩ lí đoạt sự môn, Sự năng ẩn lí môn, Chân lí tức sự môn, Sự pháp tức lí môn, Chân lí phi sự môn, Sự pháp phi lí môn. 3. Chu biến hàm dung quán: Bao gồm: Lí như sự môn, Sự như lí môn, Sự hàm lí sự môn, Thông cục vô ngại môn, Quảng hiệp vô ngại môn, Biến dung vô ngại môn, Nhiếp nhập vô ngại môn, Giao thiệp vô ngại môn, Tương tại vô ngại môn, Phổ dung vô ngại môn. Tác phẩm này không phải lưu thông riêng biệt mà được thu chép vào trong các sách khác, hoặc được chép phụ trong các sách chú thích. Chẳng hạn như trong Phát bồ đề tâm chương của ngài Pháp tạng, Pháp giới huyền kính của ngài Trừng quán, Chú Hoa nghiêm pháp giới quán môn của ngài Tông mật v.v... đều có chép phụ thêm sách này. Còn về tác giả của sách này thì xưa nay cũng có nghi vấn. Theo nhà học giả Nhật bản là ông Cảnh dã Hoàng dương thì tác giả của sách này có lẽ không phải ngài Đỗ thuận mà có thể do ngài Trí chính soạn thuật, hoặc do 1 đệ tử nào khác. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục 1; Hoa nghiêm tông kinh luận chương sớ mục lục, Chư tông chương sớ lục Q.1, 2].

pháp giới tam quán

(法界三觀) Cũng gọi Tam trùng pháp giới, Tam trùng pháp giới quán, Tam trùng quán môn, Tam trùng pháp giới quán môn. Gọi tắt: Tam trùng quán. Chỉ cho 3 pháp quán: Chân không quán, Lí sự vô ngại quán và Chu biến hàm dung quán của tông Hoa nghiêm. 1. Chân không quán: Quán xét bản tính của các pháp tức là không. Nhưng cái Không của Chân không quán chẳng phải là Không đoạn diệt, cũng chẳng phải cái không lìa sắc, mà quán sắc chẳng phải thực sắc, tất cả sắc là chân không; quán không chẳng phải đoạn không, mà tất cả không là huyễn sắc, để đạt đến cảnh giới Khôngsắc chẳng ngăn ngại nhau. Đây là quán Lí pháp giới. 2. Lí sự vô ngại quán: Nếu chỉ quán về sự thì sẽ khởi tâm thế tục, mà tham đắm cảnh hưởng lạc, nếu chỉ quán về lí thì khởi tâm xuất thế, mà ưa thích cảnh tiểu quả vô lậu. Cho nên, nếu quán sự và lí song song thì có thể đạt đến cảnh giới viên dung vô ngại, tâm không thiên chấp, bi và trí bổ trợ cho nhau, thành tựu hạnh vô trụ mà chứng vô trụ xứ. Đây là quán Lí sự vô ngại pháp giới. 3. Chu biến hàm dung quán: Dùng sự nhìn sự để quán lí toàn là sự, dùng lí nhìn sự để quán sự toàn là lí, lí có thể dung chứa sự, 1 và nhiều không trở ngại nhau, lớn và nhỏ dung nhau, mầu nhiệm không thể lường được. Đây là quán Sự sự vô ngại pháp giới. [X. Hoa nghiêm pháp giới quán môn; Chú Hoa nghiêm pháp giới quán môn tự]. (xt. Tam Trùng Quán Môn, Chân Không Quán, Lí Sự Vô Ngại Quán).

pháp giới thân

Dahrmakaya (skt)—Pháp giới là Pháp thân của Phật. Pháp thân của Phật là Phật thân cảm ứng với hết thảy chúng sanh ở khắp pháp giới—The Dharmakaya which manifests itself in all beings—The Dharmadhatu as the Buddhakaya, all things being Buddha. ; (法界身) Chỉ cho pháp thân của Phật. Pháp giới tức là chúng sinh giới; Thân tức là thân của chư Phật. Thân chư Phật giáo hóa làm lợi ích cho chúng sinh giới, gọi là Pháp giới thân. Kinh Quán Vô lượng thọ Phật (Đại 12, 334 thượng) nói: Chư Phật Như lai là Pháp giới thân, nhập vào trong tâm tưởng của hết thảy chúng sinh. [X. phần Định thiện nghĩa trong Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ Q.3].

pháp giới thể tánh trí

Thánh Trí siêu việt (vô cùng vô tận) của Đức Đại Nhật Như Lai (trí thông minh như là tánh chất căn bản của vũ trụ), một trong năm trí của chư Phật được dùng bởi Mật giáo—Vairocana's immeasurable cosmic energy and wisdom interpenetrating all elements of the universe—Intelligence as the fundamental nature of the universe, one of the five kinds of wisdom of the Buddha used by the esoteric sects. ** For more information, please see Ngũ Trí.

pháp giới thể tính tam muội quán

(法界體性三昧觀) Cũng gọi Tự luân quán, Nhập pháp giới quán. Chỉ cho pháp quán trong Mật giáo lấy chủng tử hoặc các chữ chân ngôn của Bản tôn làm đối tượng để quán tưởng. Tam ma địa nghi quĩ (Đại 18, 331 thượng) nói: Kết ấn Tam ma địa, vào Pháp giới thể tính tam muội, tu tập 5 chữ Toàn đà la ni (...) cứ quán tưởng trở đi trở lại cho đến khi thấy được chỗ chân thực của mỗi Chữ. Chỗ thấy tuy trước sau có khác nhau, nhưng chỗ chứng thì đều về một. (xt. Tự Luân Quán).

pháp giới thể tính trí

(法界體性智) Phạm: Dharma-dhàtu-svabhàvajĩàna. Các pháp vô tận gọi là Pháp giới; chỗ nương của các pháp gọi là Thể; tính tự nhiên của các pháp không hoại diệt, gọi là Tính; trí có khả năng quyết đoán các pháp vô tận 1 cách rõ ràng, gọi là Pháp giới thể tính trí, là 1 trong 5 trí do Mật giáo thành lập. Nếu đem năm trí phối hợp với 5 bộ và 5 đức Phật thì trí này được phối với Đại nhật Như lai trong 5 Phật của Phật bộ. [X. Bí tạng kí]. (xt. Ngũ Trí).

pháp giới thứ đệ sơ môn

(法界次第初門) Gọi tắt: Pháp giới thứ đệ. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Trí khải soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Nội dung sách này trình bày giáo nghĩa A tì đàm và danh mục của các pháp, đồng thời, nói rõ về thứ lớp sâu cạn của các giáo học để làm thềm bậc cho những người tu tập Tam quán. Từ Sơ môn Danh sắc đến Tam niệm xứ tổng cộng gồm 60 môn.

pháp giới thực tướng

Pháp giới và thực tướng, cùng một thể mà khác tên. Thực tướng là lý của Biệt giáo, pháp giới là lý của Viên giáo—Dharmadhatu reality, or Dharmadhatu is reality, different names but one idea. The “Reality” is used for noumenon by the Different Teaching, while “Dharmadhatu” is used for noumenon by the Perfect Teaching.

Pháp giới trí

法界智; S: dharmadhātu-jñāna;|Một trong Năm trí theo Kim cương thừa.

Pháp giới tính

法界性; C: făjiè xìng; J: hokkaishō; |Bản tính của pháp giới. Thuật ngữ diễn tả sự hợp nhất của hai khái niệm »pháp giới« và »chân tính«.

pháp giới tính

See Pháp Giới.

pháp giới tông

(法界宗) Chỉ cho tông Hoa nghiêm, hoặc chỉ cho 1 trong 5 tông do ngài Tự quĩ ở chùa Hộ thân thành lập vào đời Bắc Tề. Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 1 (Đại 45, 480 hạ) nói: Pháp sư Hộ thân lập 5 loại giáo: (...); loại thứ 5 gọi là Pháp giới tông, tức chỉ cho Pháp giới tự tại vô ngại được thuyết minh trong kinh Hoa nghiêm. (xt. Hoa Nghiêm Tông).

pháp giới tạng

Pháp giới tạng là nơi trữ chứa mọi hiện tượng hay chân lý—The treasury or storehouse or source of all phenomena or truth.

pháp giới viên dung

Các pháp thuộc pháp giới, mỗi sự việc đều đan bện và thâm nhập vào nhau (đây là thuyết “vô ngại” của tông Hoa Nghiêm và là thuyết “tính cụ” của tông Thiên Thai)—The perfect intercommunion or blending of all things in the Dharmadhatu (this is the doctrine of without obstacles (apratihata) of the Hua-Yen sect and T'ien-T'ai sect). ; (法界圓融) Chỉ cho sự tồn tại của pháp giới chân như tròn đầy và dung hợp thành 1 thể. Đây là pháp quán Sự sự vô ngại pháp giới được nói trong Thập huyền lục tướng của tông Hoa nghiêm. [X. Quan âm huyền nghĩa Q.thượng; Quan âm huyền nghĩa kí Q.1].

pháp giới vô biên trí

Trí hiểu biết vô biên về Phật pháp giới. Đây là trí vô biên và siêu việt của chư Phật về pháp giới—Unlimited or infinite understanding of the whole Buddha realm—Unimpeded or unlimited knowledge or omniscience of a Buddha in regard to all beings and things in his realm.

pháp giới vô duyên

(法界無緣) Chỉ cho chúng sinh trong pháp giới không có duyên với Phật pháp; hoặc chỉ cho công hạnh của Phật khởi Đại bi vô duyên rộng khắp pháp giới.

Pháp giới vô lượng

法界無量; C: făjiè wúliàng; J: hokkai muryō; |Giai vị thứ 10 trong Thập hồi hướng của hàng Bồ Tát. Giai vị mà hàng Bồ Tát chứng thực rằng mọi hiện hữu đều là trung đạo, không có tự tính riêng biệt.

pháp giới vô ngại

Vạn hữu đan bện thẩm thấu hay pha trộn vào nhau trong pháp giới—The perfect intercommunion or blending of all things in the Dharmadhatu.

pháp giới vô ngại trí

Trí tuệ chứng ngộ được pháp giới vô ngại lý (thấu triệt toàn thể Phật Giới)—Unimpeded understanding of the whole Buddha-realm. ** For more information, please see Pháp Giới Vô Biên Trí.

pháp giới vô sai biệt luận sớ

(法界無差別論疏) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Pháp tạng (643-712) soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 44. Trang trong sách này đề là: Đại thừa pháp giới vô sai biệt luận sớ tinh tự, thông thường gọi là Đại thừa pháp giới vô sai biệt luận sớ. Đây là sách chú thích bộ Đại thừa pháp giới vô sai biệt luận, do ngài Đề vân bát nhã dịch. Về niên đại soạn thuật, có lẽ bộ sách này đã được viết vào năm Thiên thụ thứ 2 (691), lúc đó ngài Pháp tạng 49 tuổi. Lại có thuyết cho rằng sách này được soạn tiếp theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí và sau Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí, khi ấy ngài Pháp tạng đã 54 tuổi. Nội dung sách này chia làm 2 phần: Huyền đàm và Tùy văn giải nghĩa. Phần Huyền đàm lại chia ra 10 môn: Giáo khởi sở nhân, Minh tạng sở nhiếp, Hiển giáo phân tề, Giáo sở bị cơ, Năng thuyên giáo thể, Sở thuyên tông thú, Thích luận đề mục, Tạo luận duyên khởi, Truyền dịch do trí và Tùy văn giải thích.

pháp giới đẳng lưu

Phật Pháp—The universe outflow of the spiritual body of the Buddha (Buddha's teaching). ; (法界等流) Cũng gọi Pháp giới truyền lưu. Chỉ cho giáo pháp của đức Phật lưu xuất từ thể tính chân như bình đẳng của pháp giới.Luận Thủ trượng (Đại 32, 506 hạ) nói: Sự huân tập của tính nghe này rất thanh tịnh, vì nó là thể tính của pháp giới đẳng lưu. Pháp giới tức là pháp thân của Như lai.

pháp giới định

Hai bộ Đại Nhật đều lấy lục đại pháp giới (đất, nước, lửa, gió, hư không, thức) làm đề mục quán chiếu Thiền định—Dharmadhatu meditation (earth, water, fire, air, space, consciousness), a term for Vairocana in both mandalas.

pháp giới định ấn

(法界定印) Cũng gọi Đại nhật định ấn. Chỉ cho ấn khế của đức Đại nhật Như lai trong Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo.Ấn tướng là bàn tay phải ngửa lên, đặt ở trên bàn tay trái, đầu 2 ngón cái chạm nhau. Trong đó, 5 ngón tay phải biểu thị 5 đại của Phật giới, 5 ngón tay trái biểu thị 5 đại của chúng sinh giới; 2 tay chồng lên nhau tượng trưng cho nghĩa chúng sinh và Phật chẳng phải là 2, đầu của 2 ngón cái (ngón không)chạm vào nhau biểu thị nghĩa Không đại dung thông vô ngại, vì tướng ấy vắng lặng không lay động nên gọi là Pháp giới định ấn. Phẩm Đà la ni trong kinh Thủ hộ cho rằng ấn này là ấn Tam muội thù thắng bậc nhất; còn phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật quyển 4 và phẩm Mật ấn trong kinh Nhất tự đính luân vương thì cho rằng ấn này là Đại bát ấn và Như lai bát ấn của đức Phật Thích ca mâu ni. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13, 20; Chư nghi quĩ bẩm thừa lục Q.11]. (xt. Định Ấn).

Pháp giới đồ kí tòng tuỷ lục

法界圖記叢髄録; C: făjiè tújì cóngsuǐ lù; J: hokkai zuki sōzui roku; |4 quyển.

pháp hiến

(法獻) (423-497) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Nam triều, người Diên thủy, tỉnh Tây hải, họ Từ.Sư xuất gia ở Lương châu, vào thời Lưu Tống, sư đến trụ ở chùa Thượng định lâm tại Kiến khang. Sư thông suốt các kinh luật. Năm Nguyên huy thứ 3 (475), sư đi đến Tây thục, rồi đến Vu điền, muốn vượt qua dãy núi Thông lãnh để sang Ấn độ, nhưng vì đường xá quá khó khăn nên sư đành trở lại. Sư thỉnh về được 1 chiếc răng và 15 viên xá lợi của Phật, 1 quyển kinh Quan thế âm sám hối trừ tội chú (bản tiếng Hồ) và 1 pho tượng bằng đồng của nước Cưu tư. Ngoài ra, sư còn thỉnh được phẩm Đề bà đạt đa của kinh Diệu pháp liên hoa tại quận Cao xương, rồi trở về kinh thành, lúc đó sư đã 55 tuổi. Năm Vĩnh minh thứ 8 (490) đời Nam Tề, sư cùng với sư Thiền phóng Pháp ý ở chùa Ngõa quan cùng dịch kinh Quan thế âm sám hối trừ tội chú 1 quyển. Sau, sư lại dịch Diệu pháp liên hoa kinh Đề bà đạt đa phẩm (Bản dịch này sau được ngài Cưu ma la thập đưa vào kinh Diệu pháp liên hoa do ngài dịch). Trong năm Vĩnh minh, vua ban sắc cho sư làm chức Tăng chủ. Cuối năm Kiến vũ (497), sư thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi. Sư có tác phẩm: Tây vực hành kí. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.11].

Pháp Hiền

法賢; ?-626|Thiền sư Việt Nam thuộc phái Tì-ni-đa Lưu-chi, đắc pháp của Tổ Tì-ni-đa Lưu-chi.|Sư họ Ðỗ, quê ở Chu Diên (Sơn Tây), thân hình cao lớn, chững chạc. Ban đầu Sư xuất gia thụ giới cụ túc với sư Quán Duyên tại chùa Pháp Vân (chùa Dâu), hằng ngày cùng các tăng hữu nghe các Ðại sư truyền giảng yếu chỉ Thiền tông.|Gặp lúc Thiền sư Tì-ni-đa Lưu-chi từ Quảng Châu đến chùa này. Thấy Sư, Tổ nhìn kĩ rồi hỏi: »Ngươi họ chi?« Sư không đáp, hỏi lại: »Hoà thượng họ gì?« Tổ bảo: »Ngươi không có họ ư?« Sư thưa: »Họ không phải không có, nhưng Hoà thượng cần gì phải biết?« Tổ quát: »Biết để làm gì?« Sư ngay đây tỉnh ngộ liền sụp lạy.|Sau khi Tổ viên tịch, Sư đến núi Thiên Phúc tu tập thiền định, quên cả vật lẫn bản thân mình. Chim rừng đến vây quanh, dã thú đến đùa giỡn. Nhiều người nghe tin đua nhau đến học với Sư. Nhân đây, Sư kiến lập chùa Chúng Thiện tuyển dạy môn đệ. Thứ sử nhà Tuỳ là Lưu Phương về trình lại với triều đình. Tuỳ Cao Tổ bèn sai sứ đem Xá-lị của Phật đến Việt Nam để Sư xây tháp cúng dường.|Sư tịch năm Bính Tuất, niên hiệu Ðường Vũ Ðức thứ 9 (626).

pháp hiền

Fa-Hsien (?-626)—Sư quê ở Chu Diên tỉnh Sơn Tây. Khi mới xuất gia, sư theo học thiền và thọ giới với Đại Sư Quán Duyên ở chùa Pháp Vân. Đến lúc Tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi sang Việt Nam, sư theo Tổ học thiền và tôn Tổ làm Thầy. Khi Tổ thị tịch, sư vào núi tiếp tục tu thiền định. Sau đó người đến tu học với sư ngày càng đông. Sau đó ít lâu sư mới lập chùa và nhận đồ đệ. Sư thị tịch năm 626 sau Tây Lịch—He was a native of Sơn Tây Province. When he left home, he studied meditation and received precepts with Great Master Quán Duyên at Pháp Vân Temple. When Patriarch Vinituraci came to Vietname, he joined Vinituraci Zen Sect and honored Vinitaruci as his master. When the Patriarch passed away, he went to the montain to continue to practice meditation. Later his reputation spread and more and more people came to study meditation with him. Sometime later, he built temple and received disciples. He passed away in 626 AD. ; (法賢) I. Pháp Hiền (?-626). Thiền sư Việt nam, thuộc Thiền phái Tì ni đa lưu chi, nguyên quán huyện Châu diên, tỉnh Sơn tây, họ Đỗ. Ban đầu, sư lễ ngài Quán duyên, trụ trì chùa Pháp vân, xin xuất gia và thụ giới Cụ túc. Sau, gặp lúc Thiền sư Tì ni đa lưu chi, người Ấn độ, từ Trung quốc đến Việt nam, sư được ngài khai thị, liền trở thành đệ tử của ngài và được truyền tâm ấn. Về sau, sư vào chùa Từ sơn hoằng dương Thiền pháp, làm cho Thiền tông Việt nam từ đó trở nên hưng thịnh. Sư thị tịch vào năm 626. [X. Việt nam Phật giáo lược sử (Bồ đề thụ số 248)]. II. Pháp Hiền(?-1000). Danh tăng người Trung Ấn độ ở chùa Na lan đà. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 33 thì lúc đầu sư có tên là Pháp thiên, đến Trung quốc vào năm Khai bảo thứ 6 (973). Sư dâng lên vua bản dịch Thánh vô lượng thọ kinh thất Phật tán mà sư dịch chung với ngài Pháp tiến (người Ấn độ) ở chùa Khai nguyên tại phủ Hà trung, được vua triệu vào cung ban cho sư áo đỏ. sư nhận lời mời của ngài Pháp tiến vào phủ Hà trung dịch kinh. Năm sau, sư dời đến chùa Long hưng tại Phu châu, dịch kinh Vô lượng thọ quyết định quang minh vương. Năm Thái bình hưng quốc thứ 7 (982), sư lại được vua ban hiệu Truyền Giáo Đại Sư. Và sư lại dâng vua bản dịch kinh Cát tường trì thế do chính sư mang đến Trung quốc. Vua từng viết bài tựa Tam tạng Thánh giáo được in ở đầu các kinh do sư dịch. Năm Hàm bình thứ 4 (1000) sư thị tịch, vua ban thụy hiệu là Huyền Giác Đại Sư. Kinh điển do sư dịch gồm 120 bộ. Cũng có thuyết cho rằng sư và ngài Pháp thiên là 2 người khác nhau.

Pháp Hiển

(法顯, Hokken, 577-653): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, người vùng Giang Lăng (江陵, Hồ Bắc), họ Đinh (丁). Năm 12 tuổi, ông xuất gia, theo Bảo Minh (寳冥) ở Tứ Tằng Tự (四層寺) học kinh luận, rồi tham học với Thiên Thai Trí Khải (智顗), Minh Trí (明智), Thành Ngạn (成彥), Tập Hạo (習皓), v.v. Về sau ông lui ẩn cư mãi cho đến năm cuối niên hiệu Trinh Quán (貞觀, 627-649) mới xuất hiện lại. Đến năm thứ 4 niên hiệu Vĩnh Huy (永徽), ông thị tịch, hưởng thọ 77 tuổi. ; (法顯, Hōken, 340?-?): vị tăng sống dưới thời Đông Tấn, xuất thân vùng Võ Dương (武陽), Bình Dương (平陽), họ là Cung (龔). Có thuyết cho rằng ông sanh vào năm thứ 6 (340) niên hiệu Hàm Khang (咸康) nhà Đông Tấn. Năm lên 3 tuổi, ông xuất gia, đến 20 tuổi thì thọ Cụ Túc giới. Sau đó, nhân đau xót vì sự mất mác về thanh quy và hành trì kinh luật trong tăng đoàn, nên vào năm thứ 3 (399) niên hiệu Long An (隆安), ông cùng với các bạn đồng học Huệ Cảnh (慧景), Đạo Chỉnh (道整), Huệ Ứng (慧應), Huệ Ngôi (慧嵬) rời Trường An đi về hướng Tây, qua vùng Thông Lãnh (葱嶺), đến Thiên Trúc (天竺), lúc đó khoảng 60 tuổi. Trước sau hơn 10 năm, ông đã đi qua hơn 30 nước, mang về rất nhiều kinh điển Phật Giáo bằng tiếng Phạn. Lộ trình ông đi qua Trường An, Đôn Hoàng (敦煌), Vu Chấn (于闐) rồi đến miền trung Ấn Độ, tham bái các thánh tích Phật Giáo, sau đó lưu học 3 năm tại Hoa Thị Thành (華氏城), 2 năm học ở vùng phụ cận Gia Nhĩ Các Đáp (加爾各答) thuộc hạ lưu sông Hằng, rồi lưu trú tại Tích Lan (錫蘭, Sri Lanka) trong vòng 2 năm, đi qua địa phương Tô Môn Đáp Lạp (蘇門答臘) và đến năm thứ 9 (413) niên hiệu Nghĩa Hy (義熙) thì trở về nước. Trong thời gian ấy, ông đã học được Luật, Trường A Hàm, Tạp A Hàm, Kinh Niết Bàn, v.v. Sau khi trở về nước, ông cùng với Phật Đà Bạt Đà La (s: Buddhabhadra, 佛駄跋陀羅, 359-429) dịch bộ Ma Ha Tăng Kỳ Luật (摩訶僧祇律), Đại Bát Nê Hoàn Kinh (大般泥洹經), Tạp Tạng Kinh (雜藏經), Tạp A Tỳ Đàm Tâm Luận (雜阿毘曇心論). Bên cạnh đó, ông còn lấy những ký lục trong chuyến lữ hành của mình viết thành sách với tựa đề Phật Quốc Ký (佛國記), miêu tả những tình huống của Ấn Độ và Trung Á đương thời, cho nên tác phẩm này có ý nghĩa rất quan trọng về mặt tư liệu. Sau đó ông thị tịch tại Kinh Châu Tân Tự (荆州新寺). Niên đại thị tịch của ông được xác định trong khoảng từ năm thứ 14 (418) niên hiệu Nghĩa Hy (義熙) cho đến năm đầu (423) niên hiệu Cảnh Bình (景平). Cùng với Huyền Trang (玄奘, 602-664), Nghĩa Tịnh (義淨, 635-713) vào khoảng thế kỷ thứ 7, ông được xem như là một trong những danh tăng từng chiêm bái Ấn Độ. ; 法顯; C: fǎxiăn; J: hōken, 320?-420?|Cao tăng Trung Quốc. Năm 399, Sư đi Ấn Ðộ và học hỏi kinh điển đạo Phật, nhất là Luật tạng (s: vinaya-piṭaka). Sư về lại Trung Quốc bằng đường biển năm 414 và cùng với Giác Hiền (s: buddhabhadra) dịch bộ Ðại bát-niết-bàn kinh (s: mahāparinirvāṇa-sūtra) và Luật tạng của Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika) ra chữ Hán. Sư cũng thuật lại trong Phật quốc kí chuyến du hành Ấn Ðộ (Phật quốc kí), là một tư liệu quý báu về lịch sử, văn hoá và tình trạng Phật giáo của thế kỉ thứ 4-5.|Pháp Hiển là tăng sĩ đầu tiên của một phong trào học Phật của Trung Quốc. Sư là người đầu tiên thật sự đến Ấn Ðộ, thu thập kinh sách, học hỏi giáo pháp với các tăng sĩ tại đó và lại trở về Trung Quốc. Chuyến du hành của Sư bắt đầu từ Trường An đến các trung tâm Ấn Ðộ như Benares, Càn-đà-la (gandhāra), Giác Thành (bodhgayā), Ma-kiệt-đà (magadha), Patna. Sư cũng ở Tích Lan hai năm, sau đó đi Su-ma-tra và Ja-va (Nam Dương). Tổng cộng, Sư thăm 30 nước khác nhau. Tại Hoa Thị thành (pāṭaliputra) Sư tìm được Luận tạng của Ðại chúng bộ và Nhất thiết hữu bộ cũng như một văn bản của Ðại bát-niết-bàn kinh. Sau đó Sư cũng tìm thấy Luận tạng của Hoá địa bộ và mang tất cả về Trung Quốc.

pháp hiển

Fa-Hsien 337-422—Pháp Hiển, một nhà sư và nhà hành hương nổi tiếng người Trung Hoa. Năm 399 sau Tây Lịch, sư Pháp Hiển cùng một số bạn đồng tu rời Trường An, đi đường bộ qua Ấn Độ bằng ngả Đôn Hoàng, Khotan, và Hy Mã Lạp Sơn. Ngài lưu lại Ấn Độ sáu năm học giới luật. Sau đó năm 414, sư theo đường biển trở về Trung Quốc. Ngài đã viết quyển Phật Quốc Ký và dịch bộ Tăng Chi Luật. Pháp Hiển mở ra một phương thức mà sau đó nhiều người hành hương Trung Quốc đã noi theo. Tầm quan trọng đặc biệt của ông đối với Phật giáo là ở chỗ ông là người đầu tiên thật sự đến Ấn Độ, sưu tầm các văn bản, nghiên cứu những thuyết giảng từ những vị thầy khác nhau, rồi mới trở về Trung Quốc. Cùng với bốn nhà sư khác, ông đi từ Tràng An tới những trung tâm lớn của Phật giáo Ấn Độ bao gồm Ba La Nại, Kiện Đà La, Bồ Đề Đạo Tràng, Ma Kiệt Đà, và Patna, bằng con đường phía nam, rồi tới Tích Lan, Sumatra và Java. Ông đã viếng thăm trên 30 nước khác nhau. Khi ở Pataliputra, ông đã phát hiện và mang về Trung Quốc bộ Luật Tạng của phái Đại Chúng Bộ, cũng như một bản in của Kinh Đại Bát Niết Bàn— Fa-Hsien, the famous Chinese monk and pilgrim who with fellow-monks left Ch'ang-An 399 A.D., overland for India, via Tun-Huang, Khotan, and Himalayas, finally reached it, remained alone for six years, and spent three years on the return journey, arriving by sea in 414. In India he gathered Buddhist scriptures, particularly various versions of the Vinaya-pitaka. His records of the Buddhist Kingdoms were made, on his information, by Buddhabhadra, an Indian monk in China. His own chief translation is the work on monastic discipline. Fa-Hsien set a precedent that many other Chinese pilgrims were to follow. His particular importance lies in the facts that he was the first actually to reach India, to collect scriptures, to study the teaching under various masters, and returned to China. His journey, begun together with four other monks, led him from Ch'ang-An by the southern route to the centers of India Buddhism, including Benares, Gandhara, Bodhigaya, Magadha, and Patna, to Ceylon, where he spent two years; and finally to Sumatra and Java. Altogether he visited thirty different countries. In Pataliputra, he found and brought back to China the Vinaya-pitaka of the mahasanghikas and the Sarvastivadas as well as an edition of the Mahaparinirvana-sutra. • Theo Giáo sư P.V. Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, Pháp Hiển là người đầu tiên trong ba vị khách Trung Hoa đến Ấn Độ. Pháp Hiển đã ghi chép lại các chuyến đi của mình. Pháp Hiển đã cùng bốn vị sư khác khởi hành từ Trường An và qua nhiều chặn đường, họ đã đến Đôn Hoàng. Quan cai trị ở đây cấp cho họ mọi thứ cần thiết để họ có thể vượt qua sa mạc Gô Bi. Ông gần như đi bộ trong suốt đoạn đường từ miền trung Trung Hoa băng ngang sa mạc Gô Bi, vượt qua dãy núi Hindu Kush, băng qua miền Bắc Ấn để đến hải cảng Tamralipti ở Bengal. Đến đây, ông lên thuyền đi Tích Lan rồi trở về Trung Quốc bằng đường biển sau một cuộc hành trình đầy phiêu lưu. Ông đã mang về Trung Quốc những gì mà ông đã qua Ấn Độ để tìm kiếm: các kinh sách Phật giáo cùng những tượng Phật. Khi băng qua sa mạc Gô Bi, Pháp Hiển đã ghi lại như sau: “Trong sa mạc nầy có rất nhiều ma quái và gió nóng, sức người không chịu nổi. Trên trời chẳng có chim, dưới đất chẳng có thú. Đưa mắt nhìn thật xa, mọi hướng để tìm một dấu vết đường đi, nhưng chẳng thấy gì ngoài mấy bộ xương khô của những khách bộ hành xấu số, nhờ đó mà biết đường đi.” Ông ghi nhận ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa Ấn Độ tại những nước ông đến ở miền Trung Á. Những nước ông đi qua đều học kinh sách Ấn Độ và ngôn ngữ được dùng tại Ấn Độ. Pháp Hiển đã viết về Kashgar như sau: “Nước nầy có một cái ống nhổ của Đức Phật, ống nhổ nầy làm bằng đá và có cùng màu với bát khất thực của Ngài. Tại đây người ta xây lên một ngôi tháp để thờ xá lợi những chiếc răng của Phật.” Đáng chú ý nhất là đoạn đường cực kỳ nguy hiểm dọc theo dãy núi Bolor-Tagh và việc vượt qua sông Ấn Hà, trong đó ông mô tả như sau: “Bám theo dãy núi, đoàn chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình về hướng Tây Nam trong mười lăm ngày trên một con đường gay go dốc đứng và hiểm nghèo, vì sườn núi giống như một bức tường đá cao hơn mười ngàn bộ. Khi lên đến gần sống núi thì mắt đã mờ và khi muốn bước tới thì cũng không có chỗ để đặt bàn chân nữa. Dưới kia là con sông Ấn Hà. Những người đến trước đục đá làm đường đi và phải đặt thang vào sườn đá. Tất cả có đến mấy trăm bậc đá. Khi đã vượt qua hết những bậc đá và những cây thang nầy thì chúng tôi phải qua sông bằng cầu treo làm bằng dây thừng. Hai bên bờ sông cách xa nhau gần tám mươi bước.” Sau khi trải qua mùa hè tại Udyana, khi ấy là một trung tâm Phật giáo phồn thịnh, Pháp Hiển đi bộ theo hướng Nam để đến Gandhara và Taksasila, nơi mà Đức Phật đã tiên đoán vua Ca Ni Sắc Ca sẽ cho xây một ngôi chùa ở Peshawar. Pháp Hiển đã viết: “Trong số các đền chùa mà đoàn hành hương được thấy thì không nơi nào có thể sánh được với chùa nầy về mặt vĩ đại và uy nghi, truyền thuyết cũng nói rằng trong số các ngôi chùa trên thế giới thì ngôi chùa nầy được xếp vào hạng nhất.” Từ Peshawar, Pháp Hiển một mình đi đến Nagarahara (Hadda) vì những người cùng đi đã rời bỏ ông. Thành phố nầy có một đền thờ, trong có thờ xương sọ của Phật. Xá lợi nầy được niêm phong hằng đêm bằng tám con dấu, mỗi con dấu do một nhân vật lãnh đạo thành phố trông coi. Mỗi buổi sáng, nhà vua đều đến dâng lễ vật và cúng xá lợi. Cách một nửa do tuần (khoảng 10 km) về phía Nam thành phố, Pháp Hiển nhìn thấy hang mà Đức Phật đã lưu lại dấu vết. Ông nói rõ: “Vua các nước láng giềng xung quanh đã phái nhiều nghệ sĩ tài giỏi đến để vẽ lại hang nầy mà họ không làm nổi.” Tại A Phú Hãn, nơi Pháp Hiển đến được sau khi băng qua Safed Koh, có ba ngàn tu sĩ Đại Thừa và Tiểu Thừa. Ở Bannu cũng có số tu sĩ đông như vậy, nhưng tất cả đều thuộc về Tiểu Thừa. Băng qua Punjab, Pháp Hiển đến nước Mathura sau khi đi qua nhiều tu viện với số tu sĩ lên đến mười ngàn người. Ở vùng Mathura có rất nhiều người theo đạo Phật, các tu sĩ ở đây rất được dân chúng và triều thần tôn vinh. Sau đó Pháp Hiển đến vương quốc Trung Bộ, trái tim của đế quốc Gupta. Ông đã mô tả như sau: “Nước nầy có khí hậu ôn hòa, không có sương hay tuyết. Dân cư sung túc và an lạc, không phải đăng ký gì cả, cũng không có những hạn chế của chính quyền. Chỉ những người cày đất của vua là phải trả phần lợi tức thu hoạch khá nặng. Ai muốn bỏ đi thì bỏ đi, ai muốn ở lại thì ở. Trong việc cai trị, nhà vua không dùng đến cực hình. Người phạm tội chỉ bị phạt tiền tùy theo mức độ nặng nhẹ. Cả đến tội phản loạn lần thứ hai cũng chỉ bị chặt một bàn tay phải. Những người cận vệ của vua được trả lương cố định. Cả nước chẳng có một ai giết hại mạng sống, cũng không ai uống rượu. Trong nước nầy, người ta không nuôi heo hay gà, không có chuyện buôn bán gia súc, không có lò mổ hay tiệm rượu ngoài chợ. Các tu sĩ thường trú hay lưu trú được cấp giường, nệm, thực phẩm, y áo một cách chu đáo.”—According to Prof. P.V. Bapat in The Twenty-Five Hundred Years of Buddhism, Fa-Hsienwas the first of the three Chinese pilgrims, has recorded his own travels. Together with four other monks, Fa-Hsien started from Chang-An and travelled stage by stage. They first reached Tun-Huang; the governor there gave them all that was required to enable them to cross the Gobi desert. He practically walked all the way from Central China across the Gobi desert, over the Hindu Kush and across Northern India to the seaport of Tamralipti in Bengal. There he embarked for Ceylon and returned to China by sea after an adventurous voyage. He brought back with him what he had gone to seek in India: sacred books of Buddhism and images of Buddhist deities. In his accounts, he recorded: “There are a great many evil spirits and also hot winds that men cannot stand. There are neither birds above nor beasts below. Gazing on all sides as far as eye can reach in order to mark the track, no guidance is to be obtained, except the rotting bones of death travellers, which point the way.” He notices the prevalence of Indian culture in the States he visited in Central Asia. They study Indian books and the Indian spoken language. Fa-Hsien says of Kashgar as follows: “This country has a spittoon which belonged to the Buddha; it is made of stone and is of the same color as his alms bowl. There is also a relic of the Buddha's teeth, for which people raised a pagoda to worship.” A significantly dangerous section of his route along the Bolor-Tagh range and the first crossing of the Indus as described by Fa-Hsien are worth relating: “Keeping to the range, the party journeyed on in a south-western direction for fifteen days over a difficult and dangerous road, the side of the mountain being like a stone wall ten thousand feet high. On nearing the edge, the eye becomes confused; and wishing to advance, the foot finds no resting place. Below, there is a river named Indus. The men of former times had cut away the rock to make a way down, and had placed ladders on the side of the rock. There are several hundred rock-steps in all; and after passing all the ladders and rock-steps, the river is crossed by a suspension bridge of ropes. The two banks of the river are somewhat less than eighty paces apart. After spending the summer in retreat in Udyana, then a flourishing center of Buddhism, Fa-Hsien marched South to Gandhara and Taksasila, where the Buddha prophesied that king Kaniska would raise a pagoda in Peshawar. Fa-Hsien writes: “Of all the pagodas and temples seen by the pilgrims, not one could compare with this in grandeur and dignity, and tradition says that of the various pagodas in the inhabited world this one takes the highest rank.” From Peshawar, Fa-Hsien proceeded alone to Nagarahara (Hadda) for his companions had already left him. That city had a shrine containing the Buddha's skull bone. It was sealed with eight seals every night for safety, each in the custody of one of the leading men in the city. Fa-Hsien records: “Every morning the king makes offerings and worships the relic.” Half a yojana to the south of the city, Fa-Hsien notes the the cave inside which the Buddha left his shadow: “The kings of the various countries around have sent artists to sketch it, but they have not ben able to do so.” In Afghanistan, which he entered after crossing the Safed Koh, there were three thousand monks belonging to both the Greater and Lesser Vehicles. There were the same number in Bannu, but all belonging to the Lesser Vehicle. Crossing the Punjab, he reached the Mathura country after passing many monasteries where there were nearly ten thousand monks. Buddhism was very popular in the Mathura region and its monks were honored by the people and the officials of the Court. Then Fa-Hsien reached the Middle Kingdom, the heart of the Gupta Empire. He noted: “The Mathura country has a temperate climate, without frost or snow; and the people are prosperous and happy, without registration or official restrictions. Only those who till the king's land have to pay so much on the profit they make. Those who want to go away may go; those who want to stay may stay. The king and his administration has no corporal punishments; criminals are merely fined according to the gravity of their offences. Even for a second attempt at rebellion the punishment is only the loss of the right hand. The men of the king's body-guard have all fixed salaries. Throughout the country, no one kills any living thing, nor drinks wine. In this country, they do not raise pigs or fowls; there are no dealings in cattle, no butchers' shops or distilleries in their market place. In this country, Buddhist monks are venerated and well respected. Rooms with beds and matresses, food and clothes are provided for resident and travelling monks without fail, and this is the same in all places.” • Sau đó, Pháp Hiển lần lượt đến thăm Sankasya (Kapitha), Kanyakubja (Kanauj) hay thành phố của những thiếu nữ lưng gù Shaki, Saketa hoặc Ayodhya, Xá Vệ với vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên, Ca Tỳ La Vệ, thành phố của vua Tịnh Phạn, phụ vương của Đức Phật, lúc đó như một vùng hoang dã ngoại trừ một số tu sĩ và vài chục gia đình, thành Tỳ Xá Ly, nước Ma Kiệt Đà với Hoa Thị thành (Pataliputra), tại đây ông được thấy cung điện tuyệt vời của vua A Dục. Ông đã hết lời ca ngợi Ma Kiệt Đà như sau: “Trong tất cả các nước vùng Trung Ấn, thì Ma Kiệt Đà có những đô thị, thành phố rộng lớn nhất. Dân chúng giàu có, thịnh vượng và đua nhau làm việc thiện, giúp đỡ láng giềng.” Ông cũng nói đến các bệnh viện miễn phí ở các thành phố với vẻ rất khâm phục. Từ đây ông đi đến Na Lan Đà, Vương Xá, và Bồ Đề Đạo Tràng. Ông nói: “Một cảnh hoang dã hoàn toàn bên trong những bức tường,” nhưng chung quanh là những dấu tích thiêng liêng, tất cả đều được Pháp Hiển ghi nhận đầy đủ, kể cả Ba La Nại, vườn Nai ở Sarnath, nơi Đức Phật có bài thuyết pháp đầu tiên, và cuối cùng là Kausambi với khu vường Ghociranava, ngày nay mới được tìm thấy với tên Ghositarama. Tại nơi đây, ông đã ghi lại những gì ông được nghe nói về tu viện Paravata ở Deccan. Từ Ba La Nại, Pháp Hiển quay trở lại Hoa Thị thành. Những gì ông ghi lại về các nỗ lực của mình để có được các bản viết tay về kinh điển Phật giáo khá lý thú. Thường thì các kinh sách nầy chỉ được truyền miệng từ thế hệ nầy sang thế hệ khác, và chỉ ở điện Kỳ Viên trong một tu viện Đại Thừa ông mới kiếm được một bản sao phù hợp với kinh sách đã được Nghị Hội lần thứ nhất chấp nhận và đã được các vị sư khắp nơi hành trì trong khi Đức Phật còn tại thế—Fa-Hsien then visited in succession Sankasya (Kapitha); Kanyakubja (Kanauj), the city of hump-back maidens; Shaki, Saketa or Ayodhya; Sravasti with its shrine of the Garden of Gold; Kapilavastu, the city of Suddhodana, the Buddha's father, then just like a wilderness, except for monks and some tens of families; Vaisali (Beshar); and the country of Magadha and the city of Pataliputra where he saw the marvelous palace of Asoka. He has high praise for Magadha: “Of all the countries of Central India, this has the largest cities and towns. Its people are rich and thriving to practise charity to their neighbor.” He also mentioned the free hospitals in the cities with much admiration. From there he went to Nalanda (Bargaon), Rajagrha and Gaya, then a complete waste within its walls, but surrounded by many hallowed spots, all duly noted by Fa-Hsien. Banares, including the Deer Park at Sarnath where the Buddha preached his first sermon, and lastly Kausambi with its garden of Ghociravana, the Ghositarama of recent discovery. AT this point he records what he heard of the Paravata monastery in the Deccan. From Banares, Fa-Hsien returned to Pataliputra. What he records of his efforts to gain written texts of Buddhism is interesting. Usually, they were transmitted orally from generation to generation, and only at the shrine of the Garden of Gold in Sravasti in a monastery of the Greater Vehicle he obtained a copy according to the text accepted at the First Council and practised by monks generally while the Buddha was still alive. • Sau đó ông đến Tích Lan trên đường trở về Trung Hoa. Tại Tích Lan, ông dành ra hai năm để thu thập và sao chép các kinh sách bằng tiếng Phạn chưa từng có tại Trung Hoa. Từ Tích Lan, Pháp Hiển lên một thương thuyền lớn đi Java. Pháp Hiển lưu lại Java năm tháng. Tại đây, ông thấy đạo Bà La Môn phát triển mạnh, trong khi niềm tin đạo Phật rất yếu ớt. Từ Java Pháp Hiển đáp tàu về Quảng Châu. Ông lưu lại Quảng Châu trong mùa đông trước khi lên đường về Nam Kinh. Khi đến Nam Kinh, ông trao lại cho Giáo Hội tất cả những Kinh Luật mà ông đã thu thập được—He then arrived in Ceylon on his way back to China. In Ceylon, he spent two years to collect and copy Sanskrit texts unknown in China. From Ceylon, Fa-Hsien sailed in a big merchant vessel to Java. He stayed in Java for five months. There he found Brahmanism flourishing while the faith of the Buddha was very weak. From Java, Fa-Hsien sailed in another merchant vessel to Kuang-Chou. He spent a winter in Kuang-Chou before going south to the capital, Nan-Ching, where he handed over to the Order all the Sutras and the Disciplines he had collected. • Phần kết của tập ký sự ông viết rất xúc động: “Pháp Hiển đã mất sáu năm để đi từ Trường An đến Trung Ấn, ở lại đây sáu năm, và mất thêm ba năm nữa mới về Quảng Châu. Bần đạo đã đi qua tất cả gần 30 nước. Trong cuộc hành trình dài với biết bao khó khăn nguy hiểm, Pháp Hiển chẳng nghĩ gì đến thân mạng tự nghĩ là không quan trọng của mình. Rất may là nhờ có sự hộ trì che chở của Tam Bảo, bần đạo đã bình an trở về được đến quê nhà. Thế nên, Pháp Hiển đã ghi lại trên các thẻ tre và bản lụa câu chuyện chuyến đi để mong chia sẻ cùng các độc giả tại Trung Quốc về những điều ít ai được biết đến nầy.”—The conclusion of his account is very touching, he says: “Fa-Hsien spent six years in travelling from Ch'ang-An to Central India; he stayed there for six years, and it took him three more years to get back to Kuang-Chou. He passed through thirty countries from the sandy desert westwards all the way to India. In the long journey with tremendous difficulties and dangers, Fa-Hsien had given no thought to his own unimportant life. Happily, owing to the protection of the Precious Trinity, he returned home safely. Therefore, he wrote down on bamboo tablets and silk accounts of what he had been through, desiring to share with the readers in China this rare information.” ; (法顯) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đông Tấn, người Vũ dương, Bình dương (tỉnh Sơn tây), họ Cung, có thuyết cho rằng sư sinh vào năm Hàm khang thứ 6 (340) đời Đông Tấn.Sư xuất gia năm 3 tuổi, 20 tuổi thụ giới Cụ túc. Năm Long an thứ 3 (399), sư cùng các bạn đồng học là Tuệ cảnh, Đạo chỉnh, Tuệ ứng, Tuệ ngôi v.v... rời thành Trường an, băng qua vùng sa mạc, vượt dãy núi Thông lãnh đến Thiên trúc cầu pháp. Lúc bấy giờ sư đã 60 tuổi. Sau khi chiêm bái các nơi Phật tích, sư ở lại thành Hoa thị (Phạm:Pàỉaliputra, nay là thành phố Patna, thuộc tiểu bang Bihar) học 3 năm, 2 năm học ở vùng hạ du sông Hằng gần Calcutta, sau đến Tích lan học 2 năm, rồi qua Sumatra. Sư đã học luật, Trường a hàm, Tạp a hàm, kinh Niết bàn v.v... Năm Nghĩa hi thứ 9 (413), sư trở về nước sau hơn 10 năm du học. Sư mang về rất nhiều kinh điển bằng tiếng Phạm. Rồi ở chùa Đạo tràng, sư cùng với ngài Phật đà bạt đà la hợp lực cùng dịch các kinh luật luận như sau: Luật Ma ha tăng kì, kinh Đại bát nê hoàn, kinh Tạp tạng, luận Tạp a tì đàm tâm... Ngoài ra, sư còn soạn bộ Phật quốc kí(cũng gọi Cao tăng Pháp hiển truyện) ghi lại những điều mắt thấy tai nghe trong cuộc hành trình cầu pháp từ các nước vùng Trung á đến Ấn độ đương thời. Đây là tác phẩm có ý nghĩa quan trọng về mặt văn hiến. Sau, sư thị tịch ở Tân tự tại Kinh châu, khoảng năm Nghĩa hi 14 đến niên hiệu Cảnh bình năm đầu (418-423), thọ 86 tuổi, có thuyết nói thọ 82 tuổi. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, 3, 8; Lương cao tăng truyện Q.3; Ngụy thư thích lão chí Q.20; Lịch đại tam bảo kỉ Q.7].

pháp hiển truyện

(法顯傳) Cũng gọi Cao tăng Pháp hiển truyện, Phật quốc kí, Lịch du Thiên trúc kí truyện, Cao tăng truyện. Truyện kí, 1 quyển, do ngài Pháp hiển soạn vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Nội dung sách này ghi lại quá trình ngài Pháp hiển đi qua các nước Tây vực đến Ấn độ cầu pháp. Đây là bộ sách xưa nhất trong các bộ du kí của những vị cao tăng Trung quốc sang Ấn độ cầu pháp hiện còn. Bộ sách này cùng với các bộ: Đại đường tây vực kí của ngài Huyền trang và bộ Nam hải kí qui nội pháp truyện của ngài Nghĩa tịnh đều là những tư liệu quan trọng về lịch sử, địa lí của thời Trung cổ. Vào thế kỉ XIX, sách này rất được các học giả Âu tây coi trọng và đã được dịch ra các thứ tiếng sau đây: -Foekoue Ki ou Relation des royaumes bouddhiques Paris, 1836 par A. Rémusat. -Travels of Fa-hian and Sung yun, Buddhist Pilgrims from China to India London, 1869, by S. Beal. -Record of the Buddhistic Kingdoms, London, 1877, by H.A. Giles. -A Record of the Buddhistic Kingdoms, being an Account by the Chinese Monk Fa-hsien Oxford, 1886, by J.Legge. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.15; Cao tăng truyện Q.3; Đại đường nội điển lục Q.3; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.30].

pháp hiện hành chẳng tương ưng

Chẳng phải vô hình như Tâm vương, Tâm sở, chẳng phải có hình như sắc pháp, với ba thứ pháp này chẳng tương ưng mà lại biến hóa ảo tượng trong vũ trụ, nên gọi là pháp hiện hành chẳng tương ưng, cũng như sanh, trụ, dị, diệt, mạng căn, đắc, phi đắc… Tất cả mười bốn thứ.

pháp hiệu

Tên đạo của một vị sư khi được làm lễ thọ giới—The name received by a monk on ordination. ; (法號) I. Pháp Hiệu. Cũng gọi Giới danh, Pháp húy, Pháp danh. Tên do thầy đặt cho sau khi xuất gia thụ giới.(xt. Pháp Danh). II. Pháp Hiệu. Chỉ cho thụy hiệu của các sư sau khi tịch.

pháp hoa

1) Kinh Diệu Pháp Liên Hoa—The Dharma-flower, i.e. the Lotus Sutra. 2) Tên của một ngôi chùa nổi tiếng tọa lạc trong quận Phú Nhuận, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được Hòa Thượng Đạo Thanh xây năm 1928 và trùng tu năm 1932. Trong Chánh điện có tượng Phật tạc 150 năm về trước từ nguyên khối đá cẩm thạch của núi Ngũ Hành Sơn Đà Nẳng. Trên tường bên hông Chánh điện có bản “Công Cứ Niệm Phật” bằng gỗ, được Hòa Thượng Khánh Anh khắc năm 1920. Giữa là một bao lam khắc Tam Thánh, Cửu Phẩm Liên Hoa và Thánh chúng bên dưới—Name of a famous pagoda located in Phú Nhuận district, Saigon City, South Vietnam. The pagoda was built in 1928 and rebuilt in 1932. In the Main Hall, the statue of Sakyamuni Buddha is worshipped. The statue is made of a block of marble stone, and was cast 150 years ago from Mount Ngũ Hành in Đà Nẳng province. On the wall of the Main Hall, there is the “Công Cứ Niệm Phật” board, carved in wood by Most Venerable Khánh Anh in 1920. In the middle of the board is the bas-relief of the Three Amitabha Noble Ones, the Lotus of Nine Stages and Sages are placed at the bottom.

pháp hoa bát diệp

(法華八葉) Tám cánh hoa của diệu pháp. Theo Mật giáo thì hoa sen của diệu pháp tượng trưng cho nhục đoàn tâm (trái tim) của chúng sinh. Bởi vậy, giống như nhục đoàn tâm có 8 múi, hoa sen của diệu pháp cũng có 8 cánh, gọi là Pháp hoa bát diệp.[X. Pháp hoa bí lược yếu sao Q.1].

pháp hoa bát giảng

(法華八講) Cũng gọi Ngự bát giảng hội, Ngự bát giảng. Gọi tắt: Bát giảng. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho pháp hội giảng diễn cúng dường kinh Pháp hoa. Bộ kinh Pháp hoa có 8 quyển, được chia ra 8 tòa giảng thuyết, mỗi tòa giảng thuyết một quyển, vì thế gọi là Pháp hoa bát giảng. Loại pháp hội này có nguồn gốc tại Trung quốc, sau thịnh hành ở Nhật bản. Cứ theo truyện Tuệ minh đời Đường trong Pháp hoa truyện kí quyển 3 (Đại 51, 58 trung) ghi: Người trời nói: Tôi muốn trở về cõi trời gấp, xin sư hãy chia bộ kinh ra giảng làm 8 lần. Ngài Tuệ minh nói: Trì tụng 7 quyển thì chia làm 7 tòa giảng, cần gì phải chia làm tám? Người trời đáp: Đức Phật nói kinh Pháp hoa trong 8 năm, nếu giảng 8 năm thì lâu quá. Tôi muốn mở 8 tòa giảng coi như là nói 8 năm, như vậy có thể tóm lược ý chỉ của Phật. Ngài Tuệ minh chấp nhận, bèn chia 7 quyển kinh làm 8 hội giảng. Đó là nguồn gốc của việc chia kinh Pháp hoa làm 8 hội để giảng. Ngoài ra, tại Nhật bản, có nơi thêm kinh Vô lượng nghĩa vào phần mở đầu và kinh Quán phổ hiền vào phần kết thúc của 8 quyển kinh Pháp hoa mà chia làm 10 tòa để giảng thuyết, gọi là Pháp hoa thập giảng. Cũng có khi thêm kinh Vô lượng nghĩa và kinh Quán phổ hiền vào 28 phẩm kinh Pháp hoa, rồi mỗi ngày giảng 1 phẩm thành 30 hội giảng, gọi là Pháp hoa tam thập giảng; hoặc cũng có ngày giảng 2 phẩm. Những pháp hội này đều gọi là Pháp hoa hội, Pháp hoa vấn đáp giảng. [X. Duệ sơn đại sư truyện, Nhật bản kỉ lược hậu thiên Q.13, Phù tang lược kí Q.23, 26, 29; Nguyên hanh thích thư Q.2; Thất đại tự niên biểu].

pháp hoa huyền luận

(法華玄論) Cũng gọi Pháp hoa kinh huyền luận. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Cát tạng (549-623) soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 34. Sách này dựa theo giáo chỉ Tam luận để giải thích rõ yếu nghĩa của kinh Pháp hoa. Nội dung bao gồm: 1. Hoằng kinh phương pháp: Nói về cách thức hoằng truyền kinh Pháp hoa. 2. Đại ý: Nói về 16 nguyên do đức Phật tuyên thuyết kinh Pháp hoa. 3. Thích danh: Giải thích ý nghĩa đề kinh Diệu pháp liên hoa. 4. Lập tông: Nói rõ về tông chỉ của kinh Pháp hoa. 5. Quyết nghi: Bàn về điểm giống nhau và khác nhau giữa 3 bộ kinh Bát nhã, Tịnh danh và Pháp hoa. 6. Tùy văn thích nghĩa: Lần lượt giải thích đại cương của 28 phẩm kinh Pháp hoa.Trong sách này, tác giả có trưng dẫn các thuyết của nhiều nhà như: Tăng duệ, Tuệ quán, Đạo lãng, Lưu cầu, Cưu ma la thập, Tăng triệu,Cầu na bạt ma, Đạo sinh, Tuệ viễn, Bồ đề lưu chi v.v... [X. Pháp hoa luận sớ Q.thượng; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1; Tam luận tông chương sớ].

Pháp Hoa Huyền Nghĩa

(法華玄義, Hokkegengi): thường gọi là Diệu Pháp Liên Hoa Hoa Kinh Huyền Nghĩa (妙法蓮華經玄義), gọi tắt là Huyền Nghĩa (玄義), 10 quyển, là một trong 3 bộ luận lớn của Thiên Thai Tông, do Thiên Thai Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-597) giảng thuật trong mùa an cư năm 594 tại Ngọc Tuyền Tự (玉泉寺), Kinh Châu (荆州) vào năm 593 (niên hiệu Khai Hoàng [開皇] thứ 13 của nhà Tùy); sau đó Chương An Quán Đảnh (章安灌頂) chấp bút chỉnh lý và thêm lời tựa cho bộ này. Từ 5 phương diện Thích Danh (釋名), Biện Thể (辨体), Minh Tông (明宗), Luận Dụng (論用) và Phán Giáo (判敎), bộ này nói lên đặc sắc của 5 phương diện này về đề Kinh Pháp Hoa. Đây được gọi là Ngũ Trùng Huyền Nghĩa (五重玄義) và trở thành truyền thống của phương pháp giải thích Kinh Pháp Hoa trong Thiên Thai Tông. Luận thư này khái quát về chữ pháp (法) thông qua 3 pháp là Tâm (心), Phật (佛), Chúng Sanh (眾生); giải thích chữ diệu (妙) là Tương Đãi (相待), Tuyệt Đãi (絕待); lại giải thích thêm bằng Thập Diệu (十妙) của Tích Môn (迹門) và Bản Môn (本門). Có thể nói đây là thư tịch khái luận Phật Giáo, lấy giáo phán độc đáo của Thiên Thai để thống nhiếp toàn bộ Phật Giáo.

pháp hoa huyền nghĩa

(法華玄義) Gọi đủ: Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa. Gọi tắt: Pháp hoa kinh huyền nghĩa, Huyền nghĩa, Diệu huyền. Tác phẩm, 10 quyển (hoặc 20 quyển) do Đại sư Trí khải tông Thiên thai giảng vào năm Khai hoàng 13 (593) đời Tùy ở chùa Ngọc tuyền, Kinh châu, ngài Quán đính ghi chép, được thu vào Đại chính tạng tập 33. Sách này giải thích đề kinh Diệu pháp liên hoa và nói rõ nghĩa lí sâu xa mầu nhiệm của kinh Pháp hoa. Nội dung chia làm 2 phần: Thất phiên cộng giải và Ngũ trùng các thuyết, tức Ngũ trùng huyền nghĩa (Thích danh, Biện thể, Minh tông, Luận dụng, Phán giáo) được chia làm 2 môn Thông và Biệt để giải thích. -Thông thích: Lập 7 khoa: Tiêu chương, Dẫn chứng, Sinh khởi, Khai hợp, Liệu giản, Quán tâm và Hội dị để giải thích chung về đại cương của bộ kinh, gọi là Thất phiên cộng giải (7 lược giải chung). -Biệt giải: Căn cứ vào Ngũ trùng huyền nghĩa (5 lớp nghĩa sâu kín)nói trên mà giải thích riêng từng lớp một, gọi là Ngũ trùng các thuyết, gồm có 5 chương: 1. Thích danh: Giải thích rõ về 5 chữ đề kinh Diệu pháp liên hoa kinh, trong đó bao hàm 2 diệu nghĩa Đãi và Tuyệt, Tích môn và Bản môn. 2. Biện thể: Nói rõ thực tướng các pháp là thể của kinh này. 3. Minh tông: Nhấn mạnh Nhất thừa chân thực, lấy nhân quả của Phật thừa làm tông chỉ của kinh này. 4. Luận dụng: Lấy đoạn nghi sinh tín, tăng đạo tổn sinh là tác dụng của kinh này. 5. Phán giáo: Lập thuyết 5 thời 8 giáo, nhận kinh này là giáo pháp đề hồ, thuần viên độc diệu. Nội dung Thất phiên cộng giải (7 lượt giải chung) và Ngũ trùng các thuyết (5 lớp nói riêng) được đồ biểu như sau (thiếu biểu đồ). 2. Biệt thích Thông thích (Thất phiên cộng giải) 1. Tiêu chương 2. Dẫn chứng 3. Sinh khởi 4. Khai hợp 5. Liệu giản 6. Quán tâm 7. Hội dị Biệt thích (Ngũ trùng các thuyết) 1. Thích danh 2. Biện thể 3. Minh tông 4. Luận dụng 5. Phán giáo 1. Lược thị 2. Chính thích 1. Pháp (Tam pháp diệu) Tích môn 1. Cảnh diệu 2. Trí diệu 3. Hành diệu 4. Vị diệu 5. Tam pháp diệu 6. Cảm ứng diệu 7. Thần thông diệu 8. Thuyết pháp diệu 9. Quyến thuộc diệu 10. Lợi ích diệu Bản môn 1. Bản tích 2. Thập diệu 2. Diệu Diệu pháp 1. Phán thông biệt 2. Định tiền hậu 3. Xuất cựu 4. Chính giải Liên hoa 1. Định pháp thí 2. Dẫn cựu giải 3. Xuất kinh luận 4. Chính giải Kinh 1. Thông thích (Đãi Tuyệt nhị diệu)

pháp hoa huyền nghĩa thích thiêm

(法華玄義釋簽) Cũng gọi Thiên thai Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm, Pháp hoa thích tiêm, Huyền nghĩa thích tiêm, Huyền tiêm, Thích tiêm, Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa thích tiêm. Tác phẩm, 20 quyển (hoặc 10 quyển), do ngài Trạm nhiên (711-782) soạn vào năm Quảng đức thứ 2 (764) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 33. Đây là tác phẩm giải thích bộ Pháp hoa huyến nghĩa của ngài Trí khải. Trước hết chia toàn văn của bộ Pháp hoa huyền nghĩa thành những tiết, rồi sau đó giải thích ý văn và nghĩa chữ, những điểm quan trọng có diễn giải bổ sung thêm. Trong sách này có nhiều chỗ phê bình và bác xích thuyết của các ngài Cát tạng tông Tam luận, Khuy cơ tông Pháp tướng, Pháp tạng, Tuệ uyển, Trừng quán... tông Hoa nghiêm, trong khi nỗ lực làm sáng tỏ chân ý của tông Thiên thai. Đời sau, những người nghiên cứu nghĩa sâu xa của kinh Pháp hoa, phần nhiều dùng sách này làm kim chỉ nam. [X. Thiên thai tông chương sớ; Đông vực truyền đăng mục lục Q.thượng; Phật tổ thống kỉ Q.10, 25, 47; Đại minh tam tạng thánh giáo mục lục Q.4; Duyệt tạng tri tân Q.39].

Pháp Hoa huyền tán

法華玄贊; C: făhuā xuánzàn; J: hokke gensan; |20 quyển, Khuy Cơ biên soạn. Nhan đề đầy đủ là Pháp liên hoa kinh huyền tán (法蓮華經玄贊). Đó là giải thích về kinh Pháp Hoa theo quan điểm của Pháp tướng tông. Bao gồm trích dẫn luận giải của Thế Thân về kinh Pháp Hoa, cũng như trích dẫn luận giải của vài học giả nổi tiếng khác về Duy thức.

pháp hoa huyền tán

(法華玄贊) Cũng gọi Diệu pháp liên hoa kinh huyền tán, Pháp hoa kinh huyền tán, Huyền tán. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Từ ân Khuy cơ (623-682) soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 34. Sách này theo lập trường Duy thức học của tông Pháp tướng để giải thích kinh Pháp hoa, y cứ vào chủ trương Nhất thừa phương tiện, Tam thừa chân thực của luận Nhiếp đại thừa mà phê phán thuyết của các tông Thiên thai, Hoa nghiêm... Trong sách có dẫn dụng luận Pháp hoa của ngài Thế thân, Chú pháp hoa kinh của ngài Lưu cầu, Chú vô lượng nghĩa kinh của ngài Tuệ biểu v.v... Nội dung sách này trước hết nói về nguyên nhânhưng khởi của kinh Pháp hoa, kế đến nói rõ về tông chỉ kinh Pháp hoa, giải thích lí do đặt tên và thứ tự của các phẩm kinh, cuối cùng là giải thích văn kinh. Sách này có bản dịch Tây tạng đề là Diệu pháp liên hoa chú, được thu vào Đại tạng kinh Tây tạng. Về các sách chú thích Pháp hoa huyền tán thì có: Pháp hoa huyền tán nghĩa quyết 1 quyển, Pháp hoa huyền tán nhiếp thích 4 quyển, Pháp hoa huyền tán quyết trạch kí 8 quyển. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1; Pháp tướng tông chương sớ].

Pháp Hoa kinh

法華經; C: făhuā jīng; J: hokkekyō; |Có 2 bản dịch: 1. Diệu pháp liên hoa kinh (妙法蓮華經), Cưu-ma-la-thập dịch; 2. Chính Pháp Hoa kinh (正法華經), Trúc Pháp Hộ (s: dharmarakṣa) dịch.

pháp hoa kinh

Saddharma-pundarika-sutra (skt)—The Lotus Sutra. ** For more information, please see Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

pháp hoa kinh an lạc hành nghĩa

(法華經安樂行義) Cũng gọi An lạc hạnh nghĩa, Pháp hoa an lạc hạnh. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tuệ tư (515- 577) soạn vào đời Trần thuộc Nam triều, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Sách này y cứ vào hạnh Tam muội được chỉ bày trong phẩm An lạc hạnh của kinh Pháp hoa mà nói rõ về việc thực hành Pháp hoa tam muội gồm có 2 loại: Hữu tướng hạnh và Vô tướng hạnh. 1. Hữu tướng hạnh: Dựa vào phẩm Phổ hiền khuyến phát trong kinh Pháp hoa mà nói về hạnh quán tưởng Phổ hiền, nhấn mạnh việc tinh tiến đọc tụng kinh Pháp hoa.2. Vô tướng hạnh: Chuyên tu thiền định, thể nhập tam muội trong hết thảy các pháp tâm tướng vắng lặng, rốt ráo chẳng sinh. Ngài Tuệ tư suốt đời thực hành nghĩa không của Bát nhã mà đạt được ý chỉ sâu xa của Phật pháp. Vì muốn cho mọi người tu hành đều được sự lợi ích của chính pháp, nên ngài đem sự thể nghiệm của bản thân trình bày thành sách này. Kết quả không những phát huy tu thiền và niệm Phật, mà còn là nhân tố khai sinh ra giáo quán Thiên thai. Đối với lịch sử giáo lí của Phật giáo Trung quốc, tác phẩm này đã ảnh hưởng rất lớn.

pháp hoa kinh nghĩa kí

(法華經義記) Cũng gọi Pháp hoa nghĩa kí, Pháp hoa nghĩa sớ, Pháp hoa kinh sớ, Pháp hoa sớ, Diệu pháp liên hoa kinh nghĩa kí, Diệu pháp liên hoa kinh nghĩa sớ, Pháp hoa kinh nghĩa sớ, Pháp hoa quang trạch sớ. Tác phẩm, 8 quyển, do ngài Pháp vân (467-520) soạn vào đời Lương, được thu vào Đại chính tạng tập 33. Đây là sách chú thích kinh Diệu pháp liên hoa, trước hết, giải thích đề kinh, kế đến, bàn về tông chỉ của kinh, đem chia văn kinh thành 3 phần: Phần Tựa, phần Chính tông và phần Lưu tông, rồi giải thích nghĩa văn của 27 phẩm, từ phẩm Tựa trở xuống đến phẩm Phổ hiền khuyến phát. Dưới mỗi phẩm đều có lập khoa để nói rõ về trình tự đức Phật thuyết kinh Pháp hoa. Đặc biệt sách này giải thích rõ ràng thêm về ý nghĩa của 2 trí Quyền và Thực trong phẩm Phương tiện và nghĩa 3 xe (xe bò, xe nai và xe dê) trong phẩm Thí dụ. Nhưng không giải thích về phẩm Đề bà đạt đa và phần Trùng tụng trong phẩm Phổ môn, bởi vì, thời bấy giờ kinh Pháp hoa vẫn chưa có phẩm Đề bà đạt đa. Còn phần 16 vương tử nói kệ trong phẩm Hóa thành dụ cũng bị lược bớt. Chỉ trừ bộ Pháp hoa kinh sớ (bản xưa) của ngài Trúc đạo sinh, bộ Pháp hoa kinh nghĩa kí này là xưa nhất so với các bộ chú giải kinh Pháp hoa hiện còn ở Trung quốc. Ngoài ra, bộ Pháp hoa kinh nghĩa sớ của Thái tử Thánh đức, Nhật bản và các bộ Pháp hoa sớ của ngài Trí khải, ngài Cát tạng v.v... không nhiều thì ít đều có chịu ảnh hưởng của tác phẩm này. [X. Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.13].

pháp hoa kinh sớ

(法華經疏) I. Pháp Hoa Kinh Sớ. Cũng gọi Pháp hoa kinh lược sớ, Pháp hoa nghĩa sớ, Diệu pháp hoa kinh lược sớ, Diệu pháp liên hoa kinh sớ, Diệu pháp liên hoa kinh lược sớ. Kinh sớ, 2 quyển, do ngài Trúc đạo sinh soạn vào đời Lưu Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 150. Sách này được hoàn thành ở tinh xá Đông lâm tại Lô sơn vào năm Nguyên gia thứ 9 (432), trong đó, ngài Trúc đạo sinh chỉnh lí các bài giảng của thầy là Đại sư Cưu ma la thập, rồi thêm phần kiến giải của riêng mình để nói rõ về chân nghĩa Nhất thừa của kinh Pháp hoa và chia văn kinh làm 3 đoạn: Nhân, Quả vàNgười để thuyết minh về nhân quả Nhất thừa. Đây là sách chú thích còn giữ được nguyên hình bản dịch kinh Pháp hoa của ngài Cưu ma la thập. Chẳng hạn, trong sách này không có phẩm Đề bà đạt đa, nên chỉ là hình thái kinh Pháp hoa 27 phẩm và trong phẩm Phổ môn cũng không có phần kệ trùng tụng... đây đều là giữ được hình thái xưa nhất của kinh Pháp hoa. Rồi đến sự giải thích về Diệu pháp, Tam nhất khai hiển, Cửu viễn hiển bản... đều giống với chủ trương của môn hạ ngài La thập. Ngoài ra, sách này tuy có bàn về Viên lí, Trung đạo nhưng chưa được rõ ràng như Thiên thai, Hoa nghiêm... Nhưng vấn đề Thiên thai, Hoa nghiêm... kế thừa tư tưởng của sách này thì không còn nghi ngờ gì nữa. Trong những tác phẩm của ngài Trúc đạo sinh, sách này là bản duy nhất hiện còn và cũng là sách chú thích kinh Pháp hoa xưa nhất còn lại ở Trung quốc. Lời văn lưu loát, trong sáng và ý tưởng phong phú; tác giả cũng còn dùng những tự cú của các kinh sách khác như kinh Dịch... 1 cách rất khéo léo, khiến cho phần giải thích giáo nghĩa thêm linh hoạt, mới mẻ. Phong cách ưu việt của tác phẩm này đã trở thành khuôn mẫu cho những sách chú thích kinh điển ở đời sau. Có thuyết cho rằng sách này không phải do ngài Trúc đạo sinh soạn, mà là do người khác ngụy tạo; nhưng theo truyện Đạo sinh trong Xuất tam tạng kí tập quyển 15, thì ngài Đạo sinh có soạn các bộ nghĩa sớ của các kinh như: Kinh Duy ma, Pháp hoa, Nê hoàn, Tiểu phẩm bát nhã v.v... Hơn nữa, ở đầu quyển và cuối quyển của Pháp hoa kinh nghĩa kí đều ghi 4 chữ: Trúc Đạo Sinh Soạn. Điều này chứng tỏ thuyết trên đã không có cơ sở chính xác. Ngoài ra, sách này còn có 3 loại bản dịch đào được ở hang động Đôn hoàng, đều được thu vào Đại chính tạng tập 85. II. Pháp Hoa Kinh Sớ. Cũng gọi pháp hoa kinh nghĩa kí, Pháp hoa quang trạch sớ, Pháp hoa sớ, Pháp hoa nghĩa sớ. Tác phẩm, 8 quyển, do ngài Pháp vân, chùa Quang trạch, soạn vào đời Lương, được thu vào Đại chính tạng tập 33. (xt. Pháp Hoa Kinh Nghĩa Kí).

pháp hoa kinh thập thất danh

(法華經十七名) Mười bảy tên của kinh Pháp hoa. Trong tác phẩm Pháp hoa kinh luận của mình, ngài Thế thân có nêu ra 17 tên gọi khác nhau của kinh Pháp hoa để hiển bày ý nghĩa sâu xa mầu nhiệm không thể nghĩ bàn của kinh này. Đó là: 1. Vô lượng nghĩa kinh (Phạm: Mahànirdeza): Đức Phật muốn nói về lí Nhất thực tướng của Pháp hoa, nên trước hết Ngài nói Vô lượng nghĩa xứ, đem vô lượng nghĩa này qui về lí Nhất thực tướng. 2. Tối thắng tu đa la (Phạm:Sùtrànta): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng, là diệu pháp hơn hết trong Tam tạng, không có kinh nào sánh bằng. 3. Đại phương quảng kinh (Phạm: Mahà-vaipulya): Kinh Pháp hoa chỉ bàn về lí Nhất thừa thực tướng, đầy đủ 3 nghĩa: Đại (rộng lớn), Phương (chính lí) và Quảng (trùm khắp). 4. Giáo bồ tát pháp (Phạm: Bodhisattvàvavàda): Kinh Pháp hoa chỉ bàn về lí Nhất thừa thực tướng mà đức Như lai dùng để giáo hóa tất cả Bồ tát đã thành tựu thiện căn, tùy thuận pháp khí, khiến chứng được quả vị Phật. 5. Nhất thiết chư Phật sở hộ niệm (Phạm: Sarva-buddha-parigraha): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng mà đức Phật đã tự chứng đắc và được hết thảy chư Phật hộ niệm. Tuy muốn mở bày cho chúng sinh, nhưng vì căn cơ của họ còn thấp kém, nên Ngài tạm thời im lặng không vội nói ra. 6. Nhất thiết chư Phật bí mật pháp (Phạm: Sarva-buddha-rahasya): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng, pháp này rất sâu xa, huyền nhiệm, là pháp bí mật của hết thảy chư Phật và chỉ có chư Phật chứng biết được. 7. Nhất thiết chư Phật chi tạng(Phạm: Sarva-buddha-nigùđha): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng, công đức Tam muội của tất cả các đức Như lai đều bao hàm trong kinh này. 8. Nhất thiết chư Phật bí mật xứ (Phạm: Sarva-buddha-guhya-sthàna): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng, đó là tạng bí mật của hết thảy chư Phật. Vì thiện căn của chúng sinh chưa chín mùi, chưa đủ khả năng để lãnh nhận diệu pháp, nên đức Phật không vội diễn nói cho họ. 9. Năng sinh nhất thiết chư Phật kinh (Phạm: Sarva-buddha-jàti): Kinh Pháp hoa chỉ bàn về lí Nhất thừa thực tướng, chư Phật trong 3 đời (quá khứ, hiện tại, vị lai) đều nhờ pháp này mà thành tựu đạo quả Đại bồ đề. 10. Nhất thiết chư Phật chi đạo tràng (Phạm: Sarva-buddha-bodhi-maịđa): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng, đó là đạo tràng của tất cả chư Phật; người nghe pháp này thì có thể thành tựu được đạo quả Bồ đề. 11. Nhất thiết chư Phật sở chuyển pháp luân (Phạm: Sarva-buddhadharma-cakra-pravartana): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng, chư Phật ra đời đều dùng pháp môn này để quay bánh xe pháp diệt trừ phiền não chướng cho hết thảy chúng sinh, làm cho họ được giải thoát. 12. Nhất thiết chư Phật kiên cố xá lợi (Phạm: Sarva-buddhaika-ghana-zarìra): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng, đó là xá lợi của Pháp thân Phật mà từ xa xưa đến nay không đổi dời, không hư hoại.13. Nhất thiết chư Phật đại xảo phương tiện kinh (Phạm: Sarvopàyakauzalya): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng, chư Phật nhờ pháp môn này mà đã thành tựu Đại bồ đề, trở lại dùng phương tiện thiện xảo rộng lớn diễn nói pháp Nhân, Thiên, Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát khiến chúng sinh ngộ nhập cảnh giới Phật. 14. Thuyết nhất thừa kinh (Phạm: Ekayàna-nirdeza) Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng, hiển bày thể tính bồ đề rốt ráo của chư Phật, chẳng phải là chỗ mà hàng Thanh văn, Duyên giác có thể chứng được. 15. Đệ nhất nghĩa trụ (Phạm: Paramàrtha-nirhàra-nirdeza): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng, đó là chỗ an trụ tột cùng của Pháp thân Như lai. 16. Diệu pháp liên hoa kinh (Phạm: Saddharma-puịđarìka): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng. Kinh này dùng hoa sen làm thí dụ, bởi vì Diệu pháp tức là quyền thực nhất thể, mà hoa sen thì hoa quả đồng thời. 17. Tối thượng pháp môn (Phạm: Dharma-paryàya): Kinh Pháp hoa chỉ nói về lí Nhất thừa thực tướng, vô lượng pháp nghĩa được hiển bày trong các kinh đều chứa đựng trong kinh này, vì thế kinh này là thù thắng hơn hết trong các kinh.

pháp hoa linh nghiệm truyện

(法華靈驗傳) Cũng gọi Pháp hoa kinh linh nghiệm truyện. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Liễu viên (Liễu nhân), người Cao li soạn, được thu vào Vạn tục tạng tập 134. Nội dung sách này tường thuật 107 sự tích linh nghiệm có liên quan đến kinh Pháp hoa từ xưa đến nay, tức là sao chép những sự tích lạ lùng nhất trong 3 bộ sách: Hoằng tán Pháp hoa truyện, do ngài Tuệ tường soạn vào đời Đường, Pháp hoa kinh hiển ứng lục, do ngài Tông hiểu soạn vào đời Nam Tống và Hải đông truyền hoằng lục, do ngài Chân tịnh người Cao li soạn. [X. Đông vực truyền đăng mục lục Q.thượng].

Pháp Hoa luận

法華論; C: fă huá lùn; J: hokkeron; |Diệu Pháp Liên Hoa kinh ưu-ba-đề-xá (妙法蓮華經憂波提舎).

pháp hoa luận sớ

(法華論疏) Tác phẩm, 3 quyển (hoặc 2 quyển), do ngài Cát tạng (549-623) soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 40. Đây là sách chú giải bộ luận Pháp hoa của ngài Thế thân. Ngài Cát tạng soạn rất nhiều sách chú thích kinh Pháp hoa và trong những tác phẩm ấy của ngài, người ta nhận thấy ảnh hưởng của bộ luận Pháp hoa khá sâu đậm, sách này là 1 trong những tác phẩm ấy. Nội dung sách này nhằm chỉ ra sự sai lầm của những giáo phán Tứ tông, Ngũ thời... ở thời đại Nam Bắc triều, như đã hiểu sai ý chỉ mà hạ thấp kinh Pháp hoa là Vô thường giáo hoặc Phú tướng thường trụ giáo. Bởi thế, ngài Cát tạng đã đứng trên lập trường của tông Tam luận để làm sáng tỏ ý chỉ Nhất thừa thực tướng trong kinh Pháp hoa. Sách này đã có ảnh hưởng rất lớn đối với lịch sử giáo lí của Phật giáo. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3; Chư tông chương sớ lục Q.1; Đông vực truyền đăng mục lục Q.hạ].

pháp hoa mạn đồ la

(法華曼荼羅) Cũng gọi Pháp hoa kinh mạn đồ la, Pháp hoa biến tướng. Bức Mạn đồ la khắc hoặc vẽ về những cảnh tượng được miêu tả trong kinh Pháp hoa.Tại Trung quốc, từ xưa, tín ngưỡng kinh Pháp hoa đã rất thịnh hành, cho nên có không ít những bức tranh vẽ hoặc chạm trổ về những cảnh tượng được miêu tả trong kinh Pháp hoa, như trong các hang động Vân cương và Long môn ở huyện Đại đồng, tỉnh Hà nam, có tháp Đa bảo được khắc vào thời đại Lục triều, trong tháp có đức Phật Thích ca và đức Phật Đa bảo cùng ngồi; trong động Thiên Phật ở huyện Đôn hoàng tỉnh Cam túc cũng có những bức bích họa Pháp hoa biến tướng được vẽ vào thời đại Đường, Tống. Trong đó, bức bích họa ở hang thứ 8 trong động Thiên Phật tại Đôn hoàng là tranh biến tướng của phẩm Tựa kinh Pháp hoa; rồi đến các bức bích họa trong các hang 74, 81, 102, 117, 120F, 168 v.v... đều là tranh vẽ biến tướng của các phẩm Pháp hoa. Trong các hang 97, 111, 135C... thì có các bức tranh vẽ và điêu khắc tháp Đa bảo. Trong Mật giáo, khi tu pháp kinh Pháp hoa thì dùng Mạn đồ la Pháp hoa, trong đó, vẽ đức Phật Thích ca và Phật Đa bảo làm Bản tôn. Theo Quán trí nghi quĩ thì Mạn đồ la Pháp hoa có 3 lớp: Lớp trong cùng (nội viện) vẽ hoa sen 8 cánh, trên đài sen có vẽ ngôi tháp, trong tháp vẽ đức Phật Thích ca và đức Phật Đa bảo cùng ngồi 1 tòa, trên mỗi cánh sen trong 8 cánh an trí 1 vị Bồ tát, ở mỗi góc trong 4 góc của lớp trong (nội viện)cũng đều an trí 1 vị Bồ tát. Ở lớp thứ 2 an trí 12 vị Bồ tát và 4 bồ tát Cúng dường. Lớp thứ 3 vẽ Tứ thiên vương, Long vương v.v... Ở 4 góc của Mạn đồ la vẽ 4 vị Đại minh vương. [X. Pháp hoa kinh truyện kí Q.6; Chư A xà lê chân ngôn Mật giáo bộ loại vật lục Q.hạ; Les Grottes du Touen Houang. 1, 3, 4, 6, par P. Pelliot].

Pháp Hoa nghĩa sớ

法華義疏; C: făhuā yìshū; J: hokke gisho; |Tác phẩm của Cát Tạng (吉藏).

pháp hoa nghĩa sớ

(法華義疏) Cũng gọi Pháp hoa kinh nghĩa sớ, Pháp hoa kinh sớ, Diệu pháp liên hoa kinh nghĩa sớ. Tác phẩm, 12 quyển, do ngài Cát tạng soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 34. Trong sách này, ngài Cát tạng đứng trên lập trường tông Tam luận để giải thích kinh Pháp hoa, ngài cũng trích dẫn nhiều kinh luật luận để chú thích thêm. Toàn sách lập thành 3 nghĩa: Bộ loại bất đồng, Phẩm thứ sai biệt và Khoa kinh phân tề để nói về đại cương kinh Pháp hoa, sau đó, lần lượt giải thích kinh văn từ phẩm Tựa đến phẩm 28. 1. Bộ loại bất đồng: Nêu 7 trường hợp để chỉ rõ bộ loại các kinh, lấy bản kinh 28 phẩm làm bản đầy đủ. 2. Phẩm thứ sai biệt: Lập thành -Nói về nguyên do sinh khởi của các phẩm. -Nói rõ về nghĩa nhiều hay ít. -Bàn về thứ tự trước sau của các phẩm. - Nói rõ về lí do các phẩm có hay không. - Giải thích riêng về phẩm Tựa. 3. Khoa kinh phân tề: Nêu lên các thuyết khác và kiến giải của mình về sự phân khoa của các kinh.Kế đó, giải thích 28 phẩm của kinh. - Quyển 1 đến quyển 6, giải thích 3 phẩm, từ phẩm Tựa trở xuống. - Quyển 7, giải thích phẩm Tín giải. - Quyển 8, giải thích 3 phẩm, từ phẩm Dược thảo dụ trở xuống. - Quyển 9, giải thích 6 phẩm, từ phẩm Ngũ bách đệ tử thụ kí trở xuống. - Quyển 10, giải thích 6 phẩm, từ phẩm An lạc hạnh trở xuống. - Quyển 11, giải thích 6 phẩm, từ phẩm Tùy hỉ công đức trở xuống. - Quyển 12, giải thích 5 phẩm còn lại. Trong đó, chỉ thiếu có phần kệ trùng tụng của phẩm Phổ môn. Đây là bộ sách sớ giải rất có giá trị đối với việc nghiên cứu kinh Pháp hoa. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1; Tam luận tông chương sớ]. II. Pháp Hoa Nghĩa Sớ. Cũng gọi Thượng quan Pháp hoa sớ. Tác phẩm, 4 quyển, do Thái tử Thánh đức người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 56. Nội dung sách này giải thích văn nghĩa của kinh Pháp hoa. Trước hết trình bày đại ý của toàn kinh, kế đến giải thích đề kinh, nêu 3 phân khoa, sau cùng, giải thích 27 phẩm của kinh. Về cách chia khoa và giải thích ý kinh, sách này chủ yếu lấy bộ Pháp hoa nghĩa kí của ngài Pháp vân, chùa Quang trạch đời Lương làm căn cứ. III. Pháp Hoa Nghĩa Sớ. Tác phẩm, 8 quyển, là tên khác của Pháp hoa kinh nghĩa kí.

pháp hoa ngũ bách vấn luận

(法華五百問論) Cũng gọi Pháp hoa kinh ngũ bách vấn luận, Ngũ bách vấn luận, Thích nghi. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Trạm nhiên (711-782) soạn vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 100. Đây là sách chú thích kinh Pháp hoa vào thời Trung đường, tác giả đứng trên lập trường của tông Thiên thai để bác xích và vấn nạn thuyết của ngài Từ ân thuộc tông Pháp tướng trong tác phẩm Pháp hoa huyền tán. Toàn sách được viết theo hình thức vấn đáp, tổng số có khoảng 500 câu, vì thế gọi là Ngũ bách vấn luận. Nội dung sách này là sự tranh luận giữa 2 nhà Thiên thai Nhất thừa và Pháp tướng Ngũ tính. Những vấn đề cốt lõi trong cuộc tranh luận này là: Nhị thừa định tính có thành Phật hay không; Quyền Thực của Nhất thừa, Tam thừa; luận về Tam xa, Tứ xá; về 4 loại Thanh văn của Pháp hoa; về 4 ý thú của luận Nhiếp đại thừa; về phần Chính tông, lưu thông của phẩm thọ lượng trong kinh Pháp hoa v.v...Ngoài ra, sách này cũng thảo luận thêm về những kiến giải bất đồng giữa 2 nhà Từ ân và Thiên thai đối với các vấn đề quan trọng khác.

pháp hoa ngũ trọng huyền nghĩa

(法華五重玄義) Năm lớp nghĩa huyền diệu của kinh Pháp hoa do ngài Trí khải tông Thiên thai thành lập. Ngũ trùng là: Thích danh, Biện thể, Minh tông, Luận dụng và Phán giáo. Ngũ trùng này được ngài Trí khải sử dụng để giải thích tất cả các kinh. 1. Thích danh: Dùng pháp và dụ để đặt tên. Pháp là diệu pháp, dụ là liên hoa. Nghĩa là pháp quyền, thực, thập giới, thập như, rất vi diệu không thể nghĩ bàn, cho nên phải tạm mượn thí dụ để làm cho sáng tỏ, đem diệu pháp để dụ cho quyền thực nhất thể, dùng hoa sen để dụ cho hoa quả đồng thời. Đó là dùng pháp và dụ để đặt tên, nên gọi là Diệu pháp liên hoa kinh. 2. Biện thể: Lấy thực tướng làm thể. Nghĩa là thực tướng Trung đạo là cái thể mầu nhiệm(diệu thể)được kinh Pháp hoa giải bày, vì thế nên nói Thực tướng là thể. 3. Minh tông: Lấy nhân quả Nhất thừa làm tông. Nhất thừa là Nhất thực tướng; Tông là nghĩa cốt yếu. Nghĩa là tu hạnh thực tướng là nhân, chứng lí thực tướng là quả, vì thế nói nhân quả Nhất thừa là Tông. 4. Luận dụng: Lấy dứt ngờ sinh tin làm dụng. Dụng là lực dụng, nghĩa là dùng diệu pháp Đại thừa để mở bày căn cơ viên mãn; đối với Tích môn khiến cho dứt trừ mối ngờ quyền giả mà sinh lòng tin chân thực; đối với Bản môn thì dứt mối ngờ gần(Phật mới thành gần đây) mà sinh lòng tin xa(Phật đã thành từ lâu), vì thế nên nói dứt ngờ sinh tin là dụng. 5. Phán giáo: Lấy Đề hồ vô thượng làm giáo tướng. Lời dạy của bậc Thánh gọi là Giáo, phân biệt giống nhau hay khác nhau gọi là Tướng. Nghĩa là kinh Pháp hoa thuần là Viên giáo và rất mầu nhiệm, khác hẳn với các giáo Tiểu thừa thiên chấp, cũng như Đề hồ thượng vị khác hẳn với các vị: Nhũ, lạc, sinh tô và thục tô, vì thế nên nói Đề hồ vô thượng là giáo tướng. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1]. (xt. Ngũ Trùng Huyền Nghĩa, Bản Tích Nhị Môn).

Pháp Hoa nhất thừa

法華一乘; C: făhuā yīshèng; J: hōkke ichijō; |Giáo lí Nhất thừa được dạy trong kinh Pháp Hoa.

pháp hoa nhất thừa

(法華一乘) Chỉ cho giáo pháp Nhất thừa chân thực nói trong kinh Pháp hoa. Cứ theo sự phán giáo của tông Thiên thai thì chỉ có Nhất thừa giáo của kinh Pháp hoa mới là giáo pháp rốt ráo, còn Tam thừa Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát chỉ là giáo pháp phương tiện giả lập tạm thời, nhằm mục đích làm nổi bật giáo lí Nhất thừa chân thực mà thôi. Do đó, tông Thiên thai chủ trương chỉ sau khi nghe kinh Pháp hoa mới biết được là Tam thừa hòa nhập với Nhất thừa.Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 8 thượng) nói: Chỉ có pháp Nhất thừa, không hai cũng không ba.

pháp hoa nhị diệu

(法華二妙) Cũng gọi Đãi tuyệt nhị diệu. Chỉ cho Tương đãi diệu và Tuyệt đãi diệu. Đây là dụng ngữ phán giáo của tông Thiên thai. Tức là: 1. Tương đãi diệu: Cái này và cái kia đối đãi nhau, gọi là Tương đãi; đối lại với Thô, gọi là Diệu. Nghĩa là những giáo pháp đã nói trong 4 thời (Hoa nghiêm, Lộc uyển, Phương đẳng, Bát nhã), 3 giáo (Tạng, Thông, Biệt) là Thô, còn giáo pháp được nói trong kinh Pháp hoa là Diệu. Tức là cái Thô của 4 thời, 3 giáo được dùng để làm cho cái Diệu của Pháp hoa nổi bật hẳn lên, cho nên gọi là Tương đãi diệu. 2. Tuyệt đãi diệu: Pháp hoa xóa bỏ Tam thừa quyền giả để nêu tỏ Nhất thừa chân thực, nhưng Tam thừa tức Nhất thừa (Phật thừa), cả hai vốn chỉ là một. Thực tức là quyền, quyền tức là thực, dứt các tướng thô, không còn tướng đối đãi, cho nên gọi là Tuyệt đãi diệu. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2 thượng đến Q.6 thượng; Ma ha chỉ quán Q.3 thượng; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.4, 5; Chỉ quán nghĩa lệ Q.hạ; Tứ minh giáo hành lục Q.3; Pháp hoa huyền nghĩa tư kí Q.2; Pháp hoa huyền nghĩa giảng nghĩa Q.2]. (xt. Tương Đãi Diệu).

pháp hoa nhứt thực

Toàn Thừa Pháp Hoa—The one perfect Vehicle of the Lotus Sutra.

pháp hoa niết bàn thời

(法華涅槃時) Chỉ cho thời thứ 5 trong 5 thời phán giáo của tông Thiên thai. Tông Thiên thai căn cứ vào thứ tự thuyết pháp trước sau của đức Phật mà phân loại các kinh điển của Phật giáo làm 5 thời: Hoa nghiêm, Lộc uyển, Phương đẳng, Bát nhã và Pháp hoa Niết bàn. Sau khi đức Thế tôn thành đạo hơn 40 năm, Ngài nhận thấy căn cơ của chúng sinh đã thuần thục, nên Ngài mới nói kinh Pháp hoa trong 8 năm trên núi Linh thứu, khép lại Quyền môn phương tiện mà mở ra pháp Nhất thừa chân thực, đồng thời, thụ kí cho hàng Nhị thừa thành Phật, đó là thời Pháp hoa. Rồi khi sắp nhập diệt, trong khoảng 1 ngày 1 đêm, đức Phật lại giảng kinh Niết bàn cho hàng đệ tử hiện tiền và chúng sinh đời mạt pháp nghe. Trong thời pháp cuối cùng này, đức Phật tuyên dương chân lí: Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, Như lai thường trụ không biến đổi, đó là thời Niết bàn. Vì kinh Pháp hoa và Niết bàn đều nói về giáo lí Đại thừa, lại cùng được phối hợp với vị đề hồ, cho nên mới gộp chung làm 1 thời mà gọi là thời PháphoaNiết bàn.(xt. Ngũ Thời Bát Giáo).

pháp hoa sám pháp

(法華懺法) Chỉ cho nghi thức đọc tụng kinh Pháp hoa để sám hối tội chướng, đây là tu pháp quan trọng của tông Thiên thai. Khi thực hành pháp sám này, trước hết phải giữ cho thân thể thanh khiết, trang nghiêm đạo tràng, kế đến, lễ bái khuyến thỉnh chư Phật, sám hối tội lỗi của 6 căn (mắt tai mũi lưỡi thân ý), rồi tụng kinh Pháp hoa, thực hành quán tưởng v.v... trong vòng 21 ngày. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 37 thì ngay từ năm Thiên gia thứ 4 (563) thời Nam triều, vua Văn đế nhà Trần đã tu pháp sám này ở điện Thái cực trong nội cung. Đến đời Tùy, ngài Trí khải dựa theo kinh Quán phổ hiền và kinh Pháp hoa mà soạn thành Pháp hoa tam muội sám nghi 1 quyển. Về sau, có Pháp hoa sám pháp(cũng gọi Pháp hoa tam muội, Pháp hoa sám) được rút ra từ tác phẩm Pháp hoa tam muội sám nghi trên đây mà lưu hành riêng. (xt. Pháp Hoa Tam Muội).

pháp hoa sơn

(法華山) I. Pháp Hoa Sơn. Núi ở cách huyện Hàng tỉnh Chiết giang về mạn tây bắc 17 km. Trong núi này có linh tích của vị tăng Pháp hoa ở đời Tấn và suối Pháp hoa. Dưới chân núi có chùa Pháp hoa, nhà điện cực kì nguy nga, tráng lệ. Về mùa thu, khách thập phương về lễ bái rất đông. II. Pháp Hoa Sơn. Cũng gọi Bạch tước sơn. Núi ở cách huyện Ngô hưng tỉnh Chiết giang 16 km về phía tây bắc. Đời Lương, có vị tỉ khưu ni tên Đạo tích tụng kinh Pháp hoa ở núi này, vì có đàn chim sẻ vây quanh nên sáng lập chùa Bạch tước, do đó, núi cũng được đặt tên là Bạch tước sơn. Tại đây, có 10 thắng cảnh như đường tùng, suối hổ v.v...

Pháp Hoa tam bộ kinh

法華三部經; C: făhuā sānbù jīng; J: hokke sanbu kyō; |Ba bộ kinh căn bản của tông Thiên Thai và Nhật Liên (日蓮). Đó là Vô lượng nghĩa kinh (無量義經), là phần giới thiệu về kinh Pháp Hoa, kinh Pháp Hoa, là phần kinh văn chính, và Phổ Hiền quán kinh (普賢觀經), xem như là phần kết giáo lí trong kinh.

pháp hoa tam bộ kinh

The Threefold Lotus Sutra. ; (法華三部經) Chỉ cho 3 bộ kinh: Vô lượng nghĩa, Diệu pháp liên hoa và Quán Phổ hiền bồ tát hành pháp. 1. Kinh Vô lượng nghĩa: 1 quyển, do ngài Đàm ma già đà da xá dịch vào đời Tiêu Tề. Ý chỉ của kinh này nói về pháp Thực tướng. Các ngài Tuệ cơ và Trí khải đều cho rằng kinh này là Vô lượng nghĩa giáo bồ tát pháp được biểu thị trong kinh Pháp hoa. Trong tác phẩm Pháp hoa nghĩa sớ quyển 2 của mình, ngài Cát tạng cũng đã dựa vào 5 nghĩa: Xứ đồng, chúng số đại đồng, thời tiết đồng, nghĩa đồng và lời nói của người dịch kinh, mà cho rằng kinh này chính là kinh đã được biểu thị trong Pháp hoa. Xưa nay, kinh này vốn được xem là kinh mở đầu của kinh Pháp hoa. 2. Kinh Diệu pháp liên hoa: 7 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Hậu Tần. Bộ kinh này được lưu truyền rất rộng, ngài Trí khải đã nương vào kinh này mà sáng lập tông Thiên thai. 3. Kinh Quán Phổ hiền bồ tát hành pháp: Gọi tắt: Kinh Quán Phổ hiền, 1 quyển, do ngài Đàm ma mật đa dịch vào đời Lưu Tống. Kinh này nương theo phẩm Phổ hiền bồ tát khuyến phát–phẩm cuối cùng của kinh Pháp hoa– mà nói về phương pháp và công đức quán tưởng bồ tát Phổ hiền, được coi là kinh kết thúc của kinh Pháp hoa.

pháp hoa tam giáo

Theo Kinh Pháp Hoa thì Phật pháp chia làm ba phương pháp—The three modes of Sakyamuni's teaching according to the Lotus Sutra: 1) Đốn giáo: Giáo pháp chỉ thẳng và tức thì khai ngộ hành giả—Direct, or sudden, or immediate teaching, by which the learner is taught the whole truth at once. 2) Tiệm giáo: Giáo pháp khai ngộ từ từ—The gradual teaching. 3) Viên giáo: Giáo pháp khai ngộ hoàn toàn—The perfect teaching.

pháp hoa tam muội

Saddharma-pundarika-samadhi (skt)—Pháp nhất thực của lý tam đế viên dung, ví như một bông sen (thâu hết các phép mà quy về thực tướng)—The contemplation of the Lotus, the samadhi which sees into the three dogmas. 1) Không Đế: Lý “Không tướng”—The dogma of unreality or the noumenal. 2) Giả Đế: Lý “Giả tướng”—The dogma of dependent reality or phenomenal. 3) Trung Đế: Lý “Thực tướng”—The dogma of transcendence or the absolute which unites both noumenal and phenomenal. ; (法華三昧) Phạm: Saddharma-puịđarìkasamàdhi. Cũng gọi Pháp hoa sám pháp, Pháp hoa sám.Chỉ cho Tam muội được chia ra từ Bán hành bán tọa tam muội trong 4 loại Tam muội do tông Thiên thai thành lập. Pháp tu Tam muội này y cứ vào kinh Pháp hoa và kinh Quán Phổ hiền, lấy 21 ngày làm 1 thời hạn, hành đạo tụng kinh, hoặc đi hoặc đứng hoặc ngồi, lúc nào cũng tư duy quán xét lí thực tướng Trung đạo.Pháp tu này lấy sám hối diệt trừ tội chướng làm chính, cho nên ngày đêm 6 thời (sáng sớm, giữa trưa, chiều tối, canh 1, canh 3, canh 5) cần phải tu tập Ngũ hối (sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỉ, hồi hướng và phát nguyện). Có 3 phương pháp tu tập: 1. Thân khai già: Nên đi và ngồi (khai), không nên đứng và nằm (già). 2. Khẩu thuyết mặc (nói năng và im lặng): Miệng tụng kinh điển Đại thừa, không xen lẫn các việc khác. 3. Ý chỉ quán: Chia làm 2 thứ: Hữu tướng hành và Vô tướng hành. a) Hữu hành tướng: Y cứ vào phẩm Khuyến phát, dùng tán tâm trì tụng kinh Pháp hoa, không nhập thiền định, bất luận là ngồi, đứng hay đi đều phải nhất tâm tụng niệm kinh Pháp hoa, ngày đêm 6 thời sám hối tội chướng của 6 căn. b) Vô hành tướng: Y cứ vào phẩm An lạc hành, nhập thiền định sâu xa, quán chiếu 6 căn để thấu suốt thực tướng Trung đạo của 3 đế (Không, Giả, Trung). Cứ theo Pháp hoa tam muội sám nghi và Ma ha chỉ quán quyển 2, thượng, của ngài Trí khải, bất cứ ai muốn thấy sắc thân của bồ tát Phổ hiền, đức Phật Thích ca và phân thân của chư Phật, cho đến muốn diệt trừ hết thảy tội chướng và muốn ngay đời này được vào ngôi vị Bồ tát, thì đều phải tinh cần tu tập Pháp hoa tam muội. [X. Pháp hoa văn cú kí Q.2, phần cuối; Pháp hoa nghĩa sớ Q.12 (Cát tạng); Pháp hoa kinh huyền tán Q.10, phần cuối; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.2, phần 2; Pháp hoa truyện kí Q.2; Phật tổ thống kỉ Q.6; Tùy Thiên thai trí giả đại sư biệt truyện; Tứ minh tôn giả giáo hành lục Q.2].

pháp hoa tam muội kinh

(法華三昧經) I. Pháp Hoa Tam Muội Kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Trí nghiêm dịch vào năm Nguyên gia thứ 4 (427) đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 9. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật nói phương pháp tu hành tam muội Pháp hoa cho công chúa Lợi hành nghe. Một hôm, đức Phật đang trụ ở núi Kì xà quật, gần thành La duyệt kì, Quốc vương La duyệt là Biện thông, cùng với công chúa Lợi hành và những người phụ nữ khác, đến thỉnh giáo đức Phật. Đức Phật liền tuyên thuyết hành pháp tam muội Pháp hoa cho vua và công chúa nghe. Sau khi nghe pháp, công chúa đắc đạo, rồi cùng với nhà vua và đoàn tùy tùng đều phát tâm xuất gia và được đức Phật thụ kí. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.10; Đại đường nội điển lục Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.5]. II. Pháp Hoa Tam Muội Kinh. Kinh, 6 quyển, là bản đầu tiên trong 6 bản dịch kinh Pháp hoa. Về bản dịch kinh này có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo Lịch đại tam bảo kỉ quyển 5 thì kinh này do ngài Chi cương lương tiếp dịch tại Giao châu (Bắc Việt nam) vào niên hiệu Cam lộ năm đầu (265) đời Tam quốc. Nhưng kinh này đã bị thất lạc.[X. Xuất tam tạng kí tập Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.14].

pháp hoa tam muội sám nghi

(法華三昧懺儀) Cũng gọi Pháp hoa tam muội hành pháp, Pháp hoa tam muội nghi, Pháp hoa kinh tam muội nghi. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trí khải soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Dưới tên sách có phụ đề Pháp hoa tam muội hành sự vận tưởng bổ trợ nghi lễ Pháp hoa kinh nghi thức. Nội dung sách này, ngài Trí khải kế thừa tinh thần tam muội Pháp hoa của ngài Tuệ tư, rút lấy những nghĩa lí tinh túy trong các kinh điển Đại thừa như kinh Pháp hoa, kinh Quán phổ hiền... mà soạn thành nghi thức phương tiện tu hành tam muội Pháp hoa. Đồng thời, giải thích rõ pháp môn đầy đủ công đức của chư Phật mà nhập vào chính vị của Bồ tát, bao gồm lễ bái, sám hối, hành đạo, tụng kinh, tọa thiền... trong khoảng 21 ngày. [X. Tùy Thiên thai Trí giả đại sư biệt truyện; Duyệt tạng tri tân Q.42; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1].

pháp hoa tam muội đường

(法華三昧堂) Cũng gọi Sám pháp đường, Bán hành bán tọa tam muội đường, Pháp hoa đường, Tam muội đường. Chỉ cho tòa nhà thờ bồ tát Phổ hiền để tu Pháp hoa tam muội. Trong các chùa viện thuộc tông Thiên thai, Pháp hoa tam muội đường phần nhiều được thiết lập song song với Thường hành đường (nơi tu Thường hành tam muội), hoặc có hành lang liên kết nhau, thường được gọi là Đảm đường. Lối kiến trúc này thịnh hành ở Trung quốc. Tại Nhật bản, viện Pháp hoa tam muội đầu tiên được thiết trí ở Đông tháp trên núi Tỉ duệ, về sau trở nên phổ biến và được kiến lập ở khắp nơi.

pháp hoa tam đại bộ bổ chú

(法華三大部補注) Cũng gọi Thiên thai tam đại bộ bổ chú, Tam đại bộ bổ chú, Đại bộ bổ chú. Tác phẩm, 14 quyển, do ngài Tòng nghĩa soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 43, 44. Sách này chú thích bù vào những chỗ còn thiếu sót trong 3 bộ sớ giải kinh Pháp hoa (Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa, Diệu pháp liên hoa kinh văn cú và Ma ha chỉ quán) của Đại sư Trí khải và giải thích rõ thêm những chỗ nói còn sơ lược trong 3 bộ Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm, Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết v.v... của ngài Kinh khê Trạm nhiên. Nội dung 3 quyển đầu là chú thích phần Huyền nghĩa và Thích tiêm, gồm hơn 550 hạng mục. Từ quyển thứ 4 đến quyển thứ 10, chú thích kinh Pháp hoa, Pháp hoa văn cú và Pháp hoa văn cú kí, gồm hơn 1.500 hạng mục. Từ quyển 11 đến quyển 14 là chú thích Ma ha chỉ quán và Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết, gồm hơn 850 hạng mục. [X. Phật tổ thống kỉ Q.21; Pháp hoa sớ tư kí Q.1; Chỉ quán tư kí Q.1, phần đầu].

pháp hoa thất dụ

(法華七喻) Chỉ cho 7 loại thí dụ được sử dụng trong kinh Pháp hoa: 1. Hỏa trạch dụ: Ví dụ nhà lửa. Lửa ví dụ 5 trược ác, 8 khổ não... Nhà ví dụ 3 cõi (Dục, Sắc, Vô sắc). Nghĩa là chúng sinh ở trong 3 cõi bị 5 trược, 8 khổ bức bách, không được an ổn, giống như ngôi nhà lớn đang bị lửa thiêu đốt, người trong nhà không thể nào ở yên được. Đây là ví dụ trong phẩm Thí dụ. 2. Cùng tử dụ: Ví dụ đứa con nghèo cùng. Nghĩa là hàng Nhị thừa (Thanh văn, Duyên giác), không có công đức và pháp tài (6 độ, muôn hạnh) của Đại thừa để trang nghiêm; giống như đứa con nghèo cùng, sống cuộc đời lây lất, cơm không đủ no bụng, áo chẳng đủ che thân. Đây là ví dụ trong phẩm Tín giải. 3. Dược thảo dụ (cũng gọi Vân vũ dụ): Ví dụ cỏ thuốc. Cỏ thuốc ví dụ căn tính của chúng sinh Tam thừa. Cỏ có 3 loại: Cỏ nhỏ, cỏ vừa, cỏ lớn, theo thứ tự ví dụ cho người trời, Thanh văn Duyên giác, bồ tát Tạng giáo. Cỏ thuốc tuy có nhỏ, vừa và lớn khác nhau, nhưng nếu được mưa tưới tẩm thì đều phát triển tốt tươi, chữa khỏi các bệnh; ví dụ người Tam thừa tuy căn tính có cao thấp khác nhau, nhưng nếu được những trận mưa pháp của Như lai thấm nhuần thì thành bậc Đại y vương, cứu độ tất cả chúng sinh. Đây là ví dụ trong phẩm Dược thảo dụ. 4. Hóa thành dụ: Ví dụ thành biến hóa. Có người muốn đến Bảo sở(Niết bàn, Cực lạc), nhưng giữa đường cảm thấy mỏi mệt muốn trở về, có 1 người dẫn đường sáng suốt, phương tiện hóa ra 1 tòa thành trì để họ tạm nghỉ ngơi, nhiên hậu đưa họ tiếp tục đi đến Bảo sở; ví dụ hàng Nhị thừa mới được nghe giáo pháp Đại thừa, nhưng nửa chừng bỗng quên mất, do đó phải trôi lăn trong dòng sinh tử. Vì thế, đức Phật mới tạm đặt phương tiện, giúp họ dứt trừ Kiến, Tư hoặc trước để tạm thời chứng Niết bàn chân không, làm nơi nghỉ ngơi trong chốc lát để cuối cùng đến được Bảo sở cứu cánh(ví dụ lí thực tướng, tức chỉ cho Đại niết bàn rốt ráo). Đây là ví dụ trong phẩm Hóa thành dụ. 5. Y châu dụ: Ví dụ hạt châu trong chéo áo. Cũng gọi Hệ châu dụ. Có người đến nhà bạn uống rượu say, nằm ngủ, người bạn tốt lấy hạt châu báu để vào trong chéo áo của người ấy, nhưng người ấy không hay biết gì, cam chịu nghèo khổ. Sau được người bạn mách bảo mới biết trong áo mình có hạt châu báu, từ đó trở nên rất giầu có và sung sướng suốt đời; ví dụ hàng Nhị thừa thủa xưa ở nơi đức Phật Đại thông, từng gieo nhân Đại thừa, nhưng bị vô minh che lấp, nên không tự tỏ ngộ được. Sau nhờ đức Như lai dùng phương tiện mở bày mới chứng quả Đại thừa, lợi lạc vô cùng. Đây là ví dụ trong phẩm Ngũ bách đệ tử thụ kí. 6. Kế châu dụ, cũng gọi Đính châu dụ: Ví dụ hạt châu trong búi tóc. Kế châu chỉ cho hạt châu ở trong búi tóc của Luân vương. Luân vương ví dụ đức Như lai; búi tóc (kế) ví dụ giáo pháp phương tiện tạm thời (Quyền giáo) của hàng Nhị thừa; hạt châu ví dụ thực lí Nhất thừa. Hạt châu ở trong búi tóc cũng như thực lí ẩn trong Quyền giáo; ví dụ trong hội Pháp hoa, đức Như lai xóa bỏ Quyền giáo, nêu tỏ Thực lí, thụ kí cho hàng Nhị thừa được thành Phật, cũng giống như Luân vương lấy hạt châu trong búi tóc ra để ban cho công thần. Đây là ví dụ trong phẩm An lạc hạnh. 7. Y tử dụ, cũng gọi Y sư dụ: Ví dụ thuốc và người con. Thuốc ví dụ đức Như lai; người con ví dụ hàng Tam thừa. Nghĩa là các con không biết, uống nhằm thuốc độc, tâm thần điên loạn, người cha dùng phương tiện cho các con uống thuốc tốt để chữa lành bệnh; ví dụ hàng Tam thừa tin nhận Quyền giáo, không được chính đạo, đức Như lai bày các phương tiện, khiến họ dùng thuốc pháp Đại thừa, mau đoạn diệt phiền não, trừ hết bệnh khổ. Đây là ví dụ trong phẩm Như lai thọ lượng. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.28]. (xt. Thí Dụ).

pháp hoa truyện kí

(法華傳記) Cũng gọi Đường pháp hoa truyện, Pháp hoa kinh truyện kí, Pháp hoa kinh truyện. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Tăng tường soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Nội dung sách này trình bày về nguyên do, việc truyền dịch và sự linh nghiệm của kinh Pháp hoa, gồm 12 khoa: Bộ loại tăng giảm, Ẩn hiển thời dị, Truyền dịch niên đại, Chi phái biệt hành, Luận thích bất đồng, Chư sư tự tập, Giảng giải cảm ứng, Phúng tụng thắng lợi, Chuyển độc diệt tội, Thư tả cứu khổ, Thính văn lợi ích và Y chính cúng dường. Các sách được trích dẫn trong tác phẩm này gồm hơn 20 loại như: Luận Đại trí độ, Pháp hoa nghĩa sớ (Đạo sinh), Tây vực truyện v.v...

pháp hoa tôn giả

(法華尊者) (?-680) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, vị Tổ thứ 6 của tông Thiên thai, người Tấn vân, Xử châu (Chiết giang), họ Tưởng. Năm 18 tuổi, được gặp 1 vị tăng người Ấn độ nên sư lập chí xuất gia, sau đó, sư đến chùa Quốc thanh trên núi Thiên thai thờ ngài Quán đính làm thầy. Sư bẩm tính thông minh, rất có tài văn chương, thi phú. Sau khi thụ giới Cụ túc, được đặt pháp danh là Trí uy, sư tu học và tham cứu nhiều năm, định tuệ trọn đủ và được lãnh nhận tâm yếu. Niên hiệu Thượng nguyên năm đầu (674), sư vào núi Thương lãnh, Phổ thông, nhưng vì nới đây chật hẹp nên sư lại dời đến núi Luyện đan ở Hiên viên, phát sạch gai gốc, gọi chỗ này là Pháp hoa. Người học tụ về khoảng 300 người tu tập Thiền định, hơn 760 người nghe giảng. Niên hiệu Vĩnh long năm đầu (680) sư thị tịch. Người đời gọi là Pháp hoa tôn giả.[X. Tống cao tăng truyện Q.6; Phật tổ thống kí Q.7]. (xt.Trí Uy). PHÁP HOA TÔNG I. Pháp Hoa Tông. Chỉ cho tông Thiên thai, vì tông này lấy kinh Pháp hoa làm tông chỉ nên cũng gọi là tông Pháp hoa. (xt. Thiên Thai Tông). II. Pháp Hoa Tông. Chỉ cho tông Nhật liên của Nhật bản, vì tông này lấy kinh Pháp hoa làm kinh y cứ chủ yếu, nên cũng gọi là tông Pháp hoa. (xt. Nhật Liên Tông).

Pháp Hoa Tông

(法華宗, Hokkeshū) tức Nhật Liên Tông (日蓮宗, Nichirenshū): theo pháp chế hiện tại thì đây là đoàn thể tôn giáo lấy Cửu Viễn Tự (久遠寺, Kuon-ji) ở vùng Thân Diên (身延, Minobu) làm Đại Bản Sơn; nhưng nếu xét về mặt lịch sử thì đây là tên gọi chung của tập đoàn tôn giáo vốn kế thừa và thực hiện giáo lý của Nhật Liên dưới thời đại Liêm Thương. Với ý nghĩa đó, Pháp Hoa Tông là tên gọi do các tông phái khác gọi về Nhật Liên Tông, hay cũng là tiếng tự xưng, và phần nhiều cách gọi này được dùng phổ biến hơn. Năm 1282, Nhật Liên (日蓮, Nichiren) chỉ danh 6 người đệ tử chân truyền của ông là Nhật Chiêu (日昭, Nisshō, 1221-1323), Nhật Lãng (日朗, Nichirō, 1245-1320), Nhật Hưng (日興, Nikkō, 1246-1333), Nhật Hướng (日向, Nikō, 1253-1314), Nhật Đảnh (日頂, Nicchō, 1252-1317 hay 1328?) và Nhật Trì (日持, Nichiji, 1250-?), với tên gọi là Lục Lão Tăng (六老僧). Sau đó, các môn phái được hình thành Dòng Phái Nhật Chiêu (日昭門流, tức Dòng Phái Banh [浜門流]), Dòng Phái Nhật Lãng (日朗門流, tức Dòng Phái Tỷ Xí Cốc [比企谷門流]), Dòng Phái Nhật Hưng (日興門流, tức Dòng Phái Phú Sĩ [富士門流]), Dòng Phái Nhật Hướng (日向門流, Dòng Phái Thân Diên [身延門流]). Sau khi Nhật Liên qua đời, xuất hiện thêm Dòng Phái Nhật Hưng (日興門流, tức Dòng Phái Trung Sơn [中山門流]). Thật thể của Nhật Liên Tông thời Trung Đại chính là những môn phái vừa nêu trên. Các môn phái mở rộng vùng giáo tuyến của mình ở vùng Đông Quốc, rồi sau đó dần dần tiến về phía kinh đô Kyoto làm cứ điểm hoạt động giáo hóa cho giáo đoàn. Những nhân vật có công trong việc này là Nhật Tượng (日像, Nichizo, 1269-1342) thuộc Dòng Phái Tứ Điều (四條門流) vốn lấy Diệu Hiển Tự (妙顯寺, Myōken-ji) làm trung tâm; Nhật Tĩnh (日靜, Nichijō, 1298-1369) của Dòng Phái Lục Điều (六條門流), lấy Bổn Quốc Tự (本國寺 hay 本圀寺, Honkoku-ji) làm trung tâm. Kế thừa dòng phái này có Nhật Tôn (日尊, Nisson, ?-1603) của Dòng Phái Phú Sĩ; rồi Nhật Thân (日親, Nisshin, 1407-1488) và Nhật Chúc (日祝, Nisshū, 1437-1513) của Dòng Phái Trung Sơn. Họ không những tiếp cận hàng công gia khanh tướng, mà còn lấy tầng lớp thương gia, công nhân và nông dân làm môn đồ; nhờ vậy đã tạo dựng được rất nhiều tự viện khắp nơi. Bên cạnh đó, những cuộc luận tranh về lập trường Tích Môn hay Bổn Môn của Kinh Pháp Hoa, cũng như điểm hay dở trong kinh bắt đầu được triển khai. Về phía Dòng Phái Lục Điều, Nhật Trận (日陣, Nichijin, 1339-1419) sáng lập ra Bổn Thiền Tự (本禪寺, Honzen-ji), rồi hình thành nên Dòng Phái Nhật Trận (日陣門流, tức Dòng Phái Bổn Thành Tự [本成寺, Honjō-ji]). Còn về phía Dòng Phái Tứ Điều, hai chùa Diệu Giác Tự (妙覺寺, Myōkaku-ji) và Diệu Liên Tự (妙蓮寺, Myōren-ji) chia rẽ nhau; Nhật Long (日隆, Nichiryū, 1385-1464) thì chủ trương tính hay dở của kinh, lấy Bổn Hưng Tự (本興寺) ở vùng Ni Khi (尼崎, Amazaki) và Bổn Năng Tự (本能寺, Honnō-ji) ở kinh đô Kyoto làm cứ điểm hoạt động truyền đạo, rồi hình thành nên Dòng Phái Nhật Hưng (日興門流, tức Dòng Phái Bát Phẩm [八品門流]). Trường hợp Nhật Thập (日什, Nichijū, 1314-1392) thì khai cơ Diệu Mãn Tự (妙滿寺, Myōman-ji) và sáng lập ra Dòng Phái Nhật Thập (日什門流, tức Dòng Phái Diệu Mãn Tự [妙滿寺門流]). Nhật Thân sáng lập Bổn Pháp Tự (本法寺, Hompō-ji), còn Nhật Chúc thì có Đảnh Diệu Tự (頂妙寺, Chōmyō-ji), và hình thành Dòng Phái Quan Tây Trung Sơn (關西中山門流). Những ngôi già lam này mở rộng phạm vi hoạt dộng ở vùng Tây Quốc, còn ở kinh đô Kyoto thì có được 21 ngôi chùa. Dưới thời đại Chiến Quốc, Nhật Liên Tông đã cùng với với dân chúng trong thôn xóm hình thành đội tự vệ. Trước uy lực mạnh mẽ như thế này, các giáo đoàn của những tông phái khác tập trung lại với nhau tại Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji), hợp với các nhà Đại Danh có thế lực, dòng võ lực đàn áp Nhật Liên Tông. Từ đó, xảy ra vụ Loạn Thiên Văn Pháp Hoa (天文法華の亂) vào năm thứ 5 (1536) niên hiệu Thiên Văn (天文). Khi ấy, các chùa ở kinh đô đều phải lánh nạn đi nơi khác, và sau mới được phép cho trở về. Đến thời Trung Đại, chủ trương gọi là “Bất Thọ Bất Thí (不授不施, Không Nhận Không Cho)” của Nhật Liên Tông bị những nhà lãnh đạo chính quyền đương thời như Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga), Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi), Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) chống đối kịch liệt. Cho nên xảy ra các vụ pháp nạn lớn, nhiều tăng lữ cũng như tín đồ phải hy sinh trong mấy lần pháp nạn này. Đến thời Cận Đại, tổ chức giáo dục chư tăng được thiết lập. Về mặt xuất bản cũng rất thịnh hành, các bức di văn của Nhật Liên từ đó được lưu hành rộng rãi. Truyện Nhật Liên cũng được lưu bố khắp nơi, cho nên xuất hiện các tác phẩm như Nhật Liên Thánh Nhân Chú Họa Tán (日蓮上人註畫讚), Nhật Liên Đại Thánh Nhân Ngự Truyền Ký (日蓮大上人御傳記), v.v. Đặc sắc lớn của Nhật Liên Tông thời Cận Đại là triển khai cuộc vận động Phật Giáo tại gia, trong đó cuộc vận động Quốc Trụ Hội (國柱會) của Điền Trung Trí Học (田中智學) là đối ứng với sự hưng thịnh của quốc gia Minh Trị (明治, Meiji); rồi Bổn Đa Nhật Sanh (本多日生) tổ chức thành Thiên Tình Hội (天晴會), thâu nạp toàn tầng lớp trí thức và quân nhân. Trong khi đó, nhóm Sơn Điền Tam Lương (山田三良) thì thành lập Pháp Hoa Hội (法華會). Vào thời kỳ Đại Chánh (大正, Taishō), Chiêu Hòa (昭和, Shōwa), tôn giáo tân hưng thuộc hệ Nhật Liên Tông bắt đầu triển khai. Sau thời chiến, một số hội khác ra đời như Linh Hữu Hội (靈友會, Reiyūkai), Lập Chánh Giao Thành Hội (立正佼成會, Risshōkōseikai), Sáng Giá Học Hội (創価學会, Sōkagakkai), v.v., và Nhật Liên Tông trở thành tôn giáo đại chúng. Căn cứ vào tài liệu Nhật Bản Sử Từ Điển (日本史辭典, Nihonshijiten) của Triêu Vĩ Trực Hoằng (朝尾直弘, Asao Naohiro), Vũ Dã Tuấn Nhất (宇野俊一, Uno Shunichi), Điền Trung Trác (田中琢, Tanaka Migaku), nhà xuất bản Giác Xuyên Thư Điếm (角川書店, 1996) cho biết rằng hiện tại Nhật Liên Tông có một số dòng phái chính (theo thứ tự tên dòng phái, chùa trung tâm) như: (1) Môn Lưu Banh (浜門流), Diệu Pháp Tự (妙法寺, Myōhō-ji, Kamakura); (2) Môn Lưu Lãng (朗門流), Diệu Bổn Tự (妙本寺, Myōhon-ji, Kamakura), Bổn Môn Tự (本門寺, Honmon-ji, Musashi); (3) ; (4) Môn Lưu Tảo Nguyên (藻原門流), Diệu Quang Tự (妙光寺, Myōkō-ji, Kamifusa); (5) Môn Lưu Lục Điều (六條門流), Bổn Quốc Tự (本國寺, Honkoku-ji, Kyōto); (6) Môn Lưu Trung Sơn (中山門流), Bổn Diệu Pháp Hoa Kinh Tự (本妙法華經寺, Honmyōhokkekyō-ji, Shimofusa); (7) Môn Lưu Tứ Điều (四條門流), Diệu Hiển Tự (妙顯寺, Myōken-ji, Kyoto); (8) Phái Bất Thọ Bất Thí (不受不施派), Diệu Giác Tự (妙覺寺, Myōkaku-ji, Bizen); (9) Môn Phái Bất Thọ Bất Thí Giảng (不受不施派講門派), Diệu Giác Tự (妙覺寺, Myōkaku-ji, Bizen); (10) Môn Lưu Phú Sĩ (富士門流), Đại Thạch Tự (大石寺, Daiseki-ji, Suruga); (11) Phái Bổn Thành Tự (本成寺派), Bổn Thành Tự (本成寺, Honjō-ji, Echigo); (12) Phái Diệu Mãn Tự (妙滿寺派), Diệu Mãn Tự (妙滿寺, Myōman-ji, Kyoto); (13) Phái Bát Phẩm (八品派), Bổn Hưng Tự (本興寺, Honkō-ji, Settsu), Bổn Năng Tự (本能寺, Honnō-ji, Kyoto); (14) Phái Bổn Long Tự (本隆寺派), Bổn Long Tự (本隆寺, Honryū-ji, Kyoto).

Pháp Hoa tông

法華宗; C: făhuāzōng; J: hokkeshū; |Tên gọi khác của tông Nhật Liên (日蓮宗).

pháp hoa tông

Pháp Hoa Tông nguyên là tên gọi của tông Thiên Thai vì tông nầy lấy Kinh Pháp Hoa làm kinh căn bản—The Lotus sect, i.e. that of T'ien-T'ai, which had this sutra for its basis. There are many treatises with this as part of the title.

Pháp Hoa tông yếu

法華宗要; C: făhuā zōngyào; J: hokke shūyou; |Giáo lí thiết yếu về kinh Niết-bàn. 1 quyển, của Nguyên Hiểu (元曉).

Pháp Hoa Tú Cú

(法華秀句, Hokkeshūku): tác phẩm của Tối Trừng viết vào năm 821, gồm 3 quyển, là tác phẩm lớn cuối cùng của đời ông, xoay quanh những vấn đề luận tranh với Đức Nhất (德一, Tokuitsu) của Pháp Tướng Tông về Tam Thừa, Nhất Thừa Quyền Thật. Bộ này nhằm mục đích nêu cao Pháp Hoa Thập Thắng như là vị trí trên hết của Thiên Thai Pháp Hoa Tông, và nói rõ lý do vì sao tông này lại ưu việt hơn hẳn các tông phái khác như Duy Thức, Tam Luận, Hoa Nghiêm, Chơn Ngôn, v.v. Nó cũng là tác phẩm tiêu biểu nhất của Tối Trừng vào cuối đời ông.

Pháp Hoa tự

(法華寺, Hokke-ji): ngôi chùa Ni của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, tọa lạc tại Hokkeji-machi (法華町), Nara-shi (奈良市); còn gọi là Băng Thất Ngự Sở (冰室御所, Himurogosho), tương đương với Pháp Hoa Diệt Tội Chi Tự (法華滅罪之寺) ở tiểu quốc Đại Hòa (大和, Yamato), được xây dựng vào năm 741 theo chiếu chỉ của Thiên triều. Có thuyết cho rằng tượng thờ chính thập nhất diện quan âm vốn được khắc theo dung mạo của Hoàng Hậu Quang Minh (光明, Kōmyō). Cho đến nay vẫn chưa xác định rõ chùa được thành lập như thế nào, nhưng trong bản tuyên chỉ của Xưng Đức Thiên Hoàng (稱德天皇, Shōtoku Tennō, tại vị 764-770) có cho biết rằng nguyên xưa kia chùa là cựu sở của Đằng Nguyên Bất Tỷ Đẳng (藤原不比等, Fujiwara-no-Fuhito, 659-720). Chánh điện hiện tại là kiến trúc cuối thời đại Thất Đinh, được Phong Thần Tú Lại (豐臣秀賴, Toyotomi Hideyori, 1593-1615) trùng tu vào năm 1601.

Pháp Hoa Văn Cú

(法華文句, Hokkebunku): thường gọi là Diệu Pháp Liên Hoa Hoa Kinh Văn Cú (妙法蓮華經文句), gọi tắt là Văn Cú (文句), Diệu Cú (妙句), 10 quyển, là một trong 3 bộ luận lớn của Thiên Thai Tông. Đây là thư tịch chỉnh lý trong vòng 40 năm những ghi chép về các bài giảng của Thiên Thai Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-597) tại Quang Trạch Tự (光宅寺), Kim Lăng (金陵) vào năm 587 (niên hiệu Trinh Minh [禎明] nguyên niên của nhà Trần), và được hoàn thành vào năm 629. Bộ Pháp Hoa Huyền Nghĩa (法華玄義) thì luận chung về yếu chỉ của kinh, còn bộ này giải thích từng câu văn trong kinh, nên có tên gọi như vậy; tuy nhiên, về bản chất thì cả hai đều đồng nhất thể. Đặc sắc của bộ này nêu rõ điểm giáo thuyết cho rằng hết thảy căn cơ của chúng sanh đều có Phật tánh, thông qua sự phân tích về Bổn Môn (本門), Tích Môn (迹門), sự giải thích về 4 loại Nhân Duyên (因緣), Ước Giáo (約敎), Bản Tích (本迹) và Quán Tâm (觀心).

pháp hoa văn cú

(法華文句) Gọi đủ: Diệu pháp liên hoa kinh văn cú. Gọi tắt: Pháp hoa kinh văn cú, Văn cú, Diệu cú. Tác phẩm, 10 quyển (hoặc 20 quyển), do Đại sư Thiên thai Trí khải thuyết giảng ở chùa Quang trạch tại Kim lăng, vào niên hiệu Trinh minh năm đầu (587) đời Trần thuộc Nam triều, ngài Quán đính ghi chép, được thu vào Đại chính tạng tập 34. Nội dung sách này giải thích từng câu của kinh Pháp hoa. Trong sách phần nhiều vận dụng phương pháp chú thích riêng do tông Thiên thai sáng tạo, gọi là Thiên thai tứ thích (4 cách chú thích của tông Thiên thai) để giải thích: 1. Nhân duyên thích: Căn cứ vào nhân duyên đức Phật nói pháp và chúng sinh nghe pháp để giải thích văn kinh. 2. Ước giáo thích: Dùng 5 vị, 8 giáo để giải thích các giáo pháp Thiên, Viên, Đại, Tiểu. 3. Bản tích thích: Chia kinh Pháp hoa làm Bản môn và Tích môn để giải thích nghĩa lí khác nhau của kinh. 4. Quán tâm thích: Đem mỗi sự kiện được nói trong kinh thu nhiếp vào tâm mình để quán xét về lí thực tướng. Trong sách này có nhiều lí luận công kích luận thuyết của các sư khác, như căn cứ vào sự phân khoa trong phẩm Tựa để luận phá thuyết của ngài Đạo bằng và 6 vị khác; căn cứ vào Thuyết vô lượng nghĩa mà luận phá thuyết của ngài Đạo sinh và 4 vị khác. Căn cứ vào Thập như thực tướng trong phẩm Phương tiện mà vấn nạn thuyết của ngài Quang trạch và 3 vị khác. Căn cứ vào Thị chân thực tướng trong phẩm Pháp sư mà luận phá thuyết của ngài Đạo sinh và 10 vị khác. Nhất là thuyết của ngài Pháp vân ở chùa Quang trạch bị nạn vấn ở nhiều điểm. Về chú sớ của sách này thì có Pháp hoa văn cú kí, 30 quyển, do ngài Trạm nhiên soạn vào đời Đường. [X. Tục cao tăng truyện Q.17; Tống cao tăng truyện Q.6; Phật tổ thống kỉ Q.7, 10, 25, 45, 47].

pháp hoa văn cú kí

(法華文句記) I. Pháp Hoa Văn Cú Kí. Cũng gọi Pháp hoa kinh văn cú kí, Diệu pháp liên hoa kinh văn cú kí, Văn cú kí, Pháp hoa văn cú sớ, Diệu pháp liên hoa kinh văn cú sớ kí, Diệu pháp liên hoa kinh văn cú sớ, Thiên thai pháp hoa sớ kí, Diệu lạc kí. Tác phẩm, 30 quyển (hoặc 10, 20 quyển), do ngài Trạm nhiên soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 34. Đây là sách chú thích bộ Pháp hoa văn cú của ngài Trí khải, tổ khai sáng tông Thiên thai. Trong nguyên bản Pháp hoa văn cú, ngài Trí khải chỉ chia khoa kinh Pháp hoa 1 cách sơ lược, ngài Trạm nhiên lại chia thêm thành các đoạn nhỏ, đồng thời, giải thích thêm những chỗ mà ngài Trí khải giải thích chưa được rõ ràng. Ngoài ra, sách này còn nhấn mạnh chủ trương của tông Thiên thai mà bác bỏ luận thuyết của ngài Cát tạng của tông Tam luận, Pháp tạng, Trừng quán của tông Hoa nghiêm, Khuy cơ của tông Pháp tướng v.v..., lại bài xích việc đặt phẩm Chúc lụy của kinh Pháp hoa ở cuối bộ kinh mà chủ trương nên đặt ở trước kinh và đề ra thuyết Bát bất khả. Theo truyện Hàm quang trong Tống cao tăng truyện quyển 27 và lời Bạt ở cuối sách này, thì tác giả có đến núi Ngũ đài để hội kiến ngài Hàm quang, cứ đó mà suy đoán thì có lẽ sách này đã được hoàn thành vào khoảng năm Đại lịch thứ 9, 10 (774-775). Còn theo tư liệu của các sư Đạo thúy và Hạnh mãn –môn đệ của ngài Trạm nhiên– ghi thì các vị này từng nghe ngài Trạm nhiên giảng bộ Pháp hoa văn cú ở Tì lăng. Như vậy, sách này chính là bản mà ngài Trạm nhiên đã giảng ở chùa Diệu lạc tại Tấn lăng, cho nên đời sau mới gọi sách này là Diệu lạc kí. Nguyên bản của sách này trong Đại tạng ở chùa Khai nguyên là 10 quyển. Trong năm Vạn lịch (1573-1619) đời Minh, để tiện cho việc học tập, nghiên cứu, ngài Thiệu giác đem cả 3 bộ: Kinh Pháp hoa, Pháp hoa văn cú và Pháp hoa văn cú kí hợp lại làm một, chính là bộ Pháp hoa văn cú hội bản 30 quyển lưu hành hiện nay. II. Pháp Hoa Văn Cú Kí. Cũng gọi Pháp hoa kinh nghĩa toản, Pháp hoa kinh sớ nghĩa toản, Pháp hoa sớ nghĩa toản, Pháp hoa văn cú nghĩa quyết, Pháp hoa văn cú đông xuân, Thiên thai pháp hoa sớ nghĩa toản. Tác phẩm, 6 quyển, do ngài Trí độ soạn vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 45. Đây cũng là sách chú thích bộ Pháp hoa văn cú của ngài Trí khải. Soạn giả Trí độ là môn nhân của ngài Trạm nhiên, tinh thông Thiên thai, Câu xá, Duy thức... Nội dung sách này trước hết nói tổng quát về Thích danh, Biện thể, Minh tông, Minh dụng và Phán giáo trong Pháp hoa huyền nghĩa, kế đến theo chính văn chú thích kinh Pháp hoa. Đồng thời bình luận về Pháp hoa văn cú của Đại sư Trí khải và Pháp hoa văn cú kí của ngài Trạm nhiên. Đây là điển tịch cơ bản để nghiên cứu Pháp hoa tam đại bộ.

pháp hoà

(法和) ... Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Tiền Tần, người Huỳnh dương (Hà nam). Lúc nhỏ, sư cùng học với ngài Đạo an, thờ ngài Phật đồ trừng làm thầy. Nhân lánh nạn chiến tranh, sư vào đất Thục, sau sư vào Quan trung trụ ở chùa Dương bình, tham dự công việc dịch kinh tại Trường an do ngài Đạo an chủ trì. Rồi tại Lạc dương, sư cùng với ngài Tăng già đề bà nhuận sắc văn dịch các bộ luận A tì đàm tâm, Tì bà sa a tì đàm... Sau, nhận lời thỉnh của Tấn vương Diệu tự đời Tiền Tần, sư đến trụ ở Bồ phản (Sơn tây) để giảng thuyết. Sư tịch năm 80 tuổi. [X. Lương cao tăng truyện Q.1, 5].

Pháp Hoàng

(法皇, Hōō): hay Thái Thượng Pháp Hoàng (太上法皇, Dajōhōō), từ dùng để gọi vị Thái Thượng Hoàng sau khi xuất gia, đồng nghĩa với Pháp Vương (法王, Hōō). Tuy nhiên, Thượng Hoàng (上皇, Jōkō, tức Thái Thượng Thiên Hoàng không xuất gia) với Pháp Hoàng không khác gì nhau về thân phận cả. Vũ Đa Thiên Hoàng (後宇多天皇, Gouda Tennō, tại vị 1274-1287) dưới thời đại Bình An được xem như là người đầu tiên dùng xưng hiệu này; thế nhưng, trong Tục Nhật Bản Kỷ (續日本紀, Shokunihongi) có ghi rằng Thánh Võ Thiên Hoàng (聖武天皇, Shōmu Tennō, tại vị 724-749) nhường ngôi vị, tự xưng là Pháp Hoàng, rồi đến tham bái Lễ Khai Nhãn Cúng Dường Tượng Đại Phật ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji); cho nên ở đây có vấn đề cần xét lại. Dưới thời đại Bình An, Bạch Hà Pháp Hoàng (白河法皇), Điểu Vũ Pháp Hoàng (鳥羽法皇), Hậu Bạch Hà Pháp Hoàng (後白河法皇), v.v., tiến hành chế độ Viện Chính (院政). Linh Nguyên Pháp Hoàng (靈元法皇) dưới thời đại Giang Hộ là vị Pháp Hoàng cuối cùng.

pháp hoàng

(法皇) Cũng gọi Thái thượng pháp hoàng, Thiền định pháp hoàng. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho các vị Thiên hoàng Nhật bản cạo tóc xuất gia vào cửa Phật. Bắt đầu từ năm 749, Thiên hoàng Thánh vũ nhường ngôi đến xin ngài Hành cơ thụ giới Bồ tát, đến Thiên hoàng Linh nguyên năm 1713, tính ra có 40 người. Còn các Thân vương xuất gia thì gọi là Nhập đạo Thân vương. Thân vương sau khi xuất gia, gọi là Pháp thân vương; ngôi chùa mà Pháp hoàng và Pháp thân vương ở, gọi là Cung môn tích. Ngoài ra, Nội thân vương(chị em gái hoặc công chúa của Thiên hoàng)xuất gia thi gọi là Ni cung; ngôi chùa họ ở, gọi là Tỉ khưu ni ngự sở. [X. Đế vương biên niên kí Q.14, 15].

pháp huynh

(法兄) Cũng gọi Huynh đệ tử, Sư huynh. Sư anh. Tức chỉ cho người cùng một pháp hệ, cùng một trang lứa nhưng xuất gia trước mình. Môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên nói: Người cùng theo học một thầynhưng xuất gia trước mình, gọi là Pháp huynh. (xt. Pháp Quyến).

Pháp huý

法諱; C: făhuì; J: hōki; |Tên được đặt khi xuất gia. Pháp danh được trao cho khi thụ giới.

pháp hà

Chân lý Phật pháp như sông sâu, có khả năng rữa sạch mọi uế nhiễm của phiền não—Buddha-truth likened to a deep river able to wash away the stains of ilusion.

pháp hành

Hành động xãy ra do sự hiểu biết và thực tập Phật pháp—Dharma action—Action resulting from direct apprehension of the doctrine (for those of mentally acute ability)—Practice based on the teaching of Dharma.

pháp hóa

Chuyển hóa bằng Phật pháp (sự giáo hóa của chánh pháp)—Transformation by Buddha-truth (teaching in or by it).

pháp hóa sinh thân

The nirmanakaya or corporeal manifestation of the spiritual Buddha.

Pháp Hưng Tự

(法興寺, Hōkō-ji) hay Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji): theo Nhật Bản Thư Kỷ (日本書紀, Nihonshoki), vào năm 588 Tô Ngã Mã Tử (蘇我馬子, Soga-no-Umako, ?-626) có phát nguyện tạo dựng một ngôi chùa ở vùng đất Chơn Thần Nguyên (眞神原, Makami-no-Hara) thuộc Phi Điểu (飛鳥, Asuka) và khoảng trong vòng 6 năm cho đến năm 596 thì hoàn thành. Nó được gọi là Phi Điểu Tự (飛鳥寺, Asuka-dera) hay Pháp Hưng Tự (法興寺, Hōkō-ji). Đến cuộc Cải Tân Đại Hóa (大化改新, Taika-no-kaishin) thì chùa này trở thành chùa quan và đến thời Đằng Nguyên Kinh Thời (藤原京時) thì được liệt vào trong bốn ngôi chùa lớn. Vào năm 710, khi kinh đô được dời về Bình An thì chỉ có Thiền Viện của chùa được dời theo và trở thành ngôi Thiền Viện độc lập. Đến năm 718, toàn bộ kiến trúc chùa đều được dời về vị trí hiện tại ở thành phố Nại Lương và được đổi tên thành Nguyên Hưng Tự.

pháp hạ

Số năm tuổi của Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo Ni tính từ sau khi thọ cụ túc giới—Dharma summer—The year or age of a monk or a nun after ordination. ; (法夏) Cũng gọi Pháp lạp, Giới lạp, Pháp tuế, Hạ lạp. Gọi tắt: Lạp. Chỉ cho số năm sau khi tỉ khưu hoặc tỉ khưu ni thụ giới Cụ túc. Tỉ khưu là người xa lìa thế tục, không dùng năm tháng của thế tục để tính tuổi. Theo qui chế hạ an cư, ngày 16 tháng 7 âm lịch là ngày đầu năm mới, ngày cuối cùng của hạ an cư (ngày 15 tháng 7) là ngày cuối năm, gọi là Phật lạp nhật. Từ sau ngày thụ giới Cụ túc trở đi, căn cứ vào số Pháp hạ nhiều hay ít mà chia ra Thượng lạp, Trung lạp và Hạ lạp.Thời xưa căn cứ vào đây mà qui định vị thứ của tỉ khưu, gọi là Lạp thứ, đó là cơ sở để phân biệt cấp bậc lớn nhỏ. Nếu trong trường hợp số Pháp hạ của 2 người bằng nhau, thì xét theo ngày tháng thụ giới Cụ túc; nếu ngày tháng cũng bằng nhau, thì xét theo giờ khắc để quyết định. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.24; chương Tiết lạp trong Sắc tu bách trượng thanh qui Q.hạ; Thích thị yếu lãm Q.hạ; môn Bạ khoán trong Thiền lâm tượng khí tiên].

Pháp hạnh

法行; C: făxíng; J: hōgyō; S: dharma-carana. |1. Hành vi, công hạnh tương ứng với thực tại. Theo kinh Viên Giác, Pháp hạnh là công năng tu tập, chỉ cho sự tuỳ thuận với chứng ngộ của chư Phật, ngược với phương pháp tiệm tiến. Nên gọi là »chân như hạnh«; 2. Tuỳ thuận theo; 3. Làm cho suy nghĩ của mình xứng hợp với giáo lí; 4. Người quay bánh xe pháp, truyền bá chính pháp (s: dharmacārin).

pháp hải

Chân lý Phật pháp như biển cả sâu rộng, có khả năng rữa sạch mọi uế nhiễm của phiền não—Buddha-truth likened to a vast deep ocean able to wash away the stains of illusion. ; (法海) I. Pháp Hải. Biển pháp. Nghĩa là Phật pháp rộng lớn, sâu thẳm, mông mênh như biển cả. Phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma cật (Đại 14, 519 hạ) nói: Tam bảo xuất hiện nơi thế gian, Như lai thuyết pháp độ chúng sinh; Cuối cùng chẳng cầu thường vắng lặng, Thượng trí cứu vớt lão tử khổ, Kính lễ Pháp hải đức vô biên. II. Pháp Hải(?-?). Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, người huyện Khúc giang, tỉnh Quảng đông. Lần đầu tiên, sư tham kiến Lục tổ, hỏi về nghĩa Tức tâm tức Phật và ngay nơi đó sư đại ngộ. Sau, sư thu chép những lời nói pháp của Lục tổ ở chùa Đại phạm tại Thiều châu thành kinh Pháp bảo đàn. Những ngữ yếu, nhân duyên xuất thế của Lục tổ mà sư ghi chép có lí thú rất sâu xa, sau trở thành tông kinh của Thiền tông và được lưu hành rất rộng rãi.

Pháp hỉ

法喜; C: fă xĭ; J: hōki; |Niềm vui trong Phật pháp; niềm hân hoan khi được tiếp nhận Phật pháp (s: prītijanana).

pháp hỉ chí

(法喜志) Gọi đủ: Danh công pháp hỷ chí. Tác phẩm, 4 quyển, do ông Hạ thụ phương soạn vào đời Minh, ông Phùng định kiểm xét lại, được thu vào Vạn tục tạng tập 150. Trong tập truyện kí này, tác giả thu chép tiểu sử của 208 vị danh sĩ các thời đại, từ Đông phương sóc đời Tây Hán đến Dương duy trinh đầu đời Nguyên. Theo Tứ khố toàn thư tổng mục thì sách này có 3 quyển, đầu quyển có lời tựa của các ông Trúc quan hành, Trâu do quang, Cố hiến thành, Ngô lượng... và bài tựa của tác giả. Nội dung lấy việc tham thiền làm chủ yếu. Theo bài tựa của chính tác giả thì tập truyện kí Vật ngoại anh hào lục do Ngọc phàm sơn soạn nói về những người tham thiền là sai lầm, không nên đọc, vì thế tác giả phát tâm soạn sách này, gom góp những ngôn hành, lịch sử thư, văn tập, tăng sử, ngữ lục... của các bậc danh sĩ nhiều đời để biên soạn thành. Các truyện trong sách này đều rất ngắn, lại không ghi xuất xứ, chỉ nói sơ qua về thân thế và sự nghiệp của các nhân vật rồi phụ thêm một vài lời có liên quan đến Phật giáo. Những nhân vật được ghi chép trong sách này chiếm quá nửa số danh sĩ của các đời, nhưng không bao gồm các Hoàng đế và Vương thất hữu quan, từ thời Trung đường trở về sau, Thiền tông hưng thịnh, rất nhiều nhân sĩ qua lại với các Thiền sư, cho nên chủ đích của việc biên soạn sách này là ghi lại những người tham thiền học đạo. Tuy nhiên, tác giả không giới hạn những nhân vật trước đời Đường, bởi vậy, ngoài những người tham thiền học đạo ra, sách này cũng ghi chép cả những nhân vật chẳng có liên hệ gì với Phật giáo. Tâm học Dương minh ở đời Minh từng lưu hành 1 thời, lúc bấy giờ có rất nhiều cư sĩ tham thiền, tác giả sách này cũng là 1 trong số đó, nhưng người ta không được biết nhiều về thân thế của ông. Ngoài sách này ra, họ Hạ còn có các trứ tác: Thê chân chí, 4 quyển, Trà đổng, 2 quyển và Kì tính thông, 14 quyển. [X. Tứ khố toàn thư tổng mục Q.145; Trung quốc Phật giáo sử tịch khái luận (Trần viên)].

pháp hỉ thực

(法喜食) Phạm: Dharma-prìty-àhàra. Chỉ cho Phật pháp. Người tu hành nhờ nghePhật pháp mà sinh tâm hoan hỉ, tăng trưởng thiện căn, bổ ích tuệ mệnh, giống như thực phẩm của thế gian, nuôi lớn thân tâm. Là 1 trong Nhị thực, 1 trong Cửu thực.[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.41; kinh Pháp hoa Q.4]. (xt. Nhị Thực, Thực).

Pháp Hộ

(法護, Hōgo, ?-?): vị tăng dịch kinh nổi tiếng dưới thời nhà Tấn, gốc người Nguyệt Chi (月支), sống ở Đôn Hoàng (敦煌). Vào năm đầu niên hiệu Thái Thỉ (泰始) đời vua Võ Đế (武帝), ông sang Trung Hoa, dịch rất nhiều bộ kinh và giảng kinh không hề ngừng nghỉ, cho nên người đời gọi ông là Trúc Pháp Hộ (竺法護), hay còn gọi là Bồ Tát Đôn Hoàng (敦煌菩薩). ; 法護; C: făhù; J: hōgo; S: dharmarakṣa.|1. Dharmarakṣa thuộc đời Đông Tấn Trúc Pháp Hộ (竺法護); 2. Tăng sĩ Ấn Độ (?-1058), đến Trung Hoa vào đời Tống năm 1004, là một nhà dịch kinh đã lưu lại rất nhiều nơi.

pháp hộ

See Dhammapala in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (法護) I. Pháp Hộ (?-?). Phạm: Dharmarakwa. Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Tây Tấn. Sư vốn là người nước Nguyệt chi, nhưng tổ tiên sống ở Đôn hoàng. Niên hiệu Thái thủy năm đầu (265) đời Vũ đế, sư đến Trung quốc, dịch nhiều bộ kinh và giảng kinh không biết mỏi mệt, người đời gọi sư là Trúc pháp hộ, cũng gọi là Đôn hoàng bồ tát. (xt. Trúc Pháp Hộ). II. Pháp Hộ (?-?). Pàli: Dhammapàla. Học giả Phật giáo Ấn độ đời xưa. Năm sinh và năm mất của ngài muộn hơn so với ngài Phật âm (Phạm: Buddhaghowa) là người sống vào thế kỉ V. Ngài trụ ở chùa Ba đa la để đà (Pàli:Padaratittha) ở miền duyên hải phía đông nam Ấn độ và 1 ngôi chùa được xây dựng vào thời vua A dục ở vùng Na già ba đặc na (Phạm: Nagapatthana). Ngài chú thích kinh Tự thuyết, kinh Như thị ngữ, kinh Thiên cung sự, kinh Ngã quỉ sự, Trưởng lão kệ, Trưởng lão ni kệ và Nhã dụng tạng, gồm 7 bộ, gọi chung là Viên mãn thích luận. Ngoài ra, ngài còn soạn bộ Viên mãn không luận, trong đó, ngài giải thích Thanh tịnh đạo luận của ngài Phật âm và Giải thoát đạo luận của ngài Ưu ba để sa (Pàli: Upatissa) để luận phá kiến giải của phái Vô úy sơn tự ở Tích lan, đồng thời, cung cấp tư liệu Phật giáo đương thời ở Nam Ấn độ và Tích lan. III. Pháp Hộ (936-1058). Phạm: Dharma-pàla. Cao tăng Ấn độ, người nước Ca thấp di la, họ Kiều thi ca, dòng dõi Bà la môn. Thủa nhỏ, sư học kinh điển 4 Phệ đà và các sách khác. Sau, sư xuất gia ở chùa Kiên cố khải cung (Phạm: Vikramazìla) tại nước Ma già đà, Trung Ấn độ. Sư từng theo các ngài Hi hữu thừa, Diệu ý tôn, Bố thí khải... học các môn Tì ni, Thanh minh, Tam thừa... Sau, sư cầu các danh sư học kinh luận Đại thừa. Niên hiệu Cảnh đức năm đầu (1004) đời vua Tống Chân tông, sư cùng Pháp huynh là Giác cát tường trí đến Biện kinh, Trung quốc, dâng hiến xá lợi Phật và kinh tiếng Phạm viết trên lá bối, được vua ban cho áo đỏ và vâng sắc dịch kinh. Năm Cảnh đức thứ 4, vua lại ban hiệu Truyền Phạm Đại Sư. Niên hiệu Thiên thánh năm đầu (1023) đời vua Nhân tông, sư vâng sắc dịch kinh Kim diệp thiên trúc do sứ thần Nam hải tiến cống. Năm Cảnh hựu thứ 2 (1035), sư và ngài Duy tịnh soạn chung Thiên trúc tự nguyên 7 quyển. Niên hiệu Chí hòa năm đầu (1054), sư được ban hiệu Phổ Minh Từ Giác Truyền Phạm Đại Sư. Năm Gia hựu thứ 3 (1058) sư tịch, thọ 96 tuổi, được ban thụy hiệu là Diễn Giáo Tam Tạng. Từng được liệt vào chức Ngân Thanh Quang Lộc Đại Phu Thí Quang Lộc Khanh. Sư dịch được 35 bộ 270 quyển kinh luận như: Luận Đại thừa tập bồ tát học, Kinh Đại thừa bồ tát tạng chính pháp, kinh Như lai bất tư nghị bí mật đại thừa, kinh Đại thừa đại phương quảng Phật quan v.v... [X. Phật Tổ thống kỉ Q.44, 45; Tống cao tăng truyện Q.3; Đại trung tường phù pháp bảo lục Q.15; Tống hội yếu cảo Q.200].

Pháp hội

法會; C: făhuì; J: hōe; |1. Một buổi lễ, tập hợp với mục đích đọc tụng kinh điển; 2. Phật sự, tích cực hoạt động cứu độ chúng sinh. Tập trung lại để cùng làm các việc cúng dường chư Phật và chúng sinh, giảng pháp, v.v… tại một pháp hội.

pháp hội

1) Cuộc đại hội để hành lễ hay nghe thuyết pháp—An assembly for worship or preaching. 2) Tên của một ngôi chùa nổi tiếng nằm trong quận 10, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa do Hòa Thượng Đạt Bình, dòng Thiền Thiên Thai, khởi công xây dựng từ năm 1945. Chùa được trùng tu năm 1960. Từ năm 1954, chùa được chọn làm Phật Học Đường của Giáo Hội Tăng Già Việt Nam, mỗi năm đều mở hai khóa Hạ và Đông để đào tạo Tăng tài. Chùa có nhiều pho tượng bằng gỗ được tạc vào khoảng thập niên 60, như tượng của Phật A Di Đà, tượng Phật Thích Ca Đản Sanh, tượng Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, tượng Diệm Ma Vương, tượng Hộ Pháp—Name of a famous pagoda located in the tenth district, Saigon City, South Vietnam. It was built in 1945 by Most Venerable Đạt Bình from the T'ien-T'ai Meditation Sect. It was rebuilt in 1960. Since 1954, the pagoda has been chosen as the School of Buddhist Studies of Vietnam Buddhist Sangha Association. The course has been opened per annum in Summer and Winter to train monks and nuns as Heads as well as Buddhist Dharma propagators. The pagoda has kept lots of wooden statues of Amitabha Buddha, Lord Buddha's Holy Birth, Avalokitesvara Bodhisattva, Mahasthama Bodhisattva, Yama of Hell, and Dharma Guardians. All of these statues were created in the 1960s. ; (法會) Cũng gọi Pháp sự, Phật sự, Trai hội, Pháp Chỉ cho các Pháp hội được cử hành vào những ngày lễ của Phật giáo. Vào những ngày này, chư tăng và tín đồ hội họp ở 1 nơi nhất định, trang nghiêm đạo tràng, tụng niệm lễ bái, thiết trai cúng dường, thí thực, giảng kinh, thuyết pháp, tán thán công đức của Phật và Bồ tát... Có rất nhiều loại pháp hội, nhưng chính thức và tiêu biểu nhất trong 1 năm là những pháp hội sau đây: -Ngày mồng 1 tháng giêng là pháp hội Thánh đản đức Phật Di lặc. -Ngày mồng 9 tháng giêng là pháp hội cúng Phật trai thiên. -Ngày 19 tháng 2 là pháp hội Thánh đản bồ tát Quán thế âm. -Ngày 15 tháng 4 (ngày mồng 8 tháng 4) là pháp hội Thánh đản đức Phật Thích ca. -Ngày 19 tháng 6 là pháp hội kỉ niệm bồ tát Quán thế âm thành đạo. -Ngày 15 tháng 7 là pháp hội Vu lan bồn. -Ngày 29 tháng 7 là pháp hội Thánh đản bồ tát Địa tạng. -Ngày 19 tháng 9 là pháp hội kỉ niệm bồ tát Quán thế âm xuất gia. -Ngày 29 tháng 9 là pháp hội Thánh đản đức Phật Dược sư. -Ngày 17 tháng 11 là pháp hội Thánh đản đức Phật A di đà. -Ngày mồng 8 tháng 12 là pháp hội kỉ niệm đức Phật Thích ca thành đạo.[X. luật Ma ha tăng kì Q.3, 27; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.24, 33, 40; Hữu bộ mục đắc ca Q.8, 10; Phật tổ thống kỉ Q.33].

pháp hội xã

Tự viện—A monastery.

pháp hữu

Tà kiến Tiểu Thừa cho rằng vạn hữu, hay những yếu tố tạo thành vạn hữu là có thật—The false view of Hinayana that things, or elements of which they are made, are real.

pháp hữu lậu

Pháp còn nằm trong phạm trù điều kiện, làm cho ý chí và nghị lực chúng ta hướng ngoại cầu hình thay vì hướng nội cầu lấy tâm Phật—Outflows—Conditioned dharmas—Leaking—Anything which serves to divert beings away from inherent Budha-nature. Outflows are so called because they are turning of energy and attention outward rather than inward.

pháp hữu ngã vô tông

Phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ chủ trương pháp thì có, nhưng cái ta thì không (thể của các pháp do nhân duyên sinh ra có thực thể, còn cái ta là do sự hòa hợp của giả tạm của các pháp, là hư vọng)—The Sarvastivadins who while disclaiming the reality of personality claimed the reality of things. ; (法有我無宗) Tông phái chủ trương thuyết Hết thảy pháp đều có thực trong 3 đời (quá khứ, hiện tại, vị lai), pháp thể hằng có, nhưng hoàn toàn không có cái Ta chủ quan. Đây là tông thứ 2 trong 10 tông theo sự phán giáo của tông Hoa nghiêm. Các bộ phái của Tiểu thừa như: Tát bà đa bộ, Tuyết sơn bộ, Đa văn bộ, Hóa địa bộ... đều thuộc tông này. Tông này chia các pháp làm 5 vị, 75 pháp, cho rằng 3 đời thực có, pháp thể hằng có, nhưng Ngã chỉ là cái tên của các pháp giả hòa hợp. Do lập trường chỉ thừa nhận có pháp chứ không thừa nhận có ngã, cho nên tông này được gọi là Pháp hữu ngã vô tông. [X. Hoa nghiêm Nhất thừa giáo nghĩa phân tề chương Q.1]. (xt. Thập Tông). PHÁP HỶ I. Pháp Hỷ. Cũng gọi Pháp duyệt. Khi nghe giáo pháp của đức Phật, vì khởi tâm tin mà sinh lòng vui mừng. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 2 (Đại 9, 403 trung) nói: Âm thanh của đức Phật có năng lực làm cho người nghe sinh lòng vui mừng, khiến mọi người được pháp hỷ. [X. Tán A di đà kệ]. II. Pháp Hỷ (?-?). Phạm: Dharmanandi. Hán âm: Đàm ma nan đề. Hán dịch: Pháp hỷ. Cao tăng người nước Đâu khư lặc, đến Trung quốc vào khoảng năm Kiến nguyên (365-370) đời Phù Tần, tham dự công việc dịch kinh. (xt. Đàm Ma Nan Đề).

pháp hữu vi

Những pháp có hình tướng, số lượng, có thể suy lường và dùng lời nói văn tự diễn tả được, đều gọi là pháp hữu vi.

pháp hỷ

1) Vui mừng khi nghe hay nếm được vị pháp—Joy of the Law—The joy of hearing or tasting dharma. 2) Tên của vị Tỳ Kheo Pháp Hỷ: A monk with the name of Dharmanandi. 3) Theo Kinh Duy Ma Cật, Phẩm Bồ Tát, Ma Vương giả làm Trời Đế Thích, đem hiến một muôn hai ngàn thiên nữ cho Bồ Tát Trì Thế—According to the Vimalakirti Sutra, Chapter Bodhisattvas, a demon pretended to be Indra, offered twelve thousand goddesses (devakanya) to the Bodhisattva Ruler of the World. • Ma vương nói với Trì Thế: “Thưa Chánh sĩ! Xin ngài nhận một muôn hai ngàn Thiên nữ nầy để dùng hầu hạ quét tước.”—The demon said to the Ruler of the World Bodhisattva: “Bodhisattva, please take these twelve thousand goddesses who will serve you.” • Trì Thế nói rằng: “Nầy Kiều Thi Ca! Ông đừng cho vật phi pháp nầy, tôi là kẻ Sa Môn Thích tử, việc ấy không phải việc của tôi.”—The Ruler of the World Bodhisattva replied: “Sakra, please do not make to a monk this unclean offering which does not suit me.” • Nói chưa dứt lời, bỗng ông Duy Ma Cật đến nói với Trì Thế: “Đây chẳng phải là Đế Thích, mà là Ma đến khuấy nhiễu ông đấy!” Ông lại bảo ma rằng: “Các vị Thiên nữ nầy nên đem cho ta, như ta đây mới nên thọ “Even before the Ruler of the World Bodhisattva had finished speaking, Vimalakirti came and said: “He is not Sakra; he is a demon who comes to disturb you.” He then said to the demon: 'You can give me these girls and I will keep them.” • Ma sợ hãi nghĩ rằng: “Có lẽ ông Duy Ma Cật đến khuấy rối ta chăng?” Ma muốn ẩn hình mà không thể ẩn, rán hết thần lực, cũng không đi được. Liền nghe giữa hư không có tiếng rằng: “Nầy Ba Tuần! Hãy đem Thiên nữ cho ông Duy Ma Cật thì mới đi được. Ma vì sợ hãi, nên miễn cưởng cho—The demon was frightened, and being afraid that Vimalakirti might give him trouble, he tried to make himself invisible but failed, and in spite of his use of supernatural powers he could not go away. Suddenly a voice was heard in the air, saying: 'Demon, give him the girls and then you can go.' Being scared, he gave the girls.' • Khi ấy ông Duy Ma Cật bảo các Thiên nữ rằng: “Ma đã đem các ngươi cho ta rồi, nay các ngươi đều phải phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Rồi ông theo căn cơ của Thiên nữ mà nói Pháp để cho phát ý đạo, và bảo rằng các ngươi đã phát ý đạo, có Pháp vui để tự vui chớ nên vui theo ngũ dục nữa.”—At that time, Vimalakirti said to them: “The demon has given you to me. You can now develop a mind set on the quest of supreme enlightenment.” Vimalakirti then expounded the Dharma to them urging them to seek the truth. He declared: “You have now set your minds on the quest for the truth and can experience joy in the Dharma instead of in the five worldly pleasures (arising from the objects of the five senses).” • Thiên nữ hỏi: “Thế nào là Pháp vui?”— The goddesses asked him: 'What is this joy in the Dharma?” • Ông đáp: “Vui thường tin Phật; vui muốn nghe pháp; vui cúng dường Tăng; vui lìa ngũ dục; vui quán ngũ ấm như oán tặc; vui quán thân tứ đại như rắn độc; vui quán nội nhập (sáu căn) như không; vui gìn giữ đạo ý; vui lợi ích chúng sanh; vui cung kính cúng dường bực sư trưởng; vui nhẫn nhục nhu hòa; vui siêng nhóm căn lành; vui thiền định chẳng loạn; vui rời cấu nhiễm đặng trí tuệ sáng suốt; vui mở rộng tâm Bồ Đề; vui hàng phục các ma; vui đoạn phiền não; vui thanh tịnh cõi nước Phật; vui thành tựu các tướng tốt mà tu các công đức; vui trang nghiêm đạo tràng; vui nghe pháp thâm diệu mà không sợ; vui ba môn giải thoát mà không vui phi thời; vui gần bạn đồng học; vui ở chung với người không phải đồng học mà lòng thương không chướng ngại; vui giúp đỡ ác tri thức; vui gần thiện tri thức; vui tâm hoan hỷ thanh tịnh; vui tu vô lượng Pháp đạo phẩm. Đó là Pháp vui của Bồ Tát”—He replied: “Joy in having faith in the Buddha, joy in listening to the Dharma, joy in making offerings to the Sangha, and joy in forsaking the five worldly pleasures; joy in finding out that the five aggregates are like deadly enemies, that the four elements (that make the body) are like poisonous snakes, and that the sense organs and their objects are empty like space; joy in following and upholding the truth; joy in being beneficial to living beings; joy in revering and making offerings to your masters; joy in spreading the practice of charity (dana); joy in firmly keeping the rules of discipline (sila); joy in forbearance (ksanti); joy in unflinching zeal (virya) to sow all excellent roots; joy in unperturbed serenity (dhyana); joy in wiping out all defilement that screens clear wisdom (prajna); joy in expanding the enlightened (bodhi) mind; joy in overcoming all demons; joy in eradicating all troubles (klesa); joy in purifying the Buddha land; joy in winning merits from excellent physical marks; joy in embellishing the bodhimandala (the holy site); joy in fearlessness to hear (and understand ) the profound Dharma; joy in the three perfect doors to nirvana (i.e. voidness, formlessness and inactivity) as contrasted with their incomplete counterparts (which still cling to the notion of objective realization); joy of being with those studying the same Dharma and joy in the freedom from hindrance when amongst those who do not study it; joy to guide and convert evil men and to be with men of good counsel; joy in thestat of purity and cleanness; joy in the practice of countless conditions contributory to enlightenment. All this is the Bodhisattva joy in the Dharma.”

pháp hỷ thực

Lấy pháp hỷ làm thức ăn—The food of joy in the Law.

Pháp khí

法器; C: făqì; J: hōki; |1. Người sẵn sàng đúng lúc để tin nhận giáo lí Phật pháp; 2. Trong Thiền tông, người có năng lực để được giao phó Chính pháp nhãn tạng, niết-bàn diệu tâm (正法眼藏涅槃妙心); 3. Những khí cụ được dùng trong lễ nghi tôn giáo.

pháp khí

căn khí của người làm chấn hưng đạo Phật, nhận lấy kho tàng Chánh pháp để truyền bá cho đời, ví như cái bát (khí) đựng cơm của vị tỳ-kheo. Bậc pháp khí là người đủ sức thọ nhận các pháp môn của Phật. ; Những nhân tài có thể đào tạo thành người đủ đại đại cơ đại dụng để nối tiếp huệ mạng của Phật, hoằng dương chánh pháp gọi là Pháp khí. ; 1) Những nhạc khí dùng trong thờ phượng: Implements used in worship. 2) Những người có thể tu hành theo đạo Phật: One who obeys the Buddha. ; (法器) I. Pháp Khí. Người có khả năng tu hành Phật đạo. Phẩm Đề ba đạt đa trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 35 hạ) nói: Thân người nữ ô uế, không phải là pháp khí.Trong Sơn đường tứ khảo cũng chép: Nhị tổ Tuệ khả hầu ngài Đạt ma đã lâu nhưng không được nghe ngài dạy bảo, sư liền chặt tay mình để cầu pháp, ngài Đạt ma biết đó là bậc pháp khí, nên đem áo bát truyền cho. [X. kinh Đại bảo tích Q.38; kinh Đại tập Q.10; Thích thị yếu lãm Q.hạ]. II. Pháp Khí. Cũng gọi Phật khí, Phật cụ, Đạo cụ. Nói theo nghĩa rộng thì tất cả những dụng cụ dùng cho các loại Phật sự như trang hoàng Phật đàn, pháp hội, tu pháp, cầu nguyện, cúng dường, hoặc đem theo bên mình như tràng hạt, tích trượng v.v... đều được gọi chung là Pháp khí. Nói theo nghĩa hẹp thì Pháp khí đặc biệt được chỉ cho những dụng cụ đặt ở bàn thờ Phật, nhất là những khí cụ được dùng trong các tu pháp của Mật giáo; có rất nhiều loại, về cách dùng, cỡ lớn nhỏ và hình dáng đều khác nhau. Tức cùng có tên là Pháp khí nhưng tùy theo nguyên liệu, phương pháp chế tạo, hoặc do tông phái, thời đại khác nhau, mà hình thức của các Pháp khí cũng rất khác nhau. Thông thường, mĩ thuật Phật giáo lấy Pháp khí làm tiêu chuẩn. Nếu phân loại theo cách sử dụng thì Pháp khí có thể được chia làm 8 loại: 1. Trang nghiêm cụ: Những thứ dùng để trang hoàng điện Phật, đạo tràng như: Phan, phướn, lọng, màn che, tràng hoa, khám thờ Phật, bình cắm hoa, lò hương v.v... 2. Cúng Phật khí: Những khí cụ cúng Phật như: Hương hoa, lò hương, chân đèn, lồng đèn, bát đựng cơm cúng, bình trà, bình nước (tịnh bình, quân trì) lẵng hoa, mâm, bàn v.v...3. Báo thời khí: Dụng cụ thông báo giờ giấc,cử hành các pháp sự cúng dường như: Chuông lớn, trống, khánh, chiêng, thanh la, não bạt, chuông lắc, mõ, mộc bản v.v... Những Pháp khí này được chế tạo rất đẹp, đặc biệt có giá trị mĩ thuật cao. Ngoài nghệ thuật chế tạo, còn khắc tên, niên đại, văn khắc, về mặt sử liệu, có ý nghĩa rất phong phú. 4. Dung trí khí: Những khí vật để cất chứa hoặc trang trí các đạo cụ như: Bình đựng xá lợi, hòm(rương) chứa kinh, hòm đựng ca sa, hộp để giới điệp... 5. Huề hành khí: Những khí vật tăng sĩ mang theo mình như: Tràng hạt (xâu chuỗi), bát, tích trượng, như ý(vật dùng để gãi ngứa ở những chỗ tay không với tới), phất trần v.v... 6. Mật giáo pháp cụ: Cũng gọi Đại đàn cụ, dùng trong các pháp tu của Mật giáo như: Luân bảo (bánh xe báu), Yết ma kim cương, Kim cương chử (chày kim cương), Kim cương linh (chuông kim cương), Kim cương bàn (mâm kim cương), Lục khí (6 thứ: Lò hương, bát đựng nước thơm, hộp đựng hương, lẵng đựng hoa, chân đèn và bát đựng cơm cúng) cùng 4 cây cọc dùng để kết giới... Về cách sử dụng, hình dáng, chủng loại của các pháp cụ Mật giáo đều do giáo nghĩa trong nghi quĩ của Mật giáo qui định. Thông thường, so với Pháp khí của Hiển giáo, thì các pháp cụ của Mật giáo mang đậm tính cách thần bí và tượng trưng. Chẳng hạn như cây chày 1 chĩa là tượng trưng cho Nhất chân như, chày 3 chĩa tượng trưng cho Tam mật (thân mật, ngữ mật, ý mật), hoặc tượng trưng cho Tam thân(Pháp thân, Báo thân, Hóa thân), hoặc biểu thị Tam bộ (Phật bộ, Kim cương bộ, Liên hoa bộ); chày 5 chĩa tượng trưng cho Ngũ trí (Đại viên kinh trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quan sát trí, Thành sở tác trí, Pháp giới thể tính trí), Ngũ Phật (thuộc Kim cương giới: Tì lô giá na Như lai, A súc Như lai, Bảo sinh Như lai, A di đà Như lai; thuộc Thai tạng giới: Đại nhật Như lai, Bảo chàng Như lai, Khai phu hoa vương Như lai, Vô lượng thọ Như lai, Thiên cổ lôi âm Như lai). Những loại pháp cụ này của Mật giáo phần nhiều được đúc bằng đồng, có mạ vàng, rất tinh vi, đẹp đẽ và, dĩ nhiên, giá trị nghệ thuật rất cao.

Pháp không

法空; C: făkōng; J: hōkū; |Tính không của các pháp, Tính không của các đối thể. Đồng nghĩa với Pháp vô ngã (法無我). Quan điểm có ảnh hưởng mạnh của Đại thừa cho rằng không chỉ những chúng sinh cá biệt không có một bản ngã (我空) mà các hợp thể cơ cấu các pháp cũng là không, trống không (pháp không 法空, s: dharma-śūnyatā). Quan điểm nầy được các nhà Đại thừa xem như là mức độ nội chứng để phân biệt với hàng Nhị thừa, vì họ vốn chỉ nhận thức được Ngã không. Theo thuật ngữ Nhị chướng (二障) trong Du-già hành tông Phật giáo thì thực chứng được pháp không là điều rất quan trọng để giải trừ Sở tri chướng (所知障).

pháp không

Tánh không hay sự không thật của chư pháp. Mọi vật đều tùy thuộc lẫn nhau, chứ không có cá nhân hiện hữu, tách rời khỏi vật khác—The emptiness or unreality of all things—Everything is being dependent on something else and having no individual existence apart from other things; hence the illusory nature of all things as being composed of elements and not possessing reality—The non-reality of things—Things are unreal. ** For more information, please see Nhị Không and Tam Không. ; (法空) Cũng gọi Pháp vô ngã (Phạm: Dharmanairàtmya). Chỉ cho tự tính của các pháp là không, 1 trong Nhị không, 1 trong Tam không. Pháp không có 2 nghĩa: Hết thảy pháp đều vô ngã; hết thảy pháp đều do nhân duyên giả hòa hợp. Luận Đại tì bà sa quyển 9 (Đại 27, 45 trung) ghi: Tôn giả Thế hữu nói: Tôi không định nói các pháp đều không, mà định nói hết thảy các pháp đều vô ngã. Bởi vì, Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương pháp thể là hằng có, cho nên không nói các pháp đều không, mà là quán tất cả pháp vô ngã để đối trị ngã kiến. Nhưng, phẩm Diệt pháp tâm trong luận Thành thực quyển 12 và luận Du già sư địa quyển 93 thì cho rằng các pháp 5 uẩn không có tự tính thực tại bất kiến, cho nên là không. Còn Đại thừa nghĩa chương quyển 1 thì căn cứ vào 4 tông mà phân biệt nghĩa không như sau: 1. Tông Tì đàm lập tính: Chỉ nói về sinh không, chứ không nói đến pháp không. 2. Tông thành thực phá tính: Nói rõ cả sinh không và pháp không, cho rằng khổ, không, vô thường... tập thành các pháp, gọi là Pháp hòa hợp. Trong các pháp hòa hợp, Không chẳng có tính nhất định, cho nên là Pháp không. 3. Tông Bát nhã phá tướng: Cũng nói sinh không và pháp không, cho rằng không cần phải đợi đến khi khổ, không, vô thường... lìa tan hoại diệt mới là không mà các pháp giả hợp ngay trước mắt chính là không. 4. Tông Hiển thực: Cũng nói sinh không và pháp không, chia làm 2 môn: a) Y trì môn: Pháp vọng tưởng vốn không, gọi là Chúng sinh không; chỗ nương chân thật vắng lặng, gọi là Pháp không. b) Duyên khởi môn: Thể chân như tịch diệt, gọi là Pháp không; Duyên dụng vắng lặng, gọi là Chúng sinh không. Trên đây, cái không của tông Phá tính là Tích không; cái không của tông Phá tướng là Thể không; còn về tông Hiển thực thì Sinh không và Pháp không của môn Y trì là Tam tính tam vô tính, Pháp không và Sinh không của môn Duyên khởi là Thể dụng của Chân như. [X. luận Đại trí độ Q.6, 31; luận Du già sư địa Q.90; luận Hiển dương thánh giáo Q.16]. (xt. Nhị Không, Không, Vô Ngã).

pháp không chung cùng

xem pháp chung cùng.

pháp không chân như

Chân như được hiểu như vô ngã và vô tướng của vạn hữu—The Bhutatathata as understood when this non-individuality or unreality of things is perceived.

Pháp không quán

法空觀; C: făkōngguān; J: hōkūkan; |Pháp thực hành thiền trong đó hành giả quán sát hợp thể cơ cấu của các pháp không có ngã tính. Xem mục Pháp không (法空) ở trên. Pháp thiền quán nầy vượt xa pháp thiền quán sát Nhân vô ngã hay Nhân không quán (人空觀).

pháp không quán

Một trong hai Nhị Không Quán; quan niệm cho rằng các pháp sắc tâm đều do nhân duyên sinh ra, chứ không có tự tánh hay thực thể—Meditative insight into the unreality of all things, one of the two kinds of meditative insight. ** For more information, please see Nhị Không (C). ; (法空觀) Pháp quán xét muôn vật đều do nhân duyên, điều kiện giả hòa hợp, không có thực thể, là 1 trong Nhị không quán. Đây là pháp quán của Bồ tát Đại thừa. (xt. Không).

pháp khản

(法侃) (551-623) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Tùy, người Huỳnh dương (thuộc tỉnh Hà nam), họ Trịnh. Ban đầu, sư tu hành ở chùa Linh nham, núi Thái sơn, sau sư theo Pháp sư Uyên học tập các bộ luận Thập địa, Địa trì... Về sau, sư đến Kiến khang, theo cư sĩ Tào tì– đệ tử tại gia của ngài Chân đế– nghiên cứu luận Nhiếp đại thừa. Năm Nhân thọ thứ 2 (602), đời Tùy, sư vâng sắc chỉ của vua Văn đế đưa xá lợi đến Tuyên châu (huyện Tuyên thành, tỉnh An huy) và Lê châu (thuộc tỉnh Hà nam), cảm được điềm lạ. Vua Dạng đế từng xây cất chùa Nhật nghiêm ở Trường an, thỉnh các bậc cao tăng trong nước về luận đạo, sư cũng vâng sắc về tuyên giảng Duy thức. Đến đầu đời Đường, sư được lập làm 1 trong Mười vị Đại đức lãnh đạo giới Phật giáo. Cuối đời, sư dời đến ở chùa Đại hưng thiện, tận lực hoằng dương luận Nhiếp đại thừa. Năm Vũ đức thứ 6 (623), sư thị tịch, hưởng thọ 73 tuổi. [X. Tục cao tăng truyện Q.11].

pháp khởi bồ tát

(法起菩薩) Pháp khởi; Phạm: Dharmodgata. Cũng gọi Pháp hỉ bồ tát, Pháp cơ bồ tát, Bảo cơ bồ tát, Pháp thượng bồ tát, Pháp dũng bồ tát, Đàm vô kiệt bồ tát. Cứ theo kinh Hoa nghiêm quyển 45 (bản dịch mới) thì bồ tát Pháp khởi trụ ở núi Kim cương, tương đương với thuyết bồ tát Văn thù trụ ở núi Ngũ đài thịnh hành tại Trung quốc từ đời Đường đến nay. Có thuyết cho rằng núi Kim cương tức là Kim cương sơn ở tỉnh Giang nguyên, Hàn quốc hiện nay. Hình tượng bồ tát Pháp khởi có 3 mặt 8 tay, mỗi mặt đều hiện vẻ giận dữ, sau lưng có những ngọn lửa, tay thứ 1 bên trái, tay thứ 1 bên phải bắt ấn Mã đầu, tay thứ 2 bên trái và tay thứ 2 bên phải cầm búa và cầm gậy. Pho tượng này hiện được thờ ở chùa Tịnh lưu li tại Sơn thành, Nhật bản. (xt. Kim Cương Sơn)

pháp kim cang

Dharmaraja (skt)—See Kim Cang.

Pháp Kinh

法經; C: făjīng; J: hōkyō; tk 6. |Người sưu tập mục lục kinh điển Phật giáo. Năm 549, sư cùng một nhóm 20 vị đã hoàn thành Chúng kinh mục lục (衆經目録).

pháp kinh

(法京) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Lương thời Nam Bắc triều, người đất Thái nguyên, họ Tôn, trụ ở chùa Trường sa, Kinh châu.Sư xuất gia năm lên 7 tuổi, năm 13 tuổi cùng với bạn đồng học là sư Trí uyên lên tòa cao thuyết pháp mà không sợ. Sư mở mang ngôi chùa Trường sa rất to lớn, có khoảng 1.500 gian lớn nhỏ, chúng tăng trên 1000 vị. Hai đời vua triều Hậu Lương đều tôn sư giữ chức Tăng chính lãnh đạo giáo đoàn. Sư thị tịch ở chùa này, thọ 76 tuổi. [X. Tục cao tăng truyện Q.16].

Pháp Kinh lục

法經録; C: făjīnglù; J: hōkyōroku; |Tên gọi tắt thông dụng của Chúng kinh mục lục (衆經目録).

pháp kiên na la vương

Druma (skt)—Vua Kiên Na La—King of the Kinnaras.

pháp kiếm

Lưỡi kiếm chân lý chặt đứt hết sự hoạt động của phiền não—The sword of Buddha-truth, which is able to cut off the functioning of illusion. ; (法劍) Thanh kiếm pháp. Phật pháp được ví dụ như thanh kiếm. Kiếm vốn là thứ vũ khí chế ngự kẻ địch; cũng thế, Phật pháp có năng lực dẹp tan ma quân phiền não của chúng sinh, cho nên gọi là Pháp kiếm. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 thượng) nói: Thổi loa pháp, cầm kiếm pháp. Bát chu tán (47, 448 hạ) nói: Pháp kiếm tức danh hiệu Di đà, Xưng niệm một lần trừ hết tội.

pháp kiến

Đầu óc thô thiển hẹp hòi hay mê chấp vào một pháp; cho pháp đó là đúng, còn các pháp khác là sai—Maintaining one tenet and considering others wrong; narrow-minded; bigoted.

Pháp kiều

法橋; J: hōkyō;|Một danh từ chỉ đạo Phật, ví Phật pháp như một cái cầu độ chúng sinh bước qua bể khổ Luân hồi.

pháp kiều

1) Dân Pháp: The French people. 2) Cầu Chân Lý Phật Pháp có khả năng giúp cho chúng sanh đáo bỉ ngạn niết bàn: The bridge of Buddha-truth, which is able to carry all across to nirvana. ; (法橋) I. Pháp Kiều. Cây cầu pháp. Ví dụ Phật pháp có năng lực đưa chúng sinh qua sông sinh tử, giống như chiếc cầu đưa người sang bờ bên kia. Kinh Trường a hàm quyển 2 (Đại 1, 12 hạ) nói: Phật là Thuyền trưởng đưa người vượt biển, pháp là cây cầu giúp người qua sông, theo con đường Đại thừa độ tất cả trời, người. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 13 (Đại 10, 65 hạ) nói: Chúng sinh ngu si không thấy tính, mờ mịt điên cuồng trong nguy hiểm, đức Phật thương xót dựng pháp kiều. II. Pháp Kiều. Gọi đủ: Pháp kiều thượng nhân vị. Một ngôi vị tăng ở Nhật bản, giữ chức luật sư, có trách nhiệm lãnh đạo tăng ni. Chức vụ này bắt đầu được đặt ra từ năm 864. Bấy giờ, có các ngài Tuyên giáo đại sư: Tối giáo, Nguyệt hiểu, Minh triết, Quang thiện... đã từng giữ chức Pháp kiều thượng nhân vị luật sư. Còn các ngài Tuệ duệ, Chân tuệ, Chính tiến, Đạo xương, Đạo thuyên, Hưng chiếu, Thường hiểu... thì giữ chức Pháp kiều thượng nhân vị quyền luật sư. [X. Tam đại thực lục Q.8, 48; Phù tang lược kí Q.20, 23].

pháp kính

tấm gương pháp. ; Pháp kính phản chiếu trí huệ Phật—The Dharma mirror, reflecting the Buddha-wisdom.

Pháp Kế

法繼; C: făjì; J: hōkei; |Tăng sĩ đời Bắc Nguỵ, Trung Hoa, thành viên của Bắc phái Địa luận tông, đệ tử của Đạo Sủng (道寵).

pháp lan

Gobharana (skt)—Pháp Lan cùng Sư Matanga là những vị Tỳ Kheo Ấn Độ đầu tiên tới Trung Quốc, vào khoảng giữa thế kỷ thứ nhất sau Tây Lịch—Gobharana, companion of Matanga, being the first Indian monk said to have come to China, in the middle of the first centurey A.D.

pháp linh

Chuông pháp hay âm thanh thanh thoát dễ chịu khi trì tụng kinh điển—The dharma-bell; the pleasing sound of intoning the sutras.

Pháp liên hoa kinh huyền tán

法蓮華經玄贊; C: fă liánhuá jīng xuán zàn; J: hōrengekyō gensan; |Pháp hoa huyền tán (法華玄贊) ở trên.

Pháp Loa

法螺; 1284-1330|Thiền sư Việt Nam thuộc dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Sư là môn đệ của Trần Nhân Tông, là Tổ thứ hai của dòng thiền này. Sư là người ấn hành Ðại tạng kinh tại Việt Nam khoảng năm 1329. Kinh này đã bị Trương Phụ thời nhà Minh phá huỷ, ngày nay không còn. Sư để lại nhiều tác phẩm Thiền học và luận thuyết về các kinh Nhập Lăng-già, Diệu pháp liên hoa, Bát-nhã ba-la-mật-đa. Sư có nhiều đệ tử đắc pháp mà người để lại tên tuổi đến ngày nay trong thiền học và thi ca là Huyền Quang. Sư mất sớm, lúc mới 46 tuổi.|Sư tên tục là Ðồng Kiên Cương, quê ở làng Cửu La, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Cha tên là Ðồng Thuần Mậu, mẹ là Vũ Từ Cứu. Tháng 8 năm Quý Mùi (1283), mẹ Sư đêm nằm mộng thấy dị nhân trao cho kiếm thần và sau đó sinh ra Sư. Sư còn nhỏ đã có chí khác thường, không nói lời ác, không thích ăn thịt cá.|Năm 1304, Ðiều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông đi khắp nơi trong nước, có ý tìm người kế thừa. Khi xa giá vừa đến thôn, Sư đỉnh lễ xin xuất gia, Trần Nhân Tông bảo ngay: »Ðứa bé này có đạo nhãn, sau này hẳn là pháp khí« và cho theo về thụ giới Sa-di. Ðiều Ngự lại bảo Sư đến Quỳnh Quán học nơi Hoà thượng Tính Giác. Khi đã có sở đắc, Sư từ tạ trở về với Ðiều Ngự.|Một hôm, Sư dâng ba bài tụng nhưng cả ba đều bị chê. Ðiều Ngự khuyên Sư phải tự tham. Sư vào phòng đầu óc nặng trĩu, thức đến quá nửa đêm, nhìn thấy bông đèn tàn rụng xuống bỗng nhiên đại ngộ. Ðiều Ngự thầm ấn khả cho Sư. Từ đây, Sư tu theo 12 hạnh Ðầu-đà.|Năm sau, Ðiều Ngự đích thân truyền Giới Thanh văn và Bồ Tát cho Sư. Năm 1306, Ðiều Ngự cử Sư làm chủ giảng tại chùa Báo Ân. Tại đây Sư gặp Huyền Quang lần đầu tiên, lúc đó Sư mới 23 tuổi. Hai năm sau, Ðiều Ngự mất, Sư phụng mệnh đưa Xá-lị về kinh đô và sau khi trở về núi, Sư soạn lại những bài tụng của Ðiều Ngự lúc ở Thạch thất và biên tập lại dưới tên Thạch thất mị ngữ.|Tháng 12 năm 1319, Sư kêu gọi Tăng chúng và cư sĩ chích máu in Ðại tạng kinh hơn 5000 quyển. Vua Trần Anh Tông cũng tự chích máu mình viết Ðại tạng kinh cỡ nhỏ. Sư chuyên giảng kinh Hoa nghiêm, mỗi lần giảng cả ngàn người nghe.|Năm 1330, Sư lâm bệnh nặng, đệ tử xin bài kệ, Sư viết:|萬緣裁斷一身閒。四十餘年夢幻間|珍重諸人休借問。那邊風月更邇寬|Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn|Tứ thập dư niên mộng huyễn gian|Trân trọng chư nhân hưu tá vấn|Na biên phong nguyệt cánh nhĩ khoan.|*Muôn duyên cắt đứt, tấm thân nhàn,|Hơn bốn mươi năm cõi mộng tàn.|Giã biệt! Xin đừng theo hỏi nữa,|Bên kia trăng gió mặc thênh thang.|Viết xong, Sư ném bút an nhiên viên tịch, thọ 47 tuổi. Nhục thân Sư được đệ tử nhập tháp tại Thanh Mai Sơn.|Các tác phẩm của Sư còn được lưu truyền: 1. Ðoạn sách lục; 2. Tham thiền chỉ yếu; 3. Kim cương đạo trường đà-la-ni kinh; 4. Tán Pháp hoa kinh khoa sớ; 5. Bát-nhã tâm kinh khoa; và một vài bài kệ trước lúc tịch.

pháp loa

Dharma-sankha (skt)—Loa Phật Pháp, ý ám chỉ tiếng Đức Phật thuyết pháp như tiếng loa thổi của vỏ ốc vang rất xa (thế tục dùng tù và để thổi ra hiệu ba quân, tiếng thuyết pháp của Đức Phật có sức mạnh hàng phục ma quỷ)—Conch of the Law, a symbol of the universality, power, or command of the Buddha's teaching. ; (法螺) Phạm: Dharma-zaíkha. Zaíkha (loa), Hán âm: Thương khư. Hán dịch: Kha, Bối, Lễ bối. Chỉ cho cái tù và (cũng là 1 loại nhạc khí) ở Ấn độ, làm bằng vỏ ốc, thổi để triệu tập quần chúng hoặc khi ra trận. Loa khi được thổi, tiếng vang đi rất xa và mạnh mẽ, dùng để ví dụ âm thanh đức Phật nói pháp, khắp đại chúng đều nghe rõ, hơn nữa, âm thanh ấy còn có năng lực hàng phục quân ma, cho nên gọi là Pháp loa. Trong Mật giáo, loa là vật cầm tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm. Loa cũng được dùng trong các pháp hội. Ngoài ra, đối với những nhà Tu nghiệm đạo ở Nhật bản, loa là 1 pháp khí rất quan trọng. Lúc tu đạo ở trong núi rừng, thổi Pháp loa để khỏi bị thú dữ đuổi theo. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa Q.1; kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.18; phẩm Mật ấn kinh Đại nhật Q.4; luật Ngũ phần Q.18].

Pháp Long Tự

(法隆寺, Hōryū-ji): ngôi chùa trung tâm của Thánh Đức Tông (聖德宗), hiện tọa lạc tại Ikaruka-cho (斑鳩町), Ikoma-gun (生駒郡), Nara-ken (奈良縣), là một trong 7 ngôi chùa lớn vùng Nam Đô. Nguyên gốc chùa này thuộc về Pháp Tướng Tông, nhưng vào năm 607 Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi) khai cơ sáng tạo, nên chùa thuộc vào Thánh Đức Tông. Xưa kia, chùa có các tên gọi khác như Pháp Long Học Vấn Tự (法隆學問寺), Ban Cưu Tự (斑鳩寺, Ikaruka-dera), Giác Tự (鵤寺, Ikaruka-dera). Vào năm 670 (năm thứ 9 đời Thiên Trí Thiên Hoàng [天智天皇, Tenchi Tennō]) chùa bị cháy tiêu tan, và cho đến đầu thế kỷ thứ 8 chùa chỉ được tái kiến tạm thời mà thôi. Được phối trí theo dạng thức Pháp Long Tự, chùa có kiến trúc bằng gỗ tối cổ nhất thế giới, bao gồm Tây Viện, lấy Kim Đường (金堂), Ngũ Trùng Tháp (五重塔) của mô dạng thời đại Phi Điểu (飛鳥, Asuka) làm trung tâm; Đông Viện lấy Mộng Điện (夢殿) của mô dạng thời Thiên Bình (天平, Tempyō) làm trung tâm. Tượng thờ chính tại Kim Đường là Thích Ca Tam Tôn thuộc dạng thức của Phật Giáo hậu kỳ thời Bắc Ngụy (北魏, 386-534). Tương truyền khi Thánh Đức Thái Tử qua đời, vào năm 623 (năm thứ 31 đời Suy Cổ Thiên Hoàng [推古天皇, Suiko Tennō]), nhóm quý tộc đã phát nguyện và ra lệnh cho An Tác Chỉ Lợi (鞍作止利, Karatsukuri-no-Tori, còn gọi là Chỉ Lợi Phật Sư [止利佛師]) đúc tượng này. Ngoài ra, tại Kim Đường còn có một pho tượng Dược Sư Như Lai; tương truyền khi Dụng Minh Thiên Hoàng (用明天皇, ) lâm trọng bệnh, Thánh Đức Thái Tử đã phát nguyện đúc pho tượng này để cầu nguyện cho Thiên Hoàng lành bệnh và đến năm 607 (năm thứ 15 đời Suy Cổ Thiên Hoàng) mới hoàn thành. Pho tượng Dược Sư Như Lai hiện tồn được xem như là mới hơn pho Thích Ca Tam Tôn. Tây Viện Già Lam hiện tồn có Kim Đường (金堂), Ngũ Trùng Tháp (五重塔), Trung Môn (中門), Hành Lang, là những kiến trúc lúc mới thành lập chùa (cuối thế kỷ thứ 7); bên cạnh đó, ngoài Kho Kinh (經藏), Đông Thất (東室), Thực Đường (食堂), Đông Đại Môn (東大門) thuộc thời đại Thiên Bình, còn có Đại Giảng Đường (大講堂, năm 990), Lầu Chuông (金樓, khoảng năm 990), Tây Viên Đường (西圓堂, năm 1250), Nam Đại Môn (南大門, năm 1438), v.v. Quần thể này thể hiện toàn bộ bóng dáng kiến trúc già lam cổ đại. Về mỹ thuật Phật Giáo, ngôi cổ tự này hiện đang tàng trữ tại rất nhiểu bảo vật vô giá như tượng Thích Ca Tam Tôn, Dược Sư Như Lai, Bách Tế Quan Âm (百濟觀音), Mộng Vi Quan Âm (夢違觀音), Ngọc Trùng Trù Tử (玉虫厨子), Quất Phu Nhân Trù Tử (橘夫人厨子), v.v. Vào năm 1949, trong nội bộ và những tranh vẽ trên tường bị cháy tiêu, nhưng sau đó đã được phục nguyên lại toàn bộ. Đến năm 1993, chùa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.

Pháp Long tự

法隆寺; C: fălóng sì:; J: hōryūji;|Chùa toạ lạc gần vùng nay là An Dương, phía Bắc tỉnh Hồ Nam, được biết đó là nơi có tấm bia ghi công hạnh ngài Tín Hành (信行), người đã sáng lập Tam giai giáo; 2. Đại bản sơn của phái Thánh Đức ở Nại Lương (j: nara), do Thái tử Thánh Đức (j: shōtoku) sáng lập năm 607. Nay còn nhiều di sản văn hoá được lưu trữ ở đây.

pháp long tự

(法隆寺) Cũng gọi Pháp long học vấn tự, Ban cưu tự. Chùa ở xã Ban cưu, quận Sinh câu, huyện Nại lương, Nhật bản, là 1 trong 7 ngôi chùa lớn ở Nam đô, do Thái tử Thánh đức sáng lập, thuộc tông Thánh đức của Phật giáo Nhật bản. Chùa này qua các thời đại đều được bảo trì. Đến giữa thời Nại lương, chùa được kiến trúc thêm rất qui mô và trở thành trung tâm giáo học Duy thức, Tam luận. Hiện nay chùa này là Đại bản sơn của tông Pháp tướng. Chùa được chia làm Đông viện và Tây viện. Tây viện hiện có các kiến trúc như: Kim đường, tháp 5 tầng, trung môn, hành lang v.v... là những kiến trúc của thời Phi điểu, là 1 trong những kiến trúc bằng gỗ củaPhật giáo xưa nhất tại Nhật bản. Cách bố cục, kết cấu, hình thức... của chùa đều chịu ảnh hưởng lối kiến trúc của thời Nam Bắc triều ở Trung quốc.

Pháp luân

(s: dharmacakra, p: dhammacakka, 法輪): bánh xe pháp, tỷ dụ cho Phật pháp, có ba nghĩa chính. (1) Phá tan, vì Phật pháp có thể phá tan tội ác của chúng sanh, giống như bánh xe báu của Chuyển Luân Thánh Vương có thể nghiền nát vụn những tảng đá lớn nhỏ; nên gọi là pháp luân. (2) Quay lăn mãi, vì giáo pháp của đức Phật không dừng lại ở bất cứ một người nào hay nơi nào, giống như bánh xe lăn mãi trên đường không dừng lại, nên gọi là pháp luân. (3) Tròn đầy, vì giáo pháp của đức Phật tròn đầy, không khuyết, nên lấy sự tròn đầy của bánh xe mà thí dụ. Như trong Hoa Nghiêm Đạo Tràng Khởi Chỉ Đại Lược (華嚴道塲起止大略, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1474) có đoạn: “Sơ thành chánh giác, hiện thần biến ư Bồ Đề Tràng trung, tái chuyển pháp luân, chấn viên âm ư Phổ Quang Minh Điện, biến Thất Xứ nhi hằng diễn, lịch Cửu Hội dĩ đồng tuyên, phu vạn hạnh chi nhân hoa, nghiêm Nhất Thừa chi đạo quả (初成正覺、現神變於菩提塲中、再轉法輪、震圓音於普光明殿、遍七處而恆演、歷九會以同宣、敷萬行之因華、嚴一乘之道果, mới thành chánh giác, hiện thần biến nơi Bồ Đề Đạo Tràng, tái chuyển xe pháp, chấn viên âm nơi Phổ Quang Minh Điện, khắp Bảy Chốn mà hằng diễn, trãi chín hội vốn cùng tuyên, rãi muôn hạnh ấy nhân hoa, nghiêm Nhất Thừa ấy đạo quả).” Hay trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 9, phần Đông Kinh Đại Tướng Quốc Tự Huệ Lâm Thiền Viện Viên Chiếu Thiền Sư (東京大相國寺慧林禪院圓照禪師), cũng có đoạn: “Tích nhật Linh Sơn thắng tập, tùy cơ đại chuyển pháp luân, kim triêu Tuyển Phật Trường khai, thùy thủ nguyện dương Phật sự (昔日靈山勝集、隨機大轉法輪、今朝選佛場開、垂手願揚佛事, xưa kia Linh Sơn tập hội, tùy cơ đại chuyển pháp luân, sáng nay Tuyển Phật Trường bày, buông tay nguyện làm Phật sự).” Pháp luân còn gọi là phạm luân (梵輪). Như trong Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 8 giải thích rằng: “Phật chuyển pháp luân, hoặc danh pháp luân, hoặc danh phạm luân (佛轉法輪、或名法輪、或名梵輪, đức Phật chuyển bánh xe pháp, hoặc gọi là pháp luân, hoặc gọi là phạm luân).” Về tự tánh của pháp luân, các bộ phái đều có những thuyết khác nhau. Trong đó, 10 bộ như Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (s: Sarvāstivādin, 說一切有部), Đa Văn Bộ (s: Bāhuśrutīya, Bāhulika, p: Bahussutaka, Bāhulika, 多聞部), Kinh Lượng Bộ (s: Sautrāntika, 經量部), v.v., chủ trương lấy Bát Chánh Đạo (s: āryāṣṭāṇga-mārga, āryāṣṭāṇgika-mārga, p: ariyāṭṭhaṅgika-magga, 八正道) làm thể của pháp luân. Còn 10 bộ khác như Đại Chúng Bộ (s, p: Mahāsāṅghika, 大衆部), Pháp Tạng Bộ (s: Dharmaguptaka, 法藏部), Ẩm Quang Bộ (s: Kāśyapīya, 飲光部), v.v., thì lấy ngôn từ của đức Phật làm pháp luân. ; 法輪; C: fămén; J: hōmon; S: dharmacakra; P: dhammacakka; nghĩa là bánh xe pháp;|Bánh xe pháp; Thuật ngữ »bánh xe« xuất phát từ chữ cakra trong tiếng Phạn, là một loại vũ khí của Ấn Độ thời cổ đại. Do vậy, Pháp luân là vũ khí để hàng phục mọi tà kiến ngoại đạo – là giáo lí của Đức Phật.|Trong đạo Phật, pháp luân tượng trưng cho giáo pháp của đức Phật, gồm Tứ diệu đế, Bát chính đạo, Trung đạo. Pháp luân thường được vẽ như một bánh xe tám nhánh, tượng trưng cho Bát chính đạo (xem Tám báu vật).|Truyền thuyết cho rằng, pháp luân được chuyển ba lần: 1. Phật giảng pháp lần đầu sau khi đạt chính quả tại Lộc uyển; 2. Lúc thành hình giáo pháp Ðại thừa; 3. Lúc thành hình giáo pháp Kim cương thừa (s: vajrayāna).||H 46: Pháp luân. Hai con nai là biểu hiện của Lộc uyển (vườn nai; s: mṛgadāva), nơi đức Phật chuyển pháp luân lần đầu.

pháp luân

Dharma-cakra (skt)—The wheel of law—Bánh xe pháp hay chân lý Phật pháp có khả năng nghiền nát những ác quấy, đối lập và ảo vọng. Lời thuyết pháp của Đức phật phá vỡ mọi não phiền nghiệp hoặc, lời ấy không ngừng nghỉ ở một người nào, một chỗ nào, mà nó xoay chuyển mãi từ thế hệ nầy qua thế hệ khác—The Wheel of Law, or Buddha truth which is able to crush all evil and all opposition—The preaching of a Buddha—Dharma wheel is likened a wheel because it crushed all illusions, evil and on opposition, like Indra's wheel, which rolls from man to man, place to place, age to age. ; (法輪) Phạm: Dharmacakra. Pàli: Dhammacakka. Bánh xe pháp, ví dụ giáo pháp của đức Phật, có 3 nghĩa: 1. Tồi phá: Vì Phật pháp có công năng phá trừ tội ác của chúng sinh, giống như bánh xe báu của Chuyển luân Thánh vương có thể nghiền nát núi non nham thạch, cho nên ví dụ là Pháp luân. 2. Triển chuyển: Vì đức Phật nói pháp không dừng ở 1 người nào, cũng không vướng mắc ở 1 chỗ nào, giống như bánh xe quay mãi không dừng, cho nên gọi là Pháp luân. 3. Viên mãn: Vì giáo pháp do đức Phật nói đầy đủ không thiếu, giống như bánh xe tròn trịa, nên gọi là Pháp luân. Luận Đại trí độ quyển 25 (Đại 25, 245 thượng) nói: Đức Phật quay bánh xe pháp, tất cả trời và người trong thế gian không bị trở ngại, không bị ngăn che (...) gặp được Pháp luân của Phật thì tất cả phiền não, tà kiến, nghi hối, độc hại thảy đều tiêu diệt. Pháp luân cũng gọi là Phạm luân, trong các kinh luận có nêu ra nhiều ý nghĩa khác nhau về từ ngữ này: 1. Phạm nghĩa là thanh tịnh, mà pháp của đức Phật nói cũng thanh tịnh, nên gọi Phạm luân. 2. Phật là đấng Đại phạm, Phật dùng Phạm âm để nói pháp, nên gọi Phạm luân. 3. Lúc đức Phật vừa mới thành đạo, Phạm thiên đến khuyến thỉnh Ngài chuyển pháp luân, vì thế gọi là Phạm luân. 4. Đức Phật dùng 4 tâm Phạm hạnh (4 tâm vô lượng): Từ, bi, hỉ, xả để tuyên thuyết đại pháp, cho nên gọi là Phạm luân. 5. Người Ấn độ thời xưa rất tôn quí Phạm thiên, vì tùy thuận thế gian, nên gọi là Phạm luân.Nhưng cũng có thuyết cho rằng giữa 2 từ Pháp luân và Phạm luân có ý nghĩa khác nhau: -Phạm luân chỉ dạy pháp Tứ vô lượng tâm và pháp Tứ thiền định của Thánh đạo thiền định. -Pháp luân chỉ dạy pháp Tứ thánh đế và 37 phẩm trợ đạo của Thánh đạo trí tuệ. Lại về tự tính của Pháp luân thì các bộ nói cũng đều khác nhau. Trong đó, 10 bộ như: Thuyết nhất thiết hữu bộ, Đa văn bộ, Kinh lượng bộ... chủ trương lấy Bát chính đạo làm thể của Pháp luân. Còn 10 bộ như: Đại chúng bộ, Pháp tạng bộ, Ẩm quang bộ... thì chủ trương lấy lời Phật nói làm thể của Pháp luân. Thuyết này được thấy trong luận Đại tì bà sa quyển 182, 183, luận Câu xá quyển 24, chương Tổng liệu giản trong Đại thừa nghĩa chương quyển 1, phần đầu và kinh Đại bát niết bàn quyển 14 (bản Bắc). Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 3 thì lại dựa vào sự cạn sâu của thuyết Ngũ giáo mà bàn về thể tính bất đồng của Pháp luân, nghĩa là Tiểu thừa giáo lấy Bát chính đạo làm thể của Pháp luân; Thủy giáo lấy trí vô phân biệt làm thể của Pháp luân; Chung giáo lấy chân lí làm thể của Pháp luân; Đốn giáo lấy chỗ lí và trí đều bặt, lời và ý đều dứt làm thể của Pháp luân; còn Viên giáo thì lấy Vô tận pháp môn làm thể của Pháp luân. [X. luận Đại trí độ Q.8; luận Tạp a tì đàm tâm Q.10]. (xt. Tượng Trưng, Chuyển Pháp Luân).

Pháp luân Thánh vương

xem Pháp vương.

pháp luân tăng

(法輪僧) Phạm: Dharmacakra-saôgha. Nói theo nghĩa rộng, Pháp luân tăng là chỉ cho vị tăng vâng theo giáo pháp của Phật dạy mà tu hành; còn nói theo nghĩa hẹp thì Pháp luân tăng là chỉ cho sa môn ở giai vị Kiến đạo. Thuyết nhất thiết hữu bộ đặc biệt gọi vị tăng vào giai vị Kiến đạo là Pháp luân tăng, vì Pháp luân có đủ 5 tướng của cái bánh xe ở thế gian sau đây: 1. Tật tốc nhi hành: Đi rất nhanh chóng. Giai vị Kiến đạo có 15 tâm, mỗi tâm là 1 sát na, giống như chiếc bánh xe của Chuyển luân Thánh vương quay rất nhanh. 2. Hữu thủ xả: Có lấy và bỏ. Kiến đạo bỏ cảnh Khổ đế, lấy cảnh Tập đế; không hẳn cùng 1 lúc thấy được lí Tứ đế; giống như Chuyển luân Thánh vương lấy bánh xe trước mà bỏ bánh xe sau. 3. Hàng vị phục: Hàng mà chưa phục. Người ở giai vị Kiến đạo thấy cái chưa thấy, đoạn cái chưa đoạn. 4. Trấn dĩ phục: Trấn áp đã phục. Bậc Kiến đạo khi đã đoạn được phiền não thì không bị lui mất. 5. Chuyển thượng hạ: Chuyển trên dưới. Giai vị Kiến đạo trước quán xét Khổ đế ở cõi dưới, sau quán xét Khổ đế ở cõi trên. Vì 5 tướng trên nên sa môn ở giai vị Kiến đạo được gọi là Pháp luân tăng. Nhưng, Kinh bộ thì cho rằng cả 3 giai vị Kiến đạo, Tu đạo và Vô học đạo đều gọi là Pháp luân, nghĩa là pháp môn Tam chuyển thập nhị hành tướng đều là Pháp luân. Ngoài ra, Đề bà đạt đa vọng thuyết Ngũ pháp, lập giáo đoàn riêng, gọi là Phá pháp luân tăng, hợp chung với Phá yết ma tăng, gọi là Nhị chủng phá hòa hợp tăng. [X. luận Câu xá Q.18, 24; luận Thuận chính lí Q.43; Câu xá luận quang kí Q.18]. (xt. Kiến Đạo).

Pháp luân vương

xem Pháp vương.

pháp luận mục lục

(法論目錄) Tên đầy đủ: Tống minh đế sắc Trung thư thị lang Lục trừng soạn Pháp luận mục lục. Mục lục, 16 pho, 103 quyển (hoặc 93 quyển), do quan Trung thư thị lang Lục trừng soạn vào thời vua Minh đế (ở ngôi 465-472) nhà Tống, Trung quốc. Bộ sách này đã mất, chỉ còn bài Tựa được thu chép trong bộ Xuất tam tạng kí tập quyển 12 của ngài Tăng hựu soạn vào đời Lương, nhờ đó mà được biết trong Pháp luận mục lục có nhiều vấn đề liên quan đến Phật giáo. Nội dung sách bao gồm: 1. Pháp tính tập 15 quyển. 2. Giác tính tập 7 quyển. 3. Bát nhã tập 6 quyển. 4. Pháp thân tập 4 quyển. 5. Giải thoát tập 1 quyển. 6. Giáo môn tập 12 quyển. 7. Giới tạng tập 8 quyển. 8. Định tạng tập 4 quyển. 9. Tuệ tạng tập 7 quyển. 10. Tạp hành tập 10 quyển. 11. Nghiệp báo tập 6 quyển. 12. Sắc tâm tập 9 quyển. 13. Vật lí tập 3 quyển. 14. Lục tự tập 2 quyển. 15. Tạp luận tập 6 quyển và 16. Tà luận tập 3 quyển. Tất cả hơn 250 thiên. Những tác phẩm được thu vào bộ sách này, phần nhiều cũng được xếp vào Hoằng minh tập.

pháp luật

Giới luật và những nguyên tắc lễ nghi trong Phật giáo—Laws or rules. ; (法律) Chỉ cho những qui chế, giới luật và thanh qui trong nội bộ giáo đoàn Phật giáo, hoặc các qui định khác có liên quan. Tăng yết ma quyển hạ (Đại 40, 536 hạ) nói: Tìm tòi nghiên cứu pháp luật của Tu đa la tì ni và phải ứng dụng pháp luật ấy mà không được trái phạm.

pháp lâm

(法琳) (572-640) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Dĩnh xuyên (nay là huyện Hứa xương, tỉnh Hà nam), họ Trần. Theo Tục cao tăng truyện quyển 24 thì sư xuất gia từ nhỏ, sư học rộng, nghiên cứu cả Phật học, Nho học, tư tưởng của Bách gia, đặc biệt sư tinh thông Tam luận(Trung luận, Bách luận và Thập nhị môn luận). Niên hiệu Nhân thọ năm đầu (601) đời Tùy, sư đến Trường an học đạo thuật. Niên hiệu Nghĩa ninh năm đầu (617), sư đổi áo tăng sĩ mặc áo đạo sĩ và đến ở Đạo quán. Vì sư vốn thông hiểu tư tưởng Lão Trang, lời nói thanh cao kì lạ, nên đạo tục đều kính phục và theo sư rất đông. Niên hiệu Vũ đức năm đầu (618) đời vua Đường cao tổ, sư quay về với cửa Phật. Năm Vũ đức thứ 4 (621), sư trụ ở chùa Tế pháp tại Kinh đô, lúc đó, quan Thái sử Phó dịch tâu lên vua 11 điều kế sách xin bãi bỏ Phật pháp, sư bèn dâng thư nói rõ sự sai trái của Phó dịch, đồng thời, soạn luận Phá tà (1 quyển) để luận nạn, Phó dịch đuối lí không đối đáp được, vua tạm gác việc bãi bỏ Phật pháp. Sau, để chống lại luận điệu bài Phật của nhóm Lí trọng khanh, sư lại soạn luận Biện chính (8 quyển), bẻ gãy tà luận của họ. Sau đó, sư vâng sắc trụ trì chùa Long điền và giữ chức Bút thụ trong trường dịch kinh. Mùa đông năm Trinh quán 13 (639), do lời dèm pha của đạo sĩ Tần thế anh, sư bị hạ ngục, sau, vua ra lệnh đày sư đến chùa Ích bộ tăng, nhưng khi đi đến chùa Bồ đề ở Bách lao quan thì sư bị bệnh mà tịch, thọ 69 tuổi. Sư để lại các loại tác phẩm như thi phú, tán tụng, bi chí, kí truyện, Tam giáo hệ phổ và giáo pháp Đại thừa v.v... gồm hơn 30 quyển. [X. Quảng hoằng minh tập Q.11; Đường hộ pháp sa môn Pháp lâm biệt truyện Q.3; Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8, 13; Cựu đường thư bản kỉ 1; Cựu đường thư liệt truyện 29].

Pháp Lãng

(法朗, Hōrō, 507-581): vị tăng sống dưới thời Nam Triều, người Quận Phái (沛郡), Từ Châu (徐州, nay thuộc phía Đông Huyện Phái, Giang Tô), họ Chu (周). Năm 21 tuổi, ông xuất gia, ban đầu theo Thiền Sư Bảo Chí (寳誌) tu Thiền, rồi lại theo Tăng Thuyên (僧詮) học về giáo học của Tam Luận và các kinh Hoa Nghiêm, Đại Phẩm, v.v. Vào tháng 11 năm thứ 2 (558) niên hiệu Vĩnh Định (永定) đời vua Võ Đế nhà Trần, ông vâng sắc chỉ vào kinh trú tại Hưng Hoàng Tự (興皇寺), tuyên giảng Hoa Nghiêm, Đại Phẩm, Trung Luận, Bách Luận, Thập Nhị Môn Luận, v.v.; chúng hội đến nghe thường lên đến ngàn người. Đến năm thứ 13 niên hiệu Thái Kiến (太建) đời vua Tuyên Đế, ông thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi. Suốt đời ông tận lực hoằng dương Tam Luận Tông và xiển dương giáo nghĩa của Long Thọ (龍樹). Trước tác của ông có Trung Luận Huyền Nghĩa (中論玄義) 1 quyển, Tứ Tất Đàn Nghĩa (四悉檀義) 1 quyển. Môn hạ của ông có 25 vị hiền triết, trong đó nổi tiếng nhất là Cát Tạng (吉藏), La Vân (羅雲), Pháp An (法安), Huệ Triết (慧哲), Pháp Trừng (法澄), Đạo Trang (道莊), Trí Củ (智矩), Huệ Giác (慧覺), Chơn Cảm (眞感), Minh Pháp Sư (明法師), Khoáng Pháp Sư (曠法師), v.v. ; 法朗; C: fǎlǎng; J: hōrō; K: pŏmnang;|1. Cao tăng Trung Quốc (507-581), một trong trong những vị đại biểu xuất sắc của Tam luận tông. Sư gia nhập Tăng-già năm 21 tuổi và chăm chỉ tu học Thiền định và Luật tạng. Sau, Sư chuyển qua tu học kinh luận của Tam luận tông và năm 558, Sư đến Nam Kinh xiển dương giáo lí Tam luận. Tương truyền rằng, môn đệ theo học với Sư có đến hàng ngàn. Sau khi Sư tịch, đệ tử xuất sắc là Gia Tường Ðại sư Cát Tạng đã đưa giáo lí của tông này đến tuyệt đỉnh.|2. Nguyên là Thiền sư (và có lẽ là vị Thiền sư sớm nhất) của Hàn Quốc. Sư sang Trung Hoa để học Thiền dưới sự bảo trợ của Tổ sư thiền Trung Hoa Đạo Tín (道信, 580-651). Pháp Lãng được truyền thống công nhận là khởi nguyên của việc truyền thừa Thiền tông Hàn Quốc, và là người đồng khai sáng Hi Dương sơn (曦陽) với Trí Săn Đạo Hiến (智詵道憲, k: chisŏn tohŏn) thuộc Thiền tông Hàn Quốc.

pháp lãng

Fa-Lang 507-581—Sư Pháp Lãng là một đại diện quan trọng của phái Tam Luận thuộc Phật giáo Trung Quốc. Ông gia nhập giáo đoàn năm 528. Trước tiên ông tu tập thiền định và nghiên cứu Luật Tạng. Sau đó ông sang qua nghiên cứu tu tập về những trước tác của phái Tam Luận. Năm 558, ông đến Nam Kinh (kinh đô Trung Quốc thời bấy giờ), nơi có hàng ngàn Tăng chúng tu tập quanh ông. Ông đã góp phần to lớn trong việc truyền bá Tam Luận. Một đệ tử của ông là Cát Tạng đã tiếp tục truyền thống Tam Luận sau khi ông thị tịch—Fa-Lang, an important representative of the San-Lun school of Chinese Buddhism. In 528, he entered the Buddhist order and devoted himself initially to the practice of meditation and the study of Vinaya texts. Later he occupied himself with the writings of the San-Lun school. In 558, he went to Nanking (capital of China at that time), where he gathered thousands of students around him, thus bringing the San-Lun school great popularity. After he passed away, Chi-Tsang, one of his disciples, carried on the tradition. ; (法朗) I. Pháp Lãng (?-?). Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Tấn. Sư đã từng đi Ấn độ cầu pháp, sau khi trở về nước, chuyên truyền giáo học Pháp tướng. (xt. Khang Pháp Lãng). II. Pháp Lãng (507-581). Cao tăng Trung quốc, sống vào thời Nam triều, người huyện Bái, Từ châu (nay là huyện Bái đông, tỉnh Giang tô), họ Chu, hiệu Hưng hoàng. Sư xuất gia năm 21 tuổi. Ban đầu, sư theo Thiền sư Đại minh Bảo chí tham thiền, rồi lại theo ngài Tăng thuyên học giáo học Tam luận, kinh Hoa nghiêm, kinh Đại phẩm v.v... Tháng 11 năm Vĩnh định thứ 2 (558), đời Trần, sư vâng sắc vua Vũ đế vào kinh đô trụ trì chùa Hưng hoàng, tuyên giảng các kinh luận như Hoa nghiêm, Đại phẩm, Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận... trong hơn 20 năm, đồ chúng theo học thường tới hơn nghìn người, nổi tiếng nhất có 25 vị được gọi là Nhị thập ngũ triết (25 nhà hiền triết) như: Cát tạng, La vân, Pháp an, Tuệ triết, Pháp trừng, Đạo trang, Trí củ, Tuệ giác, Chân cảm, Minh pháp sư, Tiểu minh pháp sư, Khoáng pháp sư v.v... Năm Thái kiến 13 (581) sư thị tịch, thọ 75 tuổi. Sư có các tác phẩm: Trung luận huyền nghĩa, 1 quyển, Tứ tất đàn nghĩa, 1 quyển. [X. Thắng man bảo quật Q.thượng, phần đầu; Trung luận tự sớ (Cát tạng); Tục cao tăng truyện Q.7; Tam luận tổ sư truyện tập Q.hạ]. III. Pháp Lãng (?-?). Cao tăng người Tân la (Triều tiên). Vào thời Nữ vương Thiện đức (ở ngôi 623-646), sư đến Trung quốc, tham học Thiền sư Đạo tín–vị Tổ thứ 4 của Thiền tông Trung quốc– và được tâm pháp của ngài. Sau khi về nước, sư tận lực xiển dương Thiền chỉ, là người đầu tiên truyền đạo Thiền ở Hải đông. Sau khi thị tịch, sư được đặtthụy hiệu Trí Chứng Đại Sư. [X. Hải đông kim thạch uyển Q.2; Triều tiên kim thạch tổng lãm thượng; Triều tiên Thiền giáo khảo].

pháp lôi

Tiếng sấm của pháp, làm thức tĩnh sự u mê nơi con người và làm tăng trưởng công đức—The thunder of dharma, awakening man from stupidity and stimulate the growth of virtue, the awful voice of buddha-truth. ; (法雷) Sấm pháp, ví dụ Phật pháp có năng lực phá trừ sự mê vọng của chúng sinh làm cho họ mở tỏ, giống như tiếng sấm khiến người ngủ say bừng tỉnh. Cũng ví dụ pháp âm của đức Phật mạnh mẽ vang rền như tiếng sấm. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 thượng) nói: Pháp lôi vang động, pháp điện sáng lòa. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển thượng (Đại 37, 96 hạ) nói: Trí pháp vô ngại, giáo hóa chúng sinh, sấm trời vang dậy, cây cỏ nảy mầm; nghe được pháp âm, ngộ đạo nhanh chóng.

pháp lĩnh

(法領) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Ngụy Tấn, là đệ tử của ngài Tuệ viễn. Vì nhận thấy kinh sách về Thiền và Luật còn thiếu, nên ngài Tuệ viễn sai đệ tử là các vị Pháp lĩnh, Pháp tịnh... sang Tây trúc cầu pháp. Vào năm Thái nguyên 17 (392) đời vua Hiếu đế nhà Đông Tấn, đoàn của sư Pháp lĩnh lên đường Tây du, 17 năm sau sư mới trở về. Những kinh điển sư mang về được dịch ở Trường an và Giang nam. Sư Tuệ biện– đệ tử của ngài Pháp lĩnh cũng phụ giúp việc phiên dịch luật Tứ phần ở Trường an. [X. bài Tựa luật Tứ phần; Tuệ viễn truyện trong Lương cao tăng truyện].

pháp lưu

(法流) Cũng gọi Pháp thủy. Dòng pháp, ví dụ sự truyền thừa chính pháp của đức Phật liên tục như dòng nước. Về sau, Pháp lưu được dùng để chỉ cho pháp hệ, dòng phái. Kinh Tạp a hàm quyển 25 (Đại 2, 179 trung) nói: Cầu pháp đã gãy nát, Dòng pháp không còn chảy; Biển pháp đã khô cạn, Núi pháp đã lở đổ. Trên đây là lời cảm thán của A la hán Tu la tha. Kinh Lăng già a bạt đa la bảo quyển 4 (Đại 16, 507 hạ) nói: Bác bỏ luận hữu nhân, Nêu rõ nghĩa vô minh; Nghĩa vô sinh sáng tỏ, Dòng pháp chảy không ngừng. [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.8, bài tựa trong Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao].

pháp lượng

(法量) Chỉ cho chiều cao của các pho tượng Phật, Bồ tát được đo lường, phổ thông có tượng cao 1 trượng 6, có tượng cao nửa trượng 6... gọi chung là Pháp lượng. Kinh Quán Vô lượng thọ (Đại 12,344 hạ) nói: Phật A di đà, (...) biến hiện tự tại, hoặc hiện thân lớn đầy trong hư không, hoặc hiện thân nhỏ cao 1 trượng 6 thước. Sự biểu trưng về tôn thân của Phật và Bồ tát khác với thân thể của con người, cho nên phải có qui định về pháp lượng để làm mực thước cho việc tạo tượng. [X. kinh Đà la ni tập Q.4, 10; Hậu Hán tây vực truyện; Tạo tượng lượng đạc kinh giải].

Pháp lạc

法樂; C: fălè; J: hōraku; |1. Hưởng được niềm vui chân lí, giác ngộ giải thoát. Niềm vui có được do tu học Phật pháp; 2. Niềm vui do giải trừ chấp trước, nhờ tụng kinh, hoặc do bất kì mọi sự tu tập khác.

pháp lạc

Niềm vui tôn giáo—Vui khi nghe hay nếm đươc hương vị của pháp, khi thờ kính Phật tổ, khi tạo lập công đức, cúng dường hay tụng niệm (dùng mùi vị của pháp để làm cho tâm thần vui thú)---Religious joy—Joy of hearing or tasting the dharma, worshipping Buddha, laying up merit, making offerings, repeating sutras. ; (法樂) Niềm vui pháp. Nghe nhận Phật pháp để nuôi lớn tuệ mệnh của pháp thân mà sinh vui mừng, nên gọi là Pháp lạc. Ngoài ra, làm các việc thiện để chứa góp phúc đức, tự lấy đó làm niềm vui, cũng gọi Pháp lạc. Luận Duy thức quyển 10 (Đại 31, 57 hạ) nói: Tự thụ dụng (...) suốt khoảng vị lai, hằng tự thụ dụng pháp lạc rộng lớn. [X. phẩm Bồ tát kinh Duy ma; Nhiếp đại thừa luận thích Q.13 (bản dịch đời Lương].

Pháp Lạp

(法臘、法臈): chỉ số năm thọ An Cư mùa Hạ của tăng sĩ sau khi thọ giới Cụ Túc; còn gọi là Pháp Tuế (法歲), Hạ Lạp (夏臘), Pháp Hạ (法夏), Giới Lạp (戒臘), Tăng Lạp (僧臘), Tọa Lạp (坐臘), Tọa Hạ Pháp Lạp (坐夏法臘). Thông thường trong tòng lâm, hằng năm từ ngày 16 tháng 4 đến ngày 15 tháng 7 Âm Lịch, có tổ chức cử hành An Cư Kiết Hạ, lấy ngày cuối cùng làm ngày chấm dứt 1 năm, tức là ngày nhận thêm 1 tuổi. Cho nên, vị Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, sau khi thọ giới, đều có bổn phận tham gia An Cư Kiết Hạ, và đến khi kết thúc kỳ hạn đó, mỗi người đều được tăng thêm 1 tuổi, gọi là Hạ Lạp hay Pháp Lạp, v.v. Căn cứ vào tuổi Hạ ít nhiều mà lập ra Thượng Lạp (上臈), Trung Lạp (中臈) và Hạ Lạp (下臈), để phân định thứ tự lớn nhỏ, cao thấp. Vị cao tuổi nhất gọi là Nhất Lạp (一臘), Cực Lạp (極臘) hay Lạp Mãn (臘滿). Trong Thích Thị Yếu Lãm (釋氏要覽, Taishō Vol. 54, No. 2127) quyển Hạ giải thích rõ rằng: “Hạ Lạp tức Thích thị pháp tuế dã; phàm tự trưởng ấu, tất vấn, Hạ Lạp đa giả vi trưởng (夏臘卽釋氏法歲也、凡序長幻、必問、夏臘多者爲長, Hạ Lạp là tuổi pháp của con dòng họ Thích [tu sĩ]; phàm muốn biết thứ tự lớn nhỏ, phải hỏi, người có Hạ Lạp nhiều là lớn hơn).” Trong Quảng Thanh Lương Truyện (廣清涼傳, Taishō Vol. 51, No. 2099) quyển Trung, phần Ngưu Vân Hòa Thượng Cầu Thông Minh (牛雲和尚求聰明) thứ 11, lại có đoạn: “Chí Đường Minh Hoàng Đế Khai Nguyên nhị thập tam niên, sư niên lục thập tam, Hạ Lạp tứ thập tứ, vô tật nhi chung (至唐明皇帝開元二十三年、師年六十三、夏臘四十四、無疾而終, đến năm thứ 23 [735] niên hiệu Khai Nguyên đời Minh Hoàng Đế nhà Đường, Hòa Thượng 63 tuổi, Hạ Lạp 44 năm, không tật bệnh gì mà ra đi).” Hay trong Tống Cao Tăng Truyện (宋高僧傳, Taishō Vol. 50, No. 2061) quyển 16, phần Đường Cối Kê Khai Nguyên Tự Doãn Văn Truyện (唐會稽開元寺允文傳), cũng có đoạn: “Dĩ Trung Hòa nhị niên Nhâm Dần lục nguyệt nhị thập cửu nhật, vi tật tác nhi trường thệ, hưởng linh thất thập hữu bát, Pháp Lạp ngũ thập ngũ (以中和二年壬寅六月二十九日微疾作而長逝、享齡七十有八、法臘五十五, vào ngày 29 tháng 6 năm thứ 2 [882, đời vua Hy Tông nhà Đường] niên hiệu Trung Hòa, sư nhuốm bệnh nhẹ rồi ra đi luôn, hưởng thọ 78 tuổi, Pháp Lạp 55 năm).”

pháp lạp

1) Một năm của Phật Giáo: A Buddhist year. 2) Cuối kỳ tu tập ba tháng an cư kiết hạ của một vị Tăng: The end of the monk's year after the summer retreat. 3) Số năm Tỳ Kheo đã an cư kiết hạ sau khi thọ giới hay tuổi hạ lạp của Tỳ Kheo: the number of summer retreat or discipline years indicating the years since a monk's ordination. ** For more information, please see Hạ Lạp. ; (法臘) Cũng gọi Pháp tuế, Hạ lạp, Pháp hạ, Giới lạp, Tăng lạp, Tọa lạp, Tọa hạ pháp lạp. Chỉ cho số tuổi hạ của chúng tăng từ sau khi thụ giới Cụ túc. Trong Thiền môn, hàng năm, từ ngày 16 tháng 4 đến ngày 15 tháng 7 âm lịch, các chùa viện phần nhiều có tổ chức hạ an cư và lấy ngày sau chót của hạ an cư làm ngày cuối cùng của 1 năm, tức là ngày nhận tuổi hạ của chúng tăng. Từ ngày 16 tháng 7 âm lịch là bắt đầu năm mới, cho nên, tỉ khưu, tỉ khưu ni, tính từ sau khi thụ giới Cụ túc, mỗi năm đến ngày kếtthúchạ an cư là thêm được 1 tuổi đạo, gọi là Pháp lạp. Căn cứ vào số Pháp lạp nhiều hay ít mà lập Thượng lạp, Trung lạp và Hạ lạp khác nhau để định ngôi thứ lớn, nhỏ, gọi là Lạp thứ. Vị tăng có tuổi hạ cao nhất, gọi là Nhất lạp, Cực lạp hay Mãn lạp.

pháp lập

(法立) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Tấn. Khoảng thời gian vua Huệ đế và Hoài đế trị vì (290-311), sư và sư Pháp cự cùng dịch kinh Pháp cú dụ và kinh Phúc điền. Riêng sư có dịch các kinh nhỏ hơn trăm loại, nhưng phần lớn đã bị thất lạc trong loạn Vĩnh gia.

pháp lệ

(法礪) (569-635) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, Tổ của Tướng bộ tông, người Triệu châu (huyện Triệu, tỉnh Hà bắc), họ Lí. Sư y vào ngài Linh dụ chùa Diễn thông xuất gia năm 15 tuổi. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư theo Luật sư Tĩnh hồng học luật Tứ phần. Ít lâu sau, sư lại theo ngài Hồng uyên ở Hằng châu nghe giảng về Luật học. Hai năm sau, sư lại đi đến Giang nam học luật Thập tụng. Vào cuối đời Tùy, sư trở về miền Bắc. Nhân lúc loạn lạc, sư ở ẩn để nghiên cứu nghĩa sâu xa của Luật bộ. Trong năm Vũ đức đời Đường, sư mở lớp giảng ở Lâm chương, Kí châu, tuyên giảng luật Tứ phần, học tăng các nơi về nghe giảng rất đông, nhiều người thành đạt, nổi tiếng nhất là các vị: Minh đạo, Đàm quang... Năm Trinh quán thứ 9 (635), sư tịch ở chùa Nhật quang tại Lâm chương, thọ 67 tuổi.Sư có các tác phẩm: Tứ phần luật sớ, Yết ma sớ, Xả sám nghi khinh trọng tự. [X. Tục cao tăng truyện Q.22].

pháp lợi

Phúc lợi mà Phật pháp mang lại cho chúng sanh—The blessing or benefits of Buddhism.

Pháp lữ

(法侶): bạn pháp, còn chỉ cho tăng lữ, tu sĩ; đồng nghĩa với đạo hữu (道友, bạn đạo). Như trong bài Kim Cang Bát Nhã Sám Văn (金剛般若懺文) của vua Lương Võ Đế (梁武帝, tại vị 502-549) thời Nam Triều có câu: “Hằng sa chúng sanh, giai vi pháp lữ (恆沙眾生、皆爲法侶, hằng sa chúng sanh, đều là bạn pháp).” Hay trong Truy Môn Cảnh Huấn (緇門警訓, Taishō Vol. 48, No. 2023), phần Quy Sơn Đại Viên Thiền Sư Cảnh Sách (潙山大圓禪師警策), lại có câu: “Nguyện bách kiếp thiên sanh đồng vi pháp lữ (願百劫千生處處同爲法侶, nguyện trăm kiếp ngàn đời cùng là bạn pháp).” Hoặc trong Hoàng Thái Tử Thanh Thành Sơn Tu Trai Từ (皇太子青城山修齋詞) của Đỗ Quang Đình (杜光庭, 850-933) nhà Tiền Thục cũng có câu: “Chiêu thập châu chi pháp lữ, ước tam động chi huyền khoa (召十洲之法侶、約三洞之玄科, mời mười châu bao bạn pháp, hẹn ba động ấy khoa nghi).”

pháp lữ

Người tu hành—A companion of the Dharma—A disciple.

Pháp lực

(法力): năng lực, uy lực của Phật pháp. Như trong Tỳ Ni Nhật Dụng Lục (毗尼日用錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1114) có dẫn bài Kệ Xuất Sanh rằng: “Pháp lực bất tư nghì, đại bi vô chướng ngại, thất liệp biến thập phương, phổ thí châu sa giới. Án, độ lợi ích sa ha (法力不思議、大悲無障礙、七粒遍十方、普施周沙界、唵度利益莎訶, Pháp lực chẳng nghĩ bàn, đại bi không chướng ngại, bảy hột biến mười phương, ban cùng các cõi nước. Án, độ lợi ích sa ha).” Hay trong Đại Đường Từ Ân Tự Tam Tạng Pháp Sư Truyện (大唐大慈恩寺三藏法師傳, Taishō Vol. 50, No. 2053) quyển 8 lại có đoạn: “Phiếm Lục Độ ư ái hà, giá Tam Xa ư hỏa trạch, thị tri pháp vương pháp lực, siêu quần sanh nhi tự tại (泛六度於愛河、駕三車於火宅、是知法王法力、超群生而自在, chơi Sáu Độ nơi sông thương, cỡi Ba Xe nơi nhà lửa, mới biết năng lực pháp vương, vượt chúng sanh mà tự tại).” Hoặc trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quỹ (法界聖凡水陸勝會修齋儀軌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1497) quyển 3 cũng có đoạn: “Duy nguyện Phật quang chiếu chúc, pháp lực đề huề, tài văn triệu thỉnh chi ngôn, tức nhiếp uy nghi nhi chí (惟願佛光照燭、法力提攜、纔聞召請之言、卽攝威儀而至, cúi mong hào quang chiếu tỏ, pháp lực dẫn đường, mới nghe triệu thỉnh lời văn, tức giữ oai nghi mà đến).”

pháp lực

Năng lực của chân lý Phật pháp có khả năng loại bỏ họa hoạn và trấn áp tà vạy—The power of Buddha-truth—Able to do away with calamity and subdue evil.

pháp ma

Ảo tưởng nhìn thấy vạn hữu là có thật—The illusion that things are real and not merely seeming.

Pháp Minh

法明; C: fămíng; J: hōmyō; |Ánh sáng của pháp. 1. Ánh sáng vốn có là bản tính giác ngộ giải thoát của mọi hiện tượng; 2. Pháp Minh (k: pŏmmyŏng, thế kỉ thứ 13), Thiền sư thộc tông Tào Động Hàn Quốc. Sư xuất gia từ nhỏ, sang Trung Hoa học Phật pháp vào đời Tống. Năm 1247, sư đến Nhật Bản, bỏ qua nhiều năm hành cước qua các vùng Kansai, Kantō and Tohoku. Được biết sư có quen thân với Đạo Nguyên trước khi vị này viên tịch.

pháp minh

Dharmaprabhasa (skt)—Pháp Minh Như Lai, vị Phật sẽ xuất hiện trong vũ trụ của chúng ta trong Bảo Minh Kiếp trong thế giới Thiện Tịnh, khi ấy không còn sự khác biệt về giới tính, sự sanh sản chỉ bằng chuyển hóa—Brightness of the law, a Buddha who will appear in our universe in the Ratnavabhasa-kalpa in a realm called Suvisuddha, when there will be no sexual difference, birth taking place by transformation.

pháp minh môn

Giáo pháp tỏa ra ánh sáng trên vạn hữu, giúp cho chúng sanh có thể biện biệt và giải thích vạn hữu—The teaching which sheds light on everything, differentiating and explaining them.

pháp minh đạo

Tâm trí thanh tịnh soi sáng đường mà chư Phật đã tu hành—The wisdom of the pure heart which illumines the Way of all Buddhas.

Pháp môn

(s: dharmaparyāya, p: dhammaparyāya, 法門): nghĩa là cửa pháp, là cánh cửa thông nhập vào tín tâm để đạt được Thánh trí, là cửa thoát ly sanh tử, dẫn vào Niết Bàn. Như trong kinh dạy rằng pháp môn của Phật có bốn vạn tám ngàn loại khác nhau. ; 法門; C: fǎmén; J: hōmon;|Giáo lí Phật pháp; học thuyết; chính pháp. Giáo lí của Đức Phật. Cánh cửa chân lí. Cửa ngõ dẫn vào chân lí. Cánh cửa dẫn đến giải thoát giác ngộ (s: dharma-mukha). |Trong ý hẹp thì Pháp môn chỉ những bài Kinh của đức Phật, hoặc những phương pháp Phật dạy đưa đến Giác ngộ. Mỗi bài dạy này được ví như là một cửa (môn) để mọi người bước qua và giác ngộ. Trong Tứ hoằng thệ nguyện thì nguyện thứ ba là »Pháp môn vô số lượng, thệ nguyện đều tu học.«

pháp môn

Dharmaparyaya (skt)—Pháp trí của Phật là cửa ngõ giác ngộ—Giáo pháp của Phật hay Phật pháp được coi như là cửa ngõ (những lời nói nầy làm chuẩn tắc cho đời) vì qua đó chúng sanh đạt được giác ngộ. Chúng sanh có 8 vạn 4 ngàn phiền não, thì Đức Phật cũng đưa ra 8 vạn bốn ngàn pháp môn đối trị. Vì biết rằng căn tánh của chúng sanh hoàn toàn khác biệt nên Đức Phật chia ra nhiều pháp môn nhằm giúp họ tùy theo căn cơ của chính mình mà chọn lựa một pháp môn thích hợp để tu hành. Một người có thể tu nhiều pháp môn tùy theo khả năng sức khỏe và thời gian của mình. Tất cả các pháp môn đều có liên hệ mật thiết với nhau. Tu tập những giáo pháp của Phật đòi hỏi liên tục, thường xuyên, có lòng tin, có mục đích và sự cả quyết. Trây lười và vội vã là những dấu hiệu của thất bại. Con đường đi đến giác ngộ Bồ Đề chỉ có một không hai, nhưng vì con người khác nhau về sức khỏe, điều kiện vật chất, tính thông minh, bản chất và lòng tin, nên Đức Phật dạy về những quả vị Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát Đạo, cũng như những con đường của kẻ xuất gia hay người tại gia. Tất cả những con đường nầy đều là Phật đạo. Không ai có thể không đi mà đến. Đạo không thể nào không học, không hiểu, không hành mà có thể đạt được giác ngộ—The Dharma Door—The doctrine or wisdom of Buddha regarded as the door (method) to enlightenment—The teaching of the Buddha. The meaning is that the dharma is something like a gate, because through it sentient beings attain the enlightenment. As the living have 84,000 delusions, so the Buddha provides 84,000 methods of dealing with them. Knowing that the spiritual level of sentient beings is totally different from one another, the Buddha had allowed his disciples to choose any suitable Dharma they like to practice. A person can practice one or many dharmas, depending on his physical conditions, his free time, since all the dharmas are closely related. Practicing Buddhist Dharma requires continuity, regularity, faith, purpose and determination. Laziness and hurriedness are signs of failure. There is only one path leading to Enlightenment, but, since people differ greatly in terms of health, material conditions, intelligence, character and faith, the Buddha taught more than one path leading to different stages of attainment such as stage of Hearers, that of Pratyeka-buddhas, that of Bodhisattvas, that of laymen, and that of monks and nuns. All of these ways are ways to the Buddhahood. Nobody can reach final attainment without following a path, and no enlightenment can be reached without studying, understanding and practicing. ; (法門) Phạm: Dharma-paryàya. Chỉ cho Phật pháp, giáo pháp. Giáo pháp do đức Phật nói là khuôn phép cho thế gian, nên gọi là Pháp. Pháp này là cửa ngõ vào đạo của các bậc hiền thánh, nên gọi là môn. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển trung, phần đầu (Đại 44, 252 trung) nói: Pháp nghĩa là khuôn phép để hiểu sự vật; Môn nghĩa là cửa ngõ của Thánh trí. Ngoài ra, Pháp môn cũng hàm ý là vô lượng vô tận cá tính sai biệt, như thường nói, vì chúng sinh có 8 vạn 4 nghìn phiền não, nên đức Phật nói 8 vạn 4 nghìn pháp môn... [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.10; kinh Duy ma Q.8; phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa; Hoa nghiêm đại sớ Q.2; Ma ha chỉ quán Q.1].

Pháp Môn Bí Sự

(秘事法門, Hijihōmon): tên gọi của tập đoàn tín ngưỡng giả thác vào giáo nghĩa của Tịnh Độ Chơn Tông. Đó là Pháp Môn Che Giấu (御藏法門, Ngự Tàng Pháp Môn), Pháp Môn Che Giấu Trong Đất (土藏法門, Thổ Tàng Pháp Môn), Pháp Môn Trong Nhà Kho (庫裏法門, Khố Lí Pháp Môn), Pháp Môn Trong Đêm (夜中法門, Dạ Trung Pháp Môn), Pháp Môn Nội Pháp (內法法門, Nội Pháp Pháp Môn), Nội Chứng Giảng (內証講), Iwazu Giảng (いわず講), Pháp Môn Giờ Sửu (丑の時法門), v.v., vẫn tồn tại từ thời Trung Đại cho đến ngày nay. Khuynh hướng toàn thể có thể nói là tính bí mật, tính cưỡng ép, vốn có ảnh hưởng của Dòng Lập Xuyên (立川流) vốn cường điệu hóa cho rằng nam nữ hợp thể là Tức Thân Thành Phật (卽身成佛, thành Phật ngay chính nơi thân này), được thực hành từ khoảng đầu thời Liêm Thương (鎌倉, Kamakura, 1185-1333). Người được xem như là Tổ của Pháp Môn Bí Sự có liên quan đến Chơn Tông là Thiện Loan (善鸞, Zenran), con của Thân Loan (親鸞, Shinran), đã bị phụ thân tuyệt tình vì chủ thuyết dị đoan. Tính chất bí mật trong tư tưởng của Thiện Loan như thế nào thì cũng không rõ lắm. Sau đó, trong điều thứ 18 của cuốn Cải Tà Sao (改邪鈔) do Giác Như (覺如, Kakunyo), Tổ đời thứ 13 của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji) trước tác dưới thời Nam Bắc Triều, có ghi rằng tà nghĩa vào thời ấy có Pháp Môn Trong Đêm (夜中法門, Dạ Trung Pháp Môn), cũng có người của Thánh Đạo Môn vốn phản đối Chơn Tông, mà tuyên thuyết giống như “Di Đà tự thân, duy tâm Tịnh Độ”. Lại nữa, trong bản Phản Cố Lí Thư (反故裏書) do Hiển Thệ (顯誓), cháu của Liên Như (蓮如, Rennyo), viết vào năm 1568 (Vĩnh Lộc [永祿] 11), cũng có đề cập rằng Như Đạo (如道[導], Nyodō), môn hạ của Giác Như, ở Đại Đinh (大町, Ōmachi), Việt Tiền (越前, Echizen) chủ trương Pháp Môn Bí Sự nên bị đuổi đi; rồi Đạo Tánh (道性) ở Hoành Việt (橫越, Yokogoshi), Như Giác (如覺, Nyokaku, Thành Chiếu Tự [誠照寺, Jōshō-ji]) ở Chinh Ốc (鯖屋, Sabaya), Trung Dã Phường Chủ (中野坊主, tức Tịnh Nhất [淨一], Chuyên Chiếu Tự [專照寺, Senshō-ji]) cũng cổ xúy pháp môn này, được gọi là “Chúng Tam Môn Đồ không lễ bái (三門徒拝まずの眾)” và vẫn còn duy trì cho đến ngày nay. Dưới thời Trung Đại, thực tế Pháp Môn Bí Sự này được tiến hành như thế nào thì không rõ lắm. Đến thời Cận Đại, phần lớn pháp môn này bị chính quyền Mạc Phủ xử phạt, cấm đoán. Những vụ xét xử trứ danh nhất diễn ra ở kinh đô Kyoto, Nhiếp Tân (攝津, Settsu), Hà Nội (河內, Kawachi) vào năm 1757 (Bảo Lịch [寶曆] 7); ở Giang Hộ (江戸, Edo), Quan Đông (關東, Kantō), Áo Vũ (奥羽, Ōu) vào năm 1767 (Minh Hòa [明和] 4); ở Đại Phản (大阪, Ōsaka) vào năm 1788 (Thiên Minh [天明] 8); ở kinh đô Kyoto vào năm 1797 (Khoan Chính [寛政] 9), v.v. Mãi cho đến hiện tại, vẫn có những báo cáo về sự hiện hữu của Pháp Môn Bí Sự này; như trường hợp Nội Pháp Giáo Đoàn (內法敎團) ở địa phương Thủy Trạch Thị (水澤市, Mizusawa-shi) cũng như Đảm Trạch Quận (胆澤郡, Isawa-gun, thuộc Iwate-ken [岩手縣]); hay ở Mễ Nguyên Đinh (米原町, Maihara-chō, thuộc Shiga-ken [滋賀縣]), v.v.

pháp môn bất nhị

Non-Dual Dharma—Theo Kinh Duy Ma Cật, phẩm thứ chín, Pháp Môn Không Hai, cư sĩ Duy Ma Cật họp bàn cùng các Bồ Tát về pháp môn Không Hai như sau—According to the Vimalakirti Sutra, chapter nine, Initiation into the Non-Dual Dharma, Upasaka Vimalakirti discussed with other Bodhisattvas about the Non-Dual Dharma as follows: Bấy giờ ông Duy Ma Cật bảo các vị Bồ Tát rằng: “Các nhân giả! Theo chỗ các ngài hiểu thì thế nào là Bồ Tát vào pháp môn không hai?”—At that time, Vimalakirti said to the Bodhisattvas present: “Virtuous Ones, each of you please say something about the non-dual Dharma as you understand it.” a) Trong Pháp hội có Bồ Tát tên là Pháp Tự Tại nói: “Các nhân giả! Sanh Diệt là hai. Pháp vốn không sanh, cũng không diệt, đặng vô sanh pháp nhẫn, đó là vào pháp môn không hai.”—In the meeting a Bodhisattva called “Comfort in the Dharma” said: “Virtuous Ones, birth and death are a duality but nothing is created and nothing is destroyed. Realization of this patient endurance leading to the uncreate is initiation into the non-dual Dharma.” b) Bồ Tát Đức Thủ nói: “Ngã và Ngã Sở là hai. Nhân có ngã mới có ngã sở, nếu không có ngã thời không có ngã sở, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva called “Guardian of the Three Virtues” said: “Subject and object are a duality for where there is ego there is also (its) object, but since fundamentally there is no ego, its object does not arise; this is initiation into the non-dual Dharma.” c) Bồ Tát Bất Thuấn nói: “Thọ và Không Thọ là hai. Nếu các pháp không thọ thời không có 'được,' vì không có 'được,' nên không thủ xả, không gây không làm đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Never Winking” said: “Responsiveness (vedana, the second aggregate) and unresponsiveness are a duality. If there is no response to phenomena, the latter cannot be found anywhere; hence there is neither accepting nor rejecting (of anything), and neither karmic activity nor discrimination; this is initiation into the non-dual Dharma.” d) Bồ Tát Đức Đảnh nói: “Nhơ và Sạch là hai. Thấy được tánh chân thật của nhơ, thời không có tướng sạch, thuận theo tướng diệt, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Highest virtue” said: “Impurity and purity are a duality. When the underlying nature of impurity is clearly perceived, even purity ceases to arise. Hence this cessation (of the idea of purity) is initiation into the non-dual Dharma.” e) Bồ Tát Thiện Túc nói: “Động và Niệm là hai. Không động thời không niệm, không niệm thời không phân biệt; thông suốt lý ấy là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Winner of Samadhi by Looking at the Star” said: “(External) disturbance and (inner) thinking are a duality; when disturbance subsides, thinking comes to an end and the absence of thought leads to non-dual Dharma.” f) Bồ Tát Thiện Nhãn nói: “Một Tướng và Không Tướng là hai. Nếu biết một tướng tức là không tướng, cũng không chấp không tướng mà vào bình đẳng, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Skilful Eye” said: “Monistic form and formlessness are a duality. If monistic form is realized as (fundamentally) formless, with relinquishment of formlessness in order to achieve impartiality, this is initiation into the non-dual Dharma.” g) Bồ Tát Diệu Tý nói: “Tâm Bồ Tát và Tâm Thanh Văn là hai. Quán tướng của tâm vốn không, như huyễn như hóa, thời không có tâm Bồ Tát cũng không có tâm Thanh Văn, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Wonderful Arm” said: “The Bodhisattva mind and the Sravaka mind are a duality. If the mind is looked into as void and illusory, there is neither Bodhisattva mind nor Sravaka mind; this is initiation into the non-dual Dharma.” h) Bồ Tát Phất Sa nói: “Thiện và Bất Thiện là hai. Nếu không khởi thiện và bất thiện, vào gốc không tướng mà thông suốt được, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva Pusya said: “Good and evil are a duality; if neither good nor evil arises so that formlessness is realized to attain Reality, this is initiation into the non-dual Dharma.” i) Bồ Tát Sư Tử nói: “Tội và Phước là hai. Nếu thông đạt được tánh của tội, thì tội cùng phước không khác, dùng tuệ kim cang quyết liễu tướng ấy, không buộc không mở, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva Simha (Lion) said: “Weal and woe are a duality; if the underlying nature of woe is understood, woe does not differ from weal. If the diamond (indestructible) wisdom is used to look into this with neither bondage nor liberation (coming into play), this is initiation into the non-dual Dharma.” j) Bồ Tát Sư Tử Ý nói: “Hữu Lậu và Vô Lậu là hai. Nếu chứng được các pháp bình đẳng thời không có tướng hữu lậu và vô lậu, không chấp có tướng cũng không chấp vô tướng, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Lion's Fearlessness” said: “The mundane and supra-mundane are a duality. If all things are looked into impartially, neither the mundane nor the supra-mundane will arise, with no differentiation between form and formlessness, this is initiation into the non-dual Dharma.” k) Bồ Tát Tịnh Giải nói: “Hữu Vi và Vô Vi là hai. Nếu lìa tất cả số thời tâm như hư không, dùng tuệ thanh tịnh không có chướng ngại, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Pure Interpretation” said: “Activity (ju wei) and non-activity (wu wei) are a duality, but if the mind is kept from all mental conditions it will be (void) like space and pure and clean wisdom will be free from all obstructions. This is initiation into the non-dual Dharma.” l) Bồ Tát Na La Diên nói: “Thế Gian và Xuất Thế Gian là hai. Tánh thế gian không tức là xuất thế gian, trong đó không vào không ra, không đầy không vơi, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva Narayana said: “The mundane and the supra-mundane are a duality but the underlying nature of the mundane is void (or immaterial) and is but the supra-mundane which can be neither entered nor left and neither overflows (like the stream of transmigration) nor scatters (like smoke). This is initiation into the non-dual Dharma.” m) Bồ Tát Thiện Ý nói: “Sanh Tử và Niết Bàn là hai. Nếu thấy được tánh sanh tử thời không có sanh tử, không buộc không mở, không sinh không diệt, hiểu như thế đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Skillful Mind” said: “Samsara and nirvana are a duality. If the underlying nature of samsara is perceived there exists neither birth nor death, neither bondage nor liberation, and neither rise nor fall. Such an understanding is initiation into the non-dual Dharma.” n) Bồ Tát Hiện Kiến nói: “Tận và Không Tận là hai. Pháp đến chỗ rốt ráo thời tận hoặc không tận đều là tướng Vô Tận tức là Không, không thời không có tướng tận và không tận, được như thế đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Direct Insight” said: “The exhaustible and the inexhaustible are a duality. If all things are looked into exhaustively, both the exhaustible and the inexhaustible cannot be exhausted; and the inexhaustible is identical with the void which is beyond both the exhaustible and the inexhaustible. Such an interpretation is initiation into the non-dual Dharma.” o) Bồ Tát Phổ Thủ nói: “Ngã và Vô Ngã là hai. Ngã còn không có, thời Phi Ngã đâu có được. Thấy được thực tánh của Ngã không còn có hai tướng, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Upholder of Universality” said: “The ego and non-ego are a duality. Since the ego cannot be found, where can the non-ego be found? He who perceives the real nature of the ego will not give rise to dualities; this is initiation into the non-dual Dharma.” p) Bồ Tát Điển Thiên nói: “Minh và Vô Minh là hai. Thực tánh của vô minh là minh, minh cũng không thể nhận lấy, lìa tất cả số, ở đó bình đẳng không hai, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Lightning Perception” said: “Enlightenment and unenlightenment are a duality, but the underlying nature of unenlightenment is enlightenment which should also be cast away; if all relativities are discarded and replaced by non-dual impartiality, this is initiation into the non-dual Dharma.” q) Bồ Tát Hỷ Kiến nói: “Sắc và Không là hai. Sắc tức là không, chẳng phải sắc diệt rồi mới không, tánh sắc tự không; thọ, tưởng, hành, thức cũng thế. Thức và Không là hai. Thức tức là không, chẳng phải thức diệt rồi mới không, tánh thức tự không. Thông hiểu lý đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva Priyadarsana said: “Form (rupa) and voidness are a duality, (but) form is identical with voidness, which does not mean that form wipes out voidness, for the underlying nature of form is void of itself. So are (the other four aggregates) reception (vedana), conception (sanjna), discrimination (samskara) and consciousness (vijnana- in relation to voidness). “Consciousness and voidness are a duality (yet) consciousness is identical with voidness, which does not mean that consciousness wipes out voidness for the underlying nature of voidness is void of itself. A thorough understanding of this is initiation into the non-dual Dharma.” r) Bồ Tát Minh Tướng nói: “Tứ Đại và Không Đại là hai. Tánh tứ đại tức là tánh không đại, như lớp trước lớp sau không, thời lớp giữa cũng không. Nếu biết được thực tánh các đại thời đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Understanding the Four Elements” said: “The four elements (earth, water, fire and air) and their voidness are a duality (but) the underlying nature of the four elements is identical with that of voidness. Like the past (before the four elements came into being) and the future (when they scatter away) which are both void, the present (when they appear) is also void. Identical understanding of the underlying nature of all four elements is initiation into the non-dual Dharma.” s) Bồ Tát Diệu Ý nói: “Con Mắt và Sắc Trần là hai. Nếu biết được tánh của mắt thời đối với sắc không tham, không sân, không si, tức là tịch diệt. Tai với tiếng, mũi với hương, lưỡi với vị, thân với xúc, ý với pháp cũng là hai. Nếu biết được tánh của ý thời đối với pháp không tham, không sân, không si, tức là tịch diệt. Nhận như thế đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Deep Thought” said: “Eyes and form are a duality (but) if the underlying nature of the eye is known with neither desire nor anger nor stupidity in relation to things seen, this is nirvana. “Likewise, the ear and sound, the nose and smell, the tongue and taste, the body and touch, and the mind and ideation are dualities (but) if the underlying nature of the mind is known with neither desire, anger and stupidity in relation to things (heard, smelt, tasted, touched and thought), this is nirvana. Resting in this state (of nirvana) is initiation into the non-dual Dharma.” t) Bồ Tát Vô Tận Ý nói: “Bố Thí và Hồi Hướng Nhứt Thiết Trí là hai. Tánh bố thí tức là tánh hồi hướng nhứt thiết trí. Trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ và hồi hướng nhứt thiết trí lại cũng là hai. Tánh trí tuệ tức là tánh hồi hướng nhứt thiết trí, ở trong đó vào một tướng là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Inexhaustible Mind” said: “Charity-perfection (dana-paramita) and the dedication (parinamana) of its merits towards realizing the all-knowledge (sarvajna) are a duality, (but) the underlying nature of charity is dedication towards the All-knowledge. “Likewise, discipline perfection (sila-paramita), patience-perfection, (ksanti-paramita), zeal-perfection (virya-paramita), meditation-perfection (dhyana-paramita) and wisdom-perfection (prajna-paramita), with dedication to the All-knowledge, are (five) dualities, but their underlying natures are but dedication to the All-knowledge, while realization of their oneness is initiation into the non-dual Dharma.” u) Bồ Tát Thâm Tuệ nói: “Không Vô Tướng và Vô Tác là hai. Không tức là vô tướng, vô tướng tức là vô tác. Nếu không vô tướng, vô tác thời không có tâm, ý thức. Một món giải thoát là ba món giải thoát, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Profound Wisdom” said: “Voidness, formlessness and non-activity are (three different gates to liberation, and when each is compared to the other two there are) three dualities, (but) voidness is formless and formlessness is non-active. For when voidness, formlessness and non-activity obtain, there is neither mind, nor intellect nor consciousness, and liberation through either one of these three gates is identical with liberation through all the three. This is initiation into the non-dual Dharma.” v) Bồ Tát Tịnh Căn nói: “Phật, Pháp, và chúng Tăng là hai. Phật tức là Pháp, Pháp tức là chúng Tăng. Ba ngôi báu ấy đều là tướng vô vi, cũng như hư không. Tất cả pháp cũng vậy, theo được hạnh ấy là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Unstirred Sense Organs” said: “Buddha, Dharma and Sangha are three different treasures and when each is compared to the other two there are three dualities (but) Buddha is identical with Dharma, and Dharma is identical with Sangha. For the three treasures are non-active (wu wei) and are equal to space, with the same equality for all things. The realization of this (equality) is initiation into the non-dual Dharma.” w) Bồ Tát Tâm Vô Ngại nói: “Thân và Thân Diệt là hai. Thân tức là thân diệt. Vì sao? Thấy thực tướng của thân thời không thấy thân và thân diệt. Thân và thân diệt không hai, không khác, theo đó chẳng kinh chẳng sợ là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Unimpeded Mind” said: “Body and its eradication (in nirvana) are a duality but body is identical with nirvana. Why? Because if the underlying nature of body is perceived, no conception of (existing) body and its nirvanic condition will arise, for both are fundamentally non-dual, not being two different things. The absence of alarm and dread when confronting this ultimate state is initiation into the non-dual Dharma.” x) Bồ Tát Thượng Thiện nói: “Thân Thiện, Khẩu Thiện và Ý Thiện là hai. Ba nghiệp này là tướng vô tác. Tướng vô tác của thân tức là tướng vô tác của khẩu, tướng vô tác của khẩu tức là tướng vô tác của ý. Tướng vô tác của ba nghiệp nầy tức là tướng vô tác của tất cả các pháp. Tùy thuận trí tuệ vô tác như thế là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Superior Virtue” said: “The three karmas (produced by) body, mouth and mind (are different when each is compared to the other two and make three) dualities (but) their underlying nature is non-active; so non-active body is identical with non-active mouth, which is identical with non-active mind. These three karmas being non-active, all things are also non-active. Likewise, if wisdom (prajna) is also non-active, this is initiation into the non-dual Dharma.” y) Bồ Tát Phước Điền nói: “Làm Phước, Làm Tội, Làm Bất Động là hai. Thực tánh của ba việc làm tức là Không, không thời không làm phước, không làm tội, không làm bất động. Ở ba việc nầy mà không khởi là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Field of Blessedness” said: “Good conduct, evil conduct and motionlessness are (different and when each is compared to the other two make three) dualities (but) the underlying nature of all three is voidness which is free from good, evil and motionlessness. The non-rising of these three is initiation into the non-dual Dharma.” z) Bồ Tát Hoa Nghiêm nói: “Do Ngã mà Khởi ra là hai. Thấy được thực tướng của ngã thời không khởi ra hai pháp. Nếu không trụ hai pháp thời không có thức. Không có thức là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Majestic Blossom” said: “The ego and its objective are a duality, (but) if the underlying nature of the ego is looked into, this duality vanishes. If duality is cast away there will be no consciousness, and freedom from consciousness is initiation into the non-dual Dharma.” aa) Bồ Tát Đức Tạng nói: “Có tướng Sở Đắc là hai. Nếu không có sở đắc thời không có lấy bỏ. Không lấy bỏ là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Treasure of Threefold Potency” said: “Realization implies subject and object which are a duality, but if nothing is regarded as realization, there will be neither grasping nor rejecting, and freedom from grasping and rejecting is initiation into the non-dual Dharma.” bb) Bồ Tát Nguyệt Thượng nói: “Tối và Sáng là hai. Không tối, không sáng thời không có hai. Vì sao? Như vào định diệt thọ tưởng thời không có tối, không có sáng. Tất cả pháp tướng cũng như thế; bình đẳng vào chỗ ấy là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Moon in Midheaven” said: “Darkness and light are a duality. Where there is neither darkness nor light, this duality is no more. Why? Because in the state of samadhi resulting from the complete extinction of sensation and thought there is neither darkness nor light, while all things disappear. A disinterested entry into this state is initiation into the non-dual Dharma.” cc) Bồ Tát Ấn Thủ nói: “Ưa Niết Bàn, Không Ưa Thế Gian là hai. Nếu không ưa Niết Bàn, không chán thế gian thời không có hai. Vì sao? Nếu có buộc thời có mở, nếu không có buộc thì nào có cầu mở. Không buộc, không mở, thời không ưa, không chán, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva Ratna Mudra( (Precious Symbol) said: Joy in nirvana and sadness in samsara are a duality which vanishes when there is no longer joy and sadness. Why? Because where there is bondage, there is also (desire for) liberation, but if fundamentally there is no bondage nor liberation, there will be neither joy nor sadness; this is initiation into the non-dual Dharma.” dd) Bồ Tát Châu Đảnh Vương nói: “Chánh Đạo và Tà Đạo là hai. Ở chánh đạo thời không phân biệt thế nào là tà, thế nào là chánh. Lìa hai món phân biệt đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Gem on the Head” said: “Orthodoxy and heterodoxy are a duality, (but) he who dwells in (i.e. realizes) orthodoxy does not discriminate between orthodoxy and heterodoxy. Keeping from these two extremes is initiation into the non-dual Dharma.” ee) Bồ Tát Nhạo Thật nói: “Thực và Không Thực là hai. Thực thấy còn không thấy thực, huống là không thực thấy. Vì sao? Không phải mắt thịt mà thấy được, chỉ có mắt tuệ mới thấy được. Nhưng mắt tuệ không thấy mà chỗ nào cũng thấy cả, đó là vào pháp môn không hai.”—The Bodhisattva “Joy in Reality” said: “Reality and unreality are a duality, (but) he who realizes reality does not even perceive it, still less unreality. Why? Because reality is invisible to the ordinary eyes and appears only to the eye of wisdom. Thus (realization of) the eye of wisdom, which is neither observant nor unobservant, is initiation into the non-dual Dharma.” ff) Các Bồ Tát nói như thế rồi, hỏi ngài Văn Thù Sư Lợi thế nào là Bồ Tát vào pháp môn không hai—After the Bodhisattva had spoken, they asked Manjusri for his opinion on the non-dual Dharma. gg) Ngài Văn Thù Sư Lợi nói: “Như ý tôi đối với tất cả các pháp không nói, không rằng, không chỉ, không biết, xa lìa các vấn đáp, đó là vào pháp môn không hai.”—Manjusri said: “In my opinion, when all things are no longer within the province of either word or speech, and of either indication or knowledge, and are beyond questions and answers, this is initiation into the non-dual Dharma.” hh) Khi đó ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi ông Duy Ma Cật rằng: “Chúng tôi ai ai cũng nói rồi, đến lượt nhân giả nói thế nào là Bồ Tát vào pháp môn không hai?”—At that time, Manjusri asked Vimalakirti: “All of us have spoken; please tell us what is the Bodhisattva's initiation into the non-dual Dharma.” ii) Ông Duy Ma Cật im lặng không nói một lời. Bấy giờ Ngài Văn Thù Sư Lợi khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Cho đến không có văn tự ngữ ngôn, đó mới thật là vào pháp môn không hai.”—Vimalakirti kept silent without saying a word. At that, Manjusri exclaimed: “Excellent, excellent; can there be true initiation into the non-dual Dharma until words and speech are no longer written or spoken? jj) Sau khi nói phẩm pháp môn không hai nầy, trong chúng có năm ngàn Bồ Tát đều vào pháp môn không hai, chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn—After this initiation into the non-dual Dharma had been expounded, fie thousand Bodhisattvas at the meeting were initiated into it thereby realizing the patient endurance of the uncreate.

pháp môn hải

Pháp môn đối trị phiền não của Phật nhiều như biển cả—The ocean of Buddha's methods.

pháp môn không hai

Non-Dual Dharma—See Pháp Môn Bất Nhị.

pháp môn lợi ích cho tự ngã

Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Veludvara, Đức Phật đã dạy về Pháp Môn Đưa Đến Bảy Điều Lợi Ích Cho Tự Ngã. Vị nào thành tựu bảy điều lợi ích này, nếu muốn có thể tuyên bố: “Ta đã đoạn tận địa ngục, đoạn tận khỏi sanh vào loại bàng sanh, đoạn tận cõi ngạ quỷ, đoạn tận các ác sanh, ác thú, đọa xứ, được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị điểm ố, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ. Vị nầy đã đạt quả “Dị Lưu—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Veludvara, the Buddha taught about the Dharma exposition applicable to oneself. Those who possess these below mentioned good qualities. (A) Thân Hành Thanh Tịnh—Purified bodily conduct: 1) Vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Ta muốn sống, không muốn chết; muốn lạc, không muốn khổ. Nếu có ai đến đoạt mạng sống của ta, một người muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, không muốn khổ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý đối với ta. Nhưng nếu ta đoạt mạng sống của một người muốn sống sống, không muốn chết, muốn lạc, không muốn khổ, như vậy cũng là một việc không khả ái, không khả ý đối với người ấy. Một pháp không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp ấy cũng không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao lại đem cột pháp ấy cho một người khác? Do suy tư như vậy, vị ấy từ bỏ sát sanh, khuyến khích người khác từ bỏ sát sanh, nói lời tán thán từ bỏ sát sanh. Như vậy về thân hành, vị ấy hoàn toàn thanh tịnh—A noble disciple reflects thus: “I am one who wishes to live, who does not wish to die; I desire happiness and am averse to suffering. Since I am one who wish to live, who do not wish to die; if someone were to take my life, that would not be pleasing and agreeable to me. Now if I were to take the life of another, of one who wishes to live, who does not wish to die, who desires happiness and is averse to suffering; that would not be pleasing and agreeable to the other either. What is displeasing and disagreeable to me is displeasing and disagreeable to other too. How can I inflict upon another what is displeasing and disagreeable to me?” Having reflected thus, he himself abstains from the destruction of life, exhorts others to abstain from the destruction of life, and speaks in praise of abstinence from destruction of life. Thus this bodily conduct of his is purified. 2) Vị Thánh đệ tử suy tư như sau: “Nếu có ai lấy của không cho của ta, gọi là ăn trộm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta lấy của không cho của người khác, gọi là ăn trộm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp ấy cũng không khả ái và không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy từ bỏ lấy của không cho, khuyến khích người khác từ bỏ lấy của không cho, nói lời tán thán từ bỏ lấy của không cho. Như vậy về thân hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh—A noble disciple reflects thus: “If someone were to take from me what I have not given, that is, to commit theft, that would not be pleasing and agreeable to me. Noe if I were to take from another what he has not given, that is, to commit theft, that would not be pleasing and agreeable to the other either. What is displeasing and disagreeable to me displeasing and disagreeable to me is displeasing and disagreeable to the other too. How can I inflict upon another what is displeasing and disagreable to me?” Having reflected thus, he imself abstains from taking what is not given, exhorts others to abstain from taking what is not given. Thus this bodily conduct of his is purified. 3) Vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Nếu ai có tà hạnh với vợ của ta, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta có tà hạnh với vợ của người khác, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ tà hạnh trong các dục, khuyến khích người khác từ bỏ tà hạnh trong các dục, nói lời tán thán từ bỏ tà hạnh trong các dục. Như vậy về thân, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh—A noble disciple reflects thus: “If someone were to commit adultery with my wife, that would not be pleasing and agreeable to me. Now if I were to commit adultery with the wives of another, that would not be pleasing and agreeable to the other either. What is displeasing and disageable to me is displeasing and disagreeable to the other too. How can I inflict upon another what is displeasing and disagreeable to me?” Having reflected thus, he himself abstains from sexual misconduct, exhorts others to abstain from sexual misconduct. Thus this bodily conduct of his is purified. (B) Khẩu Hành Thanh Tịnh—Purified verbal conduct: 1) Vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Nếu có ai làm tổn hại lợi ích của ta với lời nói láo, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng làm tổn hại lợi ích của người khác với lời nói láo, như vậy cũng là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình bỏ nói láo, khuyến khích người khác từ bỏ nói láo, nói lời tán thán từ bỏ nói láo. Như vậy về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh—A noble disciple reflects thus: “If someone were to damage my welfare with false speech, that would not be pleasing and agreeable to me. Now if I were to damage the welfare of another with false speech, that would not be pleasing and agreeable to the other either. What is displeasing and disagreeable to me is displeasing and disagreeable to the other too. How can I inflict upon another what is displeasing and disagreeable to me?” Having reflected thus, he himself abstains from false speech, exhorts others to abstain from false speech, and speaks in praise of abstinence from false speech. Thus this verbal conduct of his is purified. 2) Một vị Thánh đệ tử suy tư như vầy: “Nếu có ai chia rẽ bạn bè ta bằng lời nói hai lưỡi, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta chia rẽ bạn bè người khác bằng lời nói hai lưỡi, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy…” (phần còn lại giống như #4). Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ nói hai lưỡi, khuyến khích người khác từ bỏ nói hai lưỡi, nói lời tán thán từ bỏ nói hai lưỡi. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh—A noble disciple reflects thus: “If someone were to divide me from my friends by divisive speech, that would not be pleasing and agreeable to me. Now if I were to divide another from his friends by divisive speech, that would not be pleasing and agreeable to the other either…” (the rest remains the same as in #4). Thus this verbal conduct of his is purified. 3) Vị Thánh đệ tử suy nghĩ như vầy: “Nếu có ai đối xử với ta bằng thô ác ngữ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng đối xử với người khác bằng thô ác ngữ, như vậy cũng là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Và một pháp không khả ái… đem cột pháp ấy vào cho một người khác?” (phần còn lại cũng giống như phần còn lại của #4). Do suy tư như vậy, tự ấy tự mình từ bỏ thô ác ngữ, khuyến khích người khác từ bỏ thô ác ngữ, nói lời tán thán từ bỏ thô ác ngữ. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh—A noble disciple reflects thus: “If someone were to address me with some harsh speech, that would not be pleasing and agreeable to me. Now if I were to address another with harsh speech, that would not be pleasing and agreeable to the other either…” (the rest remains the same as in #4). Thus this verbal conduct is purified. 4) Vị Thánh đệ tử suy tư như vầy: “Nếu có ai đối xử với ta bằng lời tạp ngữ phù phiếm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng đối xử với người khác lời tạp ngữ phù phiếm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Và một pháp không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp ấy cũng không khả ái, không khả ý cho người khác… đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ lời nói phù phiếm, khuyến khích người khác từ bỏ lời nói phù phiếm, tán thán từ bỏ lời nói phù phiếm. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh—A noble disciple reflects thus: “If someone were to address me with frivolous speech and idle chatter, that would not be pleasing and agreeable to me. Now if I were to address another with frivolous speech and idle chatter, that would not be pleasing and agreeable to the other either. What is displeasing and disagreeable to me is displeasing and disagreeable to the other too. How can I inflict upon another what is displeasing and disagreeable to me?” Having reflected thus, he himself abstains from idle chatter, exhorts others to abstain from idle chatter, and speak in praise of abstinence from idle chatter. Thus this verbal conduct of his is purified.

pháp môn nhẫn nhục

Dharma gate of Patience—Trong sáu pháp Ba La Mật, nhẫn nhục vô cùng quan trọng. Nếu chúng ta tu tập toàn thiện pháp môn nhẫn nhục, chúng ta sẽ chắc chắn hoàn thành đạo quả—Dharma door of patience—Among the six paramitas, the Dharma door of patience is very important. If we cultivate the Dharma door of patience to perfection, we will surely reach an accomplishment—Thực tập pháp môn nhẫn nhục, chúng ta chẳng những không nóng tánh mà còn kham nhẫn mọi việc—To practice the Dharma door of patience, one must not only be hot tempered, but one should also endure everything.

pháp môn niệm phật

Dharma Door of Buddha Recitation—Dù pháp môn Niệm Phật giản dị, nhưng rất thâm sâu. Điều tối cần là phải niệm một cách chí thành tha thiết thì tư tưởng của mình mới giao cảm được với tư tưởng Phật, và từ đó lợi ích mới có được trong hiện đời. Nếu bạn trây lười lơ đểnh và không có nghị lực hăng hái, thì bạn có thể gieo nhân giải thoát, nhưng ác nghiệp khinh lờn Phật pháp là kết quả không thể nghĩ bàn. Tuy nhiên nhờ vào phước đức của sự niệm Phật, bạn có thể thoát khỏi tam đồ ác đạo mà sanh vào cõi người hay cõi trời, nhưng còn lâu lắm mới có đủ phước đức để câu hội Liên Trì—Although Buddha recitation is simple, it is very deep and encompassing. However, it is most important to be utterly sincere and earnest, for only then will your thoughts merge with those of Amitabha Buddha's and can you reap true benefits in this very life. If you are lazy and careless or lack of zealous energy, you may still sow the seeds of future liberation, but evil karma as a result of disrespect the Buddha teachings is inconceivable. However, thanks to the residual merits of reciting the name of Amitabha, you escape the three evil paths and are reborn in the human or celestial realms, but you will find it is very difficult to join the Ocean-Wide Lotus Assembly.

Pháp Môn Sừ Quĩ

(法門鋤宄, Hōmonjoki): 1 quyển, do Bạch Nham Tịnh Phù (白巖淨符) nhà Thanh biên soạn, san hành vào năm thứ 8 niên hiệu Khang Hy (康熙). Nó thâu tập những luận điểm trong lịch sử Thiền Tông liên quan đến vấn đề của Thiên Hoàng Đạo Ngộ (天皇道悟). Đối lập với một số thư tịch như Tuyết Phong Quảng Lục (雪峰廣錄), Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (頌古聯珠通集), Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統記), Huyền Yếu Quảng Tập (玄要廣集) cho rằng Thiên Hoàng Đạo Ngộ không phải là môn hạ của Thanh Nguyên (青原), tác phẩm này cho rằng nhân vật nêu trên là môn hạ của Thanh Nguyên. Bên cạnh đó, nó khẳng định rằng Thiên Hoàng Đạo Ngộ và Thiên Vương Đạo Ngộ (天王道悟) là một nhân vật chứ không phải hai. Ngoài ra, vấn đề hai tông phái Vân Môn (雲門) cũng như Pháp Nhãn (法眼) đều thuộc môn hạ của Thanh Nguyên cũng được đề cập nơi đây. Tại Nhật Bản, tác phẩm này được Đức Nham Dưỡng Tồn (德巖養存) san hành vào năm thứ 3 (1686) niên hiệu Trinh Hưởng (貞享); đến năm thứ 4 (1691) niên hiệu Nguyên Lộc (元祿), nó được kết hợp với bản Ngũ Phái Nhất Trích Đồ (五派一滴圖) và san hành với tựa đề là Pháp Môn Sừ Quĩ Tinh Ngũ Gia Biện Chánh (法門鋤宄並五家辨正).

pháp môn sừ quỹ

(法門鋤宄) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Bạch nham Tịnh phù thuộc tông Tào động soạn vào đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 147. Nội dung sách này bàn về vấn đề các tông Vân môn, Pháp nhãn và pháp hệ của ngài Thiên hoàng Đạo ngộ trong lịch sử Thiền tông Trung quốc. Các tác phẩm: Tuyết phong quảng lục, Tụng cổ liên châu thông tập, Phật tổ thống kỉ, Huyền yếu quảng tập... đều cho rằng ngài Thiên hoàng Đạo ngộ không phải thuộc pháp hệ Thanh nguyên Hành tư. Nhưng tác giả Bạch nham Tịnh phù khảo chứng biên niên, suy xét tình lí, cho rằng ngài Thiênhoàng Đạo ngộ là môn nhân của Thiền sư Thạch đầu Hi thiên(người nối pháp ngài Thanh nguyên); hơn nữa, Thiên hoàng Đạo ngộ và Thiên vương Đạo ngộ chỉ là 1 người, rồi từ đó mà có tông Vân môn và tông Pháp nhãn.

pháp môn thanh thức nhị thập tứ điều

(法門清式二十四條) Chỉ cho bộ Tăng chế do ngài Thích đạo an soạn. Nội dung gồm 3 phần: 1. Qui định phép Hành hương, Định tọa, Thướng kinh, Thướng giảng. 2. Qui định việc hành đạo 6 thời trong ngày và việc ăn uống. 3. Qui định các pháp Bố tát, Sai sứ, Hối quá...

pháp môn thân

1) Tông Thiên Thai lập thuyết tam thân của thân Phật—A T'ien-T'ai definition of the Dharmakaya of the Trinity: a) Sắc Thân: The powers of the dharmakaya. b) Pháp Môn Thân: The methods of the Buddha. c) Thực Tướng Thân: The reality or real qualities of the Buddha. 2) Biểu thị vô số hình tượng chư Phật và chư Bồ Tát trong Mạn Đà La: The various representations of the perspective characteristics of Buddhas and Bodhisattvas in the mandalas.

pháp môn tâm địa

Tâm địa dụ cho tự tánh. Pháp môn tu hành để giác ngộ tự tánh, gọi là pháp môn tâm địa.

pháp môn tịnh độ bao quát mà thực hành quá giản dị

The Pure Land teaching is all-embracing, yet its practice is extremely simple.

pháp môn tịnh độ dễ dàng cho mọi căn cơ

The Pure Land method is easy for people of all capacities.

pháp môn tự

(法門寺) Chùa ở trấn Sùng chính, huyện Phù phong, tỉnh Thiểm tây, do bảo tồn xá lợi của đức Phật mà nổi tiếng, nhưng không rõ được sáng lập năm nào. Ban đầu, chùa được gọi là A dục vương tự. Từ thời Bắc Ngụy về sau, số tăng chúng tu học ở chùa này lên đến vài trăm vị. Vào thời Pháp nạn Chu vũ, chùa bị phá hoại, đến cuối năm Đại nghiệp đời Tùy lại bị chiến tranh tiêu hủy hoàn toàn. Năm Trinh quán thứ 5 (631) đời Đường, chùa được xây dựng lại, tìm được 2 tấm bia cổ và xá lợi trên nền cũ. Hàng ngày có tới vài vạn người ở các vùng lân cận đến lễ bái, chùa bỗng trở thành nổi tiếng ở đương thời. Đến năm Hiển khánh thứ 4 (659), người ta lại tìm được thêm 8 viên xá lợi nữa, từ đó, vua thường đến chùa này rước xá lợi vào cung để cúng dường, chiêm lễ. Năm Nguyên hòa 14 (819), vua lại rước xá lợi vào cung để cúng dường trong 3 ngày nhân dịp rằm tháng giêng. Bấy giờ, quan Hình bộ thị lang là Hàn dũ dâng Phật cốt biểu can ngăn vua, vua nổi giận, giáng chức làm Thứ sử Triều châu; tháng 3 cùng năm, Hàn lâm học sĩ Trương trọng tố vâng sắc soạn văn bia Phật cốt ở chùa này.[X. truyện Chí thông trong Tống cao tăng truyện Q.23; Phật tổ thống kỉ Q.41; Pháp uyển châu lâm Q.38; Tư trị thông giám Q.240].

pháp môn đại nghĩa

(法門大義) Cũng gọi Đại thừa đại nghĩa chương, Cưu ma la thập pháp sư đại nghĩa. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Cưu ma la thập soạn vào đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung sách này, ngài Cưu ma la thập căn cứ vào ý nghĩa cao sâu trong các kinh Đại thừa mà soạn ra 18 điều mục để trả lời những câu hỏi của ngài Tuệ viễn ở Lô sơn. -Quyển thượng: Hỏi đáp về chân Pháp thân, các loại Pháp thân, thọ lượng của Pháp thân, tu tập 32 tướng và Thụ quyết. -Quyển trung: Hỏi đáp về Pháp thân cảm ứng, Pháp thân Phật dứt hết tập khí, tạo sắc pháp, La hán thụ quyết, niệm Phật tam muội, Tứ tướng và pháp tính. -Quyển hạ: Hỏi đáp về thực pháp hữu, phần phá không, hậu thức truy ức tiền thức, biến học và trụ thọ nghĩa. [X. Đại đường nội điển lục Q.3; điều Tuệ viễn trong Lịch đại tam bảo kỉ Q.7].

Pháp mạch

法脈; C: fămài; J: hōmyaku; |Dòng truyền thừa Phật pháp, sự truyền thừa Phật pháp.

pháp mạn đồ la

(法曼荼羅) Phạm: Dharma-maịđala. Hán âm: Đạt ma mạn đồ la. Cũng gọi Chủng tử mạn đồ la, Tự mạn đồ la. Gọi tắt: Pháp mạn. Một trong 4 loại Mạn đồ la của Mật giáo thiết lập. Phàm những Mạn đồ la có liên quan văn tự, ngôn ngữ, nghĩa lí trong các kinh luận và các chữ chân ngôn, chủng tử của chư Phật, Bồ tát, thì đều gọi là Pháp mạn đồ la. Hành giả Mật giáo, khi tu pháp, nếu không đủ khả năng lập Đại mạn đồ la, vẽ đầy đủ hình tượng của chư tôn, thì dùng Pháp mạn đồ la để tu. [X. Lí thú thích Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.6, 13; luận Thập trụ tâm Q.10]. (xt. Tự Mạn Đồ La, Mạn Đồ La).

pháp mẫn

(法敏) (579-645) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Đơn dương, họ Tôn. Sư xuất gia năm 8 tuổi, lúc đầu theo học Thiền sư Anh, sau, vào núi Mao sơn nghe Pháp sư Minh giảng Tam luận. Năm 23 tuổi, sư nghe ngài Thực công, người Cao li, thuyết giảng. Sau khi ngài Thực công thị tịch, gặp lúc loạn lạc ở cuối đời Tùy, nên sư ẩn tu. Ba năm sau, sư đến Chiết giang, trụ ở chùa Lương an, giảng kinh Pháp hoa và Tam luận. Niên hiệu Trinh quán năm đầu (627), sư trở về Đơn dương, giảng kinh Hoa nghiêm, kinh Niết bàn. Ít lâu sau, sư lại đến Cối kê trụ ở chùa Tĩnh lâm giảng kinh Hoa nghiêm. Cứ theo sự khảo chứng của ngài Đạo đình đời Tống, sư phân lập giáo thuyết của 1 đời đức Phật làm 2 giáo: 1. Thích ca kinh: Chỉ cho các kinh Pháp hoa, Niết bàn do ứng theo căn cơ mà thuyết giảng. 2. Lô xá na kinh: Chỉ cho kinh Hoa nghiêm, do thuận theo pháp tính mà thuyết giảng. Năm Trinh quán 19 (645), sư thị tịch ở chùa Nhất âm, hưởng thọ 67 tuổi. Sư có tác phẩm: Hoa nghiêm kinh sớ 7 quyển. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Tục cao tăng truyện Q.15]. (xt. Lô Xá Na Kinh).

pháp mật

Dharmagupta (skt)—Vị sáng lập tông phái Pháp Mật tại Tích Lan, một trong bảy phái của Nhất Thiết Hữu Bộ—Founder of the school of this name in Ceylon, one of the seven divisions of the Sarvastivadah. ** For more information, please see Sarvastivadah in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

pháp mệnh

1) Tuệ mệnh của Pháp thân: The wisdom-life of the Dharmakaya. 2) Tuổi thọ của một vị Tăng: The age or lifetime of a monk. ; (法命) I. Pháp Mệnh. Cũng gọi Pháp thân tuệ mệnh. Pháp chỉ cho lí thể, Tuệ chỉ cho trí dụng. Lí thể ví dụ cho thân thể; Trí dụng ví dụ cho thọ mệnh, cho nên gọi là Pháp thân tuệ mệnh, gọi tắt là Pháp mệnh. II. Pháp Mệnh. Thọ mệnh của Tăng già (giáo đoàn Phật giáo) cũng gọi là Pháp mệnh.

pháp nan

(法難) Cũng gọi Báng Phật, Báng pháp, Phá Phật, Vương nạn, Hủy pháp, Phế thích, Phế Phật, Diệt Phật. Chỉ cho những tai nạn trong đó Phật giáo bị những người làm chính trị hoặc tín đồ của các tôn giáo khác bức hại. Ở Ấn độ, sau khi đức Phật nhập diệt khoảng 300 năm, vua A dục lúc đầu không tin Phật pháp nên ra sức phá hoại, sau mới sám hối tội lỗi và phục hưng Phật giáo. Mấy trăm năm sau, vua nước Kim nhĩ thuộc miền Đông Ấn độ là Thiết thưởng ca cũng bức hại chúng tăng, phá hoại tháp Phật, chặt cây Bồ đề ở chỗ đức Phật thành đạo. Cuối thế kỉ II trước Tây lịch, vua Phất sa mật đa la nước Ma yết đà diệt Phật. Thế kỉ XI đến thế kỉ XII, Vương triều Du na (Phạm:Sena) kì thị Phật giáo. Đến khi Hồi giáo xâm lăng Ấn độ, sau khi tiêu diệt Vương triều Du na, họ tận diệt luôn cả Phật giáo. Vào những năm cuối thế kỉ XVI, vuaRàjasìhađệ I của Tích lan, làm cho khắp hòn đảo này không còn bóng 1 vị tỉ khưu. Ở Tây tạng, vào đầu thế kỉ X, vua Lãng đạt ma (Tạng:Glaí-dar-ma) cũng phá hoại Phật giáo 1 cách rất tàn bạo. Tại Trung quốc, lịch sử Phật giáo có ghi Tam Vũ nhất Tông pháp nạn, nghĩa là Pháp nạn do 3 ông vua Vũ và 1 ông Tông gây ra(tức Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy, Vũ đế nhà Bắc Chu, Vũ tông nhà Đường và Thế tông nhà Hậu Chu). Ba ông vua này đều trọng Đạo giáo mà bài xích Phật giáo. Cuối đời Thanh, Phật giáo cũng bị đàn áp. Sau tất cả các Pháp nạn trên đây, chỉ trong 1 thời gian ngắn, Phật giáo lại được phục hưng và tiếp tục phát triển. Nhưng Pháp nạn nặng nề và kéo dài nhất là Pháp nạn thời Mao trạch đông cộng sản gần đây. Bắt đầu bị đàn áp 1 cách có hệ thống và rất tinh vi từ năm 1949, cho đến nay, Phật giáo Trung quốc hầu như bị tuyệt diệt. Ở Triều tiên thì có vua Yên sơn nhà Lí phá hoại Phật giáo. Còn tại Nhật bản thì thời Minh trị Duy tân Phật giáo cũng bị hủy hoại rất kịch kiệt. Tóm lại, những Pháp nạn của Phật giáo phần nhiều do những người cầm quyền vì tin theo tông giáo hoặc 1 tín ngưỡng khác mà bức hại Phật giáo, hoặc do tín đồ của các tông giáo khác gây ra.

Pháp nghi

(法儀): lễ nghi theo đúng quy phạm, pháp tắc. Như trong Mặc Tử (墨子), phần Pháp Nghi (法儀), giải thích rõ rằng: “Thiên hạ tùng sự giả, bất khả dĩ vô pháp nghi; vô pháp nghi nhi kỳ sự năng thành giả, vô hữu (天下從事者、不可以無法儀、無法儀而其事能成者、無有, người làm việc trong thiên hạ, không thể nào không có pháp nghi được, không có pháp nghi mà việc ấy có thể thành thì không bao giờ có).” Hay trong Tục Phật Tổ Thống Kỷ (續佛祖統紀, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 75, No. 1515) quyển 2, phần Tuyệt Tông Kế Pháp Sư Pháp Từ (絕宗繼法師法嗣), Pháp Sư Như Kỷ (法師如玘), có đoạn: “Chiêu thiên hạ cao tăng tất tập Chung Sơn, thiết quảng tiến hội, pháp nghi thậm thạnh, đại giá thân lâm (召天下高僧畢集鐘山、設廣薦會、法儀甚盛、大駕親臨, mời chư vị cao tăng trong thiên hạ tập trung hết tại Chung Sơn, thiết bày hội cúng tiến lớn, pháp nghi rất đầy đủ, nhà vua cũng thân lâm đến dự).”

pháp nghiệm

(法驗) Pháp, gọi đủ là Bí pháp, Diệu pháp, Kì đảo pháp. Khi tu các pháp này đều có hiệu nghiệm thì gọi là Pháp nghiệm. Mục đích tu các pháp trên là cầu khỏi bệnh, cầu mưa, cầu được mùa, cầu quốc thái dân an, thế giới hòa bình v.v... [X. Tu nghiệm cố sự tiện lãm (Nhật vinh); Kì đảo cố sự lược chỉ (Nhật thuấn)].

Pháp Ngoạn

(法玩, Hōgan, 715-790): vị tăng của Bắc Tông Thiền, người đất Ngụy, họ Trương (張). Năm lên 18 tuổi, ông theo hầu Phổ Tịch (普寂) và đến năm 20 tuổi thọ Cụ Túc giới. Ông chuyên hóa đạo ở Lạc Dương (洛陽), Tung Sơn (嵩山). Môn nhân của ông có nhiều người, và đến ngày 13 tháng 8 năm thứ 6 niên hiệu Trinh Hòa (貞和), ông thị tịch tại Kính Ái Tự (敬愛寺), hưởng thọ 76 tuổi đời và 57 hạ lạp. Năm sau, tháp của ông được xây dựng tại Thiếu Lâm Tự (少林寺); Lý Sung (李充) soạn ra Đại Đường Đông Đô Kính Ái Tự Cố Khai Pháp Lâm Đàn Đại Đức Pháp Ngoạn Thiền Sư Tháp Minh (大唐東都敬愛寺故開法臨壇大德法玩禪師塔銘).

pháp nguyệt

(法月) (653-743) Phạm: Dharmacandra. Hán âm: Đạt ma chiến niết la. Cao tăng người Đông Ấn độ, có chỗ nói sư là người nước Ma đề. Sư từng du học ở Trung Ấn độ, thông hiểu Tam tạng và y học. Sau, sư đến nước Cưu tư dạy học. Do sự tiến cử của quan Tiết độ sứ An tây, năm Khai nguyên 20 (732), sư đến kinh đô Trường an, Trung quốc, cống hiến các bộ sách thuốc, phương thuật, y phương bằng tiếng Phạm và kinh Đại uy lực Ô xu sắt ma minh vương gồm 3 bộ, 4 quyển, do ngài A chất đạt tản (Vô năng thắng), người Bắc Ấn độ dịch ở An tây. Còn sư thì dịch Phương dược bản thảo và Phổ thông trí tạng Bát nhã ba la mật đa tâm kinh 1 bộ. Năm Khai nguyên 23 (735), sư biên soạn thành Ngự chú Kim cương bát nhã ba la mật đa kinh tuyên diễn 2 quyển. Về sau, gặp lúc loạn lạc, sư dời đến ở chùa Kim luân tại nước Vu điền. Năm Thiên bảo thứ 2 (743), sư thị tịch, thọ 91 tuổi. [X. Tục khai nguyên thích giáo lục Q.thượng; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14].

Pháp ngã

法我; C: făwǒ; J: hōga; |Tin rằng các pháp đều hiện hữu trên cở sở tự tính. Xem Pháp chấp (法執).

pháp ngã

Pháp chấp hay khái niệm giả tạo cho rằng vạn hữu có tự tánh (các pháp sắc tâm thực có thể tính), cá nhân hay độc lập, chứ không phải được thành lập bởi nhiều yếu tố khác biệt nhau—The false notion of anything being a thing in itself, individual or independent, and not merely composed of elements to be disintegrated. ; (法我) Cũng gọi Pháp ngã chấp, Pháp ngã kiến, Pháp chấp. Chỉ cho sự vọng chấp các pháp huyễn hóa là có thực, tức là chấp trước các pháp sắc, tâm có thể tính chân thực. [X. luận Tam vô tính Q.hạ; Nhiếp đại thừa luận thích Q.10 (bản dịch đời Lương)]. (xt. Nhị Ngã Kiến, Pháp Chấp).

pháp ngã câu hữu tông

(法我俱有宗) Cũng gọi Ngã pháp câu hữu tông. Chỉ cho tông phái chủ trương Ngã và Pháp đều có thật, 1 trong 10 tông do tông Hoa nghiêm phân lập. Đó là các bộ phái: Độc tử bộ, Pháp thượng bộ, Hiền trụ bộ, Chính lượng bộ, Mật lâm sơn bộ, Kinh lượng bộ... trong 20 bộ phái Tiểu thừa. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1]. (xt. Thập Tông).

Pháp ngã kiến

法我見; C: făwǒ jiàn; J: hōga ken; |Quan niệm rằng các pháp (法) đều hiện hữu trên cở sở tự tính. Giáo lí Đại thừa, đặc biệt điển hình là tư tưởng Du-già hành tông, cho rằng Phật tử hàng Nhị thừa (tức bên ngoài Đại thừa) có khả năng xoá bỏ quan điểm chấp trước vào có một bản ngã tồn tại trên cở sở tự tính (nhân ngã kiến 人我見), nhưng chưa có khả năng cắt đứt quan điểm chấp trước vào các đối tượng khách quan như là tồn tại trên cở sở tự tính.

pháp ngã kiến

Tà kiến pháp chấp cho rằng sự vật hiện hữu với một bản chất độc lập—The erroneous (false) view that anything exists with an independent nature. **For more information, please see Pháp Ngã.

pháp ngã tướng

Dharmatmyalakshana (skt)—Sự tin rằng có một cái gì đó thuộc về bản chất đằng sau những gì hiện ra cho người ta thấy—The belief that there is something substantial behind what is presented to one's view.

Pháp ngữ

(法語): ngôn ngữ của chánh pháp, còn chỉ cho lời dạy của đức Phật. Du Già Sư Địa Luận (瑜伽師地論) quyển 88 giải thích rằng đức Như Lai nương vào 4 loại đạo lý (Quán Đãi Đạo Lý [觀待道理], Tác Dụng Đạo Lý [作用道理], Nhân Thành Đạo Lý [因成道理] và Pháp Nhĩ Đạo Lý [法爾道理]) để tuyên thuyết chánh pháp, nên được gọi là “Người Nói Pháp Ngữ”. Vào thời nhà Đường, Tống bên Trung Hoa, có trường hợp dùng vận ngữ để diễn thuyết Phật pháp, được gọi là “kệ (偈).” Về sau, cũng từ đây mà diễn biến thành tán văn để cho khế hợp với pháp ngữ tu hành. Sau này, pháp ngữ được dùng chủ yếu chỉ cho những lời giáo thị của chư tổ hay lời khai thị của các Thiền sư. Câu “đa sanh pháp ngữ khai tâm, nghiệp chủng tiêu vong (多生法語開心、業種消亡)” có nghĩa là nhiều đời nhiều kiếp nhờ nghe pháp ngữ mà khai mở tâm trí, làm cho hạt giống nghiệp tiêu mất, không còn nữa. ; 法語; C: făyŭ; J: hōgo; |1. Giáo lí chân thực, giáo pháp khế hợp với thực tại; 2. Lời giảng về pháp tu tập giải thoát của một Thiền sư.

pháp ngữ

1) Lời Phật thuyết pháp—A word or a phrase of the Buddha's preaching. 2) Bài thuyết pháp (có thể là của một bậc thầy): Buddhist preaching—Dharma-words, religious discourses. ; (法語) Chỉ cho ngôn ngữ dùng để tuyên dương chính pháp, hoặc chỉ cho giáo thuyết của đức Phật. Luận Du già sư địa quyển 88 cho rằng, Như lai y theo Quan đãi đạo lí, Tác dụng đạo lí, Nhân thành đạo lí và Pháp nhĩ đạo lí để tuyên giảng chính pháp. Do đó, Như lai cũng được gọi là Pháp ngữ giả. Ở Trung quốc, vào thời Đường, Tống, những lời nói có vần được sử dụng để diễn nói Phật pháp mà hình thành thể văn gọi là Kệ. Đến đời sau, trong Thiền lâm, những lời khai thị của chư Tổ và các Thiền sư đều được gọi là Pháp ngữ. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.35 (bản Bắc); kinh Đại bảo tích Q.82; kinh Đại bát nhã Q.569; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.5, 6; luật Ma ha tăng kì Q.26; Khảo tín lục Q.4; Thiền quan sách tiến chư tổ pháp ngữ tiết yếu; môn Kinh lục trong Thiền lâm tượng khí tiên].

pháp nha

Mầm non trong Phật Giáo—The sprout or bud of Buddhism.

Pháp Nhiên

(法然, Hōnen, 1133-1212): vị tổ sư khai sáng Tịnh Độ Tông Nhật Bản, húy là Nguyên Không (源空), người vùng Mỹ Tác (美作, Mimasaka). Ông theo lời di huấn của cha mà xuất gia, vào núi Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan) theo hầu hạ Hoàng Viên (皇圓), Duệ Không (叡空). Đến năm 43 tuổi, ông quay về với pháp môn chuyên tu niệm Phật, và thuyết giảng về pháp môn Tịnh Độ ở vùng Đông Sơn Cát Thủy (東山吉水, Higashiyama Yoshimizu). Bên cạnh đó, ông đã cùng vời tăng đồ của Nam Đô Bắc Lãnh luận bàn về pháp môn này ở Đại Nguyên (大原, Ōhara). Vào năm 1207 (năm đầu niên hiệu Thừa Nguyên [承元]), do vì hai người đệ tử ông là Trú Liên (住蓮) và An Lạc (安樂) bị tử tội, nên ông bị lưu đày đến vùng Tán Kì (讚岐, Sanuki), nhưng vào cuối năm đó thì được tha tội. Ông có để lại nhiều tác phẩm, trong đó nổi tiếng nhất là Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập (選擇本願念佛集). Ông được ban cho thụy hiệu là Viên Quang Đại Sư (圓光大師), thông xưng là Hắc Cốc Thượng Nhân (黒谷上人) và Cát Thủy Thượng Nhân (吉水上人). ; 法燃; j: hōnen; 1133-1212;|Tịnh độ tông

pháp nhiên

Luật lệ tự nhiên—According to the rule, naturally.

Pháp Nhãn

法眼; C: făyăn; J: hōgen; S: dharma-cakṣus. |1. »Con mắt pháp«, năng lực nhận ra các pháp một cách tường tận. Với Pháp nhãn này, Bồ Tát có thể cứu độ tất cả chúng sinh; 2. Dạng thứ 2 trong Ngũ nhãn (五眼); 3. Tên của một vị Thiền sư quan trọng (885-958) vào đời Đường Trung Hoa, thường được biết với thuỵ hiệu là Thanh Lương Quốc Sư (清涼國師). Còn được biết qua pháp danh Văn Ích (文益). Pháp Nhãn Văn Ích.

pháp nhãn

1) Pháp nhãn có thể thấu suốt vạn hữu, có thể thấy rõ sự thật—The (Bodhisattva) Dharma-eye which is able to penetrate all things—To see clearly or purely the truth. 2) Tên của Thiền sư Văn Ích (885-958), người sáng lập ra Pháp Nhãn Tông, một trong năm tông phái Thiền Trung Hoa—Name of Zen master Wen-Yi, the founder of the Fa-Yen sect, one of the five Zen (Ch'an) schools in China. ** For more information, please see Văn Ích Thiền Sư. ; (法眼) I. Pháp Nhãn. Phạm: Dharma-cakwu. Pàli: Dhamma-cakkhu. Chỉ cho mắt trí tuệ có khả năng thấy được thực tướng của tất cả các pháp và thấu suốt các pháp duyên sinh sai biệt 1 cách rõ ràng. Là 1 trong Ngũ nhãn. Bồ tát vì hóa độ chúng sinh, dùng Pháp nhãn thanh tịnh quan sát khắp các pháp, tu hành chứng đạo; lại biết rõ các pháp môn phương tiện thích hợp với mỗi chúng sinh, nên có thể giúp chúng sinh tu hành chứng đạo. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.2; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; luận Đại trí độ Q.33; luận Du già sư địa Q.14]. (xt. Ngũ Nhãn). II. Pháp Nhãn. Gọi đủ: Pháp nhãn đại hòa thượng vị. Chỉ cho cấp bậc Tăng đô, Tăng quan ở Nhật bản. Chức vị này được đặt ra ở Nhật bản vào năm 864, đồng thời với các chức Pháp ấn, Pháp kiếu... Đến đời sau, các vị tăng điêu khắc tượng Phật cũng có thể được giữ chức này. III. Pháp Nhãn (885-958). Tức là Thiền sư Pháp nhãn Văn ích, Tổ của tông Pháp nhãn, sống vào thời Ngũ đại, Trung quốc, từng được vua nhà Nam Đường ban hiệu Tịnh Tuệ Đại Sư. Sau khi sư thị tịch, được đặt thụy hiệu Đại Pháp Nhãn. (xt. Văn Ích).

Pháp Nhãn Thiền Sư Tông Môn Thập Quy Luận

(法眼禪師宗門十規論, Hōgenzenjishūmonjukkiron): xem Tông Môn Thập Quy Luận (宗門十規論, Shūmonjukkiron) bên dưới.

Pháp Nhãn Tông

(法眼宗, Hōgen-shū): một trong Ngũ Gia Thất Tông (五家七宗) của Trung Quốc, gồm những bậc Thiền tăng của Pháp Nhãn Tông, theo thứ tự từ Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存), Huyền Sa Sư Bị (玄沙師僃), La Hán Quế Sâm (羅漢桂琛), Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益). Sau khi đắc pháp, Pháp Nhãn đến trú tại Thanh Lương Viện (清涼院), được Ngô Việt Vương Tiền Thị (呉越王錢氏) quy y, và tận lực cổ xúy Thiền phong. Môn hạ của ông có Thiên Thai Đức Thiều (天台德韶), Bách Trượng Đạo Hằng (百丈道恆), Quy Tông Nghĩa Nhu (歸宗義柔), Báo Ân Pháp An (報恩法安), v.v., khá nhiều bậc Thiền kiệt xuất hiện, lấy địa phương Phúc Kiến (福建), Triết Giang (浙江) làm trung tâm để phát triển giáo tuyến. Bộ Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄, 30 quyển) do Vĩnh An Đạo Nguyên (永安道原) biên tập là tác phẩm thâu lục rất nhiều Trước Ngữ đối với Cổ Tắc của các nhân vật trong Pháp Nhãn Tông, được xem như là một trong những đặc sắc của tông phái này. Hơn nữa, Thiên Thai Đức Thiều tiến hành dung hợp giáo học của Thiên Thai và Thiền. Riêng Vĩnh Minh Diên Thọ (永明延壽) thì nhắm mục đích nhất trí giữa Thiền với tư tưởng Tịnh Độ, rồi trước tác bộ Tông Kính Lục (宗鏡錄, 100 quyển) và hệ thống hóa các tông phái. Vốn phát triển mạnh ở trung tâm Giang Nam (江南), đến thời Bắc Tống, Pháp Nhãn Tông đã dung hợp với Vân Môn Tông (雲門宗), rồi sớm điêu tàn và những đặc sắc của tông phái này dần dần được môn nhân của Vân Môn Tông cũng như Lâm Tế Tông kế thừa.

Pháp Nhãn tông

法眼宗; C: fǎyǎn-zōng; J: hōgen-shū;|Một trường phái của Thiền tông tại Trung Quốc, được xếp vào Ngũ gia thất tông. Tông này bắt nguồn từ Thiền sư Huyền Sa Sư Bị, nối pháp của Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn và ban đầu cũng được gọi là Huyền Sa tông. Sau, danh tiếng của Thiền sư Pháp Nhãn Ích – hai đời sau Huyền Sa – vang dội khắp nơi và vì thế, tông này được gọi là tông Pháp Nhãn. 63 pháp tự của sư Pháp Nhãn hoằng hoá khắp nơi, truyền tông này qua đến cả Triều Tiên. Tông này hưng thịnh ba đời nhưng tàn lụi sau đời thứ năm.

pháp nhãn tông

Dòng Thiền được sáng lập bởi ngài Văn Ích Thiền Sư—The Fa-Yen Sect, established by Wen-Yi Zen Master—See Pháp Nhãn (2) and Văn Ích Thiền Sư. ; (法眼宗) Một trong Ngũ gia thất tông của Thiền tông Trung quốc, do Thiền sư Pháp nhãn Văn ích (885-958) sáng lập. Thiền sư Văn ích thuộc pháp hệ ngài Thanh nguyên Hành tư, tham yết ngài La hán Quế sâm và được tâm ấn vào năm Thanh thái thứ 2 (935) đời Hậu Đường, từ đó về sau, ngài lần lượt trụ ở các nơi như: Viện Sùng thọ, Thiền viện Báo ân, Đại đạo tràng thanh lương... xiển dương pháp Thiền. Ngài chủ trương Lí sự viên dung, không tìm cầu bên ngoài, tất cả đều do tâm tạo. Học chúng từ khắp nơi vân tập, phát triển dần thành 1 phái, lấy các vùng Chiết giang, Phúc kiến làm trung tâm giáo hóa. Đệ tử nối pháp có 63 vị, trong đó, nổi tiếng hơn cả là các sư: Thiên thai Đức thiều, Thanh lương Thái khâm, Linh ẩn Thanh tủng, Qui tông Nghĩa nhu, Bách trượng Đạo thường,Vĩnh minh Đạo tiềm, Báo ân Pháp an, Báo ân Tuệ minh, Báo từ Hành ngôn, Báo từ Văn toại, Tịnh đức Trí quân, Qui tông Sách chân v.v... Sư Đức thiều được Trung ý vương Ngô việt kính ngưỡng nên pháp Thiền rất thịnh. Sư Thái khâm truyền pháp cho Vân cư Đạo tề, dưới Đạo tề có Vân cư Khế hoàn, Linh ẩn Văn thắng, Thụy nham Nghĩa hải, Quảng tuệ Chí toàn, Đại mai Cư hi, Nam minh Duy túc... Sư Hành ngôn mở rộng tông môn, học chúng từ khắp nơi tụ về, thường đến hơn 2 nghìn người. Sư Trí quân lần lượt trụ ở chùa Thê hiền tại Lô sơn, đạo tràng Tịnh đức hoằng truyền pháp môn Bất nhị. Sư Sách chân thì chú tích chùa Qui tông ở Lô sơn, chùa Phụng tiên ở Kim lăng và Đạo tràng Báo ân, xiển dương pháp Thiền của Tông tổ. Tông phong Văn ích phồn thịnh 1 thời, đạo pháp lan truyền khắp nơi, nổi tiếng nhất là môn phái Thiên thai Đức thiều, đứng đầu là ngài Vĩnh minh Diên thọ, kế đến là các vị Trường thọ Minh ngạn, Ngũ vân Chí phùng, Báo ân Vĩnh an, Quang khánh Ngộ an, Tề vân Ngộ trăn... gồm hơn 100 bậc cao tăng thạc đức. Ngài Vĩnh minh Diên thọ lúc đầu tu Pháp hoa sám ở chùa Quốc thanh trên núi Thiên thai, sau dời về đạo tràng Vĩnh minh tiếp hóa đồ chúng. Ngài biên soạn Tông kính lục 100 quyển, Duy tâm quyết 1 quyển để trình bày rõ yếu quyết của Phật pháp. Rồi soạn tiếp tác phẩm Vạn thiện đồng qui, đề xướng Thiền Tịnh Song Tu, được người đời xem như đức Di lặc giáng sinh. Vua Quang tông nước Cao li cảm kích, từng viết thư đến ngài xin làm đệ tử. Chư tăng Cao li cũng đến theo học ngài rất đông, có 36 vị đắc pháp, nhờ đó mà Thiền phong Pháp nhãn được lưu truyền ở Hải đông (Cao li). Vào đầu đời Tống, tông Pháp nhãn cực thịnh, nhưng từ giữa đời Tống trở đi thì tông này suy vi dần, cho đến cuối cùng thì dứt hẳn. Tại Trung quốc, tông Pháp nhãn tồn tại không quá 100 năm, nhưng tại Cao li thì vẫn còn hưng thịnh. Về phương diện giáo học, đặc trưng lớn nhất của tông Pháp nhãn là sự dung hợp Thiền chỉ với tư tưởng Tịnh độ. Ngoài ra, các Thiền sư của tông này rất ưa niêm đề cổ tắc công án, trong các tác phẩm cá nhân thường có phụ thêm phần Trứ ngữ cho các cổ tắc, đây là 1 đặc sắc nữa của tông này. Như trong bộ Cảnh đức truyền đăng lục 30 quyển, do Thiền sư Vĩnh an Đạo nguyên biên soạn, có thu chép rất nhiều Trứ ngữ (lời bàn) về những cổ tắc của các Thiền sưtông Pháp nhãn. Còn đặc điểm tiếp hóa người học của các bậc thầy thuộc tông này là Tiên lợi tế, nghĩa là tùy thuận căn cơ của người học mà chân thành, khẩn thiết dìu đắt họ 1 cách tự tại, giúp họ được lợi ích mau chóng(tiên lợi tế). Như Tắc 7 trong Bích nham lục (Đại 48, 147 thượng) ghi: Tuệ siêu hỏi ngài Pháp nhãn Văn ích: Phật là thế nào? Ngài Văn ích đáp: Ông là Tuệ siêu! Ngay câu nói đó, Tuệ siêu đại ngộ. [X.Tống cao tăng truyện Q.13; Cảnh đức truyền đăng lục Q.24-26; Liên đăng hội yếu Q.26-28; Ngũ tông nguyên; Ngũ gia tông chỉ toản yếu Q.hạ; Ngũ gia tham tường yếu lộ môn Q.5].

pháp nhãn tịnh

Thấy được chân đế một cách rõ ràng—To see clearly or purely the truth. 1) Pháp Nhãn Tịnh Tiểu Thừa: Sơ quả kiến “Tứ Đế” pháp (thấy được chân lý Tứ Diệu Đế)—In Hinayana, to see the truth of the four dogmas or four Noble Truths. 2) Pháp Nhãn Tịnh Đại Thừa: Sơ địa đắc chân vô sanh pháp (thấy chân lý giải thoát luân hồi sanh tử)—In Mahayana, to see the truth which releases from reincarnation. ; (法眼淨) Phạm: Dharmacakwu-vizuddha. Cũng gọi Tịnh pháp nhãn, Thanh tịnh pháp nhãn. Chỉ cho con mắt có khả năng thấy suốt chân lí các pháp mà không nghi ngờ, không bị chướng ngại. Cứ theo Duy ma kinh lược sớ quyển 4 của ngài Cát tạng, thì hàng Sơ quả Tiểu thừa thấy lí Tứ Thánh đế và bậc Sơ địa Đại thừa được pháp chân thực vô sinh, đều gọi là Pháp nhãn tịnh. Theo luận Đại tì bà sa quyển 66, trước giai vị Kiến đạo vẫn chưa hoàn toàn dứt hết vọng hoặc, những hành giả đoạn trừ 5 phẩm hoặc của cõi Dục mà vào giai vị Kiến đạo, sinh pháp nhãn thanh tịnh, thì được quả Dự lưu; các hành giả đoạn trừ các phẩm hoặc thứ 6, thứ 7, sinh pháp nhãn thanh tịnh, thì được quả Nhất lai. Còn những hành giả đã đoạn trừ cả 9 phẩm hoặc ở cõi Dục, cho đến đoạn trừ các vọng hoặc của cõi Vô sở hữu xứ, sinh pháp nhãn thanh tịnh, thì chứng quả Bất hoàn. Pháp nhãn nói ở đây khác với Pháp nhãn trong Ngũ nhãn. Pháp nhãn trong Ngũ nhãn tưong đương với Pháp nhãn tịnh của Đại thừa, chỉ Bồ tát mới có, chứ hàng Nhị thừa thì không. Vả lại, Pháp nhãn của Tiểu thừa thì hàng Sơ quả thấy lí Tứ Thánh đế, còn Pháp nhãn của Đại thừa thì phải là bậc Sơ địa đã được pháp vô sinh chân thực mới có. [X. kinh Pháp hoa Q.7; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; luật Tứ phần Q.32; Chú Duy ma cật kinh Q.1].

pháp nhãn tứ cơ

(法眼四機) Chỉ cho 4 cơ pháp của tông Pháp nhãn được dùng để chỉ dẫn người học. 1. Tiễn phong tương trụ: Hai mũi tên chạm nhau. Nghĩa là sự tiếp hóa của sư gia khế hợp với từng loại căn cơ của người học, giống như 2 mũi tên từ 2 bên bắn ra chạm vào nhau. 2. Mẫn tuyệt hữu vô: Dứt bặt có và không. Nghĩa là cơ pháp của sư gia làm cho người học vượt thoát kiến giải phân biệt nhị nguyên có và không. 3. Tựu thân niêm xuất: Tùy theo đối tượng mà đưa ra cơ pháp để tiếp hóa. Nghĩa là chân như Phật tính vốn hiển hiện trong những hiện tượng thiên sai vạn biệt ở thế gian, bậc sư gia tùy theo tính Phật của mọi người hiện thành ở trước mắt mà đưa ra cơ pháp thích hợp, nhờ đó mà có thể tùy duyên điểm hóa cho tất cả. 4. Tùy lưu đắc diệu: Sư gia dựa theo (tùy lưu)căn khí của người học, vận dụng cơ pháp tiếp hóa 1 cách linh hoạt khéo léo, để giúp người học thể nhận được Phật tính vi diệu(đắc diệu). [X. Ngũ gia tông chỉ toản yếu Q.hạ].

Pháp Nhãn Văn Ích

(法眼文益, Hōgen Moneki, 885-958): vị tổ khai sáng Pháp Nhãn Tông Trung Quốc, họ là Lô (魯), người vùng Dư Hàng (余杭, Tỉnh Triết Giang). Năm lên 7 tuổi, ông theo xuất gia với Toàn Vĩ (全尾) ở Tân Định Trí Thông Viện (新定智通院), rồi thọ Cụ Túc giới ở Khai Nguyên Tự (開元寺) vùng Việt Châu (越州, Tỉnh Triết Giang). Sau ông du hành lên phương Nam, lưu lại nơi pháp hội của Trường Khánh Huệ Lăng (長慶慧稜) một thời gian. Rồi ông định đi về phía Tây Hồ Tương (湖湘), nhưng vì gió mưa dữ dội, nên phải tá túc tại Địa Tạng Viện (地藏院). Nhân đó ông tham yết La Hán Quế Sâm (羅漢桂琛) và được đại ngộ. Tiếp theo ông lại lưu lãng đây đó, đến vùng Lâm Xuyên (臨川, Tỉnh Giang Tây), rồi đến trú tại Sùng Thọ Viện (崇壽院). Tương truyền ngày khai đường có cả ngàn vị tăng đến xin tham học. Vị quốc chủ của Giang Nam (江南) vì mến mộ đạo phong của ông, nên thỉnh ông đến trú trì Báo Ân Thiền Viện (報恩禪院) vùng Kim Lăng (金陵, Tỉnh Giang Tô), và ban cho hiệu là Tịnh Huệ Thiền Sư (淨慧禪師). Sau ông trở về Thanh Lương Viện (清涼院), sáng tối chuyên tâm diễn xướng tông phong nơi ba đạo tràng ấy. Vào ngày mồng 5 tháng nhuận, ông cạo tóc, tắm rửa sạch sẽ, thông báo với đại chúng, rồi ngồi kiết già mà thị tịch, hưởng thọ 74 tuổi đời và 54 hạ lạp. Ông được ban cho thụy hiệu là Đại Pháp Nhãn Thiền Sư (大法眼禪師). ; 法眼文益; C: fǎyǎn wényì; J: hōgen buneki; 885-958; |Thiền sư Trung Quốc, khai sáng tông Pháp Nhãn, môn đệ nối pháp của Thiền sư La Hán Quế Sâm và là thầy của Quốc sư Thiên Thai Ðức Thiều. Sư là một trong những Thiền sư trội nhất của đời đó và vì vậy dòng Thiền của Sư sau được gọi là Pháp Nhãn tông mặc dù trước đó được gọi là Huyền Sa tông (Huyền Sa Sư Bị). Sư có 63 môn đệ ngộ huyền chỉ.|Sư xuất gia lúc 5 tuổi, thụ giới cụ túc năm 20. Tại pháp hội của Thiền sư Trường Khánh Huệ Lăng, mặc dù Sư chưa đốn ngộ nhưng học chúng rất kính nể. Sư cùng kết bạn với hai vị Thiệu Tu và Hồng Tiến, rủ nhau đi hành cước. Ðến viện Ðịa Tạng gặp trời trở tuyết, ba người xin ở lại đây. Thiền sư trụ trì đây là Quế Sâm hỏi: »Ði đây làm gì?« Sư đáp: »Ði hành cước.« Quế Sâm hỏi: »Thế nào là việc hành cước?« Sư trả lời: »Chẳng biết.« Quế Sâm nói: »Chẳng biết là rất thân thiết.« Sau, nhân lúc ba người ngồi sưởi ấm, bàn về Triệu luận, Quế Sâm lại hỏi: »Sơn hà đại địa cùng Thượng toạ là đồng nhất, là khác biệt?« Sư đáp: »Khác.« Quế Sâm đưa hai ngón tay lên. Sư nói: »Ðồng.« Quế Sâm cũng đưa hai ngón tay lên rồi đứng dậy đi.|Tuyết tan, cả ba đều rủ nhau đi tiếp. Quế Sâm tiễn chân ra cổng chỉ phiến đá hỏi: »Thường Thượng toạ nói ›Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức‹, như vậy thì phiến đá này là trong hay ngoài tâm?« Sư không đáp được bèn ở lại cầu học. Ở lại hơn một tháng mà mỗi lần Sư trình kiến giải nói đạo lí đều bị Quế Sâm gạt đi nói »Phật pháp không phải như vậy.« Sư thưa: »Con đã hết lời cùng lí rồi.« Quế Sâm bảo: »Nếu luận Phật pháp thì tất cả hiện thành.« Qua câu này, Sư Ðại ngộ triệt để.|Sư sau trụ ở đâu chúng cũng đến rất đông, tương truyền rằng lúc nào cũng không dưới ngàn người. Tông của Sư hưng thịnh ba đời nhưng tàn lụi sau đời thứ năm|Niên hiệu Hiền Ðức năm thứ năm nhà Châu, ngày mùng năm tháng bảy năm Mậu Ngọ, Sư từ giã chúng ngồi kết già viên tịch, thọ 74 tuổi, 54 tuổi hạ. Vua sắc phong là Ðại Pháp Nhãn Thiền sư, tháp hiệu Vô Tướng.

pháp nhãn văn ích

Fa-Yen-Wen-Yi—See Văn Ích Thiền Sư.

pháp nhãn văn ích thiền sư ngữ lục

(法眼文益禪師語錄) Gọi đủ: Kim lăng thanh lương viện Văn ích thiền sư ngữ lục. Cũng gọi: Đại trí tạng đạo sư ngữ lục. Ngữ lục, 1 quyển, do ngài Pháp nhãn Văn ích soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này ghi chép các pháp ngữ: Thướng đường, thị chúng, vấn đáp, cơ duyên, cử cổ, đại cổ, kệ tụng... của Thiền sư Pháp nhãn Văn ích –Tổ khai sáng tông Pháp nhãn– khi ngài trụ ở viện Sùng thọ, Thiền viện Báo ân và Thiền viện Thanh lương. Theo Tổ đình sự uyển quyển 6 thì sách này được ghi chép vào đời Tống và được thu vào phần thứ 5 của bộ Ngũ gia ngữ lục do ngài Ngữ phong Viên tín và Quách ngưng chi biên soạn vào đời Minh.

Pháp nhĩ

法爾; C: făěr; J: hōni; |1. »Theo quy luật«. Tất nhiên, tự nhiên. Sự vận hành của quy luật vũ trụ (s: dharmatā); 2. Sự tất định (s, p: niyati); 3. Từ ban đầu, bẩm sinh.

pháp nhĩ

See Pháp Nhiên. ; (法爾) Cũng gọi Pháp nhiên, Tự nhiên, Thiên nhiên, Tự nhĩ, Pháp nhĩ tự nhiên, Tự nhiên pháp nhĩ. Chỉ cho trạng thái tự nhiên, thiên nhiên của các pháp(muôn vật), không trải qua bất kì sự tạo tác nào. Tức chỉ cho tướng trạng của sự vật xưa nay vốn như thế. Cứ theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 3, thì nghĩa Pháp nhĩ có thể nhận xét về 2 phương diện: 1. Nhận xét về sự tồn tại của tất cả các pháp: Hết thảy các pháp đều do nhân duyên hòa hợp mà thành, dù nước chảy xuống thấp, lửa bốc lên cao, đều là việc tự nhiên như thế. 2. Nhận xét theo lí chân như của các pháp: Các pháp vốn tùy duyên mà sinh khởi, tính của các pháp xưa nay vốn bình đẳng thường nhiên. Theo luận Du già sư địa quyển 88, thì Pháp nhĩ là đạo lí thứ 4 trong 4 đạo lí, là đạo lí tự nhiên biểu trưng cái tướng vốn như thế của mỗi sự vật, như tính của lửa vốn nóng, tính của nước vốn ướt... Tịnh độ chân tông của Nhật bản cho rằng nhờ nguyện lực của đức Phật A di đà mà tự nhiên được vãng sinh Cực lạc, gọi là Pháp nhĩ vãng sinh. Pháp nhĩ trong trường hợp này có nghĩa là tự nhiên và tha lực. (xt. Tự Nhiên Pháp Nhĩ).

Pháp nhũ

(法乳): sữa pháp; tức lấy hương vị của chánh pháp để nuôi dưỡng Pháp Thân của đệ tử, cũng giống như sữa mẹ có thể nuôi dưỡng con khôn lớn. Như trong Vận Am Phổ Nham Thiền Sư Ngữ Lục (運菴普巖禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1379) có đoạn: “Cúng dường tiền trú Lâm An Phủ Cảnh Đức Linh Ẩn Thiền Tự Tùng Nguyên Lão Sư Đại Hòa Thượng, dụng thù pháp nhũ chi ân (供養前住臨安府景德靈隱禪寺松源老師大和尚、用酬法乳之恩, cúng dường Đại Hòa Thượng Lão Sư Tùng Nguyên, trước kia trú tại Linh Ẩn Thiền Tự, Cảnh Đức, Phủ Lâm An, để báo đáp thâm ân pháp nhũ).” Hay trong Hoa Nghiêm Thanh Lương Quốc Sư Lễ Tán Văn (華嚴清涼國師禮讚文, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1471) cũng có đoạn: “Liêu tiến tảo tần chi cúng, bạc thù pháp nhũ, vi báo hồng ân (聊薦藻蘋之供、薄酬法乳、微報鴻恩, tạm dâng cỏ rong thức cúng, đáp đền pháp nhũ, báo chút hồng ân).” ; 法乳; C: fărǔ; J: hōnyū; |»Dòng sữa pháp«. Dụ cho giáo lí của bậc đạo sư. Lời dạy của đạo sư khiến cho đệ tử lớn mạnh tâm đạo cũng như sữa giúp cho sự tăng trưởng của trẻ em.

pháp nhũ

(法乳) Sữa pháp. Ví dụ hương vị của chính pháp nuôi lớn pháp thân của người tu hành Phật đạo, cũng như sữa mẹ nuôi lớn con trẻ, nên gọi là Pháp nhũ. Oánh sơn thanh qui quyển hạ (Đại 82, 438 thượng) nói: Cung kính đức Thích ca mâu ni Như lai để đáp đền thâm ân pháp nhũ.

Pháp Như

(法如, Hōnyo, 638-689): vị tăng của Bắc Tông Thiền, sống dưới thời nhà Đường, người vùng Thượng Đảng (上黨, thuộc Trường Trị, Sơn Tây), họ Vương (王), lúc nhỏ theo hầu Thanh Bố Minh (青布明, tức Huệ Minh [惠明]) ở Dương Lễ (陽澧, Huyện Lễ, Hồ Nam). Năm lên 19 tuổi, ông xuất gia, theo hầu hạ Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (五祖弘忍) ở Song Phong Sơn (雙峰山) thuộc Huyện Hoàng Mai (黃梅縣), Kì Châu (蘄州) trong vòng 16 năm và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm thứ 5 (674) niên hiệu Hàm Hanh (咸亨), sau khi Hoằng Nhẫn thị tịch, ông ngao du lên miền Bắc đến Thiếu Lâm Tự (少林寺) ở Tung Sơn (嵩山), dừng chân trú ở đây 3 năm. Đến năm thứ 2 (686) niên hiệu Thùy Củng (垂拱), ông bắt đầu khai tòa thuyết giảng tại chùa này. Vào năm đầu niên hiệu Vĩnh Xương (永昌), ông thị tịch, hưởng thọ 52 tuổi. Người đời sau có soạn ra bản Đường Trung Nhạc Sa Môn Pháp Như Thiền Sư Hành Trạng (唐中岳沙門法如禪師行狀), trong đó có đề cập đến bản Đạt Ma Đa La Thiền Kinh (達摩多羅禪經) cũng như thuyết truyền thừa 6 đời tổ sư Đạt Ma (達摩), Huệ Khả (慧可), Tăng Xán (僧璨), Đạo Tín (道信), Hoằng Nhẫn (弘忍) và Pháp Như (法如). Đây là một tư liệu rất quý giá liên quan đến thuyết truyền thừa của hệ Bắc Tông Thiền.

pháp như

(法如) (638-689) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, người Thượng đảng (huyện Trường trị, tỉnh Sơn tây), họ Vương. Thủa nhỏ sư thờ ngài Thanh bố minh (Huệ minh) ở Dương lễ (huyện Lễ, tỉnh Hồ nam) làm thầy. Năm 19 tuổi, sư xuất gia ở Kì châu, huyện Hoàng mai, núi Song phong, theo hầu Ngũ tổ Hoằng nhẫn suốt 16 năm và được nối pháp của ngài. Năm Hàm hanh thứ 5 (674), sau khi Ngũ tổ thị tịch, sư đi lên miền Bắc, đến chùa Thiếu lâm ở núi Tung sơn trụ lại 3 năm. Năm Thùy củng thứ 2 (686), sư mở tòa giảng pháp ở chùa Thiếu lâm. Niên hiệu Vĩnh xương năm đầu (689), sư thị tịch, hưởng dương 52 tuổi. Trong truyện kí Đường trung nhạc sa môn Pháp như thiền sư hành trạng, trong 6 đời truyền thừa của Thiền Bắc tông, ngài Pháp như được xếp vào đời thứ 6 sau chư Tổ: Bồ đề đạt ma, Tuệ khả, Tăng xán, Đạo tín và Hoằng nhẫn. Đây là tư liệu rất quí báu về thuyết truyền đăng của hệ thống Thiền Bắc tông, Trung quốc.

Pháp như như

法如如; C: fărúrú; J: hōnyonyo; |Tất cả các pháp tuyệt đối chân thật như chúng đang là.

pháp nhẫn

Dharmakshanti (skt). 1) Pháp nhẫn là chấp nhận sự khẳng định rằng tất cả các sự vật là đúng như chính chúng, không phải chịu luật sinh diệt là luật chỉ được thù thắng trong thế giới hiện tượng tạo ra do phân biệt sai lầm: Dharmakshanti means acceptance of the statement that all things are as they are, not being subject to the law of birth and death, which prevails only in the phenomenal world created by our wrong discrimination. 2) Pháp Nhẫn là sự nhẫn nại đạt được qua tu tập Phật pháp có khả năng giúp ta vượt thoát ảo vọng. Cũng là khả năng kham nhẫn những khó khăn bên ngoài—Patience attained through dharma to overcome illusion. Also, ability to bear patiently external hardships. ; (法忍) Nhẫn là chỉ cho sự chịu đựng những cảnh trái ngược mà trong lòng không sinh khởi sân hận. Còn Pháp nhẫn là đối với các pháp nghĩa sâu xa, mầu nhiệm được nói trong các kinh, chẳng những không sợ hãi mà còn siêng năng học tập, đọc tụng. Là 1 trong Nhị nhẫn, 1 trong Tam nhẫn, 1 trong Lục nhẫn, 1 trong Thập nhẫn. Đại thừa nghĩa chương quyển 11 (Đại 44, 685 trung) nói: An trụ trong thực tướng các pháp gọi là Nhẫn. Pháp nhẫn thông thường được chia làm 2 loại: Khổ pháp nhẫn và Đạo pháp nhẫn, Khổ pháp nhẫn là chỉ cho sự tin chịu lí Khổ đế ở cõi Dục khi vào giai vị Kiến đạo. Còn Đạo pháp nhẫn là chỉ cho sự tin chịu lí Đạo đế ở cõi Dục khi tiến vào giai vị Kiến đạo. Ngoài ra, hàng Bồ tát Đại thừa ở giai vị Kiến đạo của Sơ địa tin chịu lí vô sinh, thì gọi là Vô sinh pháp nhẫn. (xt. Nhị Nhẫn, Thập Nhẫn, Tam Nhẫn, Lục Nhẫn, Nhẫn).

pháp nhập

Pháp Xứ—Cảnh giới mà ý thức nương vịnh hay duyên vào đó, một trong thập nhị nhập—The sense-data of direct mental perception, one of the twelve entrances or places (dvadasayatanani). ** For more information, please see Thập Nhị Nhập.

pháp ni

Tỳ Kheo Ni—A nun.

pháp niệm xứ

The position of insight into the truth that nothing has reality in itself. ** For more information, please see Tứ Niệm Xứ. ; (法念處) Phạm: Dharma-smfty-upasthàna. Pàli: Dhammesu dhammànupassì viharatì àtàpì sampajàno satimà. Cũng gọi Pháp niệm trụ. Chỉ cho pháp quán Vô ngã, 1 trong Tứ niệm xứ. Hết thảy các pháp đều do nhân duyên sinh, không có tự tính, nhưng chúng sinh điên đảo, đối với các pháp thiện, ác thường lầm chấp có Ngã, cho Ngã có khả năng làm thiện, làm ác. Nhưng trong pháp thiện, ác vốn không có Ngã, nếu pháp thiện là Ngã thì pháp ác lẽ ra phải là Vô ngã; nếu pháp ác là Ngã, thì lẽ ra pháp thiện phải là Vô ngã. Vì muốn cho chúng sinh biết lí nhân duyên tính không, nên đức Phật chỉ dạy họ pháp quán Vô ngã. [X. kinh Niệm xứ trong Trung a hàm Q.24; luận Câu xá Q.23; luận Đại trí độ Q.19]. (xt. Tứ Niệm Trụ).

Pháp Nạn Hội Xương

(會昌法難, Kaishō-no-hōnan, Eshō-no-hōnan): vụ pháp nạn do Võ Tông (武宗, tại vị 840-846) nhà Đường tiến hành đàn áp Phật Giáo từ năm thứ 3 (843) đến năm thứ 4 (844) niên hiệu Hội Xương (會昌). Ông ban hiệu lịnh đi khắp thiên hạ, phá hủy các tự viện và phế bỏ tăng ni buộc phải hoàn tục. Trong lịch sử Phật Giáo Trung Quốc, có các pháp nạn Tam Võ Nhất Tông (三武一宗), như Võ Đế của Bắc Ngụy, Võ Đế của Bắc Chu, Thế Tông của Hậu Chu; pháp nạn này được xem là có quy mô và triệt để nhất. Đây là lần tổng quyết toán hạn chế, đình chỉ toàn bộ tăng ni các tự viện; đối với Phật Giáo, vụ pháp nạn này đã giáng một đòn khốc liệt, bi thảm chưa từng có. Nguyên nhân là vì vấn đề kinh tế của quốc gia, sự hủ bại trụy lạc của tăng ni trong giáo đoàn, và sự hoành hành của chúng tăng ngụy lạm tự xuất gia cũng như thọ giới; cho nên triều đình đã tiến hành một cách triệt để đối với Phật Giáo, trừ Đạo Giáo ra. Sự kiện này được ghi rõ trong Cựu Đường Thư (舊唐書), cũng như điều khoản năm thứ 4 niên hiệu Hội Xương của Võ Đế Bổn Ký (武宗本記) 18; qua đó chúng ta có thể biết được rằng Võ Đế có tín ngưỡng đối với Đạo Giáo hơn. Ngoài ra, trong quyển 4 của bộ Nhập Đường Cầu Pháp Tuần Lễ Hành Ký (入唐求法巡禮行記) của Từ Giác Đại Sư Viên Nhân (慈覺大師圓仁) cũng ký thuật chi tiết về vụ pháp nạn này.

pháp phi pháp

Dharmadharma (skt)—Real and unreal—Thing and nothing—Being and non-being.

Pháp Phong

法豐; C: fă fēng; J: hōbu; |Dịch nghĩa tên của Dharmakṣema. Đàm Vô Sấm (曇無讖).

pháp pháp tính phân biệt luận

(法法性分別論) Phạm: Dharmadharmatà-vibhaíga, hoặc Dharmadharmatà-vibhàga. Tác phẩm, tương truyền do ngài Di lặc (Phạm: Maitreyanàtha), người Ấn độ soạn vào thế kỉ IV. Nguyên bản tiếng Phạm của luận này chỉ được tìm thấy 1 phần nhỏ, khoảng 1 phần 5 của toàn bộ, không có bản dịch Hán, chỉ có bản dịch Tây tạng. Cứ theo sự truyền thừa của Tây tạng thì luận này cùng với Đại thừa trang nghiêm kinh luận, Trung biên phân biệt luận, Hiện quán trang nghiêm luận, Bảo tích luận... đều là 1 trong 5 bộ sách của ngài Di lặc, cho nên rất được coi trọng. Cách kết cấu của luận này rất ngắn gọn và trong sáng. Nội dung bàn về tư tưởng Duy thức và quan niệm về pháp, đại khái có thể chia làm 4 phần: 1. Pháp (Phạm: Dharma) và Pháp tính (Phạm:Dharmatà) bao hàm tất cả; sự biện biệt (Phạm: Vibhaíga) giữa Pháp và Pháp tính, bàn về định nghĩa và sự quan hệ giữa Pháp và Pháp tính. 2. Sự tự giác của Pháp. 3. Sự tự giác của Pháp tính. 4. Sự tự giác của chuyển y (từ lập trường Pháp chuyển đổi sang lập trường Pháp tính).

pháp phược

See Pháp Chấp.

pháp phảng

(法舫) (1904-1951) Danh tăng Trung quốc thời hiện đại, người huyện Hình, tỉnh Hà bắc, họ Vương. Năm 18 tuổi (1921), sư theo Trưởng lão Thị ngạn ở núi Nam nhạc xuất gia, sau đến chùa Pháp nguyên y vào Pháp sư Đạo giai thụ giới Cụ túc. Năm 1922, sư đến học tại viện Phật học Vũ xương, được gần gũi Đại sư Thái hư. Sau khi tốt nghiệp, sư lần lượt làm giáo sư ở viện Phật học Vũ xương, viện giáo lí Bách lâm, viện giáo lí Hán Tạng, 3 lần làm chủ biên tạp chí Hải Triều Âm, chủ trì thư viện Phật học uyển thế giới, trợ giúp Đại sư Thái hư 1 cách đắc lực trong việc thiết lập bộ Nghiên cứu của viện Phật học thế giới. Năm 1943, sư cùng với 2 vị Đạt cư và Bạch tuệ du học Ấn độ, theo học tại trường Đại học Vishwa Bharati (International University). Ba năm sau, sư sang Tích lan, theo học ngài Kirwatatuduwe, Prasekene người Tích lan. Sư là vị tăng tài kiệt xuất trong hàng xuất gia, thông thạo các thứ tiếng Anh, Nhật, Phạm,Pàli... Sau, sư xúc tiến việc thiết lập viện Tam tạng Pàli ở Tây an và việc trao đổi học tăng giữa Tích lan và Trung quốc. Năm Dân quốc 36 (1947), sau khi Đại sư Thái hư thị tịch, sư kế thừa trụ trì chùa Tuyết đậu. Năm Dân quốc 38 (1949), sư nhận chức trụ trì chùa Đại qui sơn ở Hồ nam, sau đó, đến Vũ xương xây tháp thờ xá lợi của Đại sư Thái hư, dự định mở rộng thêm viện Phật học Vũ xương. Nhưng, cục diện chính trị và xã hội thay đổi, chiến sự gia tăng cường độ, cảm thấy dự án của sư không thể thực hiện được, nên cuối cùng, sư quyết định trở sang Tích lan để nhận chức Giáo sư Đại học Tích lan, chủ giảng về môn Phật học Trung quốc. Khi có dịp, sư cũng đến Mã lai á, Tân gia ba và Thái lan giảng diễn Phật pháp. Ngoài ra, sư còn dành thời gian biên soạn và ấn hành bộ Thái Hư Đại Sư Toàn Thư. Năm Dân quốc 40 (1951), sư lâm bệnh và tịch tại Tích lan, hưởng dương 48 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Duy thức sử quan cập kì triết học, Nam truyền A tì đạt ma nhiếp nghĩa luận.

Pháp phọc

法縛; C: făfú; J: hōbaku; |Chấp trước vào pháp; chấp cứng vào văn tự kinh điển và không nhận ra được điểm chính trong Phật pháp. Đồng nghĩa với Pháp chấp (法執).

Pháp Phục

(法服): (1) Nghĩa là phục sức quy định trong lễ pháp thời cổ đại. Như trong Hiếu Kinh (孝經), Chương Khanh Đại Phu (卿大夫章) có câu: “Phi tiên vương chi Pháp Phục bất cảm phục (非先王之法服不敢服, chẳng phải là Pháp Phục của tiên vương thì chẳng dám mặc).” Hay trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 35 có đoạn rằng: “Nhân hữu đạo tục chi dị, tại gia tắc y hồ ngoại giáo, phục tiên vương chi Pháp Phục, thuận tiên vương chi pháp ngôn (人有道俗之異、在家則依乎外敎、服先王之法服、順先王之法言, người có đạo tục khác nhau, hàng tại gia tất phải nương vào giáo thuyết khác, mặc Pháp Phục của tiên vương, vâng theo lời dạy của tiên vương).” (2) Trong Phật Giáo, còn gọi là Pháp Y (法衣), Tăng Phục (僧服), Tăng Y (僧衣); tức là y phục của Tăng Ni thường dùng; chỉ cho y phục do đức Phật chế ra, như Như Pháp Y (如法衣), Ứng Pháp Y (應法衣). Y phục do đức Phật chế có Tam Y, Ngũ Y, v.v. Trường hợp Trung Quốc, Nhật Bản có khí hậu khác với Ấn Độ, nên phạm vi của Pháp Y rộng hơn, hình thức đa dạng hơn. Phàm những y phục nào của Tăng Ni dung mà không vi phạm giới luật, đều được gọi là Pháp Y. Tại Ấn Độ, quy định vị Tỳ Kheo có 3 y là Tăng Già Lê (s, p: saṅgāṭī, 僧伽梨), Uất Đa La Tăng (s, p: uttarāsaṅga, 鬱多羅僧) và An Đà Hội (s: antarvāsa, p: antaravāsaka, 安陀會). Riêng Tỳ Kheo Ni, trừ 3 y nêu trên, còn có thêm 2 y khác là Tăng Kỳ Chi (s: saṃkakṣikā, 僧衹支) và Quyết Tu La (s: kusūla, 厥修羅). Ba Y là tiếng gọi chung của âm dịch tiếng Sanskrit Chi Phạt La (s: cīvara, 支伐羅). Hơn nữa, do vì có nhuộm sắc màu nên gọi là Ca Sa (s: kaṣāya; p: kāsāya, 袈裟, ý dịch là hoại sắc); hoặc gọi là Phước Điền Y (福田衣), Hàng Tà Y (降邪衣), Tràng Tướng Y (幢相衣), Gian Sắc Y (間色衣), Tạp Trần Phục (雜塵服), Vô Cấu Y (無垢衣), Vô Tướng Y (無相衣), Thắng Tràng Y (勝幢衣), Vô Thượng Y (無上衣), Giải Thoát Phục (解脫服), Đạo Phục (道服), Xuất Thế Phục (出世服), A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề Y (阿耨多羅三藐三菩提衣), Từ Bi Phục (慈悲服), Nhẫn Nhục Khải (忍辱鎧), Nhẫn Khải Y (忍鎧衣), Công Đức Y (功德衣), Tiêu Sấu Y (消瘦衣), Liên Hoa Y (蓮華衣), Liên Hoa Phục (蓮華服), Điền Tướng Y (田相衣), v.v. Trong Ba Y, Tăng Già Lê còn gọi là Đại Y (大衣), Trọng Y (重衣), Tạp Toái Y (雜碎衣), Cao Thắng Y (高勝衣), Nhập Vương Cung Tụ Lạc Y (入王宮聚落衣), v.v. Uất Đa La Tăng có tên gọi khác là Thất Điều Ca Sa (七條袈裟), Thất Điều Y (七條衣), Thất Điều (七條), Thượng Y (上衣), Nhập Chúng Y (入衆衣), v.v.; được dùng khi lễ tụng, thính giảng, Bố Tát (s: upavasatha, p: uposatha, 布薩). An Đà Hội còn gọi là Ngũ Điều Y (五條衣), Nội Y (內衣), Trung Túc Y (中宿衣); là y mặc dùng vào lúc sinh hoạt hằng ngày, hay khi đi ngủ. Như trong Tuyển Tập Bách Duyên Kinh (撰集百緣經, Taishō Vol. 4, No. 200) quyển 7 có câu: “Phật tức cáo ngôn: 'Thiện lai Tỳ Kheo !' Tu phát tự lạc, Pháp Phục trước thân, tiện thành Sa Môn, tinh cần tu tập, đắc A La Hán quả, Tam Minh Lục Thông, cụ Bát Giải Thoát, chư thiên thế nhân, sở kiến kính ngưỡng (佛卽告言、善來比丘、鬚髮自落、法服著身、便成沙門、精懃修習、得阿羅漢果、三明六通、具八解脫、諸天世人、所見敬仰, Phật bèn nói rằng: 'Tỳ Kheo hãy khéo đến đây !' Râu tóc tự rơi rụng, Pháp Phục mang vào thân, bèn thành Sa Môn, siêng năng tu tập, chứng quả A La Hán, Ba Minh Sáu Thông, đầy đủ Tám Giải Thoát, Trời người trên đời, trông thấy kính ngưỡng).” Hay như trong Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Tripitaka Vol. 1, No. 1) quyển 17 lại có câu: “Bỉ ư hậu thời, thế trừ tu pháp, phục tam Pháp Y, xuất gia tu đạo, hành bình đẳng pháp (彼於後時、剃除鬚髮、服三法衣、出家修道、行平等法, vị ấy sau đó, cạo bỏ râu tóc, mặc ba Pháp Y, xuất gia tu đạo, hành pháp bình đẳng).” Trong Tục Đăng Chánh Thống (續燈正統, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1583) quyển 26 cũng có câu: “Triều đình tam khiển trọng thần giáng hương, tích hiệu Phật Huệ Viên Giám Phổ Tế Thiền Sư, tinh tứ Kim Lan Pháp Y (朝廷三遣重臣降香、錫號佛慧圓鑒普濟禪師、幷賜金襴法衣, triều đình ba lần cử sứ thần đến dâng hương, ban cho hiệu là Phật Huệ Viên Giám Phổ Tế Thiền Sư, và ban thưởng cho Pháp Y Kim Lan).” Trong Sa Di Ni Luật Nghi Yếu Lược (沙彌尼律儀要略, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1122), phần Sự Sư Đệ Tam (事師第三, Hầu Thầy Thứ Ba) lại có đoạn: “Tảo khởi thời, đương tiên thanh tịnh trước Pháp Y, lễ Phật pháp, khước lễ sư (早起時、當先清淨著法衣、禮佛法、卻禮師, khi dậy sớm, trước phải thanh tịnh mang Pháp Y vào, lạy Phật pháp, rồi lạy thầy).” ; (法服): có hai nghĩa chính:(1) Nghĩa là phục sức quy định trong lễ pháp thời cổ đại. Như trong Hiếu Kinh (孝經), Chương Khanh Đại Phu (卿大夫章) có câu: “Phi tiên vương chi Pháp Phục bất cảm phục (非先王之法服不敢服, chẳng phải là Pháp Phục của tiên vương thì chẳng dám mặc).” Hay trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 35 có đoạn rằng: “Nhân hữu đạo tục chi dị, tại gia tắc y hồ ngoại giáo, phục tiên vương chi Pháp Phục, thuận tiên vương chi pháp ngôn (人有道俗之異、在家則依乎外敎、服先王之法服、順先王之法言, người có đạo tục khác nhau, hàng tại gia tất phải nương vào giáo thuyết khác, mặc Pháp Phục của tiên vương, vâng theo lời dạy của tiên vương).” (2) Trong Phật Giáo, còn gọi là Pháp Y (法衣), Tăng Phục (僧服), Tăng Y (僧衣); tức là y phục của Tăng Ni thường dùng; chỉ cho y phục do đức Phật chế ra, như Như Pháp Y (如法衣), Ứng Pháp Y (應法衣). Y phục do đức Phật chế có Tam Y, Ngũ Y, v.v. Trường hợp Trung Quốc, Nhật Bản có khí hậu khác với Ấn Độ, nên phạm vi của Pháp Y rộng hơn, hình thức đa dạng hơn. Phàm những y phục nào của Tăng Ni dùng mà không vi phạm giới luật, đều được gọi là Pháp Y. Tại Ấn Độ, quy định vị Tỳ Kheo có 3 y là Tăng Già Lê (s, p: saṅgāṭī, 僧伽梨), Uất Đa La Tăng (s, p: uttarāsaṅga, 鬱多羅僧) và An Đà Hội (s: antarvāsa, p: antaravāsaka, 安陀會). Riêng Tỳ Kheo Ni, trừ 3 y nêu trên, còn có thêm 2 y khác là Tăng Kỳ Chi (s: saṃkakṣikā, 僧衹支) và Quyết Tu La (s: kusūla, 厥修羅). Ba Y là tiếng gọi chung của âm dịch tiếng Sanskrit Chi Phạt La (s: cīvara, 支伐羅). Hơn nữa, do vì có nhuộm sắc màu nên gọi là Ca Sa (s: kaṣāya; p: kāsāya, 袈裟, ý dịch là hoại sắc); hoặc gọi là Phước Điền Y (福田衣), Hàng Tà Y (降邪衣), Tràng Tướng Y (幢相衣), Gian Sắc Y (間色衣), Tạp Trần Phục (雜塵服), Vô Cấu Y (無垢衣), Vô Tướng Y (無相衣), Thắng Tràng Y (勝幢衣), Vô Thượng Y (無上衣), Giải Thoát Phục (解脫服), Đạo Phục (道服), Xuất Thế Phục (出世服), A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề Y (阿耨多羅三藐三菩提衣), Từ Bi Phục (慈悲服), Nhẫn Nhục Khải (忍辱鎧), Nhẫn Khải Y (忍鎧衣), Công Đức Y (功德衣), Tiêu Sấu Y (消瘦衣), Liên Hoa Y (蓮華衣), Liên Hoa Phục (蓮華服), Điền Tướng Y (田相衣), v.v. Trong Ba Y, Tăng Già Lê còn gọi là Đại Y (大衣), Trọng Y (重衣), Tạp Toái Y (雜碎衣), Cao Thắng Y (高勝衣), Nhập Vương Cung Tụ Lạc Y (入王宮聚落衣), v.v. Uất Đa La Tăng có tên gọi khác là Thất Điều Ca Sa (七條袈裟), Thất Điều Y (七條衣), Thất Điều (七條), Thượng Y (上衣), Nhập Chúng Y (入衆衣), v.v.; được dùng khi lễ tụng, thính giảng, Bố Tát (s: upavasatha, p: uposatha, 布薩). An Đà Hội còn gọi là Ngũ Điều Y (五條衣), Nội Y (內衣), Trung Túc Y (中宿衣); là y mặc dùng vào lúc sinh hoạt hằng ngày, hay khi đi ngủ. Như trong Tuyển Tập Bách Duyên Kinh (撰集百緣經, Taishō Vol. 4, No. 200) quyển 7 có câu: “Phật tức cáo ngôn: 'Thiện lai Tỳ Kheo !' Tu phát tự lạc, Pháp Phục trước thân, tiện thành Sa Môn, tinh cần tu tập, đắc A La Hán quả, Tam Minh Lục Thông, cụ Bát Giải Thoát, chư thiên thế nhân, sở kiến kính ngưỡng (佛卽告言、善來比丘、鬚髮自落、法服著身、便成沙門、精懃修習、得阿羅漢果、三明六通、具八解脫、諸天世人、所見敬仰, Phật bèn nói rằng: 'Tỳ Kheo hãy khéo đến đây !' Râu tóc tự rơi rụng, Pháp Phục mang vào thân, bèn thành Sa Môn, siêng năng tu tập, chứng quả A La Hán, Ba Minh Sáu Thông, đầy đủ Tám Giải Thoát, Trời người trên đời, trông thấy kính ngưỡng).” Hay như trong Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Tripitaka Vol. 1, No. 1) quyển 17 lại có câu: “Bỉ ư hậu thời, thế trừ tu pháp, phục tam Pháp Y, xuất gia tu đạo, hành bình đẳng pháp (彼於後時、剃除鬚髮、服三法衣、出家修道、行平等法, vị ấy sau đó, cạo bỏ râu tóc, mặc ba Pháp Y, xuất gia tu đạo, hành pháp bình đẳng).” Trong Tục Đăng Chánh Thống (續燈正統, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1583) quyển 26 cũng có câu: “Triều đình tam khiển trọng thần giáng hương, tích hiệu Phật Huệ Viên Giám Phổ Tế Thiền Sư, tinh tứ Kim Lan Pháp Y (朝廷三遣重臣降香、錫號佛慧圓鑒普濟禪師、幷賜金襴法衣, triều đình ba lần cử sứ thần đến dâng hương, ban cho hiệu là Phật Huệ Viên Giám Phổ Tế Thiền Sư, và ban thưởng cho Pháp Y Kim Lan).” Trong Sa Di Ni Luật Nghi Yếu Lược (沙彌尼律儀要略, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1122), phần Sự Sư Đệ Tam (事師第三, Hầu Thầy Thứ Ba) lại có đoạn: “Tảo khởi thời, đương tiên thanh tịnh trước Pháp Y, lễ Phật pháp, khước lễ sư (早起時、當先清淨著法衣、禮佛法、卻禮師, khi dậy sớm, trước phải thanh tịnh mang Pháp Y vào, lạy Phật pháp, rồi lạy thầy).”

Pháp phục

法服; C: făfú; J: hōfuku; |Y phục của tăng ni.

pháp phục

y phục của người xuất gia, vì người xuất gia mặc y phục đúng theo lời Phật dạy nên gọi là pháp phục. ; Kasaya (skt)—Pháp Y hay áo cà sa của Tăng Ni—Dharma garment, the robe—The religious dress, general name of monastic garments.

pháp quang định

Đèn chân lý—Bồ Tát sơ địa chứng đắc phép nầy thì có thể phóng ra tuệ quang (pháp quang định)—Samadhi the light of Truth, that of the bodhisattva in the first stage.

pháp quyến

(法眷) Cũng gọi Đồng môn, Đồng tham, Pháp thuộc, Pháp thân, Pháp duyên, Đạo hữu, Đạo cựu. Chỉ chung cho những người cùng tu hành đạo Phật, chủ yếu chỉ cho huynh đệ, đệ tử cùng theo 1 thầy, cùng trong 1 tông phái hoặc cùng học 1 pháp môn. Cứ theo Truyền pháp đường bi trong Bạch thị trường khánh tập quyển 41 ghi, có người từng hỏi Thiền sư Duy khoan (755- 817) ở chùa Hưng thiền về sự quan hệ đạo thuộc. Ngài Duy khoan nói rằng: Từ Tứ tổ Đạo tín trở về sau, Chính pháp tuy có các đời truyền nối, nhưng vẫn có gia phong và chi phái khác nhau, giống như ngành trên, ngành dưới ở thế gian. Còn về mối quan hệ pháp quyến giữa các gia phong, chi phái thì cũng giống như quan hệ chú bác, anh em của thế tục. Từ đầu đời Đường trở đi, giữa các phái có sự tranh chấp về dòng chính, dòng phụ. Trong các tông môn, Thiền tông đặc biệt coi trọng mối quan hệ tương thừa giữa thầy và trò. Trong pháp quyến, những vị có tuổi tác, thành tích, chức vị cao, gọi là Thượng pháp quyến, còn những vị chỉ lớn hơn về tuổi tác thì gọi là Pháp huynh. Ngoài ra, khi có vị nhận lệnh trụ trì 1 chùa viện, hàng huynh đệ pháp quyến của vị Tân trụ trì làm 1 lá sớ chúc mừng chùa viện ấy, gọi là Pháp quyến sớ. Còn những dịp như ngày đầu năm mới, kết hạ, giải hạ... pháp quyến của vị Trụ trì đến lễ vị Trụ trì thì gọi là Pháp quyến nhân sự. [X. điều Tôn túc thiên hóa trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.3; Thiền uyển thanh qui Q.6; môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên; môn Văn sớ trong Thiền lâm tượng khí tiên].

Pháp quán kinh

法觀經; C: făguānjīng; J: hōkankyō; |Trúc Pháp Hộ (竺法護) dịch.

pháp quán Sáu hạnh

(Lục hạnh quán): pháp quán của trí hữu lậu dùng để đoạn trừ mê lầm. Theo phép quán này, Ba cõi có chín phần (cửu địa), được phân thành Hạ địa và Thượng địa. Hành giả quán những phần thuộc về Hạ địa là thô xấu, khổ não, chướng ngại nên sanh lòng chán lìa (yếm); quán những phần thuộc về Thượng địa là an tĩnh, mầu nhiệm, xa lìa, từ đó sanh lòng vui thích, ham muốn (hân). Do năng lực của sự chán lìa và vui thích được khởi lên trong phép quán này mà lần lượt dứt trừ được các mối mê lầm thuộc về Hạ địa. Vì thế cũng gọi phép quán này là yếm hân quán (厭欣觀).

pháp quả

(法果) Cao tăng Trung quốc, sống vào thời Bắc Ngụy, người Triệu quận (huyện Triệu, tỉnh Hà bắc). Năm 40 tuổi sư mới xuất gia. Sư giữ giới hạnh rất tinh nghiêm, siêng giảng diễn kinh điển. Trong năm Hoàng thủy (396- 397), vua Thái tổ nhà Bắc Ngụy triệu thỉnh sư về kinh đô, sắc giữ chức Đạo nhân thống, lãnh đạo chúng tăng. Sư thường được bàn quốc sự vớivua, Thái tổ rất tâm đầu hợp ý và càng kính trọng sư. Đến vua Thái tông, lần lượt ban cho sư các tước hiệu Phụ Quốc Nghi Thành Tử, Trung Tín Hầu, An Thành Công, sư đều cố từ không nhận. Sư không những có công đóng góp vào việc hưng thịnh của Phật giáo ở thời Bắc Ngụy, mà còn có công cố vấn trong các kế hoạch phát triển đất nước, mang lại an lạc cho nhân dân của triều đình. Trong năm Thái thường (416-423), sư thị tịch, thọ hơn 80 tuổi. Hoàng đế đến viếng 3 lần và truy tặng thụy hiệu Lão Thọ Tướng Quân Triệu Hồ Linh Công. [X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.7; thiên Bắc Ngụy trong Chi na Phật giáo sử nghiên cứu].

pháp sa

Kashgar (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Tự Điển, Kashgar từng là một vương quốc cổ ở trung Á—According to The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms composed by Professor Soothill, Kashgar was an ancient Buddhistic kingdom in Central Asia.

pháp sai biệt tướng vi quá

(法差別相違過) Cũng gọi Pháp sai biệt tương vi nhân (Phạm: Dharma-vizewa-viruddha-hetu). Tiếng dùng trong Nhân minh. Là lỗi trái với ý nghĩa của danh từ sau (hậu trần), 1 trong 14 lỗi thuộc về Nhân, 1 trong 33 lỗi của Nhân minh. Pháp chỉ cho hậu trần(danh từ sau)của Tông(mệnh đề), Sai biệt chỉ cho tân từ(hậu trần) của Tông; đối lại với tiền trần(danh từ trước), tự tính của Tông mà đặc biệt gọi hậu trần là sai biệt. Trong Nhân minh, về trường hợp này, nếu đem ý ngầm của mình mà trình bày 1 cách công khai trên luận thức thì sợ bị lỗi, cho nên người lập luận mới dùng những chữ mập mờ gián tiếp để bày tỏ, hòng lừa được đối phương (người địch luận), nhưng cuối cùng lại tự chuốc lấy lỗi về mình. Chẳng hạn như phái Số luận đối với đệ tử Phật lập luận: Tông: Mắt là bị một cái khác dùng. Nhân: Vì có tính cách chứa chất mà thành. Dụ: Ví như đồ nằm. Vì học phái Số luận thừa nhận bản ngã là 1 thực tại có thật, nhưng đệ tử Phật thì chủ trương Vô ngã, không thừa nhận bản ngã. Cho nên trong luận thức trên, người lập luận không dám dùng từ bản ngã 1 cách trực tiếp, sợ mắc lỗi, mà dùng một cái khác để thay thế. Mục đích của người lập luận ở đây là thành lập 1 bản ngã, nên cố ý dùng những chữ mập mờ, mong phù hợp với ba tướng của Nhân, nhưng chính vì sự mập mờ ấy trong hậu trần của Tông mà trái với 2 tướng sau của Nhân, cho nên gọi là lỗi Pháp sai biệttương vi. [X.Nhân minh nhập chính lí luận; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.hạ; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa đoán; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.6; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)]. (xt. Tứ Tương Vi, Nhân Minh).

pháp siêu

(法超) (456-526) Cao tăng Trung quốc, sống vào thời Nam triều, người Vô tích, Tấn lăng (thuộc tỉnh Giang tô), họ Mạnh. Năm 11 tuổi, sư theo ngài Tăng hộ xuất gia ở chùa Linh căn, sau sư theo ngài Trí xứng ở chùa An lạc chuyên học luật Thập tụng. Sau khi ngài Trí xứng thị tịch, sư vâng sắc chỉ giữ chức Đô ấp Tăng chính. Năm Phổ thông thứ 6 (525), vua Lương vũ đế thỉnh sư tuyên giảng về Luật ở điện Bình đẳng, vua thân hành đến thụ học. Năm Phổ thông thứ 7 (526), sư thị tịch, thọ 71 tuổi. Vua Vũ đế ban sắc an táng sư ở chùa Khai thiện tại núi Chung sơn. Sư có tác phẩm: Xuất yếu luật nghi 14 quyển.

pháp sơn

Núi chân lý Phật Pháp—Buddha-truth mountain, i.e. the exalted dharma.

Pháp sư

法師; C: făshī; J: hōshi, hosshi; |1. Thầy truyền dạy giáo pháp; vị tăng hay ni hành xử như một người dẫn đạo cho chúng sinh (s: dharma-kathika; t: chos smra ba); 2. Theo Thập địa kinh (十地經) thì Pháp sư là người chuyên chỉ dạy về Bồ Tát thập địa. Kinh Pháp Hoa có giới thiệu 5 loại Pháp sư; 3. Người thông đạt xuất sắc giáo lí Phật pháp; 4. Chỉ một vị tăng hay ni.

pháp sư

Nam nữ tu sĩ xuất gia đã thông đạt Phật pháp, mà hay đem tinh nghĩa của Phật pháp, dùng ngôn ngữ văn tự, phương tiện để giảng dạy cho người khác nghe, gọi là Pháp sư. ; Dharma-bhanaka (skt)—Expounder of the Law. 1) Bậc tu hành tinh thông Phật pháp, xứng đáng làm thầy của người khác—A Buddhist teacher—Master of the Law—Teacher of the Law—Dharma teacher (master). 2) Nhà sư chuyên giảng pháp—Có năm loại: A Buddhist monk who preaches the Buddha-truth. There are five different kinds: i) Thụ Trì Pháp Sư: A custodian of the sutras. ii) Đọc Kinh Pháp Sư: Reader. iii) Tụng Kinh Pháp Sư: Intoner. iv) Giải Thuyết Pháp Sư: Expounder. v) Thư Tả Pháp Sư: Copier. ; (法師) Phạm: Dharma-bhàịaka. Pàli: Dhamma-kathika. Cũng gọi Thuyết pháp sư, Đại pháp sư. Chỉ cho những người thông hiểu Phật pháp và có khả năng dắt dẫn chúng sinh tu hành. Nói theo nghĩa rộng thì Pháp sư là chỉ chung cho đức Phật và các vị đệ tử của Ngài, còn nói theo nghĩa hẹp thì danh từ Pháp sư chuyên chỉ cho các bậc tu hành thông hiểu kinh hoặc luật, gọi là Kinh sư hoặc Luật sư. Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 18 (bản Bắc), Phật, Bồ tát và các vị Đại đệ tử của Phật đều biết pháp sâu xa vi diệu, lại biết rõ cả căn cơ lợi độn của chúng sinh mà tùy nghi thuyết giảng cho họ nghe, nên gọi là Đại pháp sư. Liên quan đến vấn đề tư cách của Pháp sư thì, theo luận Du già sư địa quyển 81, luận Thập trụ tì bà sa quyển 7 và Hoa nghiêm kinh sớ quyển 43 của ngài Trừng quán, Pháp sư phải có những điều kiện sau đây: 1. Có đủ 10 đức: Thông hiểu pháp nghĩa, có khả năng diễn thuyết, ở trong chúng không e sợ, tài hùng biện thao thao, có phương tiện khéo léo, tu hành đúng như pháp, đầy đủ uy nghi, dũng mãnh tinh tiến, thân tâm không mỏi mệt, thành tựu sức nhịn nhục. 2. Thực hành 4 pháp: a) Học rộng nghe nhiều, có tài văn chương. b) Biết rõ tướng sinh diệt của các pháp thế gian, xuất thế gian. c) Được thiền định, trí tuệ; trong các loại kinh pháp, có thể tùy thuận. d) Lời nói và việc làm phải ăn khớp với nhau. Phẩm Pháp sư trong kinh Pháp hoa quyển 4 và phẩm Pháp sư công đức quyển 6, căn cứ vào khả năng chuyên môn và lĩnh vực hoằng pháp khác nhau mà chia Pháp sư làm 5 loại: Thụ trì, đọc kinh, tụng kinh, giảng diễn và biên chép. Ngoài ra, ở Trung quốc, các bậc đạo cao đức trọng, học vấn uyên thâm như các ngài Đạo an, Tuệ viễn... được gọi là Pháp sư. Nhưng, đối với các nhà phiên dịch kinh, luật, luận có những cống hiến lớn lao, vượt trội như các ngài Cưu ma la thập, Huyền trang... thì phần nhiều được gọi là Tam tạng pháp sư để phân biệt với cách xưng hô Thiền sư, Luật sư v.v... [X. kinh Tạp a hàm Q.1, 12; kinh Phạm võng Q.hạ; luật Ngũ phần Q.3; Thập địa kinh luận Q.11; luận Thuận chính lí Q.44; Pháp hoa văn cú Q.8, phần đầu; Thích thị yếu lãm Q.thượng]. (xt. Ngũ Chủng Pháp Sư).

pháp sư thập đức

(法師十德) Mười đức của vị Pháp sư. Cứ theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 43 của ngài Trừng quán thì 10 đức của vị Pháp sư là:1. Thiện tri pháp nghĩa: Thông hiểu nghĩa của các pháp. Tức là Bồ tát dùng trí vô ngại, biết rõ yếu nghĩa của tất cả các pháp. 2. Năng quảng tuyên thuyết: Có khả năng thuyết giảng 1 cách rộng rãi. Tức là Bồ tát dùng trí tuệ biện tài, tuyên thuyết diệu pháp của đức Như lai cho chúng sinh nghe 1 cách rộng khắp. 3. Xử chúng vô úy: Đứng trước đại chúng không sợ hãi. Tức là Bồ tát ở giữa đại chúng khéo nói các pháp yếu, có khả năng giải đáp mọi vấn nạn, không hề sợ hãi.4. Vô đoạn biện tài: Tài biện luận thao thao. Tức Bồ tát có biện tài vô ngại, diễn nói tất cả các pháp, trải vô lượng kiếp, như dòng nước chảy, không gián đoạn. 5. Xảo phương tiện thuyết: Diễn nói khéo léo. Tức Bồ tát có phương pháp thích hợp, tùy theo các loại trình độ, giảng giải tất cả pháp, làm cho mọi người đều thông hiểu. 6. Pháp tùy pháp hành: Tu hành đúng như pháp. Tức Bồ tát nói pháp, khiến tất cả chúng sinh làm theo đúng như pháp, tùy thuận tu các hạnh thù thắng. 7. Uy nghi cụ túc: Đầy đủ uy nghi. Tức trong 4 uy nghi đi, đứng, ngồi, nằm, Bồ tát đều cẩn trọng giữ gìn, không thiếu sót, trái phạm, khiến mọi người kính ngưỡng. 8. Dũng mãnh tinh tiến: Mạnh mẽ tiến lên. Tức Bồ tát phát tâm mạnh mẽ, tiến tu tất cả thiện pháp, dắt dẫn chúng sinh cùng tiến, không lui sụt. 9. Thân tâm vô quyện: Thân tâm không mỏi mệt. Tức thân tâm Bồ tát nghiêm trang, tu các hạnh thù thắng, thường khởi từ tâm tiếp dắt chúng sinh, không hề biếng nhác mỏi mệt. 10. Thành tựu nhẫn lực: Tức Bồ tát nhờ sức tu tập tất cả hạnh nhịn nhục mà thành tựu Vô sinh pháp nhẫn. (xt. Pháp Sư).

pháp số

Phạm trù hay số của các pháp môn như tam giới, ngũ uẩn, ngũ vị, tứ đế, lục đạo, mười hai nhân duyên, ba mươi bảy phẩm trợ đạo, vân vân—The categories of Buddhism such as the three realms, five skandhas, five regions, four dogmas, six paths, twelve nidanas, and thirty-seven Aids to Enlightenment, etc. ; (法數) Cũng gọi Danh số, Sự số. Chỉ cho những danh từ trong Phật giáo có chữ chỉ số đứng trước. Như: Tam giới (3 cõi), Tứ đế(4 đế), Ngũ uẩn(5 uẩn), Lục độ (6 độ), Bát chính đạo(8 chính đạo), Thập nhị nhân duyên (12 nhân duyên), Ngũ vị thất thập ngũ pháp (5 vị 75 pháp) v.v... Thông thường các số này được ghi theo hình thức tăng 1 số từ 1 theo thứ tự đến 2, 3, 4 v.v... Kinh Tạp a hàm, kinh Bản sự... lấy pháp số làm trung tâm để giải thích các kinh nói về pháp số. Kinh Pháp tập danh số cũng là kinh điển liệt kê pháp số. Lí sư chính đời Đường biên soạn Pháp môn danh nghĩa tập, Nhất như đời Minh biên soạn Đại minh tam tạng pháp số... đều là các trứ tác sưu tập các pháp số. Ngoài ra, các sách đồng loại còn có: Đại tạng pháp số, Tạng thừa pháp số, Chư thừa pháp số... lưu hành rất rộng.

pháp sự

Phật Sự—Dharma work—Religious affairs. ; (法事) Cũng gọi Pháp yếu, Phật sự. Chỉ cho các việc làm có liên quan đến Phật pháp như tụng kinh, giảng kinh, trai hội... hoặc chỉ cho sự tu hành. Pháp trụ kí (Đại 49, 14 thượng) nói: Nay ở trong Chính pháp của đức Phật Thích ca mâu ni làm các pháp sự, để gieo trồng mầm lành. [X. kinh Lăng nghiêm Q.1]. (xt. Pháp Hội).

pháp sự tán

(法事贊) Cũng gọi Tịnh độ pháp sự tán. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Thiện đạo soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này nói về cách thức đọc tụng kinh A di đà, là hình thức sám hối, cúng dường theo lối văn kinh có xen lẫn văn tán, phần nhiều được sử dụng trong tông Tịnh độ mỗi khi có pháp sự. -Quyển thượng: Trước hết, nêu kệ phụng thỉnh, khải bạch, triệu thỉnh, tam lễ, biểu bạch, tán văn...; kế đến, nói về thứ tự hành lễ như: Hành đạo tán Phạm kệ, tán văn, thất chu hành đạo(đi nhiễu 7 vòng), phi tâm sám hối(dãi bày sám hối), phát nguyện v.v... -Quyển hạ: Chia toàn văn kinh A di đà làm 17 đoạn, mỗi đoạn đều có văn tán, đồng thời nói về các nghi thức: Sám hối 10 điều ác, hậu tán, nhiễu 7 vòng, tán Phật chú nguyện, 7 lễ kính và tùy ý... Sách này dựa theo pháp Bát chu tam muội để nói rõ pháp tắc tụng kinh hành đạo. Trong sách cũng viện dẫn tướng địa ngục nói trong các kinh Hiền ngu, kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ), kinh Địa ngục, kinh Quán Phật tam muội...

pháp thanh tịnh

Dharmaviraja (skt)—Chân lý thanh tịnh—Truth immaculate.

Pháp Thiên

法天; S: dharmadeva;|Tên một vị tăng Ấn Ðộ đến Việt Nam rất sớm trong thế kỉ thứ 5. Tương truyền rằng Sư cùng Bồ-đề Ðạt-ma, Sơ tổ Thiền Trung Quốc đến Việt Nam (Giao Chỉ) trước rồi sau đó Bồ-đề Ðạt-ma mới đi Trung Quốc. Pháp Thiên đã giảng dạy về các phương pháp Thiền quán cho người Việt Nam. Học trò có tiếng của Sư là Huệ Thắng.

pháp thiên

Dharmadeva (skt)—Một vị Tăng tại tu viện Na Lan Đà, dưới tên Pháp Thiên ngài đã dịch 46 tác phẩm từ năm 973 đến năm 981, và dưới tên Pháp Hiền ngài đã dịch 72 tác phẩm từ năm 982 đến năm 1001—A monk from Nalanda-samgharama who translated forty-six works under this name from 973 to 981, and under the name of Dharmabhadra seventy-two works from 982-1001. ; (法天) (?-1001) Cao tăng, người nước Ma yết đà thuộc Trung Ấn độ. Sư vốn ở chùa Na lan đà. Vào năm Khai bảo thứ 6 (973), sư đến Trung quốc. Lúc đầu, sư ở Bồ tân, Lộc châu, dịch kinh Thánh vô lượng thọ, Thất Phật tán... do sa môn Pháp tiến ở phủ Hà trung nhuận văn.Năm Thái bình hưng quốc thứ 5 (980) đời vua Thái tông, do quan châu phủ dâng biểu tiến cử, vua rất mừng liền triệu sư vào kinh đô ban cho áo đỏ, đồng thời, vua ban sắc xây dựng viện Dịch kinh. Hai năm sau (982), sư cùng các vị Thiên tức tai, Thí hộ... được vua triệu vào ở trong viện Dịch kinh. Tại đây, các vị ấy cùng dịch các bản kinh tiếng Phạm do mình mang đến. Đến tháng 7 năm ấy sư dịch xong bộ kinh Đại thừa thánh cát tường trì thế đà la ni, được vua ban hiệu Truyền Giáo Đại Sư. Năm Hàm bình thư 4 (1001), sư thị tịch, vua ban thụy hiệu Huyền Giác Đại Sư. Các dịch phẩm của sư gồm 46 bộ, 71 quyển. Ngoài ra, Phật tổ thống kỉ quyển 33 cho rằng sư và ngài Pháp hiền –vị tăng dịch kinh cùng thời đại– chỉ là 1 người. [X. Tống cao tăng truyện Q.3; Đại trung tường phù pháp bảo lục Q.3-12].

pháp thoại

(法話) Chỉ chung cho những lời nói, bàn luận có liên quan đến Phật giáo. Pháp thoại thường kể những câu chuyện cổ, dẫn chứng nhiều thí dụ làm cho mọi người vui, sau đó mới chỉ dạy giáo lí, khiến họ cảm nhận được niềm pháp lạc mà phát tâm bồ đề. [X. phẩm Tứ thiên vương trong kinh Kim quang minh Q.6; phẩm Quỉ thần trong kinh Kim quang minh Q.13].

pháp thuyền

Pháp Châu—Thuyền Bát Nhã (thuyền Phật pháp) đưa con người từ biển sanh tử luân hồi sang bờ giác ngộ Niết bàn—The barque of Buddha-truth which ferries men out from the sea of mortality and reincarnation to enlightenment and nirvana. ; (法船) I. Pháp Thuyền. Thuyền pháp. Phật pháp có năng lực cứu vớt chúng sinh đang chìm đắm trong biển sinh tử để đưa đến bờ Niết bàn giải thoát, giống như con thuyền có khả năng đưa người qua sông, vì thế ví dụ Phật pháp như chiếc thuyền, nên gọi là Pháp thuyền. Kinh Tâm địa quán quyển 1 (Đại 3, 295 thượng) nói: Đức Phật luôn là chiếc thuyền diệu pháp, có năng lực cắt đứt dòng ái dục mà vượt lên bờ giải thoát. II. Pháp Thuyền. Chỉ cho những cái thuyền làm bằng giấy mà các chùa dùng để đốt vào dịp lễ Vu lan, rằm tháng 7, nhằm tế độ vong linh của những người vô duyên, cầu cho họ được siêu thoát. Yên kinh tuế thời kỉ pháp thuyền nói: Trong ngày Trung nguyên, các chùa viện đều làm Pháp thuyền, có cái dài tới vài trượng, đem đốt vào buổi chiều.

Pháp Thuận

法順; 914-990|Thiền sư Việt Nam thuộc đời thứ 10 của dòng thiền Tì-ni-đa Lưu-chi.|Sư họ Ðỗ, xuất gia thụ giới từ nhỏ với Thiền sư Long Thụ. Trong thời nhà Tiền Lê mới dựng cơ nghiệp, Sư hay được vua Lê Ðại Hành mời vào triều luận bàn chính sự. Về sau Sư rút lui không nhận phong thưởng, vua Lê rất kính trọng, thường gọi là Ðỗ Pháp sư.|Năm 986 nhà Tống sai sứ là Lí Giác sang phong tước hiệu cho Lê Ðại Hành, vua sai Sư giả làm lái đò đón sứ. Trên sông, thấy hai con ngỗng bơi, Lí Giác ngâm:|鵝鵝兩鵝鵝。仰面向天涯|Nga nga lưỡng nga nga,|Ngưỡng diện hướng thiên nhai.|*Song song ngỗng một đôi,|Ngửa mặt ngó ven trời.|Sư liền ngâm tiếp (bản dịch của Thích Mật Thể):|白毛鋪綠水。紅掉擺青波|Bạch mao phô lục thuỷ|Hồng trạo bãi thanh ba.|*Lông trắng phơi dòng biếc,|Sóng xanh chân hồng bơi.|Ngày nọ vua Lê Ðại Hành hỏi vận nước thế nào, Sư đáp (bản dịch của Thích Thanh Từ):|國祚如藤絡。南天裏太平|無爲居殿閣。處處息刀兵|Quốc tộ như đằng lạc, nam thiên lí thái bình|Vô vi cư điện các, xứ xứ tức đao binh.|*Vận nước như dây cuốn,|Trời Nam sống thái bình|Rảnh rang trên điện các|Chốn chốn dứt đao binh.|Niên hiệu Hưng Thống thứ hai (990), Sư không bệnh, an nhiên tịch, thọ 76 tuổi. Tác phẩm quan trọng nhất của Sư là Bồ Tát hiệu sám hối văn. ; 法順|Ðế Tâm Ðỗ Thuận

pháp thuận

Thiền sư Pháp Thuận (914-990)—Zen Master Pháp Thuận (914-990)—Thiền sư Việt Nam, sanh năm 914 tại Bắc Việt. Sư xuất gia từ thuở còn rất nhỏ, sau thọ giới với Thiền sư Long Thọ Phù Trì và sau đó trở thành Pháp tử, đời thứ mười của dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Vua Lê thường mời sư vào triều bàn việc chánh trị và ngoại giao và xem sư như là Quốc Sư. Sư thị tịch năm 990, thọ 76 tuổi—Zen master Pháp Thuận, a Vietnamese Zen master, born in 914 in North Vietnam. He left home since he was very young. Later he received precepts from Zen Master Long Thọ Phù Trì and became the Dharma heir of the tenth lineage of the Vinitaruci Sect. He was always invited to the Royal Palace by King Lê to discuss the national political and foreign affairs. King Lê always considered him as the National Teacher. He passed away in 990 A.D. at the age of 76. ; (法順) (557-640) Cao tăng Trung quốc, Sơ tổ tông Hoa nghiêm, sống vào đời Đường, người Đôn hoàng (có thuyết cho là người Vạn niên, Ung châu, nay là Trường an, tỉnh Thiểm tây), họ Đỗ, cho nên người đời gọi là Đỗ thuận, cũng gọi Đế tâm tôn giả, Đôn hoàng bồ tát. Lúc nhỏ, sư thờ ngài Tăng trân ở chùa Nhân thánh làm thầy, tính tình thuần hậu, thông minh tuyệt vời, đặc biệt đối với giáo học Hoa nghiêm, sư đã đạt đến chỗ cao siêu vi diệu, vì thế sư được tôn xưng là Hoa Nghiêm Hòa Thượng. Ban đầu, sư giáo hóa ở vùng Lưỡng hà, nơi có rất nhiều linh tích. Cuối đời, sư trở về chùa Nhân thánh. Thời Thái tông, vua thường thỉnh sư vào cung để hỏi về giáo lí sâu xa. Hoàng gia và các triều thần đều rất cung kính sư. Năm Trinh quán 14 (640), sư thị tịch, thọ 84 tuổi. Sư có các tác phẩm: Hoa nghiêm pháp giới quán môn, Thập môn thực tướng quán, Hội chư tông biệt kiến tụng. [X. Tục cao tăng truyện Q.25; Hoa nghiêm kinh truyện kí Q.3, 4; Chung nam sơn Đỗ thuận thiền sư duyên khởi; Phật tổ thống kỉ Q.29, 39, 53; Pháp giới tông ngũ tổ lược kí].

pháp thành

Phật pháp là kinh thành ngăn giữ không cho tà ngụy xâm nhập; kinh điển là thành trì bảo hộ chân lý—Dharma as a citadel against the false; the secure nirvana abode—The sutras as the guardian of truth. ; (法成) Chính pháp có thể chặn đứng tà pháp, giống như thành trì có năng lực ngăn ngừa giặc ngoại xâm, cho nên gọi là Pháp thành. Do đó, tất cả kinh pháp cũng gọi là Pháp thành, vì kinh pháp có khả năng giữ gìn chính pháp. Lại nữa, diệu quả Niết bàn là nơi yên thân, nên cũng gọi là Pháp thành. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 366 thượng) nói: Giữ vững pháp thành, mở rộng pháp môn, rửa sạch ô uế, trong sáng thanh tịnh, Phật pháp rực rỡ, lưu bố chính pháp, hóa độ chúng sinh. [X. phẩm Phật quốc kinh Duy ma; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ (Tuệ viễn)].

pháp thành tựu

Siddhi (skt)—Sự thành tựu của giáo pháp là không thể nghĩ bàn—The success of the law is unconceivable.

pháp thái

(法泰) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Lương, Trần thuộc Nam triều, trụ ở chùa Định lâm tại Kiến khang (nay là Nam kinh, Giang tô), nổi tiếng ở đời Lương. Đến đời Trần, sư cùng với các vị Tuệ khải... đến chùa Chế chỉ ở Quảng châu tham gia công việc dịch kinh của ngài Chân đế với nhiệm vụ ghi chép và trình bày văn nghĩa, tất cả hơn 50 bộ kinh luận. Ngoài ra sư còn dịch chung với ngài Chân đế bộ Luật nhị thập nhị minh liễu luận (gọi tắt: Minh liễu luận) và Sớ 5 quyển. Năm Thái kiến thứ 3 (571) đời Trần, sư trở về Kiến khang giảng dạy luận Nhiếp đại thừa và luận Câu xá. Sau, sư lại lên miền Bắc để hoằng truyền học thuyết Nhiếp luận. [X. Tục cao tăng truyện Q.1].

Pháp Thân

(s: dharma-kāya, 法身): tên gọi một trong 3 thân của Phật, gồm Pháp Thân, Báo Thân (報身) và Ứng Thân (應身). Với ý nghĩa là thân thể của chân lý (pháp), Pháp Thân là đương thể chân lý vĩnh viễn bất biến, là đức Phật lý tánh không sắc không hình, đem lại ý nghĩa mang tính nhân cách cho lý thể của chân như, còn được gọi là Pháp Thân Phật, Pháp Tánh Thân, Tự Tánh Thân, Như Như Phật, Như Như Thân, Đệ Nhất Thân, v.v. Đây là nhân cách hóa Phật tánh, tượng trưng cho Phật pháp tuyệt đối, chân lý không nơi đâu mà không hiện hữu, bao hàm khắp tất cả mọi nơi. Đức Phật là đấng giác ngộ, nên Pháp Thân là Giác Tánh (覺性, tánh giác ngộ), Báo Thân là Giác Tướng (覺相, tướng giác ngộ) và Ứng Thân là Giác Dụng (覺用, sự diệu dụng của giác ngộ). Hơn nữa, Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) có lập ra Tam Pháp Thân (三法身, ba loại Pháp Thân), gồm Pháp Hóa Sanh Thân (法化生身), Ngũ Phần Pháp Thân (五分法身) và Thật Tướng Pháp Thân (實相法身). Pháp Hóa Sanh Thân là hóa thân Phật do pháp tánh hóa hiện; Ngũ Phần Pháp Thân là thân thể có 5 phần công đức như Giới, Định, Tuệ, Giải Thoát và Giải Thoát Tri Kiến. Thật Tướng Pháp Thân là thật tướng của các pháp vốn có tánh Không. Bên cạnh đó, cũng có Tam Pháp Thân do Thiên Thai Tông lập ra, gồm Không Pháp Thân (空法身, Pháp Thân của Tiểu Thừa), Tức Giả Pháp Thân (卽假法身, Pháp Thân của Đại Thừa Biệt Giáo) và Tức Trung Pháp Thân (卽中法身, Pháp Thân của Đại Thừa Viên Giáo). Như trong Niệm Phật Khởi Duyên Di Đà Quán Kệ Trực Giải (念佛起緣彌陀觀偈直解, CBETA No. 1195) có giải thích về Pháp Thân rằng: “Pháp Thân giả, tức Như Lai Tạng Đại Niết Bàn thể, sanh diệt tâm diệt, chơn như tâm hiện, tức danh Pháp Thân; thử thân vô dộ khả lai, vô độ khả khứ, bổn Pháp Giới Thân, châu biến nhất thiết (法身者、卽如來藏大涅槃體、生滅心滅、眞如心現、卽名法身、此身無土可來、無土可去、本法界身、周遍一切, Pháp Thân tức là thể của Như Lai Tạng Đại Niết Bàn, tâm sanh diệt mà diệt, thì tâm chơn như hiển hiện, tức gọi là Pháp Thân; thân này không quốc độ nào có thể đến, không quốc độ nào có thể đi, vốn là thân của Pháp Giới, biến khắp tất cả).”

Pháp thân

法身; C: făshēn; J: hōshin; S: dharmakāya|1. Theo giáo lí Hữu bộ là lời dạy chân thực của Đức Phật, hoặc là pháp vi diệu trong Thập lực. Kinh sách ghi lại giáo pháp; 2. theo giáo lí Đại thừa chung, Pháp thân là tên gọi chỉ cho sự hiện hữu tuyệt đối, sự biểu hiện của mọi thực thể tồn tại. Là chân thể của thực tại. Đức Phật như là nguyên lí vĩnh hằng. Thể tính của hiện hữu vốn thường thanh tịnh, không một tướng phân biệt, đồng đẳng với tính không; 3. Một trong Tam thân của Phật. Thân pháp giới của Phật – là chân thân vượt ngoài sắc tướng. Là căn bản của tất cả các pháp; 4. (Giáo) pháp như là thân Phật, khác với thân thể vật lí của Đức Phật; 5. Như Lai tạng (s: tathāgatagarbha); 6. Bốn loại Pháp thân (Tứ chủng Pháp thân 四種法身); 7. Theo luận Đại thừa khởi tín, Pháp thân được đồng nhất với Nhất tâm; 8. Theo Bạch Ẩn (白隱, j: hakuin), là 1 trong những loại công án. Pháp thâh công án là công án giúp sáng tỏ nguyên lí thực tại tuyệt đối (Phật tâm) để siêu việt mọi hiện hữu; 9. Theo giáo lí Duy thức, Pháp thân có đủ Pháp giới thanh tịnh, cũng như Đại viên kính trí. Xem Ba thân

pháp thân

Tức là bản thể của tự tánh cùng khắp không gian thời gian, nó vô hình vô thanh, mà hay hiện hình hiện thanh, như như bất động mà cùng tột biến hóa, tất cả năng lực đều sẵn đầy đủ. ; Dharmakaya (skt). (A) Nghĩa của Pháp thân—The meanings of Dharmakaya: 1) Pháp thân là cái thân của Pháp, theo đó Dharma có nghĩa là phép tắc, tổ chức, cơ cấu, hoặc nguyên lý điều hành. Nhưng chữ Dharma còn có nhiều nghĩa sâu xa hơn, nhất là khi ghép với chữ Kaya thành Dharmakaya. Nó gợi lên một cá thể, một tánh cách người. Chân lý tối cao của đạo Phật không phải chỉ là một khái niệm trừu tượng như vậy, trái lại nó sống động với tất cả ý nghĩa, thông suốt, và minh mẫn, và nhất là với tình thương thuần túy, gột sạch tất cả bệnh tật và bợn nhơ của con người: Dharmakaya is usually rendered “Law-body” where Dharma is understood in the sense of of “law,” “organization,” “systematization,” or “regulative principle.” But really in Buddhism, Dharma has a very much more comprehensive meaning. Especially when Dharma is coupled with Kaya. Dharmakaya implies the notion of personality. The highest reality is not a mere abstraction, it is very much alive with sense and awareness and intelligence, and, above all, with love purged of human infirmities and defilements. 2) Pháp thân hay chân thân của Phật, thân thứ nhất trong tam thân Phật—Dharma body—Embodiment of truth and Law—The spiritual of true body—Nirmanakaya—The transformation Body of the Buddha—The Body-of-form of all Buddhas which is manifested for the sake of men who cannot yet approach the Dharmakaya—The formless true body of Buddhahood. The first of the Trikaya. 3) Pháp thân là một quan niệm hệ trọng trong giáo lý Phật giáo, chỉ vào thực tại của muôn vật hoặc pháp: Dharmakaya or the law body is an important conception in Buddhist doctrine of reality, or things. 4) Theo Thiền Sư D.T. Suzuki trong Cốt Tủy Đạo Phật, Pháp Thân không có trí và bi. Pháp thân tự nó là trí hoặc là bi, tùy lúc ta cần nhấn mạnh ở mặt nầy hay mặt khác. Nếu ta hình dung Pháp thân như hình ảnh hoặc phản ảnh của chính ta sẳn có về con người là chúng ta lầm. Pháp thân không hề có thứ thân nào mường tượng như vậy. Pháp Thân là Tâm, là miếng đất của hành động, tại đó bi và trí hòa đồng trong nhau, chuyển hóa cái nầy thành cái kia, và gây thành nguồn năng lực kích động thế giới giác quan và tri thức: According to Zen Master D.T. Suzuki in the Essence of Buddhism, the Dharmakaya is not the owner of wisdom and compassion, he is the Wisdom or the Compassion, as either phase of his being is emphasized for some special reason. We shall miss the point entirely if we take him as somewhat resembling or reflecting the human conception of man. He has no body in the sense we have a human body. He is spirit, he is the field of action, if we can use this form of expression, where wisdom and compassion are fused together, are transformed into each other, and become the principle of vitality in the world of sense-intellect. 5) Theo triết học Trung Quán, Pháp là bản chất của vật tồn hữu, là thực tại chung cực, là Tuyệt đối. Pháp thân là tánh chất căn bản của Đức Phật. Đức Phật dùng Pháp thân để thể nghiệm sự đồng nhất của Ngài với Pháp hoặc Tuyệt Đối, và thể nghiệm sự thống nhất của Ngài với tất cả chúng sanh. Pháp thân là một loại tồn hữu hiểu biết, từ bi, là đầu nguồn vô tận của tình yêu thương và lòng từ bi. Khi một đệ tử của Phật là Bát Ca La sắp tịch diệt, đã bày tỏ một cách nhiệt thành sự mong muốn được trông thấy Đức Phật tận mắt. Đức Phật bảo Bát Ca Lê rằng: “Nếu ngươi thấy Pháp thì đó chính là thấy ta, ngươi thấy Ta cũng chính là thấy Pháp.”—According to the Madhyamaka philosophy, Dharma is the essence of being, the ultimate Reality, the Absolute. The Dharmakaya is the esential nature of the Buddha. As Dharmakaya, the Buddha experiences his identity with Dharma or the Absolute and his unity with all beings. The Dharmakaya is a knowing and loving, an inexhaustible fountain head of love and compassion. When the Buddha's disciple, Vakkali, was on his death, he addressed his desire to see the Buddha in person. On that occasion, the Buddha remarked: “He who sees the Dharma sees Me. He who sees Me sees the Dharma.” (B) Phân loại Pháp Thân—Categories of Dharmakaya: 1) Hai loại Pháp Thân—Two kinds of Dharmakaya: a) Tổng Tướng Pháp Thân: The unity of dharmakaya. b) Biệt Tướng Pháp Thân: The diversity of dharmakaya. 2) Hai loại Pháp thân khác—Other two kinds of Dharmakaya: Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, có hai loại Pháp Thân là bản thân giáo pháp và bản thân lý thể—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, Dharmakaya has two senses: a) Bản thân giáo pháp: Scripture-body—Chỉ cho giáo điển tồn tại làm biểu tượng cho bản thân của Phật sau khi ngài khuất bóng—Scripture-body means that the teaching remains as representative of the body after the Buddha's demise. b) Bản thân lý thể: Ideal-body—Chỉ cho giác ngộ như là bản thân Vô tướng—The Ideal-body means the Enlightenment as a Formless-body. ** For more information, please see Nhị Pháp Thân, Tam Pháp Thân, and Tam Thân Phật. ; (法身) Phạm: Dharma-kàya. Pàli: Dhamma-kàya. Cũng gọi Pháp Phật, Lí Phật, Pháp thân Phật, Tự tính thân, Pháp tính thân, Như như Phật, Thực Phật, Đệ nhất thân. Chỉ cho chính pháp do Phật nói, pháp vô lậu Phật đã chứng và tự tính chân như Như lai tạng của Phật. Là 1 trong 2 thân, 1 trong 3 thân. Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển thượng và Phật địa kinh luận quyển 7, thì các bộ phái Tiểu thừa cho rằng giáo pháp đức Phật đã nói, pháp bồ đề phần Ngài đã giảng và pháp vô lượng công đức Ngài đã chứng được đều là Pháp thân. Đại thừa thì ngoài những pháp trên ra, còn cho rằng Tự tính chân như tịnh pháp giới, vô lậu vô vi, vô sinh vô diệt... đều là Pháp thân. Trong Đại thừa cũng có nhiều thuyết về Pháp thân. 1. Nhà Duy thức chia Pháp thân làm 2 loại: Tổng tướng và Biệt tướng. Tổng tướng pháp thân là gọi chung cho 3 thân, tức là Nhất đại công đức pháp thân, lấy Ngũ pháp sự lí làm thể. Còn Biệt tướng pháp thân thì chỉ cho Tự tính thân trong 3 thân, lấy chân như pháp giới thanh tịnh làm thể. 2. Nhà Tam luận thì lấy chân không của chân như thực tướng bất khả đắc làm Pháp thân. 3. Luận Đại thừa khởi tín thì lấy Dụng đại của chân như làm ý nghĩa Pháp thân. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 579 trung) nói: Dứt hết vô minh, thấy được Pháp thân thì tự nhiên có cái dụng bất khả tư nghị của các nghiệp, tức cùng với chân như ở khắp các nơi, nhưng mà không có cái tướng dụng có thể nắm bắt được. Vì sao? Vì thân của chư Phật Như lai chỉ là cái tướng trí của Pháp thân, là Đệ nhất nghĩa đế, không có cảnh giới thế đế, lìa mọi sự tạo tác, chỉ tùy theo cơ duyên thấy nghe của chúng sinh mà làm cho được lợi ích, cho nên gọi là Dụng. Đây tức là lập Pháp thân lí trí bất nhị. Thân của chư Phật Như lai là Pháp thân trí tướng, vì Dụng đại của Pháp thân là bất khả tư nghị, cho nên tùy theo cơ duyên thấy nghe của chúng sinh khác nhau mà khiến cho được lợi ích của sự giáo hóa. Bởi thế, Dụng đại của chân như là dụng tức vô dụng, nhưng cái công dụng vi diệu của nó lại vô biên. Thuyết Pháp thân này chính là cơ sở lập thuyết của các nhà Nhất thừa Hoa nghiêm, Thiên thai... 4. Nhà Thiên thai chủ trương quan điểm Phật thân là 3 thân tương tức, vì thế cho rằng Pháp thân chẳng những chỉ là thân Như lai ở khắp mọi nơi, mà còn tức là Báo thân, Ứng thân và ngược lại. 5. Nhà Hoa nghiêm lấy Phân thân Phật Tì lô giá na đầy đủ 10 thân làm Giáo chủ, cho rằng 10 thân(thân Bồ đề, thân Nguyện, thân Hóa, thân Lực trì, thân Ý sinh, thân Tướng hảo, thân Uy thế, thân Phúc đức, thân Pháp và thân Trí) tương tức dung nhập với Pháp thân, Báo thân và Hóa thân. 6. Nhà Chân ngôn lấy 6 đại: Địa, thủy, hỏa, phong, không, thức làm Pháp thân của Đại nhật Như lai, cũng gọi Pháp giới thân, Lục đại pháp thân. Pháp thân lục đại này là sắc tướng sẵn có, có thể dùng ngôn ngữ thuyết pháp. Ngoài ra, 4 thân: Tự tính, Thụ dụng, Biến hóa và Đẳng lưu đều gọi là Pháp thân, nếu thêm Lục đại pháp thân vào nữa, thì gọi là Ngũ chủng pháp thân. [X. kinh Vô thượng y Q.thượng; kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng, hạ; luận Phật tính Q.4; luận Kim cương bát nhã Q.thượng; luận Thành duy thức Q.10; Chú duy ma kinh Q.3; Thắng man kinh bảo quật Q.3, phần cuối, Thanh lương huyền đàm Q.3; Biện hoặc chỉ nam Q.3; Pháp hoa huyền luận Q.9; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7, phần đầu; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3]. (xt. Tự Tính Thân, Phật Thân, Tượng Trưng Chủ Nghĩa).

pháp thân bồ tát

See Pháp Thân Đại Sĩ. ; (法身菩薩) Cũng gọi Pháp thân đại sĩ. Chỉ cho Bồ tát từ Thập địa trở lên, nhờ công đức tu hành nhiều kiếp, đã dứt trừ được 1 phần vô minh, hiển hiện 1 phần pháp tính.Luận Đại trí độ quyển 38 (Đại 25, 342 thượng) nói: Pháp thân bồ tát đoạn trừ kết sử(phiền não), được 6 thứ thần thông, Sinh thân bồ tát không đoạn trừ kết sử, hoặc lìa dục, được 5 thứ thần thông.

pháp thân huệ mệnh

See Pháp mệnh.

pháp thân hóa sanh

The dharmakaya, or spiritual body, born or formed on a disciple's conversion.

pháp thân kí

(法身記) Đối lại: Ứng thân kí. Chỉ cho sự thụ kí của Pháp thân Phật. Theo phẩm Phân biệt công đức trong kinh Pháp hoa quyển 5, thì vô lượng Bồ tát khi nghe đức Phật nói về thọ mệnh lâu dài, liền tăng thêm trí Trung đạo và giảm bớt sinh tử biến dịch mà nhận được sự thụ kí Pháp thân Phật của quả Diệu giác tột cùng. Nhưng hàng Nhị thừa đã nhận Ứng thân kí ở Tích môn, tức là 8 tướng thành Phật, nếu khi được nghe đức Phật mở bày Bản môn thì sẽ lại được Pháp thân kí. Pháp hoa văn cú quyển 4, phần đầu, của ngài Trí khải (Đại 34, 47 hạ) nói: Tám tướng thành đạo là Ứng thân kí, đã được Ứng thân kí thì chắc chắn sẽ biết Bản môn. (...) Hàng nhị thừa này nếu lại nghe Thọ lượng, thì liền giảm sinh tử biến dịch mà được Pháp thân kí.

pháp thân kệ

Dharmakaya-gatha (skt)—See Duyên Khởi Kệ and Pháp Thân Xá Lợi. ; (法身偈) Cũng gọi Pháp xá lợi, Pháp tụng xá lợi, Pháp thân xá lợi kệ. Chỉ cho bài kệ Duyên sinh mà tỉ khưu Mã tinh (Mã thắng) đã đọc cho ngài Xá lợi phất nghe. Luận Đại trí độ quyển 18 (Đại 25, 192 trung) nói: Trong pháp Tứ đế, đức Phật hoặc nói 1 đế, hoặc nói 2, hoặc nói 3, như tỉ khưu Mã tinh nói cho ngài Xá lợi phất nghe bài kệ sau: Các pháp do duyên sinh, Pháp ấy từ duyên diệt; Thầy ta đại Thánh vương, Thường nói nghĩa như thế. Kệ này chỉ nói có Tam đế, nên biết Đạo đế đã có ở trong đó, vì không rời nhau; ví như 1 người phạm pháp thì cả nhà đều phải chịu tội. Do đó mà biết bài kệ trên đây là nói đến Tam đế(khổ, tập, diệt); lại lấy Các pháp do duyên sinh làm câu đầu, vì thế cũng gọi là Duyên sinh kệ, Duyên khởi kệ, Duyên khởi pháp tụng. Ngoài ra, kinh Phật thuyết tạo tháp công đức (Đại 16, 801 trung) chép: Bấy giờ đức Thế tôn nói kệ rằng: Các pháp từ duyên sinh, Ta nói là nhân duyên; Nhân duyên hết, pháp diệt, Ta thường nói như thế. Thiện nam tử! Nghĩa bài kệ ấy gọi là Phật pháp thân. (...) Tất cả nhân duyên và các pháp duyên sinh, tính không vắng lặng, cho nên ta gọi là Pháp thân. Vì thế, bài kệ trên cũng có thể được gọi là Pháp thân kệ. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.48; luận Đại trí độ Q.11].

pháp thân lưu chuyển

Chân Như là thể của pháp thân. Chân Như có hai nghĩa bất biến và tùy duyên. Theo nghĩa tùy duyên mà bị ràng buộc với các duyên nhiễm và tịnh để biến sanh ra y báo và chánh báo trong thập giới (pháp thân trôi chảy trong dòng chúng sanh)—Dharmakaya in its phenomenal character, conceived as becoming, as expressing itself in the stream of being.

pháp thân như lai

The Dharmakaya Tathagata (skt)—Pháp thân tuy không đến không đi, nhưng dựa vào ẩn mật của Như Lai Tạng mà hiển hiện làm pháp thân—The Buddha who reveals the spiritual body. ; (法身如來) Chỉ cho tự tính chân thân của Phật. Pháp thân tuy không đi lại, nhưng ẩn chứa trong Như lai tạng mà hiển hiện làm Pháp thân, cho nên gọi là Pháp thân Như lai. Luận Thích ma ha diễn quyển 2 (Đại 32, 609 thượng) nói: Tâm tự tính thanh tịnh tùy duyên hiển bày, khi tâm ấy còn bị chìm trong các pháp ô nhiễm, thì Pháp thân Như lai không hiển hiện. Ngoài ra, Pháp thân Như lai cũng chỉ cho Đại nhật Như lai của Mật giáo. [X. Bí mật an tâm].

pháp thân phật

Thể của pháp tính (có cái đức giác tri) gọi là Pháp Thân Phật—The Dharmakaya Buddha.

pháp thân quán

Meditation on (insight into) the Dharmakaya. ; (法身觀) Pháp quán xét Pháp thân. Trong Quán Phật tam muội, quán về thân Phật được chia làm 2 loại: Sinh thân quán và Pháp thân quán. Trong đó, quán xét trong Sinh thân(nhục thân)của đức Phật có đủ 10 lực, 4 vô sở úy, đại từ đại bi, vô lượng công đức... là pháp quán về Pháp thân, gọi là Pháp thân quán. Tư duy lược yếu pháp (Đại 15, 299 trung) nói: Pháp thân quán nghĩa là ở trong Không đã thấy Sinh thân Phật, rồi ngay nơi Sinh thân ấy mà quán Nội pháp thân. (...) Nếu pháp quán này thành tựu thì đoạn trừ hết kết phược(phiền não trói buộc), cho đến chứng được Vô sinh pháp nhẫn. Ngoài ra, các tông lập thuyết về Pháp thân có khác nhau, nên Pháp thân quán của mỗi tông cũng khác nhau.

pháp thân thanh tịnh

The pure dharmabody.

pháp thân thuyết pháp

(法身說法) Đối lại: Gia trì thân thuyết pháp. Chỉ cho giáo nghĩa của tông Chân ngôn Nhật bản. Vì tông này chủ trương Pháp thân của Đại nhật Như lai có đầy đủ đức ngôn ngữ nói pháp, nên gọi là Pháp thân thuyết pháp. Pháp thân, gọi đủ là Bản địa pháp thân hoặc Bản địa thân. Bản nghĩa là căn bản; Địa nghĩa là chỗ nương, giống như quả đất là chỗ nương ở của muôn vật, vì thế gọi là Địa. Pháp thân là thể tính nắm giữ vạn vật. Ngài Thiện vô úy gọi đó là Pháp thân vô tướng, còn ngài Không hải thì gọi là Pháp thân lục đại hoặc Pháp thân tự tính. [X. Đại sớ hựu khoái sao; Hồng tự nghĩa (Không hải); Đại nhật kinh sớ ngu thảo Q.25 (Lại du)].

pháp thân tháp

Tháp có đặt xá lợi Phật. Mật giáo lấy chữ “Tông” trong tiếng Phạn là Pháp Thân (vì chữ “Tông” là hạt giống pháp giới, hình dáng như tháp tròn)—The pagoda where abides a spiritual relic of Buddha; the esoteric sect uses the letter “Tsung” as such an abode of the dharmakaya. ; (法身塔) Tháp thờ Pháp thân. Trong Nê tháp cung tác pháp của Mật giáo, tháp thờ Pháp thân kệ (Duyên khởi pháp tụng), gọi là Pháp thân tháp. Còn trong Như pháp tôn thắng pháp, quán chủng tử (vaô) của Trí pháp thân Đại nhật Như lai, là Pháp thân tháp, vì chữ là chủng tử của pháp giới, có hình dạng giống như tòa tháp, cho nên gọi là Pháp thân tháp. Ngoài ra, ở Ấn độ từ xưa đến nay, việc lễ bái cúng dường tháp hương rất thịnh hành, tức người ta dùng bột hương trộn với nước như nhào bùn, rồi đắp thành ngôi tháp nhỏ, trong tháp thờ những bản kinh chép tay, vì kinh quyển được xem là xá lợi của Pháp thân Như lai, nên loại tháp này cũng được gọi là Pháp thân tháp. [X. phẩm Luật phần trong kinh Tô bà hô đồng tử thỉnh vấn Q.thượng; Huyền bí sao Q.2; Đại đường tây vực kí Q.9].

pháp thân thể tánh

Thể tánh của pháp thân—The embodiment or totality, or nature of the Dharmakaya. 1) Tiểu Thừa Pháp Thân Thể Tánh: Trong Tiểu Thừa, Phật tánh là cái gì tuyệt đối, không thể nghĩ bàn, không thể nói về lý tánh, mà chỉ nói về ngũ phần pháp thân hay ngũ phần công đức của giới, định, tuệ, giải thoát, và giải thoát tri kiến—In Hinayana the Buddha-nature in its absolute side is described as not discussed, being synonymous with the five divisions of the commandments, meditation, wisdom, release, and doctrine. 2) Đại Thừa Pháp Thân Thể Tánh—In the Mahayana: a) Đại Thừa Tam Luận Tông của Ngài Long Thọ lấy thực tướng làm pháp thân. Thực tướng là lý không, là chân không, là vô tướng, mà chứa đựng tất cả các pháp. Đây là thể tính của pháp thân—The Madhyamika School of Nagarjuna defines the absolute or ultimate reality as the formless which contains all forms, the essence of being, the noumenon of the other two manifestations of the Triratna. b) Pháp Tướng Tông hay Duy Thức Tông định nghĩa pháp thân thể tính như sau—The Dharmalaksana School defines the nature of the dharmakaya as: • Pháp thân có đủ ba thân: The nature or essence of the whole Triratna. • Pháp thân trong ba thân: The particular form of the Dharma in that trinity. c) Nhất Thừa Tông của Hoa Nghiêm và Thiên Thai thì cho rằng “Pháp Thân” là chân như, là lý và trí bất khả phân—The One-Vehicle Schools represented by the Hua-Yen and T'ien-T'ai sects, consider the nature of the dharmakaya to be the Bhutatathata, noumenon and wisdom being one and undivided. d) Chân Ngôn Tông thì lấy lục đại làm Pháp Thân Thể Tính—The Shingon sect takes the six elements as the nature of dharmakaya: • Lý Pháp Thân: Lấy ngũ đại (đất, nước, lửa, gió, hư không) làm trí hay căn bản pháp thân—Takes the sixth elements (earth, water, fire, air, space) as noumenon or fundamental Dharmakaya. • Trí Pháp Thân: Lấy tâm làm Trí Pháp Thân—Takes mind (intelligence or knowledge) as the wisdom dharmakaya.

pháp thân trí

The wisdom or expression of the Dharmakaya.

pháp thân tuệ mệnh

The wisdom life of the dharmakaya.

pháp thân tạng

Pháp thân tạng là nơi tồn trữ pháp thân, là tinh yếu của Phật quả, bằng quán chiếu (thiền quán) mà bậc Thánh đạt được—The storehouse of the Dharmakaya—The essence of Buddhahood by contemplating which the holy man attains to it.

pháp thân xá lợi

Sarira (skt)—Pháp thân xá lợi của Đức Phật, gồm những kinh điển, những bài kệ, và lý trung đạo thực tướng bất biến mà Đức Phật từng thuyết giảng—The spiritual relics of the Buddha, his sutras, or verses, his doctrine and immutable law.

Pháp thân xá-lợi

xem xá-lợi Phật.

pháp thân đại sĩ

Pháp Thân Bồ Tát—Theo tông Thiên Thai, đây là bậc Bồ Tát mới lìa bỏ được một phần của vô minh mà hiển hiện được một phần pháp tính (Bồ Tát từ sơ địa trở lên)—According to the T'ien-T'ai sect, the Dharmakaya Mahasattva is one who has partially freed himself from illusion and partially attained the six spiritual powers (Lục thông). He is above the initial stage.

Pháp thí

(s: dharma-deśanā, p: dhamma-desanā, 法施): bố thí pháp, là một trong 2 hay 3 hình thức bố thí; tức tuyên thuyết giáo pháp, làm lợi ích chúng sanh; còn gọi là pháp cúng dường (法供養), thuyết giáo (說敎), thuyết pháp (說法), thuyết kinh (說經), đàm nghĩa (談義), khuyến hóa (勸化). Như trong Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh (佛說無量壽經, Taishō Vol. 12, No. 360) quyển Thượng giải thích rằng: “Khấu pháp cổ, xuy pháp loa, chấp pháp kiếm, kiến pháp tràng, chấn pháp lôi, diệu pháp điện, chú pháp vũ, diễn pháp thí, thường dĩ pháp âm giác chư thế gian (扣法鼓、吹法螺、執法劍、建法幢、震法雷、曜法電、澍法雨、演法施、常以法音覺諸世間, đánh trống pháp, thổi ốc pháp, cầm kiếm pháp, lập cờ pháp, chấn sấm pháp, rực điện pháp, rưới mưa pháp, diễn pháp thí, thường lấy âm pháp để tỉnh thức các thế gian).” Hay trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quỹ (法界聖凡水陸勝會修齋儀軌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1497) quyển 5 lại có đoạn: “Kim tắc đặc khai thắng hội, phổ độ mê lưu, nguyện nhân Phật nhật chi quang, lai phó đàn gia chi cúng, thân thừa pháp thí, hoát ngộ Tánh Không (今則特開勝會、普度迷流、願因佛日之光、來赴檀家之供、親承法施、豁悟性空, nay tất khai mở thắng hội, độ kẻ tầm mê, nguyện nhờ trời Phật hào quang, đến dự thí chủ dâng cúng, nương vào pháp thí, chợt ngộ Tánh Không).”

pháp thí

Thuyết pháp hay ban bố chân lý Phật pháp, là một trong những pháp cúng dường. Cúng dường pháp là pháp cúng dường cao tột vì nó giúp người nghe có cơ duyên vượt thoát luân hồi sanh tử để đạt tới Phật quả—Truth-giving—Offering of the Buddha-truth—Among the various offerings to the Buddhas, the offering of the Dharma is the highest because it enables the audience to transcend Birth and Death and ultimately attain Buddhahood—The almsgiving of the Buddha-truth. ** For more information, please see Tam Bố Thí. ; (法施) Phạm: Dharma-dezanà. Pàli: Dhamma-desanà. Cũng gọi Thuyết giáo, Thuyết pháp, Thuyết kinh, Đàm nghĩa, Khuyến hóa. Đồng nghĩa: Xướng đạo. Chỉ cho việc giảng nói giáo pháp, làm lợi ích chúng sinh, 1 trong 2 thí(Tài thí, Pháp thí), 1 trong 3 thí(Tài thí, Pháp thí và Vô úy thí). [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.24; kinh Pháp hoa Q.7; luận Đại trí độ Q.1]. (xt. Bố Thí, Thuyết Pháp).

pháp thí cúng dường

See Pháp thí.

pháp thông thiện hỷ

Thiền Sư Pháp Thông Thiện Hỷ—Zen Master Pháp Thông Thiện Hỷ—Thiền Sư Việt Nam, quê tại Nam Việt. Ngài là Pháp tử đời thứ 36 dòng Thiền Tào Động. Ngài khai sơn ngôi chùa Long Ẩn trên núi Long Ẩn, tỉnh Phước Long, có lẽ vào năm 1733. Hầu hết cuộc đời ngài, ngài chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo tại Nam Việt. Sau khi ngài thị tịch, đệ tử xây tháp và thờ ngài ngay trước chùa—A Vietnamese Zen Master from South Vietnam. He was the Dharma heir of the thirty-sixth generation of the T'ao-T'ung Zen Sect. Probably in 1733, he built Long Ẩn Temple on Mount Long Ẩn, in Phước Long province. He spent most of his life to revive and expand Buddhism in the South. After he passed away, to honor him, his disciples built his stupa at the right front of the Temple.

pháp thư

Dharma book.

Pháp Thường

法常|Ðại Mai Pháp Thường

pháp thường

(法常) (567-645) I. Pháp Thường - Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Bạch thủy, Nam dương (nay là Hà nam), họ Trương. Lúc nhỏ, sư theo Nho học, thường tránh xa những chỗ huyên náo. Năm 19 tuổi, sư y vào ngài Đàm diên xuất gia. Năm 22 tuổi, sư bắt đầu học luận Nhiếp đại thừa, 5 năm sau, sư đã thấu suốt nghĩa lí sâu xa của bộ luận này. Từ đó, sư lại nghiên cứu rộng rãi các kinh luận như: Hoa nghiêm,Thành thực, Tì đàm, Địa luận... đồng thời, khảo sát những điểm dị đồng giữa các kinh luận này. Sư từng được Tề vương triệu thỉnh để giảng pháp cho thính chúng. Đầu năm Đại nghiệp đời Tùy, sư vâng sắc trụ trì chùa Đại thiền định ở Trường an. Khoảng năm Trinh quán (627-649), sư tham dự công việc dịch kinh tại Dịch trường. Vua Thái tông xây chùa Phổ quang thỉnh sư trụ trì và truyền giới Bồ tát cho Thái tử. Ít lâu sau, sư lại vâng sắc giữ ngôi vị Thượng tọa của chùa Không quán. Tại đây, sư thường giảng các kinh luận như: Hoa nghiêm, Thành thực, Tì đàm, Nhiếp luận, Thập địa... Người từ khắp nơi về theo học rất đông. Vương tử nước Tân la (nay là Triều tiên) là Kim từ tạng cũng từ xa đến xin thụ giới Bồ tát. Năm Trinh quán 19 (645), sư thị tịch, thọ 79 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Nhiếp đại thừa luận nghĩa sớ 8 quyển, Quán Vô lượng thọ kinh sớ 1 quyển, Niết bàn kinh sớ, Duy ma kinh sớ, Thắng man kinh sớ...[X. Tục cao tăng truyện Q.15; Quảng hoằng minh tập Q.25; Khai nguyên thích giáo lục Q.8]. II. Pháp Thường (752-839). Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, người huyện Tương dương, tỉnh Hồ bắc, họ Trịnh. Sư xuất gia từ thủa nhỏ, ở chùa Ngọc tuyền. Năm 20 tuổi, sư thụ giới Cụ túc ở chùa Long hưng, sư dốc chí tu thiền và tham học nơi ngài Mã tổ. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 7, thì 1 hôm sư hỏi ngài Mã tổ (Đại 51, 245 hạ): Thế nào là Phật? Ngài Mã tổ đáp: Tức tâm là Phật, sư liền đại ngộ. Sau đó, sư về tĩnh tu ở núi Đại mai (huyện Ngân, tỉnh Chiết giang). Một hôm, có 1 vị tăng vâng lệnh ngài Mã tổ đến núi Đại mai nói với sư rằng: Gần đây, ngài Mã tổ lại nói chẳng phải tâm, chẳng phải Phật. Nghe xong, sư nói: Lão già này làm lòng người mê loạn mãi, chưa biết ngày nào mới chịu thôi! Mặc cho người chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, ta cứ tức tâm tức Phật. Ngài Mã tổ nghe tin ấy liền nói: Quả mai chín rồi!. Từ đó, tiếng tăm sư vang xa, người từ khắp nơi về tham học. Năm Khai thành thứ 4 (839), một ngày nọ, sư bỗng nói với đại chúng (Đại 51, 255 thượng): Đến chớ có ngăn cản, đi chớ có đuổi theo. Nói đến đây, chợt nghe có tiếng chuột khụt khịt, sư lại bảo: Tức là vật này, chẳng phải vật khác, các ông phải khéo giữ gìn lấy nó, bây giờ ta đi đây!. Nói xong, sư thị tịch, thọ 88 tuổi, 69 tuổi hạ. [X. Tống cao tăng truyện Q.hạ; Ngũ đăng hội nguyên Q.3].

pháp thường đại mai thiền sư

Zen master Fa-Chang-T'a-Mei—See Đại Mai Pháp Thường Thiền Sư.

Pháp Thượng

(法上, Hōjō, 495-580): vị tăng sống dưới thời Bắc Triều, xuất thân vùng Triều Ca (朝歌, thuộc Huyện Kì [淇縣], Hà Nam [河南]), họ Lưu (劉), lúc 9 tuổi đã đọc được Kinh Niết Bàn, sớm có chí xuất trần. Năm lên 12 tuổi, ông theo xuất gia với Thiền Sư Đạo Dược (道藥), chuyên tâm cầu đạo, thông hiểu kinh luận, người đời gọi là Thánh Sa Di. Sau ông nương Luật Sư Huệ Quang (慧光) thọ Cụ Túc giới, tinh thông nghĩa lý, tuyên giảng Thập Địa Kinh Luận (十地經論), Lăng Già Kinh (楞伽經), Niết Bàn Kinh (涅槃經), v.v., và soạn văn sớ cho các bộ kinh này. Năm 40 tuổi, ông vân du giáo hóa ở Hoài Châu (懷州), Vệ Châu (衛州). Nhân có vị đại tướng nhà Ngụy Cao Trừng (高澄) thỉnh cầu, ông vào kinh đô nhà Nghiệp nhậm chức Tăng Thống. Đến khi nhà Bắc Tề hưng thịnh, vua Văn Tuyên Đế (文宣帝, tại vị 550-559) tôn ông lên làm Quốc Sư, thường hầu hạ cung phụng như Phật. Suốt hai thời đại Ngụy và Tề, trong gần 40 năm ông đã quản lý hơn 40.000 ngôi chùa và khoảng 20 vạn tăng ni. Vị Thừa Tướng nước Cao Cú Lệ (高句麗) mến mộ danh tiếng của ông, cho chư tăng đến hỏi về ngày tháng đản sanh của đức Phật, Phật Giáo được truyền vào Trung Quốc, v.v. Đến thời kỳ pháp nạn diệt Phật hủy Thích của vua Võ Đế thời Bắc Chu, ông phải ẩn náu dưới hình thức thế tục. Vào năm thứ 2 (580) niên hiệu Đại Tượng (大象), sau khi tụng kinh Duy Ma và Thắng Man xong, ông thị tịch, hưởng thọ 86 tuổi. Trước tác ông để lại cho hậu thế có Tăng Nhất Số Pháp (增一數法) 40 quyển, Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章) 6 quyển, Phật Tánh Luận (佛性論) 2 quyển, Chúng Kinh Luận (眾經論) 1 quyển, v.v. Môn đệ của ông có Huệ Viễn (慧遠), Pháp Tồn (法存), Đạo Thận (道愼), Linh Dụ (靈裕), Dung Trí (融智), v.v.

pháp thượng

(法上) (495-580) Cao tăng Trung quốc, sống vào thời Bắc triều, người Triều ca (huyện Kì, tỉnh Hà nam), họ Lưu. Năm lên 9 tuổi, sư tụng kinh Niết bàn, từ đó đã có chí xuất trần. Năm 12 tuổi, sư theo Thiền sư Đạo dược xuất gia, chuyên tâm tu tập, thần khí cao sáng, thông hiểu nghĩa lí các kinh luận, người đời gọi sư là Thánh sa di. Sau, sư y vào Luật sư Tuệ quang thụ giới Cụ túc, rồi nhận lời thỉnh cầu của thính chúng, sư giảng các kinh như kinh Lăng già, kinh Niết bàn, Thập địa kinh luận... đồng thời, soạn Sớ chú thích các bộ kinh này. Năm 40 tuổi, sư đi du hóa các châu Hoài, Vệ. Nhân lời tâu thỉnh của Đại tướng Cao trừng, sư bèn về Nghiệp đô nhận chức Tăng thống, quản chưởng ti Tăng lục, thống lãnh tăng ni. Đến khi nhà Bắc Tề nổi lên, vua Văn tuyên (ở ngôi 550-559) tôn sư làm Quốc sư, thờ kính như Phật. Trải qua 2 đời Ngụy, Tề, sư giữ chức Chiêu huyền tào tăng thống, đảm trách công việc lãnh đạo tăng ni gần 40 năm, cai quản hơn 4 vạn ngôi chùa và hơn 200 vạn tăng ni. Thừa tướng nước Cao cú li rất ngưỡng mộ sư, sai sứ đến thỉnh vấn sư về ngày tháng và năm đức Phật đản sinh, cùng lịch sử Phật giáo du nhập Trung quốc. Trong Pháp nạn Vũ đế nhà Bắc Chu diệt Phật, sư phải ẩn tu. Năm Đại tượng thứ 2 (580) sư trì tụng các kinh Duy ma cật và Thắng man, vừa xong thì sư thị tịch, thọ 86 tuổi. Đệ tử của sư có các vị: Tuệ viễn, Pháp tồn, Đạo thận, Linh dụ, Dung trí... Sư để lại các tác phẩm: Tăng nhất pháp số 40 quyển, Đại thừa nghĩa chương 6 quyển, Phật tính luận 2 quyển, Chúng kinh luận 1 quyển. [X. An lạc tập Q.hạ; Tục cao tăng truyện Q.8; Lịch đại tam bảo kỉ Q.12].

pháp thượng bộ

(法上部) Phạm: Dharmottarìyà#. Pàli: Dhammuttariya, hoặc Dhammuttarika. Hán âm: Đàm ma úy đa lợi ca, Đạt mô đa lê dữ, Đạt ma uất đa lê. Cũng gọi Pháp thắng bộ, Pháp thịnh bộ. Một trong 20 bộ của Tiểu thừa, 1 trong các phái của Thượng tọa bộ. Theo luận Dị bộ tông luân thì bộ này từ Độc tử bộ phân phái ra khoảng 300 năm sau đức Phật nhập diệt; giáo nghĩa đại khái cũng giống như giáo nghĩa của Độc tử bộ. Pháp thượng là tên của Bộ chủ, lấy ý là Pháp đáng tôn kính, hoặc Pháp là cái ở trên mọi ngườitrong thế gian. Về nguyên nhân của sự phân phái là do bất đồng ý kiến đối với cách giải thích ý nghĩa bài kệ (Đại 49, 16 hạ): Dĩ giải thoát cánh đọa Đọa do tham phục hoàn Hoạch an hỉ sở lạc Tùy lạc hành chí lạc. (Dịch nghĩa đen: Giải thoát rồi lại đọa Đọa do tham trở lại Được yên mừng cái vui Theo vui đi đến vui). [X. Dị bộ tông luân luận thuật kí; Xuất tam tạng kí tập Q.3; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu]. (xt. Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ, Độc Tử Bộ).

pháp thạnh

(法盛) Cao tăng Trung quốc, sống vào thời Bắc triều, người Lũng tây (tỉnh Cam túc). Lúc nhỏ, sư ở Cao xương, cùng với 29 vị đồng đạo đến Ấn độ lễ bái tượng đức Di lặc bằng gỗ ngưu đầu chiên đàn ở phía đông bắc nước Ưu trường, rồi đến chỗ Phật gieo thân cho hổ(cọp)ăn được ghi trong truyện Tiền thân. Sau, sư qua các nước như Ba la nại rồi trở về Cao xương. Sư có dịch phẩm: Bồ tát đầu thân tự ngã hổ khởi tháp nhân duyên kinh, 1 quyển. Tác phẩm: Lịch quốc truyện, 2 quyển. [X. Đàm vô sấm phụ truyện trong Lương cao tăng truyện Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.4; Tùy thư kinh tịch chí 28].

pháp thần

Phật là Pháp Vương, chư Bồ Tát là Pháp Thần hay bề tôi của Pháp Vương—Ministers of the Law, i.e. Bodhisattvas; the Buddha is King of the Law, these Bodhisattvas are his ministers. ; (法臣) Đồng nghĩa: Pháp tướng. Chỉ cho Bồ tát. Đức Phật được gọi là Pháp vương, Bồ tát giúp Pháp vương để hoằng truyền Phật pháp, vì thế được gọi là Pháp thần. An lạc tập quyển hạ (Đại 47, 15 thượng) nói: Phật là bậc Vô thượng Pháp vương, Bồ tát là Pháp thần, chỉ có đức Phật là bậc tôn trọng. (xt. Pháp Tướng).

pháp thắng

(法勝) Phạm: Dharma-zresthin. Hán âm: Đạt ma thi lê đế. Luận sư của Thuyết nhất thiết hữu bộ, người nước Tukhara-balkh, tác giả của luận A tì đàm tâm. Về niên đại ngài ra đời có nhiều thuyết khác nhau: Tam luận huyền nghĩa của ngài Cát tạng cho rằng ngài là vị La hán ra đời khoảng hơn 700 năm sau đức Phật nhập diệt; Câu xá luận quang kí quyển 1 và Đại đường tây vực kí quyển 2 thì cho rằng ngài sống vào thời gian 500 sau đức Phật nhập Niết bàn. Còn bài tựa Tát bà đa bộ kí mục lục có nêu hệ thống Sư tư tương thừa (Thầy trò truyền nối nhau) của ngài, trong đó, ngài được liệt kê là vị La hán thứ 33 trước vị thứ 34 là ngài Long thụ, như vậy tức là ngài Pháp thắng ra đời trước ngài Long thụ (khoảng thế kỉ III Tây lịch). Ngoài ra, nhà chú thích luận A tì đàm tâm là ngài Ưu bà phiến đa (Phạm: Upazànta) thường được người đời sau cho là ngài Pháp thắng. [X. luận A tì đàm tâm Q.1, 11; luận Thuận chính lí Q.9, 45; Lịch đại tam bảo kỉ Q.3, 5].

pháp thể

1) Thể tính của chư pháp (hữu vi và vô vi)—Embodiment of the Law, or of things. a) Vi Diệu Pháp có 75 pháp thể: The Abhidharma has 75. b) Thành Thực Tông có 84: The Satyasiddhi-sastra has 84. c) Du Già hay Duy Thức Luận có 100: The Yogacara has 100. 2) Vị Tăng: A monk. ; (法體) I. Pháp Thể. Chỉ cho thể tính, bản chất của các pháp. Thể được dịch từ tiếng Phạm svabhàra hoặc dịch là Tự tính, Tự thể. Pháp thể chỉ cho bản thể tồn tại, như chủ trương cơ bản Ba đời thực có, pháp thể hằng có của Thuyết nhất thiết hữu bộ. II. Pháp Thể. Chỉ cho danh hiệu của đức Phật A di đà, theo chủ trương của Tịnh độ chân tông Nhật bản, hoặc lấy niệm Phật làm pháp thể. III. Pháp Thể. Chỉ cho hình tướng của người xuất gia mặc áo pháp. IV. Pháp Thể. Từ ngữ tôn xưng thân thể của bậc Sư trưởng, như Pháp thể khinh an, Pháp thể như ý...

pháp thể hằng hữu

(法體恒有) Pháp thể thường có. Nghĩa là thực thể của tất cả các pháp thường hằng tồn tại trong 3 thời quá khứ, hiện tại và vị lai. Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương ba đời thực có, pháp thể hằng có, nghĩa là những yếu tố cấu tạo thành sự tồntại của các hiện tượng và mối quan hệ giữa chúng có thể được khảo sát qua 3 phương diện như sau: 1. Yếu tố(pháp) ở vị trí chưa khởi tác dụng(tức vị lai). 2. Yếu tố ở vị trí đang khởi tác dụng(tức hiện tại). 3. Yếu tố ở vị trí đã khởi tác dụng(tức quá khứ). Tóm lại, đây là chủ trương pháp thể thực có và hằng có trong cả 3 thời quá khứ, hiện tại và vị lai. Nhưng Kinh lượng bộ thì cho rằng Hiện tại hữu thể, quá vị vô thể, nghĩa là pháp thể chỉ có thực ở hiện tại, còn trong quá khứ và vị lai thì pháp thể không tồn tại.

pháp thệ

Một lời thệ nguyện khi phát tâm tu hành—A religious vow.

pháp thụ

Cây Pháp, hay Phật pháp có khả năng giúp người ta thu được quả vị Niết Bàn—The dharma-tree or Buddha-teaching which bears nirvana fruit.

Pháp thủy

(法水): nước pháp, có hai nghĩa chính. (1) Chỉ cho Phật pháp, vì Phật pháp có thể làm cho tiêu trừ phiền não, giống như nước có thể rửa sạch những cấu bẩn; nên có tên gọi như vậy. Như trong Vô Lượng Nghĩa Kinh (無量義經, Taishō Vol. 9, No. 276), Phẩm Thuyết Pháp (說法品) thứ 2 có giải thích rằng: “Pháp thí như thủy, năng tẩy cấu uế; nhược tỉnh, nhược trì, nhược giang, nhược hà, khê, cừ, đại hải, giai tất năng tẩy chư hữu cấu uế; kỳ pháp thủy giả, diệc phục như thị, năng tẩy chúng sanh chư phiền não cấu (法譬如水、能洗垢穢、若井、若池、若江、若河、溪、渠、大海、皆悉能洗諸有垢穢、其法水者、亦復如是、能洗眾生諸煩惱垢, pháp ví như nước, có thể rửa sạch dơ bẩn; như giếng, như hồ, như sông nhỏ, như sông lớn, khe, kênh, biển lớn, đều có thể rửa sạch các dơ bẩn; nước pháp này cũng giống như vậy, có thể rửa sạch các dơ bẩn phiền não của chúng sanh).” Hay trong bài thơ Ngọc Thạch Kệ (玉石偈) của Tô Thức (蘇軾, 1036-1101) nhà Tống có đoạn: “Nguyện dĩ pháp thủy tẩm Ma Ni, đương quán thử thạch như ngõa lịch (願以法水浸摩尼、當觀此石如瓦礫, nguyện lấy nước pháp ngâm Ma Ni, mới biết đá này như ngói sỏi).” (2) Là loại nước có thể trừ bệnh, xua đuổi tà ma của các Đạo sĩ, thầy pháp. Như trong hồi thứ 6 của Tây Du Bổ (西遊補), tiểu thuyết thần ma tiếp theo Tây Du Ký, của Đổng Thuyết (董說, 1620-1686) nhà Minh có đoạn: “Bị Đạo sĩ nhất khẩu pháp thủy, chỉ kiến địa lập cước bất định, kính vãng Tây Nam khứ liễu (被道士一口法水、只見他立腳不定、逕往西南去了, bị Đạo sĩ phun một bụm nước pháp, chỉ thấy chân không đứng vững trên đất, theo lối tắt đi về phía Tây Nam).” Trong bài Tịnh Tam Nghiệp Văn (淨三業文) của Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 2 có câu: “Thân tâm cấu tịnh bằng pháp thủy dĩ địch trừ, phẫn hận nghiệp tiêu trượng từ phong nhi đãng khứ (身心垢淨憑法水以滌除、忿恨業消仗慈風而蕩去, thân tâm nhớp sạch nhờ nước pháp để tẩy trừ, phẫn hận nghiệp tiêu nương gió từ mà quét sạch).” Hay trong Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經, Taishō Vol. 18, No. 901) quyển 1 có đoạn: “Cố năng tinh luyện Ngũ Minh, diệu thông chư bộ, ý dục vận Tây Vức chi pháp thủy, nhuận Đông Hạ chi khát ngưỡng, phán thân hứa vu hiểm nạn, vụ tồn hoằng đạo chi tâm (故能精練五明、妙通諸部、意欲運西域之法水、潤東夏之渴仰、判身許于險難、務存弘道之心, nên có thể tinh luyện Năm Minh, thông suốt các bộ, ý muốn vận dòng nước pháp của Tây Vức [Ấn Độ], thấm nhuần sự khát mong của Đông Hạ [Trung Quốc], phân thân nơi chốn hiểm nạn, chuyên giữ hoằng đạo thâm tâm).”

pháp thủy

Chân Lý Phật Pháp giống như nước có khả năng rửa sạch mọi uế nhiễm phiền não—The Buddha-truth likened to water, able to wash away the stains of illusion.

Pháp thực

(法食): có mấy nghĩa. (1) Chỉ món ăn như pháp. Như trong Tứ Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao (四分律刪繁補闕行事鈔, Taishō Vol. 40, No. 1804) quyển Hạ có dẫn lời dạy của Kinh Tăng Nhất A Hàm rằng: “Như Lai sở trước y danh viết Ca Sa, sở thực giả danh vi pháp thực (如來所著衣名曰袈裟、所食者名爲法食, áo do Như Lai mặc gọi là Ca Sa, thức ăn Ngài dùng tên là pháp thực).” (2) Chỉ cho bữa ăn đúng ngay giữa trưa, trong khoảng giờ Ngọ (theo Âm Lịch là từ 11 giờ đến 1 giờ chiều). Ba đời các đức Như Lai đều lấy giờ Ngọ làm giờ ăn, nên gọi là pháp thực thời (法食時, thời gian ăn đúng pháp, như pháp); và quá ngọ thì gọi là phi thực thời (非食時, không phải thời gian ăn). Trong Thích Thị Yếu Lãm (釋氏要覽, Taishō Vol. 54, No. 2127) quyển 1 có dẫn lời của Tỳ La Tam Muội Kinh (毘羅三昧經) rằng: “Phật vị Pháp Huệ Bồ Tát thuyết tứ thực thời, nhất đán thời, vi thiên thực; nhị Ngọ thời, vi pháp thực (佛爲法慧菩薩說四食時、一旦時、爲天食、二午時、爲法食, đức Phật vì Bồ Tát Pháp Huệ thuyết bốn lúc ăn, một lúc sáng sớm là trời ăn, hai lúc giờ Ngọ là ăn đúng pháp).” (3) Chỉ việc lấy pháp làm thức ăn để nuôi lớn huệ mạng, để tu hành thành đạo. Như trong 5 điều quán tưởng trước khi thọ nhận món ăn, được đề cập trong Học Luật Phát Nhận (律學發軔, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1125) quyển 3, điều thứ 5 nhấn mạnh rằng: “Vị thành đạo cố, phương thọ thử thực (爲成道故、方受此食, vì thành đạo nên mới thọ nhận món ăn này).” (4) Chỉ cho thực vật dùng cho cúng tế. Như trong Bạch Thạch Thần Quân Bi (白石神君碑) của một tác giả vô danh nhà Hán có đoạn: “Huyện giới hữu lục danh sơn, Tam Công, Đối Long, Linh Sơn, tiên đắc pháp thực (縣界有六名山、三公、封龍、靈山、先得法食, trong phạm vi huyện có sáu danh sơn, Tam Công, Đối Long, Linh Sơn thì được thức ăn dâng cúng đầu tiên).”

pháp thực

Dharmahara (skt). 1) Những thức ăn đúng theo quy định hay những thức ăn đúng theo phép tắc do Phật chế định—Diet in harmony with the rules in Buddhism. 2) Chân lý là pháp thực: Truth is dharma-food. 3) For more information, please see Dharmahara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (法食) Thức ăn pháp. Có 3 nghĩa: 1. Thức ăn đúng như pháp. Kinh Tăng nhất a hàm nói: Áo Như lai mặc, gọi là Ca sa, thức ăn Như lai dùng, gọi là Pháp thực. 2. Bữa ăn đúng giờ Ngọ. Kinh Tì la tam muội nói: Đức Phật nói về giờ dùng thức ăn cho bồ tát Pháp tuệ nghe: Chư thiên dùng bữa ăn vào sáng sớm, gọi là Thiên thực; chư Phật dùng vào giờ Ngọ, gọi là Pháp thực. 3. Chỉ cho việc dùng pháp làm thức ăn: Thức ăn để nuôi lớn sinh mệnh của trí tuệ cũng gọi là Pháp thực.

pháp thực thời

Quy định thời gian ăn uống, trước chứ không sau giờ ngọ—The regulation time for meals, at or before noon, not after.

pháp thực tướng

Immortal reality.

pháp tiến

(法進) (709-778) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Tín dương, Thân châu (nay thuộc tỉnh Hà nam), họ Vương, có thuyết cho là người Minh châu (huyện Ngân, tỉnh Chiết giang) là vị Tổ thứ 2 của Luật tông Nhật bản. Sư xuất gia từ nhỏ, đi tham học khắp nơi, sau thờ ngài Giám chân làm thầy, sư tinh thông Tam tạng, nhất là Thiên thai và Luật học. Sư cũng giỏi cả Nho học. Đầu năm Thiên bảo, sư theo ngài Giám chân sang Nhật bản, giúp đỡ ngài xây cất viện Giới đàn ở chùa Đông đại. Sau khi ngài Giám chân dời đến chùa Chiêu đề thì sư thay ngài trông nom viện Giới đàn. Tại đây, sư giảng các bộ Sớ về Luật học như: Phạm võng kinh sớ, Giới bản sớ, Yết ma sớ, Hành sự sao, Tỉ khưu ni sao, Tì ni nghĩa sao, Tuệ quang lược sớ, Trí thủ quảng sớ, Pháp lệ trung sớ v.v... Năm Bảo qui thứ 9 (778), sư thị tịch, thọ 70 tuồi (có thuyết nói thọ 81 tuổi). Đệ tử của sư gồm các vị: Huệ sơn, Thánh nhất, Cảnh thâm, Pháp ấn... Sư để lại các trứ tác: Phạm võng kinh chú, Sa di kinh sao, Đông đại tự thụ giới phương quĩ, Giới đàn thức. [X. Đường đại hòa thượng đông chinh truyện; Nguyên hanh thích thư Q.13; Luật uyển tăng bảo truyện Q.10; Chiêu đề thiên tuế truyện kí Q.trung, phần 1].

pháp toà

(法座) Cũng gọi Pháp tọa. Chỉ cho tòa ngồi thuyết pháp của đức Phật. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa (Đại 9, 4 trung) nói: Liền ở trên Pháp tòa, ngồi kết già tam muội. Ngoài ra, cái tòa cao thường được dùng khi thuyết pháp cũng gọi là Pháp tòa, hoặc Tu di tòa. Về sau, Pháp tòa cũng đồng nghĩa với Pháp diên, Pháp tịch. [X. Thiền uyển thanh qui Q.2; tắc 44 trong Thung dung lục]. (xt. Tu Di Đàn).

pháp toàn

(法全) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường. Lúc đầu, sư đến chùa Thanh long theo ngài Nghĩa tháo tu học Mật thừa, sau vào chùa Huyền pháp hướng dẫn đồ chúng. Khoảng năm Hội xương đời vua Vũ tông, sư được tuyển chọn là Đại đức trì niệm điện Trường sinh, sau lại dời về chùa Thanh long. Sư có các tác phẩm: Đại tì lô giá na thành Phật thần biến gia trì kinh liên hoa Thai tạng bi sinh mạn đồ la quảng đại thành tựu nghi quĩ cúng dường phương tiện hội, 2 quyển(tức Huyền pháp tự nghi quĩ), Đại tì lô giá na thành Phật thần biến gia trì kinh liên hoa Thai tạng bồ đề chàng tiêu xí phổ thông chân ngôn quảng đại thành tựu du già, 3 quyển(tức Thanh long tự nghi quĩ). Các vị tăng Nhật bản đến Trung quốc học Mật giáo, phần nhiều đến theo học sư, như các vị: Tông duệ, Viên nhân, Viên tải, Viên trân, Biến minh... [X. A sa phược sao quyển 149 Minh tượng đẳng lược truyện thượng; Lưỡng bộ đại pháp tương thừa sư tư phó pháp kí (Hải vận)].

pháp trai nhựt

Ngày trì trai giữ giới thường vào mỗi nửa tháng. Và sáu ngày giữ tám giới khác trong tháng, tổng cộng là tám ngày Bát Quan Trai trong tháng. Trong những ngày nầy Phật tử thuần thành thường giữ Bát quan Trai giới—The day of abstinence observed at the end of each half month. Also the six abstinence days, in all making the eight days for keeping the eight commandments. On these days Good Buddhists always keep the eight commandments.

pháp tràng

(法幢) I. Pháp Tràng. Lá cờ. Các dũng tướng xung trận dựng cờ để tượng trưng sự chiến thắng, cho nên Pháp tràng được dùng để ví dụ giáo pháp của đức Phật có năng lực hàng phục ma quân phiền não của chúng sinh. II. Pháp Tràng. Cây nêu dựng trước đạo tràng thuyết pháp. Khi tuyên dương đại pháp, cờ phướn được dựng ở trước cửa đạo tràng, gọi là Pháp tràng, Pháp bái. Thiền tông dùng từ ngữ này để khai diễn pháp, gọi là Kiến pháp tràng(dựng cờ pháp). Ngày nay, các chùa tổ chức an cư kết chế, cũng gọi Kiến pháp tràng. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Thủ lăng nghiêm Q.1; Tổ đình sự uyển Q.7; Bích nham lục tắc 21].

pháp trân

(法珍) Vị tỉ khưu ni Trung quốc, sống vào đời Nguyên, người đất Thục, họ Thôi, tên Pháp trân, pháp danh Hoằng đạo. Vào cuối đời Nguyên, Ni sư sống ở Thành đô, nhận thấy kinh điển mất mát, lưu thông không được đầy đủ, vì thế Ni sư phát tâm khắc tạng Tích sa, liền chặt cánh tay mà đi khuyến hóa, Phật tử 4 phương thấy thế rất cảm động và nhiệt thành hưởng ứng đóng góp phần mình vào sự nghiệp khắc kinh. Công việc khuyến hóa của Ni sư ròng rã 30 năm mới viên mãn và việc khắc in Đại tạng Tích sa được hoàn thành. Nhưng, trong Trung quốc Đại tạng kinh điêu khắc sử thoại (Lịch sử khắc Đại tạng kinh của Trung quốc), ngài Đạo an cho rằng, Tạng kinh do Ni sư Pháp trân khắc in không phải là tạng Tích sa mà là Kim khắc Đại tạng kinh. Tức vào năm Đại định thứ18 (1178), bà Thôi pháp trân ở Lộ châu, tỉnh Sơn tây, khắc in lại Đại tạng kinh bản mới, dâng lên triều đình nhà Kim 1 bản, rồi đăng đàn thụ giới Tỉ khưu ni ở chùa Thánh an tại Yên kinh. Năm Đại định 23 (1193), được vua ban cho áo đỏ và tôn hiệu Hoằng Giáo Đại Sư.Còn căn cứ theo Nguyên nhất thống chí Thuận thiên phủ chí quyển 1 và Phật giáo đại từ điển tập 8 của Vọng nguyệt Tín hanh, thì bà Thôi pháp trân và Ni sư Hoằng đạo là 2 người khác nhau, cả 2 người đều có sự tích Đoạn tí mộ hóa (chặt cánh tay đi khuyến hóa). Nhưng Tạng do bà Thôi pháp trân khuyến hóa là Kim tạng, còn Tạng do Ni sư Hoằng đạo khuyến hóa là Tích sa tạng. Nguyên nhân đưa đến sự lầm lẫn cho 2 người là 1, là vì bà Thôi pháp trân vốn thụ giới ở chùa Thánh an tại Yên kinh; khoảng đầu năm Hoàng thống (1141-1148), vua Hi tông nhà Kim ban tên cho chùa Thánh an là Đại Diên Thánh Tự. Tên mới này của chùa Thánh an trùng với tên của viện Tích Sa Diên Thánh. Vả lại, sự tích của bà Thôi pháp trân và Ni sư Hoằng đạo cũng giống nhau, cho nên 2 người thường bị lầm là một. Ngoài ra, theo Duyên sơn tam đại tạng kinh duyên khởi của ngài Tùy thiên – người Nhật bản– thì sau khi 2 tạng kinh Nam Bắc ở đời Minh được hoàn thành, Bắc tạng được cất giữ ở trong cung vua, dân gian xin in rất khó, còn Nam tạng tuy có thể thỉnh in nhưng phí tổn khá lớn, nên việc lưu thông cũng không phải dễ. Trong tình hình ấy, có Ni sư Pháp trân phát tâm đi khuyến hóa khắc in Đại tạng kinh bản Phương sách (tức bản đóng thành sách, chứ không xếp hoặc cuốn những tờ giấy như trước). Để thực hiện công việc lớn lao và khó khăn này. Ni sư bèn tự chặt cánh tay để tỏ quyết tâm và ròng rã 30 năm sự nghiệp mới hoàn thành. Đây là bộ Đại tạng Phương sách đầu tiên trong lịch sử khắc kinh. [X. Kim sử kỉ sự bản mạt Q.30; Minh khắc Phương sách đại tạng Lục quang tổ tự, Phùng mộng trinh tự, Vương thế trinh tự; Pháp trân ni sư đoạn tí khắc tạng khảo (Niệm sinh)].

Pháp Trì

(法持, Hōji, 635-702): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, tổ của Ngưu Đầu Tông (牛頭宗) Trung Quốc, còn gọi là Kim Lăng Pháp Trì (金陵法持), xuất thân Giang Ninh (江寧), Nhuận Châu (潤州, Nam Kinh), họ Trương (張). Ông xuất gia lúc nhỏ tuổi, đến năm lên 13 thì nghe danh của Hoằng Nhẫn Đại Sư (弘忍大師) ở Hoàng Mai (黃梅), bèn đến tham lễ, cầu học pháp yếu. Sau ông đến tham vấn Thiền Sư Huệ Phương (慧方) của Ngưu Đầu Tông, đắc tâm ấn và kế thừa môn phong, làm tổ của tông phái này. Khi Hoằng Nhẫn thị tịch, có nói với đệ tử Huyền Trách (玄賾) rằng: “Sau này có thể truyền pháp ta có 10 người, Kim Lăng Pháp Trì là một trong số đó”. Từ đó tiếng tăm của ông vang khắp, ông đến sống ở Diên Tộ Tự (延祚寺) vùng Kim Lăng (金陵, Giang Ninh, Giang Tô) truyền bá Thiền của Ngưu Đầu Tông. Về sau ông truyền pháp lại cho Trí Uy (智威) và vào năm thứ 2 niên hiệu Trường An (長安) nhà Đường, ông thị tịch, hưởng thọ 68 tuổi.

Pháp trí

法智; C: făzhì; J: hōchi; |Trí huệ vô lậu trang nghiêm, thấy biết rõ 4 sự thật của các hiện tượng nhân duyên trong thế gian, vận hành để giải trừ phiền não (s: dharma-jñāna). Là một trong Tam trí và Thập trí.

pháp trí

Dhamma-jnana (p)—Vô Lậu Trí hay sự hiểu biết của bậc giác ngộ—Enlightened understanding—Dharma-wisdom, which enables one to understand the law—The understanding of the law. ; (法智) I. Pháp Trí. Phạm: Dharma-jĩàna. Chỉ cho trí vô lậu duyên theo lí của 4 đế (khổ, tập, diệt, đạo) ở cõi Dục, mà đoạn trừ phiền não ở cõi này, là 1 trong 10 trí được liệt kê trong luận Câu xá quyển 26. (xt. Thập Trí). II. Pháp Trí (960-1028). Cao tăng Trung quốc, thuộc tông Thiên thai, sống vào thời Bắc Tống, người Tứ minh (huyện Ngân, tỉnh Chiết giang) họ Kim, hiệu Tri lễ. Sư trọn đời chuyên tâm vào việc trứ tác, giảng thuật, hoằng truyền kinh Pháp hoa, kinh Kim quang minh... chủ trương Vọng tâm quán. Sư cùng với ngài Từ vân Tuân thức đều là những nhân vật đại biểu của phái Sơn gia tông Thiên thai đời Tống, được người đời sau tôn làm Tổ thứ 17 của tông Thiên thai. Năm Thiên hi thứ 4 (1020), sư được vua Chân tông ban hiệu Pháp Trí Đại Sư, vì thế, người đời sau còn gọi sư là Tứ minh Pháp trí. [X. Phật tổ thống kỉ Q.50]. (xt. Tri Lễ).

Pháp trú kí

法住記; C: făzhùjì; J: hōjūki; |Tên bản dịch cuốn Nandimitrāvadāna, được Huyền Trang dịch năm 654. Là tên gọi tắt của Đại A-la-hán Nan-đề-mật-đa-la sở thuyết pháp trú kí (大阿羅漢難提蜜多羅所説法住記). Một quyển, của Nandimitra (phiên âm là Nan-đề-mật-đa-la 難提蜜多羅, Hán dịch là Khánh Hữu 慶友); còn có tên khác là Đại A-la-hán Nan-đề-mật-đa-la sở thuyết pháp trú kệ (大阿羅漢難提蜜多羅所説法住偈), Đại A-la-hán Nan-đà-mật-đa-la sở thuyết pháp trú kí (大阿羅漢難陀蜜多羅法住記), và Kí pháp trú truyện (記法住傳). Đề tài tác phẩm nầy tập trung vào giải thích về khái niệm Thập lục La-hán còn lưu lại thế gian để hộ trì Phật pháp. Tác phẩm còn cho rằng sự hiện hữu của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni trên thế gian là có giới hạn, và chư tăng làm thế nào để thay ngài hoằng truyền Phật pháp.

pháp trường

Nơi dành riêng cho việc tu tập trong tự viện—Any place set aside for religious practices, or purposes.

pháp trần

Dhammarammana (p)—Dharma-alambana (skt)—Pháp là đối tượng của tâm hay của ý căn, hay những ý nghĩ tiến triển từ sự tiếp xúc với đối tượng cảm nhận được trong tâm—The mental objects—Object of the mind or of mind-sense, or thought that proceed from contact with sensible objects in the mind.

pháp trụ

Dharmasthitita (skt) 1) Sự tương tục của hiện hữu: Continuity of existence. 2) Diệu lý của chân như dừng trụ trong hết thảy các pháp—Dharma abode, i.e., the omnipresent bhutatathata in all things. *For more information, please see Pháp Định. ; (法住) I. Pháp Trụ. Lí chân như mầu nhiệm trụ ở trong tất cả các pháp, là 1 trong 12 tên gọi của Pháp tính.[X. kinh Đại bát nhã Q.360]. (xt. Pháp Tính, Chân Như). II. Pháp Trụ (1723-1800). Cao tăng Nhật bản, người quận Đại hòa thạch thượng, tự Trí tràng, đời thứ 23 của chùa Trường cốc ở Đại hòa, thuộc tông Chân ngôn Tân nghĩa. Năm 16 tuổi, sư theo ngài Khoái phạm thượng nhân xuất gia, học luật nghi ở chùa Pháp long. Sau, sư lên núi Phong sơn theo học các ngài Vô đẳng, Khoái thân, rồi đi hoằng pháp các nơi. Sư có các tác phẩm: Đại nhật kinh sớ ngọc chấn sao 10 quyển, Nhiếp bát chuyển nghĩa 5 quyển, Bổ bát phạ nghĩa 1 quyển, Lược bát phạ nghĩa 1 quyển, Thập cú nghĩa kí 2 quyển. [X. Pháp trụ tăng chính truyện].

pháp trụ kí

(法住記) Phạm: Nandimitràvadàna. Tên đầy đủ: Đại A la hán nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kí. Cũng gọi: Đại A la hán nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kệ; Đại A la hán nan đà mật đa la pháp trụ kí, Kí pháp trụ truyện. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Nan đề mật đa la (Phạm: Nandimitra, Hán dịch: Khánh hữu) trứ tác, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 49. Nội dung sách này liệt kê 16 vị Đại A la hán hộ trì chính pháp của đức Phật Thích ca và nói về thời hạn mà chính pháp tồn tại ở thế gian. Tức là trình bày về việc sau khi đức Phật nhập diệt được 800 năm, thì ở nước Sư tử (Tích lan), nơi kinh đô của vua Thắng quân, có vị A la hán tên là Nan đề mật đa la, khi sắp nhập diệt, triệu tập các tỉ khưu, tỉ khưu ni, nói cho họ nghe về 16 vị Đại A la hán và chỗ ở cùng tên gọi của các quyến thuộc của 16 vị A la hán. Đồng thời, trả lời các câu hỏi của các vị tỉ khưu, tỉ khưu ni về thời hạn trụ thế của chính pháp. Sau khi sách này được dịch xong vào năm Vĩnh huy thứ 5 (654) đời Đường, thì sự sùng bái đối với 16 vị A la hán tại Trung quốc dần dần trở nên phổ biến; đồng thời căn cứ vào sự trình bày trong sách, các nghệ nhân đã đắp vẽ hoặc điêu khắc tượng của 16 vị A la hán. Sách này là sử liệu quí giá đối với việc nghiên cứu về Phật giáo Tích lan. Sách này có bản dịch Tây tạng, nhưng nội dung có nhiều chỗ khác với sách này. Năm 1916, các ông S.Lévi và E.Chavannes, người Pháp, dịch chung sách này ra tiếng Pháp, rồi ấn hành, có thêm lời bàn giải. Năm 1930, ông Phùng thừa quân phiên dịch sách này, đề là Pháp trụ kí cập sở thuyết A la hán khảo, do Thượng Chí Học Hội Tùng Thư ấn hành. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Đại Chu san định chúng kinh mục lục Q.10; Chí nguyện pháp bảo khám đồng tổng lục Q.10].

pháp trụ trí

(法住智) I. Pháp Trụ Trí. Chỉ cho cái trí thấy biết đúng như thực về 12 pháp duyên sinh: Vô minh, Hành, Thức... [X. kinh Tạp a hàm Q.14]. II. Pháp Trụ Trí. Trí nương theo lí pháp đức Phật đã dạy mà đặt ra các pháp môn để giải nói về lí pháp ấy. [X. phẩm Tâm ý thức tướng trong kinh Giải thâm mật Q.1]. III. Pháp Trụ Trí. Trí nương theo giáo pháp mà phát sinh, tức chỉ cho trí tuệ của phàm phu. [X. luận Du già sư địa Q.10].

pháp trụ tự

(法住寺) Cũng gọi Tục li tự, Tiểu kim cương. Chùa ở núi Tục li, quận Báo ân, tỉnh Trung thanh bắc, Hàn quốc, do Hòa thượng Nghĩa tín sáng lập vào năm 553, sau khi ngài từ Thiên trúc cầu pháp trở về. Đây là 1 trong 31 bản sơn của Phật giáo Hàn quốc và là 1 trong 5 ngôi chùa lớn nhất nước. Khi Phong thần Tú cát của Nhật bản đem quân xâm chiếm Hàn quốc (1592), chùa bị thiêu hủy hoàn toàn. Đến năm 1624 đời Lí, Đại sư Bích nham mới phỏng theo kiểu chùa cũ mà xây dựng lại. Hiện nay chùa có các kiến trúc như: Điện Đại hùng, điện Bát tướng, điện Năng nhân, điện Viên thông, gác Xá lợi, lầu Đại hương, lầu Ngưng hương, thất Niệm hoa...Ngoài ra, còn có pho tượng đức Phật Di lặc bằng đá cao lớn, rất nổi tiếng, đứng sừng sững trước vách đá núi Tục li, mới được hoàn thành vào năm 1964. Trong điện Đại hùng thờ tượng Pháp thân Phật Tì lô giá na, Báo thân Phật Lô xá na và Hóa thân Phật Thích ca mâu ni. Điện này cùng với điện Cực lạc chùa Vô lượng và điện Giác hoàng chùa Hoa nghiêm được gọi chung là Ba điện Phật lớn của Hàn quốc. Điện Bát tướng được sáng lập vào khoảng năm 536-575, hiện còn ngôi tháp 5 tầng bằng gỗ, là điển hình của lối kiến trúc cấu tạo nhiều tầng. Tháp này cùng với những cảnh trí của chùa như: Ao sen đá, đèn 2 con sư tử bằng đá, đèn 4 vị Thiên vương bằng đá và những pho tượng Phật được khắc trên vách núi ở phía bên trái chùa, đều là quốc bảo của Đại hàn.[X. Triều tiên tự sát sử liệu Q.thượng; Triều tiên kim thạch tổng lãm hạ; Cao li sử Q.40].

pháp tu bất nhị

Đa phần chúng ta hãy còn vướng mắc vào nhị nguyên nên không thể nhận rõ đâu là tinh túy, đâu là hình tướng bên ngoài, đâu là hiện hữu, đâu là không hiện hữu, danh sắc hay hiện tượng, vân vân. Chúng ta thường ôm lấy tinh túy và chối bỏ hình tướng bên ngoài, ôm lấy tánh không và chối bỏ sự hiện hữu, vân vân. Đây là loại tà kiến tạo ra nhiều tranh cãi và nghi nan. Thật ra có sự hổ tương giữa tâm linh và hiện tượng. Hành giả nên tự hòa giải với chính mình để loại những vướng mắc không cần thiết—Non-dual Method—Most of us are still attached to duality and have not reconciled essence and marks, existence and non-existence, noumenon and phenomena. We embrace essence and reject marks, we embrace non-existence (emptiness) and reject existence and so on. This kind of wrong view creates a lot of disputes, doubts and perplexity. In fact, there is mutual identity between noumenon and phenomena, phenomena are noumenon, noumenon is phenomena. Buddhist cultivators should reconcile all things and eliminate this unnecessary attachment.

pháp tuân thạch điền

Zen master Fa-Hsun-Shih-T'ien (1170-1244)—Thiền sư Trung Hoa, người đã quan ngại đến sự tồn vong của Thiền, nhưng qua bài thơ ngài lại cả quyết: “Con đường của Tổ tông nhà Thiền thật sâu và hiếm có ai đi được. Nó sâu thẳm mịt mù hơn cái hố sâu không đáy; khỏi cần phải đưa tay giúp đỡ những khách bộ hành, cứ để cho rong rêu trước sân mặc tình xanh lên.” (Tổ sư môn hạ tuyệt nhân hành, thâm hiểm quá ư vạn nhẫn khanh, thùy thủ bất năng không phí lực, Nhiệm giao đường thượng lục đài sanh). Theo Thiền sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập II, thừa nhận rằng phong thái của Thiền là phải thế. Tuy nhiên, ngài cho rằng khi rong rêu nơi cửa Thiền chưa từng bị dẫm đạp bởi những bước chân của một chúng sanh nào, thì Thiền sẽ thành ra cái gì? Phải làm sao cho con đường khả dĩ đi được, ít ra trong mức độ nào đó; phải khám phá ra một vài phương tiện giả tạm hầu dễ lôi cuốn những tâm hồn một ngày nào đó trở thành truyền nhân đích thực của Thiền—A Chinese Zen master in the end of the twelfth century. He was so concerned about the destiny of Zen, but he was so determined that there was no other way to penetrate into it. Through a poem he said: “Very dew indeed there are who can walk the path of our Fathers! In depth and steepness an abysmal pit; uselessly I extend the hand to help the passengers; let the moss in my front court grow as green as it chooses.” According to Zen master D.T. Suzuki in the Essays in Zen Buddhism, Book II, this view of Zen is what we must expect of course of a genuine Zen master. However, when the moss of the Zen courtyard is never disturbed by the footsteps of any human beings, what will become of Zen? The path must be made walkable, to a certain extent at least; some artificial means must be devised to attract some minds who may one day turn out to be true transmitters of Zen.

pháp tài

Là thần thông trí huệ, năng lực vô lượng vô biên của tự tánh vốn sẵn có. ; Pháp nầy cũng có thể đem lại lợi nhuận cho mọi người như tiền tài đem lai niềm vui hạnh phúc cho người thế tục—The riches of the Law, or the law as wealth. ; (法財) Đối lại: Thế tài. Chỉ cho Phật pháp, giáo pháp. Vì giáo pháp của đức Phật có năng lực nhuần thấm tinh thần và nuôi lớn tuệ mệnh của chúng sinh, giống như của báu(tài bảo) thế gian, nên ví dụ gọi là Pháp tài. Phẩm Phật quốc kinh Duy ma (Đại 14, 537 hạ) nói: Pháp vương pháp lực vượt quần sinh, thường đem pháp tài để bố thí.

pháp tài vương tử

(法才王子) Chỉ cho vị Vương tử vì gặp nhân duyên xấu ác mà lui mất Chính tâm trụ. Cứ theo phẩm Hiền thánh học quán trong kinh Bồ tát anh lạc quyển thượng, nếu trong 1 kiếp, 2 kiếp, cho đến 10 kiếp liên tiếp, mà không gặp thiện tri thức, thì ắt sẽ lui mất tâm bồ đề. Như trong hội đầu tiên của đức Phật Thích ca có 8 vạn người lui mất tâm này. Trong đó, 3 người là Tịnh mục thiên tử, Pháp tài vương tử và Xá lợi phất, vì gặp nhân duyên xấu ác nên lui vào con đường bất thiện của phàm phu. Kinh này cho rằng Pháp tài vương tử và Xá lợi phất là 2 người khác nhau, nhưng Khởi tín luận bản sớ thính tập kí quyển 15, phần đầu, thì cho rằng Pháp tài vương tử và Xá lợi phất là cùng 1 người, nghĩa là Pháp tài vương tử là tiền thân của ngài Xá lợi phất. [X. luận Đại trí độ Q.12; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ, phần cuối; Đại thừa tứ luận huyền nghĩa Q.2].

pháp tàng

Chân lý Phật Pháp là dấu hiệu tiêu biểu cho sức mạnh chế ngự ma quân—The standard of Buddha-truth as an emblem of power over the hosts of Mara.

Pháp Tánh

(法性, Hosshō, ?-1245): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa thời Liêm Thương, húy là Pháp Tánh (法性), tự Giác Viên (覺圓). Ông theo làm đệ tử của Minh Nhiệm (明任) ở Chánh Trí Viện (正智院) trên Cao Dã Sơn, rồi tu tập yếu chỉ của Mật Giáo với Giác Hải (覺海), và học về sự tướng của Dòng Báo Ân Viện (報恩院流) với Hiến Thâm (憲深) ở Tam Bảo Viện (三寶院). Về sau, ông kiến lập Pháp Tánh Viện (法性院, hay Bảo Tánh Viện [寶性院]) tại Cao Dã Sơn. Vào năm 1242, vì có liên can trong cuộc tranh giành ngôi Tọa Chủ của Kim Cang Phong Tự (金剛峰寺) và Đại Truyền Pháp Viện (大傳法院), ông bị lưu đày đến vùng Xuất Vân (出雲, Izumo) và qua đời tại đó. Ông được xem như là một trong Cao Dã Bát Kiệt (高野八傑, tám nhân vật kiệt xuất của Cao Dã Sơn). Trước tác của ông có Hiển Mật Vấn Đáp Sao (顯密問答抄) 2 quyển.

pháp tánh

Tathagata-garbha or Dharmata (skt)—Chơn tánh tuyệt đối của vạn hữu là bất biến, bất chuyển và vượt ra ngoài mọi khái niệm phân biệt—Dharma-nature—The nature underlying all things—Thusness—True Suchness—The absolute, the true nature of all things which is immutable, immovable and beyond all concepts and distinctions. Dharmata (pháp tánh) or Dharma-nature, or the nature underlying all things has numerous alternative forms: 1) Pháp định: Inherent dharma or Buddha-nature. 2) Pháp trụ: Abiding dharma-nature. 3) Pháp giới: Dharmaksetra—Realm of dharma. 4) Pháp thân: Dharmakaya—Embodiment of dharma. 5) Thực tế: Region of reality. 6) Thực tướng: Reality. 7) Không tánh: Nature of the Void—Immaterial nature. 8) Phật tánh: Buddha-nature. 9) Vô tướng: Appearance of nothingness--Immateriality. 10) Chân như: Bhutatathata. 11) Như Lai tạng: Tathagatagarbha. 12) Bình đẳng tánh: Universal nature. 13) Ly sanh tánh: Immortal nature. 14) Vô ngã tánh: Impersonal nature. 15) Hư định giới: Realm of abstraction. 16) Bất biến dị tánh: Immutable nature. 17) Bất tư nghì giới: Realm beyond thought. 18) Tự tánh thanh tịnh tâm: Mind of absolute purity, or unsulliedness.

pháp tánh chân như

Pháp tánh và chân như (khác tên nhưng tự thể giống nhau)—Dharma-nature and bhutatathata.

pháp tánh hải

Pháp tánh sâu rộng, không thể đo lường được, ví như biển cả bao la—The ocean of the dharma-nature, vast, unfathomable.

pháp tánh phật

Dharmatabuddha (skt)—Đức Phật của chính bản thể, từ Pháp Thân Phật trong khía cạnh tuyệt đối của nó—The Buddha as Essence itself, i.e., the Dharmakaya in its absolute aspect.

pháp tánh sơn

Pháp tánh như núi, cố định, không lay chuyển được—The dharma-nature as a mountain, i.e. fixed, immovable.

pháp tánh sở lưu phật

Dharmatanishyanda-buddha (skt)—Đức Phật được quan niệm như là phát xuất từ bản thể tối hậu của các sự vật, tức là, một hình tướng của tuyệt đối được hiện ra—The Buddha conceived as flowing out of the ultimate essence of things, that is, a manifested form of the Absolute.

pháp tánh tam muội

Samadhi as the Dharma-nature.

pháp tánh thân

See Pháp Thân.

pháp tánh thường lạc

Pháp tánh (một tên khác của niết bàn) nên có đầy đủ tứ tánh thường lạc ngã tịnh—The eternity and bliss of the dharma-nature.

pháp tánh thủy

Nước pháp cam lồ của Pháp Tánh (thanh tịnh)—The “sweet-dew” water of the dharma-nature (pure).

pháp tánh tông

Trường phái (Hoa Nghiêm, Thiên Thai, Chân Ngôn) cho rằng vạn hữu đều xuất phát từ thật tánh chân như—Sects (Hua-Yen, T'ien-T'ai, Shingnon) which hold that all things proceed from the bhutatathata (all phenomena are of the same essence as the noumena).

pháp tánh tùy duyên

Pháp tánh tùy duyên hay chân như tùy duyên. Thể của pháp tánh tùy theo nhiễm duyên mà sanh ra, có thể là tĩnh hay động; khi động thì hoàn cảnh bên ngoài trở nên ô nhiễm, mà gây nên phiền não; khi tĩnh là không ô nhiễm hay niết bàn. Khi tĩnh như tánh của nước, khi động như tánh của sóng—The dharma-nature in the sphere of illusion. Dharma-nature, or bhutatathata, in its phenomenal character; the dharma-nature may be static or dynamic; when dynamic it may by environment either become sullied, producing the world of illusion, or remain unsullied, resulting in nirvana. Static, it is like a smooth sea; dynamic, to its waves.

pháp tánh tùy vọng

See Pháp Tánh Tùy Duyên.

Pháp Tánh Tự

(法性寺, Hosshō-ji): ngôi chùa hiện tọa lạc tại số 16 Chome (丁目), Hon-machi (本町), Higashiyama-ku (東山區), Kyōto-shi (京都市). Vào năm 925 (niên hiệu Diên Trường [延長] thứ 3), vị Tả Đại Thần Đằng Nguyên Trung Bình (藤原忠平, Fujiwara-no-Tadahira, 880-949) kiến lập nên chùa này, lấy tượng Lô Xá Na Phật (s: Vairocana, 盧舍那佛) làm tượng thờ chính. Đây là ngôi chùa của dòng họ Đằng Nguyên vốn có thế lực đương thời. Họ cung thỉnh vị Thiên Thai Tọa Chủ Pháp Tánh Phòng Tôn Ý (尊意, Soni, 966-940) làm tổ khai sơn của chùa. Từ đó về sau, nhờ sự trợ lực không ngừng của dòng họ này, chùa tiến hành xây dựng và tạc tượng Phật. Trong đó, công trình trứ danh đáng kể nhất là Ngũ Đại Đường (五大堂) được kiến lập vào năm 1006 (niên hiệu Khoan Hoằng [寛弘] thứ 3), nhân lễ Khánh Hạ 40 tuổi của Đằng Nguyên Đạo Trưởng (藤原道長, Fujiwara-no-Michinaga, 966-1027). Tượng thờ chính của ngôi viện này là tượng ngồi Bất Động Minh Vương (不動明王), hiện được an trí tại Đồng Tụ Viện (同聚院) của Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji). Vào năm 1239 (niên hiệu Diên Ứng [延應] thứ 1), Cửu Điều Đạo Gia (九條道家, Kujō Michiie, 1193-1252) cho xây dựng Đông Phước Tự ở vùng đất này, nên Pháp Tánh Tự bị phế bỏ, rồi lấy tượng đứng Thiên Thủ Quan Âm (千手觀音, tiền bán thế kỷ thứ 10) làm tượng thờ chính. Tương truyền tượng này là tượng Phật thường trì niệm của Tôn Ý, cho nên tên gọi Pháp Tánh Tự vẫn còn lưu truyền cho đến ngày nay.

pháp tánh độ

The ksetra (skt)—Tánh Độ hay cõi mà pháp tánh thân (chơn như) an trụ—Region of the dharma-nature, i.e. the bhutatathata.

Pháp Tánh, Pháp Tính

(s: dharmatā, p: dhammatā, 法性): còn gọi là Thật Tướng Chân Như (實相眞如), Chân Pháp Tánh (眞法性), Chân Tánh (眞性); là tên gọi khác của Chân Như (眞如), v.v.; tuy tên gọi khác mà đồng thể; là thể tánh chân thật của các pháp, cũng là bản tánh chân thật bất biến vốn có của hết thảy hiện tượng trong vũ trụ. Pháp Tánh là gốc của vạn pháp, nên còn gọi là Pháp Bổn (法本). Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 32 lấy tổng tướng và biệt tướng của các pháp cùng quy về Pháp Tánh; cho rằng các pháp có mỗi mỗi tướng (tướng sai biệt của hiện tượng) và thật tướng. Về cái gọi là mỗi mỗi tướng khác nhau, tỷ dụ như sáp ong đốt chảy thành nước, mất đi tướng ban đầu của nó, do vì không cố định, nên phân biệt tìm cầu không thể được; chính vì không thể được nên gọi là “không (空)” (tức không có tự tánh); vì vậy không chính là thật tướng của các pháp. Đối với hết thảy tướng sai biệt mà nói, do vì tự tánh của chúng là không, nên đều là đồng nhất, được gọi là “như (如).” Tất cả các tướng đều quy về không, vì vậy gọi không là Pháp Tánh. Lại nữa, như trong đá màu vàng có đủ tánh chất của vàng, trong tất cả các pháp trên thế gian đều có Pháp Tánh của Niết Bàn; vì vậy mới bảo rằng thật tánh bản nhiên của các pháp là Pháp Tánh. Điều này đồng nghĩa với ý nghĩa gọi là “chúng sanh, quốc độ đồng nhất Pháp Tánh (眾生、國土同一法性, chúng sanh, quốc độ cùng một Pháp Tánh)” trong Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu Nghĩa Kinh (大方廣圓覺修多羅了義經, Taishō Vol. 17, No. 842). Trong Đại Bảo Tích Kinh (大寶積經, Taishō Vol. 11, No. 310) quyển 52, đức Thích Tôn đã từng khai thị về nghĩa thật tánh của các pháp, dạy rằng Pháp Tánh không có đổi khác, không có tăng thêm, không tạo tác và chẳng có không tạo tác; Pháp Tánh không có phân biệt, không có sở duyên, đối với tất cả pháp có thể chứng đắc thể tướng cứu cánh. Cũng có thuyết cho rằng Như Lai Tạng (如來藏) đồng nghĩa với Pháp Tánh. Các luận sư giải thuyết về Pháp Tánh không giống nhau. Đại Sư Từ Ân (慈恩, tức Khuy Cơ [窺基, 632-682]) của Pháp Tướng Tông thì cho rằng Pháp Tánh là Viên Thành Thật Tánh (圓成實性) trong 3 tánh; Y Tha Khởi Tánh (依地起性) này là nơi nương tựa của hết thảy các pháp hữu vi. Trong khi đó, Gia Tường Đại Sư Cát Tạng (吉藏, 549-623) của Tam Luận Tông lại chủ trương rằng chân không là Pháp Tánh. Kế đến, Hiền Thủ (賢首, tức Pháp Tạng [法藏, 643-712]), vị Tổ thứ 3 của Hoa Nghiêm Tông, cho rằng chân như có hai nghĩa là bất biến và tùy duyên; nếu lấy nghĩa tùy duyên, biến tạo ra các pháp, tuy biến tạo mà vẫn giữ tánh chân như bất biến. Chân như tùy duyên biến tạo vạn pháp như vậy, nên gọi chân như là Pháp Tánh. Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-597) của Thiên Thai Tông luận rằng Pháp Tánh có đủ ô nhiễm, trong sạch, tức tánh thiện tánh ác; vì tánh có đủ thiện và ác, nên sanh ra các pháp ô nhiễm, trong sạch. Như trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 10, No. 279) quyển 16, Phẩm Thăng Tu Di Sơn Đảnh (昇須彌山頂品) 13, có đoạn: “Pháp Tánh bổn không tịch, vô thủ diệc vô kiến, tánh không tức thị Phật, bất khả đắc tư lường (法性本空寂、無取亦無見、性空卽是佛、不可得思量, Pháp Tánh vốn không lặng, không cầm cũng không thấy, tánh không tức là Phật, suy lường chẳng thể được).” Trong bài tựa của Khởi Tín Luận Tục Sớ (起信論續疏, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 45, No. 764) quyển 1 giải thích rằng: “Pháp Tánh giả, vị chân như bất biến, tùy duyên nhi năng thành nhất thiết pháp (法性者、謂眞如不變、隨緣而能成一切法, Pháp Tánh nghĩa là chân như bất biến, tùy duyên mà có thể thành tất cả các pháp).” Hoặc trong Tông Kính Lục (宗鏡錄, Taishō Vol. 48, No. 2016) quyển 87 cũng có đoạn: “Hựu chư pháp tức Pháp Tánh nhân duyên, nãi chí Đệ Nhất Nghĩa diệc thị nhân duyên (又諸法卽是法性因緣、乃至第一義亦是因緣, lại các pháp là nhân duyên của Pháp Tánh, cho đến Đệ Nhất Nghĩa cũng là nhân duyên).”

Pháp tính

法性; C: făxìng; J: hosshō; |1. Bản tính chân thực của các »pháp« (mọi hiện hữu, mọi hiện tượng). Bản thể của mọi hiện hữu; Thực tại của Phật pháp; Chân như, Pháp giới; 2. Thực tại như đã hoàn chỉnh trong chính nó; 3. Không, tính không.

pháp tính

(法性) Phạm: Dharmatà. Pàli: Dhammatà. Cũng gọi Chân như pháp tính, Chân pháp tính, Chân tính, Pháp bản. Chỉ cho thể tính chân thực của các pháp, cũng tức là bản tính bất biến của hết thảy hiện tượng trong vũ trụ. Cũng là tên khác của Chân như. Theo luận Đại trí độ quyển 32 thì Tổng tướng vàBiệt tướng của tất cả các pháp đều qui về Pháp tính. Nghĩa là các pháp đều có tướng sai biệt và thực tướng; tướng sai biệt không cố định, là bất khả đắc. Vì bất khả đắc nên là không(vô tự tính), cho nên Không là thực tướng của các pháp. Tất cả các tướng sai biệt, vì tự tính của chúng là không, nên đều là đồng nhất, gọi đó là Như. Tất cả tướng đều qui về không, cho nên gọi không là Pháp tính. Trong kinh Đại bảo tích quyển 52, đức Phật chỉ dạy nghĩa thực tính của các pháp, cho rằng Pháp tính không có đổi khác, không có thêm lên, không có bớt đi, không tạo tác nhưng chẳng có gì mà không tạo tác. Pháp tính không có phân biệt, không có sở duyên, trong tất cả pháp, chứng đắc thực tướng cùng tột. Thông thường, có thuyết phân biệt giữa Pháp tính và Như lai tạng, cho rằng Pháp tính và Như lai tạng có khác nhau, nhưng cũng có thuyết chủ trương Pháp tính và Như lai tạng là đồng nghĩa. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.21; kinh Bồ tát địa trì Q.1; luận Thành duy thức Q.2; luận Đại trí độ Q.28; Đại thừa huyền luận Q.3]. (xt. Chân Như, Chân Lí).

Pháp tính bình đẳng

法性平等; C: fă xìng píngděng; J: hosshōbyōdō; |Sự bình đẳng trong thể tính của thực tại.

pháp tính dung thông

(法性融通) Đối lại: Duyên khởi tương do. Nghĩa là lí pháp tính viên dung trong các hiện tượng. Pháp tính viên dung là nhằm nói rõ nghĩa lí sự vô ngại. Hoa nghiêm kinh chỉ qui (Đại 45, 595 trung) nói: Pháp tính dung thông có nghĩa là nếu chỉ nói đến sự tướng thì chướng ngại lẫn nhau, không thể dung nhập; nếu chỉ bàn về lí tính, thì là nhất vị rồi, không cần nói đến dung nhập. Ở đây nói lí sự dung thông mới là vô ngại. (...) Phẩm Bất tư nghị cũng nói, hết thảy chư Phật ở trong 1 vi trần thị hiện ra các cõi Phật trang nghiêm nhiều như bụi nhỏ trong tất cả thế giới (...) mà vi trần không lớn, thế giới không nhỏ, quyết định rõ biết pháp giới an trụ. Nghĩa là các việc lớn nhỏ ấy đều an trụ nơi lí pháp giới, nhờ đó nên chúng có thể nương vào sự pháp giới lớn nhỏ để cùng tồn tại mà không trở ngại lẫn nhau. (xt. Duyên Khởi Tương Do).

pháp tính không

(法性空) Nghĩa là bản tính của các pháp vốn vắng lặng.Nhân vương kinh hợp sớ quyển trung (Vạn tục 40, 383 hạ) nói: Bản tính không có nghĩa là nếu bản tính chẳng phải là không thì chẳng thể làm cho nó là không. Vì bản tính tự nó là không, cho nên các pháp đều là không. [X. Pháp uyển châu lâm Q.57]. (xt. Pháp Tính).

pháp tính luận

(法性論) Tác phẩm, do ngài Tuệ viễn ở Lô sơn soạn vào đời Đông Tấn. Sách này hiện đã bị thất lạc, chỉ còn 1 phần được trích dẫn trong Tuệ viễn truyện của Lương cao tăng truyện quyển 6. Nội dung sách bàn về sự thường trụ bất biến của đức Phật, nhưng ở thời đại ngài Tuệ viễn, người ta vẫn chưa biết đến thuyết Niết bàn thường trụ, bởi thế, ngài Cưu ma la thập mới ca ngợi kiến thức siêu việt của luận này. Ngoài ra, qua luận này, người ta có thể thấy tư tưởng trong luận A tì đàm tâm, do đó, người ta suy đoán rằng luận này đã được biên soạn vào khoảng thời gian từ năm Thái nguyên thứ 6 đến năm Thái nguyên 16 (381-391), tức là từ lúc ngài Tuệ viễn vào Lô sơn đến khi luận A tì đàm tâm được phiên dịch xong.

pháp tính sinh thân

(法性生身) Thân hóa sinh ngoài 3 cõi của Phật và các bậc Đại bồ tát, là 1 trong 5 loại Pháp thân của Như lai, 1 trong 2 thứ thân của Bồ tát. Sinh thân này thể chứng pháp tính, được vô sinh pháp nhẫn, khác với nhục thân ở trong bào thai hoặc do nghiệp chiêu cảm; thân Như lai chính đã sinh ra từ thân Pháp tính này. Nếu phối hợp với 3 thân thì thânnày tương đương với Báo thân Phật mà ngài Cát tạng đã nói. Pháp tính sinh thân của đức Phật có vô lượng vô số a tăng kì các vị bồ tát Nhất sinh bổ xứ theo hầu. Đó là vì trong vô lượng a tăng kì kiếp Phật đã chứa góp các công đức thiện căn, cho nên làm việc gì cũng thành tựu, nguyện nào cũng viên mãn. Còn Bồ tát, sau khi được Vô sinh pháp nhẫn, xả bỏ nhụcđể thụthân đời sau; vì Bồ tát thể nhập được sức vô sinh nhẫn, nên không còn các phiền não, đã chẳng chứng quả Nhị thừa, lại cũng chưa thành Phật, vì thế thân mà Bồ tát thụ trong khoảng đó cũng gọi là Pháp tính sinh thân. Pháp hoa huyền luận quyển 8 đem Nhục thân trong 2 loại thân của Bồ tát phối hợp với Phần đoạn sinh tử mà đem Pháp tính sinh thân phối hợp với Biến dịch sinh tử. Hàng nhị thừa và bồ tát Pháp thân tuy có Pháp tính sinh thân, nhưng đều tùy phần mà lãnh thụ; còn Pháp tính sinh thân của Phật thì có năng lực chiếu suốt pháp tính, cho nên Pháp tính sinh thân chân thực duy chỉ có Phật mới chứng được mà thôi. [X. luận Đại trí độ Q.28, 29; Pháp hoa huyền luận Q.9; Pháp hoa nghĩa sớ Q.7].

pháp tính tam muội

(法性三昧) Chỉ cho Tam muội thể nhập lí pháp tính, tức là những việc làm hằng ngày hoàn toàn phù hợp với lí pháp tính tuyệt đối. Mã tổ ngữ lục (Vạn tục 119, 406 hạ) nói: Hết thảy chúng sinh, từ vô lượng kiếp đến giờ, không ra ngoài Pháp tính tam muội; mặc áo, ăn cơm, nói năng, im lặng, vận dụng 6 căn, làm tất cả việc... đều là pháp tính.

Pháp tính tông

法性宗; C: făxìngzōng; J: hōshōshū; K: pŏpsŏngjong.|Tên gọi có tính co giãn được dùng sau sự kiện một hệ thống nghiên cứu học thuật Hàn Quốc quan tâm đến đề tài Như Lai tạng (如來藏, s: tathāgatagarbha) và A-lại-da thức (阿頼耶識, s: ālayavijñāna), nhưng là những vấn đề được tiếp cận từ quan điểm »duyên khởi tính« hơn là phát xuất từ những đặc tính riêng. Do vậy, dạng nghiên cứu những vấn đề ngược lại những gì được gọi là »Pháp tướng« (法相, k: pŏpsang). Sự thành lập tông nầy thường được xem là ảnh hưởng của Nguyên Hiểu (元曉, k: wŏnhyo).

pháp tính tông

(法性宗) Cũng gọi Tính tông. Một trong 3 tông Đại thừa do ngài Tông mật –Tổ thứ 5 của tông Hoa nghiêm– phân lập. Tông này cho rằng tâm của tất cả chúng sinh hoàn toàn chẳng phải do dứt trừ phiền não mà được thanh tịnh, nhưng thực thì từ xưa đến nay nó đã vốn thanh tịnh, cho nên tâm của chúng sinh chính là pháp tính. Ngài Tông mật chia Đại thừa làm 3 tông: Pháp tướng, Phá tướng và Pháp tính. Tông Pháp tướng là chỉ cho tông Duy thức dùng 5 vị 100 pháp để kiến lập các pháp tướng; tông Phá tướng chỉ cho tông Tam luận dùng Tứ cú, Bách phi để phá hủy tất cả pháp tướng. Nói theo 5 giáo do tông Hoa nghiêm phân lập thì tông Duy thức tương đương với Tướng thủy giáo, tông Tam luận tương đương vớiKhông thủy giáo, còn tông Pháp tính thì tương đương với Chung giáo, Đốn giáo và Viên giáo, cũng bao gồm các tông Hoa nghiêm, Thiên thai... Ngài Tông mật cũng chủ trương so với 2 tông Pháp tướng và Phá tướng thì tông Pháp tính ưu việt hơn. Trong Tông kính lục quyển 5, ngài Vĩnh minh Diên thọ cho rằng Pháp tướng nói nhiều về sự tướng, như tông Pháp tướng, nếu rời thức A lại da thì không có các thức nhãn, nhĩ...; Pháp tính thì chỉ nói về lí tính, như tông Pháp tính, nếu rời Như lai tạng thì không có các thức. Thông thường, những nhà chủ trương chân như(pháp tính hoặc Phật tính) là nguồn gốc của thế giới thì thuộc tông Pháp tính, những nhà phân tích các pháp tướng, luận chứng vạn pháp duy thức biến thì thuộc tông Pháp tướng. Còn phái Trung quán Đại thừa và tông Tam luận của Trung quốc thì phần nhiều được gọi là tông Pháp tính, cũng có người gọi các tông: Hoa nghiêm, Thiên thai, Tam luận, Chân ngôn... là Pháp tính tông. [X. Viên giác kinh lược sớ Q.thượng, phần đầu]. (xt. Tính Tướng Nhị Tông).

pháp tính tự

(法性寺) Cũng gọi Chế chỉ tự, Chế chỉ đạo tràng. Chùa ở vùng tây bắc Quảng châu, do vị tăng người nước Kế tân sáng lập vào đời Đông Tấn, đặt tên là chùa Vương viên, hiện nay gọi là chùa Quang hiếu. Vào thời Nam triều, ngài Chân đế trụ ở chùa này để phiên dịch kinh điển, các sư Tuệ khải, Tăng tông... cũng theo nhau đến đây tham dự công việc phiên dịch của ngài Chân đế. Khoảng năm Trinh quán, chùa được gọi là Càn minh Pháp tính tự. Niên hiệu Nghi phụng năm đầu (676), Lục tổ Tuệ năng đến chùa này, gặp đúng lúc Pháp sư Ấn tông đang giảng kinh Niết bàn, lúc đó có 2 vị tăng đang tranh luận về vấn đề gió động hay phướn động, ngài Tuệ năng bảo chẳng phải gió động cũng chẳng phải phướn động, mà chính là tâm của 2 nhân giả động. Sau đó, Lục tổ y vào Pháp sư Ấn tông cạo tóc xuất gia, rồi ở dưới cội Bồ đề mở ra pháp môn Đông sơn. Vào đầu đời Bắc Tống, chùa được gọi là Càn minh Thiền viện. Khoảng năm Diên hựu đời Nguyên, chùa đúc 1 cái vạc lớn cúng trai tăng. Khoảng năm Hồng vũ đời Minh, chùa trở thành Tăng lộc sở và được vua ban Đại tạng kinh. Năm Thành hóa thứ 8 (1472), vua ban biển hiệu Quang Hiếu Thiền Tự. Năm Thuận trị 11 (1654) đời Thanh, chùa bị phá hủy trong chiến tranh, sau do Thiền sư Nguyên chí kiến thiết lại cho đến nay. (xt. Quang Hiếu Tự).

pháp tính độ

See Pháp Giới. ; (法性土) Cũng gọi Pháp thân độ, Pháp tính tịnh độ, Pháp độ. Chỉ cho cõi Chân như pháp tính nơi Pháp thân an trụ. Cũng tức là cõi thân Phật an trụ. Là 1 trong Tam độ, 1 trong Tứ độ, 1 trong Ngũ độ. Đại thừa nghĩa chương quyển 19 (Đại 44, 835 trung) nói: Pháp tính độ là bản tính của cõi nước mà các nghĩa đồng thể, rỗng không vô ngại, giống như tấm lưới của trời Đế thích, cũng như hư không, vô ngại bất động, không có 1 vật. (...) Thực tính của cõi ấy hiển hiện thành cái dụng của Ngã, gọi là Pháp tính độ. Ngoài ra, thể của Pháp tính độ và Pháp tính thân vốn tức là chân như, nhưng lấy pháp thể sở chứng làm Pháp tính độ và lấy giác tướng năng chứng làm Pháp tính thân, chứ chẳng phải ngoài Pháp tính thân còn có Pháp tính độ riêng. [X. phẩm Hiền thánh học quán trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng; luận Thành duy thức Q.10; Thành duy thức luận thuật kí Q.10, phần cuối; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.1; Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.1; Đại minh tam tạng pháp số Q.20]. (xt. Ngũ Độ, Tứ Độ, Phật Độ).

Pháp tòa

(法座): có ba nghĩa khác nhau. (1) Tòa ngồi của chư Phật. (2) Tòa ngồi của vị tăng thuyết pháp. (3) Chỗ ngồi của hội chúng tập trung nghe thuyết pháp. Như trong Phật Thuyết Trừ Cái Chướng Bồ Tát Sở Vấn Kinh (佛說除蓋障菩薩所問經, Taishō Vol. 14, No. 489) quyển 14 có đoạn: “Thiện nam tử, thử nhất tọa giả thị vị nhất thiết trí tòa, diệc danh pháp tòa; thị cố Bồ Tát nhất đăng kỳ tòa nhi vĩnh bất động, thị tức danh vi nhất tọa chi pháp (善男子、此一坐者是謂一切智座、亦名法座、是故菩薩一登其座而永不動、是卽名爲一坐之法, Này thiện nam tử ! Tòa ngồi này là chỗ ngồi của tất cả trí tuệ, cũng gọi là pháp tòa; cho nên vị Bồ Tát một khi đã lên tòa này thì vĩnh viễn bất động, đó tức gọi là pháp một tòa ngồi).” Hay trong Hoa Nghiêm Phổ Hiền Hạnh Nguyện Tu Chứng Nghi (華嚴普賢行願修證儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1472), phần Khải Thỉnh Thánh Hiền (啟請聖賢) thứ 7, cũng có đoạn: “Hành giả sơ nhập đạo tràng, xưng niệm Phổ Hiền Bồ Tát, toàn nhiễu nhất tráp, chí pháp tòa tiền, phu ni sư đàn, chánh thân hiệp chưởng trữ lập (行者初入道場、稱念普賢菩薩、旋遶一匝、至法座前、敷尼師壇、正身合掌佇立, hành giả ban đầu mới vào đạo tràng, xưng niệm Phổ Hiền Bồ Tát, đi nhiễu quanh một vòng, đến trước pháp tòa, trãi Tọa Cụ ra, thân ngay thẳng chấp tay đứng hồi lâu).”

pháp tôn

(法尊) I. Pháp Trần. Bụi pháp. Chỉ cho các pháp (đối tượng) mà ý thức duyên theo, 1 trong 6 trần. Trong các kinh, phiền não thường được ví dụ là bụi bặm, vì các phiền não thường làm cho tình thức ô nhiễm, cho nên gọi là Pháp trần. Kinh Lăng nghiêm quyển 1 (Đại 19, 109 thượng) nói: Dù cho bên trong diệt hết tất cả kiến, văn, giác, tri (thấy, nghe, hiểu, biết), hoàn toàn vắng lặng, nhưng vẫn còn bóng dáng phân biệt của Pháp trần. Pháp trần cũng tương đương với Pháp xứ trong 12 xứ, với Pháp giới trong 18 giới; hoặc chỉ cho hiện tượng khiến người ta khởi tâm chấp trước. (xt. Lục Trần). II. Pháp Trần. Chỉ cho người tu hành đắm trước Phật pháp mà sinh khởi tâm mê vọng, Phật pháp này đối với người ấy cũng gọi là Pháp trần.Bích nham lục tắc 83 (Đại 48, 209 thượng) nói: Há chẳng biết lời nói của bậc Tông sư là dứt hết ý thức, tình lượng, sinh tử, pháp trần, nhập vào chính vị, không còn một pháp.

pháp tùy duyên

Giáo pháp của Phật mà mỗi người nghe hiểu và lợi lạc khác nhau—Indeterminate teaching—The teaching of the Buddha from which his listeners each knowing received a different benefit.

pháp tương ưng bộ

(法相應部) Pàli: Dhamma-yuttikanikàya. Một giáo phái riêng trong Phật giáo Thượng tọa bộ lưu hành ở Thái lan, Cao miên và Lào. Tại Thái lan, phái này do vua Mông cốt sáng lập vào năm 1864; tại Cao miên do 1 vị tăng tên là Phách tô tháp sáng lập vào hậu bán thế kỉ XIX; còn ở Lào thì phái này từ Thái lan truyền qua vào năm 1941. Tại Thái lan, bộ phái Pháp tương ứng chỉ giới hạn trong Hoàng gia và hàng quí tộc mà thôi. Chùa viện của phái này được gọi là chùa Hoàng gia. Chức vị Trụ trì do Quốc vương bổ nhiệm và chủ yếu do các Vương tử đảm nhiệm. Các tăng sĩ thuộc phái này giữ giới luật rất nghiêm, như không được nhận tiền bạc, không được xem nghe múa hát... Tổ chức tăng đoàn của phái này rất chặt chẽ, vị lãnh đạo tối cao gọi là Tăng trưởng (tại Thái lan, trên 2 vị Tăng trưởng của 2 phái còn có Tăng vương –vua Sãi– thường thì do vị Tăng trưởng của 1 trong 2 phái kiêm nhiệm), dưới đó có thiết lập các cơ cấu hành chính và Tăng trưởng các cấp. Ngoài ra, phái này cũng coi trọng kinh điển Phật giáo nguyên thủy và giáo dục Phật giáo, mở các trường học, trong đó có Đại học Ma ha chu lạp long công.

Pháp tướng

法相; C: făxiāng; J: hossō; |Pháp tướng tông (法相宗).

pháp tướng

tướng trạng, hình tướng của các pháp. Mỗi sự vật có hình tướng riêng biệt hiện ra bên ngoài và thể tánh không hình tướng. Người phàm tục chỉ thấy hình tướng mà không thấy thể tánh nên không thể thấy biết các hình tướng ấy đúng như chúng thật có. Bậc tu hành chứng ngộ thấu suốt cả hình tướng và thực tánh các pháp, nên mới có thể rõ biết các tướng của pháp đúng như thật có. ; 1) Pháp tướng được ví với một vị Tăng cao hạ, có đạo đức lãnh đạo Tăng đoàn: Dharma-generals, i.e. monks of high character and leadership. 2) Vẻ bề ngoài của vạn hữu: The aspects or characteristics of things—Things. ; (法將) Vị tướng trong Phật pháp. Bồ tát hoặc các vị Cao tăng, Đại đức đối với đệ tử ví như vị Đại tướng trong quân đội. Ngoài ra, các vị tăng tinh thông nghĩa lí của pháp môn, khi tranh luận với người khác đều dành được thắng lợi, cũng gọi là Pháp tướng, như Đại sư Huyền trang ở Ấn độ từng được tôn là Pháp tướng, vì ngài đã dành phần thắng trong nhiều cuộc tranh luận với các người Bà la môn. Luận Đại trí độ quyển 7 (Đại 25, 109 thượng) nói: Đức Phật là Pháp vương, Bồ tát là các Pháp tướng. [X. Thích thị yếu lãm Q.trung; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.3; Đại đường tây vực kí Q.12]. ; (法相) I. Pháp Tướng. Tướng trạng của các pháp. Chủ trương đặc biệt của tông Duy thức là phân tích hoặc phân loại và thuyết minh tướng trạng của các pháp, vì thế tông này cũng được gọi là tông Pháp tướng. [X. phẩm Nhất thiết pháp tướng trong kinh Giải thâm mật Q.2; luận Đại tì bà sa Q.129; phẩm Chúng pháp trong luận Thành thực Q.1 và phẩm Tứ pháp trong cùng luận Q.2]. II. Pháp Tướng. Chỉ cho phạm vi, sự khu biệt, cương yếu về mặt giáo nghĩa. III. Pháp Tướng. Chỉ cho Chân như, Thực tướng. Đồng nghĩa với Pháp tính. (xt. Pháp Tính).

Pháp tướng giáo

法相教; C: făxiāngjiāo; J: hossōkyō; |1. Giáo lí Pháp tướng tông, dạng Á Đông của Du-già hành phái Ấn Độ. Được miêu tả như một dạng giáo lí đặc biệt với sự phân loại nhiều hệ thống học thuyết, đặc biệt tương phản với giáo lí Bát-nhã về Tính không; 2. Theo 5 hệ thống giáo lí (五教) mà Tông Mật phân định thì Pháp tướng giáo là giáo lí về sự trình hiện của các pháp (hiện tượng giới của các pháp)

pháp tướng pháp

(法相法) Đối lại: Thắng nghĩa pháp. Chỉ cho giáo lí của Phật giáo. Pháp tướng pháp là bàn giải rõ nghĩa lí của các pháp môn, còn Thắng nghĩa pháp là Niết bàn, Trạch diệt chân thực không hư dối, không đổi dời. Luận Câu xá quyển 1 (Đại 29, 1 trung) nói: Thắng nghĩa pháp chỉ là Niết bàn, còn Pháp tướng pháp thì chỉ chung cho Tứ thánh đế. (xt. Thắng Nghĩa).

Pháp Tướng Tông

(法相宗, Hossō-shū): tên gọi học phái lớn của Phật Giáo Trung Quốc và Nhật Bản, một trong 6 tông phái lớn vùng Nam Đô, lấy các bộ kinh luận như Giải Thâm Mật Kinh (解深蜜經), Thành Duy Thức Luận (成唯識論), v.v., làm điển cứ cho rằng hết thảy tồn tại là không thật, do tâm này tạo ra, cho nên ngoài A Lại Da Thức ra thì không có gì tồn tại cả. Vào năm 653 (năm thứ 4 niên hiệu Bạch Trỉ [白雉]), Đạo Chiêu (道昭, Dōshō) sang nhà Đường cầu pháp và được chân truyền trực tiếp từ Huyền Trang (玄奘, 602-664). Ông được xem như là người chân truyền thứ nhất. Tại Trung Quốc, tông phái này dần dần đi đến suy vong; nhưng lại hưng thịnh ở Triều Tiên và Nhật Bản. Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji), Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji) và Dược Sư Tự (藥師寺, Yakushi-ji) là những ngôi chùa trung tâm phát triển rực rỡ của tông này tại Nhật. Trong 6 tông phái của vùng Nam Đô, với chủ trương thuyết về Tam Thừa, Pháp Tướng Tông thường tiến hành những cuộc luận tranh về tông nghĩa với Tam Luận Tông cũng như Thiên Thai Tông vốn thuyết về Nhất Thừa.

Pháp tướng tông

法相宗; C: fǎxiàng-zōng; J: hossō-shū;|Hình thái Á Đông của Du-già hành phái Ấn Độ. Tông nầy do Huyền Trang lập nên, khi trở về Trung Hoa sau chuyến cầu học ở Ấn Độ, sư đã mang về rất nhiều những tác phẩm quan trọng của Duy thức tông. Với sự hỗ trợ của triều đình và nhiều người phụ tá, sư đã dịch những kinh văn nầy sang tiếng Hán. Giáo lí Pháp tướng tông đã được truyền sang Hàn Quốc (k: pŏpsang), Nhật Bản (j: hossō), nơi tông nầy đã có được những ảnh hưởng đáng kể. Mặc dù Pháp tướng tông chìm dần như một tông phái độc lập, nhưng giáo lí Duy thức vẫn tạo nên một ảnh hưởng lớn mà sau nầy giáo lí ấy phát triển trong những truyền thống Á Đông, đáng kể nhất là tông Thiên Thai, Hoa Nghiêm tông và Thiền tông. Peter Gregory nhận xét: »Pháp tướng tông liên hệ đặc biệt với tư tưởng của Huyền Trang và Khuy Cơ, không như những hình thái cổ điển của Du-già hành phái Trung Hoa, Pháp tướng tông khước từ ý niệm Như Lai tạng nên phủ nhận cảnh giới chứng ngộ mà có thể trực nhận được, từ lí do đó, nên tông này chỉ được xem như một hình thái sơ đẳng theo cách nhìn của Hoa Nghiêm tông Đại thừa. Thuật ngữ Pháp tướng tự nó được dùng đầu tiên bởi nhà tư tưởng Hoa Nghiêm tông là Pháp Tạng, để nhấn mạnh vị thế thứ yếu của giáo lí Pháp tướng, vốn chỉ đề cập đến »sự trình hiện của chư pháp« tương phản với giáo lí Hoa Nghiêm, đề cập đến hạ tằng của »tính« mà các trình hiện của chư pháp lấy làm nền tảng«. (Gregory-1995: 213). Xem Du-già hành phái (瑜伽行派) và Duy thức (唯識).|Tông này mang tên Pháp tướng vì họ chuyên nghiên cứu về »Tướng của các Pháp« (法相; s: dharmalakṣaṇa). Pháp tướng tông xem toàn bộ thế giới do 100 pháp tạo thành, được chia làm 5 nhóm: I. 8 Tâm pháp (心法; s: cittadharma), II. 51 Tâm sở hữu pháp (心所有法; s: caitasikadharma), III. 11 Sắc pháp (色法; s: rūpadharma), IV. 24 Tâm bất tương ưng hành pháp (心不相應行法; cittaviprayukta-saṃskāradharma); V. 6 Vô vi pháp (無爲法; asaṃskṛtadharma).|100 pháp của Pháp tướng tông bao gồm cụ thể:|I. 8 Tâm pháp (cittadharma): bao gồm tám thức Thức (vijñāna), là A-lại-da, ý thức (manas), Mạt-na thức (manovijñāna), và năm thức cảm giác khác;|II. 51 Tâm sở hữu pháp (caitasikadharma), bao gồm 51 Tâm sở (theo lối sắp xếp của Duy thức tông);|III. 11 Sắc pháp (rūpadharma), tức là các hiện tướng sinh lí, vật lí, bao gồm: 1. Nhãn căn: mắt, cơ quan giúp cho nhãn thức phát sinh; 2. Nhĩ căn: lỗ tai, cơ quan giúp nhĩ thức phát sinh; 3. Tỉ căn: mũi, cơ quan giúp tỉ thức phát sinh; 4. Thiệt căn: lưỡi, cơ quan giúp thiệt thức phát sinh; 5. Thân căn: da thịt, cơ quan giúp cho thân thức phát sinh; 6. Sắc trần: đối tượng của nhãn thức; 7. Thanh trần: âm thanh, đối tượng của nhĩ thức; 8. Hương trần: mùi hương, đối tượng của tỉ thức; 9. Vị trần: đối tượng của thiệt thức; 10. Xúc trần: đối tượng của thân thức; 11. Pháp xứ sở nhiếp sắc: chỉ các vật có hình, danh, sắc, tướng trong pháp giới.|IV. 24 Tâm bất tương ưng hành pháp (cittavi-prayukta-saṃskāradharma), chỉ các pháp độc lập với tâm, bao gồm: 1. Ðắc (prāpta): sự hình thành của các pháp; 2. Mệnh căn (prāṇa): sự sống của sinh mệnh; 3. Chúng đồng phận (nikāyasabhāga): sự giống nhau trong từng loại; 4. Dị sinh tính (visabhāga): sự khác biệt của từng loại; 5. Vô tưởng báo (āsaṃjñika): quả báo vô tưởng; 6. Vô tưởng định (asaṃjñāsamāpatti): sự tạm diệt của các tâm sở; 7. Diệt tận định (nirodhasamāpatti); 8. Danh thân (nāmakāya): sự cấu thành của các danh từ; 9. Cú thân (padakāya): sự cấu thành của từng câu; 10. Văn thân (vyañjaṇakāya): sự cấu thành của các mẫu tự và các vạch; 11. Sinh (jāti): sự phát sinh, hình thành của các pháp; 12. Trụ (sthitī): sự tồn tại nhất thời của các pháp; 13. Lão (jāra): sự suy tàn của các pháp; 14. Vô thường (anityā); 15. Lưu chuyển (pravṛtti): sự biến chuyển liên tục theo luận nhân quả; 16. Ðịnh dị (pratiniyama): sự sai khác của các hiện tượng nhân quả; 17. Tương ưng (yoga): sự liên hợp với nhau của các pháp; 18. Thế tốc (jāva): sự chuyển biến mau lẹ của các pháp; 19. Thứ đệ (anu-krama): trật tự trong sự chuyển biến của các pháp; 20. Phương (deśa): không gian; 21. Thời (kāla): thời gian; 22. Số (saṃkhyā): số lượng của các pháp; 23. Hoà hợp tính (sāmagrī): tính hoà hợp của các pháp; 24. Bất hoà hợp tính (anyathātva): tính bất hoà hợp của các pháp.|V. 6 Vô vi pháp (asaṃkṛtadharma), các pháp không tuỳ thuộc, Vô vi (asaṃkṛta), bao gồm: 1. Hư không vô vi; 2. Trạch diệt vô vi; 3. Phi trạch diệt vô vi; 4. Bất động diệt vô vi; 5. Tưởng thụ diệt vô vi; 6. Chân như vô vi;|Trong lúc các trường phái khác xem thức là một pháp thì Pháp tướng tông cho rằng có tám dạng của thức, gồm có: 1-5, năm thức của năm giác quan; 6. Ý thức (manovijñāna), là thức suy nghĩ, đánh giá đo lường các ấn tượng do năm thức kia mang lại; 7. Mạt-na (manas), thức tự ý thức về chính mình, thức »ô nhiễm«, là thức nghĩ rằng mình có một cái ta và 8. A-lại-da thức (ālayavijñāna), thức tàng chứa tất cả các kinh nghiệm của đời sống vô tận. A-lại-da thức được xem mênh mông như biển cả, bản thân nó không chủ động tạo tác. Nhưng một khi Mạt-na tác động lên A-lại-da thức thì những chủng tử nằm sẵn trong A-lại-da thức được khởi động và tạo tác những sự vật tưởng chừng như khách quan. Mạt-na là thức liền phân biệt khách thể chủ thể, tạo nên ý thức nhị nguyên, ý thức về một cái »ta« và »cái không phải ta«. Sáu giác quan (kể cả ý thức) là những kẻ báo cho Mạt-na các thông tin từ bên ngoài, không hề đánh giá tốt xấu. Và chính Mạt-na là kẻ đánh giá phải trái hay dở, ra lệnh cho sáu ý thức kia hoạt động và phản ứng. Ðồng thời, Mạt-na thức lại đưa các cảm giác hay Chủng tử (bīja) đó vào A-lại-da thức. Chủng tử này lại là kẻ ảnh hưởng và tạo tác lên thế giới bên ngoài và vòng tròn ấy tiếp tục vô cùng tận. Mạt-na được xem là gạch nối giữa sáu ý thức kia và A-lại-da thức, là kẻ tưởng mình có một cái ta, là kẻ gây »ô nhiễm« lên A-lại-da thức. Muốn tránh vòng tròn ô nhiễm vô tận đó, hành giả phải chấm dứt hoạt động đầy phân biệt của Mạt-na, biến thức này thành »Bình đẳng tính trí«, là thức đứng trên mọi tính chất nhị nguyên. Nhờ đó, hành giả đạt được tri kiến về tính chất huyễn hoặc của vạn sự.|Pháp tướng tông chia đặc tính xuất hiện của các pháp làm ba (s: trisvabhāva): 1. Huyễn giác hay Biến kế sở chấp (parikalpita), hiện tượng xuất hiện theo ý tưởng tượng của con người; 2. Y tha khởi (paratantra): Chân lí xuất hiện có tính thời gian, dựa lên nhau mà có; 3. Cấp Viên thành thật (pariniṣpanna): đây là cấp bậc của Chân như thường hằng, vượt trên mọi điều kiện và mọi tương đối. Tính chất của cấp này là bất nhị, đó là sự thật »như như« (如如; s: tathatā), trong đó mọi hiện tượng và tính chất riêng biệt đều được chuyển hoá. Ðó là Niết-bàn, là trạng thái đích thật của Chân như. Muốn đạt được cấp cuối cùng, hành giả phải vượt qua mọi tiến trình tu dưỡng và phát triển tâm, phải đạt Phật quả. Muốn thế, năm thức đầu tiên phải biến thành Thành sở tác trí, ý thức thành Diệu quan sát trí, Mạt-na thức thành Bình đẳng tính trí và A-lại-da thức thành Ðại viên kính trí (xem Năm trí).|So với các giáo phái Ðại thừa khác, Pháp tướng tông có chỗ khác biệt là không công nhận mỗi chúng sinh đều có Phật tính và có thể đắc quả Phật. Ví dụ như Nhất-xiển-đề (s: icchantika) là kẻ không bao giờ đạt Phật quả. Sau đời Ðường, Pháp tướng tông bị mất uy tín nhiều cũng vì quan điểm này.

pháp tướng tông

Dharmalaksana (skt). (A) Còn gọi là Du Già Tông, Nhiếp Luận Tông hay Duy Thức Tông—Also called Yogacara Sect, Samparigraha School, or Consciousness-Only School. 1) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong quyển “Cương Yếu Triết Học Phật Giáo,” Pháp Tướng có nghĩa là “những sự tướng biểu hiện của các pháp.” Pháp ở đây chỉ cho các sự thể thuộc vật chất và tinh thần (sắc và tâm), bởi vì đối tượng chính của tông phái nầy là truy cứu về bản chất và phẩm tính của mọi hiện hữu. Sơ Tổ của tông phái nầy là Ngài Vô Trước, anh ruột của ngài Thế Thân, tác giả của bộ Du Già Sư Địa Luận. Tại Ấn Độ, đầu tiên tông nầy được gọi là Du Già Tông, chỉ cho sự thực hành về phép quán tưởng. Sau khi trở về với Đại Thừa, Thế Thân đã tập đại thành các quan điểm triết học của Du Già Tông, đã quy định chủ điểm của tông nầy là “Duy Thức,” đặt sự hiện hữu của tất cả ngoại giới nơi thức. Nói tắt là chỉ có thức hiện hữu. Trên phương diện thể tánh luận, tông nầy đứng giữa các tông phái chấp “Hữu” và chấp “Vô.” Nó không chấp vào học thuyết tất cả mọi sự thể đều hiện hữu, vì quan niệm rằng không có gì ngoài tác động của tâm, cũng không chấp vào học thuyết chẳng có gì hiện hữu, vì quả quyết rằng có sự hiện hữu của các thức. Tông nầy hoàn toàn tán đồng học thuyết “Trung Đạo,” không bao giờ đi đến cực đoan của chủ trương “hữu luận” cũng như “vô luận.” Như vậy tông nầy có thể được mệnh danh là “Duy Tâm Thực Tại Luận” hay “Thức Tâm Luận.” Danh hiệu chính thức của nó là “Duy Thức,” hay Tánh Tướng Học, khảo cứu về bản tánh và sự tướng của các pháp—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, Dharma-laksana means “Characteristics of Dharma,” Dharma here denoting things substantial and mental, or matter and mind, for the chief object of this school is to investigate the nature and qualities of all existences. The first founder of the school was Asanga, an elder brother of Vasubandhu, who was the author of the text “Yogacara-bhumi.” In India the school was formerly called Yogacara, which means the practice of self-concentration. Vasubandhu, when he was converted to Mahayana by his brother and succeeded in the systematizing the philosophical views of the Yogacara School, designated the tenet of the school as Mere Ideation (Vijnaptimatra), attributing the existence of all the outer world to inner ideation. In short, holding that nothing but ideation exists. As to ontology this school stands between the realistic and nihilistic schools, given above. It adheres neither to the doctrine that all things exist, because it takes the view that nothing outside the mind (mental activity) exists, nor to the doctrine that nothing exists, because it asserts that ideations do exist. It firmly adheres to the doctrine of the mean, neither going to the extreme of the theory of existence nor to that of non-existence. This school can, therefore, be called the “ideal-realism” or “Ideation Theory.” The academic name of this school is “Mere Ideation,” or Vijnaptimatra (Ideation Only), a study of Nature and Characteristics of dharmas or elements. 2) Pháp Tướng tông tuy là duy thức, lại dùng khuôn mẫu của phương pháp phân tích dùng trong các tông phái thuộc Thực tại và Hư vô luận, và phân thế giới hiện hữu làm năm loại, gồm 100 pháp (see bách Pháp Pháp Tướng Tông). Một đặc điểm là tông nầy chia Tâm làm tám thức, mỗi thức là một thực tại biệt lập. Không có tông phái nào khác trong Phật Giáo có một học thuyết như thế. Thêm vào năm thức (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) còn có giác quan thứ sáu, ý thức; thức thứ bảy, tự ý thức; và thức thứ tám là tạng thức. Hai thức bảy và tám được gọi là mạt na và a lại da thức: The Dharmalaksana, though idealistic, takes the model of the analytical method used in the Realistic and Nihilistic Schools, and classifies the world of becoming into five categories which are subdivided into one hundred dharmas (see Bách Pháp Pháp Tướng Tông). A special of this school is that the mind is divided into eight consciousnesses, each being a separate reality. No other school of Buddhism has such a doctrine. In addition to the first five mental faculties (eye, ear, tongue, skin-sense or consciousnesses) there are the sixth, the sense-center, a general perceiving organ or conscious mind; the seventh, the thought-center or the self-conscious mind, and the eight, the store-center or store-consciousness. The last two are called Manas (thought) and Alaya (store-consciousness). a) Trong số tám thức nầy, năm phần đầu họp thành thức (vijnana): Among these eight consciousnesses the former five constitute the sense-consciousness (Vijnana). b) Thứ sáu là trung tâm giác quan tạo các khái niệm do những tri giác đạt được từ thế giới bên ngoài: The sixth, the sense-center, forms conceptions out of the perceptions obtained from the outside. c) Thứ bảy là ý (manas): The seventh is thought (Manas)—Mạt na thức là trung tâm tư tưởng, suy nghĩ, yêu cầu và suy luận dựa trên nền tảng ý thức—The seventh, the thought-center, thinks, wills and reasons on a self-centered basis. d) Thứ tám là tâm (citta): The eighth is mind (citta)—Thức thứ tám là A Lại Da thức, chứa giữ những chủng tử, nghĩa là giữ những hiệu quả hay năng lực của tất cả những hiện hành—The eighth, the store-center, store seeds, i.e., keeps efficiency or energy for all manifestations. e) Thức thứ sáu, bảy, và tám luôn luôn dựa vào nhau mà hoạt động, bởi vì thức thứ sáu là tâm điểm chung cho tri giác và tri nhận hướng nội; nó hoạt động hướng ngoại dựa trên mạt na thức, mà thức nầy lại dựa trên a lại da thức. Mạt na đáp ứng cho tự thức, tự quan tâm hay những xu huớng vị kỷ. Nhiệm vụ chủ thể của thức thứ tám được thức thứ bảy xem như là “Ngã” mặc dầu trong thực tế không có gì là “Ngã” cả. Ý tưởng về “Ngã giả ảo” nầy làm nhiễm ô tất cả những tư tưởng khiến khơi dậy ý tưởng về cá thể hay tự ngã: The sixth, the seventh and the eighth always act on one another, for The sixth is the general center of perception and cognition inwardly which acts outwardly on the basis of the thought-center which inturn acts on the basis of the all-storing center. The Manas is responsible for self-consciousness, self-interest, or selfish motives. The subjective function of the eighth is seen and regarded by the seventh as self (atman) thought in reality there is no such thing as self. This false idea pollutes all thoughts and gives rise to an idea of individual or personal ego or soul. 3) For more information, please see Tam Chủng Hiện Hữu. (B) Còn gọi là Đại Thừa Duy Thức Tông. Tông nầy chia giáo pháp của Phật ra làm ba thời kỳ—Mahayana Dharmalaksana school (Duy Thức Tông) which devides the Buddha's Teaching into three periods in which he taught: 1) A Hàm: The unreality of the ego. 2) Bát Nhã: The unreality of the djarmas. 3) Giải thâm mật: Sandhinirmocana-sutra—The middle or uniting way. (C) Nhiếp Luận Tông là tiền thân của Pháp Tướng Tông. Một tác phẩm tiêu biểu của Đại Thừa Duy Tâm Luận được gọi là Nhiếp Đại Thừa Luận, do Vô Trước viết vào thế kỷ thứ 5, và Thế Thân chú giải, được Phật Thủ dịch sang Hán văn vào năm 531, và Chân Đế dịch vào năm 563; lại được ngài Huyền Trang dịch lần nữa vào khoảng 648-649. Trong các bản dịch nầy, bản thứ hai của Chân Đế làm căn bản cho Nhiếp Luận Tông ở Trung Hoa. Chân Đế quê ở Ujjayini, có lẽ quan hệ đến đại học Valabhi, một trung tâm học Phật, ông đến Trung Hoa năm 548, và trong khoảng thời gian từ đó đến năm 557, ông đã dịch 32 tác phẩm. Người ta nói ông cũng viết trên 40 tác phẩm khoảng 200 quyển. Đối tượng chính của ông là truyền bá học thuyết A Tỳ Đạt Ma Câu Xá và Nhiếp Đại Thừa Luận. Hoạt động văn học và tôn giáo của ngài dường như đã có ảnh hưởng lớn trong tâm khảm của người Trung Hoa qua sự kiện ngài đã có những đệ tử tài ba sau nầy. Chân Đế là người đã thiết lập Câu Xá và Nhiếp Luận Tông. Hoạt động của ông được xếp ngang hàng với ngài Cưu Ma La Thập, người xuất hiện trước ngài, và Huyền Trang người sanh ra sau ngài—The Samparigraha (She-Lun) school, the forerunner of the Dharmalaksana School. A representative work of Mahayana idealism named the Acceptance of the Great Vehicle (Mahayana-samparigraha) was written by Asanga in the fifth century, annotated by Vasubandhu (420-500), and translated into Chinese in 531 by Buddhasanta, in 563 by Paramartha, and again by Hsuan-Tsang during 648-649). Of these, the second, Paramartha's translation, laid the foundation of the She-Lun School in China. Paramartha, a native of Ujjayini, probably connected with Valabhi University, a center of Buddhist learning, came to China in 548, and between that time and 557 translated thirty-two texts. He is also said to have written more than forty works, altogether amounting to two hundred Chinese volumes. His chief object was to propagate the doctrine of the Abhidharma-kosa and the Mahayana-samparigraha. His literary and religious activity seems to have greatly influenced the Chinese mind of the time as is testified by the fact that he had many able pupils under him. Paramartha founded the realistic Kosa School, as we have seen before, and the Samparigraha School. His activities can be compared only with Kumarajiva who came before him and Hsuan-Tsang who came after him. (D) Các dòng truyền thừa—Lines of transmission: Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, ở Ấn Độ, sau khi Thế Thân tịch diệt, dường như có đến ba dòng truyền thừa của Du Già Duy Tâm Luận—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, in India, after the death of Vasubandhu, there seem to have been three lines of transmission of Yogacara Idealism. 1) Dòng đầu tiên là vào thế kỷ thứ năm, truyền chi Trần Na (Dignaga), Vô Tánh (Agotra) và Hộ Pháp (Dharmapala); trung tâm dòng nầy là trường đại học Na Lan Đà. Giới Hiền gốc người Na Lan Đà và vị đệ tử là Huyền Trang cũng thuộc dòng nầy: The first was the line of Dignaga in the fifth century, Agotra, and Dharmapala whose center of transmission was Nalanda University. Silabhadra of Nalanda and his Chinese pupil Hsuan-Tsang belong to this line. 2) Dòng thứ hai là truyền chi Đức Tuệ (Gunamati) và An Huệ (Sthiramati) mà nơi truyền thừa dường như là ở đại học Valabhi; Chân Đế, sáng tổ Nhiếp Luận Tông ở Trung Hoa thuộc dòng nầy: The second was the line of Gunamati and Sthiramati whose center of transmission seems to have been Valabhi University; Paramartha, the founder of Shê-Lun School in China, belongs to this line. 3) Dòng thứ ba là truyền chi của Nan Đà (Nanda), người mà giáo nghĩa được Chân Đế theo đuổi, và Thắng Quân (Jayasena) người đã từng giảng dạy nhiều vấn đề cho Huyền Trang. Dòng truyền thừa chót nầy không phát triển mấy ở Ấn Độ và dường như sớm biến mất sau đó: The third was the line of Nanda, whose tenet was followed by Paramartha, and Jayasena, who instructed Hsuan-Tsang on certain questions. This last line of transmission did not flourish much in India and seemed to have soon disappeared. ** For more information, please see Du Già Tông, Nhiếp Luận Tông, and Duy Thức Tông. ; (法相宗) Cũng gọi Từ ân tông, Du già tông, Ứng lí viên thực tông, Phổ vị thừa giáo tông, Duy thức trung đạo tông, Duy thức tông, Hữu tướng tông, Tướng tông, Ngũ tính tông.Nói theo nghĩa rộng thì tông Pháp tướng chỉ chung cho tông Câu xá và tông Duy thức, nhưng phần nhiều là chỉ tông Duy thức, hoặc dùng để gọi thay cho tông Duy thức. Tông Pháp tướng chuyên phân biệt và phán định tính tướng của các pháp, là 1 trong 13 tông của Phật giáo Trung quốc và là 1 trong 8 tông của Phật giáo Nhật bản, chủ trương tất cả pháp đều do thức biến hiện. Tông này ý cứ vào 6 bộ kinh là: Kinh Hoa nghiêm, kinh Giải thâm mật, kinh Như lai xuất hiện công đức, kinh Đại thừa a tì đạt ma, kinh Nhập lăng già, kinh Hậu nghiêm và 11 bộ luận là: Luận Du già sư địa, luận Hiển dương thánh giáo, Đại thừa trang nghiêm kinh luận, luận Tập lượng, luận Nhiếp đại thừa, Thập địa kinh luận, luận Phân biệt du già, luận Quán sở duyên duyên, luận Duy thức nhị thập, luận Biện trung biên và luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập, để thành lập. Lại đặc biệt lấy kinh Giải thâm mật và luận Thành duy thức làm nền tảng của tông chỉ. Về hệ thống truyền thừa của tông này, bắt nguồn từ sau khi đức Phật nhập diệt 900 năm, ở Ấn độ có bồ tát Di lặc ra đời nói luận Du già sư địa; ngài Vô trước vâng theo ý chỉ của luận này mà soạn ra các bộ Đại thừa trang nghiêm kinh luận, Nhiếp đại thừa luận và Hiển dương thánh giáo luận. Rồi ngài Thế thân thì soạn các bộ Nhiếp đại thừa luận thích, Thập địa kinh luận, Biện trung biên luận, Duy thức nhị thập luận, Duy thức tam thập tụng... để làm rõ nghĩa thêm. Không bao lâu, ngài Vô tính cũng làm luận để chú thích luận Nhiếp đại thừa; rồi 10 vị Đại luận sư là: Hộ pháp, Đức tuệ, An tuệ, Thân thắng, Nan đà, Tịnh nguyệt, Hỏa biện, Thắng hữu, Tối thắng tử và Trí nguyệt, cũng lần lượt soạn luận để chú thích tác phẩm Duy thức tam thập tụng của ngài Thế thân, từ đó, tông phong Du già phát triển ra toàn cõi Ấn độ. Vào đời Đường, ngài Huyền trang sang Ấn độ, theo học ngài Giới hiền –đệ tử của ngài Hộ pháp– lãnh hội được ý chỉ sâu xa của tông này. Sau khi trở về Trung quốc, ngài Huyền trang phiên dịch các kinh luận của tông này, tuyên dương huyền chỉ Pháp tướng duy thức, người theo học rất đông, nổi tiếng hơn cả là các ngài: Khuy cơ, Thần phưởng, Gia thượng, Phổ quang, Thần thái, Pháp bảo, Huyền ứng, Huyền phạm, Biện cơ, Ngạn tông, Viên trắc... Trong đó, ngài Thần phưởng soạn Duy thức văn nghĩa kí; ngài Huyền ứng soạn Duy thức khai phát, ngài Viên trắc viết Giải thâm mật kinh sớ, Thành duy thức luận sớ... Đệ tử ngài Viên trắc là Đạo chứng soạn Duy thức luận yếu tập, ngài Thái hiền –người Tân la– soạn Duy thức luận cổ tích kí, được người đời tôn làm Tổ của tông Du già ở Hải đông. Còn Khuy cơ –người thừa kế chính thống của Đại sư Huyền trang– trụ ở chùa Đại từ ân tại Trường an, hoằng truyền rộng rãi giáo nghĩa cương yếu của tông Duy thức, được người đời tôn xưng là Từ ân đại sư. Ngài có các tác phẩm: Du già sư địa luận lược toản, Thành duy thức luận kí, Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu, Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương... tập đại thành tông này. Đệ tử của Đại sư Từ ân Khuy cơ là ngài Tuệ chiểu soạn Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng để phá tà nghĩa của ngài Viên trắc. Môn nhân của ngài Tuệ chiểu là các sư Đạo ấp, Trí chu, Nghĩa trung... Sư Trí chu viết Thành duy thức luận diễn bí, phát huy ý chỉ sâu kín trong Thành duy thức luận thuật kí. Ngoài ra, 3 bộ Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu, Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng và Thành duy thức luận diễn bí được gọi chung là Duy thức tam sớ. Về sau, do Thiền tông và Hoa nghiêm tông phát triển mạnh nên tông Pháp tướng suy vi; từ đời Tống về sau hơi thấy dấu hiệu phục hưng. Đến đời Minh, ngài Trí húc soạn Thành duy thức luận tâm yếu, ngài Minh dục soạn Thành duy thức luận tục thuyên, ngài Thông nhuận soạn Thành duy thức luận tập giải và ngài Quảng thừa soạn Thành duy thức luận âm nghĩa... Từ thời Dân quốc về sau, cư sĩ Âu dương Cánh vô (1872-1944) phát triển tông này, sáng lập viện Chi na Nội học, Đại học Pháp tướng, chia tông này làm 2 ngành là Vô trước Pháp tướng học và Thế thân Duy thức học. Ngài Thái hư tranh luận nhiều nhất về vấn đề này. Ngoài ra, sau khi cư sĩ Hùng thập lực (1882-1968) cho ra cuốn Tân duy thức luận thì ngài Ấn thuận cũng có tranh luận. Còn về Nhật bản thì vào năm Bạch trĩ thứ 4 (653) đời Thiên hoàng Hiếu đức, sư Đạo chiêu đến Trung quốc (đời Đường), theo ngài Huyền trang học giáo nghĩa Pháp tướng. Sau khi về nước, sư Đạo chiêu lấy chùa Nguyên hưng làm trung tâm truyền pháp, gọi là Nam tự truyền. Đến năm Linh qui thứ 3 (717, có thuyết nói 716) đời Thiên hoàng Nguyên chính, sư Huyền phưởng đến Trung quốc (đời Đường), theo học ngài Trí chu; sau khi về nước, sư Huyền phưởng lấy chùa Hưng phúc làm trung tâm truyền pháp, gọi là Bắc tự truyền. Tông Pháp tướng ở Nhật bản là 1 trong những tông phái có thế lực nhất ở thời kì Nại lương (710-794) và thời kì Bình an (794-1192). Giáo nghĩa của tông Pháp tướng được chia ra các hạng mục và lược thuật như sau: 1. Vạn pháp duy thức: Tông này y cứ vào luận Duy thức để thuyết minh tất thảy vũ trụ vạn vật đều là bóng dáng do tâm thức xao động mà hiện ra, trong tâm, ngoài tâm, vật chất, không phải vật chất, tất cả đều do tâm thức biến hiện; thức năng biến chỉ có 8, mà vật sở biến thì là muôn tượng la liệt. 2. Ngũ vị bách pháp: Năm vị trăm pháp. Pháp có nghĩa là Nhậm trì tự tính và quĩ sinh vật giải. Nghĩa là tất cả vạn hữu đều giữ gìn tự tính của chúng, khiến người nhìn vào là có thể nhận biết được chúng. Luận Du già sư địa qui nạp tất cả các pháp làm 660 pháp, còn luận Bách pháp minh môn thì lập 100 pháp, chia làm5 vị (5 nhóm)là Tâm pháp, Tâm sở pháp, Sắc pháp, Bất tương ứng hành pháp và Vô vi pháp. Năm vị 100 pháp này không lìa thức, tức là đều do thức biến hiện. 3. Chủng tử hiện hành: Từ hạt giống hiện khởi. Trong 100 pháp, trừ 6 pháp vô vi ra, còn lại đều là các pháp hữu vi duyên sinh, đều từ chủng tử sinh khởi. Chủng tử ở trong thức A lại da thứ 8 có công năng sinh ra muôn nghìn Sắc pháp, Tâm pháp, giống như những hạt giống của cây cỏ. 4. A lại da duyên khởi: Sinh khởi từ thức A lại da. Vũ trụ vạn vật đều do thức biến hiện, những sắc, thanh, hương, vị, pháp lần lượt do nhãn, nhĩ, tị, thiệt, ý thức biến hiện ra. Cho đến thức Mạt na thường xuyên lấy thức A lại da làm đối tượng mà biến hiện ra bóng dáng của ngã thật, pháp thật. Lại sự chuyển biến của các thức có 2 loại là Nhân năng biến và Quả năng biến. Nhân năng biến chỉ ở nơi thức thứ 8, chính là dựa vào đây mà lập tên A lại da duyên khởi. 5. Tứ phần: Bốn phần. Đó là: a) Tướng phần: Chỉ cho tất cả cảnh sở duyên (đối tượng nhận thức). b) Kiến phần: Chỉ cho tác dụng năng duyên của các thức. c) Tự chứng phần: Chỉ cho tác dụng chứng biết Kiến phần. d) Chứng tự chứng phần: Chỉ cho tác dụng xác nhận lại Tự chứng phần. 6. Tam loại cảnh: Ba loại cảnh. Tức Tính cảnh, Độc ảnh cảnh và Đới chất cảnh. a) Tính cảnh: Khi tâm năng duyên đối trước cảnh sở duyên, chỉ dùng hiện lượng (các giác quan) để nhận biết tự tướng của cảnh ấy 1 cách đúng như nó, không xuyên tạc. b) Độc ảnh cảnh: Cảnh giới do tâm năng duyên vọng tưởng phân biệt mà biến hiện ra. c) Đới chất cảnh: Tâm chủ quan duyên theo cảnh khách quan, tuy có bản chất sở y, nhưng không phải là tự tướng của cảnh ấy. 7. Tam tính: Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực. 8. Ngũ tính các biệt: Năm tính đều khác nhau. Tất cả hữu tình đều có 5 chủng tính: Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Bất định và Vô tính. Tông này còn căn cứ vào phẩm Vô tự tính trong kinh Giải thâm mật mà lập 3 thời giáo là Hữu giáo, Không giáo và Trung đạo giáo. Hai thời trước là giáo phương tiện tạm thời, chưa thấu suốt nghĩa lí chân thực, chỉ thiên chấp về Hữu và Không. Còn thời thứ 3 là giáo pháp viên mãn rốt ráo, là Trung đạo chân thực, sâu xa mầu nhiệm chẳng thể nghĩ bàn, vượt trên tất cả các giáo pháp khác. (xt. Tam Tính, Ngũ Tính, Duy Thức).

pháp tướng từ điển

(法相辭典) Bộ Từ điển gồm những danh từ liên quan đến luận A tì đạt ma của Tiểu thừa do ông Chu bái hoàng người Trung quốc biên tập từ năm 1934 đến năm 1937. Nội dung Từ điển này có 260 vạn lời, dùng các kinh luận do ngài Huyền trang dịch làm tài liệu, dưới các danh từ có lời giải thích, nhưng tất cả đều chép lại từ nguyên văn, chứ không thêm lời giải thích nào của soạn giả. Ngoài ra, soạn giả còn chỉ rõ số trang, số quyển xuất xứ của các danh từ được ghi chép. Cho nên, sách này có giá trị 1 bộ Từ điển nhập môn để nghiên cứu các kinh luận Đại, Tiểu thừa.

pháp tượng

Một vị thầy có thể dùng chánh pháp để uốn nắn đệ tử—Dharma workman, a teacher able to mould his pupil. ; (法匠) Chỉ cho các bậc danh đức, thạc học, có khả năng tác thành cho đệ tử về giới học, định học và tuệ học, cũng như người thợ (tượng) giỏi, có tài nghệ làm nên những đồ dùng tốt đẹp, vì thế gọi là Pháp tượng. Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 295 hạ) nói: Cao tăng nước Tề giảng kinh luận rất hay, được gọi là Pháp tượng. Diễn mật sao quyển 4 nói: Như người các đồ dùng, A xà lê pháp tượng thành tựu các pháp khí Tam thừa, Tam học.

Pháp Tạng

(法藏, Hōzō, 643-712): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, vị tổ thứ 3 của Hoa Nghiêm Tông Trung Quốc, tự Hiền Thủ (賢首), hiệu Quốc Nhất Pháp Sư (國一法師), còn gọi là Hương Tượng Đại Sư (香象大師), Khương Tạng Quốc Sư (康藏國師), họ Khương (康). Tổ tiên ông người nước Khương Cư (康居), nhưng đến đời cha ông thì dời sang Trung Quốc, sống tại Trường An (長安). Ban đầu ông theo hầu Trí Nghiễm (智儼), thính giảng Hoa Nghiêm và thâm nhập huyền chỉ kinh này. Sau khi thầy qua đời, ông theo thầy khác xuống tóc xuất gia, lúc ấy 28 tuổi. Do vì ông có thể thông hiểu ngôn ngữ các nước Tây Vức và kinh điển Phạn văn, nên phụng mạng cùng với Nghĩa Tịnh (義淨) tham gia phiên dịch một số kinh điển như Tân Hoa Nghiêm Kinh (新華嚴經), Đại Thừa Nhập Lăng Già Kinh (大乘入楞伽經), v.v., hơn 10 bộ. Ông thường giảng thâm nghĩa Kinh Hoa Nghiêm cho Võ Hậu nghe. Suốt đời ông chỉ chuyên giảng kinh này hơn 30 lần, tập trung toàn lực để hình thành hệ thống giáo học Hoa Nghiêm. Bên cạnh đó, ông còn chú thích các kinh luận khác như Lăng Già, Mật Nghiêm, Phạm Võng, Khởi Tín, v.v. Vào tháng 11 năm đầu niên hiệu Tiên Thiên (先天) đời vua Huyền Tông, ông thị tịch tại Đại Tiến Phước Tự (大薦福寺), hưởng thọ 70 tuổi. Trước tác của ông rất nhiều như Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Ký (華嚴經探玄記) 20 quyển, Hoa Nghiêm Khoa Giản (華嚴科簡), Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương (華嚴五敎章), Đại Thừa Mật Giáo Kinh Sớ (大乘密敎經疏) 4 quyển, Phạm Võng Kinh Sớ (梵綱經疏) 4 quyển, Đại Thừa Khởi Tín Luận Sớ (大乘起信論疏), Hoa Nghiêm Cương Mục (華嚴綱目), Hoa Nghiêm Huyền Nghĩa Chương (華嚴玄義章), v.v., hơn 20 bộ. Đệ tử của ông có Hoằng Quán (宏觀), Văn Siêu (文超), Trí Quang (智光), Tông Nhất (宗一), Huệ Uyển (慧苑), v.v. ; 法藏

Pháp tạng

法藏; C: făzàng; J: hōzō; |1. Kho tàng giáo pháp – thường đề cập đến kinh điển Phật giáo (s: dharma-kośa) để phân biệt với Luật tạng. Đây là phần kinh do ngài A-nan trùng tuyên trong kì kết tập lần thứ nhất (Đệ nhất kết tập 第一結集).|2. Phật pháp như là sự thật tối hậu trong ý nghĩa, tư tưởng triết học.|3. (643-712); Tăng sĩ học giả vào đầu đời Đường, do những đóng góp to lớn của Sư vào sự phát triển và củng cố tông Hoa Nghiêm, nên được xem là Tổ thứ 3 của tông nầy. Sau khi phát tâm tu tập ban đầu tại Thái Bạch sơn (太白山), sư trở thành đệ tử của vị Tổ thứ 2 tông Hoa Nghiêm là Trí Nghiễm (智儼). Sau khi Trí Nghiễm viên tịch vào năm 670, sư chính thức xuất gia tại chùa Thái Nguyên (太原寺). Sau đó sư lần lượt đi đến rất nhiều chùa để truyền bá giáo lí Hoa Nghiêm và hỗ trợ chương trình phiên dịch. Cuối cùng sư trở nên nổi tiếng trong giới quan chức triều đình nhà Đường. Sư là thầy của Hoàng hậu Vũ Tắc Thiên. Sư viết rất nhiều sách và luận giải, tác phẩm gồm có: 1. Hoa Nghiêm kinh thám huyền kí (華嚴經探玄記), 20 quyển; Hoa Nghiêm ngũ giáo chương (華嚴五教章), 3 hoặc 4 quyển; Khởi tín luận nghĩa kí (起信論義記), 5 quyển. Các đệ tử của sư gồm có Văn Siêu (文超) và Huệ Uyển (慧苑). Sư cũng là sư đệ của một đệ tử khác của ngài Trí Nghiễm – là Nghĩa Tương (義湘, k: ǔisang), người sáng lập tông Hoa Nghiêm tại Hàn Quốc. Sư kết giao thân mật với vị nầy và còn giữ liên lạc sau khi Nghĩa Tương trở về Tân La.|4. Tăng sĩ thuộc Tam giai giáo xuất thân từ chùa Tịnh Vực (淨域寺), sau được bổ nhiệm coi sóc Vô tận tạng (無盡藏) ở Phúc Quang tự (福先寺) và Hoá Độ tự (化度寺).

pháp tạng

Dharmakara (skt)—Phật Pháp Tạng—Như Lai Tạng. 1) Lý của pháp tính hay pháp tính hàm chứa vô lượng đức tánh trong vũ trụ—Dharma-store which contains innumerable dharma-nature in the universe. 2) Chân lý tuyệt đối hàm chứa nơi vạn pháp trong vũ trụ, cũng là nguồn gốc căn bản của vạn pháp: The absolute, unitary storehouse of the universe, the primal source of all things. 3) Kho Pháp Bảo kinh điển, chứa những kim ngôn ngọc ngữ của Phật: The treasury of Buddha's teaching, the sutras, etc. 4) Thư viện Phật Giáo: Any Buddhist library. 5) Pháp Tạng Tỳ Kheo, một trong những tiền thân của Đức Phật A Di Đà: Dharmakara, mine of the Law; one of the incarnations of Amitabha. 6) Hiền Thủ Pháp Tạng, tên người sáng lập ra tông Hoa Nghiêm: Hsien-Shou-Fa-Tsang, name of the founder of the Hua-Yen Schol. ; (法藏) I. Pháp Tạng. Cũng gọi Phật pháp tạng, Như lai tạng. Pháp là pháp tính, Tạng là hàm chứa. Pháp tạng chỉ cho vô lượng diệu đức hàm chứa trong Như lai tạng. II. Pháp Tạng. Chỉ cho giáo pháp của đức Phật. Vì giáo pháp hàm chứa nhiều nghĩa, cho nên gọi là Pháp tạng(kho giáo pháp). Hoặc chỉ cho Thánh giáo, kinh điển chứa đựng những giáo pháp ấy. Vì kinh điển chứa đựng nhiều pháp môn, nên gọi Pháp tạng. III. Pháp Tạng. Cũng gọi Bảo tạng, Kinh tạng, Luân tạng, Kinh đường. Chỉ cho nơi cất chứa kinh điển. (xt. Kinh Tạng). IV. Pháp Tạng. Phạm: Dharmàkara. Hán âm: Đàm ma ca, Đàm ma ca lưu. Hán dịch: Pháp bảo xứ, Pháp xứ, Pháp tính, Tác pháp. Cũng gọi Pháp tạng tỉ khưu. Chỉ cho pháp danh của đức Phật A di đà khi chưa thành đạo. Cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển thượng, đã nhiều kiếp lâu xa trong quá khứ, vào thời đức Thế tự tại vương Như lai, có 1 vị Quốc vương nghe đức Như lai nói pháp, liền phát tâm vô thượng bồ đề và bỏ ngôi vua xuất gia, hiệu là Pháp tạng. Chưa bao lâu, Ngài đã thấy được 2 trăm 10 ức cõi nước của chư Phật, nên phát 48 thệ nguyện lớn. Vì giáo pháp mà Ngài nghe từ đức Thế tự tại vương Như lai nói, Ngài giữ gìn không mất và tích tụ ngày càng nhiều, cho nên kinh Vô lượng thọ dịch là Pháp tạng (Phạm: Dharmàkara). Hội Vô lượng thọ Như lai trong kinh Đại bảo tích đời Đường dịch là Pháp xứ; kinh Đại thừa Vô lượng thọ trang nghiêm đời Tống dịch là Tác pháp; còn luận Đại trí độ thì dịch là Pháp tích. (xt. A Di Đà Phật). V. Pháp Tạng (546-629). Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Bắc Chu và Tùy, Đường, người Dĩnh âm, Dĩnh xuyên, họ Tuân. Sư xuất gia năm 22 tuổi. Nhờ thông thạo ngôn ngữ của bộ tộc Tiên ti, nên được vua Vũ đế nhà Bắc Chu biết đến. Sau, sư vào ngọn Tử cái núi Chung nam cất am riêng tu thiền. Khoảng năm Kiến đức (572- ?), Vũ đế hủy diệt Phật pháp. Đến khi Tuyên đế lên ngôi, sư về kinh đô xin khôi phục Phật pháp, vua hạ lệnh cho sư để tóc, làm tăng Bồ tát và trụ trì chùa Trắc trĩ, sư phản đối kịch liệt. Từ đó, sư lại về núi ẩn tu. Đến đời Tùy, vua Văn đế phục hưng Phật pháp, sư mới lại xuất hiện, làm Thượng tọa ở chùa Thái bình cung. Năm Trinh quán thứ 3 (629) đời Đường, sư thị tịch, thọ 84 tuổi. [X. Tục cao tăng truyện Q.19]. VI. Pháp Tạng (643-712). Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, là Tổ thứ 3 của tông Hoa nghiêm, tự là Hiền thủ, hiệu Quốc nhất Pháp sư, cũng gọi Hương tượng đại sư, Khang tạng quốc sư. Ngài họ Khang, tổ tiên gốc người Khang cư, đến đời ông nội cả họ mới dời đến Trung quốc, sinh sống tại Trường an. Thủa nhỏ, sư thờ ngài Trí nghiễm làm thầy, nghe giảng kinh Hoa nghiêm, thâm nhập được huyền chỉ của kinh. Sau khi ngài Trí nghiễm thị tịch, sư mới y vào ngài Bạc trần xuống tóc xuất gia lúc 28 tuổi. Sư thông thạo ngôn ngữ các nước Tây vực và kinh sách tiếng Phạm, nên sư vâng sắc chỉ tham dự trường dịch kinh của ngài Nghĩa tịnh. Sư lần lượt phiên dịch hơn 10 bộ kinh như Hoa nghiêm (bản dịch mới), Đại thừa nhập lăng già... Sư từng giảng nghĩa sâu xa của Hoa nghiêm thập huyền duyên khởi cho Hoàng hậu Vũ tắc thiên nghe, chỉ vào con sư tử bằng vàng trong nội điện làm ví dụ, Võ hậu nhờ đó hiểu rõ. Sau, sư cũng nhân sự kiện này mà soạn thành Kim sư tử chương. Sư cả đời tuyên giảng kinh Hoa nghiêm hơn 30 lượt, dốc sức vào việc tổ chức hoàn bị giáo học Hoa nghiêm. Ngoài ra, sư còn chú thích các kinh luận như: Lăng già, Mật nghiêm, Phạm võng, luận Đại thừa khởi tín... đồng thời sư phỏng theo pháp thức của tông Thiên thai, đem phân loại các hệ thống tư tưởng Phật giáo làm Ngũ giáo và Thập tông. Sư cho rằng tư tưởng Hoa nghiêm là cao nhất, triết học Hoa nghiêm là thực hiện thế giới lí tưởng ngay trong thế giới hiện thực. Tháng 11, niên hiệu Tiên thiên năm đầu (712), sư thị tịch ở chùa Đại tiến phúc, hưởng thọ 70 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Hoa nghiêm kinh thám huyền kí 20 quyển, Hoa nghiêm liệu giản, Hoa nghiêm ngũ giáo chương, Đại thừa mật giáo kinh sớ 4 quyển, Phạm võng kinh sớ, Đại thừa khởi tín luận sớ, Hoa nghiêm cương mục, Hoa nghiêm huyền nghĩa chương. Các vị đệ tử nổi tiếng của sư gồm có: Hoành quán, Văn siêu, Trí quang, Tông nhất, Tuệ uyển... [X. Hiền thủ đại sư bi truyện; Tống cao tăng truyện Q.5; Phật tổ thống kỉ Q.29; Phật tổ lịch đại thông tải Q.15]. VII. Pháp Tạng (1573-1635). Thiền sư Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Minh, người Lương khê (nay là huyện Vô tích, tỉnh Giang tô), họ Tô, hiệu Hán nguyệt, tự Ư mật. Sư xuất gia năm 15 tuổi, lớn lên, sư thích tu thiền, đọc Cao phong ngữ lục sinh ngờ, chuyên tâm tham cứu, trải hơn 10 năm. Một hôm, sư nghe tiếng tre gãy mà đại ngộ. Năm Thiên khải thứ 4 (1624), sư đến chùa Kim túc tham vấn ngài Mật vân Viên ngộ, được ngài truyền tâm ấn. Sau đó, sư giảng pháp ở Thiền viện Tam phong trong núi Ngu sơn tại Tô châu, người đời gọi sư là Tam phong Tạng công. Sư đã từng trụ ở các ngôi chùa nổi tiếng như chùa Đại từ Bắc thiền, chùa An ẩn ở Hàng châu, chùa Thánh ân ở Tô châu... Sư cực kì thông minh, học thông cả Nho và Phật, chuyên tâm tu thiền, tham cứu nhiều năm, nhưng kiến giải có khác, nên đề xướng thuyết mới. Sư biên soạn Ngũ tông nguyên ¤©v •½, chỉ trích tông Tào động đương thời và phê bình tông chỉ của Ngũ gia, chỉ truyền mỗi 1 sự kiện là Thích ca cầm hoa mà thôi. Thuyết này đã làm cho mọi người kinh ngạc và gây ra nhiều cuộc tranh luận. Ngài Mật vân Viên ngộ đã gửi thư răn bảo sư, nhưng không khiến được sư thay đổi ý kiến. Tháng 7 năm Sùng trinh thứ 8 (1635), sư thị tịch, thọ 62 tuổi. Đến đời Thanh, khoảng năm Ung chính (1723-1735), vua ra chính lệnh cho rằng thuyết mới của sư là ma nói, đồng thời, tiêu hủy hết sách của sư và đuổi hết đồ đệ, dòng Tam phong từ đó tuyệt tích.Sư có các tác phẩm: Quảng lục 30 quyển, Hoằng giới pháp nghi 3 quyển, Ngữ lục 30 quyển. [X. Ngũ đăng nghiêm thống Q.24; Ngũ đăng toàn thư Q.65].

Pháp Tạng Bộ

(s: Dharmaguptaka, p: Dhammaguttaka, 法藏部): một trong 20 bộ phái của Tiểu Thừa, âm dịch là Đàm Vô Đức (曇無德), Đàm Ma Cúc Đa (曇摩毱多), Đàm Ma Đức (曇摩德), Đàm Ma Khuất Đa Ca (曇摩屈多迦), Đạt Ma Cập Đa (達摩及多); ý dịch là Pháp Chánh (法正), Pháp Kính (法鏡), Pháp Hộ (法護), Pháp Mật (法密), Pháp Tạng (法藏). Bộ phái này có nguồn gốc từ Hóa Địa Bộ (s: Mahīśāsaka, p: Mahiṃsāsaka, 化地部), đóng vai trò chủ đạo ở Trung Á và Trung Quốc. Khi Ưu Bà Ly (s, p: Upāli, 優婆離) làm thủ chúng trong lần kiết tập Luật Tạng, ông chia làm 80 lần để tụng luật căn bản; từ đó có tên gọi là Bát Thập Tụng Luật (八十誦律). Sau này, Đàm Vô Đức (s: Dharmaguptaka, 曇無德) lấy Bát Thập Tụng Luật để hình thành một bộ phái riêng với tên gọi là Đàm Vô Đức Bộ (曇無德部) hay Pháp Tạng Bộ, truyền thừa Tứ Phần Luật (四分律)—một trong 5 bộ luật. Cho nên, Đàm Vô Đức là vị tổ khai sáng của bộ phái này; và về sau Đạo Tuyên (道宣, 596-667) nhà Đường của Trung Quốc là người hình thành hệ thống Đàm Vô Đức Luật Tông (曇無德律宗, hay Tứ Phần Luật Tông [四分律宗]). Trong lịch sử Phật Giáo Trung Quốc, khi nói về Luật Tông, phần nhiều ám chỉ Tứ Phần Luật Tông. Bên cạnh đó, vì Đạo Tuyên đã từng truyền bá Luật Tông ở Chung Nam Sơn (終南山), nên có tên gọi là Nam Sơn Luật Tông (南山律宗). Đây là kết quả phát triển của Pháp Tạng Bộ. Giáo lý của Pháp Tạng Bộ nhấn mạnh đến công đức cúng dường tháp (stupa), nơi ấy thường có miêu tả bằng tranh câu chuyện tiền thân của vị Bồ Tát (Jātaka). Vì vậy, họ xem con đường của Bồ Tát và con đường của Thanh Văn là riêng biệt. Tam Tạng của bộ phái này có hai hướng mới: Tam Tạng Bồ Tát (p: Bodhisattvatipiṭaka, 菩薩三藏) và Tam Tạng Tổng Trì (p: Dharaṇītipiṭaka, 總持三藏). Các văn bản Phật Giáo Gandhāra rõ ràng thuộc về chư vị đạo sư của Pháp Tạng Bộ. Họ muốn khẳng định sự hưng thịnh của bộ phái này ở vùng Tây Bắc Ấn vào khoẳng thế kỷ thứ nhất sau công nguyên; và điều này cũng giải thích ảnh hưởng về sau của Pháp Tạng Bộ ở Trung Á và Đông Bắc Á. Tuy nhiên, vào thế kỷ thứ 7, khi Huyền Trang (玄奘, 602-664) du lịch vùng Châu Á, ông tường thuật rằng Pháp Tạng Bộ đã hoàn toàn biến mất ở Ấn Độ và Trung Á. Ngày nay, Luật Tạng của bộ phái này vẫn được thực hành ở Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam cũng như một số tông phái ở Nhật Bản và Triều Tiên.

Pháp Tạng bộ

法藏部; C: făzàng bù; J: hōzōbu; S: dharma-guptaka;|Một bộ phái Phật giáo, xuất phát từ Trưởng lão bộ (s: sthavira) và Hoá địa bộ (s: mahīśasaka). Bộ phái này do Cao tăng Tích Lan tên là Pháp Tạng (dharmagupta) thành lập và lưu truyền rộng rãi tại Nam Ấn Ðộ. Pháp Tạng bộ có một quan niệm về Bố thí khác với các tông phái khác: họ cho rằng cúng dường Tăng không mang lại phúc đức bằng cúng dường Phật. Luật tạng (s: vinaya-piṭaka) của phái này gồm có bốn phần, được nhiều phái Phật giáo xem như hoàn chỉnh nhất. Bộ này được dịch ra Hán văn năm 105 sau Công nguyên, bao hàm 250 giới dành cho tăng và 348 giới dành cho ni.

pháp tạng bộ

Dharmaguptikas (skt)—Pháp Tạng Bộ tách rời ra khỏi Hóa Địa Bộ do sự khác biệt về điểm nên cúng dường Phật hay cúng dường Tăng Bảo. Bộ phái nầy chú trọng việc cúng dường Phật và rất tôn kính các bảo tháp thờ Phật như được ghi rõ trong Luật Tạng của họ. Giống như Hóa Địa Bộ, họ tin là các A La Hán đã đoạn trừ hết dục vọng, và những người ngoại đạo không thể có được những quyền lực siêu nhiên. Trường phái nầy một thời phổ biến ở Trung Á và Trung Hoa. Họ có Kinh, Luật, và Luận Tạng riêng. Các tu viện ở Trung Hoa đều theo các cấm giới của họ—The Dharmaguptikas broke away from the Mahisasakas with whom they differed on points dealing with gifts to the Buddha or to the Sangha. This school believed in offering gifts to the Buddha and greatly revered the stupas of the Buddha as is clear from their rules (Vinaya). Like the Mahisasakas, they believed that an Arhat was free from passion and that heretics could not gain supernatural powers. This school was once popular in Central Asia and China. They had their own Sutra, Vinaya, and Abhidharma literature. The rules of their distinctive Pratimoksa were followed in the monasteries of China. ; (法藏部) Phạm: Dharmaguptaka. Pàli: Dhammaguttika. Cũng gọi Đàm vô khuất đa ca, Đàm ma quật đa, Đạt ma cập đa, Đàm vô đức bộ, Pháp hộ bộ, Pháp mật bộ, Pháp chính bộ, Pháp kính bộ. Tên của 1 phái thuộc Thượng tọa bộ, 1 trong 20 bộ phái Tiểu thừa. Về nguồn gốc phát sinh ra bộ này, có nhiều thuyết khác nhau: Theo thuyết của luận Dị bộ tông luân thì trong khoảng 300 năm sau đức Phật nhập diệt, Pháp tạng bộ đã từ Hóa địa bộ phân phái ra (khoảng 184-84 trước Tây lịch kỉ nguyên), còn kinh Xá lợi phất vấn và Phật giáo sử Ấn độ (Tàranàtha) thì đều chủ trương bộ này phân phái ra từ Thuyết nhất thiết hữu bộ. Trong Giáo đoàn phân liệt tường thuyết(Nói rõ về sự chia rẽ của Giáo đoàn) do Luận sư Thanh biện (Phạm:Bhavya), người Nam Ấn độ, soạn vào thế kỉ VI Tây lịch, có nêu ra 3 thuyết, trong đó, thuyết thứ nhất cho rằng Pháp bộ tạng trực tiếp từ Thượng tọa bộ phân phái ra, còn thuyết thứ 2 và thứ 3 thì đều chủ trương từ Phân biệt thuyết bộ chia ra. Về nguồn gốc tên gọi của bộ này, theo chú thích trong kinh Văn thù sư lợi vấn quyển hạ, Bộ chấp dị luận sớ và Dị bộ tông luân luận thuật kí, thì bộ chủ của bộ này tên là Pháp tạng, vả lại, chữ Tạng hàm chứa ý nghĩa hộ trì Chính pháp, vì thế đặt tên là Pháp tạng bộ. Nhưng, kinh Xá lợi phất vấn thì cho rằng ngài Mục kiền la ưu bà đề xá là Tổ của phái này. Trên phương diện giáo nghĩa, Pháp tạng bộ lập thuyết 5 tạng và 4 tướng. -Năm tạng: Kinh tạng, Luật tạng, Luận tạng, Cấm chú tạng và Bồ tát tạng. -Bốn tướng: Sinh tướng, Trụ tướng, Dị tướng và Diệt tướng. Trong đó, Sinh, Trụ, Dị là hữu vi, còn Diệt thì thuộc Vô vi. Cứ theo luận Dị bộ tông luân thì tông nghĩa chủ yếu của bộ này gồm có: 1. Sự giải thoát của Phật và Nhị thừa tuy giống nhau, nhưng Thánh đạo thì có khác. 2. Các ngoại đạo không có khả năng chứng được 5 thần thông. 3. Thân của các bậc A la hán đều là vô lậu. 4. Đức Phật chú trọng ở Tăng đoàn, bởi thế, xây dựng tháp Phật được quả báo rất lớn. Còn những chủ trương khác của bộ này đại khái cũng giống với các chủ trương của Đại chúng bộ. Luật điển của Pháp tạng bộ là luật Tứ phần, chư tăng thuộc bộ này mặc ca sa màu đen, có thuyết cho rằng áo màu đỏ. Pháp tạng bộ đặc biệt xem trọng tạng Bồ tát và tạng Cấm chú, đây chính là nguồn gốc của Mật giáo Đại thừa sau này. [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.22; kinh Tì ni mẫu Q.6; Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.1, 3, 9; Tam luận huyền nghĩa; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu; Đại đường tây vực kí Q.12; Xuất tam tạng kí tập Q.3]. (xt. Thượng Tọa Bộ, Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ).

pháp tạng toái kim lục

(法藏碎金錄) Tác phẩm, 10 quyển, do ông Triều quýnh (951-1032) soạn vào năm Thiên thánh thứ 5 (1027) đời Tống. Nội dung sách này lấy luân lí Nho giáo làm nòng cốt, rồi ghi chép những lời dạy của các bậc Thánh hiền trong Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo để giúp cho việc tu thân, dưỡng tâm. Lẽ ra sách này được thu vào Tạp lục bộ, nhưng Tứ khố đề yếu căn cứ vào Thư lục giải đề của ông Trần chấn tôn mà đem nó xếp vào Thích gia loại (loại sách nhà Phật). [X. Truyện Triều quýnh trong Tống sử Q.30; Trung quốc Phật giáo sử tịch khái luận (Trần viên)].

Pháp Tấn

(法進, Hōshin, 709-778): vị tăng của Luật Tông Trung Quốc, sang Nhật Bản dưới thời đại Nại Lương, húy là Pháp Tấn (法進), xuất thân La Sơn (羅山), Thân Châu (申州), họ Vương (王). Ông thọ Cụ Túc giới với Giám Chơn (鑑眞, Ganjin) ở Đại Minh Tự (大明寺), Dương Châu (揚州), đến trú tại Bạch Tháp Tự (白塔寺) và tinh thông về giới luật cũng như Thiên Thai Học. Năm 753, ông theo Giám Chơn sang Nhật, tận lực giúp thầy sáng lập Giới Đàn Viện ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji). Khi Giám Chơn chuyển sang Đường Chiêu Đề Tự (唐招提寺, Tōshōdai-ji), ông quản chưởng Giới Đàn Viện cũng như Đường Thiền Viện của chùa này. Vào năm 756, ông làm Luật Sư và đến năm 774 thì được thăng chức Tăng Đô. Ông nỗ lực thuyết giảng giới luật và khai sáng Phật Quốc Tự (佛國寺, Bukkoku-ji). Trước tác của ông có Đông Đại Tự Thọ Giới Pháp Quỹ (東大寺授戒法軌), Sa Di Thập Giới Tinh Uy Nghi Kinh Sớ (沙彌十戒并威儀經疏) 5 quyển, Chú Phạm Võng Kinh (註梵綱經) 6 quyển, v.v.

pháp tập

See Pháp Hội.

Pháp tập biệt hạnh lục tiết yếu tính nhập tư kí

法集別行録節要并入私記; C: făjíbié xínglù jiéyào bīngrùsījì; J: hōshūbetsugyō roku sechiyōhyōnyū shiki; K: pŏpchip pyŏrhaeng nok chŏryo pyŏngip sagi;|Tác phẩm của Tri Nột (知訥). Bản dịch tiếng Anh của Robert Buswell trong tác phẩm The Korean Approach to Zen.

pháp tập luận

(法集論) Pàli: Dhamma-saígaịi. Cũng gọi Pháp tăng già, Pháp tụ luận. Tác phẩm, 1 trong 7 bộ luận của Phân biệt thượng tọa bộ thuộc Phật giáo Tích lan. Nội dung sách này là phân loại và giải thích các pháp. Trước hết, liệt kê danh mục của các pháp thiện, pháp ác, pháp vô kí... gồm 122 môn của Luận bản mẫu (Pàli: Abhidhamma-màtikà) và các pháp hữu lậu, pháp vô lậu... gồm 42 môn của Kinh bản mẩu (Pàli: Suttanta-màtikà). Kế đến là phần chính văn, được chia làm 4 phẩm: Phẩm Tâm sinh khởi, phẩm Sắc, phẩm Tổng thuyết và phẩm Thích nghĩa. Bộ luận này chỉnh lí và định nghĩa các thuật ngữ thấy rải rác trong tạng Kinh, được xem là bộ luận căn bản, sánh ngang với bộ luận Phân biệt (Pàli: Vibhaíga-ppakaraịa) trong 7 bộ luậnPàli. Sách này đã được xuất bản bằng nguyên văn Pàli và bản dịch tiếng Anh nhan đề: A Buddhist Manual of Psychological Ethics, 1900, bản dịch tiếng Nhật (được thu vào Nam truyền Đại tạng kinh quyển 45). [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; Nam phương Thượng tọa bộ luận thư giải thuyết; A History ofPàli Literature by B.C.Law].

Pháp tập yếu tụng kinh

法集要頌經; C: făjí yàosòng jīng; J: hōshū yōshō kyō; |Của Pháp Cứu (法救, s: dharmatrāta).

pháp tỉ lượng

(法比量) Phạm: Anumànaô dharmatas. Tiếng dùng trong Nhân minh. Một trong 5 loại Tỉ lượng. Tỉ nghĩa là so sánh; Lượng nghĩa là tính lường. Tỉ lượng có nghĩa là so sánh giữa vật này với vật kia, rồi suy ra mà biết được cái lí tương quan của vật ấy. Như thấy cái vô thường mà suy ra liền biết là khổ; thấy có sinh mà suy ra liền biết có già; thấy già suy ra biết có chết... [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.11; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa toản yếu; Nhân minh nhập chính lí luận sớ tiền kí Q.thượng, hạ].

Pháp tịch

(法席): chỗ ngồi thuyết pháp. Như trong bài Quán Thế Âm Bồ Tát Ứng Hiện Ký (觀世音菩薩應現記) của Viên Anh Đại Sư Văn Tập (圓瑛大師文集) có đoạn: “Kim Phổ Đà đảnh sơn tự Văn Chất Lão Hòa Thượng trùng hưng dĩ lai, đại khai pháp tịch, nhi hưng tiền hậu tự thành đỉnh túc chi thế, đạo phong nhật chấn (今普陀頂山自文質老和尚重興以來、大開法席、而與前後寺成鼎足之勢、道風日振, hiện tại kể từ khi Văn Chất Lão Hòa Thượng trùng hưng đỉnh núi Phổ Đà đến nay, chùa mở pháp hội lớn, làm cho phát triển trước sau, chùa trở thành thế chân vạc, đạo phong của người ngày càng vang xa).” Hay trong bài Quy Sơn Đại Viên Thiền Sư Cảnh Sách (潙山大圓禪師警策) của Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐, 771-853) cũng có câu: “Tỳ ni pháp tịch, tằng vị thao bồi, liễu nghĩa thượng thừa, khởi năng chân biệt (毘尼法席、曾未叨陪、了義上乘、豈能甄別, pháp tịch giảng dạy Luật tạng, chưa từng học hỏi thực hành, giáo lý thượng thừa liễu nghĩa, làm sao phân biệt được).” Trong tác phẩm Bảo Khánh Ký (寳慶記, Hōkeiki) của Thiền Sư Đạo Nguyên (道元, Dōgen, 1200-1253) có đoạn rằng: “Đạo Nguyên con hồi còn nhỏ đã phát bồ đề tâm, đến tham vấn chư sư nơi bổn quốc, mới biết được chút do lai của nhân quả. Tuy nhiên, thế mà vẫn chưa xác định rõ việc quy y theo Phật Pháp Tăng, cứ mãi bị ràng buộc trong vòng danh tướng. Sau đến tham học Thiên Quang Thiền Sư, lần đầu tiên được nghe tông phong của Lâm Tế. Nay con theo hầu Toàn Pháp Sư sang nhà Tống nầy. Biển khơi vạn dặm, phó mặc huyễn thân nầy cho sóng cả nghìn trùng. Cuối cùng mới có thể đến được nhà Đại Tống, và dự vào pháp tịch của Hòa Thượng. Có lẽ đây là điều may mắn nhất trong đời. Ngưỡng mong Hòa Thượng đại từ đại bi, kẻ tiểu nhân nơi chốn xa nước ngoài đến đây, chỉ nguyện rằng chẳng kể thời quang trôi qua, không màng đầy đủ uy nghi, chỉ mong sao được thỉnh giáo ngu hoài lên phương trượng. Sống chết là việc lớn, vô thường chóng qua mau, chẳng trông đợi một ai, rời xa Thánh đạo tất ân hận một đời. Tiểu tăng Đạo Nguyên xin trăm lạy cúi đầu khẩn thỉnh.”

pháp tứ y

Bốn thứ y theo về pháp—The four trusts of dharma: 1) Y Pháp Bất Y Nhân: Y theo pháp chẳng y theo người—Trust in the Law, not in men—Trust in the truth which is eternal, rather than in man, even its propagator. 2) Y Liễu Nghĩa Kinh, Bất Y Bất Liễu Nghĩa Kinh: Y theo kinh liễu nghĩa, chẳng y theo kinh bất liễu nghĩa—Trust in sutras containing ultimate truth—Trust in the perfect meaning (the truth of the middle way) of the sutras. 3) Y Nghĩa Bất Y Ngữ: Dựa theo nghĩa, chứ không dựa theo ngôn ngữ (ngôn ngữ chỉ là công cụ để chuyên chở ý nghĩa mà thôi, không nên câu chấp)—Trust in truth, not in words—Trust in the meaning or spirit, not the letter. 4) Y Trí Bất Y Thức: Y Thánh Trí Bất Y Phàm Trí (tâm vọng tưởng được khởi lên bởi lục trần)—Trust in wisdom growing out of eternal truth and not in illusory knowledge—Trust in the Buddha's wisdom rather than mere knowledge. *For more information, please see Tứ Y Pháp.

Pháp tử

(法子): chỉ cho người xuất gia quy nhập chánh pháp của Phật, hay tùy thuận Phật đạo, được pháp nuôi dưỡng thành. Pháp do đức Phật thuyết rất vi diệu, nên các pháp được xem như là người mẹ; nếu người nào an trú vào trong chánh tín này, tức sẽ được tăng trưởng vững chắc, không mất đi niềm tin. Như trong Bạch Y Kim Tràng Nhị Bà La Môn Duyên Khởi Kinh (白衣金幢二婆羅門緣起經, Taishō Vol. 1, No. 10) quyển Thượng có giải thích rằng: “Nhược Sa Môn, nhược Bà La Môn, nhược Thiên Ma Phạm, Tam Giới nhất thiết, tất thị ngã tử, giai đồng nhất pháp, nhi vô sai biệt, chánh pháp khẩu sanh, đồng nhất pháp chủng, tùng pháp sở hóa, thị chơn pháp tử (若沙門、若婆羅門、若天魔梵、三界一切、悉是我子、皆同一法、而無差別、正法口生、同一法種、從法所化、是眞法子, nếu là Sa Môn, nếu là Bà La Môn, nếu là Thiên Ma Phạm, Ba Cõi hết thảy, tất là con ta, đều cùng một pháp, mà không sai khác, chánh pháp từ miệng sanh, cùng một hạt giống pháp, từ pháp biến hóa thành, là đúng người con pháp).” Thêm vào đó, trong A Di Đà Kinh Sớ (阿彌陀經疏, Taishō Vol. 37, No. 1757), Khuy Cơ (窺基, 632-682), sơ Tổ của Pháp Tướng Tông Trung Quốc, cho rằng Phật là vua của các pháp, cho nên Phật tử nào tuân thủ theo mà tu hành, và thể nhập vào pháp đó, thì gọi là pháp tử. Ngoài ra, từ này còn có nghĩa là người kế thừa dòng pháp của thầy. Trong Ưu Bà Di Tịnh Hạnh Pháp Môn Kinh (優婆夷淨行法門經, Taishō Vol. 14, No. 579) quyển 2 có đoạn: “Nhược xuất gia tác Phật, pháp tử hữu thiên vạn, giới định thần thông lực, năng tồi phục ma oán (若出家作佛、法子有千萬、戒定神通力、能摧伏魔怨, nếu xuất gia làm Phật, pháp tử có ngàn vạn, sức thần thông giới định, hàng phục được ma oán).” Hay trong Tống Cao Tăng Tuyện (宋高僧傳, Taishō Vol. 50, No. 2061) quyển 6, phần Đường Đài Châu Quốc Thanh Tự Trạm Nhiên Truyện (唐台州國清寺湛然傳), lại có câu: “Trí Giả chi ngũ thế tôn dã, Tả Khê Lãng Công chi pháp tử dã (智者之五世孫也、左溪朗公之法子也, Kinh Khê Trạm Nhiên là cháu đời thứ 5 của Thiên Thai Trí Khải, là pháp tử của Tả Khê Huyền Lãng vậy).”

pháp tử

Người đắc pháp hay một môn đệ nhà Thiền đã đạt đến cùng một mức độ giác ngộ như Thầy và đã được Thầy cho phép thực hiện việc truyền bá giáo lý của Thầy. Người đắc pháp có thể là một cư sĩ dù nam hay nữ. Luc Tổ Huệ Năng cũng là một cư sĩ khi ông nhận ấn chứng từ Ngũõ Tổ (Hoàng Nhẫn)—Child of the Dharma or Dharma Successor—One who makes his living by following Buddhism—A Zen disciple who has reached the same degree of enlightenment as his master and been given permission to carry on his line of teaching. A Dharma-Sucessor may be a layman or laywoman. Hui-Neng, the Sixth Patriarch, was a layman when he received the seal of transmission from the Fifth Patriarch. ; (法子) I. Pháp Tử. Chỉ cho người xuất gia trong chính pháp của đức Phật, hoặc chỉ cho người tùy thuận Phật pháp mà an trụ trong niềm chính tín bền vững. Kinh Bạch y kim chàng nhị Bà la môn duyên khởi quyển thượng (Đại 1, 218 thượng) nói: Tất cả sa môn, Bà la môn, trời, ma, Phạm thiên và chúng sinh trong 3 cõi đều là con của Ta, đều cùng trong 1 pháp, không có sai khác; đều từ chính pháp sinh ra, đều cùng 1 giống pháp; đều được giáo hóa bởi pháp, đó là Pháp tử chân chính. Nghĩa là sa môn xuất gia tức đã quay về với chính pháp, từ miệng chính pháp hóa sinh, vì cùng chung 1 giống pháp, nên gọi là Pháp tử. Còn trong A di đà kinh sớ thì ngài Khuy cơ cho rằng Phật là bậc Pháp vương, vì thế, những Phật tử noi theo và thể nhập pháp của Ngài thì gọi là Pháp tử. [X. Thắng man kinh điên đảo chân thực chương; phẩm Thụ học vô học nhân kí trong kinh Pháp hoa Q.4; Quán Vô lượng thọ Phật kinh nghĩa sớ Q.hạ (Nguyên chiếu)]. II. Pháp Tử. Chỉ cho người được di chúc trụ trì 1 ngôi chùa lớn nào đó để tiếp nối dòng pháp. Vì thứ tự trước sau, nên còn có các tên gọi như: Đại pháp tử, Nhị pháp tử, Tam pháp tử...

Pháp tự

法嗣; C: fǎsì; J: hōshi;|Là người nối pháp của vị thầy mình; người nối pháp này ít nhất phải đạt được trình độ ngộ nhập, Kiến tính của vị thầy và đã được Ấn khả.|Tuy nhiên, các vị Ðại thiền sư thường nhấn mạnh rằng, »Thiền« không thể được dạy truyền và chính vì vậy mà những danh từ như »giáo hoá«, »truyền tâm ấn« … chỉ có thể hiểu là những danh từ tạm bợ, được dùng để mô tả một hiện tượng không thể trình bày. Nhiệm vụ của một Thiền sư có thể so sánh với một chất xúc tác (e: catalyst) trong hoá học. Với sự hiện diện hoặc giáo hoá của một vị thầy, thiền sinh có thể tự chứng ngộ và ngay lúc đó, không có gì có thể gọi là thầy »truyền« trò »nhận.«|Trong thời gian đầu, biểu tượng của sự công nhận pháp tự là y bát của vị thầy truyền giao lại cho đệ tử. Danh từ »y bát« sau được hiểu như là »truyền tâm ấn ngoài giáo pháp«, một đặc tính của Thiền tông tại Ðông, Ðông nam á.

pháp tự

(法嗣) Nối pháp. Chỉ cho người thừa kế tông môn, pháp phái. Điều Khai đường chúc thọ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 3 (Đại 48, 1126 thượng) nói: Thị giả một lần dâng hương của người nối pháp, vị Trụ trì cầm lấy rồi tự cắm vào lư hương. (xt. Tự Pháp).

pháp tự tướng tương vi nhân

Một trong bốn nhân Tương Vi (nhân trái nghịch nhau) trong Nhân Minh, lập luận hay ý thứ trái lại với ngôn trần hay pháp tự tướng—One of the four fallacies connected with the reason, in which the reason is contrary to the truth of the premiss. ** For more information, please see Nhân Minh.

pháp tự tướng tương vi quá

(法自相相違過) Cũng gọi pháp tự tướng tương vi nhân (Phạm: Dharma-svarùpa-viruddhahetu). Tiếng dùng trong Nhân minh. Nhân (lí do) trái với danh từ sau (hậu trần) của Tông (mệnh đề), là 1 trong 14 lỗi của Nhân, 1 trong 33 lỗi Nhân minh. Pháp chỉ cho danh từ sau của Tông; Tự tướng, ở đây chỉ cho danh từ trước (tiền trần) của Tông; Tương vi là trái ngược nhau. Tức ý nghĩa của Nhân và Tông trái ngược nhau, cho nên gọi là Tương vi. Như Thanh luận sư đối với Thắng luận sư mà lập luận thức: Tông: Âm thanh là thường còn. Nhân: Vì do sự tạo tác mà có. Nhân trong luận thức này hoàn toàn mâu thuẫn với Tông, bởi vì những sự vật do tạo tác mà có đều là vô thường chứ không phải thường còn, cho nên nó đã không chứng minh được Âm thanh là thường còn, mà trái lại chứng minh Âm thanh là vô thường. Do đó, Nhân bị lỗi tương vi. Lỗi này cũng giống như lỗi thứ 4 trong 9 Cú nhân. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa đoán; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa toản yếu; Nhân minh luận sớ minh đăng sao Q.5, phần cuối]. (xt. Tứ Tương Vi, Nhân Minh).

pháp tự tại

Bồ tát có khả năng thuyết pháp không ngằn mé—A Bodhisattva's complete dialectical freedom and power, so that he can expound all things unimpeded.

pháp tỷ lượng

Dùng cái nầy mà lượng định ra cái kia, như lấy cái sanh mà suy luận ra cái chết—Inferring one thing from another, as from birth deducing death. ** For more information, please see Nhị Lượng.

pháp uy đức lực

The august power of Dharma.

pháp uyển

Vườn Pháp, chỉ Phật Giáo như một khu vườn sum suê tươi tốt—The garden of Dharma, Buddhism.

Pháp uyển châu lâm

法苑珠林; C: făyuànzhūlín; J: hōonjurin; |Tác phẩm của Đạo Thế (道世).

pháp uyển châu lâm

(法苑珠林) Cũng gọi Pháp uyển châu lâm truyện, Pháp uyển châu lâm tập. Tác phẩm, 100 quyển (tạng Gia hưng ghi 120 quyển), do ngài Đạo thế soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 53. Sách này đem nội dung các kinh điển Phật giáo biên thành mục cho dễ tra cứu. Ngài Đạo thế đã căn cứ vào Đại đường nội điển lục và Tục cao tăng truyện do ngài Đạo tuyên(Pháp huynh của ngài Đạo thế) mà biên tập thành sách này, có tính chất 1 bộ Bách khoa toàn thư của Phật giáo. Nội dung toàn sách chia làm 100 thiên, 668 bộ, trình bày khái quát về tư tưởng, thuật ngữ, pháp số……... của Phật giáo, trích dẫn các kinh, luật, luận, kỉ, truyện……... tổng cộng tới hơn 400 loại, trong đó có những kinh điển hiện nay đã thất truyền. Những đoạn văn trích dẫn không phải hoàn toàn sao chép y nguyên văn mà chỉ trích lấy những chỗ nghĩa lí cốt yếu mà thôi. Đây là bộ sách rất quí giá trong nền văn hiến Phật giáo Trung quốc. [X. Tống cao tăng truyện Q.4; Đại đường nội điển lục Q.5; Duyệt tạng tri tân Q.43].

pháp uyển nghĩa lâm chương

(法苑義林章) Cũng gọi Duy thức nghĩa chương, Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương, Nghĩa lâm chương. Tác phẩm, 7 quyển (hoặc 14 quyển), do ngài Khuy cơ soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung sách này chia làm 29 chương, bắt đầu từ chương Tổng liệu giản và kết thúc với chương Phật độ(cõi Phật). Toàn sách giải thích rõ ràng về sự tổ chức và nội dung cơ bản của giáo nghĩa Duy thức như phán giáo, nghĩa lí Duy thức, lí luận tu hành, quả vị..., là bộ sách chỉ nam cho những người học tập, nghiên cứu Duy thức từ xưa đến nay. Tác phẩm này có rất nhiều sách chú thích như: Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyết trạch kí của ngài Trí chu, Nghĩa lâm chương bổ khuuyết của ngài Tuệ chiểu, Nghĩa lâm chương sư tử hống chương của ngài Cơ biện v.v... [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3; Pháp tướng tông chương sớ]. Cao tăng Trung quốc, sống vào thời đại Nam triều, người Dương tiện, Nghĩa hưng (nay là huyện Nghi hưng, tỉnh Giang tô), họ Chu.

Pháp uẩn

法蘊; C: fă yùn; J: hōun; |Bộ sưu tập giáo lí.

pháp uẩn

Giáo thuyết Phật pháp—The Buddha's detailed teaching. ** For more information, please see Pháp Tạng. ; (法蘊) Phạm: Dharma-skandha. Đồng nghĩa: Pháp tạng. Chỉ chung cho giáo pháp của đức Phật. Giáo pháp do đức Phật tùy theo các duyên mà nói ra, do nhiều pháp môn chứa nhóm (uẩn) lại mà thành, cho nên gọi là Pháp uẩn. Theo kinh Pháp hoa thì có 8 vạn 4 nghìn Pháp uẩn, còn luận Câu xá thì cho rằng có 8 vạn Pháp uẩn. Phẩm Kiến bảo tháp trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 34 trung) nói: Cần đem 8 vạn 4 nghìn Pháp uẩn 12 thể tài kinh mà diễn nói cho mọi người nghe. Luận Câu xá quyển 1 (Đại 29, 6 trung) nói: Hữu tình được hóa độ có 8 vạn hành nghiệp khác nhau như tham, sân, si...; để đối trị 8 vạn hành nghiệp ấy, đức Thế tôn tuyên nói 8 vạn Pháp uẩn.

pháp viễn

(法遠) (991-1067) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Tống, người Trịnh châu, tỉnh Hà nam. Sư theo ngài Tam giao Trí trung xuất gia và nối pháp ngài Qui tỉnh ở viện Quảng giáo tại Hà nam. Âu dương tu từng theo học Thiền. Về sau, sư trụ ở núi Phù sơn, phát huy tông phong. Cơ pháp của sư đặc biệt khác lạ mà người đời gọi là Phù sơn cửu đới. Năm Trị bình thứ 4 (1067) sư thị tịch, thọ 77 tuổi, thụy hiệu Viên Giám Thiền Sư.[X. Tục đăng lục Q.4; Liên đăng hội yếu Q.15; Phổ đăng lục Q.2; Thiền lâm tăng bảo tuyện Q.17; Ngũ đăng hội nguyên Q.12; Thích thị kê cổ lược Q.4]. (xt. Phù Sơn Cửu Đới).

pháp vui

See Pháp Hỷ.

Pháp Vân

(法雲, Hōun, 467-529): vị tăng sống dưới thời Nam Triều, người vùng Dương Tiện (陽羡), Nghĩa Hưng (義興, thuộc Nghi Hưng [宜興], Giang Tô [江蘇]), họ Chu (周). Ông xuất gia năm 7 tuổi, đến năm 13 tuổi thì bắt đầu nghiên cứu kinh điển Phật Giáo và năm 30 tuổi thì khai đàn giảng Kinh Pháp Hoa cũng như Kinh Tịnh Danh ở Diệu Âm Tự (妙音寺). Ông đã từng kết giao với vị quan Trung Thư nhà Tề là Chu Ngung (周顒), cũng như với Vương Dung (王融) ở Lang Da (瑯琊), Lưu Hội (劉繪) ở Bành Thành (彭城), Từ Hiếu Tự (徐孝嗣) ở Đông Hoàn (東莞), v.v. Vào năm thứ 2 (503) niên hiệu Thiên Giám (天監) nhà Lương, ông vâng sắc chỉ vào ra các ngôi điện, rồi làm trú trì Quang Trạch Tự (光宅寺). Đến năm cuối niên hiệu Thiên Giám, ông kiến lập Pháp Vân Tự (法雲寺), và vâng mệnh dịch 3 bộ kinh do vương quốc Phù Nam (扶南) dâng hiến. Vào năm thứ 6 (525) niên hiệu Phổ Thông (普通), ông được sắc phong làm Đại Tăng Chánh. Tại Đồng Thái Tự (同泰寺), ông thiết lập hội ngàn vị tăng, nhà vua thường đến nghe giảng kinh Đại Bát Niết Bàn. Đến năm thứ 3 (529) niên hiệu Đại Thông (大通), ông thị tịch, hưởng thọ 63 tuổi. Ông là vị tăng thuộc Thành Thật Tông, rất tinh thông Kinh Niết Bàn.

pháp vân

Dharmamegha (skt)—Phật pháp như đám mây lợi nhuận chúng sanh—Buddhism as a fertilizing cloud. ; (法雲) Sư xuất gia năm 7 tuổi, năm 13 tuổi bắt đầu học tập Phật pháp. Năm 30 tuổi, sư giảng kinh Pháp hoa và kinh Tịnh danh ở chùa Diệu âm. Năm Thiên giám thứ 2 (503) đời Lương, sư vâng sắc chỉ trụ trì chùa Quang trạch, đặt ra qui chế Tăng đoàn. Cuối năm Thiên giám, sư xây dựng chùa Pháp vân, đồng thời, vâng sắc phiên dịch 3 bộ kinh do nước Phù nam (Cao miên xưa) tiến dâng. Năm Phổ thông thứ 6 (525), sư được ban sắc giữ chức Tăng chính. Sư thiết lập hội Thiên tăng ở chùa Đồng thái, vua thường giá lâm nghe sư giảng kinh Đại niết bàn. Sư thuộc học phái Thành thực, cùng với các ngài Trí tạng và Tăng mân được gọi chung là 3 Đại pháp sư ở triều Lương. Năm Đại thông thứ 3 (529), sư thị tịch, thọ 63 tuổi. Sư có tác phẩm: Pháp hoa kinh nghĩa kí 8 quyển. [X. Tục cao tăng truyện Q.5; Lịch đại tam bảo kỉ Q.11; Pháp hoa huyền luận Q.1]. II. Pháp Vân (1088-1158). Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Nam Tống, người Trường châu (huyện Ngô, tỉnh Giang tô), họ Qua, tự Thiên thụy, hiệu Vô cơ tử. Năm 5 tuổi, sư theo ngài Từ hạnh Phưởng công, năm 9 tuổi được cạo tóc xuất gia. Năm 10 tuổi, sư theo ngài Thông chiếu học giáo pháp Thiên thai. Năm Chính hòa thứ 7 (1117), sư trụ trì chùa Đại giác ở Tùng giang, được vua ban hiệu Phổ Nhuận Đại Sư. Sau, sư trở về quê cũ phụng dưỡng mẹ già, làm tròn đạo hiếu. Khi thân mẫu bệnh nặng, sư thường túc trực bên giường giảng Tâm kinh, niệm danh hiệu Phật A di đà. Sư lại triệu tập nghìn người, lập Liên hoa thắng hội, giảng Quán kinh và niệm Phật bản tính duy tâm. Người kính ngưỡng đạo hạnh cao cả của sư, về tụng niệm và nghe pháp rất đông. Năm Thiệu hưng 28 (1158), sư họp các đệ tử, dặn dò, viết kệ để lại, ngồi ngay thẳng, quay mặt về hướng tây mà tịch, thọ 71 tuổi. Sư có các tác phẩm: Kim cương kinh chú, Tâm kinh sớ sao chú, Tức ấm tập, Phiên dịch danh nghĩa tập. [X. Phổ nhuận đại sư hành nghiệp kí; Phiên dịch danh nghĩa tập tự; Phật tổ thống kỉ Q.15; Thích thị kê cổ lược Q.4].

Pháp Vân Cảo

(法雲杲, Hōunkō, ?-?): vị tăng của Phái Hoàng Long thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, thông xưng là Phật Chiếu Thiền Sư (佛照禪師). Ông đến tham học với Viên Thông Viên Ki (圓通圓璣), được cử làm Thủ Tòa. Sau ông đến tham yết Chơn Tịnh Khắc Văn (眞淨克文) và vào ngày 21 tháng 11 năm thứ 3 (1096), ông kế thừa dòng pháp của vị này. Từ đó, ông bắt đầu thuyết giáo tại Lô Sơn Quy Tông Tự (蘆山歸宗寺). Thể theo chiếu chỉ của hoàng triều, ông chuyển đến trú trì Tịnh Nhân Thiền Viện (淨因禪院) và Pháp Vân Tự (法雲寺) ở Đông Kinh (東京, Tỉnh Hà Nam).

pháp vân đẳng giác

Giai đoạn sau khi vượt qua Pháp Vân Địa là Đẳng Giác Địa hay giác ngộ phổ trí (từ đây đế Phật quả chỉ còn một địa cuối cùng là Diệu Giác)—The stage after the tenth bodhisattva stage, that of universal knowledge, or enlightenment.

Pháp vân địa

xem Mười địa vị. ; 法雲地; C: făyúndì; J: hōunji; s: dharma-meghā; t: chos kyi sprin|Giai vị thứ 10 trong Thập địa của Bồ Tát đạo. Giai vị mà trí huệ thấm nhuần khắp pháp giới như mưa rơi từ một đám mây.

pháp vân địa

Giai đoạn thứ mười nơi mà Phật pháp tiết ra những giọt sương mai tinh khiết—The tenth bodhisattva stage, when the dharma everywhere drop their sweet dew.

Pháp vô khứ lai tông

法無去來宗; C: fă wú qùlái zōng; J: hōmukorai shū; |Chủ trương »Pháp vốn chẳng có quá khứ lẫn vị lai«.

pháp vô khứ lai tông

(法無去來宗) Tông thứ 3 trong 10 tông do tông Hoa nghiêm phán thích. Tông này chủ trương các pháp trong quá khứ và vị lai không có thực thể, chỉ có pháp ở hiện tại và pháp vô vi là có thực thể. Các bộ phái của Tiểu thừa như: Đại chúng bộ, Kê dận bộ, Chế đa sơn bộ, Tây sơn trụ bộ, Bắc sơn trụ bộ, Pháp tạng bộ, Ẩm quang bộ... đều thuộc tông này.(xt. Thập Tông).

Pháp vô ngã

法無我; C: făwúwǒ; J: hōmuga; |Hợp thể các yếu tố hiện hữu không tồn tại trên cơ sở tự tính. Đây là một nhận thức cao cấp về tính không hơn là quan điểm Nhân vô ngã (人無我). Đồng nghĩa với Pháp không (法空) và Vô tự tính (無自性).

pháp vô ngã

Dharmanairatmya (skt)—Selflessness of things. 1) Vạn hữu không có thực ngã, không có tự tính, không độc lập—Things are without independent individuality, i.e. the tenet that things have no independent reality, no reality in themselves—No permanent individuality in or independence of things. 2) Cái ý niệm cho rằng không có tự tính hay ngã tạo nên tính đặc thù của mỗi sự vật được những người theo Phật Giáo Đại Thừa khẳng định là đặc biệt của họ chứ không phải của Tiểu Thừa. Ý niệm nầy thật tự nhiên vì ý niệm về “không tính” là một trong những đặc điểm nổi bậc nhất của Đại Thừa, nên thật là tự nhiên khi các học giả Đại Thừa đặc “Pháp Vô Ngã” ở một vị trí nổi bậc trong triết học của họ: The idea that there is no self-substance or “Atman” constituting the individuality of each object is insisted on by the followers of Mahayana Buddhism to be their exclusive property, not shared by the Hinayana. This idea is naturally true as the idea of “no self-substance” or Dharmanairatmya is closely connected with that of “Sunyata” and the latter is one of the most distinguishing marks of the Mahayana., it was natural for its scholars to give the former a prominent position in their philosophy. 3) Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật dạy: “Khi một vị Bồ Tát Ma ha tát nhận ra rằng tất cả các pháp đều thoát ngoài tâm, mạt na, ý thức, ngũ pháp, và ba tự tính, thì vị ấy được gọi là hiễu rõ thực nghĩa của “Pháp Vô Ngã.”—In the Lankavatara Sutra, the Buddha taught: “When a Bodhisattva-mahasattva recognizes that all dharmas are free from Citta, Manas, Manovijnana, the Five Dharmas, and the Threefold Svabhava, he is said to understand well the real significance of Dharmanairatmya.”—See Tâm, Mạt Na Thức, Ý Thức, Ngũ Pháp, and Tam Không (B).

pháp vô ngã trí

Dharmanairatmyajnana (skt)—Năng lực về nhận biết nhờ đó mà cái chân lý về “Pháp Vô Ngã” được chấp nhận—The knowledge or wisdom of the dharmanairatmya, or the power of cognisance whereby the truth of Dharmanairatmya is accepted. ** For more information, please see Pháp Vô Ngã.

Pháp vô ngại trí

xem Bốn trí không ngăn ngại.

pháp vô ngại trí

Trí tuệ hay khả năng giảng giải đúng theo Chánh Pháp một cách vô ngại—Wisdom or power of explanation in unembarrassed accord with the Law, or Buddha-truth. ** For more information, please see Vô Ngại and Tứ Vô Ngại.

pháp vô vi

Pháp không có hình tướng, số lượng, chẳng thể suy lường và dùng lời nói diễn tả được.

pháp văn

Văn chương Phật Giáo—The literature of Buddhism.

pháp vũ

1) Mưa Pháp làm thấm nhuận chúng sanh: The rain of Buddha-truth which fertilizes all beings. 2) Mái nhà Phật Pháp: Dharma roof, or canopy. 3) Tự Viện: Monastery. ; (法雨) Mưa pháp. Mưa được dùng để ví dụ giáo pháp của đức Phật. Giáo pháp của đức Phật nhuần thấm chúng sinh, làm cho họ từ trong mê vọng thức tỉnh mà đến chứng ngộ, giống như trận mưa tưới xuống khiến cho cây cỏ tốt tươi và trổ hoa kết trái. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 2 (Đại 12, 372 thượng), nói: Pháp vũ vô thượng, tưới tẩm ruộng thân của ngươi, khiến cho sinh ra mầm pháp. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa Q.1; kinh Vô lượng thọ Q.thượng]. ; (法宇) Từ gọi chung các chùa viện. Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 4 (Đại 24, 223 trung) nói: Già lam này trước kia là Pháp vũ, nay biến làm thành Càn thát bà.(xt. Tự Viện).

pháp vũ thiền tự

(法雨禪寺) Cũng gọi Hậu Tự. Ngôi chùa tọa lạc dưới ngọn Quang hi, phía trái đỉnh Bạch hoa, núi Phổ đà, tỉnh Chiết giang, là 1 trong 3 ngôi chùa lớn ở núi này.Năm Vạn lịch thứ 8 (1580) đời Minh, sư Chân dung từ Tây thục đến lễ núi Phổ đà, sư thích thắng cảnh của ngọn Quang hi này, nên kết am cỏ ở đây, lấy tên là Am Hải Triều. Năm Vạn lịch 22 (1594), Quận thú (Quận trưởng) đổi bảng hiệu là Hải Triều Tự. Năm Vạn lịch 27 (1599), vua ban Đại tạng kinh bản Long tạng. Năm Vạn lịch 34 (1606), vua lại ban bảng hiệu Hộ Quốc Trấn Hải Thiền Tự. Năm Vạn lịch 40 (1612), chùa bị cháy trong 1 trận hỏa hoạn, không bao lâu, được làm lại.Năm Khang hi 38 (1699) đời Thanh, vua ban 2 tấm bảng ngạch: Thiên Hoa Pháp Vũ và Pháp Vũ Thiền Tự. Năm Ung chính thứ 9 (1731), vua ban sắc trùng tu, từ đó, điệnđường lầu gác tề chỉnh hoàn mĩ và chùa trở nên nổi tiếng ngang với chùa Phổ tế. [X. Phạm sát Pháp vũ thiền tự Trung quốc Phật tự chí Phổ đà lạc ca tân chí Q.5].

Pháp Vương

(s: dharma-rāja, 法王): vua pháp, tôn xưng thường dùng để chỉ cho chư Phật. Vương có nghĩa tối thắng, tự tại; đức Phật là chủ tể của Pháp, có thể giáo hóa chúng sanh một cách tự tại, nên được gọi là Pháp Vương. Như trong Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經, Taishō No. 12) quyển Hạ có câu: “Phật vi Pháp Vương, tôn siêu chúng Thánh, phổ vi nhất thiết thiên nhân chi sư (佛爲法王、尊超眾聖、普爲一切天人之師, Phật là Pháp Vương, được tôn kính hơn các bậc Thánh, là vị thầy của khắp hết thảy trời người).” Hay như trong Thích Ca Phương Chí (釋迦方誌, Taishō No. 51) có giải thích rằng: “Phàm nhân cực vị, danh viết Luân Vương; Thánh nhân cực vị, danh viết Pháp Vương (凡人極位、名曰輪王、聖人極位、名曰法王, ngôi vị cao nhất của người phàm gọi là Luân Vương, ngôi vị cao nhất của bậc Thánh là Pháp Vương).” Trong bài xưng tán đức Phật có câu: “Pháp Vương vô thượng tôn, Tam Giới vô luân thất, thiên nhân chi đạo sư, Tứ Sanh chi từ phụ (法王無上尊、三界無倫匹、天人之導師、四生之慈父, đấng Pháp Vương vô thượng, Ba Cõi chẳng ai bằng, thầy dạy khắp trời người, cha lành chung Bốn Loại).” Hay như trong Tây Du Ký (西遊記), hồi thứ 64 lại có đoạn: “Trượng tích Tây lai bái Pháp Vương, nguyện cầu diệu điển viễn truyền dương, kim chi tam tú thi đàn thoại, bảo thọ thiên hoa liên nhụy hương, bách xích cán đầu tu tấn bộ, thập phương thế giới lập hành tàng, tu thành ngọc tượng trang nghiêm thể, Cực Lạc môn tiền thị đạo trường (杖錫西來拜法王、願求妙典遠傳揚、金芝三秀诗坛瑞,宝树千花莲蕊香。金芝三秀詩壇瑞、寶樹千花蓮蕊香、百尺竿头须进步,十方世界立行藏。百尺竿頭須進步、十方世界立行藏、修成玉象庄严体,极乐门前是道场。修成玉象莊嚴體、極樂門前是道塲, quảy trượng qua Tây lễ Pháp Vương, nguyện mong kinh điển khắp truyền dương, cành vàng tam tú thơ đàn lạ, cây báu ngàn hoa sen nhụy hương, trăm bộ đầu sào nên bước tiếp, mười phương thế giới vững trụ thường, tu thành voi ngọc trang nghiêm dáng, Cực Lạc cửa này chính đạo trường).” ; (s: dharma-rāja, p: dhamma-rāja, 法王): có mấy nghĩa chính. (1) Là tôn xưng của đức Phật. Vương (王) có nghĩa là tối thắng, không ai bằng, tự tại, không ngăn ngại; đức Phật là chủ tể các pháp môn, có thể giáo hóa chúng sanh một cách tự tại, nên được gọi là Pháp vương. Như trong Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh (佛說無量壽經, Taishō Vol. 12, No. 360) giải thích rằng: “Phật vi pháp vương tôn siêu chúng Thánh, phổ vị nhất thiết thiên nhân chi sư (佛爲法王尊超眾聖、普爲一切天人之師, đức Phật là vua pháp, tôn kính hơn các bậc Thánh, là thầy của khắp tất cả trời người).” Hay trong Thích Ca Phương Chí (釋迦方志, Taishō Vol. 51, No. 2088) quyển Thượng cho biết thêm rằng: “Phàm nhân cực vị danh viết Luân Vương, thánh nhân cực vị danh viết Pháp Vương (凡人極位名曰輪王、聖人極位名曰法王, ngôi vị cao tột của người phàm gọi là Luân Vương, ngôi vị cao tột của bậc Thánh là Pháp Vương).” (2) Là tôn xưng của vị Bồ Tát. Căn cứ vào Kinh Hoa Nghiêm quyển 27 cho biết rằng vị Bồ Tát khi thọ chức, chư Phật lấy nước trí tuệ rưới lên đỉnh đầu để cho vị ấy đầy đủ Mười Lực của đức Phật, có thể chuyển hóa 10 con đường thiện, nên được gọi là Quán Đảnh Pháp Vương (灌頂法王). Theo Đại Bảo Tích Kinh (大寶積經, Taishō Vol. 11, No. 310) quyển 27, vì vị Bồ Tát có đủ 4 việc, nên được gọi là Pháp Vương. Bốn việc đó là không bỏ đạo tâm; khuyến hóa người khác phát ý; lấy gốc của các đức mà khuyên giúp đạo tâm; khiến cho hết thảy Đế Thích, Phạm Vương, Tứ Thiên Vương, các bậc Thanh Văn cũng như Duyên Giác, đạt đến nghiệp cùng tận không hoại. (3) Là tên gọi khác của vua Diêm Ma (閻魔) dưới cõi u minh. (4) Là phong hiệu vị thủ lãnh của Phật Giáo Tây Tạng. Bắt đầu từ năm 1270 (Chí Nguyên [至元] thứ 7) đời vua Thế Tổ Hốt Tất Liệt (世祖忽必烈, tại vị 1260-1271, 1271-1294) nhà Nguyên, nhà vua phong cho Bát Tư Ba (八思巴), thủ lãnh của Phái Tát Ca (薩迦派), là Đại Bảo Pháp Vương (大寶法王). Đến năm 1406 (Vĩnh Lạc [永樂] thứ 4), vua Thành Tổ (成祖, tại vị 1402-1424) nhà Minh cho mời Cáp Lập Ma (哈立麻), vị Lạt Ma thủ lãnh của Phái Ca Nhĩ Cư (迦爾居派) đến Bắc Kinh, rồi đến năm sau thì phong cho vị này là Vạn Hạnh Cụ Túc Thập Phương Tối Thắng Viên Giác Diệu Trí Tuệ Thiện Phổ Ứng Hựu Quốc Diễn Giáo Như Lai Đại Bảo Pháp Vương Tây Thiên Tự Tại Phật (萬行具足十方最勝圓覺妙智慧善普應佑國演敎如來大寶法王西天自在佛), gọi tắt là Đại Bảo Pháp Vương. Từ đó về sau, lại phân biệt phong cho các vị Lạt Ma thượng thủ của hai phái Tát Ca và Cách Lỗ (格魯) là Đại Thừa Pháp Vương (大乘法王), Đại Từ Pháp Vương (大慈法王). (5) Về phía Nhật Bản, dưới thời đại Nại Lương (奈良, Nara, 710-794), có Thiếu Tăng Đô Đạo Kính (道鏡, Dōkyō, ?-772), tăng sĩ của Pháp Tướng Tông, thường ra vào cung nội, được Thiên Hoàng sủng ái, ban tặng cho hiệu là Đại Thần Thiền Sư (大臣禪師). Rồi đến năm 766 (Thiên Bình Thần Hộ [天平神護] thứ 2), ông được ban cho chức vị Pháp Vương. Ngoài ra, Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi, 574-622) cũng được tôn xưng là Thánh Đức Pháp Vương (聖德法王) hay Đại Pháp Vương Hoàng Thái Tử (大法王皇太子). Trong Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu (毗尼日用切要, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1115) có bài kệ Tán Phật (讚佛): “Pháp Vương vô thượng tôn, Tam Giới vô luân thất, thiên nhân chi đạo sư, Tứ Sanh chi từ phụ, ngã kim tạm quy y, năng diệt Tam Kỳ nghiệp, xưng dương nhược tán thán, ức kiếp mạc năng tận (法王無上尊、三界無倫匹、天人之導師、四生之慈父、我今暫皈依、能滅三祇業、稱揚若讚歎、億劫莫能盡, đấng pháp vương vô thượng, Ba Cõi chẳng ai bằng, thầy dạy khắp trời người, cha lành chung Bốn Loại, con nay tạm quy y, dứt sạch nghiệp Ba Kỳ, xưng dương và tán thán, ức kiếp không cùng tận).”

Pháp vương

danh hiệu tôn xưng đức Phật là vị vua của các pháp. Vì Phật nắm hiểu tất cả các pháp nên gọi là Pháp vương, lại vì thuyết dạy các pháp cho chúng sanh, tức là chuyển bánh xe Pháp (chuyển Pháp luân) nên được tôn xưng là Pháp luân vương, Pháp luân thánh vương. ; 法王; C: fă wáng; J: hō-ō; |1. Vua của các pháp – Đức Phật; 2. Vị vua chân thực trong việc truyền bá chính pháp.

pháp vương

Dharmaraja (skt)—Phật là bậc Pháp Vương vì ngài tự do tự tại, không bị lệ thuộc ràng buộc vào bấc cứ một pháp nào—King of the Law—Buddha—Dharma King. ; (法王) Phạm: Dharma-ràja. I. Pháp Vương. Vua pháp. Danh từ tôn xưng đức Phật. Vương có nghĩa tối thắng, tự tại. Phật là chủ các pháp môn, có năng lực tự tại giáo hóa chúng sinh, vì thế gọi là Pháp vương. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 275 trung), nói: Phật là Pháp vương, tôn quí hơn hết trong hàng Thánh chúng, là bậc Thầy của tất cả trời người. Thích ca phương chí quyển thượng (Đại 51, 950 thượng) nói: Địa vị cao nhất của người phàm là Luân vương; địa vị cao nhất của Thánh nhân là Pháp vương. [X. kinh Du hành trong Trường a hàm Q.3; phẩm Phật quốc kinh Duy ma Q.thượng; phẩm An lạc hạnh kinh Pháp hoa Q.5]. II. Pháp Vương. Danh từ tôn xưng Bồ tát. Cứ theo kinh Hoa nghiêm quyển 27 thì khi nhận ngôi vị, Bồ tát được chư Phật dùng nước trí tuệ rưới lên đỉnh đầu (quán đính), nhờ đó, Bồ tát có đầy đủ Thập lực của đức Phật, cũng có khả năng chuyển Thập thiện đạo, cho nên gọi là Quán đính pháp vương. Lại theo phẩm Mật tích lực sĩ trong kinh Đại bảo tích quyển 9, thì vì Bồ tát có đủ 4 việc nên được tôn xưng là Pháp vương. Bốn việc ấy là: 1. Không bỏ đạo tâm. 2. Khuyến hóa chúng sinh phát tâm. 3. Dùng các thiện căn công đức khuyến giúp đạo tâm, làm cho người nghe mở rộng tâm ý. 4. Khiến cho Đế thích, Phạm thiên, Tứ thiên vương, các vị Thanh văn và Duyên giác đến được đạo nghiệp rộng lớn vô cùng, không hoại diệt. [X.phẩm Dược vương bồ tát bản sự trong kinh Pháp hoa Q.6]. III. Pháp Vương. Tên khác của vua Diêm ma ở cõi U minh. Vua Diêm ma y theo pháp mà phán xét tội của chúng sinh ở cõi U minh, nên gọi là Pháp vương. IV. Pháp Vương. Hiệu vua phong cho vị thủ lãnh của Phật giáo do Tây tạng truyền. Bắt đầu vào năm Chí nguyên thứ 7 (1270) đời vua Thế tổ nhà Nguyên, ngài Bát tư ba –thủ lãnh của phái Tát ca– được phong Đại Bảo Pháp Vương. Năm Vĩnh lạc thứ 4 (1406) đời Minh, vua Thành tổ dẫn binh đem lễ vật đi mời Lạt ma Cáp lập ma thuộc phái Ca nhĩ cư đến Bắc kinh, năm sau, vua phong ngài Cáp lập ma là Vạn Hạnh Cụ Túc Thập Phương Tối Thắng Viên Giác Diệu Trí Tuệ Thiện Phổ Ứng Hựu Quốc Diễn Giáo Như Lai Đại Bảo Pháp Vương Tây Thiên Tự Tại Phật gọi tắt là Đại Bảo Pháp Vương. Sau đó, vua lại phong cho vị Lạt ma Thượng thủ của phái Tát ca là Đại Thừa Pháp Vương và vị Lạt Pháp Vương. (xt. Đại Bảo Pháp Vương). V. Pháp Vương. Tên 1 chức quan được đặt ra ở khoảng thời đại Nại lương của Nhật bản. Thiếu tăng đô tên Đạo kính ra vào trong cung, được Thiên hoàng yêu mến và ban cho hiệu Đại Thần Thiền Sư. Rồi vào năm Thiên bình hộ thứ 2 (766), vua trao ngôi vị Pháp Vương cho sư. Ngoài ra, Thái tử Thánh đức được tôn xưng là Thánh Đức Pháp Vương hoặc Đại Pháp Vương Hoàng Thái Tử.

pháp vương gia

(法王家) Nhà bậc vua Pháp. Chỉ cho cõi nước của chư Phật. Pháp vương là tiếng tôn xưng đức Phật, cho nên cõi nước của Phật trụ được gọi là Pháp vương gia. Vãng sinh lễ tán kệ (Đại 47, 444 hạ) nói: Tất cả cõi nước của chư Phật trong 10 phương đều là Pháp vương gia. Ngoài ra, từ ngữ Pháp vương gia cũng được sử dụng để chỉ cho các chùa viện của chúng tăng. Chư tăng là đệ tử của đức Phật, hoằng dương Phật pháp, giáo hóa chúng sinh, cho nên chùa viện là nơi chư tăng cư trú cũng được gọi là Pháp vương gia.[X. Tập chư kinh lễ sám nghi Q.hạ].

pháp vương kinh

(法王經) Kinh, 1 quyển, không có tên người dịch hoặc người soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 85. Nội dung kinh giải thích rõ thuyết Phật tính vô tính của Đại thừa và cho thuyết này là bậc nhất trong các pháp, là vua trong các thừa, vì thế gọi là Pháp vương kinh. Về sau, thuyết của kinh này được Bách trượng quảng lục, Tông kính lục... dẫn dụng. Những bản sao của kinh này được tìm thấy ở động Đôn hoàng mang các hiệu số: 30, 26, 36. Ngoài ra còn có bản dịch Tây tạng. [ X. Khai nguyên thích giáo lục Q.18].

pháp vương tử

Kumarabhuta (skt)—Cưu Ma La Phù Đa—Cưu Ma La Phù—Pháp Vương tử hay Bồ Tát, người kế thừa ngôi vị của Phật để nối truyền Chánh Pháp—Son of the Dharma-king—Bodhisattva—Dharma prince. ; (法王子) Phạm: Kumàrabhùta. Hán âm: Cứu ma la phù đa, Cưu ma la phù.Hán dịch: Đồng chân. Con bậc Pháp vương, là tên khác của Bồ tát. Bồ tát là người kế thừa ngôi vị của Phật, Phật là Pháp vương, nên Bồ tát được gọi chung là Pháp vương tử. Sự quan hệ giữa Pháp vương Như lai và Bồ tát cũng giống như quan hệ giữa Quốc vương và Vương tử ở thế gian, vì thế gọi Bồ tát là Pháp vương tử. [X. kinh A di đà; phẩm Báo ân trong kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.2; luận Đại trí độ Q.4, 32; Chú duy ma kinh Q.1].

Pháp vương tử trú

法王子住; C: fă wángzí zhù; J: hō-ōshi jū; |Giai vị thứ 9 trong Thập trú trong 52 giai vị tu đạo của hàng Bồ Tát. Là giai vị xuất sinh trí huệ tương ứng với giáo pháp của Đức Phật, và niềm xác tín là tương lai sẽ thành Phật.

pháp vương tự

(法王寺) Chùa ở chân núi phía nam ngọn Thái thất thuộc Tung sơn, huyện Đăng phong, tỉnh Hà nam, Trung quốc, tương truyền được sáng lập vào năm Vĩnh bình thứ 10 (71) đời vua Minh đế nhà Hán. Khoảng năm Thanh long đời vua Minh đế nhà Ngụy, chùa được đổi tên là chùa Hộ quốc. Thời Tây Tấn xây dựng thêm chùa Pháp hoa ở phía trước chùa này. Đến đầu đời Tùy, có xây tháp Xá lợi, lại được đổi tên là chùa Xá lợi. Khoảng năm Trinh quán đời Đường, vua Thái tông ban sắc tu bổ tượng Phật, cấp cho ruộng vườn và đổi tên là chùa Công đức. Đến khoảng năm Khai nguyên, vua Huyền tông lại đổi tên là chùa Ngự dung. Khoảng năm Đại lịch, vua Đại tông ra lệnh sửa lại nhà điện, lầu gác và đổi tên là chùa Văn thù sư lợi quảng đức Pháp vương. Đến đời Ngũ đại, chùa được chia ra 5 viện theo tên cũ: Hộ quốc, Pháp hoa, Xá lợi, Công đức và Ngự dung. Đầu đời Bắc Tống, chùa được gọi chung là Ngũ viện. Khoảng năm Khánh lịch, vua Tống nhân tông cho xây dựng thêm các nhà điện, phòng tăng, làm lại các tượng Phật và đổi tên là chùa Tung Sơn Đại Pháp Vương. Trong chùa hiện còn các kiến trúc: Điện Tì Lô, Điện Đại Hùng và ngôi tháp 5 tầng, hình vuông, bằng gạch.

pháp vật

(法物) Những vật thuộc về Pháp. Chỉ cho các loại kinh sách, hòm, tráp và các phẩm vật cúng dường Pháp bảo, là 1 trong Tam bảo vật.Cứ theo Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển trung phần 1, thì Pháp vật được chia làm 4 loại: 1. Pháp thụ dụng vật: Những vật được dùng vào những việc duy trì Pháp bảo, như kinh quyển, hòm tủ, màn che, khăn phủ... 2. Thí thuộc pháp vật: Những vật bố thí cho Pháp bảo, như ruộng vườn... được chia làm 2 phần: Một phần cúng dường kinh, một phần cho người tụng kinh. 3. Cúng dường pháp vật: Những vật cúng dường Pháp bảo, như hương hoa cúng dường kinh quyển... 4. Hiến pháp vật: Những vật dâng hiến Pháp bảo, như thức ăn uống cúng dường kinh quyển... (xt. Tam Bảo Vật).

Pháp vị

法位; C: făwèi; J: hōi; S: dharma-niyāmatā. |1. Nhân duyên hay tiến trình mà các pháp (sinh mệnh, vật thể, tâm ý) được biểu hiện. Những luận sư thuộc phái Hữu bộ ban sơ, trong lúc cố gắng giải thích làm sao chúng ta có thể phân biệt giữa quá khứ, hiện tại, vị lai đã kết luận rằng đó là do quan điểm hoạt dụng khác nhau giữa các sự hiện hữu. Lí thuyết nầy được giải thích chi tiết trong Câu-xá luận, cho rằng thời gian mà các pháp đã hoại là quá khứ. Quan điểm nầy, nếu như không được giải thích kĩ, có thể dẫn đến kết quả xu hướng dẫn đến tà kiến cho rằng các pháp có một bản ngã nhất định và có tự tính riêng của chúng. Do vậy, quan điểm nầy bị Long Thụ và các vị khác bác bỏ.|2. Một pháp, hay mỗi pháp hiện hữu trong một vị thế tương ứng với chân tính như thật của nó.|3. Thành viên trong tăng đoàn.

pháp vị

Dharmaniyamata (skt). 1) Chân Như: The bhutatathata—Dharma state. 2) Vị cam lồ của pháp: The “sweet-dew” taste or flavour of the dharma. 3) Thứ tự hay ổn định của các sự vật, mỗi mỗi ở trong vị trí riêng của nó: Orderliness or fixedness of things, each in its own position. 4) Ngôi thứ của một vị Tăng: The grade or position of a monk. ; (法味) Cũng gọi Phật pháp vị, Pháp trí vị. Hương vị của diệu pháp. Nghĩa thú của các pháp môn do đức Phật dạy rất sâu xa, phải nghiền ngẫm một cách tinh tế mới thể nhận được và sinh ra niềm vui, cho nên dùng vị ngon, để ví dụ mà gọi là Pháp vị. Luận Tịnh độ của ngài Thiên thân (Đại 26, 231 thượng) nói: Ưa thích pháp vị của Phật, Thiền tam muội là thức ăn. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 25, (Đại 10, 136 thượng), nói: Nguyện cho tất cả chúng sinh, được vô lượng pháp vị, rõ suốt pháp giới. (...) Nguyện tất cả chúng sinh, pháp vị càng tăng, thường được đầy đủ.[X. kinh Dược sư Như lai bản nguyện công đức; Lương cao tăng truyện Q.8]. ; (法位) Tên khác của Chân như. Chân như là vị trí các pháp an trụ, nên gọi là Pháp vị. Tông kính lục quyển 7 (Đại 48, 455 thượng) nói: Pháp vị tức là chính vị Chân như, thế nên luận Đại trí độ cho rằng Pháp tính, Pháp giới, Pháp trụ, Pháp vị, đều là tên khác của Chân như. (xt. Chân Như).

pháp vị tự tại chướng

Non-attainment of complete mastery of all things.

pháp vực

Pháp Giới—The realm of dharma.

pháp xung

(法沖) (587 ?-665) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Thành kỉ, Lũng tây, (thuộc tỉnh Cam túc), họ Lí, tự Hiếu đôn. Năm 24 tuổi, sư làm quan đến chức Ưng dương tướng quân. Sau khi mẹ mất, sư đọc kinh Niết bàn mà phát tâm xuất gia. Sư theo ngài Tuệ cảo học các kinh luận như: Đại phẩm bát nhã, Lăng già, Tam luận..., sau sư vào núi Vũ đô tu tập. Đầu năm Trinh quán (627), triều đình hạ lệnh nghiêm cấm tư nhân độ tăng ni (tức phải qua tổ chức Tăng quan mới được độ làm tăng ni), sư quyết chí xuất gia và lánh đến núi Dịch dương tu thiền, giảng kinh Lăng già. Hậu duệ của Nhị tổ Tuệ khả cũng bỏ đồ chúng mà đến theo sư tu học. Ngài Linh nhuận ở chùa Hoằng phúc gọi sư là Đại tâm Khai sĩ. Sư nổi tiếng ngang với ngài Huyền trang và là nhân vật rất có công trong việc phát triểntư tưởngThiền Nam tông ở thời kì đầu. [X. Tục cao tăng truyện Q.35].

pháp xá lợi

(法舍利) Cũng gọi Pháp thân xá lợi, Pháp tụng xá lợi. I. Pháp Xá Lợi. Chỉ cho kinh điển của đức Phật. Kinh Phật nói là nêu rõ lí Trung đạo thực tướng, tính tướng thường nhiên, không biến đổi, vì thế gọi là Pháp thân xá lợi. Những kinh điển này được thờ trong tháp để thay thế cho xá lợi của Phật. Phẩm Pháp sư kinh Pháp hoa (Đại 9, 31 trung) nói: Nếu những nơi nào có kinh điển này, hàng ngày giảng nói, đọc tụng, viết chép, thì nên xây tháp bảy báu để tôn thờ mà không cần phải an trí xá lợi. Vì sao? Vì trong đó đã có toàn thân của đức Như lai. Nên đem hoa, hương, anh lạc, lọng lụa, cờ phướn, kĩ nhạc, cúng dường, cung kính, tôn trọng, khen ngợi tháp ấy. [X. Đại đường tây vực kí Q.9]. II. Pháp Xá Lợi. Cũng gọi Duyên sinh kệ, Duyên khởi kệ, Duyên khởi pháp tụng, Pháp thân kệ, Pháp thân xá lợi kệ. Chỉ cho bài kệ tụng nói về các pháp duyên khởi được ghi chép trong kinh Dục Phật công đức. Bài kệ này do tỉ khưu Mã thắng đọc cho ngài Xá lợi phất nghe. Nhờ nghe bài kệ này mà ngài Xá lợi phất về qui y và làm đệ tử đức Phật. Bài kệ như sau (Đại 16, 800 thượng): Chư pháp tòng duyên khởi, Như lai thuyết thị nhân; Bỉ pháp nhân duyên tận, Thị đại sa môn thuyết. (Các pháp theo duyên sinh, Như lai nói là nhân; Duyên hết pháp cũng diệt, Đại sa môn nói thế). Nội dung bài kệ này nói về 3 đế: Khổ, Tập, Diệt trong 4 đế(Khổ, tập, diệt, đạo). Khi đặt kinh vào trong tháp để thờ, cũng phải đọc bài kệ này. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.48; luận Đại trí độ Q.18]. (xt. Pháp Thân Kệ).

pháp xã

(法社) Đoàn thể tín ngưỡng do tín đồ tại gia của Phật giáo tổ chức thành, tính chất của nó giống như Nghĩa ấp. Bắt đầu từ Bạch liên xã do ngài Tuệ viễn thời Đống Tấn sáng lập ở Lô sơn, thành viên của tổ chức này, tại miền Nam thì giai cấp quí tộc, trí thức là chủ yếu, còn ở miền Bắc thì giai cấp bình dân là trung tâm. Lại như ngài Đạo kỉ đời Bắc Tề, ra sức hô hào dân quê cấm sát sinh, kết thành Pháp xã chủ trương trì giới. Phong trào Pháp xã phát triển mạnh trong khoảng thời gian từ sau loạn An lộc sơn từ đời Đường cho đến đời Tống. Về sử liệu cơ bản của Pháp xã thì có: kinh Pháp xã 1 quyển, Pháp xã tiết độ tự của ngài Tuệ viễn, Pháp xã kiến công đức ấp kí của ngài Tăng hựu, Xã giới văn của thi hào Bạch cư dị...

pháp xã kinh

(法社經) Kinh, 1 quyển, tương truyền do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. Khai nguyên thích giáo lục xếp kinh này vào loại Nghi lục, các học giả đời sau phần nhiều cũng coi là ngụy kinh. Đây là trứ tác cùng thời đại với Pháp xã tiết độ tự của ngài Tuệ viễn và Pháp xã kiến công đức ấp kí của ngài Tăng hựu.

pháp xưng

(法稱) Phạm: Dharmakìrti. Luận sư phái Du già, cũng là học giả trứ danh về Luận lí học Nhân minh, người nước Đổ lê ma la da (Phạm: Trimalaya) Nam Ấn độ, xuất thân dòng Bà la môn, sống vào thế kỉ VI, VII. Tây lịch. Thủa nhỏ, sư tu tập theo Bà la môn giáo và các học phái ngoại đạo suốt 18 năm. Sau, sư học Phật pháp và qui y làm Ưu bà tắc. Rồi sư đến nước Ma yết đà theo ngài Hộ pháp xuất gia tu học; không bao lâu, sư lại nương vào ngài Tự tại quân (Phạm: Izvarasena, Hán âm: Y thấp phạt la tiện na) để nghiên cứu luận Tập lượng của ngài Trần na. Sư thụ pháp Quán đính nơi A xà lê Kim cương rồi đi hoằng pháp giáo hóa khắp nơi. Sư sinh vào thời đại mà Phật giáo Ấn độ đang suy tàn dần, nên sư đã gắng hết sức dùng Nhân minh học để vãn cứu uy thế của Phật giáo, tạo ảnh hưởng rất lớn đối với hậu thế. Cuối đời, sư đến nước Yết lăng già tĩnh tu và thị tịch tại đó. Sư để lại các tác phẩm: Thích lượng luận, Lượng quyết trạch, Chính lí nhất trích, Nhân nhất trích, Tương thuộc quán sát tịnh tự chú, Tránh chính lí, Tha tương tục thành tựu, Bản sinh quảng sớ, Phật niết bàn tán, Cát tường kim cương đồ ca thường ái tán, Đại thừa tập bồ tát học luận, Kim cương châm luận. [X. chương 26 trong Đa la na tha Ấn độ Phật giáo sử; Buddhist Logic, vol. I by Th. Stcherbatsky].

Pháp xứ

法處; C: fă chù; J: hossho; S: dharma-āyatana. |Một trong 12 xứ theo giáo lí Duy thức. Là những gì hiện hữu ngay lúc phát sinh ý niệm. »Ý niệm«. Cảnh giới sở đối của ý niệm.

Pháp xứ sở nhiếp sắc

法處所攝色; C: făchù suŏshè sè; J: hossho-shojōshiki; |Còn gọi là Đoạ pháp xứ sắc (墮法處色). Theo giáo lí Pháp tướng tông, thuật ngữ nầy chỉ cho các sắc pháp bao gồm trong đối tượng của 6 giác quan mà không được bao hàm trong Ngũ căn (五根) và Ngũ cảnh (五境). Nghĩa là có những pháp đối tượng của tâm được gom vào trong sắc pháp.|Theo giáo lí Duy thức, có 5 loại bao hàm trong loại nầy: 1. Cực lược sắc (極略色): Lí giải tính chất cực nhỏ sự hiện hữu của 5 giác quan, 5 trần cảnh, tứ đại, v.v… đúng theo sự phân tích qua trí huệ. Đây là mức độ vi tế được lí thuyết hoá qua phân tích, nhưng không thể cảm nhận được qua các giác quan. Đối tượng vật thể quá nhỏ không thể thấy được, nhưng sự hiện hữu của chúng của thể được xác nhận qua tỉ lượng (sự phân tích); 2. Cực sắc (極色): Những hiển sắc cực kì vi tế trong phạm trù tương quan như ánh sáng, bóng tối, chói chang, u ám; và những phạm trù tương quan với vật thể như dài, ngắn, vuông tròn; 3. Thụ sở dẫn sắc (受所引色): Vô biểu sắc phát sinh trong tâm mình từ kết quả thụ nhận giới pháp. (Vô biểu sắc 無表色 và Giới thể 戒體). Theo học thuyết trong A-tì-đạt-ma Câu-xá luận, đây chỉ đơn giản là »Vô biểu sắc«, nhưng theo Duy thức, »chủng tử thiện« có được như là tâm hành ngay vào lúc thụ nhận giới pháp được gọi là »giới thể«. Nên thuật ngữ trên được hiểu là »tâm hành có được ngay khi thụ giới«. Chỉ là sắc pháp có tạm thời; 4. Định sở dẫn sắc (定所引色): là sắc pháp mà các bậc thánh có thể tự tại biến hiện trong định. Khi nghĩ đến nước hoặc lửa, họ có thể tạo ra ngay. Hoặc có thể biến đất cát thành vàng bạc,v.v… 5. Biến kế sở khởi sắc (遍計所起色): trường hợp của thức thứ 6, không quan hệ gì với 5 thức trước, tương ứng với quá khứ, hoặc sinh khởi những ảo tượng như hoa đốm giữa hư không, sắc pháp này sinh khới do sức phân biệt sai lầm của thức thứ 6.

pháp xứ sở nhiếp sắc

(法處所攝色) Cũng gọi Đọa pháp xứ sắc, Pháp xứ sắc. Sắc pháp thứ 11 trong 11 sắc pháp do tông Duy thức thành lập. Tông Duy thức chia tất cả các pháp làm 5 loại, gọi là Ngũ vị, gồm: Sắc pháp, Tâm pháp, Tâm sở hữu pháp, Tâm bất tương ứng hành pháp và Vô vi pháp. Trong đó, Sắc pháp, nói theo nghĩa rộng là từ gọi chung tất cả vật chất tồn tại, có tính cách biến đổi, hư hoại và chướng ngại. Sắc pháp lại được chia làm 11 loại gồm: 5 căn(nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân), 5 cảnh(sắc, thanh, hương, vị, xúc) và Pháp xứ sở nhiếp sắc. Chữ xứ của Pháp xứ có nghĩa là sinh ra và nuôi lớn tâm và tâm sở, đồng thời là chỗ để cho tâm và tâm sở nương tựa và vin theo, được chia làm 12 thứ, gọi là Thập nhị xứ, tức là 5 căn đã nói ở trên thêm vào căn thứ 6 là ý căn, 5 cảnh thêm vào cảnh thứ 6 là pháp cảnh. Pháp cảnh tức là pháp xứ trong 12 xứ, chỉ có điều pháp cảnh là đối cảnh khách quan của ý căn(tác dụng chủ quan), còn pháp xứ thì nói rõ nhiệm vụ của nó cùng với 11 xứ kia đều là nuôi lớn tâm và tâm sở, hơn nữa, là chỗ để cho tâm và tâm sở nương tựa, vin theo. Trong tất cả sắc pháp, bất cứ pháp nào, hễ được thu nhiếp vào pháp xứ thì đều gọi là Pháp xứ sở nhiếp sắc. Cứ theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 1 và Pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 5 phần cuối, thì Pháp xứ sở nhiếp sắc lại có thể được chia nhỏ ra làm 5 loại là: 1. Cực lược sắc: Chỉ cho tất cả pháp cực nhỏ (cực vi) mà vẫn có tính chất chướng ngại.2. Cực huýnh sắc, cũng gọi Tự ngại sắc: Chỉ cho những hiển sắc của Không giới không đủ tính chất chướng ngại, như sáng, tối... 3. Thụ sở dẫn sắc, cũng gọi Vô biểu sắc: Chỉ cho sắc pháp vô hình, nương vào 2 nghiệp thiện và ác phát động nơi thân, khẩu, rồi khởi lên ở trong thân chứ không biểu hiện ra ngoài. Chẳng hạn như do giữ giới mà dẫn sinh 1 loại tác dụng tinh thần ngăn ngừa được tội lỗi. Vì được xem là do 4 đại đất, nước, lửa, gió ở trong thân tạo ra, cho nên được liệt vào loại Sắc pháp. 4. Biến kế sở khởi sắc: Ý thức duyên theo 5 căn, 5 cảnh mà sản sinh ra tác dụng tính toán, so đo, phân biệt tất cả 1 cách hư vọng, rồi trong tâm biến hiện ra bóng dáng của sắc pháp, như hoa đốm giữa hư không, bóng mặt trăng dưới đáy nước, ảnh tượng trong gương... đều được thu nhiếp vào loại sắc pháp này. Loại sắc pháp này chỉ có bóng dáng chứ hoàn toàn không có bản chất tự thể để nương tựa. 5. Định tự tại sở sinh sắc, cũng gọi Định sở sinh sắc, Định sở dẫn sắc, Thắng định quả sắc, Định quả sắc, Tự tại sở sinh sắc. Chỉ cho các cảnh sắc, thanh, hương, vị... do sức thiền định biến hiện ra. Loại sắc pháp này nhờ sức thiền định thù thắng, đối với tất cả sắc pháp, có năng lực biến hiện 1 cách tự tại vô ngại, cho nên gọi là Định tự tại sở sinh sắc. Ngoài ra, theo Duy thức Đại thừa, thì trong 5 loại sắc pháp nói trên, 4 loại trước đều là giả sắc, chỉ có loại thứ 5 là thông cả giả lẫn thực. Hễ sắc do bậc Thánh biến hiện thì đều là thực sắc. Vì uy lực thắng định của bậc Thánh là 1 loại định vô lậu, sắc pháp do định vô lậu biến hiện ra là thực sắc. Nhưng, nếu nói theo quan điểm của Thuyết nhất thiết bộ Tiểu thừa, thì Cực lược sắc, Cực huýnh sắc, cho đến Thụ sở dẫn sắc... đều là thực sắc có tự thể. [X. luận Đại tì bà sa Q.74, 75; luận Du già sư địa Q.3, 37; luận Thuận chính lí Q.35; luận Thành duy thức Q.1; Thành duy thứcluận thuật kí Q.3].

Pháp Xứng

法稱; S: dharmakīrti;|Tên của hai luận sư Phật giáo:|1. Devarakṣita Jayabahu Dharmakīrti, sống khoảng năm 1400, một Cao tăng của Phật giáo Tích Lan và tác giả của hai tác phẩm nói về sự phát triển của đạo Phật tại đây là Nikāya-saṃgrahaya và Saddharmalaṅkāra-ya.|2. Một trong những Luận sư quan trọng nhất của triết học đạo Phật, đại điện quan điểm của Duy thức tông (vijñānavāda) và Nhân minh học (s: hetuvidyā), sống trong thế kỉ thứ 7 (~ 600-650) tại Nam Ấn Ðộ và là môn đệ của Hộ Pháp (dharmapāla) tại Na-lan-đà (Mười đại luận sư).|Sư sinh ra trong một gia đình theo đạo Bà-la-môn (s: brāhmaṇa) và đã tinh thông tất cả những môn học thời đó lúc còn trẻ. Sau đó, Sư bắt đầu nghiên cứu, tu học Phật pháp với tư cách của một Cư sĩ. Phật học lôi cuốn Sư đến mức Sư bỏ đạo Bà-la-môn, đến viện Na-lan-đà thụ giới cụ túc và tham học với Hộ Pháp. Các tác phẩm của Trần-na (s: di-gnāga, diṅnāga) tại viện Phật học này chính là yếu tố ngộ đạo của Sư. Sau khi kết thúc giai đoạn tu tập, Sư bắt đầu công việc hoằng hoá, xiển dương đạo Phật, viết nhiều luận giải, đại diện Phật giáo tham dự nhiều cuộc tranh luận. Trong những cuộc tranh luận này, Sư dùng Nhân minh học để hàng phục đối phương và trong lĩnh vực này, truyền thống Tây Tạng đặt Sư lên một địa vị cao hơn cả Trần-na. Trong những năm cuối đời mình, Sư từ bỏ việc chu du đây đó và lui về một trụ trì một Tinh xá tại Orissa (bây giờ là Kālinga) và mất tại đây.|Sử sách mô tả Sư là một người tự lực cánh sinh, căm ghét tính phàm tục của dân dã và các tăng chúng dối trá, nhưng Sư cũng được tả là một Ðại sư thiếu khiêm tốn, nếu không nói là kiêu mạn. Nhà sử học nổi tiếng của Tây Tạng là Bố-đốn (t: buston) có ghi lại một sự việc sau: Sau khi Sư viết và trình bày Lượng thích luận (s: pramāṇavarttika-kārikā) và -chú (-vṛtti), nhiều người không hiểu nổi. Những người hiểu được thì trở nên ganh tị, tuyên bố rằng, tác phẩm này không đúng. Họ lấy dây buộc bài luận này vào lưng một con chó và cho nó chạy rong ngoài đường, với kết quả là những trang (lá bối) của luận này bay tung toé khắp nơi. Thấy cảnh tượng này, Sư tuyên bố rằng: »con chó sẽ chạy đến khắp nơi và truyền bá tác phẩm này toàn thế giới«.|Những lời sau đây của Sư còn được lưu lại: »Loài người có những đặc tính, tư tưởng rất phàm; họ không hướng vào nội tâm để tìm lấy cái tinh hoa, cốt tuỷ. Không chú ý đến những lời dạy của Thiện tri thức đối với họ chưa đủ, họ còn phát lòng thù ghét và ganh tị. Vì vậy mà ta cũng chẳng viết cho họ. Tuy thế, tâm của ta đã có được niềm an vui khi viết tác phẩm này bởi vì qua nó, lòng quý trọng thiền định thâm sâu vượt qua mọi ngôn ngữ của ta đã được bù đáp.«|Sư viết nhiều luận giải nhưng quý giá hơn hết là các tác phẩm về Nhân minh học Phật giáo. Trong lĩnh vực này, truyền thống Tây Tạng có giữ lại bảy tác phẩm của Sư, được gọi chung là Pháp Xứng nhân minh thất bộ, là luận lí học nền tảng của Phật giáo Tây Tạng (tất cả đều chưa được dịch ra Hán ngữ).|Bảy tác phẩm chính về Nhân minh học của Sư là: 1. Quan tướng thuộc luận (saṃbandhaparīkṣāpra-karaṇa), chỉ còn bản Tạng ngữ; 2. Lượng quyết định luận (pramāṇaviniścaya), chỉ còn bản Tạng ngữ. Bộ luận này được chia làm 3 phần với chủ đề thụ tưởng, kết luận và trình bày phương pháp suy diễn ba đoạn (e: syllogism). Luận này được xem là bản nhỏ của Lượng thích luận vì hơn nửa phần được trích ra từ đây; 3. Lượng thích luận (pramāṇavart-tika-kārikā), luận quan trọng nhất, chú giải Tập lượng luận (pramāṇasamuccaya) của Trần-na (dig-nāga); 4. Chính lí nhất đích luận (nyāyabindu-pra-karaṇa); 5. Nhân luận nhất đích luận (hetubindu-nāma-prakaraṇa), bản Tạng ngữ có, bản Phạn ngữ mới được tìm thấy. Bộ luận này được chia làm 3 phần, giảng giải về ba đoạn của suy luận; 6. Luận nghị chính lí luận (vādanyāya-nāma-prakaraṇa), chỉ còn bản Tạng ngữ, nói về cách tranh luận với địch thủ; 7. Thành tha tướng thuộc luận (saṃtānān-tarasiddhi-nāma-prakaraṇa), triết luận chống đối quan niệm Duy ngã và nói về »sự thật« của ý nghĩ người khác;

pháp xứng

See Dharmakirti in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

Pháp y

法衣; J: hō'e;|Danh từ dùng chỉ áo Ca-sa của một vị tăng tu học Phật pháp. Trong Thiền tông thì pháp y chính là biểu hiện của việc »Dĩ tâm truyền tâm« trong hệ thống truyền thừa của các vị Tổ sư, bắt nguồn từ đức Phật Thích-ca Mâu-ni (s: śākyamuni). Tại Trung Quốc, pháp y dược các vị Tổ sư truyền cho nhau làm một dấu hiệu của sự Ấn khả chứng minh.

pháp y

See Pháp Phục. ; (法衣) Cũng gọi Pháp phục, Tăng phục, Tăng y. Y phục đúng pháp Phật chế của tăng ni. Đức Phật chế định tỉ khưu có 3 áo, 5 áo, gọi chung là Pháp y. Nhưng Trung quốc, Nhật bản... do phong thổ và khí hậu có khác với Ấn độ, nên phạm vi pháp y tương đối rộng hơn, hình thức cũng đa dạng, phàm những y phục của tăng ni không trái với giới luật, thì đều được gọi là Pháp y. Lại nữa, ngoài 3 tấm Pháp y (tức ca sa), những y phục khác, như áo hậu(áo lễ)... cũng được gọi là Pháp y.Thiền tông thì đặc biệt gọi áo Kim lan được trao cho đệ tử lúc thầy truyền tâm pháp là Pháp y. Ở Ấn độ, như đã nói ở trên, đức Phật qui định tỉ khưu được mặc 3 áo là: 1. Tăng già lê (Phạm: Saôghàỉi, cũng gọi Đại y: Áo có 9 điều(nẹp) hoặc 25 điều, mặc lúc đi khất thực, khi vào cung vua. 2. Uất đa la tăng (Phạm:Uttaràsaíga), cũng gọi Thất điều ca sa: Áo có 7 điều, mặc vào những lúc nhập chúng, tụng niệm, lễ bái, nghe giảng, bố tát... 3. An đà hội (Phạm: Antarvàsa), cũng gọi Ngũ điều y: Áo 5 điều, mặc lúc làm việc hàng ngày và khi đi ngủ. Ngoài 3 áo trên, còn có thêm 2 thứ nữa là Tăng kì chi và Khuyết tu la, thành 5 áo. Về cách cắt may thì trước hết cắt tấm vải thành những miếng nhỏ, rồi sau lại khâu liền với nhau. Lí do làm như vậy là để phòng ngừa người khác dùng Pháp y, đồng thời khiến tăng ni không sinh tâm tham đắm đối với y phục và kẻ trộm cũng chẳng muốn lấy áo ấy làm chi. Những miếng vải nhỏ được khâu dính lại với nhau, theo 2 chiều ngang dọc, vuông vức giống như chữ Điền (thửa ruộng), vì thế gọi là Điền tướng. Về màu sắc của 3 áo tuy có nhiều thuyết, nhưng đại khái đều tán đồng 3 màu chính là: Xanh, đen và mộc lan, gọi là Tam như pháp sắc (3 màu đúng pháp). Còn về cách mặc Pháp y thì thông thường 2 góc áo được đắp từ vai trái đến cạnh sườn bên phải và rủ xuống sau lưng. Lúc ngồi thiền thì có thể đắp kín cả 2 vai, gọi là Thông kiên tướng, Phúc điền tướng. Còn lúc lễ Phật thì để lộ vai bên phải ra, gọi là Thiên đản hữu kiên, Thiên lộ hữu kiên. Ngoài 3 áo, còn có loại áo lót là Tăng kì chi (Phạm: Saôkakwikà), mặc để che kín vai trái và 2 nách. Khuyết tu la (Phạm: Kusùla), mặc để che nơi eo, tức là cái quần chỉ dành cho tỉ khưu ni mà thôi. Về nguyên liệu may 3 áo thì cấm ngặt không được dùng vải lụa, mà chỉ được sử dụng vải dệt bằng sợi cây bông, hoặc sợi cây gai, hay vỏ cây, cũng có thể dùng lông chim hoặc là cỏ... [X. kinh Tì ni mẫu Q.9; kinh Phạm võng Q.hạ; luật Tứ phần Q.16; luật Thập tụng Q.15; Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.hạ; Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ Q.4; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 1; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2; Phật chế tỉ khưu lục vật đồ]. (xt. Ca Sa).

pháp yếu

Sự thiết yếu của chân lý—The essentials of the truth. ; (法要) I. Pháp Yếu. Cũng gọi Yếu văn, Chủ nhãn. Chỉ cho những nghĩa lí nòng cốt trong giáo pháp. Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 370 hạ) nói: Đối với chân ngôn pháp yếu này, nếu biết tu hành thì sẽ đạt đến bậc Sơ địa.[X. kinh Tâm địa quán Q.7; kinh Di giáo]. II. Pháp Yếu. Cũng gọi Pháp hội. Nhóm họp ở 1 nơi để lễ mừng ngày đản sinh của chư Phật và Bồ tát, hoặc để tổ chức các hoạt động thiết trai, bố thí, giảng kinh, thuyết pháp... (xt. Pháp Hội). III. Pháp Yếu. Cũng gọi Pháp dụng. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho việc tụng kinh, bái tán trên điện Phật.

Pháp ái

法愛; C: făài; J: hōai; |1. Yêu mến, gắn bó với giáo pháp; 2. Tìm cầu chân lí.

pháp ái

Tình yêu trong phạm trù tôn giáo—Tình yêu của những vị Bồ tát muốn cứu độ chúng sanh, ngược lại với Dục ái hay tình yêu phàm tục—Religious love—Bodhisattva love with desire to save all creatures, in contrast with ordinary love (Dục ái). 1) Pháp Ái Tiểu và Đại Thừa—Hinayana and Mahayana Dharma-love: a) Pháp Ái Tiểu Thừa: Lòng yêu niết bàn của kẻ căn cơ thấp kém—Hinayana Dharma-love as desire for nirvana. b) Pháp Ái Đại Thừa: Lòng ái thiện của bậc Bồ Tát Đại Thừa—Mahayana Dharma-love or Bodhisattva attachment to illusory things ** Cả hai thứ pháp ái nầy đều cần phải loại bỏ—Both of which are to be eradicated. 2) Pháp Ái Như Lai: Tâm Đại Bi của Như Lai hay tình yêu cứu độ chúng sanh chân chánh vô thượng—Tathagata-love, which goes out to all beings for salvation. ; (法愛) I. Pháp Ái. Người đã được pháp (giác ngộ) do tâm sinh vui mừng nên thương xót những người còn mê chưa được pháp; hoặc chỉ cho tâm niệm từ bi thương xót của chư Phật, Bồ tát đối với chúng sinh. II. Pháp Ái. Đắm trước các thiện pháp mà mình đã chứng ngộ. Pháp quán thứ 10 (Vô ái pháp, Li ái pháp, Trừ ái pháp, Ái pháp bất sinh) trong Thập thừa quán pháp của tông Thiên thai, dùng từ ngữ này để chê trách những người chưa chứng chân thực mà đắm trước pháp tương tự.

pháp âm

Âm thanh thuyết pháp hay của chân lý—The sound of the Truth, or of preaching.

pháp ân

Ân Tam Bảo—Dharma-grace, i.e. the grace of Triratna.

pháp điển

1) Kinh điển Phật giáo—The scriptures of Buddhism. 2) Tiếng chớp của chân lý, chỉ Phật pháp—The lightning of the truth, or Buddha-teaching.

Pháp điện

法殿; C: fădiàn; J: hōden; |1. Nơi giảng pháp; 2. Cung điện, dụ cho chính pháp của Đức Phật.

pháp điện

1) Chánh điện trong tự viện—The temple or hall of law—The main hall of a monastery—The lightening of the truth. 2) Quan Âm Điện: The Kuan-Yin Hall.

pháp đà la ni

Dharma-dharani (skt)—Nghe giáo pháp của Phật mà thụ trì không quên, đây là một trong ba pháp Đà La Ni—Holding firmly to the truth one has heard, one of the three kinds of dharani. ** For more information, please see Tam Đà La Ni. ; (法陀羅尼) Cũng gọi Văn trì đà la ni, Pháp tổng trì. Nghe giáo pháp của đức Phật và nhớ giữ không quên, 1 trong các Đà la ni. Kinh Bồ tát địa trì quyển 8 (Đại 30, 934 thượng) nói: Thế nào là pháp Đà la ni? Nghĩa là Bồ tát đã chứng được năng lực trí tuệ nhớ nghĩ như thế, thì đối với danh cú vị thân, dù chưa từng được nghe, chưa từng tu tập, nhưng vẫn trang nghiêm và ứng dụng theo thứ lớp, vô lượng chương cú, trải vô lượng kiếp, vẫn nhớ giữ không quên. [X. luận Du già sư địa Q.45; Đại thừa nghĩa chương Q.11]. (xt. Đà La Ni).

Pháp đàn

(法壇): đàn tràng cử hành pháp sự cầu đảo. Như trong Thủy Hử Truyện (水滸傳), hồi thứ 45, có đoạn: “Chỉ kiến na phụ nhân kiều tố sơ trang, lai đáo pháp đàn thượng, chấp trước thủ lư, niêm hương lễ Phật (只見那婦人喬素梳妝、來到法壇上、執着手爐、拈香禮佛, chỉ thấy nhiều phụ nữ ăn mặc đơn giản, đến trên pháp đàn, tay cầm thủ lư, dâng hương lạy Phật).” Hay trong Tục Bổ Cao Tăng Truyện (補續高僧傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 77, No. 1524) quyển 19, phần Minh Ô Tư Pháp Vương Truyện (明烏斯法王傳), lại có đoạn: “Vi hoàng khảo tỷ, thiết tiến tự pháp đàn, cảm tháp ảnh kim quang chi thụy (爲皇考妣、設薦祀法壇、感塔影金光之瑞, vì cha mẹ đã qua đời của nhà vua, thiết pháp đàn cúng siêu độ, cảm điềm lành hào quang sáng chói nơi bóng tháp).” Hoặc trong Thích Môn Kê Cổ Lược Tục Tập (釋鑑稽古略續集, Taishō Vol. 49, No. 2038) tập 3, phần Văn Tông Văn Hoàng Đế (太宗文皇帝), cũng có đoạn: “Nhị nguyệt mạng Tây tăng Thượng Sư Cáp Lập Ma, ư Linh Cốc Tự khải kiến pháp đàn, tiến tự hoàng khảo hoàng tỷ; Thượng Sư suất thiên hạ tăng già, cử dương Phổ Độ Đại Trai Khoa (二月命西僧尚師哈立麻、於靈谷寺啟建法壇、薦祀皇考皇妣、尚師率天下僧伽、舉揚普度大齋科, vào tháng hai, Hoàng Đế hạ mệnh cho vị Tây tăng là Thượng Sư Cáp Lập Ma, kiến lập pháp đàn tại Linh Cốc Tự, cúng siêu độ cho song thân nhà vua; Thượng Sư điều khiển tăng chúng khắp thiên hạ, cử hành Đại Khoa Nghi Phổ Độ Trai Đàn).”

Pháp đăng

(法燈): ngọn đèn chánh pháp, vì chánh pháp được ví như ngọn đèn sáng, có thể chiếu sáng và phá tan mọi u tối của thế gian. Trong Thiên Quang Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Bí Mật Pháp Kinh (千光眼觀自在菩薩祕密法經) có đoạn: “Thiện tai ! Thiện tai ! Thánh Quán Tự Tại ! Tùng vô lượng kiếp lai, thành tựu đại bi pháp môn lợi ích chúng sanh, ư sanh tử khổ hải vi tác thuyền phiệt, ư vô minh ám thường vi pháp đăng, duy nguyện Đại Thánh phổ vi đại hội cập đương lai nhất thiết chúng sanh cố, tùy ngã đẳng vấn năng thuyết kỳ pháp (善哉、善哉、聖觀自在、從無量劫來、成就大悲法門利益眾生、於生死苦海爲作船筏、於無明闇常爲法燈、唯願大聖普爲大會及當來一切眾生故、隨我等問能說其法, Lành thay ! Lành thay ! Thánh Quán Tự Tại ! Từ vô lượng kiếp đến nay đã thành tựu pháp môn đại bi, làm lợi ích chúng sanh, nơi biển khổ sanh tử làm thuyền bè, nơi chỗ tối tăm vô minh thường làm ngọn đèn pháp; xin nguyện Đại Thánh rộng vì đại hội và hết thảy chúng sanh trong tương lai, tùy theo chỗ chúng con hỏi mà có nói pháp này).” Hay như trong bài Đại Đường Thần Đô Thanh Long Tự Cố Tam Triều Quốc Sư Quán Đảnh A Xà Lê Huệ Quả Hòa Thượng Chi Bi (大唐神都青龍寺故三朝國師灌頂阿闍梨惠果和尚之碑) do Đại Sư Không Hải (空海, Kūkai, 774-835) soạn, có đoạn: “Hoặc tác nhất nhân sư, hoặc vi Tứ Chúng y, pháp đăng mãn giới, lưu phái biến vức, tư cái đại sư chi pháp thí dã (或作一人師、或爲四眾依、法燈滿界、流派遍域、斯蓋大師之法施也, hoặc làm thầy của một người, hoặc làm nơi nương tựa cho Bốn Chúng, đèn pháp đầy cõi, dòng phái khắp nơi, cũng nhờ pháp thí của đại sư vậy).”

pháp đăng

Ngọn đèn Phật Pháp xua tan bóng tối vô minh—The lamp of Dharma which dispels the darkness of ignorance. ; (法燈) I. Pháp Đăng. Đồng nghĩa: Pháp quang, Pháp cự. Đèn pháp. Nghĩa là pháp của Phật có năng lực chiếu phá cảnh giới u mê tăm tối, giống như ánh đèn xóa tan bóng đêm. Kinh Tâm địa quán quyển 2 (Đại 3, 299 hạ) nói: Pháp bảo giống như ngọn đèn sáng. [X. kinh Hoa nghiêm Q.2 (bản dịch mới); Lương cao tăng truyện Q.18]. III. Pháp Đăng. Thụy hiệu của ngài Thanh lương Thái khâm, thuộc tông Pháp nhãn đời Tống. (xt. Thái Khâm).

pháp đăng thiền sư

Zen master—Pháp Đăng Thiền sư là một trong những vị Tăng nổi tiếng đời nhà Đường—Zen master Fa-T'eng was one of the noted monks during the T'ang dynasty. • Một hôm Pháp Đăng hỏi một vị Thiền Sư: “Đầu sào trăm trượng làm sao tiến được?” Vị Thiền sư trả lời: “Câm!” Ngài cứ khán câu đó hoài trong ba năm. Một hôm ngài cưỡi ngựa đi qua cây cầu ván, ván mục, ngựa sụp chân té nhào, quăng ngài rơi xuống cầu. Vừa rơi xuống ngài liền ngộ và làm bài kệ: “Ngã hữu minh châu nhất khỏa Cửu bị trần lao quang tỏa Kim triêu trần tận quang sanh Chiếu phá sơn hà vạn đóa.” (Ta có một viên minh châu Đã lâu bị bụi vùi sâu Hôm nay bụi sạch phát sáng Soi thấu núi sông muôn vật) One day he asked a famous Zen master: “The top of the pole is a hundred yards tall; how can you reach it?” The Zen master replied: “Just keep silent.” He then meditated on that statement for over three years. One day, he rode a hose across a wooden bridge. The bridge was so old that it collapsed right after the horse trod on. Both he and the horse were thrown off the bridge. At that moment he was enlightened and composed the following verse: “I've got a precious gem It was buried deep for a long time Today, being completely clean, it regains its brightness, Illuminates rivers, mountains all over the world.”

pháp đăng vị liễu

(法燈未了) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này là cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Thanh lương Thái khâm (Pháp đăng) với 1 vị tăng. Ngũ đăng hội nguyên quyển 10 (Vạn tục 138, 175 hạ) ghi: Sư nói: Ta vốn muốn sống trong núi để giấu sự vụng về kém cỏi, nhưng hiềm vì tiên sư có công án giải quyết chưa xong (vị liễu) nên ta phải trở ra để giải quyết. Lúc đó có vị tăng hỏi: Thế nào là công án của tiên sư chưa giải quyết xong? Sư liền đánh, nói: Ông nội không rõ, để họa đến con cháu. Vị tăng hỏi: Lỗi ở chỗ nào? Sư nói: Lỗi ở ta, họa đến ông. PHÁP ĐIÊN I. Pháp Điện. Chỉ cho Pháp đường, nơi diễn nói đại pháp, tuyên dương tông chỉ và cử hành tất cả pháp sự. II. Pháp Điện. Chỉ cho chính pháp của đức Phật, vì chính pháp là nơi nương tựa của các bậc Thánh hiền, cho nên dùng Điện đường để ví dụ chính pháp. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 19 (Đại 12, 480 thượng) nói: Pháp điện muốn hư nát, pháp chàng muốn ngã đổ.

pháp đường

Pháp đường hay giảng đường—The chief hall—Dharma Hall—Lecture Hall. ; (法堂) Chỉ cho Giảng đường trong Thiền lâm, tọa lạc ở phía sau điện Phật và phía trước nhà Phương trượng, 1 trong 7 tòa nhà trong toàn già lam. Cứ theo Lịch đại tam bảo kỉ quyển 12 và Cảnh đức truyền đăng lục quyển 4, thì ở Trung quốc từ xưa, ngoài Phật điện cũng có Pháp đường. Cho đến thời Thiền sư Bách trượng Hoài hải mới định ra qui chế Thiền lâm, phỏng theo điện Thái cực của triều đình mà kiến lập Pháp đường. Chính giữa thiết lập một tòa cao, 4 phía đều trông thấy, nhưng đời sau phía sau tòa, đặt 1 bức bình phong lớn bằng gỗ, làm mất ý nghĩa ban đầu. Hoặc có thuyết cho rằng Pháp đường trong Thiền viện là mô phỏng kiểu kiến trúc Thiện pháp đường của trời Đế thích. Thiền uyển thanh qui quyển 10 (Vạn 111, 466 thượng) nói: Không kiến thiết Phật điện, chỉ tạo lập Pháp đường. Căn cứ vào đó có thể biết trong Thiền lâm thời xưa không có Phật điện, chỉ có Pháp đường. Về sau mới xây Phật điện ở phía trước Pháp đường. Hoặc trong các chùa viện nhỏ thì Phật điện và Pháp đường được dùng chung. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.50; chương Tôn tổ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng; Thiền uyển thanh qui Q.5, 7, 9; môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Giảng Đường).

pháp đạo

Buddhism. ; (法道) Cũng gọi Pháp đạo tiên nhân. Người Thiên trúc. Trong núi Linh thứu có 500 vị tiên tụng trì minh chú, tu pháp Kim cương ma ni mà được thần thông, chỉ trong chốc lát, có thể đi khắp 10 phương rồi trở về, thọ mệnh vô lượng, lợi ích trời người. Pháp đạo là 1 trong 500 vị tiên ấy, từng cỡi mây tía qua Trung quốc, Bách tế, rồi đến Nhật bản, ở trên núi Pháp hoa, quận Ấn nam, nước Bá ma, thường tụng kinh Pháp hoa, tu các pháp quán, mang theo tượng Thiên thủ Đại bi bằng đồng, xá lợi Phật, bát báu v.v... [X. Nguyên hanh thích thư Q.18; Bản triều cao tăng truyện Q.74].

pháp đế

Phật được ví như một vị Pháp Vương (Vua Pháp)—Dharma emperor, i.e. the Buddha.

pháp đệ

Phật giáo đồ (tín đồ Phật giáo)—A Buddhist disciple.

pháp định

1) Pháp thiền định: Meditation dharma. 2) Phật Tánh: Inherent dharma—Buddha-nature.

pháp đồ

(法徒) Chỉ cho đồ chúng tu học Phật pháp. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 (Đại 54, 206 thượng) nói: Luận đoán nặng nhẹ, chỉ dùng vài hàng làm phương tiện nói tội, không nhọc đến nửa ngày. Đây là phép thú tội của pháp đồ vùng Nam hải phương tây.

pháp độ

Luật lệ, hay giới luật và phương cách tu hành—Rules, or disciplines and methods. ; (法度) (437-500) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Nam Tề, người Hoàng long (Nông an, Cát lâm). Sư xuất gia từ nhỏ, ban đầu sư học ở miền Bắc, lấy khổ hạnh làm chính. Vào những năm cuối đời Lưu Tống, sư xuống miền Nam, học ở Giang đô. Khoảng năm Thái thủy (465-471) đời Minh đế nhà Lưu Tống, các danh sĩ đương thời như Minh tăng thiệu... cất nhà tranh ở ẩn tại Nhiếp sơn (núi Thê hà ở Nam kinh), gặp sư đến đây giảng kinh Vô lượng thọ, ông Minh tăng thiệu thỉnh sư về ở nhà ông, kính sư như bậc thầy. Sau khi Minh tăng thiệu qua đời, sư dùng nhà ông làm chùa, lấy hiệu là Tinh xá Thê hà, rồi cùng với người con thứ của ông Minh tăng thiệu tên Trọng chương cùng tạo khám thờ Phật để an vị pho tượng Phật Vô lượng thọ ngồi, cao 3 trượng, 1 thước, 5 tấc. Năm Vĩnh nguyên thứ 2, sư thị tịch, thọ 64 tuổi. [X. Lương cao tăng truyện Q.8].

pháp ấn

1) Dấu ấn của diệu pháp, diệu pháp chân thực, không chuyển động hay biến đổi nên gọi là “Ấn.”—The seal of Buddha-truth, expressing its reality and immutability. 2) Dấu hiệu chứng ngộ mà chư Phật hay chư Tổ trao truyền tâm pháp cho nhau—Its universality and its authentic transmission from one Buddha or patriarch to another. ; (法印) I. Pháp Ấn. Phạm: Dharma-mudrà. Đồng nghĩa: Pháp bản mạt, Pháp bản, Tướng, Ưu đàn na (Phạm: Udàna). Chỉ cho dấu ấn, đặc chất của Phật pháp. Ấn cũng có nghĩa là chân thực bất biến, là chuẩn mực chứng minh sự chân chính của Phật pháp, cho nên gọi là Pháp ấn. Pháp hoa nghĩa sớ quyển 6 của ngài Cát tạng cho rằng, ấn là ấn định các pháp không thể dời đổi. Lại lấy văn làm ấn, dùng văn để quyết định lí, nếu lí và văn tương ứng với nhau thì đó là lí chân thực, nên gọi là Pháp ấn. Như Nhất thiết hành vô thường, Nhất thiết pháp vô ngã và Niết bàn tịch tĩnh trong kinh Tạp a hàm quyển 10, được gọi là Tam pháp ấn. Hoặc Nhất thiết hành vô thường, Nhất thiết hành khổ, Nhất thiết pháp vô ngã và Niết bàn tịch tĩnh, được gọi là Tứ pháp ấn, Tứ ưu đàn na. Nếu lại thêm Nhất thiết pháp không vào nữa, thì gọi là Ngũ pháp ấn. Cứ theo Pháp hoa huyền nghĩa quyển 8, thượng, thì Tam pháp ấn là Pháp ấn của Tiểu thừa, còn Đại thừa thì chỉ có 1 pháp ấn Chư pháp thực tướng gọi là Nhất thực tướng ấn. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.18; kinh Đại bát niết bàn Q.13 (bản Bắc); kinh Bồ tát địa trì Q.8; luận Đại trí độ Q.32; Câu xá luận quang kí Q.1]. II. Pháp Ấn. Gọi đủ: Pháp ấn đại hòa thượng vị. Chỉ cho vị Tăng cương cao nhất ở Nhật bản, tức là ngôi vị Tăng chính. Chức vị của chư tăng ở Nhật bản vốn có 3 bậc: Mãn vị, Pháp sư vị và Đại pháp sư vị. Hai chức Tăng cương và Phàm tăng đều có thể được trao cho 3 chức vị này, không chia vị hiệu, cũng không có tôn ti. Vào năm Trinh quán thứ 6 (864), ngài Chân nhã tâu lên Thiên hoàng Thanh hòa, ngoài 3 bậc trên, xin chế định thêm 3 chức vị nữa là: Pháp kiều thượng nhân vị, Pháp nhãn hòa thượng vị và Pháp ấn đại hòa thượng vị, là những chức vị trên Luật sư. Chức Pháp ấn đại hòa thượng vị phải do cấp bậc Tăng chính đảm nhiệm, chức Pháp nhãn hòa thượng vị phải do cấp bậc Tăng đô đảm nhiệm và chức Pháp kiều thượng nhân vị thì do cấp bậc Luật sư đảm nhiệm. Từ đó, chế độ Tăng chức ở Nhật bản mới có vị hiệu và tôn ti. (xt. Tăng Quan).

pháp ứng

Tùy theo nhu cầu của chúng sanh ứng hiện Pháp thân—Dharmakaya response, its response to the needs of all.

phát

1) Phân Phát: To issue—To distribute—To give out—To send. 2) Phát Khởi: To shoot forth—To initiate—To start. 3) Tóc trên đầu: Hair of the head.

phát biểu

To express a view—To state.

phát bồ đề tâm luận

(發菩提心論) I. Phát Bồ Đề Tâm Luận. Tên đầy đủ: Phát bồ đề tâm kinh luận. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Thiên thân (Thế thân) soạn, ngài Cưu ma la thập dịch, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Sách này được chia làm 12 chương, nội dung bàn về việc phát tâm bồ đề, y cứ vào các kinh luận Đại thừa và những bộ luận A tì đạt ma của Tiểu thừa để chú thích, phân loại và thuyết minh pháp số 1 cách rất tỉ mỉ, rõ ràng. II. Phát Bồ Đề Tâm Luận. Gọi đủ: Kim cương đính du già trung phát A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm luận.Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tam tạng Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Nội dung luận này lập ra 3 môn là Hành nguyện, Thắng nghĩa và Tam ma địa để trình bày về hành tướng của tâm bồ đề. (xt. Kim Cương Đính Du Già Trung Phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề Tâm Luận).

Phát bồ-đề tâm

發菩提心; J: hotsu-bodaishin;|Chỉ sự quyết định đạt Bồ-đề bằng con đường của một vị Bồ Tát. Một thệ nguyện xuất phát từ Ðại tín căn và Ðại nghi đoàn.

phát chân

(發真) Tức phát khởi chân tính sẵn có của mình. Kinh Lăng nghiêm quyển 9 (Đại 19, 147 trung) nói: Nếu một người trong các ông phát chân trở về nguồn gốc, thì hư không trong 10 phương này thảy đều tiêu mất.

phát hạ phẩm thập thiện tâm

(發下品十善心) Chỉ cho người phát tâm làm các việc thiện rồi lại hối hận, là 1 trong 10 loại phát tâm.Thập thiện(10 điều thiện) là: Không giết hại, không trộm cắp, không gian dâm, không nói dối, không nói 2 lưỡi, không nói ác, không nói thêu dệt, không tham muốn, không sân hận và không tà kiến. Chúng sinh luôn luôn khởi tâm muốn hơn người, khinh người trọng mình, bề ngoài tỏ ra nhân nghĩa, nhưng bên trong thì gieo hạt giống A tu la, gọi là Phát hạ phẩm thập thiện tâm. [X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.35].

phát khiển chiêu hoán

(發遣招喚) Gọi tắt: Khiển hoán. Khuyến khích và kêu gọi. Đức Phật Thích ca ở thế giới Sa bà khuyến khích chúng sinh sinh về Tịnh độ, còn đức Phật A diđà ở Tịnh độ thì kêu gọi chúng sinh vãng sinh Tịnh độ. [X. Nhị hà thí trong Quán kinh sớ Tán thiện nghĩa của ngài Thiện đạo].

phát khởi

(發起) Cũng gọi Phát xứ. Chỉ cho chỗ khởi đầu của 1 sự vật, hoặc chỉ cho sự khuyến khích, cổ vũ người khác làm 1 việc gì đó. Chú duy ma cật kinh quyển 2 (Đại 38, 344 thượng) nói: Vì muốn nêu bật tài biện luận thù thắng của ngài Duy ma cật, nên phát khởi chúng hội. Ngoài ra, phát khởi 1 niệm tín tâm, gọi là Nhất niệm phát khởi. Đại chúng phát khởi, nhân duyên dẫn đến việc đức Phật nói 1 bộ kinh nào đó, gọi là Phát khởi chúng.

phát khởi chúng

(發起衆) Chỉ cho hàng thính chúng có khả năng biết rõ thời cơ, tạo ra nhân duyên phát khởi pháp hội, là 1 trong 4 chúng nghe đức Phật nói pháp. Pháp hoa văn cú quyển 2, phần cuối (Đại 34, 26 hạ) nói: Người phát khởi là những bậc có trí tuệ sáng suốt, biết cơ, biết thời, dùng phương tiện khéo léo, khuyến khích, phát động, thành tựu sự lợi ích, giống như voi mẹ dùng chân đạp cây xuống để cho voi con ăn. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.15].

phát khởi tự

(發起序) Đối lại: Chứng tín tự. Cũng gọi Biệt tự. Một trong hai loại tựa. Trong phần tựa của các kinh, lời tựa chỉ ghi nguyên do đã phát khởi riêng 1 bộ kinh ấy, gọi là Phát khởi tự, hoặc Biệt tự; còn lời tựa chung cho các kinh khác thì gọi là Chứng tín tự, hay Thông tự. Như bắt đầu các kinh, thông thường, dùng câu: Tôi nghe như vầy, một thời kia đức Phật ở... để chứng minh rằng chính tôi (tức tôn giả A nan)được nghe, chứ không phải do người khác kể lại, vì thế nên gọi là Chứng tín tự. Còn đoạn văn Lúc bấy giờ đức Thế tôn vì 4 chúng vây quanh... trở xuống trong kinh Pháp hoa là nói về các điềm lành như nhập định, mưa hoa, đất rúng động, phóng hào quang... Những điềm lành này chỉ nói về nhân duyên phát khởi riêng kinh Pháp hoa mà thôi, cho nên gọi là Phát khởi tự.

phát lộ

(髮露) Trình bày rõ các tội lỗi mình đã phạm. không dám che giấu. Thiên thai tứ giáo nghi (Đại 46, 779 thượng) nói: Tội ngũ nghịch thập ác như thế và tất cả tội lỗi khác đều phát lộ hết, không được che giấu, dứt tội cũ, không tạo tội mới; nếu được vậy thì các ngoại chướng sẽ dần dần tiêu trừ, mà nội quán sẽ thêm sáng.

phát lộ sám hối

tự mình bộc lộ, bày tỏ chỗ sai trái, phạm lỗi của mình ra cho mọi người đều biết và quyết tâm hối cải không tái phạm nữa.

phát minh tâm địa

Tức là minh tâm kiến tánh.

phát nghiệp nhuận sinh

(發業潤生) Chỉ cho phiền não tưới tẩm (nhuận) nghiệp mà sinh ra quả ở vị lai. Phát nghiệp là chỉ cho tác dụng của Hoặc, lấy phiền não phân biệt khởi làm chính, trong đó lại lấy nghiệp do vô minh phân biệt phát ra, tương ứng với thức thứ 6 làm chủ yếu, rồi chung với phiền não Câu sinh khởi mà phát ra nghiệp. Tác dụng hoặc lấy phiền não Phân biệt khởi làm chính, là nói theo hành tướng tăng thắng. Còn tác dụng hoặc lấy vô minh phân biệt làm chủ yếu thì là tác dụng thù thắng hơn so với các hoặc khác. Nhuận sinh chỉ cho tác dụng của hoặc nhuận sinh, tức là hoặc Câu sinh khởi lấy phiền não Tham, tương ứng với thức thứ 6 làm chính, chẳng hạn như lúc hấp hối có hoặc tham ái thì quyến luyến tự thể và cảnh giới, nhờ đó mà tưới tẩm sự sống của Trung hữu (tức thân chưa đi đầu thai), đó là tác dụng tăng thượng. Tác dụng này tương đương với 2 chi Ái và Thủ trong 12 nhân duyên, có năng lực tưới tẩm (nhuận) hạt giống của 5 quả, làm phát sinh hiện hành, vì vậy gọi là Nhuận sinh. Trong đó, có Chính nhuận sinh và Trợ nhuận sinh khác nhau. Chính nhuận sinh là hoặc Câu sinh khởi, khi đến giai vị Tu đạo thì đoạn trừ hết; còn Trợ nhuận sinh thì chung cho cả hoặc Phân biệt khởi, khi đến giai vị Kiến đạo thì đoạn trừ. Hoặc Nhuận sinh này chỉ hiện hành ở địa vị phàm phu, chứ với bậc Thánh thì không, ở 3 quả của Nhị thừa không có tham ái hiện hành mà chỉ là sự nhuận sinh của chủng tử. Nhưng Bồ tát từ Thất địa trở về trước, vì hạnh lợi tha nên khởi hoặc, đó là sự nhuận sinh hiện hành. Tông Câu xá cho rằng 9 phẩm Tu hoặc cõi Dục có năng lực chiêu cảm sinh ra thất đại (địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, không đại, kiến đại, thức đại) ý nói trong 9 phẩm Tu hoặc cõi Dục có đủ tác dụng nhuận sinh. Còn giáo nghĩa của tông Thiên thai thì cho Bồ tát Đệ cửu địa trong Tam thừa cộng Thập địa vì hạnh hóa tha mà có tác dụng Phù tập nhuận sinh ý nói Bồ tát nhờ có sức thệ nguyện mà thêm sức ở trong tập khí Kiến, Tư hoặc, đồng thời dùng sức ấy để phát nghiệp nhuận sinh, thụ sinh trong 3 cõi. [X. luận Câu xá Q.10; luận Du già sư địa Q.59; luận Thành duy thức Q.8; Câu xá luận quang kí Q.10; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.5, phần đầu]. (xt. Hoặc).

phát nguyện

(發願) Cũng gọi Phát đại nguyện, Phát nguyện tâm, Phát chí nguyện, Phát vô thượng nguyện. Phát khởi thệ nguyện, tức phát tâm bồ đề cầu chứng quả Phật, đặc biệt chỉ cho tâm hoàn thành Tịnh độ để cứu giúp chúng sinh (tức thệ nguyện). Nguyện mà Bồ tát phát khởi có rất nhiều loại như: Tổng nguyện, Biệt nguyện, Tịnh độ thành Phật nguyện, Uế độ thành Phật nguyện v.v... Đối với tông Tịnh độ, người thệ nguyện vãng sinh Tịnh độ khuyến khích tự mình tu thiện, tâm phát nguyện vãng sinh này, gọi là Hồi hướng phát nguyện tâm. Trong Quán kinh huyền nghĩa phần, khi giải thích 6 chữ Nam mô A di đà Phật, ngài Thiện đạo cho rằng Nam mô có nghĩa là phát nguyện hồi hướng. Ngài Thân loan thì cho rằng đó là đức Phật A di đà phát nguyện cứu độ chúng sinh và là nhân của chúng sinh được cứu. Hoặc giải thích niệm chữ Nam mô là tuân hành lời khuyến khích và kêu gọi (phát khiển chiêu hoán)của 2 đức Phật Thích ca, Di đà mà phát tâm vãng sinh Tịnh độ. Về đại thể, Nguyện tâm có thể chia làm 2 loại: Một là nguyện cầu bồ đề, hai là nguyện hóa độ chúng sinh. Bốn thệ nguyện rộng lớn và 10 đại nguyện đều thuộc về phát nguyện. Ngoài ra, về việc làm phúc, tu thiện... đều phải phát nguyện trước; bài văn ghi chỉ thú của lời phát nguyện gọi là Phát nguyện văn, Nguyện văn, Thệ nguyện văn, như Thiên tăng hội nguyện văn của ngài Trầm ước đời Lương thuộc Nam triều, Phát nguyện văn của Đại sư Trí khải đời Tùy, Phát nguyện văn của ngài Thiện đạo đời Đường... [X. phẩm Chủng tính kinh Bồ tát địa trì Q.1; phẩm Nguyện thệ trong Phát bồ đề tâm kinh luận Q.thượng; luận Đại trí độ Q.5; phẩm Phân biệt thế luận Câu xá Q.12]. (xt. Phát Khiển Chiêu Hoán).

phát ngạ quỷ tâm

(發餓鬼心) Phát tâm quỉ đói, 1 trong 10 loại phát tâm.Chúng sinh muốn được tiếng tăm lừng lẫy khắp nơi, muốn được mọi người khen ngợi; bên trong vốn không có thực đức mà muốn sánh với thánh hiền, đó chỉ là dối trá, lừa gạt, tạo 10 điều ác, gieo nhân ngã quỉ, nên gọi là Phát ngã quỉ tâm.

Phát phu

(髪膚): tóc và da, tức chỉ toàn thân con người. Trong chương Khai Tông Minh Nghĩa (開宗明義) thứ nhất của Hiếu Kinh (孝經) có đoạn rằng: “Thân thể phát phu, thọ chi phụ mẫu, bất cảm hủy thương, hiếu chi thỉ dã (身體髪膚、受之父母、不敢毀傷、孝之始也, toàn bộ thân thể, thọ của cha mẹ, không dám thương tổn, đó là việc làm đầu tiên của hiếu).” Câu “cảm hà phát phu chi báo (感荷髪膚之報)” có nghĩa là cảm thấy nặng trĩu không biết làm sao báo đáp ơn sâu của cha mẹ đã ban cho tấm thân này.

Phát quang địa

xem Mười địa vị.

phát quang địa

(發光地) Địa thứ 3 trong 10 địa của Bồ tát. Vì hàng Bồ tát ở địa vị này tu trì Phật đạo, phát ra ánh trí tuệ rất trong sáng, cho nên gọi là Phát quang địa. [X. kinh Thập địa Q.10; kinh Hoa nghiêm Q.35 (bản 80 quyển).

phát tháp

(發塔) Tháp là nơi thờ xá lợi của Phật. Theo Phật quốc kí thì sau khi đức Phật Thích ca mâu ni nhập diệt, xá lợi của Ngài được chia cho 8 nơi, mỗi nơi đều có xây tháp, miếu để thờ cúng. (xt. Tháp).

phát thú luận

(發趣論) Pàli: Paỉỉhàna-ppakaraịa. Gọi đủ: Phát thú đại luận (Pàli: Paỉỉhàna-mahàpakaraịa). Gọi tắt: Bát xoa (Pàli: Paỉỉhàna) Một trong 7 bộ luận của Phân biệt Thượng tọa bộ ở Tích lan. Luận này trình bày rõ sự quan hệ giữa 122 môn và 24 duyên của luận Bản mẫu. Trước hết, chia làm 2: Phần Luận mẫu thiết trí và phần Duyên phân biệt; kế đến, trình bày chính văn cho 24 phát thú mà thành. Hai mươi bốn phát thú được chia làm 4 loại: Thuận phát thú, Nghịch phát thú, Thuận nghịch phát thú và Nghịch thuận phát thú, mỗi phát thú lại mở rộng ra làm 6 loại: Tam pháp phát thú, Nhị pháp phát thú, Nhị pháp tam pháp phát thú, Tam pháp nhị pháp phát thú, Tam pháp tam pháp phát thú và Nhị pháp nhị pháp phát thú. Luận này có xuất bản nguyên văn và bản dịch tiếng Nhật (Nam truyền Đại tạng kinh 50 đến 56). [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; Nam phương thượng tọa bộ luận thư giải thuyết; A History ofPàli Literature by B.C. Law].

phát tâm

(發心) Cũng gọi Sơ phát ý, Tân phát ý, Tân phát tâm, Sơ tâm, Phát ý. I. Phát Tâm. Gọi đủ: Phát bồ đề tâm. Chỉ cho tâm phát nguyện cầu Vô thượng bồ đề. Tức phát khởi tâm mong cầu giải thoát khổ nạn, được vãng sinh Tịnh độ hoặc thành Phật. Tâm bồ đề là hạt giống của tất cả chư Phật, là thửa ruộng tốt nuôi lớn pháp thanh tịnh. Khi phát tâm này rồi, phải siêng năng tiến tu để mau chóng chứng được Vô thượng bồ đề. Phiên dịch danhnghĩa tập quyển 12 có nêu ra 3 loại phát tâm: 1. Phát tâm đại trí: Muốn dùng trí tuệ rộng lớn cầu được tất cả pháp của Phật để hóa độ hết thảy chúng sinh, làm cho họ được niềm vui pháp hỉ. 2. Phát tâm đại bi: Thương xót hết thảy chúng sinh, chịu vô lượng khổ não trong vòng luân hồi sinh tử, thệ nguyện cứu vớt họ. 3. Phát tâm đại nguyện: Nương theo 4 thệ nguyện rộng lớn, phát tâm Vô thượng bồ đề, trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sinh.Còn Thích thị yếu lãm quyển 3 thì nêu 3 loại phát tâm là: 1. Phát tâm nhàm chán xa lìa hữu vi: Các pháp thế gian đều là pháp hữu vi, chỉ mang lại khổ não sống chết trong 3 cõi; muốn cầu thoát khỏi nỗi khổ ấy, thì phải nhàm chán pháp hữu vi mà phát tâm tu hành. 2. Phát tâm cầu bồ đề: Vốn có thiện căn và chính kiến, muốn cầu đạo xuất thế mầu nhiệm thì phải phát tâm tu hành. 3. Phát tâm làm lợi ích cho loài hữu tình: Khởi tâm từ bi, thương xót tất cả chúng sinh thế gian chịu khổ sinh tử, nguyện nhổ hết gốc khổ và mang lại niềm an vui cho họ, nên phát tâm tu hành. (xt. Bồ Đề Tâm). II. Phát Tâm. Trong Tịnh độ chân tông của Nhật bản, người đồng nam mới vào Phật đạo, hoặc gần gũi chúng tăng mà chưa xuất gia, được gọi là Phát tâm.

Phát tấu

(發奏): văn thư của bề tôi bên dưới khải tấu, tâu trình sự việc lên đức vua hay đấng tôn kính; còn gọi là tấu văn (奏聞). Như trong Hậu Hán Thư (後漢書), phần An Đế Kỷ (安帝紀), có đoạn: “Tam Ty chi chức, nội ngoại thị giám, ký bất tấu văn, hựu vô cử chánh (三司之職、內外是監、旣不奏聞、又無舉正, chức của Ba Ty, trong ngoài giám sát, đã không tâu trình, lại chẳng sửa đúng).” Hay trong Tập Di Ký (集异記), phần Diệp Pháp Thiện (葉法善), của Tiết Dụng Nhược (薛用弱, ?-?) nhà Đường, lại có đoạn: “Huyền Tông thừa tộ kế thống, sư ư thượng kinh, tá hựu thánh chúa, phàm cát hung động tĩnh, tất dự tấu văn (玄宗承祚繼統、師於上京、佐佑聖主、凡吉凶動靜、必預奏聞, vua Huyền Tông kế thừa ngôi báu trị vì, sư lên kinh đô, phò tá thánh chúa, phàm lành dữ động tĩnh, đều phải tâu trình trước).”

phát tế

(發際) Chỉ cho chỗ chân tóc ở trên trán. Nói về tướng lưỡi rộng dài trong 32 tướng hảo của đức Phật. Tức đầu lưỡi của Phật khi thè ra thì che cả mặt, cho đến chỗ chân tóc. Kinh Li cấu thí nữ (Đại 12, 90 hạ) nói: Lưỡi rộng dài che cả mặt, cho đến chỗ chân tóc. Ngoài ra, trong Nghi quĩ nói về phương pháp tạo tượng Phật thì Phát tế là 1 trong những điểm cơ bản để tính độ dài. Kinh Tạo tượng lượng đạc giải thích (Đại 21, 941 hạ): Nhục kế: Trên đỉnh đầu của Phật có 1 khối thịt (nhục) nổi cao lên như búi tóc (kế) hình tròn, cao 4 ngón tay, từ chân nhục kế đến chân tóc cũng bằng 4 ngón tay. [X. kinh Đại thừa đại tập địa tạng thập luân Q.2; kinh Bảo vân Q.6; luận Đại trí độ Q.8].

phát âm

To pronounce.

phát đầu

(發頭) Chỉ cho chức vụ trông coi việc cạo tóc cho chúng tăng trong Thiền lâm. Vào các ngày 4, 9, 14, 19, 24 và 29, sau khi ăn cháo buổi sáng, chư tăng liền đi cạo tóc. Khi vị Dục chủ(chức vụ coi về việc tắm gội) treo bảng cạo tóc (Tịnh phát bài) ở trước các liêu (phòng tăng ở) của chúng tăng, thì vị Phát đầu sắp sẵn nước nóng, thau rửa mặt, dao cạo tóc, đá mài... xong rồi, đánh 1 hồi mộc bản (tấm bảng gỗ dùng để đánh báo hiệu), chúng tăng liền tập trung ở trước liêu để được cạo tóc.

Phân biệt

分別; C: fēnbié; J: funbetsu;|Có các nghĩa sau: 1. Sự phán quyết, sự kết luận (đối với hiện tượng ngoại giới; p: vinicchaya). Thuật ngữ nầy thường dùng với ý nghĩa chê bai, liên quan đến các tâm hành có tính thiên vị và cục bộ gây chướng ngại cho tính dụng của tâm giác ngộ. Suy nghĩ với sự phân biệt (s: vikalpa, kalpana); 2. Bất đồng ý kiến, tranh luận, không tán thành (p: vivadati); 3. Sự thụ kí của đức Phật cho một đệ tử sẽ được thành Phật trong tương lai; 4. Luận nghị (論議; s: upadeśāh), một trong 9 (hay 12) thể loại trong kinh văn Phật giáo; 5. Phân loại, chia ra từng phần, giải quyết được, sắp xếp; 6. Sự phân tích, sự phân huỷ, sự phân biệt, sự khác nhau (s: vibhāga, lakṣayati); 7. Trong nghĩa tích cực, là phân biệt rõ chính với tà, chính pháp và tà thuyết.

phân biệt

Distinction. ; (分別) Phạm:Vikalpa. Cũng gọi Tư duy, Kế đạc. Chỉ cho sự suy lường, tính toán, so đo... Luận Câu xá quyển 2 nêu ra 3 thứ phân biệt: 1. Tự tính phân biệt: Tác dụng trực giác lấy tâm sở Tầm hoặc Tứ làm thể, trực tiếp nhận thức đối cảnh. 2. Kế đạc phân biệt: Tác dụng phán đoán suy lí, tương ứng với ý thức, lấy tâm sở Tuệ làm thể. 3. Tùy niệm phân biệt: Tác dụng ghi nhớ, truy tưởng, tương ứng với ý thức, lấy tâm sở Niệm làm thể, có khả năng nhớ rõ việc quá khứ. Trong 6 thức, chỉ có ý thức là đầy đủ cả 3 loại phân biệt nói trên, cho nên gọi là Hữu phân biệt (Phạm: Savikalpa); 5 thức trước thì chỉ có Tự tính phân biệt chứ không có 2 phân biệt kia, cho nên gọi là Vô phân biệt (Phạm: Avikalpa). Luận A tì đạt ma tạp tập quyển 2 cho rằng 3 phân biệt là tác dụng của ý thức và bảo Tự tính phân biệt thuộc hiện tại, Tùy niệm phân biệt thuộc quá khứ, còn Kế đạc phân biệt thì chung cho cả quá khứ và vị lai. Nhưng luận Nhiếp đại thừa thì cho rằng sự phân biệt của phàm phu là do mê vọng sinh ra, hoàn toàn không thể chứng ngộ được lí chân như 1 cách như thực, do đó, sự phân biệt của phàm phu chỉ là sự phân biệt hư vọng (gọi tắt: Vọng phân biệt). Nếu muốn chứng ngộ được lí chân như, thì phải xả bỏ trí phân biệt của phàm phu, mà nương vào trí vô phân biệt mới được. Cũng tức là Bồ tát Sơ địa khi vào Kiến đạo, duyên với chân như của tất cả pháp, vượt lên trên sự đối lập giữa năng tri vàsở tri, mới có thể chứng được trí bình đẳng vô phân biệt. Trí vô phân biệt này được chia làm 3 giai đoạn: Gia hạnh (giai đoạn chuẩn bị), Căn bản và Hậu đắc, theo thứ tự gọi là trí Gia hạnh, trí Căn bản và trí Hậu đắc. [X. luận Thành duy thức Q.7; luận Đại tì bà sa Q.42; Nhiếp đại thừa luận bản Q.trung; luận Hiển dương thánh giáo Q.16; luận Du già sư địa Q.53]. II. Phân Biệt. Phạm: Vibhaíga, Vibhajya. Chỉ cho sự khu biệt, chia loại, phân tích giáo pháp để nghiên cứu, khảo sát, theo nhiều phương hướng và trên nhiều lập trường.

phân biệt biến

(分別變) Đối lại: Nhân duyên biến. Chỉ cho cảnh sở duyên (đối tượng) do sự tác ý phân biệt của tâm và tâm sở sinh ra. Trong 8 thức thì cảnh sở duyên của thức thứ 8, 5 thức trước và Ngũ câu ý thức là do nhân duyên nhậm vận sinh ra, đều có tác dụng thực sự, cho nên gọi là Nhân duyên biến. Trái lại, cảnh sở duyên của thức thứ 7 và Độc đầu ý thức thứ 6 là do sức tác ý phân biệt sinh ra, chẳng phải do chủng tử thực sinh ra, như lửa trong gương không có tác dụng thực, chỉ là bóng dáng mà thôi, vì thế gọi là Phân biệt biến. Ngoài ra, cảnh của các tâm sở như Xúc... tương ứng với thức thứ 8, tuy nhậm vận mà khởi, nhưng do chủng tử giả sinh ra, không có tác dụng thực sự, cho nên cũng thuộc về Phân biệt biến.Cứ theo Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu quyển thượng, phần cuối, trong 3 loại cảnh, thì Độc ảnh cảnh và 1 phần của Đới chất cảnh, là Phân biệt biến; còn Tính cảnh do nhân duyên sinh ra, có đầy đủ thực dụng cho nên là Nhân duyên biến. [X. luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.3, phần đầu; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.3; Bách pháp vấn đáp sao Q.2].

Phân biệt bộ

分別部; S: vibhajyavādin;|Một bộ phái Tiểu thừa, tách ra từ Trưởng lão bộ (s: sthavira, p: theravāda) khoảng 240 năm trước Công nguyên. Từ bộ này lại xuất phát ra Thượng toạ bộ, Ẩm Quang bộ và Hoá địa bộ (xem biểu đồ của các bộ phái cuối sách).

Phân biệt chướng

分別障; C: fēnbié zhàng; J: funbetsushō;|Chướng ngại do phân biệt. Là Phiền não chướng (煩惱障) và Sở tri chướng (所知障) sinh khởi từ ý thức phân biệt. Vì phân biệt là chức năng của thức thứ 6 nên Phân biệt chướng sinh khởi từ thức đó. Nó sinh khởi do tà sư, tà thuyết, hay là tà kiến. Phân biệt khởi (分別起).

phân biệt công đức luận

(分別功德論) Phạm: Puịya-vibhaíga. Cũng gọi Phân biệt công đức kinh, Tăng nhất a hàm kinh sớ. Tác phẩm, 5 quyển, thuộc Luận bộ của Tiểu thừa ở Ấn độ, tương truyền được dịch vào thời Hậu Hán, thu vào Đại chính tạng tập 28. Nội dung luận này giải thích 4 phẩm đầu của kinh Tăng nhất a hàm, đồng thời, trình bày về sự tích và công đức tu hành của các vị đệ tử Phật. Luận này tuy thuộc Tiểu thừa, nhưng nội dung có bàn về Lục độ và Thập trụ, đồng thời, chấp nhận cả giới Đại thừa và giới Tiểu thừa, điểm này, về mặt tư tưởng, rất giống với kinh Bát nhã, do đó biết người soạn luận này rất hiểu về Phật giáo Đại thừa. Hơn nữa, trong sách tán thán ngài Đại thiên cho nên biết soạn giả cũng gần gũi tư tưởng Đại chúng bộ. Nếu như sách này thực sự được phiên dịch vào đời Hậu Hán thì muộn nhất nó cũng đã được soạn thuật vào sau thế kỉ II. Nhưng trong giới học giả có người cho rằng sách này được dịch ra sau thời Đông Tấn. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.13; Xuất tam tạng kí tập Q.4; Pháp kinh lục Q.5].

phân biệt du già luận

(分別瑜伽論) Cũng gọi Nhiếp tán qui quán luận. Luận do bồ tát Di lặc nói, ngài Thế thân soạn Thích luận, là 1 trong 11 bộ luận y cứ của tông Pháp tướng. Luận này chưa được truyền dịch.

Phân biệt du-già luận

分別瑜伽論; C: fēnbié yúqié lùn; J: funbetsu-yugaron;|Được xem là một tác phẩm của Bồ Tát Di-lặc (彌勒), Thế Thân (世親) luận giải. Là 1 trong 11 bộ luận của Pháp tướng tông, nhưng chưa được dịch sang Hán văn.

Phân biệt duyên khởi sơ thắng pháp môn kinh

分別縁起初勝法門經; C: fēnbié yuànqǐ chūshèng fǎmén jīng; J: funbetsu engi shoshō hōmon kyō; S: vikalpa-pratītya-samutpāda-dhar-mottara-praveśa-sūtra.|Kinh, 2 quyển, Huyền Trang dịch tại chùa Đại Từ Ân năm 650. Đây là bài thuyết pháp về Mười hai nhân duyên.

phân biệt giai cấp

Distinction of class and caste.

Phân biệt khởi

分別起; C: fēnbiéqǐ; J: funbetsuki;|Phiền não sinh khởi từ phân biệt. Phiền não sinh khởi sau khi xuất sinh trong thế gian nầy, tùy thuộc vào những tà kiến mà người ta đã ôm ấp do y cứ vào giáo lí sai lầm… Những phiền não nầy sẽ được giải trừ khi qua giai vị Kiến đạo. Phiền não nầy khác với Câu sinh khởi (倶生起) và Nhậm vận khởi (任運起).

phân biệt khởi

(分別起) Phạm: Parikalpasamutthita. Đối lại: Câu sinh khởi. Chỉ cho những phiền não do tà giáo, tà sư, tà tư duy... sinh ra. Trong 10 phiền não căn bản thì 4 phiền não Nghi, Tà kiến, Kiến thủ kiến và Giới cấm thủ kiến thuộc về Phân biệt khởi. Phân biệt khởi dễ đoạn trừ, cho nên ở giai vị Kiến đạo, khi hành giả chứng được chân như Sinh không, Pháp không thì lập tức dứt hết. [X. luận Thành duy thức Q.1, 2, 6; luận Hiển dương thánh giáo Q.6; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4]. (xt. Câu Sinh Khởi).

Phân biệt kinh

分別經; C: fēnbié jīng; J: funbetsu kyō;|Tên gọi tắt của kinh Phật thuyết A-nan phân biệt (佛説阿難分別經).

phân biệt luận

(分別論) Pàli: Vibhaíga-ppakaraịa. Gọi tắt: Tì băng già(Phân biệt). Tác phẩm, 1 trong 7 luận của Phân biệt thượng tọa bộ ở Tích lan. Phổ thông cho rằng luận này là thiên tiếp theo của luận Pháp tụ. Đây là bộ luận nền tảng chỉ đứng sau luận Pháp tập mà thôi. Trong các bộ luận của Hữu bộ thì luận Pháp uẩn túc giống với luận này nhất. Nội dung luận này gồm có 18 Phân biệt (phẩm), 15 Phân biệt đầu chia làm 3 phần là Kinh phân biệt, Luận phân biệt và Vấn nạn; 3 Phân biệt cuối thì chia làm 2 phần là Bản mẫu và Quảng thích để thuyết minh. Thứ tự của 18 Phân biệt như sau: Uẩn, Xứ, Giới, Đế, Căn, Duyên tướng, Niệm xứ, Chính cần, Thần túc, Giác chi, Đạo, Định, Vô lượng, Học xứ, Vô ngại giải, Trí, Tiểu sự và Pháp tâm. Nguyên văn bản luận này đã được chỉnh lí và xuất bản, đồng thời có bản dịch tiếng Nhật (Nam truyền Đại tạng kinh quyển 46, 47). Ngoài ra, vào thế kỉ thứ V, ngài Phật âm (Phạm: Pàli:Buddhaghosa) có soạn luận Trừ si mê (Pàli: Sammohavinodanì) để chú thích luận này. Ngài Phật thụ (A.P Buddhadatta) cũng đã chỉnh lí nguyên văn luận Trừ si mê và do Hiệp Hội Pàli (Pàli Text Society) xuất bản vào năm 1923. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; Nam phương Thượng tọa bộ luận thư giải thuyết; A Histrory ofPàli Literature by B.C. Law].

phân biệt luận giả

(分別論者) Phạm: Vibhajya-vàdin. Pàli: Vibhajja-vàdin. Hán âm: Tì bà xà bà đề, Tì bà xà phược địa. Cũng gọi Phân biệt luận sư, Phân biệt thuyết bộ. Chỉ cho 1 phái Luận sư chuyên phân tích, biện biệt nghĩa lí các pháp đến chỗ rốt ráo. Phái Luận sư này chủ trương các thuyết như: Ngũ căn vô lậu, Duyên khởi vô vi, A la hán vô thoái, Tam giới vô trung hữu... đều là đồng nghĩa và hợp với tông chỉ căn bản của Hóa địa bộ Tiểu thừa. Đại chúng bộ, Nhất thuyết bộ, Thuyết xuất thế bộ và Kê dận bộ chủ trương tất cả Như lai không có pháp hữu lậu, Phật không ngủ nghỉ, tâm tính vốn thanh tịnh... cũng giống với lập trường của Phân biệt luận giả. Có thuyết cho rằng Ẩm quang bộ (thuộc Thượng tọa bộ) và Thuyết giả bộ (thuộc Đại chúng bộ) cũng được gọi là Phân biệt luận giả. Thượng tọa bộ lưu truyền ở Tích lan vốn thuộc về Phân biệt thuyết bộ. Học thuyết của Thượng tọa bộ được truyền bá ở phương Nam, hoàn toàn chẳng phải chính tông, các sử gia Phật giáo Ấn độ đều xem học thuyết ấy là do Thượng tọa bộ truyền riêng và thường dùng tên Phân biệt thuyết để khu biệt. Ở Tây tạng có rất nhiều thuyết khác nhau về Phân biệt thuyết bộ, đại để cho rằng Phân biệt thuyết bộ là 1 phái độc lập, liên quan mật thiết với Thuyết nhất thiết hữu bộ. Từ Phân biệt thuyết bộ lại chia ra các bộ: Hóa địa, Đồng diệp, Ẩm quang... Còn Ấn độ chi Phật giáo của ngài Ấn thuận cho rằng Phân biệt thuyết bộ thuộc về Thượng tọa bộ, thành 1 hệ riêng, rồi từ đó lại chia ra 4 bộ: Hóa địa, Ẩm quang, Pháp tạng và (Xích)Đồng diệp (truyền ở Tích lan). [X. luận Câu xá Q.20; luận Đại tì bà sa Q.5, 18, 19, 23; Nhiếp đại thừa luận thích Q.2 (Vô tính); luận Thành duy thức Q.3; Thành duy thức luận thuật kí Q.4, phần đầu; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.4, phần đầu; Câu xá luận quang kí Q.20; Ấn độ Phật giáo sử (Đa la na tha); Giáo đoàn phân liệt tường thuyết]. (xt. Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ).

Phân biệt lực

分別力; C: fēnbiélì; J: bunbetsuriki;|Năng lực nhận biết, năng lực phán đoán (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).

Phân biệt sự thức

分別事識; C: fēnbié shìshì; J: funbetsu jishiki;|1. Thức phân biệt các hiện tượng các nhau (s: vastu-prativikalpa-vijñāna); 2. Thức thứ 6, ý thức (意識; s: mano-vijñāna).

phân biệt sự thức

(分別事識) Gọi tắt: Sự thức. Tên khác của ý thức. Luận Đại thừa khởi tín gọi chung 6 thức: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý là Ý thức; Ý thức này có khả năng khởi tác dụng nhận thức và phân biệt đối với các cảnh quá khứ, hiện tại, vị lai và những sự tướng của nội căn ngoại trần, vì thế gọi là Phân biệt sự thức.

phân biệt sự thức huân tập

(分別事識熏習) Đối lại: Ý huân tập. Một trong 2 nghĩa của Vọng tâm huân tập thuộc Tịnh pháp huân tập được nói trong luận Đại thừa khởi tín. Nghĩa là phàm phu và hàng Nhị thừa không biết bản thức A lại da chỉ là thức chứ không có cảnh, chấp trước ngoại cảnh là cảnh giới có thực, ở trong phân biệt sự thức mà chán lìa cái khổ sinh tử, phát tâm mong cầu đạo vô thượng. (xt. Tứ Huân Tập, Huân Tập).

Phân biệt thức

分別識; C: fēnbiéshì; J: funbetsushiki;|Đồng nghĩa với thức thứ 6, Ý thức (意識).

phân biệt trí

(分別智) Chỉ cho trí phân biệt các sự tướng hữu vi. Ở phàm phu là trí phân biệt, tính toán hư vọng, ở chư Phật là quyền trí hậu đắc.

phân biệt trí tương ưng nhiễm

(分別智相應染) Một trong 6 nhiễm tâm được nói trong luận Đại thừa khởi tín, tương đương với Trí tướng trong Lục thô. Trí này nương vào cảnh giới mà sinh khởi, có khả năng phân biệt các pháp thế gian và xuất thế gian, cho nên gọi là Phân biệt trí. Trí này tương ứng với tâm vương và có thể làm cho tâm tính thanh tịnh bị ô nhiễm, nên gọi là Tương ứng nhiễm. Đây là pháp chấp nhỏ nhiệm thuộc câu sinh khởi (có cùng lúc khi con người sinh ra), Bồ tát đến Thất địa thì đoạn trừ hết. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.thượng, phần cuối; Khởi tín luận sớ Q.thượng].

phân biệt trí đà la ni

(分別智陀羅尼) Cũng gọi Phân biệt tri đà la ni, Phân biệt đà la ni. Một trong 3 Đà la ni nói trong luận Đại trí độ. Đà la ni là sức trí tuệ có năng lực tóm thu, gìn giữ tất cả không để quên mất. Sức trí tuệ biết rõ sự sai khác về tính chất lớn nhỏ, đẹp xấu của tất cả chúng sinh và các pháp, gọi là Phân biệt trí đà la ni. [X. luận Đại trí độ Q.5].

Phân biệt tính

分別性; C: fēnbié xìng; J: funbetsushō;|Bản tính y theo tâm phân biệt (s: pari-kalpita-svabhāva). Đồng nghĩa với Biến kế sở chấp tính (遍計所執性; s: parikalpita-svabhāva).

phân biệt tương tự quá loại

(分別相似過類) Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho lỗi thứ 3 trong 14 lỗi của Nhân thuộc Tự năng phá trong luận thức Nhân minh do ngài Túc mục –Tổ khai sáng của Nhân minh cũ– thành lập. Trong đối luận Nhân minh, kẻ địch luận (người vấn nạn) vì muốn phá luận thức (lượng) của người lập luận, nên đối với Đồng dụ, cưỡng dùng sự sai biệt của vật tính để công kích, bác bỏ luận thức của đối phương. Nhưng vì luận thức của người lập luận là đúng đắn, nên kẻ địch luận lại tự chuốc lấy lỗi Phân biệt tương tự quá loại (lỗi phân biệt sai lầm) này. Như Thắng luận sư lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì là do sự cần dũng không gián đoạn mà phát sinh (tức do sự tác động của ý chí mà phát sinh). Đồng dụ: Như cái bình. Dị dụ: Như hư không. Đối lại, Thanh luận sư (chủ trương âm thanh là vô thủy vô chung) lập luận thức: Tông: Âm thanh là thường (tức vô thủy vô chung). Nhân: Vì nó không thể bị thiêu đốt, không thể nhìn thấy nó. Đồng dụ: Như hư không. Dị dụ: Như cái bình. Rồi Thanh luận sư phân tích về tính chất sai khác của các vật mà cho rằng cái bình có thể thiêu đốt được, có thể thấy được, còn âm thanh thì không thể thiêu đốt được, không thể thấy được và kết luận: Nếu cái có thể thiêu đốt được, có thể thấy được là vô thường, thì cái không thiêu đốt được, không thấy được là thường, đồng thời, lấy cái nghĩa không thể thiêu đốt được, không thể thấy được là chung cho cả tâm, tâm sở vô thường và hư không thường trụ mà cưỡng gán cho đối phương là đã vi phạm lỗi bất định, nhưng thực thì chính kẻ địch luận đã vi phạm lỗi Phân biệt tương tự này. Lỗi này tương đương với Trường tương nạn thứ 3 trong Điên đạo nạn nói trong phẩm Đạo nạn của luận Như thực. [X. Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.8; Nhân minh luận lí khái luận (Pháp phong)]. (xt. Thập Tứ Quá Loại, Nhân Minh).

phân chia

Division-Separation.

phân chư thừa

(分諸乘) Đối lại: Dung bản mạt. Chia các thừa. Tức lấy pháp thể của Nhất thừa làm gốc mà chia giáo pháp của đức Phật thành các thừa để thích nghi với các căn cơ của chúng sinh. Trong Hoa nghiêm ngũ giáo chương, ngài Pháp tạng dùng Dung bản mạt (dung hòa gốc và ngọn với nhau) để giải thích danh nghĩa của Nhất thừa đồng giáo và dùng Phân chư thừa (chia ra các thừa) để làm sáng tỏ pháp thể của Nhất thừa đồng giáo. Danh nghĩa của Đồng giáo lấy Nhất thừa làm gốc (bản), Tam thừa làm ngọn(mạt), dung hợp hòa đồng Tam thừa, Nhất thừa, gốc và ngọn với nhau, vì thế mà giải thích danh nghĩa của Đồng giáo là Dung bản mạt. Nhưng, pháp thể của Nhất thừa đồng giáo là vì phương tiện dẫn dắt mà chia làm Nhị thừa, Tam thừa, cho đến vô lượng thừa, hoặc đem Nhất thừa chia ra làm Nhị thừa, Tam thừa, cho đến vô lượng thừa để dẫn dụ, vì thế, các thừa được chia ra ấy chính là pháp thể của Nhất thừa đồng giáo. Phân chư thừa còn được chia làm 6 lớp là: Nhất thừa, Nhị thừa, Tam thừa, Tứ thừa, Ngũ thừa và Vô lượng thừa. Nhất thừa của lớp thứ nhất có 7 nghĩa: Ước pháp tướng giao tham, Ước nhiếp phương tiện, Ước sở lưu biện, Ước thù thắng môn, Ước giáo sự thâm tế, Ước bát nghĩa ý thú và Ước thập nghĩa phương tiện. Sự phân biệt 6 lớp, 7 nghĩa trên đây chính là 3 nghĩa: Sở lưu, Sở mục và Nhiếp phương tiện của Hoa nghiêm khổng mục chương. Trong đó, 7 nghĩa Nhất thừa của lớp thứ nhất nương vào 2 nghĩa Sở lưu và Nhiếp phương tiện, còn Nhị thừa của lớp thứ 2 trở xuống cho đến Vô lượng thừa của lớp thứ 5... thì nương vào 1 nghĩa Sở mục.Sở lưu có nghĩa là pháp môn của Tam thừa là từ biển Nhất thừa chảy ra. Nhiếp phương tiện có nghĩa là pháp môn Tam thừa nhập vào phương tiện của Nhất thừa. Nói cách khác, pháp môn Tam thừa là từ Nhất thừa mà ra, lại chính là phương tiện của Nhất thừa, cho nên gọi là Nhất thừa đồng giáo. Đó là điểm trọng yếu của 7 nghĩa Nhất thừa. Còn Sở mục thì có nghĩa là khi nói về pháp Tam thừa thì không phải lấy các nghĩa Sở lưu và Nhiếp phương tiện làm Nhất thừa, mà lấy ngay cái đương thể vốn có của Tam thừa làm Nhất thừa. [X. Hoa nghiêm nhất thừa giáo nghĩa phân tề chương Q.1].

Phân giải

分解; C: fēnjiě; J: bunkai;|Phân tích, chia thành từng phần, sự phân tích, tháo dỡ hết vật che đậy bên ngoài, sự phân huỷ, sự giải tán, sự giảm trừ.

Phân giới

分界; C: fēnjiè; J: bunkai;|Sự phân định ranh giới, giới tuyến, ranh giới, biên giới.

Phân lượng

分量; C: fēnliàng; J: bunryō;|Có hai nghĩa: 1. Số lượng, mức độ, phạm vi; 2. Trọng lượng.

Phân minh

分明; C: fēnmíng; J: bunmyō;|Thấy một cách rõ ràng. Rõ ràng (s: vyakta, vispasta).

Phân phương

(芬芳): có hai nghĩa. (1) Mùi hương, hương khí. Như trong Tuân Tử (荀子), phần Vinh Nhục (榮辱), có câu: “Khẩu biện toan hàm cam khổ, tỷ biện phân phương tinh tao (口辨酸鹹甘苦、鼻辨芬芳腥臊, miệng biết chua mặn cay đắng, mũi biết thơm tho tanh hôi).” Hay trong bài thơ Trùng Vân Lý Quán Tật Tặng Chi (重雲李觀疾贈之) của Hàn Dũ (韓愈, 768-824) nhà Đường cũng có câu: “Cùng đông bách thảo tử, u quế nãi phân phương (窮冬百草死、幽桂乃芬芳, cuối đông trăm cỏ chết, quế rậm vẫn ngát hương).” Hoặc trong Phật Thuyết Kim Diệu Đồng Tử Kinh (佛說金耀童子經, Taishō Vol. 14, No. 546) lại có đoạn: “Ư kỳ đình trung hốt sanh liên hoa, mãn thất thiên hương hằng thời phân phương, nhất thiết chúng sanh phổ giai ái nhạo (於其庭中忽生蓮華、滿室天香恆時芬芳、一切眾生普皆愛樂, ở trong sân vườn chợt sanh hoa sen, đầy nhà hương trời luôn luôn thơm ngát, hết thảy chúng sanh thảy đều vui thích).” (2) Tỷ dụ cho thanh danh và đức hạnh tốt đẹp. Như trong bài thơ Thái Vĩnh Tường (蔡永祥) của Quách Mạt Nhược (郭沫若, 1892-1978) có câu: “Nhất thuấn Thái Sơn trọng, bách đại tụng phân phương (一瞬泰山重、百代頌芬芳, chớp mắt Thái Sơn nặng, muôn đời ngợi tiếng thơm).”

Phân thân

分身; C: fēnshēn; J: bunjin;|Có nghĩa là »phân chia thân«, là hoá thân của đức Phật để giáo hoá và cứu độ chúng sinh.

phân thân

(分身) Hóa hiện ra nhiều thân để cứu độ chúng sinh.Vì lòng từ bi, chư Phật, Bồ tát dùng phương tiện quyền xảo, hóa hiện ra các loại thân đến các nơi để giáo hóa chúng sinh.[X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.7].

phân thân nhiếp hoá

(分身攝化) Cũng gọi Phân thân khiển hóa. Nghĩa là chư Phật, Bồ tát biến hóa thành các loại thân để tùy theo căn cơ của chúng sinh mà hóa đạo. Vì muốn thu nhiếp những chúng sinh có duyên trong 10 phương, nên Phật khởi tâm đại từ bi, dùng phương tiện thị hiện ra các loại thân để giáo hóa, tế độ. [X. kinh Pháp hoa Q.4; kinh Quán Vô lượng thọ; Pháp sự tán Q.hạ].

phân thân xá lợi

(分身舍利) Cũng gọi Toái thân xá lợi. Đối lại: Tòan thân xá lợi. Phân chia di cốt sau khi hỏa thiêu (trà tì) để an táng ở các nơi, gọi là Phân thân xá lợi. Như xá lợi của đức Phật được chia ra 8 phần để an táng ở 8 nước; xá lợi của ngài A nan thì được an táng ở Tì xá li và Ma yết đà. [X. kinh Trường a hàm Q.4; Đại đường tây vực kí Q.7].

phân thủ bản

(分手板) Cũng gọi Lập tăng bản, Phần châu bản. Chỉ cho chiếc giường kê ở phía tây nam trong Thiền đường. Đây là giường của chức vụ Phân thủ(người chịu trách nhiệm phân chia công việc cho chúng tăng trong Thiền lâm) thuộc Hậu đường thủ tọa, vì thế nên gọi là Phân thủ bản.

phân toà

(分座) Chia nửa tòa ngồi. Ý nói chia nửa tòa của mình để mời người khác cùng ngồi, biểu thị nghĩa người được mời có địa vị ngang hàng với mình. Theo kinh Tạp a hàm quyển 41 thì có lần đức Thế tôn đã chia nửa tòa cho ngài Đại ca diếp. Phẩm Kiến bảo tháp trong kinh Pháp hoa quyển 4 cũng nói rằng đức Đa bảo Như lai chia nửa tòa ngồi cho đức Phật Thích ca. Trong Thiền lâm, vị Thủ tọa thay Trụ trì để tiếp hóa, lên tòa nói pháp, gọi là Phân tòa thuyết pháp. [X. Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4]. (xt. Bán Tòa).

phân tách

Analyst.

Phân tích quán

分析觀; C: fēnxī guān; J: bunshakukan;|Pháp quán sát bằng phân tích.

Phân tích thân phần

P: dhātu-vavatthāna;|Một trong 40 phép tu tập được trình bày trong Thanh tịnh đạo (p: visuddhi-magga) của Ðại sư Phật Âm (s: buddhaghoṣa). Theo phương pháp này, hành giả trong tâm phân thân ra những phần tử và nhận thức được rằng, thân thể chẳng qua là sự tổng hợp của Tứ đại chủng, đó là Ðịa, Thuỷ, Hoả, Phong. Từ đó kiến chấp Ngã bị tiêu diệt.|Ẩn dụ sau đây được ghi lại trong Thanh tịnh đạo (XI, 2) để mô tả cách tu tập này: |»Ngoài ra, ồ chư tăng, một tỉ-khâu quán chính cái thân thể này trong mọi tư thế và phân nó ra theo từng bộ phận: ›Ở thân phần này ta tìm thấy yếu tố đất, yếu tố nước, yếu tố lửa, yếu tố gió.‹ Giống như một đồ tể hoặc người phụ tá của ông – sau khi ông ta mổ một con bò và phân nó ra thành nhiều phần rồi ngồi đợi (bán) ở ngã tư đường, cũng như vậy, ồ chư tăng, một tỉ-khâu phân chia chính cái thân thể này trong bất cứ tư thế nào ra thành tứ đại chủng… Người đồ tể – kẻ đã nuôi con bò lớn, dẫn đến nơi làm thịt, trói lại, để đấy rồi làm thịt – ông ấy không bao giờ thoát khỏi ý nghĩ ›Bò‹ nếu ông ta chưa mổ và phân nó ra thành từng miếng. Nhưng khi ông ta đã phân nó ra thành từng miếng và ngồi đó thì ông ta không còn mang theo ý nghĩ ›Bò‹, và thay vào đó là ý nghĩ ›Thịt‹. Ông ta không mang những ý nghĩ như ›Tôi bán một con bò‹ hoặc ›Người ta mua một con bò.‹ Cũng như thế, thâm tâm của một tỉ-khâu – khi vị này còn là một Phàm phu, có nhà hoặc không nhà – không thoát khỏi ý nghĩ ›Tự ngã‹ hoặc ›Một người nam‹ hoặc ›Cá nhân‹, cho đến khi vị này phân ngay chính cái thân này trong bất cứ tư thế nào ra thành từng phần và quán từng yếu tố. Nhưng khi vị này đã phân cái thân này ra thành từng phần và yếu tố thì sẽ thoát khỏi ý nghĩ ›Tự ngã‹, tâm của vị này sẽ dần dần vững chắc trong lúc quán các yếu tố.«

Phân tướng môn

分相門; C: fēn xiāng mén; J: funsōmon;|Nhất thừa là tuyệt đối, là độc lập. »Phương diện riêng biệt« của Nhất thừa.

Phân tế

分際; C: fēnjì; J: bunzai;|Có ba nghĩa: 1. Sự phân biệt; 2. Sự giới hạn, cực độ; 3.Trạng thái, chi tiết.

Phân tề

分齊; C: fēnqí; J: bunzai;|Có các nghĩa sau: 1. Sự khác nhau, sự phân biệt; 2. Mức độ, giới hạn, phạm vi, lĩnh vực (s: pariccheda, pravibhāga); 3. Trạng thái, tình trạng sự việc, điều kiện; 4. Ranh giới giữa 2 làng.

phân tề

(分齊) Chỉ cho giới hạn, sự sai khác. Cũng chỉ cho nội dung, phạm vi, trình độ có chỗ sai khác, hoặc chỉ địa vị, thân phận có trình độ sai khác. Từ ngữ này thường được các bộ luận của Phật giáo sử dụng thay cho từ ngữ phân biệt hoặc giới biệt để nhấn mạnh sự khu biệt, sai khác về mặt trình độ có tính chất đặc biệt. Người đời sau thường dùng từ Phân tề lẫn lộn với từ Phân tế.

phân vị

(分位) Chỉ cho thời phần và địa vị của mỗi sự vật.Từ ngữ này được sử dụng để hiển bày các pháp giả lập, như sóng là do nước khởi động mà có, cho nên sóng là phần vị giả lập của nước, lìa nước thì sóng không có pháp thật. Hai mươi bốn pháp Bất tương ứng hành trong 100 pháp của Duy thức là phần vị giả lập của sắc, tâm và tâm sở, vì thế chúng không có thể tính riêng biệt. [X. luận Thuận chính lí Q.27].

Phân đoạn

分段; C: fēnduàn; J: bundan;|Có hai nghĩa: 1. Sự phân chia, sự phân biệt (s: pariccheda); 2. Những khía cạnh khác nhau của một lí thuyết đơn độc.

Phân đoạn sinh tử

分段生死; C: fēnduàn shēngsǐ; J: bundan-shōji;|Có hai nghĩa: 1. Việc sống chết mà hàng phàm phu phải trôi lăn trong cõi giới vô minh nầy. Sự luân hồi trong một thân xác và cuộc sống tiên định; 2. Phần đoạn sinh tử. Dạng sinh tử luân hồi của hàng phàm phu, khác với Biến dị sinh tử (變易生死), dạng luân hồi mà hàng Bồ Tát trải qua.

phân đoạn tam đạo

(分段三道) Chỉ cho 3 đường mê muội: Hoặc, Nghiệp và Khổ. Phần đoạn nghĩa là phân biệt, đặc biệt chỉ cho tướng sai khác của quả báo hiển hiện ra bên ngoài, như hình dáng, tuổi thọ... Vì quả báo trong 3 đường Hoặc, Nghiệp và Khổ khác nhau, nên có tướng sai biệt về hình dáng, cho nên gọi 3 đường ấy là Phần đoạn tam đạo. Đại khái, ý nói trong 3 đường mỗi đường đều có sự khác nhau về mặt quả báo. Tông Thiên thai căn cứ vào nghĩa xoay vòng của 3 đường này mà nói về sự sai khác của Tam đạo, tức gọi Kiến, Tư hoặc là Phiền não đạo, gọi phiền não nhuận nghiệp là Nghiệp đạo và gọi sự chiêu cảm sinh tử trong 3 cõi là Khổ đạo. (xt. Tam Đạo).

phân đà lợi hoa

(芬陀利華) Phạm, Pàli: Puịđarìka. Cũng gọi Bôn đồ lợi ca hoa, Phân đồ lợi hoa, Phân đà lợi hoa. Hán dịch: Bạch liên hoa. Hoa sen trắng, 1 trong 5 loại hoa sen. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 15, loại hoa này có hình dáng giống hoa súng, cọng nó dài hơn 1 thước (Tàu), màu hoa trắng như tuyết, lấp lánh như bạc, hương rất thơm, phần nhiều mọc ở hồ A nậu đạt, nhân gian hiếm thấy. Hoa này mọc ở trong bùn nhưng không bị mùi bùn làm ô nhiễm, cho nên trong các kinh luận, hoa này thường được dùng để ví dụ Phật tính, pháp tính, tuy ở trong phiền não mà không bị phiền não làm cho nhơ nhớp. Ngoài ra, theo Diệu pháp liên hoa kinh hậu tự thì hoa Phân đà lợi khi chưa nở, được gọi là Khuất đa la, khi sắp tàn, gọi là Ca ma la, khi đang nở thì gọi là Phân đà lợi. (xt. Liên Hoa).

Phân, phần, phận

分; C: fēn; J: fun, bun;|Có các nghĩa sau: 1.Chia, cắt ra, phân ra; 2. Bị chia cắt; 3. Phân biệt; 4. Phần việc. Phần việc của một người trong đời sống. theo ý nghĩa cá tính hoặc thiên hướng.|Ý nghĩa trong Phật học: 1. Khoảnh khắc thời gian nhỏ (thời phần; s: kala); 2. Một nhánh, một chi phần (s: anga). Một phần trong Tam đoạn luận Phật giáo (Nhân minh luận; s: hetu-vidyā; 因明); 3. Một trong Mười hai nhân duyên; 4. Một phần (s: ava-yāna); 5. Cục bộ, thiên vị; 6. Một phương diện theo kinh Hoa Nghiêm; 7. Sự phân định, sự phán quyết.

phân-đà-lỵ

xem bốn loại hoa sen

phép

Authorization—Permission—Permit.

phép lạ

See Phép mầu.

phép lịch sự

Civility—Courtesy.

phép mầu

Miracle—Mysterious power.

phép rửa tội

Externalists believe that the Sacrament of Baptism or Christianity case wash away all their sins.

phét

To boast—To brag about oneself.

phê bình

To criticize constructively—To comment.

phê bình phản tỉnh

Critical reflection.

phê bằng thức

(批憑式) Một loại văn thư xin chính quyền gia hạn.Phê là phê chuẩn; bằng là bằng chứng. Khi vị tăng muốn rời chùa để đi hành hương, tham lễ nơi khác, phải có giấy chứng nhận của chính quyền, trong đó ghi rõ ngày, tháng, năm và thời hạn rời khỏi chùa. Nhưng nếu vì một lí do bất ngờ nào đó, như mưa bão hoặc bị bệnh chưa đi được, thì đương sự phải làm một văn thư xin gia hạn rời khỏi chùa, văn thứ ấy gọi là Phê bằng thức. [X. điều Quải đáp trong Thiền uyển thanh qui Q.1].

phê chuẩn

To ratify—To conffirm—To approve.

phê duyệt

See Phê chuẩn.

phê na

Một loại sáo Ấn Độ—An Indian lute.

phê án

An order of a court.

phì

Mập phì—Fat.

phì cười

To burst out laughing.

phì giả da

Vajradhatri (skt)—Nữ lực của Đức Tỳ Lô Giá Na—The wife or female energy of Vairocana. ; (肥者耶) Phạm: Vijayà. Cũng gọi: Tì xã da, Vi thệ da, Vi nhạ dã. Hán dịch: Vô thắng. Vị Thiên nữ ngồi ở phía bên phải của Đồng mẫu lô, phía trên Nhã da, trong viện Văn thù trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, làquyến thuộc của bồ tát Văn thù, là 1trong 4 chị em Thiên nữ. Mật hiệu Kim cương, chủng tử là (vi) hoặc (ka), hình Tam muội da là cây gậy. Hình tượng vị tôn này mình màu da người, cánh tay phải co lại cầm chày 1 chẽ, tay trái co lại, ngửa bàn tay để ở eo. Vị tôn này có xuất xứ từ Huyền pháp tự nghi quĩ quyển 1, hoặc do các vị A xà lê đời sau căn cứ vào đoạn nói về 4 chị em thiên nữ trong kinh Lí thú mà thêm vào. Bốn chị em Thiên nữ gồm: Nhã da (Phạm: Jayà), Phì giả da, A nhĩ đa (Phạm: Ajità) và A ba la nhĩ đa (Phạm: Aparàjità). Theo kinh Đại nhật quyển 1 thì Nhã da và Phì giả da là vợ của Nhật thiên. Theo kinh Đà la ni tập quyển 1 thì 4 chị em Thiên nữ là quyến thuộc của trời Đại tự tại. Theo Văn thù sư lợi căn bản nghi quĩ quyển 4 thì 4 chị em Thiên nữ này là quyến thuộc của bồ tát Văn thù,thườngđi khắp cõi đất để cứu độ chúng sinh. [X. phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật Q.5; Lí thú thích Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.5; Thanh long tự nghi quĩ Q.hạ].

phì nị

Một loại cỏ làm tăng dinh dưỡng của sữa bò—A grass or herb said to enrich the milk of cattle. ; (肥膩) I. Phì Nị. Phạm: Piịđì, hoặc Pinodhni. Tên 1 loài cỏ mọc trên núi Tuyết (Hi mã lạp sơn) ở Ấn độ. Tương truyền, nếu bò ăn được loại cỏ này thì sữa của nó thành vị đề hồ. Vì sữa bò được biến chế qua các giai đoạn: Lạc, sinh tô, thục tô rồi đến vị ngon nhất gọi là Đề hồ. Nhà Phật dùng vị đề hồ để ví dụ cho Niết bàn, Phật tính, giáo nghĩa chân thực…... Cứ theo phẩm Như lai tính trong kinh Niết bàn quyển 8 (bản Bắc) thì bò ăn cỏ Phì nị sữa của nó sẽ cho vị đề hồ, ví dụ chúng sinh nhờ giác ngộ tính Phật mà được quả vị Phật. II. Phì Nị. Chỉ cho cuộc sống vật chất rất đầy đủ, dồi dào. Luận Đại tì bà sa quyển 123 (Đại 27, 645 trung) nói: Lúc bấy giờ, người Cận sự nữ nghĩ rằng: Thực phẩm mà Tôn giả dùng rất dồi dào, béo bổ (phì nị) nếu uống nước lạnh có thể bị bệnh.

phí

1) Lãng phí: To waste. 2) Phí tổn: Expense—To spend.

phí công

To waste one's efforts.

phí của

To waste money.

phí lực

To waste one's energy.

phí phạm

See Phí.

phí thỉ địa ngục

(沸屎地獄) Địa ngục phân sôi, tức chỉ cho địa ngục dùng nước phân sôi để trừng trị tội nhân. Tỉ khưu, tỉ khưu ni... làm ô nhiễm giới hạnh, làm bẩn thức ăn uống của cha mẹ mình, làm dơ dáy thức ăn uống của chúng tăng, hoặc những chúng sinh phá 8 trai giới, 4 bộ đệ tử đem thân ô uế ngồi lên giường của chư tăng thanh tịnh, phạm tội Thâu lan giá đã lâu mà không chịu sám hối, mặc bừa ca sa tham dự pháp hội, tiêu hao vật thực của tăng... đều phải đọa vào địa ngục Phí thỉ. Cứ theo kinh Quán Phật tam muội hải quyển 5, địa ngục này có lưới sắt chắn ngang bên trên, rộng 8 vạn do tuần, có 18 thành sắt, mỗi thành sắt có 18 ngăn, mỗi ngăn đều có vách sắt bao quanh, trong đó có trăm nghìn vạn ức cây gươm và vô số trùng sắt, mỗi con trùng sắt có trăm nghìn đầu, mỗi đầu có trăm nghìn con giun, miệng nhả ra phân nóng sôi như nước đồng sôi chảy tràn lan khắp trong thành sắt. Những tội nhân vừa chết, tức thì như gió thổi rơi vào trong phân sôi, bị những con trùng sắt rúc rỉa xương tủy, đau đớn vô cùng. Lúc đói khát thì uống nước phân sôi, chịu các nỗi khổ như thế, chỉ trong khoảng 1 ngày đêm mà như trải qua 90 kiếp sống chết. Vì cứ mỗi lần tội nhân chết đi thì lập tức 1 cơn gió nóng thổi đến làm cho sống lại để tiếp tục chịu các cực hình cho đến khi hết nghiệp mới sinh nơi khác. Nếu được sinh làm người thì sinh vào nhà nghèo hèn và chịu các tai nạn như gặp vua quan độc ác, đói rét, lở loét khắp mình... (xt. Thập Lục Tiểu Địa Ngục).

phí trường phòng

(費長房) Danh tăng Trung quốc sống vào đời Tùy, người Thành đô. Sư học rộng, giỏi văn chương, thông hiểu cả Nho, Phật, Bách gia...Vào thời Bắc Chu, Vũ đế (543-578) phá hủy Phật giáo, sư bị cưỡng bức hoàn tục, tìm nơi ở ẩn. Khi nhà Tùy nổi lên, phục hưng Phật giáo, thiết lập đạo tràng dịch kinh, sư vâng sắc chỉ giữ chức Bút thụ trong dịch trường. Những kinh do sư ghi chép gồm có: Kinh Đại phương đẳng đại tập nhật tạng, do ngài Na liên đề lê da xá dịch, kinh Lực trang nghiêm tam muội; kinh Phật bản hành tập, do ngài Xà na quật đa dịch, kinh Thiện tư đồng tử, kinh Di thức, kinh Quán sát chư pháp hành, kinh Thương chủ thiên chủ sở vấn... Sư nhận thấy mục lục các kinh qua các đời bị tản mạn, thất lạc, năm tháng thì lộn xộn, thiếu sót, nên sư soạn bộ Lịch đại tam bảo kỉ 15 quyển là tư liệu tham khảo quan trọng cho các bộ mục lục kinh điển ở đời Đường. Nhưng trong bộ sách này có nhiều tài liệu được dẫn dụng lầm lẫn, như chuẩn tắc biên soạn Nhập tạng lục, Đại tiểu thừa kinh lục rất thiên vị và sai lạc, bị các bộ Mục lục kinh đời sau phê bình. Hơn nữa, trong sách này, tác giả đã đem quá nửa các kinh điển mà các bộ Kinh lục trước đó, như Xuất tam tạng kí tập, đã xếp vàoloại các kinh điển mất tên người dịch, gán cho các nhà dịch kinh nổi tiếng đời trước, điều này đặc biệt bị các nhà học giả cận đại công kích.Bộ Lịch đại tam bảo kỉ nàyhiệnđược thu vào Đại chính tạng tập 49. [X.truyện Đạt ma cấp đa trong Tục cao tăng truyện Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.12; Khai nguyên thích giáo lục Q.7; Phật thư giải thuyết đại từ điển Phật điển tổng luận đệ nhị bộ đệ nhị chương (Tiểu dã Huyền diệu)]. (xt. Thất Dịch Kinh Điển, Lịch Đại Tam Bảo Kỉ).

phí ẩn thiền sư ngữ lục

(費隱禪師語錄) Ngữ lục, 14 quyển (hoặc 16 quyển), do ngài Phí ẩn Thông dung (1593-1661) thuộc tông Lâm tế soạn vào đời Minh, các vị Ẩn nguyên Long kì... biên tập, được ấn hành vào năm Sùng trinh 16 (1643). Nội dung bao gồm: Thướng đường, Tiểu tham, Nhập thất, Pháp ngữ, Kệ, Thư vấn, Vấn đáp cơ duyên, Niêm cổ, Tụng cổ,Phán cổ,Tán, Tạp trứ, Tiểu Phật sự... Cuối quyển có thêm Kỉ niên lục.

Phí Ẩn Thông Dung

(費隱通容, Hiin Tsūyō, 1593-1661): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Phí Ẩn (費隱), sinh ngày mồng 8 tháng 12 năm thứ 21 niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), xuất thân Huyện Phúc Thanh (福清縣), Mân (閩, Tỉnh Phúc Kiến), họ Hà (何). Năm lên 7 tuổi, ông đã chịu tang cha, đến năm 12 tuổi thì để tang mẹ. Năm 14 tuổi, ông xuất gia tu học với Huệ Sơn (慧山) ở Tam Bảo Tự (三寳寺), sau đó đến tham yết một số cao tăng như Trạm Nhiên Viên Trừng (湛然圓澄), Vô Minh Huệ Kinh (無明慧經) và Vô Dị Nguyên Lai (無異元來). Vào năm thứ 2 (1622) niên hiệu Thiên Khải (天啓), trên đường dự định đi từ Giang Tây (江西) đến Thiên Thai (天台), giữa đường dừng chân tại Hống Sơn (吼山), tham yết Mật Vân Viên Ngộ (密雲圓悟), cơ duyên khế ngộ và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Đến năm thứ 5 (1632) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), ông vào Dục Vương Sơn (育王山), và sau đó chuyển đến sống một số nơi như Hoàng Bá Sơn Vạn Phước Thiền Tự (黃檗山萬福禪寺) ở Huyện Phúc Thanh, Liên Phong Viện (蓮峰院) ở Phủ Kiến Ninh (建寧府, Tỉnh Phúc Kiến), Thiên Ninh Tự (天寧寺) ở Hải Diêm (海塩, Tỉnh Triết Giang), Siêu Quả Tự (超果寺) ở Phủ Tùng Giang (松江府, Tỉnh Giang Tô), Phước Nghiêm Thiền Tự (福嚴禪寺) ở Huyện Sùng Đức (崇德縣, Tỉnh Triết Giang), Kính Sơn Hưng Thánh Vạn Thọ Thiền Tự (徑山興聖萬壽寺) ở Phủ Hàng Châu (杭州府, Tỉnh Triết Giang), Duy Ma Tự (維摩寺), và Nghiêu Phong Sơn Hưng Phước Viện (堯峰山興福院), v.v. Vào ngày 29 tháng 3 năm thứ 18 niên hiệu Thuận Trị (順治), ông thị tịch, hưởng thọ 69 tuổi đời và 56 hạ lạp. Ông soạn các bộ Ngũ Đăng Nghiêm Thống (五燈嚴統) 25 quyển, Ngũ Đăng Nghiêm Thống Giải Hoặc Biên (五燈嚴統解惑編) 1 quyển, Tổ Đình Kiềm Chùy Lục (祖庭鉗鎚錄) 2 quyển, Bát Nhã Tâm Kinh Trác Luân Giải (般若心經斲輪解), Ngư Tiều Tập (漁樵集). Môn nhân Hoàng Bá Ẩn Nguyên (黃檗隱元) biên tập bộ Phí Ẩn Thiền Sư Ngữ Lục (費隱禪師語錄) 14 quyển, Cư Sĩ Vương Cốc (王谷) soạn bản Phước Nghiêm Phí Ẩn Dung Thiền Sư Kỷ Niên Lục (福嚴費隱容禪師紀年錄), Thủy Giám Huệ Hải (水鑑慧海) soạn cuốn Phí Ẩn Dung Hòa Thượng Hành Trạng (費隱容和尚行狀).

phía

Side—Direction.

phích

1) Lánh xa: To avoid. 2) Ngôi vua: Throne. 3) Quốc vương: Lord—King. 4) Vương quốc: Sovereign.

phích chi ca

Pratyeka (skt)—Một mình—Each one—Individual—Oneself only.

phích chi ca phật đà

See Chi Phật.

phích chi phật thừa

See Bích Chi Phật Thừa.

phích lôi

To rend as thunder—To thunder.

phích lịch hỏa

Lửa sấm sét—A thunder fire.

phích quỷ

Diệt quỷ—To suppress demons.

phích trừ

Loại bỏ—To get rid of—To suppress.

phò tá

To support—To help.

phòng

1) Phòng ốc: Room—Ward—House. 2) Phòng ốc của chư Tăng Ni trong tự viện: The rooms for monks and nuns in a monastery or nunnery. 3) Đề phòng: To prevent—To ward off—To protect—To beware—To counter.

phòng dung

(房融) Danh sĩ Trung quốc, sống vào đời Đường, người Lạc dương. Ông là người học rộng nghe nhiều, có học vị Tiến sĩ, làm quan đến chức Chính gián đại phu đồng phượng các loan đài bình chương sự. Đời vua Trung tông, ông mắc lỗi và bị đày đi Cao châu (Mậu danh, Quảng đông), sau ông qua đời tại đó. Tương truyền, trên đường lưu đày, khi tới Quảng châu, tình cờ ông gặp sa môn Bát lạt mật đế, người Thiên trúc, đang dịch kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm, ông liền làm bút thụ. [X. Đường thi kỉ sự Q.13; Toàn đường thi Q.4].

phòng hộ luật nghi

(防護律儀) Phòng vệ, giữ gìn các luật nghi. Tức sau khi thụ giới, thuậntheo giới thể mà thụ trì giới tướng. Về sau, nhờ vào sức tăng thượng của 5 căn(tín, tiến, niệm, định, tuệ), xa lìa tâm sởTư ác và chủng tử cùng hiện hành nên không tạo tội. Theo luận Đại tì bà sa quyển 123 thì giới không uống rượu có khả năng phòng vệ được các luật nghi khác, cũng như hào lũy thành quách có thể phòng ngự kẻ địch xâm phạm. Luận Du già sư địa quyển 53 (Đại 30, 590 trung) nói: Chính lúc nhiếp thụ giới viễn li, gọi là Nhiếp thụ luật nghi. Từ đó về sau, tâm sở Tư viễn li này, nhờ sức tăng thượng của 5 căn nhiếp thụ mà thường xuyên sinh khởi chung với chủng tử và hiện hành; tức là tâm sở Tư thiện được 5 căn nhiếp thụ, như luật nghi đã thụ trước, phòng hộ mà chuyển. Nhờ tâm sở Tư này mà dù có gần gũi bạn xấu, hoặc muốn làm ác, liền xấu hổ ngay và xa lìa tức khắc, không để mình tái phạm những giới luật đã thụ. Như thế gọi là Phòng hộ luật nghi. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.10]. (xt. Giới).

phòng la

Cai ngục hay tuần tra nơi địa ngục—Warders or patrols in Hades. ; (防羅) Cũng gọi Phỏng la. Chỉ cho việc đi tuần tra trong địa ngục. Luận Thuận chính lí quyển 54 (Đại 29, 643 hạ) nói: Tham dục, sân khuể giống như cai ngục, (...) ba món thân kiến, biên kiến... như kẻ tuần tra(phòng la). [X. luận Câu xá Q.21; Huyền ứng âm nghĩa Q.18].

phòng na

Vana (skt)—May hay dệt—Weaving or sewing.

phòng nan

Giải quyết những khó khăn—To counter or solve difficulties, especially difficult questions.

phòng ngừa

To ward off—To prevent.

phòng sơn

(房山) Cũng gọi Thạch kinh sơn. Núi ở huyện Phòng sơn, tỉnh Hà bắc, cách Bắc bình khoảng 40 cây số về mạn tây nam. Đây là nơi có Thạch kinh qui mô lớn nhất hiện còn ở Trung quốc. Vì sợ kinh Phật bị hủy diệt, thất truyền, nên sa môn Tĩnh uyển (có thuyết nói là Trí uyển) đời Tùy đã thệ nguyện khắc những quyển kinh trên những tấm bia đá, hoặc trên vách các hang động trong núi để bảo tồn lâu dài. Cho nên, vào niên hiệu Đại nghiệp năm đầu (605) đời Tùy, ngài Tĩnh uyển bắt đầu mở đục các hang động ở chân núi Phòng sơn, rồi khắc văn kinh trên 4 vách của các hang động. Bấy giờ, ngài Tĩnh uyển tạo lập 7 động: Hoa nghiêm, Niết bàn, Bát nhã, Bảo tích... Ngoài ra, còn 1 bộ phận Thạch kinh(bằng những tấm bia đá) được chôn ở dưới tháp Áp kinh tại chùa Vân cư dưới núi. Về sau, trải qua các triều đại Đường, Ngũ đại, Liêu... Thạch kinh vẫn tiếp tục được khắc tạo, mãi đến năm Đại an thứ 10 (1094) đời Liêu là 480 năm, sự nghiệp khắc kinh đá mới hoàn thành. Hiện nay còn 9 động. Theo thống kê, bây giờ ở núi Phòng sơn còn tất cả hơn 4.000 bản kinh đá, khắc tới vài nghìn quyển kinh Phật, mỗi bản dài khoảng 2m và rộng 18cm. Còn số kinh ở dưới tháp Áp kinh thì có 7, 8 nghìn bản, nhưng kích thước đều nhỏ hơn.Thạch kinh đào được ở Phòng sơn không những chỉ được dùng để hiệu đính những chỗ sai sót trong các bản kinh Phật ấn loát mà còn trở thành tư liệu quí giá của lịch sửthư pháp và nghệ thuật. Ngoài ra, trên những tấm bia có ghi thêm về tổ chức và hành nghiệp của những người phụ trách khắc kinh cũng là sử liệu quan trọng để nghiên cứu về nên kinh tế của Trung quốc cổ đại. (xt. Thạch Kinh Sơn Tàng Kinh).

phòng thân

To defend oneself.

phòng túc

Kapphina (skt)—See Kiếp Tân Na.

phòng xa

To anticipate—To foresee.

phòng xá kiền độ

(房舍犍度) Pàli: Senàsana-khandaka. Cũng gọi Ngọa cụ pháp. Chương nói về sự tạo lập phòng xá, ngọa cụ của Tăng đoàn và các qui định về mặt trang thiết bị cho phòng xá... là chương thứ 19 trong luật Tứ phần.

phòng đọc kinh

Khán Kinh Đường—Sutra Reading Hall.

phó

1) Chức phụ tá: Vice—Deputy—Second. 2) Giao phó: To hand over—To hand down—To deliver. 3) Phụ: To aid—To assist.

Phó chúc

付囑; C: fùzhǔ; J: fuzoku;|Có các nghĩa sau: 1.Nhắm đến một người nào đó, và có sự thỉnh cầu ở họ điều gì; 2. Giao phó, đề nghị, giao cho (nhiệm vụ, trách nhiệm). Trong đạo Phật thì Phó chúc có nghĩa là sự giao phó trọng trách truyền bá giáo pháp của đức Phật (cho đệ tử).

phó chúc

Phó thác hay giao phó (đem vật trao gọi là phó, đem việc trao gọi là chúc): 1) Phó: To deliver (things). 2) Chúc: To entrust to (work). ; (付屬) Cũng gọi Phụ chúc, Chúc lụy. Phó là cấp cho, trao cho; Chúc là gửi gắm, phó thác, dặn dò lại. Từ ngữ này phần nhiều biểu thị ý nghĩa đức Phật phó thác việc hoằng truyền giáo pháp. Chẳng hạn như kinh Vô lượng thọ quyển hạ nói, đức Thế tôn phó chúc bồ tát Di lặc hoằng truyền bản nguyện niệm Phật(Di lặc phó chúc). Phẩm Như lai thần lực trong kinh Pháp hoa cũng ghi, đức Thế tôn phó chúc 5 chữ trọng yếu nhất là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh cho các Bản hóa bồ tát, đứng đầu là bồ tát Thượng hành. Do đó, tông Nhật liên của Nhật bản cho rằng sự phó chúc kinh Pháp hoa(đề mục) là yếu pháp đặc biệt đối với chúng sinh tối hạ đẳng trong thời đại mạt pháp, đặc biệt chọn các Bồ tát bản hóa để phó thác, vì thế gọi là Biệt phó chúc. Còn trong phẩm Chúc lụy kinh Pháp hoa, đức Phật trao phó kinh này cho tất cả các vị Bồ tát thì gọi là Tổng phó chúc. Lại nữa, trong phẩm Thần lực đức Phật Thích ca cùng ngồi với đức Phật Đa bảo trong tháp Đa bảo mà phó chúc, cho nên gọi là Tháp nội phó chúc; còn ở phẩm Chúc lụy thì khi Phật Thích ca ra khỏi tháp Đa bảo mới phó chúc, nên gọi là Tháp ngoại phó chúc. Ngoài ra, trao cho ca sa, bình bát..., hoặc phó thác đại pháp cũng gọi là Phó chúc. Trong Thiền tông, khi thầy truyền trao ý nghĩa sâu xa của Phật pháp cho đệ tử đều gọi là Phó chúc, bởi thế Thiền tông rất thường dùng từ ngữ này. [X. Lục tổ Pháp bảo đàn kinh; Lịch đại tam bảo kí].

phó chúc nhất niệm

(付屬一念) Nhất niệm, chỉ cho 1 niệm tu hành, tức là 1 tiếng xưng danh niệm Phật. Phó chúc nhất niệm nghĩa là dặn dò phó thác pháp môn xưng danh niệm Phật. Cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển hạ thì đức Thế tôn Thích ca từng ân cần phó chúc danh hiệu Di đà cho bồ tát Di lặc. Ngài dạy bồ tát Di lặc rằng một niệm xưng danh có công đức lợi ích lớn lao vô thượng, nên phải mãi mãi lưu truyền pháp môn này.

phó cơ

Thuyết pháp theo căn cơ của chúng sanh (như hốt thuốc theo bệnh)—To go or to preach according to the need or opportunity. ; (赴機) Đồng nghĩa: Ứng bệnh dữdược(tùy theo chứngbệnh mà cho thuốc). Tùy theo căn cơ của chúng sinh mà nói pháp. Phiếu mạo trùm đầu Phiếu mạo quàng cổ Tông kính lục quyển 30 (Đại 48, 590 hạ) nói: Thế nào là ngồi đạo tràng? Đó là hiện 4 thứ thành Phật, tùy cơ(phó cơ)không sai khác.

phó hoả ngoại đạo

(赴火外道) Ngoại đạo nhảy vào lửa, 1 trong các ngoại đạo khổ hạnh ở Ấn độ đời xưa. Phái ngoại đạo này thường ngồi hơ lửa và xông khói vào mũi, nhẫn chịu sự nóng rát khổ não, hoặc nhảy vào lửa mà chết. Họ chấp mê rằng sự hành hạ thân thể như vậy là cái nhân để được quả báo sinh lên thiên đường! (xt. Khổ Hạnh Ngoại Đạo).

phó hấp

(傅翕) (497-569) Cũng gọi Thiện tuệ đại sĩ, Ngư hành đại sĩ, Phó đại sĩ, Song lâm đại sĩ, Đông dương đại sĩ, Ô thương cư sĩ. Cư sĩ Trung quốc, sống vào đời Lương thuộc Nam triều, người Ô thương, Đông dương (nay là Nghĩa ô, Chiết giang), tự Huyền phong, hiệu Thiện tuệ, cùng với ngài Bảo chí được tôn xưng là 2 vị Đại sĩ đời Lương. Khi chưa biết đạo, cư sĩ thường cùng với người trong làng đi bắt cá, mỗi khi được cá thì đựng vào cái lồng tre rồi dìm sâu xuống nước và nói: Con nào muốn đi thì đi, không muốn thì ở lại. Người đời cho cư sĩ là ngu. Năm 16 tuổi, cư sĩ cưới người con gái họ Lưu tên Diệu quang, sinh được 2 con là Phổ kiến và Phổ thành. Năm 24 tuổi, lúc đang lưới cá ở sông Nghi, cư sĩ gặp vị tăng Ấn độ Tung đầu đà (tên là Đạt ma), liền bỏ dụng cụ bắt cá, vào núi Tùng ở huyện Ô thương kết am dưới 2 cây đào, lấy hiệu là Song lâm thụ hạ đương lai giải thoát Thiện tuệ đại sĩ(Đại sĩ Thiện tuệ sau này sẽ được giải thoát dưới gốc hai cây đào), tự cho là từ cung trời Đâu suất đến thuyết pháp. Ban ngày cư sĩ làm việc, ban đêm hành đạo, khổ hạnh 7 năm, tự chứng được định Thủ lăng nghiêm. Cư sĩ thông suốt sách vở Nho giáo và Đạo giáo, học trò dần dần tụ tập, tất cả đều chí thành tinh tiến, không tiếc thân mệnh. Năm Đại thông thứ 6 (534) đời Lương, cư sĩ sai đệ tử là Phó vãng dâng thư lên vua Vũ đế hiến kế sách về 3 việc thiện thượng, trung, hạ. Tháng 12 nhuận, vua mời cư sĩ vào cung, giảng kinh ở điện Trùng vân, vua đích thân đến nghe. Lúc vua đến, mọi người đều đứng dậy, chỉ mình cư sĩ ngồi yên, các quan gạn hỏi, cư sĩ nói: Đất pháp nếu động thì tất cả đều bất an. Chuyện này về sau truyền thành giai thoại trong Thiền lâm. Tháng 4 niên hiệu Đại đồng năm đầu (535), cư sĩ trở lại núi Tùng. Năm Đại đồng thứ 5 (540), cư sĩ lại đến Chung sơn, bàn luận về chân đế với vua ở điện Thọ quang, làm kệ tụng trình vua. Năm Đại đồng thứ 6 (541, có thuyết nói năm thứ 5), cư sĩ xây điện Phật ở giữa khoảng 2 cây đào tại núi Tùng và tháp gạch 9 tầng, đồng thời viết hơn 1.000 quyển kinh và luật. Nơi này sau trở thành chùa Song lâm. Năm Đại đồng thứ 7 (542), cư sĩ tự tuyên bố mình là 1 trong 1.000 vị Phật kiếp Hiền. Năm Đại đồng thứ 10 (545), cư sĩ xả bỏ vườn ruộng, nhà cửa, mở hội Đại thí. Năm Thái thanh thứ 2 (549), cư sĩ muốn thiêu thân cúng dường Tam bảo, các đệ tử kiên quyết ngăn cản và có 19 người phát nguyện thiêu thân thay thế. Đồ chúng tại gia rất đông, cư sĩ giảng pháp không ngừng, thường hướng dẫn đồ chúng đốt ngón tay cúng Phật; từng thiết trai chuyển 21 biến kinh Pháp hoa, mở hội Vô già, đúc 10 pho tượng Bảo vương ở Cối kê. Để tiện cho việc đọc Đại tạng kinh, cư sĩ thiết lập Luân tạng khiến mọi người cùng xoay để đạt lợi ích lớn, cho nên đời sau làm Luân tạng đều để tượng 3 cha con cư sĩ. Ngoài ra, đối với pháp môn Nhất tâm tam quán của tông Thiên thai, cư sĩ có sự lãnh hội độc đáo, dùng Tam quán Tứ vận làm tâm yếu, đề xướng thuyết Tam quán nhất tâm tứ vận suy kiểm. Tháng 4 niên hiệu Thái kiến năm đầu (569) đời Trần, cư sĩ cho triệu tập đệ tử lại, răn dạy xong, cáo biệt và ngồi xếp bằng thị tịch, thọ 73 tuổi. Đệ tử an táng trên đỉnh núi Song lâm, hiệu Di Lặc Hạ Sinh. Cư sĩ có các tác phẩm: Tâm vương minh, Ngữ lục 4 quyển,Hoàn nguyên thi... [X. Thiện tuệ Đại sĩ ngữ lục; Tục cao tăng truyện Q.25; Cảnh đức truyền đăng Q.27, 30; Thần tăng truyện Q.4].

phó hỏa ngoại đạo

Một trong lục ngoại đạo khổ hạnh. Nhóm nầy nhẩy vào lửa để tự thiêu sống (cho rằng đây là nhân chứng đắc đạo quả)—Ascetics who burn themselves alive, one of the six kinds of heterodox setcs.

phó liêu

Vị phó trụ trì trong tự viện—Deputy in a monastery.

phó pháp

(付法) Cũng gọi Phụ pháp, Phó y, Truyền y, Truyền pháp. Chọn người trao truyền giáo pháp để giáo pháp được gìn giữ và tiếp nối mãi mãi. Theo thứ tự truyền trao giáo pháp cho người, gọi là Phó pháp tương thừa. Phật giáo không chấp nhận sự độc đoán của cá nhân, cho nên từ thời đức Thế tôn đến nay vẫn rất coi trọng việc tương thừa chính pháp. Các tông cũng đều có thuyết phó pháp tương thừa của mình, nhất là Thiền tông và Mật tông đặc biệt xem trọng. Lúc phó pháp, cần có biểu tượng làm tin, nên thường truyền trao áo và bát, do đó, còn gọi là Phó pháp truyền y. [X. Truyền pháp chính tông kí Q.1; Chính pháp nhãn tạng Q.13; Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.2; Cảnh đức truyền đăng lục Q.3]. (xt.Truyền Pháp).

phó pháp bát tổ

(付法八祖) Đối lại: Truyền trì bát tổ. Chỉ cho 8 vị Tổ sư của tông Chân ngôn Nhật bản theo thứ tự đem giáo pháp trao phó cho nhau. Tám vị Tổ sư là: Đức Đại nhật Như lai, bồ tát Kim cương tát đỏa, tổ Long mãnh, Long trí, Kim cương trí, Bất không, Huệ quả và Không hải. (xt. Truyền Trì Bát Tổ).

phó pháp tạng

Sau khi Đức Phật nhập diệt, thì tôn giả Ma Ha Ca Diếp đã cùng với 24 vị trưởng lão khác kết tập pháp tạng—The work explaining the handing down of Sakyamuni's teaching by Mahakasyapa and the elders, twenty-four in number. ; (付法藏) Chỉ cho sự phó chúc, truyền trao tạng chính pháp của đức Phật. Sau khi đức Phật nhập diệt, để duy trì và truyền nốilí nghĩa sâu xa mà đức Phật đã chỉ dạy, nên tôn giả Ca diếp kết tập pháp tạng, sau khi thụ trì 20 năm, tôn giả Ca diếp phó chúc cho ngài A nan, ngài A nan lại phó chúc cho ngài Thương na hòa tu, cứ thế lần lượt đến tôn giả Sư tử... (xt. Phó Pháp Tạng Nhân Duyên Truyện).

phó pháp tạng nhân duyên truyện

(付法藏因緣傳) Cũng gọi Phó pháp tạng nhân duyên kinh, Phó pháp tạng truyện, Phó pháp tạng kinh, Phó pháp truyện. Sử truyện, 6 quyển, do các ngài Cát ca dạ và Đàm diệu cùng dịch vào đời Nguyên Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 50. Nội dung nói về sự tích phó pháp và thế hệ truyền thừa của 23 vị Tổ sư Ấn độ sau khi đức Phật nhập diệt, từ ngài Ca diếp, A nan... cho đến vị Tổ sư cuối cùng là tôn giả Sư tử. Tôn giả Sư tử bị vua nước Kế tân là Di la quật giết hại, sự phó pháp đến đây bị dứt hẳn. Xưa nay, tông Thiên thai và Thiền tông đều quí trọng bộ truyện này, coi đó là khuôn phép của sự phó pháp tương thừa. Trong 24 vị Tổ Ấn độ nói trong Ma ha chỉ quán của ngài Trí khải thì 23 vị là căn cứ vào sách này, rồi thêm ngài Ma điền đề vào thành 24 vị. Cảnh đức truyền đăng lục của ngài Đạo nguyên cũng theo sự truyền thừa của 23 vị Tổ trong sách này, rồi thêm vào 5 vị: Bà tu mật, Bà xá tư đa, Bất như mật đa, Bát nhã đa la và Bồ đề đạt ma mà trở thành 28 vị Tổ phó pháp Ấn độ của Thiền môn. Nhưng nội dung bộ truyện Phó pháp tạng nhân duyên này có nhiều chỗ giống với truyện A dục vương, có vẻ như đã không được phiên dịch từ bản tiếng Phạm mà là do khẩu truyền, hoặc tham chiếu truyện A dục vương mà soạn thành. Đại sư Minh giáo Khế tung đời Tống căn cứ vào thuyết trong Thiền kinh và Bảo lâm truyện, cho rằng sách này do ngài Đàm diệu ngụy tạo, rồi ngài Khế tung soạn Truyền pháp chính tông kí 9 quyển và Truyền pháp chính tông định tổ đồ 1 quyển, xác định lại 28 vị Tổ phó pháp Ấn độ, đồng thời, tuyên bố bộ truyện Phó pháp tạng nhân duyên đáng đem phó cho ngọn lửa! [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Đại đường nội điển lục Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.5, 6, 13].

phó thỉnh

Đáp lại lời mời của thí chủ mà phó hội—To go in response to an invitation—To go to invite. ; (赴請) Cũng gọi Thụ thỉnh, Thụ trai. Nhận lời mời. Nghĩa là chư tăng nhận lời thỉnh của thí chủ mà lãnh thụ những thứ họ cúng dường, như trai phạn chẳng hạn.Thiên Phó thỉnh thiết tắc trong Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển hạ, có nói về qui tắc phó thỉnh và nêu ra 10 pháp: Pháp nhận lời thỉnh, pháp đi đến nơi thỉnh, pháp đến nhà người thỉnh, pháp xếp đặt khách vào chỗ ngồi, pháp quán tịnh thực, pháp niệm hương chú nguyện, pháp lãnh nhận thức ăn, pháp ăn xong thu dọn, pháp nhận vật bố thí và pháp rời khỏi nhà người thỉnh. Trong đó, pháp nhận lời thỉnh được chia làm 2: Biệt thỉnh(mời riêng 1 vị nào đó trong chúng tăng) và Tăng thứ thỉnh(mời chúng tăng cùng đến). [X. Đại tống tăng sử lược Q.thượng; mục Phó thỉnh trong Thích thị yếu lãm Q.thượng; Thụ thỉnh bộ trong Chư kinh yếu tập Q.5].

phó tài

(付財) Giao phó tài sản cho. Nghĩa là trên hội Bát nhã, đức Phật gia bị cho ngài Tu bồ đề –vốn là Thanh văn Tiểu thừa– nói kinh Bát nhã cho hàng Bồ tát Đại thừa nghe, cũng như đem pháp tài Đại thừa giao phó cho Thanh văn Tiểu thừa, vì thế gọi là Phó tài. Từ ngữ phó tài lấy ý trong phẩm Tín giải kinh Pháp hoa, tức nhờ sự chuyển giáo của Thanh văn để nêu tỏ thâm ý của đức Phật là đem pháp tài Đại thừa giao phó cho hàng Thanh văn Tiểu thừa, cũng giống như vị Trưởng giả đem gia tài ủy thác cho đứa con nghèo cùng trong phẩm Tín giải vậy.[X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng]. (xt. Chuyển Giáo Dung Thông).

phó y hoà thượng

(付衣和尚) Vị Hòa thượng Giới sư trao áo pháp Ca sa cho người nhận giới. Nếu vị Giới sư trao tọa cụ thì gọi là Phó cụ hòa thượng.

phó đa

Bhutah (skt)—Một phái khổ hạnh lúc nào cũng bôi tro đầy mình—A sect of asetics who smeared themselves with ashes.

phó đại sĩ giảng kinh

(傅大士講經) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này thuật lại việc vua Vũ đế nhà Lương thỉnh Phó đại sĩ (ngài Thiện tuệ Phó hấp) giảng kinh. Bích nham lục tắc 67 (Đại 48, 197 thượng) nói: Lương vũ đế thỉnh Phó đại sĩ giảng kinh Kim cương, Đại sĩ liền ngồi lên tòa vỗ bàn một cái rồi đi xuống. Vua Vũ đế ngạc nhiên. Ngài Chí công hỏi: Bệ hạ có hiểu không? Vua đáp: Không hiểu! Ngài Chí công nói: Đại sĩ giảng kinh xong rồi.

phó đại sĩ lục

(傅大士錄) Cũng gọi Thiện tuệ đại sĩ ngữ lục, Thiện tuệ đại sĩ lục, Đại sĩ lục. Ngữ lục, 4 quyển, do ngài Thiện tuệ Phó hấp (497-569) soạn thuật vào đời Lương thuộc Nam triều, được thu vào Vạn tục tạng tập 120. Nội dung sách này thu chép các yếu ngữ, hành trạng và thi ca của Thiện tuệ đại sĩ Phó hấp, đồng thời chép cả truyện kí của 1 số người đến hỏi đạo nơi Đại sĩ, do ông Lâu dĩnh biên tập vào đời Đường, nguyên có 8 quyển, nhưng văn rườm rà, lộn xộn, tiếng dùng quê mùa. Bởi thế, vào năm Thiệu hưng 13 (1143) đời Tống, quan An phủ sứ Đông lộ Lưỡng chiết là Lâu chiểu mới lược bỏ những chỗ dài dòng, lầm lẫn mà san định lại còn 4 quyển.

phó ứng tự

(赴應寺) Chỉ cho những ngôi chùa chuyên về việc cử hành các nghi thức đàn tràng theo Du già hiển mật để đáp ứng nhu cầu của thế tục.Ở Trung quốc, vào đời Nguyên, các chùa Phật giáo được chia làm 3 loại: Thiền tự, Giảng tự và Luật tự. Đến năm Hồng vũ 15 (1382) đời Minh, vua ban sắc đổi lại là: Thiền tự, Giảng tự và Giáo tự.Trong đó, Giáo tự tức là Phó ứng tự.

phóng

1) Thả: To let go—To release. 2) Phóng đi: To send out.

Phóng diệm khẩu

放焰口; C: fàngyànkǒu; nghĩa là »Phóng thả những miệng đang cháy«;|Một nghi lễ dành cho người đã chết. Diệm khẩu là một loại Ngạ quỷ. Buổi lễ này – vốn bắt nguồn từ hệ thống Tan-tra của Mật tông – được thực hành với mục đích giải thoát những con quỷ đói ra khỏi những cảnh khổ đau của địa ngục và tạo điều kiện cho chúng tái sinh trở thành người hoặc bước vào những Tịnh độ. Lễ này rất được ưa chuộng và phổ biến, được các thân quyến của những người chết tổ chức thực hiện và cũng có khi được thực hiện chung với lễ Vu-lan-bồn (s: ullambana). Ngày nay, buổi lễ này không thuộc vào một trường phái nhất định nào của Phật giáo.|Lễ Phóng diệm khẩu kéo dài khoảng 5 tiếng và được thực hiện vào buổi tối bởi vì trong thời gian này, quỷ đói dễ di chuyển kiếm ăn hơn. Các vị tăng thực hiện nghi lễ này đều mang mũ đỏ hoặc vàng dưới dạng một vương miện, sử dụng những khí cụ thuộc Mật giáo như chuông, Kim cương chử (s: vajra) và kêu gọi Tam bảo hỗ trợ. Sau đó, các vị mở cửa địa ngục bằng những thủ ấn, khế Ấn, mở những »miệng đang cháy« và rót nước dịu ngọt vào, một loại nước trước đó được ban phép lành bằng những Man-tra. Ngay sau đó thì những Diệm khẩu này Quy y tam bảo, Thụ giới Bồ Tát. Nếu buổi lễ này được thực hiện nghiêm chỉnh với kết quả tốt thì những quỷ đói có thể lập tức tái sinh vào cõi người hoặc một tịnh độ.|Lễ này còn được thực hiện đến ngày nay tại các nước Ðông, Ðông nam á, đặc biệt là tại Ðài Loan (taiwan) và Hương Cảng (hongkong). Theo truyền thuyết thì lễ này bắt nguồn từ Tôn giả A-nan-đà. Sau khi nằm chiêm bao thấy những Diệm khẩu, Tôn giả sợ hãi. Ðể ngăn ngừa khả năng tái sinh thành loài quỷ đói này, Tôn giả bèn tham vấn đức Phật và Ngài liền đọc chú Ðà-la-ni (s: dhāraṇī) để cứu giúp chúng.

phóng dật

buông thả, phóng túng, lười nhác, không giữ mình theo các pháp lành, cũng không có sự tinh tấn nỗ lực tu tập. ; Pamado (p). 1) Uể oải: Sloth. 2) Không chú ý: Carelessness—Distracted—Loose—Unrestrained. ; (放逸) Phạm: Pramàda. Gọi tắt: Dật. Đối lại: Bất phóng dật. Chỉ cho tâm tính buông thả, phóng túng chạy theo dục vọng, không chịu siêng năng tu tập các pháp lành, là 1 trong 75 pháp của luận Câu xá, 1 trong 100 pháp của luận Duy thức. Tông Câu xá cho rằng Phóng dật là 1 loại tâm sở tương ứng với tất cả tâm ô nhiễm (tâm bất thiện và tâm hữu phú vô kí)mà sinh khởi, thuộc về Đại phiền não địa pháp. Còn tông Duy thức thì cho rằng tâm sở này thuộc 8 Đại tùy hoặc(phiền não). [X. luận Thành duy thức Q.6; luận Thuận chính lí Q.11; luận Phẩm loại túc Q.3; luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng]. (xt. Đại Tùy Phiền Não).

phóng hào quang

To emit rays of light.

phóng hạ

Buông bỏ—To put down—To let down—To lay down. ; (放下) I. Phóng Há. Cũng gọi Phóng há trứ(trứ là trợ từ). Tiếng dùng trong Thiền lâm. Buông bỏ hết những vật đang nắm giữ trong tay. Tức là xả lìa tất cả tà niệm, vọng chấp, hoàn toàn không còn vướng mắc, để đạt đến cảnh giới tự tại, giải thoát. [X. Thị tằng đãi chế trong Viên ngộ tâm yếu Q.thượng; Thung dung lục tắc 75]. II. Phóng Há. Cũng gọi Phóng há tăng, Phóng há khiển, Phóng há sư. Chỉ cho các vị tăng Nhật bản ở thời đại Liêm thương, Thất đinh lấy việc ca xướng, nhảy múa hoặc các trò vui chơi để xin ăn. Vì họ bất chấp, không để bị gò bó bởi bất cứ cái gì nên gọi họ là Phóng há. Ngoài ra, từ ngữ này cũng được dùng để chỉ hàng người xuất gia, nhưng có điều gì bất đắc chí mà xả bỏ Phật đạo để làm nghề xướng ca...

phóng hạ đồ đao lập địa thành phật

(放下屠刀立地成佛) Buông con dao đồ tể xuống, đứng ngay đó mà thành Phật. Phật là bậc Đại thiện. Chữ Phật được dùng ở đây là để chỉ cho tâm thiện, hoặc người tốt. Ý nói người làm ác chỉ cần quyết tâm bỏ ác hướng thiện là lập tức trở thành người tốt. Thiện tâm của người này không khác gì thiện tâm của Phật.

phóng khoáng

Freely.

phóng quang

Tỏa ra ánh sáng—Light-emitting—To emit shining light—To send out an illuminating ray—To discharge halo—To demonstrate the halo form the body (usually the Buddha's body).

phóng quang bát nhã kinh

(放光般若經) Phạm: Paĩcaviôzatisàhasrikàprajĩàpàramità. Cũng gọi Phóng quang bát nhã ba la mật kinh, Phóng quang ma ha bát nhã kinh, Ma ha bát nhã phóng quang kinh, Quang bát nhã ba la mật kinh, Phóng quang kinh. Kinh, 20 quyển, hoặc 30 quyển, do các ngài Vô la xoa (Vô xoa la) và Trúc thúc lan cùng dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 8. Nội dung kinh gồm 90 phẩm nói về pháp Bát nhã ba la mật và công đức của pháp này, đồng thời, khuyên chúng sinh Nên tu học pháp Bát nhã. Cứ theo Phóng quang kinh kí (không rõ tác giả)trong Xuất tam tạng kí tập quyển 7, khoảng năm Cam lộ thứ 5 (260) đời Tề vương nhà Tào Ngụy, ngài Chu sĩ hành từ Dĩnh xuyên đến nước Vu điền sao chép được bản tiếng Phạm của kinh này gồm 96 chương hơn 60 vạn chữ. Sau đó, ngài Chu sĩ hành giao cho đệ tử là Phất như đàn đưa về Lạc dương. Đến niên hiệu Nguyên khang năm đầu (291) đời Huệ đế nhà Tấn, mới do các ngài Vô la xoa(vị tăng người Vu điền) và Trúc thúc lan dịch sang chữ Hán. Giữa kinh này và các kinh: Quang tán, 10 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch, Ma ha bát nhã ba la mật (Đại phẩm bát nhã), do ngài Cưu ma la thập dịch và Đệ nhị hội (quyển 401-478) kinh Đại bát nhã ba la mật đa, do ngài Huyền trang dịch, có nhiều chỗ giống nhau và tương đương với Hai vạn năm nghìn bài tụng Bát nhã bằng tiếng Phạm hiện còn. [X. bài Tựa trong Đệ nhị hội kinh Đại bát nhã; Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.6; Khai nguyên thích giáo lục Q.2].

phóng quang quán đảnh

Buddha reveals his glory to someone to his profit.

phóng quang tam muội

Một trong 108 loại tam muội, tam muội phóng ra ánh hào quang nhiều màu sắc—A samadhi in which all kinds and colours of light are emitted, one of the one hundred eight kinds of samadhi. ; (放光三昧) Bồ tát chứng được Tam muội này, có sức thần thông, phóng ra ánh sáng, chiếu soi các Tam muội khác đều rõ ràng. Một trong 108 Tam muội. Luận Đại trí độ quyển 47 (Đại 25, 399 trung) nói: Phóng quang tam muội, do thường tu định Hỏa biến xứ, sinh ra thần thông, tùy ý phóng ánh sáng, tùy chỗ chúng sinh ưa thích mà các ánh sáng hoặc nóng hoặc lạnh, hay không nóng không lạnh. Ánh sáng chiếu rọi các Tam muội có 2 loại: Ánh sáng màu sắc và ánh sáng trí tuệ. Trụ trong Tam muội này thường hay chiếu soi khắp các Tam muội, không còn tà kiến, vô minh. (xt. Bách Bát Tam Muội).

phóng quang đoan

Tia hào quang kiết tường được phóng ra giữa hai chân mày của Phật trước khi Ngài thuyết giảng Kinh Pháp Hoa—The auspicious ray emitted from between the eyebrows of the Buddha before pronouncing the Lotus Sutra.

Phóng sanh

(放生): Phóng Sanh là một hành vi có tâm thương yêu, nhân từ, biết thông cảm cho nỗi khổ bị giam cầm, bắt bớ của các loài động vật; có nghĩa là nhìn thấy các loại chúng sinh có mạng sống đang bị bắt nhốt, giam cầm, sắp sửa bị giết hại, kinh hoàng lúng túng, mạng sống trong phút giây nguy ngập, liền phát lòng từ bi tìm cách cứu chuộc. Như vậy tức là hành vi giải thoát, phóng thích, cứu lấy mạng sống của sinh vật khác. Nguyên lai, Trung Quốc đã có quan niệm truyền thống cho rằng Trời có đức háo sinh (muốn sống, ham sống). Lập cước trên tinh thần từ bi, cứu nhân độ thế, Phật Giáo lại càng nêu cao và tôn trọng tinh thần Phóng Sanh. Trong Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 13 có nhấn mạnh rằng: “Chư dư tội trung, sát tội tối trọng; chư công đức trung, bất sát đệ nhất (諸餘罪中、殺罪最重、諸功德中、不殺第一, trong các tội lỗi, tội giết là nặng nhất; trong các công đức, không giết là số một).” Cho nên, không sát sanh cũng như Phóng Sanh là phương pháp hữu hiệu để nuôi dưỡng và làm tăng trưởng tâm từ bi. Phạm Võng Kinh (梵網經, Taishō Vol. 24, No. 1484) quyển 2 nhấn mạnh rằng: “Nhược Phật tử, dĩ từ tâm cố hành phóng sanh nghiệp, nhất thiết nam tử thị ngã phụ, nhất thiết nữ nhân thị ngã mẫu; ngã sanh sanh vô bất tùng chi thọ sanh; cố Lục Đạo chúng sanh giai thị ngã ngã phụ mẫu, nhi sát nhi thực giả, tức sát ngã phụ mẫu diệc sát ngã cố thân; nhất thiết địa thủy thị ngã tiên thân, nhất thiết hỏa phong thị ngã bản thể; cố thường hành phóng sanh, sanh sanh thọ sanh thường trú chi pháp, giáo nhân phóng sanh; nhược kiến thế nhân sát súc sanh thời, ưng phương tiện cứu hộ giải kỳ khổ nạn (若佛子、以慈心故行放生業、一切男子是我父、一切女人是我母、我生生無不從之受生、故六道眾生皆是我父母、而殺而食者、卽殺我父母亦殺我故身、一切地水是我先身、一切火風是我本體、故常行放生、生生受生常住之法、敎人放生、若見世人殺畜生時、應方便救護解其苦難, nếu Phật tử, vì lấy từ tâm mà thực hành nghiệp phóng sanh, hết thảy người nam là cha ta, hết thảy người nữ là mẹ ta; ta đời đời không theo đó mà thọ sanh; cho nên sáu đường chúng sanh đều là cha mẹ của ta; nếu giết nếu ăn thịt họ, tức là giết cha mẹ ta cũng như giết thân trước kia của ta; hết thảy đất nước là thân trước kia của ta, hết thảy gió lửa là bản thể của ta; cho nên thường thực hành phóng sanh, đời đời thọ sanh pháp thường trú, chỉ cho người phóng sanh; nếu khi thấy người đời giết sinh vật nuôi, nên phương tiện cứu giúp để giải mở khổ nạn của con vật ấy).” Đại Thừa Đại Tập Đia Tạng Thập Luân Kinh (大乘大集地藏十輪經, Taishō Vol. 13, No. 411) có nêu một số công đức của việc Phóng Sanh như: (1) Được sống lâu, (2) Tâm từ bi tự nhiên sanh khởi, (3) Chư thiện thần là bạn, (4) Các động vật đều nhận là thân thuộc, (5) Có vô lượng công đức, (6) Mọi người cung kính, (7) Không bệnh hoạn, không nguy hại, (8) Vui vẻ và mãi được hạnh phúc, (9) Đời đời kiếp kiếp thường kính tin công hạnh của chư Phật, (10) Không rời Tam Bảo, (11) Cuối cùng chứng quả vô thượng bồ đề, (12) Vãng sanh về cõi Tịnh Độ. Trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục Tục Biên (淨土聖賢錄續編, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1550) quyển 4, phần Vãng Sanh Nữ Nhân Đệ Lục (往生女人第六) có kể câu chuyện Điền Bà (田婆): “Điền Bà, Thái Châu dã điền trang nhân, phu phụ câu tín Tam Bảo, tạo tượng phóng sanh, trai tăng bố thí; kỳ phu nhật tụng Pháp Hoa Kinh, bà độc niệm Phật, như thị nhị thập dư niên (田婆、泰州野田莊人、夫婦俱信三寶、造像放生、齋僧布施、其夫日誦法華經、婆獨念佛、如是二十餘年, Điền Bà, người nhà nông quê ở Thái Châu, cả chồng vợ đều tin vào Tam Bảo, làm tượng, phóng sanh, trai tăng và bố thí; chồng bà hằng ngày tụng Kinh Pháp Hoa, riêng bà chỉ có niệm Phật, như vậy hơn hai mươi năm).” Hay như trong Cư Sĩ Truyện (居士傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1646) quyển 16, Truyện Nhan Thanh Thần Vi Thành Võ (顏清臣韋城武傳) có đoạn: “Thời Túc Tông chiếu thiên hạ lập Phóng Sanh Trì, Thanh Thần vi lập bi, ca tụng chúa đức, trợ tuyên Phật hóa (時肅宗詔天下立放生池、清臣爲立碑、歌誦主德、助宣佛化, lúc bấy giờ vua Túc Tông [tại vị 756-762] nhà Đường hạ chiếu khắp thiên hạ cho lập Hồ Phóng Sanh, Nhan Thanh Thần vì vậy lập bia, ca tụng đức của nhà vua, giúp tuyên diễn Phật pháp).” Trong Tịnh Độ Tư Lượng Toàn Tập (淨土資糧全集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 61, No. 1162) quyển 4 có đề cập câu chuyện nhờ thực hành hạnh phóng sanh mà sau khi chết được sanh lên cõi Trời: “Trương Đề Hình thường nghệ đồ gia dĩ tiền thục vật phóng chi; hậu lâm chung, ngữ gia nhân vân, ngô dĩ phóng sanh cố, Thiên Cung lai nghênh, đương thượng sanh hĩ, an nhiên nhi thệ (張提刑常詣屠家以錢贖物放之、後臨終、語家人云、吾以放生故、天宮來迎、當上生矣、安然而逝, Trương Đề Hình thường đến nhà đồ tể lấy tiền mua chuộc con vật rồi thả chúng đi; về sau khi lâm chung, ông bảo với người nhà rằng ta nhờ có phóng sanh, nên cung Trời đến đón đi, sẽ sanh lên cõi trên, rồi an nhiên mà ra đi).”

phóng sanh

Phóng sinh bao gồm trả tự do cho những sinh vật và tháo gở cho những sinh vật bị mắc bẫy—To release living creatures as a work of merit, including to liberate live animals and ro release trapped animals.

phóng sinh hội

(放生會) Pháp hội thả các loài sinh vật theo lời dạy trong kinh. Kinh Phạm võng quyển hạ nói, Phật tử nên phát tâm từ bi mà phóng sinh, vì tất cả người nam là cha ta, tất cả người nữ là mẹ ta, đời đời kiếp kiếp ta đều do họ sinh ra, bởi vậy, tất cả chúng sinh trong 6 đường đều là cha mẹ của ta. Khi thấy người khác giết hại sinh vật ta phải dùng phương tiện giải cứu khổ nạn cho chúng. Về việc phóng sinh cứu hộ, các kinh ghi chép rất nhiều, như phẩm Lưu thủy trưởng giả tử trong kinh Kim quang minh quyển 4 ghi: Con ông trưởng giả Lưu thủy cứu đàn cá sắp chết trong 1 vũng lầy cạn nước bằng cách tháo nước vào và đem thức ăn cho chúng, rồi giảng nói kinh điển Đại thừa cho chúng nghe. Sau khi nghe kinh, đàn cá đều sinh lên cung trời Đao lợi. Còn kinh Tạp bảo tạng thì ghi việc 1 Sa di nhờ cứu đàn kiến đang trôi theo dòng nước mà được quả báo sống lâu. Ở Trung quốc, từ các đời Tề, Lương thuộc Nam triều về sau, thuyết Đoạn nhục (không ăn thịt)rất thịnh hành. Vua Lương vũ đế từng hạ lệnh cấm chỉ sát sinh và bãi bỏ tập tục dùng con vật sống để cúng tế trong các tông miếu. Khi ngài Trí giả tông Thiên thai đời Tùy ở trên núi Thiên thai, vì muốn dân cư vùng ven biển đừng làm nghề đánh bắt cá, từng tự lấy áo mình mặc để bán và khuyến mộ mọi người mua cá thả xuống ao, truyền thụ qui giới cho các loài thủy tộc trong ao, rồi giảng kinh Kim quang minh, kinh Pháp hoa cho chúng nghe để kết duyên với Phật pháp. Đó là nguồn gốc của hội Phóng sinh thiên thai.Về sau, vào năm Càn nguyên thứ 2 (759), vua Túc tông nhà Đường hạ chiếu chỉ cho các đạo(tỉnh): Sơn nam, Kiếm nam, Kinh nam, Chiết giang... đào ao phóng sinh. Đến niên hiệu Thiên hi năm đầu (1017), vua Chân tông nhà Tống ra lệnh sửa sang lại các ao phóng sinh.Năm Thiên hi thứ 3 (1019), ngài Tuân thức thuộc tông Thiên thai tâu vua lấy hồ Tây ở Hàng châu làm nơi phóng sinh và làm ra pháp môn Phóng sinh từ tế, cử hành vào ngày 8 tháng 4 hàng năm để chúc thọ cho vua. Năm Thiên thánh thứ 3 (1025), ngài Tứ minh Tri lễ cũng tâu vua xin trưng dụng hồ Nam làm ao phóng sinh vĩnh viễn của hội Phóng sinh ngày Phật đản, đồng thời, soạn văn phóng sinh cho pháp hội này. [X. Vu lan bồn kinh sớ Q.trung; Tùy thiên thai Trí giả đại sư biệt truyện; Tứ minh tôn giả giáo hành lục Q.1; Thích môn chính thống Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.8; Pháp uyển châu lâm Q.65]. (xt. Phóng Sinh Khí).

phóng sinh khí

(放生器) Đồ dùng chứa các vi sinh vật để mang thả xuống ao, hồ... Đức Phật qui định các tỉ khưu hàng ngày dùng nước phải lấy cái túi lọc nước để lọc. Những sinh vật nhỏ li ti lọc được phải để sang 1 vật khác có chứa nước rồi đem thả xuống ao, hồ, sông, ngòi... Vật dụng này (Phóng sinh khí) có thể được làm bằng sắt, đồng, sứ, gỗ... phía trên có xỏ dây để phòng khi cần phải thả xuống nước sâu hơn. Hộ mệnh phóng sinh qui nghi pháp (Đại 45, 902 thượng) nói: Xem xét trùng, phải lọc nước là phép cốt yếu của người xuất gia, thấy nguy cứu gấp, đó là sự thôi thúc của lòng từ. Khi biết có trùng trong nước, giới luật dạy làm phóng sinh khí. Việc này bên Ấn độ đã thực hành từ lâu. [X. Thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da tạp sự Q.19].

phóng túng

To be free (unrestrained).

phóng đăng

Những dây đèn lồng đốt lên vào đêm rằm Thượng Ngươn, sau nầy người ta kéo dài từ mồng bảy đến rằm. Theo tập tục từ thời Hán Minh Đế thì vào thời nầy chư Tăng (Ma Đằng Ca Diếp và Trúc Pháp Lan) cùng các đạo sĩ của Lão giáo tranh luận về giáo lý và đã thắng các đạo sĩ. Do đó vua Hán Minh Đế xuống chiếu lấy ngày rằm Thượng Ngươn thắp đèn suốt đêm để biểu thị sự sáng sủa của Phật pháp—Lighting strings of lanterns, on the fifteenth of the first month, later extended to the seventh and fifteenth of the month. A custom attributed to Han-Ming Ti, to celebrate the victory of Buddhism in the debate with Taoists

Phổ Hóa

(普化, Fuke, ?-?): vị Thiền tăng sống vào thời nhà Đường, người kế thừa dòng pháp của Bàn Sơn Bảo Tích (盤山寶積), thường sống ở Trấn Châu (鎭州, thuộc Tỉnh Hà Đông). Ông theo hầu Bàn Sơn, thọ nhận yếu chỉ, rồi sống cuộc đời như vị cuồng tăng. Sau khi thầy qua đời, ông đi ngao du địa phương phía Bắc. Tương truyền ông thường cầm trên tay cái chuông lắc, mỗi khi gặp người ta thì ông lại lắc lên. Nếu có ai quan tâm đến, ông liền bảo rằng: “Xin cho tôi một quan tiền.” Ông thường kết giao với Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄), và cũng đã từng phụ giúp vị nầy giáo hóa đồ chúng. Theo phần Kham Biện (勘辨) của Lâm Tế Lục (臨濟錄) cho biết rằng ông đã từng muốn chính Lâm Tế tặng cho ông một cỗ quan tài, và sau đó ông thị tịch trong quan tài ấy tại cửa bắc Trấn Châu. Cuối đời ông đến sống ở Lâm Tế Viện, hằng ngày ăn rau cỏ sống, bị Lâm Tế phát hiện được mới bảo ông là giống con lừa. Tương truyền khi nghe nói như vậy Phổ Hóa liền thét lên tiếng lừa.

Phù

(符): là cái thẻ làm bằng tre viết chữ vào rồi chẻ làm đôi, mỗi người giữ một mảnh khi nào ráp vào nhau mà đúng thì phải, là vật để làm tin. Ngày xưa khi phong các chư hầu hay sai các đại thần đi, người ta đều lấy cái thẻ làm tin.

phù

1) Nổi lềnh bềnh: Floating—Drifting—Unsettled. 2) Phù trợ—Aid—Support—Uphold.

Phù bôi

(浮杯): (1) Vào thời cổ đại, cứ đúng ngày Tỵ của tuần đầu tháng 3 Âm Lịch, mọi người tập trung bên mương nước, trên đầu nguồn cho thả một chén rượu, mặc cho nó trôi đi, nếu chén ấy dừng trước mặt ai, thì người ấy phải lấy lên uống hết. Đó được gọi là phù bôi (chén trôi nỗi), hay lưu thương (流觴, chén rượu trôi). Như trong bài thơ Thượng Tỵ Nhật Giản Nam Viên Kỳ Vương Sơn Nhân Trần Thất Gia Công Bất Chí (上巳日澗南園期王山人陳七諸公不至) của Mạnh Hạo Nhiên (孟浩然, 689-740) nhà Đường có câu: “Thượng Tỵ kỳ tam nguyệt, phù bôi hứng thập tuần (上巳期三月、浮杯興十旬, đầu tháng ba ngày Tỵ, chén nỗi suốt mười tuần).” Hay trong bài thơ Đáp Vô Nguyện Thượng Nhân Thư (答無願上人書) của Tế Kỉ (齊己, 863-937) thời Ngũ Đại cũng có câu: “Tất hữu Nam du sơn thủy hứng, Hán giang bình ổn hảo phù bôi (必有南游山水興、漢江平穩好浮杯, có hứng phương Nam chơi sơn thủy, Hán sông bình lặng rộn chén trôi).” (2) Phạt uống chén rượu đầy. Như trong bài Nhàn Cư Phú (閒居賦) của Phan Nhạc (潘岳, 247-300) nhà Tây Tấn có câu: “Phù bôi lạc ẩm, ty trúc biền la (浮杯樂飲、絲竹騈羅, rượu phạt vui uống, tơ trúc kết liền).” Trong Liệt Tổ Đề Cương Lục (列祖提綱錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1260) quyển 41 lại có câu: “Kim nhụy tùng tùng đới lộ tân, thải lai phanh mính thưởng giai thần, phù bôi hà tất tu nghi tửu, đản hữu thanh hương tự túy nhân (金蕊叢叢帶露新、采來烹茗賞佳辰、浮杯何必須宜酒、但有清香自醉人, vàng nhụy um tùm sương mới toanh, hái về trà nấu thưởng vị thơm, chén nỗi đâu cần dùng rượu thật, chỉ có hương trong đủ say mèm).” Hay trong Tông Thống Biên Niên (宗統編年, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1600) quyển 13, Tướng Quốc Bùi Hưu (裴休, 797-870) trình lên Thiền Sư Hoàng Bá Hy Vận (黃檗希運, ?-?) ở Hồng Châu (洪州) bài kệ như sau: “Tự tùng Đại Sĩ truyền tâm ấn, ngạch hữu viên châu thất xích thân, quải tích thập niên thê Thục thủy, phù bôi kim nhật độ Chương Tân, nhất thiên long tượng tùy cao bộ, vạn lý hương hoa kết thắng nhân, nghĩ dục sự sư vi đệ tử, bất tri tương pháp phú hà nhân (自從大士傳心印、額有圓珠七尺身、掛錫十年棲蜀水、浮盃今日渡章濱、一千龍象隨高歩、萬里香花結勝因、擬欲事師爲弟子、不知將法付何人, từ khi Đại Sĩ truyền tâm ấn, trán có ngọc tròn bảy thước thân, dừng trượng mười năm nơi đất Thục, chén nỗi ngày nay đến Chương Tân, một ngàn rồng tượng trên cao xuống, muôn dặm hương hoa kết duyên nhân, những muốn hầu thầy làm đệ tử, truyền pháp về ai được thêm gần).”

phù chú

Incantation.

phù danh

Vainglory.

Phù Dung Ðạo Khải

芙蓉道楷; C: fúróng dàokăi; J: fuyo dōkai; 1043-1118, cũng được phiên thiết là Phù Dung Ðạo Giai;|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Tào Ðộng. Sư nối pháp Thiền sư Ðầu Tử Nghĩa Thanh và là thầy của nhiều vị danh tiếng như Ðan Hà Tử Thuần, Hương Sơn Pháp Thành, Ðại Trí Tề Liên và Bảo Phong Duy Chiếu.|Sư họ Thôi, quê ở Nghi Thuỷ, Nghi Châu, tính tình cương trực. Thuở nhỏ Sư đã tu học kham nhẫn, vào ở ẩn trong núi Y Dương. Sau, Sư đến kinh đô tu học tại chùa Thuật Ðài và thụ giới cụ túc tại đây.|Bước đầu du phương, Sư đến tham học nơi Thiền sư Nghĩa Thanh ở núi Ðầu Tử chùa Hoa Nghiêm. Sư hỏi: »Ngôn giáo của Phật Tổ như việc cơm nước thường ngày trong nhà. Lìa rời việc này riêng có chỗ vì người hay chăng?« Ðầu Tử đáp: »Ngươi nói sắc lệnh của Thiên tử trong cõi này, lại nhờ vua Võ, Thang, Nghiêu, Thuấn hay chăng?« Sư suy nghĩ đáp lại, Ðầu Tử thấy thế liền cầm phất tử bịt miệng Sư, nói: »Ngươi phát ý ra đã đáng ăn ba mươi gậy rồi!« Ngay câu này, Sư tỉnh ngộ, làm lễ và ra đi. Ðầu Tử gọi: »Xà-lê hãy lại đây!« Sư chẳng ngó lại. Ðầu Tử liền nói: »Ngươi đến chỗ chẳng nghi chăng?« Sư liền bịt tai.|Sau, Sư coi trông việc nhà trù. Ðầu Tử hỏi: »Việc trong nhà trù không phải là dễ.« Sư thưa: »Chẳng dám.« Ðầu Tử hỏi: »Ngươi thổi cơm ư? Nấu cháo ư?« Sư thưa: »Nhân công đãi gạo nhúm lửa, trị nhật nấu cháo thổi cơm.« Ðầu tử hỏi: »Còn ngươi làm gì?« Sư thưa: »Nhờ ơn Hoà thượng từ bi cho con rảnh rang.«|Sau, Sư trở về Nghi Châu núi Mã An truyền bá Phật pháp. Ban đầu, Sư ở Tiên Ðộng, sau dời đến chùa Long Môn, rồi lại sang trụ núi Thái Dương thuộc Dĩnh Châu và Ðại Hồng ở Tuỳ Châu. Môn phong của tông Tào Ðộng rất hưng thịnh vùng Tây bắc.|Niên hiệu Sùng Ninh năm thứ ba (1104), vua ban chiếu mời Sư trụ trì Thiền viện Thập Phương Tịnh Nhân ở Ðông Kinh. Ðến niên hiệu Ðại Quan năm thứ nhất (1107), Vua áp đặt Sư trụ trì tại Thiên Ninh không được từ chối. Vì nghe lời ca tụng đạo hạnh của Sư, vua ban tử y và danh hiệu Ðịnh Chiếu Thiền sư. Sư thắp hương tạ ân xong rồi dâng biểu từ chối không nhận. Vua Tống Huy Tông xem biểu của Sư xong sai quan là Lí Hiếu Thọ khuyên Sư không nên từ chối. Quan họ Lí khuyên dụ nhiều lời nhưng Sư vẫn một mực từ chối. Vua nổi giận bắt Sư đem giam. Quan tra khảo hỏi Sư: »Trưởng lão thân gầy ốm như vậy có bệnh chăng?« Sư đáp: »Ngày thường cũng có bệnh nhưng hiện nay thì không bệnh.« Quan tra khảo lại nói: »Nếu nói có bệnh thì đối với pháp luật khỏi bị hình phạt.« Sư bảo: »Ðâu dám dối trá nói bệnh để mong khỏi tội« và an nhiện chấp nhận hình phạt. Sau đó, Sư bị đày ra Tri Châu, người người đều đau xót nhưng Sư sắc khí vẫn nhàn hạ.|Mùa đông năm sau, vua ban sắc phóng thích. Sư cất am tại hồ Phù Dung và từ đây, tăng chúng hội họp vây quanh. Tại đây mỗi ngày chỉ có một chén cháo, những người không chịu nỗi đều dần dần đi bớt nhưng số tăng thường trực không dưới một trăm.|Sư dạy chúng: »Phàm người xuất gia vì chán trần lao cầu thoát sinh tử, thôi tâm dứt niệm cắt vin theo, gặp thanh gặp sắc như hoa trồng trên đá, thấy lợi thấy danh như bụi rớt trong mắt. Vì từ vô thuỷ đến giờ, những cái ấy đâu chẳng từng trải qua, cần gì lại nhọc nhằn tham luyến? Hiện nay chẳng dứt còn đợi chừng nào? Thời nay dứt sạch lại còn việc gì? Nếu được trong tâm vô sự thì Phật Tổ vẫn là oan gia, tất cả thế sự tự nhiên lạnh nhạt, mới là phù hợp bên này…|Các ngươi đâu chẳng thấy, Ẩn Sơn đến chết chẳng chịu tiếp người, Triệu Châu (Tòng Thẩm) đến chết chẳng biên thư cho đàn việt, thà lượm trái giẻ trái lật mà ăn. Ðại Mai (Pháp Thường) lấy lá sen làm áo. Chỉ Y Ðạo Giả mặc y phục bằng giấy, Thượng toạ Huyền Thái chỉ mặc bằng bố. Thạch Sương (Khánh Chư) nơi nhà cây khô cùng người ngồi nằm, chỉ cần chết hẳn tâm của các ngươi. Ðầu Tử (Ðại Ðồng) sai người nấu cơm lẫn khoai rồi đồng ăn, cốt được tỉnh việc của các ngươi. Các bậc Thánh từ trước có những gương cao đẹp như thế, nếu không có chỗ đặc biệt làm sao chịu nổi…«.|Năm thứ tám niên hiệu Chính Hoà (1118) ngày 14 tháng năm, Sư cầm bút viết bài kệ:|吾年七十六,世緣今已足|生不愛天堂,死不怕地獄|撒手橫身三界外,騰騰任運何拘束|Ngô niên thất thập lục|Thế duyên kim dĩ túc|Sinh bất ái thiên đường|Tử bất phạ địa ngục|Tán thủ hoành thân tam giới ngoại|Ðằng đằng nhậm vận hà câu thúc.|*Ta tuổi bảy mươi sáu|Duyên đời nay đã đủ|Sinh chẳng thích thiên đường|Chết chẳng sợ địa ngục|Buông tay đi ngang ngoài tam giới|Mặc tình vươn bảng nào buộc ràng.|Ngay sau khi viết kệ, Sư viên tịch, thọ 76 tuổi.

Phù Dung Đạo Giai

(芙蓉道楷, Fuyō Dōkai, 1043-1118): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, xuất thân Phí Huyện (費縣), Nghi Châu (沂州, Tỉnh Sơn Đông), họ là Thôi (崔). Lúc nhỏ ông học phái thần tiên đạt được các bí thuật rồi đến ẩn cư tại Y Dương Sơn (伊陽山) thuộc Tỉnh Hà Nam (河南省). Lâu sau ông lên kinh sư dạo chơi, rồi xuất gia ở Thuật Thánh Viện (述聖院, tức Thuật Đài Tự [術台寺]), tôn Đức Xiêm (德暹) làm thầy. Vào năm 23 tuổi ông thọ Cụ Túc giới. Sau đó, ông đi du phương tham học, gặp được Nghĩa Thanh (義清) ở Đầu Tử Sơn (投子山) vùng Thư Châu (舒州, Tỉnh An Huy), nhân nghe lời dạy của vị này mà đại ngộ và được kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông từ giã thầy đến Thiều Sơn (韶山), hằng ngày thường sống với cọp beo. Vào năm thứ 5 (1082) niên hiệu Nguyên Phong (元豐), ông khai mở đạo tràng bố giáo tại Tiên Động Sơn (仙洞山), Nghi Châu. Ông đã từng sống qua các nơi như Càn Nguyên Chiêu Đề (乾元招提) vùng Tây Kinh (西京, Tỉnh Hà Nam) cũng như Đại Dương Sơn (大陽山) ở Dĩnh Châu (郢州, Tỉnh Hồ Bắc). Vào năm thứ 2 (1103) niên hiệu Sùng Ninh (崇寧), ông đến làm trú trì đời thứ hai của Sùng Ninh Bảo Thọ Thiền Viện (保壽禪院) ở Đại Hồng Sơn (大洪山), Tùy Châu (隨州, Tỉnh Hồ Bắc). Năm sau, thể theo chiếu chỉ nhà vua, ông đến trú trì Thập Phương Tịnh Nhân Thiền Viện (十方淨人禪院) ở Đông Kinh (東京, Tỉnh Hà Nam), rồi vào năm đầu (1107) niên hiệu Đại Quán (大觀), ông chuyển đến Thiên Ninh Tự (天寧寺). Vào mùa xuân năm sau, ông được ban cho Tử Y và hiệu là Định Chiếu Thiền Sư (定照禪師), nhưng ông cố từ không nhận. Cũng do vì việc này mà vào mùa đông năm này, ông bị lưu đày đến Chuy Châu (淄州, Tỉnh Sơn Đông). Đến năm đầu (1111) niên hiệu Chính Hòa (政和), ông được tha tội, bèn lên Thiên Thai (天台), Nhạn Đãng (雁蕩) ngao du và khi trở về cố hương thì cha đã già yếu, nên ông dừng chân tại đây. Vị quan Xu Mật Lưu Công (劉公) dựng am thất ở Phù Dung Hồ Điền (芙蓉湖田, Tỉnh Sơn Đông), thỉnh ông đến ở và ông đã thành lập nơi đây khu tùng lâm. Vào ngày 14 tháng 5 năm thứ 8 niên hiệu Chính Hòa, ông thị tịch, hưởng thọ 76 tuổi đời và 42 hạ lạp. Đệ tử ông có 93 người, trong đó ra đời thành công là 29 người, đặc biệt có Đơn Hà Tử Thuần (丹霞子淳) là nhân vật kiệt xuất nhất. Hiện vẫn còn lưu hành bộ Phù Dung Giai Thiền Sư Ngữ Yếu (芙蓉楷禪師語要) 2 quyển của ông.

phù dung đạo giai thiền sư

Zen master Fu-Reng-T'ao-Jai—Thiền sư Phù Dung Đạo Giai sanh năm 1043 tại Nghi Châu (nay thuộc tỉnh Sơn Đông), là đệ tử của Đầu Tử Nghĩa Thanh—Zen master Fu-Reng-Yi-Qing was born in 1043 in Yi-Chou (now the city in southern San-T'ong Province), was a disciple of T'ou-Tzi-Yi-Qing. • Sư hỏi Đầu Tử: “Ngôn giáo của Phật Tổ như việc cơm nước thường ngày trong nhà, lìa rời việc nầy riêng có chỗ vì người hay chăng?” Đầu Tử đáp: “Ngươi nói sắc lệnh của Thiên Tử trong cõi nầy, lại nhờ vua Võ, vua Thang, Nghiêu, Thuấn hay chăng?” Sư suy nghĩ để đáp lại. Đầu Tử lấy phất tử bịt miệng sư, nói: “Ngươi phát ý ra đã đáng ăn ba mươi gậy rồi.” Ngay câu nói nầy, sư tỉnh ngộ, đảnh lễ, liền lui ra. Đầu Tử gọi: “Xà Lê hãy lại đây.” Sư chẳng ngó lại. Đầu Tử nói: “Ngươi đến chỗ chẳng nghi chăng?” Sư liền bịt tai—Fu-Rong asked T'ou-Tzi: “The words of the Buddhas and ancestors were about everyday things such as drinking tea or eating rice. Besides this, does the teaching have anything special for people or not?” T'ou-Tzi said: “You speak the Cosmic Emperor's edict. Are you pretending to be Yao, Shun, Yu, and T'ang or not? Fu-Rong wanted to continue speaking but T'ou-Tzi raised his whisk and placed it over Fu-Rong's mouth, saying: “If you have some intention, then you already deserve thirty hits with the stick!” Fu-Rong then experienced enlightenment. He bowed and turned to leave. T'ou-Tzi said: “Come back! Your reverence!” Fu-Rong ignored him. T'ou-Tzi said: “Have you come to the place of no doubt?” Fu-Rong then covered his ears with his hands. • Một hôm, sư theo Đầu Tử đi dạo vườn trà. Đầu Tử trao cây gậy cho sư, sư nhận lấy liền đi theo sau Đầu Tử. Đầu Tử bảo: “Lý nên thế ấy.” Sư thưa: “Cùng Hòa Thượng xách giày cầm gậy, cũng chẳng phải việc phần ngoài.” Đầu Tử bảo: “Vẫn có người đồng hành.” Sư thưa: “Đây là một người không nhận dạy.” Đầu Tử thôi hỏi. Đến chiều, Đầu Tử bảo: “Sớm mai nói thoại chưa hết.” Sư thưa: “Thỉnh Hòa Thượng nói tiếp.” Đầu Tử nói: “Mạo sanh nhật, tuất sanh nguyệt.” Sư liền đốt đèn đem đến. Đầu Tử nói: “Ngươi đi lên đi xuống đều không luống công.” Sư thưa: “Ở bên cạnh Hòa Thượng lý phải như thế.” Đầu Tử nói: “Kẻ tôi đòi trong nhà nào mà không có.” Sư thưa: “Hòa Thượng tuổi cao thiếu nó không được.” Đầu Tử hỏi: “Ân cần cái gì?” Sư thưa: “Có phần đền ăn.”—One day, T'ou-Tzi and Fu-Rong were walking in the vegetable patch. T'ou-Tzi came up to Fu-Rong and handed him his staff. Fu-Rong took it, then walked behind T'ou-Tzi. T'ou-Tzi said: “Is this in accordance with principle?” Fu-Rong said: “Carrying the master's shoes or staff for him, it can't be otherwise.” T'ou-Tzi said: “There's one walking with me.” Fu-Rong said: “Who's not learning from you?” T'ou-Tzi went back. When evening came, he said to Fu-Rong: “The master we spoke of earlier isn't finished.” Fu-Rong said: “Master, please speak your mind.” T'ou-Tzi said: “The morning gives birth to the sun. The evening gives birth to the moon.” Fu-Rong then lit the lamp. T'ou-Tzi said: “Your comings and goings, none of it is like that of a disciple.” Fu-Rong said: “Taking care of the master's affairs, this is in accordance with principle.” T'ou-Tzi said: “Servants and slaves, what household doesn't have them?” Fu-Rong said: The master is advanced in years. Neglecting him is unacceptable.” T'ou-Tzi said: “So this is how you apply your diligence!” Fu-Rong said: “One should repay kindness.” • Vào ngày mười bốn tháng tám âm lịch năm 1118, sư hỏi bút giấy, đoạn viết kệ: “Ngô niên thất thập lục Thế duyên kim dĩ túc Sanh bất ái thiên đường Tử bất phạ địa ngục Tán thủ hoành thân tam giới ngoại Đằng đằng nhận vận hà câu thúc.” (Ta tuổi bảy mươi sáu, Duyên đời nay đã đủ Sanh chẳng thích thiên đường Chết chẳng sợ địa ngục Buông tay đi ngang ngoài tam giới Mặc tình vươn bổng nào buộc ràng). Sau đó, sư thị tịch. On the fourteenth day of the eighth lunar month in the year 1118, Fu-Rong asked for a brush and paper. He then wrote this verse: “I'm seventy-six years old, My causational existence is now completed In life I did not favor heaven In death I don't fear hell Hands and body extend beyond the three realms. What stops me from roaming as I please? Soon after writing this verse, the master passed away.

phù hoặc nhuận sinh

(扶惑潤生) Nhờ phiền não giúp đỡ mà sinh trong 3 cõi. Nghĩa là Bồ tát vì cứu độ chúng sinh nên không đoạn từ phiền não, ngược lại, còn nhờ sự giúp đỡ của phiền não mà sinh vào 3 cõi để làm lợi ích cho chúng sinh. Đây là hạnh nguyện của Xiển đề đại bi.

phù hộ

To protect (spirits).

phù hợp

To agree—To correspond—To accord.

phù khổng

Lổ hỏng xuyên qua bọng cây trôi lền bềnh trên biển, mà con rùa một mắt tình cờ nhìn thấy được mặt trăng, quả là cơ hội hiếm có, giống như cơ hội được gặp Phật quả là hiếm hoi vậy—A hole in a floating log, through which a one-eyed turtle accidentally obtains a glimse of the moon, the rarest of chances, e.g. the rareness of meeting a Buddha.

phù khởi

(扶起) Đối lại: Thôi đảo (xô ngã), Phóng đảo. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Đỡ dậy, nâng đỡ. Tức chỉ cho phương pháp hòa hoãn, khéo léo mà bậc thầy sử dụng trong khi tiếp hóa chỉ dạy người học. Đại tuệ Phổ giác Thiền sư ngữ lục quyển 7 (Đại 47, 838 trung) nói: Xô ngã, đỡdậy, có khách có chủ. Vô môn tắc 11 (Đại 48, 294 trung) ghi: Ngài Triệu châu xét nghiệm Am chủ và nói: Nếu người ở trong đó mà hạ được một chuyển ngữ thì thấy đầu lưỡi của Triệu châu không có xương. Đỡ dậy xô ngã đều được tự tại.

phù kiên

(苻堅) (338-385) Vua nhà Tiền Tần đời Đông Tấn, tự Vĩnh cố hoặc Văn ngọc. Ông là người học rộng, nhiều tài, có chí trị nước an dân, hay khoan dung độ lượng, kẻ sĩ đều vui mà theo về. Ông giết chúa Phù sinh rồi tự lên làm vua, lấy hiệu là Tần thiên vương, bình định đất Bắc, thôn tính Uyển Tương. Sau, giao chiến với nhà Đông Tấn ở sông Phì thủy, thua trận quay về, bị Diêu trành giết chết ở chùa Phật tại Tân bình, lúc đó là tháng 5 năm Thái nguyên thứ 10 đời Tấn, hưởng dương 48 tuổi. Bình sinh ông rất kính tin Tam bảo, ưu đãi các bậc cao tăng, cung kính nghe giảng pháp. Ông từng sai sứ mang kinh và tượng Phật đến nước Cao li, mở đầu việc truyền bá Phật giáo ở Hàn quốc và Nhật bản. Ông rước ngài Đạo an đến Tương dương, tiếp đãi với lễ nghi đặc biệt và thỉnh ý về các việc lớn trong nước. Ông nghe danh ngài Cưu ma la thập liền sai tướng súy đi đón rước. Lúc sắp bị hại, ông vẫn bình thản và y phục chỉnh tề, lễ Phật rồi mới chịu chết.

phù li mô bích

(扶籬摸壁) Đỡ bờ dậu, sờ bức vách. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa đen là 2 tay nâng hàng rào, sờ tường vách, giống như mò tìm vật gì trong đêm tối. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được sử dụng để chỉ cho người phàm phu dùng tâm phân biệt mà suy lường cảnh giới Phật. Bích nham lục tắc 7 (Đại 48, 147 hạ) nói: Sóng cao 3 cấp cá hóa rồng, người ngu ra sức tát ao đêm (Đỡ dậu sờ vách, đẩy cửa nhà bên. Nạp tăng cần gì? Ôm cây đợi thỏ).

Phù Luật

(扶律): tức Phù Luật Thuyết Thường (扶律說常) hay Phù Luật Đàm Thường (扶律談常), dụng ngữ dùng để nói về hạng người chuyên miệt thị giới pháp, thấy Như Lai nhập diệt rồi sinh ngộ giải cho rằng chính Phật cũng vô thường. Từ này chủ ý muốn nhấn mạnh vấn đề giữ gìn giới luật và Phật tánh là thường trụ. Đối với Thiên Thai Tông thì từ này dùng để nói về giáo thuyết của Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經).

phù luật đàm thường

(扶律談常) Cũng gọi Phù luật thuyết thường. Nói về luật và lí thường trụ để giúp đỡ cho Giới môn và Giáo môn. Đây là dụng ngữ của tông Thiên thai hiển bày giáo thuyết trong kinh Niết bàn. Đức Phật thương xót những chúng sinh độn căn ở đời mạt pháp, dễ sinh ra cái thấy đoạn diệt, hủy phá giới pháp, quên mất giáo thừa, cho rằng Như lai là vô thường, lại đọc tụng ngoại điển, như thế thì giới và thừa đều không và hủy mất tuệ mệnh của pháp thân thường trụ; do đó, trong kinh Niết bàn, đức Phật giảng về giới luật để phù trợ Giới môn (giới luật), rồi lại nói rõ về lí Phật tính thường trụ để phù trợ Thừa môn (giáo thừa), vì thế gọi là Phù luật đàm thường. Lại nữa, trong kinh Niết bàn, đức Phật tuyên thuyết Phù luật đàm thường là để chuộc lại tuệ mệnh pháp thân cho những chúng sinh độn căn đời mạt pháp, cho nên giáo pháp Phù luật đàm thường gọi là Mạt đại thục mệnh Niết bàn(Niết bàn chuộc mệnh đời mạt pháp). [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.2, phần cuối]. (xt. Mạt Đại Thục Mệnh Niết Bàn).

phù luật đàm thường giáo

Giáo pháp phù trợ giới luật, thuyết giải Phật tính thường trụ, như trong Kinh Niết Bàn—The teaching which supports the rules and speaks of the eternal, i.e. the Nirvana Sutra.

phù mộc

Khúc gỗ nổi (dụ con rùa mù và khúc gỗ nổi)—A floating log—See Manh Quy. ; (浮木) Bộng cây nổi. Được làm người, được nghe Phật pháp là một việc vô cùng khó khăn, ví như con rùa mù giữa biển cả mênh mông, trải qua nghìn năm khó được một lần gặp bộng cây nổi.[X. kinh Tạp a hàm Q.15; kinh Niết bàn Q.1, 23 (bản Bắc)]. (xt. Manh Qui Phù Mộc).

phù nam quốc

(扶南國) Cũng gọi Bạt nam, Ấp tâm, Các mậu. Nước Phù nam (Funan), tên xưa của Kampuchia, nằm về phía nam của bán đảo Trung nam. Cứ theo Lương hải nam chư quốc truyện 48 và Thông điển quyển 188, vào thời đại Tam quốc, thế lực của nước Phù nam đã dần dần được mở rộng, nước Ngô từng sai các sứ giả như Khang tần, Chu ứng… đến Phù nam. Mới đầu, các sứ Tàu thấy người Phù nam đều ở truồng, sứ Tàu khuyên họ mặc quần áo, họ mới khoác tấm vải trên mình và quấn váy. Niên hiệu Vĩnh ninh năm đầu (301) đời Tây Tấn, Quốc vương Phù nam sai sứ sang Trung quốc triều cống 1 pho tượng Phật bằng vàng có khắc rồng và tháp bằng ngà voi; như vậy đủ biết, ngay từ thế kỉ III, IV, Phật giáo đã được truyền đến Phù nam. Theo Nam Tề thư liệt truyện 39 thì vào năm Vĩnh minh thứ 2 (484) đời Nam Tề, vua Phù nam là Kiều trần như sai đạo nhân Thích na già tiên, người Thiên trúc, đến Trung quốc triều cống tượng Long vương ngồi và tháp bằng ngà voi.Trongdịp này, sứ Phù nam Thích na già tiên dâng thư nói rằng nước Phù nam là đất được thần Ma hê thủ la thiên bảo hộ, cũng là nơi Phật pháp lưu thông. Cứ theo Lịch đại tam bảo kỉ quyển 11, vào đầu năm Thiên giám (502-519), sa môn nước Phù nam là Mạn đà la tiên mang kinh tiếng Phạm sang Trung quốc triều cống, rồi cùng với ngài Tăng già bà la ở Dương đô cùng dịch các kinh gồm 3 bộ, 11 quyển, như kinh Bảo vân... Đến năm Thiên giám thứ 5 (507), 2 vị lại dịch các kinh, luận gồm 11 bộ, 38 quyển, như kinh A dục vương, luận Giải thoát đạo... Theo Lương thư hải nam chư quốc truyện 48, năm Đại đồng thứ 5 (539), vua Vũ đế nghe nước Phù nam có sợi tóc Phật dài 1 trượng 2, liền phái sa môn Vân bảo sang nghinh tiếp, lại gặp Tam tạng Chân đế đang ở nước này, bèn thỉnh ngài về Trung quốc. Căn cứ vào các ghi chép trên đây, người ta được biết, trước đời Đường, chẳng những Phật giáo Đại thừa đã được truyền bá ở Phù nam mà ngay cả những bộ luận quan trọng của Phật giáo Nam truyền cũng đã được lưu hành ở xứ này. Cho mãi đến khi Ấn độ giáo được sùng bái thì Phật giáo mới bắt đầu suy thoái dần, đó chính là tình trạng được miêu tả trong lời Tựa của Nam hải kí qui nội pháp truyện (Đại 54, 205 trung): Vua bạo ác đã hủy diệt tất cả, không còn chúng tăng, chỉ có các ngoại đạo ở lẫn lộn. Nước Phù nam đến đầu đời Đường vẫn còn là 1 nước độc lập, nhưng đầu năm Trinh quán (627-649) thì bị nước Chân lạp thôn tính sáp nhập. Sau khi vua Phù nam hợp nhất với Chân lạp thì khoảng đầu thế kỉ IX, vua Jayavarman II đóng đô ở Angkor Thom, cách Tonlé-Sap về mạn bắc khoảng 22 km và bắt đầu xây dựng các cung điện, già lam... trải qua 10 triều đại, đến thế kỉ XII mới hoàn thành, cùng với Bolo-Budur ở đảo Java là 2 viên ngọc trong nghệ thuật kiến trúc của nhân loại hiện còn đến ngày nay. Cách Angkor Thom về phía nam khoảng 1,6 km có Angkor-Vat do vua Sùryavarman II xây dựng vào giữa thế kỉ XII. Angkor Thom và Angkor-Vat vốn là các kiến trúc thuộc Phật giáo, như tượng thần thế tự tại (Phạm:Lokezvara) khắc ở thành Angkor chính là tượng Quan thế âm của Phật giáo. Về sau, vì Phật giáo suy vi nên 2 kiến trúc này mới dần dần bị đổi lại làm thành các đền thờ của Ấn độ giáo. Vào thế kỉ XIV, Phật giáo Nam truyền được du nhập Phù nam, thế mạnh của Phật giáo dần dần được khôi phục, Angkor Thom và Angkor-Vat được đặt dưới sự quản chưởng của chư tăng Thái lan, trong các điện đường đều đặt tượng Phật, Bồ tát để thờ. Đến thế kỉ XV, người Thái lan công hãm thành Angkor, Vương triều Khmer phải dời về phía nam, Angkor trở thành hoang vu, lâu dần bị cây rừng nhiệt đới trùm lấp mất. Mãi đến thế kỉ XIX, hai học giả người Pháp là các ông Henri Monkot và P. Pelliot mới tìm ra, kho tàng cổ tích Angkor được coi là 1 trong những kì quan của thế giới và tình hình Phật giáo nước Phù nam đã từng thịnh đạt 1 thời cũng được lịch sử ghi nhận. Trước thời cộng sản, Phật giáo là quốc giáo của Kampuchia, Quốc vương thống lãnh cả chính trị và tông giáo. Nhiệm vụ của tăng sĩ, ngoài việc dùng văn tự Kampuchia viết chép Tam tạng Pàli, còn phụ trách các nghi thức cầu cúng và giáo dục quốc dân. Nhưng sau khi Khmer đỏ thống trị thì tất cả hoạt đông tông giáo đều bị nghiêm cấm, chùa tháp, kinh tượng bị phá hủy, chúng tăng buộc phải hoàn tục...[X. Tục cao tăng truyện Q.1; Chân đế truyện; Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng; Tùy thư nam man truyện 47; Cựu đường thư nam man truyện 147; Minh sử chân lạp truyện 212; Cổ kim đồ thư tập thành biên duệ điển 101; Le Cambodge par E. Aymonier; History of Indian and Eastern Architecture, vol. II by J. Fergusson].

Phù nang

(浮囊): túi không khí, tức áo phao ngày nay; là vật cần thiết cho người qua biển không bị chìm đắm, chết đuối. Như trong Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa (一切經音義, Taishō Vol. 54, No. 2128) quyển 3 định nghĩa rằng: “Kim kinh ngôn phù nang giả, khí nang dã; dục độ đại hải, bằng thử khí nang khinh phù chi lực dã (今經言浮囊者、氣囊也、欲渡大海、憑此氣囊輕浮之力也, nay trong kinh nói về phù nang, là túi không khí; muốn qua biển lớn, nhờ vào sức nhẹ nỗi lên của túi phao này).” Từ đó, phù nang được dùng để chỉ cho một vật vô cùng cao quý, giá trị còn hơn cả thân mạng con người, có thể giúp hành giả vượt qua biển sanh tử luân hồi. Như trong Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 375) quyển 11, Phẩm Thánh Hạnh (聖行品) thứ 19, đề cập đến câu chuyện có người cầm túi phao này muốn đi qua biển lớn; lúc ấy có con quỷ La Sát đến cầu xin túi phao, người ấy trả lời rằng: “Nhữ ninh sát ngã, phù nang phả đắc (汝寧殺我、浮囊叵得, người tha giết tôi, chứ túi phao thì không thể được).” Và túi phao này được ví như việc hành trì cấm giới, oai nghi không sai khuyết. Như trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 87, phần Thuật Ý Bộ (述意部), đưa ra các ví dụ như: “Thiện liệu chúng bệnh, dụ chi lương y; năng tiêu cơ khát, dụ chi Cam Lộ; tiếp tế trầm nịch, dụ chi kiều lương; vận độ đại hải, dụ chi phù nang; chiếu trừ hôn ám, dụ chi đăng quang (善療眾病、喻之良醫、能消飢渴、喻之甘露、接濟沉溺、喻之橋梁、運度大海、喻之浮囊、照除昏暗、喻之燈光, khéo chữa các bệnh, dụ cho thầy thuốc; tiêu trừ đói khát, dụ cho Cam Lộ; tiếp cứu chìm đắm, dụ cho cầu đường; chở qua biển lớn, dụ cho túi phao; chiếu trừ tăm tối, dụ cho đèn sáng).” Hay trong Sa Di Luật Nghi Yếu Lược Tăng Chú (沙彌律儀要略增註, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1118) quyển 1, phần Thượng Thiên Giới Luật Môn (上篇戒律門), có đoạn: “Giới thị việt khổ hải chi phù nang, trang nghiêm Pháp Thân chi Anh Lạc, cố tu cẩn thận (戒是越苦海之浮囊、莊嚴法身之瓔珞、故須謹愼, giới là túi phao vượt qua biển khổ, ngọc Anh Lạc để trang nghiêm Pháp Thân, phải nên cẩn thận).”

phù nang

Chiếc phao (vật mà người đi sông lớn hay biển thường hay mang theo để đề phòng chết đuối. Phù nang ví như giới cấm đối với người tu. Muốn vượt qua biển khổ, muốn chấm dứt luân hồi, người tu phải giữ gìn giới luật, không giữ giới thì chẳng khác nào đâm lủng phao, chẳng những không qua được bờ bên kia, mà còn bị nhận chìm trong biển đời sanh tử nữa)—A floating bag, a swimming float, a lifebuoy. ; (浮囊) Túi nổi. Tức cái phao của những người đi biển mang theo để đề phòng khi đắm thuyền; người đi biển nếu không có phao thì thường lo chết đuối. Các kinh luận thường dùng phù nang để ví dụ giới luật. Nghĩa là Bồ tát vâng giữ giới cấm, tâm mình kiên cố, giống như kim cương, không hề xao lãng; cũng như người đi biển, quí trọng cái phao, luôn giữ bên mình, vì sợ mất mạng. [X. phẩm Thánh hạnh trong kinh Niết bàn Q.11 (bản Bắc); Tuệ lâm âm nghĩa Q.3].

phù phiếm

Futility

phù phép phù du

Externalist guru or shaman.

phù sinh

Short life.

phù sơn cửu đới

(浮山九帶) Gọi đủ: Phật thiền tông giáo nghĩa cửu đới tập. Chín phương pháp dắt dẫn người học của Thiền sư Phù sơn Pháp viễn đời Tống, tức là những ngữ cú của tông môn mở bày cho người học được họ biên tập lại và đặt tên là: Phật thiền tông giáo nghĩa cửu đới tập, gọi tắt: Phù sơn cửu đới. Đó là: 1. Phật chính pháp nhãn tạng đới: Thấu suốt tất cả lí nghĩa sâu xa, triệt ngộ chính pháp của Phật. 2. Phật pháp tạng đới: Phật pháp vốn truyền riêng ngoài giáo, nhưng vì phương tiện hóa độ, nên Phật tổmới dùng giáo pháp để chỉ dạy mọi người. 3. Lí quán đới: Lời nói không thể diễn tả được lí tột cùng của Phật pháp, nhưng mọi hành vi, cử chỉ như nhướng mày, chớp mắt đều là Phật pháp. 4. Sự quán đới: Núi sông đất đai tất thảy là Phật pháp. 5. Lí sự tung hoành đới: Lí sự dung thông, tự tại lưu hành trong thế giới Phật. 6. Khuất khúc thùy đới: Tuy đã chứng ngộ thành Phật, nhưng không an trụ trong quả vị Phật mà vẫn làm Bồ tát để cứu độ chúng sinh. 7. Diệu hiệp kiêm đới: Không chấp trước thì đại dụng liền hiển hiện. 8. Kim châm song tỏa đới: Từ lập trường Lí sự tung hoành đới, lại tiến lên bước nữa, không chấp trước vào thế giới Phật mà tự do tự tại. 9. Bình hoài thường thực đới: Phật pháp chân thực chẳng có gì đặc biệt mà chỉ là những việc tầm thường hàng ngày như mặc áo, ăn cơm... [X. Nhân thiên nhãn mục Q.2].

Phù Sơn Pháp Viễn

(浮山法遠, Fusan Hōon, 991-1067): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, người vùng Trịnh Châu (鄭州, Tỉnh Hà Nam). Ông theo xuất gia với Tam Giao Trí Tung (三交智嵩), sau đó kế thừa dòng pháp của Quy Tỉnh (歸省) ở Diệp Huyện Quảng Giáo Viện (葉縣廣敎院) vùng Nhữ Châu (汝州, Tỉnh Hà Nam). Chính Âu Dương Tu (歐陽修) đã từng đến làm môn đệ và tham học với ông. Sau ông đến trú tại Phù Sơn (浮山), Thư Châu (舒州, Tỉnh An Huy), cử xướng tông phong của mình. Ngoài ra, ông còn được Đại Dương Cảnh Huyền (大陽警玄) bí mật phó chúc cho và giao y hậu giày dép cho Đầu Tử Nghĩa Thanh (投子義青).Vào ngày mồng 6 tháng 2 năm thứ 4 niên hiệu Trị Bình (治平), ông thị tịch, hưởng thọ 77 tuổi, và được ban cho thụy hiệu là Viên Giám Thiền Sư (圓鑑禪師).

phù sơn thập lục đề

(浮山十六題) Mười sáu phạm trù biện biệt tông chỉ do Thiền sư Phù sơn Pháp viễn đời Tống đặt ra. Đó là: 1. Thức tự tông (biết tông mình): Cần phải biết tông chỉ xưa nay, không để bị rơi vào lời nói, suy lường. 2. Tử trung hoạt (sống trong chết): Dứt hẳn suy tính, nghĩ lường. 3. Hoạt trung tử (chết trong sống): Bám níu vào lời nói thì xa lìa chân tướng. 4. Bất lạc tử hoạt (không rơi vào sống chết): Không rơi vào 2 bên, không trụ ở 1 vật thì được thung dung tự tại. 5. Bội xả (quay lưng lại vứt bỏ): Quay lưng lại với sự, vứt bỏ lí, chẳng phàm chẳng thánh, lìa 4 câu, bặt trăm phi (chẳng phải có chẳng không...). 6. Bất bội xả (không quay lưng lại, không vứt bỏ): Không tổn hại sự và lí, tùy duyên mà không trái với Phật pháp. 7. Hoạt nhân kiếm (Kiếm cứu sống người): Nói năng mà không phạm vào ngọn lưỡi, buông tha mà tự do tự tại. 8. Sát nhân đao (Dao giết người): Đả phá cái thấy phàm thánh. 9. Bình thường: Những việc tầm thường hàng ngày đều là Phật pháp. 10. Lợi đạo bạt sinh (Lợi đạo cứu người): Vận dụng đạo lớn của Phật tổ cứu giúp chúng sinh. 11. Ngôn quá vô thất (Nói không lầm lỗi): Lời nói dù thô tháo hay tế nhị đều hợp với Phật pháp. 12. Thấu thoát: Vượt thoát tất cả sự ràng buộc. 13. Thấu thoát bất thấu thoát: Vượt thoát sự trói buộc, nhưng nếu chỉ dừng lại ở cảnh vượt thoát thì rốt cuộc lại bị cảnh ấy trói buộc. 14. Xưng dương: Khen ngợi và nêu cao Phật pháp. 15. Hàng cú (chế ngự câu nói): Không nói năng bông lông, im lặng hợp Phật pháp. 16. Phương nhập viên (vuông nhập vào tròn): Nói năng động tác tất cả đều nhập vào biển lớn Phật pháp. [X. Ngũ gia tông chỉ toản yếu Q.trung].

phù sớ

Tên khác của Kinh Niết Bàn mà tông Thiên Thai cho rằng là sự khuếch đại của Kinh Pháp Hoa—Supporting Commentary, another name for the Nirvana Sutra. According to the T'ien-T'ai, it is an amplification of the Lotus Sutra.

Phù Sứ

(符使): tức Phù Quan (符官). Đối với Đạo Giáo, đây là vị thần quan thủ hộ các bùa chú, phù lục. Như trong Tỉnh Thế Hằng Ngôn (醒世恆言), phần Lữ Đồng Tân Phi Kiếm Trảm Hoàng Long (呂洞賓飛劍斬黃龍), có đoạn: “Đồng Tân ư kinh khuông lam nội thủ nhất cá tiên quả, dữ Phù Sứ ngật liễu, bái tạ thượng mã nhi khứ (洞賓於荆筐籃內取一個仙果、與符使吃了、拜謝上馬而去, Đồng Tân lấy một trái tiên từ trong giỏ tre, cùng quan Phù Sứ ăn xong, bái tạ rồi lên ngựa mà đi).”

Phù Tang

(扶桑): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Tên của vị thần Phù Tang (Thần Mộc), ở phương Đông của Trung Quốc, nằm trong biển nơi mặt trời mọc. (2) Nó còn là tên gọi của Nhật Bản, nơi có nhiều cây hoa Phù Tang (dâm bụt, Chinese hibiscus, China rose, Hibiscus rosa-sinensis L., thuộc Khoa Cẩm Quỳ [錦葵, Malvaceae]). Phù Tang Đại Đế (扶桑大帝) là tên gọi khác của Đông Vương Công (東王公), Đông Vương Phụ (東王父), Đông Hoa Đế Quân (東華帝君), Phù Tang Đế Quân (扶桑大帝), Thanh Đồng Quân (青童君), Thanh Đề Đế Quân (青提帝君), Đông Phụ (東父), Đông Quân (東君), Mộc Công (木公), v.v., là vị tiên nhân trong thần thần thoại Trung Quốc, vị vua ở phương Đông, thường đối ứng với Tây Vương Mẫu (西王母); nghĩa là Tây Vương Mẫu thống suất các tiên nữ trên thiên giới, còn Đông Vương Công thì thống lãnh các tiên nam. Về lai lịch của Phù Tang Đại Đế hay Đông Vương Công, có nhiều ký lục khác nhau. Chẩm Trung Thư (枕中書) thì cho rằng ông do Nguyên Thỉ Thiên Tôn (元始天尊) và Thái Nguyên Thánh Mẫu (太元聖母) sanh ra. Trong khi đó, Thần Dị Kinh (神異經) do (東方朔, 154-93 ttl) nhà Hán soạn, lại ghi rằng: “Đông hoang sơn trung hữu đại thạch thất, Đông Vương Công cư yên; trường nhất trượng, đầu phát hạo, nhân hình điểu diện nhi hổ mao, tải nhất hắc hùng, tả hữu cố vọng (東荒山中有大石室、東王公居焉、長一丈、頭髮皓、人形鳥面而虎尾、載一黑熊、左右顧望, trong núi hoang vu phía Đông có một hang đá lớn, là nơi Đông Vương Công ở; thân ông dài một trượng, đầu tóc trắng, hình người, mặt chim mà lông cọp, mang một con gấu đen, nhìn quanh phải trái).” Lại có thuyết cho rằng Đông Hoa Đế Quân lãnh đạo các tiên nam, có họ là Nghê (倪), tên Quân Minh (君明). Khi thiên hạ đang còn hỗn độn, ông sanh ra trên biển xanh, sáng tạo ra vạn vật, chủ quản khí âm dương ở phương Đông. Ngày sinh nhật của ông là mồng 6 tháng 2 Âm Lịch. Cho nên, trong Thượng Chơn Chúng Tiên Ký (上眞眾仙記) cũng cho biết rằng: “Phù Tang Đại Đế trú tại bích hải chi trung, trạch địa tứ diện, tinh phương tam vạn lí, thượng hữu Thái Chơn Quân, Bích Ngọc Thành (扶桑大帝住在碧海之中、宅地四面、並方三萬里、上有太眞宮、碧玉城, Phù Tang Đại Đế ở trong biển xanh, có nhà và đất bốn mặt, vuông vức 30.000 dặm, trên có Thái Chơn Quân, Bích Ngọc Thành).” Cũng có thuyết khác cho rằng Đông Hoa Đế Quân có liên quan đến tín ngưỡng thời Xuân Thu Chiến Quốc (春秋戰國). Đương thời tín ngưỡng vị thần Đông Hoàng Thái Nhất (東皇太一) ở vùng đất Sở, còn gọi là Đông Quân (東君), tức là Thần Thái Dương (太陽神, hay Thái Dương Tinh Quân [太陽星君]) biến hóa; được xem như là hóa thân của Đông Vương Cung hay Đông Hoa Đế Quân. Có thuyết khác cho rằng Đông Hoa Đế Quân tên là Vương Huyền Phủ (王玄甫), sư phụ của Chánh Dương Chân Nhân Chung Ly Quyền (正陽眞人鍾離權); tương truyền ông là tiền thân của Thuần Dương Chân Nhân Lữ Nham (純陽眞人呂岩, tức Lữ Đồng Tân [呂洞賓]). Thuyết này có thể thấy trong các truyện tiểu thuyết như Bát Tiên Đắc Đạo Truyện (八仙得道傳), Đông Du Ký (東遊記), v.v. Trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quỹ (法界聖凡水陸勝會修齋儀軌, CBETA No. 1497) quyển 3 có đoạn rằng: “Đông Nhạc Thiên Tề Nhân Thánh Đế, Ngũ Nhạc Thánh Đế, Ngũ Nhạc Tá Mạng Chơn Quân, Thủy Phủ Phù Tang Đại Đế, Tứ Đại Hải Vương, Tứ Độc Nguyên Công, Thủy Phủ chư thần, Ngũ Phương Long Vương, Tứ Hải Cửu Giang Ngũ Hồ Thất Trạch chư Long Vương chúng (東嶽天齊仁聖帝、五嶽聖帝、五嶽佐命眞君、水府扶桑大帝、四大海王、四瀆源公、水府諸神、五方龍王、四海九江五湖七澤諸龍王眾, Đông Nhạc Thiên Tề Nhân Thánh Đế, Ngũ Nhạc Thánh Đế, Ngũ Nhạc Tá Mạng Chơn Quân, Thủy Phủ Phù Tang Đại Đế, Tứ Đại Hải Vương, Tứ Độc Nguyên Công, Thủy Phủ chư thần, Ngũ Phương Long Vương, các chúng Long Vương khắp bốn biển, chín sông, năm hồ, bảy suối).”

phù tang

(扶桑) Một nước thần tiên ở phương đông trong truyền thuyết, hoặc chỉ cho nước Nhật bản. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 36, vào niên hiệu Vĩnh nguyên năm đầu (499) đời Nam Tề, có 1 vị sa môn người Phù tang tên là Tuệ thâm giả đến Kinh đô Trung quốc. Nước Phù tang nằm cách Trung quốc 3 vạn dặm về phía đông. Vào năm Đại minh thứ 5 (461) đời Lưu Tống, có 5 vị sa môn nước Kế tân đến Phù tang truyền pháp thì Phật pháp mới lưu hành ở đó. Nhưng năm Đại minh thứ 5 tương đương với đời Thiên hoàng Hùng lược của Nhật bản năm thứ 5, còn niên đại Phật pháp truyền vào Nhật bản thì sau Thiên hoàng Hùng lược rất xa, cho nên e rằng sự ghi chép trên đây có lầm lẫn.

Phù Tang Lược Ký

(扶桑略記, Fusōryakki): sử thư được thành lập vào cuối thời Bình An, là biên niên sử bằng Hán văn trong khoảng thời gian từ thời Thần Võ Thiên Hoàng (神武天皇, Jimmu Tennō) cho đến Quật Hà Thiên Hoàng (堀河天皇, Horikawa Tennō), trước tác của Hoàng Viên (皇圓, Kōen) thuộc Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan). Nguyên gốc bộ này có 30 quyển, nhưng bản hiện tồn là bản tàn khuyết, chỉ còn 16 quyển và sao bản mà thôi. Nó căn cứ vào điển tịch của Lục Quốc Sử (六國史) cũng như các truyện xưa có liên quan đến tự viện, và trong các điều khoản có nêu lên xuất xứ điển tịch.

phù tang thiền lâm tăng bảo truyện

(扶桑禪林僧寶傳) Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Tính đôn soạn vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, được thu vào Đại nhật bản Phật giáo toàn thư tập 109. Nội dung thu chép truyện kí của 117 vị cao tăng Nhật bản. Năm Vĩnh lịch 15 (1661) đời Minh, ngài Tính đôn sang Nhật bản. Đến năm Diên bảo thứ 3 (1675) ngài soạn xong bộ sách này. Đầu quyển có lời tựa của tác giả, mục lục, bài biểu, cuối quyển phụ thêm lời bạt và cuối mỗi truyện cũng có bài tán ca ngợi đức hạnh. Năm Trinh hưởng thứ 3 (1686), ngài Tính đôn lại soạn Tục phù tang thiền lâm tăng bảo truyện, 3 quyển, nói về sự tích của 48 vị, bắt đầu từ ngài Tuệ xuân và cũng được thu vào Đại nhật bản Phật giáo toàn thư tập 109.

phù thế

(浮世) Cũng gọi Ưu thế, Phù sinh. Cuộc đời biến động, trôi nổi không cố định, đầy dẫy lo khổ; tức bao hàm ý nghĩa thế gian là vô thường. Kinh Cự lực trưởng giả sở vấn đại thừa quyển thượng (Đại 14, 830 thượng) nói: Cõi đời trôi nổi không bền chắc, hệt như cảnh thấy trong giấc mộng. Tại Nhật bản, vào thời đầu Giang hộ, thiên hạ thái bình, nên từ ngữ Phù thế đã mất hàm ý sâu xa mà biến thành ý niệm hưởng lạc và bao hàm nghĩa hiện thế.

Phù Thế Hội

(浮世會, Ukyoe): một loại hình thức tranh thế tục vốn phát triển rất phổ cập dưới thời đại Giang Hộ (江戸, Edo, 1600-1867); đặc biệt nó tạo ra cái đẹp độc đáo trong những bức tranh trên bảng gỗ. Nó thoát thai từ thể loại tranh phong tục, người đẹp vốn rất thịnh hành từ thời đại Đào Sơn đến Giang Hộ; và đến hậu bán thế kỷ 17 thì được Lăng Xuyên Sư Tuyên (菱川師宣) tạo nền tảng vững chắc cho thể loại tranh áp vào bảng gỗ, rồi đến năm 1765 thì Linh Mộc Xuân Tín (鈴木春信) đã khai sáng ra loại tranh ấn loát trên bảng với nhiều màu sắc phong phú; cuối cùng nó đạt đến đỉnh cao rực rỡ hoàng kim. Chủ đề của thể loại tranh này là lấy những cảnh tương tợ như dạo chơi thôn xóm, tình cảnh đóng kịch, người đẹp, võ sĩ, v.v., làm trung tâm. Ngoài những nhân vật vừa nêu trên, còn có những tác giả nổi tiếng khác như Điểu Cư Thanh Tín (鳥居清信), Tây Xuyên Hựu Tín (西川祐信), Điểu Cư Thanh Trường (鳥居清長), Hỷ Đa Xuyên Ca Lữ (喜多川歌麿), Đông Châu Trai Tả Lạc (東洲齋寫樂), Cát Sức Bắc Trai (葛飾北齋), Ca Xuyên Quảng Trọng (歌川廣重), v.v. Từ thế kỷ thứ 19 trở đi, thể loại tranh này cũng có ảnh hưởng đến mỹ thuật Châu Âu.

Phù trần

浮塵; C: fúchén; J: fujin;|»Bụi lăng xăng«. Là mọi hiện tượng tạo tác. Vì không nhận ra chân tính của mình, nên thấy các pháp sinh khởi và hoại diệt một cách lăng xăng không có cơ sở.

phù trần

Bụi nổi—Tất cả các pháp hữu vi đều như bụi nổi, không chân thực. Nó che lấp mất chân tính—Floating dust or atoms, unstable matter, i.e. phenomena which hide reality. ; (浮塵) Bụi nổi trong hư không, ví dụ tất cả các pháp hữu vi, hư giả không thực, như bụi nổi, làm nhơ nhớp chân tính. [X. kinh Lăng nghiêm Q.2].

phù trần căn

Ngũ Trần Phù Trợ Chính Căn hay ngoại hình của ngũ căn, có thể thấy được hay nghe được như thị giác, thính giác, vân vân, là phù trần phù trợ “chính căn.” Đối lại với thắng nghĩa căn—The external organs of sensation, i.e. of sight, hearing, etc, which aid the senses. Also means “fleeting,” or “vacuous,” these external things having an illusory existence; the real organs, or indriya; in contrast with the function of faculty of sensation. ; (扶塵根) Cũng gọi Phù căn, Phù căn trần. Hình bề ngoài của 5 căn (5 khí quan) do da thịt tạo thành mà ta có thể nhìn thấy được, như mắt, tai, mũi, lưỡi...Bản thân các căn này không có tác dụng sinh ra thức để duyên theo các cảnh, mà chỉ là các trần có công năng phù trợ chính căn (Thắng nghĩa căn), đồng thời làm chỗ y cứ cho Chính căn phát sinh nhận thức mà thôi.[X. luận Câu xá Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.2]. (xt. Thắng Nghĩa Căn).

phù tát

Bodhisattva (skt)—See Bồ Tát.

Phù tưởng

浮想; C: fúxiăng; J: fusō;|Vọng tưởng, niệm tưởng lăng xăng.

phù tưởng

Những tư tưởng phù phiếm không thật—Passing thoughts, unreal fancies.

phù tập nhuận sinh

(扶習潤生) Cũng gọi Thệ phù tập sinh. Nhờ sức thệ nguyện phù trợ cho tập khí còn rớt lại để được sinh trong 3 cõi. Đây là tiếng dùng của tông Thiên thai hiển bày tướng tu của Bồ tát địa thứ 9 trong 10 địa thuộc Tam thừa thông giáo. Bồ tát Thông giáo, để được thành Phật, ắt phải tu hạnh lợi tha làm lợi ích chúng sinh trong 3 cõi; nhưng đến địa thứ 7 thì đã đoạn từ hết Kiến hoặc và Tư hoặc, không còn sinh lại trong 3 cõi nữa, vì thế phải lập thệ nguyện, nhờ sức thệ nguyện của mình phù trì cho tập khí còn sót lại, được sinh trong 3 cõi mà cứu độ chúng sinh để thành tựu hạnh lợi tha, đó gọi là Phù tập nhuận sinh. Về bồ tát Tạng giáo thì dù đã chế phục được Kiến hoặc, Tư hoặc, nhưng chưa hoàn toàn dứt hết, nên vẫn còn nhân (...) sinh trong 3 cõi. Còn các bồ tát Viên giáo và Biệt giáo, tuy đã dứt hết Kiến, Tư hoặc, nhưng do thế lực của hoặc Vô minh nên vẫn phải sinh trong 3 cõi. Bởi vậy, Phù tập nhuận sinh chỉ hạn cuộc ở bồ tát Thông giáo mà thôi. [X. luận Đại trí độ Q.27, 28; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1, 4; Duy ma kinh huyền sớ Q.3; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 6; Tứ niệm xứ Q.2; Tứ giáo nghĩa Q.9; Thiên thai bát giáo đại ý; Thiên thai tứ giáo nghi].

phù vân

Đời sống hay thân nầy cũng trôi nổi giống mây bay vậy—A drifting cloud, e.g. this life, or the body. ; (浮雲) Mây nổi, 1 trong 10 ví dụ của kinh Duy ma.Mây nổi tụ tán không định, biến hóa khó lường, dụ cho thân người vô thường, chốc lát bỗng tan biến. [X. phẩm Phương tiện kinh Duy ma].

phù đà

See Buddha and Stupa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Phật in Vietnamese-English Section.

phù đà bạt ma

(浮陀跋摩) Phạm: Buddhavarman. Cũng gọi Phật đà bạt ma. Hán dịch: Giác khải. Cao tăng người Tây vực, đến Trung quốc dịch kinh vào đời Lưu Tống. Thủa nhỏ sư đã có tiết tháo, sáng suốt, thẳng thắn, thông minh hơn người, làu thông Tam tạng, nhất là luận A tì đàm tì bà sa. Sư thương trì tụng bộ luận này và lấy đó làm tâm yếu. Trong năm Nguyên gia, sư đến Bắc Lương. Lúc đó, sa môn Đạo thái tìm được 10 vạn bài kệ bản tiếng Phạm của luận A tì đàm tì bà sa ở vùng phụ cận Thông lãnh, thỉnh sư dịch sang Hán văn. Năm Thừa hòa thứ 5 (437 – năm Nguyên gia 14 đời Lưu Tống), sư vâng mệnh chúa Bắc Lương là Thư cừ Mục kiền đến chùa trong cung Nhàn dự tại thành Lương châu, dịch bộ luận này, ngài Đạo thái bút thụ, các sa môn Tuệ trung, Đạo lãng cùng với hơn 300 vị tăng chuyên về nghĩa học hiệu đính văn nghĩa. Đến năm Thừa hòa thứ 7 (439) thì dịch xong bộ luận, tất cả 100 quyển. Chưa bao lâu thì Ngụy diệt Bắc Lương, bao nhiêu kinh sách đều bị đốt hết, bản dịch bộ luận cũng bị thất lạc, sư trở về Tây vực tị nạn, sau không biết sư thị tịch ở đâu. Về sau, Lương vương sao chép được 60 quyển, truyền đến Tống triều, ngài Đạo đĩnh làm bài Tựa, đây chính là luận Bà sa bản cũ. [X. Lương cao tăng truyện Q.3; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9].

phù đầu

See Buddha and Stupa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Phật in Vietnamese-English Section.

Phù Đồ

(浮圖, 浮屠): còn gọi là Phật Đồ (佛圖), ý dịch của chữ stūpa (s.) và thūpa (p.), nghĩa là tháp. Trong Ngụy Thư (魏書), quyển 114, phần Thích Lão Chí (釋老志) có đoạn: “Tự lạc trung cấu Bạch Mã Tự, thạnh sức Phật Đồ, họa tích thậm diệu, vi tứ phương thức; phàm cung tháp chế độ, do y thiên trúc cựu trạng nhi trùng cấu chi, tùng nhất cấp chí tam, ngũ, thất, cửu, thế nhân tương thừa, vị chi Phù Đồ (自洛中構白馬寺、盛飾佛圖、畫跡甚妙、爲四方式、凡宮塔制度、猶依天竺舊狀而重構之、從一級至三、五、七、九、世人相承、謂之浮圖, trong kinh đô xây dựng Bạch Mã Tự, trang trí tháp Phật, nét vẽ tuyệt diệu, theo bốn phương thức; phàm chế độ cung tháp, đều nương theo hình trạng cũ của Thiên Trúc [Ấn Độ] mà kiến lập, từ một tầng cho đến ba, năm, bảy, chín tầng; người đời kế thừa, gọi đó là Phù Đồ).” Như trong bài Khương Cư Quốc Hội Tôn Giả Tượng Tán (康居國會尊者像贊) của Tử Bá Tôn Giả Toàn Tập (紫柏尊者全集, CBETA No. 1452) quyển 18 có câu: “Thường văn Tôn Quyền sơ kiến Hội công, nghi kỳ hình phục, cập cầu Xá Lợi hữu nghiệm, toại kiến Phù Đồ (嘗聞孫權初見會公、疑其形服、及求舍利有驗、遂建浮圖, thường nghe rằng ban đầu khi Tôn Quyền mới gặp Khương Tăng Hội thì nghi ngờ hình tướng vị này, bèn cầu xin Xá Lợi và có linh nghiệm, cuối cùng kiến lập tháp thờ).” Hay như trong Tát Đàm Phân Đà Lợi Kinh (薩曇分陀利經, Taishō No. 265) cũng có đoạn: “Thị thời, thất bảo Phù Đồ, dũng tùng địa xuất thượng chí Phạm Thiên, Phù Đồ trung ương, hữu thất bảo đại Giảng Đường, huyền tràng phan hoa cái, danh hương thanh khiết (是時、七寶浮圖、涌從地出上至梵天、浮圖中央、有七寶大講堂、懸幢幡華蓋、名香清潔, lúc bấy giờ, tháp bằng bảy báu, từ đất vọt ra lên đến Phạm Thiên, giữa trung tâm tháp, có Giảng Đường bằng bảy báu, treo tràng phan, lọng báu, hương thơm tinh khiết).” Trong Tăng Quảng Hiền Văn (增廣賢文) có câu: “Cứu nhân nhất mạng, thắng tạo thất cấp Phù Đồ (救人一命、勝造七級浮屠, cứu người một mạng, hơn tạo bảy cấp tháp thờ).” Và tục ngữ dân gian Việt Nam cũng có câu tương tự như vậy: “Dẫu xây chín bậc Phù Đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người.”

phù đồ

1) Buddha (skt): Còn gọi là Hưu Đồ, là âm khác của Phật Đà—Another name for Buddha—See Buddha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Phật in Vietnamese-English Section. 2) Stupa (skt): Xưa gọi Phật giáo là Phù Đồ, về sau nầy từ Phù Đồ dùng để chỉ riêng tháp thờ xá lợi Phật—Formerly “Phù Đồ” means “Buddhism;” however, nowadays, it is used to indicate a stupa of Buddha's relics—See Stupa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (浮圖) Cũng gọi Phật đồ, Bồ đồ, Hưu đồ. I. Phù Đồ. Phạm: Buddha. Dịch âm đúng của từ Buddhaphải là Phật đà, dịch Phù đồ là sai. Trung quốc đời xưa gọi Phật đà là Phù đồ thị, gọi Phật giáo là Phù đồ giáo. Ngụy thư thích lão chí nói: Phù đồ, gọi đúng là Phật đà, tiếng Phật đà và Phù đồ gần giống nhau, đều là tiếng Tây trúc, đến Trung quốc chuyển làm 2 âm; Hán dịch là Tịnh giác. (xt. Phật). II. Phù Đồ. Dịch sai âm của tiếng Phạm: Buddhastùpa (Pàli: Buddha-thùpa) chỉ cho chùa Phật, tháp Phật, Tốt tháp bà. Luận Đại trí độ quyển 11 (Đại 25, 144 thượng) nói: Vua A du già 1 ngày làm 8 vạn Phật đồ. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.20; Loại tụ danh vật khảo Q.25]. (xt. Tháp).

phù đồ từ

(浮屠祠) Nhà thờ phụng đức Phật, tức là chùa thờ Phật ở Trung quốc vào thời kì Phật giáo mới được truyền nhập. Chữ Phạm Buddha, dịch cũ: Phù đồ; dịch mới: Phật đà. Tương truyền, Phù đồ từ đầu tiên tại Trung quốc là do cư sĩ Sạ dung xây dựng ở vùng Từ châu vào những năm cuối đời Đông Hán, trong đó thờ tượng Phật đúc bằng đồng có mạ vàng bên ngoài, là tượng đồng mạ vàng xưa nhất ở Trung quốc. Còn tượng Phật thờ trong Phù đồ từ của Sở vương anh và vua Hoàn đế (ở ngôi 146-167) nhà Đông Hán là tượng vẽ. Ngoài ra, pho tượng Phật đồng mạ vàng xưa nhất hiện còn đã được đúc vào năm Kiến vũ thứ 4 (338) đời Hậu Triệu.

Phù-đà Mật-đà

浮陀蜜陀; S: buddhamitra;|Tổ thứ 9 của Thiền tông Ấn Ðộ

Phù-đà Nan-đề

浮陀難提; S: buddhanandi;|Tổ thứ 8 của Thiền tông Ấn Ðộ

Phù-đồ

浮圖; C: fútú; J: futo;|Phiên âm chữ buddha (Phật 佛) hoặc chữ stūpa (tháp 塔) từ tiếng Phạn. Còn có thể chỉ cho chùa viện hoặc là tăng sĩ Phật giáo. Cũng được dùng chỉ Phật pháp (viết 浮屠).

phùng mộng trinh

(馮夢禎) (1548-1595) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào đời Minh, người Tú thủy (Gia hưng, Chiết giang), tự là Khai chi. Ông có khí tiết cao thượng, giỏi văn chương. Khoảng năm Vạn lịch (1573-1620) đời vua Thần tông, ông thi đậu Trạng nguyên, làm quan đến chức Quốc tử giám tế tửu. Ông vốn kính tín Phật pháp, thích giao tiếp với các Thiền sư, từng xin ngài Vân thê Châu hoành thụ giới Bồ tát. Ông giữ giới rất nghiêm cẩn, lại cùng với ngài Tử bá Chân khả tu Tam muội niệm Phật. Ông chích máu viết kinh, khắc in Đại tạng. Ông tụng kinh Lăng nghiêm hàng ngày và soạn chú thích lưu hành. Năm Vạn lịch 22, ông qua đời, hưởng dương 48 tuổi, thụy hiệu là Trang giản, được phong tặng Thái Tử Thái Bảo. Ông để lại các tác phẩm: Lịch đại cống cử chí, Khoái tuyết đường tập, Khoái tuyết đường mạn lục. [X. Minh sử Q.317; Minh nhân tiểu truyện Q.3; Thi chí cư thi thoại 15].

phùng tiếp

(馮楫) (?-1153) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào đời Tống, người Toại ninh, tỉnh Tứ xuyên, tự Tế xuyên. Ông từng làm quan, giữ các chức Cấp sự, Tri sự. Lúc tuổi tráng niên, ông tham học ngài Phật nhãn Thanh viễn và nối pháp của ngài. Sau, ông lại tham yết ngài Đại tuệ Tông cảo và được tâm ấn. Về già, ông siêng tu Tịnh độ, nguyện vãng sinh Tây phương, xuất tiền tu bổ Đại tạng kinh. Năm Thiệu hưng 23 (1153), ông qua đời, có ngữ lục lưu hành ở đời. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.20; Ngũ đăng toàn thư Q.44; Cư sĩ phần đăng lục Q.hạ; Giathái phổ đăng lục Q.23].

phú

1) Che dấu: Một trong các địa pháp tiểu phiền não (sợ mất danh dự mà che dấu tội lỗi của mình)—Covering—Deceit—See Tùy Phiền Não. 2) Giàu sang—Rich—Wealthy—Well-supplied. 3) Ném: To throw—To overthrow. ; (覆) Phạm: Mrakwa. Pàli: Makkha. Che giấu, tên 1 loại tâm sở, tức tâm che dấu tội lỗi vì sợ tổn thương danh dự. Một trong 75 pháp của tông Câu xá, 1 trong 100 pháp của tông Duy thức. Tông Câu xá cho Phú là 1 trong các Tiểu phiền não địa pháp, 1 trong 10 triền; còn tông Duy thức thì cho Phú là 1 trong các Tiểu tùy hoặc. Theo luận Đại tì bà sa quyển 40 thì Phú là tham đắm danh lợi, hoặc do vô tri nên che dấu tội lỗi của mình, là đẳng lưu của tham và si. Lại vì Phú sinh khởi một cách tự tại, nên là phiền não do Tu đạo đoạn trừ, tương ứng với Ưu (lo âu) và Hỉ (mừng) trong 5 thụ (cảm nhận). [X. luận Câu xá Q.21; luận Thành duy thức Q.6; luận Phẩm loại túc Q.3; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2; luận Thuận chính lí Q.54].

phú bát

Bát lộn ngược đặt dưới chín vòng tròn trên nóc chùa—The inverted bowl at the top of a pagoda below the nine circles.

phú bạch

Phủ một tấm khăn nhỏ lên bức tượng—To throw a coverlet over an image.

phú ca la

Pudgala (skt)—See Phú Già La.

phú cường

See Phú Hào.

phú diện

1) Vải che mặt: A veil for the face. 2) Che mặt: To cover the face.

phú gia

A wealthy family.

phú già la

Pudgala (skt)—Bổ Đặc Già La—Phú Đặc Ca La—Chúng sanh có hình tướng, dáng vẻ và tâm thức (con người): Living beings that have form, body and soul (living beings that have body, matter, the soul, personal identity, interpreted by man, men, human being, and all the living). 1) Hữu tình: The sentient beings. 2) Tất cả chúng sanh: All living beings. 3) Tất cả chúng sanh chịu luân lưu trong luân hồi sanh tử: All living beings subject to metempsychosis. 4) Thú hướng: Direction, or transmigration.

phú giảng

Trả bài cho thầy—To repeat a lesson to a teacher.

phú hào

Wealthy and powerful.

phú hậu

Enormously rich.

phú hộ

See Phú Gia.

phú khí

1) Đồ dùng để ngăn cản hay tắc, chẳng hạn như đồ tắc nước, hay ngói không cho nước thấm vào nhà: Things for turning off, e.g. water, as tiles do. 2) Tâm bị tắc nghẽn không thấm được đạo pháp: Impermeable resistant to teaching.

phú khả sĩ

(富可士) Foucaux, Philippe Edouard (1811-1894) Học giả Ấn độ học người Pháp, là học trò của ông E. Burnouf. Từ năm 1842 về sau, ông dạy tiếng Tây tạng và văn học Phạm ngữ. Ông lần lượt ấn hành bản Tạng Pháp đối chiếu kinh Phương quảng đại trang nghiêm (Phạm: Lalitavistara – 1847-1848) và bản dịch tiếng Pháp của kinh này (1884-1892). Đồng thời, hợp lực với các ông Minayeff, Ivan Pavlovitch (1840-1890) và Julien, Stanislas (1799-1873), hiệu đính Phiên dịch danh nghĩa đại tập (Phạm: Mahàvyutpatti). Ngoài những công trình nói trên,ông còn có các tác phẩm: -Doctrine des Bouddhists sur le Nirvàịa, 1864. -Grammaire de la langue tibetaine, 1858. -Màlavikàet Agnimitra, 1877. -Sakountalà, 1877; Vikramorvacì, 1879.

phú kiên

Mặc phủ lên vai (loại áo cà sa phú-kiên-y che vai phải; trong khi kỳ-chi-y là áo che vai trái)—To throw a robe over the shoulder.

phú la

Pula or Para (skt). 1) Quốc độ: Pura (skt)—Land—Country—City. 2) Chiếc giày ngắn dùng để trang sức: A short-legged (ornament) boot—Boot or shoe ornamentation.

phú la bạt đà la

See Phú La (2).

phú lan na

(富蘭那) Phạm: Puràịa. Danh từ gọi chung các Thánh điển của Ấn độ giáo cổ đại. Thánh điển này được viết thành sách vào khoảng thế kỉ I trước Tây lịch đến thế kỉ X và lưu truyền đến ngày nay. Có thể chia làm 2 loại: Đại phú lan na (Phạm: Mahàpuràịa) và Tục phú lan na (Phạm: Upapuràịa). Mỗi loạilạiđược chia làm 18 bộ. Đại phú lan na nói về phép cúng tế, tập tục... là kinh điển y cứ của các giáo phái, bao gồm 18 thứ Phú lan na: Phạm thiên, Liên hoa, Tì thấp nô, Phong thần, Bạc già phạm, Na la đà, Ma căn đức da, Hỏa thần, Vị lai, Phạm chuyển, Lâm già, Dã trư, Thất kiến đà, Chu nho, Qui, Ngư, Đại bằng và Phạm noãn. Tục phú lan na thì bao gồm 5 tướng điển hình (Phạm: Paĩcalakwaịa) của Phú lan na: Vũ trụ sáng tạo (Phạm: Sarga), Thế giới thành hoại (Phạm: Pratisarga), Hệ phổ của các thần tiên (Phạm: Vaôza), Sự cai trị thế gian của Ma noa (Phạm: Manvantara) và Hệ phổ của vương thống dòng Nhật chủng, Nguyệt chủng (Phạm: Vaôzànucarita). Phú lan na mang đặm sắc thái Ấn độ giáo, mỗi giáo phái đều rút tỉa lấy nội dung của sách này để giải thích giáo nghĩa của phái mình. Bởi thế, theo sự biến thiên của thời đại và địa vực, Phú lan na cũng đã mất đi cái phong cách nguyên thủy của nó. Tuy nhiên, trên đại thể, vì nội dung Phú lan na chứa đựng những thành phần như tập tục, truyền thống, triết học thông tục, y học, kiến trúc, thi ca, âm nhạc... nên nghiễm nhiênnóđã trở thành tư liệu quí giá cho việc nghiên cứu văn hóa Ấn độ cổ đại. Có thuyết cho rằng người biên soạn sách này cũng chính là Tì da sa (Phạm: Vyàsa) – soạn giả của thiên anh hùng ca Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata).

phú lan na ca diếp

Puruna-kasyapa (skt)—See Bất Lan Ca Diếp. ; (富蘭那迦葉) Phạm: Pùraịa-kàzyapa. Pàli: Pùraịa-kassapa, Puràịakassapa. Cũng gọi Phú lan ca diếp, Phất lan ca diếp, Lão ca diếp, Bổ lạt noa ca diếp ba, Bố lạt noa ca diếp ba. Gọi tắt: Phú lan na, Bô lạt noa. Tên của ngoại đạo ở Trung Ấn độ vào thời đại đức Phật, là 1 phái trong Lục sư ngoại đạo. Phú lan na, Hán dịch: Mãn (đầy đủ), Cứu cánh (rốt ráo), là tên của ngoại đạo này; Ca diếp, Hán dịch: Qui(loài rùa), Ẩm quang(uống ánh sáng), Hộ quang (ánh sáng che chở), là họ mẹ của ngoại đạo này. Cứ theo phẩm Địa ngục trong kinh Pháp cú thí dụ quyển 3, Phú lan na ca diếp là 1 thầy Bà la môn ở nước Xá vệ, có 500 đệ tử, từng cùng với đức Phật thi thố đạo lực, bị thua liền nhảy xuống sông mà chết. Có thuyết cho rằng ông là con của nô lệ, thường trần truồng. Theo kinh Sa môn quả trong Trường a hàm quyển 17 và kinh Đại bát niết bàn quyển 19 (bản Bắc) thì Phú lan na ca diếp chủ trương Vô nhân luận, Vô đạo đức luận, cho rằng sự mê ngộ của chúng sinh không có nhân duyên gì hết, các nghiệp thiện ác cũng không có quả báo. Cứ theo Tăng chi bộ (Aíguttaranikàya, 6, 75) tiếngPàli, Phú lan na ca diếp chia người làm 6 giai cấp theo 6 màu: Đen, xanh, vàng, đỏ, trắng, trắng phau. 1. Hắc sinh (Pàli: Kaịhàbhijàti): Chỉ cho những người làm các nghề hèn hạ như đồ tể, săn bắn... 2. Thanh sinh (Pàli:Nìlàbhijàti): Chỉ cho các tỉ khưu Phật giáo và các nhà chủ trương Nghiệp luận, Sở tác luận... 3. Xích sinh (Pàli: Lohitàbhijàti): Chỉ cho đồ chúng của ngoại đạo Ni kiền tử. 4. Hoàng sinh (Pàli: Haliddàbhijàti): Chỉ cho người lõa hình tại gia. 5. Bạch sinh (Pàli: Sukkhàbhijàti): Chỉ cho ngoại đạo Tà mệnh. 6. Tối thắng bạch sinh (Pàli: Paraamasukkhàbhijàti): Chỉ cho Nan đà bạt ta (Pàli:Nanda-vaccha), Cù sa thương cát ca (Pàli: Kisa-saíkicca), Mạt già lợi cù xá lê tử (Pàli: Makkhali-gosàla)... [X. kinh Tiễn mao trong Trung a hàm Q.57; kinh Sa môn quả trong Trường a hàm Q.17; kinh Tăng nhất a hàm Q.32, 39; kinh Đại bát niết bàn Q.18 (bản Bắc); kinh Tịch chí quả; kinh Soạn tập bách duyên Q.1; kinh Liên hoa diện Q.hạ; kinh Chúng hứa ma ha đế Q.2; Hữu bộ tì nại da xuất gia sự Q.1; Hữu bộ tì nại da phá tăng sự Q.10; Chú Duy ma cật kinh Q.3; Ma ha chỉ quán Q.10, phần đầu; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26; Ngoại đạo triết học; Ấn độ triết học nghiên cứu Q.2].

phú lan đà la

Purandara (skt). 1) Người phá vở thành lũy: Stronghold breaker, fortress destroyer. 2) Một tên khác của Thần Sấm Sét: Another name for Indra for thunder-god.

phú lâu na

Purna (skt)—Phú Lâu Na Di Chất Na Ni Tử, con của trưởng giả Ba-Va và một người gái nô lệ. Ông là một trong 1250 vị A La Hán đệ tử Phật, cũng là một trong thập đại đệ tử của Phật có biệt tài thuyết pháp. Bị người anh bạc đãi trong thương vụ, nhưng ông đã cứu người anh nầy trong một chuyến đắm tàu. Về sau ông xây một tịnh xá hiến cho Phật. Ông được Phật thọ ký sẽ thành Phật đời vị lai với hiệu là Pháp Minh Như Lai—Purnamaitrayaniputra, or Maitrayaniputra, son of Bhava by a slave girl, often confounded with Maitreya. One of the 1250 Arhat disciples of the Buddha. He was also one of the ten great disciples of the Buddha. He was the chief preacher among the ten principal disciples of Sakyamuni. Ill-treated by his brother, engaged in business, saved his brother from shipwreck by conquering Indra through samadhi. He built a vihara (monastery) for Sakyamuni. The Buddha predicted that he would become a Buddha titled Dharmaprabhasa. ; (富樓那) Phạm: Pùrịa. Pàli: Puịịa. Gọi đủ: Phú lâu nadiđa la ni tử (Phạm: Pùrịa-maitràyaịìputra, Pàli: Puịịamantàni-putra). Cũng gọi: Bố lạt noa mai đãn lợi duệ ni tử, Phân nậu văn đà ni tử. Gọi tắt: Phú lâu na, Di đa la ni tử. Hán dịch: Mãn từ tử, Mãn chúc tử, Mãn nguyện tử. Mãn là tên của ngài, Từ là họ mẹ; vì lấy họ mẹ nên gọi là Mãn từtử. Di đa la là tên tộc của bà mẹ, có nghĩa là chúc, nguyện, vì thế gọi là Mãn chúc tử, Mãn nguyện tử, tên vị A la hán, 1 trong 10 Đại đệ tử của đức Phật, người Ca tì la bà tô (tức Ca tì la vệ), con vị Quốc sư triều vua Tịnh phạn, thuộc dòng Bà la môn. Ngài có dung mạo đoan chính, thông minh từ thủa nhỏ, am hiểu các luận Phệ đà, lớn lên ngài cảm thấy chán thế tục, muốn tìm đường giải thoát, nên vào đúng đêm Thái tử Tất đạt đa vượt thành, ngài cùng với 30 bạn hữu đồng thời xuất gia theo pháp Ba lê bà già ca, vào núi Tuyết, khổ hạnh tinh tiến, cuối cùng được Tứ thiền, Ngũ thông. Đến khi đức Phật thành đạo, chuyển pháp luân ở vườn Lộc dã, ngài đến chỗ Phật cầu xuất gia thụ giới Cụ túc, sau đó chứng được quả A la hán. Vì ngài có biện tài vô ngại, khéo phân biệt nghĩa lí, nên ngài chuyên thuyết pháp giáo hóa, những người nhờ nghe ngài thuyết pháp mà được giải thoát có tới 9 vạn 9 nghìn, vì thế ngài được tôn là Thuyết pháp đệ nhất. Cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 13 và luật Ma ha tăng kì quyển 23 thì người Thâu lư na ở miền tây Ấn độ hung ác thô bạo, thích chửi mắng, ngài bèn xin phép đức Phật đến nước ấy giáo hóa. Ngài thuyết pháp độ được 500 ưu bà tắc, xây dựng 500 tăng già lam, khiến cho việc an cư mùa hạ được đầy đủ. Sau, ngài nhập Vô dư niết bàn ở xứ này. Theo phẩm Ngũ bách đệ tử thụ kí trong kinh Pháp hoa quyển 4, đức Phật thụ kí cho ngài trong vị lai sẽ thành Phật, hiệu là Pháp minh Như lai. Ngoài ra, theo Đại đường tây vực kí quyển 4 thì ở đô thành của nước Mạt thố la vẫn còn tòa tháp thờ xá lợi của ngài. [X. kinh Tạp a hàm Q.10, 16; kinh Thất xa trong Trung a hàm Q.2; phẩm Đệ tử kinh Tăng nhất a hàm Q.3; phẩm Phú lâu na xuất gia trong kinh Phật bản hạnh tập Q.37; kinh Mãn nguyện tử; phẩm Đạo hạnh trong kinh Đạo hành bát nhã Q.1; luận Phân biệt công đức Q.4; luận Đại trí độ Q.3; Huyền ứng âm nghĩa Q.3, 8].

phú lâu na di đa la ni tử

Purna-Maitrayaniputtra (skt)—See Phú Lâu Na.

phú lâu na phú la

Purusapura (skt)—Phú Lâu Sa Phú La—Phú Lưu Sa Phú La—Trượng Phu Thổ, tên một vương quốc cổ, phía Bắc Ấn Độ, bây giờ là Peshwar, nơi mà người ta nói rằng Ngài Thiên Thân Bồ Tát đã ra đời—The ancient capital of Gandhara, north of India, the modern Peshawar, stated to be the native country of Vasubandhu.

phú lâu sa

Purusa (skt). 1) Nhân loại: Man—Mankind. 2) Con người được nhân cách hóa làm Na La Diên Thiên (một loại trời): Man personified as Narayana—See Narayana. 3) Tâm Thức: Soul and source of the universe. 4) Thần Ngã: The spiritual self. 5) Ngã: Atman (skt)—Ego—Tánh chất đặc biệt của “ngã” là tư tưởng, và qua một chuỗi thay đổi của kiếp hiện hữu—The atman whose characteristic is thought, and which through successive modifications, all forms of existence—See Atman in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

phú lâu sa phú la

Purusapura (skt)—See Phú Lâu Na Phú La.

phú lưu sa phú la

Purusapura (skt)—See Phú Lâu Na Phú La.

phú mộ

Vong linh trở về viếng mồ ba ngày sau khi đã được chôn cất—To return to visit a grave on the third day after internment.

Phú Mộc Thường Nhẫn

(富木常忍, 1216-1299): tức Phú Mộc Nhật Thường (富木日常, Tōki Nichijō), người ngoại hộ đắc lực cho Nhật Liên, vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa và cuối thời Liêm Thương, húy là Thường Nhẫn (常忍), Nhật Thường (日常); hiệu là Thường Tu Viện (常修院). Vốn là quan có thế lực của dòng họ Thiên Diệp (千葉, Chiba) ở vùng Hạ Tổng (下總, Shimōsa), trong khoảng thời gian niên hiệu Kiến Trường (建長, 1249-1256), ông quy y theo Nhật Liên ở vùng Liêm Thương; từ đó về sau, ông trở thành tín đồ dắc lực cho Nhật Liên trong việc ủng hộ Tông môn và truyền bá giáo nghĩa. Sau khi Nhật Liên qua đời, ông xuất gia và biến nhà ông thành chùa, lấy tên là Pháp Hoa Tự (法華寺, tức Pháp Hoa Kinh Tự [法華經寺, Hokkekyō-ji] ở Trung Sơn [中山, Nakayama]), rồi lập nên cơ sở cho Môn Phái Trung Sơn. hơn nữa, ông có công rất lớn trong việc bảo tồn các di thư của Nhật Liên. Trước tác của ông có Thường Tu Viện Bổn Tôn Thánh Giáo Sự (常修院本尊聖敎事).

phú na

Punya, Punar, or Purna (skt)—See Phú Lâu Na.

phú na bà tô

Punarvasu (skt)—Tên của một vị sư Ấn Độ—Name of an Indian monk.

phú na bạt đà

Purnabhadra (skt)—Tên cùa một Thần tướng—Name of a spirit-general.

phú na da xá

Punyayasas (skt)—Phú Na Dạ Xoa—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ (11).

phú na dạ xa

Punyayasas (skt)—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ (11). ; (富那夜奢) Phạm: Puịyayazas. Cũng gọi Phú na dạ xá, Phú na xa, Phú na, Dạ xa. Tổ thứ 10 (có thuyết nói tổ thứ 11) của Thiền tông Ấn độ được phó pháp tạng, người ở thành Hoa thị Trung Ấn độ, là con thứ 7 của trưởng giả Không thân. Cứ theo Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 5 thì ngài thụ pháp ở nơi Hiếp tôn giả, thuyết pháp thù thắng, giáo hóa vô lượng chúng sinh. Sau, ngài tranh luận về Phật pháp với ngài Mã minh, ngài nói nghĩa Đệ nhất nghĩa đế không, vô ngã, khuất phục được ngài Mã minh và thu nhận làm đệ tử, đến khi lâm chung thì phó pháp. Nhưng Mã minh bồ tát truyện và bài tựa Tát bà đa bộ kí mục lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 12 thì cho rằng tỉ khưu Hiếp là thầy của ngài Mã minh, mà không nói đến tên ngài Phú na dạ xa. Còn trong Đại trang nghiêm luận kinh quyển 1 có ghi câu Vô cấu thanh tịnh tăng Phú na, Hiếp tỉ khưu chứng tỏ ngài Mã minh rất kính trọng 2 vị này. [X. Bảo lâm truyện Q.3; Cảnh đức truyền đăng lục Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.5; Nội chứng Phật pháp tương thừa huyết mạch phổ].

phú na kỳ

Purneccha (skt). 1) Tên của một loại ngạ quỷ (khi Đức Phật đang trụ tại tịnh xá Trúc Lâm trong thành Vương Xá, tôn giả Mục Kiền Liên thấy một con quỷ thân hình đen đủi như cột nhà cháy, bụng to như núi, cổ khẳng khiu như cây kim, vừa chạy khắp nơi vừa la hét om sòm, đòi phân và nước tiểu để uống. Ngài Mục Kiền Liên bèn đến hỏi Đức Phật. Đức Phật đáp: “Trong đời Hiền Kiếp nầy ở thành Xá Vệ, có một vị trưởng giả làm nghề ép mía lấy mật mà trở nên đại phú. Bấy giờ có vị Bích Chi Phật mắc bệnh tiêu khát, bèn đến vị trưởng giả xin nước mía để uống. Vị trưởng giả lòng rất hoan hỷ, bảo với người vợ là Phú Na Kỳ rằng 'tôi có việc cần phải đi gấp, nàng ở nhà hãy lấy nước mía mà bố thí cho vị Bích Chi Phật nầy.' Sau khi chồng đi, người vợ bèn cầm lấy chiếc bát của vị Bích Chi Phật, vào bên trong mà tiểu tiện vào đó, đoạn đổ thêm nước mía vào, rồi đưa cho vị Bích Chi Phật. Vị Bích Chi Phật cầm bát định uống, nhưng biết không phải là nước mía, bèn đổ xuống đất rồi cầm bát không ra về. Người phụ nữ ấy khi thác sanh đọa làm ngạ quỷ, lúc nào cũng bị cơn đói khát ghê gớm dày vò)—Name of a preta, or hungry ghost. 2) Tên của một nhà sư: Name of a monk.

phú nông

A rich farmer.

phú quí

Rich and noble.

phú sa

Pusya (skt). 1) Một vị cổ Tiên—An ancient rsi. 2) Tên một chòm sao: Name of a constellation.

phú thương

Rich merchant.

phú thọ

Rich and long-lived.

phú thủ hướng hạ hợp chưởng

(覆手向下合掌) Một kiểu chắp tay với hình thức 2 bàn tay úp (phúc) xuống, 2 ngón cái để song song, đầu của 2 ngón giữa chạm vào nhau. Là kiểu thứ 11 trong 12 kiểu chắp tay của Mật giáo. Mười hai kiểu chắp tay này tức là 12 thứ hình tướng của ấn khế, cùng với 6 thứ Quyền ấn (ấn nắm tay) đều là nền tảng của các ấn khế trong Mật giáo, vì thế được gọi là Ấn mẫu (mẹ của các ấn). [X. Đại nhật kinh sớ Q.13; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.8]. (xt. Thập Nhị Hợp Chưởng).

phú tục đế

Thế Tục Đế—Tục đế chẳng những không lột hết được nghĩa lý mà còn che lấp mất chân lý (thí dụ như sắc vốn không phải là cái bình mà cho là cái bình; thanh vốn không phải là ca khúc mà cho là ca khúc)—The unenlightened inversion of reality, common views of things.

Phú Vĩnh Trọng Cơ

(富永仲基, Tominaga Nakamoto, 1715-1746): học giả và là tư tưởng gia sống vào khoảng giữa thời Giang Hộ; tên là Tử Trọng (子仲); thông xưng là Tam Lang Binh Vệ (三郎兵衛); hiệu Khiêm Trai (謙齋); xuất thân vùng Đại Phản (大阪, Ōsaka). Ông sinh ra trong một gia đình chuyên kinh doanh tương dấm. Phụ thân ông, Cát Tả Binh Vệ (吉左兵衛), là một trong những người sáng lập Hoài Đức Đường (懷德堂). Ban đầu, ông theo học với Tam Trạch Thạch Am (三宅石庵) của Hoài Đức Đường và cuối cùng học về Cổ Văn Từ Học cũng như Phật Giáo. Sau ông mở trường dạy ở nhà và viết các tác phẩm Xuất Định Hậu Ngữ (出定後語), Ông Văn (翁文) để phê phán những việc làm của người đời sau trong ba tôn giáo Nho, Phật, Thần. Ông chủ trương đạo chân thành, phổ biến, không câu nệ vào tôn giáo nào cả; và đã tảo ảnh hưởng to lớn đới với nhóm Bổn Cư Tuyên Trường (本居宣長), Bình Điền Đốc Dận (平田篤胤).

phú ông

A rich man.

phú đa

Putana (skt)—See Bố Đát Na and Phú Đơn Na.

phú đan na quỷ

(富單那鬼) Phú đơn na, Phạm: Pùtana. Cũng gọi Phú đa na quỉ, Bố đát na quỉ. Hán dịch: Xú quỉ, Xú ngã quỉ, Nhiệt bệnh quỉ, Tai quái quỉ. Một trong các loại quỉ thần, là quyến thuộc của Trì quốc thiên, giữ gìn, che chở phương Đông. Theo kinh Hộ chư đồng tử đà la ni, thân hình quỉ Phú đa na giống như lợn (heo),thường làm cho trẻ con đang ngủ giật mình kinh sợ kêu khóc. Còn theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển 12, 18, thì quỉ Phú đơn na là loài quỉ có phúc báo hơn hết trong loài quỉ, mình mẩy cực kì hôi thối, nhớp nhúa, hay gây tai họa cho người và súc vật. Ngoài ra, có giống quỉ tên Ca tra phú đơn na (Phạm: Kaỉa-pùtana) là đồng loại với quỉ Phú đơn na. [X. kinh Thủ hộ đại thiên quốc độ Q.hạ; Phiên Phạm ngữ Q.7; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.6; Khổng tước kinh âm nghĩa Q.thượng; Đại Phật đính đà la ni khám chú].

phú đà na

Putana (skt)—See Phú Đơn Na.

phú đơn na

Putana (skt)—Phú Đà Na—Xú Ngạ Quỷ—Loài quỷ một khi bắt người liền làm cho người ấy cảm thấy như mình đang nằm trên lửa—A kind of demon who once invades a person's body makes that person feel as if he or she is on fire (a class of pretas in charge of fevers).

phú đặc ca gia

Pudgala (skt)—See Phú Già La.

phú đặc ca la

Pudgala (skt)—See Phú Già La.

Phú-lan-na

tức Phú-lan-na Ca-diếp, phiên âm từ Phạn ngữ Praṇa-kyapa, là một trong sáu vị thầy ngoại đạo vào thời đức Phật, thường gọi chung là lục sư ngoại đạo.

Phú-lan-na Ca-diếp

xem Phú-lan-na.

Phú-na Da-xá

富那耶舍; S: puṇyayaśa;|Tổ thứ 11 của Thiền tông Ấn Ðộ

Phú-na-bạt-đà

phiên âm từ Phạn ngữ là Prṇabhadra, tên một vị Thần tướng, được dịch nghĩa là Mãn Hiền (滿賢).

Phúc

福; S: puṇya; P: puñña; hoặc phúc đức;|Phúc đức nhờ bố thí, hay thực hiện nghi Lễ (s: pūjā), tụng kinh niệm Phật. Người ta cho rằng phúc này có thể tạo Thiện nghiệp để tái sinh trong một đời sống hạnh phúc hơn. Trong Ðại thừa – với mong cầu mọi chúng sinh cùng được giác ngộ – nhiều hành giả không quan tâm đến phúc đức riêng của mình mà »hồi hướng«, trao truyền phúc đức của mình cho mọi người. Ðó là một trong những hạnh Bồ Tát quan trọng.

phúc

1) Cái bụng: The belly. 2) Phước đức: Blessing—Happiness—Felicity—Good fortune. ; (福) Phạm: Puịya. Pàli: Puĩĩa. Cũng gọi Công đức, Phúc đức. Chỉ cho những hành vicó năng lực mang lại hạnh phúc thế gian, xuất thế gian. Kinh A hàm chia thiện hạnh làm 2 loại: Xuất thế gian vô lậu phạm hạnh và Thế gian hữu lậu phúc đức. Phúc đức chỉ cho việc bố thí... là nhân sinh lên cõi trời của những người tu hạnh tại gia. Phật giáo Bộ phái chia nghiệp buộc chúng sinh trong 3 cõi (thế gian) làm 3 loại: Phúc, Phi phúc, Bất động và cho Phúc nghiệp là nhân mang lại quả thiện trong cõi Dục. Đây là trường hợp Phúc chỉ được hạn cuộc trong thế gian. Đại thừa thì chia hạnh Lục độ làm 2 nghiệp là Phúc và Trí, gọi tất cả thiện hạnh không lấy trí tuệ làm thể là Phúc nghiệp và được coi là nhân để thành Phật. Đây là trường hợp Phúc không bị hạn định ở thế gian thôi mà thông cả xuất thế gian. Kinh Quán Vô lượng thọ cũng chia nhân tuTịnh độ lành Định thiện (khi tu thiện làm cho tâm tập trung vào 1 đối tượng, không để tán lọan) và Tán thiện (dùng tâm tán loạn để tu thiện). Tán thiện lại được chia làm Tam phúc: 1. Thế phúc: Đạo đức thế gian. 2. Giới phúc: Giới luật do đức Phật chế định. 3. Hành phúc: Thiện căn tự hành hóa tha.Do tu nhân phúc đức mà được quả báo hạnh phúc, gọi là Phúc nhân phúc quả. Ngoài ra, lấy chúng tăng làm đối tượng để bố thí có thể sinh ra phúc đức, chúng tăng được gọi là Phúc điền (ruộng phúc). Nhà cửa cung cấp cho người lữ hành và nghèo khổ sử dụng, được gọi là Phúc xá (Phạm: Puịyasàlà).

phúc điền

Zen Master Phúc Điền—Thiền sư Phúc Điền, quê ở Hà Đông. Ngài là người có công trong việc bảo tồn sử liệu Phật Giáo Việt Nam. Ngài thường trụ tại chùa Liên Tông để hoằng pháp. Ngài cũng là người khai sơn chùa Thiên Quang trên núi Đại Hưng ở Hà Nội. Sau đó, không ai biết ngài đi đâu và thị tịch hồi nào—A Vietnamese Zen master from Hà Đông, North Vietnam. He had the credit of preserving a lot of Vietnamese Buddhist history materials. He stayed most of his life at Liên Tông Temple in Hanoi to expand the Buddha Dharma. He was also the founder of Thiên Quang Temple at Mount Đại Hưng in Hanoi. Where and when he passed away were unknown.

phúc báo

See Phước Báo.

Phúc Châu Huyền Sa Tông Nhất Đại Sư Quảng Lục

(福州玄沙宗一大師廣錄, Fukushūgenshashūitsudaishikōroku): xem Huyền Sa Quảng Lục (玄沙廣錄, Genshakōroku).

phúc cái

(福蓋) Lọng phúc, tức phúc đức che thân. Nghĩa là nhờ tu hành thiện nghiệp mà được các phúc lợi làm chỗ nương tựa. Kinh Phúc cái chính hành sở tập (Đại 32, 719 trung) nói: Này các tỉ khưu! Nếu các ông nghiêmgiữgiới luật, siêng đọc tụng kinh điển thì đối với phúc cái, mau được tròn đủ.

phúc cái chính hành sở tập kinh

(福蓋正行所集經) Kinh, 12 quyển, do ngài Long thụ biên tập, ngài Nhật xứng dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Nội dung thu chép những lời đức Phật dạy có năng lực thành tựu phúc đức che thân, đồng thời đề cao các thiện nghiệp như 5 giới, 10 thiện đạo; dẫn dụng các kinh Ương quật ma la, kinh Y la diệp long vương nhân duyên, kinh Tạo tác phúc nghiệp, kinh Nan nễ ca... là những kinh điển được ít người biết đến. Kinh này lấy bố thí, trì giới làm trung tâm tu hành các đức, trong đó chưa thấy ngài Long thụ đề cập đến tư tưởng Không, Trung đạo và tư tưởng Đại thừa nói chung.

phúc giảng

(覆講) Cũng gọi Phúc thuật. Giảng lại. Nghĩa là sau khi nghe xong, đệ tử trình bày được những điều mà thầy đã giảng dạy, gọi là Phúc giảng. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 6, phần cuối (Đại 33, 761 trung) nói: Đức Phật kia thuyết trong 8.000 kiếp, 16 vị Vương tử giảng lại (phúc giảng) trong 84.000 kiếp. [X. Pháp hoa nghĩa kí Q.7; điều Tĩnh sùng trong Tục cao tăng truyện Q.10].

phúc huệ

(福慧) I. Phúc Tuệ. Cũng gọi Phúc quán. Tức là 2 thứ trang nghiêm: Phúc đức và Trí tuệ. Phúc là các nghiệp thiện bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định thuộc về lợi người;Tuệ là trí tuệ, tức quán niệm chân lí, thuộc về lợi mình.Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 2 (Đại 45, 490 hạ) nói: Trong Chung giáo, bàn về thực hành, thì ngay từ lúc mới phát tâm đã tu cả phúc lẫn tuệ, cho đến khi thành Phật không cần tu pháp nào khác nữa. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa; Ma ha chỉ quán Q.6; Thiền uyển thanh qui Q.6]. (xt. Phúc Trí). II. Phúc Tuệ (1623-?). Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Trừng thọ, Du châu (tỉnh Tứ xuyên), họ Diệp, tự Tư tu, sau đổi là Dạ trúc. Năm 22 tuổi, song thân qua đời, sư nương vào ngài Đông minh hiểu xuất gia. Năm 30 tuổi, khi ở am Thiên trúc tại Độc sơn, được ngài Tuyết lâm chỉ bảo, sư đến lễ yết Thiền sư Sơn huy Hoàn bích ở Long môn và đắc pháp, sư thụ giới Cụ túc ở viện Vạn thọ, rồi trở về Độc sơn. Đầu năm Khang hi (1662-1722), sư khai đường giảng pháp ở viện Tung sơn tại Côn minh, có tới cả nghìn học tăng. Năm Khang hi 26, lúc đó sư đã 65 tuổi, được ngài Sơn huy ở viện Trường tùng phó chúc. Sau, sư lần lượt trụ ở viện Từ vân phủ Vân nam, viện Trúc lâm phủ Mông hóa, viện Ngũ phúc tại Vân châu, phủ Thuận ninh, viện Thiện pháp ở núi Thụ tông, viện Pháp hoa, núi Ngọa long, huyện Phú dân và viện Di lặc ở châu Lộ nam, phủ Trưng giang, tất cả chùa viện trên đều ở tỉnh Vân nam. Sư có các tác phẩm: Tung sơn Dã trúc thiền sư ngữ lục 14 quyển, Tung sơn Dã trúc thiền sư hậu lục 8 quyển.

phúc hậu

Kind—Virtuous—Benevolent.

phúc họa

Happiness and misfortunes.

phúc khí

(覆器) Đồ dùng úp xuống. Tức chỉ cho cái miệng của dụng cụ đặt úp xuống đất. Theo luận Đại trí độ quyển 15 thì đức Phật đã dùng phúc khí làm thí dụ để dạy bảo ngài La hầu la. Nghĩa là một khi cái miệng của đồ dùng đã đặt úp xuống thì dù có rót nước, nước cũng không vào; vídụ như người không biết hổ thẹn thì tâm họ đã bị che lấp, tuy dùng đạo pháp để cứu cũng khó vào được. [X. Thích môn qui kính nghi Q.thượng].

phúc kiến tử

(福建子) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Tống, người tỉnh Phúc kiến (đất Mân), tên Trí bằng, hiệu Giới thạch. Sư bẩm tính cao khiết, chân thật, đắc pháp nơi ngài Triết ông Như diễm. Năm Thiệu định thứ 2 (1229), đầu tiên sư hoằng pháp ở chùa La hán tại Nhạn sơn thuộc Ôn châu, về sau, sư lần lượt trụ ở Phật nhật tịnh tuệ thiền tự, núi Lâm bình, phủ Lâm an; Bảo phúc thiền tự, núi Đại mai, phủ Khánh nguyên; Hiếu từ chân ứng thiền tự ở Hương sơn; Năng nhân thiền tự ở Thừa thiên, phủ Giang bình; Tịnh từ báo ân quang hiếu thiền tự, phủ Lâm an... Sư để lại tác phẩm: Thạch giới thiền sư ngữ lục 1 quyển. [X. Tục truyền đăng lục Q.35; Ngũ đăng nghiêm thống Q.22; Thiền lâm khẩu thực hỗn danh tập Q.hạ].

phúc lộc

Happiness and wealth

phúc lợi

Well-being

phúc lực thái tử

(福力太子) Vị Thái tử con vua Nhãn lực và Hoàng hậu Quảng chiếu. Cứ theo kinh Phúc lực thái tử nhân duyên, thủa xưa có vị vua tên là Nhãn lực, rất giỏi việc trị nước an dân, uy đức rộng lớn. Hoàng hậu tên là Quảng chiếu, thường đem vàng bạc châu báu bố thí rộng khắp, đồng thời, tuyên thuyết pháp yếu cho dân chúng nghe. Sau, Hoàng hậu sinh được một con, dung mạo đoan chính, có đầy đủ các thắng tướng phúc lực tốt lành của cõi trời, cho nên đặt tên là Phúc lực.

phúc mộ

(覆墓) Thăm lại phần mộ. Vào ngày thứ 3 sau khi chôn cất thi hài người chết, trở lại viếng thăm và quét tước phần mộ, gọi là Phúc mộ. Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 309 hạ) ghi: Ba ngày sau khi an táng, đến thăm lại phần mộ, gọi là Phúc mộ. Đỗ thị nói: Điều này không thấy trong kinh Lễ ghi, chỉ do con hiếu sau khi chôn cất thương tiếc người thân, vả lại, lo rằng phần mộ chưa được hoàn toàn nên đến xem xét lại. Nay, Thích tử đến thăm mộ cũng không có lỗi, vì chăm sóc mà đến.

phúc nghiệp

(福業) Phạm: Puịya-karma. Chỉ cho nghiệp thiện hữu lậu có năng lực mang lại quả báo phúc lợi cõi người, cõi trời. Cứ theo Bách luận sớ quyển thượng, phần đầu, thì phúc nghĩa là giàu có, tu hành nghiệp thiện có thể mang lại quả báo vui sướng ở cõi người, cõi trời, vì thế gọi là Phúc nghiệp. Theo phẩm Tam bảo trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 12 thì đức Thế tôn cho bố thí, trì giới (bình đẳng), tu định (tư duy, thuộc định hữu lậu)... là Phúc nghiệp, cũng gọi Tam phúc, hoặc Tam phúc sự nghiệp. (xt. Phúc Đẳng Tam Nghiệp).

phúc nhân

1) Một người sung sướng hạnh phúc: Happy man. 2) Nghiệp nhân cảm ứng từ quả phúc đức, thí dụ như thiện căn: A cause which gives rise to blessing, i.e. all good deeds. ; (福因) Chỉ cho nghiệp nhân mang lại quả báo phúc đức, tức gọi chung các công đức thiện căn bố thí, trì giới... Cứ theo kinh Phúc lực thái tử nhân duyên quyển 1, nếu các hữu tình thường siêng tu phúc nhân thì kết quả đạt được rất thù thắng. Nếu nhờ các nghiệp nhân thiện mà được quả báo phúc đức thì gọi là phúc quả, hoặc có thể gọi là Phúc báo, như được quả thiện của cõi người, cõi trời trong 6 đường. [X. kinh Phúc lực thái tử nhân duyên Q.1].

phúc nhơn sanh phúc quả

Blessed deeds produce blessed rewards, now and hereafter.

phúc phần

(福分) Đối lại: Đạo phần. Đạt được phần phúc đức, 1 trong 2 phần. Phúc nghĩa làcông đức, tu hành các pháp 5 giới, 10 thiện thì được quả báo hạnh phúc thế tục, gọi là Phúc phần; trái lại, phát tâm bồ đề tu hành 6 độ, được quả báo xuất thế thì gọi là Đạo phần. Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 2 (Đại 45, 490 hạ) nói: Vì hàng Tiểu thừa chỉ tu Trí phần chứ không tu Phúc phần, cho nên khi sắp được thành Phật lại phải tu thêm Phúc phần 100 kiếp nữa.

phúc sinh thiên

(福生天) Phạm: Puịya-prasava. Hán âm: Ba lật suy ha, Duy ha. Hán dịch: Sinh phúc, Đắc phúc, Thụ phúc, Vô lượng quang, Vô lượng nghiêm sức, Vô lượng mật thân, Quảng diệu, Dụng quả.Một trong 18 tầng trời của cõi Sắc, tức tầng trời thứ 7 trong Đệ tứ thiền. Cứ theo luận Lập thế a tì đàm quyển 6 thì người sinh vào cõi trời này thụ dụng phúc lợi tương ứng với trí, niệm, xả... cho nên gọi là Sinh phúc. Cứ theo luận Thuận chính lí quyển 21 thì cõi trời này là nơi vãng sinh của những người có phúc đức thù thắng, nên gọi là Phúc sinh. Theo luận Lập thế a tì đàm quyển 7 thì nhờ nghiệp nhân tương ứng với Trung phẩm Tứ thiền mà được sinh vào cõi trời này, sống 400 đại kiếp. Còn luận Tạp a tì đàm tâm quyển 2 và luận Chương sở tri quyển thượng thì cho rằng thân người ở cõi trời này cao 250 do tuần và sống lâu 250 kiếp. [X. phẩm Đao lợi thiên trong kinh Trường a hàm Q.20; kinh Đạo hành bát nhã Q.3; luận Câu xá Q.8; Pháp uyển châu lâm Q.2, 3].

phúc thành

(福城) Cũng gọi Giác thành, Phúc sinh thành. Nơi đồng tử Thiện tài tham vấn bồ tát Văn thù. Theo phẩm Nhập phápgiới kinh Hoa nghiêm quyển 62 (bản 80 quyển), trên đường đi về phương Nam, bồ tát Văn thù dừng nghỉ trong rừng sa la Trang nghiêm chàng ở phía đông Phúc thành (...). Bấy giờ, đồng tử Thiện tài nghe biết bồ tát Văn thù đang trụtạikhu rừng này, liền đến tham học.

phúc thọ

Happiness and longevity.

phúc tinh

Lucky star.

phúc trung

1) Cái trong bụng: Within the belly. 2) Đứa trẻ chưa sanh: Unborn child. 3) Trái tim: The heart. 4) Tử cung: Womb.

phúc trí

(福智) Từ ngữ gọi chung phúc đức và trí tuệ. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 9 thì trong các hạnh thù thắng mà Bồ tát tu hành, hạnh lấy tuệ làm tính gọi là Trí, các hạnh còn lại gọi là Phúc. Bồ tát muốn thành tựu quả Phật thì phải thực hành đầy đủ 2 hạnh thù thắng là thượng cầu bồ đề (trí nghiệp) và hạ hóa chúng sinh (phúc nghiệp). Tất cả hành vi của Bồ tát được thu chung vào Phúc hạnh và Trí hạnh, nhưng nếu chia riêng ra thì trong 6 độ, 5 độ trước (bố thí, trìgiới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định) thuộc về Phúc hạnh, còn độ thứ 6 (trí tuệ) thì thuộc về Trí hạnh. Cũng có thuyết cho rằng 3 độ trước thuộc Phúc hạnh, trí tuệ thuộc Trí hạnh, còn tinh tiến và thiền định thì chung cho cả Trí hạnh và Phúc hạnh. [X. kinh Niết bàn Q.27 (bản Bắc); Đại thừa nghĩa chương Q.12; Đại thừa nhập đạo thứ đệ; Thích môn qui kính nghi Q.trung].

phúc trí nhị nghiệp

(福智二業) Từ ngữ gọi chung Phúc nghiệp và Trí nghiệp. Hạnh nghiệp đạt được trí tuệ, gọi là Trí nghiệp; còn hạnh nghiệp đạt được tất cả phúc đức thì gọi là Phúc nghiệp. Trong 6 độ thì 5 độ trước thuộcvềPhúc nghiệp, độ thứ 6 thuộc về Trí nghiệp. Hai nghiệp phúc trí này phụ trợ và thành tựu lẫn nhau thì được quả Phật. [X. Kim cương bát nhã kinh tán thuật Q.thượng; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2]. (xt. Phúc Trí).

phúc trí tạng

(福智藏) Kho phúc trí. Tức chỉ cho Đại hạnh hoằng nguyện niệm Phật nói trong kinh Đại vô lượng thọ, cũng tức là danh hiệu Nam mô A di đà Phật. Tịnh độ chân tông ở Nhật bản cho rằng danh hiệu Nam mô A di đà Phật là pháp tạng chân thực chứa đựng 2 thứ trang nghiêm: Phúc đức và Trí tuệ. Nếu tín ngưỡng và thụ trì danh hiệu này thì chứng được diệu quả, cho nên gọi là Phúc trí tạng. Đó là hiển bày sự niệm Phật trong nguyện thứ 18 của đức Phật A di đà. Phúc trí tạng là 1 trong 3 tạng do Tịnh độ chân tông Nhật bản thành lập, 3 tạng này là 3 pháp môn phân biệt chân (chân thực) giả (phương tiện) của pháp nghĩa. [X. Giáo hành tín chứng Q.2]. (xt. Tam Tạng).

phúc trạch

Happiness and favour.

phúc túc

(福足) Đối lại: Trí túc. Túc có nghĩa là tiến tu, tức tiến tu đầy đủ phúc đức của 5 hạnh Ba la mật: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định để trang nghiêm hình tướng đẹp đẽ của Ứng thân. (xt. Nhị Túc).

phúc tăng

(福增) I. Phúc Tăng. Phạm: Zrì-vaddhi. Pàli: Sirì-vaddhi. Hán âm: Thi lợi bật đề. Tên vị A la hán, người thành Vương xá, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ đời xưa, là đệ tử của đức Phật. Cứ theo phẩm Xuất gia công đức Thi lợi bật đề trong kinh Hiền ngu quyển 4, lúc đức Thích tôn đang ở tại vườn trúc Ca lan đà gần thành Vương xá, trong thành có vị trưởng giả đã 100 tuổi, tên là Phúc tăng phát tâm xuất gia. Lúc đầu bị ngài Xá lợi phất từ chối vì lí do ông đã già yếu, không thể nào tụng kinh, ngồi thiền, chấp tác. Sau, được đức Phật cho phép và do ngài Mục liên truyền giới Cụ túc. Nhưng ở trong chúng, Phúc tăng thường bị những tỉ khưu trẻ trêu chọc nên rất khổ não, cuối cùng không chịu nổi bèn nhảy xuống sông tự trầm, nhưng rất may được ngài Mục liên cứu sống. Sau đó, nhờ sức thần thông của ngài Mục liên hóa độ, tỉ khưu Phúc tăng đã mau chóng chứng được quả A la hán. [X. Xuất gia công đức duyên khởi trong luận Bồ tát bản sinh man Q.4]. II. Phúc Tăng. Phạm: Puịđra-vardhana. Hán âm: Bôn na phạt đàn na. Hán dịch: Phúc tăng. Tên một nước xưa ở Đông Ấn độ, tương truyền, đức Phật từng đến nước này thuyết pháp giáo hóa. (xt. Bôn Na Phạt Đàn Na Quốc).

phúc tư bảo nhĩ

(福斯保爾) Fausbôll, Michael Viggo (1821-1908). Học giả Ấn độ học người Đan mạch, người đầu tiên sáng lập môn ngôn ngữ học Pàli. Ông là học trò của Rask, Rasmus Kristion và Westergard, Niels Lusdwig. Năm 1878, ông làm Giáo sư trường Đại học Copenhagen, nghiên cứu học thuật cổ đại của Ấn độ, đặc biệt chú trọng kinh Phật Nam truyền bằng tiếng Pàli. Năm 1855, ông hiệu đính và xuất bản nguyên điển kinh Pháp cú Pàli (Dhammapadam, Ex tribus codicibus Havniensibus Palice edidit, Latine vertit, excerptis ex Commentario Palico nostique illustravit V. Fausbôll Havniae, 1855). Đây là bộ kinh nguyên văn tiếngPàli đầu tiên có giá trị học thuật được xuất bản. Kế tiếp, ông lại cho ấn hành nguyên điển các loại kinh Bản sinh và bản dịch tiếng Anh. Năm 1897, ông xuất bản kinh Bản sinh đại tập 7 quyển (TheJàtaka, together with its Commentary, Being Tales of the Anterior Births of Gotama Buddha, London, 1875- 1897), mất hơn 20 năm mới hoàn thành. Ngoài ra, ông còn xuất bản bản dịch tiếng Anh của Kinh tập tiếng Pàli (The Suttanipàta, SBE. X, pt. II, 1881), cùng với nguyên điển và ngữ vựng (2 vols. I, Text; II, Glossary, 1884-1893).

phúc tướng pháp thân

(福相法身) Đối lại: Trí tướng pháp thân. Một trong hai loại pháp thân, là pháp thân chứng được do thụ trì giáo pháp và giảng nói cho người khác nghe. Dù đem 7 thứ báu bố thí khắp đại thiên thế giới, thì phúc đức cũng không bằng phúc đức nói 4 câu kệ, nhờ phúc tướng nói pháp ấy mà được pháp thân, cho nên gọi là Phúc tướng pháp thân. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 7 (Đại 45, 362 thượng) nói: Từ nơi hóa thân nghe lời dạy, nhờ nhân pháp thân ngôn thuyết mà sẽ thành quả Phật, thường sinh Trí tướng pháp thân và Phúc tướng pháp thân. (xt. Nhị Chủng Pháp Thân).

phúc tụ hải vô lượng

(福聚海無量) Phúc đức tích tụ rộng lớn vô lượng vô biên như biển cả. Là lời tán thán phúc đức của bồ tát Quan thế âm. Bồ tát Quan thế âm đầy đủ hết thảy công đức, đem lòng đại từ bi làm chỗ nương tựa và cứu hộ tất cả chúng sinh trong tai ách khổ não. Phẩm Quan thế âm bồ tát phổ môn kinh Pháp hoa (Đại 9, 58 thượng): Bậc Tịnh thánh Quan âm Thường làm nơi nương tựa Cho những người khổ nạn Ngài đầy đủ công đức Mắt hiền nhìn chúng sinh Phúc tụ hải vô lượng Vì thế nên đính lễ.

phúc xá

(福舍) Phạm: Puịya zàlà. Hán âm: Bôn nhương xá la. Nhà nghỉ cung ứng cho người đi đường và người nghèo khổ sử dụng miễn phí. Ở các nơi tại Ấn độ đời xưa đều xây dựng loại nhà này, giúp mọi người trong hoàn cảnh khó khăn để cầu phúc đức. Vì thế loại nhà này cũng được gọi là Phúc đức xá. Theo điều Trách ca quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 4, thì nước này có thiết trí nhiều Phúc xá để cung cấp cho những người túng bấn, hoặc phát thuốc men, hoặc cho thực phẩm để giúp cho người đi đường không sợ đói khát. [X. Đại đường tây vực kí Q.12].

phúc điền

(福田) Phạm: Puịya-kwetra. Pàli: Puĩĩa-kkhetta. Thửa ruộng có năng lực sinh ra phúc đức, ví dụ Phật, tăng, cha mẹ, người đau khổ... Vì kính thờ Phật, chúng tăng, cha mẹ và xót thương cứu giúp những người nghèo khổ, đau ốm thì được phúc đức, giống như người nông phu gieo trồng trên mảnh ruộng thì được thu hoạch, cho nên Phật, chúng tăng, cha mẹ và những người nghèo khổ được gọi là Phúc điền. Cứ theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 15 và kinh Đại phương tiện Phật báo ân quyển 3 thì Phật là đại phúc điền, tối thắng phúc điền, còn cha mẹ là phúc điền thù thắng nhất trong 3 cõi. Theo phẩm Cúng dường tam bảo trong kinh Ưu bà tắc giới quyển 3, kinh Tượng pháp quyết nghi, luận Đại trí độ quyển 12 và Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 8 thì có 3 loại Phúc điền: 1. Kính điền: (cũng gọi Cung kính phúc điền, Công đức phúc điền): Tức là Tam bảo Phật, Pháp, Tăng được chúng sinh cung kính. 2. Ân điền: (cũng gọi Báo ân phúc điền): tức cha mẹ, sư trưởng được báo đáp. 3. Bi điền (cũng gọi Lân mẫn phúc điền, Bần cùng phúc điền):Tức chỉ cho những người nghèo khổ, ốm đau cần được sự quan tâm giúp đỡ, chăm sóc. Ngoài ra, các kinh còn nêu lên nhiều cách phân loại về Phúc điền, như: 1. Hai loại phúc điền: -Hữu tác phúc điền: Cha mẹ, sư trưởng còn có sở cầu. Vô tác phúc điền: Chư Phật, Bồ tát không có sở cầu. -Học nhân điền: Bậc thánh Hữu học. Vô học nhân điền: Bậc thánh Vô học. 2. Ba loại phúc điền: Đại đức điền, tức Kính điền. Bần khổ điền, tứcBi điền. Đại đức bần khổ điền. 3. Bốn loại phúc điền: Đức điền: Chư Phật, Bồ tát. Ân điền: Cha mẹ, sư trưởng. Khổ điền: Người nghèo khổ, bệnh tật. Thú điền: Các loài súc sinh. 4. Tám loại phúc điền: Phật điền, Thánh nhân điền, Tăng điền, Hòa thượng điền, A xà lê điền, Phụ điền, Mẫu điền và Bệnh điền. Theo phẩm Phúc điền trong luận Thành thực quyển 1 thì 27 bậc Hiền Thánh đã dứt hết các phiền não tham, khuể...; tâm các Ngài vắng lặng, không khởi phiền não ác nghiệp, thiền định mà các Ngài chứng được đều thanh tịnh, mãi mãi xa lìa các phiền não, xả bỏ buồn vui, có năng lực dứt trừ 5 thứ tâm phược, thành tựu 8 loại Công đức điền, đồng thời dùng 7 thiền định hộ trì thiện tâm, tận diệt 7 thứ lậu hoặc, đầy đủ 7 tịnh pháp như giới..., thành tựu 8 công đức thiểu dục tri túc, lại có năng lực vượt qua bờ bên kia, tinh tiến cầu độ... gọi là Phúc điền. Cứ theo kinh Thủ lăng nghiêm tam muội quyển hạ, người nào đầy đủ 10 pháp hạnh thì gọi là Chân thực phúc điền. Mười pháp hạnh ấy là: 1. Trụ trong 3 cửa giải thoát: Không, Vô tướng, Vô nguyện, nhưng không vào pháp vị. 2. Thấy biết rõ ràng lí 4 đế, nhưng không chứng đạo quả. 3. Thực hành 8 giải thoát nhưng không xả bỏ hạnh bồ tát. 4. Có năng lực phát khởi 3 loại trí chứng minh: Túc trụ, Sinh tử, Lậu tận, nhưng thường ở trong 3 cõi. 5. Thường hiện hình tướng uy nghi của Thanh văn, nhưng không theo âm thanh ngôn giáo mà cầu pháp nơi người khác. 6. Hiện hình tướng uy nghi của Bích chi phật, nhưng thường dùng biện tài vô ngại đẻ thuyết pháp. 7. Thường ở trong thiền định, nhưng có năng lực hiện hành tất cả pháp. 8. Không lìa chính đạo mà thị hiện đi vào tà đạo. 9. Tham đắm ái nhiễm, nhưng xa lìa tất cả phiền não của các thứ dục. 10. Chứng nhập Niết bàn nhưng không hủy hoại và xả bỏ sinh tử. Qua sự trình bày trên đây, ta thấy có nhiều loại Phúc điền, nhưng chủ yếu là lấy Phật và các Thánh đệtử làm Phúc điền, do đó mà gọi A la hán là Ứng cúng (xứng đáng tiếp nhận sự cúng dường), về sau thì có những tên gọi như Kính điền, Bi điền... Trung quốc từ xưa đến nay vốn quí trọng Kính điền và Bi điền nên thường thực hành cúng dường huệ thí... Lời tựa thiên Khải phúc của ngài Đạo tuyên trong Quảng hoằng minh tập quyển 28 nói rằng: Nay luận về phúc đức thì lấy bi kính làm đầu, bi thì thương xót những người chịu các nỗi khổ đau đớn đắng cay trong đường khổ, nguyện cứu giúp họ ra khỏi; kính thì biết Phật pháp khó gặp nên thường tín ngưỡng và hoằng truyền. [X. kinh Tạp a hàm Q.35; kinh Tiểu duyên trong Trường a hàm Q.6; kinh Tiểu phẩm bát nhã Q.8; kinh Hoa nghiêm Q.13 (bản dịch mới); luật Tứ phần Q.2; luận Đại trí độ Q.4; luận A tì đặt ma tạng Q.23; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng (Tuệ viễn); Phạm võng kinh bồ tát giới bản sớ Q.5 (Pháp tạng); Thích thị yếu lãm Q.trung; Pháp uyển châu lâm Q.21, 33; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.4].

phúc điền tịnh đức

(福田淨德) Người xuất gia phải có giới đức thanh tịnh mới xứng đáng làm phúc điền cho thế gian. Vì người đời nếu cúng dường chúng tăng thanh tịnh thì được phúc đức lớn, nên gọi chúng tăng giới đức thanh tịnh là Phúc điền.Kinh Chư đức phúc điền nêu ra 5 đức hạnh mà người xuất gia cần phải có đủ để được làm phúc điền, đó là: 1. Phát tâm li dục: Phát tâm mạnh mẽ ra khỏi phàm tục để tu tập đạo Bồ đề của Phật, mới có thể liễu ngộ đạo mầu nhiệm. 2. Hủy kì hình hảo: Cạo bỏ râu tóc, không màng tướng đẹp, cởi bỏ áo thế tục, mặc áo pháp của Như lai, đầy đủ uy nghi của Phật. 3. Vĩnh cát thân ái: Nương theo Phật xuất gia, cắt đứt tình thân ái cha mẹ, một lòng siêng chăm tu đạo để báo đền ân đức sinh thành của cha mẹ. 4.Ủy khí khu mệnh: Không luyến tiếc thân mệnh, chỉ nhất tâm cầu chứng Phật đạo.5. Chí cầu đại thừa: Thường ôm lòng cứu giúp chúng sinh, chuyên cần tu tập, quyết chí cầu pháp Đại thừa, độ thoát tất cả hữu tình.

phúc điền viện

(福田院) Nơi chuyên thu nhận nuôi dưỡng những người già yếu, trẻ em, tàn tật không nơi nương tựa. Trước năm Gia hựu (1056-1063) đời Bắc Tống, ở kinh đô đã thiết lập viện Đông tây phúc điền. Đến năm Gia hựu thứ 8 lại xây thêm viện Nam bắc phúc điền để chăm lo săn sóc cho những người già yếu, trẻ mồ côi, người nghèo khổ và tật bệnh. Cứ theo Cựu đường thư và Đường hội yếu thì ở đời Đường viện Bi điền cũng đã được thiết lập để nuôi dưỡng những lớp người như trên, đời Tống chỉ phỏng theo đời Đường, nhưng đổi tên là viện Phúc điền mà thôi. (xt. Bi Điền).

phúc điền vô thượng tâm

(福田無上心) Một trong 6 thứ tịnh tâm. Tâm tận lực cúng dường phúc điền Tam bảo, vì trong các phúc điền như Kính điền, Bi điền, Ân điền... thì phúc điền Tam bảo Phật, Pháp, Tăng là phúc điền tối thượng. Cứ theo kinh Bồ tát địa trì quyển 7, Bồ tát đối trước Như lai sinh khởi 6 thứ tâm thanh tịnh: Tâm phúc điền vô thượng, tâm ân đức vô thượng, tâm vô thượng đối với tất cả chúng sinh, tâm khó gặp như hoa Ưu đàm bát, tâm độc nhất trong 3 nghìn đại thiên thế giới và tâm nương vào nghĩa đầy đủ tất cả pháp thế gian xuất thế gian. Dâng 6 thứ tâm này lên cúng dường Phật, Pháp, Tăng thì được vô lượng công đức.

phúc điền y

(福田衣) Áo ruộng phúc, tên khác của áo ca sa. Vì cúng dường chúng tăng thì được đại công đức, nên gọi chúng tăng là Phúc điền và gọi áo ca sa các ngài mặc là Phúc điền y. Cứ theo sự giải thích trong Tứ phần luật san phồn tùy cơ yết ma sớ quyển 4 thì tấm áo cà sa vuông vức như 1 thửa ruộng, những đường nẹp trong ca sa tượng trưng cho bờ ruộng; vì ruộng phải có bờ để giữ nước thìmới nuôi lớn và làm cho lúa mạ tốt tươi. Còn áo pháp ca sa thì mở rộng tâm của 4 điều lợi (từ bi hỉ xả) và tăng thêm 3 điều thiện (không tham, không sân, không si) để nuôi lớn tuệ mệnh của pháp thân. Vì có ngụ ý ấy nên gọi ca sa là Phúc điền y. Cũng tức là tỉ khưu nhờ công đức mặc 3 áo (ca sa) mà được người khác cúng dường để duy trì thân mệnh; lại thực hành pháp thí (tức nói pháp) đối với người khác để mình và người cùng được hưởng phúc đức.

phúc đáp

To reply—To answer—To respond.

phúc đình

Sảnh đường của phúc đức, hay tự viện—A court, or hall, of blessedness, a onastery.

phúc đẳng tam nghiệp

(福等三業) Từ ngữ gọi chung Phúc nghiệp, Phi phúc nghiệp và Bất động nghiệp. 1. Phúc nghiệp (Phạm: Puịyakarma): Nghiệp thiện của cõi Dục, chiêu cảm quả như ý lợi ích chúng sinh. 2. Phi phúc nghiệp (Phạm: Apuịyakarma): Các nghiệp bất thiện ở cõi Dục chiêu cảm quả bất như ý tổn hại chúng sinh.3. Bất động nghiệp (Phạm: Aniĩjyakarma): Nghiệp thiện ở cõi Sắc và cõi Vô sắc, chiêu cảm quả bất động. Luận Du già sư địa quyển 9 (Đại 30, 319 hạ) nói: Phúc nghiệp là cảm quả dị thục trong đường thiện và thuận thụ nghiệp thiện trong 5 đường. Phi phúc nghiệp là cảm quả dị thục trong đường ác và thuận thụ nghiệp bất thiện trong 5 đường. Bất động nghiệp là cảm quả dị thục ở cõi Sắc, cõi Vô sắc và thuận thụ nghiệp thiện ở cõi Sắc, cõi Vô sắc. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.55; luận Câu xá Q.15; luận Thành duy thức Q.8]. (xt. Tam Nghiệp).

phúc địa

Tên gọi chùa chiềng, mảnh đất sinh ra phúc đức—A place of blessedness, a monastery. ; (福地) I. Phúc Địa. Cũng gọi là Phúc đình. Chỉ cho chùa viện, là nơi có năng lực sinh ra phúc đức. II. Phúc Địa. Phạm: Kurukwetra. Hán âm: Câu rô khất sái. Cổ chiến trường ở Trung Ấn độ. Cứ theo điều Tát tha ni thấp phạt la quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 4, trong 1 phạm vi rộng 200 dặm đất ở kinh đô nước này được gọi là Phúc địa. Vì tất cả 5 nước Ấn độ đời xưa do 2 ông vua chia nhau thống trị, chiến tranh liên miên vì nạn xâm chiếm đất đai của nhau. Về sau, 2 vua đồng ý quyết chiến với nhau 1 trận cuối cùng để phân thắng bại, nhưng trăm họ đã đau khổ quá nhiều, không còn chịu đựng được nữa nên không theo lệnh vua. Nhà vua liền nghĩ ra 1 kế dụ dỗ dân chúng, bảo họ rằng 200 dặm đất trong thành vua, từ xưa vốn là đất phúc lợi, nếu ai vì chốngkẻ địch mà chết ở chỗ này thì sẽ được sinh làm người. Còn nếu giết được nhiều kẻ thù thì sẽ được hưởng phúc lạc trên cõi trời. Nhân dân bèn ra sức chiến đấu, coi cái chết như trở về. Hai nước thư hùng 1 trận tại đây, xác chết chất cao như núi. Người Ấn độ có truyền thống tôn trọng hài cốt của cổ nhân, nên truyền nhau bảo nơi đó là Phúc địa. [X. luận Kim cương châm].

phúc độ

(福度) (1637-?) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Vĩnh xuyên, Tây thục (tỉnh Tứ xuyên), họ trương, hiệu Mai khê. Năm 16 tuổi, sư lễ ngài Tri như ở Đông sơn xin xuất gia tu học. Năm 20 tuổi, cầu ngài Khoát lãng thụ giới Cụ túc. Năm sau, sư tham yết ngài Linh ẩn Ấn văn ở chùa Vân tập tại Tân hưng, Điền thành (tỉnh Vân nam). Năm 25 tuổi, sư đến chùa Quán âm ở Đậu bảo, được ngài Linh ẩn phó chúc đại pháp. Mới đầu, sư hoằng pháp ở viện Vĩnh hưng tại Bồng lai. Từ năm Khang hi thứ 7 (1668) trở về sau, sư lần lượt trụ các chùa như: Viện Trung nghĩa, chùa Hoa quang ở An long, chùa Đẳng giác ở phủ Mông hóa, tỉnh Vân nam, viện Ngọc các, Quan âm các ở Tông châu, chùa Viên thông ở huyện Phổ an, tỉnh Tứ xuyên, am Cát tường ở An long…... Sư có tác phẩm: Đông sơn Mai khê thiền sư ngữ lục, 10 quyển.

phúc đức

See Phước Đức. ; (福德) I. PhúcĐức. Chỉ cho phúc lợi nhờ làm tất cả việc thiện ở quá khứ và hiện tại mà có được. Cứ theo kinh Kim cương bát nhã ba la mật thì Bồ tát đối với các pháp không nên để bị dính mắc (ưng vô sở trụ), phải thực hành bố thí chẳng trụ sắc, bố thí chẳng trụ thanh, cho đến bố thí chẳng trụ pháp... Nếu bố thí mà không trụ tướng như thế thì được phúc đức chẳng thể nghĩ lường. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa]. II. Phúc Đức. Đồng nghĩa với pháp thiện. Theo phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa, nếu tỉ khưu, tỉ khưu ni có tâm tăng thượng mạn, ưu bà tắc có tâm ngã mạn, ưu bà di có tâm bất tín thì không thấy được lỗi của mình, khuyết phạm giới luật. Những hạng người này ít có pháp lành, không thể thụ trì pháp Nhất Phật thừa. [X. Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.35].

phúc đức môn

(福德門) Đối lại: Trí tuệ môn. Một trong 2 môn. Chỉ cho 5 độ: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến và thiền định trong 6 độ. Nếu vào được cửa phúc đức thì tất cả tội nghiệp đều được trừ, những điều nguyện ước đều được toại. Luận Đại trí độ quyển 15 (Đại 25, 172 trung) nói: Muốn thành tựu Phật đạo phải tu đủ 2 môn là Phúc đức và Trí tuệ. Thực hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, là Phúc đức môn; Ma ha bát nhã ba la mật biết rõ thực tướng của các pháp là Trí tuệ môn. (xt. Phúc Trí).

phúc đức tư lương

(福德資糧) Cũng gọi Phúc đức trang nghiêm. Đối lại: Trí tuệ tư lương. Một trong hai thứ tư lương. Dùng phúc đức làm tư lương để đạt đến quả vị viên mãn. Như tu trì 5 độ trước: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục... trong 6 độ làm tư lương để chứng quả Phật. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 7 (Đại 45, 366 thượng) nói: Lại có 2 nhân có thể đạt được 2 quả. Như Đại thừa trang nghiêm kinh luận nói Phúc đức và trí tuệ, Bồ tát khéo léo, mạnh mẽ tu tập đến cùng tận 2 thứ tư lương này để mau chóng đạt đến bờ giác. (xt. Phúc Trí).

phúc đức tạng

(福德藏) Chỉ cho các hạnh định thiện, tán thiện được nói đến trong kinh Quán Vô lượng thọ. Vì các loại thiện hạnh này có công năng đem lại nhiều phúc lợi, giống như cái kho (tạng) có sức chứa đựng các phúc đức, cho nên gọi là Phúc đức tạng. Tịnh độ chân tông của Nhật bản xếp tạng này làm 1 trong 3 pháp môn để phân biệt pháp nghĩa chân thực với phương tiện giả tạm. Ba pháp môn này được gọi là Tam tạng (Phúc trí tạng, Phúc đức tạng, Công đức tạng), trong đó, Phúc đức tạng là Phương tiện tạng của yếu môn Tịnh độ; dùng tự lực tu tập các hạnh định, tán để được vãng sinh Hóa độ. Đó là mở bày các hạnh định, tán trong nguyện thứ 19 của đức Phật A di đà. (xt. Tam Tạng).

phúng

Nói bóng gió hay châm biếm—To satirize—To intone.

Phúng kinh

(諷經): tụng kinh, đọc kinh văn theo âm điệu trầm bổng, lên xuống. Nguyên lai là pháp của Bà La Môn giáo, sau đó đức Phật hứa khả cho các Tỳ Kheo được sử dụng pháp này, tức là Phạn Bối (梵唄). Người có khả năng về khoa này được gọi là kinh sư (經師). Trong bài Lễ Tụng Dược Sư Cáo Văn (禮誦藥師告文) của Lý Chí (李贄, 1527-1602) nhà Minh có câu: “Sấn thử nhất bách nhị thập nhật kỳ hội, phúng kinh bái sám đạo tràng (趁此一百二十日期會、諷經拜懺道塲, nhân dịp 120 ngày này, tụng kinh lạy sám hối đạo tràng).” Hay trong tác phẩm Tô Châu Phong Tục (蘇州風俗), chương Hôn Tang Lễ Tục (婚喪禮俗), của Chu Chấn Hạc (周振鶴) có đoạn: “Tử hậu mỗi thất nhật, tất diên tăng lữ hoặc vũ y lễ sám phúng kinh (死後每七日、必延僧侶或羽士禮懺諷經, sau khi chết vào mỗi tuần bảy ngày, phải mời tăng sĩ hay đạo sĩ đến lạy sám hối, tụng kinh).” Trong Phật Thuyết Di Nhật Ma Ni Bảo Kinh (佛說遺日摩尼寶經, Taishō Vol. 12, No. 350) có nêu lên tầm quan trọng của việc tụng kinh, trì giới như sau: “Tuy đa phúng kinh nhi bất trì giới, thí như nhân bệnh đắc vương gia dược, bất tự hộ tọa tử, tuy đa phúng kinh nhi bất trì giới như thị, thí như Ma Ni bảo châu đọa ư thỉ trung (雖多諷經而不持戒、譬如人病得王家藥、不自護坐死、雖多諷經而不持戒如是、譬如摩尼珠墮於屎中, tuy tụng kinh nhiều mà không giữ giới, giống như người bị bệnh có được thuốc nhà vua, nhưng không thoát khỏi chết ngồi, tuy kinh nhiều mà không giữ giới như vậy, giống như ngọc báu Ma Ni rơi trong đống phân).”

phúng kinh

Điều chỉnh giọng nói để phúng tụng kinh văn, đặc biệt là trong các cuộc lễ (dù là pháp của Bà La Môn, nhưng Đức Phật vẫn cho phép chư Tăng Ni dùng trong các buổi tụng kinh cho thuận theo lòng người)—To intone a scripture, especially one suited to the occasion.

Phúng tụng

xem Già-đà. Xem Mười hai bộ kinh.

phúng tụng

Gatha (skt)—Già Đà—Những câu phúng vịnh, tán thán nghĩa lý thâm diệu và ca tụng công đức của Phật và Tam Bảo—To intone—To sing. ; (諷誦) Cũng gọi Tụng kinh, Phúng kinh, Phúng độc, Độc kinh. Tức đọc tụng văn kinh và tán vịnh các câu kệ. Phúng tụng vốn là 1 trong 6 hành pháp (Phạm:Waỉ karmàịi) của người Bà la môn Ấn độ thực hành, về sau, tín đồ Phật giáo cũng dùng pháp này. Phúng tụng kinh điển cúng dường tăng, gọi là Phúng cúng. Trong Thiền lâm, tùy theo đối tượng, thời gian, trường hợp khác nhau mà Phúng kinh được chia ra nhiều loại. Như mỗi ngày 3 thời dùng cháo, thụ trai và ngồi thiền xong, chúng tăng lên điện phúng kinh, gọi là Tam thời phúng kinh; mỗi tháng vào các ngày mồng 1, ngày rằm có Chúc thánh phúng kinh, Ứng cúng phúng kinh. Ngoài ra còn có Bán trai phúng kinh, Nhật trung phúng kinh, Thổ địa đường phúng kinh, Tổ đường phúng kinh, Vi đà thiên phúng kinh, Triêu khóa phúng kinh, Vãn khóa phúng kinh... [X. kinh Ngũ chủng đức trong Trường a hàm Q.10; kinh Vô lượng thọ Q.thượng; phẩm Hóa thành dụ kinh Pháp hoa Q.3; điều Thánh tiết trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1; môn Phúng xướng trong Thiền lâm tượng khí tiên].

phúng điếu

To offer ritual objects to a deceased person.

phút chốc

In a moment.

phũ phàng

Brutal—Cruel.

phưng phức

Rất thơm tho ngọt ngào—Very sweet-smelling.

phương

1) Vuông: Square. 2) Phương cách: Method—Way—Means. 3) Địa phương: A place—Locality. 4) Đền (chánh điện): A temple—A place of assembly. ; (方) Phạm: Diz. Chỉ cho phương vị, không gian. Một trong 24 pháp Bất tương ứng hành của tông Duy thức. Tức là những phần vị tồn tại trong không gian do sự quan hệ đối đãi giữa các sắc pháp(sự tồn tại của vật chất) mà sinh ra. Gồm có 10 phương: Đông, tây, nam, bắc, 4 duy (4 góc), trên và dưới. [X. luận Đại thừaa tì đạt ma tạp tập Q.2; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Du già sư địa Q.3].

phương châm

Tenets.

phương châm tu hành của phật tử

Bồ đề tâm làm nhân, đại bi tâm làm căn bản, phương tiện thiện xảo làm phương cách thực hành, và Niết bàn làm cứu cánh.”—Guideline (tenets) of cultivation for Buddhists: “Bodhi mind is the cause, great compassion is the foundation, skillful means is daily method of practicing, and Nirvana is the ultimate goal.”

phương chước

Expedient—Means.

phương chỉ

Direction.

phương cách

Way—Context—Means Approach.

phương cách đáng kính

A respectable way.

phương danh

Good name (reputation).

phương diện

Aspect.

phương hướng

Direction.

phương hại

To be harmful—To be detrimental.

phương hội dương kỳ thiền sư

Zen master Fang-Hui-Yang-Qi—Thiền sư Phương Hội sanh năm 992 tại Viên Châu (bây giờ thuộc tỉnh Giang Tây), đệ tử và là người kế thừa Pháp của Thiền Sư Thạch Sương Sở Viện, và là thầy của Bạch Vân Thủ Đoan. Dương Kỳ lập ra phái Thiền Lâm Tế mang tên ông, một trong hai nhánh thiền Lâm Tế sau khi thầy Thạch Sương thị tịch. Phái Thiền nầy được các thiền sư Trung Hoa và Nhật Bản mang vào Nhật Bản và hiện nay vẫn còn được lưu truyền tại đây—Zen master Fang-Hui-Yang-Qi was born in 992 in Yuan-Chou (now in Jiang-Xi Province), was a disciple and dharma successor of Shi-Shuang-Chu-Yuan, and the master of Pai-Yun-Shou-Tuan. Yang-Qi founded the Yogi school of Lin-Chi Zen, which bears his name. It is one of the two lineages into which the tradition of the Lin-Chi school divided after Master Shih-Shuang. The strict Zen of Yogi lineage was brought to Japan by Chinese and Japanese masters and still flourishes there today. • Đi du phương, sư đến yết kiến Thiền sư Từ Minh ở Nam Nguyên. Sư dừng lại đây phụ tá cho Từ Minh một cách siêng năng cần khổ. Từ Minh dời sang Thạch Sương Đạo Ngô, sư cũng dời theo. Nơi đây sư làm Giám Tự (administrator). Tuy theo Từ Minh đã lâu mà sư chưa tỉnh ngộ. Mỗi khi đến thưa hỏi, Từ Minh bảo: “Việc trong ty khố quá nhiều hãy đi.” Hôm khác sư đến hỏi, Từ Minh bảo: “Giám Tự ngày sau con cháu khắp thiên hạ cần gì vội gấp.” Một hôm Từ Minh vừa đi ra chợt mưa đến, sư rình ở con đường tắt. Từ Minh đến, sư liền nắm đứng lại nói: “Ông già này! Hôm nay phải vì tôi nói, nếu không nói tôi sẽ đánh ông.” Từ Minh nói: “Giám Tự biết là việc quanh co liền thôi.” Câu nói chưa dứt, sư đại ngộ, liền đảnh lễ ngay dưới bùn. Hôm sau, sư đầy đủ oai nghi đến phương trượng lễ tạ. Từ Minh quở: “Chưa phải.”—When Shi-Shuang Chu-Yuan moved from Nan-Yuan to Mount T'ao-Wu, and then to Shi-Shuang, Yang-Qi followed him, performing administrative affairs in each place. Although Yang-Qi remained with Shi-Shuang for a long time, he never attained enlightenment. Each time he would have an interview, Shi-Shuang would say: “There are a lot of administrative affairs requiring attention. Go do them.” On one occasion when Yang-Qi went to see Shi-Shuang for instruction on practice, Shi-Shuang said: “Director! Someday your descendants will cover the earth. Why are you in a hurry?” One day, Shi-Shuang had just gone out when it suddenly began to rain. Yang-Qi spied his teacher's walking on a small path, chased him down, and grabbed him, saying: “You've got to talk to me now, or else I'm going to hit you!” Shi-Shuang said: “Director! You already completely know how to take care of things, so that's enough!” Before Shi-Shuang had finished speaking, Yang-Qi experienced great enlightenment. He then knelt and bowed to Shi-Shuang on the muddy path. • Từ Minh thượng đường, sư ra hỏi: “Khi chim núp kêu nẩm nẩm, từ mây bay vào núi loạn, là thế nào?” Từ Minh đáp: “Ta đi trong cỏ hoang, ngươi lại vào thôn sâu.” Sư thưa: “Quan chẳng nhận kim, lại mượn một câu hỏi.” Từ Minh liền hét. Sư thưa: “Hét hay” Từ Minh lại hét. Sư cũng hét. Từ Minh hét luôn hai tiếng. Sư lễ bái. Từ Minh nói: “Việc nầy là cá nhơn mới gánh vác.” Sư phủi áo ra đi—Yang-Qi asked Shi-Shuang: “How is it when the great dark bird cries 'Na! Na!' and flies down from the clouds into the chaotic mountain peak?” Shi-Shuang said: “I walk in wild grasses. You rush into the village.” Yang-Qi said: “When the senses have no room for even a needle, still there is another question.” Shi-Shuang then shouted. Yang-Qi said: “Good shout.” Shi-Shuang shouted again. Yang-Qi also shouted. Shi-Shuang then shouted twice. Yang-Qi bowed. Shi-Shuang said: “This affair concerns one person taking up and carrying a lotus.” Yang-Qi shook his sleeves and went out. • Dương Kỳ thường nói một cách tích cực về an tâm lập mệnh và cái giàu phi thế tục của ngài. Thay vì nói chỉ có đôi tay không, ngài lại nói về muôn vật trong đời, nào đèn trăng quạt gió, nào kho vô tận, thật quá đủ lắm rồi như chúng ta có thể thấy qua bài thơ sau đây diễn tả về ngôi nhà điêu tàn của sư: “Nhà ta phên mái rách tơi bời Nền trắng một màu tuyết trắng rơi Giá lạnh toàn thân, lòng vạn mối Người xưa nhà chỉ bóng cây thôi.” —Zen master Yang Ch'i always talked positively about his contentment and unworldly riches. Instead of saying that he is empty-handed, he talked of the natural sufficiency of things about him as we can see through this poem concerning his deserted habitation: My dwelling is now here at Yang-Ch'i The walls and roof, how weather-beaten! The whole floor is covered white with Snow crystal, shivering down the neck, I am filled with thoughts. How I recall the ancient masters whose habitat was no better than the shade of a tree!” Theo Thiền sư D. T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập I, bài thơ nầy không ngụ ý tác giả ăn không ngồi rồi hay không làm gì khác, hoặc không có gì khác hơn để làm hơn là thưởng thức hoa đào nở trong nắng sớm, hay ngắm vầng trăng trong tuyết bạc, trong ngôi nhà đìu hiu. Ngược lại, ngài có thể đang hăng say làm việc, hoặc đang dạy đệ tử, hoặc đang tụng kinh, quét chùa hay dẫy cỏ như thường lệ, nhưng lòng tràn ngập một niềm thanh tịnh khinh an. Mọi mong cầu đều xả bỏ hết, không còn một vọng tưởng nào gây trở ngại cho tâm trí ứng dụng dọc ngang, do đó tâm của ngài lúc bấy giờ là tâm 'không,' thân là 'thân nghèo.' Vì nghèo nên ngài biết thưởng thức hoa xuân, biết ngắm trăng thu. Trái lại, nếu có của thế gian chồng chất đầy con tim, thì còn chỗ nào dành cho những lạc thú thần tiên ấy. Kỳ thật, theo sư Dương Kỳ thì sự tích trữ của cải chỉ toàn tạo nghịch duyên khó thích hợp với những lý tưởng thánh thiện, chính vì thế mà sư nghèo. Theo sư thì mục đích của nhà Thiền là buông bỏ chấp trước. Không riêng gì của cải, mà ngay cả mọi chấp trước đều là của cải, là tích trữ tài sản. Còn Thiền thì dạy buông bỏ tất cả vật sở hữu, mục đích là làm cho con người trở nên nghèo và khiêm cung từ tốn. Trái lại, học thức khiến con người thêm giàu sang cao ngạo. Vì học tức là nắm giữ, là chấp; càng học càng có thêm, nên 'càng biết càng lo, kiến thức càng cao thì khổ não càng lắm.' Đối với Thiền, những thứ ấy chỉ là khổ công bắt gió mà thôi—According Zen master D.T. Suzuki in the Essays in Zen Buddhism, Book I, this poem is not to convey the idea that he is idly sitting and doing nothing particularly; or that he has nothing else to do but to enjoy the cherry-blossoms fragrant in the morning sun, or the lonely moon white and silvery in a deserted habitation. In the contrary, he may be in the midst of work, teaching pupils, reading the sutras, sweeping and farming as all the master have done, and yet his own mind is filled with transcendental happiness and quietude. All hankerings of the heart have departed, there are no idle thoughts clogging the flow of life-activity, and thus he is empty and poverty-stricken. As he is poverty-stricken, he knows how to enjoy the 'spring flowers' and the 'autumnal moon.' When worldly riches are amassed in his heart, there is no room left there for such celestial enjoyments. In fact, according to Zen master Yang-Ch'i, the amassing of wealth has always resulted in producing characters that do not go very well with our ideals of saintliness, thus he was always poor. The aim of Zen discipline is to attain to the state of 'non-attainment.' All knowledge is an acquisition and accumulation, whereas Zen proposes to deprive one of all one's possessions. The spirit is to make one poor and humble, thoroughly cleansed of inner impurities. On the contrary, learning makes one rich and arrogant. Because learning is earning, the more learned, the richer, and therefore 'in much wisdom is much grief; and he that increased knowledge increased sorrow.' It is after all, Zen emphasizes that this is only a 'vanity and a striving after wind.' • Sư hỏi vị Tăng mới đến: “Mây dày đường hẹp xe to từ đâu đến?” Vị Tăng thưa: “Trời không bốn vách.” Sư hỏi: “Đi rách bao nhiêu giày cỏ?” Vị Tăng liền hét. Sư bảo: “Một hét hai hét sau lại làm gì?” Vị Tăng nói: “Xem ông Hòa Thượng già vội vàng.” Sư nói: Cây gậy không có ở đây, thôi ngồi uống trà.”—Yang-Qi asked a monk who had just arrived: “The fog is thick and the road is obscured, so how did you get here?” The monk said: “The sky does not have four walls.” Yang-Qi said: “How many straw sandals did you wear out coming here?” The monk shouted. Yang-Qi said: “One shout. Two shout. After that, then what?” The monk said: “I meet you, Master, but you're quite busy.” Yang-Qi said: “I don't have my staff. Sit and have some tea.” • Sư hỏi vị Tăng mới đến: “Lá rụng mây dồn sớm rời chỗ nào?” Vị Tăng thưa: “Quan Âm.” Sư nói: “Dưới chơn Quan Âm một câu làm sao nói?” Vị Tăng nói: “Vừa đến thấy nhau xong.” Sư hỏi: “Việc thấy nhau là thế nào?” Vị Tăng không đáp được: Sư bảo: “Thượng Tọa thứ hai đáp thế Thượng Tọa thứ nhất xem?” Vị Tăng thứ hai cũng không đáp được. Sư bảo: “Cả hai đều độn hết.”—When another monk arrived, Yang-Qi said to him: “The leaves fall and the clouds gather. Where did you come from today?” The monk said: “From Kuan-Yin.” Yang-Qi asked: How would you say one word from beneath Kuan-Yin's heels?” The monk said: “I've just arrived to see you.” Yang-Qi said: “What is it that you've seen?” The monk didn't answer. Yang-Qi said to a second monk who had also come: “You! Can you say something for this practitioner?” The second monk didn't answer. Yang-Qi said: “Here are a couple of dumb horses.” • Sư thị tịch năm 1054—He passed away in 1054. ** For more information, please see Dương Kỳ Phương Hội Phái.

phương khẩu thực

Vị Tăng đã xuất gia mà còn xu nịnh, vòi vĩnh để tìm cơ kiếm sống. Đây là một trong tứ tà mệnh—Opportunism in obtaining a living—A monk who makes a living by fawning or by bullying (One of the four illicit ways of livelihood—Tứ tà hạnh). ** For more information, please see Tà Mệnh. ; (方口食) Phương khẩu. Pàli: Disàmukha. Nghĩa đen là ngửa mặt trông ngóng 4 phương, nghĩa bóng là chỉ cho người xuất gia xu nịnh kẻ có quyền thế, giàu sang, đi khắp 4 phương, dùng lời khéo léo mê hoặc người khác để kiếm sống. Là 1 trong 4 thứ tà mệnh thực. [X. kinh Tạp a hàm Q.18; luận Đại trí độ Q.3]. (xt. Tứ Thực).

phương kế

Expedient—Device—Means.

phương luận sư

(方論師) Luận sư ngoại đạo chủ trương phương vị là nhân sinh ra muôn vật, 1 trong 20 thứ ngoại đạo ở Ấn độ. Cứ theo luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn thì Phương luận sư chấp phương vị là thường trụ, cho rằng phương vị 4 phương, 4 duy là nguồn gốc của trời đất, sau khi trời đất tiêu diệt lại trở về các phương vị, gọi là Niết bàn. Ngoài ra, luận Đại trí độ quyển 10 nói rằng Thắng luận sư cũng cho phương vị là thường trụ, thuộc về Thực cú nghĩa trong 6 cú nghĩa(6 nguyên lí). [X. phẩm Phá thường trong Bách luận Q.hạ]. (xt. Nhị Thập Chủng Ngoại Đạo).

phương nghệ

(方詣) Phương là nơi chốn; Nghệ là đến. Phương nghệ là chỗ qui về, tức là ý thú, yếu chỉ. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển 1 (Đại 40, 2 thượng) nói: Dẫn sơ qua các điều thì có thể hiểu được ý thú (phương nghệ). Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao tư trì kí (Đại 40, 108 thượng) nói: Phương nghệ tức là có chỗ qui về. Phương là nơi chốn; Nghệ là đến.

phương ngoại

1) Thế ngoại hay bên ngoài cuộc đời: Out of the world. 2) Cuộc đời của một vị Tăng: The life of a monk. ; (方外) Phương hàm ý là đạo. Ở ngoài vòng cái đạo mà người ta phải giữ, gọi là Phương ngoại. Người Phương ngoại phần nhiều chỉ cho những người xa rời thế tục. Phương ngoại cũng chỉ cho những vùng đất ở ngoài biên thùy Trung quốc, tức là những xứ di địch (mọi rợ) theo quan điểm của người Tàu. Bởi thế, Phật giáo cũng bị người Trung quốc xem là Phương ngoại giáo và chư tăng Phật giáo được gọi là Phương ngoại tăng. Nhưng,nóitheo lập trường của Phật giáo thì người xuất gia là người ở ngoài vòng cái đạo của người thế tục, cho nên tự gọi mình là Phương ngoại sĩ, hoặc Trần ngoại sĩ. [X. luận Sa môn bất kính vương giả; Lương cao tăng truyện Q.6; Hoằng minh tập Q.5].

phương ngoại hữu

(方外友) Người bạn ngoài thế tục. Tức là từ ngữ mà giới trí thức thế gian dùng để gọi những bạn xuất gia. Trong Thiền lâm, lá sớ do hàng sĩ đại phu soạn để chúc mừng vị Tân trụ trì, gọi là Phương ngoại sớ. [X. môn Văn sớ trong Thiền lâm tượng khí tiên].

phương ngung pháp giới

See Tứ Phương in Vietnamese-English Section.

phương ngôn

Idiom.

phương phi

Tall and handsome.

phương pháp

Method—Mode—Plan.

phương pháp đối trị sân hận là nhẫn nhục, thân nhẫn, khẩu nhẫn và ý nhẫn

Method to combat and subdue anger is forebearances (endurances or patience), body patience, mouth patience and mind patience.

phương phần

(方分) Chủ trương cho cực vi có các phương vị trên, dưới, phải, trái và có thể tích chiếm dụng khoảng không gian, gọi là Phương phần. Nhưng có thuyết lại cho cực vi là hình tròn, nên không có Phương phần. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1]. (xt. Cực Vi).

phương phục

Pháp phục của Tăng Ni, hết thảy đều được ráp nối bằng hình vuông—A monk's robe (Cà Sa), to be so called because its square appearance. ; (方服) Cũng gọi Phương bào. Chỉ cho áo pháp(ca sa) của tỉ khưu, vì ca sa đều là hình vuông, nên gọi là Phương phục. [X. Phương phục đồ kí].

phương quy

Có hình vuông—Square-shaped.

phương quảng

Vaipulya (skt). 1) Tên chỉ chung cho các kinh Đại Thừa—Extension—Enlargement—Broad—Spacious—Fuller explanation of the doctrine—The whole of the Mahayana sutras—Scriptures of measureless meaning (universalistic or infinite). Vaipulya sutra is used to indicate all Mahayana sutras—See Đại Thừa Kinh. 2) Tên của bộ kinh thứ mười trong 12 bộ Kinh Phật: Name of the tenth of the twelve Buddhist sutras. 3) Tên một thiền sư thời nhà Đường. Niên đại về cuộc đời của ông không được biết rõ, có lẽ ông sống giữa thế kỷ thứ bảy. Ông từng trụ trì tu viện Quốc Thanh trên núi Thiên Thai. Người ta biết đôi chút về ông là qua lời tựa quyển Hàn Sơn Tự, một sưu tập thơ do ẩn sĩ Hàn Sơn soạn, trong đó có vài đoạn được coi là của Phương Quảng—Feng-Kuang, a Chinese Ch'an master of the T'ang period. Precise dates of his life are unknown, probably the middle of the seventh century. He was the abbot of the Kuo-Ch'ing Monastery in the T'ien-T'ai Mountains. The little that is known of him comes for the most part from the foreword to the Han-Shan-Tzih, a collection of the poetry of the hermits of Han-Shan. It also contains several poems attributed to Feng-Kuang.

phương quảng đại trang nghiêm kinh

A Vaipulya Sutra—Kinh nói về những chuyện Phật giáng trần từ trên cung trời Đâu suất xuống thế xuất gia, thành đạo với danh hiệu Thích Ca Mâu Ni—The Lalita-vistara, which gives an account of the Buddha in the Tusita Heaven and his descent to earth as Sakyamuni.

phương quảng đạo nhân

Ngoại đạo phụ vào Đại Thừa chấp vào lý “không kiến”—Heretical followers of Mahayana, who hold a false doctrine of the Void, teaching it as total non-existence, or nihilism. ; (方廣道人) Chỉ cho những người ngoại đạo sống nhờ vào Phật pháp Đại thừa.Phương quảng là vuông vức, rộng lớn, chỉ cho Đại thừa; Đạo nhân là người học đạo. Như vậy, nói theo ngữ nghĩa thì Phương quảng đạo nhân là những người tu học Phật pháp Đại thừa. Nhưng, theo luận Đại trí độ quyển 1 thì Phương quảng đạo nhân là một phái hiểu lầm nghĩa chân không của Đại thừa mà chủ trương chủ nghĩa hư vô. Độc tử bộ của Tiểu thừa lập thuyết Bổ đặc già là (Phạm: Pudgala), thừa nhận Ngã có thực thể; Phương quảng đạo nhân của Đại thừa thì chấp trước ngoan không(ác thủ không), bác bỏ lí nhân quả. Hai phái trên đều là những ngoại đạo sống bám vào Phật pháp, là những giáo phái phi Phật giáo trong nội bộ Phật giáo. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.28; Ma ha chỉ quán Q.10; Tam luận huyền nghĩa].

phương sách

Process—Way—Procedure

phương sĩ

(方士) Chỉ cho những người thích luận đàm về thuyết thần tiên, hoặc về những phương thuật kì lạ. Tại Trung hoa, vào thời Chiến quốc, ở các nước Yên, Tề thường có những kẻ dùng các phương thuật như tu luyện thành tiên và thuốc trường sinh... để cầu được các vua chúa tín nhiệm, như Từ phúc đời Tần, Lí thiếu quân đời Hán...

phương sắc dụ ngũ đạo

(方色喻五道) Màu sắc và phương hướng dụ năm đường. Cứ theo Viên giác kinh lược sớ sao thì tính Viên giác thanh tịnh, tùy theo các loài mà ứng hiện trong 5 đường (trời, người, địa ngục, ngã quỉ, súc sinh) ví như ngọc bảo châu ma ni trong suốt sáng rỡ, lấp lánh 5 màu, tùy các phương mà ánh hiện. 1. Phương tây, màu trắng, dụ cho cõi trời, vì cõi trời là do bạch nghiệp thuần thiện chiêu cảm. 2. Phương giữa, màu vàng, dụ cho cõi người, vì cõi người là do công đức giữ 5 giới chiêu cảm, không phải chịu nỗi khổ của 4 đường, không được hưởng cái vui của các trời, mà ở khoảng giữa nỗi khổ và cái vui ấy. 3. Phương bắc, màu đen, dụ cho địa ngục, vì địa ngục là do hắc nghiệp thập ác thượng phẩm chiêu cảm. 4. Phương đông, màu xanh, dụ cho ngã quỉ, vì ngã quỉ là do nghiệp thập ác trung phẩm chiêu cảm, thường bị đói khát, thân thể ốm o, mặt mày xanh lè. 5. Phương nam, màu đỏ, dụ cho súc sinh, vì súc sinh là do nghiệp thập ác hạ phẩm chiêu cảm, thường bị đánh giết, chịu báo huyết đồ.

phương sở

(方所) Phương hướng và nơi chốn. Luận Câu xá quyển 8 (Đại 29, 41 thượng) nói: Vì pháp vô sắc cho nên không có phương sở; các pháp vô biểu, vô sắc ở quá khứ, vị lai không trụ phương sở, đó là lí tất nhiên.

phương thuật

(方術) Thuật mà các phương sĩ ở Trung quốc thời xưa ứng dụng, như thiên văn, lịch toán, chiêm nghiệm, tướng số, luyện đơn, bói toán, phong thủy (xem đất để mộ), độn giáp, thần tiên, phòng trung thuật...

phương thốn thiền

(方寸禪) Thiền mới một tấc. Nghĩa là người tham thiền mới chỉ lãnh ngộ được chút ít. Chương Pháp vân cảo trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 17 (Vạn tục 138, 339 thượng) ghi: Sư thường nói với mọi người: Vào ngày 21 tháng 11 năm Thiệu thánh thứ 3, ta ngộ được Phương thốn thiền. Thiền ở đây tuy nói là phương thốn nhưng cực kì sâu xa, mầu nhiệm, cũng như Nhất chỉ thiền (Thiền 1 ngón tay) của Hòa thượng Câu chi vậy. (xt. Nhất Chỉ Thiền).

Phương tiện

(s, p: upāya, 方便): âm dịch là Âu Ba Da (漚波耶), một trong 10 Ba La Mật, còn gọi là Thiện Quyền (善權), Biến Mưu (變謀), chỉ sự uyển chuyển biến đổi tùy theo hoàn cảnh, không gian, thời gian; cũng là một loại phương pháp phát triển hướng thượng. Trong các kinh luận Phật Giáo thường dùng từ này, quy nạp lại thì ý nghĩa của nó có thể phân làm 4 loại: (1) Đối với pháp chân thật mà nói, là pháp môn giả lập ra để dẫn dụ chúng sanh đi vào pháp chân thật; nên được gọi là Quyền Giả Phương Tiện (權假方便), Thiện Xảo Phương Tiện (善巧方便); tức chư Phật, Bồ Tát tùy theo căn cơ của chúng sanh để dùng các loại phương pháp ban cho lợi ích. (2) Đối với Thật Trí (實智) của Bát Nhã mà nói. Theo Vãng Sanh Luận Chú (徃生論註) quyển hạ của Đàm Loan (曇鸞, 476-?), Bát Nhã là đạt đến tuệ như như, phương tiện là thông trí quyền xảo; nên lấy Quyền Trí (權智) để quán chiếu những sai biệt hiện ra trong Bình Đẳng Thật Trí (平等實智). (3) Hai trí quyền và thật đều là pháp môn do chư Phật, Bồ Tát thường dùng để hóa độ chúng sanh. (4) Là hạnh gia trì, tu tập để chúng ngộ chân lý. Lại nữa, trong 12 phương tiện của Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章) quyển 15 do Huệ Viễn (慧遠, 523-592) nhà Tùy trước tác, Pháp Hoa Huyền Tán (法華玄讚) của Khuy Cơ (窺基, 632-682), cũng có nêu ra 4 loại phương tiện khác, gồm: (1) Tấn Thú Phương Tiện (進趣方便), giống như 7 phương tiện trước khi ngộ đạo, tức sự chuẩn bị hướng đến Bồ Đề. (2) Quyền Xảo Phương Tiện (權巧方便), như Phương Tiện Trí trong 2 loại trí tuệ, lấy pháp môn của Ba Thừa để tùy theo vật mà quyền hiện. (3) Thí Tạo Phương Tiện (施造方便, hay Thí Vi Phương Tiện [施爲方便]), như Phương Tiện Ba La Mật (方便波羅蜜) trong 10 Ba La Mật, tức làm những việc thiện xảo để đạt đến mục đích lý tưởng. (4) Tập Thành Phương Tiện (集成方便), như thuyết về 6 tướng của Thập Địa Kinh Luận (十地經論), các pháp đồng thể nhưng biến tướng hiện thành, nghĩa là bản chất của các pháp đều như nhau; trong một có tất cả, và trong tất cả cũng thành một. Hơn nữa, theo Pháp Hoa Văn Cú (法華文句) quyển 7 của Đại Sư Trí Khải (智顗), có nêu ra 3 loại phương tiện là Pháp Dụng (法用), Năng Thông (能通) và Bí Diệu (祕妙); ứng với đối tượng của Tam Giáo Tạng (藏), Thông (通) và Biệt (別). Tịnh Danh Kinh Sớ (淨名經疏) lại đề cập đến 3 loại phương tiện khác là Tự Hành (自行), Hóa Tha (化他) và Tự Tha (自他), v.v. Câu “Từ tâm vô lượng, quảng khai phương tiện chi huyền môn (慈心無量、廣開方便之玄門)” trong lòng văn sớ trên có nghĩa là với tâm từ bi vô lượng, chư Phật đã mở rộng cánh cửa vi diệu của phương tiện để cứu độ chúng sanh; cho nên hình thức cúng Cầu Siêu, Cầu An cũng là phương tiện trong muôn vàn phương tiện khác của Phật Giáo. ; 方便; S, P: upāya; J: hōben; thường được gọi là »Phương tiện thiện xảo« (善巧方便; s: upāya-kauśalya);|Có nhiều khía cạnh:|1. Phương tiện của Bồ Tát nhằm giúp chúng sinh giải thoát, với nhiều cách thức khác nhau, từ giáo hoá đơn giản cho đến những thần thông siêu nhiên. Phương pháp này được xem là một trong những hạnh Ba-la-mật-đa (Lục độ) mà Bồ Tát hoàn thành trong cấp thứ 7 của Bồ Tát thập địa (Thập địa).|2. Phương tiện trong cách trình bày giáo pháp. Nhiều trường phái Phật giáo (Hoa nghiêm, Thiên Thai) cho rằng chính đức Phật lịch sử đã áp dụng phương tiện này rồi, khi Ngài tuỳ căn cơ từng người mà giảng dạy. Ðặc biệt Ngài đã trình bày giáo lí Tiểu thừa trong giai đoạn một, rồi lúc cuối đời mới giảng pháp Ðại thừa đầy đủ hơn, đặc biệt trong kinh Diệu pháp liên hoa.|Phương tiện được xem là khía cạnh hoạt động của cái Tuyệt đối trong thế giới tương đối của hiện tượng, hiện thành lòng Từ (s, p: maitrī). Phương tiện là khía cạnh ngược của trí Bát-nhã (s: prajñā). Nếu Bát-nhã tượng trưng cho thể tính duy nhất của vạn sự thì phương tiện tượng trưng cho chính cái thiên hình vạn trạng. Trong cách nhìn của bậc giác ngộ thì với con mắt Bát-nhã (Huệ nhãn), Phật hay Bồ Tát không thấy có chúng sinh đau khổ, vì không có gì hiện hữu ngoài Pháp thân (s: dharmakāya; Ba thân). Còn nếu các Ngài nhìn với con mắt của lòng Từ (s: maitrī) thì khắp nơi đều là Khổ, Khổ do chấp trước vào sắc tướng. Muốn cứu độ chúng sinh thoát khổ, các Ngài dùng mọi phương tiện giúp chúng sinh đạt Niết-bàn, vốn xuất phát từ lòng Từ vô lượng của Pháp thân.

phương tiện

Tùy theo căn cơ trình độ của chúng sanh, tùy nghi giả thiết đủ thứ thí dụ để giáo hóa mọi người. ; Upaya (skt)—Contrivance—Expediency—Means—Method—Phương pháp tiện dụng tùy theo hay thích hợp với sự thụ nhận của chúng sanh—Convenience—Adaptability—To be instrumental—Means—Expedients—Tact or skill in teaching according to receptivity—Expedient ways—Skill-in-means—Convenient to the place or situation—Suited to the condition. There are several interpretations: 1) Phương có nghĩa là phương pháp, tiện là tiện dụng; phương tiện là phương pháp tiện dụng thích hợp với căn cơ của những chúng sanh khác nhau: Phương is interpreted as method, mode or plan; and Tiện is interpreted as convenient for use; so Phương Tiện means a convenient or expedient method which is suitable to different sentient beings. 2) Phương có nghĩa là phương chánh, tiện là xảo diệu; phương tiện là dùng lý phương chánh thiện xảo hay lời lẽ khéo léo thích hợp với việc giáo hóa: Phương means correct, Tiện means strategically; Phương tiện means strategically correct. 3) Quyền Đạo Trí: Trí quyền nghi (từng phần, tạm thời hay tương đối) để thâm nhập vào cái chân thực, đối lại với trí Bát Nhã là chân như tuyệt đối—Partial, temporary, or relative teaching of knowledge of reality, in contrast with prajna, and absolute truth, or reality instead of the seeming. ; (方便) Phạm,Pàli: Upàya. Hán âm: Âu ba da. Cũng gọi Thiện quyền, Biến mưu. Phương pháp khéo léo để tiến triển hướng thượng, 1 trong 10 Ba la mật. Danh từ Phương tiện được các kinh luận sử dụng với ý nghĩa rất rộng, nay qui nạp lại làm 3 ý nghĩa như sau: 1. Đối với pháp chân thực thì phương tiện là pháp môn tạm thời được đặt ra để dắt dẫn chúng sinh vào pháp chân thực. Tức là Phật, Bồ tát tùy theo căn cơ, trình độ của các chúng sinh mà sử dụng những phương pháp khéo léo, thích hợp để làm lợi ích cho họ. 2. Đối với thực trí bát nhã, cứ theo Vãng sinh luận chú của ngài Đàm loan thì Bát nhã là tuệ đạt như, Phương tiện là trí thông quyền. Dùng Quyền trí quán chiếu sự sai biệt hiển hiện trong Thực trí bình đẳng. 3. Phương tiện là gia hạnh tu tập để chứng ngộ chân lí. Đại thừa nghĩa chương quyển 15 của ngài Tuệ viễn và Pháp hoa huyền tán quyển 3 của ngài Khuy cơ, nêu ra 4 thứ phương tiện:1. Tiến thú phương tiện: Chuẩn bị (gia hạnh) tiến tới bồ đề, như 7 phương tiện trước giai vị Kiến đạo. 2. Quyền xảo phương tiện: Trí phương tiện trong 2 trí. Vì thực ra không có pháp môn Tam thừa, nhưng tùy cơ phương tiện mà đặt ra thôi. Thi tạo phương tiện (Thi vi phương tiện): Phương tiện ba la mật trong 10 Ba la mật, tức những việc được thực hiện một cách khéo léo để đạt thành mục đích lí tưởng. 4. Tập thành phương tiện: Thuyết Lục tướng trong Thập địa kinh luận. Các pháp đồng thể tập thành với nhau một cách khéo léo, tức bản chất của các pháp đều giống nhau, trong 1 có tất cả, trong tất cả cũng thành 1, đây kia tập thành và kiến lập lẫn nhau một cách khéo léo. Quyền xảo phương tiện có nghĩa là đức Phật dùng Trí phương tiện tạm thời bày đặt ra pháp môn Tam thừa... Trí phương tiện này cũng gọi là Quyền trí, tức là trí vì dẫn dắt chúng sinh mà đức Phật tạm thời giả lập ra. Quyền xảo phương tiện và Thi tạo phương tiện đều là những phương tiện khéo léo của Phật. Thiện xảo phương tiện lấy trí Thành sở tác trong 4 trí làm thể, cũng gọi là Phương tiện thiện xảo, Thiện quyền phương tiện, Thiện phương tiện, Xảo phương tiện, Quyền phương tiện, Thắng phương tiện, Thiện xảo, Thiện quyền, Xảo tiện... Tất cả giáo thuyết, nói theo quan điểm tuyên giảng, thì hết thảy chỉ là phương tiện thi thiết, nhưng trong đó, giáo thuyết trực tiếp giải thích rõ bản chất của bồ đề, biểu hiện ý nghĩa chân thực của nó thì gọi là Chân thực giáo; còn giáo thuyết vì thích ứng với căn cơ chúng sinh mà tạm thời nói ra để dẫn dắt họ vào chân thực, thì gọi là Phương tiện giáo (Phương tiện giả môn, Quyền môn), phương tiện này gọi là Hóa tiền phương tiện, Quyền giả phương tiện... Trái lại, loại phương tiện khác thì gọi là Dị phương tiện. Phương tiện sau khi giác ngộ Phật quả, gọi là Quả hậu phương tiện. Ngoài ra, đối lại với Pháp Báo gọi là Quả cực pháp thân thì có Ứng Hóa gọi là Phương tiện pháp thân; đối lại với cõi chân thực do tu nhân mà được, gọi là Thực báo độ, thì có cõi do tu đạo Phương tiện mà chiêu cảm, gọi là Phương tiện hữu dư độ; đối lại với Bát nhã gọi là Thực trí, thì có hóa dụng lợi tha, gọi là Phương tiện trí; đối lại với Nhất thừa gọi là Chính thừa, thì có Tam thừa, gọi là Phương tiện thừa. Đại thừa nghĩa chương quyển 15 chia Thi tạo phương tiện làm 3 loại: 1. Giáo đạo phương tiện: Tất cả việc làm ở thế gian đều có thể tu tập một cách khéo léo. 2. Chứng đạo phương tiện:Xả bỏ tình tướng chứng vào thực tế. 3. Bất trụ phương tiện: Không chấp trước các kiến giải sai biệt tương đối như không hữu, nhiễm tịnh, tự tha... Kinh Địa tạng thập luân quyển 10 thì chia Phương tiện làm 2 thứ là Phương tiện thiện xảo chấp trước hữu sở đắc và Phương tiện thiện xảo xa lìa chấp trước vô sở đắc; hoặc Thế gian thiện xảo phương tiện và Xuất thế gian thiện xảo phương tiện. Kinh Hoa nghiêm quyển 40 (bản dịch cũ) nêu 10 loại Phương tiện của bồ tát Thập địa là: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ, đại từ, đại bi, giác ngộ và chuyển bất thoái chuyển pháp luân. Luận Đại thừa khởi tín thì nêu ra 4 thứ Phương tiện là: Căn bản phương tiện, Năng chỉ phương tiện, Phát khởi thiện căn(tăng trưởng)phương tiện và Đại nguyện phương tiện.Pháp hoa văn cú quyển 7 của ngài Trí khải tông Thiên thai thì nêu 3 thứ Phương tiện: Pháp dụng phương tiện, Năng thông phương tiện và Bí diệu phương tiện. Trong đó, tùy theo các đối tượng Tạng giáo, Thông giáo và Biệt giáo mà thi thiết, là Pháp dụng phương tiện; Phương tiện thông suốt được pháp môn chân thực, là Năng thông phương tiện; Pháp hoa dùng nhân sâu kín của Quyền giáo trước mà hiển bày Viên giáo Pháp hoa, nhân sâu kín tức diệu(mầu nhiệm), là Bí diệu phương tiện. Ngoài ra, Ma ha chỉ quán quyển 4, phần đầu, căn cứ vào 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên để phân biệt tính chất xa gần của Phương tiện. Tức là Tạng giáo lấy Tam hiền làm phương tiện xa, lấy Tứ thiện căn làm phương tiện gần, Thông giáo lấy Thập tín làm phương tiện xa, lấy Tam hiền làm phương tiện gần. Viên giáo lấy 25 phương tiện danh tự và 5 phẩm Hành quán làm phương tiện xa, lấy 6 căn thanh tịnh tương tự làm phương tiện gần. Tịnh danh kinh sớ quyển 3 nêu ra 3 thứ phương tiện: Tự hành, Hóa tha và Tự tha. Trong đó, chư Phật và 41 vị Bồ tát biết rõ lí Nhị đế chẳng thể nghĩ bàn, là Tự hành phương tiện. Đối với các Bồ tát Tạng, Thông, Biệt và Viên giáo hữu môn, không đoạn trừ phiền não mà cùng tuyên dương các giáo pháp trong giới nội và giới ngoại một cách bình đẳng, là Hóa tha phương tiện; hợp chung 2 loại trên lại thì gọi là Tự tha phương tiện. [X. kinh Đại bản trong Trường a hàm Q.1; kinh Đại bát nhã Q.328; kinh Hoa nghiêm Q.37 (bản dịch cũ); luận Du già sư địa Q.45; Thập địa kinh luận Q.1; Pháp hoa kinh nghĩa sớ Q.4; Pháp hoa văn cú (hội bản) Q.7; Pháp hoa kinh văn cú Q.3, phần đầu; Đại thừa nghĩa chương Q.19].

phương tiện ba la mật

Upaya—Ba La Mật thứ bảy trong mười Ba La Mật—The seventh of the ten paramitas. ; (方便波羅蜜) Phạm:Upàya-pàramità. Hán âm: Âu ba da ba la mật. Cũng gọi Phương tiện thiện xảo ba la mật, Phương tiện thắng trí ba la mật. Chỉ cho Ba la mật thứ 7 trong 10 Ba la mật, được chia làm 2 loại: 1. Hồi hướng phương tiện thiện xảo: Ban phát các thiện xảo đã tích tập được do tu hành 6 Ba la mật trước cho các hữu tình để cùng nhau hồi hướng mong cầu quả Vô thượng chính đẳng chính giác. 2. Bạt tế phương tiện thiện xảo: Phương tiện khéo léo mang lại lợi ích cứu giúp các hữu tình. Hồi hướng phương tiện thiện xảo thuộc về Bát nhã, còn Bạt tế phương tiện thiện xảo thì thuộc về Đại bi. Tức vì Bát nhã nên cầu Niết bàn, vì Đại bi mà không bỏ sinh tử. [X. kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.4; luận Thành duy thức Q.9]. (xt. Thập Ba La Mật).

phương tiện ba la mật bồ tát

Vị Bồ Tát trong Thai Tạng Giới, đứng hàng thứ hai bên phải của Hư Không Viện—A Bodhisattva in Garbhadhatu group, the second on the right in the hall of Space. ; (方便波羅蜜菩薩) Phạm: Àrya-upàya-pàramità. Hán dịch: Phương tiện đáo bỉ ngạn. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 2, hàng trên, phía nam bồ tát Hư không tạng ở trung ương viện Hư không tạng trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, là 1 trong 10 bồ tát Ba la mật. Mật hiệu là Cứu cánh kim cương, Cứu cánh thiện xảo kim cương, chủng tử là (me), hoặc (mai), hình Tam muội da là dây lụa trắng. Về hình tượng thì vị Bồ tát này mình màu da người, ngồi trên tòa sen đỏ, khuỷu tay phải co lại, cầm vòng dây đưa lên ngang mặt, tay trái ngửa ra để ở trước ngực, nâng đầu sợi dây. Nếu kết ấn và tụng chân ngôn của tôn vị này thì diệt trừ được hạt giống nghiệp không có thiện xảo phương tiện trong vô lượng kiếp, chứng đắc Hồi hướng phương tiện thiện xảo và Bạt tế hữu tình phương tiện thiện xảo. Ấn tướng của vị tôn này là: Ngón vô danh và ngón út của 2 tay nắm lấy 2 ngón cái, 2 ngón cái đứng thẳng dựa lưng vào nhau, 2 cạnh ngón trỏ chạm vào nhau. Chân ngôn là: Án (oô– qui mệnh) ma hạ (mahà – đại) mỗi đát ra (maitra– từ) tức đế (citte – tâm) sa phạ hạ (svàhà– thành tựu). [X. phẩm Xuất thế giải thoát đàn tượng trong kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.15; Kim cương đính du già thiên thủ thiên nhãn quán tự tại bồ tát tu hành nghi quĩ Q.hạ; Huyền pháp tự nghi quĩ Q.hạ; Thanh long tự nghi quĩ Q.trung].

phương tiện bát nhã

(方便般若) I. Phương Tiện Bát Nhã. Chỉ cho Quyền trí phân biệt các pháp, là đức của phương tiện đại giác viên thường, là 1 trong 3 Bát nhã. Đức phương tiện chẳng phải tịch lặng mà lặng, khéo léo phân biệt các pháp, nên gọi là Phương tiện. Tức chỉ cho Đạo chủng trí. [X. Kim quang minh huyền nghĩaQ.thượng]. (xt. Tam Bát Nhã). II. Phương Tiện Bát Nhã. Chỉ cho trí Phương tiện và tuệ Bát nhã. Tuệ chứng được chân lí gọi là tuệ Bát nhã; người đạt được tuệ này thì tâm hành vắng lặng. Trí thông suốt quyền biến, gọi là trí Phương tiện; người được trí này thì xét rõ mọi căn cơ của chúng sinh. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ].

phương tiện giả môn

Expedient gates or ways of using the seeming for the real. ; (方便假門) Giáo môn phương tiện tạm lập ra để đưa chúng sinh vào đạo chân thực. Bồ tát Phương Tiện Ba La Mật (Mạn đồ la Thai tạng giới) Tịnh độ chân tông của Phật giáo Nhật bản lấy nguyện thứ 19 (nguyện đến đón rước) làm Phương tiện giả môn. [X. Hiển tịnh độ chân Phật độ văn loại; Hiển tịnh độ phương tiện hóa thân độ văn loại; Tịnh độ hòa tán giảng nghĩa Q.3]. (xt. Chân Giả Nhị Môn).

phương tiện hiện niết bàn

Như Lai thường trụ bất diệt, nhưng ngài tạm thời nhập Niết Bàn khiến cho chúng sanh khởi lên ý niệm tưởng nhớ Như Lai mà dụng công tu đạo—Though the Buddha is eternal, he showed himself as temporarily extinct, as necessary to arouse a longing for Buddha. ; (方便現涅槃) Cũng gọi Ứng hóa niết bàn. Tức là Phương tiện tịnh niết bàn do tông Thiên thai thiết lập, 1 trong 3 Niết bàn. Nghĩa là pháp thân Như lai tuy thường trụ bất diệt, nhưng vì muốn cho chúng sinh khởi ý tưởng khó gặp Phật ra đời màsinh tâm ngưỡng mộ tu đạo, cho nên đức Phật phương tiện thị hiện nhập Niết bàn. [X. phẩm Thọ lượng kinh Pháp hoa; Kim quang minh kinh huyền nghĩa Q.thượng].

phương tiện hoá thân

(方便化身) Chỉ cho hóa thân của đức Phật A di đà thị hiện trụ ở cõi Giải mạn được hóa hiện tại biên địa Tịnh độ để thích ứng với các phương tiện nguyện (nguyện thứ 19 tu các công đức; nguyện thứ 20 niệm Phật tất định vãng sinh)..., trong 48 nguyện của Ngài.

phương tiện hoá độ

(方便化土) Tịnh độ do đức Phật A di đà phương tiện thị hiện để tiếp dẫn các hành giả tự lực tu các thiện hạnh và niệm Phật cầu vãng sinh, 1 trong 2 độ do Chân tông của Nhật bản thành lập. Vì Tịnh độ này không phải Báo độ chân thực, nên gọi là Phương tiện; còn Giáo chủ của Tịnh độ này là Hóa thân Phật chứ không phải Báo thân chân thực của Phật an trụ, cho nên gọi là Hóa độ. Chân tông của Nhật bản chủ trương nếu người nào tin ưa bản nguyện tha lực của Phật A di đà, thì trực tiếp vãng sinh Báo độ chân thực mà chứng đắc quả Phật; còn nếu người không tin ưa bản nguyện Di đà mà tự lực tu các thiện hạnh, đồng thời hồi hướng các công đức ấy, thì được sinh về Phương tiện hóa độ chứ không được sinh về Chân thực báo độ, bởi vì những người này còn ngờ vực. [X. kinh A di đà; Ngu thốc sao Q.thượng; Hiển tịnh độ chân thực giáo hành chứng văn loại Q.6, phần đầu]. (xt. Hóa Độ).

phương tiện hóa thân độ

Nơi Phật A Di Đà xuất hiện hóa thân—Intermediate land of transformation (where Amitabha appears in his transformation-body).

phương tiện hữu dư độ

(方便有餘土) Tịnh độ trong đó các vị A la hán, Bích chi phật và các Bồ tát dưới Thập địa cư trụ, 1 trong 4 độ do tông Thiên thai thiết lập.Vì các bậc Thánh trên tu tập đạo Phương tiện, dứt trừ hết Kiến hoặc và Tư hoặc, nên gọi là Phương tiện; nhưng các Ngài vẫn chưa đoạn diệt Vô minh hoặc, nên gọi là Hữu dư (còn sót lại). [X. luận Đại trí độ Q.93; Đại thừa huyền luận Q.5]. (xt. Tứ Độ).

phương tiện hữu dư độ (biến dịch độ)

Theo tông Thiên Thai, đây là một trong tứ độ; là cõi nước mà chúng sanh vẫn còn phải tái sanh trong hình thức cao hơn, trụ xứ của chư Thánh Tu Đà Hườn, Tư Đà Hàm A Na Hàm và A La Hán—According to the T'ien-T'ai Sect, this is one of the four lands or realms, the realm which is temporary, where beings still subject to higher forms of transmigration, the abode of Srotapanna (Tu đà hườn), Sakrdagamin (Tư đà hàm), Anagamin (A na hàm), and Arhat (A la hán). ** For more information, please see Tứ Độ.

phương tiện môn

Pháp môn phương tiện dẫn tới chân lý—The gate of Upaya—Convenient or expedient gates leading into Truth.

phương tiện nhị chủng tướng

(方便二種相) Hai thứ phương tiện khéo léo mà Bồ tát thị hiện ra để cứu độ chúng sinh. 1. Thế gian phương tiện: Các phương tiện mà Bồ tát hoặc vì tự lợi, hoặc vì lợi tha thị hiện ra; vì những phương tiện này còn có chỗ sở đắc, sở chấp, nên gọi là Thế gian phương tiện. 2. Xuất thế gian phương tiện: Những phương tiện thiện xảo mà các Bồ tát chỉ vì lợi tha chứ không vì tự lợi, thị hiện ra; vì các phương tiện này không còn chỗ sở đắc, sở chấp, nên gọi là Xuất thế gian phương tiện. [X. kinh Địa tạng thập luânQ.10].

phương tiện phẩm

(方便品) 1. Phương Tiện Phẩm. Chỉ cho tên phẩm thứ 2 trong 28 phẩm kinh Pháp hoa. Nội dung phẩm này giảng nói về Tam thừa phương tiện và Nhất thừa chân thực, cho nên gọi là Phương tiện phẩm. 2. Phương Tiện Phẩm. Chỉ cho tên phẩm thứ 2 trong kinh Duy ma cật. Nội dung phẩm kinh này nói về các phương tiện mà Cư sĩ Duy ma cật sử dụng trong việc giáo hóa lợi ích chúng sinh; đồng thời thuật lại việc Cư sĩ thị hiện thân có bệnh ở thành Tì da li để giảng về sắc thân vô thường như đám bọt nước, áng mây trôi, khiến mọi người phát đạo tâm chân chính.

phương tiện sát sanh

Phương tiện thiện xảo của vị Bồ Tát, biết được nghiệp báo của từng người, nên giết mà không bị tội, để tránh không cho người nầy phạm tội làm khổ đau không ngừng, hay giúp cho người đó được sanh vào cảnh giới cao hơn—The right of Great Bodhisattvas, knowing every one's karma, to kill without sinning, in order to prevent a person from committing sin involving unintermitted suffering, or to aid him reaching one of the higher reincarnations.

phương tiện sát sinh

(方便殺生) Chỉ cho việc giết hại mà bậc Đại bồ tát thực hiện để cứu độ chúng sinh. Chẳng hạn như trên con truyền buôn, Bồ tát biết chắc 1 kẻ cướp định giết chết tất cả mọi người trên thuyền để chiếm đoạt hàng hóa và tiền bạc, Bồ tát liền ra tay trước hạ sát tên cướp để cứu mọi người. Việc làm này của Bồ tát tuy vẫn phải chịu quả báo, nhưng tương đối nhẹ hơn; bởi lẽ, Bồ tát hành động vì lợi ích của người khác, chứ không phải vì lợi ích cá nhân. Hơn nữa, giết chết 1 người để cứu sống nhiều người thì tội cũng được giảm nhẹ.

phương tiện thanh

(方便聲) Chỉ cho âm thanh chữ (a#) trong 5 cách biến hóa về âm vận của chữ (a) trong Mật giáo. Chữ (a#) tức là chữ (a) được thêm 2 cái chấm (:) vào bên phải; 2 chấm này gọi là chấm phương tiện, biểu thị phương tiện cứu cánh, cho nên gọi là Phương tiện thanh. Cứ theo nghĩa của Ngũ tự chuyển sinh thì chấm phương tiện còn được gọi là Phương tiện luân. [X. Tất đàm tạng Q.2].

phương tiện thiện xảo

Upaya-kausalya (skt)—Expedient method implies strategically correct—Skilful means—Phương tiện thiện xảo là phương tiện tốt lành và tinh xảo mà chư Phật và chư Bồ Tát tùy căn tánh của các loại chúng sanh mà 'quyền cơ nghi' hay quyền biến hóa độ họ từ phàm lên Thánh (từ si mê thành giác ngộ). Các bậc trí lực không chấp nê nơi hình thức, họ chỉ coi hình thức như những phương tiện thiện xảo để tiến tu và đạt cứu cánh là quả vị Phật—Extraordinary Skilful Means is a good and virtuous practice which Buddhas and Maha-Bodhisattvas use to follow and adapt to the individual capacity, personality, and inclination of sentient beings to aid and transform them from unenlightened to enlightened beings. Practitioners who possess wisdom are no longer attached to forms and appearances; because forms and appearances are only expedients for them to advance in cultivation to obtain the Buddhahood.

phương tiện trí

Upayajnana (skt)—Skilful knowledge—Skilful means of knowledge—Quyền trí hay trí thông đạt về phương pháp cứu độ chúng sanh. Ý niệm về phương tiện thiện xảo là một ý niệm quan trọng trong Phật giáo Đại Thừa và không tách rời với ý niệm về một trái tim đại từ đại bi vận hành toàn bộ hữu thể của Phật tính. Nó không đủ để vị Bồ Tát có được Thánh Trí hay Bát Nhã được thức tỉnh viên mãn vì ngài phải được phò trợ bằng phương tiện trí nhờ đó có thể đưa toàn bộ cơ phận cứu độ vào thực tiễn tùy theo các yêu cầu của chúng sanh—The wisdom or knowledge of using skillful means for saving others. The idea of “skillful means” is an important idea in Mahayana Buddhism and inseparable from that of a great compassionate heart moving the whole being of Buddhahood. It is not enough for the Bodhisattva to have the supreme wisdom (wisdom of the Buddha) or Aryajnana, or Prajna fully awakened, for he must also be supplied with skillful wisdom (upayajnana) whereby he is enabled to put the whole salvation machinery in practice according to the needs of beings. ; (方便智) Cũng gọi Quyền trí. Đối lại: Thực trí. Chỉ cho trí thấu suốt pháp phương tiện, tức trí ứng dụng các phương tiện khéo léo, 1 trong 2 trí. Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 19 thì trí rõ biết pháp Tam thừa quyền hóa, gọi là Phương tiện trí. Trái lại, trí rõ biết Nhất thừa chân thực thì gọi là Thực trí. (xt. Nhị Trí).

phương tiện tuỳ duyên chỉ

(方便隨緣止) Cũng gọi Hệ duyên thủ cảnh chỉ. Gọi tắt: Phương tiện chỉ. Một trong ba Chỉ do tông Thiên thai lập ra, đối lại với Giả quán trong 3 quán Không, Giả, Trung và thiên về Tục đế. Bồ tát biết rõ không chẳng phải không, thường khéo léo tùy duyên, phương tiện phân biệt, tùy bệnh cho thuốc để giáo hóa lợi ích chúng sinh. Ở trong tục đế mà tâm không bị biến động bởi nội cảnh và ngoại cảnh, vẫn an nhiên tự tại. [X. Ma ha chỉ quán Q.3; phần đầu]. (xt. Tam Chỉ).

phương tiện tâm

(方便心) I. Phương Tiện Tâm. Chỉ cho tâm của Quyền trí, 1 trong 4 tâm.Tông Tịnh độ cho rằng Phương tiện tâm là 1 trong 4 tâm bồ đề có năng lực giúp hành giả tịnh nghiệp vãng sinh Cực lạc. Phương tiện tâm và Trí tuệ tâm (tâm của Thực trí) là cha mẹ của Bồ tát. Nếu có đầy đủ 2 tâm này thì thành tựu pháp Bồ tát.[X. luận Tịnh độ (Thiên thân); Vãng sinhluận chú Q.hạ]. (xt. Tứ Tâm). II. Phương Tiện Tâm. Chỉ cho tâm dùng tríHậu đắc làm lợi ích chúng sinh, 1 trong 3 tâm của Bồ tát Thập địa. [X. luận Đại thừa khởi tín]. (xt. Tam Tâm).

phương tiện tâm luận

(方便心論) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Cát ca dạ dịch vào đời Hậu Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Nội dung luận này trình bày về cương yếu của luận lí Nhân minh mà được xem như phương tiện để phân biệt thiện ác, chính tà, gồm 4 phẩm: Minh tạo luận, Minh phụ xứ, Biện chính luận và Tương ứng. Ba bản Tống, Nguyên, Minh đều cho rằng luận này do ngài Long thụ soạn, nhưng bản Cao li và các bộ Kinh lục thì không thấy nói đến luận này. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Pháp kinh lục Q.5; Lịch đại tam bảo kỉ Q.7, 9; Khai nguyên thích giáo lục Q.6].

phương tiện độ

See Phương Tiện Hóa Thân Độ.

phương toà

(方座) Tòa hình vuông, không có trang sức, một loại tòa ngồi đơn giản nhất của các pho tượng Phật và Bồ tát. (xt. Đài Tòa).

Phương trượng

(方丈): nơi ở của vị trú trì một tự viện, nghĩa là căn nhà bốn phương rộng một trượng. Việc này phát xuất từ điển cố của vị cư sĩ Duy Ma Cật (s: Vimalakīrti, 維摩詰) có căn nhà bốn phương rộng một trượng, có thể chứa 32.000 người. Từ đó, nó có nghĩa là tiếng kính xưng của vị trú trì. ; 方丈; J: hōjō;|Có nhiều nghĩa: 1. Chỉ căn phòng của vị trụ trì của một ngôi chùa. Danh từ này ám chỉ căn phòng của Duy-ma-la-cật (s: vimalakīr-ti), một vị Cư sĩ đạt Giác ngộ viên mãn của một vị Phật (Duy-ma-cật sở thuyết kinh); 2. Chỉ vị trụ trì của một ngôi chùa; 3. Danh hiệu của một Thượng toạ trong một Thiền viện.

phương trượng

Phòng ở của Hòa thượng Trụ trì, ngang rộng chỉ có một trượng. ; 1) Viện Chủ: Tự Chủ—An abbot—Head of a monastery—The Abbot's Quarters. 2) Khu Mười Thước vuông Anh: The Square Ten Feet. Phưởng Phất: Dimly—Vaguely—Faintly. ; (方丈) Cũng gọi Phương trượng thất, Trượng thất, Hàm thất, Chính đường, Đường đầu. Căn phòng hình vuông mỗi bề 1 trượng, tức là nơi ở của vị Trụ trì hoặc là phòng khách trong các thiền viện thuộc Thiền tông.Phòng chư tăng ở Ấn độ phần nhiều làm theo qui chế Phương nhất trượng (vuông vức một trượng), Thiền thất của cư sĩ Duy ma cật cũng theo quy chế này. Ngày nay, từ Phương trượng được dùng để tôn xưng vị Trụ trì hoặc Sư phụ, thường gọi là Phương trượng, Phương trượng hòa thượng. [X. Duy ma kinh văn sớ Q.22; Pháp uyển châu lâm Q.29; Tuệ luân truyện trong Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng].

phương trượng nội hạ

(方丈內賀) Lễ chúc mừng vị Trụ trì trong phương trượng. Pháp lễ kính mà 5 vị thị giả hành trì để chúc mừng vị Trụ trì ở phương trượng mỗi tháng 1 lần vào ngày mồng 1 sau bữa ăn sáng trong Thiền lâm. Cách thực hành pháp lễ này là: Một trong 5 vị thị giả đốt hương, rồi 5 vị cùng lúc lạy vị Trụ trì 9 lạy; nếu vị Trụ trì cho miễn 9 lạy thì lạy 3 lạy cũng được. Ngoài ra, sau khi 5 vị thị giả hành lễ, các đệ tử thụ học, thụ giới, nối pháp... cũng phải đến phương trượng lạy Trụ trì 9 lạy(hoặc 3 lạy). [X. Tăng đường thanh qui Q.2; Nguyệt phần hành pháp thứ tự].

phương tướng

(方相) Giới tràng hình vuông trong Đại giới, 1 trong 5 cách kết giới tướng. (xt. Ngũ Chủng Kết Giới Tướng).

phương vinh thăng

(方榮升) Người sáng lập ra Viên giáo (Đại đồng giáo, 1 tông giáo dân gian) sống vào đời Minh, người huyện Sào, tỉnh An huy, Trung quốc. Ông từng học giáo pháp nơi Kim tông hữu, đồ tôn của Vương bỉnh hành, Giáo chủ Thanh trà môn giáo. Ông có tác phẩm: Phá tà hiển chính minh tâm lục.

phương võng tam muội

(方網三昧) Tam muội của Bồ tát, vì Tam muội này rộng lớn vô biên, giống như mạng lưới (võng) bao trùm khắp 8 phương. Thung dung lục tắc 82 (Đại 48, 280 thượng) nói: Như nay hướng lên đầu cây phất tử của bậc Thánh mà nhập Phương võng tam muội. Nhập định phương đông, xuất định phương tây, cho đến thân nam nhập định, thân nữ xuất định.

phương vị

(方位) Chỉ cho phương hướng. Trung quốc vốn có 4 phương: Đông, Nam, Tây, Bắc và 4 góc(tứ duy): Đông nam, Tây nam, Tây bắc và Đông bắc. Bốn phương và 4 góc hợp lại thì là 8 phương. Từ sau khi Phật giáo được truyền vào Trung quốc thì lại thêm 2 phương trên, dưới nữa mà thành là 10 phương. Thứ tự các phương được xếp như sau: Đông, Đông nam, Nam, Tây nam, Tây, Tây bắc, Bắc, Đông bắc, Trên, Dưới. Trong đó, 4 phương liên quan đến núi Tu di thì có thuyết: Tu di tứ châu, Tứ thiên vương thiên; liên quan đến Phật hiện tại thì có thuyết Tứ phương tứ Phật. Trong Tứ phương tứ Phật thì đức Phật A di đà ở phương Tây đặc biệt nổi tiếng, được Tịnh độ giáo tôn sùng. Bốn môn Phát tâm, Tu hành, Bồ đề và Niết bàn trong Mật giáo được phối hợp với 4 phương Đông, Nam, Tây, Bắc. Phương trên của Mạn đồ la Thai tạng giới trong Hiện đồ mạn đồ la là phương Đông; hướng bên phải của Mạn đồ la là Nam; phương dưới là Tây; hướng trái của Mạn đồ la là Bắc. Còn trong Mạn đồ la Kim cương giới thì phương trên là Tây, hướng phải là Bắc, phương dưới là Đông, hướng trái là Nam. Về 8 phương, trong Mật giáo có thuyết nói Bát thiên vương như Đông phương Nhân đà la... Về 10 phương, ngoài thuyết Thập phương thập Phật phổ thông ra, còn có Thập phương chư Phật, Thập phương thế giới. Thập phương là nói chung toàn thể, như các vật của toàn thể giáo đoàn gọi là Tứ phương tăng vật hoặc Thập phương tăng vật để phân biệt với những vật dụng của chúng tăng trong một phạm vi kết giới.

phương điển

Từ ngữ chỉ toàn thể kinh điển Đại Thừa—A term covering the whole of the Mahyana sutras—See Phương Đẳng Kinh điển. ; (方典) Gọi đủ: Phương đẳng kinh điển. Tức gọi chung các kinh Đại thừa. Các kinh Đại thừa là những kinh điển nói về lí phương chính, bình đẳng, cho nên gọi là Phương điển. Kinh Quán Vô lượng thọ (Đại 12, 345 thượng) nói: Đọc tụng Phương đẳng kinh điển.

phương đàn

(方壇) Cũng gọi Địa luân đàn, Kim cương luân đàn, Kim luân đàn. Đàn Mạn đồ la hình vuông. Hình vuông là hình của địa đại (mặt đất), biểu thị cái đức sinh trưởng muôn vật. Trong pháp Hộ ma của Mật giáo, đàn này tương ứng với pháp Tăng ích, tuy nhiên, nó cũng được dùng cho cả các pháp Tức tai, pháp Kính ái... [X. kinh Đại nhật Q.7].

phương đông mĩ

(方東美) (1899-1977) Học giả Trung quốc, người Đồng thành, tỉnh An huy. Ông tốt nghiệp ở trường Đại học Kim lăng tại Nam kinh, sau đó, ông sang nước Mĩ vào học trường Đại học Uy tư khang tân (Wisconsin). Năm 26 tuổi, ông hoàn thành học vị Tiến sĩ Triết học. Ông từng là giáo sư giảng dạy môn Triết học tại các trường Đại học ở Trung quốc, Đài loan và Hoa kì. Ông là nhà nghiên cứu và phát huy nền triết học Trung quốc nổi tiếng một thời.Về già, ông tận lực nghiên cứu Phật pháp Đại thừa, đối với triết học Hoa nghiêm ông có những kiến giải rất độc đáo. Năm 1977, ông qua đời tại Đài bắc. Học trò thu gom rồi chỉnh lí các tác phẩm của ông mà biên tập thành Đông Mĩ Toàn Tập, nội dung gồm có: Kiên bạch tinh xá thi tập, Phương đông mĩ tiên sinh diễn giảng tập, Trung quốc Đại thừa Phật học, Hoa nghiêm triết học, The Chinese View of Life; Chinese Philosophy: Its Development...

Phương đẳng

(方等), chỉ chung các kinh điển Đại thừa. Phương (方): hay phương quảng, nghĩa là vuông vức và rộng rãi, chứa đủ các pháp, từ nhỏ tới lớn, từ thấp tới cao. Đẳng (等): bình đẳng, như nhau. Các kinh Đại thừa do Phật thuyết đều như nhau cả, chứa đủ diệu lý, thật tướng, bất cứ ai tu hành rốt ráo theo một bộ kinh Đại thừa nào cũng có thể thành tựu trí huệ Phật. Vì vậy nên gọi chung là Phương đẳng.

phương đẳng

Theo tông Thiên Thai, phương có nghĩa là phương chính, đẳng là bình đẳng; phương đẳng ám chỉ hết thảy kinh điển Đại Thừa—According to the T'ien-T'ai sect, Phương is interpreted as referring to the doctrine, Đẳng as equal or universal; Phương Đẳng means everywhere equally. Phương Đẳng implies the Vaipulya Sutras. ; (方等) Phạm: Vaipulya. Pàli: Vedalla. Hán âm: Tì phật lược, Tì phú la, Phỉ phì la, Vi đầu li. Hán dịch: Phương quảng, Quảng phá, Quảng đại, Quảng bác, Quảng giải, Quảng, Vô tỉ. Cũng gọi Đại phương quảng, Đại phương đẳng. Danh từ chỉ chung cho các kinh Đại thừa, là các kinh nói về nghĩa rộng lớn, sâu xa. Là 1 trong 9 bộ loại kinh, 1 trong 12 thể tài kinh. (xt. Tì Phật Lược).

phương đẳng bộ

(方等部) Từ ngữ chỉ chung cho các kinh Đại thừa ngoài 4 bộ: Hoa nghiêm, Bát nhã, Pháp hoa, Niết bàn. Là 1 trong 5 đại bộ của kinh Đại thừa. Trong Ngũ thời phán giáo của tông Thiên thai, các kinh Đại thừa được chia làm 5 bộ, Phương đẳng bộ là bộ thứ 2 gồm 2 bộ (Bảo tích, Đại tập) trong 5 bộ lớn (Bát nhã, Bảo tích, Đại tập, Hoa nghiêm, Niết bàn) do Khai nguyên thích giáo lục chia loại, cùng với các kinh ngoài 5 bộ lớn không thuộc Pháp hoa bộ, cộng với các Nghi quĩ thuộc Mật bộ được phiên dịch từ sau niên hiệu Khai nguyên. Phương đẳng bộ được chia làm 2 bộ: Phương đẳng hiển thuyết bộ và Phương đẳng mật chú bộ. Hiển thuyết bộ gồm các kinh như kinh Đại bảo tích..., có tất cả 369 bộ, 1107 quyển. Còn Mật chú bộ thì chia làm 2 loại là Mật chú kinh và Mật chú nghi quĩ. Mật chú kinh bao gồm các kinh như Đại Phật đính Như lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư bồ tátvạnhạnh thủ lăng nghiêm..., có tất cả 285 bộ, 539 quyển. Còn Mật chú nghi quĩ thì bao gồm các kinh như kinh Kim cương đính nhất thiết Như lai chân thực nhiếp Đại thừa hiện chứng đại giáo vương..., có tất cả 81 bộ, 103 quyển. Hiển và Mật cộng chung lại là 735 bộ, 1.749 quyển. [X. Duyệt tạng tri tân tổng lục Q.1].

phương đẳng giới đàn

Giới đàn giảng pháp và truyền giới—An open altar at which instruction in the commandments was preached to the people, founded on the Mahayana Vaipulya Sutra (Đại Thừa Phương Đẳng Kinh). ; (方等戒壇) Giới đàn được thiết lập theo ý nghĩa Đại thừa phương đẳng. Giới đàn này không câu nệ các căn thiếu khuyết, các duyên sai biệt, cũng không cố chấp sự cấm kị nhỏ nhặt, mà chỉ cần người thụ giới phát tâm rộng lớn thì đều có thể đắc giới. Điều này khác với giới đàn Tiểu thừa do tông Nam sơn thiết lập. Vì theo Tiểu thừa, tất cả đều phải đúng như pháp, hễ giới tử có 1 chút sai trái cũng không được thụ giới. Ở Trung quốc, Phương đẳng giới đàn được kiến lập lần đầu tiên là vào niên hiệu Vĩnh thái năm đầu (765) đời vua Đại tông nhà Đường. Đời Vũ tông, Phật giáo bị phá hủy. Đến khi vua Tuyên tông lên ngôi, Phương đẳng giới đàn mới được lập lại để tiếp độ tăng ni mà dưới thời Vũ tông đã bị cưỡng bách hoàn tục, nay được ưu tiên sám hối, lãnh nhận giới phẩm, trở lại cửa Phật. [X. Đại tống tăng sử lược Q.hạ].

Phương đẳng kinh

方等經; S: vaipulya-sūtra;|Chỉ một thể loại kinh Ðại thừa với các nội dung nhất định. Các kinh sau đây thuộc về kinh Phương đẳng: Bát-nhã ba-la-mật-đa, Hoa nghiêm, Bảo tích. Ngoài ra Phương đẳng kinh của Trung Quốc còn kể thêm kinh Ðại bát-niết-bàn, Ðại tập (s: mahāsaṃ-nipāta-sūtra) và Diệu pháp liên hoa.

phương đẳng kinh

(方等經) I. Phương Đẳng Kinh. Danh từ gọi chung các kinh Đại thừa. (xt. Đại Thừa Kinh Điển). II. Phương Đẳng Kinh. Phương đẳng, Phạm: Vaipulya. Hán âm: Tì phật lược. Hán dịch: Phương đẳng, Phương quảng. Kinh điển nói về nghĩa lí rộng lớn, bình đẳng. Là 1 trong 12 thể loại kinh. (xt. Thập Nhị Bộ Kinh).

phương đẳng kinh điển

Vaipulya—The whole of the Mahayana Sutras—See Phương Quảng.

phương đẳng sám hối

(方等懺悔) Cũng gọi Phương đẳng sám. Chỉ cho pháp sám hối Phương đẳng tam muội. Nghĩa là khi tu hành pháp Phương đẳng tam muội, hành giả phải sám hối các tội chướng của 6 căn. (xt. Phương Đẳng Tam Muội).

phương đẳng tam muội

(方等三昧) Pháp tuTam muội do Đại sư Trí khải của tông Thiên thai y cứ vào kinh Đại phương đẳng đà la ni mà lập ra. Là 1 trong các tam muội vừa đi vừa ngồi. Khi tu pháp này, phải lập đạo tràng trang nghiêm ở nơi yên tĩnh, tất cả phải thanh tịnh; trường trai 7 ngày, mỗi ngày tắm 3 lần, y phục sạch sẽ; thỉnh 1 vị tỉ khưu thông hiểu tạng Luật truyền 24 giới và đà la ni chú. Ngày đầu tiên chia ra 3 lần thỉnh 10 đức Phật, Phương đẳng, cha mẹ, 10 vị Pháp vương tử, sau khi cúng dường lễ bái, thành tâm sám hối, đứng dậy tụng Ma ha đán đặc đà la ni, đi nhiễu 120 vòng, mỗi ngày tụng 1 bài chú, không chậm không nhanh, giọng tụng không bổng không trầm. Nhiễu quanh tụng chú xong, lại ngồi tư duy, quán xét lí không của thực tướng trung đạo. Quán xong, lại đứng dậy đi nhiễu và tụng chú. Nhiễu quanh và tụng chú xong, lại ngồi tư duy. [X. Ma ha chỉ quán Q.1; Phương đẳng tam muội hành pháp]. (xt. Tứ Chủng Tam Muội).

phương đẳng tam muội hành pháp

(方等三昧行法) Cũng gọi Đại phương đẳng hành pháp, Phương đẳng tam muội nghi, Phương đẳng sám nghi, Phương đẳng hành pháp. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trí khải giảng, đệ tử Quán đính ghi chép, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Phương đẳng tam muội và Pháp hoa tam muội cùng thuộc Tam muội vừa đi vừa ngồi trong 4 loại Tam muội của Ma ha chỉ quán, được y cứ vào kinh Đại phương đẳng đà la ni mà soạn ra. Nội dung tác phẩm này nói về việc tu hành Tam muội phương đẳng, gồm có 6 phần: 1. Đầy đủ 6 duyên. 2. Biết rõ những chướng ngại. 3. Nói về pháp cấm. 4.Nói về yếu quyết của nội luật. 5. Nói về sự tu hành. 6. Nói về việc thụ giới. Ngoài ra, Phương đẳng sám pháp trong Quốc thanh bách lục chính là bản lưu hành khác của hành pháp này.

phương đẳng thời

Thời kỳ thứ ba trong năm thời thuyết giảng—The third of the five periods of Buddha's teaching, from the twelfth to the twentieth years of Buddha's teaching (Hoa nghiêm: Avatamsaka, A Hàm: Agamas, Phương Đẳng: Vaipulyas, Bát Nhã: Prajna, Pháp Hoa & Niết Bàn: Lotus and Nirvana). ; (方等時) Chỉ cho thời kì đức Phật tuyên nói các kinh Phương đẳng, là thời thứ 3 trong 5 thời phán giáo của tông Thiên thai. Tức là thời kì bắt đầu từ năm thứ 12 sau khi đức Phật thành đạo, Ngài nói các kinh Phương đẳng như kinh Duy ma, kinh Kim quang minh... trong khoảng 8 năm. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo).

Phước

Phúc

phước báo

Phước báo tưởng thưởng, như được tái sanh vào cõi trời hay người—Merits—Blessings—A blessed reward, e.g. to be born as a man or a deva.

phước cái

Tàng lọng của phước báo—The cover, or canopy, of blessing.

phước huệ

1) Phước đức và trí huệ—Blessings, or blessedness and wisdom—Virtue and wisdom. 2) Tên của một Pháp Sư người Việt Nam tại Úc, vị lãnh đạo Phật giáo quan trọng tại Úc Châu và Tân Tây Lan. Ông còn là chủ tịch Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất tại Úc Châu và Tân Tây Lan. Ông là người đã sáng lập ra Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam ở Sydney. Trước năm 1975, Hòa Thượng Phước Huệ là giảng sư trong nhiều năm tại Ấn Quang, một trung tâm Phật giáo nổi bậc của miền Nam Việt Nam thời bấy giờ—Name of an important Vietnamese Buddhist leader in Australia and New Zealand, and current head of the Vietnamese Unified Buddhist Congress in Australia and New Zealand. He is a founder of Vietnam Cultural Center in Sydney. Before 1975, Most Venerable Phước Huệ taught for many years at An Quang Pagoda, the pre-eminent Buddhist Center in South Vietnam.

phước huệ song tu, đồng đăng bỉ ngạn

To practice blessings (offerings and charity) and wisdom (meditation) at the same time, you will surely obtain enlightenment.

phước hành

Một trong tam hành làm ảnh hưởng đến nghiệp, hành pháp cảm ứng phúc lợi của nhân thiên như ngũ giới và thập thiện giới, vân vân—One of the three lines of actions that affect karma, the life or conduct which results in blessing, e.g. being reborn as a man or deva, as a result of the cultivation of the five basic commandments, or the ten good deeds.

phước hòa

Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng, tọa lạc trong quận ba, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa đã được xây dựng từ lâu lắm (không rõ niên đại) với kiểu kiến trúc cổ của các chùa miền Nam. Năm 1958, chùa được trùng tu theo kiến trúc như hiện nay. Trước đây chùa là trụ sở của Hội Phật Học Nam Việt. Ngày 24 tháng 2 năm 1952, nhân ngày đại hội, lá cờ Phật giáo đầu tiên ở miền Nam được treo tại chùa. Ngày 1 tháng 4 năm 1956, nhiệm kỳ hai đại hội Phật giáo cũng được triệu tập tại chùa Phước Hòa. Trong Chánh điện có ba tượng gỗ, tượng Phật Thích Ca, tượng Diệm Ma Vương, tượng Quán Thế Âm nghìn tay nghìn mắt, được tạc vào khoảng từ năm 1960 đến năm 1962—Name of a famous ancient pagoda located in the third district, Saigon City, South Vietnam. The pagoda was built a long time ago, with its ancient architectural style of South Vietnam's pagodas. In 1958, it was rebuilt as it is seen today. Formerly, the pagoda functioned as the office of South Vietnam Association of Buddhist Studies. It was at this pagoda, the Buddhist flag was hung for the first time on the occasion of the Congress of the Association on February 24, 1952. On April first, 1956, the second session of Congress of the Vietnam Buddhist Sangha organized its opening at Phước Hòa Pagoda. In the Main Hall, there are three wooden statues of Sakyamuni Buddha, Yama of Hell, and One-thousand-arm and one-thousand-eye Avalokitesvara Bodhisattva. These statues were cast from 1960 to 1962. The statue of Sakyamuni Buddha is 2.5 meters high, 2 meters wide.

phước hưng

Tên của một ngôi tự viện cổ nổi tiếng, tọa lạc trong thị xã Sa Đéc, tỉnh Sa Đéc, Nam Việt Nam. Chùa được Hòa Thượng Minh Phúc khởi công xây cất năm 1838. Chùa có lối kiến trúc khá đặc sắc. Chánh điện hình chữ nhật dài 19 mét 5, rộng 14 mét, trên nóc trang trí theo kiểu của người Trung Hoa. Bên trong chánh điện được tôn trí trang nghiêm. Ở đây có một pho tượng Phật A Di Đà cổ bằng đất thếp vàng; một chiếc trống cổ khắc năm 1828 có bề ngang 1 mét 4, đường kính 90 phân, và bức hoành sơn son thếp vàng chạm trổ công phu, ở giữa có chạm chiếc lá Bồ Đề có ghi ba chữ Hán: “Phước Hưng Tự 1882,” hai bên là hai bản Lạc Hoa và Thạnh Hoa khắc năm 1846. Chùa hiện còn lưu giữ nhiều bản kinh khắc gỗ chữ Hán hai mặt, mỗi tấm bề ngang 20 phân, dọc 30 phân, dầy 3 phân, khắc các bộ kinh Địa Tạng, Kim Cang, Phổ Môn, Bát Nhã, vân vân—Name of a famous ancient pagoda located in Sa Đéc town, Sa Đéc province, South Vietnam. The pagoda was built in 1838 by Most Venerable Minh Phúc. It has a rather distinctive architecture. Its Main Hall is a rectangular building, 19.5 meters long, 14 meters wide, the top of which is decorated in Chinese pagoda's style. The Main Hall is arranged solemnly. Here stands the old statue of Amitabha Buddha made of clay and gilded. There are also an ancient drum made in 1828, 1.4 meters in width and 0.90 meter in diameter and a horizontal board elaboratedly gilded and engraved. In the middle of the board, a leaf of Bo-tree was carved, on which are three Chinese characters “Phước Hưng Tự 1882.” On both sides of the board are respectively the words Lạc Hoa and Thịnh Hoa. The pagoda has also conserved many wooden pieces on which a lot of sutras were written. The dimension of every piece is 20 by 13 by 3 centimeters. The names of these sutras are Kshigarbha, Vajrachedika, Prajna Paramita, etc.

phước hải

Tên của một ngôi chùa cổ tọa lạc trong quận nhất, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được một vị tổ người Hoa tên Lưu Minh xây vào cuối thế kỷ 19, và được khánh thành vào năm 1906. Trong Chánh điện có các tượng Ngọc Hoàng, các Thiên Thần, như Thần Mây, Thần Mưa, Thần Sấm, Thần Chớp, Tứ Thiên Vương. Giữa Chánh Điện thờ tôn tượng Đức Phật Thích Ca—Name of a famous ancient pagoda, located in the First district, Saigon City, South Vietnam. The pagoda was called Đa Kao pagoda by the French. It was built by Liu-Ming, a Chinese Patriarch in the late nineteenth century and inaugurated in 1906. In the Main Hall, there are statues of the Emperor of Jade and other Deities as those of Cloud, Wind, Rain, Thunder, Lightning, and the Four Kings of Heaven. The statue of Sakyamuni Buddha is worshipped in the middle of the Main Hall.

phước hậu

Hòa Thượng Phước Hậu, một trong những đại đệ tử của Hòa Thượng Tâm Truyền. Ngài là một Thiền sư lại có khiếu làm thơ. Tiếc thay, qua bao biến cố, thơ văn của ngài bị thất lạc, chỉ còn lại bài thơ sau đây, di ngôn thấm nhuần đạo vị của ngài—Most Venerable Phước Hậu, one of the most outstanding disciples of Most Venerable Tâm Truyền (Tâm Truyền was a disciple of Diệu Giác; Diệu Giác was a disicple of Nhất Định). He was both a Zen master and a poet. It was regrettable that now, after so many changes, all that remains of his works is merely a poem, as his last words imbued with Buddhist thoughts: Kinh điển lưu truyền tám vạn tư Học hành không thiếu cũng không dư, Năm nay tính lại chừng quên hết Chỉ nhớ trên đầu một chữ NHƯ! Buddhist sutras are not few. My learning cannot be said to be satisfactory or poor. I have forgotten all, it seems, now looking back. There only remains in my heart the word “NHƯ.”

phước khánh

Chúc phúc cho ai—Blessedness and felicity, or blessed felicity—To congratulate on good fortune.

phước lâm

Tên của một ngôi chùa cổ tọa lạc trong thành phồ Vũng Tàu, Nam Việt Nam. Chùa được xây trên 200 năm và đã trải qua nhiều lần trùng tu. Lần trùng tu cuối cùng là vào năm 1956. Trong chánh điện có tượng Thần Vishnu. Theo tài liệu của tỉnh Bà Rịa thì tượng làm bằng đá, vào khoảng thế kỷ thứ bảy, di tích của cuối thời Phù Nam đầu thời Chân Lạp—Name of an ancient pagoda, located in Vũng Tàu City, South Vietnam. It was built 200 years ago, and has been rebuilt many times. The last time it was rebuilt was in 1956. There is a statue of Vishnu in the middle of the Main Hall. According to the records from Vũng Tàu province, the statue was made of stone, built in the seventh century. It is a vestige of the late Phù Nam period and the early Chân Lạp one.

phước lưu

Tên của một ngôi chùa cổ nằm trên quốc lộ 22, thị trấn Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, Nam Việt Nam. Chùa được dựng lên từ lâu lắm. Lúc đầu chùa chỉ là một mái thảo am, gọi là Am Bà Đồng, về sau được nới rộng ra nên gọi là Chùa Bà Đồng vào năm 1900. Tổ Trùng Lực, thuộc phái Liễu Quán đời thứ 42 đã xây lại ngôi chùa và đặt tên Phước Lưu. Kể từ đó đến nay đã kế tục năm vị trụ trì và được trùng tu nhiều lần (vào những năm 1945, 1946, 1968). Chùa Phước Lưu nổi tiếng vì ảnh hưởng của nó trong việc mở rộng phái Liễu Quán (Lâm Tế) trong tỉnh Tây Ninh. Trong Chánh điện có tượng Di Đà Tam Tôn bằng gốm thếp vàng, được mang đến từ Trung Quốc. Mỗi bên chánh điện có tượng các vị La Hán, mỗi tượng cao 35 phân, rộng 20 phân khoảng giữa hai đầu gối. Lại có những tượng của Thập điện Diêm Vương hai bên chánh điện, mỗi tượng cao 1 mét và rộng 50 phân—Name of an ancient pagoda, located alongside of Highway 22, Trảng Bàng town, Tây Ninh province, South Vietnam. The pagoda was built a long time ago. It was previously called Bà Đồng Thatched Hut and later, Bà Đồng pagoda due to the enlargement in 1900. Patriarch Trùng Lực of the forty-second generation of the Liễu Quán Sect had the pagoda rebuilt and renamed it Phước Lưu. It was in turn headed by five successive Masters and restored many times (1945, 1946, 1968). Phước Lưu Pagoda is famous for its influence on developing the Lin-Chi followers of the Liễu Quán Sect in Tây Ninh province. In the Main Hall stand the statues of the Three Amitabha Noble Ones of ceramincs, gilded and carried from China. On each side of the Main Hall, each Arahat statue, 0.35 meter high, 0.20 meter wide between the two knees, is worshipped on the altar. There also statues of the ten Kings of the Hells, worshipped on the altar of both sides of the Main Hall, each statue is 1 meter high, 0.50 meter wide between the two knees.

phước lộc

Hạnh phúc và tài bây giờ và về sau nầy—Happiness and emolument, good fortune here or hereafter.

phước lực

Power of accumulating merits.

phước nghiệp

Hành nghiệp do phúc đức mà sanh ra, một trong tam phước—Happy karma, or the karma of blessedness, one of the three sources of felicity. ** For more information, please see Tam Phước in Vietnamese-English Section.

phước nhân

See Phúc Nhân.

phước quán

Phước báo và quán sát—Blessedness and insight—See Phước Trí.

phước quả

Quả báo của phước đức—The reward of blessedness.

phước sanh

Sanh vào chỗ phước đức—Born of or to happiness.

phước sanh thiên

Punyaparsavas (skt)—Cõi trời Phạm Thiên thứ mười trong sơ thiền thiên—The tenth brahmaloka, the first region of the fourth dhyana. ** For more information, please see Tứ Thiền Thiên (1).

phước thiện

Benevolence—Charity.

phước trí

Phúc đức và trí huệ, hai loại trang nghiêm—Blessedness and wisdom, the two virtues which adorn—See Nhị Trang Nghiêm.

phước tuệ

See Phước Trí.

phước túc

Một trong nhị túc, chân thứ nhất bao gồm năm Ba La Mật đầu, và chân thứ hai còn gọi là “trí túc,” gồm Ba La Mật thứ sáu—The feet of blessedness, one consisting of the first five paramitas, the other being the sixth paramita, i.e. wisdom; happiness—See Lục Độ Ba La Mật (1) (2) (3) (4) (5).

phước tướng

Marks of merits.

phước tướng pháp thân

Phước báo hình tướng nơi pháp thân Phật, đối lại với trí huệ của Phật—The Buddha-dharmakaya as blessedness, in contrast with it as wisdom.

phước tường

Tên một ngôi chùa, tọa lạc trong thôn Tăng Phú, xã Tăng Nhơn Phú, huyện Thủ Đức, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được xây vào giữa thế kỷ thứ 18 và trùng tu vào năm 1834 dưới triều vua Minh Mạng. Trong chánh điện có nhiều tượng, trong đó có một tượng hộ pháp, và tượng Tổ Diệu Minh tạc vào khoảng giữa thế kỷ thứ 19, bằng gỗ quý, thếp vàng sơn đỏ—Name of a temple located in Tăng Phú hamlet, Tăng Nhơn Phú village, Thủ Đức district, Sài Gòn City, South Vietnam. The temple was built in the middle of the eighteenth century and rebuilt in 1834, under King Minh Mạng's reign. In the Main Hall, there are many statues, including a statue of Dharma Guardians, and the statue of Patriarch Diệu Minh, in the middle of the nineteenth century, it was made of precious wood, gilded, and painted in red.

Phước Xương Tự

(福昌寺, Fukushō-ji): ngôi chùa của Tào Động Tông, hiệu là Sĩ Phong Sơn (士峰山); hiện tọa lạc tại Kamisato-mura (上里村), Kodama-gun (兒玉郡), Saitama-ken (埼玉縣). Chùa này nguyên sơ nằm gần bên ngôi mộ của Đới Đao Nghĩa Hiền (帶刀義賢), tên là Đới Đao Sơn Sĩ Phong Viện (帶刀山士峰院); nhưng vào năm 1782 (Thiên Chánh [天正] 10) thì bị binh hỏa, nên được tái kiến lại và lấy tên là Phước Xương Tự cho đến ngày nay. Vị Tổ thời Trung Hưng của chùa là Xuyên Điền Chuẩn Nhân (川田隼人).

Phước điền

(s: puṇya-kṣetra, p: puñña-khetta, 福田): ruộng phước, tức ruộng có thể sanh phước đức. Người nào tôn kính Phật, trọng tăng, thương yêu cha mẹ, người nghèo khổ, có thể có được phước đức giống như người nông dân cày ruộng, có thể thu hoạch, cho nên lấy ruộng làm ví dụ. Theo Chánh Pháp Niệm Xứ Kinh (正法念處經) quyển 15, Đại Phương Tiện Phật Báo Ân Kinh (大方便佛報恩經) quyển 3, v.v., đức Phật là ruộng phước lớn, tối thắng; cha mẹ là ruộng phước tối thắng trong Ba Cõi. Lại theo Phẩm Cúng Dường Tam Bảo (供養三寶品) của Ưu Bà Tắc Giới Kinh (優婆塞戒經) quyển 3, Tượng Pháp Quyết Nghi Kinh (像法決疑經), Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 12, Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Ký (華嚴經探玄記) quyển 8, v.v., cung kính Phật, Pháp, Tăng, v.v., được gọi là Kính Điền (敬田, hay Cung Kính Phước Điền [恭敬福田], Công Đức Phước Điền [功德福田]); báo đáp thâm ân của cha mẹ, thầy dạy là Ân Điền (恩田, hay Báo Ân Phước Điền [報恩福田]); thương xót người nghèo khổ, bệnh tật là Bi Điền (悲田, hay Lân Mẫn Phước Điền [憐愍福田], Bần Cùng Phước Điền [貧窮福田]). Nói chung, có nhiều loại phước điền khác nhau, nhưng căn bản nhất là lấy Phật và đệ tử Ngài làm phước điền. Trong Thiền môn, y Ca Sa (s: kaṣāya, kāṣāya; p: kāsāya, kāsāva, 袈裟) của chư tăng mặc hằng ngày được xem là Phước Điền Y (福田衣); vì vậy, khi đắp y Ca Sa, có bài kệ đắp y được thâu lục trong Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu Hương Nhũ Ký (毗尼日用切要香乳記, Taishō No. 1116) rằng: “Thiện tai giải thoát phục, vô thượng Phước Điền Y, ngã kim đảnh đới thọ, thế thế bất xả ly. Án, tất đà da tá ha (善哉解脫服、無上福田衣、我今頂戴受、世世不捨離、唵、悉陀耶莎訶, lành thay áo giải thoát, vô thượng Áo Phước Điền, con nay đội đầu nhận, đời đời không xả rời. Án, tất đà da tá ha).” Hay như trong bài Hóa Trai Cúng Sớ (化齋供疏) của Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, CBETA No. 1277) quyển 14 cũng có câu: “Thí tài thí thực tăng ích phước điền, cúng Phật cúng tăng tài bồi thiện quả, dụng nghiêm dược thạch, phổ hiến nhân thiên, kết thử vô thượng duyên, tu hoàn kiến tại Phật (施財施食增益福田、供佛供僧栽培善果、用嚴藥石、普獻人天、結此無上緣、須還見在佛, cho tiền cho thức ăn tăng thêm ruộng phước, cúng Phật cúng tăng vun bổi quả tốt, dùng cháo chay thanh tịnh, dâng cúng khắp trời người, kết duyên vô thượng này, để cuối cùng được gặp Phật).”

phước điền

người có phước đức xứng đáng nhận sự cúng dường của người khác, tạo điều kiện cho người cúng dường được có phước đức nên gọi là phước điền (ruộng phước), nghĩa là thửa ruộng để mọi người gieo trồng phước đức. ; (I) Nghĩa của Phước Điền—The meanings of Field of Blessedness: Ruộng cho người gieo trồng phước báo. Người xứng đáng cho ta cúng dường. Giống như thửa ruộng gieo mùa, người ta sẽ gặt thiện nghiệp nếu người ấy biết vun trồng hay cúng dường cho người xứng đáng. Theo Phật giáo thì Phật, Bồ tát, A La Hán, và tất cả chúng sanh, dù bạn hay thù, đều là những ruộng phước đức cho ta gieo trồng phước đức và công đức—The field of blessedness or the field for cultivation of happiness, meritorious or other deeds, i.e. any sphere of kindness, charity, or virtue. Someone who is worthy of offerings. Just as a field can yield crops, so people will obtain blessed karmic results if they make offerings to one who deserves them. According to Buddhism, Buddhas, Bodhisattvas, Arhats and all sentient beings, whether friends or foes, are fields of merits for the cultivator because they provide him with an opportunity to cultivate merits and virtues (II) Phân loại Phước Điền—Categories of Field of blessedness: (A) Nhị Phước điền—There are two kinds of felicity: 1) Hữu lậu phước điền (giúp con người cải thiện điều kiện sống trong kiếp lai sanh): Worldly field for cultivating of happiness which helps the cultivator to have better living conditions in the next life. a. Bi điền: Compassion fields—Chăm sóc cho người bịnh đáng thương hay người nghèo khó—Tender the sick, the pitiable, or poor and needy as the field or opportunity for charity. b. Kính điền: Revverence fields—Hộ trợ chư Tăng Ni. Kính trọng Phật và Thánh chúng—Support the monks and the nuns. The field of religion and reverence of Buddhas, the saints and the priesthood. c. Ân điền: Gratitude fields. • Gieo phước nơi cha mẹ: Cultivate blessedness in parents—Be dutiful to one's parents. • Gieo phước bằng cách đắp đường, đào giếng, xây cầu, bồi lộ: Cultivate lessedness in making roads and wells, canels and bridges; repair dangerous roads. 2) Vô lậu phước điền: Niết bàn là ruộng phước vĩnh cửu—Nirvana (out of passion) field for cultivating of an eternal happiness. (B) Tam Phước điền—Three sources of felicity—See Tam Phước. (C) Tứ Phước Điền—Four fields of felicity—See Tứ Phước Điền. (D) Bát Phước Điền: Eight fields for cultivating blessedness—see Bát Phúc Điền.

phước điền tự

Còn gọi là chùa Hang, tọa lạc tại núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh Châu Đốc, Nam Việt Nam. Chùa Hang là một hang đá thiên nhiên. Chánh điện và nhà hậu tổ do bà Thợ dựng lên từ năm 1840 đến 1845 bằng tre và lá đơn sơ. Đến năm 1885, ông Phán Thông ở Châu Đốc cùng nhân dân trong vùng dựng lại chùa. Năm 1946, Hòa Thượng Nguyễn Văn Luận đứng ra trùng tu ngôi chùa như hiện nay. Chùa Hang là một quần thể di tích có kiến trúc đẹp, nổi bậc nhất là các hang đá thiên nhiên với nhiều huyền thoại hấp dẫn khách thập phương—Name of a temple located in Mount Sam, Châu Đốc town, Châu Đốc province, South Vietnam. Hang Temple is a natural cave where the Main Hall and the Patriarch Hall were simply built by Ms. Thợ from 1840 to 1845. In 1885, a government clerk named Thông and the local people rebuilt the temple. In 1946, Most Venerable Nguyễn Văn Luận rebuilt it again. Hang temple is a beautiful complex of architecture. There one can find many natural caverns relating to legends and myths attractive to the pilgrims.

phước điền y

Y áo của ruộng phước, hay y áo của chư Tăng Ni—The robe of a field of happiness (the garment of the field of blessing, or the monk's robe).

phước địa

See Phúc Địa.

phước đức

Punya (skt)—Phước đức do quả báo thiện nghiệp mà có. Phước đức bao gồm tài sản và hạnh phước của cõi nhân thiên, nên chỉ là tạm bợ và vẫn chịu luân hồi sanh tử—Blessings and virtues—Merit—Blessed virtues—All good deeds, or the blessing arising from good deeds. The karmic result of unselfish action either mental or physical. The blessing wealth, intelligence of human beings and celestial realms; therefore, they are temporary and subject to birth and death.

phước đức công đức không thể nghĩ bàn

Incomparable merit and virtue.

phước đức môn

Cửa phước đức, ba la mật thứ năm trong sáu ba la mật—The gate of blessedness and virtue, the first five of the six paramitas.

phước đức thân

Thân Phật trong niềm hỷ lạc tột cùng của phước đức tam muội—The Buddhakaya, or body of Buddha, in the enjoyment of the highest samadhi bliss.

phước đức trang nghiêm

Tu thiện hạnh phúc đức mà đắc được Phật quả trang nghiêm—The adornment of blessedness, i.e. of good deeds

phước đức tư lương

Những chất dinh dưỡng vun trồng phước đức, như bố thí—The nutriment of blessedness, i.e. deeds of charity.

phướn

Banner—Streamer Phướn Động, Gió Động Hay Tâm Động? The flag moving, the wind moving, or our minds moving?—Lục tổ Huệ Năng đã khẳng định với các vị sư đang cải cọ trước tu viện Pháp Tâm rằng: “Chẳng phải phướn động, cũng chẳng phải gió động, mà là tâm của mấy ông động.”—Several monks was arguing back and forth about the flag and the wind without reaching the truth in front of the Fa Hsin monastery in Kuang Chou. The sixth patriarch, Hui-Neng, said to them: “It is not the wind moving, neither the flag moving. It is your own minds that are moving."

Phường

坊; C: fáng; J: bō;|Có các nghĩa sau: 1. Trú xứ của tăng sĩ; 2. Một khu nhỏ trong thành phố; vùng lân cận; khu phố; 3. Phân xưởng, cửa hàng.

phường

(坊) Chỉ cho phòng xá hoặc khu cư trú của chúng tăng. Luật Thập tụng quyển 34 (Đại 23, 249 hạ) nói: Các tỉ khưu từ nước Kiêu tát la đến nước Xá vệ, giữa đường ngủ đêm trong 1 tăng phường bỏ không, sáng hôm sau, các sư vào thôn khất thực, các cư sĩ hỏi: Đêm qua, các thầy nghỉ ở đâu? Đáp: Nghỉ trong tăng phường. Hỏi: Nghỉ trong phòng nào? Đáp: Trong phòng Ất. Cư sĩ đáp: Phòng ấy là phòng của tôi, sao không cho người đến báo cho tôi biết. Theo đó thì Phường là chỉ cho Tăng phường do nhiều phòng xá tập hợp mà thành. Nhưng phường nghĩa gốc là cái đê ngăn nước, sau được chuyển dụng để chỉ 1 khu vực trong thành ấp là Phường, có lẽ đã chịu ảnh hưởng của chữ Phạm Vihàra (Tì ha ra) nghĩa là chỗ cư trú, chỗ du hành. Sau, Vihàra được bao quanh bởi 1 lớp tường rào thành 1 khu vực, bèn được gọi là Tăng phường hoặc Bảo phường. [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.23; luật Thập tụng Q.38, 39; Thích thị yếu lãm Q.thượng;Phiên dịch danh nghĩa tập Q.20; điều Tăng phường trong Tuệ lâm âm nghĩa Q.22].

phường chủ

(坊主) Cũng gọi Phòng chủ. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Vị tăng đứng đầu 1 Tăng phường hoặc trụ trì 1 chùa viện. Về sau, Phường chủ được dùng để chỉ chung cho chúng tăng. Nhưng nay thì nó đã thành từ ngữ chế diễu giới tăng lữ.

phược đà

Baddha (skt)—Hệ phược—Fettered—Bound—Tied—Fixed.

phạ sai ni mã lạp cách

(phạ sai ni mã lạp cách) Tạng: Pa-tshab Ĩi-ma-grags. Cũng gọi Phiên dịch quan (Tạng: Spatshab lo-tsà-ba). Tên 1 học giả thuộc phái Trung quán, người vùng Bang do nhĩ (Tạng: Fphan-yul) phía bắc Lạp tát (Tạng: Lhasa), Tây tạng. Ông tham học kinh luận khắp nơi trong suốt 23 năm. Theo Thanh sách (Tạng: Deb-ther síon-po), ông là người cùng thời đại với ông Long yết lỗ (Tạng: Khrom-bsher, 1100-1170) và hoạt động tích cực ở khoảng tiền bán thế kỉ XII. Ông chủ yếu phiên dịch các bộ luận thuộc hệ thống Trung quán và phần nhiều ông dịch các tác phẩm của ngài Nguyệt xứng (Phạm: Candrakìrti). Ông là người có công trong việc truyền bá rộng rãi học thuyết của hệ thống Trung quán. Các dịch phẩm của ông có: Tịnh minh cú ( Phạm: Mùlamadhyamakavftti Prasannapadà-nàma), Nhập trung luận (Phạm: Madhyamakàvatàra) của ngài Nguyệt xứng, luận Lục thập tụng như lí (Phạm:Yuktiwawtikà) và Bí mật tập hội ( Phạm: Guhyasamàja) của ngài Long thụ. [X. Deb-ther síon-po (The Blue Annals)].

Phạm

梵; C: fàn; J: bon; |1. Phiên âm chữ Brahman trong tiếng Phạn. Là nguyên lí tối thượng, nền tảng cơ bản nhất của hiện hữu trong tín ngưỡng Vệ-đà. Về sau, Brahman được nhân cách hoá trở thành một vị thần, và cuối cùng trở thành vị thần hộ pháp trong Phật giáo; 2. Phiên âm chữ brāhmaṇa trong tiếng Phạn, là một hiền nhân; 3. Thanh tịnh, phạm hạnh, thần thánh; 3. Tiếng Phạn.

phạm

1) Phạm Thiên: Brahman (skt)—Supreme Being regarded as impersonal. a) Thanh Tịnh: Celibate and pure. b) Ly Dục: Giving up desires. 2) Phạm Tội: To violate—To commit—To offend against—To break the law. 3) Phạm trù: Khuôn phép—Pattern—Rule—Method. ; (梵) Phạm: Brahman. Hán âm: Phạm ma, Bà la hạ ma, Bột át ma, Bạt lạm ma. Hán dịch: Tịch tĩnh, Thanh tịnh, Li dục. I. Phạm. Nguyên lí tối cao của tư tưởng Bà la môn giáo chính thống ở Ấn độ. Cứ theo Lê câu phệ đà (Phạm: Fg-veda) thì Kì đảo chủ (Phạm: Bfhaspati) là thần tối thượng, sáng tạo vũ trụ, là nguyên lí sinh thành muôn vật. Lại theo thần thoại về sáng tạo trong Phạm thư (Phạm: Bràhmaịa) thì Kì đảo chủ là nguyên lí căn bản hình thành vạn hữu, rồi từ đó, dung hợp các nguyên lí trên mà diễn biến thành Sinh chủ (Phạm: Prajàpati) được sùng bái là thần cách căn bản. Lúc đầu, Phạm là chỉ cho các bài ca tán tụng, những lời tế, lời chú... đồng thời được xem là bản chất của Phạm có năng lực thần bí. Từ thời đại Phệ đà đến Phạm thư là thời đại tế tự vạn năng và từ đó trở về sau, Phạm trở thành nguyên lí sáng tạo, nguồn gốc của thế giới, được coi là 1 vật sáng tạo của Sinh chủ. Từ đó, Sinh chủ và Phạm được coi là đồng nhất. Về sau, Sinh chủ mất dần sắc thái nhân cách thần, dần dần chỉ còn đơn thuần là nguyên lí thế giới. Đến khi sự sùng bái Phạm hưng khởi thì Phạm thay thế Sinh chủ làm nguyên lí thế giới vạn hữu, còn Sinh chủ thì được coi là nguyên lí trung tính vốn có tồn tại nơi Phạm và địa vị ở dưới Phạm (Phạm: Brahman svayaôbhù), rồi lấy Phạm làm chủ thể mà lập thuyết sáng tạo vũ trụ, lại tiến thêm bước nữa chủ trương Phạm và Ngã (Phạm: Àtman) là một. Đây là quan niệm trung tâm ở thời đại Áo nghĩa thư (Phạm:Upaniwad) về triết học Phiếm thần luận, là tư tưởng căn bản của tông giáo và triết học Ấn độ. (xt. Bà La Môn Giáo, Phạm Ngã Nhất Như). II. Phạm. Phạm có nghĩa là thanh tịnh, làm những việc thanh tịnh, đặc biệt là việc dứt tâm dâm dục, gọi là Phạm hạnh; người hành dâm dục gọi là Phi phạm hạnh. Mười giới thanh tịnh, gọi là Phạm tịnh thập giới. Âm thanh mầu nhiệm của Phật, Bồ tát, gọi là Phạm âm thanh, Phạm thanh, Phạm âm; tiếng vang của Phạm âm gọi là Phạm hưởng. Tướng Phạm âm là 1 trong 32 tướng của đức Phật. Pháp thân thanh tịnh của Phật gọi là Phạm thân. Phật đường già lam gọi là Phạm sát, Phạm vũ, Phạm các; quả chuông treo của chùa viện gọi là Phạm chung. Phật học cũng gọi Phạm học, Ấn độ cũng gọi là Phạm độ. Phạm hạnh tiên sinh là danh xưng khác của vị tăng; Phạm nghi chỉ cho uy nghi của chư tăng. III. Phạm. Chỉ cho tiếng Phạm. Chẳng hạn như sách vở được viết bằng tiếng Phạm, gọi là Phạm bản; Phạm giáp chỉ cho kinh điển tiếng Phạm được viết trên lá bối. IV. Phạm. Gọi đủ: Phạm thiên. Các vị trời ở cõi Sắc lìa dâm dục, được thanh tịnh, gọi chung là Phạm thiên. Luận Đại trí độ quyển 35 (Đại 25, 315 hạ) nói: Sắc giới đều gọi là Phạm, (...) Cõi Phạm là cõi đầu tiên của Sắc giới.

Phạm bái

梵唄; C: fànbài; J: bonbai; |Bài hát hay kệ tán ca ngợi đức hạnh của đức Phật.

phạm bái

(梵唄) Phạm: Bhàwà. Cũng gọi Thanh bái, Tán bái, Kinh bái, Phạm khúc, Phạm phóng, Thanh minh. Gọi tắt: Phạm. Dùng điệu nhạc để tụng kinh, tán vịnh, ca tụng công đức của Phật. Bái, gọi đủ là Bái nặc, là dịch âm từ tiếng PhạmBhàwànghĩa là ngợi khen. Vì dựa theo nhạc điệu tán vịnh của Phạm độ (Ấn độ) nên gọi Phạm bái. Tuy đức Thế tôn cấm chỉ không được đọc tụng văn kinh bằng giọng điệu giống như thanh điệu Bà la môn, nhưng vì thanh bái có công dụng làm giảm bớt sự mỏi mệt của thân tâm và giúp nhớ dai, vì thế đức Phật cũng cho phép xướng tụng. Sau khi đức Phật nhập diệt thì Phạm bái được lưu hành khắp nơi. Khi Phật giáo truyền vào Trung quốc, các nhà truyền dịch kinh văn thì nhiều, nhưng các nhà truyền tụng Thanh bái thì hiếm. Bởi vì tiếng Phạm là tiếng đa âm, mà tiếng Hán là tiếng đơn âm, nếu dùng tiếng Phạm để vịnh tiếng Hán thì tiếng dài mà vần hụt; còn nếu dùng nhạc khúc tiếng Hán mà vịnh tiếng Phạm thì vần ngắn, lời dài. Cho nên dùng nhạc khúc Hán để ca vịnh tiếng Phạm hoặc ngược lại, đều không dễ dàng. Tương truyền, nguồn gốc tán bái của Trung quốc là do Trần tư vương Tào thực đời Tào Ngụy đến du ngoạn núi Ngư sơn (thuộc huyện Đông a, tỉnh Sơn đông), nghe lời tán của Phạm thiên trong hư không, thâm hiểu ý nghĩa, ông bèn mô phỏng âm tiết của lời tán ấy mà viết thành Phạm bái. Sau đó, ông dựa theo kinh Thái tử thụy ứng bản khởi, soạn lời tạo âm mà viết thành bài Thái tử tụng, tiếp theo, ông soạn khúc Bồ tát thiểm tử tụng: Đây là khúc Phạm bái Phạm Hán hỗn hợp đầu tiên. Về sau, các ngài Chi khiêm, Khang tăng hội đời Ngô cũng ứng dụng Phạm bái và chế tác các bài: Tán bồ tát liên cú Phạm bái và Nê hoàn Phạm bái... Từ đó về sau Phạm bái mới được lưu hành rộng rãi. Lương cao tăng truyện quyển 13 nêu tên 11 vị, từ ngài Bạch pháp trở xuống, rất giỏi về Phạm bái. Từ đời Đông Tấn về sau, Phạm bái khá thịnh hành ở miền Nam, Trung quốc. Cánh lăng vương Tiêu tử lương đời Nam Tề tận lực cổ xúy Phạm bái, ông sáng tác rất nhiều về bộ môn này. Đến đời Đường, Phạm bái dần dần thịnh hành trong dân gian, trong số 9 chức vị ở Đạo tràng dịch kinh, Phạm bái được dành cho 1 chức. Phạm bái chủ yếu được dùng trong 3 trường hợp: 1. Trong nghi thức giảng kinh: Thông thường được cử hành trước và sau khi giảng kinh.2. Lục thời hành đạo: Tức thực hành trong các khóa tụng kinh vào lúc sáng sớm và chiều tối. 3. Đạo tràng sám pháp: Nhằm mục đích giáo hóa, dắt dẫn quần chúng, nghi thức Phạm bái trong trường hợp này đặc biệt chú trọng ca hát, ngâm vịnh, tán thán... Về sau, tùy theo địa phương mà âm điệu Phạm bái có khác nhau, chủ yếu chia ra 2 miền Nam và Bắc, mỗi miền có đặc trường riêng. Từ đời Đường trở về trước, Phạm bái lưu hành gồm có: 1. Như lai bái: Cũng gọi Như lai phạm, Hành hương phạm(xướng lúc dâng hương tán Phật). Tức những câu kệ: Như lai diệu sắc thân, Thế gian vô dữ đẳng; Vô tỉ bất tư nghị, Thị cố kim kính lễ. Như lai sắc vô tận, Trí tuệ diệc phục nhiên; Nhất thiết pháp thường trụ, Thị cố ngã qui y.(Kinh Thắng man). 2. Vân hà bái: Cũng gọi Vân hà phạm. Tức những câu kệ: Vân hà đắc trường thọ, Kim cương bất hoại thân? Phục dĩ hà nhân duyên, Đắc đại kiên cố lực? Vân hà ư thử kinh, Cứu cánh đáo bỉ ngạn? Nguyện Phật khai vi mật, Quảng vị chúng sinh thuyết. (Kinh Niết bàn quyển 3, bản Nam). 3. Xử thế bái: Cũng gọi Xử thế phạm. Tức bài kệ: Xử thế gian như hư không, Nhược liên hoa bất trước thủy; Tâm thanh tịnh siêu ư bỉ, Khể thủ lễ Vô thượng thánh. (Kinh Siêu nhật nguyệt minh quyển thượng). Thông thường, Phạm bái được chia làm 3 tiết:Sơ bái: Phần văn kệ được xướng lúc bắt đầu pháp sự, tức câu kệ đầu: Như lai diệu sắc thân trong Như lai bái.Trung bái: Văn kệ được xướng khi đang cử hành pháp sự, tức câu đầu Như lai sắc vô tận của bài kệ thứ 2 trong Như lai bái.Hậu bái: Bài kệ của Xử thế bái được xướng khi pháp sự kết thúc. Những bài kệ Phạm bái này được gọi là Phạm âm kệ. Nội dung Phạm bái cóLục cú tán và Bát cú tán. Lục cú tán chủ yếu là bài Hương tán: Lô hương sạ nhiệt, pháp giới mông huân v.v... được xướng vào lúc bắt đầu pháp sự để cung thỉnh chư Phật. Còn Bát cú tán thì như các bài Tam bảo tán, A di đà Phật tán, Dược sư Phật tán v.v... thường được xướng lúc pháp sự đang diễn tiến và sau khi tụng kinh. Khi xướng Phạm bái có dùng các thứ pháp khí như chuông, mõ, thanh la, tiêu, cảnh, linh... hòa theo âm điệu trầm bổng du dương, tạo thành nhạc khúc đặc biệt của Phật giáo. Phạm bái được truyền đến Nhật bản vào đầu thời đại Nại lương, là 1 trong 4 pháp yếu của Phật giáo xứ Phù tang. Đến thời đại Bình an thì có 2 dòng lớn là Tiến lưu và Đại nguyên lưu rất thịnh hành. Tiến lưu thuộc hệ thống tông Chân ngôn và Đại nguyên lưu thuộc hệ thống tông Thiên thai. [X. phẩm Thọ mệnh kinh Niết bàn (bản Bắc); Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp Q.9; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 4; Tống cao tăng truyện Q.3, 25; thiên Bái tán trong Pháp uyển châu lâm Q.36; Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.5; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Thích thị yếu lãm Q.thượng; truyện Lặc na ma đề trong Khai nguyên thích giáo lục Q.6; Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí Q.2].

phạm bản

(梵本) Cũng gọi Phạm giáp, Phạm kinh, Phạm điển.Chỉ cho những bản kinh điển tiếng Phạm được viết trên lá bối, vỏ cây hoa, giấy v.v... Ở Ấn độ, tiếng Phạm được bắt đầu sử dụng từ khoảng thế kỉ VI trước Tây lịch, tất cả sách vở về tông giáo, học thuật nói chung đều được ghi chép bằng tiếng Phạm. Kinh điển bằng tiếng Phạm bắt đầu xuất hiện vào lúc nào thì vẫn chưa được xác định. Thời Đông Hán, song song với sự truyền bá Phật giáo, Phạm bản cũng liên tục được truyền vào Trung quốc, nhưng vì chỉ chú trọng đến bản dịch của các kinh, hơn nữa, do chiến tranh liên miên nên nguyên bản đều đã bị thất lạc. Còn ở Ấn độ thì vì sự xâm lăng và tàn phá của tín đồ Hồi giáo vào thế kỉ XII nên Chính pháp bị hủy hoại, Phạm bản cũng hư nát gần hết! Năm 1890, Thượng úy Bower người Anh có tìm được bản kinh Khổng tước vương chú viết tay trên vỏ cây hoa ở Khố xa tại Tân cương. Về sau, các ông A. Stein, P. Pelliot... lại phát hiện các Phạm bản viết tay xưa ở các vùng Tân cương, Đôn hoàng... Kinh điển Phật bằng tiếng Phạm hiện nay có khoảng hơn 500 loại. Các thứ ngôn ngữ được sử dụng trong Phạm bản không hoàn toàn giống nhau, trong đó, kinh Kim cương bát nhã, kinh A di đà, Du già sư địa luận Bồ tát địa và các chú thích về Luận bộ đại khái đều được viết bằng tiếng Phạm cổ điển chính thức. Nhưng, các bài kệ tụng trong các kinh Pháp hoa, Vô lượng thọ, Thập địa và Phổ hiền bồ tát hành tán v.v... thì, về mặt văn pháp, có rất nhiều điểm khác với tiếng Phạm thuần túy và được gọi là Già đà phương ngôn (Gàthàdialect), Phật giáo Phạm ngữ (Buddhist Sanscrit) hoặc là 1 trong các loại Chuyển ngoa ngữ (Phạm: Apabhraôza). Phần Trường hàng (văn xuôi) trong kinh Phật bản hạnh tập dị bản (Phạm: Mahàvastu) cũng sử dụng Già đà phương ngôn, còn phần Trường hàng trong các kinh Bát nhã, Pháp hoa thì ngôn ngữ gần giống với tiếng Phạm thuần túy. [X. Phạm văn Phật điển nghiên cứu đích nhị phương diện (Sơn điền Long thành, Long cốc Đại học luận tùng 287); Sanskrit Buddhist Literature of Nepal, preface, by R.Mitra; Catalogue of the Buddhist Sanskrit Manuscripts, historical introduction, by C. Bendall; Geschichte der indischen Literatur, Bd. II, by M.Winternitz]. (xt. Phạm Giáp).

phạm bổn

Những bộ kinh bằng tiếng Phạn (Ấn Độ)—Sutras in the Indian language.

phạm ca di

Brahma-kayikas (skt)—Tên của chư Thiên ở cõi sơ thiền sắc giới—The Brahma-devas in the first dhyana in the realm of form.

phạm ca di thiên

(梵迦夷天) Phạm: Brahma-kàyika-deva. Từ ngữ gọi chung các tầng trời Sơ thiền của cõi Sắc. Kinh Trường a hàm quyển 20 dịch là Phạm thân thiên. Huyền ứng âm Kinh Pháp Hoa bản tiếng Phạm nghĩa quyển 3 dịch là Tịnh thân thiên. [X. kinh Đạo hành bát nhã Q.1]. (xt. Phạm Chúng Thiên).

phạm chung

Đại Hồng Chung của tự viện—The temple or monastery bell. ; (梵鍾) Cũng gọi Đại chung, Điếu chung, Chàng chung, Hồng chung, Kình chung. Chỉ cho quả chuông lớn của các chùa viện. Phạm nghĩa là thanh tịnh, vì chuông được dùng vào việc Phật, mà Phật thì là thanh tịnh, do đó chuông được gọi là Phạm chung (chuông thanh tịnh). Các chùa viện lớn ở Trung quốc phần nhiều đều có xây lầu để treo Phạm chung. Nguồn gốc của Phạm chung ở Trung quốc không được rõ, có lẽ bắt đầu được tạo vào đời Hậu Chu (giữa thế kỉ X) về sau, chủ yếu được đúc bằng đồng xanh. Chuông có hình dáng không nhất định, thông thường cao khoảng 4 thước và đường kính chừng 2 thước (Tàu). Phần trên cùng của Phạm chung gọi là Long đầu(đầu rồng) có quai để treo, phần gần miệng Phạm chung có những cái núm để đánh. [X. Quảng hoằng minh tập Q.28; Tục cao tăng truyện Q.29]. (xt. Chung).

Phạm chí

Phạn ngữ là Brhmaṇa, chỉ người thuộc dòng bà-la-môn xuất gia tu tập, quyết chí cầu sanh lên cõi Phạm thiên nên gọi là Phạm chí.

phạm chí

1) Brahmacarin (skt): Người xuất gia học Thánh điển và tu hành phạm hạnh—Studying sacred learning; practising continence or chasity. 2) Brahamacari (skt): Người trẻ Bà La Môn tu tập giai đoạn đầu trong bốn giai đoạn đi vào Phạm Thiên—Young Brahman in his first sarama or period of life; ther are four such periods. 3) Người Phật tử xuất gia tu đời thanh tịnh: A Buddhist ascetic with his will set on purity. ; (梵志) Phạm: Bràhmaịa. I. Phạm Chí. Hán âm: Bà la môn, Phạm sĩ. Hán dịch: Tịnh duệ, Tịnh hạnh. Cũng gọi Tịnh hạnh giả, Tịnh hạnh phạm chí. Chỉ cho người Bà la môn, sống thanh tịnh, cầu được sinh về cõi Phạm thiên. Theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 18 thì Bà la môn lẽ ra phải đọc là Bà la hạ ma noa, chỉ cho người tu tập theo pháp của Phạm thiên. Bà la môn tự nhận mình sinh ra từ miệng Phạm thiên, là dòng họ cao quí nhất trong 4 dòng họ, cho nên đặc biệt lấy tên là Phạm. Theo Du già luận kí quyển 19 phần đầu thì Phạm là tiếng Ấn độ, Hán dịch là Tịch tĩnh, Niết bàn; Chí là tiếng Trung quốc, quyết chí cầu Phạm, cho nên ghép chung 2 chữ lại thành là Phạm chí (nửa Ấn nửa Tàu). Các Phạm chí thấy ghi rải rác trong kinh điển như Phạm chí Trường trảo, Phạm chí Loa kế... đều là Bà la môn, sau trở thành đệ tử nổi tiếng của đức Phật. Ngoài ra, con gái của Phạm chí, hoặc cô gái tu theo đạo Phạm, gọi là Phạm nữ. [X. kinh Mã ấp trong Trung a hàm Q.48; kinh Tăng nhất a hàm Q.9; kinh Pháp cú Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.4]. (xt. Bà La Môn). II. Phạm Chí. Từ gọi chung tất cả những người xuất gia của ngoại đạo Ấn độ. Luận Đại trí độ quyển 56 (Đại 25, 461 trung) nói: Phạm chí chỉ cho tất cả những người xuất gia của ngoại đạo. Hoặc người chỉ theo đạo Phạm mà không xuất gia, cũng gọi là Phạm chí. III. Phạm Chí. Đối lại với Ni kiền mà gọi Bà la môn tại gia là Phạm chí. Theo Pháp hoa văn cú kí quyển 9 thượng, người tại gia thờ Phạm thì gọi là Phạm chí, còn ngoại đạo xuất gia thì gọi chung là Ni kiền. Nhưng Pháp hoa kinh yếu giải quyển 5 thì ngược lại cho rằng ngoại đạo tại gia gọi là Ni kiền, còn ngoại đạo xuất gia thì gọi là Phạm chí.

phạm chí a bạt kinh

(梵志阿

Phạm chí Trường Trảo

xem Ma-ha Câu-hy-la.

phạm chí át ba la diên vấn chủng tôn kinh

(梵志頞波羅延問種尊經) Cũng gọi Phạm chí Át la diên vấn chủng tôn kinh, Phạm chí vấn chủng tôn kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc đàm vô Lan dịch vào khoảng năm Thái nguyên thứ 6 đến năm Thái nguyên 20 (381-395) đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này thuật lại việc Bà la môn Át ba la diên (Phạm: Assalàyano) cùng với 500 Bà la môn khác cùng đến vườn ông Cấp cô độc trong khu rừng cây của Thái tử Kì đà để vặn hỏi đức Phật về luận thuyết Chủng tính bình đẳng, Tự tính thanh tịnh, đức Phật dùng việc xuống suối tắm gội, vua được bầy tôi hiền và các thí dụ về lửa, sinh ra, mặt trời, mặt trăng, cha mẹ hội hợp v.v... để giải thích người ta sinh ra là bình đẳng, chỉ do việc làm cao thượng hoặc xấu xa mà khiến người ta trở thành sang, hèn khác nhau mà thôi. Kinh này là bản dịch khác của kinh A nhiếp hòa trong Trung a hàm quyển 37 và nội dung cũng tương đương với bài kinh 93 trong Trung bộ (Majjhima-nikàya) bằng tiếngPàli thuộc Nam truyền. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.7; Đại đường nội điển lục Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.3].

Phạm chí Độc Tử

một tu sĩ ngoại đạo, tên Phạn ngữ là Vtsỵ, dịch âm là Bà-tư. Vị này về sau quy y Phật, nên cũng gọi là tỳ-kheo Độc Tử.

phạm chúng

Chư Tăng Ni—Monks and nuns.

Phạm chúng thiên

梵衆天; C: fànzhòngtiān; J: bonshuten; S: brah-ma-kāyikāḥ. |Tầng trời của những quyến thuộc của Phạm thiên. Là tầng trời thứ nhất trong Tứ thiền thiên (四禪天) thuộc Sắc giới

phạm chúng thiên

Brahmaparisadya or Parsadya (skt)—Các vị chư Thiên ở cõi trời sơ thiền thuộc sắc giới (Phạm Thiên giới được chia làm ba cấp, các vị chư thiên ở hạ cấp thì được gọi là Phạm Chúng Thiên)—The assembly of Brahmadevas, belonging to the retinue of Brahma; the first Brahmaloka; the first region of the first dhyana heaven of form. ** For more information, please see Phạm Thiên (B). ; (梵衆天) Phạm: Brahma-pàriwadya-deva. Hán âm: Phạm ba lê sa thiên. Cũng gọi: Phạm thân thiên. Tầng trời thứ nhất trong các tầng trời thuộc cõi Sắc. Vì tầng trời này là nơi Thiên chúng do Đại Phạm vương thống lãnh cư trú, nên gọi là Phạm chúng thiên. Thiên chúng ở đây thân cao nửa do tuần, sống lâu nửa kiếp. Ngoài ra, kinh Trường a hàm quyển 20 cũng dịch Phạm ca di thiên (Phạm: Brahman-kàyika-deva) là Phạm thân thiên, là tên gọi chung của các tầng trời Sơ thiền thuộc cõi Sắc. [X. luận Phật địa Q.5; luận Câu xá Q.8, 11; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2]. (xt. Phạm Thiên).

phạm chương

Brahmavastu (skt)—Sách học vần Phạn ngữ gồm 12 chương—A Sanskrit syllabary in twelve parts.

phạm cung

1) Cung điện của Phạm Thiên: Brahma's palace. 2) Chùa: Buddhist temple. 3) Phạm Giới, cõi thiền thứ nhất trong cõi trời sắc giới: The realm of Brahma; the first dhyana heaven of the realm of form. ; (梵宮) Vốn chỉ cho cung điện của Phạm thiên, sau được dùng làm tên gọi chung các chùa viện Phật giáo. Phẩm Hóa thành dụ kinh Pháp hoa quyển 3 (Đại 9, 23 thượng) nói: Cung điện Phạm thiên sáng chói rực rỡ, gấp bội ánh sáng thường. [X. Lương cao tăng truyện quyển 13].

phạm cổ nông

(范古農) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người huyện Gia hưng, tỉnh Chiết giang, hiệu Kí đông, Huyễn am, bút danh Hải thi đạo nhân. Lúc còn trẻ, ông từng du học ở Nhật bản, sau khi về nước, ông dốc hết tâm lực vào việc hoằng pháp. Năm Dân quốc 20 (1931), ông giữ chức Tổng biên tập của Thượng hải Phật học Phạm chung (được đúc vào đời Minh) thư cục. Năm Dân quốc 24 (1935), ông làm Chủ bút tờ Nhật báo Phật giáo, là tờ Nhật báo đầu tiên của Phật giáo Trung quốc. Năm Dân quốc 40 (1951), ông giữ chức Lâm trưởng của Thế giới Phật giáo cư sĩ lâm. Ông có các tác phẩm: Huyễn am văn tập, Cổ nông Phật học vấn đáp, Hải triều âm văn khố, Phật học bách khoa tùng thư và phiên dịch luận Phát thú.

phạm diên

Phạm Thiên và Trời Na La Diên—Brahma and Narayana.

phạm diễn na

Bayana (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Phạm Diễn Na, một vương quốc cổ trong vùng Bokhara, bây giờ là Bamian, nổi tiếng với những tượng Phật Nhập Niết Bàn khổng lồ, dài tới 1.000 bộ Anh—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Bayana, an ancient kingdom and city in Bokhara (modern Bamian), famous for a colossal statue of Buddha (entering Nirvana) believed to be 1,000 feet long.

phạm diễn na quốc

(梵衍那國) Tên 1 vương quốc xưa trong dãy núi Hindu Kush, nay thuộc lãnh thổ nước Afghanistan. Phạm diễn na, tên tiếng Phạm làBàmiyan, cũng gọi Phạm dương, Vọng diễn, Phàm diễn, hiện nay thường gọi là Ba mễ an (Bamian), Ba mễ ương, Ba mễ dương. Nước này chính là con đường giao hông từ nước Kiện đà la đến các nước Đổ hóa la, Du na..., đại đô thành nước này nằm dựa vào sườn núi, sản xuất lúa mì, chăn nuôi gia súc, khí hậu rất lạnh, phong tục cứng cỏi. Vào thời các vua Tùy dượng đế và Đường thái tông, nước này từng đến triều cống Trung quốc. Vào thế kỉ III trước Tây lịch, vua A dục từng phái Truyền đạo sư đến nước này truyền bá Phật pháp. Về sau, vua Ca nị sắc ca xây dựng già lam, Phật giáo dần dần hưng thịnh. Vua cho đục mở rất nhiều hang động và tạc những pho tượng Phật bằng đá rất lớn. Quần thể hang động này được gọi là Ba mễ dương thạch quật (được đục mở từ khoảng thế kỉ III đến thế kỉ VII). Pho tượng Phật ở hang đá phía đông cao 53m và tượng Phật ở hang phía tây cao 35m, là 2 pho tượng lớn nhất trong quần thể hang động này. Ở đây có tới cả nghìn hang đá lớn nhỏ, chủ yếu khắc tượng Phật, hiện còn sót lại 1 số các bức bích họa, Phật khám, thiên tỉnh, tượng phi thiên... là 1 trong hững di tích quan trọng của mĩ thuật Phật giáo.Vào đầu thế kỉ XIII, nước Phạm diễn na bị Thành cát tư hãn chinh phục, tiếp sau đó lại bị tín đồ Hồi giáo xâm chiếm và phá phách, khiến cho Phật giáo nước này phải suy vong. Đầu thế kỉ XX, có rất nhiều nhà khảo cổ đến đây nghiên cứu các di tích Phật giáo. Nhưng rất đau xót là vào tháng 3 năm 2001 vừa qua, toàn bộ khu di tích Phật giáo ở Bamian đã bị Hồi giáo Taliban cuồng tín dùng chất nổ và hỏa tiễn phá hủy hoàn toàn, khiến cho cả thế giới phải phẫn nộ và lên án! (Người dịch). [X. Đại đường đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.2; Vãng ngũ thiên trúc quốc truyện; Tùy thư tây vực liệt truyện; Notice Archéologique de la valléeBàmiyan, 1923, par A.Foucher]. Toàn cảnh quần thể hang động Bamian

phạm diện phật

Đức Phật có gương mặt giống như Phạm Thiên, người ta nói vị ấy sống tới 23.000 năm—A Buddha with Brahma's face (said to be 23.000 years old).

phạm giáp

Kinh điển làm bằng lá cây đa la (một loại cây kè có lá giống như lá thốt nốt) Palm-leaf scriptures. ; (梵夾) Cũng gọi Kinh pháp. Chỉ cho bản kinh viết bằng tiếng Phạm trên lá bối. Thời xưa chưa có giấy, những sách vở phần nhiều được viết trên lá của cây Bối đa la (Phạm: Pattra). Những lá bối được phơi khô, cắt xén theo 1 khuôn khổ nhất định, viết văn kinh xong, rồi chồng lên nhiều lớp. Sau đó, để khỏi lẫn lộn và rơi mất, người ta dùng 2 miếng ván gỗ mỏng đặt ở phía trên và phía dưới lớp lá bối để kẹp lại (giáp) và buộc bằng dây cho chặt, gọi là Phạm giáp. Ngoài ra, những kinh điển bắt chước theo hình thức này, cũng gọi là Phạm giáp. [X. kinh Tín lực nhập ấn pháp môn Q.5; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.16].

phạm giới

Phá phạm giới luật mà Đức Phật đã đặt ra—To turn one's back on the precepts—To offend against or break the moral or ceremonial laws of Buddhism.

phạm giới ngũ suy

(犯戒五衰) Gọi tắt: Ngũ suy. I. Phạm Giới Ngũ Suy. Chỉ cho 5 thứ suy hao của người vi phạm giới luật. Cứ theo kinh Du hành trong Trường a hàm quyển 2 và Thích thị yếu lãm quyển thượng, thì 5 thứ suy hao của người phạm giới là: 1. Cầu tiền của không được như ý. 2. Nếu có được tiền của thì cũng hao tổn hết ngay. 3. Không được mọi người yêu kính. 4. Tiếng xấu lan truyền rộng khắp. 5. Sau khi chết rơi vào địa ngục. [X. kinh Bát nê hoàn Q.thượng; kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.3]. II. Phạm Giới Ngũ Suy. Cũng gọi Phạm giới ngũ quá, Phá giới ngũ quá. Gọi tắt: Ngũ quá. Chỉ cho 5 lỗi của người phạm giới. Cứ theo luật Tứ phần quyển 59, thì người phá giới có 5 thứ lỗi sau đây: 1. Tự làm hại mình. 2. Bị người trí chê cười. 3. Tiếng xấu đồn xa. 4. Lúc sắp chết sinh tâm hối hận. 5. Sau khi chết đọa vào đường ác. (xt. Ngũ Quá).

phạm hoàng

1) Vua của Ấn Độ: The Indian Emperor. 2) Đức Phật: Buddha. ; (梵皇) Từ tôn xưng đức Phật. Đức Phật đản sinh ở phía bắc Phạm độ (Ấn độ), là Hoàng đế của các pháp, cho nên gọi là Phạm hoàng. Phía tây bắc Phạm độ tức là vườn Lam tì ni ở tây bắc Ấn độ, nay thuộc lãnh thổ nước Nepal. [X. bài Tựa trong Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết].

phạm hành

Noble action—High conduct. ; (梵行) Phạm: Brahma-caryà. Pàli:Brahma-cariya. Hán dịch: Tịnh hạnh. Chỉ cho hạnh thanh tịnh mà người xuất gia và tại gia tu tập. Bà la môn giáo chia đời người làm 4 thời kì, trong đó, thời kì thứ nhất gọi là Phạm hạnh kì (Phạm: Brahma-carin), trong thời kì này, người Bà la môn phải giữ giới cấm dâm dục, học Phệ đà và những nghi thức cúng tế... Trong Phật giáo thì giữ gìn các giới đã thụ nói chung, gọi là Phạm hạnh. Theo kinh Thập thượng trong Trường a hàm quyển 9, có đầy đủ thiền định, thuận, nghịch đều không chướng ngại trong 8 giải thoát, thì gọi là Phạm hạnh cụ túc. Kinh Đại phương quảng đại tập quyển 7 và kinh Đại bảo tích quyển 86 thì cho rằng thực hành Bát chánh đạo là Phạm hạnh. Kinh Đại bát niết bàn quyển 15 (bản Bắc) cho rằng 4 tâm Vô lượng(từ, bi, hỉ, xả) là Phạm hạnh, trụ trong 7 thiện pháp, gọi là Phạm hạnh cụ túc... [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.30; luận Du già sư địa Q.29; Pháp hoa huyền nghĩa Q.4; Pháp hoa nghĩa sớ Q.7]. (xt. Ngũ Hạnh).

phạm hưởng

Âm thanh của Đức Phật—The sound of Buddha's voice (Buddha's preaching).

Phạm hạnh

(s, p: brahmacariya, 梵行): Phạm (s, p: brahmā, 梵) nghĩa là thanh tịnh, pháp đoạn trừ dâm dục là Phạm hạnh, tức pháp hành của Phạm Thiên (梵天). Trí Độ Luận (智度論) dạy rằng: “Đoạn dâm dục thiên giai danh vi Phạm Thiên, dĩ thị cố đoạn dâm hành pháp danh vi Phạm hạnh; ly dục diệc danh Phạm; nhược thuyết Phạm tắc nhiếp Tứ Thiền Vô Sắc định (斷婬欲天皆名爲梵天、以是故斷婬行法名爲梵行、離欲亦名梵、若說梵則攝四禪四無色定, vị Trời đoạn dâm dục đều gọi là Phạm Thiên, chính vì vậy hành pháp đoạn dâm dục gọi là Phạm hạnh; nếu nói là Phạm tắc nhiếp vào định của Tứ Thiền, Tứ Vô Sắc).” Hơn nữa, trong Pháp Hoa Gia Tường Sớ (法華嘉祥疏) quyển 7 có giải thích rõ rằng: “Hữu nhân ngôn: 'Thông thủ nhất thiết giới vi Phạm hạnh, biệt danh đoạn dâm dục vi Phạm hạnh' (有人言、通取一切戒爲梵行、別名斷婬爲梵行, Có người bảo rằng: 'Giữ hết tất cả giới là Phạm hạnh, nếu nói riêng thì đoạn trừ dâm dục là Phạm hạnh').” Ngoài ra, Niết Bàn (s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃) được gọi là Phạm, cho nên chứng vạn hạnh của Niết Bàn là Phạm hạnh. Trong Phẩm Tựa của Pháp Hoa Kinh (法華經) có câu: “Cụ túc thanh bạch, Phạm hạnh chi tướng (具足清白、梵行之相, đầy đủ, trong sạch là tướng của Phạm hạnh).” ; (梵行, Phạn ngữ: brahmacarya, Pli: brahmacariya), cũng gọi là tịnh hạnh, là phép tu hành thanh tịnh của hàng xuất gia, chỉ sự đoạn tuyệt dâm dục. ; 梵行; C: fànxíng; J: bongyō; S: brahmacarya; P: brahmacariya; cũng được dịch là Tịnh hạnh;|1. Hạnh thanh tịnh. Phạm (梵) nghĩa là thanh tịnh, thuật ngữ chỉ cho sự tu tập để giải trừ tham dục. Là công phu tu tập của tầng lớp Bà-la-môn thực hiện trong khi học đạo; 2. Là một trong những sự kiềm chế kỉ luật, Dạ-ma; 3. Tu tập hạnh thanh tịnh. Tu tập giới luật của tăng sĩ Phật giáo. Pháp tu giải trừ tham dục.

phạm hạnh

Pure living. (I) Nghĩa của “Phạm Hạnh”—The meanings of “Pure living”—Cuộc sống thanh tịnh hay giới pháp giúp hành giả cắt đứt dâm dục, sống đời độc thân để được sanh về cõi trời sắc giới Phạm Thiên hay cao hơn—Pure living; noble action; the discipline of celibacy which ensures rebirth in the Brahmaloka, or in the realms beyond form. (II) Những lời Phật dạy về “Phạm Hạnh” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Pure living” in the Dharmapada Sutra: 1) Sống trăm tuổi mà phá giới và buông lung, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà trì giới, tu thiền định—To live a hundred years, immoral and uncontrolled, is no better than a single-day life of being moral and meditative (Dharmapada 110). 2) Sống trăm tuổi mà thiếu trí huệ, không tu thiền, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà đủ trí, tu thiền định—To live a hundred years without wisdom and control, is no better than a single-day life of being wise and meditative (Dharmapada 111). 3) Sống trăm tuổi mà giải đãi không tinh tấn, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà hăng hái tinh cần—To live a hundred years, idle and inactive, is no better than a single-day life of intense effort (Dharmapada 112). 4) Sống trăm tuổi mà không thấy pháp vô thường sinh diệt, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà được thấy pháp sinh diệt vô thường—To live a hundred years without comprehending how all things rise and pass away, is no better than a single-day life of seeing beginning and end of all things (Dharmapada 113). 5) Sống trăm tuổi mà không thấy đạo tịch tịnh vô vi, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà được thấy đạo tịch tịnh vô vi—To live a hundred years without seeing the immortal state, is no better than a single-day life of one who sees the deathless state (nirvana) (Dharmapada 114). 6) Sống trăm tuổi mà không thấy pháp tối thượng, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà được thấy pháp tối thượng—To live a hundred years without seeing the Supreme Truth, is no better than a single-day life of someone who see the highest law (Dharmapada 115).

phạm học

1) Nghiên cứu về Bà La Môn: The study of Brahmanism. 2) Nghiên cứu về Phật Giáo: The study of Buddhism.

phạm học tân lương

(梵學津梁) Tác phẩm, khoảng 1.000 quyển, do tôn giả Ẩm quang Từ vân người Nhật bản biên soạn và theo sự suy đoán của các học giả cận đại thì sách được hoàn thành vào năm Minh hòa thứ 3 (1766). Nội dung sách này sưu tập các chữ Phạm và những tư liệu tham khảo để giúp cho việc học tập, nghiên cứu tiếng Phạm được tiện lợi. Toàn sách được chia làm 7 bộ: Bản thuyên, Mạt thuyên, Thông thuyên, Biệt thuyên, Lược thuyên, Quảng thuyên và Tạp thuyên. Bộ thứ nhất thu chép các bản Phạm và các sách vở viết trên lá bối do các sư mang về. Bộ thứ hai sưu tập các bản dịch về danh hiệu Phật, văn kệ, Đà la ni... Bộ thứ ba thu chép các văn hiến về biểu đồ chữ Phạm, sách vở tiếng Phạm như: Tất đàm chương, Tất đàm tự kí... Bộ thứ tư thu chép 29 bộ sách liên quan đến Phạm ngữ học như: Phạm ngữ thiên tự văn, Phiên dịch danh nghĩa đại tập...Bộ thứ năm chủ yếu nói rõ về thể chữ, cách viết, phù hiệu chữ Phạm. Bộ thứ sáu giải thích về danh hiệu của Phật, danh hiệu Pháp tạng... Bộ thứ bảy thu chép các văn hiến tham khảo về tiếng Phạm như: Tất đàm sáng học sao, Ngoại quốc văn tự, Kỉ hành... Đây là bộ sách tham khảo mà người nghiên cứu tiếng Phạm cần phải có, nó bao gồm tất cả các tư liệu ở Nhật bản đương thời, xứng đáng được gọi là sự nghiệp to lớn mà thời bấy giờ không có gì sánh được. Nguyên bản hiện được cất giữ ở chùa Cao quí tại Hà nội, phủ Đại phản, Nhật bản.

phạm khiếp ấn

(梵篋印) Chỉ cho ấn thứ 8 trong Tùy cầu bát ấn của bồ tát Đại tùy cầu thuộc Mật giáo, tức là Nhất thiết Như lai tùy tâm chân ngôn ấn. Ấn tướng là: Năm ngón của 2 tay mở ra, tay trái ngửa lên, đặt ở trước ngực; tay phải úp lên tay trái, 2 tay hợp 1, bàn tay hơi co. Ngoài ra, bồ tát Bát nhã và bồ tát Văn thù cũng kết thủ ấn này.

phạm kinh

(梵經) Phạm: Brahma-sùtra. Cũng gọi Phệ đàn đa kinh (Phạm: Vedànta-sùtra), Căn bản tư duy kinh (Phạm:Sarìraka-sùtra). Thánh điển căn bản của học phái Phệ đàn đa (Phạm:Vedànta) trong 6 phái Triết học Ấn độ, do Bạt đa la diễn na (Phạm: Bàdaràyaịa) soạn vào khoảng thế kỉ I trước Tây lịch và trở thành hình thức nhất định trong khoảng thời gian từ năm 400 đến 450 Tây lịch. Kinh này gồm có 4 thiên, 16 chương, 555 bài tụng, văn tự mỗi bài tụng rất đơn giản, nhưng nếu không được giải thích truyền trao thì khó mà hiểu được ý nghĩa hàm súc của nó. Vì thế các học giả đời sau đều giải thích rộng rãi, mỗi người mỗi ý lại tạo thành nhiều thuyết lộn xộn, do đó đã hình thành nhiều hệ phái Phệ đàn đa. Đây là 1 đặc điểm lớn để nghiên cứu kinh này. Nội dung kinh này noi theo phương thức minh tưởng của Phệ đà, tổng hợp các tư tưởng căn bản về hình nhi thượng học của các Triết gia Áo nghĩa thư, phê phán, chỉnh lí thêm, rồi chỉ ra rằng đấng Phạm tuyệt đối là nguyên nhân, là động lực cho sự sinh thành, tồn tục và huyễn diệt của thế giới. Sự sáng tạo thế giới là sự biểu hiện huyễn hóa của Phạm, tức là Phạm sinh ra hư không, hư không sinh ra gió, gió tạo ra lửa, lửa sinh ra nước, nước sinh ra đất mà hình thành thế giới. Đó là quá trình hình thành, còn quá trình huyễn diệt của thế giới thì đi ngược chiều; chỉ có bậc Thượng trí mới có khả năng đem Chân ngã hợp nhất với Phạm mà ra khỏi vòng luân hồi của Ngã cá thể. Điểm nổi bật trong toàn bộ kinh là 1 mặt làm sáng tỏ học thuyết của mình, mặt khác, phê bình, công kích và bác bỏ giáo lí của các phái khác trong cùng thời đại, đặc biệt đối với học thuyết của phái Số luận (Phạm: Sàôkhya) thì thái độ công kích rất kịch liệt. Ngoài ra, các phái Du già, Thắng luận, Phật giáo, Kì na giáo, phái Thú chủ, phái Thuận thế... cũng thường bị công kích. Phần nói về Phật giáo phần nhiều tập trung ở chương 2 của thiên thứ 2. Kinh này cùng với Áo nghĩa thư (Phạm: Upaniwad), Bạc già phạm ca (Phạm: Bhagavad-gìtà) v.v... đều là những kinh điển trọng yếu về mặt văn hóa và lịch sử của Ấn độ. Kinh này có rất nhiều sách chú thích, quan trọng hơn cả thì có: -Phạm kinh chú của Zaíkara, nói rõ về Bất nhị nhất nguyên luận Phạm Ngã nhất thể tuyệt đối. -Phạm kinh chú của Ràmànuja, nói rõ về Chế hạn nhất nguyên luận, trong đó, mối quan hệ giữa Phạm và Ngã giống như bộ phận và toàn thể. Bút tích của ngài Phạm Kì-Phệ đàn đa tinh yếu (Phạm: Vedantasàra) củaSadànanda. [X. Ànandàzrama Sanskrit Series, 1900; The Brahmasùtras ofBàdaràyaịa, 1923-1924, by S.K. Belvalkar].

phạm kì

(梵琦) (1296-1370) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Nguyên, người Tượng sơn, Minh châu (Chiết giang), họ Chu, tự Sở thạch, tiểu tự Đàm diệu.Sư xuất gia năm lên 9 tuổi, 16 tuổi thụ giới Cụ túc, năm 22 tuổi làm thị giả ở chùa Đạo tràng và trông coi Tạng kinh. Một hôm, sư xem kinh Thủ lăng nghiêm có chỗ tỉnh ngộ, nhưng không hiểu được ý trong văn kinh và vẫn còn vướng mắc nơi danh tướng. Sau, sư đến Kính sơn tham học ngài Nguyên tẩu Hành đoan, lúc đầu trong lòng vẫn còn nhiều mối ngờ. Bấy giờ, vua Anh tông ban sắc triệu người viết giỏi, sư được chọn vào cung. Một hôm, sư nghe tiếng trống trên lầu phía tây thành, sư hoát nhiên triệt ngộ, được nối pháp ngài Nguyên tẩu, lúc đó sư 29 tuổi. Về sau, sư lần lượt trụ ở các chùa Phúc trăn ở Hải diêm, chùa Vĩnh tộ ở Thiên ninh, chùa Báo các ở núi Phượng sơn tại Hàng châu, chùa Bản giác ở Gia hưng... Năm

Phạm Kỳ

(梵琦) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Nguyên, người Tượng sơn, Minh châu (Chiết giang), họ Chu, tự Sở thạch, tiểu tự Đàm diệu.Sư xuất gia năm lên 9 tuổi, 16 tuổi thụ giới Cụ túc, năm 22 tuổi làm thị giả ở chùa Đạo tràng và trông coi Tạng kinh. Một hôm, sư xem kinh Thủ lăng nghiêm có chỗ tỉnh ngộ, nhưng không hiểu được ý trong văn kinh và vẫn còn vướng mắc nơi danh tướng. Sau, sư đến Kính sơn tham học ngài Nguyên tẩu Hành đoan, lúc đầu trong lòng vẫn còn nhiều mối ngờ. Bấy giờ, vua Anh tông ban sắc triệu người viết giỏi, sư được chọn vào cung. Một hôm, sư nghe tiếng trống trên lầu phía tây thành, sư hoát nhiên triệt ngộ, được nối pháp ngài Nguyên tẩu, lúc đó sư 29 tuổi. Về sau, sư lần lượt trụ ở các chùa Phúc trăn ở Hải diêm, chùa Vĩnh tộ ở Thiên ninh, chùa Báo các ở núi Phượng sơn tại Hàng châu, chùa Bản giác ở Gia hưng... Năm Chí chính thứ 7 (1347), sư được vua ban hiệu Phật Nhật Phổ Chiếu Tuệ Biện Thiền Sư. Đầu năm Hồng vũ đời Minh, sư được vua ban sắc thuyết pháp ở Tưởng sơn (tức núi Chung sơn ở phía đông bắc huyện Giang ninh, tỉnh Giang tô). Năm Hồng vũ thứ 3 (1370) sư thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi. Sư để lại các trứ tác: Sở thạch Phạm kì ngữ lục 20 quyển, Tây trai tịnh độ thi 3 quyển, Thướng sinh kệ, Bắc du Phượng sơn tây trai 3 tập, Họa Thiên thai tam thánh thi. [X. Sở thạch Phạm kì thiền sư ngữ lục tự; Phật nhật phổ chiếu tuệ kiện thiền sư tháp minh; Thích thị kê cổ lược tục tập Q.2; Nam Tống Nguyên Minh thiền lâm tăng bảo truyện Q.10; Tục đăng chính thống Q.15].

phạm luân

1) Bánh xe chuyển pháp của Đức Phật: The Brahma-wheel—The wheel of the law, or pure preaching of the Buddha. 2) Bài pháp đầu tiên mà Phạm Thiên Vương thỉnh Phật quay bánh xe pháp: The first sermon at the request of Brahma. 3) Giáo thuyết của Phạm Thiên: The doctrine or preaching of the Brahmans. ; (梵輪) Pàli: Brahma-cakka. Tên gọi khác của Pháp luân. Có nhiều cách giải thích: 1. Lúc đức Phật mới thành Phật, Phạm thiên vương thỉnh Phật chuyển pháp luân, cho nên Pháp luân được gọi là Phạm luân. 2. Phật là bậc Chân Phạm, bánh xe pháp do bậc Chân Phạm vương quay chuyển gọi là Phạm luân. 3. Vì bánh xe pháp có năng lực diệt trừ các phiền não, nên gọi là Phạm luân. 4. Vì người đời cho Phạm là tôn quí, nên tôn xưng Pháp luân là Phạm luân. 5. Phạm nghĩa là thanh tịnh, sự thuyết pháp của đức Phật thanh tịnh, nên gọi là Phạm luân. 6. Vì đức Phật dùng 4 tâm Phạm hạnh (4 tâm Vô lượng) để quay bánh xe pháp, cho nên gọi là Phạm luân. Ngoài ra, luận Đại trí độ quyển 25 phân biệt giữa Phạm luân và Pháp luân như sau: Phạm luân hiển bày 4 tâm vô lượng, nhờ tu 4 tâm vô lượng mà được đạo, hiển bày Tứ thiền, tu thiền định Thánh đạo; còn Pháp luân thì hiển bày pháp Tứ đế, nhờ pháp khác mà được đạo, hiển bày 37 phẩm, tu trí tuệ Thánh đạo. [X. luận Đại trí độ Q.8; luận Câu xá Q.24]. (xt. Pháp Luân).

phạm luật

To offend against the law—Khi Đức Thế Tôn còn tại thế, có hai vị Tỳ Kheo phạm luật hạnh, lấy làm hổ thẹn, không dám hỏi Phật, đến hỏi Ưu Ba Li rằng: “Dạ thưa ngài Ưu Ba Li! Chúng tôi phạm luật thật lấy làm hổ thẹn, không dám hỏi Phật, mong nhờ ngài giải rõ chỗ nghi hối cho chúng tôi được khỏi tội ấy.” Ưu Ba Li liền y theo pháp, giải nói cho hai vị. Bấy giờ ông Duy Ma Cật đến nói với Ưu Ba Li—At the time of the Buddha, there were two bhiksus who broke the prohibitions, and being shameful of their sins they dared not call on the Buddha. They came to ask Upali and said to him: “Upali, we have broken the commandments and are ashamed of our sins, so we dare not ask the Buddha about this and come to you. Please teach us the rules of repentance so as to wipe out our sins.” Upali then taught them the rules of repentance. At that time, Vimalakirti came to Upali and said: • “Thưa ngài Ưu Ba Li, ngài chớ kết thêm tội cho hai vị Tỳ Kheo nầy, phải trừ dứt ngay, chớ làm rối loạn lòng họ. Vì sao? Vì tội tánh kia không ở trong, không ở ngoài, không ở khoảng giữa. Như lời Phật đã dạy: 'Tâm nhơ nên chúng sanh nhơ, tâm sạch nên chúng sanh sạch.' Tâm cũng không ở trong, không ở ngoài, không ở khoảng giữa. Tâm kia như thế nào, tội cấu cũng như thế ấy. Các pháp cũng thế, không ra ngoài chơn như. Như ngài Ưu Ba Li, khi tâm tướng được giải thoát thì có tội cấu chăng?”—“Upali, do not aggravate their sins which you should wipe out at once without further disturbing their minds. Why? Because the nature of sin is neither within nor without, nor in between. As the Buddha has said, 'living beings are impure because their mind are impure; if their minds are pure they are all pure.' And mind also is neither within nor without, nor in between. Their minds being such, so are their sins. Likewise all things do not go beyond (their ) suchness. Upali, when your mind is liberated, is there any remaining impurity?' • Ưu Ba Li đáp: 'Không.”—Upali replied: “There will be no more.” • Ông Duy Ma Cật nói: 'Tất cả chúng sanh tâm tướng không nhơ cũng như thế! Thưa ngài Ưu Ba Li! Vọng tưởng là nhơ, không vọng tưởng là sạch; điên đảo là nhơ, không điên đảo là sạch; chấp ngã là nhơ, không chấp ngã là sạch. Ngài Ưu Ba Li! Tất cả pháp sanh diệt không dừng, như huyễn, như chớp; các Pháp không chờ nhau cho đến một niệm không dừng; các Pháp đều là vọng kiến, như chiêm bao, như nắng dợn, như trăng dưới nước, như bóng trong gương, do vọng tưởng sanh ra. Người nào biết nghĩa nầy gọi là giữ luật, người nào rõ nghĩa nầy gọi là khéo hiểu.”—Vimalakirti said: “Likewise, the minds of all living beings are free from impurities. Upali, false thoughts are impure and the absence of false thought is purity. Inverted (ideas) are impure and the absence of inverted (ideas) is purity. Clinging to ego is impure and non-clinging to ego is purity. Upali, all phenomena rise and fall without staying (for an instant) like an illusion and lightning. All phenomena do not wait for one another and do not stay for the time of a thought. They all derive from false views and are like a dream and a flame, the moon in water, and an image in a mirror for they are born from wrong thinking. He who understands this is called a keeper of the rules of discipline and he who knows it is called a skillful interpreter (of the precepts).” • Lúc đó hai vị Tỳ Kheo khen rằng: “Thật là bực thượng trí! Ngài Ưu Ba Li nầy không thể sánh kịp. Ngài là bực giữ luật hơn hết mà không nói được.”—At that “time, the two bhiksus declared: 'What a supreme wisdom which is beyond the reach of Upali who cannot expound the highest principle of discipline and morality?” • Ưu Ba Li đáp rằng: “Trừ Đức Như Lai ra, chưa có bực Thanh Văn và Bồ Tát nào có thể chế phục được chỗ nhạo thuyết biện tài của ông Duy Ma Cật. Trí tuệ ông thông suốt không lường.”—Upali said: 'Since I left the Buddha I have not met a sravaka or a Bodhisattva who can surpass hi rhetoric for his great wisdom and perfect enlightenment have reached such a high degree.' • Khi ấy, hai vị Tỳ Kheo dứt hết nghi hối, phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác và phát nguyện rằng: “Nguyện làm cho tất cả chúng sanh đều được biện tài như vậy.”—Thereupon, the two bhiksus got rid of their doubts and repentance, set their mind on the quest of supreme enlightenment and took the vow that make all living beings acquire the same power of speech.

phạm lịch

(梵曆) Lịch pháp của Ấn độ. Phạm vốn không có nghĩa là Ấn độ, nhưng các nhà Phật học Trung quốc cho rằng Tất đàm là văn tự Ấn độ, do Phạm thiên tạo ra, cho nên gọi là Phạm tự, vì thế Phạm trở thành đại danh tự chỉ cho Ấn độ. Còn từ Phạm lịch là chỉ chung cho lịch pháp của Ấn độ, đã được sử dụng từ bao giờ thì không rõ. [X. Phật giáo Đại học học báo 27]. (xt. Phật Quốc Lịch Tượng Biên, Phật Giáo Lịch Pháp).

phạm ma

1) Phạm Thiên và Ma La Vương—Brahma or Brahman and Mara. a) Phạm Thiên là vị chủ ở các cõi trời sắc giới: Brahma is the lord of the realm of form. b) Ma là chủ Lục Dục Thiên hay cõi Tha Hóa Tự Tại—Mara is the lord of desire or passion. 2) Phạm Thiên: Brahma—See Phạm Thiên. ; (梵魔) Từ gọi chung cho Phạm và Ma. Phạm là Phạm vương, đứng đầu cõi trời Sơ thiền, đại biểu cho các vị trời ở cõi Sắc. Còn Ma là Tha hóa tự tại thiên, đứng đầu tầng trời thứ 6 của cõi Dục, đại biểu cho các vị trời ở cõi Dục. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa]. (xt. Đại Phạm Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên).

phạm ma du kinh

(梵摩渝經) Cũng gọi Phạm ma dụ kinh. Kinh, 1 quyển, do cư sĩ Chi khiêm dịch vào khoảng từ năm Hoàng vũ thứ 2 đến năm Kiến hưng thứ 2 (223-253) đời Ngô, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này thuật lại việc Bà la môn Phạm ma du (Phạm: Brahmàyu) hoài nghi về 32 tướng của đức Phật. Về sau, nhân thấy được 32 tướng như tướng lưỡi rộng dài, tướng mã âm tàng... của đức Phật, Bà la môn Phạm ma du rất vui mừng, khen ngợi và qui y đức Phật. Phật liền nói về yếu chỉ của đạo cho Phạm ma du nghe, nghe xong, tâm của Phạm ma du được mở tỏ, chứng quả A na hàm, ít lâu sau thì mệnh chung. Kinh này là bản dịch khác của kinh Phạm ma trong Trung a hàm quyển 41, nội dung cũng tương đương với bài kinh 91 trong Trung bộ (Majjhima-nikàya) tiếngPàli Nam truyền. [X. Lịch Đại tam bảo kỉ Q.7; Xuất tam tạng kí tập Q.2, Đại đường nội điển lục Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.2].

phạm ma la

See Phạm Ma (1).

phạm ma nan quốc vương kinh

(梵摩難國王經) Cũng gọi Phạm ma nan vương kinh. Kinh, 1 quyển, được dịch vào đời Tây Tấn, nhưng không rõ tên dịch giả, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này ghi lại chuyện vua nước Phạm ma nan không biết con của mình tên là Quân lân nho xuất gia tu đạo đã chứng được quả A la hán, chỉ thấy Quân lân nho siêng năng tu hành, ăn uống thanh đạm, nên cúng dường Quân lân nho khác với chúng tăng. Thấy thế, đức Phật mới bảo Quân lân nho nói cho quốc vương nghe về yếu chỉ Tứ đế. Sau khi nghe pháp, tâm nhà vua được mở tỏ và chứng quả Tu đà hoàn. Nhân dịp này, đức Phật cũng bảo tôn giả A nan dạy các tỉ khưu khi nhận thức ăn, áo mặc của thí chủ, muốn cho thí chủ được phúc, thì không được phân biệt thức ăn ngon hay không ngon. Đồng thời Phật cũng sai A nan nói rõ cho chúng hiểu sự quan trọng của tăng bạt khi thụ thực, nghĩa là chúng tăng thụ thực đều bình đẳng. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.3; Chúng kinh mục lục Q.3 (Pháp kinh); Khai nguyên thích giáo lục Q.2; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.4].

phạm ma ni

Brahma-mani (skt). 1) Tịnh Châu: Tên một loại ngọc báu—Pure pearl. 2) Ngọc báu như ý của Phạm Thiên: The magic pearl of Brahma. ; (梵摩尼) Phạm: Brahma-maịi. Hán dịch: Tịnh châu. Chỉ cho các loại ngọc quí. Ma ni là phiên âm của tiếng Phạmmaịi, cũng gọi Mạt ni, Phạm nghĩa là thanh tịnh. Nay thêm chữ Phạm ở trước ma ni để nêu rõ sự trong sạch, thuần khiết của nó. Ngoài ra, ngọc báu như ý của Đại phạm thiên vương cũng gọi Phạm ma ni. [X. Di lặc thướng sinh kinh sớ Q.hạ; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3]. (xt. Ma Ni).

phạm ma tam bát

Brahma-sahampati or Mahabrahma-sahampati (skt)—Phạm Thiên, là vị chủ của thế giới—Brahma, lord of the world.

phạm ma tam bát la

(梵摩三鉢羅) Một trong 28 bộ chúng. Mặt của vị này như thiên nữ, đầu đội mũ trời, tay trái úp vào cạnh rốn, tay phải cầm phất trần trắng để ở ngang ngực, đeo chuỗi anh lạc như người trời. (xt. Nhị Thập Bát Bộ Chúng).

phạm ma đạt

Brahmadatta (skt). 1) Tên vị vua của xứ Kanyakubja: A king of Kanyakubja. 2) Tên vua xứ Varanasi, cha của Ca Diếp: A king of Varanasi, father of Kasyapa.

phạm nan

Sự khó khăn trong việc duy trì đời sống phạm hạnh—The diffculty of maintaining celibacy, or purity. ; (梵難) Chướng nạn của người tu hạnh thanh tịnh, là 1 trong 2 thứ nạn của tỉ khưu. Khi tỉ khưu tu phạm hạnh, bị tình cảm của vợ con người thế tục quấy nhiễu, hoặc bị dâm nữ cám dỗ... đều là chướng nạn của hạnh thanh tịnh cho nên gọi là Phạm nạn. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 4].

phạm ngã nhất như

(梵我一如) Phạm: Brahma-àtma-aikyam. Phạm và Ngã là một. Đây là tư tưởng căn bản về thế giới quan của Bà la môn chính thống ở Ấn độ mà tiêu biểu là Áo nghĩa thư (Phạm: Upaniwad). Áo nghĩa thư chủ trương nguyên lí căn bản của vũ trụ là Phạm (Phạm: Brahman) và bản thể của cá nhân là Ngã (Phạm: Àtman) là cùng 1 thể, không khác. Theo nguyên lí căn bản này thì hết thảy muôn vật phát sinh theo 1 trình tự nhất định, linh hồn của nhân loại cho đến tất cả sinh vật tùy theo nghiệp lực mà mỗi loài đều có hình thức luân hồi khác nhau. Mục đích cao nhất của nhân sinh là làm thế nào để thoát ra khỏi vòng luân hồi ấy. Muốn vậy thì điều kiện tiên quyết là phải hiểu rõ chân lí căn bản: Phạm Ngã Nhất Như, đồng thời, tiêu diệt nghiệp lực, thì lập tức chấm dứt luân hồi đau khổ của kiếp người. Trong Bách đạo phạm thư (Phạm: Zatapatha-brahmaịa) và Tiền đa quí da áo nghĩa thư (Phạm: Chàndogyaupaniwad), hai Triết gia Áo nghĩa thư là Thiểm địch nhĩ da (Phạm: Zàịđilya, sống vào khoảng thế kỉ VI, VII trước Tây lịch) và Ô đạt lạp khách (Phạm: Uddàlaka, sống vào khoảng thế kỉ VI, VII trước Tây lịch) mới nêu rõ căn cứ của 2 mệnh đề Ta là Phạm (Phạm: Ahaô brahmàsmi) và Cái ấy là ngươi (Phạm: Tat tvam asi). Tư tưởng này trở thành học thuyết trung tâm của phái Phệ đàn đa (The Vedanta School) là phái kế thừa Áo nghĩa thư. Phái Thương yết la (Phạm: Saíkara) cũng coi Phạm tối cao và Ngã đồng nhất này là chân thực, ngoài ra đều là ảo ảnh (màyà) cả. (xt. Phạm, Áo Nghĩa Thư).

phạm ngư tự

(梵魚寺) Chùa nằm ở đặc khu Đông lai, núi Phũ sơn, thuộc tỉnh Khánh thượng nam tại Hàn quốc, do ngài Nghĩa tương, Sơ tổ Hoa nghiêm giáo ở Hải đông, sáng lập vào năm Vũ liệt thứ 2 (655) đời vua Thái tông nước Tân la, là 1 trong 31 bản sơn của Phật giáo Hàn quốc, sơn hiệu là Kim tỉnh sơn. Niên hiệu Văn lộc năm đầu (1592) chùa bị thiêu hủy trong chiến tranh xâm lược của quân Nhật. Năm Quang hải quân thứ 5 (1613), chùa được xây dựng lại. Trong chùa hiện có tòa Đại hùng bảo điện rất nguy nga hoành tráng và khá nhiều lầu gác, là 1 trong những ngôi chùa nổi tiếng hiện nay của Hàn quốc. Chùa này có 33 chùa phụ thuộc. [X. Triều tiên Phật giáo thông sử; Triều tiên tự sát tam thập nhất bản sơn tả chân thiếp].

phạm ngữ

Ngôn ngữ của Phạm Thiên—The language came from Brahma. 1) Ngôn ngữ Phạn: Brahma language (Sanskrit). 2) Mẫu tự Phạn: The Sanskrit alphabet. 3) Ngôn ngữ của Ấn Độ: The language of India. ; (梵語) Sanskrit. Cũng gọi Thiên trúc ngữ. Văn tự tiêu chuẩn của Ấn độ cổ đại, thuộc ngữ hệ Ấn Âu. Các sách như: Phệ đà, Phạm thư, Sâm lâm thư, Áo nghĩa thư và kinh điển của Phật giáo Bắc truyền đều được viết bằng ngữ văn này. Sanskritbắt nguồn từ chữ Saôskfta (nghĩa là hoàn thành). Trung quốc và Nhật bản căn cứ vào truyền thuyết cho rằng ngôn ngữ này là do Phạm thiên sáng tạo ra, cho nên gọi là Phạm ngữ hoặc Thánh ngữ. Để phân biệt với tục ngữ thông dụng trong dân gian, Phạm ngữ được gọi là Nhã ngữ. Nói theo nghĩa rộng, Phạm ngữ được chia làm 2 loại là: Phệ đà Phạm ngữ (Vedic Sanskrit) và Cổ điển Phạm ngữ (Classical Sanskrit). Phệ đà Phạm ngữ là ngôn ngữ Thánh điển (Phệ đà) của Bà la môn giáo; còn Cổ điển Phạm ngữ là do nhà Văn pháp học Ba nhĩ ni (Phạm: Pàịini) qui định thêm về văn pháp mà tập đại thành. Cứ theo sự nghiên cứu của các học giả cận đại, thì vào khoảng 2.000 năm trước Tây lịch, dân tộc Aryan từ phía tây bắc xâm nhập Ấn độ, đuổi hết thổ dân địa phương mà chiếm lấy khu vực Ngũ hà (Phạm: Paĩjàb) để định cư. Ở đây, họ đã biên tập Lê câu phệ đà (Phạm: Fg-veda) đầu tiên trong 4 Phệ đà. Sau đó không lâu, họ lại tiếp tục soạn thuật Phạm thư để giải thích những lời tế trong Phệ đà, rồi đến Sâm lâm thư và Áo nghĩa thư để phát huy ý nghĩa thâm sâu của lời tế; cuối cùng là Bản kinh (Phạm:Sùtra) nói sơ lược về yếu nghĩa của Phạm thư. Ngôn ngữ được sử dụng trong các Thánh điển trên đây được gọi chung là Cổ đại Phạm ngữ (Ancient Sanskrit), Phệ đà Phạm ngữ, tức ngôn ngữ Thánh điển ở khoảng 1.500 năm đến 500 năm trước Tây lịch. Tương đối với ngôn ngữ Thánh điển này, ngôn ngữ được sử dụng trong 2 tác phẩm Sử thi lớn của Ấn độ là Mahàbhàrata và Ràmàyaịa thì thuộc loại Phạm ngữ cổ điển, nhưng vì có bao hàm rất nhiều ngôn ngữ thông tục, nên đặc biệt được gọi là Phạm ngữ Tự sự thi (Epic Sanskrit). Về các sách Văn pháp của Phạm thư thì từ xưa đã có Tự vựng (Phạm: Nighaịta), luận Ni lộc đa (Phạm: Nirukta), tức sách chú thích Tự vựng được soạn vào thế kỉ V Tây lịch. Về sau, Ba nhĩ ni căn cứ vào luận Ni lộc đa và tham khảo các sách Văn pháp khác, rồi dùng ngữ pháp của Bản kinh mà soạn thành luận Thanh minh kí, đây tức là luận Tì già la (Phạm:Vyàkaraịa), sau lại chú thích thêm Pataĩjali làm cho văn pháp của cổ Ấn độ được xác lập vững chắc. Do đó, Phạm ngữ Phệ đà đã diễn tiến theo thời đại, dần dần phát triển thành Phạm ngữ cổ điển với hình thức nhất định và cũng dần dần trút bỏ những dụng ngữ dung tục. Trong 18 loại Thánh điển Phú lan na (Phạm: Puràịa) thì Ái kinh (Phạm: Kàma-zàstra) và các Thánh điển Phật giáo như: Phật sở hành tán (Phạm: Buddhacarita), Đại sự (Phạm: Mahàvastu), Bản sinh man (Phạm: Jàtakamàlà) v.v... đều được viết bằngPhạm ngữ cổ điển. Và, để phân biệt với Phạm ngữ cổ, tiếng Phạm được sử dụng trong các kinh điển của Phật giáo đặc biệt được gọi là Phạm ngữ Phật giáo (Buddhist-Sanskrit). Lại nữa, vì Phạm ngữ được sử dụng trong kinh Phật giáo đã lẫn lộn với rất nhiều tục ngữ, không còn là Phạm ngữ thuần túy, tạo nên 1 hình thái hết sức phức tạp, cho nên cũng gọi là Phạm ngữ Phật giáo hỗn tạp (Buddhist Hybrid Sanskrit). Vào khoảng thế kỉ VIII Tây lịch, người Ấn độ tiến xưống miền Nam, mang theo Phạm ngữ với họ đến tận các nước vùng Đông Nam Á, kết quả, đối với văn học Đạt la tì đồ (Phạm:Dràviđa) ở Nam Ấn độ và văn học các nước vùng Đông Nam Á, Phạm ngữ đều đã có ảnh hưởng rất lớn. Vào khoảng thế kỉ X, do sự phát đạt của các loại ngôn ngữ địa phương tại Ấn độ cận đại, cùng với sự xâm lăng của tín đồ Hồi giáo, Phạm ngữ đã dần dần mất thế đứng và cuối cùng chỉ còn tồn tại trong địa vị của 1 ngôn ngữ cổ điển mà thôi. Tóm lại, Phạm ngữ là thứ ngôn ngữ có hệ thống Văn pháp rất phức tạp; trong giới trí thức Ấn độ hiện đại, Phạm ngữ phần nhiều vẫn còn được dùng để viết sách. Về phần chữ cái (Phạm: Akwara) của Phạm ngữ thì có 47 âm, nếu thêm vào 3 âm là: Aô,a# và kwa, thì thành 50 âm. Các danh từ, đại danh từ và hình dung từ được chia làm 3 môn là: Tính, Số và Cách. Trong đó, về Tính thì có nam tính, nữ tính và trung tính; Số thì có số đơn, số đôi và số kép; Cách thì có thể cách, nghiệp cách, cụ cách, vi cách, tòng cách, thuộc cách, y cách và hô cách. Mỗi 1 chữ Phạm tùy theo Tính, Số, Cách khác nhau mà vĩ ngữ phải được thay đổi. Động từ thì có Chủ động và Bị động; Thời thì có quá khứ, hiện tại, vị lai, cũng đều có biến đổi vĩ ngữ... Ở Trung quốc có khá nhiều sách vở để nghiên cứu Phạm ngữ như: Phiên Phạm ngữ, 10 quyển (Bảo xướng), Nhất thiết kinh âm nghĩa (Huyền ứng, Tuệ lâm, Hi lân), Hoa nghiêm kinh âm nghĩa (Tuệ uyển), Tất đàm tự kí (Trí quảng), Phạm ngữ thiên tự văn (Nghĩa tịnh), Phiên dịch danh nghĩa tập (Pháp vân)... [X. phẩm Chấp mị giả nghi tắc trong kinh Đại phương quảng bồ tát Văn thù sư lợi căn bản nghi quĩ Q.18; luận Đại tì bà sa Q.79, 172; A History of Ancient Sanskrit Literature by Max Müller; Buddhist India by Rhys Davids]. (xt. Phật Giáo Phạm Ngữ).

phạm ngữ thiên tự văn

(梵語千字文) Cũng gọi Đường tự thiên man thánh ngữ, Phạm Đường thiên tự văn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh soạn vào đời Đường, được đưa vào Đại chính tạng tập 54. Sách dạy tiếng Phạm, gồm 1.000 chữ Phạm được dịch ra chữ Hán đối chiếu, bắt đầu từ các chữ: Thiên, địa, nhật, nguyệt... Ý nghĩa của 1.000 chữ liên tục với nhau và nối vần nhau, cứ 4 chữ thành 1 câu, giống như loại sách học chữ Hán Tam Thiên Tự: Thiên trời, địa đất, Tử mất tồn còn, Tử con tôn cháu, Lục sáu tam ba, Gia nhà quốc nước, Tiền trước hậu sau v.v.... Cuối sách có chép riêng phần Phạm Đường Tiêu Tức gồm 300 chữ dịch đối chiếu.

phạm ngữ tạp danh

(梵語雜名) Cũng gọi Tất đàm tự dẫn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Lễ ngôn soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 54. Nội dung sách này ghi chép những chữ Phạm dịch ra chữ Hán đối chiếu được sử dụng hằng ngày. Phần ngữ vựng bắt đầu từ các bộ phận của thân thể, rồi đến sắc hương vị xúc, động tĩnh hành chỉ, số mục, các mùa trong năm, chim thú, dược thảo, y phục, thân tộc... gồm 1.250 chữ Hán – Phạm đối chiếu, đều có âm tiếng Phạm và hình chữ Tất đàm.

Phạm Nhật

梵日; C: fànrì; J: bonnichi; K: pŏmil, 810-889. |Một nhà lĩnh đạo phong trào Thiền tông Hàn Quốc. Sư sang Trung Hoa tham học với Diêm Quan Tề An (鹽官齊安) và Dược Sơn Duy Nghiễm (樂山惟嚴). Sư được xem là người khai sáng phái Xà-quật sơn (闍崛山, k: sagul san).

phạm nữ

1) Con gái của Phạm Chí: A noble woman. 2) Người con gái phạm hạnh: A woman of high character.

phạm pháp

To break the law.

phạm phú lâu

Brahmapurohita (skt). 1) Những vị cận thần hay phụ tá của Phạm Thiên: The ministers, or assistants of Brahma. 2) Tên cõi trời sơ thiền thứ hai thuộc sắc giới: The second Brahmaloka; the second region of the first dhyana heaven of form.

phạm phạt

(梵罰) I. Phạm Phạt. Chỉ cho pháp trị phạt Phạm đàn trong Thiền lâm. Theo Thích thị yếu lãm quyển hạ, Phạm phạt có 2 pháp: 1. Mặc sấn: Tất cả mọi người không được tiếp xúc, chuyện trò với kẻ phạm tội. 2. Diệt sấn: Người phạm trọng tội mà tâm không hổ thẹn thì đại chúng không thể dung thứ, không thể ở chung với người ấy, đại chúng cử tội rồi đuổi ra khỏi chùa. [X. luật Tứ phần Q.57]. II. Phạm Phạt. Pháp trị tội của Phạm thiên. Trước cung điện của Phạm vương, thiết lập cái đàn(cái nền cao), trong Thiên chúng nếu có ai phạm pháp thì bắt đứng trên cái đàn ấy, các Thiên chúng khác không được qua lại và chuyện trò với người ấy. (xt. Phạm Đàn).

Phạm phụ thiên

梵輔天; C: fànfŭ tiān; J:; S: brahma-purohita.|Cư dân là quyến thuộc của Đại phạm thiên (s: mahābrahman), là tầng trời thứ hai trong 3 tầng trời thuộc Sơ thiền, được xếp vào 1 trong 17 cõi trời thiền thuộc Sắc giới (Sắc giới thập thất thiên 色界十七天).

phạm phụ thiên

The Brahmapurohitas, or the etinue of Brahma—See Phạm Phú Lâu (2). ; (梵輔天) Phạm: Brahma-purohita. Cũng gọi Phạm phú lâu thiên. Tầng trời thứ 2 trong các tầng trời Sơ thiền thuộc cõi Sắc, là tướng phụ tá của Đại phạm thiên. Tên cũ là Phạm tiên hành thiên, Phạm tiền ích thiên. Vì khi Phạm vương đi đâu, thiên chúng cõi này đều phải xếp hàng trước sau đi thị vệ, cho nên gọi là Phạm tiên hành thiên. Lại vì khi ở trước Phạm vương thì thiên chúng này thường nghĩ đến lợi ích của Phạm vương, cho nên gọi là Phạm tiên ích thiên. Tất cả thiên chúng ở tầng trời này đều là bày tôi phụ giúp Đại Phạm thiên vương, vì thế nên gọi là Phạm phụ thiên. Đại Phạm vương làm chủ cõi trời Sơ thiền, thần dân của Đại Phạm là Phạm chúng thiên và Phạm phụ thiên. [X. luận Đại tì bà sa Q.98; Huyền ứng âm nghĩa Q.18; Câu xá tụng sớ thế phẩm Q.1].

phạm phục

Kasaya (skt). 1) Y phục của Phạm Thiên: Brahma's robe. 2) Áo cà sa: Monk's robe. 3) Y phục của người tu phạm hạnh: The garment of celibacy. ; (梵服) Áo mặc của Phạm thiên, hoặc áo mặc của người phạm hạnh(tức ca sa). Các vị trời cõi Sắc đều mặc áo này. [X. Pháp uyển châu lâm Q.35]. (xt. Ca Sa).

phạm sát

Brahmaksetra (skt). 1) Cõi Phật: Buddha-land. 2) Tên gọi tự viện như là nơi thanh tịnh: A name for a Buddhist monastery, i.e. a place of purity. ; (梵刹) Phạm: Brahmakwetra. Đồng nghĩa: Phạm uyển. Phạm nghĩa là thanh tịnh; Sát, nói đủ là Sát ma, Chế đa la, nghĩa là cõi, chốn. Phạm sát vốn chỉ cho cõi Phật. Về sau, Phạm sát được dùng để chỉ cho già lam, chùa viện của Phật giáo. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7]. (xt. Tự Viện, Già Lam).

phạm thanh

Tiếng của Đức Phật—The voice of Buddha

Phạm thiên

梵天; C: fàntiān; J: bonten; S: brahma-loka. |1. Cõi trời Phạm thiên ở Sắc giới; 2. Brahman, theo tư tưởng Ấn Độ thì đó là nền tảng cơ bản nhất của hiện hữu, được xem là một vị thần hộ pháp trong Phật giáo, thường dùng để gọi Sơ thiền thiên (初禪天). Đây là một thuật ngữ để gọi 3 cõi trời gồm chung trong đó: Đại chúng thiên (大衆天, brahmā-kāyika), Phạm phụ thiên (梵輔天, brahma-purohita), Đại phạm thiên (大梵天, mahā-brahmā). Thuật ngữ nầy cũng thường dùng để chỉ cho chính Đại phạm thiên (大梵天, s: mahā-brahmā)

phạm thiên

Brahmas (skt). (A) Nghĩa của Phạm Thiên—The meanings of Brahma: 1) Vị thần chính của Ấn giáo, thường được diễn tả như ngưới sáng tạo hệ thống thế giới—A chief of Hindu gods often described as the creator of world system. 2) Chủ của cung trời sắc giới. Ngài làm chúa tể của chúng sanh, được Phật giáo thừa nhận là chư Thiên, nhưng thấp hơn Phật hay người đã giác ngộ—Lord of the heavens of form. The father of all living beings; the first person of the Brahmanical Trimurti, Brahma, Visnu, and Siva, recognized by Buddhism as devas but as inferior to a Buddha, or enlightened man. 3) Các chư Thiên trong cõi trời sắc giới: Devas in the realm of form. (B) Ba loại Phạm Thiên—Three kinds of Brahmas: 1) Phạm Chúng Thiên: The assembly of brahmadevas, i.e. Brahmakayika. 2) Phạm Phụ Thiên: Brahmapurohitas, or retinue of Brahma. 3) Đại Phạm Thiên: Phạm Thiên Vương—Mahabrahman, or Brahman himself. ** For more information, please see Thế Chủ. ; (梵天) Phạm: Brahmà. Hán âm: Bà la hạ ma, Một la hàm ma, Phạm ma. Hán dịch: Thanh tịnh, Li dục. Trong tư tưởng Ấn độ, Phạm được xem là nguồn gốc của muôn vật, là thần sáng tạo ra vũ trụ vạn hữu, cùng với Thấp bà (Phạm: Ziva) và Tì thấp nô (Phạm: Viwịu), gọi chung là Tam đại thần của Bà la môn giáo và Ấn độ giáo. Cứ theo pháp điển Ma nô (Phạm: Manusmfti) thì Phạm thiên sinh ra từ thai vàng (Phạm noãn), vốn có 5 đầu, tương truyền 1 đầu bị thần Thấp bà hủy hoại, còn lại 4 đầu, có 4 tay, lần lượt cầm kinh điển Phệ đà, hoa sen, cái thìa(muỗng)và tràng hạt hoặc chiếc bát. Phật giáo xếp Phạm thiên vào Sơ thiền thiên thuộc cõi Sắc. Thông thường, Phạm thiên được chia làm 3 loại là: Phạm chúng thiên (Phạm: Brahmapàriwadya), Phạm phụ thiên (Phạm: Brahma-purohita) và Đại Phạm thiên (Phạm: Mahà-brahmam), được gọi chung là Phạm thiên. Trong đó, Đại Phạm thiên vương thống lãnh các thần dân của Phạm chúng thiên và Phạm phụ thiên. Lại Phạm thiên mà người ta thường gọi phần lớn là chỉ cho Đại Phạm thiên vương, cũng gọi Phạm vương, tên là Thi khí (Phạm: Zikhin), hoặc Thế chủ (Phạm: Prajàpati). Theo truyền thuyết xưa của Ấn độ thì vào lúc kiếp sơ, Phạm thiên từ cõi trời Quang âm sinh xuống, tạo tác ra muôn vật. Trong Phật giáo thì Phạm thiên và Đế thích thiên đều là các vị thần hộ pháp của Phật giáo. Đức Thế tôn từng lên cung trời Đao lợi nói pháp độ cho thân mẫu, khi Ngài trở xuống thế giới Sa bà này thì Phạm vương tay cầm phất trần trắng đứng hầu bên phải đức Phật. Đại Phạm thiên vương thân cao 1,5 do diên, tuổi thọ 1,5 kiếp, cung điện Đại Phạm thiên vương ở, gọi là Phạm vương cung. Mật giáo xếp Phạm thiên làm 1 trong 12 vị trời giữ gìn phương trên. Tượng Phạm thiên trong Mật giáo có 4 mặt 4 tay; 2 tay bên phải cầm hoa sen và tràng hạt, 2 tay bên trái cầm quân trì(cái bình báu) và bắt ấn chữ Án, đầu độimũ búi tóc và ngồi trên cỗ xe do 7 con ngỗng kéo. Ngoài ra, pháp tu cúng dường Đại Phạm thiên, gọi là Phạm thiên cúng. [X. luận Đại trí độ Q.10; luận Đại tì bà sa Q.98; Đại nhật kinh sớ Q.5; Trung luận sớ Q.1, phần cuối; Đại đường tây vực kí Q.4]. (xt. Đại Phạm Thiên).

phạm thiên giới

The realm of Brahma. ; (梵天界) Gọi tắt: Phạm giới. Chỉ cho trời Sơ thiền thuộc cõi Sắc. Trong Phạm thiên giới gồm có: Phạm thiên (Phạm: Brahmà), Phạm chúng thiên (Phạm: Brahma-pàriwadya) và Phạm phụ thiên (Phạm: Brahma-purohita), cũng gọi chung là Phạm thân thiên (Phạm: Brahma-kàyika) hoặc Phạm thế thiên. Ở cõi trời này tất cả các phiền não căn bản đều đã lắng sạch, chỉ còn là trạng thái hoàn toàn thanh tịnh, vắng lặng. [X. kinh Hoa nghiêm Q.12 (bản dịch cũ); kinh Đại kiên cố bà la môn duyên khởi Q.hạ; kinh Đại cát nghĩa thần chú Q.3; Diệu cát tường căn bản trí Q.hạ]. (xt. Phạm Thiên).

phạm thiên hoả la cửu diệu

(梵天火羅九曜) Phạm: Brahma-horanavagraha. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Nhất hạnh (683-727) soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 21, riêng phần Đồ tượng được đưa vào tập 92. Sách này nói về nghi quĩ các tinh tú trong Mật giáo, nội dung giải thích tác pháp tế bái 9 vì sao (Cửu diệu) như phương vị cúng tế, vật cúng, chân ngôn tụng trì v.v... đồng thời nói rõ mối quan hệ lành dữ giữa các ngôi sao tương ứng với năm, tháng... có phụ thêm hình vẽ 9 ngôi sao.

phạm thiên hậu

Hậu phi của Phạm Thiên (Phạm Thiên trong Phật giáo không có hậu phi, tuy nhiên, dân gian Ấn Độ tôn sùng và cho rằng ngài có ba bà hậu phi)—The queen or wife of Braham.

Phạm thiên khuyến thỉnh

梵天勸請; C: fàntiān quànqǐng; J: bonten kanshō; |Sự cầu thỉnh từ Phạm thiên. Huyền thoại liên quan đến chuyện sau khi Đức Phật Thích-ca Mâu-ni thành đạo, ngài nói rằng ban đầu không muốn giáo hoá chúng sinh, ngài cho rằng giáo lí ngài chứng ngộ được quá thâm sâu khó hiểu. Lúc ấy, đấng Phạm thiên (s: brahmā) trong Ấn Độ giáo xuất hiện và cầu thỉnh Đức Phật hãy vì chúng sinh mà truyền đạt những kinh nghiệm chứng ngộ của ngài.

phạm thiên ngoại đạo

Brahmadeva-heretics—Bà La Môn cho rằng Phạm Thiên là Đấng Tạo Hóa, nhưng với Phật giáo điều nầy trái với chân lý—The Brahmans consider Brahma to be the Creator of al things and the Supreme Being, which is heresy with Budhism.

phạm thiên nữ

(梵天女) Phạm: Brahmì. Hán âm: Một la ca nhị, Mạt la hi nhị, Mạt la nhị. Cũng gọi Phạm thiên phi, Phạm thiên hậu.Vợ của Phạm thiên. Cũng có thuyết xếp vị Thiên nữ này vào 1 trong 7 vị Mẫu thiên. Kinh Đại nhật, Đại nhật kinh sớ phần nhiều gọi vị tôn này là Đại Phạm minh phi. Trong Mật giáo, Phạm thiên nữ được liệt vào hàng bộ chúng của viện Ngoại kim cương thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới. Về hình tượng, vị Thiên nữ này thân màu người, cánh tay phải co, bàn tay nắm lại; tay trái co lại, cầm hoa sen để da ở ngang ngực. Phạm thiên vốn lìa dục trong sạch, nên không có vợ, nhưng trong Mật giáo gọi vợ là biểu thị cái đức chủ về Phạm thiên nữ tính. Trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền, Phạm thiên nữ và Đại Phạm thiên cùng ngồi ở lớp thứ 3 về phía đông của Mạn đồ la. [X. Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7, 10; Thai mạn đại sao Q.7; Bí tạng kí]. (xt. Đại Phạm Thiên).

phạm thiên pháp

(梵天法) Phương pháp trị phạt được thi hành bởi Phạm thiên. Tức lập 1 cái đàn riêng để giữ kẻ phạm pháp, các Phạm chúng khác không được tiếp xúc, giao du với phạm nhân. [X. Duy ma kinh lược sớ Q.1]. (xt. Phạm Đàn).

phạm thiên trạch địa pháp

(梵天擇地法) Cũng gọi Phạm thiên trạch địa kinh. Tác phẩm, 1 quyển, không rõ tác giả, được thu vào Đại chính tạng tập 18. Sách này y cứ vào nội dung của kinh Đại Phạm thiên vương nội bí mật mà trình bày sơ lược về việc đức Như lai từng là 1 vị tiên nhân trì chú trong năm trăm vạn năm ở đời quá khứ, Ngài thường đi đến các ngọn núi, ở ẩn trong tịnh thất. Khi du hành, Ngài thấy 42 địa tướng có lợi cho việc thành tựu các pháp và cách chọn đất theo 42 địa tướng ấy. Kinh Đại Phạm thiên vương nội bí mật mà sách này y cứ, cho đến nay, không thấy có bản Hán dịch nào.

phạm thiên vương

See Phạm Thiên (B) (3). ; (梵天王) Cũng gọi Sa bà thế giới chủ, Thế chủ thiên. Chỉ cho Đại Phạm thiên của trời Sơ thiền thuộc cõi Sắc. Phạm thiên vương tên là Thi khí, thâm tín Chính pháp, mỗi khi có Phật ra đời thì Phạm thiên vương là người đầu tiên đến thỉnh Phật quay bánh xe pháp. Phạm thiên vương thường đứng hầu bên phải đức Phật,tay cầm phất trần trắng. [X. kinh Tạp a hàm Q.44; phẩm Tựa kinh Pháp hoa]. (xt. Đại Phạm Thiên).

phạm thân

1) Thân tâm thanh tịnh: The pure spiritual body. 2) Pháp thân của Phật: Dharmakaya of the Buddha.

phạm thân thiên

Quyến thuộc của Phạm Thiên (Phạm Chúng Thiên, Phạm Phụ Thiên, và Đại Phạm Thiên)—The Brahmakayika, or retinue of Brahma. ** For more information, please see Phạm Thiên (B).

phạm thích

Trời Phạm Thiên và trời Đế Thích—Brahma and Sakra: 1) Trời Phạm Thiên, chủ cung trời sắc giới: Brahma, the lord of the form-realm. 2) Trời Đế Thích, chủ của trời dục giới: Sakra, the lord of the desire-realm.

phạm thích tứ thiên

Trời Phạm Thiên, Đế Thích, và Tứ Thiên Vương—Brahma, sakra, and the four Maharajas.

phạm thích tứ vương

(梵釋四王) Cũng gọi Phạm thích tứ thiên. Từ ngữ gọi chung Phạm thiên, Đế thích thiên và Tứ thiên vương. Phạm thiên đứng đầu các tầng trời Sơ thiền của cõi Sắc; Đế thích thiên làm chủ cung trời Đao lợi của cõi Dục. Phạm thiên và Đế thích gọi chung là Phạm thích. Còn Tứ thiên vương là: Trì quốc thiên ở phương đông, Quảng mục thiên ở phương tây, Tăng trởng thiên ở phương nam và Đa văn thiên ở phương bắc. Phạm, Thích, Tứ vương đều là các vị thiện thần giữ gìn Phật pháp. [X. phẩm Thập địa trong kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển)].

phạm thư

(梵書) I. Phạm Thư. Phạm: Brahmaịa. Hán âm: Bà la môn na. Sách giải thích thánh điển Phệ đà (Phạm: Fg-veda) của Bà la môn giáo. Phệ đà, nói theo nghĩa hẹp là chỉ cho Bản tập (Phạm: Saôhità) của Phệ đà; còn nói theo nghĩa rộng thì bao gồm cả Bản tập và Phạm thư(nghĩa rộng), gọi chung là Phệ đà. Phạm thư là bộ sách đặt nền tảng vững chắc cho 3 giềng mối cốt yếu của Bà la môn giáo là: Phệ đà thiên khải, Tế tự vạn năng và Bà la môn chí thượng. Phệ đà bản tập ghi chép các bài ca tán, lời tế và lời chú được xướng tụng khi cúng tế. Phạm thư cũng được chia ra 2 phần là phần nghĩa rộng và phần nghĩa hẹp. Phần nghĩa rộng bao gồm các qui định về cách thực hành nghi thức cúng tế, hoặc giải thích ý nghĩa của các bài ca tán, các lời tế, thuyết minh nguồn gốc và nghĩa sâu xa của sự cúng tế. Nội dung của Phạm thư nghĩa rộng lại được chia làm 3 phần: Phạm thư (nghĩa hẹp), Sâm lâm thư (Phạm: Àraịyaka) và Áo nghĩa thư (Phạm: Upaniwad). Trong đó, Phạm thư(nghĩa hẹp) cũng lại chia làm 2 phần là: Nghi quĩ (Phạm: Vidhi) và Thích nghĩa (Phạm: Artha-vàda). Nghi quĩ qui định thứ tự của sự cúng tế và cách sử dụng các bài ca tán; còn Thích nghĩa thì giải thích ý nghĩa các bài ca tán, nguồn gốc và ý nghĩa của sự cúng tế cũng như nguồn gốc của các lời tế... Sâm lâm thư và Áo nghĩa thư thì cùng khảo xét về ý nghĩa của việc cúng tế và đời sống con người, cho nên rất trọng phương diện lí luận. Trong đó, Áo nghĩa thư đặc biệt đi sâu vào lĩnh vực tìm hiểu triết lí, nên còn có cái tên riêng là Phệ đàn đa (Phạm: Vedànta). Phạm thư được viết theo hình thức văn xuôi, trong sách sử dụng rất nhiều thần thoại và truyền thuyết. Về niên đại thành lập Phạm thư thì ước chừng vào khoảng 1.000 đến 600 năm trước Tây lịch, tức là khoảng thời gian mà trung tâm văn hóa của người Aryans từ lưu vực sông Ấn độ dời về phía đông đến đồng bằng sông Hằng. Đây là sản phẩm của thời kì mà hệ thống nghi thức cúng tế phức tạp của Phệ đà được chỉnh lí hoàn bị. Phạm thư có thể là sách về thần học, nhưng đồng thời cũng là tư liệu quí giá để tìm hiểu các vấn đề của xã hội Ấn độ đương thời như: Chế độ chủng tính, chủ nghĩa Bà la môn chí thượng, sự biến đổi thần thoại, tập đại thành tư tưởng Triết học, Nhất nguyên manh nha trong Áo nghĩa thư... Nhưng rất tiếc là những vấn đề ấy chỉ được ghi chép 1 cách vụn vặt có giới hạn mà thôi. Hiện nay còn 50 bộ, trong đó, chủ yếu là Ái đạt la thị Phạm thư (41 chương) phụ thuộc Lê câu Phệ đà và Bách đạo Phạm thư (100 chương) phụ thuộc Dạ nhu phệ đà. (xt. Phệ Đà). II. Phạm Thư. Phạm: Bràhmì, Bràhmì-lipi. Cũng gọi Phạm mị thư. Một trong những thể chữ xưa nhất được dân tộc Aryan sử dụng tại Ấn độ cổ đại từ sau thế kỉVI trước Tây lịch. Những Pháp sắc của vua A dục được khắc trên các cột đá và vách núi, những đồng tiền cổ (khoảng 300 năm trước Tây lịch) được đào thấy ở vùng Sagar của Ấn độ, đều được viết bằng thể chữ này. Trong những di vật của thế kỉ IV Tây lịch, người ta cũng phát hiện không ít thể chữ này. Loại văn tự này tuy Ấn độ đã vốn có từ xưa, nhưng theo sự nghiên cứu của các nhà khảo cổ cận đại thì loại chữ này cùng 1 ngữ hệ với văn tự của dân tộc Semitic, do những thương gia Ấn độ đem về truyền bá, đến khoảng năm 500 trước Tây lịch thì hoàn thành được 47 chữ cái. Lúc đầu, văn tự này vẫn theo tập quán của dân tộc Semitic viết ngay từ phải sang trái, lối viết này được thấy trên các đồng tiền cổ đào được ở Sagar, nhưng trong các Pháp sắc của vua A dục thì lại được viết từ trái sang phải và đặc biệt được gọi là Cổ đại khổng tước vương triều văn tự(văn tự của triều đại Khổng tước đời xưa). Loại văn này được lưu hành trên toàn cõi Ấn độ và truyền đến cả Tích lan. (xt. Phạm Tự).

phạm thượng

To be impertinent to superiors.

phạm thất

Nơi Tăng đoàn trú ngụ và tu tập, chùa hay tự viện—A dwelling where the sangha is practicing Buddhist laws—A dwelling where celibate discipline is practised, a monastery, temple. ; (梵室) Phòng ốc trong chùa viện, là nhà ở của những người tu Phạm hạnh.

phạm thế

(梵世) Phạm, Pàli:Brahmaloka. Cũng gọi Phạm sắc giới, Phạm thế thiên, Phạm thế giới, Phạm giới. Chỉ cho thế giới do Phạm thiên vương thống lãnh, chi phối. Từ ngữ này cũng có thể được dùng để gọi chung các vị trời ở cõi Sắc, vì những người sống ở thế giới này đã dứt bỏ dâm dục, nên xưa nay ở Ấn độ hạnh li dục, thanh tịnh được gọi là Phạm hạnh. [X. kinh Phật tạng Q.hạ].

phạm thế giới

Brahmaloka (skt)—Phạm Thế Thiên—Các cõi trời thuộc sắc giới—The Brahmaloka of the realm of form.

phạm thế thiên

Brahmaloka (skt)—See Phạm Thế Giới.

phạm thừa

Brahmayana (skt)—Phạm Thiên Thừa hay Bồ Tát Thừa—The noblest of the vehicles, that of the bodhisattva. ; (梵乘) Thừa thanh tịnh. Chỉ cho Bồ tát thừa, vì Bồ tát lấy sự thanh tịnh làm căn bản và tu hạnh từ, bi, hỉ, xả nên gọi là Phạm thừa, là 1 trong 5 thừa (Thiên thừa, Phạm thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Chư Phật Như lai thừa) theo kinh Lăng già a bạt đa la bảo quyển 2; là 1 trong 3 thừa (Thiên thừa, Phạm thừa, Thánh thừa) theo kinh Đại bảo tích quyển 94. (xt. Thừa).

phạm tiên

(梵仙) (1292-1348) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Nguyên, người Tượng sơn, Minh châu (Chiết giang), họ Từ, tự Trúc tiên, hiệu là Lai lai thiền tử, Tịch thắng chàng, Tư qui tẩu. Sư xuất gia năm 8 tuổi ở viện Tư phúc tại Ngô hưng (tỉnh Chiết giang). Năm 18 tuổi, sư y chỉ vào ngài Thụy vân ẩn ở Linh sơn thụ giới Cụ túc. Sau ít lâu, sư đi thăm viếng những ngôi chùa nổi tiếng và tham học các ngài Hối cơ Nguyên hi, Vân ngoại Vân tụ, Nguyên tẩu Hành đoan, Trung phong Minh bản... sau, sư nối pháp ngài Cổ lâm Thanh mậu. Năm Thiên lịch thứ 2 (1329), sư theo ngài Minh cực Sở tuấn vượt biển Đông sang Nhật bản, được Bắc điều Cao thời và Túc lợi Tôn thị kính tin. Năm sau, sư đến Liêm thương, nhận chức Đệ nhất tọa ở chùa Kiến trường; về sau, sư trụ trì các chùa Tịnh diệu và chùa Tịnh trí. Năm Kiến vũ thứ 2 (1335), sư trở thành Tổ khai sơn của chùa Vô lượng. Năm Lịch ứng thứ 4 (1341), sư trụ ở chùa Nam thiền tại Kinh đô (Kyoto), chùa này liền được triều đình phong là Đệ nhất thiên hạ. Về sau, sư lại lần lượt trụ ở viện Lăng già, chùa Chân như, chùa Kiến trường v.v... Năm Chính bình thứ 3 (1348), sư thị tịch, thọ 57 tuổi, 39 tuổi đạo. Đệ tử nối pháp có các vị Đại niên Pháp diên, Xuân đình Mai thọ. Pháp hệ của sư gọi là Trúc tiên phái (cũng gọi Cỗ lâm phái, Mai lâm môn đồ), là 1 trong 24 dòng của Thiền tông Nhật bản.Sư có các tác phẩm: Trúc tiên hòa thượng ngữ lục, Thiên trụ tập, Lai lai thiền tử ca, Lai lai thiền tử đông độ tập, Cổ lâm hòa thượng hành thực (mỗi thứ có 1 quyển). [X. Bản triều cao tăng truyện Q.27; Diên bảo truyền đăng lục Q.5; Phù tang ngũ sơn kí Q.2, 3, 5].

Phạm trú

梵住; S, P: brahma-vihāra;|Bốn phạm trú.

phạm trăn

(梵臻) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Tống, người Tiền đường, vốn tên là Hữu trăn, hiệu Nam bình. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư theo học ngài Tứ minh Tri lễ, ngài Tri lễ truyền hết các học thuyết của tông Thiên thai cho sư, ngoại trừ Ma ha chỉ quán ngài không truyền mà bảo sư phải tự đọc lấy. Sư đọc hơn 20 lần, sau đó, ngài Tri lễ mới ấn khả. Năm Hoàng hựu thứ 3 (1051), sư đến chùa Thượng thiên trúc, năm sau về Kim sơn. Năm Hi minh thứ 5 (1072), nhận lời thỉnh của quan Thái thú Hàng châu, sư đến giảng ở chùa Hưng giáo tại Nam bình. Sư có tài hùng biện, thường dựa vào các vấn đề quán tâm, quán Phật... để mở rộng các cuộc bàn luận, đối đáp với các vị thuộc phái Hậu sơn ngoại như Tịnh giác Nhân nhạc... nổi tiếng 1 thời. Tác phẩm Thích thập loại của sư mở ra 1 trường phái trứ tác rất đặc biệt, các tác phẩm khác của sư đều theo hình thức sáng tác này. Sau khi sư tịch, vào khoảng năm Sùng trinh, được đặt thụy hiệu là Thực Tướng Pháp Sư. Sư để lại các tác phẩm: Thích thập loại, Chư văn loại tập, Độc giáo kí, Tự dư tập, Lạc bang văn loại, Thập bất nhị môn tổng biệt chỉ qui (sách này đã thất lạc).

phạm trọng

Vi phạm giới trọng hay những giới chính—To break the weightier laws. ; (犯重) Phạm trọng tội. Tức là vi phạm 4 tội nặng của giới Tiểu thừa, hoặc 10 tội nặng của giới Đại thừa. Bốn tội nặng là: Dâm dục, trộm cướp, giết hại và nói dối. Mười tội nặng là: Giết hại, trộm cướp, dâm dục, nói dối, bán rượu, nói lỗi của 4chúng, khen mình chê người, bỏn sẻn hủy nhục, lòng tức giận không chịu ăn năn, hủy báng Tam bảo. (xt. Thập Trọng Cấm Giới, Tứ Ba La Di).

phạm trọng yêm

(范仲淹) (989-1052) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc sống vào đời Tống, người đất Ngô, tự là Hi văn. Năm lên 2 tuổi, ông mồ côi cha, nhà nghèo, mẹ tái giá. Khi vừa lớn khôn, ông cảm thấy khổ tâm, khóc lóc từ giã mẹ, đến ở nhờ nhà tăng trong làng, gắng sức học hành. Về sau, ông thi đỗ Tiến sĩ, ra làm quan giữ chức Bí các hiệu lí. Ông thường mạnh dạn bàn bạc việc nước, hàng sĩ phu đương thời đều bắt chước và chuộng khí tiết của ông. Thời vua Nhân tông, ông được phong làm tướng, trấn giữ Thiểm tây, phòng ngự Tây hạ, quân địch không dám xâm phạm. Sau bị bọn nịnh thần dèm pha, ông bị đày đi Thanh châu và giáng chức làm Hộ bộ thị lang. Năm Hoàng hựu thứ 4 (1052) ông qua đời, hưởng thọ 64 tuổi, được tặng Binh bộ thượng thư, thụy hiệu là Văn chính. Từ nhỏ ông đã sống trong chùa, sớm được nghe chính pháp, giữ gìn giới luật thanh tịnh, khắc khổ chuyên cần. Tuy làm quan nhưng ông thích gần gũi các bậc cao tăng, tham cứu pháp thiền, ưa làm việc từ thiện và thích bố thí, lập nghĩa điền để giúp đỡ người trong dòng họ và hàng ngày cấp dưỡng cho vài mươi gia đình đến nhờ cậy. Ngày ông mất, mọi người đều thương tiếc, trai gái đứng trên đường khóc như đám tang người thân.

phạm tán

(梵贊) Phạm:Stotra. Bài văn khen ngợi công đức của Phật, Bồ tát bằng tiếng Phạm. Những bài ca tán thịnh hành ở Ấn độ gồm có: Tứ bách tán, Nhất bách ngũ thập tán của ngài Mã minh (có thuyết nói của ngàiMa hí lí chế tra); ngài Trần na dựa vào Ngũ bách ngũ thập tán(150 bài tán), mỗi bài họa thêm 1 bài tụng mà thành Tạp tán tam bách tụng (300 bài tán và tụng xen lẫn nhau). Rồi ngài Thích ca đề bà lại thêm vào cho 150 bài tán của ngài Trần na mỗi bài 1 bài tụng nữa mà tập thành Tạp tán tứ bách ngũ thập tụng(450 bài tán và tụng xen lẫn nhau). Ngoài ra còn có Tô hiệt lí li khư (Phạm: Suhfdalekha, Mật hữu thư) của ngài Long thụ và Phật sở hành tán của ngài Mã minh. Những bài ca tán của Phật giáo Ấn độ là 1 thể loại văn học thi ca cung đình (Phạm: Kàvya), phỏng theo ngữ pháp của thi phẩm Anh hùng ca Ma la da na (Phạm: Ràmàyaịa), đồng thời, dùng âm luật phú vịnh để họa theo. Do đó, những tác phẩm thuộc loại ca tán ấy, khi được dịch sang Hán văn, thì có bản chỉ dịch lấy ý, mà cũng có bản chỉ dịch theo âm Phạm thôi. Chẳng hạn như các bài: Tam thân phạm tán, Phật tam thân tán, Phật nhất bách bát danh tán, Phật cát tường đức tán, Bát đại linh tháp phạm tán, Tán pháp giới tạng, Bát đại linh tháp danh hiệu kinh v.v... [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Xuất tam tạng kí tập Q.4; Geschichte der indischen Literatur, Bd. II, by M. Winternitz; Sanskrit Literature by A.A. Macdonell].

phạm tâm

Tâm tu theo phạm hạnh hay thanh cao và tinh khiết mà người thực tập sẽ được sanh về cõi trời vô sắc—The noble or pure mind (which practises the discipline that ensures rebirth in the realm without form). ; (梵心) Chỉ cho tâm tu phạm hạnh. Phạm hạnh nghĩa là hành vi thanh tịnh, tức người xuất gia hay tại gia tu tập 4 phạm hạnh hoặc tu thiền định, xả bỏ dâm dục, giữ thân tâm trong sạch, được sinh về cõi Sắc và cõi Vô sắc.[X. kinh Quán sát chư pháp hành Q.1; Ma ha chỉ quán Q.1]. (xt. Phạm Hạnh).

phạm tăng

1) Vị Tăng Ấn Độ thời xưa. Vào thời đó Tăng sĩ Ấn Độ mặc áo trịch (để lộ) vai phải: A monk from India: Brahman monk is a Buddhist Master of ancient India. During those days, Buddhist monks wore rope, Buddhist monks wore roped exposing thei right shoulders. 2) Vị Tăng gìn giữ tịnh hạnh: A monk who maintains his purity. ; (梵僧) Chỉ cho các vị tăng từ các nước Tây vực, hoặc Ấn độ đến Trung quốc; hoặc chỉ vị tăng tu hành giữ giới thanh tịnh(tức tu Phạm hạnh). Nhưng về sau, từ Phạm tăng cũng dần dần được sử dụng để chỉ chung cho giới tăng sĩ, bởi vì người xuất gia tu hành Phật đạo đều lấy việc xa lìa trần tục, xả bỏ tạp nhiễm, dứt trừ dâm dục làm gốc. [X. luận Câu xá Q.8; Tục cao tăng truyện Q.25 chương Thích viên thông].

Phạm Tướng

梵相; C: fànxiāng; J: bonsō; 1346-1410|Thiền sư thuộc tông Lâm Tế, xuất thân từ vùng bây giờ là quận Yamanashi. Sư trải qua sự nghiệp hoằng hoá ở các ngôi chùa Thiên Long (天竜寺, j: tenryūji) và Tướng Quốc (相國寺, j: sōkokuji) ở Kinh Đô.

Phạm tướng

(梵相): có hai nghĩa chính:(1) Chỉ cho tướng trang nghiêm, thanh tịnh của chư Phật, Bồ Tát, v.v. Như trong Toàn Đường Thi (全唐詩) quyển 85 có thâu lục bài thơ Võ Túc Vương Hữu Chỉ Thạch Kiều Thiết Trai Hội Tấn Nhất Thi (武肅王有旨石橋設齋會進一詩) của một vị tăng ở Ngô Việt, có câu: “La Hán phàn chi trình Phạm tướng, nham tăng ỷ thọ hiện chơn hình (羅漢攀枝呈梵相、巖僧倚樹現眞形, La Hán vin cành bày tướng hảo, tựa cây tăng núi hiện chơn hình).” Hay trong Năng Cải Trai Mạn Lục (能改齋漫錄), chương Sự Thỉ (事始) 2 của Ngô Tằng (吳曾, khoảng thế kỷ 12) nhà Tống có đoạn: “Thiên hạ tự lập Quan Âm tượng, cái bổn ư Đường Văn Tông hảo thị cáp lị; nhất nhật, ngự soạn trung hữu phách bất khai giả, đế dĩ vi dị, nhân phần hương chúc chi, nãi khai, tức kiến Bồ Tát hình, Phạm tướng cụ túc (天下寺立觀音像、蓋本於唐文宗好嗜蛤蜊、一日、禦饌中有擘不開者、帝以爲異、因焚香祝之、乃開、卽見菩薩形、梵相具足, các chùa trong thiên hạ đều dựng tượng Quan Âm, vốn xuất phát từ việc vua Văn Tông [tại vị 826-840] nhà Đường thích ăn con sò; một hôm nọ, trong cỗ ăn của nhà vua có con sò bị nạy mà vẫn không mở ra; nhà vua lấy làm lạ, nhân đó thắp hương cầu khấn, con sò liền mở miệng ra, tức thấy hình Bồ Tát, tướng hảo đầy đủ).” (2) Chỉ chung cho tượng Phật. Như trong bài thơ Tam Nguyệt Thập Nhật Quán Nam An Triệu Sứ Quân Sở Tang Thư Họa Cổ Khí Vật (三月十日觀南安趙使君所藏書畫古器物) của Liễu Quán (柳貫, 1270-1342) nhà Nguyên có câu: “Đình quang cổ Phật xuất Phạm tướng, mãn nguyệt tại thủy liên sanh phu (庭光古佛出梵相、滿月在水蓮生趺, hào quang cổ Phật bày tướng hảo, trăng tròn mặt nước sen ngồi Thiền).” Trong Pháp Hoa Kinh Trì Nghiệm Ký (法華經持驗記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1541) quyển Hạ có câu: “Tống Thích Nghĩa Thông, tánh Duẫn, Cao Lệ quốc tộc, Phạm tướng dị thường, mi trường ngũ thốn dư, ấu xuất gia Quy Sơn Viện (宋釋義通、姓尹、高麗國族、梵相異常、眉長五寸餘、幼出家龜山院, Thích Nghĩa Thông nhà Tống, họ là Duẫn, dòng họ nước Cao Lệ [Triều Tiên], tướng hảo khác thường, lông mày dài hơn 5 tấc, lúc nhỏ xuất gia ở Quy Sơn Viện).” Hay trong Bổ Tục Cao Tăng Truyện (補續高僧傳, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 77, No. 1524) quyển 19 có đoạn: “Ngôn Pháp Hoa giả, mạc tri kỳ sở tùng lai, Phạm tướng kỳ cổ, ngữ ngôn vô kỵ, xuất một bất trắc, đa hành thị lí, khiên thường nhi xu, hoặc cử chỉ họa không, trữ lập lương cửu, dữ đồ cổ giả du, ẩm đạm vô sở trạch, đạo tục cọng mục vi cuồng tăng (言法華者、莫知其所從來、梵相奇古、語言無忌、出沒不測、多行市里、褰裳而趨、或舉指畫空、佇立良久、與屠沽者游、飲啖無所擇、道俗共目爲狂僧, Ngôn Pháp Hoa, chẳng biết ông từ đâu đến, tướng hảo cổ quái, nói năng chẳng kiêng kỵ, ẩn hiện khôn lường, phần nhiều xuất hiện nơi chợ búa, làng xóm, vén quần mà đi, hoặc có khi đưa ngón tay lên vẽ trên không trung, rồi đứng yên một hồi lâu, cùng với hạng bán rượu thịt giao du, ăn uống đủ thứ, cả đạo lẫn đời đều xem ông là tu sĩ điên).”

phạm tướng

Brahmadhvaja (skt)—Một trong những người con trai của Mahabhijna, trong cõi Phật ở về phía tây nam vũ trụ của chúng ta—One of the sons of Mahabhijna; his Buddha domain is south-west of our universe.

phạm tẩu

(梵嫂) Chỉ cho vợ của 1 vị tăng. Đây là từ ngữ có tính cách châm biếm, mỉa mai. Bởi vì người xuất gia tu đạo là phải giữ gìn giới hạnh thanh tịnh, không được lấy vợ, không được dâm dục, gọi là Phạm tăng (tăng trong sạch). Nếu tăng lấy vợ là tăng đã phá giới cấm của Phật, nên vợ của vị tăng ấy được gọi 1 cách châm biếm là Phạm tẩu, còn chính vị tăng có vợ thì được gọi là Hỏa trạch tăng(tăng ở trong nhà lửa), có ý vị châm biếm và mỉa mai hơn cả từ Phạm tẩu! Tại Trung quốc, vào cuối đời Đường đã có hiện tượng tăng sĩ lấy vợ, tình trạng này kéo dài đến đời Tống mới chấm dứt, vì nhà vua hạ lệnh cấm chỉ việc này. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 43, thì vào niên hiệu Ung hi năm đầu (984), vua Tống thái tông ban chiếu chỉ cấm tăng sĩ lấy vợ, trong sắc lệnh có câu Các quan lại địa phương phải triệt để răn cấm tăng nhân lấy vợ để làm sáng tỏ và thuận với chính giáo.

Phạm tịch

(梵席): chỗ ngồi trong các tự viện, đặc biệt thường dùng để chỉ chỗ ngồi để thuyết giảng, tụng kinh, làm các Phật sự; đôi khi đồng nghĩa với pháp tịch (法席). Như trong Pháp Hoa Linh Nghiệm Truyện (法華靈驗傳) quyển hạ có câu: “Kim hạnh kiệt thành Trương Hoàng phạm tịch, dục vấn nhất nhị đại chỉ, nhiên thủ hộ thần tương ha cấm bất nhập, bằng hoàng môn ngoại sổ nhật hỉ (今幸竭誠張皇梵席、欲問一二大旨、然守護神將呵禁不入、彷徨門外數日矣, nay đã kiệt sức, may gặp pháp hội của Trương Hoàng, muốn hỏi một hai yếu chỉ quan trọng, nhưng thần thủ hộ khiển trách, cấm không cho vào, tôi bàng hoàng ở ngoài cửa mấy ngày vậy).”

phạm tội

To commit a crime—To commit offences.

Phạm tự

梵字; C: fànzì; J: bonji; |Chữ viết Ấn Độ, vốn là dạng chữ Phạn cổ xưa, về sau thuật ngữ nầy trở nên dung để đề cập đến kiểu chữ Devanāgari.

phạm tự

1) Chữ Phạn—Brahma letters—samskrtam—Sanskrit. a) Bắc Phạn: Sanskrit. b) Nam Phạn: Tiếng Phạn Pali được vài học giả Trung Hoa cho rằng cổ hơn tiếng Phạn Sanskrit về cả tiếng nói lẫn chữ viết—Pali, considered more ancient by some Chinese writers than Sanskrit both as a written and spoken language. 2) Phạm Thư: Văn Tự cổ của Ấn Độ, phân biệt với tiếng nói bình dân Prakrit. Chỉ vài ngoại lệ kinh điển Trung Quốc được dịch từ tiếng Phạn Pali (Nam Phạn), còn thì đa phần được dịch sang từ tiếng Phạn Sanskrit (Bắc Phạn). —The classical Aryan language of India, in contradistinction to Prakrit, representing the language as ordinarily spoken. With the exception of a few ancient translations probably from Pali versions, most of the original texts used in China were Sanskrit. ; (梵字) Văn tự do Phạm thiên chế ra, thông dụng ở Ấn độ cổ đại, cũng tức là văn tự Tất đàm được phát triển từ tự mẫu Phạm thư (Bràhmì) mà thành. Theo truyền thuyết của Ấn độ thì Phạm tự là do Phạm thiên chế ra, nhưng theo sự nghiên cứu thời gần đây thì Phạm tự và hình thái ban đầu của văn tự Phoenicia thông dụng ở Âu châu hiện nay đều thuộc ngữ hệ Semitik. Vào khoảng 800 năm trước Tây lịch, những thương gia Ấn độ tiếp xúc với tiếng Aramaic ở vùng Mesopotamia kết quả là 22 chữ cái Semitik đãđược các thương gia ấy đem truyền về Ấn độ, rồi các Bà la môn chỉnh lí, bổ sung, đến khoảng 500 năm trước Tây lịch mới hoàn thành 47 chữ cái. Về cách viết, chữ Phạm vốn được viết ngang từ phải sang trái, nhưng về sau đổi thành viết ngang từ trái sang phải. Cách viết này do thời đại và địa phương khác nhau mà dần dần cũng thay đổi. Khoảng thế kỉ I Tây lịch, miền Bắc Ấn độ có khuynh hướng dùng hình vuông, miền Nam có khuynh hướng dùng hình tròn. Đến khoảng thế kỉ IV thì 2 miền Bắc, Nam đã có sự khác nhau rõ ràng. Từ thế kỉ IV đến thế kỉ V, hệ thống miền Bắc phát triển thành văn tự Cấp đa (Phạm: Gupta), rồi đến thế kỉ VI thì thành văn tự Tất đàm. Ngoài ra còn sản sinh nhiều thứ văn tự khác như văn tự Nàgarìở Trung Ấn độ vào thế kỉ VII, văn tựZàradàtừ thế kỉ VIII trở đi, cuối cùng đến thế kỉ XI thì hoàn thành Phạm tự được dùng để xuất bản các bản Phạm hiện nay, tức là văn tự Deva-nàgarì. Từ thế kỉ XI trở đi, Phạm tự được truyền vào Tây tạng, Tây vực... và trở thành loại văn tự đặc biệt. Còn hệ thống văn tự miền Nam cũng phát triển thành nhiều loại văn tự, như văn tự Khiếp quan, văn tự Ca na lạp (Phạm: Kàịara), văn tự Thiếp như cố (Phạm: Telugu), văn tự Yết lăng già (Phạm: Kaliíga, văn tự Các lan đặc cáp (Phạm: Grantha), văn tự Tamil, văn tự Vaỉỉaơuttuv.v... Các loại văn tự của Tich lan, Miến điện, Thái lan, Cao miên, Lào... được dùng để chép kinh hoặc in ấn hiện nay đều thuộc hệ thống Phạm tự miền Nam Ấn độ. Nhưng, ngoài các loại Phạm tự thuộc hệ thống 2 miền Nam, Bắc như đã nói ở trên, còn có các loại văn tự nằm ngoài hệ thống Phạm thư (Phạm tự) như Lục thập tứ thư được liệt kê trong phẩm Thị thư của kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4; Lục thập tự mẫu của Kì na giáo điển v.v... [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.26; Tất đàm tạng Q.1; Catalogue of the Buddhist Sanskrit Manuscripts, palaeographie, by C. Bendall; A Sanskrit-English Dictionary, introduction, by M. Monier-Williams; Buddhist India, by Rhys Davids; On Yuan Chwang, by T. Watters; Manuscript Remains of Buddhist Literature found in E. Turkestan, general introduction, by R. Hoernle]. (Xt. Phạm Thư, Tất Đàm).

phạm uyển

Tự viện, nơi các vị xuất gia sống đời độc thân tu tập—A monastery or any place where celibate discipline is practised.

phạm vi

1) Phạm trù: Domain—Field. 2) Khuôn khổ hay nguyên tắc: Rule and restraint—To guard by proper means.

phạm võng

Brahmajala (skt)—Brahma-net.

phạm võng giới

See Phạm Võng Giới Bổn. ; (梵網戒) Tức 10 giới nặng và 48 giới nhẹ được ghi trong kinh Phạm võng quyển hạ. Trong giới Đại thừa, giới Phạm võng không phân biệt tại gia hay xuất gia, mà tất cả đều có thể thụ trì. (xt. Thập Trọng Cấm Giới, Bồ Tát Giới).

phạm võng giới bổn

Bồ Tát Giới Kinh hay phần sau của Kinh Phạm Võng—The latter part of the Brahma-sutra. ** For more information, please see Bốn Mươi Tám Giới Khinh, and Mười Giới Trọng của chư Bồ Tát trong Kinh Phạm Võng.

phạm võng giới phẩm

Tên của Kinh Phạm Võng (Kinh Phạm Võng ngày nay chỉ còn lại một phẩm Bồ Tát Tâm Địa Giới trong bộ Kinh Phạm Võng nên gọi là Phạm Võng Giới Phẩm)—A name for the Brahma-sutra. ; (梵網戒品) Gọi đủ: Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập. Tên gọi khác của kinh Phạm võng. Kinh Phạm võng hiện nay chỉ là 1 tác phẩm nói về giai vị, giới luật của Bồ tát trong kinh Phạm võng(quảng bản), vì thế gọi là Phạm võng giới phẩm. (xt. Phạm Võng Kinh).

phạm võng hội

(梵網會) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Pháp hội chuyên giảng diễn và đọc tụng kinh Phạm võng để cầu siêu cho vong linh người chết. Theo kinh Phạm võng quyển hạ, vào ngày mất của cha mẹ, anh em, Hòa thượng A xà lê... cho đến 21, 49 ngày liên tiếp, nên giảng nói, đọc tụng kinh điển Đại thừa. [X. Đông đại tự yếu lục Q.8].

Phạm Võng Kinh

(t: Chos-kyi rgya-mo saṅs-rgyas rnam-par snaṅ-mdsad kyis byaṅ-chub-sems-pdaḥi sems kyi gnas bçad leḥu, c: Fan-wang-ching, j: Bongōkyō, 梵綱經): còn gọi là Phạm Võng Kinh Lô Xá Na Phật Thuyết Bồ Tát Tâm Địa Giới Phẩm Đệ Thập (梵綱經盧舍那佛說菩薩心地戒品第十), Bồ Tát Giới Kinh (菩薩戒經), Phạm Võng Bồ Tát Giới Kinh (梵綱菩薩戒經), 2 quyển, hiện còn, Taishō 24, 997, No. 1484, Cưu Ma La Thập dịch từ năm 402-412 (niên hiệu Hoằng Thỉ [弘始] thứ 4-14) đời Hậu Tần.

Phạm võng kinh

梵網經; S: brahmajāla-sūtra; C: fànwăngjīng; J: bonmōkyō; |2 quyển; Cưu-ma-la-thập dịch năm 406. Xuất phát từ một phẩm trong một bộ kinh lớn (120 quyển) nhan đề Bồ Tát giới kinh (菩薩戒經, s: bodhisattva-śīla-sūtra). Đây là kinh văn căn bản chỉ rõ nội dung giới luật Đại thừa, được Phật giáo Trung Quốc, Nhật Bản áp dụng. Kinh ghi 10 giới luật quan trọng mà Phật tử không được vi phạm: 1. Giết hại, 2. Trộm cắp, 3. Tà dâm, 4. Nói dối, 5. Say sưa, 6. Nói xấu người khác, 7. Chê người, tự khen mình, 8. Ganh ghét, 9. Giận dữ, 10. Phỉ báng Tam bảo. Tăng ni vi phạm có thể bị loại ra khỏi Tăng-già.|Ngoài ra kinh Phạm võng còn ghi thêm 48 giới luật phụ khác. Ðặc biệt trong kinh này còn cho phép tự mình quy y tăng, nếu không có một Tăng-già chính thức hiện diện. Như thế 58 giới luật trong kinh Phạm võng là trọn giới luật Bồ Tát mà mỗi vị tỉ-khâu có nhiệm vụ giữ gìn.

phạm võng kinh

Tên gọi tắt của Phạm Võng Kinh Lư Xá Na, Phật Thuyết Bồ Tát Tâm Địa Giới Phẩm Đệ Thập Phạm Võng Kinh, được ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hoa ngữ khoảng năm 406 sau Tây Lịch. Lấy tên Phạm Võng là vì pháp giới vô biên, như những mắt lưới của vua Trời Đế Thích (giao nhau mà không hề vướng víu trở ngại), cũng giống như giáo pháp của của chư Phật cũng tầng tầng vô tận, trang nghiêm pháp thân cũng không hề có chướng ngại—Brahmajala-sutra, translated into Chinese by Kumarajiva around 406 A.D., the infinitude of worlds being as the eyes or holes in Indra's net, which is all-embracing, like the Buddha's teaching. There are many treatises on it. ** For More information, please see Kinh Phạm Võng, Mười Giới Trọng của chư Bồ Tát trong Kinh Phạm Võng, and Bốn Mươi Tám Giới Khinh. ; (梵網經) I. Phạm Võng Kinh. Tạng: Chos-kyi rgya-mo saís-rgyas rnam-par snaí-mdsad-kyis byaí-chub sems-dpa#i sems-kyi gnas bzad-pa le#u bcu-pa. Gọi đủ: Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập. Cũng gọi Phạm võng kinh Bồ tát tâm địa phẩm, Phạm võng giới phẩm. Kinh, 2 quyển, tương truyền do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 24. Nội dung kinh này nói về các giai vị tu đạo của Bồ tát và 10 giới nặng, 48 giới nhẹ mà Bồ tát thụ trì. Cứ theo bài tựa của ngài Tăng triệu trong kinh Phạm võng, Quảng bản của kinh này gồm có 61 phẩm, 120 quyển, kinh này là phẩm thứ 10. Giáo môn của chư Phật trùng trùng vô tận, trang nghiêm pháp thân không bị ngăn ngại, giống như mạng lưới(võng)Nhân đà la của Đại Phạm thiên vương, lớp lớp giao thoa xen lẫn nhau không cùng tận, cho nên kinh này được gọi là kinh Phạm võng. -Quyển thượng: Từ tầng trời Đệ tứ thiền, đức Phật Thích ca tiếp dắt đại chúng về cung Tử kim cương quang minh ở thế giới Liên hoa tạng, chiêm ngưỡng đức Phật Lô xá na và thưa hỏi về nhân hạnh của Bồ tát, đức Phật Lô xá na liền đối trước trăm nghìn Phật Thích ca nói rộng về 40 pháp môn: 10 tâm phát thú, 10 tâm trưởng dưỡng, 10 tâm kim cương và 10 địa. -Quyển hạ: Nói về 10 giới nặng và 48 giới nhẹ của Bồ tát. Đây là các giới pháp do đức Phật Thích ca chỉ dạy dưới gốc cây Bồ đề ở cõi Diêm phù đề trong thế giới Sa bà.Kinh này được xem là kinh điển bậc nhất về luật Đại thừa, rất được giới Phật giáo Trung quốc và Nhật bản coi trọng. Ngài Tối trừng của Nhật bản đã lấy kinh này làm căn cứ, dựa vào đó mà xử đoán các vấn đề có liên quan đến giới luật đương thời. Ngoài ra, kinh này vốn do đức Phật Lô xá na tuyên thuyết, đức Phật Thích ca nói lại dưới gốc cây Bồ đề, vì thế nên được xếp vào loại kinh Hoa nghiêm. Bởi lẽ không rõ sự thực lịch sử về sự lưu truyền và người phiên dịch, vả lại, trong lời văn phần nhiều dẫn dụng các kinh khác, nên cũng được suy đoán là không phải dịch từ bản tiếng Phạm, mà là do người Trung quốc ngụy tạo và thời đại biên soạn có lẽ vào khoảng những năm cuối đời Lưu Tống. Xưa nay kinh này thường được lưu hành quyển hạ, gọi là Phạm võng bồ tát giới kinh, Bồ tát giới bản, Đa la giới bản, Bồ tát ba la đề mộc xoa kinh, Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát thập trọng tứ thập bát khinh giới. Kinh này có rất nhiều sách chú thích như: Bồ tát giới nghĩa sớ, 2 quyển, do ngài Trí khải soạn vào đời Tùy; Thiên thai bồ tát giới sớ, 3 quyển, do ngài Minh khoáng san bổ vào đời Đường; Phạm võng kinh bồ tát giới bản sớ, 6 quyển, do ngài Pháp tạng soạn vào đời Đường; Bồ tát giới bản sớ, 3 quyển, do ngài Nghĩa tịch, người Tân la soạn. [X. Kim cương đính kinh đại du già bí mật tâm địa pháp môn nghĩa quyết Q.thượng; Khai nguyên thích giáo lục Q.4; luận Hiển giới Q.trung]. II. Phạm Võng Kinh. Pàli:Brahmajàla-sutta. Kinh, được viết bằng tiếngPàli, thuộc tạng Kinh của Thượng tọa bộ phương Nam, tương đương với kinh Phạm động và kinh Phạm võng lục thập nhị kiến bản Hán dịch trong Trường a hàm quyển 14. Nội dung kinh này do 2 bộ tập thành: -Bộ thứ nhất: Tán thán hạnh trì giới vi tế của Như lai. Lại chia giới làm 3 thứ là: Tiểu giới, Trung giới và Đại giới. -Bộ thứ hai: Tán thán pháp môn vi diệu, cực kì hiếm có mà đức Phật đã giảng nói. Trước khi tuyên thuyết pháp vi diệu, hiếm có này, đức Như lai nói về 62 kiến chấp của ngoại đạo, 62 kiến chấp bao hàm tất cả các thuyết của Bà la môn chính thống và các học phái khác. [X. TheDìgha Nikàya, vol. I, by T.W. Rhys Davids and J.E. Carpenter]. (xt. Phạm Võng Lục Thập Nhị Kiến Kinh).

phạm võng kinh bồ tát giới bản sớ

(梵網經菩薩戒本疏) Cũng gọi Phạm võng giới bản sớ, Phạm võng giới sớ, Phạm võng Pháp tạng sớ. Kinh sớ, 6 quyển, hoặc 3 quyển, do ngài Hiền thủ Pháp tạng soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 40. Nội dung sách này lập 10 môn để giải thích rõ giới bản của Bồ tát trong kinh Phạm võng quyển hạ, đó là: Giáo khởi sở nhân, Chư tạng sở nhiếp, Nhiếp giáo phân tề, Hiển sở vi cơ, Năng thuyết giáo thể, Sở thuyên tông thú, Thích kinh đề mục, Giáo khởi bản mạt, Bộ loại truyền dịch và Tùy văn giải thích. Đặc sắc của bộ kinh này là ở chỗ giải thích các giới tướng 1 cách rất cặn kẽ rõ ràng; trong 10 giới nặng, mỗi giới lập ra 10 môn, còn 48 giới nhẹ thì chia làm 8 môn. Toàn bộ sách trích dẫn 80 thứ kinh luật luận, trong đó có bao gồm những kinh đã bị thất lạc từ xưa như: Kinh Cư sĩ thỉnh tăng phúc điền, kinh Tỉ khưu ứng cúng pháp hành v.v... Về các sách chú thích bộ sớ này thì có: Kỉ yếu 6 quyển (Phượng đàm), Nhật châu sao 50 quyển (Ngưng nhiên).

phạm võng kinh cổ tích kí

(梵網經古迹記) Cũng gọi Phạm võng cổ tích kí, Phạm võng kinh cổ tích. Kinh sớ, 3 quyển, hoặc 2 quyển, 4 quyển, do ngài Thái hiền người Tân la biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 40. Nội dung sách này chú thích kinh Phạm võng, chia làm 7 môn: Thời xứ, Cơ căn, Tạng nhiếp, Phiên dịch, Tông thú, Đề danh và Bản văn. Sách này tham khảo các bộ Sớ của các ngài Trí khải, Pháp tạng, Nghĩa tịch... mà lập kiến giải riêng. Khác với Bồ tát giới nghĩa sớ của ngài Trí khải là tác phẩm chỉ được tông Tịnh độ dùng làm chỗ y cứ, bộ sách này của ngài Thái hiền từ xưa đã được các tông: Luật, Chân ngôn, Pháp tướng... coi trọng.

phạm võng kinh hợp chú

(梵網經合注) Cũng gọi Phạm võng kinh Tâm địa phẩm hợp chú, Phạm võng hợp chú. Kinh sớ, 3 quyển hoặc 7 quyển, do ngài Trí húc (1599-1655) soạn vào đời Minh, ngài Đạo phưởng hiệu đính, hoàn thành vào năm Sùng trinh thứ 10 (1637), được thu vào Vạn tục tạng tập 60. Đây là tác phẩm chú thích phẩm Bồ tát tâm địa trong kinh Phạm võng. Vì muốn nói rõ nội dung của kinh Phạm võng, nên ngài Trí húc soạn sách này để bàn về thắng nghĩa của Tính, Nhân, Duyên, Thể, Tướng, Kì, Quả... của giới thể vô tác, đồng thời, giải thích sơ lược về 10 giới nặng 48 giới nhẹ và mối quan hệ giữa các nghi tắc của giới luật này với những đức mục phổ thông như hiếu, thuận v.v... Ngoài ra, tác giả còn thiết lập 10 môn để nói rõ về giới tướng: 1. Tùy văn thích nghĩa. 2. Tính giá trọng khinh. 3. Thất chúng liệu giản. 4. Đại tiểu đồng dị. 5. Thiện thức khai giá. 6. Dị thục quả báo. 7. Quán tâm lí giải. 8. Sám hối hành pháp. 9. Tu chứng sai biệt. 10. Tính ác pháp môn.

phạm võng lục thập nhị kiến kinh

(梵網六十二見經) Cũng gọi Phạm võng kinh, Lục thập nhị kiến kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Chi khiêm dịch vào khoảng năm Hoàng vũ thứ 2 đến năm Kiến hưng thứ 2 (223-253) tại nước Ngô thời Tam quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này nói về việc đức Phật biết hết các pháp sâu xa mầu nhiệm không thể nghĩ bàn, nhưng Ngài không chấp trước bất cứ một pháp nào, mà cũng chẳng hề quan tâm đến sự khen chê của ngoại đạo. Ngài nói rõ cho các vị tỉ khưu nghe về 62 kiến giải mà ngoại đạo chấp trước 1 cách thiên lệch. Sáu mươi hai kiến giải tà vọng này móc nối chằng chịt như mạng lưới (võng) của Phạm thiên, các ngoại đạo chìm đắm trong đó, như cá bị mắc lưới, không thể gỡ ra được, vì thế gọi là kinh Phạm võng lục thập nhị kiến (kinh 62 kiến giải chằng chịt như mạng lưới của Phạm thiên). Những bản cùng loại với kinh này gồm có: Kinh thứ nhất trong Trường bộ bản Pàli; kinh Phạm động trong Trường a hàm quyển 14 bản Hán dịch. Ngoài ra cũng có kinh Lục thập nhị kiến do ngài Trúc pháp hộ dịch, nhưng rất tiếc bản dịch này đã bị thất lạc. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.5; Đại đường nội điển lục Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.2]. (xt. Phạm Võng Kinh).

phạm võng sám pháp

(梵網懺法) Cũng gọi Phạm võng kinh sám hối hành pháp. Sám pháp, 1 quyển, do ngài Ngẫu ích Trí húc (1599-1655) soạn vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 107. Sách này y cứ vào nội dung của kinh Phạm võng mà được soạn thuật, gồm có 10 môn:1. Nghiêm đạo tràng. 2. Tịnh tam nghiệp. 3. Hương hoa cúng dường. 4. Tán lễ qui y. 5. Trần tội hối trừ. 6. Lập thệ tụng giới. 7. Khổ đáo lễ Phật. 8. Trọng tu nguyện hành. 9. Toàn nhiễu tự qui. 10. Tọa niệm thực tướng. Nội dung sách này không chỉ giới hạn trong yếu nghĩa của kinh Phạm võng mà có nhiều chỗ cũng trích dẫn các kinh khác như hội Thắng man phu nhân và hội Di lặc sở vấn trong kinh Đại bảo tích..., thỉnh thoảng cũng đề cập đến ý chỉ của tông Thiên thai.

phạm võng tam trọng bản mạt

(梵網三重本末) Cũng gọi Tam trùng bản mạt, Tam trùng bản mạt thành đạo. Ba lớp gốc ngọn. Tức chỉ cho 3 lớp thành đạo của đức Phật Lô xá na và Phật Thích ca nói trong kinh Phạm võng. Theo kinh Phạm võng, đức Phật Lô xá na ngồi kết già trên đài hoa sen trong thế giới Liên hoa đài tạng rộng lớn trang nghiêm. Thế giới này do 1.000 cánh hoa sen lớn tạo thành, trong mỗi cánh sen có 1 thế giới, trong mỗi thế giới có trăm ức núi Tu di, 4 châu thiên hạ và Nam diêm phù đề. Từ nơi thân của Phật Lô xá na biến hóa ra 1.000 Phật Thích ca, mỗi Phật Thích ca ngồi trên 1 cánh sen trong thế giới nghìn cánh sen; nghìn Phật Thích ca, mỗi Phật lại biến hóa ra trăm ức bồ tát Thích ca, mỗi bồ tát Thích ca ngồi dưới gốc cây Bồ đề ở cõi Nam diêm phù đề tuyên thuyết pháp môn Tâm địa của Bồ tát. Kinh Phạm võng quyển hạ (Đại 24, 1003 hạ) nói:Nay ta là Lô xá na, Ngồi kết già trên hoa sen; Trên nghìn hoa sen xung quanh, Lại hiện ra nghìn Thích ca; Một cánh hoa trăm ức cõi, Mỗi cõi có một Thích ca, Đều ngồi dưới gốc Bồ đề, Đồng thời thành Đẳng chính giác. Tông Thiên thai căn cứ vào bài kệ trên đây mà lập ra thuyết Tam trùng bản mạt thành đạo, tức là 3 lớp thành đạo từ gốc đến ngọn. -Lớp thứ nhất: Chỉ cho sự thành đạo của Phật Lô xá na trên đài hoa sen. -Lớp thứ hai: Chỉ cho sự thành đạo của 1.000 Phật Thích ca trên 1.000 cánh hoa sen.-Lớp thứ ba: Chỉ cho sự thành đạo của trăm nghìn ức Thích ca trên trăm nghìn ức cánh sen trong trăm nghìn ức cõi nước. Giữa các đức Phật trên đài hoa sen, trên nghìn cánh sen, trên trăm nghìn ức cánh sen đều có mối quan hệ gốc ngọn với nhau, vì thế gọi là Tam trùng bản mạt. Trong Bồ tát giới kinh nghĩa sớ của ngài Trí khải có trình bày rõ về mối quan hệ ấy và giải thích bằng Lưỡng trùng bản tích, tức cho rằng đức Xá na trên đài sen là Bản, còn các đức Thích ca trên nghìn cánh hoa và trên trăm nghìn ức cánh hoa đều là Tích. Nghìn đức Thích ca là Bản trong Tích, trăm nghìn ức đức Thích ca là Tích trong Tích. Như vậy, trên đài sen, trên nghìn cánh sen và trên trăm nghìn ức cánh sen cùng tạo thành 3 lớp gốc ngọn, mỗi mỗi đức Phật đều thành Chính giác, gọi là Tam trùng bản mạt thành đạo. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.7, phần đầu]. (xt. Liên Hoa Tạng Thế Giới).

phạm võng tông

Luật Tông được mang vào hoằng hóa tại Nhật Bản bởi một nhà sư Trung Hoa tên Giám Chân vào khoảng năm 754 sau Tây Lịch—The sect of Ritsu, brought into Japan by the Chinese monk Chien-Chen in 754 A.D.

Phạm vũ

(梵宇): hay Phạm cung (梵宮), Phạm sát (梵刹), nghĩa là chùa, tự viện Phật Giáo. Phạm hay Phạn (s: brahman, 梵) nghĩa là tịch tĩnh, thanh tịnh, ly dục; cho nên nơi tịch tĩnh dành cho các vị xuất gia tu hành thanh tịnh, ly dục, được gọi là Phạm vũ, Phạm cung hay Phạm sát. Trong bài Vịnh Hà Trung Tự Thi (詠河中寺詩) của cuốn Hải Ngại Kỷ Sự (海外紀事) do Tổ Thạch Liêm (石濂, 1633-1702, tức Thích Đại Sán [釋大汕]) sáng tác có đoạn: “Lục liễu thùy thùy ẩn Phạm cung, chung thanh điều đệ mãn hà phong (綠柳垂垂隱梵宮、鐘聲迢遞滿河風, Nép bóng chùa xưa liễu xanh non, tiếng chuông xa vẳng theo gió sông)”; hay tả cảnh Chùa Linh Mụ (靈姥寺) ở cố đô Huế như “Phạm vương cung khuyết Nguyễn vương khai, ngọc điện châu môn sanh lục đài (梵王宮闕阮王開、玉殿朱門生綠苔, Chùa xưa cung gác chúa Nguyễn khai, điện ngọc lầu son phủ rêu dài)”. ; (梵宇): hay Phạm cung (梵宮), Phạm sát (梵刹), nghĩa là chùa, tự viện Phật Giáo. Phạm hay Phạn (s: brahman, 梵) nghĩa là tịch tĩnh, thanh tịnh, ly dục; cho nên nơi tịch tĩnh dành cho các vị xuất gia tu hành thanh tịnh, ly dục, được gọi là Phạm vũ, Phạm cung hay Phạm sát. Tống Chi Vấn (宋之問, khoảng 656-712) nhà Đường có làm bài Đăng Thiền Định Tự Các (登禪定寺閣, có tên khác là Đăng Tổng Trì Tự Các [登總持寺閣]) rằng: “Phạm vũ xuất tam thiên, đăng lâm vọng bát xuyên, khai khâm tọa tiêu hán, huy thủ phất vân yên, hàm cốc thanh sơn ngoại, hỗn trì lạc nhật biên, đông kinh dương liễu mạch, thiếu biệt dĩ kinh niên (梵宇出三天、登臨望八川、開襟坐霄漢、揮手拂雲煙、函谷青山外、昆池落日邊、東京楊柳陌、少別已經年, chùa cổ vút trời xanh, lên lầu ngắm núi sông, vén áo ngồi trời rộng, khua tay vẫy mây vờn, khe thẳm núi xanh vắng, hồ trăng trời lặn buông, kinh đô dương liễu rũ, xa cách đã mấy năm).” Hay như trong Pháp Bảo Đàn Kinh (法寳壇經), Phẩm Cơ Duyên (機緣品) có đoạn: “Thời Bảo Lâm Cổ Tự, tự tùy mạt binh hỏa, dĩ phế, toại ư cố cơ trùng kiến Phạm vũ (時寶林古寺、自隋末兵火、已廢、遂於故基重建梵宇, ngôi chùa cổ Bảo Lâm đương thời, bị nạn binh hỏa cháy rụi từ cuối thời nhà Tùy, nay đã hoang phế, bèn trùng kiến ngôi chùa mới trên nền cũ).” Trong bài Vịnh Hà Trung Tự Thi (詠河中寺詩) của cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự (海外紀事) do Tổ Thạch Liêm (石濂, 1633-1702, tức Thích Đại Sán [釋大汕]) sáng tác lại có đoạn: “Lục liễu thùy thùy ẩn Phạm cung, chung thanh điều đệ mãn hà phong (綠柳垂垂隱梵宮、鐘聲迢遞滿河風, nép bóng chùa xưa liễu xanh non, tiếng chuông xa vẳng theo gió sông)”; hay tả cảnh Chùa Linh Mụ (靈姥寺) ở cố đô Huế như “Phạm vương cung khuyết Nguyễn vương khai, ngọc điện châu môn sanh lục đài (梵王宮闕阮王開、玉殿朱門生綠苔, chùa xưa cung gác chúa Nguyễn khai, điện ngọc lầu son phủ rêu dài)”. Ngay tại cổng sơn môn của Đài Đồng Tự (壹同寺), Phố Tân Trúc (新竹市), Đài Loan (臺灣) có hai câu đối như sau: “Sơn khai giác lộ liên hoa xán, môn ánh kinh lâu Phạm vũ tân (山開覺路蓮花燦、門映經樓梵宇新, núi khai nẻo giác hoa sen rực, cửa rạng lầu kinh mới cảnh chùa).” Trong Tây Sương Ký (西廂記) cũng có câu rằng: “Sinh rằng quán khách lạ lùng, trộm nghe đây lối Phạm cung cảnh mầu.”

phạm vũ

Chùa hay tự viện—A sacred house, i.e. a Buddhist monastery, or temple.

Phạm vương

梵王; C: fànwáng; J: bonō; |Vua cõi trời Đại phạm.

phạm vương

See Phạm thiên.

phạm vương cung

Cung điện của Phạm Thiên—The palace of Brahma.

Phạm âm

(s: brahma-svara, p: brahmassara, 梵音): âm thanh do vị Đại Phạm Thiên Vương phát ra, hay còn được ví cho tiếng của Như Lai. Bên cạnh đó, với nghĩa chữ phạm (梵) là thanh tịnh, nó có nghĩa là tiếng thanh tịnh của Như Lai, một trong 32 tướng tốt của Phật. Ngoài ra, nó còn có nghĩa là tiếng tụng kinh có âm khúc, là một trong Tứ Pháp Yếu gồm phạm bối, tán hoa, phạm âm và tích trượng. ; (梵音): còn gọi là phạm thanh (s: brahma-svara, 梵聲), một trong 32 tướng tốt của đức Phật, là âm thanh vi diệu, thanh tịnh của chư Phật, Bồ Tát, tiếng nói tròn đầy như tiếng vang của trống trời, cũng giống như tiếng chim Ca Lăng Tần Già (s:渠 karaviṅka; p: karavīka, 迦陵頻伽). Nhờ nói lời chân thật, lời nói hay, chế ngự hết thảy những lời nói xấu ác mà có được tướng tốt như vậy. Người nghe được tiếng nói như vậy, tùy theo căn cơ của mình mà có được lợi ích, sanh khởi điều tốt, cảm nhận và đoạn trừ được quyền thật lớn nhỏ, tiêu trừ mọi nghi ngờ. Tại Viên Thông Điện (圓通殿) của Giang Tâm Tự (江心寺), Ôn Châu (溫州), Tỉnh Triết Giang (浙江省) có câu đối: “Quán hạnh viên thông từ quán bi quán thanh tịnh quán, âm văn tự tại diệu âm phạm âm hải triều âm (觀行圓通慈觀悲觀清淨觀、音聞自在妙音梵音海潮音, hạnh quán tròn đầy từ quán bi quán thanh tịnh quán, tiếng nghe tự tại tiếng mầu tiếng phạm tiếng hải triều).” Hay như trong Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm (觀世音菩薩普門品) thứ 25 của Kinh Pháp Hoa có đoạn: “Diệu âm quán thế âm, phạm âm hải triều âm, thắng bỉ thế gian âm, thị cố tu thường niệm (妙音觀世音、梵音海潮音、勝彼世間音、是故須常念, diệu âm, quán thế âm, phạm âm, hải triều âm, hơn cả âm thế gian kia, cho nên phải thường nhớ đến).” ; giọng nói của Phạm thiên (Phạm âm thanh), Phạn ngữ: brahma-svara. Có năm đặc tính: 1. Nghe rền vang như tiếng sấm; 2. Tiếng trong trẻo nghe rất xa, và ai nghe cũng lấy làm vui vẻ, sung sướng; 3. Ai nghe cũng sanh lòng kính mến; 4. Tiếng giảng giải đạo lý rất giản dị, dễ hiểu; 5. Người nghe không thấy chán.

phạm âm

1) Brahma voice, one of the thirty-two marks of a Buddha: a) Tiếng nói trong trẻo: The voice is clear. b) Tiếng nói hòa nhã: The voice is melodious. c) Tiếng nói thanh tịnh (chính trực): The voice is pure. d) Tiếng nói sang sảng: The voice is deep. e) Tiếng nói ấy ngân vang, ở nơi xa cũng nghe thấy: The voice is far-reaching. 2) Tiếng ca hay tụng tán thán Phật: Singing in praise of Buddha. ** For more information, please see Âm Thanh Của Đức Như Lai. ; (梵音) I. Phạm Âm. Cũng gọi Phạm thanh. Chỉ cho âm thanh của Phật và Bồ tát, 1 trong 32 tướng hảo của Phật. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 4 thì Phạm âm vi diệu của Phật có 5 tính chất: 1. Rền vang như sấm. 2. Trong suốt vang xa, người nghe đều vui mừng. 3. Khiến người sinh tâm kính ái. 4. Rõ ràng dễ hiểu. 5. Người muốn nghe mãi, không cảm thấy chán. [X. phẩm Diệu âm bồ tát kinh Pháp hoa Q.7; kinh Vô lượng thọ Q.hạ]. II. Phạm Âm. Một trong các thứ Phạm bái (đọc canh, tán tụng). (xt. Tứ Cá Pháp Yếu).

phạm âm tướng

(梵音相) Phạm: Brahma-svara. Pàli: Brahmassara. Cũng gọi Phạm thanh tướng, Phạm âm thâm viễn tướng, Đắc Phạm âm thanh tướng, Thanh như Phạm vương tướng, Hoằng nhã Phạm thanh tướng. Tướng Phạm âm thanh tịnh, vi diệu của Phật, 1 trong 32 tướng của Ngài. Phạm âm của Phật vang dội tròn đầy, như đánh trống trời, mầu nhiệm, tối thắng; lại như tiếng hót của chim Ca lăng tần già, khiến cho người nghe sinh tâm ưa thích, được vô lượng lợi ích. Đây là diệu tướng chiêu cảm được nhờ trong vô lượng kiếp, khi còn ở địa vị tu nhân, đức Phật đã không bao giờ nói ác khẩu, toàn nói lời chân thật dịu dàng, nói lời tốt đẹp, không chê bai Chính pháp, khiến cho người nghe tùy theo căn cơ đều được lợi ích, đều sinh tâm thiện, thường muốn nghe mãi... (xt. Tam Thập Nhị Tướng).

phạm điển

Kinh điển Phật—The Buddhist sutras, or books. ; (梵典) Từ ngữ chỉ chung cho các kinh điển của Phật giáo. Bởi vì những kinh điển của Phật giáo truyền đến Trung quốc từ Phạm độ (Ấn độ), cho nên gọi là Phạm điển. Ngoài ra, những sách vở được viết bằng tiếng Phạm cũng gọi là Phạm điển. (xt. Phạm Bản). Tượng Vi Đà Thiên do Phạm Đạo Sinh tạc

phạm đàn

Brahmadanda (skt)—Phép trị tội Phạm Đàn. Khi vị sư nào phạm tội thì được đưa đếm “Phạm Đàn” để cách ly, cấm không cho nói chuyện với ai—Brahma-staff—The Brahma (religious) punishment; the explanation is to send to Coventry a recalcitrant monk, the forbidding of any conversation with him, or exclusion to silence. ; (梵壇) Phạm, Pàli: Brahma-daịđa. Cũng gọi Phạm đát. Hán dịch: Mặc sấn, Phạm pháp, Phạm thiên pháp trị, Phạm trượng. Một cách trị tội các tỉ khưu hoặc tỉ khưu ni phạm giới. Duy ma kinh lược sớ quyển 1 (Đại 38, 568 thượng) nói: Phạm đàn là phép trị tội của Phạm thiên, tức lập riêng 1 cái đàn, bắt người phạm pháp vào trong đó, các Phạm chúng không được nói chuyện với người ấy. Về sau, đức Phật cũng phỏng theo pháp này mà chế định pháp trị tội đối với tỉ khưu, tỉ khưu ni vi phạm giới luật. Cứ theo kinh Du hành trong Trường A hàm quyển 4, đức Phật bảo ngài A nan: Sau khi ta nhập Niết bàn, nếu tỉ khưu Xiển nộ (Pàli: Channa, tức Xa nặc) không thuận theo uy nghi, không chịu nghe lời răn dạy, thì ông nên cùng với đại chúng dùng pháp Phạm đàn mà trị phạt, đồng thời, bảo các tỉ khưu khác không được nói chuyện và làm việc chung với Xiển nộ. Xa nặc là 1trong nhóm 6 tỉ khưu thường làm những việc xấu xa, không hòa hợp với chúng tăng, vì thế mà đức Phật đã chế định pháp Phạm đàn này để răn dạy các tỉ khưu khác. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.37; luật Ngũ phần Q.30; luận Đại trí độ Q.2; Phạm võng kinh Pháp tạng sớ Q.6; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.7]. (xt. Phạm Phạt).

phạm đàn chỉ đa na lâm

(梵檀只多那林) Chỉ cho khu rừng trong đó có các vị tiên và Phạm chí ở ẩn. Khu rừng này thường phát ra mùi thơm ngào ngạt. [X. luận Thích ma ha diễn Q.5].

Phạm đường

(梵堂): nhà thờ Phật, tên gọi khác của tự viện Phật Giáo. Như trong bài Phụng Hòa Cửu Nguyệt Cửu Nhật Đăng Từ Ân Tự Phù Đồ Ứng Chế (奉和九月九日登慈恩寺浮屠應制) của Sầm Hi (岑羲, ?-713) nhà Đường có câu: “Phạm đường dao tập nhạn, đế nhạc cận tường loan (梵堂遙集雁、帝樂近翔鸞, chùa Phật xa nhạn đến, nhạc vua gần chim bay).” Hay trong Ấu Học Quỳnh Lâm (幼學瓊林), phần Khí Dụng (器用) có câu: “Thọ quang thị trang đài vô trần chi kính, trường minh thị Phạm đường bất diệt chi đăng (壽光是妝檯無塵之鏡、長明是梵堂不滅之燈, sống lâu là kính trang điểm không gợn bụi, sáng tỏ là đèn bất diệt của Thiền môn).” Trong Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Vol. 1, No. 1) quyển 8 còn cho biết thêm rằng: “Nhập đệ tứ Thiền, phục hữu tứ pháp, vị tứ Phạm đường, nhất từ, nhị bi, tam hỷ, tứ xả (入第四禪、復有四法、謂四梵堂、一慈、二悲、三喜、四捨, vào cõi Thiền thứ tư, lại có bốn pháp, gọi là bốn Phạm đường: một là từ, hai là bi, ba là hỷ, bốn là xả).”

phạm đạo

Thanh tịnh đạo—The way of purity, or celibacy; the brahman way. ; (梵道) Chỉ cho sự tu hành thiền tịnh để đoạn trừ dâm dục. Kinh Tạp thí dụ (Đại 4, 529 trung) nói: Phạm thiên vương này đã dứt sạch hết các thứ dâm dục, sân hận, vì thế nói rằng: Nếu có người tu hành thiền định, đoạn trừ dâm dục thì gọi là Thực hành Phạm đạo. [X. luận Đại trí độ Q.8]. (xt. Phạm).

phạm đạo sinh

(範道生) Nhà điêu khắc tượng Phật Trung quốc sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh. Lúc khởi công xây cất chùa Vạn phúc (1661), bản sơn của tông Hoàng bá của Nhật bản, Thiền sư Ẩn nguyên đặc biệt mời Phạm đạo sinh từ Trung quốc sang Nhật bản để tạc tượng Phật theo kiểu tượng Hoàng bá. Phương pháp tạc tượng của ông rất đặc thù nên đã có ảnh hưởng rất sâu đậm đối với giới điêu khắc Nhật bản thời Giang hộ.

phạm độ

Brahman-Land—Ấn Độ—India.

phạm đức

Năng lực hay phước đức của Phạm Thiên—The power, or bliss of Brahma.

phạn

1) Ăn cơm: To eat a meal. 2) Cơm: Rice. 3) Thức ăn: Food.

Phạn Bối

(梵唄, Bonbai): từ gọi chung chỉ cho Thanh Minh (聲明). Phạn hay Phạm (梵) là tiếng gọi tắt của Phạn Ngữ (梵語), Phạm Âm (梵音), Phạm Thanh (梵聲), v.v. Bối (唄) là từ xuất hiện đơn độc trong Thập Tụng Luật (十誦律) và thỉnh thoảng cũng thấy xuất hiện một số từ ghép như Bối Nặc (唄匿), Bối Tụng (唄誦), Kinh Bối (經唄), v.v. Nó là từ âm tả tiếng Phạn, còn Bối Nặc được xem như là âm tả của từ pāṭha (đọc tụng). Theo gốc tiếng Sanskrit, Phạn Bối có nghĩa là tán ca, nhưng hiện tại nó ám chỉ cho Thanh Minh vốn bao gồm cả Hán Ngữ Tán cũng như Hòa Tán, v.v., hay nói rộng ra là âm nhạc theo nghi thức Phật Giáo nói chung. Tại Trung Quốc, theo bộ Pháp Hoa Huyền Tán (法華玄讚) quyển 4, truyền thuyết cho rằng nhân một ngày nọ Tào Thực (曹植, 192-232, tức Trần Tư Vương [陳思王] của nhà Ngụy thời Tam Quốc) leo lên đỉnh núi Ngư Sơn (魚山), bỗng nghe được âm điệu văng vẳng như tiếng tụng kinh truyền lại từ trong hang núi, nên lần đầu tiên ông chế ra Phạn Bối.

phạn khánh

Chiếc khánh nhỏ dùng để đánh báo giờ cơm—The dinner-gong. ; (飯磬) Chiếc khánh dùng để báo hiệu giờ thụ trai của chư tăng.

phạn na

Vana (skt)—Một chòm cây—A wood—A grove.

Phạn ngữ

梵語; sanskrit (saṃskṛta); nguyên nghĩa là »trọn vẹn, hoàn hảo«, cũng được gọi là Nhã ngữ;|Ngôn ngữ được dùng để ghi lại những bài kinh của Ðại thừa Phật pháp, nói chung là ngôn ngữ được sử dụng trong các Thánh kinh của Ấn Ðộ.

phạn ngữ

Sanskrit (skt)—See Phạm Ngữ.

phạn sàng

(飯牀) Cũng gọi Phạn trác. Cái mâm dùng để bưng thức ăn của chư tăng.Lâm tế lục (Đại 47, 503 trung) ghi: Ngài Phổ hóa đạp đổ phạn sàng, sư nói: Quá thô tháo!. [X. môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].

Phạn Tăng

(飯僧): tên gọi khác của Trai Tăng (齋僧), tức thiết bày cơm chay cúng dường Tăng chúng, chỉ chung cho việc cúng dường tại các tự viện hay tư gia Phật tử. Theo Phạm Võng Kinh (梵綱經) quyển hạ, vào ngày cha mẹ, anh em, Hòa Thượng, A Xà Lê (阿闍梨) qua đời, hoặc vào dịp 21 ngày hay 49 ngày, nên đọc tụng, thuyết giảng kinh luật Đại Thừa, thiết lập Trai Hội để hồi hướng công đức cho những người này. Ban đầu, việc Trai Tăng thể hiện tín tâm, quy y; nhưng về sau thì chuyển sang mục đích chúc tụng, báo ân, làm điều thiện, v.v.; vì vậy việc làm này trở thành phổ cập hóa. Tại Trung Quốc, Pháp Hội Trai Tăng rất thịnh hành dưới thời nhà Đường, vào năm thứ 7 (772) niên hiệu Đại Lịch (大曆), trong khoảng niên hiệu Trinh Nguyên (貞元, 785-805), năm thứ 12 (871) niên hiệu Hàm Thông (咸通), đều có cử hành những lễ Trai Tăng long trọng. Ngoài ra, tại Nhật Bản, Triều Tiên, Đài Loan, Việt Nam, v.v., hình thức Trai Tăng cũng rất phổ cập và được xem trọng. Trong Ma Ha Tăng Kỳ Luật (s: Mahāsaṅghavinaya, 摩訶僧祇律卷, Taishō No. 1425) quyển 22 có đoạn: “Nhĩ thời hữu Trưởng Giả tựu Tinh Xá trung phạn tăng, Lục Quần Tỳ Kheo tiên đa thọ canh, hậu thọ phạn (爾時有長者就精舍中飯僧、六群比丘先多受羹、後受飯, lúc bấy giờ có vị Trưởng Giả đến Tinh Xá cúng dường Trai Tăng, nhóm Lục Quần Tỳ Kheo trước hết thọ nhận nhiều canh xúp, sau mới thọ nhận cơm).”

phạn âm

Buddha's voice—See Phạm Âm and Âm Thanh của Đức Như Lai.

phạn đái tử

Cái túi đựng gạo, ví với Tỳ Kheo vô dụng, chỉ biết có ăn uống ngủ nghỉ—A rice-bag fellow, a useless monk who only devoted to his food, drinking, sleeping, and resting.

phạn đầu

Vị Tăng coi về việc nấu nướng trong chùa—A monk who is responsible for the cooking (kitchen) in a monastery. ; (飯頭) Chức vụ của vị tăng trông nom cơm cháo cho đại chúng trong Thiền lâm, dưới quyền vị Điển tọa. Vị này có trách nhiệm chu toàn các việc như kiểm tra số chúng tăng, xem xét lúa gạo tốt hay xấu, phân biệt nước uống trong hay đục, rau cải nhiều ít, củi than có hay không, cho đến chùi rửa các dụng cụ nhà bếp, xử lí các thực phẩm hư thiu v.v... [X. điều Phạn đầu trong Huyễn trụ thanh qui; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên; điều Phạn đầu trong Tăng đường thanh qui Q.5].

Phạp đạo

乏道; C: fádào; J: bōdō;|Tiếng Hán dịch từ chữ samaṇa của tiếng Pa-li hoặc śramaṇa từ tiếng Phạn. Xem Sa-môn (沙門).

phạp đạo

xem sa-môn. ; (乏道) Nghèo đạo. Là từ dịch khác của chữ Sa môn (Phạm: Zramaịa). Chỉ cho người mà đạo lực còn thiếu thốn, yếu kém. Đây là tiếng khiêm nhường tự nhún, đại khái cũng giống như từ ngữ Bần đạo vậy.

phạt

(罰) Chỉ cho sự xử phạt. Đối với những thành viên trong giáo đoàn vi phạm giới luật, tùy theo tội nặng nhẹ mà áp dụng nhiều hình thức xử phạt khác nhau. Về giới luật thì có giới Đại thừa và giới Tiểu thừa. Trong giới Đại thừa, bất luận phạm loại trọng tội nào cũng đều được sám hối; nhưng giới Tiểu thừa thì tội nặng là tội Ba la di, người vi phạm không được sám hối mà phải bị đuổi ra khỏi giáo đoàn, còn tội nhẹ như tội Đột cát la thì cầu sám hối và có thể bị xử phạt ở riêng hay tước bỏ quyền lợi tăng ni. [X. điều Túc chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2].

phạt chiết la

(伐折羅) Phạm: Vajra. Cũng gọi Bạt chiết la, Bả chiết la, Bạt chiết lỗ, Hòa kì la. Hán dịch: Kim cương. Tên vị thần thống lãnh chúng Dạ xoa giữ gìn Phật pháp, là 1 trong 12 thần tướng nói trong kinh Dược sư. Về hình tượng của vị thần này có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo Tịnh lưu li tịnh độ tiêu, thì vị thần này có da màu xanh, mắt đỏ, cỡi con thỏ, cầm cây phạt chiết la 3 chĩa, tay trái co lại. Còn theo kinh Dược sư Lưu li quang vương thất Phật bản nguyện công đức niệm tụng nghi quĩ cúng dường pháp, thì vị thần này có thân màu trắng, tay cầm kiếm báu. Theo Dược sư nghi quĩ bố đàn pháp thì da vị thần này màu xanh, tay cầm kiếm. Ngoài ra, cứ theo Giác thiền sao thì phương vị của thần Phạt chiết la là phương Tuất, lấy bồ tát Đại thế chí làm bản địa. [X. kinh Quán đính Q.12; kinh Dược sư Như lai bản nguyện; kinh Đà la ni tập Q.2]. (xt. Dược Sư Thập Nhị Thần Tướng).

phạt kì sa lạp

(伐其沙拉) Pàli:Vàcissara. Cao tăng và học giả người Tích lan, sống vào hậu bán thế kỉ XII, dưới thời vua Parakkamabàhu đệ nhất, là đệ tử của trưởng lãoSàriputta, nổi tiếng là nhà chú thích kinh điển. Nhưng, theo Tiểu vương thống sử (Pàli: Cùơavaôsa, 81), thì vào tiền bán thế kỉ XIII, dưới triều vuaVijayabàhuđệ tam, trưởng lão Ô a cấp tát lạp, vì tránh nạn chiến tranh, nên đem bát và răng của đức Phật từ thủ đô Pulatthi dời đến chân núi Kotthusnala, rồi ngài sang miền Nam Ấn độ. Sau, vua Vijayabàhu thỉnh ngài về nước, tham dự đại hội cúng dường bát và răng của đức Phật. Có thuyết cho rằng trưởng lão Ô a cấp tát lạp này và ngài Phạt kì sa lạp là cùng 1 người, nhưng sự thật thế nào thì không rõ. Ngài có các tác phẩm: Cảnh giới trang nghiêm nhiếp, Chú thích văn bản học (Pàli: Mùlasikkhà-abhinava-ỉìkà) của ngài Dhammasiri, Chú thích danh sắc sao (Pàli: Khema-ppakaraịa-ỉìkà) của ngài Khema. [X. Dictionary ofPàli Proper Names by G.P Malalasekera].

phạt lí sa

(伐裏沙) Phạm: Vàrwya. Cũng gọi Phiệt lí sa. Hán dịch: Vũ. Tên vị bộ chủ của học phái Số luận trong 6 phái Triết học ở Ấn độ đời xưa. Thành duy thức luận thuật kí quyển 1, phần cuối (Đại 43, 252 trung) nói: Vị bộ chủ trong 18 bộ tên là Phạt lí sa, Hán dịch là vũ «B(mưa), vì ông sinh ra lúc trời đang mưa, nên dùng Vũ để đặt tên. Đồ chúng của ông gọi là Vũ chúng ngoại đạo. (xt. Vũ Chúng Ngoại Đạo).

phạt lạp tì quốc

(伐臘毗國) Phạt lạp tì, Phạm:Valabhì. Cũng gọi Bạt lạp tì quốc, Bắc la la quốc. Tên một nước xưa thuộc miền Nam Ấn độ, có lẽ là bán đảo Kàthiàwàrngày nay. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 11, nước này chu vi hơn 6 nghìn dặm, kinh đô chu vi hơn 30 dặm, dân cư đông đúc, gia đình giầu có, hàng hóa quí hiếm từ khắp nơi đều dồn về đây. Trong nước có hơn 100 ngôi chùa với trên 6 nghìn tăng đồ, phần nhiều tu học theo pháp của Chính lượng bộ Tiểu thừa. Khi đức Phật còn tại thế, Ngài từng đến nước này giáo hóa nhiều lần. Gần kinh đô có ngôi đại già lam do A và Kiên tuệ từng ở già lam này để viết các bộ luận. Ngoài ra còn có mấy trăm đền thờ trời và nhiều đạo khác. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4].

phạt na bà tư

(伐那婆斯) Phạm: Vanavàsin. Cũng gọi Phạt na ba tư, Bạt nạp bạt tây, Phạt la bà tư. Tên vị A la hán thứ 14 trong 16 vị A la hán, cùng các bậc Thánh ở trong núi Khả trụ, giữ gìn chính pháp, làm lợi ích cho chúng sinh. Theo bức tượng do Đại sư Thiền nguyệt Quán hưu vẽ vào đời Đường, thì Ngài ngồi xếp bằng trong động đá, áo phủ kín 2 vai, che khuất 2 tay, mắt nhắm lại, vào thiền định. Thi hào Tô đông pha đời Tống có đề thơ rằng: Tâm như nắm tro tàn Thân tựa khúc củi khô Thần thấu suốt muôn vật Xương thịt gửi đá lạnh Khánh sắt nào ai đánh Hang trống tiếng truyền vang Người gọi chẳng thèm nghe Mắt cũng không hề chớp. [X. Đại A la hán nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kí; La hán đồ tán tập; Phật tượng đồ vựng Q.3].

phạt trí ha lợi

(伐㮹呵利) Phạm: Bhartfhari. Triết gia người Trung Ấn độ, ông còn là nhà thơ, nhà Văn pháp học và Ngôn ngữ học.Ông xuất thân từ dòng dõi vua chúa, thời niên thiếu tha hồ hưởng thụ, lúc về già, vì muốn trừ bỏ phiền não nên ông qui y Phật pháp. Ông là nhà thơ trữ tình nổi tiếng. Ông cũng là người dùng phương thức triết học để giải thích thực thể của ngôn ngữ. Dựa theo tác phẩm Bách tụng thi tập của ông mà suy đoán thì có lẽ ông sống vào thế kỉ thứ VII. Nhưng Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 cho rằng Đại học sĩ Phạt trí ha lợi rất kính tin Phật pháp, có soạn các tác phẩm về văn pháp như Tất noa, Phạt trí ha lợi luận... là nhà Ngữ văn học sống vào khoảng thế kỉ thứ V. Như vậy, Phạt trí ha lợi là 2 người khác thời đại, hay chỉ là 1 người mà không xác định được thời đại sinh sống và hoạt động? Ông có các tác phẩm: Bách tụng thi tập gồm: Luyến ái bách tụng (Phạm: Zfígàrazataka), Xử thế bách tụng (Phạm: Nìtizataka), Li dục bách tụng (Phạm: Vairàgya-zataka), Văn chương đơn ngữ thiên, Đại chú giải thư giải minh... [X. The Epigrams attributed to Bhartfhari, including the three centuries, Bombay 1948, by D.D. Kosambi].

phạt xà la phất đa la

(伐闍羅弗多羅) Phạm:Vajra-putra. Cũng gọi Phạt xà na phất đa, Phạt xà la phật đà la, Xà la phất đa la, Bạt tạp lí bô đáp lạt.Hán dịch: Kim cương tử. Tên vị A la hán thứ 8 trong 16 vị A la hán, cùng với 1.100 quyến thuộc trụ ở châu Bát lạt noa để giữ gìn Chính pháp, làm lợi ích cho chúng sinh. Cứ theo kinh Thị giả trong Trung a hàm quyển 8, sau khi đức Phật nhập Niết bàn không bao lâu, một hôm ngài A nan nói pháp cho đại chúng nghe, tôn giả Kim cương tử cũng hiện diện trong đại chúng, nhập định thấy ngài A nan chưa lìa dục, liền xuất định nói kệ cho ngài A nan nghe. Ngài A nan nhân đó thụ giáo tôn giả Kim cương tử và rời chúng tinh tiến tu hành, cuối cùng chứng được quả A la hán. Tôn giả Kim cương tử nêu trên đây chính là chỉ cho tôn giả Phạt xà la phất đa la. Qua bức tượng do Đại sư Thiền nguyệt Quán hưu vẽ vào đời Đường thì Ngài quấn áo pháp để hở nửa phần thân trên, ngồi trên phiến đá, 2 cánh tay giao nhau đặt trên đầu gối, bàn tay thõng xuống, dáng vẻ trầm tư, ở bên phải có 1 quyển kinh lá bối. Thi hào Tô đông pha đời Tống có bài tán rằng: Hai mắt lặng nhìn Hai tay buông thõng Mắt để vào kinh Tay buông trên gối Mắt tay quên nhau Cũng chẳng ngại nhau Bốn câu kệ này Trên đầu ngón tay. [X. La hán đồ tán tập; Phật tượng đồ vựng Q.3].

Phạt-na Bà-tư

伐那婆斯; C: fánàpósī; J: banabashi; S: vanavasin.|Tên của 1 trong 16 vị A-la-hán, nguyện ở lại thế gian nầy để đảm nhiệm việc truyền bá chính pháp.

Phạt-tô-mật-đa-la

伐蘇蜜多羅; C: fásūmìduōluó; J: bassomit-tara;|Phiên âm từ chữ Phạn Vasumitra, dịch sang Hán ngữ là Thế Hữu (世友).

Phạt-xà-la Phất-đa-la

伐闍羅弗多羅; C: fádūluófúduōluó; J: batoraputara; S: vajraputra.|Tên của 1 trong 16 vị A-la-hán, nguyện ở lại thế gian nầy để đảm nhiệm việc truyền bá chính pháp.

phả

Kha khá—Quite—Very—Somewhat—Partial. ; (頗) Cũng gọi Phát, Ba, Phá, Sa phả. Chỉ cho chữ Tất đàm (pha), 1 trong 50, 1 trong 42 chữ cái Tất đàm. Về nghĩa chữ này trong kinh điển có 2 cách giải thích: 1. Phả là chữ đầu của tiếng Phạm Phala (Hán âm: Phả la; Hán dịch: Quả). Căn cứ theo nghĩa Quả mà lập các thuyết như sau: - Phẩm Quảng thừa kinh Đại phẩm bát nhã quyển 5 cho rằng chữ Phả có nghĩa là vào khắp các pháp bất khả đắc. - Luận Đại trí độ quyển 48 dựa vào phẩm Quảng thừa trên đây mà giải thích là: Nếu nghe chữ Phả thì biết rõ nhân quả của tất cả pháp đều không. - Phẩm Thị thư kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4 thì nói: Khi xướng chữ Phả liền được quả nhập vào âm thanh hiện chứng (Phạm: Phala-pratisàkwàtkriyà-zabda). 2. Phả là chữ đầu của tiếng PhạmPhena (Hán âm: Bái nô; Hán dịch: Tụ mạt – đám bọt nước). Dựa theo nghĩa bọt nước mà lập các thuyết sau: - Phẩm Thích tự mẫu kinh Du già kim cương đính nói: Chữ Phả nghĩa là tất cả các pháp không bền chắc, giống như đám bọt nước, rất dễ tan biến. - Phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật quyển 2 cũng giải thích nghĩa chữ Phả là đám bọt nước. [X. phẩm Học tập kĩ nghệ kinh Phật bản hạnh tập Q.11; phẩm Quán kinh Quang tán bát nhã Q.7; phẩm Tự mẫu kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.7]. ; (頗) Cũng gọi Ba, Bá. Chữ Tất đàm (pa), 1 trong 50, 1 trong 42 chữ cái Tất đàm, nghĩa là Đệ nhất nghĩa đế. Kinh Phóng quang bát nhã quyển 4 (Đại 8, 26 trung) nói: Ba là Đệ nhất nghĩa đế trong các pháp nê hoàn. Phẩm Quảng thừa trong kinh Ma ha bát nhã ba la mật (Đại 8, 256 thượng) nói: Chữ Ba là Đệ nhất nghĩa của tất cả pháp. Phẩm Thích tự mẫu kinh Du già kim cương đính (Đại 18, 339 thượng) nói: Chữ Phả là Đệ nhất nghĩa đế của tất cả pháp bất khả đắc. Bởi vì Đệ nhất nghĩa đế tiếng Phạm là: Paramàrtha, mà Pa là âm đầu trong Paramàrka, cho nên nói chữ Palà Đệ nhất nghĩa đế. Ngoài ra, theo kinh Hoa nghiêm quyển 76 (bản dịch mới) thì Pa có nghĩa là chiếu khắp pháp giới (Phạm: Dharmadhàtu-talasambheda). Phẩm Văn tự kinh Đại bát niết bàn quyển 8 (bản Bắc) thì cho rằng chữ Pa là nghĩa điên đảo. [X. phẩm Nhập pháp giới kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm; phẩm Tự mẫu kinh Văn thù vấn; phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2; phẩm Bách tự thành tựu trì tụng kinh Đại nhật Q.6; luận Đại trí độ Q.48].

phả la

Phala (skt)—Quả—Fruit—Produce—Progeny—Profit.

phả la đoạ

(頗羅墮) Phạm: Bharadvàja. Cũng gọi Phả la tra. Hán dịch: Lợi căn tiên nhân, Biện tài, Mãn, Mãn chính. Một trong 6 họ Bà la môn, hoặc 1 trong 18 họ Bà la môn ở Ấn độ xưa. Cứ theo phẩm Tựa kinh Diệu pháp liên hoa thì đức Phật Nhật nguyệt đăng minh mang họ Phả la đọa. [X. Pháp hoa nghĩa sớ Q.2, 3; Pháp hoa văn cú Q.3; Pháp hoa huyền tán Q.2].

phả la đọa

Bharadvaja (skt). 1) Còn gọi là Phả La Trá, dòng dõi của một trong sáu họ Bà La Môn: Descendant of the ancient sage Bharadvaja, interpreted as one of the six Brahmin surnames. 2) Lợi căn hay thông minh: Also has the meaning of keen mind, or clever.

phả lê

Rock crystal—See Pha Lê.

phả lặc cũ nã

(頗勒窶拿) Phạm: Phàlguna. Pàli: Phagguịa. Cũng gọi Phả lặc bối na, Phả la ngộ nị, Phả cầu na, Khu lặc cụ noa, Phả lặc noa, Phả la ngu na, Phá cầu. Hán dịch: Mạnh xuân. Tên gọi tháng 12 của lịch Ấn độ, tương đương với khoảng thời gian từ ngày 16 tháng 12 đến ngày 15 tháng giêng năm sau của âm lịch Trung quốc. Vào ngày trăng tròn trong tháng này chính là lúc sao Dực (Phạm: Uttara-phalgunì) xuất hiện, cho nên gọi là Phả lặc củ noa. Tháng này rơi vào mùa đông nên rất lạnh. [X. kinh Thập nhị duyên sinh tường thụy Q.thượng; kinh Tú diệu Q.thượng; kinh Xá Đầu gián thái tử nhị thập bát tú; Đại đường tây vực kí Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.24]. (xt. Thập Nhị Nguyệt Danh).

phả ni đa

Phanita (skt)—Đường mía—The inspissated juice of the sugar can, or raw sugar. ; (頗尼多) Phạm: Phàịita. Chỉ cho nước mía được nấu lần đầu tiên. Kinh Chính pháp niệm xứ quyển 3 (Đại 17, 17 thượng) nói: Pháp trong trắng sinh ra giốngnhư nước mía, bỏ mía vào nồi đun lên, khi sôi thì chất dơ bẩn nổi lên mặt, lần đầu tiên gọi là Phả ni đa. Nấu lần thứ 2 thì nước ấy đặc dần, gọi là Phả lữ. Nấu lần thứ 3 thì màu của nó trắng ra, gọi là Thạch mật (đường phèn).

phải

1) Bên phải: Right. 2) Cần phải: To have to—Must—Should—Ought to. 3) Đúng: Right.

phải chăng

Reasonable.

phải quấy

Right or wrong.

phải trái

Right or left—Right or wrong.

phản

1) Chiếc phản: Camp-bed—Plank bed. 2) Chống lại: Anti—Counter. 3) Làm phản: To rebel. 4) Ngược lại: Contrary. 5) Phản bội: To betray. 6) Trở về: Turn over—Trun or send back.

Phản Bản Hạnh Nam

(阪本幸男) (1899-1973) Học giả Phật giáo Nhật bản, người huyện Cương sơn, Nhật bản. Năm 1929, ông tốt nghiệp Tiến sĩ Văn học ở trường Đại học Đông kinh, ông từng làm Giáo sư trường Đại học Lập chính và Giám đốc sở Nghiên cứu văn hóa Pháp hoa. Ông thuộc tông Nhật liên và là người có uy tín lớn đối với giáo học Hoa nghiêm đương thời tại Nhật bản. Ông có các tác phẩm: Hoa nghiêm kinh thám huyền kí dịch chú, Hoa nghiêm giáo học đích nghiên cứu, Pháp hoa kinh dịch chú, Đại tì bà sa luận dịch chú.

phản chiếu

Paribimbaya (skt)—Phản ánh—To reflect.

phản hồn hương

(反魂香) Hương làm cho hồn trở về. Tên của 1 loại hương, mùi thơm của nó có năng lực làm cho người chết sống lại, vì thế gọi là Phản hồn hương. Cứ theo Hán thư Đông phương sóc thập châu, vào năm Chinh hòa thứ 3 (90 trước Tây lịch) đời vua Vũ đế, nước Nguyệt chi có cống hiến cho Vũ đế nhà Hán 4 lạng Phản hồn hương. Ngoài ra, Bản thảo cương mục quyển 16 cho rằng, Tử uyển còn có tên là Phản hồn thảo (cỏ Phản hồn), chính là 1 loại khác của hương này. [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.18; Tăng quảng bản thảo cương mục Q.34].

phản lưu tứ vị

(反流四位) Cũng gọi Thủy giác tứ vị, Thủy giác phản lưu tứ vị. Chỉ cho 4 vị: Bất giác, Tương tự giác, Tùy phần giác và Cứu cánh giác do luận Đại thừa khởi tín lập ra. Bốn vị này theo thứ lớp ngược dòng vô minh sinh tử mà trở về nguồn gốc Chân như tịch diệt, cho nên gọi là Phản lưu tứ vị(4 vị ngược dòng). Trong 4 vị này, Bất giác chỉ cho phàm phu, Tương tự giác chỉ cho Nhị thừa và hàng Bồ tát Tam hiền, Tùy phần giác chỉ cho hàng Bồ tát từ Sơ địa đến Cửu địa, còn Cứu cánh giác thì chỉ cho Bồ tát Thập địa. [X. luận Thích ma ha diễn Q.3; Đại thừa khởi tín luậnnghĩa kí Q.trung, phần đầu]. (xt. Bản Giác).

phản quang

Reflected light.

phản quang tự kỷ

Hồi quang tự kỷ—Hồi quang biến chiếu—To turn the spotlight to ourselves—To turn back and reflect ourselves.

phản sao

(反抄) Lật trái mặt trước của ca sa vắt lên vai bên phải. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 2 (Đại 54, 215 thượng) nói: Làm việc riêng ở chỗ vắng, được tùy ý phản sao. Nếu đứng trước tôn dung thì cần phải tề chỉnh, vắt góc áo bên phải lên vai trái, cho rủ xuống phía sau lưng, không được vắt lên khuỷu tay. Theo luật Thập tụng quyển 19 thì có lần đức Phật và các vị tỉ khưu vào nội thành Xá vệ nhận sự cúng dường. Lúc ấy, Lục quần tỉ khưu phản sao y vào nhà cư sĩ, các cư sĩ thấy cách mặc áo ấy giống như vương công, đại thần nên chê trách. Đức Phật nghe biết việc này liền răn dạy các tỉ khưu không được phản sao y vào nhà cư sĩ, nếu không thì phạm tội Đột các la. [X. Di sa tắc ngũ phần giới bản].

phản suất sanh tử

1) Một trong bảy loại sanh tử—One of the seven kinds of mortality. 2) Thoát vòng sanh tử để đi vào Niết Bàn—Escape from mortality into nirvana.

phản trắc

Unreliable—Dishonest.

phản tỉnh

A turning about.

phản tỉnh khẩu nghiệp

Trong Kinh Giáo Giới La Hầu La ở Rừng Am Bà La trong Trung Bộ Kinh, Đức Phật đã dạy La Hầu La về 'Phản Tỉnh Khẩu Nghiệp'—The Buddha taught Venerable Rahula about 'Action With the Speech' in the Ambalatthikarahulovada Sutta in the Middle Length Discourses of the Buddha: 1) Này La Hầu La, khi ông muốn làm một khẩu nghiệp gì, hãy phản tỉnh khẩu nghiệp ấy như sau: “Khẩu nghiệp nầy của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Rahula, when you wish to do an ction by speech (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 1, just substituting “speech” for “body”). a) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết:”Khẩu nghiệp nầy ta muốn làm. Khẩu nghiệp nầy của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại nguời, có thể đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Một khẩu nghiệp như vậy, này La Hầu La, nhất định chớ có làm (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 1a, just substituting “speech” for “body”). b) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết: “Khẩu nghiệp nầy ta muốn làm. Khẩu nghiệp nầy của ta không có thể đưa đến tự hại, không có thể đưa đến hại người; không có thể đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc.” Một khẩu nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông nên làm (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 1b, just substituting “speech” for “body”). 2) Này La Hầu La, khi ông đang làm một khẩu nghiệp, ông cần phải phản tỉnh khẩu nghiệp ấy như sau: “Khẩu nghiệp nầy ta đang làm. Khẩu nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Rahula, when you are doing an action by speech (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 2, just substituting “speech” for “body”). a) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết: “Khẩu nghiệp nầy ta đang làm. Khẩu nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Này La Hầu La, ông hãy từ bỏ một khẩu nghiệp như vậy (Please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 2a, just substituting “speech” for “body”). b) Nhưng nếu này La Hầu La, khi phản tỉnh, ông biết như sau: “Khẩu nghiệp nầy ta đang làm. Khẩu nghiệp nầy của ta không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc.” Khẩu nghiệp như vậy, nầy La Hầu La, ông cần phải tiếp tục làm (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 2b, just substituting “speech” for “body”). 3) Sau khi ông làm xong một khẩu nghiệp, này La Hầu La, ông cần phải phản tỉnh khẩu nghiệp ấy như sau: “Khẩu nghiệp nầy ta đã làm. Khẩu nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo khổ.”—Rahula, after you have done an action by speech (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 3, just substituting “speech” for “body”). a) Nếu trong khi phản tỉnh, này La Hầu La, ông biết như sau: “Khẩu nghiệp nầy ta đã làm. Khẩu nghiệp nầy đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Một khẩu nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông cần phải thưa lên, cần phải tỏ lộ, cần phải trình bày trước vị Đạo Sư, hay trước các vị đồng phạm hạnh có trí. Sau khi đã thưa lên, tỏ lộ, trình bày, cần phải phòng hộ trong tương lai (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 3a, just substituting “speech” for “body”). b) Nếu trong khi phản tỉnh, này La Hầu La, ông biết như sau: “Khẩu nghiệp nầy ta đã làm. Khẩu nghiệp nầy không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp nầy là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc.” Do vậy, này La Hầu La, ông phải an trú trong niềm hoan hỷ, tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 3b, just substituting “speech” for “body”).

phản tỉnh thân nghiệp

Trong Kinh Giáo Giới La Hầu La Ở Rừng Am Bà La trong Trung Bộ Kinh, Đức Phật đã dạy La Hầu La về 'Phản Tỉnh Thân Nghiệp'—The Buddha taught Venerable Rahula about 'Action With the Body' in the Ambalatthikarahulovada Sutta in the Middle Length Dicourses of the Buddha: 1) “Này La Hầu La, khi ông muốn làm một thân nghiệp gì, hãy phản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: “Thân nghiệp nầy của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.”—Rahula, when you wish to do an action with the body, you should reflect upon that same bodily action thus: “Would this action that I wish to do with the body lead to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both? Is it an unwholesome bodily action with painful consequences, with painful results?” a) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh ông biết: “Thân nghiệp nầy ta muốn làm. Thân nghiệp nầy của ta có thể đưa tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Một thân nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông nhất định chớ có làm—When you reflect, if you know: “This action that I wish to do with the body would lead to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both; it is an unwholesome bodily action with painful consequences, with painful results,” then you definitely should not do such an action with the body. b) Này La Hầu La, khi ông muốn làm một thân nghiệp, nếu sau khi phản tỉnh ông biết: “Thân nghiệp nầy ta muốn làm. Thân nghiệp nầy của ta không có thể đưa đến tự hại, không có thể đưa đến hại người, , không thể đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy là thiện, đưa đến an lạc, đưa đến quả báo an lạc.” Một thân nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông nên làm—When you reflect, if you know: “This action that I wish to do with the body would not lead to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both; it is a wholesome bodily action with pleasant consequences, with pleasant results,” then you may do such an action with the body. 2) Này La Hầu La, khi ông đang làm một thân nghiệp, ông cần phải phản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: “Thân nghiệp nầy ta đang làm. Thân nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.”—Rahula, while you are doing an action with the body, you should reflect upon that same bodily action thus: “Does this action that I am doing with the body lead to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both? Is it an unwholesome bodily action with painful consequences, with painful results?” a) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết: “Thân nghiệp nầy ta đang làm. Thân nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Này La Hầu La, ông hãy từ bỏ một thân nghiệp như vậy.—Rahula, when you reflect, if you know: “This action that I am doing with the body leads to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both; it is an unwholesome bodily action with painful consequences, with painful results,” then you should suspend such a bodily action. b) Nhưng nếu, này La Hầu La, trong khi phản tỉnh, ông biết như sau: “Thân nghiệp nầy ta đang làm. Thân nghiệp nầy của ta không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc.” Thân nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông cần phải tiếp tục làm.—But when you reflect, if you know: “This action that I am doing with the body does not lead to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both; it is a wholesome bodily action with pleasant consequences, with pleasant results,” then you may continue in such a bodily action. 3) Này La Hầu La, sau khi làm xong một thân nghiệp, ông cần phải phản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: “Thân nghiệp nầy ta đã làm, thân nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.”—Rahula, after you have done an action with the body, you should reflect upon that same bodily action thus: “Does this action that I have done with the body lead to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both? Was it an unwholesome bodily action with painful consequences, with painful results?” a) Nếu trong khi phản tỉnh, này La Hầu La, ông biết như sau: “Thân nghiệp nầy ta đã làm. Thân nghiệp nầy đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy là bất thiện đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Một thân nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông cần phải thưa lên, cần phải tỏ lộ, cần phải trình bày trước các vị Đạo Sư, hay trước các vị đồng phạm hạnh có trí. Sau khi đã thưa lên, tỏ lộ, trình bày, cần phải phòng hộ trong tương lai.—When you reflect, if you know: “This action that I have done with the body leads to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both; it was an unwholesome bodily action with painful consequences, with painful results,” then you should confess such a bodily action, reveal it, and lay it open to the Teacher or to your wise companions in the holy life. Having confessed it, revealed it, and laid it open, you should undertake restraint for the future. b) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết như sau: “Thân nghiệp nầy ta đã làm. Thân nghiệp nầy không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp nầy thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc.” Do vậy, này La Hầu La, ông phải an trú trong niềm hoan hỷ tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp.—Rahula, but when you reflect, if you know: “This action that I have done with the body does not lead to my own affliction, or to the affliction of others, or to the affliction of both; it was a wholesome bodily action with pleasant consequences, with pleasant results," you”can abide happy and glad, training day and night in wholesome states.

phản tỉnh ý nghiệp

Đức Phật đã dạy Đại Đức La Hầu La về 'Phản Tỉnh Ý Nghiệp' trong Kinh Giáo Giới La Hầu La Ở Rừng Am Bà La—The Buddha taught Venerable about 'Action With the Mind' in the Ambalatthikarahulovada Sutta in the Middle Length Discourses of the Buddha: 1) Này La Hầu La, như ông muốn làm một ý nghiệp gì, hãy phản tỉnh ý nghiệp ấy như sau: “Ý nghiệp nầy của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.”—Rahula, when you wish to do an action by mind (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 1, just substituting “mind” for “body'). a) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết: “Ý nghiệp nầy ta muốn làm. Ý nghiệp nầy của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Một ý nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông nhất định chớ có làm (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 1a, just substituting “mind” for “body”). b) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết: “Ý nghiệp nầy ta muốn làm. Ý nghiệp nầy của ta không có thể đưa đến tự hại, không có thể đưa đến hại người, không có thể đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc.” Ý nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông nên làm (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 1b, just substituting “mind” for “body”). 2) Này La Hầu La, khi ông đang làm một ý nghiệp, ông cần phải phản tỉnh ý nghiệp ấy như sau: “Ý nghiệp nầy ta đang làm. Ý nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Rahula, while you are doing an action by mind (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 2, just substituting “mind” for “body”). a) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết: “Ý nghiệp nầy ta đang làm. Ý nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Này La Hầu La, ông hãy từ bỏ một ý nghiệp như vậy (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 2a, just substituting “mind” for “body”). b) Nhưng nếu, này La Hầu La, khi phản tỉnh ông biết như sau: “Ý nghiệp nầy ta đang làm. Ý nghiệp nầy của ta không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc.” Ý nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông phải tiếp tục làm (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 2b, just substituting “mind” for “body”). 3) Sau khi làm xong một ý nghiệp, này La Hầu La, ông cần phải phản tỉnh ý nghiệp ấy như sau: “Ý nghiệp nầy ta đã làm. Ý nghiệp nầy của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.”—Rahula, after you have done an action by mind (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 3, just substituting “mind” for “body”). a) Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết như sau: “Ý nghiệp nầy ta đã làm. Ý nghiệp nầy đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.” Một ý nghiệp như vậy, này La Hầu La, ông cần phải lo âu, cần phải tàm quý, cần phải nhàm chán. Sau khi lo âu, tàm quý, nhàm chán, cần phải phòng hộ trong tương lai (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 2a, just substituting “mind” for “body”). b) Còn nếu trong khi phản tỉnh, này La Hầu La, ông biết: “Ý nghiệp này ta đã làm. Ý nghiệp nầy không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp nầy là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc.” Do vậy, này La Hầu La, ông phải an trú trong niềm hoan hỷ, tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp (please see Phản Tỉnh Thân Nghiệp 3b, just substituting “mind” for “body”).

phản tục

(反俗) Chỉ cho vị tăng trở về làm người thế tục.Kinh Đại bảo tích quyển 88 (Đại 11, 507 thượng) chép: Các tỉ khưu nói: (...) Chúng con không thể tu được pháp này, muốn trở về thế tục. Vì sao? Vì thức ăn của tín thí khó tiêu. Ngoài ra, giữa 2 từ ngữ Hoàn tục và Qui tục có nghĩa khác nhau. Hoàn tục là vị tăng phạm tội bị đuổi về nhà; còn Qui tục nghĩa là vị tăng tự nguyện bỏ tăng để trở về tục. [X. Cư gia tất huề lại học chỉ nam thiên].

phản xoa hợp chưởng

Một trong mười hai cách chấp tay, đan bện những ngón tay vào nhau—One of the twelve forms of folded hands, with interlocking fingers.

phản xuất sanh tử

See Phản Suất Sanh Tử.

phản xuất sinh tử

(反出生死) Ra khỏi sinh tử, 1 trong 7 loại sinh tử, do Nhiếp đại thừa luận sư lập ra. Nghĩa là nếu chúng sinh phát tâm tu hành, bỏ vọng về chân thì có thể ra khỏi sinh tử mà đến Niết bàn. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.7, phần 1; Đại minh tam tạng pháp số Q.30]. (xt. Thất Chủng Sinh Tử).

phản đạo đức

Immoral.

phản đối

To oppose—To object.

phản ảnh

To reflect

phản ứng

Reaction.

phảng hét

Đức Sơn vào cửa liền phảng (đập gậy), Lâm Tế vào cửa liền hét. So với tác dụng “Niêm hoa thị chúng” của Phật Thích Ca chẳng khác. Ấy đều là dùng để cắt đứt ý thức hiện hành của đương cơ mà đạt đến mục đích “Ngay đó kiến tánh”.

Phảng phất

仿佛; C: pángfó; J: hōfutsu;|Có hai nghĩa: 1. Rất tương đồng, hoàn toàn giống hệt nhau về hình tướng; 2. Lan man, mờ ảo, lờ mờ. Đồng nghĩa với Phảng phất 彷彿 và 髣髴, »phảng phất như…«;

phảng phất

Vaguely—Dimly—Faintly

phấn cốt toái thân

(粉骨碎身) Xương thịt bị nghiền nát ra như bột. Ý nói vì pháp mà tan xương nát thịt. Trong kinh điển có nhiều chỗ ghi chép các trường hợp vì pháp mà không tiếc thân mệnh, như bồ tát Thường đề khi ở Hương thành học Bát nhã, đập xương lấy tủy đem bán cho trưởng giả lấy vàng mua các thứ hương hoa để cúng dường. Lại như trường hợp đức Phật Thích ca văn đã bỏ mình để chỉ cầu được nghe 2 câu kệ (Sinh diệt diệt dĩ, Tịch diệt vi lạc)khi còn ở địa vị tu nhân. [X. phẩm Tát đà ba luân trong kinh Đại phẩm bát nhã; kinh Niết bàn Q.14 (bản Bắc). (xt. Thường Đề Bồ Tát, Tuyết Sơn Đại Sĩ).

phấn tảo y

xem nạp y.

phất nhã đa la

(弗若多羅) Phạm: Puịyatàra. Cũng gọi Bất nhã đa la. Hán dịch: Công đức hoa. Cao tăng người nước Kế tân thuộc Bắc Ấn độ. Sư xuất gia từ nhỏ, chuyên trì giới luật, thông hiểu Tam tạng, đặc biệt tinh thông luật Thập tụng. Khoảng năm Hoằng thủy đời Diêu Tần, sư đến Trung quốc, vua Diêu hưng đãi ngộ sư với lễ thượng khách. Tháng 10 năm Hoằng thủy thứ 6 (404), sư nhận lời mời đến vườn Tiêu dao tụng luật Thập tụng bằng tiếng Phạm, để ngài Cưu ma la thập dịch ra chữ Hán, nhưng mới chỉ tụng được 2/3 thì sư thị tịch. Về sau, các bộ luật này được các ngài Đàm ma lưu chi và Cưu ma la thập tiếp tục dịch, lại do ngài Ti ma la xoa đối chiếu với nguyên bản tiếng Phạm để kiểm xét lại mà thành luật Thập tụng như hiện nay lưu hành. Đến đời sau, ngài Phất nhã đa la được tôn làm Sơ tổ truyền trì luật Thập tụng tại Trung quốc. [X. Lương cao tăng truyện Q.2; Xuất tam tạng kí tập Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.4].

phất như đàn

(弗如檀) Cũng gọi Pháp nhiêu. Cao tăng người nước Vu điền, Tây vực, là đệ tử của ngài Chu sĩ hành – vị tăng Trung quốc đầu tiên sang Ấn độ cầu pháp. Khi ra khỏi biên ải, ngài Chu sĩ hành đi về hướng tây đến nước Vu điền, tại đây ngài thỉnh được kinh Phóng quang bát nhã bằng tiếng Phạm, gồm 90 chương. Vào năm Thái khang thứ 3 (282) đời Tấn, ngài sai sư Phất như đàn cùng với mấy vị khác, mang kinh về Lạc dương, Trung quốc. [X. điều Phóng quang kinh kí trong Xuất tam tạng kí tập Q.7]. (xt. Chu Sĩ Hành).

phất sa

(弗沙) I. Phất Sa. Phạm:Tiwya. Cũng gọi Để sa, Đế sa, Đề sa, Bổ sa. Tên của 1 đức Phật ở đời quá khứ mà bồ tát Thích ca thờ làm thầy khi đang tu nghiệp tướng hảo trong 100 kiếp. Câu xá luận kí quyển 18 (Đại 41, 282 trung) nói: Thời quá khứ có đức Phật hiệu là Để sa, hoặc gọi là Bổ sa. Đức Phật ấy có 2 vị đệ tử Bồ tát siêng tu phạm hạnh, một vị tên là Thích ca mâu ni, còn vị kia thì tên là Mai đát lệ dược. (xt. Để Sa Phật). II. Phất Sa. Phạm: Puwya. Cũng gọi Bột sa, Phú sa, Bô sa, Bổ sa, Để sa. Hán dịch: Quỉ tú, Xí thịnh tú. Tên 1 ngôi sao trong 28 vì sao. Câu xá luận quang kí quyển 18 (Đại 41, 282 thượng) nói: Để sa, Hán dịch: Viên mãn, là tên một ngôi sao. Cứ theo kinh Xá đầu gián thái tử nhị thập bát tú và phẩm Tinh tú trong kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 41, sao này có 3 ngôi (Trung quốc thì cho là có 5 ngôi), hình dạng giống cái bình vẽ(hoặc cái thước móc), thuộc về thần Nghiệt lợi ha tạp bát để, họ Ô ba nhã, hoặc Ô hòa, Pháo ba na tì, Mô xà da na... Trong Mạn đồ la của Mật giáo, sao này được gọi là Tăng ích, hình tượng vị thần này, bàn tay trái dựng lên, ngón cái, ngón giữa co lại cầm hoa sen, trên hoa có hạt châu, tay phải ẩn khuất không thấy. [X. kinh Ma đăng già Q.thượng; kinh Tú diệu Q.thượng]. (xt. Nhị Thập Bát Tú).

phất sa mật đa la vương

(弗沙蜜多羅王) Phất sa mật đa la, Phạm: Puwyamitra, hoặc Puwpamitra, Cũng gọi Phí sa mật đa la vương, Phất xá mật đa vương. Hán dịch: Tinh hữu vương. Tên vị vua sau cùng của triều đại Khổng tước ở Ấn độ. Cứ theo kinh A dục vương thí bán A ma lặc quả nhân duyên trong Tạp a hàm quyển 25, ông vua này vì muốn tên tuổi mình được lưu truyền đến đời sau, nên hỏi kế các quan. Trong đó có 1 nịnh thần tâu: Ngày trước vua A dục xây 8 vạn 4 nghìn tháp Như lai, danh đức truyền đời. Ngày nay nếu Bệ hạ phá hủy hết số tháp ấy thì tên tuổi của cả 2 vị sẽ bất hủ như nhau. Vua nghe theo kế sách đó, liền ra lệnh phá hủy hết 8 vạn 4 nghìn ngôi tháp, giết hại chúng tăng, tiêu diệt Phật pháp. Về sau, vua đến nước Bà già la, bị 1 vị thần dấy đổ ngọn núi đè chết nhà vua và đoàn quân đi theo, từ đó Vương triều Khổng tước tuyệt diệt.Còn theo kết quả sự nghiên cứu Thánh điển Puràịa thuộc Ấn độ giáo, của các học giả cận đại, thì Phất sa mật đa la là ông tổ khai sáng của Vương triều Huân ca: (Phạm: Zuíga) ở Trung Ấn độ. Ông này vốn là Đại tướng dưới trướng vua Bfhadratha –vị vua cuối cùng của Vương triều Khổng tước– sau giết vua Bfhadratha để cướp ngôi vua và chiếm đoạt toàn bộ lãnh thổ của Vương triều Khổng tước rồi tự lập làm vua, mưu đồ phục hưng Bà la môn giáo, làm vua được 36 năm. [X. kinh Xá lợi phất vấn; kinh A dục vương Q.5; Ấn độ Phật giáo sử (Đa la na tha); The Early History of India by V.A. Smith].

phất trần

Là công cụ của Thiền sư dùng để tiếp dẫn hậu học khiến thiền giả phát khởi nghi tình cho đến khai ngộ.

phất trần khán tịnh

(拂塵看淨) Phủi bụi thấy sạch. Nghĩa là quét sạch bụi nhơ, đánh tan mây mờ để nhận rõ bản lai diện mục. Đây là chủ trương tu hành của ngài Thần tú thuộc hệ thống Thiền Bắc tông. Phất trần là đối trị các phiền não của thế tục, không để bị ảnh hưởng bởi ngoại cảnh khách quan. Khán tịnh là nhận thức rõ và giữ gìn tâm tính bản tịnh. Viên giác đại sớ sao quyển 3 phần cuối (Vạn tục 14, 277 thượng) nói: Phất trần khán tịnh, phương tiện thông kinh.

phất tu nhĩ

(弗修爾) Foucher Alfred (1865-1952) Nhà học giả Đông phương học và Phật giáo sử người Pháp. Ông từng giữ chức Viện trưởng Pháp quốc Viễn đông học viện (1901-1907), Giáo sư môn Ấn độ ngữ học tại Đại học Paris (1919). Khoảng năm 1895 đến năm 1907, ông thường đến khảo sát và nghiên cứu về học thuật ở các nơi như Ấn độ, bán đảo Trung nam, Java... Từ năm 1918 đến 1926, ông làm Trưởng đoàn Khảo cổ học đến các nước Ấn độ, Tích lan, Ba tư, A phú hãn, Nhật bản, Trung quốc, hoặt động tích cực 1 thời. Ông từng tìm hiểu các di tích ở Kabul (thuộc A phú hãn), Đại hạ, Bamyan (A phú hãn)... Thời gian ông ở Nhật bản để nghiên cứu mĩ thuật, ông từng giữ chức Hội trưởng Hội quán Nhật Pháp (1926). Sau khi trở về Pháp, ông làm Giáo sư Đại học Paris, Hội viên Hiệp hội Paris-Asie. Cả cuộc đời, ông đã cống hiến rất lớn cho công cuộc nghiên cứu về Khảo cổ học và Đồ tượng học của Phật giáo. Ông có các tác phẩm: La vie du Bouddha, 1949, L’art grécobouddhique du Gandhàra 1905-1951, Beginning of Buddhist Art, 1917, The Monuments of Sàcìen, 3 vols, 1939.

phất tích nhập huyền

(拂迹入玄) Cũng gọi Phát tích nhập nguyên. Quét sạch dấu vết mà vào nghĩa lí sâu xa. Tức là trừ bỏ hết các pháp chấp đối đãi như nhơ-sạch, mê-ngộ, đầu-cuối v.v... mà vào pháp viên mãn rốt ráo Sinh Phật bình đẳng(Phật và chúng sinh đều bình đẳng). Bởi vì thực tướng các pháp vốn như như bình đẳng, nhưng nếu có chỗ chấp trước thiên lệch thì do tâm phân biệt mà thấy có các tướng sai khác nhơ sạch, mê ngộ, đầu cuối..., vì thế nên đặt ra các giáo môn phương tiện, hoặc tạm mượn các tên gọi chúng sinh, Bồ tát, hoặc giả lập thứ tự các giai vị tu hành, tất cả những giáo môn phương tiện ấy đều gọi là Tích (dấu vết), dùng để dắt dẫn chúng sinh đi vào cảnh giới chân thực không hai không khác. Cảnh giới ấy gọi là Huyền(sâu kín, mầu nhiệm). Lại Phất đồng nghĩa với Phát (tìm ra), Huyền đồng nghĩa với Nguyên (nguồn), bởi thế, Phất tích nhập huyền (quét sạch dấu vết để vào mầu nhiệm) cũng gọi là Phát tích nhập nguyên (tìm ra dấu vết để vào nguồn gốc). Có thuyết cho rằng tất cả giáo pháp hóa tha lợi sinh của đức Phật Thích ca là Tích, còn pháp tha lực hoằng nguyện của đức Phật A di đà là Bản (Nguyên) và cho rằng xả bỏ giáo tích của đức Thích ca mà qui vào hoằng nguyện của đức Di đà là Phát tích nhập nguyên. [X. kinh Viên giác; Viên giác kinh lược sớ Q.thượng].

Phất Tử

(s: vyajana, vāla-vyajana, p: vijanī, 拂子): một loại vật dụng xưa kia người ta lấy lông thú, v.v., cột thành bó, buộc vào cây dài, dùng để xua đuổi muỗi mòng, quét bụi bặm; còn gọi là Phất (拂), Phất Trần (拂塵), Trần Vĩ (塵尾). Như trong Tùy Đường Diễn Nghĩa (隋唐演義) hồi thứ 3 có đoạn: “Tả hữu nữ tỳ sổ nhân, dã hữu chấp cân trất đích, dã hữu kình Hương Lô đích, dã hữu bổng Như Ý đích, dã hữu trì Phất Tử đích, lưỡng biên thị lập (左右女婢數人、也有執巾櫛的、也有擎香爐的、也有捧如意的、也有持拂子的、兩邊侍立, hai bên phải trái nữ hầu vài người, cũng có người cầm khăn lượt, cũng có người mang lò hương, cũng có người vác cây Như Ý, cũng có kẻ cầm cây Phất Trần, đứng hầu hai bên).” Loại này rất thông dụng tại Ấn Độ. Trong giới luật của Phật Giáo, cho phép vị Tỳ Kheo cầm cây Phất Trần này để xua đuổi muỗi mòng xâm hại; nhưng cấm tuyệt đối không được dùng loại Phất Trần làm bằng các loại vật dụng trân quý, như trường hợp Bạch Phất (白拂, Phất Trần Trắng). Căn cứ vào Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự (有部毘奈耶雜事) quyển 6, đức Phật từng cho phép Tỳ Kheo dùng loại Phất Trần được chế bằng 5 loại chất liệu như sau: (1) Lông dê, (2) Cây gai, (3) Vải lông mịn nhỏ, (4) Vật cũ đã dùng rồi, (5) Cành cây, vỏ cây. Bạch Phất là loại Phất Trần được làm bằng lông con bò hay ngựa trắng, là vật rất quý trọng. Trong kinh thường thấy vị Bồ Tát hay Trưởng Giả tay cầm Bạch Phất; như trong Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經) quyển 6 có ghi rằng đức Quan Âm cầm Bạch Phất tay trái và Phổ Hiền cầm tay phải. Hay khi đức Phật lên cung Trời Đao Lợi (s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 忉利) thuyết pháp cho mẹ rồi trở về lại hạ giới, Phạm Thiên thường cầm cây Bạch Phất hầu bên phải đức Phật. Về phía Mật Giáo, Bạch Phất được dùng để tượng trưng cho khử bỏ phiền não, trừ chướng nạn. Như Thiên Thủ Quan Âm Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh (千手觀音大悲心陀羅尼經) có đề cập đến trong 40 tay của thiên thủ quan âm có 1 tay cầm cây Bạch Phất. Hay trong Tôn Thắng Phật Đảnh Tu Du Già Pháp Quỹ Nghi (尊勝佛頂修瑜伽法軌儀) quyển Thượng có ghi rằng mỗi khi hành giả xuất hành, thường cầm theo cây Bạch Phất, tụng Chơn Ngôn gia trì 108 biến; nếu khi đang đi gặp súc sanh, có thể khiến cho những loài đó lìa khổ, giải thoát. Trong Thiền Tông, chư vị Thiền sư dùng Phất Trần như là vật dụng trang nghiêm; từ đó, vị Trú Trì hay người đại diện cầm cây Phất Trần thượng đường vì đại chúng thuyết pháp, được gọi là Bỉnh Phất (秉拂). Khi ấy, Phất Trần tượng trưng cho sự thuyết pháp. Dần dần chức vụ chấp hành Bỉnh Phất có 5 loại, gọi là Bỉnh Phất Ngũ Đầu Thủ (秉拂五頭首), gồm: Tiền Đường Thủ Tòa (前堂首座), Hậu Đường Thủ Tòa (後堂首座), Đông Tạng Chủ (東藏主), Tây Tạng Chủ (西藏主), Thư Ký (書記). Tại Nhật Bản, Phất Trần được sử dụng từ thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura, 1185-1333). Về sau, trừ Chơn Tông ra, các tông phái khác đều dùng Phất Trần trong trường hợp các pháp hội, lễ Quán Đảnh, tang lễ, v.v. Tại Việt Nam, Phất Trần được dùng phần lớn trong tang lễ mà thôi.

Phất tử

拂子; J: hossu; S: camāra; cũng gọi là Phất trần; |Cây đuổi ruồi, có truyền thống từ các vị Sa-môn tại Ấn Ðộ. Phất tử được dùng để đuổi ruồi và các côn trùng biết bay để chúng khỏi bị đạp. Phất tử nguyên là một khúc gỗ, được gắn một chùm lông đuôi ngựa ở một đầu. Trong những thiền viện tại Trung Quốc thời xưa, chỉ có vị trụ trì trong viện mới được sử dụng phất tử và các vị này sử dụng nó như là một phương tiện khai thị cho môn đệ. Phất tử trở thành một biểu tượng của »Dĩ tâm truyền tâm« trong Thiền tông và cũng được các Thiền sư truyền lại cho môn đệ xuất sắc nhất.

phất tử

(拂子) Phạm: Vyajana, Vàla-vyajana. Pàli:Vijanì. Cũng gọi Phất, Phất trần, Phất vĩ. Cái chổi nhỏ có cán dài bện bằng lông thú, sợi cây gai..., dùng để xua ruồi muỗi, 1 trong những vật tùy thân của tỉ khưu ở Ấn độ, Tích lan..., nhưng không được sử dụng Phất tử làm bằng những chất liệu tương đối đẹp đẽ, quí giá như bạch phất... Cứ theo Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 6 thì đức Phật cho phép các tỉ khưu sử dụng phất tử làm bằng 5 loại tài liệu sau đây: Lông dê, sợi cây gai, vải bông xé nhỏ, vật cũ dùng đã rách, nhánh cây ngọn cây. Bạch phất là loại phất tử làm bằng lông đuôi của con trâu li trắng hoặc bằng lông đuôi của ngựa trắng, là vật quí giá. Trong các kinh điển thường có ghi việc các Bồ tát hoặc các trưởng giả tay cầm bạch phất. Như kinh Đà la ni tập quyển 6 ghi rằng bồ tát Quan âm tay trái cầm bạch phất, bồ tát Phổ hiền tay phải cầm bạch phất. Khi đức Phật lên cung trời Đao lợi nói pháp độ cho thân mẫu, lúc trở về nhân gian, Phạm thiên tay cầm bạch phất đứng hầu bên phải đức Phật.Trong Mật giáo thì bạch phất được dùng làm biểu tượng diệt phiền não, trừ chướng nạn, như tay Bạch phất trong 40 tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm. Còn Tôn thắng Phật đính tu du già pháp nghi quĩ quyển thượng thì cho rằng, mỗi khi ra đi, hành giả thường mang cây bạch phất, tụng chân ngôn gia trì 108 biến, cầm đi, giữa đường nếu gặp súc sinh, có thể khiến cho chúng lìa khổ, được giải thoát. Tại Trung quốc, các Thiền sư rất thích dùng phất tử làm vật trang nghiêm, vị Trụ trì hoặc người đại diện tay cầm phất tử lên Giảng đường nói pháp cho đại chúng nghe, gọi là Bỉnh phất. Lúc ấy, phất tử là biểu tượng của sự thuyết pháp. Các chức vụ được bỉnh phất (thay vị Trụ trì nói pháp) gồm có: Tiền đường thủ tọa, Hậu đường thủ tọa, Đông tạng chủ, Tây tạng chủ và Thư kí, gọi là Bỉnh phất ngũ đầu thủ. Người làm thị giả cho vị Bỉnh phất, gọi là Bỉnh phất thị giả. Ở Nhật bản, sau thời đại Liêm thương, Thiền lâm cũng sử dụng phất tử. Về sau, trừ Chân ngôn ra, các tông khác đều dùng phất tử làm vật trang nghiêm của vị Đạo sư trong các dịp như: Pháp hội, Quán đính, Tang lễ... [X. kinh Đà la ni tập Q.3; luật Ma ha tăng kì Q.32; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.29; điều Tứ tiết bỉnh phất trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.7; Thích thị yếu lãm Q.trung; Khí vật môn trong Thiền lâm tượng khí tiên].

Phần Châu Vô Nghiệp

汾州無業; C: fénzhōu wuýè; 760-821;|Thiền sư Trung Quốc, pháp tự của Mã Tổ Ðạo Nhất Thiền sư.|Sư họ Ðỗ, quê ở Thượng Lạc, Thương Châu, theo học kinh luận lúc lên chín và xuất gia lúc mười hai tuổi. Nghe tiếng Mã Tổ, Sư tìm đến tham học. Mã Tổ thấy Sư tướng mạo kì đặc, tiếng nói thanh như chuông bèn bảo: »Phật đường to lớn mà trong ấy không có Phật.« Sư lễ bái quì thưa: »Về kinh điển con hiểu biết đơn sơ, thường nghe Thiền môn ›Tức tâm là Phật‹ thật chưa hiểu thấu.« Tổ bảo: »Chỉ cái tâm chưa hiểu đó là phải, lại không có vật khác.« Sư hỏi: »Thế nào là mật truyền tâm ấn của Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?« Tổ bảo: »Ðại đức chính đang ồn, hãy đi, khi khác lại!« Sư vừa quay đầu đi, Tổ gọi: »Ðại đức!« Sư xoay đầu lại, Tổ hỏi: »Là cái gì?« Ngay đây Sư lĩnh hội, quì lễ bái. Tổ bảo: »Kẻ độn, lễ bái làm gì!«|Sau khi ngộ huyền chỉ, Sư diêu du đây đó và sau dừng tại Tinh xá Khai Nguyên, Tây Hà tuỳ duyên hoằng hoá. Khi đáp những câu hỏi của thiền khách, Sư thường nói: »Chớ vọng tưởng!« (莫妄想; mạc vọng tưởng). Vua nhiều phen thỉnh Sư nhưng Sư lúc nào cũng từ chối không đến. Sau có hai vị quyết tâm thỉnh Sư đi cho bằng được, Sư chúm chím cười đáp: »Bần đạo có đức gì làm phiền Thế chủ. Mời các Ngài đi trước, tôi sẽ đi đường riêng.« Sau khi sứ giả về, Sư tắm gội, nửa đêm bảo đệ tử vào khuyên: »Các ngươi! Tính thấy nghe hiểu biết cùng hư không đồng tuổi, chẳng sinh chẳng diệt, tất cả cảnh giới vốn tự không lặng, không một pháp có thật, người mê không hiểu bị cảnh làm lầm, trôi lăn không cùng. Các ngươi phải biết, tâm tính vốn tự có, chẳng phải do tạo tác, ví như kim cương không thể phá hoại. Tất cả như bóng vang không có thật. Cho nên kinh nói: ›Chỉ đây một việc thật, ngoài hai thỉ chẳng chân.‹ Thường hiểu tất cả thông, không một vật hợp tình, là chỗ chư Phật dụng tâm. Các ngươi cố gắng thật hành.« Nói xong Sư ngồi kết già thị tịch, thọ 62 tuổi, 42 tuổi hạ. Lễ trà tì có mây năm sắc, hương thơm lạ bốn phương. Vua sắc phong là Ðại Ðạt Quốc sư, tháp hiệu Trừng Nguyên.

phần chứng

(分證) Nghĩa là hàng Bồ tát từ Sơ địa trở lên, theo thứ tự tu hành, hễ đoạn trừ 1 phần phiền não thì chứng ngộ được 1 phần Trung đạo.Luận Đại thừa khởi tín gọi Phần chứng là Tùy phần giác, còn tông Thiên thai thì gọi Phần chứng tức. [X. Ma ha chỉ quán Q.1, phần cuối; Chỉ quán đại ý].

phần chứng tức

(分證即) Cũng gọi Phần chân tức. Một trong các giai vị tu hành của Bồ tát Viên giáo do tông Thiên thai thành lập, là vị thứ 5 trong Lục tức vị. Bồ tát ở giai vị này đoạn trừ từng phần vô minh của 41 phẩm Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa và Đẳng giác mà chứng từng phần Trung đạo. (xt. Lục Tức).

phần dương ngũ môn cú

(汾陽五門句) Năm câu ví dụ cho 5 giai đoạn tu hành Phật đạo, do Thiền sư Thiện chiêu ở Phần dương, thuộc tông Lâm tế đời Tống đặt ra. Năm câu ấy là: 1. Nhập môn cú: Mới vào cửa. Nghĩa là mới vào Phật đạo, giống như một mình vào xứ lạ quê người mà gặp gỡ tri kỉ thì vui mừng khôn xiết. Nhưng người học không nên dừng lại ở giai đoạn này mà biếng nhác việc tu hành. 2. Môn lí cú: Ở trong cửa. Nghĩa là khi đã vào Phật đạo, thì nên biết rằng việc tu hành không phải tìm cầu bên ngoài, phải như bày tôi nhìn mặt Thiên tử, một lòng chuyên chú vào đó. 3. Đương môn cú: Đang ở cửa. Ở giai đoạn này, bàn về khả năng, cần phải dứt hết mọi phân biệt, nói về đức hạnh, cần phải làm cho muôn người được nhờ ơn. 4. Xuất môn cú: Ra khỏi cửa. Ở giai đoạn này, đã chứng được Phật đạo, như nhìn sông núi từ xa, phải có chí hạ hóa chúng sinh. 5. Môn ngoại cú: Ở ngoài cửa. Giai đoạn này, bắt đầu giáo hóa chúng sinh, phải dùng vô vi vô tác tế độ chúng sinh, giống như ông già nhà quê ở ngoài đồng gõ sừng trâu ca hát mà chẳng biết có ai khác. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.6].

phần dương tam cú

(汾陽三句) Ba ngữ cú do Thiền sư Thiện chiêu ở Phần dương, thuộc tông Lâm tế đời Tống, lập ra để tiếp dẫn người học. 1. Trước lực cú: Người học phải rán sức làm cho khả năng đầy đủ mới có thể thành tựu được đại cơ, như pho tượng Đại Phật Di lặc bằng đá ở Gia châu. 2. Chuyển thân cú: Người học dùng cơ dụng nắm giữ bản phận vững chắc, cho dù trâu sắt ở Thiểm phủ, 2 chân cắm đất bền chặt không thể phá, cũng không thể nào sánh được. 3. Thân thiết cú: Khi người học khế nhập Phật pháp thì mau lẹ và chắc chắn, giống như sư tử há miệng vồ mồi, cái thế mau lẹ và chắc chắn ấy khế hợp nhau. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.2].

phần dương tam quyết

(汾陽三訣) Ba loại cơ pháp do Thiền sư Thiện chiêu, thuộc tông Lâm tế đời Tống ở Phần dương đặt ra để dẫn dắt người học. Cứ theo Nhân thiên nhãn mục quyển 2, Thiền sư Thiện chiêu dùng kệ tụng để trình bày 3 bí quyết của mình, dù cho người hiểu rõ Phật đạo cũng khó biện biệt được. 1. Bí quyết thứ nhất (Đại 48, 307 thượng): Tiếp dẫn không thời tiết Lời khéo không nói được Trăng sáng trời đầy mây. Ý nói tiếp vật lợi sinh không chia thời tiết, cũng không nghĩ lường phân biệt. 2. Bí quyết thứ hai: Thung dung biện hiền triết Vấn đáp tâm lợi sinh Nhổ gai trong con mắt. Ý nói dùng bản phận chân thực của chính mình để biện biệt các bậc hiền thánh trong thế gian, lại bằng nhiều cách, hỏi đáp đắn đo thì có thể làm cho người học dứt trừ những mối ngờ vực vướng mắc trong tâm mà hướng tới Phật đạo. 3. Bí quyết thứ 3: Người Tây vực nói pháp. Qua sông đến Tân la Dao Bắc dùng sắt Ban. Ý nói giống như Tổ Đạt ma thuyết pháp, không có gì trở ngại, lại như vượt qua sông vào Tân la (nước Triều tiên), theo dòng mà xuôi, thế rất mau lẹ; cũng như thân ở đất Bắc, dùng sắt xứ Bân mà làm dao, rất dễ dàng tiện lợi.

Phần Dương Thiện Chiêu

(汾陽善昭, Funyō Zenshō, 947-1024): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, xuất thân vùng Thái Nguyên (太原, Tỉnh Sơn Tây), họ là Du (兪). Ông xuất gia, thọ cụ túc, rồi sau đó đi tham vấn các bậc tôn túc, cuối cùng đến làm đệ tử của Thủ Sơn Tỉnh Niệm (首山省念), được đạt ngộ và kế thừa dòng pháp của vị này. Ông đến sống ở Thái Tử Viện (太子院) thuộc Phần Dương (汾陽, Phần Châu, Tỉnh Sơn Tây) chuyên tâm thuyết giảng tông yếu và làm cho tông phong của mình phát triển mạnh. Ông thị tịch vào năm thứ 2 niên hiệu Thiên Thánh (天聖), hưởng thọ 78 tuổi và được ban cho thụy hiệu là Vô Đức Thiền Sư (無德禪師). ; 汾陽善昭; C: fényáng shànzhāo; J: hun'yo zen-shō; 947-1024;|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Lâm Tế, môn đệ của Thủ Sơn Tỉnh Niệm và thầy của Thạch Sương Sở Viên. Tương truyền rằng, Sư tham vấn rất nhiều Thiền sư để học hỏi được tất cả những tinh hoa của Thiền tông trong thời kì suy tàn. Vì vậy, những nét đặc biệt của những tông khác đều được tông Lâm Tế hấp thụ và lưu truyền. Sư cũng là một trong những Thiền sư đầu tiên trứ tác những bài kệ tụng lời nói dạy của các vị Tiên sư (xem thêm dưới Tuyết Ðậu Trọng Hiển, Trí Môn Quang Tộ).|Sư họ Du, quê ở Thái Nguyên. Lúc nhỏ Sư đã có thái độ thâm trầm, trí huệ cao cả. Vì cha mẹ mất sớm nên Sư xuất gia và du phương. Trước, Sư tham vấn nhiều vị Thiền sư nhưng chưa ngộ ý chỉ. Ðến Thiền sư Thủ Sơn. Sư hỏi: »Bách Trượng cuốn chiếu, ý chỉ thế nào?« Thủ Sơn đáp: »Áo rồng vừa phất toàn thể hiện.« Sư hỏi: »Ý thầy thế nào?« Thủ Sơn đáp: »Chỗ voi đi bặt dấu chồn.« Nghe câu này, Sư thông suốt. Sau, theo lời thỉnh của chúng, Sư về chùa Thái Bình ở Phần Dương. Ở đây, Sư ba mươi năm không rời cổng, đức hạnh vang xa.|Có vị quan quen với Sư, thỉnh Sư trụ trì một ngôi chùa nhưng Sư vẫn từ chối. Ông lại sai sứ giả đi thỉnh lần nữa, sứ giả nói: »Quyết thỉnh thầy cùng đi, nếu thầy không đi, tôi liều chết thôi.« Sư cười bảo: »Bởi nghiệp già không thể xuống núi, giả sử đi phải có trước sau, tại sao lại quyết đồng?« Sư sửa soạn hành lí, hỏi các đệ tử có ai muốn đi theo. Vị đầu ra nói được, Sư hỏi: »Một ngày ngươi đi được bao nhiêu dặm?« Vị này trả lời: »Năm mươi dặm.« Sư trả lời không được. Vị thứ hai ra nói 70 dặm, Sư cũng nói không được. Thị giả ra nói: »Con đi theo được, chỉ Hoà thượng đi đến đâu con đi đến đó.« Sư bảo: »Ngươi đi theo được.« Nói xong Sư bảo: »Ta đi trước nghe!« và dừng lại ngồi tịch. Thị giả đứng khoanh tay tịch theo. Sư thọ 78 tuổi.

phần dương thập bát vấn

(汾陽十八問) Thiền sư Thiện chiêu thuộc tông Lâm tế đời Tống, ở Phần dương, đem những vấn đề do người học hỏi thầy, chia làm 18 loại, Thiền lâm gọi là Phần dương thập bát vấn. Đó là: 1. Thỉnh ích vấn: Người học trực tiếp hỏi thầy xin được chỉ dạy. 2. Trình giải vấn: Người học trình bày sự hiểu biết của mình để xin thầy chỉ bảo. 3. Sát biện cơ vấn: Người học nêu ra những điểm khó phân biệt để xin thầy xem xét và biện biệt. 4. Đầu cơ vấn: Người học đưa ra cảnh giới chiếu thực của mình để xin thầy chỉ giáo.5. Thiên tịch vấn: Người học đề ra 1 kiến giải thiên về 1 bên để chất vấn thầy. 6. Tâm hành vấn: Người học trình bày việc tu hành của mình để xin thầy chỉ dạy. 7. Thám bạt vấn: Người học thăm dò chỗ sâu cạn của các kiến giải khác mà họ được biết. 8. Bất hội vấn: Người học vì không hiểu rõ nên đặt thành vấn đề để hỏi thầy. 9. Cảnh đảm vấn: Người học hỏi những việc chẳng có liên can gì để giỡn cợt, đánh lừa thầy. 10. Trí vấn vấn: Người học dùng những câu hỏi đáp của cổ nhân để xin thầy chỉ dạy.11. Cố vấn vấn: Người học dùng những câu chuyện cổ trong các kinh luận để hỏi và xin thầy chỉ dạy. 12. Tá sự vấn: Người học mượn các thí dụ hoặc những sự kiện đã từng xẩy ra để hỏi.13. Thực vấn vấn: Người học chiếu theo sự thực để hỏi và xin thầy chỉ dạy. 14. Giả vấn vấn: Người học dùng những lời giả thiết để hỏi và xin được chỉ giáo. 15. Thẩm vấn vấn: Người học hỏi những việc mà mình không thể xét rõ được. 16. Trưng vấn vấn: Người học dùng thái độ nạn vấn để đưa ra câu hỏi. 17. Minh vấn vấn: Người học đã hiểu rõ 1 việc rồi lại hỏi thêm việc khác. 18. Mặc vấn vấn: Người học không biểu hiện bằng ngôn ngữ mà dùng động tác để hỏi.[X. Nhân thiên nhãn mục Q.2].

phần dương thập trí đồng chân

(汾陽十智同真) Mười thứ trí mà bậc thầy phải có để dẫn đắt người học, do Thiền sư Thiện chiêu thuộc tông Lâm tế đời Tống, ở Phần dương chủ trương. Đó là: 1. Đồng nhất chất: Thầy và trò dung hợp thành 1 thể và mỗi người đều làm hết bổn phận của mình. 2. Đồng đại sự: Thầy phải lấy đại sự Phật pháp làm đầu để giải đáp những thắc mắc của người học. 3. Tổng đồng tham: Thầy phải đầy đủ năng lực khiến cho hết thảy sum la muôn tượng đều qui y Phật pháp. 4. Đồng chân trí: Thầy phải có trí tuệ chân thực, nhận thức thế giới vượt ngoài tư tưởng, như gom hết nước biển cả vào lỗ chân lông, đặt núi Tu di vào trong hạt cải. 5. Đồng biến phổ: Thầy phải thấu triệt, hiểu rõ đạo Phật chẳng phải là 1 thế giới xa lạ, đặc biệt nào, mà ngay trong những sinh hoạt ngày thường, không việc gì không là Phật pháp. 6. Đồng cụ túc: Thầy biết rõ mọi người đều có đầy đủ Phật tính sẵn có. 7. Đồng đắc thất: Thầy có khả năng biết rõ mối quan hệ giữa được và mất, tức là hễ được cái này thì mất cái kia và ngược lại, hễ được cái kia thì mất cái này. 8. Đồng sinh sát: Thầy và trò phải có sự quan hệ khắng khít, như sống chết cùng nhau. 9. Đồng âm hống: Thầy và trò nói pháp như nhau, đều là mở bày Phật pháp. 10. Đồng đắc nhập: Mối quan hệ giữa thầy và trò phải như cửa chùa với điện Phật, dứt tuyệt tất cả đối đãi và thảy đều thành Phật.[X. Nhân thiên nhãn mục Q.1].

phần dương trụ trượng

(汾陽拄杖) Tên công án trong Thiền tông. Cây gậy của Phần dương.Thiền sư Thiện chiêu thuộc tông Lâm tế đời Tống, ở Phần dương, dùng cây gậy để khai thị đại chúng. Một hôm, ngài Thiện chiêu cầm cây gậy nói với đại chúng rằng: Thiền tăng cần phải biết về cây gậy mới có thể tu hành đến nơi đến chốn, hoàn thành sự nghiệp tham học. Trụ trượng là cây gậy giúp cho Thiền tăng vượt qua những chỗ khó khăn, nguy hiểm khi đi hành cước(đi các nơi tham học), cũng là người bạn đồng hành trên con đường tìm hiểu tâm tính của chính mình. Không những chỉ là bạn, mà hơn nữa, Thiền tăng còn phải làm cho cây gậy dung hợp với mình thành 1 thể, có như vậy thì sự tu hành mới rốt ráo.

phần dương tứ cú

(汾陽四句) Bốn câu do Thiền sư Thiện chiêu thuộc tông Lâm tế đời Tống, ở Phần dương đặt ra để khám nghiệm người học. Bốn câu ấy là: 1. Tiếp sơ cơ cú: Tiếp dắt người mới học. Nghĩa là khi thầy tiếp dắt người mới học thì không cần đưa ra cơ pháp đặc thù, mà chỉ dùng phương thức trực tiếp phù hợp với đương cơ mà tiếp dẫn họ. 2. Nghiệm nạp tăng cú: Xét nghiệm năng lực của nạp tăng. Nghĩa là thầy sử dụng cơ pháp đặc thù Tịch dương đông xuất (mặt trời chiều mọc ở phương đông) vượt ra ngoài những suy tư phân biệt phổ thông và kiến giải thường thức. 3. Chính lệnh hành cú: Chính lệnh chỉ cho Phật pháp, trong Thiền lâm thì chỉ cho tông chỉ Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền. Hành có nghĩa là thông hành vô ngại. Nghĩa là người học có đại cơ đại dụng, có đầy đủ năng lực làm cho Phật pháp thông hành vô ngại, truyền bá khắp mọi nơi. 4. Định càn khôn cú: Định yên trời đất. Nghĩa là nơi nào Phật pháp đến thì tự nhiên dứt hết các phiền não tham sân si, khiến cho trên trời dưới đất đều được yên ổn. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.2].

phần dương vãn tham

(汾陽晚參) Vãn tham là tham học vào buổi chiều. Trong Thiền lâm, Vãn tham do Thiền sư Thiện chiêu thuộc tông Lâm tế đời Tống, ở Phần dương, thực hành, vì thế nên gọi là Phần dương vãn tham. [X. chương Dương kì phương hội trong Gia thái phổ đăng lục Q.3].

Phần Dương Vô Đức Thiền sư ngữ lục

汾陽無徳禪師語録; C: fényáng wúdéchánshī yŭlù; J: funyō mutoku zenshi goroku;|Ngữ lục của Thiền sư Phần Dương Thiện Chiêu, Thạch Sương Sở Viên (楚圓) biên soạn.

phần dương vô đức thiền sư ngữ lục

(汾陽無德禪師語錄) Cũng gọi Phần dương Thiện chiêu thiền sư ngữ lục, Vô đức hòa thượng ngữ lục, Phần dương lục. Ngữ lục, 3 quyển, do ngài Sở viên biên tập vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Bộ Ngữ lục này ghi chép những phần Thướng đường, Tiểu tham, Niệm tụng, Đại ngữ, Biệt ngữ, Ca, Tụng... của Thiền sư Thiện chiêu (947- 1024) ở Phần dương. Một trăm tắc trong quyển trung của bộ Lục này là tiền lệ cho 100 tắc tụng cổ của ngài Tuyết đậu Trùng hiển sau này. Những lời vấn đáp và biệt tụng trong quyển thượng về Động sơn ngũ vị, cũng là những bài tụng xưa nhất trong những bài tụng cổ của Thiền tông. Phần dương Thiện chiêu thiền sư ngữ yếu trong Tục cổ tôn túc ngữ yếu nhất thư thiên tập của Thiền sư Hối thất Sư minh đời Tống, chính đã được sao chép từ phần Thướng đường Tiểutham, Ca tụng trong bộ Ngữ lục này mà ra. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.13; Thiên thánh quảng đăng lục Q.16; Thiền tịnh mục lục].

phần dụ

(分喻) Thí dụ một phần. Tức thí dụ chỉ mới so sánh được 1 phần ý nghĩa của 1 pháp, chứ chưa nêu rõ được toàn bộ ý nghĩa của pháp ấy, gọi là Phần dụ. Như nói mặt như trăng tròn là dùng vầng trăng đầy đặn để so sánh với khuôn mặt đầy đặn, chứ không phải nói khuôn mặt tròn như mặt trăng. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 5 (Đại 12, 396 trung) nói: Khuôn mặt đẹp đẽ, như vầng trăng tròn đầy. Bạch tượng trắng sạch, giống như núi Tuyết. Nhưng trăng tròn không thể giống khuôn mặt, núi Tuyết không thể là bạch tượng.

Phần hương

(焚香): đốt hương, xông hương, đốt nhang. Tại Trung Quốc, từ xưa đến nay, từ trong cung đình cho đến ngoài dân gian, đều có tập tục đốt hương để làm cho không khí thanh tịnh, đốt hương đàn cầm, hay đốt hương ngâm thơ, tĩnh tọa, v.v. Hai bên phải trái của bệ trước Thái Hòa Điện (太和殿) nhà Thanh có đặt 4 cái ghế cao gọi là Hương Kỷ (香幾), mỗi ghế an trí Lò Hương 3 chân. Khi Hoàng Đế lên điện, thường đốt Đàn Hương (檀香) ở trong lò, đem đặt trong Kim Loan Điện (金鑾殿); khói hương nghi ngút bay vờn chung quanh, khí thơm tỏa ngát bốn phương, khiến cho tinh thần con người phấn chấn lên. Thời xưa, khi chơi đàn cầm, Gia Cát Khổng Minh (諸葛孔明, 181-234) không chỉ có đồng tử hầu hạ hai bên, mà còn thường đặt hương án, đốt hương để tạo thêm cảm hứng. Các văn sĩ, thục nữ thời cổ đại, khi chơi đàn cũng có thói quen đốt hương, tạo thêm không khí u tĩnh, thanh thoát, phong nhã. Lục Du (陸游, 1125-1210), thi nhân ái quốc thời Nam Triều, mỗi khi đọc sách thường có xông hương. Như trong bài Hà Trung Nhàn Hộ Chung Nhật Ngẫu Đắc Tuyệt Cú (假中閒戶終日偶得絕句), ông có diễn tả cảm hứng rằng: “Thặng hỷ kim triêu tịch vô sự, phần hương nhàn khán ngọc khê thi (剩喜今朝寂無事、焚香閒看玉溪詩, vui quá sáng nay lặng vô sự, đốt hương nhàn ngắm khe ngọc thơ).” Cũng vậy, Tô Đông Pha (蘇東坡, 1037-1101), đại văn hào nhà Bắc Tống, lại thường đốt hương tĩnh tọa và tu tâm dưỡng tánh. Trên đường đến nhậm chức ở Đam Châu (儋州), Hải Nam (海南), ông có mua hơn 10 cân Đàn Hương, sau đó lập nên xe gọi là Tức Hiên (息軒), và tương truyền rằng ông thường xông hương tĩnh tọa trong xe đó. Cho nên, ông bảo rằng: “Vô sự thử tĩnh tọa, nhất nhật thị lưỡng nhật, nhược hoạt thất thập niên, tiện thị bách tứ thập (無事此靜坐、一日是兩日、若活七十年、便是百四十, vô sự ngồi yên lắng, một ngày là hai ngày, nếu sống bảy mươi năm, tức trăm bốn mươi tuổi).” Ngay như Tề Bạch Thạch (齊白石, 1864-1957), họa sĩ trứ danh hiện đại của Trung Quốc, cũng rất tôn kính tác dụng thần kỳ của việc xông hương vẽ tranh. Trong bài thơ Đông Đáo Kim Hoa Sơn Quán (冬到金華山觀) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu rằng: “Phần hương ngọc nữ quỳ, vụ lí tiên nhân lai (焚香玉女跪、霧裏仙人來, đốt hương ngọc nữ quỳ, sương mù tiên nhân đến).” Sách Hiền Kỷ Tập (賢己集) của Lý Tướng (李相) cho rằng khởi đầu của việc đốt hương là từ Phật Đồ Trừng (佛圖澄, 232-348). Như trong Cao Tăng Truyện (高僧傳, Taishō Vol. 50, No. 2059) quyển 9, phần Trúc Phật Đồ Trừng (竺佛圖澄), có đoạn: “Tức thủ ứng khí thạnh thủy thiêu hương chú chi, tu du sanh thanh liên hoa (卽取應器盛水燒香咒之、須臾生青蓮花, tức lấy bình bát đỗ đầy nước rồi chú nguyện, trong chốc lát thì hoa sen xanh sanh ra).” Trong khi đó, tác phẩm Năng Cải Trai Mạn Lục (能改齋漫錄) của Ngô Tằng (吳曾, ?-?) nhà Nam Tống thì cho là khởi đầu từ thời nhà Hán. Tập tục đốt hương đóng vai trò quan trọng không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người dân châu Á nói chung và của người Việt Nam nói riêng. Đốt hương để làm thanh tịnh đàn tràng, môi trường, thân tâm, để mặc khải với chư Phật, Bồ Tát, thần linh. Như trong Thiện Nữ Nhân Truyện (善女人傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1657) quyển Hạ, phần Minh Nhân Hiếu Từ Hoàng Hậu (明仁孝徐皇后), có đoạn rằng: “Hồng Võ tam thập nhất niên, Xuân chánh nguyệt sóc đán, ngô phần hương tĩnh tọa các trung, duyệt cổ kinh điển, tâm thần ngưng định, hốt hữu tử kim quang tụ, di mãn tứ châu, hoảng hốt nhược thùy, mộng kiến Quán Thế Âm Bồ Tát (洪武三十一年、春正月朔旦、吾焚香靜坐閣中、閱古經典、心神凝定、忽有紫金光聚、彌滿四周、恍惚若睡、夢見觀世音菩薩, vào sáng sớm ngày mồng một tháng Giêng mùa Xuân năm Hồng Võ thứ 31 [1398], ta đốt hương tĩnh tọa trong gác, đọc kinh điển xưa, tâm thần ngưng định, chợt có hào quang vàng tía tụ lại, đầy khắp bốn phía, mơ hồ như trong giấc ngủ, mơ thấy Bồ Tát Quán Thế Âm).” Đặc biệt, đối với Phật Giáo, truyền thống tắm rửa sạch sẽ, xông hương, ngồi tĩnh tọa và xả báo thân ra đi, được tìm thấy khá nhiều trong các thư tịch. Như trong Cư Sĩ Truyện (居士傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1646) quyển 42, phần Ân Trần Cố Châu Chu Thái Ngu Hoàng Trang Bào Truyện (殷陳顧朱周蔡虞黃莊鮑傳), có đoạn: “Niên lục thập hữu nhị, tự tri thệ kỳ, phần hương tọa thoát (年六十有二、自知逝期、焚香坐脫, vào năm 62 tuổi, ông tự biết lúc ra đi, bèn xông hương ngồi yên mà thoát hóa).” Hay trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục (淨土聖賢錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1549) quyển 9, phần Kim Thích (金奭), lại có đoạn: “Phần hương an tọa, dĩ thủ kết ấn nhi hóa, thiên nhạc dị hương, chung nhật bất tán (焚香安坐、以手結印而化、天樂異香、終日不散, đốt hương ngồi yên, lấy tay bắt ấn mà ra đi, nhạc trời hương thơm lạ, suốt ngày vẫn không hết).” Hoặc trong Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 80, No. 1565) quyển 6, phần Thụy Châu Cửu Phong Đạo Kiền Thiền Sư (瑞州九峰道虔禪師), cũng có đoạn: “Toại phần hương, hương yên vị đoạn, tọa dĩ thoát khứ (遂焚香、香煙未斷、座已脫去, bèn đốt hương, khói hương chưa dứt, sư đã ngồi yên mà ra đi).”

phần kinh thai

(焚經台) Đài đốt kinh. Đây là nơi mà vào thời vua Minh đế nhà Hán, đạo Phật và đạo Lão đốt kinh để xem đạo nào chân thật, đạo nào không chân thật. Vào ngày mồng 1 tháng giêng năm Vĩnh bình 14 (71), các đạo sĩ ở Ngũ nhạc Bát sơn gồm 690 người, đứng đầu là Chử thiện tín, dâng biểu xin vua cho đốt kinh của Phật giáo và Đạo giáo (Lão giáo) để xem kinh của đạo nào linh nghiệm hơn. Ngày rằm cùng tháng, vua hạ lệnh cho dân chúng tập hợp ở trên đàn, đốt kinh điển của 2 đạo, sách của Đạo giáo đều cháy thành tro, còn kinh Phật thì không hề hấn gì. Điều Dịch sư trong Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 7 có dẫn bài thơ nhan đề Phần Kinh Đài của vua Thái tông nhà Đường như sau (Đại 54, 1178 thượng): Môn kính tiêu tiêu trường lục đài, Nhất hồi đăng thử nhất bồi hồi; Thanh ngưu mạn thuyết Hàm quan khứ, Bạch mã thân tòng Ấn độ lai. Xác thực thị phi bằng liệt diệm, Yếu phân chân ngụy trúc cao đài. Xuân phong dã giải hiềm lang tạ, Xuy tận đương niên Đạo giáo khôi. (Dịch ý: Đường lên thăm thẳm rêu xanh mọc dài, Mỗi lần đến đây lòng thấy bồi hồi. Trâu xanh nói bịp từ Hàm quan ra đi (1) Ngựa trắng đích thân từ Ấn độ tới (2). Đúng hay sai nhờ lửa mạnh xác định Thật hay giả phải lập đài cao mới biết. Gió xuân cũng biết ghét sự bừa bãi. Nên đã thổi sạch tro tàn của Đạo giáo năm xưa). Chú thích của người dịch: (1).Trâu xanh: Theo lịch sử Đạo giáo, lúc 50 tuổi, ngài Lão tử cỡi con trâu xanh ra khỏi cửa ải Hàm cốc, rồi đi về phía tây và từ đó không thấy ngài xuất hiện nữa. (2).Ngựa trắng: Theo lịch sử Phật giáo Trung quốc, vào khoảng năm Vĩnh bình (58–75) đời vua Minh đế nhà Đông Hán, 2 ngài Ca diếp ma đằng và Trúc pháp lan dùng ngựa trắng mang kinh và tượng Phật từ Ấn độ đến Trung quốc truyền bá. Lịch sử Phật giáo Trung quốc bắt đầu từ đó. (xt. Ca Diếp Ma Đằng).

phần tuế

(分歲) Cũng gọi Tuế dạ. Chỉ cho đêm trừ tịch, tức giờ giao thừa đánh dấu năm cũ đã qua, bước sang năm mới.Chương Bắc thiền Trí hiền trong Liên đăng hội yếu quyển 27 (Vạn tục 136, 447 thượng) ghi: Tiểu tham lúc giao thừa, dạy chúng rằng: Năm cùng tháng hết, không thể phân tuế cùng với các người được. [X. Cổ kim loại thư toản yếu Q.3].

phần đoạn luân hồi

(分段輪回) Chỉ cho sự sống chết xoay vòng của chúng sinh trong ba cõi. Phần đoạn là do quả báo bất đồng mà có thân hình và tuổi thọ khác nhau. Chúng sinh trong 3 cõi đều do quả báo khác nhau mà đời đời kiếp kiếp đều có sự bất đồng về thân tướng, tuổi thọ, chìm nổi và trôi lăn trong 3 cõi Dục, Sắc và Vô sắc không bao giờ ngừng. (xt. Phần Đoạn Sinh Tử, Luân Hồi).

Phần Đoạn Sanh Tử

(分段生死): Phật Giáo chia sanh tử của chúng sanh làm 2 loại: Phần Đoạn Sanh Tử và Biến Dị Sanh Tử (變異生死). Phần Đoạn Sanh Tử, còn gọi là Phần Đoạn Tử (分段死), Hữu Vi Sanh Tử (有爲生死), đối xưng với Biến Dị Sanh Tử, tức chỉ chúng sanh mỗi đời quả báo chiêu cảm không giống nhau, cho nên hình tướng, thọ mạng cũng khác nhau; đó được gọi là Phần Đoạn Thân (分段身). Sau khi thọ thân này, tất phải có một lần kết thúc sinh mạng, vì vậy có tên là Phần Đoạn Sanh Tử. Trong kinh điển Phật Giáo có rất nhiều ví dụ về sanh tử. Như Câu Xá Luận (俱舍論) ví sanh tử như bùn: “Sanh tử nê giả, do bỉ sanh tử, thị chư chúng sanh trầm nịch xứ cố, nan khả xuất cố, sở dĩ thí nê (生死泥者、由彼生死、是諸眾生沉溺處故、難可出故、所以譬泥, bùn sanh tử là do sanh tử ấy, là nơi chúng sanh bị chìm đắm, khó có thể ra được, vì vậy mới ví như bùn).” Thành Duy Thức Luận (成唯識論) thì ví như đêm dài: “Vị đắc chơn giác, hằng xử mộng trung, cố Phật thuyết vi sanh tử trường dạ (未得眞覺、恆處夢中、故佛說爲生死長夜, chưa được chánh giác, thường ở trong mộng, cho nên Phật dạy sanh tử là đêm dài).” Trong Phật Sở Hành Tán (佛所行讚) lại cho sanh tử là biển cả: “Đương thừa trí tuệ chu, siêu độ sanh tử hải (當乘智慧舟、超度生死海, phải lên thuyền trí tuệ, vượt qua biển sanh tử).” Hay Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經) thì xem sanh tử như là đám mây mù: “Huệ nhật chiếu thế gian, tiêu trừ sanh tử vân (慧日照世間、消除生死雲, trời tuệ chiếu thế gian, tiêu trừ mây sanh tử).” Trong khi đó, Đại Trí Độ Luận (大智度論) ví sanh tử là bánh xe: “Sanh tử luân tải nhân, chư phiền não kiết sử, đại lực tự tại chuyển, vô nhân năng cấm chỉ (生死輪載人、諸煩惱結使、大力自在轉、無人能禁止, xe sanh tử chở người, các phiền não kiết sử, lực lớn tùy ý chuyển, chẳng ai ngăn cấm được).” Hoặc Vãng Sanh Luận Chú (徃生論註) lại ví dụ sanh tử là khu vườn: “Thị ứng hóa thân, hồi nhập sanh tử viên, phiền não lâm trung du hí thần thông (示應化身,迴入生死園、煩惱林中遊戲神通, hiện thân ứng hóa, trở lại vào vườn sanh tử, thần thông rong chơi trong rừng phiền não).”

phần đoạn sinh tử

(分段生死) Đối lại: Biến dịch sinh tử. Cũng gọi Phần đoạn tử, Hữu vi sinh tử. Chỉ cho sự sinh tử của chúng sinh trong 3 cõi, 1 trong 2 loại sinh tử. Do tạo nghiệp khác nhau nên chúng sinh chiêu cảm quả báo sinh tử trong 3 cõi có thân tướng đẹp, xấu, tuổi thọ dài, ngắn không giống nhau, vì thế gọi là Phần đoạn sinh tử. Theo thuyết của các nhà Duy thức thì Phần đoạn sinh tử lấy nghiệp thiện ác hữu lậu làm nhân trực tiếp và lấy Phiền não chướng làm nhân gián tiếp mà chiêu cảm quả dị thục thô trọng trong 3 cõi. Vì thân mệnh có dài ngắn, tùy theo năng lực của nhân duyên mà quyết định hạn lượng, cho nên gọi là Phần đoạn, cũng tức là sinh tử trong 3 cõi, 6 đường. Đại thừa nghĩa chương quyển 8 chia Phần đoạn sinh tử làm 2 loại: Ác đạo phần đoạn và Thiện đạo phần đoạn. 1. Ác đạo phần đoạn: Chỉ cho quả báo trong 3 đường, gồm 3 bậc: a) Sinh tử của phàm phu phải chịu, lấy ác nghiệp làm nhân, Tứ trụ địa làm duyên. b) Sinh tử do bồ tát Thập trụ phải chịu, lấy ác nghiệp làm nhân, Tứ trụ địa làm chính duyên, bi nguyện làm trợ duyên. c) Sinh tử mà Bồ tát Sơ địa từ hàng Chủng tính trở lên phải chịu, lấy ác nghiệp làm nhân, bi nguyện làm chính duyên, Tứ trụ địa làm trợ duyên. 2. Thiện đạo phần đoạn: Cũng có 3 bậc là: a) Sinh tử của phàm phu, Nhị thừa, cho đến bồ tát Thập trụ phải chịu, lấy thiện nghiệp làm nhân, Tứ trụ địa làm duyên. b) Sinh tử do Bồ tát chủng tính giải hành phải chịu, lấy thiện nghiệp làm nhân, Tứ trụ địa làm chính duyên, bi nguyện làm trợ duyên. c) Sinh tử mà hàng bồ tát Địa thượng phải chịu, lấy thiện nghiệp làm nhân, bi nguyện làm chính duyên, Tứ trụ địa làm trợ duyên. Ngoài ra còn nói rõ về thứ bậc của quả báo lúc hết. Còn Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 6, phần đầu có liệt kê Tứ ma của Phần đoạn sinh tử, đó là: Phần đoạn phiền não ma, Phần đoạn uẩn ma, Phần đoạn tử ma và Phần đoạn thiên ma. [X. chương Nhất thừa kinh Thắng man; luận Thành duy thức Q.8; Thắng man bảo quật Q.trung, phần đầu; Thành duy thức luận thuật kí Q.8, phần cuối; Ma ha chỉ quán Q.7, phần đầu; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2, phần đầu; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.6, phần cuối; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.6].

phần đoạn thân

(分段身) Chỉ cho thân phần đoạn sinh tử, tức thân của phàm phu luân hồi trong 6 đường, chịu các thứ quả báo khác nhau, như tuổi thọ có dài ngắn, hình thể có lớn nhỏ...

phần đoạn đồng cư

(分段同居) Phần đoạn là gọi tắt của Phần đoạn sinh tử thân, tức chỉ cho thân thể con người. Phần đoạn nghĩa là do quả báo khác nhau mà có thân tướng và tuổi thọ khác nhau. Đồng cư là gọi tắt của Phàm thánh đồng cư độ, nghĩa là cõi nước trong đó phàm phu và thánh nhân cùng ở chung với nhau, như thế giới Sa bà. Tóm lại, Phần đoạn là thân phàm phu; Đồng cư là nơi phàm phu sinh sống.

Phẩm

品; C: pǐn; J: hin, hon; |Có các nghĩa sau: 1. Thuộc về một thứ lọai nào đó; 2. Loại, hạng, phạm trù, thứ, loài; 3. Sự phân loại, mức độ; 4. Một phần của tác phẩm, chương, đoạn (s: parivarta, patala, varga). Varga được phiên âm là bạt-cừ (跋渠).

phẩm

(品) I. Phẩm. Phạm: Varga. Pàli: Vagga. Hán âm: Bạt cừ. Từ dùng để chia bản văn trong 1 bộ kinh thành những chương mục, tương đương với những chữ thiên, chương... như kinh Pháp hoa được chia làm 28 phẩm... II. Phẩm. Chỉ cho phẩm loại, phẩm biệt... Những chủng loại hoặc trình độ giống nhau thì gom vào một để phân biệt sự khác nhau về trình độ và ý nghĩa nội dung, như 9 phẩm hoặc, 81 phẩm hoặc, 3 phẩm sám hối. Ngoài ra còn có những tên gọi như Pháp trí phẩm, Loại trí phẩm, Tâm phẩm...

Phẩm loại

品類; C: pǐnlèi; J: honrui; |Loại, hạng, phạm trù, thứ, loài.

phẩn nộ

Anger—Fierce;

phẩn nộ minh vương

Maharajas as opponents of evil and guardian of Buddhism.

phẫn

(忿) Phạm: Krodha. Lòng tức giận phát ra hành động thô bạo khi gặp cảnh trái ý mình, gọi là Phẫn, tên của Tâm sở, là 1 trong Thập triền. Trong tông Câu xá, Phẫn được xếp làm 1 trong các Tiểu phiền não địa pháp; còn tông Duy thức thì cho nó là 1 trong các Tiểu tùy phiền não. Phẫn là phiền não trói buộc trong cõi Dục, đến giai vị Tu đạo mới đoạn trừ được. Phiền não Phẫn là từ tâm sân phát sinh, tính của nó nóng nảy, mạnh mẽ, nhưng không giữ được lâu. [X. luận Đại thừa quảng ngũ uẩn; luận Phẩm loại túc Q.3; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2; luận Thuận chính lí Q.54]. (xt. Thất Thập Ngũ Pháp, Thập Triền, Tiểu Tùy Phiền Não).

phẫn nộ

(忿怒) Cũng gọi Minh vương. Hiện ra tướng giận dữ. Các vị tôn trong Mật giáo thường hiện tướng phẫn nộ, uy mãnh để hàng phục những chúng sinh cứng cỏi, khó giáo hóa, được gọi chung là Phẫn nộ, hoặc Minh vương. Cứ theo phẩm Xuất thế hộ ma pháp trong kinh Đại nhật quyển 6 và Đại nhật kinh sớ quyển 22, Bản tôn được thờ cúng khi tu pháp Phẫn nộ là thuộc về pháp Hàng phục, pháp Tức tai; hình tượng màu khói đen, đầu tóc rối bù, nhắm một mắt, há miệng như đang la lớn, 2 hàm răng lộ ra. Ngoài ra, Phẫn nộ cũng là 1 trong 32 thứ huyết mạch của tông Chân ngôn Nhật bản.[X. phẩm Phẫn nộ trong kinh Xuất diệu Q.16; Phẫn nộ trong kinh Pháp cú Q.hạ; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn bí sao Q.10]. (xt. Minh Vương).

phẫn nộ câu quán thế âm bồ tát

(忿怒鈎觀世音菩薩) Phạm: Amogha-krodhàíkuza-ràja. Hán âm: A mục khư cú lộ đà ương cú xả ra nhạ. Cũng gọi Phẫn nộ câu bồ tát. Vị Bồ tát thứ 2 trong Ngoại viện Hư không tạng của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Trì câu kim cương, chủng tử là (sa) hoặc (ka), hình Tam muội da là cái búa móc. Hình tượng vị tôn này ngồi kết già trên hoa sen đỏ, có 3 mặt, 4 tay; mặt chính màu da người, mặt bên trái màu xanh, mặt bên phải màu lục, mỗi mặt đều có 3 mắt, trên mặt có hóa Phật. Tay thứ nhất bên trái cầm hoa sen, tay thứ hai cầm vòng dây; tay thứ nhất bên phải cầm cái móc sắt, tay thứ hai kết ấn Dữ nguyện. Trong kinh Đại nhật và Đại nhật kinh sớ không thấy có tên của vị Bồ tát này, mà chỉ thấy trong Huyền pháp tự nghi quĩ quyển 2, do ngài Pháp toàn biên tập vào đời Đường. Xưa nay cho rằng vị tôn này và bồ tát Hành tuệ trong phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật quyển 1 là đồng vị; bồ tát Hành tuệ là quyến thuộc của bồ tát Hư không tạng. Chân ngôn của vị này cũng chính là chân ngôn của bồ tát Hành tuệ được ghi trong Thanh long tự nghi quĩ quyển trung. [X. Bí tạng kí]. (xt. Hành Tuệ Bồ Tát).

phẫn nộ nguyệt yểm bồ tát

(忿怒月黶菩薩) Phẫn nộ nguyệt yểm. Phạm: Krodhacandra-tilaka. Hán âm: Cú lộ đà tán nại la để la ca. Cũng gọi Phẫn nộ nguyệt yểm tôn, Kim cương nguyệt yểm, Nguyệt yểm tôn. Vị Bồ tát ngồi ở đầu cực tây (hàng dưới) trong viện Kim cương thủ của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Để la kim cương, chủng tử là (hrì#) hoặc (hrìô), hình Tam muội da là cây kích 3 chĩa hoặc cây kích 1 chĩa. T h e o phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật quyển 1 thì hình tượng vị Bồ tát này ngồi kết già trên hoa sen đỏ, mình màu xanh đen, đầu đội mũ trời, có 3 mắt, 4 tay, hiện tướng rất giận dữ, miệng để lộ 4 răng nanh, tay phải tay trái thứ nhất cổ tay giao nhau, bàn tay nắm lại để ở trước ngực; tay trái thứ hai khuỷu tay khuỳnh ra, cầm cái chày 1 chĩa, tay phải thứ hai đưa lên quá vai, cầm cây kích 3 chĩa. Chân ngôn là: Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra noản hiệt lị hồng phát tra sa ha. Ấn khế là ấn Kim cương tuệ, tức bắt ấn Kim cương 5 chĩa, 2 ngón trỏ co lại như hình cái móc, 2 ngón cái hơi co và chạm vào nhau. [X. phẩm Phổ thông chân ngôn tạng kinh Đại nhật Q.2; phẩm Mật ấn kinh Đại nhật Q.4; Đại nhật kinh sớ Q.13].

phẫn nộ nhãn

(忿怒眼) Mắt giận dữ, 1 trong 3 loại mắt trong pháp Du già của Mật giáo. Đây là mắt của các vị tôn Minh vương trợn trừng, vẻ giận dữ, uy mãnh để hàng phục bọn quân ma phiền não. Chư bộ yếu mục (Đại 18, 899 thượng) nói: Mắt giận dữ, hàng phục tâm, giết hại phiền não. [X. phẩm Hiện chứng nghi quĩ kinh Đại bi không trí].

phẫn nộ quyền

(忿怒拳) Nắm tay giận dữ, 1 trong 6 loại ấn nắm tay(Quyền ấn) của Mật giáo. Trước hết, bắt ấn Kim cương quyền, kế đến, dựng đứng ngón trỏ và ngón út. Ngoài ra, Kim cương quyền cũng có dựng ngón trỏ sát vào lưng ngón cái, làm thành hình Trí phát sinh. Hoặc Kim cương quyền cũng gọi là Phẫn nộ quyền, nhưng thuyết này ít được sử dụng. (xt. Lục Chủng Quyền Ấn).

phẫn nộ trì kim cương bồ tát

(忿怒持金剛菩薩) Phạm: Vajràgra-vajradhara#. Hán âm: Phạ nhật la ngật la phạ nhật la đà lạc. Cũng gọi Kim cương lợi trì bồ tát, Kim cương phong trì bồ tát. Vị Bồ tát thứ 3, ngồi nhìn về hướng đông, trong viện Kim cương thủ của Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Uy mãnh kim cương, chủng tử là (hùô), hình Tam muội da là chày 3 chĩa. Hình tượng vị Bồ tát này ngồi trên hoa sen trắng, mình màu da người, tay phải co và khuỷu tay doãng ra, bàn tay ngửa lên làm ấn Dữ nguyện, tay trái cầm chày 3 chĩa để ở trước ngực, đầu gối bên phải dựng lên. Chân ngôn, ấn khế được ghi trong Thai tạng giới thất tập quyển thượng. Vị Bồ tát này có trí kim cương của Như lai rất mạnh mẽ và sắc bén, Ngài lấy việc phá dẹp các hoặc chướng làm bản thệ. Ngoài ra, vị tôn này được thấy trong Thai tạng tứ bộ nghi quĩ và Huyền pháp tự nghi quĩ quyển 2, nhưng không thấy trong kinh Đại nhật và Đại nhật kinh sớ. [X. Bí tạng kí].

phẫn nộ tướng

(忿怒相) Đối lại: Từ bi tướng. Tướng giận dữ, 1 trong các loại tượng của Phật giáo. Trong Mật giáo, loại tượng này phần nhiều được tạo hình trợn mắt, bặm môi, nhe răng, giơ tay, co chân, dựng tóc... hiện tướng rất uy mãnh, dữ tợn như: Bất động minh vương, Thập nhị thần tướng, Kim cương lực sĩ, Ái nhiễm minh vương, Đại nguyên súy minh vương, Kim cương đồng tử v.v...

phẫn quả

(糞果) Chỉ cho trái cây ở trong đống phân, có kẻ lấy ra rồi lại bỏ đi, ví dụ cho tâm thích sống, ghét chết của phàm phu. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 12 (Đại 12, 435 hạ) nói: Như đứa trẻ Bà la môn đang đói bụng, thấy có quả Am ma la (quả xoài) trong đống phân người, liền nhặt lấy. Người có trí thấy thế quở trách đứa bé rằng: Ngươi là Bà la môn, thuộc dòng dõi thanh tịnh, tại sao lại lấy quả bẩn thỉu trong đống phân ấy? Nghe xong, đứa bé hổ thẹn, liền đáp: Thật ra, không phải tôi lấy để ăn mà muốn rửa cho sạch rồi bỏ nó đi. Người trí bảo rằng: Ngươi quá ngu si! Nếu lại bỏ đi thì lấy nó ra là gì? Này thiện nam tử! Đại Bồ tát cũng như thế, đối với sự sống không nên chấp thủ cũng không nên xả bỏ, như người trí kia quở trách đứa trẻ; kẻ phàm phu ưa sống, ghét chết, giống như đứa trẻ kia lấy quả rồi lại bỏ.

phẫn trừ

(糞除) Trừ bỏ phân dơ bẩn, ví dụ việc trừ bỏ Kiến hoặc, Tư hoặc trong 3 cõi. Cứ theo phẩm Tín giải trong kinh Pháp hoa quyển 2, có 1 trưởng giả nuôi 1 gã nghèo cùng (cùng tử) trong nhà làm đầy tớ, trả tiền công, sai dọn sạch phân giải nhơ bẩn. Sự kiện này ví dụ việc đức Phật dùng Tiểu thừa để giáo hóa hàng Nhị thừa, khiến họ dứt trừ phiền não Kiến, Tư trong 3 cõi. Tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa (Đại 18, 297 hạ) nói: Khởi Hóa thành để tiếp độ, dùng Phẩn trừ để dẫn dắt.

phẫn tảo y

(糞掃衣) Phạm: Pàôsu-kùla. Pàli:Paôsu-kùla. Gọi tắt: Phẩn tảo. Cũng gọi: Nạp y, Bách nạp y. Chỉ cho Ca sa may bằng những chiếc áo vải đã rách bị bỏ trong đống rác, sau khi được lượm lấy và giặt dũ sạch sẽ. Cứ theo phẩm Giải đầu đà trong luận Thập trụ tì bà sa quyển 16, mặc áo phẩn tảo có 10 điều lợi là: 1. Biết hổ thẹn. 2. Phòng chống lạnh, nóng. 3. Biểu thị phép tắc của sa môn. 4. Trời và người cung kính. 5. Không ham đẹp, tốt. 6. Tùy thuận tịch lặng, không bị phiền não làm khốn. 7. Có điều xấu dễ thấy. 8. Không trang nghiêm bằng vật khác. 9. Tùy thuận Bát chính đạo. 10. Siêng năng tu đạo, không sinh tâm nhiễm ô. Về chủng loại của Phẩn tảo y thì tùy theo các bộ Luật mà có khác. Cứ theo luật Thập tụng 27 thì có 4 loại Phẩn tảo y: 1. Trủng gian y: Áo ngoài nghĩa địa. Tức áo được may bằng vải bọc xác người chết bị vứt bỏ ở nghĩa trang. 2. Xuất lai y: Áo may bằng vải bọc xác người chết được đem bố thí cho tỉ khưu (chứ không vứt bỏ ngoài nghĩa trang). 3. Vô chủ y: Áo không có chủ. Tức áo được may bằng vải để ở chỗ đất trống trong làng xóm, nhưng không có chủ. 4. Thổ y: Áo không hợp với sở thích của người đời. Nghĩa là áo được may bằng những miếng dẻ rách vứt bỏ trong các đường hẻm, ngoài nghĩa địa, hoặc trong các đống rác... Còn luật Tứ phần quyển 39 thì liệt kê 10 loại Phẩn tảo y: Ngưu tước y, Thử niết y, Thiêu y, Nguyệt thủy y, Sản phụ y, Thần miếu trung y, Trủng gian y, Cầu nguyện y, Thụ vương chức y và Vãng hoàn y. [X. kinh Tạp a hàm Q.38; luật Tứ phần Q.8; luật Ngũ phần Q.20; Hữu bộ tì nại da Q.27; Tứ phần luật san phồ bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 3]. (xt. Tam Y).

Phật

(s, p: buddha, 佛): gọi đủ là Phật Đà (佛陀、佛馱), Hưu Đồ (休屠), Phù Đà (浮陀), Phù Đồ (浮屠、浮圖), Phù Đầu (浮頭), Một Đà (沒馱), Bột Đà (勃陀、馞陀), Bộ Tha (步他); ý dịch là Giác Giả (覺者), Tri Giả (知者), Giác (覺); nghĩa là đấng giác ngộ chân lý; cũng có nghĩa là đầy đủ tự giác (自覺, tự giác ngộ mình), giác tha (覺他, làm cho người khác giác ngộ), giác hành viên mãn (覺行圓滿, giác ngộ và thực hành đều viên mãn), thấy biết như thật hết thảy tánh tướng của các pháp, là bậc Đại Thánh thành tựu Đẳng Chánh Giác. Đây là quả vị tối cao trong tu hành của Phật Giáo. Ba yếu tố tự giác, giác tha và giác hành viên mãn, đối với hạng phàm phu thì không yếu tố nào đầy đủ cả; đối với hàng Nhị Thừa Thanh Văn (s: śrāvaka, p: sāvaka, 聲聞), Duyên Giác (s: pratyeka-buddha, p: pacceka-buddha, 緣覺) thì chỉ có tự giác; Bồ Tát (s: bodhisattva, p: bodhisatta, 菩薩) thì có đủ tự giác và giác tha; chỉ có Phật mới có đủ ba yếu tố này; cho nên đây là tôn xưng cao quý nhất. Về nội dung chứng ngộ của đức Phật, các kinh luận có nhiều thuyết khác nhau. Về thân Phật, cõi nước Phật, v.v., các tông phái cũng có nhiều dị thuyết. Cũng có biết bao danh xưng để tán than đức Phật như 10 danh hiệu của đức Như Lai, Nhất Thiết Tri Giả (一切知者, người biết tất cả), Nhất Thiết Kiến Giả (一切見者, người thấy tất cả), Tri Đạo Giả (知道者, người biết đạo), Khai Đạo Giả (開道者, người khai mở đạo [con đường]), Thuyết Đạo Giả (說道者, người thuyết về đạo), Thế Tôn (世尊, đấng được cuộc đời tôn kính), Thế Hùng (世雄, bậc hùng mạnh có thể đoạn trừ mọi phiền não của thế gian), Thế Nhãn (世眼, người có con mắt dẫn dắt thế gian), Thế Anh (世英, bậc ưu tú nhất thế gian), Thiên Tôn (天尊, Đệ Nhất Nghĩa Thiên tối thắng trong 5 vị trời), Đại Giác Thế Tôn (大覺世尊, hay Đại Giác Tôn), Giác Vương (覺王, vua giác ngộ), Giác Hoàng (覺皇, vua giác ngộ), Pháp Vương (法王, vua của các pháp), Đại Đạo Sư (大導師, vị thầy hướng dẫn vĩ đại), Đại Thánh Nhân (大聖人), Đại Sa Môn (大沙門), Đại Tiên (大仙, đấng tôn kính nhất trong chư tiên), Đại Y Vương (大醫王, như danh y tùy theo bệnh mà cho thuốc hay, đức Phật là người tùy theo tâm bệnh mà thuyết pháp), Phật Thiên (佛天), Phật Nhật (佛日, đức Phật như mặt trời chiếu sang khắp nơi), Lưỡng Túc Tôn (兩足尊, đấng tôn kính nhất trong loài có hai chân, lưỡng túc ở đây còn có nghĩa là đầy đủ hai yếu tố nguyện và hạnh), Nhị Túc Tôn (二足尊), Lưỡng Túc Tiên (兩足仙), Nhị Túc Tiên (二足仙), Thiên Trung Thiên (天中天, bậc tối thắng trong chư thiên), Nhân Trung Ngưu Vương (人中牛王, tỷ dụ đức Phật là vua của loài trâu), Nhân Hùng Sư Tử (人雄師子, tỷ dụ đức Phật là con sư tử hùng mạnh trong loài người), v.v. Đức Phật là người có thể hóa độ, dẫn dắt mình và người khác, nên có tên là Năng Nhân (能人); cho nên Phật A Di Đà cũng được gọi là An Lạc Năng Nhân (安樂能人). Đức Phật có những đức tính đặc thù, như thân Ngài có 32 tướng tốt, 48 vẻ đẹp; ngoài ra còn có 10 Lực, 18 pháp bất cọng, v.v. Định, Trí và Bi của Phật đều tối thắng, nên gọi là Đại Định (大定), Đại Trí (大智), Đại Bi (大悲); phối với Ba Đức là Đoạn Đức (斷德), Trí Đức (智德) và Ân Đức (恩德), gọi chung là Đại Định Trí Bi (大定智悲). Chư Phật xuất hiện trong thời quá khứ được gọi là Quá Khứ Phật (過去佛) hay Cổ Phật (古佛), như 7 vị Phật quá khứ, Phật Nhiên Đăng (s: Dīpaṃkara, 燃燈), v.v. Chư Phật sẽ xuất hiện nơi cõi Ta Bà trong tương lai thì gọi là Hậu Phật (後佛) hay Đương Lai Phật (當來佛), như Phật Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒). Ban đầu, Phật là chỉ cho đức Phật của lịch sử, tức là Phật Thích Ca; về sau sản sinh tư tưởng 7 vị Phật quá khứ, rồi lại có Phật tương lai và đức Phật Di Lặc; nay khoảng cách giữa đức Phật Thích Ca và Phật Di Lặc lại có thời gian không có Phật. Phật Giáo Nguyên Thủy thì cho rằng trong đời hiện tại không thể tồn tại cả hai vị Phật như vậy; đến thời kỳ Phật Giáo Đại Thừa, tùy thế giới quan mở rộng, cho rằng trong nhất thời có nhiều đức Phật tồn tại. Tỷ dụ như, phương Đông có Phật A Súc (s: Akṣhobhya, 阿閦), phương Tây có Phật A Di Đà (s: Amitāyus, Amitābha, 阿彌陀); đồng thời ngay hiện tại, ở thế giới phương khác lại có vô số chư Phật hiện hữu, gọi là thập phương hằng sa chư Phật (十方恒沙諸佛, chư Phật nhiều như số cát sông Hằng ở mười phương). Đại Chúng Bộ (s, p: Mahāsāṅghika, 大眾部) của Phật Giáo Nguyên Thủy công nhận rằng tam thiên đại thiên thế giới đồng thời có các đức Phật khác tồn tại, nên chủ trương thuyết gọi là “nhất Phật nhất giới, đa Phật đa giới (一界一佛、多界多佛, một đức Phật một thế giới, nhiều đức Phật nhiều thế giới).” Hữu Bộ (s: Sarvāstivādin, 有部) thì chủ trương thuyết “đa giới nhất Phật (多界一佛, nhiều thế giới một đức Phật).” Chữ “giới (界)” ở đây nghĩa là tam thiên đại thiên thế giới. Ngoài ra, ba đời chư Phật tức chỉ cho ngàn vị Phật của Trang Nghiêm Kiếp (莊嚴劫) trong thời quá khứ, ngàn vị Phật của Hiền Kiếp (賢劫) trong thời hiện tại, và ngàn vị Phật của Tinh Tú Kiếp (星宿劫) trong thời tương lai; hợp lại thành ba ngàn vị Phật. Danh xưng của chư vị Phật này có trong Tam Kiếp Tam Thiên Phật Danh Kinh (三劫三千佛名經). ; 佛; S, P: buddha; T: sangs rgyas;|Dạng viết tắt của chữ Phật-đà, dịch âm của từ Buddha ra Hán ngữ, cũng được gọi là Bụt-đà, Bụt, dịch nguyên nghĩa là Bậc giác ngộ, Giác giả. Danh từ Phật có nhiều nghĩa:|1. Phật là người đã dứt khỏi Luân hồi (s: saṃsāra), đạt Giác ngộ hoàn toàn, đạt giải thoát (Niết-bàn). Nội dung quan trọng nhất của giáo pháp giác ngộ là Tứ diệu đế. Phật là người đã vượt qua mọi tham Ái (s: tṛṣṇā; p: taṇhā), là người biết phân biệt hay dở tốt xấu nhưng tâm không vướng mắc vào các phân biệt đó. Sau khi chết, một vị Phật không còn tái sinh.|Người ta phân biệt hai quả vị Phật: Ðộc giác Phật (s: pratyeka-buddha), là người hoàn toàn giác ngộ, nhưng không giáo hoá, và Tam-miệu Tam-phật-đà, dịch ý là Bậc Chính đẳng chính giác, (s: samyak-saṃbuddha) là người giáo hoá chúng sinh về những điều mình chứng ngộ. Một vị Tam-miệu Phật là một vị đạt Nhất thiết trí (s: sarvajñatā), Mười lực (s: daśabala), chứng Bốn tự tín. Vị Phật của thời đại chúng ta là Thích-ca Mâu-ni. Ðức Thích-ca – một nhân vật lịch sử có thật – không phải là vị Phật đầu tiên và duy nhất. Trong những kinh Tiểu thừa nguyên thuỷ, người ta đã nhắc các vị Phật trong các thời đại trước: Tì-bà-thi (s: vi-paśyin; p: vipassi), Thi-khí (s: śikin; p: sikhī), Tì-xá-phù (s: viśvabhū, p: vessabhū), Ca-la-ca-tôn-đại (s: krakuccanda, p: kakusandha), Câu-na-hàm (s, p: konagāmana) và Ca-diếp (s: kāśyapa, p: kas-sapa). Vị Phật sẽ xuất hiện trong tương lai để tiếp tục hoằng pháp là Di-lặc (s: maitreya, p: metteyya). Trong kinh sách, người ta còn nhắc đến 13 vị Phật khác mà vị quan trọng nhất là Nhiên Ðăng (s, p: dīpaṅkara). Trong thời quá khứ, Phật Thích-ca là người tu khổ hạnh mang tên Thiện Huệ (sumedha), đệ tử của Nhiên Ðăng Phật. Lịch sử các vị Phật được ghi trong Tiểu bộ kinh (p: khuddaka-nikā-ya).|Bắt đầu con đường tiến lên Phật quả, một vị Bồ Tát phát nguyện trước một vị Phật, quyết tâm thành đạo giác ngộ. Trải qua vô lượng kiếp, vị Bồ Tát đó thực hành mười hạnh Ba-la-mật-đa. Trước khi sinh lần cuối, vị đó thường giáo hoá ở cung trời Ðâu-suất (s: tuṣita). Khi sinh lần cuối vị Phật sẽ mang trong người Ba mươi hai tướng tốt, 80 vẻ đẹp khác cũng như đã đạt 37 Bồ-đề phần. Các vị Phật khi sinh ra thì mẹ của các Ngài sẽ chết bảy ngày sau đó. Lúc lớn lên, đến thời kì thích hợp, các vị Phật sẽ sống không nhà và sau khi giác ngộ sẽ thành lập Tăng-già. Lúc đức Phật nhập Niết-bàn là cũng là lúc chấm dứt quá trình đạt đạo.|2. Nhân vật lịch sử Thích-ca Mâu-ni. Ngài sinh năm 563 trước Công nguyên, con trai của một tiểu vương của dòng họ Thích-ca (s: śākya), ngày nay thuộc nước Nepal, gần Hi-mã-lạp sơn. Tên thật Ngài là Tất-đạt-đa (s: siddhārtha), thuộc họ Cồ-đàm (s: gautama; p: gotama), vì vậy cũng có người gọi là Phật Cồ-đàm. Sau quá trình tu hành đạt đạo, Ngài mang danh hiệu Thích-ca Mâu-ni – »Trí giả trầm lặng của dòng Thích-ca.« Nhằm phân biệt đức Phật lịch sử với Phật tính (xem phần 3), người ta nên gọi rõ là Phật Thích-ca.|3. Phật tính, được xem là gốc của mọi hiện tượng; mọi hiện tượng là biểu hiện của Phật tính. Nếu phái Tiểu thừa chỉ công nhận mỗi thời đại chỉ có một vị Phật, và vị này là phải là một nhân vật lịch sử và là đạo sư giáo hoá, thì phái Ðại thừa cho rằng có vô số đức Phật được biểu hiện khác nhau. Theo quan điểm Ba thân (s: trikāya) của Ðại thừa thì Phật tính biểu hiện qua ba dạng chính và mỗi dạng Phật biểu hiện một tính chất của Chân như.|Các dạng siêu việt của Phật tính, Chân như (xem Phật gia) được kể là các vị Phật A-di-đà, Ðại Nhật, Bảo Sinh, Bất Ðộng, Bất Không Thành Tựu, Kim cương Tát-đoá. Các vị này là thầy của các vị Bồ Tát và là giáo chủ của các Tịnh độ. Các dạng Phật-đà siêu việt của Chân như đều có tính chất siêu thế gian, thân tâm hoàn toàn thanh tịnh, toàn năng, vô lượng thọ. Theo quan điểm Ba thân thì Báo thân Phật (s: saṃbhogakāya) chính là hình ảnh lí tưởng của các vị Bồ Tát tự tạo nên để theo đó mà tu học. Báo thân lại chính là Chân tâm của Ứng thân (hay Hoá thân; s: nirmāṇakāya), là thân của Phật có dạng con người sống trên địa cầu. Khoảng năm 750 sau Công nguyên, sau khi Kim cương thừa ra đời thì trong các trường phái Ðại thừa cũng chấp nhận ngoài Pháp thân (dharmakāya) có thêm năm vị Phật chuyển hoá từ Pháp thân đó, được gọi là Ngũ Phật hay Phật gia, vì mỗi một vị Phật đó được xem có thêm một vị Phật lịch sử (từng sống trên địa cầu) và một vị Bồ Tát đi kèm: 1. Cùng với Phật Ðại Nhật là vị Ca-la-ca-tôn-đại (s: krakuccanda) và Bồ Tát Phổ Hiền (s: samantabhadra), 2. Cùng với Phật Bất Ðộng (s: akṣobhya) là vị Ka-na-ca Mâu-ni (s: kanakamuni) và Bồ Tát Kim Cương Thủ (s: vajrapāṇi), 3. Cùng với Phật Bảo Sinh là vị Phật lịch sử Ca-diếp (s: kāśyapa) và Bồ Tát Bảo Thủ (s: ratnapāṇi), 4. Cùng với Phật Bất Không Thành Tựu là vị Phật Di-lặc và Bồ Tát Phổ Chùy Thủ (s: viśvapāṇi), 5. Cùng với Phật A-di-đà là đức Thích-ca Mâu-ni và Bồ Tát Quán Thế Âm (s: ava-lokiteśvara).|4. Một khái niệm chỉ cái tuyệt đối, cuối cùng của thế giới. Thể này nằm ngoài mọi suy luận, không thể nghĩ bàn, là bản thể không hề biến hoại của Phật tính.«

phật

(佛) Phạm, Pàli: Buddha. Gọi đủ: Phật đà, Hưu đồ, Phù đà, Phù đồ, Phù đầu, Một đà, Bột đà, Bộ tha. Hán dịch: Giác giả, Tri giả, Giác. Người giác ngộ chân lí, cũng tức là bậc Đại thánh đầy đủ tự giác, giác tha, giác hành viên mãn, thấy biết tính tướng của hết thảy các pháp đúng như thật, thành tựu Đẳng chính giác, là quả vị cao nhất của Phật giáo. Trong 3 đức: Tự giác, Giác tha, Giác hành viên mãn, thì phàm phu không có 1 đức nào, hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác chỉ có Tự giác, hàng Bồ tát có được Tự giác, Giác tha, chỉ Phật mới có đầy đủ 3 đức. Về nội dung chứng ngộ của đức Phật, trong các kinh luận có nhiều thuyết; đối với Phật thân, Phật độ... thì các tông phái cũng có nhiều thuyết khác nhau, nhưng nói chung thì Đại thừa đều lấy quả Phật làm mục đích tối hậu. Những từ ngữ được dùng để ngợi khen công đức của Phật thì có rất nhiều như 10 danh hiệu: Như lai, Ứng cúng..., hoặc Nhất thiết tri giả, Nhất thiết kiến giả, Tri đạo giả, Khai đạo giả, Thuyết đạo giả, hoặc Thế tôn, Thế hùng (người dứt trừ tất cả phiền não thế gian 1 cách hùng mạnh), Thế nhãn (người dẫn đường cho thế gian), Thế anh (người ưu tú trong thế gian), Thiên tôn, hoặc Đại giác thế tôn, Giác vương (Giác hoàng), Pháp vương, Đại đạo sư, Đại thánh nhân, Đại sa môn, Đại tiên, Đại y vương (người tùy theo tâm bệnh mà nói pháp, cũng như vị thầy thuốc giỏi tùy theo bệnh mà cho thuốc), Phật thiên, Phật nhật (ví dụ Phật như mặt trời), Lưỡng túc tôn, Nhị túc tôn, Lưỡng túc tiên, Nhị túc tiên, Thiên trung thiên, Nhân trung ngưu vương, Nhân hùng sư tử (người hùng trong loài người giống như sư tử trong loài thú) v.v... Đức Phật là bậc có năng lực giáo hóa, dắt dẫn chúng sinh, nên gọi Ngài là Năng nhân¯đ ¤H, do đó, đức Phật A di đà được gọi là An lạc năng nhân (năng nhân của thế giới an vui). Ngoài ra, còn có thuyết lấy Năng nhân ¯đ ¤H làm Năng nhân ¯đ ¤¯ (hay làm điều nhân từ). Chữ Năng nhân sau là dịch ý của từ ngữ Thích ca, cho nên danh hiệu đức Phật Thích ca cũng được dùng để chỉ chung cho tất cả các đức Phật thù thắng. Đức tính thù thắng có đầy đủ trên thân Ngài là 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp, ngoài ra còn có 10 lực, 4 vô sở úy và 18 pháp bất cộng. Lại nữa, Phật có 7 công đức thù thắng vượt hơn người thường, gọi là Thất thắng sự, hoặc gọi là Thất chủng tối thắng, Thất chủng vô thượng. Đó là: Thân thắng, Như pháp trụ thắng, Trí thắng, Cụ túc thắng, Hành xứ thắng, Bất khả tư nghị thắng và Giải thoát thắng. Định, Trí, Bi của Phật đều là tối thắng, cho nên gọi là Đại định, Đại trí và Đại bi, phối hợp với Đoạn đức, Trí đức và Bi đức mà gọi chung là Đại định trí bi. Phật xuất hiện ở đời quá khứ gọi là Quá khứ Phật hoặc Cổ Phật. Phật sẽ xuất hiện ở thế giới Sa bà trong vị lai, thì gọi là Hậu Phật hoặc Đương lai Phật (tức Phật Di lặc). Ở thời kì đầu, Phật là chỉ cho Phật lịch sử, cũng tức là chỉ cho đức Phật Thích ca. Về sau lại phát sinh tư tưởng Quá khứ thất Phật, Vị lai Phật và Di lặc Phật. Khoảng cách giữa đức Phật Thích ca và Phật Di lặc, sẽ không có vị Phật nào khác ra đời. Tiểu thừa cho rằng không thể có 2 đức Phật cùng xuất hiện và tồn tại trong cùng thời đại, vì thế chủ trương thuyết Nhất Phật. Nhưng đến thời kì Phật giáo Đại thừa thì quan niệm về thế giới được mở rộng, nên cho rằng có nhiều đức Phật ra đời trong cùng thời đại. Chẳng hạn như phương Đông có Phật A súc, phương Tây có Phật A di đà và trong những thế giới ở các phương khác còn có vô số chư Phật đồng thời tồn tại mà trong kinh thường nói Thập phương hằng sa chư Phật (Chư Phật trong 10 phương nhiều như số cát của sông Hằng). Vì thế nên Đại thừa chủ trương thuyết Đa Phật. Đại chúng bộ trong Tiểu thừa thì cho rằng trong 3 nghìn thế giới đại thiên đồng thời có chư Phật tồn tại, cho nên bộ này chủ trương thuyết Một thế giới một Phật, nhiều thế giới nhiều Phật. Còn Hữu bộ thì chủ trương thuyết Nhiều thế giới một Phật, tức là trong 3 nghìn thế giới đại thiên chỉ có 1 đức Phật xuất hiện. Ngoài ra, Chư Phật ba đời là chỉ cho 1.000 vị Phật trong kiếp Trang nghiêm ở đời quá khứ, 1.000 vị Phật trong kiếp Hiền ở đời hiện tại và 1.000 vị Phật trong kiếp Tinh tú ở đời vị lai. Cộng chung 3 kiếp là 3.000 vị Phật. Danh hiệu của các đức Phật này được ghi trong kinh Tam kiếp tam thiên Phật danh. Phật danh hội là chỉ cho pháp hội căn cứ theo kinh Tam kiếp tam thiên Phật danh mà được tổ chức. [X. kinh Tạp a hàm Q.12, 20; kinh Hoa nghiêm Q.42 (bản dịch mới); kinh Thiên Phật nhân duyên; phẩm Thán cổ trong kinh Hiền kiếp Q.8; phẩm Xảo tiện hành trong kinh Đại bát nhã Q.365; kinh Thủ lăng nghiêm tam muội Q.thượng; luận Du già sư địa Q.82; luận Đại trí độ Q.9, 29]. (xt. Như Lai, Phật Độ, Phật Thân).

Phật A-súc

(阿閦佛- Phạn ngữ: Akobhya Buddha), tức là Phật Bất Động, cũng dịch là Phật Vô Động, được xem là cõi tịnh độ phương Đông, như cõi Phật A-di-đà là tịnh độ phương Tây. Xem phẩm Phật A-súc trong kinh Duy-ma-cật.

phật bát

(佛鉢) Cũng gọi Phật bát vu. Chỉ cho chiếc bát bằng đá đựng thức ăn của đức Phật. Cứ theo kinh Thái tử thụy ứng bản khởi quyển hạ, khi đức Phật mới thành đạo, Tứ thiên vương mỗi vị dâng cúng đức Phật 1 chiếc bát bằng đá của núi Át na, đức Phật nhận lãnh 4 cái bát ấy, rồi để chúng trong bàn tay trái, lấy tay phải đè lên trên, dùng thần lực ấn xuống thành 1 bát, vì thế bát này có 4 cái ngấn rõ ràng. Về dung lượng của Phật bát, theo phần Bát kí của ngài Tăng già da xá trong Pháp uyển châu lâm quyển 30, thì Phật bát chứa được hơn 3 đấu, còn Cao tăng Pháp hiển truyện thì bảo chứa được 2 đấu. Sau khi đức Phật nhập diệt, Phật bát được mọi người lễ bái cúng dường. Theo Mã minh bồ tát truyện và Phó pháp nhân duyên truyện quyển 5, thì vua nước Nguyệt chi đánh phá thành Hoa thị của nước Ma yết đà, chiếm được Phật bát và bắt bồ tát Mã minh đưa về nước. Còn điều Phất lâu sa quốc (Phạm: Puruwapura, tức là thành Bố lộ sa bố la) trong Cao tăng Pháp hiển truyện thì ghi rằng Phật bát ở nước Phất lâu sa, vua nước Nguyệt chi đánh được nước này, muốn lấy Phật bát, nhưng dùng voi lớn và xe 4 bánh để chuyên chở mà vẫn không di chuyển được Phật bát, nên đành xây tháp và già lam ở đó để thờ, gọi là chùa Phật bát. Căn cứ vào đó thì trước thời vua Ca nị sắc ca (khoảng thế kỉ I Tây lịch), Phật bát được lưu truyền ở miền Bắc Ấn độ; đến thời Đông Tấn (thế kỉ IV) của Trung quốc thì Phật bát ở nước Phất lâu sa. Ngoài ra, theo kinh Liên hoa diệu quyển hạ thì Phật bát từng có lần bị vua Mị chi hạt la câu la, nước Kế tân đập vỡ, sau được dời lên phương bắc, đến nước Ba la bát đa, được cúngdường trọng thể, nhờ Phật lực nên bát vỡ này lành trở lại như xưa. Lại nữa, theo điều Sư tử quốc trong Cao tăng Pháp hiển truyện ghi, 1 đạo nhân người Thiên trúc dự đoán rằng, Phật bát vốn ở nước Tì xá li, lúc bấy giờ bát được cất giữ ở Kiền đà vệ, sau vài trăm năm, trải qua các nước Tây nguyệt chi, Vu điền, Khuất từ, Sư tử (Tích lan), đất Hán... lại trở về Trung thiên trúc, rồi lên đến cung trời Đâu suất, được bồ tát Di lặc cúng dường, về sau đến Long cung, đến khi bồ tát Di lặc thành đạo, thì bát lại chia ra làm 4 mà trở về núi Át na. [X. kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.3; phẩm Phụng bát trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.1; luật Tứ phần Q.31, 52; luận Đại trí độ Q.26, 35; Trí mãnh truyện trong Xuất tam tạng kí tập Q.15; Đại đường tây vực kí Q.8; Pháp uyển châu lâm Q.98].

phật bát ấn

(佛鉢印) Cũng gọi Như lai bát, Thích ca đại bát, Bát ấn. Ấn Phật bát. Bát là vật báu của chư Phật, Bồ tát trong Mật giáo, bát là hình Tam muội da của đức Thích ca Như lai, bởi thế, trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền thì Phật bát ấn là 1 vị Bồ tát, được tôn trí trong viện Thích ca. Nhưng Thai tạng nghi quĩ thứ đệ thì bảo ấn minh này có xuất xứ từ hội Như lai thân, biểu trưng đức trì bát của Đại nhật Như lai. Ấn tướng của ấn này là nắm lấy 1 góc áo ca sa gần tay trái và 1 góc đắp trên vai, quấn quanh cánh tay trái, luồn vào trong tay trái, để ở trước rốn, tay phải ngửa ra đặt chồng lên tay trái, 2 ngón cái bấm vào nhau, dáng như đang nâng bát. Đại nhật kinh sớ quyển 13 (Đại 39, 716 thượng) nói: Bắt ấn này tức đồng với Như lai, mặc ca sa này là tiêu biểu cho uy nghi của chư Phật, có năng lực làm cho tất cả chúng sinh đều là pháp khí. [X. phẩm Mật ấn kinh Đại nhật]. PHẬT BỘ Cũng gọi Như lai bộ. Bộ thuộc của Phật, 1 trong 3 bộ của Thai tạng giới, 1 trong 5 bộ của Kim cương giới Mật giáo. Chỉ cho đức dụng của Đại nhật Như lai trong Lưỡng giới mạn đồ la. Nhưng Phật Lô xá na không gọi là Như lai, mà Đại nhật Như lai cũng không gọi là Phật. Thông thường thì các đức Phật Thích ca, Dược sư, A di đà, A súc, Bảo sinh, Đa bảo... đều dùng chung cả 2 danh hiệu Phật và Như lai. Tất cả các vị tôn coi về đức dụng của Pháp giới thể tính trí trong 5 trí đều thuộc về Phật bộ, biểu thị về Thân mật trong Tam mật. Chủng tử là (a), (vaô), hình Tam muội da là tháp bà. Về bộ chủ, ở Kim cương giới là đức Đại nhật, ở Thai tạng giới là Kim cương Phật đính. Về bộ mẫu, ở Kim cương giới không có, ở Thai tạng giới là Phật nhãn tôn. [X. kinh Tôtất địa yết la Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.5, 14; Bí tạng kí].

Phật Bích-chi

phiên âm từ Phạn ngữ là Pratyekabuddha, cũng đọc là Bích-chi-ca, dịch nghĩa là Duyên giác, Độc giác. Phật Bích-chi là vị sanh ra nhằm lúc không có Phật ra đời, nhờ quán xét 12 nhân duyên mà được giác ngộ, nên gọi là Duyên giác. Vì tự mình tu học vào thời không có Phật, đắc đạo và nhập Niết-bàn, nên gọi là Độc giác. Xem thêm ba thừa.

Phật bản hạnh tán

佛本行讚; C: fó běnxíng zàn; J: butsu hongyō san;|Phật sở hạnh tán (佛所行讚).

Phật bản hạnh tập kinh

佛本行集經; C: fó běnxíng jíjīng; J: butsu hongyou shūkyō; S: abhiniṣkramaṇa-sūtra.|Kinh; Xà-na-quật-đa (闍那崛多) dịch, gồm 60 quyển. Trình bày lịch sử đầy đủ nhất của đức Phật tiện dụng cho người Trung Hoa, bao gồm cả tiểu sử các đệ tử lớn của đức Phật.

phật bản hạnh tập kinh

(佛本行集經) Phạm: Abhiniskramaịasùtra. Gọi tắt: Bản hạnh tập kinh. Kinh, 60 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 3. Nội dung kinh này nói về sự tích đản sinh, xuất gia, thành đạo... của đức Phật và nhân duyên các vị đệ tử về qui y và được Phật hóa độ. Đây là bộ kinh tập đại thành của Phật truyện. Toàn kinh chia làm 3 bộ 60 chương: 1. Bộ thứ nhất: Gồm 5 chương, nói về chuyện bản sinh của đức Phật, tức phát tâm bồ đề, sinh lên cung trời Đâu suất, gá vào thai Ma da phu nhân. 2. Bộ thứ 2: Gồm 32 chương, nói về thời kì tại gia của đức Phật như: Đản sinh, học tập, lấy vợ, sinh con, cho đến nảy chí xuất gia. Sau khi xuất gia là thời kì xuất gia tu hành, thăm hỏi các vị tiên khổ hạnh; cho đến sau khi thành đạo là thời kì thành đạo chuyển pháp luân lần đầu tiên. 3. Bộ thứ ba: Gồm 15 chương, nói về sự truyền đạo, các sinh hoạt giáo hóa, tức thời kì truyền đạo, trình bày về truyện kí của các vị đệ tử. Nguyên bản tiếng Phạm của kinh này cho đến nay vẫn chưa được tìm thấy, còn bản Hán dịch thì lời văn rất ít được trau chuốt, sửa sang, điều này chứng tỏ sự phiên dịch cực kì trịnh trọng. Đây là bản kinh rõ ràng nhất trong các bản Phật truyện và có 4 đặc sắc khác với các bản Phật truyện khác, đó là: Trước hết, nêu phổ hệ của Phật, kế đến nêu phổ hệ của vua, có nhiều truyện bản sinh, thu tập các loại truyện khác. Bộ kinh này là tư liệu quan trọng để nghiên cứu về xã hội và lịch sử Phật giáo Ấn độ đời xưa. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.12; Đại đường nội điển lục Q.5; Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.7; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.7].

Phật Bất Động

xem Phật A-súc.

phật bổng chi tranh

(佛棒之爭) Sự tranh luận giữa Phật giáo và Bổng giáo tại Tây tạng. Sau khi Phật giáo được du nhập Tây tạng vào thế kỉ VII thì bị Bổng giáo, tông giáo truyền thống của dân Tây tạng, chống đối và tẩy chay. Lúc còn niên thiếu, Khất lật song đề tán (người rất có công với Phật giáo Tây tạng sau này), vì ủng hộ các đại thần quí tộc thuộc Bổng giáo, nên đã ngăn cấm Phật giáo, không cho truyền bá. Nhưng, sau khi lên cầm quyền, ông hết sức ủng hộ và phục hưng Phật giáo, ông xây chùa Tang da, đồng thời ra lệnh cho Phật giáo và Bổng giáo tổ chức cuộc tranh luận công khai. Sau khi Bổng giáo thất bại, ông hạ chiếu hủy bỏ hết sách Bổng giáo, cấm chỉ lưu truyền, Phật giáo chiếm được địa vị chính thống. Đến khi Khất lật lai ba thiệm lên ngôi thì thế lực của Phật giáo được phát triển đến điểm cao nhất, đó là thời kì vàng son của Phật giáo Tây tạng. Sau, Lãng đạt ma cướp ngôi, lên làm vua, lại thẳng tay tiêu diệt Phật pháp. Sau khi ông chết, các đảng phái tranh nhau, Tây tạng rơi vào tình trạng nội loạn, Phật giáo vẫn bị nghiêm cấm, suốt hơn 100 năm mà trong sử gọi là Phật Bổng Chi Tranh. Trong quá trình đó, Phật giáo và Bổng giáo không tránh khỏi sự ảnh hưởng và tiếp thu lẫn nhau. Đến thời kì truyền bá sau (tức thế kỉ XI), một nền Phật giáo Tây tạng mang đậm sắc thái Bổng giáo và những đặc điểm địa phương đã xuất hiện. Đồng thời, Bổng giáo vì đã hấp thu 1 nội dung Phật giáo rất lớn, nên đến đời sau cũng được xem là 1 chi phái của Phật giáo Tây tạng: Sự cạnh tranh giữa Phật giáo và Bổng giáo coi như đã cáo chung. (xt. Tây Tạng Tiền Truyền Kì Phật Giáo, Tây Tạng Hậu Truyền Kì Phật Giáo).

phật bộ chủ

(佛部主) Trong Mật giáo, Phật bộ chủ có 2 nghĩa: 1. Trong Mạn đồ la Kim cương giới, các vị tôn được chia làm 5 bộ: Phật bộ, Kim cương bộ, Bảo bộ, Liên hoa bộ và Yết ma bộ, trong đó, đức Đại nhật Như lai là chủ của Phật bộ. Chữ chủ ở đây có nghĩa là Thượng thủ(bậc đứng đầu). 2. Trong Mạn đồ la Thai tạng giới, các vị tôn được chia làm 3 bộ: Phật bộ, Kim cương bộ và Liên hoa bộ, trong đó đức Kim luân vương Phật đính làm bộ chủ. Chữ chủ ở đây có nghĩa là cầm quyền quản lãnh. Ngoài ra, cũng có thuyết cho rằng không chia Thai tạng, Kim cương mà tất cả đều lấy đức Đại nhật Như lai làm bộ chủ. (xt. Ngũ Bộ).

phật bộ tam muội da ấn

(佛部三昧耶印) Cũng gọi Pháp giới tháp ấn. Ấn Tam muội da của Phật bộ, 1 trong 5 loại ấn ngôn của pháp Hộ thân trong Mật giáo.Hành giả Mật giáo đã được sự gia trì của ấn ngôn này rồi, thì các vị tôn của Phật bộ liền mở bày trên thân nghiệp của hành giả, đồng thời gia hộ cho thân nghiệp hành giả thanh tịnh, tiêu trừ tội chướng, tăng trưởng phúc tuệ. Ấn tướng này là: Hai tay chắp để rỗng ở giữa, 2 ngón trỏ doãng ra và hơi co lại, dính sát vào lóng ngón trên cùng của ngón giữa, rồi duỗi 2 ngón cái để sát vào lóng (đốt) dưới của 2 ngón trỏ. Vì hình dáng của ấn tướng này rất giống với hình tướng của Phật đính nên còn gọi Phật đính ấn. Chân ngôn là: Án (oô, qui mệnh) đát tha nga đô (tathàgata, Như lai) nạp bà phạ da (udbhavàya, phát sinh) sa phạ ha (svàhà, thành tựu). Nghĩa là Như lai có năng lực sinh ra và thành tựu 3 thân, đạt đến viên mãn cứu cánh.

Phật Ca-diếp

(Kyapa), tức là vị Phật thứ ba trong Hiền kiếp, ra đời sau Phật Câu-na-hàm Mâu-ni (Kanakamouni) và ngay trước Phật Thích-ca Mâu-ni. Xem bảy vị Phật.

Phật Ca-la-ca-tôn-đại

xem Phật Cưu-lưu-tần.

phật chiếu quang hoà thượng ngữ yếu

(佛照光和尚語要) Ngữ lục, 1 quyển, do ngài Chuyết am Đức quang thuộc tông Lâm tế soạn vào đời Tống, ấn hành vào năm Gia hi thứ 5 (1238), được thu vào Tục cổ tôn túc ngữ yếu quyển 5 trong Vạn tục tạng 119. Nội dung sách này trích lục Thướng đường ngữ, tiểu tham, niêm cổ, tán, kệ, tụng, tự tán..., nhưng không biết xuất xứ từ ngữ lục nào.

phật chiếu thiền sư ngữ lục

(佛照禪師語錄) Tên đầy đủ: Phật chiếu thiền sư trụ Tuệ nhật sơn Đông phúc thiền tự ngữ lục. Cũng gọi: Bạch vân Tuệ hiểu thiền sư ngữ lục. Ngữ lục, 2 quyển, do ngài Bạch vân Tuệ hiểu (1223-1297), người Nhật soạn, Hư thất Hi bạch biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 80. Nội dung sách này gồm có các mục: -Quyển thượng: Tiến sơn, thướng đường, tiểu tham, cử cổ, niêm hương... -Quyển hạ: Tiểu Phật sự, Pháp ngữ, Tạp biên, Phật tổ tán... Cuối quyển có phụ lục Phật chiếu thiền sư truyện trích từ Nguyên hanh thích thư của ngài Hổ quan Sư luyện.

phật chính pháp nhãn tạng

(佛正法眼藏) Chỉ cho giáo pháp chân chính của đức Phật.Nhãn nghĩa là thấy suốt, chiếu sáng, ví dụ chính pháp của Phật có năng lực chiếu soi muôn vật. Tạng nghĩa là hàm chứa, bao hàm, ví dụ chính pháp của Phật có công năng dung chứa tất cả sự vật.

phật chủng

(佛種) I. Phật Chủng. Phạm: Buddha-vaôza. Pàli: Buddha-vaôsa. Dòng dõi Phật, hệ thống Phật. Tín đồ Bà la môn giáo ở Ấn độ chủ trương 4 giai cấp khác nhau để khoe khoang xuất thân và hệ thống của mình; nhưng Phật giáo thì cho rằng đệ tử Phật đều sinh ra từ một Phật pháp đồng nhất, bất luận dòng họ, gia hệ, tất cả đều gọi là Phật tử, nhằm mục đích đánh thức sự tự giác của người con Phật. Nói theo nghĩa rộng, hễ ai tin Phật pháp thì đều gọi là Phật tử; còn nói theo nghĩa hệ thống thì gọi là Phật chủng, Thích chủng tử. [X. kinh Tiểu duyên trong Trường a hàm Q.6; kinh Đại thừa lăng già Q.5; phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa Q.2; phẩm Như lai tạng trong luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính; luận Phật tính Q.2; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.7]. II. Phật Chủng. Hạt giống thành Phật, tức là Phật tính, là nhân để được quả Phật. Có 4 loại nhân: 1. Phật tính mà xưa nay chúng sinh vốn có: Chỉ cho lí duyên khởi, lí trung đạo, lí các pháp tính không... 2. Phiền não: Kinh Duy ma quyển trung cho rằng ngoài phiền não ra không có bồ đề nào khác, cho nên tất cả kiến giải sai lầm và phiền não đều là Phật chủng. 3. Bồ đề tâm: Không có nhân là tâm bồ đề thì không được quả Phật. 4. Xưng danh hoặc nghe danh: Nương theo nhân này thì có thể thành Phật [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; phẩm Phát tâm kinh Hoa thủ Q.2; phẩm Tứ pháp kinh Tư ích phạm thiên sở vấn Q.1; Pháp hoa văn cú (hội bản) Q.12; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.11].

phật chủng tính kinh

(佛種姓經) Pàli: Buddha-vaôsa. Kinh, 28 phẩm, do các bài kệ tụng tổ hợp thành, là 1 trong Tiểu bộ kinh (Pàli: Khuddaka-nikàya). Nội dung kinh này nói rộng về dòng họ, sự tích của các đức Phật quá khứ và nhân hạnh của đức Thế tôn Thích ca... Trong số các đức Phật quá khứ được đề cập đến trong kinh này, thì 7 đức Phật từ Phật Tì bà thi (Pàli: Vipassì) trở xuống đến đức Thích tôn đã được thấy trong kinh Đại bản thuộc Trường bộ kinh và trong kinh A tra nẵng chi, nhưng 24 Phật... thì không thấy trong các kinh điển xưa, vả lại, thuyết nam nữ đứng hầu cũng không được nói đến trong các kinh điển cổ. Trong tạng kinhPàli, thì kinh này, kinh Thí dụ (Pàli: Apadàna) và Sở hành tàng (Pàli: Cariyà-piỉaka) là những kinh được biên soạn sau cùng. Trong Trường bộ kinh chú (Pàli: Sumaígalavilàsinì), ngài Phật âm nói rằng Trung bộ sư cho kinh này là Thánh điển, nhưng Trường bộ sư thì không cho như thế. Nguyên văn kinh này đã được ông R.Morris xuất bản vào năm 1882 và có bản dịch tiếng Nhật (Nam truyền Đại tạng kinh quyển 41) của ông Lập hoa Tuấn đạo. Sách chú thích kinh này thì có: Diệu nghĩa duyệt ý (Pàli: Maddhurattha-vilàsinì) do ngài Phật thụ (Pàli: Buddhadatta) soạn. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; A History of PàliLiterature by B. C. Law; Dictionary of Pàli Proper Names by G. P. Malalasekera].

phật chủng tộc

(佛種族) Dòng họ của Phật, có 2 nghĩa: 1. Chỉ cho chủng tộc Thích ca, tức là những người cùng dòng họ với Phật Thích ca. 2. Chỉ cho những người y theo lời dạy của đức Phật, cạo tóc, nhuộm áo, xuất gia học đạo. Tại Trung quốc, từ ngài Đạo an đời Đông Tấn trở về sau, chư tăng đều lấy họ Thích, tức cho mình là người cùng dòng họ với đức Phật.

Phật cung

(佛宮): cung điện thờ Phật, tức chỉ cho tự viện Phật Giáo; tương đương với Phạm cung (梵宮), Phạm vũ (梵宇), Phạm sát (梵刹). Như trong Tử Bá Tôn Giả Toàn Tập (紫柏尊者全集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1452) quyển 28 có bài thơ Quá Hướng Thành Quảng Phước Tự (過向城廣福寺) rằng: “Vạn thốc vân sơn ủng Phật cung, tuyền đề tảo tỉnh thảo lai phong, tịch dương khư lạc hướng thành Bắc, kỉ độ chung thanh tống vãn phong (萬簇雲山擁佛宮、璇題藻井草萊封、夕陽墟落向城北、幾度鐘聲送晚風, vạn cụm núi mây ôm Phật cung, biển ngọc phù điêu cỏ xanh um, bóng chiều thành cũ xuôi về Bắc, mấy độ chuông chùa theo gió ngân).” Hay trong Quảng Thanh Lương Truyện (廣清涼傳, Taishō Vol. 51, No. 2099) quyển Hạ có câu: “Nhân tức sáng hưng Phạm vũ, đế cấu Phật cung, thập hữu thất niên bất hạ phong đảnh, Thiền tụng tinh cần, thốn âm vô phế (因卽創興梵宇、締搆佛宮、十有七年不下峰頂、禪誦精勤、寸陰無廢, nhân đó mà sáng lập Phạm vũ, xây dựng Phật điện, trong vòng mười bảy năm không xuống đỉnh núi, hành Thiền tinh tấn, thời gian không bỏ phí).” ; (佛宮): cung điện thờ Phật, tức chỉ cho tự viện Phật Giáo; tương đương với Phạm cung (梵宮), Phạm vũ (梵宇), Phạm sát (梵刹). Như trong Tử Bá Tôn Giả Toàn Tập (紫柏尊者全集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1452) quyển 28 có bài thơ Quá Hướng Thành Quảng Phước Tự (過向城廣福寺) rằng: “Vạn thốc vân sơn ủng Phật cung, tuyền đề tảo tỉnh thảo lai phong, tịch dương khư lạc hướng thành Bắc, kỉ độ chung thanh tống vãn phong (萬簇雲山擁佛宮、璇題藻井草萊封、夕陽墟落向城北、幾度鐘聲送晚風, vạn cụm núi mây ôm Phật cung, biển ngọc phù điêu cỏ xanh um, bóng chiều thành cũ xuôi về Bắc, mấy độ chuông chùa theo gió ngân).” Hay trong Quảng Thanh Lương Truyện (廣清涼傳, Taishō Vol. 51, No. 2099) quyển Hạ có câu: “Nhân tức sáng hưng Phạm vũ, đế cấu Phật cung, thập hữu thất niên bất hạ phong đảnh, Thiền tụng tinh cần, thốn âm vô phế (因卽創興梵宇、締搆佛宮、十有七年不下峰頂、禪誦精勤、寸陰無廢, nhân đó mà sáng lập Phạm vũ, xây dựng Phật điện, trong vòng mười bảy năm không xuống đỉnh núi, hành Thiền tinh tấn, thời gian không bỏ phí).”

phật cung

(佛供) Cũng gọi Phật hướng, Phật phạn, Thục Phật cúng. Dâng cơm, cháo cúng dường Phật và Bồ tát. Cúng dường Phật, phải dùng các thức ăn uống thanh tịnh, đặt trên những khí cụ quí giá và dâng cúng hằng ngày, nhưng phải cúng trước giờ Ngọ chứ không được quá. Cúng dường nghi thức (Đại 18, 180 hạ) ghi: Phàm các vật cúng dường chỉ trừ những thứ bất tịnh như ngũ tân(5 thứ rau có vị cay: Hành, hẹ, tỏi, củ kiệu, hưng cừ – loại này ở Việt nam không có), rượu, thịt... Đồ đựng vật cúng dường, nên dùng các thứ làm bằng vàng, bạc, đồng, sắt, sành, sứ... còn các thứ khác không nên dùng. Ở trong đàn tràng cúng dường các mùi vị, mỗi ngày mỗi thay đổi, riêng trái cây thì 3 ngày đổi 1 lần cũng được. Ngoài ra, trong Mật giáo, khi cử hành lễ Quán đính, dùng cơm nhuộm 5 màu trắng, đỏ, vàng, xanh, đen, để cúng dường 5 đức Phật, gọi là Ngũ sắc Phật cúng, hoặc Sắc Phật cúng, Nhiễm Phật cúng. Cơm màu trắng tức là cơm chín, cơm màu đỏ nhuộm bằng nước đậu đỏ, cơm màu vàng nhuộm bằng nước hột dành dành, cơm màu xanh nhuộm bằng nước lá xanh, cơm màu đen nhuộm bằng nước hạt vừng(mè)đen. Nếu dùng giấy làm hình cơm mà cúng Phật để thay cho 5 màu thì gọi là Trương Phật cúng. [X. Ngũ tạp trở Q.15; Trì bảo thông giám Q.hạ; Chân tục Phật sự biên Q.2; Khảo tín lục Q.1].

Phật Câu-lưu-tôn

xem Phật Cưu-lưu-tần.

Phật Câu-na-hàm mâu-ni

(Kanakamouni) là một vị Phật trong quá khứ, kế tiếp Phật Cưu-lưu-tần. Xem bảy vị Phật.

Phật Cưu-lưu-tần

(Krakucchanda), cũng viết là Phật Câu-lưu-tôn, hay Phật Ca-la-ca-tôn-đại, là một vị Phật quá khứ, ra đời trước Phật Câu-na-hàm-mâu-ni. Xem bảy vị Phật.

Phật cảnh giới

佛境界; C: fójìngjiè; J: bukkyōkai;|Cõi Phật, cảnh giới Phật, đất Phật…

phật cảnh giới trang nghiêm tam muội

(佛境界莊嚴三昧) Tam muội của bồ tát Phổ hiền. Phổ hiền tượng trưng cho Đại nhật Như lai đầy đủ muôn hạnh, dùng đại bi Thai tạng mạn đồ la phổ hiện sắc thân, đầy khắp hư không pháp giới, tu hành hạnh Bồ tát, trang nghiêm các cõi Phật, thành tựu tất cả chúng sinh, hiện khởi 1 thiện căn nhưng tùy theo đó mà đầy đủ muôn đức. Phật cảnh giới, tức là dùng vô lượng đức tự chứng của Như lai để trang nghiêm chính mình, cho nên gọi là Phật cảnh giới trang nghiêm tam muội. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1].

Phật cốt

佛骨; C: fógǔ; J: bukkotsu; |Phần xương (tinh tuý) của đức Phật còn lưu lại sau khi trà tì. Thường gọi là Xá-lợi (舎利), phiên âm từ tiếng Phạn śarīra.

phật cốt tông

(佛骨宗) Tông xương Phật. Từ ngữ này được dùng với ý mỉa mai để chỉ cho những người chấp trước vào Phật tâm tông (tông tim Phật). Phật tâm tông là tên khác của Thiền tông. Bởi vì Thiền tông vốn không coi trọng kinh điển văn tự mà lấy việc trực tiếp truyền trao tâm ấn của Phật làm tông chỉ, cho nên các kinh điển quan trọng của Thiền tông như Lục tổ đàn kinh, Bích nham lục cho đến lịch đại Tổ sư, Tông sư đều gọi Thiền tông là Phật tâm tông. Nhưng gọi lâu thành quen, không khỏi rơi vào lối mòn khuôn sáo, cố chấp, thiên lệch, hẹp hòi, cứ mải mê bám lấy danh tướng, ngữ ý của nhóm từ Phật tâm tông, mà quên đi cái tinh thần cơ bản vốn hoạt bát, sinh động, nhậm vận tự do, minh tâm kiến tính của Thiền. Chính vì muốn đả phá cái lề thói mê chấp ấy, nên nhiều tên gọi tương tự mang ý vị châm biếm như: Phật cốt tông, Phật thân tông, Phật nhãn tông (tông mắt Phật),Phật tủy tông, cho đến Phật cước tông (tông chân Phật),Phật nhĩ tông (tông tai Phật), Phật tị tông (tông mũi Phật), Phật thiệt tông(tông lưỡi Phật)... đã phương tiện được đặt ra với mục đích chế diễu để thức tỉnh những Thiền giả chấp mê. Như tổ Vĩnh bình Đạo nguyên của tông Tào động Nhật bản, 1 đời đề xướng tọa thiền là Phật pháp chính truyền, cũng phản đối những tên gọi như Thiền tông, Đạt ma tông, Phật tâm tông... cho đó đều là lời nói khuôn sáo, phô trương, hư dối của bọn thiền đồ tầm thường. [X. Chính pháp nhãn tạng Phật đạo].

phật cụ

(佛具) Cũng gọi Pháp cụ, Phật khí. Chỉ chung những khí cụ dùng để trang nghiêm trước tượng Phật, hoặc pháp hội như: Lọng, phan, phướn, cờ, tràng hoa, đẩu trướng, pháp loa, mõ, chuông, trống, linh (chuông lắc), lư hương, bình hoa, chân đèn... Những Phật cụ này tùy theo sự sử dụng của các tông phái mà có khác nhau. (xt. Chung, Não Bạt).

phật danh hội

(佛名會) Cũng gọi Phật danh sám hối. Pháp hội đọc tụng kinh Phật danh và xưng niệm danh hiệu chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai để sám hối diệt tội. Loại pháp hội này đã thịnh hành ở Trung quốc vào khoảng thế kỉ V, VI. Từ đời Đông Tấn trở đi, bắt đầu là kinh Hiền kiếp thiên Phật danh và kinh Quán Dược vương Dược thượng nhị Bồ tát, rồi lần lượt đến các loại kinh điển Phật danh khác được phiên dịch và biên tập. Vào thời kì đầu đã xuất hiện bộ kinh Phật danh gồm 12 quyển, do ngài Bồ đề Lưu chi dịch vào đời Nguyên Ngụy (kinh này được thu vào cả 3 bản Đại tạng đời Tống, Nguyên, Minh), tổng cộng có 11.093 danh hiệu Phật và Bồ tát. Đây là bộ kinh tán thán tất cả danh hiệu của chư Phật. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ; Phật tổ thống kỉ Q.39; Pháp uyển châu lâm Q.86].

phật danh kinh

(佛名經) Kinh, 12 quyển, do ngài Bồ đề Lưu chi dịch vào đời Nguyên Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này liệt kê mấy nghìn danh hiệu của Phật, Bồ tát và Bích chi Phật, bảo rằng người thụ trì đọc tụng, tư duy tán thán danh hiệu của chư Phật, thì đời hiện tại được yên vui, tránh khỏi tai nạn, tiêu trừ mọi tội chướng, trong đời vị lai sẽ được Vô thượng bồ đề. Về số mục danh hiệu của chư Phật, thì Đại tạng bản Cao li và 3 bản Tống, Nguyên, Minh liệt kê có hơi khác nhau. Theo 3 bản sau thì tổng cộng có 11.093 danh hiệu Phật. Căn cứ vào các bộ Kinh lục (mục lục kinh) thì trong các kinh điển từ xưa đến nay có rất nhiều đề kinh hơi giống hoặc giống hệt với tên kinh này. Chẳng hạn như điều Tân tập kinh luận lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 2 ghi chép, ngài Trúc pháp hộ đời Tây Tấn dịch kinh Hiền kiếp 7 quyển, ngài Trúc đàm vô lan đời Đông Tấn dịch kinh Hiền kiếp thiên Phật danh 1 quyển... Rồi điều Tân tập tục soạn thất dịch tạp kinh lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 4 thì ghi chép Chư kinh Phật danh 1 quyển, kinh Tam thiên Phật danh 1 quyển, kinh Ngũ thập tam Phật danh 1 quyển, kinh Nam phương Phật danh 1 quyển... cũng tương tự như thế. Lại đến phần chúng kinh biệt sinh trong Pháp kinh lục quyển 2, cũng liệt kê kinh Hiền kiếp thiên Phật danh 1 quyển, kinh Phật danh 10 quyển, kinh Thập phương Phật danh 2 quyển... Ngoài ra, trong Đại tạng hiện nay, những kinh tương tự hoặc giống hệt với kinh này, còn có tới hơn 20 bộ, tất cả đều được thu vào Đại chính tạng tập 14, liệt kê theo biểu đồ như sau. (thiếu biểu đồ) Kinh Bát Phật danh hiệu, Kinh Bát cát tường thần chú, Kinh Bát dương thần chú Kinh Bát bộ Phật danh, Kinh Bát cát tường, Kinh Thập cát tường, Kinh Xưng dương chư Phật công đức, Kinh Diệt thập phương minh, Kinh Thụ trì thất Phật danh hiệu sở sinh công đức, Kinh Đại Bảo nguyệt đồng tử vấn pháp, Kinh Chư Phật, Kinh Đại thừa đại phương quảng Phật quan, Kinh Phật danh, Kinh Thập phương thiên ngũ bách Phật danh, Kinh Ngũ thiên ngũ bách Phật danh thần chú trừ chướng diệt tội, Kinh Bách Phật danh, Kinh Bất tư nghị công đức chư Phật sở hộ niệm, Kinh Quá khứ trang nghiêm kiếp thiên Phật danh, Kinh Hiện tại hiền kiếp thiên Phật danh, Kinh Vị lai tinh tú kiếp thiên Phật danh.

phật diện thượng quát kim

(佛面上刮金) Cạo lấy lớp vàng mạ trên mặt tượng Phật. Câu ngạn ngữ này dùng để ví dụ cho kẻ nhắm vào bậc tôn trưởng để đòi hỏi tiền của, hàm trách những người làm việc dối trá; hoặc vídụ người có tâm tham dùng mọi thủ đoạn bóc lột của cải người khác; không việc xấu xa nào mà chẳng làm; cũng hàm ý quở trách những kẻ làm việc cực ác, không từ 1 chút gì.

phật diệt

(佛滅) Cũng gọi Tịch diệt, Viên tịch, Đại viên tịch (Phạm: Mahà-parinirvàịa, Pàli: Mahà-parinibbàna). Phật niết bàn. Diệt là diệt độ, nghĩa là diệt trừ phiền não, vượt qua bể khổ. Chữ Nirvàịacủa tiếng Phạm dịch âm là Niết bàn, dịch nghĩa là diệt độ. Sau khi liễu ngộ thành đạo dưới tòa Kim cương đức Phật đã dứt hết sạch các phiền não tham, sân, si..., nhưng vì hạnh nguyện, tự lợi, lợi tha, giác hành viên mãn, nên Ngài tùy duyên hóa độ chúng sinh suốt hơn 45 năm mới vào Niết bàn ở rừng cây Sa la (Phạm: Sàla), phía ngoài thành Câu thi na (Phạm: Kuzinagara). Trong các sách Phật truyện cũng như lịch sử Phật giáo, phần nhiều những từ ngữ như: Nhập diệt, Diệt độ, Viên tịch, Niết bàn, hoặc Phật diệt... được dùng để biểu thị ý nghĩa viên mãn thế duyên, xả thọ tịch diệt, hoàn toàn khác với khái niệm chết, lìa bỏ cuộc đời của phàm phu tầm thường... (xt. Niết Bàn). PHẬT DIỆT NHẬT (xt. Thích ca mâu ni).

phật diệt niên đại

(佛滅年代) Niên đại Phật nhập diệt. Tư liệu về niên đại đức Phật nhập diệt thì từ xưa thường dùng thuyết Chúng Thánh Điểm Kí (các bậc Thánh ghi dấu chấm). Nghĩa là năm đức Phật nhập diệt, sau khi kết tập tạng Luật, đúng vào ngày chư tăng tự tứ năm ấy, tôn giả Ưu bà li – người tụng tạng Luật trong lần kếttập đầu tiên– ghi 1 cái chấm (điểm) ở đầu tạng Luật để đánh dấu năm đức Phật nhập Niết bàn. Từ đó về sau, hàng năm, vào ngày kết thúc an cư (ngày chư tăng tự tứ), các vị Trưởng lão lại thắp hương rồi ghi thêm 1 cái chấm vào tạng Luật để ghi nhớ 1 năm đã qua, gọi là Chúng thánh điểm kí. Vào năm Vĩnh minh thứ 8 (490) đời Nam Tề, Trung quốc, ngài Tăng già bạt đà la dịch xong bộ Thiện kiến luật tì bà sa (Pàli:Samantapàsàdikà). Lúc nửa đêm 15 tháng 7 năm ấy – ngày kết thúc hạ an cư– ngài Tăng già bạt đà la ghi thêm 1 dấu chấm, bấy giờ đã được tất cả 975 chấm. Đến năm Khai hoàng 17 (597) đời Tùy, ngài Phí trường phòng soạn xong bộ Lịch Đại tam bảo kỉ thì tất cả là 1082 chấm. Căn cứ vào đó mà tính ra năm thì năm đức Phật nhập diệt phải là năm 486 trước Tây lịch. Đây là thuyết cũ của Nam truyền, còn thuyết mới hiện nay thông dụng trong Phật giáo Thượng tọa bộ Nam phương là năm 543 đến 544 trước Tây lịch. Ông Vũ tỉnh Bá thọ người Nhật cho rằng năm vua A dục lên ngôi là năm 271 trước Tây lịch, rồi căn cứ vào thuyết Bộ chấp dị luận bảo sau khi Phật nhập diệt được 116 năm thì vua A dục lên ngôi, mà đoán định rằng năm Phật nhập diệt là 386 trước Tây lịch. Về sau, ông Trung thôn nguyên –cũng là người Nhật– lại căn cứ vào thuyết của ông Vũ tỉnh Bá thọ mà tham khảo thêm những tư liệu lịch sử của Tân Hi lạp và Ấn độ, mà quyết định rằng năm vua A dục lên ngôi là năm 268 trước Tây lịch, từ đó suy định năm đức Phật nhập diệt là năm 383 trước Tây lịch. Còn ngài Ấn thuận của Trung quốc thì căn cứ vào năm vua A dục lên ngôi mà đoán định năm đức Phật nhập diệt là năm 390 trước Tây lịch, cho đó là năm đầu của kỉ nguyên Phật nhập diệt. Nói tóm lại, niên đại đức Phật nhập diệt là từ khoảng năm 380 đến 390 trước Tây lịch đã được đa số học giả thừa nhận. [X. Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.3; Xuất tam tạng kí tập Q.11; Lịch đại tam bảo kỉ Q.1, 11; Phật tổ thống kỉ Q.2; Phật giáo niên đại khảo (Tiểu dã Huyền diệu); Ấn độ triết học nghiên cứu Q.2 (Vũ tỉnh Bá thọ); Luận Phật diệt đích niên đại (Ấn thuận); Thế giới Phật giáo thông sử (Thánh nghiêm)].

phật duyên

(佛緣) Cũng gọi Phật nhân. Nhân duyên thành Phật ở đời sau. Như người nhờ nhân duyên kính tin Phật, phát nguyện vãng sinh Tịnh độ, thì chắc chắn sẽ được vãng sinh. [X. Vãng sinh luận chú Q.thượng].

phật dĩ nhất âm diễn thuyết pháp

(佛以一音演說法) Đối lại: Chúng sinh tùy loại các đắc giải. Đức Phật chỉ dùng 1 thứ tiếng để nói pháp. Phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma cật sở thuyết (Đại 14, 538 thượng) ghi: Đức Phật chỉ dùng 1 thứ tiếng để diễn nói pháp, chúng sinh tùy căn cơ trình độ mà đều được hiểu.

Phật gia

(佛家): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Nơi thờ phụng chư Phật, nơi chư tăng tu hành theo pháp môn Phật Giáo; tức chỉ cho chùa, tự viện Phật Giáo. (2) Chỉ cho người tin thờ Phật Giáo, tức tín đồ Phật Giáo; hay tăng lữ hoặc nhà nghiên cứu tư tưởng học thuật Phật Giáo. Như trong Chu Tử Ngữ Loại (朱子語類) quyển 76 của Lê Tĩnh Đức (黎靖德, ?-?) nhà Tống, có đoạn: “Phật gia hữu hàm cái càn khôn cú, hữu tùy ba trục lưu cú, hữu tiệt đoạn chúng lưu cú, Thánh nhân ngôn ngữ diệc nhiên (佛家有函蓋乾坤句、有隨波逐流句、有截斷眾流句、聖人言語亦然, nhà Phật có câu 'che trùm trời đất', có câu 'theo sóng thuận dòng', có câu 'chận đứt các dòng', ngôn ngữ Thánh nhân cũng như vậy).” (3) Chỉ cho cõi Tịnh Độ của chư Phật. Như trong Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh (佛說觀無量壽佛經, Taishō Vol. 12, No. 365) có dạy rằng: “Nhược niệm Phật giả, đương tri thử nhân tức thị nhân trung Phân Đà Lợi hoa; Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, vi kỳ thắng hữu, đương tọa đạo tràng, sanh chư Phật gia (若念佛者、當知此人卽是人中芬陀利花、觀世音菩薩、大勢至菩薩、爲其勝友、當坐道塲、生諸佛家, nếu có người niệm Phật, phải biết người này tức là hoa Phân Đà Lợi trong cõi người; Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí là bạn lành của họ, sẽ ngồi đạo tràng, sanh vào nhà chư Phật).” Trong Giáo Giới Tân Học Tỳ Kheo Hành Hộ Luật Nghi (敎誡新學比丘行護律儀, Taishō Vol. 45, No. 1897) lại có câu: “Chư thiện luật nghi, Phật gia chi trụ thạch dã, đạo phẩm chi lâu quán, Thiền định chi tâm thành (諸善律儀、佛家之柱石也、道品之樓觀、禪定之心城, các luật nghi đúng, là trụ đá của nhà Phật, là lầu đài của đạo đức, là thành trì của Thiền định).” Hay như trong Thập Trụ Kinh (十住經, Taisho Vol. 10, No. 286) quyển 1 cũng có dạy rằng: “Chư Phật tử ! Bồ Tát sanh như thị tâm, tức thời quá phàm phu địa, nhập Bồ Tát vị, sanh tại Phật gia (諸佛子、菩薩生如是心、卽時過凡夫地、入菩薩位、生在佛家, này các Phật tử ! Bồ Tát sanh tâm như vậy, tức thời vượt qua cõi phàm phu, bước vào địa vị Bồ Tát, sanh tại nhà Phật).” ; (佛家): có ba nghĩa khác nhau. (1) Nơi thờ phụng chư Phật, nơi chư tăng tu hành theo pháp môn Phật Giáo; tức chỉ cho chùa, tự viện Phật Giáo. (2) Chỉ cho người tin thờ Phật Giáo, tức tín đồ Phật Giáo; hay tăng lữ hoặc nhà nghiên cứu tư tưởng học thuật Phật Giáo. Như trong Chu Tử Ngữ Loại (朱子語類) quyển 76 của Lê Tĩnh Đức (黎靖德, ?-?) nhà Tống, có đoạn: “Phật gia hữu hàm cái càn khôn cú, hữu tùy ba trục lưu cú, hữu tiệt đoạn chúng lưu cú, Thánh nhân ngôn ngữ diệc nhiên (佛家有函蓋乾坤句、有隨波逐流句、有截斷眾流句、聖人言語亦然, nhà Phật có câu 'che trùm trời đất', có câu 'theo sóng thuận dòng', có câu 'chận đứt các dòng', ngôn ngữ Thánh nhân cũng như vậy).” (3) Chỉ cho cõi Tịnh Độ của chư Phật. Như trong Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh (佛說觀無量壽佛經, Taishō Vol. 12, No. 365) có dạy rằng: “Nhược niệm Phật giả, đương tri thử nhân tức thị nhân trung Phân Đà Lợi hoa; Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, vi kỳ thắng hữu, đương tọa đạo tràng, sanh chư Phật gia (若念佛者、當知此人卽是人中芬陀利花、觀世音菩薩、大勢至菩薩、爲其勝友、當坐道塲、生諸佛家, nếu có người niệm Phật, phải biết người này tức là hoa Phân Đà Lợi trong cõi người; Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí là bạn lành của họ, sẽ ngồi đạo tràng, sanh vào nhà chư Phật).” Trong Giáo Giới Tân Học Tỳ Kheo Hành Hộ Luật Nghi (敎誡新學比丘行護律儀, Taishō Vol. 45, No. 1897) lại có câu: “Chư thiện luật nghi, Phật gia chi trụ thạch dã, đạo phẩm chi lâu quán, Thiền định chi tâm thành (諸善律儀、佛家之柱石也、道品之樓觀、禪定之心城, các luật nghi đúng, là trụ đá của nhà Phật, là lầu đài của đạo đức, là thành trì của Thiền định).” Hay như trong Thập Trụ Kinh (十住經, Taisho Vol. 10, No. 286) quyển 1 cũng có dạy rằng: “Chư Phật tử ! Bồ Tát sanh như thị tâm, tức thời quá phàm phu địa, nhập Bồ Tát vị, sanh tại Phật gia (諸佛子、菩薩生如是心、卽時過凡夫地、入菩薩位、生在佛家, này các Phật tử ! Bồ Tát sanh tâm như vậy, tức thời vượt qua cõi phàm phu, bước vào địa vị Bồ Tát, sanh tại nhà Phật).” ; 佛家; S: buddhakula;|Năm dạng xuất hiện cơ bản của Báo thân (s: saṃbhogakāya; Ba thân). Ðó là năm cách thể hiện của trí huệ (s: prajñā), xuất hiện dưới mọi dạng »xấu,« »tốt« khác nhau. Mỗi một hiện tượng thế gian đều thuộc về một trong năm nhóm này, nên mỗi nhóm được xem như một »gia đình« (Phật gia) với mọi quyến thuộc. Trong Kim cương thừa (s: vajrayāna), Ngũ Phật được nêu thành nguyên lí vũ trụ, thể hiện trong mọi tranh tượng. Các hình ảnh của năm Phật gia này cũng là cơ sở của phép quán linh ảnh hay được áp dụng trong những Nghi quỹ (s: sādhana). Năm vị Phật chủ của năm gia đình này là: Ðại Nhật Như Lai (s: vairocana), Bất Ðộng Như Lai (s: akṣobhya), Bảo Sinh Như Lai (s: ratnasambhava), A-di-đà Như Lai (s: amitābha) và Bất Không Thành Tựu Như Lai (s: amoghasiddhi).|Vị đầu tiên trong năm Như Lai là Ðại Nhật, có sắc trắng, được đặt vào trung tâm Man-đa-la. Thuộc về Phật gia này có Vô minh (s: avidyā), nguồn gốc của Luân hồi (s: saṃsāra). Cũng thuộc về Phật gia này là trí huệ cao tột của Pháp thân thường trụ, được gọi là Pháp giới trí (法界智; s: dhar-madhātu-jñāna; Năm trí). Phía đông của Man-đa-la là Bất Ðộng Như Lai. Ðó là vị Phật chủ của Phật gia Kim cương (s: vajra). Năng lượng của nhóm này khi xấu thì biến thành sự sân hận (s: dveṣa), khi được chuyển hoá thì thành Ðại viên kính trí (大圓鏡智; s: ādarśa-jñāna), có nghĩa là đạt được trí như một tấm gương tròn sáng. Thân Phật Bất Ðộng được vẽ màu xanh thẩm. Phía Nam của Man-đa-la là Bảo Sinh Như Lai, sắc vàng, Phật chủ của Phật gia Bảo sinh (s: ratna). Năng lượng này có gốc là mạn (s: māna), được chuyển hoá thì trở thành Bình đẳng tính trí (平等性智; s: samatā-jñāna). Phía Tây của Man-đa-la là Phật A-di-đà, Phật chủ của Phật gia Liên hoa (hoa sen; s: padma). Màu đỏ của A-di-đà tượng trưng cho tham dục (s: rāga), một khi năng lượng này biến thể thành xấu ác, nhưng khi được chuyển hoá thì đó là Diệu quan sát trí (妙觀察智; s: pratyavekṣaṇa-jñāna). Cuối cùng, phía Bắc là Bất Không Thành Tựu Như Lai, Phật chủ của Phật gia Nghiệp (s: karma; cũng được gọi là Yết-ma), mang sắc xanh lục. Ðó là năng lượng của sự ghanh ghét (s: īrṣyā), một khi được chuyển hoá sẽ thành Thành sở tác trí (成所作智; s: kṛtyā-nuṣṭhāna-jñāna).|Trong một vài Tan-tra thì sự sắp xếp Man-đa-la có chút khác nhau, nhất là trong Phật gia trung tâm và Phật gia Kim cương. Các Phật gia có nhiều quyến thuộc, thuộc tính, vật cỡi, châu báu khác nhau, có khi được biểu diễn thêm bằng dạng nữ nhân.

Phật Giám Huệ Cần

(佛鑑慧懃, Bukkan Egon, 1059-1117): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, xuất thân vùng Thư Châu (舒州, Tỉnh An Huy), họ là Uông (汪), pháp từ của Ngũ Tổ Pháp Diễn (五祖法演), trú trì Hưng Quốc Thiền Viện (興國禪院) ở Thái Bình Sơn (太平山), thuộc Thư Châu. Vào năm đầu niên hiệu Chính Hòa (政和, 1111-1118) đời vua Huy Tông nhà Tống, ông nhận sắc chỉ của nhà vua đến trú tại Trí Hải Tự (智海寺) trên kinh đô, sau đó chuyển đến Tương Sơn (蔣山). Vào ngày mồng 8 tháng 11 năm thứ 7 niên hiệu Chính Hòa, ông tắm rửa sạch sẽ, thay áo quần rồi ngồi ngay ngắn mà thị tịch. Sau đó ông được ban cho hiệu là Phật Giám Thiền Sư (佛鑑禪師).

Phật giáo

佛教; S: buddhaśāsana; P: buddhasāsana;|Một trong ba tôn giáo lớn trên thế giới (hai tôn giáo lớn khác là Thiên chúa giáo và Hồi giáo). Phật giáo do đức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni sáng lập khoảng thế kỉ thứ 5 trước Công nguyên. Ngài là người đầu tiên giảng Tứ diệu đế, là giáo pháp trung tâm của đạo Phật, là điều mà Ngài đã chứng ngộ lúc đạt đạo. Bốn chân lí đó chính là câu trả lời cho câu hỏi của thời đại đó là: Tại sao con người cứ bị trói buộc trong Luân hồi (輪回; s: saṃ-sāra) và liệu con người có thoát khỏi nó chăng. Ðức Phật xem cuộc đời là Vô thường (無常; s: anitya; p: anicca), Vô ngã (無我; s: anātman; p: anattā) và vì vậy mà con người phải chịu Khổ (苦; s: duḥkha; p: duk-kha). Thấu hiểu Ba tính (三相; s: trilakṣaṇa; p: tilakkhaṇa) đặc trưng của sự vật đó là bắt đầu đi vào đạo Phật. Khổ xuất phát từ Ái (愛; s: tṛṣṇā; p: taṇhā) và Vô minh (無明; s: avidyā; p: avijjā), và một khi dứt được những nguyên nhân đó thì ta có thể thoát khỏi Vòng sinh tử (有輪; s: bhavacakra; p: bhavacakka). Cô chế làm cho chúng sinh còn vướng mãi trong vòng sinh tử được đạo Phật giải thích bằng thuyết Mười hai nhân duyên (緣起; duyên khởi; s: pratītyasamut-pāda; p: paṭiccasamuppāda). Chấm dứt vòng sinh tử chính là chứng ngộ Niết-bàn (涅槃; s: nirvāṇa; p: nibbāna). Theo Tứ diệu đế, con đường dẫn đến Niết-bàn là Bát chính đạo (八正道; s: aṣṭāṅgika-mārga; p: aṭṭhāṅgika-magga;), tức là tu học Giới (戒; s: śīla; p: sīla), Ðịnh (定; s: samādhi, dhyāna; p: samādhi, jhāna) và Huệ (慧; Trí huệ; s: prajñā; p: paññā). Tư tưởng cơ bản của đức Phật đều được nhắc lại trong các kinh sách, nhưng có khi chúng được luận giải nhiều cách khác nhau và vì vậy ngày nay có nhiều trường phái khác nhau, hình thành một hệ thống triết lí hết sức phức tạp. Giáo pháp đạo Phật được tập hợp trong Tam tạng (三藏; s: tripiṭaka; p: tipiṭaka). Tăng-già (僧伽; s, p: saṅgha) của đạo Phật gồm có Tỉ-khâu (比丘; s: bhikṣu; p: bhikkhu), Tỉ-khâu-ni (比丘尼; s: bhikṣuṇī; p: bhikkhunī) và giới Cư sĩ. |Sự phát triển đạo Phật có thể được chia làm bốn giai đoạn:|1. Giữa thế kỉ thứ 6 đến giữa thế kỉ thứ 5 (trước Công nguyên): Giai đoạn nguyên thuỷ, do đức Phật giáo hoá và các đệ tử của Ngài truyền bá.|2. Kể từ thế kỉ thứ 4 trước Công nguyên: Giai đoạn bắt đầu phân hoá ra nhiều trường phái qua các lần Kết tập (hội nghị) về giáo pháp.|3. Kể từ thế kỉ thứ 1 sau Công nguyên: Xuất hiện giáo phái Ðại thừa (大乘; s: mahāyāna;) với hai tông phái quan trọng là Trung quán tông (中觀宗; s: mādhyamika) và Duy thức tông (唯識宗; s: vijñānavāda, yogācāra).|4. Kể từ thế kỉ thứ 7: Sự xuất hiện của Mật tông Phật giáo (Phật giáo Tây Tạng, Kim cương thừa).|Sau thế kỉ thứ 13, Phật giáo được xem là bị tiêu diệt tại Ấn Ðộ, là nơi sản sinh đạo Phật. Từ thế kỉ thứ 3, đạo Phật được truyền đi các nước khác ngoài Ấn Ðộ và mang nặng bản sắc của các nước đó. Ngày nay, phái Tiểu thừa (小乘; s: hīnayāna) với quan điểm của Thượng toạ bộ (上座部; s: sthaviravāda; p: theravāda) được truyền bá rộng rãi tại Tích Lan, Thái lan, Miến Ðiện, Campuchia. Ðại thừa được truyền tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Hàn Quốc. Giáo pháp Kim cương thừa – cũng được xếp vào Ðại thừa – phát triển mạnh tại Tây Tạng, Mông Cổ. Ngày nay, chưa ai có một con số tín đồ Phật giáo chính xác, người ta ước lượng có khoảng từ 150 đến 500 triệu người.|Phật giáo tại Miến Ðiện: Truyền thuyết cho rằng Miến Ðiện đã tiếp cận với đạo Phật trong thời vua A-dục (s: aśoka, thế kỉ thứ 3 trước Công nguyên). Theo một thuyết khác, đạo Phật đã đến Miến Ðiện trong thời đức Phật còn tại thế, do hai thương nhân từ Ấn Ðộ mang tới. Những vị này mang theo cả tóc Phật, ngày nay được giữ trong đền Shwe-Dagon tại Rangun.|Kể từ thế kỉ thứ 5, Phật giáo phát triển rực rỡ với sự có mặt của Thượng toạ bộ và Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda). Kể từ thế kỉ thứ 7, hai phái Tiểu thừa và Ðại thừa cùng song hành tại Miến điện, sau đó Mật tông cũng bắt đầu có ảnh hưởng. Thế kỉ thứ 11, nhà vua A-na-ra-tha tuyên bố chỉ chấp nhận Thượng toạ bộ và từ đó, Ðại thừa biến mất tại đây. Tại Miến Ðiện, Pagan ở miền Bắc trở thành trung tâm Phật giáo. Phật giáo Miến Ðiện liên hệ chặt chẽ với Phật giáo Tích Lan, nhất là với Ðại Tự (p: mahāvihāra). Thế kỉ thứ 15, vua Ðạt-ma Tất-đề (p: dhammaceti) lại xác định lần nữa rằng, Phật giáo Miến Ðiện mang nặng quan điểm của Thượng toạ bộ. Sự có mặt của người Anh trong thế kỉ thứ 19 làm xáo trộn Phật giáo Miến Ðiện đáng kể. Mãi đến lúc giành lại độc lập năm 1947, Miến Ðiện mới trở lại cơ chế cũ. Năm 1956 tại Rangun có một cuộc kết tập kinh điển quan trọng. Ngày nay, 85% dân Miến Ðiện là Phật tử, đạo Phật được xem là quốc giáo.|Phật giáo tại Tích Lan: Người ta cho rằng Phật giáo đến Tích Lan khoảng năm 250 trước Công nguyên, do Ma-hi-đà và Tăng-già Mật-đa (p: saṅghamitta), hai người con của A-dục vương (s: aśoka; p: asoka), truyền từ Ấn Ðộ. Nhà vua Tích Lan hồi đó là Thiên Ái Ðế Tu (p: devānampiya tissa) trở thành Phật tử và thành lập Ðại Tự (p: mahāvihāra) nổi tiếng, nơi đó ông trồng một nhánh cây Bồ-đề của nơi Phật thành đạo. Ðại Tự trở thành trung tâm của Thượng toạ bộ.|Theo thời gian, nhiều tông phái Phật giáo khác thành hình và gây nhiều tranh cãi, đến nỗi có khi nhà vua phải can thiệp. Ðó là những tranh luận ban đầu của Tiểu thừa và mầm mống của Ðại thừa, của cả Mật tông thời bấy giờ. Cuối cùng, Thượng toạ bộ thắng, trong đó Phật Âm (s: buddhaghoṣa) – một Luận sư xuất sắc của Thượng toạ bộ – đóng vai trò quyết định. Tác phẩm của Phật Âm ngày nay vẫn còn ảnh hưởng lên Phật giáo Tích Lan. Ðến thế kỉ thứ 12, vua Ba-lạc-la Ma-bà-ha-y (p: parakkambahu), họp hội nghị Phật giáo và ép tất cả các trường phái phải theo giáo lí của Thượng toạ bộ tại Ðại Tự.|Qua thế kỉ thứ 16 người Bồ-đào-nha vào Tích Lan và tìm cách du nhập đạo Thiên chúa. Ðến thế kỉ thứ 17, người Hoà-lan lại ủng hộ việc khôi phục đạo Phật tại Tích Lan. Ngoài ra, Miến Ðiện và Thái Lan cũng có ảnh hưởng đáng kể lên nền đạo Phật tại đây. Kể từ khi Tích Lan giành lại độc lập năm 1948, đạo Phật luôn luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc tín ngưỡng và nền văn hoá của xứ này.|Phật giáo tại Nam Dương: Người ta cho rằng Phật giáo du nhập đến Nam Dương khoảng thế kỉ thứ 3 sau Công nguyên. Cao tăng Pháp Hiển, vị tăng Trung Quốc đầu tiên đến Ấn Ðộ, cũng là người đến Nam Dương năm 418. Cuối thế kỉ thứ 5 thì Phật giáo bắt đầu phát triển tại Nam Dương, đến thế kỉ thứ 7 thì Su-ma-tra và Ja-va trở thành hai trung tâm Phật giáo quan trọng. Tại đây, giáo lí Ðại thừa được truyền bá rộng rãi, có một số tư tưởng Tiểu thừa, có lẽ của Nhất thiết hữu bộ, được thừa nhận. Dưới thời vua Shai-len-dra, Phật giáo phát triển rực rỡ, đó là thời kì xây dựng tháp tại Bô-rô-bu-đua (borobudur), là Phật tích lớn nhất còn lưu tới ngày nay. Khoảng cuối thế kỉ thứ 8, Mật tông bắt đầu thịnh hành. Ðại thừa và Mật tông tồn tại mãi đến thế kỉ thứ 15, trong suốt thời gian này, Phật giáo Nam Dương liên hệ nhiều với Ấn Ðộ và với viện Na-lan-đà (s: nālandā). Với sự xâm nhập của Hồi giáo (e: islamism), Phật giáo bắt đầu tàn lụi tại Nam Dương, kể từ thế kỉ thứ 15. Ngày nay chỉ còn một số nhỏ tín đồ, nhất là trong giới người Hoa.|Phật giáo tại Campuchia: Người ta cho rằng Phật giáo du nhập vào Campuchia trong thế kỉ thứ 3 sau Công nguyên, theo văn hệ Phạn ngữ (sanskrit), theo trường phái Nhất thiết hữu bộ và đạt được đỉnh cao khoảng thế kỉ thứ 5, thứ 6. Năm 791 người ta tìm thấy gần đền Ðế Thiên Ðế Thích (Ăng-kor Wat) một văn bản chứng tỏ rằng, Ðại thừa đã có mặt nơi đây song song với việc thờ thần Thấp-bà (s: śiva). Sự hỗn hợp này có lẽ bắt nguồn từ việc thờ cúng Bồ Tát Quán Thế Âm, mà Thấp-bà được xem là một hoá thân. Mọi nhà vua của Campuchia cũng đều được xem là hoá thân của Quán Thế Âm. Sau một thời gian thì yếu tố thần Thấp-bà hầu như bị mất đi, nhưng đến thế kỉ thứ 13, người ta lại tôn thờ thần Thấp-bà và tăng già Phật giáo bị bức hại. Theo các Cao tăng Trung Quốc thì trong thời gian này, Thượng toạ bộ được phát triển trong lúc Ðại thừa bị lu mờ. Một số văn bản bằng văn hệ Pā-li ghi năm 1309 chứng minh rằng, Thượng toạ bộ được hoàng gia công nhận và kể từ đó là giáo phái chính thống của Campuchia. Mãi đến cuối thế kỉ thứ 19, Phật giáo truyền từ Thái Lan mới bắt đầu có ảnh hưởng.|Phật giáo tại Thái Lan: Người ta biết rất ít việc đạo Phật được truyền bá đến Thái Lan. Kết quả khảo cổ cho thấy Phật giáo đến Thái Lan khoảng thế kỉ thứ 6 từ Miến Ðiện. Ban đầu giáo lí Tiểu thừa có ảnh hưởng rộng rãi. Khoảng giữa thế kỉ thứ 8 và 13, Ðại thừa được truyền bá rộng hơn. Giữa thế kỉ 11 và 14, ảnh hưởng của Ấn Ðộ giáo bắt đầu phát triển. Trong thế kỉ 13, hoàng gia Thái Lan chính thức công nhận Thượng toạ bộ và mối liên hệ với Tích Lan trong thời kì này càng làm cho bộ này phát triển thêm rộng rãi. Năm 1782, nhà vua triệu tâp một đại hội nhằm kiểm điểm lại Tam tạng kinh điển. Trong thế kỉ thứ 19, nhà vua Ma-ha Mông-cút (mongkut) lên ngôi, bản thân ông cũng là một tăng sĩ, ông là người đặt nền tảng cho nền Phật giáo cận đại. Ông thành lập Pháp tông (dhammayut), cơ sở dựa vào Luật tạng và ngày nay có nhiều tín đồ nhất tại Thái Lan. Vua Chu-la-lang-korn – trị nước từ 1868 đến 1910 – cho xuất bản các tạng kinh quan trọng của đạo Phật, có thể gọi là đầy đủ nhất từ xưa đến nay. Ngày nay, 95% dân số Thái Lan theo đạo Phật.|Phật giáo tại Hàn Quốc: Từ Trung Quốc, Phật giáo lan qua Hàn quốc trong thế kỉ thứ 4 sau Công nguyên và phát triển rực rỡ nhất là giữa thế kỉ thứ 6 và thứ 9. Trong thời kì này, các trường phái quan trọng của Trung Quốc đều được thành lập tại Hàn Quốc như Thiền tông, Hoa nghiêm tông, Mật tông (Chân ngôn tông). Bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: prajñāpāramitā-sūtra) cũng được truyền bá rộng rãi rất sớm tại Hàn Quốc. Người ta cũng tìm thấy nhiều tác phẩm văn hoá mang đặc tính Phật giáo tại đây. Suốt thời nhà Lí (yi, 1392-1910), nền văn hoá Khổng giáo trở thành quốc đạo và tăng ni Phật giáo bị ép buộc phải vào núi tu hành. Sau năm 1945, Phật giáo được phục hưng và phát sinh một phong trào mới gọi là Viên Phật giáo (e: won-buddhism). Ngày nay, tại Hàn Quốc người ta ít phân biệt các tông phái đạo Phật và thực hành song song với nhau thiền quán, niệm Phật A-di-đà và tụng kinh. Phép niệm thần chú cũng được truyền bá rộng rãi, vốn có nguồn gốc từ Mật tông của thời trung cổ. Trong giới trí thức, Thiền tông được nhiều người theo, trong lúc giới dân giã lấy niệm danh hiệu các đức Phật làm chủ yếu. Trộn lẫn với đạo Phật là hình thức thờ đa thần như thần núi, linh vật, thần tinh tú.

phật giáo giáo lí

(佛教教理) Các hành vô thường (tính thời gian) Các pháp vô ngã (tính không gian) Tất cả đều khổ : 12 duyên khởi – thuận quán = Lưu chuyển duyên khởi Niết bàn tịch tĩnh : 12 duyên khởi – nghịch quán = Hoàn diệt duyên khởi Bốn Pháp Ấn Vì cái này sinh nên cái kia sinh Vì cái này diệt nên cái kia diệt Vì cái này có nên cái kia có Vì cái này không nên cái kia không Pháp duyên khởi Khổ Tập Diệt Đạo Pháp tứ đế 2. Giáo lí Phật giáo bộ phái: Trong các kinh điển nguyên thủy (kinh A hàm), nền giáo lí của Phật giáo nguyên thủy hoàn toàn chưa được tổ chức hoặc thống nhất, những giáo lí có tính cách nhất quán được trình bày ở mục trên đều là do các bậc Tổ sư và học giả đời sau đã nghiên cứu các kinh điển nguyên thủy, rồi phân tích, thuyết minh, giải thích và tổ chức tổng hợp mà thành. Các phương pháp nghiên cứu có tính cách học thuật ấy của các ngài được gọi là A tì đạt ma (Phạm: Abhidharma, Pàli: Abhidhamma). Phương pháp nghiên cứu này về sau dần dần phát triển, đến khi Phật giáo nguyên thủy sắp bị phân hóa thành các bộ phái thì sự giải thích giáo lí một cách quá chi li đã trở thành 1 trong những nguyên nhân đưa đến sự phân hóa ấy. Từ đó, mỗi bộ phái đều tự giải thích và tổ chức giáo lí, rồi biên soạn thành các bộ sách giáo lí cho riêng mình, gọi là Căn bản A tì đạt ma luận thư. Các bộ luận thư ở thời kì đầu là những sách chú thích, thuyết minh, chỉnh lí và tổ chức những giáo lí trong kinh điển nguyên thủy, cho nên quan hệ rất mật thiết với kinh điển. Nhưng đến các bộ luận thư ở thời kì sau thì mối quan hệ mật thiết ấy đã phai mờ dần, cuối cùng đã thành lập các học thuyết thuần túy A tì đạt ma, chứ không dính dáng gì đến kinh điển. Ở thời đại Phật giáo nguyên thủy, tất cả giáo lí đều gắn liền với sự tu hành thực tiễn. Nhưng đến các bộ luận thư ở thời kì sau của Phật giáo bộ phái thì dần dần đã xa rời sự tu hành thực tiễn mà chú trọng khảo sát những vấn đề như hữu, vô, giả, thực của sự vật, chứ ít quan tâm đến ý nghĩa thực tiễn. Ngoài ra, ở thời đại Phật giáo bộ phái, giữa các phái thường xảy ra các cuộc tranh luận về giáo lí và mỗi phái đều chấp 1 học thuyết khác nhau. Các chủ đề tranh luận chính là Phật đà quan, Niết bàn luận, Nhân quả luận, Tâm pháp luận. 3. Giáo lí Phật giáo Đại thừa ở thời kì đầu: Phật giáo Đại thừa ở thời kì đầu phản đối khuynh hướng lấy Thực tại luận làm trọng tâm, nghiêng về mặt hình thức, học thuật của Phật giáo bộ phái, mà đề xướng chủ trương quay về với nền tín ngưỡng thực tiễn tu hành xưa nay của Phật giáo nguyên thủy. Giữa các nhà chủ trương canh tân, Phật giáo Đại thừa đã hưng khởi. Khác với nhân cách lí tưởng (tức tu theo Tứ đế, Bát chính đạo để thành A la hán)của Phật giáo bộ phái, Đại thừa chủ trương Bồ tát tu trì Lục ba la mật để thành Phật và cho rằng Phật giáo bộ phái là Tiểu thừa tự lợi, còn Đại thừa là Bồ tát lợi tha. Ngoài ra, về mặt các giai đoạn tu hành, Đại thừa thành lập thuyết Thập địa, tức Bồ tát theo thệ nguyện lợi tha, phát tâm bồ đề, tu hành qua 10 giai vị mà thành Phật. Lợi tha tức là nỗ lực thực hiện hạnh bố thí là hạnh đứng đầu Lục ba la mật (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ). Giáo thuyết của Đại thừa triệt để hiển bày lí không, vô ngã. Đây là giáo lí đứng trên lập trường duyên khởi của Phật giáo nguyên thủy để bài xích Thực tại luận của Thuyết nhất thiết hữu bộ Tiểu thừa. Học thuyết của Phật giáo Đại thừa ở thời kì đầu này chủ yếu là bộ Trung luận của ngài Long thụ, triệt để thuyết minh lí Không, là cơ sở lí luận cho Phật giáo Đại thừa ở thời kì sau. Không chỉ cho sự tu hành không, vô ngã một cách thực tiễn; chẳng hạn như bố thí là thực hành bố thí với tinh thần Tam luân thể không (tức không thấy có người bố thí, không thấy người nhận của bố thí và không thấy có vật để bố thí). Nói theo quan điểm này thì Phật giáo Đại thừa thời kì đầu, bất luận về phương diện lí luận hay thực tiễn, đều có thể đã trở về với lập trường cố hữu, thuần túy của Phật giáo nguyên thủy. Nhưng về kinh điển của Phật giáo Đại thừa cũng giống hệt như kinh điển của Phật giáo nguyên thủy, nghĩa là về mặt giáo lí cũng thiếu sự chỉnh lí và tổ chức thống nhất. 4. Giáo lí Phật giáo Đại thừa ở thời kì giữa: Phật giáo Đại thừa ở thời kì này chú trọng sự nghiên cứu có tính cách học thuật, triết học. Tức về tổ chức giáo lí, ngoài những tư tưởng ở thời kì đầu, còn triển khai thêm 3 thuyết chính: Du già duy thức, Như lai tạng Phật tính và thuyết tổng hợp 2 thuyết trên. Giáo lí Du già duy thức (Du già hành phái) gồm có các thuyết: a) Duy thức: Khai triển từ thuyết Tam giới hư vọng, đãn thị nhất tâm tác (Ba cõi hư dối, chỉ do tâm tạo)trong kinh Hoa nghiêm của Đại thừa thời kì đầu. Đây cũng là thuyết kế thừa thuyết Duyên khởi của Phật giáo nguyên thủy. Nghĩa là tất cả các hiện tượng sinh tử luân hồi đều lấy thức (hàm có ý niệm thiện ác) làm nguyên nhân sinh khởi, ngoài thức ra không nương vào bất cứ cái gì khác, cho nên gọi là Duy thức (chỉ có thức). Duy thức là biến hóa vô thường, vì thế nên tương thông với thuyết Vô ngã. b) Nhị vô ngã: Chỉ cho Nhân vô ngã và Pháp vô ngã. Trong Phật giáo bộ phái, như Độc tử bộ chủ trương có nhân ngã và pháp ngã; còn Thuyết nhất thiết hữu bộ tuy phủ định nhân ngã, nhưng lại xác nhận pháp ngã (thuyết Pháp thể hằng hữu). Phật giáo Đại thừa thời kì giữa hoàn toàn phủ định các thuyết Hữu ngã này mà chủ trương thuyết Nhị vô ngã. Đây là tiếp nối thuyết Bát nhã giai không của Đại thừa thời kì đầu. c) Tam tính: Chỉ cho tính Biến kế sở chấp (tính phân biệt), tính Y tha khởi (tính Y tha) và tính Viên thành thực (tính thành thực). Sự giải thích về Tam tính giữa tông Pháp tướng (Duy thức hữu môn) và tông Pháp tính (Duy thức không môn) có khác nhau. Tam tính chẳng những chỉ giải thích về mặt duy thức, mà cũng bàn đến sự tồn tại của tất cả mọi hiện tượng. Chẳng hạn như:1) Tính y tha khởi: Tất cả hiện tượng vật chất, tinh thần không thể tồn tại một cách cô lập mà phải nhờ vào những nguyên nhân, điều kiện thời gian, không gian. Điều này tương đương với Các hành vô thường, các pháp vô ngã trong Phật giáo nguyên thủy. 2) Tính biến kế sở chấp: Hàng phàm phu vì các phiền não vô minh, khát ái mà bám chặt vào các hoạt động tạo nghiệp, có thể gọi đó là tướng Biến kế sở chấp. Tương đương với Tất cả đều khổ, Khổ đế, Tập đế và Duyên khởi lưu chuyển trong Phật giáo nguyên thủy. 3) Tính viên thành thực: Trạng thái lí tưởng của bậc Thánh đãdiệt trừ hết sạch phiền não chấp trước, thoát li luân hồi, thành tựu không vô sở đắc. Tương đương với Niết bàn tịch tĩnh, Đạo đế, Diệt đế và Duyên khởi hoàn diệt của Phật giáo nguyên thủy. Tam tính đều có quan hệ với Duyên khởi, cũng đều là giáo lí thuộc về vô ngã. Để phá trừ sự chấp trước đối với Tam tính mà lập ra thuyết Tam vô tính, tức Tướng vô tính (cảnh biến kế là hư giả vô tướng), Sinh vô tính (các pháp y tha là duyên sinh có giả) và Thắng nghĩa vô tính(các tính rốt ráo là không). Đây cũng là nối tiếp thuyết Bát nhã giai không của Đại thừa ở thời kì đầu. 4) Bát thức: Chỉ cho 6 thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) của Phật giáo nguyên thủy, của Phật giáo bộ phái và thức Mạt na thứ 7, thức A lại da thứ 8 của phái Du già hành mới thêm vào sau. Thức thứ 7 là nguồn gốc của phiền não ngã chấp. Thức thứ 8 bao hàm những chủng tử của nhận thức phán đoán, tư duy...… trải qua trong quá khứ, tương đương với vô minh, hành, thức…...trong 12 duyên khởi của Phật giáo nguyên thủy. Nó (thức thứ 8) cũng tương đương với căn bản thức, hữu phần thức, nhất vị uẩn, cùng sinh tử uẩn...… là chủ thể luân hồi do Phật giáo bộ phái chủ trương. Phật giáo Đại thừa thời kì giữa cũng kế thừa học thuyết nói trên rồi phát triển thêm bước nữa. Bởi vì thuyết Bát thức của Đại thừa thời kì giữa lấy thức A lại da thứ 8 làm trung tâm để thuyết minh sự vận hành của vòng luân hồi lưu chuyển, làm thế nào để thoát li luân hồi mà đạt đến Niết bàn lí tưởng và làm thế nào để chuyển các thức hữu lậu thành 4 trí vô lậu. Đồng thời, thức A lại da thứ 8 cũng được sử dụng giải thích rõ sự vận hành của duyên khởi lưu chuyển và duyên khởi hoàn diệt. Như đã trình bày ở trên, giáo lí căn bản của phái Du già hành được đặt trên nền tảng thuyết Bát nhã giai không của Đại thừa thời kì đầu, đồng thời, cũng chịu ảnh hưởng về giáo tướng của Thuyết nhất thiết hữu bộ, Kinh lượng bộ của Phật giáo bộ phái. Phái Du già hành được gọi là Pháp tướng tông, vì phái này đứng về phương diện tướng(hiện tướng) để khảo sát sự tồn tại của vạn vật. Trái lại, các thuyết tổng hợp thuộc hệ thống Như lai tạng thì đứng trên lập trường bản tính chân như để khảo sát sự tồn tại của các pháp, vì thế cũng gọi là Pháp tính tông. Thuyết Như lai tạng, Phật tính của tông Pháp tính là kế thừa thuyết Tâm tính bản tịnh của hệ thống Đại chúng bộ trong Phật giáo bộ phái, rồi cải thiện, phát huy thêm mà thành. Nếu nói theo sự quan hệ giữa Phật giáo Đại thừa thời kì giữa và Phật giáo bộ phái thì tông Pháp tướng chịu ảnh hưởng tư tưởng của Thượng tọa bộ hệ, còn tông Pháp tính thì chịu ảnh hưởng tư tưởng của Đại chúng bộ hệ. Dung hợp thuyết A lại da (Pháp tướng) và thuyết Như lai tạng (Pháp tính) là loại thuyết Tổng hợp thứ 3 của Phật giáo Đại thừa thời kì giữa; thuyết Tổng hợp lấy giáo lí của luận Đại thừa khởi tín làm cơ sở. Thuyết này ở Ấn độ không được lưu truyền rộng rãi và hầu như không được nói đến trong các kinh điển tiếng Phạm. Trên Nhất tâm, luận Đại thừa khởi tín lại lậpTâm sinh diệt và Tâm chân như; nếu phối hợp với thuyết Tam tính thì Nhất tâm tương đương với tính Y tha khởi nhiễm tịnh biến hóa, Tâm sinh diệt tương đương với tính Biến kế sở chấp nương vào vọng kiến phân biệt mà sinh khởi, còn Tâm chân như thì tương đương với tính Viên thành thực thanh tịnh, lìa vọng tưởng phân biệt. Nửa sau của thời kì Phật giáo Đại thừa thời kì giữa cũng đề xướng học thuyết Trung quán. Cũng như Duy thức chia làm Duy thức hữu tướng và Duy thức vô tướng, học phái Trung quán cũng chia làm phái Tự lập (Phạm: Svàtantrika) và phái Phá tà (Phạm: Prasaígika) chuyên chỉ trích lỗi lầm và đả phá lập luận của đối phương, nhưng giáo lí và tổ chức chưa được hoàn bị như phái Du già hành. 5. Giáo lí Phật giáo Đại thừa thời kì sau: Để đối kháng với tư tưởng triết học thịnh hành ở đương thời, Phật giáo không thể không quan tâm đến những vấn đề có tính tri thức, lí luận và phán đoán chính xác...… Do đó, Phật giáo Đại thừa thời kì giữa đã nghiên cứu và ứng dụng Nhân minh học(tức Luận lí học)làm tiêu chuẩn cho tri thức để phát triển giáo lí Phật giáo. Nhưng, trên thực tế, Nhân minh học và tín ngưỡng không liên quan gì với nhau, vậy nếu đem triết học hóa, chuyên môn hóa giáo lí Phật giáo thì tưởng rằng khó tránh khỏi khuynh hướng phù phiếm, trừu tượng, vô nghĩa mà rơi vào trống không. Để điều chỉnh nguy cơ này, đưa Phật giáo trở về lập trường tín ngưỡng tông giáo cố hữu của mình, nên Mật giáo đã hưng khởi, tiêu biểu cho Phật giáo Đại thừa thời kì sau. Giáo lí của Mật giáo, một mặt chịu ảnh hưởng vănhọc Đát đặc la (Phạm: Tantra) đang thịnh hành ở thời bấy giờ, dùng ý nghĩa tượng trưng bình dị để hiển bày lí luận triết học sâu xa của Phật giáo, mặt khác, lại đặc biệt chú trọng tín ngưỡng thực tiễn. Tầng trên của lí luận Mật giáo gọi là Giáo tướng, là sử dụng học thuyết đã có từ trước, dùng phương thức tượng trưng để nói rõ giai đoạn tu hành từ lúc phát tâm bồ đề cho đến khi thành Phật, khiến cho dễ đạt thành lí tưởng. Phương pháp chung cho việc thành tựu lí tưởng là Tam mật gia trì: Thân mật kết ấn khế, khẩu mật tụng chân ngôn (Đà la ni ), ý mật quán tưởng Phật và Bồ tát cũng như chủng tử của các Ngài. Giáo lí căn bản của Mật giáo lấy tâm bồ đề làm nhân, lấy đại bi làm gốc và lấy phương tiện làm cứu cánh. Đây tức là thuyết Tức sự nhi chân, Đương tướng tức đạo. 6. Giáo lí Phật giáo ở Trung quốc và Nhật bản: Phật giáo Đại, Tiểu thừa của Ấn độ nói trên đây, đều đã được truyền đến Trung quốc và Nhật bản. Ở Trung quốc, giáo lí Phật giáo đã phát triển thành các tông phái rất hưng thịnh, như tông Tì đàm, tông Thành thực, tông Địa luận, tông Nhiếp luận, tông Thiên thai, tông Tam luận, tông Pháp tướng, tông Câu xá, tông Hoa nghiêm, tông Chân ngôn...… Sau khi được truyền vào, giáo lí Phật giáo Nhật bản cũng phát triển thành các tông như: Thiên thai, Chân ngôn, Chân tông, Nhật liên...… mang sắc thái riêng. (xt. Nguyên Thủy Phật Giáo, Bộ Phái Phật Giáo).

phật giáo học quan hệ tạp chí luận văn phân loại mục lục

(佛教學關係雜志論文分類目錄) Tác phẩm, 1 tập, do thư viện Đại học Long cốc ở Nhật bản biên soạn. Nội dung sách này chia làm 19 hạng mục, thu chép tất cả những đề mục có liên quan đến học thuyết Chân tông và giáo học của Phật giáo nói chung. Đây là bộ sách rất cần thiết cho những ai muốn nghiên cứu về giáo học của Phật giáo.

phật giáo lịch pháp

(佛教曆法) Lịch pháp của Phật giáo, tức là Phạm lịch đời cổ. Lịch pháp thiên văn nói trong kinh Phật là loại lịch pháp được thông dụng ở thời bấy giờ. Lịch pháp này là Phật giáo căn cứ vào thuyết núi Tu di mà thành lập. Phạm lịch lấy khoảng thời gian từ ngày 16 (ngày trăng tròn) tháng này đến ngày 15 tháng sau làm 1 tháng. Khoảng thời gian từ ngày 16 đến ngày 30 (hoặc 29 nếu là tháng thiếu), gọi là Hắc phần (phần đen) hoặc Hắc nguyệt (tháng đen). Từ ngày mồng 1 (trăng nhú) đến ngày 16 (trăng tròn) gọi là Bạch phần (phần trắng) hay Bạch nguyệt (tháng trắng). Cho nên, 1 tháng theo Phạm lịch tương đương với khoảng thời gian từ ngày 16 âm lịch đến ngày 15 tháng sau. Tên của 12 tháng trong 1 năm theo Phạm lịch đối chiếu với Nông lịch (âm lịch) được đồ biểu như sau. (thiếu biểu đồ). Trong đó, từ ngày 16 tháng giêng đến ngày 15 tháng 3 là thời gian không khí nóng dần lên; từ ngày 16 tháng 3 đến 15 tháng 5 là thời gian rất nóng; từ ngày 16 tháng 5 đến 15 tháng 7 là thời gian mưa nhiều, từ ngày 16 tháng 7 đến 15 tháng 9 là thời gian cây cỏ tốt tươi, từ ngày 16 tháng 9 đến 15 tháng 11 là thời gian khí hậu lạnh dần, từ ngày 16 tháng 11 đến 15 tháng giêng năm sau là thời gian khí hậu rất lạnh; trên đây gọi là Tuế phân lục thời (1 năm chia làm 6 mùa), gọi tắt là Lục thời. Trong lục thời, thời gian nóng dần và thời gian rất nóng được gộp chung lại gọi là Nhiệt thời hoặc Nhiệt tế; thời gian mưa nhiều và thời gian cây cỏ tốt tươi gộp chung lại gọi là Vũ thời hoặc Vũ tế (mùa mưa); thời gian lạnh dần và thời gian rất lạnh gộp chung lại gọi là Hàn thời hoặc Hàn tế (mùa lạnh). Trên đây gọi là Tam thời hoặc Tam tế. Nhưng vấn đề Tam tế được phối hợp như thế nào với ngày tháng thì có nhiều thuyết khác nhau. Điều được trình bày trên đây là căn cứ theo thuyết của ngài Chân đế của Đại đường tây vực kí. Ngoài ra cũng có thuyết sớm hơn 1 tháng hoặc sớm hơn 2 tháng. Thời gian từ tháng Chế đát la đến tháng Thệ sắt tra là Xuân; thời gian từ tháng Át sa đồ đến tháng Bà đạt la bát đà là Hạ; thời gian từ tháng A thấp phạ dữu xà đến tháng Mạt già thủy la là Thu; thời gian từ tháng Báo sa đến tháng Phả lặc lũ noa là Đông. Trên đây cũng gọi là Tứ thời (4 mùa). Cũng có thuyết chia làm Đông, Xuân, Vũ, Chung và Trường gọi là Ngũ thời. (xt. Phật Giáo Thiên Văn Học)

phật giáo nghi lễ

(佛教儀禮) Những nghi lễ được cử hành trong Phật giáo. 1. Ấn độ: Những nghi lễ mà giáo đoàn Phật giáo thực hành trong thời kì đầu là Bố tát, an cư, tự tứ, xuất gia, thụ giới...… Những nghi lễ này, cho đến ngày nay, vẫn được giáo đoàn Phật giáo Nam truyền tổ chức y hệt như vậy. Thủa xưa, cứ 5 năm một lần, vua A dục cử hành Đại hội Vô già (Phạm: Mahàvàrwika), triệu thỉnh chúng tăng tham dự để cúng dường. Đại hội này, đến đời sau, vẫn được Ấn độ và các nước vùng Tây vực tiếp nối tổ chức. Vào những ngày kỉ niệm đức Phật đản sinh, thành đạo, niết bàn...… hàng năm, giới Phật giáo Nam truyền đều cử hành đại lễ Vệ tắc (Pàli: Vesàkha-pùjà). 2. Trung quốc: Cứ theo truyện Đào khiêm trong Hậu Hán thư quyển 103 thì thời vua Hiến đế nhà Hán, Sạ dung thường cử hành lễ tắm Phật vào ngày Phật đản, sau đó thiết trai cúng dường. Kế đến các thời đại Tam quốc, Tây Tấn, Tiền Tần, Hậu Tần, Đông Tấn, Nam Bắc triều…... đều có các lễ nghi như thuyết pháp, giảng kinh, quy y, thụ giới, bố thí, phóng sinh, thiết trai, sám hối…... Đến các thời đại Tùy, Đường thì ngoài các nghi lễ nói trên được cử hành trong dân gian, vua còn thiết lập đạo tràng trong nội cung rồi thỉnh các vị cao tăng vào giảng kinh, thuyết pháp để cầu cho quốc thái dân an. Đến thời Ngũ đại và đời Tống thì có Thiên tăng trai (thiết trai cúng dường nghìn vị tăng), Thủy lục đại trai (bố thí chúng sinh), Nhiên đăng hội(hội thắp đèn), sám pháp Phổ hiền, Pháp hoa. Đến các đời Nguyên, Minh thì có pháp hội Vô già, hội Long hoa, hội Hoa nghiêm và các sám pháp Di đà, Pháp hoa, Đại bi, Lăng nghiêm…... 3. Nhật bản: Nghi lễ Phật giáo Nhật bản trước thời đại Bình an phần lớn chịu ảnh hưởng của nghi lễ Phật giáo Trung quốc trước đời Tùy, Đường. Các pháp hội được cử hành gồm có: Pháp hoa, Dược sư, Quan âm, Địa tạng, Thích ca, Di đà...… Trong các pháp hội này thường tụng kinh, niệm danh hiệu Phật để sám hối tội lỗi và cầu nguyện cho đất nước thái bình, nhân dân an lạc. Còn các pháp hội giảng kinh do Thiên hoàng ban sắc tổ chức thì thường là các pháp hội Duy ma, Pháp hoa, Hoa nghiêm, Nhân vương bát nhã...… Ngoài ra, các pháp hội có khuynh hướng dân gian là Báo ân giảng, Vu lan bồn, Đại niệm Phật...… là những pháp hội được tổ chức trên toàn quốc để dân chúng tham gia và có giá trị cũng như hiệu quả giáo dục rất cao. Những nghi lễ cầu siêu, cầu an cũng rất phổ cập.

phật giáo nghệ thuật

(佛教藝術) Nghệ thuật Phật giáo. Từ thời kì Phật giáo nguyên thủy đến thời kì Phật giáo bộ phái, nghệ thuật Phật giáo mới chỉ giới hạn trong các bức vẽ hoặc điêu khắc bàn chân Phật, tòa kim cương, cây Bồ đề…... để tượng trưng cho đức Phật, chứ chưa mở rộng đến các lĩnh vực khác. Đến khoảng trước sau kỉ nguyên Tây lịch, khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi, giới tăng sĩ có tinh thần canh tân, đả phá quan niệm bảo thủ của thời Phật giáo bộ phái không dám đắp vẽ tượng Phật, bắt đầu tạo tượng Phật để lễ bái cúng dường. Từ đó, việc tạo hình tượng Phật trở thành phong trào phổ biến khắp nơi, nhờ thế mà nghệ thuật Phật giáo nói chung như điêu khắc, kiến trúc, hội họa... phát triển rất mạnh. Nghệ thuật Phật giáo Ấn độ có thể được chia làm 2 trường phái là: Nghệ thuật Phật giáo Ấn độ thuần túy và Nghệ thuật Kiện đà la chịu ảnh hưởng nghệ thuật Hi lạp, Ấn độ, Đại hạ, An tức...… Khoảng đầu thế kỉ IV, lấy Ma yết đà làm trung tâm, Vương triều Cấp đa thống nhất Ấn độ, thì nghệ thuật Ấn độ và nghệ thuật Kiện đà la lần lượt theo Phật giáo mà được truyền vào Trung quốc. Đến các đời Tùy, Đường thì văn hóa và nghệ thuật Phật giáo đã kết hợp với tinh thần người Trung quốc khiến cho nghệ thuật Phật giáo trở thành hình thái thuần túy Trung quốc. Đứng về phương diện nguồn gốc và phạm vi phát triển rộng lớn mà nói thì nghệ thuật Phật giáo có thể được chia ra 3 hệ thống lớn là Tiểu thừa, Đại thừa và Mật giáo. 1. Nghệ thuật của Phật giáo Tiểu thừa: Chủ thể của nghệ thuật Phật giáo Tiểu thừa là lấy các di vật Phật giáo được sùng bái ở thời kì đầu, như kiến trúc tháp Phật, làm cơ sở. Còn về hội họa, điêu khắc thì phần nhiều lấy các truyện tiền thân của đức Phật (Bản sinh đàm) và các chuyện thí dụ làm chủ đề. Khuynh hướng này tiếp tục mãi cho đến sau khi phong trào tạo tượng Phật đã phổ cập. Hệ thống nghệ thuật này lưu hành ở các nước Phật giáo Nam truyền như: Tích lan, Miến điện, Thái lan, Cao miên, Lào…... 2. Nghệ thuật Phật giáo Đại thừa: Nghệ thuật Phật giáo Đại thừa lấy việc tạo tác và sùng bái tượng Phật làm trung tâm, bắt nguồn từ Ấn độ, qua vùng Trung á rồi truyền đến Trung quốc, Nhật bản...… Tuy nhiên, nghệ thuật Phật giáo ở vùng Trung á và Trung quốc vào thời kì đầu, mang rất đậm sắc thái của nghệ thuật Phật giáo Tiểu thừa. 3. Nghệ thuật Mật giáo: Nghệ thuật của Mật giáo bắt đầu ở Ấn độ vào khoảng thế kỉ VII, VIII, trong đó có 1 hệ phái được truyền đến Trung quốc, từ đó truyền sang Nhật bản rồi trở thành dòng phái nghệ thuật chủ yếu của thời đại Bình an, Liêm thương ở Nhật bản. Lại có 1 hệ phái nữa được truyền qua Nepal, rồi từ đó vào Tây tạng, phát triển thành nghệ thuật đặc hữu của Lạt ma giáo, về sau truyền đến Mông cổ và các nước vùng Đông bắc. Đặc điểm lớn nhất trong nghệ thuật Mật giáo là tính chất gắn liền giữa nghi lễ tông giáo và nghệ thuật, như tượng Bản tôn và tượng của các vị tôn khác trong các pháp tu… là chủ đề quan trọng nhất của nghệ thuật Mật giáo. Tượng chư tôn trong Mật giáo phần nhiều là từ tượng thần của Ấn độ giáo chuyển hóa, sau khi du nhập Mật giáo, chủng loại các tôn tượng được tăng thêm, đồng thời, hình tượng cũng biến hóa (như nhiều mặt, nhiều tay, tay cầm vũ khí, với hình dáng dữ tợn, trợn mắt, nhe răng, tóc dựng đứng, vẻ phẫn nộ…...). Ngoài ra, nghệ thuật Mật giáo còn bao gồm các bức vẽ Mạn đồ la của Kim cương giới, Thai tạng giới và các pháp khí như chày kim cương, chuông, mõ, tràng hoa, lò hương, bảo châu, ma ni luân… tất cả đều có phong cách nghệ thuật. Nói tóm lại, nghệ thuật của Mật giáo hết sức phức tạp và chiếm 1 địa vị trọng yếu trong toàn bộ nghệ thuật Phật giáo nói chung. Nói chung, nghệ thuật Phật giáo có thể được chia làm mấy loại như: Kiến trúc, Điêu khắc, Hội họa và Công nghệ. I. Kiến trúc. Cứ theo sự ghi chép trong các kinh điển thì khi đức Phật còn tại thế đã có các tinh xá lớn, như tinh xá Kì viên với đầy đủ các kiến trúc như chính điện, nhà liêu(phòng tăng),nhà kho, nhà khách, nhà bếp, nhà đi dạo, nhà tắm, hồ sen, nhà chữa bệnh...… Các bức tranh lễ Phật khắc trên đá ở tháp Ba hách đặc tại Ấn độ Một loại Mạn đồ la kiến trúc đương thời còn lưu lại đến đời sau thì chủ yếu là Tháp (Phạm: Stùpa), Tháp viện (Phạm: Caitya-gfha), Tăng viện (Phạm: Vihàra), tháp nhọn (Phạm: Zikhara)…... Thông thường 3, 4 kiến trúc thì có thể cấu tạo thành 1 ngôi già lam, vật liệu xây cất chủ yếu là gạch và đá. Về hình thái kiến trúc của Phật giáo thì đại khái có tháp, hang đá, tăng viện, ngọc viên, cửa, cột đá, cột kinh, Mạn đồ la...…1. Tháp: Cũng gọi Cao hiển xứ. Hán dịch: Mộ, miếu. Vốn được xây dựng để thờ xá lợi của đức Phật, cho nên có phong cách sùng bái đặc biệt của Phật giáo, là trung tâm của quần thể kiến trúc (già lam, chùa viện) trong Phật giáo. Về hình dạng thì có hình tròn, hình bán cầu kiểu bát úp (bắt đầu vào thời đại vua A dục), hình vuông...… Về nguyên liệu thì tháp cổ ở Ấn độ phần nhiều trong ruột tháp chứa đầy đất và đá, bề ngoài thân tháp thì xây bằng đá, hoặc gạch, trát vữa. Kiểu bát úp hình bán cầu là kiểu tháp xưa ở Ấn độ, kiểu kiến trúc quan trọng nhất còn lại mà ngày nay được thấy là di tích ở Sơn kì (Phạm: Sànchi), chính giữa tháp chôn giấu đồ đựng xá lợi, 4 chung quanh có lan can, cửa tháp mở rộng, nền tháp hình vuông. Kiểu tháp này về sau được truyền đến Trung quốc như tháp Nhạn, tháp Lạt ma...…, xây bằng gạch hoặc bằng đá. 2. Hang đá: Trong số các hang đá của Tiểu thừa thì hang Bạt xà (Bhaja), Khang đả lí (Komdane) là xưa nhất. Tại Trung quốc thì hang đá Vân cương ở Đại đồng là to lớn nhất, là di tích của đời Bắc ngụy và đời Tùy. Ngoài ra còn có các hang đá ở Long môn, Lạc dương, tỉnh Hà nam, hang ở huyện Củng, hang ở núi Thê hà tại Nam kinh, hang ở núi Thiên long tại Thái nguyên, tỉnh Sơn tây...… Trong các hang đá kể trên hiện còn những pho tượng bằng đá, những đồ trang sức, các bức bích họa rất phong phú, biểu hiện nền nghệ thuật tổng hợp của Phật giáo. 3. Tăng viện: Phạm:Vihàra. Cũng gọi Tăng phòng. Có 4 loại: Đơn độc tăng viện, Đơn tằng tăng viện, Bình địa tăng viện và Trùng tằng tăng viện. Tại Ấn độ, lúc đầu, Tăng viện được kiến trúc bằng gỗ, sau thì dần dần xây bằng đá. Ở trong tăng viện còn có các kiến trúc cần thiết cho sinh hoạt của chúng tăng như: Nhà thờ, nhà giảng...…, thông thường những kiến trúc này tổ hợp lại mà hình thành 1 ngôi chùa viện. Nhưng ở Trung quốc thì thường tổ hợp 7 kiến trúc thành 1 đơn vị, gọi là Thất đường già lam.4. Ngọc viên, cũng gọi Chu viên. Các kiến trúc như già lam, tháp, tăng viện...… đều có ngọc viên xây bằng đá bao chung quanh gọi là Ngọc viên; trên ngọc viên có những bức tranh khắc nổi rất tinh vi, đề tài phần nhiều là sư tử, voi, bò, ngựa, bánh xe, cây Bồ đề, và chuyện bản sinh. 5. Cột đá: Do vua A dục dựng ở các nơi Phật tích, trên thân cột có khắc lời chiếu chỉ, pháp sắc của vua; trên đầu cột khắc voi, sư tử, bánh xe…... 6. Cột kinh: Hình dáng như cột cờ, 2 bên phía trước tháp mỗi bên đều dựng 1 cột (giống như tấm bia hình chữ nhật của Trung quốc). 7. Mạn đồ la: Hình tượng Mạn đồ la được kiến tạo bằng vàng, bạc; kiểu thì có hình tròn, hình vuông, hình hoa sen, hình tam giác…... II. Điêu Khắc. Sau khi đức Phật nhập diệt, các đệ tử và tín đồ dùng tòa kim cương, lá bồ đề, bánh xe pháp, bàn chân Phật, cây lọng… để tượng trưng đức Phật mà làm đối tượng lễ bái. Mãi đến khoảng giữa thế kỉ I Tây lịch, việc đắp tượng mới dần dần được lưu hành. Đến thế kỉ IV, V, người ta mới thấy bức khắc nổi đầy đủ hình tượng đức Phật trên lan can của Đại tháp A ma la bà đề (Phạm: Amaravati). Tại Ấn độ, di phẩm của nghệ thuật điêu khắc nổi tiếng nhất là các pho tượng khắc trong hang đá A chiên đa (Phạm: Ajantà) thuộc tỉnh Bàng già phổ (Punjab), vốn cócáimĩ danh là Cung nghệ thuật phương đông; bên trong hang phần nhiều là bích họa, còn bên ngoài hang thì phần nhiều là điêu khắc. Những nhân vật được biểu hiện cực kì trang nghiêm sinh động, đậm đà màu sắc tông giáo. Tượng Phật ở miền Bắc Ấn độ thì lại mang phong cách nghệ thuật Kiện đà la. Ngoài ra, di tích Ba mễ dương (Phạm: Bàmyan) tại nước Afghanistan có pho tượng Phật khắc trong sườn núi, cao tới 52m, nổi tiếng nhất thế giới, đã tồn tại qua 17 thế kỉ(nhưng rất đau xót đã bị những người Hồi giáo cuồng tín Taliban phá hủy vào tháng 3 năm 2001 – ND)! Chùa Angkor (Angkor Vat) ở Cao miên, tháp Bà la phù đồ (Boro-Budur) ở Java… đều là nghệ thuật khắc đá rất tinh xảo. Còn ở Trung quốc, trong các hang đá được đục mở qua nhiều triều đại, phần lớn là khắc tượng Phật. Nghệ thuật khắc tượng trong các hang đá ở Trung quốc, lúc ban đầu, chịu ảnh hưởng sâu đậm nghệ thuật của Kiện đà la và Ấn độ, nhưng đến các đời Đường, Tống thì hoàn toàn thể hiện đặc sắc của phong cách Trung quốc. III. Hội Họa. Những tác phẩm thời kì đầu trong hang đá A chiên đa là những bích họa sớm nhất của Phật giáo. Chẳng hạn như con voi trắng 6 ngà trong bức tranh bản sinh ở hang thứ 10 là tác phẩm trước kỉ nguyên Tây lịch. Bức tranh Cúng dường thiên nhân(người trời cúng dường)trong hang đá Tất kì lợi da (Pàli: Sìgiriya) ở đảo Tích lan thì được suy định là tác phẩm ở thế kỉ V truyền lại, nét vẽ thuộc kĩ xảo của hội họa A chiên đa Ấn độ. Như vậy, hang đá A chiên đa không những chỉ là kho báu của nghệ thuật Ấn độ, mà nó còn là nguồn của những dòng nghệ thuật Phật giáo Trung á, Trung quốc, Nhật bản...… xa xôi. Như các bức tranh Truyền thuyết Long nữ, tranh Phi thiên trong hang đá A chiên đa đã ảnh hưởng rất đậm đà đến các bức bích họa của chùa Pháp long, chùa Pháp giới...… tại Nhật bản. IV. Công Nghệ. Những công nghệ phẩm xưa nhất trong lịch sử Phật giáo là các đồ đựng xá lợi Phật làm bằng vàng, bạc, đồng, ngọc, đá, gỗ…..., thông thường chôn ở trong tháp Phật. Tại Ấn độ, di phẩm sớm nhất là tác phẩm ở khoảng thế kỉ thứ IV trước Tây lịch. Ngoài đồ đựng xá lợi Phật ra, các dụng cụ khác dùng trong Phật giáo được gọi chung làPhật cụ hoặc Đạo cụ, có rất nhiều chủng loại và kiểu dáng. Nay chia một cách tổng quát làm 7 loại như sau: 1. Dụng cụ trang nghiêm tượng Phật, Bồ tát: Lọng, phướn, phan, tràng hoa, chuỗi anh lạc…... 2. Dụng cụ cúng dường: Lư hương, chân đèn, bình hoa, lẵng hoa, mâm…... 3. Loại nhạc khí: Chuông lớn, trống, khánh, thanh la, mao bạt, chuông lắc, mõ cá…...4. Dụng cụ chứa đựng: Hòm kinh, hòm áo ca sa. 5. Áo pháp và vật cầm của tăng sĩ: Ca sa, tích trượng, chuỗi tràng, như ý… 6. Dụng cụ tu pháp của Mật giáo:Chày kim cương, linh kim cương, chày yết ma, mâm lễ…... 7. Những tác phẩm liên quan đến điêu khắc, kiến trúc: Khám Phật, đàn Phật, lồng đèn...… [X. Phật giáo nghệ thuật luận tập (Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 20); Trung quốc Phật giáo nghệ thuật (Quốc lập lịch sử bác vật quán)].

phật giáo ngạn ngữ lí ngữ

(佛教諺語俚語) Những dụng ngữ Phật giáo được dùng như những tục ngữ quen thuộc trong dân gian.Vì tục ngữ và ngạn ngữ có tính chất trực tiếp biểu lộ những trạng thái xã hội, phản ánh đặc trưng của phong tục, cho nên vài mươi năm gần đây dần dần đã được giới học thuật chú ý và xem là những tư liệu quan trọng để nghiên cứu Dân tục học và Ngôn ngữ học. Như khi nghiên cứu về Tên gọi 12 tháng 1. Chế đát na, Chế đát la, Tổ đát la, Đát la 2. Phệ xá khư, Tô xá khư 3. Thệ sắt tra, Tế sử tra 4. Át sa đồ, A sa đồ, A sa xá 5. Thất la phạt noa, Thất la phiệt noa, Thất ra phạ na 6. Bà đạt la bát đà, Bà đạt la bạt đà, Bà nại la bà na 7. A thấp phược dữu xà, A thấp bà dữu xà, A thấp phạ dụ nhã 8. Ca lạt để ca, Ca lật để ca, Yết lật để ca, Ca đề 9. Mạt ca thủy la, Ma ra nga thủy la 10. Báo sa, Phú sa, Bảo sa, Bố sử 11. Ma khư, Ma già, Mạc già 12. Phả lặc lũ noa, Phả lạc cụ na, Phả cầu na, Phá cầu. Tên Phạm Caitra Vaizàkha Jyewỉha Àwàđha Zravana Bhàdrapada Azvayuja Kàrttika Mfgaziras Pauwa Màgha Phàlguna Nông lịch (âm lịch) Trọng xuân, 16 tháng 1 đến 15 tháng 2 Quí xuân, 16 tháng 2 đến 15 tháng 3 Mạnh hạ, 16 tháng 3 đến 15 tháng 4 Trọng hạ, 16 tháng 4 đến 15 tháng 5 Quí hạ, 16 tháng 5 đến 15 tháng 6 Mạnh thu, 16 tháng 6 đến 15 tháng 7 Trọng thu, 16 tháng 7 đến 15 tháng 8 Quí thu, 16 tháng 8 đến 15 tháng 9 Mạnh đông, 16 tháng 9 đến 15 tháng 10 Trọng đông, 16 tháng 10 đến 15 tháng 11 Quí đông, 16 tháng 11 đến 15 tháng 12 Mạnh xuân, 16 tháng 12 đến 15 tháng 1 lịch sử Phật giáo Trung quốc, thì tư liệu tục ngữ, ngạn ngữ có thể cho thấy một cách đại khái cái tình hình truyền bá Phật giáo trong dân gian, sức ảnh hưởng của tín ngưỡng Phật giáo trong đời sống của dân chúng phổ thông, hoặc phản ứng của tâm thái dân chúng đối với giáo nghĩa, hành sự...… của Phật giáo, cho đến tình hình do phong tục tập quán bất đồng của các địa phương mà biểu hiện văn hóa Phật giáo rất khác nhau. Như câu tục ngữPhật cần thếp vàng, người cần trang phục phản ánh phong tục người Trung quốc thường sơn son thếp vàng tượng Phật. Hoặc câu Nhà nhà Quan thế âm, chốn chốn A di đànói lên sự toàn thịnh của Phật giáo Trung quốc ở đời Đường. Những câuBình thường chẳng thắp hương, lâm nạn ôm chân Phật; Có bệnh vái tứ phương, không bệnh đồng hương chẳng mất, phản ánh cái đặc chất tín ngưỡng của giới bình dân, tức tín ngưỡng tông giáo chỉ cầu cái lợi trước mắt. Những câuThà ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối,hoặc Chẳng thà ăn mặn niệm Phật còn hơn ăn chay chửi mắng người,biểu hiện thái độ phê phán tông giáo một cách thực tiễn của dân chúng. Câu Vua Diêm la quyết định canh ba thì không thể đợi đến canh năm phản ánh tâm thái của dân chúng đối với quả báo thiện ác. Ở Trung quốc, những sách quan trọng sưu tập những ngạn ngữ, tục ngữ liên quan đến sinh hoạt tông giáo thì có: 1. Trung quốc ngạn hải của Sử tương tai, ấn hành tại Thượng hải năm 1927, thu chép tổng cộng hơn 14.000 tắc. 2. Thâu quá lí ngạn sở quan sát đích Trung quốc tông giáo, do Khắc lí ba biên soạn, thu chép tất cả 2.448 tắc. 3. Bắc kinh tục ngữ từ điển, do học giả Nhật bản Hạ vĩnh Hiến thứ soạn. 4. Anh Hán đối chiếu Trung quốc tục ngạn, do ông Duy phu lí đức á lan biên soạn, gồm 4.000 tắc. 5. Cải biên Trung quốc tục ngạn, do ông Điểu cư Cửu tĩnh người Nhật soạn. [X. Trung quốc Phật giáo phát triển sử (chương 17) của ông Trung thôn nguyên].

phật giáo nhập truyện lộ tuyến

(佛教入傳路綫) Con đường Phật giáo truyền vào Trung quốc. Vì mục đích thương nghiệp và quân sự mà vua Vũ đế (ở ngôi 140-87 trước Tây lịch) nhà Hán đã 2 lần sai ông Trương khiên đi sứ Tây vực và đã mở ra con đường Đông Tây, qua đó, 2 nền văn hóa Đông Tây cũng đã giao lưu dung hợp. Chính tín ngưỡng và tư tưởng Phật giáo cũng theo các đoàn sứ giả, các nhóm khách buôn và chúng tăng trên con đường ấy truyền vào các nước Đại nguyệt thị, An tức, Kế tân (Ca thấp di la, nay là Kashmir), Sớ lặc, Vu điền, Cao xương (Thổ lỗ phồn) cho đến đất Trung quốc bao la. Các vị sa môn Ấn độ, Tây vực đến Trung quốc dịch kinh, hoằng pháp và các vị đại đức, cao tăng Trung quốc sang Tây vực tham học, cầu đạo thì phải theo 2 con đường là đường bộ hoặc đường biển. 1. Đường bộ: Đường bộ phía bắc là con đường giao thông chính yếu, từ vùng tây bắc Ấn độ qua các xứ Afghanistan, Pakistan, Trung á, Hà tây tẩu lang đến Trung nguyên. Trong nội địa Tân cương lại chia làm 2 đường Nam Bắc, 2 con đường này đều ở chân núi phía nam của núi Thiên sơn, cũng tức là từ Lạc dương hay từ Trường an đi sang phía tây, qua Hà tây tẩu lang đến Đôn hoàng. Đường phía bắc men theo mạn bắc xứ Tháp lí mộc bồn, qua Y ngô (Cáp mật), Cao xương, Yên kì, Cưu tư (Khố xa), Sớ lặc…... rồi vượt dãy Thông lãnh (cao nguyên Pamir) đi về hướng tây nam đến Kế tân mà vào Thiên trúc. Đường phía nam thì từ Đôn hoàng men theo mạn nam xứ Tháp lí mộc bồn, qua các xứ Thiện thiện, Vu điền, Sa xa, vượt qua phía nam núi Ba đạt khắc, lại vượt núi Đại tuyết và núi Hưng đô khố thập (Hindukush) mà vào Kế tân; hoặc từ Sa xa đến Sớ lặc mà hợp chung với đường phía bắc. Ngài Pháp hiển đời Đông Tấn, đi từ Cưu tư theo con đường phía bắc, vượt qua Lưu sa (sa mạc Samarkand) đến Vu điền ở đường phía nam, đây gọi là con đường giữa (tức giữa 2 đường bắc nam nói trên), sau đó lại đi về hướng tây mà đến Thiên trúc. Ngài Huyền trang đời Đường thì từ Cưu tư đi theo đường phía bắc, vượt qua chân núi phía bắc núi Thiên sơn, lại vượt Lăng sơn, qua sông Dược sát ở Trung á vào nước Hoạt (Kundur, nằm ở nội địa nước Afghanistan hiện nay), rồi lại vượt núi Đại tuyết, vòng đến Thiên trúc. Cũng có người đi từ Lương châu thuộc Hà tây tẩu lang tiến ra Ba thục, Giang lăng…... như ngài Pháp hiến đời Nam triều. 2. Đường biển: Sự truyền pháp qua đường biển không hưng thịnh bằng đường bộ, từ Ấn độ qua Tích lan, Java hoặc châu Bà la, bán đảo Mã lai đến Giao chỉ (nay là Hà nội Việt nam), Quảng châu, vùng Đông lai(vũng Giao châu), do đó, Quảng châu, Giao chỉ cũng là cửa ngõ giao lưu của Phật giáo Trung quốc và Nam dương. Các vị cao tăng nổi tiếng đi đường biển đến Trung quốc hay sang Ấn độ, có các ngài Khang tăng hội, Chân đế, Bồ đề đạt ma, Bất không và Pháp hiển (khi trở về nước), Pháp dũng, Nghĩa tịnh…... Ngoài ra, khoảng trướcsauthế kỉ I Tây lịch, Phật giáo Đại thừa hưng thịnh ở Ấn độ, gọi một cách mỉa mai giáo đoàn truyền thống bảo thủ là Tiểu thừa, thế là hình thành 2 phái đối lập nhau, phái nào cũng muốn bành trướng thế lực, nên ra sức hoằng pháp, truyền giáo để trở thành 1 giáo đoàn lớn mạnh, cho nên Phật giáo đã nhanh chóng nhắm tới hướng tây bắc và phương nam để truyền bá. Khi phạm vi thế lực của Đại, Tiểu thừa ở các nước Tây vực được mở rộng, thì Trung quốc cũng bắt đầu tiếp nhận Phật giáo; vì Phật giáo Tây vực đối với Trung quốc có ảnh hưởng rất lớn, nên giữa Phật giáo từ Tây vực truyền sang và Phật giáo từ đường biển đưa vào cũng có điểm khác nhau. Chẳng hạn như tư tưởng Đại thừa thịnh hành ở vùng Tây bắc Ấn độ, cho nên khi truyền đến những nước phương bắc thì phần lớn là các kinh Bát nhã, Phương đẳng; Ca thấp di la là nơi phát sinh ra Thuyết nhất thiết hữu bộ, nên các bộ luận thư quan trọng như Phát trí, Tì bà sa...… đã được truyền dịch ở phương bắc; kinh Hoa nghiêm thịnh hành ở Vu điền, nên ngài Chi pháp lãnh đã đến xứ này thỉnh được 16 nghìn bài kệ Hoa nghiêm bằng tiếng Phạm mang về Trung quốc. Còn nước Sư tử (Tích lan) tin theo Phật giáo Tiểu thừa, nên kinh điển từ nước này được truyền sang Trung quốc bằng đường biển cũng là kinh điển Tiểu thừa, như bộ Thiện kiến luật tì bà sa do ngài Tăng già bạt đà la dịch. Lúc đức Phật mới nhập diệt, tín đồ không dám tạo hình tượng Phật, mà chỉ dùng bánh xe pháp, cây Bồ đề, tòa hoa sen, tháp xá lợi...… để tượng trưng đức Phật mà lễ bái cúng dường. Mãi đến năm 327 trước Tây lịch, Alaxander the Great của Hi lạp xâm lược miền Bắc Ấn độ; về sau, 2 nền văn hóa Hi lạp và Ấn độ giao lưu, rồi dung hợp, từ đó sản sinh nền nghệ thuật Kiện đà la, bấy giờ tín đồ Phật giáo cũng phỏng theo người Hi lạp, bắt đầu điêu khắc và đắp vẽ tượng Phật. Loại nghệ thuật này sau cũng theo Phật giáo được truyền vào Trung quốc.

Phật giáo Nhật Bản

日本佛教|Tại Nhật, Phật giáo du nhập năm 522 với điểm xuất phát là Hàn Quốc. Mới đầu người Nhật thấy đây là một nền văn hoá ngoại lai, nhưng năm 585, Phật giáo được Nhật hoàng Dụng Minh (j: yomei) thừa nhận. Dưới thời vua Thánh Ðức (j: shokotu, 593-621), Phật giáo trở thành quốc giáo. Năm 594 nhà vua ra lệnh cho dân chúng phải thờ phụng Tam bảo (s: triratna). Ông khuyến khích dịch và viết kinh sách, bản thân ông cũng viết luận giải về các kinh (Duy-ma-cật sở thuyết kinh) và cho xây chùa chiền và thành lập Pháp Long tự (j: hōryū-ji) nổi tiếng ở Nại Lương (nara). Các Cao tăng Trung Quốc và Hàn Quốc được mời đến giáo hoá, người Nhật bắt đầu gia nhập Tăng-già. Trong thời kì này, tông Tam luận được thịnh hành.|Trong thời gian từ 710-794, có sáu tông phái tại Nhật Bản, phần lớn do Trung Quốc du nhập: Câu-xá (j: kusha), Pháp tướng (j: hossū), Tam luận (j: sanron), Thành thật (j: jōjitsu), Luật (j: ritsu), Hoa nghiêm (j: ke-gon). Phật giáo Nhật Bản có ảnh hưởng mạnh lên hoàng tộc, nhất là Hoa nghiêm tông. Bộ kinh Kim quang minh tối thắng vương (s: suvarṇaprabhāsottamarāja-sūtra) đóng một vai trò rất quan trọng trong việc truyền bá đạo Phật tại Nhật Bản vì được triều đình thời đó chấp nhận. Ðến thời kì Bình An (heian, 794-1184), tông Thiên Thai (j: tendai) và Chân ngôn (j: shingon) bắt đầu có ảnh hưởng. Ðến giữa thế kỉ thứ 10, việc tôn thờ phật A-di-đà bắt đầu thịnh hành và từ đó thành hình ra Tịnh độ (j: jōdo-shū) và Tịnh độ chân tông (j: jōdo-shin-shū) trong thời đại Liêm Thương (kamakura, 1185-1333). Năm 1191, Thiền tông du nhập Nhật Bản, một tông phái Phật giáo đã chứng tỏ dược sức sống mãnh liệt đến ngày nay. Thiền Nhật Bản cũng có hai hệ phái: Tào Ðộng (j: sōtō) và Lâm Tế (j: rinzai).|Trong thế kỉ thứ 13, Nhật Liên (nichiren) thành lập Nhật Liên tông, chủ trương theo kinh Diệu pháp liên hoa, xem đó là kinh quan trọng duy nhất. Trong các thế kỉ sau đó, đạo Phật không còn phát triển. Ðến thế kỉ 19, quan điểm Thần đạo (j: shintō) trở thành quốc giáo. Sau thế chiến thứ hai, Phật giáo phục hưng, hình thành các phái như Sáng Giá Học Hội (sōka gakkai), Lập Chính Giải Chính (risshō koseikai), Nhật Bản Sơn Diệu Pháp Tự (nipponzan myōhōji). Các tông phái này đều lấy Diệu pháp liên hoa kinh làm căn bản.

phật giáo phạm ngữ

(佛教梵語) Chỉ cho loại tiếng Phạm (Sanskrit) đặc biệt được sử dụng trong kinh điển Phật giáo. Về văn pháp, hình dạng chữ, cách phát âm của loại tiếng Phạm đặc thù này đều khác với tiếng Phạm cổ điển (Classical Sanskrit) do các nhà văn pháp cổ điển như Ba nhĩ ni qui định, xác lập. Vì ý nghĩa, cách sử dụng và ngữ vựng đặc thù của loại tiếng Phạm này không được thấy trong các văn hiến của hệ thống Bà la môn chính thống, cho nên các học giả cận đại đặcbiệt gọi nó là Phật giáo Phạm ngữ (Buddhist Sanskrit). Ông Franklin Edgerton, học giả người Mĩ thời gần đây, thì gọi nó là Phật giáo hỗn hợp Phạm ngữ (Buddhist Hybrid Sanskrit). Ngôn ngữ Ấn độ được sử dụng trong các kinh điển Phật giáo có thể được chia làm 3 loại: 1. Tiếng Phạm tiêu chuẩn: Được sử dụng trong các thi phẩm của bồ tát Mã minh (Phạm: Azvaghowa). 2. Tiếng Ấn độ ở thời kì giữa (Middle Indic): Tiếng Phạm Phệ đà (Vedic Sanskrit) đã bị tục ngữ hóa và phương ngôn hóa, được gọi chung là tiếng Pràkrita hay Pràkrit, đối lại với tiếng Ấn độ ngày nay. Loại tiếng Phạm này bao gồm tiếng Pàli và các ngôn ngữ khác. Tiếng Pàlilà ngôn ngữ quan trọng vẫn còn trong Thánh điển của Phật giáo Nam truyền hiện nay. Miền Tây và miền Trung Ấn độ đều sử dụng tiếng Pràkrita. Pràkrita vốn là phương ngôn của vùng Tây bắc Ấn độ. Thủa xưa, khi nói pháp, đức Phật thường dùng tục ngữ của các địa phương, đến đời sau, các vị đệ tử Phật cũng dùng thứ ngôn ngữ mà Phật đã nói để ghi chép tư tưởng và giáo pháp của Ngài. 3. Tiếng Phạm Phật giáo: Ngôn ngữ được sử dụng trong các văn hiến của Phật giáo phương bắc. Đây là tiếng Phạm căn cứ vào phương ngôn của miền Bắc Ấn độ, rồi xen lẫn tiếng Phạm,Pàli và các phương ngôn khác mà phát triển thành 1 loại ngôn ngữ tông giáo đặc thù của giáo đoàn Phật giáo, chứ không phải loại ngôn ngữ thông thường dùng hàng ngày. Căn cứ vào trình tự của khuynh hướng Phạm ngữ hóa trên đây mà nhận xét, người ta thấy kinh điển Phật giáo ở thời kì đầu phần nhiều sử dụng tục ngữ, về sau, theo sự biến thiên của thời đại mà dần dần Phạm ngữ hóa, cho đến thời kì sau thì ngoài những thuật ngữ đặc biệt ra, còn tất cả đã hoàn toàn trở thành Phạm ngữ cổ điển. Học giả Franklin Edgerton đem những văn hiến Phật giáo hiện còn, dựa theo trình tự Phạm ngữ hóa mà chia những tác phẩm tiếng Phạm làm 3 thời kì như sau: 1. Thời kì thứ nhất: Các tác phẩm sử dụng cả văn vần lẫn văn xuôi, những tác phẩm của thời kì này vẫn còn giữđược sắc thái rất đậm đà của ngôn ngữ Ấn độ thời kì giữa. 2. Thời kì thứ hai: a) Bộ phận văn vần, thành phần ngôn ngữ Ấn độ thời kì giữa tương đối còn nhiều. b) Bộ phận văn xuôi thì nhiều thành phần Phạm ngữ hóa. Trong ngữ vựng, dụng ngữ phổ thông cho đến những thành phần có thể được xem là tiếng Phạm của Phật giáo cũng có rất nhiều. 3. Thời kì thứ ba: Văn vần, văn xuôi; trên cơ bản, đều được viết bằng Phạm ngữ cổ điển, nhưng trong ngữ vựng thì khá nhiều tiếng Phạm Phật giáo.

phật giáo sử thư

(佛教史書) Những sách ghi chép lịch sử của Phật giáo. Dân tộc Ấn độ thời cổ đại vốn không chú trọng về lịch sử, nhưng trong kinh điển Phật giáo có nhiều bộ là những sử thư quí giá. Chẳng hạn như phẩm Vương thụ kí (Phạm: Ràjavyàkaraịa-parivarta) trong Văn thù sư lợi căn bản nghi quĩ nói về các triều đại vua chúa Ấn độ từ thời đức Phật đến khoảng thế kỉ VIII Tây lịch và các bộ Đại sử (Pàli: Mahàvaưsa), Tiểu sử (Pàli: Culla-vaưsa) nói về lịch sử Phật giáo Tích lan...… Ngoài ra, các loại sử thoại thấy rải rác trong các kinh luật điển tịch và các sách chú thích của Phật giáo cũng là những sử thư chứa đựng nhiều tư liệu lịch sử rất quí giá. Ở Trung quốc, khác với Ấn độ, dân tộc Trung quốc rất coi trọng lịch sử, kho tàng sử thư của Phật giáo từ nhiều đời truyền lại rất là đồ sộ. Sửthư cũng có nhiều thể loại, như kỉ truyện, biên niên, kí sự, biệt truyện…... nói về hành trạng của các bậc Cao tăng như các bộ Danh tăng truyện của ngài Bảo xướng, Cao tăng truyện của ngài Tuệ kiểu…... ở đời Lương; Phật tổ thống kỉ của ngài Chí bàn đời Tống...…; hoặc nói về sự tương thừa của tông phái như Cảnh đức truyền đăng lục của ngài Đạo nguyên đời Tống; hoặc nói về sự tín ngưỡng, hoằng truyền 1 bộ kinh như Hoằng tán Pháp hoa truyện của ngài Huệ tường đời Đường; hoặc nói về sự cảm ứng đối với Tam bảo như Tam bảo cảm ứng yếu lược lục của ngài Phi trược đời Tống...…Ngoài ra còn nhiều tác phẩm sử thư khác liên quan đến sự truyền bá cũng như thịnh suy của Phật giáo Trung quốc suốt 2 nghìn năm lịch sử, không thể ghi hết ở đây. Tại Nhật bản cũng có nhiều sử thư Phật giáo quan trọng. Về thể loại kỉ truyện thì có Bản triều cao tăng truyện của ngài Sư man, Nguyên hanh thích thư của ngài Sư luyện, Giám chân quáhải đại sư đông chinh truyện của ngài Nguyên khai; Không hải tăng đô truyện của ngài Chân tế…...Truyện linh nghiệm thì có Đại nhật bản quốc Pháp hoa nghiệm kí của ngài Trấn nguyên.

phật giáo thi ca

(佛教詩歌) Thơ ca trong Phật giáo. Trong Phật giáo, thơ được gọi là Già đà (Phạm: Gàthà, Hán dịch: Kệ tụng), do cách sắp xếp và âm vận dài, ngắn khác nhau nên thơ có nhiều loại. Nói một cách khái quát thì thơ căn cứ vào vận luận mà hình thành. Hình thức thi ca xưa nhất trong Phật giáo là kinh Pháp cú (Pàli: Dhammapada) và Kinh tập (Pàli: Suttanipàta). Thông thường, thơ được chia làm 2 loại: Tức vật và Tức hứng. Trong thơ hoặc có hàm ý dạy răn, khuyên bảo người đời, hoặc diễn tả trạng thái nội tâm. Những bài thơ do các vị trưởng lão tăng sáng tác được xếp vào Trưởng lão kệ (Pàli: Theragàthà), trong đó có rất nhiều bài thơ đẹp, miêu tả tâm nguyện cầu đạo, quá trình tu đạo, cảnh vật tự nhiên và tâm cảnh nội tại giao cảm. Phong cách trong thi ca Phật giáo Đại thừa rất thanh nhã và trình độ tự sự cũng rất cao, như trong thơ của ngài Mã minh, 1 thi nhân lớn của Phật giáo Đại thừa. Tại Trung quốc, đặc sắc thi ca Phật giáo phần nhiều ở chỗ miêu tả tâm cảnh khai ngộ của các Thiền sư, ý thơ rất cao siêu, huyền diệu, thanh thoát, lâng lâng, sâu xa thăm thẳm, người thường không thể cảm thưởng được. Mà loại thơ này cũng rất nhiều, chỉ kể trong 2 tập Bích nham lục và Thung dung lục thôi cũng có hàng nghìn bài rồi. Hãy đọc bài thơ của Thiền sư Tuyết đậu Trùng hiển phụ thêm trong công án Bàn sơn tam giới vô pháp trong Bích nham lục như sau (Đại 84, 175 trung): Tam giới vô pháp Hà xứ cầu tâm? Bạch vân vi cái Lưu tuyền tác cầm Nhất khúc lưỡng khúc vô nhân hội Vũ quá dạđường thu thủy thâm. (Ba cõi không một pháp Tìm tâm ở nơi đâu? Mây trắng kia tàn lọng Suối reo này tiếng đàn Một vài khúc nhạc nào ai hiểu? Đêm thu mưa lạnh nước ao sâu). (xt. Phật Giáo Văn Học).

phật giáo thánh điển hiệp hội

(佛教聖典協會) Buddhist Text Society. Cơ quan chuyên nghiên cứu và xuất bản các kinh điển Phật giáo Đại thừa bằng tiếng Phạm và các trứ tác có liên hệ do học giả Sarat Chandra Das – người Ấn độ – sáng lập vào 1893 tại Calcutta, Ấnđộ. Kể từ năm 1894, Hiệp hội này đã liên tiếp xuất bản các nguyên điển tiếng Phạm như: Màdhyamikàvftti (tương đương với Trung luận tụng do ngài Cưu ma la thập dịch, có phụ thêm bản chú thích bằng tiếng Phạm của Luận sư Nguyệt xứng), Samàdhiràja (tương đương với kinh Nguyệt đăng tam muội bản Hán dịch)…... Đối với phong trào nghiên cứu Đông phương học nói chung và nguyên điển Phật giáo nói riêng, ở thế kỉ XIX, sự cống hiến của hiệp Hội này đã có 1 ảnh hưởng rất lớn lao.

Phật giáo Trung Quốc

中國佛教|Theo truyền thuyết thì đạo Phật vào Trung Quốc khoảng thế kỉ thứ 2 sau Công nguyên. Mới đầu nhiều người nghĩ rằng, đạo Phật là một tông phái của đạo Lão (Lão Tử). Sự hiểu lầm này bắt nguồn từ quan điểm chung của hai tôn giáo này; cả hai đều hướng đến giải thoát. Có người cho rằng, mới đầu người Trung Quốc không hiểu đạo Phật vì ngôn ngữ chữ Hán thời đó không tiếp cận được với các khái niệm hoàn toàn trừu tượng của Phật giáo và khi dịch kinh sách Phật giáo, người ta đành dùng ngôn đạo Lão. Vì vậy về sau, khi đạo Phật đã phổ biến, công các dịch giả rất lớn và tên tuổi của họ còn lưu truyền đến ngày nay. Khoảng thế kỉ thứ 3, các nhà dịch kinh bắt đầu dịch từ Phạn ngữ (sanskrit) ra tiếng Hán, mà những đại diện kiệt xuất là An Thế Cao (安世高), người chuyên dịch các kinh Tiểu thừa, và Chi Khiêm (支謙), người chuyên dịch các tác phẩm Ðại thừa.|Năm 355, Tăng-già được thành lập. Kể từ thế kỉ thứ 4, nhiều trường phái Bát-nhã Ba-la-mật-đa ra đời với Cao tăng Chi Ðộn (支遁; Chi Ðạo Lâm) là nhân vật quan trọng nhất. Năm 399, Pháp Hiển đi Ấn Ðộ và sau đó một số Cao tăng khác như Huyền Trang cũng lên đường đi Ấn Ðộ. Trong thế kỉ thứ 5, thứ 6, Phật giáo phát triển mạnh mẽ và được sự ủng hộ của triều đình. Nhờ vậy trong thời gian này, nhiều chùa chiền được xây cất, nhiều tác phẩm ra đời. Vào năm 466 và 574-577 có hai lần Phật giáo bị bức hại nhưng vẫn phát triển mạnh. Trong thời kì này, hai vị có công lớn nhất trong việc dịch kinh điển là Cưu-ma-la-thập (鳩摩羅什; s: kumāra-jīva) và Chân Ðế (真諦; s: paramārtha). Với trình độ văn chương rất cao, hai vị này đã làm cho hầu hết các kinh Tiểu thừa và Ðại thừa đều có mặt tại Trung Quốc. Ðóng vai trò quan trọng trong Phật giáo Trung Quốc là các kinh Nhập Lăng-già (入楞伽經; s: laṅ-kāvatārasūtra), Ðại bát-niết-bàn (大般涅槃經; s: mahāparinirvāṇa-sūtra) và Thành thật luận (成實論; s: satyasiddhi). Từ đó, các tông phái như Tam luận tông (三論宗), Thành thật tông (成實宗) và Niết-bàn tông (涅槃宗) ra đời.|Giữa thế kỉ thứ 6 và thứ 10, Phật giáo Trung Quốc phát triển rực rỡ. Các tông Hoa nghiêm (華嚴), Thiên Thai (天台), Thiền (禪), Tịnh độ (淨土), Pháp tướng (法相) ra đời, trong đó người ta nhắc nhở đến các vị Cao tăng như Huyền Trang Tam Tạng (玄奘), Trí Khải (智顗), Ðế Tâm Ðỗ Thuận (帝心杜順). Với sự hiện diện của Huệ Năng (慧能) và các môn đệ kế thừa, Thiền tông phất lên như một ngọn lửa sáng rực đời Ðường.|Với thời gian, giáo hội Phật giáo – nhờ không bị đánh thuế – trở thành một tiềm lực kinh tế và có những điểm mâu thuẫn với triều đình. Nhiều nông dân cúng dường đất cho nhà chùa rồi thuê lại đất đó để trốn thuế. Năm 845, Phật giáo bị bức hại, giáo hội bị triệt hạ, tăng ni bị buộc phải hoàn tục. Từ thời điểm đó, Phật giáo Trung Quốc không bao giờ trở lại được thời đại huy hoàng như trước, nhưng vẫn để lại những dấu ấn quan trọng trong nền văn hoá nước này.|Trong đời nhà Tống (thế kỉ 10-13), Phật giáo hoà nhập với Khổng giáo và Lão giáo thành một nền văn hoá, trong các tông phái chỉ còn Thiền và Tịnh độ là quan trọng. Dưới thời nhà Minh (thế kỉ 14-17), có một khuynh hướng hợp nhất giữa Thiền và Tịnh độ (禪淨合一; Thiền Tịnh hợp nhất) và gây được ảnh hưởng đáng kể (Vân Thê Châu Hoằng).|Giữa thế kỉ thứ 17 và 20, Phật giáo Tây Tạng bắt đầu gây ảnh hưởng tại Trung Quốc. Qua thế kỉ 20, Phật giáo Trung Quốc lại bị bức hại, nhất là trong thời kì cách mạng văn hoá (1966-1976).

Phật giáo Tây Tạng

西藏佛教; cũng được nhiều nơi gọi là Lạt-ma giáo (e: lamaism);|Một hệ phái Phật giáo quan trọng thuộc Ðại thừa, được truyền bá nhiều nơi gần Hi-mã-lạp sơn, không chỉ ở Tây Tạng. Ðặc trưng của Phật giáo Tây Tạng là sự trộn lẫn của các giới luật của Nhất thiết hữu bộ và các phép tu của Kim cương thừa. Phật giáo Tây Tạng được xem là thành hình trong thế kỉ thứ 8 dưới triều vua Tri-song Ðet-sen (t: tri-song detsen, 755-597), do hai Cao tăng Ấn Ðộ là Tịch Hộ (s: śāntarakṣita) và Liên Hoa Sinh (padmasambhava) truyền sang. Ðợt đầu của việc truyền bá đạo Phật qua Tây Tạng chấm dứt trong thế kỉ thứ 9. Trường phái Ninh-mã (t: nyingmapa) được thành lập từ thời gian đó. Sau một thời gian bị bức hại, Phật giáo lại phục hưng trong thế kỉ 11, phát sinh hai trường phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa) và Tát-ca (t: sakyapa) và đó là thời gian mà rất nhiều kinh sách được dịch ra tiếng Tây Tạng. Kể từ thế kỉ 14, phái Cách-lỗ (t: ge-lugpa) thịnh hành, được xem là một trong bốn trường phái lớn của Phật giáo Tây Tạng. Ngày nay, trên thế giới, Phật giáo Tây Tạng được coi trọng, nhiều Lạt-ma Tây tạng đang giáo hoá tại các nước phương Tây.|Trước khi Phật giáo du nhập vào Tây Tạng thì đạo Bôn được xem là quốc giáo. Khoảng dưới thời vua Tùng-tán Cương-bố (t: songten gampo; 620-649) thì hoàng gia bắt đầu quay qua Phật giáo. Năm thế hệ sau vị vua này thì Phật giáo được tuyên bố chính thức là quốc giáo và với sự xây dựng tu viện Tang-duyên (samye, 775), các tăng sĩ Tây Tạng bắt đầu thành lập Tăng-già.|Mới đầu Phật giáo Tây Tạng cũng có tiếp xúc, tranh luận với Thiền tông Trung Quốc, nhưng sau đó, người ta theo hẳn giáo lí của Trung quán tông (s: mādhyamika; t: dbu ma pa). Khoảng dưới thời vua Lãng-đạt-ma (langdarma, 838-842), Bôn giáo lại được phục hồi, Phật giáo bị bức hại. Trong thời gian đó, chỉ có phái »áo trắng«, là các vị cư sĩ tại gia, được bảo tồn. Ngày nay phái này còn lưu truyền với phái Ninh-mã (nying-mapa).|Với A-đề-sa, đạo Phật lại được truyền bá lần thứ hai sang Tây Tạng. Từ đây, người ta lại quan tâm đến các trường phái, nhất là các phái truyền tâm từ thầy qua trò, và từ đó sinh ra các tu viện lớn của tông Tát-ca (1073), lôi kéo được »dịch giả« Mã-nhĩ-ba (marpa) – người sáng lập tông Ca-nhĩ-cư (kagyupa) – sang Ấn Ðộ thu thập kinh sách. Trong Phật giáo Tây Tạng và các tông phái tại đây, các vị đại sư được gọi là Lạt-ma, đóng một vai trò rất quan trọng. Một trong các vị quan trọng nhất là Tông-khách-ba (t: tsong-kha-pa), »Nhà cải cách«, là người thiết lập và tổ chức lại toàn bộ các tông phái. Sư cũng là người xây dựng tu viện Gan-den (1409) và thành lập tông Cách-lỗ (t: gelugpa).|Các tông phái và giáo lí khác như Ðoạn giáo (chod), tuy có một hệ thống kinh sách mạch lạc, nhưng lại không xây dựng tu viện nên cuối cùng hoà vào các dòng khác. Các dòng tu quan trọng của Tây Tạng thường hay có một hệ thống các tu viện, đồng thời cũng bắt nguồn từ các vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha). Về mặt lí thuyết, ngoài A-tì-đạt-ma, Phật giáo Tây Tạng còn dựa vào các giáo pháp Ðại thừa của Long Thụ (s: nāgārjuna) và Vô Trước (s: asaṅga), xem đó là hai lí thuyết căn bản mà đặc biệt là triết lí Trung quán cụ duyên (mādhyamika-prāsaṅ-gika) được xem trọng hơn hết. Ngoài ra Nhân minh học (s: hetuvidyā; có thể gọi là logic, luận lí học) cũng được đưa vào để luận giải các vấn đề có tính giáo khoa. Ðặc biệt, các phép tu Tan-tra hay được dùng để biến các kiến thức lí thuyết thành kinh nghiệm bản thân.|Năm chủ đề (s: pañcavacanagrantha) quan trọng phải được học hỏi, nghiên cứu trong một thiền viện tại Tây Tạng trước khi đạt được danh hiệu Ge-she (tương ưng với Hoà thượng tại Ðông, Ðông nam á, có thể so sánh với bằng cấp Tiến sĩ của Tây phương): 1. Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: pra-jñāpāramitā); 2. Trung quán (mādhyamika); 3. Nhân minh hoặc Lượng học (pramāṇavāda); 4. A-tì-đạt-ma (abhidharma); 5. Luật (Tì-nại-da; vina-ya).

phật giáo từ điển

(佛教辭典) Kinh Phật nghĩa lí sâu xa vi diệu, cho nên biên soạn từ điển để giải thích những thuật ngữ Phật giáo và văn hóa Phật giáo là việc làm cần thiết. Có thể nói, những việc đầu tiên phải làm để biên soạn thành bộ từ điển Phật giáo là: 1. Sắp xếp các danh tướng, phân loại các môn, như kinh Chúng tập trong Trường a hàm quyển 8, kinh Thập thượng trong Trường a hàm quyển 9, kinh Pháp tập danh số, Đại minh tam tạng pháp số, Giáo thừa pháp số…... 2. Ghi chép sự tương quan giữa các kinh luận, như Kinh luật dị tướng của ngài Bảo xướng đời Lương, Pháp uyển châu lâm của ngài Đạo thế đời Đường…... 3. Tổ chức và giải thích từng hạng mục, như Pháp môn danh nghĩa tập của Lí sư chính đời Đường, Nam hải kí qui nội pháp truyện của ngài Nghĩa tịnh đời Đường, Đại Tống tăng sử lược của ngài Tán ninh đời Tống…... 4. Lấy ngôn ngữ làm trung tâm, như Nhất thiết kinh âm nghĩa, Phiên Phạm ngữ của ngài Bảo xướng đời Lương, Phạm ngữ tạp danh của ngài Lễ ngôn đời Đường, Phiên dịch danh nghĩa đại tập (Phạm: Mahàvyutpatti) là dịch phẩm do đối chiếu giữa bản Phạm và bản Tây tạng; Phiên dịch danh nghĩa tập có thêm phần chú giải tiếng Phạm của ngài Pháp vân đời Tống, Chỉ quất dịch thổ tập của ngài Tuệ hoảng người Nhật bản…... 5. Giải thích rõ những danh từ khó hiểu, khó đọc trong Đại tạng kinh hay trong 1 bộ kinh nào đó, như Nhất thiết kinh âm nghĩa của ngài Huyền ứng và Nhất thiết kinh âm nghĩa của ngài Tuệ lâm đời Đường, Khổng tước kinh âm nghĩa của ngài Quán tĩnh người Nhật. Từ đầu thế kỉ XX trở đi, các bộ từ điển Phật giáo hiện đại được biên soạn công phu và tăng thêm với thời gian, như: -Trung quốc có: Phật Học Tiểu Từ Điển (Đinh phúc bảo, 1919); Phật Học Đại Từ Điển (Đinh phúc bảo, 1921); Thực Dụng Phật Học Từ Điển (các ông Cao quán lư, Hà tử bồi chủ biên, Thượng hải Phật học thư cục xuất bản, 1934); Pháp Tướng Từ Điển (do ông Chu phất hoàng biên soạn, 1937); Trung Quốc Phật Giáo Nhân Danh Đại Từ Điển (Chấn hoa biên soạn, 1942); Trung Quốc Phật Học Nhân Danh Từ Điển (Minh phục biên soạn, 1974); Đại Tạng Hội Duyệt (Hội tính biên soạn, 1978); Trung Quốc Thiền Học (Du mai ẩn biên soạn, 1984); Phật Học Từ Điển (có 1 tập, do Tả tú linh biên soạn, 1984). - Nhật bản có: Phật Giáo Từ Lâm (Đẳng tỉnh Tuyên chính biên soạn, 1912); Phật Giáo Đại Từ Điển (Chức điền Đắc năng biên soạn, 1917); Mô Phạm Phật Giáo Từ Điển (Thư viện Đông phương biên soạn, 1932); Phật Giáo Đại Từ Vựng (Đại học Long cốc biên soạn, 1935); Phật Giáo Đại Từ Điển (Vọng nguyệt Tín hanh biên soạn, 1936); Phật Giáo Từ Điển (Vũ tỉnh Bá thọ biên soạn, 1938); Phật Giáo Học Từ Điển (Đa ốc Lại tuấn, Hoành siêu Tuệ nhật và Chu kiều Nhất tai cùng biên soạn, 1955); Tân Phật Giáo Từ Điển (Trung thôn nguyên biên soạn, 1962); Phật Giáo Ngữ Đại Từ Điển (Trung thôn nguyên, 1975); Tông Hợp Phật Giáo Từ Điển (Pháp tạng ấn hành, 1987).

Phật giáo Việt Nam

越南佛教|Lịch sử Phật giáo tại Việt Nam được trình bày khá rõ trong Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang. Theo tác phẩm này, trong thế kỉ thứ nhất, thứ hai sau Công nguyên, ngoài hai trung tâm Phật giáo tại Trung Quốc là Lạc Dương và Bành Thành, một trung tâm thứ ba xuất hiện tại Luy Lâu, thuộc xứ Giao Chỉ, ngày nay thuộc tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam. Có người cho rằng, Luy Lâu hình thành trong đầu thế kỉ thứ nhất, sớm hơn cả Lạc Dương và Bành Thành, làm bàn đạp cho sự thành lập hai nơi đó. Ðiều chắc chắn là trung tâm Luy Lâu được hình thành do các tăng sĩ Ấn Ðộ trực tiếp mang lại, chứ không phải từ Trung Quốc truyền xuống. Tập luận thuyết đầu tiên về đạo Phật được Mâu Tử (sinh khoảng năm 165) viết tại Giao Châu. Khang Tăng Hội (康僧會; cuối thế kỉ thứ hai) được xem là tăng sĩ đầu tiên của Việt Nam. Qua thế kỉ thứ ba thì tại Giao Châu đã có khoảng năm trăm vị tăng sĩ và lưu hành ít nhất 15 bộ kinh, trong đó bộ Tứ thập nhị chương (四十二章經; s: dvācat-vāriṃśat-khanda-sūtra) là kinh chủ yếu dành cho người xuất gia. Sau đó Thiền tông vào Việt Nam rất sớm, Khang Tăng Hội được xem là Khai tổ của Thiền học Việt Nam. Sư là tác giả của tập Nê-hoàn phạm bối (泥洹梵唄), một tập thi ca về Niết-bàn dịch từ văn hệ Pā-li. Sư cũng viết tựa cho tập kinh An-ban thủ ý (安般守意; p: ānāpānasati), soạn bộ Lục độ tập kinh (六度集經) và dịch một kinh bản của kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa. Như thế, trong đầu thế kỉ thứ ba, Phật giáo Việt Nam đã là Phật giáo Ðại thừa.|Khoảng thế kỉ thứ năm, người ta nhắc đến hai vị Thiền sư ở Giao Châu là Pháp Thiên (法天; s: dharmadeva) và Huệ Thắng (慧勝), theo thiền pháp Ðại thừa. Người ta biết rằng Sơ tổ Thiền tông Trung Quốc là Bồ-đề Ðạt-ma đến nước này năm 520, nhưng có truyền thuyết cho rằng, Ngài có thể đã cùng Pháp Thiên đến Giao Châu cuối đời nhà Tống (khoảng năm 470).|Cuối thế kỉ thứ sáu, Thiền sư Tì-ni-đa Lưu-chi (毘尼多流支; s: vinītaruci; cũng gọi là Diệt Hỉ) – học trò của vị Tổ thứ ba của Thiền Trung Quốc là Tăng Xán (僧璨) – đến Giao Châu khai sáng dòng thiền cùng tên. Sau đó còn có phái thiền Vô Ngôn Thông (無言通) và Thảo Ðường cũng xuất phát từ Trung Quốc lưu hành tại Việt Nam. Phái Thiền của Tì-ni-đa Lưu-chi truyền được 19 đời (đến năm 1213), bắt đầu bằng kinh Tượng đầu tinh xá (象頭精舍經), một bộ kinh thuộc hệ thống Bát-nhã, tạo sự lớn mạnh của Phật giáo Ðại thừa và cả Mật tông tại Việt Nam. Phái Thiền Vô Ngôn Thông truyền được bốn thế kỉ, sử dụng chủ yếu các kinh Viên giác (圓覺), Pháp hoa (法華), chủ trương »Ðốn ngộ« (頓悟) và »Vô sở đắc« (無所得), rất gần với Thiền phương nam của Trung Quốc. Phái thiền Thảo Ðường (草堂) bắt đầu từ cuối thế kỉ thứ mười một, do Thiền sư Thảo Ðường sáng lập, vốn là một tù nhân của vua Lí Thánh Tông bị bắt năm 1096. Sách Thiền uyển tập anh (禪苑集英) cho rằng Thảo Ðường là môn đệ của Thiền sư Tuyết Ðậu Trọng Hiển (雪竇重顯), là phái chủ trương dung hợp giữa Phật và Nho giáo tại Trung Quốc. Phái Thảo Ðường truyền được sáu thế hệ trong đó có những người nổi tiếng như Không Lộ (空露) và Giác Hải (覺海; hai vị cũng được xếp vào thiền phái Vô Ngôn Thông).|Khoảng thế kỉ thứ mười, Việt Nam giành được quyền độc lập và Phật giáo bắt đầu có ảnh hưởng trong giới vua quan. Năm 971 Ðinh Tiên Hoàng ban chức »Tăng thống« đầu tiên cho Thiền sư Khuông Việt (匡越; Ngô Chân Lưu; 吳真流). Vua Lê Ðại Hành mời Thiền sư Pháp Thuận (法順) và Vạn Hạnh (萬行) làm cố vấn chính trị. Về sau Vạn Hạnh phò Lí Công Uẩn (李公蘊) lên ngôi (1010), nhà vua cho dựng nhiều chùa chiền, sùng bái đạo Phật. Năm 1036, Lí Thái Tông (李太宗) lên ngôi, cũng là một nhà vua quý trọng đạo Phật. Năm 1049, chùa Một Cột (延祐; Diên Hựu) được xây dựng. Các nhà vua đời Lí về sau đều tôn sùng đạo Phật và lấy đạo từ bi làm phương pháp trị nước. Trong thời gian này, Phật giáo Ðại thừa với các bộ kinh như Kim cương, Dược sư, Pháp hoa, Viên giác… được truyền tụng. |Ðầu thế kỉ thứ 13, nhà Trần lên ngôi, đồng thời ba thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Ðường dần dần nhập lại một. Ðây là thời kì phát triển rực rỡ nhất của Phật giáo Việt Nam. Các nhà vua đời Trần cũng đều là những Thiền sư uyên bác, mà một trong những người xuất sắc nhất phải kể đến là vua Trần Thái Tông (陳太宗; 1218-1277). Thiền phái duy nhất Việt Nam thời này, được xem là sự tổng hợp của ba thiền phái kia là thiền Yên Tử hay Trúc Lâm. Trần Thái Tông đã để lại một loạt tác phẩm thiền học rất quan trọng. Một nhân vật quan trọng của Phật giáo đời Trần là Huệ Trung Thượng sĩ (慧忠上士), tức là Trần Quốc Tung, anh cả của Trần Hưng Ðạo, anh vợ của Trần Thánh Tông. Sau Thái Tông là Trần Nhân Tông (陳仁宗), cũng là một ông vua xuất gia, trở thành tổ thứ sáu của trường phái Yên Tử và Ðệ nhất tổ của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Trong thời nhà Trần, các bộ kinh Kim cương, Pháp hoa, Bát-nhã, Nhập Lăng-già và Hoa nghiêm được lưu truyền rất rộng rãi. Hai nhà sư đóng góp lớn nhất vào việc học Phật thời đó là Pháp Loa (法螺) và Huyền Quang (玄光).|Ðến cuối thế kỉ 14, Phật giáo bắt đầu suy đồi, nhà Trần đã nằm trong tay Hồ Quý Li. Trong đời nhà Lê, vua quan coi trọng Nho giáo với kết quả là năm 1464, Lê Thánh Tông cấm xây dựng chùa mới.|Khoảng giữa thế kỉ 17, lúc Nam Bắc phân tranh, Phật giáo lại phục hưng, trong đó Thiền sư Chân Nguyên và Hương Hải hoạt động ở Ðàng ngoài. Ở Ðàng trong, chúa Nguyễn Hoàng (1558-1613) là người tôn trọng đạo Phật, cho xây chùa Thiên Mụ năm 1601. Tại đây, môn phái của Thiền sư Liễu Quán (了觀) có công phục hưng Phật giáo. Ðầu thế kỉ thứ 19, Gia Long thắng Tây Sơn, chấm dứt những năm chinh chiến, trong đó đạo Phật cũng bị thương tổn. Các vua triều Nguyễn như Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Ðức cũng có để tâm phục hưng lại đạo Phật. Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, tuy có lúc thịnh lúc suy, nhưng nói chung Phật giáo chưa bao giờ mất ảnh hưởng trong dân tộc Việt Nam.

phật giáo văn học

(佛教文學) Văn học của Phật giáo. Chỉ cho những bộ kinh điển của Phật giáo mang sắc thái văn học. Chẳng hạn những bộ kinh như: Pháp cú, Thí dụ, Bản sinh, Duy ma, Pháp hoa, Hoa nghiêm...… là những Thánh điển đậm đà sắc thái văn học. Vào thế kỉ II, Phật sở hành tán (Phạm: Buddha-carita) của ngài Mã minh (Phạm:Azvaghowa), có thể nói, là tác phẩm văn học cổ điển đầu tiên ở Ấn độ. Kế đến, lấy các ngài Xá lợi phất và Mục kiền liên làm chủ đề mà soạn thành vở kịch Xá lợi phất chi sở thuyết (Phạm: Zàriputra-prakaraịa) và lấy sự tích ngài Nan đà – người em cùng cha khác mẹ của Phật– làm đề tài mà soạn thành 1 thiên ca mĩ lệ: Tôn đà lợi Nan đà (Phạm: Saundarananda-kàvya)…... Đây là những kiệt tác về văn học tiếng Phạm của ngài Mã minh. Ngoài ra, vào thế kỉ VII, vua Giới nhật (Phạm: Zìlàditya) đã soạn vở kịch Phật giáo nhan đề: Long vương chi hỉ (Phạm: Nàgànanda) cũng là 1 tác phẩm văn học giá trị ở đương thời. Về văn họcPàli thì vào thế kỉ V có tác phẩm Pháp cú kinh chú và Bản sinh kinh của ngài Phật âm. Còn về các kinh điển Hán dịch thì như các bản dịch của ngài Cưu ma la thập, văn bút rất thanh nhã, lưu loát, có thể gọi là những kiệt tác của nền văn học phiên dịch. Cũng có rất nhiều các vị tăng nổi tiếng về văn học như: Ngài Pháp chu đời Tùy, các ngài Tuệ tịnh, Kiểu nhiên đời Đường, các ngài Tề kỉ, Quán hưu, Hi giác đời Ngũ đại, ngài Tư duyệt đời Bắc Tống, các ngài Đàm ngạc, Đại khuê đời Nguyên, ngài Đức ngôn đời Minh, các ngài Trí phúc, Thánh tông, Chiếu thường, Độc triệt đời Thanh…...

phật giáo văn khố

(佛教文庫) Cũng gọi Phật giáo tùng thư. Nguyên tác của bộ sách này có tên là Bibliotheca Buddhica, được ấn hành ở nước Nga vào cuối thế kỉ XIX đến nửa trước của thế kỉ XX. Bộ Phật giáo tùng thư này là sự nghiệp phụ thuộc viện học sĩ ở St. Petersburg, chuyên nghiên cứu, hiệu đính và phiên dịch các nguyên điển của Phật giáo, đã tiếp tục xuất bản được nhiều tập trong thời gian còn hoạt động. [X. A Union List of Printed India Text and Translations in American Libraries, American Oriental Series vol.7, 1935].

phật giáo vũ đạo

(佛教舞蹈) Nghệ thuật nhảy múa trong Phật giáo. Ấn độ từ nghìn xưa đã thấy có ghi chép về nghệ thuật nhảy múa, như được tường thuật trong Lê câu phệ đà. Nay trong văn học Phật truyện cũng thấy miêu tả vũ đạo trong cung đình, như vậy đủ biết ở thời đại đức Phật vũ đạo đã được phổ biến. Nhưng, trong Phật giáo, tăng chúng bị cấm chỉ không được xem nghe ca vũ nhạc kịch, qui định này đã thấy trong mười giới Sa di; song tín đồ Phật giáo tại gia thì không bị chi phối bởi qui định này. Qua các tác phẩm kịchnghệ như Xá lợi phất chi sở thuyết (Phạm: Zàriputraprakaraịa –Những điều ngài Xá lợi phất nói) của bồ tát Mã minh, Long vương chi hỉ (Phạm: Nàgànanda –Niềm vui mừng của rồng chúa) của vua Giới nhật, hoặc theo sự miêu tả trong các tác phẩm văn học truyện Bản sinh (Phạm: Jàtaka), cho đến các di tích điêu khắc ở Sơn kì (Phạm: Sànchi), các bức bích họa trong chùa hang A chiên đa (Phạm: Ajantà)…... người ta có thể hiểu rõ tình hình vũ đạo của tín đồ Phật giáo tại gia. Tuy nhiên, nghệ thuật Vũ đạo ở Ấn độ cổ đại lấy các đền thờ của Ấn độ giáo (Bà la môn giáo) làm trung tâm phát triển, chứ không có vũ đạo đặc biệt của Phật giáo.Văn hiến xưa nhất liên quan đến vũ đạo là luận Bà ra đa (Phạm: Bhàratìya Nàỉyazàtra–khoảng thế kỉ III, IV), nội dung nói về nguồn gốc và sự phát triển của nghệ thuật vũ đạo truyền thống Ấn độ. Vũ đạo được kết hợp với tông giáo bắt đầu từ việc tế lễ thần Thấp bà (Phạm:Ziva). Đến nay, các nước như Miến điện, Thái lan, Indonesia...… cũng kế thừa truyền thống vũ đạo này, nhưng vẫn chưa phát triển thành vũ đạo Phật giáo. Ở Tây tạng, vũ đạo khởi đầu vào khoảng thế kỉ IX, từ đó, Lạt ma giáo chuyên dùng vũ đạo trong việc cúng tế, thông thường gọi là Khiêu quỉ (nhảy múa xua đuổi quỉ ma). Có các chủng loại như: Cúng dường vũ, Địa trấn vũ, Phất ác quỉ vũ…... Về sau, vũ đạo trở thành 1 trong những nghi thức đặc thù của Lạt ma giáo. Tại Hàn quốc, vào thời đại nhà Lí (1392-1897), Phạm bái rất thịnh hành, điệu Tăng vũ của vũ đạo Phật giáo cũng theo đó mà phát triển mạnh. Tăng vũ khởi nguồn rất sớm, ít nhất cũng đã tồn tại từ thời đại Cao li (936-1391). Đến thời đại nhà Lí, vũ đạo Phật giáo rất được chú trọng. Tức vào thời Lí thế tổ năm thứ 5 (1460), vũ điệu Liên hoa đài và nhạc khúc Linh thượng hội thượng được sáng chế cùng lúc. Khi trình diễn, trước hết, bài trí núi Hương sơn, ao hồ, chung quanh vẽ hoa nhiều màu, treo lồng đèn, 2 bên đông, tây vũ đài đều bày hoa sen, sau đó, các vũ công bắt đầu nhảy múa, đồng thời, ngâm xướng Phật kệ như Nam mô A di đà Phật hoặc Quan âm tán để hòa theo nhạc khúc và vũ điệu. Tại Nhật bản, vũ đạo được truyền vào từ các nước Ấn độ, Tây vực, Trung quốc, Hàn quốc...… thường được dùng trong các nghi thức Phật giáo như cúng dường, lễ hội…... sau phát triển thành vũ đạo đặc biệt của Phật giáo, được triều đình tán trợ, nhờ đó vũ đạo Phật giáo hưng thịnh qua nhiều thời đại. Ngoài ra, chư tăng Nhật bản cũng phát triển 1 điệu múa đặc thù để giáo hóa dân chúng, gọi là Bố giáo vũ đạo(điệu múa truyền giáo). Nghĩa là vừa niệm Phật, vừa ngâm vịnh, xướng họa, lại đánh chuông trống để hòa theo nhịp bước nhảy múa. Loại Bố giáo vũ đạo này được gọi chung là Niệm Phật dũng, Niệm Phật dược, Dũng niệm Phật, Dũng dược niệm Phật, Hoan hỉ niệm Phật...… Như Không dã niệm Phật (cũng gọi Bát khấu niệm Phật) do ngài Nhất không dã thuộc tông Thiên thai sáng chế; Dũng niệm Phật do ngài Nhất biến –Tổ khai sáng Thời tông– thành lập, Đề mục dũng, Đại nhật dũng, Vu lan bồn dũng…... đều là các điệu múa của Phật giáo Nhật bản kết hợp với nghệ thuật múa địa phương mà phát triển thành vũ đạo dân gian, và cũng là 1 trong những sắc thái rất đặc thù của nền văn hóa Nhật bản ngày nay.

phật giới

(佛界) I. Phật Giới. Chỉ cho cảnh giới của chư Phật, là 1 trong 10 giới. Đối lại: Chúng sinh giới, Ma giới. Vãng sinh yếu tập quyển trung (Đại 48, 66 trung) nói: Vì chúng sinh không biết nên mê mất Phật giới mà chấp trước ma giới, ở trong bồ đề mà sinh khởi phiền não. (xt. Thập Giới). II. Phật Giới. Chỉ cho cõi nước của Phật. Kinh Quang tán quyển 10 (Đại 8, 212 thượng) nói: Không nên trụ vào đông, tây, nam, bắc, 4 duy, trên, dưới và 1 cõi Phật nào, cũng không nên trụ vào 1 Phật giới trong 10 phương. ; (佛戒) I. Phật Giới. Cũng gọi Phật tính giới, Phật thừa giới, Nhất tâm giới, Kim cương bảo giới, Bồ tát giới.Giới để khai phát tính Phật sẵn có của chúng sinh, khiến chúng sinh tu hành đạt đến quả vị Phật. Giới này là tên gọi chung của các giới Đại thừa. Bởi vì tất cả ý, thức, sắc, tâm đều được nhiếp vào trong giới Phật tính này, cho nên khi chúng sinh thụ trì Phật giới tức là đã ở vào địa vị của chư Phật rồi vậy. [X. kinh Phạm võng Q.hạ]. II. Phật Giới. Chỉ cho tịnh giới 1 thực tướng trong đó chư Phật an trụ. Chư Phật xa lìa tất cả tướng mà an trụ nơi giới, giới ấy chính là Phật giới. [X. Đại nhật kinh sớ Q.17]. III. Phật Giới. Cũng gọi Phật tính tam muội da giới. Đặc biệt chỉ cho giới Tam muội da trong Mật giáo. [X. Đại nhật kinh sớ Q.17]. (xt. Tam Muội Da Giới). IV. Phật Giới. Chỉ chung các giới pháp do đức Phật nói.

phật hiện

(佛現) Tên 1 loài chim ở núi Nga mi bên Trung quốc. [X. Nguyệt linh quảng nghĩa].

Phật hiệu

(佛號): có hai nghĩa. (1) Danh hiệu đức Phật, như Thế Tôn (世尊), Như Lai (如來), Cù Đàm (瞿曇), v.v. Như trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄, Taishō Vol. 51, No. 2076) quyển 2, phần Đệ Thập Bát Tổ Già Da Xá Đa (第十八祖伽耶舍多), có đoạn: “Bỉ văn Phật hiệu, tâm thần tủng nhiên, tức thời bế hộ (彼聞佛號、心神竦然、卽時閉戶, kia nghe hiệu Phật, tâm thần kính sợ, tức thời đóng cửa).” (2) Đặc biệt chỉ cho các hành giả Tịnh Độ Tông thường xuyên niệm danh hiệu A Di Đà Phật. Như trong Cư Sĩ Truyện (居士傳, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1646) quyển 41, phần Đường Thể Như (唐體如), có đoạn: “Thọ Niệm Phật Tam Muội, toại lực hành chi, duyệt thập tam niên như nhất nhật. Niên lục thập, đương Trọng Đông chi đán, vị chư tử viết: 'Tân xuân thập hữu nhất nhật ngô hành hĩ.' Chí kỳ, quán thấu chỉnh y, đoan tọa thủ kết ấn, khẩu xưng Phật hiệu, vi tiếu nhi thệ (受念佛三昧、遂力行之、閱十三年如一日、年六十、當仲冬之旦、謂諸子曰、新春十有一日吾行矣、至期、盥漱整衣、端坐手結印、口稱佛號、微笑而逝, ông thọ pháp môn Niệm Phật Tam Muội, bèn dốc lực hành trì, trãi qua mười ba năm giống như một ngày. Đến năm sáu mươi tuổi, vào sáng sớm giữa Đông, ông bảo các con rằng: 'Vào ngày mười một năm mới, ta sẽ đi.' Khi đến ngày, ông rửa mặt súc miệng, chỉnh tề y phục, ngồi ngay ngắn, tay bắt ấn, miệng niệm danh hiệu Phật, mĩm cười mà ra đi).” Hay trong Cư Sĩ Truyện quyển 48, phần Ngô Chiêm Lâu (吳瞻樓), cũng có đoạn rằng: “Tảo tu tịnh nghiệp, vãn dĩ gia sự phó nhị tử, nhất ý Tây mại, nhật trì Phật hiệu vạn thanh, kiêm tác Tây phương quán (早修淨業、晚以家事付二子、一意西邁、日持佛號萬聲、兼作西方觀, sớm tu tịnh nghiệp, cuối đời ông giao phó việc nhà lại cho hai con, một lòng về Tây phương, hằng ngày trì danh hiệu Phật vạn tiếng, còn quán cảnh giới Tây phương nữa).”

phật hoa

(佛華) Cũng gọi Họa tượng, Hội tượng. Đem vẽ hình tượng Phật, Bồ tát trên mặt tường vách, trên giấy, hoặc thêu trên vải lụa...… để làm đối tượng lễ bái, cúng dường, hoặc để lưu truyền, gọi là Phật họa. Ở Ấn độ, nguồn gốc Phật họa đã có từ thời đức Phật. Cứ theo Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 17 thì đức Phật từng cho phép vẽ các loại biến tướng trong các điện đường của tinh xá Kì viên, đồng thời, vẽ hình tướng Như lai đích thân săn sóc người bệnh trong nhà dưỡng bệnh. Cao tăng Pháp hiển truyện, Đại đường tây vực kí quyển 2 và quyển 8 đều ghi trong các hang đá ở nước Na kiệt thuộc miền Bắc Ấn độ và núi Chính giác thuộc miền Trung Ấn độ có tượng Phật giống như đức Phật (Kinh Quán Phật tam muội hải quyển 7 cho rằng tượng Phật ở nước Na kiệt được tạo từ thời đức Phật còn tại thế để lưu truyền). Đại sử (Pàli: Mahàvaôsa, 30) thì nói rằng Quốc vương Tích lan là Duỉỉhagàmanì kiến thiết nhà thờ xá lợi và sai người vẽ tượng truyện Bản sinh của đức Phật. Hiện nay ngoài những di phẩm tượng Phật, Bồ tát vẽ trong các bộ kinh bằng tiếng Phạm được lưu truyền ở Tây tạng và Nepal ra, còn có các họa phẩm được vẽ trên vách các hang đá ở A chiên đa (Phạm: Ajantà), Tất kì lợi da (Pàli: Sìgiriya)…... được chế tác vào triều đại Cấp đa (Phạm: Gupta– thế kỉ VII, VIII), nhưng đến nay chỉ còn dấu tích tàn dư. Phật họa ở Tây vực cũng hưng thịnh, những năm gần đây, rất nhiều hang đá và di chỉ được phát hiện, như Bàmyanở miền Trung nước Afghanistan, Tumsuq ở Turkistan, Chotscho, Miran...… đặc biệt là những bức bích họa của 6 vị tỉ khưu (đã rách) đào được tại Miran, là những tác phẩm ở khoảng thế kỉ III, những di phẩm xưa nhất hiện còn. Sau khi Mật giáo hưng khởi ở Ấn độ thì các bức họa Mạn đồ la, Phật, Bồ tát và chư thiên được lưu hành, như phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật có ghi phương pháp lập đàn, vẽ tượng của Đại bi mạn đồ la Thai tạng giới; kinh Kim cương đính thì nói về cách vẽ tượng Mạn đồ la Kim cương giới.Tại Trung quốc, Phật họa đã được lưu hành từ thời xưa, như Phật tổ thống kỉ quyển 23 ghi rằng, niên hiện Thái ninh năm đầu (323) đời Đông Tấn, vua Minh đế đã sai người vẽ tượng Phật Thích ca ở nhà Lạc hiền trong nội cung. Đạo an truyện trong Lương cao tăng truyện quyển 5 thì nói, vua Phù kiên sai sứ đem tượng Phật thêu trên lụa ra nước ngoài để tặng, từ sau các đời Tống, Tề thì tượng khắcvà tượng thêu đều thịnh hành. Trong các bích họa đào được ở Đôn hoàng hiện còn bức tranh Tịnh độ biến tướng. Tại Nhật bản, vào niên hiệu Sùng tuấn năm đầu (588), nhóm họa công từ Bách tế (Triều tiên) đến cống hiến tranh Phật, thì từ đó Phật họa mới bắt đầu lưu hành ở Nhật bản. Đến thời đại Bình an, ngài Không hải đến Trung quốc tham học, khi về nước, đem Mật giáo truyền vào Nhật thì tranh Mạn đồ la của 2 bộ Kim, Thai bắt đầu được lưu hành. Về sau, lại có tranh Cửu phẩm lai nghinh. Về đề tài của Phật họa thì có nhiều loại, như tranh 1 hình tượng, tranh 3 hình tượng, tranh nhiều hình tượng, tranh biến tướng, tranh Mạn đồ la…... [X. phẩm Tứ sự trong kinh Bát chu tam muội; kinh Tín lực nhập ấn pháp môn Q.5; kinh Chính pháp niệm xứ Q.43; kinh Đại thừa tạo tượng công đức Q.hạ; Từ thị bồ tát lược tu dũ nga niệm tụng pháp Q.hạ; luật Thập tụng Q.56; điều Quán mộc tôn nghi trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Die Buddhistische Sptantike in Mittelasien, vol. II, by Le Coq].

phật hoá

(佛化) (1834-1913) Danh tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Thanh, người Tuyền châu, Phúc kiến, họ Lâm, pháp danh Như huyễn. Năm 24 tuổi, sư thờ cư sĩ Thăng hư làm thầy, ăn chay học Phật. Năm Hàm phong thứ 10 (1860), sư đến Chương phố, trụ ở am Thiên hồ trên đỉnh núi Đại mạo suốt 11 năm. Năm Quang tự thứ 4 (1878), sư đến núi Long trì vườn hoa Hải trừng nhóm họp đồ chúng dạy học, tiếng tăm của sư truyền xa. Sư tự biết với thân phận cư sĩ không thể trụ trì Phật pháp, nên vào năm Quang tự 12 (1886), sư muốn lễ ngài Phật thừa làm thầy, nhưng ngài Phật thừa thấy sư lớn tuổi hơn mình, lại là người khổ học chuyên tu nhiều năm, đức cao đạo trọng, liền đến trước tượng Tổ sư thay mặt Tổ sư làm lễ cạo tóc xuất gia cho sư, rồi kết làm huynh đệ đồng môn. Năm ấy, sư đến núi Cổ sơn ở Phúc châu thụ giới Cụ túc. Ít lâu sau, sự trụ trì chùa Tuyết phong ở núi Dương mai tại Nam an, phỏng theo gia phong của Tổ Bách trượng, chủ trương chế độ nông thiền, người từ khắp nơi về cầu pháp học đạo có tới hơn 1.000 vị. Những vị tăng tài trong tông môn tại Mân nam thời cận đại phần nhiều đã được sư giáo hóa. Năm Dân quốc thứ 2 (1913), sư thị tịch, thọ 80 tuổi. Sư để lại tác phẩm: Mật khế chân nguyên.

phật hoá thân tam

(佛化身三) Ba loại hóa thân của đức Phật. Cứ theo kinh Quán Phật tam muội hải quyển 4 thì hóa thân của Phật có 3 loại: Đại, Tiểu, Bất định. 1. Đại hóa thân: Đức Phật hóa hiện thân cao nghìn trượng để hóa độ hàng Bồ tát từ Thập địa trở xuống. 2. Tiểu hóa thân: Đức Phật hóa hiện thân cao 1 trượng 6 để độ hàng Nhị thừa và phàm phu. 3. Hóa thân bất định: Đức Phật tùy theo các chủng loại, hoặc hóa hiện thân to lớn đầy khắp hư không; hoặc hiện thân nhỏ bé trượng 6, 8 thước, 7 thước, 3 thước, 7 tấc...… không nhất định để hóa độ chúng sinh.

Phật huệ

佛慧; C: fóhuì; J: butsue, butte.|Trí huệ của Phật, trí giác ngộ.

phật huệ

(佛慧) Phạm: Tathàgata- jĩàna-darzana. Cũng gọi Phật trí, Phật tri kiến, Phật trí tuệ.Trí tuệ của Phật, tức chỉ cho trí tuệ bình đẳng, tối cao mà Phật đã chứng được. Như lai xuất hiện ở đời, cũng vì muốn truyền trí tuệ này cho mọi người. Kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 8 thượng) nói: Vì chúng sinh bị các khổ làm não loạn nên ta nói Niết bàn, ta đặt ra phương tiện ấy là vì múôn khiến chúng sinh được vào Phật tuệ. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ].

phật hành li địa tam ý

(佛行離地三意) Đức Phật bước đi, chân không bén đất, có 3 lí do: 1. Vì bảo vệ côn trùng: Trên mặt đất có côn trùng đi lại hay nằm yên 1 chỗ, vì lòng từ bi, sợ giẫm lên chúng sẽ chết, nên lúc đi, đức Phật không để chân chạm sát đất. 2. Vì bảo vệ cây cỏ: Trên mặc đất có cỏ mọc, vì muốn bảo vệ cỏ nên khi đi, đức Phật không đặt chân sát đất. 3. Vì muốn hiển hiện sức thần thông: Đức Phật thị hiện sức thần thông, bay đi tự tại trong hư không cũng như trên mặt đất, nên khi Phật đi chân không bén đất. [X. kinh Xứ xứ].

phật hương các

(佛香閣) Gác Phật hương, một kiến trúc nổi tiếng ở vườn Di hòa, phía trước núi Vạn thọ, ở Bắc kinh, được xây dựng vào thờivuaCàn long, nhà Thanh. Kiến trúc này nguyên là tháp Diên thọ, dự trù xây 9 tầng, nhưng mới làm đến tầng thứ 8 thì Hoàng đế ban lệnh ngưng lại và đổi thành Phật hương các. Kiến trúc gác này gồm 3 tầng, 8 mặt, 4 lớp mái, cao 41m, xây trên nền đá cao 20 mét, trông rất hoành tráng. Năm Hàm phong thứ 10 (1860), kiến trúc này bị liên quân Anh, Pháp phá hủy khi họ tiến đánh Bắc kinh. Đến khoảng năm Quang tự, Phật hương các được kiến thiết lại đúng như cũ, nhờ có tượng Phật, nênlà 1 trong những thắng cảnh nổi tiếng ở Bắc kinh. Vào những ngày nhàn rỗi, du khách đến thưởng ngoạn rất đông.

phật hướng thượng sự

(佛向上事) Gọi tắt: Phật hướng thượng. Cảnh giới lí tưởng siêu Phật việt Tổ. Đây là lời pháp dạy chúng của ngài Động sơn Lương giới – Tổ của tông Tào động. Chương Động sơn Lương giới trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 15 (Đại 51, 322 hạ) nói: Thể nhận được Phật hướng thượng sự mới có đôi điều đáng nói. Ngoài ra, hình dung người đã vượt Phật vượt Tổ, thoát khỏimọisự ràng buộc mà chứng được giải thoát chân chính, gọi là Phật hướng thượng nhân. Còn người tu trì đạo Phật hướng thượng thì gọi là Phật hướng thượng cơ. [X. Động sơn lương giới thiền sư ngữ lục; Triệu châu hòa thượng ngữ lục].

phật hậu phổ hiền

(佛後普賢) Sau khi tu hành đã chứng được quả Phật, hành giả lại noi theo đức hạnh của bồ tát Phổ hiền mà tu hành giáo hóa chúng sinh, mang lại lợi ích cho họ, cũng gọi là Phật hậu Phổ hiền (sau khi thành Phật, lại tu hạnh Phổ hiền).

phật học

(佛學) Môn học nghiên cứu về hệ thống, nguồn gốc và sự phát triển tư tưởng của Phật giáo. Nội dung của nền Phật học là những giáo pháp do đức Phật nói ra, sau được các vị đệ tử trực tiếp của Phật kết tập lại, rồi do các bậc Tổ sư các đời, căn cứ vào giáo pháp ấy, nghiên cứu, phân tích, giải thích, thuyết minh một cách có hệ thống mà thành lập các loại học thuyết về 2 chủ đề trọng đại là vũ trụ và con người. Phật học gồm 2 phương diện lí luận và thực tiễn, bao quát 4 phạm trù: Giáo, lí, hành, chứng, là pháp môn hướng dẫn con người đạt đến cảnh giới giải thoát, yên vui chân thực. Sự phát triển của hệ thống Phật học ở Ấn độ, theo Pháp sư Ấn thuận, có thể chia làm 5 thời kì để khảo sát như sau: 1. Thời kì cùng đạt được giải thoát, lấy Thanh văn làm gốc: Thời kì này bắt đầu từ lúc đức Phật lập giáo đến khi Ngài nhập diệt. Giáo pháp chủ yếu mà đức Phật đã nói ở thời kì này là 12 nhân duyên, 8 chính đạo và 4 Thánh đế, chỉ dạy cá nhân diệt trừ phiền não khổ đau để đạt đến Niết bàn an lạc. 2. Thời kì Thanh văn chia ra dòng phái có khuynh hướng Bồ tát: Thời kì này bắt đầu từ khi đức Phật nhập diệt đến 400 năm sau (khoảng thế kỉ IV đến thế kỉ I trước Tây lịch), tức tương đương với thời kì Phật giáo Bộ phái. Đứng về phương diện tinh thần căn bản mà nhận xét thì thời kì này có sự đối lập giữa 2 khuynh hướng tư tưởng: Chủ nghĩa thực tiễn (Thượng tọa bộ bảo thủ)và chủ nghĩa lí tưởng (Đại chúng bộ cấp tiến). Khoảng 100 năm trước Tây lịch, từ 2 bộ phái căn bản Thượng tọa và Đại chúng, đã chia thành 20 bộ phái(gọi chung là 20 bộ phái Tiểu thừa).Trong 20 bộ phái này, thuộc hệ thống Thượng tọa bộ, có những bộ phái quan trọng như: Thuyết nhất thiết hữu bộ, Kinh lượng bộ, Độc tử bộ v.v...… Trong đó, Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương tất cả pháp đều có thực (Phạm: Dravyata#sat), đều tồn tại về mặt tự tướng (Phạm: Svalakwaịatà), các pháp tồn tại độc lập…..., tức chủ trương Pháp thể hằng hữu, Tam thế thực hữu và thế giới tự nhiên do nguyên tử (cực vi) cấu tạo thành. Kinh lượng bộ thì cho rằng sắc pháp chỉ có 4 đại và tâm là có thực, đồng thời chủ trương hiện tại có thực, quá khứ, vị lai không có. Còn Độc tử bộ thì cho rằng Bổ đặc già la (Phạm: Pudgala) là chủ thể của luân hồi, 5 uẩn chẳng phải một chẳng phải khác. Hệ thống thuộc Đại chúng bộ thì chú trọng tính chất siêu việt tuyệt đối của đức Phật, hạnh nguyện vị tha của Bồ tát và chủ trương tâm tính vốn thanh tịnh, quá khứ, vị lai không có thực…... 3. Thời kì có đủ cả Đại thừa và Tiểu thừa nhưng lấy Bồ tát làm gốc: Thời kì này Phật giáo Đại thừa bắt đầu lưu hành (từ khoảng thế kỉ I tr.TL. đến thế kỉ III TL.). Phật giáo ở thời kì này lấy tư tưởng Bồ tát làm chính, nhưng không coi nhẹ hoặc phủ nhận Tiểu thừa. Nhân vật tiêu biểu của thời kì này là ngài Long thụ. Ngài soạn bộ Trung luận chủ trương thế giới kinh nghiệm hiện thực đều sinh diệt biến hóa, nên tất cả các pháp đều không có thực thể. Căn cứ vào lí duyên sinh, đứng trên lập trường tuyệt đối mà quán xét thì bản tính các pháp là không, đó là Chân đế; đứng trên lập trường tương đối mà thừa nhận các pháp thế gian là có giả, đó là Tục đế; không cố chấp bất cứ khái niệm cực đoan nào, đó là Trung đạo. 4. Thời kì phân chia dòng phái Bồ tát có khuynh hướng Như lai: Thời kì này là khoảng thời gian sau đức Phật nhập diệt 700 năm đến 1.000 năm (tức khoảng thế kỉ III đến thế kỉ VI Tây lịch). Thời kì này, vấn đề thành Phật được chia ra 2 thuyết: Phật chủng tòng duyên khởi(hạt giống Phật được huân tập dần dần mà thành)và Phật tính bản hữu (tất cả chúng sinh đều đã có sẵn tính Phật, cho nên đều có khả năng thành Phật). Hai nhân vật tiêu biểu cho thời kì này là các ngài Vô trước và Thế thân, phản đối quan điểm Không của ngài Long thụ ở thời kì trước, dựa vào thuyết Duy thức mà lập ra 3 tính: Biến kế sở chấp tính, Y tha khởi tính và Viên thành thực tính, chủ trương vạn hữu đều do thể của thức người ta biến hiện. Thức biến hiện có 3 loại: Thức A lại da, thức Mạt na và 6 thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). 5. Thời kì Phạm và Phật cùng 1 thể, lấy Phật làm gốc: Đây cũng là thời kì Phật giáo dần dần diệt vong. Khuynh hướng Như lai vốncósẵn dung nhiếp với chú thuật thần bí của thế tục, tư tưởng Phật giáo dần dần kết hợp với Phạm ngã luận của Bà la môn giáo, để rồi tiến vào thời đại Như lai là gốc, Phạm Phật nhất thể. Lại vì Phật giáo Đại thừa hưng thịnh, những tư tưởng như Phật lực vô lượng, Bồ tát đại nguyện, tha lực gia trì…... bột phát mạnh mẽ, khiến cho Phật giáo Đại thừa biến thành Mật giáo. Thời kì này hành giả mãi mê truy cầu tức thân thành Phật, đánh mất tinh thần lợi tha cố hữu của Đại thừa, bên ngoài thì Bà la môn giáo hưng thịnh, bên trong thì các tư tưởng như duy tâm, chân thường, viên dung, tha lực, thần bí, đốn chứng...… dần dần đồng hóa với Phạm thần, nên đến thế kỉ XII thì Phật giáo đã mất hết dấu tích ở Ấn độ. Còn ở Trung quốc thì Phật họcđược truyền vào từ đời Hán, chia thành nhiều tông phái khác nhau, sản sinh ra nhiều học thuyết bất đồng. Để tránh xung đột và mâu thuẫn, các nhà Phật học Trung quốc đã dùng phương thức phán giáo để dung hòa các khuynh hướng dị biệt. Phật học Trung quốc sau thời kì du nhập, dần dần chia ra 8 tông, 10 tông, 13 tông. Nếu nói theo 8 tông thì Thiền, Tịnh, Luật, Mật thuộc về hành trì, còn Tam luận, Thiên thai, Hoa nghiêm, Duy thức thì chuyên về nghĩa học. Nếu phân loại để nghiên cứu Phật học thì có thể quan sát theo nhiều góc độ khác nhau. Nếu khảo sát Phật học về phương diện tư tưởng sử thì có thể chia làm Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo phát triển; nếu theo quan điểm địa lí thì có thể chia ra 2 hệ thống tư tưởng là Phật giáo Nam truyền và Phật giáo Bắc truyền. Còn nếu nhận xét theo nội dung giáo nghĩa thì có các loại nhị phần pháp như: Nhị thừa Đại-Tiểu, nhị giáo Quyền - Thực, nhị môn Thánh - Tịnh, nhị giáo Hiển-Mật, nhị tông Giáo-Thiền…... Các học giả hiện đại cũng có khuynh hướng phân loại Phật học làm 2 môn lớn theo tư trào học thuật mới như Vũ trụ luận, lấy việc nghiên cứu và thuyết minh chân tướng của vạn hữu làm mục đích, lấy lí luận làm trung tâm và Giải thoát luận, lấy việc trình bày rõ phương pháp và ý nghĩa chân thực của sự giải thoát, lấy thực tiễn làm mục đích...… Ông Megovorn người Mĩ thì chia Phật học làm 2 môn: Siêu việt triết học (Bản thể luận) và Tương đối triết học (Vũ trụ luận). Phạm vị Vũ trụ luận của Phật học rất rộng. Có học phái căn cứ vào nhân quả liên tục của các hiện tượng để thuyết minh vạn vật do đa nguyên sinh khởi; có học phái chủ trương Duy tâm nhất nguyên luận cho rằng các hiện tượng vật chất là do nguyên lí tinh thần khai triển; có học phái khẳng định Thực tại bản thể luận siêu việt hiện tượng; lại có học phái không phân biệt bản thể và hiện tượng, đem các hoạt động của hiện tượng qui vào bản thể mà chủ trương hiện tượng tức bản thể. Nói một cách khái quát thì Vũ trụ luận của Phật học có thể chia làm 2 hệ thống lớn là Duyên khởi luận và Thực tướng luận. 1. Duyên khởi luận: Giải thích sự sinh khởi của vũ trụ vạn pháp, có các luận thuyết sau đây: a) Nguyên nhân sinh khởi của vạn pháp là nghiệp lực tạo tác của con người, gọi là Nghiệp cảm duyên khởi luận. b) Hết thảy muôn pháp đều do thức A lại da thứ 8 của con người biến hiện ra, gọi là A lại da nguyên khởi luận (học thuyết Duy thức). c) Hết thảy mọi hiện tượng đều từ bản thể chân như sinh khởi, gọi là Chân như duyên khởi luận (học thuyết Chân thường). d) Xuất phát từ lí luận bản thể tức hiện tượng, hiện tượng tức bản thể, gọi là Pháp giới duyên khởi luận (học thuyết Hoa nghiêm). e) Vũ trụ vạn hữu sinh khởi từ 6 nguyên tố lớn: Đất, nước, lửa, gió, không, thức là tổng thể linh động của pháp thân Đại nhật Như lai, gọi là Lục đại duyên khởi(học thuyết Chân ngôn). 2. Thực tướng luận: Giữa các học phái Phật giáo chủ trương các luận thuyết sau đây: a) Phủ định sự tồn tại của cái ta chủ quan, nhưng đối với các hiện tượng khách quan thì khẳng định có thực thể, gọi là Pháp hữu luận. b) Chủ trương thuyết ngã thể chủ quan và pháp thể khách quan đều là không, gọi là Pháp không luận(học thuyết của 20 bộ phái Tiểu thừa và luận Thành thực). c) Chủ trương hiện tượng là không hoặc là có giả, còn bản thể thì có thực, gọi là Hữu không trung đạo luận (học thuyết Duy thức). d) Phủ định hữu không tương đối, lấy tuyệt đối bất khả đắc làm lí tưởng rốt ráo, gọi là Vô tướng giai không luận (học thuyết Trung quán). e) Quán sát hiện tượng tức bản thể, toàn thể vũ trụ vạn hữu đều là thực thể nhất như, gọi là Chư pháp thực tướng luận(học thuyết Thiên thai). Duyên khởi luận thuyết minh tình hình sinh diệt biến hóa của vạn hữu theo phương diện thời gian, đó là Vũ trụ hiện tượng luận; còn Thực tướng luận thì thuyết minh chân lí rốt ráo của vạn hữu theo phương diện không gian, đó là Vũ trụ bản thể luận. Giải thoát luận thì đem nguyên lí giải thoát ứng dụng vào thực tiễn, theo con đường hướng thượng để đạt đến mục địch cứu cánh; có thể chia ra 3 hệ thống lớn: Giải thoát thực chất luận, Giải thoát hình thức luận và Giải thoát thứ đệ luận. 1. Giải thoát thực chất luận: Cảnh giới giải thoát chân thực, tức là Niết bàn, Như lai, Phật độ, Phật thân…... đều là biểu thị giải thoát thực chất. 2. Giải thoát hình thức luận: Các phương pháp thực hành để hiển bày thực chất như trì giới cầu giải thoát (Giới luật luận), vãng sinh cầu giải thoát (Vãng sinh luận), tu quán cầu giải thoát (Tu quán luận), đoạn hoặc cầu giải thoát (Đoạn hoặc luận)…... đều thuộc hình thức giải thoát. 3. Giải thoát thứ đệ luận: Hàng phàm phu có thể nhờ công sức tu hành mà được giải thoát. Nhưng vì sự tu hành của họ có cạn sau khác nhau nên phải tuần tự theo thứ lớp tiến dần từ phàm đến thánh, cho đến rốt ráo thành Phật, giải thoát vĩnh viễn. Đó là Giải thoát thứ tự luận.

phật học tùng báo

(佛學叢報) Tạp chí Phật giáo do các ông Địch bảo hiền và Bộc nhất thừa phát hành tại Thượng hải, Trung quốc vào năm 1912. Trước đó, họ Địch cùng với các ông Khang hữu vi, Lương khải siêu mưu đồ làm cách mạng lật đổ nhà Thanh để canh tân Trung quốc, âm mưu thất bại, bèn đến Thượng hải làm nhà báo. Vì chuyển hướng nghiên cứu Phật học nên xuất bản tờ báo này. Tuy đến 12 số thì phải đình bản, nhưng đây vẫn là tờ tạp chí Phật giáo đầu tiên ấn hành tại Trung quốc. Về sau mới có các tờ nguyệt san Phật giáo xuất hiện như Giác xã tùng thư, Hải triều âm...… Địch bảo hiền tu Tịnh độ và tập Thiền pháp. Ông có tác phẩm: Bình đẳng các bút kí.

phật học viện

(佛學院) Cơ sở giáo dục Phật giáo theo hình thức mới. Phương pháp giáo dục của Phật học viện khác với các tùng lâm truyền thống. Đại khái về hình thức thì giống với phương pháp giáo dục của các trường học hiện đại, nhưng về nội dung các môn dạy thì lấy Phật học làm nòng cốt, thế học là phụ. Từ đầu đời Dân quốc (1912) đến nay, ở Trung hoa đã có các Phật học viện nổi tiếng như: Đại học Hoa nghiêm, Quán tông học xã (Đế nhàn), Pháp giới học uyển (Nguyệt hà), Chi na nội học viện(Âu dương tiệm), Phật học viện Vũ xương (Thái hư), Phật học viện Mân nam(Thường tỉnh, Thái hư), Phật học viện Tiêu sơn (Trí quang), Hán Tạng giáo lí viện…... Tại Đài loan, từ sau năm 1949 đến nay, đã có vài mươi viện Phật học được sáng lập. Trong đó, nổi tiếng hơn cả là viện Nghiên cứu Phật giáo Trung quốc, học viện Phật giáo Đông phương (Tinh vân), học viện Phật giáo Trung hoa (Thánh ấn), học viện chuyên tông Hoa nghiêm (Thành nhất), Phật học viện Liên hoa (Hiểu vân) và Sở nghiên cứu Phật học Trung hoa (Thánh nghiêm + Thành nhất)…...

Phật Hộ

佛護; C: fóhù; J: butsugo; S: buddhapālita;|Là Luận sư kiệt xuất của Trung quán tông của Đại thừa Ấn Độ. Sư nổi tiếng với sự phát triển pháp biện chứng phủ định để chứng minh khái niệm về Tính không, và cách biện chứng này đã dẫn đến những điểm bất đồng với các Đại luận sư Trung quán như Thanh Biện (清辯; s: bhāvaviveka, 490-570), nhưng lại có những điểm hoà đồng với những hàng hậu bối như Nguyệt Xứng (月稱; s: candrakīrti, ~ 650). Một vài quan điểm đối lập quan trọng trong truyền thống rộng rãi của Trung Quán tông có thể được thấy qua những quan điểm bất đồng giữa Thanh Biện và Phật Hộ: trong khi Thanh Biện dùng luận lí học để khẳng định chân lí Tính không theo lập trường xác định, Phật Hộ từ chối giá trị của việc dùng tiền đề luận lí học, và quan điểm này của sư dẫn đến một sự từ khước mọi quan điểm tích cực, mọi lập trường có tính chất khẳng định nói chung. Lập trường của hai vị Phật Hộ và Nguyệt Xứng sau này kết thúc ở sự phân phái Trung luận ra một nhánh mới gọi là Quy mậu biện chứng phái (歸謬論證派; s: prāsaṅgika). Sư có để lại một bài luận quan trọng về Trung quán luận của Long Thụ với tên Phật Hộ căn bản trung sớ (buddhapālita-mūlama-dhyamaka-vṛtti), còn được giữ lại trong Tạng ngữ.

phật hộ

(佛護) Phạm: Buddhapàlita. Tạng: Saís-rgyas bskyaís. Luận sư của học phái Trung quán ở Ấn độ, là Tổ khai sáng của phái Trung quán cụ duyên (Phạm: Màdhyamika- Pràsaígika), sống và hoạt động ở khoảng năm 470 đến năm 540 Tây lịch. Cứ theo Phật giáo sử của ngài Đa la na tha (Phạm: Tàranàtha, Tạng: Kun-dga# sĩií-po– Cổn cát ninh ba) thì ngài Phật hộ sinh ra ở Phiếm sa khổ lợi đà (Phạm: Haôsakfđa) thuộc nước Thản bà la (Phạm: Taôbara), Nam Ấn độ. Sư vốn là đệ tử của ngài Long hữu (Phạm: Nàgamitra), nhưng đồng thời cũng thờ ngài Tăng già la khổ thập đạt (Phạm: Saôgharakwita, Hán dịch: Tăng hộ) làm thầy, học tập tư tưởng Trung quán của ngài Long thụ, chứng được trí tối thượng. Sư lễ bái thánh dung bồ tát Văn thù, trụ ở già lam tại Đàn đa phất lợi (Phạm: Dantapuri) để giảng pháp, đồng thời chú thích các bộ luận của các ngài Long thụ và Đề bà, nhờ đó nên thành tựu Lê lư bộ (Phạm: Rilbu). Vì thế mà sư được xếp vào 1 trong 8 nhà chú thích bộ Trung luận căn bản và được tôn xưng là Trưởng lão Phật hộ. Trong lịch sử tư tưởng Trung quán ở Ấn độ, sư có 1 địa vị quan trọng và từng đứng trên lập trường của mình mà phê phán lập trường của Luận sư Thanh biện. Đến khi Luận sư Nguyệt xứng xuất hiện thì địa vị của sư lại càng được khẳng định mà trở thành nhà học giả Trung luận ưu việt. Còn ngài Tông khách ba thì gọi các ngài Long thụ, Đề bà là Căn Bản Trung Quán Sư mà gọi những nhà sau ngài Phật hộ là Tùy Trì Trung Quán Sư.Bộ Trung luận chú do sư soạn, trừ 3 phẩm đầu,còn lại đều là ngắn gọn, sáng sủa, dễ hiểu. Đệ tử của sư rất đông. [X. luận Bát nhã đăng; The Central Philosophy of Buddhism by T.R.V. Mùrti; The Conception of Buddhist Nirvàịa by Th. Stcherbatsky; Ấn độ triết học nghiên cứu đệ ngũ (Vũ tỉnh Bá thọ); Tây tạng Phật giáo nghiên cứu (Trường vĩ Nhã nhân)].

phật hội

(佛會) 1. Phật Hội. Phạm: Parwad-maịđala. Chỉ cho pháp hội thuyết pháp của đức Phật. II. Phật Hội. Chỉ cho nơi Phật, Bồ tát và Thánh chúng tập họp, tức chỉ cho Tịnh độ. Bát chu tán của ngài Thiện đạo (Đại 47, 449thượng) nói: Trong khoảng một niệm tiến vào Phật hội. III. Phật Hội. Chỉ cho pháp hội cúng tế, Phật sự…...

phật hữu ngũ sự

(佛有五事) Phật có năm việc để làm. Theo phẩm Thính pháp trong kinh Tăng nhất A hàm quyển 28 thì năm việc ấy là: 1. Quay bánh xe pháp: Đức Phật khi đã thành đạo, quay bánh xe pháp độ thoát hữu tình, làm lợi ích cho tất cả. Như quay bánh xe pháp Tứ đế độ 5 vị tỉ khưu. 2. Nói pháp cho vua cha nghe: Đức Phật khi đã thành đạo, nhớ đến ơn của cha rất nặng, nên phải nói pháp làm cho cha hưởng niềm vui của tuổi già, được sống lâu và xa lìa mọi phiền muộn của trần thế, nên Phật trở về cố quốc nói pháp cho cha nghe. 3. Nói pháp cho thân mẫu nghe: Đức Phật khi đã thành đạo, nhớ tới ơn mẹ, dưỡng dục tình thâm, vả lại, có thệ nguyện cứu độ cha mẹ, nên Phật lên cung trời Đao lợi, nói pháp cho mẹ nghe. 4. Lập hạnh Bồ tát cho phàm phu: Đức Phật khi đã thành đạo, cứu độ hết thảy hữu tình, cho nên nói pháp Lục độ vạn hạnh, thành lập hạnh Bồ tát Đại thừa cho các phàm phu, chuyển độ tất cả, cùng thành chính giác. 5. Thụ kí cho hàng Bồ tát: Đức Phật khi đã thành đạo, xem các căn cơ Đại thừa, nếu người nhờ tu đạo Bồ tát mà được thành thục, thì nói pháp và thụ kí khiến trong tương lai họ đều được thành Phật.

phật khám

(佛龕) Cái khám để thờ Phật, phần nhiều làm bằng đá hoặc gỗ. Cứ theo Kê lâm chí thì chùa Phật cũng gọi là Phật khám. Ngoài ra, trong các hang động, những chỗ được đục sâu vào vách đá để thờ tượng Phật cũng gọi là Phật khám, như các khám ở hang đá Vân cương, Long môn…... (xt. Trù Tử, Khám).

phật khí

(佛器) Chỉ cho cái bát đựng cơm cúng dường đức Phật. Hình dáng giống cái nấm, phần nhiều làm bằng kim loại như sắt, đồng, cũng có khi được làm bằng sành, sứ…...; bên ngoài khắc hình hoa sen, hoặc cỏ…...

phật khúc

(佛曲) Những ca khúc trong Phật giáo được phổ nhạc bằng những câu kệ trong kinh. Cứ theo Tây hà thi thoại của ông Mao kì linh thì ở các đời Tùy, Đường của Trung quốc đã có Phật khúc rồi, chứ không phải mới bắt đầu từ thời Kim, Nguyên, như Đường nhạc phủ có Phổ quang Phật khúc, Nhật quang minh Phật khúc, Thích ca văn Phật khúc, Diệu hoa Phật khúc, Ma ni Phật khúc, Nhật đằng quang Phật khúc…... được soạn theo nhiều thanh điệu khác nhau như Song, Thương, Chủy, Vũ…... Các chùa Phật ở vùng Ngô Việt vào đời Thanh cũng soạn Phạm nhạc, mỗi khi xướng Phật khúc thường dùng sênh, sáo đệm theo gọi là Thanh nhạc. Trong Tạp khúc ở Đôn hoàng còn có bộ phận tác phẩm Phật khúc. (xt. Nhạc).

phật khẩu

(佛口) Cũng gọi Phật thuyết. Những lời nói được phát ra từ miệng của Phật, hoặc chỉ cho kim khẩu (miệng vàng) tôn quí của đức Phật. Như Phật khẩu kim ngôn, tức hình dung những câu văn trong các kinh là từ miệng vàng của Phật nói ra.

Phật kinh

佛經; C: fó jīng; J: bukkyō.|Giáo lí đạo Phật. Kinh Phật.

phật kinh

(佛經) Phạm: Buddha-vacana. I. Phật Kinh. Chỉ cho tạng Kinh trong 3 tạng do đức Phật Thích ca mâu ni nói ra và được đời sau kết tập lại, cũng chỉ cho kinh điển do các vị Tổ sư các đời biên soạn theo hình thức Như thị ngã văn. Phật kinh được viết bằng nhiều thứ văn tự như: Phạm,Pàli, Hán, Tây tạng...… Phật kinh Hán văn thông thường chia làm 2 loại: Kinh Đại thừa và kinh Tiểu thừa. Trong Khai nguyên thích giáo lục, ngài Trí thăng đời Đường mới chia kinh Đại thừa làm 5 bộ lớn: Bát nhã bộ, Bảo tích bộ, Đại tập bộ, Hoa nghiêm bộ và Niết bàn bộ, rồi đến các kinh ngoài 5 bộ. Đại chính tạng thì chia tất cả kinh làm 10 bộ: A hàm, Bản duyên, Bát nhã, Pháp hoa, Hoa nghiêm, Bảo tích, Niết bàn, Đại tập, Kinh tập và Mật bộ. (xt. Phật Giáo Giáo Điển). II. Phật Kinh. Chỉ chung cho toàn bộ kinh điển của Phật giáo. Bao gồm kinh, luật, luận. Xưa gọi là Chúng kinh, Nhất thiết kinh…...

phật kiến

(佛見) I. Phật Kiến. Cũng gọi Phật tri kiến. Chỉ cho sự thấy biết chân chính của đức Phật. Tức là tri kiến chân thực, thấu suốt thực tướng của các pháp. Kinh Phạm võng quyển thượng (Đại 24, 1002 hạ) nói: Chuyển hết thảy tri kiến vào Phật kiến và Phật kiến vào hết thảy tri kiến. (xt. Phật Tri Kiến). II. Phật Kiến. Chỉ cho kiến giải chấp trước Phật pháp. Lập trường của Thiền tông là chối bỏ tất cả mọi chấp trước, dù có 1 quan điểm nhất định nào đó đối với Phật pháp, cũng là thiên chấp. Bởi vì dùng xiềng xích bằng vàng để trói buộc thì vẫn mất tự do giải thoát.

phật kí

(佛記) Huyền kí của đức Phật, cũng chỉ cho Kí biệt của Phật. Những lời đức Phật nói trước về các sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai, gọi là Huyền kí. Còn những lời Phật nói trước về quả báo khác nhau của các đệ tử Ngài trong vị lai thì gọi là Kí biệt. (xt. Thụ Kí).

phật li tổ thất

(佛籬祖室) Bờ rào của Phật, nhà ở của tổ. Tổ chỉ cho tổ Đạt ma của Thiền tông. Phật li là cửa Phật; Tổ thất là cửa Thiền. Phật li tổ thất là chỉ chung cho Phật giáo, Phật đạo, Phật môn. [X. Viênthoa tập huyễn trụ am kí].

Phật lâm niết-bàn kí pháp trú kinh

佛臨涅槃記法住經; C: fó lín nièpán jì fǎzhù jīng; J: butsu rin nehan kihōjū kyō.|Kinh, 1 quyển, Huyền Trang dịch năm 652.

phật lạp nhật

(佛臘日) Chỉ cho ngày kết thúc hạ an cư. Lạp nghĩa là cuối năm. Phật giáo lấy ngày kết thúc an cư trong 9 tuần mùa hạ làm cuối năm, vì thế ngày 15 tháng 7 âm lịch gọi là Phật lạp nhật. [X. Đại tống tăng sử lược Q.hạ].

Phật lực

佛力; C: fólì; J: butsuriki; |Có các nghĩa sau: 1. Năng lực của Đức Phật; 2. Năng lực của chư Phật và Bồ Tát bảo hộ cho chúng sinh tu tập.

phật lực

(佛力) Lực dụng của Phật. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 5 hạ) nói: Phật lực không có chỗ sợ hãi, các tam muội giải thoát và các pháp khác của Phật không ai đo lường được. [X. luận Đại trí độ Q.2; phẩm Dị hành luận Thập trụ tì bà sa Q.5].

phật ma nhất như

(佛魔一如) Phật và ma về mặt tướng dụng tuy có khác nhau, nhưng về mặt thể tính thì chỉ là một. Bởi vì các pháp vốn không có tự tính, cho nên Phật thiện và ma ác, tướng thuận và tướng nghịch đều thuộc thế giới hình tướng bề ngoài, thực thì bản tính Phật và ma vốn chẳng hai, vì thế gọi là Phật ma nhất như.

phật môn

(佛門) Cũng gọi Thích môn, Pháp môn, Truy môn, Huyền môn, Chân môn, Đạo môn, Không môn, Đế môn, Tổ môn, Tông môn. Cửa để đi vào Phật giáo, tức pháp môn tu hành đạo Phật. Cứ theo Tam luận huyền nghĩa thì Bồ tát tạo luận là nhằm mở bày giáo môn của chư Phật. Giáo môn ở đây hàm ý là pháp môn. Đời sau, danh từ Phật môn chủ yếu là Phật giáo tự xưng để phân biệt với Đạo giáo và Nho giáo. Như người tin theo Phật giáo, gọi là Đệ tử Phật môn. Lìa bỏ việc đời mà tu hành đạo Phật thì gọi là Nhập Phật môn (vào cửa Phật)... [X. kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển); Chú Duy ma cật kinh Q.8; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.2; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7; Bảo lâm truyện Q.8; Phật tổ thống tải tự; Bát tông cương yếu]. (xt. Pháp Môn).

phật mẫu

(佛母) Phạm: Buddha-màtri. Pàli: Buddha-màtar. I. Phật Mẫu. Chỉ cho phu nhân Ma da (Phạm: Mahà-màyà), mẹ đẻ của đức Phật Thích ca, hoặc chỉ cho bà Ma ha ba xà ba đề (Phạm: Mahà-prajàpatì) dì của đức Phật, người đã thay thế phu nhân Ma da nuôi dưỡng Ngài sau khi phu nhân tạ thế. [X. kinh Đại ái đạo ban nê hoàn; kinh Bồ tát xử thai Q.1; kinh Quán Phật tam muội hải Q.6]. II. Phật Mẫu. Chỉ cho Bát nhã ba la mật, vì Bát nhã có năng lực sinh ra hết thảy các đức Phật. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.16; luận Đại trí độ Q.34]. III. Phật Mẫu. Chỉ cho pháp. Phật lấy pháp làm thầy, nhờ pháp mà thành Phật, vì thế gọi pháp là Phật mẫu. [X. kinh Đại phương tiện Phật báo ân Q.6; kinh Lăng nghiêm Q.6]. IV. Phật Mẫu. Chỉ cho Phật nhãn tôn. Trong Mật giáo, pháp nào có năng lực sinh ra chư Phật, chư Bồ tát thì được thần cách hóa mà gọi là Phật mẫu, Phật mẫu tôn.Chẳng hạn như Bát nhã ba la mật có công năng sinh ra các đức Phật, mang lại Nhất thiết trí cho các Ngài, có tác dụng thị hiện tướng thế gian, cho nên Bát nhã được Mật giáo thần cách hóa mà gọi là Phật nhãn Phật mẫu. Phật nhãn Phật mẫu này là mẹ của cả 2 bộ Kim cương giới và Thai tạng giới. Ngoài ra, trong viện Biến tri của Mạn đồ la Thai tạng giới có bài trí các vị Phật mẫu như Phật nhãn, Chuẩn đề…... cho nên viện Biến tri còn được gọi là viện Phật mẫu.[X. phẩm Phật mẫu kinh Đại phẩm bát nhã Q.14].

phật mẫu bát nê hoàn kinh

(佛母般泥洹經) Kinh, 1 quyển, do ngài Tuệ giản dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 2. Nội dung kinh này thuật lại sự tích liên quan đến việc nhập diệt và chôn cất của Phật mẫu Đại ái đạo tỉ khưu ni. Bản dịch khác của kinh này là kinh Đại ái đạo nê hoàn, do ngài Bạch pháp tổ dịch vào đời Tây Tấn.

Phật mẫu bảo đức tạng bát-nhã ba-la-mật kinh

佛母寶悳藏般若波羅蜜經; C: fómǔ băo-dézàng bānruò bōluómì jīng; J: butsumo hō-tokuzō hannya haramitsu kyō; S: prajñāpārami-tāratnaguṇa-saṃcayagāthā. |Kinh, gồm 3 quyển. Tên gọi tắt là Bảo Đức tạng kinh (寶悳藏經); Pháp Hiền (法賢) dịch. Về tiếng Phạn, xem bản của Yuyama biên tập năm 1976.

phật mẫu gia trì

(佛母加持) Cũng gọi Phật bộ mẫu gia trì. Tác pháp gia trì kết ấn, tụng chân ngôn căn bản của Phật nhãn tôn trong pháp tu Mật giáo. Người tu hành Mật giáo đem công đức gia trì niệm tụng dâng cúng Phật nhãn tôn, công đức ấy đều được cất vào kho báu Kim cương, không bị hoại mất, nhờ thế mà có thể chứng được bồ đề trong hiện tại. Cách gia trì là: Hành giả kết ấn và tụng chân ngôn căn bản của Phật nhãn tôn, gia trì ở 5 chỗ trên thân thể(trán, vai trái, vai phải, tim, yết hầu)khiến cho thân của chính mình thành Phật nhãn tôn. Còn khi gia trì ở 5 chỗ trên mặt của hành giả (mắt bên phải, mắt bên trái, vai phải, vai trái, giữa 2 đầu chân mày)để khởi mở 5 mắt (mắt thịt, mắt trời, mắt trí, mắt pháp, mắt Phật)thì lúc đó gia trì trên mặt hành giả theo chiều thuận 3 lần, khiến mọi người thấy đều vui mừng. [X. phẩm Kim cương cát tường đại thành tựu trong kinh Du kì].

phật mẫu mạn đồ la

(佛母曼荼羅) Cũng gọi Hư không nhãn mạn đồ la, Phật mẫu biệt đàn. Mạn đồ la tối thượng tối thắng trong các đàn tu của Mật giáo. Trong Mật giáo, Hư không nhãn thường chỉ cho Phật nhãn, nhưng Phật mẫu mạn đồ la, theo kinh Du kì, thì không phải chỉ cho Phật nhãn mạn đồ la. Cứ theo phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật và Đại nhật kinh cúng dường trì tụng bất đồng quyển 7, thì Mạn đồ la này có màu vàng ròng, bức tranh hình vuông, 4 phía dùng ấn Kim cương làm ranh giới bao quanh, ở giữa Mạn đồ la có đóa hoa sen lớn, trên có ngọn lửa sáng rực, trên hoa sen có ấn Phật đính, ấn ấy giống như hình búi tóc trên đỉnh đầu Phật khiến đỉnh đầu nổi cao lên, bên cạnh vẽ hình 2 mắt (tức mắt Như lai) ở trong ánh lửa sáng, còn trong đàn thì các chủng tử được bày ở khắp nơi.

phật nguyệt

(佛月) Mặt trăng Phật. Có 2 nghĩa: 1. Chỉ cho hào quang của Phật trong suốt, sáng rỡ, giống như ánh sáng của mặt trăng. 2. Ví dụ pháp thân của Phật, nếu tâm chúng sinh thanh tịnh thì Phật cũng theo đó mà ứng hiện, giống như mặt trăng ánh hiện dưới đáy nước, không bị chướng ngại. Kinh Kim quang minh quyển 2 (Đại 16, 344 trung) nói: Pháp thân chân thực của Phật giống như hư không, tùy vật hiện hình, giống như bóng trăng dưới nước, không có gì trở ngại, như ánh lửa, như huyễn hóa, vì thế nay con cúi đầu kính lễ Phật nguyệt. [X. kinhĐại tập Q.58].

phật ngũ tính

(佛五姓) Năm họ của đức Phật trước khi xuất gia.Trước khi xuất gia, đức Phật có 5 họ là: Cù đàm, Cam giá,Nhật chủng, Xá di và Thích ca. (xt. Cam Giá Vương).

phật ngữ

(佛語) Đồng nghĩa: Phật thuyết,Kim khẩu. Những lời nói của đức Phật. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 35 (bản Bắc) thì những lời do Phật nói có 3 loại: Tùy tự ý ngữ (nói theo ý mình), Tùy tha ý ngữ (nói theo ý người) và Tùy tự tha ý ngữ (nói theo ý mình, người). Kinh Phật ngữ pháp môn cho rằngvô thân vô thân hành, vô khẩu vô khẩu hành, vô ý vô ý hành, phi hành phi phi hành, phi báng phi bất báng, bất sinh bất khởi, vô tưởng vô xứ, vô vãng vô một, phi tịch phi hành...… là Phật ngữ. [X. kinh Thanh tịnh trong Trường a hàm Q.12; Quán kinh sớ tán thiện nghĩa].

phật ngữ pháp môn kinh

(佛語法門經) Cũng gọi Phật ngữ kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Bồ đề lưu chi dịch vào đời Bắc Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 17. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật nói về nghĩa Phật ngữ cho bồ tát Long uy đức thượng vương nghe. Theo lời Phật dạy thì chân lí không thể giải thích thuyết minh bằng ngôn ngữ, bởi thế nếu dùng lời nói để khẳng định, phủ định, hoặc dùng những ngôn từ tương đối như thân khẩu ý, địa thủy hỏa phong không, hữu lậu vô lậu…... để diễn đạt chân lí thì đó chẳng phải là Phật ngữ chân chính. Cho nên đức Phật bảo phi ngữ tức Phật ngữ. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Đại đường nội điển lục Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.6; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.9; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.4].

phật nha

(佛牙) Răng của đức Phật Thích ca mâu ni. Cứ theo truyền thuyết, sau khi trà tì (thiêu = đốt), toàn thân đức Thế tôn hóa thành những hạt xá lợi nhỏ, chỉ còn lại một số răng không bị hư tổn, gọi là Phật nha xá lợi (Phạm,Pàli: Dantadhàtu). Cứ theo Đại niết bàn kinh hậu phần quyển hạ, khi trà tì, do sức đại bi, thể kim cương của đức Thế tôn nát ra thành những không hư hoại. Trời Đế thích liền nhận lãnh xá lợi răng trên miệng đức Phật rồi trở lên cõi trời, xây tháp cúng dường. Còn theo kinh Quán hư không tạng bồ tát thì trong vườn Giá ngự ở mạn bắc thành Đao lợi thiên có ngôi tháp Răng Phật. Điều Sư tử quốc trong Cao tăng Pháp hiển truyện thì cho biết trong Vương thành ở Tích lan có tinh xá Phật nha. Ngoài ra, còn có 1 chiếc răng của Phật được truyền đến nước Ô trành ở miền Bắc Ấn độ. Cứ theo Lương cao tăng truyện quyển 13 và Pháp uyển châu lâm quyển 12, thì vào năm Nguyên huy thứ 3 (475) đời Lưu Tống, ngài Pháp hiến thời Nam triều qua Tây vực thỉnh kinh, đến nước Vu điền được 1 chiếc răng Phật và 15 viên xá lợi vốn từ nước Ô trành truyền đến. Sau khi về nước, sư trụ ở Kiến nghiệp (nay là Nam kinh) –Vương đô của nhà Tề – giữ kín răng Phật để cúng dường lễ bái một mình. Năm Vĩnh minh thứ 7 (489), vua Văn tuyên nhân cảm mộng mới đem việc này nói cho mọi người biết. Về sau, răng Phật được đưa về thờ ở chùa Định lâm thượng. Năm Phổ thông thứ 3 (522) đời Lương vũ đế, răng bị lấy mất, về sau không rõ. Đến đời Tùy, răng Phật lại xuất hiện, được thờ ở Đại hưng (Trường an, Thiểm tây). Đến cuối đời Đường, đầu thời Ngũ đại, chiến loạn nổi lên liên miên, răng Phật lần hồi được đưa về Yên kinh (Bắc kinh) thuộc nước Liêu ở phương bắc. Theo Liêu sử Đạo tông kỉ thì vào năm Hàm ung thứ 7 (1071), vua Đạo tông rước răng Phật về thờ ở tháp Chiêu tiên chùa Linh quang. Năm Quang tự 26 (1900) đời Thanh, liên quân 8 nước tiến đánh Bắc kinh, chùa và tháp đều bị phá hủy. Sau, tăng chúng đào bới nền tháp, tìm được 1 cái tráp bằng đá, bên trong cất giữ răng Phật; trong tráp lại có 1 chiếc hộp bằng gỗ trầm hương, trên hộp có khắc dòng chữ: Thích ca mâu ni Phật linh nha xá lợi. Thiên hội thất niên Tứ nguyệt nhị thập nhị nhật kí, Thiện tuệ thư (Xá lợi răng của Phật Thích ca mâu ni. Ghi ngày 22 tháng 4 năm Thiên hội thứ 7, Thiện tuệ viết). Thiên hội là niên hiệu của nhà Bắc Hán (951-979) trong 10 nước thời Ngũ đại. Năm 1964, đoàn thể Phật giáo địa phương đã xây dựng lại tháp xá lợi Răng Phật trên nền chùa cũ để thờ răng Phật. Ngoài ra, xá lợi răng Phật được cất giữ ở chùa Mã lạp cát ngõa (Malagawa) ở thành phố Khảm để (Kandy) tại miền Trung nước Tích lan, được xem là quốc bảo của Tích lan, vì thế chùa này còn có tên là Phật nha tự (chùa Răng Phật). Hằng năm, vào ngày mồng 1 tháng 8, giới Phật giáoTích lan tổ chức lễ hội Phật nha suốt 12 ngày, mỗi ngày từ 8 giờ đến 11 giờ tối cử hành rước răng Phật rất trọng thể. Cứ theo Phật nha sử (Pàli: Dàỉhàvaôsa) thì chiếc răng Phật này từ nước Yết lăng già (Pàli: Kaliíga) bên Ấn độ được truyền đến Tích lan vào khoảng thế kỉ IV Tây lịch và rất được tôn sùng lễ kính. Đầu thế kỉ XIV, người Tamils từ Nam Ấn độ xâm nhập Tích lan và cướp lấy răng Phật. Sau, vua Parakkhamabàhu III (trị vì 1302-1320), dùng phương thức hòa bình rước được răng Phật trở về. Sau, Tích lan cũng rơi vào tình trạng loạn lạc liên miên, nên răng Phật cũng bị liên tục di dời và được cất giữ rất cẩn mật. Năm 1505, người Bồ đào nha đổ bộ xâm chiếm đảo Tích lan, bức hại tín ngưỡng Phật giáo, vua Tích lan phải dời đô đến thành phố Kandy và xây dựng chùa Phật nha để thờ răng Phật. Năm 1560, người Bồđào nha đưa răng Phật về Goa bên Ấn độ để đốt bỏ, nhưng chỉ vài năm sau răng Phật lại xuất hiện. Có thuyết cho rằng răng Phật mà người Bồ đào nha đốt bỏ là răng Phật giả. Cứ theo Tây vực cầu pháp cao tăng truyện quyển thượng của ngài Nghĩa tịnh thì pháp sư Minh viễn từng đến châu Sư tử (Tích lan) định lén đưa răng Phật về Trung quốc, nhưng người Tích lan phát giác và Pháp sư Minh viễn bị lăng nhục nặng nề. Từ đó, sự bảo vệ của người Tích lan đốivớirăng Phật càng thêm nghiêm mật. Cứ theo điều Tăng già la quốc phụ kí trong Đại đường tây vực kí bản đời Minh và Tích lan Phật giáo sử (tác phẩm của C. Dipayaksorn bằng tiếng Thái lan) thì sứ thần nhà Minh của Trung quốc là Trịnh hòa từng đến Tích lan lấy được răng Phật. Người Tích lan đời xưa gọi răng Phật là Dàỉhà-dhàtu, hiện nay thì gọi làDalada. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2,3; Pháp uyển tạp lục nguyên thủy tập mục lục Q.9]. (xt. Phật Nha Sử, Phật Nha Tiết).

phật nha sử

(佛牙史) Pàli: Dàỉhàvaôsa, Danta= dhàtuvaôsa. Tác phẩm Lịch sử răng Phật, gồm 5 chương, do vị tăng người Tích lan là Đạt ma yết đế (Pàli: Dhammakitti) biên soạn vào khoảng thế kỉ XII. Đáp lời thỉnh cầu của vua Parakkhamabàhuđời thứ nhất, ngài Yết đế căn cứ vào bộ Đại sử (Pàli: Mahàvaôsa) trong Biên niên sử bằng tiếng Tích lan và các truyền thuyết Phật giáo mà biên soạn thành sách này. Nội dung nói về cuộc hành trình của Vương tử Đà đa (Pàli: Dantakumàra) ở thành Phật nha (Pàli: Dantapura), nước Yết lăng già (Pàli: Kaliíga) thuộc nam Ấn độ, cùng với Vương phi Hi ma lê (Pàli: Hammàli) kín đáo mang 1 chiếc răng hàm bên trái của đức Phật đến Tích lan lánh nạn, đồng thời, kể lại lai lịch của chiếc răng này. Đây là tập sử thi rất có giá trị bằng tiếngPàli. Răng Phật được đưa đến Tích lan đúng vào thời vua Cát tường vân sắc (Pàli: Siri- Meghavaịịa, tại vị 362-389) trị nước. Răng Phật được nhà vua và toàn dân lễ kính tôn sùng và coi như của báu của quốc gia. Từ đó về sau, quốc vương các triều đại, trước khi lên ngôi, đều phải giành được quyền cúng dường răng Phật mới được nhân dân ủng hộ.

phật nha tiết

(佛牙節) Lễ hội rước răng Phật thịnh hành ở Tích lan. Hằng năm, cứ vào tháng 8 thì chùa Phật nha và các đền thờ của Ấn độ giáo ở thành phố Khảm để (Kandy) tại miền Trung Tích lan lại liên kết tổ chức lễ rước răng Phật qua các đường phố, bắt đầu từ 8 giờ tối đến 11 giời khuya, suốt trong 12 ngày từ mồng 1 đến ngày 12 tháng 8, cho nên cũng gọi là Khảm để du hành thịnh hội (Kandian Perahera). Cứ theo Phật nha sử (Pàli: Dàỉhàvaôsa) thì răng Phật được coi là của báu bậc nhất của quốc gia và là đại biểu cho đức Phật, được tôn trí ở chùa Tháp viên tại kinh đô A nâu la đà bổ la; vào tháng 3 hằng năm, tổ chức rước răng Phật từ chùa Tháp viên đến chùa Vô úy sơn để cúng dường, sau 90 ngày răng Phật lại được rước về chùa Tháp viên. Vào thế kỉ XIV, vương đô được dời đến Kandy, răng Phật cũng được dời đến thờ ở chùa Phật nha mới xây cất(tức chùa răng Phật hiện nay). Nghi thức rước răng Phật được cử hành hiện nay bắt đầu từ năm 1775, bấy giờ là thời vua Cát tường xứng vương sư tử (Phạm: Kìrti Zri Ràja Siíha). Các dội được tuyển chọn để đi rước gồm có: Đội Thánh Phật nha, đội Bảo hộ thần tượng (Phạm: Nàthadevàlaya), đội Chiến tranh thần tượng (Phạm: Katragamadevàlaya), đội Nữ thần tượng (Phạm: Patànìdevàlaya, tức vợ của thần Đại phạm thiên), đội Tì thấp nô thần tượng (Phạm: Viwịudevàlaya). Ngày cuối cùng có 2 nghi thức đặc biệt hơn: Một là hộ tống thần chiến tranh đến rửa kiếm ở sông Ma ha phệ lợi hằng (Phạm: Mahàveliganga) gần chùa Phật nha; hai là các đội ngũ tham dự lễ rước đến miếu thờ thần Già na đề bà câu bà la (Phạm: Gaịadevìkovila) của Ấn độ giáo để cầu nguyện hòa bình cho nhân loại trên thế giới. [X. Phật quốc kí; điều Tăng già la quốc trong Đại đường tây vực kí Q.11; Nam truyền Phật giáo sử (Tịnh hải)].

phật nha tự

(佛牙寺) Pàli: Daơadà Màligàva. Chùa Răng Phật ở thành phố Khảm để (Kandy) tại Tích lan. Chùa được kiến trúc rất qui mô hoành vĩ, nằm trên 1 cái nền cao khoảng hơn 6m, chung quanh có sông bao bọc. Chùa được chia ra 2 tầng trên và dưới, điện đường san sát, kết cấu phức tạp, chủ yếu là điện Phật, rồi lầu trống, nhà giảng, nhà tụng kinh, kho đại bảo…... chính giữa nội cung có 2 tầng, trong đó, trên đài sen bằng vàng ròng có thờ răng Phật, vì thế gọi là chùa Phật nha. Chiếc răng Phật này vốn là của nước Yết lăng già (Pàli: Kaliíga) thuộc Ấn độ, vào khoảng thế kỉ IV được truyền đến Tích lan; đầu tiên được thờ ở chùa Tháp viên tại kinh đô A nâu la đà bổ la (Phạm, Pàli: Anuràdhapura), đến thế kỉ XIV mới được dời tới chùa này. Ngoài ra, Phật nha tiết (lễ hội từ xưa đến nay rất được coi trọng ở Tích lan) lấy chùa này làm trung tâm, cử hành nghi thức rước răng Phật hằng năm rất trọng thể.

phật nha xá lợi tháp

(佛牙舍利塔) Tháp thờ xá lợi răng của đức Phật được xây trên nền cũ chùa Linh quang, núi Tây sơn, gần thành Bắc kinh, Trung quốc. Tháp được kiến trúc bằng gạch, mái dày, hình bát giác, 13 tầng, cao 51m, đứng sừng sững dưới chân núi Tây sơn, màu vàng chói lọi, rực rỡ huy hoàng, là 1 trong những thắng cảnh nổi tiếng ở vùng ngoại ô Bắc kinh. Trong tầng thứ nhất có tấm bản đồng khắc văn kinh Kim cương bát nhã, tương truyền là thủ bút của Triệu mạnh phủ, nhà thư pháp đời Nguyên.

Phật nhãn

佛眼; C: fóyăn; J: butsugen; S: buddha-cakṣus.|Mắt Phật. Cái nhìn của nhất thiết trí viên mãn, đạt được sau khi chứng Phật quả. Cao nhất trong Ngũ nhãn (五眼).

phật nhãn

(佛眼) Phạm: Buddha-cakwus. Chỉ cho mắt Phật, có năng lực thấy rõ thựctướng các pháp, 1 trong 5 loại mắt. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 274 thượng) nói: Mắt Phật trọn đủ, thấy rõ pháp tính. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 9 trung) nói: Xá lợi phất nên biết, Ta dùng Phật nhãn quan sát, thấy chúng sinh trong 6 đường nghèo cùng, không có trí tuệ.[X. kinh Đại bát nhã ba la mật đa Q.404; luận Du già sư địa Q.14; luận Đại trí độ Q.33; Đại thừa nghĩa chương Q.20, phần cuối; Vô lượng thọ kinh sao Q.6].

phật nhãn chân ngôn

(佛眼真言) Cũng gọi Phật nhãn chú, Phật nhãn minh. Đà la ni của Phật nhãn tôn trong Mật giáo. Có 2 loại Đại đà la ni và Tiểu đà la ni khác nhau. Khi tu pháp Mật giáo, phải tụng chân ngôn này trước khi tán niệm tụng. Hoặc khi hành giả đọc kinh, cũng nên kết ấn khế và tụng chân ngôn của Phật nhãn tôn.Nếu thường trì tụng chân ngôn này thì Kim cương tát đỏa và các Bồ tát luôn theo hộ vệ, chứng được đại thần thông và làm việc gì cũng được thành tựu.

phật nhãn mạn đồ la

(佛眼曼荼羅) Mạn đồ la Mật giáo lấy Phật nhãn Phật mẫu làm bậc Trung tôn mà kiến lập hoa sen 8 cánh 3 lớp. Theo phẩm Kim cương cát tường đại thành tựu trong kinh Du kì quyển hạ thì cách vẽ Mạn đồ la này là: Vẽ toàn bộ hoa sen 8 cánh 3 lớp, ở chính giữa vẽ Phật nhãn Phật mẫu, trên lớp thứ nhất vẽ Nhất thiết Phật đính luân vương và Thất diệu sứ giả; trên lớp thứ 2 vẽ 8 vị Đại bồ tát, mỗi vị đều cầm cờ xí của mình; trên lớp thứ 3 vẽ 8 vị Đại kim cương minh vương. Ở 4 góc 4 phương tường hoa phía ngoài, vẽ 8 vị bồ tát Đại cúng dường và 4 vị Nhiếp bồ tát, đều đội mũ sư tử.

phật nhãn phái

(佛眼派) Chỉ chung cho môn phái của ngài Phật nhãn Thanh viễn –đệ tử nối pháp của Thiền sư Pháp diễn núi Ngũ tổ, thuộc phái Dương kì tông Lâm tế. Sau khi đắc pháp, ngài Phật nhãn Thanh viễn trụ ở núi Long môn tại Thư châu (nay là huyện Hoài ninh, tỉnh An huy) xiển dương Thiền phong. Ngài có nhiều đệ tử ưu tú như các vị: Ô cự Đạo hành, Trúc am Sĩ khuê, Mục am Pháp trung, Cao am Thiện ngộ…... Môn nhân của sư Đạo hành có Hối am Tuệ quang, môn nhân của sư Sĩ khuê có Tăng đĩnh Thủ trách, môn nhân của sư Pháp trung có Phổ am Ấn túc…...

phật nhãn phật mẫu

(佛眼佛母) Phạm: Buddhaa-locanì. Cũng gọi Phật nhãn bộ mẫu, Phật nhãn minh phi, Phật nhãn tôn, Hư không nhãn minh phi, Năng tịch mẫu, Kim cương cát tường nhãn, Nhất thiết Như lai Phật nhãn đại kim cương cát tường nhất thiết Phật mẫu, Nhất thiết Như bảo, Phật mẫu tôn, Phật mẫu thân. Một trong những vị tôn của viện Thích ca và viện Biến tri thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Vị tôn này là thần cách hóa của diệu trí Bát nhã trung đạo, là mẹ chung sinh ra chư Phật, Bồ tát của 2 bộ Kim cương và Thai tạng. Vì là mẹ sinh ra công đức của Phật bộ nên gọi là Phật mẫu, lại có đủ 5 mắt nên cũng gọi là Phật nhãn. Phật nhãn Phật mẫu của viện Biến tri ngồi ở phía bắc Nhất thiết Như lai trí ấn ở trung ương, mật hiệu là Thù thắng kim cương. Hình tượng là mình màu da người, ngồi kết già trên hoa sen đỏ, đầu đội mũ báu, tai đeo khoen bằng vàng, tay mang vòng xuyến, mặc áo gấm đỏ, tay kết định ấn. Phật nhãn Phật mẫu của viện Thích ca cũng gọi là Biến tri nhãn, Năng tịch mẫu, Nhất thiết Như lai bảo, ngồi ở vị trí thứ nhất hàng dưới, phía bắc Phật Thích ca mâu ni ở trung ương, mật hiệu là Thực tướng kim cương. Hình tượng là mình màu vàng ròng, bàn tay phải dựng đứng, ngón giữa, ngón áp út co lại, ngón út hơi co, ngón cái và ngón trỏ duỗi thẳng, cánh tay trái co lại, cầm hoa sen trên có ngọc như ý, mặt hướng về phía trái, hơi ngước nhìn. Thông thường cho rằng vị tôn này là do đức Đại nhật Như lai biến hóa ra, nhưng kinh Du kì thì cho là do Kim cương tát đỏa biến hóa ra. Pháp tu của vị tôn này là pháp Tức tai hoặc là pháp Hàng phục. Đặc sắc của Phật nhãn Phật mẫu là lấy các vì tinh tú làm quyến thuộc. Còn Mạn đồ la lấy vị tôn này làm vị Trung tôn để kiến lập thì gọi là Phật nhãn mạn đồ la. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; phẩm Phổ thông chân ngôn tạng kinh Đại nhật Q.2; phẩm Phật mẫu kinh Đại phẩm bát nhã Q.14; phẩm Kim cương cát tường đại thành tựu trong kinh Kim cương phong lâu các nhất thiết du già du kì Q.hạ; phẩm Họa tượng nghi quĩ trong kinh Bồ đề tràng sở thuyết nhất tự đính luân Q.2; luận Đại trí độ Q.69; Đại nhật kinh sớ Q.5; Bí tạng kí Q.cuối].

Phật Nhãn Thanh Viễn

(佛眼清遠, Butsugen Seion, 1067-1120): vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, người Huyện Lâm Cung (臨卬), họ là Lý (李). Ông xuất gia rồi năm lên 14 tuổi thì thọ Cụ Túc giới. Ông chuyên học về Luật và Kinh Pháp Hoa, bên cạnh đó cũng có tham Thiền biện đạo. Ông đã từng tham học với Giang Hoài (江淮), rồi đến tham bái Ngũ Tổ Pháp Diễn (法演) ở Thái Bình Tự (太平寺) vùng Thư Châu (舒州, Tỉnh An Huy), và kế thừa dòng pháp của vị này. Đầu tiên ông khai đường ở Thiên Ninh Vạn Thọ Tự (天寧萬壽寺) vùng Thư Châu, sau chuyển đến sống tại Long Môn Tự (龍門寺), rồi Bảo Sơn Tự (褒山寺) ở Hòa Châu (和州, Tỉnh An Huy). Nhờ Đặng Tuân Võ (鄧洵武) tấu trình lên vua, ông được ban cho Tử Y và hiệu là Phật Nhãn Thiền Sư (佛眼禪師). Ông cùng với Phật Giám Huệ Cần (佛鑑慧懃), Phật Quả Khắc Cần (佛果克勤) được xưng tụng như là Tam Phật, hay Nhị Cần Nhất Viễn của Đông Sơn. Ông thị tịch vào năm thứ 2 niên hiệu Tuyên Hòa (宣和), hưởng thọ 54 tuổi đời và 40 hạ lạp. Thiện Ngộ (善悟) biên tập nên bộ Phật Nhãn Thiền Sư Ngữ Lục (佛眼禪師語錄) 6 quyển.

phật nhãn thanh viễn thiền sư ngữ lục

(佛眼清遠禪師語錄) Cũng gọi Thư châu Phật nhãn hòa thượng ngữ lục. Tác phẩm, 8 quyển, do ngài Thanh viễn (1067-1120) soạn vào đời Tống, ngài Cao am Thiện ngộ biên tập, được thu vào Cổ tôn túc ngữ lục quyển 27 đến quyển 34 trong Vạn tục tạng tập 118. Nội dung bộ ngữ lục này thu chép Khai đường ngữ của ngài Phật nhãn Thanh liễu khi ngài trụ ở chùa Thiên ninh tại Thư châu và những phần Thướng đường ngữ yếu, kệ tụng, chân tán, tiểu tham, phổ thuyết, tụng cổ, thất trung thùy thị, thùy đại, thị thiền nhân tâm yếu, Tam tự tỉnh sát, giới vấn thoại…... khi ngài trụ ở núi Long môn, chùa Bao thiền…... Cuối quyển có chép thêm bài Tống cố hòa châu bao sơn Phật nhãn thiền sư tháp minh do ông Lí di tốn soạn.

phật nhãn tướng khán

(佛眼相看) Nhìn nhau bằng ánh mắt của Phật. Nghĩa là người ta nên đối đãi với nhau bằng tấm lòng từ bi, hỉ xả và vị tha của đức Phật.

phật nhãn ấn

(佛眼印) Ấn Phật nhãn, 1 trong những thủ ấn của Mật giáo. Ấn này có đủ 5 mắt (mắt thịt, mắt trời, mắt tuệ, mắt pháp, mắt Phật), ấn tướng là chắp tay để rỗng bên trong, 2 ngón trỏ co lại, 2 đầu ngón trỏ để lên ngón cái, ngón giữa và ngón vô danh đều đứng thẳng như chày 1 chĩa, đầu2ngón út xòe ra.

Phật Như Lai

佛如來; C: fó rúlái; J: butsu nyorai.|Chỉ đức Phật.

Phật nhật

(佛日): từ dùng để ví dụ đức Phật là mặt trời. Giống như mặt trời thường chiếu sáng phá tan đi sự tăm tối, đức Phật là người chiếu phá mê vọng của chúng sanh và làm cho họ được chứng ngộ.

phật nhật

(佛日) Phạm: Buddha-sùrya. Mặt trời Phật. Nghĩa là trí tuệ của Phật có năng lực chiếu phá vô minh, mê vọng của chúng sinh, giống như mặt trời có công năng phá tan bóng tối, cho nên ví dụ Phật như mặt trời mà gọi là Phật nhật. Bộ kinh Kim quang minh sử dụng từ ngữ Phật nhật nhiều nhất, như phẩm Sám hối trong quyển 3 (Đại 16, 337 hạ) nói: Phật nhật đại bi, diệt tất cả bóng tối. (...…) Phật nhật vô thượng, ánh sáng chiếu rọi khắp nơi. [X. phẩm Tứ thiên vương trong kinh Kim quang minh Q.6; phẩm Chúc lụy kinh Kim quang minh Q.19].

Phật Nhật Khế Tung

(佛日契嵩, Butsunichi Kaisū, 1007-1072): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, người vùng Đàm Tân (鐔津) thuộc Đằng Châu (藤州, Tỉnh Quảng Tây), họ là Lý (李), tự là Trọng Linh (仲靈), tự xưng hiệu là Tiềm Tử (潛子). Vào năm thứ 6 (1013) niên hiệu Đại Trung Tường Phù (大中祥符), ông xuất gia lúc mới 7 tuổi, và đến năm lên 13 tuổi thì xuống tóc thọ giới. Năm 19 tuổi, ông đi hành cước khắp nơi, tham yết Thần Đỉnh Hồng Nhân (神鼎洪諲) ở Nam Nhạc, và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Động Sơn Hiểu Thông (洞山曉聰) ở Quân Châu (筠州, Tỉnh Giang Tây). Trong khoảng niên hiệu Khánh Lịch (慶曆, 1041-1048), ông đến Tiền Đường (錢塘) và sống tại Hồ Sơn (湖山), rồi theo tham học với Vĩnh An Lan Nhã (永安蘭若) ở Linh Ẩn Tự (靈隱寺). Ông viết cuốn Nguyên Giáo Hiếu Luận (原敎孝論) để nói về sự nhất quán của Nho và Thích và phản bác luận thuyết bài Phật của Hàn Thối Chi (韓退之). Bên cạnh đó ông còn trước tác Thiền Môn Định Tổ Đồ (禪門定祖圖), Truyền Pháp Chánh Tông Luận (傳法正宗論) và Phụ Giáo Biên (輔敎編) để làm rõ hệ thống truyền thừa của Thiền Tông. Ngoài ra ông còn một số các trước tác khác như Truyền Pháp Chánh Tông Ký (傳法正宗記), Đàm Tân Văn Tập (鐔津文集), Trị Bình Tập (治平集), v.v. Vào năm thứ 6 (1061) niên hiệu Gia Hựu (嘉祐), ông trình những trước tác của mình lên vua Nhân Tông; nhà vua xem xong hạ chiếu chỉ ban thưởng và năm sau ban cho ông hiệu Minh Giáo Đại Sư (明敎大師). Về sau ông đến sống tại Phật Nhật Sơn (佛日山) và thị tịch vào ngày mồng 4 tháng 6 năm thứ 5 niên hiệu Hy Ninh (熙寧), hưởng thọ 66 tuổi.

phật nhật đậu bạo

(佛日豆爆) Tên công án trong Thiền tông. Phật nhật đậu nổ. Phật nhật là ngài Phật nhật Bản không, đệ tử nối pháp của Thiền sư Vân cư Đạo ưng, thuộc tông Tào động cuối đời Đường. Công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa ngài Phật nhật Bản không và Thiền sư Giáp sơn Thiện hội (805-881). Cứ theo chương Phật nhật Bản không trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 20 thì khi ngài Phật nhật đến tham yết Thiền sư Giáp sơn, ngài Phật nhật ném cây gậy trước mặt ngài Giáp sơn, ngài Giáp sơn hỏi (Đại 51, 361 hạ): -Chẳng phải từ Thiên thai mà được đấy chứ? Ngài Phật nhật đáp: -Chẳng phải từ Ngũ nhạc sinh ra. Ngài Giáp sơn lại hỏi: -Không phải từ núi Tu di mà được đấy chứ? Ngài Phật nhật trả lời: -Cung trăng cũng chẳng gặp. Ngài Giáp sơn liền bảo: -Vậy thì từ người khác mà được! Ngài Phật nhật liền bác, nói: -Chính mình còn là oan gia thì người khác được phỏng có ích gì? Ngài Giáp sơn khen rằng: -Trong tro lạnh có 1 hạt đậu nổ. Nói xong, ngài gọi vị Duy na đến bảo sắp xếp chỗ ở. [X. Thiền uyển mông cầu Q.trung].

phật oan thiền sư ngữ lục

(佛冤禪師語錄) Ngữ lục, 12 quyển, do ngài Phật oan Triệt cương soạn vào đời Thanh, ngài Tính thuần biên tập, ấn hành vào năm Khang hi 36 (1697). Nội dung gồm các ngữ lục của ngài Phật oan soạn khi trụ trì các Thiền viện sau đây: -Thiền viện Chư cổ, núi Cổ tự ở Nội giang. -Thiền viện Chiêu giác, núi Phụng sơn ở Phủ uy, Thành đô. -Thiền viện Triều âm, núi Lạc già, Song lưu. -Thiền viện Bát nhã, núi Thiên trì ở Nội giang và cácPháp ngữ: -Bỉnh phất, Cơ duyên, Niêm cổ…...của Thủ tọa liêu ở chùa Chiêu giác. Ngoài ra còn có: Đông độ lịch truyền tổ sư tượng tán, Nguyên lưu niêm tụng, Tụng cổ, Phần đăng, Hành diêu, Tạp trứ, Phật sự, Thư tín vấn đáp, Thi kệ, Ca v.v...…

phật phàm nhất thể

(佛凡一體) Cũng gọi Sinh Phật bất nhị, Sinh Phật nhất như, Sinh Phật bình đẳng, Phàm thánh bất nhị. Phật và phàm phu cùng một thể, nghĩa là chúng sinh và Phật là một, là bình đẳng, tâm Phật và tâm chúng sinh chẳng phải là hai, chân như pháp tính sẵn có của chúng sinh cùng với pháp thân của Phật vốn bình đẳng. (xt. Sinh Phật Nhất Như).

Phật pháp

佛法; S: buddha-dharma; P: buddha-dhamma; |Chỉ lời dạy, giáo lí của đức Phật, Phật giáo.

phật pháp

(佛法) Giáo pháp do đức Phật nói ra, bao gồm các thứ giáo nghĩa và chân lí Phật giáo mà giáo nghĩa ấy biểu đạt. Luận Thành thực quyển 1 nêu ra 6 từ ngữ đồng nghĩa với danh từ Phật pháp gọi là Phật pháp lục danh (6 tên gọi của từ Phật pháp). Đó là: 1. Thiện thuyết: Nói đúng như thực. 2. Hiện báo: Làm cho người ta được quả báo ngayởđời hiện tại. 3. Vô thời: Không chờ đợi sao tốt sao xấu mà tùy thời tu đạo. 4. Năng tương: Dùng hạnh chân chính giáo hóa chúng sinh đến giác ngộ. 5. Lai thường: Phải tự mình chứng ngộ. 6. Trí giả tự tri: Người có trí tuệ có khả năng tự tin hiểu. Ngoài ra, Phật pháp là pháp xuất thế gian, đối lại với Vương pháp là pháp tắc do các vua chúa đặt ra để thống trị nhân dân. Sự quan hệ giữa Phật pháp và Vương pháp tùy thời tùy nơi mà có khác: Có lúc có nơi dùng Vương pháp để hộ trì Phật pháp, truyền bá Phật pháp, như các vua A dục, A nị sắc ca…... của Ấn độ, vua Lương vũ của Trung quốc...… Nhưng cũng có nơi có thời dùng Vương pháp để chống phá Phật pháp, thậm chí tiêu diệt Phật pháp, như cái họa Tam Vũ Nhất Tôn (Ba vua Vũ một vua Tôn) trứ danh trong lịch sử Phật giáo Trung quốc. Lại nữa, Pháp mà đức Phật chứng ngộ được chính là đạo lí duyên khởi, chân lí của pháp giới. Nói theo nghĩa rộng thì tất cả lời nói chân thiện mĩ, cho đến các sự lí chân thực, chính xác…... đều là Phật pháp. Còn nói theo nghĩa hẹp thì Phật pháp thông thường chuyên chỉ cho giáo pháp do đức Phật Thích ca mâu ni nói ra. [X. kinh Tạp a hàm Q.20; phẩm Tựa kinh Pháp hoa; kinh Kim cương bát nhã; kinh Đại bảo tích Q.4].

phật pháp chân như

(佛法真如) Phật pháp chỉ cho 5 trí, 37 trí...… mà đức Phật có đầy đủ, trí này là trí đức của Thức đại (đại thứ 6); còn Chân như là chỉ cho cái lí mà đức Phật chứng được, lí này là lí đức của 5 đại trước (đất, nước, gió, lửa, không). Hợp chung 2 đức lí và trí lại thì đó là thể tính của thực tướng sắc tâm sẵn có trong chúng sinh.

phật pháp kim thang biên

(佛法金湯編) Tác phẩm, 16 quyển, do ngài Đại tông Tâm thái (1327-1415) soạn vào đời Minh, được đưa vào Vạn tục tạng tập 148. Nội dung sách này biên chép truyện kí và ngữ yếu của các bậc đế vương, danh gia có liên quan đến Phật giáo trong khoảng thời gian 1.700 năm, từ Chiêu vương nhà Chu đến Thuận đế nhà Nguyên, gồm 139 người, cuối mỗi truyện đều có ghi rõ điển tích.Thời đại của ngài Tâm thái, Phật giáo suy đồi và luận điệu bài xích Phật giáo của Nho gia, Đạo gia rất thịnh hành, cho nên ngài Tâm thái soạn bộ sử truyện của những người ngoại hộ Phật giáo qua các triều đại này là muốn khiến cho những người bài xích Phật giáo phản tỉnh, không những thế mà còn muốn giới Phật giáo cũng phải tự bừng tỉnh để vãn cứu tình thế. Năm Hồng vũ 26 (1393), bộ sách được ấn hành có 10 quyển, đến năm Vạn lịch 28 (1600), ngài Như tỉnh in lại là 16 quyển, bấy giờ cũng được biên vào Tục tạng nhà Minh.

phật pháp kim thang lục

(佛法金湯錄) Tác phẩm, 3 quyển, do cư sĩ Hồng bao hiệu Đồ long soạn vào đời Minh, sách được hoàn thành vào năm Vạn lịch 30 (1602). Quyển thượng, tác giả trưng dẫn luận điệu bài Phật của các Nho gia đời Tống để bác bỏ. Trong 2 quyển trung, hạ tác giả dùng những lời giản dị để giải thích những danh từ Phật giáo khó hiểu trong các tông Thiên thai, Tịnh độ, Luật, Thiền...… nhằm làm cho sự truyền bá Phật giáo được phổ cập trong nhân gian….

Phật Pháp Kim Thang Thiên

(佛法金湯篇, Buppōkintōhen): 16 quyển, do Đại Tông Tâm Thái (岱宗心泰) nhà Minh biên, trùng khắc vào năm thứ 24 (1596) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆). Đây là thư tịch lịch sử hộ trì Phật pháp do Đại Tông Tâm Thái―vị tăng ở Đông Sơn Thiền Tự (東山禪寺) vùng Việt Châu (越州, Tỉnh Sơn Đông)―thâu tập 398 mẫu truyện của những người đã từng quy y và hộ trì Phật pháp như các đấng quân chủ, Tể Quan, danh Nho, v.v., trải qua các đời từ vua Chiêu Vương (昭王) nhà Chu cho đến Thuận Tông (順宗) nhà Nguyên. Đầu sách có lời tựa của Tông Lặc (宗泐), Thanh Tuấn (清濬), Thủ Nhân (守仁), Tô Bá Hành (蘇伯衡), v.v., và lời tựa trùng san của Du Nhữ Vi (俞汝爲).

phật pháp lục danh

(佛法六名) Sáu tên gọi khác của Phật pháp. Đó là: 1. Thiện thuyết: Dùng thực tướng của các pháp để nói các pháp, như dùng tướng bất thiện để nói pháp bất thiện. 2. Hiện báo: Được quả báo ngay trong đời hiện tại. Như sáng thụ giáo, chiều đắc đạo; hoặc chiều nghe pháp, sáng hôm sau được lợi ích. 3. Vô thời: Tùy thời mà tu tập, chứ không đợi sự lành dữ của các thiên thể như mặt trời, mặt trăng và các vì sao. 4. Năng tương: Dùng hạnh chân chính nên có công năng dẫn dắt chúng sinh đến cảnh giới giải thoát yên vui. 5. Lai thường: Tự mình phải chứng ngộ chứ không theo ai khác. 6. Trí giả tự tri: Người có trí tuệ có khả năng tự mình tin và hiểu. [X. luận Thành thực Q.1].

phật pháp thọ mệnh

(佛法壽命) Sự sống lâu dài của Phật pháp. Chỉ cho giới luật. Giới luật là những điều giới cấm do đức Phật chế định để phòng ngừa đệ tử Phật vi phạm những lầm lỗi của 3 nghiệp (thân, khẩu, ý). Nếu các đệ tử Phật nương theo đó mà tu hành thì được thanh tịnh, khai phát trí tuệ, vào được các cảnh giới thiền định. Vì thế nên biết giới luật là gốc của sự giải thoát. Nếu giới luật được giữ gìn nghiêm túc, đời đời được tuân hành thì Phật pháp cũng được lưu truyền lâu dài, mãi mãi không diệt. Cho nên đức Phật từng gọi giới luật là Phật pháp thọ mệnh. (xt. Giới Luật).

phật pháp tử nhân

(佛法死人) Xác chết trong Phật pháp, tức chỉ cho người vi phạm 4 tội nặng: Giết người, dâm loạn, ăn cướp và nói dối mà giới luật Tiểu thừa cấm ngặt. Trong giới luật Tiểu thừa, chúng tăng nếu vi phạm 1 trong 4 tội nêu trên thì giống như kẻ tử tội trong Phật pháp, gọi là tội chặt đầu, không thể sám hối được nữa. Nhưng trong giới luật Đại thừa, nếu phạm tội này thì vẫn có thể nhờ trì chú sám hối, tiêu trừ tội nghiệp để phát sinh giới thể thanh tịnh trở lại. Ma ha chỉ quán quyển 4 thượng (Đại 46 39 hạ) nói: Nếu người phạm tội nặng thì là người đã chết trong Phật pháp, đối với Tiểu thừa thì không còn cách nào để sám hối, nhưng theo Đại thừa thì cho được sám hối. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.2, phần 2].

phật pháp vô biên

(佛法無邊) Giáo pháp của đức Phật rộng lớn như biển cả không có bờ bến. Phần Nhân duyên trong luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 575 hạ) nói: Vì muốn thu tóm giáo pháp rộng lớn sâu xa và nghĩa lí vô biên của đức Như lai nên nói ra luận này.Về sau, từ ngữ Phật pháp vô biên thường được dùng theo như 1 tục ngữ để ví dụ thần thông rộng lớn, không việc gì không làm được.

Phật Pháp Đại Minh Lục

(佛法大明錄, Buppōdaimeiroku, năm 1229): 20 quyển, trước tác của Khuê Đường Cư Sĩ (圭堂居士) vào cuối thời nhà Tống, có lời tựa của Không Ẩn Đạo Nhân (空隱道人) ghi năm thứ 2 (1229) niên hiệu Thiệu Định (紹定), lời tựa của tác giả, lời tựa của cư sĩ họ Lý vào năm thứ 2 (1235) niên hiệu Đoan Bình (端平). Ngoài ra, Khuê Đường còn viết lời hậu tựa, Đạo Lâm (道琳) và Chơn Chiếu (眞照) ở Xuân Trừng Am (春澄庵) ghi lời bạt vào năm thứ 2 (1226) niên hiệu Bảo Khánh (寳慶). Nội dung bộ này ghi rõ những điều cần phải dụng tâm về Thiền pháp tu hành như minh tâm, tịnh hạnh, phá mê, nhập lý, công phu, gặp cơ duyên, đại ngộ, đại dụng, chơn không, độ người, diệt độ, hóa thân, và phần tạp ký, dẫn chứng hơn 80 loại Ngữ Lục Thiền, làm sáng tỏ tư tưởng cũng như lập trường của chính Khuê Đường, và từ lập trường của Thiền khẳng định rõ sự nhất trí của Tam Giáo. Khi Thánh Nhất Quốc Sư Viên Nhĩ (聖一國師圓爾) từ Trung Quốc trở về, ông có mang vào Nhật thư tịch này. Trong Thánh Nhất Quốc Sư Niên Phổ (聖一國師年譜) có thuật lại sự việc thầy ông là Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範) đã lấy pháp y của Dương Kì (楊岐) và bộ sách này phó chúc cho Viên Nhĩ rồi dạy rằng: “Việc lớn của tông môn vốn ở trong bộ sách này, khi trở về nước thì hãy lấy đây làm chuẩn”. Tuy nhiên, trong phần Thánh Nhất Quốc Sư Truyện (聖一國師傳) của bộ Nguyên Hanh Thích Thư (元亨釋書), Hổ Quan Sư Luyện (虎關師錬)―pháp hệ của Quốc Sư―lại cho tác phẩm này là giả truyền, không có thật. Thế nhưng, sự thật là trong số thư tịch Quốc Sư mang về Nhật có bộ này, việc này ngay cả Hổ Quan cũng công nhận. Hiện tại, bản nhà Tống ghi năm thứ 2 (1229) niên hiệu Thiệu Định (紹定) được tàng trữ tại Linh Vân Viện (靈雲院) của Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji), bản nhà Nguyên ghi năm thứ 16 (1356) niên hiệu Chí Chánh (至正) ở Thiên Lý Đại Học (天理大學), bản nhà Minh ghi năm đầu (1399) niên hiệu Kiến Văn (建文) ở Đại Đông Cấp Kỷ Niệm Văn Khố (大東及記念文庫), v.v.

phật pháp đại minh lục

(佛法大明錄) Tác phẩm, 20 quyển, do cư sĩ Khuê đường, soạn vào cuối đời Tống. Nội dung sách này bao gồm hơn 10 hạng mục như: Minh tâm, Tịnh hành, Phá mê, Nhập lí, Công phu, Nhập cơ, Kiến sư, Đại ngộ, Đích ý, Đại dụng, Chân không, Độ nhân, Nhập tịch, Hóa thân, Thiên ngoại tạp kí...… đều là những mục tu hành Thiền pháp tâm đắc của tác giả. Trong sách, tác giả cũng trích dẫn hơn 80 thứ Thiền lục để chứng minh, đồng thời, làm sáng tỏ tư tưởng của mình đối với tư trào Tam giáo hợp nhất theo lập trường Thiền tông.

phật phật

(佛佛) Hàm ý là chư Phật. Chẳng hạn như từ Phật phật tổ tổ là chỉ cho chư Phật ba đời mười phương và lịch đại chư tổ. Hoành trí thiền sưquảng lục quyển 8 (Đại 48, 98 quyển) nói: Cái then máy chủ chốt của Phật phật tổ tổ chẳng chạm việc mà biết, không đối duyên mà chiếu.

phật phọc pháp phọc

(佛縛法縛) Đồng nghĩa: Phật kiến pháp kiến. Phậtbuộc pháp buộc, nghĩa là tâm bị kiến chấp đối với Phật pháp trói buộc không thể giải thoát. Phật pháp tuy là chân lí cao siêu tôn quí, nhưng nếu người ta khởi tâm chấp trước thì cũng sẽ bị mắc kẹt trong đó mà chướng ngại cho việc tu hành, cho nên gọi là Phật phược pháp phược

phật quang

(佛光) Ánh sáng của Phật. Tán A di đà Phật kệ (Đại 47, 421 thượng) nói: Phật quang chiếu diệu tối đệ nhất Cố Phật hựu hiệu Quang viêm vương. (Ánh sáng Phật chiếu soi bậc nhất Vì thế có hiệu Quang viêm vương).

phật quang quốc sư ngữ lục

(佛光國師語錄) Gọi đủ: Sắc thụy Phật quang viên mãn thường chiếu quốc sư tam hội ngữ lục. Cũng gọi Phật quang viên mãn thường chiếu quốc sư ngữ lục, Viên mãn thường chiếu quốc sư ngữ lục, Phật quang hòa thượng ngữ lục, Phật quang thiền sư ngữ lục.Ngữ lục, 10 quyển, do ngài Vô học Tổ nguyên (1226-1286) thuộc tông Lâm tế soạn vào đời Tống, các ngài Nhất chân, Nhất ngu biên tập, ấn hành vào năm 1726, được thu vào Đại chính tạng tập 80. Nội dung bộ sách này bao gồm các ngữ lục nói ở chùa Chân như tại Thai châu, Trung quốc, ngữ lục nói ở chùa Kiến trường, chùa Hưng thánh tại Nhật bản (ngài Tổ nguyên sang Nhật hoằng pháp vào năm 1280) và các phần Phổ thuyết, Tiểu Phật sự, Thỉnh ích vấn đáp tâm yếu, Kệ tụng, Thập di tạp lục, Niên biểu tạp lục v.v…...

phật quang sơn tự

(佛光山寺) Ngôi chùa ở làng Đại thụ, huyện Cao hùng, Đài loan, do Đại sư Tinh vân sáng lập vào năm Dân quốc 56 (1967), trên 1 khoảng đất hơn 50 mẫu Tây. Đây là 1 đạo tràng hiện đại nổi tiếng của Phật giáo ở Đài loan, phát triển tổng hợp về mọi mặt giáo dục, từ thiện, văn hóa, xã hội, tín ngưỡng tông giáo...… lấy việc xây dựng nền Phật giáo nhân sinh làm tông chỉ.A. Về Kiến Trúc. 1. Kiến trúc điện đường: -Điện Đại hùng: Kiến trúc theo kiểu cung điện của Trung quốc, bao gồm lầu Đông thiền, lầu Tây tịnh, nằm trên thửa đất hơn 3 nghìn mét vuông, thờ Phật Thích ca mâu ni, Phật Dược sư và Phật A di đà. -Điện Đại bi: Nằm trên thửa đất hơn 230 mét vuông, thờ tượng bồ tát Bạch y Quan âm. -Điện Đại trí: Kiến trúc theo kiểu Tây phương 2 tầng lầu, lầu trên thờ tượng bồ tát Văn thù, lầu dưới là nhà kỉ niệm thờ Tông ngưỡng thượng nhân. -Điện Đại nguyện: Thờ bồ tát Địa tạng. -Điện Đại hạnh: Thờ bồ tát Phổ hiền. -Lầu Truyền đăng: Kiến trúc theo kiểu Tây phương 3 tầng lầu, là phòng ở của các chức sự thuộc năm giới. -Lầu Đông thiền: Hai tầng lầu, lầu trên làm nhà giảng, lầu dưới là văn phòng làm việc. -Lầu Tây tịnh: Lầu trên là phòng họp hội nghị quốc tế, lầu dưới là nơi làm việc liên quan đến hoằng pháp. -Hội quán Triều sơn: Nhà khách đối ngoại của Phật quang sơn. Bề ngoài kiến trúc pha kiểu Trung quốc và Ấn độ, bên trong là thiết bị hiện đại hóa, lầu 1 là nhà trai, nhà hội họp; lầu 2 là phòng khách, có thể chứa 500 người. 2. Kiến trúc giáo dục: -Viện nghiên cứu Phật giáo Trung quốc và Học viện Phật giáo Đông phương. -Trường Trung học cao cấp Phổ môn. -Hội giảng tập tín đồ. 3. Kiến trúc văn hóa: -Nhà trưng bày các văn vật Phật giáo. -Hang động Tịnh độ. -Thành Đại Phật. 4. Kiến trúc từ thiện: -Tinhxá Phật quang. -Viện dục anh đại từ. -Nhà vạn thọ. -Sở khám bệnh và phát thuốc Phật quang miễn phí. B. Về Tổ Chức. Chùa Phật quang sơn có thiết lập Ủy hội giáo vụ là cơ cấu cao nhất, vị Trụ trì Tổng bản sơn là Hội trưởng. Sau đó có các viện như: Viện Đô giám, viện Nghiên cứu Phật giáo Trung quốc, viện Trưởng lão, hội Truyền đăng, hội Học bổng Phật quang sơn…... C. Về Nhân Sự. Chùa Phật quang sơn là đạo tràng của 7 chúng đệ tử: Tỉ khưu, tỉ khưu ni, sa di, sa di ni, thức xoa ma na, ưu bà tắc và ưu bà di…... Phật quang sơn phát triển rất mau chóng, số tín chúng mỗi ngày một tăng, trong vòng 20 năm đã phải mở thêm 11 đạo tràng để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng. Đó là: Chùa Phổ môn ở Đài bắc, chùa Phổ hiền ở Cao hùng, chùa Lôi âm ở Nghi lan, chùa Cực lạc ở Cơ long, thư viện Vô lượng thọ ở Tân trúc, chùa Phúc quốc ở Đài nam, chùa Tuệ từ ở Thiện hóa, chùa Thọ sơn ở Cao hùng và chùa Tín nguyện ở Bành hồ. Ngoài ra, ở Hoa kì có chùa Tây lai và chùa Bạch pháp, ở Hương cảng có tinh xá Phật hương và ở Quan đảo thì có sở truyền giáo…...

phật quang tinh xá

(佛光精舍) Một trong những cơ sở phúc lợi xã hội do Phật quang sơn sáng lập.Tinh xá được xây dựng ở chân núi phía tây Phật quang sơn trong làng Đại thụ, huyện Cao hùng, Đài loan, phía dưới ngọn Nga mi, phía sau trường Trung học Phổ môn. Sự ra đời của tinh xá này là do Phật quang sơn hưởng ứng lời kêu gọi phục hưng nền văn hóa Trung hoa, phát huy tinh thần kính già hiếu thảo, tăng tiến sự hài hòa của luân lí gia đình, giúp đỡ người già tổ chức sinh hoạt về mọi mặt để họ có được đời sống yên vui thanh thản. Tinh xá được khởi công kiến thiết vào tháng 10 năm Dân quốc 63 (1974), đến ngày mồng 1 tháng 11 năm Dân quốc 65 (1976) thì hoàn thành. Tinh xá nằm trên thửa đất hơn 3 nghìn mét vuông. Ngoài các phòng cá nhân còn có những kiến trúc công cộng như: Nhà ăn, nhà niệm Phật, phòng y tế, vườn hoa…... Điều kiện được nhậnchovào ở trong tinh xá này phải là những tín đồ Phật giáo chính tín, tuổi từ 55 trở lên, không phân biệt tăng tục, năm nữ.

Phật Quang Tổ Nguyên

(佛光祖元, Bukkō Sogen, 1226-1286): vị Thiền tăng của Phái Dương Kì và Phá Am thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, vị tổ khai sơn Viên Giác Tự (圓覺寺, Enkaku-ji) ở vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), vị tổ của Phái Phật Quang (佛光派), tự là Tử Nguyên (子元), hiệu Vô Học (無學), người Phủ Khánh Nguyên (慶元府, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay), họ là Hứa (滸). Theo lời chỉ thị của anh là Trọng Cử Hoài Đức (仲擧懷德), ông đến tham bái Bắc Nhàn Cư Giản (北礀居簡) ở Tịnh Từ Tự (淨慈寺), Hàng Châu (杭州, thuộc Tỉnh Triết Giang) và xuất gia theo vị nầy. Sau đó, ông đến làm môn hạ của Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範) ở Kính Sơn (徑山), được vị nầy ấn khả cho và kế thừa dòng pháp. Sau khi thầy ông qua đời, ông lại đến tham yết một số danh tăng khác như Thạch Khê Tâm Nguyệt (石溪心月) ở Linh Ẩn Tự (靈隱寺), Yển Khê Quảng Văn (偃溪廣聞) ở Dục Vương Sơn (育王山), Hư Đường Trí Ngu (虛堂智愚), v.v. Sau đó, ông trở về quê cũ, theo làm môn đệ của Vật Sơ Đại Quán (物初大觀) ở Đại Từ Tự (大慈寺) mà tu hành tọa Thiền suốt hai năm ròng. Về sau, thể theo lời thỉnh cầu của vị ấp chủ La Quý Trang (羅季莊), ông đến trú tại Bạch Vân Am (白雲庵) ở Đông Hồ (東湖). Khi ấy ông 37 tuổi, ông sống nơi đây trong vòng 7 năm, rồi sau khi thân mẫu ông qua đời, ông đến phụ giúp với pháp huynh Thối Canh Hành Dũng (退耕行勇) ở Linh Ẩn Tự. Kế tiếp ông lại được Đại Truyền Cống Thu Hác (大傳賈秋壑) cung thỉnh đến trú tại Chơn Như Tự (眞如寺), vùng Đài Châu (台州, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay) trong vòng 7 năm. Đến năm đầu (1275) niên hiệu Đức Hựu (德祐), để lánh nạn đao binh của quân nhà Nguyên, ông đến trú tại Năng Nhân Tự (能仁寺) vùng Ôn Châu (溫州, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay). Sau đó, ông lại trở về Tứ Vương Sơn (四王山), đến tham viếng pháp huynh ở Thiên Đồng Sơn (天童山) là Hoàn Khê Duy Nhất (環溪惟一), dừng chân lưu lại đây và thuyết giáo cho đại chúng. Đến năm thứ 2 (1279) niên hiệu Hoằng An (弘安), nhân việc Tướng Quân Bắc Điều Thời Tông (北條時宗, Hōjō Tokimune) triệu thỉnh những vị Thiền tăng cao đức sang Nhật làm trú trì Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji) ở vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), Tổ Nguyên được suy cử, nên vào tháng 5 cùng năm nầy ông rời khỏi Thái Bạch Sơn (太白山), rồi ngày 30 tháng 6 thì đến Thái Tể Phủ (太宰府), và tháng 8 thì đến Liêm Thương. Khi ấy Thời Tông nghênh đón ông rất trọng thể, và cử ông làm trú trì Kiến Trường Tự sau khi Lan Khê Đạo Long (蘭溪道隆) qua đời. Vào mùa đông năm 1282, Thời Tông kiến lập nên Viên Giác Tự, rồi thỉnh Tổ Nguyên đến làm tổ khai sơn chùa nầy. Về sau, ông kiêm quản cả hai chùa Kiến Trường và Viên Giác, bố giáo Thiền phong khắp vùng Liêm Thương, và trong vòng 8 năm lưu trú tại Nhật, ông đã xác lập cơ sở Lâm Tế Tông Nhật Bản. Vào tháng 8 năm thứ 9 niên hiệu Hoằng An (弘安), ông phát bệnh, và đến ngày mồng 3 tháng 9 thì viên tịch, hưởng thọ 61 tuổi đời, 49 pháp lạp. Ông được ban thụy hiệu là Phật Quang Quốc Sư (佛光國師) và hiệu là Viên Mãn Thường Chiếu Quốc Sư (圓滿常照國師). Bộ Phật Quang Quốc Sư Ngữ Lục (佛光國師語錄) của ông gồm 10 quyển hiện còn lưu hành.

Phật Quang Tự

(佛光寺, Bukkō-ji): ngôi bản sơn chính của Phái Phật Quang Tự (佛光寺派) thuộc Tịnh Độ Chơn Tông; sơn hiệu là Sáp Cốc Sơn (澀谷山) hay Trấp Cốc Sơn (汁谷山); gọi cho đủ là Sáp Cốc Sơn A Di Đà Phật Quang Tự (澀谷山阿彌陀佛光寺); hiện tọa lạc tại số 397 Shingai-chō (新開町), Bukkōjishita (佛光寺下), Takakura-dōri (高倉通), Shimogyō-ku (下京區), Kyōto-shi (京都市), Kyōto-fu (京都府). Tượng thờ chính là A Di Đà Như Lai. Vào năm 1212 (Kiến Lịch [建曆] 2), sau khi Thân Loan được miễn xá tội lưu đày ở vùng Việt Hậu, ông trở về Kinh Đô, lập nên một thảo am ở vùng Sơn Khoa (山科, Yamashina) và lấy tên là Hưng Long Chánh Pháp Tự (興隆正法寺, gọi tắt là Hưng Chánh Tự [興正寺, Kōshō-ji]). Đến năm 1327 (Gia Lịch [嘉曆] 2), xảy ra vụ mất cắp pho tượng A Di Đà do hai vị Thánh Nhân Pháp Nhiên và Thân Loan truyền lại, người lấy cắp khi cầm đến pho tượng này thì tay chân trở nên đau nhứt khó chịu không tài nào chịu được, cuối cùng anh ta mới đem vất pho tượng vào trong đám cỏ. Bức tượng tự nhiên phóng ra hào quang sáng rực trong lùm cỏ, nên người ta mới phát hiện ra nó, và cũng do từ câu chuyện này mà chùa lại được đổi tên là thành Phật Quang Tự. Vào năm 1586 (Thiên Chánh [天正] 14), nhân việc tướng quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) muốn xây dựng một ngôi điện Đại Phật ở vùng Sáp Cốc (澀谷, Shibuya), nên mới yêu cầu chùa dời về vị trí hiện tại vậy. Vào thời ấy, phần lớn tín đồ đều quay về với Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), nên chùa này không được hưng thạnh bao nhiêu. Hiện tại những ngôi đường vũ của chùa phần lớn là kiến trúc dưới thời Minh Trị. Pho tượng đứng A Di Đà Như Lai được an trí tại ngôi điện chính, tương truyền là tác phẩm do tự tay Từ Giác Đại Sư (慈覺大師) tạc nên. Nơi Đại Sư Đường có bức tượng ngồi của Thân Loan Thượng Nhân do chính tay ông làm ra. Ngoài ra chùa còn lưu giữ nhiều bảo vật quý giá khác như tượng Thánh Đức Thái Tử bằng gỗ do Trạm Hạnh (湛幸) tạc năm 1320 (Nguyên Ứng [元應] 2); tượng A Di Đà Như Lai đứng, bằng gỗ, v.v.

phật quang tự

(佛光寺) I. Phật Quang Tự. Chùa ở núi Ngũ đài, tỉnh Sơn tây, Trung quốc, được sáng lập vào thời Hiếu văn đế nhà Bắc Ngụy, người đời gọi là Tiền Phật quang, hậu Ngũ đài. Vào thời đại Trung đường, qui mô chùa này rất hoành tráng, đắp vẽ tinh xảo, nhưng tất cả đã bị hủy hoại trong pháp nạn Hội xương. Năm Đại trung 11 (857) đời Đường, chùa này đã được Hòa thượng Nguyện thành xây dựng lại, chính điện rộng 7 gian, sâu 4 gian, hiện là kiến trúc bằng gỗ kiểu đời Đường xưa nhất còn lại. Trong điện có 35 pho tượng Phật và Bồ tát được đắp vào đời Đường, cùng với tượng chân dung của Hòa thượng Nguyện thành và đệ tử Ninh công ngộ(người đã góp côngcủavào việc làm lại tòa chính điện). Song song với chính điện là điện Văn thù, được xây cất vào năm Thiên hội 15 (1137) đời Kim, cũng là 1 kiến trúc rất xưa. Bên ngoài chính điện có 1 cột đá được khắc chạm rất tinh vi, trên khắc mấy chữ Đường Đại trung thập nhất niên (Năm Đại trung 11 đời Đường). Ngoài ra còn có những di vật văn hóa quí giá chạm trỗ trên đá rất đẹp đẽtỉ mỉ như tháp mộ, thạch kinh chàng…... Tượng Phật trong chính điện là tác phẩm đời Đường, tuy đã trải qua nhiều đời được sửa sang lại, màu sắc không còn được như cũ, nhưng tạo hình thì vẫn còn giữ được phong cách đời Đường, có thể sánh ngang với những tượng được đắp vào đời Đường ở Đôn hoàng. II. Phật Quang Tự. Chùa ở thành phố Kinh đô (Kyoto), hiệu là Sáp cốc sơn, thuộc phái Phật quang tự của Chân tông, Nhật bản, do ngài Thân loan sáng lập vào năm 1212. Năm Kiến bảo thứ 6 (1218), Thiên hoàng Thuận đức ban hiệu là Hưng Long Chính Pháp Tự, truyền đến đời thứ 7 là ngài Liễu nguyên thì chùa được dời đến Trang sáp cốc trong Lạc đông trúc. Vào năm Gia lịch thứ 2 (1327), tượng Phật bản tôn A di đà thờ trong chùa bỗng phóng quang, điềm lạ chiếu đến cung vua, Thiên hoàng Đề hồ liền ban sắc đổi tên chùa là Phật Quang Tự. Chùa có các tự viện phụ như chùa Minh hiển, chùa Chiếu lưu, viện Mễ lan, viện Đại thiện, viện Trường tính, viện Cửu viễn, viện Xương tạng, viện Giáo âm, am Cao lâm, chùa Tây đức, chùa Đại hạnh, chùa Thường hành..….

phật quang xuất bản xã

(佛光出版社) Nhà xuất bản Phật quang, 1 trong những cơ sở xuất bản văn hóa của Phật quang sơn. Ngày mùng 1 tháng 8 năm Dân quốc 48 (1959), Đại sư Tinh vân sáng lập Phật giáo văn hóa phục vụ xứ. Ban đầu đặt ở thành phố Tam trọng, huyện Đài bắc, năm Dân quốc 53 (1964) dời đến thành phố Cao hùng, đến năm Dân quốc 56 (1967) dời đến Phật quang sơn. Giữa sự sáng lập Phật quang sơn và sự phát triền của Phật giáo văn hóa phục vụ xứ có mối quan hệ mật thiết. Nghiệp vụ chủ yếu của Phật giáo văn hóa phục vụ xứ là xuất bản những kinh sách phổ thông của Phật giáo. Năm Dân quốc 67 (1978), để mở rộng nghiệp vụ, Phật giáo văn hóa phục vụ xứ được đổi tên là Phật Quang Xuất Bản Xã và đặt chi nhánh ở Đài bắc Phật quang thư cục. Đồng thời, thành lập bộ Biên tập, hoạch định tiến hành công việc biên soạn Đại tạng kinh.Ban đầu, ban biên tập đặt ở Đài bắc, năm Dân quốc 69 (1980) được dời đến chùa Phúc sơn Chương hóa và thiết lập Phật quang Đại tạng kinh biên tu ủy viên hội và Phật học từ điển biên tậpủy viên hội. Thành viên của 2 ủy viên hội này đều là các học giả của Phật giáo nổi tiếng của Trung quốc và các nước khác. Họ có 5 nhiệm vụ chủ yếu: 1. Biên soạn và ấn hành các bộ từ điển học thích hợp cho người hiện đại sử dụng. 2. Khảo đính, chú giải các loại bản kinh điển cũ để biên soạn thành 1 bộ Đại tạng kinh hiện đại thích hợp với sự sử dụng của mọi người. 3. Biên soạn và ấn hành bộ niên biểu Phật giáo sử về các hoạt động của Phật giáo kể từ sau khi đức Phật nhập diệt cho đến nay. 4. Biên soạn bộ Phật giáo tùng thư phổ thông. 5. Thiết kế các loại pháp khí của Phật giáo để lưu thông rộng rãi.

phật quán ngũ sự hàng sinh

(佛觀五事降生) Đức Phật quán xét năm việc giáng sinh. Ở trên cung trời Đâu suất, sắp sinh xuống cõi Sa bà, đức Phật bèn quán xét 5 việc trước khi đầu thai. Năm việc ấy là: 1. Quán xét chúng sinh đã thành thục hay chưa: Đức Phật quán xét căn cơ chúng sinh đã thành thục và hóa độ được, nên Ngài thị hiện giáng sinh. 2. Quán xét thời cơ đã đến hay chưa: Đức Phật quán xét thời cơ hóa độ chúng sinh đã đến, nên Ngài thị hiện giáng sinh. 3. Quán xét cõi nước nào giáng sinh được: Đức Phật quán xét khắp ba nghìn đại thiên thế giới, thấy nước Ca tì la vệ là được, nên Ngài chọn nước ấy để thị hiện giáng sinh. 4. Quán xét chủng tộc: Đức Phật quán xét các chủng tộc, thấy dòng Sát đế lợi là chủng tộc tôn quí và hưng thịnh nhất nên Ngài chọn để thị hiện giáng sinh. 5. Quán xét nhân duyên xem ai đáng làm cha mẹ: Đức Phật quán xét nhân duyên quá khứ, thấy vua Tịnh phạn và Hoàng hậu Ma da là những người chân thật thẳng thắn, có nhân duyên kiếp trước, cho đến làm cha mẹ, nên Ngài chọn để thị hiện giáng sinh. [X. kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.1].

Phật quả

佛果; C: fóguǒ; J: bukka; S: buddhaphala.|1. Quả vị Phật. Kết quả của việc tu tập Phật đạo. Giác ngộ, tỉnh giác. Đối lại là Phật nhân (佛因); 2. Hiệu của Thiền sư Viên Ngộ, Viên Ngộ Khắc Cần.|Phật quả chỉ trạng thái Giác ngộ hoàn toàn của một đức Phật. Ðạt Phật quả là mục đích cao nhất của mọi chúng sinh. Theo các kinh điển thượng thừa Phật giáo thì mỗi một chúng sinh đều có Phật tính, đã là một đức Phật nên Phật quả không cần phải »đạt« và tu hành chính là chứng ngộ Phật tính đó, biến thành đời sống hàng ngày.

phật quả

(佛果) I. Phật Quả. Cũng gọi Phật vị, Phật quả vị, Phật quả bồ đề. Phật là do tu hành muôn hạnh mà thành nên gọi là Phật quả, tức muôn hạnh năng thành là nhân, muôn đức sở thành là quả. Cũng tức là từ nhân tu hành mà đạt đến quả Phật vậy. [X. kinh Phật mẫu xuất sinh tam pháp tạng bát nhã Q.15; Chính pháp nhãn tạng chư ác mạc tác]. II. Phật Quả (1063-1135). Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Tống, người Sùng ninh, tỉnh Tứ xuyên, họ Lạc, hiệu Phật quả thiền sư. Sư tham yết ngài Pháp diễn ở núi Ngũ tổ và được ngài ấn chứng. Vua Huy tông nhà Tống ban hiệu là Phật Quả Thiền Sư.(xt. Khắc Cần).

Phật Quật Duy Tắc

(佛窟惟則, Bukkutsu Isoku, 751-830): vị tăng của Ngưu Đầu Tông Trung Quốc, còn gọi là Di Tắc (遺則), xuất thân vùng Kinh Triệu (京兆, Trường An), họ Trường Tôn (長孫). Ông xuất gia khoảng năm 22 tuổi, theo làm môn hạ của Huệ Trung (慧忠) thuộc Ngưu Đầu Tông. Sau khi đại ngộ, ông vào trong hang núi Phật Quật (佛窟) trên Thiên Thai Sơn (天台山) kiến lập tinh xá và trở thành vị tổ của Học Phái Phật Quật. Vào ngày 15 mùa hè năm thứ 4 niên hiệu Thái Hòa (太和), ông thị tịch, hưởng thọ 80 tuổi. Trước tác của ông để lại cho hậu thế có Dung Tổ Sư Văn (融祖師文) 3 quyển, Bảo Chí Thích Đề (寳誌釋題), Nam Du Phó Đại Sĩ Tự (南遊傅大士序), Vô Sanh Đẳng Nghĩa (無生等義) và thi ca hơn 10 thiên. Đến năm thứ 6 (865) niên hiệu Hàm Thông (咸通), bia tháp của ông được dựng lên, Duẫn Hàn Nghệ (尹韓乂) ở Hà Nam (河南) soạn văn bia tháp.

phật quật tự

(佛窟寺) Chùa ở núi Ngưu đầu, phía nam huyện Giang ninh, tỉnh Giang tô, Trung quốc. Trong núi này có hang động, đời gọi là động Bích chi phật. Khoảng những năm Vĩnh sơ, Cảnh bình, quan Tư không họ Lưu dựa theo hang núi mà lập chùa, gọi là Phật quật tự(chùa Hang Phật). (Hoặc có thuyết cho rằng chùa này do quan Tư không Từ độ sáng lập vào khoảng năm Thiên giám đời Lương). Quan Tư không họ Lưu cũng chép 7 tạng kinh sách cất giữ trong chùa, người tu thiền từ khắp nơi đến chùa này. Vào cuối đời Tùy đầu đời Đường, Đại sư Pháp dung cũng từng chú tích tại đây, chùa trở thành nơi đọc Đại tạng và mở đạo của ngài.Năm Trinh quán 19 (645) chùa bị cháy, sau được xây dựng lại và luôn đổi tên. Đời Đường chùa có tên là Trường lạc, viện Tư thiện, viện Phúc xương. Đầu đời Tống, đổi tên là chùa Sùng kính, đến năm Hồng vũ đời Minh vua ban sắc lấy lại tên cũ là chùa Phật Quật;khoảng năm Chính thống lại đổi là chùa Hoành giác. Khoảng năm Hàm phong đời Thanh, chùa bị quân Thái bình thiêu hủy. Hiện nay chỉ còn hai ngôi tháp gạch, ngôi lớn 7 tầng hình bát giác và ngôi nhỏ 5 tầng hình tứ giác. Năm Hoàng hựu thứ 2 (1050), Đại sư Trường can Viên chiếu hiệu Phổ trang soạn Văn chí nói rõ nguồn gốc chùa này.

Phật Quốc Duy Bạch

(佛國惟白, Bukkoku Ihaku, ?-?): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, sống vào cuối thời Bắc Tống, pháp từ của Pháp Vân Pháp Tú (法雲法秀). Ông đã từng trú trì ở Pháp Vân Tự (法雲寺) thuộc Biện Kinh (汴京). Ông được vua Triết Tông và Huy Tông quy y theo, được ban cho thụy hiệu là Phật Quốc Thiền Sư (佛國禪師). Vào tháng 8 năm đầu (1101) niên hiệu Kiến Trung Tĩnh Quốc (建中靖國), ông soạn bộ Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄) 30 quyển, được nhà vua ban ngự chế lời tựa và cho nhập vào Đại Tạng. Đến cuối đời ông chuyển đến Thiên Đồng Sơn (天童山). Ngoài ra ông còn viết bộ Đại Tạng Cương Mục Chỉ Yếu Lục (大藏綱目指要錄) 8 quyển.

phật quốc kí địa lí khảo chứng

(佛國記地理考證) Tác phẩm, 1 quyển, do ông Đinh khiêm đời Thanh soạn. Ngài Pháp hiển, vị Cao tăng đời Đông Tấn, có soạn 1 quyển Phật quốc kí, trong đó, ngài thuật lại những điều ngài thấy nghe trong chuyến Tây du cầu pháp của ngài. Cuộc hành trình phát xuất từ thành Trường an, trải qua các xứ Thiện thiện, Vu điền, Thông lãnh... đến Thiên trúc. Đinh khiêm đem tình hình địa lí trong quyển Phật quốc kí chia làm 8 hạng mục: Nhìn thế đất, dò tình hình xem phương hướng,xét gần xa, tính ngày giờ, tra xét đường lối, phân biệt sự giống nhau và khác nhau và khảo chứng những chỗ còn nghi ngờ..., do đó mà tình hình địa lí vùng Tây vực ghi chép trong sử sách xưa nay được rõ ràng.

phật quốc lịch tượng biên

(佛國曆象編) Tác phẩm, 5 quyển, do ngài Vô ngoại tử, Viên thông (1745-1834) thuộc tông Thiên thai Nhật bản biên soạn. Soạn giả đã nghiên cứu về ngày tháng và đồ dùng để nghiên cứu thiên văn ghi trong các kinh điển Phật giáo suốt 30 năm, cho mãi đến năm Văn minh thứ 7 (1810) mới công bố. Trong sách này, soạn giả đứng trên lập trường Phật giáo cho rằng so với Thiên văn học của Hà lan thời bấy giờ thì lịch tượng Thiên văn Phật giáo có điểm ưu việt hơn. Nội dung sách này chia làm 5 khoa: 1. Bàn về nguồn gốc củalịch. 2. Luận về thiên thể. 3. Phán định địa hình. 4. Bàn về lịch pháp. 5. Chỉ bày rõ về nhãn trí (trí của con mắt). Đây là tác phẩm trình bày vấn đề hữu quan một cách cực kỳ tỉ mỉ, rõ ràng, không một tác phẩm nào thuộc loại Thiên văn học Phật giáo có thể sánh được.

phật quốc thiền sư ngữ lục

(佛國禪師語錄) Ngữ lục, 2 quyển, do ngài Cao phong Hiển nhật (12411316) người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 80. Nội dung sách này ghi chép các ngữ lục như: -Đông sơn Vân nham thiền tự ngữ lục. -Đạo hà sơn Tịnh diệu thiền tự ngữ lục. -Cự phúc sơn Kiến trường thiền tự ngữ lục-Phật quốc ứng cúng quảng tế quốc sư hành lục và các phần: -Phổ thuyết, Pháp ngữ, Phật tổ tán, Tụng cổ, Kệ tụng. Ngoài ra còn có các lời tựa của các vị Linh thạch Như chi và Cổ lâm Thanh mậu được viết vào khoảng năm 1326.

phật sinh hội

(佛生會) Cũng gọi Quán Pháp hội, Giáng đản hội, Dục hóa trai. Pháp hội tắm Phật (quán Phật) được cử hành vào ngày Phật đản sinh (mồng 8 tháng 4–nay là ngày 15 tháng 4 âm lịch). Vào ngày này, ở Ấn độ và các nước vùng Trung á, tượng đức Phật Đản sinh được đặt trên xe hoa để diễu hành. (xt. Quán Phật Hội).

phật sát

(佛刹) I. Phật Sát. Cũng gọi Phật quốc độ, Tịnh độ. Chỉ cho cõi nước của chư Phật an trụ. II. Phật Sát. Từ ngữ chỉ chung cho các chùa viện, già lam là những nơi tôn nghiêm để thờ Phật và tu đạo. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng] (xt. Tịnh Độ).

phật sơn

(佛山) Núi ở huyện Hải nam, tỉnh Quảng đông, Trung quốc, cách thành phố Quảng châu khoảng 16 cây số. Vào đời nhà Thanh, núi này được gọi là Phật sơn trấn, cùng với Hán khẩu ở Hà bắc, Chu tiên ở tỉnh Hà nam và Cảnh đức ở tỉnh Giang tây được gọi chung là Tứ đại trọng trấn, toàn thể khu vực này tràn đầy không khí nghệ thuật và nổi tiếng về những sản phẩm dệt bằng tơ lụa. Vào đời Đông Tấn, vị cao tăng người Ấn độ là tôn giả Đạt tì da xá vượt biển đến Quảng châu, trụ ở Phật sơn giảng kinh. Để ghi nhớ việc này, người đời sau bèn xây chùa trên nền cũ của nhà giảng kinh đặt tên là Phật sơn.

phật sư

(佛師) Cũng gọi Tạo Phật sư, Tạo Phật công, Phật công. Chỉ cho người thợ chuyên tạo tượng Phật. Có Mộc Phật sư và Hội Phật sư khác nhau. Người khắc tượng Phật bằng gỗ, gọi là Mộc Phật sư; người vẽ tranh tượng Phật, gọi là Hội Phật sư. Thông thường, gọi Mộc Phật sư là Phật sư; Hội Phật sư là Hội sư. Ở Ấn độ và các nước vùng Tây vực từ xưa đã có rất nhiều ghi chép trong các kinh luận nói về việc chạm trổ hoặc đắp vẽ hình tượng đức Phật, như kinh Đại thừa tạo tượng công đức quyển thượng có ghi việc Tì thủ yết ma thiên nhận lời thỉnh của vua Ưu điền đã tạo lập hình tượng đức Phật. Ở Trung quốc, thời đại nào cũng có những Phật sư rất giỏi, như đời Đông Tấn có cha con Đới quì là những Phật sư nổi tiếng nhất. [X. Tập thần châu Tam bảo cảm thông lục Q.trung; Pháp uyển châu lâm Q.13,14,29; Trường an chí Q.10,15].

Phật sở hạnh tán

佛所行囋; C: fó suǒxíng zàn; J: butsu shogyō san; T: saṅs-rgyas-kyi spyod-pa shes-bya-baḥi sñan-ṅag chen-po; S: buddha-carita;|Là tác phẩm văn vần của Mã Minh (馬鳴; s: aśvaghoṣa), tác phẩm bằng thơ đầu tiên nói về toàn bộ cuộc đời Phật Thích-ca Mâu-ni từ ngày sinh ra tới lúc nhập Niết-bàn. Tác phẩm này gồm có 28 bài thơ, ngày nay chỉ còn 13 bài viết bằng văn hệ Phạn ngữ (sanskrit). Tác phẩm này cũng được dịch ra tiếng Tây Tạng.|Theo các du kí của người Trung Quốc qua Ấn Ðộ khoảng thế kỉ thứ 7, người ta biết là Phật sở hạnh tán rất được ưa chuộng trong dân gian thời đó. Sách này nghe qua như các bài truyền tụng về các vị anh hùng, đầy tính chất thơ nhạc. Kinh này giúp truyền bá đạo Phật rất rộng rãi. Luận này được Đàm-vô-sấm dịch (曇無讖; s: dharmakṣema). Còn được gọi các tên: Phật bản hạnh tán (佛本行讚), Phật sở hạnh tán kinh (佛所行讚經), Phật sở hạnh tán truyện (佛所行讚傳), Phật sở hạnh tán kinh truyện (佛所行讚經傳), Mã Minh Bồ Tát tán (馬鳴菩薩讚), Mã Minh tán (馬鳴讚). Cowell dịch sang tiếng Anh năm 1969, Johnston dịch năm 1936.

phật sở hạnh tán

(佛所行贊) Phạm: Buddhacarita. Tạng: Saís-rgyas-kyi spyod-pa shes-bya-ba#i sĩan-íag chen-po. Cũng gọi Phật bản hành tán, Phật sở hành tán kinh, Phật sở hành tán truyện, Phật sở hành tán kinh truyện, Mã minh bồ tát tán, Mã minh tán. Tác phẩm, 5 quyển, 28 phẩm, do bồ tát Mã minh soạn, ngài Đàm vô sấm dịch vào đời Bắc Lương, Trung quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 4. Nội dung sách này dùng văn vần theo thể 5 chữ kể lại sự tích cuộc đời đức Phật từ giáng sinh đến nhập Niết bàn và phân Chia xá lợi. Kinh Phật bản hành do ngài Bảo vân dịch vào đời Lưu Tống gồm 7 quyển, 31 phẩm, trong đó, từ phẩm 4 đến phẩm 31, thứ tự đại khái giống với sách này. Có thể Phật sở hành tán và Phật bản hành kinh là cùng 1 tác phẩm mà dịch khác. Phật sở hành tán là tác phẩm tiêu biểu của bồ tát Mã minh, nội dung phần nhiều dùng tài liệu trong Phệ đà, Áo nghĩa thư và 2 thi phẩm anh hùng ca Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata), La ma da na (Phạm: Ràmàyaịa). Đây là tác phẩm văn học đầu tiên về Phật truyện bằng tiếng Phạm cổ điển mà không 1 tác phẩm Phật truyện nào sánh kịp về mặt văn chương mĩ lệ. Tác phẩm này đã được lưu truyền rất rộng ở Ấn độ đời xưa. Về mặt tư tưởng thì sách này hoàn toàn không có thành phần tư tưởng Phật giáo Đại thừa, mà trái lại, chịu rất nhiều ảnh hưởng của Thuyết nhất thiết hữu bộ Tiểu thừa. Nguyên bảntiếng Phạmcủa sách này hiện còn gồm 17 chương, chỉ thuật lại những việc đức Thế tôn đản sinh đến khi trở lại cố quốc..., trong đó, từ nửa sau của chương 14 đến chương 17 là do ngài A mỗ lợi đạtnan đà (Phạm: Amftànanda), người Nepal, thêm vào sau này). Năm 1893 Tây lịch, ông E.B Cowell người Anh hiệu đính bản tiếng Phạm, đề là: The Buddha-Carita of Azvaghosha, năm sau ông ấn hành bản dịch tiếng Anh dưới nhan đề: The Buddhacarita of Azvaghsoha (S.B.E. XLII). Bản dịchTây Tạng giống với bản dịch chữ Hán, cũng chia làm 28 phẩm, nhưng số kệ tụng thì hơi khác, do 2 ngài Tát ôn tán bột (Tạng:Sa-dbaí bzaí-po) và Lạc đắc ca nhi bột (Tạng: Blo-gros rgyal-po) cùng dịch vào đầu thế kỉ thứ VIII. Bản dịch tiếng Nhật thì do ông Tự bản Uyển nhã dịch và xuất bản vào năm Đại chính 13 (1924). Về sau cũng có bản dịch tiếng Đức (17 phẩm trước) do ông F. Weller dịch và ấn hành. Ngoài ra, năm 1883, ông S. Beal – người Anh – dịch từ bản chữ Hán sang tiếng Anh nhan đề: The Fo-sho-hing-tsan-king (S.B.E. XIX). [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Pháp kinh lục Q.6; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9, 10, Khai nguyên thích giáo lục Q.4; Đại đường nội điển Q.7; Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.10, Mã minh bồ tát luận; Phạm văn Phật truyện văn học đích nghiên cứu; Geschichte der indische Literatur, Bd. II by M. Winternitz].

Phật sở hạnh tán kinh

佛所行讚經; C: fó suǒxíng zànjīng; J: butsu shogyō san kyō.|Phật sở hạnh tán.

Phật sở hạnh tán kinh truyện

佛所行讚經傳; C: fó suǒxíng zànjīng chuán; J: butsu shogyō sangyō den.|Phật sở hạnh tán.

Phật sở hạnh tán truyện

佛所行讚傳; C: fó suǒxíng zàn chuán; J: butsu shogyō san den.|Phật sở hạnh tán.

Phật sự

佛事; C: fóshì; J: butsuji; S: buddha-kārya;|Có các nghĩa: 1. Công hạnh Đức Phật thể hiện. Hoằng truyền Phật pháp. Công hạnh cứu độ chúng sinh; 2. Mọi công hạnh thi tác sau khi tu tập chứng ngộ được gọi là Phật sự.

phật sự

(佛事) Cũng gọi Lập địa. Việc Phật. Phàm các việc làm nhằm phát huy đức của Phật, gọi là Phật sự. Theo kinh Duy ma quyển hạ thì đức Phật đối với tất cả mọi việc đều xem là Phật sự, đó là biểu thị đức tính của Phật. Thiền tông dùng từ ngữ này để chỉ cho những việc làm nêu cao Phật pháp, như khai nhãn, an tọa (an vị tượng Phật), niêm hương, thướng đường (tức thuyết pháp), nhập thất, phổ thuyết, dạy chúng...đều là Phật sự. Đời sau thì gọi chung những nghi thức được cử hành trước bàn thờ Phật là Phật sự. [X. Điện chủ chung đầu trong Thiền uyển thanh qui Q.4; Lâm tế lục thị chúng]. (xt. Pháp Hội).

phật tam ngữ

(佛三語) Cũng gọi Tam Phật ngữ, Tam ý ngữ. Ba cách nói của đức Phật: Tùy tự ý ngữ (Nói theo ý mình), Tùy tha ý ngữ (Nói theo ý người khác) và Tùy tự tha ý ngữ (Nói theo ý mình và ý người). 1. Tùy tự ý ngữ: Đức Phật tùy theo ý mình mà giảng nói pháp nội chứng chân thật, như nói Tất cả chúng sinh đều có tính Phật. 2. Tùy tha ý ngữ: Đức Phật tùy theo căn cơ của chúng sinh mà phương tiện nói pháp, như nói Bồ tát giai vị Thập trụ thấy được 1 phần tính Phật. 3. Tùy tự tha ý ngữ: Đức Phật vừa theo chỗ tự chứng vừa theo ý của đối cơ mà nói pháp, như Ngài nói Tất cả chúng sinh đều có tính Phật, nhưng bị phiền não che lấp nên không thấy được. Đức Phật dùng 3 cách nói trên mà giảng thuyết về 12 thể tài kinh để cứu độ hữu tình chúng sinh. [X. kinh Niết bàn Q.32 (bản Nam); Pháp hoa huyền nghĩa Q.2, hạ; Ma ha chỉ quán (hội bản) Q.3, phần 2, Hoa nghiêm đại sớ sao Q.6].

phật tam sự nhập thành

(佛三事入城) Đức Phật vì 3 lí do mà đi vào thành. Cứ theo Kim cương kinh sớ thì có 3 nhân duyên khiến Phật đi vào thành. 1. Vì độ người nữ: Tất cả người nữ đều bị cha mẹ và chồng bó buộc, không được tự do ra vào, lòng rất ngưỡng mộ đức Như lai mà không làm cách nào thấy được, cho nên Như lai vào thành khiến cho mọi người nữ đều được chiêm ngưỡng lễ kính, nhờ thế được phúc vô lượng. 2. Vì những người bệnh: Đức Như lai thường quan tâm cứu giúp người bệnh, cho nên Ngài vào thành khất thực, để cho người bệnh khổ có cơ hội lễ kính chiêm ngưỡng, nhờ thế được khỏi bệnh và phát tâm bồ đề. 3. Vì muốn khiến cho mọi người được thấy tướng hảo: Đức Như lai phúc trí trang nghiêm, đầy đủ 32 tướng, 80 vẻ đẹp, vi diệu khó thể tưởng tượng, nếu được trông thấy thì tội diệt phúc sinh, cho nên Phật vào thành để mọi người được chiêm ngưỡng.

phật tam thân tán

(佛三身贊) Cũng gọi Tam thân tán. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Pháp hiền dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Nội dung sách này gồm những bài kệ thuyết minh và khen ngợi Pháp thân, Báo thân và Hóa thân của đức Phật. Mỗi thân có 1 bài kệ, mỗi bài kệ đều có 8 dòng, mỗi dòng 7 chữ. Cuối cùng là bài kệ hồi hướng, cũng có 8 dòng, mỗi dòng 7 chữ.

Phật Thi-khí

xem bảy vị Phật.

phật thuyết

(佛說) Phật nói: Đức Phật dùng kim khẩu (miệng vàng) tự giảng nói các pháp.Vì để nêu rõ pháp do chính kim khẩu của Phật nói ra và để phân biệt với các pháp do Tam thừa, trời, người nói ra nên ở đầu các kinh thường đặt 2 chữ Phật thuyết để chứng minh pháp do Phật nói là giáo pháp chân thực. Còn pháp do Bồ tát nói nếu được đức Phật ấn khả thì cũng được coi như Phật thuyết. [X. luận Đại trí độ Q.2; Kim cương bát nhã sớ Q.1].

Phật thuyết A-di-đà kinh

佛説阿彌陀經; C: fóshuō āmítuójīng; J: bus-setsu amidakyō; S: amitābha-sūtra.|Kinh, Cưu-ma La-thập (鳩摩羅什) dịch. Xem chi tiết ở mục A-di-đà kinh.

Phật thuyết A-nan phân biệt kinh

佛説阿難分別經; C: fóshuō ānán fēnbié jīng; J: bussetsu anan funbetsu kyō.|Kinh; 1 quyển, Pháp Kiên (法堅) dịch. Thường gọi tắt là A-nan phân biệt kinh (阿難分別經) và Phân biệt kinh (分別經). Nói về lời dạy của đức Phật cho Tôn giả A-nan.

Phật thuyết bất tăng bất giảm kinh

佛説不増不減經; C: fóshuō bùzēngbùjiǎn jīng; J: bussetsu fuzoufukan kyō.|Kinh, 1 quyển, Bồ-đề Lưu-chi (菩提流支) dịch.

Phật thuyết Bồ Tát bản nghiệp kinh

佛説菩薩本業經; C: fóshuō púsà běnyè jīng; J: bussetsu bosatsu hongyō kyō.|Kinh. Chi Khiêm (支謙; s: lokakṣema) dịch.

Phật thuyết Bồ Tát nội tập lục ba-la-mật kinh

佛説菩薩内習六波羅蜜經; C: fóshuō púsà nèixí liùbōluómì jīng; J: bussetsu bosatsu naishū rokuharamitsukyō.|Kinh. Nghiêm Phật Điều (嚴佛調) dịch.

Phật thuyết giải tiết kinh

佛説解節經; C: fóshuō jiějié jīng; J: bussetsu gesekkyō.|Kinh, 1 quyển. Chân Đế (眞諦; s: para-mārtha) dịch. Là một chương trong kinh Giải thâm mật (解深密經; s: saṃdhinirmocana-sūtra), tương đương với phẩm Thắng nghĩa đế tướng (勝義諦相品, xem Đại chính 675).

Phật thuyết huệ ấn tam-muội kinh

佛説慧印三昧經; C: fóshuō huìyìn sānmèi jīng; J: bussetsu kaiinsanmai kyō.|Kinh; 1 quyển. Chi Khiêm (支謙; s: lokakṣema) dịch.

Phật thuyết Như Lai hưng hiển kinh

佛説如來興顯經; C: fóshuō rúlái xīngxiǎn jīng; J: utsusetsujoraikougankyō.|Kinh; 4 quyển, Trúc Pháp Hộ (竺法護; s: dharmarakṣa) dịch.

Phật thuyết pháp tập kinh

佛説法集經; C: fóshuō fǎjí jīng; J: bussetsu hōshūkyō; S: dharmasangiti-sūtra.|Kinh; Bồ-đề Lưu Chi (菩提流支; s: bodhiruci) dịch.

Phật thuyết phân biệt thiện ác sở khởi kinh

佛説分別善惡所起經; C: fóshuō fēnbié shànè suǒqǐ jīng; J: bussetsu funbetsu zen'aku shokikyō.|Kinh; An Thế Cao dịch.

Phật thuyết Phật địa kinh

佛説佛地經; C: fóshuō fódì jīng; J: bus-setsubutsuchikyō.|Kinh; 1 quyển. Huyền Trang dịch. Thường gọi là Phật địa kinh. Kinh giảng giải về 5 khía cạnh của Phật địa, gồm Pháp giới thanh tịnh và Bốn pháp chuyển thức thành trí. Kinh giải thích chi tiết về Thập địa và Phật địa.

Phật thuyết quán Di-lặc Bồ Tát thượng sinh Đâu-suất thiên kinh

佛説觀彌勒菩薩上生兜率天經; C: fóshuō guān mílèpúsà shàngshēng dōushuòtiān jīng; J: bussetsu kan mirokubosatsu jōshō tosotsuten kyō.|Kinh, 1 quyển. Thường gọi tắt là Di-lặc thượng sinh kinh (彌勒上生經). Một trong những kinh văn chính của trường phái tôn xưng Bồ Tát Di-lặc. Kinh nói về việc thị hiện của Bồ Tát Di-lặc ở cung trời Đâu-suất (兜率天; s: tuṣita), với lời Đức Phật thụ kí Bồ Tát Di-lặc sẽ trụ ở cung trời này 12 năm.

Phật thuyết quán Vô Lượng Thọ Phật kinh

佛説觀無量壽佛經; C: fóshuō guān wú-liángshòu fó jīng; J: bussetsu kan muryōju butsu kyō.|Kinh. Tên gọi đầy đủ của Quán Vô Lượng Thọ kinh (觀無量壽經).

phật thuyết thiết thành nê lê kinh

(佛說鐵城泥犁經) Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc đàm Vô lan dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này ghi lại lời đức Phật nói về 5 sứ giả nhà trời(sinh, già, bệnh, chết, lao ngục của phép nước) và trạng huống thống khổ ở địa ngục.Kinh này tương đương với kinh Thiên sứ trong 64 kinh của Trung a hàm và với kinh 130 trong Trung bộ Pàli. Còn về những kinh tương tự như kinh này thì có: Kinh Diêm la vương ngũ thiên sứ giả, kinh thứ 4 trong phẩm Thiện tụ của Tăng nhất a hàm và các kinh thứ 3, 35 trong Tăng chi bộ Pàli...

phật thuyết thiền môn kinh

(佛說禪門經) Kinh, 1 quyển, 1 trong các bộ kinh giả được soạn vào đời Đường. Nội dung kinh này tường thuật việc lúc đức Phật sắp vào Niết bàn, đáp lời thưa hỏi của bồ tát Khí chư cái, Ngài chỉ dạy bí quyết tu quán để cởi bỏ sự trói buộc của khổ sinh tử. Điều Ngụy vọng chân trong Khai nguyên lục quyển 10 của ngài Trí thăng có ghi: Thiền môn kinh nhất quyển ngũ chỉ (Kinh Thiền môn 1 quyển 5 tờ). Đốn ngộ yếu môn của ngài Đại châu Tuệ hải cũng có dẫn dụng văn kinh này. Ngoài ra, Tông kính lục quyển 2, 19, 27 của ngài Vĩnh minh Diên thọ cũng dẫn dụng tên của kinh này, như vậy đủ thấy sự lưu hành tương đối của kinh này ở thời bấy giờ như thế nào. Đã một thời gian kinh này bị thất lạc, mãi tới gần đây mới được thấy toàn văn trong số các kinh chép tay ở Đôn hoàng, hiện được cất giữ ở Bảo tàng nước Anh (mang hiệu số: A. Stein 5532), toàn bản từ đầu đến cuối rất đầy đủ. Ở đầu quyển có lời tựa của sa môn Tuệ quang (có lẽ sa môn Tuệ quang và tác giả của luận Đại thừa khai tâm hiển tính đốn ngộ chân tông cùng là 1 người). Căn cứ vào những lời được dẫn dụng từ kinh này mà suy đoán thì có lẽ kinh này đã được thành lập vào những năm cuối thế kỉ VII hoặc do những người tu thiền ở thời đại Vũ tắc thiên hoàn thành. [X. Thiền tông sử nghiên cứu (Vũ tỉnh Bá thọ); Thiền tư tưởng sử nghiên cứu đệ nhị (Linh mộc Đại chuyết)].

Phật thuyết thất Phật kinh

佛説七佛經; C: fóshuō qīfó jīng; J: bussetsu shichibutsu kyō.|Tên gọi đầy đủ của Thất Phật kinh.

Phật thuyết tịnh nghiệp chướng kinh

佛説淨業障經; C: fóshuō jìngyèzhàng jīng; J: bussetsu jōgyōshou kyō.|Tên đầy đủ của Tịnh nghiệp chướng kinh (淨業障經).

Phật thuỳ niết-bàn lược thuyết giáo giới kinh

佛垂般涅槃略説教誡經; C: fóchuí boniè-pán lüèshuō jiāojiè jīng; J: bussui hannehan ryakusetsu kyōkaikyō;|Kinh, Cưu-ma La-thập (鳩摩羅什; s: kumārajīva) dịch.

phật thành đạo nhật

(佛成道日) Cũng gọi Thành đạo hội, Thành đạo tiết, Lạp bát. Ngày đức Phật Thích ca thành đạo. Về vấn đề này, trong các kinh luận có nhiều thuyết, như kinh Trường a hàm quyển 4 và kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 3 cho là ngày mùng 8 tháng 2, kinh Quán Phật và kinh Phương đẳng bát nê hòan cho là ngày mùng 8 tháng 4, Đại đường tây vực kí cho là ngày mồng 8 tháng 3 hoặc ngày 15 tháng 3; Câu xá pháp bảo sớ và Phật tổ thống kỉ đều công nhận thuyết mùng 8 tháng 2. Đại tống tăng sử lược quyển thượng của ngài Tán ninh đời Tống cũng chủ trương ngày mùng 8 tháng 2, cho rằng tháng 12 tức là tháng 2 của nhà Chu. Lịch nhà Chu lấy Kiến tí lập tháng giêng, còn lịch nhà Hạ (âm lịch) thì lấy Kiến dần lập tháng giêng, cho nên tháng 2 theo lịch nhà Chu tức là tháng 12 theo lịch nhà Hạ. Trung quốc lấy ngày 8 tháng 12 làm ngày đức Phật thành đạo chính là căn cứ vào đó.

Phật thân

佛身; C: fóshēn; J: busshin; S, P: buddhakāya; nghĩa là thân của Phật; |Sắc thân (thân vật chất của đức Phật). Do từ sự lưu tâm của Phật tử nên phát sinh lí thuyết về một »sắc thân Phật«. Phật Thích-ca Mâu-ni đưa ra quan niệm tin vào Pháp, rằng chính ngài cũng tịch diệt nhưng Pháp thì không thể nào hoại diệt, do vậy nên dạy rằng sau sự tịch diệt của ngài thì Pháp vẫn thường còn. Tuy nhiên, nhiều đệ tử vẫn giữ quan niệm về con người của Đức Phật, xem như chính thân của ngài là biểu hiện của Phật pháp. Do vậy, ngay cả khi Phật còn tại thế, sắc thân của ngài đã được xem là siêu việt. Vì điểm nầy nên, sau khi Phật nhập diệt, Pháp mà ngài đã giảng được xem như bất hoại, và được đưa ra như một đối lập với thân tự nhiên, và cũng từ đó mà phát sinh ra lí thuyết »hai thân«.

phật thân

(佛身) Phạm, Pàli: Buddha-kàya. Thân của đức Phật. Khi đức Thế tôn còn tại thế hoặc sau khi Ngài nhập diệt chưa bao lâu, người đời đã quan niệm rằng Ngài không phải là người thường, sinh thân của ngài viên mãn, thanh tịnh (32 tướng, 80 vẻ đẹp) và có năng lực thù thắng (10 lực, 4 vô sở úy). Từ đó về sau, đến thời đại Phật giáo bộ phái thì các nhà Phân biệt luận và Đại chúng bộ chủ trương thuyết thân Phật là vô lậu, về tuổi thọ cũng như uy lực của Ngài đều không có hạn định. Nhưng Hữu bộ chủ trương hoàn toàn khác, cho rằng sinh thân của Phật cũng là kết quả của phiền não, cho nên vẫnthuộc hữu lậu. Tuy nhiên, Hữu bộ cũng thừa nhận đức Phật đã thành tựu những công đức như 10 lực, 4 vô sở úy... và tất cả giáo pháp của Ngài đều thuộc vô lậu, những công đức và giáo pháp ấy gọi là Pháp thân (Phạm: Dharma-kàya), thân này không thể dùng mắt thường mà thấy được. Pháp thân hợp với sinh thân gọi chung là hai thân. Hữu bộ còn gọi các pháp công đức như: Giới, định,tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến là pháp thân hoặc Ngũ phần pháp thân. Sau khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi, Phật thân luận được khai triển rất nhanh chóng. Trước hết là sự biến hóa của nội dung Pháp thân, tức chân như pháp tính là pháp thân. Theo ngài Vô trước trong luận Kim cương bát nhã quyển thượng thì kinh điển tức làNgôn thuyết pháp thân; trái lại, Pháp thân nhờ tu hành mà chứng được thì gọi là Chứng đắc pháp thân. Do đó, sau khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi, lí thể chân như mới được gọi là Pháp thân; lại tiến thêm 1 bước, gọisinh thân là Ứng thân (Phạm: Nirmàịa-kàya), đồng thời giữa Sinh thân và Ứng thân là Báo thân (Phạm: Saôbhoga-kàya). Bởi vậy, Thập địa kinh luận quyển 3 và Nhiếp đại thừa luận quyển hạ (bản dịch đời Lương) mới thành lập thuyết Tam thân: Pháp thân, Báo thân và Ứng thân. Vấn đề Phật thân luận được nêu ra từ sau khi đức Phật nhập diệt, đến thời đại Phật giáo bộ phái nó đã trở thành tiêu điểm tranh luận. Thượng bộ đứng trên lập trường hiện thực để phản đối, còn Đại chúng bộ thì chuộng lí tưởng. Sau khi Phật giáoĐại thừa hưng khởi, lại thịnh hành thuyết Bồ tát thành Phật, sự khảo sát về đức Phật dần dần tiến triển, bắt đầu là Bát nhã, rồi lần lượt đến các kinh đại thừa như: Duy ma, Thủ lăng nghiêm, Pháp hoa, Niết bàn, Hoa nghiêm, Đại nhật...đều bày tỏ những quan niệm sâu xa về đức Phật, theo đó mà đẩy mạnh lí luận về giáo pháp do đức Phật nói và về cõi nước mà đức Phật an trú, tất cả điều này đã cấu thành bộ phận trọng yếu trong giáo nghĩa của Phật giáo. [X. kinh Tạp a hàm Q.26; kinh Đại bản trong Trường a hàm Q.1; kinh Tăng nhất a hàm Q.2; luận Đại tì bà sa Q.30, 173; luận Dị bộ tông luân; luận Đại trí độ Q.34, 93; luận Thành duy thức Q.10; luận Phật tính Q.4; Bát nhã đăng luận thích Q.13]. (xt. Nhị Thân, Tam Thân, Hóa Thân, Tứ Thân, Sinh Thân].

phật thư

(佛書) Cũng gọi Phật điển, Nội điển, Diệu điển. Đối lại: Ngoại điển, Thế điển, Ngoại đạo thư, Ngoại tục thư. Chỉ chung những kinh sách của Phật giáo.Cùng với đà triển khai của lịch sử Phật giáo cũng như sự khoáng trương phạm vi của khu vực truyền bá mà Phật thư dần dần mở rộng về nội dung. Thông thường Phật thư là chỉ cho những kinh luận, sách vở, có liên quan đến giáo thuyết của đức Phật. Phật thư theo nghĩa rộng thì bao gồm 3 tạng kinh, luật, luận và các chú sớ của 3 tạng, sách vở của các tông, các loại sử truyện, mục lục Đại tạng kinh, từ vựng, hành sự, tự chí, địa chí... cho đến các tác phẩm văn học có liên quan đến Phật giáo như tiểu thuyết, hí khúc, tùy bút, ca dao, truyện cổ Phật giáo...Vì thế nên biết phạm vi của từ Phật thư bao hàm rất rộng, nhưng nói một cách chặt chẽ thì phải lấy Thánh điển Đại tạng kinh làm trung tâm, tức lấy 3 tạng Thánh điển kinh luật luận làm nòng cốt, rồi lần lượt lấy tất cả kinh sách do các bậc tổ sư các đời của Ấn độ, Trung quốc, Nhật bản soạn thuật làm phụ trợ để phát huy và mở rộng thêm phạm vi giáo pháp của đức Phật.

phật thư giải thuyết đại từ điển

(佛書解說大辭典) Từ điển, 14 quyển, do học giả Tiểu dã Huyền diệu chủ biên, Nhật bản Đại đông xuất bản ấn hành. Nội dung từ điểnnày giải thích một cách tỉ mỉ, rõ ràng kinh, luật, luận và sách vở của các tông phái Phật giáo Trung quốc, Nhật bản. Trong 14 quyển thì 11 quyển trước là Giải thuyết bộ, giải nói về hình thức nội dung chia làm 10 hạng mục như sau: 1. Bao gồm tên tác phẩm: Tên sách, tên đầy đủ, tên vắn tắt, tên khác, dùng mẫu tự La tinh để phiên, ghi thêm cách đọc âm Trung quốc, âm Nhật bản, ghi tên Phạm, tên Tây tạng, tên Pàli... 2. Số quyển: Ghi rõ số quyển của sách. 3. Còn hay khuyết: Nếu hiện vẫn còn được lưu thông thì được xếp vào tạng nào, số quyển, số tập, chủng loại. Các loại tạng kinh và mục lục sử dụng phù hiệu giản lược, như Đại chính thì chỉ rõ ra là Đại chính tân tu đại tạng kinh, Súc thì chỉ rõ Súc loát đại tạng kinh, Bắc thì chỉ rõ bản Bắc Tống... 4. Tác giả hay dịch giả: Nói rõ họ tên và năm sinh năm mất. 5. Trứ tác niên đại: Ghi năm sáng tác hoặc phiên dịch. 6. Giải thuyết nội dung: Lấy Đại tạng kinh toàn thư làm chủ yếu, ghi rõ về danh nghĩa, đại cương, chia khoa, phán thích, truyền thông... 7. Sách chú thích và sách tham khảo: Theo niên đại soạn thuật để sắp xếp thứ tự tác phẩm. 8. Niên đại ấn hành: Niên đại bản chép tay và bản in. 9. Nơi cất giữ: Nói rõ tên thư viện và hàm hiệu thư mục, tên thư khố hoặc cá nhân đang cất giữ. 10. Nơi phát hành: Nơi khắc bản, in ấn và phát hành.

phật thư xuất bản giới

(佛書出版界) Các nhà xuất bản kinh sách Phật giáo. Tứ đầu thế kỉ XX đến nay, nhờ kĩ thuật ấn loát tiến bộ, các nhà xuất bản kinh sách Phật giáo ở các nước phát triển mạnh mẽ. Các sách cũ được in lại hoặc sách mới xuất bản, về mặt chất và lượng đều cao. Hiện nay, trung tâm xuất bản kinh sách Phật giáo bằng Trung văn là Đài loan. Ở đây có nhiều nhà xuất bản kinh sách Phật giáo nổi tiếng như: 1. Tân văn phong xuất bản công ti: Đặt tại Đài bắc, đã lần lượt xuất bản hằng trăm loại kinh sách Phật giáo quan trọng như: Đại chính tạng, Vạn tục tạng, Tống tạng di trân, Đại tạng di trân... 2. Phật giáo thư cục: Đặt ở Đài bắc, đã xuất bản nhiều loại sách Phật, trong đó có Đại tạng kinh Tần già (bản tăng bổ)... 3. Phật quang xuất bản xã: Đặt tại Phật quang sơn, huyện Cao hùng, đã xuất bản nhiều loại thư tịch Phật giáo như: Thích ca mâu ni Phật truyện, Phật quang Đại tạng kinh, Phật giáo sử niên biểu, Phật quang Đại từ điển... 4. Đại thừa văn hóa xuất bản xã: Đặt ở Đài bắc, đã xuất bản Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san gồm 100 tập. 5. Thiền hoa xuất bản công ti: Địa chỉ ở Đài bắc, đã xuất bản Đại tạng hội duyệt, Hàn sơn tử nghiên cứu... 6. Di lặc xuất bản xã: Địa chỉ ở Đài bắc, đã xuất bản Hiện đại Phật giáo đại hệ...7. Đài loan ấn kinh xứ: Tổ chức của đoàn thể Phật giáo Đài loan, chuyên in ấn và phát hành kinh sách Phật, trong đó có Tịnh độ tùng thư... Ngoài ra còn có các đoàn thể Phật giáo chuyên ấn tống kinh sách như: Hoa tạng pháp thí hội, Đại thừa tinh xá ấn kinh hội... và các cơ cấu xuất bản tạp chí Phật giáo như: Bồ đề thụ, Tuệ cự, Nguyên truyền... cho đến các đơn vị xuất bản phụ như trung tâm Văn thù, chùa Hoằng pháp... Về phía Nhật bản, từ đầu thế kỉ XX đến nay, trong số kinh sách Phật giáo bằng các loại ngữ văn trên tất cả thế giới thì Nhật bản đã xuất bản khoảng 70%. Do đó, Nhật bản là quốc gia hưng thịnh nhất trên thế giới trong lĩnh vực xuất bản kinh sách Phật giáo. Những nhà xuất bản và các hiệu sách chuyên kinh doanh sách vở Phật giáo tại Tokyo và Kyoto cũng rất nhiều. Trong vòng 60 năm trở lại đây, Nhật bản đã in ấn và phát hành gần 100 loại kinh sách Phật giáo. Những bộ lớn có tính chất tùng thư như: Đại chính tạng, Vạn tục tạng, Nam truyền Đại tạng kinh, Quốc dịch Nhất thiết kinh v.v... mà về các mặt qui mô, phương pháp biên soạn, kĩ thuật in ấn...đều đứng vào hàng đầu trên thế giới. Hiện tại, Nhật bản có tổ chức gọi là Phật giáo thư xuất bản phiến mại liên minh (Liên minh mua bán và xuất bản kinh sách Phật giáo). Đây là 1 tổ hợp của các hiệu sách và nhà xuất bản chuyên kinh doanh sách vở liênquan đến Phật giáo. Những thành phần tham gia liên minh này gồm có (ở Tokyo): Sơn hỉ phòng Phật thư lâm, Đại đông xuất bản xã, Đại tạng xuất bản xã, Thế giới Thánh điển san hành hiệp hội, Đại pháp luân các, Phật giáo thư lâm trung sơn thư phòng, Thanh sơn thư viện, Hồng minh xã, Tại gia Phật giáo hiệp hội, Nhật bản Phật thư san hành hội, Long văn quán (ở Kyoto): Điền văn xương đường, Bách hoa uyển, Văn vinh đường và Pháp tạng quán. Ngoài ra, Nhật bản còn có không ít các đơn vị xuất bản trực thuộc các Viện đại học Phật giáo, cũng như các hiệusách Phật chưa gia nhập liên minh nói trên, không kể hết được. Còn tại các nước khác trên thế giới thì như Tích lan có Phật giáo xuất bản hiệp hội (Buddhist Publication Society) chuyên xuất bản kinh sách Phật giáo với mục đích truyền bá Phật pháp trên thế giới. Chính phủ Tích lan xuất bản Phật giáo bách khoa toàn thư (Encyclopedia of Buddhism) đến nay vẫn còn đang tiếp tục. Nước Anh thì có Pàli Thánh điển hiệp hội (Pàli Text Society) chuyên môn xuất bản kinh điển Phật giáo Nam truyền bằng tiếngPàli(tiếngPàlisử dụng mẫu tự La tinh). Ngoài ra, Phật thư xuất bản xã của Ấn độ cũng nổi tiếng trên thế giới, như kinh sách Phật bằng tiếng Anh do Motilal Banarsidss xuất bản được phổ biến tại nhiều nước trên thế giới.

phật thất

(佛室) Chỉ cho tòa ngồi của vị A xà lê tu chúng sinh Du già trong 9 vị trí Bạch đàn mạn đồ la trong Mật giáo. Tòa ngồi này được đặt ở phía tây đức Đại nhật Như lai, ở khoảng giữa minh vương Bất động và minh vương Hàng tam thế. Hành giả tiến vào trong Mạn đồ la, do thụ trì Tam muội da để đạt đến quả vị Phật cùng tột, nên tòa ngồi của vị A xà lê được gọi là Phật thất (nhà ở của Phật). Vị A xà lê trụ trong Phật thất này, dùng 5 chữ, bắt đầu là chữ (a)...để trang nghiêm thân mình, quán tưởng mình cùng với đức Tì lô giá na là một thể, không hai không khác. Quán tưởng như vậy thì có thể trụ trong tam muội Đại không. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1].

phật thần thông

(佛神通) Thần thông của đức Phật. Thần thông là năng lực siêu nhân loại, siêu tự nhiên; nhưng đối với Thiền gia thì thần thông chẳng phải là năng lực đặc biệt kì lạ và siêu nhân gì cả, mà chính là những năng lực như: Không cố chấp, không dính mắc, không bị trói buộc, luôn thức tỉnh, không đánh mất chính mình ngay trong những sinh hoạt ngày thường. Đức Phật có 6 thứ năng lực tự tại không bị 6 trần trói buộc, gọi là Phật lục thông. Theo Lâm tế lục thị chúng thì 6 thứ năng lực ấy là (Đại 47, 500 thượng): Vào thế giới màu sắc chẳng bị màu sắc mê hoặc, vào thế giới âm thanh không bị âm thanh mê hoặc, vào thế giới mùi hương chẳng bị mùi hương mê hoặc, vào thế giới vị giác không bị vị giác mê hoặc,vào thế giớixúc giác chẳng bị xúc giác mê hoặc,vào thế giới pháp trần chẳngbị pháp trần mê hoặc. Sở dĩ được như vậy là vì đứcPhậtđã thấu suốt 6 thứ sắc thanh hương vị xúc pháp đều là không tướng, cho nên Ngài không bị chúng trói buộc.

phật thập nhất trì

(佛十一持) Mười một phưong thức trụ trì của đức Phật: 1. Phật trì: Thân sắc tướng của Như lai trụ trì nơi thế gian có năng lực làm cho hạt giống Phật trong chúng sinh không bị dứt mất. 2. Pháp trì: Pháp pháp tính của Như lai trụ trì nơi thế gian có năng lực làm cho hạt giống pháp của chúng sinh không dứt mất. 3. Tăng trì: Như lai ứng hóa Bồ tát Thánh tăng trụ trì nơi thế gian, có năng lực làm cho hạt giống tăng của chúng sinh không bị đoạn diệt. 4. Nghiệp trì: Như lai thấy các chúng sinh tạo tác ác nghiệp, cho nên thị hiện thế lực mạnh mẽ buộc phải tu thiện, như vua Vô yếm túc giả hiện tạo ác nghiệp để giáo hóa các chúng sinh. 5. Phiền não trì: Như lai thấy các chúng sinh làm các hạnh tà, tham đắm phiền não, nên tùy theo loài ấy mà thị hiện tham dục, như đối với người con gái Bà tu mật đa giả làm việc dâm dục, khiến cô ta nhập thiền định mà diệt trừ phiền não. 6. Thời trì: Khi Như lai mới phát tâm, lấy đại nguyện Bồ đề làm thể, luôn luôn tưới tẩm, không lúc nào gián đoạn. 7. Nguyện trì: Thủa xưa, lúc Như lai còn ở địa vị tu nhân, phát thệ nguyện rộng lớn, tu các công đức, giữ gìn không để mất. 8. Cúng dường trì: Thủa quá khứ, lúc Như lai trong giai đoạn tu hành, đã đem các vật cúng dâng lên các đức Như lai trong 10 phương để cúng dường. 9. Hành trì:Thủa xưa, Như lai siêng tu hết thảy diệu hạnh thù thắng, vô lượng vô biên không hề nhàm chán. 10. Kiếp trì: Trong vô lượng kiếp, Như lai đã tu đầy đủ các công đức phạm hạnh mà chứng được quả, trụ trì qua nhiều kiếp, giáo hóa chúng sinh. 11. Trí trì: Như lai tròn đủ công hạnh, chứng được Nhất thiết chủng trí, rồi dùng trí tuệ biệntài nói tất cả pháp, điều phục chúng sinh, không để lui mất. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.52; Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.23].

phật thập túc duyên

(佛十宿緣) Mười duyên xấu ở kiếp trước của đức Phật mà sau khi tu hành thành đạo, Phật vẫn còn phải trả quả báo. Cứ theo kinh Phật thuyết hưng khởi hạnh thì 10 túc duyên ấy là: 1. Tôn đà lợi báng Phật duyên (bị Tôn đà lợi chê cười nói xấu): Trong 1 kiếp quá khứ, ở thành Ba la nại có 1 người chơi bời tên Tịnh nhãn và 1 dâm nữ tên Lộc tướng. Tịnh nhãn dụ dỗ Lộc tướng đưa vào rừng cây cùng nhau hành lạc, xong việc, Tịnh nhãn giết chết Lộc tướng và đem xác chôn bên cạnh ngôi am của vị Bích chiphật, làm cho vị này bị tội chết. Sau, Tịnh nhãn tự thú tội và bị nhà vua giết chết. Tịnh nhãn lúc bấy giờ nay chính là Phật Thích ca và Lộc tướng tức là Tôn đà lợi. Do tội duyên ấy mà đã trải qua trăm nghìn kiếp, chịu vô lượng khổ, đến nay tuy đã thành Phật nhưng ảnh hưởng của hành động tội ác ấy vẫn còn dây dưa sót lại, cho nên Phật bị nàng Tôn đà hủy báng. 2. Xa di bạt Phật duyên (bị Xa di bạt hủy báng): Trong 1 kiếp quá khứ xa xưa, có 1 người Bà la môn tên Diên như đạt, dạy dỗ 500 đứa trẻ. Bấy giờ người vợ của 1 Bà la môn Phạm thiên tên là Tịnh âm, thường cúng dường Diên như đạt. Sau có 1 vị Bích chi phật vào thành phố khất thực, Tịnh âm liền đem thức ăn ngon cúng dường vị Bích chi phật, Diên như đạt thấy thế khởi tâm ghen ghét và sai bọn trẻ con vu khống Bích chi phật tư thông với Tịnh âm. Sau, vị Bích chi phật hiện thần biến nhập diệt, lúc đó mọi người mới biết âm mưu dối trá của Diên như đạt. Diên như đạt nay chính là Phật Thích ca, Tịnh âm tức là Xa di bạt và 500 trẻ con nay chính là 500 vị La hán vậy. Do tâm ghen ghét, mưu toan hại người, đã phải chịu khổ báo trong nhiều kiếp, đến nay tuy đã thành Phật, nhưng Phật vẫn còn bị Xa di bạt hủy báng. 3. Phật hoạn đầu thống duyên (bị nhức đầu): Trong đời quá khứ lâu xa, ở phía đông thành La duyệt kì có thôn Chi việt, nhân dân đông đúc. Phía đông thôn này có nhiều ao cá, vì nạn đói kém nên dân trong thôn đưa vợ con đến các ao bắt cá để ăn, cá nhảy lên bờ ao, trẻ con lấy gậy đập đầu cá. Dân chúng thôn Chi việt bắt cá nay chính là dòng họ Thích, trẻ con đập đầu cá nay là Phật Thích ca, con cá trạch trong ao nay là vua Lưu li. Vì túc nghiệp đập đầu cá nên nay dầu đã thành Phật nhưng đức Thế tôn vẫn còn chịu khổ báo nhức đầu khi vua Lưu li đánh giết những người dòng họ Thích. 4. Phật hoạn cốt tiết phiền đống duyên (bị đau từng đốt xương): Trong kiếp quá khứ, tại thành La duyệt kì, có người con của 1 trưởng giả bị bệnh nặng, mời 1 thầy thuốc giỏi trong thành đến chữa trị, hứa trả công hậu. Nhưng sau khi hết bệnh, không trả chi cả. Sau bệnh tái phát, lại mời thầy cũ, cũng hứa trả tiền, nhưng rồi không trả. Cứ như thế đến 3 lần chữa lành bệnh mà thầy thuốc không được báo đền. Ít lâu, người con trưởng giả lại đau, lần này ông thầy cho uống thuốc độc, bệnh thêm trầm trọng và người bệnh chết liền. Thầy thuốc nay chính là Phật Thích ca, còn người bệnh thì nay là Đề bà đạt đa. Đức Thế tôn vì túc duyên ấy mà phải chịu khổ báo trong nhiều kiếp, nay tuythành Phật nhưng dư báo vẫn còn, nên Ngài luôn bị đau khớp xương. 5. Phật hoạn bối thống duyên(bị đau lưng): Trong kiếp quá khứ xa xưa, vào dịp lễ tết, có 2 lực sĩ, 1 thuộc dòng Sát đế lợi, 1 thuộc dòng Bà la môn, thi đấu với nhau. Lực sĩ Bà la môn bảo lực sĩ Sát đế lợi đừng đánh mình thua và hứa sẽ trả nhiều tiền. Nhưng sau lực sĩ Bà la môn không trả, cứ thế 3 lần đều nuốt lời hứa. Đến hội tết sau lại đọ sức nữa, lực sĩ Sát đế lợi bèn đánh lực sĩ Bà la môn chết ngay trên đấu trường, nhà vua cả mừng, ban cho lực sĩ Sát đế lợi 10 vạn đồng tiền vàng. Lực sĩ Sát đế lợi lúc bấy giờ nay chính là Phật Thích ca, còn lực sĩ dòng Bà la môn thì nay chính là Đề bà đạt đa. Kiếp trước vì tham tiền nổi nóng, đánh chết lực sĩ, phải chịu nhiều khổ báo, nay tuy đã thành Phật nhưng túc duyên vẫn còn, nên Phật bị khổ báo đau lưng. 6. Phật bị mộc thương thích cước duyên (bị cây cọc gỗ nhọn đâm vào chân): Trong kiếp quá khứ xa xưa, có 2 thuyền trưởng vượt biển tìm của báu, bỗng gặp sóng gió bèn tranh giành thuyền của nhau nên 2 bên kịch chiến, thuyền trưởng Ất dùng cây giáo đâm vào chân của thuyền trưởng Giáp và người này chết liền tại chỗ. Thuyền trưởng Ất nay chính là Phật Thích ca, còn thuyền trưởng Giáp thì nay là Đề bà đạt đa. Vì nhân duyên ấy, chịu các khổ báo, nay tuy đã thành Phật nhưng dư báo vẫn còn, nên Phật bị cọc gỗ nhọn đâm vào chân. 7. Phật bị trịch thạch xuất huyết duyên(bị ném đá chảy máu): Trong kiếp quá khứ, ở thành La duyệt kì có người con trưởng giả tên là Tu ma đề. Tu ma đề có người em cùng cha khác mẹ tên là Tu da xá. Sau khi người cha là Tu đàn chết, Tu ma đề không muốn chia gia tài cho em, bèn rủ em cùng vào núi Kì xà quật, khi lên đến chỗ sườn núi cao, Tu ma đề liền đẩy em xuống núi và người em chết ngay tại chỗ. Tu ma đề nay chính là Phật Thích ca, còn Tu da xá thì nay chính là Đề bà đạt đa. Vì nhân duyên này, đức Thế tôn đã phải chịu khổ quả trong nhiều kiếp, nay tuy đã được làm Phật nhưng dư báo vẫn còn, cho nên Ngài bị ném đá chảy máu. 8. Phật bị Chiên sa hê vu báng duyên (bị Chiên sa buộc bát nơi bụng vu khống): Trong 1 kiếp quá khứ lâu xa, có đức Phật hiệu là Tận thắng Như lai, trong hội của Ngài có2 vị tỉ khưu, 1 vị tên là Vô thắng, 1 vị tên là Thường hoan. Bấy giờ trong thành Ba la nại có người vợ của trưởng giả Đại ái tên là Thiện huyễn. Hai vị tỉ khưu Vô thắng và Thường hoan hay đến nhà Thiện huyễn khất thực. Tỉ khưu Vô thắng đã dứt hết phiền não nên được cúng dường nhiều hơn, còn tỉ khưu Thường hoan thì chưa đoạn hết phiền não, nên được cúng dường ít hơn. Tỉ khưu Thường hoan bèn sinh tâm ghen ghét, nên vu khống Vô thắng là tư thông với Thiện huyễn. Tỉ khưu Thường hoan nay chính là Phật Thích ca, còn Thiện huyễn thì nay chính là Chiên sa. Vì nhân duyên này mà đức Thế tôn đã phải chịu nhiều quả báo khổ não, nay tuy đã được làm Phật nhưng dư báo vẫn còn, nên khi đức Phật đang nói pháp cho các ngoại đạo và vua quan nghe thì bị 1 cô gái chanh chua độn bụng chửa đến vu oan cho Ngài. 9. Phật thực mã mạch duyên (phải ăn thóc dành để nuôi ngựa): Trong kiếp quá khứ, có đức Như lai Tì bà diệp, khi Ngài nhận sự cúng dường ở trong thành Bàn đầu ma bạt xong, Ngài lấy 1 ít thức ăn mang về cho vị tỉ khưu bị bệnh ở tinh xá, khi đi ngang qua chỗ 1 người Bà la môn, người này thấy thức ăn Ngài đang mang theo rất thơm ngon, liền có ý ghen tức và nói với Ngài rằng: Ông sa môn đầu trọc chỉ đáng ăn lúa dành để nuôi ngựa, chứ không đáng ăn của ngon lành như thế này. Rồi người Bà la môn lại bảo 500 đứa trẻ cùng nói như vậy. Người Bà la môn nay chính là Phật Thích ca, 500 đứa trẻ tức là 500 vị La hán. Vì nhân duyên này mà đức Thế tôn đã phải chịu nhiều khổ não, nay tuy đã thành Phật nhưng dư báo vẫn còn, cho nên đức Như lai và 500 vị La hán phải ăn thóc dành để nuôi ngựa ở ấp Tì lan suốt 90 ngày. 10. Phật kinh khổ hạnh duyên (chịu 6 năm khổ hạnh): Trong 1 kiếp quá khứ, ở gần thành Ba la nại có người con Bà la môn, tên Hỏa man và con của 1 người thợ gốm, tên Hộ hỉ. Một hôm, Hộ hỉ rủ Hỏa man cùng đến yết kiến đức Ca diếp Như lai, nhưng Hỏa man bảo đến gặp lão trọc đầu ấy làm gì? Ba lần Hộ hỉ rủ Hỏa man, 3 lần Hỏa man đều trả lời như thế. Mấy ngày sau, Hộ hỉ lại rủ Hỏa man lần nữa, Hỏa man đành phải chiều lòng bạn mà đi. Khi đến nơi, Hỏa man thấy tướng hảo của đức Như lai, sinh tâm vui mừng, bèn xuất gia học đạo. Hỏa man nay chính là Phật Thích ca, còn Hộ hỉ tức thiên tử Tác bình – người lúc nửa đêm đến báo giờ cho Thái tử Tất đạt đa vượt thành xuất gia. Do túc duyên nói những lời xấu ác đối với đức Phật Ca diếp mà đức Thế tôn đã phải chịu nhiều khổ báo, nay tuy sắp thành Phật, nhưng dư báo vẫn còn, cho nên phải chịu khổ hạnh trong 6 năm để trả nghiệp.

phật thế

(佛世) Chỉ cho thời đại đức Phật đang còn tại thế giáo hóa chúng sinh. Nhưng muốn gặp được Phật tại thế rất khó, đó là 1 trong 8 nạn của chúng sinh. (xt.Bát Nạn).

Phật Thế Tôn

佛世尊; C: fóshìzūn; J: butsuseson;|Đức Phật được tôn quý ở thế gian. Một trong Mười danh hiệu của đức Phật, phiên âm là Bạc-già-phạm (蒲伽梵; s: bhagavān).

Phật thị

佛氏; C: fóshì; J: busshi.|Những nhà tư tưởng Phật giáo, triết gia Phật giáo, những người tu tập theo đạo Phật.

Phật thị tạp biện

佛氏雜辨; C: fóshì zábiàn; J: busshi zōben; K: pulsshi chappyǒn.|Luận chiến phê phán đạo Phật vào thế kỉ thứ 14 từ phía Nho giáo của Trịnh Đạo Truyền (鄭道傳; k: chǒng tojǒn, bút danh là Tam Phong 三峰; k: sambong, 1342-1398). Trong tác phẩm nầy, ông đưa ra những vấn đề bao quát nhất để bài xích Phật giáo, tách riêng ra phần giáo lí và thực hành để phê bình chi tiết. Ông Trịnh cho rằng tác phẩm nầy được viết ra một cách khách quan để bài bác Phật giáo, tất cả là »để khỏi bị phá hoại nền đạo đức và cuối cùng là nhân tính.« Mức độ cuộc tấn công Phật giáo của Phật thị tạp biện bao gồm một tóm tắt đầy đủ về những lí lẽ khác nhau của các nhà Nho giáo và Tân Nho giáo từ thời kì Phật giáo du nhập vào Đông Á thế kỉ thứ 2. Các lí lẽ được trình bày thành 18 chương, mỗi chương phê phán mỗi khía cạnh riêng biệt về giáo lí hay thực hành của đạo Phật.

phật thọ

(佛壽) Chỉ cho tuổi thọ 1 đời của đức Thế tôn, hoặc chỉ cho thọ lượng của đức Thế tôn đã thành Phật từ lâu xa hoặc thọ lượng của đức Phật Thích ca sau này.

phật thọ tứ dụ

(佛壽四喻) Bốn thí dụ về tuổi thọ của đức Phật nói trong kinh Kim quang minh quyển 1. 1. Hải trích dụ (dụ giọt nước biển): Nếu đếm giọt nước của tất cả các sông thì ta có thể biết được, nhưng tuổi thọ của đức Phật thì không biết được. 2. Sơn cân dụ (dụ cân núi): Dùng cân mà cân các núi Tu di thì có thể biết được trọng lượng của chúng, nhưng tuổi thọ của đức Phật thì không thể lường được. 3. Địa trần dụ (dụ bụi của đất): Ta có thể biết được số bụi nhỏ của tất cả đại địa, nhưng tuổi thọ của đức Thế tôn thì không thể tính được. 4. Hư không giới dụ(dụ cõi hư không): Cõi hư không còn có thể có giới hạn, nhưng tuổi thọ của đức Phật thì không thể tính toán được. [X. kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.1].

phật thụ

(佛授) Pàli: Buddhadatta. Cao tăng Ấn độ, người nước Chu la (The Kingdom of Cola), thành Ưu la già (Pàli: Uragapura), Nam Ấn độ, sống vào thế kỉ V. Sư từng đến Tích lan trụ ở Đại tự (Pàli: Mahàvihàra), nghiên cứu Phật học, sau đó, sư về Ấn độ ở trong 1 tăng viện của giáo phái Tì nữu (Phạm: Vaiwịava) do Kiwịadàsa – nhà cải cách tông giáo – xây dựng, chuyên việc soạn thuật. Cứ theo Luật quyết định (Pàli: Vinaya - vinicchaya, cũng gọi Tì nại da quyết trạch luận) thì lúc trên đường từ Tích lan trở về Ấn độ, sư đã gặp ngài Phật âm; sư có xin ngài 1 bộ sách chú thích Tam tạng và ngài đã tặng sư bộ sách ấy. Sư bèn trích lấy những phần cốt yếu trong bộ sách của ngài Phật âm mà biên soạn thành Luật quyết định và Nhập a tì đạt ma luận (Pàli: Abhidhammàvatàra), rất được các học giả đương thời kính trọng. Ngoài 2 tác phẩm trên, sư còn có: Thượng thắng quyết định (Pàli: Uttaravinicchaya), Sắc phi sắc phân biệt (Pàli: Rùpàrùpa-vibhàga), Diệu nghĩa duyệt ý (Pàli: Madhurattha-vilàsinì, sách chú thích Phật chủng tính. [X. A History ofPàliLiterature, by B.C. Law; Dictionary of PàliProper Names, by G.P.Malalasekera].

phật thụ kí tự

(佛授記寺) Chùa ở thành Lạc dương, do ngài Hoài nghĩa xây dựng vào đời Đường. Các vị cao tăng từ Ấn độ đến Trung quốc, phần nhiều trụ ở chùa này để dịch kinh. Năm Trường thọ thứ 2 (693), ngài Bồ đề lưu chí dịch kinh Bảo vũ ở chùa này. Tháng 5 niên hiệu Chứng thánh năm đầu (695), ngài Thực xoa nan đà đến Trung quốc, lúc đầu ngài trụ ở chùa Đại biến không, ít lâu sau cũng dời về chùa này để dịch kinh Hoa nghiêm. Lúc ngài Nghĩa tịnh từ Ấn độ về nước, mang theo nhiều kinh điển tiếng Phạm, tranh tượng và xá lợi Phật... đều được cất giữ ở chùa này. Nữ hoàng Vũ hậu Tắc thiên từng đến đây lễ Phật và cúng dường trai soạn chư tăng, đồng thời quan sát việc dịch kinh. Năm Thánh lịch thứ 2 (699), bộ kinh Hoa nghiêm 80 quyển, do ngài Thực xoa nan đà dịch, được hoàn thành, ngài Pháp tạng liền vâng sắc giảng bộ kinh này. Các ngài Minh thuyên... cũng soạn Vũ chu san định chúng kinh mục lục 15 quyển tại chùa này. Đây là ngôi chùa nổi tiếng nhất ở thành Lạc dương thời bấy giờ. [X. Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.15; Hoa nghiêm kinh truyện kí Q.1; Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh cảm ứng truyện; Khai nguyên thích giáo lục Q.7,9;Tống cao tăng truyện Q.1–6; Hoài nghĩa truyện trong Cựu đường thư liệt truyện 133].

phật thụ nha

(佛樹牙) Cũng gọi Phật thụ vương nha. Giai vị tu hành của Sơ địa tịnh bồ đề tâm trong Mật giáo. Nha là mầm non của cây. Vì tất cả chúng sinh đều có Phật tính, cho nên khi chưa tu hành thì cũng đã có tâm bồ đề, đó tức là tâm bồ đề sẵn có, có thể được xem như hạt giống (chủng tử). Trái lại, tâm bồ đề nhờ đã trải qua công phu tu hành mà dần dần nảy mầm thì là tâm bồ đề tu sinh (do tu mà nảy sinh), có thể được xem là mầm (nha). Bởi thế, Mật giáo thường dùng từ Phật thụ nha (mầm cây Phật) để gọi giai vi tu hành Sơ địa tịnh bồ đề tâm. Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 592 thượng) nói: Khi hành giả bắt đầu mở toang kho báu kim cương thì thấy tâm tính này như hư không thanh tịnh, vượt ngoài các số lượng, lúc bấy giờ tâm ấy lìa nghiệp nhân mà sinh, là mầm cây Phật nảy sinh (Phật thụ nha sinh).

Phật thừa

xem Ba thừa. ; 佛乘; S: buddhayāna; cũng còn được gọi là Nhất thừa (s: ekayāna);|»Cỗ xe duy nhất«, giáo pháp cao tột đưa đến Giác ngộ và Phật quả.

phật thừa

(佛乘) I. Phật Thừa. Phạm: Buddha-yàna. Cũng gọi Bồ tát thừa, Đại thừa, Như lai thừa. Chỉ cho Bồ tát thừa. Vì Bồ tát tu đạo mục đích là cầu thành Phật, cho nên đối lại với 2 thừa Thanh văn và Duyên giác mà gọi Bồ tát thừa là Phật thừa. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.45; phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa Q.2]. (xt. Bồ Tát Thừa). II. Phật Thừa. Chỉ cho các kinh Hoa nghiêm và Pháp hoa. Vì giáo pháp của các kinh này nói hết thảy chúng sinh đều có khả năng thành Phật, cho nên gọi 2 kinh này là Phật thừa. Lại vì pháp này không chia Nhị thừa, Tam thừa mà chỉ nói 1 pháp thành Phật duy nhất, cho nên cũng gọi Nhất thừa. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 140) ghi: Như lai chỉ dùng Nhất Phật thừa để nói pháp cho chúng sinh. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1; Tam tạng pháp số Q.32].

phật thừa giới

(佛乘戒) Giới luật của người dốc chí cầu quả vị Phật thụ trì. Tức giới luật được nói trong kinh Phạm võng. [X. phẩm Học xứ kinh Đại nhật]. (xt. Giới).

phật tiền

(佛錢) Tiền thuộc về Phật. Trong các chùa viện, những vật của Phật, của pháp, của tăng không được tùy tiện dùng lẫn lộn. Chẳng hạn như tiền thập phương dâng cúng Phật, chỉ được dùng để sửa sang tượng Phật, chứ tuyệt đối không được sử dụng vào việc khác.

Phật toạ

佛座|Nơi Phật ngồi, cái nền Phật ngồi. Phật toạ được trình bày trong tranh tượng phần lớn dưới ba dạng: 1. Sư tử toạ, 2. Liên hoa toạ và 3. Tu-di toạ.|Sư tử là chúa tể của loài thú, biểu hiện của Thế giới vương và năng lực chinh phục được tất cả của Phật pháp. Hoa sen là biểu hiện của sự tinh khiết, vô cấu nhưng đôi lúc cũng được xem là biểu tượng của vũ trụ và vị Phật ngồi trên đó được hiểu như một Vũ trụ vương, hiện thân của thể tính tuyệt đối, của Chân như. Dạng liên hoa toạ được tìm thấy lần đầu trong nghệ thuật Càn-đà-la (gan-dhāra) ở thế kỉ 3-4. Dạng ngồi thứ ba được tìm thấy trong nghệ thuật Trung Quốc và Nhật Bản. Phật ngồi trên núi Tu-di và núi này có dạng như một đồng hồ cát, tức là ở chính giữa hẹp hơn ở hai đầu.|Thỉnh thoảng người ta cũng trình bày đức Phật ngồi trên thân xoắn lại của một con rắn chín đầu và chín đầu này vươn qua khỏi đầu của đức Phật để bảo vệ Ngài. Một cách trình bày khác là hai con nai quì đối nhau trước chỗ Phật ngồi, ở giữa có một bánh xe pháp (Pháp luân). Cách trình bày này nhắc lại lần Phật chuyển pháp luân tại Lộc uyển, thuyết giảng Phật pháp cho năm vị Tỉ-khâu.

phật trang nghiêm cảnh giới tam muội

(佛莊嚴境界三昧) Chỉ cho Tam muội trụ trong thể tự chứng chân thực của chư Phật. Phật cảnh giới là cảnh giới chân thực mà chư Phật tự chứng được. Trang nghiêm nghĩa là cái thể Như lai tự chứng được trang nghiêm bằng vô lượng công đức. Cứ theo phẩm Phổ thông chân ngôn tạng trong kinh Đại nhật quyển 2 thì Bồ tát Phổ hiền từng trụ trong Tam muội này mà tuyên thuyết chân ngôn Vô ngại lực. [X. Đại nhật kinh sớ Q.10].

phật tri kiến

(佛知見) Phạm: Tathàgatajĩàna-darzana. Chỉ cho sự thấy biết của chư Phật Như lai, thấu suốt lí mầu nhiệm của thực tướng các pháp. Kinh Pháp hoa (Đại 9, 7 thượng) nói: Chư Phật Thế tôn chỉ vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện ở đời: Chư Phật Thế tôn muốn làm cho chúng sinh khơi mở tri kiến Phật để được thanh tịnh nên xuất hiện nơi đời; muốn chỉ bày cho chúng sinh thấy được tri kiến Phật nên xuất hiện ở đời, muốn khiến cho chúng sinh tỏ ngộ được tri kiến Phật nên xuất hiện ở đời; muốn làm cho chúng sinh nhập vào tri kiến Phật nên xuất hiện ở đời. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2,9; Ma ha chỉ quán Q.3; Pháp hoa văn cú kí Q.4, hạ; Tứ giáo nghĩa Q.12].

Phật Triết

(佛哲, Buttetsu, ?-?): còn gọi là Phật Triệt (佛徹, Buttetsu), vị tăng sang Nhật Bản dưới thời đại Nại Lương (奈良, Nara), xuất thân vùng Lâm Ấp (林邑, Nam bộ Việt Nam, Huế). Ông đến miền Nam Ấn Độ, theo học với Bồ Đề Tiên Na (菩提僊那) và sở trường về chú thuật. Trong khoảng thời gian niên hiệu Khai Nguyên (開元, 713-741) nhà Đường, ông theo Bồ Đề Tiên Na sang Trung Quốc. Đến năm thứ 8 (736) niên hiệu Thiên Bình (天平), thể theo lời thỉnh cầu của vị tăng Nhật Bản sang nhà Đường là Lý Kính (理鏡) và vị Chánh Sứ Đa Trị Tỉ Quảng (多治比廣), ông cùng với thầy sang Nhật, đến trú tại Đại An Tự (大安寺, Daian-ji), chuyên tâm truyền dạy Nhã Nhạc Lâm Ấp, các điệu múa Bồ Tát, Bạt Đầu, v.v. Nhạc Lâm Ấp là một bộ môn trong Nhã Nhạc khúc; và tương truyền 7 khúc ngoại trừ Vạn Thu Nhạc (萬秋樂) trong Lâm Ấp Bát Nhạc (林邑八樂, gồm Bồ Tát [菩薩], Lăng Vương [陵王], Ca Lăng Tần [迦陵頻], An Ma [安摩], Bội Lư [倍臚], Bạt Đầu [拔頭], Hồ Ẩm Tửu [胡飲酒] và Vạn Thu Nhạc [萬秋樂]) đều do Phật Triết truyền vào. Nhạc Lâm Ấp từng được diễn tấu trong lễ Hội Khai Nhãn Tượng Đại Phật (大佛開眼會, năm thứ 4 [752] niên hiệu Thiên Bình Thắng Bảo [天平勝寶]), Đại Hội Cúng Dường Tu Sửa Đầu Tượng Đại Phật (大佛佛頭修理供養無遮大會) tại Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), buổi khánh yến của triều đình hay những trai hội ở các tự viện, v.v. Đặc biệt trong lễ Hội Khai Nhãn Tượng Đại Phật, ông là vị thầy dạy các điệu múa cúng dường. Vào năm thứ 4 (809) niên hiệu Đại Đồng (大同), các nhạc sư Lâm Ấp thuộc Ban Nhã Nhạc được quy định 2 người; đến năm thứ 7 (883) niên hiệu Nguyên Khánh (元慶), họ chọn ra 107 người nhạc công Lâm Ấp, cho tiến hành diễn tập tại Đại An Tự và hong phơi các nhạc cụ Lâm Ấp vào tháng 6 hằng năm. Bản dật văn Chí Ma Quốc Phong Thổ Ký (志摩國風土記) ghi lại việc Phật Triết có phục vụ trong tế điển ở Y Thế Thần Cung (伊勢神宮, Ise Jingū) vào năm thứ 9 (737) niên hiệu Thiên Bình. Tuy nhiên, có nghi vấn cho rằng có thể đây không phải là loại hình ghi chép về phong thổ dưới thời Nại Lương mà thuộc loại ký lục khác.

phật triết

(佛哲) Cũng gọi Phật triệt. Danh tăng người nước Lâm ấp, sống vào khoảng thế kỉ VIII. Sư sang Thiên trúc (Ấn độ), thờ ngài Bồ đề Tiên na làm thầy, thông suốt mật chú. Sau, sư theo ngài Bồ đề tiên na đến Trung quốc. Năm Khai nguyên 24 (736), 2 người cùng đến Nhật bản, trụ ở chùa Đại an, dạy tiếng Phạm, rất được triều đình và dân chúng kính trọng. Năm Thiên bình thắng bảo thứ 4 (752), chùa Đông đại cử hành nghi thức Khai nhãn cúng dường Đại Phật, sư tấu vũ nhạc, truyền Bồ tát vũ, Bạt đầu vũ, Lâm ấp vũ... Sư có tác phẩm: Tất đàm chương 1 quyển.

phật truyện điển tịch

(佛傳典籍) Chỉ cho những kinh sách nói về sự tích 1 đời đức Phật, hoặc các bộ luận đứng trên lập trường giá trị tư tưởng nhân loại mà nghiên cứu, phân tích, phê bình, đánh giá các sự tích, tinh thần, giáo thuyết của đức Phật. Ngoài ra, cũng bao gồm những trứ tác với nôi dung phân loại, chỉnh lí, khảo chứng và phê phán các kinh điển, các bộ luận nói trên. Sự biên soạn những điển tịch Phật truyện cũng chịu ảnh hưởng của phương hướng truyền bá Phật giáo mà hình thành 2 hệ thống là hệ thống Phật truyện Bắc truyền Phạm ngữ, hệ thống Phật truyện Nam truyền Pàli ngữ và Phật truyện của 2 hệ thống này cũng có đôi chút khác nhau. Thông thường nội dung của Phật truyện Bắc truyền được chia làm 8 hạng mục lớn, gọi là Bát tướng thành đạo, đó là: Từ cung trời Đâu suất xuống, gá thai, đản sinh, xuất gia, hàng phục quân ma, thành đạo, quay bánh xe pháp và vào Niết bàn. Còn nội dung của Phật truyện Nam truyền thì chỉ có 4 hạng mục, gọi là Tứ đại Phật sự, đó là: Đản sinh, thành đạo, quay bánh xe pháp lần đầu tiên và vào Niết bàn. Đặc điểm của Phật truyện Bắc truyền là nóimột cách chi tiết về những sự tích của đức Phật như: Bản sinh đàm, xuất gia, thành đạo...Về những kinh điển Phật truyện trong kho tàng Hán dịch đồ sộ thì có: 1. Kinh tu hành bản khởi, 2 quyển, do 2 Ngài Trúc đại lực và Khang mạnh tường cùng dịch vào đời Đông Hán, nói về sự tích đức Phật từ đời quá khứ đến lúc hàng ma, thành đạo. 2. Kinh Thái tử thụy ứng bản khởi, 2 quyển, do cư sĩ Chi khiêm dịch ở nước Ngô đời Tam quốc, nói về Bản sinh đàm của đức Thích tôn ở đời quá khứ được đức Phật Định quang thụ kí cho đến khi thành đạo và độ cho 3 anh em Ca diếp. 3. Kinh Phổ diệu (Phạm:Lalitavistara), 8 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn, nói về đức Phật từ khi giáng sinh đến lúc quay bánh xe pháp lần đầu. 4. Kinh Phương quảng đại trang nghiêm, 12 quyển, do ngài Nhật chiếu dịch vào đời Đường, là bản dịch khác của kinh Phổ diệu. 5. Kinh Dị xuất bồ tát bản khởi, 1 quyển, do cư sĩ Nhiếp đạo chân dịch vào đời Tây Tấn, nói từ khi đức Thích tôn trải tóc và được thụ kí ở quá khứ cho đến khi 3 anh em nhà Ca diếp qui y. 6. Kinh Trung bản khởi, 2 quyển, do ngài Đàm quả và cư sĩ Khang mạnh tường cùng dịch vào đời Đông Hán, nói về các sự tích từ sau khi đức Phật quay bánh xe pháp. 7. Kinh Quá khứ hiện tại nhân quả, 4 quyển, do ngài Cầu na bạt đà la dịch vào đời Lưu tống, nói về sự tích đức Phật từ đời quá khứ làm tiên Thiện tuệ (nhân) đến khi thành đạo và giáo hóa Đại ca diếp (quả). 8. Kinh Hưng khởi hành, 2 quyển, do cư sĩ Khang mạnh tường dịch vào đời Đông Hán, nói về 10 truyện Bản sinh đàm của đức Phật. 9. Kinh Phật bản hành tập, 60 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy, Phật truyện do Pháp tạng bộ truyền. Nội dung bao gồm Bản sinh đàm, xuất gia, thành đạo, giáo hóa đệ tử của đức Phật và các truyện kí của các đệ tử... 10. Kinh Chúng hứa ma ha đế, 13 quyển, do ngài Pháp hiền dịch vào đời Tống, nói về đức Phật từ khi đản sinh đến khi cácVương tử dòng Thích ca xuất gia. 11. Phật sở hành tán (Phạm: Buddhacarita), 5 quyển, do Bồ tát Mã minh soạn, ngài Đàm vô sấm dịch vào đời Bắc Lương. Nói về sự tích đức Phật từ khi đản sinh đến khi 8 nước phân chia xá lợi. 12.KinhPhật bản hành, 7 quyển, do ngài Bảo vân dịch vào đời Lưu Tống, là bản dịch khác của Phật sở hành tán. 13. Kinh Lăng già la sát sở tập, 3 quyển, do ngài Tăng già Bạt trừng dịch vào đời Tiền Tấn, nói về sự tu hành của đức Phật ở đời trước và sự hóa độ chúng sinh của Ngài ở đời này. 14. Hữu bộ tì nại da phá tăng sự, 20 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường. Từ quyển 1 đến quyển 9 là bản dịch khác của kinh Chúng hứa ma ha đế. 15. LuậtTứ phần từ quyển 31 đến quyển 35, do các ngài Phật đà da xá và Trúc Phật niệm cùng dịch. Những kinh điển Phật truyện về phía Phật giáo Nam truyền thì có: 1. Luật tạng đại phẩm (Pàli: Mahàvagga). 2. Kinh Đại thừa niết bàn (Pàli: Mahàparinibhàna-sutta). 3. Bản sinh kinh Phật truyện (Pàli: Nidàna-kathà), do ngài Phật âm soạn. 4. Hoa man trang nghiêm sự (Pàli: Màlà-alaôkàra), nguyên văn đã bị thất lạc, chỉ còn các bản dịch tiếng Miến điện và tiếng Anh. Bản tiếng Anh do ông P. Bigandet dịch, nhan đề là: The Life or Legend of Gaudama, the Buddha of the Burmese. Về Phật truyện bằng tiếng Phạm thì có: 1. Mahàvastu (Đại sự) thiên thứ 2. 2. Saundarananda (Tôn đà la nan đà thi) dobồ tát Mã minh soạn. 3. Zatapaĩcazatikà-stotra (Một trăm năm mươi bài tán, do ngàiMàtfcetasoạn). 4. Catu#zataka-stotra (Bốn trăm bài tán, do ngài Màtfceta soạn). 5. Avadànakalpalatà (Như ý mạn dụ, do ngài Kwemendra soạn). Về Phật truyện tiếng Tây tạng thì có: 1. Bde-gsegs-gstan-pa#i-chos-byuí (Thiện thệ giáo pháp sử), tức là Lịch sử Phật giáo do ngài Bố đốn (Tạng: Bu-ston) soạn. 2. Vai-dù-rya-dkar-po#i gya#-sel (Bạch lưu li trừ tiêu). 3. Dpag-bsam ljon-bzaí (Như ý bảo thụ). 4. Lam-rim rgyud-pa#i bla-ma#i rnam-thar íag-pa (Đạo thuận truyền đăng sử truyện). 5. Dam-pa#i chos-kyi #kor-los bsgyur-ba (Chuyển chính pháp luân). Về Phật truyện do người Trung quốc soạn thì có: 1. Thích ca phổ, 5 quyển, do ngài Tăng hựu soạn vào đời Lương. 2. Kinh luật di tướng (quyển 4), do ngài Bảo xướng soạn vào đời Lương. 3. Lịch đại tam bảo kỉ (quyển 1), do cư sĩ Phí trường phòng soạn vào đời Tùy. 4. Thích ca thị phổ, 1 quyển, do ngài Đạo tuyên soạn vào đời Đường. 5. Pháp uyển châu lâm (quyển 8 đến quyển 11), do ngài Đạo thế soạn vào đời Đường. 6. Thích ca Như lai thành đạo kí, 1 quyển, do cư sĩ Vương bột soạn vào đời Đường. 7. Thích ca Như lai thành đạo kí chú, 2 quyển, do ngài Đạo thành soạn vào đời Tống. 8. Cảnh đức truyền đăng lục (quyển 1) do ngài Đạo nguyên soạn vào đời Tống. 9. Truyền pháp chính tông kí ( quyển 1), do ngài Khế tung soạn vào đời Tống. 10. Thích môn chính thống (quyển 1), do ngài Tông giám sưu tập vào đời Tống. 11. Phật tổ thống kỉ (quyển 1 đến quyển 4), do ngài Chí bàn soạn vào đời Tống. 12. Thích thị thông giám (quyển 1), do ngài Bản giác biên tập vào đời Tống. 13. Ngũ đăng hội nguyên (quyển 1), do ngài Phổtế biên tập vào đời Tống. 14. Tông môn thống yếu tục tập (quyển 1), do ngài Thanh mậu soạn vào đời Nguyên. 15. Phật tổ lịch đại thông tải (quyển 4), do ngài Niệm thường soạn vào đời Nguyên. 16. Thích thị kê cổ lược (quyển 1), do ngài Giác ngạn biên tập vào đời Nguyên. 17. Thích thị tư giám (quyển 1), do ngài Hi trọng biên tập vào đời Nguyên. 18. Thích ca Như lai hành tích, 2 quyển, do ngài Hi trọng soạn vào đời Nguyên. 19. Thích ca Như lai ứng hóa lục, 6 quyển, do ngài Bảo thành soạn vào đời Minh. 20. Ngũ đăng nghiêm thống (quyển 1), do ngài Thông dung soạn vào đời Minh. 21. Phật tổ cương mục (quyển 1), do cư sĩ Chu thời ân soạn vào đời Minh. 22. Tông thống biên niên (quyển 1,2), do ông Kỉ ấm soạn vào đời Thanh. Về những luận văn nghiên cứu Phật truyện gần đây tại Trung quốc thì có: 1. Phật truyện nghiên cứu đích văn hiến tư liệu, đăng trong Bảo giác đồng học phục san kì 1. 2. Thích ca nhất đại giáo hóa thời địa khảo, do Lữ trừng soạn, đăng trong tạp chí Đông phương tập 21, kì 2. 3. Thích ca mâu ni chi niên đại, do Doãn tán huân dịch, đăng trong tạp chí Triết học kì 1. 4. Phật đà cập kì giáo pháp, do Phổ tín sinh soạn, đăng trong Nam doanh Phật giáo tập 8, kì 4. 5. Thích ca mâu ni đích giáo dục, do ngài Thái hư soạn, đăng trong Hải triều âm tập 12, kì 8. 6. Phật truyện khảo, do Dũng kiện dịch, đăng trong Hải triều âm tập 14, kì 6. 7. Phật đà thời đại cập Nguyên thủy Phật giáo giáo lí cương yếu do Lương khải siêu soạn. 8. Phật đà đích căn bản tư tưởng, do Như bích soạn. 9. Phật bátniết bàn niên nguyệt khảo, do ngài Pháp chu soạn. 10. Đàm Phật diệt niên đại, do Lữ trừng soạn. 11. Quan ư Phật đà đích đản nhật, do Nhất đinh soạn. 12. Phật đà niên đại luận, do Lí thế kiệt soạn. 13. Lược luận Phật tổ kỉ niên dữ Vệ tắc tiết, do Vương trọng hậu soạn. (Những bài từ 7 đến 13 đều được in trong Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san). 14. Thích ca mâu ni Phật truyện, do Tịnh vân soạn. Về những tác phẩm Phật truyện hoặc nghiêncứu tại Nhật bản thì có: 1. Tam bảo hội từ (quyển 1). 2. Kim tích vật ngữ (quyển 1). 3. Phật pháp do lai tập. 4. Thích ca nhất đại truyện kí, 8 quyển, do Huyền trinh soạn. 5. Thích ca mâu ni truyện, do Tỉnh thượng Triết thứ lang soạn. 6. Thích tôn chi nghiên cứu, do Vũ khê Liễu đế soạn. 7. Phật đà truyện, do Trường tỉnh Chân cầm soạn. 8. Thích tôn chi nhân dữ tư tưởng, do Tăng cốc Văn hùng và Trung thôn nguyên biên soạn. 9. Phạm văn Phật truyện văn học chỉ nghiên cứu, do Mộc thôn Thái hiền và Bình đẳng thông chiêu soạn. 10. Thích tôn chi tân nghiên cứu, do Phan trủng Triết anh soạn. 11. Thích tôn nghiên cứu tùng thư, 7 quyển, do Sơn biên Tập học soạn. 12. Khảo chứng Thích tôn truyện, do Lập hoa Tuấn đạo soạn. 13. Phật truyện khảo, do Cao nam Thuận thứ lang soạn. 14. Phật đà sinh nhai dữ tư tưởng, do Tăng cốc Văn hùng soạn. 15. Thích ca thực truyện kí, do Y đằng Tuấn đạo soạn. 16. Nhân gian Thích tôn, do Giang bộ Áp thôn soạn. 17. Phật thân tam thập nhị tướng thuyết giáo, do Quan lại Triệt chiếu soạn. 18. Thích ca luận, do Cao kiều Ngũ lang soạn. 19. Thích ca hiện đại khảo, do Tang nguyên Chất tạo soạn thuật. 20. Phật truyện quan hệ sử liệu, do Bản nguyên Xiển giáo soạn. 21. Phật truyện tập thành, do Thường bàn Đại định soạn. 22. Thích tôn chi xuất thế dữ hiện tại, do Truy vĩ Biện khuông soạn. 23. Thích tôn dữ Nhật bản văn minh, do Cao nam Thuận thứ lang soạn. 24. Thánh giả xuất hiện chi ý nghĩa, do Kỉ niên Chính mĩ soạn. 25. Hiện đại chi tư tưởng giới dữ Thích tôn, do Tiền điền Tuệ vân soạn. 26. Đại thánh thế tôn, do Gia đằng Đốt đường soạn. 27. Thế tôn xuất thế chi bản hoài, do Quật vĩ Quán vụ soạn. Về các luận văn nghiên cứu Phật truyện của các học giả Âu Mĩ cận đại thì có: 1. Essai sur la légende du Buddha (Luận về Phật truyện) của Émile Senart (1847- 1928). Trong sách, tác giả cho rằng sự tích đức Phật có những yếu tố chân thực mà cũng có phần truyền thuyết. 2. Buddha, Sein Leben, seine Lehre, seine Gemeinde, Anh dịch: Buddha; His Life, His Doctrine, His Order (Đức Phật, cuộc đời, giáo pháp và tăng đoàn của Ngài) của Hermann Oldenberg (1854-1920). 3. La vie du Bouddha, Anh dịch: Life of the Buddha (Cuộc đời Đức Phật) của Alfred Foucher (1865-1952). 4.Màraund Buddha (Đức Phật và Ác ma) của Ernst Windish (1844-1918). 5. Buddha s Geburt und die Lehre von der Seelenwanderung (Khảo sát về niên đại đản sinh của đức Phật) của Ernst Windish. 6. Die Überlieferung von Lebensende des Buddha Gôttingen- Anh dịch: The Tradition of the Life end of the Buddha (Truyền thuyết về sự nhập diệt của đức Phật) của Ernst Waldschmidt. 7. Recherches sur la biographie du Buddha dans les Sutrapiỉaka et les Vinayapiỉakaanciens (Nghiên cứu về Phật truyện trong các tạng kinh, luật cổ) của André Bareau. 8. Histoire du bouddhisme indien, I, Louvain, 1958 (Lịch sử Phật giáo Ấn độ) của Étienne Lamotte. 9. On the first canto of Azvaghowa’s Buddhacarita (Nghiên cứu chương thứ nhứt trong Phật sở hành tán của ngài Mã minh) của Claus Vogel. 10. Gotama the Man (Bậc người Cù đàm) của bà C.A.F. Rhys Davids (1858-1942). 11. Sakya or Buddhist Origins (Thích ca hoặc nguồn gốc Phật giáo) của bà C.A.F. Rhys Davids. 12. The Light of Asia (Ánh sáng Á đông) của Edwin Arnold (1832-1904). 13. The Buddha’s Way (Giáo pháp của đức Phật) của ngài Hammalava Sadhatissa. 14. Life and Doctrine of the Buddha (Cuộc đời và những lời dạy của đức Phật) của Richard Pischel (18491908). 15. The Life and Teachings of the Buddha (Cuộc đời và những lời dạy của đức Phật) của Csoma de Kôrôs. 16. The Buddha (Đức Phật) của Joseph Victor Widmann. 17. Le Prince Siddhartha (Thái tử Tất đạt đa) của Obolonsky. 18. Buddha and Christ (Đức Phật và Chúa Jesus)của Bruno Fvieyetank. 19. The Life of the Buddha của W.W.Rockhitl. 20. The Life of the Buddha as Legend and History(Cuộc đời đức Phật như truyền thuyết và lịch sử) của E.J.Thomas. 21. Gautama the Buddha (Đức Phật Cù đàm) của Sarvenpalli Radhakrishnan. [X. Phật giáo nghiên cứu pháp đệ nhị thiên Phật truyện (Lữ trừng)].(xt. Thích Ca Mâu Ni).

Phật trí

佛智; C: fózhì; J: butchi.|Trí huệ Phật (s: buddha-jñāna). Đồng nghĩa Nhất thiết trí (一切智).

phật trí

(佛智) Phạm: Buddha-Jĩàna. Pàli: Buddha-ĩàịa. Trí tuệ của Phật, là tri kiến tối thắng vô thượng, tương đương với Nhất thiết chủng trí. Theo tông Pháp tướng Duy thức thì trí tuệ Phật có đủ 4 trí: Đại viên kính trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quan sát trí và Thành sở tác trí. [X. luận Đại trí độ Q.46, 85; luận Thập trụ tì bà sa Q.15; Tông kính lục Q.33]. (xt. Ngũ Trí, Tứ Trí).

Phật trí huệ

佛智慧; C: fózhìhuì; J: butchie;|Trí huệ Phật (s: buddha-jñāna); người có trí huệ Phật. Người giác ngộ.

phật tán

(佛贊) Những bài kệ tán thán, ca tụng đức Phật. Nếu xướng tụng sau pháp hội thì gọi là Hậu tán.

phật táng hoa

(佛喪花) Chỉ cho hoa trắng. Hoa trắng tượng trưng cho hoa của 2 cây Sa la biến thành màu trắng khi đức Thế tôn nhập diệt, giống như màu trắng của chim hạc, cho nên gọi là Phật tang hoa. Trong Thiền lâm, khi có vị tăng qua đời cũng dùng hoa trắng đặt cúng dường trước linh vị. [X. điều Vong tăng trong Thiền uyển thanh qui Q.7].

Phật tâm

佛心; C: fóxīn; J: busshin;|Có các nghĩa: 1. Tâm Phật, tâm đại từ bi; 2. Tâm Phật mà mọi chúng sinh đều vốn có; cũng như Phật tính (佛性).

phật tâm

(佛心) Tâm Phật. Có 3 nghĩa: 1. Tâm Như lai tràn đầy từ ái (đại từ bi). Kinh Quán Vô lượng thọ (Đại 12, 343 hạ) nói: Nhờ quán xét thân Phật mà thấy được tâm Phật. Tâm của chư Phật là tâm đại từ bi, dùng vô duyên từ mà nhiếp hóa chúng sinh. 2. Tâm không dính mắc vào bất cứ sự, lí nào. Luận Đốn ngộ nhập đạo yếu môn (Vạn tục 110, 422 thượng) nói: Tâm không trụ tất cả chỗ chính là tâm Phật, cũng gọi tâm Giải thoát, cũng gọi là tâm Bồ đề, cũng gọi tâm Vô sinh. 3. Tâm chân như thanh tịnh xưa nay vốn có sẵn trong mọi người.

phật tâm kinh phẩm diệc thông đại tuỳ cầu đà la ni

(佛心經品亦通大隨求陀羅尼) Gọi tắt: Phật tâm kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Bồ đề lưu chí dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung kinh này chủ yếu giải thích rõ về năng lực rộng lớn của Tâm chú trong tâm thuộc Đại tùy cầu đà la ni, đồng thời, nêu rõ năng lực bất khả tư nghị của thần chú này và các ấn khế. Quyển thượng: Trình bày về các ấn khế: Nhất thiết Phật tâm trung tâm đại đà la ni, Bồ đề tâm thành tựu, Như lai ngữ... Quyển hạ: Trình bày về sức thần thông rộng lớn của Như lai, về Tùy tâm đà la ni, về chú pháp và công năng của chú pháp...

phật tâm thiên tử

(佛心天子) Chỉ cho vua Lương vũ đế thời Nam triều. Nhà vua từng mặc ca sa giảng kinh Phóng quang bát nhã, cho nên người đời gọi ông là Phật tâm thiên tử. [X. Tắc 1, Bích nham lục].

Phật tâm tông

佛心宗; C: fúxīn-zōng; J: busshin-shū;|Một tên gọi khác của Thiền tông vì tông này chủ trương »Dĩ tâm truyền tâm« và tâm này chính là tâm (ấn) của đức Phật truyền cho Ðại Ca-diếp (s: mahākāśyapa).

phật tâm tông

(佛心宗) Tên gọi khác của Thiền tông. Danh từ này có xuất xứ từ câu Phật ngữ tâm vi tông trong kinh Lăng già. Thiền tông lấy việc không lập văn tự, không y theo kinh điển, truyền thẳng tâm ấn của Phật làm tông chỉ, vì thế nên cũng gọi là Phật tâm tông.Phần Bình xướng trong tắc 13 của Bích nham lục (Đại 48, 153 hạ) nói: Tổ thứ 15 là tôn giả Đề bà (...) Một hôm yết kiến tổ thứ 14 là tôn giả Long thụ, tổ Đề bà ném cây kim vào bát, tổ Long thụ biết ngài là pháp khí, nên truyền Phật tâm tông cho. Nhưng ngài Đạo nguyên –Tổ khai sáng của tông Tào động Nhật bản– thìcho rằng Thiền pháp do ngài đề xướng là Phật pháp chính truyền, việc tập thiền ngộ đạo đều phải lấy ngồi thiền làm tông chỉ chân chính, vì thế không nên dùng những danh xưng hẹp hòi như Thiền tông, Phật tâm tông, Đạt ma tông v.v... để gọi Thiền pháp.

phật tâm ấn

(佛心印) Ấn tâm Phật. Tâm Phật tức là chân tâm sẵn có của chúng sinh, là thể mầu nhiệm của tính đại giác, tâm này nhất định không biến đổi, như dấu ấn của thế gian, vì thế gọi là Ấn. [X. phẩm Cơ duyên trong Lục tổ đàn kinh; tắc 1 Bích nham lục].

phật tích

(佛迹) Những dấu tích của đức Phật từ đản sinh đến nhập diệt còn lưu lại. Tương truyền, trước khi đức Phật nhập diệt, có 4 nơi liên quan đến Ngài được gọi là Thánh địa, đó là: 1. Nơi Phật đản sinh: Chỉ cho vườn Lam tì ni (Phạm: Lumbinì). 2. Nơi Phật thành đạo: Chỉ cho cây Bồ đề thành Già đa (Phạm: Buddhagayà). 3. Nơi chuyển pháp luân đầu tiên: Chỉ cho vườn Lộc dã (Phạm: Mfgadàva). 4. Nơi Phật nhập niết bàn: Chỉ cho rừng Song thụ gần thành Câu thi na yết la (Phạm: Kuzinagara). Sau khi lên ngôi, vua A dục từng đến chiêm bái 4 Thánh địa này, đồng thời, xây tháp và dựng trụ đá đánh ghi những nơi ấy, cho đến 4 Thánh địa, về sau được gọi là Tứ tháp. Trong các Phật tích, 4 nơi này là quan trọng nhất. Trong kinh Phật còn kể đến 4 nơi có nhân duyên sâu đậm nhất đối với việc giáo hóa của đức Phật là thành Xá vệ (Phạm: Zràvastì), Tăng già thi (Phạm:Saíkàzya), thành Vương xá (Phạm: Ràjagfha) và Tì xá li (Phạm: Vaizàlì), 4 nơi này và 4 Thánh địa được gọi chung là Bát đại xứ (Phạm: Aỉỉha-mahàỉỉhànàni). Ngoài ra, các tinh xá Kì viên, Trúc lâm, Đại lâm trùng các... là những nơi trung tâm của giáo đoàn trong thời đại đức Phật. Sau khi đức Phật nhập diệt, xá lợi Ngài được chia ra để thờ cúng ở 8 nơi, 8 nơi ấy cũng được coi là Thánh địa. [X. Đại đường tây vực kí Q.4-7; Cao tăng Pháp hiển truyện; Thích ca phổ Q.3; Thích ca thị phổ Q.5; Thích ca phương chí di tích thiên thứ 4].

Phật tính

佛性; C: fóxìng; J: busshō; S: buddhatā, bud-dha-svabhāva;|Theo quan điểm Ðại thừa, Phật tính là thể bất sinh bất diệt của mọi loài. Vì thế, mọi loài đều có thể đạt giác ngộ và trở thành một vị Phật, không bị đời sống hiện tại hạn chế. Có nhiều quan điểm khác nhau về Phật tính, người ta tranh cãi liệu tất cả mọi loài đều có Phật tính, liệu thiên nhiên vô sinh vô tri như đất đá có Phật tính hay không.|Giữa Tiểu thừa và Ðại thừa có sự khác biệt, liệu Phật tính có thường hằng trong mọi loài hay không. Tiểu thừa hầu như không nhắc đến Phật tính, cho rằng không phải chúng sinh nào cũng có thể thành Phật. Ðại thừa xem đạt Phật quả là mục đích cao nhất, đó là thể hiện Phật tính nằm sẵn trong mọi chúng sinh, thông qua những phép tu học nhất định.|Theo Thiền tông thì mỗi chúng sinh đều có Phật tính (j: busshō), nhưng nói chung thì không tự biết và cũng không sống với sự tự hiểu biết này như một bậc giác ngộ, một vị Phật. Sự thức tỉnh này và sự sinh diệt – một biểu hiện từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc nọ của sự đồng nhất với Phật tính – chính là mục đích của Thiền.|Như vị Thiền sư hiện đại người Nhật Bạch Vân An Cốc viết thì Phật tính – cũng đồng nghĩa với Pháp tính (s: dharmatā; j: hosshō) – chính là cái mà người ta gọi trong Ðại thừa là tính Không (s: śūnyatā; j: ku). Sư dạy: »Qua kinh nghiệm giác ngộ – nguồn gốc của tất cả những giáo lí đạo Phật – người ta ngộ được thế giới của tính Không. Thế giới này – chuyển động, không có trọng lượng, vượt mọi cá thể – vượt khỏi trí tưởng tượng của con người. Vì thế nên chúng ta không thể nào hiểu được và cũng không thể nào tìm hiểu được cái tự tính chân thật của vạn vật, cái Phật tính, pháp tính của chúng. Vì tất cả những gì chúng ta có thể tưởng tượng ra được đều phải có màu sắc nên tất cả những gì chúng ta tưởng tượng về Phật tính tất nhiên là sai. Cái người ta có thể tưởng tượng được chỉ là sự phản chiếu của Phật tính – nhưng không phải Phật tính. Nhưng, mặc dù Phật tính không thể diễn bày (Bất khả thuyết), không thể nghĩ bàn (Bất khả tư nghị), chúng ta vẫn có thể tỉnh thức, chứng ngộ được nó bởi vì chúng ta bản lai là Phật tính.«

phật tính

(佛性) Phạm: Buddha-dhàtu, Buddhagotra. Cũng gọi Như lai tính, Giác tính. Chỉ cho bản tính của Phật, hoặc chỉ cho khả năng tính thành Phật, nhân tính ... , chủng tử, là tính chất bồ đề sẵn có, tên khác của Như lai tạng. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 7 (bản Bắc) thì tất thảy chúng sinh đều có Phật tính, phàm phu vì phiền não che khuất không lộ ra được, nếu dứt hết phiền não thì tính Phật tự nhiên hiển bày. Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo bộ phái chủ trương ngoài đức Phật và Bồ tát ra không ai được thành Phật, cho nên cũng không nói đến ý chỉ hết thảy chúng sinh đều có Phật tính. Nhưng theo luận Phật tính quyển 1 của Ngài Thế thân thì các bộ phái như Hữu bộ... tuy chủ trương chúng sinh không có Phật tính bẩm sinh (Tính đắc Phật tính), nhưng sau nhờ tu hành mà được Phật tính(Tu đắc Phật tính). Rồi dựa vào đó mà chia ra 3 loại chúng sinh như sau: -Nhất định không có Phật tính. -Không nhất định có Phật tính hay không cóvà -Nhất định có Phật tính. Đối với vần đề này, Phân biệt thuyết bộ lấy không làm Phật tính, tất cả chúng sinh đều lấy không làm gốc, từ không mà sinh ra, vì thế bộ này chủ trương bản tính đều có Phật tính. Luận Phật tính quyển 2 lại chia Phật tính làm 3 ngôi vị: 1. Trụ tự tính Phật tính: Chúng sinh bẩm sinh có đủ Phật tính. 2. Dẫn xuất Phật tính: Thông qua lời Phật dạy mà tu hành dẫn đến chỗ phát hiện Phật tính. 3. Chí đắc quả Phật tính: Đến quả vị Phật thì sự hiển phát Phật tính mới hoàn toàn viên mãn. Về vấn đề này, các tông phái ở Trung quốc và Nhật bản cũng có các thuyết khác nhau. 1. Tông Thiên thai lập thuyết Tam nhân Phật tính: Chính, Liễu, Duyên. a) Chính nhân Phật tính: Hết thảy chúng sinh vốn có đầy đủ Tam đế, Tam thiên. b) Liễu nhân Phật tính: Trí tuệ đạt được nhờ quán ngộ Phật lí. c) Duyên nhân Phật tính: Những hạnh lành thường làm duyên giúp cho sự phát khởi trí tuệ. Trong 3 loại nhân trên, loại thứ nhất thuộc về Tính (tiên thiên–Tính đắc) 2 loại sau thuộc về Tu (hậu thiên–Tu đắc). Nhưng xưa nay Tính và Tu vốn chẳng hai, viên dung vô ngại. Tam nhân Phật tính nếu thêm Thượng quả tính(Trí đức Bồ đề) và Quả quả tính (đoạn đức Niết bàn) vào nữa thì gọi là Ngũ Phật tính. Vì nhân quả chẳng lìa nên nhân vị và quả vị bổ túc lẫn nhau. 2. Theo tông Hoa nghiêm: Tính Phật của chúng sinh đầy đủ tất cả nhân quả, tính tướng, khả năng tính thành Phật sẵn có của các loài hữu tình là Phật tính, giác tính, khác với loài vô tình chỉ có lí chân như gọi là pháp tính chứ không phải Phật tính, cho nên tông Hoa nghiêm chủ trương chỉ có các loài hữu tình mới thành Phật được. 3. Theo Mật tông: Muôn tượng la liệt đều là pháp thân của Đại nhật Như lai, vì thế tông này lập thuyết Tất cả Phật tính (Hết thảy đều có tính Phật). 4. Tông Tam luận: Bác bỏ mọi luận thuyết có liên quan đến Phật tính, vì tông này chủ trương nói phân biệt về nhân quả tức là mê chấp, cho nên gọi Trung đạo vô sở đắc phi nhân phi quả là Phật tính. 5. Tông Pháp tướng đề xuất 2 thứ Phật tính: a) Lí Phật tính: Chỉ cho lí chân như bản thể của muôn vật. b) Hành Phật tính: Chủng tử vô lậu là nhân thành Phật hàm chứa trong thức A lại da của mọi người. Có Lí Phật tính mà không có Hành Phật tính thì cũng không thể thành Phật. Ngoài ra, tông Pháp tướng còn lập thuyết Ngũ chủng tính, tức là ngoài 3 loại Định tính của Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác ra, còn có Bất định tính và Vô tính; chủ trương chỉ có Bồ tát định tính và bất định tính mới có Hành Phật tính. 6. Thiền tông: Tuy nói chứng ngộ mày mặt thật xưa nay của chúng sinh, nhưng lại phủ định các vấn đề mê chấp Phật tính có,không, cho nên có công án Cẩu tử Phật tính (Tính Phật của con chó). 7. Tông Tịnh độ thừa nhận thuyết lí Phật tính, tuy nhiên cũng có người phủ định. Tịnh độ Chân tông của Phật giáo Nhật bản chủ trương thành Phật là nương vào sức bản nguyện của đức Phật A di đà, nghĩa là lòng tin mà Phật ban cho chúng sinh là Phật tính, đây tức là thuyết Tín tâm Phật tính. Ngoài ra, trong các kinh điển cũng thấy các từ ngữ như Phật chủng, Phật chủng tính..., ý nói đó là cái nhân để thành Phật, nhưng nội dung của các từ ngữ ấy còn tùy theo các kinh mà có khác, thông thường là chỉ cho Phật tính sẵn có của chúng sinh; hoặc chỉ cho phiền não, tâm bồ đề, sự tu hành của Bồ tát, sự xưng danh... [X. phẩm Phân biệt tà chính trong kinh Đại bát nê hoàn Q.4; kinh Niết bàn Q.28 (bản Bắc); kinh Bồ tát thiện giới Q.1; kinh Nhập lăng già Q.2,7; kinh Giải thâm mật Q.2; luận Du già sư địa Q.67; luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính Q.4; Nhiếp đại thừa luận thích Q.7 (bản dịch đời Lương); Đại thừa huyền luận Q.3; Đại bát niết bàn kinh sớ Q.25; Hoa nghiêm kinh sớ sao Q.30; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.16; Phật tính nghĩa trong đại thừa nghĩa chương Q.1; Pháp hoa huyền tán Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa Q.5, phần cuối; Kim quang minh kinh huyền nghĩa Q.thượng; Trung quán luận sớ Q.1, phần cuối]. (xt. Ngũ Tính, Phật Chủng).

phật tính dữ bát nhã

(佛性與般若) Tác phẩm, 1 quyển, do Mâu tông tam soạn, Đài loan học sinh thư điếm ấn hành. Nội dung sách này lấy 2 quan niệm Phật tính và Bát nhã làm nòng cốt, rồi dùng tư tưởng viên giáo của tông Thiên thai để phát huy triết học Phật giáo Trung quốc đến cực điểm. Tuy tác giả có trình bày về Bát nhã, Niết bàn và nghĩa lí trong các bộ luận của Bồ tát Long thụ, nhưng trọng điểm vẫn là tư tưởng nghĩa học của Phật giáo Trung quốc các đời Nam Bắc triều và Tùy Đường, đặc biệt nhấn mạnh tông Thiên thai.

Phật tính luận

佛性論; C: fóxìng lùn; J: busshōron.|Luận, gồm 4 quyển. Được xem là của Thế Thân (世親; s: vasubandhu). Chân Đế (眞諦; s: paramārtha) dịch sang Hán ngữ. Luận giải nầy trình bày rất chi tiết lí thuyết Phật tính trong 16 chương, qua 4 phương diện: 1. Nhân duyên sinh; 2. Phá chấp; 3. Hiển thể; 4. Biện tướng.|Luận giải thích như thế nào mà chúng sinh có được Phật tính, bác bỏ vọng chấp của ngoại đạo và Tiểu thừa. Tác giả trích dẫn rộng rãi kinh Thắng Man, Pháp Hoa và luận Du-già sư địa (瑜伽師地論; s: yogācāra-bhūmi-śāstra).

phật tính luận

(佛性論) Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Thế thân soạn, ngài Chân đế dịch vào đời Trần, Trung quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 31. Nội dung luận này giải thích rõ ràng nghĩa Hết thảy chúng sinh đều có Phật tính trong 3 phẩm (từ thứ 5 đến thứ 7) của luận Cứu cánhNhất thừa bảo tính. Toàn sách chia làm 4 phần: Duyên khởi, Phá chấp, Hiển thể, Biện tướng, gồm 16 phẩm, bàn về thể tướng của Phật tính, cho rằng Phật tính có 3 thứ: 1. Trụ tự tính tính: Chúng sinh phàm phu vốn có sẵn Phật tính. 2. Dẫn xuất tính: Trải qua sự tu hành mà hiển hiện Phật tính. 3. Chí đắc tính: Đạt đến quả vị Phật là viên mãn Phật tính. Lập trường của luận này nhằm làm sáng tỏ nghĩa Phật tính để đả phá chủ trương của Tiểu thừa, ngoại đạo và những người Đại thừa thiên kiến phủ nhận thuyết Tất hữu Phật tính. [X. Pháp kinh lục Q.5; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Khai nguyên thích giáo lục Q.7].

Phật tính Phật

佛性佛; C: fóxìng fó; J: busshō butsu.|»Phật như là Phật tính.« Khía cạnh thứ nhì của Tam giai giáo (三階教), đề xướng tư tưởng Phật hiện hữu trong mọi chúng sinh (普佛; Phổ Phật), chỉ rõ Phật tính là Chính nhân (Chính nhân Phật tính 正因佛性) của tất cả chúng sinh hữu tình (ngoại trừ chúng sinh vô tình).

phật túc thạch

(佛足石) Cũng gọi Phật túc tích, Phật cước thạch. Phiến đá có khắc dấu bàn chân của đức Phật trong đó biểu thị diệu tướng bánh xe nghìn nan hoa. Trông thấy dấu bàn chân của đức Phật mà tham bái thì cũng giống như tham bái sinh thân thân của đức Phật, có thể trừ diệt vô lượng tội chướng. Ở Ấn độ, Trung quốc, Nhật bản từ xưa đã có Phật túc thạch và phong tục sùng kính Phật túc thạch cũng rất phổ biến. Phật giáo Ấn độ thời kì đầu, vì tôn kính nên không dám trực tiếp đắp vẽ tượng Phật mà chỉ khắc những hình ảnh gián tiếp tượng trưng đức Phật như bánh xe pháp, cây Bồ đề, tháp, tòa cao và Phật túc thạch...Về sau được truyền đến Trung quốc, Nhật bản thì Phật túc thạch cũng trở thành đối tượng lễ bái. Cứ theo Điều hoa thị thành Ma yết đà quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 8, thì đức Phật có lưu lại dấu chân ở nước Ma yết đà, bề dài bàn chân khoảng 54 cm, bề ngang khoảng 22 cm, mỗi bàn chân đều có tướng bánh xe, 10 ngón chân đều có hoa văn. Hiện nay, ở cửa tháp Ba hách đặc (Phạm: Bharhùt) tại Ấn độ có bức phù điêu Tam đạo bảo giai đồ khắc dấu chân Phật có hình bánh xe pháp. Trong Phật túc thạch đào được ở A ma la bà đề (Phạm: Ama-ràvatì), thì thấy chính giữa bàn chân khắc hình bánh xe. Ngoài ra, còn có hình Tam bảo chương, hình chữ...(Vạn). Trong đó, loại hình bàn chân Phật có hình bánh xe là kiểu xưa nhất, còn loại hình chữ Vạn, hình Tam bảo chương là những kiểu vẽ sau này, gần giống như loại được truyền ở Trung quốc và Nhật bản hiện nay. Tại Trung quốc, vào đời Đường, Vương huyền sách từng đi sứ Ấn độ, khi về nước có mang theo Phật túc thạch mà ông đã vẽ ở thành Hoa thị về lưu truyền ở các nơi. Ngoài ra, còn có Phật túc đồ do ngài Huyền trang mang về. [X. kinh Biệt dịch tạp a hàm Q.13; luận Phân biệt công đức Q.2, Pháp uyển châu lâm Q.14, 29; Lạc dương già lam kí Q.5, Đại đường tây vực kí Q.2, 3]. (xt. Thiên Bức Luân Tướng).

Phật tưởng Phật

佛想佛; C: fóxiǎng fó; J: bussō butsu|Khía cạnh thứ tư và là phương diện cụ thể nhất của Tam giai giáo, đề xướng tư tưởng Phật hiện hữu trong mọi chúng sinh (Phổ Phật 普佛), chỉ rõ tất cả chúng sinh nên tưởng đến thể tính tối thượng của mình, đó là, như chư Phật giác ngộ viên mãn.

Phật tượng

佛像; C: fóxiàng; J: butsuzō;|Hình ảnh của đức Phật.

phật tượng

(佛像) Chỉ chung cho các tượng Phật, Bồ tát, La hán, Minh vương,chư thiên... được điêu khắc, nặn đắp hoặc vẽ. Thông thường, chỉ có các tượng được điêu khắc, nặn đắp mới gọi là Phật tượng, còn các tượng vẽ gọi là Đồ tượng. Ở Ấn độ đời xưa, việc điêu khắc hoặc đắp vẽ tượng Phật bị xem là nhạobáng thần thánh, nên chỉ vẽ hoặc điêu khắc bánh xe pháp, cây Bồ đề,dấu chân Phật... để tượng trưng cho đức Phật mà thôi. Về sau, khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi thì việc điêu khắc, đắp vẽ tượng Phật mới thịnh hành, bởi vậy, các kinh điển Đại thừa mới nói nhiều về nhân duyên và công đức tạo tượng. Phật tượng có nhiều loại, được tạo bằng nhiều tài liệu khác nhau như vàng, bạc, đồng, sắt, gỗ, đá, đất, vải, lụa... kiểu mẫu cũng rất đa dạng. Các loại tượng Phật từ xưa còn được truyền đến ngày nay thì tượng khắc bằng gỗ là nhiều nhất, như ở các di chỉ tại Kiện đà la, Mạt thố la, Ba la nại... của Ấn độ đều đào được những tượng Phật khắc bằng đá. Tại Trung quốc, vào thời Đông Tấn đến thời đại Nam Bắc triều, phong trào khắc tạo tượng Phật rất thịnh hành. Vào thời Bắc triều, ở núi Vũ châu tại Bình thành và núi Long môn ở Lạc dương đều có khắc tượng đá. Vào thời Lục triều thì ngoài tượng đá ra còn có tượng đồng, tượng sắt; đến đời Đường thì có tượng được đắp bằng đất, khắc bằng gỗ... Về hình thái tượng thì có tượng đứng, tượng ngồi, tượng dựa lưng, tượng nằm, tượng bay đi... Về chiều cao thì có tượng 1 trượng 6 thước (thân hình của đức Phật cao hơn người thường gấp bội), tượng nữa trượng 6 (tức tượng 8 thước), tượng Đại Phật (tức tượng cao trên 1 trượng 6 thước), tượng nhỏ bằng 1 gang tay rưỡi (khoảng 33 cm) tượng trưng lúc còn ở trong thai mẹ... Tượng Như lai phần nhiều là hình tỉ khưu, mặc ca sa, không đội mũ, không đeo chuỗi anh lạc... Tượng Bồ tát thì phần nhiều có thân hình trượng phu cao lớn hoặc hình nữ tính dịu dàng, đầu đội mũ báu, cổ đeo chuỗi anh lạc, là hình cư sĩ tại gia; tượng La hán là hình xuất gia, tượng Minh vương mang hình tướng phẫn nộ, còn tượng chư thiên thì có các hình tướng như: Hình vũ trang, hình người nữ, hình thần, hình quỉ, hình người trời, hình đồng tử... Theo với đà phát triển của sự truyền bá Phật giáo, nghệ thuật tạo hình tượng Phật ở Trung quốc cũng cho thấy rõ sự thay đổi có tính thời đại, nay trình bày 1 cách khái quát theo những thời kì sau đây: 1. Thời kì Ngũ hồ (16 nước-khoảng thế kỉ III, IV): Thời kì này phần nhiều tạo tượng Phật bằng đồng vàng, hình nhỏ mà chắc chắn, dễ dàng di chuyển, rất giống tượng Phật bằng gỗ đá phát hiện ở Kiện đà la thuộc Tây Bắc Ấn độ hoặc ở Ma thố la. Di vật điển hình là tượng Bồ tát đứng đúc bằng đồng mạ vàng kiểu cổ, là tượng Phật xưa nhất ở Trung quốc. Sự tạo hình là theo kiểu điêu khắc ở Kiện đà la, biểu hiện phong cách quê mùa mộc mạc, pha vẻ dữ tợn, tiêu biểu cho thẩm mĩ quan của các dân tộc du mục phương Bắc. 2. Thời kì Vân cương (460-493): Lấy 5 hang Đàm diệu làm trung tâm mà khắc tạo vài mươi vạn tượng Phật, trong đó, tượng Bản tôn (đức Phật Thích ca) tuy vẫn giữ được phong cách Kiện đà la và Ma thố la, nhưng do sự đơn thuần hóa những đường nét và bộ diện mà tạo thành đôi má đầy đặn, cặp mắt dài và sắc, sống mũi thẳng, đôi môi dày và mỉm cười, tai to, vai rộng, cổ thô... hiển bày cái tướng mạo Đại trượng phu cương nghị mà hồn hậu, biểu hiện đầy đủ khí phách mạnh bạo của dân du mục. Nhưng đến cuối thời kì thì hình thức biểu hiện đã khác với Tây vực và Ấn độ; áo mặc đã đổi ra tay rộng, vạt dài, trang sức đẹp đẽ, nét khắc cân đối chỉnh tề. 3. Thời kì Long môn (494-550): Nhờ chất đá nhẵn mịn, sự tạo hình khéo léo, đôi má và thân hình đều mịn màng yểu điệu; có lẽ do quan niệm về thẩm mĩ của xã hội đã thay đổi, tạo hình thon gầy là xu hướng thời thượng, phục trang của tượng Phật cũng hướng tới phong cách Trung quốc, là cái mà Ấn độ và Tây vực chưa thấy. 4. Thời kì Tề Chu (551-580): Lấy kiểu dáng Thiên hưởng của núi Thiên long và núi Hưởng đường làm đại biểu. Đặc sắc lớn nhất của thời kì này là dáng tượng thân gầy má dài lại đổi làm má tròn, nhưng không được rõ ràng như Tượng Vân cương Bắc Ngụy (460-493) Tượng Vân cương Bắc ngụy (460-493) Tượng Long môn Bắc Ngụy (494-550) Tượng Tề Chu (551-580) thời kì Vân cương. Ngoài ra, còn chịu ảnh hưởng của tượng Vương triều Cấp đa Ấn độ, áo mỏng lộ rõ nhục thể, biểu hiện cảm giác mềm mại, những nét khắc trang sức và mũ báu trên thân Phật cực kì tinh vi. 5. Thời kì nhà Tùy (581-617): Tạo hình nhẹ nhàng, về phong cách thì một mặt vẫn theo nghệ thuật tạo tượng của thời kì Tề, Chu, mặt khác lại khắc 3 đường nét ở cổ(cổ cao 3 ngấn), mắt mũi và môi miệng tạo thành bộ diện gãy cong, chẳng hạn như tượng ở động Dược phương của núi Long môn và hang thứ 8 ở núi Thiên long. Tạo hình đại khái chiếu theo thân thể loài người với những nét tả thực. Ngoài ra, mũ báu và phục sức trên thân tượng rất sặc sỡ. 6. Thời kì nhà Đường (618-750): Đầu đời Đường, sau khi hấp thu và tiêu hóa kiểu dáng Cấp đa, xuất hiện nghệ thuật tạo tượng hoàn toàn viên mãn. Trong đó, 9 pho tượng lớn như Đại Phật Lô xá na và 2 vị Bồ tát đứnghầu 2 bên ngài, La hán, Thần vương, Lực sĩ... ở chùa Phụng tiên tại Long môn là đầy đủ tính đại biểu nhất. Vẻ đẹp lí tưởng của Đại Phật là đứng về mặt ý thức thẩm mĩ của người Trung quốc mà được tạo thành. Tượng 2 vị Bồ tát đứng hầu 2 bên và tượng La hán đứng đều đã trút bỏ nét tạo hình đầu đời Đường, là những tác phẩm điển hình của nền điêu khắc cổ điển phương Đông. Thời thịnh Đường là thời kì tạo tượng phát đạt nhất của Phật giáo. Chủ yếu có 3 động là động Cực nam, động Tịnh độ và đài Lụy cổ ở hang động Vân môn. Trong đó, tượng Bồ tát đứng hầu 2 bên ở động Cực nam khác với nghệ thuật tạo tượng ở chùa Phụng tiên, thân thể thon dài mảnh dẻ, tuy đầy cảm giác thân thiết, nhưng đã mất đi cái vẻ chí tôn của tạo hình tượng Phật ở các thời kì trước. 7. Thời kì Ngũ đại về sau: Nghệ thuật tạo hình tượng Phật ở thời kì này chẳng những không vãn cứu được tình hình suy đồi của thời kì vãn Đường, trái lại, cái sức tưởng tượng siêu tự nhiên mà pho tượng Phật phải có cũng đã rất yếu ớt mong manh, cho đến đời Tống thì tượng Bồ tát đã biểu hiện vẻ đẹp mẫu tính thế gian và bình dân hóa, từ đời Nguyên về sau, không còn tác phẩm trọng yếu nào xuất hiện. [X. phẩm Tứ sự trong kinh Bát chu tam muội Q.thượng; phẩm Đàm vô kiệt Bồ tát kinh đạo hành Bát nhã Q.10; phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; kinh Đại thừa tạo tượng công đức Q.hạ; kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.8; kinhTạo tượng lượng đạc; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.11; Hữu bộ bật sô ni tì nại da Q.2; Tát bà đa tì ni tì bà sa Q.9; điều Bà la ni tư quốc trong Đại đường tây vực kí Q.7; Phật tổ thống kí Q.53; Tập Tượng đời Đường (618-780) thần châu tam bảo Tượng đời Tùy (581-617) Tượng Phật bằng các lớp vải sơn ở đời Tống Tượng đá Thích ca bằng gỗ cỡi chim công ở đời Minh cảm thông lục Q.trung; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Cổ kim đồ thư tập thành thần dị điển 90-94; Điêu tố thiên trong Chi na mĩ thuật sử, Tòng Phật tượng điêu khắc sở kiến đích tạo hình hoạt động hệ phổ (Sam sơn nhị lang)]. (xt. Phật Họa, Tòa).

phật tạng kinh

(佛藏經) Cũng gọi Phụng nhập long hoa kinh, Tuyển trạch chư pháp kinh. Kinh, 3 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào năm Hoằng thủy thứ 7 (405) đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này chia àm 10 phẩm: Phẩm Chư pháp thực tướng, phẩm Niệm Phật, phẩm Niệm pháp, phẩm Niệm tăng, phẩm Tịnh giới, phẩm Tịnh pháp, phẩm Vãng cổ, phẩm Tịnh kiến, phẩm Liễu giới và phẩm Chúc lụy, bàn về thực tướng các pháp vốn vô sinh, vô diệt, vô tướng, vô vi..., đồng thời cho rằng tỉ khưu phá giới có 10 mũi tên lo sầu, quở trách các thứ tội tướng và răn dạy về tội báo Bất tịnh thuyết pháp. Kinh này không bàn đến luật nghi của Bồ tát, đó là điểm đặc biệt không giống với các kinh giới bản khác. Nhưng lại có chủ trương nếu không lí giải được thực tướng các pháp vô sinh, vô diệt... thì dẫu có thụ trì 250 giới cũng đồng như phá giới, đồng thời cũng chủ trương có xa lìa hí luận phân biệt thì mới gọi được là trì giới. Lại vì giải thích rõ những lí do tại sao tăng đoàn Bồ tát phải biệt lập với tăng đoàn Thanh văn, cho nên kinh này được xếp vào luật điển của Đại thừa. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Đại đường nội điển lục Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.4,12,19].

phật tổ

(佛祖) Phật và Tổ sư. Nhưng Thiền tông thì cho rằng Phật tức Tổ sư, Tổ sư tức cổ Phật, cả 2 đều không sai khác. Thông thường từ ngữ Phật tổ được sử dụng để chỉ cho các bậc Tổ sư đại ngộ triệt để, đã đạt đến địa vị Phật. Phần Bình xướng trong Bích nham lục tắc 25 (Đại 48, 165 hạ) nói: Hạ một chuyển ngữ, mong báo ân Phật tổ, truyền tâm ấn Phật.

phật tổ chính pháp trực truyện

(佛祖正法直傳) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Phong ông Tổ nhất (quốc tịch không rõ, có thuyết cho là người Trung quốc, cũng có thuyết cho là người Nhật bản) biên soạn, được ấn hành vào năm Khang lịch (Nhật bản) thứ 3 (1381). Nội dung sách này nói về các sự tích tứ 7 đức Phật quá khứ đến chư tổ Ấn độ, Trung quốc. Về chư tổ Trung quốc thì từ ngài Đạt ma trở xuống đến ngài Mật am Hàm kiệt có 53 vị, cùng với chư tổ Ấn độ tổng cộng 87 vị. Thứ tự kể từ ngài Lục tổ trở xuống là Tào động, Vân môn, Pháp nhãn, rồi từ ngài Nam nhạc trở xuống đến ngài Mật am Hàm kiệt của tông Lâm tế. Phần truyện kí trong sách này, lấy cơ duyên vấn đáp làm chính yếu, đồng thời, có thêm sự tích sử truyện của Truyền đăng lục.

phật tổ chính truyền cổ kim tiệp lục

(佛祖正傳古今捷錄) Cũng gọi Cổ kim tiệp lục. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tuyết triệu Quả tính soạn vào đời Thanh được thu Vạn tục tạng tập 146. Nội dung sách này biên tập sự tích, triều đại, pháp lạp, thụy hiệu, đệ tử nối pháp... của chư tổ truyền đăng thuộc tông Lâm tế đời thứ 17, 18 ở thời đại Nguyên, Minh từ ngài Mật am Hàm kiệt đời Tống trở xuống mà các bộ Truyền đăng lục chưa ghi chép. Đồng thời, tác giả còn lược thuật cơ duyên, yếu ngữ...của chư tổ, từ ngài Đạt ma đến ngài Mật am để nói rõ về pháp hệ của các ngài. Sau mỗi truyện có phụ thêm 1 bài niêm tụng, cuối quyển có ghi chép 1 cách vắn tắt về sự truyền thừa của 4 tông Tào động, Qui ngưỡng, Vân môn và Pháp nhãn. Ngoài ra cũng chép thêm 1 bài minh tháp và 1 bài tựa của Thiền sư Phong nguyệt Diên chiểu ở Nhữ châu.

phật tổ chính tông đạo ảnh

(佛祖正宗道影) Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Thủ nhất Không thành chép lại, ấn hành vào năm Quang tự thứ 6 (1880) đời Thanh. Đây là bộ sưu tập các bức tượng vẽ đa số là của các vị tổ Thiền tông. Khoảng năm Hồng vũ (1368-1398) đời Minh, hơn 100 bức tượng của chư tổ đã được vẽ và cất giữ ở núi Ngưu đầu. Năm Vạn lịch 17 (1589), Tử bá Lão nhân viết lời tựa và ấn hành. Đến năm Sùng trinh 11 (1638), ngài Nguyên hiền ở viện Chân tịch bổ sung thêm 130 bức tượng vẽ nữa, rồi khắc in. Năm Khang hi 15 (1676) đời Thanh, ngài Tĩnh hi Khải công thu chép 166 bức, biến thành Tông Môn Chính Mạch Đạo Ảnh. Về sau, qua mấy lần chỉnh lí, thống kê thì tổng cộng có 240 bức, chia làm 4 quyển, khắc in lại. Nội dung 4 quyển như sau: - Quyển 1: Phật tổ chính tông có 39 vị. - Quyển 2: Nam nhạc chính tông có 68 vị, liệt kê tông Lâm tế, tông Qui ngưỡng. - Quyển 3: Thanh nguyên chính tông có 85 vị, liệt kê tông Tào động, tông Vân môn, tông Pháp nhãn. - Quyển 4: Giáo luật liên tông có 48 vị.

Phật Tổ Cương Mục

(佛祖綱目, Bussokōmoku): 41 quyển, do Chu Thời Ân (朱時恩) nhà Minh biên soạn, san hành vào năm thứ 7 (1634) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎) nhà Minh. Đây là bộ sách biên tập thứ tự lịch đại niên hiệu hành nghiệp và cương mục của chư Phật tổ từ khi đức Thế Tôn thị hiện đản sanh cho đến khi Vạn Phong Thời Úy (萬峰時蔚) nhà Minh qua đời, mất hết 21 năm trường từ năm thứ 38 (1610) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆). Đầu quyển có lời tựa của Đổng Kỳ Xương (董其昌), lời tựa của tác giả, phàm lệ, tổng mục lục, v.v.; quyển cuối có lời bạt của tác giả.

phật tổ cương mục

(佛祖綱目) Tác phẩm, 42 quyển, do Chu thời an biên soạn vào đời Minh, ấn hành vào năm Sùng trinh thứ 7 (1634), được thu vào Vạn tục tạng tập 140. Sách này bắt đầu được biên soạn vào năm Vạn lịch 38 (1610), mãi đến 21 năm sau mới được hoàn thành. Nội dung sách này lấy sự tích hóa đạo, hành nghị của chư Phật vàlịch đại tổ sư từ khi đức Thế tôn thị hiện thụ sinh đến khi ngài Vạn phong Thời úy thị tịch vào đời Minh làm cương mục, rồi y chiếu theo thứ tự niên hiệu các đời mà biên chép các loại sự tích trọng yếu của Phật giáo suốt dòng lịch sử lâu dài ấy. Những sự kiện Phật giáo lớn lao cùng niên đại nhìn qua đây đều thấy rõ ràng.

phật tổ hội

(佛祖會) I. Phật Tổ Hội. Gọi tắt: Phật hội. Hội thuyết pháp của Phật hoặc Tổ sư. II. Phật Tổ Hội. Chỉ cho 3 ngày giỗ Phật: - Hội Phật đản sinh (mồng 8 tháng 4). - Hội Phật thành đạo (mồng 8 tháng 12). - Hội Phật niết bàn (15 tháng 2).

phật tổ khất mệnh

(佛祖乞命) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Phật tổ xin tha mạng. Ý nói đối với những người có căn cơ sắc bén, vượt trội, Phật tổ cũng thấy khó xử. Điều thủ Sơn trúc bề trong Vô môn quan tắc 43 (Vạn tục 119, 166 hạ) nói: Dựng đứng cây trúc bề, hạ lịnh giết hay tha, quay lưng đối mặt, Phật tổ xin tha mạng.

phật tổ kị cửu bái

(佛祖忌九拜) Nghi thức vị Trụ trì lạy 9 lạy trong ngày giỗ Phật và giỗ Tổ sư. Trong Thiền lâm có 2 ngày giỗ tổ (giỗ tổ Đạt ma, giỗ tổ Bách trượng) và 3 ngày giỗ Phật (giỗ Phật nhập Niết bàn, hội Phật đản sinh và hội Phật thành đạo). Cứ theo điều Phật giáng đản trong Sắc tuBách trượng thanh qui quyển 2, vào ngày Phật đản, vịTrụ trì dâng hương lạy 3 lạy, không thu tọa cụ, bước lên phía trước dâng nước nóng và thức ăn do thị giả Thỉnh khách đưa đến và thị giả Thiêu hương bưng đặt lên bàn. Sau đó, vị Trụ trì trở lại vị trí cũ lạy 3 lạy, dâng hưong lần nữa, đặt thức ăn xuống, châm trà rồi lạy 3 lạy và thu tọa cụ. Trong toàn bộ nghi thức trên, đầu tiên vịTrụ trì dâng hương lạy 3 lạy, rồi trở về chỗ cũ lạy 3 lạy, sau cùng lạy 3 lạy và thu tọa cụ, trước sau 3 lần, tổng cộng 9 lạy, vì thế gọi là Phật tổ kị cửu bái (Giỗ Phật tổ 9 lạy).

Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải

(佛祖歷代通載, Bussorekidaitsūsai): còn gọi là Phật Tổ Thông Tải (佛祖通載, Bussotsūsai), Thông Tải (通載, Tsūsai), 22 quyển, do Mai Ốc Niệm Thường (梅屋念常) nhà Nguyên biên tập, san hành vào năm thứ 4 (1576) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆). Niệm Thường ở Đại Trung Tường Tự (大中祥寺), Gia Hưng (嘉興, Tỉnh Triết Giang), theo niên kỷ các đời vua từ thời 7 vị Phật ở quá khứ cho đến năm đầu (1333) niên hiệu Nguyên Thống (元統) nhà Nguyên, ghi lại dưới hình thức biên niên các sự tích của Phật Giáo cũng như truyền ký của chư vị cao tăng để hình thành nên tác phẩm lớn này. Trải qua những điển tịch nội ngoại, có dẫn chứng uyên bác, bộ này đã làm sáng tỏ các điển cứ cố sự và đính chính những dị luận. Bản này có lời tựa của Vi Tiếu Am Đạo Nhân Ngu Tập (微笑庵道人虞集) ghi năm đầu (1341) niên hiệu Chí Chánh (至正) và lời tựa của Giác Ngạn (覺岸) vào năm thứ 4 (1344) cùng niên hiệu trên.

Phật Tổ lịch đại thông tải

佛祖歴代通載; C: fózǔ lìdài tōngzài; J: busso rekitai tsūsai; |Tác phẩm ghi chép toàn bộ về sự truyền thừa của chư Phật và Tổ sư của sư Niệm Thường (念常, 1282-1323); gồm 22 quyển, hoàn tất vào năm 1341.

phật tổ lịch đại thông tải

(佛祖歷代通載) Gọi tắt: Thông tải, Phật tổ thông tải. Tác phẩm, 22 quyển (hoặc 36 quyển), do ngài Niệm thường (thuộc phái Dương kì tông Lâm tế) soạn vào đời Nguyên, được thu vào Đại chính tạng tập 49. Trên phương diện qui cách, sách này lấy pháp vận thông tắc chí trong Phật tổ thống kỉ của ngài Chí bàn làm bản mẫu; về nội dung thì lấy Thiền tông làm Phật giáo chính thống để trình bày lịch sử Phật giáo theo thể biên niên, khởi đầu từ 7 đức Phật quá khứ, cho đến niên hiệu Nguyên thống năm đấu (1333) đời vua Thuận đế nhà Nguyên. Mấy quyển đầu nói về 28 vị tổ dựa theo tác phẩm Cảnh đức truyền đăng lục của ngài Đạo nguyên đời Tống. Hơn 10 quyển tường thuật từ đời vua Minh đế nhà Đông Hán đến thời Ngũ đại thì sao chép từtác phẩm Long hưng Phật giáo biên niên thông luận của ngài Tổ tú đời Nam Tống; đối tượng chủ yếu của việc soạn thuật sách này là ở 2 đời Tống và Nguyên. Muốn rõ về sự khác nhau giữa dòng chính và dòng phụ, những dị luận về nhân duyên thuyết pháp, dịch kinh, các nhà hoằng giáo...thì bộ sách này rất có giá trị tham khảo.

phật tổ tam kinh

(佛祖三經) Ba bộ kinh sách của Phật và Tổ, tức Thiền tông chỉ cho 2 kinh Tứ thập nhị chương, Phật di giáo do đức Phật tuyên giảng và cuốn Qui sơn cảnh sách của ngài Linh hựu soạn. Danh mục Phật Tổ Tam Kinh có từ thời nào, đến nay chưa khảo được. Chỉ biết rằng vào thời vua Nhân tông nhà Bắc Tống, khi Thiền sư Thủ toại soạn chú sớ Tam kinh thì đã có danh mục này rồi. Trong 3 bộ trên, kinh Tứ thập nhị chương so với bản dịch của 2 ngài Ca diếp ma đằng và Trúc pháp lan cùng dịch vào đời Hậu Hán (được thu vào Đại chính tạng tập 17), thì văn kinh này hơi khác, vả lại rất đậm sắc thái Thiền. Kinh Phật di giáo do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Hậu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 12. Còn Qui sơn cảnh sách thì do ngài Linh hựu soạn vào đời Đường khi ngài trụ ở núi Qui sơn. Về các sách chú thích Phật tổ Tam kinh thì có: - Phật tổ tam kinh chú của Thiền sư Thủ toại đời Bắc Tống. - Phật tổ tam kinh chỉ nam của ngài Lâm đạo bái đời Minh. -Tam kinh giải của ngài Ngẫu ích Trí húc đời Minh. [X. Thiền tịch chí; Phật giáo tư tưởng nghiên cứu (Vũ tỉnh Bá thọ)]. (xt. Di Giáo).

phật tổ tam kinh chỉ nam

(佛祖三經指南) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Lâm đạo bái soạn vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 59. Nội dung sách này chú giải 3 bộ Tứ thập nhị chương kinh, Phật di giáo kinh và Qui sơn cảnh sách. Tác giả cho 3 bộ kinh sách này là bước đầu cơ bản của những người tu học Phật đạo và khuyên mọi người nên lấy đó làm kim chỉ nam. (xt. Phật Tổ Tam Kinh).

Phật Tổ Thông Tải

(佛祖通載, Bussotsūsai): Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải (佛祖歷代通載, Bussorekidaitsūsai) ở trên.

Phật Tổ thống kỉ

佛祖統紀; C: fózǔ tǒngjì; J: busso touki.|Biên niên sử về Đức Phật và chư Tổ; gồm 54 quyển. Chí Bàn (志磐, 1220-1275). Hoàn tất năm 1269.

phật tổ thống kỉ

(佛祖統紀) Gọi tắt: Thống kỉ. Tác phẩm, 54 quyển, do ngài Chí bàn soạn vào đời Nam Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 49. Toàn sách chủ yếu nói rõ về truyền thống của giáo học Thiên thai, lấy 2 tác phẩm Tông nguyên lục của ngài Cảnh thiên và Thích môn chính thống của ngài Tông giám đời Tống làm nền tảng, rồi theo thể kỉ truyện và biên niên mà soạn thành. Nội dung gồm: Bản kỉ, Thế gia, Liệt truyện, Biểu và Chí. -Bản kỉ (8 quyển): Ghi chép truyện đức Thích ca thành đạo, giáo hóa và truyện của 24 vị tổ Ấn độ, 9 vị tổ Trung quốc và truyện 8 vị tổ từ tổ Hưng đạo trở xuống mà tông Thiên thai tôn thờ. -Thế gia (2 quyển): Thu chép truyện kí của 198 vị cao tăng thuộc tông Thiên thai, Nam nhạc. -Liệt truyện (12 quyển): Thu chép truyện kí của 378 vị, từ ngài Từ vân đến các ngài Quảng trí, Thần chiếu, Nam bình... -Biểu (2 quyển) gồm 2 phần: 1. Trình bày biểu truyền giáo qua các đời trong khoảng thời gian hơn 530 năm, kể từ niên hiệu Thiên giám năm đầu (502) đời vua Vũ đế nhà Lương đến năm Minh đạo thứ 2 (1033) đời vua Nhân tông nhà Tống (1 quyển). 2. Đồ biểu chỉ rõ hệ thống truyền thừa của Phật tổ ở Ấn độ và Trung quốc (1 quyển). -Chí, có 9 loại: a) Sơn gia giáo điển chí, 1 quyển, ghi chép các trứ tác của tông Thiên thai. b) Tịnh độ lập giáo chí, 3 quyển, ghi chép truyện kí của tăng tục tông Tịnh độ. c) Chư gia lập giáo chí, 1 quyển, trình bày lịch sử vắn tắt về việc sáng lập các tông: Thiền, Hoa nghiêm, Pháp tướng, Luật, Mật giáo... d) Tam thế xuất hưng chí, 1 quyển, nói sơ lược về chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai. e) Thế giới danh thể chí, 2 quyển, bàn chung về chư thiên ở 8 phương trong thế giới. g) Pháp môn quang hiển chí, 1 quyển, nói về các Phật sự, tượng tháp... h) Pháp vận thông tắc chí, 15 quyển, nói về sự tích Phật giáo qua các thời đại. i) Lịch đại hội yếu chí, 4 quyển, ghi chép những sự kiện Phật giáo hưng phế qua các thời đại. k) Danh văn quang giáo chí, 2 quyển, chép những văn bia tán tụng tông Thiên thai.Sách này tôn tông Thiên thai là chính thống, việc biên chép, trình bày tuy có thiên về tông Thiên thai, nhưng vì sự lựa chọn sử liệu phong phú, biên soạn kĩ lưỡng nên xứng đáng là tư liệu tham khảo quan trọng cho việc nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Trung quốc. Trong số 54 quyển thì 2 quyển 19 và 20 chỉ còn mục lục, không còn văn truyện, tức thiếu mất truyện kí của 55 vị. Nhưng ở đoạn cuối của Pháp vận thông tắc chí trong Vạn tục tạng đã có chép bổ sung, đây có lẽ do người đời sau thêm vào. Ngoài ra, tiếp sau sách này, còn có Tục Phật tổ thống kỉ, 2 quyển, được thu vào Vạn tục tạng tập 131. Nội dung chỉ bổ sung phần Liệt Truyện, tức thêm truyện kí của 30 vị, nhưng không rõ ai đã thêm và thêm vào thời nào? [X. Duyệt tạng tri tân Q.43].

phật tổ tâm đăng

(佛祖心燈) Tác phẩm, 1 quyển (không rõ tác giả), được thu vào Vạn tục tạng tập 150. Nội dung sách này gồm 4 hạng mục: -Kệ của 7 đức Phật Tì bà thi đến Phật Thích ca mâu ni. -Kệ truyền pháp của 33 vị tổ từ tổ Ma ha ca diếp đến Đại sư Tuệ năng. -Phật tổ nguyên lưu quyết (Nguyên dòng của Phật và Tổ). -Ngũ tông thứ tự phổ (thứ tự hệ thống của 5 tông phái). Tên các vị tổ Ấn độ ghi trong sách này cũng phù hợp với Cảnh đức truyền đăng lục, nhưng khác với 28 vị tổ Ấn độ trong các sách: Phó pháp tạng nhân duyên truyện, Viên giác kinh đại sớ sao và Nội chứng Phật pháp huyết mạch phổ. Năm Quang tự 16 (1890), ngài Thủ nhất Không thành đem sách Chư gia tông phái, 1 quyển, của mình in chung với sách này, lấy tên là Tông giáo luật chư gia diễn phái.

phật tổ tông phái thế phả

(佛祖宗派世譜) Tác phẩm, 8 quyển, do ngài Giới am Ngộ tiến biên soạn vào đời Thanh, ấn hành vào năm Thuận trị 11 (1654), được thu vào Vạn tục tạng tập 147. Nội dung sách này liệt kê pháp hệ của các tổ Ấn độ, Trung quốc, 5 tông: Lâm tế, Vân môn, Tào động, Qui ngưỡng và Pháp nhãn... [X. Thiền đăng thế phổ Q.6; Kính thạch trích nhũ tập Q.5].

phật tổ tông phái đồ

(佛祖宗派圖) Chỉ chung các loại đồ biểu trình bày hệ thống các tông phái. Thông thường đem thứ tự truyền pháp thừa kế nhau từ 7 đức Phật quá khứ, đức Thích tôn cho đến các tổ Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản, vẽ thành đồ biểu, chỉ rõ pháp hệ của các tông, loại đồ biểu này được gọi chung là Phật tổ tông phái đồ. Chẳng hạn như Phật tổ tông phái thế phổ, Phật tổ tông phái cương yếu, Phật tổ chính truyền tông phái đồ, Chính ngộ Phật tổ chính truyền tông phái đồ...đều là những trứ tác thuộc loại này.

phật tổ vấn tấn

(佛祖問訊) Trong Thiền lâm, chắp tay, cúi đầu lễ bái trước tượng chư Phật và lịch đại Tồ sư, gọi là Phật tổ vấn tấn.

phật từ hộ ấn

(佛慈護印) Cũng gọi Như lai từ hộ ấn, Phật đại từ hộ ấn. Ấn khế tiêu trừ tai nạn, 1 trong những loại ấn khế của Mật giáo. Về cách kết ấn, hoặc dùng nội phược, hoặc dùng ngoại phược, dựng thẳng 2 ngón cái và 2 ngón út rồi hợp lại với nhau. Cứ theo Dược sư tiêu tai nghi quĩ thì tất cả tai nạn phần nhiều khởi lên từ nước, lửa và gió, vì thế muốn tránh tai nạn thì phải buộc 3 ngón tay thuộc nước, lửa, gió (tức ngón út, ngón giữa và ngón trỏ) lại. Ấn này có khả năng tiêu trừ 3 tai nạn nước, lửa, gió. Chân ngôn là: Án (oô, qui mệnh) một đà muội đát lí phạ nhật ra (buddhà maitfi vajra, Phật từ Kim cương) lạc khất xoa hàm (rakwô haô, hộ ngã).

phật tử

(佛子) Phạm: Buddha-putra. Pàli: Buddha-putta. I. Phật Tử. Người tin và nhận theo giáo pháp của Phật, thừa kế gia nghiệp của Ngài, tức là người mong cầu thành Phật để làm cho hạt giống Phật không dứt mất. Đại thừa dùng từ Phật tử để chỉ cho Bồ tát. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; kinh Phạm võng Q.hạ]. II. Phật Tử. Chỉ cho những người tín đồ Phật giáo thụ giới Bồ tát Đại thừa. [X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng]. III. Phật Tử. Chỉ cho hết thảy chúng sinh. Chúng sinh thuận theo Phật, sự nhớ nghĩ của Phật đối với chúng sinh cũng giống như cha mẹ thương nhớ con cái; vả lại, chúng sinh vốn có tính Phật, có khả năng thành Phật, vì thế gọi chúng sinh là Phật tử. [X. Pháp hoa văn cú Q.9].

Phật Tỳ-bà-thi

(Vipaśyin): một vị Phật quá khứ, đã ra đời trong kiếp Trang nghiêm. Sau kiếp Trang nghiêm mới đến kiếp Hiền (Hiền kiếp). Đức Phật Thích-ca-Mâu-ni ra đời trong Hiền kiếp này. Xem bảy vị Phật.

Phật Tỳ-xá-phù

xem bảy vị Phật.

Phật Vô Động

xem Phật A-súc.

phật vật

(佛物) Những vật dụng thuộc về Phật. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển trung liệt kê 4 loại Phật vật như sau: 1. Phật thụ dụng vật: Những vật do đức Phật sử dụng như nhà điện, áo bát, giường màn... 2. Thí thuộc Phật vật: Những vật do người bố thí cho Phật như tiền bạc, bảo vật, ruộng vườn, người, súc vật... 3. Cúng dường Phật vật: Những vật dâng cúng đức Phật như hương hoa, đèn nến, phan phướn, cờ lọng... 4. Hiến Phật vật: Những vật hiến cúng đức Phật như thuốc men, thức ăn uống... (xt. Tam Bảo Vật).

phật vị a chi la ca diếp thuyết kinh

(佛爲阿支羅迦葉說經) Cũng gọi Tự hóa tác khổ kinh, Phật vị A chi la ca diếp tự hóa tác khổ kinh. Kinh, 1 quyển, (khuyết dịch), được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này thuật lại việc ngài A chi la ca diếp hỏi đức Phật về nguyên nhân của khổ là mình tự làm, do người khác làm, mình người cùng làm hay không có nguyên nhân nào cả? Đức Phật bèn giảng cho ngài A chi la ca diếp về 12 nhân duyên, bảo rằng khổ là do nhân duyên sinh chứ chẳng phải do mình tự tạo, do người tạo hoặc mình người cùng tạo, hay không có nguyên nhân nào cả. Sau khi nghe pháp, ngài A chi la ca diếp liền đắc đạo, các căn đều thanh tịnh, vì đã thấy pháp. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.4; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.1; Đại đường nội điển lục Q.1].

phật vị hoàng trúc viên lão thuyết kinh

(佛爲黃竹園老說經) Cũng gọi Phật vị Hoàng trúc viên lão Bà la môn thuyết học kinh. Kinh, 1 quyển (khuyết tên dịch giả), được dịch vào thời Lưu Tống Nam triều, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này thuật lại việc người Bà la môn ở Tì lan nhã chỉ trích đức Phật là ngài không tôn kính những trưởng lão Bà la môn, đức Phật liền trả lời sự chỉ trích ấy rồi tuyên thuyết về Tứ thiền và Tam minh để giác ngộ người Bà la môn. Nghe xong, người Bà la môn bèn qui y đức Phật. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.4; Pháp kinh lục Q.4, Khai nguyên thích giáo lục Q.5; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.8].

phật vị hải long vương thuyết pháp ấn kinh

(佛爲海龍王說法印經) Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này thuật lại việc Hải long vương thưa hỏi đức Phật làm thế nào có thể thụ trì ít pháp mà được nhiều phúc, do đó, đức Phật dạy Hải long vương là phải thường trì niệm 4 pháp ấn có công đức thù thắng thì sẽ được nhiều phúc. Bốn pháp ấn ấy là: Các hành vô thường, tất cả đều khổ; các pháp vô ngã, Niết bàn an vui. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.13].

phật vị niên thiếu tỉ khâu thuyết kinh

(佛爲年少比丘說經) Cũng gọi Chính sự kinh, Phật vị thiếu niên tỉ khưu thuyết chính sự kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Pháp cự dịch vào đời Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này trước hết tường thuật việc đức Phật ở tinh xá Kì hoàn, vườn Cấp cô độc, nhân dịp an cư, vào ngày Bố tát, đức Phật khen ngợi các vị trưởng lão tỉ khưu nhiếp thụ những tỉ khưu trẻ tuổi và các tỉ khưu hành hóa 4 phương, đó làviệc làm chân chính. Kế đến nói về việc các vị trưởng lão tỉ khưu nhờ tu hành mà được công đức phúc báo. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.6; Đại đường nội điển lục Q.2; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.2].

phật vị sa già la long vương sở thuyết đại thừa kinh

(佛爲娑伽羅龍王所說大乘經) Cũng gọi Phật vị Sa già la long kinh, Phật vị Sa già la long vương sở thuyết Đại thừa pháp kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 15.Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật giảng cho Long vương Sa già la nghe về tự tính của pháp huyễn hóa, chẳng thể nghĩ bàn, không chỗ sinh, không chủ tể, không có ta, không chướng ngại, không sinh, không diệt, không màu sắc, không hình tướng, tất cả ác nghiệp ở thế gian đều do vọng tâm hóa hiện. Muốn dứt ác nghiệp thì phải nương nhờ thiện pháp; thiện pháp tức là 10 điều lành: Không giết hại, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói thêu dệt, không nói lời ác, không nói hai lưỡi, không tham, không sân và không si. Tu theo 10 điều thiện này tức là hành đạo Bồ tát. Bản dịch khác của kinh này là kinh Thập thiện nghiệp đạo do ngài Thực xoa nan đà dịch vào đời Đường. (xt. Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh).

phật vị thắng quang thiên tử thuyết kinh

(佛爲勝光天子說經) Cũng gọi Phật vị Thắng quang thiên tử thuyết vương pháp kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật thể theo thỉnh nguyện của Thắng quang Thiên tử –Vua nước Kiêu tát la– mà nói về phép nước cho vua nghe. Phật dạy: Bậc quốc chủ phải xa lìa các pháp xấu ác, siêng tu các pháp tốt lành và cung kính Tam bảo... Ngoài ra, kinh này cũng giải thích rõ thể tính của tất cả các pháp là không hư, vô thường hoại diệt. Nếu hiểu rõ lí vô thường thì sẽ sinh tâm nhàm chán. Mà tâm nhàm chán thì trí tuệ sinh khởi, nhờ trí tuệ ấy mà có thể chứng được Niết bàn diệu lạc. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.13].

phật vị thủ ca trưởng giả thuyết nghiệp báo sai biệt kinh

(佛爲首迦長者說業報差別經) Cũng gọi Phân biệt thiện ác báo ứng kinh, Nghiệp báo sai biệt kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Pháp trí dịch vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật nói về sự sai biệt của nghiệp báo thiện ác cho đồng tử Bà la môn là Thủ ca (Phạm: Zuka) nghe. Tiếng Phạm Zukadịch là Anh vũ. Kinh này còn có 5 bản dịch khác, như kinh Anh vũ... (xt. Anh Vũ Kinh).

Phật vị Tâm Vương Bồ Tát thuyết đầu-đà kinh

佛爲心王菩薩説投陀經; C: fó wéi xīnwáng púsà shuō tóutuó jīng; J: butsui shin'ou bosatsu setsu touta kyō.|Kinh.

phật vị ưu điền vương thuyết kinh

(佛爲優填王說經) Cũng gọi Phật vị Ưu điềnvươngthuyết vương pháp chính luận kinh, Vương pháp chính luận kinh, Chính luận kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật khai thị 5 điều lỗi lầm và công đức của vị Đế vương cho vua Ưu điền nghe. Nội dung bao gồm: 1. Mười điều lỗi lầm của vị Đế vương. 2. Mười điều công đức của vị Đế vương. 3. Có 5 hành vi xấu mang lại suy tổn cho vị Đế vương. 4. Có 5 điều khiến cho vị Đế vương được thần dân yêu kính. 5. Có 5 pháp làm cho thần dân yêu kính Đế vương. Nếu sớm tối đọc tụng tu hành kinh này thì sẽ được chư Phật, Bồ tát, thiên long bát bộ gia trì hộ niệm, khiến đất nước an vui, thọ mệnh lâu dài. Kinh này bao hàm giáo chỉ quan trọng của đức Phật, có thể xem là Vương pháp học của Phật giáo. Kinh này có bản dịch khác là Vương pháp chính lí luận do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15].

Phật xá-lợi

佛舍利; C: fóshèlì; J: butsushari.|Phần còn lưu lại của nhục thân Phật sau khi trà tì, chính là Phật cốt (佛骨; s: buddha-dhātu, jina-dhātu). Xem Xá-lợi (舎利).

Phật Âm

(s: Buddhaghoṣa, p: Buddhaghosa, 佛音, thế kỷ thứ 5 Tây lịch): còn gọi là Phật Minh (佛鳴), Giác Âm (覺音), âm dịch là Phật Đà Cù Sa (佛陀瞿沙), xuất thân vùng Phật Đà Già Da (s: Buddha-gayā, 佛陀伽耶, tức Bồ Đề Đạo Tràng [菩提道塲]), nước Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀), sanh ra trong gia đình Bà La Môn. Ban đầu ông học các thánh điển Phệ Đà (s: Veda, 吠陀), tinh thông Du Già (s: Yoga, 瑜伽), Số Luận, v.v. Sau ông quy y theo Phật Giáo, thông hiểu các kinh điển, soạn ra Phát Trí Luận (p: Ñāṇodaya, 發智論), Thù Thắng Nghĩa Luận (p: Atthasālinī, 殊勝義論, bản chú giải của Pháp Tụ Luận [法聚論]). Vào năm 432 Tây lịch, ông sang Tích Lan, trú tại Đại Tự (p: Mahāvihāra, 大寺), cùng với Trưởng Lão Tăng Già Ba La (p: Saṅghapāla, 僧伽波羅) nghiên cứu các thánh điển và giáo nghĩa hiện lưu trữ tại chùa này, chuyển dịch sang tiếng Pāli, rồi soạn ra Thanh Tịnh Đạo Luận (p: Visuddhimagga, 清淨道論), Thiện Kiến Luật Chú Tự (p: Samantapāsādikā, 善見律注序), v.v., để xiển dương giáo nghĩa của Phật Giáo Thượng Tọa Bộ. Trong đó, có thể nói rằng Thanh Tịnh Đạo Luận là trước tác cương yếu bao quát Tam Tạng kinh điển cũng như các luận sớ. Sau đó, tại tu viện Granthakara parivena thuộc Anurādhapura, ông dịch 4 bộ Kinh A Hàm, Luận Tạng sang tiếng Pāli, soạn bản chú sớ cho các bộ này. Bản giải thích Trường Bộ Kinh (p: Dīghanikāya, 長部經) là Cát Tường Duyệt Ý Luận (p: Sumaṅgalavilāsinī, 吉祥悅意論), bản chú sớ của Trung Bộ Kinh (p: Majjhimanikāya, 中部經) là Phá Trừ Nghi Chướng Luận (p: Papañcasūdanī, 破除疑障論), bản cho Tương Ưng Bộ Kinh (p: Saṁyuttanikāya, 相應部經) là Hiển Dương Tâm Nghĩa Luận (p: Sāratthappakāsinī, 顯揚心義論), cho Tăng Chi Bộ Kinh (p: Aṅguttaranikāya, 增支部經) là Mãn Túc Hy Cầu Luận (p: Manorathapūraṇī, 滿足希求論), v.v. Nhờ vậy, lần đầu tiên Tam Tạng Tiếng Pāli được hoàn bị. Người dân Tích Lan sùng ngưỡng ông như là Bồ Tát Di Lặc tái sanh. Đến cuối đời, ông trở về Ấn Độ và qua đời tại đó. Tuy nhiên, theo truyền thuyết của Phật Giáo Miến Điện, ông là người của nước này, từ Kim Địa Quốc (金地國) sang Tích Lan vào năm 400 Tây lịch. ; 佛音; C: fóyīn; J: button; S: buddhaghoṣa; P: buddhagosa; tk. 4;|Một Ðại luận sư của Thượng toạ bộ (p: the-ravāda). Sư sinh trong một gia đình Bà-la-môn tại Ma-kiệt-đà (magadha), gần Giác Thành (bodh-gayā). Sau khi đọc kinh sách đạo Phật, Sư theo Phật giáo, đi Tích Lan học giáo lí của Thượng toạ bộ dưới sự hướng dẫn của Tăng-già Ba-la (p: saṅghapāla thera). Sư viết 19 bài luận văn về Luật tạng (s, p: vinayapiṭaka) và về các Bộ kinh (p: nikāya). Tác phẩm chính của Sư là Thanh tịnh đạo (p: visuddhi-magga), trình bày toàn vẹn quan điểm của phái Ðại tự (p: mahāvihāra) trong Thượng toạ bộ.

phật âm

(佛音) Phạm: Buddhaghowa. Pàli: Buddhaghosa. Cũng gọi Phật minh, Giác âm, Phật đà cù sa. Cao tăng Trung Ấn độ, người ở Phật đà già da, nước Ma yết đà, sống vào thế kỉ V Tây lịch. Sư sinh trưởng trong 1 gia đình Bà la môn, lúc đầu, học Phệ đà, tinh thông Du già, Số luận... Về sau, sư qui y Phật giáo, làu thông các kinh điển, sư soạn luận Phát trí (Pàli:Ĩàịodaya), luận Thù thắng nghĩa (Pàli: Atthasàlinì, là sách chú thích luận Pháp tụ). Năm 432, sư vượt biển đến Tích lan, trụ ở chùa Đại tự (Pàli:Mahàvihàra), dưới sự chỉ dẫn của trưởng lão Tăng già ba la (Pàli: Saíghapàla Thera), sư nghiên cứu Thánh điển và giáo nghĩa được cất giữ ở chùa này, dịch ra tiếngPàli, soạn luận Thanh tịnh đạo (Pàli:Visuddhi-magga), bài Tựa chú thích luật Thiện kiến (Pàli: Samantapàsàdikà, chú thích tạng Luật)..., trình bày giáo nghĩa Phật giáo Thượng tọa bộ tương đối có hệ thống và rõ ràng. Trong đó, bộ luận Thanh tịnh đạo là tác phẩm cương yếu, có thể nói đã bao quát các kinh điển và luận sớ trong Tam tạng. Sau, ở chùa Kiện đà la (Granthakara parivena) tại kinh đô Anuràdhapura, sư dịch 4 bộ kinh A hàm cùng với tạng Luận ra tiếngPàli, đồng thời, soạn chú sớ. Như: Luận Cát tường duyệt ý (Pàli: Sumaígalavilasinì) của sư, là chú sớ Trường bộ kinh, luận Phá trừ nghi chướng (Pàli:Papaĩcasùdanì) là chú sớ Trung bộ kinh, luận Hiển dương tâm nghĩa (Pàli: Sàratthappakàsinì) là chú sớ Tương ứng bộ kinh và luận Mãn túc hi cầu (Pàli: Manorathapuràịì) là chú sớ Tăng chi bộ kinh. Đến đây, Tam tạng Pàli mới được hoàn bị. Những tác phẩm chú sớ của sư không phải chỉ đơn thuần là những lời giải thích văn nghĩa của kinh, mà thực ra còn là sự thuyết minh về các lãnh vực lịch sử, địa lí, thiên văn, âm nhạc, thực và động vật v.v... đặc biệt đối với phong tục tập quán của Ấn độ cổ đại, sư ghi chép và trình bày khá rõ ràng. Cho nên những tác phẩm của sư cũng là văn hiến quan trọng cho việc nghiên cứu văn hóa Ấn độ nói chung. Người Tích lan rất kính ngưỡng đức hạnh và học vấn của sư, họ tôn sùng sư là bồ tát Di lặc tái thế. Lúc tuổi già, sư trở về Ấn độ và viên tịch tại đó. Nhưng truyền thống Phật giáo Miến điện thì cho rằng sư là người Miến điện. Vào 400 Tây lịch, sư từ nước Kim địa (tức Miến điện ngày nay) sang Tích lan, 3 năm sau, sư mang theo nhiều kinh điển trở về nước và phục hưng Phật giáo Miến điện. [X. Căn bản Phật điển chi nghiên cứu; Mahàvaôsa XXXVII; Buddhaghosuppatti; The Life or Legend of Gaudama by P. Bigandet; The Life and Work of Buddhaghosa by B. C. Law]. PHẬT ẤN I. Phật Ấn. Ấn khế của Phật. II. Phật Ấn. Khắc hình tượng nhỏ của Phật để in lên giấy, gọi là Phật ấn. Thông thường, in tượng Bản tôn của chùa lên miếng giấy để tặng cho những người đến lễ bái, hoặc in trên lá sớ cầu đảo, hoặc in lên trang đầu và trang cuối của quyển kinh. Ngoài ra, trong các bản kinh Phật danh xưa, dưới mỗi danh hiệu Phật đều có in 1 hình Phật nhỏ. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Pháp uyển châu lâm Q.39]. III. Phật Ấn (1032-1098). Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Tống, người Phù lương, tỉnh Giang tây, họ Lâm, pháp danh Liễu nguyên. Vua Tống thần tông rất kính ngưỡng đạo hạnh của sư, nên tặng sư danh hiệu Phật Ấn Thiền Sư. (xt. Liễu Nguyên).

Phật Ðồ Trừng

佛圖澄|C: fó túchéng; J: buttochō; S: buddhasiṃha; 232-348; |Cao tăng Ấn Ðộ. Năm 310, Sư đến Lạc Dương để thành lập một trung tâm Phật giáo tại đây. Nhờ trổ tài thần thông (tiên tri, gọi mưa), Sư được Tấn Hoài Ðế kính ngưỡng và trở thành cố vấn của ông hai mươi năm.|Thời niên thiếu, sư tu học ở nước Ô-trượng-na (烏仗那國; s: udyāna), đạt được thần thông. Những phép lạ mà sư thi triển đã tác động rất lớn đến vua chúa thời đó như Thạch Lặc, đã tôn sư làm Quốc sư. Phật-đồ-trừng cũng là một trong những vị thầy của sư Đạo An (道安). Sư nổi tiếng đã lập rất nhiều ngôi chùa trong sự nghiệp truyền bá Phật giáo ở Trung Hoa. |Sư truyền bá Phật pháp rất chú trọng đến các việc làm nhân đạo, không sát hại, không đàn áp bức bách và điểm cuối có ảnh hưởng tốt đến vương triều bấy giờ. Nhờ sự hỗ trợ của Sư, lần đầu tiên dân Trung Quốc được công khai gia nhập Tăng-già và thụ giới. Tương truyền rằng, Sư cũng có công thành lập Tăng-già cho các Tỉ-khâu-ni.

phật điền

(佛田) Ruộng Phật. Trong Phật giáo, đức được ví dụ như thửa ruộng để chúng sinh gieo trồng hạt giống phúc thiện, vì thế gọi là ruộng phúc. Cúng dường Phật sẽ được tất cả phúc, tiêu diệt hết thảy tội. Trong tất cả ruộng phúc thì Phật là ruộng phúc hơn hết.[X. luận Đại trí độ Q.30]. (xt. Bát Phúc Điền).

phật điển thích lệ

(佛典釋例) Thông lệ giải thích kinh điển Phật giáo. Về phương thức cũng như văn cú giải thích, tùy theo các tông phái mà có khác nhau. Nay lấy 3 tông: Tam luận, Thiên thai và Chân ngôn làm tiêu biểu để trình bày như sau: 1. Tông Tam luận có 4 phương thức giải thích: a) Y danh thích nghĩa (cũng gọi Tùy văn thích nghĩa). b) Nhân duyên thích nghĩa(cũng gọi Hỗ tương thích nghĩa). c) Hiển đạo thích nghĩa (cũng gọi Lí giáo thích nghĩa, Kiến đạo thích nghĩa). d) Vô phương thích nghĩa. Trong các tác phẩm Nhị đế nghĩa, Tam luận huyền nghĩa... của mình, ngài Cát tạng đã sử dụng phương thức giải thích này. Như chữ Chân giải nghĩa là chân thực, đây là y theo ý nghĩa phổ thông mà giải thích, đó làY danh thích nghĩa. Chân chẳng lìa tục mà có chân. Chân và tục có quan hệ nhân duyên nương vào nhau, vì thế nên giải thích chân là tục, tục là chân, đó là Nhân duyên thích nghĩa. Nhưng chân và tục chẳng phải một mực cố định, không thay đổi, mà vốn có tính chất vô tướng, cho nên đây gọi là Hiển đạo thích nghĩa. Tác dụng của vô tướng là bất định, cho nên chân và tục bao hàm tất cả pháp, đây gọi là Vô phương thích nghĩa. 2. Tông Thiên thai có 4 thông lệ giải thích(cũng gọi Tứ đại thích lệ, Tứ chủng tiêu thích, Tứ chủng tiêu văn). Đó là Nhân duyên thích, Ước giáo thích, Bản tính thích và Quán tâm thích. Trong phẩm Pháp hoa văn cú của mình, ngài Trí khải đã ứng dụng phương thức giải thích này. Như nói về nhân duyên của sự hưng khởi giáo pháp, thì căn cứ vào 4 tất đàn mà giải thích theo 4 cách, đó là Nhân duyên thích. Dựa theo 4 phán giáo về Hóa pháp mà giải thích theo 4 cách, là Ước giáo thích. Đứng trên lập trường 2 môn Bản Tích mà giải thích theo 2 cách, tức là Bản tích thích. Thu nhiếp nội dung giáo thuyết về tự tâm mà giải thích quán lí thực tướng, tức là Quán tâm thích. Ngoài 4 thông lệ giải thích trên đây, ngài Trí khải còn lập Ngũ trùng huyền nghĩa(năm lớp nghĩa mầu nhiệm) là: Danh (tên gọi), Thể (bản chất), Tông (mục đích), Dụng (tác dụng)và Giáo (toàn thể giáo thuyết), sử dụng 7 phương thức để giải thích. Đó là: 1. Tiêu chương: Nêu lên tất cả vấn đề như Danh, Thể... để luận giải. 2. Dẫn chứng: Trích dẫn các kinh điển để làm chứng cứ. 3. Sinh khởi: Bàn về thứ tự của Danh, Thể... 4. Khai hợp: Phân tích, tổng hợp. 5. Liệu giản: Theo thể hỏi, đáp để bàn luận các vấn đề. 6. Quán tâm: Lấy Danh, Thể... làm đối tượng để quán tâm tu hành. 7. Hội dị: Đánh giá học thuyết của các phái khác để mọi người hiểu rõ ưu khuyết điểm. 3. Chân ngôn tông có 4 lớp giải thích bí mật: Thiển lược thích, Bí mật thích (cũng gọi Thâm bí thích), Bí mật trung bí thích (cũng gọi Bí trung thâm bí thích) và Bí bí trung bí thích (cũng gọi Bí bí trung thâm bí thích). Như giải thích chữ A là Phạm vương, đó là Thiển lược thích. Giải thích Đại nhật Như lai nói chữ A vốn chẳng sinh, đó làThâm bí thích. Giải thích chữ A tự nói vốn chẳng sinh, đó là Bí trung thâm bí thích. Giải thích cái lí vốn chẳng sinh, tự có lí và trí, tự biết cái lí vốn chẳng sinh, đó là Bí bí trung thâm bí thích. Ngoài ra còn có Thập lục huyền môn thích giải thích về chữ Phạm, Chân ngôn... [X. Nhị đế nghĩa Q.trung; Pháp hoa văn cú Q.1 phần đầu; Pháp hoa văn cú kí Q.1 phần đầu; Đại nhật kinh cúng dường thứ đệ pháp sớ Q.hạ; Bồ đề tâm nghĩa Q.1]. (xt. Thập Lục Huyền Môn).

phật điện

(佛殿) Cũng gọi Phật đường. Điện thờ tượng Phật, Bồ tát hoặc bản tôn, là kiến trúc trung tâm của mỗi ngôi chùa. Trung quốc gọi là Đại hùng bảo điện, Ấn độ thì gọi là Hương điện (Phạm: Gandhakuỉì). Cứ theo Tì nại da tạp sự quyển 10 thì Phật điện của chùa tăng nên xây 7 tầng, còn chùa ni thì nên xây 5 tầng. [X. Hữu bộ mục đắc ca Q.8; điều Vĩnh ninh tự trong Lạc dương già lam kí Q.1]. (xt. Phật Đường).

phật đà

Người giác ngộ cùng tột đã chứng Diệu giác như Phật Thích Ca. ; (佛陀) Phạm: Pàli: Buddha. Cũng gọi Phù đà, Phù đầu, Một đà, Bộ tha, Bột đà, Phục đậu, Phù đồ Hán dịch: Giác giả, Tri giả. I. Phật Đà. Chỉ cho đức Thích ca mâu ni. (xt. Thích ca mâu ni). II. Phật Đà. Chỉ chung cho chư Phật 3 đời trong 10 phương, như hiện tại có đức Thích ca mâu ni, quá khứ có đức Phật Nhiên đăng..., vị lai có đức Phật Di lặc... trong 10 phương thì có đức Phật A súc ở phương Đông, đức Phật A di đà ở phương Tây... III. Phật Đà. Thiền sư người Thiên trúc sống vào thế kỉ thứ V. (xt. Phật Đà Thiền Sư).

phật đà ba lợi

(佛陀波利) Phạm: Buddha-Pàla. Hán dịch: Giác hộ. Cao tăng người nước Kế tân, Bắc Ấn độ, đến Trung quốc dịch kinh vào đời nhà Đường. Sư đi tham bái khắp các linh tích, vì đạo quên mình, nghe nói bồ tát Văn thù ở núi Thanh hương, sư vượt qua sa mạc đến chiêm lễ. Niên hiệu Nghi phụng năm đầu (676) đời vua Cao tông nhà Đường, sư lên núi Ngũ đài chí thành lễ bái, gặp 1 ông già thần dị chỉ giáo, sư trở về nước Kế tân, thỉnh kinh Tôn thắng Đà la ni bản tiếng Phạm, rồi lại đến kinh đô nhà Đường. Năm Nghi phụng thứ 4 (679), vua Cao tông ban sắc cho các vị Nhật chiếu và Đỗ hành khải phiên dịch bản kinh ấy. Nhưng khi dịch xong, vua giữ lại trong cung, sư tâu vua xin trả lại bản tiếng Phạm, rồi sư đem đến chùa Tây minh, cùng với 1 tăng thông hiểu tiếng Phạm là ngài Thuận trinh, dịch ra chữ Hán, với tựa đề là: Kinh Phật đính tôn thắng đà la ni. Kinh này, ngoài 2 bản dịch ghi trên còn có 7 bản dịch khác, trong đó, bản dịch của sư lưu hành rất rộng. Sau khi dịch xong, sư đem bản tiếng Phạm vào núi Ngũ đài. Sư còn dịch kinh Trường thọ diệt tội hộ chư đồng tử đà la ni, 1 quyển. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.5; Tống cao tăng truyện Q.2]. PHẬT ĐÀ BẠT ĐÀ LA (359-429 ) Phạm: Buddhabhadra. Cũng gọi Phật độ bạt đà la, Phật đại bạt đà, Phật đà bạt đà. Hán dịch: Giác hiền, Phật hiền. Cao tăng người Bắc Ấn độ, sống vào thế kỉ V, ở thành Na ha lợi, họ Thích, là con cháu của vua Cam lộ phạn, thành Ca tì la vệ. Sư xuất gia năm 13 tuổi, siêng năng tu tập, học rộng các kinh, đặc biệt tinh thông Thiền, Luật. Sau, cùng với bạn đồng học là Tăng già đạt đa, sư đến nước Kế tân, theo ngài Phật đại tiên học Thiền pháp. Ở đây, sư gặp ngài Trí nghiêm và nhận lời mời đi Trung quốc. Khoảng năm Hoằng thủy thứ 10 (408) đời Hậu Tần, sư đến Trường an, hoằng truyền pháp Thiền, nhưng vì không quen với nếp sống ở Trường an, lại không hợp với các đệ tử củangàiLa thập, nên sư cùng với hơn 40 đệ tử như ngài Tuệ quán rời Trường an, lưu lại mấy năm chỗ ngài Tuệ viễn, núi Lô sơn, dịch kinh Đạt ma đa la thiền. Năm Nghĩa hi 11 (415), sư đến Kiến khang (nay là Nam kinh), dừng lại ở chùa Đạo tràng, chuyên việc dịch kinh. Sư dịch chung với ngài Pháp hiển luật Ma ha tăng kì và kinh Đại bát nê hoàn. Sau, sư một mình dịch kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm 60 quyển. Các kinh do sư dịch gồm 13 bộ, 125 quyển. Năm Nguyên gia thứ 6 (429) đời Lưu Tống, sư thị tịch, thọ 71 tuổi người đời gọi sư là Thiên trúc thiền sư, là 1 trong 18 bậc Cao hiền ở núi Lô sơn. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, 3; Lịch đại tam bảo kỉ Q.7; Lương cao tăng truyện Q.2, 3; Hoa nghiêm kinh truyện kí Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.26, 36; Tùy thư kinh tịch chí 4].

Phật Đà Bạt Đà La

(s: Buddhabhadra, j: Buddabadara, 佛陀[駄]跋陀羅, 359-429): tiếng Phạn có âm dịch là Phật Đà Bạt Đà La (佛駄跋陀羅), Phật Độ Bạt Đà La (佛度跋陀羅), Phật Đại Bạt Đà (佛大跋陀), Bạt Đà Bà La (跋陀婆羅); dịch nghĩa là Giác Hiền (覺賢), Phật Hiền (佛賢). Theo Phật Đà Bạt Đà La Truyện (佛駄跋陀羅傳) trong Cao Tăng Truyện (高僧傳), tổ tiên ông là người Trung Ấn Độ, con cháu của Cam Lộ Phạn Vương (甘露飯王) thuộc dòng thích ca, ông nội làm nghề buôn nên dời đến vùng Bắc Ấn, và Giác Hiền sinh ra ở Thành Na Ha Lợi (那呵利城) trong vùng. Mới còn nhỏ mà ông đã sớm mất song thân, sau đó ông xuất gia lúc 17 tuổi, tinh tấn tu hành, học hết các kinh điển và có nhiều chỗ thông đạt nghĩa lý. Ông tinh trì giới hạnh, rất nhiệt tâm với Thiền định, nên về sau thỉnh thoảng có thể hiện vài điều thần dị. Sau ông cùng với Tăng Già Đạt Đa (僧伽達多) ngao du vùng Kế Tân (罽賓), theo học Thiền pháp với Đại Thiền Sư Phật Đại Tiên (佛大先, tức Phật Đà Tư Na [佛駄斯那]). Khi vị Sa Môn người Trung Quốc là Trí Nghiêm (智嚴) sang Ấn Độ cầu pháp, gặp Phật Đại Tiên, được vị này cho biết rằng chỉ có Phật Đà Bạt Đà La mới có thể xứng dáng để giáo hóa đồ chúng và dạy Thiền pháp. Thể theo lời thỉnh cầu của Trí Nghiêm, Phật Đà Bạt Đà La sang Trung Quốc bằng đường biển phía nam. Vào năm thứ 8 (406) niên hiệu Hoằng Thỉ (弘始), nghe tiếng có La Thập (羅什) đang ở Trường An (長安), ông thân chinh đến địa phương này để gặp; nhưng vì không quen phong tục Trường An và chẳng hợp với môn hạ của La Thập, bị hiểu lầm, nên ông cùng với nhóm Huệ Quán (慧觀) hơn 40 người rời khỏi nơi đây, đến Huệ Quán Tự (慧觀寺) và Lô Sơn (廬山). Tại đây, ông được Huệ Viễn (慧遠) rất tôn kính và chỉ đạo cho đại chúng về phương pháp Tọa Thiền. Từ đó, ông được liệt vào trong Lô Sơn Thập Bát Hiền (廬山十八賢). Vào năm thứ 11 (415) niên hiệu Nghĩa Hy (義熙), ông đến Kiến Khang (建康, hiện tại là Nam Kinh [南京]), dừng chân tại Đạo Tràng Tự (道塲寺), chuyên tâm phiên dịch một số kinh điển như Đạt Ma Đa La Thiền Kinh (達摩多羅禪經), Quán Phật Tam Muội Hải Kinh (觀佛三昧海經), Lục Thập Hoa Nghiêm (六十華嚴), Ma Ha Tăng Kỳ Luật (摩訶僧祇律), Đại Bát Nê Hoàn Kinh (大般泥洹經), Như Lai Tạng Kinh (如來藏經), v.v., và là dịch giả nổi danh đương thời. Ông được gọi là Phật Đà Thiền Sư (佛陀禪師), Đấu Trường Thiền Sư (闘塲禪師, hay Đạo Tràng Thiền Sư [道塲禪師]), Thiên Trúc Thiền Sư (天竺禪師), v.v.; nhưng Thiền pháp của ông thì thuộc về Thiền pháp của Tiểu Thừa trước thời kỳ Thiền Tông ra đời. Vào năm thứ 6 (429) niên hiệu Nguyên Gia (元嘉) nhà Lưu Tống, ông thị tịch, hưởng thọ 71 tuổi.

phật đà cù hứ da

(佛陀瞿呬耶) Phạm: Buddhaguhya. Cao tăng Ấn độ, sống vào thế kỉ VIII, đồng thời với Tam tạng Bất không đời Đường, là đệ tử lớn của ngài Phật trí tiên, (Phạm: Buddhajĩàna-pàda). Sư thụ Mật giáo trực tiếp nơi ngài Kim cương thủ, thông hiểu tinh tường 3 bộ Nghi quĩ: Sự nghiệp, Tu hành và Du già. Sư từng cùng với pháp huynh là sư Giác tịnh (Phạm: Buddha-zànti) lên núi Bổ đà lạc ở Nam thiên trúc, chí thành lễ bái Bồ tát Quán tự tại và cảm được Ngài chỉ dạy, nên sư đến núi Khai lạp sa (Kailàsa) tu tập và chứng được thần thông. Sau đó, sư về Ba la na tư (nayVaranasi) tuyên dương Phật pháp. Cứ theo kinh thích bộ 94 trong Đại tạng kinh Tây tạng thì vua Khất lật song đề tán (Tạng: Khri-sron-lde#u-#tsan, 728-786) sai sứ đến thỉnh sư sang Tây tạng, nhưng vì tuổi già sư không đi được, chỉ giao cho sứ giả 2 bộ Nghĩa sớ của kinh Tì lô giá na và Bí kinh nghĩa nhập môn mang về. Sư để lại các tác phẩm: Tì lô giá na thành đạo kinh tập nghĩa (Phạm: Vairocanàbhisaôbodhi-tantrapiịđàrtha), Tì lô giá na thành đạo kinh sớ (Phạm: Vairocanàbhisaô-bodhi-tantravftti), kinh Thuyết mạn đồ la pháp (Phạm: Dharma-maịđala-sùtra), Bí kinh nghĩa nhập môn (Phạm: Tantrarthàvatàra). [X. Đa la na tha Ấn độ Phật giáo sử].

phật đà da xá

(佛陀耶舍) Phạm: Buddhayazas. Hán dịch: Giác minh,Giác danh, Giác xưng. Cao tăng người nước Kế tân thuộc Bắc Ân độ, đến Trung quốc dịch kinh vào đời Đông Tấn, là thầy của ngài Cưu ma la thập. Sư xuất gia năm 13 tuổi, năm 27 tuổi mới thọ giới Cụ túc. Sư chuyên cần tu tập, đọc tụng kinh điển, thông suốt cả Đại thừa và Tiểu thừa. Năm Hoằng thủy thứ 10 (408), đời vua Diêu Tần, theo lời thỉnh cầu của ngài La thập, sư đến Trường an, hỗ trợ ngài La thập dịch kinh Thập trụ, Tứ phần tăng giới bản, Tứ phần luật, rồi cùng với ngài Trúc Phật niệm, dịch kinh Trường a hàm, ngài Đạo hàm làm bút thụ. Sau, sư trở về nước Kế tân, thỉnh được kinh Hư không tạng 1 quyển, gửi người khách buôn đưa đến cho chư tăng ở Lương châu. Những kinh sư dịch gồm 4 bộ, 84 quyển. Vì sư hàm râu đỏ, lại khéo dịch luận Tì bà sa, nên người đời gọi sư là Xích Tì Tì Bà Sa. Lại vì sư là thầy của ngài La thập, nên cũng gọi là Đại Tì Bà Sa. [X. Lương cao tăng truyện Q.2; Xuất tam tạng kí tập Q.14; Lịch đại tam bảo kỉ Q.8; Khai nguyên thích giáo Q.4].

phật đà lí

(佛陀裏) Làng Phật, là nơi vua Tôn quyền nước Ngô, thời Tam quốc, xây dựng chùa Kiến sơ cho ngài Khang tăng hội ở. Đây là chùa tháp đầu tiên tại đất Ngô và cũng từ đó Phật pháp khá thịnh hành ở xứ này. [X. Khang tăng hội truyện trong Lương cao tăng truyện Q.1]. (xt. Khang Tăng Hội).

phật đà mật đa

(佛陀蜜多) Phạm: Buddhamitra. Cũng gọi Phục đà mật đa, Phật đà mật đa la, Phật đà mật. Hán dịch: Giác thân. Tổ phó pháp thứ 9 của Thiền tông Ấn độ, người nước Đề già, họ Tì xá la. Sư là người có trí tuệ cao siêu và đạo hạnh sáng chói. Sư được ngài Phật đà nan đề, Tổ thứ 8, phó pháp cho. Sư khéo dùng các phương tiện để giáo hóa chúng sinh, phá dẹp các học phái khác. Lúc bấy giờ, nhà vua sùng tín ngoại đạo, khinh hủy Phật pháp, tà tâm vô đạo, sư tự cầm lá phướn (1 loại cờ của Phật giáo) đi thẳng đến trước cung vua, qua nhiều lần vua mới triệu vào. Sư xin đượcbiện luận với ngoại đạo, dùng Vô phương luận để khuất phục đối phương. Rồi sư lại luận nghị với nhà vua, cảm hóa được tà tâm của vua, khiến tin chính pháp. Sau đó, sư tìm đến giáo hóa Ni kiền tử, làm cho 500 đệ tử của ông này quay về với Phật pháp. Về sau, sư truyền pháp cho Hiếp tôn giả rồi thị tịch. Lại theo Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện thì sư là thầy của ngài Thế thân. [X. Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.5; Cảnh đức truyền đăng lục Q.1; truyền pháp chính tông kí Q.2; Phật tổ thống kỉ Q.5].

phật đà nan đề

(佛陀難提) Phạm: Buddhanandi. Thiền sư Ấn độ, người nước Ca ma la thời xưa, là Tổ thứ 8 được phó pháp tạng. Sư có tướng mạo khác thường, trên đỉnh đầu có nhục kế, trí tuệ hơn người, biện tài vô ngại. Cứ theo Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 5 thì tổ Di già ca truyền chính pháp cho tôn giả Phật đà nan đề. Tôn giả chuyển Đại pháp luân, phá dẹp ma oán, sau đó, trao pháp cho ngài Phật đà mật đa. Ngoài ra, theo Bảo lâm truyện thì ngài Phật đà nan đề nhận pháp từ ngài Bà tu mật, ngài Bà tu mật nhận pháp từ ngài Di già ca, ngài Phật đà mật đa nhận pháp từ ngài Phật đà nan đề. [X. Tổ đường tập Q.1; Cảnh đức truyền đăng lục Q.1].

phật đà phiến đa

(佛陀扇多) Phạm: Buddhazànta. Hán dịch: Giác định. Cao tăng người Bắc thiên trúc, đến Trung quốc dịch kinh vào thời Bắc Ngụy. Sư thần ngộ sáng suốt, bén nhạy, tinh thông nội ngoại điển. Niên hiệu Vĩnh bình năm đầu (508) đời vua Tuyên vũ đế nhà Bắc Ngụy, vâng sắc chỉ cùng với các ngài Bồ đề lưu chi và Lặc na ma đề phiên dịch Thập địa kinh luận của bồ tát Thế thân trong cung vua tại Lạc dương, 4 năm sau mới dịch xong. Sau đó không lâu, sư đến chùa Bạch mã, dịch kinh Như lai Sư tử hống vào niên hiệu Chính quang thứ 6 (525). Sau, sư dời đến chùa Kim hoa tại Nghiệp đô. Vào năm Nguyên tượng thứ 2 (539), sư dịch kinh Thập pháp... Tất cả kinh do sư dịch gồm 10 bộ, 11 quyển. [X. bài Tựa trong Thập địa kinh luận; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Hoa nghiêm kinh truyện Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.6; Thích thị kê cổ lược Q.2].

phật đà tam khuyến

(佛陀三勸) Chỉ cho 3 thứ danh hiệu mà Hòa thượng Phật đà thường xưng niệm. Cứ theo chương pháp môn Phật đà trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 14, thì Hòa thượng Phật đà ở chùa pháp môn tại phủ Phượng tường, thường cầm tràng hạt, xưng niệm 3 thứ danh hiệu: Thích ca, Nguyên hòa, Phật đà, lần hết 1 vòng thì trở lại từ đầu. Hành trạng của ngài rất khác thường, người đời không thể hiểu được chỉ gọi sự xưng niệm của ngài là Phật đà tam khuyến(ba cách khuyên người của Hòa thượng Phật đà). [X. Thiền uyển mông cầu Q.hạ].

phật đà thiền sư

(佛陀禪師) Cũng gọi Bạt đà, Giác giả. Thiền sư người Thiên trúc, sống vào thời Bắc Ngụy, Trung quốc. Sư du hành khắp các nước Tây vực, sau đến Hằng an, (thuộc tỉnh Sơn tây, Trung quốc), Bắc đài. Sư tinh cần tu tập Thiền quán. Vua Hiếu văn đế (467-499) rất tín ngưỡng đạo hạnh của sư, nên vua thiết lập Thiền viện cho sư. Sau khi dời đô đến thành Lạc dương, vua lại xây dựng Tĩnh viện để sư ở. Vào năm Thái hòa 20 (496) vua sáng lập Thiền viện ở núi Thiếu thất (tức nay là chùa Thiếu lâm), đồng thời xây Phiên kinh đường do sư trụ trì để chuyên việc dịch kinh. Đệ tử của sư –ngài Tuệ quang– là Tổ khai sáng phái Nam đạo thuộc tông Địa luận. Ngoài ra, sư thường bị người đời nhầm lẫn là ngài Phật đà Phiến đa – người dịch Thập địa kinh luận. [X. Tục cao tăng truyện Q.16; Tuệ quang truyện trong Tục cao tăng truyện Q.21]. (xt. Phật Đà).

phật đà thập

(佛陀什) Phạm: Buddhajìva. Cũng gọi: Phật đại thập. Hán dịch: Giác thọ. Cao tăng người nước Kế tân, Bắc Ấn độ, sống vào thế kỉ thứ V. Thủa nhỏ, sư theo học 1 vị tăng thuộc Di sa tắc bộ, chuyên về Luật học và Thiền pháp. Niên hiệu Cảnh bình năm đầu (423) đời Lưu Tống, sư đặt chân lên đất Dương châu, Trung quốc. Tháng 11 năm ấy, nhận lời thỉnh cầu của Vương luyện ở Lang gia và các vị Đạo sinh..., sư phiên dịch bộ luật Di sa tắc ở chùa Long quang tại Kiến khang. Bấy giờ, sư chủ giảng Phạm văn, sa môn Trí thắng người nước Vu điền truyền dịch, các ngài Đạo sinh và Tuệ nghiêm làm bút thụ (viết chép) phiên dịch bộ luật Sa di tắc gồm 34 quyển (bản lưu hành hiện nay có 30 quyển) tức là luật Ngũ phần hiện hành. Sau đó, sư lại sao Giới bản 1 quyển và văn yết ma 1 quyển. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, 3; Lịch đại tam bảo kỉ Q.10, Lương cao tăng truyện Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.5].

phật đàn

(佛壇) Đàn tôn trí tượng Phật. Chỉ cho cái đàn (đài, nền cao) trong Phật đường (điện) để thờ Phật. Về nguyên liệu thì đàn có thể được làm bằng đá, gỗ hoặc đất; về hình dáng của đàn cũng có nhiều kiểu như hình vuông, hình bát giác, hình tròn... Tại Ấn độ, tượng Bản tôn vốn được an vị trên đàn bằng đá ở mặt chính củaPhật đường. Nhưng, từ thời Trung cổ về sau, trong Phật đường phần nhiều dùng đàn gỗ; về hình dáng thì phỏng theo đàn đá lúc ban đầu, còn về sau thì mô phỏng hình dạng núi Tu di mà kiến trúc đàn Tu di. Ngoài ra, cỗ khám để an vị tượng Phật trong các chùa viện hay ở nhà của các tín đồ tại gia thờ Phật, cũng được gọi là Phật đàn. [X. chương Báo ân trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1; điều Ma yết đà quốc trong Đại đường tây vực kí Q.8; Ngọa tức phương pháp trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.3].

phật đại tiên

(佛大先) Phạm: Buddhasena. Cũng gọi Phật đà tiên, Phật đà tư na. Cao tăng người nước Kế tân, Bắc Ấn độ, là Luận sư của Thuyết nhất thiết hữu bộ, sau là người truyền trì Thiền pháp. Sư hành hóa ở nước Kế tân, từng kế thừa pháp yếu nơi ngài Bà đà la, rồi sau đó sư đem truyền đến Trung quốc. Rất nhiều người được sư giáo hóa, người vào đạo có hơn 700. Ngài Phật đà bạt đà la thủa nhỏ có theo học sư. Ngài Trí nghiêm người Trung quốc, trong thời gian du học Tây trúc, cũng đến nước Kế tân, vào tinh xá Ma thiên đà la theo sư học Thiền pháp. Ba năm sau, khi học xong, ngài Trí nghiêm trở về Trung quốc, mời ngài Phật đà bạt đà la cùng đi. Sau khi về đến Trung quốc, ngài Phật đà bạt đà la có dịch Đạt ma đa la thiền kinh, 2 quyển, có lẽ là bộ kinh đã do sư Phật đại tiên tụng ra. Ngoài ra, theo Thiền yếu bí mật trị bệnh kinh kí chép trong Xuất tam tạng kí tập quyển 9 và Thư cừ An dương hầu truyện trong Xuất tam tạng kí tập quyển 14, thì vào đầu năm Nguyên gia (424-453) đời vua Văn đế nhà Lưu Tống, em của Hà tây vương Mông tốn là Thư cừ An dương hầu đến nước Vu điền được gặp sư Phật đà tiên tại chùa Cù ma đế, theo sư học pháp Đại thừa, đồng thời học được pháp bí mật để trị các bệnh về Thiền. Sư là bậc thiên tài kiệt xuất, Thiền pháp của sư đứng vào bậc nhất ở các nước, ngườiphương Tây đều gọi sư là Nhân trung sư tử(Sư tử trong loài người). [X. bàiTựa kinh Tu hành địa bất tịnh quán trong Xuất tam tạng kí tậpQ.9; Khai nguyên thích giáo lục Q.4; bài tựa Đạt ma đa la thiền kinh; luận Truyền pháp chính tông Q.thượng; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3].

Phật Đạo

(佛道, Butsudō): quyển thứ 49 trong bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng (正法眼藏, Shōbōgenzō, 95 quyển), là phần Thị Chúng (示眾) tại Cát Phong Tự (吉峰寺) vùng Việt Tiền (越前, Echizen), vào ngày 16 tháng 9 năm 1243. Đây là thiên chỉ rõ nhận thức cho rằng Chánh Pháp Nhãn Tạng Niết Bàn Diệu Tâm (正法眼藏涅槃妙心) do chánh truyền từ chư Phật Tổ, là đại đạo của chư Phật Tổ và tông chỉ của Thiền Tông cũng như của Ngũ Gia (五家, năm tông phái lớn của Thiền Tông), là sai lầm.

Phật đạo

(佛道): có mấy nghĩa. (1) Con đường của Phật pháp. Đạo, Phạn ngữ bodhi, ý dịch là Bồ Đề (菩提); tân dịch là giác (覺), cựu dịch là đạo (道). Đạo (con đường) nghĩa là thông suốt; Phật trí tròn đầy thông suốt, không bị ngưng trệ, nên gọi là đạo. Đạo có 3 loại: (a) đạo do Thanh Văn chứng đắc, (b) đạo do Duyên Giác chứng đắc, (c) đạo do Phật chứng đắc. Đạo do Phật chứng đắc là Vô Thượng Bồ Đề (無上菩提), nên gọi là Phật đạo. Trong phẩm Tựa của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262) quyển 1 có đoạn: “Ngã kiến bỉ độ, hằng sa Bồ Tát, chủng chủng nhân duyên, nhi cầu Phật đạo (我見彼土、恆沙菩薩、種種因緣、而求佛道, ta thấy cõi kia, hằng sa Bồ Tát, các loại nhân duyên, mà cầu Phật đạo).” Cũng trong phẩm Tựa của kinh trên lại có đoạn: “Hựu kiến Bồ Tát, dũng mãnh tinh tấn, nhập ư thâm sơn, tư duy Phật đạo (又見菩薩、勇猛精進、入於深山、思惟佛道, lại thấy Bồ Tát, dũng mãnh tinh tấn, vào trong rừng sâu, suy nghĩ Phật đạo).” (2) Chỉ con đường thành Phật, tức con đường đạt đến quả vị Phật vô thượng bồ đề. Như trong Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 22, phần Tông Giáo Đáp Hưởng (宗敎答響) 2, Phẩm Nguyện Lực (願力品) thứ 6, có đoạn: “Phát Tứ Hoằng Thệ Nguyện, vị chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành (發四弘誓願、謂眾生無邊誓願度、煩惱無盡誓願斷、法門無量誓願學、佛道無上誓願成, phát khởi Bốn Thệ Nguyện Rộng, nghĩa là chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện dứt, pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành).” Hay trong Phật Thuyết Kim Quang Vương Đồng Tử Kinh (佛說金光王童子經, Taishō Vol. 14, No. 548) lại có đoạn: “Thế Tôn vãng tích, vi kiến Tam Giới luân hồi khổ não, xả Luân Vương vị, xuất gia khổ hạnh, Phật đạo viên mãn (世尊往昔、爲見三界輪迴苦惱、捨輪王位、出家苦行、佛道圓滿, đức Thế Tôn xưa kia, vì thấy Ba Cõi luân hồi khổ não, bèn bỏ ngôi vị chuyển luân thánh vương, xuất gia khổ hạnh, Phật đạo tròn đầy).” (3) Tên gọi chung của Phật Giáo và Đạo Giáo. Như trong tập bút ký Xuân Chử Kỷ Văn (春渚紀聞) quyển 2, phần Nhị Phú Thất Sớ Tài (二富室疏財) của Hà Vĩ (何薳, 1077-1145) nhà Bắc Tống, có đoạn: “Tán thí bần dân cập trợ tu Phật Đạo quán vũ, nhất tiền bất lưu ư gia (散施貧民及助修佛道觀宇、一錢不留於家, bố thí cùng khắp dân nghèo và giúp tu sửa các đền thờ Phật Giáo, Đạo Giáo, một tiền cũng không giữ ở nhà).” ; 佛道; C: fódào; J: butsudō;|1. Giáo pháp của đức Phật, Phật giáo. Phật đạo thường được dùng đồng nghĩa với Phật pháp nhưng trong trường hợp này thì khía cạnh thực hành để thấu triệt chân lí được nhấn mạnh hơn; 2. Con đường dẫn đến Phật quả, Niết-bàn, Giải thoát; 3. Vô thượng chính đẳng chính giác, Phật quả tối thượng. Trong Thiền tông, người ta thường hiểu Phật đạo dưới nghĩa này.

phật đạo

(佛道) I. Phật Đạo. Đạo là dịch nghĩa của chữ Phạm bodhi (Hán âm: Bồ đề). Phật đạo là chỉ cho quả Vô thượng bồ đề. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa (Đại 9, 3 thượng) nói: Ta thấy hằng sa Bồ tát ở cõi ấy, có nhiều nhân duyên để cầu Phật đạo. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.18]. II. Phật Đạo. Chỉ cho nền đạo mà đức Phật giáo hóa chúng sinh, tức là Phật giáo. III. Phật Đạo. Chỉ cho đường thành Phật, tức là con đường dẫn đến quả Phật Vô thượng. Đại thừa nghĩa chương quyển 18 (Đại 44, 828 hạ) nói: Đạo có khả năng đưa hành giả đến nơi Niết bàn, vì thế là thông suốt, bởi thông suốt nên gọi là Đạo. (xt. Phật Giáo).

phật đạo chi tranh

(佛道之爭) Sự tranh chấp giữa Phật giáo và Đạo (Lão) giáo. Khi Đạo giáo bắt đầu hưng thịnh thì Phật giáo cũng từ Ấn độ được truyền đến Trung quốc. Ở thời kì đầu, 2 tông giáo này có rất nhiều chỗ lợi dụng lẫn nhau, bởi vì giáo nghĩa, tông chỉ của cả 2 thỉnh thoảng cũng có điểm giống nhau, khi Phật giáo mới du nhập Trung quốc, việc phiên dịch kinh sách từ tiếng Phạm sang tiếng Hán thường phải mượn các từ ngữ của Đạo gia, sau thì Đạo gia cũng sử dụng giáo nghĩa của Phật giáo. Về sau, số tín đồ của Phật giáo mỗi ngày 1 đông thêm, do đó, Đạo gia đối với Phật giáo phát sinh xung đột, qua suốt các thời đại Hán, Ngụy, Tấn, Nam, Bắc triều cho đến Tùy, Đường vẫn không chấm dứt. Khi Phật giáo truyền vào Trung quốc và phát triển mạnh, những người bảo vệ Đạo giáo theo văn hóa truyền thống, nêu ra 4 lí do không nên theo Phật giáo: 1. Phật giáo từ Ấn độ truyền đến: Là tông giáo của giống Di, Địch (tức dã man, mọi rợ), văn hóa lạc hậu, thấp kém, không bằng Hoa hạ(tức Trung quốc, là nơi văn hóa phát triển), vì thế không nên tin theo. 2. Trung quốc và Ấn độ phong tục khác nhau: Theo thuyết của Đạo giáo, phương Đông là mộc, thuộc dương, là nơi sinh ra Đạo; phương Tây là kim, thuộc âm, là nơi sinh ra Phật. Dương là cao quí, âm là thấp hèn, vì thế Đạo giáo ưu việt hơn Phật giáo. 3. Trung quốc và Ấn độ chủng tộc không giống nhau: Người mọi rợ mới tin Phật giáo, chứ người văn minh không nên tin. 4. Từ khi Phật giáo truyền vào Trung quốc: Thường làm cho đất nước suy loạn, vì thế không nên tin theo. Sự tranh chấp giữa Đạo giáo và Phật giáo tuy là sự xung đột về tông giáo nhưng sự thịnh suy của cả 2 đều do lòng yêu ghét, thân sơ của nhà vua mà được quyết định. Kết quả là tông giáo nào có thế lực thì tương đối dễ thu được thắng lợi, còn tông giáo nào yếu, thất bại thì thường gặp nguy cơ bị hủy diệt. Sự tranh chấp giữa Phật giáo và Đạo giáo đã nảy sinh ngay từ thời Đông Hán, khi ấy, ngài Ca diếp ma đằng (Phạm: Kàzyapa-màtaíga) đã phải tranh luận với các Đạo sĩ rồi. Qua thời Tam quốc, Tào thực soạn Biện đạo luận phê phán thuyết Thần tiên. Đến đời Tây Tấn, cuộc tranh luận về Phật giáo và Đạo giáo đã diễn ra giữa sa môn Bạch viễn và Đạo sĩ Vương phù. Vương phù là tác giả của kinh Lão tử hóa hồ, là tài liệu trọng yếu cho các cuộc tranh luận ở đời sau. Nhưng, những cuộc tranh luận kịch liệt nhất là từ thời Nam Bắc triều trở về sau. Thời Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy, đạo sĩ Khấu khiêm chi sáng lập Thiên sư đạo, đồng thời, xúc tiến việc truyền bá đạo mới này trong khắp nước, xác lập giáo đoàn tông giáo của Đạo giáo. Các đạo sĩ Lục tu tĩnh thời Tống thuộc Nam triều và Đào hoằng cảnh đời Lương ra sức chỉnh lí các kinh điển Đạo giáo và hệ thống hóa nền giáo học, ảnh hưởng đối với xã hội tương đối cũng tăng thêm, đủ để đọ sức với Phật giáo, lấy Di hạ luận(luận về mọi rợ và văn minh) làm trung tâm tranh luận, tức tranh luận về việc bỏ tông giáo văn minh sẵn có để tin thờ tông giáo mọi rợ ngoại lai (Phật giáo) là đúng hay sai. Năm Thái thủy thứ 3 (467) đời vua Minh đế nhà Tống thuộc Nam triều, đạo sĩ Cố hoan viết Di hạ luận dẫn đến việc ngài Minh tăng thiệu soạn Chính nhị giáo luận, ngài Tuệ thông trứ tác Bác cố đạo sĩ Di hạ luận để bác bỏ. Ngoài ra, ông Trương dung soạnMôn luật chủ trương Đạo Phật nhất trí(Đạo giáo và Phật giáo là một), Đạo giáo là Bản, Phật giáo là Tích, đề xướng thuyết Bản Tích, nhưng lại cho đạo giáo cao hơn. Niên hiệu Chính quang năm đầu (520) đời vua Hiếu minh đế của Bắc triều, trong cung cũng có cuộc tranh luận về Đạo giáo và Phật giáo, giữa đạo sĩ Khương bân ở quán Thanh đạo và sa môn Đàm vô tối ở chùa Dung giác, với chủ đề: Lão tử ra đời trước hay Phật Thích ca ra đời trước?. Kết quả, Khương bân thất bại và bị lưu đày đến Mã ấp. Trước đó, tác phẩm Tiếu đạo luận của ngài Chân loan và Nhị giáo luận của ngài Đạo an là 2 bộ luận quan trọng tranh luận về sự hơn, kém của Phật giáo và Đạo giáo đương thời. Nhưng thời Bắc triều, sự tranh luận giữa Phật giáo và Đạo giáo không phải chỉ đơn thuần là cuộc tranh luận song phương, mà thêm vào đó còn là chính sách bách hại của chính quyền, đó chính là cuộc hủy diệt Phật giáo của Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy và của Vũ đế nhà Bắc chu rất nổi tiếng mà lịch sử gọi là Tam Vũ Diệt Phật. Đó là: 1. Vua Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy: Theo đạo Thanh tĩnh tiên hóa của đạo sĩ Khấu khiêm chi và theo lời xúi dục của quan Tư đồ Thôi hạo mà ra lệnh cho các nơi chôn sống tăng ni, phá hủy tượng Phật. 2. Vua Vũ đế nhà Bắc chu: Muốn ngôi sao hộ mệnh của mình chiếu sáng khắp thiên hạ, nên nghe theo lời của các đạo sĩ Trương tân và Nguyên tung quyết tâm diệt Phật. 3. Vua Vũ tôn nhà Đường: Nghe lời xúi dục của Đạo sĩ Triệu qui chân, hạ lệnh phá hủy hơn 4.600 ngôi chùa, bắt buộc 260.500 tăng ni hoàn tục, tịch thu hết tài sản của các chùa. Đây là những pháp nạn to lớn trong lịch sử Phật giáo Trung quốc. Nhà Tùy thống nhất Bắc Nam, nhà Đường nổi lên thay thế và hưng thịnh, vì Lão tử và nhà Đường đều mang họ Lí, cho nên Đạo giáo được đãi ngộ đặc biệt, vua Thái tông còn ban sắc chỉ rõ ràng xếp Đạo giáo trên Phật giáo, xác định thứ bậc: Đạo giáo trước, Phật giáo sau, đó là chính sách nhất quán của triều đại nhà Đường, nhờ đó Đạo giáo phát triền rất mạnh. Năm Vũ đức thứ 4 (621), đạo sĩ Phó dịch dâng 11 điều tâu xin sa thải tăng ni ngài Pháp lâm ở chùa Tế pháp soạn Phá tà luận nói lên sự hư dối của Đạo giáo. Về phía Đạo giáo thì có Lí trọng khanh soạn Thập dị cửu mê luận và Lưu tiến hỉ soạn Hiển chính luận phê bình và bài bác Phật giáo, tranh luận kịch liệt về vấn đề thứ bậc trước sau của Đạo giáo và Phật giáo. Năm Vũ đức thứ 8 (625), thứ tự địa vị chính thức được qui định là: Đạo – Nho – Phật. Năm Hiển khánh thứ 3 (658) đời vua Cao tông, 3 lần triệu tập chư tăng và đạo sĩ vào cung vua để nghị luận. Năm Hiển khánh thứ 5 (600), sa môn Tĩnh thái và đạo sĩ Lí vinh lại dựa vào Lão tử hóa Hồ kinh mà khơi dậy cuộc tranh luận. Đến năm Long sóc thứ 2, 3 (662-663), cuộc tranh luận vẫn chưa kết thúc. Kết quả của những cuộc tranh luận giữa Phật giáo và Đạo giáo này, phía Đạo giáo đã lấy giáo lí trong các kinh điển Phật giáo để viết ra nhiều kinh sách mà chống lại Phật giáo. Sang đời Tống, Đạo giáo hoạt động tích cực, Vương trùng dương sáng lập Toàn chân giáo. Đến đời Nguyên, Lí chí thường – đệ tử của Khâu xử cơ, giáo chủ thứ 5 của Toàn chân giáo – chiếm đọat chùa chiền phá hủy tượng Phật, đồng thời, cho khắc bản và ấn hành kinh Thái thượng hỗn nguyên thượng đức hoàng đế minh uy hóa hồ thành Phật và bức tranh Tám mươi mốt hóa thân của Lão tử. Hai tài liệu ngụy tạo này bị ngài Phúc dụ ở chùa Thiếu lâm bác bỏ cho là dối trá, lừa gạt. Năm Hiến tông thứ 5 (1255), vua ban sắc cho 2 vị Phúc dụ và Lí chí thường biện luận với nhau, Lí chí thường thua cuộc, vua hạ lệnh đốt hết kinh sách của Đạo giáo, chỉ trừ Đạo đức kinh(tác phẩm của chính ngài Lão tử). Về sau, cuộc tranh luận của 2 tông giáo, lúc công khai, lúc âm thầm, vẫn tiếp tục không dứt. Mãi đến năm Chí nguyên thứ 18, (1281), vua Thế tổ nhà Nguyên hạ chiếu chỉ dẹp bỏ Toàn chân giáo, từ đó, sự tranh chấp giữa Đạo giáo và Phật giáo, bắt đầu từ thời Ngụy Tấn, mới thực sự chấm dứt hoàn toàn. Cuộc tranh luận kéo dài giữa Đạo giáo và Phật giáo này được nhiều sách ghi chép lại, nhưng quan trọng hơn hết thì có: Hoằng minh tập, Quảng hoằng minh tập, Tập cổ kim Phật đạo luận hành (Đạo tuyên) Phá tà luận (Pháp lâm), Bắc sơn lục (Thần thanh), Tục tập cổ Kim Phật đạo luận hành (Trí thăng) v.v...

phật đạo nhân nhân cước cân hạ

(佛道人人脚跟下) Phật đạo dưới gót chân của mọi người. Nghĩa là đạo Phật chẳng phải là chủ nghĩa lí tưởng, cũng chẳng phải là Quan niệm luận, nhưng thực ra là cái mà mọi người vẫn làm trong các sinh họat hàng ngày. Học đạo dụng tâm tập (Đại 82,4 hạ) nói: Người hướng về đạo là người phải biết rõ bờ mé của Phật đạo, phải rõ hình dạng của Phật đạo. Phật đạo ở ngay dưới gót chân của mọi người: Nếu bị đạo trở ngại thì phải ngay đó mà biết trở ngại ở chỗ nào; còn nếu bị ngộ trở ngại thì phải ngay đó mà viên thành.

phật đạo vô thượng thệ nguyện thành

(佛道無上誓願成) Cũng gọi Vô thượng Bồ đề thệ nguyện chứng. Vững tâm thệ nguyện chắc chắn sẽ chứng được quả Phật vô thượng, là 1 trong 4 thệ nguyện rộng lớn của Bồ tát. Lục tổ đàn kinh bản Đôn hoàng thì ghi: Vô thượng Phật đạo thệ nguyện thành. (xt. Tứ Hoằng Thệ Nguyện).

Phật đản hội

佛誕會; C: fódànhuì; J: buttan'e.|Nghi lễ cử hành để kỉ niệm ngày sinh của đức Phật.

phật đản nhật

(佛誕日) Cũng gọi Phật sinh nhật. Ngày đản sinh của đức Phật Thích ca. Trong các kinh luận, có chỗ nói đức Phật sinh ngày mồng 8 tháng 2, hoặc có chỗ nói Phật sinh vào ngày mồng 8 tháng 4. Theo kinh Trường a hàm và luận Tát bà đa thì đức Phật sinh vào ngày mồng 8 tháng 2. Kinh Thái tử thụy ứng bản khởi quyển thượng nói Phật sinh ngày mồng 8 tháng 4; kinh Quán Phật cho rằng chư Phật trong 10 phương đều sinh vào ngày mồng 8 tháng 4. Câu xá luận Pháp bảo sớ quyển 1 dung hợp 2 thuyết trên đây và giải thích lí do sai khác nhau như sau: (Đại 41, 453 thượng): Ấn độ lập tháng Tí làm tháng giêng, còn Trung quốc thì lập tháng Dần làm tháng giêng. Như vậy tháng 4 ở Ấn độ tức là tháng 2 ở Trung quốc. Vì thế, giữ theo Phạm bản (Ấn độ) thì nói là tháng 4, còn theo Trung quốc thì nói là tháng 2. Do đó nên biết, nếu lấy ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch làm ngày Phật đản sinh là lầm vậy. Ngoài ra, pháp hội được cử hành vào ngày Phật đản, gọi là Phật đản hội. Ngày Phật đản, vị Trụ trì lên giảng đường nói pháp thì gọi là Thướng đường thuyết pháp, cũng gọi Dục Phật thướng đường(nói pháp vào ngày tắm Phật), Phật sinh nhật thướng đường. [X. điều Phật giáng đản trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; Phật tổ hội hành pháp trong Tăng đường thanh qui Q.4].

phật đầu trước phẫn

(佛頭著糞) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trên đầu Phật dính phẩn nhơ. Thiền lâm dùng từ ngữ này để chỉ cho bản chất thiện mà dính thêm cả cái bất thiện. Chương Như hội thiền sư trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 7 (Đại 51, 255 trung nói: Một hôm, Tướng quốc Thôi công đến chùa Đông tại Hồ nam, thấy con chim sẻ ỉa trên đầu tượng Phật, liền hỏi ngài Như hội: Con chim sẻ có tính Phật hay không? Ngài Như hội trả lời: Có! Thôi tướng quốc hỏi: Vậy tại sao nói ỉa trên đầu Phật? Sư đáp: Con chim ấy tại sao không ỉa trên đầu con chim cắt?

Phật đệ tử

佛弟子; C: fódìzǐ; J: butsudeshi.|Đệ tử của đức Phật. Nghĩa chính xác nhất là 10 vị đệ tử lớn của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, như Ma-ha Ca-diếp (摩訶迦葉; s: mahākāśyapa), Xá-lợi-phất (舎利弗; s: śāriputra), Mục-liên (目連; s: maudgalyāyana), A-nan (阿難; s: ānanda)…, nhưng cũng được dùng để gọi chung cả hàng Phật tử tại gia và xuất gia.

phật đệ tử

(佛弟子) Đệ tử của đức Phật, như 10 vị đại đệ tử là Ma ha ca diếp, Xá lợi phất, Mục kiền liên, A nan v.v... cho đến nhiều đệ tử khác lúc đức Phật còn tại thế. Về sau, danh từ đệ tử được dùng để chỉ chung cho những ai tín ngưỡng giáo pháp của đức Phật. (xt. Thập Đại Đệ Tử, Sư Đệ, Thích).

phật đỉnh

(佛頂) Phạm: Buddhozịìza, Uwịìwa. Hán âm: Ốt sắt ni sa, Ô sắt ni sa, Uất sắt ni sa. Hán dịch: Kế, Đính kế, Nhục kế tướng, Vô kiến đính tướng. Xương đỉnh đầu của đức Phật tự nhiên nổi cao lên giống như hình búi tóc, là 1 trong 32 tướng của Phật. Đính tướng của Phật là tướng thù thắng mà người thường không có cách nào thấy được, tượng Phật biểu trưng cho công đức ấy, gọi là Phật đính tôn. Trong Mật giáo, căn cứ vào nội dung biểu thị mà Phật đính được chia làm các loại như: Tam Phật đính (biểu thị cho đức của 3 bộ thuộc Như lai Thai tạng giới), Ngũ Phật đính (biểu thị cho 5 trí của Như lai), Bát Phật đính (gọi chung Tam Phật đính và Ngũ Phật đính), Cửu Phật đính, Thập Phật đính... [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; phẩm Mạn đồ la nghi quĩ trong kinh Nhất tự kì đặc Phật đính Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.10; Tuệ lâm âm nghĩa Q.4]. (xt. Chư Phật đính).

phật đỉnh phá ma kết giới hàng phục ấn

(佛頂破魔結界降伏印) Cũng gọi Phật đính phá ma hàng phục ấn. Ấn kết giới hộ thân, hàng phục các ma ác. Ấn tướng là: Hai ngón vô danh và 2 ngón út hướng vào trong, tréo nhau, 2 ngón trỏ dựng đứng, đầu ngón bấm vào nhau, 2 ngón giữa áp vào lưng đốt (lóng) trên của 2 ngón trỏ, 2 ngón cái đều co vào trong lòng bàn tay. Ấn này rất giống với ấn Đại kim cương luân. Chân ngôn là: Án thất lị dạ bà hê sa ha. Trong Đại kim chân pháp của Mật giáo, hành giả dùng ấn khế và chân ngôn này gia trì ở 7 chỗ trên thân. Ngoài ra, ấn khế này cũng thường được dùng khi kết giới hộ thân. Công đức của ấn này được ghi rõ trong kinh Đà la ni tập. Thủa xưa, khi đức Phật Thích ca mâu ni mới thành đạo dưới gốc cây Bồ đề, Ngài cũng kết tụng ấn ngôn này để kết giới hộ thân, hàng phục các ma. [X. kinh Đà la ni tập Q.1]. PHẬT ĐÍNH PHÓNG VÔ CẤU QUANG MINH NHẬP PHỔ MÔN QUÁN SÁT NHẤT THIẾT NHƯ LAI TÂM ĐÀ LA NI KINH Gọi tắt: Phật đính phóng quang đà la ni kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Kinh này là Thành tựu pháp thuộc về các kinh quĩ Tạp mật của Mật giáo, nội dung thuật lại việc khi đức Phật ở trên cung trời Đâu suất, tuyên thuyết Đà la ni và pháp Thành tựu cho các Thiên tử nghe, để giải cứu khổ não cho Thiên tử Ma ni tạng vô cấu ở cõi trời Đao lợi. PHẬT ĐÍNH QUỐC SƯ NGỮ LỤC Gọi đủ: Định tuệ minh quang Phật đính quốc sư ngữ lục. Cũng gọi: Nhất ti hòa thượng ngữ lục, Phật đính quốc sư ngữ lục niên phổ tháp minh. Ngữ lục, 5 quyển, do ngài Nhất ti Văn thủ (1608-1646), người Nhật soạn, ngài Văn quang biên tập lại, được thu vào Đại chính tạng tập 81. Nội dung bộ Ngữ lục thu chép các phần: Sắc tự, thị chúng, pháp ngữ, tụng cổ, tán, Phật sự, bảng, biện, cảnh sách, tế văn, thi kệ, niên phổ, phát tháp minh..…. PHẬT ĐÍNH TÔN THẮNG ĐÀ LA NI CHÂN NGÔN Kinh quĩ, 1 quyển, thuộc về pháp Tôn thắng đà la ni trong Mật giáo, do ngài Nhã na người nước Cưu tư dịch, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung kinh này trước hết nói về Đà la ni và Chân ngôn, kế đến nói về cách niệm âm Phạm, vẽ tượng, tụng niệm, ấn pháp…... Ngoài ra, những kinh quĩ đồng loại với kinh này còn có: Phật đính tôn thắng đà la ni chú nghĩa và Phật đính tôn thắng đà la ni niệm tụng nghi quĩ, mỗi thứ 1 quyển, đều do Tam tạng Bất không dịch vào đời Đường; Phật đính tôn thắng đà la ni biệt pháp, 1 quyển, do ngài Nhã na dịch, cũng đều được thu vào Đại chính tạng tập 19. PHẬT ĐÍNH TÔN THẮNG ĐÀ LA NI KINH SỚ Kinh sớ, 2 quyển, do ngài Pháp sùng soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 39. Đây là sách chú giải kinh Phật đính tôn thắng đà la ni bản dịch của ngài Phật đà ba lợi. Trang trong đầu sách này đề là: Phật đính tôn thắng đà la ni giáo tích nghĩa kí. Nội dung chia làm 10 môn: Giải thích giáo chủ, Dĩ xứ biểu sự, Hiển giáo bị cơ, Kiến thân đồng dị, Xuất kinh tông thể, Thính pháp quĩ nghi, Kiến văn đắc lợi, Thích kinh đề mục, Phiên dịch thời tiết và Y văn phán thích. PHẬT ĐỒ HỘ Phật đồ hộ là cơ sở kinh tế của các chùa viện, do Sa môn thống (Tăng thống)Đàm diệu thời Bắc Ngụy, tâu vua xin thành lập song song với Tăng kì hộ. Tức là cơ sở thu nhận những người phạm trọng tội hoặc đầy tớ nhà các quan đến ở trongcácchùa, cho quét dọn chùa viện hoặc cày cấy ruộng đất. Về sau, tùy theo sự gia tăng ruộng chùa mà tài sản các tự viện cũng dần dần thêm lên, làm mất đi ý nghĩa lúc ban đầu. Năm Kiến đức thứ 3 (574), vì Chu vũ đế diệt Phật nên Phật đồ hộ cũng bị dẹp bỏ. [X. Phật tổ thống kỉ Q.38; Ngụy thư thích lão chí]. PHẬT ĐỒ TRỪNG (232-348) Vị cao tăng người nước Thiên trúc, có thuyết nói là người nước Cưu tư, họ Bạch. Sư có những năng lực rất linh dị, kì bí, như thần thông, chú thuật, tiên tri…... Năm Vĩnh gia thứ 4 (310), đời vua Hoài đế nhà Tây Tấn, sư đến Lạc dương, lúc ấy sư đã 79 tuổi; bấy giờ loạn Vĩnh gia nổi lên, sư không nỡ nhìn cảnh sinh linh đồ thán, nên chống gậy đi thẳng vào đoàn quân của Thạch lặc, thuyết pháp và hiện các thần biến, Thạch lặc rất tin phục, sát khí trong ông tan dần, rồi cho phép người Hán xuất gia làm tăng. Sau khi Thạch lặc qua đời, Thạch hổ lên nối ngôi, càng kính tin sư, tôn là Đại hòa thượng, làm bất cứ việc gì cũng thỉnh ý sư trước rồi mới thực hành. Trong 38 năm, sư xây cất gần 900 ngôi chùa viện, đệ tử xuất gia có tới 1 vạn người, lúc nào cũng có vài trăm người theo hầu sư, trong số đó có những vị Cao tăng tiêu biểu cho đời Tấn như: Đạo an, Trúc pháp thủ, Trúc pháp thải, Trúc pháp nhã, Tăng lãng, Pháp thường, ni An lệnh thủ v.v…... Năm Vĩnh hòa thứ 4 (348), ngày mồng 8 tháng 12, sư thị tịch ở chùa Nghiệp cung, hưởng thọ 117 tuổi. [X. Lương cao tăng truyện Q.9; Pháp uyển châu lâm Q.31, 63, 76; Phật tổ thống kỉ Q.36; Phật tổ lịch đại thông tải Q.7; Thích thị kê cổ lược Q.2]. PHẬT ĐỘ Cũng gọi Phật quốc, Phật quốc độ, Phật giới, Phật sát. Chỉ cho cõi Phật ở hoặc thế giới do Phật giáo hóa. Phật độ là cõi Phật giáo hóa, chẳng những chỉ cho Tịnh độ mà còn bao gồm cả uế độ (thế giới hiện thực) của phàm phu. Theo ý nghĩa đó thì cung trời Đâu suất của bồ tát Di lặc và núi Phổ đà lạc ca (Phạm: Potalaka) của bồ tát Quan thế âm, tuy là Tịnh độ nhưng chẳng phải là Phật độ. Vào thời kì đầu của Phật giáo, Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương Phật độ là chỉ cho thế giới Sa bà nơi đức Phật Thích ca đản sinh. Nhưng về sau, Phật thân quan khai triển nên thân Phật diễn biến thành lí thể của chân như là Pháp thân, còn đức Phật lịch sử là Ứng thân và Hóa thân mà thành thuyết Tam thân. Do quan niệm Ứng thân, Hóa thân mà có thuyết Chân Phật độ và Ứng Phật độ (cũng gọi là Phương tiện hóa thân độ), đồng thời, do thuyết Báo thân mà nảy sinh tư tưởng Báo độ. Bởi sự giải thích về thân Phật có khác nhau, nên có các thuyết 2 Phật độ, 3 Phật độ, 5 Phật độ…... không giống nhau. Trong Đại thừa huyền luận quyển 5, ngài Cát tạng thuộc tông Tam luận có nêu ra 5 loại Độ là: Bất tịnh, Bất tịnh tịnh, Tịnh bất tịnh, Tạp và Tịnh. Năm loại độ này là do nghiệp của chúng sinh mà có, cho nên gọi là Chúng sinh độ. Lại vì chúng là những cõi nước do đức Phật giáo hóa, nên cũng gọi là Phật độ. Phật độ này được chia làm 4 loại: 1. Phàm thánh đồng cư độ:Phàm phu và thánh nhân ở chung với nhau. 2. Đại tiểu đồng trụ độ: Những người chứng ngộ của Đại thừa và Tiểu thừa (A la hán, Độc giác, Bồ tát đại lực) cùng ở chung. 3. Độc Bồ tát cư độ: Chỉ riêng Bồ tát ở. 4. Chư Phật độc cư độ: Chỉ cho chư Phật ở. Tông Thiên thai lập thuyết 4 độ: Phàm thánh đồng cư độ, Phương tiện hữu dư độ, Thực báo vô ngại độ (cũng gọi Thực báo độ) và Thường tịch quang tịnh độ (cũng gọi Tịch quang độ). Tông Hoa nghiêm lập thuyết 3 độ: Thế giới hải, Quốc độ giới và Liên hoa tạng thế giới. Tông Pháp tướng lập thuyết 3 độ: Pháp tính độ, Thụ dụng độ và Biến hóa độ. Thụ dụng độ lại được chia ra 2 loại là Tự thụ dụng độ và Tha thụ dụng độ, vì thế cũng lập thuyết 4 độ, là cõi nương ở của Tự tính thân, Thụ dụng thân và Biến hóa thân.Tông Tịnh độ chủ trương đức Phật A di đà có 3 thân(Pháp, Báo, Ứng),cho nên lập thuyết 3 độ: Pháp thân độ (cũng gọi Pháp độ),Báo thân độ (cũng gọi Báo độ)và Ứng thân độ (cũng gọi Ứng độ). Thông thường, Báo độ là nơi đức Phật A di đà cư trụ, được gọi là Cực lạc tịnh độ. Tịnh độ chân tông của Nhật bản cho rằng đây là Chân thực báo độ và thiết lập Phương tiện hóa độ để giáo hóa, dắt dẫn chúng sinh về Chân thực báo độ. [X. luận Thành duy thức Q.10; Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ; Duy ma kinh lược sớ Q.1; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.6 phần cuối; Thành duy thức luận thuật kí Q.10 phần cuối; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7 phần cuối]. (xt. Tứ Độ). PHẬT ĐỨC Phạm: Buddha-guịa. Công đức viên mãn của thân Phật, có 3 thứ:1. Nhân viên đức:Gồm 4 loại: Vô dư tu, Trường thời tu, Vô gián tu và Tôn trọng tu. 2. Quả viên đức: Gồm 4 loại: Trí viên, Đoạn viên, Uy thế viên, Sắc thân viên. 3. Ân viên đức: Có năng lực khiến chúng sinh lìa hẳn 3 đường ác và sinh tử, hoặc đặt chúng sinh vào đường thiện và 3 thừa.Ngoài ra, Phật còn đầy đủ các đức khác như 10 lực, 4 vô úy, 18 pháp bất cộng…... Lại nữa, chư Phật Như lai có vô lượng vô biên công đức như đại từ đại bi, đại hỉ đại xả, Tùy tâm tam ma địa, 4 trí 2 trí, dứt hết các tập khí, hoặc xa hoặc gần đều có thể đến, đi, dừng ở 1 cách tự tại không chướng ngại, trong1 hạt cải có khả năng chứa đựng vô lượng núi Tu di…... [X. kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.1; kinh Bồ tát anh lạc Q.11; luận Câu xá Q.27; luận Đại trí độ Q.2]. PHẬT ĐƯỜNG Cũng gọi Phật điện, Đạihùng bảo điện, Đại điện. Điện đường thờ tượng Phật, Bồ tát. Tại Ấn độ, Phật đường được gọi là Kiện đà câu chi (Phạm: Gandhakuỉì), nghĩa là hương thất, hương đài, hương điện. Ở Trung quốc thời xưa trong Thiền môn phần nhiều không xây Phật điện, như trong Thiền môn qui thức của ngài Bách trượng đã qui định, không lập Phật điện, chỉ xây Pháp đường. Tại Nhật bản, các kiến trúc của Thiền tông phần nhiều phỏng theo kiểu mẫu của đời Tống, Trung quốc, tức là xây Phật điện ở trước Pháp đường rồi nối 2 điện đường này với nhau bằng 1 nhà hành lang. [X. kinh Nhất tự đính luân vương Q.1; Tì nại da tạp sự Q.26; Thiện kiến luật tì bà sa Q.8; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7; Cảnh đức truyền đăng lục Q.6; Điện đường môn Thiền lâm tượng khí tiên; Nhật bản kiến trúc sử]. PHẬT GIA Chỉ cho tăng sĩ. Tất cả đạo tràng tu hành trong Phật giáo, trụ xứ của đức Phật, các cảnh giới từ Sơ địa trở lên...… cũng gọi là Phật gia. [X. kinh Quán Vô lượng thọ; phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm; Quán Vô lượng thọ kinh sớ Q.cuối (Tuệ viễn)]. PHẬT GIÁC TAM MUỘI Tam muội (Thiền định) nhờ sự gia bị của Phật mà có năng lực giác ngộ như Phật. Cứ theo Pháp hoa văn cú quyển 1, phần đầu, thì tôn giả A nan từng được Tam muội này. PHẬT GIÁNG SINH TƯỢNG Chỉ cho tượng của đức Phật lúc đản sinh, tay phải chỉ trời, tay trái chỉ đất. Cứ theo điều Phật giáng đản trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2, thì hằng năm vào ngày đức Phật đản sinh (ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch), 1 cỗ đình kết bằng hoa được thiết trí, ở trong đặt tượng Phật giáng sinh, phía dưới tượng, chuẩn bị 1 chậu nước thơm, sau khi đại chúng bái lễ xong, dùng nước thơm tắm tượng Phật. Phong tục này, cho đến nay, vẫn còn là 1 trong những Phật sự quan trọng hằng năm của Phật giáo. [X. kinh Dục Phật công đức; Đại tống tăng sử lược Q.thượng; Thích thị yếu lãm Q.trung; môn Báo đảo trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Dục Phật). PHẬT GIÁO Phạm: Buddha-zàsana, Buddhà= nuzàsana. Pàli:Buddha-sàsana. Tông giáo do đức Phật Thích ca mâu ni sáng lập tại Ấn độ vào khoảng thế kỉ V trước Tây lịch, thịnh hành khắp các vùng Nam á, Đông á và Trung á. Nay chia ra những hạng mục sau đây để tiện khảo sát: 1. Về tên gọi: Thời xưa, Phật giáo được gọi là Phật pháp, Đại pháp, Thánh pháp, Thích giáo, Đại giáo, Phật đạo, Chính pháp, Giáo thuyết…... 2. Diễntiến: Vào khoảng thế kỉ V trước Tây lịch, đức Phật tuyên dương giáo pháp: Khổ, vô thường, vô ngã, duyên khởi, giải thoát…... dọc theo lưu vực sông Hằng ở Ấn độ, đồng thời, nhấn mạnh bất luận người thuộc giai cấp nào cũng có khả năng thực hành giáo pháp của Ngài. Sau khi đức Phật nhập diệt, giáo pháp của Ngài được các đệ tử kết tập và truyền trì. Khoảng thế kỉ III trước Tây lịch, vua A dục qui y Phật giáo và hết sức truyền bá giáo pháp của Phật ra toàn cõi Ấn độ và các nước lân cận, mà phát triển thành 1 tông giáo có tính chất thế giới, hình thành các giáo phái đặc sắc của các dân tộc. Khoảng thế kỉ I trước Tây lịch ở Ấn độ và Tích lan đã phânlập các bộ phái như: Thuyết nhất thiết hữu bộ, Đại chúng bộ, Tích lan thượng tọa bộ…... và Phật giáo Đại thừa, tất cả đều được truyền đến các nước Tây vực và Trung quốc. Khoảng từ thế kỉ thứ I đến thế kỉ thứ VII sau Tây lịch, Phật giáo Đại thừa phát triển rất mạnh, ở Ấn độ chia thành 2 học phái lớn là Trung quán và Du già, rồi dần dần được truyền đến Miến điện, Thái lan, Cao miên, Sumatra, Java, Nepal, Tây tạng, Việt nam, Hàn quốc, Nhật bản v.v… Tại Trung quốc, thuộc hệ thống Bộ phái thì có các tông Tì đàm, Câu xá (chính hệ) và Thành thực (bàng hệ); thuộc hệ thống Trung quán thì có tông Tam luận, thuộc hệ thống Du già thì có các tông Địa luận, Nhiếp luận và Pháp tướng. Ngoài ra còn có các tông Niết bàn, Hoa nghiêm, Thiên thai, Tịnh độ, Thiền tông...… đều rất thịnh. Những tông phái trên, về sau, đều được truyền sang Nhật bản, gọi là Nam đô lục tông. Khoảng từ thế kỉ VII đến thế kỉ XIII Tây lịch, Mật giáo Ấn độ được thành lập và hưng thịnh, trong thời gian ấy có các ngài Tịch hộ, Liên hoa sinh, A đề sa…... kế tiếp nhau truyền Mật giáo vào Tây tạng và Mông cổ. Tại Trung quốc, Mật giáo đã từng hưng thịnh 1 thời, có thể sánh ngang với Thiền tông, Tịnh độ tông...… Ở Nhật bản, vào thời gian này, các tông Thiên thai, Chân ngôn, Tịnh độ, Thiền, Nhật liên...… cũng phát triển rất mạnh. Đến đây, Phật giáo đã bành trướngthành1 tông giáo lớn nhất tại châu Á. Nhưng, từ thế kỉ XIV về sau, do sự truyền bá của Hồi giáo nên tình thế đã thay đổi lớn lao. Nghĩa là bắt đầu từ thế kỉ XI, XII, Hồi giáo xâm lăng Ấn độ và đã hoàn toàn tiêu diệt Phật giáo, không những giết hại các sư, đốt phá kinh tượng, chùa tháp, mà cả đến cây Bồ đề (chỗ đức Phật thành đạo) cũng bị tín đồ Hồi giáo đào tận gốc! Vào thế kỉ XV, Hồi giáo từ Ấn độ truyền đến bán đảo Mã lai; rồi sau đó truyền sang Nam dương, kết quả, Phật giáo ở các nơi này cũng bị tiêu diệt. Mặt khác, Hồi giáo từ nước Iran truyền vào các nước Tây vực và Tây bộ Trung quốc, ở đây, Phật giáo cũng chịu chung 1 số phận như tại các nơi khác. Đến thế kỉ XIX, Âu châu khởi xướng phong trào nghiên cứu Á châu (Đông phương học và Ấn độ học), từ đó Phật giáo mới dần hồi phục. Đến nay, Phật giáo, Thiên chúa giáo và Hồi giáo đều được coi là các tông giáo lớn trên thế giới. 3. Giáo nghĩa: Qua hơn 2.500 năm truyền bá và phát triển, trong Phật giáo đã phát sinh nhiều học phái và tông phái, cho nên về mặt giáo nghĩa cũng có khuynh hướng đa dạng và phức tạp. Nói 1 cách đại thể thì các thuyết nói về sự cấu thành và khởi diệt của thế giới như: Núi Tu di, địa ngục, cõi trời, kiếp mạt...… đều là kế thừa tư tưởng Ấn độ cổ đại, cũng như các thuyết nói về nghiệp, khổ, luân hồi, giải thoát...… thì là mở rộng thêm tư tưởng Ấn độ đã có sẵn từ xưa. Còn các giáo pháp căn bản và đặc thù của Phật giáo thì có: Tam pháp ấn: Vô thường, vô ngã, Niết bàn; Tứ đế: Khổ, tập, diệt, đạo (tứcBát thánh đạo), Thập nhị nhân duyên (Vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử)…... Đây là tiêu chuẩn phân biệt Phật giáo với các tông giáo khác, vì những giáo pháp này chỉ có trong Phật giáo mà thôi. 4. Văn hóa: Ngoài việc truyền bá nội dung tư tưởng giáo lí vốn đã rất phong phú, đối với lịch sử văn hóa – người Ấn độ từ nghìn xưa rất thờ ơ với quan niệm lịch sử – Phật giáo đã là môi giới truyền đến Trung quốc những ngành học thuật của Ấn độ như: Thiên văn, Lịch pháp, Âm vận, Âm nhạc, Y học...… Về phương diện mĩ thuật thì đặc biệt điêu khắc, hội họa, kiến trúc…... của Phật giáo đã có ảnh hưởng rất sâu xa ở nhiều vùng trên thế giới, điều đó thiết tưởng không cần phải nói. 5. Hiện tình: Hiện nay, các nước Phật giáo phần nhiều đã từ khuynh hướng tĩnh tu tự độ, chuyển sang lãnh vực hoằng pháp độ tha, tích cực tham gia các sự nghiệp văn hóa, giáo dục, từ thiện, xã hội…... tạo môi trường cho tín đồ dễ thân cận Phật giáo hơn. Ngoài ra còn chú trọng đến mối liên hệ quốc tế, như tổ chức hội nghị Học thuật Phật giáo quốc tế, hội Hữu nghị Phật giáo đồ thế giới, hội Thanh niên Phật giáo thế giới, Giáo hội Tăng già thế giới, để xúc tiến công cuộc dung hợp các nước Phật giáo trên thế giới. (xt. Phật Giáo Giáo Lí). PHẬT GIÁO ÂM NHẠC Âm nhạc Phật giáo. Bộ Sa ma phệ đà (Phạm: Sàma-veda) xuất hiện vào khoảng từ 2.000 năm đến 1.500 năm trước Tây lịch, trong đó, phương pháp ca vịnh trong bộ Lê câu phệ đà (Phạm: Fg-veda) được ghi chép và trình bày, từ đó đặt ra nền tảng cho Thanh minh và Phạm bái. Nền âm nhạc Phật giáo kế thừa phương pháp này mà đặt ra Già đà (Phạm: Gàthà, Hán dịch: Cô khởi tụng). Phương pháp này được các ngài Bạt đề, Ưu bà lợi, Mục liên, A nan, Nan đà, Bà kì xá...… sử dụng. Về sau, ngài Mã minh cũng dùng thể Già đà để soạn vở kịch thơ Lại tra hòa la ca ngợi tôn giả Lại tra hòa la (Phạm: Rawỉrapàla, Pàli: Raỉỉhapàla). Ngoài ra, theo truyền thuyết, khi ngài Long thụ mở tháp sắt Nam thiên để nhận lãnh pháp Quán đính từ bồ tát Kim cương tát đóa, lúc tụng trì mạn đồ la bí mật tối thượng, cũng làm bài ca khen ngợi Kim cương. Đến thời đại vua A dục, thể loại âm nhạc Phật giáo đã rất phong phú. Đến giữa thế kỉ II Tây lịch, thời vua Ca nị sắc ca, âm nhạc Phật giáo Ấn độ hưng thịnh lạ thường, đồng thời được truyền đến các nước vùng Trung á như: Vu điền, Cưu tư, Sớ lặc…... Đến thế kỉ VI, VII, thời vua Giới nhật (Phạm:Sìlàditya) tại vị, âm nhạc Phật giáo Ấn độ phát triển đến thời kì toàn thịnh, rồi 1 nhánh vượt dãy Thông lãnh, qua phía nam núi Thiên sơn, lấy nước Cao xương (Thổ lỗ phiên)làm trung tâm mà phát đạt. Về sau, âm nhạc Phật giáo Ấn độ được truyền đến cung đình nhà Đường, Trung quốc, phát triển thành vũ nhạc của triều Đường đạt đến cao độ. Thời Phật giáo bộ phái, vì giới luật nghiêm khắc nên âm nhạc và ca vũ hoàn toàn bị cấm, do đó âm nhạc Phật giáo không thể phát đạt. Nhưng sau thời Phật giáo Đại thừa hưng khởi, trong các pháp hội quan trọng, thì ca vũ, nhạc kịch thường được biểu diễn để trang nghiêm, cúng dường, nhờ thế mà âm nhạc Phật giáo phát triển nhanh chóng. Vở ca kịch đại qui mô đầu tiên của Phật giáo là Long vương chi hỉ (Phạm: Nàgànanda, Niềm vui mừng của vua rồng), do vua Giới nhật soạn vào thế kỉ VII. Đến cuối thế kỉ VII, vì Phật giáo rơi vào tình cảnh suy đồi, cho nên âm nhạc Phật giáo Ấn độ cũng tàn tạ ngay trên mảnh đất mẹ để dời đến các nước vùng Đông nam á như: Miến điện, Thái lan, Cao miên, Nam dương…... Riêng ở Trung quốc, tuy kinh điển Phật giáo đã bắt đầu được phiên dịch từ thời Đông Hán, nhưng đã không thể sử dụng được Phạm bái do Phật giáo truyền đến để ca tụng. Đến thời đại Tam quốc, có vị tăng người Khang cư đến đất Thục và truyền cách ca xướng của người Iran. Mãi đếnthời Vũ đế nhà Ngụy, Trần tư vương Tào thực, 1 thiên tài về âm nhạc, vốn rất say mê Phạm khúc, ông từng sáng chế pháp thức Phạm bái riêng của Trung quốc ở Ngư sơn, huyện Đông a, tỉnh Sơn tây. Nền tảng Thanh minh của Trung quốc từ đó mới được thiết lập, thay vì dùng cách ca xướng Thất âm giai như Ấn độ thì Trung quốc dùng Ngũ âm giai(Cung, Thương, Dốc, Chủy, Vũ. Thêm vào 2 âm Phục cung và Phản chủy, thì thành Thất âm). Đến thế kỉ VIII, các ngài Thiện vô úy, Kim cương trí, Bất không...… lần lượt đến Trung quốc truyền bá Mật giáo, từ đó, phương thức Phạm bái Ấn độ mới dần dần lưu hành ở Trung quốc. Theo sự khảo chứng của các nhà chuyên môn, thì Phạm bái của Trung quốc có rất nhiều điểm giống với khúc dân gian và khác xa với tính chất Thanh minh của Nhật bản cận đại.Về những nhạc khí được sử dụng trong âm nhạc Phật giáo thì thông thường có 3 loại: Huyền (Phạm: Vìịà,đàn), Quản (Phạm: Vaôzì, ống sáo) và Đả (Phạm: Dundibhi, trống, chiêng, mõ…...). Từ thế kỉ II trở đi, đàn Tì bà 5 dây cũng được sử dụng, hoặc đàn Trang ân (Tsuan, xưa có 7 dây, sau đổi thành 13 dây) như ở Miến điện; hoặc đàn Ngạc cầm (Magyun) và đàn Cơ vượng (Kyiwain) ở Thái lan v.v...…; hoặc như thanh la, não bạt, chuông, khánh, mõ…... ở Tây tạng, Trung quốc, Việt nam…... Tóm lại, âm nhạc Phật giáo phát sinh từ Ấn độ, nhưng khi truyền đến các nước khác thì lại tùy theo nền văn hóa, cũng như phong tục, tập quán, tính tình của mỗi dân tộc mà mang sắc thái đặc thù của mỗi nước. Và, khác với âm nhạc thế gian, âm nhạc Phật giáo nhằm thăng hoa đời sống tâm linh, đưa tâm hồn con người đến cảnh giới thanh tịnh, siêu thoát và hướng thiện, chứ không nhằm kích động lòng tham dục và đưa tinh thần con người vào cảnh say mê, cuồng loạn. [X. Tông giáo âm nhạc (Điền biên Thượng long); Phật giáo âm nhạc dữ Thanh minh (Đại sơn Công thuần); Phật giáo âm nhạc chi nghiên cứu (Nhật bản Đông dương âm nhạc học hội biên)]. PHẬT GIÁO BÁC VẬT QUÁN Nơi bảo tồn những vật quí báu của Phật giáo. Ở Ấn độ từ xưa đã có tập quán bảo tồn các tượng Phật, bích họa...… trong các chùa viện để giúp cho việc tu đạo, cũng tương tự như các viện Bảo tàng cất giữ các tác phẩm nghệ thuật quí giá, có tác dụng giáo dục dân chúng vậy. Ở Trung quốc và Nhật bản, tín đồ thường đem những di vật quí báu cúng dường các chùa viện. Những bảo vật được tàng trữ ở các chùa viện, ngoài những di phẩm của Phật giáo ra, còn có tác phẩm nghệ thuật phổ thông có tính cách quốc tế, nổi tiếng hơn cả là viện Chính thương của chùa Đông đại tại Nhật bản. Còn ở Trung quốc, những năm gần đây, giới Phật giáo thiết lập Bảo vật quán trong các chùa viện ngày một nhiều, trong đó, nổi tiếng nhất cả trong nước lẫn ngoài nước là cơ sở Phật giáo Văn Vật Trần Liệt Quán do Phật quang sơn thiết lập tại Cao hùng. PHẬT GIÁO BÁCH KHOA TOÀN THƯ Encyclopedia of Buddhism. Bộ Bách khoa toàn thư của Phật giáo bằng tiếng Anh, do Tiến sĩ G.P. Malalasekera làm chủ biên và chính phủ Tích lan xuất bản. Tập thứ nhất của bộ sách này được ấn hành vào năm 1961, sau khi Tiến sĩ Malalasekera qua đời, bộ sách vẫn được tiếp tục. Nhà xuất bản mời các học giả nổi tiếng trên thế giới của thế kỉ XX hợp tác biên soạn bản thảo. Trong đó có các học giả Trung quốc như: Pháp tôn, Lữ trừng, Chu thúc ca, Lí chứng cương, Cao quán như, Hoàng sám hoa v.v…... PHẬT GIÁO BÍCH HỌA Tranh tường của Phật giáo. Người Ấn độ thời xưa thường dùng bích họa để trang nghiêm Phật đường, hoặc ở Giảng đường, Trai đường, nhà tắm...… Nội dung các bức tranh này đều có liên quan đến Phật giáo, như vẽ các cảnh hiện thần thông, bánh xe luân hồi sinh tử trong 5 đường, tích truyện tiền thân của đức Phật, cảnh địa ngục v.v…... Trong các tác phẩm điêu khắc, kiến trúc, các di chỉ của chùa viện đời xưa ở Bắc Ấn độ còn sót lại đến nay, như trong chùa viện hang đá ở vùng A chiên đa (Phạm: Àjantà) phía đông Bombay, người ta đã phát hiện những bộ phận của các bức bích họa đã phai màu và tróc lở, phần lớn được hoàn thành từ thế kỉ IV đến thế kỉ XI. Trong các ngôi chùa viện kiến trúc bằng gỗ, thì phần nhiều người ta tô 1 lớp keo trắng trên vách gỗ, rồi trực tiếp vẽ các bức tranh nhiều màu trên đó. Nhưng các bức họa trong động đá thì hơi khác, tức là tô 1 lớp sơn mỏng màu xám lên các chỗ như tường vách, trần nhà, đầu cột...… rồi sau đó mới vẽ; những họa phẩm này trải qua cả nghìn năm mà màu sắc vẫn tươi đẹp, tuy có nhiều chỗ bị tróc lở. Tại Trung quốc, các bức bích họa xưa nhất có thể khảo chứng được là các bích họa đời Hán, lúc bấy giờ Phật giáo mới được truyền vào nên việc tạo tượng, vẽ tranh rất được chú trọng, nhất là các chùa viện ở miền Nam, bích họa được coi là chủ yếu, còn ở miền Bắc thì phần nhiều chú trọng việc tạo tượng trong hang đá, như các chùa hang đá ở Vân cương, Long môn, núi Mạch tích, núi Thiên long, huyện Củng…... đều là những nơi nổi tiếng về nghệ thuật tạc tượng đá của Phật giáo Trung quốc. Người tiên phong về nghệ thuật vẽ tranh Phật ở phương Nam là cha con ông Đới quì, Đớingung đời Tấn, các bức họa của 2 cha con ông đều đã đạt đến trình độ nghệ thuật viên mãn. Ông Cố khải chi vẽ tượng ngài Duy ma cật, ánhsáng chiếu khắp nhà, trở thành khuôn mẫu cho muôn đời. Những bích họa cổ được bảo tồn trong nội địa Trung quốc hiện không có bao nhiêu, nhưng trong hang Mạc cao núi Minh sa ở phía nam huyện Đôn hoàng, tỉnh Cam túc thì vẫn còn nhiều bích họa từ thời Lục triều trở về sau. Đến đời Đường thì có Ngô đạo tử xuất hiện và được tôn là Bách Đại Họa Thánh (ông Thánh hội họa của trăm đời). Đến đời Ngũ đại (Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu), bích họa trong các chùa viện vẫn còn thịnh. Nhưng qua thời Ngũ đại sang đến đời Tống, vì bích họa chịu ảnh hưởng của hội họa phát triển, nên nội dung Phật giáo đã dần dần suy thoái. Đến các đời Liêu, Kim và Nguyên, tuy không còn được như xưa, nhưng bích họa trong các chùa viện vẫn còn giữ được nội dung Phật giáo. Song, từ các đời Minh, Thanh trở đi thì tác phẩm hội họa của các sĩ đại phu đã thấy xuất hiện trên tường vách của chùa viện, thường miêu tả các truyền thuyết dân gian mà người đời ưa thích. Như ngoài Phật Thích ca, bồ tát Quan âm, La hán, Dược vương…... còn đắp vẽ các tích truyện và nhân vật nổi tiếng trong các tiểu thuyết như: Quan vũ, Trương phi, Tây du kí, Phong thần bảng, Thi công án v.v…... Tại Nhật bản, thì sớm nhất là vào thời đại Bạch phượng bích hoạ đã thịnh hành. [X. The Cave Temples of India, 1880, by J.Burgess; The Paintings of The Buddhist Cave Temples of Ajanta, 2 vols., 1896- 1900, by J.Griffiths; Buddhist Cave Temples of India, by Wauchope; Buddhist Wall-paintings, 1932, by L.Warner; Misson Archéologique dans la Chine Septentrionale, Tome 5, 1909-1915, par E.Chavannes]. PHẬT GIÁO CÁC TÔNG CƯƠNG YẾU Tác phẩm 12 quyển, 5 tập, do Hiệp hội các tông phái Nhật bản biên soạn. Nội dung sách này trình bày về sử truyện và đại cương tông nghĩa của 12 tông phái trong Phật giáo Nhật bản. Dưới phần sử truyện của mỗi tông đều có nêu 2 đoạn lịch sử và Kỉ truyện, phần đại cương tông nghĩa thì chia làm 4 đoạn: Chính y kinh điển, Tông danh, Phán thích và Tông ý. Trong quyển đầu tập 1 có bài tựa,phàm lệ, tổng luận, cuối quyển 5 có lời bạt của ngài Mặc lôi. PHẬT GIÁO CẢI CÁCH Sự cải cách trong Phật giáo qua thời gian và không gian. 1. Phật giáo Ấn độ: Cuộc cải cách lần đầu tiên diễn ra khoảng 100 năm sau đức Phật nhập diệt, bấy giờ các tỉ khưu thuộc chủng tộc Bạt kì (Phạm: Vajji) ở Tì xá li (Phạm: Vaizàlì) đặt ra thuyết mới gồm 10 điều, gọi là Thập sự để giải thích về Luật. Để xem thuyết mới Thập sự này có đúng với Luật hay không, 1 Đại hội kết tập được tổ chức tại Tì xá li với sự tham dự của 700 vị tỉ khưu đem ra thảo luận biểu quyết và cuối cùng quyết định Thập sự là phi pháp. Trong Đại hội, đa số tỉ khưu không chấp nhận quyết định này, do đó, giáo đoàn nguyên thủy đã chia làm 2 phái: Phái Cách tân đa số chấp nhận Thập sự và phái Bảo thủ thiểu số phủ định Thập sự. Phái đa số được gọilàĐại chúng bộ và phái thiểu số được gọi là Thượng tọa bộ. Từ đó về sau lại tiếp tục cải cách và kết quả đã đưa đến việc thành lập Phật giáo Đại thừa. Trong thời đại Phật giáo bộ phái, Bồ tát đoàn lấy tháp Phật làm trung tâm, tồn tại song song với giáo đoàn tỉ khưu. Bồ tát đoàn kết hợp những tỉ khưu có đầu óc đổi mới, rồi vào khoảng trước sau kỉ nguyên Tây lịch đã phát triển thành giáo đoàn Phật giáo Đại thừa. Giáo đoàn này không phân biệt xuất gia, tại gia, biên tập kinh điển mới, tin tưởng vững chắc rằng tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật. Sự thành lập Phật giáo Đại thừa đã tạo thành cuộc cải cách lịch sử của Phật giáo Ấn độ mà trước đó chưa xảy ra. 2. Phật giáo Trung quốc: Do những nhân tố chính trị, tăng sĩ thối nát, hoặc do sức épcủa Đạo giáo, Nho giáo, nên thường nảy sinh những sự kiện phá Phật, phế Phật, nhưng nhờ nội bộ giáo đoàn Phật giáo tự giác vận động cải cách, nên không đến nỗi bị tiêu diệt. Sau khithời Dân quốc được kiến lập, Phật giáo từng gánh chịu các cuộc phá hoại đại qui mô, bấy giờ nhờ các ngài Thái hư, Thường tỉnh, Đại tỉnh...… đề xướng công cuộc đổi mới tăng đoàn, thích ứng với hoàn cảnh xã hội mới, nên mệnh mạch Phật pháp được hồi phục. Phỏng theo chuẩn tắc của chủ nghĩa Tam dân, các ngài đề xướng chủ nghĩa Tam Phật: Phật tăng, Phật hóa và Phật quốc. Chủ nghĩa Phật tăng nhằm xúc tiến việc đổi mới Tăng đoàn; chủ nghĩa Phật hóa thì vận động tăng tục toàn quốc đoàn kết 1 lòng đạt đến nhất thể hóa, mưu cầu Phật giáo hóa xã hội; chủ nghĩa Phật quốc nhằm đẩy mạnh công cuộc Tịnh độ hóa Trung quốc, mọi người đều thực hành hạnh Bồ tát. Song song với chủ trương canh tân cấp tiến này, có các ngài Viên anh...… vận động đổi mới theo chủ nghĩa bảo thủ, tiệm tiến. Trong 1 thời gian, Phật giáo từ tình trạng suy đồi kéo dài, đã dần dần tiến tới phục hưng. 3. Phật giáo Tây tạng: Sau khi được truyền thừa giới luật, ngài Tông khách ba (Tạng: Tsoí-kha-pa, 1355-1415) sáng lập phái Hoàng mạo (phái đội mũ màu vàng), chỉnh lí lại nội dung giáo học, đổi mới tổ chức giáo đoàn, chủ trương nghiêm trì giới luật, xóa sạch các tập tục hủ lậu đã tồn tại trong Lạt ma giáo suốt 1 thời kì lâu dài như: Rơi vào chú thuật, có vợ, ăn thịt uống rượu, tranh giành quyền lợi...…Đây cũng là cuộc vận động cải cách Phật giáo lớn lao. 4. Phật giáo Nhật bản: Vào thời đại Liêm thương, ngài Thân loan thành lập Tịnh độ chân tông, ngài Đạo nguyên khai sáng tông Tào động, ngài Nhật liên mở ra tông Nhật liên. Có thể nói, 3 biến cố trên là cuộc cải cách lớn nhất của Phật giáo Nhật bản. Ba vị Tông tổ trên đây đều đã từng học tập giáo nghĩa của nền Phật giáo cũ ở núi Tỉ duệ, các ngài cho rằng các tông Thiên thai, Chân ngôn, Tam luận, Pháp tướng...… đã xa lìa đại chúng, không khỏi rơi vào nền Phật giáo trừu tượng và học vấn hóa, cho nên các ngài lần lượt đề cao các pháp môn niệm Phật, ngồi thiền, xướng tụng đề kinh…..., làm sống lại niềm tin của quảng đại dân chúng tín đồ, hầu mở ra 1 kỉ nguyên mới cho sự phát triển của Phật giáo Nhật bản. PHẬT GIÁO DI TÍCH Những di tích Phật giáo. Tức là những dấu vết có liên quan đến Phật, Bồ tát và các bậc Tổ sư nhiều đời còn để lại cho người sau. 1. Ấn độ: Vua A dục xây tháp ở những nơi như Phật đản sinh (vườn Lâm tì ni), thành đạo (Bồ đề tràng),chuyển pháp lần đầu tiên (vườn Lộc dã) và Niết-bàn (thành Câu thi na); sau vua lại xây tháp ở 4 nơi mà đức Phật đã thuyết pháp là: Vườn Kì thụ Cấp cô độc, thành Khúc nữ, thành Vương xá và thành Quảng nghiêm, gọi chung là Bát đại linh tháp. 2. Trung quốc: Về di tích của các bậc Tổ sư cao tăng thì có: Lô sơn của ngài Tuệ viễn, núi Thiếu thất của ngài Bồ đề đạt ma, chùa Huyền trung của ngài Đàm loan, núi Thiên thai của ngài Trí khải, chùa Nam hoa ở Tào khê của ngài Tuệ năng...… Về di tích mà Bồ tát hiển hiện thì có: Núi Ngũ đài của bồ tát Văn thù, núi Phổ đà của bồ tát Quan âm, núi Nga mi của bồ tát Phổ hiền, núi Cửu hoa của bồ tát Địa tạng…... 3. Nhật bản: Có nhiều di tích như chùa Pháp long của Thái tử Thánh đức, núi Tỉ duệ của ngài Tối trừng, 88 cơ sở của ngài Không hải, 25 đạo tràng của ngài Pháp nhiên, 24 bối của ngài Thân loan…... [X. Asoka, the Buddhist Emperor, 1901, by Vincent Smith; The Bhilsa Topes, 1854, by Sir Alaxander Cunningham; Nouvelles Recherches Archéologiques à Bàmiyàn, 1933, par J.Hackin]. PHẬT GIÁO ĐẠI HỆ Tác phẩm, 64 tập, do Hội Phật giáo đại hệ san hành của Phật giáo Nhật bản ấn hành, bắt đầu từ năm Đại chính thứ 6 (1917) đến năm Chiêu hòa 13 (1938) mới hoàn tất. Đây là tác phẩm tập đại thành chính văn và các sách chú thích, tiêu biểu của khoảng 130 bộ luận sớ chủ yếu trong Phật giáo như: Câu xá luận, Thất thập ngũ pháp, Lược thuật pháp tướng nghĩa, Thành duy thức luận, Tam luận đại nghĩa sao, Tam luận huyền nghĩa, Hoa nghiêm pháp giới nghĩa kính, Kim sư tử chương, Đại thừa khởi tín luận, Hoa nghiêm ngũ giáo chương, Tịnh độ tam bộ kinh, Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập, Giáo hành tín chứng, Tứ thiếp sớ, Pháp hoa huyền nghĩa, Thiên thai tứ giáo nghi, Ma ha chỉ quán, Quán tâm bản tôn sao, Đại nhật kinh sớ, Khai mục sao, Chính pháp nhãn tạngv.v…... PHẬT GIÁO ĐẠI TỪ VỰNG Tác phẩm gồm 7 tập, do Đại học Phật giáo (Đại học Long cốc hiện nay)của phái Bản nguyện tự thuộc Tịnh độ chân tông Nhật bản soạn. Bộ sách này bắt đầu được biên soạn vào năm Minh trị 41 (1908) để kỉ niệm ngày giỗ thứ 650 của ngài Thân loan, Tổ khai sáng Tịnh độ chân tông Nhật bản. Nội dung biên tập các hạng mục có liên quan đến Tịnh độ chân tông, rất đầy đủ và rõ ràng. Ngoài ra còn nói rộng về sự biến thiên, chế độ, giáo nghĩa của các tông phái khác, về Phật, Bồ tát, quỉ thần và về động thực vật, nhân danh, kĩ nhạc, chùa miếu…... tổng cộng 23.000 hạng mục, cùng với 1.500 tranh ảnh minh họa. Năm Chiêu hòa 47 (1972) có thêm mục sách dẫn 1 quyển và ấn hành. PHẬT GIÁO ĐỒ THƯ QUÁN Thư viện Phật giáo. Căn cứ vào sự ghi chép trong các văn hiến cũng như sự khảo chứng về di tích, thì trong các chùa lớn ở Ấn độ thời xưa như chùa Na lan đà (Phạm: Nàlanda)...… không thấy có thiết lập thư viện riêng để tàng trữ kinh điển. Nhưng ở Trung quốc, bắt đầu từ thời Nam Bắc triều đã kiến thiết Kinhtàng, cũng gọi Kinh lâu, Kinh khố, Kinh đường, Kinh các, Pháp bảo điện, Chuyển luân tạng, Tì lô điện…... tức là nơi để tàng trữ kinh điển. Từ đó về sau, dần dần các chùa viện lớn trên khắp nước Trung quốc đều có tạo lập Kinh tàng và được truyền nối từ đời này qua đời khác. Thời Ngũ đại, vua Ngô Việt họ Tiền yêu cầuQuốc sư Đức thiều thuộc tông Thiên thai xây dựng Kinh tàng, trong vài năm, chỉ ở Hàng châu không thôi, đã có 10 Kinh tàng. Như vậy đủ biết việc kiến thiết Kinh tàng ở đương thời đã phổ cập đến mức nào. Đến đời Tống, sau khi Đại tạng kinh đã được khắc bản và ấn hành, thì việc xây dựng Kinh tàng để cất giữ Đại tạng lại cần thiết hơn nữa. Thông thường, trong các Kinh tàng với qui mô tương đối lớn, không những chỉ tàng trữ Đại tạng kinh hoặc những sách vở của Phật giáo không thôi, mà những điển tịch truyền thống ngoài đời, nếu có thể giúp ích cho việc nghiên cứu, học tập Phật pháp thì cũng được trân trọng cất giữ. Nhất là trong các thư viện của Phật giáo hiện đại, ngoài Đại tạng kinh và nội ngoại điển nói chung, như Phật giáo tùng thư, các tạp chí định kì, các loại sách từ điển...…, những tác phẩm nổi tiếng thuộc lãnh vực tư tưởng, triết học, tông giáo, văn

Phật đỉnh phóng vô cấu quang minh nhập phổ môn quán sát nhất thiết Như Lai tâm đà-la-ni kinh

佛頂放無垢光明入普門觀察一切如來心陀羅尼經; C: fódǐng fàngwúgòu guāngmíng rù pǔmén guānchá yīqiè rúláixīn tuóluóní jīng; J: bucchō hōmuku kōmyō nyū fumon kanzatsu issai nyorai shin darani kyō; S: samantamukha-praveśara-śmivimalo-ṣṇīṣaprabhāsa-sarvatathāgata-hṛdayasamā-valokita-dharaṇī; T: kun nas sgor 'jug pa'i 'od zer gtsug tor dri ma med par snang ba de bzhin gshegs pa tham cad kyi snying po dang dam tshig la rnam par lta ba shes bya ba'i gzungs.|2 quyển, tên gọi tắt là Như Lai tâm kinh (如來心經; s: tathāgatahṛdaya-dhāraṇī), Thí Hộ (施護; s: dānapāla) dịch. Kinh văn gốc về một man-đà-la quay chung quanh Vimaloṣṇīṣa (nhục kế thù thắng thanh tịnh của Như Lai). Đà-la-ni nầy được khắc trên cổng vòm của Cư Dung Quan (居庸關), ở gần Bắc Kinh bằng tiếng Phạn (sanskrit), Tây Tạng, Hán, Uighur, Mông Cổ, và tiếng Tangut.

Phật đỉnh tôn thắng đà-la-ni kinh

佛頂尊勝陀羅尼經; C: fódǐng zūnshèng tuóluóní jīng; J: bucchō sonshō daranikyō; S: uṣṇīṣavijayādhāraṇī; T: de bzhin ghegs pa thams cad kyi gtsug tor rnam par rgyal ba shes bya ba'i gzungs rtog pa dang bcas pa;|Kinh nói về sự thù thắng vi diệu của Phật đỉnh (Tôn thắng Phật đỉnh 尊勝佛頂; s: uṣṇīṣavijayā), có năng lực làm tăng tuổi thọ và tiêu trừ khổ nạn sinh tử luân hồi. Bản văn thứ tư trong Bảy bộ sao lục (s: saptavāra). Các bản dịch của kinh nầy còn lưu truyền ở các nước Khotan, Uighur, Tangut, Mông Cổ, cùng với rất nhiều bản dịch tiếng Tây Tạng và chữ Hán. Bản dịch dùng trong Chân Ngôn tông là của Phật-đà Ba-lị (s: buddhapāli, Đại chính 967), Pháp Thiên (法天, Đại chính 978) và Vũ Triệt (武徹, Đại chính 974c). Trong số các bản dịch chữ Hán, bản dịch của Pháp Thiên tương ưng với 4 bản dịch tiếng Tây Tạng (To.598, P.200), trong khi các bản dịch trước đó lại tương ưng với một bản dịch khác (To.597/984, P.198/609).|Các bản dịch chữ Hán hiện còn là: 1. Phật đỉnh tôn thắng đà-la-ni kinh (佛頂尊勝陀羅尼經), 1 quyển, Phật-đà Ba-lị (佛陀波利; s: buddhapāli) dịch. Luận giải bằng tiếng Hán có Giáo tích nghĩa kí (教跡義記) của Pháp Sùng (法崇); 2. Phật đỉnh tôn thắng đà-la-ni kinh (佛頂尊勝陀羅尼經), 1 quyển, Đỗ Hành Khải (杜行顗) dịch. Luận giải bằng tiếng Hán có Phật đỉnh tôn thắng đà-la-ni kinh thích (佛頂尊勝陀羅尼經釋) của Độc Pháp (讀法); 3. Tối thắng đà-la-ni kinh (最勝陀羅尼經), 1 quyển, Địa-bà Ha-la (地婆訶羅; s: divākara). Bản đà-la-ni được duyệt lại này xuất hiện trong nhiều nghi quỹ đời Đường như Phật đỉnh tôn thắng đà-la-ni niệm tụng nghi quỹ pháp (佛頂尊勝陀羅尼念誦儀軌法) và Du-già tập yếu diệm khẩu thí thực nghi quỹ (瑜伽集要焔口施食儀軌) của Bất Không (不空; s: amoghavajra) và Tôn thắng Phật đỉnh tu du-già pháp nghi quỹ (尊勝佛頂修瑜伽法儀軌) của Thiện Vô Uý (善無畏; s: śubhākarasiṃha); 4. Tối thắng Phật đỉnh đà-la-ni tịnh trừ nghiệp chướng chú kinh (最勝佛頂陀羅尼淨除業障呪經), 1 quyển, Địa-bà Ha-la (地婆訶羅; s: divākara) dịch; 5. Phật đỉnh tôn thắng đà-la-ni kinh (佛頂尊勝陀羅尼經), 1 quyển, Nghĩa Tịnh (義淨) dịch; 6. Tối thắng Phật đỉnh đà-la-ni kinh (最勝佛頂陀羅尼經), 1 quyển, Pháp Thiên (法天) dịch; 7. Nhất thiết Như Lai Ô-sắt-nị-sa tối thắng tổng trì kinh (一切如來烏瑟膩沙最勝總持經), Pháp Thiên dịch, là bản phiên âm tương ưng với bản dịch của Chỉ Không (指空; s: dhyānabhadra); 8. Vu-sắt-sa Tì-tả-dã đà-la-ni (于瑟沙毘左野陀囉尼), 1 quyển, Chỉ Không (指空; s: dhyānabhadra) dịch. Ấn bản tiếng Phạn (sanskrit): Anecdota Oxonensiāryan Series, quyển 1, phần III của F. Max Müller và Bunyu Nanjio, Oxford xuất bản năm 1884.

phật đỉnh đại bạch tản cái đà la ni kinh

(佛頂大白傘蓋陀羅尼經) Cũng gọi: Bạch tản cái đà la ni kinh, Bạch tản cái kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Sa la ba dịch vào đời Nguyên, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung kinh này nói về Đà la ni và công đức của Bạch tản cái Phật đính. Bản cùng loại với kinh này có kinh Phật thuyết đại bạch tản cái tổng trì đà la ni, do ngài Chân trí…... dịch.

Phật đỉnh đại bạch tản cái đà-la-ni kinh

佛頂大白傘蓋陀羅尼經; C: fódǐng dà báisăngài tuóluóní jīng; J: butchō dai byakusankai darani kyō.|Đại Phật đỉnh Như Lai phóng quang Tất-đát-đa bát-đát đà-la-ni (大佛頂如來放光悉怛多鉢怛陀羅尼).

Phật địa

佛地; C: fódì; J: butsuji;|Có các nghĩa sau: 1. Quả vị Phật; đòng nghĩa với Phật vị (佛位), Phật quả (佛果). Giai vị cuối cùng của hàng Bồ Tát, chứng đạt được nhờ chuyển hoá toàn vẹn Nhị chướng (二障, theo Du-già luận 瑜伽論); 2. Giai vị thứ 11 của Thập nhất địa trong kinh Giải Thâm Mật (解深密經; s: saṃdhinirmocana-sūtra).

Phật địa kinh

佛地經; C: fódì jīng; J: butsujikyō.|1 quyển, Huyền Trang dịch, hoàn chỉnh năm 645 tại chùa Hoằng Phúc. Tên đầy đủ là Phật thuyết Phật địa kinh (佛説佛地經). Kinh giảng giải về 5 khía cạnh của Phật địa, gồm Pháp giới thanh tịnh và Bốn pháp chuyển thức thành trí, giải thích chi tiết về Thập địa và Phật địa.

Phật địa kinh luận

佛地經論; C: fódìjīng lùn; J: butsujikyōron.|Luận; gồm 7 quyển do Thân Quang (親光) cùng một số các vị khác trứ tác. Huyền Trang dịch năm 650. Còn gọi là Phật địa luận (佛地論). Tác giả giải thích 5 pháp đề cập trong kinh Phật địa. Kết hợp với những luận giải về Phật địa. Vì có một số đoạn xuất hiện trong Thành duy thức luận (成唯識論), nên có người suy đoán những đoạn văn trùng lặp nầy là của Hộ Pháp (護法; s: dharmapāla) mặc dù hiển nhiên là cả Phật địa kinh luận lẫn Thành duy thức luận đều không phải của Hộ Pháp. Bản dịch Phật địa kinh luận bằng tiếng Tây Tạng cũng có đoạn văn trùng lặp nầy. Người Tây Tạng cho luận giải nầy là của Giới Hiền (戒賢; s: śīlabhadra), viện chủ Học viện Na-lan-đà (s: nālandā) trong thời đoạn Huyền Trang còn lưu lại tại đây. Có bản dịch Anh ngữ luận giải nầy của Tiến sĩ John Keenan, nhưng chưa phổ biến (luận án Tiến sĩ).

phật địa kinh luận

(佛地經論) Phạm: Buddhabhùmi-sùtra-zàstra. Gọi tắt: Phật địa luận. Luận, 7 quyển, do các bồ tát Thân quang... soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 26. Nội dung luận này giải thích bộ kinh Phật địa mà tác giả chia làm 3 phần để trình bày, đó là: Giáo khởi nhân duyên, Thánh giáo sở thuyết và Y giáo phụng hành. Đồngthờigiải thích về 5 thứ pháp nói trong bộ kinh là: Thanh tịnh pháp giới, Đại viên kính trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quán sát trí và Thành sở tác trí. Năm pháp này thu nhiếp toàn bộ cảnh địa Đại giác của kinh. Luận sư Thân quang là học giả của chùa Na lan đà, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ và là học trò của ngài Hộ pháp (Phạm: Dharmapàla, 530-561), do đó, tư tưởng trong kinh Phật địa phần nhiều đã được tác giả giải thích bằng tư tưởng Duy thức thuộc hệ thống ngài Hộ pháp. Trong đó, đặc biệt nổi bật là thuyết Ngũ tính các biệt đã được sử dụng để giải thích thuyết Tứ trí tâm phẩm. Về sách chú sớ luận này thì có: -Phật địa kinh luận sớ, 6 quyển, do ngài Tĩnh mại soạn vào đời Đường. -Phật địa luận sớ, 4 quyển, do ngài Trí nhân người Tân la soạn. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.8].

Phật địa luận

佛地論; C: fódìlùn; J: butsujiron;|Phật địa kinh luận (佛地經論).

Phật Đồ Trừng

(佛圖澄, Buttochō, 232-348): người Thiên Trúc (天竺), hay Quy Tư (龜兹), họ Bạch (帛). Ông có nhiều thần thông, chú thuật, năng lực tiên đoán linh dị. Vào năm thứ 4 (310) niên hiệu Vĩnh Gia (永嘉) đời vua Hoài Đế (懷帝) nhà Tây Tấn, ông đến Lạc Dương (洛陽), lúc đó đã 79 tuổi, gặp phải vụ loạn Vĩnh Gia, trong lòng rất đau xót trước cảnh lầm than của dân tình, bèn mang tích trượng vào trong quân binh của Thạch Lặc (石勒) thuyết pháp, hiện các thần biến, nhờ vậy Thạch Lặc tin phục, cho phép người Hán được xuất gia. Sau khi Thạch Lặc qua đời, Thạch Hổ (石虎) lên kế vị, lại càng tín phụng thêm, tôn ông làm Đại Hòa Thượng. Trong suốt 38 năm trường, ông đã xây dưng gần 900 cơ sở tự viện, độ cho chúng đệ tử hơn 10.000 người, người thường đi theo hầu có đến mấy trăm. Trong số đó, các cao tăng tiêu biểu đệ tử của ông dưới thời nhà Tấn có Đạo An (道安), Trúc Pháp Thủ (竺法首), Trúc Pháp Thải (竺法汰), Trúc Pháp Nhã (竺法雅), Tăng Lãng (僧朗), Pháp Hòa (法和), Pháp Thường (法常), v.v. Vào ngày mồng 8 tháng 12 năm thứ 4 niên hiệu Vĩnh Hòa (永和), ông thị tịch ở Nghiệp Cung Tự (鄴宮寺), hưởng thọ 117 tuổi. Ông tuy không để lại trước tác nào cho hậu thế nhưng giữ gìn giới luật rất nghiêm minh và tạo ảnh hưởng lớn cho việc cải cách giới luật đương thời.

Phật đức

佛德; C: fódé; J: buttoku;|Dịch từ chữ Jñānagupta tiếng Phạn (sanskrit), thường được phiên âm là Xà-na-quật-đa (闍那崛多).

phật ảnh quật

(佛影窟) Phạm: Buddha- chàyà-guhà. Cũng gọi Cù ba la quật. Hang động bóng Phật. Hang động này nằm về phía nam núi A na tư, ở nước Na yết la hạt thuộc Bắc Ấn độ là Thánh địa nổi tiếng của Ấn độ thời xưa. Cứ theo kinh Quán Phật tam muội quyển 7, đức Phật từng có lần hóa độ Long vương và quyến thuộc ở hang động này, vì Long vương chí thành cầu thỉnh đức Phật lưu lại, nên Ngài hiện 18 thần biến như ẩn thân trong đá, hiện bóng ra ngoài, giống như hình tượng hiện trong tấm gương; đứng xa hơn 10 bước mà nhìn thì thấy thân Phật màu vàng ròng, ánh sáng chói lọi. Nhưng nhìn gần thì chỉ thấy lờ mờ, không rõ, đưa tay sờ thì chỉ là vách đá. Các người trời nghe tin đức Phật vào trong động đều đến cúng dường bóng Phậtvà bóng Phật cũng nói pháp cho họ nghe. Hang động này cao 1 trượng 8 thước, sâu 24 bước, đá màu trắng trong. Ở phía tây hang động này có 1 tòa tháp cao khoảng 7 trượng và 1 ngôi chùa với hơn 100 vị tăng. Cách động 1 dặm về phía bắc có động Mục liên. Mặt phía bắc còn có 1 ngọn núi, dưới núi có ngôi tháp cao tới 10 trượng. Các ngài Pháp hiển, Đạo chỉnh, Tuệ cảnh... đời Đông Tấn đều đã đến đây. Khi ngài Huyền trang đời Đường đến đây thì vùng này đã hoang tàn, đường đi có nhiều giặc cướp, sự qua lại rất khó khăn. [X. Thích ca phổ Q.3; Lạc dương già lam kí Q.5; Từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.2].

Phật Ấn Liễu Nguyên

(佛印了元, Butsuin Ryōgen, 1032-1098): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, tự là Giác Lão (覺老), người Phù Lương (浮梁), Nhiêu Châu (饒州, Tỉnh Giang Nam), họ là Lâm (林). Từ lúc còn 2 tuổi, ông đã bắt đầu học Luận Ngữ. Sau ông đến lễ bái Nhật Dụng (日用) ở Bảo Tích Tự (寳積寺) làm thầy và xuất gia, thọ Cụ Túc giới. Ông lên Lô Sơn (廬山), tham yết Khai Tiên Thiện Xiêm (開先善暹), rồi đến Viên Thông Cư Nột (圓通居訥). Vào năm 28 tuổi, ông kế thừa dòng pháp của Thiện Xiêm và bắt đầu hoạt động bố giáo ở Thừa Thiên Tự (承天寺) vùng Giang Châu (江州, Tỉnh Giang Tây). Về sau, ông sống qua một số nơi như Đẩu Phương Tự (斗方寺) ở Thôi Sơn (淮山), Khai Tiên Tự (開先寺) và Quy Tông Tự (歸宗寺) ở Lô Sơn, Kim Sơn (金山) ở Đơn Dương (丹陽, Tỉnh Giang Tô), Đại Quy Sơn (大潙山) ở Giang Tây (江西), v.v., và trãi qua 4 lần sống tại Vân Cư Tự (雲居寺). Ông rất thâm giao với Tô Đông Pha (蘇東坡), còn làm Xã Chủ của Thanh Tùng Xã (青松社), dòng kế thừa của Bạch Liên Xã (白蓮社), và có quan tâm đến tư tưởng Tịnh Độ. Vào ngày mồng 4 tháng giêng năm đầu niên hiệu Nguyên Phù (元符), ông thị tịch, hưởng thọ 67 tuổi đời và 52 hạ lạp, được ban cho hiệu là Phật Ấn Thiền Sư (佛印禪師).

Phật-đà

佛陀; C: fótuó; J: budda; S: buddha.|Có các nghĩa sau: 1. Tiếng Hán phiên âm từ chữ Buddha của tiếng Phạn (sanskrit), có nghĩa là »tỉnh thức, giác ngộ« hoặc »người tỉnh thức, người giác ngộ«. Hầu hết những tác giả và nhà phiên dịch gọi gọn lại bằng một đầu là Phật; 2. Hai chữ nầy cũng là phần đầu pháp danh của nhiều vị ở Ấn Độ và vùng Trung Á.

Phật-đà Bạt-đà-la

佛陀跋陀羅; C: fótuóbátuóluó; J: budda-baddara; S: buddhabhadra.|Có các nghĩa sau: 1. Cao tăng, sinh ở thành Ca-tì-la-vệ (s: Kapilavastu), đến Trung Hoa năm 408. Sư là người phiên dịch đầu tiên kinh Hoa Nghiêm (60 quyển) và kinh Quán Phật Tam-muội hải (觀佛三昧海經); Giác Hiền; 2. Tên vị đệ tử của Dharmakoṣa, người mà Huyền Trang gặp ở Ấn Độ năm 630-640.

Phật-đà Già-da

佛陀伽耶; C: fótuóqiéyé; S: buddhagayā.|Địa danh, được ghi nhận là nơi Phật Thích-ca Mâu-ni thành đạo. Phát âm theo tiếng Hindi mới là Bodhgayā. Ở vào khoảng 10km về hướng Nam của thành phố Gaya hiện đại ngày nay trong vùng Biharu.

Phật-đà Phiến-đa

佛陀扇多; C: fótuóshànduō; J: buddasenta; S: buddhaśānta.|Tên người, dịch nghĩa sang tiếng Hán là Giác Định (覺定). Người miền Bắc Ấn Độ, sang Trung Hoa năm 511 thời Bắc Nguỵ, ở đây sư cùng với Bồ-đề Lưu-chi (菩提流支; s: bodhiruci) và Lặc-na Ma-đề (勒那摩提; s: ratnamati) dịch Thập địa kinh luận (十地經論; s: daśabhūmika-śāstra). Sau sư trú tại chùa Bạch Mã, dịch Nhiếp Đại thừa luận (攝大乘論; s: mahāyāna-saṃgraha) và một số kinh luận khác. Ngày sinh, ngày mất của sư không rõ.

Phật-đà Tư-na

佛陀斯那; C: fótuósīnà; J: buttashina; S: buddhasena.|Phật-đại-tiên (佛大先).

Phật-đà Ðạt-đa

佛陀達多; P: buddhadatta; dịch nghĩa là Phật Thọ;|Luận sư của Thượng toạ bộ (p: theravāda), sống trong thế kỉ thứ 4-5. Sư sinh tại Tích Lan và viết các tác phẩm của mình tại A-nu-ra-đa-pu-ra (anurādhapura). Sư viết nhiều bài luận về Luật tạng (s, p: vinaya-piṭaka), Tiểu bộ kinh (p: khuddaka-nikāya) và tác phẩm quan trọng nhất là Nhập a-tì-đạt-ma luận (p: abhidhammāvatāra), luận giải A-tì-đạt-ma (p: abhidhamma), trình bày quan điểm của Thượng toạ bộ một cách ngắn gọn, rõ ràng.

Phật-đà Đa-la

佛陀多羅; C: fótuóduōluó; J: buddatara, S: buddhatrāta.|Tên được ghi ở cuối kinh Viên Giác (圓覺經), như là dịch giả của kinh nầy. Thực tế vấn đề nầy còn đáng ngờ, vì dường như khá rõ ràng là kinh được soạn ở Trung Hoa. Tên Phật-đà Đa-la cũng dường như không thấy có sự tương quan với những bộ kinh khác.

Phật-đà-tiên

佛駄先; C: fótuóxiān; J: buddasen; S: buddhasena.|Phật-đại-tiên (佛大先).

Phật-đại-tiên

佛大先; C: fódàxiān; J: butsudaisen; S: buddhasena.|Luận sư của phái Hữu bộ, sống vào thế kỉ thứ 5, ở nước Kế Tân (罽賓國; kashmir). Còn gọi là Phật-đà-tiên (佛駄先), Phật-đà Tư-na (佛陀斯那).

phế

To dethrone—To depose.

phế bãi

To abolish—To suppress—To nullify.

phế bỏ

See Phế Bãi.

phế lập

(廢立) Bỏ đi và lập nên, như chủ trương Phế quyền lập thực của tông Thiên thai hoặc Phế giả (quyền) lập chân (thực). Quyền là phương tiện tạm thời để đưa vào thực, khi đạt được thực rồi thì đương nhiên không cần dùng đến Quyền nữa mà phải bỏ đi. Luận về sự quan hệ giữa Quyền giáo và Thực giáo, tông Thiên thai cho rằng nói về mặt giáo thể thì Quyền tức là Thực, Thực tức là Quyền, không hai không khác. Nhưng, đứng về phương diện tác dụng dắt dẫn chúng sinh mà nói, thì tông Thiên thai chủ trương Phế quyền lập thực. Vì trong 28 phẩm của kinh Pháp hoa thì 14 phẩm trước là phế bỏ Quyền giáo, lập nên Nhất thừa chân thực, gọi là Phế quyền lập thực. Đây là căn cứ vào pháp mà nói về Phế lập. Còn 14 phẩm sau này phế bỏ Tích mới thành Phật ở Già da, hiển bày Bản đã thành Phật từ lâu xa. Đây là căn cứ vào người mà nói về Phế lập. Tông Tịnh độ thì chủ trương phế bỏ những điều thiện khó làm mà lập nên pháp môn niệm Phật dễ làm. [X. phẩm Vô tự tính tướng trong kinh Giải thâm mật Q.2. luận Câu xá Q.17; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập]. (xt. Khai Phế Hội).

phế phật huỷ thích

(廢佛毀釋) Cuộc vận động hủy bỏ Phật giáo trong thời kì Minh trị duy tân (1868-1912) ở Nhật bản, chính sách này nhằm củng cố quyền lực tuyệt đối của Thiên hoàng. Cuộc vận động bài Phật rất kịch liệt, thiêu hủy tượng Phật, kinh Phật, pháp khí ở khắp nơi, ra lệnh cho tăng ni phải hoàn tục, các chùa viện hoặc bị phá bỏ hoặc bị sáp nhập. Ý đồ của cuộc vận động này là nhằm phục cổ và quốc giáo hóa Thần đạo để thực hiện đường lối Tế chính nhất trí (Thần và Thiên hoàng là một). (xt. Pháp Nạn, Thần Phật Phân Li).

phế quyền lập thật

(廢權立實) Cũng gọi Phế tam hiển nhất. Phế bỏ các giáo giả tạm trước thời Pháp hoa để thiết lập Pháp hoa Nhất thừa. Tông Thiên thai chia giáo pháp của đức Phật nói trong 45 năm làm 5 thời, 8 giáo. Phế Quyền lậpThực tức là trong 4 thời trước khi Phật nói kinh Pháp hoa, đức Phật đã tùy cơ diễn nói các giáo Đại, Tiểu, Đốn, Tiệm, đó là vì căn tính chúng sinh không đồng đều, chưa khế hợp, nên Ngài chia Nhất Phật thừa làm 3 thừa. Bởi vậy, các giáo trong 4 thời ấy chỉ là pháp môn phương tiện tạm thời, tùy nghi tạm đặt ra để giáo hóa mà thôi. Đến khi đức Phật nói kinh Pháp hoa thì căn tính của những đối cơ được Ngài giáo hóa đã khế hợp và dung thông làm một, có thể bỏ hẳn giáo pháp 3 thừa giả tạm của 4 thời trước mà hội về Nhất thừa chân thực. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 10 thượng) nói: Bỏ hẳn các phương tiện, chỉ nói đạo Vô thượng. Trong Thiên thai tứ giáo nghi, ngài Đế quán cho rằng Phế quyền lập thực là đồng nghĩa với Khai quyền hiển thực hoặc Hội tam qui nhất, cả 3 đều nói rõ về khai hiển của Tích môn Pháp hoa (tức 14 phẩm trước trong 28 phẩm của kinh Pháp hoa). Khai quyền hiển thực là nói về giáo thể, Phế quyền lập thực là nói về giáo dụng, còn Hội tam qui nhất thì nói về hành môn. Ngoài ra, trong Liên hoa tam dụ(3 ví dụ về hoa sen), thì hoa rụng ví dụ cho Phế quyền, sen thành dụ cho Lập thực. Nghĩa là Thực giáo Nhất thừa đã hiển bày thì Quyền giáo Tam thừa tự nhiên phế bỏ. [X. Bài tựa Pháp hoa huyền nghĩa Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm giảng nghĩa Q.1; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng]. (xt. Bản Tích Nhị Môn, Liên Hoa Tam Dụ).

phế tam hiển nhất

(廢三顯一) Đồng nghĩa: Phế quyền lập thực. Bỏ ba hiển một, do tông Thiên thai lập ra. Tông Thiên thai cho rằng giáo pháp đức Phật nói trong các kinh trước kinh Pháp hoa đều là những giáo pháp tạm thời từ một Phật thừa mà chia ra nói làm 3 thừa; đến khi đức Phật nói kinh Pháp hoa thì Ngài xóa bỏ giáo pháp 3 thừa ấy mà mở ra giáo pháp một thừa chân thực. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 7, hạ (Đại 33, 773 thượng) nói: Hoa rụng sen thành, tức dụ cho bỏ ba hiển một. (xt. Khai Hiển, Phế Quyền Lập Thực).

phế thuyên đàm chỉ

(廢詮談旨) Đối lại: Y thuyên đàm chỉ. Cũng gọi Phế thuyên biện thực. Xóa bỏ lời nói mà chỉ thẳng vào lí, chủ trương của tông Pháp tướng. Nghĩa là bỏ lời nói phân biệt mà xét thẳng vào lí lẽ chân thực. Lí Nhất chân pháp giới không phải do nói năng, suy nghĩ mà đạt được, chỉ có bậc Thánh trí mới có thể hiểu rõ bằng sự nội chứng của mình. Luận Đại thừa khởi tín thì gọi là Li ngôn chân như (Chân như lìa lời nói). [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần cuối; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2, phần cuối, Q.6, phần đầu]. (xt. Y Thuyên Đàm Chỉ).

phế tiền giáo

(廢前教) Xóa bỏ những điều đã dạy bảo trước. Nghĩa là khi đức Phật nói kinh Niết bàn, Ngài đã hủy bỏ bộ phận giới luật mà Ngài đã chế định từ trước. Như trước kia các vị tỉ khưu được phép ăn 3 thứ thịt thanh tịnh (không thấy con vật khi nó bị giết, không nghe thấytiếngcon vật kêu khi bị giết, không nghi ngờ con vật bị giết là vì mình), nhưng đến khi Phật nói kinh Niết bàn thì hoàn toàn bị nghiêm cấm. Hành sự sao quyển hạ, phần 2 (Đại 40, 118 thượng) nói: Các luật đều nói thịt cá là thời thực, ở đây thìphế tiền giáo. Kinh Niết bàn nói: Từ nay về sau, các đệ tử không được ăn thịt.Phải quán tưởng rằng ăn thịt giống như ăn thịt con mình.

phế tích hiển bản

(廢迹顯本) Cũng gọi Phế tích lập bản. Xóa bỏ Tích môn, hiển bày Bản môn, 1 trong 3 ví dụ thuộc Bản môn của tông Thiên thai, lớp thứ 2 trong 10 lớp Hiển bản của kinh Pháp hoa. Theo thuyết của tông Thiên thai thì trong 4 thời trước kinh Pháp hoa, đức Phật chưa nói gì về ý nghĩa thọ lượng lâu xa, cho nên chúng sinh đều tin rằng đức Phật chỉ mới thành Phật ở Bồ đề già la; đến khi nói phẩm Thọ lượng trong kinh Pháp hoa, đức Phật mới cho biết là Ngài đã thành Phật từ vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kì kiếp trước rồi, giống như hoa rụng sen thành. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 9 hạ (Đại 33, 798 hạ) nói: Phế tíchhiển bảncũng là nói pháp.Ngày trước vì chúng sinh trong đời 5 trược ác, nghiệp chướng còn sâu nặng nên chưa thể nói về Bản địa thành Phật đã từ lâu xa, mà chỉ hiển bày sự thành Phật gần trong Tích môn. Nay nghiệp chướng đã trừ,cơ duyên đã đến, nên phải xóa bỏ giáo pháp phương tiện Tích môn nói mới thành Phật dưới gốc cây Bồ đề. Giờ thì tâm chấp gần đã đoạn, giáo phương tiện cũng dứt.Đức Như laithườngthuyết pháp giáo hóa ở thế giới Sa bà này và dắt dẫn làm lợi ích chúng sinh trong trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kì cõi nước khác, tức là xóa bỏ tích giáo trong 1 thời kì, hiển bày bản thuyết lâu xa. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm giảng nghĩa Q.7; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng]. (xt. Bản Tích Nhị Môn, Khai Quyền Hiển Thực, Liên Hoa Tam Dụ).

phệ

Sủa (như chó)—To bark (as a dog).

phệ lam

Vairam (skt)—Một loại gió—A kind of wind.

phệ lam bà

Vairambha (skt)—Một loại mãnh phong—A kind of fierce wind.

phệ lô già na

Vairocana (skt)—Phệ Lô Giả Na—Tỳ Lô Giá Na—Tỳ Lư Xá Na—Tên tiếng Phạn của Pháp thân Phật Đại Nhựt Như Lai—The Sanskrit name for the dharmakaya of Vairocana Buddha.

Phệ lưu li

吠琉璃; C: fèiliúlí; J: bairuri; S: vaiḍūrya; E: lapiz lazuli.|Một loại đá quý màu xanh da trời. Thường gọi tắt là Lưu li (瑠璃).

phệ lưu ly

vaidurya (skt)—Tỳ Lưu Ly—Lưu Ly Tỳ Đầu Lê—Tỳ Trù Lê Dạ—Ngọc bích (màu xanh da trời)—Lapis lazuli.

Phệ Quy

(筮龜) hay Phệ Bốc (筮卜): bói toán bằng thẻ tre (một bó có 50 thẻ) và bằng cách đốt mu rùa. Từ đó nó có nghĩa là bói toán nói chung. Trong Chu Dịch Chánh Nghĩa (周易正義), phần Nhĩ Nhã (爾雅) có giải thích về 10 loại thẻ rùa để bói toán, quyết đoán mọi nghi nan rằng: “Thập bằng chi quy giả, nhất viết Thần Quy, nhị viết Linh Quy, tam viết Nhiếp Quy, tứ viết Bảo Quy, ngũ viết Văn Quy, lục viết Phệ Quy, thất viết Sơn Quy, bát viết Trạch Quy, cửu viết Thủy Quy, thập viết Hỏa Quy (十朋之龜者、一曰神龜、二曰靈龜、三曰攝龜、四曰寶龜、五曰文龜、六曰筮龜、七曰山龜、八曰澤龜、九曰水龜、十曰火龜, mười loại thẻ bói rùa, một là Thần Quy, hai là Linh Quy, ba là Nhiếp Quy, bốn là Bảo Quy, năm là Văn Quy, sáu là Phệ Quy, bảy là Sơn Quy, tám là Trạch Quy, chín là Thủy Quy, mười là Hỏa Quy).”

phệ thất la mạt nã

Vaisravana or Dhananda, or Vessanvana (skt)—Tỳ Thất La Mãn Nang—Tỳ Xá La Bà Nô—Tỳ Sa Môn hay Đa Văn Thiên Vương, một trong Tứ Thiên Vương—A form of Kuvera, a god of wealth. A deva who hears much and is well-versed. ** For more information, please see Tứ Thiên Vương.

phệ thế sư

Vaisesika (skt)—Phế Thế Sư Ca—Phệ Thế Sử Ca Xa Tát Đát La—Phái Thắng Luận dựa theo trước tác của Ngài Thế Thân—Paramartha-satya-sastra, a philosophical work by Vasubandhu.

phệ xá

Vaisya (skt)—Phệ Xa—Tỳ Xá—Giai cấp buôn bán, giai cấp thứ ba trong bốn giai cấp Ấn Độ—The third of the four Indian castes.

phệ xá già

Vaisakha (skt)—Tháng thứ hai của Ấn Độ, từ 15 tháng hai đến 16 tháng ba âm lịch—The second Indian month, from 15th of the second to 16th of the third Chinese months. ** For more information, please see Thập Nhị Nguyệt.

phệ xá khư

(吠舍佉) Phạm:Vaizàkha. Pàli:Vesàkha. Cũng gọi Bệ xá khư, Tô xá khư, Thiện cách. Hán dịch: Quí xuân. Tháng thứ 2 của lịch Ấn độ, là khoảng thời gian đức Phật đản sinh, tức khoảng từ ngày 16 tháng 2 đến 15 tháng 3 âm lịch (khoảng tháng 4 đến tháng 5 Tây lịch). Tháng này tương đương với thời gian nóng dần trong 6 thời của Ấn độ. Ngoài ra, tiết Phật xá khư theo Phật giáo Nam truyền là lễ kỉ niệm đức Phật đản sinh, thành đạo và Niết bàn, nhằm ngày trăng tròn trong khoảng tháng 4 hoặc tháng 5 Tây lịch. Năm 1954, Đại hội Phật giáo thế giới lần thứ 3 được tổ chức tại thủ đô Rangoon của Miến điện, đã quyết định ngày này là ngày đức Phật của thế giới. Tại Tích lan và các nước vùng Đông nam á theo Phật giáo cũng lấy ngày này làm ngày truyền thống của quốc gia. [X. kinh Thập nhị nhân duyên tường thụy Q.thượng; kinh Bảo tinh đà la ni Q.4; kinh Đại khổng tước chú vương Q.hạ; kinh Tú diệu Q.thượng, Đại đường tây vực kí Q.2].

phệ xá li

(吠舍厘) Phạm: Vaizàli. Cũng gọi Tì già li, Tì xá li, Bệ xá li, Tì quán la, Duy da, Duy tà. Hán dịch: Quảng bác, Quảng nghiêm. Tên 1 nước ở Trung Ấn độ đời xưa, 1 trong 16 nước lớn, cũng là 1 trong 6 đại đô thành ở thời bấy giờ, là chỗ ở của chủng tộc Li xa tử (Phạm: Licchavi). Cứ theo kinh Du hành trong Trường a hàm quyển 3 thì khi đức Phật còn tại thế, dân chúng Li xa ở nước này rất phồn vinh, đức Phật đã nhiều lần đến đây thuyết pháp, dân chúng đều kính tin Phật giáo. Ngoài ra, theo Đại đường tây vực kí quyển 7, nước này chu vi hơn 5 nghìn dặm, đất đai màu mỡ, phong tục thuần hậu, có vài mươi ngôi đền thờ trời, ngoại đạo ở xen lẫn. Cách phíatây bắc đô thành chừng 5, 6 dặm có 1 ngôi già lam, chư tăng ở đây học pháp của Chính lượng bộ, phía đông thành có di tích chứng quả của ngài Xá lợi phất; cách đô thành về phía đông bắc khoảng 3 dặm, có tháp ghi chỗ nhà cũ của Đại sĩ Duy ma, ở gần đó cũng có các tháp kỉ niệm chỗ ngài Duy ma thị hiện có bệnh để nói pháp và ghi chỗ nhà cũ của bà Am một la; phía tây bắc thành có nền cũ của tòa tháp kỉ niệm nơi đức Phật đến đây lần cuối cùng. Đức Phật từng nói kinh Duy ma và kinh Dược sư ở thành này. Sau đức Phật nhập diệt 100 năm, có 700 vị A la hán cử hành Đại hội kết tập lần thứ 2 ở thành này. Vị trí của thành này hiện nay tương đương với vùngBesàrhở đông ngạn sông Gandak, bắc ngạn sông Hằng của Ấn độ. [X. phẩm Thắng tộc kinh Phương quảng trang nghiêm Q.1; kinh Đại bát niết bàn Q.1 (bản Bắc); phẩm Phụng trì kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa Q.hạ; kinh Phật mẫu đại Khổng tước minh vương Q.trung; luật Ngũ phần Q.2; Thiện kiến luật tì bà sa Q.10; luật Thập tụng Q. 40; Hữu bộ tì nại da dược sự Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.4; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7].

phệ đà

Kinh Vệ Đà—Veda (skt). ; (吠陀) Phạm, Pàli: Veda. Hán âm: Phệ đà, Vi đà, Tì đà, Bệ đà, Tỉ đà, Bì đà. Hán dịch: Trí, Minh, Minh trí, Minh giải, Phân. Cũng gọi Vi đà luận, Tì đà luận kinh, Bệ đà chú, Trí luận, Minh luận. Danh từ gọi chung cácthánh điển của Bà la môn giáo Ấn độ. Nguyênnghĩalà tri thức, tức là kho báu tri thức thần thánh, là văn hiến cơ bản của Bà la môn giáo. Là văn hiến tông giáo có quan hệ mật thiết với nghi thức cúng tế. Về niên đại thành lập sách Phệ đà có nhiều thuyết khác nhau. Thông thường, người ta suy đoán rằng nó được hoàn thành vào thời gian người Aryan từ Tây bắc xâm nhập và định cư ở vùng Ngũ hà (Phạm: Paĩjab) thuộc lưu vực sông Ấn độ (Indus). Kinh Phệ đà nguyên có 3 loại: Lê câu phệ đà (Phạm: Fg-veda), Sa ma phệ đà (Phạm: Sàma-veda) và Dạ nhu phệ đà (Phạm: Yajur-veda). Ba bộ này gọi là Tam minh, Tam phệ đà, Tam vi đà luận, Tam bộ cửu điển. Sau thêm A thát bà phệ đà (Phạm: Atharva-veda) nữa thành 4 bộ Phệ đà. 1. Lê câu phệ đà (cũng gọi Hà lực phệ đà, Hiệt lực bệ đà, Tín lực tì đà). Hán dịch: Tán tụng minh luận, Tác minh thực thuyết. TứcPhệ đà có liên quan đến Tán ca (Phạm: Fc). Thời thái cổ, người Aryan di cư đến vùng Ngũ hà của Ấn độ, họ sùng bái thần tự nhiên, làm những bài ca để tán tụng thần, rồi gom góp lại mà thành sách Lê câu phệ đà, là gốc của 4 bộ Phệ đà, về sau trở thành kinh điển tế tự của Khuyến thỉnh tăng (Phạm: Hotf). Bộ Phệ đà này là Thánh điển xưa nhất của thế giới, hình thành vào khoảng từ 1400 năm đến 1000 năm trước Tây lịch, gồm 10 quyển, tổng cộng có 1.017 thiên Tán ca (bổ sung 11 thiên nữa thành 1.028 thiên), 10.580 bài tụng. 2. Sa ma phệ đà (cũng gọi Sa ma bệ đà, Tam ma phệ đà). Hán dịch: Bình, Đẳng, Ca vịnh minh luận, Tác minh mĩ ngôn, Lễ nghi mĩ ngôn trí luận. Là Phệ đà có liên quan đến việc ca vịnh và Toàn luật (Phạm: Sàman). Là Thánh điển dùng trong việc cúng tế, gồm những bài tán ca và những ca khúc do Ca vịnh tăng (Phạm: Udgàtf) ngâm vịnh trong các nghi thức tế lễ như Tô ma tế..., có 2 quyển, 1.810 bài tụng (bỏ những bài trùng lắp thì có 1.549 bài tụng, phần nhiều được sao chép từ bộ Lê câu phệ đà, chỉ có 78 bài tụng mới). 3. Dạ nhu phệ đà (cũng gọi Dã thụ phệ đà, Da thụ bệ đà, Da thụ tì đà, Dạ thù tì đà). Hán dịch: Từ, Tế từ, Tác minh cúng thí, Tế tựtrí luận, Tế tự minh luận. Tức Phệ đà có liên quan đến việc tế tự, gồm những văn chú và chú thích văn chú mà Hành tế tăng (Phạm: Adhvaryu) xướng tụng, được biên soạn sau Lê câu phệ đà. Có 2 loại: a) Hắc dạ nhu phệ đà (Phạm: Kfwịayajur-veda): Do chính vănPhệ đà (tán ca, tế tự, chú từ...) và Phạm thư (sách chú thích Phệ đà) hợp thành, có 4 thứ (hoặc 5 thứ, 7 thứ, 8 thứ), gồm 13 quyển. b) Bạch dạ nhu phệ đà (Phạm: Zuklayajur-veda): Do tách rời chính văn với Phạm thư, chỉnh đốn lại Hắc dạ nhu và sắp xếp lại những lời giải thích về văn chú mà thành. 4. Athát bà phệ đà (cũng gọi A kiện bệ đà, A tha tì đà, A đà bà tì đà, A vi thát bà). Hán dịch: Chú, Thuật, Chú thuật, Nhương tai, Tác minh hộ hữu, Dị năng hộ phương trí luận, Nhương tai minh luận. Là Phệ đà do thu tập những lời thần chú cầu phúc do Hỏa tế tăng (Phạm: Atharvan) chủ trì; còn những lời thần chú trừ tai họa, nguyền rủa thì do Ương kì la tăng (Phạm: Aígiras) tụng đọc. Bộ Phệ đà này gồm 20 quyển, 731 thiên, 6.000 bài tụng, trong đó có 1.200 bài được sao chép ra từ bộ Lê câu phệ đà. Bốn bộ Phệ đà trên đây, mỗi bộ đều có Phó phệ đà (Phạm: Upa-veda), như Phó phệ đà của Lê câu phệ đà là A luân luận (Phạm: Àyar-veda), Hán dịch Thọ mệnh luận, tức là sách thuốc. Phó phệ đà của Sa ma phệ đà là Kiện thát bà luận (Phạm: Gàndharva-veda), tức là Âm nhạc luận. Phó phệ đà của Dạ nhu phệ đà là Đà nâu luận (Phạm: Dhanuveda), tức là Xạ pháp luận (sách dạy cách bắn cung). Phó phệ đà của A thát bà phệ đà là Vũ khí luận (Phạm: Zastra-zàstra), tức là Quân học.Nội dung của 4 bộ Phệ đà, nói chung, bao gồm Bản tập (Phạm: Saôhità) của 4 Phệ đà, Phạm thư (Phạm: Bràhmaịa, Phạm thư nghĩa hẹp), Sâm lâm thư (Phạm: Àraịyaka) và Áo nghĩa thư (Phạm: Upaniwad). Về sau, Phạm thư và Áo nghĩa thư phần nhiều được nghiên cứu riêng biệt. Bản tập củabốn Phệ đà: Thu chép những bài Tán ca, Câu chú, lời tế... Phạm thư (nghĩa hẹp) chia ra làm 2 bộ: Nghi quĩ, Thích nghĩa. Nghi quĩ qui định phương thức và thứ tự tế lễ, cách sử dụng tán ca. Thích nghĩa thì giải thích ý nghĩa, nguồn gốc của tán ca và nguồn gốc, ý nghĩa của tế tự. Sâm lâm thư và Áo nghĩa thư (cũng gọi Phệ đàn đa) thì nhằm khảo sát và giải thích ý nghĩa đời sống con người. Còn phạm thư theo nghĩa rộng thì bao gồm cả 3 bộ: Phạm thư (nghĩa hẹp), Sâm lâm thư và Áo nghĩa thư. Bởi thế, khi nói đến Phệ đà, thì Phệ đà nghĩa hẹp chỉ đơn thuần chỉ cho Bản tập, cònPhệ đà nghĩa rộng thì chỉ cho cả Bản tập và Phạm thư (nghĩa rộng). Do sự truyền thừa và giải thích khác nhau, nên đời sau phát sinh nhiều học phái và bản văn bất đồng, tạo thành tổ chức văn hiến phức tạp. Văn hiến Phệ đà được truyền đến ngày nay, tuy chỉ có 1 phần nhỏ, nhưng cũng rất đồ sộ. Phệ đà là văn học thiên khải (Phạm: Zruti, do thiên thần hiển hiện mở bày), tương truyền do các vị đại tiên thời thái cổ y cứ theo sự mở bày của thần linh mà tụng ra, rồi do vị tiên Tì da sa (Phạm: Vyàsa, Hán dịch Quảng bác) sửa chữa lại mà biên tập thành. Bản thân Phệ đà cũng đã là ý nghĩa thần trí thiên khải rồi, cho nên cùng với Phạm thư đều được gọi là Thiên khải, để phân biệt với Kinh (Phạm: Sùtra) do trí thức, trí tuệ của loài người tạo tác và truyền thừa. Đến đời sau, các học phái như Di mạn sai (Phạm: Mìmàôsà), Phệ đàn đa (Phạm: Vedànta)... cho rằng Phệ đà là tiên thiên thường trụ, là tuyệt đối chân thực và chủ trương Thanh thường trụ luận, chính là thừa kế thuyết Thiên khải vậy. Thánh điển thiên khải này phát triển đến đời sau, lại sinh ra nhiều sách vở phụ trợ, đó chính là 6 chi phần Phệ đà (Phạm: Vedàíga). Những chi phần này cùng với 2 bộ Đại tự sự thi Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata), La ma da na (Phạm: Ràmàyana) và bộ Pháp điển Ma nô (Phạm: Mànava Dharma Zàtra)... đều là do Thánh hiền trứ tác, vì thế được gọi là Thánh truyền văn học (Phạm: Smfti). Nội dung của 6 chi phần Phệ đà bao gồm: Ngữ âm học (Phạm: Zikwà), Vận luật học (Phạm: Chandas), Văn pháp học (Phạm: Vyàkasaịa), Ngữ nguyên học (Phạm: Nirukta), Thiên văn lịch học (Phạm: Jyotiwa), Tế nghi cương yếu học (Phạm: Kalpa-sùtra)...Trong đó, Tế nghi cương yếu học là sách vở không thể thiếu để hiểu rõPhệ đà. Ngôn ngữ được sử dụng trong Phệ đà gọi là Phệ đà ngữ (Phạm: Vedic Sanskrit), do thời đại bất đồng mà có các tầng bậc mới cũ. Nhận xét về mặt văn vần (tán ca) và văn xuôi (tự thuật) thì trên văn thể và ngữ pháp đều có sai khác. Đến Áo nghĩa thư thì đã gần với văn Phạm cổ điển. Phệ đà là bộ sách tập hợp tinh túy của văn học Ấn độ cổ đại, là nguồn gốc của tư tưởng Bà la môn chính thống, đặc sắc của Phệ đà là dung hợp 3 yếu tố thần thoại, tông giáo và triết học. Xét về nội dung, phần chứa đựng những tư tưởng tông giáo và triết học là phẩm Trí (Phạm:Jĩànakàịđa), tức Áo nghĩa thư; phần chứa đựng bộ môn tế tự là phẩm Nghiệp (Phạm: Karmakàịđa), tương đương với Phạm thư. Tư tưởng triết học của Phệ đà bắt đầu từ Vũ trụ luận của các bài tán ca được sáng tạo trong Lê câu phệ đà, rồi phát triển thành giáo lí thần thoại phong phú của Đa thần giáo, cuối cùng đạt đến nguyên lí căn bản Phạm Ngã Nhất Như của Áo nghĩa thư, tức là triết học Nhất nguyên luận bất nhị. Thời gần đây, việc nghiên cứuPhệ đà rất được xem trọng. Sự nghiên cứu về phương diện thần cách và thần thoại của Phệ đà đã sản sinh ra tông giáo học và Thần thoại tỉ giảo học... Còn kết quả của việc nghiên cứu Phệ đà ngữ thì đã đóng góp rất lớn cho nềnNgôn ngữ tỉ giảo học. Hiện nay, nguyên điển Phệ đà đã được xuất bản và dịch ra nhiều thứ tiếng như Anh, Đức... [X. kinh Tì da sa vấn Q.thượng; kinh Đại bảo tích Q.120, hộiQuảng bác tiên nhân; kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.10; kinh Đại thừa mật nghiêm Q.thượng; luật Thập tụng Q.38; Hữu bộ bật sô ni tì nại da Q.1; luận Đại tì bà sa Q.14; luận Đại trí độ Q.2; Bách luận sớ Q.thượng, phần cuối; Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí Q.10, phần đầu; Đại đường tây vực kí Q.2; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Ấn độ tam đại thánh điển thiên 1 (Mi văn khai); Ấn độ triết học sử lược, chương 1 (Thang dụng đồng); Ấn độ triết học sử cương thiên 1, chương 1 (Hoàng sám hoa)]. (xt. Tứ Phệ Đà, Áo Nghĩa Thư).

phệ đà giáo

(吠陀教) Một trong những tông giáo cổ đại diễn biến từ tín ngưỡng của bộ lạc du mục Aryan ở vùng Tây bắc Ấn độ vào khoảng 2000 năm trước Tây lịch mà thành, thuộc về Đa thần giáo. Tông giáo này sùng bái những năng lực tự nhiên được thần thánh hóa, sùng bái tổ tiên và những nhân vật anh hùng... như Thiên thần Phạt lâu nã, thần Thái dương Tô lợi da, thần sấm Nhân đà la, thần gió Phạt do, thần lửa A kì ni, thần rượu Tô ma...Các thần trên đây thuộc 3 cõi trời, hư không và mặt đất phần nhiều đã do người Aryan du nhập từ Ba tư. Về sau, tông giáo này dần dần phát triển thành Nhất thần giáo, do đó đã xuất hiện các vị thần trừu tượng như Tạo nhất thiết thần (Phạm: Vizva-karman), Kì đảo chủ thần (Phạm: Brahmaịaspati), Nguyên nhân (Phạm: Puruwa)... Quan niệm về linh hồn cũng đã manh nha, tuy vẫn chưa có tư tưởng linh hồn chuyển sinh, nhưng Phệ đà giáo đã có ảnh hưởng rất lớn đối với sự hình thành của Bà la môn giáo và Ấn độ giáo sau này.

phệ đà thánh điển cương yếu

(吠陀聖典綱要) Phạm: Vedartha-saôgraha. Tác phẩm, do nhà triết học phái Phệ đàn đa của Ấn độ làLa ma noa già (Phạm: Ràmànuja, 1017-1137) soạn, chủ yếu nói rõ nghĩa tinh túy của Áo nghĩa thư. Nội dung gồm các điểm: 1. Trình bày sơ lược về lập trường của tác giả và lập trường của các phái đối lập.2. Bác bỏ luận thuyết của các học giả khác trong phái Phệ đàn đa, như Bất nhị nhất nguyên luận của Thương yết la (Phạm: Zaíkara) Bất nhất bất dị thuyết của Ba tư gia la (Phạm: Bhàskara) và của Da đạt phạt bà la ca hạ (Phạm: Yadavapra Kaza). 3. Bàn rõ về các nguyên lí tinh thần thuần túy, nguyên chất căn bản... 4. Chỉ rõ tín ngưỡng thành kính đối với thần (Thượng đế). La ma noa già lấy Chế hạn nhất nguyên luận làm nền tảng cho triết học của ông, chủ trương tín ngưỡng kiền thành là điều kiện tất yếu để được giải thoát. Những tác phẩm trọng yếu của ông phần nhiều là những sách chú thích các kinh điển. Tác phẩm này cho thấy rõ tư tưởng độc lập của ông. [X. The Theolory of Ràmànuja, New Haven 1974, by J. B. Carman].

phệ đàn đa học phái

(吠檀多學派) Phệ đàn đa, Phạm: Vedànta. Cũng gọi Hậu di mạn sai phái (Phạm: Uttara-mìmàôsà), Trí di mạn sai phái (Phạm: Jĩàna-mìmàôsà). Nguyên chỉ cho Áo nghĩa thư (Phạm: Upaniwad), chuyên nghiên cứu và giải thuyết nghĩa thâm áo (sâu kín) của Phệ đà, về sau phát triển dần dần thành 1 phái lấy tên Phệ đàn đa học phái. Học phái này chủ trương Phạm (Phạm: Brahman) là thực tại tối cao, 1 học phái chính thống có thế lực nhất trong 6 phái triết học Ấn độ đời xưa. Phái này được thành lập vào khoảng thế kỉ I Tây lịch, thủy tổ là Bạt đa la diễn na (Phạm: Bàdaràyaịa). Nội dung tư tưởng phái này căn cứ vào Áo nghĩa thư cổ đại, rồi điều hòa tổ chức các học thuyết từ xưa mà thành, vì thế mà phái này được coi như học đồ của Áo nghĩa thư (Phạm: Aupaniwada). Những sách vở y cứ của phái này được biên soạn vào khoảng thế kỉ V.Phái này lấy Phạm kinh (Phạm: Brahma-Sùtra) làm Thánh điển căn bản, phát huy tư tưởng Phạm, Ngã (Phạm: Àtman) trong Áo nghĩa thư. Về sau, Phạm kinh còn được gọi là Phệ đàn đa kinh (Phạm: Vedànta-sùtra), hoặc Căn bản tư duy kinh (Phạm: Sàrìraka-mìmàôsàsùtra). Thuyết của kinh này chủ trương Phạm là Ngã tối cao, Phạm cũng là căn nguyên sinh thành vũ trụ, muôn vật đều do Phạm chuyển biến huyễn hiện, sự tồn tại của thân thể đều từ Phạm mà ra, Ngã tuy là 1 phần của Phạm, nhưng chẳng phải từ Phạm sinh ra, cho nên Ngã không thể là quả của Phạm, đây chính là lí do cắt nghĩa Phạm cũng ở nơi 1 phần Ngã, sự quan hệ giữa Phạm và Ngã cũng giống như sự quan hệ giữa vũ trụ muôn vật được tạo thành và vũ trụ tinh thần là chẳng phải một chẳng phải khác, cho nên mới đề xướng thuyết Phạm Ngã bất nhất bất dị (Phạm: Bhedàbheda). Bà la môn chính thống cho rằng Áo nghĩa thư là sự tồn tại tuyệt đối (Áo nghĩa thư là 1 thứ trong Phệ đà), phái này tuy công nhận điều đó nhưng lại chủ trương Phệ đà tồn tại trong Áo nghĩa thư thì mới có giá trị cao hơn. Tuy nhiên, tinh thần căn bản của phái này vẫn lấy sự phát huy tư tưởng Phạm-Ngã trong Áo nghĩa thư làm mục đích, cho nên, nói một cách đại thể thì phái này vẫn thuộc về tư tưởng Bà la môn chính thống. Do văn chương kinh Phệ đà giản dị, trong sáng nên rất nhiều học giả các phái chú giải kinh này, chẳng hạn như Mãn đô khư da tụng (Phạm: Màịđùkya-kàrikà) của Cao đạt phạ đạt (Phạm: Gauđapàda), Căn bản tư duy kinh chú của Thương yết la a xà lê (Phạm: Zaíkaràcàrya), Phạm kinh chú của La ma noa già (Phạm: Ràmànuja), Phệ đàn đa tinh yếu (Phạm: Vedàntasàra) của Sa đạt nan đà (Phạm: Sadànanda)... Về sau, Thương yết la a xà lê chịu ảnh hưởng của học phái Du già và tư tưởng Trung quán của Phật giáo, đem tư tưởng trong Mãn khư đô khư da tụng của Cao đạt phạ đạt phát triển thành Bất nhị Nhất nguyên luận (Phạm: Advaitavàda), chủ trương Phạm ngã nhất nguyên là thường trụ chân thực, chẳng sinh chẳng diệt và cho rằng tất cả hiện tượng giới đều do thức biến hiện. Ba tư gia la (Phạm: Bhàskara) phản đối thuyết trên đây của Thương yết la a xà lê mà lập riêng thuyết bất nhất bất dị, chủ trương Phạm là thực tại tối cao, cũng thừa nhận thế giới và các loài hữu tình là thực có. Vào thế kỉ XI, La ma noa già phản đối thuyết này mà đề xướng Chế hạn nhất nguyên luận (Phạm: Viziwỉàdvaita) chủ trương Phạm tức là thần Tì sắt nô (Phạm: Viwịu), trong thân Tì sắt nô bao gồm vật chất và Ngã cá nhân, đương lúc Phạm khởi động chuyển biến thì vật chất trở thành khí thế giới và thân hữu tình, còn Ngã cá nhân thì trở thành linh hồn của loài hữu tình, tức chủ trương vật chất và Ngã cá nhân chỉ là thuộc tính của Phạm, chẳng phải hoàn toàn tương đồng với Phạm. Cả hai phái này (Ba tư gia la và La ma noa già) cùng với Bất nhị Nhất nguyên luận đồng thời lưu truyền đến ngày nay, hợp thành 1 học phái lớn mạnh. Ngoài ra, Ninh ba nhĩ ca (Phạm: Nimbarka) thuộc phái Tì sắt nô chịu ảnh hưởng của La ma noa già, đề xướng thuyết Bất nhất bất dị. Vào thế kỉ XII, Ma đà ba (Phạm: Madhva), soạn sách chú thích kinh Phệ đàn đa đề xướng thuyết Nhị nguyên (Phạm: Dvaita), chủ trương Ngã tối cao (Thần Tì sắt nô) cùng với Ngã cá nhân và vật chất không giống nhau. Giữa thế kỉ XIII, A nan đà cát lợi (Phạm: Ànandagiri), chú thích lại các sách chú sớ của kinh Phệ đàn đa, kể cả chú thích của Thương yết la a xà lê. Vào thế kỉ XIV, Duy đô á lạp ni nhã (Phạm: Vidyàraịya), soạn sáchPaĩdazì, chủ trươngthuyết Tuyệt đối bất nhị. Khoảng thế kỉ XV, XVI, Bà nhĩ la ba (Phạm: Vallabha) chủ trương thuyết Thanh tịnh bất nhị (Phạm: Zuddhàdvaita), nghĩa là Ngã cá nhân và vật chất cùng với Phạm chẳng phải là hai. Nói tóm lại, lí luận của phái Phệ đàn đa đều cho rằng Phạm Ngã nhất như là nguyên lí tuyệt đối, hiện đang thịnh hành và là dòng phái chính của trào lưu tư tưởng Ấn độ. [X. Ấn độ triết học khái luận (Lương thấu minh); Ấn độ lục phái triết học cương yếu (Lí thế kiệt); Ấn độ triết học nghiên cứu Q.1 (Vũ tỉnh Bá thọ); The Vedàntasùtra, by Thibaut; Das system des Vedànta, by Deussen; Der ltereVedànta, by Walleser].

phệ đàn đa tinh yếu

(吠檀多精要) Phạm: Vedànta-sàra. Tác phẩm, gồm 12 thiên, 204 bài tụng, do Sa đạt nan da (Phạm: Sadànanda) soạn vào cuối thế kỉ XV, do tổng hợp 2 luận thuyết Phạm Ngã bất nhị nhất nguyên luận của Thương yết la (Phạm: Saíkarà) và Chế hạn nhất nguyên luận của La ma noa già (Phạm:Ràmànuja) mà thành. Nội dung sách này chủ trương 4 luận điểm sau đây: 1. Sự cúng tế có ý nghĩa nội tại của nó, do đó phải thực hành nghi lễ cúng tế. 2. Quả báo đời nay và đời sau đều là tạm thời, vì thế cần phải chán lìa. 3. Vô minh ẩn kín trong Phạm, khi gặp thời cơ thích đáng thì xuất hiện. Phạm là vị thứ 4 (Giác vị) trong Bốn vị, là bản thể không sai khác. Hai câu cách ngôn Ngã tức Phạm (Phạm: A ham Brahma asmi – Ta là Phạm), Đà tức nhĩ (Phạm: Tat tvam asi – Cái ấy tức là ngươi) được dùng để thuyết minh bản thể tuyệt đối duy nhất của Phạm. Còn Vô minh thì bao gồm 3 vị trước (Tuệ vị, Quang vị, Vạn nhân vị) được cấu thành bởi 3 yếu tố: Thuần chất, Kích chất và Ế chất. Sa đạt noa đa lại dựa vào sự quan hệ tương đối của thế giới(tướng chung) và cá nhân(tướng riêng) để nói rõ trạng huống các giai đoạn phát triển của Vô minh từ chỗ sâu kín tối tăm khó thấy đến hiện tượng cụ thể. 4. Nếu muốn cầu giải thoát thì cần phải tư duy một cách thực tiễn, hiểu rõ và vào tam muội thiền định, chuyên niệm Phạm Ngã bất nhị. Sách này chịu ảnh hưởng sâu đậm của học phái Số luận. [X. A Manual of Hindu Pantheism, 1881, by Jacob; Phệ đàn đa triết học chi nghiên cứu (Kim thương Viên chiếu)].

Phệ-thế-sử

xem Vệ-thế-sư.

Phệ-đà

吠陀; C: fèituó; J: haita;|Phiên âm chữ Veda từ tiếng Phạn, là kinh văn căn bản của Bà-la-môn Ấn Độ giáo.

phỉ

Piti (p)—Zest—Hân hoan hay hứng thú—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), từ “Phỉ” được rút ra từ động từ “panayati” của Phạn ngữ có nghĩa là hoan hỷ hay thích thú. Danh từ “Piti” thường được dịch là Phỉ hay Hỷ, đóng đúng vai trò của nó như là một yếu tố trong thiền na. Phỉ tạm thời khắc phục triền cái “oán ghét sân hận.” Có năm loại “Phỉ.”—According to the Abhidharma, “Piti” derived from the verb “panayati” meaning “to refresh,” may be explained as delight or pleasurable interest in the object. The term is often translated as rapture, a rendering which fits its role as a jhana factor. “Piti” inhibits the hindrance of ill-will (vyapada). There are five grades of “piti.” 1) Khuddaka Piti (p): Cái vui làm mình rùng mình, rởn óc (nổi da gà)—Minor zest which is able to raise the hair on the body. 2) Khanika Piti (p): Cái vui thoáng qua mau lẹ như trời chớp—Momentary zest which is like flashes of lightning. 3) Okkantika Piti (p): Cái vui tràn ngập như sóng biển trườn lên bãi—Showering zest which breaks over the body again and again like waves on the sea shore. 4) Ubbega Piti (p): Cái vui thanh thoát đem lại cho hành giả cảm giác nhẹ nhàng như bông gòn lững lơ bay theo chiều gió—Uplifting zest which can cause the body to levitate. 5) Pharana Piti (p): Cái vui thấm nhuần toàn thể châu thân như bong bóng được thổi phồng hay trận lụt tràn lan làm ngập cả ao hồ—Pervading zest which pervades the whole body as a full-air balloon or as an inundation fills a cavern.

phỉ báng

Apavada (skt). (I) Nghĩa của Phỉ Báng—The meanings of Apavada: 1) Nói xấu—To speak ill of—To defame—To slander—To dispraise—To calumniate—To refute—To deny—To vilify. 2) Sự phỉ báng xãy ra khi bản chất bất khả hữu của một mệnh đề được đặt căn bản trên những kiến giải sai lầm không được hiểu rõ ràng: A refutation takes place when the impossible nature of a proposition based on wrong views is not clear comprehended. (II) Cổ Đức dạy: “Thí như nhơn thóa thiên, hoàn tùng kỷ thân trụy.” Nghĩa là người phun nước miếng lên trời, nước miếng rơi trở xuống ngay nơi mặt chính họ. Hoặc là “Ngậm máu phun người nhơ miệng mình.”—Ancient virtues taught: “Those who spit at the sky, immediately the spit will fall back on their face.” Or To harbor blood to spit at someone, the mouth is the first to suffer from filth. (I) Lời Phật dạy về Phỉ Báng trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on Apavada: Chớ nên phỉ báng, đừng làm não hại, giữ giới luật tinh nghiêm, uống ăn có chừng mực, riêng ở chỗ tịch tịnh, siêng tu tập thiền định; ấy lời chư Phật dạy—Not to slander, not to harm, but to restrain oneself in accordance with the fundamental moral codes, to be moderate in eating, to dwell in secluded abode, to meditate on higher thoughts, this is the teaching of the Buddhas (Dharmapada 185).

phỉ báng chánh pháp

Phỉ báng Phật pháp (tội nầy nặng nhất vĩnh viễn đọa vào địa ngục)—To speak ill of the Buddhist doctrines—To slander or deny the truth, i.e. Buddhism.

phỉ báng chính pháp

(誹謗正法) Phạm: Saddharma-pratikwepa. Cũng gọi: Báng pháp, Phá pháp, Đoạn pháp. Dèm chê chính pháp của đức Phật. Cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển thượng thì đức Phật A di đà phát nguyện cứu độ những chúng sinh niệm Phật, chỉ trừ những người phạm tội Ngũ nghịch và phỉ báng chính pháp. Kinh Bồ tát thiện giới cho tội phỉ báng chính pháp là 1 trong 8 Ba la di (8 giới nặng) của Bồ tát. Còn kinh Phạm võng quyển hạ thì cho tội phỉ báng Tam bảo là 1 trong 10 Ba la di của Bồ tát. Nói chung, phỉ báng chính pháp có 2 loại: 1. Không tin pháp Đại, Tiểu thừa mà nghi ngờ phỉ báng. 2. Không tin các kinh Đại thừa là do chính đức Phật nói mà dèm chê; hoặc thấy người đọc tụng, biên chép, thụ trì các kinh Đại thừa mà sinh lòng khinh dễ, ghen ghét. Theo Bồ tát giới kinh nghĩa sớ quyển hạ của ngài Trí khải thì dèm chê Tam bảo là do 4 loại tà kiến: 1. Thượng tà kiến: Chủ trương tất cả đều không có nhân quả. 2.Trung tà kiến: Chẳng cho tất cả không có nhân quả mà chỉ nói Tam bảo không bằng ngoại đạo. 3. Hạ tà kiến: Chẳng nói Tam bảo không bằng ngoại đạo, mà trong tâm chấp trước pháp Nhị thừa là thù thắng, rồi bỏ Đại thừa mà giữ Tiểu thừa. 4. Tạp tà kiến: Có 4 loại: Chấp trước thiên lệch, tin tưởng tạp nhạp, tạm nhớ Tiểu thừa và suy nghĩ hẹp hòi lầm lẫn. Nhưng thuyết phỉ báng chính pháp rất ít thấy trong các kinh A hàm mà phần nhiều chỉ thấy rải rác trong các kinh điển Đại thừa, mục đích là để răn dạy hàng Thanh văn Tiểu thừa dèm chê Đại thừa. [X. phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa Q.2; phẩm Nê lê kinh Đạo hành bát nhã Q.3; phẩm A duy việt trí kinh Đạo hành bát nhã Q.6; phẩm Tín hủy kinh Đại phẩm bát nhã Q.11; phẩm Bất thoái Q.16; phẩm Thí dụ kinh Bát chu tam muội; kinh Đại bát niết bàn Q.7, 16 (bản Bắc); kinh Đại bảo quảng bác lâu các thiện trụ bí mật đà la ni Q.trung; kinh Bồ tát địa trì Q.5; kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng; luận Du già sư địa Q.40; luận Thích tịnh độ quần nghi Q.6; Pháp uyển châu lâm Q.58].

phỉ luật tân phật giáo

(菲律賓佛教) Phật giáo Phi luật tân. Nước Phi luật tân nằm về phía Tây nam Thái bình dương, khoảng giữa eo biển Ba sĩ và Đài loan, do hơn 7.000 hòn đảo lớn nhỏ hợp thành, diện tích 30 vạn cây số vuông, dân số khoảng hơn 40 triệu, 90% tin theo Thiên chúa giáo, là quốc gia Thiên chúa giáo duy nhất ở Viễn đông, vì thế Phật giáo rất khó phát triển được ở xứ này.Từ rất sớm, khoảng thế kỉ VIII đến XIII Tây lịch, Đế quốc Phật giáo Thất lợi phật thệ (Sri-vishaya), đặt thủ đô ở Sumatra hiện nay, từng đã mở rộng thế lực đến quần đảo Phi luật tân, Phật giáo cũng theo đó mà được truyền vào xứ này. Trong thổ ngữ Phi luật tân ngày nay vẫn còn giữ được một số thành phần tiếng Phạm, những di vật đào được cũng có tượng Phật và những tác phẩmchạm trổ hoa sen... đều là những cứ liệu chứng minh sự có mặt của Phật giáo tại Phi luật tân thời xưa, rất tiếc là chưa kịp bén rễ thì làn sóng Hồi giáo tràn sang phương đông. Bắt đầu từ thế kỉ XVI, người Tây ban nha thi hành chính sách thực dân, dùng vũ lực cưỡng bức thổ dân bỏ tín ngưỡng truyền thống để theo Thiên chúa giáo La mã, cho mãi đến năm 1946, dưới sự bảo hộ của nước Mĩ, người Phi luật tân mới bắt đầu thành lập chính phủ độc lập. Từ đó Phật giáo Phi luật tân cận đại cũng bắt đầu hoạt động, nhưng hoàn toàn không có quan hệ gì với quá khứ xa xưa, mà chỉ do người Hoa kiều đưa từ Trung quốc truyền vào, như Quan âm đường, chùa Viên thông... ở thủ đô Ma ni la đều do người Hoa kiều sáng lập và do người tại gia chủ trì chứ chưa có các sư. Do đó những hoạt động hoằng pháp chưa được hoạch định, nên những cơ sở trên chỉ có thể được coi là những đạo tràng đáp ứng nhu yếu cầu phúc của người Hoa tại Phi luật tân ở giai đoạn đầu. Năm Dân quốc 20 (1931), giới Hoa kiều thành lập Hội nghiên cứu Phật học Trung hoa tại Phi, năm sau ấn hành tạp chí Hải quốc già âm và năm Dân quốc 25 (1936) xây chùa Đại thừa tín nguyện, là ngôi chùa hoằng dương chánh pháp đầu tiên ở Phi luật tân. Pháp sư Tính nguyện được cung thỉnh từ Trung quốc đến giữ chức Trụ trì, bắt đầu giảng kinh, thuyết pháp và mở các khóa tu niệm cho tín chúng, không bao lâu, chùa Tín nguyện trở thành trung tâm tín ngưỡng của đông đảo người Hoa tại thủ đô Ma ni la. Ngoài chùa Tín nguyện, tiếp tục có các tinh xá và các chùa khác như: Hoa tạng, Phổ đà, Bảo tạng, Ẩn tú, Túc yến, Linh thứu, Liên hoa... được xây dựng và đều trang nghiêm đẹp đẽ, có thêm các vị tăng ni từ Trung quốc được thỉnh sang để trụ trì. Đồng thời, các trường học Phật giáo như trường Năng nhân, trường Phổ đà được thành lập để giáo dục thanh thiếu niên và tờ quí san Từ hàng được phát hành, là cơ quan trọng yếu hoằng dương Phật pháp và phát triển văn hóa Phật giáo. Ngoài ra, 1 phân hội của hội Phật giáo thế giới cũng được đặt tại Phi luật tân và đóng góp rất nhiều vào các hoạt động từ thiện xã hội. Nhận xét chung, do những trở ngại thực tế về ngôn ngữ và tín ngưỡng Thiên chúa giáo cố hữu, nên sự phát triển Phật giáo phần nhiều chỉ hạn trong giới người Hoa kiều, chứ khó đến được các tầng lớp người Phi luật tân. Tín đồ Phật giáo trên toàn cõi Phi luật tân có khoảng 100.000 người, so với các tông giáo khác thì Phật giáo chỉ là thiểu số.

phỉ nguyền

Satisfied.

phỉnh nịnh

To flatter.

phọc

(縛) Phạm: Bandhana. Trói buộc. Tên khác của phiền não. Có nhiều loại: 1. Hai loại phược: a) Tương ứng phược và Sở duyên phược: Phiền não Kiến hoặc, Tư hoặc trói buộc tâm, tâm sở, đồng thời tương ứng với tâm, tâm sở làm cho không được tự tại, gọi là Tương ứng hoặc. Phiền não trói buộc các pháp sở duyên, gọi là Sở duyên phược. b) Tướng phược và Thô trọng phược: -Tướng phược (cũng gọi là Tướng hoặc): Tướng phần sở duyên (đối tượng bị nhận thức) trói buộc Kiến phần (chủ thể nhận thức). Tức là tính phân biệt vọng chấp tự tính của Biến kế sở chấp; hoặc của tính phân biệt này chỉ là duyên của hoặc. Vì tính phân biệt (Kiến phần) bị duyên của hoặc (Tướng phần) trói buộc, cho nên gọi là Tướng phược. -Thô trọng phược (cũng gọi là Thô trọng hoặc): Tính y tha vọng chấp tự tính của Y tha khởi; hoặc của tính Y tha này là thể của hoặc, có năng lực trói buộc chúng sinh và chiêu cảm quả báo đời sau, vì thế gọi là Thô trọng hoặc. c) Tử phược và Quả phược: -Bị phiền não trói buộc, gọi là Tử phược. -Bị quả khổ trói buộc, gọi là Quả phược. 2. Ba loại phược: Tham, sân si, tức tham, sân, si trói buộc tâm chúng sinh làm cho mất tự do, tự tại, vì thế gọi 3 loại phược. 3. Bốn loại phược: a) Tham dục thân phược: Năm dục (tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ) trói buộc thân làm mất tự do, giải thoát. b) Sân khuể thân phược: Tức giận trói buộc chúng sinh khiến cho không được tự tại. c) Giới đạo thân phược: Các hoặc do chấp tà giới làm tăng trưởng trói buộc thân chúng sinh, khiến không được giải thoát. d) Ngã kiến thân phược: Các hoặc nghiệp do ngã kiến làm tăng trưởng trói buộc thân chúng sinh khiến không được tự tại. Như đối với pháp chẳng phải là Niết bàn mà vọng phân biệt là Niết bàn, rồi sinh tâm chấp trước. [X. luận Phẩm loại túc Q.1; luận Đại tì bà sa Q.22, 86; luận Tì bà sa Q.2; luận Thuận chính lí Q.54; luận Hiển dương thánh giáo Q.16; luận Tam vô tính Q.thượng; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.3]. (xt. Tam Phược, Tử Phược Quả Phược, Ngũ Phược, Tứ Phược). ; (縛) Cũng gọi Bà, Phược, Hòa. Chữ Tất đàm (va). Biến khẩu thanh thứ 4 trong những biến khẩu thanh của phụ âm trong Tất đàm, 1 trong 50, 1 trong 42 chữ cái Tất đàm. Tổng hợp sự giải thích trong các kinh luận thì chữ này có nhiều nghĩa. 1. Nghĩa ngôn thuyết: Giải thích trên bề mặt theo hình tướng của chữ. 2. Nghĩa ngôn thuyết bất khả đắc: Giải thích sâu kín theo nghĩa chữ. Hai cách giải thích sâu cạn trên đây đều theo chữ đầu của tiếng Phạm:Vàkya, Vac hoặcVàda. 3. Nghĩa âm thanh tối thượng thừa: Giải thích theo các chữ đầu của tiếng Phạm: Vara-yàna hoặc Variwỉha-yàna (tối thượng thừa). 4. Nghĩa vũ đại pháp vũ: Tưới trận mưa pháp lớn. Giải thích theo chữ đầu trong tiếng Phạm:Varwaịa(mưa trút xuống). 5. Nghĩa phổ sinh an trụ. Ngoài ra để phân biệt chữ Phạ (va) này với chữ Phạ (ba), xưa nay thường gọi chữ Phạ này là chữ (va) ngôn thuyết. Lại vì hình chữ của 2 chữ này gần giống nhau, rất dễ lẫn lộn, cho nên cũng gọi chữ trước là chữ Phạ (va) hình bán nguyệt, chữ sau là chữ Phạ (ba) hình hoa sen. Trong Mật giáo, khi nói về chủng tử của 6 đại(đất, nước, lửa, gió, không, thức)thì dùng chữ Phạ (va) này làm chủng tử của nước (thủy đại). Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Kim cương đính (Đại 18, 339 thượng) nói: Chữ Phạ (va) nghĩa là hết thảy các pháp dứt bặt nói năng(Nhất thiết pháp ngữ ngôn đạo đoạn). Phẩm Văn tự trong kinh Đại bát niết bàn (bản Nam) quyển 8 (Đại 12, 654 hạ) nói: Hòa(Phạ) nghĩa là đứcNhư lai Thế tôn vì chúng sinh mà tưới xuống trận mưa pháp lớn, nên gọi là Hòa. [X. kinh Quang tán bát nhã Q.7; kinh Hoa nghiêm Q.76 (bản dịch mới); phẩm Tự mẫu kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng, kinh Đại nhật Q.2; luận Đại trí độ Q.48; Đại nhật kinh sớ Q.7].

phọc ca

(縛迦) Phạm:Vàkya. Cũng gọi Bạc ca. Đồng nghĩa: Bạt cừ (Phạm:Varga). Nghĩa chương, bộ, phẩm, lời... Câu xá luận sớ quyển 5 (Đại 41, 552 thượng) nói:Tiếng Phạm Phạ ca, Hán dịch: Chương, là giải thích về nghĩa rốt ráo, như chương nói về các hành vô thường....

phọc dã phệ

(縛野吠) Phạm:Vàyave. Một loại xe của thần gió không bị trói buộc. Phệ biểu thị Tam muội không lời, là nghĩa rốt ráo không. Đại nhật kinh nghĩa thích quyển 7 nói rằng: Loại xe của thần gió xưa nay vốn không bị ràng buộc, thực sự được giải thoát, trong chỗ rốt ráo không, xoay chuyển vô ngại, đi lại nhanh chóng, có khả năng chuyên chở hết thảy chúng sinh.

phọc mã đáp

(縛馬答) Cũng gọi Thuận hoàn đáp. Lời đáp buộc ngựa, ví dụ câu trả lời vòng vo không đúng ý người hỏi. Luận Câu xá quyển 8 (Đại 29, 41 hạ) nói: Những lời này giống với phược mã đáp. Như có người hỏi: Người buộc ngựa là ai? Đáp: Chủ ngựa! Người kia lại hỏi: Chủ ngựa là ai? Đáp: Người buộc! Hai câu trả lời này đều không làm cho người hỏi hiểu được. [X. Câu xá luận quang kí Q.8].

phọc nhật la

(縛日羅) Phạm:Vajra. Cũng gọi Bạt chiết la, Phạt chiết la, Chước ca la. Hán dịch: Kim cương, Kim cương chử. Kim cương chử(chày kim cương)là 1 thứ vũ khí của người Ấn độ đời xưa, dùng để diệt quân địch khi xung trận. Trong Mật giáo, Kim cương chử được dùng làm vật cầm tay của các vị tôn, cũng là đạo cụ tu pháp của hành giả Chân ngôn. (xt. Kim Cương, Kim Cương Chử).

phọc sô hà

(縛芻河) Phạm: Vakwu hoặc Vaíkwu. Cũng gọi Bác xoa hà, Bà xoa hà, Bà sai hà, Bà du hà. Tên sông, thời xưa Trung quốc gọi là Qui thủy(sông Qui)hoặc sông Ô hử, bắt nguồn từ dãy núi Hindu Kush, từ phía tây bắc chảy qua vùng Trung á rồi đổ vào Hàm hải (Aral sea). Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 1, thì 27 nước như Đổ hóa la v.v... đều thuộc lưu vực sông này, đây là 1 trong vài con sông lớn ở vùng Trung á. Xét về vị trí của sông này trong tư liệu qua các đời thì hiện nay là sông Oxus (Amu Daria River). [X. phẩm Diêm phù châu trong kinh Khởi thế; luận A tì đàm tì bà sa Q.2].

phọc thoát

(縛脫) Trói buộc và giải thoát, hoặc giải thoát khỏi sự trói buộc của phiền não. Kinh Lăng nghiêm quyển 5 (Đại 19, 124 hạ) nói: Đức Phật bảo ngài A nan: Căn và trần cùng nguồn, trói buộc và giải thoát không hai; thức tính hư dối, như hoa đốm trong hư không.

phọc tát đát la

(縛薩怛羅) Phạm: Vastra. Cũng gọi Bà tham. Hán dịch: Y(áo). Loại áo mặc tốt. Luật của Hữu bộ cũng dùng từ Phạ tát đát la để gọi áo chư tăng. [X. phẩm Phân biệt công đức trong kinh Pháp hoa Q.5; Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da phá tăng sự Q.6; Du già luận kí Q.6, phần cuối].

phọc tư tiên

(縛斯仙) Phạ tư, Phạm: Vasiwỉha. Pàli: Vaseỉỉha. Cũng gọi Bà tẩu tiên. Vị tôn ngồi ở phía đông Ngoại kim cương bộ, trên Mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo, là 1 trong 6 Hỏa thiên, 1 trong 28 bộ chúng, nguyên là vị tiên ở thời đại Phệ đà của Ấn độ. Hình tượng vị tôn này ở trần, tay phải cầm hoa sen, tay trái cầm chuỗi hạt, chân phải xếp bằng, đầu gối chân trái dựng đứng, hình Tam muội da là chuỗi hạt. Ở viện Hư không tạng, vị tôn này là người tiên khổ hạnh ở trần, tay trái cầm gậy và đứng, tay phải dáng như búng ngón tay, hình Tam muội da là gậy tiên. [X. kinh Anh vũ trong Trung a hàm Q.38; Đại nhật kinh sớ Q.6, 16; Đại nhật kinh sớ diễn nghĩa sao Q.53].

phọc để

(縛底) Phạm: Patnì. Cũng gọi Ba đế. Hán dịch: Thê nữ, Nữ. [X. Tính linh tập Q.8; Bí tạng kí].

phỏng

1) To copy—To imitate. 2) Burnt.

phỏng vấn

To interview.

phỏng đoán

To guess—To presume.

phỏng độ

To estimate—To value.

phối hợp

To combine—To Coordinate.

phối trí

See Phối hợp.

phồn hoa

Prosperous.

phồn thịnh

See Phồn hoa.

Phổ

普; C: pŭ; J: fu;|Rộng rãi, nói chung, toàn thể.

phổ

Visva (skt). 1) Phổ biến—Universal—All—Pervasive. 2) Phổ cập: Popular.

phổ am

(普庵) (1115-1169) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Nam Tống, người Nghi xuân (Nghi xuân, Viên châu, Giang tây), họ Dư, húy Ấn túc. Năm 20 tuổi, sư thờ ngài Hiền công ở viện Thọ long làm thầy, năm 27 tuổi cạo tóc, tháng 5 năm sau thụ giới Cụ túc. Sư có dung mạo khôi ngô, trí tuệ sáng suốt, rất được ngài Hiền công quí trọng và thường khuyên sư đọc kinh Pháp hoa. Nhưng sư cho rằng tỏ ngộ ý chỉ sâu xa của chư Phật chỉ ở chỗ nhất tâm, chứ nghiên cứu kinh văn trên giấy mực chẳng có ích gì, vì thế sư mới đến vùng Hồ Tương (Hồ nam,Tương giang) tham yết ngài Mục am Pháp trung, có chỗtỉnh ngộ, rồi trở về viện Thọ long. Năm Thiệu hưng 23 (1153), sư vào trụ ở chùa Từ hóa, ngoài giờ thiền định, sư xem Hoa nghiêm kinh luận, 1 hôm, sư hoát nhiên đại ngộ, thân chứng cảnh giới Hoa nghiêm. Từ đó về sau, người nghe danh sư tìm đến cầu học rất đông, sư tùy nghi nói pháp, hoặc viết kệ, hoặc dùng cỏ chữa bệnh, cầu mưa, phá hủy các miếu thờ dâm thần, rất linh nghiệm. Ngày 21 tháng 7 năm Càn đạo 25 (1169), sau khi làm kệ để lại, sư an nhiên thị tịch, thọ 55 tuổi. Vua ban thụy hiệu Phổ Am Tịch Cảm Diệu Tế Chân Giác Chiêu Huống Thiền Sư. Đến đời Nguyên, vua Thành tông truy tặng thụy hiệu Đại Đức Tuệ Khánh. Đời minh, vua Thành tổ lại ban thụy hiệu Phổ Am Chí Thiện Hoằng Nhân Viên Thông Trí Tuệ Tịch Cảm Diệu Ứng Từ Tế Chân Giác Chiêu Huống Tuệ Khánh Hộ Quốc Tuyên Giáo Đại Đức Bồ Tát. Vì lúc sống sư diệt trừ tai nạn, tật bệnh cho mọi người rất linh nghiệm, nên vào năm Diên hựu (1314-1320) đời Nguyên, ngài Tông hốt sáng lập chùa Tuệ khánh, phía sau chùa xây điện Phổ quang minh để thờ tượng của sư, quan dân đều kính tin. Tông Lâm tế Nhật bản cũng chịu ảnh hưởng của phong tục này, nên sau điện Phật cũng thờ bài vị của sư. Sư để lại tác phẩm: Phổ am Ấn túc thiền sư ngữ lục, 3 quyển. [X. Phổ am Ấn túc thiền sư ngữ lục tự; Thiên như duy tắc thiền sư ngữ lục Q.6, 8; Phật tổ lịch đại thông tải Q.30, 36; Thích thị kê cổ lược Q.4; Linh tượng môn Thiền lâm tượng khí tiên].

Phổ Am Ấn Túc

(普庵印肅, 1115-1169), còn gọi là Phổ Am Thiền Sư (普庵[菴]禪師), Phổ Am Tổ Sư (普庵祖師); trong dân gian vẫn thường gọi là Phổ Án (普唵). Ngài là bậc cao tăng của Lâm Tế Tông, pháp từ của Mục Am Pháp Trung (牧庵法忠), sanh vào năm thứ 5 (1115) niên hiệu Chính Hòa (政和) đời vua Huy Tông (徽宗, tại vị 1100-1125) nhà Tống; xuất thân Nghi Xuân (宜春), Viên Châu (袁州); họ là Dư (余), dung mạo rất kỳ khôi, thiên tánh mẫn tuệ. Khi hạ sanh ông, mẫu thân mộng thấy ánh sáng tỏa khắp bầu trời, hoa sen sanh trên lối đi. Lúc còn nhỏ, Phổ Am mộng thấy một vị dị tăng chỉ vào ngực ông mà bảo rằng: “Ngươi ngày kia sẽ tỉnh ngộ.” Tỉnh dậy, ông đem câu chuyện ấy kể cho mẹ nghe, người mẹ bèn vạch ngực ông ra xem thì quả nhiên có một điểm màu hồng như trái đào. Vào năm 1134 (Thiệu Hưng [紹興] 4), lúc 20 tuổi, ông xuất gia với Thiền Sư Thọ Long Hiền (壽隆賢); rồi đến năm 1141 (Thiệu Hưng 11) mới được xuống tóc và năm sau thì thọ giới ở Khai Nguyên Tự (開元寺), Viên Châu (袁州). Vào năm 1143 (Thiệu Hưng 13), ông đến dạo chơi Hồ Tương (湖湘), tham yết Thiền Sư Yết Mục Am Pháp Trung (牧庵法忠), được vị này khai thị cho nên tỉnh ngộ. Sau ông trở về Thọ Long Viện (壽隆院). Đến năm 1153 (Thiệu Hưng 23), năm lên 39 tuổi, ông được thỉnh làm Trú Trì Từ Hóa Tự (慈化寺) ở Nghi Xuân, Giang Tây (江西). Ông thường mặc áo vải thô sơ, lưng chưa hề chấm chiếu, chuyên tâm Thiền định, nhân một hôm đọc đến đoạn “đạt bổn tình vong, tri tâm thể hợp (達本情忘、知心體合, đạt gốc tình quên, biết tâm thể hợp)” trong Kinh Hoa Nghiêm thì hoát nhiên tỉnh ngộ. Vào năm 1169 (Càn Đạo [乾道] 5, đời vua Hiếu Tông [孝宗, tại vị 1162-1189] nhà Nam Tống), ông tắm rửa, viết bài kệ, ngồi xếp bằng viên tịch. Bộ Phổ Am Ấn Túc Thiền Sư Ngữ Lục (普菴印肅禪師語錄), 3 quyển, của ông hiện được thâu lục trong bộ Vạn Tân Toản Tục Tạng Kinh (卍新纂續藏經, Vol. 69, No. 1356). Do vì khi còn tại thế, có rất nhiều truyền thuyết linh nghiệm về ông, sau khi qua đời, Thiền Sư Phổ Am được mọi người tín ngưỡng, trở thành một vị thần thánh của Phật Giáo chuyên tiêu tai, giải ách. Như vào năm 1156 (Thiệu Hưng 26), một hôm nọ Thiền Sư mở pháp hội, mọi người đến tham dự rất đông; vì vậy quan phủ cho người đến điều tra xem thử hư thực thế nào, nhưng đột nhiên cuồng phong, mưa lớn, trên trời hiện ra một con rồng lớn, nên quan phủ không dám điều tra, bèn quay trở về. Lại có hôm nọ, đáp ứng lời mời của người tín đồ tên Trần Thiên Chương (陳天章), cử hành pháp sự tại tư gia của người này, nhưng chỉ sai chúng tăng tụng một bộ Kinh Kim Cang. Nhân đó, Trần Thiên Chương không vui lòng, vì vậy Thiền Sư Phổ Am phải tụng thêm một bộ Kinh Kim Cang nữa. Về sau, Trần Thiên Chương bị chết sấp giữa đường, rồi ba ngày sau thì tái sanh lại, tự cho là ông bị dẫn xuống Địa Phủ, Phán Quan quở trách ông rằng: “Sao nhà ngươi lại bất kính với Thiền Sư Phổ Am, rồi bắt tụng thêm biến Kinh Kim Cang.” Sau đó, Trần Thiên Chương lại mang một xâu tiền đèn dầu cúng cho Thiền Sư và nhân đó Thiền Sư viết lên lên lưng ông bốn chữ “thí tài công cứ (施財功據, công đức bố thí tiền tài)”. Sau khi Trần Thiên Chương qua đời, trong một gia đình họ Cam (甘) hạ sanh một đứa bé, trên lưng đứa bé ấy xuất hiện dấu tích bốn chữ như vậy. Tương truyền Thiền Sư rất sùng kính Kinh Kim Cang, từng dùng máu mình viết bộ kinh này trong vòng 5 năm trường và sau đó được tôn thờ tại Từ Hóa Tự. Bộ kinh này cùng với bài văn bia Kim Cang Kinh của thi hào Tô Đông Pha (蘇東坡, 1036-1101) ở Huệ Lực Tự (慧力寺), Lâm Giang (臨江), được xem như là hai bảo vật vô giá về Kinh Kim Cang của Giang Tây. Vào năm 1300 (Đại Đức [大德] 4, đời vua Thành Tông [成宗, tại vị 1294-1307] nhà Nguyên), ông được ban cho thụy hiệu là Đại Đức Huệ Khánh (大德慧慶); rồi đến năm 1420 (Vĩnh Lạc [永樂] 18, đời vua Thành Tổ [成祖, tại vị 1402-1424] nhà Minh), ông lại được phong thêm hiệu là Phổ Am Chí Thiện Hoằng Nhân Viên Thông Trí Tuệ Tịch Cảm Ứng Từ Tế Chơn Giác Chiêu Huống Huệ Khánh Hộ Quốc Tuyên Giáo Đại Đức Bồ Tát (普庵至善弘仁圓通智慧寂感妙應慈濟眞覺昭貺慧慶護國宣敎大德菩薩). Tại các tự viện của Lâm Tế Tông, thường có thờ Thần Vị của Thiền Sư Phổ Am để hàng phục yêu ma. Do vì ông có tính thần dị, có các đạo sĩ không thuộc Phật Giáo lại tôn sùng ông là Tổ Sư, xưng hiệu là Phổ Án Giáo Chủ (普唵敎主) của Phổ Am Phái (普庵派) hay Phổ Án Phái (普唵派). Tượng của ông có nhiều loại khác nhau như tượng Tỳ Kheo, Đạo Sĩ, Tướng Quân, Đế Vương, v.v. Thậm chí như những người chuyên về ngư nghiệp, thuyền hải cũng thường tôn thờ Thần Vị của Thiền Sư Phổ Am trên thuyền của họ để cầu bình an trên sông nước; nên ông còn được xem như là người có công năng như Hải Thần vậy. Theo truyền thuyết của dân gian, nếu lấy giấy màu hồng, vàng viết lên 8 chữ “Phổ Am đáo thử bách vô cấm kỵ (普庵到此百無禁忌, Phổ Am đến đây, trăm điều không còn cấm kỵ nữa)”, rồi dán trong nhà thì có thể cải thiện được vấn đề phong thủy; hay mang nơi thân mình thì có thể xua đuổi điều xấu và mang lại điều lành. Trong lúc sinh tiền, ông thường làm những điều linh nghiệm như bẻ cây trị bệnh, chặt cây ma quái, cầu mưa, v.v. Hơn nữa, ông lại rất tinh thông Phạn văn, từng lấy Phạn văn phiên âm thành chú, người đời gọi đó là Phổ Am Chú (普庵咒). Thần chú này có thần lực làm cho an định mười phương và tòng lâm, nên thường được tụng tại các tự viện vào mỗi dịp đầu và giữa tháng. Thậm chí thần chú này còn có công năng xua đuổi các loài muỗi, trùng, rắn rít, v.v. Trong khoảng niên hiệu Vạn Lịch (萬曆, 1573-1620) nhà Minh, Thiền Sư Vân Thê Châu Hoằng (雲棲袾宏, 1535-1615) mới đưa thần chú này vào bản Chư Kinh Nhật Tụng (諸經日誦).

phổ bi quan âm

(普悲觀音) Một trong 33 hóa nhân của bồ tát Quán thế âm, tương đương với hóa thân nói trong phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa (Đại 9, 57 trung): Người cần đến thân trời Đại tự tại để được độ, liền hiện thân trời Đại tự tại mà nói pháp cho họ nghe. Hình tượng của Ngài 2 tay buông thõng xuống giấu trong áo pháp, đứng trên núi. Trời Đại tự tại là vị thần cao nhất trong 3 cõi. Vì uy đức thù thắng của vị thần này được phối hợp với lòng từ bi bình đẳng trùm khắp của bồ tát Quan âm, cho nên gọi là Phổ bi Quan âm. [X. Phật tượng đồ vựng Q.2]. (xt. Tam Thập Tam Quan Âm).

Phổ biến

普徧 (遍); C: pŭbian; J: fuhen; |Thâm nhập khắp nơi. Phổ biến, truyền bá khắp nơi.

phổ biến

Là chẳng nơi nào không có, chẳng lúc nào không có. ; To disseminate—To spread—To distribute—To universalize—Universal—Everywhere—On all sides.

Phổ biến quang minh thanh tịnh xí thạnh như ý bảo ấn tâm vô năng thắng đại minh vương đại tuỳ cầu đà-la-ni kinh

普遍光明清淨熾盛如意寶印心無能勝大明王大隨求陀羅尼經; C: pŭbiàn guāngmíng qīngjìng chìchéng rúyìbăo yìnxīn wúnéngshèng dàmíngwáng dàsuíqiú tuóluóní jīng; J: fuhen kōmyō shōjō shijō nyoishō inshin munōshō daimyōō daizuigu daranikyō; S: mahā-pratisarā-vidyārājñī; T: phags pa rig pa'i rgyal mo so sor 'brang ba chen mo;|Là kinh văn đầu tiên trong Ngũ vị lục (s: pañcarakṣā), dâng lên cho Đại tuỳ cầu (大隨求, s: mahāpratisarā), vị bảo hộ thoát khỏi điều xấu ác, tội lỗi và bệnh tật. Có 2 bản dịch tiếng Hán đang lưu hành:|1. Phổ biến quang minh thanh tịnh xí thạnh như ý bảo ấn tâm vô năng thắng đại minh vương đại tuỳ cầu đà-la-ni kinh (普遍光明清淨熾盛如意寶印心無能勝大明王大隨求陀羅尼經), viết tắt là Đại tuỳ cầu đà-la-ni kinh (大隨求陀羅尼), 2 quyển, Bất Không dịch. Luận giải tiêng Nhật của Minh Giác (明覺, j: myōkaku) nhan đề Đại tuỳ cầu đà-la-ni khám chú (大隨求陀羅尼勘註) .|2. Đại tuỳ cầu ấn đắc đại tự tại đà-la-ni thần chú kinh (隨求即得大自在陀羅尼神呪經), 1 quyển; Bảo Tư Duy (寶思惟, s: maṇicintana) dịch. Bản dịch tiếng Anh từ bản kinh tương ứng xin xem Lewis (1995).

Phổ chiếu

普照; C: pŭzhào; J: fushō;|1. Chiếu sáng rộng khắp (s: spharaṇa; t: khyab pa); 2. (k: pojo); thuỵ hiệu của Thiền sư Hàn Quốc Tri Nột (知訥, k: chinul); 3. (j: fushō); thuỵ hiệu của Thiền sư Ẩn Nguyên (隱元), người sáng lập Hoàng Bá tông (黄檗, j: ōbaku) ở Nhật Bản.

phổ chiếu

1) Chiếu khắp các nơi: Universal shining. 2) Tên của một ngôi chùa nổi tiếng tọa lạc tại làng Dư Hàng Kênh, huyện An Hải, tỉnh Hải Phòng. Chùa được xây dựng vào năm 1953—Name of a famous temple, located in Du Hàng Kênh village, An Hải district, Hải Phòng province. It was built in 1953.

phổ chiếu kiết tường tam ma địa

Trạng thái đại thiền định có khả năng phá vở và chấm dứt mọi khổ đau phiền não cho chúng sanh. Chư Phật vào trạng thái đại định nầy trước khi giảng chú vì chư Phật muốn mang lại cho chúng sanh trí huệ, an tịnh, cũng như chấm dứt khổ đau hầu đạt tới trạng thái giác ngộ hoàn toàn—Universal Shining Svastika Samadhi—A great meditative state that has the potential to destroy and end all suffering for all sentient beings. The Buddhas entered this samadhi before preaching the mantra because they wanted to bring all sentient beings wisdom, peace, tranquility, and to end their suffering and bring about the state of enlightenment.

phổ chiếu nhứt thiết thế gian trí

The perfect understanding of universal enlightenment.

phổ chiếu quốc sư ngữ lục

(普照國師語錄) Cũng gọi Ẩn nguyên hòa thượng ngữ lục.Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Ẩn nguyên Long kì soạn, ngài Tính thao biên tập vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, được thu vào Đại chính tạng tập 82. Năm Thuận trị 11 (1645) đời Thanh, ngài Long kì sang Nhật bản hoằng pháp, sáng lập tông Hoàng bá, bởi thế, nội dung bộ ngữ lục này là thu chép các pháp ngữ dạy chúng khi ngài trụ ở các chùa: Hưng phúc, Sùng phúc, Phổ môn và Vạn phúc tại Nhật bản. Đại chính tạng cũng thu Phổ chiếu quốc sư pháp ngữ, 2 quyển, do ngài Tính cảo biên tập, được in ở sau bộ ngữ lục này. Ngoài ra còn có Phổ chiếu quốc sư quảng lục, 30 quyển, phụ thêm 2 quyển Niên phổ, cũng gọi Ẩn nguyên đại sư quảng lục, được thu vào Thiền học đại hệ tổ lục quyển 4 của Nhật bản.

phổ cúng dường chân ngôn

Universal Offering True Words.

phổ cập

To popularize.

phổ cứu tự

(普救寺) Chùa tọa lạc giữa khoảng Hoàng hà và Phần hà, thuộc huyện Vĩnh tế, tỉnh Sơn tây, Trung quốc. Cứ theo bia ghi chùa, thì chùa này được sáng lập vào đời Đường, kiến trúc rất nguy nga tráng lệ, gồm có 36 gian Đại Phật điện. Đến đời Minh, chùa được trùng tu. Năm Gia tĩnh 34 (1555), vùng này bị 1 trận động đất lớn nên các kiến trúc trong chùa bị sụp đổ hoàn toàn. Năm Khang hi 49 (1710) đời Thanh, chùa được kiến thiết lại, nhưng thời kháng chiến lại bị hủy hoại bởi đạn pháo, chỉ còn 1 đôi sư tử bằng đá ở trước cổng chùa và tòa tháp vàng, cũng gọi là tháp Oanh oanh, hình vuông, 13 tầng, chu vi 40 bộ, xưa nay những con thuyền qua lại trên sông Hoàng hà đều lấy tháp này làm tiêu điểm.

Phổ diệu kinh

普曜經; S: lalitavistara; C: pŭyàojīng; J: fuyō kyō; còn được gọi là Thần thông du hí kinh (神通遊戲經), nguyên nghĩa là »Trình bày chi tiết cuộc đời đức Phật«;|Được xem là bản dịch sớm nhất của Phương quảng đại trang nghiêm kinh (方廣大莊嚴經, s: lalitavistara). Pháp Hộ (法護, s: dharmarakṣa) dịch vào thời Tây Tấn, năm 308; gồm 8 quyển, 33 phẩm. Đó là tác phẩm đề cập đến cuộc đời Đức Phật theo tinh thần Đại thừa.|Kinh bao gồm nhiều đoạn văn trình bày hai đời cuối cùng của Phật Thích-ca Mâu-ni. Kinh mang tính chất tiếp nối giữa Tiểu thừa (s: hīnayāna) và Ðại thừa (s: mahāyāna), được soạn giữa thế kỉ thứ hai trước và sau Công nguyên, chịu ảnh hưởng của phái Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) và về sau được Ðại thừa hoàn chỉnh.

phổ diệu kinh

(普曜經) Phạm: Lalitavistara. Cũng gọi Phương đẳng bản khởi kinh. Kinh, 8 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch ở chùa Thiên thủy vào năm Vĩnh gia thứ 2 (308) đời Tây Tấn, các ngài Khang thù và Bạch pháp cự bút thụ, được thu vào Đại chính tạng tập 3. Đây là bộ Phật truyện thuộc hệ thống Đại thừa, nội dung ghi thuật về sự tích của đức Phật từ giáng sinh đến chuyển pháp luân lần đầu tiên. Kinh này còn có bản dịch khác là kinh Phương quảng đại trang nghiêm (còn gọi kinh Thần thông du hí), do ngài Địa bà ha la (Phạm: Divàkasa– Nhật chiếu) dịch vào đời Đường, gồm 12 quyển, 27 phẩm, cũng được thu vào Đại chính tạng tập 3. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.7].

phổ giai hồi hướng

Universally transfer all merits and virtues—Đây là hạnh nguyện thứ mười trong Phổ Hiền Thập Hạnh Nguyện. Phổ giai hồi hướng là từ sự lễ kính ban đầu nhẫn đến tùy thuận chúng sanh, có bao nhiêu công đức thảy đều đem hồi hướng cho tất cả chúng sanh mọi loài thường được an lạc, không bịnh khổ, dứt trừ ác nghiệp, thành tựu nghiệp lành. Chúng sanh vì tạo tác quá nhiều ác nghiệp, chúng ta xin chịu thế để họ được an vui giải thoát—This is the last of the ten conducts and vows of Samantabhadra Bodhisattva. Universally transfer all merits and virtues means we will take all merits and virtues from the first vow, to worship and respect, up to and including the vow to constantly accord, we universally transfer to all living beings throughout the dharma realm, we vow that all living beings are constantly peaceful and happy without sickness or suffering, we vow that no one will succeed in doing any evil, we vow that everyone will accomplish all good deeds. We vow to stand in for beings and receive all the extremely severe fruits of suffering which they bring on with their evil karma, we vow to liberate all beings and ultimately bring them to accomplish unsurpassed Bodhi.

Phổ Giác

普覺; C: pŭjué; J: fukaku; |»Giác ngộ rộng khắp«. Một trong 12 vị Bồ Tát đương cơ trong kinh Viên Giác (圓覺經).

Phổ Hiền

普賢; S: samantabhadra; C: pǔxián; J: fugen; |Một trong những Bồ Tát quan trọng của Phật giáo Ðại thừa. Ngài được xem là người hộ vệ của những ai tuyên giảng đạo pháp và đại diện cho »Bình đẳng tính trí« tức là trí huệ thấu hiểu cái nhất thể của sự đồng nhất và khác biệt. Bồ Tát Phổ Hiền hay được thờ chung với Phật Thích-ca và Bồ Tát Văn-thù (s: mañjuśrī). Ngài ngồi trên voi trắng sáu ngà, voi trắng tượng trưng cho trí huệ vượt chướng ngại, sáu ngà cho sự chiến thắng sáu giác quan. Trong Ngũ Phật, Phổ Hiền được xem ở trong nhóm của Phật Ðại Nhật (s: vai-rocana). Biểu tượng của Phổ Hiền là ngọc như ý, hoa sen, có khi là trang sách ghi thần chú của Ngài. Tại Trung Quốc, Phổ Hiền được xem là một trong bốn Ðại Bồ Tát, trú xứ của Ngài là núi Nga Mi. Ðó là nơi Ngài lưu trú sau khi cỡi voi trắng từ Ấn Ðộ sang Trung Quốc.|Trong Kim cương thừa, tên Phổ Hiền được sử dụng chỉ Bản sơ Phật (s: ādi-buddha), hiện thân của Pháp thân (s: dharmakāya; Ba thân). Phổ Hiền này (không phải vị Ðại Bồ Tát) được vẽ với màu xanh đậm, tượng trung cho tính Không. Tranh tượng cũng vẽ Ngài hợp nhất (Yab-Yum) với nữ thần sắc trắng, tượng trưng cho sự nhất thể. Trong phép Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā), thân của Phổ Hiền là Báo thân (s: saṃbhogakāya) và đóng một vai trò trung tâm.

phổ hiền

Samantabhadra or Visva bhadra (skt)—Universal Virtue. ; (普賢) Tông Hoa nghiêm gọi cảnh giới Phật đoạn tuyệt tất cả lời nói, ý nghĩ, là Tính hải quả phần, tức là pháp môn của đức Phật Tì lô giá na. Trái lại, ứng với cơ duyên của chúng sinh mà thuyết pháp, giáo hóa thì gọi là Duyên khởi nhân phần, tức là pháp môn của bồ tát Phổ hiền. Bồ tát Phổ hiền về mặt nhân cách là bồ tát Đẳng giác. Về mặt lí thì bồ tát Phổ hiền tượng trưng cho lí, định, hành, là nguồn gốc của chư Phật, cũng là thể tính của tất cả các pháp, nếu khi nhập vào quả vị thì gọi là Tính hải; cho nên tất cả phổ pháp tín, giải, hành, chứng chẳng kể phàm thánh, đều gọi là Phổ hiền. Thể ngộ được cảnh giới đại cơ của Nhất thừa Phổ hiền này, gọi là cảnh giới Phổ hiền. Hoa nghiêm khổng mục chương quyển 4 nêu ra 2 loại: Tam thừa phổ hiền và Nhất thừa phổ hiền, mỗi loại lại có 3 lớp Nhân, Giải, Hành nên gọi là Lục chủng Phổ hiền. Trong Tam thừa Phổ hiền thì Nhân (người) là bồ tát Phổ hiền; Giải (hiểu) là hiểu rõ được lí họp ba về một... hướng tới Nhất thừa; Hành (tu hành) là hạnh nguyện Phổ hiền, tất cả đều được nói rõ trong phẩm Phổ hiền kinh Pháp hoa. Trong Nhất thừa Phổ hiền thì Nhân là bồ tát Phổ hiền nói trong phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm; Giải là chỉ cho Phổ biến và Thâm nhập được nói trong 60 hành môn trong phẩm Phổ hiền kinh Hoa nghiêm, là cảnh giới hỗ tương dung hợp bất khả tư nghị; Hành là chỉ cho 10 tâm Phổ hiền và 10 hạnh nguyện Phổ hiền nói trong phẩm Li thế gian của kinh Hoa nghiêm. Hạnh nguyện Phổ hiền chỉ cho 10 đại nguyện: 1. Lễ kính chư Phật: Thường lễ kính tất cả Phật. 2. Xưng tán Như lai: Thường khen ngợi công đức Như lai. 3. Quảng tu cúng dường: Thường phụng sự và cúng dường tất cả Phật. 4. Sám hối nghiệp chướng: Thường sám hối những nghiệp ác đã tạo tác từ vô thủy đến nay và luôn giữ gìn giới pháp thanh tịnh. 5. Tùy hỉ công đức: Thường vui theo công đức của tất cả Phật, Bồ tát cho đến của tất cả chúng sinh trong 6 đường và 4 loài. 6. Thỉnh chuyển pháp luân: Thường lễ thỉnh tất cả Phật tuyên nói giáo pháp. 7. Thỉnh Phật tại thế: Thỉnh cầu Phật, Bồ tát không vào Niết bàn mà trụ nơi thế gian để thuyết pháp, giáo hóa. 8. Thường tùy Phật học: Thường theo đức Phật Tì lô giá na để học giáo pháp của Ngài. 9. Hằng thuận chúng sinh: Tùy thuận sự khác biệt của các loài chúng sinh mà làm các việc cúng dường. 10. Phổ giai hồi hướng: Đem những công đức trên hồi hướng cho tất cả chúng sinh để thành tựu nguyện thành quả Phật. Nếu người nào gắng sức thực hành 10 hạnh nguyện trên đây một cách liên tục thì có thể hoàn thành được hạnh nguyện của bồ tát Phổ hiền. Hoặc người nào có lòng tin sâu xa thụ trì đại nguyện, hoặc đọc tụng hay biên chép thì cũng có thể được nhiều công đức. [X. phẩm Phổ hiền hành nguyện trong kinh Hoa nghiêm]. (xt. Tam Thánh Viên Dung Quán).

phổ hiền bồ tát

Samantabhadra or Visvabhadra (skt)—A Bodhisattva called Samantabhadra Bodhisattva—See Samantabhadra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (普賢菩薩) Phổ hiền, Phạm: Samanatabhadra, hoặc Vizvabhadra. Hán âm: Tam mạn đa bạt đà la bồ tát, Tam mạn đà bạt đà bồ tát, Bật thâu bạt đà bồ tát. Cũng gọi Biến cát bồ tát. Vị Bồ tát cỡi voi trắng hầu bên phải đức Phật Thích ca, 1 trong 4 vị đại Bồ tát. Bồ tát Phổ hiền biểu thị Lí, Định, Hành, cùng hiển bày sự viên mãn về lí trí, định tuệ và hành chứng của Như lai, thường trợ giúp đức Như lai tuyên dương giáo pháp để hoàn thành việc lợi ích chúng sinh. Vì thân tướng và công đức của vị Bồ tát này trùm khắp tất cả, thuần 1 vị diệu thiện, cho nên gọi là Phổ hiền. Danh hiệu Phổ hiền xuất hiện đầu tiên trong kinh Tam mạn đà la bồ tát, sau thấy có rộng rãi trong các kinh và trở thành tín ngưỡng phổ biến. Theo phẩm Phổ hiền khuyến phát trong kinh Pháp hoa thì bồ tát Phổ hiền cỡi con voi trắng 6 ngà, hộ vệ hành giả thụ trì kinh Pháp hoa. Thai tông nhị bách đề 10 quyển lập Hữu tướng Phổ hiền luận đề, cho rằng nếu nương theo các hạnh hữu tướng như lễ sám, tụng kinh... thì có thể cảm ứng được thấy bồ tát Phổ hiền. Còn phẩm Phổ hiền hành nguyện phẩm kinh Hoa nghiêm quyển 40 thì nói về 10 hạnh nguyện rộng lớn của bồ tát Phổ hiền. Mười đại nguyện này tiêu biểu cho hạnh nguyện của tất cả Bồ tát, cho nên cũng gọi là Phổ hiền nguyện hải. Vì hạnh nguyện rộng lớn của Ngài nên vị Bồ tát này thường được gọi là Đại hạnh Phổ hiền bồ tát. Trong Mật giáo, Phổ hiền đồng thể với Kim cương tát đỏa, được tôn trí trong Mạn đồ la của 2 bộ Kim cương và Thai tạng, đó là Phổ hiền của Mật giáo nói chung. Còn trong Mạn đồ la Kim cương giới thì Ngài là 1 trong 16 vị tôn của Hiền kiếp, được an trí ở vị thấp nhất trong 4 vị Bồ tát ở phương bắc, mật hiệu là Phổ nhiếp kim cương, chủng tử là (a#), hình Tam muội da là hình thanh kiếm. Về hình tượng của vị tôn này thì tùy theo các hội mà có khác nhau. Trong hội Vi tế thì tay trái nắm lại, để ở chỗ cạnh sườn, tay phải cầm thanh kiếm sắc; trong hội Cúng dường thì 2 tay cầm hoa sen đưa lên trước ngực, trên hoa sen có kiếm sắc. Trong Mạn đồ la Thai tạng giới thì vị tôn này được đặt ở góc đông nam của viện Trung đài bát diệp, thân màu trắng, đội mũ báu Ngũ Phật, ngón cái và ngón trỏ của tay trái cầm hoa sen, trên hoa sen có kiếm sắc với những ngọn lửa bao quanh; cánh tay phải duỗi thẳng và bàn tay ngửa ra, co ngón vô danh và ngón út. Chủng tử là (aô), hình Tam muội da là thanh kiếm trên hoa sen, mật hiệu là Chân như kim cương. Ngoài ra còn có pháp tu thờ bồ tát Phổ hiền diên mệnh làm bản tôn gọi là Phổ hiền diên mệnh pháp. Núi Nga mi thuộc tỉnh Tứ xuyên của Trung quốc xưa kia là đạo tràng của bồ tát Phổ hiền, tương truyền do Bồ ông khai sáng vào đời Tấn, thờ tượng Phổ hiền ở chùa Thánh thọ vạn niên. Đến đời Tống, vua Thái tông ban sắc tạo pho tượng bằng đồng pha vàng cao 2 trượng và xây lầu lớn để an vị. Từ đó về sau, người đến lễ bái rất đông. [X. phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm Q.60 (bản dịch cũ); luận Đại trí độ Q.9; Pháp hoa nghĩa sớ Q.12; Đại nhật kinh sớ Q.1, 9]. (xt. Phổ Hiền).

Phổ Hiền Bồ Tát hạnh nguyện tán

普賢菩薩行願讚; C: pŭxián púsà xíngyuàn zàn; J: fugen bosatsu gyōgan san; S: bhadra-caryā-praṇidhānarāja; T: bzang po spyod pa'i smon lam gyi rgyal po'i rgya cher 'grel pa;|Gọi tắt là Phổ Hiền hạnh nguyện tán (普賢行願讚), Bất Không (不空, s: amogha-vajra) dịch.

phổ hiền bồ tát hạnh nguyện tán

(普賢菩薩行願贊) Phạm: Bhadra-carì-praịi dhàna, hoặc Samantabhadra-caryàpraịidhàna-ràja. Gọi tắt: Phổ hiền hành nguyện tán. Kệ tán, 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 10. Nội dung gồm 62 bài kệ tụng tán thán 10 đại nguyện của bồ tát Phổ hiền. Sáu mươi hai bài kệ tán này chính là Phổ hiền quảng đại nguyện vương thanh tịnh kệ nêu ở cuối kinh Hoa nghiêm (bản 40 quyển), vốn có một bản được lưu hành riêng, tức tương đương với kinh Văn thù sư lợi phát vấn, do ngài Phật đà bạt đà la dịch vào đời Đông Tấn. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.20; Đại đường trinh nguyên tục khai nguyên thích giáo lục Q.thượng; Duyệt tạng tri tân Q.1].

Phổ Hiền Bồ Tát đà-la-ni kinh

普賢菩薩陀羅尼經; C: pŭxián púsà tuóluóníjīng; J: fugen bosatsu daranikyō; S: samantabhadrāṣṭottaraśatakanāmadhāraṇī-mantra-sahita; t: kun tu bzang po'i mtshan brgya rtsa brgyad pa gzungs sngags dang bcas pa |1 quyển, Pháp Thiên (法天) dịch.

Phổ Hiền cảnh giới

普賢境界; C: pŭxián jìngjiè; J: fugenkyōkai; |Theo giáo lí kinh Hoa Nghiêm, đó là cảnh giới chứng nhập bởi các căn cơ bậc thượng của nhất thừa Bồ Tát Phổ Hiền. Là phương diện thực tại của cảnh giới mà chúng sinh chưa thành Phật có thể nhận biết, được diễn tả là cảnh giới Phổ Hiền. Vì Phổ Hiền là Bồ Tát tượng trưng cho tu tập thiền định, là điều có thể giải thích được; khác với cảnh giới trí tuệ giải thoát của Bồ Tát Văn-thù Sư-lợi là không thể nghĩ bàn.

phổ hiền diên mệnh pháp

(普賢延命法) Pháp tu thờ bồ tát Phổ hiền diên mệnh làm Bản tôn, cầu tiêu trừ tai nạn và kéo dài mệnh sống (diên mệnh). Nghi thức của pháp tu này là: An vị tượng Phổ hiền diên mệnh, chínhdiện là Đại đàn, bên trái là đàn Thánh thiên, bên phải là đàn Hộ ma với lò lửa hình giáp trụ, 4 góc là bốn đàn Thiên vương; bên trái đàn Thiên vương về phía đông thiết lập đàn Thập nhị thiên. Trước Bản tôn thắp 7 lớp đèn, chung quanh đàn tràng treo phan phướn nhiều màu, dùng 1 bức màn lớn ngăn cách trong với ngoài; ngoài màn đặt tòa ngồi của chư tăng. Trong khi tu pháp phải liên tục tụng kinh Kim cương thọ mệnh đà la ni, lúc kết nguyện lại thiết lập 21 Tiểu đàn trên Đại đàn. Bản tôn Phổ hiền diên mệnh có 20 tay, 10 tay trái cầm hoa sen, kiếm, bánh xe, lưỡi, chày yết mà, giáp trụ (áo và mũ sắt), răng nanh, nắm tay kim cương, khóa và chuông nhỏ. Mười tay phải cầm chày 5 chĩa, móc câu, mũi tên, nắm tay, bảo châu, mặt trời, cờ báu, chày 3 chĩa, móc câu 3 chạc và vòng dây, ngồi xếp bằng trên tòa sen đặt trên lưng voi trắng. Voi Ngài cỡi có 1 thân 3 đầu, hoặc 3 thân 3 đầu, hay 4 thân 4 đầu... khác nhau. Pháp tu này được căn cứ vào pháp Kim cương thọ mệnh đà la ni niệm tụng mà lập ra. Pháp Kim cương ấy nói: Nếu người nào mỗi ngày 3 thời thụ trì tụng niệm chân ngôn Kim cương thọ mệnh, mỗi thời tụng 1.000 biến, thì nhân duyên ác nghiệp ở quá khứ, đoản mệnh chết yểu... đều được chuyển hóa và lòng tin thanh tịnh, nghiệp chướng tiêu trừ, tăng thêm tuổi thọ. [X. kinh Nhất thiết chư Như lai tâm quang minh gia trì Phổ hiền bồ tát diên mệnh kim cương tối thắng đà la ni; Chư pháp yếu lược sao trong A sa phược sao Q.215].

phổ hiền hạnh nguyện

Phổ Hiền Thập Nguyện (mười hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền)—Bodhisattva Samantabhadra's ten vows—Phổ Hiền Thập Giả Kính: 1) Nhứt giả lễ kính chư Phật: First is to worship and respect all Buddhas—Lời nguyện đảnh lễ hết thảy chư Phật có nghĩa là đảnh lễ vô số chư Phật trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Đây là niềm tin sâu xa của vị Bồ Tát và ngài cảm thấy như lúc nào ngài cũng đang ở trước mặt chư Phật và đảnh lễ bằng cả thân, khẩu và ý của ngài. Ngài sẽ đảnh lễ từng Đức Phật không mệt mỏi cho đến khi tận cùng vũ trụ—By the vow to pay reverence to all the Buddhas is meant that a Bodhisattva will pay reverence to an inconceivable number of Buddhas in the past, present and future with his pure body, speech and mind. He will salute every one of them without feeling fatigue until the end of the universe. 2) Nhị giả xưng tán Như Lai: Second is to make praise to The Thus Come Ones—Lời nguyện tán thán chư Như Lai có nghĩa là một vị Bồ Tát sẽ luôn luôn tán thán chư Như Lai trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Ngài sẽ trình diện trước mặt từng Đức Như Lai với sự hiểu biết thâm sâu và một nhận thức sáng suốt. Bấy giờ cái biển công đức của Như Lai sẽ được tán thán bằng giọng điệu nhuần nhuyễn và hùng biện; mỗi giọng điệu biểu hiện một tiếng nói vô tận và mỗi tiếng nói phát ra một biển ngôn từ trong mọi hình thức có thể có được. Vị Bồ Tát sẽ tiếp tục sự tán thán nầy sẽ tiếp tục không ngừng nghỉ cho đến khi thế giới tận cùng mà không cảm thấy mệt mỏi—By the vow to praise all the Tathagatas is meant that a Bodhisattva will always praise an innumerable number of Tathagatas in the past, present and future. A Bodhisattva will present himself before each one of these Buddhas with a deep understanding and a clear perception. The ocean of merits of the Tathagata will then be praised with an exquisite and eloquent tongue, each tongue expressing a sea of inexhaustible voices, and each voice articulating a sea of words in every form possible. A Bodhisattva will go on to praise the Buddhas without feeling fatigue and without cessation until the end of the world. 3) Tam giả quảng tu cúng dường: Third is to practice profoundly (vastly) the giving offerings—To cultivate the giving of offerings—Lời nguyện quảng tu cúng dường cho chư Phật, có nghĩa là một vị Bồ Tát sẽ luôn quảng tu cúng dường đến từng Đức Phật trong vô số Đức Phật ba đời, quá khứ, hiện tại và vị lai. Sự cúng dường bao gồm những thứ hoa, tràng hoa, âm nhạc, lọng, y, áo và tất cả những loại hương liệu, dầu thơm và nhiều thứ khác, và cúng dường bằng một số lượng lớn như mây hay núi. Vị Bồ Tát sẽ đốt lên mọi thứ dầu với một số lượng sánh như biển trước mỗi Đức Phật trong vô số các Đức Phật nầy. Nhưng trong tất cả những thứ cúng dường mà người ta có thể thực hiện như thế đối với một Đức Phật thì sự cúng dường tốt nhất là cúng dường Pháp, tức là tự mình tu tập theo giáo lý, gây lợi lạc cho chúng sanh, chịu khổ đau cho chúng sanh mọi loài, nuôi dưỡng thiện căn, thực hiện mọi công việc của một vị Bồ Tát, và đồng thời không xa rời lý tưởng chứng ngộ. Cúng dường vật chất không bằng một lượng vô cùng nhỏ của cúng dường Pháp, vì hết thảy chư Phật đều được sinh ra do sự cúng dường Pháp, vì đây là sự cúng dường thật sự, vì thực hành pháp là thành tựu cao tột mà người ta có thể dâng lên một Đức Phật. Một vị Bồ Tát sẽ thực hiện liên tục những cúng dường nầy đối với từng Đức Phật, không mệt mỏi, không ngừng nghỉ cho đến khi tận cùng thế giới—By the vow to make all kinds of offerings to the Buddhas is meant that a Bodhisattva will always make offerings to an inconceivable number of Buddhas in the past, present, and future. The offering consists of flowers, wreaths, music, umbrellas, garments, and all kinds of incense and ointment, and many other things, and all these offerings in such a large quantity as is equal to clouds or to a mountain. A Bodhisattva will also burn before every one of the innumerable Buddhas all sorts of oil in such a measure as compares to an ocean. But of all the offerings one could thus make to a Buddha the best is that of the Dharma, which is to say, disciplining oneself according to the teaching, benfitting all beings, accepting all beings, suffering pains for all beings, maturing every root of goodness, carrying out all the works of a Bodhisattva, and at the same time not keeping himself away from the thought of enlightenment. The material offerings, no matter how big, are not equal even to an infinitesimal fraction of the moral offerings (dharmapuja), because all Buddhas are born of moral offerings, because these are the true offerings, because the practicing of the Dharma means the perfection of an offering one could make to a Buddha. A Bodhisattva will continuously make offerings to every one of the innumerable Buddhas without feeling fatigue. 4) Tứ giả sám hối nghiệp chướng: Fourth is to repent and reform all karmic hindrances (faults)—Lời nguyện sám hối mọi tội lỗi mà chính mình đã phạm từ vô thỉ và từ đó loại trừ mọi nghiệp chướng của mình là cần thiết trong tu tập vì mọi tội lỗi đều do bởi tham, sân, si từ thân, khẩu, ý của chính mình. Nay thú nhận và sám hối những tội lỗi nầy. Theo Đức Phật, nếu thực sự những tội lỗi nầy là vật chất thì chúng có thể trải đầy khắp đến tận cùng bờ mé vũ trụ mà vẫn chưa hết. Bây giờ một vị Bồ Tát sám hối sạch tận đáy lòng mà nguyện rằng sẽ không bao giờ tái phạm như thế nữa, vì từ đây ngài sẽ luôn an trụ trong giới luật thanh tịnh mà tích tập đủ mọi thứ công đức. Và ngài sẽ không bao giờ mệt mỏi với điều nầy cho đến khi nào thế giới cùng tận—The vow to repent all one's own sins (committed by oneself) and thereby to get rid of one's karma-hindrance is necessary because whatever sins committed by us are due to our greed, anger, and ignorance done by the body, speech, and mind. Now we make full confession and repent. According to the Buddha, all these sins, if they were really substantial, are thought to have filled the universe to its utmost ends and even over-flowing. Now a Bodhisattva vows to repent without reserve from the depth of his heart, vowing that such sins will never be committed again by him, for from now on, he will always abide in the pure precepts amass every sort of merit. And of this he will never get tired even to the end of the world. 5) Ngũ giả tùy hỷ công đức: Fifth is to rejoice and follow in merit and virtue—Compliantly rejoice in merit and virtue—Về lời nguyện tùy hỷ công đức, có nghĩa là một vị Bồ Tát phải luôn thống thiết với mọi chúng sanh về bất cứ mọi điều thiện mà họ suy nghĩ, cảm nhận và thực hành. Tất cả chư Phật đều đã trải qua những khó khăn vô cùng trước khi các ngài đạt được toàn giác. Từ sự phát khởi đầu tiên về ý tưởng chứng ngộ, chư Phật không bao giờ ngần ngại tích tập mọi công đức hướng đến sự đạt thành quả vị Phật, các ngài không bao giờ khởi lên một ý nghĩ về vị kỷ ngay cả phải hy sinh thân mạng và những gì thuộc về thân mạng ấy. Giờ đây một vị Bồ Tát cảm thấy một niềm hỷ lạc thâm thiết đối với những hạnh nguyện của chư Phật, không những các ngài chỉ cảm thấy như thế đối với chư Phật mà thôi, mà đối với bất cứ hành động công đức nào của chúng sanh, dù không quan trọng, các ngài thảy đều hoan hỷ. Với lời nguyện nầy vị Bồ Tát sẽ không bao giờ mệt mỏi khi đem chúng ra thực hành cho đến khi thế giới cùng tận—By the vow to rejoice and follow the merit and virtue is meant that a Bodhisattva should always be in sympathy with all beings for whatever good things they think, or feel, or do. All the Buddhas had gone through untold hardships before they attained full enlightenment. Since their first awakening of the thought of enlightenment, they never hesitated to accumulate all the merit that tended towards the attainment of the goal of their life, they never raised a thought of egotism even when they had to sacrifice their life and all that belonged to them. Now a Bodhisattva vows to feel a sympathetic joy for all these doings of the Buddhas. He does this not only with the Buddhas, but for every possible deed of merit, however significant, executed by any being in the path of existence, of any class of truth-seekers. A Bodhisattva with this vow will never be tired of putting it into practice till the end of the world. 6) Lục giả thỉnh chuyển pháp luân: Sixth is to request that the Dharma wheel be turned—request the turning of the Dharma Wheel—Lời nguyện thỉnh cầu của một vị Bồ Tát đến từng Đức Phật trong vô số Đức Phật chuyển bánh xe Pháp, không mệt mỏi, không ngừng nghỉ đến tận cùng thế giới—By the vow that a Bodhisattva will ask every one of the inconceivable number of Buddhas to revolve the Wheel of the Dharma, without feeling tired and without cease until the end of the world. 7) Thất giả thỉnh Phật trụ thế: Seventh is to request that the Buddha remain in the world—Request the Buddhas dwell in the world—Lời nguyện của một vị Bồ Tát đến từng Đức Phật trong vô số các Đức Phật đừng nhập Niết Bàn. Ngài sẽ thỉnh cầu điều nầy ngay cả với các vị Bồ Tát, A La Hán, Thanh Văn hay Bích Chi, vì ngài muốn chư vị thượng đẳng nầy tiếp tục sống đời và tiếp tục gây lợi lạc cho tất cả chúng sanh. Ngài sẽ tiếp tục thỉnh cầu không mệt mỏi cho đến tận cùng thế giới—A Bodhisattva vows to ask every one of the inconceivable number of Buddhas not to enter into Nirvana if any is so disposed. He will ask this even of any Bodhisattvas, Arhats, Sravakas, or Pratyekabuddhas; for he wishes these superior beings to continue to live in the world and keep on benefitting all beings. He will keep requesting this until the end of the world. 8) Bát giả thường tùy học Phật: Eighth is to follow the Buddha's teaching always—Follow the Buddhas in study—Vị Bồ Tát nguyện học hỏi từ một đời của một Đức Phật ở trong cõi Ta Bà nầy ngay chính lúc ngài phát khởi ý tưởng về giác ngộ, đã sẵn lòng không bao giờ ngưng việc thực hành, dù cho phải hy sinh thân mạng của chính mình vì việc phổ độ chúng sanh. Thái độ cung kính đối với pháp đã thể hiện qua cách như lấy da mình làm giấy, lấy xương mình làm bút, lấy máu mình làm mực mà chép nên kinh điển Phật chất cao bằng núi Tu Di, ngay cả đến thân mạng mà các ngài cũng không màng, huống là cung vàng điện ngọc, vườn cây, làng mạc và các thứ bên ngoài. Do tu tập mọi hình thức nhẫn nhục, cuối cùng ngài đạt được giác ngộ tối thượng dưới cội Bồ Đề. Sau đó ngài thể hiện mọi loại thần thông hay khả năng tâm linh, mọi loại biến hóa, mọi khía cạnh của Phật thân, và đôi khi đặt mình trong Bồ Tát, Thanh Văn, Bích Chi; đôi khi trong hàng Sát Đế Lợi, Bà La Môn, gia chủ, cư sĩ; đôi khi trong hàng Thiên, Long, và phi nhân. Hễ chỗ nào ngài xuất hiện, ngài đều thuyết giảng hết sức biện tài bằng một giọng nói như sấm để đưa tất cả chúng sanh đến chỗ thành thục theo sự ước muốn của họ. Cuối cùng ngài tự tỏ ra là nhập Niết Bàn. Tất cả các giai đoạn nầy của cuộc sống của một Đức Phật, vị Bồ Tát quyết phải học tập như là những mẫu mực cho chính cuộc đời mình. Vị Bồ Tát phải luôn thường tùy học Phật, không mệt mỏi, cho đến khi tận cùng thế giới—A Bodhisattva vows to learn from the life of a Buddha who in this Saha World ever since his awakening of the thought of enlightenment have never ceased from exercising himself ungrudgingly, not even sparing his own life, for the sake of universal salvation. His reverential attitude towards the Dharma had been such as to make paper of his skin, a brush of his bones, and ink of his blood wherewith he copied the Buddhist sutras to the amount of Mount Sumeru. He cared not even for his life, how much less much less for the throne, for the palaces, gardens, villages, and other external things! By practicing every form of mortification he finally attained supreme enlightenment under the Bodhi-tree. After this, he manifested all kinds of psychical powers, all kinds of transformations, all aspects of the Buddha-body, and placed himself sometimes among Bodhisattvas, sometimes among Sravakas, and Pratyekabuddhas, sometimes among Kshatriyas, among Brahmans, householders, lay-disciples, and sometimes among Devas, Nagas, human beings, and non-human-beings. Whenever he has found, he preached with perfect eloquence, with a voice like thunder, in order to bring all beings into maturity according to their aspirations. Finally, he showed himself as entering into Nirvana. All these phases of the life of a Buddha, the Bodhisattva is determined to learn as models for his own life. A Bodhisattva should always follow the Buddha's teaching without feeling tired, until the end of the world. 9) Cửu giả hàm thuận chúng sanh: Ninth is to constantly accord with all living beings—To forever accord with living beings—Trong vũ trụ nầy, đời sống thể hiện ra trong vô số hình thức, người nầy khác với người kia trong cách sinh ra, hình tướng, thọ mạng, xưng danh, khuynh hướng tâm linh, trí tuệ, ước vọng, xu hướng, cách cư xử, y phục, thức ăn, đời sống xã hội, thể cách cư trú, vân vân. Tuy người ta khác nhau như thế, vị Bồ Tát vẫn nguyện sống phù hợp với từng chúng sanh để giúp đở họ, để chăm lo đến các nhu cầu của họ, cung kính họ như cha mẹ mình, hay như chư A La hán, chư Như Lai mà không phân biệt ai là ai trong sự kính trọng nầy. Nếu họ bị bệnh, ngài sẽ là một thầy thuốc đối với họ. Nếu họ đi lạc đường, ngài sẽ chỉ cho họ con đường đúng. Nếu họ bị rơi vào cảnh nghèo khó, ngài sẽ cấp cho họ một kho tàng. Ngài cứ như thế mà cung cấp lợi lạc cho chúng sanh, tùy theo các nhu cầu của họ, vì vị Bồ Tát tin rằng bằng cách phục vụ tất cả chúng sanh, ngài phục vụ tất cả chư Phật; bằng cách cung kính tất cả chúng sanh, làm cho họ hoan hỷ, ngài đã cung kính và làm cho chư Phật hoan hỷ. Một trái tim đại từ bi là bản thể của Như Lai, chính do bởi các chúng sanh mà trái tim từ bi nầy phát khởi, và do bởi trái tim từ bi nầy mà ý tưởng về sự chứng ngộ được phát khởi, và do bởi sự phát khởi nầy mà sự chứng ngộ tối thượng được đạt thành. Vị Bồ Tát nguyện sẽ hàm thuận chúng sanh, không mệt mỏi, cho đến khi tận cùng thế giới—In this universe, life manifests itself in innumerable forms, each one differing from another in the way of its birth, in form, in the duration of life, in name, in mental disposition, in intelligence, in aspiration, in inclination, in demeanor, in garment, in food, in social life, in the mode of dwelling, etc. However, no matter different they are, the Bodhisattva vows to live in accordance with the laws that govern everyone of these beings in order to serve them, to minister to their needs, to revere them as his parents, as his teachers, or Arahts, or as Tathagatas, making no distinction among them in this respect. If they are sick, he will be a good physician for them; if they go astray, he will show them the right path; if they are sunk in poverty, he will supply them with a treasure; thus uniformly giving benefits to all beings according to their needs, because a Bodhisattva is convinced that by serving all beings, he is serving all the Buddhas, that by revering all beings, by making them glad, he is revering and gladdening all the Buddhas. A great compassion heart is the substance of Tathagatahood and it is because of all beings that this compassionate heart is awakened, and because of this compassionate heart the thought of enlightenment is awakened, and because of this awakening supreme enlightenment is attained. A Bodhisattva vows to forever accord with all beings without feeling tired until the end of the world. 10) Thập giả phổ giai hồi hướng: Tenth is to transfer all merit and virtue universally—To universally transfer all merit and virtue—Bất cứ công đức nào mà vị Bồ Tát thu thập được bằng cách chân thành đảnh lễ chư Phật và bằng cách thực hành mọi thứ công hạnh trên, các công hạnh nầy sẽ được chuyển giáo cho lợi lạc của hết thảy chúng sanh đầy khắp trong vũ trụ nầy. Ngài sẽ hồi hướng tất cả mọi công đức của ngài như thế vào việc làm cho chúng sanh cảm thấy an ổn, không bị bệnh tật, tránh xa các hành động xấu ác, thực hành mọi hành động tốt, sao cho nếu có sự ác nào thì đều bị ngăn chận và con đường đúng dẫn đến Niết Bàn được mở ra cho Trời và người. Nếu có chúng sanh nào đang chịu khổ vì các kết quả của ác nghiệp mà họ đã phạm trong quá khứ thì vị Bồ Tát sẽ sẵn sàng hy sinh gánh lấy mọi đau thương cho họ để họ được giải thoát khỏi nghiệp và cuối cùng làm cho họ thể chứng sự giác ngộ tối thượng. Vị Bồ Tát nguyện sẽ hồi hướng mọi công đức nầy cho kẻ khác, không mệt mỏi cho đến tận cùng thế giới—Whatever merits the Bodhisattva acquires by paying sincere respect to all the Buddhas and also by practicing all kinds of meritorious deeds as above mentioned, they will all be turned over to the benefits of all beings in the entire universe. He will thus turn all his merits towards making beings feel at ease, free from diseases, turn away from evil doings, practice all deeds of goodness, so that every possible evil may be suppressed and the right road to Nirvana be opened for the gods and men. If there be any beings who are suffering the results of their evil karma committed in the past, the Bodhisattva will be ready to sacrifice himself and bear the pains for the miserable creatures in order to release them from karma and finally make them realize supreme enlightenment. A Bodhisattva vows to transfer all merit and virtue universally without feeling tired until the end of the world. ** For more information, please see Samantabhadra in Sanskrit/Pali- Vietnamese Section.

Phổ Hiền hạnh nguyện tán

普賢菩薩行願讚; C: pŭxián xíngyuàn zàn; J: fugen gyōgan san; |Tên ngắn của Phổ Hiền Bồ Tát hạnh nguyện tán.

Phổ Hiền quán kinh

普賢觀經; C: pŭxián guān jīng; J: fugen kan kyō; |Tên gọi đầy đủ là (Phật thuyết) quán Phổ Hiền Bồ Tát hạnh pháp kinh ([佛説] 觀普賢菩薩行法經).

phổ hiền tam muội

(普賢三昧) Pháp tu của bồ tát Phổ hiền, tùy theo Hiển Mật mà có 2 pháp: 1. Theo Hiển giáo: Căn cứ vào lời dạy trong kinh Quán Phổ hiền bồ tát hành pháp và kinh Pháp hoa, thờ bồ tát Phổ hiền làm Bản tôn, quán xét lí thực tướng trung đạo của các pháp, sám hối tội chướng của 6 căn. Nếu Tam muội này thành tựu thì bồ tát Phổ hiền cỡi voi trắng 6 ngà thị hiện ở trong đạo tràng. 2. Theo Mật giáo: Căn cứ vào lời dạy trong Phổ hiền kim cương tát đỏa niệm tụng nghi quĩ, nếu tam mật (thân khẩu ý) của hành giả tương ứng với tam mật của Phật, thì thân hành giả hiện thành thân Phổ hiền, gọi là Phổ hiền tam muội. Kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực quyển thượng (Đại 18, 272 thượng) nói: Nương vào thể Phổ hiền tam muội và sức hòa hợp bền chắc màu nhiệm của Kim cương tam muội mà xuất hiện thân Đại bồ tát Phổ hiền. Lại nữa, 2 vị bồ tát Phổ hiền và Văn thù chủ quản 2 pháp môn, bồ tát Phổ hiền chủ về Tam muội, bồ tát Văn thù chủ về Bát nhã, giúp đức Phật trong việc giáo hóa, vì thế, đối lại với Văn thù bát nhã mà gọi là Phổ hiền tam muội. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 18 (Đại 35, 441 hạ) nói: Phổ hiền tam muội tự tại, Văn thù bát nhã tự tại. [X. Pháp hoa tam muội sám nghi; Ma ha chỉ quán Q.2, phần cuối]. (xt. Pháp Hoa Tam Muội).

phổ hiền tam mạn

See Samantabhadra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

phổ hiền và văn thù

Samantabhadra and Manjusri—Bồ Tát Phổ Hiền là hiện thân của đức trầm tĩnh, lòng xót thương và trí huệ sâu xa. Ngài thường được vẽ cưỡi trên lưng một con voi trắng (biểu thị đức tính trầm tĩnh và trí tuệ) ngồi hầu bên tay phải của Đức Phật; trong khi ngài Văn Thù Bồ Tát, một tay cầm kiếm kim cang đoạn diệt mê hoặc, ngồi trên lưng sư tử ở phía tay trái của Đức Phật. Văn Thù biểu thị sự giác ngộ tức là hốt nhiên mà nhận ra nhất thể của tất cả cuộc tồn sinh và năng lực phát sanh từ đó mà sức mạnh của sư tử là biểu tượng. Khi tri kiến nhờ có ngộ mà thành tựu được xử dụng làm lợi ích cho loài người, tâm xót thương của Phổ Hiền tự hiện thân. Do đó, các Bồ Tát Phổ Hiền và Văn Thù, mỗi người một bên tay của Đức Phật, biểu thị cái “Một” hay tính bình đẳng và cái nhiều—Samantabhadra embodies calm action, compassion, and deep-seated wisdom. He is usually depicted astride a white elephant (the elephant is being noted for its tranquility and wisdom), sitting in attendance on the right of the Buddha; while Manjusri Bodhisattva, with his delusion-cutting vajra sword in one hand, sits on the back of a lion on the Buddha's left side. Manjusri represents awakening, that is, the sudden realization of the lion's vigor is symbolic. When the knowledge acquired through 'awakening' is employed for the benefit of mankind, Samantabhadra's compassion is manifesting itself. Accordingly, each of the Bodhisattvas is an arm of the Buddha, representing respectively, Oneness or Equality and manyness.

phổ hiện

Chư Phật và chư Bồ Tát tùy ý thị hiện các loại thân ở khắp mọi nơi, tùy thuận theo căn cơ của chúng sanh mà tế độ cho họ (như Đức Quán Thế Âm có 33 thân tầm thinh cứu khổ trong Kinh Pháp Hoa)—Universal manifestation, especially the manifestation of Buddhas or Bodhisattvas in any shape at will.

phổ hiện sắc thân

(普現色身) Chư Phật, Bồ tát vì phương tiện hóa độ chúng sinh, nên ứng theo căn cơ của chúng sinh mà thị hiện các loại sắc thân. Như bồ tát Quan thế âm thị hiện 33 thân, nghe thấy tiếng kêu cầu mà đến cứu khổ; bồ tát Diệu âm hiện thân nhiếp hóa, Đại nhật Như lai trong Mạn đồ la Thai tạng giới lưu xuất ra các vị tôn... đều là phổ hiện sắc thân. Ngoài ra, cái nguồn gốc hiển xuất lực dụng này, gọi là Phổ hiện sắc thân tam muội, nhập vào Tam muội này thì có năng lực hiện ra các loại sắc thân Phật, Bồ tát... [X. phẩm Diệu âm bồ tát trong kinh Pháp hoa; Đại nhật kinh sớ Q.2; Pháp hoa kinh Khoa chú Q.8].

phổ hiện sắc thân tam muội

(普現色身三昧) I. Phổ Hiện Sắc Thân Tam Muội. Cũng gọi Hiện nhất thiết sắc thân tam muội, Phổ hiện tam muội. Tam muội mà chư Phật, Bồ tát thể nhập khi cần thị hiện các sắc thân. Phẩm Diệu âm bồ tát kinh Pháp hoa (Đại 9, 56 trung) ghi: Bồ tát hoa đức bạch đức Phật rằng: Bạch đức Thế tôn! Bồ tát Diệu âm trụ trong tam muội nào mà có thể hiển hiện độ thoát chúng sinh như vậy? Phật bảo bồ tát Hoa đức: Thiện nam tử! Tam muội này gọi là Hiện nhất thiết sắc thân, bồ tát Diệu âm trụ trong Tam muội này nên mới có năng lực lợi ích vô lượng chúng sinh như thế. II. Phổ Hiện Sắc Thân Tam Muội. Cũng gọi Phổ nhãn tam muội. Tam muội mà trong đó hàng đại cơ Phổ môn của hành giả Chân ngôn quán tưởng chư tôn trong hải hội Mạn đồ la được nhất tâm bất loạn. Đại nhật kinh sớ quyển 6 (Đại 39, 645 trung) nói: Nếu ở trong Đại bi tạng vân hải mà được nhất tâm bất loạn, thì gọi là Phổ nhãn tam muội, cũng gọi là Phổ hiện sắc thân tam muội. [X. phẩm Dược vương kinh Pháp hoa].

phổ hiệp

(溥洽) (1346-1426) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Minh, người Sơn âm, Cối kê, họ Lục, tự Nam châu, là hậu duệ của Phóng ông. Sư xuất gia ở chùa Phổ tế, thờ ngài Tuyết đình làm thầy. Sư thông suốt các kinh, giỏi cả Nho học, ngoài việc tu định, sư còn nghiên cứu văn chương. Trong năm Hồng vũ (1368-1397), sư được cử làm tăng lục ti hữu giảng kinh, rồi làm đến Tả thiện thế, không bao lâu bị vu khống và giáng chức. Sau sư lại được phục chức làm Hữu thiện thế. Khi vua Nhân tông lên ngôi, sư nhiều lần được triệu vào kinh đô hỏi ý kiến. Sau sư xin về dưỡng lão ở chùa Báo ân tại Nam kinh, vua Nhân tông sai Trung quang hộ tống sư. Niên hiệu Tuyên đức năm đầu (1426), sư thị tịch, thọ 81 tuổi. Sư để lại tác phẩm: Vũ hiên tập. [X. Bổ tục cao tăng truyện Q.25; Quốc triều hiến trưng lục Q.118; Minh nhân tiểu truyện Q.5].

Phổ Hoá

普化; C: pǔhuà; J: fuke; ?-860; cũng được gọi là Trấn Châu Phổ Hoá;|Thiền sư Trung Quốc dòng Mã Tổ, môn đệ của Thiền sư Bàn Sơn Bảo Tích. Sư nổi danh vì những hành động quái dị và những hành động này còn được ghi lại trong Lâm Tế lục.|Sau khi Bàn Sơn tịch, Sư đến trợ giúp Lâm Tế hoằng hoá trong thời gian đầu. Khi việc đã xong, toàn thân biến mất không để lại dấu vết. Dòng Thiền của Sư được Thiền sư Tâm Ðịa Giác Tâm truyền sang Nhật với tên Phổ Hoá tông (j: fukeshū)|Bàn Sơn sắp tịch, gọi đệ tử đến bảo: »Có người vẽ được chân dung ta chăng?« Tất cả môn đệ đều trình đã vẽ đến nhưng chẳng hợp ý Bàn Sơn. Sư liền ra thưa: »Con vẽ được.« Bàn Sơn bảo: »Sao chẳng trình Lão tăng?« Sư liền lộn nhào rồi ra. Bàn Sơn liền bảo: »Gã này sau chụp gió chạy loạn đây.«|Như Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch tiên đoán trước, Sư là người phụ giúp Lâm Tế Nghĩa Huyền hoằng hoá trong thời gian đầu tại Trấn Châu. Lâm Tế lục có ghi lại nhiều giai thoại của Sư với Lâm Tế. Một trong những câu chuyện thường được nhắc đến nhất là việc thiên hoá của Sư. Một hôm Sư ra giữa chợ hô hào xin người qua lại một cái áo dài. Ai cũng cho nhưng Sư không vừa lòng. Lâm Tế nghe vậy liền khiến một vị đệ tử mua một chiếc quan tài. Sư đến viện, Lâm Tế bảo: »Ta có cho ông cái áo dài rồi!« Sư bèn tự vác đi quanh chợ kêu lên rằng: »Lâm Tế làm cho tôi một cái áo dài rồi. Tôi qua cửa Ðông Thiên hoá đây!« Mọi người đua nhau theo xem, Sư bèn nói: »Hôm nay chưa, ngày mai ra cửa Nam thiên hoá!« Cứ như thế ba ngày thì không ai đi theo và đến ngày thứ tư, một mình Sư ra ngoài thành, tự đặt mình vào quan tài, nhờ người đóng nắp lại. Tin đồn ra thì mọi người đổ xô lại, mở quan tài ra xem thì không thấy xác đâu, chỉ nghe trên không tiếng chuông văng vẳng xa dần.

phổ hoá

(普化) (?-860) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, Sơ tổ của tông Phổ hóa, Thiền tông Nhật bản. Sư có tư chất và tính tình khác người, thờ ngài Bàn sơn Bảo tích làm thầy, được mật truyền áo nghĩa, thâm nhập huyền chỉ. Sau khi ngài Bảo tích thị tịch, sư du hóa đến Trấn châu tại miền Bắc, nói năng tựa như điên khùng, hành vi phóng túng, nơi ở không nhất định, hễ gặp người, không phân cao thấp, đều đánh 1 tiếng mõ rồi nói (Vạn tục 138, 71 hạ): Sáng đến đánh sáng, tối đến đánh tối, 4 phương 8 hướng đến thì xoáy như gió mà đánh, hư không đến cũng đánh tất. Những câu nói này được truyền tụng rộng rãi trong Thiền lâm và được mệnh danh là Phổ hóa tứ đả hoạt, Phổ hóa linh đạc kệ. Sư cũng thường ra vào những nơi phố chợ hoặc nghĩa trang, có lúc múa hát, có khi buồn khóc, người đời gọi sư là Phổ hóa Hòa thượng. Một hôm, sư vào viện Lâm tế ăn cơm, ngài Lâm tế bảo sư rất giống con lừa, sư liền kêu như lừa và nói (Đại 51, 280 trung): Lâm tế là đứa ở đợ, chỉ có 1 con mắt. Vào đầu năm Hàm thông (860-873), khi sắp thị tịch, sư vác quan tài đi ngoài phố chợ, đến từng nhà cáo từ rằng: Ngày mai Phổ hóa ra cửa Đông chết, người trong quận bảo nhau đưa sư ra cửa thành, sư nói to: Hôm nay chôn không tốt. Qua ngày thứ 2, sư đi ra cửa Nam, mọi người cũng đi theo để đưa, sư lại nói: Ngày mai cửa Tây mới tốt. Cứ như thế ra rồi về, người ta chán và người đi đưa dần dần ít đi. Ngày thứ 4, sư tự vác quan tài ra cửa Bắc, đánh mõ, rồi nằm vào quan tài mà tịch. Đến đời Tống, có sư Tâm địa Giác tâm từ Nhật bản đến Trung quốc học thiền, ngưỡng mộ di phong đánh mõ hát cuồng để gửi gắm ý thiền của sư, nên sau khi trở về nước, ngài Giác tâm kiến lập am Phổ hóa để truyền bá tông phong này, dần dần người đến theo học đông bèn trở thành tông Phổ hóa. [X. Tống cao tăng truyện Q.20; Cảnh đức truyền đăng lục Q.10; Liên đăng hội yếu Q.7; Ngũ đăng hội nguyên Q.4; Thích thị kê cổ lược Q.3]. (xt. Phổ Hóa Tông).

Phổ Hoá tông

普化宗; C: pǔhuà-zōng; J: fuke-shū; |Một nhánh thiền nhỏ không quan trọng tại Trung Quốc, được Thiền sư Phổ Hoá khai sáng trong thế kỉ thứ 9. Trong tông này, người ta thay thế việc tụng kinh niệm Phật bằng cách thổi sáo – cây sáo này được gọi là Xích bát (尺八; j: shakuhachi).|Phổ Hoá tông được Thiền sư Tâm Ðịa Giác Tâm (j: shinchi kakushin, 1207-1298) truyền sang Nhật trong thời đại Liêm Thương (kamakura). Các người theo tông này – phần lớn thuộc giới Cư sĩ – chu du khắp nơi, lúc nào cũng mang một cái nón tre che cả khuôn mặt và thổi sáo. Họ được gọi là »Hư vô tăng« (虛無僧; j: komusō). Tông này sau bị cấm vì có nhiều hiệp sĩ (侍; j: samurai) vô chủ, lợi dụng chiếc nón tre che mặt che đậy tông tích, hành vi bất thiện.

Phổ Huyễn

普幻; C: pŭhuàn; J: fugen; K: pohwan, 1245-1278;|Tăng sĩ học giả thuộc Thiền tông Hàn Quốc thế kỉ thứ 13, nổi tiếng là chuyên gia về kinh Thủ Lăng Nghiêm. Sư viết 2 cuốn luận giải về kinh nầy: Lăng Nghiêm kinh tân khoa (楞嚴經新科, k: nŭngŏmgyŏng singwa), 2 quyển, có khả năng hiện còn lưu hành, và Thủ Lăng Nghiêm kinh hoàn giải bổ kí (首楞嚴經環解補記, k: surŭngŏmgyŏng hwanhae pogi), 2 quyển, hiện đang lưu hành.

phổ hóa

Giáo hóa khắp nơi—Universal change, or transformation.

Phổ Hương

普香; C: pŭxiāng; J: fukō; S: samantagan-dha;|Tên một vị thần trong kinh Pháp Hoa.

Phổ khuyến toạ thiền nghi

普勸坐禪儀; J: fukan zazengi;|Một tác phẩm của vị Tổ tông Tào Ðộng Nhật Bản là Ðạo Nguyên Hi Huyền (j: dōgen kigen). Sư biên soạn quyển sách này sau khi từ Trung Quốc trở về nhằm khuyến khích các môn đệ tinh tiến Toạ thiền. Sư nhấn mạnh là toạ thiền không phải là »Phương tiện đạt giác ngộ« bởi vì ngay khi ngộ đạo, người ta cũng phải tiếp tục toạ thiền bởi vì toạ thiền là việc thực hành căn bản của chư Phật. Toạ thiền là một cách tu tập vô cùng tận.

phổ khuyến toạ thiền nghi

(普勸坐禪儀) Gọi tắt: Tọa thiền nghi. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Vĩnh bình Đạo nguyên –Khai tổ tông Tào động Nhật bản– soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 82. Nội dung sách này khuyên tất cả người tu hành nên ngồi thiền, chỉ bày sơ lược cách ngồi và phương pháp điều hòa thân thể. Toàn văn gồm có 756 chữ, cho tọa thiền là môn chính yếu của đạo Phật, không suy tư, lo toan là căn bản của việc tọa thiền. Chủ trương tọa thiền không phải phương tiện mà là cứu cánh, dù ngộ hay không, hoặc tu hành sau khi khai ngộ, tọa thiền đều rất quan trọng. Sách này là chỗ y cứ của tông Tào động Nhật bản.

Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi

(普勸坐禪儀): 1 quyển, thư tịch khuyên dạy mọi người cách thức cũng như ý nghĩa đúng đắn của Tọa Thiền, do Đạo Nguyên (道元, Dōgen) trước tác, được soạn thuật vào năm 1227, ngay sau khi ông từ bên nhà Tống trở về nước. Có hai loại là bản lưu bố và bản tự bút. Bản tự bút được chép vào ngày Trung Nguyên năm 1233, được lưu giữ tại Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji), và xem như là quốc bảo. Còn bản chép tay là nguyên văn của Đạo Nguyên lúc mới về lại Nhật; còn bản lưu bố là bản cũng do tự tay ông đính chính lại sau này. Về lý do soạn thuật sách này, có cuốn Tọa Thiền Nghi Soạn Thuật Do Lai Thư (坐禪儀撰述由來書) do Đạo Nguyên viết. Nếu căn cứ vào bản này, ta thấy rằng lý do soạn thuật ra Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi là nhằm đính chính lại sự sai lầm của tác phẩm Tọa Thiền Nghi (坐禪儀) do Tông Trách (宗賾, ?-?) ở Trường Lô (長蘆) của nhà Nam Tống Trung Quốc viết ra, và nêu rõ phương pháp Tọa Thiền được chánh truyền từ thời đức Phật Thích Ca cũng như Đạt Ma trở đi. Nội dung của Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi được phân làm 3 đoạn: Thượng, Trung và Hạ. Đoạn Trung nói về cách thức cũng như công đức của Tọa Thiền. Tính đặc dị của bộ này là có cái nhìn về việc Tọa Thiền rất khác lạ của Đạo Nguyên thông qua hai đoạn Thượng và Hạ. Yếu chỉ của sách là Phật pháp vốn được chánh truyền từ thời đức Phật Thích Ca cũng như Đạt Ma, chính là Tọa Thiền. Hơn nữa, Tọa Thiền không phải là thủ đoạn tu tập để đạt ngộ, mà chính Tọa Thiền là sự tu chứng nhất đẳng, lập cước trên sự chứng ngộ. Tác phẩm này được thâu lục vào trong Đạo Nguyên Thiền Sư Toàn Tập (道元禪師全集) quyển Hạ, Tào Động Tông Toàn Thư (曹洞宗全書).

phổ khử

xem a-già-đà.

phổ lễ

Lễ bái tất cả chư Phật (chỉ việc hành giả Mật giáo lễ bái bổn tôn và tất cả các vị tôn trong Mạn Đồ La, có nghĩa là lễ bái hết thảy chư Phật)—To worship all the Buddhas. ; (普禮) Lễ khắp cả, nghĩa là hành giả Mật giáo ở trong đạo tràng lễ bái Bản tôn, cùng tất cả các vị tôn trên Mạn đồ la. Phổ lễ có thể chia làm Đàn tiền phổ lễ, Trước tòa phổ lễ và Bản tôn phổ lễ. Ấn tướng của Phổ lễ phần nhiều dùng ấn Kim cương hợp chưởng (chắp tay), gọi là Lễ bái ấn. Ấn này biểu thị ý nghĩa niềmtin bền chắc không gì lay chuyển được. Khi kết ấn, nên tụng chân ngôn Phổ lễ: Án (oô, qui mệnh) tát phạ đát tha nghiệt đa (sarva tathàgata, nhất thiết Như lai) bá na (pàda, túc) mãn na nẵng (vandanàô, lễ) ca lỗ nhị (karomi, ngã tác). Nghĩa là Con lễ chân của tất cả Như lai. Khi kết ấn và tụng chân ngôn này thì tức là lễ kính tất cả các đức Như lai của hải hội Mạn đồ la trong khắp 10 phương. [X. kinh Lược xuất niệm tụng Q.1].

Phổ Minh

普明; C: pŭmíng; J: fumyō; |Ánh sáng chói lọi chiếu khắp. Tự điển Phật Quang Sơn liệt kê 8 nhân vật mang tên nầy.

phổ minh

Samantaprabhasa (skt). 1) Ánh sáng chói lòa, tên của 500 vị A La Hán thành Phật—Pervading light, name of 500 arhats on their attaining Buddhahood. 2) Tên một ngôi chùa mới xây khoảng năm 1972 tại thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang: Name of a temple, just built recently in Rạch Giá town, Kiên Giang province.

phổ minh vương

Phổ Minh Vương là tên của vị vua bị Ban Túc Vương bắt giữ—Pervading Light King, name of the king captured by Kalmasapada—See Ban Túc Vương.

Phổ Môn

(s: samanta-mukha, 普門): còn gọi là Vô Lượng Môn (無量門), ý chỉ cho cánh cửa rộng mở dung chứa hết thảy. Thiên Thai Tông cho rằng đây là lý của Trung Đạo, thật tướng, tức biến khắp tất cả; cho nên chư Phật, Bồ Tát nương lý này mà có thể khai mở cửa vô lượng, thị hiện các loại thân hình để cứu độ nỗi khổ của chúng sanh và thành tựu Bồ Đề. Căn cứ trên lý này, Thiên Thai Tông nêu ra thuyết Thập Phổ Môn (十普門), gồm: Từ Bi Phổ (慈悲普), Hoằng Thệ Phổ (弘誓普), Tu Hành Phổ (修行普), Đoạn Cảm Phổ (斷感普), Nhập Pháp Môn Phổ (入法門普), Thần Thông Phổ (神通普), Phương Tiện Phổ (方便普), Thuyết Pháp Phổ (說法普), Thành Tựu Chúng Sanh Phổ (成就眾生普), Cúng Dường Chư Phật Phổ (供養諸佛普). Hành giả có thể nương vào các pháp môn này theo thứ tự tu hành thì sẽ hoàn thành đức tự hành hóa tha. Riêng Hoa Nghiêm Tông thì nhận thức Phổ Môn là lý của chủ bạn đầy đủ trùng trùng vô tận do Viên Giáo thuyết ra; có nghĩa là trong một mà nhiếp hết thảy các pháp, cũng như kinh hoa nghiêm dạy rằng một của giáo pháp có thể thâu nhiếp cả toàn bộ các cửa. Hơn nữa, chư Phật, bồ tát nương vào các duyên, hiện đủ loại hình tướng để đến cứu độ chúng sanh; nên được gọi là Phổ Môn Thị Hiện (普門示現). Các kinh điển thuyết về Phổ Môn như Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm (觀世音菩薩普門品) thứ 25 của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka, 妙法蓮華經, Taishō No. 262), Phật Thuyết Phổ Môn Phẩm Kinh (佛說普門品經, Taishō No. 315), Quán Âm Kinh Phổ Môn Phẩm Phu Thuyết (觀音經普門品膚說), v.v. Tại Quan Âm Điện (觀音殿) của Quốc Thanh Tự (國清寺) ở Thiên Đài Sơn (天臺山), Tỉnh Triết Giang (浙江省), Trung Quốc có câu đối: “Pháp pháp viên thông cố danh Tự Tại, đầu đầu hợp đạo nhân hiệu Phổ Môn (法法圓通故名自在、頭頭合道因號普門, pháp pháp viên thông gọi tên Tự Tại, người người hợp đạo mới hiệu Phổ Môn).”

phổ môn

Samanta-mukuha (skt)—Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phổ Môn là cửa phổ biến, hay qua cửa nầy người ta có thể thống nhiếp tất cả các pháp, hay là một môn có nhất thiết môn. Qua cửa nầy, không có cái gì giới hạn Phật và Bồ Tát, thị hiện dưới mọi hình thức để cứu độ chúng sanh—According to The Flower Adornment Scripture, universal door, the opening into all things, or universality; the universe in anything; the unlimited door s open to a Buddha, or Bodhisattva, and the forms in which he can reveal himself. ; (普門) Phạm: Samanta-mukha. Cũng gọi Vô lượng môn. Chỉ cho pháp môn phổ cập hết thảy. Tông Thiên thai cho rằng lí thực tướng, trung đạo nói trong kinh Pháp hoa bao trùm khắp tất cả, không bị ngăn ngại, cho nên chư Phật, Bồ tát nương theo lí này mà mở ra vô lượng môn, thị hiện các loại thân để cứu vớt chúng sinh trong biển khổ, thành tựu bồ đề. Chính từ đây mà 10 Phổ môn đã được mở ra: Từ bi phổ, Hoằng thệ phổ,Tu hành phổ, Đoạn hoặc phổ, Nhập pháp môn phổ, Thần thông phổ, Phương tiện phổ, Thuyết pháp phổ, Thành tựu chúng sinh phổ và Cúng dường chư Phật phổ. Nương theo 10 Phổ môn này mà tu thì có thể lần lượt thành tựu các công đức tự hành, hóa tha. Tông Hoa nghiêm cho rằng lí Trùng trùng vô tận chủ bạn cụ túc mà Viên giáo nói tức là trong 1 pháp bao hàm tất cả pháp, chính là giáo pháp Nhất môn của kinh Hoa nghiêm, chứa đựng tất cả môn, cho nên gọi là Phổ môn, Phổ pháp. Còn Mật giáo thì chủ trương Đại nhật Như lai toàn nhiếp đức dụng của chư tôn, bao gồm tất cả tổng trí tổng đức, gọi là Phổ môn; trái lại, Phật Di đà và Phật Dược sư chỉ hiện 1 trí, 1 đức thì gọi là Nhất môn. Đại mạn đồ la của Thai tạng giới và Kim cương giới lấy Đại nhật Như lai làm trung tâm mà hội hợp, qui tụ chư Phật, Bồ tát, chư thiên... gọi là Phổ môn mạn đồ la, Đô hội mạn đồ la. Kiến lập Mạn đồ la này, gọi là Phổ môn đàn; tụng trì tất cả chân ngôn của hải hội chư tôn này, gọi là Phổ môn trì tụng tôn. Ngoài ra, nói theo nguyên lí Nhất tức nhất thiết thì tu hành Nhất môn pháp có thể được muôn đức của Phổ môn pháp. Tuy nhiên, về vấn đề này cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Lại nữa, chư Phật, Bồ tát tùy theo các duyên mà hiển thị các loại hình tướng để cứu độ chúng sinh, gọi là Phổ môn thị hiện.[X. Đại nhật kinh sớ Q.1, 4, 8; Quan âm kinh huyền nghĩa Q.hạ (Trí khải); Pháp hoa huyền nghĩa luận Q.10; Pháp hoa văn cú,Q.10 phần cuối; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.2 (Pháp tạng); Pháp hoa kinh khoa chú Q.8]. (xt. Nhất Môn, Phổ Môn, Thập Phổ Môn).

phổ môn thị hiện

(普門示現) Chư Phật, Bồ tát vận dụng năng lực thần thông tự tại thị hiện các loại thân tướng, mở ra vô lượng pháp môn làm cho chúng sinh chứng được viên thông. Như phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa đã nói rõ về sự hóa đạo của bồ tát Quan thế âm, Ngài thị hiện 33 tướng, 19 thân thuyết pháp, đó là đức dụng Phổ môn thị hiện của Ngài. Ma ha chỉ quán quyển 1, phần 5 ghi: Nếu người cần đến thânPhật để được độ thì liền hiện 8 tướng thành đạo; người cần đến thân trong 9 pháp giới để được độ thì dùng Phổ môn thị hiện. Đây là ý chỉ hiển bày sự cảm ứng trong 10 cõi và hiện thân nhiếp thụ, hóa độ. Phổ môn thị hiện ở đây tương đương với Nhập pháp môn phổ trong Thập phổ môn. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.6]. (xt. Thập Phổ Môn).

Phổ Ngu

普愚; C: pŭyú; J: fugu; K: pou, 1301-1382; |Thiền sư Hàn Quốc xuất thân từ Hồng Châu (洪州), thường được gọi với pháp danh Thái Cổ (太古, k: t'aego). Sư xuất gia vào năm 13 tuổi, được biết năm 19 tuổi, sư quyết chí giải trừ mối nghi sinh tử của mình, xúc tiến tham công án Vô và thấu suốt công án nầy năm 30 tuổi. Năm 1341, sư trú tại Trùng Hưng tự (重興寺, k: chunghŭngsa) ở Tam giác sơn, nơi sư bắt đầu thâu nhận đồ chúng. Sư lập một nơi ẩn cư ở phía Đông ngôi chùa, gọi đó là Thái Cổ (t'aego), ở đó sư viết tập Ca nhất thiên (歌一篇, k: kailp'yŏn). Sau đó sư viết Sơn trung tự lạc ca (山中自樂歌, k: sanjungjallakka). Sau, sư được mời làm Vương sư và Quốc sư. Sư là truyền nhân thuộc dòng thiền Lâm Tế (臨濟, k: imje), dòng thiền theo tinh thần của Đại Huệ (大慧); chú trọng vào việc tham thoại đầu. Sư nổi tiếng qua thi ca, các tác phẩm đã được môn đệ sưu tập lại.

phổ nguyện

(普願) (748-834) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, người ở Tân trịnh thuộc Trịnh châu (Tân trịnh, huyện Khai phong, tỉnh Hà nam), họ Vương. Năm 10 tuổi, sư theo ngài Hoài nhượng xuất gia ở núi Đại ngỗi, khổ công học tập, tinh tiến chuyên cần. Năm Đại lịch thứ 7 (772), sư đến chùa Hội thiện ở Tung sơn lễ Luật sư Cảo cầu thụ giới Cụ túc. Sư học tập Tướng bộ Luật tông do ngài Pháp lệ khởi xướng. Không bao lâu, sư đến các đạo tràng nghe giảng kinh Lăng già, kinh Hoa nghiêm..., sư thông suốt huyền chỉ của Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận... Sau, sư đến tham yết Thiền sư Mã tổ Đạo nhất ở Giang tây, có chỗ tỉnh ngộ. Năm Trinh nguyên 11 (795), sư lập Thiền viện ở núi Nam tuyền tại Trì dương, hơn 30 năm không ra khỏi núi. Đầu năm Thái hòa (827-835), theo lời thỉnh cầu của mọi người, sư xuống núi, khai đường giảng pháp, người đến tham học rất đông, đạo pháp hưng thịnh. Ngày 25 tháng 12 năm Thái hòa thứ 8 (834), sư thị tịch, thọ 87 tuổi, người đời gọi sư là Nam tuyền Phổ nguyện. Đệ tử nối pháp có 17 vị như: Tùng thẩm, Đàm chiếu, Sư tổ... Sư để lại tác phẩm: Ngữ lục, 1 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.11; Cảnh đức truyền đăng lục Q.8; Liên đăng hội yếu Q.4; Ngũ đăng hội nguyên Q.4; Phật tổ lịch đại thông tải Q.22; Thiền tông chính mạch Q.3]. (xt. Nam tuyền Trảm Miêu).

phổ nguyện nam tuyền thiền sư

Zen master Pu-Yuan-Nan-Quan—See Nam Tuyền Phổ Nguyện Thiền Sư.

Phổ Nhãn

普眼; C: pŭ yăn; J: fugen; |»Cái nhìn suốt khắp«, »mắt vũ trụ«. 1. Con mắt từ bi của Bồ Tát Quán Thế Âm nhìn toàn thể chúng sinh; 2. Nhận ra rằng các pháp đều bao hàm trong một pháp; 3. Một trong 12 vị Bồ Tát đương cơ trong kinh Viên Giác; nhan đề của phẩm thứ 3 trong kinh Viên Giác.

phổ nhãn tam muội môn

(普眼三昧門) Cũng gọi Phổ môn thế giới tam muội môn.Môn Tam muội quán tưởng đại chúng Phổ môn trong nhất tâm. Đại chúng Phổ môn tức là Phổ môn của Đại nhật Như lai thị hiện. Phổ nhãn là mắt bình đẳng đoạn trừ phiền não hoặc nghiệp. Đại nhật kinh sớ quyển 6 (Đại 39, 645 thượng) nói: Hết thảy thiện tri thức nhiều như số bụi nhỏ của cõi Phật trong Hải hội mạn đồ la đều nhập vào Pháp giới tam muội môn. Nếu quán tưởng chung đại chúng phổ môn như thế, mà nhất tâm trụ duyên không tán loạn, thì gọi là Phổ nhãn tam muội môn, cũng gọi là Phổ môn thế giới tam muội môn.

Phổ pháp

普法; C: pŭfă; J: fuhō; |Theo giáo lí Tam giai giáo, Phổ pháp là giáo lí phổ biến thích nghi với mọi chúng sinh có căn cơ chậm lụt và vô minh, được xêp vào hàng thứ ba; khác với biệt pháp (別法), thích ứng với chúng sinh căn cơ bậc thượng của Nhất thừa (一乘, s: ekayāna) và Tam thừa (三乘, s: triyāna).

phổ pháp

Theo Kinh Hoa Nghiêm, đây là chư pháp trong pháp giới (một pháp có đủ tất cả pháp, phổ biến viên dung)—According to The Flower Ornament Scripture, universal dharmas, or things; all things.

phổ pháp biệt pháp

(普法別法) Cũng gọi Phổ biệt nhị pháp. Phổ pháp và Biệt pháp. Phổ pháp là pháp môn phổ biến viên dung, tức là giáo pháp phổ cập tất cả chúng sinh, viên mãn dung hợp, không mảy may sai khác. Đồng nghĩa với Một tức tất cả. Trái lại, Biệt pháp là pháp môn các biệt không viên dung, tức là giáo pháp được hạn định cho từng đối tượng riêng biệt. Tông Hoa nghiêm cho giáo pháp Hoa nghiêm Nhất thừa là pháp phổ biến viên dung, gọi là Phổ pháp; còn Tiểu thừa, Tam thừa là giáo pháp cách biệt không viên dung, gọi là Biệt pháp. Các đối tượng mà năng lực thích hợp với 2 loại giáo pháp này gọi là Phổ cơ, Biệt cơ. Ngài Tín hành đời Tùy đề xướng Tam giai giáo (giáo pháp 3 bậc), trong đó, giáo pháp bậc 1 và giáo pháp bậc 2 gọi là pháp Biệt chân, Biệt chính, Biệt pháp; giáo pháp bậc 3 gọi là Phổ chân, Phổ chính, Phổ pháp. Chúng sinh thời mạt pháp cần Phổ pháp để cứu độ. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.2; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.2, 17; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Nam kỉ lục, phần 2, phần 6].

Phổ Phật

普佛; C: pŭfó; J: fubutsu;|Theo giáo lí Tam giai giáo; Phổ Phật thích ứng cho chúng sinh mù quáng vô minh, thuộc loại có căn cơ xếp hạng thứ 3 (tam giai 三階); được trình bày chi tiết bằng 4 phương diện Như Lai Tạng Phật (如來藏佛), Phật tính Phật (佛性佛), Đương lai Phật (當來佛), và Phật tưởng Phật (佛想佛).

phổ quang

Ánh sáng tỏa khắp nơi nơi—Universal light—To shine everywhere. ; (普光) Danh tăng Trung quốc sống vào đời Đường. Sư có tư chất thông minh, mẫn tiệp, thờ Tam tạng Huyền trang ở chùa Từ ân làm thầy. Sư siêng năng cần khổ học tập, nghe ít hiểu nhiều, được ngài Huyền trang thầm nhận, người đời gọi sư là Đại thừa quang. Ngài Huyền trang sáng lập Đạo tràng phiên dịch trong 20 năm (645-664), dịch 75 bộ kinh, 1335 quyển, phần lớn do sư Phổ quang bút thụ. Năm Vĩnh huy thứ 5 (654), ngài Huyền trang dịch luận Câu xá, trước hết thầm trao cho sư Phổ quang, sư bèn soạn bộ Câu xá luận kí, 30 quyển, để giải thích. Đời sau cho sư là người được chân truyền về Câu xá học của ngài Huyền trang. Sư có các tác phẩm: Câu xá luận kí 30 quyển, Câu xá luận pháp tông nguyên 1 quyển, Bách pháp minh môn luận sớ. [X. Tống cao tăng truyện Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Đông vực truyền đăng mục lục ].

phổ quang minh điện

(普光明殿) Cũng gọi Phổ quang pháp đường. Tòa điện đường nằm cạnh Bồ đề đạo tràng, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ. Thủa xưa, điện này là nơi đức Phật từng giảng hội thứ 2, thứ 7, thứ 8 trong 9 hội của kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) hoặc là hội thứ 2 và hội thứ 7 trong 8 hội kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển). Phẩm Như lai danh hiệu kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) (Đại 10, 57 hạ) nói: Lúc bấy giờ đức Thế tôn mới thành chính giác ở A lan nhã Bồ đề đạo tràng tại nước Ma yết đà, Ngài ngồi trên tòa sư tử Liên hoa tạng ở điện Phổ quang minh. [X. phẩm Thập định, phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển)].

phổ quang tam muội

(普光三昧) Tam muội phát ra ánh sáng do tọa thiền quán tưởng thân Như lai, chứng được 5 thần thông,4 Vô lượng tâm,4 Vô ngại giải, cho đến đầy đủ ánh sáng rực rỡ. Kinh Đại bảo tích quyển 89 (Đại 11, 513 trung) nói: Bồ tát Đại tinh tiến cầm bức tượng vẽ (...) quán tưởng thân Như lai, rồi nghĩ như thế này: Như lai vi diệu hiếm có (...). Bồ tát quán thân Như lai như thế, trải qua ngày đêm, thành tựu 5 thần thông, đầy đủ vô lượng, được Vô ngại biện, được Phổ quang tam muội, đầy đủ ánh sáng rực rỡ. Ngoài ra, theo phẩm Thập định trong kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) thì Tam muội thứ nhất trong 10 Tam muội lớn chính là Phổ quang tam muội.

phổ quang vương tự

(普光王寺) Chùa ở phương Tín nghĩa, phía đông nam huyện Tứ, tỉnh An huy, Trung quốc, do ngài Tăng già, người Tây vực, sáng lập vào đầu năm Long sóc (661-663) đời Đường. Khoảng năm Trinh nguyên (785- 804), chùa bị cháy, sau đó được ngài Thanh lương Trừng quán kiến thiết lại. Đến đời Tống, năm Thái bình hưng quốc thứ 7 (982, có thuyết nói năm thứ 5, 980), vua Thái tông sai ông Cao phẩm Bạch thừa duệ trùng tu tháp Tứ châu và đổi tên chùa là Thái bình hưng quốc. Đến khoảng năm Càn long (1736-1795) đời Thanh, chùa, tháp nhiều lần bị phá hoại nên đã hủy diệt. Tháp Tứ châu và tháp Tăng già là những kiến trúc rất nổi tiếng. Tháp Tăng già hoặc là tháp Linh thụy là nơi thờ ngài Tăng già. Tín ngưỡng Tăng già thịnh hành vào thời đại Đường, Tống. Ngoài chùa Phổ quang vương ở huyện Tứ ra, các nơi trên toàn cõi Trung quốc còn có Tăng già hòa thượng đường hoặc Tứ châu đại sư đường. Như trong Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí quyển 2 của ngài Viên nhân –vị tăng Nhật bản– có ghi Tăng già hòa thượng đường ở chùa Khai nguyên tại Đăng châu; trong Tham thiên thai ngũ đài sơn kí quyển 1 của ngài Thành tầm –vị tăng Nhật bản– cũng có ghi Tứ châu đại sư đường ở núi Đông giá... [X. Tống cao tăng truyện Q.18; Đại trung tường phù pháp bảo lục Q.14; Kim thạch lục Q.6; Phật tổ thống kỉ Q.43; Phật tổ lịch đại thông tải Q.20; Thích thị kê cổ lược Q.4; Trùng tu tứ giang hợp chí Q.2; Đông pha toàn tập Q.99; Trung quốc cận đại Phật giáo sử nghiên cứu (Mục điền Đế lượng)].

phổ quán kim cang

See Bất Không Kiến.

phổ quán quán tưởng

(普觀觀想) Cũng gọi Tự vãng sinh quán, Phổ vãng sinh quán, Phổ quán tưởng, Phổ quán. Pháp quán tưởng của người nguyện sinh Tịnh độ phương tây, có xuất xứ từ kinh Quán Vô lượng thọ, 1 trong 16 pháp quán. Lúc thực hành pháp quán này, quán tưởng tự mình sinh về thế giới Cực lạc, ngồi kết già trên hoa sen, khi hoa sen nở, có ánh sáng 500 màu chiếu soi trên thân mình, cho đến quán tưởng chư Phật, Bồ tát đầy khắp hư không. [X. Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ; Quán kinh huyền nghĩa phần]. (xt. Thập Lục Quán).

phổ sa

1) Kiết tường: Auspicious. 2) Sao Tisya: Pusya (skt)—The asterism Tisya. 3) Tháng Pausa: Pausa (skt)—See Thập Nhị Nguyệt (10).

phổ san

(普珊) Poussin, Louis de la Vallée (1869-1937) Học giả Phật giáo người Bỉ. Lúc trẻ, ông từng theo học giả người Pháp là Lévi, Sylvain nghiên cứu Đông phương học. Từ năm 1893 về sau, ông làm Giáo sư Đại học Grand dạy tiếng Hi lạp, tiếng La tinh, sau ông chuyên nghiên cứu về Ấn độ học và Phật giáo Đại thừa. Ông tinh thông tiếng Phạm, Hán, Tây tạng, trứ tác rất nhiều, thành quả rực rỡ, nghiễm nhiên trở thành người xúc tiến phong trào nghiên cứu Phật học ở châu Âu. Năm 1921, ông tổ chức hội nghiên cứu Đông phương học, hiệu đính phiên dịch kinh điển Phật giáo, soạn Bách khoa toàn thư về tông giáo và luân lí, viết các luận văn phát biểu về Phật giáo, làm mục lục về văn hiến Kì na giáo được tàng trữ tại Đại học Cambridge, mục lục các kinh điển đào được do ông A. Stein mang từ Trung á về và mục lục kinh điển Phật tiếng Tây tạng. Ông có các tác phẩm: Bouddhisme (gồm có: Adikarmapradìpa, Boddhicar= yàvatàraỉìka), 1898; Madhyamakvftti, 1903-1918; Màdhyamakàvatàra, 1900- 1918; Opinions sur l’Histoire de la dogmatique, 1909; La morale bouddhique, 1929; L’Abhidharmakoza de Vasubandhu, 6 vols., 1923-1931; L’ Inde aux temps des Mauryas et des Barbares, Grees, Scythes, Parthes et Yue-tchi, 1930.

phổ tang tiết

(普桑節) Phổ tang, âm của tiếng Tích lan: Poson. Ngày lễ lớn của Tích lan và các nước Phật giáo Thượng tọa bộ vùng Đông nam á, kỉ niệm ngài Ma hi đà, concủa vua A dục, đến Tích lan truyền bá Phật giáo. Vào ngày trăng tròn tháng 6 hàng năm, vùng Mahintale của Tích lan tổ chức các hoạt động kỉ niệm ngài rất long trọng. Theo truyền thuyết, ngài Ma hi đà từng hội kiến với Quốc vương của Tích lan là Thiên ái đế tu (Pàli: Devànampiya Tissa, ở ngôi 250- 210 trước Tây lịch) và giảng kinh thuyết pháp cho vua nghe lần đầu tiên ở nơi này.

phổ thiện thần

(普善神) Phổ thiện, Phạm:Pùwan. Cũng gọi Bố hàm thần. Hàm ý làvị thần nuôi dưỡng, phồn vinh, là thần trong kinh điển Phệ đà của Ấn độ đời xưa. Về hình tượng, thần này trong miệng không có răng, đầu bện tóc, tay cầm cây giáo vàng mũi nhọn hoắt, ngồi trên xe do sơn dương kéo, thường qua lại giữa khoảng trời đất. Chức vụ vị thần này chuyên cai quản đường sá, bảo hộ súc vật, tức có thể trừ diệt mãnh thú và trộm cướp trên đường đi, khiến súc vật lạc đường trở về, đồng thời, có khả năng làmcho linh hồn người chết được lên trời.

phổ thuyết

Giảng thuyết tổng quát—Giảng thuyết hằng ngày (không nhất thiết phải tại Giảng đường hay được sắp đặt trước)—General preaching—General day-to-day lectures (not necessarily in the Dharma Hall or scheduled in advance). ; (普說) Đối lại: Nhập thất, Độc tham, Tiểu tham. Thuyết pháp cho toàn thể đại chúng cùng nghe, tức sư gia mở bày tông thừa cho người học. Thông thường, Phổ thuyết được khai diễn ở Tẩm đường (Đại phương trượng) hoặc Pháp đường. Trong trường hợp thuyết pháp đặc biệt thì người học đốt hương thỉnh cầu phổ thuyết, gọi là Cáo hương phổ thuyết. Tấm bảng treo để thông báo cho đại chúng biết có phổ thuyết, gọi là Phổ thuyết bài. [X. điều Phổ thuyết trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên].

phổ thuỵ

(普瑞) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Nguyên, người Du thành (tỉnh Vân nam), tự Tuyết đình, hiệu Diệu quán. Sư xuất gia từ nhỏ, đọc kinh Hoa nghiêm mà khai ngộ, sau theo Thiền sư Kiểu uyên tham cứu và thụ pháp của ngài.Khi họ Đoàn cai trị nước Đại lí thì sư trụ ở Thủy mục. Đến đời Nguyên, sư trụ trì chùa Tái quang. Sư có các tác phẩm: Hoa nghiêm đàm huyền hội kí, 40 quyển, Lăng nghiêm toản yếu, 10 quyển, Hoa nghiêm tâm kính, Huyền đàm phụ dực.

phổ thông

Universal—Common to all—General—Reaching everywhere.

phổ thông hợp chưởng

(普通合掌) Cũng gọi Phổ thông ấn. Chỉ cho ấn khế chung, 1 trong các loại ấn khế của Mật giáo. Về ấn tướng thì trong pháp tu của Kim cương giới và Thai tạng giới có khác nhau, tức trong pháp tu Kim cương giới là Kim cương hợp chưởng, còn trong pháp Thai tạng giới thì là Liên hoa hợp chưởng. Như ấn khế của các vị Bồ tát: Như lai xả, Như lai hỉ, Như lai bi... trong viện Thích ca của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới đều là Phổ thông hợp chưởng.

phổ thông viện

(普通院) Nhà nghỉ được xây dựng ven đường dành cho những người hành hương chiêm bái Thánh tích núi Ngũ đài, Trung quốc, bắt đầu từ đời Đường về sau. Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí quyển 2 của ngài Viên nhân –vị tăng Nhật bản– nói: Viện Phổ thông thường cung cấp cơm cháo, bất luận tăng hay tục, hễ đến đều có thể nghỉ ngơi, vì thế gọi là viện Phổ thông. Ngoài viện Phổ thông ở núi Ngũ đài ra, trên đường đến chiêm bái di tích của Hòa thượng Tăng già ở chùa Phổ quang vương tại Tứ châu (An huy) cũng có thiết bị tương tự. Ngoài ra, cứ theo Hàm thuần lâm an chí, thì dọc đường đến lễ bái Thánh tích núi Phổ đà (tỉnh Chiết giang) có các nơi tạm trú như: Chùa Tiếp đãi, viện Tiếp đãi... Còn chùa Vân cư ở Phòng sơn (tỉnh Hà bắc) thì có nhà ăn miễn phí và các chùa Quang trạch, Bảo thọ... ở Trường an có các kí túc xá dành cho những sĩ tử về kinh đô dự các khoa thi... [X. điều Khoa cử trong Đường hội yếu Q.76; Trường an chí Q.8; Đường đại Phật giáo sử chi nghiên cứu (Đạo đoan Lương tú)].

phổ thỉnh

(普請) Cũng gọi Xuất pha. Mời tất cả mọi người. Trong Thiền lâm, khilàm các việc nặng nhọc thì mời tất cả đại chúng chung sức để thực hiện, gọi là Phổ thỉnh. Cứ theo Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí quyển 2, chế độ Phổ thỉnh được thực hành ở khắp các tùng lâm vào đời Đường. Đến mùa thu hoạch nho táo, rau đậu, thì các bậc Thượng tọa trong Thiền viện cũng tham gia hái quả, nhặt lá; lúc nhà bếp hết củi thì chúng tăng đi lấy củi. Vì các Thiền viện thời xưa hầu hết đều làm ruộng, nên các việc cày cấy, hái chè... đều phải phổ thỉnh. Ngoài ra, việc xây dựng nhà cửa cũng gọi là Phổ thỉnh, vì phải cần nhiều người hợp lực tham gia. [X. Phổ thỉnh pháp trong Tăng đường thanh qui Q.3; Đại tống tăng sử lược Q.thượng; điều Phổ thỉnh trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.6; điều Bách trượng Hoài hải trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.7; điều Qui sơn Linh hựu Q.9; điều Hoàng bá hi vận Q.12 và điều Hoa nghiêm Hưu tĩnh Q.17; Bích nham lục tắc 5; Liên đăng hội yếu Q.4, 7; môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên].

phổ thủ

Một tên khác của Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát—Another name for Manjusri—See Văn Thù Sư Lợi.

phổ trang

(普莊) (1347-1403) Thiền sư Trung quốc thuộc phái Dương kì tông Lâm tế, sống vào đầu đời Minh, người Tiên cư, Thai châu (Chiết giang), họ Viên, hiệu Ngốc am, cũng gọi Kính trung. Sư xuất gia ở núi Thiên đồng, sau tham yết ngài Liễu đường Duy nhất ở chùa Thiên ninh và được nối pháp. Năm Hồng vũ 12 (1379), sư trụ ở chùa Bắc thiền tại Giang tây, sau dời đến chùa Chân như, núi Vân cư, Giang tây. Mùa Xuân năm Hồng vũ 26 (1393), sư vâng sắc chỉ vào triều thuyết pháp; mùa Thu, sư vào Lô sơn tĩnh tu, vua ban 1 bộ áo; mùa Đông, sư vâng sắc trụ trì chùa Hưng Thánh Vạn Thọ tại Kính sơn. Niên hiệu Vĩnh lạc năm đầu (1403), sư thị tịch, thọ 57 tuổi, 45 tuổi hạ. Sư có tác phẩm: Ngốc am Trang thiền sư ngữ lục, 8 quyển. [X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.7; Nam Tống Nguyên Minh tăng bảo truyện Q.13; Tăng tục truyền đăng lục Q.6; Tục kê cổ lược Q.3].

phổ trang nghiêm đồng tử

(普莊嚴童子) Dịch mới: Đại uy quang thái tử. Chỉ cho vị đồng tử dùng 4 thắng thân thành Phật trong kinh Hoa nghiêm, con thứ 2 của vua Ái kiến Thiện tuệ ở đời quá khứ, là tiền thân của Phật Thích ca mâu ni. Ngài dùng thân thù thắng của giải hành sinh trong 3 sinh, dùng tâm cuối cùng của giải hành sinh vào biển quả, rốt ráo thành Phật.

phổ tri giả

Đức Phật là bậc phổ trí, vì ngài thông suốt tất cả—The omniscient, i.e. the Buddha.

phổ tri trí

siêu việt, thông suốt vạn pháp—Omniscience.

phổ tri tôn

See Phổ Tri Giả.

phổ trà

(普茶) Đối lại: Đặc vị trà. Pha trà cho toàn thể đại chúng dùng, gọi là Phổ trà. Trái lại, chỉ pha trà mời những vị đặc biệt, thì gọi là Đặc vị trà. [X. chương Trụ trì trong Hoàng bá thanh qui].

phổ trí thiên nhân tôn

(普智天人尊) Tôn hiệu của đức Phật, vì trí tuệ của Phật chiếu soi khắp sự lí, là bậc tôn quí nhất trong trời, người, nên có tôn hiệu này. Phẩm Hóa thành dụ kinh Pháp hoa (Đại 9, 27 hạ) nói: Phổ trí thiên nhân tôn Thương xót loài mê mờ Hay mở cửa cam lộ Rộng độ khắp quần sinh.

phổ tế

(普濟) (1179-1253) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Tống, người Phụng hóa, Tứ minh, họ Trương, hiệu Đại xuyên. Sư có tính trầm mặc từ nhỏ, thích tìm đọc sách Phật. Năm 19 tuổi, sư lễ ngài Văn Hiến ở việnHương lâm xin cạo tóc xuất gia, tu trì giới luật. Sau đó không lâu, sư đến Xích thành học lí Tính cụ của tông Thiên thai, nhận ra đó chẳng phải con đường thẳng tắt vượt qua sinh tử, nên lập chí tham thiền. Sư yết kiến ngài Thiên đồng Vô dụng, chuyên tâm tọa thiền, không ra khỏi Tăng đường. Sau, sư đến tham vấn ngài Triết ông Như diễm, ngay câu nói liền khế hợp, bèn y chỉ nơi đây. Khi ngài Như diễm dời đến núi Thiên đồng ở Tứ minh, sư cũng theo hầu và được giao công việc trông coi tạngKinh. Bấy giờ, Thừa tướng Sử trung Hiến vương kính trọng đức độ của sư, thỉnh sư trụ ở chùa Đại từ Báo quốc, sau dời đến ở chùa Tịnh từ Quang hiếu tại Lâm an, sau lại đến ở chùa Cảnh đức Linh ẩn. Sau, sư lâm bệnh, xin nghỉ nhưng không được chấp thuận. Lúc lâm chung, sư dặn không được chôn cất linh đình mà phải ném di cốt xuống sông. Ngày 18 tháng giêng niên hiệu Bảo hựu nămđầu (1253) đời vua Lí tông nhà Nam Tống, sư thị tịch, thọ 75 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Ngũ đăng hội nguyên, 20 quyển, Đại xuyên Phổ tế thiền sư ngữ lục, 1 quyển. [X. Linh ẩn Đại xuyên thiền sư hành trạng; Tục truyền đăng lục Q.35; Ngũ đăng nghiêm thống Q.22].

Phổ Tịch

(普寂, Fujaku, 651-739): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, người vùng Hà Đông (河東), Bồ Châu (蒲州, Vĩnh Tế, Sơn Tây), họ Phùng (馮), cốt khí cao nhã, thông hiểu các điển tịch Nho gia, nhưng cuối cùng cũng bỏ thế tục mà cầu đạo giải thoát, thường nghe Đại Lương Bích Thượng Nhân (大梁璧上人) giảng về Kinh Pháp Hoa, Thành Duy Thức Luận, Đại Thừa Khởi Tín Luận, v.v. Năm 38 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới với Hòa Thượng Đoan (端和上) ở Lạc Dương (洛陽), rồi theo Nam Tuyền Hoằng Cảnh (南泉弘景) học Luật. Ông cũng từng đến tham yết Đại Thông Thần Tú (大通神秀) ở Ngọc Tuyền Tự (玉泉寺) vùng Kinh Châu (荆州), theo thầy 7 năm (có thuyết cho là 6 năm), tinh tấn tham Thiền, cuối cùng ngộ được huyền chỉ. Khi Thần Tú vâng sắc chỉ của Võ Hậu vào kinh, chúng tăng đều quy y theo ông. Đến năm thứ 2 (706) niên hiệu Thần Long (神龍), khi Thần Tú qua đời, ông kế thừa thầy lãnh đạo đồ chúng. Vào năm thứ 13 (725) niên hiệu Khai Nguyên (開元) đời vua Huyền Tông, ông vâng chiếu chỉ đến trú tại Kính Ái Tự (敬愛寺, có thuyết cho là Hoa Nghiêm Tự) ở Lạc Dương. Đến năm thứ 15 (có thuyết cho là năm thứ 13 hay 23) cùng niên hiệu trên, ông vào Trường An (長安), trú tại Hưng Đường Tự (興唐寺), được hàng vương công sĩ thứ thường xuyên đến tham vấn. Chính ông là người đầu tiên giáo hóa Thiền phong rộng rãi ở chốn kinh đô hơn cả thầy mình. Tánh tình ông rất cẩn trọng, ít nói, trì giới trong sạch. Vào năm thứ 27 (có thuyết cho là 28) niên hiệu Khai Nguyên, ông thị tịch tại Hưng Đường Tự, hưởng thọ 89 tuổi, được sắc phong hiệu Đại Chiếu Thiền Sư (大照禪師), người đời thường gọi ông là Hoa Nghiêm Hòa Thượng (華嚴和上), Hoa Nghiêm Tôn Giả (華嚴尊者) và ông được tôn sùng như là vị tổ thứ 7 của Bắc Tông Thiền.

phổ tịch

(普寂) (651-739) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Đường, người Hà đông, Bồ châu (Vĩnh tế, tỉnh Sơn tây), họ Phùng. Sư có cốt cách lỗi lạc, thông hiểu Nho học, bỏ tục cầu đạo, đến Thượng nhân Đại lương Bích nghe kinh Pháp hoa, luận Thành duy thức, luận Đại thừa khởi tín... Năm 38 tuổi, sư y vào Hòa thượng Đoan ở Lạc dương thụ giới Cụ túc, rồi theo ngài Hoằng cảnh ở Nam tuyền học Luật, nhưng cảm thấy bị văn tự trói buộc, nên sư đến chùa Ngọc tuyền tại Kinh châu tham yết ngài Đại thông Thần tú, y chỉ 7 năm (có thuyết nói 6 năm), khổ công tham thiền, thấu suốt lẽ đạo. Năm Thần long thứ 2 (706), ngài Thần tú thị tịch, sư thừa kế lãnh chúng. Năm Khai nguyên 13 (725), vua Huyền tông thỉnh sư vào trụ chùa Kính ái ở Lạc dương (có thuyết nói chùa Hoa nghiêm). Năm Khai nguyên 15 (727, có thuyết nói 725, hoặc 735), sư theo vua về Trường an ở chùa Hưng đường, Vương công, sĩ thứ cùng nhau đến tham lễ, hóa đạo rất thịnh. Ngài Thần tú tuy được Đế vương kính trọng, nhưng chưa từng nhóm chúng khai đường thuyết pháp, còn sư thì mới đến đô thành hoằng hóa mà Thiền phong đã hưng thịnh. Tính sư trầm lặng ít nói, giữ giới nghiêm cẩn, không khoe khoang đức hạnh, vì thế người đời rất ca tụng. Năm Khai nguyên 27 (739, có thuyết nói 740), sư thị tịch ở chùa Hưng đường, thọ 89 tuổi. Vua ban hiệu Đại Chiếu Thiền Sư, người đời tôn xưng là Hoa nghiêm hòa thượng, Hoa nghiêm tôn giả, cũng có người tôn sư là Tổ thứ 7 của Thiền Bắc tông. [X. Tống cao tăng truyện Q.9; Cảnh đức truyền đăng lục Q.4; Phật tổ lịch đại thông tải Q.17; Thích thị kê cổ lược Q.3; Đại chiếu thiền sư tháp minh].

phổ tịnh

Thiền sư Phổ Tịnh, quê ở Thượng Phước, Bắc Việt. Khi còn rất nhỏ, ngài xuất gia với Thiền sư Phúc Điền, nhưng về sau thọ giới với Thiền sư Tường Quang và trở thành Pháp tử đời thứ 43 dòng Lâm Tế. Hầu hết cuộc đời ngài, ngài hoằng pháp tại miền Bắc Việt Nam. Ngài đi đâu và thị tịch hồi nào không ai biết—Zen Master Phổ Tịnh, a Vietnamese monk from Thượng Phước, North Vietnam. He left home to follow Most Venerable Phúc Điền when he was very young. Later, he received precepts with Zen Master Tường Quang and became the Dharma heir of the forty-third generation of the Linn Chih Zen Sect. He spent most of his life to expand the Buddha Dharma in North Vietnam. His whereabout and when he passed away were unknown.

phổ uyển

(溥畹) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Thanh, người Côn sơn, họ Cố, tự Lan cốc. Đầu năm Thuận trị (1644) đời vua Thế tổ, sư đến Vân nam, thường gặp nhiều biến loạn nên ẩn cư tu hành. Đến khoảng năm Khang hi, đức hạnh của sư được truyền rộng, 4 chúng đều qui phục. Sư xây dựng chùa Pháp giới và chùa Báo quốc ở Côn minh, qui tụ đồ chúng giảng dạy. Sư có kiến thức uyên bác, thông suốt Phật giáo, Nho học, giỏi thi thư. Sư có các tác phẩm: Kim cương kinh tâm ấn sớ, Lăng nghiêm kinh bảo kính sớ, Thi tập.

Phổ vi thừa giáo

普爲乘教; C: pŭwéi shèngjiāo; J: fuijōkyō;|»Giáo lí bao gồm hết tất cả các thừa«. Gọi như thế vì giáo lí nầy chứa đựng hết thảy 5 thừa. Là tên gọi khác của Pháp tướng tông. Đây là một thuật ngữ Pháp tướng tông thường dùng để gọi tên tông của mình xuất phát từ ngài Khuy Cơ (窺基).

phổ vi thừa giáo tông

(普爲乘教宗) Gọi đủ: Phổ vị nhất thiết thừa giáotông. Tên gọi khác của tông Pháp tướng. Tông này cho rằng kinh Giải thâm mật là giáo pháp vì(vị)5 thừa (Nhân, Thiên, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) mà nói, cho nên gọi là tông Phổ vị thừa giáo. Còn các kinh điển khác thì hoặc vì Nhân Thiên, hoặc vì Bồ tát, hoặc vì Nhị nhừa mà nói, chỉ là giáo pháp hạn cuộc ở 1 bộ, không phải là giáo nghĩa ứng hợp với tất cả các căn cơ. (xt. Pháp Tướng Tông).

Phổ Vũ

普雨; C: pŭyŭ; J: fu-u; K: pou,1515-1565; |Thiền sư Hàn Quốc vào thời Chosŏn. Sư sống vào thời kì có chút nới lỏng của sự đàn áp Phật giáo nhờ sự thừa kế của Hoàng hậu thừa kế Văn Định Vương Hậu (文定王后, k: munjŏng), là một Phật tử thuần thành, nắm vương quyền từ con của mình là Minh Tông (明宗, k: myŏngjong; trị vì từ 1545-1567), bà liền bãi bỏ nhiều biện pháp cấm ngăn Phật giáo.

phổ vương

Phổ Vương là danh hiệu của Diêm Vương khi ông ta diệt tận những tội chướng của chính mình—Universal king, title of Yama when he has expiated (extinguished) all his sins.

phổ đà

Potala, Pottala, or Potalaka (skt)—Còn gọi là Bổ Đát Lạc Già Sơn. 1) Cửa khẩu cổ gần cửa sông Ấn Hà: An ancient port near the mouth of the Indus. 2) Điện Phổ Đà trong thủ đô La Sa của Tây Tạng: The Potala in Lhasa. 3) Hải đảo linh thiêng ngoài khơi Ningpo (người ta nói chính nơi đây Thiện Tài Đồng Tử đã nghe Đức Quán Thế Âm thuyết pháp lần thứ 28): The sacred island of Pootoo, off Ningpo.

phổ đà liệt tổ lục

(普陀列祖錄) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Triều âm Thông húc (1649-1698) biên soạn vào đời Thanh, ấn hành năm Khang hi 35 (1686), được thu vào Vạn tục tạng tập 147. Nội dung sách này thu chép lược truyện và cơ duyên của 43 vị Trụ trì hoằng pháp ở núi Phổ đà qua các đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh từ ngài Chân yết Thanh liễu, Tự đắc Tuệ huy, đến các ngài Triều âm Thông húc và Cổ tâm Minh hỗ. Nhưng đa số chỉ được nêu tên mà thôi. Phần phụ lục ở cuối quyển có ghi thêm lược truyện của 5 vị từ các núi khác đến Phổ đà hoằng pháp như Thiên nhạc trú...

phổ đà lạc già sơn

Tên một tự viện trên đảo Phổ Đà (P'u-T'o)—Potalaka monastery on the island of Pootoo—See Phổ Đà (3).

phổ đà sơn

Phổ Đà Sơn là tên của một ngọn núi nổi tiếng về phía nam bờ biển Ấn Độ. Theo Kinh Hoa Nghiêm, Bồ Tát Quán Thế Âm đã thị hiện tại núi nầy để phổ độ chúng sanh. Phổ Đà Sơn là nơi có nhiều loại bông trắng nhỏ biểu hiện cho lòng khiêm tốn và đức tính từ bi của Bồ Tát Quán Âm—Potalaka Mountain, name of a famous mountain located on the southern coast of India. According to the Avatamsaka Sutra, Avalokitesvara Bodhisattva manifested herself there to save sentient beings. There are many small white flowers grow; this represents the modesty and compassionate behavior of Avalokitesvara Bodhisattva. ; (普陀山) Cũng gọi Bổ đà sơn, Bổ đà lặc ca sơn, Mai sầm sơn, Tiểu bạch hoa sơn. Núi nằm ở quần đảo Chu sơn, ngoài biển Đông, thuộc huyện Định hải, tỉnh Chiết giang, Trung quốc, là Thánh địa của bồ tát Quan thế âm. Núi này cùng với các núi Ngũ đài, Nga mi và Cửu hoa là 4 núi nổi tiếng của Phật giáo Trung quốc. Trước đời Đường, tương truyền có các ẩn sĩ như Mai phúc, Cát hồng tu đạo tại đây, vì thế núi này còn được gọi là Mai sầm sơn. Vào khoảng năm Đại trung (847- 860), có 1 vị tăng Ấn độ đến đây, tự đốt 10 ngón tay, được thấy bồ tát Quan thế âm hiện thân thuyết pháp và trao cho vị này viên đá quí 7 màu, nên nơi này được truyền tụng là đất hiển thánh của bồ tát Quan âm. Vào năm Trinh minh thứ 2 (916) đời Hậu Lương thời Ngũ đại, khi ngài Tuệ ngạc –vị tăng người Nhật bản– thỉnh tượng Quan âm từ núi Ngũ đài về nước, thuyền đi đến đảo này cứ xoay vòng không chịu tiến lên, ngài Tuệ ngạc liền dừng lại đây xây dựng chùa để cúng dường và phỏng theo tên Bổ đà lặc ca (Phạm: Potakala), trụ xứ của bồ tát Quan thế âm ở Ấn độ mà đặt tên là Bảo đà. Từ thời Nam Tống về sau, các triều đại cúng dường rất nhiều tài vật, các chùa viện được kiến thiết trên khắp núi, tăng chúng mỗi ngày đông thêm, Phổ đà sơn bèn trở thành 1 đạo tràng lớn và khách thập phương về chiêm bái rất đông. Những người đi biển, khi qua đây cũng thường lên đảo để lễ bái cầu an. Niên hiệu Thiệu hưng năm đầu (1131), các tông phái Phật giáo ở núi Phổ đà thống nhất về Thiền tông. Năm Gia định thứ 7 (1214), lại qui định lấy việc thờ phụng bồ tát Quan thế âm làm chủ yếu. Các triều đại sau kế tiếp tạo lập chùa viện, am thất... trong đó có 3 ngôi chùa lớn nổi tiếng và 72 ngôi chùa nhỏ. Ba chùa lớn là các chùa: Phổ tế, Pháp vũ và Tuệ tế. Ngoài ra, các chùa viện nhỏ và am thất tổng cộng 218 ngôi và tăng ni hơn 2.000 vị. Chiều dài và chiều rộng của toàn núi khoảng 18 km. Mỗi năm khoảng giao mùa Xuân và Hạ, thiện nam tín nữ từ khắp nơi lũ lượt về núi Phổ đà hành hương, nghỉ mát, khiến nơi này trở thành 1 tùng lâm phồn thịnh nhất trong các tỉnh thuộc vùng Giang nam.Chùa Phổ tế chúng tăng đông, phạm vi rộng, đứng đầu toàn núi. Chùa này được xây dựng vào năm Nguyên phong thứ 3 (1080) đời Bắc Tống, gọi là chùa Bảo Đà Quan Âm. Năm Khang hi 38 (1699) đời Thanh, đại điện được xây lại và vua ban bảng hiệu Phổ Tế Quần Linh, nhân đó chùa lấy tên là Phổ tế. Trong đại điện thờ tượng kim thân đức Thích ca mâu ni, phía ngoài cổng chùa có cầu đá, ao sen, lầu chuông... Chùa Pháp vũ được kiến trúc dựa vào núi. Trong điện Quan âm thờ pho tượng Quan âm khắc bằng đá hoa, là 1 kiệt tác của nghệ thuật. Chùa Tuệ tế được sáng lập vào thời vua Thần tông nhà Tống, qua các đời đều được tu bổ. Ba chùa Phổ tế, Pháp vũ và Tuệ tế thuộc tông Lâm tế và Tào động. Ngọn Bạch hoa là đỉnh cao nhất của núi Phổ đà, thường được gọi là núi Phật đính, từ chân núi đến đỉnh có hơn 2.000 bậc đá, sườn núi có tảng đá Vân phất (phủi, quét mây), trên khắc 4 chữ Hải Thiên Phật Quốc (Biển trời nước Phật). Núi Phổ đà 4 mặt là biển bao bọc, có nhiều ngọn lởm chởm và hang động tự nhiên, lung linh mờ ảo, chót vót hiểm hóc. Tiếng sóng triều hòa lẫn với tiếng chuông chùa âm vang giao hưởng, tạo thành 1 cảnh biển trời nước Phật kì tuyệt mênh mang.

Phổ Đăng Lục

(普燈錄, Futōroku): xem Gia Thái Phổ Đăng Lục(嘉泰普燈錄, Kataifutōroku) ở trên.

phổ đẳng

Tất cả mọi nơi đều giống nhau và bằng nhau (chỉ chúng sanh mọi loài)—Everywhere alike, universal equality, all equally.

phổ đẳng tam muội

(普等三昧) Chỉ cho Tam muội mà trong đó hành giả đồng thời được thấy tất cả chư Phật. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 269 thượng) nói: Nếu ta thành Phật, các chúng Bồ tát ở cõi nước phương khác, nếu được nghe tên của ta thì đều mau chóng chứng đắc Phổ đẳng tam muội. Trụ trong Tam muội này, cho đến khi thành Phật, thường thấy vô lượng bất khả tư nghị hết thảy Như lai. Về tên của Tam muội này, các kinh gọi có khác nhau, như bản Biệt dịch của hội Vô lượng thọ Như lai gọi là Bình đẳng tam ma địa môn, kinh Vô lượng thọ trang nghiêm gọi là Phổ biến bồ tát tam ma địa, kinhBi hoa quyển 6 gọi là Biến chí tam muội và kinh Đại bi phân đà lợi quyển 3 gọi là Phổ chí tam muội.

phổ đồng vấn tấn

(普同問訊) Cũng gọi Phổ thông vấn tấn, Phổ vấn tấn, Thập vấn tấn. Thăm hỏi vấn an toàn thể đại chúng, hoặc toàn thể đại chúng cùng thăm hỏi vấn an vị Trụ trì hoặc các bậc tôn túc. Điều Đại dạ niệm tụng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 6 (Đại 48, 1148 trung) nói: Người thụ thỉnh bước ra đốt hương, lui về chỗ cũ; đầu tiên, đến trước vị Trụ trì vấn tấn, chuyển sang trước Đông tự vấn tấn, lần lượt từ vị đầu đến vị cuối; rồi đến trước Tây tự vấn tấn, cuối cùng mới vấn tấn toàn thể đại chúng (Phổ đồng vấn tấn). [X. Thích thị yếu lãm Q.trung; Lễ tắc trong Thiền lâm tượng khí tiên].

phổ độ

Mở rộng việc tế độ chúng sanh đáo bỉ ngạn, bao gồm cả việc thế phát độ Tăng—To relieve—Universally to ferry across, including helping people to leave home to become monks. ; (普度) I. Phổ Độ. Độ cho nhiều người cạo tóc xuất gia. Truyện Khổng thừa cung trong Tống sử ghi: Xin sửa chữa những ngôi chùa ở nơi bị chiến tranh tàn phá và độ cho nhiều người làm tăng ni. II. Phổ Độ. Cũng gọi Phổ độ chúng sinh. Ban bố pháp lực rộng rãi để cứu độ chúng sinh. Tức là Phật, Bồ tát thương xót chúng sinh trôi giạt, nổi chìm trong biển lớn sống chết, nên ban bố rộng rãi pháp lực để cứu độ khắp quần sinh, khiến cho họ thoát khỏi biển khổ sinh tử phiền não. Tín ngưỡng dân gian Trung quốc, hàng năm đến tháng 7 âm lịch, dân chúng sắm sửa thức ăn để cúng tế các vong linh, cũng gọi là Phổ độ. Phật giáo cũng có nghi thức Phổ độ đại trai. III. Phổ Độ (1196-1277). Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Nam Tống, họ Sử, tự Hư chu. (xt. Hư Chu). IV. Phổ Độ (?-1330). Cao tăng Trung quốc sống vào đời Nguyên, người Đơn dương (huyện Trấn giang, tỉnh Giang tô), họ Tưởng. Năm 20 tuổi, sư xuất gia ở chùa Đông lâm tại Lô sơn, tham học nhiều nơi, sau trụ ở chùa Diệu quả tại Đơn dương và Thiện pháp đường chùa Đông lâm, chuyên tu Tam muội niệm Phật. Bấy giờ xuất hiện bọn người tự xưng là Liên tông mà chuyên hành tà pháp, sư thâm cảm niềm lo âu. Cho nên, vào năm Đại đức thứ 9 (1305), sư biên soạn Liên tông bảo giám, 10 quyển, để làm sáng tỏ chính tông của ngài Từ chiếu Tử nguyên. Tháng 5, niên hiệu Chí đại năm đầu (1308) đời Nguyên, vua Vũ tông hạ chiếu chỉ nghiêm cấm Liên tông hoạt động, sư liền quyết định đặt kế hoạch phục hưng. Tháng 10, sư đến chùa Pháp vương tại Kinh đô để cùng bàn bạc với Quốc sư Quán đính, rồi đem bộ Liên tông bảo giám do sư soạn dâng lên vua. Sau khi vua Nhân tông lên ngôi, sư lại dâng biểu xin được phục hưng Liên tông. Tháng giêng, niên hiệu Hoàng khánh năm đầu (1312), Nhân tông sắc lệnh ban hành Liên tông bảo giám trong nước, đề cử sư làm Giáo chủ Liên tông và ban hiệu cho sư là Hổ Khê Tôn Giả. Niên hiệu Chí thịnh năm đầu (1330) sư thị tịch. Người đời tôn là Ưu đàm tông chủ, tổ Trung hưng Liên tông. [X. bài Tựa trong Lô sơn Liên tông bảo giám; Tịnh độ thần chung Q.10; Tịnh độ toàn thư Q.hạ; Tịnh độ thánh hiền lục Q.4].

phổ độ chúng sanh

Cứu độ tất cả chúng sanh—To deliver, or save all beings.

Phổ Đức

普徳; C: pŭdé; J: futoku; K: podŏk|Tăng sĩ thuộc Cao cú lệ (k: koguryŏ), bị lưu đày sang Tân La vào thời Nguyên Hiểu (元曉, k: wŏnhyo). Là người nổi tiếng tinh thông về kinh Niết-bàn.

phổ đức bồ tát

Bodhisattva Universal Virtue.

Phổ-đà sơn

普陀山; C: pǔtuó-shān; S: potalaka; cũng được gọi là Tiểu Bạch Hoa, Mai Sầm sơn;|Một ngọn núi trên đảo Phổ-đà, một trong Tứ đại danh sơn của Trung Quốc. Núi này là một trong những trung tâm Phật giáo quan trọng tại đây và được xem là trú xứ của Bồ Tát Quán Thế Âm.|Một vài truyền thuyết kể lại việc Phổ-đà sơn trở thành trú xứ của Quán Thế Âm. Tên Phổ-đà vốn xuất phát từ chữ »Potalaka« của Phạn ngữ, tên của một hòn đảo tại Ấn Ðộ dương. Hòn đảo này cũng được biết là trú xứ của Quán Thế Âm. Năm 847, một vị tăng người Ấn Ðộ bỗng nhiên thấy Quán Thế Âm xuất hiện trong một hang động trên một ngọn núi. Sau đó, vị này đặt tên cho núi này là Potalaka, dịch âm là Phổ-đà.|Một truyền thuyết khác kể rằng, vào khoảng năm 850, một vị tăng đốt hết những ngón tay của mình để cúng dường. Nghe ông than thở, đức Quán Thế Âm hiện ra cứu giúp, vì ông thuyết pháp.|Một truyền thuyết rất nổi tiếng khác bảo rằng, một vị tăng người Nhật muốn thỉnh một tượng Quan Âm từ Ngũ Ðài sơn sang Nhật. Trên đường trở về nước thì thuyền của ông không may gặp bão. Ông nguyện trước bức tượng Quan Âm rằng, nếu thoát khỏi nạn này ông sẽ xây dựng một ngôi chùa để cúng dường. Ngay sau đó thì thuyền của ông – như được một bàn tay vô hình – được dẫn ngay đến núi Phổ-đà. Ðể báo ân, ông bèn lập một ngôi chùa tại đây và từ đó, Quan Âm cũng được xem là vị Bồ Tát chuyên giúp những người đi biển.

phụ cận

Adjacent—Near—Neighboring.

Phụ Giáo Biên

(輔敎編, Hokyōhen): trước tác của Phật Nhật Khế Tung (佛日契嵩), gồm 3 quyển, được thâu lục vào trong Đàm Tân Văn Tập (鐔津文集). Quyển thượng có phần Nguyên Giáo (原敎), Khuyến Thư (勸書); quyển trung có Quảng Nguyên Giáo (廣原敎) và quyển hạ có Hiếu Luận (孝論), Đàn Kinh Tán (壇經賛) và Chơn Đế Vô Thánh Luận (眞帝無聖論). Nó thuyết về sự nhất trí xưa nay về Ngũ Giới Thập Thiện của Phật Giáo với Ngũ Thường của Nho Giáo; Nho thì trị đời còn Phật thì trị tâm và nhờ có trị tâm mới làm cho việc trị thế được hoàn thành. Hơn nữa, tác phẩm này còn chủ trương rằng với vấn đề ba đời quá khứ, hiện tại và tương lai, Phật Giáo hơn hẳn Nho Giáo; mặt khác chính nhờ các vị vương thần mà Phật Giáo tồn tại, cho nên Phật Giáo thể hiện tư thế khẳng định toàn diện đối với quyền lực quốc gia. Vào năm 1061, bộ này được trình lên cho vua Nhân Tông (仁宗), được nhóm Âu Dương Tu (歐陽脩) khen ngợi, rồi năm sau bản Truyền Pháp Chánh Tông Ký (傳法正宗記) cũng được chấp nhận đưa vào kinh tạng, và Khế Tung được ban cho hiệu là Minh Giáo Đại Sư (明敎大師). Bộ này được lưu hành rộng rãi ở Trung Quốc cũng như Nhật Bản, và thỉnh thoảng được khai bản ấn hành. Đặc biệt, phần Nguyên Giáo và Hiếu Luận có ảnh hưởng rất lớn. Chính Trầm Sĩ Vinh (沉士榮) nhà Minh sau này đã kế thừa tư tưởng của Nguyên Giáo để viết ra cuốn Tục Nguyên Giáo Luận (續原敎論, Zokugenkyōron, năm 1385); còn ảnh hưởng của Hiếu Luận thì có thể tìm thấy ở Trung Phong Minh Bổn (中峰明本, 1263-1323) và Hàm Sơn Đức Thanh (憨山德清, 1546-1623) nhà Nguyên. Còn tại Nhật Bản thì Hiếu Luận cũng được lưu truyền rộng rãi đến nổi người ta đã cho in riêng phần này thành một bản. Ngoài ra ta có thể tìm thấy chủ trương giống như tác phẩm này qua cuốn Nhàn Cư Biên (閑居編, năm 1016) của vị tăng Thiên Thai Tông là Cô Sơn Trí Viên (孤山智圓).

phụ giáo biên

(輔教編) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Khế tung soạn vào đời Bắc Tống, được thu vào Đàm tân văn tập quyển 1-3 trong Đại chính tạng tập 52. Nội dung nói rộng về yếu nghĩa của Phật giáo để dung hòa 2 đạo Nho và Phật. Ngài Khế tung bác bỏ luận điệu bài Phật của Nho gia đương thời và đề xướng thuyết Nho Phật nhất trí (Nho và Phật là một). Ngài phối hợp 5 giới (sát, đạo, dâm, vọng, ẩm tửu) của Phật giáo với 5 thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) của nhà Nho và giải thích rõ ràng. Toàn sách gồm 5 thiên: Nguyên giáo, Khuyến thư, Quảng nguyên giáo, Hiếu luận và Đàn kinh tán. Các ông Tống liêm, Lí chi toàn viết lời tựa và ông Tử nhu soạn bài bạt.

phụ giúp

To help—To assist.

phụ họa

To repeat someone's opinion.

phụ khuyết

To be alternate.

phụ liêu

Deputy in a monastery.

phụ lục thân

(父六親) Sáu hàng thân thuộc với cha. Tam tạng pháp số quyển 27 dẫn qui định trong luật có ghi rằng: Để tránh sự hiềm nghi của người đời, đức Phật cấm các tỉ khưu không được nhờ người nữ, hoặc tỉ khưu ni không phải là bà con họ hàng giặt giũ quần áo cho mình, vì thế mà có thuyết Phụ lục thân, Mẫu lục thân. Phụ lục thân là: 1. Bá: Bác của cha, đối với mình là ông bác. 2. Thúc: Chú của cha, đối với mình là ông chú. 3. Huynh: Anh của cha, đối với mình là bác. 4. Đệ: Em của cha, đối với mình là chú. 5. Nhi: Con của cha, đối với mình là anh em. 6. Tôn: Cháu của cha, tức là con của anh emruột, cũng là cháu trai, cháu gái thúc bá của mình.

phụ môn

Bị thua trong cuộc tranh luận—Positions that have been withdrawn from in argument—Defeated.

phụ mẫu

Cha mẹ—Father and mother—Parents. (A) Vô minh và tham ái được coi như là cha mẹ của phiền não và nghiệp chướng—The two 'ignorance and concupiscence' being the parents of all delusion and karma. 1) Phụ Vô Minh: Ignorance is referred to as father. 2) Mẫu Tham Ái: Desire or concupiscence as mother. (B) Tam Ma Địa cũng được coi như cha, và Bát Nhã được coi như mẹ của tất cả trí tuệ và công đức—Samadhi is also referred to as father, and prajna (wisdom) as mother, the parents of all knowledge and virtue. 1) Cha Tam Ma Địa: Samadhi is referred to as father. 2) Mẹ Bát Nhã: Prajna as mother. (C) Trong chập chùng sanh tử luân hồi, tất cả người nam đã từng là cha ta, và tất cả người nữ đã từng là mẹ ta (Nhứt thiết nam nữ ngã phụ mẫu trong kinh Tâm Địa Quán)—In the vast interchanges of rebirth all have been or are my parents, therefore all males are my father and all females my mother.

phụ mẫu phu thê tử tôn thân bằng quyến thuộc

Parents-Husbands and Wives-Children-Friends-Relatives—Theo Kinh Duy Ma Cật, Phẩm Tám, Cư Sĩ Duy Ma Cật đã nói về phụ mẫu, phu thê, tử tôn, thân bằng, quyến thuộc như sau—According to the Vimalakirti Sutra, Chapter Eighth, trong chúng hội có Bồ Tát tên Phổ Hiện Sắc Thân hỏi ông Duy Ma Cật rằng: “Cư sĩ! Cha mẹ, vợ con, thân bằng quyến thuộc, những người trí thức là ai? Tôi tớ, trai bạn, voi ngựa, xe cộ ở đâu?”—A Bodhisattva called Universal Manifestation, who was present asked Vimalakirti: “Who are your parents, wife and children, relatives and kinsmen, official and private friends, and where are your pages and maids, elephants and horse carts?” Duy Ma Cật dùng bài kệ đáp rằng—In reply Vimalakirti chanted the following: 1) Trí độ mẹ Bồ Tát, phương tiện ấy là cha, Đạo sư tất cả chúng, đều do đấy sinh ra—Wisdom-perfection is a Bodhisattva's Mother, his father is expedient method, For the teachers of all living beings come, Only from these two (upaya and prajna). 2) Pháp hỷ chính là vợ, tâm từ bi là gái, tâm thành thực là trai, rốt ráo vắng lặng nhà—His wife is joy in Dharma's law; Kindness and pity are his daughters; His sons morality and truthfulness; Absolute voidness his quiet abode. 3) Trần lao là đệ tử, tùy ý mà sai xử, đạo phẩm vốn bạn lành, do đấy thành Chánh giác—Passions are his disciples Whom he transforms at will. Bodhipaksita dharma are his friends. Helping him to win supreme enlightenment.

phụ mẫu ân trọng kinh

(父母恩重經) Kinh 1 quyển, được thu vào Đại chính tạng tập 85. Kinh này gồm có nhiều loại bản in, bản này là bản đào đượcở động Đôn hoàng, tỉnh Cam túc, Trung quốc, nội dung nói về ân đức sâu dày của cha mẹ và khuyên mọi người vào ngày 15 tháng 7 hàng năm, nên thực hành pháp Vu lan bồn và thường viết chép, đọc tụng kinh này để đền đáp thâm ân của cha mẹ. Nhưng Khai nguyên thích giáo lục thì cho kinh này là do người Trung quốc ngụy tạo. Nhiều người cũng cho rằng đây là kinh giả được soạn vào khoảng trước hoặc đầu đời Đường. Kinh Phụ mẫu ân trọng được lưu thông ở Trung quốc, Nhật bản và có rất nhiều sách chú thích. Trong các tác phẩm văn học của Nhật bản, lời kinh này cũng thường được dẫn dụng, bởi thế có thể nói đây là một bộ kinh Phật bị Nho giáo hóa. Kinh Đại báo phụ mẫu trọng ân được lưu hành ở Nhật bản và Triều tiên có nội dung rất khác với kinh này. Ngoài ra còn có các bức vẽ về kinh Phụ mẫu ân trọng được lưu truyền phổ biến qua nhiều đời. [X. Ngụy vọng loạn chân lục trong Khai nguyên thích giáo lục Q.18; Triều tiên Phật giáo thông sử Q.thượng].

phụ nghi

(賻儀) Tiền bạc và phẩm vật tặng thân nhân của người chết để giúp vào việc làm đám tang.Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 3 (Đại 48, 1128 trung) nói: ... Sau đó dâng tất cả tài vật (phụ nghi) lên để cúng tế, dùng không hết phải trả về thường trụ để thù lao cho những người giúp việc từ các chùa khác đến.

phụ nhân

1) See Phụ (6). 2) Vợ: A wife.

phụ nhân ngộ cô kinh

(婦人遇辜經) Cũng gọi Phật ngộ đối kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Thánh kiên dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh thuật lại chuyện của 1 người đàn bà chỉ trong thời gian ngắn mà chồng, con, cha mẹ đẻ, thân nhân nhà chồng... cứ theo nhau mà chết. Vì gặp nỗi bất hạnh ấy, nên trong lòng người quả phụ lo sầu, sợ hãi quá đến nỗi phát khùng. Sau, bà đến tinh xá Kì viên trong vườn Cấp cô độc, đức Phật nói pháp cho nghe (Đại 14, 944 trung): Mệnh người vô thường, có hợp thì có tan, có sống ắt có chết, tất cả đều như thế, không ai tránh khỏi. Nghe xong, người bà tỉnh ngộ và phát đạo tâm.

phụ phàng

To put away (betray—desert) one's wife or husband.

phụ phật pháp ngoại đạo

Ngoại đạo nằm ngay trong lòng Phật Giáo (chỉ những người mang danh Phật tử mà luôn bị tà vạy mê hoặc)—Heretics within Buddhism. ; (附佛法外道) Chỉ cho những kẻ nương nhờ Phật giáo, sống trong Phật giáo mà lập ra học thuyết sai lầm, phản lại chính nghĩa của Phật giáo. Là 1 trong 3 loại ngoại đạo được đề cập đến trong Ma ha chỉ quán. Như tông Hoa nghiêm cho Độc tử bộ của Tiểu thừa là Phụ Phật pháp ngoại đạo. Ma ha chỉ quán quyển 10, phần đầu (Đại 46, 132 trung) nói: Có ba hạng người sai lầm: 1. Ngoại đạo ngoài Phật pháp. 2. Ngoại đạo nhờ vào Phật pháp. 3. Học Phật pháp trở thành ngoại đạo. Trong 3 trường hợp nêu trên, ngoại đạo ngoài Phật pháp là chỉ cho giáo pháp ngoài Phật pháp, hoặc người mà họ tin thờ. Còn những người tuy học giáo pháp của Phật, nhưng sự hiểu biết của họ lại trái ngược với Phật pháp, nên gọi là học Phật pháp mà trở thành ngoại đạo.

phụ thuộc lẫn nhau

Interdependent

phụ thành

Thành của phụ vương của Đức Phật hay thành Ca Tỳ La vệ—The paternal or native city, especially Sakyamuni, Kapilavastu. ; (父城) Thành của phụ vương đức Phật, tức là thành Ca tì la, nơi vua Tịnh phạn đóng đô, nên gọi là Phụ thành, cũng là nơi sinh của đức Phật.

phụ thân

Cha—Father—Daddy.

phụ trách

To undertake—To assume the responsibility.

phụ tuỳ

(附隨) Pàli: Purivàra. Cũng gọi Phụ lục. Phần phụ lục củatạng Luật, 1 trong 3 bộtạng Luật bằng tiếng Pàli. Nội dung của phần này chủ yếu là giải thích các giới điều, gồm 19 chương: Đại phân biệt, Tỉ khưu ni phân biệt, Nhiếp tụng đẳng khởi, Vô nhàn tỉnh lược và Diệt tránh phân giải, Vấn kiền độ, Tăng nhất pháp, Bố tát sơ giải đáp và Chế giới nghĩa lợi luận, Già đà tập, Tránh sự phân giải, Biệt đích già đà tập, Ha trách phẩm, Tiểu tránh, Đại tránh, Ca hi na y phân giải, Ưu bà li vấn ngũ pháp, Đẳng khởi, Đệ nhị già đà tập, Phát hãn kệ, Ngũ phẩm.

phụ tá

To assist—To help.

phụ tâm

Ungratefulness.

phụ tình

See Phụ Phàng.

Phục

伏; C: fú; J: buku;|Có các nghĩa: 1. Chinh phục, hàng phục, ngăn chặn, đánh bại (s: abhibhava, nigraha). Thuật ngữ nầy thường dùng để chỉ sự hàng phục phiền não. Khi đi cùng với thuật ngữ Đoạn (斷) thì nó có nghĩa là sự khởi đầu, giai đoạn đầu của việc chuyển hoá phiền não, vì thuật ngữ đi sau là Đoạn (斷) liên quan đến sự chuyển hoá rốt ráo toàn bộ phiền não, khác với việc đè nén, đối trị. Trong ý nghĩa nầy, nó đồng nghĩa với Trị (治), xem Phục đoạn (伏斷); 2. Ẩn nấp, che đậy, náu mình, tiềm ẩn. ; 服; C: fú; J: fuku; |1. Mặc; 2. Áo quần; 3. Theo, lắng nghe, cùng đi với. Đáp ứng, phục vụ.

phục

1) Y phục: Clothes. 2) Phúc đáp: To reply. 3) Phục hồi: To revert—Again. 4) Phục: To admire—To esteem. 5) Tang phục: Mourning clothes. 6) Nuốt: To swallow.

phục bái

Bái phục—To prostrate oneself.

phục bát

(伏鉢) Chỉ cho hình dáng cái bát úp, 1 kiểu kiến trúc tháp Phật ở Ấn độ. Tức phần trên của thân tháp Phật có hình dáng tròn như cái bát úp, thường được gọi là Đẩu hình (hình cái đấu). Trong các kiểu tháp Phật thì hình bát úp là xưa nhất và được cấu thành bởi các bộ phận: Lan can, nền tháp, thân tháp, bát úp, đầu bằng, luân can (cột đỡ bánh xe), tướng luân (những bánh xe), bảo bình (bình báu)... Theo phương pháp xây tháp Phật thời xưa ở Ấn độ thì bát úp là phần nền của Cửu luân (9 bánh xe), trên Cửu luân có đặt Lộ bàn (vật hình tròn giống như cái mâm), nhưng nay thì Lộ bàn được dùng làm phần nền của tướng luân, trên tướng luân đặt bát úp, khác hẳn với kiểu cổ. (xt. Cửu Luân, Thừa Lộ Bàn, Tướng Luân, Tháp).

phục chức

To reinstate someone—To restore someone to his former position.

Phục diệt

伏滅; C: fúmiè; J: bukumetsu;|Có các nghĩa: 1. Phá huỷ, cắt đứt, trừ diệt, làm tiêu tan (s: vinivartate; t: ldog pa); 2. Hàng phục và làm tiêu tan hết sạch phiền não. Đồng nghĩa với Phục đoạn (伏斷; theo Thành duy thức luận 成唯識論).

phục dâm kinh

(伏淫經) Kinh, 1 quyển, do ngài Pháp cự dịch vào đời Tây Tấn, tức là kinh Hành dục trong Trung a hàm. Nội dung kinh này thuật lại việc trưởng giả Cấp cô độc phân biệt rõ ràng về sự tốt xấu của việc mưu cầu và thụ dụng của cải. Chữ dâm ở đây không phải chỉ cho dâm dục mà là chỉ cho việc tìm cầu của cải một cách phi pháp, buông thả không có lễ phép.

phục dược

To take the medicine.

phục dịch

To serve (attend) someone.

phục hoạt

Sống trở lại—To return to life—To live again—To resurrect.

phục hoặc

To tame binding karmas—Phục hoặc có nghĩa là hành giả đã đạt được thành tựu tâm linh nào đó có thể hàng phục được các hoặc nghiệp trói buộc—To tame binding karmas means the cultivator has reached certain spiritual achievements to remain somewhat free from his or her karmic afflictions.

phục hình

To suffer a punishment.

phục hưng

To rise again—To revive.

phục hồi

To restore.

phục hồi sức khỏe

To restore one's health.

phục hồn

To call (raise) a spirit.

Phục hổ

伏虎; C: fúhǔ; J: fukko;|Có các nghĩa sau: 1. Người hàng phục hổ (Phục hổ nhân), tên ám chỉ Đức Phật và các vị Tổ sư kiệt xuất đã dùng giáo pháp để hàng phục mọi oán nghịch; 2. Tên của một bậc cổ đức, được thêm vào trong bản gốc 16 vị A-la-hán để thành 18 vị (Thập bát A-la-hán 十八羅漢, vị kia là Hàng Long A-la-hán).

Phục Kiến Thiên Hoàng

(伏見天皇, Fushimi Tennō, tại vị 1287-1298): vị Thiên Hoàng sống vào cuối thời Liêm Thương, vị Hoàng Tử thứ 2 của Hậu Thâm Thảo Thiên Hoàng (後深草天皇, Gofukakusa Tennō, tại vị 1246-1259), tên là Hy Nhân (熙仁, Hirohito), còn gọi là Trì Minh Viện Điện (持明院殿). Sau khi nhường ngôi, ông làm Viện Chính.

phục mệnh

To carry out an order.

phục nguyện

To make a vow.

Phục Ngưu Tự Tại

(伏牛自在, Fukugyū Jizai, 741-821): người Ngô Hưng (呉興, thuộc Tỉnh Triết Giang), họ là Lý (李). Ông xuất gia ở Kính Sơn (徑山), rồi đăng đàn thọ giới tại Tân Định (新定). Sau ông đi tham vấn khắp các nơi, và cuối cùng đạt ngộ với Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) ở Nam Khang (南康, Tỉnh Giang Tây). Trong khoảng niên hiệu Nguyên Hòa (元和, 806-820), ông thâm giao với Đơn Hà Thiên Nhiên (丹霞天然) ở Hương Sơn (香山) và còn giao hảo thư từ qua lại với Nam Dương Huệ Trung (南陽慧忠). Ông đã từng đi ngao du khắp các nơi như Long Môn (龍門), Ngọc Ốc Sơn (玉屋山), Tung Sơn (嵩山), v.v., và cuối cùng đến trú tại Phục Ngưu Sơn (伏牛山), Lạc Dương (洛陽, thuộc Tỉnh Hà Nam). Vào năm đầu niên hiệu Trường Khánh (長慶), ông thị tịch tại Khai Nguyên Tự (開元寺), Tùy Châu (隨州, thuộc Tỉnh Hồ Bắc), hưởng thọ 81 tuổi.

Phục nhẫn

伏忍; C: fúrěn; J: bukunin;|Điều nhẫn nhục thứ nhất được dạy trong Nhân vương kinh (仁王經). Phục nhẫn là giữ cho phiền não không sinh khởi.

phục nhẫn

Nhẫn thứ nhất trong ngũ nhẫn—The first of the five forms of submission—See Ngũ Nhẫn. ; (伏忍) Áp phục phiền não không cho hiện hành, là nhẫn đầu tiên trong 5 nhẫn. Bậc Tam hiền trước Thập địa chưa được trí vô lậu, không thể chứng quả, chỉ tu tập quán xét, dùng thắng trí hữu lậu chế ngự phiền não, nên gọi là Phục nhẫn. Có thể chia làm 3 phẩm Thượng, Trung, Hạ. 1. Hạ phẩm: Tức giai vị Thập trụ. Trước hết, khởi Thập tín, vượt Tiểu thừa, khởi ít phần của việc hóa tha. 2. Trung phẩm: Tức giai vị Thập hành. Tu hành 10 Ba la mật, quán thân, thụ, tâm, pháp đều bất tịnh, khổ, vô thường, vô ngã để đối trị 3 căn bất thiện: Tham, sân, si và sinh khởi 3 căn thiện: Thí, từ, tuệ. Ngoài ra còn quán xét 3 đời mà được Quá khứ nhân nhẫn, Hiện tại nhân quả nhẫn, Vị lai quả nhẫn làm lợi ích rộng lớn cho chúng sinh. 3. Thượng phẩm: Tức giai vị Thập hồi hướng. Ở giai vị này hành giả có được 10 nhẫn, tức quán xét 5 uẩn thì được: Giới nhẫn, định nhẫn, tuệ nhẫn, giải thoát nhẫn, giải thoát tri kiến nhẫn; quán xét nhân quả trong 3 cõi thì được: Không nhẫn, vô tướng nhẫn, vô nguyện nhẫn; quán xét các pháp Nhị đế là vô thường thì được vô thường nhẫn và, cuối cùng, quán xét tất cả pháp là không, thì được Vô sinh nhẫn. (xt. Ngũ Nhẫn).

phục pháp

See Phục hình.

phục phịch

Fat and clumsy.

phục sinh

Ngoại đạo tin rằng có cái gọi là “Sống lại”—Externalists believe that there exists a so-called Resurection (come to life again or return from the dead).

phục sức

Hoàn tục (người đã một lần tháo bỏ đồ trang sức để xuất gia, nay lại để tóc dài mặc đồ thế tục nên gọi là phục sức)—To return to ordinary garments, i.e. to doff the robes for lay life—Clothes and adornments.

Phục thi

(伏屍・伏尸): thây chết nằm trên mặt đất, như trong Chiến Quốc Sách (戰國策), phần Ngụy Sách (魏策) thứ 4 có câu: “Nhược sĩ tất nỗ, phục thi nhị nhân, lưu huyết ngũ bộ (若士必怒、伏屍二人、流血五步, nếu là kẻ sĩ tất uy thế, xác chết hai người, máu chảy dài năm bước).” Hay trong Văn Tuyển (文選), phần Cổ Nghi (賈誼), Quá Tần Luận (過秦論) lại có câu: “Truy vong trục bắc, phục thi bách vạn, lưu huyết phiêu lỗ (追亡逐北、伏尸百萬、流血漂櫓, đuổi giặc về phướng bắc, thấy chết cả trăm vạn, máu chảy đầy khắp).” Hoặc trong Thái Bình Quảng Ký (太平廣記) quyển 317 có đoạn: “Trung hữu phục thi, Trúc dạ văn kỳ khấp thanh, hốt kiến nhất phụ nhân, đản bối nhi lai (中有伏尸、竺夜聞其泣聲、忽見一婦人、袒背而來, bên trong có thấy chết; ban đêm Trúc nghe tiếng khóc của thây ma đó, lại chợt thấy một phụ nữ, mặc áo để lộ vai đi đến).” Trong Phật Thuyết Địa Tạng Bồ Tát Phát Tâm Nhân Duyên Thập Vương Kinh (佛說地藏菩薩發心因緣十王經, CBETA No. 20) cũng có đoạn như sau: “Như kim chúng sanh, y ngã tu thiện, linh đắc Phật đạo; nhất thiết chúng sanh, diệc phục như thị, thất chủng phách thức; nhất danh Tước Âm Phách Thần Thức, nhị danh Thiên Tặc Phách Thần Thức, tam danh Phi Độc Phách Thần Thức, tứ danh Thi Cấu Phách Thần Thức, ngũ danh Xú Phế Phách Thần Thức, lục danh Trừ Uế Phách Thần Thức, thất danh Phục Thi Phách Thần Thức (如今眾生、依我修善、令得佛道、一切眾生、亦復如是、七種魄識、一名雀陰魄神識、二名天賊魄神識、三名非毒魄神識、四名尸垢魄神識、五名臭肺魄神識、六名除穢魄神識、七名伏尸魄神識, như nay chúng sanh, theo ta tu thiện, khiến được Phật đạo; hết thảy chúng sanh, cũng lại như vậy, bảy loại phách thức; một là Tước Âm Phách Thần Thức, hai là Thiên Tặc Phách Thần Thức, ba là Phi Độc Phách Thần Thức, bốn là Thi Cấu Phách Thần Thức, năm là Xú Phế Phách Thần Thức, sáu là Trừ Uế Phách Thần Thức, bảy là Phục Thi Phách Thần Thức).”

phục thiện

Làm lành lánh ác—To yield to reason—To do good and get rid of evil.

phục thuỷ luận sư

(服水論師) Phái ngoại đạo chủ trương nước là nguyên nhân sinh ra muôn vật, là một trong 20 thứ ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. Phái ngoại đạo này cho rằng nước là gốc của muôn vật. Nước sinh ra trời đất và hết thảy hữu tình, vô tình; dưới đến địa ngục A tị, trên đến cõi trời A ca ni tra, tất cả đều lấy nước làm chính. Lại vì nước sinh ra vạn vật, mà cũng hủy hoại vạn vật, nên gọi là Niết bàn. Cứ theo phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật quyển 1 và Đại nhật kinh sớ quyển 1, thì Địa đẳng biến hóa ngoại đạo trong 30 loại ngoại đạo chấp rằng 5 đại: Đất, nước, lửa, gió, không là chân thực, vả lại, mỗi đại đều là nhân sinh ra chúng sinh vạn vật, nếu cúng dường 5 đại thì được giải thoát. Trong đó, ngoại đạo chấp nước có lẽ tương đương với Phục thủy luận sư này. [X. Trung quán luận sớ Q.3, phần đầu; Ngoại đạo triết học].

phục thù

To take revenge.

phục thủy luận sư

Một trong 20 thứ ngoại đạo. Phục Thủy Luận Sư cho rằng nước là căn bản của vạn vật. Nước có khả năng sanh ra trời đất; nước cũng có bản năng hủy hoại vạn hữu. Ngoại đạo nầy lấy nước làm cứu cánh Niết Bàn—The sect of non-Buddhist philosophers (one of the twenty heretic sects) who considered water the beginning and end of all things.

phục tòng

To obey—To yield—To submit.

phục tạng

(伏藏) I. Phục Tạng. Nơi chôn giấu báu vật trong lòng đất. Từ xưa, các chùa viện lớn ở Ấn độ, Nhật bản đều có thiết trí Phục tạng để cất giữ vàng bạc, trân bảo và kinh điển. Ở Tây tạng, người ta cũng từng đào được kinh sách của Phật giáo đời xưa. Tương truyền, vào thế kỉ VIII, IX, các ngài Liên hoa sinh... đem những kinh điển Phật giáo viết tay rất đẹp chôn xuống đất, hoặc cất giấu trong hang núi. Sau, các vị tăng như: Nương ni mã nga sắc (1124-?) và Cổ như khước cát vượng thu (1212-1237) đã lần lượt đào tìm được, gọi là Thượng hạ lưỡng đại phục tạng(Hai kho tàng lớn trong núi và dưới đất). Thế kỉ XV, ngài Nhiệt đặc na lâm ba hối khắc bảnnhữngkinh điển đào được này và ấn hành, đặt tên là Nam bộ phục tạng. Thế kỉ XVI, ngài Nhân tăng quách cát đăng khúc kiên lại đào được những kinh điển khác và khắc in, gọi là Bắc bộ phục tạng. Trong đó gồm có: Ngũ bộ di giáo, Liên hoa sinh di giáo và một số sách thuộc y học. Ngoài ra, kinh Di lặc hạ sinh thành Phật ghi: Trong vị lai, khi Phật Di lặc hạ sinh có 4 Đại tạng từ lòng đất tự nhiên vọt lên, đó là: Đại tạng Đại Y lặc bát ở nước Kiền đà la, Đại tạng Ban trục ca ở nước Di đề la, Đại tạng Tân già la ở nước Tu la tra và Đại tạng Nhương khư ở nước Ba la nại. [X. phẩm Phi thường trong kinh Tăng nhất a hàm Q.49; kinh Tu hành bản khởi Q.thượng; kinh Phật bản hạnh tập Q.1; Bất động sứ giả đà la ni bí mật pháp; luật Tứ phần Q.1; điều Ca tất thí quốc trong Thích ca phương chí Q.thượng]. II. Phục Tạng. Thí dụ phục tạng. Tức chuyện cô gái nghèo không biết trong nhà mình có kho cất giấu của báu dưới đất, đến khi bậc trí chỉ bảo cho mới biết và đào được. Đây là ví dụ chúng sinh không biết trong tự thân có tính Phật, đợi đến khi Phật thuyết pháp chỉ bày mới giác ngộ được. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.7 (bản Bắc); Vô lượng thọ Như lai hội trong kinh Đại bảo tích].

phục vụ

To serve.

Phục đoạn

伏斷; C: fúduàn; J: fukudan;|Có các nghĩa: 1. Sự hàng phục và đoạn trừ phiền não. Phục ám chỉ việc giải trừ sức mạnh và ảnh hưởng của phiền não và Đoạn chỉ cho sự tiêu diệt phiền não vĩnh viễn. Đồng nghĩa với Phục diệt (伏滅); 2. Giải trừ phiền não với ý nghĩa đè nén, phản nghĩa với sự diệt trừ vĩnh hằng (vĩnh đoạn 永斷; theo Du-già luận 瑜伽論).

phục đoạn

(伏斷) Tức phục hoặc và đoạn hoặc. Áp phục phiền não không cho sinh khởi trong nhất thời, gọi là Phục hoặc; dứt hẳn hạt giống của phiền não, làm cho vĩnh viễn không sinh khởi được nữa, gọi là Đoạn hoặc. Dùng đạo hữu lậu để đối trị chỉ có thể phục hoặc; phải nhờ vào đạo vô lậu mới có thể đoạn hoặc. (xt. Phục Đạo).

phục đà mật đa

Buddhamitra (skt)—Vị tổ thứ chín trong hai mươi tám tổ Ấn Độ, tác giả của bộ Ngũ Môn Thiền Kinh Yếu Dụng Pháp—Buddhamitra, the eighth patriarch of the twenty-eight patriarchs in India, author of the Pancadvara-dhyana-sutra-mahartha-dharma.

phục đạo

(伏道) Cũng gọi Năng phục đạo. Đạo lực hữu lậu và vô lậu áp phục sự hiện hành của phiền não nghiệp chướng. Phục đạo này thông cả 2 đạo hữu lậu, vô lậu và 3 trí gia hạnh, căn bản, hậu đắc. Trong đó, đạo hữu lậu do tu tập 6 hành quán thích cảnh giới trên, chán cảnh giới dưới để áp phục hoặc chướng; đạo vô lậu dùng trí vô phân biệt đoạn trừ sở tri chướng cùng khởi với định, pháp, ái, nhờ thế lực đó khiến cho phiền não chướng không khởi hiện hành được. Trí gia hành thì dần dần chế phục tùy miên của 2 chướng; còn trí căn bản và trí hậu đắc thì có năng lực đè bẹp hoặc chướng ngay tức khắc. Nói gọn lại, trí gia hạnh và đạo hữu lậu có thể phục đạo chứ không thể đoạn đạo; còn trí căn bản, trí hậu đắc và đạo vô lậu thì vừa phục đạo lại vừa đoạn đạo. Nhưng Thuyết nhất thiết hữu bộ thì cho rằng phục đạo chỉ thông với đạo hữu lậu thế tục, chứ không thông với đạo vô lậu, hơn nữa, chỉ ở trước giai vị Kiến đạo mới có thể phục đạo. [X. luận Thành duy thức Q.10; Đại tì bà sa Q.166; luận Câu xá Q.22; Thành duy thức luận thuật kí Q.10, phần cuối; Đoạn kết nghĩa trong Đại thừa nghĩa chương Q.9]. (xt. Đoạn Đạo).

Phục ưng

服鷹; C: fú yīng; J: fukuyō; |Giữ trong tâm, ghi nhớ kĩ. Nhớ một cách trọn vẹn.

phụng

1) Phụng tế: To serve—To worship. 2) Phụng sự: To serve someone respectfully. 3) Chim Phượng (chim trống): Một loài chim biểu trưng cho sự cát tường—A male phoenix—An auspicious bird.

phụng dưỡng mẹ cha

To support one's parents

phụng gia

See Phụng Nạp.

phụng hiến

Hiến tặng quà cho bề trên—To offer gifts to one's superiors.

phụng hoàng

Cặp chim Phụng Hoàng. 1) Phụng: A male phoenix. 2) Hoàng: A female phoenix. ; (鳳凰) Tức chim Phượng hoàng, hình dáng giống như chim Cực lạc sống ở Nam dương. Phượng là chim trống, hoàng là chim mái, là loài chim tượng trưng điềm tốt lành, nhưng thực ra chỉ là loài chim trong giả tưởng. Theo truyền thuyết Tây vực, phượng hoàng do hội họa mà tưởng tượng ra. Trong mĩ thuật Phật giáo, như hội họa, điêu khắc, thêu đan... đều dùng chim phượng hoàng để biểu thị điềm lành.

phụng hành

1) Làm theo mệnh lệnh: To execute an order. 2) Tuân theo và thực hành chỉ giáo của Đức Phật: Devout practicing—To obey and practise the Buddha's teaching. ; (奉行) Vâng theo giáo pháp của đức Phậtdạy mà tu hành. Từ ngữ này thường thấy được đặt ở cuối các bộ kinh trong các nhóm chữ như Hoan hỉ phụng hành, Tín thụ phụng hành... Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40, 844 thượng) ghi: Đầu kinh nói Như thị là tỏ ý có lòng tin mới thâm nhập được; cuối kinh nói phụng hành là biểu thị nghĩa việc vâng nhận đã xong.

Phụng mao tế mỹ

(鳳毛濟美): lông con chim phụng ngay thẳng, xinh đẹp. Câu này có xuất xứ trong Ấu Học Quỳnh Lâm (幼學瓊林) quyển 2, phần Tổ Tôn Phụ Tử (祖孫父子): “Xưng hoạn hữu hiền lang, viết phụng mao tế mỹ (稱宦有賢郎、曰鳳毛濟美, chúc mừng quan có con trai hiền gọi là phụng mao tế mỹ).” Hay trong hồi thứ 34 của Quan Trường Hiện Hình Ký (官塲現形記) của Lý Bảo Gia (李寶嘉) nhà Thanh có đoạn: “Nhĩ bất thính kiến thuyết tha môn thế huynh tức nhật dã yếu bảo đạo đài, chơn chánh thị phụng mao tế mỹ, khả khâm khả kính (你不聽見說他們世兄卽日也要保道台、眞正是鳳毛濟美、可欽可敬, Người chẳng nghe thấy anh em nhà kia hôm ấy cũng cần phải giữ gìn đạo nghĩa chăng ? Quả đúng là con hiền nối nghiệp cha. Thật đáng phục, đáng kính !).” Cho nên, ngày xưa câu này thường dùng để ví cho người cha đi làm quan, con có thể kế thừa sự nghiệp cha. Về sau, nó được dùng để chúc tụng sinh con trai nhân hậu.

phụng nạp

To make offerings—See Cúng Dường.

phụng pháp yếu

(奉法要) Tác phẩm, 1 quyển, do ông Hi siêu (336- 377) soạn vào đời Đông Tấn, được thu vào Hoằng minh tập quyển 13 trong Đại chính tạng tập 52. Hi siêu là Tham quân của Đại tư mã Hoàn ôn, Hoàn ôn từng giao cho ông ta quyền sinh sát trong tay, cho nên các quan và danh sĩ đương thời đều e dè và sợ hãi. Về già, ông ta rất ăn năntội lỗi của mình, cho nên mới chỉnh lí những nghĩa cốt yếu mà tín đồ Phật giáo tại gia tín ngưỡng và thực hành mà soạn thành sách này. Nội dung thuyết minh về những giáo lí nền tảng của Phật giáo như: Tam tự qui, Ngũ giới, Thập thiện, Ngũ ấm, Lục tình..., đồng thời nói về ý nghĩa của những vấn đề báo ứng, Niết bàn... Toàn sách nhấn mạnh việc thực hành Phật pháp trong cuộc sống hàng ngày. Đây là tư liệu quí giá cho việc nghiên cứu những sinh hoạt của tín đồ Phật giáo tại gia thời bấy giờ.

phụng sát

Một từ dùng để chỉ tự viện Phật giáo—Phoenix ksetra, a term for a Buddhist temple. ; (鳳刹) Chỉ cho chùa Phật. Phượng là loài chim tượng trưng cho điềm lành, nên căn cứ vào ý nghĩa ấy mà gọi chùa Phật là Phượng sát. [X. Tự Viện, Phật Sát)

phụng sơn

Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng, tọa lạc trong quận 11 thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa còn có tên là Chùa Gò, được Hòa Thượng Liễu Thông xây vào đầu thế kỷ thứ 19. Đến năm 1904, chùa được Hòa Thượng Minh Tuệ trùng tu. Bên cạnh chùa có cây bạch mai cao 5 thước, được trồng từ năm 1909. Chùa khi xưa nổi tiếng là một thắng cảnh của tỉnh Gia Định. Gần đây một nhóm các nhà khảo cổ ở thành phố Sài Gòn đã tìm thấy dấu vết của một ngôi đền cổ Bà La Môn, đã chìm sâu dưới đất, được xây cách nay hơn 1.500 năm, với kiểu kiến trúc của vương quốc Phù Nam. Những tác phẩm nghệ thuật bằng gỗ vẫn còn được lưu giữ trong chùa, đặc biệt là các tượng Phật tròn, như bộ tượng tam thế, Ngũ Hiền, vân vân, được chạm trổ từ khoảng năm 1904 đến năm 1915 trong giai đoạn trùng tu chùa. Trong Chánh điện có bộ tượng Ngũ Hiền, gồm năm tượng. Tượng Đức Phật Thích Ca cưỡi sư tử; tượng Văn Thù cưỡi sư tử; tượng Thế Chí cưỡi voi chín ngà; tượng Quán Âm cưỡi cọp; và tượng Phổ Hiền cưỡi lân. Các pho tượng được đặt trên đá chạm lởm chởm—Name of a famous ancient pagoda located in the Eleventh district, Saigon City, South Vietnam. It is also called Gò Pagoda. The pagoda was established by Most Venerable Liễu Thông in the early nineteenth century. The Most Venerable Minh Tuệ rebuilt it in 1904. Next to the pagoda is a five-meter white apricot raised in 1909. At one time, Gò Pagoda was a beauty spot of Gia Định province. Recently, a group of archaeologists of Saigon City have found the remnants of a Hinduist ancient temple built 1,500 years ago, and buried deep underground. The temple symbolized the architecture of Founan Kingdom. The artistic wooden masterpieces conserved in the pagoda primarily are round statues such as those of the Buddhas of the Three Periods, the Five Sages, etc., cast from 1904 to 1915 during the reconstruction of the pagoda. In the Main Hall, there are five statues of the Five sages. The statue of Sakyamuni Buddha was cast riding a lion; that of Majusri Bodhisattva riding a lion; Mahasthama statue sitting on a nine-tusk elephant; Avalokitesvara Bodhisattva statue riding a tiger; and Samantabhadra Bodhisattva riding a unicorn. These statues are placed on a ruggedly carved stone pedestal.

phụng sự

To serve—To carry out an order.

phụng sự chúng sanh tức là cúng dường chư phật

To serve (perform) good deeds for sentient beings, you have also made offerings to the Buddhas.

phụng thỉnh

(奉請) Kính thỉnh chư Phật, Bồ tát, thiên thần... giáng lâm đạo tràng. Cứ theo mục Triệu thỉnh trong Tịnh độ pháp sự tán quyển thượng của ngài Thiện đạo, khi hành pháp, trước hết phải phụng thỉnh Phật Thích ca và chư Phật vào đạo tràng, kế đến, phụng thỉnh 84.000 Tu đa la (kinh) do chư Phật trong pháp giới ở 10 phương tuyên thuyết và xá lợi toàn thân, tán thân của các Ngài, sau đó phụng thỉnh các vị Thanh văn, Duyên giác, các bậc thánh đắc đạo trong 10 phương, rồi phụng thỉnh các vị bồ tát Phổ hiền, Văn thù, Thế chí...vào đạo tràng. Ngoài ra, theo phần nói về Thỉnh Quan âm tán trong mục Phụng thỉnh Quan thế âm, thì đồng thời còn phụng thỉnh người, trời, phàm, thánh trong pháp giới ở 10 phương và thủy lục hư không tất cả hương hoa, âm nhạc, quang minh, bảo tạng, núi hương, áo hương, cây hương, rừng hương, đất hương, nước hương... tất cả đều vào đạo tràng. Sau khi được truyền vào Nhật bản, pháp Phụng thỉnh này có ảnh hưởng rất lớn đối với các tông phái Phật giáo Nhật bản, nhất là đối với pháp hội Niệm Phật. [X. Ngũ hội niệm Phật lược pháp sự tán; Vãng sinh tịnh độ sám nguyện nghi].

phụng thờ

To worship.

phụng thừa

To follow blindly.

phụng đàm

(鳳潭) (1654-1738) Cũng gọi Phương đàm. Cao tăng kiêm học giả thuộc tông Hoa nghiêm Nhật bản, người Nhiếp tân (phủ Đại phản, có thuyết nói người huyện Phú sơn, Việt trung), họ Hỉ đa, pháp danh Tăng tuấn, hiệu Huyễn hổ đạo nhân, Hoa lãnh sơn nhân, Hoa lãnh đạo nhân. Sư xuất gia năm 16 tuổi, từng theo ngài Thiết nhãn học thiền, đồng thời, nghiên cứu ngoại điển ở Trường kì. Có lần sư định đi Ấn độ nhưng chưa thực hiện được. Sư lại đến Nam đô và núi Tỉ duệ nghiên cứu giáo học của các tông, lập chí phục hưng Hoa nghiêm học, về sau trở thành Tổ trung hưng của tông Hoa nghiêm. Sư có tính cứng rắn, hễ mỗi khi người đương thời đưa ra dị thuyết, sư liền công kích, bác bỏ, thậm chí viết sách lên án kịch liệt, sư trở thành trung tâm tranh luận ở thời bấy giờ. Về già, sư trụ ở chùa Hoa nghiêm tại Kyoto và thị tịch vào năm 1738, thọ 85 tuổi (có thuyết nói thọ 80 tuổi). Sư để lại các tác phẩm: Hoa nghiêm ngũ giáo chương chân sao 10 quyển, Câu xá luận quán chú 14 quyển, Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí 8 quyển, Pháp hoa văn cú hội sao 50 quyển, Tứ giáo nghi tập chú tăng huy kí 7 quyển.

phụt

1) Phụt lên: To spring up (water). 2) Bất chợt: Suddenly.

phụt tắt

Chợt tắt—Suddenly went out.

phủ châu tào sơn nguyên chứng thiền sư ngữ lục

(撫州曹山元證禪師語錄) Cũng gọi Tào sơn đại sư ngữ lục, Tào sơn Bản tịch thiền sư ngữ lục, Tào sơn nguyên chứng thiền sư ngữ lục, Tào sơn lục.Ngữ lục, 1 quyển, do ngài Tào sơn Bản tịch soạn vào đời Đường, ngài Chỉ nguyệt Tuệ ấn –vị cao tăng Nhật bản– hiệu đính, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này thu chép hành nghiệp, vấn đáp, ngữ yếu dạy chúng của ngài Bản tịch và các mục: Giải thích Động sơn ngũ vi hiển quyết, Trục vị tụng tịnh chú biệt giản, Ngũ vị chỉ quyết, Tứ chủng dị loại, Tam nhiên đăng... của tác giả, do đệ tử nối pháp của ngài Tuệ ấn là sư Hạt đạo Bản quang biên chép lại. Trong Đại chính tạng tập 47, sau ngữ lục này, còn có Phủ châu Tào sơn Bản tịch thiền sư ngữ lục 2 quyển. Quyển thượng do ngài Quách ngưng chi biên tập vào đời Minh, nội dung tức là Tào sơn Bản tịch thiền sư ngữ lục trong Ngũ gia ngữ lục. Còn quyển hạ thì do vị tăng Nhật bản là ngài Nghi mặc Huyền khế biên tập những ngữ lục còn sót lại của ngài Bản tịch.

phủ quyết

To veto.

phủi

To dust off.

phức

1) Gấp hai: Double. 2) Lập lại: Repeated. 3) Loại áo kép—Double garments.

phức lễ

(複禮) I. Phục Lễ. Cũng gọi Hồi lễ, Hoàn lễ. Đáp lễ lại. Tức đối diện đáp lại lễ thỉnh của các chùa khác. Hiện nay, phần nhiều chỉ cho việc hồi tín. [X. điều Du phương tham thỉnh trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.5]. (xt. Hồi Lễ). II. Phục Lễ (?-?). Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường, người Kinh triệu (Thiểm tây), họ Hoàng phủ. Sư xuất gia từ nhỏ, trụ ở chùa Đại hưng thiện. Sư từng theo các ngài Địa bà ha la, Thực xoa nan đà phiên dịch kinh điển. Năm Vĩnh long thứ 2 (681) đời Đường Cao tông, quan Thái tử văn học (chức quan quản lí kinh sách ở đời Đường) là Quyền vô nhị nêu ra 20 nghi vấn đối với Phật giáo, sư soạn Thập môn biện hoặc luận để giải đáp,Quyền vô nhị chịu khuất và lễ sư làm thầy.Sư còn soạn Chân vọng tụng, bàn về mối quan hệ giữa chân tâm và vọng tâm, đồng thời thỉnh các sư đương đại giải đáp, hiện còn lời phúc đáp của các ngài Trừng quán và Tông mật. Tương truyền, sư phản đối giáo nghĩa Giả danh bồ tát do ngài Pháp tạng chủ xướng và dâng biểu tâu xin trục xuất ngài Pháp tạng ra khỏi Giang nam. III. Phục Lễ (?-?). Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường. Sư có đức hạnh cao khiết, được người đương thời quí trọng. Sư từng vâng sắc chỉ của vua tham dự đạo tràng dịch kinh của Đại sư Hiền thủ Pháp tạng. Sư cùng với các ngài Pháp tạng và Đạo thành cùng dịch phẩm Pháp giới kinh Hoa nghiêm.

phức sư

(複師) Vị tăng có nhiệm vụ thuật lại(phức) những lời của Giảng sư để làm cho nghĩa lí sáng tỏ hơn, là một chức vị trong tông Hoa nghiêm.

phức sức

(複飾) Trang sức lại, tức chỉ cho sự hoàn tục. Người đã một lần trút bỏ đồ trang sức để xuất gia, nay lại nuôi tóc làm người thế tục, gọi là Phục sức.

phức tạp

Complicated.

phức tử

(複子) Cũng gọi Phức bao, Phức phạ. Chiếc khăn dùng để gói, bọc đồ vật. Điều Thị viên thượng nhân trong Phật quả Khắc cần thiền sư tâm yếu quyển hạ (Vạn tục 120, 380 hạ) nói: Chú ý, lắng tâm, chọn lựa thiện tri thức chân chính có con mắt thấy suốt tông môn, rồi bỏ phức tử xuống, nương tựa vào đó mà thành biện sự nghiệp. Theo môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên thì chữ Phức...có nghĩa cái áo kép, nhiều lớp chồng chéo) ở đây phải là chữ Phục (cái khăn gói), vì 2 âm giống nhau (theo người Tàu) nên đã lầm lẫn. Bởi thế, Phức là viết lầm từ chữ Phục. [X. điều Trang bao, chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; Bích nham lục tắc 4; Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục].

phừng

To burst into.

Pu-ta-li-pa

S: putalipa; »Khất sĩ với bức tranh«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.|Ông là người Ban-ga-la (s: baṅgala), thuộc giới thương nhân. Ngày nọ có một Du-già sư khất thực đến, ông phục vụ tận tình và phát lòng muốn học hỏi. Vị này truyền cho ông năng lực của Hô Kim cương tan-tra (s: hevajra-tantra) và dạy phép quán tưởng. Ngoài ra vị này còn cho ông một cuộn hình của Hộ Thần Hô Kim cương. Ông đeo cuộn hình vào cổ và thiền quán 12 năm. Sau đó ông đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi) mà không ai biết cả.|Lần nọ, ông đi ngang lâu đài một nhà vua, vị này thờ các thần của Ấn Ðộ giáo. Vua thấy bức hình ông mang vẽ thần Hô Kim cương ngồi trên toà được các vị thần của mình nâng, rất giận. Pu-ta-li-pa nói Hô Kim cương là thần của các vị kia. Cuối cùng nhà vua cho vẽ lại bức hình, nhưng Pu-ta-li-pa dùng thần lực hoán chuyển ngôi thứ. Vua chịu thua và xin ông giáo hoá. Bài kệ chứng đạo của ông như sau:|Phật tính trong mọi loài.|Hãy bỏ con đường sai,|do tư duy xây cất.|Theo con đường tất yếu,|của trái tim vạch rõ,|rồi ngươi sẽ chứng đạt.|Ai được truyền năng lực,|của Ðạo sư đích thật,|là kẻ được chân như,|xuyên chiếu khắp tất cả,|kẻ ấy nếm được mùi,|Tuyệt đối vô sinh tử,|của Kim cương bất hoại.

Pāṇini

(520-460 trước công nguyên): âm dịch là Ba Nhĩ Ni (波爾尼), Ba Nị Ni (波膩尼), Ba Ni Ni (波尼尼), nhà văn pháp trứ danh của Ấn Độ ngày xưa, xuất thân vùng Ta La Đỗ La (s: Śalātura, 娑羅覩邏), nước Kiền Đà La (s, p: Gandhāra, 健駄邏), thuộc Quận Attock, Tỉnh Punjab, Pakistan ngày nay, nằm giữa Rawalpindi và Peshawar. Theo Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記) quyển 1, phần Kiền Đà La Quốc (健駄邏國), Ba Nhĩ Ni sanh ra đã thông hiểu tất cả, nhạy bén, lanh lợi, có chí muốn viết sách, được trời Tự Tại Thiên (自在天) chỉ giáo cho, nhờ vậy ông nghiên cứu sâu sắc hơn, lấy các ngôn ngữ mà viết thành sách. Sách này thông cả xưa nay, bao quát hết văn từ, ý ngữ; nhà vua thấy vậy rất kinh ngạc, bèn truyền khắp trong nước nếu có ai tụng thuộc sách này thì sẽ được ban thưởng tiền vàng; cho nên sách này được lưu truyền rất thịnh hành. Tương truyền sách này là văn điển Vyākaraṇa (毘伽羅論, Tỳ Già La Luận) gồm 1.000 bài tụng và 32.000 từ. Văn điển do ông trước tác vốn không có tiêu đề và ông rất nổi tiếng về văn pháp tiếng Sanskrit, đặc biệt là hệ thống 3.959 nguyên tắc của hình thái học tiếng Sanskrit về văn phạm, thường được gọi là Aṣṭādhyāyī (nghĩa là “Tám Chương”). Đây là văn bản cơ sở thuộc trường phái văn pháp của Vedāṅga. Aṣṭādhyāyī là sách văn phạm tiếng Sanskrit cổ xưa nhất (mặc dầu một số học giả cho rằng nó lập cước trên các tác phẩm xưa hơn), là tác phẩm sớm nhất về ngôn ngữ học miêu tả và về ngôn ngữ học nói chung. Thông thường lý thuyết dễ hiểu và rất khoa học về văn pháp của Pāṇini được xem như đánh dấu sự chấm dứt giai đoạn tiếng Sanskrit Phệ Đà (Vedic Sanskrit), bằng dịnh nghĩa giới thiệu tiếng Sanskrit Cổ Điển (Classical Sanskrit). Mặc dầu tác phẩm của ông thuần túy mang tính văn pháp và từ điển, chúng ta có thể rút ra vài luận cứ về văn hóa cũng như địa lý qua từ ngữ do ông dùng trong các ví dụ và từ những thư từ ông gởi cho bạn bè văn pháp học của ông.

qua

1) Cái Giáo: (mác—thương)—A spear. 2) Dưa: Gourd—Melon.

qua bích

(戈壁) Mông cổ: Gobi. Cũng gọi Qua Bích than, Qua bích sa mạc. Sa mạc Gobi ở Mông cổ. Sa mạc này phía đông chạy dài đến dãy núi Đại Hưng An, phía tây tiếp giáp cao nguyên Pamir, có thể chia làm 2 phần: Sa mạc Gobi ở phía đông Hami và sa mạc Takla Makan ở phía tây Hami, dài hơn 200 km vào rộng hơn 1.000 km2.Vùng này toàn cát có lẫn muối; vào cuối mùa xuân và đầu mùa hạ thường có cuồng phong, đến nổi khiến gò cát trong 1 đêm dời đổi mấy lần, vì thế gọi là Lưu sa. Vùng này khô ráo, ít cầm thú, không có dấu chân người, mặt đất cỏ mọc không được. Trong Phật quốc kí, ngài Pháp hiển miêu tả cuộc hành trình từ Đôn Hoàng đến nước Thiện thiện(Lâu lan) bên bờ hồ La bố bạc như sau (Đại 51, 857 thượng): Sa mạc có gió nóng quái ác, hễ gặp phải là chết, không ai toàn mạng. Trên không có chim bay, dưới không có thú chạy, (...) chỉ biết lấy xương khô người chết làm dấu mà đi. Tuy nhiên, cũng có những vùng ẩm thấp, có nước và cỏ mọc tốt, thích hợp cho việc chăn nuôi, hoặc có nhiều ao hồ, tiên lợi cho việc làm muối và thả cá. Các nước Tây vực nhờ vào đó mà duy trì sự sống. Các nhà truyền pháp, dịch kinh từ các nước Ấn Độ, Tây vực đến Trung quốc đều phải đi qua sa mạc này; hoặc các vị Cao tăng đại đức từ Trung Quốc đến Ấn Độ cầu pháp, cũng đều phải qua con đường này.[X. Chương thứ 1 trong thiên thứ 1 Trung Quốc Phật giáo phát triển sử của Trung thôn nguyên]. (xt. Tây Vực Phật Giáo, Phật Giáo Nhập Truyền Lộ Tuyến).

Qua miên

(瓜綿): xem phần chú thích qua điệt miên miên (瓜瓞綿綿) bên trên, có nghĩa là con cháu hưng thịnh, đông đúc. Câu “vĩnh thùy diễn tiêu qua miên (永垂衍椒瓜綿)” có nghĩa là mãi mãi được hưởng ân đức của tổ tông để con cháu đông đúc, hưng thịnh.

Qua Nguyệt

(瓜月): tên gọi khác của tháng Bảy Âm Lịch. Do vì trái dưa thường chín, ngát hương vào tháng Bảy Âm Lịch, nên tháng này được gọi như vậy. Như trong Thi Kinh (詩經), Chương Bân Phong (豳風), Thất Nguyệt (七月) có giải thích rằng: “Thất nguyệt thực qua, bát nguyệt đoạn hồ (七月食瓜、八月斷壺, tháng Bảy ăn quả dưa, tháng Tám bửa trái bầu).”

Qua điệt miên miên

(瓜瓞綿綿): còn gọi là miên miên qua điệt (綿綿瓜瓞). Qua (瓜) là loại dưa lớn, điệt (瓞) là loại dưa nhỏ; như Thi Kinh (詩經) có câu: “Đại giả viết qua, tiểu giả viết điệt (大者曰瓜、小者曰瓞, loại lớn gọi là qua, loại nhỏ là điệt).” Miên miên (綿綿) có nghĩa là dài lâu, bền vững, như nhiều trái dưa lớn, dưa nhỏ treo lủng lẳng liên tiếp trên dây leo; cho nên câu này dùng để chúc tụng các đời con cháu hưng thịnh, truyền thế lâu dài. Nó vốn phát xuất từ phần Đại Nhã (大雅) của Thi Kinh: “Miên miên qua điệt, dân chi sơ sinh (綿綿瓜瓞、民之初生, dài lâu con cháu, dân lúc mới sanh).” Trong Mao Truyện (毛傳) lại có câu rằng: “Miên miên bất tuyệt mạo, qua thiệu dã, điệt chước dã (綿綿不絕貌、瓜紹也、瓞瓝也, dài lâu không dứt bóng dáng; dưa lớn nối tiếp, dưa nhỏ kế thừa).”

Quai

乖; C: guāi; J: ke;|Xung đột; mâu thuẫn; đặc biệt là trái nghịch với đạo lí Phật pháp chân chính, chẳng hạn trái với tinh thần Vô ngã hoặc luật nhân quả (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).

quai ly sở sanh khổ

xem ba loại khổ.

quan

1) Áo quan: A coffin. 2) Đóng lại: To shut—To include. 3) Nơi bị đóng kín: A closed place. 4) Quan ải: Frontier—Barrier. 5) Quan hệ: To involve. 6) Quan chức: Official—Public. 7) Quan ngại: To concern.

Quan Bình Thái Tử

(關平太子): nhân vật trung hiếu vẹn toàn, còn gọi là Linh Hầu Thái Tử (靈候太子), sanh ngày 13 tháng 5 thuộc năm đầu (178) đời vua Linh Đế nhà Hán, là con nuôi của Quan Thánh Đế Quân (關聖帝君). Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa (三國演義), có kể chuyện khi Quan Công muốn đến tại Ngọa Ngưu Sơn (臥牛山) để chiêu binh mãi mã, giữa đường gặp một trang viện; vị trang chủ Quan Định (關定) có hai con trai, người con đầu tên là Quan Ninh (關定), chuyên học về văn; người con kế tên là Quan Bình (關平), chuyên học về võ. Người này vâng lời cha theo hầu Tướng Quân Quan Vũ (關羽) và tôn thờ vị này làm cha nuôi. Tánh tình ông khiêm hậu, ôn hòa, được chúng bộ hạ thương kính; hơn nữa võ nghệ của ông lại siêu phàm. Vào năm thứ 19 (214) niên hiệu Kiến An (建安), Quan Công trấn thủ Kinh Châu (荆州), phía Bắc thì đối cự với Tào Tháo (曹操), phía Đông thì hòa hoãn với Tôn Quyền (孫權). Đến năm thứ 24 (219) cùng niên hiệu trên, cha ông bị trúng kế của Lữ Mông (呂蒙), bị quân Đông Ngô bắt giam; Quan Bình thân chinh đến cứu, bị quân địch bao vây và đến tháng 12 cùng năm này, cả hai cha con đều bị hại. Mọi người cảm phục sự trung hiếu vô song của ông, tôn thờ ông cùng với Châu Thương Tướng Quân (周倉將軍) trong Miếu Quan Thánh như là vị thần hai bên tả hữu của Quan Thánh Đế Quân. Thông thường Quan Bình Thái Tử đứng hầu sau Quan Thánh Đế Quân, tay bắt Hán Thọ Đình Hầu Ấn (漢壽亭候印); Châu Thương Tướng Quân đứng bên phải Đế Quân, tay cầm Thanh Long Yển Nguyệt Đao (青龍偃月刀). Như trong Đào Viên Minh Thánh Kinh (桃園明聖經) của Đạo Giáo có xưng tán rằng: “Chí tâm quy mạng lễ: Linh Hầu Thái Tử, văn kinh võ vĩ, khuôn vương hộ quốc, đức nghĩa nguy nguy, trung hiếu tiết nghĩa, toàn thọ toàn quy, kỳ huân tảo kiến ư Tây Thục, dị lược tố trứ ư Bắc Ngụy, đại trung đại hiếu, chí nhân chí dũng, bổ tạo hóa chi bất túc, tá Thánh Đế dĩ lập công, hộ triều hộ quốc, tận hiếu tận trung, Cửu Thiên Uy Linh Hiển Hóa Đại Thiên Tôn (志心皈命禮、靈侯太子、文經武緯、匡王護國、德義巍巍、忠孝節義、全受全歸、奇勳早建於西蜀、異略素著於北魏、大忠大孝、至仁至勇、補造化之不足、佐聖帝以立功、護朝護國、盡孝盡忠、九天威靈顯化大天尊, Một lòng quy mạng lễ: Linh Hầu Thái Tử, văn võ song toàn, phò vua giúp nước, đức nghĩa vời vợi, trung hiếu tiết nghĩa, thảy đều vẹn toàn, mới lập kỳ tích nơi Tây Thục, kinh lược lừng lẫy chốn Bắc Ngụy, đại trung đại hiếu, trọn nhân trọn dũng, thêm tạo hóa còn chưa đủ, phò Thánh Đế để lập công, giúp vua giúp nước, tận hiếu tận trung, Cửu Thiên Uy Linh Hiển Hóa Đại Thiên Tôn).”

Quan Bạch

(關白, Kampaku): tên gọi một chức quan trọng yếu nhằm bổ tá cho Thiên Hoàng và chấp hành các công việc chính trị, được dùng vào cuối thời Bình An trở đi. Vào năm 884, dưới thời Quang Hiếu Thiên Hoàng (光孝天皇, Kōkō Tennō, tại vị 884-887) thì hết thảy văn thư trước khi đưa cho nhà vua ngự lãm thì thường giao qua cho vị Quan Bạch tên Đằng Nguyên Cơ Kinh (藤原基經, Fujiwara Mototsune, 1218-1256) xem trước, và từ đó chức quan này ra đời. Chức quan này thường ngồi cao hơn Thái Chính Đại Thần.

quan bất dung châm tư thông xa mã

(官不容針私通車馬) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Quan bất dung châm, đứng về phương diện công (lí) mà nói thì luật pháp nghiêm minh, dù sai lầm nhỏ như cây kim (châm) cũng không mảy may dung thứ. Trong Thiền lâm, nhóm từ Quan bất dung châm được chuyển dụng để chỉ cho Đệ nhất nghĩa đế của Phật pháp siêu tuyệt, triệt để, không dung chấp mảy may ngôn ngữ, suy tư. Trái lại, Tư thông xa mã là nói về mặt tư (tình), dù sự sai lầm to bằng xe, ngựa cũng có thể dung thông được. Thiền tông dùng từ ngữ này để chỉ cho quyền xảo phương tiện của Đệ nhị nghĩa đế. Khi dẫn dắt người học, Thiền sư có thể tùy nghi sử dụng mọi phương pháp để giúp họ khai ngộ.Tóm lại, có thuyết cho rằng Quan bất dung châm tư thông xa mã là một ngạn ngữ ở đời Đường được Thiền tông sử dụng để chỉ cho cơ pháp phương tiện tự tại vô ngại mà Thiền sư dùng để tiếp hóa người học.

quan nan

Bị rắc rối với pháp luật—In danger from the law—Official oppression.

quan ngại

To obstruct—To hinder.

quan niệm

Concept.

quan niệm không hữu lý

Irrational views .

quan nội tứ thánh

(關內四聖) Cũng gọi Quan trung tứ kiệt. Chỉ cho 4 môn đệ của ngài Cưu Ma La Thập ở đời Hậu Tần, Trung Quốc, học thức uyên bác, đạo hạnh cao thâm, được người đương thời tôn là Quan nội tứ thánh, đó là: Đạo Dung, Tăng Duệ, Tăng Triệu và Đạo Sinh.

quan quách

(棺椁) Chỉ cho cái quan tài có 2 lớp: Quan là cái hòm bên trong đặt xác chết, Quách là cái hòm bọc bên ngoài cái quan. Theo kinh Trường a hàm quyển 4, lúc đức Thế Tôn nhập Niết bàn, các vị đệ tử chiếu theo phép chôn cất vua Chuyển Luân Thánh Vương, trước dùng nước hương nóng tắm gội thân Ngài, sau mặc áo mới rồi dùng 500 tấm dạ mỏng bọc thân đặt vào kim quan, rưới dầu mè vào và đặt kim quan vào trong quách bằng sắt, lại dùng các cái quách bằng gỗ chiên đàn thơm xếp chung quanh, chất đống các thứ gỗ hương làm lễ trà tì. Theo kinh Trủng mộ nhân duyên tứ phương thần chú trong kinh Quán đính quyển 6, khi vua Chuyển luân mệnh chung, 3 loại quan tài được dùng để đặt thân của vua, đó là: Tử ma hoàng kim, sắt và chiên đàn tạp hương. Nhưng, nghi lễ chôn cất của Ấn Độ nói chung, không dùng quan quách, mà trực tiếp đốt xác chết, hoặc để ở trong rừng, hoặc thả xuống sông... Còn ở Trung quốc vì có tục hậu táng nên có chế độ quan quách. Cứ theo Tứ phần luật hành sự sao thì chư tăng chỉ dùng quan chứ không dùng quách, chúng tại gia phổ thông cũng vậy, chỉ những người sang trọng mới dùng quách. Tại Nhật Bản đời xưa, quan tài của những người giàu sang, thường dùng 2 lớp hoặc 3 lớp quách bọc bên ngoài, đôi khi làm quách bằng đá để bảo tồn thi thể lâu dài. [X. kinh Tịnh phạn vương bát niết bàn; kinh Phật bát nê hoàn Q.hạ; kinh Ca Diếp phó Phật niết bàn; thiên Chiêm bệnh tống chung trong Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 4; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 4; Phật tổ thống kỉ Q.4; Thích thị yếu lãm Q.hạ; Hoài nam tử đệ thập tam phiếm luận huấn; Chu bàn truyện trong Hậu Hán thứ 29; Nhật bản thư kỉ 9, 27].

Quan Sát

(關煞): là dụng ngữ thuật số, ngày xưa nhà Tinh Số (chiêm tinh gia bói toán về số mạng con người) cho rằng con người gặp tai nạn do vận mạng quyết định, đó là “Quan Sát”. Con người cho rằng các em nhỏ khi chưa đến tuổi thành niên, thường gặp 36 Quan Sát và 72 sao Thiên Cương (天罡), dễ sanh nhiều bệnh tật, tai họa và chết yểu. 36 Quan Sát gồm: (1) Thiên Nhật Quan (千日關), người sanh ở tuổi Dần, Thân, Tỵ thuộc năm Ngọ, sự tai họa rơi từ trên cao xuống, sanh ra trong vòng 1.000 ngày không nên đến nhà thờ thần linh của bà ngoại, không nên ngồi xe đi phương xa, chủ yếu bị bệnh kinh phong, nôn ọe sữa, không phạm những điều trên thì sẽ bảo đảm bình an; (2) Lôi Công Quan (雷公關), là những người sanh ngày Giáp, Kỷ gặp giờ Ngọ; ngày Ất, Mậu gặp giờ Tuất; ngày Bính, Đinh, Nhâm, Quý gặp giờ Tý; ngày Canh, Tân gặp giờ Dần, khi nghe tiếng sấm sét, tiếng trống đánh, chớ đến gần giếng nước, hay đồ vật bằng sắt, đề phòng ngồi cao té ngã, em bé vui đùa bò lên cao, như vậy sẽ nguy hiểm, chớ ẵm bé lên chỗ cao đùa giỡn, vậy mới bảo đảm bình an; (3) Lạc Tỉnh Quan (落井關), là những người sanh ngày Giáp, Kỷ gặp giờ Tỵ; sanh ngày Ất, Canh gặp giờ Tý; sanh ngày Bính, Tân gặp giờ Thân; sanh ngày Đinh, Nhâm gặp giờ Tuất, chớ đến gần bên giếng, bên sông, nước, đi thuyền bè, đến chơi nơi chỗ nào có huyệt động sâu đều nguy hiểm, có tai họa về nước, chủ yếu chớ nên gần; (4) Kê Phi Quan (雞飛關), là những người sanh ngày Giáp, Kỷ gặp giờ Tỵ, Dậu, Sửu; sanh ngày Ất, Bính, Đinh, Tuất gặp giờ Tý; ngày Canh gặp giờ Hợi, Mão, Mùi; ngày Tân, Nhâm, Quý gặp giờ Dần, Ngọ, Tuất, tránh nhìn thấy sát sanh, giết hại gà, vịt, cá thì sợ, đề phòng bệnh kinh phong khi gà bay qua quá đầu và mổ lên đầu, cần phải thận trọng thì sẽ tránh được chuyện không hay; (5) Thủ Mạng Quan (取命關), là những người sanh ngày Giáp, Ất, Bính, Đinh gặp giờ Thân, Tý, Thìn; ngày Mậu, Kỷ, Canh gặp giờ Hợi, Mão, Mùi; ngày Tân, Nhâm, Quý gặp giờ Dần, Ngọ, Tuất, đề phòng chỗ cao nguy hiểm, chớ nhìn người mất hung dữ, không nên đến gần nơi tang lễ, những đền miếu mới xây, đàn tràng Giải Oan Bạt Độ vào dịp Trung Nguyên; (6) Bạch Hổ Quan (白虎關), là những người sanh năm Kim gặp giờ Mão, Tuất; năm Mộc gặp giờ Thìn, Dậu; năm Hỏa gặp giờ Tý, Mùi, Thân; năm Thủy, Thổ gặp giờ Sửu, Dần, Ngọ, suốt đời nhiều tai hoạn máu me, đề phòng mất chân, phải nên thận trọng ở những chỗ cao nguy hiểm, đối với mạng người nữ cần phải rất thận trọng khi sinh đẻ, để tránh mất mác cả mẹ lẫn con, coi chừng bị bệnh sởi, đậu mùa; (7) Thiết Xà Quan (鐵蛇關), là những người sanh năm Kim gặp giờ Mão, Tuất; năm Mộc gặp giờ Dậu, Thìn; năm Hỏa gặp giờ Sửu, Dần, Ngọ, ngựa đi trên đường cần phải thận trọng, chớ đến gần để tránh nguy hiểm, coi chừng phát sinh bệnh sởi, đậu mùa, dễ bị động vật cắn; (8) Đoạn Trường Quan (斷膓關), là những người sanh ngày Giáp, Ất gặp giờ Ngọ, Mùi; ngày Bính, Đinh gặp giờ Thìn, Tỵ; ngày Mậu gặp giờ Ngọ; ngày Kỷ gặp giờ Mùi; ngày Canh, Tân gặp giờ Dần; ngày Nhâm, Quý gặp giờ Sửu, kỵ nhìn thấy giết heo, dê, chớ vào chỗ đồ tể; (9) Đoản Mạng Quan (短命關), là những người sanh năm Thân, Tý, Thìn gặp giờ Tỵ; năm Tỵ, Dậu, Sửu gặp giờ Dần; năm Dần, Ngọ, Tuất gặp giờ Thìn; năm Hợi, Mão, Mùi gặp giờ Mùi, đề phòng nói lảm nhảm buổi tối, hay kinh sợ; (10) Hòa Thượng Quan (和尚關), là những người sanh năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu gặp giờ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi gặp giờ Tý, Ngọ, Mão, Dậu; năm Dần, Thân, Tỵ, Hợi gặp giờ Dần, Thân, Tỵ, Hợi, chớ vào các đàn tràng cúng chay (trai đàn), không nên vào nhà đám ma, chớ vào chùa gặp Hòa Thượng, tăng ni, nếu không lưu tâm sẽ bị tai ương một đời, nên tránh không nên theo mẹ vào đền miếu dâng hương; (11) Thiên Điếu Quan (天吊關), là những người sanh năm Thân, Tý, Thìn gặp giờ Tỵ, Ngọ; năm Tỵ, Dậu, Sửu gặp giờ Tý, Mão; năm Dần, Ngọ, Tuất gặp giờ Thìn, Ngọ; năm Hợi, Mão, Mùi gặp giờ Ngọ, Thân, qua núi qua sông bất lợi, đi đêm trên đường bất an, đồng thời có nhiều tai nạn cấp bách, họa hoạn; (12) Dạ Đề Quan (夜啼關), là những người sanh tháng 1, 2, 3 gặp giờ Ngọ; tháng 4, 5, 6 gặp giờ Dậu; tháng 7, 8, 9 gặp giờ Tý; tháng 10, 11, 12 gặp giờ Mão, ban đêm không nên ra ngoài du ngoạn, nhìn mặt trời lặn hướng Tây cũng không tốt, buổi tối không nên nhìn ánh sáng đèn để tránh con nít khóc nhè đêm; (13) Mai Nhi Quan (埋兒關), là những người sanh năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu gặp giờ Sửu; năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi gặp giờ Mão; năm Dần, Thân, Tỵ Hợi gặp giờ Thân, kỵ nhìn thấy nhập liệm, tống táng, khi nhỏ đã khó nuôi, nên lạy thần minh để xin làm con nuôi mới bảo toàn tánh mạng; (14) Ngũ Quỷ Quan (五鬼關), là những người sanh năm Tý gặp giờ Thìn; năm Sửu gặp giờ Mão; năm Dần gặp giờ Dần; năm Mão gặp giờ Sửu; năm Thìn gặp giờ Tý; năm Tỵ gặp giờ Hợi; năm Ngọ gặp giờ Tuất; năm Mùi gặp giờ Dậu; năm Thân gặp giờ Thân; năm Dậu gặp giờ Mùi; năm Tuất gặp giờ Ngọ, năm Hợi gặp giờ Tỵ, không nên đến gần đàn tràng Giải Oan Bạt Độ, nếu đến gần sẽ sanh tai tật, kỵ nhìn thấy gỗ làm quan tài, mộ địa; (15) Thiên Cẩu Quan (天狗關), là những người sanh năm Tý gặp giờ Tuất; năm Sửu gặp giờ Hợi; năm Dần gặp giờ Tý; năm Mão gặp giờ Sửu; năm Thìn gặp giờ Dần; năm Tỵ gặp giờ Mão; năm Ngọ gặp giờ Thìn; năm Mùi gặp giờ Tỵ; năm Thân gặp giờ Ngọ; năm Dậu gặp giờ Mùi; năm Tuất gặp giờ Thân; năm Hợi gặp giờ Dậu, Thiên Cẩu ăn mặt trời, không nên nhìn, sợ nghe tiếng chó sủa, em bé thường có khuôn mặt phá tướng, bị thương tích, sanh ra trong vòng 40 ngày, xuất hành đi xa không lợi, cũng không nên đi đêm, để bảo đảm một năm bốn mùa được bình an; (16) Quỷ Môn Quan (鬼門關), là những người sanh năm Tý gặp giờ Dậu; năm Sửu gặp giờ Ngọ; năm Dần gặp giờ Mùi; năm Mão gặp giờ Thân; năm Thìn gặp giờ Hợi; năm Tỵ gặp giờ Tuất; năm Ngọ gặp giờ Sửu; năm Mùi gặp giờ Dần; năm Thân gặp giờ Mão; năm Dậu gặp giờ Tý; năm Tuất gặp giờ Tỵ; năm Hợi gặp giờ Thìn, không thể đi xa, suốt đời nơi nào có miếu âm cung thì chớ nên vào, đồng thời cũng không nên vào nhà hung dữ; (17) Chàng Mạng Quan (撞命關), là những người sanh năm Tý gặp giờ Sửu; năm Sửu gặp giờ Mùi; năm Dần gặp giờ Tý; năm Mão gặp giờ Tỵ; năm Thìn gặp giờ Thìn; năm Tỵ gặp giờ Ngọ; năm Ngọ gặp giờ Ngọ; năm Mùi gặp giờ Sửu; năm Thân gặp giờ Ngọ; năm Dậu gặp giờ Dậu; năm Tuất gặp giờ Mùi; năm Hợi gặp giờ Hợi, khó nuôi con, thân thể suy nhược, nhiều bệnh, có hiện tượng chết yểu; (18) Thang Hỏa Quan (湯火關), là những người sanh năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu gặp giờ Ngọ; năm Sửu, Thân, Hợi gặp giờ Mùi; năm Dần gặp giờ Tỵ; năm Mão gặp giờ Tý; năm Ngọ, Dậu gặp giờ Dần, chủ yếu chú ý về lửa, nước nóng, dầu, không nên đến gần nhà bếp, rất dễ bị thương tích; (19) Trực Nạn Quan (直難關), là những người sanh tháng Mão, Dần (1, 2) gặp giờ Ngọ; tháng Thìn, Tỵ (3, 4) gặp giờ Mùi; tháng Ngọ, Mùi (5, 6) gặp giờ Mão, Tuất; tháng Thân, Dậu (7, 8) gặp giờ Tỵ, Thân; tháng Tuất, Hợi (9, 10) gặp giờ Dần, Mão; tháng Tý, Sửu (11, 12) gặp giờ Thìn, Dậu, thận trọng đề phòng đao khí, vật bén nhọn làm tổn thương; (20) Thâm Thủy Quan (深水關), là những người sanh tháng 1, 2, 3 gặp giờ Dần, Thân, chớ đến gần bên sông, hồ nước, đề phòng tai họa về nước, phạm cha mẹ đời trước, không lạy vào dịp Thanh Minh (清明, khoảng đầu tháng 3 Âm Lịch), Đoan Ngọ (端午, mồng 5 tháng 5 Âm Lịch), Thất Tịch (七夕, mồng 7 tháng 7 Âm Lịch), Trung Thu (中秋, rằm tháng 8 Âm Lịch); (21) Đoạn Kiều Quan (斷橋關), là những người sanh tháng 1, 2 gặp giờ Dần, Mão, chớ qua cầu dài, thuyền nông, chớ đi thuyền qua cầu tre; (22) Tứ Trụ Quan (四柱關), là những người sanh năm Tỵ, Hợi, tháng 1, 2 gặp giờ Thìn, Tỵ, chớ đến gần trước mặt công trình xây dựng, Động Thổ, kỵ ngồi xe con nít; (23) Kim Tỏa Quan (金鎖關), là những người sanh tháng 1, 2 gặp giờ Thân, Mão; tháng 1, 7 gặp giờ Thân; tháng 2, 8 gặp giờ Dậu; tháng 3, 9 gặp giờ Tuất; tháng 4, 10 gặp giờ Hợi; tháng 5, 11 gặp giờ Tý; tháng 6, 12 gặp giờ Sửu, coi chừng dây tiền, mảnh sắt, vàng, đồng rơi vào miệng, hoặc sinh tật bệnh chết yểu; (24) Bách Nhật Quan (百日關), là những người sanh tháng 1, 4, 7, 10 gặp giờ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; tháng 2, 5, 8, 11 gặp giờ Dần, Thân, Tỵ, Hợi; tháng 3, 6, 9, 12 gặp giờ Tý, Ngọ, Mão, Dậu, sanh ra trong vòng 100 ngày, không nên đến nhà bà ngoại, sợ gặp tai họa, không nên ra khỏi nhà, kỵ đi xa, sợ trúng kinh phong; (25) Vô Tình Quan (無情關), là những người sanh tháng 1, 2, 3 gặp giờ Tý, Dần, Dậu; tháng 4, 5, 6 gặp giờ Tỵ, Tuất, Hợi; tháng 7, 8, 9 gặp giờ Sửu, Thân; tháng 10, 11, 12 gặp giờ Tý, Ngọ, trong thời gian còn nhỏ ít nên đến nhà bà ngoại, tránh cho em nhỏ nhìn thấy người mài dao, nên lạy thần thánh làm cha nuôi, gọi cha mẹ là chú, cô, dì; (26) Cấp Cước Quan (急腳關), là những người sanh tháng 1, 2, 3 gặp giờ Tý, Hợi; tháng 4, 5, 6 gặp giờ Mão, Mùi; tháng 7, 8, 9 gặp giờ Dần, Tuất; tháng 10, 11, 12 gặp giờ Sửu, Thìn, chớ nên đi xa, chớ xem lễ Thượng Lương, Động Thổ, xây dựng; (27) Dục Bồn Quan (浴盆關), là những người sanh tháng 1, 2, 3 gặp giờ Thân, ba buổi sáng kỵ tắm rửa thân thể, khi tắm rửa nên thận trọng; (28) Tướng Quân Tiễn (將軍箭), là những người sanh năm Thìn, Dậu, Tuất gặp giờ Mùi, tất sẽ làm tổn thương người thân ruột thịt, không bắn người khác cũng như chính mình, chớ vào miếu thờ Tướng Quân; (29) Huyết Quang Quan (血光關), là những người sanh vào giờ Sửu tháng 1, giờ Mùi tháng 2, giờ Dần tháng 3, giờ Thân tháng 4, giờ Mão tháng 5, giờ Dậu tháng 6, giờ Thìn tháng 7, giờ Tuất tháng 8, giờ Tỵ tháng 9, giờ Hợi tháng 10, giờ Ngọ tháng 11, giờ Tý tháng 12, dễ bị tai họa chảy máu, hay họa về xe và trúng thương tích, nên dùng tiền bổn mạng và tiền trị nguy hại về xe để khắc chế; (30) Thủy Hỏa Quan (水火關), là những người sanh tháng 1, 2, 3 gặp giờ Mùi, Tuất; tháng 4, 5, 6 gặp giờ Sửu, Thìn; tháng 7, 8, 9 gặp giờ Dậu; tháng 10, 11, 12 gặp giờ Sửu, chủ yếu chú ý về nước nóng, lửa, không nên đến gần nhà bếp, gần nước, lửa; (31) Diêm Vương Quan (閻王關), là những người sanh tháng 7, 8, 9, 10, 12 gặp giờ Tý, Ngọ, Dần, Mão; tháng 1, 2, 3 gặp giờ Sửu, Mùi; tháng 4, 5, 6 gặp giờ Thìn, Tuất; tháng 7, 8, 9 gặp giờ Tý, Ngọ; tháng 10, 11, 12 gặp giờ Dần, Mão, không nên đến gần miếu âm cung, đền Thành Hoàng (城隍); (32) Tứ Quý Quan (四季關), là những người sanh tháng 1, 2, 3 gặp giờ Sửu, Tỵ; tháng 4, 5, 6 gặp giờ Thìn, Thân; tháng 7, 8, 9 gặp giờ Hợi, Mùi; tháng 10, 11, 12 gặp giờ Dần, Tuất, một đời nhiều bệnh, trước khí tiết của bốn mùa, chớ nên đi xa để đề phòng tai ương; (33) Tứ Trụ Quan (四柱關), là những người sanh giờ Thìn, Tỵ, tháng 1, 2 thuộc năm Tỵ, Hợi, em nhỏ nếu phạm quan sát này, cha mẹ không sống lâu với mình, kỵ ngồi xe ngựa, lan can, ghế tre; (34) Đa Ách Quan (多厄關), người nam sinh năm thuộc Kim, gặp tháng 5, 6; sinh năm thuộc Mộc, tháng 2, 3; sinh năm thuộc Thủy, tháng 8, 9; sinh năm thuộc Hỏa, tháng 11, 12; sinh năm thuộc Thổ, tháng 1, 4, phạm loại Quan Sát này; nữ sinh năm thuộc Kim, tháng 8, 9; sinh năm thuộc Mộc, tháng 11, 12; sinh năm thuộc Thủy, tháng 2, 3; sinh năm thuộc Hỏa, tháng 5, 6; sinh năm thuộc Thổ, tháng 1, 4, phạm loại Quan Sát này tai ách liên tục hằng năm; (35) Kiếp Sát Quan (劫煞關), là những người sinh năm Thân, Tý Thìn, thuộc tháng 4; năm Tỵ Dậu, Sửu thuộc tháng 1; năm Dần, Ngọ, Tuất thuộc tháng 10; năm Hợi, Mão Mùi thuộc tháng 7, nên thận trọng đề phòng tiền tài hao tổn; (36) Cơ Bại Quan (基敗關), là những người sanh tháng 1, 2, 3 thuộc giờ Mùi, Tuất, Hợi; tháng 4, 5, 6 thuộc giờ Tý, Thìn, Tỵ; tháng 7, 8, 9 thuộc giờ Sửu, Thân, Dậu; tháng 10, 11, 12 thuộc giờ Dần, Mão, Ngọ, sau khi sinh ra, trạng huống thân thể khác lạ, khó nuôi, kỵ đào đất, nên lạy thần minh xin làm con nuôi, chú ý trị liệu về ruột, mới có thể chuyển nguy thành an. Trong tác phẩm Dụ Thế Minh Ngôn (喻世明言) của Bằng Mộng Long (馮夢龍, 1574-1646) quyển 28 Lý Tú Khanh Nghĩa Kết Hoàng Trinh Nữ (李秀卿義結黃貞女) có câu: “Ấu niên gian đa nương dữ ngã toán mạng, thuyết hữu Quan Sát nan dưỡng, vi thử xuyên phá lưỡng nhĩ (幼年間爹娘與我算命、說有關煞難養、爲此穿破兩耳, lúc còn nhỏ cha mẹ xem mạng số cho tôi, bảo rằng bị Quan Sát khó nuôi, vì đó mà phá lũng hai tai).”

quan sát

Observation. ; (觀察) Đồng nghĩa: Quán. Buộc ý niệm nơi đối tượng, dùng trí tuệ soi xét, chính quán đối tượng, như thực tu hành gọi là Quán sát. Vãng sinh luận chú quyển hạ giải thích về tự nghĩa của từ Quán sát như sau (Đại 40, 836 thượng): Tâm theo dõi đối tượng gọi là Quán; tâm xem xét đối tượng rõ ràng gọi là Sát. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 10 nói rằng Quán sát có 2 nghĩa: Tâm soi xét bên trong và mắt nhìn kĩ bên ngoài.

quan sát chính hành

(觀察正行) Đối lại: Quán sát tạp hành. Một lòng chuyên niệm quán tưởng Y báo và Chính báo trang nghiêm ở cõi Cực lạc của đức Phật A di đà, gọi là Quán sát chính hành, 1 trong 5 Chính hành vãng sinh Cực lạc do tông Tịnh độ lập ra. Nếu chẳng những chỉ quán tưởng Y báo và Chính báo trang nghiêm của Tịnh độ Di đà, mà còn quán tưởng tất cả sự lí, hiển mật của Đại thừa và Tiểu thừa, thì gọi là Quán sát tạp hành. (xt. Ngũ Chính Hành).

quan sát chư pháp hành kinh

(觀察諸法行經) Kinh, 4 quyển, do ngài Xà Na quật đa dịch vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này chia làm 3 phẩm: Phẩm Vô biên thiện phương tiện hành, phẩm Tiên thế cần tương ứng và phẩm Thụ kí, nói về việc đức Phật vì bồ tát Hỉ vương mà tuyên thuyết Tam ma địa Quyết định quán sát chư pháp hành. Ngoài ra, trong kinh có những câu như Không hâm mộ Tiểu thừa, cho nên kinh này được xem là tác phẩm của Phật giáo Đại thừa phát triển ở thời kì đầu. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.7].

quan sát khách quan

Objective observation.

quan sát môn

(觀察門) Pháp môn dùng trí tuệ quán sát công đức trang nghiêm của cõi Tịnh độ, công đức thành tựu sự nghiệp tự lợi lợi tha của đức Phật A di đà và công đức trang nghiêm của các Bồ tát ở cõi ấy, 1 trong 5 Niệm môn do tông Tịnh độ lập ra. (xt. Ngũ Niệm Môn).

quan sát nghĩa thiền

(觀察義禪) Thiền định biết rõ lí Nhân vô ngã, xa lìa mọi sự tạo tác và ý niệm phân biệt mình và người, tùy thuận quán sát nghĩa Pháp vô ngã, là 1 trong 4 loại Thiền được nêu trong phẩm Tập nhất thiết pháp của kinh Đại thừa nhập lăng già quyển 3. (xt. Tứ Chủng Thiền).

quan sát pháp nhẫn

(觀察法忍) Quán xét lí sâu xa của tất cả pháp không sinh không diệt, an nhiên nhẫn chịu, trong tâm vắng lặng chẳng động, là 1 trong 2 loại nhẫn của Bồ tát tu hành. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.5; Đại minh tam tạng pháp số Q.5]. (xt. Nhị Nhẫn).

Quan Sơn Huệ Huyền

(關山慧玄, Kanzan Egen, 1277-1360): vị tăng của Tông Lâm Tế Nhật Bản, sống vào khoảng giữa hai thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura) và Nam Bắc Triều, vị tổ khai sáng Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji), húy Huệ Nhãn (慧眼), Huệ Huyền (慧玄), đạo hiệu Quan Sơn (關山), nhụ hiệu Bổn Hữu Viên Thành (本有圓成), Phật Tâm Giác Tánh (佛心覺性), Đại Định Thánh Ứng (大定聖應), Quang Đức Thắng Diệu (光德勝妙), Tự Tánh Thiên Chơn (自性天眞), Phóng Vô Lượng Quang (放無量光), Vô Tướng Đại Sư (無相大師), xuất thân vùng Tín Nùng (信濃, Shinano, thuộc Nagano-ken [長野縣]). Ông là người con thứ 2, sanh ra trong gia đình Thủ Cao Gia (守高家) của Mỹ Nùng, lúc còn nhỏ được gọi là Tào Tử Triêu Minh Lữ (曹子朝明麿), theo học với chú là Nguyệt Cốc Tông Trung (月谷宗忠). Ban đầu ông theo xuất gia với Đông Truyền Sĩ Khải (東傳士啓) ở Quảng Nghiêm Am (廣嚴庵), Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji) vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura). Đến năm 1307 (năm thứ 2 niên hiệu Đức Trị [德治]), ông gặp Đại Ứng Quốc Sư Nam Phố Thiệu Minh (大應國師南浦紹明) ở Kiến Trường Tự, được ban cho tên là Huệ Nhãn (慧眼) và theo hầu vị này tu tập. Nhưng vì không có chỗ sở ngộ nên sau đó vào năm 1327 (năm thứ 2 niên hiệu Gia Lịch [嘉曆]) ông lại đến kế thừa dòng pháp của Đại Đăng Quốc Sư Tông Phong Diệu Siêu (大燈國師宗峰妙超) ở Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji) vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro). Năm 1328, ông đến ẩn cư ở vùng Y Thâm (伊深), Mỹ Nùng (美濃, Mino), đến năm 1330 (năm thứ 2 niên hiệu Nguyên Đức [元德]), ông được ấn chứng cho là đã ngộ được công án chữ Quan (關) của Vân Môn (雲門), nên được ban cho hiệu là Quan Sơn (關山), hiệu là Huệ Huyền (慧玄). Vào năm 1342, Hoa Viên Thượng Hoàng (花園上皇, Hanazono Jōkō) biến Hoa Viên Ly Cung thành Diệu Tâm Tự và cung thỉnh ông đến làm tổ khai sơn chùa nầy. Sau đó, ông lại đến dựng am sống ở vùng Viễn Giang (遠江), nhưng đến năm 1351 ông trở về lại Diệu Tâm Tự và cử xướng Thiền phong uy nghiêm của ông. Dòng pháp từ của ông có Thọ Ông Tông Bật (授翁宗弼). Chính dòng pháp hệ nối tiếp Thiệu Minh (紹明), Diệu Siêu (妙超), Huệ Huyền (慧玄) đã chiếm vai trò lãnh đạo Thiền Lâm Tế về sau. Vào năm 1360 (năm thứ 5 niên hiệu Diên Văn [延文]), ông thị tịch, hưởng thọ 84 tuổi. Trước tác của ông có Quan Sơn Hòa Thượng Bách Tắc Công Án (關山和尚百則公案) 1 quyển.

Quan Sơn Huệ Huyền

關山慧玄; J: kanzan egen; 1277-1360;|Thiền sư Nhật Bản thuộc tông Lâm Tế, nối pháp của Tông Phong Diệu Siêu (j: shūhō myōchō). Sư kế thừa và trụ trì Ðại Ðức tự (daitoku-ji), sau lại trụ trì Diệu Tâm tự (myōshin-ji). Cả hai đều là những thiền viện danh tiếng nhất của tông Lâm Tế tại Kinh Ðô (kyōto).|Sư sinh tại Shinano (phủ Nagano), sớm đã được cha gửi đến một người chú tại Liêm Thương (kamakura) để học Phật pháp. Nơi đây, Sư may mắn được học với Thiền sư Nam Phố Thiệu Minh (nampo jōmyō, 1235-1309). Sau khi Nam Phố tịch, Sư trở về quê nhà tu học khổ hạnh. Khi nghe danh tiếng của Thiền sư Tông Phong tại Liêm Thương, Sư liền đến Ðại Ðức tự tại Kinh Ðô đến tham học. Tông Phong giao cho Sư Công án »Quan« (Bích nham lục, công án 8) của Thiền sư Vân Môn Văn Yển để tham cứu. Sau hai năm quán công án này – một thời gian tu tập cực kì khắc khe với một công án nổi danh là khó giải – Sư ngộ được yếu chỉ của Thiền tông. Tông Phong liền làm một bài kệ ấn chứng cho môn đệ của mình, năm đó Sư đã vượt ngoài năm mươi (1329).|Sau đó, theo lời khuyên của thầy, Sư lên núi ẩn cư tám năm để tiếp tục tu luyện và trong thời gian này, Sư làm việc hằng ngày trên đồng ruộng, đêm thì Toạ thiền trên những tảng đá. Sau thời gian này, Sư nhận lời trụ trì chùa Diệu Tâm. Phong cách giảng dạy của Sư rất nghiêm khắc và cũng vì thế mà Lâm Tế chính mạch được truyền đến những đời sau qua dòng thiền này. Sư chẳng chú trọng đến đồ vật trang trí trong thiền viện và cũng không thích những nghi lễ rườm rà. Sư đòi hỏi nơi đệ tử một ý chí, một tâm trạng tinh tiến tuyệt đối. Một trong những công án Sư thường đưa ra để tham quán là »Ðối với Huệ Huyền, nơi đây không có sinh tử.« Chỉ những thiền sinh đầy ý chí quyết định mới dám ở lại đây, phần lớn đều rời Sư sau một thời gian. Dưới sự hoằng hoá của Sư, Diệu Tâm tự cũng được gọi là »Ðịa ngục tột cùng của Phật pháp.« Sư cũng được gọi là »Tổ sư với những đức tính thầm kín« (Ẩn đức tổ sư; 隱德 [の] 祖師; j: intoku [no] soshi).|Trước khi tịch, Sư trao pháp y lại cho vị kế thừa duy nhất là Thụ Ông Tông Bật (授翁宗弼; j: jūo sōhitsu, 1296-1380), chuẩn bị hành lí và đứng mà tịch. Dòng thiền của Sư sau trở thành dòng chính của tông Lâm Tế Nhật Bản.

Quan Thánh

(關聖): tên gọi một vị danh tướng của nhà Thục thời Tam Quốc, tên là Quan Vũ (關羽), tự là Trường Sanh (長生), Vân Trường (雲長), thường gọi là Quan Công (關公). Ông đã từng phục vụ cho Lưu Bị (劉僃) nhà Thục, rất liêm chính, cương trực, sau bị Tôn Quyền (孫權) nhà Ngô giết chết. Ông được sùng kính như là vị anh hùng của quốc dân, được xem như là bậc thánh và được thờ tại Quan Đế Miếu (關帝廟), cho nên có tên gọi là Quan Thánh Đế Quân (關聖帝君). Ông còn được gọi là Quan Đế Da (關帝爺), Tây Sơn Phu Tử (西山夫子), Cái Thiên Cổ Phật (蓋天古佛), Hiệp Thiên Đại Đế (協天大帝), Phục Ma Đại Đế (伏魔大帝), v.v. Dưới thời nhà Tống, vua Huy Tông (徽宗) phong ông lên ba cấp từ Trung Huệ Công (忠惠公), Sùng Ninh Chơn Quân (崇寧眞君) cho đến Chiêu Liệt Võ An Vương (昭烈武安王). Vua Văn Tông (文宗) nhà Nguyên lại phong cho ông là Hiển Linh Nghĩa Dũng Võ An Anh Tế Vương (顯靈義勇武安英濟王). Vua Thần Tông (神宗) nhà Minh phong cho ông tước hiệu Tam Giới Phục Ma Đại Đế Thần Uy Viễn Trấn Thiên Tôn Quan Thánh Đế Quân (三界伏魔大帝神威遠鎭天尊關聖帝君). Đến thời nhà Thanh, vua Đức Tông (德宗) phong cho ông tước hiệu dài nhất là Trung Nghĩa Thần Võ Linh Hựu Nhân Dũng Hiển Uy Hộ Quốc Bảo Dân Tinh Thành Tuy Tĩnh Dực Tán Tuyên Đức Quan Thánh Đại Đế (忠義神武靈佑仁勇顯威護國保民精誠綏靖翊讚宣德關聖大帝). Tín ngưỡng về Quan Thánh rất phổ biến kể từ thời nhà Đường, nhưng đến thời nhà Thanh thì ông được sùng kính như là vị thần hộ vệ cho hoàng tộc. Vì lẽ đó, trong suốt giai đoạn này bất cứ nơi đâu người ta đều thấy xuất hiện Quan Đế Miếu (關帝廟). Ngoài ra, ông còn được xem như là Thần Tài, vị thần phù hộ làm ra nhiều tiền và thịnh vượng. Đặc biệt, trong Phật Giáo, ông được tôn kính như là vị đại hộ pháp. Trong một vài thư tịch của Thiền Tông, có đề cập đến câu chuyện sau khi ông bị chém đứt đầu chết thì biến thành con quỷ không đầu, hồn phách thường lảng vảng trong rừng trải qua đến ba bốn trăm năm. Cuối cùng con quỷ không đầu ấy gặp Trí Khải Đại Sư (智顗大師, 538-397)—người sáng lập ra Thiên Thai Tông Trung Quốc, được Đại Sư dùng pháp Phật làm cho siêu độ và thoát khỏi thân quỷ. Sau khi được siêu độ, có chánh tín vào Phật pháp, Quan Công phát nguyện lớn đời đời kiếp kiếp sẽ hộ trì chánh pháp, hàng phục yêu ma, bảo hộ già lam thánh chúng. Cho nên ông trở thành vị Bồ Tát hộ pháp cho chốn già lam, được liệt vào hàng ngũ hai vị thần hộ pháp cùng với Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát (韋駄尊天菩薩). Hằng năm, người dân vẫn tưởng niệm ngày khánh đản của ông vào ngày 24 tháng 6 âm lịch. Đạo Giáo Trung Quốc vẫn lưu hành Quan Thánh Đế Quân Giác Thế Chơn Kinh (關聖帝君覺世眞經), trong đó có dạy rằng: “Nhân sanh tại thế, quý tận trung hiếu tiết nghĩa đẳng sự, phương ư nhân đạo vô quý, khả lập ư thiên địa chi gian (人生在世、貴盡忠孝節義等事、方於人道無愧、可立於天地之間, con người ở đời, quý nhất các việc tận trung, hiếu, tiết nghĩa, mới không xấu hổ với mọi người, có thể đứng vững giữa trời đất).”

Quan Thánh Đế Quân

(關聖帝君): tên gọi một vị danh tướng của nhà Thục thời Tam Quốc, tên là Quan Vũ (關羽, ?-219), tự là Trường Sanh (長生), Vân Trường (雲長), thường gọi là Quan Công (關公). Ông đã từng phục vụ cho Lưu Bị (劉僃) nhà Thục, rất liêm chính, cương trực, sau bị Tôn Quyền (孫權) nhà Ngô giết chết. Ông được sùng kính như là vị anh hùng của quốc dân, được xem như là bậc thánh và được thờ tại Quan Đế Miếu (關帝廟), cho nên có tên gọi là Quan Thánh Đế Quân (關聖帝君). Ông còn được gọi là Quan Đế Da (關帝爺), Tây Sơn Phu Tử (西山夫子), Cái Thiên Cổ Phật (蓋天古佛), Hiệp Thiên Đại Đế (協天大帝), Phục Ma Đại Đế (伏魔大帝), v.v. Dưới thời nhà Tống, vua Huy Tông (徽宗) phong ông lên ba cấp từ Trung Huệ Công (忠惠公), Sùng Ninh Chơn Quân (崇寧眞君) cho đến Chiêu Liệt Võ An Vương (昭烈武安王). Vua Văn Tông (文宗) nhà Nguyên lại phong cho ông là Hiển Linh Nghĩa Dũng Võ An Anh Tế Vương (顯靈義勇武安英濟王). Vua Thần Tông (神宗) nhà Minh phong cho ông tước hiệu Tam Giới Phục Ma Đại Đế Thần Uy Viễn Trấn Thiên Tôn Quan Thánh Đế Quân (三界伏魔大帝神威遠鎭天尊關聖帝君). Đến thời nhà Thanh, vua Đức Tông (德宗) phong cho ông tước hiệu dài nhất là Trung Nghĩa Thần Võ Linh Hựu Nhân Dũng Hiển Uy Hộ Quốc Bảo Dân Tinh Thành Tuy Tĩnh Dực Tán Tuyên Đức Quan Thánh Đại Đế (忠義神武靈佑仁勇顯威護國保民精誠綏靖翊讚宣德關聖大帝), v.v. Tín ngưỡng về Quan Thánh rất phổ biến kể từ thời nhà Đường, nhưng đến thời nhà Thanh thì ông được sùng kính như là vị thần hộ vệ cho hoàng tộc. Vì lẽ đó, trong suốt giai đoạn này bất cứ nơi đâu người ta đều thấy xuất hiện Quan Đế Miếu (關帝廟). Ngoài ra, ông còn được xem như là Thần Tài, vị thần phù hộ làm ra nhiều tiền và thịnh vượng. Đặc biệt, trong Phật Giáo, ông được tôn kính như là vị đại hộ pháp. Trong thư tịch của Thiền Tông như Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀), có đề cập đến câu chuyện sau khi ông bị chém đứt đầu chết thì biến thành con quỷ không đầu, hồn phách thường lảng vảng trong rừng trải qua đến ba bốn trăm năm. Cuối cùng con quỷ không đầu ấy gặp Trí Khải Đại Sư (智顗大師, 538-397)—người sáng lập ra Thiên Thai Tông Trung Quốc, được Đại Sư dùng pháp Phật làm cho siêu độ và thoát khỏi thân quỷ. Sau khi được siêu độ, có chánh tín vào Phật pháp, Quan Công phát nguyện lớn đời đời kiếp kiếp sẽ hộ trì chánh pháp, hàng phục yêu ma, bảo hộ già lam thánh chúng. Cho nên ông trở thành vị Bồ Tát hộ pháp cho chốn già lam, được liệt vào hàng ngũ hai vị thần hộ pháp cùng với Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát (韋駄尊天菩薩).

Quan thư

(關雎): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Là tên của một thiên trong Thi Kinh (詩經), chương Chu Nam (周南); là chương đầu tiên của toàn thư tịch, cũng là thiên đầu tiên trong 15 thiên ca dao Quốc Phong (國風), là tác phẩm biểu hiện tình yêu nam nữ, được xem như là tổ của những bài thơ tình của Trung Quốc. (2) Từ đó, từ này được mượn để chỉ cho sự hiền thục của hậu phi, hay đức độ của nàng hậu phi. Như trong Hậu Hán Thư (後漢書), chương Hoàng Hậu Kỷ Thượng (皇后紀上), phần Quang Liệt Âm Hoàng Hậu (光烈陰皇后) có câu: “Ký vô quan thư chi đức, nhi hữu Lữ Hoắc chi phong (旣無關雎之德、而有呂霍之風, đã không có đức độ của hậu phi, lại thêm thói quen [tật đố hung tàn] của Lữ Hoắc).” (3) Mượn dùng để chỉ cho vợ chồng. Như trong tác phẩm Bão Trang Hạp (抱妝盒) của tác giả vô danh, chương thứ 4 có câu: “Đa tắc thị thiên sanh phần phước, hựu ngộ trước nhân duyên đối phó, thành tựu liễu lân chỉ quan thư (多則是天生分福、又遇著姻緣對付、成就了麟趾關雎, phần lớn ắt là trời sanh phước phần, lại gặp duyên kết hôn giao phó, thành tựu vợ chồng cao đẹp).” (4) Mượn chỉ cho thục nữ, người con gái hiền thục. Như trong hồi thứ 19 của tác phẩm Ngọc Kiều Lê (玉嬌梨) của Trương Quân (張勻, ?-?) nhà Thanh, có đoạn: “Cửu văn lão tiên sinh lịnh ái hiền thục, hữu quan thư chi mỹ, cố thác vãn sinh kính chấp phủ kha, dục cầu lão tiên sinh khúc tứ chu trần chi hảo (久聞老先生令愛賢淑、有關雎之美、故託晚生敬執斧柯、欲求老先生曲賜朱陳之好, từ lâu đã nghe lịnh ái của ông rất hiền thục, có vẻ đẹp của thục nữ, cho nên xin hãy giao cho hậu sinh được làm mai mối, muốn xin ông thương xót ban cho hai họ tốt lành).” (5) Là tên của một loài chim sống dưới nước, chim ưng bắt cá. Trong Hy Tẩu Thiệu Đàm Thiền Sư Quảng Lục (希叟紹曇禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1390) quyển 3 có câu: “Cù mộc thùy âm, quan thư vịnh đức, huyên thọ bắc đường, tinh chiêu nam cực, xuân dương hu ẩu dục lê nguyên, đại địa thùy nhân bất cảm ân (樛木垂陰、關雎詠德、萱樹北堂、星昭南極、春陽姁嘔育黎元、大地誰人不感恩, cây si rũ bóng râm, chồng vợ ngợi ca đức, cây huyên nơi nhà bắc, sao tỏ sáng cực nam, mùa xuân đem vui nuôi bá tánh, đất trời ai nào chẳng cảm ơn).”

quan thế âm

Avalokitesvara (skt)—See Quán Thế Âm.

Quan Thế Âm Tự

(觀世音寺, Kanzeon-ji): ngôi tự viện của Thiên Thai Tông, tọa lạc tại Dazaifu-shi (大宰府市), Fukuoka-ken (福岡縣). Chùa do Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇, Tenchi Tennō) phát nguyện xây dựng để cầu nguyện hồi hướng công đức cho mẹ ông là Tề Minh Thiên Hoàng (齊明天皇, Saimei Tennō) qua đời ở vùng Khủng Tử (筑紫, Chikushi); tuy nhiên đến năm 746 (niên hiệu Thiên Bình [天平] thứ 18) mới hoàn thành. Chùa tọa lạc về phìa Đông của Thái Tể Phủ (大宰府, Daizaifu). Giới Đàn Viện của chùa là một trong 3 giới đàn nổi tiếng trong thiên hạ, cùng sánh ngang hàng với hai Giới Đàn Viện ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji) và Dược Sư Tự (藥師寺, Yakushi-ji). Tăng ni ở vùng tây nam Nhật Bản đều phải đến đây thọ giới. Chùa đã trãi qua một thời rất hưng thịnh, nhưng đến cuối thời Bình An (平安, Heian) thì suy tàn và trở thành chùa phụ thuộc của Đông Đại Tự. Chùa hiện vẫn còn lưu giữ Phạn Chung thuộc Thời Đại Bạch Phụng (白鳳時代, Hakuhō-jidai), các tượng Thập Nhất Diện Quan Âm (十一面觀音), Mã Đầu Quan Âm (馬頭觀音), Bất Không Quyên Sách Quan Âm (不空羂索觀音), v.v., thuộc Thời Đại Bình An. Trong thời gian bị lưu đày, Quản Nguyên Đạo Chơn (菅原道眞, Sugawara-no-Michizane, 845-903) có vịnh hai câu thơ rất nổi tiếng về chùa này: “Lầu Đô Phủ mới nhìn màu ngói, Chùa Quan Âm vẳng nghe tiếng chuông” (Quản Gia Hậu Tập [菅原後集]).

quan trọng nhứt

Most importantly.

quan tâm

To pay attention to.

quan tăng

(官僧) Chỉ cho những người xuất gia được triều đình chứng nhận và cấp cho độ điệp, hoặc chỉ cho những người xuất gia được bổ nhiệm giữ các chức quan tăng như Tăng chính, Tăng đô, Luật sư... Ngoài ra, những người nhận sắc chỉ được phép mặc quan phục như áo bào, xiêm, lụa trắng hoặc ca sa gấm... cũng được gọi là Quan tăng.

quan tự

(官寺) Chùa quan, tức các chùa viện được ban bổng lộc và chịu sự quản lí của triều đình. Tại Trung Quốc, những Thiền viện như Ngũ sơn, Thập sát được đặt ra ở đời Tống là thuộc Quan tự. Ngũ sơn gồm: Hưng thánh vạn thọ thiền tự, Cảnh phúc linh ẩn tự, Tịnh từ tự, Cảnh đức tự và Quảng lợi tự. Thập sát thì có: Trung thiên trúc sơn Thiên ninh vạn thọ vĩnh tộ tự, Đạo tràng sơn Hộ thánh vạn thọ tự, Tưởng sơn Thái bình hưng quốc tự, Vạn thọ sơn Báo ân quang hiếu tự, Tuyết đậu sơn Tư thánh tự, Giang tâm sơn Long tường tự, Tuyết phong sơn Sùng thánh tự, Vân hoàng sơn Bảo lâm tự, Hổ khâu sơn Vân nham tự và Thiên thai sơn Quốc thanh trung tự. Ở Nhật Bản, năm Thiên vũ thiên hoàng thứ 7 (679), Quan tự được chế định, có nhiều loại như Sắc nguyện tự, Định ngạch tự, Ngự nguyện tự, Ngự kì nguyện tự... Từ đời Trung cổ về sau, Quan tự chỉ cho những chùa viện được Mạc phủ đặc biệt bảo hộ.

quan văn

(棺文) Chỉ cho những câu văn mà Thiền gia viết trên quan tài. Cứ theo điều Quan văn trong Chư hồi hướng thanh qui thức quyển 4 thì Quan văn phổ thông được dùng là (Đại 81, 660 thượng): Xuất li sinh tử/Nhập trụ Niết bàn/ Tịch tĩnh vô vi/ Cứu cánh an lạc/(Xa lìa sống chết /Vào trụ Niết bàn/Vắng lặng vô vi /Yên vui tuyệt đối). Hoặc: Mê cố tam giới thành/Ngộ cố thập phương không/Bản lai vô Đông Tây/Hà xứ hữu Nam Bắc?/(Mê nên thành ba cõi/Ngộ nên mười phương không/Xưa nay không Đông Tây/Ở đâu có Nam Bắc?). Còn theo điều Tại gia tống vong trong Tiểu tùng lâm lược thanh qui quyển trung thì ngoài quan tài vẽ vòng tròn lớn, trên nắp quan tài hoặc ở bên cạnh viết (Đại 81, 710 thượng): Xuất li sinh tử/Nhập trụ Niết bàn/Tịch tĩnh vô vi/Cứu cánh an lạc. Bốn câu này phối hợp với 4 phương Đông Tây Nam Bắc mà viết.

Quan Âm

觀音; J: kannon; nguyên là Quán Thế Âm nhưng do tránh tên nhà vua Ðường là Thế Dân nên gọi là Quan Âm hoặc Quán Âm.|Tên của Bồ Tát Quán Thế Âm (觀世音; s: avalokiteśvara) tại Trung Quốc và các nước lân cận. Phật tử Trung Quốc thường thờ cúng Quan Âm bên cạnh các vị Bồ Tát Phổ Hiền (普賢; s: samantabhadra), Ðịa Tạng (地藏; s: kṣitigarbha) và Văn-thù (文殊; s: mañjuśrī). Ðó là bốn vị Ðại Bồ Tát của Phật giáo Trung Quốc.|Quan Âm hiện thân trong mọi hình dạng để cứu độ chúng sinh, nhất là trong các nạn lửa, nước, quỷ dữ và đao kiếm. Phụ nữ không con cũng hay cầu Quan Âm. Trong kinh Ðại thừa vô lượng thọ (s: sukhāvatīvyūha), Quan Âm cũng hay được nhắc tới bên cạnh Phật A-di-đà (s: amitābha). Tại Trung Quốc và Việt Nam, Quan Âm hay được diễn tả dưới dạng nữ nhân.|Tranh trượng hay trình bày Quan Âm dưới nhiều dạng khác nhau, nhưng phổ biến nhất là dạng một vị Bồ Tát nghìn tay nghìn mắt. Có khi Quan Âm ẵm trên tay một đứa bé, có khi có một đồng tử theo hầu. Người ta cũng hay vẽ Quan Âm hiện lên trong mây, hoặc cỡi rồng trên thác nước. Hình ảnh Quan Âm đứng trên một hải đảo cứu người bị nạn cũng phổ biến, biển cả tượng trưng cho Luân hồi. Tay Quan Âm hay cầm hoa sen hay bình nước Cam lộ.|Theo quan niệm Trung Quốc, Quan Âm ngự tại Phổ-đà Sơn, miền Ðông Trung Quốc, đó là một trong Tứ đại danh sơn – bốn trú xứ của bốn Ðại Bồ Tát của Phật giáo Trung Quốc.|Tại Trung Quốc – đến thế kỉ 10 – Quan Âm còn được giữ dưới dạng Nam giới, thậm chí trong hang động ở Ðôn Hoàng, người ta thấy tượng Quan Âm để râu. Ðến khoảng thế kỉ thứ 10 thì Quan Âm được vẽ mặc áo trắng, có dạng nữ nhân. Có lẽ điều này xuất phát từ sự trộn lẫn giữa đạo Phật và đạo Lão trong thời này. Một cách giải thích khác là ảnh hưởng của Mật tông (xem Tan-tra) trong thời kì này: đó là hai yếu tố Từ bi (s: maitrī-karuṇā) và Trí huệ (s: prajñā) được thể hiện thành hai dạng nam nữ, mỗi vị Phật hay Bồ Tát trong Mật tông đều có một »quyến thuộc« nữ nhân. Vị quyến thuộc của Quán Thế Âm được xem là vị nữ thần áo trắng Ða-la (s: tārā), và Bạch Y Quan Âm là tên dịch nghĩa của danh từ đó. Kể từ đó quần chúng Phật tử Trung Quốc khoác cho Quan Âm áo trắng và xem như là vị Bồ Tát giúp phụ nữ hiếm muộn.|Có rất nhiều huyền thoại về Bồ Tát Quan Âm. Theo một huyền thoại Trung Quốc thì Quan Âm là con gái thứ ba của một nhà vua. Lớn lên, mặc dù vua cha ngăn cản nhưng công chúa quyết đi tu. Cuối cùng vua nổi giận, sai đem giết nàng. Diêm vương đưa nàng vào địa ngục, ở đó công chúa biến địa ngục thành Tịnh độ, cứu giúp người hoạn nạn. Diêm Vương thả nàng ra và công chúa tái sinh lại trên núi Phổ-đà biển Ðông và trở thành người cứu độ cho ngư dân. Ðến khi vua cha bị bệnh nặng, nàng cắt thịt đắp lên chỗ bệnh. Nhà vua khỏi bệnh và nhớ ơn, cho tạc tượng nàng. Tương truyền rằng, vì hiểu lầm ý của nhà vua mà người ta tạc nên bức tượng nghìn tay nghìn mắt, được lưu truyền đến ngày nay.

quan âm

Avalokitesvara Bodhisattva—Bodhisattva of mercy—Goddess of mercy.

quan âm huyền nghĩa

(觀音玄義) Cũng gọi Biệt hành huyền nghĩa, Biệt hành huyền, Quán âm huyền, Quán âm kinh huyền nghĩa. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Thiên thai Trí khải soạn vào đời Tùy, học trò là Quán đính ghi chép, được thu vào Đại chính tạng tập 34, là 1 trong 5 tiểu bộ của tông Thiên thai. Nội dung sách này giải thích nghĩa sâu xa của phẩm Quán thế âm bồ tát phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7, y theo cách chia khoa Ngũ trùng huyền nghĩa: Thích Danh, Xuất Thể, Minh Thị, Biện Dụng và Giáo Tướng mà ngài Trí Khải đã lập ra trong Pháp hoa kinh huyền nghĩa. Phần Thông thích và Biệt thích giảng giải một cách tỉ mỉ đại cương của phẩm Phổ môn và 5 chữ cái Quán thế âm phổ môn. Đây là tác phẩm xưa nhất trong những sách chú thích phẩm Phổ môn hiện còn mà các học giả đời sau phỏng đoán là ngài Trí Khải đã giảng thuật trước bộ Ma ha chỉ quán. Sách này và Quán âm nghĩa sớ tuy đều là những tác phẩm quan trọng trình bày về thuyết Tính ác của tông Thiên thai, nhưng trong Trí giả đại sư biệt truyện, Đại đường nội điển lục và Tục cao tăng truyện đều không thấy nói sách này là do ngài Trí khải soạn. Ngoài ra, ngài Tứ minh Tri lễ đời Tống đã dựa theo sách này mà soạn Quán âm huyền nghĩa kí 4 quyển là tập đại thành về thuyết Tính ác. [X. Phật tổ thống kỉ Q.25; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1].

quan âm huyền nghĩa kí

(觀音玄義記) Cũng gọi Quán thế âm bồ tát phổ môn phẩm huyền nghĩa kí, Quán âm biệt hành huyền kí, Biệt hành huyền nghĩa kí, Biệt hành huyền kí, Quán âm kinh huyền nghĩa kí. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Tứ minh Tri lễ soạn vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 34. Đây là sách chú thích bộ Quán âm huyền nghĩa. Theo lời tựa của tác giả thì sách này ngài Tri Lễ soạn lúc ngài 62 tuổi. Ngài Tri Lễ mới đầu tham học ngài Bảo Vân Nghĩa Thông, đúng lúc ngài Nghĩa Thông đang giảng phẩm Quán âm phổ môn, qua nhiều lần thưa hỏi những chỗ còn nghi mới hiểu được nghĩa sâu xa kín nhiệm. Năm Thiên hi thứ 5 (1021) đời Tống ngài sao chép lại và giải thích ý nghĩa sâu xa theo cái học huấn hỗ của đời Đường, Tống. Năm Thiên thánh thứ 2 (1024), ngài Tuân Thức tâu xin cho sách này được đưa vào Đại tạng kinh. [X. Phật tổ thống kỉ Q.8, 25].

quan âm kinh trì nghiệm kí

(觀音經持驗記) Cũng gọi Quán thế âm trì nghiệm kí, Quán âm trì nghiệm kí, Quán thế âm kinh chú trì nghiệm kí. Tác phẩm, 2 quyển, do ông Chu Khắc Phục soạn vào năm Thuận Trị 16 (1659) đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 134. Nội dung sách này do tác giả sưu tầm các sách, thu tập 118 sự kiện linh nghiệm về tín ngưỡng Quán âm của tất cả tăng tục từ đời Tấn đến thời Thuận Trị nhà Thanh rồi biên soạn thành. Phạm vi các thư tịch mà tác giả sưu tầm bao gồm những nội, ngoại điển như: Cao tăng truyện, Pháp uyển châu lâm, Biện chính luận, Pháp hoa cảm thông, Quán âm cảm ứng, Minh tường kí, Tuyên nghiệm kí, Thái bình quảng kí, Đàm tẩu, Ngọc đường nhàn thoại, Triều dã thiêm tải..., dưới mỗi sự kiện đều có ghi rõ xuất xứ từ sách nào, đây là tư liệu quan trọng đối với việc nghiên cứu về tín ngưỡng Quán thế âm. Cuối quyển có phụ lục: Quán thế âm đại bi tâm đà la ni, kinh Bạch y đại bi ngũ ấn tâm đà la ni, Lễ Quán âm văn, Biện ngoa ngữ tam tắc...

quan âm mạn đồ la bát đại bồ tát

(觀音曼荼羅八大菩薩) Tám vị bồ tát Đại quán tự tại nói trong kinh Thiên quang nhãn Quán tự tại bồ tát bí mật pháp. Đó là: 1. Bồ tát Kim cương Quán tự tại. 2. Bồ tát Dữ nguyện Quán tự tại. 3. Bồ tát Sổ châu Quán tự tại. 4. Bồ tát Câu triệu Quán tự tại. 5. Bồ tát Trừ chướng Quán tự tại (cũng gọi bồ tát Thí vô úy Quán tự tại). 6. Bồ tát Bảo kiếm Quán tự tại. 7. Bồ tát Bảo ấn Quán tự tại. 8. Bồ tát Bất thoái chuyển kim luân Quán tự tại. Về hình tượng, vật cầm, ấn khế... của 8 vị Đại quán tự tại này cho đến các pháp tu thờ những Bồ tát này làm Bản tôn và những sự duyên... đều được ghi chép tường tận trong kinh này.

quan âm nghĩa sớ

(觀音義疏) Cũng gọi Phổ môn phẩm sớ, Biệt hành nghĩa sớ, Quán âm kinh sớ. Kinh sớ, 2 quyển, do ngài Thiên Thai Trí Khải giảng vào đời Tùy, đệ tử Quán Đính ghi chép, được thu vào Đại chính tạng tập 34, là 1 trong 5 tiểu bộ của tông Thiên thai. Nội dung sách này giải thích văn nghĩa của phẩm Quán thế âm bồ tát phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7. Trước hết, đặt 4 câu hỏi vềThời tiết, Tiêu nhân, Kính nghi và Chính vấn, rồi đáp bằng Khẩu cơ cảm ứng, Ý cơ cảm ứng, Thân cơ cảm ứng, chỉ rõ sự lợi ích ngấm ngầm của Quán âm thụ vương. Kế đến, đặt câu hỏi về 3 nghiệp thân, khẩu, ý và trả lời bằng Biệt đáp, Tổng đáp, khuyên cúng dường... chỉ rõ sự lợi ích công khai của Phổ môn châu vương. Trong sách, tác giả khéo dùng các giáo pháp Tứ giáo, Tam quán để bác bỏ các thuyết của những nhà chú sớ khác và lối giải thích xưa cũ, làm sáng tỏ lí luận và quán hạnh đối với tín ngưỡng Quán thế âm, là kim chỉ nam cho đời sau giải thích phẩm Phổ môn. Sách này và Quán âm huyền nghĩa đều nêu cao pháp môn Tính ác của tông Thiên thai. Ngoài ra, ngài Tứ minh Tri lễ đời Tống đã dựa theo sách này mà soạn bộ Quán âm nghĩa sớ kí 4 quyển. [X. Phật tổ thống kỉ Q.25].

quan âm nghĩa sớ kí

(觀音義疏記) Cũng gọi Quán âm kinh nghĩa sớ kí, Quán âm biệt hành sớ kí, Biệt hành nghĩa sớ kí, Biệt hành sớ kí. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Tứ minh Tri lễ soạn vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 34. Nội dung sách này chú thích Quán âm nghĩa sớ của ngài Trí Khải. Sách này và Quán âm huyền nghĩa kí đều là những thư tịch quan trọng xiển minh pháp môn Tính ác của tông Thiên thai. Về sách chú thích bộ Sớ kí này thì có Quán âm kinh nghĩa sớ kí khoa 1 quyển. [X. Phật tổ thống kỉ Q.8, 25].

quan âm phổ hiền đà la ni kinh

(觀音普賢陀羅尼經) Cũng gọi Thanh tịnh Quán thế âm bồ tát Phổ hiền đà la ni kinh, Thanh tịnh Quán thế âm Phổ hiền kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Trí Thông dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này nói về việc bồ tát Quán thế âm vì lợi ích chúng sinh mà tuyên thuyết các Đà la ni: Phổ hiền, Kết giới, Phụng thỉnh... và bảo rằng nếu ai tụng trì đà la ni Phổ hiền thì sẽ không bao giờ bị rơi vào các đường ác, thấy được bồ tát Quán thế âm hiện thân và được các công đức của Tam ma địa đà la ni thù thắng. Bản dịch khác của kinh này là kinh Quán tự tại bồ tát thuyết Phổ hiền đà la ni, do ngài Bất không dịch vào đời Đường. So với kinh này thì bản dịch của ngài Bất không, chẳng những thứ tự trình bày khác nhau, mà còn thiếu cả các phần vẽ tượng, vàođàn, pháp cúng dường... [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.8].

quan âm sám pháp

(觀音懺法) Cũng gọi Thỉnh quán thế âm sám pháp, Thỉnh quán thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni tam muội nghi. Pháp tu sám hối cúng dường thờ bồ tát Quán thế âm làm Bản tôn. Bồ tát Quán thế âm còn gọi là Viên Thông Đại sĩ, vì thế pháp sám này cũng gọi Viên Thông sám pháp. Thứ tự của pháp tu này như sau: Trước hết, trang nghiêm đạo tràng, dùng bùn thơm trát lên mặt đất, treo cờ phướn, tàn lọng, chuẩn bị cành dương nước sạch, đốt hương, rải hoa; tôn trí tượng Phật nhìn hướng nam, tượng bồ tát Quán thế âm nhìn hướng đông, hành giả gieo 5 vóc sát đất hướng về tây, dốc lòng đính lễ Phật Thích ca, Phật A di đà; xưng niệm danh hiệu Tam bảo và Quán thế âm. Kế đến, tụng chú Tiêu phục độc hại, chú Phá nghiệp chướng đà la ni, chú Lục tự chương cú... giải bày sám hối nghiệp ác tội lỗi, lễ xong rồi hành đạo đúng như pháp; sau đó, một người lên tòa cao xướng tụng kinh Thỉnh quán thế âm. Tu pháp trong 21 ngày hoặc 49 ngày. [X. kinh Thỉnh Quán thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni chú; Thỉnh Quán thế âm kinh sớ; Thỉnh Quán âm kinh xiển nghĩa sao; Quốc thanh bách lục Q.1; Thỉnh Quán thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni tam muội nghi].

quan âm sắc tứ tự

Tên của một ngôi chùa tọa lạc trong thị xã Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Chùa còn gọi là chùa Phật Tổ, được Hòa Thượng Tô Quang Xuân dựng lên vào giữa thế kỷ thứ 19. Nguyên thủy chùa chỉ là một cái am nhỏ làm nơi tu hành và phát thuốc cho nhân dân trong vùng. Sau đó Hòa Thượng lên thành Gia Định, tu ở chùa Kim Chương và thị tịch ở đó. Năm 1842, vua Thiệu Trị đã sắc phong cho Hòa Thượng và sắc tứ chùa Quan Âm. Ngôi chùa hiện tại đã được hai vị Hòa Thượng Thiện Tường và Thiện Đức xây dựng vào năm 1936—Name of a temple located in Cà Mau town, Cà Mau province. It is also called Phật Tổ Temple. It was built in the middle of the nineteenth centur by Most Venerable Tô Quang Xuân. At first it was only a small temple where he stayed and worshipped Buddhism, and made prescription to cure the local people. Later, he moved to Gia Định and stayed at Kim Chương Temple, with Buddhist name “Trí Tâm” and passed away there. In 1842, King Thiệu Trị proclaimed him Most Venerable, and offered the Royal Recognization to the temple. The present temple was rebuilt by Most Venerable Thiện Tường and Most Venerable Thiện Đức in 1936.

quan âm thiêm

(觀音簽) Những cái thẻ bằng tre đặt ở trước tượng Quán âm dùng để bói lành dữ. Theo Thích môn chính thống quyển 3 thì có 2 loại thẻ: 100 thẻ và 130 thẻ. Loại 100 thẻ bắt nguồn từ viện Quán âm chùa Thiên trúc, còn loại 130 thẻ thì bắt nguồn từ chùa Viên Thông ở đất Việt.

quan âm tố

(觀音素) Trì trai Quán âm. Tập tục địa phương ở huyện Ngô tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, từ ngày mồng 1 tháng 2 âm lịch bắt đầu trì trai, đến ngày 19 là ngày đản sinh của bồ tát Quán âm thì chấm dứt, gọi là Quán âm tố. Lại trì trai trong thời gian từ ngày mồng 9 tháng 6 âm lịch đến ngày 19 là ngày bồ tát Quán thế âm thành đạo, cũng gọi là Quán âm tố.

quan âm từ lâm tập

(觀音慈林集) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Hoằng Tán biên tập vào năm Khang Hi 7 (1668) đời Thanh, được thu vào Vạn Tục tạng tập 149. Nội dung sách này do biên tập những kinh điển và sự tích cảm ứng có liên quan đến tín ngưỡng Quán thế âm mà thành. -Quyển thượng là thiên Chư kinh, gồm 10 kinh: Kinh Bi hoa, kinh Quán thế âm Đại thế chí bồ tát thụ kí, kinh Đại thừa trang nghiêm bảo vương, kinh Thỉnh quán thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni chú... -Quyển trung và hạ là thiên Cảm ứng, ghi chép những sự tích và cảm ứng liên quan đến tín ngưỡng Quán thế âm của tất cả tăng tục Ấn Độ và Trung Quốc từ đời Tấn đến đầu đời Thanh, gồm 154 sự kiện, mỗi sự kiện đều có ghi rõ xuất xứ. Đây là sách tham khảo quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử tín ngưỡng Quán thế âm.

quan âm viên thông tam chân thật

(觀音圓通三真實) Ba thứ chân thực về Nhĩ căn viên thông của bồ tát Quán thế âm. Trên hội Lăng nghiêm, 25 vị Thánh Đại Tiểu thừa đều tự nói về phương tiện viên thông mà mình đã chứng được, trong đó, Nhĩ căn viên thông của bồ tát Quán thế âm được ngài Văn thù khen là tối thượng, tối thù thắng. Đồng thời, ngài Văn thù nêu ra 3 thứ chân thực để khen ngợi tính chất viên thông của Nhĩ căn, đó là: 1. Thông chân thực: Cac căn mắt, mũi, lưỡi, thân, ý đều không bằng nhĩ căn (căn tai), vì mắt không thấy vật ngoài bức tường, cho đến tâm ý có lúc bị lăng xăng bất định; còn nhĩ căn thì nghe được âm thanh ngoài bức tường và nghe được cả gần lẫn xa. 2. Viên chân thực: Mười phía cùng đánh trống 1 lúc thì nhĩ căn cũng nghe được âm thanh từ 10 phía. 3. Thường chân thực: Âm thanh khi có khi không, lúc động lúc tĩnh, nhưng tính nghe thì không mất, có âm thanh thì có nghe, không âm thanh thì không nghe, nhưng dù có âm thanh hay không, tính nghe ấy vẫn vắng lặng thường trụ và không sinh diệt. [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.6].

quan âm đường

Pavilion of Bodhisattva Avalokitesvara—Bodhisattva Avalokitesvara's Hall—Pavilion of Regarder of the Sounds.

Quan Âm Đạo Lợi Viện Hưng Thánh Bảo Lâm Tự

(觀音導利院興聖寶林寺): còn gọi là Hưng Thánh Tự (興聖寺, Kōshō-ji), đạo tràng sơ khai của Tào Động Tông Nhật Bản, hiện tọa lạc tại số 27 Yamada (山田), Uji-shi (宇治市), Kyoto-fu (京都府); hiệu núi là Phật Đức Sơn (佛德山); gọi đủ là Phật Đức Sơn Quan Âm Đạo Lợi Viện Hưng Thánh Bảo Lâm Tự (佛德山觀音導利院興聖寶林寺). Tượng thờ chính là Thích Ca Tam Tôn. Vị Khai Tổ của Tào Động Tông Nhật Bản là Đạo Nguyên (道元, Dōgen) đã từng sang Trung Quốc cầu pháp, rồi trở về nước vào năm 1232 (Trinh Vĩnh [貞永] nguyên niên), lúc ông 33 tuổi. Năm sau 1233 (Thiên Phước [天福] nguyên niên), ông kiến lập một ngôi chùa trên nền đất cũ của Cực Lạc Tự (極樂寺, Gokuraku-ji), ở vùng Thâm Thảo (深草, Fukakusa), Quận Vũ Trị (宇治郡, Uji-gun); và ban đầu chùa có tên là Hưng Thánh Bảo Lâm Tự (興聖寶林寺). Khi ấy Chánh Giác Thiền Ni (正覺禪尼) cúng dường tiền xây dựng Pháp Đường, rồi tiếp theo Đằng Nguyên Giáo Gia (藤原敎家) cũng phát tâm cúng dường Đàn Tu Di để phụng nạp trong Pháp Đường này. Trong suốt 11 năm trường cho đến khí dời về Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji) ở Fukui-ken (福井懸), chính Đạo Nguyên đã từng thuyết giáo, cao xướng chánh pháp tại đây. Phần lớn các đệ tử nổi danh của ông đều đã từng tu tập tại Thánh địa này. Tuy nhiên, sau khi Đạo Nguyên dời về Vĩnh Bình Tự, cũng như sau khi ông qua đời, ngôi chùa đã bị đốt cháy tan tành, dần lụi tàn theo năm tháng và không còn thấy bóng dáng nữa. Kiến trúc hiện tại của chùa nằm ở vị trí khác với vị trí chùa trước. Vào năm 1648 (Khánh An [慶安] nguyên niên) dưới thời đại Giang Hộ (江戸, Edo), thể theo lời nguyện ước của vị Thành chủ Thủy Tỉnh Thượng Chính (水井尚政, Nagai Naomasa), ngôi chùa được tái kiến lại. Trong Khai Sơn Đường có thờ tôn tượng của Thiền Sư Đạo Nguyên, và nơi ngôi tháp khai sơn có hài cốt của Thiền Sư.

quan điểm

Concepts—Opinions—Outlook—Point of view—Viewpoint.

quan điểm chính

Central concept.

quan điểm thuần lý

A rational outlook.

quan đại thần

Minister.

quan đế

1) Quan Đế hay Quan Vân Trường: Kuan-Ti, the god of War, adeified hero of the Three Kingdoms. 2) Vị Hộ Pháp: A protector of Buddhism. ; (關帝) Danh tướng Trung Quốc sống vào đời Tam quốc, tên là Vũ, tự Vân Trường, người huyện Giải, quận Hà Đông, nước Thục Hán.Ông có sức mạnh mẽ hơn người, là hổ tướng một đời. Ông vốn trọng tình nghĩa, bẩm tính trung trực nên lưu danh sử xanh. Thời vua Thần Tông nhà Minh, ông được sắc phong Tam giới phục ma đại đế thần uy viễn chân thiên tôn quan thánh đế quân. Do đó, dân gian đời sau tôn xưng ông là Quan thánh đế quân, hoặc gọi tắt là Quan Đế. Cứ theo Trí Giả truyện trong Phật tổ thống kỉ quyển 6, Đại sư Trí Giả đời Tùy có lần nhập định tại núi Ngọc Tuyền, trong định ngài thấy Quan Đế hiển linh, biến khu đất gồ ghề ở núi Ngọc Tuyền thành nền bằng phẳng để cúng Đại sư xây chùa hoằng pháp. Sau đó, Quan đế còn xin Đại sư truyền 5 giới, chính thức trở thành đệ tử Phật. Phật giáo đời sau cũng có nơi xếp Quan Đế vào hàng thần thủ hộ già lam. Theo truyền thuyết của Đạo giáo thì Quan Đế thường hiển hiện các việc linh dị. Thần lực của ông rất được sùng kính trong tín ngưỡng dân gian Trung Quốc, có nhiều nơi lập miếu thờ Quan Đế. Đời sau phần nhiều mượn tên ông để lồng vào trong những bài văn khuyến thiện phổ thông, như: Quan đế giác thế chân kinh, Quan đế minh thánh kinh, Giới sĩ tử văn...

Quang

光; C: guāng; J: kō;|Có các nghĩa sau: 1. Ánh sáng, sự rực rỡ, sự chói lọi; 2. Ánh sáng mặt trời; 3. Sự biểu hiện, sự hiển hiện (s: ābhāsa); 4. Phản nghĩa của tối tăm, u ám, sự hiểu biết, thông thái, trí huệ; 5. Vầng hào quang, sự phát tiết.

quang

Prabha—Light—Brightness—There are two kinds: 1) Phật quang: The true light of the Buddha. 2) Ma quang: Mara's delusive light.

quang bạn

(光伴) Cũng gọi Quang ưng, Quang cứ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa đen là làm bạn với sự vẻ vang, rạng rỡ. Trong Thiền lâm, giữa pháp hội, người ngồi gần sát với vị Thủ tọa được gọi là Quang bạn. Thiền uyển thanh qui quyển 3 (Vạn tục 111, 447 hạ) nói: Đặc biệt đối với vị Thủ tọa tân thỉnh tác lễ bày tỏ lòng cảm tạ, mời cả tri sự đại chúng cùng là Quang bạn. Chỗ ngồi của vị Quang bạn được đặt ở bên phải chỗ ngồi của vị Trụ trì (hoặc đối diện nhưng hơi chếch đi một chút), gọi là Quang bạn vị. Hương đốt để cảm tạ quang bạn gọi là Quang bạn hương. [X.chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng; môn Tọa vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].

quang bảo

1) Sư Phổ Quang ở chùa Đại Từ Ân bên Trung Quốc thời nhà Đường, tác giả của bộ 30 quyển Câu Xá Luận Ký—A noted monk named Pu-Kuang of Ta-Tzu-Ên monastery under the T'ang dynasty, who was the author of the Record of Kosa Sastra, 30 books. 2) Sư Pháp Bảo cũng tại Đại Từ Ân Tự đời Đường, cùng thời với sư Phổ Quang—A noted monk named Fa-Pao who lived in the same monastery and under the same period with monk Pu-Kuang. ; (光寶) Tức Phổ quang và Pháp bảo, 2 vị tăng, học trò ngài Huyền Trang đời Đường. Hai vị này đều có chú thích luận Câu xá. Sư Phổ quang soạn trước Câu xá luận kí 30 quyển, sư Pháp bảo soạn sau Câu xá luận sớ 39 quyển, gọi là QuangBảo nhị kí, nên người đời thường ghép chung tên 2 vị tăng này mà gọi là Quang Bảo. Tống cao tăng truyện quyển 4 (Đại 50, 727 thượng) nói: Bấy giờ, 2 pháp sư Quang Bảo (Phổ quang và Pháp bảo) cũng đều nổi tiếng như 2 pháp sư Dung Duệ (Đạo dung và Tăng duệ)học trò ngài La Thập vậy.(xt. Pháp Bảo, Phổ Quang).

quang bối

Circle of light behind the Buddha.

quang bội

(光背) Cũng gọi Hậu quang, Quang diệm, Quang. Chỉ cho ánh sáng phía sau lưng của Phật, Bồ tát, tượng trưng cho trí tuệ của các Ngài. Quang bối được chia làm 2 thứ là Đầu quang và Cử thân quang. 1. Đầu quang: Vốn chỉ cho ánh sáng phát ra từ sợi lông trắng khoảng giữa hai đầu chân mày, vì thế còn gọi là Mi gian quang. Theo họa pháp tượng trưng của hội họa Đông phương thì trong các bức họa, xung quanh diện mạo của nhân vật (Phật, Bồ tát) thường vẽ 1 vòng sáng. Còn nghệ thuật điêu khắc tả chân của Cơ đốc giáo thì thường dùng 1 tấm ván mỏng đặt ở phía sau đỉnh đầu của pho tượng. Ở Ân Độ, để biểu hiện những đường nét đẹp của tượng Phật, các họa sĩthườngtạo 1 vòng ánh sáng trên đầu (Đầu quang) pho tượng, với những vầng sáng như châu quang, hỏa diệm và những đường nét nhỏ nhuyễn biểu hiện như dáng phóng ra ánh sang (được gọi là Tuyến quang, Cân quang) ở phía sau giống như hình cái tàn, lọng... các vị thần Thủ hộ trong Phật giáo đều có luân bảo (bánh xe báu)hay hỏa diệm (những ánh lửa) làm quang bối. 2. Cử thân quang (cũng gọi Thân quang): Tức là ánh sáng phát ra từ toàn thân tượng Phật. Có nhiều loại, hoặc là Đầu quang, và Thân quang trên dưới chồng lên nhau làm thành 2 lớp ánh sáng lớn và nhỏ; hoặc là ánh sáng hình chiếc thuyền, hoặc ánh sáng hình cánh sen... Ngoài ra còn có kiểu ánh sáng hừng lên chia thành nhữnggợn sóng, nghìn thể Phật... Trên ánh lửa thường có người trời, chim Ca lăng tần già, chữ Phạm... để làm hình thức trang nghiêm. Ánh lửa của Minh vương Bất động mang hình dáng chim Ca lâu la (chim cánh vàng), ở trên có vẽ nghi quĩ. Tóm lại, Quang bối là vầng ánh sáng được vẽ hay chạm trổ ở phía sau lưng của tượng Phật, biểu thị ý nghĩa thân Phật có ánh sáng bao chung quanh. [X. kinh Quán Vô lượng thọ; kinh Đà la ni tập 12; Quảng hoằng minh tập Q.17; Phật tượng đồ vựng Q.5]. (xt. Quang Tướng).

quang chiếu như lai tướng

Vairocana-rasmi-pratimandita-dhvaja—Một vị Bồ Tát đệ tử của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, mà tiền thân là Tịnh Đức Phu Nhân—A Bodhisattva, disciple of Sakyamuni, who was in a former life Vimaladatta.

quang cảnh

Spectacle—View—Aspect—Outlook. ; (光境) Quang là chủ thể năng chiếu; Cảnh là đối tượng sở chiếu. Nếu năng sở (chủ khách) hợp làm một thì gọi là Quang cảnh nhất như. Nếu tâm chiếu vật và cảnh sở chiếu không đối lập nhau mà dung hợp nhau để đạt đến cảnh giải thoát, thì gọi là Quang cảnh câu vong (quang và cảnh đều mất), Quang cảnh mẫn tuyệt (quang và cảnh dứt bặt). Chương Bàn sơn bảo tích trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 7 (Đại 51, 253 trung) nói: Tâm trăng một tròn; sáng (quang) nuốt muôn tượng. Quang chẳng soi cảnh, cảnh cũng chẳng còn, quang cảnh đều mất, lại là vật gì?.

quang diệm vương phật

1) Đức Phật có danh hiệu Quang Diệm Vương vì ánh sáng của Đức Phật ấy soi sáng nhất: The royal Buddha of shining flames, or flaming brightness. 2) Đức danh của Đức Phật A Di Đà: Amitabha with his virtues.

quang dung

(光融) Ánh sáng và sự dung hòa. Nghĩa là ánh sáng của Phật pháp có năng lực dung hòa tất cả. Hoằng dương chính pháp để dung hòa và thu nhiếp những người tà kiến vào Phật pháp. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 thượng) nói: Quang dung Phật pháp, tuyên lưu chính hóa.

quang dũng thiền sư

Zen Master Kuang-Yong in Nan-Ta 850-938—Thiền sư Quang Dũng Nam Tháp sanh năm 850 tại Phong Thành (bây giờ thuộc tỉnh Giang Tây). Sư rất thông minh và tinh thông Tứ Thư Ngũ Kinh lúc 13 tuổi. Ông là đệ tử của Thiền Sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, và là thầy của thiền sư Ba Tiêu Huệ Thanh. Vào năm 19 tuổi sư thọ cụ túc giới—Zen Master Nan-Ta-Kuang-Yong was born in 850 in Feng-Cheng (now in Jiang-Xi Province). He was clever, mastering the Confucian classics at the age of thirteen. He was a disciple of Yang-Shan-Hui-Chi, and master of Pa-Chiao-Hui-Ch'ing. At ninetieen, he underwent ordination. • Sư sang miền Bắc yết kiến Lâm Tế, lại trở về hầu Ngưỡng Sơn. Ngưỡng Sơn hỏi: “Ngươi đến làm gì?” Sư thưa: “Đảnh lễ ra mắt Hòa Thượng.” Ngưỡng Sơn hỏi: “Thấy Hòa Thượng chăng?” Sư thưa: “Dạ thấy.” Ngưỡng Sơn nói: “Hòa Thượng sao giống in lừa.” Sư thưa: “Con thấy Hòa Thượng cũng chẳng giống Phật.” Ngưỡng Sơn hỏi: “Nếu chẳng giống Phật thì giống cái gì?” Sư thưa: “Nếu con phải so sánh Hòa Thượng với cái gì đó, thì Hòa Thượng nào có khác lừa?” Ngưỡng Sơn ngạc nhiên nói: “Phàm Thánh cả hai đều quên, tình hết, thể hiện bày, ta lấy đây nghiệm xét người, hai mươi năm không ngờ vực. Con nên gìn giữ đó.” Ngưỡng Sơn thường chỉ sư bảo với người: “Kẻ nầy là nhục thân Phật.”—When Kuang-Yong return from a trip to visit Lin-Ji, Yang-Shan said: “Why have you come?” Kuang-Yong said: “To pay respects to the master.” Yang-Shan said: “Do you still see me?” Kuang-Yong said: “Yes.” Yang-Shan said: “When I observe the master, you don't look like a Buddha.” Yang-Shan said: “If I don't look like a Buddha, then what do I look like?” Kuang-Yong said: “If I must compare you to something, then how do you differ from a donkey?” Yang-Shan cried out excitedly: “He's forgotten both ordinary and sacred! The passions are exhausted and the body is revealed. For twenty years I've tested them in this way and no one has gotten it. Now this disciple has done it!” Yang-Shan would always point Kuang-Yong and say to people: “This disciple is a living Buddha.” • Có vị Tăng hỏi: “Văn Thù là thầy bảy Đức Phật, Văn Thù có thầy chăng?” Sư đáp: “Gặp duyên liền có.” Vị Tăng hỏi: “Thế nào là thầy Văn Thù?” Sư dựng đứng cây phất tử chỉ đó. Tăng thưa: “Cái ấy là phải sao?” Sư ném cây phất tử khoanh tay—A monk asked Zen master Kuang-Yong: “Manjushri was the teacher of seven Buddhas. Did Manjushri have a teacher or not?” Kuang-Yong said: “Manjushri was subject to conditions, and therefore had a teacher.” The monk said: “Who was manjushri' teacher?” Kuang-Yong help up his whisk. The monk said: “Is that all?” Kuang-Yong put down the whisk and clasped his hands. • Có vị Tăng hỏi: “Thế nào là diệu dụng một câu?” Sư đáp: “Nước đến thành hồ.” Vị Tăng hỏi: Chơn Phật ở tại chỗ nào?” Nói ra không tướng, cũng chẳng tại nơi khác—A monk asked: What is a sentence of mystic function?” Kuang-Yong said: “The water comes and the ditch fills up.” The monk asked: Where does the real Buddha reside?” Kuang-Yong said: “It doesn't appear in words, nor anywhere else, either.” • Không rõ sư thị tịch năm nào—His date of death was unknown.

quang giáng

Thế Tôn giáng thế, thí dụ như Phật hay Bồ Tát được thờ phượng giáng trần—The honoured one descends, i.e. the Buddha or Bodhisattva who is worshipped descends.

Quang Hiếu Thiên Hoàng

(光孝天皇, Kōkō Tennō, tại vị 884-887): vị Thiên Hoàng sống vào đầu thời kỳ Bình An, Hoàng Tử thứ 4 của Nhân Minh Thiên Hoàng (仁明天皇, Nimmyō Tennō), tên là Thời Khang (時康, Tokiyasu), còn gọi là Tiểu Tùng Đế (小松帝).

quang hiếu tự

(光孝寺) Chùa ở phía tây bắc Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Cứ theo Quang hiếu tự chí thì lúc đầu chùa vốn là nhà cũ của Nam việt vương Kiến đức. Vào thời Tam quốc, vùng đất này thuộc nước Ngô, Ngu phiên bị giáng chức và đày ra ở đây, gọi là Ngu uyển. Khoảng năm Long hòa đời vua Ai đế nhà Đông Tấn, có vị Tam tạng người nước Kế tân đến đây mới sáng lập chùa Phật, gọi là chùa Chế Chỉ, cũng gọi là chùa Vương Viên. Khoảng năm Nguyên gia đời vua Văn đế nhà Lưu Tống, vị Cao tăng Ấn độ là ngài Cầu na bạt đà la đến chùa này sáng lập giới đàn, gọi là Đạo tràng Chế chỉ. Niên hiệu Thiên giám năm đầu (502) đời Lương, ngài Tam tạng Trí Dược từ miền Tây Ấn Độ mang cây Bồ đề đến trồng ở đây. Năm Phổ thông thứ 8 (527), Sơ tổ Đạt Ma đến trụ ở đây. Khoảng năm Trinh quán đời Đường, chùa được đổi tên Chế chỉ, Vương viên thành chùa Càn Minh Pháp Tính. Niên hiệu Nghi phụng năm đầu (676) đời vua Cao tông nhà Đường, Lục tổ Tuệ năng luận về gió động phướn động với 2 vị tăng và xuống tóc dưới gốc cây Bồ đề ở chùa này, sau thiết lập Phong phan đường, Đại giám điện, Nội giám điện. Niên hiệu Thần Long năm đầu (705), ngài Tam tạng Bát lạt mật đế người Tây Vực dịch kinh Thủ lăng nghiêm 10 quyển tại chùa này, do Tể tướng Phòng dung bút thụ. Năm Hội xương thứ 5 (845) chùa được đổi tên Càn Minh Pháp Tính thành Tây vân đạo cung. Khoảng năm Bảo Lịch (825- 826) chùa dựng Đại bi chàng. Đầu đời Bắc Tống, chùa được đổi tên là Thiền viện Càn Minh. Năm Thiệu hưng 20 (1150) đời vua Cao Tông nhà Nam Tống, chùa lại được đổi tên là Báo Ân Quảng Hiếu. Đến năm Thành Hóa thứ 2 (1466) đời vua Hiến Tông nhà Minh mới gọi là chùa Quang Hiếu. Khoảng năm Thiệu Vũ đời Minh, chùa bị quân binh nhà Thanh phá hủy. Đầu năm Khang Hi nhà Thanh, Thiền sư Nguyên Chí kiến thiết lại thành 1 tòa Thiền lâm bậc nhất miền Nam hải. Những điều ghi chép trên đây có lẽ là những sự tích có liên quan đến Phật giáo ở chùa này với vùng Quảng Châu có đúng sự thật hay không thì rất khó biện minh. Ngoài ra còn có nhiều thuyết khác nói về sự thay đổi của chùa này. Hiện nay, chùa còn những kiến trúc quí giá với phong cách kiến trúc đặc thù của vùng Hoa nam như điện Lục tổ, Đại hùng bảo điện được xây dựng vào khoảng năm Thuần hựu đời Nam Tống, tòa tháp bằng sắt ở phía tây, do ông Cung Trừng Xu đúc vào năm Thiên bảo thứ 6 (963) đời Nam Hán. Đến năm Đại Bảo thứ 10 (967) vua Nam Hán là Lưu Sưởng đúc tháp sắt phía đông, gồm 7 tầng, hình 4 góc, mặt ngoài mỗi tầng có tượng Phật, mây, người trời, chim..., kĩ thuật rất tinh xảo, nay đã bị phá hoại, chỉ còn 17 pho tượng gồm La hán, thần Hộ pháp, tín sĩ, người cúng dường... [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Quảng đông thông chí Q.213, 229; Quảng châu phủ chí Q.88; Kim thạch tục biên Q.19; Quảng châu Quang hiếu tự cổ đại mộc điêu tượng đồ lục (Thương thừatộ) ]. (xt. Pháp Tính Tự).

quang hiển

(光顯) Rõ ràng, rạng rỡ. Ma ha chỉ quán quyển 5 hạ (Đại 46, 59 hạ) nói: Pháp chẳng tự hiển mà do người hoằng truyền. Người thực tu được các hạnh thì pháp môn quang hiển.

quang hiểu

(光曉) Ánh sáng ban mai, ví dụ ánh sáng trí tuệ của Phật có công năng phá dẹp phiền não vô minh, giống như ánh sáng ban mai xua tan bóng đêm dày đặc. Tán A di đà Phật kệ (Đại 47, 430 hạ) nói: Các tướng có lượng được soi sáng (quang hiểu).

quang hoa

Glorious.

quang huy

bright light.

quang hào

Sợi lông mày trắng tỏa ánh hào quang, giữa chỗ giao nhau của hai lông mày Đức Phật, có sợi lông trắng dài xoắn lại thành một búi nhỏ luôn tỏa ra ánh sáng. Đây là một trong ba mươi hai tướng hảo của Phật—The urna or curl between the Buddha's eyebrows whence streams light that reveals all worlds, one of the thirty-two characteristics of a Buddha.

quang ký

Trước tác của Phổ Quang Pháp Sư đời Đường—A work of Pu-Kuang in the T'ang dynasty—See Quang Bảo (1).

quang luân

(光輪) Vầng hào quang của Phật tròn trịa như bánh xe. Kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển 3, (Đại 9, 412 hạ) nói: Quang minh luân sáng đẹp, tràn ngập các pháp giới, trùm khắp cả mười phương. Hào quang của Phật có tác dụng chiếu phá vô minh và dẹp tan phiền não của chúng sinh, giống như bánh xe báu của Chuyển luân thánh vương có công năng nghiền nát sỏi đá của núi non, cho nên dùng bánh xe (luân) để dụ cho hào quang của Phật mà gọi là Quang luân. [X. Tán A di đà Phật kệ; Tịnh độ hòa tán]. (xt. Pháp Luân).

quang lãng

Light wave.

quang man thiên tử

(光鬘天子) Một trong 5 vị Thiên Tử (Tự tại thiên tử, Phổ hoa thiên tử, Quang man thiên tử, Ý sinh thiên tử, Biến âm thiên tử) ở cõi trời Ngũ tịnh cư của Mật giáo. Kinh Đại nhật quyển 1 chép tên gọi và ấn ngôn của vị tôn này. Nhưng trong Thai tạng Hiện đồ mạn đồ la, Thai tạng cựu đồ.Đại Hùng Bảo Điện của chùa Quang Hiếu dạng và Thai tạng đồ tượng thì đều không thấy vẽ tượng của vị tôn này. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 16 thì hình tượng của vị tôn này là ngón vô danh, ngón út của hai tay trái và phải co lại, còn 3 ngón kia thì làm dáng như 3 cây gậy hướng lên để ở trước ngực. Ân khế là: Ngón cái của tay phải đặt ngang trong lòng bàn tay, 4 ngón còn lại thì duỗi thẳng và xòe ra. Theo Huyền Pháp tự nghi quĩ và Thanh Long tự nghi quì thì chân ngôn là: Qui mệnh nhạ đổ ô sá tả nan sa phạ hạ.

Quang minh

光明; C: guāngmíng; J: kōmyō; S: āloka, prabhāsvara, amśu, tejas, prabhā.|Ánh sáng rực rỡ, hào quang. Biểu tượng của trí tụê của đức Phật hay của Bồ Tát. Là biểu tượng chỉ cho sự phá huỷ sự tối tăm của vô minh và sự hiển bày đạo lí chân thật. Là từ ngữ tán thán ánh sáng vô biên, vô ngại của Đức Phật A-di-đà, trong đó »Quang« đặc biệt là ánh sáng trí huệ và ánh sáng từ thân tướng của Ngài. »Minh« là biểu tượng cho cái Dụng từ trí huệ của Ngài toả ra.

quang minh

Prabha (skt)—Light (bright and clear)—Illumination—To illuminate—T here are two kinds: 1) Sắc quang minh: Physical light. 2) Trí huệ quang minh (tâm quang minh): Wisdom or mental light. ; (光明) I. Quang Minh. Quang, Phạm: Àtapa; Minh, Phạm: Àloka. Quang là ánh sáng của mặt trời, Minh là ánh sáng của mặt trăng, của các ngôi sao, và của các vật khác. Quang và Minh là 2 sắc trong 12 hiển sắc. Quang có 2 màu vàng và đỏ; Minh có 4 màu xanh, đỏ, vàng, trắng. [X. luậnĐại tì bà sa Q.13; luận Thuận chính lí Q.1]. (xt. Hiển Sắc). II. Quang Minh. Phạm: Prabhà. Cũng gọi Quang. Chỉ cho sự phát sáng của Phật, Bồ tát. Ánh sáng phát ra từ thân Phật, Bồ tát gọi là Quang; ánh sáng chiếu rọi vào vật thể thì gọi là Minh. Tác dụng của quang minh là phá trừ bóng tối, soi tỏ chân lí. Đó là ánh sáng phát ra từ thân Phật và Bồ tát, nên gọi là Sắc quang, Thân quang, Ngoại quang. Trái lại, tác dụng của trí tuệ là soi thấy chân tướng của sự vật, nên gọi là Tâm quang, Trí quang, Trí tuệ quang hay là Nội quang. Quang minh của Phật chia làm hai thứ: Thường quang (Viên quang) và Hiện khởi Quang (Thần thông quang, Phóng quang). Thường quang là ánh sáng tròn, rộng độ 1 tầm hoặc 1 trượng, từ thân Phật tỏa ra, vĩnh viễn không diệt. Còn Hiện khởi quang là ánh sáng chỉ ứng theo cơ duyên giáo hóa mà phát ra. Ngoài ra, tùy theo chỗ phát sáng khác nhau, nên Quang minh, lại được chia ra 2 thứ: -Ánh sáng phát ra từ toàn thân, gọi là Cử thân quang. -Ánh sáng phát ra từ 1 chỗ nào đócủa thânthì gọi là Tùy nhất tướng quang. Như ánh sáng phát ra từ tướng Bạch hào (giữa 2 đầu chân mày) thì gọi là Bạch hào quang, Hào quang, Mi gian quang; ánh sáng phát ra từ lỗ chân lông thì gọi là Mao khổng quang... Sắc quang và Tâm quang, hoặc Thường quang và Hiện khởi quang được gọi chung là Nhị chủng quang minh. Ngoài ra còn có sự phân biệt giữa Ma quang và Phật quang. Ma quang thì làm cho tâm người dao động, hoảng hốt; còn Phật quang thì khiến cho người trấn tĩnh, an tịnh; 2 thứ quang này đôi khi cũng được gọi chung là Nhị chủng quang minh. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 11 thì Ngoại quang minh (ánh sáng mặt trời, mặt trăng....) Pháp quang minh (ánh sáng trí tuệ) và Thân quang minh được gọi chung là Tam chủng quang minh. Ánh sáng của Phật có khả năng soi rọi khắp nơi, không bị ngăn ngại, vì thế cũng gọi là Vô ngại quang minh. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng dùng 12 thứ quang để hình dung quang minh của đức Phật A di đà. Kinh Đại bảo tích quyển 30 thì cho rằng đức Phật Thích Ca Mâu Ni có 41 thứ quang minh. Trong kệ tán A di đà Phật, Ngài Đàm loan nêu các loại quang như: Quang luân, Quang hiểu, Quang xúc, Quang vân, Quang trạch... để tán thán công đức của quang minh. Nói về tác dụng của Phật quang thí ánh sáng phát ra từ thân Phật có những tác dụng không thể nghĩ bàn, cho nên gọi là Thần quang; Phật quang rất dồi dào ân huệ, cho nên gọi là Từ quang; đồng thời, Phật quang tiêu biểu cho tướng mạo của trí tuệ, cho nên gọi là Quang minh trí tướng. Lại nữa, nhờ quang minh của Phật mà được lợí ích, gọi là Quang ích; nhờ quang minh mà có được hạnh phúc, gọi là Quang thụy; quang minh có thể soi rọi toàn thế giới, rộng lớn như biển, cho nên gọi là Quang minh quảng hải. [X. kinh Pháp hoa Q.1; kinh Quán Phật tam muội hải Q.3; luận Đại trí độ Q.7, 8, 34, 47; Vãng sinh luận chú Q.thượng; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3; Quán niệm pháp môn; Vãng sinh yếu tập Q.trung, phần đầu; Vô lượng thọ kinh sao Q.5]. (xt. Tam Chủng Quang Minh).

Quang Minh Biến Chiếu

光明遍照; C: guāngmíngbiànzhào; J: kōmyō-henshō;|Tiếng Hán dịch từ Mahāvairocana Tathā-gata. Đại Nhật Như Lai (大日如來).

quang minh bản tôn

(光明本尊) Cũng gọi Quang minh bản, Hội hệ đồ. Bức tranh vẽ theo Mạn đồ la: Trong ánh sáng của Phật A di đà (Bản tôn), lấy danh hiệu Di đà làm trung tâm, chung quanh vẽ Phật, Bồ tát hoặc tượng các vị Tổ sư của tông Tịnh độ để biểu thị sự truyền thừa của Tịnh độ giáo. Hội hệ đồ vốn là loại sách phổ hệ dùng để vẽ hệ phái của tín đồ, về sau, hoặc chịu ảnh hưởng của sổ danh bộ và Quang minh bản tôn mà trở thành loại tranh vẽ đại biểu cho sự truyền thừa. Vị tăng Nhật bản là ngài Giác Như thường răn dạy tín đồ không nên dùng loại Hệ hội đồ dị nghĩa này, nhưng hệ phái thuộc Phật Quang tự tại Nhật Bản cho đến nay vẫn sử dụng. Chính giữa Hội hệ đồ viết: Nam mô Bất khả tư nghị quang Như lai (tức tôn xưng đức Phật A di đà, mỗi chữ đều phóng ra ánh sáng. Nửa dưới phía bên trái viết: Nam mô A di đà Phật; nửa dưới phía bên phải viết: Qui mệnh tận thập phương vô ngại Quang Như lai; ở chính giữa phía dưới bên trái vẽ tượng Phật Di đà, phía dưới bên phải vẽ tượng Phật Thích Ca, đều là tượng đứng. Bên ngoài phía trái vẽ tượng bồ tát Đại thế chí và các bậc tiên đức Ấn Độ như: Long thụ, Thiên thân, Bồ đề lưu chi... Bên ngoài phía trái vẽ tượng các bậc tiên đức Trung Quốc như: Đàm loan, Đạo xước, Thiện đạo, Hoài cảm, Thiếu khang, Pháp chiếu... và các tiên đức Nhật bản như: Thái tử Thánh Đức, Tăng Đô Huệ Tâm, Nguyên Không, Thân Loan, Tín Không, Thánh Giác Pháp Ấn... Ngoài ra còn có nhiều kiểu Hội hệ đồ khác. [X. Biện thuật danh thể sao; Cổ bản tùng lâm tập Q.4; Cải tà sao Q.thượng; Thực ngộ kí thập di; Dị nghĩa tập Q.7; Tịnh độ chân tông bản tôn khảo].

quang minh chánh đại

Clear and upright.

quang minh chân ngôn

Đà La Ni mà một khi trì niệm, hành giả sẽ có được sự sáng suốt và huy hoàng của chư Phật, và mọi tội lỗi đều phải quay đi—A dharani by whose repetition the brightness or glory of Buddha may be obtained, and all retribution of sin be averted. ; (光明真言) Gọi đủ: Bất không đại quán đính quang chân ngôn. Gọi tắt: Quang ngôn. Chỉ cho chân ngôn của đức Đại nhật Như lai, cũng là thần chú chung của tất cả Phật, Bồ tát. Cứ theo kinh Bất không quyên sách Tì lô giá na Phật đại quán đính quang minh chân ngôn chép, thì Quang minh chân ngôn là: Án (oô, qui mệnh, Tam thân cụ túc, cúng dường) a mô già (amogha, bất không) vĩ lô tả nẵng (Vairucana, quang minh biến chiếu) ma ha mẫu nại ra (mahàmudrà, đại ấn) ma ni (maịi, như ý bảo) bát đầu ma (padme, liên hoa) nhập phạ la (Jvala, quang minh) bát ra miệt đá dã (pravardaya, phát sinh, chuyển) hồng (hàô, bồ đề tâm, năng phá, khủng bố). Nghĩa là từ nơi Đại Ấn của đức Đại Nhật Như Lai sinh ra công đức của ngọc báu, hoa sen, ánh sáng... dùng đại uy thần lực chiếu phá phiền não vô minh, chuyển biến cái khổ của địa ngục thành cái vui của Tịnh độ. Người thụ trì chân ngôn này sẽ diệt được trọng tội sinh tử, trừ được các bệnh chướng do nghiệp đời trước chiêu cảm, phát sinh trí tuệ biện tài, trường thọ phúc lạc. Các tông phái ở Nhật Bản như Thiên Thai, Chân Ngôn... thường trì tụng chân ngôn này hằng ngày, nhất là trong nghi thức thí thực. Ngoài ra, chân ngôn này cũng được khắc trên tháp. [X. kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.28; Kim cương đính chân quang minh chân ngôn nghi quĩ; Giác thiền sao quang minh chân ngôn; Đại quán đính chân ngôn kinh sao].

quang minh chân ngôn mạn đồ la

(光明真言曼荼羅) Cũng gọi Quang minh chân ngôn phá địa ngục mạn đồ la. Mạn đồ la lấy 23 chữ của Quang minh chân ngôn viết thành hình vòng tròn theo chiều kim đồng hồ, ở giữa viết tên vị tăng truyền thụ chân ngôn. Đây có hàm ý mỗi chữ của Quang minh chân ngôn đều phóng ra ánh sáng, chiếu khắp cõi chúng sinh, phá trừ phiền não vô minh hắc ám. Mạn đồ la này là đại bí pháp ra khỏi sinh tử khổ não vì có năng lực mở toang cửa địa ngục và là đại thần chú mau chóng tiêu trừ các trọng tội nhờ có công đức mở đường Bồ đề. Khi tu pháp quán vòng chữ chân ngôn thì ở trong tâm phải vẽ Mạn đồ la này và quán tưởng nghĩa các chữ theo chiều thuận và nghịch. Người xuất gia hay tại gia đều có thể truyền thụ pháp Mạn đồ la này. Người xuất gia thì trước hết kết tụng ấn ngôn Tam muội da giới, kế đến kết tụng ấn ngôn Ngũ sắc quang mà truyền thụ; còn người tại gia thì kết Kim cương hợp chưởng mà truyền thụ. Thêm nữa, ở giữa Mạn đồ la, ngoài tên vị tăng, còn viết 5 chữ chân ngôn của đức Đại nhật Thai tạng giới, 5 chữ này là Tâm chú của Đại nhật Như lai, còn vòng chữ hình tròn của Quang minh chân ngôn thì là Đại chú của Đại nhật Như lai. Riêng chữ A (chú trong tâm của Đại nhật Như lai) và chủng tử của Đại nhật Kim cương giới, Tùy cầu, Diệt ác thú, Nhất tự kim luân... thì viết ở khoảng giữa vòng chữ. [X. kinh Bất không quyên sách quang chân ngôn; kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.28; Quang minh chân ngôn quán tụng yếu môn].

quang minh chân ngôn pháp

(光明真言法) Cũng gọi Quang minh cúng, Quang ngôn pháp. Pháp tu trong Mật giáo, trì tụng chân ngôn Quang minh để diệt tội, trừ bệnh, tiêu tai... đặc biệt lấy việc diệt tội làm chủ yếu. Ngoài ra, pháp tu gia trì đất cát cũng lấy pháp này làm chính. Kinh Bất không quyên sách quang chân ngôn (Đại 19, 606 trung) nói: Nếu có chúng sinh nào được nghe chân ngôn Đại quán đính quang này tới 237 biến thì trừ diệt tất cả tội chướng (...) Gia trì chân ngôn này vào đất cát 108 biến, rồi đem vào rừng Thi đà rắc trên thi hài người chết, hoặc rải trên mộ, (...) tức thời liền được ánh sáng chiếu thân, tiêu trừ các tội báo, xả bỏ thân khốn khổ, sinh về cõi nước Cực lạc phương Tây, hóa sinh từ hoa sen, chứng được Bồ đề, vĩnh viễn không còn đọa lạc. Mạn đồ la Quang Minh Chân Ngôn. Về vị Bản tôn của pháp tu này có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo Giác thiền sao quang minh chân ngôn, thì hoặc lấy Bất không quyên sách làm Bản tôn, hoặc lấy Phật A di đà làm Bản tôn. Nhưng theo sự truyền tập bí mật thì lấy Đại nhật Như lai của Thai tạng giới làm Bản tôn. [X. kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.28; Quang minh chân ngôn thổ sa khuyến tín kí; Bạc thảo chỉ].

quang minh danh hiệu nhân duyên

(光明名號因緣) Gọi tắt: Quang hiệu nhân duyên. Chúng sinh lấy danh hiệu Phật A di đà làm nhân, lấy quang minh làm duyên thì được sinh về thế giới Cực lạc. Cứ theo Vãng sinh lễ tán của ngài Thiện đạo, nếu chúng sinh nào muốn sinh về Tịnh độ của đức Phật A di đà, thì nên lấy danh hiệu của đức Phật A di đà làm nhân, lấy quang minh của Ngài làm duyên, mới có thể đạt được nguyện vọng vãng sinh. Vì danh hiệu Phật A di đà tròn đầy muôn đức, là nhân năng sinh (như cha); còn quang minh của Ngài chiếu sáng các thế giới trong 10 phương, là duyên sở sinh (như mẹ), cho nên có năng lực tiếp dẫn chúng sinh đến Tịnh độ cực lạc. Nhưng danh hiệu và quang minh của Phật A di đà chỉ là nhân duyên tha lực bên ngoài, hỗ trợ chúng sinh vãng sinh Tịnh độ mà thôi; còn lòng tin của chúng sinh mới là nhân Niết bàn chân thực phát từ trong tâm chúng sinh. Như vậy, cần phải có đầy đủ duyên ngoài và nhân trong mới có thể vãng sinh Tịnh độ.

quang minh niệm tụng

(光明念誦) Một trong 5 cách thức niệm tụng. Hành giả niệm tưởng vừng trăng tâm của mình trong ngoài đều thanh tịnh, nhờ đó mà phát ra hơi thở, dù thành tiếng hay không thành tiếng, miệng đều có quang minh mà trì tụng danh hiệu Phật hoặc chân ngôn. Bí tạng kí quyển cuối (Đại 86, 8 hạ) nói: Quang là nghĩ tưởng từ miệng phóng ra ánh sáng mà trì tụng, dù thành tiếng hay không thành tiếng thì vẫn trì tụng như thế. (xt. Ngũ Chủng Niệm Tụng).

quang minh phật

See Quang Đức quốc.

quang minh sơn

Trụ xứ hay nơi trụ của Đức Quán Âm, là tên gọi khác của Potala—The shining hill, or monastery, a name for the abode of Kuan-Yin, said to be in India, and called Potala.

quang minh tâm điện

Chỗ trụ xứ của Đức Đại Nhật Như Lai ở Kim Cang Giới (Trí môn hay Bất Hoại Kim Cang Quang Minh Tâm Điện)—The temple of the bright or shining heart; the seat of Vairocana, the sun Buddha, in the Vajradhatu mandala. ; (光明心殿) Gọi đủ: Bản hữu Kim cương giới tự tại đại tam muội da tự giác bản sơ đại bồ đề tâm phổ hiền mãn nguyện bất hoại kim cương quang minh tâm điện. Gọi tắt: Bất hoạikim cương quang minh tâm điện. Chỉ cho nơi nương ở cùng tột mà Trí pháp thân của đức Đại nhật Như lai tu chứng được. Bất hoại kim cương chỉ cho thân bền chắc thường hằng của chư tôn (ở bên ngoài); Quang minh tâm, chỉ cho cảnh giới giác ngộ trong tâm của chư tôn (ở bên trong). Quang minh tâm biểu thị ý nghĩa tán thán tín ngưỡng. Điện biểu thị nơi nương ở, tức thân bên ngoài (sở trụ) và tâm bên trong (năng trụ) nương tựa đối đãi lẫn nhau, là nơi an trụ của đức Đại nhật Như lai. Ngoài ra, từ gọi đủ của Quang minh tâm điện ở trên có thể chia được thành 5 đoạn để biểu thị đức hiệu sâu kín mầu nhiệm của 5 trí và 5 Phật. Nếu phối hợp 5 đoạn với 5 trí, 5 Phật thì thứ tự như sau: 1. Bản hữu kim cương giới: Biểu thị Pháp giới thể tính trí, phối hợp với Đại nhật Như lai. 2. Tự tại đại tam muội da: Biểu thị Diệu quán sát trí, phối hợp với A di đà Như lai. 3. Tự giác bản sơ: Biểu thị Bình đẳng tính trí, phối hợp với Bảo sinh Như lai. 4. Đại bồ đề tâm phổ hiền mãn nguyệt: Biểu thị Đại viên kính trí, phối hợp với A súc Như lai. 5. Bất hoại kim cương quang minh tâm điện: Biểu thịThành sở tác trí, phối hợp với Thích ca Như lai. [X. luận Biện Hiển Mật nhị giáo Q.hạ; luận Thập trụ tâm Q.10; Chân ngôn phó pháp truyện Q.1; Du kì kinh thập cổ sao Q.thượng; Du kì kinh nghĩa thuật Q.1].

Quang Minh Tạng

(光明藏): tức nói về diệu tâm vốn có của bản thân mình. Bản tâm mình phá tan vô minh, là nơi tàng trữ ánh sáng trí tuệ, làm tỏa ra ánh áng của chân như. ; (光明藏): nơi tàng chứa ánh sáng, tức chỉ cho thân của đức Như Lai. Như trong Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh (千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經, Taishō Vol. 20, No. 1060) có đoạn: “Đương tri kỳ nhân tức thị Quang Minh Tạng, nhất thiết Như Lai quang minh sở chiếu cố (當知其人卽是光明藏、一切如來光明所照故, phải biết người ấy tức là Quang Minh Tạng, vì được ánh sáng của tất cả Như Lai chiếu tỏa).” Hay trong Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Ngữ Lục (大慧普覺禪師語錄, Taishō Vol. 47, No. 1998A) quyển 21 cũng có đoạn: “Ư Quang Minh Tạng trung diệc vị chi độc dược, diệc vị chi Đề Hồ, Đề Hồ độc dược bổn vô tự tánh (於光明藏中亦謂之毒藥、亦謂之醍醐、醍醐毒藥本無自性, ở trong Quang Minh Tạng cũng gọi đó là thuốc độc, cũng gọi đó là Đề Hồ, Đề Hồ thuốc độc vốn không tự tánh).” Hoặc trong bài Mai Lãnh Sơn Cư Thi Dẫn (梅嶺山居詩引) của Trương Hoàng Ngôn (張煌言, 1620-1664) nhà Minh lại có đoạn: “Thiền duyệt chi dư, toại thành Mai Lãnh tân vịnh. Tao da ? Kệ da ? Độc chi như tọa Quang Minh Tạng hĩ (禪悅之餘、遂成梅嶺新詠、騷耶、偈耶、讀之如坐光明藏矣, Vui Thiền nhàn rỗi, bèn thành xướng vịnh Mai Lãnh. Thơ Tao ư ? Kệ ư ? Đọc rồi như ngồi Quang Minh Tạng vậy).”

quang minh tạng

(光明藏) Kho báu ánh sáng, tức chỉ cho thân Như lai. Kinh Tư ích quyển 1 (Đại 15, 34 thượng) nói: Thân Như lai là kho tàng của vô lượng ánh sáng. Ngoài ra, bản tâm của mình phá trừ vô tri, phát huy ánh sáng chân như và thu hút ánh sáng ấy vào trong tâm, cũng gọi là Quang minh tạng. Kinh Thiên thủ đà la ni (Đại 20, 109 trung) nói: Nên biết, thân người ấy chính là thânquang minh, vì ánh sáng của tất cả Như lai đều chiếu rọi thân ấy.

Quang Minh Tự

(光明寺, Kōmyō-ji): ngôi chùa trung tâm bổn sơn của Tịnh Độ Tông, hiệu là Thiên Chiếu Sơn Liên Hoa Viện (天照山蓮華院); tên chính thức là Thiên Chiếu Sơn Liên Hoa Viện Quang Minh Tự (天照山蓮華院光明寺); hiện tọa lạc tại số 6-17-19 Zaimokuza (材木座), Kamakura-shi (鎌倉市), Kanagawa-ken (神奈川縣). Tượng thờ chính là A Di Đà Như Lai. Vào năm 1240 (Nhân Trị [仁治] nguyên niên), vị chấp quyền đương thời là Bắc Điều Kinh Thời (北條經時, Hōjō Tsunetoki) đã kiến lập Liên Hoa Tự (蓮華寺) cho Thiền sư Nhiên A Lương Trung (然阿良忠); sau đó ông dời chùa về vị trí hiện tại, và đổi tên chùa là Quang Minh Tự. Có ký lục ghi rằng chùa được di chuyển vào năm 1243 (Khoan Nguyên [寛元] nguyên niên), nhưng vẫn chưa có xác chứng rõ ràng. Ngoài ra còn có thuyết cho rằng Liên Hoa Tự chính là Ngộ Chơn Tự (悟眞寺). Đến năm 1495, vào đời Quán Dự Hựu Sùng (觀譽祐崇), vị Tổ đời thứ 8 của chùa, ông được Hậu Thổ Ngự Thiên Hoàng (後土御門天皇) quy y theo, nên chùa được sắc phong thành ngôi Tổng Bản Sơn của Tịnh Độ Tông vùng Quan Đông, và từ đó trở đi chùa trở thành nơi bố giáo trung tâm Tông phái vùng Quan Đông. Ngoài ra chùa còn lưu giữ nhiều bảo vật như tượng ngồi Ký Chủ Thiền Sư (記主禪師), tượng ngồi Địa Tạng Bồ Tát bằng đá, Đương Ma Mạn Trà La Duyên Khởi (當麻曼荼羅緣起) 2 bức, truyện tranh Tịnh Độ Ngũ Tổ, tranh vẽ Quang Minh Đại Sư (光明大師), v.v. ; (光明寺, Kōmyō-ji): ngôi tự viện trung tâm của Trấn Tây Nghĩa Lục Phái (鎭西義六派) thuộc Tịnh Độ Tông, hiện tọa lạc tại số 6-17-19 Zaimokuza (材木座), Kamakura-shi (鎌倉市), Kanagawa-ken (神奈川縣); hiệu núi là Thiên Chiếu Sơn (天照山), Viện hiệu là Liên Hoa Viện (蓮華院). Tượng thờ chính là A Di Đà Như Lai. Vào năm 1243 (Khoan Nguyên [寛元] nguyên niên), Nhiên A Lương Trung (然阿良忠) của Phái Trấn Tây Nghĩa (鎭西義) được người chấp quyền chính quyền Mạc Phủ Liêm Thương lúc bấy giờ là Bắc Điều Kinh Thời (北條經時, Hōjō Tsunetoki) quy y theo; ông kiến lập ngôi Liên Hoa Tự (蓮華寺) ở Tá Giới Cốc (佐介谷) thuộc Liêm Thương, về sau đổi thành Quang Minh Tự. Bên cạnh đó, Lương Trung còn được sự hỗ trợ của Bắc Điều Thời Lại (北條時頼, Hōjō Tokiyori), lấy chùa này làm trung tâm bố giáo. Về sau, vị Tổ đời thứ 2, đệ tử của ông là Tịch Huệ Lương Hiểu (寂慧良曉), Tổ khai sáng Dòng Bạch Kỳ (白旗流), đã tạo cơ sở hạt nhân cho Phái Trấn Tây Nghĩa (鎭西義). Vào năm 1495 (Minh Ứng [明應] 4), vị Tổ đời thứ 8 là Trường Liên Xã Quán Dự Hựu Sùng (長蓮社觀譽祐崇) tiến hành trì tụng Tịnh Độ Tam Bộ Kinh và Dẫn Thanh Niệm Phật trong cung nội; nhờ vậy chùa được ban cho hiệu là ngôi chùa trung tâm của 6 phái vùng Quan Đông (關東, Kantō). Nhờ vậy, Quang Minh Tự hưng thịnh cao độ với tư cách là ngôi chùa Đàn Lâm của Tịnh Độ Tông; vào năm 1532 (Thiên Văn [天文] nguyên niên), dòng họ Bắc Điều ở Tiểu Điền Nguyên (小田原, Odawara) đã hạ lệnh cho chúng Nhất Hướng Môn Đồ (一向門徒) ở tiểu quốc Tương Mô (相模, Sagami) đến sát nhập làm tín đồ của chùa. Đến năm 1591 (Thiên Chánh [天正] 9), Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) cúng dường thêm đất đai và sau này đã xếp hạng chùa trở thành bậc nhất trong số 18 ngôi chùa Đàn Lâm vùng Quan Đông. Dưới thời đại Giang Hộ, vị thành chủ của vùng Diên Cương (延岡, Nobeoka) thuộc tiểu quốc Nhật Hướng (日向, Hyūga) là Nội Đằng Nghĩa Khái (內藤義概, Naitō Yoshimune) đã dời nhà thờ bài vị cũng như tháp bằng đá từ Linh Nham Tự (靈巖寺) vùng Giang Hộ đến chùa này. Hiện vẫn không xác định được niên đại chùa được di chuyển về vị trí hiện tại lúc nào. Chùa hiện còn lưu giữ một số bảo vật được xếp hạng quốc bảo có Đương Ma Mạn Trà La Duyên Khởi (當麻曼茶羅緣起); các bảo vật khác thuộc Tài Sản Văn Hóa Trọng Yếu như Tịnh Độ Ngũ Tổ Hội Truyện (淨土五祖繪傳), Đương Ma Mạn Trà La Đồ (當麻曼茶羅圖), Thập Bát La Hán Cập Tăng Tượng (十八羅漢及僧像), Tịnh Độ Ngũ Tổ Hội (淨土五祖繪), v.v. ; (光明寺, Kōmyō-ji): ngôi chùa trung tâm của Tây Sơn Tịnh Độ Tông, tên chính thức là Báo Quốc Sơn Niệm Phật Tam Muội Viện (報國山念佛三昧院光明寺), tên gọi riêng là Túc Sanh Quang Minh Tự (粟生光明寺); hiệu núi là Báo Quốc Sơn (報國山); hiện tọa lạc tại Aō (粟生), Nagaokakyō-shi (長岡京市), Kyōto-fu (京都府); được xem như là nơi phát xuất của Tịnh Độ Tông Nhật Bản. Tượng thờ chính của chùa là A Di Đà Như Lai. Vào năm 1198, Hùng Cốc Trực Thật (熊谷直實, tức Liên Sanh Phòng [蓮生房]), kiến lập nên đường vũ ở vùng đất Túc Sanh (粟生, Aō) này, và mời Pháp Nhiên đến làm Tổ khai sơn chùa. Vào năm 1227, do vì đồ chúng của Duệ Sơn rắp tâm định phá hoại ngôi mộ của Pháp Nhiên được an táng trên đó, nên hài cốt của ông được dời về chùa này, rồi hành lễ trà tỳ, và tạo nên chỗ thờ mới ở đây. Sau đó, đến thời vị Tổ đời thứ 4 của chùa là Chứng Không (証空), thì trong quan tài bằng đá của Pháp Nhiên bỗng có ánh sáng kỳ lạ phát ra; nhân đó Tứ Điều Thiên Hoàng (四條天皇, Shijō Tennō) mới đặt tên chùa là Quang Minh Tự. Chứng Không vốn là cao đệ của Pháp Nhiên, là người có công lao trong việc đã lập ra được một dòng phái riêng gọi là Tây Sơn Phái (西山派) và lấy chùa này làm đạo tràng căn bản để truyền đạo. Đồng thời ông cũng là vị học Tăng của Thiên Thai Tông, nên đương thời cho dầu nơi đây là ngôi chùa của Tịnh Độ Tông, nhưng vẫn có làm lễ cầu đảo nguyện cầu tật bệnh tiêu trừ. Các ngôi đường xá của chùa đã trãi qua mấy lần bị hỏa hoạn cháy rụi, nhưng rồi cũng được phục hưng lại như cũ. Và các kiến trúc hiện tại là thuộc khoảng niên hiệu Khoan Diên (寛延, 1748-1751). Hiện chùa là nơi linh nghiệm thứ 16 của Pháp Nhiên trong số 25 khu vực trên toàn quốc.

Quang Minh tự

光明寺; C: guāngmíng sì; J: kōmyō-ji;|1. Ngôi chùa của phong trào Tam giai giáo (三階教) toạ lạc ở Trường An; 2. Ngôi chùa nơi Thiện Đạo (善導) làm công việc giáo hoá nhiều nhất.

quang minh vô lượng nguyện

(光明無量願) Cũng gọi Đắc thắng quang minh nguyện, Tự thân quang vô hạn nguyện, Phật quang vô hạn lượng nguyện, Quang sắc nguyện. Cầu mong được vô lượng ánh sáng, là nguyện thứ 12 trong 48 nguyện của Phật A di đà. Văn nguyện trong kinh Vô lượng thọ bản dịch đời Ngụy như sau (Đại 12, 268 thượng): Nếu tôi được thành Phật mà ánh sáng còn hạn lượng, cho đến ít nhất không chiếu soi được trăm nghìn ức na do tha các cõi nước của chư Phật thì tôi không ở ngôi Chính giác. Trong hội Vô lượng thọ Như lai bản dịch đời Đường thì ghi như sau (Đại 11, 93 hạ): Nếu tôi thành Phật, quang minh có hạn, cho đến ít nhất không chiếu soi ức na do tha trăm nghìn cõi Phật thì tôi không giữ lấy bồ đề. Đây là nguyện của Phật A di đà đã phát khi còn làbồ tát Pháp tạng ở địa vị tu nhân, tức là nguyện khi thànhtựuChính đẳng chính giác, ánh sáng không có hạn lượng, chiếu khắp các cõi nước trong thế giới 10 phương. Nguyện này cùng với nguyện Thọ mệnh vô lượng tạo thành quả thể của Báo thân đức Phật A di đà. [X. kinh A di đà; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng].

quang minh vô tế

Imeasurable illumination.

quang minh vương

Một trong 25 vị Bồ Tát cùng với Phật A Di Đà tiếp dẫn những người lâm chung mà niệm hồng danh Phật—Shining heart bodhisattva, one of the twenty five Boshidattvas who, with Amitabha, welcomes to the Western Paradise the dying who call on Buddha.

quang minh đàn

The fire altar.

quang minh đại phạm

Jyotisprabha (skt)—The great illustrious Brahman.

quang minh đại sư

Tên của tự viện và cũng là danh hiệu vua Đường Cao Tông ban cho sư Thiện Đạo: Kuang-Ming Tzu, temple and title of Shan-T'ao, a noted monk of the T'ang dynasty (under T'ang Kao-Tsung).

quang minh đồng tử nhân duyên kinh

(光明童子因緣經) Cũng gọi Phật thuyết Quang minh đồng tử nhân duyên kinh, Quang minh đồng tử kinh. Kinh, 4 quyển, do ngài Thí Hộ dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này tường thuật về nhân duyên xuất giachứng quảcủa đồng tử Quang minh, con của trưởng giả Thiện hiền ở thành Vương xá, nước Ma yết đà, Trung Ấn Độ.

quang minh độ

Tên gọi tắt của Vô Lượng Quang Minh Độ, là đức danh của cõi Tây Phương Cực Lạc—The glory land or the Paradise of Amitabha.

quang mục nữ

Người con gái mắt to và sáng, tiền thân của Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát—The bright-eyed (wide-eyed) daughter, a former incarnation of Ksitigarbha (Địa Tạng). ; (光目女) Tiền thân của bồ tát Địa tạng. Trong đời quá khứ xa xưa, bồ tát Địa tạng từng là người nữ tên Quang mục, nhân biết mẹ mình bị đọa vào đường ác, nên phát nguyện cứu độ hết thảy chúng sinh, đến khi nào tất cả chúng sinh đều thành Phật rồi thì Ngài mới chứng bồ đề. Nhờ đại thệ nguyện ấy mà mẹ Ngài thoát khỏi ác đạo. [X. kinh Địa tạngbồ tát bản nguyện Q.thượng]. (xt. Địa Tạng Bồ Tát).

Quang Nghiêm tự

光嚴寺; C: guāngyán sì; J: kōgon-ji;|Ngôi chùa ở Tương Châu (湘州), nơi Tín Hành, người sáng lập Tam giai giáo tập trung vào việc thực hành 16 hạnh Vô tận tạng (無盡藏).

quang ngoa

(光靴) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Giầy sáng bóng, hàm ý chỉ cho sự tham thiền thanh đạm, kham khổ,sự sửa đổi hoàn toàn tốt đẹp. Điều Kính sơn Hồng nhân trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 11 (Đại 51, 284 hạ) chép: Khi một sợi lông xỏ qua các lỗ thì thế nào? Sư nói: Quang ngoa mặc ông quang ngoa, kết quả mặc ông kết quả. Theo sự giải thích trong Cảnh đức truyền đăng lục sao quyển 3, thì quang ngoa nghĩa là sửa đổi cho được hoàn mĩ. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.9; Cát đằng ngữ tiên Q.2].

quang nguyên

Light source.

Quang Nhân Thiên Hoàng

(光仁天皇, Kōnin Tennō, tại vị 770-781): vị Thiên Hoàng sống vào cuối thời kỳ Nại Lương, hoàng tôn của Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇, Tenji Tennō), con thứ 6 của Thân Vương Thí Cơ (施基, Shiki), tên là Bạch Bích (石壁, Shirakabe). Ông được nhóm Đằng Nguyên Bách Xuyên (藤原百川, Fujiwara-no-Momokawa) đưa lên cầm quyền, cho mời Hòa Khí Thanh Ma Lữ (和氣清麻呂, Waki-no-Kiyomaro) về để thực hiện chính sách cải cách.

quang phổ

Spetrum.

quang phục

To restore.

quang thái

Bright.

Quang Thế Âm

光世音; C: guāngshìyīn; J: kōseion;|Một trong nhiều cách phiên dịch từ Avalokiteśvara (Quán Thế Âm 觀世音) sang tiếng Hán, được Trúc Pháp Hộ (竺法護; s: dharmapāla) sử dụng.

quang thế âm

See Quán Thế Âm Bồ Tát.

quang thế âm ứng nghiệm kí

(光世音應驗記) Tác phẩm, 1 quyển, do cư sĩ Phó Lượng soạn vào đời Lưu Tống thuộc Nam triều. Hiện nay, tại Trung Quốc, sách đã thất lạc, nhưng viện Thanh Liên ở Kyoto, Nhật Bản, còn giữ được bản chép tay vào giữa thời kì Liêm Thương. Ông Phó Lượng là nhà văn và chính trị gia nổi tiếng ở đời Tống thuộc Nam triều. Nội dung sách nàychủ yếulà căn cứ vào phẩm Quang thế âm phổ môn trong kinh Chính pháp hoa do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào năm Thái Khang thứ 7 (286) đời Tây Tấn. Đây là sử liệu rất quí giá, xưa nhất về tín ngưỡng Quán thế âm được truyền vào Trung quốc. Theo lời tựa sách này thì tác giả nhân đọc sách Quang thế âm ứng nghiệm do ông Tạ Phu soạn vào đời Đông Tấn (sách này hiện nay không còn) và trích theo chỗ nhớ được mà viết thành tác phẩm này.Tục quang thế âm ứng nghiệm kí do ông Trương Diễn soạn vào đời Lưu Tống và Hệ quán thế âm ứng nghiệm kí do ông Lục Cảo soạn vào đời Tiêu Tề, đều là Tục biên của sách này.

quang thống

Luật sư Tuệ Quang vào thế kỷ thứ sáu, người đã từ chức quan “Thống” của triều đình để xuất gia—A Vinaya-monk named Hui-Kuang, the sixth century, who resigned the high office of the general supervisor and left home to become a monk.

quang toà

(光座) Cũng gọi Quang phu. Chỉ cho hào quang và tòa ngồi của Phật. Kinh Đà la ni tập quyển 10 (Đại 18, 876 thượng) nói: Thân của tượng ấy cao 1 khuỷu tay 1 thước 3 tấc 5 phân, không kể quang tọa (khoảng 53 cm).

Quang Trí

光智; C: guāngzhì; J: kōchi;|Tiếng Hán dịch ý tên Prabhākaramitra, thường được phiên âm là Ba-la-ca-phả Mật-đa-la (波羅迦頗蜜多羅).

Quang Trạch

光宅; C: guāngzhái; J: kōtaku;|Tên khác của Pháp Vân (法雲), vị trú trì chùa Quang Trạch.

quang trạch

Quang Trạch là tên của một tự viện bên Trung Quốc nơi mà ngài Pháp Vân đã viết bộ luận về Kinh Pháp Hoa hồi đầu thế kỷ thứ sáu—Kuang-Zhai, name of the temple in China where where Fa-Yun wrote his commentary on the Lotus Sutra early in the sixth century. ; (光宅) (467-529) Cao tăng Trung quốc sống vào thời Nam Triều, người Dương Tiện, Nghĩa Hưng (Nghi hưng, Giang tô). Sư xuất gia năm 7 tuổi, pháp hiệu là Pháp Vân, từng trụ trì chùa Quang Trạch, cho nên người đời gọi sư là Quang Trạch. Sư chuyên nghiên cứu về thuyết giảng kinh Pháp hoa. Sư cùng với 2 ngài Tăng Mân và Trí Tạng được tôn là Tam Đại Pháp Sư đời Lương. Sư có tác phẩm: Pháp hoa kinh nghĩa kí (Pháp hoa kinh nghĩa sớ, Quang trạch sớ).[X. Tục cao tăng truyện Q.5; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1, phần cuối].(xt. Quang Trạch Tự, Pháp Vân).

quang trạch tứ giáo

See Tứ Giáo.

Quang Trạch tứ thừa

光宅四乘; C: guāngzhái sìshèng; J: kōtaku-shijō;|Đề cập đến sự lập ra giáo lí Nhất thừa (tứ thừa, cỗ xe thứ tư) do Quang Trạch dựa rên kiến giải của mình về ví dụ Nhà bắt lửa cháy trong kinh Pháp Hoa. Đây là đặc điểm quan trọng của tông Thiên Thai và Hoa Nghiêm.

quang trạch tứ thừa

Ngài Quang Trạch chia Nhà Lửa Tam Giới ra làm Tứ Thừa, được trường phái Thiên Thai thừa nhận—Kuang-Zhai made a division of four yanas from the Burning House parable, which adopted by the T'ien-T'ai: 1) Xe Dê chỉ Thanh Văn Thừa: The goat cart representing the Sravaska. 2) Xe Hươu chỉ Duyên Giác Thừa: The deer cart representing the Pratyeka-buddha. 3) Xe Trâu chỉ Bồ Tát Tiểu Thừa: The ox-cart representing Hinayana Bodhisattva. 4) Xe Trâu Trắng lớn chỉ Bồ Tát Đại Thừa: The great white ox-cart representing the Mahayana Bodhisattva. ** For more information, please see Tứ Giáo. ; (光宅四乘) Nghĩa Tứ thừa của ngài Quang Trạch. Quang Trạch tức là Pháp sư Pháp Vân, trụ trì chùa Quang Trạch vào đời Lương thuộc Nam Triều. Sư căn cứ vào thuyết Tứ xa (4 cỗ xe) trong phẩmThí dụ kinh Pháp hoa mà chia giáo thuyết của đức Phật nói trong 1 đời làm 4 thừa giáo, cho nên gọi là Quang Trạch tứ thừa. Cứ theo Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 1 và Hoa nghiêm thám huyền kí quyển 1 thì 4 xe là: 1. Xe dê: Ví dụ Thanh văn thừa. 2. Xe nai:Ví dụ Duyên giác thừa. 3. Xe trâu: Ví dụ Bồ tát thừa. 4. Xe trâu trắng lớn: Ví dụ Phật quả Nhất thừa. Như vậy, ngoài Tam thừa giáo, ngài Quang Trạch còn lập thêm Nhất thừa giáo, chủ trương Tam thừa giáo là Quyền giáo (giáo pháp tạm thời) nói trước kinh Pháp hoa; còn Nhất thừa giáo là Thực giáo (giáo pháp chân thực) của Nhất thừa Pháp hoa, là nền tảng mở ra các tông Thiên thai, Hoa nghiêm... [X. Pháp hoa nghĩa kinh kí Q.4; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.10, phần đầu; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.13]. (xt. Hỏa Trạch Dụ, Tứ Giáo).

Quang Trạch Tự

(光宅寺, Kōtaku-ji): hiện tọa lạc ở phía Đông Nam Huyện Giang Nam (江南縣), Phủ Giang Ninh (江寧府), Tỉnh Giang Tô (江蘇省, Nam Kinh), còn gọi là Huệ Trạch Tự (慧宅寺). Vào năm đầu (502) niên hiệu Giám Nguyên (監元), có thuyết cho là năm thứ 3 cùng niên hiệu, vua Lương Võ Đế (梁武帝) cải đổi tư gia cũ của mình thành chùa, cho đúc tượng đại Phật bằng đồng vàng an trí tại đây, thỉnh Pháp Vân (法雲)―một trong 3 vị đại Pháp Sư nhà Lương―làm trú trì và định ra quy chế tăng sĩ. Kể từ khi Pháp Vân giảng Pháp Hoa Kinh (法華經), tên gọi Quang Trạch Tự được mọi người trong khắp thiên hạ biết đến; chính Thiên Thai Trí Khải (天台智顗) cũng đã từng giảng Pháp Hoa Kinh, Nhân Vương Kinh (仁王經) tại chùa này vào năm thứ 3 (583) niên hiệu Khai Hoàng (開皇). Đây là ngôi danh lam bảo sát của Giang Nam vào thế kỷ thứ 6.

quang trạch tự

(光宅寺) I. Quang Trạch Tự. Chùa ở Giang Tô (Nam Kinh), Trung quốc, do vua Vũ Đế sáng lập vào niên hiệu Thiên giám năm đầu (502) đời Lương (có thuyết nói là năm Thiên giám thứ 3), bấy giờ, tượng Quán âm trong chùa phóng quang trong 7 ngày nên gọi là Quang Trạch tự. Trong chùa có thờ tượng Đại Phật bằng kim đồng, vua ban sắc cho ngài Pháp vân trụ trì và định ra Tăng chế. Nhờ ngài Pháp Vân giảng kinh Pháp hoa ở đây mà chùa nổi tiếng khắp trong nước. Vào niên hiệu Chí Đức năm đầu (583) đời Trần, Đại sư Thiên Thai Trí Khải cũng thuyết giảng các kinh Nhân vương, Pháp hoa ở chùa này. Vào đời Lương, Trần, Quang Trạch là ngôi chùa đứng vào bậc nhất ởvùngGiang nam. [X. Lương cao tăng truyện Q.13; Tùy thiên thai Trí giả đại sư biệt truyện; Thích thị kê cổ lược Q.2]. II. Quang Trạch Tự. Chùa ở phường Quang Trạch, phía tây đường Chu Tước ở Trường An (Tây An, Thiểm Tây), được xây dựng vào năm Nghi phụng thứ 2 (677) đời Đường. Đến năm Trường an thứ 2 (702) triều Vũ Hậu (có thuyết nói là năm Trường an thứ 3), trong chùa có đặt đài Thất bảo, nên chùa cũng được gọi là Thất bảo đài tự. Tượng Phật trong chùa được chạm trổ rất tinh vi, có nhiều pho tượng ở đâyhiệnđược cất giữ tại viện bảo tàng Tokyo, Nhật bản. [X. Đường hội yếu Q.48].

quang tuyến

Ray.

quang tán bát nhã ba la mật kinh

(光贊般若波羅蜜經) Cũng gọi Quang tán ma ha bát nhã kinh, Quang tán kinh, Quang tán bát nhã kinh. Kinh, 10 quyển, do Ngài Trúc pháp hộ dịch vào đờiTây Tấn, là bản dịch đầu tiên của kinh Đại phẩm bát nhã, được thu vào Đại chính tạng tập 8. Kinh này tương đương với 25.000 bài tụng của 27 phẩm đầu trong 85 phẩm thuộc hội thứ 2 của kinh Bát nhã Ba la mật đa (kinh Đại bát nhã dongài Huyền trang dịch) bản tiếng Phạm. Kinh này cũng tương đương với 30 phẩm đầu trong 90 phẩm kinh Phóng quang bát nhã 20 quyển do ngài Vô xoa la dịch và tương đương với 29 phẩm đầu trong 90 phẩm kinh Ma ha bát nhã ba la mật 27 quyển do ngài Cưu Ma La Thập dịch. Bản tiếng Phạm của kinh này là do ngài sa môn Kì Đa La người nước Vu Điền đem đến nước Trung Quốc vào năm Thái Khang thứ 7 ( 286) đời Tây Tấn và đã được dịch ra vào ngày 25 tháng 11 cùng năm. Nội dung gồm 27 phẩm, bắt đầu từ phẩm Quang tán và kết thúc với phẩm Vũ pháp bảo.Về tên kinh của kinh này là do đứcPhật từ nơi lưỡi của Ngài phóng ra ánh sáng (quang) chiếu khắp ba nghìn đại thiên thế giới, trong ánh sáng sinh ra hoa sen, trên hoa sen lại có chư Phật xuất hiện và tán thánBát nhã này, vì thế nên đặt tên kinh là Quang tán bát nhã ba la mật. [X. Đại phẩm kinh du ý (Cát tạng); Xuất tam tạng kí tập Q.2, 7; Khai nguyên thích giáo lục Q.2, 11; Đại đường nội điển lục Q.2].

Quang tán kinh

光讃經; C: guāngzàn jīng; J: kōsan kyō;|Kinh, 10 quyển. Trúc Pháp Hộ (竺法護; s: dharmarakṣa) dịch.

quang tương tự

(光相寺) Chùa ở trên chót đỉnh núi Đại nga, phía tây nam huyện Nga Mi, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Cứ theo Phương dư thắng lãm thì từ Bạch thủy trải qua 84 vòng đường núi quanh co, leo lên tới 60 dặm mới đến chùa này, đây chính là nơi thị hiện của bồ tát Phổ hiền. Tương truyền, chùa này được sáng lập vào đời vua Minh Đế nhà Đông Hán và đặt tên là điện Phổ Quang, về sau được đổi là Quang Tướng tự. Khoảng năm Hồng vũ đời Minh, chùa được trùng tu, cuối đời Minh lại mở rộng thêm, xây điện Thiên vương, điện Tổ sư, điện Long thần, lầu Tàng kinh. Đây là thắng địa của núi Đại Nga. Đứng trên chùa nhìn xuống, núi sông cảnh trí phía dưới đều thu vào tầm mắt. [X. Phật tổ thống kỉ Q.43; Cổ kim đồ thư tập thành chức phương điển thứ 627; Sơn xuyên điển thứ 173, 174].

quang tướng

(光相) Cũng gọi Quang minh tướng. Chỉ cho tướng ánh sáng phóng ra từ thân của Phật, Bồ tát, tượng trưng cho trí tuệ của các Ngài. Trong hội họa, điêu khắc... quang tướng phần nhiều được biểu hiện bằng hình tròn, nên cũng gọi là Viên tướng, Viên quang. Quang tướng được chia làm 2 loại: 1. Đầu quang (cũng gọi Mi gian quang – ánh sáng phóng ra từ giữa đầu chân mày):Tức là chung quanh đầu và mặt phát ra tướng ánh sáng hình tròn. 2. Thân quang (cũng gọi Cử thân quang): Tức là tướng ánh sáng phát ra từ chung quanh toàn thân. Thân quang thường là hình chiếc thuyền, hình cánh hoa sen. Vòng sáng của các Quang tướng có các kiểu như: 1. Ở trên vòng sáng có thêm đồ án. 2. Ở trong vòng sáng có hình hoa sen. 3. Ở riềm của vòng sáng có thêm những tia lửa. 4. Dùng hình những tia lửa làm vòng tròn. 5. Ở trên ánh sáng của riềm vòng tròn làm hình bảo châu. 6. Ở trong vòng sáng có những đường kim tuyến phóng ra. Các Mạn đồ la được thấy hiện nay phần nhiều là thuộc loại hình thứ 3, loại này dùng vòng tròn để biểu thị trí của tự tính, dùng các tia lửa để biểu thị nghĩa đốt cháy các phiền não. Tượng Phật của Hiển giáo thì phần nhiều dùng loại hình thứ 6. Các tượng của chư tôn Mạn đồ la Kim cương giới thì có 2 lớp tướng tròn trong và ngoài, còn Thai tạng giới thì chỉ có 1 lớp tướng tròn bên trong. Quang tướng này không phải chỉ riêng Phật giáo mới có, mà các tông giáo trên thế giới nói chung đều xem ánh sáng là thiêng liêng và dùng làm đối tượng để sùng bái. Bởi thế, Quang tướng cũng cótác dụng biểu trưng thần thánh hay vĩ nhân. [X. kinh Quán Vô lượng thọ; luận Đại trí độ Q.8; Quảng hoằng minh tập Q.17]. (xt. Quang Bối).

quang tướng tự

Tự viện nằm trên đỉnh núi Nga Mi, thuộc huyện Nga Mi, tỉnh Tứ Xuyên, nơi mà Phổ Hiền Bồ Tát đã đạt đạo vô thượng—The monastery at the top of O-Mei-Shan, in Omei district, Szech-Wan province, where P'u-Hsien (Samantabhadra) is supreme.

quang tọa

Prabha-mandala (skt)—Hào quang và bảo tọa của một vị Phật—The halo and throne of a Buddha, or the halo behind the throne of an image (a halo throne).

quang tộ

(光祚) Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Vân môn, sống vào đời Tống, người tỉnh Chiết Giang. Sư từng tham vấn ngài Trừng Viễn ở viện Hương Lâm tại núi Thanh Thành, thuộc Ích Châu (Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên) được tâm ấn và nối pháp của ngài. Lúc đầu, sư trụ ở Song tuyền, Tùy châu, sau dời về chùa Trí Môn mở rộng tông phong, người đời gọi là Trí Môn Quang Tộ thiền sư. Đệ tử của sư có hơn 30 người, nổi tiếng nhất là Tuyết đậu Trùng hiển. Sư có tác phẩm: Trí Môn Tộ Thiền sư ngữ lục 1quyển. [X. Thiên thánh quảng đăng lục Q.22; Liên đăng hội yếu Q.27; Ngũ đăng hội nguyên Q.25].

quang tộ trí môn thiền sư

Zen master Kuang-Zuo-Zhi-Men—Thiền sư Quang Tộ Trí Môn, quê ở Triết Giang, là đệ tử và người nối Pháp của Hương Lâm Trừng Viễn, và là thầy của Tuyết Đậu Trùng Hiển. Ông là một trong những thiền sư đầu tiên dùng thơ ca ngợi những câu châm ngôn hay lời dạy của các thầy thời xưa, đây là một nghệ thuật mà sau nầy học trò của ông là Tuyết Đậu còn vượt trội hơn ông nữa—Zen master Kuang-Zuo Zhi-Men was from Zhe-Jiang Province, was a disciple and dharma successor of Xiang-Lin-Chen-Yuan, and the master of Hsueh-T'ou-Ch'ung-Hsien. He was one of the first masters of Ch'an tradition to celebrate the words of the old masters in poetic form, and art at which his disciple Hsueh-T'ou was even better than his teacher. • Sư thượng đường dạy chúng: “Một pháp nếu có, pháp thân rơi tại phàm phu; muôn pháp nếu không, Phổ Hiền mất cảnh giới ấy. Chính khi ấy Văn Thù nhằm chỗ nào xuất đầu? Nếu đã xuất đầu chẳng được thì con sư tử lông vàng lưng bị gãy. Hân hạnh được một bàn cơm, chớ đợi gạo gừng tiêu.”—Kuang-Zuo entered the hall and addressed the monks, saying: “If there is one Dharma, then Vairocana becomes a commoner. If the ten thousand dharmas are lacking, then Samantabhadra loses his realm. Just when it is like this, Majushri has nowhere to show his head, and if he can't show his head, then the golden-haired lion is cut in two. If you enjoy a bowl of food, don't eat the spicy meat cakes.” • Tên tuổi của Trí Môn được nhắc đến trong những thí dụ 21 và 90 của Bích Nham Lục—Chih-Men appears in examples 21 and 90 of the Pi-Yen-Lu. • Thí dụ thứ 90 của Bích Nham Lục cho chúng ta thấy Trí Môn và lối vấn đáp của ông với đệ tử. Một nhà sư hỏi Trí Môn: “Vật thể của sự khôn ngoan là gì?” Trí Môn đáp: “Có sao Kim mang trong mình nó trăng sáng.” Nhà sư hỏi: “Hiệu quả của sự khôn ngoan là gì?” Trí Môn đáp: “Con thỏ cái chờ lũ thỏ con.”—Example 90 of the Pi-Yen-Lu shows us Master Chih-Men in a conversation with his disciples as followed: A monk asked Chih-Men, “What is the wisdom body?” Chi-Men said, “The Venus mussel bears the bright moon in it.” The monk asked, “And what is the effect of wisdom?” Chih-Men said, “The female hare gets pregnant.” • Trí Môn có đến ba mươi đệ tử kế thừa Pháp. Ông thị tịch năm 1031—Chih-Men had 30 dharma successors. He passed away in 1031.

quang tụ phật đảnh

Một trong năm vị Phật Đảnh—One of the five dhyani-Buddhas.

quang tụ phật đỉnh

(光聚佛頂) Phạm: Tejoràzyuwịìwa # hoặcUwịìwatejoràzi. Hán âm: Đế nho ra thi u sắt ni sái. Cũng gọi Hỏa tụ Phật đính, Hỏa quang Phật đính, Phóng quang Phật đính, Quang tụ Phật đính luân vương. Vị tôn ngồi ở vị trí thứ 4 đầu hàng dưới bên phải đức Trung tôn Thích Ca Mâu Ni trong viện Thích ca của Mạn đồ la thai tạng giới Mật giáo, là 1 trong 5 và 1 trong 8 vị Phật đính. Vì vị tôn này dùng quang minh của Phật để tụ họp chúng sinh nên gọi là Quang tụ, mật hiệu là Thần thông kim cương. Hình tượng của vị tôn này thân có màu vàng ròng, ngồi trên hoa sen đỏ, bàn tay phải dựng nghiêng, co ngón vô danh, ngón út, tay trái để ở ngang eo, cầm hoa sen, trên hoa có hình Phật đính. Về thân sắc và tòa sen của vị tôn này, trong các kinh quĩ còn có những thuyết khác nhau. Hình Tam muội da là hình Phật đính trên hoa sen(hoặc là hình vật báu trên hoa sen màu vàng). Theo kinh Đại nhật quyển 4 và Tứ bộ nghi quĩ, ấn khế của vị tôn này là chắp tay để rỗng ở giữa (1 trong các ấn mẹ của thủ ấn), đầu ngón của 2 ngón vô danh và 2 ngón út hợp nhau để vào trong lòng bàn tay, 2 ngón trỏ để dính vào lưng 2 ngón giữa và dựng đứng 2 ngón cái, tức là thành hình Phật đính. Nếu thường niệm công năng của vị tôn này thì có năng lực phá hoại được sức mạnh của các chân ngôn thế gian và xuất thế gian, xua đuổi được quỉ mị khó điều phục mà thành tựu tất cả đại Phật sự. Cứ theo Quảng đại nghi quĩ, Huyền pháp tự nghi quĩ và Thanh long tự nghi quĩ, thì chân ngôn của vị tôn này là: Qui mệnh đát lăng (trìm, chủng tử) đế nho ra thi (tejoràzi, quang tụ) u sắc ni sái (uwịìwa, Phật đính) sa phạ hạ (svàhà). [X. kinh Bồ đề đạo tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương Q.1; kinh Nhất tự kì đặc Phật đính Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.5, 6]. (xt. Bát Phật Đính, Ngũ Phật Đính).

quang vinh

Glorious.

quang viễn

(光遠) ( 1149-1241) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Nam Tống, người Định Hải, Tứ minh (Trấn hải, Chiết giang) họ Phương, tên Thiện nguyệt, hiệu Bá đình. Thuở nhỏ, Sư học 6 kinh, (Thi, Thư, Dịch, Lễ, Nhạc, Xuân thu), đọc rộng nhớ dai, năm 12 tuổi đã thông hiểu nghĩa Xuân thu. Sau, sư lễ Ngài Đạo tinh chùa Chính giác cầu xuất gia. Năm 15 tuổi, sư được thụ giới Cụ túc. Năm Long Hưng thứ 2 (1164), ngài Đạo Tinh thị tịch, sư đến Nam Hồ nương tựa ngài Thảo Am Đạo Nhân. Ít lâu sau, Sư đến tham yết ngài Tử Am Hữu Luân, nghe nhận yếu chỉ Tướng thế gian thường trụ, sư có chỗ tỉnh ngộ. Sau, sư tham lễ ngài Nguyệt đường Tuệ tuân, nghe thuyết Như lai bất đoạn tính ác, sư hoát nhiên đạt ngộ. Sau đó, sư đến chùa Thọ thánh ở Nam Hồ lễ hầu ngài Trúc Am Khả Quan và được ngài giao cho việc giảng dạy đồ chúng. Sư có phong nghi thanh nhã ôn hòa, đàm luận mẫu mực, rất được ngài Khả Quan khen ngợi.Năm Thuần Hi thứ 7 (1180) sư trụ trì chùa Biện Lợi ở Đông Hồ, sau dời về chùa Bảo Nghiêm ở Từ Khê. Không bao lâu, nhận lời mời của quan Thái sư là Sử chân ẩn, sư về trụ ở chùa Nguyệt Ba, người về theo học rất đông, đạo hạnh của sư được truyền xa. Năm Thiện Hi thứ 2 (1191), nhận lời thỉnh của quan Quận là Hà công đạm, sư dời đến chùa Thọ thánh, tận lực diễn giảng học thuyết tông Thiên thai suốt 13 năm. Năm Gia thái thứ 4 (1204), sư lui về ẩn ở chùa Diễn khanh chuyên tâm vào việc soạn thuật. Niên hiện Thuần hựu năm đầu (1241), sư thị tịch, thọ 93 tuổi. Đệ tử xây tháp thờ sư ở phía đông của chùa. Sư để lại các tác phẩm: -Kim cươngbát nhã kinh hội giải, 2 quyển. -Lăng già kinh thông nghĩa, 6 quyển. -Thai tông thập loại nhân cách luận, 4 quyển. -Tam bộ cách ngôn, 4 quyển. -Kim cương ti luận nghĩa giải, 3 quyển. -Nhân vương sớ kí, 3 quyển. -Sơn gia tự dư tập, 3 quyển. -Lăng nghiêm huyền lãm. -Viên giác lược thuyết. -Giản cảnh thậpsách. -Tông giáo huyền thuật. -Phụ sao tiên yếu... Đệ tử của sư có các vị: Hương lâm Thanh tứ, Y đường Liễu viên, Thạch đường Diệu tuệ, Bán vân Hành nho, Thử thất Đại phương, Hư trung Nguyên chân, Thạch môn Sĩ vân... [X. Phật tổ thống kỉ Q.18, 25; Bổ tục cao tăng truyện Q.3].

quang vân

(光雲) Mây ánh sáng. Ví dụ quang minh của Phật. Mây có khả năng tưới mưa thấm nhuần giúp ích cho vạn vật, giống như ánh sáng làm lợi cho muôn loài, bởi thế dùng mây ví dụ cho quang minh của Phật. Kệ tán A di đà Phật (Đại 47, 421 thượng) nói: Quang vân vô ngại như hư không. Cho nên Phật hiệu Vô ngại quang Tất cả chướng ngại được chiếu sáng. Kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển 4 (Đại 9, 417 thượng) nói: Quán sát ánh sáng Phật Như mây khó nghĩ bàn.

quang võng đồng tử

Jaliniprabhakumara (skt)—Một trong tám đồng tử có lưới chiếu sáng, theo hầu cạnh Ngài Văn Thù—The youth with the shining net, one of the eight attendants on Manjusri. ; (光網童子) Quang võng, Phạm: Jàlinì-prabha (Hán âm: Chế lị ni ba la bà), hoặcPrabhajàla (Hán âm: Ba ra bà xà la). Cũng gọi Quang võng bồ tát. Vị Đồng tử ngồi ở vị trí thứ nhất bên phải của đức Trung tôn, là 1 trong 8 Đại đồng tử Văn thù, 1 trong 25 vị tôn của viện Văn thù thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo. Danh hiệu của vị tôn này là biểu thị ánh sáng trí tuệ củabồ tát Văn thù như những tấm lưới trùm khắp pháp giới, dùng các chuỗi ngọc anh lạc trang nghiêm lưới giáo pháp, giăng bủa khắp 10 phương để làm lợi ích cho chúng sinh. Mật hiệu là Sắc tướngkim cương, nghĩa là trí tuệ vi diệu làm đẹp thân tướng. Về hình tượng là hình đồng tử có thân màu vàng, tay trái cầm hoa sen xanh, tay phải cầm vòng dây lụa, ngồi trên tòa sen đỏ. Chủng tử là (jaô) có nghĩa là Sinh bất khả đắc. Đồng tử này và bồ tát Võng minh trong 16 vị tôn Hiền kiếp của Mạn đồ la Kim cương giới là đồng thể. Bồ tát Võng minh thị hiện tướng ngoại dụng, còn đồng tử Quang võng thì biểu thị đức nội chứng. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.5; Chư thuyết bất đồng kí Q.5; Lưỡng bộ mạn đồ la nghĩa kí Q.3]. (xt. Võng Minh Bồ Tát ).

quang xúc

(光觸) Ánh sáng của Phật tiếp xúc và chiếu rọi thân hành giả. Kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển 34 (Đại 9, 617 trung) nói: Đức Phật có ánh sángtên là Bảo thân trí, nếu có chúng sinh nào được tiếp xúc với ánh sáng ấy thì thân chúng sinh đó có màu sắc giống với màu sắc của thân Phật. Kệ tán A di đà Phật (Đại 47, 421 thượng) nói: Người được quang xúc thì lìa hữu vô. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; Vãng sinh lễ tán].

quang âm

Light and shadow—Passing time.

quang âm thiên

Abhasvara (skt)—Quang Âm Thiên hay Cực Quang Tịnh Thiên, là cõi trời thứ ba trong đệ nhị thiền thiên thuộc sắc giới. Tại cõi trời nầy dứt mọi âm thanh, lúc muốn nói thì dùng tịnh quang làm ngôn ngữ, nên gọi là Quang Âm. Thời đại hỏa tai hủy diệt cõi sơ thiền thiên của sắc giới thì chúng sanh ở hạ giới đều tập hợp tất cả vào cõi trời nầy. Chờ tới sau khi thế giới tái thành, buổi ban đầu của thành kiếp, từ cõi trời nầy nổi lên những áng mây vàng, trút mưa lũ xuống để tạo ra thế giới từ sơ thiền thiên xuống tới địa ngục. Khi thế giới đã thành rồi thì chúng sanh ở cảnh trời nầy phúc bạc, dần dần phải đi xuống cõi dưới, thậm chí cho tới địa ngục đều thấy chúng sanh—Light and sound or Light-sound heavens, also styled the heaven of utmost light and purity, the third of the second dhyana heavens, in which inhabitants converse by light instead of words; they recreate the universe from the hells up to and including the first dhyana heavens after it has been destroyed by fire during the final series of cataclysms; but they gradually diminish in power and are reborn in lower states. The three heavens of the second dhyana are: 1) Thiểu Quang Thiên: Minor-Light Heaven. 2) Vô Lượng Quang Thiên: Infinite-Light Heaven. 3) Quang Âm Thiên: Light and Sound Heaven. ; (光音天) Quang âm, Phạm: Àbhàsvara, Pàli: Àbhassara. Hán âm: A ba hội đề bà. Cũng gọi A ba hội thiên, A hội hỗ tu thiên, A ba hỗ tu thiên, A ba la thiên, A ba tối la già thiên. Hán dịch: Quang âm thiên, Thủy vô lượng thiên, Vô lượng thủy thiên, Cực quang tịnh thiên, Cực quang thiên, Quang tịnh thiên, Biến thắng quang thiên, Hoảng dục thiên, Quang diệu thiên. Dịch mới: Cực quang tịnh thiên. Một trongcác tầng trời cõi Sắc, tức là tầng trời thứ 3 của đệ nhị thiền; tầng trời này ở trênVô lượng quang thiên và ở dưới Thiểu tịnh thiên. Chúng sinh ở cõi trời này không có âm thanh, chỉ do ánh sáng phát ra từ định tâm để thay ngôn ngữ mà truyền đạt ý nghĩa, vì thế nên gọi Quang âm thiên. Chúng sinh có nghiệp tương ứng bậc thượng phẩm cõi Nhị thiền được sinh về cõi trời này, được sắc tối thắng, thân cao 8 do tuần, sống lâu 8 đại kiếp, lấy sự vui mừng làm thức ăn, trụ trong an lạc, ánh sáng tự nhiên, đầy đủ thần thông, có thể bay đi trong hư không. Luận Câu xá quyển 12 (Đại 29, 63 thượng) nói: Ban đầu có 1 hữu tình ở cõi trời Cực quang tịnh, chết đi, sinh xuống cõi trời Đại phạm làm Đại phạm vương. Sau, các hữu tình khác cũng từ cõi trời kia chết đi, sinh xuống cõi trời Phạm phụ, (...) dần dần sinh xuống nữa, cho mãi đến cõi người (...)Sau, sinh xuống ngã quỉ, bàng sinh, địa ngục. Đây có ý nói chúng sinh hữu tình của thế giới Sa bà này chính đã từ cõi trời Cực quang tịnh (Quang âm thiên) và lần lần sinh xuống. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 34 thì nói rằng: Lúc kiếp sơ, các Thiên tử từ cõi trời Quang âm đến thế gian này nếm thử mùi ngon của đất, người ăn ít thì thân thể không nặng nề, không mất thần túc nên vẫn bay về được; còn người ăn nhiều thì thân thể nặng nề, mất hết thần túc nên không bay trở về cõi trời được nữa. Ngoài ra, 1 bộ chúng của Ngoại kim cương viện thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo cũng đã xuất thân từ cõi trời Quang âm này. [X. kinh Trường a hàm Q.20; kinh Khởi thế Q.7; kinh Đại lâu thán Q.4; Bí tạng kí].

quang điệu

Shinning.

quang đoan

Tia sáng cát tường được Phật phóng ra từ giữa hai bộ lông mày của Ngài trước khi Ngài khai pháp—The auspicious ray sent from between the Buddha's eyebrows before a revelation (khai pháp).

quang đài hiện độ

(光臺見土) Trong đài vàng hiện ra Tịnh độ. Quang đài là đài vàng do hào quang của Phật hóa hiện ra. Cứ theo phần Tựa kinh Quán Vô lượng thọ thì phu nhân Vi đề hi chán ngán các nổi khổ, mong cầu được vãng sinh Tịnh độ. Để đáp ứng sự mong cầu của bà, đức Thế Tôn liền từ chỗ giữa 2 đầu chân mày phóng ra 1 luồng ánh sáng màu vàng ròng, soi khắp vô lượng thế giới ở 10 phương, sau đó, đức Phật hóa ra 1 đài vàng trên đỉnh đầu của Ngài, trong đài vàng lại hiện ra các Tịnh độ của chư Phật ở 10 phương, bà Vi Đề Hi thấy trong các Tịnh độ ấy có thế giới Cực lạc ở phương Tây là thanh tịnh trang nghiêm hơn cả, nên bà mong cầu được sinh về Tịnh độ của đức Phật A di đà. Các Tịnh độ trong 10 phương do đức Thế Tôn thị hiện ra vốn không có hơn kém khác nhau, sự đoạn hoặc chứng lí và hạnh mãn quả viên của chư Phật cũng như nhau, nhưng vì tùy cơ ẩn hiện và hóa độ theo căn tính, nên đức Thế Tôn ẩn giấu sự ưu thắng của các Tịnh độ khác mà chỉ hiển bày sự ưu thắng của Tịnh độ Phật A di đà phương Tây để tiếp dẫn phu nhân Vi Đề Hi. [X. Tự phần nghĩa trong Quán vô lượng thọ kinh sớ (Thiện đạo )].

quang đãng

Clear.

quang đế bộc đầu

(光帝襆頭) Tên công án trong Thiền tông. Quang Đế giở khăn chít đầu ra. Đây là đoạn đối thoại nói về việc vua Trang Tông (Đồng Quang Đế) nhà hậu Đường giở khăn chít đầu ra mà được Thiền sư Hưng Hóa Tồn Tưởng khai thị. Cảnh đức truyền đăng lụcquyển 12 (Đại 51, 295trung) ghi: Một hôm, vua Trang Tông nói với sư rằng: Lúc thu phục nước Đại Lương, Trẫm lấy một hạt minh châu quí vô giá, mà chưa có người nào trả giá. Sư nói: Xin Bệ hạ cho xem hạt châu. Nhà vua đưa tay giở khăn chít đầu, Sư nói: Báu vật của nhà vua ai dám trả giá!. Thiền sư Hoành Trí làm bài tụng rằng: Quân vương để ý ngữ trí âm Thiên hạ khuynh thành quì lôi tâm Xuyết xuất Trung nguyên vô giá bảo Bất đồng Triệu bích dữ Yên kim. Trung nguyên chi bảo trình Hưng hóa Nhất đoạn quang minh nan định giá Đế nghiệp kham vi vạn thế sư Kim luân cảnh diệu tứ thiên hạ. (Dịch sát: Nhà vua thực ý bảo trí âm Thiên hạ khuynh thành quì hướng tâm. Trung nguyên lấy được của vô giá Chẳng như ngọc Triệu và vàng Yên Của báu Trung nguyên trình Hưng hóa Minh châu lấp lánh khó định giá. Nghiệp vua đáng bậc thầy muôn đời Mặt trời chiếu sáng khắp thiên hạ). [X. Tông môn thống yếu tục tập Q.10; Thiền tông chính mạch Q.11]. (xt. Tồn Tưởng).

Quang Định

(光定, Kōjō, 779-858): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Bình An, xuất thân vùng Y Dư (伊予, Iyo, thuộc Ehime-ken [愛媛縣]), họ là Chí (贄). Ông sớm mất cha mẹ, sau vào trong núi sâu tự tu trai giới một mình. Theo lời khuyên của vị tăng Cần Giác (勤覺), ông lên kinh đô Kyoto, và năm 808 thì làm đệ tử của Tối Trừng. Năm 810, ông xuất gia và 2 năm sau thì thọ giới Cụ Túc ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji). Vào năm 814, ông ngao du vùng Nam Đô, luận tranh với Nghĩa Diên (義延, Gien) của Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji) và nêu cao tông nghĩa của mình. Ông đóng vai trò rất lớn trong việc lãnh đạo giáo đoàn sau khi Tối Trừng qua đời. Vào năm 838, ông được giao cho làm chức Truyền Đăng Pháp Sư và đến năm 854 thì được cử làm chức Biệt Đương (別當, Bettō, chức Tăng Quan thống lãnh tăng chúng và quản lý mọi việc ở các chùa lớn) của Diên Lịch Tự, cho nên ông thông xưng là Biệt Đương Đại Sư (別當大師). Trước tác của ông có Truyền Thuật Nhất Tâm Giới Văn (傳述一心戒文).

Quang Đức

光德; C: guāngdé; J: kōtoku; K: kwangdǒk, 1927-;|Cao tăng Hàn Quốc thuộc dòng Tào Khê (k: chogye). Sư học ở Đại học Dongguk, sau đó trở thành người đứng đầu tông Tào Khê. Sư dịch nhiều kinh luận Phật giáo sang tiếng Hàn Quốc (han'gul), trong đó có Vô môn quan (無門關).

quang đức quốc

Avabhasa (skt)—Vương quốc ánh sáng (của đức hạnh) nơi Đức Ma Ha Ca Diếp tái sanh như một vị Phật dưới tên Quang Minh Phật—The kingdom of light and virtue (glorious virtue), in which Mahakasyapa (Ma ha ca diếp) is to be reborn as a Buddha, under the name of Rasmiprabhasa (Quang Minh Phật).

quanh co

Winding.

quanh năm

Throughout the year.

quanh quẩn

To beat about the bush.

quay cuồng

To turn round and round—To be in a whirl.

quay gót

To turn back.

quay trở lại

See Quay Về.

quay về

To return—To go back.

Quán Thủ

(貫首, Kansu hay Kanzu): tiếng kính xưng các vị trú trì các ngôi chùa tổ hay đại tự của các tông phái.

Quản Nguyên Đạo Chơn

(菅原道眞, Sugawara Michizane, 845-903): còn gọi là Quản Công (菅公, Kankō) hay Quản Thừa Tướng, nhà quý tộc, học giả sống đầu thời Bình An, con của Thị Thiện (是善). Ông đã từng làm việc cho Vũ Đa Thiên Hoàng (宇多天皇), được tín nhiệm, và trải qua các chức như Văn Chương Bác Sĩ, Tạng Nhân Đầu, Tham Nghị, v.v. Vào năm 894, ông được cử làm sứ thần sang nhà Đường, nhưng ông lại kiến nghị phế bỏ việc ấy. Đến thời Đề Hồ Thiên Hoàng (醍醐天皇), ông làm chức Hữu Đại Thần, nhưng vào năm 901 ông bị lưu đày đến Thái Tể Phủ do lời sàm ngôn của Đằng Nguyên Thời Bình (藤原時平), và qua đời tại đó. Chính ông biên tập ra bộ Loại Tụ Quốc Sử (類聚國史), cùng tham gia soạn bộ Tam Đại Thật Lục (三代實錄). Thi văn của ông được thâu tập vào trong Quản Gia Văn Thảo (菅家文草), Quản Gia Hậu Tập (菅家後集). Chính vì sau khi ông qua đời có nảy sinh ra nhiều chuyện quái dị, nên vong linh của ông được tế nơi Bắc Dã Thiên Mãn Cung (北野天滿宮), về sau ông được tôn sùng như là vị thần của học vấn.

quen

To be acquainted with—To be accustomed to—To be used to.

quen biết

To know—To be acquainted with someone.

quen chịu

To be (get—become) accustomed to.

quen cực khổ

To be accustomed to.

quen làm

To be (get) accustomed to doing something.

quen sơ

To be slightly acquainted with.

quen thuộc

To be familiar (acquainted with).

quen thân

To know well.

quen việc

To be accustomed to and familiar (well acquainted) with the work.

qui tỉnh thiền sư

Zen master Kui-Xing—Thiền sư Qui Tỉnh, quê ở Quí Châu, là đệ tử của Thiền sư Thủ Sơn—Zen master Kui-Xing was born in Ji-Chou, was a disciple of Zen master Shou-Shan. • Một hôm Thủ Sơn đưa cái lược tre lên hỏi: “Gọi là lược tre thì xúc chạm, chẳng gọi lược tre thì trái mất, gọi là cái gì?” Sư bèn chụp cái lược ném xuống đất nói: “Là cái gì?” Thủ Sơn bảo: “Mù.” Sư nhơn lời này hoát nhiên đốn ngộ—One day Shou-Shan held up a bamboo comb and asked: “If you call it a bamboo comb, you commit an offense. If you don't call it a bamboo comb, then you have turned away from what you see. What do you call it?” Shou-Shan said: “Blind.” At these words Kui-Xing suddenly experienced unsurpassed awakening. • Sư khai đường, có vị Tăng hỏi: “Tổ Tổ tương truyền Tổ ấn, nay thầy được pháp nối người nào?” Sư đáp: “Cõi trong thiên tử, bờ ngoài tướng quân.”—When Kui-Xing began teaching, a monk asked him: “All the Patriarchs have one after the other passed on the ancestral seal. Whose heritage have you now attained?” Kui-Xing said: “At the center of the realm, an emperor. Beyond the frontier, a general.” • Sư thượng đường dạy chúng: “Tông sư huyết mạch hoặc phàm hoặc Thánh, Long Thọ, Mã Minh, thiên đường, địa ngục, vạc dầu sôi, lò than đỏ, ngưu đầu, ngục tốt, sum la vạn tượng, nhật nguyệt tinh thần, phương khác, cõi nầy, hữu tình vô tình.”—Zen master Kui-Xing entered the hall and addressed the monks, saying: “The blood and marrow of the teachers of our school; what is mundane and holy; Long-Su and Ma-Ming (names of famous Buddhists of earlier times); heaven and hell; the scalding cauldron and furnace embers (tortures of hell); the ox-headed jailers (demons in hell); the myriad phenomena of the universe; heavenly bodies; all things of the earth; animate and inanimate…” • Sư lấy tay vẽ một lằn rồi nói: “Đều vào tông nầy. Trong tông nầy cũng hay giết người, cũng hay tha người. Giết người phải được đao giết người; tha người phải được câu tha người. Cái gì là đao giết người, câu tha người? Ai nói được bước ra đối chúng nói xem? Nếu nói không được là cô phụ bình sanh. Trân trọng!”—Kui-Xing drew a circle in the air with his hand and then continued: “All of them enter this essential teaching. Within this teaching people can be killed and they can be given life. Those who die endure the killing knife. Those who live must attain the life-giving phrase. What are the killing knife and the life-giving phrase? Can you answer me? Come out of the congregation and we'll test you. If you can't speak, then you've betrayed your life! Take care! • Có vị Tăng thưa hỏi về cây bá của Triệu Châu. Sư bảo: “Ta chẳng tiếc nói với ngươi, mà ngươi có tin không?” Tăng thưa: “Lời nói của Hòa Thượng quý trọng con đâu dám chẳng tin.” Sư bảo: “Ngươi lại nghe giọt mưa rơi trước thềm chăng?” Vị Tăng ấy hoát nhiên ngộ, thốt ra tiếng: “Chao!” Sư hỏi: “Ngươi thấy đạo lý gì?” Vị Tăng làm bài tụng đáp: “Thiềm đầu thủy đích Phân minh lịch lịch Đả phá càn khôn Đương hạ tâm tức.” (Giọt mưa trước thềm, rành rẽ rõ ràng Đập nát càn khôn, Liền đó tâm dứt). A monk asked: “What is the meaning of Zhao-Chou's cypress tree in the garden?” Kui-Xing said: “I won't refuse to tell you, but will you believe me or not?” The monk said: “How could I not believe the master's weighty words? Kui-Xing said: “Can you hear the water dripping from the eaves?” The monk was suddenly enlightened. He unconsciously exclaimed: “Oh!” Kui-Xing said: “What principle have you observed?” The monk then composed a verse: “Water drips from the eaves, So clearly, Splitting open the Universe, Here the mind is extingushed.”

quy

1) Con rùa: Turtle—Tortoise. 2) Quy hàng: To give oneself up to—To surrender. 3) Quy phục: To commit oneself to. 4) Trở về: To return.

quy bất thận ngôn

(龜不慎言) Rùa không giữ gìn lời nói, ví dụ phàm phu ngu si thường vì không thận trọng lời nói nên gặp tai họa. Pháp uyển châu lâm quyển 82 nói: (Đại 53, 895 thượng): Thuả xưa, bên ao nước gần A Luyện Nhã có 2 con ngỗng trời làm bạn với 1 con rùa. Sau, nước ao cạn khô, 2 con ngỗng bàn nhau: Nay nước ao cạn khô chắc là bạn ta khổ lắm. Bàn bạc xong liền bảo rùa: Nước ao này khô cạn, bạn không zống được, bạn hãy ngậm lấy 1 cành cây, chúng tôi mỗi đứa ngậm 1 đầu, đưa bạn đến chỗ có nhiều nước; lúc ngậm cành cây, bạn cẩn thận không được nói chuyện. Dặn dò xong, 2 con ngỗng ngậm cành cây bay đi. Khi bay qua làng xóm, lũ trẻ trông thấy bảo nhau: Ô! Chúng mày ơi! Hai con ngỗng trời ngậm 1 con rùa kìa! Rùa nổi giận liền nói: Vậy thì có can dự gì đến chúng bay! Vừa mở miệng, rùa rơi ngay xuống đất và chết.

Quy chơn

(歸眞): quay trở về với chân như bản tánh, trả lại trạng thái xưa nay, tức Niết Bàn (s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃); cho nên đức Phật cũng như chư Tổ sư viên tịch cũng gọi là quy chơn. Về sau, từ này cũng được dùng phổ cập cho các cao tăng, tu sĩ Phật Giáo khi qua đời; đồng nghĩa với quy tịch (歸寂). Như trong Thích Thị Yếu Lãm (釋氏要覽, Taishō Vol. 54, No. 2127) quyển Hạ, phần Tống Chung (送終), giải thích rõ rằng: “Thích thị tử, vị Niết Bàn, viên tịch, quy chơn, quy tịch, diệt độ, thiên hóa, thuận thế, giai nhất nghĩa dã; tùy tiện xưng chi, cái dị tục dã (釋氏死、謂涅槃、圓寂、歸眞、歸寂、滅度、遷化、順世、皆一義也、隨便稱之、蓋異俗也, dòng họ Thích [tu sĩ] qua đời, gọi là Niết Bàn, viên tịch, quy chơn, quy tịch, diệt độ, thiên hóa, thuận thế, đều cùng một nghĩa cả; tùy tiện mà gọi, vì khác với thế tục vậy).” Trong Tứ Giáo Nghi (四敎義, Taishō Vol. 46, No. 1929) quyển 1 cũng cho biết rằng: “Phù đạo tuyệt nhị đồ, tất cánh giả thường lạc, pháp duy nhất vị, tịch diệt giả quy chơn (夫道絕二途、畢竟者常樂、法唯一味、寂滅者歸眞, phàm đạo dứt hai đường, rốt cùng là thường lạc, pháp chỉ một vị, vắng lặng là về chơn).” Trong bài Đông Đô Phú (東都賦) của Ban Cố (班固, 32-92) nhà Hán có câu: “Toại linh hải nội khí mạt nhi phản bổn, bối ngụy nhi quy chơn (遂令海內棄末而反本、背僞而歸眞, bèn khiến cho trong nước bỏ ngọn mà tìm nguồn, dứt dối mà về chơn).” Hay trong Nam Nhạc Tổng Thắng Tập (南嶽總勝集, Taishō Vol. 51, No. 2097) quyển Hạ, phần Lương Song Tập Tổ (梁雙襲祖), lại có đoạn: “Hốt nhất nhật vị môn nhân viết: 'Ngô tương nhập thất chi hậu, nhược hữu thiên khí dị thường, tốc lai báo ngô.' Lạp nhật trung ngọ tứ khí trừng thanh, đệ tử báo chi, nhi sách mộc dục phần hương, tịch nhiên quy chơn (忽一日謂門人曰、吾將入室之後、若有天氣異常、速來報吾、翌日中午四氣澄清、弟子報之、而索沐浴焚香、寂然歸眞, Một hôm nọ, Tổ chợt bảo với môn nhân rằng: 'Sau khi vào trong thất rồi, nếu có khí trời khác thường, mau đến báo cho ta biết.' Vào giữa trưa hôm sau, bốn khí lắng trong, đệ tử báo cho ngài biết, Tổ bèn nhờ tắm rửa, xông hương, rồi lẳng lặng ra đi).” Trong bài Bảo Nguyệt Đại Sư Tháp Minh (寶月大師塔銘) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống có câu: “Oánh nhiên Ma Ni, quy chơn thử độ (瑩然摩尼、歸眞於土, suốt trong Ma Ni, quy chơn cõi này).”

quy chế

Rule—Status.

quy củ

Norm—Method—Standard.

Quy Dữ

(歸嶼) (862-936) Cao tăng Trung Quốc sống vào cuối đời Đường đầu thời Ngũ đại, người ở Thọ Xuân, (huyện Thọ, tỉnh An huy), họ Mi. Năm 20 tuổi, sư thụ giới Cụ túc, tinh thông cả Đại thừa và Tiểu thừa, đối với các bộ luận như Câu xá, Duy thức, Nhân minh... sư có các kiến giải rất đặc biệt. Sư từng tham học ngài Ngạn huy ở Nam yên, sau trụ trì chùa Đại Tướng Quốc ở Đông Kinh (tức Biện kinh, nay là huyện Khai phong, tỉnh Hà nam). Cuối đời Hậu Lương, sư được vua ban cho áo đỏ và danh hiệu Diễn Pháp Đại Sư, đồng thời, ban tấm biển Trường Giảng Viện ở viện Ngự dung, Đông tháp. Năm Thanh thái thứ 3 (936) đời Hậu Đường, sư thị tịch thọ 75 tuổi, tăng lạp 55. Phật tổ thống kỉ quyển 42, 51 ghi tên của sư là Qui tự (......) và hiệu ban là Diễn Giáo Đại Sư. Sư có tác phẩm: Kinh Luận hội yếu 20 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.7].

quy gia ổn toạ

(歸家穩坐) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Về nhà ngồi yên ổn. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được dùng để ví dụ cuộc sống xa lìa mê vọng, 1 niệm phát tâm tu hành Phật đạo, triệt đề cầu tâm chứng thấu suốt. Bích nham lục tắc 1 (Đại 48, 140 trung) ghi: Ngũ tổ tiên sư từng nói: Chỉ cần 1 câu khuếch nhiên vô thánh này, nếu người thấu suốt được, thì về nhà ngồi yên ổn, dẹp sạch đám dây bìm dây sắn (ví dụ văn tự ngữ ngôn), chẳng cản trở gì cho việc đập bể thùng sơn.

quy hàng

To yield—To give in---To surrender.

quy hồi

To return—To come back.

quy kính

Trở về quy mệnh và kỉnh lễ Đức Như Lai—To turn to reverence, put one's trust in and worship the Buddha.

quy kính tự

(歸敬序) Cũng gọi Qui kính văn, Qui kính kệ. Chỉ cho phần văn từ bày tỏ lòng qui y kính lễ Tam bảo thường đặt ở đầu Kinh, Luật, Luận trong 3 tạng. Văn qui kính thường là những câu ngắn như: - Qui mệnh Đại trí hải Tì lô giá na Phật. - Nam mô Thích ca mâu ni Phật. - Nam mô A di đà Phật... Cũng có trường hợp văn qui kính được cấu thành bằng những câu kệ, như luận Thuận chính lí (Đại 29, 329 thượng) ghi: Nếu muốn tạo luận Phải có tông thừa Đối với Bản tôn Trước phải qui kính. Trong các Kinh, Luật, Luận bằng tiếng Phạm, Pàli, Tây tạng thì quá phân nửa đều có phụ thêm văn qui kính, như ở đầu kinhVô lượng thọ bản tiếng Phạm có văn quikính như sau: O namo ratnatrayàya, o nama # zrìsarvabuddhabodhisattvebhya #, namo dazadiganaôtàparyaôtaloka = dhàtupratiwỉhitebhya # sarvabuddha = bodhisattvàya zràvakapratyeka = buddhebhyo ’tìtànàgatapratyut = pannebhya #, namo ’mitàbhàya, namo ’cìôtyaguịaôtaràtmane (Án qui mệnh Tam bảo. Án qui mệnh cát tường nhất thiết Phật Bồ tát. Qui mệnh an trụ thập phương vô biên vô lượng thế giới chi qúa khứ vị lai hiện tại nhất thiết Phật Bồ tát, Thánh giả Thanh văn Độc giác. Qui mệnh A di đà bà. Qui mệnh bất khả tư nghị công đức chi cụ túc giả). Còn ở đầu các kinh tiếng Pàli thì phần nhiều có văn qui kinh như sau: Namo tassa bhagevato arahato sammàsam = buddhassa (Nam mô bà già bà a ra ha tam miệu tam Phật đà). Nhưng trong các kinh điển Hán dịch, trừ những kinh quĩ Mật giáo được dịch từ đời Tống về sau, còn ngoài ra rất ít thấy văn qui kính. Đây là do dịch giả bỏ bớt đi, hay là trong nguyên bản không có? Vấn đề này không khảo chứng được. Về dụng ý của tác giả viết văn qui kính ở đầu các bộ luận thì Câu xá luận quang kí quyển 1 nêu ra 3 lí do như sau: 1. Vì sợ có ma sự gây trở ngại nên lễ thỉnh Phật, Bồ tát gia bị. 2. Biết rõ đức Thế tôn có đầy đủ công đức thù thắng nên đối với chính pháp của Ngài nói ra sinh lòng kính tin tôn trọng. 3. Giống như người con có hiếu, bất cứ làm việc gì cũng đều thưa trước với cha mẹ. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển thượng cũng nêu 6 nguyên nhân sau đây: 1. Vì mang ơn nên bày tỏ lòng tôn kính đối với ơn Tam bảo: Phật pháp tăng. 2. Vì xin gia hộ nên khẩn cầu uy lực Tam bảo giúp ích cho việc hoằng truyền đại pháp. 3. Vì phát sinh lòng tin, bởi người tạo luận tự thẹn mình thiếu khả năng nên qui kính Tam bảo để cầu sự giúp sức cho người khác tin nhận. 4. Vì lễ phép cung kính, như bầy tôi trung, người con hiếu ở thế gian, hễ làm việc gì đều tâu vua và trình cha trước. 5. Biểu thị sự thù thắng, bởi vì Tam bảo là tốt lành, hơn hẳn thế gian, cho nên ở đầu để nói tính vượt trội hơn hết. 6. Vì lợí ich chúng sinh, khiến chúng sinh đối với Tam bảo phát tâm tin hiểu quán xét, cúng dường qui y, cho nên dùng văn qui kính biểu thị đính lễ. [X.luật Tứ phần Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.4; Pháp uyển châu lâm Q.13-20].

Quy linh

(龜齡): tuổi rùa. Rùa là loại động vật có tuổi thọ rất lâu, cho nên để ví cho người có tuổi thọ, người ta thường dùng từ quy linh. Hạc là loài chim sống thành đàn, có số lượng rất nhiều không thể đếm được; vì vậy có từ hạc toán (鶴算). Cụm từ “quy linh hạc toán (龜齡鶴算)” này thường được dùng chung để dụ cho người trường thọ cũng như để chúc thọ, đồng nghĩa với quy niên hạc thọ (龜年鶴壽). Nó vốn xuất xứ từ bài từ Thủy Điệu Ca Đầu (水調歌頭, phần Vi Trịnh Tử Lễ Đề Hình Thọ [爲鄭子禮提刑壽]) của Ninh Hầu Trí (甯侯寘): “Tọa hưởng quy linh hạc toán, ổn bội kim ngư ngọc đới, thường cận giả hoàng bào (坐享龜齡鶴算、穩佩金魚玉帶、常近赭黃袍, ngồi hưởng tuổi thọ lâu dài, đeo mãi cá vàng dây ngọc, thường gần áo hoàng bào đỏ)”; cũng như từ bài thơ Du Tiên Thi (遊仙詩) của Quách Cảnh Thuần (郭景純) nhà Tấn: “Tá vấn phù du bối, ninh tri quy hạc niên (借問蜉蝣輩、寧知龜鶴年, mượn hỏi hàng nhện nước, mới biết tuổi sống lâu).”

quy luật

Regulation—Statute and law.

Quy mao

(龜毛): lông rùa. Cũng như sừng thỏ, lông rùa là vật không có thật, vì trời sinh con rùa không bao giờ mọc lông. Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 12 khẳng định rằng: “Hựu như thố giác, quy mao, diệc đản hữu danh nhi vô thật (又如兔角、龜毛、亦但有名而無實, lại như sừng thỏ, lông rùa, cũng chỉ có tên mà không thật).” Trong Ma Ha Chỉ Quán (摩訶止觀, Taishō Vol. 46, No. 1911) quyển 10 dạy rằng: “Nhân ngã như quy mao thố giác bất khả đắc (人我如龜毛兔角不可得, ta và người cũng như lông rùa sừng thỏ, không thể có được).” Hay trong Sở Thạch Phạn Kì Thiền Sư Ngữ Lục (楚石梵琦禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1420) lại có câu: “Thiết ngưu bối thượng quát quy mao, thạch nữ yêu biên tài thố giác (鐵牛背上括龜毛、石女腰邊裁兔角, trên lưng trâu sắt tìm lông rùa, bên hông gái đá cắt sừng thỏ).” Hoặc trong Cẩm Giang Thiền Đăng (錦江禪燈, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1590) quyển 12, phần Thượng Thư Huyễn Am Hồ Cư Sĩ (尚書幻菴胡居士), cũng có câu: “Thố giác trượng thiêu Hương Thủy hải, quy mao thằng phược Nga Mi sơn (兔角杖挑香水海、龜毛繩縛蛾眉山, gậy sừng thỏ khuấy biển Hương Thủy, thừng lông rùa cột núi Nga Mi).”

quy mao

Lông rùa (hay sừng thỏ), được ví với những chuyện không thể xãy ra được—The hair on a tortoise, i.e. the non-existent.

Quy mao thố giác

龜毛兔角; J: kimō-tokaku;|Lông rùa sừng thỏ

quy mao thố giác

Lông rùa sừng thỏ, ví với những việc không thể xãy ra được—The hair on a tortoise and the horn of a rabbit, i.e. the non-existent. ; (龜毛兔角) Lông rùa sừng thỏ. Rùa vốn không có lông, thỏ cũng chẳng có sừng, nhưng vì rùa bơi trong nước, rong rêu bám vào mình rùa, người đời nhìn vào nhận lầm rong rêu là lông rùa, cũng như nhận lầm 2 cái tai thỏ dỏng lên là sừng thỏ. Bởi thế các kinh luận thường dùng từ ngữ lông rùa sừng thỏ để ví dụ những sự vật chỉ có tên chứ không có thực, hoặc vật hoàn toàn không có trong thực tế; cũng tức là phàm phu, vì vọng chấp mà nhận lầm có thực ngã, thực pháp. Luận Thành thực quyển 2 (Đại 32, 256 thượng) nói: Trong các việc thế gian, sừng thỏ, lông rùa, chân rắn, mùi muối, màu sắc gió... đều là không. [X. kinh Lăng già Q.2; luận Đại trí độ Q.1; Tông kính lục Q.46].

quy mạng

Namas, Namah, or Namo (skt)—Nam Mô—Quy mệnh hay về nương—Devotion-of-life bow. 1) Thân mệnh nương theo Đức Phật: To entrust one's life, or to devote one's life to the Buddha, etc. 2) Quy thuận theo giáo mệnh hay lời dạy của Phật: To obey Buddha's teaching. 3) Căn mệnh quy nguyên như Đức Phật đã từng quy nguyên vậy: To cultivate the Buddha's way, hoping one day we can enter nirvana as did the Buddha.

quy mạng thập phương kim cang phật

Take refuge in the Diamond Buddha of the ten directions.

quy mạng tỳ lô xá na phật

Take refuge in Vairocana Buddha.

quy mệnh hợp chưởng

(歸命合掌) Phạm: Praịàma. Hán âm: Bát ra noa ma. Gọi tắt: Qui hợp chưởng. Ân thứ 7 trong 12Hợp chưởng, là ấn mẹ trong các loại thủ ấn của Mật giáo. Hợp chưởng là chắp tay, tướng ấn này như sau: Mười đầu ngón tay phải và tay trái đan vào nhau, ngón tay phải đặt ở trên ngón tay trái. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 13, thì tướng ấn này giống như ấn Kim cương hợp chưởng. Thanh long quĩ quyển thượng thìgọi ấn này là Kim cương hợp chưởng. Kinh và Nghi quĩ của Kim cương đính bộ thì cho rằng ấn nàyvà ấn Kim cương hợp chưởng là giống nhau. Tóm lại, ấn này là ấn tín tâm kiên cố, biểu thị tâm cung kính cúng dường Bản tôn của hành giả Mật giáo. Ngoài ra còn biểu thị ý nghĩa chúng sinh quay về với Phật giới, cho nên trong ấn này, bàn tay phải biểu thị Phậtgiới, bàn tay trái biểu thị Chúng sinh giới. (xt. Thập Nhị Hợp Chưởng).

quy mệnh tận thập phương vô ngại quang như lai

(歸命盡十方無礙光如來) Tận thập phương vô ngại quang Như lai là 1 trong các đức hiệu của Phật A di đà. Vì ánh sáng của Phật A di đà chiếu soi khắp các quốc độ trong 10 phương mà không bị ngăn ngại, nên đức ánh sáng ấy của Ngài được gọi là Tận thập phương vô ngại quang. Ý nói ánh sáng của đức Phật A di đà không bị người và pháp làm chướng ngại. Chúng sinh qui y, quy thuận sắc mệnh của Như lai, gọi là Qui mệnh. Mặt khác, Phật A di đà còn thành tựu công đức làm cho chúng sinh an tâm qui mệnh nên tôn xưng danh hiệu của ngài là Qui mệnh tận thập phương vô ngại quang Như lai. Tịnh độ Chân tông của Nhật bản gọi danh hiệu này là Thập tự danh hiệu (Danh hiệu 10 chữ). [X. Vô lượng thọ kinh Ưu bà đề xá nguyện sinh kệ; Tán A di đà Phật kệ]. (xt. Thập Nhị Quang, Thập Nhị Quang Phật).

quy mệnh đỉnh lễ

(歸命頂禮) Cũng gọi Qui mệnh lễ. Thân tâm chí thành cung kính đính lễ Tam bảo. Qui mệnh là đem cả thân tâm qui y Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng, đó là thuộc về ý nghiệp lễ bái. Đính lễ là đầu đặt sát đất, chạm vào chân Phật, đó là thuộc về thân nghiệp lễ bái. Cách lễ bái này được xem là cách cung kính nhất trong các cách lễ bái. [X. Đại nhật kinh sớ Q.12; Vãng sinh lễ tán kệ]. (xt. Nam Mô, Lễ).

quy nguyên

Quy Bổn—Quy Chân—Quy Hóa—Quy Tịch—Ra khỏi cõi sanh diệt để trở về cội nguồn chân như tịch tĩnh (nhập niết bàn)—To return to one's origin, enter nirvana, i.e. to die. ; (歸元) Cũng gọi Qui hóa, Qui chân, Qui tịch, Qui bản, Qui không, Qui khứ. Đồng nghĩa: Viên tịch, Nhập tịch, Thị tịch.Chỉ cho cái chết của người đời hoặc sự thị tịch của giới tăng sĩ. Qui nguyên nghĩa là lìa khỏi cõi đời vô thường sinh diệt để trở về cảnh giới bản nguyên chân tịch (nguồn gốc chân thực vắng lặng, tức Niết bàn), vì thế từ ngữ này thường được dùng để chỉ cho cái chết của tăng sĩ hoặc người chứng đạo. Đến đời sau, nó cũng được dùng chỉ cho cái chết của người thường. [X. kinh Đại Phật đính thủ lăngnghiêm Q.4; Lăng nghiêm kinh nghĩa sớ chú kinh Q.8; chương Trụ trì trongSắc tu Bách trượng thanh qui Q. thượng; Tăng tục nam nữ vị bài chi thượng đầu văn tự trong Chư hồi hướng thanh qui Q.4].

Quy Nguyên Trực Chỉ Tập

(歸元直指集, Kigenjikishishū): 4 quyển, trước tác của Thiên Y Tông Bổn (天衣宗本, ?-?) nhà Minh, san hành vào năm thứ 32 (1553) niên hiệu Gia Tĩnh (嘉靖), trùng san vào năm thứ 4 (1570) niên hiệu Càn Long (乾隆) bản 2 quyển có lời tựa của Lộc Viên Cư Sĩ Vạn Biểu (鹿園居士萬表), là tập thâu lục 97 thiên gồm những thuyết xưa nay liên quan đến tư tưởng Thiền Tịnh Nhất Trí. Cuối quyển 2 có Tây Phương Bách Vịnh (西方百詠), cuối quyển 4 có Sơn Cư Bách Vịnh (山居百詠).

quy nguỡng tông

Một dòng Thiền được sáng lập bởi ngài Bách Trượng Hoài Hải—A Zen sect established by Pai-Ch'ang-Huai-Hai—See Bách Trượng Hoài Hải.

quy ngưỡng

Kính ngưỡng và tin tưởng vào—To turn to in expectancy or adoration, put trust in. ; (歸仰) Phạm: Adhigamanìya. Biểu thị ý nghĩa qui mệnh kính ngưỡng, tức là qui y kính lễ chư Phật, Bồ tát. Chương Qui kính trong Pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 4 (Đại 45, 316 trung) nói: Lại khởi tâm trong sạch/Gắng tu nghiệp thù thắng/Tỏ lòng thành qui ngưỡng/Vì thế gọi kính lễ. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng].

Quy Ngưỡng Tông

(潙仰宗, Igyō-shū): một trong Ngũ Gia Thất Tông (五家七宗) của Trung Quốc; Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐) và pháp từ của ông là Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (仰山慧寂), được xem như là tổ khai sáng tông phái này. Quy Ngưỡng (潙仰) là sự kết hợp tên đầu của hai ngọn núi Quy Sơn (潙山) và Ngưỡng Sơn (仰山), nơi hai vị tổ sư an trú, để đặt thành tên của tông phái. Vào đầu niên hiệu Nguyên Hòa (, 806-820) nhà Đường, Quy Sơn Linh Hựu, người kế thừa dòng pháp của Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海), đến Đại Quy Sơn (大潙山) ở phía Tây của Huyện Ninh Hương (寧郷縣, Tỉnh Hồ Nam), kiến lập Đồng Khánh Tự (同慶寺) và tiếp độ cho hơn ngàn đồ chúng. Vào năm thứ 6 (879) niên hiệu Càn Phù (乾符), Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, đệ tử của ông, cũng đến Viên Châu Ngưỡng Sơn (袁州仰山) ở Huyện Nghi Xuân (宜春), Tỉnh Giang Tây (江西省), cử xướng tông phong và hính thành một tông phái riêng. Vào khoảng thời Ngũ Đại (五代, 907-959), tông phái nhất thời huưg thịnh, nhưng đến thời nhà Tống thì suy tàn; cuối cùng hợp dòng với Lâm Tế Tông và tuyệt tích luôn. Mạng mạch của tông môn kéo dài trong khoảng 150 năm mà thôi. Về Tông phong của phái này, Quy Sơn thì có phong cách cơ dụng hùng dũng; Ngưỡng Sơn thì nhờ vừa kế thừa gia phong của Quy Sơn, rồi kết hợp với gia phong của Đam Nguyên Ứng Chơn (耽源應眞, pháp từ của Nam Dương Huệ Trung [南陽慧忠]), nên khi dạy dỗ, hướng dẫn cho học chúng thì một mặt nghiêm khắc, sử dụng 96 loại viên tướng, v.v., của tông phong Nam Dương, và mặt khác làm cho dễ lãnh ngộ hơn. Tông phong này hoàn toàn khác với sự cay đắng của Lâm Tế, sự nghiêm mật của Tào Động; và hình thành tông phong độc đáo, riêng biệt gọi là im lặng khế ngộ trong vấn đáp đối ứng.

Quy Ngưỡng tông

潙仰宗; C: guī-yǎng-zōng; J: igyō-shū;|Một dòng thiền do Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu và đệ tử là Ngưỡng Sơn Huệ Tịch sáng lập, được xếp vào Ngũ gia thất tông – Thiền chính phái của Trung Quốc. Dòng thiền này sau được tông Lâm Tế hấp thụ và thất truyền trong thế kỉ thứ 10/11.|Một nét đặc biệt của tông này là phương pháp giáo hoá, »đánh thức« môn đệ bằng những biểu tượng được vẽ trong 97 vòng tròn (viên tướng). Hệ thống giáo hoá này được Lục tổ Huệ Năng sử dụng, truyền cho Quốc sư Nam Dương Huệ Trung đến Ðam Nguyên Ứng Chân và Ngưỡng Sơn Huệ Tịch. Ngày nay cách sử dụng viên tướng này đã thất truyền nhưng có lẽ đã gây ảnh hưởng lớn đến sự hình thành của Thập mục ngưu đồ (mười bức tranh chăn trâu) và Ðộng Sơn ngũ vị của Thiền sư Ðộng Sơn Lương Giới. 97 viên tướng được sử dụng như mật ngữ, và các vị Thiền sư có kinh nghiệm Giác ngộ thâm sâu sử dụng nó để trau dồi kinh nghiệm với nhau. Vì biết được khả năng tiêu hoại khi truyền hệ thống này bừa bãi – nếu bị lạm dụng trở thành một trò chơi – nên các vị giữ kín bí mật này, chỉ truyền cho những môn đệ hạng thượng căn.|Thiền sư Ngưỡng Sơn trả lời như sau khi được hỏi vì sao Sư thấy người đến liền vẽ một vòng tròn trong đó viết chữ »Ngưu« (牛) (Ðịnh Huệ dịch):|»Cái ấy cũng là việc không đâu. Nếu chợt hội được thì cũng chẳng phải từ bên ngoài đến, nếu không hội thì quyết chắc là không biết. Ta hỏi lại ông: Bậc lão túc các nơi – ngay trên thân các ông – chỉ cái gì là Phật tính? Nói là phải hay nín là phải, hay chẳng nói chẳng nín là phải, hay lại đều là không phải? Nếu ông nhận nói là phải thì như là người sờ đuôi voi. Nếu ông nhận nín là phải thì như người mù sờ tai voi. Nếu ông nhận chẳng nói chẳng nín là phải thì như người mù sờ vòi voi. Nói vật vật đều phải thì như người mù sờ nhằm bốn chân voi. Nếu bảo đều chẳng phải tức là ném bỏ con voi ấy, rơi vào không kiến. Chỗ thấy của các người mù kia chỉ ở nơi danh mạo sai biệt trên con voi… Lại nói: ›Ðạo vốn không hình tướng, trí huệ tức là đạo. Người có kiến giải này gọi là chân Bát-nhã.‹ Người có mắt sáng thấy được toàn thể con voi thì thật tính cũng như vậy.«

quy ngưỡng tông

(潙仰宗) Tên của Thiền phái thuộc pháp hệ ngài Nam nhạc, tôn các ngài Qui Sơn Linh Hựu và Ngưỡng Sơn Tuệ Tịch làm Tông tổ, lấy 2 chữ Qui ngưỡng làm tên tông, 1 trong 5 nhà 7 tông (Ngũ gia thất tông) của Thiền Nam tông Trung Quốc. Khoảng năm Nguyên hòa đời Đường, ngài Linh Hựu trụ ở Qui sơn (nay là huyện Trường Sa, tỉnh Hồ Nam), tuyên dương tông phong, đệ tử là Tuệ Tịch kế tiếp tập đại thành. Vào cuối đời Đường và đầu thời Ngũ đại, tông Qui ngưỡng rất hưng thịnh, sang đời Tống thì dần dần suy vi và cuối cùng được sáp nhập với tông Lâm Tế, thế là tuyệt tích sau khi tồn tại 150 năm. Sơ tổ Linh Hựu đắc pháp nơi ngài Bách Trượng Hoài Hải, một mình ở Qui sơn 7 năm. Về sau, nhân có ngài Lại An từ nơi ngài Bách Trượng đến mà người học dần dần qui tụ về đây, thường hơn 1.500 người, lấn lướt cả môn đình ngài Hoàng Bá. Đệ tử là ngài Tuệ Tịch thừa kế, trụ ở Ngưỡng Sơn tại Viên Châu, phát triển tông phong, về sau chia làm 2 phái Tây tháp và Nam tháp. Tây tháp do ngài Ngưỡng Sơn truyền còn chịu ảnh hưởng dòng pháp của ngài Đàm Nguyên Ứng Chân; Nam tháp thì chính thức thuộc pháp hệ Qui sơn. Phái Tây tháp bắt đầu từ ngài Quang Mục, truyền cho ngài Tư Phúc Như Bảo, lại truyền cho ngài Cát Châu Trinh Thúy và Đàm Châu Như Uyển. Phái Nam tháp bắt đầu từ ngài Quang Dũng, rồi truyền cho ngài Ba Tiêu Tuệ Thanh và Thanh hóa Toàn phó. Dưới ngài Tuệ Thanh, có các ngài Trình Châu Kế Triệt, Hưng Dương Thanh Nhượng, U Cốc Pháp Nhãn... Ngoài ra, đệ tử của ngài Ngưỡng Sơn còn có các sư: Hoắc Sơn Cảnh Thông, Vô Trước Văn Hỉ... Trong pháp mạch ngũ gia, tông này suy vi sớm nhất. Pháp hệ truyền thừa chỉ có 4, 5 đời, từ đời Tống về sau thì chấm dứt. Cứ theo Nhân thiên nhãn mục quyển 4 thì tông Qui ngưỡng chia thế giới chủ quan và khách quan ra làm 3 thứ sinh: Tưởng sinh, Tướng sinh, và Lưu chú sinh, mỗi thứ đều có sự phủ định. - Tưởng sinh: Chỉ cho những suy tư chủ quan, cho rằnghễcó tâm tư duy thì đều là nhơ nhớp tạp loạn, cần phải xa lìa mớiđượcgiải thoát. -Tướng sinh: Chỉ cho cảnh sở duyên, tức thế giới khách quan, cũng cần phải phủ định. Cho nên trong sách có câu kệ (Vạn tục 113, 437 thượng): Ánh sáng chiếu vào rõ đường về. Mộng tối tan rồi hai mắt sáng. -Lưu chú sinh: Chỉ cho thế giới chủ quan, khách quan biến hóa vô thường, âm thầm trôi chảy, theo nhau không dứt. Nếu có thể nhìn thẳng vào dòng thác tư duy ấy mà cắt đứt được thì chứng đắc trí viên minh, đạt đến cảnh giới tự tại. Về lí luận tu hành thì tông này theo yếu chỉ Lí sự như như của các Thiền sư Đạo Nhất, Hoài Hải, cho rằng vạn vật hữu tình đều có đủ tính Phật, nếu minh tâm kiến tính thì có thể thành Phật. Thiền phong của tông này là Phương viên mặc khế (lặng lẽ khế hợp tất cả), cơ pháp tiếp hóa người học phần nhiều dùng cách đối đáp để đưa đến chỗ thầm hợp (ngộ). [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.9; Thích thị kê cổ lược Q.3; Ngũ gia tông chỉ toàn yếu Q.hạ].

quy nhập

Quay lại để đi vào đường đạo—To turn to and enter, e.g. a religion.

quy nông

Tên của một ngôi chùa cổ tọa lạc trong quận Châu Thành tỉnh Trà Vinh, Nam Việt Nam. Chùa được xây dựng từ lâu, nhưng không ai biết được xây vào năm nào. Chùa được trùng tu vào năm 1900—Name of and ancient temple, located in Châu Thành district, Trà Vinh province, South Vietnam. It was built a long time ago, but no one knows the time. It was rebuilt in 1900.

quy nội cung dưỡng

(歸內供養) Cũng gọi Nhập nội cúng dường. Phụng thỉnh cúng dường Phật, Bồ tát trong cung đình. Vào đời Đường, các vua Trung Tông, Túc Tông, Đại Tông... thường phụng thỉnh cúng dường chư Phật, Bồ Tát ở trong cung. Trong các nghi thức phụng thỉnh, phụng tống đều có sai sứ cầm chiếu thư để thi hành. [X. Nội đạo tràng trong Đại tống tăng sử lược Q.trung; Chính pháp nhãn tạng Q.12, 13].

Quy phạm

(規範): nghĩa là điển phạm, quy mô, quy cách. Như trong tác phẩm Di Kiên Chi Chí Quý (夷堅支志癸), phần Tuyết Phong Tông Nhất (雪峰宗一), của Hồng Mại (洪邁, 1123-1202) nhà Tống, có đoạn: “Tuyết Phong Trưởng Lão Tông Nhất, dĩ Thuần Hy cửu niên lai trú trì, chú tích lưỡng tuế, ưu tự kiến Tỳ Lô Các, an trữ tạng kinh, quy phạm hùng vĩ (雪峰長老宗一、以淳熙九年來住持、駐錫兩歲、於寺建毗盧閣、安貯藏經、規範雄偉, Trưởng Lão Tuyết Phong Tông Nhất, vào năm thứ 9 [1182] niên hiệu Thuần Hy thì đến trú trì, sống được hai năm, ngài dựng Tỳ Lô Các tại chùa này, để an trí kinh tạng, quy mô rất hùng vĩ).” Hay trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) lại có đoạn: “Cố ưng tuân thủ quy phạm, bất đắc tại trú trì tiền tụng nhân chi đoản, bất đắc tại đồng liêu trung hí tiếu (故應遵守規範、不得在住持前訟人之短、不得在同寮中戲笑, vì vậy nên tuân thủ quy phạm, không được bàn cãi lỗi sai của người khác trước mặt trú trì, không được ở trong cùng liêu cười giỡn).”

quy phật

1) Trở thành Phật tử: To become a Buddhist. 2) Vãng sanh Cực Lạc: To go to the Pure Land after passing away.

quy phục

To submit—To yield—To give in—To surrender.

quy sơn

(歸山) I. Qui Sơn. Cũng gọi Đại qui sơn. Tên núi ở phía Tây huyện Trường sa, tỉnh Hồ nam, Trung quốc, là 1 nhánh của dãy Hành sơn, nơi đầu nguồn của dòng sông Qui. Núi này phần nhiều là đất bằng, nước nôi rất tiện lợi, vì thế người xuất gia từ xưa phần nhiều trồng trọt ở nơi này nên có tên là La hán điền (ruộng La hán). Ngài Linh Hựu đời Đường đã sống ở đây, người đời gọi ngài là Qui Sơn Thiền sư. Khoảng năm Đại trung, ông Bùi Hưu tâu vua xin xây chùa Mật Ấn. Ngoài ra còn có các thắng cảnh như: Chùa Đồng Khánh, vườn Hoa quả, am Liên hoa, nhà Quán âm...[X. Cổ kim đồ thư tập thành phương chức điển thứ 1202, 1210]. II. Qui Sơn. Cũng gọi Tiểu qui sơn. Núi ở phía đông huyện Lễ Lăng, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Trên núi có ngôi chùa Tiểu qui sơn do Thiền sư Đại Duyên xây dựng vào đời Đường. III. Qui Sơn. Chỉ cho Thiền sư Qui sơn Linh Hựu, Sơ tổ của tông Qui ngưỡng. (xt. Qui Sơn Linh Hựu). ; (潙山) Cũng gọi Qui tự, Qui viện. Sơn ở đây hàm ý là chùa, viện. Nghĩa là chư tăng khi có việc phải ra khỏi chùa, sau khi xong việc trở về, gọi là Qui sơn.

quy sơn cảnh sách

(潙山警策) Gọi đủ: Qui sơn Đại viên thiền sư cảnh sách. Tác phẩm, 1 quyển, là Ngữ lục của ngài Qui Sơn Linh Hựu soạn vào đời Đường. Ngài Linh Hựu xét thấy những người tu hành lúc bấy giờ dần dần trở nên biếng nhác, cẩu thả, không giữ gìn uy nghi, nên ngài soạn sách này để nhắc nhở họ quay về chính đạo. Sách này được viết theo thể văn xuôi và văn vần. Trước hết, dùng văn xuôi để nói rõ ý chỉ cảnh sách, chia làm 5 đoạn: 1. Nói về cái tai họa sắc thân. 2. Trưng bày thói tệ hại của giới xuất gia. 3. Nói rõ mục đích chân chính của việc xuất gia. 4. Chỉ bày con đường tắt vào đạo. 5. Dặn dò khuyên bảo. Kế đó là văn vần gồm 36 câu, mỗi câu 4 chữ, lời lẽ ngắn gọn, ý tứ thâm thiết. Thiền tông hợp chung sách này với kinh Tứ thập nhị chương và kinh Di giáo, gọi là Phật tổ Tam kinh mà người tu hành cần phải học. Về sách chú Qui sơn cảnh sách thì có: Qui sơn cảnh sách chú, 1 quyển, do ngài Thủ Toại soạn vào đời Tống, Qui sơn cảnh sách chỉ nam, 1 quyển, do ngài Đạo Bái soạn vào đời Minh, Qui sơn cảnh sách chú thích kí, 2 quyển, do ngài Hoằng Tán soạn vào đời Minh, Qui sơn cảnh sách cú thích kí chú, 1 quyển, do ngài Đại Hương soạn vào đời Minh.

Quy Sơn Linh Hựu

(潙山靈祐, Izan Reiyū, 771-853): họ là Triệu (趙), xuất thân vùng Trường Khê (長溪), Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), vì ông sống ở Quy Sơn (潙山) nên được gọi là Quy Sơn Linh Hựu. Ông cùng với đệ tử Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (仰山慧寂) cử xướng Thiền phong rộng rãi, pháp hệ của họ được gọi là Quy Ngưỡng Tông (潙仰宗) và Linh Hựu là vị tổ của tông này. Năm lên 15 tuổi, ông xuất gia, học kinh luật ở Long Hưng Tự (龍興寺) vùng Hàng Châu (杭州, thuộc Tỉnh Triết Giang), rồi đến nhập môn với Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海) ở Hồng Châu (洪州, Tỉnh Giang Tây) và kế thừa dòng pháp của vị này. Cùng đến tham học với ông lúc bấy giờ có Hoàng Bá Hy Vận (黃檗希運), cả hai đã làm chấn động Thiền giới thời nhà Đường. Sau Linh Hựu đến dừng chân trú tại Đại Quy Sơn (大潙山), nỗ lực cử xướng tông phong của mình và tạo được nhiều bậc long tượng xuất chúng. Đệ tử đắc pháp của ông có đến 41 người, đặc biệt trong đó Ngưỡng Sơn Huệ Tịch là nhân vật xuất sắc nhất. Bên cạnh đó còn có Hương Nghiêm Trí Nhàn (香嚴智閑), Diên Khánh Pháp Đoan (延慶法端), Kính Sơn Hồng Nhân (徑山洪諲), Linh Vân Chí Cần (靈雲志勤), Vương Kính Sơ Thường Thị (王敬初常侍), v.v. Ông thị tịch vào ngày mồng 9 tháng giêng năm thứ 7 niên hiệu Đại Trung (大中), hưởng thọ 83 tuổi đời và 64 hạ lạp, được ban cho thụy hiệu là Đại Viên Thiền Sư (大圓禪師). Trước tác của ông có Quy Sơn Cảnh Sách (潙山警策) 1 quyển, Đàm Châu Quy Sơn Linh Hựu Thiền Sư Ngữ Lục (潭州潙山靈祐禪師語錄) 1 quyển.

quy sơn linh hữu

(潙山靈祐) ( 771- 853) Thiền sư Trung Quốc, sống vào đời Đường, là Sơ tổ của tông Qui ngưỡng, người Trường Khê, Phúc Châu (phía nam huyện Hà phố, tỉnh Phúc kiến), họ Triệu, pháp danh Linh Hựu. Năm 15 tuổi, sư lễ Luật sư Pháp Thường (cũng gọi Pháp hằng) ở chùa Kiến thiện cầu xuất gia, sauthụ giới Cụ túc ở chùa Long hưng tại Hàng châu. Sư từng gặp 2 ngài Hàn Sơn và Thập đắc. Năm 23 tuổi, sư đến Giang Tây tham học ngài Bách Trượng Hoài Hải, trở thành đệ tử thượng thủ, sau được nối pháp của ngài. Cuối năm Nguyên hòa đời vua Hiến Tông, sư đến trụ ở núi Đại qui tại Đàm Châu. Dân chúng trong vùng cảm mến đức độ của sư, chung nhau xây cất 1 ngôi chùa để sư trụ trì, do ông Lí cảnh nhượng tâu xin, chùa được vua ban hiệu là chùa Đồng Khánh. Về sau (có thuyết nói là đầu năm Đại trung), Tướng quốc Bùi Hưu đến hỏi đạo và từ đó tiếng tăm của sư càng vang xa, các thiền sinh và đồ chúng về tham học rất đông. Trong thời pháp nạn Hội xương (846), sư ẩn mình nơi phố phường. Đến niên hiệu Đại trung năm đầu (847), vua ra lệnh khôi phục Phật giáo, đồ chúng đón sư về chùa cũ, sư vẫn để tóc mặc áo thế gian mà nói pháp, chứ không cạo tóc, mặc ca sa. Tướng quốc Bùi Hưu nghe tin này, đích thân đến khuyến thỉnh, sư mới chịu cạo tóc và mặc pháp phục. Sư ở núi Qui sơn 40 năm, mở mang tông phong, người đời gọi sư là Qui sơn Linh Hựu. Năm Đại trung thứ 7 (853), sư thị tịch, thọ 83 tuổi, pháp lạp 64, thụy hiệu là Đại Viên Thiền Sư. Sư có các tác phẩm: Ngữ lục 1 quyển, Cảnh sách 1 quyển. Đệ tử nối pháp của sư có 41 vị như: Tuệ Tịch, Hồng Nhân, Trí Nhàn... Trong đó, ngài Ngưỡng Sơn Tuệ Tịch kế thừa môn phong của sư, tập đại thành mà lập nên tông Qui ngưỡng. [X. Tống cao tăng truyện Q.11; Cảnh đức truyền đăng lục Q.9; Ngũ đăng hội nguyên Q.9; Tông môn thống yếu tục tập Q.7; Phật tổ lịch đại thông tải Q.23; Thích thị kê cổ lược Q.3; Thiền tông chính mạch Q.9].

quy sơn linh hữu thiền sư ngữ lục

(潙山靈祐禪師語錄) Gọi đủ: Đàm Châu Qui Sơn Linh Hựu thiền sư ngữ lục. Cũng gọi: Đại Viên thiền sư ngữ lục. Ngữ lục, 1 quyển, do ngài Qui sơn Linh Hựu soạn vào đời Đường, Ngữ phong Viên tín và Quách ngưng chi biên tập vào đời Minh, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này thu chép những lời dạy chúng, luận cứu về pháp môn... của ngài Linh Hựu, cho đến những cuộc đối thoại về tông thừa giữa ngài và các vị: Bách trượng Hoài Hải, Tư Mã Đầu Đà, Đặng Ẩn Phong, Vân Nham, Đạo Ngô, Đức Sơn, Thạch Sương, Ngưỡng Sơn, Hương Nghiêm... tất cả chừng 60 điều và phần ghi vắn tắt về việc ngài Linh Hựu thị tịch.

Quy Sơn Linh Hựu

潙山靈祐; C: guīshān língyòu; J: isan reiyū; 771-853;|Thiền sư Trung Quốc trứ danh, môn đệ của Bách Trượng Hoài Hải và thầy của Ngưỡng Sơn Huệ Tịch. Cùng với Ngưỡng Sơn, Sư khai sáng tông Quy Ngưỡng. Sư là vị Thiền sư nổi danh nhất trong thời đó và môn đệ của Sư trên dưới không dưới 1500. Sư có trứ tác Quy Sơn cảnh sách văn, được phổ biến rộng rãi trong giới Thiền cho đến ngày nay.|Sư họ Triệu, quê ở Trường Khê, Phúc Châu. Sư xuất gia năm mười lăm tuổi và chăm học kinh luật Ðại thừa, Tiểu thừa. Ban đầu, Sư đến núi Thiên Thai, chú tâm nghiên cứu các bài luận của hai vị Ðại luận sư Ấn Ðộ Vô Trước và Thế Thân với giáo lí Duy thức. Tương truyền Sư cũng có gặp hai dị nhân trong giới Thiền tại đây là Hàn Sơn và Thập Ðắc. Không rõ là những bài luận nói trên có gây ấn tượng nào trong Sư không, nhưng chỉ ba năm sau đó (khoảng 796), Sư rời Thiên Thai và quyết định tham học với một vị Thiền sư. Sư đến Giang Tây yết kiến Thiền sư Bách Trượng. Bách Trượng thấy Sư liền cho nhập hội, nơi đây Sư đứng hàng đầu.|Một lần, Bách Trượng hỏi Sư: »Ngươi đem được lửa đến chăng?« Sư thưa: »Ðem được.« Bách Trượng hỏi tiếp: »Lửa đâu?« Sư cầm một nhánh cây làm vẻ thổi lửa. Bách Trượng gạt qua và bảo: »Như sâu đục vỏ cây. Nhìn thì như chữ nhưng chẳng có nghĩa gì!« Hôm khác, Sư vừa đứng hầu, Bách Trượng liền hỏi: »Ai?« Sư thưa: »Con, Linh Hựu!« Bách Trượng bảo: »Ngươi vạch trong lò xem có lửa chăng?« Sư vạch ra thưa: »Không có lửa.« Bách Trượng đứng dậy, đến vạch sâu trong lò được chút lửa, đưa lên chỉ Sư bảo: »Ngươi bảo không, cái này là cái gì!« Sư nghe vậy hoát nhiên đại ngộ. Bách Trượng bảo: »Ðây là con đường rẽ tạm thời. Kinh nói ›Muốn thấy Phật tính phải quán thời tiết nhân duyên, thời tiết đã đến như mê chợt ngộ, như quên rồi nhớ lại, mới biết tĩnh vật của mình không từ bên ngoài được.‹ Cho nên Tổ sư bảo ›Ngộ rồi đồng chưa ngộ, không tâm cũng không pháp.‹ Chỉ là không tâm hư vọng phàm thánh. Xưa nay tâm pháp nguyên tự đầy đủ. Nay ngươi đã vậy, tự khéo gìn giữ.« Sư ở lại hầu Bách Trượng khoảng hai mươi năm rồi vâng lời thầy đến núi Quy khai sơn. Nơi đây thú dữ nhiều, Sư bảo chúng: »Nếu ta có duyên nơi đây thì các ngươi đi chỗ khác, còn không duyên thì cứ ăn thịt ta đi.« Sư nói xong, thú dữ đi hết. Dần dần chúng hay tin Sư ở đây rủ nhau đến tham học và thành lập một ngôi chùa, vua đặt tên là Ðồng Khánh. Sư bắt đầu hoằng hoá và cùng với Hoàng Bá Hi Vận, môn phong của Bách Trượng cao vút từ đây.|Có vị tăng hỏi: »Người được Ðốn ngộ có tu chăng?« Sư trả lời: »Nếu người khi thật ngộ được gốc thì họ tự biết, tu cùng không tu là lời nói hai đầu. Như nay có người sơ tâm tuy từ duyên được một niệm đốn ngộ chân lí nơi mình, nhưng vẫn còn Tập khí nhiều kiếp từ vô thuỷ chưa có thể chóng sạch, nên dạy hắn trút sạch dòng thức tạo nghiệp hiện tại, tức là tu vậy. Không có nói một pháp riêng dạy hắn tu hành thú hướng. Từ nghe nhập được lí nghe và lí sâu mầu, tâm tự tròn sáng không ở chỗ mê lầm, hiện thời dù có trăm ngàn diệu nghĩa thăng trầm, hắn vẫn được ngồi yên mặc áo, tự biết tạo sinh kế. Nói tóm lại ›Chỗ lí chân thật không nhận một mảy bụi, trong cửa muôn hạnh chẳng bỏ một pháp.‹ Nếu được như vậy là một mình cầm đao thẳng vào, lòng phàm thánh sạch, hiện bày chân thường, lí sự không hai, tức Phật như như.«|Sư thượng đường bảo chúng: »Sau khi Lão tăng trăm tuổi đến dưới núi làm con trâu, hông bên trái viết năm chữ ›Quy Sơn Tăng Linh Hựu.‹ Khi ấy gọi là Quy Sơn Tăng hay gọi là con trâu? Gọi là con trâu hay gọi là Quy Sơn Tăng? Gọi thế nào mới đúng?«|Ðời Ðường niên hiệu Ðại Trung năm thứ bảy (853), ngày mùng 9 tháng giêng, Sư tắm gội xong ngồi kết già viên tịch, thọ 83 tuổi, 64 tuổi hạ. Vua ban hiệu là Ðại Viên Thiền sư, tháp hiệu Thanh Tịnh. Những lời dạy của Sư còn được ghi lại trong Ðàm Châu Quy Sơn Linh Hựu Thiền sư ngữ lục.

quy sơn tam chủng sinh

(潙山三種生) Ba thứ cơ pháp do ngài Qui sơn Linh Hựu đặt ra để dắt dẫn người học chứng được Đại viên kính trí mà đạt đến cảnh giới tự tại vô ngại. Ba thứ cơ pháp ấy là. 1. Tưởng sinh: Chỉ cho sự suy nghĩ chủ quan, nghĩa là hay suy tư tán loạn. 2. Tướng sinh: Tướng chỉ cho cảnh sở duyên, tức là đối tượng khách quan mà tâm suy nghĩ duyên theo. 3. Lưu chú sinh: Bụi bặm phiền não nhơ nhớp rất nhỏ nhiệm, nối nhau sinh khởi không dứt. Đối với 3 thứ sinh trên, nếu xa lìa, chối bỏ, hoặc nhìn thẳng vào chúng mà dứt khoát đoạn trừ thì có thể chứng được gương trí tròn sáng, đạt đến cảnh giới tự tại. Nhân thiên nhãn mục quyển 4 (Vạn tục 113, 436 hạ) ghi: Ta lấy trí gương làm tông yếu, nêu ra 3 thứ sinh: Tưởng sinh, Tướng sinh và Lưu chú sinh. Kinh Lăng nghiêm nói: Tưởng tướng là bụi bặm, thức tình là cáu bẩn, cả 2 đều xa lìa thì mắt pháp của ngươi tức thời trong sáng, làm sao mà chẳng thành trí giác vô thượng? Tưởng sinh tức là tâm chủ quan tạp loạn; Tướng sinh tức là đối tượng khách quan rõ ràng; còn Lưu chú sinh thì nhỏ nhiệm, đều là bụi bẩn, phải trừ sạch hết mới được tự tại.

Quy Sơn Thiên Hoàng

(龜山天皇, Kameyama Tennō, tại vị 1259-1274): vị Thiên Hoàng sống giữa thời Liêm Thương, vị Hoàng Tử của Hậu Tha Nga Thiên Hoàng (後嵯峨天皇, Gosaga Tennō, tại vị 1242-1246), tên là Hằng Nhân (恒仁, Tsunehito), vị Thiên Hoàng tại vị trong thời gian đại quân Mông Cổ xâm chiếm Nhật.

quy tiên

To pass away—To die—To go to the paradise.

quy trình tường tham

(歸程祥參) Xoay ánh sáng chiếu rọi trở vào để tham cứu mày mặt xưa nay của chính mình. Đây là yếu cơ của sự tu hành tinh tiến sau khi đã triệt ngộ để giữ gìn Phật đạo. Phổ khuyến tọa thiền nghi (Đại 82, 2 thượng) ghi: Tuy nói là muôn nghìn sai khác, nhưng chỉ cần xoay ánh sáng chiếu rọi trở vào tham cứu cho rõ (qui trình tường tham); tại sao lại bỏ chỗ ngồi của mình để lăng xăng đi lại theo các cảnh trần bên ngoài?.

quy tàng lục

Chuyện ví dụ về con rùa dấu sáu chi trong mai khi thấy cáo vì sợ cáo vồ lấy ăn thịt, trong khi con cáo thấy rùa bèn rú lên, nên cuối cùng rùa thụt vào mai, cáo không ăn được nên phải chết đói—The parable of the tortoise and the jackal, the tortoise hiding its six vulnerable parts, symbolizing the six senses, the jackal wailing and starving to death.

quy tính

1) Thu nhiếp sự tướng hữu vi để trở về với thực tướng chân như—To turn from the world of phenomena to that of eternal reality. 2) Từ bỏ đời sống vật chất để trở về đới sống tâm linh (vốn là bổn tính của vạn hữu): to devote oneself to the spiritual rather than the material. ; (歸性) Trở về chân tính, nghĩa là thu nhiếp tất cả sự tướng hữu vi đưa về chân như thực tính.Tông Pháp tướng chia thể tính của tất cả các pháp làm 4 lớp xuất thể: Nhiếp tướng qui tính thể, Nhiếp cảnh tông thức thể, Nhiếp giả tùy thực thể và Tính dụng biệt luận thể. Trong đó, Nhiếp tướng qui tính thể nghĩa là thu nhiếp tất cả sự tướng hữu vi mà đưa về chân như thực tính vô vi duy nhất; cũng tức là nói rõ tất cả pháp đều là chân như Như lai tạng, ngoài chân như không có pháp nào khác. Đây là nêu chân tính để làm thực thể.

Quy Tông Nghĩa Nhu

(歸宗義柔, Kisu Gijū, khoảng giữa thế kỷ thứ 10): nhân vật sống dưới thời nhà Tống, vị tăng của Pháp Nhãn Tông Trung Quốc, pháp từ của Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益). Ông làm trú trì đời thứ 13 của Quy Tông Tự (歸宗寺) ở Lô Sơn (廬山, Huyện Cửu Giang) thuộc Tỉnh Giang Tây (江西省).

Quy Tông Trí Thường

(歸宗智常, Kiso Chijō, ?-?): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, ông theo tham học với Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) và kế thừa dòng pháp của vị này, sau đó đến trú tại Quy Tông Tự (歸宗寺) trên Lô Sơn (廬山) và chuyên tâm giáo hóa chúng đạo tục. Sau khi viên tịch, ông được ban cho thụy hiệu là Chí Chơn Thiền Sư (至眞禪師).

Quy Tông Trí Thường

歸宗智常; C: guīzōng zhìcháng; J: kishū chijō; tk. 8/9;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ nối pháp của Thiền sư Mã Tổ Ðạo Nhất và là thầy của Thiền sư Cao An Ðại Ngu, người đã làm cho cho Lâm Tế ngộ được pháp của Hoàng Bá.|Sử sách không ghi rõ Sư quê quán ở đâu, chỉ biết rằng Sư đại ngộ nơi Mã Tổ và cùng rời Tổ với các vị Nam Tuyền, Trí Kiên… Sau, Sư trụ tại chùa Quy Tông ở Lô Sơn.|Sư dạy chúng: »Các bậc cổ đức từ trước không phải chẳng hiểu biết, các Ngài là bậc cao thượng chẳng đồng hạng thường. Người thời nay không thể tự thành tự lập, để tháng ngày qua suông. Các ngươi chớ lầm dụng tâm, không ai thế được ngươi, cũng không có chỗ ngươi dụng tâm. Chớ đến người khác tìm, từ trước chỉ nương người khác mà hiểu, nói ra đều kẹt, ánh sáng không thấy suốt, chỉ vì trước mắt có vật.«|Ðại Ngu đến từ biệt Sư. Sư hỏi đi đâu, Ðại Ngu trả lời: »Ði các nơi học Ngũ vị thiền.« Sư bảo: »Các nơi có Ngũ vị thiền, ta trong ấy chỉ có Nhất vị thiền.« Ðại Ngu hỏi: »Thế nào là Nhất vị thiền« Sư cầm gậy đánh, Ðại Ngu hoát nhiên đại ngộ, thưa: »Ngưng, con hội rồi.« Sư quát: »Nói! Nói!« Ðại Ngu vừa suy nghĩ trả lời Sư liền đánh đuổi ra. Ðại Ngu sau thuật lại lời này với Thiền sư Hoàng Bá Hi Vận. Hoàng Bá thán phục, nói với chúng: »Mã Ðại sư sinh ra tám mươi bốn vị thiện tri thức, hỏi đến thì cả thảy đều chậm lụt, chỉ có Quy Tông là khá hơn một chút.«|Sư vào vườn hái rau, sẵn tay vẽ một vòng tròn quanh một bụi rau và bảo chúng: »Không được động đến cái này!« Tất cả chúng đều không dám động. Sau đó, Sư trở lại bụi rau, thấy bụi rau còn nguyên, Sư bèn cầm gậy đuổi chúng, bảo: »Cả bọn mà chẳng có một người trí huệ.«|Một vị quan tên Lí Bột đến hỏi: »Kinh sách nói ›Hạt cải để trong núi Tu-di‹, Bột không nghi, lại nói ›Núi Tu-di để trong hạt cỏ‹, phải là nói dối chăng?« Sư hỏi lại: »Người ta đồn Sử quân đọc hết muôn quyển sách phải chăng?« Lí Bột đáp: »Ðúng vậy«. Sư hỏi tiếp: »Rờ từ đầu đến chân bằng cây dừa lớn, muôn quyển sách dể chỗ nào?« Lí Bột nghe rồi lặng thinh.|Sư có một vị đệ tử – vị này sau nổi danh với tên Ðại Thiền Phật Trí Thông – với một cơ duyên giác ngộ rất kì đặc. Một đêm, Ðại Thiền la lớn: »Tôi đại ngộ rồi!« Chúng nghe như vậy đều giật mình. Sáng hôm sau, Sư hỏi: »Ðêm qua ai đại ngộ hãy bước ra?« Ðại Thiền bước ra, nói: »Chính con.« Sư hỏi: »Ông thấy đạo lí gì mà nói đại ngộ?« Ðại Thiền thưa: »Sư cô vốn là phụ nữ.« Sư im lặng chấp nhận.|Không biết Sư tịch năm nào. Sau khi tịch, Sư được sắc phong là Chí Chân Thiền sư.

quy tông trảm xà nhân duyên

(歸宗斬蛇因緣) Tên công án trong Thiền tông. Nhân duyên Qui tông chém rắn. Công án này thuật lại câu chuyện Thiền sư Trí Thường ở chùa Qui tông vào đời Đường, muợn nhân duyên chém rắn để nói lên cái cơ pháp tự tại vô ngại. Chương Qui tông Trí thường trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 3 (Vạn tục 138, 49 thượng) ghi: Một hôm, sư đang giẫy cỏ, có vị tăng chuyên giảng kinh luận đến hỏi đạo, bỗng có con rắn bò qua, sư liền dùng cuốc chặt đứt. Vị tăng nói: Nghe tiếng Qui tông đã lâu, thì ra chỉ là 1 sa môn hạnh thô! Sư nói: Ông thô hay ta thô? Vị tăng hỏi: Thế nào là thô? Sư dựng đứng cái cuốc. Vị tăng hỏi: Thế nào là tế? Sư làm tư thế chém rắn. Vị tăng lại hỏi: Dựa vào đâu mà làm như thế? Sư nói: Việc đó hãy tạm gác đã, nhưng ông do đâu mà thấyta chém rắn? Vị tăng không đáp được. [X. Tổ đường tập Q.15; Cảnh đức truyền đăng lục Q.7].

quy tông tự

(歸宗寺) Chùa ở chân núi nam Lô Sơn, huyện Tinh Tử, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Ngôi chùa này do Hữu tướng quân Vương Hi chi phá bỏ nhà cũ của mình để xây cất chùa vào năm Hàm khang thứ 6 (340) đời Đông Tấn, cúng dường Tam tạng Phật đà da xá. Khoảng năm Nguyên hòa (806-820) đời Đường, Thiền sư Trí Thường lại xây dựng thêm. Các văn nhân như Bạch lạc thiên, Vương bột... cũng thường đến hỏi đạo. Về sau, chùa trở thành Thiền viện. Năm Thái bình hưng quốc thứ 9 (984) đời Tống, ngài Đạo Thuyên làm Trụ trì, đạo, tục qui tụ rất đông, môn phong phát đạt. Sau, các ngài Khắc văn, Chính hiền, Đàm hoa, Tuệ nam... nối nhau trụ trì, chùa trở thành một đại đạo tràng của Thiền gia. Hiện nay, các kiến trúc trong chùa như Đại hùng Bảo điện, Tì lô điện, Thiên vương điện... vẫn còn đầy đủ. Sân chùa có đài lư hương kiểu đời Tống, trên đỉnh núi phía sau chùa tương truyền có tháp Xá lợi do ngài Phật đà da xá kiến tạo, cảnh trí rất thanh thoát. [X. Lương cao tăng truyện Q.2; Tống cao tăng truyện Q.17; Cảnh đức truyền đăng lục Q.7, 20, 23, 26; Cổ kim đồ thư tập thành phương chức điển thứ 870;Sơn xuyên điển thứ 138].

quy tư

Kucha (skt)—Câu Chi—Khưu Tư—Một vương quốc và thành phố cổ nằm về mạn đông của Trukestan. Được ghi nhận là sinh quán của Ngài Cưu Ma La Thập—An ancient kingdom and city in eastern Turkestan. It is recorded as the native place of Kumarajiva. ; (龜茲) Phạm: Kucìna. Cũng gọi Khưu tư, Khuất chi, Câu chi nang, Câu di, Khúc tiên, Khổ xoa. Tên một nước xưa ở Tây vực (nay thuộc vùng Trung á). Tên gọi hiện nay là Khố xa (Kucha), là đô thành trọng yếu ở phía nam Thiên sơn thuộc Tân cương. Bắt đầu từ thế kỉ thứ III, Qui tư là nơi Phật giáo thịnh hành, dân cư thuộc chủng tộc Aryan. Vương thất lấy chữ Bạch làm họ, thế lực rất mạnh, văn hóa tiến bộ. Đời Đường, Trung quốc đặt Qui tư làm phủ Đô hộ. Từ đời Nam Bắc triều đến đời Đường, những người xuất gia nước ngoài sống tại Trung Quốc phần nhiều xuất thân từ Qui tư, trong đó có ngài Cưu ma la thập rất nổi tiếng. Cứ theo Đại đườngtây vực kí thì Qui tư thịnh hành Phật giáo Tiểu thừa, nhưng căn cứ vào những kinh điển do các vị Tam tạng của nước này đưa đến Trung quốc để dịch thì bao gồm cả kinh điển Đại thừa và Mật giáo, vì thế nên biết Qui tư cũng hoằng truyền Phật giáo Đại thừa. Khoảng thế kỉ thứ X về sau, nước này trở thành lãnh địa của người Thổ nhĩ kì. Thời gần đây, người ta đào được nhiều kinh điển bằng chữ Qui tư (Kuchean) và các cổ vật. Năm 1890, Thượng úy Bower, người Anh, đã phát hiện tại đây những kinh điển Phật bằng tiếng Phạm chép tay rất xưa, viết trênvỏ cây Hoa theo hình lá bối; ông F. Weber cũng tìm được những bản sách thuốc chép tay bằng chữ Qui tư, theo thứ tự gọi là Văn thư Bower (Bao nhĩ), Văn thư Weber (Vi bá). Về sau, các học giả Nhật, Nga, Đức... nhiều lần đào được những mảnh kinh điển Phật bằng chữ Qui tư như kinh Đại bát niết bàn, kinh Pháp cú, kinh Cổ thành tỉ dụ, kinh Bi hoa, Thập tụng tỉ khưu giới bản... Về cách gọi tiếng Qui tư, giữa các học giả phương Tây cũng có những ý kiến khác nhau, hoặc gọi là tiếng Thổ hóa la (Tokhàrì), hoặc gọi là tiếng Thổ lỗ phiên (Turfanisch), hoặc được gọi là Sprach I để phân biệt với tiếng Vu điền. Còn trong dịch âm của kinh Phật Hán dịch thì có 1 số dịch âm của chữ Phạm có lẽ dịch âm từ tiếng Qui tư, như chữ Sa môn tiếng Phạm là Zramaịa, tiếng Qui tư là samane; Ba dật đề tiếng Phạm là Pàyatika, tiếng Qui tư làpàyti... Về dịch ý thì như từ Ngoại đạo tiếng Phạm là mithyàdfwỉi, hàm ý là cái thấy sai lầm; tiếng Qui tư làparnaĩĩe, hàm ý là ngoài. Cho nên biết, trong kinh điển Phật, có 1 số kinh Hán dịch không phải đã dịch thẳng từ nguyên bản tiềng Phạm mà là dịch từ các bản dịch tiếng Phạm của những Thổ ngữ vùng Trung á như tiếng Qui tư, Vu điền... [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.55; bài tựa kinh Thập lực; bài tựa kinh Pháp hoa; Lương cao tăng truyện Q.1; Tống cao tăng truyện Q.3; Xuất tam tạng kí tập Q.7; Thủ lăng nghiêm hậu kí Q.8; Chính pháp hoa kinh kí Q.13; An huyền phó truyện Q.14; Cưu ma la thập truyện; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14; Đại đường tây vực kí Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.4; Phạm ngữ tạp danh; Hậu hán thư Ban siêu truyện; Đường thư Tây vực liệt truyện thứ 146; Minh sử liệt truyện thứ 220; Khâm định tân cương thức lược; Qui tư Vu điền đích nghiên cứu (Vũ điền hanh, Sử lâm thứ 2, phầm 3); On yuan Chwang, vol. I, by T. Watters; Buddhist Records of the Western World, vol. I by S. Beal]. (xt. Bao Nhĩ Văn Thư).

quy tạng lục

(龜藏六) Rùa giấu 6 chi (đầu, đuôi và 4 chân) vào trong mai. Cứ theo kinh Pháp cú thí dụ quyển 1: Thuở xưa, có 1 đạo nhân tu đạo dưới gốc cây bên sông, nhưng trong 12 năm mà vẫn chưa trừ được vọng niệm, 6 căn tham nhiễm không dừng, khó có thể vào đạo, đức Phật liền hóa làm vị sa môn đến độ cho đạo nhân này, Ngài dùng hình ảnh con rùa thu rút đầu, đuôi và 4 chân giấu vào trong mai để bảo vệ mệnh sống, ví dụ cho chúng sinh thu nhiếp 6 căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý không để cho 6 trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp bên ngoài làm nguy hại. Đại minh tam tạng pháp số quyển 28 giải thích về Qui tàng lục như sau: 1. Rùa rút đầu vào trong mai, ví dụ chúng sinh thu nhiếp căn mắt, không cho thấy sắc thì không bị tất cả sắc trần làm nguy hại. 2. Rùa rút chân trái đàng trước vào trong mai, ví dụ chúng sinh thu nhiếp căn tai, không cho nghe tiếng thì không bị tất cả thanh trần làm nguy hại. 3. Rùa rút chân phải đàng trước vào trong mai, ví dụ chúng sinh thu nhiếp căn mũi không cho ngửi mùi thì không bị tất cả hương trần làm nguy hại. 4. Rùa rút chân trái đàng sau vào trong mai, ví dụ cho chúng sinh thu nhiếp căn lưỡi, không cho nếm vị thì không bị tất cả trần làm nguy hại. 5. Rùa rút chân phải đàng sau vào trong mai, ví dụ chúng sinh thu nhiếp căn thân, không cho giác xúc thì không bị tất cả xúc trầnlàm nguy hại. 6. Rùa rút đuôi vào trong mai, ví dụ chúng sinh thu nhiếp căn ý, không cho biết pháp thì không bị tất cả các pháp trần làm nguy hại.Ngoài ra, trong các kinh A hàm, Niết bàn... cũng có thí dụ này, đều dùng để răn dạy người tu hành nên tự thu nhiếp tâm mình, dứt bặt vọng tưởng, không để cho ma chướng oán địch làm hại. Kinh Tạp a hàm quyển 43 (Đại 2, 311 hạ) nói: Thuả xưa, có một con rùa ở trong một bãi cỏ ven sông, một con dã can đói bụng đi tìm thức ăn, từ xa trông thấy con rùa liền chạy đến bắt, thấy vậy, lập tức rùa rút đầu, đuôi và 4 chân vào trong mai, dã can ngồi rình, chờ cho rùa ló đầu và chân ra để ăn thịt. Dã can ngồi đợi rất lâu mà rùa chẳng thèm ló đầu, cũng không thò chân, dã can đói quá, bực mình bỏ đi. Này các Tỉ Khưu! Hôm nay các ông cũng cần biết như thế, ma Ba tuần thường chờ cơ hội thuận tiện để hại các ông, đợi lúc các ông mắt đắm nhìn sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân giác xúc, ý nhớ nghĩ các pháp, muốn cho 6 căn của các ông đắm nhiễm 6 cảnh. Bởi thế, các Tỉ Khưu! Hôm nay các ông thường phải chấp trì an trụ trong nhãn luật nghi, chấp trì an trụ trong nhãn căn luật nghi thì ác ma Ba tuần chẳng có cơ hội làm hại, lúc đó tùy ý xuất, duyên, tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như thế; đối với 6 căn của các ông, dù xuất dù duyên, ma Ba tuần đều không có dịp làm hại, giống như con rùa không để cho dã can có được cơ hội. Bấy giờ đức Thế tôn liền nói kệ rằng: Con rùa sợ dã can/Rút sáu chi vào mai/Tỉ khưu khéo nhiếp tâm/Giấu kín các giác tưởng/Không theo, không sợ chúng Giữ tâm, chớ nói năng.

quy tắc

Regulation—Rule.

quy tội

To shift away the blame upon someone.

quy tục

Hoàn tục—To return to lay life. ; (歸俗) Người xuất gia không phạm tội lỗi mà tự nguyện trở về với đời sống thế tục, gọi là Qui tục, còn người vì phạm giới cấm mà bị đuổi về đời thì gọi Hoàn tục. Tuy nhiên, qui tục và hoàn tục cũng có khi bị dùng lẫn lộn.[X. môn Tội trách trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Hoàn Tục).

Quy y

歸依; T: kyabdro; Quy y trong Phật giáo Tây Tạng.|Trong mỗi tông phái của Phật giáo Tây Tạng, lễ quy y rất quan trọng, là điều kiện tiên quyết của mọi tu học về Pháp (s: dharma). Quy y của Phật giáo Tây Tạng có khác biệt so với Quy y Tam bảo trong Tiểu thừa hoặc Ðại thừa. Ba đối tượng quy y thông thường là: 1. Phật, 2. Pháp (dharma), 3. Tăng (saṅgha). Trong Kim cương thừa được lưu hành tại Tây Tạng thì ngoài Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng), còn thêm một đối tượng nữa là Lạt-ma, vị đạo sư. Trong một số trường phái, người ta có thể có đến sáu đối tượng quy y, tức là ngoài Tam bảo còn có thêm: 4. Lạt ma, 5. Hộ Thần (t: yidam) và 6. Không hành nữ (s: ḍākinī).|Tầm quan trọng của Phật như là đạo sư và Tăng là giáo hội do Ngài xây dựng lên để truyền bá giáo pháp đã được xác lập rất sớm và xem như nhãn quan Phật giáo. Với sự thành hình của Ðại thừa, tính chất quan trọng của đức Phật lịch sử giảm đi và thay vào đó là »Phật quả« có tính chất bao trùm, vượt thời gian. Ðến Kim cương thừa, thì vị đạo sư lại trở nên quan trọng, đó là vị hoá thân của »Phật quả«.|Trong giáo pháp Tan-tra, người ta luôn luôn nhấn mạnh tính chất quan trọng của đạo sư, là người giúp hành giả trong các phép tu khó khăn. Kim cương thừa xem vai trò của đạo sư như là đối tượng quy y thứ tư và quan điểm cho rằng vị đó là hiện thân của Tam bảo bắt nguồn trực tiếp từ các phép tu của trường phái này. Thời gian Kim cương thừa truyền qua Tây Tạng cũng là thời điểm người ta bắt đầu thiết lập việc quy y đạo sư. Tiểu sử của Na-rô-pa (t: nāropa) và Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa) còn ghi lại rất rõ điều này. Ngay cả A-đề-sa cũng nhấn mạnh đến việc quy y Lạt-ma và vị vậy ông được tặng danh hiệu »Quy y học giả« (kyabdro paṇḍita). |Trong các tông phái Tây Tạng, khi hành giả chuẩn bị thiền quán phải để ý đến phần quy y và phát Bồ-đề tâm. Tương truyền rằng Na-rô-pa quy y như sau: »Tâm ta là Phật hoàn toàn, Khẩu ta là Pháp hoàn toàn, Thân ta là Tăng hoàn toàn.«

quy y

To turn to and rely on, or believe in Buddhism. (I) Nghĩa của Quy-Y—The meanings of Taking Refuge: Tin vào Phật giáo và về nương nơi ba ngôi Tam Bảo. Được nhận làm đệ tử tại gia sau nghi thức sám hối và lập lại những lời một vị Tăng về quy y—To take refuge in the Triratna—An admission of a lay disciple, after recantation of his previous wrong belief and sincere repetition to the abbot or monk of the Three Refuges. ** For more information, please see Tam Quy-Y in Vietnamese-English Section. (II) Những lời Phật dạy về Quy-Y trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on Taking Refuge in the Dharmapada Sutra: 1) Vì sợ hãi bất an mà đến quy-y thần núi, quy-y rừng cây, quy-y miễu thờ thọ thần—Men were driven by fear to go to take refuge in the mountains, in the forests, and in sacred trees (Dharmapada 188). 2) Nhưng đó chẳng phải là chỗ nương dựa yên ổn, là chỗ quy-y tối thượng, ai quy-y như thế khổ não vẫn còn nguyên—But that is not a safe refuge or no such refuge is supreme. A man who has gone to such refuge, is not delivered from all pain and afflictions (Dharmapada 189). 3) Trái lại, quy-y Phật, Pháp, Tăng, phát trí huệ chơn chánh—On the contrary, he who take refuge in the Buddhas, the Dharma and the angha, sees with right knowledge (Dharmapada 190). 4) Hiểu thấu bốn lẽ mầu: biết khổ, biết khổ nhân, biết khổ diệt và biết tám chi Thánh đạo, diệt trừ hết khổ não—With clear understanding of the four noble truths: suffering, the cause of suffering, the destruction of suffering, and the eighfold noble path which leads to the cessation of suffering (Dharmapada 191). 5) Đó là chỗ quy-y an ổn, là chỗ quy-y tối thượng. Ai quy-y được như vậy mới giải thoát khổ đau—That is the secure refuge, the supreme refuge. He who has gone to that refuge, is released from all suffering (Dharmapada 192). ; (歸依) Phạm: Zaraịa . Pàli: Saraịa. Quay về nương tựa 3 ngôi báu, Phật, Pháp, Tăng. Qui y trong tiếng Phạm hàm nghĩa là cứu giúp, cứu hộ, tức là uy lực của công đức qui y Tam bảo có năng lực giữ gìn, che chở, dắt dẫn người qui y, làm cho họ dứt nỗi sợ hãi lớn lao về sinh tử luân hồi vô tận mà trút bỏ được tất cả khổ não. Theo pháp giới thứ đệ sơ môn quyển thượng, phần cuối thì Qui nghĩa là quay trở về, tức từ bỏ thầy tà mà quay trở về vớithầy chân chính; Y nghĩa là nương tựa, nhờ vào, tức nương tựa vào linh giác của tâm mà ra khỏi được 3 đường ác và thoát ly vòng sinh tử trong 3 cõi. Luận A tì đạt ma đại tì bà sa quyển 34 (Đại 27, 177 thượng) nói: Mọi người vì bị nỗi sợ hãi bức bách nên quay về nương tựa vào các núi non, vườn rừng, lùm cây, gò đất...Sự qui y này không hay, không quí, vì nó không giúp người ta thoát đượccác nỗi khổ não. Trái lại, những người qui y Phật, quiy Pháp, qui yTăng, đối với Tứ thánh đế thường dùng trí tuệ quán xét, biết khổ, biết nguyên nhân của khổ, biết xa lìa các khổ, biết Bát thánh đạo đưa tới Niết bàn an lạc. Sự qui y này là thù thắng nhất, tôn quí nhất, nhờ sự qui y này mà trút bỏ được các thống khổ. Bởi vì qui y là do lòng tin sâu xa tha thiết, tin chắc rằng 3 ngôi báu Phật, Pháp, Tăng là nơi chân chính để quay về nương tựa, nhờ vào đó mà có được các công đức. Đã biết Tam bảo có các công đức như thế mới lập nguyện làm 1 đệ tử của Phật, tin nhận vâng làm, khẩn cầu uy đức Tam bảo gia trì nhiếp thụ, đem cả thân tâm mình qui thuộc về Tam bảo và không còn thuộc về thiên ma ngoại đạo nữa. Nói một cách phổ thông thì qui y là lòng tin tưởng, mong cầu sức giúp đỡ từ bên ngoài, nhờ tha lực mà được cứu độ. Nhưng nói theo ý nghĩa sâu xa nhất của việc qui y thì cuối cùng vẫn là quay về với tâm tính của chính mình. Như trên hội Niết bàn, đức Phật đã răn dạy các đệ tử: Hãy nương tựa vào chính mình, nương tựa vào chính pháp, chứ đừng nương tựa vào bất cứ ai hoặc nơi nào khác. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.5 (bản Bắc); luận Câu xá Q.14; luận Hiển tông Q.20]. (xt. Tam Qui Y).

quy y ngũ giới

Nghi thức để trở thành một Phật tử tại gia—The ceremony which makes the recipient an upasaka (Ưu bà tắc—Male disciple) or upasika (Ưu bà di—Female disciple).

quy y pháp

Quy-y thọ pháp—Harman-saranam-gacchami (skt)—Về nương với Phật Pháp—To take refuge in the Dharma or to take refuge in the Dharma and receiving the law.

quy y phật

Buddham-saranam (skt)— Về nương với Phật— To take refuge in the Buddha.

quy y tam bảo

(I) Ý nghĩa của quy-y—The meanings of Taking Refuge: 1) Về nương với Phật, Pháp, Tăng. Người thành tâm quy y Tam Bảo sẽ không còn sa vào các đường dữ nữa. Hết kiếp người sẽ được sanh vào các cõi trời—To take refuge in the Triratna, or to commit oneself to the Triratna, i.e. Buddha, Dharma, Sangha (Buddha, his Truth, and his Order)—To trust the Triratna (Buddha—Dharma—Sangha)—Those who sincerely take refuge in Buddha, Dharma and Sangha shall not go to the woeful realm. After casting human life away, they will fill the world of heaven. 2) Đãõ là Phật tử thì phải quy-y ba ngôi Tam Bảo Phật Pháp Tăng, nghĩa là cung kính nương về với Phật, tu theo giáo pháp của Ngài, cũng như tôn kính Tăng Già. Phật tử thệ nguyện không quy y thiên thần quỷ vật, không thờ tà giáo, không theo tổn hữu, ác đảng. Quy y là trở về nương tựa. Có nhiều loại nương tựa. Khi con người cảm thấy bất hạnh, họ tìm đến bạn bè; khi âu lo kinh sợ họ tìm về nương nơi những niềm hy vọng ảo huyền, những niềm tin vô căn cứ; khi lâm chung họ tìm nương tựa trong sự tin tưởng vào cảnh trời vĩnh cửu. Đức Phật dạy, không chỗ nào trong những nơi ấy là những nơi nương tựa thật sự cung ứng cho ta trạng thái thoải mái và châu toàn thật sự. Đối với người Phật tử thì chuyện quy-y Tam Bảo là chuyện cần thiết. Lễ quy-y tuy là một hình thức tổ chức đơn giản, nhưng rất quan trọng đối với Phật tử, vì đây chính là bước đầu tiên trên đường tu học để tiến về hướng giải thoát và giác ngộ. Đây cũng là cơ hội đầu tiên cho Phật tử nguyện tinh tấn giữ ngũ giới, ăn chay, tụng kinh niệm Phật, tu tâm, dưỡng tánh, quyết tâm theo dấu chân Phật để tự giúp mình ra khỏi sanh tử luân hồi—Any Buddhist follower must attend an initiation ceremony with the Three Gems, Buddha, Dharma, and Sangha, i.e., he or she must venerate the Buddha, follow his teachings, and respect all his ordained disciples. Buddhists swear to avoid deities and demons, pagans, and evil religious groups. A refuge is a place where people go when they are distressed or when they need safety and security. There are many types of refuge. When people are unhappy, they take refuge with their friends; when they are worried and frightened they might take refuge in false hope and beliefs. As they approach death, they might take refuge in the belief of an eternal heaven. But, as the Buddha says, none of these are true refuges because they do not give comfort and security based on reality. Taking refuge in the Three Gems is necessary for any Buddhists. It should be noted that the initiation ceremony, though simple, is the most important event for any Buddhist disciple, since it is his first step on the way toward liberation and illumination. This is also the first opportunity for a disciple to vow to diligently observe the five precepts, to become a vegetarian, to recite Buddhist sutras, to cultivate his own mind, to nurture himself with good deeds, and to follow the Buddha's footsteps toward his own enlightenment. i) Quy-y Phật là về nương tựa nơi Phật Bảo, là vững lòng tu tập, tin tưởng để có thể trở nên giác ngộ như Đức Phật: To take refuge in the Buddha is a confident acceptance of the fact that one can become fully enlightened just as the Buddha. ii) Quy-y Pháp là về nương tựa nơi Pháp bảo, là học hiểu Tứ Diệu Đế, là đặt trọn cuộc sống của mình trên con đường Bát Chánh Đạo: To take refuge in the Dharma means understanding the Four Noble Truths and basing one's life on the Noble Eight fold Path. iii) Quy-y Tăng là về nương nơi Tăng bảo, là tìm sự hỗ trợ, hướng dẫn tu học Bát Chánh Đạo từ các vị chân tu: To take refuge in the Sangha means looking for support, inspiration and guidance from all who walk the Noble eight fold Path. (II) Nghi thức quy-y—The Buddhist Initiation Ceremony: 1) Khung cảnh lễ quy-y—The place for the Buddhist Initiation Ceremony: Nghi thức quy-y nên tổ chức đơn giản, tùy theo hoàn cảnh mỗi nơi. Tuy nhiên, khung cảnh lễ cần phải trang nghiêm, trên là điện Phật, dưới có Thầy chứng tri, chung quanh có sự hộ niệm của chư Tăng ni, các Phật tử khác, và thân bằng quyến thuộc: The initiation ceremony must be simple, depend on the situation of each place. However, it must be solemn. It is led by Buddhist Master who would grace it by standing before the altar decorated with the Buddha's portrait, with the assistance of other monks and nuns, relatives, and friends. 2) Về phần bản thân của vị Phật tử quy-y cần phải trong sạch, quần áo chỉnh tề mà giản dị: As for the initiated, he must be clean and correctly dressed. 3) Lễ quy-y—The Buddhist Initiation Ceremony: Đến giờ quy-y, theo sự hướng dẫn của Thầy truyền trao quy-giới, phát nguyện tâm thành, ba lần sám hối cho ba nghiệp được thanh tịnh—Under the guidance of the Master, he must recite three times the penance verses in order to cleanse his karmas. i) Đệ tử xin suốt đời quy-y Phật, nguyện không quy-y Thiên thần, quỷ vật: As a Buddhist disciple, I swear to follow in Buddha's footsteps during my lifetime, not in any god, deity or demon. ii) Đệ tử xin suốt đời quy-y Pháp, nguyện không quy-y ngoại đạo tà giáo: As a Buddhist disciple, I swear to perform Buddhist Dharma during my lifetime, not pagan, heretic beliefs or practices. iii) Đệ tử xin quy-y Tăng, nguyện không quy-y tổn hữu ác đảng: As a Buddhist disciple, I swear to listen to the Sangha during my lifetime, not evil religious groups. 4) Đức Phật đã nói, “Ta là Phật đã thành, các người là Phật sẽ thành.” Ý nói trong chính chúng ta tiềm ẩn Phật tánh chưa được xuất hiện, nên khi ta đã quy-y Tam Bảo bên ngoài, chúng ta cũng phải quy-y Tam Bảo trong tâm của chúng ta, vì vậy chúng ta phải nguyện: The Buddha had said: “I am a realized Buddha, you will be the Buddha to be realized,” meaning that we all have a Buddha-nature from within. Therefore, after having taken the initiation with the Three Gems, we must repeat the above vows, addressing this time the inner Buddha, Dharma, and Sangha. i) Đệ tử nguyện xin tự quy-y Phật (nghĩa là Phật trong tâm): As a Buddhist disciple, I vow to take refuge in the inner Buddha ii) Đệ tử nguyện xin tự quy-y Pháp (nghĩa là Pháp trong tâm): As a Buddhist disciple, I vow to take refuge in the inner Dharma. iii) Đệ tử nguyện xin tự quy-y Tăng (nghĩa là Tăng trong tâm): As a Buddhist disciple, I vow to take refuge in the inner Sangha. ** For more information, please see Tam Quy-Y in Vietnamese-English Section.

quy y thọ pháp

See Quy Y Pháp.

quy y tăng

Sangham-saranam-gacchami—Take refuge in the Sangha.

quy định

To define—To stipulate.

quyên

To subscribe to a charity—To collect money for a charity purpose.

Quyên cát

(蠲吉): tắm rửa sạch sẽ, thọ trì trai giới, chọn ngày tốt lành. Như trong tác phẩm Kim Liên Ký (金蓮記), phần Trùng Biếm (重貶), của Trần Nhữ Nguyên (陳汝元, ?-?) nhà Minh có câu: “Mông chỉ an trí, quyên cát khởi trình (蒙旨安置、蠲吉起程, mong chiếu chỉ yên trí, chọn ngày tốt khởi hành).” Hay trong Dạ Đàm Tùy Lục (夜譚隨錄), phần A Trĩ (阿稚), của Hòa Bang Ngạch (和邦額, 1736-?) nhà Thanh lại có câu: “Bất tất quyên cát, kim nhật tiện giai, tức khả hoán tế lai bái đưỡng dã (不必蠲吉、今日便佳、卽可喚婿來拜堂也, không cần chọn ngày tốt, hôm nay cũng tốt rồi, tức có thể gọi chàng rễ đến bái đường được).”

quyên góp

Fund raising.

quyên luyến

(圈攣) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Quyển là chuồng để nuôi thú; Luyến là dây buộc hoặc dây câu. Trong Thiền tông, từ ngữ này được dùng để ví dụ bậc thầy tiếp hóa những người học có căn cơ linh lợi, nhạy bén, cần phải dùng phương pháp đặc biệt khéo léo để dắt dẫn, bắt giữ, giống như người đời thả câu dùng mồi ngon để nhử bắt cá lớn, hoặc dùng cái chuồng chắc chắn để giữ những con mãnh thú săn bắt được, đề phòng chúng sổng chuồng, ví như giữ cho người học khỏi trở thành ngông cuồng. Trong trường hợp này, cái cơ pháp mà bậc thầy hay dùng nhất là Viên tướng (tướng tròn), tức dùng tay hoặc phất trần, như ý, gậy...vẽ trong hư không hoặc trên mặt đất 1 hình tròn, biểu thị chân lí tuyệt đối, chân như, Phật tính, thực tướng, pháp tính...để làm phương tiện dẫn phát cơ khai ngộ của người học. Bích nham lục tắc 33 (Đại 48, 172 hạ) nói: Khi câu được con ba ba thì phải dùng 1 sợi dây (luyến) để buộc nó lại. [X. Bích nham sao; Bích nham lục Phương ngữ giải].

quyên phi nhu động

(蜎飛蠕動) Chỉ cho loài sinh vật rất nhỏ bé. Quyên phi: Chỉ cho loài trùng nhỏ bay đi trên không như ruồi muỗi; Nhu động: Chỉ cho loài trùng nhỏ có dáng ngọ ngoạy như dòi bọ... Theo Long thư tăng quảng tịnh độ văn quyển 3 thì tất cả loài hữu tình, dù nhỏ bé như loài dòibọbay đi, ngọ ngoạy, đức Phật cũng đều hóa độ. [X.phẩm Phát ý thụ tuệ trong kinh A súc Phật quốc Q.thượng; kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác Q.1].

quyên tiền

To subscribe money—To take up a collection.

quyên trợ

To subscribe money.

quyến dụ

To lure—To attract—To seduce—To entice.

quyến luyến

To attach—To love.

quyến rũ

To Allure—To lure—To enchant—To seduce—To attract.

quyến sách

(罥索) Phạm: pāśa. Pàli: pāsa. Hán âm: Bá xả, Bá xa, Ba xá. Cũng gọi Kim cương tác, Quyên tác, Quyên võng, Quyên sách, Bảo tác, Châu tác.Gọi tắt: Tác. Một loại dây dùng để chiến đấu hay săn bắt. Cứ theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển 61, thì quyên tác (sách) là sợi dây thừng, khi chiến đấu, dùng để tròng bắt người, hoặc tròng vào đầu ngựa, chân ngựa để bắt nó, tục gọi là dây treo, thòng lọng. Thông thường được se bằng những sợi chỉ 5 màu, 1 đầu thêm cái vòng, đầu kia thêm nửa cái chày 1 chĩa (tức là hình nửa cái chày 1 chĩa); hoặc cả 2 đầu đều thêm nửa chày 1 chĩa. Trong Mật giáo, Quyên tác là1dụng cụ dùng để giáo hóa những kẻ cứng đầu ương bướng và hàng phục 4 loài ma, tượng trưng cho 4 nhiếp phương tiện, là vật cầm trong tay của Bất động Minh vương, Bất không quyên sách Quán âm, Thiên thủ Quán âm và Kim cương tác bồ tát. Như Bất động Minh vương tay phải cầm gươm sắc, tay trái cầm quyên tác là tượng trưng ý nghĩa trước dùng dâyTứ nhiếp trong tâm bồ đề thanh tịnh trói buộc chúng sinh để dắt dẫn, sau dùng gươm trí tuệ trong tâm bồ đề để đoạn diệt chủng tử vô minh căn bản của chúng sinh. Đại nhật kinh sớ quyển 5 (Đại 39, 633 trung) nói: Sở dĩ cầm dao sắc, dùng dây buộc (quyên tác) là vâng mệnh phẫn nộ của Như lai, muốn giết hết tất cả chúng sinh. Dây buộc là 4 nhiếp phương tiện trong tâm bồ đề, dùng dây này để trói những kẻ không hàng phục, dùng dao trí tuệ sắc bén chặt đứt mệnh nghiệp thọ vô cùng, khiến cho được đại vô sinh. Bồ tát Kim cương tác trong Tứ nhiếp bồ tát cũng dùng tay phải cầm dây buộc, biểu thị nghĩa bắt trói tất cả chúng sinh, khiến ra khỏi chỗ bùn lầy ứ đọng của trí Tam ma địa thực tế Nhị thừa, mà đặt trong cung điện pháp giới của Giác vương. Tay của Thiên thủ Quán âm cầm dây buộc, gọi là Quyên tác thủ (tay dây buộc). Ngoài ra, Quyên tác cũng có nghĩa là giữ gìn, che chở, cho nên nếu đeo ở cổ thì được phúc diệt tội. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2; kinh Bất không quyên sách đà la ni tự tại vương chú Q.hạ; kinh Để lí tam muội da Q.thượng; Tuệ lâm âm nghĩa Q.17, 29, 69].

quyến thuộc

Bà con dòng họ, đặc biệt nói về quyến thuộc của chư Thiên hay chư Phật—Relatives—Family—Retinue, retainers, especially the rtinue of a god, Buddha, etc. ; (眷屬) Phạm, Pàli: Parivàra. Chỉ cho người gần gũi, thuận theo. Quyến là thân ái, Thuộc là lệ thuộc. Theo luận Đại trí độ quyển 33 thì đức Phật có Đại quyến thuộc và Nội quyến thuộc. Nội quyến thuộc chỉ cho những người như: Xa nặc, Cù tì da ... lúc Phật chưa xuất gia, 5 người theo hầu khi Ngài xuất gia tu khổ hạnh và tôn giả A nan...sau khi Ngài đắc đạo. Còn Đại quyến thuộc thì chỉ cho các ngài Xá lợi phất, Mục kiền liên...và các vị bồ tát Di lặc, Văn thù sư lợi...Ngài Thiện Đạo chia quyến thuộc của đức Phật làm 2 loại: Tại gia và xuất gia. Đức Phậtcó 4 người chú, bác là tại gia, gọi là Ngoại quyến thuộc, còn các đệ tử Phật là người xuất gia thì gọi là Nội quyến thuộc. Nếu nói theo nghĩa rộng thì phàm là người nghe pháp thụ giáo đều là quyến thuộc của Phật. Lại nữa, tâm sở và 4 tướng kèm theo trí tuệ thanh tịnh vô lậu mà khởi, cũng gọi là quyến thuộc. Luật tụngPàli chia làm 5 bộ phận, trong đó, bộ phận cuối cùng, cũng gọi là Quyến thuộc, tức là bộ phận bổ túc của Luật tụng. [X. Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ Q.2; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.6, hạ; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.13; Đại nhật kinh sớ Q.1].

quyến thuộc bát nhã

(眷屬般若) Lục độ vạn hạnh tương ứng với diệu tuệ, trợ lực phát ra quán chiếu Bát nhã, 1 trong 5 loại Bát nhã. Chân trí vô tướng là quán chiếu Bát nhã, cũng chính là trí tuệ vô lậu thanh tịnh có năng lực soi thấy tất cả đều không, cho đến thể tướng bình đẳng, đây là tự tính của Bát nhã, giúp làm phát ra Bát nhã quán chiếu. Từ Bát nhã này lưu xuất ra các pháp Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất pháp cho đến Giới, Định, Tuệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến, đều là quyến thuộc của tuệ tính quán chiếu, vì thế gọi là Quyến thuộc bát nhã. [X. Bát nhã tâm kinh u tán Q.thượng; Kim cương toản yếu san định kí Q.2, Đại minh tam tạng pháp số Q.20]. (xt. Ngũ Chủng Bát Nhã).

quyến thuộc công đức

(眷屬功德) Một trong 17 thứ làm đẹp cõi nước thuộc 29 loại trang nghiêm Tịnh độ cực lạc. Các Thánh chúng vãng sinh Tịnh độ Cực lạc là quyến thuộc của đức Phật A di đà, đều từ hoa Chính giác của Ngài hóa sinh, bình đẳng như nhau, không có hơn kém; cõi nước có đầy đủ những công đức trang nghiêm này, gọi là Quyến thuộc công đức.Vãng sinh luận chú quyển thượng (Đại 40, 830 trung) nói: Khiến cho tất cả người trong cõi nước tôi đều sinh ra từ hoa thanh tịnh của Như lai, quyến thuộc bình đẳng, không có sai khác. Nguyên nhân khởi Tịnh độ này là vì thấy thế giới của chúng sinh do các nghiệp tạp nhiễm chiêu cảm, muôn nghìn sai khác, nên chỗ thác sinh nhơ nhớp, hơn kém không đồng, buồn vui sướng khổ theo đó mà khởi. Đức Phật A di đà thương xót chúng sinh mới thành tựu loại trang nghiêm này, khiến những người vãng sinh đều từ trong hoa sen thanh tịnh vô lậu hóa sinh, tất cả đều như nhau, không hơn kém.[X. Vãng sinh luận chú Q.hạ; luận Tịnh độ (Thiên thân)].

quyến thuộc diệu

(眷屬妙) Diệu thứ 9 trong Tích môn thập diệu của kinh Pháp hoa do tông Thiên thai lập ra. Tức chỉ cho những người trong các kiếp quá khứ từng đã thụ trì giáo pháp của Như lai, nay đến hỗ trợ Như lai trong việc giáo hóa. Những quyến thuộc này của Như lai được chia làm 5 loại đều chẳng thể nghĩ bàn, nên gọi là Quyến thuộc diệu: 1. Lí tính quyến thuộc: Chỉ cho hết thảy chúng sinh. Vì chúng sinh và Phật thể tính như nhau, bình đẳng không khác, nên dù có kết duyên hay không, đều là Phật tử. 2. Nghiệp sinh quyến thuộc: Chỉ cho những người kiếp trước nhờ thiện nghiệp nghe pháp, mà đời này gặp Phật nghe pháp và được độ. Những chúng sinh này kiếp trước kết duyên với đức Phật Đại thông, nên đời này đều được hóa độ. 3. Nguyện sinh quyến thuộc: Chỉ cho những chúng sinh ở các kiếp trước từng đã phát nguyện, nguyện được sinh vào thời đại đức Phật ấy ra đời. Những chúng sinh này, theo nguyện kiếp trước mà đời nay sinh đến đây, bất luận là thân hay oán, đều được thấy Phật nghe pháp. 4. Thần thông quyến thuộc: Chỉ cho chúng sinh đời trước từng được gặp Phật mà phát chân trí, nhưng vẫn chưa dứt hết phiền não, còn phải thụ sinh lần nữa, cho nên, hoặc đang ở cõi trời, hay đang ở các phương khác, nay nghe Phật xuất thế, hoặc do nguyện lực, hoặc nhờ sức thần thông mà sinh đến cõi này, bất luận là thân hay oán, đều nhờ sự giúp Phật giáo hóa mà đoạn trừ những hoặc chướng còn lại, để ra khỏi 3 cõi. 5. Ứng sinh quyến thuộc: Chỉ cho những người đã dứt trừ hoặc vô minh mà được pháp thân căn bản, lại dùng thân ứng hóa đến cõi Sa bà, dắt dẫn chúng sinh, khiến họ hướng về Phật đạo. Như Phật mẫu là phu nhân Ma da, con Phật là La hầu la, cho đến các vị Thanh văn...tất cả đều là các Bồ tát pháp thân nội bí ngoại hiện (pháp chứng ngộ bên trong là Bồ tát, bên ngoài hiện tướng Thanh văn), ứng duyên mà đến cõi này. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.6 hạ].

quyến thuộc vô minh trụ địa

(眷屬無明住地) Chỉ cho các phiền não ngành ngọn (chi mạt). Nhóm từ này được sử dụng trong luận Ma ha diễn quyển 4. Luận Đại thừa khởi tín chia Vô minh (tức phiền não)làm 2 loại là Căn bản phiền não và Chi mạt phiền não. Căn bản phiền não là tâm tướng nhỏ nhiệm do 1 niệm đầu tiên khởi động trong biển chân như của tâm thức chúng ta. Còn Chi mạt phiền não là những tâm nhiễm cành lá nảy sinh từ trong căn bản phiền não. Ở đây gọi quyến thuộc là đối lại với căn bản. Căn bản vô minh có năng lực rất lớn, có thể giữ chặt các Chi mạt phiền não, hơn nữa, là chỗ nương ở của Chi mạt phiền não cho nên gọi là Căn bản vô minh trụ địa. Nhưng Chi mạt vô minh cũng được gọi là Trụ địa, do 3 nguyên nhân. 1. Trong Chi mạt vô minh có 2 thứ vọng hoặc là Vi tế và Thô cường nương vào nhau. Vì hoặc Vi tế thường giữ chặt hoặc Thô cường, vả lại, làm chỗ nương dựa cho hoặc Thô cường, nên gọi là Trụ địa. 2. Hai hoặc Vi tế và Thô cường cũng thường nắm giữ nhau, nương tựa lẫn nhau. 3. Vì Chi mạt vô minh là pháp bám chặt vào Căn bản vô minh, cho nên nói theo chỗ bám víu thì Chi mạt vô minh cũng có thể được gọi là Trụ địa.

quyến thuộc địa ngục

(眷屬地獄) Tám địa ngục nóng căn bản, mỗi địa ngục có 16 địa ngục nhỏ phụ thuộc. Sau khi chúng sinh chịu các khổ báo ở địa ngục căn bản xong, được đưa đến các địa ngục quyến thuộc để chịu hết những khổ báo còn lại. Có 128 địa ngục quyến thuộc, nếu thêm các địa ngục căn bản (8 địa ngục nóng) nữa thì tất cả có 136 địa ngục (136 nại lạc ca). Về nơi chỗ của 16 địa ngục phụ thuộc, các kinh luận nói có khác nhau. Theo kinh Chính pháp niệm xứ quyền 5, mỗi địa ngục căn bản đều có 16 địa ngục quyến thuộc khác nhau, gọi là Thập lục biệt xứ địa ngục (16 chỗ địa ngục riêng biệt). Đó là: 1. Địa ngục Đẳng hoạt: Gồm 16 chỗ là: Thỉ nê xứ (chỗ phân và bùn), Đao luân xứ (chỗ dao và bánh xe), Ung nhiệt xứ (nơi những cái vò được nung nóng), Đa khổ xứ (chỗ nhiều khổ), Ám minh xứ (chỗ tối tăm), Bất hỉ xứ (chỗ không vui), Cực khổ xứ, Chúng bệnh xứ (nơi nhiều bệnh), Lưỡng thiết xứ (nơi cặp sắt), Ác trượng xứ (nơi gậy ác), Hắc sắc thử lang xứ (nơi những con chuột và chó sói màu đen), Dị dị hồi chuyển xứ (nơi luôn luôn quay chuyển), Khổ bức xứ (nơi khổ làm ngặt), Bát đầu ma tu xứ, Pha trì xứ (nơi chứa nước)và Không trung thụ khổ xứ (nơi chịu khổ trong hư không). 2. Địa ngụcHắc thằng: Gồm 16 chỗ, tên gọi cũng giống như trên. 3. Địa ngục Chúng hợp: Gồm 16 nơi là: Đại lượng thụ khổ não xứ, Cát khố xứ (chỗ cắt, mổ), Mạch mạch đoạn xứ (nơi cắt đứt các gân máu)Ác kiến xứ, Đoàn xứ (chỗ tụ họp), Đa khổ não xứ, Nhẫn độ xứ, Chu tru chu tru xứ (nơi giết chóc), Hà hà hề xứ (nơi tra hỏi), Lệ hỏa xuất xứ (nơi chảy nước mắt nóng), Nhất thiết căn diệt xứ (tất cả các căn đều bị diệt), Vô bỉ ngạn thụ khổ xứ (nơi chịu khổ không có bờ bến), Bát đầu ma xứ (nơi da nổi những mụt màu đỏ), Đại bát đầu ma xứ, Hỏa ông xứ (nơi ngập lửa), Thiết hỏa mạt xứ (nơi mạt sắt nóng). 4. Địa ngục khiếu hoán: Gồm 16 chỗ là: Đại hồng xứ (nơi gào to), Phổ thanh xứ (tiếng kêu khắp nơi), Phát hỏa lưu xứ(nơi chảy ra những sợi tóc lửa), Hỏa mạt trùng xứ (nơi những con trùng bằng lửa nhỏ li ti), Nhiệt thiết hỏa chử xứ (nơi những cái chày sắt nóng),Vũ viêm hỏa thạch xứ(nơi mưa đá lửa), Sát sát xứ (nơi giết chóc), Thiết lâm khoáng dã xứ (nơi đồng hoang rừng sắt), Phổ ám xứ (nơi tối tăm), Ám ma la già ước khoáng dã xứ (nơi đồng hoang Ám ma la già), Kiếm lâm xứ (nơi rừng gươm), Đại kiếm lâm xứ, Ba tiêu yên lâm xứ (nơi rừng chuối bốc lửa), Hữu yên hỏa lâm xứ (nơi có rừng bốc lửa), Hỏa vân vụ xứ (nơi mây, sương lửa) và Phân biệt khổ xứ. 5. Địa ngục Đại khiếu hoán: Gồm có 18 chỗ là: Hống hống xứ (nơi gào rống), Thụ khổ vô hữu số lượng xứ (nơi chịu khổ không có số lượng), Thụ kiên khổ não bất khả nhẫn nại xứ (nơi chịu những khổ não không thể nhẫn nại),Tùy ý áp xứ (nơi tùy ý đè ép), Nhất thiết ám xứ (nơi tối tăm tràn lan), Nhân ám yên xứ (nơi người bị khói ám), Như phi trùng đọa xứ (nơi như trùng bay rơi xuống), Tử hoạt đẳng xứ (nơi sống cũng như chết), Dị dị chuyển xứ (nơi di chuyển luôn luôn), Đường bố vọng xứ (nơi trông chờ sợ hãi), Song bức não xứ (nơi bức bách khổ não), Điệt tương áp xứ nơi thay phiên đè nhau), Kim cương tủy điểu xứ (nơi chim mỏ kim cương), Hỏa man xứ (nơi vòng hoa lửa), Thụ phong khổ xứ (chịu khổ mũi nhọn đâm), Thụ vô biên khổ xứ, Huyết tủy thực xứ (nơi ăn tủy máu)và Thập nhất viêm xứ. Tất cả có 18 chỗ (nhiều hơn các địa ngục khác 2 chỗ). 6. Địa ngục Tiêu nhiệt: Gồm 16 nơi là: Đại thiêu xứ (nơi cháy lớn), Phân đồ lê ca xứ (nơi Phân đồ lê ca), Long toàn xứ (chỗ rồng xoáy), Xích đồng di nê ngư toàn xứ (chỗ cá Di nê đồng đỏ xoáy), Thiết hoặch xứ (chỗ vạc sắt), Huyết hà phiêu xứ(chỗ sông máu trôi), Nhiêu cốt tủy trùng xứ (chỗ xương tủy nhiều trùng), Nhất thiết thục xứ (chỗ nấu chín tất cả), Vô chung một nhập xứ (nơi chìm xuống hun hút), Đại bát đầu ma xứ (nơi Đại bát đầu ma), Ác hiểm ngạn xứ (nơi bờ hiểm ác), Kim cương cốt xứ(nơi xương kim cương), Hắc thiết thằng nhận giải thụ khổ xứ (nơi chịu khổ bị dây sắt nóng quấn), Na ca trùng trụ ác hỏa thụ khổ xứ (nơi chịu khổ trói vào cột lửa bị trùng ca na rỉa rúc), Ám hỏa phong xứ (nơi gió lửa tối tăm) và Kim cương thích phong xứ (nơi mũi nhọn kim cương đâm). 7. Địa ngục Đại tiêu nhiệt: Gồm 16 nơi là: Nhất thiếtđại tiêu nhiệt xứ (nơi tất cả lửa đốt), Đại thân ác hống khả úy xứ (nơi thân ác to lớn gào thét đáng sợ), Hỏa kế xứ (nơi búi tóc lửa), Vũ sa hỏa xứ (nơi mưa cát lửa), Nội phí nhiệt xứ (nơi nóng sôi bên trong trào lên), Tra tra tra tê xứ (nơi kêu tra tra tra), Phổ thụ nhất thiết tư sinh khổ não xứ (nơi chịu tất cả khổ não của cuộc sống), Tì đa la ni hà xứ (nơi sông Tì đa la ni), Vô gián ám xứ (nơi không bao giờ có chút ánh sáng), Khổ man xứ (nơi chịu các nổi khổ triền miên), Vũ lũ man đẩu tẩu xứ (nơi mưa lửa liên miên), Man khối ô xứ, Bi khổ hống xứ (nơi kêu gào khổ thảm), Đại bi xứ, Vô bi ám xứ, Mộc chuyển địa ngục xứ. 8. Địa ngục A tị: Gồm 16 chỗ là: Điểu khẩu xứ (nơi miệng chim), Nhất thiết hướng địa xứ (nơi tất cả hướng xuống đất), Vô bỉ ngạn thường trụ khổ não xứ (nơi chịu khổ não triền miên không bờ bến), Dã can hống xứ (nơi dã can kêu rống), Thiết dã can thực xứ (nơi dã can sắt ăn thịt), Hắc đỗ xứ (nơi bụng đen), Thân dương xứ, Mộng kiến uý xứ (nơi ác mộng), Thân dương thụ khổ xứ, Lưỡng sơn tụ xứ (nơi 2 quả núi ép lại), Hống sinh diêm bà cự độ xứ, Tinh man xứ,Khổ não cấp xứ, Xú khí phú xứ, Khoáng diệp và Thập nhất viêm xứ. Mười sáu địa ngục phụ thuộc của mỗi địa ngục căn bản đều giống nhau, gọi là Thập lục tiểu địa ngục, nhưng tên gọi được ghi trong các kinh luận thì có khác nhau. Như kinh Trường a hàm quyền 19 ghi: Hắc sa (cát đen), Phí thỉ (Phân sôi), Ngũ bách đinh (500 đinh), Cơ (đói), Khát, Nhất đồng phũ (1 chõ đồng), Đa đồng phủ (nhiều chõ đồng), Thạch ma (đá mài), Nùng huyết (máu mủ), Lượng hỏa (lượng lửa), Hôi hà (sông tro), Thiết hoàn (viên sắt), Cân phủ (búa rìu), Sài lang, Kiếm thụ (cây gươm) và Hàn băng (giá lạnh). Kinh Tăng nhất a hàm thì gọi là Thập lục cách tử. Tức là: Ưu bát, Bát đầu, Câu mâu đầu, Phân đà lợi, Vị tằng hữu, Vĩnh vô, Ngu hoặc, Súc tụ, Đao sơn, Thang hỏa, Hỏa sơn, Hôi hà, Kinh cức, Phí thỉ, Kiếm thụ và Nhiệt thiết hoàn. Luận Đại trí độ quyển 16 thì chia 16 địa ngục làm 2 loại: Nhiệt và Hàn. Tám nhiệt là: Khôi khanh (hầm than), Phí thỉ (phân sôi), Thiêu lâm (rừng cháy), Kiếm lâm (rừng gươm), Đao đạo (đường dao), Thiết thích lâm (rừng gai sắt), Hàm hà (sông mặn) và Đồngquyết (cọc đồng). Tám hàn là: Át phù đà, Ni la phù đà, A la la, A bà bà, Hầu hầu, Âu ba ba, Ba đầu ma và Ma ha ba đầu ma. Mỗi địa ngục căn bản đều có 4 cửa, mỗi cửa có 4 chỗ (Tứ tăng), cho nên mỗi địa ngục căn bản lại có thêm 16 địa ngục phụ thuộc, gọi là Thập lục du tăng địa. Như Đường ổi tăng (tăng nướng cháy), Thi phẩn tăng (tăng cứt đái), Phong nhận tăng (tăng dao nhọn), Liệt hà tăng (tăng sông lửa)...Chữ tăng (thêm) hàm ý là địa ngục căn bản dùng 1 khổ cụ(đồ tra tấn)để trừng trị tội nhân, nhưng địa ngục phụ thuộc (quyến thuộc) thì dùng nhiều khổ cụ, cho nên gọi là Tăng. Ngoài ra, về vị trí của 8 địa ngục nóng căn bản có 2 thuyết, cho nên về vị trí của các địa ngục quyến thuộc cũng có 2 thuyết: Các kinh Trường a hàm...cho rằng các địa ngục quyến thuộc ở ngoài núi Thiết vi, còn luận Đại tì bà sa thì cho rằng chúng ở dưới cõi Diêm phù đề. [X. kinh Quán Phật tam muội Q.5; luận Đại tì bà sa Q.172; luận Câu xá Q.11, luận Du già sư địa Q.4]. (xt. Thập Lục Tiểu Địa Ngục).

Quyết

決; C: jué; J: ketsu;|Quyết định, ấn định, phán đoán, đồng ý chọn, giải quyết, sắp đặt, xác định.

quyết chí

To resolve—To determine.

quyết chí tu hành

To determine to cultivate the dharma.

Quyết liễu

決了; C: juéliăo; J: ketsuryō;|1. Quyết định dứt khoát; 2. Hiểu rõ tường tận.

quyết liễu

Decided.

quyết lòng

See Quyết Chí.

quyết nghi

Giải quyết những nghi hoặc—To resolve doubts—Doubts solved.

Quyết Ngưng

決凝; C: juéníng; J: ketsugyō; K: kyŏrŭng, 964-1053;|Học giả tông Hoa Nghiêm trong thời kì Cao Li (k: koryŏ).

quyết thắng

To resolve to win.

Quyết trạch

決擇; C: juézé; J: ketchaku;|»Quyết định dứt khoát«, »Quyết định và chọn lựa«. 1. Cắt đứt sạch các nghi ngờ và thông suốt nội dung Tứ diệu đế tìm thấy trong Thánh đạo (聖道, s: viniścaya). Đạt được kết quả Tứ thiện căn (四善根); 2. Chọn lấy điều ưu tú nhất; 3. Rút ra một luận lí, một luận đề; Nói chung là sự thông đạt thực tại và hoá giải vô minh thông qua sự vận dụng trí huệ. Xem Quyết trạch phần (決擇分) và Thuận quyết trạch phần (順決擇分); Tên một phẩm trong Du-già sư địa luận (s: yogācārabhūmi-śāstra).

quyết trạch

Quyết đoán và lựa chọn (chỉ có Thánh đạo mới giúp được ta quyết đoán hoài nghi và biện biệt Tứ Đế)—Deciding and choosing (only Holy Way or Buddhism can help us decide doubts and distinguish the Four Noble Truths). ; (决擇) Phạm: Nairvedhika. Quyết đoán chọn lựa. Tức là dùng Thánh trí vô lậu quyết đoán các mối ngờ vực và phân biệt chọn lựa tướng Tứ đế. Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 6 nêu 4 loại: Đế quyết trạch, Pháp quyết trạch, Đắc quyết trạch và Luận nghĩa quyết trạch. Luận Hiển dương Thánh giáo quyển 19 trở xuống thì liệt kê: Giới sự quyết trạch, Đế sự quyết trạch, Y chỉ quyết trạch, Chư tĩnh lự quyết trạch, Giác phần quyết trạch, Bổ đặc già la quyết trạch, Quả sự quyết trạch, Công đức quyết trạch và Y chỉ Đại thừa quyết trạch. Đời sau chuyển dùng nghĩa này, khi lựa chọn, phân biệt chính tà, hoặc đoán định các nghi vấn về tông nghĩa thì gọi là Tông ý quyết trạch. [X. luận Du già sư địa Q.12, luận Câu xá Q.23; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.16; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần cuối

Quyết trạch phần

決擇分; C: juézéfēn; J: kechakubun;|Nguyên nhân của việc lựa chọn. Trí huệ vô lậu xuất sinh trong giai vị Kiến đạo, vận hành trong giai vị Tu đạo (修道) và ở quả vị Vô học (無學果). Xem Thuận quyết trạch phần (順決擇分).

quyết tâm

Resolute mind.

quyết tâm sắt đá

Adamantine determination.

quyết tình

To be determined to.

quyết tử vì lý tưởng

To decide to die for a good cause.

quyết tử vì sự tồn vong của đạo pháp

To decide to die for the survival of the (one's) religion.

quyết ý

See Quyết Chí.

Quyết định

決定; C: juédìng; J: ketsujō;|1. Nhất thiết, tất nhiên. Kiên quyết, chắc chắn (s: bhūta-niścaya; nirvicikitsa, avaśyam); 2. Phán xét, giải quyết, xác định. Sự phán xét, sự giải quyết, sự xác định; 3. Bản tính tiên quyết (về phía thiện hay ác); 4. Các pháp thật sự hiện hữu.

quyết định

To be determined—To make up one's mind—Fixed and settled—To decide. ; (决定) Phạm: Nizcaya. Đối lại: Bất định. Cũng gọi Nhất định. Gọi tắt: Định. Nhất định không thay đổi. Cứ theo Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 12, tu hành 6 Ba la mật thì được 6 quyết định, đó là: Bố thí quyết định làm nên nhiều của cải, trì giới quyết định được sinh nơi yên vui, nhẫn nhục thì quyết định không lùi bước, tinh tiến thì quyết định tu tập, thiền định quyết định được định nghiệp và trí tuệ thì quyết định được vô công dụng. [X. luận Câu xá Q.23; Vãng sinh luận chú Q.hạ]. (xt. Lục Quyết Định).

quyết định nghiệp

(决定業) Phạm: Vinizcit-Karman. Gọi tắt: Định nghiệp Dối lại: Bất định nghiệp Nghiệp quyết định chịu quả dị thục và quyết định thời phần chịu quả dị thục. Luận Câu xá quyển 15 chia nghiệp Quyết định làm 3 loại là Thuận hiện pháp thụ nghiệp, Thuận thứ sinh thụ nghiệp và Thuận hậu thứ thụ nghiệp. 1.Thuận hiện pháp thụ nghiệp (gọi tắt: Thuận thiện nghiệp): Nghiệp được tạo tác ở đời này tăng trưởng thì ở đời này chịu quả báo dị thục. 2. Thuận thứ sinh thụ nghiệp (cũng gọi Thuận thứ nghiệp, Thuận sinh nghiệp): Nghiệp tạo tác ở đời này tăng trưởng, qua đời thứ 2 mới chịu quả báo dị thục. 3. Thuận hậu thứ thụ nghiệp (cũng gọi Thuận hậu nghiệp): Nghiệp đời này tạo tác tăng trưởng, đến đời thứ 3, đời thứ 4 hoặc trong nhiều đời sau nữa mới chịu quả báo dị thục. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 114 thì các nhà Thí dụ cho rằng tất cả nghiệp đều có thể chuyển, kể cả nghiệp vô gián, tức 3 loại nghiệp Thuận hiện nói trên đều là nghiệp bất định. Tuy nhiên, A tì đạt ma luận sư thì chủ trương 3 nghiệp Thuận bất định thụ là có thể chuyển. Luận Đại tì bà sa còn cho biết có các Luận sư khác lập các thuyết Ngũ nghiệp (5 nghiệp), Bát nghiệp (8 nghiệp)... Ngũ nghiệp là ngoài 3 loại Định nghiệp ra, Bất định nghiệp được chia làm 2 thứ là nghiệp Dị thục quyết định và nghiệp Dị thục bất quyết định, cộng chung thành 5 thứ nghiệp, trong đó chỉ có nghiệp Dị thục bất quyết định là có thể chuyển. Còn thuyết Bát nghiệp là 4 nghiệp Thuận hiện, Thuận sinh, Thuận hậu, Thuận bất định, mỗi nghiệp được chia làm 2 thứ là Di thục quyết định và Dị thục bất quyết định, trong đó, các nghiệp Dị thục quyết định đều không thể chuyển, còn các Dị thục bất quyết định thì đều có thể chuyển được. Tám thứ nghiệp này lại được phân biệt làm 4 câu: Thời phần quyết định dị thục bất định, Dị thục quyết định thời phần bất định, Thời phần quyết định dị thục diệc định và Thời phần bất định dị thục diệc bất định. [X. luận Du già sư địa Q.9, 60; luận Hiển dương thánh giáo Q.19; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4, 7; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.40; Câu xá luận quang kí Q.15; Câu xá luận bảo sớ Q.15; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.5, phần cuối]. (xt. Tứ Nghiệp).

quyết định thành phật tập

(决定成佛集) Tác phẩm, 4 quyển, do sư Du lạc thuộc tông Tịnh độ Nhật bản soạn, ấn hành vào năm Chính đức thứ 2 (1712). Nội dung sách này nói rộng về lục đạo, giải thích nghĩa an tâm của tông Tịnh độ Nhật Bản; đồng thời, thu chép nhiều truyện kí của những người Trung quốc và Nhật bản được vãng sinh, có thể dùng làm tư liệu văn hiến để nghiên cứu về Vãng sinh Tịnh độ.

quyết định thành tựu chân ngôn

(决定成就真言) Chỉ cho Chân ngôn trong Mật giáo được sử dụng để biểu thị sự quyết định thành tựu các việc. Chân ngôn ấy là: Án (oô, qui mệnh) phạ nhật la dã (Vajràya,kim cương) sa phạ hạ (svàhà, thành tựu).

Quyết định tâm

決定心; C: juédìngxīn; J: ketsujōshin;|1. Sự quyết tâm; sự cam kết bền vững; tâm không bối rối; 2. Hết sức quyết tâm đạt đến giác ngộ; 3. Theo Du-già sư địa luận thì đây là điều kiện để ổn định tư tưởng xảy ra qua tiến trình nhận thức là theo sau »Tầm cầu tâm« (尋求心).

quyết định tâm

(决定心) Chỉ cho tâm quyết đoán, an định, không lay động. Tổng kết các kinh luận, đại khái có 4 nghĩa sau đây: 1. Theo phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật quyển 1 thì tâm an trụ trong giáo mệnh mà không lay động, gọi là Quyết định tâm. 2. Luận Thập trụ tì bà sa quyển 1 gọi Sở nguyện bất quyện (không thấy mỏi mệt đối với những điều mình đã thệ nguyện tu hành) là Quyết định tâm; tức là tâm mình bất động thì tâm mỏi mệt không sinh, đó là nghĩa quyết định. 3. Theo luận Pháp hoa quyển hạ, nếu đã sinh tâm sợ hãi mà có thể dứt trừ được sự sợ hãi ấythìchính là quyết định tâm. Đấy là nói theo tác dụng của Quyết định tâm. 4. Tịnh độ chân tông của Nhật bản chủ trương tín tâm tin tưởng mạnh mẽ nơi bản nguyện của đức Phật A di đà chính là Quyết định tâm. Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40, 835 trung nói: Lòng tin không chuyên nhất, đó là do không quyết định, trái lại, lòng tin chuyên nhất thì đó là vì có quyết định tâm.

Quyết định tín

決定信; C: juédìng xìn; J: ketsujōshin;|Niềm tin bền vững, đức tin kiên cố.

quyết định tạng luận

(决定藏論) Phạm: Vinirịìta - piỉaka - zàstra. Luận, 3 quyển, do ngài Chân Đế dịch vào đời Trần, được thu vào Đại chính tạng tập 30. Luận này chỉ có 1 phẩm tâm địa, thuộc Đại thừa luận bộ, là bản dịch khác của phẩm Ngũ thức thân tương ứng địa ý địa trong phần Quyết trạch của luận Du già sư địa, tương đương với 4 quyển từ quyển 51 trở xuống của luận này, lời dịch giữa 2 bản dịch này có nhiều chỗ khác nhau. Luận này hoàn toàn không có chú thích, nếu tạm coi Du già sư địa luận lược toản quyển 13 (là chú thích phẩm Ý địa của luận Du già sư địa) là sách sớ giải luận này, thì theo đó, 2 quyển thượng, trung của luận này được chia ra 10 môn để nêu rõ 6 thứ trí thù thắng: Ấm, Nhập, Giới, Tứ đế, Nhân duyên, 22 căn; còn quyển hạ là giải thích rộng về 6 thứ trí thù thắng này. [X. Đại chu san định chúng sinh mục lục Q.6; Khai nguyên thích giáo lục Q.6; Du già luận kí Q.25].

Quyết Định Vãng Sanh Tập

(決定徃生集, Kejjōōjōshū): 2 quyển, do vị Tăng Tam Luận Tông Trân Hải (珍海, Chinkai, 1091-1152) soạn; là thư tịch trích dẫn những đoạn văn xưng tán các kinh điển Tịnh Độ như Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經) cũng như Khởi Tín Luận (起信論), v.v., tất quyết định vãng sanh.

quyết định vãng sinh tập

(决定往生集) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Trân hải, vị tăng thuộc tông Tam luận Nhật bản soạn; được thu vào Đại chính tạng tập 84. Nội dung sách này trình bày ý nghĩa hành giả niệm Phật quyết định vãng sinh, gồm 3 đại cương: Giáo văn, Đạo lí và Tín tâm. Phần Giáo văn dẫn thuyết trong kinh Quán Vô lượng thọ, kinh Xưng tán tịnh độ và luận Khởi tín, cho rằng đã quyết định thì không do dự nữa, đã nói tức sinh thì chẳngphảibiệt thời ý. Phần Đạo lí thì cho rằng chúng sinh có phần xuất li, chư Phật có công dắt dẫn; người phàm phu nếu nguyện vãng sinh thì được vãng sinh, đó là lẽ thường nhân nhỏ quả lớn, trong ngoài duyên khởi. PhầnTín tâm thì trong Tín tâm quyết định có mở ra 3 thứ: Quả quyết định, Nhân quyết định và Duyên quyết định. Sau đó lại chia 3 quyết định này làm 10 môn là: Y báo quyết định,Chính quả quyết định, Thăng đạo quyết định, Chủng tử quyết định, Tu nhân quyết định, Trừ chướng quyết định, Sự duyên quyết định, Hoằng thệ quyết định, Nhiếp thủ quyết định và Viên mãn quyết định.Trong 10 môn này, thì 3 môn đầu là quả, 3 môn kế là nhân, 3 môn kế nữa là duyên, môn sau cùng là thích. Tác phẩm này có dẫn dụng sớ thích của các ngài: Tuệ viễn, Cát tạng, Khuy cơ, Đạo xước, Thiện đạo, Hoài cảm... [X. Viên quang đại sư hành trạng họa đồ dực tán Q.60; Liên môn loại tụ kinh tịch lục Q.ha].

Quyền

權; C: quán; J: gon; |1. Quyền lực, ảnh hưởng; 2. Phương tiện. Giáo lí tạm thời; 3. Quả cân trong cân đứng; 4. Cân, đo; 5. Ngang bằng, làm cho bằng nhau.

quyền

1) Quyền hạn: Authority—Power. 2) Quyền (tạm): Conditional—Diferential—Temporary—Functional. 3) Trong kinh điển Phật, quyền được dùng như phương tiện tạm thời, đối lại với thực: In Buddhist scriptures, it is used like expediency or temporary; it is adversative of “true” or “permanent.”

quyền bi

Lòng đại bi của chư Phật khởi lên đối với chúng sanh—Pity in regard to beings in time and sense, arising from the Buddhas.

quyền biến

To adapt (adjust) oneself to.

quyền biểu quyết

Deliberation voice.

quyền bất khả xâm phạm

Freedom from arrest.

quyền cao

Supreme authority.

quyền cơ

(權機) Đối lại: Thực cơ. Chỉ cho căn cơ thay thế tạm thời. Trong khi đức Phật thuyết pháp, nếu đối cơ chính nghe nhận pháp ấy không xuất hiện, thì Phật nói cho căn cơ tạm thời thay thế một cách không chính thức nghe. Nghĩa là khi Phật thuyết pháp mà chúng đương cơ có khả năng lãnh hội chân lí một cách như thực chưa xuất hiện, thì Phật tạm thời dùng chúng đương cơ không chính thức làm đối tượng để thuyết pháp, gọi là Quyền cơ.

quyền giáo

Còn gọi là Thiên Giáo hay giáo pháp phương tiện tạm thời, chuẩn bị cho thực giáo. Một từ phân biệt của tông Thiên Thai và Hoa Nghiêm, coi ba giáo Tạng, Thông và Biệt là quyền giáo, chuẩn bị cho Viên giáo hay Thực giáo—Knowledge of the realtive—Temporal, expedient, or functional teaching, preparatory to the perfect teaching, a distinguishing term of the T'ien-T'ai and Hua-Yen, i.e. the teachings of the three previous periods of pitaka, general, and different, teachings which were regarded as preparatory to their own. ** For more information, please see Thiên Giáo in Vietnmaese-English Section.

quyền giả

Một vị Phật hay Bồ Tát mang tạm thân trần tục để cứu độ chúng sanh—A Buddha or a Bodhisattva who has assumed a temporary form in order to aid beings—See Quyền Hóa. ; (權假) Đối lại: Chân thực. Tạm thời dùng, xong thì bỏ. Nghĩa là giáo pháp phương tiện mà đức Phật tạm thời sử dụng để dắt dẫn chúng sinh vào giáo pháp chân thực, sau khi thành tựu thì bỏ pháp phương tiện này. Ví như thuyền bè để qua sông, nhờ các bậc thang để lên lầu; cuối cùng khi đến đích rồi, thì phải rời bỏ những công cụ tạm thời đặt ra này. Quyền pháp, Quyền giáo tức là những giáo pháp quyền giả ấy. Theo quan điểm của tông Thiên thai thì kinh Pháp hoa là giáo pháp chân thực, còn các kinh đức Phật nói trước kinh Pháp hoa thì đều là pháp môn quyền giả. Cũng thế, theo quan điểm của Tịnh độ chân tông ở Nhật bản thì hoằng nguyện của đức Phật A di đà là pháp nghĩa chân thực tột cùng; trái lại, những chân môn, yếu môn, cho đến Thánh đạo môn khác... đều thuộc pháp môn phương tiện quyền giả. [X. Ma ha chỉ quán Q.3, hạ; Tịnh độ hòa tán]. (xt. Quyền Thực Nhị Giáo).

Quyền hiện

(權現, gongen): quyền (權) nghĩa là quyền nghi, ứng cơ; hiện (現) là hóa hiện; tức chỉ chư phật bồ tát vì độ khắp chúng sanh mà quyền xảo hóa hiện các loại hình tướng; đồng nghĩa với quyền hóa (權化), quyền tích (權迹), ứng hiện (應現), thị hiện (示現), hóa hiện (化現), v.v. Như trong Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh (金光明最勝王經, Taishō Vol. 16, No. 665), Phẩm Như Lai Thọ Lượng (如來壽量品) thứ 2, quyển 1 có câu: “Thế Tôn Kim Cang thể, quyền hiện ư Hóa Thân (世尊金剛體、權現於化身, Thế Tôn thể Kim Cang, quyền hiện nơi Hóa Thân).” Hay trong Tục Đăng Chánh Thống (續燈正統, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1583) quyển 3, phần Thiệu Hưng Phủ Đông Sơn Giác Thiền Sư (紹興府東山覺禪師), lại có đoạn: “Kim thời tùng lâm, tương vị Quảng Ngạch quá khứ thị nhất Phật, quyền hiện đồ nhi (今時叢林、將謂廣額過去是一佛、權現屠兒, tùng lâm ngày nay cho rằng Quảng Ngạch quá khứ là một vị Phật, hóa hiện làm đồ tể).” Hoặc trong Pháp Hoa Kinh Chỉ Chưởng Sớ (法華經指掌疏, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 33, No. 631) cũng có đoạn: “Nhiên Đạt Đa tuy xưng quyền hiện, nhân hại Phật cố, bất miễn Địa Ngục chi khổ (然達多雖稱權現。因害佛故。不免地獄之苦, tuy nhiên, Đề Bà Đạt Đa tuy gọi là quyền hiện, nhưng vì hại Phật, nên không thoát khỏi cái khổ của Địa Ngục).” Quyền hiện cũng là một trong những tư tưởng đặc trưng của Phật Giáo Nhật Bản. Sau khi Phật Giáo được vào xứ sở Phù Tang này, Thần Đạo trở thành địa vị phụ thuộc, và đến cuối thời kỳ Bình An (平安, Heian, 794-1185), thuyết gọi là Bản Địa Thùy Tích (本地垂迹, honjisuijaku) bắt đầu thịnh hành. Từ thời Nại Lương (奈良, Nara, 710-794) trở đi, việc tiếp cận với chư thần của Phật Giáo dần dần được tiến hành. Với tư cách là chúng sanh phàm phu đầy phiền não, chư thần linh cũng tôn kính Phật Giáo; cho nên việc đọc kinh trước thần linh, các Thần Cung Tự (神宮寺), Trấn Thủ Tự (鎭守寺) cũng được kiến lập. Vào khoảng đầu thời Bình An, các thần dần dần khai ngộ và địa vị của họ cũng được nâng cao. Tỷ dụ như trường hợp Thạch Thanh Thủy Bát Phan Thần (石清水八幡神) đã đạt đến danh hiệu Bồ Tát. Sau đó, trong văn thư của Thái Tể Phủ (太宰府, Dazaifu) gởi cho đền thờ Cừ Khi Bát Phan Cung (筥崎八幡宮, Hakozakihachimangū) vào năm 937 (Thừa Bình [承平] thứ 7), có đoạn văn gọi Bát Phan Thần là quyền hiện. Hay trong tác phẩm Tẩu Thang Duyên Khởi (走湯緣起, Sōtōengi) có các văn thư ghi năm 812 (Hoằng Nhân [弘仁] thứ 3) cũng như 904 (Diên Hỷ [延喜] thứ 4), có thể thấy từ quyền hiện. Đến giữa thời Bình An, chư thần tiến đến rất gần với địa vị của Phật. Trong bức Cúng Dường Nguyện Văn (供養願文) do ca nhân Đại Giang Khuông Hành (大江匡衡, Ōe-no-Masahira, 952-1012) viết khi đến tham bái đền thờ Nhiệt Điền Thần Xã (熱田神社, Atsuta Jingū) ở tiểu quốc Vĩ Trương (尾張, Owari) vào năm 1004 (Khoan Hoằng [寬弘] nguyên niên), ông viết là thùy tích của Nhiệt Điền Quyền Hiện (熱田權現, Atsutagongen). Cũng vào năm thứ 4 (1007) cùng niên hiệu trên, trong ống kinh do Đằng Nguyên Đạo Trưởng (藤原道長, Fujiwara-no-Michinaga, 966-1027) đem thờ trên Kim Phong Sơn (金峯山) có ghi dòng chữ “Tạng Vương Quyền Hiện (藏王權現).” Trong bộ Kim Tích Vật Ngữ Tập (今昔物語集, Konjakumonogatarishū) cũng có xuất hiện từ Hùng Dã Quyền Hiện (熊野權現, Kumanogongen). Việc phổ cập hóa tư tưởng quyền hiện như vậy là đồng thể hóa Phật với Thần; và cho biết rằng đã đến thời kỳ hoàn thành thuyết Bản Địa Thùy Tích. Đến thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura, 1185-1333), các đền thờ Thần Xã gọi tên quyền hiện bắt đầu xuất hiện như Địa Chủ (地主), Bạch Sơn (白山), Ái Đãng (愛宕), Xuân Nhật (春日), v.v. Trong tác phẩm Chư Thần Bản Hoài Tập (諸神本懷集, Shojinhongaishū) do Tồn Giác (存覺, Zonkaku, 1290-1373) viết vào cuối thời kỳ Liêm Thương, chia thần thành hai loại là Quyền Xã (權社) và Thật Xã (實社), cho rằng Thần của Quyền Xã là “đức Như Lai xưa kia, vì để mang lại lợi ích cho Bồ Tát, chúng sanh thâm vị, nên giả hiện thân hình thần minh”; song tất cả đều là quay về với sự giáng tích của Phật Di Đà; và cho rằng chư thần của Thật Xã thì cần phải bài xích như là tà thần. Thần Đạo mang tính thần Phật tập hợp vào thời Trung Đại, lấy tư tưởng quyền hiện làm luận cứ quan trọng. Tuy nhiên, sau khi Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu, 1542-1616) qua đời, vị tăng của Thiên Thai Tông là Thiên Hải (天海, Tenkai, 1536-1643) chủ trương thờ phụng đấng quyền hiện và xem đó như là thần hiệu của Gia Khang. Ngoài ra, các Thiên Hoàng Nhật Bản đã từng lấy danh hiệu quyền hiện để ban hiệu sắc hứa cho cấp dưới. Tỷ dụ như Đề Hồ Thiên Hoàng (醍醐天皇, Daigo Tennō, tại vị 897-930) đã ban cho Đằng Nguyên Liêm Túc (藤原鎌足, Fujiwara-no-Kamatari, 614-669) hiệu là Đàm Sơn Quyền Hiện (談山權現); hay Hậu Thủy Vĩ Thiên Hoàng (後水尾天皇, Gomizunō Tennō, tại vị 1611-1629) ban cho Đức Xuyên Gia Khang hiệu là Đông Chiếu Đại Quyền Hiện (東照大權現), v.v.

quyền hiện

Tạm thời phương tiện hiện ra để cứu độ chúng sanh—Temporary manifestation for saving beings—See Quyền Hóa. ; (權現) I. Quyền Hiện. Đồng nghĩa: Quyền hóa, Quyền tích, Quyền giả, Ứng hiện, Thị hiện, Hóa hiện. Phật và bồ tát dùng phương tiện khéo léo, tạm thời hóa hiện ra các loại hình tướng thích hợp để cứu độ tất cả chúng sinh. Kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 1 (Đại 17, 406 hạ) nói: Thể kim cương của Thế tôn, quyền hiện trong hóa thân. Kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo quyển thượng (Đại 17, 902 thượng) nói: Tạm thời hóa hiện, ứng hợp 10 phương. [X. kinh Vu lan bồn; Đại nhật kinh sớ trụ tâm sao thứ 3]. (xt. Quyền Hóa). II. Quyền Hiện. Chỉ cho hóa thân thùy tích, tiếng dùng của Phật giáo Nhật Bản. Sau khi Phật giáo được truyền bá rộng rãi ở Nhật Bản thì Thần đạo ở vào địa vị phụ thuộc. Vào cuối triều đại Bình An, thuyết Bản địa thùy tích đã rất thịnh hành. Đến đây, các vị thần vốn có từ trước ở Nhật bản đều được coi là thùy tích của Phật và Bồ tát mà gọi các thần là Quyền hiện, tức là sau danh hiệu của các vị thần, thêm vào 2 chữ Quyền hiện để tỏ rằng các vị thần này là do Phật và Bồ tát tùy cơ ứng hóa, khác với các thần thông thường, chẳng hạn như Hùng dã quyền hiện Xuân nhật quyền hiện. Đền thờ các Quyền hiện gọi là Quyền xã, thờ các tà thần như sinh linh, tử linh...gọi là Thực xã. Thuyết này ảnh hưởng rất sâu tư tưởng Thần đạo của Nhật Bản. Ngoài ra, các Thiên hoàng của Nhật Bản cũng dùng từ ngữ Quyền hiện làm danh hiệu sắc ban, như Thiên hoàng Đề hồ ban hiệu Đàm Sơn Quyền Hiện cho Đằng nguyên Liêm túc, Thiên hoàng Thủy vĩ thì ban hiệu Đông Chiếu Đại Quyền Hiện cho Đức xuyên Gia khang... [X.Pháp nhiên thượng nhân hành trạng họa đồ Q.20; Chư thần bản hoài tập].

quyền hiện tạo

(權現造) Cũng gọi Thạch gian tạo. Một trong những kiểu kiến trúc Thần xã ở Nhật Bản; loại kiến trúc này phần nhiều lấy kiểu từ các kiến trúc chùa Phật, mà đặc sắc của nó là nét đơn giản. Thông thường điện của Thần xã có 2 phần là Bản điện và Bái điện. Giữa Bản điện và Bái điện có 1 khoảng trống để xếp những phiến đá, gọi là thạch gian, nối liền 2 điện đường tạo thành hình chữ Công.... Nóc nhà thì dùng kiểu Bát đống tạo theo hình thức Thiên điểu phá phong. Các kiến trúc như Đông chiếu cung miếu, từ thời đại Đào sơn đến đầu thời Giang hộ, đều dùng hình thức kiến trúc này. Nói một cách tổng quát thì đặc sắc của Quyền hiện tạo là ở chỗ trang sức đơn thuần.

quyền hoá

(權化) I. Quyền Hóa. Phạm: Avatàra. Hóa hiện, ứng hiện. Nghĩa là chư Phật và Bồ tát dùng sức thần thông tạm thời hóa hiện các loại thân hình, hoặc các loại vật thể, tùy theo nhu cầu, để cứu độ chúng sinh. Như bồ tát Quán thế âm hóa hiện 32 thân tướng để thu nhiếp chúng sinh, đức Đại nhật Như lai của Mật giáo thì hóa hiện tướng Minh vương phẫn nộ để thức tỉnh những chúng sinh ương ngạnh, khó giáo hóa, cho đến biến hiện các vật như hóa thành...để làm lợi ích và dẫn dắt chúng sinh, như thí dụ Hóa thành trong kinh Pháp hoa. Tư tưởng Quyền hóa đã có ở Ấn Độ từ xưa. Trong tín ngưỡng Ấn Độ giáo, vị thần thường hóa hiện thân hình để thực hiện những mong cầu của nhân loại, cứu vớt người đời qua các nỗi thống khổ và bảo vệ chính nghĩa cho thế gian. Đứng về phương tiện tín ngưỡng mà nói thì Quyền hóa, theo Ấn Độ giáo, là làm cho chúng sinh được giải thoát; còn nói theo quan điểm triết học thì vị thần theo ý hướng của tự thân, dùng tư thái du hí mà hóa hiện ra đời. Trong các thần của Ấn Độ giáo thì thần Ti thấp nô (Phạm: Viwịu) có tính đại biểu đầy đủ nhất của việc thị hiện ở thế gian, thần này có khoảng 10 loại tướng quyền hóa, 3 tướng đầu là hình động vật, tướng thứ 4 là hình nửa người nửa thú, 6 tướng còn lại là hình nhân loại. Ngoài ra, Kì na giáo cũng có tư tưởng quyền hóa, tư tưởng này là sự điều hòa giữa Nhất thần giáo và nhiều hình thái tín ngưỡng khác, chủ yếu là thuyết minh 1 vị thần duy nhất, tuyệt đối dùng các loại hình thái để hóa hiện ở thế gian. Sau khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi, đã nảy sinh tín ngưỡng Pháp thân là bản chất tuyệt đối, tin tưởng rằng Pháp thân dùng Phật, Bồ tát hoặc các loại hình thái khác mà xuất hiện ra thế gian để cứu độ chúng sinh. Trường hợp nổi bật nhất là tín ngưỡng bồ tát Quán thế âm. Trung Quốc, Nhật Bản, Tây tạng và các nước Phật giáo Bắc truyền nói chung, đều tin rằng bồ tát Quán thế âm hóa hiện các loại hình tướng, như 32 thân ứng hóa, để cứu khổ chúng sinh. Đây là tín ngưỡng phổ cập nhất trong dân gian. Chẳng hạn như dân tộc Tây Tạng tin rằng đất nước Tây tạng là trú xứ của bồ tát Quán thế âm và các vị Đạt Lai Lạt Ma tức là hóa thân của Ngài. Ở Nhật Bản, Quyền hóa được xem là đồng nghĩa với ứng hiện, quyền hiện, quyền giả, hóa hiện, thị hiện...Tư tưởng này là sự kết hợp giữa tín ngưỡng thần cách của dân tộc Nhật bản và đối tượng tín ngưỡng của Phật giáo, gọi là thuyết Bản địa thùy tích, như Đại thần Thiên chiếu, Đại thần Bát phan chính là Thùy tích của Như lai Đại nhật và Bồ tát Quán thế âm. [X.phẩm Hóa thành dụ trong kinh Pháp hoa Q.3; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7; lời tựa Giáo hành tín chứng văn loại]. (xt. Hóa Thân, Bản Địa Thùy Tích, Quyền Hiện). II. Quyền Hóa. Quyền xảo giáo hóa. Đứng về phương diện giáo hóa mà nói thì đức Phật đem Nhất thừa chia ra làm Tam thừa để giáo hóa, gọi là Quyền giáo, nghĩa là giáo hóa một cách khéo léo.

quyền hoá thật hoá

(權化實化) Quyền hóa là sự giáo hóa bằng phương tiện giả tạm; Thực hóa là sự giáo hóa bằng Nhất thừa chân thực. Nghĩa là sự giáo hóa của đức Phật có Quyền pháp và Thực pháp khác nhau. Cứ theo Pháp hoa huyền luận quyển 1 của ngài Cát tạng đời Tùy thì sự giáo hóa trong 1 đời của đức Thích tôn trước sau có 7 môn, trong đó, môn thứ 4 là Thực hóa bất đắc môn, nghĩa là khi đức Phật mới thành đạo, do tâm đại từ bi, Ngài nghĩ phải giáo hóa dắt dẫn chúng sinh bằng lí chân thực, nhưng hàng phàm phu không có năng lực tiếp nhận. Môn thứ 5 là Quyền hóa đắc môn, tức Quyền dụ môn, nghĩa là sự giáo hóa bằng cách chia Nhất thừa ra làm Tam thừa. Môn thứ 6 là Thực hóa đắc môn, nghĩa là sự giáo hóa dần dần theo thứ lớp Tam thừa sắp hoàn thành, cho nên gom Tam thừa lại mà đưa về Nhất thừa. Ngoài ra, trong Pháp hoa huyền nghĩa quyển 3, hạ của ngài Trí khải còn có thuyết Hóa tha quyền thực cho rằng (Đại 33, 712 thượng): Nếu phân tích các pháp theo 2 trí Quyền và Thực, thì phân biệt vạn tượng là Quyền trí, dứt hết phân biệt vạn tượng là Thực trí, bảo rằng 2 trí này hòa hợp với các duyên, nói theo nhiều cách, tùy theo các thứ ưa muốn, thích nghi, đối trị, rõ biết...mà phân biệt. Tuy nói nhiều thứ, nhiều cách, nhưng đều thuộc về Tích pháp quyền thực (dùng Quyền trí và Thực trí phân tích các pháp), vì thế có 2 trí hóa tha. Đây cũng có thể được xem là một thuyết Quyền hóa và Thực hóa.

quyền hóa

Quyền Giả—Hóa Giả—Phật lực hay Bồ Tát lực có thể tự hóa thành bất cứ thân trần tục nào để cứu độ chúng sanh—The power of Buddhas and Bodhisattvas to transform themselves into any kind of temporal body in order to aid beings.

quyền hạn

Within competence (authority).

quyền lý

Partial or incomplete truth.

quyền lợi

Right—Interest.

quyền lực

Power and influence.

quyền môn

Những tông phái nhấn mạnh đến việc dùng phương tiện để cứu độ chúng sanh—The sects which emphasize temporary methods or expedients for saving beings.

quyền mưu

Những phương tiện tạm thời thích hợp với nhu cầu cứu độ chúng sanh—Temporary plans, methods suited to immediate needs—See Quyền Phương Tiện.

quyền năng

Power and capacity.

quyền phương tiện

Quyền mưu nhất thời của chư Phật và chư Bồ Tát, dùng phương tiện để cứu độ chúng sanh—Expedients of Buddhas and bodhisattvas for saving all beings.

quyền quý

Noble.

quyền tam cương

(權三綱) Đối lại: Chính tam cương. Chỉ cho 3 chức vị trong chúng tăng là: 1. Thượng tọa (Phạm:Sthavira). 2. Tự chủ (Phạm:Vihàra-svàmin). 3. Đô duy na (Phạm: Karma-dàna, cũng gọi Duy na). Ba chức vị này đầu tiên được đặt ra để tự trị trong tăng đoàn ở Ấn độ nhưng không rõ trong chùa có cần phải đặt ra các chức vị này hay không. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 39, vào năm Hiển thánh thứ 2 (675) đời Đường, vua ban sắc xây dựng chùa Tây Minh tại Trường An, bấy giờ, ngài Đạo Tuyên được cử làm Thượng tọa, ngài Thần Thái làm Tự chủ và ngài Hoài Tố làm Duy na.

Quyền thật

(權寔): quyền nghĩa là quyền nghi, chỉ cho phương tiện cần thiết nhất thời; thật là chân thật không dối, sự chân thật tột cùng vĩnh viễn không thay đổi. Quyền thật còn gọi là chân giả. Như trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, CBETA No. 1295) quyển 25 có câu: “Đốn tiệm thiên viên, quyền thật không hữu, đinh tủy thiết thiệt, hà mục hải khẩu (頓漸偏圓、權寔空有、釘觜鐵舌、河目海口, đốn tiệm méo tròn, quyền thật không có, mỏ đinh lưỡi sắt, mắt sông miệng biển).” Hay như trong Đại Thừa Bản Sanh Tâm Địa Quán Kinh Thiển Chú (大乘本生心地觀經淺註, CBETA No. 367) cũng có câu: “Dĩ thuyết pháp chi công, trang nghiêm tự tánh, quyền thật tự tại, cố tôn vi vương (以說法之功、莊嚴自性、權寔自在、故尊爲王, lấy công đức thuyết pháp, trang nghiêm tự tánh, quyền thật tự tại, nên tôn xưng là vua).” ; 權實; C: quán shí; J: gonjitsu; |»Phương tiện và chân thật«.

quyền thật

(權實) Quyền cũng gọi Thiện quyền, Quyền phương tiện, Thiện quyền phương tiện, Giả, Quyền giả, nghĩa là cái phương tiện tạm bợ được đặt ra trong nhất thời, dùng xong thì bỏ; Thực cũng gọi là Chân, Chân thực, nghĩa là cái chân thực rốt ráo không hư dối, vĩnh viễn không thay đổi. Cả 2 được ghép chung gọi là Quyền thực, Chân giả. Từ đó có những cặp dụng ngữ đối nhau như Quyền giáo và Thực giáo, Quyền trí và Thực trí, Quyền nhân và Thực nhân, Quyền quả và Thực quả, Quyền hóa và Thực hóa. Thực giáo là giáo pháp được nói ra đúng thực như pháp tự nội chứng của đức Phật, là giáo pháp căn bản tột cùng; Quyền giáo là giáo pháp phương tiện được đặt ra để dắt dẫn người vào Thực giáo, khi đã đến được cảnh giới của Thực giáo rồi thì phải bỏ Quyền giáo. Thực trí cũng gọi là Chân thực trí, Như thực trí, là trí sáng suốt như thực; Quyền trí cũng gọi là Phương tiện trí, là trí tuệ phát khởi để dắt dẫn hóa độ người khác; Thực nhân chỉ cho hạnh viên đốn; Quyền nhân chỉ cho các hạnh của Tạng giáo, Thông giáo và Biệt giáo. Thực quả chỉ cho Đại niết bàn ngầm chứa 3 đức (pháp thân, giải thoát, bát nhã); Quyền quả chỉ cho sự hóa hiện thân vàng cao 1 trượng 6 thước. Thực nhân chỉ cho người thật, còn Quyền nhân là chỉ cho người được biến hóa ra, là do Phật, Bồ tát vì dắt dẫn, cứu độ chúng sinh mà giả hiện tướng mạo người hoặc chư thiên. Thực hóa tức là Phật giáo hóa bằng cách gom Tam thừa đưa về Nhất thừa; Quyền hóa tức là Phật giáo hóa bằng cách chia Nhất thừa ra làm Tam thừa. Tông Thiên thai cho rằng Viên giáo được nói trong kinh Pháp hoa là Thực giáo, còn Thông giáo, Tạng giáo và Biệt giáo được nói trong các kinh khác thì đều thuộc Quyền giáo, cho nên gọi là Tam quyền nhất thực(3 Quyền 1 Thực). Đứng về phương diện bản thể chứng ngộ của Phật mà nói thì Quyền giáo và Thực giáo đều bình đẳng, gọi là Quyềnthực đồng thể. Còn nói theo tác dụng giáo hóa chúng sinh của Phật thì phương pháp tu hành và trình độ giác ngộ của Quyền giáo và Thực giáo có khác nhau, cho nên gọi là uyền thực dị thể. Pháp hoa văn cú quyển 3, thượng, cho rằng có thể dùng 4 câu về quyền, thực để biểu thị trạng thái tồn tại của tất cả sự vật sư sau: -Tất cả các pháp đều là quyền; -Tất cả các pháp đều là thực. -Tất cả các pháp vừa là quyền vừa là thực, -Tất cả các pháp không phải quyền không phải thực. Thập bất nhị môn trong Pháp hoa huyền nghĩa quyển 7 có lập Quyền thực bất nhị môn, nghĩa là đứng trên lập trường của người mà nói thì 9 cõi từ Bồ tát trở xuống đến địa ngục là Quyền, còn cõi Phật là Thực, gọi là Cửu quyền nhất thực (9 quyền 1 thực); còn nói theo lập trường của giáo pháp thì tuy có chia ra Tam quyền nhất thực(3 quyền 1 thực), nhưng nên quán xét quyền thực viên dung không sai khác. [X. kinh Chính pháp hoa Q.1; Pháp hoa huyền luận Q.4, Ma ha chỉ quán Q.3, hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.3, phần 4, Tứ giáo nghĩa Q.12; Xuất tam tạng kí tập Q.8]. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo, Khai Hội).

quyền thật bất nhị môn

(權實不二門) Tông Thiên thai cho rằng các pháp quyền và thực dung thông nhau, bình đẳng không hai, là 1 trong Thập bất nhị môn. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 14 (Đại 33, 919 hạ) nói: Quyền thực bất nhị môn, nghĩa là trí tuệ rộng lớn bình đẳng, thường chiếu rọi khắp pháp giới, cũng do lí tính 9 quyền 1 thực (tức 9 cõi từ Bồ tát đến địa ngục là quyền, chỉ có 1 cõi Phật là thực), thực ở trong 9 cõi, quyền cũng lại như thế. Quyền thực thầm hợp nhau, trăm cõi một niệm không thể tách rời, nhậm vận thường nhiên. Nghĩa là về mặt lí tính thì tâm phàm phu vốn đầy đủ 9 quyền 1 thực, tức là thực của cõi Phật có đầy đủ quyền của 9 cõi mà quyền của 9 cõi cũng đầy đủ thực của cõi Phật.Do đó, quyền và thực bình đẳng, trăm cõi dung nhiếp, hòa nhập vào nhau, hoàn toàn trong 1 niệm cần yếu này, cho nên, khi quán xét một niệm mà chiếu soi cảnh nhiệm mầu của 3 nghìn thế giới thì có thể thành tựu tu quán sơ tâm, đây là yếu chỉ của pháp môn Quán tâm của tông Thiên thai. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.7; Thập bất nhị môn chỉ yếu sao Q.hạ]. (xt. Thập Bất Nhị Môn).

quyền thật chỉ quán

(權實止觀) Chỉ cho Tam quyền chỉ quán và Nhất thực chỉ quán của tông Thiên thai. Tam quyền chỉ quán là Chỉ quán thiên lệch như Tam tạng quán, Thông quán và Biệt quán trong 4 thời (Hoa nghiêm, A hàm, Phương đẳng, Bát nhã) 3 giáo (Tạng, Thông, Biệt) do đức Phật nói trước thời Pháp hoa; còn Nhất thực chỉ quán tức là Chỉ quán viên đốn mà đức Phật đã nói trong thời Pháp hoa. Đứng về phương diện quan hệ giữa Tam quyền chỉ quán và Nhất thực chỉ quán mà nói, thìpháp quán đầu là khai, pháp quán sau là hiển, theo ý tông Thiên thai, vì muốn hiển bày (hiển) Nhất thực chỉ quán nên đức Phật mở ra (khai) Tam quyền chỉ quán. Ma ha chỉ quán quyển 3, hạ (Đại 46, 34 thượng) nói: Chư Phật chỉ vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện ở đời, đó là vì hiển bày Nhất thực chỉ quán mà mở ra Tam quyền chỉ quán. Quyền chẳng phải là bản ý của Phật, mà ý cũng khôngởngoài quyền, cốt mở ra Tam quyền chỉ quán để hiển bày Nhất thực chỉ quán. Đức Phật biết bản tính ưa thích của chúng sinh, cho nên dùng Tứ tất đàn để tùy thuận hóa độ. Trong Tứ tất đàn, đức Phật dùngThế giới tất đàn thuận theo ý muốn của chúng sinh mà nói Tam quyền nhất thực chỉ quán: Nếu người muốn nghe Chính nhân duyên thì nói Tam tạng quán; nếu muốn nghe lí nhân duyên tức không thì nói Thông quán; nếu muốnnghe đạo tu hành trong nhiều kiếp thì nói Biệt quán; nếu muốn nghe diệu lí Tức trung thì nói Viên quán.

quyền thật nhị giáo

(權實二教) Từ gọi chung Quyền giáo và Thực giáo được ghép lại. Quyền giáo cũng gọi là Phương tiện giáo, tức là giáo môn tùy theo ý muốn của chúng sinh mà tạm thời giả đặt (quyền giả) ra để làm phương tiện giáo hóa. Thực giáo cũng gọi là Chân thực giáo, là giáo môn rốt ráo chân thực, vĩnh viễn không thay đổi, tức là giáo pháp được nói ra từ nghĩa chân thực nội chứng của Phật và theo ý của Phật. Nói một cách đại thể thì giáo thuyết của các tông, các phái trong Phật giáo tuy đều là Thánh ngôn chân thực không hư dối, nhưng trong đó có hai hệ thống lớn với chủ trương không giống nhau. Một là hệ thống chủ trương tất cả chúng sinh đều có tính Phật và thừa nhận chúng sinh đều có khả năng thành Phật. Hai là hệ thống chủ trương chúng sinh có 5 loại căn tính khác nhau và phủ nhận sự thành Phật của Nhị thừa định tính và Hữu tình vô tính trong 5 loại căn tính. Nếu nói theo các kinh luận thì hệ thống 1 thuộc kinh Pháp hoa, kinh Niết bàn... tức là thuyết Nhất thừa chân thực, Tam thừa phương tiện; còn hệ thống 2 thì thuộc kinh Giải thâm mật, luận Du già... tức là thuyết Tam thừa chân thực, Nhất thừa phương tiện. Tông Thiên thai căn cứ theo kinh Pháp hoa mà lập thuyết Nhất thừa chân thực, Tam thừa phương tiện, gọi kinh Pháp hoa là Thực giáo, các kinh còn lại là Quyền giáo. Ngoài ra còn căn cứ vào Bộ và Giáo mà nói về sự khác nhau giữa Quyền và Thực. Tức là nói theo Giáo thì Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo là Quyền, Viên giáo là Thực; nói theoBộ thì Kiêm, Đãn, Đối, Đới thuộc 4 thời: Hoa nghiêm, A hàm, Phương đẳng, Bát nhã là Quyền; Nhất thực khai quyền thuộc thời Pháp hoa là Thực. Tông Tam luận chủ trương Nhất tính giai thành, tuy cũng lập thuyết Nhất thừa chân thực, Tam thừa phương tiện, nhưng chủ trương ngoài Tam thừa không có Nhất thừa, cho nên khác với thuyết của tông Thiên thai. Tông Pháp tướng duy thức y cứ vào kinh Giải thâm mật mà chủ trương thuyết Tam thừa chân thực, Nhất thừa phương tiện, cho rằng thuyết Duy hữu nhất thừa của kinh Pháp hoa chẳng qua là phương tiện được đặt ra để dẫn dắt hàng Thanh văn bất định tính chứ thực ra thì chúng sinh vốn có 5 tính khác nhau, mà giáo, lí, hành, quả của Tam thừa cũng khác, bởi thế tông Pháp tướng duy thức chủ trương thuyết Duy hữu nhất thừa là giáo pháp phương tiện, còn thuyết Tam thừa mới là giáo pháp chân thực. Tông Hoa nghiêm thì cũng giống như tông Thiên thai, cũng chủ trương ngoài Tam thừa còn có pháp Nhất Phật thừa và cho rằng 3 xe ở trong cửa mới là phương tiện, chỉ cho các hư giả, còn xe trâu trắng lớn ở ngoài cửa mới là chân thực. Trong Ngũ giáo (Tiểu thừa giáo, Đại thừa thủy giáo, Đại thừa chung giáo, Đốn giáo, Viên giáo) mà tông Hoa nghiêm phân định thì cho rằng Tiểu thừa là Ngu pháp nhị thừa giáo, Đại thừa thủy giáo là Tam thừa giáo, đều thuộc Quyền giáo; còn Đại thừa chung giáo và Đốn giáo thì vì chủ trương Nhất thừa nhất tính nên tuy có lúc cũng gọi là Thực giáo, nhưng vì không chủ trương Tất cả chúng sinh đều có tri kiến Phật, cho nên chỉ có Lí tính nhân xa chứ không có Quả tính quả xa, do đó vẫn thuộc Tam thừa, cũng là Quyền giáo; chỉ có Biệt giáo Nhất thừa của kinh Hoa nghiêm mới là Thực giáo. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; phẩm Vô tự tính tướng kinh Giải thâm mật Q.2; Pháp hoa huyền nghĩa Q.7, thượng; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần cuối; Ngu thốc sao Q.thượng].

Quyền thật nhị trí

權實二智; C: quánshí èrzhì; J: gonjitsu nichi; |Hai loại trí huệ chư Phật vận dụng. Thật trí (實智), hàm ý nhận thức trực tiếp thực tại như chúng đang là; quyền trí (權智), dùng chân lí tương đối và phương tiện để dẫn dắt mọi người đến chân lí.

quyền thật nhị trí

(權實二智) Cũng gọi Quyền thực nhị tuệ. Quyền trí và Thực trí ghép chung lại. Quyền trí cũng gọi Phương tiện trí, là trí biết rõ pháp Tam thừa quyền hóa; Thực trí, cũng gọi Chân thực trí, Như thực trí, là trí thấu suốt pháp Nhất thừa chân thực. Thực trí thuộc về thể, Quyền trí thuộc về dụng. Đại thừa nghĩa chương quyển 19 cho rằng, dựa theo Đối quyền minh thực (đối với quyền mà rõ được thực) mà luận thì trí rõ biết pháp Nhất thừa chân thực, gọi là Thực trí; còn trí thấu suốt pháp Tam thừa quyền hóa thì gọi là Phương tiện trí. Nói về Phương tiện trí cho rằng, dựa theo Quyền xảo phương tiện (Phương tiện tạm thời khéo léo) mà bàn, thực ra không có việc ấy, nhưng giả đặt một cách khéo léo, cho nên gọi là Phương tiện. Trong đó, Phật có pháp Tam nghiệp phương tiện là: 1. Thân xảo: Vì hóa độ chúng sinh mà tạm thời giả hiện các thân hình một cách khéo léo như Phật, vượn, nai, ngựa... 2. Khẩu xảo: Thực không có Tam thừa sai khác, nhưng tùy thuận căn cơ của chúng sinh mà tạm nói pháp Tam thừa. 3. Ý xảo: Nghĩ về sự hành hóa phương tiện khéo léo của chư Phật quá khứ, ta nay đã đượcđạo, cũng nên tuyên thuyết pháp Tam thừa. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 2, thượng (Đại 33, 693 thượng) nói: Phật pháp không ngoài quyền thực, pháp ấy rất sâu xa mầu nhiệm, khó thấy khó thấu suốt, tất cả loài chúng sinh, không thể nào biết rõ Phật, vì thực trí của Phật rất sâu xa vi diệu. Còn các pháp khác của Phật cũng không thể suy lường mà biết được, vì quyền trí của Phật rất vi diệu. Hai pháp ấy duy Phật với Phật mới có thể cùng suốt được thực tướng của chúng. Cũng Pháp hoa huyền nghĩa quyển 3, hạ, cho rằng hai trí quyền thực có thể được chia làm 7 loại: Tích pháp quyền thực, Thể pháp quyền thực, Thể pháp hàm trung quyền thực, Thể pháp hiển trung quyền thực, Biệt quyền thực, Biệt hàm viên quyền thực và Viên quyền thực. Bảy loại quyền thực trí này mỗi loại chia ra 3 thứ: Tự hành quyền thực, Hóa tha quyền thực và Tự hành hóa tha quyền thực, tổng hợp lại có 21 loại quyền thực. Ngoài ra, Mật giáo lấy đài hoa sen ở chính giữa Mạn đồ la Thai tạng giới làm Thực trí và lấy 8 cánh sen nở rộ làm Quyền trí. [X. Pháp hoa huyền luận Q.4; Pháp hoa huyền tán Q.3; Đại nhật kinh sớ Q.6; Ma ha chỉ quán Q.3 hạ]. (xt. Quyền Thực).

quyền thật tứ cú

(權實四句) Bốn câu phân biệt do tông Thiên thai lập ra để nói rõ về quyền thực. 1. Tất cả pháp đều quyền: Chỉ cho tất cả pháp đều có ngôn thuyết, mà ngôn thuyết ấy là cái cơ quan năng thuyên; đối với thực lí sở thuyên mà nói, thì đó gọi là Quyền giả. 2. Tất cả pháp đều thực: Cái chân thực chính là ở sự chứng nhập, mà tất cả ngôn thuyết đều lấy sự chân thực chứng nhập ấy làm gốc, cho nên gọi tất cả pháp đều thực. 3. Tất cả pháp vừa quyền vừa thực: Hợp 2 câu nói ở trên lại thì bên năng thuyên là Quyền; bên sở thuyên là Thực. Như phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa, khi nói về thực tướng các pháp, cho rằng các pháp là Quyền, thực tướng là Thực, mà các pháp tức Thực tướng, thể của chúng chẳng phải là 2, cho nên gọi là vừa quyền vừa thực. 4. Tất cả pháp chẳng phải quyền chẳng phải thực: Thể của tất cả pháp chính là lí Trung đạo nhiệm mầu, lí này dứt bặt nói năng, cho nên gọi là chẳng phải Quyền chẳng phải Thực. Bốn câu phân biệt quyền thực trên đây chính là hiển bày yếu chỉ phá lập của kinh Pháp hoa. [X. Pháp hoa văn cú Q.3].

quyền thật đồng thể di thể

(權實同體异體) Tông Thiên thai cho rằng Quyền giáo và Thực giáo là bình đẳng không hai, gọi là Quyền thực đồng thể, trái lại, Quyền giáo và Thực giáo khác nhau thì gọi là Quyền thực dị thể. Trong đó, Quyền thực đồng thể là nói theo ý của Phật, tức là từ Nhất Phật thừa mà chia ra nói thành Tam thừa, bảo rằng Quyền của Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo và Thực của Viên giáo là bình đẳng không hai, cùng là một thể. Còn Quyền thực dị thể là nói theo tác dụng giáo hóa tùy thuận của Phật đối với hữu tình, nghĩa là quá trình tu chứng của Tạng, Thông, Biệt, Viên đều khác nhau. [X. Pháp hoa văn cú kí Q.17; Tứ giáo nghi tập chú Q.thượng; Pháp hoa huyền nghĩa giảng thuật Q.1].

quyền thế

Power and influence—Authority.

quyền thừa thật quả

(權乘實果) Thừa phương tiện và quả chân thực, do tông Chân ngôn Nhật bản chủ trương. Tông Chân ngôn lập ra thuyết Thập trụ tâm, 9 trụ tâm đầu là Quyền thừa, trụ tâm thứ 10 là Thực quả. Tông Chân ngôn cho rằng các tông Duy thức, Tam luận, Hoa nghiêm, Thiên thai...là Quyền thừa (giáo pháp phương tiện), Phật của các tông này đều là Quyền Phật của nhân vị (còn ở địa vị tu nhân), chứ chưa phải là Chân Phật, chỉ có Pháp thân Phật của Trụ tâm thứ 10 mới là Phật quả chân thực.

quyền thực

Quyền pháp và thực pháp—Temporal and real. 1) Quyền: Pháp tạm thời thích ứng với nghi cơ—Conditional—Functional—Temporary—Provisional. 2) Thực: Pháp cứu cánh bất biến—Fundamental—Absolute—Real—Perfect.

quyền thực bất nhị môn

Quyền và thực không hai, mà là bổ khuyết cho nhau—The two divisions of provisional and the perfect, are not two but complementary.

quyền thực nhị trí

Thực trí và quyền trí (Phật pháp chẳng ra khỏi quyền thực nhị trí)—The knowledge or wisdom of reality and that of relative—See Thực Trí, and Quyền Trí.

Quyền trí

權智; C: quánzhì; J: gonchi; |Trí phương tiện căn cứ trên chân lí tương đối, dùng để dẫn dắt chúng sinh đến Thật trí, căn cứ trên chân lí tuyệt đối. Tương đương với nghĩa »phương tiện«.

quyền trí

Phật trí hiện tượng, ngược với Phật trí tuyệt đối hay thực trí (thông đạt về thực tướng của chư pháp)—Buddha-wisdom of the phenomenal, in contrast with knowledge of the fundamental or absolute. ** For more information, please see Thực Trí.

quyền tuyệt đối

Absolute power.

quyền tích

Temporary traces, evidences of the incarnation of a Buddha in human form. ; (權迹) Thân quyền hóa thùy tích do chư Phật thị hiện. Nghĩa là chư Phật vốn đã thành Phật từ rất nhiều kiếp lâu xa về trước, nhưng muốn hóa độ chúng sinh mà thị hiện thân thùy tích; như 8 tướng thành đạo của đức Phật Thích ca. Quyền là đối với Thực, Tích là đối với Bản. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 10, thượng (Đại 33, 800 trung) nói: Xóa hết quyền tích, hiển bày thực bản. (xt. Bản Tích Nhị Môn).

quyền tự quyết

Right of self-determination.

quyền uy

Authority.

quyền điền lôi phủ

(權田雷斧) (1846-1934) Cao tăng Nhật Bản, thuộc tông Chân ngôn, người huyện Tân Tích. Ban đầu, sư nghiên cứu học tập các luận Câu xá, Duy thức, Nhân minh ở Phong sơn; sau học Mật giáo, Hoa nghiêm, Thiên thai, sau chuyển sang tu Thiền theo tông Tào động, rồi sau lại theo ngài Phúc điền Hành giớihọcTịnh độ giáo. Năm 32 tuổi, sư trở về Phong sơn, lần lượt giữ các chức Giáo sư Đại học Tân nghĩa, Quản trưởng phái Phong sơn, Hiệu trưởng Đại học Phong sơn, Đại học Đại chính. Năm 79 tuổi, sư đến Trung quốc hoằng pháp, mở rộng Mật giáo. Sư có các tác phẩm: Mật giáo cương yếu, Ngã quán Mật giáo phát đạt chí, Phật tượng tân tập, Mạn đồ la thông giải, Tục huyền bí khúc.

quyền đại thừa

Những trường phái “Thông” và “Biệt” giáo trong Đại thừa (Pháp Tướng và Tam Luận), đối lại với Thực Đại Thừa như những tông Hoa Nghiêm và Thiên Thai, chủ trương hết thảy chúng sanh đều có khả năng thành Phật—The temporal or partial schools of Mahayana, in contrast with the schools which taught universal Buddhahood, e.g. Hua-Yen and T'ien-T'ai schools. ; (權大乘) Đối lại: Thực đại thừa. Cũng gọi Quyền giáo đại thừa, Đại thừa quyền giáo. Gọi tắt: Quyền đại. Chỉ cho giáo pháp phương tiện tạm thời trong Đại thừa giáo. Tức là vì tùy thuận căn cơ của chúng sinh mà phương tiện nói Đại thừa bất liễu nghĩa, chứ chưa phải là giáo nghĩa Đại thừa chân thực. Trong các tông Đại thừa, phần nhiều tự cho giáo lí của tông mình là thực pháp, còn các tông khác là quyền pháp. Chẳng hạn, nói theo quan điểm của các tông chủ trương Nhất thừa như Thiên thai, Hoa nghiêm, thì các tông chủ trương Tam thừa như Pháp tướng, Tam luận là Quyền đại thừa. Ngược lại, nói theo quan điểm của các tông chủ trương Tam thừa như Pháp tướng, Tam luận, thì các tông chủ trương Nhất thừa như Thiên thai, Hoa nghiêm là Quyền đại thừa. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.9; Thủ hộ quốc giới chương Q.trung, thượng, Q.hạ trung; Tuyển trạch truyền hoằng quyết nghi sao Q.1]. (xt. ThựcĐạiThừa).

quyền ưu tiên

Priority.

quyển thư

(卷舒) Trong Thiền lâm, quyển và thư là 2 cơ pháp mà bậc thầy dùng để dẫn dắt người học. Quyển nghĩa là thu lại, nắm giữ lấy, thuộc phương pháp tiếp hóa đả phá, phủ định; Thư nghĩa là giãn ra, buông ra, thuộc phương pháp tiếp hóa nhiếp thụ, khẳng định. Bậc thầy dựa theo căn cơ, trình độ của người học mà sử dụng những phương pháp giáo hóa khác nhau, hoặc nắm giữ, hoặc buông thả, vận dụng một cách linh hoạt, tự tại để giúp người học đạt được khai ngộ.[X. Bích nham lục tắc 3, 5].

quyển tử bản

(卷子本) Bản sách cuốn tròn, tức là viết chữ trên 1tờ giấy dài rồi cuốn lại thành hình ống tròn, 1 trong những hình thức đóng sách ở đời xưa. Từ rất sớm, các quốc gia phương Tây đã có Quyển tử bản bằng giấy hoặc bằng da thú. Trung quốc nhờ đã phát minh ra giấy, nên từ đời Đông Hán về sau, trong khoảng 1.000 năm, Quyển tử bản đã trở thành hình thức tiêu chuẩn cho tất cả các loại sách vở, trong đó có cả kinh điển Phật giáo. Những Quyển tử bản phát hiện được ở vùng Trung á hầu như đều là những sản phẩm dưới ảnh hưởng nền văn hóa của Trung quốc. Ngoài chữ Hán ra còn có chữ Túc đặc, chữ Tây tạng, chữ Hồi hột, chữ Tây hạ...đều được viết trên giấy, tập trung ở các khu vực Đôn hoàng, Cao xương, thành Hắc thủy...Trong đó, Quyển tử bản chữ Hán chiếm phần lớn, vả lại, giấy viết phần nhiều cũng được vận chuyển từ Trung quốc đến. Các dụng cụ để viết thì có bút lông thỏ, bút gỗ, cọng lau...Trong những bản sao đào được ở Đôn hoàng phần nhiều là Quyển tử bản kinh Phật bằng chữ Hán, còn các kinh điển của Ma ni giáo, kinh điển của Cảnh giáo tìm thấy ở Cao xương cũng là Quyển tử bản, nhưng có vẻ khác với Quyển tử bản của Trung quốc. Quyển tử bản chép kinh điển Phật bằng chữ Hán thông thường từ 20 đến 30 trang giấy được dán dính lại với nhau bằng hồ, chiều dài trang giấy khoảng 40 cm, rộng từ 40 đến 80 cm. Về chiều hướng viết và đọc thì tùy theo các loại văn tự mà có khác nhau. Như chữ Hán và chữ Tây hạ thì viết theo hàng dọc từ bên phải sang bên trái, hàng cuối cùng ở bên trái; chữ Túc đặc và chữ Hồi hột thì viết theo hàng ngang, cũng từ phải sang trái; còn chữ Tây tạng thì viết ngang từ trái sang phải, hàng cuối cùng ở phía dưới. Vì ngày xưa giấy rất quí nên có khi người ta viết chữ vào những chỗ trắng ở mặt sau của trang giấy, giữa khoảng các dòng chữ đã viết ở mặt trước. Ngoài ra, có khi Quyển tử bản được làm bằng tơ lụa, vải thô hoặc vỏ cây Hoa. Quyển tử bản bằng vỏ cây Hoa hiện nay chỉ tìm thấy 1 quyển ở Hòa điền, đó là quyền kinh Pháp cú được sao chép vào khoảng thế kỉ II từ văn tự địa phương Ca la thuộc Kiện đà la. Hình thức quyển kinh này là 2 đầu phải và trái của những trang vỏ cây Hoa được đính lại với nhau bằng chỉ; văn kinh được viết theo chiều rộng của trang vỏ cây và viết ngang từ phải sang trái, hàng cuối cùng ở phía dưới. Qua suy đoán, nguồn gốc của Quyển tử bản này có vẻ như không dính dáng gì đến nến văn hóa của Trung Quốc.

quàn

To leave the corpse in a temporary shelter prior to burial.

quàng cổ

To wear around the neck.

quàng vai

To wear around the shoulders.

quàng xiên

To talk nonsense

quá

1) Lỗi: Error—Transgression. 2) Quá khứ: Past—Passed. 3) Vượt qua: To pass.

quá chừng

Exceeding—Beyond measure.

quá cố

Deceased.

quá dư

Exuberant.

quá hiện vị

Quá khứ, hiện tại và vị lai—Past, present, future.

quá hiện vị lai nghiệp báo trí lực

(過現未來業報智力) Cũng gọi Nghiệp dị thục trí lực. Trí lực của Như lai biết rõ tất cả nghiệp duyên, quả báo, nơi sinh đến... của hết thảy chúng sinh trong 3 đời quá khứ, vị lai và hiện tại, 1 trong 10 lực của Như lai. (xt. Thập Lực).

quá hoạn đoạn

(過患斷) Cũng gọi: Tình hữu đoạn. Đối lại: Công đức đoạn. Đoạn trừ quá hoạn phiền não. Tức nương vào trí Thủy giác mà đoạn trừ các lỗi lầm do tâm vọng chấp sai biệt của tình hữu tạo ra. Mật giáo chủ trương vốn không có phiền não, khi chứng biết thì tự thành nghĩa đoạn, vì thế nương vào môn Bản giác mà thực hành công đức đoạn. Trái lại, Hiển giáo thì nương vào môn Thủy giác, vì theo tình hữu thì phiền não là quá hoạn nên phải đoạn trừ. [X. luận Thích ma ha diễn Q.3; Thích ma ha diễn luận tán huyền sớ Q.3].

quá hạ

Cách gọi khác của an cư kiết hạ—To pass the summer, or the summer retreat—See An Cư Kiết Hạ.

quá hạn

To exceed the limit.

quá hải hoà thượng

(過海和尚) Tức là ngài Giám Chân, vị Cao tăng Trung Quốc sống vào đời Đường. Cứ theo Đường quốc sử bổ, vào những năm cuối niên hiệu Thiên Bảo, Hòa thượng Giám chân ở Dương Châu, vượt qua Hắc Hải, Xà sơn đến Nhật bản để truyền bá Luật học, vì vậy, học trò của ngài tôn xưng ngài là Quá Hải Hòa thượng (Hòa thượng vượt biển). (xt. Giám Chân).

quá khích

Extremist.

quá khứ

See Quá (2). ; (過去) Phạm: Atikrànta. Pàli:Atikkanta. Cũng gọi Quá khứ thế. Gọi tắt: Quá. Chỉ cho thời điểm mà tác dụng của sự vật hữu vi đã chấm dứt, nói cách khác, tác dụng của các pháp không còn tiếp diễn đến hiện tại, 1 trong 3 đời (quá khứ, hiện tại, vị lai). Luận Tập dị môn túc quyển 3 (Đại 26, 378 hạ) nói: Đời quá khứ là gì? Đáp: Các hành đã khởi, đã cùng khởi, đã sinh, đã cùng sinh, đã chuyển, đã hiện chuyển, đã tụ tập, đã xuất hiện, đã rơi vào quá khứ, đã diệt hết và biến thành tính quá khứ, loại quá khứ, thuộc về đời quá khứ, đó là đời quá khứ. Ngoài ra, Tát bà đa bộ lập thuyết Tam thế thực hữu nên chủ trương pháp quá khứ có thực thể. Còn Kinh lượng bộ và Duy thức đại thừa thì lập thuyết Quá (khứ) vị (lai) vô thể nên cho rằng quá khứ và vị lai đều không có thực thể. [X. kinh Tạp a hàm Q.3; luận Đại tì bà sa Q.76; luận Du già sư địa Q.3].

quá khứ hiện tại nhân quả kinh

(過去現在因果經) Cũng gọi Quá hiện tại nhân quả kinh, 4 quyển (hoặc 5 quyển), do ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 3. Kinh này trình bày dưới hình thức tự truyện Phật Thích ca; đời quá khứ Phật là vị tiên Thiện tuệ tu hành, thờ đức Phổ quang Như lai làm thầy, đến sau khi thành Phật, Ngài thuật lại sự tích tiền thân, nhờ nhân duyên ấy mà Ngài thành tựu được Nhất thiết chủng trí. Trong các kinh điển Hán dịch, bộ kinh này rất có giá trị về mặt văn học, còn có tên là kinh Hội nhân quả (dưới hình thức truyện tranh) hiện đang lưu hành ở Nhật bản. Ngoài ra, về các bản dịch khác của kinh này còn có: -Kinh Tu hành bản khởi, do các ngài Trúc Đại Lực và Khang Mạnh Tường cùng dịch vào đời Hậu Hán. -Kinh Thái tử thụy ứng bản khởi, do ngài Chi Khiêm dịch vào đời Ngô. Cả 2 bản dịch trên cũng đều được thu vào Đại chính tạng tập 3. Nhưng, theo Khai nguyên thích giáo lục thì ngoài các bản dịch ghi trên, còn có 3 bản sau: Kinh Tiểu bản khởi 2 quyển, do ngài Chi Diệu dịch vào đời Hậu Hán; kinh Thái tử bản khởi thụy ứng 2 quyển, do ngài Khang Mạnh Tường dịch vào đời Hậu Hán; kinh Quá khứ nhân quả 4 quyển, do ngài Phật Đà Bạt Đà La dịch vào đời Đông Tấn. Điều đáng tiếc là cả 3 bản dịch này hiện nay đều đã mất. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.4, 7, 10; Khai nguyên thích giáo lục Q.1, 2, 3, 5].

quá khứ hiện tại nhân quả kinh hội quyển

(過去現在因果經繪卷) Cũng gọi Hội nhân quả kinh. Truyện Phật bằng tranh, 8 quyển, được chia làm 2 phần thượng, hạ; phần thượng là tranh vẽ, phần hạ là văn kinh viết mỗi hàng 8 chữ. Bản được lưu hành gồm 4 quyển, mỗi quyển lại chia làm 2 quyển thượng, hạ, hợp chung lại thành 8 quyển. Kinh được vẽ vào thời kì Thiên Bình của Nhật bản (gọi là Cổ nhân quả kinh), đến nay không còn đủ bộ. Dùng hình thức hội họa hoặc điêu khắc để miêu tả truyện Phật là đề tài chủ yếu của mĩ thuật Phật giáo Ấn Độ từ xưa đến nay.

quá khứ thánh linh

Thần thức của người quá vãng—The spirit of the departed.

quá khứ thất phật

The seven past Buddhas—See Thất Phật. ; (過去七佛) Chỉ cho 7 đức Phật xuất hiện ở đời quá khứ, đó là: 1. Tì bà thi Phật (Phạm:Vipazyin). 2. Thi khí Phật (Phạm:Zikhin). 3. Tì xá phù Phật (Phạm:Vizvabhù). 4. Câu lưu tôn Phật (Phạm: Krakucchanda). 5. Câu na hàm mâu ni Phật (Phạm: Kanakamuni). 6. Ca diếp Phật (Phạm:Kàzyapa). 7. Thích ca mâu ni Phật (Phạm: Sàkyamuni). Trong các kinh như: Tạp a hàm quyển 34, kinh Đại bản Trường a hàm quyển 1, kinh Tăng nhất a hàm quyển 45, kinh Hiền kiếp quyển 7, kinh Thất Phật phụ mẫu tự tính, kinh Thất Phật... đều có ghi rõ về sự ra đời, dòng họ, cha mẹ, con cái, đệ tử, thị giả, chỗ ở, đạo tràng, chúng hội thuyết pháp đầu tiên... của 7 Đức Phật trên. [X. kinh Quán đính Q.8; kinh Phật danh Q.1; Pháp uyển châu lâm Q.8].

quá khứ thế

1) Kiếp quá khứ: The past age, or world. 2) Thời quá khứ—The past—The past time

quá khứ trang nghiêm kiếp

(過去莊嚴劫) Kiếp có 3 loại: Đại kiếp, Trung kiếp, Tiểu kiếp. Đại kiếp của hiện tại gọi là Hiền kiếp; Đại kiếp của quá khứ gọi là Trang nghiêm kiếp và Đại kiếp của vị lai gọi là Tinh tú kiếp. Trong mỗi kiếp đều có 1.000 vị Phật ra đời. [X. kinh Trường a hàm Q.1; kinh Khởi nhân bản Q.9].

quá khứ trang nghiêm kiếp thiên phật danh kinh

(過去莊嚴劫千佛名經) Cũng gọi Tập chư Phật công đức sơn kinh, Trang nghiêm kiếp thiên Phật danh kinh. Kinh, 1 quyển, được dịch vào đời Lương thuộc Nam triều (không rõ dịch giả), thu trong Đại chính tạng tập 14. Trong Đại tạng đời Minh, kinh này được nhập chung với kinh Hiền kiếp thiên Phật danh và kinh Tinh tú kiếp thiên Phật danh để phối hợp với 3 đời, tán thán 3.000 đức Phật. Nhận xét theo hình thức và tư tưởng của kinh này, thì đại khái dùng hình thức hợp nhất 3 đời để giải thích Tam thế tam thiên Phật. Toàn kinh liệt kê rất nhiều danh hiệu chư Phật, mục đích là để khuyên dạy sám hối và nói rõ nếu đọc tụng kinh này sẽ được công đức sống lâu vô lượng như Phật A di đà. Ngoài ra, nói theo quan điểm Danh thuyên tự tính thì tự thể Phật đã được hiển bày trong mỗi danh hiệu Phật. Ngoài việc trì tụng có tính chất phổ thông ra, kinh này cũng thường được sử dụng mỗi khi có nghi lễ, như cầu siêu độ, sám hối diệt tội...

quá khứ trướng

(過去帳) Cũng gọi Linh bạ, Điểm quỉ bạ. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật Bản. Chỉ cho quyển sổ ghi tên người chết, tức ghi pháp danh, ngày, tháng, năm sinh và mất của người quá cố để lưu giữ trong chùa viện. Trong Phật đường của mỗi gia đình cũng có đặt bài vị ghi tên, tuổi của những người thân thuộc đã qua đời. Thời tông của Nhật Bản gọi loại sổ này là Vãng cổ quá khứ trướng, từ vị Tổ thứ 2 là ngài Chân Giáo (1237-1319) cho đến nay, các Tổ sư nhiều đời đều mang bên mình danh sách pháp danh của tín đồ tăng tục đã qua đời trong giáo đoàn để hồi hướng hàng ngày. Nói chung, Quá khứ trướng là tư liệu trọng yếu cho việc nghiên cứu Phật giáo Nhật Bản đương thời.

quá khứ trần điểm kiếp

(過去塵點劫) Kiếp chấm (điểm) bụi (trần) quá khứ, ví dụ sự lâu xa đã qua. Trong phẩm Hóa thành dụ của kinh Pháp hoa có nhóm từ Tam thiên trần điểm kiếp (Kiếp chấm bụi 3 nghìn), nghĩa là đem 3 nghìn đại thiên thế giới mài thành mực, rồi cứ đi qua 1.000 quốc độ lại rỏ xuống 1 chấm mực nhỏ như hạt bụi, cho đến khi hết số mực đó; lại nghiền nát tất cả quốc độ đã trải qua thành bụi nhỏ, cứ 1 hạt bụi nhỏ như thế tính là 1 kiếp. Đó là ví dụ nói lên thời gian từ khi đức Phật Đại thông trí thắng nhập diệt đến nay cũng lâu xa như thế.

quá kỳ

Vượt quá thời hạn quy định—Beyond the time.

quá lố

Excessive.

quá mạn

Một trong thất mạn—One of the seven arrogances—See Thất Mạn (2). ; (過慢) Tâm kiêu căng tự đại, cậy mình lấn người, 1 trong 7 thứ mạn. Khi mình bằng người thì cho là mình hơn người; khi người hơn mình thì cho rằng mình bằng người. (xt. Mạn).

quá mộc kiều

Vượt qua độc mộc kiều (thần thức của người quá vãng phải vượt qua để tái sanh)—To cross over the single log bridge, i.e. only one string to the bow. ; (過木橋) Tên công án trong Thiền tông. Qua cây cầu độc mộc, sự tích ngài Thần sơn Tăng mật và ngài Động sơn Lương giới qua cầu. Điều Thần sơn Tăng mật trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 5 (Vạn tục 138, 93 hạ) nói: Ngài Tăng mật và ngài Động sơn qua cầu độc mộc. Ngài Động sơn qua trước rồi nhấc bỗng cây cầu lên và nói: Qua đây! Ngài Tăng mật gọi: Giới xà lê! Ngài Động Sơn liền buông cây cầu xuống. [X. điều Tăng mật trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.15; Động Sơn Lương giới thiền sư ngữ lục].

quá mức

See Quá lố.

quá ngọ bất thực

(過午不食) Cũng gọi Trì ngọ. Không được ăn khi đã qua ngọ (giữa trưa). Giới luật Phật chế qui định người xuất gia không được ăn phi thời, nghĩa là không được ăn quá giữa trưa. Về lí do chế giới này, theo luật Tứ phần quyển 14 và luật Ngũ phần quyển 8, thì lúc trời chạng vạng, tỉ khưu Ca lưu đà di vào thành La duyệt khất thực, trong bóng tối nhá nhem, 1 người đàn bà có thai thấy ông, tưởng là quỉ hiện, vì bà ta sợ quá nên đã sa thai. Do đó Phật mới chế giới này. [X. Tát bà đa tì ni tì bà sa Q.7; luật Thập tụng Q.13; luận Ma ha tăng kì Q.17]. (xt. Trì Trai, Ca Lưu Đà Di).

quá sức

Beyond one's strength.

quá tin

To be over confident on oneself.

quá tinh tế

Exceedingly subtle.

quá trớn

To overstep a limit.

quá tệ

Worse.

quá vãng

To pass away—To die.

quá vị vô thể

(過未無體) Pháp quá khứ, vị lai đều không có thực thể, chỉ có pháp hiện tại mới có thực thể. Đây là chủ trương của Duy thức Đại thừa. Còn Tát bà đa bộ (tức Thuyết nhất thiết hữu bộ) của Tiểu thừa thì lập thuyết Tam thế thực hữu, cho rằng 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai là có thực, là hằng hữu; đối lại, Duy thức Đại thừa lập thuyết Quá vị vô thể để phá thuyết của Tát bà đa bộ. Dị bộ tông luân luận sớ thuật kí (Vạn tục 83, 226 thượng) nói: Hiện tại có thể và dụng, được gọi là thực có; quá khứ, vị lai không có thể và dụng, nên chẳng phải thực có; đã có, sẽ có là quá khứ, vị lai. [X. luận Câu xá Q.20; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.4; Thành duy thức luận thuật kí Q.3, phần cuối].

quá ác

Dausthulya (skt)—Cùng hung cực ác, khuynh hướng xấu, hay sự sai lầm—Surpassing evil; extremely evil, evil tendency, or error.

quá đáng

Unduly—Excessive—Exaggerated.

quá đường

(過堂) Cũng gọi Thướng đường, Phó đường. Chư tăng lên nhà trai dùng cơm. Điều Tống bát vị trong Bị dụng thanh qui quyển 6 (Vạn tục 112, 51 hạ) nói: Duy Na đi ra cửa trước, Thủ tọa, Đô tự mang bát quá đường. Ngoài ra, chúng tăng vào nhà trai thụ thực, tâm không được tham đắm, đó là ý nghĩa quá đường. [X. môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên].

quá độ

1) Không điều độ: Immoderate. 2) Vượt ra khỏi cảnh sanh tử: To pass from mortal life.

quá độ nhân đạo kinh

(過度人道經) Gọi đủ: Phật thuyết A di đà tam da tam. Phật tát lâu Phật đàn quá độ nhân đạo kinh. Gọi tắt: A di đà kinh. Kinh, 2 quyển, do cư sĩ Chi Khiêm dịch ở nước Ngô thời Tam quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 12. Để phân biệt với kinh Tiểu A di đà do ngài Cưu Ma La Thập dịch, kinh này còn được gọi là kinh Đại A di đà. Đây là 1 trong 5 loại bản dịch khác của kinh Vô lượng thọ hiện còn. (xt. Vô Lượng Thọ Kinh).

Quách Am Sư Viễn

(郭庵師遠, Kakuan Shion, khoảng thế kỷ 11-12): vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Quách Am (郭庵), xuất thân Hợp Xuyên (合川, Tỉnh Cam Túc), họ Lỗ (魯). Ông kế thừa dòng pháp của Đại Tùy Nguyên Tĩnh (大隨元靜) và trú tại Lương Sơn (梁山) thuộc Phủ Thường Đức (常德府, Tỉnh Hồ Nam). Tác phẩm Thập Ngưu Đồ Tụng (十牛圖頌) do ông thêm vào 10 bài tụng cho bản Mục Ngưu Đồ (牧牛圖) của Thanh Cư Hạo Thăng (清居晧昇), rất thịnh hành trong Thiền lâm Trung Quốc, Nhật Bản, v.v.

Quách Lịnh Công

(郭令公, 697-781): tên của vị danh tướng dưới thời vua Túc Tông nhà Đường, hiệu là Trung Võ (忠武), người đã từng dẹp yên vụ loạn An Sử (安史). Do vì ông được phong làm Phần Dương Công (汾陽公) nên được gọi là Quách Phần Dương (郭汾陽), bên cạnh đó ông còn làm chức Trung Thư Lịnh (中書令) nên cũng được gọi là Quách Lịnh Công.

quách thị song phu

(椁示雙趺) Hai chân Phật thị hiện thò ra ngoài kim quan. Sau khi đức Phật nhập diệt ở rừng cây Sa la bên ngoài thành Câu thi na yết la được 7 ngày thì ngài Ca diếp mới đến nơi, Ngài thương nhớ đi quanh kim quan đức Thế tôn, nhất tâm kính ngưỡng, tán thán Phật đức. Lúc đó, 2 chân Phật có tướng thiên bức luân (1 trong 32 tướng) bỗng thò ra khỏi kim quan. Do sự tích này, người đời sau dùng nhóm từ Quách thị song phu để biểu thị ý nghĩa đức Phật hiện thân ra ngoài kim quan. [X. Tổ đình sự uyển Q.1; Vân môn lục Q.thượng].

quái

1) Khiếm khuyết: Impediment. 2) Nguyên nhân của lo âu: Cause of anxiety. 3) Treo: To hang—To suspend.

quái chân

Treo chân dung của một vị tôn quý như Đức Phật—To hang up a picture of a Buddha.

quái dị

Strange—Peculiar.

quái kiệt

Man of exceptional talent.

quái lạ

How strange.

quái lạc

Còn gọi là Quái La, tên một loại áo cà sa ngắn (do các thiền Tăng Trung Quốc chế ra)—A short garment, or cover; a waistcoat.

quái ngại

A hindrance—An impediment.

quái niệm

Lo lắng—To be anxious about.

quái ti

(罣罳) Cũng gọi Phù ti. Vốn chỉ cho bức bình phong khắc bằng gỗ có thông ánh sáng, hoặc chỉ cho tấm lưới giăng để bắt chim; về sau được chuyển dụng để chỉ cho tấm gỗ che sau lưng chiếc ghế ngồi, hoặc chỉ cho bức màn che. Chiếc ghế sau lưng có phụ thêm tấm gỗ che, gọi là Quái ti ỷ tử. Trong Thiền lâm, quái ti thường được dùng khi thuyết pháp, phổ thuyết. Điều Cáo hương trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1120 thượng) nói: Đến ngày ấn định, thị giả nhờ vị Khách đầu bày Quái ti ỷ tử ở Phương trượng hoặc ở Pháp đường. Điều Bỉnh phất trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 7 (Đại 48, 1153 hạ) nói: Hành giả Đường ti bày biện pháp tòa, phía tay trái đặt Quái ti, chuẩn bị chỗ ngồi cho vị Trụ trì.

quái tích

Treo tích trượng (khi các vị sư dừng lại nơi nào nghỉ chân)—To hang up one's staff.

quái tử

Tên một loại áo cà sa—A peg for a garment.

quái đáp

Chỉ việc các vị sư dừng lại một nơi nào đó để nghỉ ngơi—To dwell in a place.

quái đơn

Vị du Tăng ghé lại chùa nghỉ qua đêm—One who hangs up all his possessions, i.e. a wandering monk who stays for the night in a monastery.

Quán

觀; S: vipaśyanā; P: vipassanā; |Nghĩa là quán sát bằng trí huệ, minh sát; có thể hiểu hai cách, đó là: 1. Phương pháp tu tập quán sát song song với tu Chỉ và 2. Kết quả, mục đích, sự trực chứng Ba tính chất của vạn sự (s: trilakṣaṇa) là Vô thường, Vô ngã và Khổ. Trong Ðại thừa, quán cũng được xem là sự phân tích sự vật để tự trực nghiệm tính Không (s: śūnyatā). Kiến giải này giúp ngăn ngừa tham Ái khởi sinh. Quán là một trong hai yếu tố giúp đạt Giác ngộ, yếu tố kia là Chỉ (s: śamatha).

quán

Vipasyana or Vidarsana (skt). I. 1) Đi xuyên qua: To pass through. 2) Rửa: To wash—To sprinkle. 3) Xỏ xâu: To thread—To string. 4) Ngẫm nghĩ cẩn thận (tế tư): Contemplation—Examination—To look into—To study—To contemplate—To contemplate and mentally enter into truth—Contemplation can be used to dispel distractions and defilements. To consider illusion and discern illusion or discerning the seeming from the real: a) Quán tình thương triệt tiêu lòng sân hận: Contemplation on love to dispel anger. b) Quán sự biết ơn và tâm hỷ triệt tiêu lòng ganh ghét: Contemplation on appreciation and rejoicing in the good qualities of others can dispel the problem of jealousy. c) Quán vô thường và niệm chết giúp giảm bớt sự tham ái: Contemplation on impermanence and death awareness can reduce covetousness. d) Quán bất tịnh giúp giảm thiểu chấp thủ: Contemplation on the impurity can help reduce attachment. e) Quán vô ngã và tánh không giúp triệt tiêu những tư tưởng xấu xa: Contemplation on non-ego (non-self) and emptiness can help eliminate (eradicate) completely all negative thoughts. II. Two kinds of contemplation: 1) Quán sự: Contemplation or meditation on the external forms of the phenomenal. 2) Quán lý: Contemplation or meditation on the real or underlying nature.

Quán (xuyến) tập

串習; C: guànxí; J: genshū;|Tập thành thói quen; phát triển thông qua hành động thường xuyên, đều đặn. Thực hành thường xuyên, thường dùng ý thức chuyên cần tu tập nhắm đến việc gieo trồng thiện căn (善根).

quán bất tư nghị cảnh

(觀不思議境) Cũng gọi Quán bất khả tưnghị cảnh, Phân biệt bất tư nghị cảnh, Thiện thức bất tư nghịch cảnh, Tín giải chính nhân duyên, Tín chính nhân duyên, Thiện thức bất tư nghịnhân duyên. Bất tư nghị cảnh là cảnh sở quán (đối tượng bị quán xét). Quán bất tư nghị cảnh nghĩa là quán xét 1 niệm vọng tâm hiện tiền của chúng ta có đủ 3 nghìn các pháp, tâm ấm vọng này tức không, tức giả, tức trung, là cảnh Tam đế mầu nhiệm chẳng thể nghĩ bàn. Đây là pháp quán thứ 1 trong 10 pháp quán do tông Thiên thai lập ra. Muốn tu quán hạnh, trước phải quyết định cảnh sở quán, nhưng muôn pháp đều có đủ 3 nghìn 3 đế, dung nhiếp lẫn nhau, không phân biệt nhân quả, mê ngộ, mỗi mỗi đều là diệu đế bất tư nghị. Bởi vậy, tuy tất cả đều là cảnh sở quán, nhưng vì vạn pháp duy tâm nên đặc biệt lấy một niệm vọng tâm hiện tiền làm cảnh sở quán. Bậc thượng căn tu 1 pháp quán này tức đầy đủ 10 pháp quán, được bước lên địa vị Sơ trụ chân nhân ...... Còn các hàng trung căn, hạ căn thì chưa thể tiến tu hạnh này nên phải tu từ quán hạnh thứ 2 trong 10 quán hạnh trở xuống. [X. Ma ha chỉ quán Q.5, phần đầu; Tứ giáo nghĩa Q.11]. (xt. Thập Thừa Quán Pháp).

Quán bất tịnh

Bất tịnh quán (不淨觀)|Là phép quán tử thi được gọi theo kinh điển Nam truyền (Thanh tịnh đạo). Bất tịnh tưởng (nghĩ đến) cũng là quán 32 thân phần. Phép quán này là cách đối trị cái tham dục và sự thấy đảo ngược của tâm, cho là sạch đẹp những gì vốn không sạch (Ðảo kiến).

quán chiếu

Lấy trí tuệ mà soi sáng hay chiếu kiến sự lý—To reflect—To be enlightened or to enlighten as a result of insight (intelligent) contemplation. ** For more information, please see Bát Bát Nhã and Tam Bát Nhã. ; (觀照) Dùng trí tuệ quán xét các pháp sự và lí, soi thấy rõ ràng, gọi là Quán chiếu. Còn trí tuệ soi rọi rõ lí thực tướng của các pháp sự và lí, thì gọi là Quán chiếu bát nhã. (xt. Ngũ Chủng Bát Nhã).

quán chiếu bát nhã

Một trong ba loại Bát Nhã, lấy trí tuệ quán chiếu cái lý thực tướng hay nhờ thiền quán mà giác ngộ được chân lý—One of the three kinds of Prajna, the prajna or wisdom of meditative enlightenment on reality. ** For more information, please see Bát Nhã and Tam Bát Nhã.

quán chiếu “khổ”

1) To reflect on suffering. 2) Quán chiếu “khổ” là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta mới có khả năng chấm dứt mọi chấp trước, ham muốn và dục vọng—Reflection on suffering is one of the most important entrances to the great enlightenment; for with it, we are able to end all attachments, aspirations and desires.

quán chiếu “tỉnh lặng”

1) Reflection on calmness or tranquility. 2) Quán chiếu “Tỉnh Lặng” là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta không khuấy rối tâm mình—Reflection on calmness is one of the most important entrances to the great enlightenment; for with it, we do not disturb our mind.

quán chiếu “vô ngã”

1) Reflection on No-Self. 2) Quán chiếu “Vô Ngã” là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta không lầm chấp vào cái ngã ảo huyền—Reflection on “No-self” is one of the most important entrances to the great enlightenment; for with it, we do not mistakenly attach to an illusive self.

quán chiếu “vô thường”

1) To reflect on impermanence. 2) Quán chiếu vô thường là một trong những cửa ngõ đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta mới có khả năng thấy được bộ mặt thật của những dục vọng trong nhà lửa tam giới—Reflection on impermanence is one of the most important entrances to the great enlightenment; for with it, we are able to reflect and see the real face of all the desires of the triple world burning house.

quán chúng sanh

To contemplate a living beings—Theo Kinh Duy Ma Cật, khi ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát vâng mệnh Phật đến thăm bệnh cư sĩ Duy Ma Cật—According to the Vimalakiriti Sutra, Manjusri Bodhisattva obeyed the Buddha's command to call on Vimalakirti to enquire after his health: • Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi ông Duy Ma Cật: “Bồ Tát quán sát chúng sanh phải như thế nào?”—Manjusri asked Vimalakirti: “How should a Bodhisattva look at living beings?” • Ông Duy Ma Cật đáp: “Ví nhà huyễn thuật thấy người huyễn của mình hóa ra, Bồ Tát quán sát chúng sanh cũng như thế. Như người trí thấy trăng dưới nước, thấy mặt trong gương, như ánh nắng dợn, như âm vang của tiếng, như mây giữa hư không, như bọt nước, như bóng nổi, như lõi cây chuối, như ánh điển chớp, như đại thứ năm, như ấm thứ sáu, như căn thứ bảy, như nhập thứ mười ba, như giới thứ mười chín. Bồ Tát quán sát chúng sanh cũng như thế. Như sắc chất cõi vô sắc, như mộng lúa hư, như thân kiến của Tu Đà Hoàn, như sự nhập thai của A Na Hàm, như tam độc của A la hán, như tham giận phá giới của Bồ Tát chứng vô sanh pháp nhẫn, như tập khí phiền não của Phật, như mù thấy sắc tượng, như hơi thở ra vào của người nhập diệt tận định, như dấu chim giữa hư không, như con của thạch nữ (đàn bà không sanh đẻ), như phiền não của người huyễn hóa, như cảnh chiêm bao khi đã thức, như người diệt độ thọ lấy thân, như lửa không khói. Bồ Tát quán sát chúng sanh cũng như thế đó.”—Vimalakirti replied: “ A Bodhisattva should look at living beings like an illusionist does at the illusory men (he has created); and like a wise man looking at the moon's reflection in water; at his own face in a mirror; at the flame of a burning fire; at the echo of a calling voice; at flying clouds in the sky; at foam in a liquid; at bubbles on water; at the (empty) core of a banana tree; at a flash of lightning; at the (non-existent) fifth element (beside the four that make the human body); at the sixth aggregate (beside the five that make a sentient being); at the seventh sense datum (beside the six objects of sense); at the thirteenth entrance (ayatana-beside the twelve involving the six organs and six sense date); at the nineteenth realm of sense (beside the eighteen dhatus or fields of sense); at form in the formless world; at the (non-existent) sprout of a charred grain of rice; at a body seen by a srota-apanna (who has wiped out the illusory body to enter the holy stream); at the entry of an Anagamin (or a non-returning Sravaka) into the womb of a woman (for rebirth); at an arhat still preserving the three poisons (of desire, anger and stupidity which he has eliminated for ever); at a Bodhisattva realizing the patient endurance of the uncreate who is still greedy, resentful and breaking the prohibitions; at a Buddha still suffering from klesa (troubles); at a blind man seeing things; at an adept who still breathes air in and out while in the state of nirvanic imperturbability; at the tracks of birds flying in the air; at the progeny of a barren woman; at the suffering of an illusory man; at a sleeping man seeing he is awake in a dream; at a devout man realizing nirvana who takes a bodily form for (another) reincarnation; and at a smokeless fire. This is how a Bodhisattva should look at living beings.”

quán cơ

Quán xét căn cơ trình độ của người học để theo đó mà dạy bảo.

quán Duyên khởi

xem quán Mười hai nhân duyên.

quán dược vương dược thượng nhị bồ tát kinh

(觀藥王藥上二菩薩經) Phạm: Bhaiwajya-ràja Bhaiwajya samudgata bodhisattva sùtra. Cũng gọi Quán dược vương dược thượng bồ tát kinh, Dược vương dược thượng kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Cương Lương Da Xá dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật trụ ở tinh xá Thanh liên hoa trì tại nước Tì da li nói về công đức, quán pháp và tiền thân ở quá khứcủa hai vị bồ tát Dược vương, Dược thượng. Hai vị Bồ tát này ở đời quá khứ là 2 anh em Tinh Tú Quang và Điện Quang, từng đem thuốc tốt Ha lê lặc đề hồ cúng dường tỉ khưu Nhật Tạng. Nhờ nhân duyên ấy mà 2 Bồ tát có được pháp dược thượng diệu đem bố thí rộng khắp cho hết thảy chúng sinh, diệt trừ tất cả phiền não của họ. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.4].

quán giác

Awakening—Awareness. 1) Quán: Examination or study. 2) Giác: Awakening or awareness.

quán giải

Quán niệm và giải lý được chân lý—To contemplate and expound the ultimate reality.

Quán Hiền

(觀賢, Kangen, 854-925): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời Bình An, Tự Trưởng đời thứ 9 của Đông Tự, Tọa Chủ đời thứ 4 của Cao Dã Sơn, húy là Quán Hiền (觀賢), tên lúc nhỏ là A Cổ Ma Lữ (阿古麻呂); thường gọi là Bát Nhã Tự Tăng Chánh (般若寺僧正). Ông theo Thánh Bảo (聖寶) lên kinh đô, rồi năm 872 thì xuất gia thọ giới với Chơn Nhã (眞雅), đến năm 895 thì thọ phép Quán Đảnh với Thánh Bảo ở Đông Tự. Năm 900, ông làm chức Biệt Đương của Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji), rồi sáng lập ra Bát Nhã Tự (般若寺, Hannya-ji) ở vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro). Đến năm 909, ông làm Tự Trưởng của Đông Tự, rồi năm sau thì làm Quyền Thiếu Tăng Đô, năm 916 thì làm Quyền Đại Tăng Đô, năm 918 làm Kiểm Hiệu của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), năm 919 làm Tọa Chủ của Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji), và sau được bổ nhiệm làm Tọa Chủ của Cao Dã Sơn. Cũng vào năm 919, ông thâu hồi lại được bộ Tam Thập Thiếp Sách Tử (三十帖册子) của Không Hải và đem nạp vào Tàng Kinh Các của Đông Tự. Ông được xem như là vị Tổ đời thứ 12 của Chơn Ngôn Tông. Trước tác của ông để lại có rất nhiều như Đại Nhật Kinh Sớ Sao (大日經疏抄) 4 quyển, Tam Thập Thiếp Sách Tử Khám Văn (三十帖册子勘文), v.v.

quán hoa

Chuỗi hoa, lời kệ tụng trong kinh gọi là “Quán Hoa” hay chuỗi hoa (lời văn trong kinh gọi là “Tán Hoa” hay hoa rời)—A string of flowers, a term for the gathas in sutras, i.e. the prose recapitulated in verse.

quán huệ

Trí tuệ quán sát thấu hiểu được chân lý—The wisdom which penetrates to ultimate reality.

quán hành

1) Quán lý ở tâm rồi đích thân thực hành đúng theo lý đó—Contemplation and accordant action. 2) Pháp Quán Sát Hành Pháp của Tâm: Method of contemplating. ; (觀行) Hành pháp quán tâm. Tức là tu hành quán tâm, soi rọi tâm mình để rõ suốt bản tính; hoặc chỉ cho hành tướng của pháp quán. Kinh Phạm võng quyển hạ (Đại 24, 1008 hạ) nói: Nếu không hiểu rõ kinh luật Đại thừa, không hiểu được các tướng khinh, trọng, thị, phi; không hiểu được các pháp tập chủng tính, trưởng dưỡng tính, bất khả hoại tính, đạo chủng tính, chính tính... trong Đệ nhất nghĩa đế, trong đó, quán hành nhiều hay ít, ra vào 10 thiền chi, tất cả hành pháp ấy đều không hiểu thì chẳng hiểu gì về ý nghĩa trong pháp này. Ngoài ra, giai vị thứ 3 trong Lục tức vị thuộc hành vị của Viên giáo trong tông Thiên thai chính là Quán hành vị.

quán hành (hạnh) phật

See Quán Hành Tức Phật and Lục Tức Phật.

quán hành ngũ phẩm vị

The T'ien-T'ai five stages of meditation and action. ; (觀行五品位) Chỉ cho Quán hành tức trong sáu hành vị (Lục tức) của bồ tát Viên giáo do tông Thiên Thai lập ra. Đây là giai vị đã biết danh tự mà khởi quán hành, tâm quán sáng láng, lí và tuệ ứng hợp nhau, có khả năng thành tựu 5 phẩm công đức: Tùy hỉ phẩm, Độc tụng phẩm, Thuyết pháp phẩm, Kiêm hành lục độ và Chính hành lục độ. Quán hành tức tương đương với Ngũ phẩm đệ tử vị trong 8 vị, nên được ghép chung lại mà gọi là Quán hành ngũ phẩm vị. (xt. Lục Tức).

quán hành tức phật

Quán và hành như Phật. Đây là giai đoạn thứ ba của Lục Tức Phật. Vị Bồ Tát đã đạt được ngũ phẩm Phật Địa—To contemplate and act as a Buddha. The third of the six stages of Bodhisattva developments. Any Bodhisattva or disciples who have attained to the fifth stage of Bodhisattvahood. ** For more information, please see Lục Tức Phật.

quán hưu

(貫休) (832-912) Cao tăng Trung Quốc sống vào cuối đời Đường đầu thời Ngũ Đại, người Lan Khê, Vụ Châu (Kim Hoa, Chiết Giang), họ Khương, tự Đức Ẩn, Đức Viễn. Năm 7 tuổi, sư lễ ngài Viên Trinh xin xuất gia ở chùa Hòa An, huyện Kim Hoa. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư vào núi Ngũ Duệ ở Chiết Đông tu thiền 10 năm, từng tham yết Thiền sư Vô Tướng. Sau, sư đến chùa Khai Nguyên ở Hồng Châu nghe giảng kinh Pháp hoa và luận Đại thừa khởi tín, thông hiểu hết nghĩa sâu xa. Sư nổi tiếng về thi ca và hội họa. Sư giỏi vẽ tượng Phật, nhất là tượng La hán thủy mặc. Sư vẽ tượng La hán với tướng mạo cổ lỗ, quê mùa, mi rậm, mắt to, mũi cao, má lộ, quai hàm dài, trán rộng, cổ gầy, thể hiện phong mạo người Ấn Độ, là đặc trưng tác phẩm của sư dựa vào chỗ thấy trong mộng. Sư cũng chuyên về cách viết các kiểu chữ triện, lệ, thảo với 1 phong cách độc đáo, người đời gọi lối viết chữ của sư là Khương thể và ví sư với ngài Hoài tố đời Đường; thơ của sư cũng rất được giới sĩ phu khen ngợi. Khoảng năm Thiên Phục (901-904) đời vua Chiêu Tông, sư vào đất Thục, rất được vua Thục là Vương Kiến kính trọng, ban

Quán Khê Chí Nhàn

(灌溪志閑, Kankei Shikan, ?-895): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, người vùng Quán Đào (館陶), Ngụy Phủ (魏府, Tỉnh Hà Bắc), họ là Sử (史). Hồi nhỏ ông theo xuất gia với Bá Nham (柏巖), sau kế thừa dòng pháp của Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄). Ông đã từng sống tại vùng Quán Khê (灌溪), Trường Sa (長沙, Tỉnh Hồ Nam). Ông thị tịch vào ngày 29 tháng 5 năm thứ 2 niên hiệu Càn Ninh (乾寧) nhà Đường.

quán không

Quán chiếu vạn hữu giai không hay không tướng của các pháp—To contemplate (regard) all things as unreal (no fundamental reality.

quán kinh lục duyên

(觀經六緣) Sáu nhân duyên đức Phật nói kinh Quán Vô lượng thọ. Thuyết này được căn cứ vào Tự phần nghĩa trong Quán kinh sớ của ngài Thiện đạo mà lập ra. Sáu nhân duyên ấy là: 1. Cấm phụ duyên: Thái tử A Xà Thế giam cấm vua cha, đó là nhân duyên Quán kinh hưng khởi. 2. Cấm mẫu duyên: Thái tử cấm cố mẫu hậu là Vi Đề Hi trong thâm cung 7 lớp cửa, đó là nhân duyên Phật nói pháp cho bà nghe. 3. Yếm khổ duyên: Bà Vi Đề Hi bị giam cầm, chán ngán nỗi khổ của thế gian, đó là nhân duyên đức Phật nói pháp cho bà nghe. 4. Hậu tịnh duyên: Bà Vi Đề Hi bị khổ não dày vò nên thích cầu về nơi an lạc thanh tịnh, đó là nhân duyên đức Phật nói kinh này.5. Tán thiện hiển hành duyên: Đức Phật nói về các pháp tán thiện (hiển hành) như Tam phúc, Cửu phẩm... trong 3 pháp quán sau cùng của Thập lục quán để được vãng sinh Tịnh độ, đó cũng là nhân duyên Phật nói kinh này. 6. Định thiện thị quán duyên: Đức Phật nói về định thiện (quán môn) do tu 13 pháp quán trước trong 16 quán để được sinh về thế giới Cực lạc, đó là nhân duyên Phật nói kinh này.

quán kinh mạn đồ la

(觀經曼荼羅) Biến tướng Tịnh độ được vẽ theo nội dung của kinh Quán Vô lượng thọ. Trong Tịnh độ giáo của Nhật bản thì Quán kinh mạn đồ la là chỉ cho Đương ma mạn đồ la, Trí quang mạn đồ la (thời đại Nại lương) và Thanh hải mạn đồ la (giữa thời kì Bình An) được gọi chung là Tịnh độ tam mạn đồ la, là tranh vẽ biến tướng Tịnh độ nổi tiếng về mĩ thuật của Tịnh độ giáo Nhật Bản.

quán kinh nghĩa sớ chính quán kí

(觀經義疏正觀記) Cũng gọi Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ chính quán kí, Linh chiquán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ chính quán kí. Gọi tắt: Chính quán kí. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Giới Độ soạn vào đời Nam Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 33. Nội dung sách này chú thích bộ Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ của ngài Nguyên Chiếu đời Tống, có nêu ra ý chỉ (Vạn tục 33, 10 hạ): Gắng tu chính quán, mau rõ tâm này là Phật. Lúc đầu, ngài Giới độ định bác bỏ thuyết sai lầm Phụ chính giải của ngài Đạo nhân, nên soạn luận Quán Vô lượng thọ kinh phù tân, sau lại soạn bộ Sớ kí này để bổ túc những điểm còn thiếu sót.

quán kinh ngũ phần

(觀經五分) Chỉ cho 5 đoạn khoa tiết do ngài Thiện đạo đời Đường chia ra để giải thích kinh Quán Vô lượng thọ. Năm khoa tiết ấy là: Tự phần, Chính tông phần, Đắc ích phần, Lưu thông phần và Kì xà hội phần. Ngoài thuyết 3 phần Tự, Chính, Lưu thông ra, ngài Thiện đạo còn lập thêm các khoa tiết đặc biệt để giải thích Quán kinh. [X. Tự phần nghĩa trong Quán kinh sớ].

Quán Kinh Sớ

(觀經疏, Kangyōsho): tên gọi tắt của Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ (觀無量壽經疏, Kammuryōjukyōsho), 4 quyển, là bộ sách của Thiện Đạo (善導, 613-681) Trung Quốc, chú thích về Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經), một trong ba bộ kinh trọng yếu của Tịnh Độ Giáo. Nó được phân làm 4 thiếp, nên được gọi là Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ (觀經四帖疏), gọi tắt là Tứ Thiếp Sớ (四帖疏). Tại Trung Quốc, sách chú thích này không được quảng bá rộng rãi cho lắm; tuy nhiên, tại Nhật Bản, Pháp Nhiên (法然, Hōnen), Tổ khai sáng Tịnh Độ Tông, là người đầu tiên có duyên với bộ Sớ này; xem nó như là bậc thầy với quan niệm “thiên y Thiện Đạo (偏依善導, nương hẳn về phía Thiện Đạo)”. Sau này, Thân Loan (親鸞, Shinran), Tổ sư khai sáng Tịnh Độ Chơn Tông, cũng xem như là “Thiện Đạo độc minh Phật chánh ý (善導獨明佛正意, chỉ một mình Thiện Đạo làm sáng tỏ chánh ý của Phật)” và đã ca tụng bộ Sớ này trong bài Chánh Tín Niệm Phật Kệ (正信念佛偈) của ông. Như vậy, thư tịch này đã tạo ảnh hưởng rất to lớn trong việc hình thành tư tưởng Tịnh Độ của Nhật Bản. Bộ này chia làm 4 quyển: (1) Quyển 1: Quán Kinh Huyền Nghĩa Phần (觀經玄義分), thuật rõ ý nghĩa của Quán Vô Lượng Thọ Kinh, đầu tiên có bài kệ tụng Quy Tam Bảo Kệ (歸三寶偈), rồi chia thành 7 phần để giải thích rõ cách nhìn đối với kinh điển. (2) Quyển 2: Quán Kinh Tự Phần Nghĩa (觀經序分義), chú thích về phần tựa của kinh. (3) Quyển 3: Quán Kinh Chánh Tông Phần Định Thiện Nghĩa (觀經正宗分定善義), chú thích về Định Thiện Thập Tam Quán (定善十三觀) trong phần Chánh Tông. (4) Quyển 4: Quán Kinh Chánh Tông Phần Tán Thiện Nghĩa (觀經正宗分散善義), chú thích các phần Đắc Ích (得益), Lưu Thông (流通), Kì Xà (耆闍) trong phần Chánh Tông và thêm phần Bạt Hậu.

quán luyện huân tu

(觀練熏修) Từ ngữ gọi chung Quán thiền, Luyện thiền, Huân thiền và Tu thiền. Thiền có 3 loại: Thế gian thiền, Xuất thế gian thiền và Xuất thế gian thượng thượng thiền. Trong đó, Xuất thế gian thiền là thiền có 4 giai đoạn: Quán, Luyện, Huân, Tu. 1. Quán thiền: Chỉ cho thiền có đối tượng quán chiếu rõ ràng, tức quán tưởng những cảnh bất tịnh để phá trừ ý nghĩa dâm dục; như Cửu tưởng, Bát bội xả, Bát thắng xứ, Thập nhất thiết xứ... 2. Luyện thiền: Chỉ cho loại thiền đem cảnh giới thiền quán tiến lên bước nữa tôi luyện làm cho trong sạch, tức dùng thiền vô lậu tôi luyện các thiền hữu lậu, giống như luyện vàng; như Cửu thứ đệ định (9 định thứ đệ). 3. Huân thiền: Chỉ cho thiền lại đem 1 cảnh giới trước tiến lên bước nữa huân tập (xông ướp) cho thuần thục để mở ra cảnh địa tự tại, tức có khả năng huân tập khắp các thiền làm cho đều thuần thục, đều thông lợi, chuyển biến tự tại; như tam muội Sư tử phấn tấn. 4. Tu thiền: Chỉ cho thiền lại đem cảnh giới ở trước tiến lên bước nữa mà tu trị để tăng trưởng công đức, tức là thiền xuất nhập, thuận nghịch đều siêu việt tự tại; như tam muội Siêu việt. Tu thiền là cảnh giới thiền xuất thế gian cao nhất, nên cũng được gọi là Đính thiền. [X. Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn Q.10; Pháp hoa huyền nghĩa Q.4 thượng].

quán lạp

Hàng năm cứ đến ngày Hạ Mãn, tức rằm tháng bảy âm lịch, các tự viện đều cử hành nghi thức “quán lạp” hay tắm Phật—The washing of the Buddha's image at the end of the monastic year, or the end of summer, usually the 15th of the seventh lunar month. ; (灌臘) Quán là tắm Phật; Lạp chỉ cho ngày mãn hạ an cư. Ngày mãn hạ 15 tháng 7 âm lịch hàng năm cử hành nghi thức tắm Phật, gọi là Quán lạp.

quán môn

1) Thiền quán là một trong hai môn giáo quán để thấu triệt chân lý: Contemplation or meditation as one of the two methods of entry into the truth. 2) Thiền quán cũng còn là một trong sáu “Diệu Môn” cho người tu Phật: Contemplation or meditation is also one of the six wonderful strategies or doors for Buddhist cultivators. ** For more information, please see Lục Diệu Môn.

quán môn thập pháp giới

To contemplate on the ten dharma realms—See Thập Pháp Giới.

quán Mười hai nhân duyên

(Thập nhị nhân duyên quán): còn gọi là quán Duyên khởi (Duyên khởi quán), nghĩa là hành giả quán chiếu sự sanh khởi của tất cả các pháp đều do nhân duyên hòa hợp mà có, thảy đều không có thật tướng, thật tánh.

quán niệm

Nhìn vào sự vật để quán tưởng—To look into (things) and think over—To contemplate and ponder.

quán niệm luận

(觀念論) Trong Phật giáo có các tông như tông Duy thức, tông Hoa nghiêm... chủ trương vũ trụ là do tâm biến hiện, nếu lìa tâm thì tất cả muôn pháp cũng không tồn tại, cho nên có các câu nói như: Ba cõi duy nhất tâm, ngoài tâm không pháp khác, Chỉ có thức không có cảnh... Do nhấn mạnh thuyết Duy tâm hoặc Duy thức nên Phật giáo thường được giới triết học phương Tây xem là Quan niệm luận hoặc Duy tâm luận. Nhưng, Phật giáo nhấn mạnh duy tâm là nói về phương diện chủ thể thực tiễn, chứ không giống như luận điểm của các nhà Duy tâm tồn tại luận chủ trương tâm là thực tại duy nhất. Vả lại, Phật giáo cũng thường nói tâm và sự vật ngoài tâm đều không có tự tính, đều là không. Trong Ma ha chỉ quán, Đại sư Trí khải tông Thiên thai, khi giải thích về giáo nghĩa Nhất niệm tam thiên (Một niệm ba nghìn), từng nhấn mạnh, nếu cho rằng một niệm lúc này là thực tại, hoặc 3 nghìn thế giới là thực tại, thì đều là kiến giải thiên lệch; mà phải nhận xét từ quan hệ hỗ tương y tồn (nương vào nhau mà tồn tại) của Một niệm tức ba nghìn, ba nghìn tức một niệm để thể ngộ lí Trung đạo. (xt. Duy Tâm).

quán niệm niệm phật

See Quán Tưởng Niệm Phật. ; (觀念念佛) Chuyên tâm lắng ý niệm Phật. Tức quán xét tưởng niệm tướng hảo, ánh sáng của thân Phật và thực tướng pháp thân, dùng miệng xưng danh niệm Phật. Cách niệm Phật này phải dứt tâm tán loạn, đoạn trừ vọng niệm, quán niệm tướng hảo của Phật... nên gọi là Quán niệm niệm Phật, thông thường chỉ cho tưởng niệm Phật A di đà. Niệm Phật nói trong 6 niệm, 10 niệm đều thuộc Quán niệm niệm Phật. Các ngài Lô sơn Tuệ viễn, Thiên thai Trí khải, Tứ minh Tri lễ... cũng đều đề xướng quán niệm niệm Phật, hoặc quán xét tướng hảo của Phật, quán công đức, quán pháp thân của Phật, quán thực tướng của Phật... và chủ trương nếu người không thể tu quán thì nên tu khẩu xưng niệm Phật. Khẩu xưng niệm Phật cũng chia làm 2 thứ: Quán và Vô quán. Quán niệm niệm Phật là đối lại với Khẩu xưng niệm Phật của Vô quán. Nhưng niệm Phật chủ yếu vẫn lấy quán niệm làm chính. (xt. Niệm Phật).

quán niệm pháp môn

(觀念法門) Cũng gọi Quán niệm A di đà Phật tướng hải tam muội công đức pháp môn, Quán niệm A di đà tập. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Thiện Đạo soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Sách này trình bày về quán niệm, hành tướng tác pháp và công đức của Phật A di đà. Nội dung chia làm 3 đoạn: Trước nói rõ hành tướng tam muội, kế đến nói về công đức của 5 duyên, sau cùng khuyên người tu hành. Sách chú thích có: Quán niệm pháp môn quán môn yếu nghĩa sao 3 quyển của ngài Không Chứng, Quán niệm pháp môn Kiến văn 2 quyển của ngài Thánh Thông, Quán niệm pháp môn tư kí 2 quyển của ngài Lương Trung.

quán pháp

Contemplation of mind-objects. (A) Phép quán niệm chân lý ở tâm—Methods of contemplation (obtaining of insight into truth). (B) Theo Kinh Niệm Xứ, Đức Phật dạy về 'quán pháp' như sau—According to the Satipatthanasutta, the Buddha taught about 'contemplation of mind-objects' as follows: 1) Năm Triền Cái—The Five Hindrance: Nầy các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp? Nầy các Tỳ Kheo, ở đây Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp đối với năm triền cái (năm món ngăn che). Và nầy các Tỳ Kheo, thế nào là các Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp đối với năm triền cái? Vị Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các nội pháp; hay sống quán niệm pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán niệm pháp trên cả nội pháp lẫn ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên các pháp. Hay sống quán niệm tánh sanh diệt trên các pháp. “Có pháp đây, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp—And how, Bhikkhus, does a Bhikkhu abide contemplating mind-objects as mind-objects? Here a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the five hindrances. And how does a Bhikkhu abide contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the five hindrances? A Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects internally, or he abides contemplating mind-objects as mind-objects externally, or he abides contemplating mind-objects as mind-objects both internally and externally. Or else he abides contemplating in mind-objects their arising factors, or he abides contemplating in mind-objects their vanishing factors, or he abides contemplating in mind-objects both their arising and vanishing factors. Or else mindfulness that 'there are mind-objects' is simply established in him to the extent necessary for bare knowledge and mindfulness. And he abides independent, not clinging to anything in the world. That is how a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the five hindrances. a) Nầy các Tỳ Kheo, ở đây nội tâm Tỳ Kheo có ái dục, vị ấy ý thức rằng nội tâm của mình đang có ái dục. Khi nội tâm không có ái dục, vị ấy ý thức rằng nội tâm của mình không có ái dục. Và với ái dục chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy ý thức được sự đang sanh khởi ấy. Khi một niệm ái dục đã sanh, vị ấy ý thức được sự đã sanh khởi ấy. Khi ái dục đang được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy ý thức như vậy—Here, there being sensual desire in him, a Bhikkhu understands: “There is sensual desire in me;” or there being no sensual desire in him, he understands: “There is no sensual desire in me;” and he also understands how there comes to be the arising of unarisen sensual desire, and how there comes to be the abandoning of arisen sensual desire, and how there comes to be the future non-arising of abandoned sensual desire. b) Khi nội tâm có sân hận, vị ấy ý thức rằng nội tâm mình đang có sân hận. Khi nội tâm không có sân hận, vị ấy ý thức rằng nội tâm mình đang không có sân hận. Khi một niệm sân hận chưa sanh nay bắt đầu sanh khởi, vị ấy ý thức được sự bắt đầu sanh khởi ấy. Khi một niệm sân hận đã sanh khởi, nay được đoạn diệt, vị ấy ý thức được sự đoạn diệt ấy. Khi một niệm sân hận đã được đoạn diệt và tương lai không còn sanh khởi nữa, vị ấy ý thức được như vậy—There being ill-will in him, a Bhikkhu understands: “There is ill-will in me;” or there being no ill-will in him, he understands: “There is no ill-will in me;” and he also understands how there comes to be the arising of unarisen ill-will, and how there comes to be the abandoning of arisen ill-will, and how there comes to be the future non-arising of abandoned ill-will. c) Khi nội tâm có hôn trầm thụy miên (mê muội và buồn ngủ), vị ấy ý thức được sự hôn trầm thụy miên ấy. Khi nội tâm không có hôn trầm thụy miên, vị ấy ý thức được nội tâm của mình đang không có hôn trầm thụy miên. Khi hôn trầm và thụy miên chưa sanh nay bắt đầu sanh khởi, vị ấy ý thức được sự đang sanh khởi ấy. Khi hôn trầm và thụy miên đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy ý thức được sự đang đoạn diệt ấy. Khi hôn trầm và thụy miên đã được đoạn diệt và tương lai không thể sanh khởi nữa, vị ấy ý thức được điều đó—There being sloth and torpor in him, a Bhikkhu understands: “There are sloth and torpor in me;” or there being no sloth and torpor in him, he understands: “There are no sloth and torpor in me;” and he also understands how there comes to be the arising of unarisen sloth and torpor, and how there comes to be the abandoning of arisen sloth and torpor, and how there comes to be the future non-arising of abandoned sloth and torpor. d) Khi nội tâm có trạo hối (sự dao động bất an và hối hận), vị ấy ý thức rằng mình đang có dao động bất an và hối hận. Khi nội tâm không có dao động bất an và hối hận, vị ấy ý thức rằng nội tâm mình đang không có sự dao động bất an và hối hận. Khi dao động bất an và hối hận sanh khởi, vị ấy ý thức rằng nội tâm mình đang sanh khởi dao động bất an và hối hận. Khi dao động bất an và hối hận đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy ý thức được sự đoạn diệt ấy. Với dao động bất an và hối hận đã được đoạn diệt, tương lai không còn sanh khởi nữa, vị ấy ý thức được như vậy—There being restlessness and remorse in him, a Bhikkhu understands: “There are restlessness and remorse in me;” or there being no restlessness and remorse in him, he understands: “There are no restlessness and remorse in me;” and he also understands how there comes to be the arising of unarisen restlessness and remorse, and how there comes to be the abandoning of arisen restlessness and remorse, and how there comes to be the future non-arising of abandoned restlessness and remorse. e) Khi nội tâm có nghi, vị ấy ý thức được nội tâm của mình đang có nghi. Khi nội tâm không có nghi, vị ấy ý thức được nội tâm mình đang không có nghi. Khi nội tâm với nghi chưa sanh nay đang sanh khởi, vị ấy ý thức được sự sanh khởi ấy. Với nghi đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy ý thức được sự đoạn diệt ấy. Với nghi đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy ý thức được như vậy—There being doubt in him, a Bhikkhu understands: “There is doubt in me;” or there being no doubt in him, he understands: “There is no doubt in me;” and he also understands how there comes to be the arising of unarisen doubt, and how there comes to be the abandoning of arisen doubt, and how there comes to be the future non-arising of abandoned doubt. 2) Lại nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp đối với ngũ uẩn. Nầy các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn? Nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo quán chiếu như sau: Again, Bhikkhus, a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the five aggregates affected by clinging. And how does a Bhikkhu abide contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the five aggregates affected by clinging? Here a Bhikkhu understands: a) Đây là sắc (hình thể), đây là sắc tập (sự phát sinh ra hình thể), đây là sắc diệt—Such is material form, such its origin, such its disappearance. b) Đây là thọ, đây là thọ tập, đây là thọ diệt—Such is feeling, such its origin, such its disappearance. c) Đây là tưởng, đây là tưởng tập, đây là tưởng diệt—Such is perception, such its origin, such its disappearance. d) Đây là hành, đây là hành tập, đây là hành diệt—Such are the formations, such their origin, such their disappearance. e) Đây là thức, đây là thức tập, đây là thức diệt—Such is consciousness, such its origin, such its disappearance. 3) Lại nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ. Nầy các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ?—Again, Bhikkhus, a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the six internal and external bases. And how does a Bhikkhu abide contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the six internal and external bases? a) Vị ấy ý thức về mắt và đối tượng của mắt là hình sắc và về những ràng buộc tạo nên do mắt và hình sắc. Vị ấy ý thức về những ràng buộc chưa sanh nay đang phát sanh. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã phát sanh nay được đoạn diệt. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa—Here a Bhikkhu understands the eye, he understands forms, and he understands the fetter that arises dependent on both; and he understands how there comes to be the arising of the unarisen fetter, and how there comes to be the future non-arising of the abandoning fetter. b) Vị ấy ý thức về tai và đối tượng của tai là âm thanh và về những ràng buộc tạo nên do tai và âm thanh. Vị ấy ý thức về những ràng buộc chưa sanh nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã sanh, nay đang được đoạn diệt. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã được đoạn diệt, tương lai không còn sanh khởi nữa—Here a Bhikkhu understands the ear, he understands sounds, and he understands the fetter that arises dependent on both; and he understands how there comes to be the arising of the unarisen fetter, and how there comes to be the future non-arising of the abandoning fetter. c) Vị ấy ý thức về lổ mũi và đối tượng của mũi là mùi hương và những ràng buộc tạo nên do lổ mũi và mùi hương. Vị nầy ý thức về những ràng buộc chưa phát sanh nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã phát sanh và đang được đoạn diệt. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã được đoạn diệt, tương lai không còn sanh khởi nữa—Here a Bhikkhu understands the nose, he understands odours, and he understands the fetter that arises dependent on both; and he understands how there comes to be the arising of the unarisen fetter, and how there comes to be the future non-arising of the abandoning fetter. • Vị ấy ý thức về cái lưỡi và đối tượng của lưỡi là vị nếm và những ràng buộc tạo nên do cái lưỡi và vị nếm. Vị ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sanh nay đang phát sanh. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã phát sanh nay đang được đoạn diệt. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã được đoạn diệt, tương lai không còn sanh khởi nữa— Here a Bhikkhu understands the tongue, he understands flavours, and he understands the fetter that arises dependent on both; and he understands how there comes to be the arising of the unarisen fetter, and how there comes to be the future non-arising of the abandoning fetter. d) Vị ấy ý thức về thân và đối tượng của thân là sự xúc chạm. Vị ấy ý thức về những ràng buộc chưa sanh khởi nay đang được sanh khởi. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã sanh khởi đang được đoạn tận. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã được đoạn diệt, tương lai không còn sanh khởi nữa—Here a Bhikkhu understands the body, he understands tangibles, and he understands the fetter that arises dependent on both; and he understands how there comes to be the arising of the unarisen fetter, and how there comes to be the future non-arising of the abandoning fetter. e) Vị ấy ý thức về đối tượng của ý là tư tưởng và về những ràng buộc tạo nên do ý là tư tưởng. Vị ấy ý thức về những ràng buộc chưa sanh khởi nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã sanh khởi đang được đoạn diệt. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã đoạn diệt, tương lai không còn sanh khởi nữa—Here a Bhikkhu understands the mind, he understands mind-objects, and he understands the fetter that arises dependent on both; and he understands how there comes to be the arising of the unarisen fetter, and how there comes to be the future non-arising of the abandoning fetter. 4) Lại nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên pháp đối với thất giác chi. Nầy các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống quán pháp trên pháp đối với thất giác chi?—Again, Bhikkhus, a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the seven enlightenment factors. And how does a Bhikkhu abide contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the seven enlightenment factors? a) Khi nội tâm có niệm giác chi (yếu tố chánh niệm), vị ấy ý thức là mình có chánh niệm. Vị ấy quán chiếu rằng tâm mình đang có chánh niệm. Khi không có chánh niệm, vị ấy ý thức rằng tâm mình không có chánh niệm. Vị ấy ý thức về chánh niệm chưa sanh khởi nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về chánh niệm đã phát sanh nay đang thành tựu viên mãn—Here, there being the mindfulness enlightenment factor in him, a Bhikkhu understands: “There is the mindfulness enlightenment factor in me;” or there being no mindfulness enlightenment factor in him, he understands: “There is no mindfulness enlightenment factor In me;” and also understands how there comes to be the arising of the unarisen mindfulness enlightenment factor, and how the arisen mindfulness enlightenment factor comes to fulfilment by development. b) Khi nội tâm có trạch giác chi (giám định đúng sai thiện ác). Vị ấy ý thức là mình đang có sự phân định đúng sai thiện ác. Vị ấy quán chiếu rằng tâm mình đang có sự giám định đúng sai thiện ác. Khi không có sự giám định, vị ấy ý thức là mình đang không có sự giám định. Vị ấy ý thức về một sự giám định chưa sanh nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về một sự giám định đã sanh khởi nay đang thành tựu viên mãn—Here, there being the investigation-of-states enlightenment factor in him, a Bhikkhu understands: “There is the investigation-of-states enlightenment factor in me;” or there being no investigation-of-states enlightenment factor in him, he understands: “There is no investigation-of-states enlightenment factor in me;” and also understands how there comes to be the arising of the unarisen investigation-of-states enlightenment factor, and how the arisen investigation-of-states enlightenment factor comes to fulfilment by development. c) Khi nội tâm có tinh tấn giác chi, vị ấy ý thức là mình đang có sự tinh chuyên. Vị ấy quán chiếu rằng tâm mình đang có sự tinh chuyên. Khi nội tâm không có sự tinh chuyên, vị ấy ý thức rằng tâm mình không có sự tinh chuyên. Vị ấy ý thức về một sự tinh chuyên chưa sanh khởi nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về sự tinh chuyên đã sanh khởi nay đang đi đến thành tựu viên mãn— Here, there being the energy enlightenment factor in him, a Bhikkhu understands: “There is the energy enlightenment factor in me;” or there being no energy enlightenment factor in him, he understands: “There is no enegy enlightenment factor in me;” and also understands how there comes to be the arising of the unarisen energy enlightenment factor, and how the arisen energy enlightenment factor comes to fulfilment by development. d) Khi nội tâm có hỷ giác chi, vị ấy ý thức là mình đang có an vui. Vị ấy quán chiếu rằng tâm mình đang an vui. Khi nội tâm không có an vui, vị ấy ý thức là mình đang không có an vui. Vị ấy ý thức về niềm an vui chưa sanh khởi, nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về niềm an vui đã sanh khởi, nay đang đi đến thành tựu viên mãn—Here, there being the rapture enlightenment factor in him, a Bhikkhu understands: “There is the rapture enlightenment factor in me;” or there being no rapture enlightenment factor in him, he understands: “There is no rapture enlightenment factor in me;” and also understands how there comes to be the arising of the unarisen rapture enlightenment factor, and how the arisen rapture enlightenment factor comes to fulfilment by development. e) Khi nội tâm có khinh an giác chi, vị ấy ý thức tâm mình đang có khinh an (nhẹ nhõm). Vị ấy quán chiếu rằng tâm mình đang có khinh an. Khi nội tâm không có khinh an, vị ấy ý thức rằng nội tâm mình không có sự khinh an. Vị ấy ý thức về sự khinh an chưa sanh khởi, nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về sự khinh an đã sanh khởi, nay đang đi đến thành tựu viên mãn—Here, there being the tranquility enlightenment factor in him, a Bhikkhu understands: “There is the tranquility enlightenment factor in me;” or there being no tranquility enlightenment factor in him, he understands: “There is no tranquility enlightenment factor In me;” and also understands how there comes to be the arising of the unarisen tranquility enlightenment factor, and how the arisen tranquility enlightenment factor comes to fulfilment by development. f) Khi nội tâm có định giác chi, vị ấy ý thức là mình đang có định. Khi nội tâm không có định, vị ấy ý thức là mình đang không có định. Khi định chưa sanh khởi, nay đang sanh khởi, vị ấy ý thức như vậy. Khi định đã sanh khởi, nay đang đi đến thành tựu viên mãn, vị ấy cũng ý thức như vậy—Here, there being the concentration enlightenment factor in him, a Bhikkhu understands: “There is the concentration enlightenment factor in me;” or there being no concentration enlightenment factor in him, he understands: “There is no concentration enlightenment factor In me;” and also understands how there comes to be the arising of the unarisen concentration enlightenment factor, and how the arisen concentration enlightenment factor comes to fulfilment by development. g) Khi nội tâm có xả giác chi, vị ấy ý thức là mình đang buông xả. Vị ấy quán chiếu là tâm mình có buông xả. Khi nội tâm không có sự buông xả, vị ấy ý thức là tâm mình đang không có sự buông xả. Vị ấy ý thức về sự buông xả chưa sanh khởi, nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về sự buông xả đã sanh khởi, nay đang đi đế sự thành tựu viên mãn—Here, there being the equanimity enlightenment factor in him, a Bhikkhu understands: “There is the equanimity enlightenment factor in me;” or there being no equanimity enlightenment factor in him, he understands: “There is no equamity enlightenment factor In me;” and also understands how there comes to be the arising of the unarisen equanimity enlightenment factor, and how the arisen equanimity enlightenment factor comes to fulfilment by development. 5) Lại nữa, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp đối với Tứ Diệu Đế. Này các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với bốn sự thật cao quý? Nầy các Tỳ Kheo, ở đây Tỳ Kheo ý thức: “Khi sự kiện là đau khổ, vị ấy quán niệm đây là đau khổ. Khi sự kiện là nguyên nhân tạo thành đau khổ, vị ấy quán niệm đây là nguyên nhân tạo thành sự đau khổ. Khi sự kiện là sự chấm dứt khổ đau, vị ấy quán chiếu đây là sự chấm dứt khổ đau. Khi sự kiện là con đường đưa đến sự chấm dứt khổ đau, vị ấy quán niệm đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ đau.”—Again, Bhikkhus, a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the Four Noble Truths. And how does a Bhikkhu abide contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the Four Noble Truths? Here a Bhikkhu understands as it actually is: “This is suffering;” he understands as it actually is: “This is the origin of suffering;” he understands as it actually is: “This is the cessation of suffering;” he understands as it actually is: “This is the way leading to the cessation of suffering.” *** For more information, please see Quán Tâm, Lục Quán Pháp, and Chỉ Quán. ; (觀法) Phương pháp quán tưởng chân lí, là pháp môn thực hành phổ thông của Phật giáo. Những dụng ngữ đồng loại có: Quán, tu quán, quán niệm, quán tưởng, quán hành, quán sát, quán môn... gọi chung là Quán pháp. Quán (Phạm: Vipazyanà; Hán âm: Tì bát xá na), nghĩa là dùng trí tuệ chuyên tâm quán tưởng một đối tượng đặc biệt nhất định như Phật hoặc pháp... và dốc toàn lực vào việc chứng ngộ. Chẳng hạn như Nhật tưởng quán (quán tưởng mặt trời), Nguyệt luân quán (quán tưởng mặt trăng), Cửu tưởng quán... đều là quán tưởng 1 đối tượng cụ thể trong tâm, đây là pháp quán bước đầu. Sau đó lại tiến thêm bước nữa là thông qua đối tượng cụ thể ấy để quán tưởng giáo nghĩa sâu xa hoặc triết lí của Phật giáo. Các kinh luận có bàn nói rất nhiều về Quán, như kinh Đại an ban thủ ý, kinh Ấm trì nhập, kinh Tu hành đạo địa, kinh Thiền yếu, kinh Nội thân quán chương cú, kinh Pháp quán, kinh Thân quán, kinh Thiền bí yếu pháp, kinh Tọa thiền tam muội, kinh Bồ tát ha sắc dục pháp, Thiền pháp yếu giải, Tư duy lược yếu pháp, kinh Đạt ma đa la thiền, Ngũ môn thiền kinh yếu dụng pháp... tất cả đều giải thích rõ về quán pháp. Quán có rất nhiều loại, mà phương pháp và mục đích cũng đều khác. Nay liệt kê các uán pháp tương đối có tính cách đại biểu như sau: 1. Quán pháp về Tứ đế, Thập nhị nhân duyên mà Phật giáo nguyên thủy nhấn mạnh: Như quán 4 đế gọi là Tứ đế quán; quán 12 nhân duyên gọi là Thập nhi nhân duyên quán; quán hơi thở ra vào gọi là Sổ tức quán; quán thân bất tịnh gọi là Bất tịnh quán; quán các hành vô thường gọi là Vô thường quán; quán các pháp vô ngã gọi là Vô ngã quán; quán 4 cái chẳng thường (vô thường, khổ, không, vô ngã) gọi là Phi thường quán; quán 5 cách dừng vọng tâm gọi là Ngũ đình tâm quán; quán 4 niệm xứ gọi là Tứ niệm xứ quán. 2. Quán pháp phân tích các pháp sắc, tâm là không: Đối với Tiểu thừa, như quán không gọi là Không quán; quán sinh không gọi là Sinh không quán; quán pháp không gọi là Pháp không quán; phân tích sắc là không gọi là Tích không quán. Đối với Đại thừa, như thấu suốt đương thể của các pháp tức không gọi là Thể không quán; quán thắng nghĩa đều không gọi là Thắng nghĩa giai không quán. 3. Quán pháp về Tam đế Không, Giả, Trung của tông Thiên thai: Như quán giả gọi là Giả quán; quán từ giả vào không gọi là Nhị đế quán; quán từ không vào giả gọi là Bình đẳng quán; quán trung đạo đệ nhất nghĩa đế gọi là Trung đạo quán; tu 3 quán theo thứ tự gọi là Thứ đệ quán; trong 1 tâm quán 3 đế gọi là Nhất tâm tam quán. 4. Quán pháp của tông Hoa nghiêm quán xét về thực tướng các pháp: Như quán thực tướng gọi là Thực tướng quán; quán 4 pháp giới gọi là Tứ pháp giới quán. 5. Tông Pháp tướng có quán pháp quán 3 cõi duy tâm: Như quán 5 lớp duy thức gọi là Ngũ trùng duy thức quán. 6. Quán pháp trọng yếu của tông Tam luận: Như quán bát bất trung đạo gọi là Bát bất trung đạo quán. 7. Quán pháp quan trọng của tông Chân ngôn: Như quán 5 tướng của tâm bồ đề thanh tịnh gọi là Ngũ tướng thành thân quán. 8. Quán pháp trọng yếu của tông Tịnh độ: Như quán mặt trăng gọi là Nguyệt luân quán; quán nước gọi là Thủy tưởng quán; quán đất ở cõi Tịnh độ gọi là Địa quán; quán tòa hoa sen gọi là Hoa tòa quán; quán hình tượng gọi là Tượng quán; quán chân thân của Phật gọi là Chân thân quán; quán ứng thân của Phật gọi là Ứng thân quán; quán tướng chung của thân Phật gọi là Tổng tướng quán; quán tướng riêng gọi là Biệt tướng quán. Quán đối lại với Chỉ (Phạm:Zamatha, Hán âm: Xa ma tha, tức là công phu chú tâm vào 1 đối tượng, ngăn dứt vọng niệm), Trung đạo quán tuy cũng gọi là Quán nhưng là Chỉ Quán song tu, nghĩa là Quán hợp với Xả (Phạm:Upekwà, Hán âm: Ưu tất xoa). Cho nên, các loại Quán được trình bày ở trên tuy gọi chung là Tì bát xá na, nhưng Trung đạo quán thì có nghĩa khác. Đối cảnh bị quán gọi là Quán cảnh; trí tuệ tác quán gọi là Quán trí hoặc Quán tuệ; tư duy về chân lí và hiểu rõ về chân lí gọi là Quán giải; quán các pháp vô ngại mà đạt được diệu lí tam đế viên dung chẳng thể nghĩ bàn gọi là Quán đạt. Ngoài ra, trong các quán pháp của tông Thiên thai, có Nhất niệm tam thiên, Nhất tâm tam quán là quán về bản tính của tâm mình, vì thế nên cũng gọi là Quán tâm. Còn tông Hoa nghiêm thì lấy quán pháp làm con đường thông vào cảnh giới giác ngộ, nên gọi là Quán đạo. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.31 (bản Bắc); luận Vãng sinh; luận Câu xá Q.28; luận Du già sư địa Q.45; Vãng sinh luận chú Q.hạ; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.10; Ma ha chỉ quán Q.3 thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.10].

quán pháp vô ngã

xem Bốn niệm xứ.

quán phật

1) Tắm Phật: Dục Phật—Lễ tắm Phật trong ngày Phật Đản. Đây là một công việc có nhiều phước đức và được thực hiện với nhiều nghi thức—To wash the image or statue of the Buddha during the Buddha's Birthday, usually with scented water, which is a work of great merit and done with much ceremony. 2) Quán niệm hồng danh của Phật: To meditate or contemplate upon Buddha. 3) Theo Kinh Duy Ma Cật, chương mười hai, phẩm Thấy Phật A Súc, Đức Thế Tôn hỏi Duy Ma Cật rằng: “Ông nói ông muốn đến đây để thấy Như Lai thì lấy chi quán sát?”—According to the Vimalakirti Sutra, Chapter Twelve, Seeing Aksobhya Buddha, the Buddha asked Vimalakirti: “You spoke of coming here to see the Tathagata, but how do you see Him impartially?” • Duy Ma Cật thưa: “Như con quán thực tướng của thân, thân Phật cũng thế. Con quán Như Lai đời trước không đến, đời sau không đi, hiện tại không ở; không quán sắc, không quán sắc như, không quán sắc tánh; không quán thọ, tưởng, hành, thức, không quán thức như, không quán thức tánh; không phải tứ đại sinh, cũng không như hư không; sáu nhập không tích tập, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm đã vượt qua; không ở ba cõi, đã lìa ba cấu; thuận ba môn giải thoát; có đủ ba minh, cùng ngang vô minh, không một tướng, không khác tướng, không có tự tướng, không có tha tướng, không phải không tướng, không phải chấp tướng; không bờ bên nầy, không bờ bên kia, không giữa dòng mà hóa độ chúng sanh; quán tịch diệt cũng không diệt hẳn; không đây, không kia, không nương nơi đây, không nương nơi kia; không thể dùng trí mà hiểu được, không thể dùng thức mà biết được; không tối không sáng; không danh không tướng; không mạnh không yếu; không phải sạch không phải nhơ; không ở phương sở, không lìa phương sở; không phải hữu vi, không phải vô vi; không bày không nói; không bố thí, không bỏn xẻn; không giữ giới, không phạm giới; không nhẫn không giận; không tinh tấn không giải đãi; không định không loạn; không trí không ngu; không thực không dối; không đến không đi; không ra không vào; bặt đường nói năng; không phải phước điền, không phải không phước điền; không phải xứng cúng dường, không phải không xứng cúng dường; không phải thủ, không phải xả; không phải có tướng, không phải không tướng; đồng với chân tế bình đẳng như pháp tánh; không thể cân, không thể lường, qua các sự cân lường, không lớn không nhỏ; không phải thấy, không phải nghe, không phải giác, không phải tri; lìa các kiết phược, bình đẳng các trí, đồng với chúng sanh; đối các pháp không phân biệt; tất cả không tổn thất, không trược không não, không tác không khởi, không sanh không diệt, không sợ không lo, không mừng không chán, không đã có, không sẽ có, không hiện có, không thể lấy tất cả lời nói phân biệt chỉ bày được. Bạch Thế Tôn! Thân Như Lai như thế, con quán cũng thế, nếu người nào quán theo đây gọi là chánh quán, quán khác gọi là tà quán.”—Vimalakirti replied: “Seeing reality in one's body is how to see the Buddha. I see the Tathagata did not come in the past, will not go in the future, and does not stay in the present. The Tathagata is seen neither in form (rupa, the first aggregate) nor in the extinction of form nor in the underlying nature of form. Neither is He seen in responsiveness (vedana), conception (sanjna), discrimination (samskara) and consciousness (vijnana) (i.e. the four other aggregates), their extinction and their underlying natures. The Tathagata is not created by the four elements (earth, water, fire and air), for He is (immaterial) like space. He does not come from the union of the six entrances (i.e. the six sense organs) for He is beyond eye, ear, nose, tongue, body and intellect. He is beyond the three worlds (of desire, form and formlessness) for He is free from the three defilements (desire, hate and stupidity). He is in line with the three gates to nirvana and has achieved the three states of enlightenment (or three insights) which do not differ from (the underlying nature of ) unenlightenment. He is neither unity nor diversity, neither selfness nor otherness, neither form nor formlessness, neither on this shore (of enlightenment) nor in mid-stream when converting living beings. He looks into the nirvanic condition (of stillness and extinction of worldly existence) but does not dwell in its permanent extinction. He is neither this nor that and cannot be revealed by these two extremes. He cannot be known by intellect or perceived by consciousness. He is neither bright nor obscure. He is nameless and formless, being neither strong nor weak, neither clean nor unclean, neither in a given place nor outside of it, and neither mundane nor supramundane. He can neither be pointed out nor spoken of. He is neither charitable nor selfish; he neither keeps nor breaks the precepts; is beyond patience and anger, diligence and remissness, stillness and disturbance. He is neither intelligent nor stupid, and neither honest nor deceitful. He neither comes nor goes and neither enters nor leaves. He is beyond the paths of word and speech. He is neither the field of blessedness nor its opposite, neither worthy nor unworthy of worship and offerings. He can be neither seized nor released and is beyond 'is' and 'is not'. He is equal to reality and to the nature of Dharma (Dharmata) and cannot be designated and estimated, for he is beyond figuring and measuring. He is neither large nor small, is neither visible nor audible, can neither be felt nor known, is free from all ties and bondage, is equal to the All-knowledge and to the (underlying) nature of all living beings, and cannot be differentiated from all things. He is beyond gain and loss, free from defilement and troubles (klesa), beyond creating and giving rise (to anything), beyond birth and death, beyond fear and worry, beyond like and dislike, and beyond existence in the past, future and present. He cannot be revealed by word, speech, discerning and pointing. “World Honoured One, the body of the Tathagata being such, seeing Him as above-mentioned is correct whereas seeing Him otherwise is wrong.”

quán phật hương thang

(灌佛香湯) Nước thơm hơi nóng dùng để tắm tượng Phật. Cứ theo kinh Dục tượng công đức thì Hương thang được nấu bằng các hương liệu như: Chiên đàn ngưu đầu, Tử đàn, hương Đa ma la, Cam tùng, Khung cùng, Bạch đàn, Đinh hương, Uất kim, Long não, Trầm hương. Xạ hương... hễ có được thứ nào thì nấu bằng thứ đó. Nhưng theo Thiền tông thì Hương thang được nấu bằng 6 loại hương: Trầm hương, Bạch đàn, Cam tùng, Đinh tử, Huân lục và Uất kim. [X. môn Báo đảo trong Thiền lâm tượng khí tiên].

quán phật hội

(灌佛會) Hội tắm Phật. Tức là pháp hội tắm gội tượng Phật được cử hành vào ngày mồng 8 tháng 4 hàng năm (ngày đức Phật Thích Ca Mâu Ni đản sinh). Theo các kinh điển như kinh Ma ha sát đầu... và bức điêu khắc bằng đá ở vườn Lộc Dã (vườn Nai) bên Ấn Độ, lúc đức Phật đản sinh thì Phạm thiên, Đế thích và Long vương dùng nước thơm tắm gội thân Phật. Vì thế, hàng năm đến ngày Phật đản, tín đồ dùng nước hương cam trà tắm gội tượng Phật sơ sinh từ đầu trở xuống, gọi là Quán Phật hội. Tượng Phật sơ sinh là tượng đứng, cao khoảng 20 cm, tay phải chỉ trời, tay trái chỉ đất, thông thường được tôn trí trong cái đình có treo hoa để tắm gội. Quán Phật hội thịnh hành ở Ấn độ và các nước vùng Trung á; ở Trung quốc thì bắt đầu vào khoảng thế kỉ IV, đến thời đại Đường Tống thì trở thành phong tục phổ biến. Tại Nhật bản, vào thế kỉ IX, Quán Phật hội bắt đầu được cử hành trong cung vua, về sau mới phổ cập các chùa và thần xã. [X. kinh Phổ diệu Q.2; kinh Quán tẩy Phật hình tượng; kinh Dục Phật công đức; kinh Tu hành bản khởi Q.thượng; Pháp uyển châu lâm Q.33; Phật tổ thống kỉ Q.33]. (xt. Dục Phật).

quán phật kệ

(灌佛偈) Cũng gọi Dục Phật kệ. Bài kệ đọc khi tắm tượng Phật. Điều Phật giáng đản, chương Báo bản trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển thượng có ghi bài kệ tắm Phật như sau (Đại 48, 1116 thượng): Nay con tắm gội đấng Như lai/Trang nghiêm trí tịnh công đức tụ/Chúng sinh năm trược lìa cáu bẩn/Cùng chứng được pháp thân Như lai. Nhật bản Oánh sơn thanh qui quyển hạ thì ghi bài kệ tắm Phật như sau (Đại 82, 43 hạ):Cúi đầu lạy đức Bạc già phạm/Đấng tôn quí của cả trời người /Nay chúng con dùng nước công đức /Tắm gội tịnh pháp thân Như lai. [X. kinh Dục tượng công đức]. (xt. Dục Phật).

quán phật tam muội

Nhứt tâm quán tưởng tướng mạo hình sắc của Phật (thành tựu được tam muội nầy thì thấy Phật hiện đến)—A samadhi on the characteristic marks of a Buddha. ; (觀佛三昧) Gọi tắt: Quán Phật. Nhất tâm quán tưởng tướng hảo và công đức của thân Phật. Kinh Quán Phật tam muội hải quyển 1 (Đại 15, 646 thượng) nói: Nếu người nào một lòng buộc niệm bên trong, ngồi ngay thẳng chính quán sắc thân Phật, thì nên biết tâm người ấy hệt như tâm Phật, không khác với Phật, tuy sống trong phiền não, nhưng không bị các điều xấu ác che lấp.Ngoài việc quán tưởng tướng tốt đẹp của thân Phật ra, quán Phật còn có các pháp quán như: Pháp thân, Thực tướng... Theo luận Đại trí độ quyển 21 thì thứ tự tu tập quán Phật như sau: Trước hết niệm 10 hiệu của Phật, kế đến niệm 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp và năng lực thần thông công đức của Phật; tiếp sau niệm 5 phần pháp thân giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến của Phật, cuối cùng niệm Nhất thiết trí, Nhất thiết trí kiến, Đại từ, Đại bi, Thập lực, Tứ vô sở úy, Tứ vô ngại trí, Thập bát bất cộng pháp... của Phật. Trong Tư duy lược yếu pháp của ngài Cưu ma la thập thì nói: Về pháp Quán Phật tam muội thì trước nên quán tướng tốt đẹp của Phật, kế đến quán các thiện nghiệp như: Thập lực, Tứ vô sở úy, Đại từ, Đại bi của pháp thân, sau cùng lại tu quán thực tướng các pháp. Trong Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển thượng, ngài Tịnh ảnh cho rằng quán Phật có 2 pháp: Quán Chân thân và quán Ứng thân. Quán Chân thân tức là quán thân bình đẳng của Như lai trùm khắp pháp giới, thuộc về quán thực tướng pháp thân; còn quán Ứng thân là quán sắc thân tướng hảo của Như lai, thuộc về quán sắc thân.Trong Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ của ngài Cát tạng cũng nói niệm Phật có 2 cách: Niệm pháp thân Phật và Niệm sinh thân Phật; điều này cũng có nghĩa là quán sắc thân và quán pháp thân. Trong Quán niệm pháp môn của mình, ngài Thiện đạo đã y cứ vào kinh Quán Vô lượng thọ và kinh Quán Phật tam muội hải mà nói rõ về pháp Quán Phật tam muội như sau: Quán sắc thân màu vàng ròng của đức Phật A di đà, hào quang tròn sáng soi suốt, tướng hảo trang nghiêm đoan chính không gì sánh bằng. Trong Vãng sinh yếu tập quyển thượng, phần cuối, ngài Nguyên tín của Nhật Bản chia quán Phật làm 3 loại: Biệt tướng quán (quán riêng từng tướng hảo một của Phật), Tổng tướng quán (quán chung 1 lúc tất cả tướng hảo quang minh của Phật) và Tạp lược quán(quán đơn giản từng phần). Thông thường lấy quán tượng Phật để làm phương tiện quán Phật. Vãng sinh yếu tập quyển trung, phần đầu, cũng chủ trương người mới phát tâm trước nên tu tập pháp quán sắc thân, sau mới dần dần tiến đến quán pháp thân và quán thực tướng. Đời Tống, ngài Tri Lễ đề xướng nghĩa Ước tâm quán Phật, tức là Y báo và Chính báo của Phật A di đà không ngoài tâm mình, nương vào đó mà quán Phật để hiển bày lí ấy. Từ đời Tống về sau thuyết này khá thịnh hành. [X. kinh Quán Vô lượng thọ; luận Vãng sinh; luận Thập trụ tì bà sa Q.9; An lạc tập Q.thượng; Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ Q.3 (Thiện đạo)].

quán phật tam muội hải kinh

(觀佛三昧海經) Phạm: Buddha-dhyànasamàdhisàgara-sùtra. Cũng gọi Quán Phật tam muội kinh, Quán Phật kinh. Kinh, 10 quyển, do ngài Phật đà bạt đà la dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật ở rừng Ni Câu Lâu Đà, gần thành Ca Tì La, thuyết pháp độ cho phụ vương là Duyệt Đầu Đàn và Di mẫu là Kiều Đàm Di, Ngài dạy trụ trong tam muội Quán Phật, vì Tam muội này có công đức sâu rộng, có năng lực đưa đến giải thoát. Kinh này gồm 12 phẩm: Phẩm Lục thí, phẩm Tự quán địa, phẩm Quán tướng, phẩm Quán Phật tâm, phẩm Quán tứ vô lượng tâm, phẩm Quán tứ uy nghi, phẩm Quán mã vương tàng, phẩm Bản hạnh,phẩm Quán tượng, phẩm Niệm thất Phật, phẩm Niệm thập phương Phật và phẩm Quán Phật mật hạnh. Phần Đơn dịch khuyết bản lục trong Khai nguyên thích giáo lục quyển 14 có nêu kinh Quán Phật tam muội 1 quyển do ngài Cưu ma la thập dịch, nhưng không cho biết sự dị đồng giữa kinh ấy và kinh này như thế nào. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.7; Khai nguyên thích giáo lục Q.3].

quán phật tam muội hải kinh lục thí

(觀佛三昧海經六譬) Sáu thí dụ để ví dụ cho công đức thù thắng của tam muội Niệm Phật nói trong kinh quán Phật tam muội hải. Sáu thí dụ ấy là:1. Ví dụ cho vàng Diêm phùđàn màu đỏ tươi của trưởng giả. 2. Ví dụ cho ấn báu của vua. 3. Ví dụ cho ngọc Như ý của trưởng giả.4. Ví dụ cho thần chú tốt lành của người tiên.5. Ví dụ cho hạt châu trên búi tóc của lực sĩ. 6. Ví dụ cho núi Kim cương ở mạt kiếp. [X. Vãng sinh yếu tập Q.hạ].

quán phật vi tông

(觀佛爲宗) Pháp môn quán Phật do ngài Thiện Đạo đời Đường phán lập. Tịnh độ giáo luận định kinh Vô lượng thọ của 2 tông: Niệm Phật tam muội và Quán Phật tam muội. Trong đó, tông lấy quán tưởng Di đà làm pháp môn niệm Phật chủ yếu gọi là Quán Phật vi tông. Phần Huyền nghĩa trong Quán kinh (Đại 37, 247 thượng) nói: Nay, Quán kinh này lấy Quán Phật tam muội làm tông, cũng lấy Niệm Phật tam muội làm tông và lấy nhất tâm hồi hướng nguyện vãng sinhTịnh độ làm thể. [X. An lạc tập Q.thượng; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập]. (xt. NiệmQuán Lưỡng Tông).

quán phổ hiền bồ tát hành pháp kinh

(觀普賢菩薩行法經) Cũng gọi Xuất thâm công đức kinh. Gọi tắt: Quán phổ hiền kinh, Phổ hiền quán kinh, Phổ hiền kinh, Quán kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Đàm ma mật đa (Phạm: Dharmamitra) dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 9. Kinh này đức Phật nói ở tinh xá Đại Lâm tại nước Tì Xá Li, sau khi nói kinh Pháp hoa. Vì đức Phật tuyên bố sau 3 tháng nữa Ngài sẽ vào Niết bàn nên tôn giả A nan liền thỉnh vấn rằng sau khi Phật nhập diệt thì các đệ tử nên tu hành như thế nào; đồng thời thỉnh vấn Phật về pháp yếu Đại thừa. Do đó, đức Phật nói về Phổ hiền quán môn, về pháp sám hối tội lỗi của 6 căn và các công đức sau khi sám hối. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.7, 8, 10; Khai nguyên thích giáo lục Q.3-5].

quán phức

(觀複) Cao tăng Trung Quốc sống vào đời Tống, hiệu Tiếu Am. Sư trụ ở chùa Hoa Nghiêm tại Tì Lăng. Sư cùng với các vị Đạo Đình, Sư Hội, Hi Địch được gọi chung là Hoa Nghiêm tứ đại gia. Sư theo ngài Tông Vũ học Hoa nghiêm ngũ giáo chương, soạn Ngũ giáo chương chiết tân kí 5 quyển để giải thích thuyết Biệt giáo nhất thừa trong Ngũ giáo chương. Quan điểm của sư thừa kế thuyết của các ngài Trừng quán, Tông mật, đứng trên lập trường đối kháng, bác bỏ Ngũ giáo chương phần tân của ngài Sư hội, do đó, 2 vị bắt đầu cuộc luận nạn bắt bẻ lẫn nhau. Ngoài ra, sư còn soạn Viên giác kinh sao biện nghi ngộ, Diễn nghĩa sao hội giải kí, Kim cương biệt kí, Di giáo kinh luận kí... tất cả 4 bộ 18 quyển lưu hành ở đời.

quán sanh diệt

Knowledge of comtemplation of rise and fall. (A) Theo Thanh Tịnh Đạo, các đặc tính không thể hiện rõ khi một vật không được chú ý đến, bởi thế, có cái gì khuất lấp chúng. Trước hết, đặc tính vô thường không trở nên rõ rệt bởi vì khi sanh và diệt không được chú ý, thì đặc tính ấy bị che lấp bởi tính tương tục. Đặc tính khổ không hiện rõ vì khi sự bức bách liên tục không được chú ý, thì đặc tính nầy bị che lấp bởi các dáng điệu uy nghi. Đặc tính vô ngã không hiện rõ, vì khi sự phân tích thành các giới không được tác ý, thì đặc tính nầy bị che lấp bởi tính nguyên vẹn. Nhưng khi sự tương tục bị gián đoạn do phân biệt sinh diệt, thì đặc tính vô thường trở nên rõ rệt trong thực chất của nó. Khi các dáng điệu được tác ý là bị áp bức liên tục, thì đặc tính khổ hiện rõ trong thực chất của nó. Khi sự phân biệt thành các giới được thực hiện đối với cái vẻ nguyên vẹn, thì đặc tính vô ngã hiện rõ trong thực chất nó: According to the Path of Purification, the characteristics fail to become apparent when something is not given attention and so something conceals them. Firstly, the characteristic of impermanence does not become apparent because, when rise and fall are not given attention, it is concealed by continuity. The characteristic of pain does not become apparent because, when continuous oppression is not given attention, it is concealed by the postures. The characteristic of not self does not become apparent because, when resolution into the various elements is not given attention, it is concealed by compactness. However, when continuity is disrupted by discerning rise and fall, the characteristic of impermanence becomes apparent in its true nature. When the postures are exposed by attention to continuous oppression, the characteristic of pain becomes apparent in its true nature. When the resolution of the compact is effected by resolution into elements, the characteristic of not-self becomes apparent in its true nature. (B) Trong Phân Biệt Xứ nói tóm tắt như sau: “Đặc tính vô thường rõ rệt khi một cái đĩa rớt xuống vỡ toang; đặc tính khổ rõ rệt khi một ung nhọt xuất hiện trên cơ thể. Nhưng đặc tính vô ngã không rõ rệt. Dù chư Phật có xuất hiện hay không, các đặc tính vô thường và khổ vẫn được biết đến, nhưng nếu không có chư Phật ra đời thì không có lý vô ngã được công bố. Trong Luận về Kinh Trung Bộ 22: In the commentary to the Ayatana-Vibhanga we find: “Impermanence is obvious, as when a saucer falls and breaks; pain is obvious, as when a boil appears in the body; the characteristic of not-self is not obvious; whether Perfect Ones arise or do not arise the characteristics of impermanence and pain are made known but unless there is the arising of a Buddha, the characteristic of not-self is not is not made known. Again, in the commentary to Majjima Nikaya Sutta 22: 1) Sau khi hiện hữu nó trở thành không, bởi thế nó là vô thường. Nó vô thường vì bốn lý do: vì sinh diệt, vì biến dị, vì tính chất tạm thời, và vì không có chuyện trường cửu. Theo Thanh Tịnh Đạo, khi sự tương tục bị gián đoạn, nghĩa là khi sự tương tục bị phơi bày ra do quán sát sự đổi khác của các pháp, khi chúng nối nhau sanh khởi. Vì không phải qua sự liên kết của các pháp mà đặc tính vô thường trở nên rõ rệt cho một người chánh quán sinh diệt, mà chính là qua sự gián đoạn của chúng: Having been, it is not, therefore it is impermanent; it is impermanent for four reasons, that is, in the sense of the state of rise and fall, of change, of temporariness, and of denying permanence. According to the Path of Purification, when continuity is disrupted means when continuity is exposed by observing the perpetual otherness of state as they go on occuring in succession. For it is not through the connectedness of state that the characteristic of impermanence becomes apparent to one who rightly observes rise and fall, but rather the characteristic becomes more thoroughly evident through their disconnectedness, as if they were iron darts. 2) Nó là khổ vì sự bức bách theo bốn ý nghĩa: thiêu đốt, khó chịu nổi, là căn đế của khổ, và ngược với lạc. Khi các uy nghi được phơi bày, có nghĩa là khi nỗi khổ nội tại ẩn nấp trong các uy nghi lộ ra. Vì khi cơn đau khởi lên nơi một uy nghi, thì uy nghi khác đã được áp dụng, làm cho hết đau. Và như vậy, dường như khuất lấp sự khổ. Nhưng khi đã biết chân chánh rằng, nỗi khổ trong mỗi uy nghi được di chuyển bằng cách thay thế uy nghi khác, thì sự khuất lấp cái khổ tiềm ẩn trong các uy nghi được lộ rõ, vì rõ ràng các hành liên tục bị tràn ngập bởi đau khổ: It is painful on account of the mode of oppression; it is painful for four reasons, that is, in the sense of burning, of being hard to bear, of being the basis for pain, and of opposing pleasure. According to the Path of Purification, when the postures are xposed, means when the concealment of the pain that is actually inherent in the postures is exposed. For when pain arises in a posture, the next posture adopted removes the pain, as it were, concealing it. But once it is correctly known how the pain in any posture is shifted by substituting another posture for that one, then the concealment of the pain that is in them is exposed because it has become evident that formations are being incessantly overwhelmed by pain. 3) Nó vô ngã vì không chịu được một năng lực nào tác động lên nó, và vì bốn lý do: trống rỗng, không sở hữu chủ, không sáng tạo chủ, và vì đối lại với ngã. Sự phân tích cái khối nguyên vẹn là phân thành đất, nước, lửa, gió; hoặc xúc, thọ, vân vân. Khi phân tích thành các giới đã được thực hiện là khi cái có vẻ nguyên vẹn như một khối hay như một nhiệm vụ duy nhất, đã được phân tích ra. Vì khi các pháp sắc, vô sắc sinh khởi củng cố cho nhau, như danh và sắc, thì khi ấy ta hiểu lầm có một khối nguyên vẹn do không thể nhận ra các hành bị bức bách. Cũng thế ta nhận lầm có một nhiệm vụ duy nhất trong khi thực sự các pháp có nhiệm vụ khác nhau. Cũng vậy, ta lầm cho rằng có một đối tượng duy nhất, trong khi mỗi tâm pháp đều có đối tượng riêng của nó. Khi phân tích thành các giới như vậy, chúng phân tán như bọt dưới bàn tay nén lại. Chúng chỉ là pháp sinh khởi do nhiều duyên, trống rỗng. Với cách ấy, đặc tính vô ngã trở nên rõ rệt: It is not-self on account of the mode of insusceptibility to the exercise of power; it is not-self for four reasons, that is, in the sense of voidness, of having no owner-master, of having no Overlord, and of opposing self: Resolution of the compact is effected by resolving what appears compact in this way. The earth element is one, the water element is another, etc., distinguishing each one; and in this way, contact is one, feeling is another, etc, distinguishing each one. When the resolution of the compact is effected, means that what is compact as a mass and what is compact as a function or as an object has been analyzed. For when material and immaterial states have arisen mutually steadying each other, mentality and materiality, for example, then, owing to misinterpreting that as a unity, compactness of mass is assumed through failure to subject formations to pressure. And likewise compactness of function is assumed when, although definite differences exist in such and such states' functions, they are taken as one. And likewise compactness of object is assumed when, although differences exist in the ways in which states that take objects make them their objects, those objects are taken as one. But when they are seen after resolving them by means of knowledge into these elements, they disintegrate like froth subjected to compression by the hand. They are mere states occuring due to conditions and void. In this way the characteristic of the not-self becomes more evident.

quán sát

Pravicaya or Vibhavana (skt)—Investigation—Meditation on and inquiry into—Clear perception. ** For more information, please see Ngũ Niệm Môn.

quán sát chánh hạnh

Quán sát về Tây Phương Tịnh Độ, một trong năm chánh hạnh đảm bảo vãng sanh Tây Phương Cực Lạc—Meditation on the Pure Land, one of the five proper courses to ensure the bliss of the Pure Land. ** For more information, please see Ngũ Chánh Hạnh.

quán sát môn

Một trong ngũ niệm môn của Tịnh Độ tông, là pháp môn quán tưởng về tướng trang nghiêm của cõi Tịnh Độ Cực Lạc—Contemplation of the joys of Amitabha's Pure Land, one of the five devotional gates of the Pure Land sect. ** For more information, please see Ngũ Niệm Môn.

quán sát pháp nhẫn

Một trong nhị nhẫn, quán pháp chư pháp thể tính chẳng sinh chẳng diệt, an nhiên nhẫn chịu và tâm chẳng động—Physical and mental patience or endurance—One of the two kinds of patience, imperturbable examination of or meditation in the law of all things.

quán sát trí

Pravicayabuddhi (skt)—Cái trí thấy suốt vào tự tính của hiện hữu là cái trí vượt khỏi tứ cú hay bốn mệnh đề của sự phân biệt—The intellect that sees into the self-nature of existence which is beyond the fourfold proposition of discrimination—For more information, please see Tứ Cú Phân Biệt in Vietnamese-English Section.

quán sổ tức

Ana or Anapana (skt). (A) Breathing meditation—Ana có nghĩa là thở ra—Ana means exhaling; pana (skt) có nghĩa là thở vào—Pana means inhaling. Theo Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm, thế nào là tu tập Nhập Tức Xuất Tức Niệm để được công đức lớn?—According to the Anapanasatisutta, how is mindfulness of breathing developed and cultivated, so that it is of great fruit and great benefit?—Đây là phương pháp Thiền Quán căn bản cho những người sơ cơ. Nếu chúng ta không thể thực hành những hình thức thiền cao cấp, chúng ta nên thử quán sổ tức. Thiền Sổ Tức hay tập trung vào hơi thở vào thở ra qua mũi. Chỉ tập trung tâm vào một việc là hơi thở, chẳng bao lâu sau chúng ta sẽ vượt qua sự lo ra và khổ não của tâm—This is the basic meditation method for beginners. If we are unable to engage in higher forms of meditation, we should try this basic breathing meditation—Meditation or concentration on normal inhalations and exhalations of breath through our nostrils. Just focus our mind on one thing: breathing, we will soon overcome a lot of distractions and unhappy states of mind. Try to calm the body and mind for contemplation by counting the breathing. Ở đây, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và trú niệm trước mặt. Chánh niệm, vị ấy thở vô; chánh niệm vị ấy thở ra—Here a Bhikkhu, gone to the forest or to the root of a tree or to an empty hut, sits down; having folded his legs crosswise, set his body erect, and established mindfulness in front of him, ever mindful he breathes in, mindful he breathes out. 1) Thở vô dài, vị ấy biết mình đang thở vô dài. Hay thở ra dài, vị ấy biết mình đang thở ra dài. Hay thở vô ngắn, vị ấy biết mình đang thở vô ngắn. Hay thở ra ngắn, vị ấy biết mình đang thở ra ngắn. Vị ấy tập: “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “An tịnh toàn thân tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra.”—Breathing in long, he understands: “I breathe in long;” or breathing out long, he understands: “I breathe out long.” Breathing in short, he understands: “I breathe in short;” or breathing out short, he understands: “I breathe out short.” He trains thus: “I shall breathe in experiencing the whole body of breath;” he trains thus: “I shall breathe out experiencing the whole body of breath.” He trains thus: “I shall breathe in traqilizing the bodily formation;” he trains thus: “I shall breathe out tranquilizing the bodily formation.” 2) Vị ấy tập: “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Cảm giác an tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Cảm giác an tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: “I shall breathe in experiencing rapture;” he trains thus: “I shall breathe out experiencing rapture.” He trains thus: “I shall breathe in experiencing pleasure;” he trains thus: “I shall breathe out experiencing pleasure.” He trains thus: “I shall breathe in experiencing the mental formation;” he trains this: “I shall breathe out experiencing the mental formation.” He trains thus: “I shall breathe in tranquilizing the mental formation;” he trains thus: “I shall breathe out tranquilizing the mental formation.” 3) Vị ấy tập: “Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: “I shall breathe in experiencing the mind;” he trains thus: “I shall breathe out experiencing the mind.” He trains thus: “I shall breathe in gladdening the mind;” he trains thus: “I shall breathe out gladdening the mind.” He trains thus: “I shall breathe in concentrating the mind;” he trains thus: “I shall breathe out concentrating the mind.” He trains thus: “I shall breathe in liberating the mind;” he trains thus: “I shall breathe out liberating the mind.” 4) Vị ấy tập: “Quán vô thường, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Quán vô thường, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Quán ly tham, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Quán ly tham, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: “I shall breathe in contemplating impermanence;” he trains thus: “I shall breathe out contemplating impermanence.” He trains thus: “I shall breathe in contemplating fading away;” he trains thus: “I shall breathe out contemplating fading away.” He trains thus: “I shall breathe in contemplating cessation;” he trains thus: “I shall breathe out contemplating cessation.” He trains thus: “I shall breathe in contemplating relinquishment;” he trains thus: “I shall breathe out contemplating relinquishment.” (B) Và như thế nào, nầy các Tỳ Kheo, là nhập tức xuất tức niệm được tu tập? Như thế nào làm cho sung mãn, khiến bốn niệm xứ được viên mãn?—And how, Bhikkhus, does mindfulness of breathing, developed and cultivated, fulfil the four foundations of mindfulness? 1) Khi nào, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo thở vô dài, vị ấy biết là mình đang thở vô dài. Hay khi thở ra dài, vị ấy biết là mình đang thở ra dài. Hay thở vô ngắn, vị ấy biết là mình đang thở vô ngắn. Hay thở ra ngắn, vị ấy biết là mình đang thở ra ngắn. Vị ấy tập: “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra.” Vị ấy tập: “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô.” Vị ấy tập: “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra.” Trong khi tùy quán thân thể trên thân thể, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Nầy các Tỳ Kheo, đối với các thân, Ta đây nói là một, tức là thở vô thở ra. Do vậy, nầy các Tỳ Kheo, trong khi tùy quán thân thể trên thân thể, vị Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời—Bhikkhus, on whatever occasion a Bhikkhu, breathing in long, understands: “I breathe in long;” or breathe out long, understands: “I breathe out long;” breathing in short, understands: “I breathe in short;” breathing out short, understands: “I breathe out short.” He trains thus: “I shall breathe in experiencing the whole body of breath;” he trains thus: “I shall breathe out experiencing the whole body of breath;” he trains thus: “I shall breathe in tranquilizing the bodily formation;” he trains thus: “I shall breathe out tranquilizing the bodily formation.” On that occasion, a Bhikkhu abides contemplating the body as a body, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world. I say that this is a certain body among the bodies, namely, in-breathing and out-breathing. That is why on that occasion a Bhikku abides contemplating the body as a body, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world. 2) Khi nào, nầy các vị Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo nghĩ về cảm giác hỷ thọ: Bhikkhus! On whatever occasion a Bhikkhu thinks about 'experiencing rapture': a) Vị ấy tập: “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: “I shall breathe in experiencing rapture.” b) Vị ấy tập: “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra.”— He trains thus: “I shall breathe out experiencing rapture.” c) Vị ấy tập: “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: “I shall breathe in experiencing pleasure.” d) Vị ấy tập: “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: “I shall breathe out experiencing pleasure.” e) Vị ấy tập: “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: “I shall breathe in experiencing the mental formation.” f) Vị ấy tập: “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra.”— He trains thus: “I shall breathe out experiencing the mental formation.” g) Vị ấy tập: “An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: “I shall breathe in tranquilizing the mental formation.” h) Vị ấy tập: “An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: “I shall breathe out tranquilizing the mental formation.” Trong khi tùy quán thọ trên các thọ, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Nầy các Tỳ Kheo, đối với các thọ, Ta đây nói là một, tức là thở vô thở ra. Do vậy, nầy các Tỳ Kheo, trong khi tùy quán thọ trên các thọ, vị Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời—On that occasion, a Bhikhu abides contemplating feelings as feelings, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world. I say that this is a this is a certain feeling among the feelings, namely, giving close attention to in-breathing and out-breathing. This is why on that occasion a Bhikkhu abides contemplating feelings as feelings, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world. 3) Khi nào, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo nghĩ về cảm giác tâm: Bhikkhus, on whatever occasion, thinks of the 'experiencing the mind.' a) Vị ấy tập: “Cảm giác tâm, tôi sẽ thở vô.” A Bhikkhu trains thus: “I shall breathe in experiencing the mind.” b) Vị ấy tập: “Cảm giác tâm, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: “I shall breathe out experiencing the mind.” c) Vị ấy tập: “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô.”—A Bhikkhu trains thus: “I shall breathe in gladdening the mind.” d) Vị ấy tập: “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra.”—A Bhikkhu trains thus: “I shall breathe out gladdening the mind.” e) Vị ấy tập: “Với tâm Thiền định, tôi sẽ thở vô.”— A Bhikkhu trains thus: A Bhikkhu trains thus: “I shall breathe in gladdening the mind.” f) Vị ấy tập: “Với tâm Thiền định, tôi sẽ thở ra.”—A Bhikkhu trains thus: “I shall breathe out concentrating the mind.” g) Vị ấy tập: “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: A Bhikkhu trains thus: “I shall breathe in liberating the mind.” h) Vị ấy tập: “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: A Bhikkhu trains thus: “I shall breathe out liberating the mind.” Trong khi tùy quán tâm trên tâm, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Nầy các Tỳ Kheo, sự tu tập nhập tức xuất tức niệm không thể đến với kẻ thất niệm, không có tỉnh giác. Do vậy, nầy các Tỳ Kheo, trong khi tùy quán tâm trên tâm, vị Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời—On that occasion a Bhikkhu abides contemplating mind as mind, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world. I do not say that there is the development of mindfulness of breathing for one who is forgetful, who is not fully aware. That is why on that occasion a Bhikkhu abides contemplating mind as mind, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world. 4) Khi nào nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo nghĩ về 'quán vô thường': Bhikkhu, on whatever occasion, a Bhikkhu thinks about 'contemplation of impermanence': a) Vị ấy tập: “Quán vô thường, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: “I shall breathe in contemplating impermanence.” b) Vị ấy tập: “Quán vô thường, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: “I shall breathe out contemplating impermanence.” c) Vị ấy tập: “Quán ly tham, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: “I shall breathe in contemplating fading away.” d) Vị ấy tập: “Quán ly tham, tôi sẽ thở ra.”—He trains thus: “I shall breathe out contemplating fading away.” e) Vị ấy tập: “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: “I shall breathe in contemplating cessation.” f) Vị ấy tập: “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra.”— He trains thus: “I shall breathe out contemplating cessation.” g) Vị ấy tập: “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô.”—He trains thus: “I shall breathe in contemplating relinquishment.” h) Vị ấy tập: “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra.”— He trains thus: “I shall breathe out contemplating relinquishment.” 5) Trong khi tùy quán pháp trên pháp, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Vị ấy, do đoạn trừ tham ưu, sau khi thấy với trí tuệ, khéo nhìn sự vật với niệm xả ly. Do vậy, nầy các Tỳ Kheo, trong khi tùy quán pháp trên các pháp, vị Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời—On that occasion a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world. Having seen the wisdom the abandoning of covetousness and grief, he closely looks on with equanimity. That is why on that occasion a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world. 6) Nhập tức xuất tức niệm, nầy các Tỳ Kheo, được tu tập như vậy làm cho sung mãn như vậy, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn—Bhikkhus, that is how mindfulness of breathing, developed and cultivated, fulfils the four foundations of mindfulness. (C) Và Bốn niệm xứ, nầy các Tỳ Kheo, tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho thất giác chi được viên mãn?—An how, Bhikkhus, do the four foundations of mindfulness, developed and cultivated, fulfil the seven enlightenment factors? 1) Nầy các Tỳ Kheo, trong khi tùy quán thân trên thân, Tỳ Kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời, trong khi ấy, niệm không hôn mê của vị ấy được an trú. Trong khi niệm không hôn mê của vị ấy cũng được an trú, nầy các Tỳ Kheo, trong khi ấy niệm giác chi được bắt đầu khởi lên với Tỳ Kheo, trong khi ấy, Tỳ Kheo tu tập niệm giác chi. Trong khi ấy niệm giác chi được Tỳ Kheo tu tập đi đến viên mãn—Bhikkhus, on whatever occasion a Bhikkhu abides contemplating the body as a body, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world, on that occasion unremitting mindfulness is established in him. On whatever occasion unremitting mindfulness is established in a Bhikkhu, on that occasion the mindfulness enlightenment factor is aroused in him, and he develops it, and by development, it comes to fulfilment in him. 2) Nầy các Tỳ Kheo, trong khi trú với chánh niệm như vậy, Tỳ Kheo với trí tuệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy. Nầy các Tỳ Kheo, trong khi trú với chánh niệm như vậy, Tỳ Kheo với trí tuệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy, trong khi ấy trạch pháp giác chi được bắt đầu khởi lên với Tỳ Kheo. Trong khi ấy, Tỳ Kheo tu tập trạch pháp giác chi. Trong khi ấy trạch pháp giác chi được Tỳ Kheo tu tập đi đến viên mãn—Abiding thus mindful, he investigates and examines that state with wisdom and embarks upon a full inquiry into it. On whatever occasion, abiding thus mindful, a Bhikkhu investigates and examines that state with wisdom embarks upon a full inquiry into it. On that occasion, the investigation-of-states enlightenment factor is aroused in him, and he develops it, an by development it comes to fulfilment in him. 3) Nầy các Tỳ Kheo, trong khi trú với chánh niệm như vậy, Tỳ Kheo với trí tuệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy, sự tinh tấn không thụ động bắt đầu khởi lên với vị Tỳ Kheo. Nầy các Tỳ Kheo, trong khi Tỳ Kheo với trí tuệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy, sự tinh tấn không thụ động được bắt đầu khởi lên với Tỳ Kheo ấy. Trong khi ấy tinh tấn giác chi được Tỳ Kheo tu tập đi đến viên mãn—In one who investigates and examines that state with wisdom and embarks upon a full inquiry into it, tireless energy is aroused. On whatever occasion, tireless energy is aroused in a Bhikkhu who investigates and examines that state with wisdom embarks upon a full inquiry into it. On that occasion, the energy enlightenment factor is aroused in him, and he develops it, an by development it comes to fulfilment in him. 4) Hỷ không liên hệ đến vật chất được khởi lên nơi vị tinh tấn tinh cần. Nầy các Tỳ Kheo, trong khi hỷ không liên hệ đến vật chất khởi lên nơi Tỳ Kheo tinh tấn tinh cần, trong khi ấy hỷ giác chi bắt đầu khởi lên trong vị Tỳ Kheo. Trong khi ấy hỷ giác chi được vị Tỳ Kheo tu tập đi đến viên mãn—In one who arouses energy, worldly rapture arises. On whatever occasion, unworldly rapture arises in a Bhikkhu who has aroused energy, on that occasion, the rapture enlightenment factor is aroused in him, and he develops it, an by development it comes to fulfilment in him. 5) Thân của vị ấy được tâm hoan hỷ trở thành khinh an, tâm cũng được khinh an. Nầy các Tỳ Kheo, trong khi Tỳ Kheo với ý hoan hỷ được thân khinh an, được tâm cũng khinh an, trong khi ấy, khinh an giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỳ Kheo. Trong khi ấy, khinh an giác chi được Tỳ Kheo tu tập. Trong khi ấy, khinh an giác chi được Tỳ Kheo làm cho đi đến sung mãn—In one who is rapturous, the body and mind becometranquil. On whatever occasion, the body and mind become tranquil in a Bhikkhu who is rapturous, on that occasion, the tranquility enlightenment factor is aroused in him, and he develops it, an by development it comes to fulfilment in him. 6) Một vị có thân khinh an, an lạc, tâm vị ấy được định tĩnh. Nầy các Tỳ Kheo, trong khi Tỳ Kheo có thân khinh an, an lạc, tâm vị ấy được định tĩnh, trong khi ấy định giác chi bắt đầu khởi lên nơi vị Tỳ Kheo nầy. Trong khi ấy định giác chi được Tỳ Kheo tu tập. trong khi ấy định giác chi được Tỳ Kheo làm cho đi đến sung mãn—In one whose body is tranquil and who feels pleasure, the mind becomes concentrated. On whatever occasion, the mind become concentrated in a Bhikkhu who is tranquil and feels pleasure, on that occasion, the concentration enlightenment factor is aroused in him, and he develops it, an by development it comes to fulfilment in him. 7) Vị ấy với tâm định tĩnh như vậy, khéo nhìn sự vật với ý niệm xả ly. Nầy các Tỳ kheo, trong khi Tỳ Kheo làm với tâm định tĩnh như vậy, khéo nhìn sự vật với ý niệm xả ly, trong khi ấy xả giác chi được Tỳ Kheo tu tập. trong khi ấy xả giác chi được vị Tỳ Kheo làm cho đi đến sung mãn—He closely looks on with equanimity at the mind thus. On whatever occasion, a Bhikkhu closely looks on with equanimity at the mind thus, on that occasion, the equanimity enlightenment factor is aroused in him, and he develops it, an by development it comes to fulfilment in him.

quán sở duyên duyên luận

(觀所緣緣論) Luận, 1 quyển, do ngài Trần Na soạn, ngài Huyền Trang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 31. Luận này có nhiều bản dịch, như luận Vô Tướng tư trần 1 quyển do ngài Chân Đế dịch vào đời Trần trong tạng kinh Hán dịch; Quán sở duyên (kệ)và Quán sở duyên chú, thuộc hòm 95 Kinh sớ bộ trong Đan châu nhĩ của tạng kinh Tây tạng... Như bản dịch Tây tạng và bản dịch của ngài Huyền Trang cho thấy thì văn kệ của luận này là 4 câu 1 hàng, tất cả có 32 câu. Mục đích của luận này là y cứ vào pháp Tam chi nhân minh (Tông, Nhân, Dụ) để nói rõ rằng sở duyên duyên ngoài tâm chẳng phải có, còn sở duyên duyên trong tâm thì chẳng phải không. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Trinh nguyên tân định thích giáo lục Q.11].

quán sở duyên duyên luận thích

(觀所緣緣論釋) Cũng gọi Quán sở duyên luận thích, Quán sở duyên thích. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Hộ Pháp soạn, ngài Nghĩa Tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 31. Đây là sách chú thích luận Quán sở duyên duyên. Nội dung sách này giải thích rõ ý nghĩa cho và đoạt để phá ngoại chấp được nói trong luận Quán sở duyên duyên, đồng thời trình bày rõ về nội cảnh của tự tông, nhưng không đề cập đến sự sai biệt. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.13].

quán sứ

Tên của một ngôi chùa cổ, tọa lạc trong quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, Bắc Việt Nam. Xưa kia thuộc địa phận thôn An Tập, huyện Thọ Xương, Thăng Long thành. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, vào thời nhà Lê, các nước Chiêm Thành, Siêm, và Ai Lao thường gửi sứ thần đến triều cống. Nhà vua cho xây một ngôi chùa dùng làm nơi trú ngụ cho các sứ thần nầy vỉ các nước nầy rất sùng đạo Phật, vì thế mà chùa có tên là chùa Quán Sứ. Chùa đã trải qua nhiều thay đổi. Năm 1934, Tổng Hội Phật Giáo Bắc Phần ra đời, đặt trụ sở tại chùa. Chùa đã được xây dựng lại theo bản thiết kế của hai kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Ngoạn và Nguyên Xuân Tùng do Tổ Sư Vĩnh Nghiêm duyệt xét bào năm 1941. Chánh Điện trong chùa được trang trí trang nghiêm. Các pho tượng đều khá lớn và thếp vàng lộng lẫy. Lá cờ Phật giáo thế giới lần đầu tiên được treo tại Việt Nam tại chùa Quán Sứ nhân ngày lễ Phật Đản năm 1951 (Phật lịch 2495)—Name of an ancient temple, located in Hoàn Kiếm district, Hanoi City, North Vietnam. At first, it belonged to An Tập village, Thọ Xương district, Thăng Long ancient citadel. According to Đại Nam Nhất Thống Chí, in the Lê dynasty (1428-1788), Champa, Siam, Laos, all sent their envoys to Vietnam to offer the tributes. The King had a temple built as the residence for the envoys, because these above countries are devout Buddhists. The temple, therfore, was named Quán Sứ to distinguish it from other temples. Quán Sứ Temple has been changed many times. In 1934, the North Vietnam Buddhist Sangha Association was founded and the temple was chosen its headquarter. It was rebuilt, following a plan drawn out by the two architects Nguyễn Ngọc Ngoạn and Nguyễn Xuân Tùng, with the acceptance of Patriarch Vĩnh Nghiêm in 1941. The Main Hall is solemnly decorated. The statues are pretty big and splendidly lacquered in red and gild colours. For the first time in Vietnam, the flag of the World Buddhist Association was hung at Quán Sứ Temple in 1951for celebrating the Buddha's Holy Birthday.

quán thiền

Quán sát và thiền định—Contemplation and meditation—To sit in abstract trance.

Quán thân

Thân quán (身觀); P: kāyagata-sati;|Chỉ sự tỉnh giác, chú tâm vào thân thể. Một phần tu tập được ghi lại trong kinh Bốn niệm xứ (p: satipaṭṭhāna), bao gồm: tỉnh giác trong lúc thở ra, thở vào cũng như trong lúc đi, đứng, ngồi, nằm (Hành, trụ, toạ, ngọa); tỉnh giác trong mọi hành động; quán 32 thân phần; Phân tích thân phần (p: dhātu-vavatthāna); Quán tử thi.|Tuy nhiên, danh từ »Quán thân« thường được sử dụng để chỉ riêng cách quán 32 thân phần.

quán thân bất tịnh

xem Bốn niệm xứ. ; Contemplation on the impure body—Theo Kinh Niệm Xứ, Đức Phật dạy—According to the Satipatthanasutta, the Buddha taught: 1) Này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo quan sát thân nầy, từ gót chân trở lên và từ đỉnh tóc trở xuống, bao bọc bởi một lớp da và chứa đầy những vật bất tịnh khác nhau. Trong thân nầy: “Đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu.” Này các Tỳ Kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hạt như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quan sát: “Đây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi.” Cũng vậy, nầy các Tỳ Kheo, một Tỳ Kheo quan sát thân nầy dưới từ bàn chân trở lên trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh khác nhau. Trong thân nầy: “Đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu.”—Bhikkhus, a Bhikkhu reviews this same body up from the soles of the feet and down from the top of the hair, bounded by skin, as full of many kinds of impurity thus: “In this body there are head-hairs, body-hairs, nails, teeth, skin, flesh, sinews, bones, bone-marrow, kidneys, heart, liver, diaphragm, spleen, lungs, large intestines, small intestines, contents of the stomach, feces, bile, phlegm, pus, blood, sweat, fat, tears, grease, spittle, snot, oil of the joints, and urine.” Just as though there were a bag with an opening at both ends full of many sorts of grain, such as hill rice, red rice, beans, peas, millet, and white rice, and a man with good eyes were to open it and review it thus: “This is hill rice, this is red rice, these are beans, these are peas, this is millet, this is white rice;” so too, a Bhikkhu reviews this same body… as full of many kinds of impurity thus: “In this body there are head-hairs… and urine.” 2) Lại nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo quan sát thân nầy về các vị trí các giới và sự sắp đặt các giới: “Trong thân nầy có địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại.” Nầy các Tỳ Kheo, như một người đồ tể thiện xảo, hay đệ tử của một người đồ tể giết một con bò, ngồi cắt chia từng phần tại ngã tư đường. Cũng vậy, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo quán sát thấy thân nầy về vị trí các giới: “Trong thân nầy có địa đại, thủy đại và phong đại.”—Again, Bhikkhus, a Bhikkhu reviews this same body, however it is placed, however disposed, as consisting of elements thus: “In this body there are the earth element, the water element, the fire element, and the air element.” Just as though a skilled butcher or his apprentice had killed a cow and was seated at the crossroads with it cut up into pieces; so too, a Bhikkhu reviews this same body… as consisting of elements thus: “In this body there are the earth element, the water element, the fire element, and the air element.” 3) Lại nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Tỳ Kheo quán niệm- thân thể ấy như sau: 'Thân nầy tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy.”—Again, Bhikkhus, as though he were to see a corpse thrown aside in a charnel ground, one, two, or three days dead, bloated, livid, and oozing matter, a Bhikkhu compares this same body with it thus: “This body too is of the same nature, it will be like that, it is not exempt from that fate.” 4) Lại nữa, nầy các Tỳ Kheo, ỳ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài dòi bọ rúc rỉa. Tỳ Kheo quán chiếu sự thực ấy vào thân thể của chính mình: “Thân nầy tánh chất là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy.”—Again, as though he were to see a corpse thrown aside in a charnel ground, being devoured by crows, hawks, vultures, dogs, jackals, or various kinds of worms, a Bhikkhu compares this same body with it thus: “This body too is of the same nature, it will be like that, it is not exempt from that fate.” 5) Nầy các Tỳ Kheo, lại nữa, Tỳ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được nối liền bởi các đường gân…, với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt, nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại với nhau…, với các bộ xương không còn dính thịt, không còn dính máu, không còn được các đường gân cột lại với nhau, chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rãi rác chỗ nầy chỗ kia. Ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Tỳ Kheo ấy quán niệm thân ấy như sau: “Thân nầy tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh tánh chất ấy.”—Again, as though he were to see a corpse thrown aside in a charnel ground, a skeleton with flesh and blood, held together with sinews… a fleshless skeleton smeared with blood, held together with sinews… a skeleton without flesh and blood, held together with sinews.. disconnected bones scattered in all directions, here a hand-bone, there a foot-bone, here a shin-bone, there a thigh-bone, here a hip-bone, there a back-bone, here a rib-bone, there a breast-bone, here an arm-bone, there a shoulder-bone, here a neck-bone, there a jaw-bone, here a tooth, there the skull, a Bhikkhu compares this same body with it thus: “This body too is of the same nature, it will be like that, it is not exempt from that fate.” 6) Lại nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc…, chỉ còn một đống xương lâu hơn ba năm…, chỉ còn là xương thối trở thành bột. Tỳ Kheo ấy quán niệm thân ấy như sau: “Thân nầy tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh tánh chất ấy.”—Again, Bhikkhus, as though he were to see a corpse thrown aside in a charnel ground, bones bleached white, the color of shells… bones heaped up, more than a year old… bones rotted and crumbled to dust, a Bhikkhu compares this same body with it thus: “This body too is of the same nature, it will be like that, it is not exempt from that fate.” 7) Như vậy vị ấy sống quán niệm thân thể trên nội thân; hay sống quán niệm thân thể trên ngoại thân; hay sống quán niệm thân thể trên cả nội thân lẫn ngoại thân. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên thân thể; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên thân thể. Hay sống quán niệm tánh sanh diệt trên thân thể. “Có thân đây, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm thân thể trên thân thể—In this way he abides contemplating the body as a body internally, or he abides contemplating the body as a body internally, or he abides contemplating the body as a body both internally and externally. Or else he abides contemplating in the body its arising factors, or he abides contemplating in the body its vanishing factors, or he abides contemplating in the body both its arising and vanishing factors. Or else mindfulness that 'there is a body' is simply established in him to the extent necessary for bare knowledge and mindfulness. And he abides independent, not clinging to anything in the world. That too is how a Bhikkhu abides contemplating the body as a body. *** For more information, please see Seven types of contemplation on the impure body.

quán thông

To understand (penetrate) thoroughly.

quán thất

Căn phòng làm lễ quán đảnh của Mật Giáo—The building in which the esoterics practice the rite of baptism. ; (灌室) Nơi thiết lập đàn tràng bí mật, dùng những đạo cụ đặc biệt để cử hành nghi thức quán đính, chủ yếu chỉ cho đạo tràng quán đính Truyền pháp của Thai Mật (Mật giáo do tông Thiên thai Nhật bản truyền) Nhật Bản.

quán thế

To be the ace during the lifetime.

quán thế tự tại

Sovereign Regarder (not associated with sounds or cries)—See Quán Thế Âm.

Quán Thế Âm

(s: Avalokiteśvara, 觀世音): âm dịch là A Phược Lô Chỉ Để Thấp Phiệt Ra (阿縛盧枳低濕伐邏), cựu ý dịch là Quang Thế Âm (光世音), tân ý dịch là Quán Tự Tại (觀自在), Quán Thế Tự Tại (觀世自在), tên gọi vị Bồ Tát lấy hạnh nguyện cứu độ hết thảy chúng sanh với lòng từ bi của mình. Do vì ngài thường xuyên ban bố sự không sợ hãi cho mọi người nên được gọi là Thí Vô Úy (施無畏). Theo Phẩm Nhập Pháp Giới (入法界品) của Bát Thập Hoa Nghiêm Kinh (八華嚴經), ngài hiện trú tại Bổ Đà Lạc Sơn (s: Potalaka, 補陀洛山) thuộc miền Nam Ấn Độ. Trong Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經), v.v., ngài thường hầu bên đức Phật A Di Đà với Thế Chí Bồ Tát (s: Mahāsthāmaprāpta, 勢至). Hơn nữa, trong Đại Thanh Tịnh Quán Thế Âm Phổ Hiền Đà La Ni Kinh (大清淨觀世音普賢陀羅尼經), ngài thưòng hầu hạ bên đức Phật cùng với Phổ Hiền Bồ Tát (s: Samantabhadra, 普賢). Trong số các vị Bồ Tát của Đại Thừa, cùng với đức Văn Thù (s: Mañjuśrī, 文殊) có trí tuệ, Phổ Hiền hạnh nguyện rộng khắp, đức Quán Thế Âm là nổi tiếng nhất, thông qua Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, tín ngưỡng Quan Âm phổ biến rất rộng rãi và các hình tượng điêu khắc cũng như tranh vẽ có rất nhiều. Ngài được xem như là vị Phật có thân biến hóa rộng khắp, cho nên trong Quán Âm Kinh (觀音經) có dạy rằng ngài biến hóa thành 33 thân để cứu độ hết thảy chúng sanh; vì vậy ngài có nhiều tên gọi khác nhau như Thiên Thủ Thiên Nhãn (千手千眼, ngàn tay ngàn mắt), Thập Nhất Diện (十一面, 11 mặt), Chuẩn Đề (准胝), Như Ý Luân (如意輪), Bất Không Quyên Sách (不空羂索), Thanh Cảnh (青頸, cổ xanh), Hương Vương (香王), v.v. Ngoài ra còn có một số tên gọi khác như Thánh Quán Âm (聖觀音), Mã Đầu (馬頭, đầu ngựa), Bạch Y (白衣), Thủy Nguyệt (水月), Dương Liễu (楊柳), Đa La (多羅), Ngư Lam (魚籃), v.v. ; 觀世音; S: avalokiteśvara; J: kanzeon; T: chen-resi [sPzan-ras-gzigs]; cũng gọi là Quán Tự Tại, Quan Âm;|Một trong những vị Bồ Tát (s: bodhisattva) quan trọng nhất trong Ðại thừa (s: mahāyā-na). Có nhiều luận giải khác nhau về nguyên nghĩa tên Ngài. Có người hiểu »īśvara« là một »người nam« quán chiếu thế giới, có người hiểu »svara« là »Âm«, tức là vị Bồ Tát lắng nghe mọi tiếng thế gian.|Nhìn chung, Quán Thế Âm là thể hiện lòng Bi (s, p: karuṇā), một trong hai dạng của Phật tính. Vì vậy, có khi người ta đặt tên cho Ngài là bậc Ðại Bi (s: mahākaruṇika). Dạng kia của Phật tính là Trí huệ (Bát-nhã; s: prajñā), là đặc tính được Bồ Tát Văn-thù (s: mañjuśrī) thể hiện. Quán Thế Âm là vị Bồ Tát thể hiện nguyện lực của Phật A-di-đà (s: amitābha) và được xem như quyến thuộc của Ngài (Tịnh độ tông). Với lòng từ bi vô lượng, Quán Thế Âm thể hiện sức mạnh huyền diệu cứu giúp mọi chúng sinh quán tưởng đến Ngài lúc gặp hiểm nguy. Trong nhân gian, Ngài là vị bảo hộ tránh khỏi tai hoạ và hay được phụ nữ không con cầu tự.|Trong các loại tranh tượng về Ngài, người ta thấy có 33 dạng, khác nhau về số đầu, tay và các đặc tính. Thông thường ta thấy tượng Ngài có ngàn tay ngàn mắt, có khi 11 đầu. Trên đầu có khi có tượng của A-di-đà, xem như đặc điểm chính. Trên tay có khi thấy Ngài cầm hoa sen hồng, vì vậy Ngài cũng có tên là Liên Hoa Thủ (người cầm hoa sen; s: padmapāṇi) hay nhành dương liễu và một bình nước Cam-lộ (s: amṛta). Số tay của Ngài biểu hiện khả năng cứu độ chúng sinh trong mọi tình huống.|Trong tranh tượng với 11 đầu, thì Quán Thế Âm mang 9 đầu của chín vị Bồ Tát, một đầu của một vị Phật và cuối cùng là đầu của Phật A-di-đà. Cứ mỗi ba đầu tượng trưng là ba đặc tính: từ bi với chúng sinh khổ nạn, quyết tâm đối trị cái xấu, hoan hỉ với cái tốt. Theo một cách nhìn khác thì 11 đầu biểu tượng cho mười cấp của Thập địa và Phật quả.|Một thuyết khác giải thích tích của 11 đầu và nghìn tay: lúc Quán Thế Âm quán chiếu cảnh khổ của chúng sinh thì đầu Ngài đau xót vỡ ra từng mảnh. Phật A-di-đà xếp các mảnh đó lại thành 11 đầu. Xuất phát từ nguyện lực cứu độ mọi chúng sinh, thân Ngài mọc ra nghìn tay, trong mỗi tay có một mắt. Quán Thế Âm cũng hay được vẽ là kẻ cứu độ chúng sinh trong sáu nẻo Luân hồi (Lục đạo): trong súc sinh, Quán Thế Âm đầu ngựa, hoặc cưỡi sư tử; trong địa ngục, là kẻ có nghìn cánh tay; trong cõi A-tu-la, là kẻ có 11 đầu.||H 47: Quán Thế Âm Bồ Tát được trình bày trong hình này dưới một dạng ít thấy, đó là »Sư Tử Hống Quán Tự Tại« (獅子吼觀自在; s: siṃhanāda-lokeśvara). Dưới dạng này, Ngài là một dược sư, đặc biệt cứu độ những người bệnh phong cùi (e: lepra). Mắt Ngài đang nhìn bệnh nhân và mắt chính giữa (huệ nhãn) đang tập trung chẩn bệnh. Hai bảo vật bên vai cũng là những dụng cụ của một dược sĩ, bình sắc thuốc bên trái của Ngài và đao trừ tà (bệnh) bên phải. Sư tử Ngài cưỡi xuất phát từ một sự tích. Tương truyền rằng, có một con sư tử sinh được một con nhưng con chết ngay sau khi sinh. Ðau đớn quá nó rống lên thật to và nhờ tiếng rống uy dũng này, nó làm cho con nó sống lại. Vì thế mà có sự liên hệ giữa tên của Ngài (»giọng sư tử«) với nghề nghiệp của một dược sĩ »gọi người sống lại«.|Tại Trung Quốc, Việt Nam và Nhật, Quán Thế Âm có tên là Quan Âm, hay được trình bày dưới dạng »Phật Bà« Tại Tây Tạng, Quán Thế Âm (t: chenresi [spzan-ras-gzigs]) là »người bảo vệ xứ tuyết« và có ảnh hưởng trung tâm trong truyền thống Phật giáo tại đây. Người ta xem Ngài là cha đẻ của dân tộc Tây Tạng và nhờ Ngài mà Phật giáo được truyền bá qua nhà vua Tùng-tán Cương-bố (t: songten gampo, 620-649), được xem là một hiện thân của Quán Thế Âm. Ðạt-lại Lạt-ma và Cát-mã-ba (t: karmapa) cũng được xem là hiện thân của Ngài. Câu Man-tra OṂ MA-NI PAD-ME HŪṂ được xem là thuộc tính của Quán Thế Âm, là thần chú đầu tiên truyền đến Tây Tạng và ngày nay được tụng đọc nhiều nhất. Tranh tượng của Ngài được biểu diễn bằng một người có 11 đầu và ngàn cánh tay hoặc trong dạng có bốn tay, ngồi toà sen.

quán thế âm

Avalokitesvara (skt)—Quán Âm—Quan Âm—Quán Thế Tự Tại—Quán Tự Tại. (A) Tên của một ngôi chùa nổi tiếng tọa lạc trong quận Phú Nhuận, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được xây vào năm 1922 và được trùng tu lại từ năm 1964 đến 1969. Chùa là di tích cuối cùng của Bồ Tát Thích Quảng Đức (vị Pháp thiêu thân)—Name of a famous pagoda located in Phú Nhuận district, Saigon City, South Vietnam. The pagoda was built in 1922 and rebuilt from 1964 to 1969. It is the last memento of Thích Quảng Đức Bodhisattva (burnt himself for the sake of Buddhism). (B) Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển của Giáo Sư Soothill, chúng sanh khổ não mà nhất tâm xưng danh ngài, tức thời ngài quán sát âm thanh của họ (tầm thanh) và độ cho họ được giải thoát. Khởi thủy tượng của ngài là tượng nam, nhưng bây giờ thì thường là tượng nữ. Nghĩa xác thực của Quán Âm chưa được xác định. Quán Âm là bộ Tam Thánh với Phật A Di Đà, thường đứng bên trái của Phật Di Đà, nhưng có đến ba mươi ba hình thức khác nhau của ngài Quán Thế Âm, có thể là một con chim, một tịnh bình, một nhành liễu, một viên ngọc ma ni, hay ngàn mắt ngàn tai, vân vân; khi làm người trợ giúp những em bé thì ngài bồng trên tay một đức trẻ. Đảo Phổ Đà là trung tâm chính thờ phượng Đức Quán Âm bên Tàu, nơi đó ngài là người bảo hộ những kẻ khổ đau hoạn nạn, đặc biệt là những người đi biển. Phẩm 25 trong Kinh Pháp Hoa là phẩm Phổ Môn nói về công hạnh của Đức Quán Thế Âm. Thỉnh thoảng người ta lầm ngài Quán Âm với Phật A Di Đà hay Phật Di Lặc—Regarder of the world's sounds or cries—Goddess of Mercy—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Avalokitesvara is one who contemplates the world's sounds, originally represented as a male, the images are now generally those of a female figure. The meaning of the term is in doubt. Kuan-Yin is one of the triad of Amitabha, is represented on his left, and is also represented as crowned with Amida; but there are as many as thirty-three different forms of Kuan-Yin, sometimes with a bird, a vase, a willow wand, a pearl, a thousand eyes and hands, etc. and when as bestower of children, carrying a child. The island of P'u-T'o (Potala) is the chief center of Kuan-Yin worship, where she is the protector of all in distress, especially of those who go to sea. Chapter 25 of the Lotus Sutras devoted to Kuan-Yin, and is the principal scriptures of the cult. Kuan-Yin is sometimes confounded (bị lầm lẫn) with Amitabha and Maitreya. (C) Những danh hiệu của Ngài Quán Thế Âm—Various titles of Avalokitesvara Bodhisattva: 1) Quán Âm: See Quán Thế Âm. 2) Quán Tại Tát Đỏa: Kuan-Yin Bodhisattva. 3) Quán Thế Âm: Regarder or Observer of the world's sounds, or cries (sounds that enlighten the world). 4) Quán Thế Tự Tại: See Quán Tự Tại. 5) Quán Tự Tại: The Sovereign Beholder, not associated with sounds or cries. 6) Quang Thế Âm: See Quán Thế Âm. ** For more information, please see Avalokitesvara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

quán thế âm bồ tát

Avalokitesvara (skt)—Vị Bồ Tát được Phật tử Bắc tông thờ phượng—Kuan Shi Yin Bodhisattva—A Bodhisattva worshipped by the northern Buddhists. ** For more information, please see Quán Thế Âm in Vietnamese-English Section and Avalokitesvara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (觀世音菩薩) Quán thế âm, Phạm: Avalokitezvara. Hán âm: A phược lô chỉ đê thấp phạt la. Cũng gọi Quan thế âmbồ tát, Quán tự tại bồ tát, Quán thế tự tại bồ tát, Quán thế âm tự tại bồ tát, Hiện âm thanh bồ tát, Khuy âm bồ tát. Gọi tắt: Quán âm bồ tát. Tên gọi khác: Cứu thế bồ tát, Liên hoa thủ bồ tát, Viên thông đại sĩ. Vị bồ tát lấy lòng thương xót cứu giúp chúng sinh làm bản nguyện. Ngài còn có danh hiệu tiếng Phạm khác là Àryàvalokitezvara (Hán âm: A rị da bạt lô chỉ đê thước phược ra), nghĩa là Thánh Quán thế âm. Bồ tát này và bồ tát Đại thế chí là 2 vị Bồ tát đứnghầu đức Phật A Di đà ở thế giới Cực lạc phương Tây mà người đời gọi là Tây phương tam thánh. Nếu chúng sinh nào gặp nạn mà tụng niệm danh hiệu của Ngài thì Ngài liền quán sát tiếng cầu cứu ấy mà đến cứu giúp, cho nên gọi là Quán thế âm bồ tát. Lại vì đối với cảnh lí sự Ngài quán sát một cách thông suốt, tự tại vô ngại, cho nên cũng gọi là Quán tự tại bồ tát. Phẩm Quán thế âm bồ tát phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7 có nói rõ về việc làm lợí ích cho chúng sinh ở thế giới Sa bà của vị Bồ tát này như sau: Chúng sinh đang bị nạn khổ, một lòng xưng danh, bồ tát Quán thế âm tức thời quán sát âm thanh ấy, làm cho được giải thoát; nếu có mong cầu điều gì cũng đều khiến cho được như ý Bồ tát Quán thế âm có năng lực thị hiện các loại thân như thân Phật, thân tỉ khưu, than ưu bà tắc, thân trời, thân Dạ xoa... tùy theo nhu cầu mà cứu độ. Về chỗ ở của bồ tát Quán thế âm thì kinh Hoa nghiêm quyển 68 (bản dịch mới) nói là Ngài ở núi Bổ đà lạc tại Nam hải, cho nên chỗ ở của Ngài chính là tại thế giới Sa bà. Nhưng kinh Đại A di đà quyển thượng, kinh Vô lượng thọ quyển hạ và kinh Quán thế âm thụ kí thì cho rằng bồ tát này theo hầu đức Phật A di đà, thường ở thế giới Cực lạc phương Tây để giúp đức Phật A di đà trong việc giáo hóa, tức chỗ ở chính của vị Bồ tát này là Tịnh độ phương Tây. Mật giáo cũng cho rằng vị Bồ tát này là thị giả của Phật A di đà và bảo Bồ tát này và Phật A di đà vốn khác nhau về nhân quả, tức tìm về bản giác thì Bồ tát này chính là Phật Vô lượng thọ, nhưng vì bản thệ nên thị hiện hình tướng Bồ tát đại bi. Mật giáo còn an lập Bồ tát này ở Mạn đà la Thai tạng giới và trong các viện như viện Trung đài bát diệp, viện Quán âm, viện Biến tri, viện Thích ca, viện Văn thù, viện Hư không tạng, viện Tô tất địa... hình tượng, vật cầm đều khác. Nhưng kinh Nhất thiết công đức trang nghiêm vương và kinh Thanh tịnh Quán thế âm phổ hiền đà la ni thì cho rằng Bồ tát Quán thế âm là thị giả của đức Phật Thích ca. Về hình tượng của bồ tát Quán thế âm thì vì sự ứng hóa của Ngài không có nơi chốn nhất định và dưới nhiều hình thức, cho nên tướng trạng cũng rất sai khác, nhưng lấy Quán âm có 2 tay làm hình tướng chính, còn ngoài ra đều là do lực dụng thần biến của Ngài thị hiện một cách tự tại vô ngại. Chẳng hạn như ngài thị hiện các loại hình tượng có 1 đầu, 3 đầu, 5 đầu, cho đến nghìn đầu, vạn đầu, 8 vạn 4 nghìn đầu thước ca ra; hình tượng có 2 tay, 4 tay cho đến 1 vạn tay, 8 vạn 4 nghìn tay mẫu đà la; hình tượng có 2 mắt, 3 mắt cho đến 8 vạn 4 nghìn mắt báu thanh tịnh. Hóa thân của Ngài có: Thiên thủ thiên nhãn, Thập nhất diện, Chuẩn đề, Như ý luân, Bất không quyên sách, Thanh cảnh, Hương vương, A ma lai..., cũng đều có nghi quĩ riêng. Còn kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn thì nêu: Tứ diện đại bi Quán âm, Trừ bát nạn tiên Quán âm, Bá noa mục khư Quán âm, Đại phạm thân tướng Quán âm, Căn bản liên hoa đính Quán âm, Quảng đại minh vương ương câu xả Quán âm... Ngoài ra, Ma ha chỉ quán quyển 2, phần đầu nêu 6 loại Quán âm; Chư tôn chân ngôn cú nghĩa sao nêu 15 loại Quán âm, còn có 25 loại Quán âm, 33 loại Quán âm... Trong đó, có 1 số không phải căn cứ vào kinh quĩ mà có, mà là do sự hỗn hợp tín ngưỡng, phong tục dân gian của Trung Quốc và Nhật bản ở đời sau mà sinh ra. Tín ngưỡng Quán Thế Âm bắt đầu từ Ấn Độ, Tây Vực, sau được truyền đến nội địa Trung Quốc, Tây Tạng, Nam Hải, Nhật Bản... cho nên có rất nhiều thuyết về Quán thế âm. Tín ngưỡng Quán thế âm ở Tây tạng rất đặc biệt hưng thịnh, các vị Đạt lai lạt ma các đời đều được tôn xưng là Hóa thân của bồ tát Quán thế âm và chân ngôn của Ngài (Lục tự đại minh chú, tức là Án ma ni bát di hồng) đến nay vẫn còn được lưu truyền khắp cõi Tây Tạng. Từ sau khi kinh Chính pháp hoa được ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn thì tín ngưỡng Quán thế âm cũng bộc phát tại nội địa .Trung Quốc và các trứ tác hữu quan cũng rất nhiều. Từ đời Bắc Ngụy về sau, phong khí tạo tượng Quán âm càng thịnh, hiện nay ở các nơi như Đại đồng, Long môn, Đà sơn... còn rất nhiều di phẩm. Từ các đời Tùy, Đường về sau, theo đà truyền nhập của Mật giáo, các loại tượng Quán thế âm cũng được tạo lập rất nhiều, như trong số tượng Bồ tát ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng thì tượng Quán thế âm chiếm quá phân nửa. Rồi bắt đầu từ kinh Cao vương Quán âm của Tôn kính đức đời Nguyên Ngụy, các loại kinh Quán âm như: Kinh Quán thế âm bồ tát cứu khổ, kinh Quán thế âm thập đại nguyện, kinh Quán thế âm tam muội... cũng nối nhau xuất hiện. Tương truyền, đạo tràng bồ tát Quán thế âm thị hiện thuyết pháp là ở núi Phổ đà tại tỉnh Chiết Hiang, Trung Quốc. Cũng theo truyền thuyết thì Ngài đản sinh vào ngày 19 tháng 2 âm lịch, xuất gia ngày 19 tháng 9 và thành đạo vào ngày 19 tháng 6.

quán thế âm bồ tát bí mật tạng như ý luân đà la ni thần chú kinh

(觀世音菩薩秘密藏如意輪陀羅尼神咒經) Gọi tắt: Quán thế âm Bồ tát bí mật tạng thần chú kinh, Như ý luân đà la ni thần chú kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Thực Xoa Nan Đà dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này chia làm 6 phẩm: 1. Phẩm trừ phá nhất thiết ác nghiệp đà la ni. 2. Phẩm nhất thiết ái nhạo pháp. 3. Phẩm Hòa a già đà dược pháp linh nhân ái nhạo. 4. Phẩm Hàm dược. 5. Phẩm Nhãn dược. 6. Phẩm Hỏa án đà la ni dược. Kinh Như ý luân đà la ni do ngài Bồ Đề Lưu Chí dịch là bản dịch khác của kinh này.

quán thế âm bồ tát như ý ma ni đà la ni kinh

(觀世音菩薩如意摩尼陀羅尼經) Phạm: Padmacintàmaịidhàraịìsùtra. Gọi tắt: Như ý ma ni đà la ni kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Bảo tư duy dịch vào năm Thần long thứ 2 (706) đời đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này nói về công năng của các thần chú: Căn bản chú, Tâm chú, Tùy tâm chú..., đồng thời nêu ra phương pháp trị liệu các bịnh. Các kinh: Như ý luân đà la ni do ngài Bồ Đề Lưu Chí dịch, kinh Quán tự tạibồ tát như ý tâm đà la ni chú do ngài Nghĩa tịnh dịch, kinh Quán thế âmbồ tát bí mật tạng như ý luân đà la ni thần chú do ngài Thực xoa nan đà dịchlànhững bản dịch khác hoặc là kinh đồng loại của kinh này. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.3].

quán thế âm bồ tát phổ môn phẩm

(觀世音菩薩普門品) Phạm: Samantamukhaparivarto nàmàvalokitezvara-vikurvaịa-nirdeza Cũng gọi Quán âm kinh phổ môn phẩm, Quán thế âm kinh, Quán âm kinh, Phổ môn phẩm kinh, Phổ môn phẩm. Kinh, 1 quyển, được thu vào Đại chính tạng tập 9, là bản lưu hành riêng của phẩm Quán thế âmbồ tát phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7. Nội dung phẩm này nói về sự diệu dụng thị hiện rộng khắp của bồ tát Quán thế âm, được trình bày bằng thể văn trường hàng (văn xuôi)và kệ tụng (văn vần), nhưng phần kệ tụng trong các bản Hán dịch thì bản có bản không rất khác nhau. Phẩm kinh này có 3 loại bản Hán dịch: 1. Quang thế âm bồ tát phẩm thứ 23 kinh Chính pháp hoa, do Ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. 2. Quán Thế âm bồ tát Phổ môn phẩm thứ 25 kinh Diệu pháp liên hoa, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần. 3. Quán thế âmbồ tát Phổ môn phẩm thứ 24 kinh Thiêm phẩm pháp hoa, do ngài Xà na quật đa và Đạt ma cấp đa cùng dịch vào đời Tùy. Trong 3 loại bản dịch trên, kinh Chính pháp hoa hoàn toàn thiếu phần kệ tụng, kinh Diệu pháp liên hoa do ngài Cưu ma la thập dịch lúc đầu cũng không có kệ tụng, đến đời Tùy, ngài Xà na quật đa mới thêm vào, cho nên hoàn toàn giống với phần kệ tụng của kinh Thiêm phẩm pháp hoa. Phẩm Phổ môn đã được rút ra làm bản kinh lưu hành riêng rất sớm, như kinh Quang thế âm 1 quyển (rút ra từ kinh Chính pháp hoa, hoặc gọi là Quang thế âm phổ môn phẩm), kinh Quán thế âm 1 quyển (rút ra từ kinh Thiêm phẩm pháp hoa). Hai kinh này được nêu trong Xuất tam tạng kí tập quyển 4, nhờ đó ta mới biết được. Xưa nay ở Ấn Độ, Trung Á, Trung Quốc, Tây Tạng, Mông Cổ, Nhật Bản... tín ngưỡng Quán âm được lưu truyền rất rộng. Thời gần đây người ta còn phát hiện những mẩu vụn của phẩm Phổ môn viết bằng các thứ tiếng Hồi Hột, Mông Cổ, Thổ Nhĩ Kỳ... Theo sự nghiên cứu của các học giả cận đại, trong bản văn củaphẩm kinh này có vài ba chỗ dẫn dụng thuyết của kinh Phệ đà, cho nên giữa kinh này và tín ngưỡng Bà la môn có sự quan hệ rất sâu đậm, bởi thế, đa số học giả khi bàn về nguồn gốc của bồ tát Quán thế âm thường nói đến Thần Thấp bà của Bà la môn giáo. Ngoài ra, về các sách chú thích của phẩm kinh này thì có: Quán âm huyền nghĩa 2 quyển của ngài Trí Khải đời Tùy, Quán âm nghĩa sớ 2 quyển cũng của ngài Trí Khải. Quán âm huyền nghĩa kí 4 quyển, Quán âm nghĩa sớ kí 4 quyển của ngài Trí Lễ đời Tống. [X. Pháp kinh lục Q.2; Đại đường nội điển lục Q.2; Hồi hột văn Pháp hoa kinh Phổ môn phẩm chi đoạn phiến (Vũ điền hanh, Đông dương học báo)].

quán thế âm bồ tát thụ kí kinh

(觀世音菩薩授記經) Phạm: Avalokiteśvara-bod-hisattva-mahāsthāma-prāpta-bodhisattva-vyā-karaṇa-sūtra. Kinh, 1 quyển, do ngài Đàm Vô Kiệt dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 12. Nội dung kinh này trước hết thuật lại việc Phật trụ ở vườn Nai tại nước Ba la nại nói về cách dùng pháp vô y chỉ được tam muội Như huyễn chobồ tát Hoa đức tạng nghe, các bồ tát Di Lặc, Văn thù và 2 Đại sĩ Quán âm, Thế chí ở cõi nước An lạc đều được Tam muội này. Kế đến nói về nhân duyên phát tâm chính đạo củabồ tát Quán âm, Thế chí và cho biết sau khi đức Phật A di đà diệt độ, bồ tát Quán thế âm sẽ thành Đẳng chính giác, hiệu là Phổ quang công đức vương Như lai. Ngoài ra, kinh Đại A di đà quyển thượng, kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác quyển 3, kinh Bi hoa quyển 3, kinh Đại thừa bi phân đà lợi quyển 3... cũng có nói về việc cácbồ tát Quán âm Thế chí thành đạo, giống như ý thú của kinh này. Kinh Quán thế âm bồ tát Đắc đại thế chí bồ tát thụ kí (do ngài Trúc Pháp Hộ dịch), kinh Quán thế âm thụ kí (do ngài Nhiếp Đạo Chân dịch) và kinh Như huyễn tam ma địa vô lượng ấn pháp môn ( do ngài Thí Hộ dịch) là các bản dịch khác của kinh này.[X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.6. 10; Khai nguyên thích giáo lục Q.2,5,12,14].

quán thế âm mẫu

Tara (skt)—The sakti, or female energy of the masculine Avalokitesvara.

quán thế âm tín ngưỡng

(觀世音信仰) Chỉ cho tín ngưỡng tông giáo lấy Bồ tát Quán thế âm làm đối tượng thờ phụng. Theo phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa thì khi chúng sinh gặp tai ách khổ nạn, chỉ cần tụng niệm danh hiệu của bồ tát Quán thế âm thì tức thời Ngài quán sát âm thanh ấy mà đến cứu giúp. Trong các viên thông của 25 vị Thánh thì nhĩ căn viên thông của bồ tát Quán thế âm là thù thắng nhất. Ở Trung quốc, tín ngưỡng Quán thế âm cũng rất phổ cập. Việc dịch kinh có liên quan đến tín ngưỡng Quán thế âm ở Trung quốc cũng rất sớm, đầu tiên là năm Ngũ phụng thứ 2 (255) đời Ngô thời Tam quốc, ngài Chi Cương Lương tiếp đã dịch kinh Pháp hoa Tam muội (nay đã thất lạc). Kế đến, ngài Trúc Pháp Hộ dịch phẩm Quang thế âm phổ môn kinh Pháp hoa vào năm Thái khang thứ 7 (286) đời Tây Tấn; rồi lần lượt đến các ngài Cưu Ma La Thập dịch phẩm Quán thế âm bồ tát Phổ môn kinh Diệu pháp liên hoa vào năm Hoằng thủy thứ 8 (406) đời Diêu Tần; các ngài Xà Na Quật Đa và Đạt Ma Cấp Đa cùng dịch phần kệ tụng của phẩm Phổ môn kinh Thiêm phẩm pháp hoa vào niên hiệuNhân thọ năm đầu (601) đời Tùy, ngài Đàm vô kiệt dịch kinh Quán thế âmbồ tát thụ kí vào đời Lưu Tống ...Theo với đà tín ngưỡng kinh Pháp hoa nói nhiều về công đức của Bồ tát Quán thế âm được mở rộng và phổ cập, tín ngưỡng Quán thế âm cũng đi sâu vào nhân gian. Ngoài kinh Pháp hoa, kinh Vô lượng thọ do ngài Khang tăng khải dịch vào năm Gia bình thứ 4 (252) đời Tào Ngụy, kinh Quán Vô lượng thọ do ngài Cương Lương Da Xá dịch, phẩm Pháp giới kinh Hoa nghiêm do ngài Phật Đà Bạt Đà La dịch... cũng đều nói rộng về sự lợi ích mà bồ tát Quán thế âm ban bố cho chúng sinh. Kinh Thỉnh Quán thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni chú do ngài Trúc nan đề dịch vào đời Đông Tấn, kinh Thập nhất diện Quán thế âm thần chú do ngài Da Xá Quật Đa dịch vào thời Bắc Chu thì nói rõ về công đức và sự linh nghiệm của việc xướng niệm danh hiệu bồ tát Quán thế âm. Ngoài ra cũng có sự truyền bá rộng rãi Bát nhã ba la mật đa tâm kinh trong dân gian. Sự phiên dịch các kinh điển nói trên đã làm cho tín ngưỡng Quán thế âm phát triển sâu rộng. Cùng với phong trào này cũng đã xuất hiện một số lớn kinh điển phổ biến tín ngưỡng Quán thế âm bị ngờ là các kinh giả tạo, như kinh Cao vương Quán thế âm, kinh Quán thế âm thập đại nguyện, kinh Quán thế âm vịnh thác sinh, kinh Quán thế âmbồ tát vãng sinh tịnh độ bản duyên, kinh Quán thế âm sám hối trừ tội chú, kinh Quán thế âmbồ tát cứu khổ, kinh Quán thế âm sở thuyết hành pháp, kinh Quán thế âm Tam muội... Trong đó, kinh Cao vương Quán thế âm còn được gọi là kinh Tiểu Quán âm. Ông Phó lượng (374- 426) đời Tống căn cứ vào Quán thế âm ứng nghiệm truyện của ông Tạ phu soạn vào đời Đông Tấn mà viết thành Quang thế âm ứng nghiệm kí. Ông Trương diễn (tiền bán thế kỉ V) đời Tống soạn Tục quang thế âm ứng nghiệm kí. Ông Lục cảo (459-532) đời Tề soạn Hệ Quán thế âm ứng nghiệm kí... Căn cứ vào đó ta cóthể biết cái tình hình hưng thịnh của tín ngưỡng Quán thế âm trong xã hội Trung Quốc vào cuối đời Đông Tấn đến thời Lục triều. Sang đời Tùy, ngài Trí Khải y cứ vào phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa mà soạn Quán âm huyền nghĩa 2 quyển, Quán âm nghĩa sớ 2 quyển; rồi lại dựa theo kinh Thỉnh Quán thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni chú mà soạn Thỉnh Quán thế âm kinh sớ 1 quyển, Thỉnh Quán âm sám pháp 1 quyển. Mặt khác, Ngài Trí Khải còn tích cực dẫn dụng thuyết trong các kinhgiả như kinh Quán âm tam muội... để chỉ rõ cách nhìn và hiểu về tín ngưỡng Quán âm, làm khuôn mẫu cho việc giải thích phẩm Phổ môn của người sau. Ngài Tri Lễ soạn Quán âm huyền nghĩa kí 4 quyển, Quán âm nghĩa sớ kí 4 quyển là thêm phần kệ tụng, đồng thời chú thích 2 bộSớ của ngài Trí Khải. Đến đời Đường, ngài Bảo Tư Duy dịch kinh Quán thế âm bồ tát như ý ma ni đà la ni 1 quyển, Đà la ni niệm tụng pháp 1 quyển. Ngài Thực Xoa Nan Đà cũng dịch kinh Quán thế âm bồ tát bí mật tạng như ý luân đà la ni thần chú 1 quyển. Thời kì giữa đời Đường về sau, Mật giáo hưng thịnh, tín ngưỡng Quán âm cũng có sự phát triển khác nhau. Vào cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại, Ngài Tuệ Ngạc, vị tăng Nhật Bản, thỉnh được tượng Quán âm từ núi Ngũ Đài để thờ ở động Triều âm tại quần đảo Chu sơn, sáng lập viện Quán âm, gọi Chu sơn là núi Bổ đà lạc, là Thánh địa của bồ tát Quán thế âm.Cứ theo truyền thuyết, kinh Cao vương Quán thế âm vốn ngắn, vì số trang có ít, người ta muốn cho dài nên tăng thêm số trang, do đó mới có tạp chú xen kẽ trong đó. Khi tác phẩm Phật tổ thống kỉ được thành lập vào đời Nam Tống thì kinh Cao vương Quán thế âm đã trở thành 1 áng văn tạp nhạp lưu hành trong dân gian; tuy nhiên, tác giả của Phật tổ thống kỉ là ngài Chí bàn vẫn tin sâu và không nghi ngờ gì về sự không linh nghiệm của việc trì tụng kinh này. Trái lại, ngài Vân Thê Châu Hoành đời Minh thì cực lực bài bác kinh Cao vương Quán thế âm, nhưng từ Minh, Thanh, đến nay do chịu ảnh hưởng của kinh này, tín ngưỡng Quán âm lại càng tiến sâu hơn vào nhân gian. Từ đời Thanh về sau lại xuất hiện hình tượng Quán âm tống tử làm cho phạm vi tín ngưỡng Quán âm càng rộng thêm. Ngài Hoằng tán đời Thanh soạn Quán âm từ lâm tập 3 quyển. Năm Thuận trị 16 (1659) cư sĩ Chu khắc phục soạn Quán âm kinh trì nghiệm kí 2 quyển, nội dung ghi thuật 118 sự tích linh nghiệm, cuối quyển có phụ thêm Quán thế âm đại bi tâm đà la ni, kinh Bạch y đại bi ngũ ấn tâm đà la ni, Lễ Quán âm văn, Biện ngoa ngữ... Do tín ngưỡng Quán thế âm phổ cập nên chẳng những việc dịch kinh, soạn luận đã nhiều, mà ngay cả việc tạo tượng Quán thế âm cũng nhiều không thể kể xiết, nhất là sau đời Bắc Ngụy, phong trào tạo tượng càng hưng thịnh, cho đến nay, các nơi như Đại đồng, Long môn, Đà sơn... vẫn còn rất nhiều di phẩm. Từ các đời Tùy, Đường trở đi, do ảnh hưởng của Mật giáo hưng thịnh nên đã có các loại hình tượng Quán âm như: Thập nhất diện Quán âm, Thiên thủ Quán âm, Như ý luân Quán âm, Bất không quyên sách Quán âm, Chuẩn đề Quán âm... Rồi căn cứ vào sự cảm ứng của những người có tín tâm nên lại có các loại tượng như: Cáp lợi Quán âm (Quán âm ngồi trên con sò), Mã long phụ Quán âm (Quán âm vợ chàng họ Mã), Thủy nguyệt Quán âm (Quán âm ngồi trên sườn núi trong biển cả), Ngư lam Quán âm (Quán âm xách giỏ cá)... Trong số tượng Bồ tát ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng, thì tượng Quán thế âm chiếm hơn phân nửa. Ngoài kinh, luận, tạo tượng ra, các chùa viện lấy Quán thế âm làm đối tượng thờ phụng chủ yếu, hoặc tên các chùa viện đứng đầu bằng 2 chữ Quán Âm cũng không thể kể xiết.Ở Nhật Bản, xưa nay tín ngưỡng Quán thế âm cũng hưng thịnh. Cứ theo Phú tang lược kí quyển 3 thì Thiên hoàng Suy cổ (trị vì 592- 628) từng ban sắc khắc tượng Quán thế âm bằng gỗ thơm trầm thủy. Thái tử Thánh đức cũng tôn trí tượng Cứu thế Quán thế âm tại Mộng điện chùa Pháp Long và ở Kim Đường chùa Tứ Thiên Vương. Thiên hoàng Thánh vũ và Hoàng hậu Quang Minh triều Nại lương rất sùng tín Phật giáo, vua cho xây chùa Quốc Phần ni tự tại các nơi và an vị tượng Quán thế âm, tạo 177 pho tượng Quán thế âm, viết chép 177 quyển kinh Quán âm; đồng thời, ở các nơi tạo tượng Bất không quyên sách Quán âm, Thiên Thủ Quán âm, Thập nhất diện Quán âm... Tín ngưỡng Quán âm ở triều Bình an cũng rất phổ cập. Có rất nhiều tác phẩm quí giá điêu khắc, hội họa tượng Quán thế âm qua các triều đại, hiện nay có tới 450 tượng được xếp vào hàng quốc bảo. Ngoài ra, các trứ tác nói về sự linh nghiệm của Quán thế âm cũng nhiều như: Quán âm cảm thông truyện, Quán âm tân nghiệm lục, Trường cốc tự duyên khởi, Quán âm diệu ứng tập, Chuẩn đề Quán âm niệm tụng linh nghiệm kí đồ hội, Chuẩn đề bồ tát niệm tụng linh nghiệm kí, Lạc dương Quán âm linh nghiệm chân sao... Qua những điều trình bày trên đây, ta thấy được sự thịnh hành của tín ngưỡng Quán thế âm ở Trung quốc và Nhật bản, nhưng vì hòa nhập với Mật giáo nên tín ngưỡng Quán thế âm ở Trung quốc trở nên phức tạp. Sau lại kềt hợp với Đạo giáo mà phát triển thành tín ngưỡng Nương nương miếu. Tín ngưỡng nhân gian vốn sùng bái Quán thế âm như vị nữ thần, nên lâu ngày bèn hỗn hợp với tín ngưỡng Nương nương thần của Đạo giáo mà có danh xưng là Quán âm nương nương. [X. luận Đại trí độ Q.26, 30, 34; luận Du già sư địa Q.7; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.4; Pháp kinh lục Q.3; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2; Chư thuyết bất đồng kí Q.2, 3, 5, 7].

quán thế âm viên thông

Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Sáu, Đức Phật hỏi ngài Quán Thế Âm về viên thông và ngài Quán Thế Âm đã bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Tôi từ căn tai tu tam muội viên chiếu, duyên tâm, tự tại, bởi tu để tiếng động vào căn tai, vào rồi mất…, để được tam ma địa, thành tựu Bồ Đề. Bạch Thế Tôn! Đức Phật kia khen tôi khéo được pháp môn viên thông. Trong đại hội của Ngài, tôi được thọ ký là Quán Thế Âm. Bởi tôi quán nghe cả mười phương đều viên minh, nên tên Quán Thế Âm khắp cả mười phương thế giới—In th Surangama Sutra, book Six, the Buddha asked Avalokitesvara Bodhisattva about perfect penetration, and Avalokitesvara Bodhisattva reported to the Buddha as follows: “World Honored One! From the gateway of ear, I obtained perfect and illumining samadhi. The conditioned mind was at ease, and therefore I entered the appearance of the flow, and obtaining samadhi, I accomplished Bodhi. World Honored One! That Buddha, the Thus Come One, praised me as having obtained well the Dharma-door of perfect penetration. In the great assembly he bestowed a prediction upon me and the name, Kuan-Shih-Yin.

quán thế âm ứng nghiệm kí

(觀世音應驗記) Tác phẩm, 1 quyển, được thu vào Lục cổ dật Quán thế âm ứng nghiệm kí đích nghiên cứu do ông Mục Điền Đế Lượng soạn. Sách này do hiệu đính Quang thế âm ứng nghiệm kí 7 bài của Phó lượng (374- 426), Tục Quang thế âm ứng nghiệm kí 10 bài của Trương diễn (sống vào tiền bán thế kỉ V) và Hệ Quán thế âm ứng nghiệm kí 69 bài của Lục cảo (459- 532) mà thành. Cứ theo lời tựa của ông Phó lượng thì ông Tạ phu đời Đông Tấn có soạn Quán thế âm ứng nghiệm truyện hơn 10 bài đem tặng cho thân phụ Phó lượng là ông Phó viện. Nhưng vào năm Long an thứ 3 (399) xảy ra loạn Tôn ân, bộ ứng nghiệm truyện này bị thất lạc, Phó lượng bèn dựa vào trí nhớ mà soạn Ứng nghiệm truyện kí 7 bài.

quán thể

Nature of visualization.

quán thọ thị khổ

xem Bốn niệm xứ.

quán thụ

(觀樹) Quán cây Bồ đề. Đức Thế Tôn sau khi thành đạo, rời tòa Kim cương mà quán cây Bồ đề. Pháp hoa huyền tán quyển 4 phần cuối (Đại 34, 729 thượng) nói: Đức Phật thành đạo rồi, đi dạo dưới gốc cây, nhìn cây mà vui mừng vì đạo quả của mình đã viên thành, đi dạo mà nghĩ đến việc làm lợi ích cho chúng sinh; lại nhìn cây mà tâm lắng vào diệu lí, đi dạo mà nghĩ đến việc giáo hóa quần sinh; lại nhìn cây mà nghĩ đến bóng mát che bốn loài, đi dạo mà nghĩ việc ban phát phúc tuệ. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa].

quán thụ (thọ)

(A) Quán cây Trí Tuệ như Đức Phật Thích Ca khi thành đạo rồi thì từ tòa Kim Cương trở dậy quán cây Bồ Đề (Ngài nói rằng ta mới ngồi ở đạo tràng cũng đã từng quán thụ hay quán cây Bồ Đề)—To contemplate the tree of knowledge, as Sakyamuni is said to have after his enlightenment. (B) Theo Kinh Niệm Xứ, Đức Phật dạy về 'quán cảm thọ' như sau—According to the Satipatthanasutta, the Buddha taught about the 'contemplation of feeling' as follows: 1) Nầy các Tỳ Kheo, như thế nào là Tỳ Kheo sống quán niệm cảm thọ trên các cảm thọ? Nầy các Tỳ Kheo, ở đây Tỳ Kheo khi cảm giác lạc thọ, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khoái lạc.” Mỗi khi có một cảm thọ đau khổ, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ đau khổ.” Mỗi khi có một cảm thọ không khoái lạc cũng không đau khổ, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ không khoái lạc cũng không đau khổ.” Khi có một cảm thọ khoái lạc vật chất, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khoái lạc vật chất.” Khi có một cảm thọ khoái lạc tinh thần, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khoái lạc tinh thần.” Khi có một cảm thọ khổ đau vật chất, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khổ đau vật chất.” Khi có một cảm thọ khổ đau tinh thần, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khổ đau tinh thần.” Khi có một cảm thọ vật chất không khoái lạc cũng không khổ đau, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ vật chất không khoái lạc cũng không đau khổ.” Khi có một cảm thọ tinh thần không khoái lạc cũng không khổ đau, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ tinh thần không khoái lạc cũng không khổ đau.”—And how, Bhikkhus, does a Bhikkhu abide contemplating feelings as feelings? Here, when feeling a pleasant feeling, a Bhikkhu understands: “I feel a pleasant feeling;” when feeling a painful feeling, he understands: “I feel a painful feling;” when feeling a neither-painful-nor-pleasant feeling, he understands: “I feel a neither-painful-nor-pleasant feeling.” When feeling a worldly pleasant feeling, he understands: “I feel a worldly pleasant feling;” when feeling an unworldly pleasant feling, he understands: “I feel an unworldly pleasant feeling;” when feeling a worldly painful feeling, he understands: “I feel a worldly painful feeling;” when feeling an unworldly painful feeling, he understands: “I feel an unworldly painful feeling;” when feeling a worldly neither-painful-nor pleasant feeling, he understands: “I feel a worldly neither-painful-nor-pleasant feeling;” when feeling an unworldly neither-painful-nor-pleasant feeling, he understands: “I feel an unworldly neither-painful-nor-pleasant feeling.” 2) Như vậy vị ấy sống quán niệm cảm thọ trên các nội thọ; hay sống quán niệm cảm thọ trên các ngoại thọ; hay sống quán cảm thọ thể trên cả nội thọ lẫn ngoại thọ. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên các thọ; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên các thọ. Hay sống quán niệm tánh sanh diệt trên các thọ. “Có thọ đây, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm cảm thọ trên các cảm thọ—In this way he abides contemplating feelings as feelings internally, or he abides contemplating feelings as feelings externally, or he abides contemplating feelings as feelings both internally and externally. Or else he abides contemplating in feelings their arising factors, or he abides contemplating in feelings their vanishing factors, or he abides contemplating in feelings both their arising and vanishing factors. Or else mindfulness that 'there is feeling' is simply established in him to the extent necessary for bare knowledge and mindfulness. And he abides independent, not clinging to anything in the world. That is how a Bhikkhu abides contemplating feelings as feelings.

quán thủ

(貫首) Cũng gọi Quán chủ, Quản chủ. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật Bản. Quán là quê quán; Thủ là đầu, trước hết. Quán thủ vốn chỉ cho người mà tên được ghi ngay ở đầu cuốn sổ hộ tịch, về sau được dùng để chỉ cho lãnh tụ của 1 tông 1 phái. Tông Thiên Thai Nhật Bản sử dụng cách gọi này sớm nhất để chỉ cho vị Tọa chủ. Nay thì từ ngữ này được dùng một cách rộng rãi để tôn xưng các vị Trụ trì của các Đại bản sơn và các chùa lớn của mỗi tông. [X.bài tựa Hiếu kinh (Khổng an quốc); Loại tụ danh vật khảo Q.124].

quán triệt

To penetrate thoroughly

quán trí

Trí tuệ đạt được qua thiền định—Wisdom obtained from contemplation.

Quán tuế

(丱歲): thưở bé, tuổi nhỏ. Quán (丱) có nghĩa là bện tóc làm hai múi hai bên, nên quán tuế (丱歲) là tuổi bện tóc thành hai múi, tuổi để tóc chỏm. Như vậy, tuổi đồng sấn (童齔) còn trẻ nhỏ hơn quán tuế vài tuổi. Như trong bài Hậu Chu Minh Uy Tướng Quân Lương Công Thần Đạo Bi (後周明威將軍梁公神道碑) của thi sĩ Dương Quýnh (楊炯, 650-695) nhà Đường có câu: “Quán tuế đằng phương, thiều niên siêu ái (丱歲騰芳、髫年超靄, tuổi nhỏ hiển đạt, lớn lên siêu quần).” Trong Ngự Tuyển Ngữ Lục (御選語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1319) có đoạn rằng: “Sư, Vĩnh Gia nhân, tánh Đới thị; quán tuế xuất gia, biến thám Tam Tạng, tinh Thiên Thai Chỉ Quán viên diệu pháp môn (師、永嘉人也、姓戴氏、丱歲出家、遍探三藏、精天台止觀圓妙法門, sư người vùng Vĩnh Gia, họ là Đới; tuổi nhỏ xuất gia, tìm khắp Tam Tạng, tinh thông pháp môn mầu nhiệm tròn đầy của Thiên Thai Chỉ Quán).” Hơn nữa, trong Tục Đăng Chánh Thống (續燈正統, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1583) quyển 32 cũng có đoạn: “Trường Sa Phủ Quy Sơn Ngũ Phong Như Học Thiền Sư, Lâm Đồng Nhậm thị tử, quán tuế thất hỗ, tùng Ngũ Đài Thiên Tề trĩ phát, viên cụ ư Trừng Luật Sư (長沙府溈山五峰如學禪師、臨潼任氏子、丱歲失怙、從五臺天齊薙髮、圓具於澄律師, Thiền Sư Như Học ở Quy Sơn Ngũ Phong, Phủ Trường Sa, con nhà họ Nhậm ở Lâm Đồng, tuổi nhỏ đã mất cha, xuống tóc xuất gia với Thiên Tề ở Ngũ Đài Sơn, thọ Cụ Túc giới với Trừng Luật Sư).”

quán tuệ

Đem trí tuệ quán chân lý, hay lấy trí tuệ quán sát thấu hiểu được chân lý—The wisdom which penetrates to ultimate reality.

quán tác

(觀作) Cũng gọi Nội đàn, Tâm đàn. Trong Mật giáo, tác pháp Mạn đồ la được chia làm 2 loại: Họa tác (vẽ) và Quán tác (quán tưởng). Mạn đồ la được quán tưởng ở trong tâm, gọi là Quán tác. Đại nhật kinh nghĩa thích quyển 12 (Vạn tục 36, 451 hạ) nói: Nếu hành giả trải tòa ngồi Mạn đồ la của Bản tôn ở trong nội tâm hoặc ở bên ngoài. Trong đó, trải ở trong nội tâm tức là Quán tác. Pháp quán tác là quán tưởng chữ chủng tử thành hình Tam muội da, hình Tam muội da này tức là Bản tôn. [X. phẩm Cúng dường nghi thức trong kinh Đại nhật Q.7]. (xt. Nội Ngoại Mạn Đồ La).

quán tâm

Citta-nupassana (p). (A) Quán sát tâm tính. Tâm là chủ muôn pháp, không có một sự nào ở ngoài tâm cả—Contemplation of the mind—Mental contemplation, contemplation of all things as mind. (B) Theo Kinh Niệm Xứ, Đức Phật dạy về 'quán tâm' như sau—Accroding to the Satipatthanasutta, the Buddha taught about 'contemplation of mind' as follows: 1) Nầy các Tỳ Kheo, như thế nào là Tỳ Kheo sống quán niệm tâm thức nơi tâm thức? Nầy các Tỳ Kheo, mội khi nơi tâm thức có tham dục, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang có tham dục. Mỗi khi tâm thức không có tham dục, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình không có tham dục. Mỗi khi trong tâm thức mình có sân hận, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang có sân hận. Mỗi khi tâm thức của mình không có sân hận, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang không có sân hận. Mỗi khi tâm thức mình có si mê, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang si mê. Mỗi khi tâm thức của mình không có si mê, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang không có si mê. Mỗi khi tâm thức mình có thu nhiếp, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang có thu nhiếp. Mỗi khi tâm thức mình tán loạn, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang tán loạn. Mỗi khi tâm thức mình trở thành khoáng đạt, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang trở thành khoáng đạt. Mỗi khi tâm thức mình trở nên hạn hẹp, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang trở nên hạn hẹp. Mỗi khi tâm thức mình đạt đến trạng thái cao nhất, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang đạt đến trạng thái cao nhất. Mỗi khi tâm thức mình không đạt đến trạng thái cao nhất, vị ấy ý thức rằng tâm thức mình không đạt đến trạng thái cao nhất. Mỗi khi tâm thức mình có định, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang có định. Mỗi khi tâm thức mình không có định, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang không có định. Mỗi khi tâm thức mình giải thoát, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang giải thoát. Mỗi khi tâm thức mình không có giải thoát, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang không có giải thoát—And how, Bhikkhus, doeas a Bhikhu abide contemplating mind as mind? Here a Bhikhu understands mind affected by lust as mind affected by lust, and mind unaffected by lust as mind unaffected by lust. He understands mind affected by hate as mind affected by hate, and mind unaffected by hate as mind unaffected by hate. He understands mind affected by delusion as mind affected by delusion, and mind unaffected by delusion as mind unaffected by delusion. He understands contracted mind as contracted mind, and distracted mind as distracted mind. He understands exalted mind as exalted mind, and unexalted mind as unexalted mind. He understands surpassed mind as surpassed mind, and unsurpassed mind as unsurpassed mind. He understands concentrated mind as concentrated mind, and unconcentrated mind as unconcentrated mind. He understands liberated mind as liberated mind, and unliberated mind as unliberated mind. 2) Như vậy vị ấy sống quán niệm tâm thức trên nội tâm; hay sống quán niệm tâm thức trên cả nội tâm lẫn ngoại tâm. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên tâm thức; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên tâm thức. Hay sống quán niệm tánh sanh diệt trên tâm thức. “Có tâm đây, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm tâm thức trên các tâm thức—In this way he abides contemplating mind as mind internally, or he abides contemplating mind as mind externally, or he abides contemplating mind as mind both internally and externally. Or else he abides contemplating in mind its arising factors, or he abides contemplating in mind its vanishing factors, or he abides contemplating in mind both its arising and vanishing factors. Or else mindfulness that 'there is mind' is simply established in him to the extent necessary for bare knowledge and mindfulness. And he abides independent, not clinging to anything in the world. That is how a Bhikkhu abides contemplating mind as mind. ; (觀心) Quán chiếu tâm mình để thấy rõ bản tính của tâm. Đặc biệt tông Thiên thai hay dùng từ Quán tâm, như Nhất tâm tam quán, Nhất niệm tam thiên... đều là những dụng ngữ có liên quan đến quán tâm. Tu Nhất tâm tam quán tức là đối với một niệm vọng tâm của chính mình, cùng lúc phải quán nó là Giả, là Không, là Trung. Đối tượng của sự quán sát là Tâm, Phật và Chúng sinh, trong đó, tự quán tâm mình là dễ dàng nhất và cũng là quan trọng nhất. Bởi vì Tâm là gốc rễ của muôn vật, mà cũng là cội nguồn của mê vọng, cho nên cần phải quán xét bản tính của tâm mình. Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa quyển 2, phần đầu (Đại 33, 696 thượng) nói: ... Những pháp được trình bày ở trên đâu có khác với tâm? Nhưng vì pháp chúng sinh thì quá rộng, mà Phật pháp thì lại quá cao siêu, cho nên đối với những người mới học là rất khó. Còn tâm, Phật và chúng sinh thì cả 3 đều không sai khác, thế nên chỉ cần tự quán tâm mình thì dễ dàng hơn. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.7, phần đầu; Ma ha chỉ quán Q.5, phần đầu; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 3].

quán tâm bản tôn sao

(觀心本尊抄) Gọi đủ: Như lai diệt hậu ngũ ngũ bách tuế thủy quán tâm bản tôn sao. Gọi tắt: Bản tôn sao, Quán tâm sao. Tác phẩm, 1 quyển, do sư Nhật liên người Nhật bản soạn vào năm 1273, được thu vào Đại chính tạng tập 84. Đây là Thánh điển tối quan trọng của tông Nhật liên Nhật bản, cũng là bộ sách trọng yếu nhất trong Tam đại bộ, Ngũ đại bộ. Luận điểm trong sách này có các thuyết như sau: -Thuyết minh về Bản thể luận, tức sự tương quan của Thập pháp giới. -Nêu rõ sự thể nghiệm tông giáo của thuyết Tín tâm thành Phật. -Định vững sự tuyệt đối của đức Phật bản tôn. -Luận về thuyết Mạt pháp trong kinh Pháp hoa là chính đáng. -Giáo phán luận nêu rõ sự thống nhất tất cả các tông giáo qua 3 giai đoạn. -Đề xướng nước Đại nhật bản là trung tâm của cõi Diêm phù đề. Sách chú thích tác phẩm này có: Bản tôn sao kiến văn của Nhật thường, Bản tôn sao lược yếu của Nhật huy...

quán tâm giác mộng sao

(觀心覺夢鈔) Gọi tắt: Giác mộng sao. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Lương Biến người Nhật Bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 71.Đây là sách nhập môn của Duy thức học. Quán tâm có nghĩa là quán xét tất cả sự vật bên ngoài sau khi đã chia lìa với tâm thì không còn tồn tại; nhờ sự quán tâm duy thức này mà người ta có thể từ trong mê mộng giác ngộ chân lí, cho nên gọi là Giác mộng. Nội dung sách này chia làm 13 chương, giải thích về giáo nghĩa pháp tướng và bàn rõ về sự quan hệ giữa tâm và sự vật ngoài tâm, đồng thời, thuyết minh nhờ lí duy thức mà đạt được khai ngộ. Tác giả Lương Biến đã dung hợp Duy thức với các giáo nghĩa khác của Đại thừa mà soạn thành sách này.

quán tâm huyền xu

(觀心玄樞) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Vĩnh Minh Diên Thọ (904-975) soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 114. Trong sách này, ngài Diên Thọ đã đứng trên lập trường của Thiền tông mà bàn về huyền chỉ quán tâm của Phật giáo, cho rằng nếu người ta muốn thoát khỏi sự trói buộc của các trần cảnh, chấm dứt phân biệt, thực hành đầy đủ 6 Ba la mật: Bố thí, trì giới..., hộ trì chính pháp, hiểu rõ pháp tướng, thấu suốt 4 đế, làu thông Tam tạng, hàng phục 4 ma, biện biệt nhơ sạch...thì tất cả đều phải do pháp quán tâm mới thành tựu được. Nếu không quán tâm thì hết thảy đều hỗn loạn điên đảo, như 96 thứ ngoại đạo sai lầm. Cuối quyển có phụ thêm bài kệ biền ngẫu theo thể văn tứ lục(4 chữ, 6 chữ), nguyện sinh Duy tâm tịnh độ. Sách này kế thừa tư tưởng thuộc hệ quán tâm của tông Thiên thai... viện dẫn các đoạn văn có liên quan đến quán tâm trong các kinh điển, nói rõ các yếu nghĩa quán tâm như: Tâm tức Đại thừa, Tâm tức Phật tính, Tâm nhiếp chư giáo.

quán tâm luận

(觀心論) I. Quán Tâm Luận. Cũng gọi Phá tướng luận. Tác phẩm, 1 quyển, tương truyền do Tổ Bồ Đề Đạt Ma soạn vào đời Lương, cũng có thuyết nói do ngài Thần Tú soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 85. Nội dung luận này nói về pháp quán tâm, dùng 1 pháp quán tâm bao nhiếp hết các pháp, rất đơn giản khái quát. Sách này là bản khác của Quán tâm luận (Đạt ma Đại sư Quán tâm luận) trong Thiền môn toát yếu quyển thượng, Phá tướng luận trong Thiếu thất lục môn tập. II. Quán Tâm Luận. Cũng gọi Tiễn nhũ luận. Tác phẩm, do ngài Trí Khải soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 46.Nội dung lấy quán tâm làm chính, bàn rõ về 4 loại Tam muội. Toàn sách gồm 36 bài kệ, chia làm 10 chương: 1. Nói rõ vềgiáolí viên diệu bất khả thuyết. 2. Nói rõ việc không thể rơi vào lí giáo mà mê lầm về Kiến hoặc và Tư hoặc. 3. Thuyết minh do trình độ giác ngộ chân lí có cạn, sâu khác nhau mà chia làm 4 giáo. 4. Nói rõ về phạm vi của 4 loại Tam muội để tìm hiểu giáo lí. 5. Thuyết minh về 25 phương tiện. 6. Thuyết minh về các cảnh hỗn tạp phát khởi khác nhau. 7. Quán xét 1 cảnh mà thuật theo Thập thừa quán pháp. 8. Nói rõ nếu thành tựu 10 pháp quán thì liền chứng được trụ vị của các Địa. 9. Nói về sự khác nhau của việc khởi tác dụng hóa độ chúng sinh. 10. Nói rõ về pháp môn Tự độ độ tha (độ mình và độ người khác).

quán tâm luận sớ

(觀心論疏) Tác phẩm, 5 quyển, do ngài Quán Đính giảng vào đời Tùy, ngài Trí Việt soạn tập, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Đây là sách chú thích bộ luận Quán tâm của Đại sư Thiên thai Trí Khải, đồng thời cũng là trứ tác nổi tiếng y cứ vào tư tưởng Ma ha chỉ quán để phát huy ý chỉ của luận Quán tâm. Nội dung trước hết chia khoa luận Quán tâm làm ba phần Tựa, Chính tông và Lưu thông. Phần tựa chiếm hết quyển 1 và nửa quyển 2, còn toàn bộ từ đó trở xuống là phần Chính tông, gồm 10 chương, trình bày bốn loại Tam muội, 25 phương tiện, 10 loại cảnh giới, 1 tâm 3 trí, 10 pháp thánh thừa, phá khắp các pháp, không khởi đạo thuận ái pháp..., sau cùng kết thúc bằng việc giải thích nghĩa Lục tức.

quán tâm nhị bách vấn

(觀心二百問) Gọi đủ: Pháp trí di biên quán tâm nhị bách vấn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tri Lễ giảng vào đời Tống, ngài Kế Trung biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Vào thời Triệu Tống, nhân vấn đề thật, giả liên quan đến hai bản Kim quang minh kinh huyền nghĩa Quảng và Lược của ngài Thiên thai Trí Khải mà gây ra cuộc tranh luận kéo dài suốt 7 năm giữa hai phái Sơn gia và Sơn ngoại. Đến năm Cảnh đức thứ 3 (1006), ngài Tri lễ gom góp văn thư qua lại trước sau 10 lần giữa 2 phái mà soạn thành Thập nghĩa thư.Năm sau, ngài Khánh Chiêu cũng soạn Đáp thập nghĩa thư để đối khángThập nghĩa thư.Ngài Tri Lễ bèn soạn sách này (Quán tâm nhị bách vấn), dùng 10 khoa của Thập nghĩa thư làm cơ sở, đặt ra 198 câu hỏi để vặn lại, từ đó, cuộc luận chiến được kết thúc. Tất cả sách vở được soạn trong 7 năm tranh luận, hiện nay chỉ còn Thập nghĩa thư và Quán tâm nhị bách vấn, cho nên hai sách này đã trở thành những tư liệu quan trọng để nghiên cứu về tông Thiên thai đời Tống.

quán tâm thích

(觀心釋) Một trong 4 phương thức giải thích mà Đại sư Trí Khải tông Thiên thai sử dụng để giải thích câu văn kinh Pháp hoa. Tức là lấy pháp nghĩa do đức Như lai nói làm đối cảnh để quán tâm, nhờ quán xét tâm mình một cách sâu rộng mà vào được diệu lí thực tướng, gọi là Quán tâm thích. Pháp hoa kinh văn cú quyển 1, phần đầu (Đại 34, 3 hạ) nói: Quán tâm thích nghĩa là quán xét tất cả giáo nghĩa chân thực do đức Như lai nói trong Thế giới đàn đều là pháp nhân duyên sinh, đó là quán chung; nhân duyên tức Không, tức Giả, đó là quán riêng; hai quán này thuộc về hai đạo phương tiện để vào Trung đạo Đệ nhất nghĩa đế. [X. Pháp hoa kinh khoa chú Q.1]. (xt. Tứ Chủng Thích Nghĩa).

quán tâm thích hoa nghiêm kinh đề

(觀心釋華嚴經題) Dùng Nhất tâm pháp giới để giải thích đề kinh Hoa nghiêm. Tên đầy đủ của kinh Hoa nghiêm là: Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Hoa Nghiêm kinh sớ dùng Nhất tâm pháp giới để giải thích từng chữ trong 7 chữ của đề kinh Hoa nghiêm. Cách giải thích như sau: 1. Đại là thể của tâm: Đại nghĩa là thường hằng, trúm khắp; Thể là thể của tâm. Thể của tâm chứa đựng pháp giới, xứng tính chu biến, bình đẳngrộng lớn, không có đổi dời, cũng không có ngằn mé, cho nên gọi ‘Đại là thể của tâm. 2. Phương là tướng của tâm: Phương tức là phương pháp; Tướng tức là quĩ trì. Nghĩa là vô biên pháp tướng, hằng sa tính đứcđều do1 tâm duy trì dung nhiếp, vì thế gọi Phương là tướng của tâm. 3. Quảng là dụng của tâm: Quảng là rộng lớn, dụng là nghiệp dụng. Nghĩa là nghiệp dụng của tâm rộng lớn vô biên, có năng lực sinh ra muôn pháp và ứng dụng vô tận, vì thế gọi Quảng là dụng của tâm. 4. Phật là quả của tâm: Phật tức bậc giác ngộ; Quả tức là quảbồ đề.Nghĩa là bậc lìa các phiền não, rõ biết muôn pháp, đầy đủ tất cả trí, đượcbồ đề vô thượng,bậc chứng đắc quả bồ đề của tâm mình, quả này chẳng phải được từ bên ngoài, cho nên gọi Phật là quả của tâm. 5. Hoa là nhân của tâm: Hoa tức ví dụ cho muôn hạnh công đức; Nhân tức là hạnh. Nghĩa là nhân hoa của muôn hạnh đều là sự khơi mở giác ngộ của tâm, vì thế gọi Hoa là nhân của tâm. 6. Nghiêm là công của tâm: Nghiêm tức trang nghiêm; Công tức công dụng. Nghĩa là dùng nhân hoa muôn hạnh để tô điểm cho quả thể pháp thân, đều là công vận dụng nhất tâm, cho nên gọi Nghiêm là công của tâm. 7. Kinh là giáo của tâm: Kinh tức ngôn giáo năng thuyên; Giáo tức ngôn thượng. Nghĩa là 1 câu 1 lời, các pháp các lí, đều có thể hoằng hóa tất cả, đều là thuyên lượng bao quát của tâm, vì thế gọi Kinh là giáo của tâm.

quán tâm thực pháp

(觀心食法) Cũng gọi Quán thực pháp. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trí Khải giảng vào đời Tùy, được thu vào Vạn tục tạng tập 99. Sách này dạy người dùng pháp quán mà thụ thực (tức dùng pháp quán làm thức ăn), trở thành Bát nhã thực, hiển bày chỉ thú của Tam quán trung đạo, đồng thời, dẫn lời trong kinh Tịnh danh (Vạn tục 99, 55 thượng): Chẳng phải có phiền não, chẳng phải lìa phiền não, chẳng phải nhập định tâm, chẳng phải khởi định tâm, đó gọi là Thực pháp. [X.chương 4 trong Thiên thai giáo học sử (Tuệ nhạc)].

quán tâm tụng kinh pháp kí

(觀心誦經法記) Cũng gọi Quán tâm tụng kinh kí. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trí Khải giảng vào đời Tùy, ngài Trạm Nhiên ghi thuật vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 99. Sách này dạy người khi giảng nói, đọc tụng kinh điển, phải thanh tịnh ba nghiệp thân khẩu ý, phối hợp với 3 quán Không Giả Trung, vận dụng 2 pháp Từ bi và lấy hướng tới Đệ nhất nghĩa không làm chỉ thú.[X.chương 3 trong Thiên thai giáo học sử (Tuệ nhạc)].

quán tâm vô thường

xem Bốn niệm xứ.

quán tướng thuộc luận

(觀相屬論) Phạm: Sambandha- parìkwa. Cũng gọi Tương thuộc quán sát luận. Luận, 1 quyển, do Luận sư Pháp xứng người Ấn độ soạn vào khoảng thế kỉ thứ VI, VII, là 1 trong 7 bộ luận về Nhân minh. Nội dung luận này nói rõ về sự quan hệ tương thuộc giữa các khái niệm kiến lập luận thức. Cuối sách có phụ thêm phần chú thích do chính tác giả tự soạn. Chế độ học tập tại 3 ngôi chùa lớn của phái Cách lỗ thuộc Phật giáo Tây tạng qui định: Trong chương trình bước đầu học tập Nhân minh phải lấy sách này làm gốc để tìm hiểu nguyên tắc cơ bản về mối quan hệ giữa các khái niệm.

quán tưởng

Dùng cái tâm năng quán để quán cái cảnh sở quán, khi quán thành thì niệm khởi, cảnh liền hiện, như quán mặt trời thì niệm khởi thấy ban đêm như ban ngày. ; Contemplation—See Thiền. (I) Ý nghĩa của quán tưởng—The meanings of contemplation. 1) Quán tưởng là phương pháp Phật tử áp dụng hằng ngày, luyện cả thân tâm, đem lại sự hòa hợp giữa tinh thần và vật chất, giữa con người và thiên nhiên: Contemplation is the daily practice of Buddhist adepts for training the body and mind in order to develop a balance between Matter and Mind, between man and the universe. 2) Quán tưởng và niệm hồng danh một vị Phật trong tâm, đặc biệt là Phật A Di Đà—To contemplate—To focus—To visualze—To meditate and think—To contemplate Buddha, especially Amitabha, in the mind and repeat his name. 3) Quán tưởng là tập trung tư tưởng để quan sát, phân tích và suy nghiệm một vấn đề, giúp cho thân an và tâm không loạn động, cũng như được chánh niệm. Quán tưởng không phải là chuyện đơn giản. Thật vậy, trong thế giới máy móc hiện đại hôm nay, cuộc sống cuồng loạn làm tâm trí chúng ta luôn bị loạn động với biết bao công chuyện hằng ngày khiến cho chúng ta mệt mỏi về thể xác lẫn tinh thần, nên việc làm chủ thân mình đã khó, mà làm chủ được tâm mình lại càng khó hơn: Contemplation can fundamentall be defined as the concentration of the mind on a certain subject, aiming at realizing a tranquil body, and an undisturbed mind as a way to perform right mindfulness. Contemplation is not a simple matter. In the world today, based on mechanical and technological advances, our life is totally distrubed by those daily activities that are very tiresome and distressing for mastering; thus, the body is already difficult and if we want to master the mind, it is even more difficult. (II) Trước khi quán tưởng—Before contemplation: See Thiền Định (IV). (III) Những phương pháp quán tưởng—Methods of contemplation: 1) Ngũ đình tâm quán: Five-fold procedures for quieting the mind—See Ngũ Đình Tâm Quán. 2) Tứ Niệm Xứ: Four types of Buddhist meditation for eradicating illusions and attaining enlightenment—See Tứ Niệm Xứ. (IV) Những lời Phật dạy về “Quán Tưởng” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Contemplation” in the Dharmapada Sutra: 1) Đệ tử Kiều Đáp Ma, phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường niệm tưởng Phật Đà—The disciples of Gotama are always well awake. Those who always contemplate the Enlightened One by day and night (Dharmapada 296). 2) Đệ tử Kiều Đáp Ma, phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường niệm tưởng Đạt Ma—The disciples of Gotama are always well awake. Those who always contemplate the Dharma by day and night (Dharmapada 297). 3) Đệ tử Kiều Đáp Ma, phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường niệm tưởng Tăng già—The disciples of Gotama are always awake. Those who always contemplate the Sangha by day and night (Dharmapada 298). 4) Đệ tử Kiều Đáp Ma, phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường niệm tưởng sắc thân—The disciples of Gotama are always awake. Those who always contemplate the body by day and night (Dharmapada 299). 5) Đệ tử Kiều Đáp Ma, phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường vui điều bất sát—The disciples of Gotama are always awaken. Those who always contemplate delight in harmlessness or compassion by day and night (Dharmapada 300). 6) Đệ tử Kiều Đáp Ma, phải luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, thường ưa tu thiền quán—The disciples of Gotama are always awaken. Those who always contemplate delight in meditation by day and night (Dharmapada 301). 7) Không có trí huệ thì không có thiền định, không có thiền định thì không có trí tuệ. Người nào gồm đủ thiền định và trí tuệ thì gần đến Niết bàn—There is no concentration in one who lacks wisdom, nor is there wisdom in him who lacks concentration. He who has both concentration and wisdom is near Nirvana (Dharmapada 372). ; (觀想) Gọi tắt: Tưởng. Tập trung tưởng niệm vào 1 đối tượng duy nhất nào đó để áp phục những vọng tưởng như tham dục..., hoặc là 1 loại quán tưởng phương tiện cần phải thực hành để đi vào chính quán. Kinh Tọa thiền tam muội quyển hạ (Đại 15, 281 trung) nói: Người tu hành đạo Bồ tát, trong 3 độc nếu thấy nghiêng nặng về dâm dục thì trước phải quán thân, xương, thịt, da dày, da mỏng, gân, mạch, mồ hôi, máu, gan, phổi, ruột, dạ dày, phân, nước tiểu, nước mắt, nước miếng, đờm, dãi, 36 vật, 9 thứ quán tưởng bất tịnh, chuyên tâm quán xét bên trong, không nhớ nghĩ bên ngoài, nếu nhớ nghĩ đến các duyên bên ngoài thì lập tức thu nhiếp các duyên trở về. Đây nói tu, Cửu tưởng quán có công năng đoạn trừ dâm dục. Theo kinh Quán Vô lượng thọ thì tu quán mặt trời... là phương tiện để đi vào chân quán chính báo, y báo của thế giới Cực Lạc. Mật giáo đối với những hành giả mới phát tâm bồ đề cũng thường đặt ra các loại quán tưởng phương tiện, như quán tưởng hình tượng, hình Tam muội da... của các vị tôn, nhờ sự quán tưởng ấy để diệt trừ vọng niệm, dần dần từ hữu tướng tiến vào vô tướng, dứt bặt tất cả cái thấy chủ quan, khách quan sai biệt, thể chứng muôn pháp bình đẳng mà ứng hợp với Bản tôn.[X. kinh An tượng tam muội nghi quĩ; Đại nhật kinh sớ Q.11, 14; phẩmTrì tụng pháp tắc trong Đại tì lô giá na kinh cúng dường thứ đệ pháp sớ Q.hạ].

quán tưởng niệm phật

Quán tưởng Đức Phật A Di Đà mà niệm thầm hồng danh ngài, đối lại với niệm ra bằng lời—To contemplate Buddha, especially Amitabha, in the mind and repeat his name silently, in contrast with repeating his name loudly . ; (觀想念佛) Ngồi ngay thẳng, chuyên tâm chính niệm quán tưởng tướng hảo trang nghiêm của thân Phật, là 1 trong 4 cách niệm Phật được nói trong Phổ hiền hành nguyện phẩm sớ sao của ngài Tông mật. Cứ theo kinh Quán Phật tam muội hải quyển 9, 10 và kinh Tọa thiền tam muội quyển thượng, nếu chuyên quán1 trong 32 tướng của Phật thì diệt được tội nặng sinh tử trong 90 ức na do tha hằng hà sa vi trần số kiếp; nếu quán tưởng hảo của toàn thân Phật thì phải ngồi ngay thẳng và chính thụ buộc niệm nơi thân Phật, không nghĩ đến các pháp khác như đất, nước, lửa, gió... thường chỉ nhớ nghĩ thân Phật, thấy chư Phật ở 3 đời 10 phương đều ở ngay trước mắt, thì diệt trừ được tội chướng của vô lượng kiếp. Ngoài ra, quán tưởng niệm Phật còn có Nhất tướng quán, Đa tướng quán, Toàn tướng quán khác nhau. (xt. Tứ Chủng Niệm Phật).

quán tượng

Diễn tả voi bằng cách cảm biết thay vì nhìn thấy, như trường hợp một nguời mù rờ voi (chỉ đúng ngay lúc đó mà thôi, chứ không phải là chân lý)—To describe an elephant from feeling rather than seeing it, as a blind man does (from feeling it, i.e. immediate and correct knowledge).

quán tượng niệm phật

Một trong bốn loại niệm Phật, niệm hình tượng hóa thân của Đức Phật A Di Đà trong tâm mình, hoặc nhìn hình tượng mà niệm hồng danh ngài—One of the four kinds of contemplation of the Buddha, to contemplate the image of Amitabha Buddha and repeat his name.

quán tại tát đỏa

Kuan-Yin Bodhisattva—See Quán Thế Âm and Avalokitesvara.

quán tẩy

Tắm rửa tượng Phật, thường được tổ chức trong ngày Khánh Đản—To wash a Buddha's image, usually done during the Buddha's Birthday.

quán tứ niệm xứ

To meditate upon the Body, Feelings, Mind and Dharma—To contemplate the four contemplations: 1) Quán thân bất tịnh—To contemplate that the body is not sanitary: Vì điên đảo mộng tưởng mà đa số chúng ta đều cho rằng thân nầy quý báu hơn hết. Nên thân nầy cần phải được ăn ngon mặc đẹp. Chính vì vậy mà chúng ta vật lộn với cuộc sống hằng ngày. Đời sống hằng ngày không còn là nơi an ổn nữa, mà trở thành đấu trường của tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, sát, đạo, dâm, vọng, tỵ hiềm, ganh ghét và vô minh. Từ đó ác nghiệp được từ từ kết tạo. Người tu chân thuần phải quán thân từ mắt, tai, mũi, lưỡi, miệng, hậu môn, vân vân đều là bất tịnh. Khi ngồi chúng ta nên quán tưởng thân nầy là bất tịnh, được bao phủ bởi một cái túi da nhơ nhớp, bên trong như thịt, mỡ, xương, máu, đàm, và những chất thừa thải mà không một ai dám đụng tới. Thân nầy, nếu không được tắm rữa bằng nước thơm dầu thơm và xà bông thơm, thì chắc chắn không ai dám tới gần. Hơn nữa, thân nầy đang hoại diệt từng phút từng giây. Khi ta ngừng thở thì thân nầy là cái gì nếu không phải là cái thây ma? Ngày đầu thì thây ma bắt đầu đổi màu. Vài ngày sau đó thây thảy ra mùi hôi thúi khó chịu. Lúc nầy, dù là thây của một nữ tú hay nam thanh lúc còn sanh thời, cũng không ai dám đến gần. Người tu Phật nên quán thân bất tịnh để đối trị với tham ái, ích kỷ, và kiêu ngạo, vân vân. Một khi ai trong chúng ta cũng đều hiểu rằng thân nầy đều giống nhau cho mọi loài thì chúng ta sẽ dễ thông hiểu, kham nhẫn và từ bi hơn với mình và với người. Sự phân biệt giữa người già, người phế tật, và các chủng tộc khác sẽ không còn nữa—Due to illusions, most of us think that our body is more valuable than any thing else. So it needs be provided with better foods and expensive clothes. Therefore, the 'struggle for life' has come into play. Life is no longer a peaceful place, but a battle field with greed, hatred, envy, arrogance, doubt, wrong views, killing, stealing, sexual misconduct, lying. Evil karma is gradually formed as a result. Earnest Buddhists should view the body (eye, ear, skin, hair, nose, tongue, mouth, anus, etc) is unclean (Quán thân bất tịnh) which covered with a bag of skin, inside are flesh, fat, bone, blood, mucus and waste matters of which no one wishes to touch. The body itself, if not being washed frequently with fragrant water and soap, no one wants to stay close to it. In addition, it is prone to decay minute after minute, second after second. If we stop breathing, what is the body called if not a corpse? During the first day, its color is changing. A few days later, it becomes bluish and produces offensive odor. At this time, even if that disintegrated body once was the most beautiful woman or a handsome man, no one wants to be close to it. Earnest Buddhist should always contemplate that the body is unclean. This contemplation is designed to cure greed, attachment, selfishness, and arrogance. Also, when people realize that they are physically and biologically the same, they would easily understand, tolerate and compassionate among themselves and others. The discrimination against the aging, people with disabilities, and the other race would be diminished. 2) Quán rằng cảm thọ là đau khổ—To view all the feelings are painful: Có ba loại cảm thọ là vui sướng, khổ đau và trung tính; tuy nhiên, Phật dạy mọi cảm thọ đều đau khổ vì chúng vô thường, ngắn ngủi, không nắm bắt được, và do đó chúng là không thật, ảo tưởng. Hơn nữa, khi chúng ta nhận của ai cái gì thì lẽ đương nhiên là chúng ta phải làm cái gì đó để đền trả lại. Rất có thể chúng ta phải trả giá cao hơn cho những gì mà chúng ta đã nhận. Tuy nhiên, sự nhận về phần vật chất vẫn còn dễ nhận ra để đề phòng hơn là sự cảm thọ tinh thần, vì cảm thọ là một hình thức thọ nhận mà phần đông chúng ta đều vướng bẫy. Nó rất vi tế, nhưng hậu quả tàn phá của nó thật là khốc liệt. Thường thì chúng ta cảm thọ qua sáu căn. Thí dụ như khi nghe ai nói xấu mình điều gì thì mình lập tức nổi trận lôi đình. Thấy cái gì có lợi thì mình bèn ham muốn. Tham sân là hai thứ thống trị những sinh hoạt hằng ngày của chúng ta mà chúng ta không tài nào kiểm soát chúng được nếu chúng ta không có tu. Quán thọ thị khổ dần dần giúp chúng ta kiểm soát được những cảm thọ cũng như thanh tịnh tâm của chúng ta, kết quả sẽ làm cho chúng ta có được an lạc và tự tại—There are three kinds of feelings: pleasures, pain and neutral ones; however, according to Buddha's teaching, all feelings are painful because they are impermanent, transcient, ungraspable, and therefore, they are unreal, illusive and deceptive. (Quán thọ thị khổ). Furthermore, when you accept something from others, naturally, you have to do something else for them in return. It might cost you more than what you have accepted. However, we can easily refuse material things, but the hardest thing to escape is our own feelings. Feeling is a form of acceptance that most of us could easily be trapped. It is very subtle, but its effect is so destructible. We usually feel whatever conveyed to us by the six senses. For example, hearing someone bad-mouth on us, we feel angry at once. Seeing something profitable, we readily feel greedy. After all, if we don't cultivate, greed and angry are two uncontrollable agents which dominate and overwhelm our daily activities. To contemplate all the feelings are painful will gradually assist us to keep the feelings under control as well as to purify our mind; and as a result, provide us the joy and peace. 3) Quán thấy tâm ngắn ngủi vô thường—To view the mind is transcient or impermanent: Nhiều người cho rằng tâm họ không thay đổi vì thế cho nên họ luôn chấp vào những gì họ nghĩ và tin rằng đó là chân lý. Rất có thể một số cũng thấy tâm mình luôn thay đổi, nhưng họ không chấp nhận mà cứ lờ đi. Người tu Phật nên quán sát tâm thiện, tâm ác của ta đều là tướng sanh diệt vô thường không có thực thể. Tất cả các loại tâm sở tướng nó chợt có chợt không, chợt còn chợt mất thì làm gì có thật mà chấp là tâm mình. Trong khi ngồi thiền định, người ta sẽ có cơ hội nhận ra rằng tâm nầy cứ tiếp tục nhẩy nhót còn nhanh hơn cả những hình ảnh trên màn ảnh xi nê. Cũng chính vì vậy mà thân không an vì phải luôn phản ứng theo những nhịp đập của dòng suy tưởng. Cũng chính vì vậy mà con người ta ít khi được tĩnh lặng và chiêm nghiệm được hạnh phúc thật sự. Phật tử thuần thành nên luôn nhớ rằng tâm không phải là một thực thể của chính nó. Nó thay đổi từng giây. Chính vì thế mà Phật đã dạy rằng tâm của phàm phu như con vượn chuyền cây, như gió, như điển chớp hay như giọt sương mai trên đầu cỏ. Pháp quán nầy giúp cho hành giả thấy được mọi sự mọi vật đều thay đổi từ đó có khả năng dứt trừ được bệnh chấp tâm sở là thật của ta—Most people think that their mind is not changed; therefore, they attach to whatever they think. They believe that what they think reflects the truth. Probably some of them would discover that their mind is changing, but they refuse to accept it. Buddhist practitioners should always contemplate their wholesome and unwholesome minds, they are all subject to rising and destroying. They have no real entity. In sitting meditation, one will have the chance to recognize the facts that the mind keeps jumping in a fast speed as pictures on a movie screen. The body, therefore, always feels restless and eager to react on the thinking pulses. That is why people are rarely calm down or experiencing true happiness. Earnest Buddhists should always remember that the mind does not have any “real entity” to itself. It changes from second to second. That's why the Buddha viewed the mind of an ordinary person is like a swinging monkey, the wind, lightning or a drop of morning dew (Quán tâm vô thường). This contemplation helps the practitioners see that everything is changed so that the practitioners will have the ability to eliminate attachment to what they think. 4) Quán pháp vô ngã—To view the Dharma is without-self: Quán pháp không có tự tánh. Mọi vật trên đời, vật chất hay tinh thần, đều tùy thuộc lẫn nhau để hoạt động hay sinh tồn. Chúng không tự hoạt động. Chúng không có tự tánh. Chúng không thể tự tồn tại được. Thân thể con người gồm hàng tỷ tế bào nương tựa vào nhau, một tế bào chết sẽ ảnh hưởng đến nhiều tế bào khác. Cũng như vậy, nhà cửa, xe cộ, đường xá, núi non, sông ngòi đều được kết hợp bởi nhiều thứ chứ không tự tồn. Do vậy, mọi vật trên đời nầy đều là sự kết hợp của nhiều vật khác. Chẳng hạn như nếu không có chất bổ dưỡng, nước, và không khí thì thân thể nầy chắc chắn sẽ ốm o gầy mòn và cuối cùng sẽ bị hoại diệt. Chính vì vậy mà Đức Phật dạy rằng vạn pháp vô ngã, không, và vô thường. Hành giả nào thường quán pháp vô ngã thì những vị ấy sẽ trở nên khiêm nhường và đáng mến hơn—Everything in the world, either physical or mental, is depend upon each other to function or survive. They are not free from one another or free to act on their owns, on their own will. They do not have a "self.” They are not capable of being self-existed. A human body is composed of billions of cells that depend on one another; one cell dies will effect so many other cells. Similarly, a house, a car, a road, a mountain, or a river all are compounded, not being self-existed. Everything, therefore, is a combination of other things. For instance, without nutritious foods, water, and fresh air, this body will certainly be reduced to a skeleton and eventually disintegrated. Thus the Buddha taught: “All existents are selfless, empty, and impermanent.” Practitioners who always contemplate 'the dharma is without-self,' they should become more humble and likable.

quán từ bi

(từ bi quán): phép quán tưởng trong đó hành giả khởi tâm từ bi hướng đến tất cả chúng sanh.

Quán tử thi

觀死屍; P: sīvathikā;|Một phần trong phép quán thân, được ghi lại trong kinh Bốn niệm xứ (p: satipaṭṭhāna-sutta).

quán tự tâm sở hiện cố

Do bởi sự thông hiểu rằng thế giới là biểu hiện của chính cái tâm mình—By thoroughly comprehending that the world is the manifestation of one's own mind.

Quán Tự Tại

觀自在|Quán Thế Âm

quán tự tại

Sarvayogavasavartin (skt)—Ở cảnh sự lý vô ngại, đạt quán tự tại (không có quan hệ với tầm thanh cứu khổ). Đức Phật được xem như là bậc “Quán Tự Tại.”—One who contemplates at ease—Reality Observant Bodhisattva—Sovereign Regarder (beholder), not associated with sounds or cries. The Buddha is regarded as Sarvayogavasavartin. ** For more information, please see Avalokitesvara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section and Quán Thế Âm in Vietnamese-English Section.

quán tự tại bồ tát

Bodhisattva of Free Reflection—Bodhisattva Avalokitesvara—See Quán Thế Âm in Vietnamese-English Section and Avalokitesvara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

quán tự tại vương như lai

(觀自在王如來) Tên gọi khác của đức Phật A di đà ở phương Tây, là 1 trong 5 đức Phật của Mật giáo, mật hiệu là Thanh tịnh kim cương. Thân hình Ngài màu đỏ, trụ trong ấn Tam ma địa, hình Tam muội da là hoa sen. Bốn phía quanh Ngài có 4 vị Bồ tát: Phía trước là bồ tát Kim cương pháp, bên phải là bồ tát Kim cương lợi, bên trái là bồ tát Kim cương nhân, phía sau là bồ tát Kim cương ngữ. Mật giáo dùng danh hiệu Như lai này làm tên gốc của Phật A di đà. Bồ tát Quán âm ngồỉ ở góc Tây bắc trong viện Bát diệp của Thai tạng giới tức là nhân vị thị hiện của đức Phật này. [X. Lược thuật kim cương đính Du già phân biệt thánh vị tu chứng pháp môn].

Quán vô lượng thọ kinh

觀無量壽經; S: amitayurdhyāna-sūtra;|Một trong ba bộ kinh quan trọng nhất của Tịnh độ tông. Kinh mô tả thế giới Phương Tây của Phật A-di-đà và dạy cách hành trì: bằng cách sống thanh tịnh, giữ Giới luật (s: śīla) và niệm danh hiệu Phật A-di-đà, hành giả giải thoát các nghiệp bất thiện và được tái sinh nơi Tịnh độ của Ngài.|Kinh này chỉ rõ quá trình phát sinh giáo pháp của Tịnh độ tông và thật ra đã được đức Phật lịch sử Thích-ca trình bày. Tương truyền rằng, hoàng hậu Vaidehi, mẹ của vua A-xà-thế, bị con mình bắt hạ ngục cùng với chồng là Tần-bà-sa-la (s, p: bimbisāra). Bà nhất tâm cầu nguyện Phật và khi Phật hiện đến, Bà xin tái sinh nơi một cõi yên lành hạnh phúc. Phật dùng thần lực cho bà thấy mọi thế giới tịnh độ, cuối cùng bà chọn cõi Cực lạc của A-di-đà. Phật dạy cho bà phép thiền định để được tái sinh nơi cõi đó. Phép thiền định này gồm 16 phép quán tưởng, và tuỳ theo nghiệp lực của chúng sinh, các phép này có thể giúp tái sinh vào một trong chín cấp bậc của Tịnh độ. Mười sáu phép quán tưởng đó là: quán mặt trời lặn; quán nước; quán đáy sông; quán cây cối; quán nước cam lộ; quán thế giới thực vật; quán nước và đáy nước; quán toà sen; quán ba báo thân của ba vị thánh A-di-đà, Quán Thế Âm, Ðại Thế Chí; quán ba ứng thân của Phật A-di-đà; của Quán Thế Âm; của Ðại Thế Chí; quán A-di-đà trong cõi Tịnh độ; quán ba vị thánh trong cõi Tịnh độ; quán cấp thượng căn trong cõi Tịnh độ; quán cấp trung căn và hạ căn trong cõi Tịnh độ. Các phép quán này giúp hành giả có thể thấy được A-di-đà và hai vị Bồ Tát Quán Thế Âm và Ðại Thế Chí ngay trong đời này và đó là dấu hiệu chắc chắn hành giả sẽ được tái sinh về Tịnh độ.

quán vô lượng thọ kinh

Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh—Quán Kinh—Một Kinh Đại Thừa quan trọng, liên hệ tới Phật A Di Đà và trường phái Tịnh Độ (có nhiều luận cho bộ kinh nầy)—The Sutra of Contemplation of Infinite Life. An important Mahayana sutra relating to Amitabha Buddha and the Pure Land (there are numerous commentaries on it). ; (觀無量壽經) Cũng gọi Quán Vô lượng thọ Phật kinh, Vô lượng thọ Phật quán kinh, Vô lượng thọ quán kinh, Thập lục quán kinh. Gọi tắt: Quán kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Cương lương da xá dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạngtập 12. Đây là 1 trong 3 bộ kinh của Tịnh độ giáo nói về y báo, chính báo của thế giới Cựclạc phương Tây. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật nhận lời thỉnh cầu của phu nhân Vi đề hi thịh iện ra cõi Tịnh độ Cực lạc ở phương Tây, đồng thời nói tu 3 phúc và 16 pháp quán tưởng để được vãng sinh. Ngài Thiện Đ ạo đời Đường cho rằng kinh này lấy Quán Phật tam muội và Niệm Phật tam muội làm tông chỉ. Trái với các ngài Tịnh ảnh Tuệ Viễn và Gia tường Cát tạng chủ trương 16 pháp quán đều là Định thiện; ngài Thiện Đạo lại cho 3 quán sau (Thượng bối quán, Trung bối quán, Hạ bối quán) trong 16 pháp quán thuộc về 9 phẩm, là Tán thiện. Ngài Thiện Đạo còn cho rằng tuy đức Phật nói rộng về sự lợi ích của Định môn và Tán môn, nhưng trong thâm ý đức Phật chỉ muốn chúng sinh chuyên niệm danh hiệu Phật A di đà mà thôi. Như những câu văn trong Hạ phẩm hạ sinh nói (Đại 12, 346 thượng): Dốc lòng như thế, tiếng niệm không dứt, đầy đủ 10 niệm, xưng Nam mô A di đà Phật. Ngài Thiện đạo dựa vào những câu văn trên mà giải thích từ ngữ nãi chí thập niệm (cho đến 10 niệm) của nguyện thứ 18 trong kinh Vô lượng thọ là chỉ cho 10 tiếng xưng niệm danh hiệu Phật, nên ngài chủ trương tán tâm xưng danh là chính định nghiệp được vãng sinh của tất cả phàm phu thiện ác. Sư Nguyên Không của Nhật Bản đã căn cứ vào những điều ngài Thiện đạo nói mà sáng lập tông Tịnh độ Nhật Bản. Vì kinh này thuộc 1 trong những Quán kinh, nên là cùng loại với các kinh như kinh Quán Phật tam muội hải, kinh Quán Phổ hiền bồ tát hành pháp, kinh Quán Di lặc thướng sinh Đâu suất thiên, kinh Quán thế âm quán... kinh này nói về 3 bậc Thánh: A di đà, Quán thế âm, Đại thế chí và về pháp trang nghiêm Tịnh độ cực lạc. Lại trong 16 pháp quán thìA di đà Phật chân thân quán (thứ 9) là pháp quán trọng yếu nhất, tên kinh cũng theo đó mà đặt. Về việc phiên dịch kinh này thì các bộ kinh lục cũng như Tăng truyện nói đều khác nhau. Xuất Tam tạng kí tập quyển 4 cho rằng kinh này không rõ dịch giả. Lương cao tăng truyện quyển 3 thì bảo kinh này do ngài Cương lương da xá dịch vào đời Lưu Tống, Tăng hàm ghi chép.Các bộ kinh lục khác từ Pháp kinh lục trở xuống đều theo thuyết này. Lịch đại tam bảo kỉ quyển 4, 7, thì ngoài bản dịch của ngài Cương Lương Da Xá ra, còn liệt kê 2 bản không rõ dịch giả được dịch vào đời Đông Hán và Đông Tấn. Kinh này có rất nhiều sách chú thích, trọng yếu nhất là các bộ sau đây: -Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ, 2 quyển, của ngàiTuệ Viễn. -Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ, 1 quyển, của ngài Trí Khải. -Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ, 1 quyển, của ngài Cát Tạng. -Quán Vô lượng thọ kinh sớ, 4 quyển, của ngài Thiện đạo. -Quán Vô lượng thọ Phật kinh đồ tụng, 1 quyển, của ngài Truyền đăng. -Quán Vô lượng thọ Phật kinh ước luận, 1 quyển, của ông Bành Tế Thanh. -Quán Vô lượng thọ kinh phù tân luận, 1 quyển, của ngài Giới Độ. Trong các sách chú thích trên đây, bộ Quán Vô lượng thọ kinh sớ 4 quyển của ngài Thiện Đạo đời Đường được lưu thông rộng rãi hơn cả. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.1,5; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1].

quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ

(觀無量壽經義疏) I. Quán Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa Sớ.Cũng gọi Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa kí, Tịnh ảnh Quán kinh sớ. Kinh sớ, 2 quyển, do ngài Tịnh ảnh Tuệ Viễn soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập37. Ngài Tuệ Viễn đứng trên lập trường của tông Địa luận để giải thích kinh Quán Vô lượng thọ, đây là bộ chú sớ đầu tiên về Quán kinh hiện còn. Bộ sớ này phán định thân độ của đức Phật A di đà là Ứng thân ứng độ, người sinh về 9 phẩm ở Tịnh độ của Ngài là các vị Thánh lớn, nhỏ và qui tắc chung về sự tu chứng cũng như tự lực tu hành của các vị Thánh này không khác nhau, không bàn về năng lực thù thắng của bản nguyện Di đà và những điều được nói đến trong bộ sớ này rất trái với nghĩa thú của Tịnh độ giáo, vì thế ngài Thiện Đạo đời Đường đã soạn Quán Vô lượng thọ kinh sớ để bác bỏ. Qua bộ sớ này của ngài Tuệ Viễn, người ta có thể thấy được phần nào kiến giải ở thời Tùy, Đường về Tịnh độ giáo. Đây là tác phẩm rất cần thiết cho việc nghiên cứu Quán kinh sớ của ngài Thiện đạo. [X. Tục cao tăng truyện Q.8; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1]. Tranh 16 pháp quán tưởng trong Quán kinh. II. Quán Vô lượng Thọ Kinh Nghĩa Sớ. Cũng gọi Gia tường Quán kinh sớ. Kinh sớ, 1 quyển, do ngài Cát tạng soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 37. Trong bộ sớ này, ngài Cát tạng đã đứng trên lập trường của Tam luận mà giải thích kinh Quán Vô lượng thọ. Thuyết của ngài Cát Tạng cũng giống như thuyết của ngài Tuệ Viễn trong Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ, cũng dùng ý nghĩa tu hành tự lực của Thánh đạo môn để phán định nhân quả vãng sinh Tịnh độ Di đà, cho nên bị ngài Đạo Xước chê là giải thích sai lầm. Trong Quán kinh tứ thiếp sớ, ngài Thiện Đạo cũng bác bỏ lập trường tư tưởng của bộ sớ này.

Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ

(觀無量壽經疏, Kammuryōjukyōsho): xem Quán Kinh Sớ (觀經疏, Kangyōsho) bên trên.

quán vô lượng thọ kinh sớ

(觀無量壽經疏) I. Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ. Cũng gọi Quán kinh thiên thai sớ, Quán kinh sớ. Kinh sớ, 1 quyển, do ngài Trí Khải soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 37. Nội dung sách này là giải thích về kinh Quán Vô lượng thọ. (xt. Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ). II. Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ. Cũng gọi Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ, Quán kinh sớ, Quán kinh ngự thư, Quán kinh ngự sớ, Quán kinh nghĩa thư, Quán sớ nghĩa, Quán kinh yếu nghĩa, Quán kinh tứ thiếp sớ, Tứ thiếp sớ. Kinh sớ, 4 quyển, do ngài Thiện Đạo soạn vào đời Đường. Nếu nói theo nội dung thì sách này còn được gọi là Khải định sớ, Chứng thành sớ,Chứng định sớ, được thu vào Đại chính tạng tập 37. Đây là sách chú thích kinh Quán Vô lượng thọ. Nội dung sách này chia làm 4 thiếp: Huyền nghĩa phần, Tự phần nghĩa, Định thiện nghĩa và Tán thiện nghĩa, giải thích nghĩa trọng yếu của tín ngưỡng tha lực, có thể nói đây là trung tâm hệ thống tư tưởng của ngài Thiện Đạo. Huyền nghĩa phần thuyết minh ý nghĩa tông chỉ của Quán kinh, Tự phần nghĩa giải thích bài tựa của Quán kinh, Định thiện nghĩa giải thích 13 pháp quán tạp tưởng trước trong 16 pháp quán, Tán thiện nghĩa thì giải thích 3 pháp quán sau cùng. Sách này chủ trương tất cả phàm phu thiện, ác đều có thể nhờ nguyện lực của đức Phật A di đà mà vãng sinh Tịnh độ Cực lạc, lấy xưng danh niệm Phật là chính nghiệp, lấy tụng kinh, lễ bái, tán thán, quán sát là trợ nghiệp, đồng thời nhấn mạnh rằng nếu người nào nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A di đà, trong lúc đi, đứng, ngồi, nằm đều niệm niệm không bỏ thì có thể vãng sinh Tịnh độ. Thuyết này có ảnh hưởng rất lớn đối với đời sau. Ngoài ra, sách này thông thường được dùng làm sách căn bản về giáo nghĩa và giáo tướng của Tịnh độ giáo. Vì tuy các ngài Tịnh ảnh Tuệ Viễn, Gia Tường Cát Tạng, Ca Tài...đã chú sớ Quán kinh trước ngài Thiện Đạo, nhưng đều chưa hiện bày được cái diệu dụng của bản nguyện siêu việt thế gian, chỉ một mình ngài Thiện đạo là đã chỉ rõ được ý chính của đức Phật, bởi thế xưa nay đều lấy bộ sách này làm khuôn mẫu nhất định cho các thuyết mà gọi là Khải định sớ. [X. Lạc bang văn loại Q.2; Vãngsinh yếu tập nghĩa kí Q.5].

quán vô lượng thọ phật kinh nghĩa sớ

(觀無量壽佛經義疏) Cũng gọi Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ. Gọi tắt: Tân sớ. Kinh sớ, 3 quyển, do ngài Linh Chi Nguyên Chiếu soạn vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 37. Sách này chú thích kinh Quán Vô lượng thọ Phật. Quyển thượng nói về huyền nghĩa, chia làm 4 môn: Giáo hưng lai trí, Nhiếp giáo phân tề, Biện định tông chỉ và Liệu giản dị đồng. Quyển trung vàquyển hạ thì theo văn giải nghĩa. Sách này nghiên cứu rộng về nghĩa trọng yếu của các nhà, phần giải thuyết thì sử dụng lối thích nghĩa của các ngài Trí Khải và Thiện Đạo, như giải thích 16 pháp quán thì sử dụng thuyết của ngài Trí Khải, giải thích 9 phẩm thì dùng luận của ngài Thiện Đạo, nhưng cách nhìn 16 pháp quán của sách này khác với thuyết quán tâm của ngài Trí Khải. Còn cách giải thích về sự lí và quán pháp trong môn Biện định tông chỉ và những điều trình bày trong môn Liệu giản dị đồng thì đều là những đặc điểm của sách này. Về các sách chú thích của bộ sớ này thì có: Quán Vô lượng thọ kinh phù tân luận 1 quyển, Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ chính quán kí 3 quyển, do ngài Giới độ soạn vào đời Tống; Quán Vô lượng thọ kinh bạch liên kí 3 quyển, do ngài Dụng khâm soạn vào đời Tống.

quán vô lượng thọ phật kinh sớ

(觀無量壽佛經疏) I. Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ. Cũng gọi Quán kinh sớ, Quán Vô lượng thọ kinh sớ, Quán kinh Thiên thai sớ, Thiên thai Quán kinh sớ. Kinh sớ, 1 quyển, do ngài Thiên thai Trí khải soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 37. Đây là sách chú thích kinh Quán Vô lượng thọ Phật. Nội dung sách này trước hết lập 5 lớp nghĩa huyền để giải thích tên kinh, kế đến phán định kinh Quán Vô lượng thọ lấy quán tâm làm tông chỉ, lấy thực tướng làm thể, lấy sinh thiện diệt ác làm dụng, thuộc về Đốn giáo của tạng Bồ tát. Sau hết theo văn giải nghĩa và cho tất cả 16 pháp quán đều là Định thiện. Từ khi ngài Tứ minh Tri lễ đời Tống soạn Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ diệu tông sao để phát huy chỉ thú của bộ sớ này thì nó đã trở thành là 1 trong 5 Tiểu bộ của tông Thiên thai và cũng được xem là điển tịch trọng yếu của giáo học Thiên thai. Nhưng theo sự xét định của các học giả cận đại về nội dung của sách này chỉ ra rằng văn trong phần Ngũ trùng huyền nghĩa (5 lớp nghĩa huyền) đã được trích ra từ Kim quang minh kinh sớ quyển 1 của ngài Trí khải, cho nên họ ngờ đây là sách ngụy tác của người đời sau. Còn trong phần Tùy văn giải thích thì lại được chép ra từ Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ của ngài Tịnh ảnh Tuệ Viễn, bởi thế họ suy đoán đây là sách giả. Về sách chú thích của bộ kinh sớ này thì có: -Quán Vô lượng thọ Phật kinh kí, 1 quyển, do ngài Pháp thông soạn vào đời Đường. -Quán Vô lượng thọ Phật kinh dung tâm giải, 1 quyển, do ngài Tri lễ soạn vào đời Tống. [X. Tân biênchưtông giáo tạng tổng lục Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.25]. II. Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ. Cũng gọi Quán Vô lượng thọ kinh sớ. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Thiện đạo soạn vào đời Đường. Đây là sách chú thích kinh Quán Vô lượng thọ Phật. (xt. Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ).

quán vô lượng thọ phật kinh sớ diệu tông sao

(觀無量壽佛經疏妙宗鈔) Cũng gọi Quán Vô lượng thọ kinh sớ diệu tông sao, Quán kinh sớ diệu tông sao, Quán kinh diệu tông sao, Diệu tông sao. Tác phẩm, 6 quyển, do ngài Tứ Minh Tri Lễ soạn vào đời Tống, được đưa vào Đại chính tạng tập 37. Thời đại ngài Tri Lễ chịu ảnh hưởng tai họa chiến tranh ở cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại, giáo học Phật giáo suy đồi, nội bộ tông Thiên thai thì chia thành 2 phái Sơn gia vàSơn ngoại. Trong tác phẩm này, ngài Tri lễ thuộc phái Sơn gia đã theo văn giải thích bộ Quán kinh sớ của Đại sư Thiên thai Trí Giả, nhằm phê phán những ý kiến khác của các pháiSơn ngoại, đề xướng nghĩa Tức tâm niệm Phật, đồng thời lập thuyết Sắc tâm song cụ. Sau khi bộ sách này được ấn hành đã dẫn đến cuộc tranh luận giữa phái Sơn gia và Sơn ngoại.

quán vô lượng thọ phật kinh đồ tụng

(觀無量壽佛經圖頌) Cũng gọi Quán Vô lượng thọ Phật kinh phụ đồ tụng. Gọi tắt: Quán kinh đồ tụng. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Truyền Đăng soạn vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 33. Toàn sách chia từng đoạn, nêu văn kinh của kinh Quán Vô lượng thọ và hiển bày ý nghĩa của văn kinh bằng các bức tranh vẽ, tất cả có 35 bức, cạnh mỗi bức tranh lại phụ thêm bài kệ tụng thất luật, nhưng ít có chú thích văn kinh. Mục đích của việc soạn thuật sách này được thấy trong bài kệ tụng cuối cùng, đại ý như sau (Vạn tục 33, 55 hạ): Thấy Phật, thấy cõi nước và thấy tranh (đồ) Ba cái thấy ấy đều dùng một cái thấy này. Thấy Phật tức thấy Chân pháp thân, Thấy cõi nước tức thấy Thường tịch quang. Há chẳng thấy tranh cùng hai cái thấy ấy? Trong mỗi bức tranh thấy Y báo, Chính báo nhiệm mầu của Phật, Con mong những người thấy kinh tranh này . Đều nên một lòng quán tưởng như thế.

quán vô lượng thọ phật kinh ước luận

(觀無量壽佛經約論) Tác phẩm, 1 quyển, do cư sĩ Bành Tế Thanh soạn vào đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 33. Sách này có thể được xem là bộ khái luận về kinh Quán Vô lượng thọ. Nội dung chia làm 4 khoa: Đề danh, Tự phần,Chính tông phầnvà Lưu thông phần. Trong đó, tuy tác giả thường dẫn những dụng ngữ của giáo học Thiên thai, nhưng lại biểu lộ ý phản đối sự giải thích của ngài Trí Khải về 9 phẩm và cách phối hợp 13 pháp quán với 9 phẩm của ngài Tứ Minh Tri Lễ.

quán vô ngã

các pháp do nhân duyên mà sanh, cũng do nhân duyên mà diệt, nên vốn thật không có người làm (tác giả), người chịu (thọ giả). Y theo phép quán vô ngã thì đạt được chỗ thấy biết chân thật như vậy.

quán xuyến

Have a good grasp of worldly affairs.

quán xương trắng

(bạch cốt quán): phép quán tưởng trong đó hành giả hình dung bộ xương trắng để thấy thân người là không thật, đầy những sự nhơ nhớp và không bao lâu sẽ tan hoại.

quán âm

See Quán Thế Âm.

quán đạo

1) Thấu triệt giáo pháp: To know the doctrine thoroughly. 2) Thiền Quán: Contemplation—Meditation—Insight.

quán đạt

Đạt được chân lý qua thiền quán—To penetrate to reality through contemplation.

quán đảnh

(của đạo Bà-la-môn): nghi lễ do một vị thầy bà-la-môn thực hiện, bao gồm việc đọc kinh cầu nguyện và rưới nước bốn biển lên đầu cho vua. Khi một vị vua lên ngôi, cần phải làm lễ quán đảnh như một nghi lễ chính thức để được nhân dân thừa nhận sự cai trị của vị vua ấy. ; See Abhisheka in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; 1) Điểm đạo: Abhisekana or Murdhabhisikta (skt). a) Quán đảnh đệ tử bằng cách đặt tay hay rưới nước lên đầu đệ tử. Chư Phật quán đảnh đệ tử bằng cách đặt tay lên đỉnh đầu của đệ tử. Tục lệ Ấn Độ nầy thường thấy trong lễ phong vương, bằng cách rưới lên đầu tân vương nước từ bốn bể, và nước từ những con sông trong lãnh địa của ông ta. Bên Trung Quốc, người ta thường dùng nghi thức Phật Giáo cho các vị đại quan, cũng như lễ thọ cụ túc giới cho chư Tăng Ni. Các thầy Mật Giáo dùng nghi thức quán đảnh để điểm đạo cho đệ tử của mình, cho các cấp lãnh đạo, cũng như trong các buổi đàn tràng siêu độ (cầu nguyện sau khi xãy ra tai ương hay chuẩn bị cho sự tái sanh)—Baptism—Initiation—Head—Superintendent—Empowerment—Inauguration or consecration by placing the hand on or sprinkling or pouring water on the head. Every Buddha baptizes a disciple by laying a hand on his head. An Indian custom on the investiture of a king, whose head was baptized with water from the four seas and from the rivers in his domain. In China, it is administered as a Buddhist rite chiefly to high personages and for ordination purpose. Among the esoterics it is a rite especially administered to their disciples; and they have several categories of baptism, e.g. that of ordinary disciples, of teacher or preacher, of leader, of office-bearer; also for special causes such as relief from calamity, preparation for the next life, etc. b) Quán Đảnh Chân Ngôn—The ritual of anointment of the Shingon School: Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy: • Chân Ngôn tông có nghi quỹ quán đảnh (Abhiseka) cũng như nghi quỹ đàn tràng. Nơi sửa soạn lễ quán đảnh phải được trang hoàng bằng mạn đà la của cả hai giới; và tất cả những nhu cầu lễ tiết phải được thực hiện đầy đủ. Đôi khi các mạn đà la được nới rộng ra để thành lập môi trường hành lễ. Do đó mà nơi đây được gọi là mạn đà la. Chỉ khi nào nghi thức được triệt để tuân hành mới có thể đạt được linh nghiệm từ năng lực gia trì của Phật. Theo truyền thuyết, Thiện Vô Úy và đồ đệ là Nhất Hành, truyền thừa Thai Tạng giới, trong lúc Kim Cương Trí và đệ tử là Bất Không giảng thuyết về Kim Cang giới. Thế nên ta phải nhận định rằng có đến hai dòng truyền thừa, mà mỗi dòng chỉ là một phần hay phiến diện: The Shingon School has the ritual of anointment (Abhikesa) as well as the ordination ceremony. The area of anointment must be decided with the Circles of the two realms; all ritual requirements must be fulfilled. Sometimes the Circles are spread out and thereby the ritual area is formed. So the area is called “Circle.” Only the adequate performance of the ritual can make the evoking of any enfolding power of Buddha effective. According to tradition, Subhakarasimha and his pupil, I-Hsing, transmitted the Matrix doctrine, while Vajrabodhi and his pupil, Amoghavajra, taught the Diamond doctrine. Thus we must presume that there were two traditions of transmission, both being only partial or one-sided. • Tuy nhiên, sự khám phá mới đây của giáo sư Tucci về Tattvasamgraha ở Tây Tạng, và của giáo sư Ono về cuốn Vajra-Sekhara ở Nhật đã khiến cho những truyền thuyết cũ không còn đứng vững nữa, bởi vì quyển Vajra-sekhara trình bày trong Ngũ Bộ Tâm Quán được giữ bí mật tại tự viện Mii ở Ômi và Shorenin, Kyoto. Ngũ Bộ là Phật, Liên Hoa, Đa Bảo, Kim Cương, và Kiết Ma. Đây nguyên là các bộ phận của Kim Cang giới; rõ ràng là ngay từ đầu chúng ta đã có bản kinh về Kim Cương giáo thuyết do Thiện Vô Úy mang đến. Thực sự chúng là dòng truyền thừa của Thiện Vô Úy. Từ đó, chúng ta nhận thấy rằng vào thời của Thiện Vô Úy, cả hai giáo thuyết về Kim Cương và Thai Tạng đã có mặt ở Trung Quốc. Bản của Tucci bằng Phạn ngữ và của Ono là bản giải thích bằng tranh ảnh, nếu không có nó thì khó mà theo dõi nguyên bản Sanskrit. Những người nghiên cứu Mật giáo có thể hy vọng được hỗ trợ thực tế nhờ khảo cứu các bản văn nầy: However, the recent discovery of the Tattva-sangraha in Tibet by Professor Tucci and the Vajra-sekhara in Japan by Professor Ono make the old traditions entirely untenable, because the Vajra-sekhara represented in the Five Assemblies was kept in secret in the Mii Monastery in Ômi and Shorenin in Kyoto. The Five Assemblies are Buddha, Padma, Ratna, Vajra and Karma. These being originally the divisions of the Diamond Realm, it is clear that we had from the beginning the text of the 'Diamond' doctrine brought by Subhakarasimha. They were actually the transmission by Subhakarasimha. From this it will be seen that at the time of Subhakarasimha both the 'Diamond' and 'Matrix' doctrines were existing in China. Tucci's text is Sanskrit and Ono's is pictorial explanation without which a perusal of Sanskrit original often becomes impossible. Students of mysticism may expect a real contribution from the study of these texts. 2) Quán Đảnh Bồ Tát: Một nghi thức rưới nước lên đầu một vị Bồ Tát, khi vị ấy sắp bước vào giai đoạn cuối cùng đến Phật quả—Ceremonial sprinkling of water on a bodhisattva's head, is said to be done when a bodhisattva is about to enter the ultimate state and become Buddha. 3) Quán Đảnh Đại Sư (561-632)—Kuan-Ting Great Master (561-632): Quán Đảnh là vị tổ thứ năm của tông Thiên Thai. Ba tác phẩm lớn của ngài Trí khải đều do Quán Đảnh tập thành toàn vẹn—Kuan-Ting is the fifth patriarch of the T'ien-T'ai School. The three great works of Chih-I are all compilations of Kuan-Ting.

quán đảnh tam muội

Tam muội đạt được trong thiền quán—The samadhi of the summit of contemplation (the peak whence all the samadhis may be surveyed).

quán đảnh trụ

Thập trụ của một vị Bồ Tát khi vị nầy đã được Phật thọ ký (xức dầu quán đảnh) thành Phật—The tenth stage of a Bodhisattva when he is anointed by the Buddha as a Buddha.

Quán đỉnh

灌 (潅) 頂; S: abhiṣeka; C: guàndĭng; J: kanchō; nghĩa là rưới nước lên đầu; |Một nghi thức tôn giáo trong những buổi lễ long trọng. Trong Kim cương thừa, danh từ quán đỉnh được dùng chỉ những nghi lễ, trong đó vị Ðạo sư (s: guru; t: lama) cho phép đệ tử tu tập một Tan-tra. Vì vậy trong Phật giáo Tây Tạng, người ta hay sử dụng danh từ »Truyền lực« (t: dbang-bskur).|Trong Vô thượng du-già (s: anuttarayoga-tantra), người ta kể bốn cấp quán đỉnh từ dưới lên trên: 1. Quán đỉnh bình (s: ka-lābhiṣeka; bình ở đây là tịnh bình); 2. Quán đỉnh bí mật (s: guhyābhiṣeka); 3. Quán đỉnh trí huệ (s: prajñābhiṣeka); 4. Quán đỉnh thứ tư (s: caturthābhiṣeka).|Quán đỉnh bình bao gồm sự khai giảng về năm khía cạnh của Phật gia (s: buddhaku-la).|Thông thường, vị Ðạo sư đọc Nghi quỹ (s: sā-dhana) qua một lần và lần đọc này có giá trị cho phép người đệ tử tu học Nghi quỹ này. Sau đó, Ðạo sư bình giảng những điểm khúc mắc, khó hiểu, những bí truyền trong Nghi quỹ để bảo đảm sự tu tập chính tông, đúng đắn của đệ tử.

quán đỉnh

(灌頂) I. Quán Đính. Phạm: Abhiwecana, hoặc Abhiweka. Nghi thức rưới nước lên đỉnh đầu. Ở Ấn Độ thời xưa, khi vua lên ngôi hoặc lập Thái tử, thì vị Quốc sư đem nước lấy từ 4 biển rưới lên đầu để bày tỏ sự chúc phúc. Cứ theo phẩm Thập địa trong kinh Hoa nghiêm quyển 27 (bản dịch cũ), khi Bồ tát địa thứ 9 tiến vào địa thứ 10 là Pháp vân địa, thì chư Phật dùng nước trí rưới lên đầu vị ấy để chứng minh vị ấy đã nhận chức Pháp vương, gọi là Thụ chức quán đính (nhận chức Quán đính) hoặc Thụ chức quán đính (trao chức Quán đính). Còn theo phẩm Bồ tát thập trụ trong kinh Hoa nghiêm quyển 8 (bản dịch cũ) và phẩm Hiền thánh danh tự trong kinh Bồ tát anh lạc quyển thượng thì giai vị thứ 10 của Thập trụ được gọi là Quán đính trụ. Hoặc theo thuyết trong Đại sự (Phạm: Mahàvastu) thì địa thứ 10 của Bồ tát thập địa, gọi là Quán đính địa, còn Quán đính vị thì đặc biệt chỉ cho giai vị Đẳng giác trên Thập địa. Quán đính được thực hành trong Mật giáo gọi chung là Bí mật quán đính (gọi tắt: Mật quán). Trong các tông phái Phật giáo thì Mật giáo đặc biệt coi trọng pháp Quán đính. Tác pháp này do vị Thượng sư lấy nước từ 5 cái bình (tượng trưng cho 5 trí Như lai) rưới lên đầu đệ tử, biểu thị ý nghĩa kế thừa địa vị Phật. Tác pháp Quán đính có rất nhiều loại, nhưng chủ yếu thì có 3 loại: 1. Kết duyên quán đính: Pháp quán đính kết duyên rộng rãi với Phật, không kể tăng hay tục, thượng căn hay hạ căn, tất cả đều được quán đính. Người nhận quán đính tung hoa lên các tôn tượng của chư Phật ở trên đàn để chọn vị Phật có duyên với mình (vị Phật mình tung hoa dính trúng) làm vị Bản tôn, sau đó xướng danh hiệu Phật, vị Thượng sư 3 lần lấy nước trong bình rưới lên đỉnh đầu, rồi trao cho 1 ấn (ấn khế)và 1 minh (đà la ni). 2. Học pháp quán đính (cũng gọi Thụ minh quán đính, Đệ tử quán đính, Hứa khả quán đính): Đối với đệ tử muốn học Mật giáo, trước hết chọn người, thời gian, địa điểm nhất định, đồng thời chuẩn bị tác pháp, rồi trao nghi quĩ pháp minh của 1 vị tôn cho đệ tử ấy. 3. Truyền pháp quán đính (cũng gọi Truyền giáo quán đính, Phó pháp quán đính, A xà lê quán đính): Người tu hành đúng pháp, muốn làm bậc thầy hoặc làm A xà lê, thì trao cho họ nghi quĩ pháp minh của Đại nhật Như lai. Đây là pháp quán đính truyền chân ngôn sâu xa bí mật nhất, có thể chia ra 3 loại: a) Ấn pháp quán đính (cũng gọi Bí ấn quán đính, Thủ ấn quán đính, Li tác nghiệp quán đính): Đệ tử thành tâm muốn tu hành chân ngôn, nhưng vì không đủ khả năng chu toàn tất cả nhu cầu cần thiết; trong trường hợp này, vị thầy nên xem xét tâm hạnh của đệ tử ấy mà cử hành nghi thức quán đính bằng cách bỏ bớt các tác nghiệp, chỉ trao ấn bí mật của Bản tôn cho họ thôi. b) Sự nghiệp quán đính(cũng gọi Tác nghiệp quán đính, Cụ chi quán đính): Bảy ngày trước khi nhận quán đính, đệ tử phải thành tâm sám hối, vị thầy cũng phải hành trì trong thời gian 7 ngày, sau đó mới thiết lập đàn tràng, sắm sửa các thứ hương đèn hoa quả cúng dường. Đây là pháp quán đính truyền trao ấn bí mật và người nhận phải có điều kiện tài chính dồi dào mới có thể thực hành. c) Dĩ tâm quán đính (cũng gọi Tâm thụ quán đính, Bí mật quán đính, Du kì quán đính): Pháp quán đính này được ứng dụng trong trường hợp cả vị thầy và đệ tử đều thành tựu Tam muội da giới. Tức không cần bày đàn tràng ở ngoài tâm mà kiến lập Mạn đồ la trong tâm vị A xà lê, tâm đệ tử nhập vào đàn tâm của thầy, rồi trong đó thầy trò trao truyền và tiếp nhận quán đính. Nơi cử hành pháp quán đính gọi là Quán thất. Tiếp nhận quán đính gọi là Thụ quán. Thiết lập đạo tràng Mạn đồ la để cử hành nghi thức quán đính thì gọi là Mật đàn quán đính. Ấn khế và Đà la ni được truyền trao trong lúc quán đính, gọi là Quán đính ấn minh. Trong Mật giáo, khi thụ giới đều phải cử hành quán đính, thế nên thụ giới Chân ngôn tam muội da gọi là Thụ giới quán đính. Lại trong lúc quán đính, nếu người nhận quán đính muốn nhờ đó mà tiêu trừ tai chướng, thì tu pháp Hộ ma, đốt các vật cúng dường như hương hoa, nhũ mộc... Đây gọi là Quán đính hộ ma. Về số lần tu pháp này hoặc về các phẩm vật cúng dường thì có nhiều loại khác nhau. Hiện nay, Đông Mật (Mật giáo do tông Chân ngôn của Nhật Bản truyền) của Nhật Bản sau khi tu pháp Kim cương giới xong, trong khoảng từ đầu hôm đến cuối đêm đều thực hành pháp tu hộ ma, gọi là Trung gian hộ ma. Ngoài ra, để lợi ích cho các loài thủy tộc, Mật giáo dùng phướn quán đính hoặc cái tháp thả vào sông, biển, gọi là Lưu quán đính, hoặc Lưu thủy quán đính. [X. phẩm Đính sinh vương trong kinh Hiền ngu Q.13; phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; phẩm Bí mật mạn đồ la kinh Đại nhật Q.5; phẩm Trì tụng pháp tắc kinh Đại nhật Q.7; phẩm Phân biệt hộ ma kinh Nhuy hi da Q.hạ; phẩm Bản tôn quán đính kinh Tô tất địa yết la Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.3, 15, 16; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.5]. II. Quán Đính. Gọi đủ: Quán đính phan. (xt. Quán Đính Phan). III. Quán Đính (561-632). Cao tăng Trung quốc sống vào đời Tùy, người Chương an, Lâm hải, họ Ngô, người đời gọi ngài là Chương an đại sư. (xt. Chương An).

quán đỉnh bộ

(灌頂部) I. Quán Đính Bộ. Tên khác của Bảo bộ, 1 trong 5 bộ thuộc Kim cương giới, Mật giáo. Bảo bộ tứccủabáu công đức, là nội chứng trao phúc đức cho hết thảy chúng sinh, nhờ đó mà chúng sinh bước lên ngôi vị của bậc Giác vương. Vì lấy nghĩa trao quán đính cho, nên gọi Bảo bộ là Quán đính bộ. II. Quán Đính Bộ. Thánh giáocóliên quan đến Truyền pháp quán đính, Kết duyên quán đính và Tam muội da giới, gọi chung là Quán đính bộ.III. Quán Đính Bộ. Kinh điển của Mật giáo. Mật giáo cử hành nghi thức quán đính, truyền trao nghĩa lí sâu xa mầu nhiệm của kinh điển, nên gọi chung kinh điển của Mật giáo là Quán đính bộ. Thích thị kê cổ lược quyển 3 (Đại 49, 822 hạ) nói: Trong Quán đính bộ, tụng ra 1 phẩm, gọi là kinh Lăng nghiêm.

quán đỉnh gia hành

(灌頂加行) Cũng gọi Nhập đàn gia hạnh. Chỉ cho gia hạnh (chuẩn bị) được tu trước khi vào đàn quán đính Truyền pháp của Mật giáo. Theo nguyên tắc, Tứ độ gia hạnh (tu chuẩn bị 4 lần) tuy là chuẩn bị để vào đàn quán đính Truyền pháp, nhưng sau khi hành giảđã thành tựu đầy đủ Tứ độ gia hạnh rồi mà vẫn chưa thể vào ngay được thì đặc biệt phải tu gia hạnh thêm, đó là điều thông thường. Nhưng về thời gian gia hạnh và cách hành trì, thì các phái đều nói khác nhau. Phẩm Hộ ma trong kinh Nhiếp chân thực quyển hạ (Đại 18, 282 hạ) nói: Nếu khi vị A xà lê trao pháp quán đính cho đệ tử, thì trước đó 3 tháng phải quán xét tâm của người ấy như thế nào rồi sau mới trao pháp cho.

quán đỉnh hộ ma

(灌頂護摩) Pháp tu đốt các phẩm vật cúng dường như hương hoa, nhũ mộc... để cầu tiêu trừ tai họa, chướng nạn của hành giả thụ pháp Quán đính trong Mật giáo. Theo thuyết của các kinh quĩ căn bản thì Quán đính hộ ma thông thường do vị Đại a xà lê thực hành, nhưng thời gần đây phần nhiều do vị Giáo thụ sư làm thay. Bởi vì pháp này được cử hành ở khoảng giữacủa1 tòa, cho nên cũng gọi là Trung gian hộ ma. Nhưng hiện nay, Đông Mật của Nhật Bản, sau khi tu pháp Kim cương giới xong thì tu pháp Hộ ma trong khoảng từ đầu hôm đến cuối đêm, đặc biệt gọi là Trung gian hộ ma. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.4; kinh Cù hi Q.hạ; Thai quán kí trong A sa phược sao Q.1].

quán đỉnh kinh

(灌頂經) Phạm: Mahàbhiweka-mantra. Gọi đủ: Đại quán đính thần chú kinh. Cũng gọi Đại quán đính kinh. Kinh, 12 quyển, do ngài Bạch thi lê mật đa la dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Kinh này được tạo thành bởi 12 bộ kinh nhỏ, từ kinh Quán đính Tam qui ngũ giới đới bội hộ thân chú cho đến kinh Quán đính bạt trừ quá tội sinh tử đắc độ; 12 bộ kinh này đều căn cứ vào công đức của mỗi kinh mà có 4 chữ Phật thuyết quán đính, vì thế nên gọi Quán đính kinh. Trong đó, kinh Bạt trừ quá tội sinh tử đắc độ và kinh Dược sư Như lai bản nguyện do ngài Đạt ma cấp đa dịch, kinh Dược sư lưu li quang Như lai bản nguyệncông đứcdo ngài Huyền trang dịch là cùng bản Phạm mà khác tên người dịch. Kinh này bị ngờ là kinh giả được soạn vào trước đời Lương, Trung quốc. [X. kinh Phật danh Q.1; Nghi kinh ngụy soạn tạp lục trong Xuất tam tạng kí tập Q.5; Đại đường nội điển lục Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.3, 19].

quán đỉnh phan

(灌頂幡) Gọi tắt: Quán đính. Lá phan có công đức quán đính, nên gọi là Quán đính phan. Có thuyết cho rằng phan này treo thật cao, sao cho đuôi phan chạm vào đỉnh đầu của người, giống như quán đính (rưới đầu), vì thế phụ thêm 2 chữ quán đính làm tên gọi. Ở Ấn Độ đời xưa, khi Thái tử của Chuyển luân thánh vương làm lễ quán đính lên ngôi, thì cờ phan được treo lên để tô điểm cho nghi thức ấy. Về sau, Phật giáo phỏng theo nghi thức này nên dùng phan làm pháp cụ. Thời xưa phan này thường được làm bằng lá đồng mỏng trên đó có chạm trổ. Phẩm Thập địa trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 27 (Đại 9, 572 trung) nói: Ví như Thái tử của Chuyển luân thánh vương đến tuổi đăng quang thì Chuyển luân thánh vương bảo Thái tử ngồi vào tòa làm bằng vàng Diêm phù đàn đặt trên lưng voi trắng báu, phía trên giăng màn, trang nghiêm bằng các thứ cờ phan, kĩ nhạc, dùng nước lấy từ 4 biển lớn đựng trong chung vàng rưới lên đỉnh đầu của Thái tử, gọi là Quán đính đại vương. Theo Bí tạng kí thì tâm đại bi của chư Phật nghĩa là quán, người đời gọi phan là quán đính, cho nên công đức của phan, trước làm Luân vương, sau cùng thành Phật, cho đếnquảPhật gọi là Quán đính, vì vậy lấy quả gọi nhân.

quán đỉnh tam muội

(觀頂三昧) Một trong 108 tam muội. Tam muội (Phạm:Samàdhi) là trạng thái vắng lặng khi tâm an trụ ở 1 cảnh. Ngườivàođược tam muội này thì thấy khắp tất cả các tam muội khác, như đứng trên đỉnh núi thấy toàn thể cảnh vật. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.27; luận Đại trí độ Q.47].

quán đỉnh tam muội da

(灌頂三昧耶) Tam muội da nghĩa là thệ nguyện trọng yếu. Trong Mật giáo, khi cử hành pháp Quán đính, hành giả phát thệ nguyện trọng yếu, kiên cố, gọi là Tam muội da. Tức căn cứ vào tác pháp gọi là Quán đính; còn căn cứ vào tâm người nhận quán đính thì gọi là Tam muội da, tên gọi tuy khác, nhưng thể tính thì là một. Phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật quyển 5 nói về 3 thứ Quán đính và 5 thứ Tam muội da, tức tùy theo sự sai khác về tác pháp mà có 3 thứ quán đính: Kết duyên, Truyền pháp, Dĩ tâm; còn tùy theo sự sâu cạn của quán đính mà có 5 thứ tam muội da: Sơ kiến, Nhậpđổ, Cụ đàn, Truyền giáo, Bí mật. [X. Đại nhật kinh sớ Q.15].

quán đỉnh đàn

(灌頂壇) Cũng gọi Mật đàn. Chỉ cho đàn tràng tu pháp Quán đính của Mật giáo. Quán đính cần phải có các đàn như: Đàn Tam muội da giới, đàn Đại, đàn Chính giác, đàn Tổ sư, đàn Hộ ma... Vì nghi thức rưới nước trong bình Ngũ trí lên đầu người nhận pháp Quán đính được cử hành ở đàn Chính giác, nên có khi đàn Chính giác đặc biệt được gọi là đàn Quán đính. Còn các đạo cụ của đệ tử thì được trao cho tại đàn Quán đính, như trước khi quán đính thì trao cho 2 thứ là cành dương và dây kim cương; sau khi quán đính thì trao cho 4 vật: Mũi tên vàng, gương sáng, bánh xe báu và pháp loa (tù và pháp). [X. kinh Kim cương đính du già lược xuất niệm tụng Q.4].

quán đỉnh đàn mạn đồ la

(灌頂壇曼荼羅) Tức Mạn đồ la 12 Đại thánh được dùng trong đàn Chính giác của Mật giáo. Đàn Chính giác là chỉ cho đàn tu pháp thực hành tác pháp quán đính khi hành giả đã bước lên địa vị Chính giác, nên cũng gọi là đàn Quán đính. Sau khi hành giả tiếp nhận pháp Quán đính thì tự thân thành Đại nhật Như lai ở Trung đài, khuyến thỉnh 12 vị tôn đi vòng chung quanh, sau đó là tu Hộ ma cúng dường tự thân Đại nhật Như lai. Trong Mạn đồ la này, ở 4 góc của đàn Quán đính vẽ 4 vị Chấp kim cương, ở chính giữa đàn vẽ hoa sen 8 cánh. Trong 8 cánh thì 4 cánh ở 4 phương vẽ 4 vị Bồ tát, cánh ở 4 góc vẽ 4 vị sứ giả phụng giáo, tất cả là 12 vị tôn, nên gọi là Mạn đồ la 12 Đại thánh. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.8].

quán đỉnh ấn minh

(灌頂印明) Chỉ cho ấn khế (ấn) và chân ngôn (minh) mà vị A xà lê trao cho hành giả khi cử hành các pháp quán đính: Truyền pháp, Kết duyên, Du kì... trong tông Chân ngôn Nhật bản. Trong đó, ấn của quán đính Truyền pháp thông thường dùng ấn Vô sở bất chí và ấn Ngũ cổ. Ấn Vô sở bất chí có mở, đóng khác nhau; ấn Ngũ cổ thì có trong, ngoài bất đồng. Chân ngôn cũng có nhiều loại: Ngũ tự minh (chân ngôn 5 chữ), Nhất tự minh... Còn ấn minh của 2 bộ Kim cương và Thai tạng thì có các loại: Hai ấn 2 minh; 1 ấn 2 minh; 1 ấn 1 minh... [X. Bí mật trang nghiêm truyền pháp quán đính nhất dị nghĩa; Quán đính truyền thụ bí lục Q.thượng].

quán định

(觀定) Pàli: Vìmaôsà-samàdhi. Thiền định Quán tam ma địa đoạn hành thành tựu thần túc, là định thứ 4 trong Tứ thần túc. [X. luận Thanh tịnh đạo 3]. (xt. Tứ Thần Túc).

quáng

Blinded.

quát

To shout (scold) loudly.

quát cốt chi ngôn

(刮骨之言) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Lời nói đẽo xương. Tức là bậc thầy dùng lời sắc bén, sâu xa để đả phá các chấp trước mê vọng của người học một cách triệt để. Chương Động sơn Lương giới trong Tổ đường tập quyển 6 chép: Sư dạy chúng rằng Các nơi có Kinh nhân chi cú (câu nói khiến người ta sợ hãi) thì ở đây ta có Quát cốt chi ngôn. Ngoài ra, cái phương pháp mà thầy sử dụng để tiếp dẫn người học kín kẽ mạnh bạo, không sơ hở chút nào, gọi là Quát bì kiến cốt (cạo da thấy xương); nếu thiền sinh đã đốn ngộ được cơ thiền, đạt đến chỗ dứt bặt lời nói, đốt bỏ sách dở thì gọi là Quát ngữ thiêu thư (nạo lời đốt sách). [X. Hư đường hòa thượng ngữ lục Q.2].

quát thiệt

(刮舌) Nạo lưỡi.Tức khi vị tỉ khưu súc miệng, rửa mặt, dùng cành dương để nạo chất dơ trên mặt lưỡi gọi là Quát thiệt. Lúc nạo lưỡi, có 5 việc cần chú ý: 1. Nạo rửa 3 lần. 2. Nếu trên lưỡi chảy máu thì phải ngưng ngay. 3. Không được vấy bẩn y áo và 2 chân. 4. Cành dương đã dùng rồi, không được vứt bỏ bừa bãi. 5. Lúc nạo lưỡi, không được để người khác thấy. [X. kinh Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.thượng].

quát đốc thành gia

(刮篤成家) Tiếng dùng trong Thiền Lâm. Nghĩa là lấy tinh thần nghiêm túc, rất mực chân thành làm gia phong. Tức là nếu dùng thái độ chân thành để xử lí mọi việc hằng ngày, đi đứng ngồi nằm đều hợp qui củ, thì chắc chắn có chỗ chứng ngộ mà tự tạo thành 1 gia phong riêng. Trong Thiền Lâm, từ ngữ này được chuyển dụng để chỉ cho người học tuy sống giữa cuộc đời ô trọc, nhưng vẫn chuyên tâm tinh tấn không bị đắm nhiễm, tự tạo cho mình 1 phong cách riêng. Thung dung lục tắc 98 (Đại 48, 291 thượng) nói: Không vào đời (thân để ngoài vật), chẳng theo duyên (tự có gia phong riêng – Quát đốc thành gia).

quân

1) Quân bình: Balance—Equal. 2) Anh (nói theo kiểu quý phái): Prince—Noble—Ideal man. 3) Quân Đội: An army—Military—Martial.

quân bình

To balance

quân danh

(君名) Cũng gọi Khanh danh. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Cách xưng hô con em những nhà quan chức khi chúng mới vào cửa Phật, chưa được chính thức xuất gia. Như con em bậc công khanh qui y cửa Phật thì được gọi là Binh bộ khanh, Thiếu nạp ngôn khanh. Nếu sau này các con em ấy trở thành người xuất gia chính thức,thì cũng được gọi là Binh bộ khanh pháp ấn.

quân na

Kunda (skt). 1) See Quân Đồ. 2) Một loại hoa, có lẽ là hoa lài: a kind of flower, perhaps jasmine.

quân na hoa

(軍那花) Quân na, Phạm: Kunda. Cũng gọi Quân đà hoa, Quần đà hoa. Tên một loài hoa ở Ấn Độ, màu trắng gọi là Bạch mạt lị hoa, thường được Mật giáo dùng để cúng dường. Đại nhật kinh sớ quyển 5 (Đại 39, 632 thượng) nói: Như hoa quân na, gốc ở phương Tây, màu cũng trắng tươi.

Quân Như

均如; C: jūnrú; J: kinnyo; K: kyunyŏ, 923-973.|Học giả Hàn Quốc có uy tín về kinh Hoa Nghiêm trong thời kì Cao Li (k: koryŏ). Ông viết nhiều luận giải về tác phẩm của các vị tổ Hoa Nghiêm tông Trung Hoa và thiết lập nền tảng cho việc lập lại mối tương quan của Hoa Nghiêm tông và Thiền tông trong tương lai qua thái độ cởi mở theo quan điểm của lớp người sau. Các tác phẩm của ông là một nguồn rất quan trọng cho tri thức hiện đại để nhận ra bản chất đặc biệt của Hoa Nghiêm tông Triều Tiên. Một trong những tài liệu có liên quan đến Quân Như là Quân Như truyện (均如傳, k: kyunyŏ-jŏn), đã được Adrian Buzo và Tony Prince dịch sang tiếng Anh.

quân như

(均如) ( 923-973) Cao tăng người nước Cao Li, thuộc tông Hoa Nghiêm, người ở Kinh Nhạc, Hoàng Châu, họ Biên. Sư mồ côi từ nhỏ, dáng người xấu xí nhưng thông minh. Năm 15 tuổi, sư theo người anh họ là Thích thiện quân đến chùa Phục Hưng xuất gia, lễ Hòa thượng Thức hiền tu học Phật pháp. Sau, sư đến chùa Linh Thông, gần gũi Ngài Nghĩa Thuận, chịu khó học tập, chuyên tâm tìm hiểu kinh Phật. Sư và Thủ tọa Nhân dụ đều thích du ngoạn các danh sơn, qua lại với nhau để trao dồi Phật pháp, đồng thời mở lớp giảng dạy Phật pháp, chư tăng trẻ tuổi về theo học rất đông. Sư là pháp tôn của ngài Hi Lãng, Tổ khai sáng phái Bắc nhạc thuộc tông Hoa nghiêm cuối thời kì Tân La. Vì cảm nhận mối tệ của sự chia rẽ giữa Nam nhạc và Bắc nhạc, nên sư lập định lại tông nghĩa, dẫn dụng kinh Phật hoặc luận của các vị Bồ tát để sửa lại những sai lầm ngõ hầu hòa hợp các phái. Lúc bấy giờ, triều đình có mở hội ở chùa Vương luân để tuyển chọn bậc long tượng trong Phật giáo, đều công nhận nghĩa hạnh của sư là chính thống, ngoài ra là bàng hệ. Lúc còn sinh tiền, sư từng có nhiều việc cảm thông thần dị. Ngoài việc tinh thông học thuyết Hoa nghiêm, sư còn giỏi văn chương thi ca, từng dựa vào 10 nguyện vương củabồ tát Phổ Hiền mà soạn ra 11 bài ca để giáo hóa người đời. Văn từ của sư thanh nhã, diễm lệ, rất có giá trị về mặt văn học ở Hàn Quốc. Năm Quang tông 24 (973), sư thị tịch ở chùa Pháp qui, hưởng dương 51 tuổi, tăng lạp 26. Sư có các tác phẩm: Hoa nghiêm sưu huyền phương quĩ kí 10 quyển, Hoa nghiêm khổng mục chương kí 8 quyển, Hoa nghiêm ngũ thập yếu vấn đáp 4 quyển, Nhập pháp giới phẩm sao kí 1 quyển, Thích giám huyền kí viên thông sao 28 quyển (các tác phẩm trên đây đều đã thất lạc), Hoa nghiêm kinh Tam bảo chương viên thông sao, Thích hoa nghiêm chỉ qui chương viên thông sao, Thập cú chương viên thông kí, Nhất thừa pháp giới đồ viên thông kí (mỗi loại đều 2 quyển), Thích hoa nghiêm giáo phần kí viên thông sao 10 quyển... hiện nay đều được ông Kim tri kiến biên vào Quân Như Đại Sư Hoa Nghiêm Học Toàn Thư.

quân như đại sư hoa nghiêm học toàn thư

(均如大師華嚴學全書) Toàn thư, do Đại sư Quân như người Cao Li soạn, ông Kim Tri Kiến biên tập và chú thích, do Hội Xuất Bản thuộc viện Nghiên Cứu Phật Giáo Truyền Thống Đại Hàn ấn hành vào năm 1977. Nội dung sách này gồm có: Hoa nghiêm Tam bảo chương viên thông sao, Thích hoa nghiêm chỉ qui chương viên thông sao, Thập cú chương viên thông kí, Nhất thừa pháp giới đồ viên thông kí (mỗi thứ 2 quyển), Thích hoa nghiêm giáo phần kí viên thông sao 10 quyển. Đây là tổng tập nghiên cứu Hoa nghiêm học do ngài Quân Như soạn. Sách này còn phụ thêm Đại hoa nghiêm thủ tọa viên thông lưỡng trùng đại sư Quân như truyện do Tiến sĩ Hách liên đĩnh soạn vào năm Cao Li Văn tông 29 (1075). Bộ sách này được tìm thấy ở lầu chứa kinh của chùa Hải ấn tại Hàn quốc. Theo sự nhận xét của người biên tập là Kim tri kiến thì sách này có các giá trị sau đây: 1. Cho thấy sự thành tựu của Đại sư Quân Như, là tư liệu quan trọng để nghiên cứu Hoa nghiêm học của 3 nước Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn. 2. Có thể dựa vào sự nghiên cứu của Đại sư về Ngũ giáo chương trong Giáo phần kí của ngài để giải quyết vấn đề bối cảnh truyền nhập kinh sách Hoa nghiêm bản tiếng Nhật, bản đời Tống ở thời kì đầu tại Nhật bản. 3. Trong bộ Toàn thư này có nội dung của Diệu lí viên thành quán của Đại sư Thần Tú thuộc Thiền Bắc tông của Trung Quốc soạn.

quân sư phụ

King master and father.

quân thần ngũ vị

(君臣五位) Năm vị vua tôi, do Thiền sư Tào Sơn Bản tịch dựa theo thuyết Ngũ vị của ngài Động Sơn Lương Giới mà lập ra. Thiền sư Động Sơn Lương Giới – Tổ khai sáng của Tông Tào động – lấy chân lí lập làm Chính vị ., lấy sự vật lập làm Thiên vị ,rồi dựa vào lí Thiên và Chính xoay trở lẫn nhau mà lập thành thuyết Ngũ vị (Chính trung thiên, Thiên trung chính, Chính trung lai, Thiên trung chí và Kiêm trung đáo). Thiền sư Tào Sơn Bản tịch lại nương theo bản ý của ngài Động Sơn mà phát minh thêm, mượn ví dụ vua tôi để nói rõ yếu chỉ của Ngũ vị, gọi là Quân thần ngũ vị. Tức là: 1. Quân vị (địa vị vua): Chỉ cho cõi hư không xưa nay vốn chẳng có 1 vật gì, là Chính vị, tức Chính trung lai trong Ngũ vị. 2. Thần vị (địa vị bầy tôi): Chỉ cho cõi sắc, muôn tượng có hình, là Thiên vị, tức là Thiên trung chí trong Ngũ vị. 3. Thần hướng quân (bầy tôi hướng lên vua): Bỏ sự về lí, tức là Thiên trung chính hướng lên, trở về trạng thái vắng lặng. 4. Quân thị thần (vua nhìn xuống bầy tôi): Bỏ lí theo sự, tức là Chính trung thiên hướng xuống, theo duyên sinh khởi muôn pháp. 5. Quân thần đạo hợp(đạo vua tôi hợp nhau): Ngầm ứng các duyên mà không rời vào hữu vi, tức là Kiêm trung đáo, chỉ cho địa vị đạo Đại giác cùng tột, chẳng phải Chính, chẳng phải Thiên, động tĩnh hợp nhất, sự lí không hai. [X. Chương Tào sơn bản tịch trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.17; Tào sơn Nguyên chứng thiền sư ngữ lục]. (xt. Động Sơn Ngũ Vị).

quân trà lợi minh vương

Kundali-raja (skt)—See Quân Đồ Lợi Minh Vương.

quân trì

Kundi or Kundika (skt)—Quân Trì Ca—Vận Trì. 1) Chiếc bình trong tay của Đức Quán Âm: The vase in Kuan-Yin's hand—An asecetic' water bottle. 2) Một trong 18 vật dụng của Tỳ Kheo: One of the eighteen utensils of Bhikkhus. ; (軍持) Phạm: Kuịđikà. Cũng gọi Quân đĩnh, Quấn trĩ ca. Hán dịch: Bình, Tháo bình, Thủy bình. Vật cầm của Phạm thiên, Thiên thủ Quán âm, cũng là 1 trong 18 vật dụng của các vị tỉ khưu. Quân trì là đồ đựng nước mang theo bên mình, cũng dùng để đựng các vật như dầu xoa, muối, đường phèn... Vì công dụng khác nhau nên cách gọi cũng khác, như bình rửa chân, bình rửa tay, bình sạch (bình đựng nước uống), bình dơ (bình dùng đi đại tiện)... Về chất liệu thì bình được làm bằng đất nung, đồng, sắt... [X. kinh Đà la ni tập Q.3; Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát đại bi tâm đà la ni; luật Tứ phần Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.9].

Quân tử

君子; C: jūnzí; J: kunshi; |Người tốt, người tài, người đức hạnh theo giáo lí nhà Nho, được lập trong sự tương phản với Tiểu nhân (小人).

quân vương tí lạc

(君王臂落) Cánh tay nhà vua rơi. Đây là sự tích về ông vua bức hại tôn giả Sư tử, vị Tổ thứ 24 của Thiền tông Ấn Độ. Sau khi đắc pháp, Tôn giả Sư tử đến nước Kế tân thuộc Bắc Ấn Độ hoằng hóa và truyền pháp cho Ngài Bà Xá Tư Đa. Không bao lâu, nước này bị pháp nạn, nhà vua miệt thị Phật giáo. Một hôm, vua nói với Tôn giả Sư tử (Đại 51, 215 thượng): Đã lìa sinh tử chưa? (...) Nếu đã lìa sinh tử thì hãy bố thí cho ta cái đầu. Tôn giả đáp: Thân chẳng phải của ta, đâu có tiếc cái đầu? Nhà vua nghe xong liền vung gươm chém đầu tôn giả, chỗ vết chém sữa trắng phun lên vài thước, lúc ấy cánh tay nhà vua cũng tự nhiên đứt lìa. Đây là vì vua nước Kế tân xem khinh Phật pháp, cũng chẳng để ý đến sức công đức tự giác của Tôn giả Sư tử nên hiện tại phải chịu quả báo. [X. Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.6; chương Sư tử tôn giả trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.2; Bảo lâm truyện Q.5].

quân đề

Kun-Ti (Ch). a) Người ta nói đây là một đệ tử thuần thành của Ngài Xá Lợi Phất: Said to be a devoted disciple of Sariputra. b) Một trong những thị giả của Ngài Văn Thù: One of the attendants on Manjusri. ; (均提) Phạm: Kunti. I. Quân Đề. Chỉ cho sa di Quân Đề, con của một nhà Bà la môn ở Ấn Độ, 7 tuổi xuất gia, ngài Xá Lợi Phất đưa đến Tịnh xá Kì Hoàn, dần dần nói pháp cho nghe, sau Quân Đề chứng được quả A la hán. Sau khi đắc đạo, vì cảm niệm ân đức của thầy nên Quân Đề nguyện suốt đời làm sa di để thị giả và cung phụng những gì thầy cần. [X. phẩm Sa di Quân Đề trong kinh Hiền ngu Q.13; Kinh luật dị tướng Q.22]. II. Quân Đề. Chỉ cho đồng tử Quân Đề, là thị giả của bồ tát Văn Thù. Theo Ngũ đăng hội nguyên Q.9 thì Thiền sư Vô Trước Văn Hỉ ở Hàng Châu, khi đến núi Ngũ Đài có gặp đồng tử Quân Đề.

quân đề đồng tử

See Quân Đề (b).

quân đồ

Kunda (skt)—Lò lửa, dùng làm phép Hộ Ma trong Mật Giáo—A hole in the ground, or a brazier, or a fire-pot, for the fire at the fire altar; the homa or fire altar in the esoteric sects in fire-worship. ; (軍荼) Phạm: Kuịđa, hoặc Agnìkuịđa. Hán dịch: Hỏa lô. Vốn chỉ cho các loại bình, lọ được dùng trong tông giáo, Mật giáo đặc biệt chỉ cho cái lò lửa (hỏa lô) được sử dụng khi tu pháp Hộ ma (pháp cúng tế lửa), cho nên cũng gọi Hộ ma lô, Hộ ma hỏa lô. Tùy theo các loại pháp tu mà hình dáng của quân đồ có khác nhau. Như cái lò lửa của pháp tu Tức tai có hình tròn, của pháp tu Tăng ích có hình vuông, của pháp tu Hàng phục có hình tam giác, của pháp tu Câu triệu có hình chày kim cương, của pháp tu Kính ái có hình hoa sen... Tuệ lâm âm nghĩa quyển 36 (Đại 54, 584 trung) nói: Quân đồ là tiếng Phạm Trung quốc dịch là Địa hỏa lô, tức là cái lò Hộ ma. [X. phẩm Hộ ma trong kinh Du già đại giáo vương Q.5; kinh Tô tất địa yết la Q.trung; Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ].

quân đồ bát thán

(君徒鉢嘆) Phạm: Kundapadhaịiyaka . Cũng gọi Quân đầu bà hán. Một trong 4 vị Đại thanh văn hộ pháp ở đời. Tên gọi này ít thấy trong kinh luận. Cứ theo kinh Xá lợi phất vấn thì khi cháu của vua A dục là Phất sa di đa la làm vua, phá hủy các chùa, tháp 500 vị La hán phải lên núi Nam sơn lánh nạn, lúc ấy Quân đồ bát thán ra đời giữ gìn kinh điển, nhờ đó mới còn truyền đến đời sau. [X.phẩm Đệ tử trong kinh Tăng nhất a hàm Q.3; kinh Di lặc hạ sinh; luận Phân biệt công đức].

quân đồ lợi

Kundalin (skt)—Thủy bình hình tròn như chiếc nhẫn—A ring-shaped vase or bottle.

quân đồ lợi minh vương

Amrta (skt). 1) Một trong ngũ đại minh vương, Cam Lộ Minh Vương—One of the five Ming-Wang, the ambrosia king. 2) Dạ Xoa trong hình thức trừ ma: Also known as Yaksa in his firece form of queller of demons.

quân đồ lợi minh vương pháp

(軍荼利明王法) Quân đồi lợi, Phạm: Kuịđalì. Pháp tu lấy Minh vương Quân đồ lợi làm Bản tôn để tu các pháp Điều phục, Tức tai hoặc Tăng ích trong Mật giáo. Khi tu pháp này, hành giả phải xoay mặt về hướng nam hoặc hướng đông. Mạn đồ la (đàn tu pháp) của pháp này thông thường là hình vuông hay hình tròn. Nhưng xưa nay rất ít người tu riêng 1 pháp này mà phần nhiều nhập chung trong Ngũ đại tôn cúng để tu.

quây quần

To gather together (around) —To cluster.

quãng đơn

Là giường rộng dài của Thiền đường, mỗi giường có thể nằm mấy chục người. Đơn vị mỗi người nằm rộng cỡ 0,8m.

quét sạch

To brush aside.

quê nhà

Birthplace—Homeland.

quên dĩ vãng

Let bygones be bygones—To forget the past.

quên lãng

Bị Quên lãng—Buried and forgetten.

quên mình

To sacrifice oneself—To forget oneself for the sake of others.

quên mất bồ đề tâm mà tu hành các thiện pháp đó là ma nghiệp

Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật đã dạy rằng: “Quên mất Bồ đề tâm trong khi tu hành các thiện pháp, đó là ma nghiệp.” Một thí dụ cụ thể là nếu chúng ta không vì Bồ đề tâm mà bố thí thì cái bố thí ấy có thể vì danh vì lợi hay vì muốn được khen tặng, vân vân, đó là cách cách hành xử của loài ma—In Avatamsaka Sutra, the Buddha taught: “To neglect the Bodhi Mind when practicing good deeds is the action of demons.” A concrete example is that if we neglect our Bodhi mind suring we give charity; the charity may be made for fame, benefits or praise, and so on; such conduct is the conduct of the demons.

quí

Thấy mắc cở cho người—Shame for others.

quý

1) Đắc giá: Dear—Precious. 2) Hổ thẹn: Hổ thẹn vì việc làm xấu của người (đối với việc xấu mình làm mà không ai biết, tuy nhiên bản thân mình cảm thấy xấu hổ thì gọi là “Tàm.” Đối với việc xấu mình làm mà người khác thấy, mình thấy xấu hổ thì gọi là “Quý” hay hổ thẹn)—Ashamed for the misdeeds of others. 3) Quý trọng: To esteem—To reverence. 4) Tôn quý: Honourable. ; (愧) Phạm: Apatràpya. Đối lại: Vô quí. Thẹn, tự thẹn. Nghĩa là mình làm điều xấu, mặc dù người khác không thấy, không biết, nhưng mình cảm thấy tự hổ thẹn, gọi là Quí, là tên của tâm sở, 1 trong 75 pháp của tông Câu xá, 1 trong 100 pháp của tông Duy thức. Tông Câu xá cho Quí là 1 trong 10Đại thiện địa pháp, còn tông Duy thức thì cho là 1 trong các pháp thiện. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.19; (bản Bắc); luận Câu xá Q.4; luận Thành duy thức Q.6]. (xt. Vô Quí, Tàm Quí).

quý báu

Precious—Valuable.

quý khách

Honoured guests.

quý kỉ đẳng phật

(貴己等佛) Cho mình quí bằng Phật, lời quở trách kẻ bàn suông về tâm tính, vì hiểu câu Sinh Phật nhất như là chúng sinh và Phật như nhau, nên kẻ ấy sinh tâm cao mạn, cho mình là quí. Đứng về phương diện lí mà nói tuy chúng sinh và Phật nhất như, nhưng đứng về mặt nhân quả mê ngộ mà nhìn, thì giữa chúng sinh và Phật còn cách xa nhau lắm. Nghĩa là Phật đã giác ngộ mà chúng sinh vẫn còn mê muội, vậy nếu một mực cho mình đã bằng với Phật thì sẽ sinh tâm kiêu ngạo và lơ là với việc thực tu.

quý mến

To esteem.

quý ngự độc kinh

(季禦讀經) Cũng gọi Niên ngự độc kinh. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật Bản. Ở Nhật Bản, vào 2 mùa Xuân, Thu (tháng 2 và tháng 8) hàng năm, mỗi mùa chọn lấy ngày tốt lành, thỉnh 100 vị tăng theo lệ đã qui định, vào cung vua tụng kinh Đại bát nhã để cầu cho quốc gia an vui, Thiên hoàng mạnh khỏe. Đây là 1trong những việc làm trọng đại hàng năm của giới Phật giáo Nhật Bản.

quý nhân

Noble person—Distinguished person.

quý phái

Aristocracy—Nobility.

quý sơ lễ

(季初禮) Lễ đầu mùa. Trong Thiền lâm, vào ngày đầu của mỗi mùa như: Mồng 1 tháng 1, mồng 1 tháng 4, mồng 1 tháng 7 và mồng 1 tháng 10, vị Trụ trì đi tuần xem xét các nhà, khi đến nhà tọa thiền thì lạy 3 lạy sát đất, rồi đi quanh nhà 1 vòng, gọi là Quí sơ lễ. [X.Niên trung hành sự trong Xương thụ lâm thanh qui Q.hạ].

quý sương vương triều

(貴霜王朝) Phạm: Kwàịa. Vương triều thống nhất ở vùng tây bắc Ấn Độ hưng thịnh từ cuối thế kỉ thứ I đến thế kỉ thứ III. Thời kì đầu do Tộc trưởng Khưu tựu khước (Kujula, Kadphises I) của bộ lạc du mục Nguyệt thị ở vùng Trung Á thống lãnh. Đến con ông là Diêm cao trân (Wema Kadphises) mở rộng lãnh thổ. Đời thứ 3 là vua Ca nị sắc ca thống trị miền Bắc Ấn Độ, thế lực bành trướng đến tận Trung á, Iran, mở ra 1 đại cường quốc kể từ sau vua A Dục. Vương triều này cũng có quan hệ với Trung quốc, La mã... Thời ấy, sự giao lưu văn hóa Đông Tây rất thịnh, Vương triều Quí sương nhân đó đã chịu ảnh hưởng văn hóa Hi lạp sâu đậm, như y học, thiên văn học, luận lí học, nghệ thuật Phật giáo... đều chịu ảnh hưởng Hi lạp, La mã... Lại nhờ vàng được lưu hành trong nước khiến nền kinh tế rất phát đạt, học thuật, văn nghệ cũng hưng thịnh. Tín ngưỡng thì bao gồm các vị thần trong tín ngưỡng của Hi lạp và trong tông giáo Ba tư, do đó, đã dung hòa cả văn hóa dị tộc ngoại lai. Thời này, giáo nghĩa của Thuyết nhất thiết hữu bộ rất thịnh hành và ngài Mã minh là nhân vật xuất chúng hoạt động trong giới văn học Phật giáo. Đồng thời, chư tăng trong miền Trung á nối nhau đến Trung quốc dịch kinh. Mĩ thuật Phật giáo Kiện đà la, Mạt thố la cũng phát triển rực rỡ. Về sau, Vương triều Quí sương bị Vương triều Tát san (Sasan) nổi lên vào cuối thế kỉ III tiêu diệt.

quý tiện

Dear and cheap—Noble and vile—Noble and base—Your and my.

quý trọng

To esteem—To Admire and respect. .

quý tướng

Appearance (face) of a noble person.

quý tộc

Nobility—Aristocracy. ; (貴族) Chế độ Quí tộc của Ấn độ bắt đầu khoảng 1.000 năm trước Tây lịch, khi giống dân Aryan từ vùng Ngũ hà (Punjab) dần dần di chuyển về hướng đông, đến mãi sông Jumna và khoảng giữa sông Hằng, chiếm lấy vùng đất đồng bằng và mầu mỡ (tức vùng trung tâm kinh tế, chính trị của Ấn Độ). Sau khi cuộc tiến chiếm kết thúc, người Aryan thiết lập 1 chế độ xã hội, tự xưng mình là Bà la môn, tức giai cấp cao nhất, còn dân địa phương bị chinh phục thì phải làm nô lệ. Đến khoảng 500 năm trước Tây lịch, nền văn hóa Ấn độ đã xảy ra 1 cuộc thay đổi lớn. Trung tâm văn hóa dần dần di chuyển về phía đông; các đô thị mới mọc lên, các giai cấp mới cũng lần lượt quật khởi, uy quyền của giái cấp Bà la môn dần dần bị giai cấp Vũ sĩ (Phạm: Kwatriya, Sát đế lợi) thay thế.Đức Phật đã ra đời vào thờikì này. Tuy xuất thân từ dòng quí tộc, nhưng đức Phật vẫn lấy việc thực hiện Pháp (Phạm: Dharma) làm tông chỉ, Ngài thường nói: Không kể dòng dõi, chỉ kể sự tu hành. Tức không nhìn vào trang phục, dòng dõi, gốc tích mà cho là quí tộc, chỉ xem người ấy có khả năng giác ngộ chân lí và theo đúng pháp tu hành mà cho là quí. Do đó, những người vào tăng đoàn, không kể sang hèn, bất luận thuộc giai cấp nào đều gọi là Thích tử.

quý tử

Precious son.

quý vật

Valuable things.

Quý Đàm Tông Lặc

(季潭宗泐, Kitan Sōroku, 1318-1391): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Quý Đàm (季潭), còn gọi là Toàn Thất (全室), xuất thân Đài Châu (台州, Tỉnh Triết Giang), họ Châu (周). Năm 8 tuổi, ông đến tham học với Tiếu Ẩn Đại Hân (笑隱大訢) và kế thừa dòng pháp của vị này. Đến khoảng cuối thời nhà Nguyên, ông vào ẩn cư trong Kính Sơn (徑山). Cho đến năm đầu (1368) niên hiệu Hồng Võ (洪武), ông làm trú trì Trung Thiên Trúc Tự (中天竺寺) ở Hàng Châu (杭州). Sau đó, vâng chiếu nhà vua, ông đến trú tại Thiên Giới Tự (天界寺) ở Kim Lăng (金陵), rồi đến năm thứ 10 (1377) cùng niên hiệu trên, ông đi sứ sang Tây Vức (西域). Vào ngày mồng 10 tháng 9 năm thứ 24 niên hiệu Hồng Võ, ông thị tịch, hưởng thọ 74 tuổi. Trước tác của ông có Toàn Thất Ngoại Tập (全室外集) 9 quyển. Ông cũng có mối quan hệ với Nhật Bản như đã từng soạn lời tựa cho bản Không Hoa Tập (空華集) của Nghĩa Đường Châu Tín (義堂周信, 1325-1388) hay Viên Thông Đại Ứng Quốc Sư Ngữ Lục (圓通大應國師語錄) của Nam Phố Thiệu Minh (南浦紹明, 1235-1308).

Quý Đông

(季冬): tên gọi tháng cuối cùng của tiết Đông, tức là tháng 12 Âm Lịch. Trong Lễ Ký (禮記), chương Nguyệt Lịnh (月令) có ghi rằng: “Quý Đông chi nguyệt, nhật tại Vụ Nữ, Hôn Lâu trung, Đán Đê trung (季冬之月、日在婺女、昏婁中、旦氐中, vào tháng cuối năm, mặt trời ở sao Vụ Nữ, buổi tối thì ở trong sao Lâu, buổi sáng sớm thì ở trong sao Đê).” Hay trong bài thơ Đầu Thánh Du (投聖俞) của Tư Mã Quang (司馬光, 1019-1086) nhà Tống có câu: “Cửu cù Quý Đông nguyệt, phong sa chánh thảm độc (九衢季冬月、風沙正慘黷, khắp nẻo đường tháng Chạp, gió cát thật nhơ nhớp).” Trong Kính Sơn Trích Nhũ Tập (徑石滴乳集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 67, No. 1308) quyển 3 có câu: “Quý Đông cực hàn, vạn mộc đoản tàn, duy hữu Mai hoa, thập phần thanh vận (季冬極寒、萬木短殘、惟有梅花、十分清韻, tháng Chạp băng hàn, cây cỏ điêu tàn, chỉ có hoa Mai, mười phần tươi xanh).” Trong bài Tặng Tường Cảnh Hưu Từ Chánh (贈祥景休嗣正) của Ngô Sơn Tịnh Đoan Thiền Sư Ngữ Lục (吳山淨端禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1449) quyển 2 có đoạn: “Hy Ninh Quý Đông tiết, dạ tọa canh dĩ cửu, nguyệt sắc xạ song hộ, tùng phong minh cốc khẩu (熙寧季冬節、夜坐更已久、月色射窗戶、松風鳴谷口, Hy Ninh tiết tháng Chạp, đêm ngồi canh đã lâu, ánh trăng xuyên song cửa, gió tùng vang miệng khe).” Hoặc trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 9 lại có đoạn: “Quý Đông hàn tiết, khứ lai vô biệt, thiên sơn vạn sơn, duy tích tàn tuyết, Thiền khách tương phùng, tương hà diễn thuyết, các thỉnh quy đường, tùy duyên điềm yết (季冬寒節、去來無別、千山萬山、唯積殘雪、禪客相逢、將何演說、各請歸堂、隨緣憩歇, cuối Đông lạnh tiết, đến đi chẳng khác, ngàn núi vạn núi, chỉ chất trắng tuyết, khách Thiền gặp nhau, lấy gì diễn thuyết, đều mời về phòng, tùy duyên nghỉ mệt).”

quýnh

To be overjoyed—To be excited with joy.

quăng bỏ

To throw away.

quăng xuống

To throw down.

quơû

To reprimand—To rebuke—To scold—To blame.

quạ và chim cú

chim quạ đi ăn ban ngày, chim cú đi ăn ban đêm, hai loài trái ngược nhau không thể cùng chung sống. Ví dụ dùng để chỉ việc vô lý, không thể xảy ra.

Quả

果; C: guŏ; J: ka;|1. Trái cây, kết quả; 2. Sinh ra quả, một kết quả, sự tất yếu, sự kết luận; 3. Sự khai hoa kết trái. Kết quả của một hành vi hay tu tập, phương diện quả của nghiệp (s: karma, phala, kārya); 4. Kết quả của việc tu tập, chứng ngộ, giác ngộ, giải thoát, – là Phật quả; 5. Một trong Bốn quả vị của hàng Thanh văn; 6. Một trong Mười như thị được đề cập trong kinh Pháp Hoa. Thập như thị (十如是)

quả

Phala (skt). 1) Trái cây: Fruit. 2) Hậu quả: Effect—Consequence. 3) Quả báo: reward—Retribution—See Quả Báo. 4) Từ “Quả” đối lại với “Nhân”: The term “consequence” or “effect” contrasts with “cause,” or “Fruit” contrasts with “seed.” 5) Hết thảy các pháp hữu vi là trước sau nối tiếp, cho nên đối với nguyên nhân trước mà nói thì các pháp sinh ra về sau là quả: The effect by causing a further effect becomes also a cause—See Ngũ Quả. ; (果) Phạm: Phala. Hán âm: Phả la. Vốn chỉ cho trái cây, sau được chuyển dụng để chỉ cho kết quả do nhân sinh ra. Bởi vì tất cả pháp hữu vi là trước sau nối nhau, cho nên đối lại với nhân ở trước thì pháp sinh ra sau gọi là quả. Lại như Trạch diệt tuy là pháp vô vi, nhưng do đạo lực là nhân chứng đắc, nên cũng gọi là quả. Còn hư không và Phi trạch diệt đều không có nhân đối đãi ở trước, mà cũng chẳng có pháp sinh ra ở sau, cho nên đều thuộc pháp phi quả. Về chủng loại của quả thì Hữu bộ Tiểu thừa (luận Đại tì bà sa quyển 21, luận Câu xá quyển 6) và tông Duy thức Đại thừa (luận Thành duy thức quyển 8) chia làm 5 loại như sau: 1. Đẳng lưu quả: Tất cả quả thiện do nhân thiện sinh ra, hoặc tất cả quả ác từ nhân ác sinh, đều có cùng 1 tính chất với nhân, cho nên gọi là Đẳng lưu quả. Cũng gọi là Tập quả, Tập khí quả. 2. Dị thục quả: Quả do nhân nghiệp thiện, bất thiện, tức quả vô kí (chẳng phải thiện, chẳng phải bất thiện) do nhân dị thục sinh ra, gọi là Dị thục quả. Là quả báo do tính chất khác nhau của nhân sinh ra, cũng gọi là Báo quả. 3. Sĩ dụng quả: Quả do nhân Câu hữu và nhân Tương ứng sinh ra. Tức là quả do lực dụng của nhân tạo thành, như những sự nghiệp (quả) được thành tựu nhờ sức (nhân) của cùng một nhóm người (sĩ phu), là nhân quả đồng thời. 4. Tăng thượng quả: Quả không bị chướng ngại mà còn được sức trợ giúp thêm cho sinh ra. Tức ngoài nhân Năng tác chính ra, còn nhờ tất cả pháp hữu vi khác làm nhân Năng tác trợ giúp để thành tựu quả. Quả của nhân Năng tác tức là quả Tăng thượng. Bốn quả trên gọi là quả Hữu vi, vì đều thuộc phạm vi pháp hữu vi. 5. Li hệ quả: Quả vô vi. Li hệ là lìa khỏi sự trói buộc của phiền não. Li hệ quả là chỉ cho Trạch diệt và Niết bàn. Lại theo luận Đại tì bà sa quyển 121 thì các Luận sư nước Kiện đà la lập thuyết 9 quả, tức ngoài 5 quả nêu trên còn thêm 4 quả sau đây: 1. An lập quả: Chỉ cho quả dựa vào pháp khác mà được an lập, như dựa vào phong luân mà có thủy luân, dựa vào thủy luân mà có kim luân, dựa vào kim luân mà có đại địa (đất liền), dựa vào đại địa mà có hữu tình, phi tình... 2. Gia hạnh quả: Chỉ cho quả nhờ tu hành mà được, như nhờ sức gia hạnh quán các pháp bất tịnh... mà phát sinh trí vô lậu. 3. Hòa hợp quả: Chỉ cho quả do các nhân hòa hợp mà sinh ra, như nhãn căn và sắc hòa hợp mà sinh ra nhãn thức, ý và pháp hòa hợp mà sinh ra ý thức... 4. Tu tập quả: Chỉ cho quả do tu tập Thánh đạo mà sinh ra. Lại như Thập lực, Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng pháp, Tự tại thần lực... của đức Phật đều là kết quả nhờ tu hành mà được, nên cũng gọi là Quả lực.Trong kinh điển Phật, chữ quả có nhiều hàm nghĩa và cách dùng, chẳng hạn nói theo nghĩa tương ứng tương báo thì nhân thiện sinh ra quả thiện, nhân ác sinh ra quả ác; quả báo khổ gọi là quả khổ, quả báo vui gọi là quả vui. Nói theo sự quan hệ hiện tại, vị lai đối đãi, thì thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ... là 5 quả thuộc hiện tại; trái lại, sinh, lão tử là 2 quả thuộc vị lai. Ngoài ra, Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán, gọi là 4 quả Sa môn; quả Độc giác gọi là Độc giác quả; quả Phật gọi là Phật quả, Diệu quả, Vô thượng quả; quả đức của Phật tròn đủ không khuyết, gọi là quả Mãn, quả Cực; trí tuệ của Phật chứng được, gọi là quả Trí; quả Phật có đầy đủ công đức gọi là quả Đức; nếu dùng sự sâu rộng của biển cả để ví dụ cho quả đức thì gọi là quả Hải; quả Phật của Đại thừa và quả A la hán của Tiểu thừa đều là quả cao tột, gọi là Cực quả. Thể tính của quả, gọi là quả Thể; tướng trạng của quả, gọi là quả Tướng; lực dụng của quả, gọi là quả Dụng; đối lại với Nhân phần gọi là Quả phần; đối lại với Nhân địa gọi là Quả địa... [X. kinh Bồ tát địa trì Q.3; luận Phẩm loại túc Q.6; Đại thừa nghĩa chương Q.3, phần đầu; Thành duy thức luận thuật kí Q.8, phần đầu].

Quả báo

果報; C: guŏbào; J: kahō; S, P: vipāka;|Kết quả, hiệu quả của các hành vi trước đây; kết quả của nghiệp (s: karma, phala). Là sự chín muồi của một »quả« (dị thục quả) trong nguyên lí Nhân quả (Nghiệp). Một khi quả chín, nó sẽ tác động lên người gieo quả đó theo một cách nhất định. Sự chín muồi một quả có thể xảy ra trong đời này, cũng có thể trong đời sau. Người ta cho rằng một quả xấu mà chín ngay trong đời này vẫn tốt hơn là đợi đến đời sau.

quả báo

Retribution—Những hệ quả của tiền kiếp. Những vui sướng hay đau khổ trong kiếp nầy là ảnh hưởng hay quả báo của tiền kiếp. Thế cho nên cổ đức có nói: “Dục tri tiền thế nhân, kim sanh thọ giả thị. Dục tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị.” Có nghĩa là muốn biết nhân kiếp trước của ta như thế nào, thì hãy nhìn xem quả báo mà chúng ta đang thọ lãnh trong kiếp nầy. Muốn biết quả báo kế tiếp của ta ra sao, thì hãy nhìn vào những nhân mà chúng ta đã và đang gây tạo ra trong kiếp hiện tại. Một khi hiểu rõ được nguyên lý nầy rồi, thì trong cuộc sống hằng ngày của người con Phật chơn thuần, chúng ta sẽ luôn có khả năng tránh các điều dữ, làm các điều lành—Consequences (requitals) of one's previous life—The pain or pleasure resulting in this life from the practices or causes and retributions of a previous life. Therefore, ancient virtues said: “If we wish to know what our lives were like in the past, just look at the retributions we are experiencing currently in this life. If we wish to know what retributions will happen to us in the future, just look and examine the actions we have created or are creating in this life.” If we understand clearly this theory, then in our daily activities, sincere Buddhists are able to avoid unwholesome deeds and practice wholesome deeds. 1) Quả báo của ăn cắp vặt là nghèo nàn khốn khó: The retributions of robber and petty thieves are poverty and accute suffering. 2) Quả báo của bỏn xẻn là cầu bất đắc: The retributions of being stingy are frustrated desires. 3) Quả báo của của việc phỉ báng là không lưỡi hay thối miệng: The retributions of being slandering and harsh speech are tongueless and cankerous mouth. 4) Quả báo của bần tiện tham lam là nghèo nàn: The retribution of mean and greedy is poverty. 5) Quả báo của việc gây thù chuốc oán là bản thân bị hại: The retribution of being creating hatred with others is to live an endangered life. 6) Quả báo của việc mắng chưỡi kẻ ăn xin là chết đói giữa đường: The retribution of being laughing at or scolding the beggar is to starve to death at the road side. 7) Quả báo của vị kỷ hại người là suốt đời canh cô (không ai muốn gần gủi mình): The retribution of being benefitting oneself by bringing harmness to others is to be life-long friendless. 8) Quả báo của việc loan tin thất thiệt hại nguời là không còn ai tin mình về sau nầy nữa: The retribution of bringing harm to others by spreading rumours is to become distrust (mistrustful) forever. 9) Quả báo của việc phỉ báng Tam Bảo là vĩnh viễn đi vào địa ngục vô gián: The retribution of being slandering the Triratna (Buddha, Dharma and Sangha) is to enter Avici forever. ; (果報) Phạm:Vipàka. Cũng gọi Dị thục, Quả thục, Báo quả, Ứng quả, Dị thục quả. Tức là cái kết quả do nghiệp nhân từ quá khứ mang lại. Có 2 loại: 1. Tổng báo: Quả báo do dẫn nghiệp (nghiệp báo chung) đưa đến, như sự sống còn của con người là do dẫn nghiệp từ đời trước mang lại. 2. Biệt báo: Quả báo riêng của mỗi người do mãn nghiệp (nghiệp báo riêng) đưa đến, cũng gọi Mãn quả, như cùng sinh làm người nhưng có nam, nữ, nghèo, giàu... khác nhau. Nói về thời gian thì có quả báo 3 thời của nghiệp 3 thời: 1. Thuận hiện báo (cũng gọi Hiện báo): Đời này gây nghiệp, chịu quả báo báo ứng ngay.2. Thuận sinh báo: Đời này gây nghiệp, chịu quả báo báo ứng trong đời sau. 3. Thuận hậu báo: Đời này gây nghiệp, chịu quả báo báo ứng ở đời sau nữa. Trong 6 đường thì trời và người là quả báo do giữ 5 giới, tạo 10 nghiệp thiện mà được, cho nên gọi là Thiện quả; nhưng thiện quả này vẫn còn phiền não mê vọng, vì thế cũng gọi là Điên đảo thiện quả. Tuy nhiên, nếu nói một cách chặt chẽ, thì ý nghĩa quả và báo cũng có khác nhau, như quả Đẳng lưu là do nhân cùng loại sinh ra gọi là Quả; còn quả Dị thục là do nhân khác loại sinh ra, thì gọi là Báo. Cứ theo Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 2, phần đầu, thì Tập quả là quả, còn báo quả là báo. Phiền não đời sau là Tập quả, đau khổ thì gọi là Báo quả; cho nên nghèo, giàu, khổ, vui... đều là Quả báo. [X. Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh sớ Q.trung, phần 2; Câu xá thích luận Q.3, 5; Pháp uyển châu lâm Q.69; Kim cương bát nhã ba la mật đa kinh chú giải; Ma ha chỉ quán Q.8, phần cuối].

quả báo ba đời

See Tam Quả Tứ Nhân.

Quả báo thức

果報識; C: guŏbàoshì; J: kahōshiki; |Thành thục thức; một cách diễn tả thức A-lại-da.

quả báo tứ tướng

Quả báo tiền kiếp trong tứ tướng sanh trụ dị diệt (sanh, già, bịnh, chết)—Consequences of one's previous life in four forms of the present life: 1) Sanh: Birth. 2) Già: Old age. 3) Bịnh: Disease. 4) Chết: Death. ** For more information, please see Tứ Tướng

quả báo độ

Tên khác của Thực Báo Vô Chướng Ngại Độ, một trong Tứ Độ trong tông Thiên Thai—The realm of reward, where bodhisattvas attain the full reward of their deeds, one of the four realms according to the T'ien-T'ai Sect. ** For more information, please see Tứ Độ.

quả chứng

(果證) Quả vị chứng ngộ được do tu hành nhân vị. Bài tựa trong Từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện (Đại 50, 220hạ) nói: Chỉ bày việc đó bằng nhân tu, làm sáng tỏ việc đó bằng quả chứng. Tứ thập nhị chương kinh chú nói: Lúc đức Phật mới xuất gia, tu đạo ở núi Tuyết, vua Tịnh phạn sai 5 người như A Thấp Bà, Ma Ha Nam, Kiều Trần Như... đi theo hầu và bảo vệ Ngài. Sau khi đức Thế Tôn thành Chính giác, 5 vị này đều được quả chứng.

Quả câu hữu

果倶有; C: guŏjùyŏu; J: kaguu; |Tính chất đồng thời của các chủng tử và sự hiện hành của chúng. Một trong 6 đặc tính của chủng tử trong tàng thức (chủng tử lục nghĩa 種子六義).

quả cảm

Courageous—Daring.

quả cực

Quả mãn cực thành—Fruition perfect, the perfect virtue or merit of Buddha-enlightenment.

quả cực pháp thân

Pháp thân quả mãn cực thành—The dharmakaya of complete enlightenment. ; (果極法身) Đồng nghĩa: Pháp tính thân. Đối lại: Ứng hóa pháp thân. Chỉ cho pháp thân cực thành mãn quả, cũng là thân chứng được chân lí pháp tính. [X. phẩm Nhân quả trong kinh Anh lạc Q.hạ].

quả danh

Quả Hiệu—Danh hiệu của mỗi vị Phật chỉ sự giác ngộ của vị Phật ấy—Attainment-name, or reward-name or title, i.e. of every Buddha, indicating his enlightenment.

quả duy thức

Trí tuệ đạt được do tư duy và quán sát cái lý của duy thức (tầm và tứ), bao gồm bốn thức đầu trong bát thức—The wisdom attained from investigating and thinking about philosophy, or Buddha-truth, i.e. of the sutras and Abhidharmas; this includes the first four kinds of “only-consciousness.”

quả giới viên hiện

Trong Phật Giới, hay giới của các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, mọi việc đều hiện lên một cách viên dung—In the Buddha-realm, i.e. of complete bodhi-enlightenment, all things are perfectly manifest.

quả hải

Biển Bồ Đề hay giác ngộ—The ocean of bodhi or enlightenment. ; (果海) Biển quả, ví dụ trí tuệ, công đức của Phật sâu rộng như biển. Hoa nghiêm kinh sớ quyển 5 (Đại 35, 534 hạ) nói: Suốt cả nguồn nhân và bao trùm biển quả.

quả hậu phương tiện

(果後方便) Phương tiện độ sinh sau khi chứng quả. Chư Phật đã chứng quả rồi, nhưng vì mục đích cứu độ chúng sinh, nên lại thị hiện tướng tu nhân cảm quả để làm pháp môn phương tiện. [X. Pháp hoa văn cú Q.9].

quả lực

(果力) Chỉ cho lực dụng của quả vị Phật. Như Thập lực, Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng pháp... đều thuộc về Quả lực. Ở nhân vị có hạnh nguyện thù thắng, nên ở quả vị cũng có lực dụng vi diệu. Nếu hạnh nguyện siêu việt thì lực dụng cũng theo đó mà siêu việt. Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40, 840 thượng) nói: Nay thần lực tự tại của đức A di đà Như lai là do nguyện phát ra lực, nhờ lực mà nguyện thành tựu, nguyện chẳng phải nguyện suông, lực không là lực rỗng, lực và nguyện phù hợp nhau, quyếtkhông sai chệch, cho nên nói là thành tựu.

quả mãn

Công đức tròn đầy của bậc quả thượng hay nhân tròn đầy thành bậc chánh giác—The full or complete fruition of merit—Perfect reward.

quả mãn chuyển

(果滿轉) Cũng gọi Quả viên mãn chuyển, Viên mãn chuyển. Quả vị Phật cùng tột, 1 trong 6 chuyển vị do tông Duy thức lập ra. Hành giả ở giai vị này nhập định Kim cương, được trí tuệ kim cương, đoạn diệt tất cả phiền não thô trọng, chứng được quả Phật viên mãn, vì thế gọi là Quả mãn chuyển. [X. Lâm gian lục Q.hạ]. (xt. Lục Chủng Chuyển Vị).

quả môn

(果門) Pháp môn tự nội chứng của chư Phật, cũng tức là pháp môn của quả vị Như lai. Đây là cảnh giới mà hàng Bồ tát ở địa vị tu nhân không thể thấy và hiểu được, chỉ có những bậc đã chứng chính giác mới có thể rõ biết. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1].

quả mạn đà la

Kim Cang Mạn Đà La, đối lại với Thai Tạng Giới Mạn Đà La—Vajradhatu mandala, in contrast with Garbhadhatu mandala (nhân mạn đà la).

quả nhân

Những bậc tu hành đã chứng đắc quả thượng, thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử, gồm có ba bậc—Those who have obtained the fruit, i.e. escaped the chain of transmigration: 1) Phật: Buddha. 2) Bích Chi Phật: Pratyeka-buddha. 3) A La Hán: Arhat.

quả năng biến

(果能變) Phạm: Phalapariịàma. Gọi tắt: Quả biến. Đối lại: Nhân năng biến. Một trong 2 thứ năng biến do tông Duy thức lập ra. Quả năng biến là chỉ cho sức năng biến của tập khí đẳng lưu trong thức thứ 8, dẫn sinh ra quả 3 tính (thiện, ác, vô kí) của 8 thức; còn sức năng biến của tập khí dị thục thì dẫn sinh ra quả vô kí của 6 thức trước và thức thứ 8. Như vậy, sự hiện hành của 8 thức từ nơi tự thể của chúng có khả năng biến hiện ra Kiến phần và Tướng phần; gọi là Quả năng biến. [X. luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.2]. (xt. Nhân Năng Biến).

quả phược

Khổ quả sinh tử trói buộc không cho chúng ta giải thoát. Nghiệp nhân dẫn đến khổ quả đã trói buộc ta, là tử phược—Retribution bond—The bitter fruit of transmigration binds the individual so that he cannot attain release. This fruit produces further seeds of bondage.

quả phược đoạn

Cắt bỏ mọi trói buộc tức là nhập vào Niết Bàn—Cutting off the ties of retribution, entering nirvana, entering salvation.

Quả phần

果分; C: guŏfēn; J: kabun; |Phương diện kết quả của công phu tu tập – Phật quả, khác với phương diện nhân (nhân phần 因分) – là chúng sinh. Tính hải quả phần (性海果分).

Quả phần bất khả thuyết

果分不可説; C: guŏfēn bùkě shuō; J: kabunfu-kasetsu; |Ngược với Nhân phần khả thuyết (因分可説). Theo giáo lí kinh Hoa Nghiêm, niềm tin vào quả vị Phật (giác ngộ) không phải là điều có thể giải thích bằng ngôn từ.

Quả phần khả thuyết

果分可説; C: guŏfēn kěshuō; J: kabun kasetsu; |Theo giáo lí Mật tông, đực tin vào sự hoàn hảo của »quả phần« (nghĩa là cảnh giới Phật là »quả«) là điều có thể giảng giải được. Điều nầy ngược với giáo lí chỉ có nhân phần của Phật quả mới có thể giải thích được – giai đoạn tu tập có thể được xem là nguyên nhân của sự giác ngộ là có thể giải thích được, nhưng cảnh giới tối thượng, lĩnh vực tu đạo thì không thể giảng giải được.

quả phận

The reward, e.g. of ineffable nirvana, or dharmakaya.

quả phật tánh

Quả Phật Toàn Giác, một trong năm Phật tánh—The fruition of the Buddha-enlightenment, its perfection, one of the five forms of the Buddha-nature—See Ngũ Phật Tánh (B) (4).

quả quyết

Determined—Decided—Resolute.

quả quả

The fruit of fruit. 1) Niết Bàn: Nirvana. 2) Bồ Đề là quả, mà cũng là kết quả của việc tu hành nên gọi là quả quả: the fruition of bodhi. Bodhi itself is a fruit; however, it is also the fruit of a life-long cultivation. ; (果果) Chỉ cho quả của Quả vị. Cứ theo phẩm Sư tử hống trong kinh Niết bàn quyển 25 (bản Nam) và Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm (hội bản) quyển 5 phần đầu, như vô minh là nhân, các hành là quả; các hành là nhân, thức là quả. Đối lại với vô minh là nhân của nhân (nhân nhân) thì thức là quả của quả (quả quả). Phật tính cũng thế, nhân thì có nhân của nhân, quả thì có quả của quả; 12 nhân duyên (3 nhân của lí tính) là nhân, bồ đề (trí đức của quả Phật) là quả; Bồ đề là nhân, Niết bàn(đoạn đức của quả Phật) là quả. Trí tuệ là nhân của nhân thì Niết bàn là quả của quả. [X. Duy ma kinh huyền sớ Q.3; Tứ giáo nghĩa Q.10].

quả quả phật tánh

The fruition of that fruition, or the revelation of parinirvana—See Ngũ Phật Tánh (B) (5).

quả tang

Flagrant—To be caught in the act or fact (red-handed).

quả thượng

Nhờ công đức tu hành mà chứng đắc được quả địa (quả địa nầy ở trên nhân vị trong lúc đang tu) gọi là quả thượng—In the stage when the individual receives the consequences of deeds done.

quả thần

Môi của Phật đỏ như trái của cây Bimba—Fruit lips, Buddha's were “red like the fruit of the Bimba tree.”

quả thật

Indeed—Truly—As a matter of fact.

quả thục thức

The Alaya-vijnana (skt)—A Lại Da Thức hay Tàng Thức—The storehouse or source of consciousness, from which both subject and object are derived.

quả tiểu thừa

Hai quả vị Thanh văn và Duyên giác—Fruit of the two vehicles of Sravakayana and Pratyeka-buddha.

quả trung thuyết nhân

(果中說因) Phạm: Kàraịe kàryopacàra. Đối lại: Nhân trung thuyết quả. Trong quả nói nhân. Như thấy 1 bức họa đẹp (quả)liền nói trong đó ắt có bàn tay khéo (nhân) của họa sĩ. Cũng như nói chư Phật tức là chúng sinh, trâu bò tức là cỏ nước... Những cách nói như thế đều gọi là Quả trung thuyết nhân. [X. kinh Niết bàn Q.37 (bản Bắc); luận Đại trí độ Q.3, 30, 43; luận Câu xá Q.4; Vãng sinh luận chú Q.thượng]. (xt. Nhân Trung Thuyết Quả).

quả trục

Quả đi theo (quả đi theo nhân như hình với bóng)—The fruit follows (the fruit follows the cause as the image and its shadow).

quả trục nguyện

Sự chắc chắn của việc phổ cứu, nguyện thứ hai mươi trong Tứ Thập Bát Nguyện của Phật A Di Đà—The assurance of universal salvation, the twentieth of Amitabha's forty-eight vows. ** For more information, please see Tứ Thập Bát Nguyện (20).

quả tình

See Quả Thật.

Quả tính

果性; C: guŏxìng; J: kashō; |1. Sự giác ngộ như kết quả của việc tu tập, khác với Lí tính (理性); nguyên lí không thay đổi hay là bản tính như là nguyên nhân của giác ngộ.

quả tướng

Quả thể tổng báo của giới hữu tình, là một trong ba hình thức của A Lại Da Thức—Reward—Retribution—Effect—One of the three forms of the alaya-vijnana. ** For more information, please see A Lại Da Thức and Alaya-vijnana.

quả tử

1) Quả và Nhân—Fruit and Seed. 2) Quả sanh Nhân: Fruit produced seeds.

quả viên

Quả vị viên mãn, một trong tám quả viên mãn của tông Thiên Thai—Fruit complete, i.e. perfect enlightenment, one of the eight T'ien-T'ai perfection.

quả vô sanh

The stage of non-birth.

quả vị

Vị của quả Phật, đối lại với nhân vị—The stage of attainment, or reward as contrasted with the cause-stage, i.e. deed. ** For more information, please see Nhân Vị.

quả đoán

Decided—Determined.

quả đoạn

1) Dứt bỏ hoặc nghiệp: To cut off the fruit or results of former karma. 2) Bậc A La Hán ở Hữu Dư Niết Bàn, tuy đã dứt bỏ được nhân đau khổ (tử phược), nhưng chưa dứt bỏ được quả phược: The Arhat who has a “remnant of karma,” though he has cut off the seed of misery, has not yet cut off its fruits. ; (果斷) Đoạn trừ quả khổ sinh tử, 1 trong 2 loại giải thoát. Bậc A lán hữu dư Niết bàn đã đoạn trừ Tử phược, nhưng chưa đoạn trừ Quả phược. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 29, phần đầu (Đại 12, 536 thượng) nói: Giải thoát có 2 loại: Tử đoạn và Quả đoạn. Tử đoạn là dứt trừ phiền não; bậc A la hán đã dứt trừ phiền não, mọi nội kết đều đã tan rã hết.

quả đầu

Quả Thượng—Tu nhân được quả, đặc biệt là quả vị Giác Ngộ Bồ Đề—The condition of retribution, especially the reward of bodhi or enlightenment. ** For more information, please see Quả Thượng.

quả đầu phật

Bậc đã đạt được quả vị Phật, một thuật ngữ của tông Thiên Thai—He who has attained the Buddha-condition, a T'ien-T'ai term.

quả đầu vô nhân

(果頭無人) Đồng nghĩa: Hữu giáo vô nhân. Có quả vị mà không có người chứng, chỉ cho 3 giáo Tạng, Thông, Biệt do tông Thiên Thai phán lập. Quả đầu là chỉ cho quả Phật. Trong 4 giáo Tạng Thông Biệt Viên, thì 2 giáo Tạng, Thông, đứng về phương diện nhân vị mà nói thì tuy có đủ cả giáo pháp và người hành chứng giáo pháp; nhưng về mặt quả vị thì chỉ có giáo pháp chứ không có người hành chứng giáo pháp. Vì Tạng giáo và Thông giáo cho quả do khôi thân diệt trí mà được chứ thực không có người chứng. Còn Biệt giáo cũng thế, khi đến quả vị từ Sơ địa trở lên thì người của Biệt giáo đã trở thành người Viên giáo, hệt như Sơ trụ của Viên giáo, vì thế từ Sơ địa trở lên chỉ có giáo pháp chứ không có người hành chứng. Tóm lại, 3 giáo Tạng, Thông, Biệt gọi là Quả đầu vô nhân, có giáo pháp mà không có người chứng; chỉ có Viên giáo là đủ cả giáo pháp và người hành chứng mà thôi. [X. Ma ha chỉ quán Q.3, phần cuối].

quả địa

Quả vị Phật, đối lại với nhân địa hay nhân tu hành—Resulting Buddhahood, in contrast with the causal ground or fundamental cause, the state of practicing the Buddha-religion—The stage of attainment of the goal of any disciplinary course. ; (果地) Cũng gọi Quả vị, Quả cực. Đối lại: Nhân vị, Nhân địa. Do tu hành nhân vị mà chứng được cực vị của quả mãn Diệu giác. Kinh Lăng nghiêm quyển 4 (Đại 19, 122 thượng) nói: Phải nên quán xét cho thấu đáo, nhân địa phát tâm và quả địa giác giống nhau hay khác nhau.

Quả địa vạn đức

果地萬徳; C: guŏdì wàndé; J: kaji mantoku; |Công đức vô lượng của Đức Phật. Khác với Nhân vị vạn hạnh (因位萬行).

quả địa vạn đức

(果地萬德) Đối lại: Nhân vị vạn hạnh. Do ứng với muôn hạnh của nhân vị để đạt đến địa vị của quả Phật mà thành tựu được vô lượng diệu đức. Do sự quan hệ đối đãi giữa nhân và quả, nên đối lại với nhân địa mà có quả địa; đối lại với vạn hạnh mà có vạn đức. Bởi thế, nói theo ý nghĩa tương báo tương ứng của nhân quả thì vô lượng công đức của quả Phật là do tương ứng với muôn hạnh của nhân vị mà có, cho nên gọi là đức Quả địa vạn đức. (xt. Quả).

Quả đức

果徳; C: guŏ dé; J: katoku;|1. Công đức nằm trong kết quả; 2. Công đức nằm bên sau sự giác ngộ.

quả đức

Quả đức của Niết bàn hay công đức của bậc quả thượng là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh—The merits of nirvana (Thường: Eternal, Lạc: Blissful, Ngã: Personal or Autonomous, Tịnh: Pure). ** For more information, please see Tứ Đức (A). ; (果德) Chỉ cho công đức của quả vị nhờ tu hành mà chứng được, cũng chỉ cho vô lượng công đức mà quả Phật có đủ, như Niết bàn có 4 đức: Thường, lạc, ngã, tịnh. [X. An lạc tập Q.thượng].

quải bát

(掛鉢) Cũng gọi Quải đơn, Quải đáp đơn, Quải tích, Quải bát. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vị tăng du phương, khivào Tăng đường, đem áo, mền... mình mang theo treo lên cái móc ởtrongTăng đường, ngụ ý muốn ở lại tùng lâm. Bài tựa Cổ thanh qui của ông Dương ức trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 8 (Đại 48, 1158 thượng) nói: Học chúng không kể nhiều ít, không chia cao thấp, vào hết trong Tăng đường, sắp xếp theo thứ tự tuổi hạ, đặt những cái giường nối liền nhau, có những giá mắc áo (quải đáp) để treo đạo cụ.Theo điều Du phương tham thỉnh trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5, theo qui chế xưa, người cầu quải đáp (xin trú ngụ), trước hết đến ra mắt vị Khách ti (người có nhiệm vụ tiếp khách), kế đến vị Đường ti quải đáp(người trông nom việc khách tăng đến tạm trú) để ghi tên chờ xét định; sau đó, đến vị Thị ti (thị giả) thông báo và nhờ đưa đến bái yết vị Trụ trì. Cuối cùng được đưa đến Đán quá (nhà nghỉ tạm) để chờ đợi. (xt. Quải Tích). ; (掛鉢) Đồng nghĩa: Quải đáp, Quải đơn. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Treo bát lên. Trong Thiền lâm, sau khi ăn xong thì rửa và treo bát của mình lên cái móc ở sau chỗ mình ngồi. Từ đó dẫn đến nghĩa tạm trú trong tùng lâm. Điều Phó chúc phạn trong Thiền uyển thanh qui quyển 1 (Vạn tục 111, 441 hạ) nói: Ăn xong, niệm kệ (...) vị Trụ trì đứng dậy treo bát (quải bát), khiến chúng tăng đều làm theo. [X. môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Quải Đáp).

quải bát nang

(掛挂鉢囊) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Treo cái túi đựng bát. Sau khi chấm dứt cuộc du phương, vị tăng hành cước liền treo túi bát. Trong Thiền lâm, Quải bát nang được dùng để chỉ cho việc tham học các nơi đã kết thúc. Thung dung lục tắc 20 (Đại 48, 240 thượng) nói: Khi đã đặt được chân lên thực địa (tức khai ngộ)thì có thể treo cao túi bát, bẻ gãy tích trượng.

quải chân

(掛真) Chỉ cho nơi treo bức tượng của vị tôn túc đã thị tịch. Theo môn Tang tiến trong Thiền lâm tượng khí tiên thì Chân là chân nghi, tức là bức tượng giống hệt vị tôn túc quá cố. Khi bậc tôn túc thị tịch có 2 nơi có thể treo bức tượng đó, một là Pháp đường, hai là Chân đình ở đầu cửa chùa. Nghi thức cử hành Quải chân, gọi là Quải chân Phật sự, Quải chiếu Phật sự. [X. điều Cáo hương phổ thuyết trong Vô môn khai hòa thượng ngữ lục Q.hạ; điều Thiên hóa trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.5].

quải giác linh dương bất kiến tung

(掛角羚羊不見蹤) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho ngôn ngữ hành vi không để lại mảy may dấu vết nhiễm ô nào. Giathái phổ đăng lục quyển 29 có chép bài kệ tụng của Quốc thanh giản đường Cơ thiền sư gởi cho vị tăng xây tháp Phổ đồng như sau (Vạn tục 137, 211 hạ): San san ngọc cốt bản linh lung Quải giác linh dương bất kiến tung. Đặc địa tác đình đồ thậm mạ? Vị lân tùng trúc dẫn thanh phong. Tạm dịch: Sáng ngời xương ngọc vốn linh lung Dê núi sừng treo biến mất tung Dựng đình muốn vẽ chi nơi đó? Làn gió thoảng qua ngọn trúc tùng. Bởi vì con dê rừng ban đêm treo sừng lên cây mà ngủ, chân không chạm đất, cho nên không lưu lại dấu vết. Trong Thiền lâm, hình ảnh này được dùng để miêu tả cảnh giới tự tại vô ngại của bậc đại ngộ triệt để.

quải lạc

(掛絡) Cũng gọi Quải tử, Quải la, Lạc tử. Áo ca sa nhỏ choàng trên 2 vai thòng xuống ngực, là biến hình của áo An đà hội. Các thiền tăng thường mặc áo này lúc làm việc, hoặc đi đường cho tiện. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 11 (Đại 51, 287 thượng) nói: Không mặc ca sa, chẳng thụ giới đủ, chỉ dùng tấm lụa 5 màu làm quải tử. Trong đó, tấm lụa 5 màulà chỉ cho ca sa 5 nẹp, Quải tử là tên khác của ca sa 5 nẹp. Loại ca sa này thịnh hành vào đầu đời Tống, nhưng trong các luật không thấy tên gọi Quải tử, Lạc tử. Điều Pháp y trong Thích thị yếu lãm quyển thượng (Đại 45, 270 hạ) nói: Lạc tử hoặc Quải tử là do các vị tăng tiền bối sáng chế, những vị tăng sau bắt chước. Vì không có tên gọi, chỉ thấy dây treo (quải lạc) trên mình nên gọi như thế. Nay thiền tăng phương Nam đều mặc lúc làm việc. Vì điều tướng không đúng pháp, các luật không ghi tên, nên bị các dòng phái chê trách. [X. môn Phục chương trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. An Đà Hội).

quải thần xỉ

(掛挂唇齒) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa đen là môi bị kẹp (treo) ở giữa răng thì không thể nuốt được vật gì. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được sử dụng để ví dụ nếu cứ chấp chặt vào lời nói của người khác thì không thể hiểu được ý nghĩa chân chính. Thung dung lục tắc 87 (Đại 48, 283 trung) ghi: Sơ sơn đến, Qui sơn liền hỏi: Nghe sư nói rằng câu Có câu Không như bìm leo cây (Quải thần xỉ).

Quải tích

掛錫; J: kashaku;|Nghĩa là »treo Tích trượng«; chỉ bước nhập môn của một thiền tăng sau một cuộc Hành cước, khi đã tìm được vị Thiền sư thích hợp với căn cơ của mình.|Thiền sinh có thể tự chọn Thiền viện để gia nhập. Quan trọng nhất cho sự tu tập của thiền sinh là việc chọn đúng vị thầy thích hợp mà mình tin tưởng tuyệt đối. Vì vậy mà các thiền sinh thường đến viếng nhiều thiền viện, tham vấn nhiều vị Thiền sư khác nhau trước khi chọn được vị »chân sư« của mình. Nhưng – như thiền sinh chọn thầy – các vị Thiền sư cũng lựa chọn kĩ các vị mới đến trước khi cho phép nhập môn. Nếu Thiền sư thấy rõ mình không phải là thầy thích hợp cho một thiền sinh nào đó thì sẽ gửi vị này đến một vị khác thích hợp hơn.|Khi đến cổng (sơn môn) của một thiền viện sau một cuộc hành cước, thiền sinh sẽ thấy hai tấm bản gỗ nằm hai bên của cửa cổng: Một bản ghi tên của thiền viện và bản khác ghi tên của vấn đề mà vị Thiền sư trụ trì đang Ðề xướng. Những bước chân vào cổng của thiền sinh – cửa cổng thường được xây dựng rất kiên cố, cách biệt với bên ngoài – với lòng mong mỏi được thâu nhận làm đệ tử chính là những biểu hiện của sự quyết chí bước vào con đường tu học vô cùng tận để chứng ngộ Phật pháp.

quải tích

(掛錫) Cũng gọi Lưu tích. Đồng nghĩa: Quải đáp. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Treo tích trượng. Ngày xưa, mỗi khi vị tăng đi du phương (tham học các nơi) đều có mang theo tích trượng. Lúc vào tùng lâm nàonếu được phép ở lại thì vị ấy treo tích trượng vào cái móc ở trên vách, ngụ ý đã được ở trong chùa. Nay từ ngữ Quải tích đặc biệt được dùng để chỉ cho vị Thiền tăng đến ở trong tùng lâm để tu học. Tổ đình sự uyển quyển 8 nói rằng: Tỉ Khưu ở Tây Vực, đi đâu ắt cầm tích trượng, có 25 uy nghi, khi vào trong nhà, không được để tích trượng trên đất, mà phải treo lên cái móc ở trên vách. Ngoài ra, vị tăng đảm nhiệm việc trụ trì 1 ngôi chùa cũng gọi là Quải tích.

quải đơn

Quải là ở đậu, đơn là đơn vị. Tất cả Tu sĩ sống trong Tòng lâm như một ông Tăng là một đơn vị, ở đậu một ngày thì làm chủ (như một công dân) Tòng lâm một ngày, ở đậu mười năm thì làm chủ mười năm.

quản

1) Ống: A pipe—A tube. 2) Quản ngại: To mind. 3) Quản trị: To control—To rule.

quản chủ bát

(管主八) Danh tăng Trung Quốc sống vào đời Nguyên. Sư từng giữ chức Tăng lục phủ Tùng giang, tỉnh Giang tô, được ban hiệu Quảng Phúc Đại Sư. Cứ theo mục San kí của Đại tông địa huyền văn bản luận quyển 3 trong Đại tạng kinh bản Tích sa Diên thánh viện, thì sư có chí hoằng dương chính giáo, nên trong nhiều năm đã ấn tống hơn 50 bộ Đại tạng kinh bản Hán, hơn 30 bộ kinh Đại niết bàn, hơn 1 ngàn bộ kinh Hoa nghiêm, hơn 500 bộ Kinh Luật Luận sớ sao cùng với vô số các kinh điển khác. Đồng thời, sư còn biên chép các kinh Đại Hoa nghiêm và Pháp hoa... bằng chữ kim nhũ, gồm 100 quyển; cúng dường tượng Phật màu bằng vàng ròng, ấn tống các bức tranh tượng Phật, thiết trai cúng dường hơn 10 vạn vị tăng, mở các lớp giảng truyền pháp, tự đặt thời khoá mỗi ngày tụng kinh Hoa nghiêm cho đến 100 bộ, hoằng pháp với tất cả sức lực của mình. Năm Đại đức thứ 6 (1302), sư vâng mệnh vua in hơn 30 bộ Đại tạng kinh bằng chữ Hà tây (Tây hạ) và Đại kinh Hoa nghiêm, Lương hoàng bảo sám, Hoa nghiêm đạo tràng sám nghi, mỗi thứ hơn 100 bộ ở chùa Đại vạn thọ; đường Hàng châu, đạo Triết tây, Giang nam, để tặng cho các chùa viện ở vùng Cam túc. Sư cũng in hơn 30 loại kinh chú như Càn đà, Bát nhã, Bạch tản cái... mỗi thứ hơn 1000 bộ bằng chữ Tây phiên (Tây Tạng) để ấn tống cho địa khu Tây tạng. Năm Đại đức thứ 10 (1306), sư khắc bổ túc tạng Tích sa hơn 1.000 quyển, bấy giờ, đem so sánh đối chiếu giáo tạng miền Bắc (bản chùa Hoằng pháp) với các bản giáo tạng miền Nam (Giang nam) thì thấy các bản giáo tạng miền Nam bị thiếu mất vài trăm quyển kinh luật luận thuộc tạng Bí mật, sư liền thành lập sở in kinh ở đường Hàng châu, rồi căn cứ theo bản chùa Hoằng pháp khắc in để bổ túc. [X. lời Bạt trong luận Chương sở tri; Anh ấn tốngTích sa tạng kinh tập đầu, phần 2; Nguyên đại Tùng giang phủ tăng lục Quản chủ bát Đại sư chi khắc tạng sự tích (Tiểu dã huyền diệu, Phật điển nghiên cứu 2, 13)].

quản giáo

To look after—To instruct—To take care of.

quản huyền giảng

Ống, dây, và giảng là ba thứ đi cùng với nhau trong nghi lễ bên Ấn Độ—Pipes, strings, and preaching, and accompanied service in India. ; (管弦講) Thổi sáo (quản), gảy đàn (huyền) để cúng dường Phật. Phong tục này đã có từ xưa ở Ấn Độ. Cứ theo kinh Trườnga hàm quyển 10 thì thần Chấp nhạc của trời Đế Thích là Ban già dực (Phạm:Paĩcazikha) đã đến động Đế thích ở Ma yết đà tấu đàn lưu li khen ngợi công đức của Như lai. Tại Nhật Bản, vào thời đại Bình An, Quản huyền giảng rất thịnh hành. [X. Thập huấn sao Q.3].

Quản Lãnh

(管領, Kanrei): tên gọi một chức quan dưới thời đại Thất Đinh (室町, Muromachi), bổ tá cho Tướng Quân và tổng quản toàn bộ chính vụ của chính quyền Mạc Phủ, tương đương với người chấp quyền của chính quyền Mạc Phủ Liêm Thương. Ban đầu chức quan này được gọi là Chấp Sự (執事).

quản lý

To administer.

quản pháp thành

(管法成) Nhà tông giáo học và dịch kinh người Tây Tạng, sống vào đời Đường. Sư xuất thân trong gia đình quí tộc ở vùng Đạt Na (địa khu Nhật khách tắc) thuộc Hậu Tạng. Năm Thái hòa thứ 7 (833), sư đến chùa Vĩnh Khang ở Sa châu (Đôn Hoàng) chuyên việc dịch kinh. Sư lần lượt trụ các chùa Tu đa ở Cam châu (Trương dịch, Cam túc), chùa Khai nguyên ở Sa châu... Những kinh sách do sư dịch có 23 loại. Trong đó, từ chữ Hán dịch sang chữ Tây tạng có 14 loại, như kinh Kim quang tối thắng vương, Giải thâm mật kinh sớ... Từ tiếng Tây tạng dịch ra chữ Hán thì có 5 loại, như Bát nhã ba la mật đa tâm kinh, Chư tinh mẫu đà la ni kinh... Ngoài ra, các kinh sách do sư sao chép, giảng nói có 4 loại, như Đại thừa tứ pháp kinh luận cập Quảng thích khai quyết kí]. (xt. Pháp Thành).

quản thuộc tăng ni

(管屬僧尼) Chế độ quản lí tăng ni của triều đình Trung Quốc đời xưa. Cứ theo điều Quản thuộc tăng ni trong Đại tống tăng sử lược quyển trung, trong thời kì đầu Phật giáo truyền vào Trung Quốc, thì tăng ni đều do Hồng Lô tự của triều đình quản lí, đến đời Hậu Tần mới đặt ra Tăng quan, nhưng vẫn chưa có cơ cấu hoàn bị. Thời Nam Bắc triều bắt đầu thiết lập Quan thự, chuyên trông coi các công việc của Phật giáo. Thời Bắc Ngụy lập Giám phúc tào cai quản tăng ni trên khắp nước, sau đổi tên là Chiêu huyền tự (cũng gọi Chiêu huyền tào), đặt ra 1 vị Đại thống, 1 vị Thống, 3 vị Đô duy na, dưới đặt Công tào chủ bạ viên. Đại thống hoặc Thống thông thường gọi là Sa môn Đại thống, Chiêu huyền Đại thống, hoặc là Sa môn Thống, Chiêu huyền Thống. Đời Tùy đổi là Sùng huyền thự, đầu đời Đường trực thuộc Hồng Lô tự, sau lại đưa về Sùng huyền thự. Niên hiệu Diên tải năm đầu (694), Vũ tắc thiên ban sắc lệnh tăng ni toàn bộ trực thuộc Từ bộ. Đến năm Thiên bảo thứ 6 (747) lại ban lệnh cho tăng ni trực thuộc Lưỡng nhai công đức sứ, sau lại cho trực thuộc Từ bộ. Thời vua Hiếu tông, dưới Lưỡng nhai công đức sứ có thiết lập Tăng lục. Đến đời Ngũ đại và đời Tống, đại khái các cơ cấu và chức năng ấy vẫn tiếp tục được sử dụng. Đời Nguyên lập ra viện Tuyên chính để cai quản Tăng đồ và công việc Phật giáo ở Tây tạng, dưới Chánh sứ phải dùng tăng lữ làm Phó sứ. Đời Minh đặt ti Tăng lục bên cạnh chính phủ Trung ương tại kinh đô để thống lãnh Phật giáo trên toàn quốc, dưới đó, đặt ti Tăng cương ở các phủ, ti Tăng chính ở các châu và ti Tăng hội ở các huyện để trông coi công việc Phật giáo ở địa phương. Đời Thanh vẫn noi theo chế độ này.

quản thúc

To confine.

quản đắc

Being able to control.

quản độc mộc

(管毒木) Ống sáo bằng thứ gỗ độc hại, là 1 trong những vật cầm tay của đồng nữ Thường Cù Lê. Có thuyết cho rằng Quản độc mộc là khúc gỗ hình 4 góc; có thuyết nói dùng thứ gỗ làm thành vật có hình dạng cái ống sáo; có thuyết cho rằng Quản độc mộc không phải là 1 khúc gỗ mà do nhiều khúc gỗ có chất độc hại bó lại thành một. Thướng cù lê là hóa thân củabồ tát Quán tự tại, trụ ở núi Hương túy; Ngài lấy việc tiêu phục các thứ độc hại làm bản thệ, không để cho các loài rồng độc, rắn độc xâm hại chúng sinh. (xt. Nhương Ngu Lí Đồng Nữ).

quảng

1) Rộng rãi: Vipula (skt)—Broad—Wide—Extensive—Spacious—Extended—Enlarged—Expanded. 2) Vaipulya (skt)—See Phương Quảng.

quảng bá

To spread—To broadcast.

quảng bác

Đọc nhiều học rộng—Wide and spacious, extensively read, very learned.

quảng bác nghiêm tịnh bất thoái chuyển luân kinh

(廣博嚴淨不退轉輪經) Cũng gọi Quảng bác Nghiêm tịnh kinh, Quảng bác nghiêm tịnh bất thoái chuyển kinh, Bất thoái chuyển pháp luân kinh, Bất thoái chuyển kinh. Kinh, 6 quyển, do Ngài Trí nghiêm dịch vào đờiLưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 9. Nội dung kinh này tường thuật việc bồ tát Văn Thù Sư Lợi và tôn giả Xá Lợi Phất dùng sức thần thông đi đến các thế giới trong 10 phương cúng dường chư Phật, đồng thời, nhóm họp tất cả Bồ tát trở về Kì Viên thỉnh Phật chuyển pháp luân bất thoái. Đức Phật nhân dịp này nói những lời bí mật như La hán thành tựu ngũ nghịch, mãn túc ngũ dục, xa lìa chính kiến... đại chúng trong pháp hội đều kinh ngạc, hoài nghi, ngài Văn thù mới giải thích rõ chođại chúng được hiểu. Ngoài ra còn có những lời nói bí mật của các Bồ tát, lời Phật giải thích, kệ tán thán của Bồ tát...Kinh này có các bản dịch khác là: Kinh A duy việt trí già, kinh Bất thoái chuyển pháp luân. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Đại đường nội điển lục Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.5].

quảng bác thân

Một thân của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na bao trùm khắp cả hư không—The one body fills space, Vairocana.

quảng bác thân như lai

Đức Phật Tỳ Lô Giá Na—Vairocana Buddha. ; (廣博身如來) Phạm:Vipulakàya-tathàgata. Tên gọi khác của đức Đại nhật Như lai. Vì thân Phật rộng lớn trùm khắp pháp giới nên gọi là Quảng bác thân, tức chỉ cho đức Phật Tì lô Giá Na ở chính giữa trong 5 đức Như lai. Cứ theo kinh Cứu bạt diệm khẩu ngã quỉ đà la ni, nếu được nghe danh hiệu của đức Như lai Quảng bác thân thì có năng lực khiến cho nghiệp lửa trong cuống họng nhỏ như cây kim của các quỉ đói ngừng đốt, được mát mẻ thông suốt, có ăn uống thứ gì cũng đều được vị cam lộ ngon ngọt và no đủ như ý. [X. Du già tập yếu diệm khẩu thí thực nghi; Bí tạng kí bản].

quảng bác tiên nhân

(廣博仙人) Quảng bác, Phạm: Vyaøsa. Cũng gọi Tì da sa tiên nhân, Bà da sa tiên nhân, Tì a sa tiên nhân. Biệt hiệu của ông Bạt đa la diễn na (Phạm: Bàdaràyaịa), Tổ của phái Phệ đàn đa (Phạm: Vedànta) trong 6 pháiTriết học ở Ấn Độ. Vyàsavốn có nghĩa là người biên tập, người chỉnh đốn, là từ gọi chung các nhà soạn thuật, biên tập ở Ấn Độ vào thời thái cổ, nay thì đặc biệt chỉ cho Quảng bác tiên nhân là người biên tập kinh điển Phệ đà, vì tác phẩm của ông là bất hủ nên ông còn được gọi là Thường trụ (Phạm: Sàzvata). Cứ theo truyền thuyết xưa của Ấn Độ thì Quảng Bác tiên nhân là con riêng của tiên Parasara do tư thông với vợ vua Satyavatìmà sinh ra. Vì ông được sinh ra trên1 hòn đảo nhỏ ở sông Yamunà nên đặt tên là Dvìpàyana (Đảo sinh); lại vì màu da ông đen kịt nên còn có tên là Kfwịa (Hắc ám). Sau, Quảng bác muốn xuất gia, nhưng theo phép nước, việc ấy phải do mẹ ông đồng ý mới được, bởi vậy, Quảng bác bỏ ý định xuất gia và cưới 2 góa phụ làm vợ. Còn theo sách Phú lan na (Phạm: Puràịa) thì Quảng bác tiên nhân là do Tì nữu thiên (Phạm: Viwịu) hoặc Phạm thiên (Phạm: Brahmà) hóa hiện ra để biên soạn kinh Phệ đà, đồng thời, Phú lan na có ghi sự tích của 28 vị Quảng bác tiên nhân. Lại vì tác giả của Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata), 1 trong 2 Đại sử thi của Ấn độ, của sách Phú lan na (Phạm: Puràịa) và của Pháp luận (Phạm: Dharma-sàstra) đều kí tên làSàzvata. Như vậy, Sàzvata, tức là Quảng bác tiên nhân – người biên tập kinh điển Phệ đà ở trên–vàSàsvata, tác giả của Ma ha bà la đa, Phú lan na và Pháp luận, là cùng 1 người hay khác nhau? Vấn đề này, cho đến nay, vẫn không được rõ. [X. kinh Đại bảo tích Q.49; Pháp hoa kinh văn cú Q.9, thượng; Niết bàn kinh nghĩa kí Q.6; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.21; A Classical dictionary of Hindu mythology byJ. Dowson].

quảng bách luận bản

(廣百論本) Cũng gọi Tứ bách luận tụng, Quảng bách luận. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Thánh Thiên (Đề Bà) soạn vào thế kỉ thứ III, ngài Huyền Trang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 30. Luận này gồm có 200 bài kệ tụng theo thể 5 chữ. Nội dung chia làm 8 phẩm: Phá thường, Phá ngã, Phá thời, Phá kiến, Phá căn cảnh, Phá biên chấp, Phá hữu vi tướng và Giáo giới đệ tử. Lập trường chủ yếu của luận này là phá trừ vọng chấp của ngoại đạo và Tiểu thừa cho rằng các pháp là có thật, đồng thời, thuyết minh lí chân không vô ngã. Ngài Thánh Thiên còn soạn Bách luận và Bách tự luận. Bộ Bách luận do ngài Cưu Ma La Thập dịch, là sách cương yếu của Quảng bách luận bản. Còn Bách tự luận thì do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch, là sách cương yếu của bộ Bách luận. Bản tiếng Phạm của luận này gọi là Tứ bách luận tụng, bản Hán dịch là nữa sau của nguyên văn 400 bài tụng, 16 phẩm, vì so sánh với Bách luận nên gọi luận này là Quảng Bách luận. Ngài Hộ pháp chú thích luận này thành là Quảng bách luận thích luận.Ngoài ra, Trung luận chú (Prasannapadà) bằng tiếng Phạm của ngài Nguyệt xứng (Phạm: Chandrakìrti) và các bản Hán dịch Trung luận, luận Thuận trung, luận Phật thích, luận Bát nhã đăng, luận Nhập đại thừa, luận Thành thực, Đại thừa trung quán thích luận... đều có dẫn dụng thuyết của Tứ bách luận, do đó mà biết Tứ bách luận đã lưu truyền rất rộng. [X. Đại đường tây vực kí Q.5; Đại đường nội điển lục Q.5; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.4].

quảng bách luận thích luận

(廣百論釋論) Cũng gọi Đại thừa quảng bách luận thích luận, Quảng bách luận, Quảng bách luận thích. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Hộ pháp soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 30. Đây là sách chú thích Quảng bách luận bản của ngài Thánh Thiên. Nội dung chia làm 8 phẩm, mỗi phẩm có 25 bài kệ tụng, tổng cộng gồm 200 bài kệ tụng, chủ yếu là phá sự mê chấp của ngoại đạo, Tiểu thừa cho các pháp là có thật, khiến chứng ngã, pháp đều không và hiển bày nghĩa Trung đạo chân không vô ngã. Ngài Thánh thiên (Phạm: Kàịa- deva) là Đại sư của phái Trung quán, còn ngài Hộ pháp (Phạm: Dharmapàla) là Đại sư của phái Duy thức. Thông thường, người đời sau đều cho rằng giáo pháp của 2 hệ thống Trung quán và Du già là Không và Hữu đối lập nhau, như vậy, về mặt bản chất có cái gì đó không ổn. Nhưng, sự xuất hiện của bộ Quảng bách luận thích luận này đã chứng minh rằng giáo pháp của 2 hệ đã giúp nhau và bổ sung cho nhau. Trong luận này, ngài Hộ pháp chẳng những nói Chân Đế không của Trung quán, mà còn nói Tục đế hữu của Duy thức, cho nên sách này đã do dung hòa 2 học phái mà hình thành. Sách chú thích luận này có nhiều, nhưng hiện chỉ còn quyển 1 của Quảng bách luận sớ (vốn 10 quyển) do ngài Văn Quĩ soạn vào đời Đường. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8].

quảng chiếu huệ giác thiền sư

Zen Master Kuang-Zhao-Hui-Jue—Thiền sư Quảng Chiếu, quê ở Tây Lạc, là đệ tử của Thiền sư Phần Dương. Cha làm Thái Thú Hoành Dương (nay là một thành phố thuộc miền nam tỉnh Hồ Nam), rồi mất ở đó, sư phò linh cửu cha về xứ. Sau khi mai táng cha xong, ông đã xuất gia tại chùa Dược Sơn—Zen master Kuang-Zhao-Hui-Jue, came from Xi-Luo, was a disciple of Fan-Yang. His father was a governor of Heng-Yang (a city in southern Hunan Province) . His father died there, and Kuang-Zhao, fulfilling his filial obligation, carried his father's casket back to their native home. After burying his father, he left home to become a monk at Yueh-Shan Temple. • Một vị Tăng hỏi sư: “Cái gì là Phật?” Sư đáp: “Đầu đồng, trán sắt.” Vị Tăng hỏi: “Là nghĩa gì?” Sư đáp: “Chim mỗ, cá vẫy vùng.”—A monk asked Kuang-Zhao: “What is Buddha?” Kuang-Zhao said: “Copper head, iron forehead.” The monk said: “What does that mean?” Kuang-Zhao said: “Bird beak, fish gills.” • Vị Tăng hỏi: “Sen là cái gì trước khi trồi lên mặt nước?” Sư đáp: “Mèo đội nón giấy.” Một người lại hỏi: “Sau khi sen trồi khỏi nước là cái gì?” Sư đáp: “Chó thấy roi là chạy.”—A monk asked: “How is it before the lotus comes out of the water?” Kuang-Zhao said: “The cat wears a paper hat.” The person asked: “How about after the lotus comes out of the water?” Kuang-Zhao said: “The dog runs when it sees the whip.” • Một hôm sư thượng đường dạy chúng: “Thấy, nghe, hiểu biết đều là nhơn sanh tử. Thấy nghe hiểu biết chính là gốc giải thoát. Thí như sư tử nhào lộn không nhất định đứng ở Nam Bắc Đông Tây. Cả thảy các ngươi nếu là chẳng biết, đâu những cô phụ ông già Thích Ca—One day, Kuang-Zhao entered the hall and addressed the monks, saying: “Hearing about enlightenment and wisdom, these are the cause of life and death. Hearing about enlightenment and wisdom, that itself is the root of liberation. It's as if a lion were staggering around in every direction with no place to live. If you don't understand, don't let yourself forsake old Sakyamuni! Hey!”

quảng cáo

To advertise—To make something public.

quảng giáo

Quảng Giáo là giai đoạn mà Đức Phật nói rộng về giới luật cho giáo đoàn của Ngài, Ngài dạy bảo nhất nhất đều phải tuân theo giới luật, đối lại với “Lược Giáo” hay giai đoạn 12 năm đầu sau khi Phật thành đạo, Ngài chỉ nói một cách tóm lược về giáo pháp của Ngài như “chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo,” cũng như những phép tu hành cho đệ tử. Tuy nhiên, có quá nhiều người làm sai trái, nên Đức Phật bèn nói “Quảng Giáo”—Full or detailed teaching by the Buddha about the duties of the order, in contrast with general or summarized teaching; the detailed teaching resulting from errors which had crept in among his disciples. ; (廣教) Giáo pháp rộng rãi đầy đủ. Lời dạy của đức Phật về giới luật được chia làm Quảng giáo và Lược giáo. Khoảng 12 năm đầu, sau khi đức Phật thành đạo, đại chúng đều thanh tịnh, không có ai phạm lỗi, nên đức Phật chưa chế giới, Ngài chỉ dạy: Chớ làm các điều ác... Hành pháp răn dạy các đệ tử như vậy, gọi là Lược giáo, cũng gọi là Lược giới. Sau 12 năm, trong hàng ngũ đệ tử số người trái phạm giới dần dần thêm nhiều, nên Phật phải nói rộng về giới luật, chỉ ra những lỗi lầm của từng giới một, gọi là Quảng giáo hay là Quảng giới.

quảng hiệp

Rộng và hẹp—Broad and narrow.

quảng hiệp tự tại vô ngại môn

(廣狹自在無礙門) Cũng gọi: Chư tạng thuần tạp cụ đức môn (cách gọi của Cổ thập huyền môn). Môn thứ 2 trong Tân thập huyền môn của tông Hoa nghiêm. Môn này là nói theo không gian. Quảng (rộng) là chỉ cho lực dụng của 1 hạt bụi, 1 pháp lan tràn tất cả không có giới hạn. Hiệp (hẹp) chỉ cho 1 có khả năng bao nhiếp tất cả mà không mất bản vị của nó, biểu hiện tướng sai biệt. Bởi thế hiệp có khả năng bao chứa quảng một cách tự tại vô ngại, như tấm gương 1 thước hiện bóng nghìn dặm, gương là hiệp, nghìn dặm là quảng; lại như mắt là hiệp, có thể thấy ngoại cảnh từ xa là quảng. Mục đích của môn Quảnghiệptự tại vô ngại này là hiển bày cảnh giới sự sự vô ngại để phá trừ sự chấp trước của chúng sinh đối với các pháp như Lục độ... và trừ diệt sự ngờ vực của chúng sinh về sự rộng hẹp vô ngại của các pháp trong 1 niệm. Trong Hoa nghiêm nhất thừa thập huyền môn do ngàiTrí Nghiễm, Tổ thứ 2 của tong Hoa nghiêm soạn có lập môn thứ 6 là Chư tạng thuần tạp cụ đức môn, đây là nói theo Thí môn, vì các độ đều không bao nhiếp Thí môn, nên gọi là Thuần; trong Thí môn có đầy đủ các độ thì gọi là Tạp, đó là thuần và tạp dung hòa vào nhau mà không ngăn ngại nhau. Về sau, trong Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1 do ngài Pháp tạng, Tổ thứ 3 của tông Hoa nghiêm,thì Chư tạng thuần tạp cụ đức môn được đổi thành Quảng hiệp tự tại vô ngại môn, về thứ tự cũng đổi từ vị thứ 6 thành vị thứ 2. [X. phẩm Thập định kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển); phẩm Nhập pháp giới; Hoa nghiêm huyền đàm Q.6]. (xt. Thập Huyền Môn).

quảng hoằng minh tập

(廣弘明集) Tác phẩm, 30 quyển, do Luật sư Đạo Tuyên (596-667) soạn vào niên hiệu Lân đức năm đầu (644) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 52. Ngài Đạo Tuyên trứ tác rất nhiều, được khen là Luật sư Tăng hựu đời Lương tái sinh. Tác phẩm này và Tập cổ kim Phật đạo luận hành 4 quyển đều là những điển tịch quan trọng của Phật giáo. Bộ Hoằng minh tập đời Lương (do ngài Tăng Hựu soạn) thu chép những nhà hộ pháp từ đời Đông Tấn đến Tống, Tề, Lương; còn Quảng hoằng minh tập là tác phẩm thu chép hơn 130 vị từ thời Lục triều đến đời Đường. Sách này tuy là Tục biên của Hoằng minh tập, nhưng vì nội dung trình bày hơi khác nên không gọi Tục mà gọi Quảng, ghi chép sự hưng phế của Phật giáo qua các triều đại từ khi truyền vào Trung quốc cho đến đầu đời Đường; các cuộc tranh luận giữa Phật giáo và Đạo giáo, sự bàn thảo về nghĩa lí của Phật giáo... Mỗi khi gặp các vấn đề liên quan đến ngoại điển thì tác giả thường nêu ra những luận thuyết, văn thư, thi phú, chiếu lục... tư liệu rất phong phú để so sánh. Toàn sách gồm 296 thiên chia làm 10 loại; Qui chính, Biện hoặc, Phật đức, Pháp nghĩa, Tăng hạnh, Từ tế, Giới công, Khải phúc, Hối tội và Thống qui. Những bản văn đơn lẻ, truyện kí rời rạc rất dễ bị thất lạc xưa nay, may mắn được sách này gom chép lại mới còn truyền đến đời sau. Đây là tư liệu cực kì quí giá. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.20; Tống cao tăng truyện Q.14].

quảng huệ

Vipulaprajna (skt)—See Quảng Tuệ.

Quảng Huệ Nguyên Liên

(廣慧元漣[蓮 hay 璉], Kōe Genren, 951-1036): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, xuất thân Huyện Tấn Giang (晋江縣), Phủ Tuyền Châu (泉州府), Tỉnh Phúc Kiến (福建省), họ là Trần (陳). Năm lên 15 tuổi, ông đến xuất gia tại Báo Cúc Viện (報劬院), sau đi khắp nơi tham vấn hơn 50 vị lão túc, và cuối cùng đại ngộ với Thủ Sơn Tỉnh Niệm (首山省念). Vào năm đầu (1004) niên hiệu Cảnh Đức (景德), ông đến trú tại Quảng Huệ Viện (廣慧院) thuộc vùng Nhữ Châu (汝州). Chính trong thời gian này, Vương Tham Chính Thư (王參政書), Hứa Lang Trung Thức (許郎中式), Thị Lang Dương Ức (侍郎楊億), v.v., có đến tham học với ông. Vào ngày 26 tháng 9 năm thứ 3 niên hiệu Cảnh Hựu (景祐), ông thị tịch, hưởng thọ 86 tuổi, và được ban cho thụy hiệu là Chơn Tuệ Thiền Sư (眞慧禪師).

quảng huệ thanh văn

(廣慧聲聞) Cũng gọi Quảng huệ thanh văn. Chỉ cho bậc A la hán xa lìa phiền não chướng và giải thoát chướng, được định, tuệ tự tại, như các tôn giả Xá lợi phất, Mục kiền liên... Luận Du già sư địa quyển 65 (Đại 30, 663 thượng) nói: Hoặc Bồ tát tu hành Tì bát xá na chưa đượctự tạivà hàng Quảng tuệ thanh văn, hoặc các bậc Hữu học, hoặc A la hán, các bậc ấy tác ý thiện đối với cõi Vô sắc thì cũng duyên với tất cả pháp ở cõi dưới. Thànhduy thức luận thuật kí quyển 7 phần đầu (Đại 43, 481 thượng) nói: Các bồ tát Thập địa, Quảng huệ thanh văn, cùng với Độc giác cũng đều được vô lậu thuần tịnh.

Quảng Hàn Cung

(廣寒宮): trong tác phẩm Long Thành Lục (龍城錄), phần Minh Hoàng Mộng Du Quảng Hàn Cung (明皇夢游廣寒宮), của Liễu Tông Nguyên (柳宗元, 773-819) nhà Đường cho biết rằng tương truyền vào ngày Rằm tháng 8, khi vua Huyền Tông (玄宗, tại vị 712-756) nhà Đường ngao du trên mặt trăng, chợt thấy một cung phủ lớn, có tấm bảng ghi là: “quảng hàn thanh hư chi phủ (廣寒清虛之府, phủ lạnh lẽo trống không).” Về sau, người ta gọi cung tiên trên mặt trăng là Quảng Hàn Cung. Như trong bài thơ Túc Thủy Đình (宿水亭) của Bảo Dung (鮑溶, ?-?) nhà Đường có câu: “Dạ thâm tinh nguyệt bạn Phù Dung, như tại Quảng Hàn Cung lí túc (夜深星月伴芙蓉、如在廣寒宮裏宿, trăng sao đêm nữa bạn hoa sen, như ở Cung Quảng Hàn tá túc).” Hay trong tác phẩm Liêu Trai Chí Dị (聊齋志异), chương Bạch Vu Ngọc (白于玉), của Bồ Tùng Linh (蒲松齡, 1640-1715) nhà Thanh, lại có đoạn: “Đồng đạo nhập Quảng Hàn Cung, nội dĩ thủy tinh vi giai, hành nhân như tại kính trung (童導入廣寒宮、內以水晶爲階、行人如在鏡中, đồng đạo vào Cung Quảng Hàn, bên trong lấy thủy tinh làm bực thềm, người đi như ở trong kính).” Hoặc trong Thiền Tông Tạp Hải Độc (禪宗雜毒海, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1278) quyển 8, phần Sơn Cư (山居), lại có bài thơ rằng: “Thảo đường thu tợ Quảng Hàn Cung, kim sắc hoa khai bích ngọc tùng, tọa cửu bất tri phàm cốt hoán, thiên hương thanh tán nguyệt minh trung (草堂秋似廣寒宮、金色花開碧玉叢、坐久不知凡骨換、天香清散月明中, nhà tranh thu tựa Quảng Hàn Cung, hoa nở sắc vàng ngọc biếc tùng, chẳng biết ngồi lâu phàm cốt đổi, hương trời tỏa ngát trăng sáng trong).”

quảng hương

Tên một ngôi già lam nổi tiếng trong quận Gò Vấp, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được Hòa Thượng Trí Thủ xây năm 1958. Đây là chi nhánh của Phật Học Viện Nha Trang. Bên phải Chánh điện có đại hồng chung nặng 330 kí lô, đúc tại Phật Học Viện Nha Trang năm 1966. Trên chuông có khắc bài văn ghi lại lịch sử của chùa mà Hòa Thượng Trí Thủ đã ghi lại vào ngày 31 tháng 3 năm 1966—Name of a famous pagoda in Gò Vấp district, Saigon City, South Vietnam. It was built in 1958 by Most venerable Trí Thủ. It has been the school of basic Buddhist Studies for Monk students. A 330 kilogram great bell cast at Nha Trang Institute of Buddhist Studies in 1966 is hung on the right of the Main Hall. On the bell there is a text written by Most Venerable Trí Thủ on March 31, 1966, telling us the history of the monastery. On the right, in the back of the monastery, stands a stupa and stele commemorating Most Venerable Trí Thủ.

quảng hạnh

Great deed—Vast deed—Extensive deed.

Quảng Học Thụ Nghĩa

(廣學竪義, Kōgakuryūgi): gọi chung là Thụ Nghĩa (竪義, ryūgi), còn gọi là Lập Nghĩa (立義), từ dùng cho các vị tăng nêu ra những kiến giải của mình về kinh điển trong các pháp hội thuyết giảng. Những vị tăng học thức trãi qua một thời gian lâu dài nghiên cứu giáo lý Phật Giáo, được gọi là Thụ Giả (竪者, người đứng trên kiến giải của mình để đối đáp những chất vấn của người khác). Thông qua mấy lần đối đáp thông suốt các chất vấn của những bậc học tượng nổi danh trong pháp hội, hội đồng sẽ quyết đinh chọn ra người có kiến thức uyên bác về Phật Giáo để làm học tượng sau này. Ở vùng Nam Đô thì nó được gọi là Nghiên Học Thụ Nghĩa (研學竪義, Kengakuryūgi) và Bắc Lãnh là Quảng Học Thụ Nghĩa; cả hai đều là các tổ chức học vấn nổi tiếng đương thời.

quảng hữu tự

(廣祐寺) Cũng gọi Bạch tháp tự. Chùa ở phía ngoài cửa Tây, thành Liêu Dương, Liêu ninh, được sáng lập vào đời Kim (1115-1234). Vào năm Thiên thông thứ 9 ( 1635), vua Thái tông nhà Thanh trùng tu, thờ pho tượng Phật mà tương truyền do đời trước dân làng đến Quảng ninh buôn bán, giữa đường gặp 1 đồng tử nhờ họ đưa đến chùa Quảng hựu, khi đến nơi thì đồng tử ấy hóa thành 1 tượng Phật bằng vàng. Khu vực chùa này rất rộng, phía trước chùa núi non trùng điệp, phong cảnh rất đẹp, nhờ đó mà chùa nổi tiếng. Sau vì mở đường sắt nên chùa bị phá hủy. Nay chỉ còn 1 ngôi tháp trắng 8 góc 13 mái và 2 pho tượng Phật.

quảng kết thiện duyên

To strengthen affinity with others.

Quảng Long Tự

(廣隆寺, Kōryū-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Ngự Thất (御室派) thuộc Chơn Ngôn Tông, hiện tọa lạc tại Sakyō-ku (右京區), Kyōto-to (京都市), Kyōto-fu (京都府); còn gọi là Phong Cang Tự (蜂岡寺), Thái Tần Tự (太秦寺), Tần Tự (秦寺), Tần Công Tự (秦公寺), Cát Dã Tự (葛野寺); hiệu núi là Phong Cang Sơn (蜂岡山). Ở vùng này, vào thời đại Ứng Thần Thiên Hoàng (應神天皇), con cháu của vua Tần Thủy Hoàng cũng như những người di dân từ Vương Quốc Bách Tế (百濟, Kudara) bên Triều Tiên sang đã làm cho hưng thạnh sản nghiệp, và đây cũng là nơi di thực nền văn minh từ vùng Đại Lục Trung Hoa vậy. Trong số những người dân đến đây có người hậu duệ của nhà họ Tần là Tần Hà Thắng (秦河勝). Tương truyền vị này nhân để an trí tượng Phật mà được Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtōku Taishi) ban tặng vào năm 604, cũng như các tượng Phật do hai nước Tân La (新羅) và Nhậm Na (任那) ban tặng, đã tạo lập nên ngôi chùa này nơi vùng đất nhà họ Tần. Sau đó, vào năm 810 và 1150 thì chùa bị cháy tan tành, nhưng cũng đã được tái kiến lại mấy lần. Chùa này vốn là chùa của dòng họ Tần, là ngôi chùa tối cổ ở vùng Kinh Đô Kyoto, là một trong bảy ngôi chùa có liên quan đến hành trạng của Thái Tử, bên cạnh Pháp Long Tự (法隆寺, Hōryū-ji), Tứ Thiên Vương Tự (四天王寺, Shitennō-ji). Quần thể kiến trúc hiện tại có Giảng Đường là kiến trúc được tái kiến dưới thời Bình An. Trong tòa nhà này ở chính giữa thờ tượng ngồi A Di Đà Phật bằng gỗ, bên phải có tượng Địa Tạng Bồ Tát, bên trái có tượng Hư Không Tạng Bồ Tát (虛空藏菩薩), phía đằng sau hai bên phải trái lại có an trí hai tượng Bất Không Quyên Sách Quan Âm (不空羂索觀音), Thiên Thủ Quan Âm (千手觀音). Còn Chánh Điện Quế Cung Viện (桂宮院) là kiến trúc ảnh hưởng phong trào tín ngưỡng Thái Tử vào thời Liêm Thương, được xây dựng dưới hình thức Mộng Điện, nhà hình tròn bát giác. Trong điện thờ tượng ngồi bán già Như Ý Luân Quan Âm (如意輪觀音) bằng gỗ. Thượng Cung Vương Viện Thái Tử Điện (上宮王院太子殿) lại là Chánh Điện chính của chùa, thờ tượng Thánh Đức Thái Tử ngồi bán già. Linh Bảo Điện (靈寶殿) là nơi tàng trữ những vật báu của chùa ngang tầm cỡ quốc bảo. Bảo vật của chùa có tượng Bồ Tát Di Lặc ngồi bán già, bằng gỗ; tượng ngồi A Di Đà Như Lai, bằng gỗ; tượng đứng Bất Không Quyên Sách Quan Âm, bằng gỗ; tượng đứng Thiên Thủ Quan Âm, bằng gỗ; tượng đứng Thập Nhị Thần Tướng, bằng gỗ; Chánh Điện Quế Cung Viện, v.v.

quảng luật

(廣律) Cũng gọi Quảng giáo. Chỉ cho luật nghi có nội dung rõ ràng đầy đủ, là những khuôn phép sinh hoạt của Tỉ Khưu và Tỉ Khưu Ni. Sau khi đức Phật thành đạo 12 năm thì trong hàng ngũ đệ tử số người phạm lỗi dần dần thêm nhiều, nên Phật đã căn cứ vào những giới luật cần phải giữ gìn mà nói rộng từng giới một, tạng Luật ghi chép duyên do của mỗi giới và nói rõ các giới một cách chi tiết này, gọi là Quảng luật. Các bản Hán dịch có 5 loại là luật Tứ phần, luật Thập tụng, luật Ma ha tăng kì, luật Ngũ phần và luật Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ. Quảng luật nói chung bao gồm 3 bộ phận: 1. Ngũ thiên nhất tụ: Nói rõ nguyên do hình thành các giới cấm và những qui tắc xử phạt. 2. Kiền độ: Những qui định cụ thể về những lễ nghi sinh hoạt hằng ngày của tăng ni. 3. Những điều mục phụ thuộc: Trong đó, những giới điều được nói trong phần 1, gọi là Giới bản (Phạm: Pràtimokwa, Hán âm: Ba la đề mộc xoa). Trong 5 bộ Luật tạng, Ca diếp di bộ chỉ truyền Giới bản, chứ không truyền dịch Quảng luật. Phật giáo Nam truyền thì truyền Quảng luật bằng tiếngPàli. [X. Luật tông trong Bát tông cương yếu].

quảng lược bản tôn

(廣略本尊) Chỉ cho hình thức thờ phụng Bản tôn của tông Nhật Liên, Nhật Bản. Hình thức Bản tôn của tông này có 2 loại: Mạn đồ la khắc tượng gỗ và Mạn đồ la vẽ chữ, hợp lại gọi chung là Mộc họa bản tôn. Mỗi loại Mộc đồ la bản tôn lại có 2 hình thức Quảng và Lược. Hình thức Quảng của Mạn đồ la bản tôn vẽ chữ tức là Thập giới khuyến thỉnh đại mạn đồ la, còn hình thức Lược thì chỉ cho đề kinh của kinh Diệu pháp liên hoa. Về Bản tôn của Mạn đồ la khắc tượng gỗ thì hình thức Quảng là các vị tôn đã nói trong Thập giới khuyến thỉnh đại mạn đồ la, mỗi vị tôn đều khắc tượng gỗ. Còn hình thức Lược thì khắc tượng gỗ 1 đức Phật Thích ca, hoặc Phật Thích ca và 4 vị Bản hóa bồ tát:Thượng hành, Vô biên hành, Tịnh hành, An lập hành (Nhất tôn tứ sĩ), hoặc Phật Thích ca, Phật Đa bảo, và 4 Bồ tát bản hóa (Nhị tôn tứ sĩ) làm Bản tôn. Phân biệt Quảng và Lược là ứng theo cơ duyên mà có hình dung sai khác, chứ thực ra thì chỉ có Bản tôn của Bản môn duy nhất mà thôi. (xt. Bản Tôn).

quảng lược tương nhập

(廣略相入) Môn Quảng và môn lược tức là nhau, hòa vào nhau. Gom hết 84 nghìn pháp môn của đức Phật dạy, rồi chỉ rõ các tướng sai khác của các pháp, như thế gọi là môn Quảng (nói rộng ra). Còn hiển bày cái lí bình đẳng của tướng sai biệt này, thì gọi là môn Lược (nói vắn tắt lại). Hai môn dung thông nhau thì gọi là Tướng nhập, như các sự tướng trang nghiêm của thế giới Cực lạc và lí thể chân như không hình tướng là 1 thể dung nạp lẫn nhau. Cứ theo kinh Đại phẩm bát nhã quyển 21, Bồ tát tu học Lục ba la mật theo 2 tướng Quảng và Lược thì phải biết tướng Quảng và Lược của tất cả pháp. Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40, 841 trung) nói: Vì sao thị hiện quảng lược tương nhập? Vì chư Phật, Bồ tát có 2 loại pháp thân: Một là Pháp tính pháp thân, hai là Phương tiện pháp thân. Từ pháp tính pháp thân sinh ra Phương tiện pháp thân; từ phương tiện pháp thân sinh ra Pháp tính pháp thân; 2 pháp thân này tuy khác nhưng không thể tách rời nhau, 1 mà chẳng đồng nhau; vì thế nên quảng lược tương nhập, tên thống nhất của các pháp. Nếu Bồ tát không biết quảng lược tương nhập thì không thể tự lợi lợi tha. [X. kinh Nguyệt đăng tam muội Q.8; luận Vãng sinh; luận Đại trí độ Q.82; Vãng sinh luận chú kí Q.5].

quảng lược yếu

(廣略要) Từ gọi chung Quảng, Lược,Yếu, 1 trong những phương pháp giải thích rõ các điểm cốt yếu của kinh luận. Đề cập đến toàn bộ gọi là Quảng, rút gọn 1 phần gọi là Lược, trích ra những chỗ chủ chốt gọi là Yếu. 1. Trong Vãng sinh yếu tập lược liệu giản của mình, ngài Nguyên Không, vị tăng người Nhật Bản, đã dùng phương pháp Quảng lược yếu để giải thích Vãng sinh yếu tập của ngài Nguyên Tín. Trong đó, Quảng tức là dùng ý của toàn bộ văn chương để nói rõ việc quán tưởng Phật; Lược tức là lấy việc niệm Phật làm chính nghiệp và lấy các hạnh tu khác làm trợ duyên kiêm tu; còn Yếu tức là khuyên tu 1 hạnh niệm Phật. 2. Tông Nhật liên của Nhật bản, khi thuyết minh văn kinh và tu hành cũng lập Quảng lược yếu khác nhau. Về văn kinh thì toàn thể 8 quyển kinh Pháp hoa là Quảng, phẩm Phương tiện và phẩm Thọ lượng là Lược, còn tên kinh là Yếu, trong đó chỉ lấy yếu mà bỏ quảng và lược. Còn về tu hành thì phải chú ý cả 3mặt quảng lược yếu của văn kinh. [X. Pháp hoa thủ yếu sao; Tổ thư cương yếu san lược Q.2].

quảng lượng

Generosity.

quảng lục độ hành

(廣六度行) Cũng gọi Lục đức hạnh. Rộng tu hạnh Lục độ. Bồ tát phải rộng tu hạnh Lục độ mới có thể hoằng dương pháp nghĩa. Cứ theo kinh Thành cụ quang minh định ý thì Quảng lục độ hạnh gồm: 1. Quảng thí: Bồ tát có tâm rộng lớn, biết rõ thân này và tất cả của cải đều vô ngã, vô thường, cho nên sẵn sàng bố thí hết thảy mà không luyến tiếc, vướng mắc; lại có thể mở rộng pháp thí để khai hóa chúng sinh mê muội. 2. Quảng giới: Bồ tát kiên trì tuân thủ các giới luật để giữ cho 3 nghiệp thân, khẩu ý, được thanh tịnh, lại khuyến hóa người khác để mở rộng giới pháp. 3. Quảng nhẫn: Đối với tất cả cảnh trái ý, Bồ tát đều có thể chịu đựng, xem các cảnh ác như không có nên không sinh tâm giận tức; đồng thời, cũng giáo hóa chúng sinh cũng tu hạnh nhẫn nại. 4. Quảng tinh tiến: Bồ tát tinh tiến tu trì, không biếng nhác, ăn uống ngủ nghỉ đều có điều độ, không thái quá, không bất cập, không ngại khó nhọc nói các pháp yếu để mở mang sự tối tăm của mọi người và khuyến hóa tất cả đều tinh tiến. 5. Quảng nhất tâm: Lúc Bồ tát tu thiền định, thường nhất tâm tịch lặng, không tán loạn, trong tất cả thời gian nơi chốn đều có khả năng chuyên chú 1 lòng, không lay động và giáo hóa chúng sinh cũng tu hạnh như thế. 6. Quảng trí tuệ: Bồ tát dùng trí tuệ soi rõ tất cả, tuy ở trong cảnh 5 trược ác nhưng tâm kiên cố không mất, dứt hẳn vọng tưởng trong 3 cõi mà chứng Niết bàn; cũng giáo hóa chúng sinh cùng tu trí tuệ.

Quảng Mục Thiên

(s: Virūpākṣa, p: Virūpakkha, 廣目天): âm dịch là Tỷ Lựu Ba A Xoa (鼻溜波阿叉), Bễ Lộ Ba Ha Ngật Xoa (髀路波呵迄叉), Tỳ Lâu Bà Xoa (毘樓婆叉), Tỳ Rô Bác Xoa (毘嚕博叉); còn gọi là Ác Nhãn Thiên (惡眼天), Xú Mục Thiên (醜目天), Tạp Ngữ Chủ Thiên (雜語主天), Phi Hảo Báo Thiên (非好報天); là một trong 4 vị Thiên Vương, một trong 12 vị trời, một trong 16 vị thiện thần. Vị này trú tại lưng chừng phía Tây Tu Di Sơn; thường lấy con mắt trời thanh tịnh để quán sát chúng sanh cõi Diêm Phù Đề, là vị thiện thần hộ pháp ở phương Tây; nên có tên là Tây Phương Thiên (西方天); chuyên xét xử trừng phạt người ác, khiến cho họ sanh khởi đạo tâm. Vị trời này cũng là chủ của các loài rồng. Trong Phật Mẫu Đại Khổng Tước Minh Vương Kinh (佛母大孔雀明王經, Taishō Vol. 19, No. 982) quyển Thượng cho biết rằng: “Thử Tây phương hữu đại Thiên Vương, danh viết Quảng Mục, thị đại long chủ; dĩ vô lượng bách thiên chư long nhi vi quyến thuộc, thủ hộ Tây phương (此西方有大天王、名曰廣目、是大龍主、以無量百千諸龍而爲眷屬、守護西方, phương Tây này có vị Thiên Vương lớn, tên là Quảng Mục, là chủ của con rồng lớn; lấy vô lượng trăm ngàn các loài rồng làm quyến thuôc, giữ gìn phương Tây).” Về hình tượng của vị trời này, các thuyết không giống nhau. Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經, Taishō Vol. 18, No. 901) quyển 11 giải thích rằng thân của Tỳ Rô Bác Xoa dài một khuỷu tay, mang các loại y khác nhau, trang sức vô cùng tinh xảo, kỳ diệu, tương xứng với thân; tay trái duỗi ra cầm cây giáo, tay phải cầm dây thừng màu đỏ. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh Niệm Tụng Nghi Quỹ Cúng Dường Pháp (藥師琉璃光王七佛本願功德經念誦儀軌供養法, Taishō Tripitaka Vol. 19, No. 926) cho biết thêm rằng: “Tây phương Quảng Mục Đại Thiên Vương, kỳ thân hồng sắc chấp quyến sách, thủ hộ bát Phật Tây phương môn (西方廣目大天王、其身紅色執罥索、守護八佛西方門, Quảng Mục Đại Thiên Vương ở phương Tây, thân màu hồng cầm cây roi, giữ gìn tám Phật cửa phía Tây).” Trong đồ hình Mạn Trà La của Thai Tạng Giới Mật Giáo, vị này ngự ở Tây môn của Kim Cang Bộ Viện. Tại Trung Quốc, có nhiều loại tạo hình về Quảng Mục Thiên; như tượng khắc trên tường phía Tây Nam Cư Dung Quan (居庸關) ở Hà Bắc thì tay phải cầm con rắn, tay trái đặt trước ngực; chân trái đạp lên lưng con ác quỷ, có vị đứng hầu bên trái lõa thể, cầm cây Chày Kim Cang. Bên cạnh đó, bức tượng phát hiện tại Thiên Phật Động ở Đôn Hoàng (敦煌) mặc áo lụa màu, hình tượng mang áo giáp da theo thể thức chế tạo của Trung Quốc; lấy áo trời, đồ vàng để trang sức thân thể, tay phải và trái cầm kiếm, hai chân đạp lên con quỷ Dạ Xoa (s: yakṣa, p: yakkha, 夜叉). Đại Hội Kinh (大會經) của Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Tripitaka Vol. 1, No. 1) quyển 12 còn cho biết rằng: “Tây phương Tỳ Lâu Bác Xoa Thiên Vương, lãnh chư Cưu Bàn Trà quỷ, hữu đại uy đức, hữu cửu thập nhất tử, diệc tự Nhân Đà La, hữu đại thần lực (西方毗樓博叉天王、領諸鳩槃茶鬼、有大威德、有九十一子、亦字因陀羅、有大神力, Tỳ Lâu Bác Xoa Thiên Vương ở phương Tây, thống lãnh quỷ Cưu Bàn Trà, có uy đức lớn, có chín mươi mốt người con, cũng tên Nhân Đà La, có thần lực lớn).”

quảng mục thiên

(廣目天) Phạm: Virùpàkwa. Pàli: Virùpakkha. Hán âm: Tị lựu ba a xoa, Tì lô ba ha hất xoa, Tì lâu bà xoa, Tì rô bác xoa. Cũng gọi Ác nhãn thiên, Xú mục thiên, Tạp ngữ chủ thiên, Phi hảo báo thiên. Tây phương thiên. Một trong 4 vịThiên vương, 1 trong 12 vị trời, 1 trong 16 vị thiện thần, trụ ở lưng chừng núi Tu di về phía tây, thường dùng mắt trời trong sáng quan sát chúng sinh ở cõi Diêm phù đề, là vị thiện thần hộ pháp giữ gìn phương tây, coi việc xử phạt người ác, khiến họ phát khởi đạo tâm. Vị Thiên vương này cũng là chúa các rồng. Kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương quyển thượng (Đại19,422 thượng) nói: Ở phương Tây, có Đại thiên vương tên là Quảng mục, cũng là vua loài rồng, có vô lượng trăm nghìn các rồng là quyến thuộc, giữ gìn phương tây. Về hình tượng của vị Thiên vương này có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo kinh Đà la ni tập quyển 11 và Tì rô bác xoa thiên vương tượng pháp, thì tượng của vị Thiên vương này cao 1 khuỷu tay, mặc các loại áo trời, trang sức cực kì lộng lẫy, tương xứng với thân, tay trái duỗi thẳng cầm giáo, tay phải cầm vòng dây đỏ. Cứ theo Dược sư Lưu ly quang vương thất Phật bản nguyện công đức niệm tụng nghi quĩcúng dường pháp, thì Đại thiên vương Quảng mục phương tây, thân màu hồng, cầm vòng dây lụa, giữ gìn cửa phía tây của 8 vị Phật. Còn trong Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo thì vị tôn này được an vị ở cạnh cửa Tây của viện Ngoại kim cương. Tại Trung Quốc, hình tượng của Quảng mục thiên có nhiều loại, như tượng khắc trên vách tây nam của ải Cư dung thuộc tỉnh Hà bắc, tay phải cầm rắn, tay trái co lại để trước ngực, chân trái đạp lên lưng ác quỉ; bên trái có người lõa thể đứng hầu, cầm chày kim cương. Còn tượng Quảng mục thiên phát hiện được ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng thì mặc áo giáp, đầu đội mũ sắt kiểu Trung quốc, trang sức bằng vàng bạc, tay phải cầm kiếm, tay trái đỡ ở đoạn giữa của thanh kiếm, 2 chân đạp trên mình Dạ xoa. [X. kinh Trường a hàm Q.19; phẩm Tứ thiên vương kinh Khởi thế Q.6; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.52; Bát nhã thủ hộ thập lục thiện thần hình thể; Thanh long tự nghi quĩ Q.2; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].

Quảng Mục Thiên Vương

xem Bốn Thiên Vương hộ thế.

quảng mục thiên vương

Virupaksa (skt)—Tiếng Phạn là Tỳ Lưu Bát Xoa, vị thiên vương có ba mắt xấu xa. Tên của một trong bốn vị Thiên Vương, vị nầy là vị trời thủ hộ phương tây (Ngài trụ về phương tây của núi Tu Di, và dùng tịnh nhãn để quan sát chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề)—The wide ugly-eyed (diversely eyed) Maharaja, with three eyes, one who has deformed eyes. Name of one of the four Maharajas, he who guards the west.

Quảng Nghiêm

xem Tỳ-da-li. ; 廣嚴; 1121-1190|Thiền sư Việt nam thuộc dòng thiền Vô Ngôn Thông đời thứ 11. Sư nối pháp Thiền sư Trí Thiền. Môn đệ nổi danh của Sư là Thường Chiếu.|Sư họ Nguyễn, quê ở Ðan Phượng, mồ côi từ thuở bé. Ban đầu, Sư theo học Phật pháp với người cậu là Bảo Nhạc. Sau khi Bảo Nhạc qua đời, Sư Hành cước, viếng thăm nhiều pháp hội. Nghe Thiền sư Trí Thiền giảng pháp ở chùa Phúc Thánh, hạt Ðiển Lãnh, Sư liền đến tham vấn.|Một hôm, khi nghe Trí Thiền giảng Ngữ lục của Thiền sư Tuyết Ðậu Trọng Hiển, đến chỗ Ðạo Ngô Viên Trí và Tiệm Nguyên Trọng Hưng đối đáp về vấn đề sinh tử ở nhà đàn việt, Sư bỗng có tỉnh, liền hỏi: »Một câu Thoại đầu ấy, người xưa nói ở trong sinh tử, lại có lí hay không?« Trí Thiền đáp: »Ngươi nhận được lí này chăng?« Sư hỏi lại: »Thế nào là lí không sinh tử?« Trí Thiền bảo: »Chỉ ở trong sinh tử nhận lấy.« Sư thưa: »Ðạt vô sinh rồi.« Thiền bảo: »Vậy thì tự liễu.« Ngay câu này, Sư thấu suốt, hỏi thêm: »Làm sao gìn giữ?« Thiền đáp: »Ðã liễu ngộ lại đồng chưa liễu.« Sư quì xuống lạy.|Sư trước đến chùa Thánh Ân trụ trì, sau lại đến chùa Tịnh Quả giáo hoá. Một vị tăng hỏi: »Thế nào là Pháp thân?« Sư đáp: »Pháp thân vốn không tướng.« Hỏi: »Thế nào là Bát-nhã?« Sư đáp: »Bát-nhã không hình.« Hỏi: »Thế nào là cảnh Tịnh Quả?« Sư đáp: »Cây thông, cây thu bên ngôi mộ xưa.« Hỏi: »Thế nào là người trong cảnh?« Sư đáp: »Một mình ngồi bịt miệng bình.« Hỏi: »Chợt gặp tri âm làm sao tiếp?« Sư đáp: »Tuỳ duyên nhướng đôi mày.« Hỏi: »Thế ấy là cháu chắt Kiến Sơ, là con Âu Tông?« Sư đáp: »Người ngu nước Sở.« Tăng không đáp được.|Ngày 15 tháng 2 năm Canh Tuất, niên hiệu Thiên Tư Gia Thuỵ thứ 5, Sư biết sắp tịch bèn nói kệ:|離寂方言寂滅去。生無生後說無生|男兒自有衝天志。休向如來行處行|Li tịch phương ngôn tịch diệt khứ|Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh|Nam nhi tự hữu xung thiên chí|Hưu hướng Như Lai hành xứ hành.|*Lìa tịch mới bàn câu tịch diệt|Ðược vô sinh sau nói vô sinh|Làm trai có chí xông trời thẳm|Chớ dẫm Như Lai vết đã qua.|Nói kệ xong, Sư chắp tay thị tịch, thọ 69 tuổi.

quảng nghiêm thiền sư

Zen Master Quảng Nghiêm (1121-1190)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Đan Phượng, Bắc Việt. Ngài mồ côi cha mẹ từ lúc nhỏ. Sau khi cha mẹ mất, ngài theo học Phật pháp với cậu là thầy Bảo Nhạc. Khi thầy Bảo Nhạc thị tịch, ngài gặp và trở thành đệ tử của Thiền sư Trí Thiền. Ngài là pháp tử đời thứ 11 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Ngài thị tịch năm 1190, thọ 69 tuổi— A Vietnamese Zen master from Đan Phượng, North Vietnam. He lost his parents when he was very young. After his parents passed away, he studied Buddha Dharma with master Bảo Nhạc, his uncle on the mother side. After his master passed away, he met and became a disciple of Zen master Trí Thiền. He was the dharma heir of the eleventh generation of the Wu-Yun- T'ung Zen Sect. He passed away in 1190, at the age of 69.

quảng nghiêm thành

Vaisali (skt)—Tỳ Xá Ly, một thành rộng rãi trang nghiêm tại vùng trung Ấn Độ—Broad ornate city, in Central India.

quảng quả thiên

Brhatphala (skt)—Tên cõi trời thứ ba trong tám cõi trời đệ tứ thiền sắc giới (Đệ Tứ Thiền Thiên là cõi trời tối thắng mà phàm phu được sanh vào. Từ cõi trời nầy trở lên năm cõi trời thì gọi là Ngũ Tịnh Cư Thiên mà chỉ riêng bậc Thánh mới được sanh vào)—The twelfth Brahmaloka, the realm of form; name of the third heaven of the eight heavens of the fourth dhyana realm of form where there are great fruit, or abundant merits. ; (廣果天) Quảng quả, Phạm: Bhatphala, Pàli: Vehapphala. Hán âm: Tì nghi ha phá la, Duy vu phả la, Duy vu phan, Tỉyba la, Duy a bát. Cũng gọi Quả thực thiên, Nghiêm sức quả thực thiên, Mật quả thiên, Đại quả thiên, Quảng thiên, Cực diệu thiên. Một trong 18 tầng trời cõi Sắc, ở tầng thứ 3 trong 9 tầng trời Tứ thiền, tức ở trên cõi trời Phúc sinh và ở dưới cõi trời Vô phiền. Cứ theo kinh Trường a hàm quyển 21 thì vào kiếp phong tai (tai nạn vì gió), người thế gian tu đạo Tứ thiền, sau khi chết được sinh lên cõi trời Quảng quả. Sau khi phong tai xảy ra thì thế giới hoại diệt hết, cõi trời này là nơi phàm thánh ở xen lẫn nhau. Về tuổi thọ ở cõi trời này, theo kinh Trường a hàm quyển 20, người ở đây sống lâu đến 4 kiếp, còn luận Lập thế a tì đàm quyển 7 thì cho rằng họ sống đến 500 đại kiếp. Về thân lượng, theo Pháp uyển châu lâm quyển 3, người ở cõi trời này cao đến 500 do tuần. Trong cõi trời Quảng quả có 1 chỗ cao, gọi là Vô tưởng thiên mà Thượng tọa bộ coi là 1 cõi trời khác, nhưng Thuyết nhất thiết hữu bộ và Kinh lượng bộ thì xếp cõi ấy vào trong cõi trời Quảng quả, vì nó ở trong phạm vi của Quảng quả thiên. [X. kinh Khởi thếQ.8; kinh Khởi thế nhân bản Q.8; kinh Bồ tát bản nghiệp; kinh Đạo hành bát nhã Q.3; kinh Đại bát nhã ba la mật đa Q.402].

quảng tham

(廣參) Đối lại: Độc tham. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trong Thiền lâm, chúng tăng tập họp ở Tham đường (nhà học tập, hỏi đạo) để cùng tham hỏi Thiền sư, nghiên cứu thảo luận về tông thú, gọi là Quảng tham. Trái lại, học trò một mình vào thất của thầy để trình kiến giải của mình về công án mà mình đã nghiên cứu, thì gọi là Độc tham. [X. môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.11].

quảng thắng tự

(廣勝寺) Chùa ở phía nam Hoắc Sơn, huyện Triệu Thành, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc, tương truyền được sáng lập vào khoảng năm Kiến Hòa (147-149) đời Hậu Hán, nhưng không có bằng chứng xác thực. Cứ theo điều Chu tấn châu Hoắc Sơn Nam tháp duyên trong Tập thần châu tam bảo cảm thông lục quyển thượng của ngài Đạo Tuyên đời Đường, thì ngôi tháp ở phía nam Hoắc Sơn là 1 trong các tháp của vua A dục. Cứ theo Sắc lệnh năm Đại lịch thứ 4 (769) đời Đường cho xây chùa Quảng Thắng, thì Ngũ nguyên Quận vương là Lí quang toản tâu vua xin xây 1 ngôi chùa ở tháp viện vua A dục, nhà vua cho phép bằng Sắc lệnh trên và ban hiệu là Đại Lịch Quảng Thắng Chi Tự. Đây chính là thời gian sáng lập chùa này, tức năm Đại lịch thứ 4 (769) đời Đường. Về sau, trải qua nhiều lần trùng tu, đến đời Nguyên đã có trên trăm gian điện đường. Đến đời Minh, vận chùa suy sụp, tháp cũng đổ nát, ngài Đạt liên quyên tiền sửa chữa, ngói lưu li được dùng để trùng tu tòa tháp, chạm trổ trang sức khá lộng lẫy, được liệt vào hàng đệ nhị tháp (Đệ nhất tháp là tháp lưu li chùa Báo ân ở Nam kinh). Tháp này xây bằng gạch hình bát giác, gồm 13 tầng, cao 36 trượng, lợp bằng ngói lưu li, có nhiều hình chạm nổi như rồng, voi, ngựa, chùa tháp....; bên trong tháp thờ tượng Phật bằng đồng, tháp xá lợi nhỏ... Nền tháp có nhà lang bao quanh, vốn để thờ các tôn tượng, rất tiếc nay chỉ còn đài tòa mà thôi. Trong chùa có cất giữ Đại tạng kinh được khắc in vào đời Kim, là tư liệu cực kì quí giá. Ngoài ra còn có bản bổ sung của chùa Hoằng pháp được khắc vào đời vua Thái tông nhà Nguyên, các bản bổsung ở đời Minh, Thanh và các loại chương sớ nằm ngoài Đại tạng. Cách chùa này không xa, ở chân núi phía trước còn có chùa Quảng thắng hạ. Gần chùa hạ có suối Hoắc, trên suối có miếu thờ Minh ứng vương, cũng gọi là miếu Thủy thần, chính điện được xây cất vào năm Diên hựu thứ 6 (1319) đời vua Nhân tông nhà Nguyên. Đầu năm Chí nguyên (1264-1294) đời Nguyên, Giới sư Đạo khai ở chùa Quảng thắng dời miếu Minh ứng vương về nền chùa này, bên cạnh đó cất tăng xá, từ đời Minh đến nay, miếu này được gọi là chùaQuảng thắng hạ. Cửa phía nam, an vị tượng Tứ thiên vương, điện Tì lô thờ tượng Như lai, 2 bên vách có vài mươi tượng chư thiên, chính điện thờ 3 tượng Phật (Phật tam thế) và tượng Quan đế nhỏ..., vách phía nam có vẽ tượng các ngài Vô trước, Thế thân... Nay phần nhiều đã bị tróc, chỉ còn lại dấu vết. [X. Tống tạng di trân tự mục; Bình dương phủ chí Q.33; Đại thanh nhất thống chí Q.99, 116; Chi na văn hóa sử tích giải thuyết Q.8].

quảng trung thuyết lược

(廣中說略) Đối lại: Lược trung thuyết quảng. Dùng những lời giản lược, hàm súc để thuyết minh 1 cách tổng quát các việc có phạm vi rộng lớn, gọi là Quảng trung thuyết lược (trong rộng nói vắn tắt). Trái lại, dùng những lời có phạm vi rộng rãi để thuyết minh các việc giản lược, thì gọi là Lược trung thuyết quảng. Đây là 1 trong những cách nói pháp tùy theo căn cơ mà đức Phật ứng dụng. Vì hành nghiệp của chúng sinh vô lượng vô biên, nên đức Phật ứng cơ hóa đạo mà vận dụng những phương pháp khác nhau để giảng giải chính pháp giúp chúng sinh lãnh ngộ. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 33 (bản Bắc) thì khi giảng nói 12 nhân duyên cho các tỉ khưu nghe, đức Phật dạy rằng 12 nhân duyên là nhân quả; cách thuyết pháp này là đem 12 pháp rộng lớn rút lại thành 2 pháp nhân và quả, đó là Quảng trung thuyết lược. Còn khi tuyên giảng pháp Tứ đế cho các tỉ khưu nghe thì đức Phật dạy rằng: Khổ là vô lượng nổi khổ, tập là vô lượng phiền não, diệt là vô lượng giải thoát, đạo là vô lượng phương tiện. Cách thuyết này là mở rộng 4 pháp giản lược, gọi là Lược trung thuyết quảng.

Quảng Trí

廣智; ?-1091 (?)|Thiền sư Việt Nam thuộc dòng Vô Ngôn Thông, pháp hệ thứ 7. Sư nối pháp Thiền sư Thiền Lão. Hai vị đệ tử nổi danh của Sư là Mãn Giác và Ngộ Ấn.|Sư họ Nhan, người ở kinh đô. Năm đầu niên hiệu Chương Khánh Gia Khánh (1059), Sư xuất gia, đến tham vấn Thiền Lão. Chỉ qua một câu nói của Thiền Lão mà Sư ngộ được yếu chỉ và từ đây, Sư chú tâm vào thiền học.|Sau, Sư trụ chùa Quán Ðỉnh núi Không Lộ ở Từ Sơn, sống rất đạm bạc. Sư cùng với một vị tăng tên Minh Huệ kết bạn đồng tu và người thường nói rằng, đó là Hàn Sơn và Thập Ðắc tái sinh.|Khoảng niên hiệu Quảng Hựu (1085-91), Sư viên tịch.

quảng trí

Extensive knowledge—Immense learning. ; (廣智) Cao tăng Trung Quốc, sống vào đời Bắc Tống, người Tứ Minh (Chiết Giang), pháp danh Thượng Hiền, vua ban hiệu là Quảng Trí. Sư theo tôn giả Tứ Minh Tri Lễ học giáo quán của tông Thiên thai, nghe giảng kinh Tịnh danh liền đốn ngộ diệu chỉ tính tướng, vì theo học đã lâu nên được xếp vào hàng cao đệ. Năm Thiên thánh thứ 6 (1028) sư kế thừa ngài Pháp Trí trụ trì chùa Diên Khánh, hóa đạo rất thịnh. Bấy giờ, Thiền sư Trùng hiển ở chùa Tuyết đậu cũng đến hỏi đạo, người đương thời truyền tụng là việc rất có ý nghĩa.Nhóm các vị Thiệu lương ở núi Tỉ Duệ tại Nhật bản theo học sư 3 năm, sau khi trở về nước cũng mở rộng pháp môn của sư. Sư có các tác phẩm: Xiển u chí, Thích kim quang huyền nghĩa. [X. Phật tổ thống kỉ Q.8, 12; Tục truyền đăng lục Q.11].

quảng trí thiền sư

Zen master Quảng Trí—Thiền sư Việt Nam, quê ở Thăng Long, Băc Việt. Năm 1059, ngài xuất gia làm đệ tử của Thiền sư Thiền Lão tại núi Tiên Du. Ngài trở thành Pháp tử đời thứ bảy dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Chẳng bao lâu sau tiếng tăm của ngài lan rộng và nhiều đệ tử đến với ngài. Về sau ngài trụ tại chùa Quán Đảnh trên núi Không Lộ. Hầu hết cuộc đời ngài, ngài đã chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo tại Bắc Việt. Ngài thị tịch năm 1091—A Vietnamese Zen master from Thăng Long, North Vietnam. He left home in 1059 to become a disciple of Zen master Thiền Lão in Tiên Du. He became the Dharma heir of the seventh generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. His reputation soon spread all over North Vietnam and he had a lot of followers. Later, he stayed at Quán Đỉnh Temple on Mount Không Lộ. He spent most of his life to revive and expand Buddhism in North Vietnam. He passed away in 1091.

quảng trường thiệt

Lưỡi to và dài, một trong 32 tướng hảo của Như Lai, có thể che kín mặt, tới chân tóc nơi trán (theo Đại Trí Độ Luận, có người hỏi Phật:”Như Đức Thế Tôn, là bậc Đại Đức đáng kính trọng, nhưng vì sao lưỡi lại to dài như tướng khinh tiện?” Phật đáp: “Tướng lưỡi như vậy thì lời nói ắt chân thực, như xưa Phật thè chiếc lưỡi to dài, che kín mặt cho tới tận chân tóc nơi trán, và nói với vị Bà La Môn rằng: 'Nhà ngươi xem trong kinh sách có người nào lưỡi như vậy lại nói lời tà vọng không?'” Vị Bà La Môn nói: “Người nào mà lưỡi thè ra che kín mũi đã không nói lời hư vọng, huống hồ là người mà lưỡi che kín cả mặt tới tận chân tóc nơi trán. Lòng ta tin rằng Đức Phật tất không nói lời hư vọng.”—A broad and long tongue, one of the thirty-two marks of a Buddha, big enough to cover his face; it is also one of the marvels in the Lotus Sutra. ** For more information, please see Tam Thập Nhị Hảo Tướng Của Phật.

quảng trường thiệt tướng

(廣長舌相) Phạm: Prabhùta-jihvatà, hoặc Prabhùta-tanu-jihvatà. Pàli: Pahùtà-jivha. Cũng gọi: Quảng trường luân tướng. Gọi tắt: Trường thiệt tướng, Quảng trường thiệt, Thiệt tướng. Tướng lưỡi rộng dài, 1 trong 32 tướng Lưỡi của chư Phật rộng dài, mềm mại, có màu hồng và mỏng; khi thè ra thì trùm cả mặt cho đến lằn tóc ở trán. Tướng này có 2 đặc trưng: 1. Lời nói chân thật. 2. Biện thuyết vô cùng, người khác không thể hơn được. Luận Đại trí độ quyển 8 (Đại 25, 115 trung) nói: Nếu người có lưỡi trùm được mũi thì lời nói không hư dối, huống chi dài chấm lằn tóc. Tâm ta tin Phật chắc chắn không nói dối. Theo kinh Quán Phật tam muội hải quyển 3 thì tướng lưỡi rộng dài của Phật là do quả báo tu 10 Ba la mật, 10 điều thiện mà cảm được; phía dưới và 2 bên lưỡi có 2 viên bảo châu, tiết ra mùi vị cam lộ thấm đượm thiệt căn. Các người trời, người thế gian, bồ tát Thập địa đều không có tướng lưỡi và vị cam lộ này. Lại trên lưỡi của đức Phật có 5 nét vạch, giống như những hoa văn của bảo ấn, khi vị cam lộ chảy vào 5 nét vạch thì thấm ra trên dưới rồi chảy vào cuống lưu li. Khi Phật thè lưỡi thì lưỡi như cánh hoa sen, lên đến lằn tóc, che kín mặt Phật. Phẩm Thần lực kinh Pháp hoa (Đại 9, 51 hạ) nói: Hiện ra sức thần lớn Thè lưỡi tướng rộng dài Lên đến trời Phạm thế. Kinh A di đà (Đại 12, 347 trung) ghi: Chư Phật nhiều như số cát sông Hằng, đều ở cõi nước của mình, thè lưỡi rộng dài, che kín 3 nghìn thế giới đại thiên, nói lời chân thật. Theo kinh Phạm ma trong Trung a hàm quyển 41, kinh Tăng nhất a hàm quyển 8 và kinh Thái tử thụy ứng bản khởi quyển thượng thì ngoài chư Phật ra, Chuyển luân Thánh vương cũng có đủ tướng lưỡi này. [X. kinh Trung a hàm Q.11; kinh Bát nhã ba la mật đa Q.5; kinh Bồ tát địa trì Q.10; Tam thập nhị tướng hiển yếu sao Q.trung].

quảng tu

(廣修) (771-843) Cao tăng Trung Quốc, sống vào đời Đường, người Hạ Côn, Đông Dương (Chiết Giang), họ Lưu, là Tổ thứ 11, (có thuyết nói thứ 10) của tông Thiên thai, người đời gọi là Chí hành tôn giả. Sư theo ngài Đạo Thúy từ lúc nhỏ tuổi, học tập giáo quán của tông Thiên thai. Sư trụ ở chùa Thiền Lâm, hằng ngày tụng các kinh Pháp hoa, Duy ma, Kim quang minh, Phạm võng và Tứ phần giới bản làm thường khóa, rồi trong 6 thời còn tu các pháp sám hối không hề biếng nhác, cho đến tuổi già vẫn còn tinh tiến tu Tam muội mỗi ngày. Năm Khai thành thứ 5 (840), vị tăng người Nhật bản là Viên tải đến Trung quốc, đem Thai giáo nghi vấn tam thập khoa (Ba mươi nghi vấn về giáo học của tông Thiên thai) để xin sư giải đáp. Trải qua 5 năm, sư và đệ tử là Duy Quyên mới giảng giải xong. Sau, sư Viên tải đưa tác phẩm này truyền về Nhật bản.Quan Thứ sử Thai châu là Vi hành, vốn quí trọng giáo môn, thỉnh sư vào quận đường tuyên giảng Ma ha chỉ quán, người nghe đều vui mừng. Năm Hội xương thứ 3 (843), sư thị tịch ở chùa Thiền Lâm, thọ 73 tuổi, pháp lạp 52, an táng ở đạo tràng Kim địa. [X. Tống cao tăng truyện Q.30; Phật tổ thống kỉ Q.8; Thích môn chính thống Q.2].

quảng tu cúng dường

Broad cultivation and making abundant offerings—Đây là hạnh nguyện thứ ba trong Phổ Hiền Thập Hạnh Nguyện. Quảng tu cúng dường là khởi lòng tín giải rất sâu, đem đồ cúng dường thượng diệu mà cúng dường pháp hội của chư Phật. Tuy nhiên, trong các thứ cúng dường, pháp cúng dường là quý hơn cả. Pháp cúng dường là tu hành đúng theo lời Phật dạy để cúng dường, làm lợi ích cho chúng sanh để cúng dường, chịu khổ thế cho chúng sanh để cúng dường, nhiếp thọ chúng sanh để cúng dường, siêng năng tu tập căn lành để cúng dường, không thối chuyển Bồ Tát hạnh để cúng dường, chẳng rời tâm Bồ đề để cúng dường—This is the third of the ten conducts and vows of Samantabhadra Bodhisattva. Broad cultivation and making abundant offerings means to have deep belief and understanding in the Buddha teachings and to make offerings of superb and wonderful gifts. However, of all offerings, the gift of dharma is supreme. Dharma offerings mean offering of cultivation according to the teachings, the offering of benefitting all living beings, the offering which gathers in all living beings, the offering of standing in for all beings to undergo their suffering, the offering of diligently cultivating good roots, the offering of not forsaking the deeds of Bodhisattvas, and the offering of not renouncing the Bodhi-mind.

quảng tuệ

Vipulaprajna or Vipulamati (skt)—Trí tuệ rộng lớn, danh hiệu của Đức Phật, có trí tuệ rộng lớn có thể chuyển hóa được chúng sanh mọi loài—Vast wisdom, an epithet of a Buddha, one able to transform all beings.

quảng tế

Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chùa tọa lạc tại phía đông triền đồi Quảng Tế, về phía tây bắc Đàn Nam Giao. Năm 1807, vị Tiền Quân Đô Đốc Phủ Chưởng Phủ Sự tước phong Lương Tài Hầu Trần Văn Năng dựng lên một thảo am, lấy địa danh gọi tên chùa là Quảng Tế. Sau khi xây chùa một thời gian, đại sư Tánh Linh Quang Hiển đã được cử trông coi chùa. Năm 1844, Hòa Thượng Hải Nhu, tăng cang chùa Thiên Mụ, cùng với thí chủ Bùi Tín Tại đã kiến thiết chùa, mở rộng qui mô, đổi tranh lợp ngói. Năm 1894, Hòa Thượng Thanh Trí, với sự hỗ trợ của bà Thánh Cung, vợ vua Đồng Khánh, tiến hành trùng tu chùa, đúc một đại hồng chung nặng 230 cân. Năm 1989, Thầy Chơn Hương đã xây cổng Tam Quan làm cho cảnh chùa thêm vẻ uy nghi—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The temple is situated on the east side of Quảng Tế hill, which is northwest of the Altar to Heaven. In 1807, Lương Tài Hầu Trần Văn Năng built a thatched temple on the east side of Quảng Tế hill and named it after the land. Sometime after the temple was built, the senior monk named Tánh Linh Quang Hiển took charge of the temple. In 1844, Most Venerable Hải Nhu, the royal-recognized monk of Thiên Mụ temple with lay person named Bùi Tín Tại rebuilt the temple, enlarged the structure and replaced thatched with tiles for the roof. In 1894, Most Venerable Thanh trí, with the help from Thánh Cung, wife of king Đồng Khánh, undertook the reconstruction. A great-sized bell, 230 pounds was contributed to the temple by the royal family. In 1989, Venerable Chơn Hương constructed an old-style three-entrance gate giving the temple a more impressive appearance.

quảng văn

(廣聞) (1189-1263) Thiền sư Trung Quốc, sống vào đời Nam Tống, người huyện Hầu Quan, Phúc Châu (Phúc kiến), họ Lâm, hiệu là Yết khê, đệ tử đời thứ 18 của phái Thiền Nam Nhạc. Năm 18 tuổi, sư lễ Hòa thượng Trí Long chùa Quang Hiếu cầu xuất gia, sau theo ngài Chiết ông Như diễm tu học ở Kính Sơn, nhờ tham cứu công án Triệu châu rửa bát mà sư được tỏ ngộ. Niên hiệu Thiệu Định năm đầu (1228), sư hoằng pháp ở chùa Tịnh Từ tại phủ Khánh Nguyên (tỉnh Chiết Giang). Sau lại trụ ở các chùa Trí Độ, Vạn thọ ở cùng phủ. Năm Thuần Hựu thứ 5 ( 1245), vua ban sắc cho sư trụ trì chùa Tư Thánh ở núi Tuyết Đậu. Về sau, sư lần lượt trụ các chùa Quảng Lợi ở núi A dục vương, chùa Tịnh từ ở phủ Lâm An. Năm Bảo Hựu thứ 2 (1254), sư trụ trì chùa Linh ẩn, được vua ban hiệu Phật Trí Thiền Sư. Năm Cảnh định thứ 4 (1263), sư thị tịch, thọ 75 tuổi, pháp lạp 58. Sư có tác phẩm: Yếu khê hòa thượng ngữ lục 2 quyển.

Quảng Đăng Lục

(廣燈錄, Kōtōroku): xem Thiên Thánh Quảng Đăng Lục (天聖廣燈錄, Tenshōkōtōroku) bên dưới.

quảng đăng lục

(廣燈錄) Cũng gọi Thiên thánh quảng đăng lục, Thiền tông quảng đăng lục. Ngữ lục, 31 quyển, do Phó mã Đô uý là Lí tuân úc soạn vào đời Bắc Tống, hoàn thành vào năm Thiên Thánh thứ 7 (1029), Hoàng đế Nhân tông (trị vì 1022-1063) viết lời tựa, được thu vào Vạn tục tạng tập 135. Nội dung sách này ghi chép cơ duyên ngữ cú và lược truyện của 336 vị từ đức Phật Thích Ca Mâu Ni đến 27 vị Tổ Ấn Độ bắt đầu từ vị Ca Diếp và các vị Tổ sư Thiền tông Trung Quốc. Sau khi soạn giả mất, tiểu truyện và các cơ duyên ngữ cú của ông cũng được thu chép vào cuối quyển 18 của bộ sách này. [X. Phật tổ thống kỉ Q.45; Phật tổ lịch đại thông tải Q.27; Thích thị kê cổ lược Q.4].

quảng đại

Rộng lớn—Broad and great.

quảng đại bao dung

Generosity.

quảng đại chuyển

(廣大轉) Chuyển vị thứ 6 trong 6 thứ chuyển vị, là tiếng dùng biểu thị quả vị tột cùng của Đại thừa. Nghĩa là chứng được cảnh giới chân như, dứt bặt mê ngộ đối đãi, đi vào viên chuyển tự tại. Tông Duy thức tùy theo giai vị chứng được mà chia quả chuyển y làm 6 thứ, gọi là Lục chủng chuyển y. Chuyển y nghĩa là chuyển bỏ chỗ y chỉ thấp để chứng được quả vị cao. Lâm gian lục quyểnhạ (Vạn tục 148, 308 hạ) nói: Quảng đại chuyển thứ 6 là quả vị Đại thừa, thông suốt nhị không, dứt hết 2 chướng, mau chứng bồ đề, có năng lực rất thù thắng.

quảng đại hành

(廣大行) Tạng: Rgya-chen-spyod-pa. Từ ngữ được dùng để gọi Du già hành trong Phật giáo Tây Tạng. Trong các bộ luận của Phật giáo Đạithừa nói chung, Quảng đại hành được gọi là Thậm thâm quảng đại (Phạm: Gambhìrodàra, gambhìrya-udàrya). Người đời sau đem chia ra làm 2 phần là Thậm thâm và Quảng đại; rồi dùng Thậm thâm cho quán và dùng Quảng đại cho hành, vì thế mà có 2 thuyết Thậm thâm quán và Quảng đại hành; từ đó lại diễn biến thành Trung quán và Du già hành. (xt. Thậm Thâm Quán).

quảng đại hội

Trung tâm nơi hội họp của những con người quảng đại bao dung, một từ ngữ đặc biệt nói về cõi nước A Di Đà—The centre where vast virtues meet, a term for Amitabha. ; (廣大會) Một trong 17 danh hiệu của đức Phật A di đà. Tất cả chúng sinh trong 10 phương được sinh về Cực lạc đều nhờ đức Phật A di đà có đầy đủ công đức tập hội rộng lớn, vì thế nên gọi Phật A di đà là Quảng đại hội. Hội này rất lớn, từ hội đầu tiên của Phật A di đà cho đến đời vị lai, vô lượng vô biênchúng sinhkhông thể kể hết nguyện tham dự pháp hội rộng lớn này, đều do đức Phật a di đà chủ tọa. Kệ tán Phật A di đà có câu: Cúi đầu đính lễ Quảng đại hội.

quảng đại trí

Trí huệ rộng lớn của Như Lai là không thể đo lường, không thể nghĩ bàn—The vast wisdom of Buddha beyond measure. ; (廣大智) Trí tuệ của Phật rộng lớn không thể tính lường, là trí kiến tối thắng vô thượng, cho nên gọi trí của Phật là Quảng đại trí. Kinh Đại nhật quyển 3, (Đại 18, 18 trung) nói: Lành thay chân ngôn hành, đầy đủ Quảng đại trí. Đại nhật kinh nghĩa thích quyển 8 (Vạn tục 36, 390 hạ): nói: Tiếng Phạm của từ Quảng đại này là tì phú la, vì âm thanh chân ngôn vang rền khắp tất cả pháp giới, đồng như hư không, chẳng nơi nào không đến, nên biết tâm Phật cũng vậy, vì thế gọi là Quảng đại trí. Kinh Hoa nghiêm quyển 49 (bản 80 quyển) nói rằng: Biết tâm hành của tất cả chúng sinh, biết tất cả pháp, biết hết thảy văn tự biện tài, dù sinh trong bất cứ nơi nào cũng có đầy đủ 10 loại Quảng đại trí, như Nhất thiết trí. (xt. Thập Chủng Quảng Đại Trí).

quảng đức

Great favour.

quảng ấn

(廣印) (1566-1636) Cao tăng Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Minh, người ở Gia Thiện, Tuy lí (huyện Gia Hưng, tỉnh Chiết Giang), họ Chu, tự Văn Cốc, biệt hiệu Chưởng Thạch. Năm 13 tuổi, sư xuất gia ở chùa Khai Nguyên tại Hàng Châu, từng tham lễ các ngài Nghi phong, Vô huyễn... ở Tây thục. Sau, sư theo ngài Vân Thê Chu Hoành thụ giới Bồ tát, sớm chiều thỉnh ích hỏi đạo. Về sau, sư đến núi Ngũ Đài và Kính sơn, than thở Thiền giới đất Ngô việt suy thoái, sư bèn ở lại chùa Chân tịch tìm cách phục hưng. Sư lại dời đến trụ ở chùa Tịnh Từ, tiếp hóa đệ tử rất đông. Năm Sùng Trinh thứ 9 (1636), sư thị tịch, thọ 71 tuổi. Sư có tác phẩm: Tông môn cảnh ngữ 2 quyển, Ngữ lục 4 quyển. [X. Chân tịch Văn cốc đại sư tháp minh trong Vĩnh giác quảng lục Q.18; Ngũ đăng toàn thư Q.120].

quấn quít

To hang about (around).

quấn thập giáo

(捃拾教) Từ ngữ do tông Thiên thai sử dụng để chỉcho giáo pháp của kinh Niết bàn. Quấn thập nghĩa là lượm lặt những bông lúa rơi rớt trong lúc gặt hái. Tông thiên thai dùng việc này để ví dụ cho giáo pháp kinh Niết bàn là giáo pháp nhặt nhạnh, thu gom những căn cơ mà hội Pháp hoa còn bỏ sót. Vì trong hội Pháp hoa đức Phật tuyên giảng giáo pháp Nhất thừa, lúc ấy có những chúng sinh chưa đủ năng lực lãnh nhận nên tự rút lui khỏi pháp hội, hoặc dời đến phương khác để chờ đến hội Niết bàn. Vì hội kinh Niết bàn lượm lặt những căn cơ mà hội kinh Pháp hoa bỏ sót lại, giống như thu gom những bông lúa rơi rớt sau mùa thu hoạch, nên ví dụ kinh Pháp hoa là Đại thu (mùa thu hoạch chính), mà ví dụ kinh Niết bàn là Quấn thập. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.10, thượng; Quán âm huyền nghĩa kí Q.1; Thiên thai tứ giáo nghi].

quấn đa

(捃多) Phạm: Kunta. Pàli:Kuntha. Hán dịch: Quấn đa nghị, Nghị tử, Chiết cước nghị. Một trong các loài kiến. Vốn chỉ cho loài trùng nhỏ, côn trùng. Ngoài ra còn chỉ cho trứng kiến. [X. luận Pháp uẩn túc Q.1; luận Du già sư địa Q.8; Du già luận kí Q.2, phần cuối].

quất

To whip.

quất phu nhân niệm trì phật

(橘夫人念持佛) Tượng Phật trì niệm do Quất phu nhân, mẹ của Hoàng hậu Quang Minh, người Nhật Bản tạo. Tức chỉ cho tượng A di đà Tam tôn thờ trong Niệm trì Phật trù tử (khám thờ Phật) đặt tại Kim đường chùa Pháp Long. Trù tử này cao 2,63m, cửa ở 4 mặt có vẽ các bức tranh. Niệm trì Phật tức là tượng A di đà Tam tôn bằng đồng giát vàng, tòa ngồi là ao sen khắc nổi. Sau lưng tượng Phật có bức bình phong do 3 mảnh ghép lại, phía trên là người trời được khắc nổi, các chuỗi anh lạc rất đẹp. Trên miệng 3 pho tượng như mỉm cười, kĩ thuật đúc tạo cực kì tinh vi, là tác phẩm tiêu biểu cho thời kì đầu Thiên Bình (Bạch Phượng) ở Nhật Bản. Tượng Bản tôn cao 33,3cm, tượng 2 vị Bồ tát đứng hầu 2 bên cao 26,9cm. [X. Nhật Bản quốc bảo toàn tập 47; Nhật Bản công nghệ sử khái luận].

quấy

To be wrong.

quấy nhiễu

To bother—To disturb—To trouble—To discommode—To annoy.

quấy rầy

See Quấy Nhiễu.

quấy rối

To harass—To trouble—To disturb.

quần

1) Cái quần: Nivasana (skt)—A skirt, a kind of garment, especially an under garment. 2) Một đàn—A flock (of sheep)—A crowd—A herd.

quần chúng

The public.

quần hữu

Các cõi hiện hữu (có quả báo và chúng sanh thụ quả báo), một trong tam hữu hay cửu hữu—All that exists, one of the three stages of mortal existence or nine stages or conditions in which sentient beings enjoy to dwell. ** For more information, please see Tam Hữu, and Cửu Hữu in Vietnamese-English Section.

quần loại

Tất cả chủng loại chúng sanh, đặc biệt là những chúng sanh hữu tình—All classes of living beings, especially the sentient.

quần manh

Những gì mới lú mầm chưa thành thục, ví với những chúng sanh mới phát tâm đạo, chưa phát triển, hãy còn bị vô minh che lấp minh tâm—All the shoots, sprouts, or immature things, i.e. all the living as ignorant and undeveloped. ; (群萌) Phạm: Bahu-jana. Cũng gọi Quần sinh. Chỉ cho chúng sinh. Manh là cái mầm của câycỏ mới nhú ra, hãy còn lờ mờ chưa rõ, hoặc cái tướng của hạt giống chưa nứt. Đạo tâm của chúng sinh mới phát, nhưng còn bị vô minh che khuất, giống như cái mầm của cỏ cây, thế nên dùng từ quần manh đểví dụ cho chúng sinh. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 hạ) nói: Đức Như lai đem tâm đại bi vô lượng, thương xót khắp 3 cõi, (...) khiến tất cả quần manh được lợi ích chính pháp. Phẩm Hóa thành dụ kinh Pháp hoa (Đại 9, 24 hạ) nói: Thiên nhân tôn trí khắp. Thương xót loài quần manh Hay mở cửa cam lộ Rộng độ hết tất cả. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.40; Huyền ứng âm nghĩa Q.6; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng; A di đà kinh nghĩa sớ văn trì kí Q.thượng (Giới độ)].

quần mê

Chỉ chung những chúng sanh hãy còn mê mờ điên đảo—All the deluded; all delusions.

quần nghi luận

Answers to Doubts and Skepticism Commentary—Đây là quyển luận giải tỏa các mối nghi ngờ của Phật tử về pháp môn niệm Phật, được viết bởi một vị Tổ Tịnh Độ—A commentary which provides explanations and clarifications to Buddhists' doubts and skepticism of the Pureland Buddhism, written by a Pureland Patriarch.

quần quật

To work hard all day long without rest.

quần sinh

Tất cả chúng sanh, đặc biệt là những chúng sanh hữu tình—All the living , especially all living, conscious beings.

quần thoa

Woman.

quầng (hào quang)

Halo.

quẩn bách

To be in financial difficulties

quẩn trí

To become senseless

quẫn trí

To get stuck in something that the mind becomes senseless—To become senseless.

quật

1) Cái hang: Guha (skt)—A cave. 2) Đào lên: To dig. 3) Nổi bật—Distinguished—Sừng sửng—Lofty.

quật cường

To refuse to submit or yield to.

quật cụ la

Nhang của phương tây (An Tức hương)—A kind of western incense.

quật luân

Đảo Côn Luân (có lẽ là Côn Sơn) thuộc Việt Nam ở biển Đông—Polo Condre of Vietnam in the South China Sea.

quật ngoại

See Quật Nội.

quật nội

Phái Trong Hang. Trong xứ Ma Kiệt Đà có ngọn núi Nam Sơn, cách ngọn Nam Sơn về phía bắc có một hang đá lớn. Sau khi Đức Phật nhập diệt, ngài Ca Diếp chủ trì cuộc kết tập Tam tạng kinh điển trong hang đá nầy. Đồng thời bên ngoài cách hang đá chừng 20 dậm, lại có một số khác tập hợp lại để kết tập Ngũ Tạng. Do đó mà có hai phái trong hang và ngoài hang. Trong hang là Thượng Tọa Bộ, ngoài hang gọi là Đại chúng bộ—“Within the cave,” the assembly of the elder disciples, after Sakyamuni's'death, in the cave near Magadha, when, according to tradition, Kasyapa presided over the compiling of the Tripitaka; while at the same time, the disciples “outside the cave" compiled another canonknown as Pancapitaka. To this separation is ascribed, without evidence, the formation of the two schools of the Mahasthavirah and Mahasanghika.

quật nội quật ngoại

(窟內窟外) Trong hang động ngoài hang động. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 9 và Tông luân luận thuật kí, thì từ phía tây nam vườn trúc Ca lan đà tại nước Ma yết đà, đi về phía bắc núi Nam sơn 5 đến 6 dặm, có 1 hang động lớn, là nơi mà, sau khi đức Phật nhập diệt, tôn giả Đại Ca Diếp đã kết tập 3 tạngKinh, Luật, Luận, gọi là Quật nội kết tập (cuộc kết tập trong hang). Cùng lúc đó, cách nơi hang động này hơn 20 dặm, ngài Bà sư bà đứng đầu số đại chúng còn lại kết tập 5 tạng (3tạng Kinh, Luật, Luận cộng thêm Tạp tập tạng và Cấm chú tạng), gọi là Quật ngoại kết tập (cuộc kết tập ngoài hang). (xt.. Kết Tập).

quật sơn

Núi Kỳ Xà Quật hay núi Linh Thứu—Vulture Peak—See Grdhrakuta in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

quật đa

Chữ viết tắt của Ưu Ba Cúc Đa—An abbreviation for Upagupta—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ (4).

quắc thước

Vigorous.

quẳng gánh lo âu

To throw away the burden of anxiety.

quế lâm đoạn nhai thạch phật

(桂林斷崖石佛) Quần thể hang đá khắc tượng Phật ở Quế Lâm, phía bắc tỉnh Quảng Tây, xưa nay nổi tiếng là nơi núi sông đẹp nhất Trung Quốc. Vùng này núi non chót vót, trùng điệp, hang động liên tiếp, rộn lớn. Bờ tây sông Li có núi Điệp thái, núi Phục ba, ngọn Độc tú, núi Li sơn; vùng núi tây bắc có ngọn Quán âm, ngọn Thạch ngư, ngọn Tây phong, núi Lão quân; bờ đông sông Li thì có núi Nguyệt nha, núi Thất tinh... Trong các núi nói trên, gần đây người ta đã phát hiện tượng Phật A súc ngồi, được khắc vào niên hiệu Điều Lộ năm đầu (679) đời vua Cao Tông nhà Đường; những tượng Phật, bia ghi việc khắc tạo tượng Phật, bia ghi các kinh, những di tích bằng đá khắc và những thơ văn, đề từ của tao nhân mặc khách lưu niệm... được khắc vào thời Đường, Tống. Niên đại Phật giáo truyền đến Quế Lâm nay không thể khảo chứng, chỉ biết ngôi chùa xưa nhất ở đây hiện còn là chùa Khai nguyên được xây dựng vào đời Tùy và chùa Diên linh ở núi Tây được kiến thiết vào trước thời vua Cao Tông nhà Đường, nhưng vì Vũ Tông nhà Đường huỷ Phật nên phần lớn chùa và tượng Phật ở đây đã bị phá huỷ. Trong những tượng khắc bằng đá, đáng chú ý nhất là pho tượng ở ngọn Quán Âm thuộc núi Tây, được khắc vào niên hiệu Điều Lộ năm đầu (679); tượng cao 1,4 m, tay trái để trên bắp vế, tay phải duỗi thẳng thõng xuống đầu gối trong tư thế bắt ấn Xúc địa (chạm đất), bên cạnh có ghi việc tạo tượng, chữ do Lí thực ở Chiêu Châu viết cùng năm đó, cho nên rất được xem trọng. Pho tượng này làm nổi bật phong cách cũng như kĩ xảo điêu khắc của đời Đường. Nói một cách đại thể, cùng là tượng Phật đời Đường, nhưng nghệ thuật điêu khắc ở miền Bắc, như Long môn, phần nhiều còn du nhập phong cách triều đại Cấp đa (Phạm: Gupta), Trung Ấn độ, còn ở miền Nam, như Quế lâm, đã dung hòa với phong cách tả thực của Trung quốc. Ngoài ra, các tượng Phật được khắc trong hang động Hoàn châu ở núi Phục ba cũng được bảo tồn rất tốt. Tượng 2 vị Bồ tát đứng được khắc ở vách bên cạnh động vẫn còn, bài minh ghi lại việc tạo tượng khắc vào năm Đại trung thứ 6 (852) đời vua Tuyên tông nhà Đường, vì tay phải của tượng cầm tịnh bình nên được cho rằng đây là tượng bồ tát Quán thế âm. Do loại tượng của Mật tông này mà có thể suy định rằng quần thể tượng Phật trong các hang động ở Quế Lâm đã được khắc tạo vào thời đại Trung Đường.

Quế Nguyệt

(桂月): có hai nghĩa chính:(1) Chỉ mặt trăng; vì truyền thuyết cho rằng trên mặt trăng có cây quế, nên có tên như vậy. Như trong bài Đông Phi Bá Lao Ca (東飛伯勞歌) thuộc Tạp Khúc Ca Từ Bát (雜曲歌辭八) của Lạc Phủ Thi Tập (樂府詩集) có câu: “Nam song Bắc dũ quế nguyệt quang, la duy ỷ trướng chỉ phấn hương (南窗北牖桂月光、羅帷綺帳脂粉香, cửa Nam song Bắc tỏa sáng trăng, rèm the màn lưới phấn sáp thơm).” Hay trong bài Chung Nam Sơn Nghĩa Cốc Minh (終南山義谷銘) của Dữu Tín (庾信, 513-581) nhà Bắc Chu có câu: “Quế nguyệt nguy huyền, phong tuyền hư vận (桂月危懸、風泉虛韻, mặt trăng treo cao, suối reo tiếng lắng).” Hoặc trong bài Đối Nguyệt Liễu Tàn Kinh (對月了殘經) của Liễu Đường Duy Nhất Thiền Sư Ngữ Lục (了堂惟一禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1417) quyển 4 lại có đoạn: “Thiên biên quế nguyệt quyên quyên, lô thượng đàn yên kiêu kiêu, khoáng kiếp tằng khan để kinh, vị triển quyển thời đô liễu (天邊桂月娟娟、爐上檀煙梟梟、曠劫曾看底經、未展卷時都了, bên trời trăng tỏ xinh xinh, trên lò khói bốc nghi ngút, muôn kiếp từng đọc bao kinh, khi chưa mở ra đã ngộ).” (2) Chỉ cho tháng Tám Âm Lịch, vì vào tháng này hoa quế nở rộ, nên có tên như vậy. Như trong bài Tăng Chi Kim Lăng (僧之金陵, Tăng Đi Kim Lăng) của Hư Đường Hòa Thượng Ngữ Lục (虛堂和尚語錄, q.7, Taishō Vol. 47, No. 2000) quyển 7 có đoạn: “Lương tiêu quế nguyệt cảnh trung đình, củng tại thanh sa diệp để minh, biệt ngã thốn tâm như thốn thiết, bất tri Nam quốc kỉ đa trình (良宵桂月耿中庭、蛩在青莎葉底鳴、別我寸心如寸鐵、不知南國幾多程, đêm nay trăng tỏ rạng mái đình, dế mèn dưới cỏ kêu ỏi inh, mình ta tấc lòng như nặng trĩu, chẳng hay nước Nam mấy dặm trình).”

Quế Sâm

桂琛|La-hán Quế Sâm

quế sâm thiền sư

Thiền Sư Quế Lâm ở Viện La Hán sanh năm 867, quê ở Thường Sơn. Từ thuở nhỏ đã ăn chay và nói những lời hay ho lạ thường. Sư xuất gia và thọ cụ túc giới với đại sư Vô Tướng tại chùa Vạn Tuế—Zen master Kui-chen was born in 867 from an ancient Chang-Shan. It is said that from early childhood he could speak very well and would not eat meat. He left home to become a monk and received full ordination at Wan–Sui Temple, under a teacher named Wu-Xiang. • Lúc đầu sư học Luật rất nghiêm, nhưng về sau sư tuyên bố rằng nếu chỉ giữ không phá luật không thôi, không phải thật sự xuất gia, nên sư ra đi tìm học với thiền tông—At first he closely followed the teachings of the Vinaya, but later declared that just guarding against breaking the vows and adhering to the precepts did not equal true renunciation. He then set off to explore the teachings of the Zen school. • Sau sư đến Huyền Sa yết kiến Đại Sư Tông Nhất, vừa nghe một câu khai phát liền rỗng suốt không ngờ—He arrived at Hsuan-Sha's place. Hsuan-Sha, who is said to have brought Kui-Chen erase all his doubts and to attain full awakening. • Một hôm Huyền Sa hỏi sư: “Tam giới duy tâm, ngươi biết thế nào?” Sư chỉ cái ghế dựa hỏi lại Huyền Sa: “Hòa Thượng kêu cái ấy là gì?” Huyền Sa đáp: “Ghế dựa.” Sư thưa: “Hòa Thượng không biết tam giới duy tâm.” Huyền Sa bảo: “Ta bảo cái ấy là tre gỗ, ngươi kêu là gì?” Sư thưa: “Con cũng gọi là tre gỗ.” Huyền Sa lại bảo: “Tận đại địa tìm một người hiểu Phật pháp cũng không có.” Sư do đây càng được khích lệ thêm—One day, Hsuan-Sha questioned Kui-Chen, saying: “In the three realms, there is only mind. How do you understand this?"”Kui-Chen pointed to a chair and said: “What does the master call that?” Hsuan-Sha said: “A chair.” Kui-Chen said: “Then the master can't say that in the three worlds there is only mind.” Hsuan-Sha said: “I say that it is made from bamboo and wood. What do you say it's made from?” Kui-Chen said: “I also say it's made from bamboo and wood.” Hsuan-Sha said: “I've searched across the great earth for a person who understands the Buddhadharma, but I haven't found one.” • Huyền Sa bảo chúng: “Mặc dù Quế Sâm tàng ẩn trong chúng, nhưng tiếng tăm vang xa—Hsuan-Sha told the monks: “Although Kui-Chen did not aspire to a leading position in the Buddhist community, his reputation as an adept nevertheless spread widely. • Một vị Tăng hỏi: “Thế nào là một câu của La Hán?” Sư đáp: “Ta nói với ngươi, liền thành hai câu.”—A monk asked: “What is Luo-Han's single phrase?” Kui-Chen said: “If I tell you it will turn into two phrases.” • Sư thượng đượng dạy chúng: “Tông môn huyền diệu chỉ là thế ấy sao? Hay riêng có chỗ kỳ đặc? Nếu riêng có chỗ kỳ đặc, các ông hãy nên xem cái gì? Nếu không, chẳng nên đem hai chữ bèn cho là Tông Thừa. Thế nào là hai chữ? Nghĩa là Tông Thừa và Giáo Thừa. Các ông vừa nói đến Tông thừa liền thành Tông thừa, nói đến Giáo thừa liền thành Giáo thừa. Chư Thiền đức! Phật pháp tông thừa nguyên lai do miệng các ông an lập danh tự, làm lấy nói lấy bèn thành. Lẽ ấy cần phải nhằm trong đó nói bình nói thật, nói viên nói thường. Thiền đức! Các ông gọi cái gì là bình thật? Nắm cái gì làm viên thường? Kẻ hành khất nhà bên cần phải biện rành, chớ để chôn vùi; được một ít thanh sắc danh tự chứa trong đầu tâm, nói ta hội giải khéo hay giản biện. Các ông biết cái gì? Ghi nhớ được danh tự ấy, giản biện được thanh sắc ấy. Nếu chẳng phải thanh sắc danh tự, các ông làm sao ghi nhớ giản biện? Gió thổi thông reo cũng là thanh, tiếng ếch nhái, chim, quạ, kêu cũng là thanh, sao chẳng trong ấy lắng nghe để giản trạch đi. Nếu trong ấy có hình thức ý tứ cùng các Thượng Tọa. Chớ lầm! Hiện nay thanh sắc dẫy đầy, là đến nhau hay chẳng đến nhau? Nếu đến nhau, thì linh tánh kim cang bí mật của ông nên có hoại diệt. Vì sao có như thế? Vì thanh xỏ lủng lỗ tai ông, sắc đâm đui con mắt ông, duyên thì lấp mất huyễn vọng của ông, càng chẳng dễ dàng vậy. Nếu chẳng đến nhau, thì chỗ nào được thanh sắc? Biết chăng? Đến nhau, chẳng đến nhau thử biện rành xem?—Kui-Chen entered the hall and addressed the monks, saying: “If you want to come face-to-face with the essential mystery of our order, here it is! There's no other special thing. If it is something else, then bring it forth and let's see it. If you can't show it, then forget about it. You can't just recite a couple of words and then say that they are the vehicle of our school. How could that be? What two words are they? They are known as the 'essential vehicle.' They are the 'teaching vehicle.' Just when you say 'essential vehicle,' that is the essential vehicle. Speaking the words 'teaching vehicle' is itself the teaching vehicle. Worthy practitioners of Zen, our school's essential vehicle, the Buddhadharma, comes from and is realized through nothing other than the names and words from your own mouths! It is just what you say and do. You come here and use words like 'tranquility,' 'reality,' 'perfection,' or 'constancy.' Worthy practitioners! What is this that you call 'tranquil' or 'real'?What is that's 'perfect' or 'constant'? Those of you here on a pilgrimage, you must test the principle of what I'm saying. Let's be open about it. You've stored up a bunch of sounds, forms, names, and words inside your minds. You prattle that 'I can do this' or 'I'm good at figuring out that,' but actually what can I do? What can you figure out? All that you're remembering and holding on to is just sounds and forms. If it weren't all sounds and forms, names and words, then how would you remember them or figure them out? The wind blows and the pine makes a sound. A frog or a duck makes a sound. Why don't you go and listen to those things and figure them out? If everywhere there are meaningful sounds and forms, then how much meaning can be ascribed to this old monk? There's no doubt about it. Sounds and forms assault us every moment. Do you directly face them or not? If you face them directly then your diamond-solid concept of self will melt away. How can this be? Because these sounds penetrate your ears and these forms pierce your eyes, you are overwhelmed by conditions. You are killed by delusion. There isn't enough room inside of you for all of these sounds and forms. If you don't face them directly then how will you manage all of these sounds and forms? Do you understand? Face them or not face them. See yourself. • Sư dừng giây phút, lại nói: “Viên thường bình thật ấy là người gì? Nói thế nào? Chưa phải là kẻ ở trong thôn Hoàng Di thì biết nói thế nào? Đó là các vị Thánh xưa bày chút ít giúp đỡ hiển phát. Thời nay không hiểu phải quấy, liền cho là toàn thật, nói ta riêng có tông phong huyền diệu. Phật Thích Ca không chót lưỡi, chẳng giống với các ông có chút ít bèn chỉ hông chỉ ngực. Nếu luận về tội sát, đạo, dâm, tuy nặng mà vẫn còn nhẹ, vì có khi hết. Kẻ nầy chê bai Bát Nhã làm mù mắt chúng sanh, vào địa ngục A Tỳ, nuốt hoàn sắt nóng chớ bảo là thong thả. Do đó, cổ nhơn nói: 'Lỗi tại hóa chủ, chẳng can hệ việc ông.' Trân trọng!”—After a pause, Kui-Chen continued: “'Perfection.' 'Constancy.' 'Tranquility.' 'Reality.' Who talks like this? Normal people in the village don't talk like this. Its just some old sages that talk this way and a few of their wicked disciples that spread it around. So now, you don't know good from bad, and you are absorbed in 'perfection' and 'reality.' Some say I don't possess the mysterious excellence of our order's style. Sakyamuni didn't have a tongue! Not like you disciples here who are always pointing at your own chests. To speak about killing, stealing, and lewdness is to speak of grave crimes, but they are light by comparison. It's unending, this vilification of nirvana, this blinding the eyes of beings, this falling in the Avici Hell and swallowing hot iron balls without relief. Therefore the ancients said: 'When the transgression is transformed into the host, it no longer offends.' Take care!” • Sư thị tịch năm 928, được vua ban hiệu “Chơn Ứng Đại Sư.”—He died in 928. After death, he received the posthumous title “Zen Master True Response.”

Quế điện

(桂殿): có ba nghĩa khác nhau. (1) Từ mỹ xưng các ngôi điện vũ của Đạo Giáo cũng như Phật Giáo. Như trong bài Túc Diệu Đình Quán Thứ Đông Pha Cựu Vận (宿妙庭觀次東坡舊韻) của Phạm Thành Đại (范成大, 1126-1193) nhà Tống có câu: “Quế điện xuy sanh dạ bất quy, Tô tiên thi bảng quải không bi (桂殿吹笙夜不歸、蘇仙詩板掛空悲, điện quế kèn vang đêm chẳng về, Đông Pha thơ bảng vọng không buồn).” (2) Chỉ cho chốn thâm cung, nơi ở của các Hậu Phi. Như trong bài Thượng Lại Bộ Thị Lang Đế Kinh Thiên (上吏部侍郎帝京篇) của Lạc Tân Vương (駱賓王, 640-684) nhà Đường có câu: “Quế điện âm sầm đối ngọc lâu, tiêu phòng yểu điệu liên kim ốc (桂殿陰岑對玉樓、椒房窈窕連金屋, điện quế thâm u đối ngọc lầu, Hậu Phi yểu điệu bao nhà vắng).” Hay trong bài Trường Môn Oán (長門怨) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà nhà Đường lại có câu: “Quế điện trường sầu bất ký xuân, hoàng kim tứ ốc khởi thu trần (桂殿長愁不記春、黃金四屋起秋塵, điện quế mãi sầu chẳng biết xuân, vàng ròng nhà cửa dậy bụi trần).” (3) Chỉ cho Nguyệt Cung (月宮), tức cung trăng. Như trong bài Hòa Mã Bá Dung Trừ Nam Đài Trung Thừa Dĩ Thi Tặng Biệt (和馬伯庸除南台中丞以詩贈別) của Tát Đô Thích (薩都剌, khoảng 1272-1355) nhà Nguyên có câu: “Quế điện thả lưu tu nguyệt phủ, Ngân Hà vị hứa độ tinh diêu (桂殿且留修月斧、銀河未許度星軺, cung Quảng còn lưu búa sửa trăng, Ngân Hà chưa hẹn xe chở sao).” Từ đó, có thuật ngữ quế điện lan cung (桂殿蘭宮, điện quế cung lan) để chỉ cho những cung điện quý phái, hoa mỹ, tráng lệ. Trong Ngu Am Trí Cập Thiền Sư Ngữ Lục (愚菴智及禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1421) quyển 7, bài Ngoại Đạo Vấn Phật (外道問佛), có đoạn: “Hạo nguyệt đương không tợ giám viên, trần mao sát hải chiếu vô thiên, mê vân tán tận bác tang hiểu, quế điện Thường Nga oán vị miên (皓月當空似鑑圓、塵毛剎海照無偏、迷雲散盡搏桑曉、桂殿嫦娥怨未眠, trăng tỏ trên không tợ gương soi, chiếu soi muôn vật khắp mọi nơi, mây mù bủa khắp trời mờ sáng, cung Quảng Hằng Nga oán mãi hoài).”

Quế ảnh

(桂影): chỉ bóng mặt trăng, ánh trăng. Theo Dậu Dương Tạp Trở (酉陽雜俎) quyển 1, chương Thiên Chỉ (天咫) của tiểu thuyết gia Đoàn Thành Thức (段成式, 803-863) nhà Đường cho biết rằng tương truyền trên mặt trăng có một cây Nguyệt Quế (月桂) cao 500 trượng. Dưới thời nhà Hán có một người tên là Ngô Cương (吳剛), say mê về tiên đạo mà không lo chuyên tâm học tập; vì vậy Thiên Đế nổi giận, đem chàng ta giam tại cung trăng, bắt chàng phải chặt cây quế và bảo rằng nếu như chặt đỗ cây quế đó thì có thể lấy được thuốc tiên. Ngô Cương bắt đầu chặt cây quế, nhưng sau khi chặt xong một nhát đao thì vết chặt tự nhiên liền lại. Ngày qua ngày, chàng trai tận lực đốn cây quế, nhưng không thành. Cho nên, Ngô Cương vẫn còn làm công việc này, vì cây quế vẫn chưa ngã và người đời sau thấy hình tượng chàng thanh niên kia chặt cây quế không ngừng nghỉ. Vì vậy, hình ảnh cây quế luôn gắn liền với mặt trăng qua một số từ ngữ như quế phách (桂魄), quế điện (桂殿), quế nguyệt (桂月), v.v. Như trong bài thơ Sơn Trung Dạ Tọa Ký Cố Lí Hữu Sinh (山中夜坐寄故里友生) của Lý Hàm Dụng (李咸用, ?-?) nhà Đường có câu: “Trùng thanh xúc xúc thôi hương mộng, quế ảnh cao cao quải lữ tình (蟲聲促促催鄉夢、桂影高高掛旅情, tiếng trùng thúc giục cố hương mộng, ánh trăng cao vút chở tình xa).” Trong bài từ Chúc Anh Đài Cận (祝英台近) của Lưu Cơ (劉基, 1311-1375) nhà Minh có đoạn: “Thúy yên thu, châu lộ hạ, tinh Hán cọng tiêu sái, quế ảnh bồi hồi, bạch tuyết xán diêm ngõa (翠煙收、珠露下、星漢共瀟灑、桂影徘徊、白雪粲簷瓦, khói biếc thu, sương châu rụng, ông sao cùng thong thả, bóng trăng bồi hồi, tuyết trắng cười ngói mái nhà).” Trong Sách Pháp Hiệu Nghĩa Biện Phúng Tụng Văn (索法號義辯諷誦文, Taishō Vol. 85, No. 2857) có câu: “Liên hoa ái nhi quế ảnh trầm huy, phương thọ điêu nhi lan tư bãi úc (蓮花靉而桂影沈暉、芳樹彫而蘭姿罷郁, hoa sen tối mà ánh trăng thầm sáng, cây thơm tàn mà dáng lan rực rỡ).”

quốc

Xứ sở—A country—A nation.

quốc bảo

(國寶) Của báu của đất nước. Chỉ cho người có đầy đủ học thức, đức hạnh, có khả năng làm thầy và được mọi người tôn sùng, giống như quốc bảo vậy. Chương Lục tổ Tuệ năng trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 5 (Đại 51, 236 hạ) nói: Đến ngày mồng 5 tháng 5 niên hiệu Vĩnh thái năm đầu, Đại tông mộng thấy Lục tổ Đại sư thỉnh y bát (...), nay sai Trấn quốc Đại tướng quân Lưu sùng cảnh cung kính đưa về, trẫm cho rằng đó là Quốc bảo. [X. Ma ha chỉ quán Q.5 thượng; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 1].

quốc dịch nhất thiết kinh

(國譯一切經) Chỉ cho bộ Phật điển tùng thư gồm 255 quyển được soạn thuật hoặc phiên dịch thành tiếng Nhật bản, do nhà xuất bản Đại đông ấn hành. Nội dung bộ sách này được chia làm 2 phần: 1. Ấn Độ soạn thuật bộ: Thu tập những kinh, luật, luận do các vị Tổ sư Ấn Độ soạn thuật đã được dịch ra chữ Hán, rồi dịch sang tiếng Nhật. Có tất cả 155 quyển, xuất bản lần đầu vào năm Chiêu hòa11(1936); hiệu đính tái bản vào năm Chiêu hòa 53 (1978). Trong phần này gồm có A hàm bộ, Bản duyên bộ, Bát nhã bộ, Pháp hoa bộ, Hoa nghiêm bộ và Luận tập bộ. 2. Hòa Hán soạn thuật bộ: Thu tập các chú sớ kinh, luật, luận, sử truyện và trứ tác của chư Tổ các tông phái ở các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, có tất cả 100 quyền. Trước khi Đại chiến lần II kết thúc, xuất bản được 66 quyểnrồi tạm đình chỉ, năm Chiêu hòa 33 (1958) tiếp tục xuất bản, đến nay đã hoàn thành được 95 quyển. Căn cứ vào sự phân loại trong sách thì bộ Hòa Hán này gồm Chư tông bộ, Luật sớ bộ, Sự vựng bộ, Sử truyện bộ, Kinh sớ bộ, Luận sớ bộ và Hộ giáo bộ. Trong 2 bộ trên đây, mỗi bộ còn có thêm 1 quyển Sách dẫn, ghi Tổng mục lục và nội dung Sách dẫn. Nét nổi bật của bộ tùng thư này là ngoài phần chính văn Nhật dịch ra, mỗi bộ kinh đều có phần giải thích tên kinh, giới thiệu tác giả, quá trình thành lập, đặc sắc của bộ kinh, nội dung cương yếu và những khảo chứng tâm đắc. Trong văn có thêm chú giải, đối với những chỗ không rõ ràng thì nêu ra sự sai khác giữa bộ kinh với bản Pàli và bản dịch khác thuộc Bắc truyền. Đây là bộ sách Phật học nhập môn trọng yếu, giúp ích rất nhiều cho những người bắt đầu học Phật.

quốc giáo

National religion.

quốc họa

National disaster (calamity).

quốc hồn

National soul (spirit).

quốc kế dân sinh

National economy and the livelihood of the people.

quốc nạn

See Quốc họa.

quốc phần tự

(國分寺) Những chùa viện do Thiên hoàng Thánh Vũ (724-749) của Nhật Bản ban sắc xây dựng ở 69 nơi trên toàn quốc. Các chùa tăng đặt tên là Kim quang minh Tứ thiên vương hộ quốc, còn các chùa ni thì có hiệu là Pháp hoa diệt tội. Chùa tăng gọi chung là Quốc phân tự, chùa ni gọi chung là Quốc phân ni tự. Các chùa viện này đều chung 1 lí tưởng là Chính giáo nhất trí (Chính trị và tông giáo là một), cầu nguyện chư Phật gia hộ để tiêu trừ tai họa, tăng trưởng phúc đức. Quốc phân tự là phỏng theo Khai nguyên tự của Trung quốc do vua Huyền tông thiết lập vào đời Đường. Trong các Quốc phân tự thì lấy Đông đại tự làm Tổng quốc phân tự, còn Pháp hoa tự ở Nại lương là Tổng quốc phân ni tự. Loại chùa viện này phần nhiều được xây dựng tại các thành thị lớn của địa phương, ngày nay rất nhiều nền cũ đã được phát hiện, cũng có nhiều chỗ chỉ còn là địa danh hoặc được xem là sử tích mà thôi.

quốc sư

Ông thầy của cả nước, thường là một vị Tăng (trong các quốc gia Phật giáo)—Imperial Teacher—Imperial preceptor or preceptor of the State, usually a Buddhist monk. ; (國師) I. Quốc Sư. Phong hiệu mà các triều đại đế vương Trung quốc phong cho vị Cao tăng có học vấn và đức hạnh, có thể làm bậc thầy tiêu biểu chomột nước. Quốc sư có nghĩa là thầy của dân chúng trong nước và thầy của vua. Cứ theo Xuất tam tạng kí tập quyển 11, 14 và Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 4 thì các ngài Cưu ma viêm và Thắng quân từng được phong làm Quốc sư. Như vậy, tước hiệu này vốn đã lưu hành ở Ấn Độ, Tây vực từ trước rồi. Như ngài Ha Lê Bạt Ma, vì đã chiết phục được các luận sư ngoại đạo ở nước Ma yết đà, Trung Ấn Độ, nên được vua phong làm Quốc sư. Sau khi Phật giáo truyền vào Trung quốc thì ở Tây vực cũng đã có phong hiệu Quốc sư rồi, như vào năm Kiến nguyên 18 (382) đời Tiền Tần, Đông sư Tiền bộ vương di đệ của Tây vực đến thăm Trường an, Quốc sư của ông là ngài Cưu Ma Bạt Đề cũng đi cùng. Rồi như phụ thân của ngài Cưu ma la thập là Cưu ma viêm đã nói ở trên, từ bỏ địa vị Tể tướng để đi xuất gia, đi về phía đông, vượt qua dãy núi Thông lãnh, vua nước Cưu tư nghe danh kính mộ, thỉnh ngài làm Quốc sư. Còn cao tăng Trung quốc cũng có vị làm Quốc sư ở Tây vực, như ngài Pháp ái ở Lũng tây. Chức Quốc sư ở Trung quốc vốn không phải để phong riêng cho các bậc Cao tăng, mà được phong chung cho cả người ngoài đời, như Vương mãng đã phong Lưu hâm làm Quốc sư để dạy Thái tử, hoặc dùng chức Quốc sư để gọi thay cho Thái sư, Quốc tử tế tửu (chức quan dạy Thái tử). Phổ thông cho rằng người đầu tiên phong cao tăng làm Quốc sư là vua Văn tuyên đời Bắc Tề: Niên hiệu Thiên bảo năm đầu (550), vua ban sắc triệu thỉnh cao tăng Pháp thường vào cung tuyên giảng kinh Niết bàn rồi tôn ngài làm Quốc sư. Về sau, vào đời Đường, có các ngài Pháp tạng được phong là Khang tạng Quốc sư, ngài Trừng quán là Thanh lương Quốc sư, ngài Tuệ Trung là Nam Dương Quốc sư, ngài Vô nghiệp là Đại đạt Quốc sư... Đến đời Tống, lúc Thiền tông toàn thịnh thì có rất nhiều thiền sư được ban hiệu nhưng không thấy có danh hiệu Quốc sư. Đến các đời Nguyên, Minh, Thanh, đối với các vị lãnh tụ của Phật giáo Tây tạng cũng có phong hiệu Quốc sư. Nhất là triều đình nhà Nguyên vì quá tôn sùng và ưu đãi Lạt ma giáo, Quốc sư thường nắm giữ cả quyền lực tông giáo và chính trị nên đã tạo ra nhiều cái thối nát. Đến đầu đời Minh, triều đình tăng cường quan hệ với dân tộc Tây tạng, tuy vẫn theo chế độ nhà Nguyên, phong Lạt ma làm Đế sư, Quốc sư, nhưng quyền hành đã giảm bớt nhiều, không còn được như ở đời Nguyên. Đến đời Thanh thì chỉ có năm Khang Hi 45 (1706), Chương gia Hô đồ khắc đồ được phong Quốc sư, trông coi các việc Lạt ma giáo ở Nội mông cổ. Còn về phía Cao tăng người Hán được triều Nguyên phong làm Quốc sư thì có 9 vị, trong đó có Quốc sư Hải Vân đời vua Thế tổ là nổi tiếng hơn cả. Ngoài ra, ở Triều tiên ngài Nghĩa Thiên hiệu Đại Giác Quốc sư cũng rất nổi tiếng. Còn ở Nhật Bản thì Thiên Hoàng Hoa Viên ban thụy hiệu Thánh Nhất Quốc Sư đầu tiên cho ngài Viên Nhĩ Biện Viên vào năm 1308, nhưng khác với Trung Quốc ở chỗ đây là thụy hiệu được phong sau khi thị tịch. Về sau, ở Nhật Bản, cũng có người được phong Quốc sư lúc còn sống. [X. Lương cao tăng truyện Q.1; Tục cao tăng truyện Q.16; Đại tống tăng sử lược Q.trung; Nguyên hanh thích thư Q.7, 8; Xưng hô môn trong Thiền lâm tượng khí tiên]. II. Quốc Sư. Chức quan tăng của Nhật Bản trụ ở các Quốc phân tự (chùa nhà nước), trông nom mọi việc trong chùa, quản lí tài sản, kiêm việc tụng kinh giảng đạo. Chức quan này được đặt ra vào năm Đại bảo thứ 2 (702). (xt. Quốc Phân Tự).

quốc sư tam hoán

(國師三喚) Tên công án trong Thiền tông. Quốc sư gọi 3 lần. Chỉ cho câu chuyện Quốc sư Tuệ Trung 3 lần gọi thị giả, 3 lần thị giả dạ!. Chương Nam dương Tuệ Trung trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 5 (Đại 51, 244 thượng) ghi: Một hôm sư gọi thị giả, thị giả thưa dạ!, cứ thế 3 lần sư gọi, 3 lần thị giả đều dạ!. Sư nói: Tưởng rằng ta phụ ngươi, nào ngờ ngươi phụ ta. [X. Tông môn thống yếu tục tập Q.3; Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.8; Tông môn cát đằng tập Q.thượng].

quốc sư thuỷ oản

(國師水碗) Tên công án trong Thiền tông. Quốc sư và bát nước. Công án này nói về việc Thiền sư Nam Dương Tuệ Trung lấy 1 bát nước, bỏ vào đó 7 hạt gạo, rồi đặt một chiếc đũa ở trên bát để trắc nghiệm xem Tử Lân Cung Phụng có hiểu được ý Phật không. Bích Nham lục tắc 48 (Đại 48, 184 thượng) chép: Trung Quốc sư hỏi Tử Lân Cung Phụng: -Ta nghe nói Cung phụng chú giải kinh Tư ích đúng không? Phụng đáp: Dạ đúng! Sư nói: Hễ chú giải kinh thì cần phải hiểu rõ ý của Phật mới được. Phụng thưa: Nếu không hiểu ý thì làm sao dám nói là chú giải kinh. Sư liền sai thị giả lấy bát nước, 7 hạt gạo và chiếc đũa để trên bát đưa đến cho Cung phụng. Sư hỏi: Đây là nghĩa gì? Phụng đáp: Không hiểu! Sư nói: Ý của lão tăng mà ngươi còn không hiểu thì làm sao mà hiểu được ý của Phật? [X. chương Nam dương Tuệ trung trong Liên đăng hội yếu Q.3].

quốc sư tháp dạng

(國師塔樣) Cũng gọi Trung quốc sư vô phùng tháp, Túc tông thỉnh tháp dạng. Tên công án trong Thiền tông. Quốc sư và kiểu tháp. Cơ duyên vấn đáp giữa vua Đường túc tông và Quốc sư Nam Dương Tuệ Trung về kiểu tháp không có tầng bậc. Bích nham lục tắc 18 (Đại 48, 157 hạ) ghi: Hoàng đế Túc tông hỏi Quốc sư Tuệ Trung: -Sau khi Thầy viên tịch, đệ tử phải làm gì để tưởng niệm thầy? Quốc sư đáp: Làm cho lão tăng một cái tháp không có tầng bậc. Vua nói: Xin thầy cho kiểu tháp. Quốc sư im lặng giây lâu rồi hỏi: Hiểu không? Vua đáp: Không hiểu. Quốc sư nói: Tôi có đệ tử phó pháp là Đam Nguyên, am hiểu việc này, xin vua hỏi ông ta. Sau khi Quốc sư thị tịch, vua hạ chiếu hỏi ngài Đam Nguyên ý đó là thế nào? Ngài Đam nguyên đáp: Sông Tương ở phía nam, cái đầm ở phương bắc. Có thuyết cho rằng công án này là cơ duyên vấn đáp giữa vua Đường đại tông và Quốc sư Nam dương Tuệ Trung. [X. Thung dung lục tắc 85; Thiền uyển mông cầu Q.trung].

quốc sử

National history.

quốc sự

National affair.

quốc thanh bách lục

(國清百錄) Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Quán Đính biên soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Sách này ban đầu do Sa môn Trí Tịch biên tập các văn cảo và văn bia của Đại sư Trí Khải, nhưng sách chưa được hoàn thành thì ngài Trí Tịch đã thị tịch, ngài Quán Đính nối tiếp soạn thêm, tất cả có 104 điều. Đây là tư liệurấtcần thiết để hiểu rõ cuộc đời và sự nghiệp của Đại sư Trí Khải tông Thiên thai. Sách này vốn có 2 loại bản, 1 đầy đủ và tóm tắt; bản đầy đủ đã bị thất lạc, bản hiện còn là bản tóm tắt. Vì Đại sư Trí Khải trụ ở chùa Quốc thanh núi Thiên thai nên sách mang tên này. [X. Phật tổ thống kí Q.25; Đại minh tam tạng pháp số mục lục; Chư tông chương sớ lục Q.1].

Quốc Thanh Tự

(國清寺, Kokusei-ji): ngôi chùa tọa lạc tại sườn núi phía nam của ngọn Phật Lũng Phong (佛隴峰), thuộc Thiên Thai Sơn (天台山), Huyện Thiên Thai (天台縣), Tỉnh Triết Giang (浙江省), là nơi phát xuất của Thiên Thai Tông Trung Quốc. Vào năm 596 (niên hiệu Khai Hoàng [開皇] thứ 18 nhà Tùy), vua nhà Tấn là Dương Quảng (揚廣, tức Dương Đế [煬帝]) sáng lập ngôi chùa này cho Đại Sư Trí Khải (智顗). Lúc đầu tiên, Thiền Sư Định Quang (定光) đến trú tại núi này, thường dạy chúng đệ tử rằng không bao lâu nữa sẽ có bậc thiện tri thức lỗi lạc đến đây. Sau đó, quả nhiên có Trí Khải đến quảng bố giáo pháp, nhưng chưa thành tựu bao nhiêu thì đã thị tịch ở Nam Kiến Tự (南建寺), Phật Lũng (佛隴). Nhà vua rất thương tiếc, bèn cúng dường trai tăng cho ngàn vị tăng để hồi hướng cho Trí Khải, và tiến hành trùng kiến các ngôi đường vũ. Ban đầu chùa có tên là Thiên Thai Sơn Tự (天台山寺), sau nhân lần đầu tiên khi Trí Khải đến núi, Định Quang mộng báo cho biết 3 nước (Bắc Chu, Bắc Tề và Trần) hợp thành một, có một người rất có thế lực mới có thể làm cho chùa thành tựu được, chùa thành tựu thì nước mới thanh bình; cho nên chùa được đặt tên là Quốc Thanh Tự. Vào năm 605 (niên hiệu Đại Nghiệp [大業] nguyên niên nhà Tùy), chùa được ban sắc ngạch với tên gọi như vậy. Không bao lâu sau, Quán Đảnh (灌頂) đến trú trì chùa và nơi đây trở thành đạo tràng căn bản của Thiên Thai Tông. Từ niên hiệu Trinh Nguyên (貞元) 9 nhà Đường trở về sau, các lưu học tăng Nhật Bản đến chùa tham học càng đông, như Tối Trừng (最澄), Nghĩa Chơn (義眞), Viên Giới (圓戒), Viên Tu (圓修), Thành Tầm (成尋), Tuấn Nhưng (俊芿), Trùng Nguyên (重源), Vinh Tây (榮西), v.v. Mọi người đều đến đảnh lễ miếu tháp của Trí Khải, sau đó mang về nước các tượng Phật, kinh luận, v.v., và khai sáng Thiên Thai Tông Nhật Bản. Theo cuốn Nhập Đường Cầu Pháp Tuần Lễ Hành Ký (入唐求法巡禮行記) của Viên Nhân (圓仁), đương thời chùa thường có khoảng150 vị tăng lưu trú, đến mùa An Cư kiết hạ thì có hơn 300 người; cho nên lúc bấy giờ chùa đang hồi cực thịnh. Đến lúc nạn Hủy Phật Hội Xương (會昌), chùa bị binh hỏa thiêu rụi. Vào năm 851 (niên hiệu Đại Trung [大中] thứ 5), chùa được trùng kiến lại và đến năm 1005 (niên hiệu Cảnh Đức [景德] thứ 2 nhà Tống), chùa đổi tên thành Cảnh Đức Quốc Thanh Tự (景德國清寺). Sau đó, chùa lại bị binh hỏa thiêu cháy, mấy trăm quyển sách của ba triều đại đều mất sạch, chỉ còn lại Liên Kinh (蓮經) do Trí Khải đề bút, 1 quyển kinh lá bối của Tây Vức và tượng Phật bằng gỗ Chiên Đàn thời nhà Tùy cũng như răng Phật mà thôi. Vào năm 1128 (niên hiệu Kiến Viêm [建炎] thứ 2 nhà Nam Tống), triều đình ban sắc lệnh trùng tu chùa, cho nên cảnh trí chùa đẹp hơn ngày xưa. Hai năm sau, triều đình hạ chiếu chuyển chùa sang Thiền Tông, vì vậy nơi đây trở thành Thiền tự. Về sau, chùa đã trải qua bao lần tái tạo và khuôn viên chùa được gọi là một trong 4 thắng cảnh trong thiên hạ. Nơi đây có cầu tên Phong Can Kiều (豐干橋), tương truyền dưới thời nhà Đường, Phong Can (豐干), Hàn Sơn (寒山) và Thập Đắc (拾得) đã từng đến chơi ở đây. Cũng phát xuất từ nhân duyên Của Thiền Sư Phong Can với chùa, nên từ đó về sau chùa được đội thành Thiền tự. Trước chùa có tháp 9 tầng bằng ngói. Bảo vật của chùa có tháp Xá Lợi bằng đồng do Ngô Việt Vương Tiền Hoằng Thục (錢弘淑) tạo.

quốc thanh tự

(國清寺) Chùa ở chân núi phía nam ngọn Phật Lũng, núi Thiên Thai, phía bắc huyện Thiên Thai, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc là nơi phát tích của tông Thiên thai. Vào năm Khai Hoàng 18 (596) đời Tùy, Tấn vương Dương Quảng (sau là Dạng Đế) đã sáng lập chùa này để cúng dường Đại sư Trí khải. Đầu tiên, Thiền sư Định Quang trụ ở ngọn núi này, ngài từng bảo đệ tử rằng không bao lâu nữa sẽ có bậc đại thiện tri thức thống lãnh đồ chúng đến ở núi này. Sau, quả nhiên có ngài Trí Khải đến đây truyền bá giáo pháp, ngài muốn xây chùa ở phía nam ngọn núi Phật lũng, nhưng ý định chưa được thực hiện thì ngài đã viên tịch. Tấn vương Dương Quảng vô cùng thương tiếc và vì ngài mà thiết trai cúng dường 1.000 vị tăng, sau đó, lại xây cất thêm điện đường ở chùa. Lúc đầu, Tấn Vương đã đặt tên chùa là Thiên thai sơn tự, sau nhân lúc ngài Trí Khải mới vào núi này, Thiền sư Định Quang từng báo mộng rằng: 3 nước (chỉ cho Bắc Chu, Bắc Tề và Trần) hợp làm một thì sẽ có người nhiều thế lực có thể làm được chùa này, nếu chùa được hoàn thành thì quốc gia sẽ thanh bình, nên đặt tên là Quốc thanh tự. Niên hiệu Đại Nghiệp năm đầu (605) đời Tùy, vua ban biển ngạch Quốc Thanh Tự. Ít lâu sau, ngài Quán Đính trụ trì, từ đó, chùa trở thành đạo tràng căn bản của tông Thiên thai. Từ năm Trinh nguyên đời Đường về sau, rất nhiều vị tăng Nhật bản du học Trung quốc đã đến tham bái chùa Quốc thanh, như các sư Tối Trừng, Nghĩa Chân, Viên Tải, Viên Trân, Thành Tầm, Tuấn Nhưng, Trọng Nguyên, Vinh Tây...đều đã đến lễ tháp thờ ngài Trí Khải, hoặc có vị làm việc Phật, hoặc có vị đem tượng Phật và kinh luận về nước, nhân đó mà sáng lập tông Thiên thai của Phật giáo Nhật Bản. Cứ theo Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí quyển 1 của ngài Viên Nhân, trong chùa Quốc Thanh lúc nào cũng có 150 vị tăng thường trú, hạ an cư thì có từ 300 vị trở lên, như vậy ta có thể thấy pháp vận của chùa thời đó hưng thịnh đến mức nào. Trong Pháp nạn Hội xương (846) đời Đường, chùa đã bị đốt, năm Đại trung thứ 5 (851) được xây dựng lại. Năm Cảnh đức thứ 2 (1005) đời Tống, chùa được đổi tên là Cảnh Đức Quốc Thanh Tự. Sau lại bị lửa chiến tranh hủy hoại, mấy trăm quyển sách của các vua 3 triều cháy hết, chỉ còn Liên kinh của ngài Trí khải, 1 quyển kinh lá bối từ Tây vực, tượng Phật bằng gỗ chiên đàn tạc vào đời Tùy và răng Phật. Năm Kiến viêm thứ 2 (1128) đời Nam Tống, vua ban sắc trùng tu, chùa trở nên đẹp đẽ gấp bội so với ngày trước. Năm Kiến viêm thứ 4 (1130), vua hạ lệnh đổi Giáo thành Thiền, từ đó về sau chùa Quốc thanh trở thành Thiền tự. Sau, trải qua nhiều lần xây cất thêm, chùa trở thành 1 trong Tứ tuyệt trong thiên hạ từ xưa đến nay. Hai bên chùa có 5 ngọn núi (Bát trụ, Linh cầm, Tường vân, Linh chi và Ánh hà) bao vòng chung quanh chùa, có 2 dòng suối chảy vòng hợp lại ở trước chùa. Chùa có cây cầu tên là Phong can, tương truyền đó là nơi mà Thiền sư Phong can đời Đường thường dạo chơi với các ngài Hàn sơn và Thập đắc. Lại do nhân duyên của Thiền sư Phong can với chùa này mà biết được rằng tuy đến đời Tống chùa mới được đổi thành Thiền tự, nhưng ngay từ đầu đời Đường chùa đã dần dần được Thiền hóa rồi. Hiện nay các kiến trúc trong chùa còn nguyên vẹn, phía trước chùa có ngôi tháp gạch 9 tầng, tương truyền do Tùy dạng đế (Tấn vương Dương quảng) sai Tư Mã Vương hoằng kiến thiết để thờ ngài Trí Khải; tháp cao khoảng 23 trượng, mặt bằng, 6 góc, qui mô rộng lớn, nhưng có vẻ là kiến trúc đời Tống. Bảo vật còn được cất giữ trong chùa có tháp xá lợi bằng đồng do Ngô việt vương Tiền hoằng thục tạo, tháp này là 1 trong 8 vạn 4 nghìn tháp, là vật đã đào được trong khu vực chùa, cao 19 cm, phần dưới cùng của tháp bên trong có khắc chữ. Cảnh chùa có 2 nơi di tích của ngài Nhất Hạnh (673-727). Ngài Nhất Hạnh là vị cao tăng đời Đường,1 nhà Thiên văn học nổi tiếng, từng sửa lại lịch Đại diễn. Ngài đến chùa Quốc Thanh, cùng với vị tăng trong chùa nghiên cứu về số học. Người đời sau xây mộ dựng bia ở phía sau thápThất Phật trước chùa để tưởng niệm ngài, trên đề dòng chữ: Đường Nhất Hạnh Thiền Sư Chi Tháp (Tháp thiền sư Nhất Hạnh đời Đường). Lại truyền rằng khi ngài Nhất Hạnh đến đây thì núi Bắc mưa lớn, dòng suối ở núi Đông trước chùa chảy mạnh, tràn ngược về phía Tây. Nay, bên cầu Phong can có tấm bia đá vuông, trên đó viết 7chữ: Nhất Hạnh Đảo Thử Thủy Tây Lưu (Ngài Nhất hạnh đến đây nước chảy về tây). [X. Bài tựa Quốc thanh bách lục; Tùy thiên thai Trí giả đại sư biệt truyện, Thiên thai sơn toàn chí; Cổ kim đồ thư tập thành sơn xuyên điển thứ 123].

quốc thống

(國統) Tên 1 chức quan tăng ở thời Đông Ngụy thuộc Bắc triều, Trung Quốc. Theo Tăng chế qui định, chức quan này có thẩm quyền xử trị các tăng ni phạm tội giết người và các tội khác. Lúc đầu, chức này được gọi là Chiêu huyền thống. Dưới chức này có chức Quốc đô (nguyên gọi là Chiêu huyền đô Duy na). Chế độ quan tăng bắt đầu được đặt ra vào thời Ngụy thuộc Nam Bắc triều. Người đầu tiên lập chức Quốc thống là vua Diêu hưng đời Hậu Tần; đến khoảng năm Hoằng thủy (396-397) thì Đạo vũ đế nhà Bắc Ngụy thiết lập chức Đạo nhân thống để quản lí tông đồ. Đến niên hiệu Hưng an năm đầu (452), ngài Sư hiền đảm nhiệm chức Đạo nhân thống, sau khi ngài Sư Hiền thị tịch thì ngài Đàm Diệu kế vị, đổi tên gọi là Sa môn thống. Niên hiệu Hòa bình năm đầu (460), vua Văn thành nhà Bắc Ngụy đổi Giám phúc tào (cơ cấu quan tăng Trung ương được thiết lập từ trước) làm Chiêu huyền tự (có thuyết nói do Hiếu văn đổi); Sa môn thống của Chiêu huyền tự được gọi là Chiêu huyền thống. Ngài Pháp thượng thời đó từng giữ chức Chiêu huyền thống suốt 40 năm, từ thời Bắc Ngụy đến thời Bắc Tề. Sau khi Bắc Ngụy bị chia thành Đông Ngụy và Tây Ngụy thì chức Chiêu huyền thống ở Đông Ngụy được gọi là Quốc thống. (xt. Tăng Quan)

quốc túy

National characteristics or spirit.

quốc tăng chính

Văn phòng Tăng Thống—National superintendent of the clergy, an office which at one time existed.

quốc vương

Quốc vương hay Thái tử, người được phước báo cao trong hiện tại nhờ tiền kiếp tu trì thập thiện—A king or a prince—One who has attained to his present high estate consequent on keeping all the ten commandments in a previous incarnation. ; (國王) Cũng gọi Quốc chủ, Nhân vương. Chỉ cho ông vua cai trị một nước. Nói theo nhân quả thì người kiếp trước thụ trì giới thập thiện, nhờ thế mà đời này được làm vua thống lãnh đất nước, làm chủ nhân dân. Lại nhân được chư thiên bảo hộ nên cũng gọi là Thiên tử. [X. kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.3; kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.thượng].

quốc vương bất lê tiên nê thập mộng kinh

(國王不梨先泥十夢經) Bất lê tiên nê, Phạm: Prasenajit. Pàli: Prasennadi, Hán âm: Ba tư nặc. Gọi tắt: Thập mộng kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Đàm Vô Lan dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 2. Đây là bản lưu hành riêng của kinh thứ 9, phẩm ĐạiÁi đạo bát niết bàn phần trong kinh Tăng nhất a hàm. Nội dung kinh này nói về việc vua Ba tư nặc nằm mộng thấy 10 điều kì lạ, ngoại đạo cho là điềm xấu, khuyên vua nên giết vợ và cận thần để tế trời, cầu bình an, cát khánh. Sau nhờ đức Phật dùng trí tuệ chân chính giải mộng, vua mới được yên lòng. Kinh này có 2 bản dịch khác, đó là kinh Xá vệ quốc vương mộng kiến thập sự và kinh Xá vệ quốc vương thập mộng.

quốc vương ngũ chủng khả ái lạc pháp

(國王五種可愛樂法) Năm pháp đáng ưa thích của ông vua một nước. Cứ theo kinh Phật vị Ưu Điền Vương thuyết vương pháp chính luận thì ông vua 1 nước có5 điều làm cho nhân dân trong nước tôn kính và yêu thích như sau: 1. Ân dưỡng thương sinh: Quốc vương thường ban bố nhân nghĩa, làm việc lợi ích cứu giúp mọi người, vì thế nhân dân đều được thấm nhuần ân đức và hết lòng yêu quí Quốc vương. 2. Anh dũng cụ túc: Quốc vương trí dũng song toàn, đức trùm muôn cõi, uy vang 4 biển, vì thế nhân dân sợ uy cảm đức của vua và đều quí mến. 3. Thiện quyền phương tiện: Quốc vương tài trí mưu lược, quyền biến khó lường, che chở những người nhu thuận, dùng phương tiện khéo léo chế ngự những kẻ ương ngạnh, hung bạo, vì thế nhân dân sợ uy cảm đức và đều yêu kính vua. 4. Chính thụ cảnh giới: Quốc vương thường khéo trù tính, lo toan, dự trữ đầy đủ kho tàng, đem lòng yêu thương cứu giúp những người bệnh hoạn, nghèo túng, vì thế nhân dân được thấm nhuần ân huệ, không ai không yêu kính quốc vương. 5. Khuyến tu thiện pháp: Quốc vương có đủ lòng tin chân chính, hiểu rõ quả báo mà tu tập chính nhân để chứng chính quả, vì thế nhân dân tôn kính, học tập theo vua và hết lòng yêu mến.

quốc ân

Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế. Chùa tọa lạc tại phía tây bắc núi Ngự Bình, trong thôn Phước Quả, phường Trường An. Nguyên chùa có tên là Vĩnh Ân do Hòa Thượng Siêu Bạch Nguyên Thiều, một du tăng Trung Hoa khai sơn vào khoảng năm 1683. Năm năm sau, chúa Nguyễn Phước Thái công nhận là quốc tự và đặt tên lại là Quốc Ân. Năm 1805, công chúa Long Thành hiến 300 lạng bạc để trùng tu. Năm 1842, vua Thiệu Trị lại cấp cho chùa 500 lạng bạc để hoàn chỉnh như chúng ta thấy ngày nay—Name of an old temple in Huế. It is located at northwest of Ngự Bình Hill, in Phước Quả hamlet, Trường An precint. Its original name was Vĩnh An. The temple was built in 1683 by Most Venerable Siêu Bạch Nguyên Thiều, a wandering Chinese monk. Five years later, Lord Nguyễn Phước Thái recognized it as a national temple and renamed it Quốc Ân. In 1805, Princess Long Thành, an elder sister of king Gia Long, had it rebuilt with 300 ounces of silver. In 1842, king Thiệu Trị granted 500 ounces of silver to accomplish its reconstruction as we can see it today.

quốc độ

Nơi ở của các chúng hữu tình—A country—Native land—Abode of a race, or races. ; (國土) Phạm: Kwetra. Hán âm: Sát đa la. Gọi tắt: Sát. Hán dịch: Độ, Sát độ. Chỉ cho đất đai, lãnh thổ hoặc chỗ ở của chúng sinh. Quốc độ có Tịnh độ và Uế độ khác nhau.

quốc độ hải thế giới hải

(國土海世界海) Chỉ cho cõi nước của Phật. Kinh Hoa nghiêm chia cõi nước Phật làm 2 loại là Quốc độ hải và Thế giới hải. 1. Quốc độ hải: Cõi Phật không thể nghĩ bàn, là y báo của tự thể Phật quả, là cảnh giới Phật viên dung tự tại, không thể hình dung được. Đây là cõi nước do chính đức Phật chứng ngộ trong nội tâm, bởi thế chi có Phật hiểu rõ, còn chúng sinh ở giai vị tu nhân không thể nào xét biết được, cũng không thể dùng lời nói để biểu đạt, mà dù có miễn cưỡng biểu đạt bằng lời nói thì cũng chỉ có thể dùng những ngôn từ có tính cách phản diện như: Diệu cực nan tư, bất khả ngôn thuyết... Trong Ngũ giáo chương thông lộ kí quyển 26, ngài Ngưng Nhiên, người Nhật Bản đem Phật sát, Phật quốc, Sát tịnh, Sát khởi trong Thập cú bất tư nghị mà bồ tát Văn thù sư lợi tán thán trong phẩm Như lai danh hiệu của kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) xếp vào Quả phần y báo, chính là chỉ cho Quốc độ hải. 2. Thế giới hải: Chỉ cho quốc độ mà Bồ tát đang trong giai đoạn tu nhân nương ở, hoặc chỉ cho cõi nước do đức Phật giáo hóa, có thể chia làm 3 loại: a) Liên hoa tạng trang nghiêm thế giới hải (cũng gọi Liên hoa tạng thế giới, Hoa tạng giới): Tuy là cảnh giới thuộc về Quả phần không thể nói bàn, nhưng là chỗ nương ở của Chứng nhập sinh cuối cùng trong 3 sinh (Kiến văn sinh, Giải hành sinh và Chứng nhập sinh), cho nên là thế giới hải có thể nói bàn. Tuy có tướng đồng với cảnh giới không thể nói bàn, nhưng chẳng phải luận thế giới phân biệt nhất tướng nhất tịch, mà là cảnh giới hỗ tương chủ bạn đầy đủ, không giới hạn, giống như tấm lưới của cung điện trời Đế thích. b) Thập trùng thế giới hải: Ngoài 3.000 thế giới còn có 10 thế giới: Thế giới tính, Thế giới hải, Thế giới luân, Thế giới viên mãn, Thế giới phân biệt, Thế giới toàn, Thế giới chuyển, Thế giới liên hoa, Thế giới tu di và Thế giới tướng. Đây là cõi nước Giải hành sinh được thị hiện cho hàng bồ tát Thập địa. c) Vô lượng tạp loại thế giới hải (cũng gọi Tạp loại thế giới): Nơi nương ở của Kiến văn sinh, chỉ cho thế giới có hình núi Tu di hoặc hình sông, hình quay tròn, hình vòng xoáy, hình bánh xe, hình cây, hình lầu gác, hình áng mây, cho thế giới hình chúng sinh đầy khắp các pháp giới mà không bị ngăn ngại. Tóm lại, chỗ thấy của 3 sinh đều không giống nhau, cho nên mới chia làm 3 loại, nhưng 3 loại đều dung hợp nhau chứ không ngăn ngại nhau, vì thế trở thành 1 loại thế giới Hoa nghiêm và là nơi do đức Phật Tì lô giá na giáo hóa. Ngoài những điểm ghi trên, từ Thế giới hải cũng chỉ chung cho thế giới phổ thông, đặc biệt là chỉ cho thế giới hải thứ 2 trong 10 lớp thế giới. [X. kinh Hoa nghiêm Q.4 (bản dịch cũ); Hoa nghiêm kinh Khổng mục chương Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3, 4, Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3, Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.26].

quốc độ thân

Đức Tỳ Lô Giá Na ứng theo căn cơ của chúng sanh mà hiện ra quốc độ cho họ nương vào—The Buddha as Buddhaksetra, or abode of the living; the world as the body of Vairocana. ; (國土身) Phạm: Kwetra-kàya. Tức là khí thế gian, 1 trong 10 thân dung 3 thế gian do tông Hoa nghiêm lập ra. Theo tông Hoa nghiêm thì cõi nước mà hữu tình chúng sinhnươngở là do thể chính giác của Tì lô giá na Như lai tùy theo căn cơ của chúng sinh mà hóa hiện ra, cho nên gọi là Quốc độ thân. [X. kinh Hoa nghiêm Q.26 (bản dịch cũ); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.14]. (xt. Thập Thân).

quốc độ thế gian

Theo Kinh Hoa Nghiêm thì đây là cảnh giới mà chúng sanh dựa vào để sinh tồn, một trong ba loại thế gian—According to the Flower Adornment Sutra, one of the three worlds, the world of countries on which people depend on for existence—See Tam Thế Gian (2). ; (國土世間) Cũng gọi Khí thế gian, Trụ xứ thế gian. Một trong 3 loại thế gian. Chúng sinh trong 10 pháp giới đều tùy y báo của mình mà có 10 chỗ cư trú khác nhau. Thân năng y của chúng sinh có 10 loại bất đồng, nên quốc độ sở y cũng đều khác nhau, vì thế gọi là Quốc độ thế gian. [X. luận Đại trí độ Q.47; Ma ha chỉ quán Q.5 thượng]. (xt. Tam Thế Gian).

quốc độ tuyệt đối

Sáng tỏ của thể dụng của tự tánh tuyệt đối bất nhị. Khắp thời gian chẳng sanh diệt gọi là Niết bàn; khắp không gian chẳng khứ lai gọi là Như lai; chẳng thị phi phân biệt gọi là Bát nhã; chẳng trụ chẳng đi gọi là thể dụng Bất nhị; chẳng trụ thì phi tịnh, chẳng đi thì phi động, gọi là Như Như Bất Động.

quở mắng

See Quở.

quở phạt

To reprimand with punishment.

quở trách

To rebuke—To scold.

quỳ

To go down on one's knees—To kneel.

quỳ bái

Quỳ lạy hay kỉnh lễ—To kneel and worship, or pay respect.

quỳ hương

Một hình thức phạt mà người bị phạt phải quỳ cho đến khi tàn một cây hương. Một vài loại nhang cháy hết phải mất mấy giờ đồng hồ—A form of punishment where on has to kneel until the incense burned out. Some incense takes several hours before it burned out completely.

quỳ lô

Quỳ để dâng hương—To kneel and offer incense.

Quỳ tâm

(葵心): tấm lòng trong sạch hướng về ánh sáng mặt trời, tâm tận trung và cung kính đối với nhà vua hay người bề trên. Quỳ (葵) là một loại rau hướng về bốn phương mà nở hoa; như Sở Quỳ (楚葵) là loại rau cần, Phù Quỳ (鳬葵) là rau nhút, Nhật Hướng Quỳ (日向葵) là hoa hướng dương, v.v. Cho nên quỳ tâm còn có nghĩa là tâm chí thành, chí kính hướng về đấng tối cao. Trong bài thơ Hữu Tửu (有酒) của Nguyên Chẩn (元稹, 779-831) nhà Đường có câu: “Quỳ tâm khuynh hề hà hướng, tùng ảnh trực nhi thục minh (葵心傾兮何向、松影直而孰明, Lòng thành nghiêng chừ nào hướng, tùng bóng thẳng mà sáng đâu ?).” Hay trong bài Phụng Hòa Trần Hiền Lương (奉和陳賢良) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống cũng có câu: “Vọng cùng hải biểu thiên hoàn viễn, khuynh tận quỳ tâm nhật du cao, thân ngoại phù danh hưu tỏa tỏa, mộng trung quy tư dĩ thao thao (望窮海表天還遠、傾盡葵心日愈高、身外浮名休琐琐,梦中归思已滔滔。身外浮名休瑣瑣、夢中歸思已滔滔, Trông cùng biển cả trời xa thẳm, nghiêng tận lòng thành trời lên cao, thân thoát huyễn danh thôi bôn tẩu, mộng trong về ngẫm thôi lao đao).” Hoặc trong bài Đào Hoa Phiến (桃花扇) của Khổng Thượng Nhiệm (孔尚任, 1648-1718) nhà Thanh có câu: “Bồ kiếm hà tu thức, quỳ tâm vị khẳng sai (蒲劍何須試、葵心未肯差, Kiếm cỏ làm sao thử, lòng thành đâu biết sai).”

quỳnh chi ngọc diệp

Jade branches and leaves (talk of imperial descendants).

quỵ

1) Quỳ gối: To kneel. 2) Té quỵ: To fall on one's knees.

quỵ bái

(跪拜) Một trong các cách lễ bái ở Ấn Độ. Lúc đức Phật còn tại thế, người trong nước gặp Bà la môn thì quì lạy, gặp sa môn thì kính lễ. Tì nại da tạp sự quyển 1 (Đại 24, 207 hạ) nói: Lục chúng bảo rằng: Các ngươi đồ ngu không biết cách lễ bái, ai là người quì lạy, ai là người nên kính lễ? Những người ấy trả lời: Chúng tôi chỉ biết rằng hễ gặp người Bà la môn già thì quị bái, nếu thấy Tỉ khưu thì kính lễ.

quỵ lô

(跪爐) Quì trước lư hương để niệm hương, thông thường được thực hành vào các dịp Thánh tiết, quốc kị, hoặc ngày kị Tổ sư. Trong điều Thánh tiết, chương Chúc li trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển thượng có ghi rõ tác pháp Quị lô, tức lúc cử hành pháp hội thì Lưỡng tự chia ra 2 ban đứng đối diện nhau, vị Trụ trì liền đến quì, phía sau vị Trụ trì là vị Tri khách quì dâng cái lư hương cầm tay (tức lư hương có cán), rồi đến vị Thị giả quì dâng hộp hương. Đợi đến khi vị Duy na bạch Phật tuyên sớ xong, thì vị Tri khách lại quì để tiếp lấy lư hương, sau đó vị Trụ trì mới thu tọa cụ. Nghi thức lễ bái này rất thịnh hành trong các tùng lâm Trung quốc thời xưa. [X.điều Hành hương xướng đạo trong Đại tống tăng sử lược Q.trung; môn Báo đảo trong Thiền lâm tượng khí tiên].

quỵt

To refuse to pay.

quỵt nợ

To refuse to pay a debt.

quỷ

(I) Nghĩa của quỷ—The meanings of preta: 1) Ma quỷ: Preta (skt)—Tiếng Phạn là Lệ Tiết Đa, trước kia dịch là quỷ đói, nay chỉ dịch là quỷ—Demon—Evil being—Disembodied spirit—Dead person—Ghost—Devil—Departed—See Ngạ Quỷ. 2) Trục: An axle. 3) Luật lệ: A rule. (II) Phân loại quỷ (theo nghĩa #1)—Categories of pretas (according to the meaning of #1): A1) Tam Chủng Quỷ—Three kinds of demons: 1) Cự Khẩu Quỷ: Quỷ có miệng bốc lửa như ngọn đuốc—Ghosts with mouths like burning torches. 2) Châm Hầu Quỷ: Quỷ có cuống họng nhỏ như cây kim—Demons with throats no bigger than needles. 3) Xú Quỷ: Quỷ có hơi thở hôi thối—Demons with vile breath. A2) Tam chủng quỷ—Other three classifications of demons: 1) Châm Mao Quỷ: See Quỷ (4). 2) Xú Mao Quỷ: See Quỷ (5). 3) Anh Quỷ: See Quỷ (6). A3) Tam chủng quỷ khác—Other three classifications of demons: 1) Hy Từ Quỷ: See Quỷ (7). 2) Hy Thí Quỷ: See Quỷ (8). 3) Đại Thế Quỷ: See Quỷ (9). B) Cửu Quỷ: Chín loại quỷ—Nine classes of demons—See Cửu Quỷ. ; (鬼) Phạm: Preta. Pàli: Peta. Quái vật có hình tướng rất đáng sợ, làm não hại người, là 1 trong 5 đường, 1 trong 6 đường, thông thường chỉ cho tinh linh người chết. Trong kinh điển Đại thừa có lập Ngã quỉ đạo trong Lục đạo. Ngã quỉ đạo do chư thiên sai khiến và thường chịu khổ đói khát. Ngoài ra còn có các loài quỉ như: Tệ quỉ, Hữu uy đức quỉ (quỉ có uy đức), Vô uy đức quỉ, Đa tài ngã quỉ (ngã quỉ nhiều của), Vô tài ngã quỉ...đều ở trong cõi Diêm ma.Ở Ấn độ đời xưa, người chết rồi mà không được cúng dường thì bị coi là quỉ. Ngã quỉ sự kinh (Pàli: Petavatthu) là 1 kinh của Tiểu bộ kinh thuộc Đại tạng kinh Nam truyền, chuyên thu tập sự tích của loài quỉ đói này. Trong kinh Phật nói A bàng, La sát, Sơn tinh, Tạp mị ... đều là quỉ thần. Còn những tinh linh hung bạo, ngục tốt ở địa ngục cũng là 1 loại quỉ. Cứ theo luận Câu xá quyển 8 thì quỉ có 2 loại là Thai sinh và Hóa sinh. Còn luận A tì đạt ma thuận chính lí, quyển 31 thì nêu 9 loại quỉ là: Cự khẩu quỉ (quỉ miệng lửa), Châm khẩu quỉ (quỉ miệng kim), Xú khẩu quỉ(quỉ miệng hôi), Châm mao quỉ (quỉ lông nhọn như kim), Xú mao quỉ (quỉ lông hôi), Anh quỉ (quỉ bướu cổ), Hi tự quỉ (quỉ mong được cúng tế), Hi khí quỉ (quỉ mong được đồ vứt bỏ) và Đại thế quỉ (quỉ có thế lớn).[X. kinh Hiền ngu Q.13; kinh Phật bản hạnh tập Q.49]. (xt. Cửu Loại Quỉ, Quỉ Thần).

quỷ biện

(詭辯) Biện luận một cách kỳ quái. Ở khoảng thế kỷ V trước Tây lịch, lối biện luận này được gọi là Quỉ biện học (Sophist) chuyên về thuật tranh luận kì quái. Ở một phương diện thì quỉ biện mang lại cái tinh thần phê phán, nhưng ở một mặt khác, nó lại hãm người ta vào cái thế biện luận quỉ quyệt, đoạt lời cướp lí. San xà da (Phạm, Pàli: Saĩjaya) trong 6 phái ngoại đạo ở Ấn Độ tức là người chủ trương Quỉ biện luận (Pàli:Amara-ikkepika). Sự biện luận của họ nhiều mưu gian. khéo léo trơn tru, giống như cá chạch, khó nắm bắt được, hơn nữa, vì nó thiếu giá trị tri thức chính xác nên còn được gọi là Bất khả tri luận (Pàli: Ajĩàna - vàda). Cứ theo phẩm Lô ca da đà và Trường bộ kinh chú (Sumaígala-vilàsinì) tiếng Pàli, ngoại đạo Thuận thế (Phạm, Pàli: Lokàyata, Hán âm: Lô ca da đà, Lộ già da tha) trong các ngoại đạo Ấn độ thời xưa là 1 học phái quỉ biện nổi tiếng; họ rất giỏi thuật biện luận kì quặc (Pàli: Vitaịđa-vàda-satthà), thường dùng những lời nói quanh co, khéo léo để mê hoặc người đời, bác bỏ thần cách truyền thống của Bà la môn, ngoài 4 đại chủng (đất, nước, lửa, gió) còn lập thêm linh ngã và chủ trương chủ nghĩa khoái lạc của Duy vật luận. TrongLuận lí học của Ấn Độ, Quỉ biện luận được xem là 1 yếu tố lớn của Luận lí học, nhưng Phật giáo thì cho đó là hí luận (Phạm:Prapaĩca). [X. Đại thừa quảng bách luận thích luận Q.2; luận Thành duy thức Q.1; luận Kim thất thập].

quỷ biện bà la môn

(鬼辯婆羅門) Tên của 1 Bà la môn ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa, có tài biện luận khéo léo, sau bị ngài Mã minh hàng phục. Đại đường tây vực kí quyển 8 (Đại 51, 913 thượng) nói: Phía bắc tháp Kiến kích kiền trĩ có một nền cũ, xưa là chỗ ở của Quỉ biện Bà la môn. Ngày trước, trong thành có 1 người Bà la môn sống trong căn nhà hoang vắng tồi tàn, không giao thiệp với đời, thờ cúng quỉ để cầu phúc, yêu quái nương cậy, thường cao giọng bàn luận suông, lời lẽ văn nhã, có người đến hỏi vặn thì buông màn đối đáp, học rộng tài cao không ai sánh bằng, mọi người đều ngưỡng mộ như thánh.

quỷ bịnh

Bị ma quỷ ám vào người mà thành bệnh—Sickness caused by demons or ghosts.

quỷ bố mộc

(鬼怖木) Loại cây làm cho quỉ phải sợ hãi, tức chỉ cho cây liễu. Theo kinh Quán đính quyển 9, thuả xưa, khi có đức Thế tôn trụ thế, dân nước Duy da li phần nhiều làm nghề săn bắn, giết chóc, cho nên mang lại bệnh dịch. Bấy giờ, có tỉ khưu Thiền đề đến nước này, dùng thần chú Triệu long vô thượng của Như lai giáo hóa nhân dân, chữa trị các bệnh, trong 1 thời gian, trăm họ hết lo âu, khí độc không hoành hành. Nhưng sau khi tỉ khưu Thiền đề mệnh chung, khí độc lại nổi lên, dịch bệnh càng nhiều, người chết vô số. Nhân dân nhớ đến tỉ khưu Thiền đề, liền đến chỗ ở của ngài, thấy cành dương mà lúc còn sống, ngài dùng để xỉa răng, rồi vứt xuống đất, nay đã mọc thành cây, dưới gốc cây có dòng suối nước trong, họ bảo nhau lễ bái cây ấy, rồi bẻ lấy cành dương và múc nước suối đem về, nhúng cành dương vào nước và rảy lên thân người bệnh, tất cả đều mát mẻ, trăm bệnh khỏi hết. Người đời sau căn cứ vào sự tích này mà gọi cây liễu là Quỉ bố mộc.

quỷ dục

The evil demon of lust.

quỷ hiệu thần khấp

(鬼號神泣) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Quỉ gào thần khóc, miêu tả cái dáng vẻ mừng giận, buồn vui cực kì mãnh liệt, giống như quỉ thần cũng bị xúc động mà gào khóc. Bích nham lục tắc 59 (Đại 48, 192 thượng) nói: Nước rưới không dính, gió thổi chẳng vào, hổ (cọp) bước rồng lượn, quỉ gào thần khóc (...) chẳng những chỉ ông tăng này mà cả đến quỉ cũng gào, thần cũng khóc, giống như gió lướt cỏ rạp vậy.

quỷ hỏa

Lửa của loài quỷ—Spirit lights.

quỷ kiến

Cái thấy biết của loài quỷ, ví với tà giáo—Demon views, i.e. heterodox teaching. ; (鬼見) Cái thấy của quỉ, tức chỉ cho tà kiến. Vọng kiến cho rằng không có nhân quả, ở đời chẳng có nguyên nhân nào mang lại kết quả, mà cũng chẳng có kết quả nào từ nguyên nhân sinh ra, bởi thế cái ác không đáng sợ, mà điều thiện cũng chẳng đáng ham. Kiến chấp sai lầm này là loại kiến chấp tà khúc nhất trong các tà kiến, cho nên gọi làQuỉ kiến. [X. luận Thành duy thức Q.6; luận Câu xá Q.19]. (xt. Ngũ Kiến).

quỷ kế

Wicked (evil) scheme.

Quỷ Lý Tử Đan

(鬼理死丹): xem Cát Lợi Chi Đan (吉利支丹) bên trên.

quỷ lục

Tờ trát bằng sắt ghi tội ở phủ Diêm Vương—The iron records, containing the sins of men in Yama's office in Hades. ; (鬼錄) Quyển sách do quỉ thần ghi chép. Theo kinh Kim cương đính quyển 12, trong điện của vua Diêm la có 1 quyển sách để ghi chép những tội lỗi mà người đời đã phạm phải. Quyển sách này là do quỉ thần ở dưới đất chiếu theo những tội ác mà người đời đã tạo để ghi chép rồi tâu lên, cuối cùng, vua Diêm la căn cứ vào đó để quyết định các hình phạt nặng hay nhẹ đối với các tội nhân.

quỷ miếu

(鬼廟) Miếu thờ thần Quỉ Tử mẫu. Thần Quỉ tử mẫu tức là Ha Lợi đế mẫu, là thần bảo hộ sự sinh nở và trẻ thơ được bình an, cho nên ở Ấn Độ từ xưa đã có tập tục lập miếu cúng thần này, nhưng ngày nay ít thấy. Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 303 trung) nói: Tương truyền, các chùa ở Trung quốc có lập Quỉ miếu (Tăng huy kí ghi chú rằng: Tức là miếu thờ Quỉ tử mẫu).

quỷ môn

Cửa quỷ, cửa Đông Bắc của nhà ở và thành quách, là nơi mà quỷ có thể đến và đi—The northeast corner of the house, through which the spirits can come and go. ; (鬼門) Cửa quỉ ra vào. Xưa nay trong dân gian tương truyền rằng cửa quỉ ra vào là ở góc đông bắc của nhà ở hay thành quách, cho nên dân gian thường kiêng cữ hướng góc đông bắc. [X. Pháp uyển châu lâm Q.6; Loại tụ danh vật khảo Q.338].

quỷ nan

(鬼難) Tai nạn do quỉ thần gây ra. Phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa quyển 7 (Đại 9, 57 hạ) nói: Giả sử có ý hại/Đẩy xuống hầm lửa lớn (...)/Hoặc trôi giạt giữa biển/Các quỉ nạn rồng cá/Niệm sức Quán âm kia/Sóng nước chẳng nhận chìm.

quỷ nhãn tình

(鬼眼睛) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Con mắt quỉ quái. Trong Thiền lâm, cụm từ này được dùng để ví dụ cái thấy không chân chính, hoặc kiến giải không chút giá trị gì. Phần giáp chú (chú thích bên cạnh) trong Bích nham lục tắc 5 (Đại 48, 144hạ) ghi: Sơn tăng này xưa nay không dám đùa giỡn với con mắt quỉ quái.

quỷ niêm ngũ xứ

(鬼粘五處) Quỉ dính vào 5 chỗ. Nghĩa là quỉ có thể dính chặt vào tứ chi và đầu của người, nhưng cuối cùng không thể tiêu diệt được sức tinh tiến của người. Luận Đại trí độ quyển 16 kể rằng: Tiền thân của đức Phật Thích ca từng là một thương gia, một hôm gặp quỉ La sát. Thương gia dùng nắm tay phải đánh quỉ, nắm tay liền dính vào quỉ, kéo mãi không ra; lại dùng nắm tay trái đánh nữa và cũng bị dính như nắm tay phải, kéo cũng không ra; thương gia dùng chân phải đá nó, chân cũng bị dính, lại dùng chân trái cũng bị như vậy, cuối cùng dùngđầuhúc nó, đầu cũng dính luôn. Lúc đó, quỉ hỏi (Đại 25, 174 trung): Bây giờ ông đã như thế, muốn làm gì nữa không? Chịu khuất phục chưa? Đáp: Tuy 5 chỗ của ta bị dính vào ngươi, nhưng cuối cùng tâm ta không bị ngươi hàng phục, ta sẽ dùng sức tinh tiến đối địch với ngươi, quyết không lùi bước. Quỉ suy nghĩ về sức tinh tiến liền thả thương gia ra và cho đi.

quỷ pháp giới

Một trong mười pháp giới chúng sanh, thế giới của loài quỷ—The region or realm of demons, one of the ten regions of existence—See Thập Giới (2).

quỷ phạm

Rule—Mode.

quỷ phạm sư

Acarya (skt)—A Xà Lê—Giáo thọ—A teacher of rules, disciplines, morals.

quỷ quyệt

Cunning—Crafty—Foxy—Clever.

quỷ quật lí

(鬼窟裏) Cũng gọi Giả giải thoát khanh. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hang quỉ ở, tức chỗ tối tăm. Thiền tông dùng từ ngữ này để ví dụ cho cảnh giới câu nê vào tình thức nên mờ mịt không thấy được chân lí. Hoặc chỉ cho quá trình tu thiền cầu ngộ,Thiền giả bị rơi vào 1 bên không mà chấp đó là ngộ, thành ra bị kẹt không thông, trở thành tà kiến. Bích nham lục tắc 1 (Đại 48, 141 thượng) nói: Thôi đừng nhớ!( Nói cái gì? Tìm kế sống trong hang quỉ à!). [X.Bích nham lục tắc 97].

quỷ thuật

Magic.

quỷ thành

Tên khác của thành Càn Thát Bà (lầu do hơi nước biến thành)—The demon-city, that of Gandharvas. ; (鬼城) Tên gọi khác của thành Càn thát bà. Càn thát bà là 1 trong 8 bộ chúng, thuộc loại quỉ thần, cho nên thành của thần này ở gọi là Quỉ thành. (xt. Càn Thát Bà Thành).

Quỷ thần

(鬼神): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho quái vật có đủ uy lực khủng khiếp, có thể biến hóa tự tại; được chia thành hai loại thiện và ác. Trường hợp bảo vệ thế gian hoặc hộ trì Phật pháp như Đại Phạm Thiên Vương (大梵天王), Tam Thập Tam Thiên Vương (三十三天王), Tứ Thiên Vương (四天王), Viêm Ma Vương (炎魔王), Nan Đà Long Vương (難陀龍王), Bạt Nan Đà Long Vương (跋難陀龍王), v.v., đều là quỷ thần thiện. Trường hợp như La Sát (s: rākṣasa, 羅剎), v.v., thuộc về quỷ thần ác. Còn Dạ Xoa (s: yakṣa,p: yakkha, 夜叉) thì thuộc về cả hai thiện và ác. Tuy nhiên, quỷ thần được đề cập trong Phật Giáo là chỉ cho 6 bộ quỷ thần, gồm Càn Thác Bà (s: gandharva, p: gandhabba, 乾闥婆), Dạ Xoa, A Tu La (s, p: asura, 阿修羅), Ca Lâu La (s: garuḍa, 迦樓羅), Khẩn Na La (s: kiṃnara, p: kinnara, 緊那羅), Ma Hầu La Già (s: mahoraga, 摩睺羅伽). Vào thời cổ đại Ấn Độ, từ thời đại Veda trở về sau, trong dân gian rất thịnh hành tín ngưỡng quỷ thần; về sau một bộ phận tín ngưỡng này thâm nhập vào Phật Giáo, nổi bậc nhất là Mật Giáo; tỷ dụ như các Minh Vương có hình giận dữ vốn hiển hiện pháp thân của Phật Tỳ Lô Giá Na, cũng thuộc loại quỷ thần. Ngoài ra, trong Kim Quang Minh Kinh (金光明經, Taishō Vol. 16, No. 663) thuật lại rất rõ chư thiên quỷ thần, và quý vị này được Thiên Thai Tông tôn sùng cao độ. Trong bộ Trùng Biên Chư Thiên Truyện (重編諸天傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1658), 2 quyển, do Thích Hành Đình (釋行霆) ở Ô Thú (烏戍) nhà Tống biên soạn, thâu lục đầy đủ các quỷ thần được đề cập trong kinh điển. Trong bài Nguyên Quỷ (原鬼) của Hàn Dũ (韓愈, 768-824) có giải thích rằng: “Vô thanh dữ hình giả, quỷ thần thị dã (無聲與形者、鬼神是也, cái không có tiếng và hình chính là quỷ thần vậy).” Trong Đoạn Trường Tân Thanh có câu rằng: “Mai sau dầu đến thế nào, kìa gương nhật nguyệt nọ dao quỷ thần.” (2) Chỉ chung cho các thần linh, tinh khí. Như trong Sử Ký (史記), phần Ngũ Đế Bổn Kỷ (五帝本紀), có câu: “Lịch nhật nguyệt nhi nghênh tống chi, minh quỷ thần nhi kính sự chi (曆日月而迎送之、明鬼神而敬事之, trãi tháng năm mà đón đưa ấy, rõ quỷ thần mà kính thờ ấy).” (3) Chỉ cho hình thể và linh hồn. Như trong Lễ Ký (禮記), phần Lễ Vận (禮運), có đoạn: “Cố nhân giả, kỳ thiên địa chi đức, âm dương chi giao, quỷ thần chi hội, Ngũ Hành chi tú khí dã (故人者、其天地之德、陰陽之交、鬼神之會、五行之秀氣也, cho nên con người là đức của trời đất, giao tiếp của âm dương, tụ hội của quỷ thần, khí tốt của Ngũ Hành vậy).” Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648) giải thích rõ rằng: “Quỷ vị hình thể, thần vị tinh linh (鬼謂形體、神謂精靈, quỷ là hình thể, thần là linh hồn).”

quỷ thần

1) Quỷ và thần, từ dùng để gọi chung những người chết, cùng với quỷ, vá bát bộ Thần như Thiên, Long, vân vân—Ghosts and spirits, a general term which includes the spirits of the dead, together with demons, and the eight classes of spirits, such as devas, nagas, etc—See Thiên Long Bát Bộ. 2) a) Quỷ diễn dịch cái gây nên sự ghê sợ: Preta is interpreted as “Causing fear.” b) Thần diễn dịch sự uy nghi mạnh mẽ: Spirits are interpreted as “Potent and powerful.” ; (鬼神) Loại chúng sinh có uy lực đáng sợ, thường biến hóa một cách tự tại, được chia làm 2 loại thiện và ác. Nếu che chở cho thế gian, hoặc giữ gìn, bảo vệ Phật pháp, như Đại phạm thiên vương, Tam thập tam thiên vương, Tứ thiên vương, Viêm ma vương, Nan đà long vương, Bạt nan đà long vương ... thì đều là quỉ thần thiện; nếu như La sát... thì là quỉ thần ác. Còn Dạ xoa thì thuộc cả 2 loại thiện và ác. Trong Phật giáo thì quỉ thần thông thường là chỉ cho 6 bộ quỉ thần: Càn thát bà, Dạ xoa, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la và Ma hầu la già. Ở Ấn Độ đời xưa, từ thời đại Phệ đà về sau, tín ngưỡng quỉ thần lưu hành rất rộng, sau này, một bộ phận được du nhập Phật giáo, nhất là Mật giáo, chẳng hạn như hình tướng phẫn nộ của các vị Minh vương là do pháp thân Tì lô giá na hiển hiện, đều thuộc loại này. Ngoài ra, kinh Kim quang minh nói rất rõ về chưthiên, quỉ thần; loại quỉ thần này rất được tông Thiên thai tôn sùng. Ngài Hành Đình đời Tống có biên soạn Chư thiên truyện 2 quyển, thu chép các kí lục về quỉ thần trong các kinh. [X. kinh Đại hội trong Trường a hàm Q.12; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.49; kinh Thủ hộ đại thiên quốc độ quyển thượng; Kinh luật dị tướng Q.46].

quỷ thần thực thời

Giờ ăn của quỷ thần, thường về ban đêm hay chạng vạng tối—The time when the spirits and ghosts feed, i.e. at night.

quỷ thực thời

See Quỷ Thần Thực Thời.

quỷ tiên

Pretas or malevolent rsis—Ghost genii.

quỷ tiên cố thi

(鬼鞭故尸) Quỉ đánh vào xác chết. Kinh luật dị tướng quyển 46 chép: Xưa có 1 người chết, hồn trở lại tự đánh vào xác chết, người bên cạnh hỏi (Đại 53, 244 thượng): Người này đã chết, vì sao còn đánh? Đáp: Đây là thân cũ (cố) của tôi, làm nhiều điều ác, không tán thán giới kinh, trộm cắp lừa gạt, xâm phạm phụ nữ, bất hiếu với cha mẹ, không thương yêu anh em, tiếc của không chịu bố thí. Nay chết rồi khiến tôi phải đọa vào đường ác, đau đớn khổ sở không thể nói hết, nên tôi trở lại đánh nó!.

quỷ tiễn mao

loài quỷ có lông cứng tua tủa trên thân như mũi tên.

quỷ trì

Biết luật và giữ luật không sai chạy—A rule and its observance, to know the rule and hold it without confusion with other rules or doctrines.

quỷ tử mẫu

Hariti (skt)—Tiếng Phạn gọi là Ha Lê Đế, là người đàn bà thề ăn hết con nít trong thành Vương Xá, đã tái sanh làm Nữ La Sát, và sanh ra 500 con, rồi sau đó bà tuần tự mỗi ngày ăn mỗi đứa. Tuy nhiên sau nầy bà quy-y với Đức Phật và đắc lực hộ trì chư Tăng Ni cũng như tứ chúng, nhất là những người đàn bà trong thời kỳ sanh đẻ. Người ta thường thấy hình của bà trong các ni viện—A woman who has vowed to devour all the babies at Radjagriha, was reborn as Rakshasi, and gave birth to 500 children, one of which she was to devour every day. However, she was converted by Sakyamuni Buddha, she entered a convent and became a protectress of Buddhism. Her image is to be seen in all nunneries.

quỷ tử mẫu kinh

(鬼子母經) Gọi đủ: Phật thuyết quỉ tử mẫu kinh. Kinh, 1 quyển, không rõ dịch giả, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung kinh này nói về việc Quỉ tử mẫu ăn thịt con trẻ của người ta, đức Phật bèn giấu đứa con mà nó yêu thương để hóa độ nó. Nhờ đó, Quỉ tử mẫu tỉnh ngộ, không cònăn thịt trẻ con nữa và dốc lòng hộ trì Phật pháp.

quỷ tử mẫu thần

Nữ Dạ Xoa ăn thịt người—A Raksasi who devours men. ; (鬼子母神) Phạm: Hàrìtì. Hán âm: Ha lợi để, Ha lợi đế, Ha lợi đế mẫu.Hán dịch: Ái tử mẫu, Thiên mẫu, Công đức thiên. Mẹ của 500 quỉ con, vốn là vợ của ác thần. Vì kiếp trước phát tà nguyện ăn thịt trẻ con trong thành Vương xá, nên chết rồi sinh ra làm Dược xoa, đến thành Vương xá chuyên trộm trẻ thơ của người ta để ăn thịt. Vì muốn răn dạy nên đức Phật đem giấu đứa con thương yếu nhất của nó, do đó, Quỉ tử mẫu buồn thương thảm thiết. Đức Phật liền dạy (Đại 54,209 trung): Ngươi có tới 500 đứa con, nay ta chỉ lấy của ngươi có 1 đứa mà ngươi đã đau đớn thảm thương như thế, vậy ngươi ăn thịt bao nhiêu đứa con của những người khác thì họ đau đớn đến chừng nào?. Quỉ tử mẫu nghe đức Phật dạy liền ăn năn sám hối, xin qui y Phật, lập thệ nguyện làm thần hộ trì sự sinh sản được bình an và bảo vệ những trẻ thơ. Theo điều Thụ trai quĩ tắc trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 thì các chùa ở Ấn độ đều có thờ Quỉ tử mẫu. Ở cửa nhà hoặc bên cạnh bếp, đắp vẽ hình người mẹ ôm 1 đứa con, dưới gối thì 5 đứa hoặc 3 đứa để tượng trưng cho Quỉ tử mẫu. Hàng ngày thức ăn ở trước hình tượng để cúng. Nếu người bị bịnh hoặc không có con, xin thức ăn ấy về ăn thì đều toại nguyện. Hình tượng Quỉ tử mẫu là hình Thiên nữ, tay cầm quả cát tường. [X. kinh Ma ha ma da Q.thượng].

quỷ vương bạch hổ

The White Tiger Ghost King.

quỷ vương chủ cầm

The Lord of Birds Ghost King.

quỷ vương chủ hao

The Bad News Ghost King.

quỷ vương chủ hiểm

The Lord of Danger Ghost King.

quỷ vương chủ họa

The Lord of Calamities Ghost King.

quỷ vương chủ mạng

The Lord of Life Ghost King.

quỷ vương chủ mị

The Lord of Mountain Spirit Ghost King.

quỷ vương chủ súc

The Lord of Domestic Animals Ghost King.

quỷ vương chủ sản

The Lord of Birth Ghost King.

quỷ vương chủ thú

The Lord of Beasts Ghost King.

quỷ vương chủ thực

The Lord of Food Ghost King.

quỷ vương chủ tài

The Lord of Wealth Ghost King.

quỷ vương chủ tật

The Lord of Sickness Ghost King.

quỷ vương huyết-hổ

The Blood Tiger Ghost King.

quỷ vương lang nha

The Wolf-Tooth Ghost King.

quỷ vương ngũ mục

The Five-Eye Ghost King.

quỷ vương phi thân

Flying Body Ghost King.

quỷ vương phúc lợi

Thần Tài, nhưng trong Phật giáo, ông được liệt vào quỷ vương—The Blessings and Profit Ghost King—Who is actually the spirit of wealth, but in Buddhism, he is classified as a ghost king.

quỷ vương phụ thạch

The Rock Bearer Ghost King.

quỷ vương tam mục

The Three-Eye Ghost King.

quỷ vương thiên nhãn

The Ghost King Thousand Eyes.

quỷ vương thực noãn

The Womb and Egg-Eating Ghost King—The one who is responsible for miscarriages and premature stillbirths.

quỷ vương truyền bịnh

The Sickness-Spreading Ghost King—Quỷ vương chạy vòng vòng truyền bịnh và dịch tật cho chúng sanh—The one who runs about spreading diseases and encouraging epidemics.

quỷ vương tán-ương

The Ghost King who Brings Disasters.

quỷ vương tụ độc

The Poison-Gathering Ghost King—Người là hóa thân của Bồ Tát, người đã cứu chúng sanh bằng cách gom góp hết tất cả những độc hại của phàm nhân—The beneficial ghost king, he is really a transformation body of a Bodhisattva. He rescues living beings by gathering the poison which they have contracted.

quỷ vương tứ mục

The Four-Eye Ghost King.

quỷ vương từ tâm

The Kindhearted Ghost King—One who leads other ghosts to resolve their thoughts on enlightenment.

quỷ vương tỳ xá da

Pisaca (skt)—A type of evil god that sucks blood and eats phlegm—Loài quỷ dữ chuyên hút máu và ăn tinh khí—See Quỷ vương Đạm Tinh Khí in Vietnamese-English Section.

quỷ vương vô độc

The Poisonless Ghost King.

quỷ vương xích hổ

The Crimson Tiger Ghost King.

quỷ vương ác mục

Evil-Eyed Ghost King.

quỷ vương ác độc

The Ghost King Evil Poison.

quỷ vương đa ác

The Many-Evils Ghost King.

quỷ vương điển quang

The Lightning Flash Ghost King.

quỷ vương đại tranh

The Great Argument Ghost King.

quỷ vương đạm (dã) thú

The Ghost King Animal Eater—The one who eats tigers and other large beasts.

quỷ vương đạm huyết

Blood-eating Ghost King.

quỷ vương đạm tinh khí

Pisaci (skt)— Essence-and-Energy-Eating Ghost King— Ghost King who eats the essential energies of both people and plants—Đạm Tinh Khí Quỷ Vương là vua quỷ người ăn tất cả tinh khí của người và cây cỏ. Người đã giết nhưng không nhường những thịt kiếm được cho vợ mình, không cho ngay cả máu để uống. Đã đối đãi với vợ con như vậy, chúng ta có thể tưởng tượng nó đối xử với người khác như thế nào. Nó cực kỳ bỏn xẻn và kết quả là nó ăn tất cả những bất tịnh nhục—The Ghost king who got his position because he liked to kill but would not give the flesh of any animals he killed to his wife. He would not even give her the blood to drink. Since he treated his own wife this way, you can imagine how he treated other people. He extremely stingy, and as a result, he has to eat the most unclean things.

quỷ vấn mục liên kinh

(鬼問目連經) Kinh, 1 quyển, do ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán, được thu vào Đại chính tạng tập 17. Nội dung kinh này thuật lại việc các ngã quỉ hỏi ngài Mục liên về nghiệp nhân của các quả báo ác, ngài Mục liên giải đáp rõ từng điều một.

quỷ ám

Bị quỷ ám—To be possessed by the devil.

quỷ đạo

Đường quỷ, còn gọi là Quỷ Thú. Trong lục đạo có hai loại quỷ—The way or destiny of yaksas, raksasas and hungry ghosts, to follow devilish ways. There are two ways of ghosts in the six ways: 1) Ngạ quỷ: Hungry ghosts—See Ngạ Quỷ. 2) A Tu La: Asuras—See A Tu La.

quỹ

1) Cái tủ: A cupboard—A bureau. 2) Ngân quỹ: Funds—Treasure.

quỹ đầu

Người giữ cửa tiệm—A storekeeper.

ra

To come (go—get) out—To exit—To leave. 1) Ra Công: To invest by offering labor—To take pains to do something. 2) Ra Dấu: To sign (signal). 3) Ra Đi: To depart—To start (away—off—out) one's way—To leave. 4) Ra Đi Nhẹ Tợ Lông Hồng: To leave the secular world as lightly as a feather at the end of one's life. 5) Ra Điều: To appear as if (one knew everything). 6) Ra Đời: To be born—To come into this world. 7) Ra Gì: To be worth something. 8) Ra Hiệu: See Ra Dấu. 9) Ra Hồn: See Ra Gì. 10) Ra Khỏi: See Ra. 11) Ra Lệnh: To command—To order. 12) Ra Mắt: To report oneself to—To appear before—To present. 13) Ra Mặt: To appear—To show oneself. 14) Ra Ngoài: See Ra. 15) Ra Người: To be worth of being a man. 16) Ra Oai: To put on airs. 17) Ra Rả: Without interruption—Incessantly—Ceaselessly. 18) Ra Sức: To make every effort to do something. 19) Ra Tài: To show one's talent. 20) Ra Tay: To set about—To begin to do something. 21) Ra Uy: See Ra Oai. 22) Ra Về: To return—To go back.

Ra-ma-na Ma-ha-ri-shi

S: ramana mahāṛṣi [mahārishi]; 1879-1950, »Ma-ha-ri-shi« là một danh hiệu, dịch nghĩa là Ðại Thấu Thị (大透視), một vị đã nhìn thấu suốt vạn sự;|Một trong những Bậc giác ngộ Ấn Ðộ vĩ đại nhất của thế kỉ này. Năm lên 17 tuổi, Sư tự ngộ được bản tính thanh tịnh – không có sự hướng dẫn của một vị thầy nào – và từ đó luôn luôn sống với sự trực nhận rằng, bản thể và tuyệt đối là một không hai. Sau nhiều năm ẩn cư, tịnh khẩu tại núi A-ru-na-cha-la (arunācala) miền Nam ấn, Sư chấm dứt sự im lặng và trả lời những câu hỏi của những người mộ Ðạo từ bốn phương.|Sư không theo một hệ thống tôn giáo, triết lí nào, chỉ an nhiên trả lời theo kinh nghiệm Bất nhị (s: advaita) đã tự ngộ nhập được. Sư chẳng lưu lại bút tích gì; »Giáo lí« của Sư chỉ là những buổi vấn đáp với những người tầm đạo, được các môn đệ ghi lại và những bài dạy, những bài kệ ngắn gọn. Phương pháp giảng dạy của Sư rất đơn giản: Không đi vòng quanh, rườm rà mà chỉ thẳng vào tự tính thanh tịnh và hướng dẫn người tham vấn trên con đường đến nơi ấy bằng cách tự vấn rằng, »Ta là ai?«|Hỏi: »Thưa Ngài, con là ai? Làm sao con đạt giải thoát?«. M.: »Bằng cách tự nghiên cứu liên tục ›Ta là ai?‹ Ông sẽ tự nhận ra chính mình và đạt giải thoát.«|Hỏi: »Con là ai?« M.: »Cái Chân ngã hoặc Tự tính không phải là thân này, cũng chẳng phải năm giác quan thông thường hoặc cơ quan hoạt động. Thần thức hoặc chân khí (s: prāṇa) không phải là nó, cũng như trạng thái ngủ say không mộng, khi người ta không còn nhận thức được gì.«|Hỏi: »Nếu con không phải là tất cả những gì nêu trên, vậy con là gì?« M.: »Nếu ông đã loại bỏ được tất cả chúng nó và có thể tự bảo rằng ›Chúng không phải là ta‹ thì cái duy nhất còn sót lại là Chân ngã và đó là Thức (s: vijñāna).«|Hỏi: »Ðặc tính của Thức này là gì?« M.: »Nó là ›Sat-Cit-Ānanda‹ [nghĩa là Chân lí – Nhận thức tuyệt đối – A-nan-đà]; trong đó, khái niệm tự ngã biệt tích, không còn một dấu vết. Nó được gọi là ›Tịch tịnh‹ (s: mouna) hoặc ›Ðại ngã‹ (s: ātman) hay Tự tính. Nó là cái duy nhất có thật. Nếu bộ ba ›Thế giới-Ngã-Thượng đế‹ còn được xem là ba thành phần cá biệt thì đó vẫn chỉ là Ảo ảnh (s: māyā).«|Các lời dạy của Sư được những người mộ đạo trên thế giới hâm mộ, quý trọng bởi vì chúng vượt qua mọi giới hạn tôn giáo thông thường, gây nguồn cảm hứng vô tận cho người đọc.|Sư sinh tại Ti-ru-chu-li (tiruculi), Ta-mil Na-đu (tamil nadu), miền Nam Ấn Ðộ, được cha mẹ đặt tên là Ven-ka-ta-rā-man – gọi tắt là Ra-ma-na. Năm lên 17, Sư bỗng dưng trực cảm được kinh nghiệm »chết« (Tử) và ngay lúc đó, Sư tự nhận được: »Thân của ta chết, nhưng Thức không bị vướng mắc bởi tử thần. Như vậy là: ›Ngã‹ chính là Thức bất tử. – Tất cả những kinh nghiệm này không phải là kết quả của tư duy: Chúng đến với ta như một sự thật mãnh liệt, một sự thật mà ta đã tự trực nhận, hầu như không dùng đến tư duy. ›Ngã‹ là một sự thật, là sự thật duy nhất của trạng thái bấy giờ. Tất cả những hoạt động tự giác liên quan đến thân của ta đều được dẫn vào cái ›Ngã‹ này. Từ giờ phút đó, cái ›Ngã‹ hoặc ›Tự tính‹ này đòi hỏi với một sức thu hút lạ kì sự chú tâm tuyệt đối của ta. Cái tâm sợ chết của ta đã bị tiêu huỷ hoàn toàn. Từ lúc này trở đi, ta hoàn toàn chìm lắng trong ›Tự tính.‹«|Sau kinh nghiệm này Sư chẳng còn chú tâm đến những việc thế tục và sau đó rời nhà để đến núi A-ru-na-cha-la, một ngọn núi mà Sư đã nghe qua danh. Nơi đây, Sư ban đầu ẩn cư trong một góc tối tăm tại một ngôi đình dưới chân A-ru-na-cha-la, sau đó trong nhiều hang động trên núi. Trong thời gian hoà nhập mình vào tự tính, Sư quên lãng chính mình, để côn trùng tuỳ tiện huỷ hại thân thể. Khi bà mẹ đến khuyên Sư trở về, Sư cũng không mở miệng nói gì, làm ra vẻ như không thấy sự hiện diện của bà. Khi các người hâm mộ xung quanh khẩn thiết yêu cầu Sư trả lời bà mẹ tuyệt vọng, Sư chỉ viết vài chữ trên giấy: »Ðịnh mệnh tương ưng với Nghiệp quả đang chín trong đời này (s: prārab-dha-karma). Sự việc nào không nên xảy ra, sẽ không xảy ra, dù mẹ muốn thế nào đi nữa. Việc nào nên xảy ra, nó sẽ xảy ra, cho dù mẹ muốn ngăn cản nó xảy ra thế nào đi nữa. Ðó là một sự việc chắc chắn. Hành động hay nhất là sự im lặng.«|Sau một thời gian, Sư phá vỡ bức tường im lặng, bắt đầu trả lời những người đang trên đường tìm về tự tính. Học chúng sau đến rất đông, trong đó có những học giả, triết gia, Du-già sư nổi danh như Yo-ga-nan-đa (s: yogānanda), P. Brunton và W. Y. Ewans-Wentz. Học chúng sau thành lập một Già-lam (s: āśrama) tại Ti-ru-van-nā-ma-lai ở chân núi A-ru-na-cha-la, và đây, vào năm 1950, Sư nhập Ðại định (s: mahāsamādhi). Trước khi nhập diệt, Sư bảo các môn đệ rằng: »Người ta bảo rằng, ta sẽ chết. Nhưng ta chẳng đi. Ta nên đi đâu? Ta ở đây!«

ranh giới

Frontier—Boundary—Bound.

ranh mãnh

Cunning.

reo

1) Reo vui: To cheer—To shout. 2) Làm reo (đình công): To be on strike—To strike (làm reo).

reo mừng

To shout with joy.

Ri-mê

T: rime [ris-med]; nguyên nghĩa là »Bất thiên vị«;|Danh từ dùng để chỉ một phong trào trong Phật giáo Tây Tạng, bắt nguồn từ miền Ðông Tây Tạng trong thế kỉ 19. Mục đích chính của phong trào này là phá vỡ những thành kiến, sự chê bai, tranh chấp lí luận giữa những các tông phái và chấp nhận sự độc lập, sắc thái riêng biệt của chúng. Phong trào này được một Lạt-ma dòng Tát-ca (t: sakya-pa) là Jam-yang Khyen-tse Wang-po (1820-1892) khai sáng. Hai môn đệ kế thừa quan trọng nhất của Sư là Chog-yur De-chen Ling-pa (1829-1870) và Jam-gon Kong-trul (1811-1899). Tư tưởng Ri-mê được biểu lộ rõ nhất trong các tác phẩm của Lạt-ma Jam-gon Kong-trul và vẫn còn sống động trong các tông Cát-mã Ca-nhĩ-cư (t: karma-kagyu) và Ninh-mã (t: nyingmapa).

Rin-chen Sang-po

T: rinchen sangpo [rin-chen bzaṅ-po]; 958-1055, dịch âm Hán Việt là Lâm-thân Tăng-pha;|Một trong những tăng sĩ quan trọng nhất của Phật giáo Tây Tạng, đã bắt đầu truyền giáo từ miền Tây của nước này. Sư là người xây dựng khoảng 108 ngôi chùa, trong đó có chùa To-ling nổi tiếng. Các tác phẩm thuộc giáo pháp Tan-tra (Mật tông Ấn Ðộ) được Sư dịch ra và khác với các bản dịch của giáo phái Ninh-mã (t: nyingmapa). Người ta còn nhắc lại truyền thuyết cuộc gặp giữa Sư và A-đề-sa (s: atīśa), cuối cùng Sư chấp nhận A-đề-sa làm thầy.

riết

Without intermission—Continuously

rong

1) Đi rong: To go about from place to place. 2) Rong rêu: Moss.

rong chơi

To wander.

roõ

Clear.

ru ngủ

To lull to sleep.

ru rú

To stay at home at all time.

run sợ

To tremble.

rung rinh

To shake—To vibrate.

rung động

To thrill.

ruồng bỏ

To abandon—To desert.

ruồng rẫy

See Ruồng Bỏ.

ruộng phước

xem phước điền.

rà rẫm

To feel one's way.

ràn rụa

Floods of tears.

ràng buộc

A fetter

ràng buộc và giải thoát

Bondage and freedom from bondage—Theo Kinh Duy Ma Cật, khi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát vâng mệnh Phật đến thăm bệnh cư sĩ Duy Ma Cật, Duy Ma Cật đã nhắn nhủ các vị Bồ Tát là không nên khởi những sự ràng buộc—According to the Vimalakirti Sutra, when Manjusri Bodhisattva obeyed the Buddha's command to call on Vimalakirti to enquire after his health, Vimalakiriti reminded that a Bodhisattva should not tie himself up (with wrong views). • Sao gọi là ràng buộc? Sao gọi là giải thoát? Tham đắm nơi thiền vị là Bồ Tát bị ràng buộc. Dùng phương tiện thọ sanh là Bồ Tát được giải thoát. Lại không có phương tiện huệ thì buộc, có phương tiện huệ thì giải thoát, không huệ phương tiện thì buộc, có huệ phương tiện thì giải—What is tying and what is untying? Clinging to serenity (dhyana) is a Bodhisattva's bondage, but his expedient rebirth (for the salvation of others) is freedom from bondage. Further, he is held in bondage by wisdom which lacks expedient methods (upaya), but is liberated by wisdom supported by expedient device; he is (also) held in bondage by expedient methods which are not upheld by wisdom but is liberated by expedient methods backed by wisdom. • Sao gọi là không có phương tiện thì buộc? Bồ Tát dùng ái kiên trang nghiêm Phật độ, thành tựu chúng sanh ở trong pháp Không, vô tướng, vô tác mà điều phục lấy mình, đó là không có phương tiện huệ thì buộc—What is bondage by wisdom unsupported by expedient methods? It is bondage caused by the Bodhisattva's desire to embellish the Buddha land (with merits) in order to bring living beings to perfection while practicing for his self-control (the three gates to nirvana, namely,) voidness, formlessness and inactivity. This is called bondage by wisdom unsupported by expedient methods (upaya). • Sao gọi là có phương tiện huệ thì giải? Bồ Tát không dùng ái kiến trang nghiêm Phật độ, thành tựu chúng sanh, ở trong pháp 'không,' 'vô tướng,' 'vô tác' điều phục lấy mình, không nhàm chán mỏi mệt, đó là có phương tiện huệ thì giải—What is liberation by wisdom backed by expedient methods? It is liberation achieved in the absence of desire to embellish the Buddha land (with merits) in order to bring living beings to perfection, while practicing unremittingly for his self-control (the three gates to nirvana, namely) voidness, formlessness and inactivity. This is called liberation by wisdom supported by expedient methods (upaya). • Sao gọi là không có phương tiện huệ thì buộc? Bồ Tát trụ nơi các món phiền não, tham dục, sân hận, tà kiến, vân vân mà trồng các cội công đức, đó là không có huệ phương tiện thì buộc—What is bondage by expedient methods unsupported by wisdom? It is bondage caused by a Bodhisattva's lack of determination to keep from desire, anger, perverse views and other troubles (klesa) while planting all wisdom roots. This is called bondage by expedient methods which lack wisdom. • Sao gọi là có huệ phương tiện thì giải? Là xa lìa các thứ phiền não, tham dục, sân hận, tà kiến, vân vân mà vun trồng các cội công đức, hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đó là có huệ phương tiện thì giải—What is liberation by expedient methods sustained by wisdom? It is liberation won by a Bodhisattva who keeps from desire, anger, perverse views and other troubles (klesa) while planting all virtuous roots which he dedicates to his realization of supreme enlightenment. This is called liberation by expedient methods sustained by wisdom.

ràng buộc vừa phát sinh

A fetter has arisen.

ràng ràng

Very clearly (evidently).

rành

To master—To know perfectly.

rành mạch

Explicit—Clear.

rành rành

See Ràng Ràng.

rào

Fence—To enclose—To fence—To shut in.

rác

Garbage—Litter—Rubbish.

rách

Torn.

rách bươm

In rags.

rán sức

To endeavor—To strive—To make efforts

ráo

Dry.

ráo hoảnh

To be completely dry.

ráo riết

Keen—Hard.

rã mắt

Very tired eyes—Weary eyes.

rã ruột

To be very hungry.

rã rời

Exhausted—Worn out—To be very tired.

rèn

To forge.

rèn luyện

To cultivate—To form one's will.

rèn luyện đạo đức và tinh thần

Cultivation of moral and spiritual growth

rén

Rón rén—To walk on tiptoe.

réo gọi

To shout (call out) to.

rét

Very cold.

rên siết

To groan—To moan.

rêu rao

To speak ill of someone.

rì rào

To rustle.

rình

To watch—To be on the watch (on the look-out) for someone—To spy on.

rình mò

See Rình.

ròng

1) Nước ròng: To ebb—To flow back to the sea. 2) Thuần kim: Pure (metal). 3) Suốt: Throughout (the year).

rón rén

To walk on tiptoe.

rõ mồn một

Absolutely clear.

rõ ràng

Obvious—Clear—Evident.

rù quến

To allure—To lure—To entice.

rùa

Turtle—Tortoise.

rùa mù

See Manh Quy.

rùa mù gặp bộng cây nổi

ví dụ để chỉ những điều rất khó xảy ra. Theo ví dụ này thì có con rùa mù ở giữa biển, cứ 100 năm mới nổi lên một lần, lại có khúc cây có lỗ bộng, cứ 100 năm mới trôi ngang qua chỗ con rùa một lần. Nếu có khi nào con rùa tình cờ nổi lên đúng vào lúc khúc cây trôi qua, lại đúng vào chỗ bộng cây để chui vào (vì rùa mù không nhìn thấy) thì thật là chuyện cực kỳ hiếm có.

rùng mình

To shiver (tremble) with cold or fear.

rùng rợn

Terrifying—Dreadful—Horrifying.

To yell—To scream.

rút bớt

To reduce—To diminish.

rút cuộc

See Rốt Cuộc.

rút lại

To withdraw—To take back.

rút ngắn

To cut short.

rút rỉa

To extract.

rút êm

To run away secretly.

răm rắp

To obey absolutely (completely).

răn

1) Vết nhăn: Cracked. 2) Khuyên răn: To counsel—To advise—To warn.

răn bảo

See Răn (2).

răn rắt

See Răm rắp.

răng long

Răng lung lay—Our teeth fall out—Loose teeth.

rũ rượi

To be worn (tired) out—To be exhausted.

rơi

To drop—To fall—To come down.

rơi lệ

To shed tears.

rơi vào đoạn kiến

To fall into “Nihilism.”

rơm rác

Things of no value.

rơï

Barbarian.

rơù

To touch.

rước

To greet—To welcome—To receive.

rưới

To spirnkle.

rười rượi

Gloomy—Sad.

rườm rà

Wordy—Formal—Lengthy.

rường cột

Supports and columns—Keystones.

rượt

To run after—To chase—To pursue.

rạn nứt

To crack.

rạng danh

To become famous.

rạng rỡ

Brilliant—Radiant.

rạo rực

To feel excited—To have sensation or excitement.

rả rích

To be continuous.

rải

To distribute—To scatter—To spread.

rải hoa

Offering flowers.

rảnh

To be free (at leisure—at liberty—available).

rảnh mắt

Not to see.

rảnh rang

See Rảnh.

rảnh rổi muôn duyên

To be free of all conditions and entanglements.

rảo bước

To walk at a rapid pace

rảy nước thánh

Ngoại đạo cho rằng mọi tội lỗi có thể được rữa sạch hoặc họ có thể được ban phúc nếu để cho một vị chủ chăn rưới nước lên thân mình—Externalists believe that sins can be washed away or they can be blessed by letting a religious person to sprinkle holy water on their body.

rất

Very much—Most—Badly.

rất hữu lý

To be very rational.

rất tinh vi

To be very sophisticated.

rất tiến bộ

To be very advanced.

rất đỗi

Excessively—Extremely.

rầm rì

To whisper.

rầm rập

Noisy—Loudly.

rầm rộ

See Rầm Rập.

rầy la

To scold—To reprimand—To chide

rầy lộn

To quarrel.

rầy rà

To be troublesome.

rập khuông

To copy (imitate) closely.

rắc rối

Complicated (question)—Complex (charater)—Intricate (problem).

rắn

1) Con rắn: Snake. 2) Cứng rắn: Hard and solid.

rắn mãng xà

Python.

rắn như đá

Cứng như đá—As hard as rock—Admonished.

rắn độc

Poisonous snake—Lòng tham như rắn độc—Greed is similar as a poisonous snake.

rắp tâm

To attempt seriously—To intend—To mean.

rẻ

1) Rẻ tiền: Inexpensive—Low in price—Cheap. 2) Khinh rẻ: To despite—To disregard—To despite.

rẻ rúng

To disregard—To scorn—To contemn.

rẽ hướng

To deviate—To change direction.

rọi

To light.

rọi sáng

To illuminate.

rối loạn

Confused and agitated.

rối ren

Confusion—Disorder.

rống

To roar (of lion).

rốt cuộc

Finally.

rốt ráo

Eventual.

rồi

Already.

Rồng thật

(眞龍, shinryū, chơn long): nghĩa là con rồng thật sự chứ không phải rồng được vẽ trên giấy hay điêu khắc. Tích sợ rồng này căn cứ vào câu chuyện Diệp Công Hiếu Long (葉公好龍, Diệp Công Thích Rồng) được thuật lại trong tác phẩm Tân Tự (新序), phần Tạp Sự (雜事) 5 của Lưu Hướng (劉向, 77-5 ttl.) nhà Hán như sau: “Diệp Công Tử Cao hiếu long, câu dĩ tả long, tạc dĩ tả long, ốc thất điêu văn dĩ tả long; ư thị thiên long văn nhi hạ chi, khuy đầu ư dũ, thi vĩ ư đường; Diệp Công kiến chi, khí nhi hoàn tẩu, thất kỳ hồn phách, ngũ sắc vô chủ; thị Diệp Công phi hiếu long dã (葉公子高好龍、鉤以寫龍、鑿以寫龍、屋室雕文以寫龍、於是天龍聞而下之、窺頭於牖、施尾於堂、葉公見之、棄而還走、失其魂魄、五色無主、是葉公非好龍也, Diệp Công Tử Cao rất thích rồng, trên móc câu vẽ hình rồng, nơi cái đục vẽ hình rồng, các điêu trong phòng nhà đều vẽ hình rồng; nhân đó rồng trên trời nghe mà giáng xuống, thò đầu vào cửa sổ, vòng đuôi quanh nhà; Diệp Công thấy vậy, bỏ mà chạy trốn, mất cả hồn phách, chẳng còn tự chủ; đó chẳng phải là Diệp Công thích rồng).” Diệp Công tức là vị quan Đại Phu nước Sở dưới thời Tam Quốc, tên là Tử Cao (子高); ông được phong làm quan xứ Diệp, nay thuộc Diệp Huyện (葉縣), Hà Nam (河南); nên có tên là Diệp Công. Đây là câu chuyện nói về người thấy rồng thật thì sợ, mà lại yêu thích rồng giả.

rồng độc

Độc long—Ferocious dragons.

rỗi

To be free.

rỗi việc

To be unoccupied.

rỗng tuếch

Absolutely empty.

rộng

Broad—Wide—Extensive.

rộng bụng

Generous—Tolerant.

rộng lượng

See Rộng Bụng.

rộng rãi

Roomy—Spacious.

rộng rãi trang nghiêm

Spacious and beautiful adorned.

rớt lại

To drop back—To fall behind.

rờ rẫm

To feel—To grope.

Rờ voi

(摸象, mozō, mô tượng): thí dụ nói về việc câu nệ vào ngôn ngữ văn tự của kinh điển, luận thư Phật Giáo mà không biết được toàn thể của Phật đạo. Câu chuyện “hạt tử mô tượng (瞎子摸象, người mù rờ voi)” này được thuật lại rất rõ trong các kinh như Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經) 32, Thú Điểu Phẩm (獸鳥品) của Trường A Hàm Kinh (長阿含經) 19, Nghĩa Túc Kinh (義足經) quyển Hạ, v.v. Như trong Lăng Nghiêm Kinh Chứng Sớ Quảng Giải (楞嚴經證疏廣解, CBETA No. 288) có đoạn rằng: “Hữu chư manh nhân, quần thủ mô tượng, kỳ mô tỷ giả vân tượng như ky; kỳ mô dịch giả vân tượng như trụ; kỳ mô vĩ giả vân tượng như trửu, kỳ mô phục giả vân tượng như thạch, nãi chí mô nhãn tắc vân như cổ phong thác, mô nhĩ tắc vân như đảo thùy diệp, mô đề tắc vân như phú địa bôi (有諸盲人、群手摸象、其摸鼻者云象如箕、其摸股者云象如柱、其摸尾者云象如帚、其摸腹者云象如石、乃至摸眼則云如鼓風橐、摸耳則云如倒垂葉、摸蹄則云如覆地杯, có các người mù lấy tay rờ voi, người rờ lỗ mũi thì bảo con voi giống như cái nia; người rờ bắp đùi thì bảo con voi giống như cột nhà; người rờ đuôi thì bảo con voi giống như cái chổi; người rờ bụng thì bảo con voi giống như tảng đá; cho đến người rờ con mắt thì bảo giống như ông bễ thổi gió; rờ lỗ tai thì bảo giống như lá rũ xuống; rờ móng chân thì bảo giống như cái bát úp xuống).” Hay như trong Tông Giám Pháp Lâm (宗鑑法林, CBETA No. 1297) quyển 33, có câu: “Mô tượng manh nhân thuyết dị đoan, hô ngưu hoán mã các ban ban (摸象盲人說異端。呼牛喚馬各般般, rờ voi người mù nói khác nhau, bảo trâu luận ngựa thảy oang oang).”

rời

To come loose—To become detached—To separate.

rời rã

To be exhausted.

rỡ ràng

Brilliant.

rỡn

To jest—To joke.

rục rịch

To be ready.

rụng

To drop—To fall.

rụng rời

Panic-stricken

rụt

To take back—To withdraw.

rụt rè

Shy—Timid.

rủ

1) Mời: To invite. 2) Rủ xuống: To hang down.

rủa

To call down—To curse.

rủi ro

Unlucky—Unfortunate.

rứt ra

To pull off.

rừng

Forest—Jungle—Woods.

rừng Khổ hạnh

(Khổ hạnh lâm): tên Phạn ngữ là Tapovana, thuộc địa phận xứ Ưu-lâu-tần-loa (Uruvel), ngày nay nằm về phía đông của thôn Mục-chi-lân-đà (Mucilinda). Trong thời gian tu khổ hạnh, Phật từng sống trong khu rừng này. Cho đến thời gian gần đây vẫn còn tồn tại một vùng cây cối rậm rạp ở đó.

rừng kiếm

Forest of knives—Rừng mà trong đó tất cả cây cối, từ thân lá, đến bông trái đều bén như gươm đao. Người có tội bị các loài thú dữ rượt bắt, hoảng sợ chạy leo lên cây trốn, bị gió mạnh thổi tới, nhánh lá cây đều khua động, chém người đó nát như tương. Rừng kiếm nầy dành trị tội kẻ săn bắn thú vật, hay thiêu đốt các loại chúng sanh—A forest in which everything is sharp as knives and daggers. The offenders are chased by vicious predators; to overcome with terror, they climb onto trees to escape. A great cold wind gusts the leaves on the trees to move rapidly, shredding the prisoners to a thick bloody syrup. This hell is reserved for those who find pleasure in hunting and burning sentient beings.

rừng Kỳ-đà

nguyên khu vườn rừng này trước là sở hữu của ông trưởng giả Kỳ-đà, sau cúng dường đức Phật và chư tăng làm chỗ tu tập nên gọi tên là rừng Kỳ-đà. Tên Phạn ngữ là Jetavana Anthapindada-rma.

rừng phiền não

(phiền não tòng lâm) phiền não nhiều vô số, ví như cây cối mọc xen nhau trong rừng rậm, nên gọi là rừng cây rậm rạp phiền não.

rừng sâu núi thẳm

Deep forest and high mountain.

rừng tha ma

khu rừng ở ngoài thành Vương-xá được dùng làm bãi tha ma vất xác người chết. Bản Hán văn dùng hàn lâm (寒林), nghĩa là khu rừng lạnh lẽo, dịch ý từ Phạn ngữ là Śitavana, thường phiên âm là Thi-đà hay Thi-đa-bà-na.

rửa

To wash—To clean.

rửa nhục

To take vengeance for an insult—To wash out an insult.

rực rỡ

Radiant—Bright—Brilliant.

sa

1) Bất cẩn: Careless. 2) Cát: Baluka (skt)—Gravel—Sand or sands, e.g. of Ganges. 3) Dễ dàng: Easy-going. 4) Hằng sa: Vô số kể—Countless. ; (娑) Cũng gọi Tát, Táp, Tạt, Tam, Tham, Tán. Chỉ cho chữ (sa), 1 trong 42, 1 trong 50 chữ cái Tất đàm. Mật giáo thường gọi chữ Sa là Đế. Nếu giải thích một cách nông cạn theo tướng chữ thì Đế là xét kĩ, là chắc thật; còn nếu giải thích một cách sâu xa theo nghĩa chữ thì Đế là bất khả đắc. Vì thế, phẩm Thích tự mẫu trong kinh Kim cương đính gọi chữ Sa là tất cả pháp, tất cả đế bất khả đắc. Kinh Văn thù vấn giải thích Sa là tiếng hiện chứng Nhất thiết trí (Phạn: Sarvajĩànàbhisambodhana). Còn kinh Đại bát niết bàn quyển 8 (bản Bắc) thì giải thích Sa là nghĩa vì chúng sinh mà diễn nói chính pháp khiến cho tâm của chúng vui mừng. [X. kinh Đại phẩm Bát nhã Q.5; phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2].

sa bà

Saha (skt)—Còn gọi là Sa Ha Lâu Đà, hay Sách Ha, nghĩa là chịu đựng hay nhẫn độ; nơi có đầy đủ thiện ác, cũng là nơi mà chúng sanh luôn chịu cảnh luân hồi sanh tử, được chia làm tam giới—That which bears, the earth, interpreted as bearing, enduring; the place of good and evil; a universe, or great chiliocosm, where all are subject to transmigration and which a Buddha transforms; it is divided into three regions and Mahabrahma Sahampati is its lord. ; (娑婆) Phạn: Sahà. Cũng gọi Sa ha, Sách ha. Hán dịch: Nhẫn, Kham nhẫn, Năng nhẫn, Nhẫn độ. Chỉ cho thế giới Sa bà (Phạm:Sahàlokadhàtu), tức là thế giới hiện thực do đức Phật Thích ca mâu ni giáo hóa. Chúng sinh trong thế giới này làm 10 điều ác, chịu đựng các phiền não mà không muốn lìa bỏ, vì thế gọi là Nhẫn. Lại khi chư Phật, Bồ tát làm việc lợi lạc ở thế gian này, các Ngài phải chịu mọi thứ phiền não để biểu thị lòng vô úy và từ bi của cácNgài, cũng gọi là Nhẫn. Sa bà còn được dịch là Tạp ác, Tạp hội, nghĩa là cõi Sa bà là chỗ Tam ác, Ngũ thú tụ hội phức tạp. Ngoài ra, danh từ Sa bà vốn chỉ cho cõi Diêm phù đề, nơi cư trú của chúng sinh, đời sau, Sa bà trở thành 1 thế giới Tam thiên đại thiên do đức Phật Thích ca mâu ni giáo hóa, cho nên gọi chung thế giới có trăm ức núi Tu di là Sa bà. [X. Pháp hoa văn cú Q.2, hạ; Pháp hoa huyền tán Q.2; Đại đường tây vực kí Q.1].

sa bà bà

(娑婆婆) Pàli: Sahassàkkha. Cũng gọi Bà bà, Bà sa bà, Bà sa thỏa. Tên khác của trời Đế Thích, đứng đầu cõi trời Đao lợi. Trời Đế thích có rất nhiều tên, trong đó, những tên thường thấy hơn thì có: Thích đề hoàn nhân, Kiếu thi ca, Nhân đà la... mà tên nào cũng có nguyên do cả. Cứ theo Kinh Tạp A Hàm quyển 40 thì có vị Tỳ Khưu đã từng thỉnh vấn đức Phật rằng: Tại sao Thích đề hoàn nhân còn có các tên gọi khác như: Phú lan đà la, Ma già bà, Kiều thi ca, Thiên... Đức Phật liền giải thích nguyên do các tên của trời Đế thích, trong đó, về Sa bà bà, Phật nói như sau: Khi trời Đế thích còn làm người ở thế gian, thường đem áo Bà sân tư (Phạm: Vàsava, cũng gọi áo Bà sân hòa) cúng dường sa môn, bà la môn, nên có tên là Sa bà bà. [X. Pháp uyển châu lâm Q.2]. (xt. Đế Thích Thiên).

sa bà ha

Svaha (skt)—Chữ cuối trong mỗi bài chú—Hail!—The last word in any mantra—A Brahminical salutation at the end of a sacrifice.

sa bà thế giới

Saha-loka-dhatu (skt)—Saha World—The world of human beings—The world.

sa bà tức tịch quang

(娑婆即寂光) Thế giới Sa bà đầy dẫy gạch ngói gai gốc này chính là cõi Tịch quang chân thường cứu cánh. Thể của cõi Tịch quang có đầy đủ 3 đức: Pháp thân, Bát nhã và Giải thoát. Nếu nhìn bằng cái nhìn của chúng sinh đầy nghiệp chướng, thì 3 đức trên đây trở thành 3 đạo: Hoặc, Nghiệp và Khổ. Do đó, tuy nói là Tịnh độTịch quang chân thường cứu cánh, nhưng thể của nó không phải tách rời thế giới Sa bà này mà tồn tại riêng biệt, cho nên, nếu nhìn bằng con mắt Phật thì thế giới Sa bà này chính là Tịnh độTịch quang vậy.

sa ca bà la sơn

(娑迦婆羅山) Sa ca bà la, Phạn: Cakravàđa-parvata. Cũng gọi Chước ca la sơn. Hán dịch: Thiết vi sơn. Tên dãy núi ngoài cùng trong 8 dãy núi bao quanh núi Tu di theo thế giới quan của Phật giáo. (xt. Thiết Vi Sơn).

sa chỉ đa thành

(娑枳多城) Sa chỉ đa, Phạn; Pàli: Sàketa. Cũng gọi Sa chỉ thái thành, Bà sí đa thành, Sa kê đa thành, Bà chỉ đa thành (chữ Bà này do lầm từ chữ Sa mà ra). Tên 1 đô thành ở phía nam thành Xá vệ, trung Ấn độ, cách thành A du xà ở phía nam nước Kiêu tát la bằng con sông. Gần thành này có khu rừng An thiện, đức Phật thường thuyết pháp ở đây. Về phía nam thành có ngôigià lam to lớn, là nơi A la hán Đề bà thiết ma soạn luận Thức thân túc, cũng là nơi A la hán Cù bà soạn luận Thánh giáo yếu thực và cũng là nơi mà bồ tát Hộ pháp đã phản bác học thuyết của các Luận sư Tiểu thừa. Đức Phật từng giáo hóa ở đây trong 6 năm. Vùng đất của thành này ngày xưa hiện nay là vùng phụ cận thành phố Fyzabad thuộc tiểu bang Liên hợp. [X. kinh Trường a hàm Q.3; Cao tăng Pháp Hiển truyện; điều Tì sách ca quốc trong Đại đường tây vực kí Q.5; Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.3].

sa côn đát la

(莎昆妲蘿) Phạn: Zakuntalà. Gọi đủ:Abhijĩànazakuntalam. Tên một hí khúc của Ấn độ cổ đại, gồm 7 màn, do nhà Đại văn hào Gia lí đà sa (Phạn: Kàlidàsa) soạn vào khoảng thế kỉ V. Đây là tác phẩm văn học bằng tiếng Phạn cổ điển kiệt xuất nhất. Năm 1789, Sir William Jones giới thiệu tác phẩm này đến châu Âu, gây chấn động trong giới trí thức châu Âu, văn hào Kàlidàsa từ đó bèn được tặng cho mĩ danh là Shakespeare của Ấn độ. Nội dung của hí khúc này đại khái như sau: Một hôm, quốc vương Đỗ sử dương đa vào săn bắn trong rừng sâu, tình cờ gặp cô con gái nuôi của ẩn sĩ Cam hoa là Sa tì đát la. Không bao lâu, nhà vua vì rung động trước sắc đẹp và tình yêu của Sa tì đát la nên trao nhẫn đính hôn, nhưng do vận mệnh ngang trái dẫn đến bi kịch. Về sau, nhà vua thấy lại chiếc nhẫn, như vừa tỉnh mộng, hiểu rõ việc sai lầm ngày trước, do đó, 2 người lại được sum hợp và kết thúc bằng kịch vui. Câu chuyện này có lẽ đã thoát thai từ Sử thi Mahàbhàrata (cũng gọi là Đại chiến thi) và Padmapuràịacủa Ấn độ, do đó, có thể nói, hí khúc Zakuntala đã lấy cảm hứng từ 2 tác phẩm văn học cổ trên đây, rồi dùng thể văn mới, cấu tưởng mới, sáng tác theo lối mới mà thành 1 tác phẩm văn học lớn. Cho đến nay, hí khúc này được dịch ra nhiều thứ tiếng. Riêng tại Trung quốc, trước sau đã có Sa côn đa la dođại sư Mạn thù dịch; Sa cung đạt la của Lư tiên và Sa côn đát la của Mi văn khai.

sa cơ

Bị hoạn nạn—To meet with an accident—To have misfortune.

Sa Di

(s: śrāmaṇera, p: sāmaṇera, 沙彌): cách xưng hô của Phật Giáo đối với người xuất gia trên 7 tuổi và chưa đủ 20 tuổi, là một trong 5 chúng đệ tử của đức Phật, chỉ cho những người đã thọ 10 giới, chưa thọ giới Cụ Túc. Âm dịch Phạn ngữ là Thất La Ma Noa Lạc Ca (室羅摩拏洛迦), Thất La Mạt Ni La (室羅末尼羅), Thất La Ma Noa (室羅摩拏); ý dịch là Cầu Tịch (求寂), Pháp Công (法公), Tức Ác (息惡), Tức Từ (息慈), Cần Sách (勤策); tức có nghĩa là dừng lại các điều ác, thực hành từ bi, tìm cầu sự yên vui, vắng lặng. Người nữ xuất gia thì gọi là Sa Di Ni (s: śrāmaṇerikā, p: sāmaṇerā, sāmaṇerī, 沙彌尼). Ma Ha Tăng Kỳ Luật (s: Mahāsaṅghavinaya, 摩訶僧祇律) quyển 29 dựa vào tuổi tác mà phân biệt Sa Di thành 3 hạng khác nhau: (1) Khu Ô Sa Di (驅烏沙彌, Sa Di Đuổi Quạ), tuổi trong phạm vi từ 7 đến 13, nghĩa là người có năng lực đuổi chim quạ ngoài đồng. (2) Ứng Pháp Sa Di (應法沙彌), tuổi từ 14 đến 19, tức là những vị Sa Di không bao lâu nữa có thể tham dự sinh hoạt xuất gia. (3) Danh Tự Sa Di (名字沙彌), tuổi đã quá 20 trở lên mà vẫn chưa thọ giới Cụ Túc, nhưng vẫn còn hình thức Sa Di. Giới điều vị Sa Di lãnh thọ được gọi là Cần Sách Luật Nghi (勤策律儀), gồm 10 giới: (1) Không sát sanh; (2) Không trộm cắp; (3) Không tà dâm; (4) Không vọng ngữ; (5) Không uống rượu; (6) Không nằm ngồi giường cao rộng lớn; (7) Không mang vong hoa thơm hay dùng hương thơm xoa mình; (8) Không ca múa, hòa tấu, đi xem nghe; (9) Không ăn phi thời; (10) Không nắm giữ vàng bạc, báu vật. Như trong Sa Di Luật Nghi Yếu Lược Tăng Chú (沙彌律儀要略增註, CBETA No. 1118) quyển Thượng có giải thích rằng: “Phạn ngữ Sa Di, thử vân Tức Từ, vị tức ác hành từ, tức thế nhiễm nhi từ tế chúng sanh dã; diệc vân Cần Sách, diệc vân Cầu Tịch (梵語沙彌、此云息慈、謂息惡行慈、息世染而慈濟眾生也、亦云勤策、亦云求寂, tiếng Phạn Sa Di, Tàu dịch là Tức Từ, nghĩa là chấm dứt điều ác và thực hành từ bi, chấm dứt sự ô nhiễm thế tục và thương xót cứu độ chúng sanh; còn gọi là Cần Sách, còn gọi là Cầu Tịch).”

sa di

Sramanera (s&p)—Thất La Ma Na Lạc Ca—Thất Ma Na Y Lạc Ca—Thất La Ma Ni La—Người nam mới tu, còn đang tập giữ những giới khinh và mười giới sa Di—A male observer of the minor commandments (các giới khinh)—Sramanera is the lowest rank of a person cultivating the way. He must keep properly ten precepts. 1) Cần Sách Nam: Người nam cần cù chăm gắng tuân theo lời chỉ dạy của các bậc đại Tăng—A Zealoues Man who zealously listen to the instructions of great monks. 2) Thất La Ma Ni La: a) Người tu hành cầu tịch tịnh viên mãn—One who seek rest. b) Cầu Niết Bàn Tịch: One who seeks the peace of nirvana. ** For more information, please see Tam Chủng Sa Di. ; (沙彌) Phạn: Zràmaịesaka, Zràmaịera. Pàli: Sàmaịera. Cũng gọi: Thất la na noa. Gọi đủ: Thất la ma noa lạc ca, Thất la mạt ni la. Hán dịch: Cầu tịch, Pháp công, Tức ác, Tức từ, Cần sách. Chỉ cho người nam xuất gia trong tăng đoàn của Phật giáo, tuổi từ 7 đến 19, đã thụ 10 giới, chưa thụ giới Cụ túc, 1 trong 5 chúng, 1 trong 7 chúng. Sa di hàm ý là tìm cầu sự vắng lặng trong tâm hồn, chấm dứt các việc ác, tu hành tất cả điều thiện. Theo luật Ma ha tăng kì quyển 29, tùy theo tuổi tác, Sa di được chia làm 3 loại: 1. Khu ô Sa di: Khoảng từ 7 tuổi đến 13 tuổi,đã có thể xua đuổi được chim quạ (khuô) trên sân khi phơi thóc gạo. 2. Ứng pháp Sa di: Từ 14 tuổi đến 19 tuổi, đã có năng lực làm các việc nặng nhọc, thị giả thầy, tham thiền, tụng kinh... nghĩa là Sa di đã có đủ khả năng tham dự các sinh hoạt xuất gia hằng ngày. 3. Danh tự Sa di: Người đã trên 20 tuổi mà chưa thụ giới Cụ túc, thì vẫn là Sa di. Ba loại Sa di trên đây gọi chung là Tam Sa di.Trong tăng đoàn Phật giáo, vị Sa di đầu tiên là La hầu la. Đến đời sau, vị Sa di thụ trì giới, gọi là Pháp đồng Sa di, người đã cạo tóc mà chưa thụ giới thì gọi là Hình đồng Sa di. Ngoài ra, ở Nhật bản có loại Tại gia Sa di, tức là người xuất gia tu hành mà có vợ con. [X. luật Tứ phần Q.34; luật Ngũ phần Q.17, luật Thập tụng Q.21; Thiện kiến luật tì bà sa Q.16; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 4; Câu xá luận quang kí Q.14; Thích thị yếu lãm Q.thượng; Huyền ứng âm nghĩa Q.23; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3]. (xt. Thất Chúng).

sa di giới

Mười giới Sa Di—The ten commandments (precepts) taken by a sramanera 1) Không sát sanh: Not to kill living beings. 2) Không trộm đạo: Not to steal. 3) Không dâm dục: Not to have sexual intercourse. 4) Không láo xược: Not to lie or speak evil. 5) Không uống rượu: Not to drink wine. 6) Không ghim hoa trên đầu, không dồi phấn, không xức dầu: Not to decorate oneself with flowers, nor utilize cosmetologic powder, nor use perfumes. 7) Không ca hát, không khiêu vũ như kỷ nữ dâm nữ: Not to sing or dance. 8) Không ngồi ghế cao, không nằm giường rộng: Not to occupy high chairs high beds. 9) Không ăn quá ngọ: Not to eat out of regulation hours. 10) Không cất giữ tiền, vàng bạc, của cải: Not to possess money, gold, silver, and wealth. ; (沙彌戒) Cũng gọi Cần sách luật nghi. Chỉ cho 10 giới của vị Sa di thụ trì: 1. Không giết hại. 2. Không trộm cắp. 3. Không dâm dục. 4. Không nói dối. 5. Không uống rượu. 6. Không ngồi giường cao. 7. Không đeo tràng hoa, bôi nước hoa lên mình. 8. Không xem nghe múa hát. 9. Không cất giữ vàng bạc, vật quí báu. 10. Không ăn phi thời (không ăn quá ngọ). (xt. Giới, Sa Di).

sa di hạt thực

(沙彌喝食) Gọi tắt: Sa hát. Trong Thiền lâm, khi đại chúng thụ trai, người đứng một bên trong Trai đường hô hiệu lệnh mời đại chúng thụ trai, gọi là Hát thực hành giả (người thỉnh trai); thông thường 1 đồng tử chưa xuống tóc, thụ giới (chú điệu) làm việc này. Tại Nhật bản, vị Sa di mặc áo hát thực đặc biệt gọi là Sa hát. [X.môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên).

sa di ni

Sramanerika (s&p)—Thất La Ma Na Lí Ca—Nữ tu mới gia nhập giáo đoàn Phật giáo, nguời trì giữ mười giới khinh—A female observer of the minor commandments (các giới khinh)—A female religious novice who has taken a vow to obey the ten commandments. • Cần Sách Nữ: A zealous woman, devoted. ** For more information, please see Sa Di. ; (沙彌尼) Phạn: Zràmaịerikà. Pàli: Sàmaịerì. Gọi đủ: Thất la ma noa lí ca. Hán dịch: Cần sách nữ, Tức từ nữ. Chỉ cho người nữ mới xuất gia thụ trì 10 giới, chưa thụ giới Cụ túc, 1 trong 5 chúng, 1 trong 7 chúng. Mười giới mà Sa di ni thụ trì cũng giống như 10 giới của Sa di. Theo kiền độ Tỳ khưu ni trong luật Tứ phần quyển 48, người nữ 18 tuổi chưa lập gia đình mà đi xuất gia, thì thụ 10 giới Sa di ni rồi, lại phải thụ Thức xoa ma na trong 2 năm, đủ 20 tuổi mới được thụ giới Tỳ khưu ni; nếu là thiếu phụ 10 tuổi từng đã lấy chồng (Ấn độ có tục tảo hôn), thì cũng phải thụ Thức xoa ma na trong 2 năm mới được thụ giới Tỉ khưu ni. [X. kinh Sa di ni giới; Đàm vô đức luật bộ tạp yết ma; luận Câu xá Q.14; Câu xá luận quang kí Q.14; Tứ phần tỉ khưu ni sao Q.1; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 4; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3; Thích thị yếu lãm Q.thượng]. (xt. Thức Xoa Ma Na, Sa Di).

sa di ni giới

Mười giói Sa Di Ni—The ten commandments taken by the sramanerika—See Sa Di Giới.

sa di thập giới

Ten precepts of Sramanera—See Sa Di Giới.

sa di đạo hầu

Một người mới tu, chưa đủ tuổi để thọ giới đàn—A novice monk who is not old enough to be ordained.

sa duy đức lợi

(娑維德利) I. Sa Duy Đức Lợi. Phạn: Savitf. Chỉ cho vị thần trong Phệ đà hiển hiện công năng của mặt trời, hoặc chỉ cho mặt trời, hàm ý là người cổ vũ, người sinh sản, người sáng tạo. Hình tượng của vị thần này là toàn thân màu vàng ròng, ngồi xe màu vàng đi khắp cõi trời và nhân gian, thường thức tỉnh người ngủ say, ban đêm thì giúp người vào giấc ngủ; đồng thời có năng lực làm cho người sống mãi, nếu người chết thì đưa linh hồn họ lên cõi trời. Vị thần này rất được Bà la môn giáo sùng bái. II. Sa Duy Đức Lợi. Vốn là tên 1 bài tán ca ca tụng thần Sa duy đức lợi trong kinh Phệ đà, thường gọi là Già da đức lợi (Phạn: Gàyatrì). Về sau trở thành tên của nữ thần; hoặc là vợ hay con gái của Phạm thiên, hoặc là vợ của thần lửa A kì ni. Cũng có thuyết cho là thần độc lập. Thần này có 3 đầu, tay cầm chuỗi tràng, phất trần và sách. III. Sa Duy Đức Lợi. Tên của Nữ chủ giác trong câu chuyện Sa duy đức lợi trong bộ Đại sử thi Ma ha bà la đa (Phạn:Mahàbhàrata) của Ấn Độ.

sa già đà

(娑伽陀) Phạn: Svàgata. Pàli: Sàgata. Cũng gọi Tu già đà. Hán dịch: Thiện Lai. Một trong các vị đệ tử của đức Phật. Lúc mới sinh ra, ngài có dung mạo rất dễ thương, dáng vẻ trang nghiêm, thân phụ của ngài trông thấy, trong lòng vui mừng liền nói: Thiện lai!(Lành thay! Hãy lại đây!), do đó mà ngài có tên là Thiện lai. Sau, Ngài chứng được quả Thanh văn, có thần thông Hỏa giới. [X. điều Ẩm tửu học xứ ghi trong Hữu bộ tì nại da Q.42].

Sa giới

(沙界): hằng hà sa số thế giới, tức vô lượng vố số thế giới của Phật nhiều như cát sông Hằng (s, p: Gaṅgā, 恆河) ở Ấn Độ. Kim Cang Bát Nhã Kinh (金剛般若經) có đoạn rằng: “Chư Hằng Hà sở hữu sa số Phật thế giới, như thị ninh vi đa phủ (諸恆河所有沙數佛世界、如是寧爲多不, vô số các thế giới Phật có ở sông Hằng, như vậy liệu có nhiều chăng ?).” ; (沙界): chỉ cho Hằng hà sa số thế giới, cõi nước nhiều giống như cát sông Hằng. Như trong bản Đầu Đà Tự Bi Văn (頭陀寺碑文) của của Vương Triệt (王屮, ?-?) nhà Lương thời Nam Triều có câu: “Diễn vật chiếu chi minh, nhi giám cùng sa giới (演勿照之明、而鑒窮沙界, diễn bày ánh sáng không chiếu, mà soi tỏ cùng khắp sa giới).” Hay trong bài thơ Quán Hồ (觀湖) của thi sĩ Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống lại có câu: “Hồi thủ bất tri sa giới thiểu, phiêu y do giác sắc trần cao (回首不知沙界小、飄衣猶覺色塵高, hồi đầu nào hay sa giới nhỏ, áo bay mới biết bụi trần cao).” Trong Vĩnh Gia Chứng Đạo Ca (永嘉證道歌, Taishō Vol. 48, No. 2014) cũng có câu: “Đại thiên sa giới hải trung âu, nhất thiết thánh phàm như điện phất (大千沙界海中漚、一切聖賢如電拂, cõi nước cùng khắp trong bọt biển, hết thảy thánh phàm như điện chớp).” Hoặc trong Vĩnh Minh Trí Giác Thiền Sư Duy Tâm Quyết (永明智覺禪師唯心訣, Taishō Vol. 48, No. 2018) có đoạn: “Bất động vi hào chi công, phỉ di ty phát chi bộ, ưu du sa giới, biến lịch đạo tràng, hà Phật sát nhi bất đăng, vô nhất tướng nhi phi thật tướng, vô nhất nhân nhi phi viên nhân (不動微毫之功、匪移絲髮之步、優游沙界、遍歷道塲、何佛剎而不登、何法會而不涉、無一相而非實相、無一因而非圓因, chẳng động mảy lông công lao, không dời sợi tóc bước chân, rong chơi khắp chốn, trãi cùng đạo tràng, chẳng chùa Phật nào mà không đến, không pháp hội nào mà chẳng qua, không một tướng nào mà chẳng phải thật tướng, không một nhân nào mà chẳng phải nhân tròn).”

sa giới

Hằng hà sa số thế giới hay thế giới nhiều như cát sông Hằng—Worlds as numerous as the sand of Ganges. ; (沙界) Hàm ý là thế giới nhiều như cát sông Hằng, tức chỉ cho thế giới Phật nhiều vô lượng vô số. Kinh Kim cương bát nhã (Đại 8, 751 trung) nói: Thế giới Phật như số cát của các sông Hằng, như thế có nhiều không? Trong kinh Phật cũng có câu kệ (Đại 47, 290 thượng): Tâm bọc thái hư, lượng trùm sa giới. [X. Chú Hoa nghiêm kinh đề pháp giới quán môn tụng].

sa ha

Saha (skt)—Còn gọi là Sa Bà hay Ta Bà, thế giới Ta bà của chúng ta hiện tại—Saha world—The world around us—The present world. ; (娑呵) Phạn: Sahà. I. Sa Ha. Hán dịch: Kham nhẫn, Nhẫn độ. Chỉ cho thế giới Sa bà. Chúng sinh ở thế giới này cam lòng chịu đựng tất cả những phiền não, khổ lụy, chứ không muốn thoát ra, cho nên gọi thế giới này là Sa ha. (xt. Sa Bà). II. Sa Ha. Hán dịch: Sử lưu. Tên một loại cỏ thuốc nói trong kinh Đại bát niết bàn quyển 25 (bản Bắc). Loại cỏ thuốc này mọc trên núi Tuyết, nếu người nào được trông thấy nó thì sẽ sống lâu vô lượng và không có bệnh khổ. [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.26].

sa kiếp

Hằng sa số kiếp---Kalpas countless as the sands of Ganges.

sa kiệt la

Sagara (skt). 1) Biển: Hàm hải—The ocean. 2) Theo Kinh Pháp Hoa, đây là biển nơi có cung điện của vua rồng, ở về phương bắc núi Tu Di, nơi có nhiều ngọc quý, có long vương vũ; nơi đây nàng Long Nữ (con của Long Vương) mới tám tuổi đã thành Phật: According to the Lotus sutra, the Naga king of the ocean palace, north of Mount Meru, possessed of priceless pearls; the dragon-king of rain; his eight-year-old daughter instantly attained Buddhahood.

sa kiệt la long vương

(娑竭羅龍王) Phạn: Sàgara-nàgaràja. Cũng gọi Sa già la long vương. Vua rồng Sa kiệt la, 1 trong 8 Đại long vương. Sa kiệt la nghĩa là biển, vì vua rồng này ở dưới biển nên có tên gọi là Sa kiệt la. Cung điện của vua rồng ở dưới đáy biển cả, mỗi bề rộng 8 vạn do tuần, 7 lớp tường vách, 7 lớp lan can, 7 lớp lưới giăng, 7 lớp hàng cây, chung quanh đều được trang sức bằng 7 thứ báu, vô số các loài chim cùng hót. Nhưng các rồng đều bị chim Kim sí (cánh vàng)ăn thịt, chỉ có 16 vị Long vương như Long vương Sa kiệt la, Long vương Nan đà... là may mắn thoát khỏi nạn này.Long vương Sa kiệt la là vị thần làm ra mưa, cho nên xưa nay thường được thờ làm Bản tôn trong các pháp tu cầu mưa. Vị Long vương này cũng là quyến thuộc của bồ tát Thiên thủQuan âm, là 1 trong 28 bộ chúng của Ngài. Thân hình Long vương này màu đỏ lợt, tay trái cầm rồng đỏ, tay phải cầm dao, dáng vẻ đầy uy vũ. Vị Long vương này có cô con gái mới 8 tuổi mà trí tuệ rất thông lợi, nhờ công đức trì kinh Pháp hoa mà được tức thân thành Phật, hiện thân nam tử, đầy đủ các hạnh Bồ tát. Các kinh như: Kinh Hải long vương, kinh Phật vị Hải long vương thuyết pháp ấn, kinh Phật vị Sa kiệt la Long vương sở thuyết đại thừa... đều là những kinh đức Phật nói cho vị Long vương này nghe. [X. phẩm Long điểu trong kinh Trường a hàm Q.19; kinh Khởi thế Q.5; Pháp hoa văn cú Q.2, hạ; Hoa nghiêm kinh sớ Q.5].

sa kế

(莎髻) Sa là cỏ gấu; Kế là cả búi tóc. Nghĩa là dùng cỏ gấu để kết thành búi tóc. Đây vốn là phong tục tập quán của những người nô bộc ở Ấn độ đời xưa. Trong Mật giáo, Minh vương Bất động là thị giả của Như lai, trụ trong tam muội Nô bộc, nên tóc trên đầu kết thành 7 búi, số 7 tượng trưng cho 7 phần Bồ đề, Sa kế biểu thị thân phận 1 thị giả của Như lai. Phần đuôi của Sa kế là 1 chùm tóc, rủ xuống bên trái, biểu trưng lòng thương xót các chúng sinh cực ác khổ não. [X. kinh Để lí tam muội Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.5].

sa la

Sala (skt)—Cây Ta La—Sala tree—The teak tree.

sa la ba

(沙囉巴) (1259-1314) Cao tăng Trung quốc, sống vào đầu đời Nguyên, tương truyền sư là người Hà tây (có thuyết nói là người Tích ninh, Tây vực).Thưở nhỏ, sư theo Ngài Bát tư ba (Tạng: Fphags-pa), vị Đế sư (Quốc sư) đầu tiên của triều Nguyên, xuất gia, tu tập pháp Quán đính của các bộ và theo Thượng sư Trước lật xích học ĐạiTiểu thừa. Sư lại vâng mệnh Đế sư theo ngài Lật ôn bốc thụ pháp Diệm mạn đức ca (Phạn: Yamàntaka). Sư thông hiểu tiếng Tây tạng và có thể thuyết giảng diệu pháp bằng ngôn ngữ này, sư cũng hiểu văn tự các nước khác. Sau, sư được Đế sư triều Nguyên đời thứ 5 đưa đến ra mắt Nguyên Thế tổ, vua ban sắc cho sư dịch các kinh Hiển, Mật chưa được truyền dịch ở Trung quốc và đặc biệt ban cho sư hiệu Đại Biện Quảng Trí.Vua Thế tổ lo lắng về phong cách đồi bại của giới tăng sĩ đương thời, nên ban cho sư làm chức Thích giáo đô tổng thống vùng Giang Chiết để chỉnh đốn giới tăng sĩ ở Giang nam. Sau khi sư đến, bắt đầu giảm bớt phiền hà và an định chư tăng tại các nơi Giang Chiết, rồi sư quan tâm đến các vùng Phúc Kiến, Quảng Đông, biết tình trạng giáo đồ rất khổ vì sự nhũng nhiễu của việc quan, nên tâu xin bãi bỏ các chức quan cai quản chư tăng ở địa phương, rồi sư lui về Lũng sơn ở Thiểm tây. Tháng 10 niên hiệu Diên hựu năm đầu (1314), sư ngồi thẳng nhìn Phật mà thị tịch, thọ 56 tuổi. Các kinh do sư dịch gồm có: Dược Sư Lưu Li Quang Vương Thất Phật bản nguyện công đức kinh niệm tụng nghi quĩ 2 quyển, Dược Sư Lưu Li Quang Vương Thất Phật bản nguyện công đức niệm tụng nghi quỉ cúng dường pháp, kinh Hoại tướng Kim cương đà la ni, kinh Phật đính đại bạch tản đà la ni, kinh Văn thù bồ tát tối thắng chân thực danh nghĩa, luận Chương sở tri 2 quyển. X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.36; Đại minh cao tăng truyện Q.1; Thích thị kê cổ lược tục tập Q.1; Bổ tục cao tăng truyện Q.1; Mông Tạng Phật giáo sử tập thượng].

sa la ca lân đề

(娑羅迦鄰提) Phạn: Sàrasa kàraịđa. Sa la, gọi đủ là Sa la sa. Sa la sa và Ca lân đề là tên của 2 con chim. Hai con chim này như cặp uyên ương, thường quấn qúyt nhau như hình với bóng. Phật dùng chim này ví dụ Bồ tát tu hành 1 hạnh tức là tu hành tất cả hạnh. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.3 (bản Bắc)].

sa la cấp đa

(娑羅笈多) Phạn: Sàlagupta. Hán dịch: Trinh cố. Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Huỳnh xuyên, đất Trịnh (mạn tây huyện Trường cát, tỉnh Hà nam), họ Mạnh. Năm 14 tuổi, sư xuất gia ở chùa Đẳng từ tại Phiếm thủy. Hai năm sau, sư đi tham học khắp nơi, như đến An châu học kinh Phương đẳng nơi Thiền sư Đại du, được vài tuần thì diệu tướng hiện tiền, rồi sư đến Tương châu theo ngài Thiện đạo học kinh Di đà. Sư suốt đời chuyên cần học tập không mệt mỏi, thông hiểu 3 tạng. Sư từng đến Ấn độ cầu pháp, sau 3 năm thì trở về nước, tuyên dương Luật học, giáo hóa vô số, nhưng chưa đầy 3 năm sư đã tịch diệt. [X. Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.hạ].

sa la di tụ lạc

(娑羅洟聚落) Sa la di, Phạn: Sàrathì. Hán dịch: Điều ngự thành. Tên một khu làng xóm ở Ấn độ vào thời đức Phật còn tại thế. Đức Phật đã từng đến làng này thuyết pháp, rồi tại đây Ngài lại qua làng Lô hê đa kha tô nâu mà đến bờ sông Hằng để tiếp tục cuộc hành trình giáo hóa. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.33].

sa la ha

(沙羅訶) Phạn: Saraha. Hành giả đầu tiên của Kim cương thừa ở Ấn độ, sống vào thế kỉ VII, người Lạp cát nị (Phạn: Ràjĩì) thuộc miền Đông Ấn độ. Tương truyền, thân phụ của sư thuộc dòng Bà la môn, thân mẫu thuộc dòng Noa cát nễ (Phạn: Đàkinì). Khi lớn khôn, sư thông hiểu cả Bà la môn giáo và Phật giáo, có lần sư hiện thần biến trước mặt vua Lạp Đặc Nạp Cáp Lạp (Phạn: Ratnaphala) và quan Tể tướng Bà la môn, khiến họ kính tin và qui y Phật giáo. Sau Sư trông nom chùa Na lan đà và học Chân ngôn thừa, tu hành Du già, thành tựu Đại hành pháp (Phạm:Mahàmudrà). Sư là 1 trong các vị A xà lê đầu tiên đem phổ biến hóa Đát đặc la thừa (Phạm:Tantra-yàna) mà xưa nay vốn bí truyền và làm cho tông thừa này được phổ cập. Bởi thế, chương 43 trong tác phẩm Ấn độ Phật giáo sử của mình, ngài Đa la na tha (Phạn: Tàranàtha, Tạng: Kun-dga# sĩiĩ-po) đã xếp sư vào bậc nhất trong các A xà lê tất địa. Sư là người đã giới thiệu Đát đặc la căn bản và Đát đặc la Phật đính cái với mọi người. Sư có trứ tác một số tán ca bằng tiếng Bengal và nhiều tác phẩm khác. Những tác phẩm chủ yếu của sư gồm: Cát tường Phật đính cái Đát đặc la nan ngữ thích cụ tuệ (Phạn: Zrìbuddhakapàla-tantra-paĩjikàjĩànavatì), Cát tường Phật đính cái thành tựu pháp (Phạn: Zrìbuddhakapàla-sàdhana), Nhất thiết bộ đa cúng vật nghi quĩ (Phạn: Sarva-bhùtabah-vidhi), Cát tường Phật đính cái mạn đồ la nghi quĩ thứ đệ minh (Phạn: Zrìbuddhakapàla-maịđala-vidhi-kramapradyotana), Đạo bả tạng ca (Phạn: Dohà-kosa-gìti), Tam thế gian chinh phục thế tự tại thành tựu pháp (Phạn: Trailokya-vazaôkara-lokezvarasàdhana). [X. An Introduction to Buddhist Esoterism by Benoytosh Bhattacaryya; The Life ofNàgàrjunafrom Tibetan and Chinese Sources by M. Walleser].

sa la hoa

(娑羅華) I. Sa La Hoa. Sa la, Phạn: Zàla. Hoa của cây Sa la, màu vàng nhạt, thuộc họ hoa Sơn trà. Quả của nó có thể ăn được. II. Sa La Hoa. Hoa bằng giấy trắng bày cúng trước khám thờ. Khi đức Phật nhập Niết bàn, cây Sa la song thụ biến thành màu trắng, người đời sau căn cứ vào sự tích này mà làm hoa Sa la bằng giấy trắng để dùng trong nghi thức lễ tang.

sa la lâm

Salavana (skt)—Rừng cây Ta La Song Thọ gần thành Câu Thi Na, nơi mà Đức Phật ngồi vào giữa hai hàng cây rồi thị tịch (thành Câu Thi Na còn có tên là Giác thành. Thành có ba góc nên gọi là giác, cũng gọi là ngưu giác vì có những cây Ta La mọc song đôi. Sau khi Đức Phật thị tịch thì có 4 cây khô héo, còn lại 4 cây còn tươi)—The forest of sala trees, or the grove of Sala trees near Kusinagara, the reputed place of the Buddha's death.

sa la lê phất

Salaribhu (skt)—Tên của một vương quốc hay một tỉnh cổ của Ấn Độ, mà vị trí chính xác không ai rõ—An ancient kingdom or province in India, exact position is unknown.

sa la sa

Sarasa (skt)—Một loài chim sếu bên Ấn Độ—The Indian crane.

sa la sa điểu

(娑羅娑鳥) Sa la sa, Phạn: Sàrasa. Tên một giống chim ở Ấn độ. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 3 thì hình dáng chim này giống như chim uyên ương, nhưng hơi lớn hơn, tiếng nó hót rất thanh nhã, ở Trung quốc không có loài chim này, cho nên dịch ý là Nhạn. Tuệ lâm âm nghĩa thì dịch là Cộng hành điểu hoặc Bạch hạc.

sa la song thọ

Ta la song thọ (hai cây Ta La song đôi), nơi Phật đã nhập Niết bàn—The twine trees in the grove in which Sakyamuni entered nirvana.

sa la thất phạt để tiết

(娑羅室伐底節) Phạn: Sarasvatì pùja. Ngày lễ của Bà la môn giáo và của Ấn độ giáo ở Ấn độ, được cử hành vào tháng Ma khư hay tháng Tinh (Phạn: Màgha, tương đương với tháng 1, tháng 2 Dương lịch) theo lịch Ấn độ để kỉ niệm Sa la thất phạt để (Phạn: Sarasvatì, Hán dịch: Biện tài thiênnữ). Vào dịp lễ này, chẳng những tượng của Sa la thất phạt để, mà những công cụ có liên quan đến việc mang lại tri thức như bút, mực, giấy, sách vở... đều được tín đồ sùng bái.

sa la thọ

Cây Ta La—Sala tree.

sa la thọ vương

Salendra-raja (skt)—Danh hiệu của ngài Diệu Trang Nghiêm Vương vị lai thành Phật có danh hiệu là Sa La Thụ Vương Như Lai, ngài cũng là cha của ngài Quán Âm—A title of Salendra-raja Buddha, or Subhavyuha, father of Kuan-Yin.

sa la thụ

(娑羅樹) Sa la, Phạn: Zàla. Cũng gọi Tát la thụ, Tô liên thụ. Hán dịch: Kiên cố, Cao viễn. Tên khoa học: Shorea rohusta. Tên một loại cây cao, thuộc họ hương long não, mọc ở các vùng nhiệt đới như Ấn độ, Tích lan... Loại cây này thân cao khoảng 32m, lá dài khoảng 16 đến 25 cm, rộng khoảng 10 đến 16 cm, hình bầu dục, đầu lá nhọn, hoa nhỏ màu vàng lợt, gỗ rất cứng, có thể dùng làm vật liệu kiến trúc, hạt có thể ép lấy dầu. Theo truyền thuyết, cây Sa la là cây đạo tràng của đức Phật Tì Xá Bà, 1 trong 7 đức Phật quá khứ. Kinh Đại bản trong Trường a hàm quyển 1 (Đại 1, 2 trung) nói: Đức Phật Tì Xá Bà ngồi dưới gốc cây Sa la, thành Tối chính giác. Rừng cây Sa la ở ngoài thành Câu thi na yết la,Trung Ấn độ cũng là Thánh địa nổi tiếng vì đó là nơi đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Niết bàn. Theo sự ghi chép trong các kinh, khi đức Thích Tôn sắp nhập Niết bàn, ở bên ngoài thành Câu Thi Na Yết La thì 4 phía giường Ngài nằm mỗi phía đều có 1 cây Sa la, gồm 2 nhánh cùng gốc, vì đau buồn thảm thương nên một nhánh mỗi bên của cây Sa la biến thành màu trắng, cành lá, hoa quả, vỏ cây đều nứt ra và rơi xuống đất, dần dần khô héo, còn 1 nhánh thì vẫn tươi, vì thế cây song thụ này cũng được gọi là Tứ khô tứ vinh thụ (cây 4 khô 4 tươi), hoặc Phi khô phi vinh thụ (cây chẳng phải khô, chẳng phải tươi). Do đó mà có các thí dụ: Hai cây ở phía đông là thường và vô thường, hai cây ở phía tây là ngã và vô ngã, ở phía nam là lạc và vô lạc và ở phía bắc là tịnh và bất tịnh. Lại vì rừng cây Sa la khô héo có màu trắng như chim hạc nên cũng gọi là Hạc lâm. Theo Đại bát niết bàn kinh sớ quyển 1 thì Sa la song thụ, mỗi phía1 gốc 2 nhánh, 4 phía 4 gốc 8 nhánh, đều cao 5 trượng, 4 nhánh khô 4 nhánh tươi, gốc liền nhau, cành hợp nhau, lá um tùm, hoa tròn như bánh xe, quả to bằng cái bình, vị ngọt như mật, vì thế xưa nay rừng cây này được gọi là Song thụ lâm, Kiên cố lâm, Kiên lâm. [X. Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.37; Đại bát niết bàn kinh tập giải Q.2; Ma ha chỉ quán Q.7, thượng].

sa la thụ vương

(娑羅樹王) Tên khác của Khai phu hoa vương Như lai (Phạn: Saôkusumitaràja-tathàgata) ngồi ở phía nam trong viện Trung đài bát diệp của Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Đức Như lai này muôn đức nở rộ, đều đã đạt đến kim cương thực tế, cho nên dùng hoa quả tốt tươi, cứng chắc, không hư nát của cây Sa la (Phạn: Zala) để ví dụ 2 đức của Ngài. Thân Ngài màu vàng ròng, ca sa phủ kín 2 vai, bàn tay phải ngửa hướng ra ngoài, các đầu ngón tay rủ xuống, tay trái cầm góc áo ca sa để ở bên rốn. Mật hiệu là Bình đẳng kim cương. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.4].

sa la thụ vương phật

(沙羅樹王佛) Sa la thụ vương, Phạn: Zàlendraràja. Cũng gọi: Sa la vương. Hán dịch: Kiên cố, Tịch thắng. Tên một đức Phật được nói trong kinh Pháp hoa. Cứ theo phẩm Diệu trang nghiêm vương bồ tát bản sự trong kinh Pháp hoa quyển 7 thì trong đời quá khứ cách đây đã vô lượngA tăng kì kiếp, có một vị vua tên là Diệu trang nghiêm (Phạn: Zubha-vyùha) lúc đầu tin thờ ngoại đạo, chấp trước pháp Bà la môn. Nhưng Hoàng hậu và 2 vương tử thì đều tin Phật pháp một cách thuần thành. Do sự hướng dẫn của 2 vương tử, dần dần nhà vua sinh lòng vui mừng tin nhận Phật pháp. Sau, vào ngày 2 vương tử xuất gia, nhà vua đến chỗ đức Phật Vân lôi âm tú vương hoa trí, đức Phật nói pháp cho vua nghe và kí biệt rằng trong vị lai vua sẽ thành Phật hiệu là Sa la thụ vương. [X. Pháp hoa nghĩa kí Q.8; Pháp hoa văn cú Q.10, hạ; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].

sa la vương

Salaraja (skt)—Danh hiệu của Phật—A title of the Buddha.

sa lạc ca

Charaka (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, đây là tên của một tịnh xá trong thành Kapisa—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms composed by Professor Soothill, this is the name of a monastery in Kapisa.

sa lộ đa la

Srotra (skt)—Nhĩ căn—The ear.

sa ma

Samaveda (skt)—Sách thứ ba trong bộ kinh Vệ Đà—The third of the Vedas, containing the hymns.

sa ma la

Smara (skt)—Ký ức—Recollection—Remembrance.

sa ma phệ đà

(沙摩吠陀) Phạn, Pàli: Sàma-veda. Cũng gọi Tam ma phệ đà, Sa ma bệ đà, Sa ma tì đà. Hán dịch: Ca tụng minh luận, Tác minh mĩ ngôn, Lễ nghi mĩ ngôn trí luận. Một trong 4 bộ kinhPhệ đà của Ấn độ đời xưa, liên quan đến ca vịnh và Toàn luật (Phạn: Sàman), tức thu tập các bài tán ca do những Ca vịnh tăng (Phạn: Udgàtf) xướng đọc khi tế Tô Ma, tức Phệ đà dùng vào việc tế lễ. Nội dung của bộ kinh Phệ đà này gồm những điểm trọng yếu về pháp cúng tế Tô Ma được giảng thuyết cho Nguyệt Thiên nghe. Kinh này có bản do 3 phái lưu truyền, chia làm 2 quyển. Giống như các Phệ đà khác, kinh này cũng được tập thành do phần Ca tụng (Phạn: Saôhità, tức Bản tập) và phần Tác pháp (Phạn: Bràhmaịa, tức Phạm thư), tất cả gồm 1.810 bài tụng (lược bỏ những bài trùng lắp thì còn 1.549 bài tụng), phần lớn do sửa đổi những bài ca tụng trong kinh điển căn bản Lê câu Phệ đà mà thành, còn những bài hoàn toàn mới được thấy trong kinh này thì chỉ có 70 bài tụng mà thôi. (xt. Phệ Đà).

sa ma tha

Là thiền quán cực tịnh, quán các pháp đều không, như gương soi các tướng.

sa ma đế

Sammatiya (skt)—Chánh Lượng Bộ, một trong 18 tông Tiểu Thừa—One of the eighteen Hinayana sects.

Sa Môn

(s: śramaṇa, p: samaṇa, 沙門): âm dịch là Thất La Mạt Noa (室羅末拏), Xá Ra Ma Noa (舍囉摩拏), Thất Ma Na Noa (㗌摩那拏), Sa Ca Muộn Nang (沙迦懣囊); Sa Môn Na (沙門那), Sa Văn Na (沙聞那), Ta Môn (娑門), Tang Môn (桑門), Táng Môn (喪門); là từ chuyển âm của phương ngôn Tây Vức, như từ samāne của tiếng Quy Tư (s: Kucīna, 龜茲), hay samanā của tiếng Vu Điền (s: Kustana, 于闐, nay là Khotan); ý dịch là cần lao (勤勞), công lao (功勞), cù lao (劬勞), cần khẩn (勤懇), tĩnh chí (靜志), tịnh chí (淨志), tức chỉ (息止), tức tâm (息心), tức ác (息惡), cần tức (勤息), tu đạo (修道), bần đạo (貧道), phạp đạo (乏道). Đây là từ tổng xưng cho người xuất gia, thông cả nội và ngoại đạo; cũng dùng để chỉ việc cắt bỏ râu tóc, dừng lại và chấm dứt các điều ác, khéo điều phục thân tâm, siêng năng thực hành các điều thiện, và khát vọng đạt được mục đích xuất gia tu đạo, chứng quả Niết Bàn. Theo Du Hành Kinh (遊行經) của Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Vol. 1, No. 1) quyển 3, A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (阿毘達磨大毘婆沙論, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 66, Sa Môn được phân làm 4 loại như sau: (1) Thắng Đạo Sa Môn (勝道沙門), còn gọi là hành đạo thù thắng, như Phật hay Độc Giác, vì có thể tự giác được. (2) Thị Đạo Sa Môn (示道沙門), còn gọi là Thuyết Đạo Sa Môn (說道沙門), nghĩa là khéo thuyết giảng nghĩa đạo; chỉ cho người thuyết giảng về đạo không sai lầm, như Trưởng Lão Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗), v.v., có thể thường theo đức Phật chuyển bánh xe pháp. (3) Mạng Đạo Sa Môn (命道沙門), còn gọi là Hoạt Đạo Sa Môn (活道沙門), nghĩa là nương theo đạo mà sinh hoạt; tức chỉ cho người nương theo đạo mà sống, như tôn giả A Nan (s, p: Ānanda, 阿難), v.v., tuy có học vị mà giống như vô học, đa văn, khéo vâng giữ, đầy đủ giới cấm thanh tịnh, truyền pháp thân huệ mạng cho cuộc đời. (4) Ô Đạo Sa Môn (污道沙門), còn gọi là Hoại Đạo Sa Môn (壞道沙門), chỉ cho những người ngụy thiện, làm nhơ nhớp Thánh đạo, như Tỳ Kheo Mạc Khát Lạc Ca (莫喝落迦), thường trộm cắp tài vật của người khác. Du Già Sư Địa Luận (瑜伽師地論, Taishō Vol. 30, No. 1579) quyển 29 giải thích rằng Thắng Đạo Sa Môn là bậc Thiện Thệ (s: sugata, 善逝, đấng thật sự qua bờ bên kia mà không còn trở lui biển sanh tử nữa), Thuyết Đạo Sa Môn là người tuyên thuyết các chánh pháp, Hoạt Đạo Sa Môn là người tu các thiện pháp, và Hoại Đạo Sa Môn là thực hành các việc làm sai trái. Ngoài ra, Đại Bảo Tích Kinh (大寶積經, Taishō Vol. 11, No. 310) quyển 112 có nêu 4 loại Sa Môn khác là (1) Hình Phục Sa Môn (形服沙門, Sa Môn bên ngoài mặc sắc phục tu sĩ), (2) Uy Nghi Khi Cuống Sa Môn (威儀欺誑沙門, Sa Môn khinh thường oai nghi tế hạnh), (3) Tham Cầu Danh Văn Sa Môn (貪求名聞沙門, Sa Môn tham cầu tiếng tăm) và (4) Thật Hành Sa Môn (實行沙門, Sa Môn tinh tấn thực hành chánh pháp). Trong Hương Tổ Bút Ký (香祖筆記) quyển 8 của Vương Sĩ Chân (王士禛, 1634-1711) nhà Thanh có câu: “Sa Môn dĩ Hòa Thượng vi tôn quý chi xưng (沙門以和尚爲尊貴之稱, Sa Môn lấy Hòa Thượng làm từ xưng hô tôn quý).” Hay trong Trinh Nguyên Tân Định Thích Giáo Mục Lục (貞元新定釋敎目錄, Taishō Vol. 55, No. 2157) quyển 22 có câu: “Tây Kinh Tây Minh Tự Sa Môn Viên Chiếu soạn (西京西明寺沙門圓照撰, Sa Môn Viên Chiếu ở Tây Minh Tự, Tây Kinh soạn).”

sa môn

Sramana (skt)—Ta Môn—Tang Môn—Bà Môn—Sa Môn Na—Xá La Ma Na—Thất La Ma Na—Sa Ca Mãn Nang—Thất Ma Na Nã. (I) Nghĩa của Sa Môn—The meanings of Sramana: 1) Tu hành khổ hạnh: Ascetics of all kinds. 2) Nhà tu Phật giáo, từ bỏ gia đình, từ bỏ dục vọng, cố công tu hành và thanh bần tịnh chí—Buddhist monk or Buddhist priest who have left their families, quitted the passions and have the toilful achievement (công lao tu hành). Diligent quieting (Cần tức) of the mind and the passions, Purity of mind (tịnh chí) and poverty (bần đạo). (II) Những lời Phật dạy về “Sa Môn” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Sramana” in the Dharmapada Sutra: 1) Hàng Sa-môn (Mâu Ni) đi vào xóm làng để khất thực ví như con ong đi kiếm hoa, chỉ lấy mật rồi đi chứ không làm tổn thương về hương sắc—As a bee, without harming the flower, its color or scent, flies away, collecting only the nectar, even so should the sage wander in the village (Dharmapada 49). 2) Một đàng đưa tới thế gian, một đàng đưa tới Niết bàn, hàng Tỳ Kheo đệ tửø Phật, hãy biết rõ như thế, chớ nên tham đắm lợi lạc thế gian để chuyên chú vào đạo giải thoát—One is the path that leads to worldly gain, and another is the path leads to nirvana. Once understand this, the monks and the lay disciples of the Buddha, should not rejoice in the praise and worldly favours, but cultivate detachment (Dharmapada 75). 1) Chư Phật thường dạy: “Niết bàn là quả vị tối thượng, nhẫn nhục là khổ hạnh tối cao. Xuất gia mà não hại người khác, không gọi là xuất gia Sa-môn.”—The Buddhas say: “Nirvana is supreme, forebearance is the highest austerity. He is not a recluse who harms another, nor is he an ascetic who oppresses others.” (Dharmapada 184). ; (沙門) Phạn: Zramaịa. Pàli: Samaịa. Hán âm: Thất la mạn noa, Xá ra ma noa, Sất ma na noa, Sa ca mãn nang. Cũng gọi: Sa môn na, Sa văn na, Tang môn. Hán dịch: Cần lao, Công lao, Cù lao, Cẩn khẩn, Tĩnh chí, Tịnh chí, Tức chỉ, Tức tâm, Tức ác, Cần tức, Tu đạo, Bần đạo, Phạp đạo. Là từ ngữ chuyển âm của phương ngôn Tây vực (tiếng Cưu tư:Samàne, tiếng Vu điền: Samanà), chỉ chung những người xuất gia, cạo bỏ râu tóc, ngăn dứt các điều ác, siêng tu các việc thiện, điều phục thân tâm, cầu mong đạt đến Niết bàn. Từ này dùng chung cho cả nội đạo và ngoại đạo. Cứ theo kinh Du hành trong Trường A Hàm quyển 3 và luận Đại tì bà sa quyển 66 thì Sa môn có thể được chia làm 4 loại như sau: 1. Thắng đạo sa môn (cũng gọi hành đạo thù thắng): Những bậc có khả năng tự giác, như Phật, Độc giác... 2. Thị đạo sa môn (cũng gọi Thuyết đạo sa môn): Chỉ cho người khéo giảng nói đạo nghĩa, có khả năng thường theo Phật chuyển đại pháp luân, như ngài Xá lợi phất... 3. Mệnh đạo sa môn (cũng gọi Hoạt đạo sa môn, Y đạo sinh hoạt): Chỉ cho những người sống theo đạo pháp, học rộng nhớ dai, đầy đủ giới cấm, truyền pháp thân tuệ mệnh cho đời, tuy còn ở địa vị Hữu học, nhưng đồng với địa vịvô học, như ngài A nan... 4. Ô đạo sa môn (cũng gọi Hoại đạo sa môn, Vi đạo tác uế): Chỉ cho những người bề ngoài mang hình tướng Sa môn nhưng tâm thì tà vọng, dối trá, làm những việc ô uế, trộm cắp tài vật của người khác, bôi nhọ đạo pháp, như Tỳ khưu Mạc hát lạc ca...Luận Du già sư địa quyển 29 cũng nêu 4 loại Sa môn, cho rằng Thắng đạo Sa môn tức là Chư thiện thệ, Thuyết đạo Sa môn tức là Thuyết chư chính pháp, Hoạt đạo Sa môn tức là Tu chư thiện pháp và Hoại đạo Sa môn tức là Hành chư tà hạnh. Ngoài ra, hội Phổ Minh Bồ Tát trong kinh Đại Bảo Tích quyển 112 cũng liệt kê 4 loại Sa môn là: Hình phục sa môn, Uy nghi khi cuống sa môn, Tham cầu danh văn sa môn và Thực hành sa môn. Sa môn có 4 quả chứng đắc khác nhau, gọi là Tứ sa môn quả, tức là: Quả Tu đà hoàn (đoạn tam kết: Hữu thân kiến, Giới cấm thủ, Nghi), quả Tư đà hàm (đoạn tam kết tham khuể si bớt dần), quả A na hàm (dứt hết 5 phiền não ở cõi Dục là: Dục tham, sân khuể, hữu thân kiến,giới cấm thủ và nghi), quả A la hán(vĩnh viễn không còn tham khuể si và tất cả phiền não). [X. kinh Tạp a hàm Q.29; kinh A tu la trong Trung a hàm Q.8; kinh Đại thừa đại tập địa tạng thập luân Q.5; kinh Phật nê hoàn Q.thượng; kinh Phật bản hạnh tập Q.39; kinh Đại bát niết bàn Q.34 (bản Bắc); luật Thập tụng Q.6; Huyền ứng âm nghĩa Q.6; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26]. (xt. Tứ Chủng Tăng, A Na Hàm, Tư Đà Hàm, Tu Đà Hoàn).

sa môn bất kính vương giả luận

Ordained Buddhists Do Not Have to Honor Royalty—See Luận Sa Môn Bất Kính Vương Giả. ; (沙門不敬王者論) Gọi tắt: Bất kính vương giả luận. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tuệ Viễn soạn vào đời Đông Tấn, được thu vào Hoằng minh tập quyển 5 trong Đại chính tạng tập 52. Nội dung nói về lí do tại sao giới Sa môn không cần phải lễ kính hàng vương hầu để bác lại thái độ hống hách, cửa quyển của giới quan lại đương thời buộc tăng sĩ Phật giáo phải lễ lạy họ. Trong phần Tự luận của sách này, tác giả trình bày lí do soạn luận Sa môn bất kính vương giả, kế đến là thiên thứ nhất Tại gia và thiên thứ 2 Xuất gia, nói về bản chất của người xuất gia theo Phật giáo, nhấn mạnh rằng sự sinh hoạt của người xuất gia tất nhiên là siêu việt hơn sự sinh hoạt của người thế tục. Thiên thứ 3 Cầu tông bất thuận hóa cho rằng người cầu Phật đạo không nên thuận theo thế tục, mà phải sống khác với thế tục. Thiên thứ 4 Thể cực bất kiêm ứng cho rằng người thể nhận được Phật pháp không nên tùy thuận thế tục. Thiên thứ 5 Hình tận thần bất diệt cho rằng nhục thể cuối cùng sẽ chết, nhưng tinh thần thì vĩnh viễn không diệt mất. Đến đời Đường, ngài Ngạn tông căn cứ vào luận này mà gom các luận Bất bái đã có từ trước rồi biên tập thành bộ Tập Sa môn bất ưng bái tục đẳng sự gồm 6 quyển. [X. Lương cao tăng truyện Q.6; Lịch đại tam bảo kỉ Q.7; Thích thị kê cổ lược Q.2; Đường thư nghệ văn chí thứ 49].

sa môn nhị chủng

Hai loại Sa Môn—Two kinds of Sammatiya: 1) Chánh mệnh sa môn: Monk who makes his living by mendicancy (right livelihood for a monk). 2) Tà mệnh sa môn: Monk who works for a living (improper way of living).

sa môn quả

The fruit, or rebirth resulting from the practices of the sramana.

sa môn quả kinh

(沙門果經) Bản kinh thứ 27 trong kinh Trường A Hàm, do các ngài Phật đà da xá và Trúc Phật niệm cùng dịch vào năm Hoằng thủy 14 (412) đời Hậu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này, nửa phần trước là giới thiệu các học thuyết của Lục sư ngoại đạo, so với các tư liệu trọng yếu liên quan đến Lục sư ngoại đạo thì có thể nói kinh này là đầy đủ nhất. Còn nửa phần sau thì chỉ ra những tư tưởng trung tâm của Phật giáo, đồng thời, nói rõ về quả báo đời hiện tại và 3 học giới, định, tuệ của sa môn. Kinh này còn có 2 bản dịch khác sau đây: 1. Phật thuyết tịch chí quả kinh, do ngài Trúc đàm vô lan dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào đại chính tạng tập 1. 2. Bản kinh thứ 7 trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 39, do ngài Tăng già đề bà dịch vào đời ĐôngTấn, được thu vào đại chính tạng tập 2. Ngoài ra, kinh thứ 2 Sàmaĩĩa-phala bằng tiếng Pàlitrong Trường bộ thuộc kinh điển của Thượng tọa bộ phương Nam, tương đương với kinh này. [X. The Dìgha Nikàya vol.I (PTS: London, 1889) by Rhys Davids and J.E.Carpenter; Dialogues of the Buddha Part I, 1913 by T.W.Rhys Davids].

sa môn thống

Vị Tăng Thống các Tăng Đồ trong nước, được bổ nhậm bởi các vua đời nhà Ngụy—The national superintendent of archbishop over the Order appointed under Wei dynasty.

sa na lợi ca

Sannagarika (skt)—Mật Lâm Sơn Bộ—Một trong 18 tông phái Tiểu Thừa—One of the eighteen Hinayana sects.

sa ngã

To go wrong—To fell—To be corrupted.

sa sút

Decadent.

sa sầm

To darken—To become dark (gloomy).

Sa Thạch Tập

(沙石集, Sasekishū hay Shasekishū): bộ sách kể chuyện Phật Giáo dưới thời đại Liêm Thương, gồm 10 quyển, do Vô Trú Đạo Hiểu (無住道曉, Mujū Dōgyō) trước tác từ năm thứ 2 (1279) niên hiệu Hoằng An (弘安) cho đến năm 6 (1283) cùng niên hiệu trên thì hoàn thành. Ban đầu tác phẩm được viết suông sẻ từ quyển 1 đến 5; nhưng rồi bị gián đoạn, dừng giữa chừng, và sau đó mới hoàn thành phần còn lại. Nếu nhìn từ tư tưởng Phật Giáo, Sa Thạch Tập thể hiện quan điểm tôn trọng việc tu hành, tư tưởng Không của Phật Giáo Đại Thừa, tư tưởng Tam Đế Viên Dung (三諦圓融) của Thiên Thai Tông, và quan niệm phủ định sự chấp trước đối với thế tục. Tác phẩm này chủ trương tính cọng thông của các tông phái, khắp nơi đều nêu rõ thái độ giảm thiểu sự luận tranh giữa các tông phái với nhau. Vô Trú được xem như là vị tăng học cả hai tông Lâm Tế và Chơn Ngôn; nên ông thể hiện rõ lập trường độc đáo dung hợp cả hai tông ấy. Ngoài Vô Trú ra, người có được lập trường như vậy không dễ mấy ai. Trong quyển 1, phần lớn ghi lại những việc liên quan đến sự tập hợp của Thần Phật, Bản Địa Thùy Tích (本地垂迹). Về danh nghĩa, Sa Thạch Tập có nghĩa là “lấy vàng ra từ cát, lấy ngọc ra từ đá” với ý nghĩa thuyết Chân Đế của phật giáo từ những sự việc mang tính thế tục; là một tác phẩm văn học trích dẫn khá nhiều kinh điển từ lập trường của vị tu sĩ, tạo sự hứng thú liên tục cho độc giả. Trước tác này có nội dung đa dạng, từ câu chuyện linh nghiệm cũng như truyện chư vị cao tăng của các quốc gia như Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, cho đến sự tình do Vô Trú thấy nghe được ở các tiểu quốc, thực tế sinh hoạt của tầng lớp thứ dân, chuyện đàm tiếu, v.v. Chính lời văn nhẹ nhàng, thanh thoát của Sa Thạch Tập đã tạo ảnh hưởng to lớn đối với Đồ Nhiên Thảo (徒然草, Tsurezuregusa), Cuồng Ngôn (狂言), Lạc Ngữ (落語) sau này.

sa thạch tập

(沙石集) Tác phẩm, 10 hoặc 12 quyển, do ngài Vô Trụ Nhất Viên, vị tăng Nhật bản soạn từ năm Hoằng an thứ 2 đến năm Hoằng an thứ 6 (1279-1283). Sa thạch hàm ý là đãi cát tìm vàng, chọn đá mài ngọc. Sách này thu chép tất cả 149 mẩu chuyện lạ về Phật giáo của Nhật bản. Bằng những ngôn từ bình dị, tác giả đã trình bày những mẩu chuyện mà người thế tục thường bàn để đưa người ta vào Phật đạo mà nhận chân được sự cao quí của chính pháp, hệt như đãi cát được vàng, mài đá thành ngọc vậy. Vì thế tác giả đã đặt tên cho tập sách của mình là Sa thạch. Là 1 vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế, nhưng tác giả thông hiểu tất cả tông phái Phật giáo, cũng như Thần đạo, Nho gia. Tuy vậy, sư không hề có thái độ thiên về 1 tông phái nào để bài xích hay bênh vực các tông phái khác. Đối với lịch sử tư tưởng của Phật giáo Nhật bản, tác phẩm này có ý nghĩa rất trọng đại.

sa thải

To dismiss—To fire. ; (沙汰) Nguyên nghĩa là gạn bỏ (thải) cát (sa) bị lẫn ở trong gạo ra. Từ đó chuyển dụng để chi cho ý nghĩa phân biệt thiện ác, tốt xấu, phải trái để loại bỏ những điều ác, xấu, trái mà giữ lại những cái thiện, tốt, phải. Hoặc dùng với nghĩa khai trừ 1 người xấu xa ra khỏi 1 đoàn thể, tổ chức nào đó. (xt. Sa Thải Tăng Ni).

sa thải tăng ni

(沙汰僧尼) Sa thải có nghĩa là đãi lọc, gạn lọc. Sa thải tăng ni nghĩa là bắt buộc 1 số tăng ni hoàn tục để chỉnh đốn lại tổ chức tăng ni trong giáo đoàn. Tại Trung quốc, vào thời NgụyTấn Nam Bắc Triều để hạn chế giới tu sĩ, triều đình đã nhiều lần sa thải tăng ni. Truyện ngài Tăng lãng trong Lương cao tăng truyện quyển 5 (Đại 50, 354 trung) ghi: Sau, vua Phù kiên sa thải chúng tăng, có hạ lệnh riêng rằng: Pháp sư Tăng lãng là người có giới đức trong sạch như băng tuyết, học trò thanh tú, riêng núi Côn lôn không nằm trong trường hợp này. Phật tổ thống kỉ quyển 36 (Đại 49, 341 hạ) cũng ghi: Năm Long an thứ 2 (398) đời vua An đế nhà Đông Tấn, Hoàn huyền giữ chức Phụ chính, khuyên vua sa thải tăng ni, lệnh rằng: Những tăng ni nào có khả năng soạn thuật kinh sớ, diễn nói nghĩa lí, luật hạnh tu chính thì đều được tiếp tục tu tập, ngoài ra đều phải hoàn tục, chỉ có Lô sơn là nơi các vị có đạo đức cư trú, không bị chi phối bởi lệnh này.Ngoài ra, vào năm Nguyên gia 12 (435) đời Tống văn đế, theo lời tâu của Doãn tiêu mô ở Đơn dương, vua hạ chiếu hạn chế việc đúc tượng đồng và kiến tạo chùa tháp, tinh xá, đồng thời sa thải mấy trăm tăng ni. Năm Đại Minh thứ 2 (458) đời Hiếu Vũ đế, do đạo nhân Đàm Tiêu và người Khương mưu phản, vua hạ lệnh sa thải tăng ni và đạo sĩ. Thời Tiền Phế đế (464-465) có xẩy ra việc đuổi tăng phá chùa, thờiTề vũ đế (482-493), vua từng sai Tăng chính Pháp hiến và Huyền sướng đến Tam ngô sa thải tăng ni. [X. Lương cao tăng truyện Q.8, 13; Nam tề thư bản kỉ].

sa thất ni hà

(沙匹尼河) Sa thất ni, Phạn: Sarpinì; Pàli: Sappinì. Tên con sông nằm ở vùng phụ cận thành Vương xá (Pàli: Ràjagaha), Trung Ấn độ đời xưa; bên bờ sông này có vườn tăng Du hành, các vị tăng du hành nổi tiếng như An nạp ba lạp (Pàli: Annabhàra), Uy lạp đạt lạp (Pàli:Varadhara), Tắc khắc lỗ đạt y (Pàli: Sakulùdàyì)... đều đã ở trong vườn này. Theo tăng chi bộ kinh 3.46 thì Xá la bộ (Pàli:Sarabhù) là người ra khỏi giáo đoàn của đức Thích tôn đến ở vườn tăng Du hành, từng khoe khoang rằng mình đã hiểu biết hết Phật pháp, cho nên thoát thai từ pháp luật của Phật mà ra. Về sau, đức Thích tôn đến vườn tăng này hỏi thăm Xá la bộ, 3 lần nói pháp cho Xá la bộ nghe. [X. Tăng chi bộ kinh 4.30].

sa tâm

Hằng hà sa số tâm—Mind like sand in its countless functionings.

sa tì ca la

(娑毗迦羅) Phạn: Kapila. Cũng gọi Kiếp tì la. Hán dịch: Hoàng phát, Kim đầu, Qui chủng. Tên một vị tiên đời xưa ở Ấn độ, là Tổ của học phái Số luận. Vì râu tóc mặt mày của vị tiên này đều có màu vàng đỏ nên được gọi là Hoàng xích sắc tiên nhân. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.23].

sa tỳ ca la

Kapila (skt)—Có lẽ là Tăng Kỳ Sa Tỳ Ca La, tên của vị ngoại đạo đã sáng lập ra phái Số Luận Sư—Possibly Sankhya Kapila, the founder of the sankhya philosophy.

sa uyển

(沙畹) Emanuel Edouard Chavannes, 1865-1918 Học giả Đông phương học người Pháp. Năm 1889, ông ở Công sứ quán Pháp tại Bắc kinh, Trung quốc, chuyên nghiên cứu về học thuật. Sau, ông trở về Pháp. Năm 1893, ông làm Giáo sư Đại học công lập Pháp quốc, năm 1902 được suy cử làm hội viên viện Học sĩ. Từ năm 1903 về sau, ông tự lực biên tập tạp chí Đông phương học nghệ Thông báo (Toung pao). Khoảng năm 1895 đến năm 1905, ông ấn hành Sử kí dịch chú (Les Mémoires Historiques de Se-ma-Ta’ien), 5 quyển. Năm 1907, ông lại đến Trung quốc nghiên cứu các bài minh khắc trên các bia, rồi xuất bản Mission Archéologique dans la Chine Setentrionale, tome 5, 1909- 1915, Le T’ai Chan, 1910, Documents Chinois Découvert par Aurel Stien dans les Sables Turkestan Oriental, 1913... Ông có trình độ Phật học rất sâu, trong thiên Phật tượng điêu khắc trong Mission Archéologique dans la Chine Setentrionale bộ thứ 2 nói trên, ngoài việc thu chép các đồ bản giải thích về các hang động Vân cương, Long môn, chùa Thạch quật ở huyện Củng, núi Thiên quật..., ông còn dịch ra tiếng Pháp tác phẩm: Đại đường Tây vực cầu pháp cao tăng truyện (Mémoires sur les Religieux éminents qui allérent chercher la Loi dans les Pays d’Occident, 1849) và dịch chung với ông S. Lévis tác phẩm Nhập trúc kí của ngài Ngộ không (Voyages des pélerines Bouddhistes, L’Itinéraire d’Ou-kong, 1895); ông dịch ra tiếng Pháp qua bản dịch tiếng Anh của S.Beal tác phẩm Tống văn sứ Tây vực kí (Voyages de Song Yun dans l’UdyànaetleGandhàra, 1903), tác phẩm Ngũ bách thí dụ soạn tập (Cinq cent contes et apologues extraits du Tripiỉaka chinois, 1910-1911). Dịch chung với ông S.Lévis tác phẩm: Hộ pháp thập lục La hán (Les Seize Arhats Protecteurs de la Loi, 1916)... Về Ma ni giáo thì ông có soạn chung với ông P. Pelliot tác phẩm: Trung quốc phát hiện Ma ni giáo di văn khảo thích (Traité Manichéenne Retrouvé en Chine, 1913). [X. Âu mĩ Phật giáo; Sử tịch giải đề; T’oung Pao, 1918].

sa xa quốc

(莎車國) Cũng gọi Cứ sa quốc. Tên một vương quốc xưa ở Tây vực, nay là huyện Sa xa, tỉnh Tân cương, nằm ở thượng lưu sông Tháp lí mộc, thủ đô là Diệp nhĩ khương; phía nam giáp Ấn độ, phía tây giáp Afghanistan. Đây là điểm giao thông quan trọng ở biên giới, việc thông thương rất thịnh. Vào thời Bắc Ngụy, nước này được gọi là nườc Cừ sa. Ngài Huyền trang đời Đường gọi nửa phần phía nam của nước này là Chước cú ca. Đại đường tây vực kí quyển 12 (Đại 51, 943 thượng) nói: Trong nước này có số bộ kinh điển Đại thừa rất nhiều, đến đâu cũng thấy Phật pháp hưng thịnh, 10 vạn bài tụng làm thành bộ, gồm có 10 số. Ngoài ra, Lương cao tăng truyện quyển 2 cho biết, ngài Cưu ma la thập từng cùng với thân mẫu ngài đi quanước Sa lặc theo Vương tử Sa xa nghiên cứu Phật giáo Đại thừa. [X. Hán thư Tây vực truyện; Ngụy thư Tây vực truyện].

sa xuống

To fall—To drop.

sa yết đà

Svagata (skt)—Thiện lai (lời để chào hỏi)—Well-come, a term of salutation.

sa đa bà ha vương

(娑多婆呵王) Sa đa bà ha, Phạn: Sàtavàhana. Cũng gọi Sa đa bà hán na vương. Hán dịch: Dẫn chính vương. Vua nước Kiêu tát la thuộc Nam Ấn độ, qui y ngài Long thụ, nổi tiếng là vị vua có công chấn hưng Phật pháp. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 10 thì vị vua này tin sâu Phật pháp, sùng kính ngài Long thụ, từng cho đục núi Bạt la mạt la kì li ở phía nam nước này để xây dựng già lam. Vua từng thỉnh 1 nghìn vị tăng lễ tụng, tuyên giảng các kinh Phương đẳng Đại thừa, lưu truyền rộng rãi, làm cho chính pháp được hồi phục. Ngài Long thụ từng dùng thi kệ trình bày đại ý về Thập thiện, Thất giác chi, Thập nhị nhân duyên... để tặng vua. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 (Đại 54, 227 hạ) nói: Bồ tát Long thụ dùng thơ kệ thay cho kinh sách gọi là Tô hiệt lí li khư, dịch là Mật hữu thư, gửi cho Đại quốc vương, vị đàn việt ở phương nam hiệu Sa đa bà hán na, tên là Thị dần đắc ca. [X. kinh Đại phương đẳng vô tưởng Q.5; Long thụ bồ tát truyện; Long Thụ Bồ Tát khuyến giới vương tụng; Long Thụ Bồ Tát khuyến giới chư vương yếu kệ].

sa đa bà na

Sadvahana, or Satavahana (skt)—Tên của một vị thí chủ hoàng tộc của ngài Long Thọ—Name of a royal patron of Nagarjuna.

sa đa cát lí

(娑多吉裏) Phạn: Zata-giri. Cũng gọi Sa đa kì lí, Sa đa kì lê. Một trong 8 vị Đại tướng Dược xoa, quyến thuộc của trời Tì sa môn. Trong Bí sao vấn đáp, Sa đa cát lí được dịch là Chúng thính, trong kinh Khổng tước (bản dịch đời Lương) được dịch là Thất sơn chủ, còn ngài Nghĩa tịnh thì dịch là Bình sơn. Trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền, vị tôn này được an bài ở vị trí thứ tư, phía đông trời Tì sa môn. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5].

sa đa cát lý

Satakri (skt)—Tên của một trong những vị tướng của loài Dạ Xoa—Name of one of the yaksa generals.

sa để dã

Satya or Satyata (skt)—Dịch là “Đế” có nghĩa là chắc chắn hay đúng sự thật—True—Truth—A truth.

sa độ

Sadhu (skt)—Thiện lành—Good—Virtuous—Perfect—A sage—A saint. ; (娑度) Phạn: Sàdhu. Hán dịch: Thiện, Thiện tai. Hay thay! Lành thay! Đây là lời cảm thán khi 1 việc diễn ra phù hợp với ý mình mong muốn. Đây cũng là từ được dùng để hỏi đáp giữaGiới sư vàGiới tử khi tác pháp thụ giới. [X. Hữu bộ bách nhất yết ma Q.1; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1].

Sa-bà thế giới

娑婆世界; S: sahalokadhātu; T: mi-jied ‘jig-rten-gyi khams; cũng được gọi là Sa-ha, Ta-bà thế giới, cũng được dịch nghĩa là Nhẫn độ (忍土), Kham nhẫn thế giới (堪忍世界);|Là cõi của con người, chịu nhiều khổ đau nên phải kham nhẫn tu học để đạt chính quả.

Sa-di

沙彌; C: shāmí; J: shami; S: śrāmaṇera; P: sā-maṇera;|Là tiểu tăng, tiểu sa-môn, chú tiểu, dịch nghĩa mới là Cần sách (勤策). Chỉ tăng hoặc ni mới gia nhập Tăng-già và thụ mười Giới (s: śīla). Một nữ sa-di được gọi là Sa-di-ni (s: śrāmaṇerikā; p: sāmaṇerikā) hoặc Nữ cần sách. Phần lớn các sa-di còn là trẻ con, nhưng ít nhất bảy tuổi mới được thu nhận. La-hầu-la, con trai đức Phật là sa-di nổi tiếng nhất, gia nhập Tăng-già từ lúc bảy tuổi.|Thông thường sa-di được Tỉ-khâu hoặc Tỉ-khâu-ni hướng dẫn tu học và đến một tuổi nhất định, sau một cuộc khảo hạch, thụ giới cụ túc sẽ trở thành tỉ-khâu hoặc tỉ-khâu-ni.

Sa-già-la

tên một vị long vương, phiên âm từ Phạn ngữ Sgara.

Sa-ka-ra

S: sakara; »Liên Hoa tử«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) nổi tiếng trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong khoảng cuối thế kỉ thứ 9.|Nhà vua In-đra-bu-ti (s: indrabhūti) đã lâu chưa có con. Ngày nọ hoàng hậu mơ thấy điềm lành, chín tháng sau bà sinh một hoàng tử, đặt tên là Sa-ka-ra (nghĩa là người sinh ra giữa hồ nước, trong một hoa sen, vì vậy cũng được gọi là Liên Hoa đồng tử; s: sarohura kumāra). Sau đó hoàng hậu sinh thêm một con trai nữa. Về sau khi vua băng hà, Sa-ka-ra không nối ngôi, nhường ngôi cho em và trở thành một Sa-môn, lên đường đi Ðăng-da Ka-ta-ka (śrī dhānyakaṭaka). Giữa đường, Sa-ka-ra gặp hoá thân của Bồ Tát Quán Thế Âm. Ngài dùng thần lực cho ông thấy Man-đa-la của Hộ Thần Hô Kim cương (s: hevajra). Sau khi Quán đỉnh cho ông, Quán Thế Âm biến mất.|Ông bắt đầu tu tập Nghi quỹ (s: sādhana) được giao phó. Trong thời gian đó có một người tên Ra-ma (s: rāma) đến xin hầu hạ ông và Sa-ka-ra hứa lúc đạt đạo sẽ giáo hoá cho người đó. Trong lúc đó thì nạn đói xảy ra, khắp nơi người ta chết rất nhiều. Thế nhưng Ra-ma không hề nói cho thầy biết, sợ thầy mất tập trung thiền định. Ra-ma hầu hạ đầy đủ và chỉ ăn đồ dư thừa của thầy. Ngày nọ Ra-ma đói quá ngã gục, Sa-ka-ra hỏi ra mới biết nạn đói đang hoành hành. Ông đem gạo cúng dường, thi triển thần thông gọi Long vương lên và ra lệnh trong vòng vài ngày phải có mưa, mưa lương thực, mưa gạo cơm, mưa vàng ngọc. Long vương nghe lời làm theo, dân chúng bớt khổ. Sau đó Sa-ka-ra giáo hoá cho Rā-ma và vị này cũng đạt thần thông đáng kể. Chứng đạo ca của Sa-ka-ra như sau:|Long vương Ba-sū-ka,|cho mưa cứu dân lành.|Chỉ trong cõi Chân như,|rồng chúa chịu nghe lời.|Rồng là vua tri kiến,|của Bí mật tan-tra,|sẵn lòng làm mưa trí,|cho chư vị tăng ni.

sa-la

tên một loại cây, phiên âm từ Phạn ngữ là sla, dịch nghĩa là kiên cố, bền chắc. Gần thành Câu-thi-na có rừng cây sa-la, mỗi cây thường có hai thân sóng đôi nên gọi tên là rừng Sa-la Song thọ.

Sa-mu-đra

S: samudra; »Người mò ngọc«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) Ấn Ðộ, đệ tử của A-chin-ta (s: aciṅtapa), có lẽ sống trong thế kỉ thứ 9, 10.|Ông sống tại Sạc-va-ti-ra (sarvaṭira), làm nghề thợ lặn mò ngọc trai. Lần nọ, không mò được ngọc, ông buồn bã đến bãi thiêu xác, ngồi rầu rỉ. Lúc đó A-chin-ta đi qua, hỏi han ông. Ông bỗng tỏ lòng kính trọng, cầu khẩn xin được học pháp. A-chin-ta cho ông nhập môn, giảng về Bốn tâm vô lượng (Bốn phạm trú) và bốn tâm hỉ lạc:|Hãy biết cách thay thế,|tám bận tâm thế gian,|bằng tâm Từ tâm Bi,|bằng tâm Hỉ tâm Xả.|Rồi hãy quán tưởng rằng,|trong chứng thật hoàn toàn,|một luồng lạc thụ lớn,|chảy vào đỉnh đầu ngươi.|Bốn tâm hỉ lạc lớn,|nằm trong bốn trung tâm,|phát sinh Không và Lạc,|Không-Lạc không rời nhau.|Khi lạc thụ ra đời,|Khổ tự nhiên biến mất.|Người thợ lặn nghe lời, chuyên tâm thiền định. Sau ba năm, ông đạt quả Tất-địa (s: siddhi). Bài kệ chứng đạo của ông như sau:|Ngộ được lí vô sinh,|không thực hành thiền định,|ví kẻ ăn thịt người,|trên tay bồng trẻ nhỏ.|Mà không hành thiền định,|tách rời xa Tự tính,|ví như thớt voi mạnh,|bị lún sâu trong bùn.

Sa-môn

沙門; C: shāmén; J: shamon; S: śramaṇa; P: samaṇa;|Phiên âm chữ śramaṇa từ tiếng Phạn và chữ samaṇa từ tiếng Pali. Hán dịch là Tức (息), Tức tâm (息心), Tịnh chí (淨志), Tĩnh chí (靜志), Phạp đạo (乏道), Bần đạo (貧道), Cần tức (動息), v.v… Là người tu đạo từ bỏ cuộc sống thế tục, nỗ lực tìm cầu giải thoát. Để gọi một Tăng sĩ hay Ni cô.|1. Đầu tiên ở Ấn Độ, chữ śramaṇa để chỉ cho những ai cạo bỏ râu tóc, từ bỏ cuộc sống và của cải thế gian, hướng tâm ý nỗ lực đình chỉ việc ác, siêng năng làm việc thiện. Nguyên chỉ cho những tu sĩ ngoài Phật giáo như Kì-na giáo, đặt niềm tin vào tín ngưỡng Vệ-đà (s: veda) và Áo nghĩa thư (s: upaniṣad). |2. Tăng sĩ hay Ni cô Phật giáo.

sa-môn

chỉ những người xuất gia tu hành nói chung, vì vào thời đức Phật danh xưng này cũng được dùng cho các tu sĩ ngoại đạo. Tuy nhiên, về sau có khuynh hướng chỉ dùng để chỉ các tu sĩ Phật giáo mà thôi. Danh từ này phiên âm từ Phạn ngữ là śramaṇa nên đôi khi cũng đọc là sa-môn-na, đồng nghĩa. Các âm đọc khác là sa-văn-na (沙聞那), tang-môn (桑門), táng-môn (喪門). Về ý nghĩa cũng có rất nhiều cách dịch khác nhau như: cần lao (勤勞), công lao (功勞), cù lao (劬勞), cần khẩn (勤懇), tĩnh chí (靜志), tịnh chí (淨志), tức chỉ (息止), tức tâm (息心), tức ác (息惡), cần tức (勤息), tu đạo (修道), bần đạo (貧道), phạp đạo (乏道). Tựu trung các danh xưng này đều mô tả tính chất của sự tu tập và mục đích hướng đến của vị sa-môn.

Sa-môn quả

沙門果; C: shāménguŏ; J: shamonka; |1. Kết quả của sự tu tập. Công đức khi xuất gia; 2. Thành tựu rốt ráo của công phu tu đạo – niết-bàn; 3. Tứ quả trong pháp tu của hàng Tiểu thừa.

sa-môn-na

xem sa-môn.

Sa-ra-ha

S: saraha; »Ðại Bà-la-môn«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) nổi tiếng của 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong thế kỉ thứ 8, 9. Ông được nhiều Ðạo sư Phật giáo hướng dẫn cách tu tập Tan-tra.|Ông là người thuộc dòng dõi Bà-la-môn. Ban ngày ông hành nghề Du-già sư theo truyền thống Ấn Ðộ, nhưng ban đêm ông âm thầm tu tập Mật giáo và thỉnh thoảng uống rượu. Các vị đồng giới Bà-la-môn xin vua trục xuất ông vì tật uống rượu nhưng ông thi triển thần thông đến nỗi vua phải bái phục. Sau một thời gian, ông lấy một cô gái trẻ tuổi làm vợ và cả hai rút vào rừng sâu tu tập.|Câu chuyện nổi tiếng nhất về Sa-ra-ha là ông bảo vợ nấu món cà-ri củ cải rồi sau đó ngồi thiền định suốt 12 năm. Ðến khi xả thiền, ông hỏi về món ăn đó. Bà vợ, trong thời gian qua đã đắc đạo, khuyên ông »Ðộc cư không phải là sống một mình. Cách sống đơn độc hay nhất là thoát khỏi thành kiến, thoát khỏi một tâm thức chật hẹp, cái suy nghĩ hạn chế. Nếu ông xuất định sau mười hai năm mà vẫn còn đòi ăn cà-ri củ cải thì vào núi tu tập còn ý nghĩa gì!« Ông nhân đây tỉnh ngộ và làm bài kệ sau:||H 48: Sa-ra-ha đang ngắm cái nhất thể trong đa dạng.|Hỡi bạn, đừng dại quên,|cái Tuyệt đối có sẵn|Ðừng tìm cầu gì khác,|ngoài đôi môi Ðạo sư|Hãy nhận hiểu lời ông,|về Tự tính sâu thẳm,|và tâm thì bất tử,|thân không hề già yếu.

Sa-va-ri-pa

S: śavaripa; »Thợ săn«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem là đệ tử của Sa-ra-ha và Long Thụ, sống khoảng cuối thế kỉ thứ 8, đầu thứ 9.|Là thợ săn, Sa-va-ri-pa chuyên giết hại thú vật. Bồ Tát Quán Thế Âm thương hại ông, hiện hình thành thợ săn. Sa-va-ri-pa gặp vị Bồ Tát hỏi: »Ông là ai?« »Một người thợ săn như ông«, Quán Thế Âm trả lời. Sa-va-ri-pa, rất hãnh diện với tài bắn cung của mình, hỏi: »Ông bắn một mũi trúng bao nhiêu con?« »Ba trăm con«, câu trả lời của Quán Thế Âm. Sa-va-ri-pa cười to nói: »Tôi cũng muốn xem ông bắn ra sao!«|Sáng hôm sau, hai người gặp một bầy nai và với một mũi tên, Quán Thế Âm hạ được cả bầy nai. Ngài bảo Sa-va-ri-pa đến khuân một con về nhưng vì phép mầu, con nai nặng ngàn cân, ông nhấc lên không nổi. Tính kiêu mạn bất chợt tan biến và ông quì xin chỉ dạy. Quán Thế Âm buộc ông một tháng không được ăn thịt và giết hại. Tháng sau Quán Thế Âm xuất hiện và vẽ Mạn-đa-la cho ông và vợ thấy chính mình trong cảnh địa ngục đau khổ. Ông sợ hãi, xin theo học Phật pháp. Sau mười hai năm quán lòng từ bi, ông đạt thánh quả và tình nguyện ở lại thế gian cho đến khi Phật Di-lặc ra đời. Chứng đạo kệ của ông như sau:||H 49: Sa-va-ri-pa (śavaripa) đang nhận thức sự Tuyệt đối|Trong rừng sâu vô minh,|con nai đang dẫy dụa,|tên của nó: Tha hoá.|Ta là người thợ săn,|dương cây cung tri kiến|của phương tiện khéo léo,|lắp vào đó mũi tên,|của Thật tại cuối cùng:|con nai bị hạ gục|Tư duy đã rãy chết!|Ta dọn bạn bữa tiệc,|linh đình phi nhị nguyên.|Ướp đầy đủ hương vị|của lạc thú thanh tịnh,|Bạn đạt cái tuyệt vời|của phép Ðại thủ ấn!|*Xem thêm câu chuyện rất giống như trên của Thiền sư Thạch Củng Huệ Tạng.

sa-văn-na

xem sa-môn.

sai

wrong—Err.

sai biệt

Pariccheda (skt)—Sai biệt hay khác biệt, hay sự phân biệt, đối lại với “bình đẳng.”—Difference—Discrimination—Opposite of on the level. ; (差別) I. Sai Biệt. Phạn: Vizewa. Đối lại: Bình đẳng. Chỉ cho tính chất riêng biệt của mọi vật. Phẩm Pháp thân trong kinh Nhập lăng già quyển 7 (Đại 16, 550 trung) nói: Đại tuệ! Giữa pháp thân Như lai và 5 ấm khác nhau thì có 2 pháp, thể tướng không đồng, như 2 cái sừng của con bò, tuy giống nhau nhưng lại thấy có thể riêng, dài ngắn khác nhau. Đại tuệ! Như vậy, đáng lẽ tất cả các pháp không khác nhau mà lại có khác nhau, như cái sừng bên trái của con bò khác với sừng bênphải, sừng bên phải khác với sừng bên trái. Các pháp cũng như thế.[X.hội Thụ huyễn sư Bạt đà la kí trong kinh Đại Bảo Tích Q.85; luận Đại trí độ Q.35, Khởi tín luận sớ Q.thượng]. II. Sai Biệt. Phạn: Viziwỉa. Chỉ cho điểm đặc biệt thù thắng và sai khác của các pháp. Luận Câu xá quyển 30 (Đại 29, 159 thượng) nói: Tức sự chuyển biến này, vào giờ phút cuối cùng, có công năng Vô gián thù thắng sinh ra quả thù thắng hơn các sự chuyển biến khác, cho nên gọi là Sai biệt.Luận Thuận chính lí quyển 35 (Đại 29, 541 hạ) nói: Tại sao gọi là chuyển biến? Thế nào gọi là sai biệt? (...) Tức trong vô gián này, vào lúc sinh ra quả, có công lực thù thắng hơn trước, nên gọi là Sai biệt.[X. luận Hiển dương thánh giáo Q.11; Phật địa kinh luận Q.6; Câu xá luận quang kí Q.4, 30]. III.Sai Biệt. Tiếng dùng trong Nhân minh. Có 2 nghĩa: 1. Chỉ cho danh từ sau (hậu trần) của Tông (mệnh đề) trong luận thức Nhân minh, còn danhtừtrước (tiền trần) là Tự tính. Như lập luận: Tông: Âm thanh là vô thường thì Âm thanh là tự tính, vô thường là sai biệt, bởi vì vô thường có công dụng phát huy ý nghĩa đặc thù của âm thanh. 2. Chỉ cho ý tứ (ý hứa: hiểu ngầm với nhau) được giấu kín trong danh từ trước (tiền trần) của Tông.

sai biệt cực thành

(差別極成) Tiếng dùng trong Nhân minh. Cũng gọi Xứng pháp, Năng biệt. Chỉ cho sự đồng ý ngầm (ý hứa) giữa người lập luận và người địch luận, 1 trong 4 thứ Cực thành trong Nhân minh. Cực thành nghĩa là rất mực thành tựu. Tông thì hoàn toàn không có lỗi, gọi là Sai biệt cực thành. Trái lại, cả đôi bên không chấp nhận ngầm với nhau thì có lỗi, gọi là Sai biệt bất cực thành. [X. Nhân minh đại sớ lê trắc] (xt. Cực Thành).

sai biệt mê lầm

Misled or misconducted.

sai biệt tướng

See Vọng Kế Tự Tính.

sai bét

Completely wrong.

sai bảo

To send—To command—To order—To direct.

sai hẹn

To break an appointment.

sai khiến

See Sai Bảo.

sai la ba ni

Ksarapaniya (skt). 1) Một loại chất lỏng có chứa chất kiềm chua ăn da tay: Alkaline water, caustic liquid. 2) Một loại y áo: A kind of garment. ; (差羅波尼) Phạn: Zara-parịì. Cũng gọi: Xoa la ba nị, Sấn la bát ni. Hán dịch: Hôi thủy. Tên một loại thảo mộc. Áo được may bằng loại thảo mộc này gọi là Sấn la bát ni y, 1 trong 10 loại áo. [X. luật Tứ phần Q.1, 39; Phiên Phạm ngữ Q.10].

sai lạc

To distort.

sai lầm

Error.

sai lời

To dishonour one's promise—To break one's words.

sai lợi ni ca

Ksirinika (skt)—Một loại cây có mủ—A sap-bearing tree.

sai lợi ni ca thụ

(差利尼迦樹) Sai lợi ni ca, Phạn: Kwiriịika. Hán dịch: Nghiên chi. Một loại cây hay tiết ra chất nước như sữa. [X. kinh Bản hạnh tập Q.32, 41].

sai ma

(差摩) Phạn: Zamà. Hán dịch: An ẩn. Tên của vợ 1 người Bà la môn ở thành La duyệt lúc đức Phật còn tại thế. Nhà tuy nghèo nhưng bà rất ham làm việc bố thí cúng dường. Nhờ tín tâm kiên cố, thụ trì giới Bát quan trai nên La sát không hại được bà. Sau nhờ nghe đức Phật thuyết pháp mà tâm ý bà mở tỏ, liền chứng được quả Tu đà hoàn. [X. phẩm Sai ma hiện báo trong kinh Hiền ngu Q.3].

sai ma liên hoa tiên

(差摩蓮華鮮) Tên vị Tỳ khưu ni ở thời đại đức Phật còn tại thế. Vị Tỳ khưu ni này hay hiển hiện thần thông, thường tĩnh tọa dưới gốc cây, tư duy chính đạo. Có bọn du dãng thấy ni cô liền sinh tâm xấu, rình lúc ni cô xuống nước tắm gội, chúng xông đến níu kéo áo của Ni cô, mang đến chỗ khuất, muốn xâm phạm giới thể. Lúc đó, Liên hoa tiên động lòng xót thương bọn chúng, tự móc 2 tròng mắt mình để dạy họ, rồi hiện bày ngũ tạng và toàn thân hóa thành xương máu nhơ nhớp, bọn ác thấy vậy cúi đầu hối lỗi, xin thụ 5 giới. [X. kinh Luật dị tướng Q.23].

sai một li, đi ngàn dậm

If you are off track by a thousandth of an inch, you are a thousand miles away from your destination.

sai trái

Wrong-doing.

sai áp

To seize property—To confiscate.

sai đa la

Ksetra (skt)—Đất—Land—region—Country.

sai định

(差定) I. Sai Định. Vâng theo lệnh người nào đó để đảm nhiệm 1 chức vụ trong Thiền lâm, gọi là Sai định. [X. Tùng lâm thịnh sự Q.hạ]. II. Sai Định. Chỉ cho cuốn sổ ghi chép các nghi lễ, pháp tắc trong pháp hội.

sai ước

To break one's promise.

sam rông ek

Tên của một trong những ngôi chùa cổ nổi tiếng nhất của Phật Giáo Nguyên Thủy trong tỉnh Trà Vinh, chùa tọa lạc trong quận Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, Nam Việt Nam. Chùa được xây lần đầu tiên vào năm 1373 và được trùng tu nhiều lần. Trong chùa hiện còn giữ được một bức tượng cổ bằng đá quý, gọi là tượng Noria—Name of one of the most famous ancient temples of Theravada Buddhism in Trà Vinh, located in Châu Thành district, Trà Vinh province, South Vietnam. It is said that the temple was first built in 1373 and has been rebuilt many times. The temple has conserved an ancient statue made of precious stone, called Noria.

Sam-ba-la

S: śambhala;|Tên của một xứ huyền bí, tương truyền ở Bắc Ấn. Xứ này được xem là gốc của giáo pháp Thời luân (s: kālacakra), đóng một vai trò quan trọng trong Phật giáo Tây Tạng. Tương truyền rằng, lúc nhân loại đứng trước hoạ nạn diệt vong thì các nhân vật của xứ này lại xuất hiện để trợ cứu nhân loại.|Vị trí xứ này là một nghi vấn, được xem nằm từ Trung á đến Bắc cực. Thật sự thì vị trí không hề quan trọng, mà người ta cho rằng xứ này có một »giá trị tinh thần« đặc biệt. Truyền thuyết Tây Tạng xem Sam-ba-la là trú xứ bí ẩn, chỉ xuất hiện trong thời đại hoạ. Tương truyền rằng Thời luân giáo sẽ được 25 vị chân truyền. Vị cuối cùng sẽ xuất hiện trong thời hoàng kim, lúc đó mọi thế lực đen tối sẽ được đối trị. Người ta cho rằng đó cũng là thời kì Gê-sar và thời kì Di-lặc hạ sinh. Vị Ban-thiền Lạt-ma thứ ba viết một tác phẩm nổi danh về con đường dẫn đến Sam-ba-la. Huyền thoại về xứ này cũng được phương Tây biết đến.

san

See San Hô.

san bằng

To flatten—To level.

san hô

Một trong thất bảo—Coral, one of the seven treasures—See Thất Bảo.

san nhã

Sanjna (skt)—Một con số thật lớn, 10,000 tỷ (1,000,0007)—A particularly high number, 1,000 septillions.

san nhã bà

A wasting disease.

san ni la xà

Tên một con sông ở Udyana—Name of a river of Udyana.

san xà dạ tì la chi tử

(删闍夜毗羅胝子) San xà dạ tì la chi, Phạn: Saĩjayavairaỉì. Pàli:Sanjaya-velaỉỉhi; Tử, Phạm: Putra; Pàli: Putta. Cũng gọi San xà da tì lan đồ, Tán nhã di tì la lê tử, Tiên quì cưu đọa la tri tử, Bà nhã dã vĩ la trí tử, Bà nhã tì la trì tử, Tiên tỉ lư trì, San xà dạ, San nhã, Sa nhiên. Một trong 6 Luận sư ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. San xà dạ là tên tự của ông, Hán dịch là Đẳng thắng; Tì la chi là tên mẹ ông. San xà dạ là ngoại đạo rất có thế lực ở thời đại đức Phật, các ngài Xá lợi phất và Mục kiền liên, trước khi qui y Phật, đã từng thờ ông làm thầy. Học thuyết của ông không được rõ, hoặc có chỗ cho là chủ nghĩa tiêu cực Hoài nghi luận, chủ trương bỏ hết tất cả trí (sự hiểu biết), chuyên trọng tu hành thực tiễn. Theo Chú duy ma cật kinh quyển 3 thì San xà dạ tì la chi tử cho rằng đạo chẳng cần phải cầu, trải qua vô số kiếp sống chết thì khổ sẽ hết, tự nhiên đắc đạo. Thuyết này giống với thuyết của Ni kiền đà nhã đề tử nói trong kinh Niết bàn. [X. kinh Sa môn quả trong Trường a hàm Q.17; kinh Đại bát niết bàn Q.19 (bản Bắc); kinh Phật bản hành tập Q.48; luận Đại trí độ Q.42, Duy ma kinh nghĩa kí Q.2, phần đầu;Ma ha chỉ quán Q.10, thượng; Tuệ lâm âm nghĩa Q.27] .

san xà dạ tỳ la chi tử

Sanjaya-Vairatiputra or Samjayin Vairadiputra (skt)—San Thệ Di Tỳ Lạt Tri Tử—Một trong lục sư ngoại đạo (sáu vị sư ngoại đạo). Vị nầy cho rằng ở lâu trong cõi sanh tử, trải hết số kiếp, sau đó sẽ tự hết vòng khổ đau phiền não, giống như cuốn cuộn chỉ, sợi hết thì thôi, không cần phải tìm đạo—One of the six founders of heretical or non-Buddhist schools, whose doctrine was that pain and suffering would end in due course, like unwinding a ball of silk, hence there was no need of seeking the “Way.”

san xà tà tỳ la để

Sanjaya-Vairati (skt). 1) Vua của một loài Dạ Xoa: A king of yaksas. 2) Thầy của Mục Kiền Liên và Xá Lợi Phất trước khi các vị nầy quy-y theo Phật: Name of the teacher of Maudgalyayana and Sariputra before their conversion.

san đà na

(珊陀那) Phạn: Santàna. Hán dịch: Tục đoạn, Hòa hợp. Tên 1 loại cây thuốc trong thần thoại. Vỏ của nó dùng để chữa ghẻ lở hoặc vết thương, rất mau lành và không để lại sẹo. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 20 (Đại 35, 488 trung) nói: San đà na là loại cây thuốc rất lớn, Hán dịch là Tục đoạn dược, nghĩa là loại cây thuốc này có thể làm cho các vết thương mau lành và không mang sẹo. [X. Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ; Chỉ quật dịch thổ tập Q.10].

san đề lam

Được diễn tả như một thế giới xa xăm. Vào thời đó có vị Luân Vương tên là Vô Tránh Niệm có 1000 người con, (nhưng điều nầy hãy còn nhi ngờ)—Described as a fabulous world of the past whose name is given as Sandilya, and who has 1,000 children, but this is doubtful.

san đề lam quốc

(删提嵐國) San đề lam, Phạn: Saịđilya. Tênmộtcõi nước ở đời quá khứ, nơi đức Phật A di đà và đức Phật Thích ca phát tâm bồ đề. Cứ theo kinh Bi Hoa quyển 2 thì trong 1 thế giới ở đời quá khứ lâu xa, có vị Chuyển luân thánh vương tên là Vô tránh niệm, có 1 nghìn người con, Đại thần tên là Bảo Hải, có con xuất gia thành Phật, hiệu là Bảo tạng, lần lượt độ cho vua và 1 nghìn Vương tử. Thế giới ấy chính là San đề lam, Bảo hải tức là Phật Thích ca, vua Vô tránh niệm tức là Phật A di đà, 1 nghìn Vương tử chính là bồ tát Quán âm, bồ tát Thế chí, A súc Như lai. [X. Pháp hoa văn cú kí Q.2].

San định kí

刊定記; C: kāndìng jì; J: kanjō ki;|Tên gọi tắt của tác phẩm Tục Hoa Nghiêm kinh lược sớ san định kí (續華嚴經略疏刊定記).

San-thệ-di Tỳ-lạt-tri tử

xem San-xà-da Tỳ-la-chi tử.

San-ti-pa

S: śāntipa; »Nhà truyền giáo tự phụ«;|Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong thế kỉ thứ 11, được xem là một trong những Ðạo sư của A-đề-sa. |Sư là nhà thông thái nổi danh của viện Phật học danh tiếng Siêu Giới (s: vikramaśīla) được nhà vua Tích Lan cho mời đến giảng dạy. Trên đường về lại Ấn Ðộ, Sư gặp một nông dân tên Kô-ta-li-pa (s: koṭālipa), khuyên người này nên biết »gieo trồng hạt giống của tâm thức.« Về sau, khi Sư bị bệnh gần như mù loà thì Kô-ta-li-pa đã đạt thánh quả, đến thăm thầy cũ. Sư tự nhận với đệ tử là mình ham giảng giải lí luận, xao lãng thiền định, và vì thế không đạt yếu chỉ. Kô-ta-li-pa bèn dạy lại cho thầy. Sau đó San-ti-pa đắc đạo. Cuộc đời của San-ti-pa là một bài học cho những ai quá tin vào khả năng luận lí, quá tin vào lí trí. Thành đạo ca của San-ti-pa như sau:|Như một đứa trẻ thơ,|nhờ bà mẹ nuôi nấng,|lớn thành người khỏe mạnh,|thì tâm thức non nớt,|nhờ Ðạo sư dạy dỗ,|mà vào được Ðại thừa.|Bệnh tật có thuốc men,|bệnh do »tôi«, »của tôi«,|được Ðạo sư khai thị,|chữa lành ngay tức thì.

San-xà-da Tỳ-la-chi tử

phiên âm từ Phạn ngữ là Sađjaya-vairaṭỵ putra, cũng đọc là San-thệ-di Tỳ-lạt-tri tử (刪逝移毘剌知子), là một trong sáu vị thầy ngoại đạo (lục sư ngoại đạo) vào thời đức Phật. Vì là con của bà Tỳ-la-chi nên gọi là Tỳ-la-chi tử, còn San-xà-da (刪闍耶) là tên, Hán dịch là Đẳng thắng, cũng viết là San-xà-dạ (刪闍夜).

sang

1) Mụt nhọt: A sore—Ulcer. 2) Quý phái: Noble. 3) Sang nhượng: To tranfer something in return for some money.

sang giàu

Noble and rich.

sang hay hèn

Noble or common—Noble birth or low.

sang môn

Chín lổ trong thân thể—Ulcerating orifices, i.e. the nine orifices in the body which discharge—See Cửu Khổng Bất Tịnh. ; (瘡門) Những cái lỗ hổng rỉ ra chất nhớp nhúa trong thân người, tức chỉ cho mắt, tai, mũi, miệng, 2 đường đại tiện, tiểu tiện là 6 sang môn; nếu tính tai, mắt, mũi là 2 thì thành 9 lỗ, gọi là Cửu Sang Môn. Ngoài ra, có chỗ đặc biệt gọi riêng 2 đường đại tiện, tiểu tiện là Sang Môn. Nhưng nếu nói 6 căn là cửa rỉ chảy ra các phiền não thì 6 căn cũng có thể được gọi là 6 sang môn (sang là mụn nhọt rỉ mủ). [X. luận Câu xá Q.13, 20].

sang sảng

Sonorous.

sang trọng

Noble—Splendid and comfortable—Luxurious.

sanh

Jati (skt)—Born—See Sinh. ; (笙) Phạn: Sughwaka. Hán âm: Sách già sa ca. Cũng gọi Sanh địch. Tên 1 loại nhạc khí hình dáng giống như ống sáo, lưu hành ở các nước Đông phương thời xưa, nhưng không rõ nguồn gốc. Cứ theo Thông điển quyển 144 thì Sanh của Trung quốc cổ đại được làm bằng quả bầu, cắm 1 cái ống vào trong quả bầu, dưới đáy ống đặt cái vè (lưỡi gà) làm bằng đồng để khi thổi thì phát ra tiếng. Sanh có nhiều loại: Loại 13 vè, loại 17 vè, loại 19 vè... Trong các kinh Phật, như kinh Phật bản hạnh tập quyển 14 phẩm Thường sức nạp phi, quyển 30 phẩm Thành vô thượng đạo; kinh Đại bát niết bàn quyển 11 (bản Bắc) phẩm Hiện bệnh, kinh Đại Ai quyển 68 phẩm Bất cộng pháp, kinh Chứng khế đại thừa quyển thượng... đều có ghi tên của nhạc cụ này. Thời cận đại, trong những bức Tịnh độ biến tướng đào được ở Đôn hoàng, tỉnh Thiểm tây, Trung quốc, có bức tranh Thiên nữ thổi Sanh. [X. Phạm ngữ thiên tự văn; Tùy thư âm nhạc chí thứ 10, Huyền ứng âm nghĩa Q.7].

sanh báo

Next life retribution or rebirth retribution—Một trong Tam Báo và Tứ Báo—Kiếp nầy (sanh báo) gây nghiệp thiện ác thì kiếp sau sẽ chịu quả báo sướng khổ—One of the three and four retributions, life's retribution. The deeds, wholesome or unwholesome, done in this life produce their results, meritorious retributions or evil karma, in the next reincarnation.

sanh bởi tội báo

To be born as retribution for their karmic offenses.

sanh chi

See Sinh Chi.

sanh diệt

Utpadanirodha (skt)— 1) Sanh và Diệt: Arising and extinction—Beginning and end—Production and annihilation—Appearance and disappearance—Birth and extinction. 2) Các pháp hữu vi dựa vào nhân duyên hòa hợp, từ pháp chưa có trở thành có gọi là sanh; dựa vào nhân duyên mà pháp đã có trở thành không gọi là diệt—All life or phenomena that have birth and death.

sanh diệt khứ lai

Trung Luận cho rằng sinh diệt khứ lai, chỉ là những từ ngữ tương đối và không thật (ký thật chư pháp vốn là Như Lai Tạng bất sanh bất diệt bất khứ bất lai)—The Madhyamika-Sastra believed that all things coming into existence and ceasing to exist, past and future, are merely relative terms and not true in reality. ** For more information, please see Bát Bất Trung Đạo.

sanh diệt khứ lai nhất dị đoạn thường

Coming into existence and ceasing to exist, past and future; unity and difference, impermanence and permanence. ** For more information, please see Bát Bất Trung Đạo.

sanh hóa

See Hóa Sanh.

sanh hữu

Một trong bốn hình thức của sự hiện hữu—One of the four forms of existence—See Tứ Hữu Vi Tướng.

sanh không

Một trong hai loại không, chúng sanh do ngũ uẩn hợp lại chứ không có thực thể—One of the two kinds of void, empty at birth, or void of a permanent ego. ** For more information, please see Nhị Không.

sanh khổ

Birth is suffering.

sanh khởi

Utpada or Pravritti (skt)—Arising—Appearance. 1) Năng Sanh (sanh) Sở Sinh (khởi): The beginning and rise. 2) Sự sanh ra và những gì khởi lên từ sự sanh ra ấy: Birth and what arises from it. 3) Nguyên nhân của một hành động: Cause of an act.

sanh khởi thức

Pravritti-vijnana (skt)—See Chuyển Thức.

sanh kinh

Những chuyện về tiền thân Đức Phật và các đệ tử của Ngài, được Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch ra năm quyển, vào khoảng thế kỷ thứ ba sau Tây Lịch—Stories of the previous incarnations of the Buddha and his disciples, translated by Dharmapala, 5 books (chuan), third century A.D..

sanh linh

Tâm thức (tâm và trí thông minh) của một chúng sanh còn gọi là linh hồn—The mind or intelligence of the living—A living intelligent being—A living soul.

sanh làm người là khó

It's difficult to be born in the human realm—Cõi người sướng khổ lẫn lộn, nên dễ tiến tu để đạt thành quả vị Phật; trong khi các cõi khác như cõi trời thì quá sướng nên không màng tu tập, cõi súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục thì khổ sở ngu tối, nhơ nhớp, ăn uống lẫn nhau nên cũng không tu được—Human beings have both pleasure and suffering, thus it's easy for them to advance in cultivation and to attain Buddhahood; whereas the beings in the Deva realm enjoy all kinds of joy and spend no time for cultivation; beings in the realms of animals, hungry ghosts and hells are stupid, living in filth and killing one another for food. They are so miserable with all kinds of sufferings that no way they can cultivate.

sanh lão bịnh tử

Sanh già bệnh chết là bốn nỗi khổ đau của con người—Birth, Old Age, Sickness, Death, the four afflictions that are the lot of every man. ** For more information, please see Tứ Khổ, Ngũ Khổ, and Bát Khổ.

sanh lão bịnh tử khổ

Birth is suffering, old age or growing old is suffering, sickness is suffering, death is suffering.

sanh manh

Mù lúc sanh—Born blind.

sanh nghi

To become doubtful.

sanh nghiệp

nghiệp lực tương tục tạo thành đời sống của chúng sanh nên gọi là sanh nghiệp.

sanh nhàm chán

To grow tired and fed up.

sanh nhàm chán nơi thân bất tịnh (nơi ta và nơi người) để giảm thiểu dục vọng

To develop a deep sense of disgust of our own body and the bodies of others to decrease the desire of lust.

sanh nhẫn

See Sinh Nhẫn,

sanh niệm xứ bồ tát

Vị Bồ Tát thứ hai bên phải của Hư Không Tạng Bồ Tát trong Thai Tạng Giới—The second bodhisattva on the right of the Bodhisattva of Space (Hư Không Tạng Bồ Tát) in the Garbhadhatu.

sanh pháp

Người và vật hay hữu tình và phi tình—The living and things—Men and things—The self and things: 1) Hữu Tình: Chúng hữu tình là những chúng sanh có tình cảm và lý trí—The living—The sentient or those with emotions and wisdom. 2) Phi Tình: Những chúng sanh không có tình cảm và lý trí—Insentient things or those without emotions nor wisdom.

sanh pháp nhị thân

Hóa thân và pháp thân—The physical body (Nirmanakaya) and the spiritual body (Dharmakaya).

sanh phạn

Xuất Phạn—Xuất Chúng Sanh Thực—Theo Kinh Niết Bàn thì đây là một phần cơm cúng cho ma quỷ và chư chúng sanh trước khi chư Tăng Ni độ cơm—According to the Nirvana Sutra, these are offerings made before a meal of a small portion of food to ghosts and all others living or souls.

sanh phạn bàn

Chén hay tô để cơm cúng ma quỷ và chư hương linh—The bowl in which the offerings of food to ghosts are contained.

sanh phạn đài

Tấm kệ để cơm cúng cho ma quỷ và chư hương linh—A board on which the offerings of food to ghosts are placed.

sanh phật

See Sinh Phật.

sanh phật nhứt như

See Sinh Phật Nhứt Như.

sanh ra lo lắng

To become more and more anxious.

sanh sanh

xem mạng mạng. ; Birth and rebirth.

sanh sanh tử tử

See Sanh Tử.

sanh sắc

Jata-rupa (skt)—See Sinh Tượng Sinh Tự (1).

sanh thiên

Những cõi trời nơi chúng sanh có thể tái sanh vào (từ Tứ Thiền Thiên đến Tứ Thiên Vương)—The heavens where those living in this world can be reborn (from the Four Dhyana Heavens to the Four Heavenly Kings)—See Tứ Thiên Vương, and Tứ Thiền Thiên.

sanh thân

1) Sanh thân của Phật và Bồ Tát, đối lại với pháp thân—The physical body )sinh thân) of a Buddha or a Bodhisattva, in contrast with his dharmakaya (pháp thân). 2) Thân (biến dịch và sinh tử) của một vị Bồ Tát khi sanh ra trong cõi luân hồi—A Bodhisattva's body when born in a mortal form.

sanh thân cúng

Pháp hội cúng dường xá lợi sinh thân của Đức Phật—The worship paid to the Buddha-relics. ** For more information, please see Nhị Chủng Xá Lợi.

sanh thân xá lợi

The Buddha-relics—See Nhị Chủng Xá Lợi.

Sanh thân xá-lợi

xem xá-lợi Phật.

sanh thú

Bốn cách sinh và sáu nẻo luân hồi—Four forms of birth and the six forms of rebirth or transmigrations—See Tứ Sanh, and Lục Đạo.

sanh thể

Birth nature.

sanh tiền

Until one's death—Life-before.

sanh tri

Innately intelligent—To realize in bodily experience.

sanh triệu dung duệ

Quan Trung Tứ Thánh—Bốn vị Thánh ở đất Quan Trung hay bốn đại đệ tử của ngài Cưu Ma La Thập—Four great disciples of Kumarajiva: 1) Đạo Sinh: Tao-Shêng—Indian Buddhajiva. 2) Tăng Triệu: Sêng-Chao (Chinese). 3) Đạo Dung: Tao-Jung (Chinese). 4) Tăng Duệ: Sêng-Jui (Chinese).

sanh trụ diệt

Utpadasthitinirodha (skt)—Birth, existence, death (birth-abiding-disappearance).

sanh trụ dị diệt

See Sinh Trụ Dị Diệt.

sanh tâm kiên cố

To develop a firm mind.

sanh tân

Bến sanh—The ford of life—Mortality.

sanh tức vô sanh, vô sanh tức sanh

To be born is not to be born, not to be born is to be born—See Sinh Tức Vô Sinh, Vô Sinh Tức Sinh.

Sanh tử

(生死): vấn đề sanh tử (sống chết) được xem như vô cùng trọng đại đối với con người. Phật Giáo chia sanh tử của chúng sanh làm 2 loại: Phần Đoạn Sanh Tử và Biến Dị Sanh Tử (變異生死). Phần Đoạn Sanh Tử, còn gọi là Phần Đoạn Tử (分段死), Hữu Vi Sanh Tử (有爲生死), đối xưng với Biến Dị Sanh Tử, tức chỉ chúng sanh mỗi đời quả báo chiêu cảm không giống nhau, cho nên hình tướng, thọ mạng cũng khác nhau; đó được gọi là Phần Đoạn Thân (分段身). Sau khi thọ thân này, tất phải có một lần kết thúc sinh mạng, vì vậy có tên là Phần Đoạn Sanh Tử. Biến Dị Sanh Tử, hay Vô Vi Sanh Tử (無為生死), Bất Tư Nghì Biến Dị Tử (不思議變易死), Biến Dị Tử (變易死), tức chỉ sự sanh tử của các bậc thánh trong Ba Thừa như A La Hán (阿羅漢), Bích Chi Phật (辟支佛), Bồ Tát (菩薩), v.v., do vì bi nguyện cứu độ chúng sanh mà trở lại cõi đời này. Trong kinh điển Phật Giáo có rất nhiều ví dụ về sanh tử. Như Câu Xá Luận (俱舍論) ví sanh tử như bùn: “Sanh tử nê giả, do bỉ sanh tử, thị chư chúng sanh trầm nịch xứ cố, nan khả xuất cố, sở dĩ thí nê (生死泥者、由彼生死、是諸眾生沉溺處故、難可出故、所以譬泥, bùn sanh tử là do sanh tử ấy, là nơi chúng sanh bị chìm đắm, khó có thể ra được, vì vậy mới ví như bùn).” Thành Duy Thức Luận (成唯識論) thì ví như đêm dài: “Vị đắc chơn giác, hằng xử mộng trung, cố Phật thuyết vi sanh tử trường dạ (未得眞覺、恆處夢中、故佛說爲生死長夜, chưa được chánh giác, thường ở trong mộng, cho nên Phật dạy sanh tử là đêm dài).” Trong Phật Sở Hành Tán (佛所行讚) lại cho sanh tử là biển cả: “Đương thừa trí tuệ chu, siêu độ sanh tử hải (當乘智慧舟、超度生死海, phải lên thuyền trí tuệ, vượt qua biển sanh tử).” Hay Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經) thì xem sanh tử như là đám mây mù: “Huệ nhật chiếu thế gian, tiêu trừ sanh tử vân (慧日照世間、消除生死雲, trời tuệ chiếu thế gian, tiêu trừ mây sanh tử).” Trong khi đó, Đại Trí Độ Luận (大智度論) ví sanh tử là bánh xe: “Sanh tử luân tải nhân, chư phiền não kiết sử, đại lực tự tại chuyển, vô nhân năng cấm chỉ (生死輪載人、諸煩惱結使、大力自在轉、無人能禁止, xe sanh tử chở người, các phiền não kiết sử, lực lớn tùy ý chuyển, chẳng ai ngăn cấm được).” Hoặc Vãng Sanh Luận Chú (徃生論註) lại ví dụ sanh tử là khu vườn: “Thị ứng hóa thân, hồi nhập sanh tử viên, phiền não lâm trung du hí thần thông (示應化身,迴入生死園、煩惱林中遊戲神通, hiện thân ứng hóa, trở lại vào vườn sanh tử, thần thông rong chơi trong rừng phiền não).” Tại bảo tháp của Tổ Giác Tiên (覺先, 1880-1936), người khai sơn Chùa Trúc Lâm tại Huế và cũng là vị sáng lập Hội An Nam Phật Học Trung Việt, có câu đối: “Tàng bách niên sanh tử, quy nhất lộ Niết Bàn (藏百年生死、歸一路涅槃, ẩn trăm năm sống chết, về một đường Niết Bàn).” Tại Lâm Dương Tự (林陽寺) thuộc Phúc Châu (福州) có câu đối rằng: “Chúc khứ phạn lai mạc bả quang âm già diện mục, chung minh bảng hưởng thường tương sanh tử quải tâm đầu (粥去飯來莫把光陰遮面目、鐘鳴板響常將生死掛心頭, cháo đi cơm đến chớ để tháng ngày chơ mặt mũi, chuông ngân bảng vọng thường đem sanh tử mang trong tâm).” Thiền Sư Giới Không (界空, ?-?) của Việt Nam có một bài thơ về sanh tử rằng: “Ngã hữu nhất sự kỳ đặc, phi thanh huỳnh xích bạch hắc, thiên hạ tại gia xuất gia, thân sanh ố tử vi tặc, bất tri sanh tử dị lộ, sanh tử chỉ thị thất đắc, nhược ngôn sanh tử dị đồ, trám khước Thích Ca Di Lặc, nhược tri sanh tử sanh tử, phương hội lão tăng xứ nặc, nhữ đẳng hậu học môn nhân, mạc nhận bàn tinh quỹ tắc (我有一事希特、非青黃赤白黑、天下在家出家、親生惡死爲賊、不知生死異路、生死衹爲失得、若言生死異塗、賺卻釋迦彌勒、若知生死生死、方會老僧處匿、汝等後學門人、莫認盤星軌則, ta có một việc kỳ đặc, chẳng xanh vàng đỏ trắng hắc, trên đời tại gia xuất gia, thích sống ghét chết là giặc, chẳng biết sống chết hai nẻo, sống chết chỉ là được mất, nếu bảo sống chết khác đường, lừa cả Thích Ca Di Lặc, nếu biết sống chết sống chết, mới biết lão tăng chốn nào, các người môn nhân hậu học, chớ lầm khuôn mẫu phép tắc).” Hay Tuệ Trung Thượng Sĩ (慧中上士, 1230-1291) cũng có nhận định về sanh tử như sau: “Tâm chi sanh hề sanh tử sanh, tâm chi diệt hề sanh tử diệt, sanh tử nguyên lai tự tánh không, thử huyễn hóa thân diệc đương diệt (心之生兮生死生、心之滅兮生死滅、生死元來自性空、此幻化身亦當滅, tâm mà sanh chừ sống chết sanh, tâm mà diệt chừ sống chết diệt, sống chết nguyên lai tự tánh không, thân huyễn hóa này cũng phải diệt).” Câu “phần đoạn sanh tử quả nhân (分斷生死果因、盡滅冤恩煩惱)” có nghĩa là đoạn trừ từng phần nhân và quả của sanh tử, nhờ vậy mới có thể diệt tận mọi oán ân, phiền não.

sanh tử

Samsara or Janma-marana (skt)—Sống chết (do hoặc nghiệp của hết thảy chúng sanh gây ra, hễ có sanh là có tử)—Life and death—Living and dying—Birth and death—Rebirth and redeath. ** For more information, please see Nhị Chủng Sanh Tử.

sanh tử dã

The wilderness of life and death.

sanh tử giải thoát

1) Thoát ra những hệ lụy của vòng luân hồi sanh tử: Release from the bonds of births and deaths. 2) Niết Bàn: Nirvana.

sanh tử khứ lai

Sống và chết, đi và đến—Living and dying—Going and coming.

sanh tử luân

1) Bánh xe sanh tử: The wheel of samsara (births-and-deaths). 2) Vòng sanh tử: The round of mortality.

sanh tử luân hồi

Chết đi đầu thai lại không ngừng nghỉ—Samsara or transmigrations—Deaths and Rebirths continuously.

sanh tử lưu

Dòng sanh tử (sự sanh tử khiến cho con người bị trôi dạt chìm đắm nên gọi là dòng sinh tử)—The flow of transmigrations.

sanh tử ngạn

Bờ bên nầy của biển sanh tử—The shore of mortal life—See Nhị Ngạn.

sanh tử niết bàn bình đẳng

Samsara-nirvanasamata (skt)—Sự bình đẳng của sanh tử và Niết Bàn, một trong những chứng đắc của vị Bồ Tát, và tuy vậy vị Bồ Tát thực hành các hành động “không dụng công” và các “phương tiện thiện xảo” phát xuất từ lòng đại bi—The sameness of birth-and-death and Nirvana, one of the spiritual attainments of the Bodhisattva, who, however, practices “effortless” deeds and “skillful means” born of a great compassionate heart.

sanh tử nê

Vũng lầy của luân hồi sanh tử—The quagmire of the circle of life and death.

sanh tử trường dạ

Đêm dài của luân hồi sanh tử—The long night of births and deaths.

sanh tử tế

Cõi sanh tử, đối lại với cõi Niết Bàn—The region of births-and-deaths, as compared with nirvana.

sanh tử tức niết bàn

Phiền não tức bồ đề, sinh tử tức niết bàn—Affliction is bodhi and mortality (samsara) is nirvana.

sanh tử tử sanh

To be born gain and again—See Sanh Sanh Tử Tử.

sanh tử viên

See Sinh Tử Viên.

sanh tử vân

Mây mù sanh tử—The envelopment in cloud of life and death.

sanh tử đại hải

Biển lớn sanh tử—The ocean of mortality—Mortal life.

sanh tử đại sự

The great issue of birth and death—The clarification of life and death is one great purpose of all Buddhists.

sanh về cõi nào

Where will a person be reborn?—Theo Ấn Quang Đại Sư, sau khi tắt thở rồi thì thần thức lìa ra khỏi xác thân. Nơi nào còn nóng sau rốt là thần thức xuất ra ở đó, và do đó người ta biết được người ấy sẽ tái sanh vào cõi nào—According to Great Master Yin-Kuang, when we take our last breath, our spirits or Alaya Consciousness will leave the body. Thus the area of the body that remains warm is where the spirit left the body. 1) Đảnh Thánh—Crown enlightenemt: Một người đã chết, thân thể đã giá lạnh, nhưng đỉnh đầu hơi nóng ấm cũng còn gần bằng như lúc sống. Thần thức do nơi đỉnh đầu mà xuất ra. Ở vào trường hợp nầy thì ta biết chắc chắn rằng thần thức của người chết ấy được siêu thoát về nơi Thánh cảnh, ví dụ như cõi Tây Phương Tịnh Độc của Đức Phật A Di Đà—A person who has been dead, the entire body has turned cold, yet the crown of that person's head remains warm just as if that person was still alive, the spirit or the soul of the dead has left the body by that of the crown. In this case, we are absolutely certain the spirit of the person who has just died has attained liberation to the enlightened realm, i.e., the Western Pureland of the Amitabha Buddha. 2) Mắt Sanh Trời—Eyes born in Heaven: a) Khi các phần thân thể đều lạnh hết nhưng nơi mắt và trán vẫn còn nóng thì ta biết chắc chắn rằng thần thức của người chết ấy xuất ra từ nơi mắt và như thế, người nầy được siêu thoát về cõi trời—When all other parts of the body have turned cold but the eyes and forehead remain warm, then the spirit of the person who has just died left the body through the eyes. In this case, the person will be born in Heaven. b) Người nào khi sắp lâm chung sẽ sanh lên cõi Trời thì có những dấu hiệu sau đây—When nearing death, people who will be born in Heaven will exhibit the following signs and characteristics: • Sanh lòng thương xót người khác: Having compassion for others. • Phát khởi tâm lành: Give rise to a whole some mind. • Lòng thường vui vẻ: Often happy and contented. • Chánh niệm hiện ra: Proper thoughts are apparent. • Đối với tiền của, vợ con, không còn tham luyến: No longer having greed and attachment for money, possessions, spouse, children, etc. • Đôi mắt có vẻ sáng sạch: The eyes are clear and shiny. • Ngước mắt nhìn lên không trung mỉm cười, hoặc tai nghe tiếng thiên nhạc, mắt trong thấy tiên đồng: Eyes staring into space, smiling, ears hearing heavenly music or eyes seeing heavenly landscape. • Thân không hôi hám: Body does not emit odor. • Sống mũi ngay thẳng, không xiên xẹo: Nose bridge remains straight without crookedness. • Lòng không giận dữ: Mind does not exhibit hate and resentment. 3) Ngực sanh lại cõi người—Chest born in the Human Realm: a) Khi các phần thân thể đều lạnh hết, nhưng nơi tim và ngực là chỗ nóng tối hậu thì thần thức của người chết đó sẽ được sanh trở lại cõi người—When other parts of the body have turned cold, but the chest and heart remain as the last 'warm spot,' the spirit of that dead person will return to the human realm. b) Người nào khi lâm chung sẽ đáo sanh trở lại cõi người thì có những dấu hiệu sau đây—When nearing death, those who will be reborn to the human realm will exhibit the following signs and characteristics: • Thân không bệnh nặng: Body is not burdened with major illnesses. • Khởi niệm lành, sanh lòng hòa diệu, tâm vui vẻ, vô tư, ưa việc phước đức: Give rise to good and wholesome thoughts, have peace and happiness, enjoy practicing meritorious and virtuous deeds. • Ít sự nói phô truơng, nghĩ đến cha mẹ, vợ con: There is little boasting, thinking of mother, father, spouse, and children. • Đối với các việc lành hay dữ, tâm phân biệt rõ ràng không lầm lẫn: With regard to good and evil, their minds are capable of discriminating clearly. • Sanh lòng tịnh tín, thỉnh Tam Bảo đến đối diện quy-y: Give rise to pure faith, requesting the Triple Jewels to be present to take refuge. • Con trai, con gái đều đem lòng thương mến và gần gũi xem như việc thường: Sons and daughters are near and adore them just as before without showing indifference. • Tai muốn nghe tên họ của anh chị em và bạn bè: Ears are fond of hearing the names of brothers, sisters, and friends. • Tâm chánh trực không dua nịnh: Remaining dignified and having integrity instead of being petty and sycophant. • Rõ biết bạn bè giúp đỡ mình, khi thấy bà con đến săn sóc thời sanh lòng vui mừng: Clearly recognize helping friends, when seeing family members take care of them, they are happy and contented. • Dặn dò, phó thác lại các công việc cho thân quyến rồi từ biệt mà đi: Advise and give responsibilities to loved ones before making the last goodbye. 4) Bụng sanh loài ngạ quỷ—Stomach born in the realm of hungry ghosts: Nếu bụng là chỗ nóng sau cùng thì thần thức của người chết đó sẽ bị đọa vào trong loài ngạ quỷ—If the stomach is the last warm spot, then the spirit of the dead person will be condemned to the realm of hungry ghosts. 5) Đầu gối sanh loài súc sanh—Knee born in the animal realm: Nếu đầu gối là chỗ nóng sau cùng thì thần thức của người chết đó sẽ bị đọa vào loài bàng sanh (súc sanh)—The the knee is the last warm spot, then the spirit of the dead will be condemned to the animal realm. 6) Nơi lòng bàn chân đọa vào địa ngục—The sole of the feet born in the hells: Nếu lòng bàn chân là điểm nóng sau cùng thì thần thức của người chết sẽ bị đọa vào địa ngục—If the last warm spot is at the sole of the feet when the entire body has turned cold, then, undoubtedly, the spirit of the dead person will be condemned into hells.

sanh điền

The three regions of the constant round of rebirth—See Tam Giới.

sanh được làm thân người là khó

Human birth is difficult—See Sanh Làm Người Là Khó.

sanh đồ

Đường sanh tử luân hồi của chúng sanh—The way or lot of rebirth or mortality.

sao

1) Bắt giữ: To seize all. 2) Giấy bạc: A banknote—A voucher—Paper-money. 3) Ngôi sao: Star. 4) Ra sao: How. 5) Sao chép: To copy.

sao băng

Falling (shooting) star.

sao kinh

(抄經) Cũng gọi Biệt kinh sao, Sao bản, Biệt sao kinh điển. Trích lấy chương phẩm trong 1 bộ kinh nào đó, rồi sắp xếp lại trước sau, tạo thành 1 kinh riêng, gọi là Sao kinh. Sao kinh khác với Sao dịch kinh nhưng rất dễ lẫn lộn. Sao dịch kinh là kinh trích ra từ bộ kinh lớn bằng tiếng Phạm, được phiên dịch lại và lưu hành riêng, thuộc về loại trùng dịch bản. Phương thức sao dịch đã có từ xưa, nhưng ban đầu người dịch không có ý cắt đoạn văn kinh để tạo thành 1 bản kinh riêng mà là vì nhận thấy dịch toàn bộ là khó nên người xưa trích lấy nghĩa cốt yếu, tỉnh lược lời văn, rút gọn bản tiếng Phạn. Như Tân tập kinh luận lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 2 do ngài Tăng hựu soạn vào đời Lương có liệt kê: Sao kinh 5 bộ 11 quyển, đó là:Kinh Đại đạo địa 2 quyển do người nước ngoài sao, ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán, kinh Đạo hành 1 quyển do người nước ngoài soạn, ngài Trúc Phật sóc dịch vào đời Hậu Hán, kinh Bột sao 1 quyển do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô, kinh Ma ha bát nhã ba la mật đạo hành 2 quyển do ngài Vệ sĩ độ lược dịch vào đời Tây Tấn, Ma ha bát nhã ba la mật kinh sao 5 quyển, do ngài Đàm ma ti dịch vào đời Đông Tấn... đều do rút gọn bản Phạm mà thành. Nhưng người đời sau không xét kĩ ý tứ của người xưa, cứ tự ý sao chép, có người phân tán các phẩm, có người chia cắt chính văn, tùy ý trích lấy chương tiết trong các kinh điển Hán dịch đã hoàn thành rồi đặt tên riêng để lưu hành, khiến cho Thánh ngôn mất gốc, người học thì theo ngọn. Chẳng hạn như Tân tập sao kinh lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 5 có nêu Sao hoa nghiêm kinh 14 quyển, Sao phương đẳng đại tập kinh 12 quyển của Cánh lăng Văn tuyên vương đời Nam Tề và Bát nhã kinh vấn luận tập 20 quyển của ngài Tuệ viễn đời Đông Tấn... gồm 46 bộ, 352 quyển, đều thuộc về loại này, trong đó, có 1 số không khác gì kinh giả. Lại trong Tân tập nghi kinh ngụy soạn tạp lục có nêu kinh Quán đính do ngài Tuệ giản sao soạn vào đời Lưu Tống, Phật pháp hữu lục nghĩa đệ nhất ưng tri 1 quyển, do ngài Pháp nguyện sao tập vào đời Nam Tề... gồm 4 bộ, 8 quyển, cũng thuộc về loại này. Về tựa đề của Sao kinh, có những bộ kinhvốn là tiểu kinh đã có tên trong nguyên kinh, như các tiểu kinh biệt sao của kinh Trường a hàm, kinh Trung a hàm, kinh Lục độ tập... phần nhiều trực tiếp sử dụng tựa đề của nguyên kinh, cũng có trường hợp tiểu kinh vốn không có tên trong nguyên kinh mà do người sao lục tự đặt. Lại nữa, phần lớn Sao kinh được sao chép theo y nguyên văn, nhưng cũng có khi người sao chép tự ý sửa chữa câu văn, thay đổi thể tài của nguyên bản, chỉ giữ lại ý kinh mà thôi. Hơn nữa,Sao kinh phần nhiều không ghi tên dịch giả hoặc soạn giả, khiến người đời sau mờ mịt, cứ yên trí đó là bộ kinh mất tên người dịch hoặc là Kinh ngụy soạn độc lập. Việc lưu hành của Sao kinh đến cuối năm Khai hoàng đời Tùy thì chấm dứt. Sau đó, vì kinh điển bắt đầu được biên tập thành Đại tạng kinh nên khi 1 nguyên kinh được in ấn thì không cần phải sao chép nữa. Trong các bộ kinh lục, bộ Xuất tam tạng kí tập tuy đáng được coi là hoàn chỉnh, nhưng tác phẩm này vẫn chưa xét kĩ và phân biệt rạch ròi những kinh biệt sao. Đến đời Tùy, ngài Pháp kinh biên soạn bộ Chúng kinh mục lục mới bắt đầu phân biệt một cách chặt chẽ giữa các bản nguyên kinh và sao kinh, đồng thời, kiểm tra đối chiếu mà lập riêng 1 bộ môn Sao kinh mục lục. Kết quả, trong Sao kinh mục lục có tất cả 682 bộ kinh luật luận Đại Tiểu thừa. Những Sao kinh mục lục trong các bộ kinh lục đời sau hoặc lấy đó làm chuẩn tắc, hoặc kiểm tra thêm để san bổ. Ngoài ra, trong các bộ kinh lục đều có ghi Sao kinh, trong đó có bộ đem các Sao kinh được liệt kê trong Xuất tam tạng kí tập phối hợp với các khoa: Biệt Sinh, Ngụy Vọng, Nghi Ngụy. Còn Đại đường nội điển lục quyển 10, Khai nguyên thích giáo lục quyển 18 thì không lập riêng bộ môn Sao kinh mục lục mà đem các Sao kinh của Văn tuyên vương... biên vào Nghi ngụy kinh luận lục, Ngụy vọng loạn chân lục.[X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.15; Pháp kinh lục Q.6, Ngạn tông lục Q.3; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.28; Phật thư giải thuyết đại từ điển Phật điển tổng luận bộ 2 chương 3 (Tiểu dã Huyền diệu)].

Sar-nath

S: sārnāth; viết tắt của chữ Sāraṅganātha, có nghĩa là »Chúa tể loài thú vật«;|Tên bây giờ của Tiên uyển (p: isipatana; s: ṛṣipatana), nơi Phật Thích-ca chuyển Pháp luân lần đầu. Ðây là một khu vườn tĩnh mịch, cách thành phố Be-na-res (benares) khoảng 8 km.

sau

After—Behind.

sau khi chết

After death—Theo Phật giáo, chết không phải là hết. Sau khi chết chỉ có thân xác ngừng hoạt động, còn thần thức, có người gọi là linh hồn, chuyển theo nghiệp lành hoặc nghiệp dữ mà đầu thai vào nơi thiện hoặc nơi ác, phát khởi sự tái sinh gọi là luân hồi. Thông hiểu giáo lý đạo Phật giúp cho Phật tử sắp mãn phần được bình thản, không loạn động, vững tâm tin tưởng nơi tương lai của chính mình, chỉ nương theo nghiệp đã tạo mà đi, không sợ hãi; ngược lại, người Phật tử trước khi mãn phần có thể bình tĩnh tin tưởng trong giờ phút cuối cùng của cuộc đời rằng sống thế nào thì chết như thế ấy. Trong thực tế, có rất nhiều Phật tử hay không Phật tử, không hiểu giáo lý nhà Phật lại cho rằng chết là hết, suy nghĩ về cái chết làm gì cho mệt, hãy sống cho hiện tại. Đây là lối sống của những người không biết sống đúng theo hạnh phúc an vui mà Phật đã dạy. Họ không hiểu mối tương quan nhân quả giữa các thế hệ, giữa các cuộc sống tiếp nối nhau. Khi họ còn trẻ, còn mạnh, họ có thể lướt qua được những cơn đau ốm, đến khi già yếu tiền bạc hao mòn, thân thích xa rời, sự sợ hãi, nỗi âu sầu, cảnh buồn bã, lòng luyến tiếc đối với họ quá mạnh, sự xúc động trước cảnh tử biệt, làm cho họ hối hận nhưng không còn kịp nữa. Người Phật tử phải luôn nhớ câu ngạn ngữ “Phải đào giếng trước khi khát nước” để khỏi mang tâm trạng hối hận thì đã muộn—According to Buddhism, death is not end. After death, the heart ceases to beat, only consciousness generally identified as the soul follows its course determined by the dead's karmic forces to enter the embryo to be reborn. Such a process is called reincarnation. If we understand the Buddha's Teachings, before parting, we can remain as calm as possible; we will not fear, knowing that our next rebirth is dedicated by our own karma, not by any external power. They will have a strong faith on “the way you live is exactly the way you die.” In reality, there are so many Buddhists and non-Buddhists who do not thoroughly understand the Buddha's Teachings. For them, death is the end; thinking of death only makes them tired. They just live for the present. This is the way of living for those who do not know how to live a happy and joyful life in accordance with the Buddha's Teachings. They do not understand the relationship between cause and effect, linking generations to generations or successive lives. When they are young and strong, they feel comfortable with everything, but when they become sick, or aged, isolated from kinfolk or short of money, they will be agitated, but it is too late for them to regret. Buddhists should always remember the old proverb “You need to dig the well before you are thirsty” to prevent the feeling of late regret.

sau một khắc ngộ đạo

After a glympse of enlighenment.

say khướt

Dead drunk.

say đắm

Passionately fond of .

se sẽ

Softly—Lightly—Gently.

Sen

S: padma; L: nelumbo nucifera; Hán Việt: Liên hoa (蓮花);|Sen có một vị trí quan trọng trong đạo Phật. Sen tuy mọc trong bùn (tượng trưng cho Luân hồi và sự Ô nhiễm), nhưng vẫn hoa vẫn thơm tho trong sạch (tượng trưng cho thể tính của con người), nhờ đạt Giác ngộ (s, p: bodhi) mà có. Hoa sen hay được vẽ trong tranh tượng làm toà sen của đức Phật (Phật toạ). Hoa sen cũng tượng trưng cho đức Quán Thế Âm (s: avalokiteśvara). Trong Tịnh độ tông, hoa sen là biểu tượng của giáo pháp.

sen báu

Jewelled Lotus Flowers.

seû

Chia sẻ—To divide—To share.

Si

癡 (痴); S, P: moha;|Si ở đây có nghĩa là đặt niềm tin vào một cái gì nghịch lí, không thể có (Lông rùa sừng thỏ). Trong đạo Phật, si được sử dụng tương tự như biểu đạt Vô minh, không nhận được chân tính hoặc Phật tính nằm trong các Pháp – nói tóm lại là không biết ý nghĩa của cuộc sống.|Theo quan niệm của đạo Phật thì con người bị sáu Thức – năm giác quan thông thường và thêm vào đó là ý thức (tri thức), thức biết phân biệt – làm mê hoặc, si mê. Một tâm trạng vướng mắc vào sáu thức nêu trên dẫn dắt con người đi vào cõi mê bởi vì chúng thúc đẩy, tạo điều kiện làm cho con người dễ tin rằng, thế giới hiện hữu là sự thật tuyệt đối, mặc dù nó chỉ là một khía cạnh, một khía cạnh rất hạn chế của sự thật.|Quan niệm rằng, thế giới nằm ngoài Tâm cũng là một quan niệm cuồng si, bởi vì thế giới chính là sự phản chiếu của tâm, là những biến chuyển của tâm thức (thức biến). Như vậy không có nghĩa là thế giới hiện hữu hoàn toàn không có. Nếu các vị Ðại sư trong Phật giáo bảo rằng, các pháp hiện hữu đều không có thật thì người ta nên hiểu rằng, chư vị nói như thế để phá tà kiến, niềm tin của một phàm phu vào một thế giới nằm ngoài tâm, thế giới khách thể, cho rằng nó chính là sự thật. Mục đích của đạo Phật là tiêu diệt si mê qua kinh nghiệm Giác ngộ và trong tất cả các trường phái thì Thiền tông nổi bật lên với quan niệm Kiến tính thành Phật, trực nhận chân lí.|Theo giáo lí tối thượng của Phật giáo như Thiền, Ðại thủ ấn, Ðại cứu kính, giác ngộ và si mê, thế giới hiện hữu và sự thật tuyệt đối, sắc và Không (s: śūnyatā), Luân hồi (s: saṃsāra) và Niết-bàn (s: nirvāṇa) là một, không hai. Ðể đạt đến sự nhận thức này, người ta cũng có thể dùng phương pháp biện chứng, suy luận phân tích – như nhiều trường phái Phật giáo khác. Nhưng Thiền tông lại cho rằng, cái thức phân biệt – vốn đã bị một màn si mê bao phủ, dẫn dắt con người đến bể khổ trầm luân – chỉ có thể vượt qua bằng kinh nghiệm giác ngộ trực tiếp, như »người uống nước biết mùi vị như thế nào«.

si

Chẳng có thật tướng của sự vật vốn không thật mà cho là thật. ; Moha (skt)—Mudha (p). 1) Phiền não: Klesa (skt)—Phiền não hay sự uế nhiễm của tham dục—Affliction or delifement by the passions. 2) Tà kiến: Wrong views. 3) Tâm ám muội: Deluded mind. 4) Vô minh: Mê sự bỏ lý, nghi ngờ chánh pháp, từ đó tất cả mọi phiền não khởi lên. Đây là một trong tam độc tham, sân, si—Ignorance—Foolish—Delusion—Unconsciousness—Perplexity—Silly—Infatuation. Ignorance is interpreted by unenlightened, i.e. misled by appearances, taking the seeming for real; from this unenlightened condition arises every kind of klesa, i.e. affliction or defilement by the passions, etc. It is one of the three poisons, desire, dislike, delusion. ; (癡) Phạn: Moha, Mùđha. Đồng nghĩa: Vô minh, Vô trí. Ngu si, tên 1 tâm sở, là tác dụng tinh thần của sự ngu muội vô tri, không rõ sự lí. Tông Câu xá cho Si là 1 trong các Đại phiền não địa pháp, còn tông Duy thức thì coi nó là 1 trong những tâm sở phiền não, 1 trong 3 căn bất thiện, 1 trong 6 phiền não căn bản, 1 trong 10 Tùy miên, là chỗ nương tựa của hết thảy phiền não. Theo luận Du già sư địa quyển 86 thì Si còn có các tên gọi khác nữa là: Vô trí, Vô kiến, Phi hiện quán, Hôn muội, Ngu si, Vô minh, Hắc ám...Cũng luận đã dẫn quyển 55 cho rằng trong các Tùy phiền não thì Phú, Cuống, Siểm, Hôn trầm, Vọng niệm, Tán loạn, Bất chính tri... đều lấy 1 phần của Si làm thể. Theo luận Thành duy thức quyển 6 thì sự sinh khởi của các phiền não đều do Si, vì thế Si nhất định là tương ứng với 9 phiền não căn bản còn lại. [X. kinh Đại Bản trong Trường A Hàm Q.1; kinh Đại Bát Niết Bàn Q.5 (bản Bắc); luận Thuận Chính Lí Q.11; luận Câu Xá Q.21; luận Du Già Sư Địa Q.58; luận Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma Tạp tập Q.6; Câu Xá Luận Quang Kí Q.4]. (xt. Vô Minh).

si cẩu

Con chó ngu si, được đem ví với chúng sanh đầy dẫy tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, tà kiến, vân vân—Deluded dogs, i.e. a person who is full of desire, dislike, delusion, pride, doubt, wickedness, wrong views, etc.

si hoặc

Si mê và nghi hoặc, khiến chúng sanh không thấy được chánh đạo—Unenlightened and deluded, ignorant of the right way of seeing life and phenomena (ignorance misleads sentient beings to be blind of the right way).

si hầu

Lấy hình ảnh con khỉ ngu si, chụp lấy bóng trăng trong nước để ví với một con người ám muội, lấy hư làm thực, lấy giả làm chơn—The deluded monkey seizing the reflection of the moon in the water, e.g. unenlightened men who take the seeming for the real.

si mê

Tâm ngu si mê muội đối với sự lý, không tin nhân quả luân hồi, nghi ngờ chánh pháp—Ignorance—Illusion—Unenlightened and led astray.

si mê là nguồn gốc của tất cả mọi phiền não

Delusion (ignorance or stupidity) is the source of all afflictions.

si mê tột bực

Total ignorance.

si mạn

Ngu si và ngã mạn cống cao, hay sự ngã mạn mê muội—Ignorance and pride, or ignorant pride.

si mị võng lượng

(si mị võng lượng ) Si mị và Võng lượng đều là tên quỉ thần, yêu quái. PhẩmThí dụ kinh Pháp hoa (Đại9,14 thượng) nói: Nhà ấy đáng sợ, chỗ nào cũng thấy si mị võng lượng biến hiện. Trong phẩm Đà la ni hộ trì quốc giới kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa quyển 2 và Du già tập yếu diệm khẩu thí thực nghi cũng có ghi các tên gọi này. Trong Pháp hoa nghĩa sớ quyển 6, ngài Cát tạng dẫn Trương bình tử Tây kinh phú giải thích rằng (Đại 34, 535 trung): Thần ở trong núi là Si, mang hình cọp (hổ); thần ở trong nhà là Mị, mang hình người, đầu heo (lợn), có đuôi; còn loài yêu quái ở trong gỗ đá thì là Võng lượng. Xuân thu quyển 10 thì giải thích: Si là thần núi, hình thú; Mị là quái vật; Võng lượng là thần nước. Thực ra, Si mị võng lượng là tên của quỉ thần chỉ thấy trong các sách vở của Trung quốc đời xưa, kinh điển Phật giáo chỉ mượn dùng mà thôi. Trong kinh Pháp hoa bản tiếng Phạm hoàn toàn không có nguyên ngữ tương đương của Si mị võng lượng. [X. kinh Đại bát nhã Q.501, 540; kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.1; kinh An trạch thầnchú; kinh Thí ngã quỉ cam lộ vị đại đà la ni; kinh Quán đính Q.12; luận Thuận chính lí Q.12, 67; Trị thiền định bí yếu pháp Q.hạ; Pháp hoa văn cú kí Q.6, hạ; Pháp hoa huyền tán Q.6, phần đầu; Tuệ lâm âm nghĩa Q.27; Hi lân âm nghĩa Q.1].

si phàm

Phàm phu si mê ám muội—The common, unenlightened people.

si phược

Sự trói buộc của si mê—The bond of unenlightenment.

si sử

Một trong thập kiết sử, vô minh sai khiến con người đến chỗ lầm lạc, khổ não, không rõ chánh kiến, không biết chánh đạo—The messenger, lictor, or affliction of unenlightenment, one of the ten bonds or fetters. ** For more information, please see Ngũ Hạ Phần Kết and Ngũ Thượng Phần Kết in Vietnamese-English Section.

si thiền

(癡禪) I. Si Thiền. Cũng gọi Si thất. Thiền ngu si, là thứ thiền định của người chỉ biết ngồi trơ trơ như gỗ đá, tâm địa không mở tỏ. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng, phần 1 (Đại 48, 399 hạ) nói: Đáy nước đầm trong, bóng hiện rõ ràng, đâu có như hạng si thiền chỉ chấp giữ sự yên lặng rỗng không, như kẻ cuồng tuệ chỉ biết tìm chương trích cú?. II. Si Thiền. Pháp hiệu của ngài Nguyên diệu, vị tăng tông Vân môn, đời Nam Tống. (xt. Nguyên Diệu).

si thuỷ

(癡水) Đối lại: Trí thủy. Phiền não ngu si ví như nước đục, nên gọi làSi thủy.Trái lại, trí tuệ thanh tịnh, ví như nước trong, gọi là Trí thủy. Kinh Lăng nghiêm quyển 8 (Đại 19, 143 hạ) nói: Hết thảy các đức Như lai trong 10 phương, hễ thấy ngã mạn thì gọi là uống nước si (si thủy); còn Bồ tát thấy ngã mạn như vũng bùn lớn, cần phải tránh xa.

si thủ

Chấp vào sự mê lầm mà gây ra phiền não—The klesa of moha, held in unenlightenment.

si thủy

1) Nước uế trược của sự si muội: The turbid waters of ignorance. 2) Uống nước uế trược: To drink the water of delusion.

Si Tuyệt Đạo Xung

(癡絕道沖, Chizetsu Dōchū, 1169-1250): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Si Tuyệt (癡絕), xuất thân Trường Giang (長江), Võ Tín (武信, Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Tuân (荀, hay Cẩu [苟]). Ông đến tham học với Tùng Nguyên Sùng Nhạc (松源崇岳) ở Tiến Phước Tự (薦福寺) và làm Thủ Tòa, rồi sau đó khế ngộ huyền chỉ của Tào Nguyên Đạo Sanh (曹源道生). Sau một thời gian đi tham vấn khắp chốn tùng lâm, vào năm thứ 12 (1219) niên hiệu Gia Định (嘉定), ông bắt đầu tuyên thuyết Thiền phong của mình ở Thiên Ninh Tự (天寧寺) vùng Gia Hưng (嘉興, Tỉnh Triết Giang), rồi lại chuyển sang Tương Sơn (蔣山). Đến năm thứ 3 (1239) niên hiệu Gia Hy (嘉熙), ông lên Tuyết Phong Sơn (雪峰山) ở Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), rồi sau chuyển đến Thiên Đồng Sơn (天童山) vùng Tứ Minh (四明, Tỉnh Triết Giang). Vào năm thứ 4 (1244) niên hiệu Thuần Hựu (淳祐), ông đến trú trì Linh Ẩn Tự (靈隱寺) ở Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang). Đến năm thứ 9 cùng năm này, Kinh Triệu Duẫn (京兆尹) quy y theo ông, cho nên ông khai sáng ra Pháp Hoa Tự (法華寺) ở vùng Ngô Hưng (呉興, Tỉnh Triết Giang). Cùng năm đó, ông đến trú tại Kính Sơn (徑山) thuộc vùng Lâm An (臨安, Tỉnh Triết Giang). Vào ngày 13 tháng 5 năm thứ 10 niên hiệu Thuần Hựu (淳祐), ông thị tịch, hưởng thọ 82 tuổi đời và 61 hạ lạp. Ông có để lại bộ Si Tuyệt Đạo Xung Thiền Sư Ngữ Lục (癡絕道沖禪師語錄) 2 quyển.

si tâm

Tâm ám muội hay tối ám gây ra bởi vô minh—Deluded mind—Unenlightened mind, ignorance darkening the mind.

si tình

To be madly in love.

si tử

See Si Phàm.

si võng

Lưới ngu si—The net of delusion, or ignorance.

si ái

Avidya (skt)—Si mê và ái dục hay sự tham ái mê muội, vô minh hay si mê là cha, tham ái là mẹ, hai thứ nầy sản sanh ra tất cả các phiền não và ác nghiệp—Ignorance and desire, or unenlightened desire, ignorance is being father, desire is mother, which produce all affliction and evil karma.

si đăng

Si muội vô minh lôi cuốn người ám muội (không giác ngộ) như ánh đèn lôi cuốn loài thiêu thân vậy—The lamp of delusion, attracting the unenlightened as a lamp does the moth.

si định

Phép thiền định ám muội, chẳng những không giúp trí huệ phát triển, mà còn làm cho tâm trí thêm mờ tối không tỏ ngộ—The samadhi of ignorance, i.e. without mystic insight. ; (癡定) Chỉ cho loại thiền định không có trí tuệ. Trái lại, chỉ có trí tuệ mà không có sức thiền định thì gọi là Cuồng tuệ. Hành giả si định giống như người mù cỡi ngựa đui, ở trong thiền định rất dễ bị rơi xuống hố thẳm tà vọng. [X. Quán âm huyền nghĩa Q.thượng].

si đồ

Sự tối ám của ngu si—The darkness of the unenlightened condition.

si độc

Một trong tam độc, sự độc hại của ngu si (ngu si chẳng những hại mình mà còn hại người, chẳng những não loạn mình mà còn não loạn người khác)—The poison of ignorance, or delusion, one of the three poisons.

si độn

Foolish—Stupid.

Si-da-li-pa

S: śyalipa; »Du-già sư dã can«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) Ấn Ðộ, không rõ sống trong thời đại nào.|Ông là người làm thuê, ở gần một bãi đốt xác. Mỗi đêm ông sợ nghe tiếng chó hoang tru tréo. Nhân dịp gặp một Du-già sư, ông tiếp đãi nồng hậu và cầu xin cách đối trị nỗi sợ. Vị Du-già sư dạy ông cách dĩ độc trị độc, khuyên ông quán tưởng mọi âm thanh trên thế gian đều là tiếng chó hoang và sống ngay giữa bầy chó hoang trên bãi xác chết. Sau chín năm thiền định, ông lĩnh hội được sự đồng thể của âm thanh và tính Không. Ông đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa, luôn luôn mang trên vai một tấm lông chó. Chứng đạo ca của ông như sau:|Hoạ sĩ vẽ sắc hình,|Nhìn qua đã kinh hoàng.|Hãy nhìn kĩ lại đi,|gạt qua lòng sợ hãi,|chúng chỉ là hình vẽ,|vô thật, là phản chiếu,|ngoài ra không gì cả.

sinh

1) Jati (skt)—Life—Rebirth—Born—The living—See Tứ Sinh. 2) Utpada (skt)—Coming forth—Birth—Production. 3) Một trong Thập Nhị Nhân Duyên: One of the twelve nidanas—See Thập Nhị Nhân Duyên. ; (生) Phạn: Jàta,Jàti. Pàli:Jàti. I. Sinh. Cũng gọi Sinh chi. Chỉ cho chi thứ 11 trong 12 duyên khởi, do nghiệp lực quá khứ mà kết thành quả sinh ra trong vị lai. Cứ theo luận Câu xá quyển 9 thì chi Sinh là chỉ cho 1 sát na trong vị lai thác thai kết sinh trong bào thai; nhưng tông Duy thức thì giải thích rộng hơn, cho rằng từ thân Trung hữu đến lúc thác thai còn 1 khoảng thời gian chưa già suy, đều thuộc về chi Sinh. [X. luận Thành duy thức Q.6]. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên). II. Sinh. Chỉ cho cái sinh lực thôi thúc pháp hữu vi trong khoảng từ vị vị lai sinh vào vị hiện tại; sinh lực này nếu được hiểu như 1 thực thể, thì đó chính là tướng Sinh, 1 trong 4 tướng. (xt. Tứ Tướng). III. Sinh. Chỉ cho Sinh hữu, tức các sát na (tích tắc) có mặt lúc đầu thai thụ sinh ở đời này. Người thụ sinh gọi là Kết sinh hay Thụ sinh; người thai sinh thì gọi là Thác thai, hay Thác sinh. Là 1 trong 4 Hữu. (xt. Tứ Hữu). IV. Sinh. Đối lại: Diệt. Một trong Bát kế (đối lại với Bát bất). Bát kế là: Sinh, diệt, thường, đoạn, nhất, dị, lai, khứ. (xt. Bát Bất Trung Đạo). V. Sinh. Chỉ cho sự sinh tồn, sinh nhai..., tức sinh ra rồi chết đi,để lại sinh ra, cứ thế sinh ra nhiều lần, gọi là Đa sinh; sự sống ở hiện tại, gọi là Kim sinh; sự sống ở quá khứ, vị lai, gọi là Tha sinh. VI. Sinh. Chỉ cho các chúng sinh do cách thụ sinh khác nhau mà có sự phân loại bất đồng, như 9 loại sinh là chỉ cho 4 loại: Thai, noãn, thấp, hóa và thêm 5 thứ là hữu sắc, vô sắc, hữu tướng, vô tưởng,phi hữu tương phi vô tưởng. Trong 9 loại sinh này, lại bỏ phi hữu tưởng phi vô tưởng đi, rồi thêm vào 4 loại là phi hữu sắc, phi vô sắc, phi hữu tưởng, phi vô tưởng thì gọi là 12 loại sinh. [X. luậnPháp uẩn túc Q.10; luận Thuận chính lí Q.25; luận Đại tì bà sa Q.9, 23; luận Thành duy thức Q.6].

sinh biến

(生變) Đối lại: Duyên biến. Cũng gọi: Chuyển. Chuyển biến, chỉ cho Nhân năng biến. Nhà Duy thức căn cứ vào các thức biến hiện ra các pháp mà chia ra 2 loại là Nhân năng biến và Quả năng biến. Biến của Nhân năng biến là do chủng tử trong thức thứ 8 chuyển biến mà sinh ra các pháp, bởi thế biết rằng chữ sinh của Sinh biến thực ra cũng có nghĩa là biến, cho nên gọi là Sinh biến. [X. luận Thành duy thức Q.1, 2; Thành duy thức luận thuật kí Q.3, phần đầu]. (xt. Nhân Năng Biến).

sinh báo

Life's retribution—See Sanh Báo. ; (生報) Đời này tạo các nghiệp thiện, ác, đời sau chịu báo khổ, vui. Một trong 3 báo. (xt. Tam Báo).

sinh bát niết bàn

(生般涅槃) Phạn: Upapadya-parinirvàyin. Gọi tắt: Sinh ban. Chỉ cho quả vị Bất hoàn thứ 3 trong 4 quả Thanh văn, 1 trong 5 thứ Bất hoàn. Bậc Thánh quả Bất hoàn, sau khi sinh vào cõi Sắc, không bao lâu có thể khởi Thánh đạo, đoạn trừ các hoặc còn lại mà vào Niết bàn, gọi là Sinh ban niết bàn. [X. luận Câu xá Q.21]. (xt. Ngũ Chủng Bất Hoàn, A Na Hàm).

sinh bình

During one's lifetime.

sinh bất nhị

All are Buddha, and of the same dharmakaya (pháp thân) or spiritual nature, and the same infinity (không).

sinh bất tăng bất diệt

The indestructibility of the living and the Buddha; neither increase, nor decrease, nor extinct.

sinh chi

Linga or Anga-jata (skt)—Nam căn hay bộ phận sinh dục nam—The male organ or penis. ; (生支) I. Sinh Chi. Một trong 12 chi duyên khởi. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên, Sinh). II. Sinh Chi. Phạn: Liíga hoặc Aíga-jata. Hán âm: Ương già xã đá. Hàm nghĩa nam căn. Hữu bộ bách nhất yết ma quyển 6 (Đại 24, 481 hạ) nói: Ương già xã đá Hán dịch là Sinh chi, tức làcăn vậy. Theo Tì nại da tạp sự quyển 4, khi tâm dục bị khơi dậy làm cho sinh chi nổi lên thì phải tu quán bất tịnh để đối trị. Tịch chiếu đường cốc hưởng tục tập quyển 4 cũng có nói đến các việc do sinh chi mà phạm như là Ô đà di, con trưởng giả đau lưng, con trưởng giả căn dài... (xt. Nam Căn).

sinh chuyện

To seek a quarrel with.

sinh chủ

(生主) Phạn: Prajàpati. Hán âm: Bát la xà bát để. Cũng gọi Tạo vật chủ. Từ ngữ gọi vị thần sáng tạo trong thần thoại Ấn độ. Nhưng cũng còn các cách gọi khác, như trong Phệ đà thì Sinh chủ là chỉ cho các thần Nhân đà la (Phạn: Indra), Sa duy đức lợi (Phạm:Savitf), Tô ma (Phạn: Soma), Kim thai (Phạn: Hiraịya-yarbha). Còn trong pháp điển Ma nô thì thần sáng tạo là chỉ cho Phạm thiên, cũng có khi chỉ cho Ma nô (Phạn: Manu), hoặc chỉ cho 10 người con tâm sinh của Phạm thiên, đó là: Ma lí chất (Phạn: Marìci), A để lị (Phạn: Atri), Ương kì la tư (Phạn: Aígiras), Bổ la sa để la (Phạn: Pulastya), Bổ la ha (Phạn: Pulaha), Ca la đồ Phạn: Kratu), Bà tư tra (Phạn:Vasiwỉha), Bát la chất đa tư (Phạn: Pracetas) hoặc Đạt lợi, Ba lợi hỗ (Phạn: Bhfgu) và Na la đà (Phạn: Nàrada). Cũng có thuyết cho rằng Sinh chủ có 7, hoặc 21 thần, nhưng tên gọi không nhất trí.

sinh công tứ luân

(生公四輪) Chỉ cho thuyết Tứ luân do ngài Trúc đạo sinh lập vào thời Đông Tấn. Luân có nghĩa phá diệt, có năng lực phá diệt hoặc nghiệp của chúng sinh để vượt ra ngoài 3 cõi. Cứ theo Hoa nghiêm tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 6 thì Tứ luân là: 1. Thiện tịnh pháp luân: Tu pháp Ngũ giới, Thập thiện, phá diệt nghiệp 4 ác thú, được quả báo trời, người. 2. Phương tiện pháp luân: Tu đạo phương tiện 4 đế, 12 nhân duyên mà chứng quả Nhị thừa. 3. Chân thực pháp luân: Tu quán thực tướng trung đạo, phá diệt nghiệp phiền não vô minh, chứng quả Phật Nhất thừa. 4. Vô vi pháp luân: Tu diệu quán tam đức, phá diệt phiền não Ngũ trụ, chứng quả Niết bàn vô vi.

sinh diệt

(生滅) Cũng gọi: Khởi diệt. Đồng nghĩa: Sinh tử. Sinh ra và diệt hết, có sinh tất có diệt. Sinh tử là nói về loài hữu tình, còn sinh diệt thì dùng chung cho cả hữu tình và phi tình. Tất cả các pháp hữu vi được thành lập là do nhân duyên hòa hợp (tức đầy đủ mọi điều kiện), vì có tính chất dời đổi (vô thường) nên ắt có sinh diệt. Nếu lìa nhân duyên mà tồn tại bất biến (tức các pháp vô vi, thường trụ), thì không sinh không diệt. Nói theo chính kiến trung đạo của Đại thừa thì sự sinh diệt của các pháp hữu vi là giả sinh giả diệt, chứ chẳng phải thực sinh thực diệt. Nói theo nhân sinh quan của Phật giáo thì hết thảy muôn pháp đều liên tục sinh diệt trong từng sát na, hệt như 1 dòng nước chảy xiết vậy. Ngoài ra, Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển trung phần đầu cho rằng Như lai tạng tâm theo duyên mà khởi diệt, có nhiễm và tịnh khác nhau, gọi làTâm sinh diệt, tức chỉ cho pháp hữu vi. Nếu lấy đơn vị thời gian nhỏ nhất (sát na) để bàn về sinh diệt, thì cũng có sinh diệt trong mỗi sát na, gọi làSát na sinh diệt (Sát na diệt). Đối lại, chúng sinh hữu tình từ sinh đến tử, sinh diệt trong 1 thờikì, gọi là Nhất kì sinh diệt. Sát na sinh diệt và Nhất kì sinh diệt hợp lại, gọi chung là Nhị chủng sinh diệt. [X. kinh Đại câu hi la trong Trung A Hàm Q.7; kinh Tần tì sa la vương nghinh Phật trong Trung A Hàm Q.11; luận Đại trí độ Q.15; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2 hạ; Đại thừa huyền luận Q.1; Trung quán luận sớ Q.3].

sinh diệt diệt tị

(生滅滅巳) Sinh diệt diệt rồi. Nghĩa là đã xa lìa thế giới vô thường sinh diệt, đạt đến Niết bàn vắng lặng không sinh không diệt. Kinh Đại bát niết bàn (bản 3 quyển ) quyển hạ (Đại 1, 204 hạ) nói: Chư hành vôthường; Thị sinh diệt pháp; Sinh diệt diệt dĩ; Tịch diệt vi lạc (Các hành vô thường; Là pháp sinh diệt; Sinh diệt diệt rồi; Tịch diệt là vui).

sinh diệt khứ lai

(生滅去來) Sinh diệt đi đến. Chỉ cho Như Lai tạng. Đây là 4 pháp trong Bátbất do tông Tam luận thuyết minh. Đứng trên lập trường chính kiến trung đạo mà nhìn thì không có sinh diệt khứ lai (tức không sinh, không diệt, không đi, không đến). Nếu thấy các pháp có sinh diệt khứ lai thì đó là vọng kiến phân biệt, chấp trước. Kinh Lăng nghiêm quyển 2 (Đại 19, 114 thượng) nói: Sinh diệt khứ lai vốn là Như lai tạng. (xt. Bát Bất Trung Đạo).

sinh diệt khứ lai nhất di đoạn thường

(生滅去來一异斷常) Tông Tam luận lập thuyết Bát bất trung đạo và cho đó là yếu chỉ tột cùng. Bát bất là: Bất sinh bất diệt, bất khứ bất lai, bất nhất bất dị, bất đoạn bất thường. Ngược lại là: Sinh diệt, khứ lai, nhất dị, đoạn thường, gọi là Bát mê. Nếu phá trừ được Bát mê này thì đạt đến trung đạo. (xt. Bát Bất Trung Đạo).

sinh diệt nhị quán

(生滅二觀) Chỉ cho Sinh quán và Diệt quán. Sinh quán: Y theo thứ tự thuận mà quán xét tướng sinh khởi của 12 nhân duyên, như quán từ duyên vô minh sinh hành, duyên hành sinh thức, cho đến duyên sinh sinh lão tử... cũng tức là từ nhân hướng quả, đó là Lưu chuyên môn. Diệt quán: Tức quán ngược 12 nhân duyên, từ lão tử... quán đến vô minh, các tướng hoại diệt từ quả hướng nhân, theo thứ tự quán ngược lại, đó là Hoàn diệt môn.[X. Thiên thai tứ giáo nghi].

sinh diệt quán

(生滅觀) Tên khác của Tích không quán. Tức quán xét lí các pháp hữu vi sinh diệt từng sát na để phá trừ thường kiến (xt. Tích Không Quán).

sinh diệt tứ đế

(生滅四諦) Một trong 4 loại Tứ đế do Đại sư Trí Khải tông Thiên thai thành lập. Đây là nói về 3 tạng giáo, chủ trương nhân duyên sinh diệt là có thật, cho rằng 3 đế Khổ, Tập và Đạo nương nơi nhân duyên mà thực có sinh diệt. Diệt đế cũng được xem là pháp diệt có thật. Tức là Tứ đế được thành lập trên quan điểm thực sinh thực diệt.1. Khổ đế: Khổ nghĩa là bức bách;có 3 khổ, 8 khổ... tức là quán xét sự vô thường bức bách của các pháp sắc, tâm mà biết sinh tử là thực khổ. 2. Tập đế: Quán xét các phiền não hoặc nghiệp là nguyên nhân tạo ra khổ sinh tử. 3. Diệt đế: Tức quán xét lí Niết bàn, qui các khổ sinh tử về tịch diệt. 4. Đạo đế: Quán xét đạo giới, định, tuệ, dứt hết phiền não hoặc nghiệp, sinh khởi chính trí để chứng vào Niết bàn. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2,hạ; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng, hạ]. (xt. Tứ Đế).

sinh dục

To give birth and to rear.

sinh giả tất diệt

(生者必滅) Có sinh ắt có diệt, nói lên nghĩa vô thường của tướng thế gian. Đây là điểm xuất phát của chân lí nhân sinh tột cùng trong Phật giáo. [X. kinh Đại Bát Niết Bàn Q.2 (bản Bắc); kinh Vô Thường; kinh Vị Sinh Oan].

sinh hoạt

Living—Life.

sinh hóa

See Hóa Sanh.

sinh hóa nhị thân

The nirmanakaya in its two forms of physical body (ứng thân) and transformation body (hóa thân) are capable of any form.

sinh hữu

See Sanh Hữu.

sinh khí

The breath of life—Vitality.

sinh không

(生空) Phạn: Àtma-zùnyatà. Cũng gọi Ngã không, Nhân không. Chúng sinh do 5 uẩn, sắc, thụ, tưởng, hành, thức giả hòa hợp mà thành, không có ngã thể thường nhất, 1 trong 2 thứ không. (xt. Ngã Không).

sinh không tam muội

(生空三昧) Chỉ cho thiền định quán tưởng chúng sinh là do 5 uẩn giả hòa hợp mà thành, không có ngã thể cố định bất biến. Bí tạng bảo thược luận quyển trung (Đại 77, 366 thượng) nói: Sinh không tam muội biết rõ thần ngã chỉ là ảo ảnh.

sinh khổ

(生苦) Phạn: Jàti-du#kha. Pàli: Jàti-dukkha. Chỉ cho những khổ não mà chúng sinh phải chịu lúc vừa sinh ra, 1 trong 4 khổ, 1 trong 8 khổ. Theo luận Du già sư địa quyển 61 thì Sinh khổ có 5 tướng: 1. Bị các khổ theo đuổi: Sinh vàoNa lạc ca (địa ngục) và ngã quỉ, hoặc do thai sinh, noãn sinh, bị các ưu khổ theo đuổi, cho nên khổ. 2. Bị thô trọng theo đuổi: Bị các phiền não theo đuổi, tính không điều hòa, chẳng được tự tại, cho nên khổ. 3. Bị các khổ nương tựa: Tức làm chỗ nương tựa cho các khổ như già suy, bệnh tật... cho nên khổ. 4. Bị phiền não nương tựa: Sau khi thụ sinh, làm chỗ nương cho các phiền não tham, sân, si... thân tâm không thể an trụ, cho nên khổ. 5. Pháp li biệt không theo điều mình muốn: Có sinh ắt có chết, không được như ý muốn, cho nên khổ. Ngoài ra, kinh Ngũ vương cũng nói đến những nỗi khổ khi ở trong thai mẹ. [X. kinh Phân biệt thánh đế trong Trung A Hàm Q.7; Đại thừa nghĩa chương Q.3, phần đầu]. (xt. Bát Khổ, Tứ Khổ).

sinh khởi

(生起) Chỉ cho Năng sinh và Sở sinh. Năng sinh làcáisinh ra, gọi là Nhân; Sở sinh là cái được sinh ra, gọi là Quả. Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 1, thượng (Đại 33, 684 hạ) nói: Sinh khởi nghĩa là cái sinh ra là sinh, cái được sinh là khởi.

sinh khởi bản mạt

(生起本末) Gốc ngọn của sự sinh khởi. Tức chỉ cho nguyên nhân căn bản và kết quả diễn thành sự vật sinh khởi.

sinh khởi nhân

(生起因) Cũng gọi Sinh nhân. Chỉ cho nghiệp nhân thiện, ác ở đời này sẽ sinh ra quả báo vui, khổ ở đời sau, là 1 trong 2 nhân, 1 trong 10 nhân. Sinh khởi nhân và Khiên dẫn nhân đều chỉ cho tác dụng năng sinh tự quả của chủng tử; chủng tử ở hiện tại có sẵn tác dụng sinh ra quả, gọi là Sinh khởi nhân. (xt. Nhị Nhân, Thập Nhân).

sinh linh

(生靈) I. Sinh Linh. Đối lại: Tử linh. Chỉ cho thần thức của người sống. II. Sinh Linh. Chỉ cho người lúc sống ôm lòng oán giận và phục thù. (xt. OánLinh).

sinh luận

(生論) Phạn: Utpàda-vàdin. Nghị luận của ngoại đạo về sự sinh khởi của các sự vật, gọi chung là Ngoại đạo nhất thiết vọng kế chí luận(tất cả các luận vọng chấp của ngoại đạo). Vì họ tuy có nói bất sinh bất diệt, nhưng đều là nhân sinh tử vọng tình phân biệt, cho nên gọi là sinh luận. Kinh Lăng già quyển 4 (Đại 16, 507 trung) nói: Diệt trừ sinh luận ấy, kiến lập nghĩa bất sinh.

sinh ly

To be separated in life.

sinh lão bệnh tử

(生老病死) Cũng gọi Tứ tướng, Tứ khổ. Chỉ cho 4 thứ tướng trong 1 kì hạn của chúng sinh. Tướng sinh ra của chúng sinh gọi là Sinh tướng, tướng già suy gọi là Lão tướng, tướng bệnh hoạn gọi là Bệnh tướng và tướng tử vong gọi là Tử tướng. Kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 19 cho rằng người mang kiến chấp hữu, vô, không thể thoát li sinh già bệnh chết, lo buồn khổ não. [X. kinh Vô thường; kinh Vô lượng thọ Q.thượng]. (xt. Tứ Khổ).

sinh lý

Livelihood.

sinh lực

Vital force—Life force.

sinh manh

(生盲) Người mù bẩm sinh. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 342 thượng) nói: Tất cả chúng sinh, trừ kẻ sinh manh, bọn có mắt đều thấy mặt trời lặn. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.9; luận Thuận chính lí Q.50].

sinh manh xiển đề

(生盲闡提) Cũng gọi Sinh manh nhất xiển đề. Ví dụ người Nhất xiển đề (Phạn: Icchantika) là sinh manh. Sinh manh chỉ cho người sinh ra đã mù;Xiển đề chỉ cho kẻ đã dứt hết tất cả căn lành và không thể thành Phật. Người không tin Phật pháp, cũng như kẻ sinh manh không tin rằng trên thế giannàycòn có ánh sáng, bởi thế Nhất xiển đề không thể phát tâm cũng giống như người sinh manh không thể chữa lành. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 9 (Đại 12, 660 hạ) nói: Ví như thầy thuốc giỏi, có khả năng chữa trị những người mù, giúp họ thấy được ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao và tất cả sắc tượng, duy đối với người sinh manh thì đành bó tay. Kinh Đại niết bàn Đại thừa này cũng lại như thế, có năng lực vì hàng Thanh văn Duyên giác mà mở con mắt tuệ, giúp họ an trú nơi vô lượng vô biên kinh điển Đại thừa. Người chưa phát tâm, dù phạm 4 trọng cấm, 5 tội vô gián, đều khiến họ phát tâm bồ đề, chỉ trừ lũ sinh manh nhất xiển đề. Pháp sự tán quyển hạ của ngài Thiện đạo nói rằng: Bọn sinh manh xiển đề vì hủy diệt đốn gíáo mà vĩnh viễn chìm đắm. Tuyển trạch truyền hoằng quyết nghi sao quyển 5 thì đặc biệt gọi kẻ phỉ báng pháp Niệm Phật vãng sinh là Sinh manh xiển đề. [X. kinh ĐạibátNiết bàn Q.9 (bản Nam); An lạc tập Q.thượng].

sinh mệnh

(生命) Chỉ cho giai đoạn giữ liên tục từ lúc sinhđếnlúc chết mà vẫn có độ ấm (noãn) và ý thức thức). Trong Phật giáo gọi là Thọ mệnh hoặc Mệnh căn. Thọ là dịch ý từ chữ Phạn jìvita. Cũng có thể giải thích Thọ và Mệnh riêng rẽ. Thọ duy trì noãn và thức; trái lại, noãn và thức cũng duy trì sự sống còn (Thọ), hai yếu tố này có quan hệ nương vào nhau mà tồn tại. Lúc con người chết thì thọ, noãn, thức thoát ra ngoài nhục thể. Thọ này do sự sai khác của 6 đường 3 cõi mà lượng của nó có hạn định, gọi là Thọ lượng. Thọ mệnh của Phật không có hạn lượng, cho nên gọi Thọ mệnh vô lượng hay Vô lượng thọ (Phạn: Amitàyus, A di đà).

sinh nghi

To become suspicious—To be in doubt.

sinh nhai

Means of living—See Sinh lý.

sinh nhân

Janmahetu (skt)—Nguyên nhân của sự sinh—Birth-cause. ; (生因) I. Sinh Nhân. Đối lại: Liễu nhân. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong tác pháp 3 chi, Sinh nhân thuộc chi Nhân, 1 trong 6 nhân. Sinh là sinh khởi, khai phát. Sinh nhân như hạt giống nảy mầm sinh ra cây cỏ, vì thế gọi là Sinh nhân. Ví như người lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường Nhân: Vì nó có tính cách được tạo ra Cái Nhân (lí do) trong luận thức trên chứng minh âm thanh là vô thường chứ không phải thường trụ, giúp đối phương (người vấn nạn) nghe rồi hiểu rõ chân lí âm thanh là vô thường, không còn hoài nghi cố chấp nữa. Như vậy, Nhân ở đây đã giúp người địch luận (đối phương) mở được chính trí, như hạt giống sinh mầm, cho nên, đứng về phương diện người Lập luận mà gọi là Sinh nhân. Do công dụng của Sinh nhân có khác nhau nên lại được chia làm 3 loại: 1. Ngôn sinh nhân: Tức là ngôn ngữ của người Lập luận sử dụng để nói rõ lí do (Nhân), như Vì nó có tính cách được tạo ra nói ở trên. 2. Trí sinh nhân: Tức tri thức, trí tuệ của người Lập luận. Như trong Luận thức nói trên, nếu người Lập luận không có tri thức về bản chất của âm thanh thì đã không thể nêu lí do Vì nó có tính cách được tạo ra, cho nên trí là Sinh nhân. 3. Nghĩa sinh nhân: Chỉ cho đạo lí bao hàm trong Nhân do người Lập luận nêu ra. Sở dĩ ngôn ngữ giúp người ta hiểu rõ vấn đề là hoàn toàn nhờ ý nghĩa bao hàm trong đó và cái đối tượng mà ngôn ngữ ám thị, do đó, nghĩa cũng là Sinh nhân. Ba loại Sinh nhân trên đây có mối quan hệ chồng chéo lẫn nhau. Tức là người Lập luận có trí mới có thể nhận thức nghĩa lí, đồng thời, sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt nghĩa lí ấy, cho nên Trí sinh nhân là nhân của Ngôn sinh nhân và nghĩa sinh nhân; còn Ngôn sinh nhân và Nghĩa sinh nhân là quả của Trí sinh nhân. Lại giữa Ngôn sinh nhân và Nghĩa sinh nhân cũng có quan hệ nhân quả. Trước hết, người Lập luận nhận biết nghĩa lí mới có thể dùng ngôn ngữ diễn đạt nghĩa lí, vì thế, Nghĩa sinh nhân là nhân của Ngôn sinh nhân, Ngôn sinh nhân là quả của Nghĩa sinh nhân. [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích]. (xt. Lục Nhân). II. Sinh Nhân. Một trong 5 nhân. Chỉ cho hoặc nghiệp. Vì chúng sinh nương vào hoặc nghiệp mà sinh ra thân này, cũng như hạt giống cây cỏ nhờ vào đất mà nảy sinh, cho nên gọi là Sinh nhân. (xt. Ngũ Nhân). III. Sinh Nhân. Chỉ cho 4đại chủng đất, nước, lửa, gió là nguyên nhân sinh khởi các sắc pháp. [X. luận Câu xá Q.7]. (xt. TứĐại). IV. Sinh Nhân. Đối lại: Dẫn nhân. Sinh là nhân của quả gần và quả chính. Quả gần chỉ cho quả báo của nhân gần; quả chính chỉ cho việc tu đạo có chỗ chứng ngộ, khác với cách tu mù quáng của ngoại đạo, cho nên gọi quả chứng đắc của người tu học Phật pháp là quả chính. (xt. Dẫn Nhân).

sinh nhân bản nguyện

(生因本願) Cũng gọi Sinh nhân nguyện. Chỉ cho bản nguyện của đức PhậtA di đà khi còn ở địa vị tu nhân thệ nguyện cứu độ chúng sinh và cầu nguyện chúng sinh trong 10 phương dốc lòng tin ưa muốn vãng sinh Tịnh độ. Điều nguyện thứ 18 trong kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 thượng) nói: Nếu tôi được thành Phật mà chúng sinh trong 10 phương dốc lòng tin ưa, muốn sinh về cõi nước của tôi, cho đến 10 niệm, nếu không được sinh thì tôi không thành chính giác, chỉ trừ những người phạm tội Ngũ nghịch, phỉ báng chính pháp. Trong Quán niệm pháp môn, ngài Thiện đạo giải thích nguyện này cho rằng đức Phật A di đà thệ nguyện chúng sinh lấy pháp môn Xưng danh niệm Phật làm nhân được vãng sinh Tịnh độ. Nhưng ngài Nghĩa tịch thì lấy 3 điều nguyện 18, 19 và 20 làm Bản nguyện sinh nhân. Trong đó, điều nguyện thứ 18 nhiếp lấy nguyện dốc lòng muốn sinh, là nguyện nhiếp thu những người thuộc phẩm Hạ hạ; điều nguyện thứ 19 nhiếp lấy nguyện tu đức muốn sinh, là nguyện nhiếp thu những ngườithuộc Thượng phẩm; điều nguyện thứ 20 thì nhiếp lấy nguyện nghe tên muốn sinh, là nguyện nhiếp thu những người thuộc Trung phẩm. Còn các ngài Pháp vị, Huyền nhất, Cảnh hưng... thì cho điều nguyện 18 là nguyện nhiếp thu Thượng phẩm, điều nguyện 19 là nguyện nhiếp thu thuộc Trung phẩm, còn điều nguyện 20 thì là nguyện nhiếp thu Hạ phẩm.

sinh nhất như

The living and the Buddha are one—See Sinh Nhứt Thể.

sinh nhất thiết chi phần ấn

(生一切支分印) Thủ ấn gia trì vào tứ chi (2 tay, 2 chân) ngũ thể (trán, 2 khuỷu tay, 2 đầu gối) của đệ tử khi tu pháp Quán đính trong Mật giáo.Đại nhật kinh nghĩa thích quyển 10 (Vạn tục 36, 410 hạ) nói: Kế đến phải kết ấn Sinh nhất thiết chi phần, rồi rưới nước trên đỉnh đầu của đệ tử (...)Nếu không dùng ấn này thì pháp thức không được đầy đủ.

sinh nhẫn

1) Nhẫn bình thường: Common or ordinary patience. 2) Nhẫn của chúng sanh: The common or ordinary patience of the masses.

sinh nhật đại hội

(生日大會) Ngày lễ đản sinh của đức Phật. Hữu bộ mục đắc ca quyển 5 (Đại 24, 35 thượng) nói: Trưởng giả bạch Phật: Bồ tát sinh ra vào ngày tháng nào? Phật bảo Trưởng giả: Ngày trăng tròn, tháng Bệ xá khư là ngày sinh của ta. Trưởng giả bạch Phật: Con nay muốn cử hành Đại hội sinh nhật. Phật nói: Nên làm. (xt. PhệXá Khư).

sinh nhứt thể

The living and the Buddha are of the same substance—See Sinh Bất Nhị.

sinh niệm xứ bồ tát

See Sanh Niệm Xứ Bồ Tát. ; (生念處菩薩) Sinh niệm xứ, Phạn: Smritisajàtya#. Cũng gọi Ức niệm bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 2 phía trái bồ tát Hư không tạng ở viện Hư không tạng trong Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, mật hiệu là Ức trì kim cương. Vị Bồ tát này sinh ra muôn pháp và trí tuệ, chủ về 4 hạnh đức Từ, Bi, Hỉ, Xả của bồ tát Hư không tạng. Về hình tượng của vị Bồ tát này thì thân màu da người, ngồi bán già trên hoa sen đỏ, tay phải cầm hoa sen, trên hoa sen có thương khư (pháp loa) đặt trong nguyệt luân; tay trái ngón trỏ duỗi thẳng, những ngón còn lại hơi co, để ngửaở ngang ngực. Hình Tam muội da là chày yết ma hoặc thương khư trên hoa sen. [X. Huyền pháp tự nghi quĩ Q.2; Thanh long tự nghi quĩ Q.trung; Bí tạng kí]

sinh pháp

(生法) Phạn: Prasava-dharma, Prasavadharmìn. Cũng gọi Nhân pháp, Ngã pháp. Cái có tác dụng của tâm, gọi là Sinh, tức hữu tình; cái không có tác dụng của tâm, gọi là Pháp, tức phi tình. Chẳng hạn như chúng sinh nhờ vào sự hòa hợp của nhân duyên mà được thành lập, đó là Sinh; 5 uẩn là những yếu tố cấu tạo thành chúng sinh, đó là Pháp. Phật sở hành tán quyển 3 (Đại 4, 23 hạ) nói: Ta quán sinh pháp này, cũng là pháp chủng tử.

sinh pháp nhị không

(生法二空) Cũng gọi Ngã pháp nhị không, Nhân pháp nhị không, Nhân pháp nhị vô ngã. Gọi tắt: Nhị không, Nhị vô ngã. Chỉ cho Sinh không và Pháp không, tức thấu suốt được cái ta thường nhất và tự tính các pháp đều không, dứt trừ ngã chấp, pháp chấp mà chứng Ngã không chân như và Pháp không chân như. Đây là pháp quán của Đại thừa; còn Tiểu thừa thì chỉ tu Sinh không quán thôi, nên không dễ gì đoạn trừ pháp chấp. [X. phẩm Quán tà kiến trong Trung luận Q.4; chương Nhân pháp nhị không trong Hoa nghiêm khổng mục chương Q.3; Bách pháp vấn đáp sao Q.7]. (xt. Nhân Pháp Nhị Không).

sinh pháp nhị thân

(生法二身) Chỉ cho Sinh thân và Pháp thân. Tiểu thừa chủ trương thân đứcPhật sinh trong cung vua là Sinh thân, còn các công đức vô lậu có được từ giới định tuệ là Pháp thân. Đại thừa thì cho rằng chân thân lí và trí ngầm hợp là pháp thân, thân Ứng hóa tùy cơ hiện sinh là Sinh thân; tức trong 3 thân thì Pháp thân và Báo thân hợp chung lại là Pháp thân, còn Ứng thân là sinh thân. Luận Đại trí độ quyển 9 (Đại 25, 121 hạ)nói: Phật có hai thân,mộtlà thân Pháp tính, hai là thân do cha mẹ sinh. Thân Pháp tính trùm khắp hư không trong 10 phương, vô lượng vô biên, sắc tượng đoan chính, tướng hảo trang nghiêm, ánh sáng vô lượng, âm thanh vô lượng, chúng nghe pháp cũng đấy ắp hư không (chúng này cũng là thân Pháp tính, chẳng phải người sinh tử có thể thấy được); thường hiện ra các loại thân, các loại danh hiệu, các nơi sinh đến, các phương tiện hóa độ chúng sinh, thường cứu độ hết thảy, không phút chốc nào ngừng nghỉ. Như vậy, thân Pháp tính của Phật có năng lực cứu độ chúng sinh trong khắp 10 phương. Còn Sinh thân của Phật là thân nhận chịu các quả báo và cũng nói pháp theo thứ lớp như người bình thường. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.19].

sinh phạn

(生飯) Trước khi ăn, dành ra chút ít cơm (phạn) để bố thí cho chúng sinh. Vì rải cơm bố thí cho quỉ thần nơi đồng trống nên cũng gọi là Tán phạn. Đối tượng cúng thí thông thường là chim đại bàng cánh vàng, chúng quỉ thần ngoài đồng trống, mẹ con quỉ La sát... Nếu cúng dường Tam bảo, minh vương Bất động và thần Quỉ tử mẫu thì gọi là Tam phạn (hay Tam bả). Lại vì có hàm ý là bày thức ăn ra để cúng thí chúng sinh, nên cũng gọi là Xuất thực, Xuất sinh, Sinh thực, Chúng sinh thực. Cứ theo phẩm Phạm hạnh trong kinh Niết bàn quyển 16 (bản Bắc) và Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 31 thì pháp cúng thí này do chính đức Phật qui định để các đệ tử thực hành, tuy chỉ cúng thí 7 hạt cơm thôi, nhưng nhờ sức chú nguyện nên chúng sinh cũng được no đầy đủ. Lại nữa, ở nơi vắngvẻ, yên tĩnh làm 1 cái đài, trên đó đặt cơm cúng thí để cho chim, thú, sâu bọ... ăn, cái đài nàygọi là Sinh đài hoặc Sinh bàn (mâm để thức ăn cho chúng sinh). Cái đồ đựng cơm cũng gọi là Sinh bàn. Phép cúng thí: Khi niệm chú cúng dường, thị giả cầm đũa trong tay chắp tay lại, đưa đũa lên. Trước tụng kệ, sau trì chú. Bài kệ niệm cúng dường bữa cơm sáng là (Đại 82, 771 thượng): Pháp lực bất tư nghị; Đại bi vô chướng ngại; Thất lạp biến thập phương; Phổ thí chu sa giới. Thần chú: Án độ lợi ích sa ha (7biến). (Sức pháp chẳng nghĩ bàn; Đại bi không ngăn ngại; Bảy hạt đến mười phương; Cúng thí khắp sa giới)¡. Bài kệ niệm cúng dường bữa trai ngọ: Đại bằng kim sí điểu; Khoáng dã quỉ thần chúng; La sát quỉ tử mẫu ;Cam lộ tất sung mãn. Thần chú: Án mục đế sa ha (7 biến). (Chim đại bàng cánh vàng; Chúng quỉ thần đồng trống; Mẹ con quỉ La sát; Cam lộ đều no đủ). [X. kinh Bảo vân Q.5; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 3; chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; môn Tế cúng trong Thiền lâm tượng khí tiên] .

sinh phật

1) Vị Phật sống: A living Buddha. 2) Chúng sanh và Đức Phật: All the living and the Buddha. ; (生佛) I. Sinh Phật. Đồng nghĩa: Sinh Như lai, Sinh Bồ tát. Chỉ cho đức Phật hiện còn ở đời. Thích môn chính thống quyển 3 (Vạn tục 130, 395 thượng) nói: Bấy giờ, vua Ưu điền nhớ Phật khôn xiết, liền đúc vàng làm tượng Ngài (...) Hàng ngày chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, như lúc Ngài còn sinh tiền (Sinh Phật). Sinh Phật còn chỉ cho các bậc cao tăng, danh tăng, thiện thức... được mọi người tôn kính như Phật giáng thế. II. Sinh Phật. Chỉ cho chúng sinh và Phật, như thường thấy trong các nhóm từ Sinh Phật bất nhị Sinh Phật nhất như. III. Sinh Phật (?-?). Cũng gọiTính Phật. Tên vị cao tăng thuộc tông Thiên thai, Nhật bản. Sư xuất gia vào thời đại Thiên hoàng Tứ điều đang trị vì. Sư bị mù và hay kể chuyện cổ Bình gia bằng giọng nói rất truyền cảm, khiến người nghe đều xúc động.

sinh phật bất nhị

The living and the Buddha are one—See Sinh Phật Nhứt Như.

sinh phật bất tăng bất giảm

Tánh không hoại diệt, bất tăng bất giảm, và tuyệt đối của chúng sanh và Phật—The indestructibility of the living and the Buddha; they neither increase nor decrease, being the absolute. ; (生佛不增不减) Chỉ cho Sinh Phật nhất như, tức chúng sinh trong pháp giới tuy thành Phậtmà cõi chúng sinh không giảm, cõi Phật cũng không tăng. Hoặc bảo cõi chúng sinh và cõi Phật đều là vô lượng vô biên; vì cõi chúng sinh vô biên, nên chúng sinh thành Phật mà cõi chúng sinh không giảm; vì cõi Phật vô biên, nên chúng sinh vào cõi Phật mà cõi Phật không tăng. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 9 (Đại 36, 65 hạ), nói: Sinh Phật bất tăng bất giảm, nếu phân biệt, thì nghĩa tuy khác mà tên không khác. Nghĩa là pháp tính đã đồng, thì dù hết thảy chúng sinh cùng thành Phật 1 lượt, cõi chúng sinh cũng không giảm, cõi Phật cũng không tăng; vì cõi chúng sinh và cõi Phật đã đồng là pháp tính, thì không thể dùng pháp tính để tăng thêm pháp tính, ví như hư không phương đông là chúng sinh, hư không phương tây là Phật, không thể đem hư không phương đông thêm vào hư không phương tây, để làm cho đông giảm đi và tây tăng lên, vì thế nên nói là bất tăng bất giảm. (xt. Sinh Phật Nhất Như).

sinh phật giả danh

Những từ ngữ chúng sanh và Phật chỉ là những giả danh tạm thời—The living and the Buddha are but temporary names, borrowed or derived for temporal indication. ; (生佛假名) Chúng sinh và Phật đều là tên giả. Tức đứng về phương diện tục đế mê tình mà nói thì là giả danh, còn đứng về phương diện chân đế giác ngộ mà nói thì là chân như bình đẳng, chẳng có chúng sinh cũng không có Phật. Thủy chung tâm yếu chú (Vạn tục 100, 332 thượng) nói: Trong cõi chân như không hề có giả danh chúng sinh và Phật, trong tuệ bình đẳng, đâucó hình tướng mình và người.

sinh phật nhất như

(生佛一如) Cũng gọi Mê ngộ bất nhị, Sinh Phật bất nhị, Sinh Phật bình đẳng, Phật phàm nhất thể, Phàm thánh bất nhị. Lí tính sẵn có của chúng sinh và pháp thân của chư Phật là bình đẳng không sai khác. Nghĩa là chúng sinh và Phật chẳng phải tồn tại cá biệt, mà là tương tức bất nhị, trong đó có hàm ý phiền não tức bồ đề, sinh tử tức Niết bàn. Tông Thiên thai chủ trương Sinh Phật nhất như là y cứ vào lí thực tướng các pháp; Mật tông thì y cứ vào thuyết Lục đại nhất thực mà chủ trương Sinh Phật nhất như. Chỗ y cứ của 2 tông tuy không giống nhau, nhưng dựa vào lí tính bình đẳng sẵn có của chúng sinh thì lí tính và sự tướng không thể tách rời nhau, sự và lí là một, chỉ có tên khác mà thôi. Kinh Bất tăng bất giảm (Đại 16, 467 thượng) nói: Đệ nhất nghĩa đế tức là chúng sinh, cõi chúng sinh tức là Như lai tạng, Như lai tạng tức là Pháp thân. (...). Bởi thế, Xá lợi phất! Ngoài cõi chúng sinh không có Pháp thân, ngoài Pháp thân không có cõi chúng sinh. Cõi chúng sinh tức Pháp thân, Pháp thân tức cõi chúng sinh. Này Xá lợi phất! Hai pháp đó nghĩa như nhau, chỉ có tên khác nhau mà thôi. Đại thừa chỉ quán pháp môn quyển 1 (Đại 46, 643 hạ) nói: Nếu đứng trên lập trường tâm thể bình đẳng mà nói thì chẳng có tu và không tu, thành và không thành, cũng không có giác và bất giác, chỉ vì muốn nêu tỏ Phật như như mà cưỡng nói là giác. Lại nữa, nếu y cứ vào tâm thể bình đẳng mà xem thì cũng không có sai khác giữa Tâm,Phật và chúng sinh, cho nên kinh nói Tâm, Phật và chúng sinh cả 3 không sai khác. Tuy nhiên, tâm tính duyên khởi thành pháp giới, pháp giới tự nhiên chẳng hoại, vì thế nên thường bình đẳng, thường sai biệt. Thường bình đẳng, nênTâm, Phật và chúng sinh cả 3 không sai khác; thường sai biệt, nên khi xuôi dòng theo 5 đường gọi là chúng sinh, ngược dòng trở về nguồn gọi là Phật. [X. kinh Chư Phật vô hành Q.hạ; kinh Lực trang nghiêm tam muội Q. trung; luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính Q.3, 4; Thập bất nhị môn chỉ yếu sao Q.hạ].

sinh phật nhứt như

Sinh Phật Nhứt Thể—Sinh Phật Bất Nhị—Phàm Thánh Nhứt Như—Chúng sanh và Phật đều như một, là nhất thể, là bất nhị, là không sai khác—The living and the Buddha are one, i.e., all are the one undivided whole, or absolute; they are all of the same substance; all are Buddha, and of the same dharmakaya, or spiritual nature; all are of the same infinity.

sinh phật nhứt thể

All the living and the Buddha are the one undivided whole—See Sinh Phật Nhứt Như.

sinh quá tương tự quá loại

(生過相似過類) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong đối luận Nhân minh, phần Đồng dụ của người lập luận vốn đã chính xác, nhưng người vấn nạn (địch luận) muốn gây khó nên cưỡng yêu cầu người lập luận viện lí do chứng minh lại để mình có cơ hội phản bác. Nhưng mục đích đã không đạt được mà mình lại tự chuốc lấy lỗi. Lỗi này gọi là Sinh quá tương tự quá loại, là lỗi thứ 13 trong 14 lỗi Tự năng phá do ông Tổ của Cổ nhân minh là ngài Mục túc lập ra. Như đệ tử Phật lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì có tính cách được tạo ra. Dụ: Như cái bình. Thanh luận sư muốn bác bỏ lập luận trên đây, nên mới hỏi: Tính vô thường có Nhân (lí do) không? Nếu đệ tử Phật đáp là có thì Thanh luận sư sẽ bắt bẻ rằng: Tính vô thường của âm thanh bất cực thành, phải dùng Nhân được tạo ra để thành lập. Nhưng tính vô thường của cái bình đã được cả 2 bên cùng thừa nhận, lại dùng Nhân được tạo ra để thành lập, tức phạm lỗi Tương phù. Nếu đệ tử Phật đáp là Không nhân thì Thanh luận sư bắt bẻ rằng: Về âm thanh nếu không có tính cách tạo ra thì không thể hiển bày được Tông vô thường; về cái bình, nếu không lập Nhân thì cũng không thể thành nghĩa vô thường, tức phạm lỗi Sở lập bất cực thành trong Dụ. Luận nạn trên đây là căn cứ vào điều kiện cực thành và cộng hứa của Dụ để yêu cầu lập chứng, đã phi lí lại mắc lỗi, nên gọi là Sinh quá tương tự quá loại. [X. luận Nhân minh chính lí môn; nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.8; Nhân minh thập tứ tương tự quá loại lược thích (Duy hiền, Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 21]. (xt. Nhân Minh).

sinh quán

Birth place—Native place.

sinh sinh

(生生) Chỉ cho sinh tử, tử sinh, lưu chuyển luân hồi vô cùng vô tận. Kinh Lăng nghiêm quyển 3 (Đại 19, 117 trung) nói: Sinh tử, tử sinh, sinh sinh tử tử như vòng lửa quay, không có ngưng nghỉ.

sinh sinh thế thế

(生生世世) Cũng gọi Thế thế sinh sinh. Kiếp kiếp đời đời. Chỉ cho sự sống chết ở đời không bao giờ cùng tận. Kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 3 (Đại 3, 302 trung) nói: Loài hữu tình sống chết vòng quanh trong 6 sđường, giống như bánh xe quay tròn không đầu cuối; hoặc làm cha mẹ hoặc làm con cái, đời đời kiếp kiếp mang ơn lẫn nhau. Cùng kinh đã dẫn quyển 6 phẩm Li thế gian (Đại 3, 318 hạ) nói: Hoặc có Bồ tát vì nghiệp nói dối mà bị khủng bố, đời đời kiếp có nói điều gì, tất cả chúng sinh đều không tin nữa. [X. luận Tịnh độ Q.hạ (Ca tài); Kim thạch tụy biên Q.10; Thanh châu xá lợi tháp hạ minh].

sinh sinh tướng

(生生相) Chỉ cho pháp làm cho Tướng sinh sinh khởi, cùng với 3 tướng Trụ trụ, Dị dị, Diệt diệt, đều là Tùy tướng hoặc Tiểu tướng của 4 tướng, đối lại với tướng sinh trong 4 tướng. Bốn tướng là: Sinh, Trụ, Dị, Diệt, cũng gọi là Bản tướng, Đại tướng, là 4 loại tướng của tất cả pháp hữu vi. Đối lại với 4 tướng này là 4 tướng: Sinh sinh, Trụ trụ, Dị dị, Diệt diệt, gọi là Tùy tướng, Tiểu tướng. (xt. Tứ Tướng, Pháp).

sinh sinh điểu

Jivajiva (skt)—See Cộng Mệnh Điểu and Mệnh Quang Điểu.

sinh sát

Life and death.

sinh sôi nẩy nở

To multiply—To reproduce.

sinh sớ

(生疏) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho người chưa quen, còn bỡ ngỡ, tức tới lui không đúng phép, cử chỉ ngượng ngạo, quê kệch. Phần chú thích về Lưỡng tự tiến thoái trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1134 trung) nói: Những người mới vào tùng lâm, đối với mọi việc hãy còn bỡ ngỡ (sinh sơ), dù được chỉ dẫn nhưng lòng dạ vẫn còn lo âu khôn xiết.[X. Thiền lâm tượng khí tiên Q.15].

sinh thiên

See Sanh Thiên. ; (生天) Sinh lên cõi trời. Tư tưởng sinh thiên vốn không phải của Phậtgiáomà là tín ngưỡng phổ biến của người Ấn độ đời xưa, sau được du nhập Phật giáo. Trong các phái triết học ở Ấn độ, phái Di mạn sai chủ trương sau khi tế lễ sẽ được 1thứnăng lực mới, nếu là thiện thì nhờ năng lực ấy đời sau được sinh thiên (Phạn: Abhyudaya), hưởng thụ các thú vui cùng tột, thoát khỏi vòng luân hồi. Abhyudaya có nghĩa là đi lên, thành công, phồn vinh... Phái Thắng luận qui nạp học thuyết của họ với thực tiễn là pháp (Phạn: Dharma), pháp lại được chia ra 2 phương diện: Sinh thiên và Tối thượng thiện (Phạn: Ni#zreyasa), Sinh thiên là kết quả quyền chứng của Phệ đà: Tối thượng thiện là cái tri (biết) do nghiên cứu triết học 6 cú nghĩa mà được kết quả giải thoát. Bởi vì phái này tuy cũng thực hành tế lễ Phệ đà, nhưng cho rằng quyền chứng Phệ đà chỉ là quả báo sinh thiên, nhưng quả báo này vẫn chưa thoát khỏi luân hồi, cho nên cần phải nghiên cứu triết học 6 cú nghĩa mới có thể đạt được giải thoát chân thật. Nói theo quan điểm của Phật giáo thì Thiên là 1 trong 6 đường, vì thế khó thoát khỏi luân hồi. Trong các kinh điển nói nhiều về thiện nghiệp sinh thiên, như kinh A hàm nói nhờ lễ kính Phật tích, cha mẹ, sáu phương, tu tập phạm hạnh, hành thiện, trì giới... mà được sinh thiên. Ngoài ra, kinh Bát nhã, kinh Kim quang minh, kinh Lăng già... đều có thuyết Sinh thiên. [X. kinh Trường a hàm Q.4; kinh Soạn tập bách duyên Q.6; kinh Pháp hoa Q.3; kinh Đại thừa nhập lăng già Q.2; kinh Đại phẩm bát nhã Q.1]. (xt. Thiên).

sinh thiên nhân

(生天因) Chỉ cho nghiệp nhân sinh lên cõi trời. Thích thị yếu lãm quyển trung dẫn lời kinh Nghiệp báo sai biệt (Đại 54, 291 thượng) nói: Tu đủ 10 điều thiện tăng thượng được sinh lên tầng trời Tán địa của cõi Dục; nếu tu 10 điều thiện hữu lậu, nhờ tương ứng với định, được sinh lên trời cõi Sắc; nếu tu lìa sắc, xa lìa thân, khẩu, nhờ tương ứng với định, được sinh lên cõi Vô sắc. Ngoài ra, sách đã dẫn còn trích lời kinh Chính pháp niệm xứ (Đại 54, 291 trung) nói: Nhân giữ các giới không giết hại, không trộm cắp, không dâm dục, nhờ 3 việc thiện này mà được sinh thiên.

sinh thiện tất đàn

(生善悉檀) Phạn: Siddhànta. Hán dịch: Thành tựu, Tông, Lí. Cũng gọi Vị nhân tất đàn, Các các vị nhân tất đàn. Tức tùy theo căn cơ của chúng sinh mà thuyết pháp, khiến cho thiện căn của họ tăng trưởng, 1 trong 4 tất đàn. (xt. Tứ Tất Đàn).

sinh thành

To give birth and to raise.

sinh thân

Buddha's earthly body. ; (生身) Đối lại: Pháp thân. Chỉ cho thân Phật đầu thai nơi cha mẹ mà sinh ra, có đầy đủ 32 tướng. Và nhục thân do sức thần thông nhất thời hóa hiện ra, cũng gọi là Sinh thân. Phật giáo Đại thừa cho rằng hóa thân phương tiện là Sinh thân Phật, như Di Đà, Quán Âm, Phổ Hiền, Di Lặc... đều là Sinh thân Phật. Thông thường, sinh thân cũng có thể được chỉ chung cho nhục thân của phàm phu và Bồ tát. [X. kinh Pháp lạc tỉ khưu ni trong Trung a hàm Q.18; kinh Đại bát niết bàn Q.34 (bản Bắc); Phật địa kinh luận Q.7; luận Đại trí độ Q.9, 29]. (xt. Nhị Thân). ; (生身) Cũng gọi Sinh thân Phật, Phụ mẫu sinh thân, Nhục thân, Tùy thế gian thân.

sinh thân cung

(生身供) Pháp hội được cử hành để cúng dường xá lợi nhục thân của đức Thế tôn. Trong Mật giáo, đối với đức Phật hoặc Tổ sư tiên đức quán tưởng sinh thân mà cúng dường, cũng gọi là Sinh thân cúng. (xt. Sinh Thân).

sinh thú

(生趣) Chỉ cho Tứ sinh và Lục thú. Tứ sinh là noãn (đẻ từ trứng ra), thai (đẻ từ bào thai), thấp (đẻ nơi ẩm ướt)và hóa(tự nhiên sinh ra).Lục thú (6 nẻo) là trời, người, quỉ, súc, địa ngục và A tu la. Thích môn qui kính nghi quyển thượng (Đại 45, 855 thượng) nói: Do kiếp trước bỏ chính theo tà, nên phải trôi nổi trong sinh thú.

sinh thời

While alive.

sinh trái

To begin to fruit.

sinh trưởng

To be born and grow up.

sinh trụ dị diệt

Bốn tướng sanh già bệnh chết của pháp hữu vi—Birth, stay, change (decay), death.

sinh tân

(生津) Bến sông sinh tử. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 (Đại 54, 205 hạ) nói: Nương theo đó mà tu hành thì đều được lên bờ kia, ngược lại thì sẽ bị chìm đắm nơi bến sinh tử (sinh tân).

sinh tô kinh

(生蘇經) Chỉ cho các kinh của thời Phương đẳng trong 5 thời giáo do tông Thiên thai thành lập. Ngài Trí Khải theo thứ tự thuyết pháp của đức Phật mà chia loại, giải thích nội dung các kinh điển Phật giáo làm 5 thời: Hoa Nghiêm, Lộc Uyển, Phương Đẳng, Bát Nhã, Pháp Hoa Niết Bàn và phối hợp 5 thời này với 5 vị: Sữa, lạc, sinh tô, thục tô và đề hồ. Kinh Sinh tô chỉ cho các kinh điển thuộc thời Phương đẳng như các kinh Đại thừa: Duy ma, Tư ích, Kim quang minh, Thắng man... Pháp hoa huyền nghĩa quyển 2 thượng (Đại 33, 692 hạ) nói: Sinh tô kinh (...) thì 3 thô 1 diệu.

sinh tô sát nhân

(生酥殺人) Ngài Trí khải tông Thiên thai chia giáo pháp của đức Phật nói trong 1 đời làm 5 thời: Hoa nghiêm, Lộc uyển, Phương đẳng, Bát nhã, Pháp hoa Niết bàn và phối hợp 5 thời này với 5 vị: Sữa, lạc, sinh tô, thục tô và đề hồ. Trong đó, vị sinh tô phối hợp với thời Phương đẳng, tức sinh tô được ví dụ như giáo pháp Phương đẳng Đại thừa. Nghĩa là trong các kiếp quá khứ đã từng được nghe giáo nghĩa Đại thừa, ví như bị trúng độc; nay lại được nghe những giáo pháp Phật đã nói ngày trước mà tỉnh ngộ, ví dụ chất độc phát sinh tác dụng, đến nỗi chết người. Tức là các vị Bồ tát của thời Phương đẳng, nghe giáo pháp Đại thừa mà thấy được tính Phật, tất cả phiền não kết hoặc trong vô lượng kiếp bỗng nhiên dứt hết, vào Đại niết bàn, như người chết đi vừa sống lại (đại tử nhất phiên).

sinh tôn quý gia nguyện

(生尊貴家願) Nguyện được sinh vào nhà tôn quí. Chỉ cho nguyện thứ 43 trong 48 điều nguyện của đức PhậtA di đà. Tức hành giả niệm danh hiệu Phật A di đà, sau khi mệnh chung được sinh vào nhà tôn quí. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 269 thượng) nói: Nếu tôi được thành Phật, chúng Bồ tát ở các cõi nước phương khác, nghe danh hiệu của tôi, sau khi mệnh chung sẽ được sinh vào nhà tôn quí. Nếu không như thế thì tôi không lên ngôi Chính giác.

sinh tĩnh lự

(生靜慮) Tĩnh lự, Phạm : Dhyàna. Pàli: Jhàna. Hán âm: Thiền, Thiền na. Đối lại: Định tĩnh lự. Chỉ cho thiền định thứ 4 trong 4 thiền định của cõi Sắc. Sinh tĩnh lự do nương vào Định tĩnh lự mà sinh vào Tĩnh lự địa của cõi Sắc. (xt. Tứ Thiền).

sinh tướng

(生相) Phạn: Pàli: Jàti. Gọi tắt: Sinh. Chỉ cho nhân thù thắng làm cho pháp hữu vi chuyển từ vị lai vào hiện tại, cũng chính là nhân năng sinh sinh ra pháp ở vị lai, là 1 trong 4 tướng, 1 trong 75 pháp của tông Câu xá, 1 trong 100 pháp của tông Duy thức. Đây là sinh tướng của pháp hữu vi, chẳng phải thực pháp, chỉ nương nơi nhân duyên mà sinh ra, vì trước không mà nay có nên giả gọi là Sinh tướng. Lại nói theo sự tương tục trong 1 kì của loài hữu tình thì lúc hữu tình mới sinh ra ở đời hiện tại, tức gọi là Sinh tướng. [X. luận Đại tì bà sa Q.39; luận Câu xá Q.5; luận Thành duy thức Q.2; luận Đại thừa A tì đạt ma tạp tập Q.2]. (xt. Tứ Tướng).

sinh tượng

(生像) Vàng và bạc. Sinh (Phạm,Pàli:Jàta-rùpa, cũng gọi: Sinh sắc) nghĩa là màu sắc xưa nay vốn như vậy, tức hàm ý là vàng. Tượng (Phạn: Rùpya, Pàli: Rùpiya, cũng gọi Tự sắc, Tự sinh sắc), nghĩa là màu sắc gần giống như sinh, tức hàm ý là bạc. Hợp chung cả 2 lại gọi là Sinh tượng, cũng gọi Sinh sắc tự sắc.Sa di thập giới pháp tinh uy nghi (Đại 24, 926 trung) nói: Giữ giới Sa di, suốt đời không cầm giữ sinh tượng(vàng bạc) vật báu.Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển hạ, phần 4 (Đại 40, 421 thượng) nói: Sinh sắc tức là vàng, màu của nó vốn sinh ra đã vàng; Tự sắc tức là bạc, vì màu của nó có thể nhuộm được. [X. kinh Đại bát nhã Q.380; luật Ma ha tăng kì Q.10; luật Tứ phần Q.7, 34; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3].

sinh tượng sinh tự

Tự nhiên và tương tự với tự nhiên, như vàng và bạc—Natural and similar, i.e. gold and silver. 1) Sinh Tượng: Vàng là loại kim khí thiên nhiên và toàn hảo từ phẩm chất lẫn màu sắc—The proper natural or unchanging (colour)—Gold being the natural and perfect metal and colour. 2) Sinh Tự: Bạc được sắp hạng kế vàng, dù có thể bị mờ nhạt đi—The tarnishable or changing (colour)—Silver being next, though it will tarnish.

sinh tệ

To become bad.

sinh tịnh độ bát pháp

(生淨土八法) Tám pháp làm nhân sinh về Tịnh độ. Theo phẩm Hương tích trong kinh Duy ma cật quyển hạ, cư sĩ Duy ma cật trả lời câu hỏi của các vị Bồ tát từ nước Chúng hương rằng: Ở cõi này thành tựu 8 pháp thì sẽ được sinh về Tịnh độ. Tám pháp ấy là: 1. Làm lợi ích cho chúng sinh mà không mongđượcbáo đáp, chịu mọi khổ não thay cho tất cả chúng sinh. 2. Đem tâm bình đẳng đối đãi với hết thảy chúng sinh, nhún nhường không ngại. 3. Coi các Bồ tát như Phật. 4. Nghe những kinh chưa được nghe bao giờ mà không sinh tâm nghi ngờ. 5. Không chống trái với hàng Thanh văn. 6. Không ghen ghét lợi lộc của người khác, không khoe khoang lợi lộc của mình. 7. Thường tự xét lỗi mình, không nói khuyết điểm người khác. 8. Luôn luôn dốc lòng cầu các công đức.[X. phẩm Hương tích kinh Duy ma cật sở thuyết].

sinh tồn

To survive—To subsist—To exist.

sinh tức vô sinh

(生即無生) Sinh chính là vô sinh, không hai không khác. Đây là giáolí được nói trong các bộ Bát nhã và cũng là ý nghĩa tột cùng của tông Tam luận. Trong Nhị đế bát bất trung đạo của tông Tam luận, Sinh của Tục đế thì Chân đế coi là Vô sinh. Bởi vì Sinh của Tục đế chẳng phải thực sinh mà là giả sinh của nhân duyên hòa hợp, cho nên là vô sinh. Bởi vậy, nương vào cái vô sinh mà sinh thì chính là sinh tức vô sinh. Ngược lại, vô sinh của Chân đế là dựa vào giả sinh của Tục đế mà lập, cho nên giống với giả sinh của Tục đế. Đã biết vô sinh của Chân đế là giả vô sinh, cho nên cái nương vào sinh mà vô sinh thì chính là Vô sinh tức sinh. Ngoài ra, sự vãng sinh Tịnh độ trong Tịnh độ giáo cũng có thể giải thích theo ý nghĩa sinh tức vô sinh; nghĩa là vãng sinh Cực lạc chẳng phải sinh nơi tục đế hư vọng của 3 cõi (Dục,Sắc, Vô sắc), mà là theo ý nghĩa của Chân đế chứng được sinh của vô sinh. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ; Tịnh độ chân yếu sao Q.cuối].

sinh tức vô sinh, vô sinh tức sinh

Sanh tứ là không sanh, không sanh tức là sanh. Đây là thuyết của các kinh Bát Nhã và là tuyệt ý của Tam Luận tông. Sanh chỉ là một từ ngữ giả tạm. Tục Đế gọi là “sanh,” nhưng Chân Đế lại là “vô sanh,” tương đối là “sanh” trong khi tuyệt đối là “vô sanh.”—To be born is not to be born, not to be born is to be born—It is an accepted doctrine of the Prajna teaching and the ultimate doctrine of the Madhyamika school. Birth, creation, life, each is but a temporary term, in common statement it is called birth, in truth it is not birth; in the relative it is birth, in the absolute non-birth.

Sinh tử

生死|Luân hồi, Vòng sinh tử

sinh tử

See Sinh Sát, Sanh Tử, and Thập Nhị Chủng Sanh Tử. ; (生死) Phạn: Saôsàra, hoặc Jàti-maraịa. Hán âm: Thiện ma mạt lạt nam, Xà đề mạt lạt nam. Cũng gọi Luân hồi. Đối lại: Niết bàn.Theo nghiệp nhân sống và chết nối nhau trong 6 đường cõi mê: Trời, người, a tu la, ngã quỉ, súc sinh, địa ngục, mãi mãi không bao giờ cùng tận. Tùy theo tính chất, sinh tử được chia loại như sau: 1. Hai thứ sinh tử: Luận Thành duy thức nêu 2 thứ sinh tử: a) Phần đoạn sinh tử: Lấy nghiệp thiện ác hữu lậu làm nhân, phiền não chướng làm duyên, sẽ chịu quả báo thô trọng trong 3 cõi, do sự dài ngắn của thọ mệnh, tướng lớn nhỏ của thân thể mà quả báo có sự hạn chế nhất định, cho nên gọi là Phần đoạn thân. Nhận Phần đoạn thân này mà luân hồi gọi là Phần đoạn sinh tử. b) Biến dịch sinh tử (cũng gọi Bất tư nghị biến dịch sinh tử): Các bậc A la hán, Bích chi phật, Đại lực bồ tát... tuy không chịu Phần đoạn sinh tử, nhưng vì có nghiệp phân biệt vô lậu làm nhân, sở tri chướng làm duyên, ở ngoài 3 cõi thụ thân thù thắng vi diệu, tức thụ thân Ý sinh, rồi dùng thân này trở lại trong 3 cõi tu hạnh Bồ tát, cho đến thành quả Phật. Vì sức bi nguyện mà thụ thân này nên thọ mệnh, nhục thân đều có thể biến hóa thay đổi một cách tự do chứ không bị hạn chế nhất định, cho nên gọi là Biến dịch thân. Thụ thân biến dịch gọi là Biến dịch sinh tử. 2. Bốn thứ sinh tử: Luận Hiển thức cho rằng Phần đoạn sinh tử nương nơi 3 cõi Dục, Sắc và Vô sắc mà có 3 thứ sinh tử, nếu lại thêm Biến dịch sinh tử ở ngoài 3 cõi thì thành 4 thứ sinh tử. Luận Phật tính quyển 2 và Nhiếp đại thừa luận thích quyển 10 (bản dịch đời Lương) lại chia Biến dịch sinh tử làm 4 thứ sinh tử: Phương tiện, Nhân duyên, Hữu hữu và Vô hữu (cũng gọi là 4 oán chướng). Thắng man bảo quật quyển trung, phần cuối, cũng lập 4 thứ sinh tử là Lưu lai sinh tử, Phần đoạn sinh tử, Trung gian sinh tử và Biến dịch sinh tử. 3. Bảy thứ sinh tử: Cứ theo luận Hiển thức và Ma ha chỉ quán quyển 7 thượng thì vì Phần đoạn sinh tử nương nơi 3 cõi mà có 3 thứ khác nhau, 3 thứ này lại thêm vào 4 thứ Biến dịch sinh tử nói trên, thành là 7 thứ sinh tử. Cứ theo Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 7, phần 1 vàĐại minh tam tạng pháp số quyển 30 thì 7 thứ sinh tử là:a) Phần đoạn sinh tử. b)Lưu nhập sinh tử(cũng gọi Lưu lai sinh tử): Ở sát na đầu tiên, vì mê lí chân như mà bị trôi vào cõi mê sinh tử. c)Phản xuất sinh tử: Ở sát na đầu tiên, nhờ phát tâm mà từ trong sinh tử trở ra. d) Phương tiện sinh tử: HàngNhị thừa dứt hếtKiến hoặc và Tư hoặc, vượt ra 3 cõi, sinh vào các cõi nước phương tiện. Trong lúc đoạn hoặc chứng quả, vì nhân dời quả đổi nên nói là sinh tử. e) Nhân duyên sinh tử: Hàng Bồ tát từ Sơ địa trở lên, lấy nghiệp vô lậu làm nhân, vô minh làm duyên mà thị hiện sinh tử. f) Hữu hậu sinh tử(cũng gọi Hữu tình sinh tử): Hàng Bồ tát Thập địa còn lại 1 phẩm vô minh sau cùng chưa dứt, cho nên phải chịu 1 lần sinh tử. g) Vô hậu sinh tử (cũng gọi vô hữu sinh tử): Bồ tát Đẳng giác dứt sạch 1 phẩm vô minh cuối cùng, rốt ráo không còn thụ thân sau. [X. kinh Tạp a hàm Q.6, 13; kinh Na tiên tỉ khưu Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.18; Tông kính lục Q.73]. (xt. Thất Chủng Sinh Tử, Tứ Chủng Sinh Tử).

sinh tử chi tế

Giữa cái sống và cái chết—Between life and death.

sinh tử dã

(生死野) Cánh đồng sinh tử, ví dụ sự sống chết rộng lớn, bát ngát, bao la. Ma ha chỉ quán quyển 5 thượng (Đại 46, 49 thượng) nói: Đôi chân cứng chắc này sẽ vượt qua cánh đồng sinh tử.

sinh tử giải thoát

(生死解脫) Cởi bỏ được sự trói buộc của sinh tử mà vào cảnh giới Niết bàn. Kinh Cự lực trưởng giả sở vấn đại thừa quyển thượng (Đại 14, 830 hạ) nói: Tùy theo căn khí lớn nhỏ của mỗi chúng sinh, ưa muốn tu học, xa lìa sinh tử, giải thoát yên vui.

sinh tử hải

(生死海) Biển sống chết. Chúng sinh chìm đắm trong cõi mê sinh tử, quay vòng không cùng, giống như biển cả mông mênh không bờ bến, nên gọi là Sinh tử hải. Phật sở hành tán quyển 3 (Đại 4, 22 trung) nói: Nên dong thuyền trí tuệ, vượt qua biển sinh tử. Đại bát niết bànkinhnghĩa kí quyển 4 (Đại 37, 715 trung) nói: Như lai được thuyền Niết bàn, qua lại khắp nơi cứu vớt chúng sinh, cho nên có khả năng làm bậc thuyền trưởng trong biển cả sinh tử. [X. Ma ha chỉ quán Q.1 thượng].

sinh tử lao quan

(生死牢關) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho cửa ải sinh tử luân hồi đóng chặt, khó vượt qua. Cù châu Kiệt phong Ngu thiền sư thị Ngũ đài thiện giảng chủ Thiền quan sách tiến (Đại 48, 1103 trung) nói: Phải rõ đại sự của mình, muốn thấu thoát cửa ải sống chết thì trước hết phải cắt đứt tất cả kiến giải hư vọng thánh phàm.

sinh tử luân

(生死輪) Phạn: Bhava-cakra. I. Sinh Tử Luân. Bánh xe sinh tử. Chúng sinh sống chết vòng quanh trong 3 cõi 6 đường, giống như bánh xe xoay chuyển không ngừng. Luận Đại trí độ quyển 5 (Đại 25, 100 thượng) nói: Bánh xe sinh tử vận chuyển người, các phiền não trói buộc sai khiến, sức của chúng mạnh mẽ, không ai ngăn cấm được. II. Sinh Tử Luân. Cũng gọi Ngũ đạo luân, Thập nhị duyên khởi đồ, Ngũ thú sinh tử luân. Chỉ cho hình vẽ cái vòng tròn hiển bày sự sinh tử luân hồi của chúng sinh. Hữu bộ tì nại da quyển 34 (Đại 23, 811 thượng) nói: Nay ta bảo các tỉ khưu vẽ cái vòng sinh tử trên vách của chùa. Trong hang điện số 17 ở A chiên đa (Phạn: Ajantà), Ấn độ, hiện còn bức tranh cổ vẽ vòng sinh tử (sinh tử luân). Ở Trung quốc cũng có phong tục vẽ hình này.[X. Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.17, Thích thị yếu lãm Q.hạ; The Buddhism of Tibet, by L. A. Waddell].

sinh tử luân hồi

See Sanh Tử Luân Hồi.

sinh tử lưu

(生死流) Dòng sống chết. Vì sinh tử có năng lực cuốn trôi chúng sinh như dòng nước, cho nên gọi là Sinh Tử Lưu. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 273 trung) nói: Giả sử lửa cháy khắp thế giới, cũng cần phải nghe pháp, sẽ được thành Phật đạo, rộng độ sinh tử lưu.

sinh tử ngạn

See Sanh Tử Ngạn. ; (生死岸) Bờ sống chết. Chỉ cho chúng sinh còn bị chìm đắm trong biển sinh tử luân hồi. Kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 39 (Đại 2, 761 hạ) nói: Phạm chí không hiểu rõ, còn vào bờ sinh tử.

sinh tử nhục thân

(生死肉身) Nhục thân sống chết, 1 trong 2 loại thân của Bồ tát. Chỉ cho Bồ tát ở giai vị Tam hiền (Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng), chưa chứng pháp tính, nên vẫn còn thụ thân sinh tử luân hồi trong 3 cõi. (xt. Nhị Chủng BồTát Thân).

sinh tử nê

See Sanh Tử Nê. ; (生死泥) Vũng bùn sống chết. Nghĩa là chúng sinh chìm đắm trong sinh tử, như ở trong vũng bùn lầy nên dùng bùn để ví dụ. Luận Câu xá quyển 1 (Đại 29, 1 thượng) nói: Sinh tử nê, có nghĩa sinh tử là nơi chúng sinh bị chìm ngụp, khó ngoi ra được, cho nên dùng bùn (nê) để ví dụ.

sinh tử phọc

(生死縛) Sống chết trói buộc. Các thứ phiền não sinh tử như tham, sân, si... trói buộc chúng sinh không được tự tại, cũng như lưới rập trói buộc người, cho nên gọi làSinh tử phược. Thuyết vô cấu xưng kinh sớ quyển 3, phần cuối (Đại 38, 1046 trung) nói: Ái là ái thủ, hữu ái chính là duyên nhuận sinh, đó là cỗi rễ của sinh tử phược. [X. kinh Tối thắng vương Q.2].

sinh tử sự đại

(生死事大) Sống chết việc lớn. Nghĩa là vấn đề sinh tử rất là trọng đại. Phẩm Hành do trong Lục tổ đại sư pháp bảo đàn kinh (Đại48,348 thượng) nói: Người đời, sống chết là việc lớn, các ông suốt ngày chỉ cầu phúc điền, không cầu ra khỏi biển sinh tử, tự tính nếu mê thì phúc nào cứu được? Các ông mỗi người xem lại trí tuệ của mình, nhận lấy tính bát nhã của chính bản tâm mình. [X. Đại tuệ phổ giác thiền sư ngữ lục Q.19; điều Cáo hương, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; Thiền lâm bảo huấn Q.4].

sinh tử trường dạ

(生死長夜) Đêm dài sống chết.Nghĩa là chúng sinh chìm đắm trong cái khổ sinh tử như đêm dài tối tăm. Sinh tử như giấc mộng, đang còn trong mộng thì không biết đó là mộng, đến khi tỉnh dậy mới nhớ lại những cảnh trong mộng là hư ảo.Chúng sinh luân hồi trong sinh tử cũng như giấc mộng, cho nên dùng đêm dài để ví dụ. Luận Thành duy thức quyển 7 (Đại 31, 39hạ) nói: Chưa được chân giác thì hằng ở trong mộng, cho nên đức Phật nói đêm dài sống chết.

sinh tử tức niết bàn

See Sanh Tử Tức Niết Bàn. ; (生死即涅槃) Sinh tử và Niết bàn tương tức không hai. Sinh tử là quả khổ của cõi mê, Niết bàn là quả chứng của cõi ngộ. Nhóm từ này thường đi đôi với nhóm từ Phiền não tức Bồ đề, trực tiếp chỉ cho giáo nghĩa của Phật giáo Đại thừa. Duy có điều đối với nghĩa của chữ Tức thì các giáo phái nói mỗi khác. Luận Nhiếp đại thừa (bản dịch đời Lương) quyển hạ (Đại 31, 129 trung) nói: Sinh tử tức Niết bàn, cả 2 không phân chia đây kia, cho nên ở trong sinh tử, chẳng phải bỏ chẳng phải chẳng bỏ, ở trong Niết bàn cũng vậy, không phải được cũng không phải không được. Thuyết Sinh tử tức Niết bàn chỉ có Đại thừa mới bàn đến. Nếu thấu suốt các pháp, trụ nơi vô ngã thì có thể đạt đến cảnh giới này.[X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.13; Vãng sinh luận chú Q. hạ (Đàm loan); Ma ha chỉ quán Q.1 thượng; Tứ giáo nghĩa Q.6 (Trí khải). (xt. Phiền Não Tức Bồ Đề).

sinh tử uyên

(生死淵) Vực sống chết. Vì sinh tử khiến cho người ta chìm đắm nên dùng cái vực để ví dụ. Kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 6 (Đại 2, 575 thượng) nói: Qua dòng thành vô lậu để vượt qua vực sống chết.

sinh tử viên

Vườn sanh tử, hay thế giới Ta Bà nơi mà chúng sanh vừa ý hay bằng lòng một cách mê muội—The garden of life and death, this mortal world in which the unenlightened find their satisfaction. ; (生死園) Khu vườn sống chết. Cõi sinh tử là nơi phàm phu thích dạo chơi, cũng là chỗ Bồ tát du hóa, giống như 1 khu vườn, cho nên gọi là Sinh tử viên. Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40, 843 trung) nói: Thị hiện thân ứng hóa, đi vào vườn sinh tử, trong khu rừng phiền não, hiển du hí thần thông.

sinh tử vân

(生死雲) Mây sống chết. Mây được dùng để ví dụ sự tối tăm của sinh tử. Phật giáo cho Hoặc, Nghiệp, Khổ là nhân quả của sống chết vòng quanh, 3 đường Hoặc, Nghiệp và Khổ này thường che lấp bản tính, giống như đám mây đen che khuất mặt trời, mặt trăng giữa hư không. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 272 hạ) nói: Mặt trời tuệ chiếu thế gian phá tan mây sinh tử. [X. Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán Q.hạ].

sinh tử đại hải

See Sanh Tử Đại Hải.

sinh vô sắc

(生無色) Đối lại: Định vô sắc. Sinh vào 4 cõiVô sắc, là quả của định Vô sắc. Cõi Vô sắc gồm 4 tầng trời: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Trong 4 nơi này, mỗi nơi đều có 2 thứ định thể là Sinh vô sắc và Định vô sắc; trong đó,Sinh vô sắc là quả báo do tu định Vô sắc mà được sinh vào cõi Vô sắc, nên có tên như thế. (xt. Định, Định Vô Sắc, Vô Sắc Giới).

sinh xứ tháp

(生處塔) Ngôi tháp ở trong vườn Lâm tì ni (Phạn: Lumbinì), nơi đức Phật giáng sinh, 1 trong 8 tòa linh tháp của Ấn độ. (xt. Bát Đại Linh Tháp).

sinh điền

(生田) Ruộng sinh tử. Chỉ cho 3 cõi: Dục, Sắc và Vô sắc. Tức chúng sinh sống chết vòng quanh trong 3 cõi, như cây lúa cấy rồi gặt, gặt xong lại cấy, quay vòng không dứt. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 2 (Đại 54, 215 thượng) nói: Loài chúng sinh coi việc ăn mặc là quan trọng nhất, nó như gông cùm, khống chế cả sinh điền.

sinh đắc huệ

(生得慧) Đối lại: Gia hành thiện. Chỉ cho tâm thiện tự nhiên có được cùng 1 lúc khi sinh ra, là tâm thiện hữu lậu không phải do công sức mà tự nhiên thành tựu. Theo luận Đại tì bà sa quyển 144 thì thiện có 3 thứ là: Gia hành đắc, Li nhiễm đắc và Sinh đắc. Đại thừa nghĩa chương quyển 3 (Đại 44, 517 thượng) nói: Sinh đắc thiện tâm nghĩa là thiện tâm tương ứng với tín, tiến, niệm... do công tu tập từ đời quá khứ mà được thành tựu. [X. luận Câu xá Q.4; luận Đại tì bà sa Q.11; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.6, phần cuối]. (xt. Thụ Sinh Đắc).

sinh đắc thiện

(生得善) Chỉ cho trí tuệ có được cùng 1 lượt khi sinh ra, là 1 trong 4 tuệ. Theo luận Đại tì bà sa quyển 42 thì trước tiên thụ trì, chuyển đọc 3 tạng 12 phần giáo... mà được trí tuệ, gọi là Sinh đắc tuệ; nương theo tuệ này có thể được tuệ do nghe mà thành, lại theo thứ tự có thể được tuệ do suy tư mà thành và tuệ do tu hành mà thành. Nhưng, Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 6, phần cuối thì nói (Đại 45, 354 trung): Đối với Ngũ minh giáo, thiện tâm có được trong giác tuệ kém cỏi gọi là Sinh đắc tuệ. Sau khi nghe pháp, khởi tác ý sai biệt, thấy rõ thiện tâm, gọi là Văn tuệ. Không thuận theo pháp xuất thế, chẳng phải do công sức sinh khởi, tính không rõ ràng, đọc và hiểu văn nghĩa, tự nhiên phát khởi, gọi là Sinh đắc tuệ. (xt. Tứ Tuệ).

sinh đắc định

(生得定) Đối lại: Tu đắc định. Chỉ cho tâm định khi mới sinh ra đã có được, vì nhờ sức thiện nghiệp ở đời trước mà tự nhiên được định địa. Đây chỉ cho 8 thứ định địa gồm 4 định của cõi Sắc là: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền và 4 định của cõi Vô sắc là: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Trường hợp người mới sinh ra đã được định tâm (Sinh sắc định) là vì khi còn ở cõi Dục (Tán địa) nhờ sức tu hành (đã được tâm đinh, đến khi sinh lên 4 cõi Thiền Sắc giới và 4 cõi Thiền Vô sắc giới thì tâm định liền sinh khởi. (xt. Định).

sinh đồ

(生途) Chỉ cho đường sinh tử. Thích môn qui kínhnghi quyển thượng (Đại 45, 895 trung) nói: Mê tưởng kiến thì sinh đồ ngày càng tăng, ngộ hình tâm thì con đường cao xa ngầm khởi.

sinh động

Lively—Lifelike.

siêng

Industrious—Hard-working—Diligent—Laborious.

siêng cần

Earnestly striving.

siêu

Vikrama (skt). 1) Siêu độ hay cứu độ: To save. 2) Siêu việt: Leap over—To surpass.

siêu bát

Theo tông Thiên Thai thì giáo thuyết trong những Kinh Pháp Hoa và Niết Bàn vượt hẳn giáo thuyết của tám tông phái khác—According to the T'ien-T'ai sect, the teaching of the Lotus and Nirvana sutras surpasses the eight other schools—See Thiên Thai Ngũ Thời Bát Giáo.

siêu bát đề hồ

(超八醍醐) Tiếng dùng của tông Thiên thai. Giáo nghĩa kinh Pháp hoa và kinh Niết bàn siêu việt tám giáo (4 giáo Hóa nghi và 4 giáo Hóa pháp), là vị đề hồ trên hết trong 5 vị, vì thế gọi là Siêu bát đề hồ.

siêu bạt

To surpass—To go beyond.

siêu bảo

(超寶) (1635-1709) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Thanh, người Lô lăng, Dự chương (Giang tây), họ Lưu. Năm lên 9 tuổi, sư đột nhuốm bệnh, rất nguy kịch, thân phụ liền đưa sư đến chùa Kì đà, lễ ngài Từ thừa xin xuất gia. Năm 19 tuổi, sư y vào ngài Thanh nguyên Mi am thụ giới Cụ túc, tham học với ngài hơn 10 năm. Sau, sư đến tham học Thiền sư Viên chiếu Lữu khê ở Hàng châu, nỗ lực tham cứu tâm chỉ, được ngài ấn kí, tiếp tục ở lại chỗ ngài Viên chiếu 3 năm. Đến năm Khang hi 36 (1697), nhận lời thỉnh của chư tăng núi Thiên mục, sư đến thuyết pháp hoằng hóa. Ba năm sau, sư về am Hoạt mai ở gần chùa cũ để tĩnh dưỡng. Năm Khang hi 48 (1709), sư thị tịch, thọ 75 tuổi. Sư để lại tác phẩm: Ngữ lục 8quyển. [X. Chính nguyên lược tập Q.9; Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.2 (Hư vân)].

siêu giới tự

(超戒寺) Phạn: Vikramazìla. Tạng: Vi-kra-ma-zì-la#igtsug-lagkhaí. Cũng gọi Siêu hành tự. Tên ngôi chùa ở tiểu bangBihàr (Tỉ cáp nhĩ) tại Ấn độ, do vua Đạt ma ba la đời thứ 2 (Phạm: DharmapàlaII) thuộc Vương triều Ba la (Phạn: Pàla) sáng lập vào cuối thế kỉ thứ VIII đến đầu thế kỉ thứ IX Tây lịch. Vào thế kỉ thứ X, chùa này trở thành trung tâm của Mật giáo Ấn độ. Chùa này cùng với các chùa Na lan đà (Phạn: Nàlandà), chùa Ôđan tháp phổ lạp (Phạn: Udaịđapura) và chùa Bà kì la sa nạp (Phạn: Vajrasana) được gọi chung là Ấn độ tứ đại tự (4 ngôi chùa lớn ở Ấn độ). Toàn chùa có 107 ngôi điện đường và 6 ngôi học xá, ở chính giữa là Đại điện Quán âm, chung quanh có 53 ngôi điện lớn nhỏ, thờ các tượng thần của Mật giáo. Các học tăng đến đây học tập rất đông; chùa này và chùa Na lan đà đều là trung tâm của Kim cương thừa (Phạm: Vajrayàna). Vị đại sư nổi tiếng của Mật giáo làA đề sa (Phạm:Atiza), lúc nhỏ đã thụ giới, học tập và sau giữ chức Trụ trì của chùa này. Năm 1203, chùa này bị phá hủy.[X. Manual of Indian Buddhism by H. Kern; Early History of India by V. A. Smith; VikramazìlaMonastery (J. A. S. B. 1909) by N. L. Dey; The Geographical Dictionary of Ancient and Mediaeval India].

siêu hay đọa

Salvation or perdition.

siêu hình học

Metaphysics.

siêu linh học

Matapsychics.

siêu lên thượng giới

To attain the highest ground—See Bodhisattva's Ten Grounds.

siêu nhiên

Supernatural.

siêu nhân

Superman.

siêu nhật vương

Vikramaditya (skt)—Còn gọi là Lực Nhật Vương, là vị vua của nước A Du Đồ, người đã chinh phục các vương quốc của dân tộc Scythians, thống trị cả một vùng bắc Ấn, là vị vua khôn ngoan nhất của vương triều Cấp Đa. Ông còn là người bảo hộ các tôn giáo (Vô Trước là người cùng thời với nhà vua)—A celebrated Hindu king, around 57 B.C., who drove out the Sakas or Scythians, ruled all northern India, was one of the wisest of Hindu kings and a great patron of literature. ; (超日王) Phạn: Vikramàditya. Hán âm: Ngật la ma a diệt đa, Tật kha la ma trật đa. Cũng gọi Chính cần nhật vương. Vị Đại vương của Vương triều Quật đa (Phạn: Gupta) ở Ấn độ, ra đời sau đức Phật nhập diệt được 1000 năm. Uy phong của vua lừng lẫy, các nước ở Ấn độ thời đó đều thần phục. Lúc bấy giờ, Ấn độ giáo (Hinduism) phục hưng, văn học tiếng Phạm cũng rất thịnh, trong Phật giáo có nhiều vị Đại luận sư xuất hiện như các ngài Vô trước, Thế thân... cổ xúy Phật giáo Du già, đồng thời nhà vua cũng khuyến khích các loại văn học, nghệ thuật của các tông giáo. Nhà vua còn thương xót cứu giúp những người nghèo khổ, chiếu cố đến các quan lại, cho nên các quan Đại thần... tôn vua là Thánh tiên đại vương (Phạn: Ràjàdhiràjs-fwi). Khi ngài Pháp hiển đến Ấn độ (402- 411) thì gặp lúc vua Siêu nhật đang còn tại vị. [X. điềuKiện đà la quốc trong Đại đường tây vực kí Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.21; Tuệ lâm nghĩa Q.76]. (xt. Cấp Đa Vương Triều).

siêu phàm

Supermundane—Eminent—Super human.

siêu phật việt tổ

(超佛越祖) Cũng gọi Sát tổ sát Phật. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cảnh giới tột cùng vượt qua Phật và Tổ. Tức là cảnhgiới trong đó tâm không còn chấp trước bất cứ sự vật gì, đã đạt đến sự tự do tuyệt đối. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 17 (Đại 51, 339thượng chép: Hỏi: Thế nào là lời nói siêu Phật, siêu Tổ? Sư đáp: Lão tăng đang hỏi ông đấy! Vị tăng nói: Xin Hòa thượng hãy gác vấn đề này lại đã. Sư nói: Một câu hỏi củalão tăng mà ông còn chẳng tự hiểu thì còn hỏi làm gì lời siêu Phật siêu Tổ! [X. Tổ đường tập Q.6, 8; Cổ tôn túc ngữ lục Q.9; Thiền môn niêm tụng tập Q.24; Tông môn thống yếu tục tập Q.18; Thiền lâm loại tụ Q.18].

siêu quá

Samatikram (skt)—Vượt quá—To go beyond—To cross over—To transgress.

siêu quần

Outstanding.

siêu thiền

(hay siêu việt thiền), thường gọi là siêu việt tam-muội, chỉ cách xuất nhập thiền định tự tại của Phật và các vị Bồ Tát, không theo trình tự thông thường như hàng Thanh văn, như từ Sơ thiền lên Nhị thiền, Tam thiền... Với siêu việt tam-muội, hành giả có thể trực nhập bất cứ cảnh giới thiền định nào tùy ý, không cần phải theo trình tự. Vì thế cũng gọi là Tự tại định.

siêu thế

Vượt hơn hẳn mọi thứ trên thế gian nầy—Surpassing the world—Superior to anything in the world.

siêu thế nguyện

Thệ nguyện vượt hơn hẳn các lời nguyện khác, ý nói 48 lời nguyện của Đức Phật A Di Đà vượt hơn hẳn các lời nguyện của Tam Thế chư Phật—Vows that are superior to any other vows, i.e. the forty-eight vows of Amitabha Buddha—See Tứ Thập Bát Nguyện. ; (超世願) Chỉ cho 48 nguyện của đức Phật A di đà. Khi đức Phật A di đà còn là tỉ khưu Pháp tạng ở địa vị tu nhân, Ngài tham khảo các nguyện của chư Phật, suy nghĩ rất kĩ suốt trong 5 kiếp, rồi mới lập thành 48 điều nguyện. Nguyện của Ngài thù thắng hơn hết các nguyện của chư Phật ở thế gian, cho nên gọi là Siêu thế nguyện. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng].

siêu tông việt cách

(超宗越格) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Siêu tông nghĩa là không lập phương pháp chân như Phật tính; Việt cách nghĩa là không theo hình thức ước lệ từ xưa. Tức chỉ cho người có năng lực siêu việt hình thức phàm thánh, chỉ còn thiên cơ mà thôi. Lời tựa của ngài Phổ chiếu trong Bích nham lục (Đại 48, 139 thượng) nói: Thiền sư Tuyết đậu có chính nhãn siêu tông việt cách, nêu cao chính lệnh.

siêu việt

To be transcendental (transcending)—Supermundane—Pass over—Surpassing—Supreme. ; (超越) Việt qua lên trên những cái thông thường. Nhất thần giáo cho rằng vị thần sáng tạo thế giới là thần Siêu việt. Nhưng trong chân lí của Phật giáo thì hoàn toàn không có vị thần siêu việt tồn tại đối lập với thế giới và loài người. Hàm nghĩa đích thực của từ ngữ Siêu việt là dùng để đột phá các loại khái niệm hoặc giá trị quan nhị nguyên đối lập. Chẳng hạn như nhóm từ Siêu phàm việt thánh mà Thiền tông sử dụng, chẳng phải biểu thị sự đối lập giữa phàm phu và Thánh nhân (cũng bao hàm cả đức Phật), mà là nói về sự vượt thoát cái kiến giải phân biệt tương đối phàm thánh nhị nguyên .

siêu việt chứng

(超越證) Cũng gọi Siêu chứng, Siêu quả. Đối lại: Thứ đệ chứng. Chứng vượt bậc, nghĩa là vượt qua quả vị trước mà chứng ngay vào quả vị cao hơn.Như Thanh văn thừa có 4 quả, từ Sơ quả, theo thứ tự, chứng quả Tư đà hàm, A na hàm, rồi đến quả A la hán, gọi là Thứ tự chứng; còn vượt qua quả vị trước mà chứng ngay vào quả vị sau thì gọi Siêu việt chứng. Bàn về Siêu việt chứng lại có các thuyết khác nhau. Theo luận Câu xá thì từ phàm phu chỉ có thể trực tiếp chứng quả thứ 2 và quả thứ 3, gọi là Siêu tiền nhị quả (vượt 2 quả trước). Luận Duy thức lại cho rằng một khi đã chứng được Sơ quả thì có thể vượt qua quả thứ 2 và quả thứ 3 mà chứng thẳng đến quả thứ 4. Còn tông Thiên thai thì chủ trương vượt 3quả trước, cho nên thành lập 4 loại Siêu: 1. Bản đoạn siêu: Gốc vốn là phàm phu ngoại đạo, người tu 6 hành quán hữu lậu, đoạn trừ 6 phẩm Tư hoặc của cõi Dục, vào Kiến đạo ở tâm thứ 16 dứt Kiến hoặc rồi, vượt quả Dự lưu và quả Nhất lai mà chứng thẳng đến quả Bất hoàn thứ 3. 2. Tiểu siêu: Các Thánh đệ tử ở tâm thứ 16 của Kiến đạo chứng quả Dự lưu, sau lại tuVô lậu đạo, đoạn trừ Tư hoặc của 3 cõi, hay dứt 9 phẩm hoặc của cõi Dục, vượt quả thứ 2 mà trực tiếp chứng quả Bất hoàn thứ 3; hay trong 1 lúc đoạn trừ các Hoặc của 8 địa dưới (trừ Hữu đính địa), vượt quả thứ 2 và quả thứ 3 mà chứng thẳng vào A la hán hướng; hay cùng 1 lúc dứt hết các hoặc của 9 địa trên mà chứng ngay quả A la hán. 3. Đại siêu: Tức vượt 3 quả trước, trực tiếp chứng vào quả thứ 4. Như phàm phu ngoại đạo thời đức Phật tại thế, nghe Phật nói pháp chứng ngay quảA la hán. 4. Đại đại siêu: Các Bồ tát Tam tạng giáo trong 34 tâm dứt trừ tất cả phiền não mà thành Phật quả. Trên đây chỉ là nghĩa của tông Thiên thai, còn các tông khác thì chưa bàn đến vấn đề này. [X. luận Đại tì bà sa Q.153; luận Tạp a tì đàm tâm Q.5; luận Câu xá Q.5, 23, 24; Duy thức luận Thuật kí Q.10; Ma ha chỉ quán Q.6 thượng; Chỉ quán giảng thuật Q.5; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.trung; Quán kinh sớ huyền nghĩa phần].

siêu việt tam muội

(超越三昧) Chỉ cho tam muội mà Phật và Bồ tát chứng nhập, có năng lực vượt qua các cõi trên dưới và tùy ý xuất nhập. Đây là cảnh giới cao nhất trong các loại Quán thiền, Luyện thiền, Huân thiền và Tu thiền do tông Thiên thai nói, vì thế nên gọi là Đính thiền. Trong các pháp môn, Tam muội này có năng lực xuất nhập tự tại, cho nên được gọi là Tự tại định, hoặc gọi là Siêu thiền, Siêu việt thiền, Siêu việt đẳng chí... Về thứ lớp cạn, sâu của thiền định được sắp xếp là: Tứ thiền, Tứ vô sắc, và Diệt tận định. Phàm khi xuất, nhập thiền định đều phải tuần tự theo thứ lớp này, đó là phép tắc chung. Như người tâm tán loạn không thể trực tiếp nhập định Tứ vô sắc, mà trước phải nhập định Sơ thiền, rồi tuần tự vào Đệ tứ thiền, sau đó mới vào định đầu tiên của Tứ vô sắc. Cũng thế, khi xuất định cũng không được xuất trực tiếp, mà phải tuần tự theo thứ lớp ngược mà xuất. Đây là pháp của Thanh văn. Nhưng đối với Phật và Bồ tát đã tu chứng đến địa vị cao sâu thì không phải theo thứ tự xuất, nhập này, mà có thể từ tâm tán loạn vượt ngay vào định Diệt tận và, ngược lại, cũng có thể từ Diệt tận định vượt ngay ra tâm tán loạn. Pháp tam muội siêu nhập, siêu xuất này, gọi là Siêu việt tam muội. [X. luận Đại trí độ Q.81].

siêu việt tam-muội

xem siêu thiền.

siêu vĩnh

(超永) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh,người Huề lí, tỉnh Chiết giang, họ Diêu, hiệu Tễ luân. Thủa nhỏ, sư theo Nho học, lớn lên, gặp lúc binh biến vào cuối những năm Sùng trinh, mấy lần chết đi sống lại nên sư lạnh nhạt với công danh, đến khi được đọc Kim túc dung ngữ lục thì sư lập chí xuất tục. Mùa hạ năm Thuận trị thứ 7 (1650), sư lễ ngài Thâm Vân quả ở Gia Hưng xin xuất gia. Mùa thu năm ấy sư tham yết ngài Bách Ngu Tịnh Tư, sau đó, sư lần lượt đi tham bái các danh lam thắng tích như núi Thiên đồng, chùa Báo Ân, chùa Kim Túc, Kính Sơn... Mùa xuân năm Thuận trị thứ 9 (1652), sư tham vấn ngài An Điền Tĩnh ở Phúc Nguyên và được ấn khả. Sau, sư trụ ở chùa Thánh Cảm tại Tây sơn, Bắc Kinh, sau đó, sư lần lượt đi hoằng hóa tại các vùng Bình Hồ thuộc Chiết Giang Thượng Hải, Gia Hưng, Thiểm Tây...Sư có các tác phẩm: Ngũ đăng toàn thư 120 quyển; Thâm tuyết thảo đường tập 30 quyển, Pháp uyển anh hoa, Độc thư tùy kí, Cổ kim tăng thi 60 quyển.

siêu âm

Ultra-sound—Supersonic—Above the speed of sound.

siêu đẳng

Super—Above the ordinary.

siêu định

(超定) Vượt qua giai đoạn trung gian mà vào 1 thứ thiền định cao hơn. Thông thường, tu thiền định đều y theo thứ tự Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền... mà tiến lên; nhưng nếu tu luyện được nhuần nhuyễn, thì có thể vượt qua 1 giai đoạn trong đó, từ Sơ thiền đến Tam thiền, từ Nhị thiền đến Tứ thiền. Nói chung, khi tu thiền định hữu lậu thì 4 thiền định đều thuộc hữu lậu, nhưng khi đã vào định vô lậu thì đều thành vô lậu. Như vị A la hán Bất thời giải thoát đã đoạn phiền não được định tự tại, thì có thể vượt qua thứ tự thiền định trên dưới, thuận nghịch, vượt bỏ giai vị thiền định hữu lậu, vô lậu mà ra, vào thiền định 1 cách tự do tự tại, gọi là Siêu định. [X. luận Đại tì bà sa Q.165; luận Câu xá Q.28; luận Đại trí độ Q.17].

siêu độ

To free souls from suffering. ; (超度) Tụng kinh, lễ sám cầu nguyện để cứu độ vong linh người chết, khiến họ siêu thoát khổ nạn.

siếc

Rên siếc—To moan—To groan.

siết

To squeeze—To press.

siểm

Nịnh bợ hay dối gạt—Flattery—Conceit. ; (諂) Phạn: Màyà. Đồng nghĩa: Thảo hảo, A khúc, Siểm khúc. Dua nịnh, ton hót, chỉ nói theo ý của người mà giấu kín ý mình. Là tên của Tâm sở, 1 trong 75 pháp của tông Câu xá, 1 trong 100 pháp của tông Duy thức. Luận Đại thừa quảng ngũ uẩn (Đại 31, 853 trung) nói: Bày ra các phương tiện giả dối, giấu kín điều xấu ác của mình, tâm tính quanh co, tham danh hám lợi, đó là 1 phần của si, lấy sự cản trở việc dạy dỗ chính đáng làm nghiệp. Các nghiệp thân, khẩu, ý do Siểm phát sinh, gọi là Khúc nghiệp (nghiệp quanh co). Tông Câu xá cho rằng Tâm sở này tương ứng với 1 phần nhỏ pháp nhiễm ô, theo với phiền não căn bản mà sinh khởi, vì thế nên Siểm là 1 trong các Tùy phiền não, 1 trong các Tiểu phiền não địa pháp, 1 trong Lục cấu. Siểm và Cuống là các phiền não trói buộc của cõi Dục và Sơ địa, tương ứng với ưu, hỉ trong các thụ mà tự tại sinh khởi, cho nên chỉ thuộc về Tu sở đoạn. Còn tông Duy thức thì cho rằng Siểm là một trong các Tiểu tùy hoặc, cùng với tham, si đều thuộc giả hữu, nhưng không tương ứng với khổ thụ. [X. luận Đại tì bà sa Q.47; luận Tạp a tì đàm tâm Q.4; luận Câu xá Q.4, 21; luận Thành duy thức Q.6; luận Thuận chính lí Q.11, 54; luận Hiển dương thánh giáo Q.1].

siểm khúc

Flattery and fawning. ; (諂曲) Phạn: Vaíka, Kuhana. Nịnh hót quanh co. Nghĩa là vì muốn lừa dối người khác, nên cố làm ra vẻ ngoan ngoãn đáng yêu, ra sức chiều chuộng làm vừa lòng người hòng gạt gẫm họ. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 8 trung) nói: Ngã mạn tự kiêu căng, siểm khúc tâm chẳng thật. Lại đối với các vật mà không chấp trước thì gọi là Vô siểm khúc. Luận Kim thất thập quyển thượng (Đại 54, 1251 thượng) nói: Ni dạ ma cũng có 5 giới: Không giết hại, không trộm cướp, nói lời chân thật, giữ phạm hạnh, không siểm khúc. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Bồ tát địa trì Q.5; luận Thập trụ tì bà sa Q.8; Thập địa kinh luận Q.2].

so bì

To compare.

so bằng

To equalize.

so sánh

To compare.

soi

To look at—To admire oneself (in a looking glass).

soi gương

See Soi.

soi sáng

To light—To illuminate—To give light to someone—To shed light on something—Ánh từ quang Phật Pháp soi sáng thế giới khổ đau tăm tối như ngọn hải đăng chiếu sáng cho nhân loại—The radiance of Buddha's dharma goes through a world of suffering and darkness like a beacon light to guide and illuminate mankind.

soi sáng trạng thái tâm

To shed light on this state of mind.

soi xét

To investigate—To examine.

soi đèn

To light with a lamp.

son sắt

Steadfast—Constant.

song

Một cặp—A pair—A couple—Twin—Mates—Matched.

song hỷ

Doubled joys

song luận

(雙論) Pàli: Yamaka . Hán âm: Da ma ca. Một trong 7 bộ luận bằng tiếng Pàli của Thượng tọa bộ phương Nam. Luận này đượcviết theo hình thức vấn đáp, nội dung chia làm 10 phẩm: 1. Căn bản song luận. 2. Uẩn song luận. 3. Xứ song luận. 4. Giới song luận. 5. Đế song luận. 6. Hành song luận. 7. Tùy miên song luận. 8. Tâm song luận. 9. Pháp song luận. 10. Căn song luận. Trong 10 phẩm mỗi phẩm đều có 3 phần: Thi thiết phần, Chuyển phần, Biến tri phần, trong đó, phần Thi thiết lại được chia làm phần Tổng thuyết và phần Thích nghĩa. Riêng trong phẩm Căn bản song luận và phẩm Tâm song luận thì không có Chuyển phần và Biến tri phần. Phẩm Tùy miên song luận thì được chia ra 7 phần là: Tùy tăng, Hữu tùy miên, Đoạn, Biến tri, Dĩ đoạn, Sinh, Giới... khác với các song luận khác. Luận này nói về sự quan hệ hỗ tương và định nghĩa các pháp. Nguyên văn luận này đã được bà Rhys Davids, học giả Phật giáo người Anh, xuất bản và được ông Độ biên Chiêu hoành, người Nhật bản, dịch ra tiếng Nhật, thu trong Nam truyền Đại tạng kinh quyển 48, 49. [X. Nam phương Thượng tọa bộ luận thư giải thuyết; A History of Pàli Literture by B. C. Law; Dictionary of Pàli Proper Names by G.P. Malalasekera].

song lâm

Hàng cây Ta La (song thọ), khu rừng nơi Đức Thế Tôn nhập diệt—Twin trees, the sala-trees under which the Buddha entered nirvana.

song lưu

Hai dòng giáo pháp hay hai anh em song sinh, hóa đạo và quán tâm (cần phải thọ trì cả hai)—The twin streams of teaching and mystic contemplation.

song mộc

See Song Lâm.

song nhập

(雙入) Phạn: Yuganaddha. Tạng:Zuí-du-#juy-pa. Cũng gọi Song vận. Yuga nghĩa là một đôi; Naddha là kết hợp. Phật giáo (nhất là Phật giáo Đát đặc la) thường dùng từ ngữ này để biểu thị nghĩa hợp nhất bất nhị. Trong Ngũ thứ đệ (Phạn: Paĩca= krama) tương truyền do ngài Long thụ soạn, thì Thứ đệ thứ 5 là Song nhập thứ đệ (Phạn:Yuganaddha-krama), gồm 21 thứ song nhập như Luân hồi và Niết bàn, Phiền não và Tịch tịnh, Hữu tướng và Vô tướng, Sở chấp và Năng chấp... Đại thừa trang nghiêm kinh luận (Phạn: Mahàyà= nasùtràlaôkàra) cũng có nói về Song nhập, xếp Song nhập vào loại thứ 6 trong 11 thứ Tác ý (Phạn:Manaskàra) mà thông thường Hán dịch là Nhị tương ứng tác ý. Đây chính là biểu thị nhất nguyên hóa của nhị nguyên Chỉ và Quán. Chương 14 trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận (bản tiếng Phạn) nói rằng: Tu pháp Chỉ có thể biết hết tên của các pháp; tu pháp Quán có thể hiểu rõ nghĩa các pháp, còn Song nhập thì có thể hợp nhất 2 pháp Chỉ Quán trên. Lí niệm song nhập được biểu hiện qua nghệ thuật tạo hình đã sản sinh ra Song thân Phật (Tạng: Yab-yum) của Phật giáo Tây tạng.[X. Lí thú kinh chi nghiên cứu (Mai vĩ Tường vân); Yuganaddha by H. V. Genther; The Hevajra-tantra by D.L. Snellgrove]. (xt. Ngũ Thứ Đệ).

song phương

Bilateral.

song quyển kinh

(雙卷經) Cũng gọi Lưỡng quyển kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Khang tăng khải dịch vào đờiTào Ngụy, tức chỉ cho kinh Vô lượng thọ, 2 quyển, cũng vì để phân biệt với kinh Quán vô lượng thọ 1 quyển, nên giới Phật giáo đặc biệt gọi kinh Vô lượng thọ là Song quyển kinh, được thu vào Đại chính tạng tập 12. Cứ theo Quán kinh huyền nghĩa phần khải định kí thì Đại kinh là chỉ cho kinh Vô lượng thọ. Trong 3 bộ kinh của Tịnh độ giáo, kinh này nghĩa lí rộng nhất, nên đối với 2 bộ kinh kia mà gọi là Đại kinh. Tông Thiên thai thì gọi kinh này là Đại bản, còn kinh A di đà là Tiểu bản. (xt. Vô Lượng Thọ Kinh).

song tháp tự

(雙塔寺) 1. Chùa ở góc đông nam nội thành huyện Ngô, tỉnh Giang tô, Trung quốc. Theo điều Tô châu phủ trong Đại thanh nhất thống chí quyển 55 thì chùa Song tháp là chùa Bát nhã được xây dựng trong năm Hàm thông (860-873) đời Đường, sau được đổi là Thọ ninh vạn tuế thiền viện. Trong năm Ung hi (984-987) đời Tống, vua Văn vương xây 2 ngôi tháp gạch trong vườn chùa, từ đó, chùa được gọi là Song tháp tự. Theo Ngô đô pháp thừa quyển 30 thì Thiền viện Thọ ninh vạn tuế nằm về phía đông nam huyện Trường châu, là viện La hán cũ, vì chùa có 2 ngôi tháp đứng song song đối nhau nên gọi là Song tháp tự. Tháp xây bằng gạch, hình dáng cao thon, 7 tầng 8 cạnh, có đẩu củng bằng gạch, diềm mái bằng gỗ, trên chót tháp có hình bánh xe (Luân tướng). 2. Hai ngôi tháp ở chùa Song tháp tại tỉnh Giang tô. Phạn: Kwuma. Cũng gọi Trâu ma, Tu ma, Sô ma ca, Tô ma, Sám ma. Áo may bằng sợi cây gai. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 31 (Đại 54, 514 hạ) nói: Áo sô ma, cả 2 chữ đều là phiên thiết, gọi đúng âm tiếng Phạm là Trâu ma. Hán dịch là Ma y. [X. Đại đường tây vực kí Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.2].

song thân

1) Cả cha lẫn mẹ: Both parents. 2) Hai thân, đặc biệt là hai thân của Phật Tỳ Lô Giá Na: Twin-bodied, especially the two bodies of Vairocana.

Song Tuyền Sư Khoan

(雙泉師寛, Sōsen Shikan, ?-?): nhân vật sống vào thời nhà Tống, vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc. Ông kế thừa dòng pháp của Vân Môn Văn Yển (雲門文偃), rồi đến sống tại Song Tuyền Tự (雙泉寺) thuộc Tùy Châu (隨州, Tỉnh Hồ Bắc). Ông được ban cho hiệu là Minh Giáo Thiền Sư (明敎禪師).

song vương

Từ dùng để gọi Dạ Ma Vương—A term for Yama.

soát

To examine—To check—To verify.

soạn

1) Sửa soạn: To prepare. 2) Soạn nhạc: To compose. 3) Soạn sách: To compile.

soạn hiệu

Tên của người soạn giả—Compiler's name—Author's title. ; (撰 效) Tên họ của người soạn thuật được ghi ở đầu sách Phật; ngoài tên họ ra còn ghi địa danh, tên chùa. Có khi chính mình ghi, cũng có khi do người khác ghi. Nói một cách đại khái, những sách do Ấn độ thì ghi tên họ hoặc pháp danh trước chữ tạo hoặc chữ thư; các sách do Trung quốc soạn thì ghi tên họ hoặc pháp danh trước chữ thuật, chữ tập, chữ soạn. Thuật, tập, soạn là truyền thuật lại thuyết của người xưa, chứ không phải mình sáng tác, cũng không thêm ý mới. Nếu do thầy thuyết giảng, do đệ tử ghi thuật lại, cũng gọi là Soạn hiệu.

Soạn tập bách duyên kinh

撰集百緣經; S: śatāvadāna;|Tập truyện kể vừa có khuynh hướng Tiểu thừa vừa Ðại thừa, chuyên nói về các vị Bồ Tát. Bộ truyện này xuất phát từ thế kỉ thứ 2, kể lại các câu chuyện tiền thân các thánh nhân và nhấn mạnh tính chất quan trọng của Nghiệp.

Su-zu-ki, Dai-set-su

鈴木大拙; J: suzuki, daisetsu [daisetz]; 1870-1966; dịch nghĩa Hán Việt là Linh Mộc Ðại Chuyết;|Một học giả lừng danh người Nhật, người đã góp công rất nhiều trong việc truyền bá Thiền tông sang Tây phương. Ông viết rất nhiền sách về thiền và nổi danh nhất có lẽ là bộ Thiền luận (Essays in Zen-Buddhism), gồm ba quyển. Ngoài ra, ông còn viết những tác phẩm quan trọng như Nghiên cứu kinh Lăng-già (Studies in the Laṅkāvatāra-Sūtra), Thiền và phân tâm học (Zen-Buddhism and Psychoanalysis).|Ông sinh trong một gia đình Hiệp sĩ (j: samurai), trong một thời kì Nhật bắt đầu tiếp xúc với nền văn hoá Tây phương. Mất cha sớm, ông sống cực khổ và chính cái khổ này đã thúc đẩy ông học hỏi nhiều để được dạy trong một trường phổ thông kiếm tiền nuôi mẹ.|Sau khi mẹ qua đời, ông đến Ðông Kinh (tōkyō), sau lại đến Liêm Thương (kamakura) tu học với một vị Thiền sư danh tiếng đương thời là Thích Tông Diễn (j: shaku sōen; cũng được gọi là Hồng Nhạc Tông Diễn; j: kōgaku sōen) tại Thiền viện Viên Giác (engaku-ji). Tông Diễn sớm nhận ra tài năng của ông và cho phép đi cùng đến tham dự Hội nghị tôn giáo thế giới (World’s Parliament of Religions) tại Chicago, Mĩ năm 1893. Tại hội nghị này, người Tây phương lần đầu tiên nghe được chút đỉnh về danh từ »Thiền«. Sau hội nghị này, ông ở lại Mĩ hơn mười năm để nghiên cứu, phiên dịch các tác phẩm triết học Ðông phương sang Anh ngữ, với sự giúp đỡ của Eduard Hegeler, một nhà triệu phú kiêm xuất bản, người gốc CHLB Ðức (Bremen). Trong thời gian này, ông bắt đầu học Phạn ngữ và hoàn tất tác phẩm quan trọng đầu tiên là Nghiên cứu về Ðại thừa Phật giáo (Studies in Mahāyāna-Buddhism). Hegeler cũng gửi ông sang Paris để sao lại những tác phẩm quý giá được lưu trữ tại đây. Trước khi về Nhật, ông còn sang Anh và nơi đây phiên dịch các tác phẩm của Swedenborg sang Nhật ngữ.|Năm 1908, ông trở về Nhật và 1910, lại trở lại châu Âu. Ông lập gia đình với Beatrice Lane (1911), một nữ thông thiên học (e: theosophy) xuất xứ từ New York, người đã tận lực giúp đỡ ông trong việc biên tập, phiên dịch cho đến giờ phút cuối của bà (1938). Sau, ông đảm nhận nhiều trách nhiệm như giảng dạy tại các đại học Nhật, biên soạn sách vở và đi đây đó thuyết trình Thiền học. Sự ra đời của bộ Thiền luận ba quyển của ông được ví như sự tái sinh, cải lão hoàn đồng của Thiền tông và Thiền lần đầu được trình bày, giảng giải, đưa đến châu Âu, Mĩ dưới dạng tuyệt vời nhất, thích hợp nhất. Năm 1957, ông cùng với hai nhà phân tâm học là Erich Fromm và Richard de Martino đã cho ra một quyển sách rất quan trọng là Thiền và phân tâm học và trong sách này, hai nhà phân tâm học đã xác định được sự liên hệ mật thiết giữa Thiền và Tâm lí học.|Su-zu-ki đã thực hiện được những gì mà Tông Diễn mong muốn khi ông đặt tên cho người học trò yêu quý của mình trước khi từ giã: Ðại Chuyết, nghĩa là »sự vụng về lớn.« Nhưng người ta cũng có thể hiểu »vụng về« ở đây như trong ngạn ngữ Nhật »Nghệ thuật cao siêu phớt nhìn thì trông như vụng về« (j: dai-kō wa dai-setsu no gotoshi). Ông chẳng phải là một Tỉ-khâu chính thức, chỉ là một Sa-di nhưng con đường đời đầy kinh nghiệm, học thức uyên bác đã giúp ông trở thành một nhà thuyết giảng độc nhất vô nhị của Thiền Ấn Ðộ, Trung Quốc, Nhật Bản cho thế giới hiện đại. Không ít người trong giới Thiền tại Nhật đã lắc đầu e ngại vì những lời giảng tỉ mỉ của ông mà người ta cho là quá liều lĩnh, táo bạo cho một tông phái đặc biệt đề cao đến việc »Bất lập văn tự«, »Bất khả thuyết.« Ngay chính ông cũng thú nhận rằng, việc làm này của mình là »một tội lỗi lớn« của cuộc đời. Dù sao đi nữa, Thiền học nhờ ông được lan tràn khắp năm châu, ngày càng được nhiều người chú trọng và người ta có thể cảm nhận được ảnh hưởng này của ông đến ngày nay.|Ông mất ngày 12 tháng 7 năm 1966 tại Ðông Kinh (tōkyō), sau một cơn bệnh nhẹ, thọ 96 tuổi.|Các tác phẩm quan trọng của Su-zu-ki (trích): 1. Essays in Zen Buddhism (Thiền luận), First-Third Series, London 1950/1953; 2. Studies in the Lanka-vatara Sutra (Nghiên cứu kinh Lăng-già), London 1930; 3. Introduction to Zen Buddhism (Thiền pháp nhập môn), Kyoto 1931; 4. The Zen Doctrine of No-Mind (Giáo lí vô niệm), London 1949; 5. Living by Zen (Thiền sinh hoạt), London 1950; 6. Zen-Buddhism and Psychoanalysis (Thiền và Phân tâm học); 7. The Essence of Buddhism (Cốt tuỷ của đạo Phật), London 1947; 8. Zen and Japanese Culture (Thiền và văn hoá Nhật), Kyoto 1958; 9. Studies in Zen (Thiền bách đề), London 1955.

Su-zu-ki, Shun-ryu

J: suzuki, shunryū; 1905-1971;|Thiền sư Nhật Bản thuộc tông Tào Ðộng. Sư sang Mĩ năm 1958 và thành lập tại đây nhiều Thiền viện (San Francisco, Tassajara), những thiền viện đầu tiên tại Tây phương.

sui gia

Related by marriage.

sum họp

To come (gather) together—To meet.

Sum Điền Ngộ Do

(森田悟由, Morita Goyō, 1834-1915): vị tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Minh Trị, vị trú trì đời thứ 64 của Vĩnh Bình Tự, vị Quản Trưởng của Tào Động Tông, đạo hiệu là Đại Hưu (大休), hiệu Lục Trạm (六湛), Không Hoa (空華), nhụ là Tánh Hải Từ Thuyền Quốc Sư (性海慈船國師), xuất thân vùng Vĩ Trương (尾張, Owari). Năm 1841, ông theo xuất gia với Long Sơn Thái Môn (龍山泰門) ở Long Quang Viện (龍光院) vùng Danh Cổ Ốc (名古屋, Nagoya), Vĩ Trương, đến năm 1860 thì kế thừa dòng pháp của vị pháp huynh là Bạch Long (白龍). Ông đã từng sống qua vài nơi như Long Đức Tự (龍德寺), Thiên Long Viện (天龍院), Thiên Đức Viện (天德院) ở Kim Trạch (金澤, Kanazawa), rồi Tổng Trì Tự (總持寺, Sōji-ji), và năm 1888 ông hoàn thành bản Động Thượng Hành Trì Quỹ Phạm (洞上行持軌範). Vào năm 1891, ông làm Quán Thủ Vĩnh Bình Tự. Trong khoảng thời gian nầy ông đã nổ lực giải quyết êm xuôi cuộc phân ly giữa hai chùa Vĩnh Bình Tự và Tổng Trì Tự. Đến năm 1895, ông được cử làm Quản Trưởng Tào Động Tông. Trước tác của ông có Sư Nhũ (獅乳), Động Thượng Hóa Đạo Yếu Nghĩa (洞上化道要義), Thiền Giới Pháp Thoại (禪戒法話), Phật Giới Lược Nghĩa (佛戒略義), Ngộ Do Thiền Sư Pháp Thoại Tập (悟由禪師法話集), Đại Hưu Ngộ Do Thiền Sư Quảng Lục (大休悟由禪師廣錄).

Sung mãn

充滿; C: chōngmăn; J: jūman;|Đầy đủ, chứa đầy, dồi dào (s: pūrna).

sung mãn

Sufficient—Abundant—Complete.

sung mãn của tuổi trẻ

At the height of youth.

sung mãn nhứt thiết trí

The understanding of ubiquity.

sung sướng

Blissful—Well-being—Happy.

Sung túc

充足; C: chōngzú; J: jūsoku;|Đầy đủ, trọn vẹn, hoàn toàn.

sung túc

Well-off—Sufficient.

suy

1) Suy đồi: Decline—Decay—Fade—Frayed. 2) Suy nghĩ: To think.

suy công qui bản

(推功 歸本) Đưa công về gốc. Tức đưa cái đức của nghiệp dụng về cái thể căn bản của nó. Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao quyển 2 (Vạn tục 37, 17 thượng) nói: Như nghi thức nói pháp của hết thảy chư Phật đều do nơi Ứng thân (...), nhưng đưa công về gốc thì chính là Pháp thân nói.

Suy Cổ Thiên Hoàng

(推古天皇, Suiko Tennō, tại vị 592-628): vị Thiên Hoàng sống vào khoảng cuối thế kỷ thứ 6 và đầu thế kỷ thứ 7, vị nữ đế đầu tiên của Nhật, người con gái thứ 3 của Khâm Minh Thiên Hoàng (欽明天皇, Kimmei Tennō, tại vị 539-571), mẹ là Kiên Diêm Viện (堅塩媛, Kitashihime, con gái của Tô Ngã Đạo Mục [曽我稻目, Soga-no-iname]), Hoàng Hậu của Mẫn Đạt Thiên Hoàng (敏達天皇, Bidatsu Tennō, tại vị 572-585), tên là Phong Ngự Thực Xuy Ốc Cự (豐御食炊屋姫, Toyomikeka Shikiyahime), hay còn gọi là Hoàng nữ Ngạch Điền Bộ (額田部, Nukatabe). Sau khi Sùng Tuấn Thiên Hoàng (崇峻天皇, Sushun Tennō, tại vị 587-592) bị ám sát, bà lên ngôi kế vị ở Phong Phố Cung (豐浦宮) của nước Đại Hòa (大和, Yamato), về sau dời về Tiểu Khẩn Điền Cung (小墾田宮). Bà giao cho Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi, 574-622) làm Nhiếp Chính và cho thi hành chính sách quan vị 12 cấp và hiến pháp 17 điều.

suy cứu

to consider.

suy diễn

To deduce.

suy giảm

To decrease—To decline.

suy gẫm

To contemplate—To think over.

suy hoạn

Tai họa của suy thoái như nạn đói hay dịch bệnh—The calamities of decadence, famine, epidemics.

suy luận

To deduce—To reason.

suy lý

See Suy Luận.

suy nghĩ

Cinteti (p)—Cintayati (skt)—To have thought or idea—To ponder—To think—To think about—To think of.

suy nghĩ thế tục

The worldly way of thinking—Để phù hợp với suy nghĩ thế tục của chúng ta nên Đức Phật nói đến sinh trụ dị diệt như là những sự vật hiện hữu thật sự, kỳ thật không có gì được sanh, không có gì đang sanh và cả nhân duyên cũng không ở đâu cả; không có cái gì hiện hữu, không ở đâu có hiện hữu—In order to conform to our worldly way of thinking and expereince, the Buddha talks of birth, stay, change and disappearance as if things were really existent. In reality, nothing is produced, nothing is producing, and even causality is nowhere, there exists nothing whatever anywhere.

suy nguyên

To trace to original.

suy nhược

Weak—Feeble—Delibitated.

suy quan

(推官) Tên 1 chức quan ở đời Đường, thuộc dưới quyền Tiết độ sứ và Quan sát sứ, tức là chức Quận tá ở đời Tống, chuyên xem xét và quyết định các việc phải trái. Bích nham lục tắc 68 (Đại 48, 198 thượng) nói: Một hôm, có vị quan nhân đến tham yết ngài Ngưỡng Sơn, ngài hỏi: - Ông làm chức quan gì? Đáp: Suy quan. Ngài Ngưỡng Sơn dựng thẳng cây phất tử, hỏi: - Có suy (đánh đổ) được cái này không? Vị quan nhân không đáp được.

suy rộng

To generalize.

suy suyển

To be deminished (lessened).

suy sụp

To decline.

suy thịnh

Decadent and properous—Decadence and prosperity.

suy tàn

To decay—To decline.

suy tính

To reflect—To calculate—To ponder—To think.

suy tướng

Dấu hiệu khi sắp chết—The indication of approaching death—See Ngũ Suy Tướng. ; (衰相) Khi người cõi trời sắp chết thì hiện ra 5 tướng suy báo trước. Đó là: Áo nhuốm bụi, tràng hoa héo úa, nách ra mồ hôi, mình có mùi hôi hám và không thích ngồi chỗ cũ, gọi là Thiên nhân Ngũ suy. [X. luận Câu xá Q.10].

suy tưởng

To think over.

suy vi

To sink into decay—To decline.

suy xét

To think out—To consider.

suy yếu

Feeble—Weak.

suy đoán

See Suy Diễn.

suy đồi

To degenerate—To decay—Downfall—See Kinh Suy Đồi in Appendix E.

suyển

1) Ước lượng—To estimate—To guess. 2) Đoàn (vo cho tròn): To roll into a ball, or roll together.

suyển thực

Đoàn Thực hay vo tròn cơm cũng như những thức ăn, đây là tập tục của người Ấn Độ là vo tròn thức ăn trong tay trước khi ăn—To roll rice, etc., into a ball in eating, the Indian way, or Hindu fashion of eating by first rolling the food into a ball in the hand.

suyễn

Ướt đẫm—Soak—Wet—Damp.

suyễn phật

An image of Vairocana in the open.

suôn

Straight and high.

suông

Empty—Hollow (rỗng)—Useless—Tasteless.

suất

1) Cái vợt có tay cầm—A net with handle. 2) Theo đuổi: To pursue—To follow after.

suất lộc cần na

Srughna (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Suất Lộc Cần Na là một vương quốc và thành phố cổ nằm gần Yamuna, có lẽ là vùng giữa Saharanpur và Srinagar bây giờ—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Srghna is an ancient kingdom and city near the upper course of the Yamuna, probably the region between Saharanpur and Srinagar.

suất tiền

(率錢) Cũng gọi Suất tài. Chỉ cho tiền bạc quyên góp từ chúng tăng để chi dụng cho các vật cúng dường như hương, hoa... trong các dịp cử hành lễ giỗ Tổ sư hay các Phật sự khác. Ngoài ra, các vị tăng mới được nhận cho ở tham học trong tùng lâm, góp tiền mua dầu, hương để tỏ lòng cảm tạ, cũng gọi là Suất tiền.[X. điều Cáo hương trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2].

Suất Đô Bà

(s: sthūpa, p: stūpa, 率都婆): âm dịch của từ tháp (塔) hay tháp bà (塔婆). Ngoài từ Suất Đô Bà này ra, còn có những âm dịch khác như Tốt Đồ Ba (窣堵波), Tốt Đổ Bà (窣覩婆), Tẩu Đẩu Bà (藪斗婆), Đâu Bà (兜婆), Thâu Bà (偷婆), v.v. Ý dịch của từ này là Cao Hiển Xứ (高顯處), Công Đức Tụ (功德聚), Phương Phún (方墳), Viên Trũng (圓塚), Miếu (廟), Trũng (塚).

suất đô bà

Stupa (skt)—A mound—See Stupa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (率都婆) Phạn: Stùpa. Pàli: Thùpa. Cũng gọi Tốt đô bà, Tốt đổ ba, Tẩu đẩu bà. Gọi tắt: Tháp bà, Đâu bà, Phù đồ, Tháp. Suất đô bà vốn là kiểu mộ tháp ở Ấn độ đời xưa có hình dáng giống như cái bánh hỏi (bánh ú). Sau khi đức Phật nhập diệt, Suất đô bà ngoài ý nghĩa phần mộ ra còn mang tính chất là vật kỉ niệm, nhất là những ngôi tháp cấu trúc bằng gạch nung được xây dựng vào thời vương triều Khổng tước, trong đó có an trí di cốt, vật dụng, tóc... của đức Phật, thì Suất đô bà dần dần đã trở thành tiêu xí của Thánh địa và kiến trúc trang nghiêm chùa viện. Về sau, tháp được dùng làm trung tâm điểm để vận động tân hưng Phật giáo, từ đó phát triển thành Phật giáo đại thừa. Ở Trung Quốc, Nhật Bản, tháp và kim đường đều được xếp vào hàng các kiến trúc quan trọng, được dùng để an trí xá lợi Phật, tượng trưng cho chùa viện. Phần tướng luân ở phía trên cùng của tháp 3 tầng hoặc 5 tầng, vẫn còn giữ nguyên phong cách Ấn độ. Còn có tập quán dùng 1 thanh gỗ nhỏ và dài làm thành hình tháp, dựng bên cạnh mộ để truy tiến người chết. Loại tháp bằng gỗ này được gọi là Suất đô bà, Tháp bà, còn tháp kiến trúc thì chỉ gọi là tháp để dễ phân biệt. Những kinh văn được viết chép trên loại tháp bằng gỗ, gọi là Suất đô bà kinh. Trong Mật Giáo, đặc biệt thiết lập ngôi tháp hình ngũ luân (5 yếu tố) để làm tiêu xí của đức Đại Nhật Như Lai. Đây là căn cứ vào tư tưởng ngũ luân, tức hết thảy muôn pháp đều do 5 yếu tố đất, nước, lửa, gió, hư không tạo thành, nhờ đó mà có nhục thân và ngay nơi nhục thân ấy là thân Phật. Ngoài ra, tượng Phật, Bồ tát trong Mật giáo, có các vị dùng tháp làm hình Tam muội da, hoặc làm vật cầm. (xt. Tháp).

suối vàng

Hell—Hades.

suốt

Throughout—Through.

suốt đời

Throughout the life.

suồng sã

To be too familiar.

sài

Củi—Firewood—Fuel—Brushwood.

sài lang

Chó sói—A wolf.

sài lang địa ngục

Một trong 16 du tầng địa ngục, nơi sói beo tới ăn thịt tội nhân—One of the sixteen hells, where sinners are devoured by wolves.

sài phị vô xu cơ

(柴扉無樞機) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Xu là cái chốt để chốt cửa; Cơ (ki) là cái then để cài cửa. Sái phi vô xu cơ nghĩa là cửa làm bằng phên thì không cần đóng chốt cài then làm gì. Trong Thiền tông, nhóm từ này được dùng để chỉ cho cảnh giới tự do tự tại, không chấp nhặt vào sự đến đi.

sài đầu

Vị Tăng phụ trách về củi lửa trong tự viện—The one who looks after firewood in a monastery. ; (柴頭) Chức vụ coi việc củi đóm trong tùng lâm, chức này dưới chức Phạn đầu. Nhiệm vụ chủ yếu của vị Sài đầu là vào núi lấy củi về cho đại chúng sử dụng. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.20; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].

sàm siểm

To slander and flatter.

sàn đề la

(羼提羅) Phạn: Waịđhilà. Cũng gọi Phiến đề la. Hán dịch: Thạch nữ. Chỉ cho người đàn bà không có bộ sinh dục (nữ căn). [X. kinh Thắng man bảo quật quyển thượng, phần đầu].

sàn đề tiên nhân

(羼提仙人) Phạn: Kwànti-vàdi-fwi. Cũng gọi Sằn đề bà lê (Phạm:Kwàntipàla), Sằn đề Tỳ khưu. Hán dịch: Nhẫn nhục tiên. Tên gọi đức Thế tôn ở đời quá khứ lúc Ngài tu hạnh Bồ tát và thành tựu hạnh nhẫn nhục. Cứ theo phẩm Sằn đề bà lê trong kinh Hiền ngu quyển 2 thì trong 1 kiếp quá khứ lâu xa, vua Ca lợi (Phạn: Kàli) nước Ba la nại, Ấn độ, cắt tay, chân, tai, mũi của Sằn đề ba lê, vì tu hạnh nhẫn nhục nên vị tiên Sằn đề thản nhiên chịu đựng, nét mặt không hề thay đổi, nhờ đó mà cảm hóa được ông vua cực kì hung bạo. [X. luận Đại trí độ Q.14]. (xt. Nhẫn Nhục Tiên).

sàn đề đề bà

(羼提提婆) Phạn: Kwàntideva. Tên vị thầy dạy võ cho Thái tử Tất đạt đa lúc thiếu thời. [X. phẩm Tập kĩ nghệ trong kinh Phật bản hạnh tập Q.11].

sàng

(床) Cái giường, vật dụng để ngồi, nằm của vị Tỳ khưu, có thể chia làm 2 loại: 1. Tọa sàng (Phạn; Pàli:Pìtha): Giường dây, giường ngồi thiền. Tức dùng dây, cỏ hoặc mây đan lại thành cái giường (ghế) gấp, gọn nhẹ để có thể mang theo được, là 1 trong 18 vật dụng của Tỳ khưu. 2. Ngọa sàng (Phạn: Maĩca hoặc Khaỉva): Giường gỗ, phần nhiều dùng trong nội thất. Chân giường có nhiều loại: Luật Ngũ phần quyển 6 nêu 2 loại: Chân giường nhọn và không nhọn. Luật Tứ phần nêu 5 loại: Chân tròn, chân thẳng, chân cong, chân bệ, không chân. Ngoài ra, cách làm giường cũng có nhiều loại: Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp quyển 9 nêu ra 3 loại: Giường nhỏ chân tròn, giường dây để ngồi và giường dây để nằm ngủ.Luật Ma ha tăng kì quyển 14 nêu ra 10 loại giường ngồi Ô đà na, giường nằm chân tròn, giường ngồi chân tròn, giường nệm để ngồi, giường nệm để nằm... Về chiều cao của giường, theo Tỳ khưu giới bản trong luật Tứ phần, thì giường ngồi và giường nằm đều cao 8 ngón tay Như lai (tức khoảng 60 cm). Theo điều Ngọa tức phương pháp trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3 thì giường nằm rộng 2 khuỷu tay (khoảng 80 cm), dài 4 khủy rưỡi (1, 8 m). Theo phần Giới tướng bộ trong Pháp uyển châu lâm quyển 88 thì giường nằm rộng 4 thước (1,2 m), dài 8 thước (2,4 m), vượt quá hạn định ấy thì thuộc loại giường to lớn, cao rộng không được dùng. [X. luật Tứ phần Q.19, 50; luật Thập tụng Q.12, 19, Tứ phần tăng giới bản; Giải thoát giới kinh; Hữu bộ tì nại da tụng Q.trung; Sa di tắc ngũ phần giới bản; Thập tụng tỉ khưu ba la đề mộc. Ghế ngồi đan bằng dây xoa giới bản; luận Câu xá Q.14; Đại đường tây vực ký Q.2; môn Khí vật trong Thiềnlâm tượng khí tiên].

sàng lịch

(床曆) Sàng là cái giường kê trong nhà Tăng; Lịch là quyển sổ ghi chép lí lịch của chúng tăng.Trong Thiền lâm, giường nằm của chúng tăng trong nhà Tăng được xếp đặt theo thứ tự giới lạp (tuổi hạ) của chúng tăng nhiều hay ít. Thông thường, giường của vị Thủ tọa được đặt ở vị trí thứ nhất. [X. điều Duy na, chương Lưỡng tự trong Sắc tu bách trượng thanh qui Q.4; điều Hạ tiền xuất thảo đơn, chương Tiết lạp trong sách dẫn thượng Q.7; điều Quải đáp trong Thiền uyển thanh qui Q.1; môn Bạ khoán trong Thiền lâm tượng khí tiên].

sành sỏi

To be expert (experienced) in.

Sào Phủ

(巢父): tên gọi của vị ẩn sĩ sống dưới thời nhà Nghiêu. Theo Cao Sĩ Truyện (高士傳), phần Sào Phủ của Hoàng Phủ Mật (皇甫謐, 215-282) nhà Tấn cho biết rằng: “Sào Phủ giả, Nghiêu thời ẩn nhân dã; sơn cư bất doanh lợi thế; niên lão, dĩ thọ vi sào nhi tẩm kỳ thượng, cố thời nhân hiệu viết Sào Phủ (巢父者、堯時隱人也、山居不營世利、年老、以樹爲巢而寢其上、故時人號曰巢父, Sào Phủ là ẩn sĩ dưới thời nhà Nghiêu; ông sống trong núi, không màng đến danh lợi trần thế; đến tuổi già ông lấy cây cao làm tổ mà ngủ trên đó, cho nên người đương thời gọi là Sào Phủ).” Ông đã từng từ chối ngôi vị Thiên tử của nhà Nghiêu. Câu chuyện ông dắt trâu lên uống nước ở dòng phía trên trong khi Hứa Do rửa tai ở dòng phía dưới đã trở thành điển cố nổi tiếng, xuất hiện trong nhiều tác phẩm văn học, thi ca, v.v. Như trong Lâm Tuyền Lão Nhân Bình Xướng Đầu Tử Thanh Hòa Thượng Tụng Cổ Không Cốc Tập (林泉老人評唱投子青和尚頌古空谷集, CBETA No. 1303) có câu: “Hứa Do tẩy nhĩ, Sào Phủ khiên ngưu, phất tích thành ngấn, dục ẩn di lộ (許由洗耳、巢父牽牛、拂跡成痕、欲隱彌露, Hứa Do rửa tai, Sào Phủ dắt trâu, chùi dấu thành vết, muốn giấu càng lộ).”

sác tập lực

(數集力) Cũng gọi Quán tập lực,Tập lực. Sác nghĩa là luôn luôn, nhiều lần; Tập nghĩa là tập quen, luôn luôn tập quen, gọi là Sác tập. Lực là sức, cái sức do tập quen nhiều lần mà thành, gọi là Sác tập lực. Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 13 (Đại 31, 755 trung) nói: Phiền não sinh khởi là do quán tập lực, Thánh đạo hiện tiền thì phiền não tự dứt. [X. kinh Đại thừa nhập lăng già Q.2; luận Câu xá Q.29;luận Thành duy thức Q.2].

sách

Quyển sách—A book—A treatise—A tablet. ; (索) Phạn: Pàza. Hán âm: Bá xả, Bá xa. Cũng gọi: Tác, Bảo tác, Kim cương tác. Sơi dây thừng se bằng những sợi chỉ 5 màu, một đầu để cái vòng, đầu kia thêm nửa cây chày 1 chẽ. Sách vốn là chiến cụ hoặc đồ dùng săn bắn. Nhưng trong Mật giáo, nó được dùng để tượng trưng cho phương tiện Tứ nhiếp, trói buộc những chúng sinh cứng đầu khó giáo hóa và hàng phục 4 thứ ma. Nó tương ứng với sự nội chứng của Bồ tát Kim cương sách thuộc Kim cương giới. Nó cũng là vật cầm tay của các vị bồ tát Bất không quyên sách và Thiên thủ Quán âm. [X. phẩm Cụ duyênkinh Đại nhật, kinh Bất không quyên sách Q.9; Tuệ lâm âm nghĩa Q.61].

sách bồ tát

(索菩薩) Gọi đủ: Kim cương sách bồ tát (Phạm: Vajra-pàza#). Cũng gọi: Tác bồ tát, Kim cương tác bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở gần cửa phía nam, hàng thứ nhất trong Mạn đồ la Kim cương giới, 1 trong Tứ nhiếp, 1 trong 37 vị tôn của Kim cương giới Mật giáo, mật hiệu là Đẳng Dẫn Kim Cương, Từ dẫn kim cương. Vị Bồ tát này dùng tâm từ bi bình đẳng dắt dẫn chúng sinh tiến vào Phật đạo, đồng thời, cũng là vị tôn dùng tâm bồ đề thiền định dẫn nhiếp chư Phật vào đạo tràng. Nếu phối hợp với Tứ nhiếp sự của Hiển giáo thì vị tôn này là nội chứng Ái ngữ. Trong hội Thành thân, hình tượng vị tôn này màu vàng lợt, tay trái nắm co lại, để ở chỗ thắt lưng, tay phải cầm sợi dây rắn. Trong hội Vi tế, hội Hàng ma thì tay phải vị tôn này cầm vòng dây. Trong hội Cúng dường, vị này ngồi ngay thẳng trên hoa sen, 2 tay cầm sợi dây. Chủng tử là biểu thị ý nghĩa đem tất cả pháp duyên sinh nhập vào Bồ đề tự chứng đại không. [X. kinh Kim cương đính Q.2; kinh Giáo vương Q.2; Liên hoa bộ tâm quĩ].

sách dẫn

(索引) Đem nội dung của các kinh luận biên thành mục lục để dễ kiểm tra, như Đại trí độ luận loại tụ tiêu mục, Tông kính lục yếu nghĩa điều mục, Pháp hoa huyền luận tiêu mục v.v... tức đem những mục trọng yếu nêu ở trên sách.

sách dục vấn hoà

(索欲問和) Tiếng dùng trong giới luật. Khi đại chúng trong tùng lâm sắp nhóm họp, nếu 1 vị Tỳ khưu nào đó có việc gấp, cần phải vắng mặt trong cuộc họp để giải quyết công việc, thì gọi là Dục pháp (pháp mong cầu, ở đây nghĩa là mong cầu được vắng mặt). Vị Tỳ khưu muốn được vắng mặt ấy phải đem Dục pháp truyền đạt cho vị Tỳ khưu sẽ có mặt trong cuộc họp, gọi là Dữ dục (giáo dục pháp cho). Vị Tỳ khưu tiếp nhận Dữ dục gọi là Thụ dục (người nhận Dục pháp). Đến khi đại chúng nhóm họp, vị chủ tọa trước tiên phải hỏi: -Hữu thụ Dục giả phủ (Có ai nhận Dục pháp không)? Gọi là Sách dục. Lúc đó, người thụ dục đáp: - Mỗ dữ dục ư ngã (Vị Tỳ khưu tên là... có nhờ tôi). Như vậy là biết đã có pháp sách dục, không có ai phá hòa hợp tăng. Bấy giờ, vị Chủ tọa lại hỏi: - Nhất đồng hòa phủ (Tất cả hòa hợp không)? Đây gọi là Vấn hòa. Hai pháp Sách dục và Vấn hòa phải được thực hành ngay từ lúc đầu của tất cả các loại yết ma. Nói một cách nôm na và vắn tắt cho dễ hiểu là: Theo luật của tăng, khi đại chúng hội họp, tất cả đều phải có mặt. Nhưng nếu vì 1 lí do đặc biệt nào đó, như bệnh nặng chẳng hạn, mà người ấy phải vắng mặt, không dự họp được, thì phải nhờ người khác đưa lí do vắng mặt của mình ra trình bày trước cuộc họp, mong được sự đồng ý chấp thuận để tránh việc phá hòa hợp của chúng tăng. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 3].

sách ha

(索呵) Phạn: Sahà. Hán dịch: Kham Nhẫn, Nhẫn Độ. Chỉ cho cõi nhân gian này, là thế giới do đức Thế tôn giáo hóa. Chúng sinh ở thế giới này thường làm 10 điều ác, nhẫn chịu các phiền não, vì thế gọi là Sách Ha. Từ đời Tùy trở về trước, Sách ha được dịch là Sa Bà, Tạp Hội.

sách phát a xà lê

(策發阿闍梨) Cũng gọi Sách phát sư. Vị giới sư khích lệ sa di khi sa di thụ giới Cụ túc, 1 trong Thập sư. Hoằng giới pháp nghi quyển thượng (Vạn tục 106, 498 hạ) nói: Hai vị Dẫn thỉnh đến liêu Thập sư, thỉnh Sách phát sư.

sách thoại

(索話) Cũng gọi Sách ngữ, Điếu ngữ, Điếu thoại. Trong Thiền lâm, khi thướng đường thuyết pháp, trước hết, bậc thầy nói pháp ngữ, nếu người học có điều gì nghi ngờ thì hỏi, bậc thầy nhờ đó mà giải quyết mối ngờ của người học, đồng thời nhân đó mà thử nghiệm chỗ hiểu biết của người học, giống như người câu cá thả câu tìm cá. Nhưng theo môn Thùy Thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên thì người học thời xưa, khi thướng đường thuyết pháp, nếu có điều ngờ không giải quyết được thì đứng ra thưa hỏi, gọi là Sách thoại: Sách ngữ đời sau đã khác với ý của người xưa. Lại cứ theo Thiền lâm bảo huấn quyển 3 thì Hòa thượng Vạn Am Nhan nói (Đại 48, 1003 trung): Người xưa thướng đường, trước nêu cương yếu của đại pháp để thẩm vấn đại chúng, người học đứng ra thưa hỏi, nhờ đó mà vấn đề được sáng tỏ. Người đời nay thì hư cấu ra 4 câu thơ lạc vận để làm Điếu thoại, rồi 1 người thình lình ra trước chúng, cao giọng ngâm 1 bài thơ xưa, gọi nhau om sòm, rất thô tục! Thật đáng buồn, đáng đau xót! Qua đây, ta thấy diễn biến của đời sau lại càng phức tạp. [X.điếu Tứ tiết bỉnh phất trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.7].

sách thánh

Sacred Books.

sách tu

To stimulate—To cultivation of the good; to keep oneself up to the mark.

sách tử bản

(册子本) Bản sách đóng, 1 trong các hình thức đóng sách ở Trung quốc thịnh hành vào đời Tống, những bản kinh Phật đào được ở Đôn hoàng hầu hết là loại Sách tử bản. Sách tử bản là hình thức bản sách thuộc thể bút kí, phần lớn là lấy 1 tờ giấy gấp làm đôi rồi dùng hồ dán từng tờ dính lại, hoặc dùng sợi dây nhỏ khâu gáy đóng thành sách. Có 2 loại: Hồ điệp trang và Đại trang. Hồ điệp trang giống như cách đóng sách ở phương Tây hiện nay, tức là hình thức gấp đôi tờ giấy giống như 2 cánh bướm (Hồ điệp) và khâu lại ở chỗ nếp gấp giấy. Một tờ gấy như thế có 4 mặt chữ. Nhưng Hồ điệp trang của Trung quốc ngày xưa thường dán dính ở chỗ mở tờ giấy, làm thành 1 tờ giấy 2 mặt chữ. Còn Đại trang chính là tương phản với Hồ điệp trang, chỗ đóng ở nơi mở ra của tờ giấy gấp đôi, hình cái túi (đại) có 2 mặt chữ. Sách đóng bằng chỉ phần nhiều theo cách đóng này. Ngoài ra, Sách tử bản cũng từ Trung quốc truyền đến vùng Trung á, như ở các nơi Đôn hoàng, Cao xương, Hắc thủy thành... đều có đào được các bản kinh Phật thuộc loại Sách tử bản, ngoài phần lớn kinh điển bằng chữ Hán ra, còn có các kinh điển bằng các thứ tiếng Tây tạng, Hồi hột, Tây hạ... Chiều hướng viết của các Sách tử bản không giống nhau vì văn tự các nơi có khác nhau, như chữ Hán và chữ Tây hạ đều viết thẳng theo hàng dọc từ trên xuống dưới và từ phải sang trái. Chữ Hồi hột thì có 2 cách: Viết thẳng dọc xuống và viết ngang. Cách viết thẳng dọc là từ trái sang phải, cách viết ngang là từ phải sang trái. Còn chữ Tây tạng thì viết ngang từ trái sang phải. (xt. Triệp Bản).

sách đa

(索哆) Phạn: Sattva. Pàli:Satta. Cũng gọi Tát đóa. Hán dịch: Hữu tình, hàm thức, dũng mãnh. Chỉ cho hữu tình dũng mãnh, tinh tiến, kiên trì, nhẫn nại và vui với việc tu hành. [X. luận Phật tính Q.2; luận Đại trí độ Q.31]. (xt. Tát Đóa).

sái

1) Tưới—To sprinkle. 2) Phơi nắng cho khô: To dry in the sun. ; (灑) Cũng gọi Sa, Soát, Sát, Sí. Chỉ cho chữ (wa), 1 trong 50, hoặc 1 trong 42 chữ cái Tất đàm. Nghĩa là tất cả pháp tính độn, là âm thanh chế phục 6 chỗ (6 căn), chứng được 6 thần thông. Tại Đại nhật kinh sớ quyển 7 thì vì Bát nhã vô tri tự tính độn, cho nên hợp với chữ Sái này. Cái gọi là tự tính độn chính là cái tâm hoàn toàn không phân biệt; không ngu, không trí, không tuệ, không thức, không tri, không vọng, không giác, cho đến hết thảy các pháp không thể lay động, là 1 kim cương địa thuần tịnh, kiên cố. Như người thế gian quí chuộng trí tuệ, ghét bỏ ngu si, ưa thích Niết bàn, nhàm chán sinh tử. Nhưng chữ Sái này biểu trưng tất cả vốn chẳng sinh, cho đến tất cả vốn là tính vắng lặng, nên thực thì không có lợi (sắc bén – trí tuệ), độn (cùn lụt – ngu si) khác nhau, ví như dao kim cương sắc bén, nếu đối với vật không cứng chắc thì có thể nói là sắc bén, nhưng đối với kim cương mà nói thì sắc bén và cùn lụt cũng không 2 không khác. Luận Đại trí độ quyển 48 (Đại 25, 408 trung) nói: Nếu nghe chữWa liền biết 6 tướng của thân người. Vì chữ Phạm waw nghĩa là 6, lấy chữ wa(sái) làm chữ đầu của chữ waw, Trung quốc dịch là Lục (6) cho nên mới có thuyết Hễ nghe chữWa (sái) liền biết 6 tướng của thân người. Ngoài ra, kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4 nêu ra nghĩa chế phục 6 chỗ, được 6 thần thông. Về nghĩa này thì phẩm Tự mẫu kinh Văn thù sư lợi vấn quyển thượng và phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù vấn cũng nói giống nhau. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.11; kinh Phóng quang bát nhã Q.4; kinh Đại phẩm bát nhã Q.8, 53; kinh Hoa nghiêm Q.57 (bản dịch cũ); phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính].

sái chỗ

Out of place—Misplaced

sái phép

Against the rules—Contrary to the rules

sái sái lạc lạc

(灑灑落落) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Sái sái là tâm không mê hoặc; lạc lạc là không bị mắc kẹt vào vật, tức là cảnh giới tự tại, tâm không bám dính, xa lìa tất cả sự trói buộc và nhiễm ô. Thiền tông dùng cụm từ này để biểu thị cảnh giới của người đại triệt đại ngộ. Thung dung lục tắc 8 (Đại 48, 232 trung) nói: Nếu ông đã đạt đến cảnh giới đại triệt đại ngộ (sái sái lạc lạc) thì chẳng ngại ta giống như đứa trẻ sơ sinh (khóc oa oa – đà đà hòa hòa).

sái thuỷ kị

(灑水忌) Cũng gọi Hiếu lực kị, Quang hỉ kị. Cứ theo điều Truy kị danh số thường đệ trong Chư hồi hướng thanh qui quyển 4 thì Sái thủy kị là chỉ cho tuần thất thứ 3 (ngày thứ 21) của người chết. Vào ngày này, thân nhân của người chết thường tụng kinh lễ sám, làm phúc tu thiện, bố thí cúng dường để hồi hướng nguyện cầu cho vong linh của người quá cố được vãng sinh Tịnh độ.

sái thủy

Rảy nước—To sprinkle the water.

sái thủy quan âm

Một trong 33 vị Quan Âm, tay phải cầm bình rảy nước cam lồ—One of the thirty-three forms of Kuan-Yin, who holds a vase of sweet-dew in his right hand.

sái tịnh

Phép tu của tông Chân Ngôn, lấy nước cam lồ trong bình tịnh thủy mà rảy khắp đàn tràng (khi rảy nguyện cho tâm Bồ Đề thanh tịnh của hết thảy chúng sanh đều được tăng trưởng)—To purify by sprinkling. ; (灑淨) Cũng gọi Sái thủy. Rưới nước thơm để cho mọi vật được trong sạch. Tức dùng nước thơm đã được gia trì ấn chú rảy quanh đạo tràng và trên các vật cúng khiến cho tất cả được thanh tịnh. Cứ theo Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 2, thì tiên nhân Kiếp tỉ la đã kết giới sái tịnh cho 4 vị Vương tử con vua Ý ma di, rồi 4 Vương tử xây dựng thành Kiếp tỉ la. Trong Mật giáo, trước khi tu bí pháp cần phải sái thủy đạo tràng và các vật cúng cho thanh tịnh, về sau bí pháp thịnh hành nên đã phát sinh ra nghi thức sái tịnh. Cứ theo kinh Đà la ni tập quyển 1 thì tay phải cầm 1 cành liễu, tay trái cầm chày kim cương và xâu chuỗi, ngồi xoay mặt hướng đông, tụng Phật đính tâm chú, dùng cành liễu khuấy nước, niệm 108 biến chú, rồi cầm bình nước đã trì chú vào trong đạo tràng, bắt đầu rảy nước thơm từ góc đông bắc. Phẩm Tối thắng lập ấn Thánh vô động tôn đại uy nộ vương niệm tụng nghi quĩ pháp trong kinh Kim cương thủ quang minh quán đính (Đại 21, 3 thượng) nói: Ấn Kim cương 3 chĩa, quán không gia trì vào đầu ngón cái, tam luân nhưkim cương, trên tất cả vật cúng đều rảy nước thơm để tịnh trừ. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 4 thì giống như nước thơm rảy ở trên đất, để trừ sạch dơ uế, Như lai cũng thế, dùng hương giới tính tịnh, hòa hợp với nước bi tính tịnh, rảy vào tâm địa của chúng sinh trong khắp pháp giới, làm cho tất cả hí luận đều được trừ sạch. Trong giới Phật giáo hiện nay, trước khi cử hành pháp hội như thụ giới, Phật thất, bái sám... đều có dùng nước thơm rảy khắp đạo tràng, đó là nghi thức kết giới thanh tịnh. [X. kinh Tô tất địa yết ra Q.trung; Kiến lập mạn đồ la hộ ma nghi quĩ; kinh Bồ đề tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương Q.4].

sám

Ksamayati (skt)—Hối hận về lỗi lầm (hối quá) và xin được tha thứ. Sám hối là nghi thức tu tập thường xuyên trong các khóa lễ của chư Tăng Ni—To repent or regret for error and seek forgiveness, or to ask for pardon. It especially refers to the regular confessional service for monks and nuns—See Sám Hối.

sám chủ

(懺主) Từ tôn xưng ngài Tuân thức, vị cao tăng chùa Linh sơn Thiên trúc ở Hàng Châu, Trung Quốc. Khi trụ trì chùa Linh Sơn, ngài xây dựng sám đường Kim Quang Minh, tu sám Kim quang minh, soạn Kim quang minh tam muội nghi và rất nhiều tác phẩm về nghi thức sám hối, cho nên người đời gọi ngài là Bách bản sám chủ, Thiên Trúc sám chủ, Từ vân sám chủ.

Sám hối

(s: deśanā, kṣama, paṭi karoti, āpatti-pratideśanā, 懺悔): còn gọi là hối quá (悔過, ăn năn những điều sai lầm), là hành vi bộc bạch trước chư Phật và các vị tỳ kheo về những tội lỗi, sai lầm tự mình phạm phải và cầu xin được công nhận. Nguyên ngữ tiếng Sanskrit của từ này có mấy loại khác nhau. Kṣama (悔摩, hối ma) nghĩa là cầu xin tha tội và ăn năn, hối lỗi với những tội lỗi của quá khứ. Trong Luật, khi thuyết giới vào mỗi nữa tháng hay vào ngày chấm dứt kỳ An Cư (安居), có nghi thức tụng giới bổn và phát lộ những tội lỗi đã vi phạm trước đại tăng từ 1 người (Đối Thủ Sám [對首懺]) cho đến 4 người (Chúng Pháp Sám [眾法懺]); hình thức này được gọi là āpatti-pratideśanā (đối trước người khác bộc bạch). Trong A Hàm Kinh (阿含經), có nhiều trường hợp bộc bạch tội lỗi lên đức Thế Tôn và cầu xin tha tội. Trong Phật Giáo Đại Thừa, có nghi thức lễ bái mười phương chư Phật, phát lộ những tội lỗi của Ba Nghiệp thân, miệng, ý cũng như các tội lỗi khác và cầu xin sám hối. Tại Trung Quốc, sám hối đã trở thành một nghi lễ đặc biệt, cho nên nghi thức Sám Pháp (懺法) được hình thành và rất phổ cập, tỷ dụ như Lương Hoàng Sám (梁皇懺), Thủy Sám (水懺), Đại Bi Sám (大悲懺), Dược Sư Sám (藥師懺), Tịnh Độ Sám (淨土懺), Địa Tạng Sám (地藏懺), v.v. Thiên Thai Trí Khải Đại Sư (天台智顗大師) chia sám hối thành Sự Sám (事懺, thể hiện sám hối bằng hành động), Lý Sám (理懺, nhờ quán pháp về lý của thật tướng mà diệt được tội lỗi) và phân ra 3 loại: Tác Pháp (作法, sám hối theo Luật), Thủ Tướng (取相, quán pháp), Vô Sanh (無生, lý sám hối). Đạo Tuyên (道宣) của Nam Sơn Luật Tông (南山律宗) cho rằng Chế Giáo Sám (制敎懺) của giới luật là thuộc về Tiểu Thừa, còn Hóa Giáo Sám (化敎懺) với hình thức sám hối các tội của nghiệp đạo là cọng thông tất cả Phật Giáo, không giới hạn ở thừa nào cả. Y cứ vào Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận (十住毘婆沙論), trong giáo học của Thiên Thai Tông có nội dung của sám hối với 5 giai đoạn là Sám Hối (懺悔), Khuyến Thỉnh (勸請), Tùy Hỷ (隨喜), Hồi Hướng (廻向), Phát Nguyện (發願). Bài kệ văn sám hối rất phổ biến được lấy từ quyển 4, Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện (普賢行願品) của Hoa Nghiêm Kinh (s: Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 華嚴經, Taishō 10, 847) là: “Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp, giai do vô thỉ tham sân si, tùng thân ngữ ý chi sở sanh, nhất thiết ngã kim giai sám hối (我昔所造諸惡業、皆無始貪瞋癡、從身語意之所生、一切我今皆懺悔, con xưa vốn tạo các nghiệp ác, đều do từ trước tham sân si, do thân miệng ý mà sanh ra, hết thảy con nay xin sám hối).”

sám hối

Ksama (skt)—Repentance (confession and reform)—Sám hối hay Sám ma có nghĩa là thân nên kiên trì nhẫn nại nói ra những lỗi lầm của mình, và thỉnh cầu tiền nhân tha thứ. Trong vô số kiếp luân hồi của ta kể từ vô thủy cho đến ngày nay, vì vô minh tham ái tài, sắc, danh, thực, thùy, của cải, quyền uy, vân vân phủ che khiến cho chơn tánh của chúng ta bị mê mờ, do đó thân khẩu ý gây tạo không biết bao nhiêu điều lầm lạc. Hơn nữa, do từ nơi ngã và ngã sở chấp, nghĩa là chấp lấy cái ta và cái của ta, mà chúng ta chỉ muốn giữ phần lợi cho riêng mình mà không cần quan tâm đến những tổn hại của người khác, vì thế mà chúng ta vô tình hay cố ý làm não hại vô lượng chúng sanh, tạo ra vô biên tội nghiệp, oan trái chất chồng. Ngay cả đến ngôi Tam Bảo chúng ta cũng không chừa, những tội nghiệp như vậy không sao kể xiết. Nay may mắn còn chút duyên lành dư lại từ kiếp trước nên gặp và được thiện hữu tri thức dạy dỗ, dắt dìu, khiến hiểu được đôi chút đạo lý, thấy biết sự lỗi lầm. Thế nên chúng ta phải phát tâm hổ thẹn ăn năn, đem ba nghiệp thân khẩu ý ra mà chí thành sám hối. Sám hối là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà nội tâm chúng ta luôn được gội rữa: Patience or forebearance of repentance or regret for error. From infinite reincarnations in the past to the present, we have existed in this cycle of rebirths. Because of ignorance and greediness for desires of talent, beauty, fame, food, sleep, wealth, and power, etc. which have masked and covered our true nature, causing us to lose our ways and end up committing endless karmic transgressions. Moreover, because of our egotistical nature, we only hold to the concept of self and what belong to us, we are only concerned with benefitting to ourselves but have absolutely no regards on how our actions may affect others. Thus, in this way, whether unintentionally or intentionally, we often bring pains and sufferings to countless sentient beings, committing infinite and endless unwholesome karma, consequently, creating countless enemies. Even the most precious Triple Jewels, we still make false accusations and slander. All such karmic transgressions are countless. Now we are fortunate enough, having a few good karma leftover from former lives, to be able to meet a good knowing advisor to guide and lead us, giving us the opportunity to understand the philosophy of Buddhism, begin to see clearly our former mistakes and offenses. Therefore, it is necessary to feel ashame, be remorseful, and bring forth the three karmas of body, speech and mind to repent sincerely. Repentance is one of the most entrances to the great enlightenment; for with it, the mind within is always stilled. ; (懺悔) Ăn năn tội lỗi, xin được tha thứ. Sám nói đủ là Sám ma (Phạn: Kwama), nghĩa là nhẫn, tức cầu xin người khác tha tội; Hối nghĩa là ăn năn hối hận tội lỗi mình đã gây ra trong hiện tại và quá khứ, nay đối trước Phật, Bồ tát, sư trưởng, đại chúng nói ra hết không giấu giếm, cầu mong đạt mục đích diệt tội. Theo phần chú thích trong Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da quyển 15 do ngài Nghĩa tịnh dịch thì Sám và Hối có ý nghĩa khác nhau, Sám là cầu xin được tha thứ(tội nhẹ); Hối, tiếng Phạn là Àpattipra tide- zana (Hán âm: A bát để bát lạt để đề xá na), nghĩa là tự trình bày tội trạng (tội nặng), tức thuyết tội. Trong giáo đoàn Phật giáo nguyên thủy, khi 1 vị Tỳ khưu phạm tội thì đức Phật bảo vị ấy thực hành sám hối, rồi cứ mỗi nửa tháng cử hành Bồ tát và vào ngày cuối cùng của hạ an cư thì thực hành Tự tứ. Về phương pháp và tính chất của sám hối thì được chia làm nhiều loại: 1. Hai loại sám hối: Theo Tứ phần luật yết ma sớ quyển 1 thì sám hối có 2 loại là Chế giáo sám và Hóa giáo sám. a) Chế giáo sám: Người phạm tội về giới luật phải thực hành pháp sám hối này, chỉ áp dụng cho 5 chúng xuất gia, Tiểu thừa, hiện hành phạm... Chế giáo sám lại chia làm 3 loại: -Chúng pháp sám: Sám hối trước chúng tăng từ 4 người trở lên. -Đối thú sám: Sám hối trước vị sư gia. -Tâm niệm sám: Sám hối trước vị Bản tôn. b) Hóa giáo sám: Người phạm tội nghiệp đạo phải thực hành pháp sám hối này, được áp dụng chung cho tất cả. Cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 2, thượng, sám hối có Sự và Lí khác nhau. Sự sám là sám hối bằng các việc làm như: Lễ bái, tán thán, tụng kinh... Còn Lí sám (cũng gọi Quán sát thực tướng sám hối) là sám hối bằng cách quán xét lí thực tướng để đạt đến diệt tội. 2. Ba loại sám hối (gọi tắt: Tam sám), có xuất xứ từ Kim quang minh kinh văn cú kí quyển 3, tức là: a) Tác pháp sám hối (gọi tắt: Tác pháp sám): Sám hối được thực hành theo tác pháp của Luật. b) Thủ tướng sám hối (gọi tắt: Thủ tướng sám, cũng gọi Quán tướng sám hối): Tức sám hối bằng cách quán tưởng tướng hảo của Phật để diệt tội. Hai cách sám hối trên đều thuộc Sự sám. c) Vô sinh sám hối (gọi tắt: Vô sinh sám): Sám hối bằng cách quán xét lí thực tướng, quán tưởng thể của tội vốn vô sinh. Đây thuộc Lí sám. 3. Năm loại sám hối: Theo kinh Quán phổ hiền bồ tát thì pháp sám hối của người tại gia có 5 việc: a) Không chê baiTam bảo, cho đến tu lục niệm. b) Hiếu dưỡng cha mẹ, cung kính sư trưởng. c) Dùng chính pháp trị nước, khiến cho lòng người chân thật, ngay thẳng. d) Vào 6 ngày trai, không giết hại. e) Tin nhân quả, tin đạo Nhất thực, tin Phật bất diệt. 4. Lục căn sám hối(cũng gọi Pháp hoa sám pháp): Sám hối tội chướng của 6 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý thực hành theo Pháp hoa tam muội sám pháp của ngài Trí khải tông Thiên thai. Ngoài ra, trong Vãng sinh lễ tán có nêu 3 pháp sám hối Quảng, Yếu, Lược. 1. Yếu sám hối: Tức pháp sám hối bằng cách xướng tụng bài kệ 10 câu: Nam mô sám hối 10 phương Phật, nguyện diệt hết thảy tội trạng... ngưỡng nguyện thần quang trao tay, nương theo bản nguyện của Phật, được sinh về Tịnh độ cực lạc... 2. Lược sám hối: Tu hành 5 việc: Sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỉ, hồi hướng, phát nguyện. 3. Quảng sám hối: Sám hối các tội nghiệp ở quá khứ hoặc hiện tại trước Tam bảo Phật, Pháp, Tăng và đại chúng đồng tu. [X. kinh Tạp a hàm Q.40; kinh Đại bảo tích Q.40; kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo Q.thượng; kinh Tâm địa quán Q.1, 3; luật Tứ phần Q.37; luật Ngũ phần Q.10, Hữu bộ Tì nại datạpsự Q.13, 26; Pháp uyển châu lâm Q.86; Từ bi thủy sám Q.thượng; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ].

sám hối nghiệp chướng

Repent misdeeds and mental hindrances—Đây là hạnh nguyện thứ tư trong Phổ Hiền Thập Hạnh Nguyện. Sám hối nghiệp chướng là vì từ vô thỉ tham, sân, si đã khiến thân khẩu ý tạp gây vô biên ác nghiệp, nay đem trọn cả ba nghiệp thanh tịnh thân, khẩu và ý thành tâm sám hối trước mười phương tam thế các Đức Như Lai—This is the fourth of the ten conducts and vows of Universal Worthy Bodhisattva. Repent misdeeds and mental hindrances means from beginningless kalpas in the past, we have created all measureless and boundless evil karma with our body, mouth and mind because of greed, hatred and ignorance; now we bow before all Buddhas of ten directions that we completely purify these three karmas.

sám hối tam nghiệp

To repent three (body, speech, and mind) karmas. 1) Sám hối thân nghiệp: To repent the body karma—Đức Phật dạy: “Thân là nguồn gốc của tất cả nỗi khổ, là nguyên nhân của mọi hình phạt và quả báo trong tam đồ ác đạo.” Chúng sanh vì ngu muội nên chỉ biết có thân mình chớ chẳng cần biết đến thân người khác. Chỉ biết nỗi khổ của mình chớ chẳng nghĩ đến nỗi khổ của người. Chỉ biết mình cầu được yên vui, mà không biết rằng người khác cũng mong được yên vui. Hơn nữa, cũng vì vô minh mà ta khởi tâm bỉ thử, từ đó mà sanh ra ý tưởng thân sơ, dần dần kết thành thù oán lẫn nhau, gây nghiệp oan trái tiếp nối đời đời kiếp kiếp. Thân nghiệp có ba lỗi lớn là sát sanh, trộm cắp và tà dâm (see Thân Tam Khẩu Tứ Ý Tam). Muốn sám hối nơi thân, phải đem thân lễ kính Tam Bảo, nghĩ biết rằng sắc thân nầy vô thường, nhiều bệnh hoạn khổ đau, và hằng luôn thay đổi, chuyển biến, rốt lại chúng ta chẳng thể nào chủ trì hay chỉ huy được thân nầy. Vì thế chúng ta chớ nên quá lệ thuộc vào thân và đừng nên vì thân nầy mà tạo ra các điều ác nghiệp—The Buddha taught: “The body is the origin of all sufferings, is the root of all tortures, punishments and karmic retributions in the three domains.” Because of ignorance and stupidity, sentient beings are only concerned with our bodies and have not the slightest care of other people's bodies. We are only aware of our own sufferings, but completely oblivious of others' pains and sufferings. We only know of our hopes for peace and happiness but unaware that others, too, have hope for peace and happiness. Moreover, because of ignorance and stupidity, we give rise to the mind of self and other, which gives rise to the perception of friends and strangers. Gradually over time, this perception sometimes develops into feuds and hatred among people, who become enemies for countless aeons (life after life, one reincarnation after reincarnation). There are three kinds of body karma: killing, stealing, and sexual misconducts. To repent the body karma, we should bow and prostrate our body to the Triple Jewels, and realize that our body is inherently impermanent, filled with sicknesses, constantly changing, and transforming. Thus, in the end, we cannot control and command it. We should never be so obssessed and overly concerned with our body and let it causes so many evil deeds. 2) Sám hối Khẩu nghiệp: To repent the speech karma—Đức Phật dạy: “Miệng là cửa ngỏ của tất cả mọi oán họa.” Quả báo của khẩu nghiệp nặng nề vào bậc nhất. Khẩu nghiệp có bốn thứ là nói dối, nói lời mạ lỵ, nói lời thêu dệt, và nói lưỡi hai chiều. Do nơi bốn cái nghiệp ác khẩu nầy mà chúng sanh gây tạo ra vô lượng vô biên tội lỗi, hoặc nói lời bay bướm, ngọt ngào, giả dối, lừa gạt, ngôn hành trái nhau. Một khi ác tâm đã sanh khởi thì không nói chi đến người khác, mà ngay cả cha mẹ, sư trưởng, chúng ta cũng không chừa, không một điều nào mà ta không phỉ báng, chúng ta không từ một lời nói độc ác, trù rủa nào, hoặc nói lời ly tán khiến cho cốt nhục chia lìa, không nói có, có nói không, nói bừa bãi vô trách nhiệm. Phật tử chơn thuần phải luôn sám hối khẩu nghiệp, phải dùng cái miệng tội lỗi ngày xưa mà phát ra những lời ca tụng, tán thán công đức của chư Phật, tuyên nói những điều lành, khuyên bảo kẻ khác tu hành, ngồi thiền, niệm Phật hay tụng kinh. Sau đó, thề trọn đời không dùng miệng lưỡi đó nói ra những lời thô tục, hổn láo. Đối trước Tam Bảo phải thành kính bày tỏ tội lỗi chẳng dám che dấu. Cũng cùng cái miệng lưỡi tội lỗi ngày xưa đã từng gây tạo ra biết bao ác khẩu nghiệp, thì ngày nay tạo dựng được vô lượng công đức và phước lành—The Buddha taught: “The mouth is the gate and door to all hateful retaliations.” The karmic retribution for speech-karma is the greatest. Speech-karma gives rise to four great karmic offenses: lying, insulting, gossiping, and speaking with a double-tongue (see Thân Tam Khẩu Tứ Ý Tam). Because of these four unwholesome speeches, sentient beings accumulate infinite and endless offenses ranging from speaking artificially, sweetly, manipulatively to speaking untruthfully, words and actions contradicting one another, etc. Once the mind of hatred arises, not mention strangers, even one's parents, religious masters, etc., there is not an insult one will not speak. No malicious words will be spared, whether saying hateful words with intention of causing separation between two people, saying something happened when it didn't or when it didn't happened saying it did; thus speaking irresponsibly and chaotically without the slightest consideration of what is being said. Sincere Buddhists should always repent the body-karma by using the “mouth of transgressions” of the past to change it into praises and glorification of the virtuous practices of the Buddhas. Use that speech often to speak of kindness, encouraging others to cultivate the Way and change for the better, i.e. sitting meditation, Buddha-Recitation, or chanting sutras, etc. Thereafter, for the remainder of this life, vow not to use one mouth and tongue to speak vulgarly, disrespectfully, and before the Triple Jewels, sincerely confess and willingly admit to all offenses without concealment. Thus, use the same mouth and tongue which has created countless offenses in the past to give birth to infinite merits, virtues, and wholesome karma at the present. 3) Sám hối Ý nghiệp: To repent the mind-karma—Phật tử chơn thuần nên luôn nhớ rằng tất cả năm thức từ nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, sở dĩ gây nên vô số tội lỗi là do ở nơi ý thức. Ý thức nầy cũng ví như mệnh lệnh của vua ban xuống quần thần. Mắt ưa ngắm bậy, tai ham nghe âm thanh du dương, mũi ưa ngửi mùi hương hoa, son phấn, lưỡi ưa phát ngôn tà vạy, thân ưa thích sự xúc chạm mịn màng. Tất cả tội nghiệp gây ra từ năm thức nầy đều do chủ nhân ông là tâm hay ý thức mà phát sanh ra. Cuối cùng phải bị đọa vào tam đồ ác đạo, chịu vô lượng thống khổ nơi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy: “Phòng ý như phòng thành, giữ tâm như giữ gìn tròng con mắt. Giặc cướp công đức, một đời hay nhiều đời, không gì hơn ý.” Nay muốn sám hối ý nghiệp, trước hết phải nghĩ rằng ba nghiệp tham sân si (see Tam Độc) của ý là mầm mống gây tạo nên vô lượng nghiệp tội, là màng vô minh che mất trí huệ, là phiền não bao phủ chơn tâm. Thật là đáng sợ. Phật tử chơn thuần phải đem hết tâm ý sám hối ăn năn, thề không tái phạm—Sincere Buddhists should always remember that the mind consciousness is the reason to give rise to infinite offenses of the other five consciousnesses, from Sight, Hearing, Scent, Taste, and Touch Consciousnesses. The mind consciousness is similar to an order passed down from the King to his magistrates and chancellors. Eyes take great pleasure in looking and observing unwholesome things, ears take great pleasure in listening to melodious sounds, nose takes great pleasure in smelling aromas and fragrance, tongue takes great pleasure in speaking vulgarly and irresponsibly as well as finding joy in tasting the various delicacies, foods, and wines, etc; body takes great pleasure in feeling various sensations of warmth, coolnes, softness, velvet clothing. Karmic offenses arise from these five consciousness come from their master, the Mind; the mind consciousness is solely responsible for all their actions. In the end, this will result in continual drowning in the three evil paths, enduring infinite pains and sufferings in hells, hungry ghosts, and animals. In the Dharmapada, the Buddha taught: “Guard one's mind much like guarding a castle; protect the mind similar to protecting the eye ball. Mind is an enemy capable of destroying and eliminating all of the virtues and merits one has worked so hard to accumulate during one's existence, or sometimes many lifetimes. To repent the mind-karma, sincere Buddhists should think that the three karmas of Greed, Hatred, and Ignorance of the mind are the roots and foundations of infinite karmic transgressions. The mind-karma is the web of ignorance which masks our wisdom and is the affliction and worry that cover our true nature. It should be feared and needs be avoided. Sincere Buddhists should use their heart and mind to sincerely confess and repent, be remorseful, and vow never again to commit such offenses—See Thân Tam Khẩu Tứ Ý Tam.

sám hối văn

(懺悔文) Chỉ cho bài văn được đọc khi sám hối diệt tội. Có nhiều loại dài, ngắn khác nhau, trong đó, nổi tiếng nhất là bài kệ trong phẩm Phổ hiền hành nguyện của kinh Hoa Nghiêm quyển 40 như sau (Đại 10, 847 thượng): Con xưa gây nên bao ác nghiệp- Đều bởi vô thủy tham sân si- Từ thân miệng ý phát sinh ra- Hết thảy con nayđều sám hối. Bài kệ này gọi là Lược sám hối và hiện nay rất nhiều người tu hành trong Phật giáo đều thuộc lòng. Ngoài ra, Bát thập bát Phật đại sám hối văn cũng là 1 trong những hành pháp trọng yếu trong các pháp hội hiện nay.

sám hối với mười phương chư phật

To repent to the ten directions of Buddhas.

Sám Ma

(s: kṣama, 懺摩): ý dịch là hối (悔), nhẫn thứ (忍恕), nghĩa là thỉnh cầu tha nhân tha thứ cho tội lỗi, sai lầm do mình tạo nên. Như trong Đắc Ngộ Long Hoa Tu Chứng Sám Nghi (得遇龍華修證懺儀, CBETA No. 1488) quyển 4 có câu: “Cố chư cổ đức, thỉ khai Sám Ma nhất môn, ý linh địch cựu nhiễm nhi thọ tân huân nhĩ (故諸古德、始開懺摩一門、意令滌舊染而受新薰耳, cho nên chư vị cổ đức xưa kia, bắt đầu khai mở cửa sám hối, với ý khiến cho rửa sạch ô nhiễm cũ mà thọ nhận hương thơm mới).” Hay trong Đại Thừa Khởi Tín Luận Sớ Bút Tước Ký Hội Duyệt (大乘起信論疏筆削記會閱, CBETA No. 768) quyển 9 lại có giải thích rằng: “Hối quá giả, Phạn ngữ Sám Ma, thử vân hối quá, vị trần lộ tiên tội, cải vãng tu lai (悔過者、梵語懺摩、此云悔過、謂陳露先罪、改徃修來, Hối quá, tiếng Phạn là Sám Ma, Tàu gọi là hối quá, tức bày tỏ tội lỗi trước, sửa đổi quá khứ và tu tập tương lai).”

sám ma

Ksama (skt)—Xoa Ma—Nhẫn Thứ hay kiên nhẫn thỉnh cầu được tha thứ cho những lỗi lầm—To forebear or to have patience with; ask for consideration or pardon. ; (懺摩) I. Sám Ma. Phạn: Kwama. Hán dịch: Hối, Nhẫn thứ. Cầu xin người khác tha thứ cho những tội lỗi của mình. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển trung, phần 4, hạ (Đại 40, 349 trung) nói: Tiếng Phạm Sám ma, Hán dịch là Hối Vãng. [X. điều Tùy ý thành qui trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2]. II. Sám Ma. Phạn: Kwauma. Áo may bằng sợi cây gai. Tiếng Sám ma có xuất xứ từ Tứ phần luật khai tông kí quyển 3 phần cuối. Còn theo Đại đường tây vực kí quyển 2 thì trong các loại y phục của người Ấn Độ, loại dệt bằng tơ tằm gọi là Kiều xa da y, còn loại dệt bằng sợi cây gai thì gọi là Tùng ma y.

sám ma y

Y áo làm bằng một loại cây gai dại—Clothing made of ksauma, i.e. wild flax.

sám nghi

Nghi thức của phép sám hối (Pháp Hoa Sám Pháp, Phương Đẳng Sám Pháp, Quán Âm Sám Pháp, Di Đà Sám Pháp)—The rules for confession and pardon.

sám nguyện tâm

Repentance-Vow Mind—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, sao gọi là Sám Nguyện Tâm? Chúng ta từ vô thỉ kiếp đến nay, do nơi chấp ngã quá nặng nên bị vô minh hành xử, thân, khẩu, ý vì thế mà tạo ra vô lượng nghiệp nhân, thậm chí đến các việc nghịch ân bội nghĩa đối với cha mẹ, Tam Bảo, vân vân chúng ta cũng không từ. Ngày nay giác ngộ, ắt phải sanh lòng hỗ thẹn ăn năn bằng cách đem ba nghiệp thân khẩu ý ấy mà chí thành sám hối. Như Đức Di Lặc Bồ Tát, đã là bậc Nhất sanh Bổ xứ thành Phật vậy mà mỗi ngày còn phải sáu thời lễ sám, cầu cho mau dứt vô minh, huống là chúng ta! Tâm Sám Nguyện phải bao gồm sám hối nghiệp chướng nơi thân khẩu ý, và nguyện hưng long ngôi Tam Bảo—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, what is a Repentance-Vow Mind? From infinite eons, because we have been drowning deeply in the concept of “Self,” ignorance has ruled and governed us. Thus, our body, speech, and mind have created infinite karmas and even great transgressions, such as being ungrateful and disloyal to our fathers, mothers, the Triple Jewels, etc, were not spared. Now that we are awakened, it is necessary to feel ashamed and be remorseful by using the same three karmas of body, speech, and mind to repent sincerely. Maitreya Bodhisattva, even as a “One-Birth Maha-Bodhisattva,” six times daily he still performs the repentance ceremony praying to eliminate binding ignorance quickly. As a Maha-Bodhisattva, his 'binding ignorance' is infinitesimal, yet He still repents to eliminate them; thus, how can we not repent given that, as unenlightened foolish mortals, we are bound by countless ignorance. Repentance-Vow Mind must include the followings: 1) Sám Hối—Repentance: a) Sám Hối Thân nghiệp—Repentance on the Body Karma: Thân nghiệp tỏ bày tội lỗi, phát lồ cầu được tiêu trừ, rồi dùng thân ấy mà hành thiện nghiệp như bố thí cúng dường, vân vân—Body karma openly confess all transgressions and pray for them to disappear, and then use that body to practice wholesome actions, such as alms givings, offerings, etc. b) Sám Hối Khẩu Nghiệp—Repentance on the Speech Karma: Khẩu nghiệp tỏ bày tội lỗi, phát lồ cầu được tiêu trừ, rồi dùng khẩu ấy mà niệm Phật, tụng kinh, hay ăn nói thiện lành, vân vân—Speech karma openly confess all transgressions and pray for them to disappear, and then use that speech to practice Buddha Recitation, chant sutras, speak wholesomely, etc. c) Sám Hối Ý Nghiệp—Repentance on the Mind Karma: Ý nghiệp phải thành khẩn ăn năn, thề không tái phạm—Mind Karma must be genuine, remorseful, vowing not to revert back to the old ways. 2) Phát Nguyện—Vow-Developing: Phát nguyện hưng long ngôi Tam Bảo, độ khắp chúng sanh để chuộc lại lỗi xưa và đáp đền bốn trọng ân Tam Bảo, cha mẹ, sư trưởng, và chúng sanh—Develop vow to make the Triple Jewels glorious, help and rescue sentient beings, in order to compensate and atone for past transgressions and repay the four-gratefuls including the Triple Jewels, parents, teachers of both life and religion, and all sentient beings.

sám pháp

Nghi thức hay phương cách sám hối; có nhiều loại như Quán Âm Sám Pháp, Di Đà Sám Pháp, vân vân—The mode of action, or ritual, at the confessional; the various types of confessional, e.g. that of Kuan-Yin, Amitabha, etc. ; (懺法) Cũng gọi Sám nghi. Chỉ cho nghi thức sám hối tội lỗi theo lời dạy trong các kinh. Sám pháp trong Phật giáo Trung quốc bắt đầu từ đời Tấn, dần dần thịnh hành vào thời Nam Bắc Triều. Từ đời Lương thuộc Nam Triều trở về sau, Sám pháp có nội dung sám hối và lễ tán trong các kinh Đại thừa được sử dụng và lưu hành dưới nhiều hình thức thì từ đó đã có rất nhiều văn lễ tán và văn sám hối. Cứ theo thiên Hối tội trong Quảng hoằng minh tập quyển 28 thì có các văn sám hối sau đây: Niết bàn sám khải, Lục căn sám hối, Hối cao mạn văn của vua Giản văn đế đời Lương, Sám hối văn của ngài Trầm ước, Từ bi đạo tràng sám (thường gọi Lương hoàng bảo sám), Kim cương bát nhã sám văn, Ma ha bát nhã văn của vua Lương vũ đế, Quần thần thỉnh Trần vũ đế sám văn của Trần giang Tổng văn, Thắng thiên vương bát nhã sám văn của vua Tuyên đế nhà Trần, Diệu pháp liên hoa kinh sám văn, Kim quang minh sám văn, Đại thông phương quảng sám văn, Hư không tạng bồ tát sám văn, Phương đẳng đà la ni trai sám văn, Dược sư trai sám văn, Sa la trai sám văn, Vô ngại xá thân hội sám văn của vua Trần văn đế. Về các kinh điển y cứ của Sám pháp thì có: kinh Niết bàn, kinh Bát nhã, kinh Pháp hoa, kinh Kim quang minh... Bản tôn được thờ khi tu Sám pháp cũng tùy theo các kinh mà có khác nhau. Về sau lại có nhữngSám nghi y cứ theo các kinh Viên giác, Dược sư, Địa tạng...,đồng thời còn có Thủy sám pháp mang đậm sắc thái chú thuật và Xí thịnh quang pháp liên quan đến tinh tú... Ngoài ra, Chiêmsát sám pháp, Tháp sám pháp... có tư tưởng Đạo giáo cũng dần dần hưng thịnh. Đến khoảng Tùy, Đường, các tông phái Phật giáo dần dần hưng khởi, mỗi phái dựa theo kinh điển mà mình y cứ để soạn ra các hành pháp sám hối, như Đại sư Trí khải tông Thiên thai soạn Pháp hoa tam muội sám nghi, Thỉnh Quán thế âm sám pháp, Kim quang minh sám pháp, Phương đẳng sám pháp, Phương đẳng tam muội hành pháp; Tam giai giáo có ngài Tín hành soạn Thất giai Phật danh; Tịnh độ tông có ngài Thiện đạo soạn Tịnh độ pháp sự tán, ngài Pháp chiếu soạn Ngũ hội niệm Phật lược pháp sự nghi tán; tông Hoa nghiêm có ngài Tông mật soạn Viên giác kinh đạo tràng tu chứng nghi, ngài Nhất hạnh soạn Hoa nghiêm sám pháp; Mật tông có ngài Bất không dịch Phật thuyết tam thập ngũ Phật danh lễ sám văn... Ngoài ra, ngài Tri huyền sao chép Viên giác kinh đạo tràng tu chứng nghi của ngài Tông mật và soạn Từ bi thủy sám pháp, đến nay vẫn còn lưu hành rộng rãi; ngài Trí thăng lại thu gom thành Tập chư kinh lễ sám nghi, đây là ấn bản sớm nhất về các loại nghi tắc sám pháp. Đời Tống là thời kì toàn thịnh của Sám pháp, các bậc đại sư của tông Thiên thai lúc bấy giờ như ngài Tứ minh Tri lễ, Từ vân Tuân thức, Đông hồ Chí bàn... đều thừa kế di pháp của ngài Trí khải, chủ trương lễ sám là hành pháp quan trọng đối với việc tu tập Chỉ quán, cho nên chuyên về Sám nghi. Trong đó, ngài Trí lễ thường tu các Sám pháp như: Pháp hoa sám, Kim quang minh sám, Di đà sám, Thỉnh Quán âm sám, Đại bi sám và soạn Kim quang minh tối thắng sám nghi; Đại bi sám nghi, Tu sám yếu chỉ; ngài Tuân thức(cũng được gọi là Từ vân sám chủ)soạn Kim quang minh sám pháp bổ trợ nghi; ngài Chí bàn soạn Thủy lục đạo tràng nghi quĩ; còn ngài Nguyên chiếu thì soạn Lan bồn hiến cúng nghi, cũng là 1 trong các sám pháp. Vương tử thành đời Kim vậng tập các nhân duyên về Tịnh độ mà soạn thành Lễ niệm Di đà đạo tràng sám pháp (gọi tắt: Di đà sám pháp), được in lại vào năm Chí thuận thứ 3 (1332) đời Nguyên, lưu hành rất rộng. Vua Thái tổ nhà Minh thường mở pháp hội ở Tưởng sơn tại Nam kinh để cầu siêu độ cho các chiến sĩ chết trong cuộc chiến vào những năm cuối đời Nguyên. Về sau, Sám pháp rất phổ biến và cử hành nghi thức sám pháp trở thành 1 trong những pháp tu hành trọng yếu của chư tăng. Đến những năm cuối đời Minh, ngài Vân thê Chu hoành soạn nhiều Sám pháp, sửa chữa lại Thủy lục đạo tràng nghi quĩ, hiệu đính Du già tập yếu thí thực đàn nghi và soạn Thí thực bổ chú (tức Thủy lục và Diện khẩu lưu hành ở thời cận đại). Ngài Thụ đăng soạn Chuẩn đề tam muội hành pháp, Dược sư tam muội hành pháp; ngài Trí húc soạn Chiêm sát thiện ác nghiệp báo kinh hành pháp, Tán lễ địa tạng bồ tát sám nguyện nghi (tức Địa tạng sám pháp), ngài Thiền tu soạn Y lăng nghiêm cứu cánh sự sám(gọi tắt: Lăng nghiêm sám pháp); ngài Như tỉnh soạn Đắc ngộ Long hoa tu chứng nghi (gọi tắt: Long hoa sám nghi). Đến đời Thanh, Hạ đạo nhân biên tập Chuẩn đề phần tu tất địa sám hối huyền văn(gọi tắt: Chuẩn đề sám pháp), lại có Tiêu tai Diên thọ Dược sư sám pháp và Từ bi Địa tạng bồ tát sám pháp (không rõ soạn giả); ngài Kế tăng soạn Xá lợi sám pháp, ngài Hoằng tán biên tập Cúng chư thiên khoa nghi, ngài Kiến cơ thu tập Kim cương kinh khoa nghi bảo quyển, ngài Trí chứng thu tập Thủy sám pháp tùy văn lục, ngài Tây tông tập chú Thủy sám pháp khoa chú... Về sau Sám pháp phổ biến nhất ở thời cận đại thì có: Lương hoàng bảo sám, Thủy sám, Đại bi sám,Dược sư sám, Tịnh độ sám, Địa tạng sám... Ngoài ra còn có Kim cương sám, Bát thập bát Phật hồng danh bảo sám, Thiên Phật hồng danh bảo sám... cũng là những Sám pháp thường được thực hành. Tại Nhật bản, những Sám pháp được thực hành ở thời xưa được gọi là Hối quá, có nhiều loại như Dược sư hối quá, Cát tường hối quá, A di đà hối quá... Sau thời đại Bình an thì có Pháp hoa sám pháp, A di đà sám pháp, Phật danh sám pháp, Xá lợi sám pháp... trong đó, Pháp hoa sám pháp là phổ biến nhất. [X. Thích thị thông giám Q.5; Phật tổ thống kỉ Q.8, 10, 25; Phật tổ lịch đại thông tải Q.27; Tục cao tăng truyện Q.11, 17; Hoằng tán Pháp hoa truyện Q.3, 6, 7; Thích thị kê cổ lược Q.2]. (xt. Sám Hối).

sám trừ

Confession and forgiveness.

sán lạn

Bright—Radiant.

sán nhã

Sanjaya (skt)—Entirely Vanquishing (hoàn toàn bị đánh bại). 1) Tên của một vị sáng lập ra một trong mười phái ngoại đạo: Name of the founder of one of the ten heretical sects. 2) Tên của vị thầy của Xá Lợi Phất và Mục Kiến Liên trước khi hai vị nầy về quy-y Phật: Name of the teacher of Maudgalyayana and Sariputra before they were converted by the Buddha. 3) Vua của loài Dạ Xoa: Name of a king of yaksas.

sáng

Brilliant—Lunimous—Bright.

sáng dạ

Intelligent.

sáng dạ thần

Nisakara (skt)—Người tạo ra ban đêm—Maker of the night.

sáng khởi

To create.

sáng loáng

Shining—Flashing—Glittering—Sparkling.

sáng lập

To found—To establish.

sáng ngời

See Sáng Loáng.

sáng suốt

Clear-sighted—Clear-headed (minded)—Conscious—Able-minded.

sáng thế chủ

(創世主) Chỉ cho vị thần linh được xem là đấng sáng tạo ra trời đất, muôn vật và loài người. Về vấn đề này, các tông giáo đều có quan điểm khác nhau. Như Do thái giáo cho rằng Sáng thế chủ đã từ trên đất và nước còn lẫn lộn trong hư không mà tạo ra thế giới, rồi lại dùng đất bụi tạo ra con người. Tông giáo của người Ba tỉ luân (Babylonian) và người Ai cập (Egyptian) chủ trương Sáng thế chủ dùng vật chất có sẵn để tạo ra thế giới và người; đạo Cơ đốc cho rằng Sáng thế chủ tạo ra thế giới từ trong không tuyệt đối. Trung quốc thì có thuyết Bàn cổ khai thiên lập địa, nghĩa là Bàn cổ (thủy tổ của nhân loại) mở ra trời và đất từ một khối đang ngưng kết lẫn lộn ở một chỗ, rồi sau đó lại đem thân mình hóa thành các bộ phận của thế giới. Riêng Phật giáo thì không bàn đến vấn đề Sáng thế chủ và thế giới từ đâu mà có, là vì Phật giáo tuy thừa nhận có rất nhiều thần linh, chư thiên, nhưng xem những vị này chỉ là một hình thức khác của chúng sinh, chủ trương tinh thần bất diệt, nhưng phủ nhận sự tồn tại của 1 vị thần sáng tạo ra vũ trụ, muôn vật. Phật giáo đặt nền tảng trên lập trường Duyên sinh (khởi) tính không, chủ trương vô thần (người sáng thế), vô ngã (linh hồn thường trụ ất biến), cho rằng vũ trụ là do nghiệp lực của cộng đồng chúng sinh chiêu cảm, do nhiều nhân duyên tạo thành; bản thể của chúng sinh là thức bị nghiệp xông ướp (huân tập); thức là thể bị nghiệp nhiễm thành; hành nghiệp tăng giảm từng sát na (tích tắc), bản thể của thức cũng theo đó mà biến động không ngừng, vì thế không có 1 linh hồn thường trụ bất biến, cũng không có vị thần nào sáng tạo và chủ tể thế giới.

sáng trí

Intelligent—Able-minded—Clear-headed.

sáng trưng

Brilliant—Bright—Dazzling.

sáng tác

To compose (music)—To write (a book).

sáng tạo

Creatively—To create—To invent

sáng tỏ

To clear up (explain--solve) all misunderstandings.

sáng ý

See Sáng Trí.

sáng, trưa, chiều, tối chỉ một hồng danh a di đà

Devoted cultivators should recite Amitabha's name without interruption in the morning, at noon, in the evening and at night.

sánh bước

To walk abreast (alongside of someone).

sánh bằng

To be comparable (equal) to.

sáp nhập với

To be incorporated with.

sáp đan

(插單) Tiếng dùng trong Thiền Lâm. Đơn là đơn vị, chỉ cho cái giường ngồi có dán tên của tỉ khưu. Sau được dùng để chỉ cho chỗ ngồi của vị tăng. Sáp nghĩa là sáp nhập, chỉ cho vị Tỳ khưu vào Thiền đường tọa thiền, sáp nhập với chúng tăng để tu hành, tức đem cái chỗ ngồi của mình sáp nhập với chỗ ngồi của chúng tăng. Vị tăng hành cước du phương đến tùng lâm, chỉ sau khi sáp đơn mới được xem là 1 thành viên của Tăng đường, được sinh hoạt chung với chúng tăng. Điều Tân giới tham đường trong Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1138 hạ) nói: Sau đó, về Tăng đường sáp sơn, theo chúng ngồi thiền. Ngoài ra, dời đổi chỗ ngồi cũng gọi là sáp sơn.

Sát

刹; C: chà; J: setsu;|1. Thế giới, đất nước, cõi (s: kṣetra); 2. Một cây cột dựng thẳng trước một Phật điện, cho biết đây là một tự viện, một ngôi chùa, và vì vậy, cũng có nghĩa là một ngôi chùa; 3. Một lối viết tắt của Sát-đế-lợi (刹帝利; s: kṣatriya), một giai cấp xã hội bao gồm vua chúa và quân binh; 4. Một ngôi chùa, một bảo tháp.

sát

1) Cắt đứt mạng sống: To cut down, or cut off the life. 2) Chà sát: To rub—To wipe. 3) Sát sanh: To kill. 4) Đất: Land. 5) Khoảng thời gian rất ngắn (Sát na): A very short period of time. 6) Sát (rãi ra): To scatter—To set loose—To sow. 7) Vicara (p): Sustained application—Danh từ “Sát” có nghĩa là quan sát hay dò xét. Trong A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), “Sát” có nghĩa là “liên tục đặt tâm trên đối tượng.”—The word “vicara” usually means “examination,” but in Abhidharma it signifies the “sustained application” of the mind on the object. Whereas “vitakka” is the directing of the mind and its concomitants towards the object, vicara is the continued exercise of the mind on the object. a) “Tầm” tựa như con chim đang xoải cánh rộng ra để bay, còn “Sát” thì tựa như con chim đang bay lượn trên không trung với đôi cánh xoải rộng: Vitakka is like a bird's spreading out its wings to fly, vicara is like the bird's gliding through the air with outstretched wings. b) “Tầm” tựa như con ong bay hướng về cánh hoa, “Sát” tựa như con ong đang bay lượn trên hoa: “Vitakka” is like a bee's diving towards a flower, vicara is like the bee's buzzing above the flower. c) Trong thực tập thiền, thì “Sát” giúp tạm thời khắc phục hoài nghi: In practicing meditation, “vicara” serves to temporarily inhibit the hindrance of doubt. ; (殺) I. Sát. Phạn: Kwetra. Gọi đủ: Hột sai đát la, Sát đa la, Sai đa la, Sát ma. Hán dịch: Thổ điền, Độ, Quốc, Xứ. II. Sát. Phạn: Lakwatà. Gọi đủ: Lạt sắt chi. Hán dịch: Tiêu chí, Kí hiệu. Chỉ cho cái cột phướn, cột cờ. Thông thường chùa viện được gọi là Tự sát, Phạm sát, Kim sát hoặc Danh sát, bởi vì từ xưa có phong tục dựng cây cột phướn trước cửa chùa nên mới có cái tên gọi trên. Khi các vị tăng nói chuyện với nhau, thường gọi chùa của nhau là Bảo sát. ; (刹) I. Sát. Cắt đứt sự liên tục của dòng sống. Đại nhật kinh sớ quyển 10 cho rằng dứt trừ gốc rễ gọi là Sát(giết), tức dứt trừ mệnh căn (gốc sự sống) của tất cả chúng sinh. Nhưng theo Mật giáo, mệnh căn chính là các thứ phiền não vô thủy vô minh, đoạn trừ vô minh phiền não là nghĩa sâu xa của chữ Sát (tức giết chết tất cả vô minh phiền não). [X. Đại thừa nghĩa chương Q.7]. II. Sát. Cũng gọi Sa, Sái. Chỉ cho chữ (wa) trong 50 hoặc 42 chữ cáiTất đàm. Theo phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du Già Kim Cương đính thì chữ Sái chỉ cho độn tính của tất cả các pháp. (xt. Sái).

sát can

Yasti (skt)—Sát Trụ—Kim Sát—Biết Sát—Cây cột cờ của tự viện, dựng trên đỉnh tháp, bên trên có gắn bảo châu hay hỏa châu mạ vàng, một biểu tượng của Đạo Phật—The flagpole of a monastery, surmounted by a gilt ball or pearl, symbolical of Buddhism; inferentially a monastery with its land.

sát cánh

To be side by side (elbow to elbow).

sát giả

Kẻ sát nhân, một tên của ma quân—The murderer, a name for mara

sát hãn

Lau mồ hôi—To wipe off sweat.

sát hạch

to examine.

sát hại

To kill.

sát hải

Đất và biển—Land and sea. ; (刹海) Gọi đủ: Sát độ đại hải. Tục gọi là Vũ trụ. Chỉ cho thế giới trong 10 phương. Chữ Sát là dịch âm tắt từ chữ Phạn Kwetra, Hán dịch là Quốc độ, sát độ; Hải nghĩa là biển cả. (xt. Sát).

sát ma

Ksema (skt)—Nơi cư ngụ—A residence, dwelling, abode, land, property.

Sát Na

(s: kṣaṇa, p: khaṇa, 刹那): âm dịch là xoa nô (叉拏), ý dịch là niệm (念), niệm khoảnh (念頃, khoảnh khắc của niệm). Ở Ấn Độ, nó được dùng như là đơn vị biểu thị thời gian ngắn nhất. Thông thường người ta cho rằng đối với một người có sức mạnh thì trong một khoảng khảy móng tay đã trải qua 65 sát na. Theo Câu Xá Luận (s: Abhidharmakośabhāṣya, 倶舍論), 120 sát na là 1 Đát Sát Na (s: tatkṣaṇa, 怛刹那), 60 Đát Sát Na là 1 Lạp Phược (s: lava, 臘縛), 30 Lạp Phược là 1 Mâu Hô Lật Na (s: muhūrta, 牟呼栗多), 30 Mâu Hô Lật Na là một ngày đêm. Theo đó, ta thấy rằng 1 Sát Na là 1/75 giây, thể hiện thời gian rất ngắn đến nỗi không thể có cảm giác biết được.

sát na

Là thời gian rất ngắn, 1/60 của giây. ; Ksana (skt)—Một khoảnh khắc được xem như một đơn vị đo lường thời gian—An instance as a measure of time. 1) Khoảnh khắc của một khoảng thời gian rất ngắn, đối lại với kiếp là một khoảng thời gian dài: The shortest period or measure of time, a moment, an instant; in contrast with kalpa, the longest period of time. 2) 65 (có chỗ nói 60) sát na tương đương với một cái khảy móng tay—Sixty-five (some says 60) ksanas are said to pass the clicking of the fingers. 3) 90 sát na được coi như một niệm: 90 ksanas are equal to a thought. 4) Một sát na tương đương với một phần bảy mươi lăm giây, hay 4.500 sát na tương đương với một phút—A ksana is equal to one seventy-fifth of a second, or 4,500 ksanas are equal to a minute. ; (刹那) Phạn: Kwaịa. Pàli:Khaịa. Cũng gọi Xoa noa. Hán dịch: Tu du, Niệm khoảnh. Từ ngữ chỉ đơn vị thời gian cực ngắn như chớp mắt, giây lát... có các thuyết sau đây: 1. Theo luận Câu xá quyển 12 thì 120 sát na là 1 đát sát na (Phạn: Tat-kwaịa), 60 đát sát na là 1 lạp phược (Phạn: Lava, cũng gọi La dự), 30 lạp phược là 1 mâu hô lật đa (Phạn: Muhùrta, Hán dịch là tu du), 30 mâu hô lật đa tức là 1 ngày đêm. 2. Theo luật Ma ha tăng kì quyển 17 thì 20 niệm là 1 chớp mắt, 20 chớp mắt là 1 cái búng móng tay, 20 cái búng móng tay là 1 la dự (lạp phược), 20 la dự là 1 tu du, 30 tu du là 1 ngày đêm. 3. Có thuyết cho rằng 1 sát na khác với 1 niệm. Theo phẩm Quán không trong kinh Nhân vương quyển thượng (bản dịch của ngài Cưu ma la thập) thì 90 sát na là 1 niệm. Còn theo Vãng sinh luận chú quyển thượng thì 60 sát na là 1 niệm. 4. Theo luận Đại trí độ quyển 30, 83 thì 60 niệm là 1 cái búng tay; theo luận Câu xá quyển 12 thì 65 sát na là 1 cái búng móng tay. 5. Cứ theo thứ tự 1 ngày đêm, 1 ngày, nửa ngày, 1 giờ, khoảng bữa ăn, chốc lát, giây lát, khoảng chớp mắt, hơi thở... nói trong kinh Đại bát nhã quyển 347, thì 1 sát na tương đương với khoảng bữa ăn. 6. Theo phẩm Quán không trong kinh Nhân vương quyển thượng do ngài Cưu ma la thập dịch thì trong 1 sát na có 900 lần sinh diệt; còn theo Vãng sinh luận chú quyển thượng thì trong 1 sát na có 101 lần sinh diệt. Ngoài ra, sự sinh diệt trong khoảng 1 sát na được gọi là Sát na sinh diệt hoặc Sát na vô thường. Một sát na hiện tại gọi là Hiện tại, sát na trước gọi là Quá khứ, sát na sau gọi là Vị lai, đó là Sát na tam thế. [X. luận Đại tì bá sa Q.136; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2; luận Thuận chính lí Q.32; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.18]. (xt. Thời).

sát na sinh diệt

Chư pháp chuyển động liên tụ, trong khoảnh khắc một sát na có cả sinh và diệt—All things are in continuous flow, born and destroyed every instant. ; (刹那生滅) Chỉ cho sự sinh khởi và diệt vong trong 1 sát na. Luận Đại trí độ quyển 15 (Đại 25, 171 thượng) nói: Trong khoảng búng móng tay có 60 thời, trong mỗi thời tâm đều có sinh diệt.(...) Hành giả quán tâm sinh diệt như nước chảy, đèn cháy. (xt. Sinh Diệt, Sát Na).

sát na tam thế

Ba thời khác nhau trong khoảnh khắc ba sát na, sát na quá khứ, sát na hiện tại và sát na vị lai—The moments past, present, future.

sát na vô thường

Không có lúc nào được gọi là thường hằng, chỉ trong khoảnh khắc một sát na mà có đầy đủ bốn tướng sanh, trụ, dị , diệt—Not a moment is permanent, but passes through stages of birth, stay, change, death. ; (刹那無常) Đối lại: Nhất kì vô thường. Sự vô thường trong 1 sát na. Chỉ cho khoảng 1 sát na có đủ 4 tướng sinh, trụ, dị, diệt, nghĩa là vô thường biền chuyển. (xt. Sát Na, Vô Thường).

sát na đẳng khởi

(刹那等起) Đối lại: Nhân đẳng khởi. Cũng gọi Tùy chuyển tâm, Hậu đẳng khởi, Cộng sát na duyên khởi. Tâm chuyển thì nghiệp cũng đồng thời phát khởi. Đối với nhân năng phát (Nhân đẳng khởi) của niệm đầu tiên mà nói, từ niệm thứ 2 trở về sau, cùng với tâm, tâm sở cùng chuyển mà phát ra Biểu nghiệp và Vô biểu nghiệp thì gọi là Sát na đẳng khởi. Nghĩa là chính lúc đang tạo nghiệp, nghiệp và tâm không lìa nhau. Trong 3 loại: Thẩm lự tư, Quyết định tư và Động phát thắng tư, tông Duy thức cho Sát na đẳng khởi thuộc về Động phát thắng tư. [X. luận Câu xá Q.13; luận Thuận chính lí Q.36; Thành duy thức luận diễn bí Q.2, phần đầu]. (xt. Nhân Đẳng Khởi, Chuyển Tùy Khởi).

sát na định

(刹那定) Phạn: Kwaịika-samàdhi. Pàli:Khaịika-samàdhi. Sát na đầu tiên của Thiền định ở cõi Sắc. Khi hành giả vào Sơ thiền mà sinh vui mừng là sát na đầu tiên củathiền định cõi Sắc, gọi là Sát na định, tức trước Cận hành định và An chỉ định. [X. luận Thanh tịnh đạo 4].

sát nghiệp

Một trong mười ác nghiệp, tức ác nghiệp giết hại các loài hữu tình khác—One of the ten kinds of evil karma, the karma resulting from kiling—See Thập Ác.

sát nghĩa

Exact sense.

sát nhau

Close together.

sát nhân bất triếp nhãn

(殺人不眨眼) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Giết người không chớp mắt, nghĩa là giết người một cách bình tĩnh, thản nhiên, không run sợ. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được sử dụng để ví dụ bậc thầy đã triệt ngộ, tiếp hóa người học với thái độ lạnh lùng, nghiêm khắc, không biểu lộ mảy may tình cảm nào. Bích nham lục tắc 4 (Đại 48, 144 trung) nói: Kẻ nào giết người không chớp mắt, thản nhiên như không mới có thể thành Phật tức khắc. Người thành Phật tức khắc thì tự nhiên giết người chẳng chớp mắt, mới có phần tự do tự tại. X. Thung dung lục tắc 16, Bích nham lục tắc 13].

sát nhân đao hoạt nhân kiếm

(殺人刀活人劍) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Dao giết người, gươm cứu người, ví dụ bậc thầy vận dụng phương pháp chỉ dẫn người họcmột cách tự do khéo léo, rất linh hoạt, vừa nghiêm khắc vừa khoan dung, không thiên chấp 1 phương pháp nào, nên ví dụ là dao giết người, gươm cứu người. Bích nham lục tắc 12 (Đại 48, 152 hạ) nói: Dao giết người và gươm cứu người là quy củ của tông phong đã có từ thời xưa và cũng là then chốt của thời nay. Nếu nói về chỗ giết người thì chẳng thương tổn mảy may; mà bàn về chỗ cứu người thì vùi thân mất mạng.

sát nhân đao, hoạt nhân kiếm

Dao giết người, kiếm làm sống. Cơ xảo của chư Tổ tiếp dẫn hậu học có cao thấp. Thấp là tiểu cơ tiểu dụng, nghĩa là chỉ biết dùng sát nhân đao mà chẳng biết dùng hoạt nhân kiếm. Cao là đủ đại cơ đại dụng, khéo dùng sát nhân đao, cũng khéo dùng hoạt nhân kiếm. Sát nhân đao chỉ có thể khiến người tiểu tử tiểu hoạt, còn đồng thời biết dùng sát nhân đao và hoạt nhân kiếm thì có thể khiến người đại tử đại hoạt.

sát niệm

A thought (90 ksana equal one finger-snap, 90th of a thought equal 4.500th a minute).

sát niệm sanh diệt

All things are in continuous flow, born and destroyed every instant.

sát niệm tam thế

The moments, past, present and future.

sát niệm vô thường

Not a moment is permanent, but passes through the stages of birth, stay, change and death.

sát phật sát tổ

(殺佛殺祖) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Giết Phật giết Tổ. Chỉ cho cảnh giới siêu việt, không chấp trước Phật và Tổ. Sát là phá trừ chấp trước; sát Phật là đả phá sự chấp trước Phật; hoặc trước tiên phải không có ý thức về mình là Phật thì mới có thể thành Phật chân thực. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 5 (Đại 51, 240 hạ) nói: Nếu học Phật ngồi, thì Phật không có tướng nhất định; đối với pháp vô trụ không nên lấy bỏ. Nếu ông học Phật ngồi tức là giết Phật.

sát quỷ

1) Loài quỷ giết hại chúng sanh (các chùa thường vẽ sát quỷ với hai tay ôm lấy bánh xe luân hồi): To slay demons; a ghost of the slain; a murderous demon. 2) Ám chỉ vô thường: A metaphor for impermanence. ; (殺鬼) Chỉ cho sự vô thường giống như quỉ giết người. Bởi lí vô thường khiến mọi người đã sinh ra thì không kể giàu nghèo sang hèn đều phải chết, không ai tránh khỏi.bMa ha chỉ quán quyển 7 (Đại 46, 93 hạ) nói: Vô thường sát quỉ, không chọn hiền tài. [X. kinh Pháp cú thí dụ Q.1].

sát sanh

See Sát Sinh.

sát sinh

Panatipata (p). (I) Nghĩa của sát sanh—The meanings of Panatipata: 1) Một trong mười ác nghiệp, giết hại mạng sống của loài hữu tình. Theo Đức Phật và Phật Pháp của Hòa Thượng Narada, sát sanh là cố ý giết chết một chúng sanh. Trong Phạn ngữ, “Panatipata,” pana có nghĩa là đời sống tâm vật lý của một chúng sanh. Xem thường đời sống, tiêu diệt, cắt đứt, ngăn chận sức tiến của năng lực một đời sống, không cho nó tiếp tục trôi chảy là panatipata. Pana còn có nghĩa là cái gì có hơi thở. Do đó tất cả những động vật, kể cả loài thú, đều được xem là pana—One of the ten kinds of evil karma, to kill living beings, to take life, kill the living, or any conscious being. According to The Buddha and His Teaching, written by Most Venerable Narada, killing means the intentional destruction of any living being. The Pali term pana strictly means the psycho-physical life pertaining to one's particular existence. The wanton destruction of this life-force, without allowing it to run its due course, is panatipata. Pana also means that which breathes. Hence all animate beings, including animals, are regarded as pana. 2) Cây cỏ không được xem là “sinh vật” vì chúng không có phần tinh thần. Tuy nhiên, chư Tăng Ni cũng không được phép hủy hoại đời sống của cây cỏ. Giới nầy không áp dụng cho những cư sĩ tại gia—Plants are not considered as “living beings” as they possess no mind. Monks and nuns, however, are forbidden to destroy even plant life. This rule, it may be mentioned, does not apply to lay-followers. 3) Theo giáo thuyết nhà Phật thì giết người là phạm trọng giới, giết bất cứ loài sinh vật nào cũng đều phạm khinh giới. Tự vẩn cũng đưa đến những hình phạt nặng nề trong kiếp lai sanh—According to the Buddhist laws, the taking of human life offends against the major commands, of animal life against the less stringent commands. Suicide also leads to severe penalties in the next lives. (II) Năm điều kiện cần thiết để thành lập một nghiệp sát sanh—Five conditions that are necessary to complete the evil of killing: 1) Có một chúng sanh: A living being. 2) Biết rằng đó là một chúng sanh: Knowledge that it is a living being. 3) Ý muốn giết: Intention of killing. 4) Cố gắng để giết: Effort to kill. 5) Giết chết: Consequent death. (III) Hậu quả hay quả báo của sát sanh: Nghiệp dữ gây ra do hành động sát sanh nặng hay nhẹ tùy sự quan trọng của chúng sanh bị giết—The consequences of killing. The gravity of the evil deed of killing depends on the goodness and the magnitude of the being concerned. 1) Giết một bậc vĩ nhân hiền đức hay một con thú to lớn tạo nghiệp nặng hơn là giết một tên sát nhân hung dữ hay một sinh vật bé nhỏ, vì sự cố gắng để thực hiện hành động sát sanh và tai hại gây ra quan trọng hơn: The killing of a virtuous person or a big animal is regarded as more heinous than the killing of a vicious person or a small animal, because a greater effort is needed to commit the evil and the loss involved is considerably great. 2) Quả dữ của nghiệp sát sanh bao gồm—The evil effetcs of killing include: a) Yểu mạng: Brevity of life. b) Bệnh hoạn: Ill-health. c) Buồn rầu khổ nạn vì chia ly: Constant grief due to the separation from the loved one. d) Luôn luôn lo sợ: Constant fear. (IV) Những lời Phật dạy về “Sát Sanh” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Killing” in the Dharmapada Sutra: 1) Ai ai cũng sợ gươm đao, ai ai cũng sợ sự chết; vậy nên lấy lòng mình suy lòng người, chớ giết chớ bảo giết—All tremble at sword and rod, all fear death; comparing others with onerself, one should neither kill nor cause to kill (Dharmapada 129). 2) Ai ai cũng sợ gươm đao, ai ai cũng thích được sống còn; vậy nên lấy lòng mình suy lòng người, chớ giết chớ bảo giết—All tremble at sword and rod, all love life; comparing others with oneself; one should not kill nor cause to kill (Dharmapada 130). 3) Nếu lấy đao gậy hại người toàn thiện toàn nhân, lập tức kẻ kia phải thọ lấy đau khổ trong mười điều—He who takes the rod and harms a harmless person, will soon come to one of these ten stages (Dharmapada 137): a) Thống khổ về tiền tài bị tiêu mất, thân thể bị bại hoại, hoặc bị trọng bịnh bức bách—He will be subject to cruel suffering of infirmity, bodily injury, or serious sickness (Dharmapada 138). b) Hoặc bị tán tâm loạn ý, hoặc bị vua quan áp bách, hoặc bị vu trọng tội, hoặc bị quyến thuộc ly tán—Or loss of mind, or oppression by the king, or heavy accusation, or loss of family members or relatives (Dharmapada (139) c) Hoặc bị tài sản tan nát, hoặc phòng ốc nhà cửa bị giặc thiêu đốt, và sau khi chết bị đọa vào địa ngục—Or destruction of wealth, or lightening fire fire burn his house, and after death will go to the hell (Dharmapada 140). ; (殺生) Phạn: Pràịatipàta. Giết hại sinh mạng của tất cả loài hữu tình như người, súc vật... Theo luận Đại trí độ quyển 13 thì trong các tội, tội sát là nặng nhất, còn trong các công đức thì công đức không sát sinh là lớn nhất. Người thế gian tham tiếc mạng sống cũng là bậc nhất, dứt mất mạng sống của người và súc vật, tự tay mình giết hay sai bảo người khác giết, tội cũng như nhau. Tỳ khưu giết người phạm tội Ba la di; tự sát thì kết tội Thâu lan gia, tự làm tổn thương thân thể thì kết tội Đột cát la; giết hại súc sinh, phạm tội Ba dật đề. Người phạm giới sát, sau khi chết sẽ phải đọa vào 3 đường ác địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, khi được làm người cũng không tránh khỏi nhiều tật bệnh và chết yểu.

sát sinh giới

(殺生戒) Sát sinh, Phạn: Pràịàtipàta hoặc Pràịàtighàta. Cũng gọi Đoạn nhân mệnh học xứ, Sát nhân giới,Sát giới. Giới cấm giết hại người và súc vật, là 1 trong 4 tội Ba la di, 1 trong 10 trọng cấm, 1 trong 5 giới, 1 trong 8 giới, 1 trong 10 giới.Phàm chính tay mình giết người, hoặc sai bảo người khác, hoặc cầm dao trao cho người rồi khuyên họ tự sát, đều phạm tội Ba la di (tội nặng nhất). Theo luật Tứ phần quyển 2, đức Phật ở thành Tì xá li nói pháp Quán bất tịnh, các vị Tỳ khưu vì nhàm chán thân mệnh nên nhờ 1 người tên là Vật lực già nan đề đến giết mình dùm. Đức Phật sau khi biết được việc ấy liền chế định giới này. Về thứ tự giới Sát nằm trong các giới thì các bộ luật nói không giống nhau, có chỗ đặt ở vị trí thứ 3 trong 4 Ba la di, lại có chỗ đặt ở vị trí thứ nhất. Theo sự giải thích trong Phạm võng kinh bồ tát giới bản sớ quyển 1 của ngài Pháp tạng, thì Bồ tát lấy đại bi làm gốc, bởi thế Đại thừa đặt giới sát ở vị trí thứ nhất; giới Thanh văn thì không lấy giới Sát làm đầu mà đặt giới Dâm vào bậc nhất, vì rất ít người xuất gia phạm giới Sát. Vả lại, giới Thanh văn là giới căn cứ vào điều đã phạm mà kết tội, lại vì dâm dục dễ khởi nên các bộ luật xếp theo thứ tự: Dâm, Đạo, Sát, Vọng. Người tại gia phần nhiều cầu phúc đức, hàng Bồ tát Đại thừa thì lấy đại bi làm nền tảng, vả lại, Sát là tội thể tính, vì thế trong 5 giới hoặc 10 giới, Sát được xếp vào vị trí đầu. Về tướng phạm giới Sát thì các kinh luận nói hơi khác nhau, nhưng đại khái có thể chia làm 5 tướng: Khởi tâm giết, có chúng sinh để giết, có ý tưởng về chúng sinh muốn giết, dùng phương tiện để giết và cuối cùng thực hiện việc giết. Căn cứ vào chúng sinh bị giết khác nhau mà phạm tội cũng có khác nhau: Giết người thì phạm tội Ba la di, giết súc sinh phạm tội Ba dật đề; hoặc chia làm 3 phẩm: Giết hại chúng sinh thượng phẩm như chư Phật, thánh nhân, cha mẹ... thì phạm tội Ngũ nghịch; giết hại chúng sinh trung phẩm như người, trời... thì phạm tội Ba la di; giết hại chúng sinh hạ phẩm như súc sinh... thì là tội Khinh cấu (tội nhẹ). Về quả báo của hành động sát sinh, theo kinh Hoa nghiêm quyển 24 (bản dịch cũ) thì tội sát sinh phải đọa vào địa ngục, súc sinh, ngã quỉ; nếu được sinh làm người thì phải chịu 2 loại quả báo: Chết non và nhiều bệnh tật. [X.luật Ma ha tăng kì Q.4; luật Ngũ phần Q.2; luật Thập tụng Q.2; luận Thành thực Q.8; luận Du già sư địa Q.59; Bồ tát giới kinh nghĩa sớ Q.hạ].

sát thanh

(殺聲) Cách đánh chuông, trống báo hiệu sắp chấm dứt, đánh chuông, trống lúc đầu đánh chậm, rồi nhanh dần, lúc sắp đổ hồi thì đánh thật nhanh và liên tục, cuối cùng chấm dứt hồi thứ nhất, đặc biệt đánh 1 tiếng thật to để báo hiệu hồi thứ nhất đã chấm dứt. Khi chấm dứt hồi thứ 2 thì đánh 2 tiếng, 1 tiếng nhẹ, 1 tiếng mạnh; hồi thứ 3 thì đánh 3 tiếng cuối cùng, 1 tiếng vừa, 1 nhẹ và 1 tiếng mạnh để báo hiệu đã kết thúc việc đánh chuông, gọi là Sát chung. Nếu là đánh trống thì gọi là Sát cổ. [X. điều Cảnh chúng trong Thiền uyển thanh qui Q.6].

sát trần

Vô số những hạt bụi nhỏ hay vô số quốc độ—Lands, countless as the dust. ; (刹塵) Cõi bụi. Ví dụ số lượng cõi nước rất nhiều, không thể đếm được, như nóivô số quốc độ. Phẩm Thế chủ diệu nghiêm trong kinh Hoa nghiêm quyển 4 (Đại 10, 16 trung) nói:Thanh tịnh từ môn sát trần số; Cộng sinh Như lai nhất diệu tướng; (Cửa từ thanh tịnh số sát trần; Cùng sinh diệu tướng của Như lai). [X. Bí tạng bảo thược Q.hạ].

sát trụ

(刹柱) Cũng gọi Sát can, Sát can sát. Chỉ cho cây cột để treo cờ, phướn ở trước các chùa viện. Thời xưa, trước cửa các chùa viện thường dựng 1 cây cột dài, bên trên cột có gắn bảo châu bằng đồng mạ vàng hình ngọn lửa để biểu thị nơi chùa viện.Ở Trung Quốc vào thời Lục triều, phần nhiều kiến trúc chùa viện đều có dựng Sát trụ, nhưng vì được làm bằng gỗ nên đến nay quá phân nửa đã bị mục nát. Tại Nhật bản, cây Sát trụ xưa nhất hiện còn là cây Sát trụ dựng trên ngọn ngôi tháp 5 tầng bằng gỗ ở chùa Pháp Long. [X. Phú ngải khắc giáo thụ luận Lục triều chi tháp (Lưu đôn trinh, Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san tập 59].

sát tặc

Ksinasrava (skt)—Người tiêu diệt những tên đạo tặc (của chúng sanh), người chế ngự dục vọng, hay bậc A La Hán—Thief-destroyer, i.e. conqueror of the passions, an arhat.

sát đất

Close to the ground.

sát đế lợi

Một trong bốn giai cấp chính ở Ấn Độ—One of the four Indian castes. 1) Ở Ấn Độ, sát Đế Lợi là giai cấp thứ nhì, dòng dõi chiến đấu hay giai cấp cai trị trong thời Phật còn tại thế—In India, it is the second or warrior and ruling caste in India during Sakyamuni's time. 2) Hoa ngữ dịch là giai cấp địa chủ và Vương chủng, giai cấp mà từ đó Đức Phật được sanh ra: Chinese render it as landowners and royal caste, the caste from which the Buddha came forth. 3) Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất thân từ giai cấp nầy—Sakyamuni Buddha belonged to this caste (came from this caste). ; (刹帝利) Phạn: Kwatriya. Gọi tắt: Sát lợi. Hán dịch: Địa chủ, Vương chủng. Giai cấp thứ 2 trong 4 giai cấp của Ấn độ, là giai cấp thuộc hàng vương tộc, quí tộc, sĩ tộc, nắm giữ việc quân sự, chính trị trong nước. Đức Phật Thích ca xuất thân từ giai cấp này. (xt. Tứ Tính).

Sát độ

(剎土): chỉ quốc độ, cõi nước. Sát (s: kṣetra, 剎), âm dịch là Sai Đa La (差多羅), Hột Sai Đát La (紇差呾羅); ý dịch là ruộng đất. Như trong Phật Thuyết Thập Địa Kinh (佛說十地經, Taishō Vol. 10, No. 287) quyển 8, có câu: “Như Lai tọa nhất sát độ, nhất thiết thế giới tất hiện thân (如來安坐一剎土、一切世界悉現身, Như Lai ngồi một quốc độ, hết thảy thế giới đều hiện thân).” Hay trong Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh (仁王護國般若波羅蜜多經, Taishō Vol. 8, No. 246) lại có đoạn: “Phụ thứ, Thuận Nhẫn Bồ Tát ! Vị Diệm Huệ Địa, Nan Thắng Địa, Hiện Tiền Địa, năng đoạn Tam Chướng, tâm phiền não phược, năng ư nhất thân biến vãng thập phương ức Phật sát độ, hiện bất khả thuyết thần thông biến hóa, lợi lạc chúng sanh (復次、順忍菩薩、謂焰慧地、難勝地、現前地、能斷三障、心煩惱縛、能於一身遍往十方億佛剎土、現不可說神通變化、利樂眾生, Lại nữa, này Thuận Nhẫn Bồ Tát ! Rằng Diệm Huệ Địa, Nan Thắng Địa, Hiện Tiền Địa, có thể đoạn Ba Chướng, tâm phiền não trói buộc, có thể nơi một thân mà biến qua mười phương ức cõi nước Phật, hiện thần thông biến hóa không thể bàn, làm lợi lạc chúng sanh).”

sát độ

Ksetra (skt). 1) Đất đai hay xứ sở: Land—Field—Country—Place. 2) Vũ trụ bao gồm Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới: A universe consisting of three thousand large chiliocosms (great cosmo). 3) Tháp cờ trong tự viện: Flagstaff on a pagoda or monastery. ; (刹土) Phạn: Kwetra. Hán âm: Sai đa la, Hột sai đát la. Hán dịch: Độ điền. Chỉ cho quốc độ (cõi nước). Huyền ứng âm nghĩa quyển 1 nói: Sai đa la, Hán dịch là Độ điền (cõi đất). Trong kinh có chỗ gọi là Quốc, có chỗ gọi là Độ, cũng cùng với nghĩa này.

sát độ tự tại

(刹土自在) Cũng gọi Tịnh độ tự tại. Chỉ cho sự tự tại tự do sinh vào các cõi nước của hàng Bồ tát từ Bát địa trở lên.(xt. Tự Tại).

Sát-lợi

刹利; C: chàlì; J: setsuri;|Cách phiên âm của chữ Phạn kṣatriya (Sát-đế-lợi 刹帝利), một giai cấp xã hội bao gồm vua chúa và quân binh tại Ấn Độ thời cổ.

sát-lỵ

xem bốn giai cấp.

Sát-na

剎那; C: chànà; J: setsuna; S: kṣaṇa;|Một khoảng thời gian rất ngắn, một đơn vị thời gian của một niệm, một ý nghĩ.

Sát-na diệt

刹那滅; C: chànà miè; J: setsunametsu;|Tính chất khoảnh khắc. Một trong sáu tính chất của A-lại-da thức (Chủng tử lục nghĩa 種子六義).

Sát-na sát-na

刹那刹那; C: chànàchànà; J: setsunasetsu-na;|Mỗi khoảnh khắc, từng khoảnh khắc một (theo Du-già luận 瑜伽論).

sát-đế-lỵ

xem bốn giai cấp.

sáu ba la mật

Cũng gọi là Lục độ, gồm Đàn na (bố thí), Thi la (trì giới), Sằn đề (nhẫn nhục), Tỳ lê da (tinh tấn), Thiền na (thiền định), Bát nhã (trí huệ).

sáu chánh niệm

là sáu pháp nghĩ nhớ chân chánh, cũng gọi là sáu niệm xứ (lục niệm xứ), gồm có: 1. niệm Phật (thường nghĩ nhớ đến chư Phật), 2. niệm Pháp (thường nghĩ nhớ đến Chánh pháp), 3. niệm Tăng (thường nghĩ nhớ đến chư Tăng), 4. niệm thí (thường nghĩ nhớ đến việc thực hành bố thí), 5. niệm giới (thường nghĩ nhớ đến giới luật đã thọ nhận), 6. niệm thiên (thường nghĩ nhớ đến mọi điều lành, là nhân được sanh lên cõi trời).

sáu chỗ

(lục xứ): chỉ sáu căn duyên theo sáu trần, bao gồm: hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, sự xúc chạm và các pháp.

sáu cung kính pháp

Garava (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu pháp cung kính—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six kinds of respect: 1) Ở đây vị Tỳ Kheo sống cung kính, tùy thuận bậc ĐẠO SƯ—Here a monk behaves respectfully and courteously towards the TEACHER. 2) Ở đây vị Tỳ Kheo sống cung kính, tùy thuận PHÁP—Here a monk behaves respectfully and courteously towards the DHAMMA. 3) Ở đây vị Tỳ Kheo sống cung kính, tùy thuận TĂNG—Here a monk behaves respectfully and courteously towards the SANGHA. 4) Ở đây vị Tỳ Kheo cung kính, tùy thuận HỌC PHÁP—Here a monk behaves respectfully and courteously towards the TRAINING. 5) Ở đây vị Tỳ Kheo sống cung kính, không tùy thuận BẤT PHÓNG DẬT—Here a monk behaves respectfully and in respect with EARNESTNESS. 6) Ở đây vị Tỳ Kheo sống cung kính, tùy thuận LỄ PHÉP XÃ GIAO—Here a monk behaves respectfully and in respect of HOSPITALITY.

sáu cách chấn động

(lục chủng chấn động): Theo kinh Đại phẩm Bát-nhã, quyển 1, thì 6 cách chấn động này là: 1. Phương đông vọt lên, phương tây chìm xuống; 2. Phương tây vọt lên, phương đông chìm xuống; 3. Phương nam vọt lên, phương bắc chìm xuống; 4. Phương bắc vọt lên, phương nam chìm xuống; 5. Bốn phương vọt lên, ở giữa chìm xuống; 6. Ở giữa vọt lên, bốn phương chìm xuống.

sáu cách phung phí tài sản

Six ways of wasting one's property—Theo Kinh Thi Ca La Việt, có sáu cách phung phí tài sản—According to the Sigalaka Sutra, there are six ways of wasting one's property. 1) Đam mê các loại rượu: Addiction to strong drinks and sloth-producing drugs is one way of wasting one's substance. 2) Du hành đường phố phi thời: Haunting the streets at unfitting time. 3) La cà đình đám hý viện: Attending fairs. 4) Đam mê cờ bạc: Being addicted to gambling. 5) Giao du ác hữu: Keeping bad company. 6) Quen thói lười biếng: Habitual idleness.

Sáu cõi trời thuộc Dục giới

(Dục giới Lục thiên): bao gồm: 1. Tứ thiên vương thiên (Caturmahrjika), 2. Đao-lợi thiên hay Tam thập tam thiên (Tryastriṃśa), 3. Dạ-ma thiên (Yma), 4. Đâu-suất thiên (Tuṣita), 5. Hóa lạc thiên (Nirmṇarati), 6. Tha hóa tự tại thiên (Para-nirmita-vaśa-vartin). Mỗi cõi trời này đều có một vị Thiên vương đứng đầu các vị thiên chúng.

sáu căn nhân

The six chief causes—See Lục Căn Nhân.

sáu hòa kính pháp

Six things conducive to communal living—See Lục Hòa.

sáu hạng A-la-hán

Bao gồm: 1. Thối pháp A-la-hán: khi gặp nghịch duyên có thể sanh phiền não, thối chuyển đạo tâm, đánh mất chỗ sở đắc; 2. Tư pháp A-la-hán: tuy được giải thoát nhưng thường lo sợ sự thối chuyển, thường nghĩ cách tự đoạn dứt mạng sống; 3. Hộ pháp A-la-hán: được giải thoát rồi thì hoan hỷ phòng hộ chỗ chứng đắc của mình; 4. An trụ pháp A-la-hán: đạt được giải thoát và trụ yên vững vàng, không cần phòng hộ cũng không có thối chuyển, nhưng không được tăng tiến; 5. Kham đạt pháp A-la-hán: đạt được giải thoát và đủ sức nhận lãnh giáo pháp cao siêu, tu tập tinh tấn để đạt đến quả vị rốt ráo; 6. Bất động pháp A-la-hán: đạt được giải thoát rốt ráo và vững vàng không thể xao động, không thể lay chuyển, thối thất.

sáu không cung kính pháp

Agarava (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu không cung kính pháp—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six kinds of disrespect: 1) Ở đây vị Tỳ Kheo sống không cung kính, không tùy thuận bậc ĐẠO SƯ—Here a monk behaves disrepectfully and discourteously towards the TEACHER. 2) Ở đây vị Tỳ Kheo sống không cung kính, không tùy thuận PHÁP—Here a monk behaves disrespectfully and discourteously towards the DHAMMA. 3) Ở đây vị Tỳ Kheo sống không cung kính, không tùy thuận TĂNG—Here a monk behaves disrespectfully and discourteously towards the SANGHA. 4) Ở đây vị Tỳ Kheo sống không cung kính, không tùy thuận HỌC PHÁP—Here a monk behaves disrespectfuly and discourteously towards the TRAINING. 5) Ở đây vị Tỳ Kheo sống không cung kính, BẤT PHÓNG DẬT—Appamade (p)—Here a monk behaves disrespectfully and in not respect of EARNESTNESS. 6) Ở đây vị Tỳ Kheo sống không cung kính, không tùy thuận sự LỄ PHÉP—Patisanthare (p)—Here a monk behaves disrespectfully and not in respect of HOSPITALITY.

sáu loại thực phẩm

Six kinds of food—See Lục Trần.

sáu loại tâm tánh

Carita (p)—Theo Hòa Thượng Narada trong Đức Phật và Phật Pháp, có sáu tâm tánh hay sáu đề mục hành thiền. Carita là bản chất cố hữu của một người. Bản chất nầy lộ ra khi ở vào trạng thái bình thường, không có gì làm xao động. Bẩm tánh mỗi người khác nhau là do nơi hành động hay nghiệp trong quá khứ khác nhau. Nơi một số người thì tham ái mạnh hơn, trong khi vài người khác thì sân hận lại mạnh hơn—According to Most Venerable Narada in The Buddha and His Teachings, there are six kinds of natures, six kinds of temperament, or six subjects of meditation. Carita signifies the intrinsic nature of a person which is revealed when one is in normal state without being preoccupied with anything. The temperaments of people differ owing to the diversity of their past actions or kamma. In some people raga or lust is predominant, while in others dosa or anger, hatred. 1) Bẩm tánh tham ái: Ragacarita (p)—Covetousness, or lustful temperament. 2) Bẩm tánh sân hận: Dosacarita (p)—Ill-will, or hateful temperament. 3) Bẩm tánh si mê: Mohacarita (p)—Ignorance, or ignorant temperament. 4) Bẩm tánh có nhiều đức tin: Saddhacarita (p)—Faith, or devout temperament. 5) Bẩm tánh thiên về tri thức: Buddhicarita (p)—Wisdom, or intellectual temperament. 6) Bẩm tánh phóng dật: Vitakkacarita (p)—Distracted—Loose—Unrestrainted, or discursive temperament.

sáu luận chứng về duy tâm

Six proofs for the “Mind-Only.”—Trong Kinh Lăng Già, có sáu luận chứng về Duy Tâm như sau—According to The Lankavatara Sutra, there are six proofs for the “Mind-Only” as follows: 1) Sự việc các sự vật không như vẻ dáng bề ngoài của chúng, được chứng tỏ từ sự so sánh với một giấc mộng và với những sáng tạo bằng huyễn thuật. Khi vua La Bà Na, vua xứ Lăng Già, nhìn thấy những hình ảnh của Đức Phật quanh khắp ông rồi sau đó những hình ảnh nầy biến mất, ông nghĩ “Có thể đây là một giấc mộng? Hay một hiện tượng huyễn ảo giống như thành của các Càn Thác Bà?” Rồi ông lại suy nghĩ “Đây chỉ là sự phóng chiếu của những sáng tạo tâm thức của chính ta.” Vì chúng ta không thực sự hiểu các sự vật đúng như các sự vật nên chúng ta tách biệt cái bị thấy với người thấy; do đó mà tạo ra một thế giới nhị biên. “Ở chỗ nào không có sự phân biệt sai lầm, ở đấy người ta thực sự nhìn thấy Đức Phât.” Hễ chừng nào chúng ta còn ở trong mộng, chúng ta vẫn không hiểu được rằng tất cả chúng ta đều đang mộng, rằng chúng ta là những nô lệ của sự phân biệt sai lầm. Vì chỉ khi nào chúng ta tỉnh mộng thì khi ấy chúng ta mới biết chúng ta ở đâu. Thí dụ về giấc mộng hoàn toàn là một luận điểm chống lại cái thực tính của một thế giới bên ngoài, nhưng thí dụ ấy không có giá trị gì đối với những ai đang thực sự nằm mộng. Những sáng tạo thuộc ảo thuật cũng như thế, người Ấn Độ đã được ghi nhận là tinh xảo trong khoa phù phép và không có dân tộc nào mà việc xử dụng các mật chú và đà la ni phổ biến như người Ấn Độ. Do đó mà trong văn học Phật giáo Đại Thừa và Tiểu Thừa thường có những ám chỉ về ảo thuật. Nhà ảo thuật hết sức thành thạo trong việc làm cho các khán giả trông thấy các sự vật ở tại nơi không có cái gì cả. Chừng nào các khán giả còn bị ảnh hưởng bởi phù phép của ông ta thì vẫn không có cách nào làm cho họ hiểu rằng họ là những nạn nhân của thuật thôi miên. Những ví dụ hay ngoài ví dụ về giấc mộng, về huyễn thuật được rút ra từ Lăng Già để chỉ vào sự không thực của các sự vật được nhìn thấy bên ngoài và bên trong như là—Things are not what they seem is proved from the analogy of a dream and magical creations. When Ravana, king of Lanka, saw images of the Buddha all around him, which later disappeared, he thought, “Could this be a dream? Or a magical phenomenon like the castle of the Gandharvas?” He reflected again, “This is no other than the projection of my own mental creations.” As we do not truly understand things as they are, we separate the seen from the seer, thus producing a world of dualities. “Where there is no false discrimination, one really sees the Buddha.” As long as we are in the dream, we do not realize that we are all dreaming, that we are slaves of false discrimination. For it is only when we are awakened from it that we know where we have been. The analogy of dream is quite a strong argument against the reality of an external world, but it is not all effective for them who are actually dreaming. So it is with magical creations. The Indians have been noted for their skill in the art of conjuration, and thee are no people among whom the use of mantrams and dharanis is so universal. Hence the frequent allusions to magic in the literature of Mahayana and Hinayana Buddhism. The magician is so wonderfully proficient in making the spectators see objects where there are none whatever. As long as they are under his spell, there is no way of making them realize that they are the victims of hypnotism. The favorite analogies besides the dream and magic that are resorted to in the Lankavatara to show the unreality of objects seen externally and internally are: a) Các bức tranh: Paintings. b) Một vòng tóc đối với người bị nhặm mắt: A hair-circle to the dim-eyed. c) Sự quay tròn của một bánh xe lửa: A revolving fire-wheel. d) Một bong bóng trông giống như mặt trời: A bubble looks like a sun. e) Cây cối phản chiếu trong nước: Reflected trees in water. f) Các hình ảnh trong một tấm kiếng: Images in a mirror. g) Một tiếng dội: An echo. h) Ảo ảnh: Fata morgana. i) Người máy: A mechanical man. j) Đám mây trôi: A floating cloud. k) Ánh chớp: Lightning. 2) Tất cả các sự vật đều tương đối và không có cái tự tính nào mãi mãi phân biệt một cách tuyệt đối sự vật nầy với sự vật khác. Các sự vật chỉ là những tương đối; hãy phân tách chúng thành những thành phần của chúng thì sẽ không còn lại gì cả. Và những cấu trúc của tâm há chẳng phải đều là những tương đối? Cái tâm nhìn thấy nó bị phản ánh là do bởi sự phản ánh hay suy nghĩ và phân biệt; đến đây thì sự việc chẳng gây hại gì, vì những cấu trúc tâm thức được nhận thức như thế và không có những phán đoán sai lầm về chúng. Sự rắc rối khởi đầu ngay khi chúng ta bị chấp như là có thực ở bên ngoài, có giá trị riêng của chúng, độc lập với chính cái tâm đánh giá. Đây là lý do khiến bộ kinh nhấn mạnh sự quan trọng của cái nhìn vào sự vật như thực, đúng thực như các sự vật khi chúng được nhìn bằng cái nhìn như thực thì chúng chỉ là cái tâm mà thôi. Nguyên lý về tương đối tạo thành một thế giới của các đặc thù, nhưng khi nguyên lý nầy bị vượt qua, thì đó chính là cái tâm mình: All things are relative and have no substance (svabhava) which would eternally and absolutely distinguish on from another. Things are nothing but relations; analyze them into their component elements and there will be nothing left. And are not all relations the constructions of the mind? Thus the citta seing itself reflected is due to reflection and discrimination; so far no harm is done, for the mental constructions are perceived as such and there are no wrong judgments about them. The trouble begins at once when they are adhered to as externally real, having their own values independent of the valuing mind itself. This is why the sutra emphasizes the importance of looking at things (yathabhutam), as they really are. When they are thus looked at things, they are no more than the mind itself. The principle of relativity creates a world of individuals, but when it is transcended, there is Mind itself. 3) Luận chứng thứ ba—The third proof: a) Các tên gọi hay danh và ác hình ảnh hay tướng chỉ là những dấu hiệu giả danh và không có thực tính nào (phi hữu) trong tự chúng, vì chúng thuộc về sự tưởng tượng hay biên kiến sở chấp. Sự tưởng tượng là một cái tên khác dùng cho sự phân biệt sai lầm vốn là tác nhân tinh quái của sự sáng tạo. Sự kiện nhất tâm do đó bị chôn vùi trong sự sai biệt của những hiện hữu đặc thù. Lại nữa, theo ngôn từ, họ phân biệt một cách sai lầm và nêu ra những khẳng định về thực tính; và vì những khẳng định nầy mà họ bị đốt trong địa ngục. Trong sự giao tiếp hằng ngày mà ta mang nợ ngôn từ biết bao nhiêu. Và tuy thế, do từ ngôn từ, không những về luận lý mà cả về mặt tâm linh nữa, ta phải chịu hậu quả trầm trọng biết bao nhiêu! Ánh sáng của tâm bị che phủ hết trong ngôn từ. Và với ngôn từ quả thực là do tâm tạo rà, và bây giờ tưởng ngôn từ là những thực tính độc lập với cái tạo ra nó, tâm trở thành vướng víu trong ngôn từ, để rồi bị nuốt chửng trong cơn sóng của luân hồi sanh tử: Names and images are mere signs (samketa) and have no reality whatever (abhava) in themselves, for they belong to the imagination (parikalpita). Imagination is another name for false discrimination, which is the mischievous agency of creation. The fact of One Mind (ekacittam) is thus buried in the differentiation of individual existence. According to words they discriminate wrongfully and make statements concerning reality; and because of these statements they are burned in hell. How much we owe in our daily intercourse to words! And yet what grave consequences, not only logically but spiritually, we suffer from words! The light of the mind is altogether beclouded in and with words. The mind has, indeed, created words, and now taking these words for realities independent of their creator, it gets entangled in them, and is swallowed up in the waves of transmigration. b) Người ngu tưởng những gì do chính cái tâm biểu hiện là những thực tính khách quan vốn không thực sự hiện hữu, và do bởi sự diễn tả sai lạc nầy mà phân biệt bị trở thành sai lầm. Tuy nhiên, trường hợp của người trí thì không như thế: The ignorant take what is presented by the mind itself for objective realities which do not really exist, and because of this wrong representation, discrimination is falsified. This, however, is not the case with the wise. c) Người trí biết rằng các tên gọi, các hình tướng và các tượng trưng phải được xem là những gì mà chúng được định từ ban đầu: The wise know that names and signs and symbols are to be taken for what they are intended from the beginning. d) Trong khi người ngu thì chấp vào chúng như chúng là những thực tính và để cho tâm họ mù quáng bám riết theo sự chấp trước nầy. Như thế họ trở thành bị ràng buộc vào nhiều hình tướng và nuôi dưỡng cái kiến giải rằng quả thực có cái “tôi” và cái “của tôi,” do bởi làm như thế, họ chấp chặt vào các tướng trong cái tính phức tạp của chúng. Do bởi những ràng buộc chấp trước nầy mà trí tuệ của họ bị ngăn ngại không vươn lên được; tham, sân, si bị quấy động lên, và mọi thứ nghiệp bị mắc phạm. Vì những chấp trước nầy cứ bị mắc phạm mãi bên người ngu thấy mình bị cuốn chặt một cách vô vọng bên trong những cái kén được dệt thành do bởi những phân biệt sai lầm của họ. Họ bị nuốt chửng trong những cơn sóng luân hồi sanh tử, không biết làm sao để tiến lên trong công việc giải thoát, vì họ cứ quay tròn giống như cái bánh xe nước. Quả thực do bởi vô minh mà họ không thể hiểu được rằng tất cả các sự vật, giống như huyễn ảo, như hạt bụi sáng, hay như ánh trăng trên nước, không có tự tánh hay ngã thể, rằng trong chúng không có gì để chấp làm “tôi” hay “của tôi;” rằng tất cả các sự vật là không thực hay hư vọng, được sinh ra do phân biệt sai lầm; rằng thực tính tối hậu vượt khỏi cái nhị biên của cái được định tính và cái định tính vượt khỏi dòng sinh, trụ, dị, diệt; rằng tất cả những gì được biểu hiện là do chính cái tâm người ta phân biệt những gì hiển lộ ra đối với nó. Tưởng rằng thế giới được sinh ra từ đấng Tự Tại, thời gian, nguyên tử hay linh hồn, vũ trụ; người ngu bị mê đắm vào các danh xưng và hình tướng, do đó mà để cho chúng thống trị: While the ignorant cling to them as if they were realities and let their minds blindly follow up this clinging. Thus, they get attached to a variety of forms and entertain the view that there are really “I” and “mine,” and by doing so, they hold fast to appearances in their multiplicity. Because of these attachments, their higher wisdom is obstructed; greed, anger, and infatuation are stirred up, and all kinds of karma are committed. As these attachments are repeatedly committed, the ignorant find themselves hopelessly enwrapped within the cocoons woven out of their wrong discriminations. They are swallowed up in the waves of transmigration, and do not know how to go ahead in the work of emancipation for they turn round and round like the water-wheel. It is owing to their ignorance, indeed, that they fail to realize that all things, like maya, the shining mote, or the moonlight on water, have no self-substance, that there is nothing in them to take hold of as “me” and “mine;” that all things are unreal (abhuta) born of wrong discrimination; that ultimate reality is above the dualism of marked and marking, and the course of birth, staying, and disappearance; that is manifested due to the discriminating by one's own mind of what is presented to it. Imagining that the world is born of Isvara, Time, Atom, or Universal Soul, the ignorant are addicted to names and forms thereby allowing themselves to be swayed by them. 4) Luận chứng thứ tư—The fourth proof: a) “Những gì không được sinh ra thì không dính dáng gì đến nhân quả, không có người tạo lập, tất cả chỉ là sự kiến lập của tâm, như ta thuyết giảng về những gì bất sinh.” Sự việc không có người tạo lập nào như đấng Tự Tại, bậc Thắng giả hay Phạm Thiên là một trong những chủ đề chính của Phật giáo Đại Thừa. Theo kinh Lăng Già, ý niệm về một đấng tạo lập là do bởi phân biệt, điều nầy luôn luôn có khuynh hướng dẫn cái tâm theo một hướng sai lầm. Khi người ta thấy rằng tất cả là duy tâm thì những gì bất sinh sẽ hiện ra thay cho ý niệm ấy: “That which is unborn has nothing to do with causation, there is no creator, all is nothing but the construction (vyavasthana) of the mind, as I teach that which is unborn." That there is no creator such as Isvara or Pradhana or Brahma is one of the principal theses of Mahayana Buddhism. According to the Lankavatara, the notion of a creator is due to discrimination, which always tends to lead the mind in a wrong direction. When it is seen that all is mind-only (cittamatra), that which is unborn will present itself instead. b) Vô sinh không phải do vì phi hiện hữu, cũng không phải do vì hiện hữu là những thứ phải được xem là tùy thuộc lẫn nhau, cũng không phải do vì một cái tên gọi cho hiện hữu, cũng không phải vì tên gọi không có thực tính đằng sau nó. Sự việc tất cả là vô sinh không thuộc lãnh vực của hàng Thanh Văn, Duyên Giác hay các triết gia, hay của chư Bồ Tát đang còn ở địa thứ bảy. Vô sinh được xây dựng trên chân lý Duy Tâm: No birth, not because of non-existence, nor because existence is to be regarded as mutually dependent, nor because there is a name for existence, nor because name has no reality behind it. That all is unborn does not belong to the realm of Sravakas, Pratyekabuddhas, or philosophers, or of those Bodhisattvas who are still on the seventh stage; no-birth is constructed on the truth of the Mind-Only. 5) Nhất Nguyên Luận Tuyệt Đối—The absolutely idealistic monism: a) Sự cần thiết về luận lý để đạt đến cái ý niệm tối hậu về nhất tính, vì thế mà Kinh Lăng Già chấp nhận học thuyết Duy Tâm thay vì Duy Sắc. Khi không có đấng tạo hóa tạo lập nào được nhận biết và tất cả các hình thức nhị biên đều bị gạt bỏ như là không phù hợp với trạng thái thực sự của các sự vật thì chỉ còn hai cách thành tựu sự thống nhất tư tưởng, đó là hiệp thực luận và lý niệm luận hay lý tưởng luận; vì Lăng Già bác bỏ cái thực tính của một thế giới bên ngoài hay cảnh giới, hay các sự vật bên ngoài (ngoại cảnh) là những thứ được định tính chủng chủng hợp thành, nên học thuyết Duy Tâm hẳn phải là kết quả tự nhiên. Do đó nhất nguyên luận tuyệt đối là luận bằng cái trí siêu việt vượt lên trên sự nhận biết đa phức của một thế giới đối tượng bởi cái trí tương đối: The logical necessity of reaching the ultimate notion of unity; thus, the Lankavatara accepts the doctrine of “Mind-Only” instead of “Matter-Only.” When no creator is recognized and all forms of dualism are set aside as not in accord with the real state of things, there remain two ways for achieving the unification of thought, realism and idealism; and the Lankavatara denies the reality of an external world (vishaya), or outside objects (bahyabhava) that are characterized with multitudinousness (vicitrata), the doctrine of “Mind-Only” seems to be the natural conclusion. Thus the absolutely idealistic monism is to use the transcendental knowledge (prajna or jnana) to take cognisance of the manifoldness of an objective world, not by the relative knowledge (vijnana). b) Lại nữa, cái trí siêu việt nầy không ở trong phạm vi của hai thừa, vì quả thực nó vượt qua khỏi cảnh giới của hữu, cái trí hiểu biết của hàng Thanh Văn vận hành bằng cách tự ràng buộc nó vào các hữu thể mà họ tưởng là các thực tính, trong khi cái trí siêu việt thanh tịnh hay lý nhất tính của Như Lai thì thấu nhập vào trong chân lý Duy Tâm. Trong khi thế giới đối tượng làm nhiễu động cái nhất tính và làm cho tâm bị nhiễu động. Thế rồi tâm nầy lại chấp vào những nhiễu động có tính cách phân biệt hóa nầy mà cho rằng đấy là thực và do đó mất hết sự tinh thuần hay nhất tính vốn có của nó trong chúng. Đây chính là nguồn gốc của những khổ đau: Again, this transcendental knowledge is not within the reach of the two Vehicles, as it, indeed, goes beyond the realm of beings; the knowledge of Sravakas moves by attaching itself to beings which they take for realities, while the pure transcendental knowledge of the Tathagata penetrates into the truth of the Mind-Only. While the objective world disturbed this unity and makes the mind, thus disturbed, perceive manifoldness within its own body. It then clings to these individualizing disturbances as real, thus losing its original purity or unity altogether in them. This is the source of spiritual tribulations. 6) Tam Giới Duy Thị Tự Tâm—The three worlds are mind itself: a) Luận chứng mạnh mẽ nhất trong tất cả các luận chứng có thể được nêu ra trước để khẳng định rằng thế giới là chính cái tâm hay tam giới duy thị tự tâm, là luận chứng về cái biết trực giác hay hiện lượng. Trong khi đây là cái biết tối hậu trong mọi hình thức xác quyết, thuộc lý thuyết hay thực tiễn thì người ta cảm thấy cái sức mạnh của nó đặc biệt mãnh liệt trong cái chân lý có tính cách tôn giáo vốn là những chân lý được xây dựng không phải trên lý luận mà là trên sự nhận thức trực tiếp. Theo Kinh Lăng Già thì nguyên lý tối hậu của cái biết không phụ thuộc vào bất cứ điều gì được lập luận bằng luận lý (điều tôi thấy và tôi tin), mà là điều được thể nghiệm bên trong chính mình, nhờ cái trí tối thượng của Đức Như Lai, hoặc đúng hơn, nó là chính cái trí tuệ tối thượng, vì sự tỉnh thức của trí tuệ nầy nghĩa là sự thủ nhiếp cái nguyên lý tối hậu vốn cùng một thứ với sự thể nghiệm bên trong cái tâm thức nội tại của người ta về cái chân lý bảo rằng không có gì trong thế giới ngoại trừ cái tâm. Chân lý nầy vượt khỏi phạm vi của cái trí lý luận. Cái trí chuyên biệt nầy vốn có thể được gọi là thuộc về trực giác—The strongest of all the proofs that can be advanced for the statement that the world is mind itself (tribhavas-vacittamatram), is that of intuitive knowledge (pratyaksha). While this is what is final in all form of conviction, speculative or practical, the force is especially strongly felt in religious truths, which are not founded upon reasoning but upon immediate perception. So with the Lankavatara, its thesis is derived from its immediacy and not from its intellectual precision. The ultimate principle of knowledge is not dependent upon anything logically reasoned: it is “I see and I believe.” It is what is realized within oneself means of the supreme wisdom (aryajnana) of the Tathagata, or rather it is the supreme wisdom of itself, for the awakening of this wisdom means the grasping of the ultimate principle, which is the same thing as the realization within one's inmost consciousness of the truth that there is nothing in the world but the Mind. This truth is beyond the realm of discursive knowledge. This special knowledge which may be called intuitive. b) Đức Phật dạy ngài Mahamati trong Kinh Lăng Già: “Cái trí thủ đắc cái tối hậu thì không thể bị đưa vào một hệ thống các phạm trù; vì nếu nói về cái tối hậu bằng một điều gì đó thì điều nầy trở thành một ý niệm về tối hậu, và cái nhân thực không còn ở đấy nữa, và kết quả là chỉ chuốc lấy lầm lẫn hay hư vọng mà thôi. Chấp vào những thực tính mà cho rằng chúng có tự tính là do không biết rằng không có gì ngoài cái được phản ánh và được nhận thức bởi cái tâm của chính mình. Kỳ thật sự tỉnh giác một cái gì đó được thức tỉnh trong tâm thức và nó được nhận ra ngay rằng tất cả đều là tâm. Sự tỉnh giác thì ở bên trên cái nhị biên của hữu và phi hữu; hữu và phi hữu là do phân biệt sai lầm mà có, ngược lại tỉnh thức là sự thấy cái nguyên lý tối hậu về hiện hữu đúng như sự hiện hữu trong chính nó hoặc bằng cái khác với nó. Điều nầy gọi là thấy biết như thực: The Buddha taught Mahamati in The Lankavatara Sutra: “Oh Mahamati, if they form any notion at all about it, there will be no supreme wisdom taking hold of reality (vastu). By this we know that knowledge that takes hold of the ultimate cannot be brought into a system of categories; for if anything is to be said about it, it turns into an idea of it and the real thing is no more there, and what is left behind is nothing but confusion or delusion. Attachment to realities as having self-substance is produced from not knowing (anavabodha) that there is nothing but that which is projected and perceived by one's own mind. Avabodha is really awakening; something is awakened within the consciousness, and it is at once recognize that all is mind. The awakening is above the dualism of “to be” (sat) and “not to be,” (asat), the latter being due to false discrimination (vikalpa). The awakening is, therefore, the sight of the ultimate principle of existence as it is in itselt and not determined by any form of confusion or otherness. This is what meant by “To see yathabhutam. .”

sáu mươi hai kiến chấp

Tứ cú x ngũ uẩn = 20. 20 x tam thế = 60. 60 + hữu, vô = 62. Tất cả kiến chấp đều không ra ngoài 62 kiến này. Như chấp là có, là không, là chẳng có chẳng không, là cũng có cũng không; hoặc quá khứ không, hiện tại có, vị lai không; hoặc quá khứ có, hiện tại có, tam thế đều có, hoặc tam thế đều không… Cộng chung thành 6 kiến chấp.

sáu nguy hiểm của thói quen lười biếng

Six dangers when one attaches to idleness—Theo Kinh Thi Ca La Việt, thói quen lười biếng có sáu mối nguy hiểm—According to the Sigalaka Sutra, there are six dangers when one attaches to idleness: 1) Vì nghĩ rằng trời quá lạnh, nên người ta không chịu làm việc: Thinking it's too cold, one does not work. 2) Vì nghĩ rằng trời quá nóng, nên người ta không chịu làm việc: Thinking it's too hot, one does not work. 3) Vì nghĩ rằng hãy còn quá sớm nên người ta không chịu làm việc: Thinking it's too early, one does not work. 4) Vì nghĩ rằng đã quá trễ để làm việc: Thinking it's too late, one does not work. 5) Vì nghĩ rằng tôi quá đói nên không thể làm việc: Thinking I'm too hungry, one does not work. 6) Vì nghĩ rằng quá no để làm việc: Thinking I'm full, one does not work.

sáu nguy hiểm khi du hành trên đường phố phi thời

Six dangers when one wanders the streets at unfitting time—Theo Kinh Thi Ca La Việt, du hành trên đường phố phi thời có sáu mối nguy hiểm —According to the Sigalaka Sutra, there are six dangers when one wanders the streets at unfitting time: 1) Tự mình không được che chở hộ trì: One is Defenseless and without protection. 2) Vợ con không được che chở hộ trì: Wife and children are defenseless and without protection. 3) Tài sản không được che chở hộ trì: One's property is defenseless and without protection. 4) Bị tình nghi là tác nhân của ác sự: One is suspected of crimes. 5) Nạn nhân của các tin đồn thất thiệt: False reports are pinned on one. 6) Tự rước vào thân nhiều khổ não: One encounters all sorts of unpleasantness.

sáu nguy hiểm khi la cà đình đám hý viện

Six dangers when one frequents fairs and parties—Theo Kinh Thi Ca La Việt, có sáu nguy hiểm khi la cà đình đám—According to the Sigalaka Sutra, there are six dangers when one frequents fairs and parties: 1) Luôn luôn tìm xem chỗ nào có múa: One is always thinking, where is there dancing? 2) Chỗ nào có ca: Where is there sinning? 3) Chỗ nào có nhạc: Where are they playing music? 4) Chỗ nào có tán tụng: Where are they reciting? 5) Chỗ nào có nhạc tay: Where is there hand-clapping? 6) Chỗ nào có trống: Where are the drums?

sáu nguy hiểm khi thân cận ác hữu

Six dangers when one keeps bad company—Theo Kinh Thi Ca La Việt, có sáu mối nguy hiểm khi thân cận ác hữu (bạn xấu)—According to the Sigalaka Sutra, there are six dangers when one keeps bad company: 1) Nguy hiểm của những kẻ cờ bạc: The danger of gamblers. 2) Nguy hiểm của những kẻ loạn hành: The danger of any glutton. 3) Nguy hiểm của những kẻ nghiện rượu: The danger of the drunkard. 4) Nguy hiểm của những kẻ trá ngụy: The danger of cheaters. 5) Nguy hiểm của những kẻ lường gạt: The danger of tricksters. 6) Nguy hiểm của những kẻ bạo động: The danger of the bully.

sáu nguy hiểm khi đam mê các loại rượu và thuốc

Six dangers when one attaches to addiction of alcoholic drinks and drugs—Theo Kinh Thi Ca La Việt, có sáu nguy hiểm khi đam mê các loại rượu và thuốc—According to the Sigalaka Sutra, there are six dangers when one attaches to addiction of alcoholic drinks and drugs: 1) Tài sản hiện tại bị tổn thất: Present waste of money. 2) Tăng trưởng sự gây gỗ: Increased quarrelling. 3) Bệnh tật dễ xâm nhập: Liability to sickness. 4) Thương tổn danh dự: Loss of good name. 5) Để lộ âm tàng: Indecent exposure of one's person. 6) Trí lực tổn hại: Weakening of the intellect.

sáu nguy hiểm khi đam mê cờ bạc

Six dangers when one attaches to gambling—Theo Kinh Thi Ca La Việt, có sáu mối nguy hiểm khi đam mê cờ bạc—According to the Sigalaka Sutra, there are six dangers when one attaches to gambling: 1) Kẻ thắng thì sanh thù oán: The winner makes enemies. 2) Người bại thì sanh tâm sầu muộn: The loser bewails his loss. 3) Tài sản hiện tại bị tổn thất: One wastes one's present wealth. 4) Tại hội trường hay trong đại chúng, lời nói không hiệu lực: One's word is not trusted in the assembly. 5) Bằng hữu đồng liêu khinh miệt: One is despised by one's friends and companions. 6) Vấn đề cưới gả không được tín nhiệm, vì người đam mê cờ bạc không thể quán xuyến lo lắng được vợ con: One is not in demand for marriage. Because a gambler cannot afford to maintain a wife.

sáu nguyên lý

Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, có sáu nguyên lý tổng quát cho các tông phái Phật Giáo Đại Thừa—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, there are six general principles, commonly especially to all schools of Mahayana: 1) Nguyên lý Duyên Khởi: The Principle of Causation—See Duyên Khởi. 2) Nguyên lý Vô Ngã: The Principle of Indeterminism of the Differentiated—See Vô Ngã. 3) Nguyên lý Tương Đối: The Principle of Reciprocal Identification—See Tương Đối (Nguyên Lý). 4) Nguyên lý Như Thực: The Principle of True Reality—See Như Thực Nguyên Lý. 5) Nguyên lý Viên Dung: The Principle of Totality—See Viên Dung. 6) Nguyên lý Niết Bàn hay Giải Thoát Cứu Cánh: The Principle of Perfect Freedom—See Niết Bàn Nguyên Lý.

sáu nhập

(lục nhập): xem ấm, nhập, giới.

sáu niệm xứ

xem sáu chánh niệm.

Sáu nẻo luân hồi

Lục đạo

sáu nẻo luân hồi

xem lục đạo. ; Six Realms of Existence—See Lục Đạo, and Lục Phàm Tứ Thánh.

sáu pháp vô vi trong duy thức học

The six Unconditioned Dharmas: 1) Hư không vô vi: Akasha (skt)—Unconditioned Empty Space. 2) Trạch diệt vô vi: Pratisamkhyanirodha (skt)—Unconditioned Extinction which is attained through selection. 3) Phi trạch vô vi diệt pháp: Apratisamkhyanirodha (skt)—Unconditioned Extinction which is Unselected. 4) Bất động diệt vô vi: Aninjya (skt)—Unconditioned Unmoving Extinction. 5) Tưởng thọ diệt vô vi: Samjnavedayitanirodha (skt)—Unconditioned Extinction of Feeling. 6) Chơn như vô vi: Tathata (skt)—Unconditioned True Suchness.

sáu suy tư đến hỷ

Somanassupavicara (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu suy tư đến hỷ—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six pleasurable investigations: 1) Khi mắt thấy sắc, hoan hỷ khởi lên, sắc ấy được suy tư: When, on seeing a sight-object with the eye, one investigates a corresponding object productive of pleasure. 2) Khi tai nghe tiếng, hoan hỷ khởi lên, âm thanh ấy được suy tư: When, on hearing a sound-object with the ear, one investigates a corresponding object productive of pleasure. 3) Khi mũi ngửi hương, hoan hỷ khởi lên, mùi hương ấy được suy tư: When, on smelling a smell-object with the nose, one investigates a corresponding object productive of pleasure. 4) Khi lưỡi nếm vị, hoan hỷ khởi lên, vị ấy được suy tư: When, on tasting a taste-object with the tongue, one investigates a corresponding object productive of pleasure. 5) Khi thân xúc chạm, hoan hỷ khởi lên, sự xúc chạm ấy được suy tư: When, on touching a touch-object with the body, one investigates a corresponding object productive of pleasure. 6) Khi ý nhận pháp, hoan hỷ khởi lên, pháp ấy được suy tư: When, on knowing a mind-object with the mind, one investigates a corresponding object productive of pleasure.

sáu suy tư đến xả

Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu suy tư đến xả—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six indifferent investigations: 1) Khi mắt thấy sắc, xả khởi lên, sắc ấy được suy tư: When, on seeing a sight-object with the eye, one investigates a corresponding object productive of indiffernce. 2) Khi tai nghe tiếng, xả khởi lên, âm thanh ấy được suy tư: When, on hearing a sound-object with the ear, one investigates a corresponding object productive of indifference. 3) Khi mũi ngửi hương, xả khởi lên, mùi hương ấy được suy tư: When, on smelling a smell-object with the nose, one investigates a corresponding object productive of indifference. 4) Khi lưỡi nếm vị, xả khởi lên, vị ấy được suy tư: When, on tasting a flavour with the tongue, one investigates a corresponding object productive of indifference. 5) Khi thân xúc chạm, xả khởi lên, sự xúc chạm ấy được suy tư: When, on touching a touch-object with the body, one investigates a corresponding object productive of indifference. 6) Khi ý nhận pháp, xả khởi lên, pháp ấy được suy tư: When, on knowing a mind-object with the mind, one investigates a corresponding object productive of indifference.

sáu suy tư đến ưu

Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu suy tư đến ưu—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six unpleasurable investigations: 1) Khi mắt thấy sắc, ưu khởi lên, sắc ấy được suy tư: When, on seeing a sight-object with the eye, one investigates a corresponding object productive of displeasure. 2) Khi tai nghe tiếng, ưu khởi lên, âm thanh ấy được suy tư: When, on hearing a sound-object with the ear, one investigates a corresponding object productive of displeasure. 3) Khi mũi ngửi hương, ưu khởi lên, mùi hương ấy được suy tư: When, on smelling a smell-object with the nose, one investigates a corresponding object productive of displeasure. 4) Khi lưỡi nếm vị, ưu khởi lên, vị ấy được suy tư: When, on tasting a flavour with the tongue, one investigates a corresponding object productive of displeasure. 5) Khi thân xúc chạm, ưu khởi lên, sự xúc chạm ấy được suy tư: When, on touching a touch-object with the body, one investigates a corresponding object productive of displeasure. 6) Khi ý nhận pháp, ưu khởi lên, pháp ấy được suy tư: When, on knowing a mind-object with the mind, one investigates a corresponding object productive of displeasure.

sáu thầy ngoại đạo

(lục sư ngoại đạo): sáu vị thầy của sáu phái ngoại đạo lớn vào thời đức Phật ra đời: 1. Phú-lan-na, 2. Mạt-già-lê Câu-xá-ly tử, 3. San-xà-da Tỳ-la-chi tử, 4. A-kỳ-đa Sí-xá Khâm-bà-la, 5. Ca-la-cưu-đà Ca-chiên-diên, 6. Ni-kiền-đà Nhã-đề-tử. Xem thêm ở các mục từ mang tên những vị này.

Sáu thắng trí

S: ṣaḍabhijñā; P: saḷabhiññā;|Lục thông

sáu thứ chấn động

Chia làm ba: 1. Sáu thời chấn động: Phật nhập thai, xuất thai, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân, nhập Niết bàn. 2. Sáu phương chấn động: Đông nổi Tây chìm, Tây nổi Đông chìm; Nam nổi Bắc chìm, Bắc nổi Nam chìm; Biên nổi Trung chìm, Trung nổi biên chìm. 3. Sáu tướng chấn động: Tướng động, tướng nổ, tướng chấn, tướng kích, tướng rống, tướng nổ. Những chấn động kể trên đều tượng trưng triệu chứng tốt đẹp, nhưng người có thiên nhãn mới được thấy.

sáu trần

(lục trần): tức các đối tượng nhận biết của các giác quan, gồm hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, sự xúc chạm và các pháp.

sáu tầng trời dục giới

Six Deva Realms of desire: 1) Tứ Thiên vương (bốn người canh giữ quanh triền núi Tu Di): The four celestial kings, who are the protectors of the four directions and live on the slope of Mount Meru. 2) Ba mươi ba vị trời trên đỉnh Tu Di: The thirty-three gods who live on the summit of Mount Meru. 3) Trời Diệm Ma: Thường xuyên sống trong trạng thái hạnh phúc—The Yamas or Suyamas who are in the state of continual happiness. 4) Trời Đâu Xuất: Những vị trời thỏa mãn—The peaceful and contented gods. 5) Trời vui sáng tạo ảo thuật: Gods who take joy in magical creations. 6) Trời Mara: The gods who attempt to dominate each other.

sáu tỳ-kheo xấu ác

tức lục quần tỳ-kheo, là nhóm tỳ-kheo xấu tánh, ngay trong khi Phật còn tại thế vẫn thường làm nhiều việc phạm vào giới luật, khiến chúng tăng phải mang tai tiếng.

sáu vị

(lục vị): là các vị ngọt, chua, mặn, đắng, cay, nhạt. Sáu vị này là sáu vị chính, được pha lẫn với tỷ lệ khác nhau tạo thành tất cả những vị mà lưỡi chúng ta có thể nếm biết.

sáu xúc

(lục xúc): Sáu sự tiếp xúc giữa sáu căn ở trong và sáu trần ở ngoài. Bao gồm: 1. Mắt tiếp xúc với hình sắc, 2. Tai tiếp xúc với âm thanh, 3. Mũi tiếp xúc với mùi hương, 4. Lưỡi tiếp xúc với vị nếm, 5. Thân tiếp xúc với các vật thể, 6. Ý tiếp xúc với các pháp.

Sáu xứ

S: ṣaḍāyatana; P: saḷāyatana;|Lục xứ

sáu ýù nghĩa của chữ “thế tôn”

The six meanings of the Honoured One or Bhagava: 1) Tự tại: At ease and comfortable. 2) Rực rỡ hào quang: Radiant halo. 3) Trang nghiêm: Upright and adorned. 4) Danh xưng: Renowned. 5) Kiết tường: Auspicious. 6) Tôn quí: Honoured and noble.

sáu đường

Six paths—See Lục Đạo.

sáu đường luân hồi

xem lục đạo.

sáu đại

sáu yếu tố hình thành vũ trụ, gồm bốn đại (tứ đại) là địa, thủy, hỏa, phong, thêm vào hai đại nữa là không và thức. Tất cả các sự vật hữu tình, vô tình đều do nơi sáu đại này tạo thành. Xem thêm bốn đại.

sâm

Dầy đặc như rừng—Forest-like—Dense.

Sâm la

森羅; C: sēn luó; J: sinra; |Nhiều vật xếp vào nhau dày đặc hoặc liên tiếp chen nhau. Tiếp diễn không giới hạn.

Sâm la vạn tượng

森羅萬像; C: sēnluó wànxiàng; J: sinraban-shō; |Vô số hiện tượng đang hiện hữu.

sâm la vạn tượng

Các loại hiện tượng tồn tại trong vũ trụ , vô số hình thể hay thiên hình vạn trạng dầy đặc và gần gụi nhau bày ra trong vũ trụ—The myriad forms dense and close, i.e. the universe. ; (森羅萬象) Muôn tượng la liệt trong vũ trụ giống như trong rừng cây cối mọc um tùm. Trong Phật giáo, Sâm la vạn tượng đặc biệt chỉ cho thế giới hiện tượng tương đối với bản thể, vì tính chất thiên sai vạn biệt của thế giới hiện tượng, cho nên sâm la vạn tượng là 1 khái niệm đối lại với vạn pháp nhất như của bản thể. Pháp cú kinh sớ (Đại 85, 1435 thượng) nói: Sâm lavàvạn tượng là dấu ấn của một pháp. Hiện nay, người đời cũng thường dùng nhóm từ Sâm la vạn tượng chính là từ ngữ bắt nguồn từ Phật giáo.

sâm la vạn tượng chi tâm

Theo Khởi Tín Luận thì đây là nguồn của mọi hiện tượng. Nguyên tâm tròn đầy, bao trùm khắp mười phương—According to the Awakening of Faith, the original mind is the source of all phenomena, the mind which is in all things—See Nguyên Tâm.

sâm la vạn tượng tức pháp thân

Theo Hiển giáo thì pháp của tam thiên đại thiên thế giới là pháp thân. Theo Mật giáo thì pháp của tam thiên thế giới đều là hình tam muội da của Đức Đại Nhật pháp thân—The universe in its vast variety is the dharmakaya, or Buddha-body; in the esoteric school it is the Vairocana-body.

sâm lâm thư

(森林書) Phạn: Àraịyaka. Hán âm: A xà da ca, A lan nhã ca. Tên 1 bộ sách của Bà la môn giáo ở Ấn độ. A lan nhã ca nghĩa là rừng cây, Sâm lâm thư nghĩa là bộ sách mà Người lánh đời, ẩn cư trong nơi rừng rậm đọc tụng. Sách này là phần phụ thuộc của Phạm thư, được dành cho những tín đồ Bà la môn giáo thuộc chủng tính Bà la môn hay Sát đế lợi học tập trong thời kì ở ẩn. Sâm lâm thư và Áo nghĩa thư có thể được xem là Tục biên của Phạm thư. Nội dung chính yếu là trình bày về lí luận tế tự, cho đến các vấn đề quan hệ giữa người, thần linh và tự nhiên... Ý nghĩa triết học của sách này rất sâu xa. Về tính chất cũng như hình thức không sai khác mấy với Phạn thư. Sâm lâm thư hiện còn có 4 loại bản: Quảng sâm lâm thư, Chá cô thị sâm lâm thư, Tha thị sâm lâm thư và Kiêu thi đa cơ sâm lâm thư. Loại sau cùng được chia làm 3 chương, chương thứ 3 là Kiêu thi đa cơ Áo nghĩa thư.

sâm thương

(參商 ) Chỉ cho sao Sâm và sao Thương (tức sao Hôm và sao Mai). Sao Sâm đứng ở vị Thân phía tây nam, sao Thương đứng ở vị Mão phía đông. Hai sao này cách xa nhau giữa 2 hướng đông và tây, không thể trông thấy cùng lúc, bởi thế, Sâm, Thương được dùng để ví dụ sự xa cách lâu không được gặp nhau, hoặc anh em không hợp ý nhau. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng (Đại 48, 401 thượng) nói: Yếu chỉ thiền môn không phải, không quấy, xoá bỏ oán thân, chẳng giận, chẳng vui. Vậy tại sao có sự hiềm khích như nước với lửa Nam Năng, Bắc Tú, như Sâm với Thương giữa Hồng châu, Hà trạch?.

sân

Do đối cảnh hoặc ghi nhớ, kích thích sanh khởi cái tâm phẩn nộ hoặc oán hận. ; Krodha or Pratigha or Dvesa (skt)—Hất La Đà—Căn bản phiền não “Sân Khuể” hay sự nóng nảy, một trong tam độc (tham, sân, si)—Anger, ire, wrath, resentment, one of the six fundamental klesas or one of the three poisons (passion, anger, and ignorance)—See Sân Hận. ; (嗔) Phạn: Pratigha hoặc Dvewa. Pàli: Patigha hoặc Dosa. Cũng gọi Sân khuể, Sân nộ, Khuể, Nộ. Hán âm: Đề tì sa. Chỉ cho sự tức giận, 1 trong các pháp Bất định địa thuộc tông Câu xá, 1 trong các pháp phiền não của tông Duy thức. Cứ theo luận Câu xá quyển 16 và luận Thành duy thức quyển 6, đối với những người làm trái ý mình mà nổi giận, oán ghét, khiến tâm mình bực bội không yên, thì gọi là sân. Các Tùy phiền não như phẫn, hận, não, tật (ghen ghét), hại... đều lấy 1 phần của Sân làm thể. Sân là 1 trong 6 phiền não căn bản (hoặc 1 trong 10 Tùy miên). Vì Sân là loại tâm sở (tác dụng của tâm) không có tính chất suy xét, tìm hiểu, tác dụng của nó lại trì độn (chậm lụt), cho nên nó thuộc 1 trong 5 Độn sử. Sân cùng với tham, si gọi là Tam độc (3 cái nọc độc hại), đồng thời cũng là 1 trong Thập ác, Ngũ cái. Sân là loại phiền não chỉ có ở cõi Dục, chứ ở cõi Sắc và cõi Vô sắc thì không có. Tham sinh khởi từ đối tượng đáng yêu; trái lại,Sân nổi lên từ đối cảnh đáng ghét. Sân là chướng ngại rất lớn đối với người tu học Phật pháp, cho nên các kinh luận thường cảnh giác. Luận Đại trí độ quyển 14 ( Đại 25, 167 trung) nói: Tai hại do Sân gây nên là sâu nặng nhất trong 3 độc; trong 98 phiền não, Sân là bền chặt nhất; còn trong các chứng bệnh của tâm thì Sân khó trị nhất. [X. kinh Tạp a hàm Q.27, 28; kinh Bi hoa Q.6; luận Đại tì bà sa Q.27, 34, 44, 48; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Thuận chính lí Q.40; luận A tì đạt ma hiển tông Q.25; Câu xá luận quang kí Q.16; Thành duy thức luận thuật kí Q.6, phần cuối].

sân giác

xem ba loại tư tưởng xấu ác.

sân hận

Dosa (skt). (I) Nghĩa của sân hận—The meanings of dosa: 1) Sân hận là một trong tam độc, hay một trong ba ngọn lửa đang đốt cháy tâm. Sân hận là nhiên liệu đốt cháy cả rừng công đức của kẻ tu hành. Người tu phải luôn chế ngự sân hận và phát triển lòng từ bi trong tâm: Anger—Ill-will—Hatred—One of the three poisons in Buddhism (greed, anger, ignorance)—One of the three fires which burn in the mind until allowed to die for fuelling---Anger manifests itself in a very crude manner, destroying the practitioner in a most effective way. To subdue anger and resentment, we must develop a compassionate mind. 2) Theo tâm lý học Phật giáo, yếu tố tâm thức về sân hận luôn nối kết với kinh nghiệm khổ đau. Người ta có thể tham và lạc cùng một lúc, nhưng không thể nào vừa sân hận mà lại vừa vui vẻ cùng một lúc được. Bất kỳ ai vun xới oán ghét, sân hận, giận dữ, tính ác nuôi dưỡng sự trả thù hay bảo tồn lòng căm giận đều bị trói buộc vào kinh nghiệm khổ đau như thế, vì người ấy đã chấp chặt vào một nguồn cội rất mạnh của khổ đau. Những ai gieo hận thù cho người khác như giết chóc hay hành hạ hay cắt xéo thân thể, có thể sẽ tái sanh vào những cảnh giới nơi mà họ phải cảm thọ những kinh nghiệm cực kỳ đau đớn, nhức nhối, khắc nghiệt. Chỉ trong những hoàn cảnh như thế họ mới có thể kinh nghiệm những nỗi khốn khổ mà do sự bất thiện của chính họ, họ đã tự đem dến cho chính họ—According to Buddhist psychology, the mental factor of aversion is always linked to the experience of pain. One may be greedy and happy, but never angry and happy at the same time. Anyone who cultures hatred, anger, malice, nurses revenge or keeps alive a grudge is bound to experience much suffering for he has laid hold a very potent source of it. Those who exercise their hatred on others as in killing, torturing or maiming may expect birth in a state, compared in the scriptural simile to a pitfull of glowing situations, where they will experience feelings which are exclusively painful, sharp, severe. Only in such an environment will they be able to experience all the misery which they, by their own cruelty to others, have brought upon themselves. 3) Đức Phật dạy: “Giặc cướp công đức, không gì hơn sân hận. Vì khi tâm sân hận nổi lên thì chúng sanh lập tức tạo nghiệp, và do đó mà muôn ngàn chướng ngại lập tức hiện ra, ngăn che Thánh đạo, lấp mờ Phật tánh. Cho nên nói 'Nhứt niệm sân tâm khởi, bá vạn chướng môn khai,' nghĩa là chỉ vì một niệm giận tức mà phải lãnh chịu bao nhiêu chướng nạn” —The Buddha taught: “Bandits who steal merits are of no comparison to hatred and anger. Because when hatred and anger arise, inevitable innumerable karma will be created. Immediately thereafter, hundreds and thousands of obstructions will appear, masking the proper teachings of enlightenment, burying and dimming the Buddha Nature. Therefore, A thought of hatred and anger had just barely risen, ten thousands of karmic doors will open immediately. It is to say with just one thought of hatred, one must endure all such obstructions and obstacles.” 4) Sân hận là nguyên nhân chính của khổ đau và địa ngục: The anger or dosa is the root of suffering and the rebirth in hell. (II) Theo Hòa Thượng Narada trong Đức Phật và Phật Pháp, có hai điều kiện cần thiết để thành lập nghiệp sân hận—According to Most Venerable Narada in The Buddha and His Teaching, there are two conditions that are necessary to complete the evil of ill-will: 1) Một người khác: Another person. 2) Tư tưởng muốn tạo phiền não cho người đó: The thought of doing harm. (III) Cũng theo Hòa Thượng Narada trong Đức Phật và Phật Pháp, đây là những hậu quả tất yếu của sự sân hận—Also according to Most Venerable Narada in The Buddha and His Teachings, these are the inevitable consequences of ill-will: 1) Thân hình xấu xa: Ugliness. 2) Cơ thể bệnh hoạn: Manifold diseases. 3) Bẩm tánh khó thương: Detestable nature. (IV) Sám Hối Tâm Sân Hận—To repent the mind of hatred and anger: See Sám Hối Tam Nghiệp (3). (V) Những lời Phật dạy về Sân Hận trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Anger” in the Dharmapada Sutra: 1) Xa bỏ lòng giận dữ, trừ diệt tánh kiêu căng, giải thoát mọi ràng buộc, không chấp trước danh sắc; người không có một vật chi ấy, sự khổ chẳng còn theo dõi được—One should give up anger; one should abandon pride. One should overcome all fetters. No suffering befall him who calls nothing his own (Dharmapada 221). 2) Người nào ngăn được cơn giận dữ nổi lên như dừng được chiếc xe đang chạy mạnh, mới là kẻ chế ngự giỏi, ngoài ra chỉ là kẻ cầm cương hờ mà thôi—He who controls his anger which arises as a rolling chariot. He is a true charioteer. Other people are only holding the rein (Dharmapada 222). 3) Lấy từ bi thắng nóng giận, lấy hiền lành thắng hung dữ, lấy bố thí thắng xan tham, lấy chơn thật thắng ngoa ngụy—Conquer anger by love; conquer evil by good; conquer stingy by giving; conquer the liar by truth (Dharmapada 223). 4) Gìn giữ thân đừng nóng giận, điều phục thân hành động, xa lìa thân làm ác, dùng thân tu hạnh lành—One should guard against the bodily anger, or physical action, and should control the body. One should give up evil conduct of the body. One should be of good bodily conduct (Dharmapada 231). 5) Gìn giữ lời nói đừng nóng giận, điều phục lời nói chánh chơn, xa lìa lời nói thô ác, dùng lời nói tu hành—One should guard against the anger of the tongue; one should control the tongue. One should give up evil conduct in speech. One should be of good conduct in speech (Dharmapada 232). 6) Gìn giữ ý đừng nóng giận, điều phục ý tinh thuần, xa lìa ý hung ác, dùng ý để tu chân—One should guard against the anger of the mind; one should control the mind. One should give up evil conduct of the mind. One should practice virtue with the mind (Dharmapada 233).

sân hỏa

Lửa sân hận (sự sân hận một khi nổi lên chẳng khác nào lửa đốt cháy cả rừng công đức)—The fire of anger, once arises can burn the whole forest of merits.

sân khuể

See Sân in Vietnamese-English Section.

sân khuể cái

(嗔恚蓋) Phạn: Pàli: Vyàpàda-nìrvaraịa. Sân khuể là sự nóng giận; Cái là cái lọng, cái nắp, che đậy; là tên gọi khác của phiền não. Nghĩa là sự nóng giận ví như cái lọng, cái nắp che lấp tâm tính, cản trở thiền định nên gọi là Sân khuể cái, là 1 trong Ngũ cái. [X. luận Đại tì bà sa Q.38; luận Câu xá Q.21]. (xt. Ngũ Cái).

sân khuể hoả

(嗔恚火) Lửa nóng giận. Sự giận tức ví như ngọn lửa, có khả năng thiêu đốt tất cả công đức. Kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 14 (Đại 2, 619 hạ) nói: Chư Phật đã vào Niết bàn, vì lửa nóng giận mà các ông không được gặp. (xt. Sân).

sân khuể sứ

Sứ giả sân hận (mối sai khiến do lòng sân hận gây ra), là một trong năm độn sử—The messenger or lictor of anger, one of the five envoys of stupidity. ** For more information, please see Ngũ Độn Sử.

sân khuể tam chủng phát tướng

(嗔恚三種發相) Ba thứ tướng giận dữ phát sinh lúc hành giả tu thiền định. Cứ theo Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn quyển 4 thì 3 tướng ấy là: 1. Phi lí sân tướng: Khi hành giả tu thiền định, chẳng hiểu vì lí do gì mà cảm giác giận dữđột nhiênnổi lên, gây chướng ngại cho thiền định. 2. Thuận lí sân tướng: Khi hành giả tu thiền định, bị người quấy nhiễu mà sinh nóng giận; giống người trì giới, thấy điều phi pháp thì sinh tức giận. Sự nóng giận này tuy là thuận lí nhưng vẫn trở ngại thiền định. 3. Tranh luận sân tướng: Hành giả lúc tu thiền định, chấp trước chỗ tỏ ngộ của mình là đúng, còn những điều người khác nói và làm đều là sai, vì điều người ta nói không thuận với mình, liền sinh nóng giận làm chướng ngại thiền định.

sân khuể tâm

Sân Tâm—Tâm tức giận nóng nảy hay lòng sân nhuế, một trong tam độc—The heart of anger, one of the three poisons.

sân phiền não

Phiền não do sân hận gây ra—The passion or defilement of anger.

sân phược

Một trong tam phược, sự trói buộc của sân hận—One of the three fetters, the fetter (bind) of anger—See Tam Phược.

sân tâm

See Sân Khuể Tâm.

sân tâm bất thụ hối giới

(嗔心不受悔戒) Cũng gọi Sân bất thụ hối giới, Sân bất thụtạ giới, Cố sân giới. Giới ngăn cấm tâm sân hận khi người khác có lỗi mà không nhận sự sám hối của họ, là giới thứ 9 trong 10giới trọng cấm của Bồ tát. Kinh Phạm Võng quyển hạ (Đại 24, 1005 thượng) nói: Nếu Phật tử tự mình nổi giận, bảo người khác nổi giận, đối với nhân giận, duyên giận, pháp giận, nghiệp giận, là Phật tử đáng lẽ phải làm cho tất cả chúng sinh đều sinh căn lành không tranh cãi, thường sinh tâm từ bi; đàng này, trái lại, đối với tất cả chúng sinh, cho đến loài phi chúng sinh, lại dùng lời mắng nhiếc làm nhục, thậm chí còn dùng tay, dao, gậy đánh đập, vẫn không nguôi cơn giận, rồi người ta dùng lời nhẹ nhàng xin sám hối, tạ tộicũngvẫn không hả giận, Phật tử mà hành sử như vậy là phạm tội Ba la di. Trong Phạm võng kinh Bồ tát giới bản sớ quyển 4, ngài Pháp tạng đã trình bày rõ 10 lí do chế giới này: 1. Trong các phiền não tâm sân hận là nặng nhất. 2. Sân là nhân tạo ra ác thú và đường ác nghiệp. 3. Nó đốt cháy tiêu hết thảy căn lành của các kiếp trước. 4. Nó buộc chặt mối oán thù, nhiều đời khó cởi mở. 5. Do đó thường làm hại các chúng sinh.6. Nó hay tạo các tội vô gián. 7. Thường ngăn ngại Nhẫn ba la mật của Bồ tát. 8. Làm hại lòngđại bi của Bồ tát. 9. Khiến Bồ tát lìa bỏ việc giáo hóa chúng sinh. 10. Thành tựu đầy đủ trăm nghìn chướng nạn. Ngoài ra, kinh Bồ tát địa trì quyển 5, luận Du già sư địa quyển 40, kinh Ưu bà tắc ngũ giới uy nghi và Bồ tát giới bản do ngài Đàm vô sấm dịch, đều cho Sân là 1 trong 4 tội Ba la di. Kinh Bồ tát thiện giới coi nó là 1 trong 8 pháp trọng, còn kinh Bồ tát nội giới thì nói Sân là 1 trong 47 giới. [X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ; luận Du già sư địa Q.41; Bồ tát giới nghĩa sớ Q.hạ].

sân đấu cấu địa

(瞋斗㖃地) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tục ngữ thông dụng ở đời Tống, Trung quốc. Sân là giận dữ, Đẩu là vẻ dữ tợn, Hậu là gầm thét, Địa là trợ từ. Sân đẩu hậu địa, ý nói giận dữ kịch liệt. Chính pháp nhãn tạng của ngài Đại tuệ Tông cảo (Vạn tục 118, 2 hạ) nói: Khi chưa đụng chạm thì có vẻ nhẹ nhàng, trông rất dễ mến, nhưng nếu có người vừa đụng đến thì tam bành nổi lên (sân đẩu hậu địa), chẳng ai dám gần.

sâu rộng

Profound and extensive.

sâu xa

So deep.

sè tay

To open one's hand.

sí di la

(翅夷羅) Một loại áo ca sa. Áo này được may bằng lông cánh chím. [X. Tứ phần luật khai tông kí Q.6]. (xt. Ca Sa).

sí do la

(翅由邏) Phạn: Keyùra. Cũng gọi Chỉ do la, Cát do la. Hán dịch: Anh lạc. Đồ trang sức làm bằng châu ngọc đeo ở cổ mà hàng vương công quí tộc ở Ấn độ thường dùng. Ngoài ra, tượng các vị Bồ tát và người trời phần nhiều cũng đeo chuỗi anh lạc để trang nghiêm thân tướng. [X. Khả hồ ngâm nghĩa Q.5 hạ].

sí xá khâm bà la

(翅舍欽婆羅) Phạn: Kezakambala. Cũng gọi Hệ xa khâm bà la. Hán dịch: Phát y. Phái thứ 5 trong 10 phái ngoại đạo ở Ấn độ. Cứ theo Tứ phần sớ sức tông kí quyển 7 phần cuối thì ngoại đạo này mặc áo may bằng tóc (phát y), vì vậy nên có tên này.Thông thường, Lục sư ngoại đạo ở Ấn độ là chỉ cho: San xà da tì la chi tử, A kì đa síxá khâm bà la, Mạt già câu lê xá lê, Phú lan na ca diếp, Ca la cưu đà ca chiên diên và Ni kiền đà nhã đề tử. Nhưng Tứ phần luật và Tứ phần luật sớ cho rằng Lục sư ngoại đạo này tuy chỉ có 6 tông phái, nhưng kì thực thì có tới 10 người và Sí xá khâm bà la là 1 trong số 10 người ấy, mà A kì đa sí xá khâm bà la trong Lục sư ghi ở trên chính là tên gộp chung của Sí xá khâm bà la và A kì đa, người thứ 4 trong số 10 người.

sòng phẳng

To be punctual in the payment of one's debts.

sóng gió

Waves and wind—Ups and downs

sóng soài

To fall in full length.

sót

To leave (miss) out—To omit.

1) Chim non: A fledgling. 2) Cỏ khô: Hay—Straw.

sô ma

Ksauma or Ksaumaka (skt)—Còn gọi là Sấm Ma, Sô Ma Ca, Thủ Ma, Tô Ma, hay Tu Ma, nghĩa là thứ quần áo làm bằng gai—Flax—Linen—Linen garment.

Sô ngu

(騶虞, sūgu): (1) Tên một loài linh thú giống như hổ, lông trắng vằn đỏ, không ăn thịt, không đạp phá cỏ hoa, thể hiện cho cái đức của bậc Thánh. (2) Tên người quản lý chim thú của Thiên tử. (3) Tên gọi một thiên Chiêu Nam (召南) của Thi Kinh (詩經). (4) Tên một loại âm nhạc.

sô tăng

Vị Tăng còn non trẻ—A fledgling priest, neophyte.

Sông Hằng

(s, p: Gaṅgā, 恒河): là dòng sông lớn chảy vào phía Bắc Ấn Độ. Chính ngay nơi lưu vực sông này, Phật Giáo đã từng một thời hưng thịnh.

sông ni liên thiền

Anoma River

sõi

Old but still in good health.

sùng

1) Cao ngất: Lofty—Eminent. 2) Tôn sùng: To reverence—To adore—Honourable.

sùng bái

To worship—To adore. ; (崇拜) Tôn sùng và kính bái đối với đối tượng mà mình tin tưởng, thờ phụng. Sùng bái là 1 trong những yếu tố cơ bản của tông giáo. Căn cứ vào các đối tượng sùng bái khác nhau mà có thể phân loại các tông giáo bất đồng. Như tông giáo Tự nhiên có sùng bái tự nhiên, tông giáo Bộ lạc có sùng báiđồ đằng (vật tô– Totem); tông giáo của xã hội văn minh thì có sùng bái ngẫu tượng, sùng bái thần linh... Mục đích chủ yếu của các loại tông giáo này là cảm tạ, cầu nguyện hoặc học tập khuôn mẫu của các đối tượng mà mình tin thờ, sùng kính, do đó mà phát triển ra các thứ nghi thức và chuyên chức chủ trì nghi thức như Tế tư, Tăng lữ...

sùng huyền thự

(崇玄署) Chỉ cho cơ quan trung ương thống lãnh tăng ni, đạo sĩ ở đầu đời Đường, trách nhiệm như những tăng quan nắm giữ giấy tờ sổ sách và trông coi các việc trai đàn... Đầu tiên cơ quan này được đặt dưới quyền Hồng lô tự. Về sau, quyền hạn dần dần thu hẹp, không còn độc lập nữa mà phải chịu lệ thuộc dưới sự điều khiển của các quan thế tục. [X. Đường thư bách quan chí 38].

sùng hưng

Tên một ngôi chùa cổ trong quận Phú Quốc (đảo), tỉnh Kiên Giang. Không ai biết người nào đã xây dựng và chùa đã được xây vào năm nào—Name of an ancient temple, located in Phú Quốc district, Kiên Giang province. No one knows who built the temple and when it was built.

sùng kính

To revere—To respect—To reverence and respect.

Sùng Ninh Thanh Quy

(崇寧清規): xem Thiền Uyển Thanh Quy(禪苑清規, Zennenshingi) bên dưới.

sùng phúc tự

See Thiên Phúc Tự. ; (崇福寺) Chùa ở Trường an, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Lúc đầu, Hoàng thất nhà Đường tự nghĩ đã dựng nghiệp ở Thái nguyên, để báo đền ơn đất, mới xây 5 ngôi chùa ở Dương Châu, Kinh Nam, Thái Nguyên, Tây Kinh và Đông Kinh, đều đặt tên chùa là Thái Nguyên. Thời Vũ hậu, 5 ngôi chùa được trùng tu và đổi tên chùa Thái nguyên ở Tây kinh là Ngụy quốc Tây tự, chùa ở Đông Kinh là Đại phúc tiên tự, lại đổi Ngụy quốc Tây tự là Sùng phúc tự. Pháp sư Thần Khải từng hoằng truyền luận Nhiếp đại thừa, luận Câu xá... ở chùa này, do đó mà chùa trở thành đạo tràng của tông Pháp tướng. Về sau, chùa Thái nguyên ở Thái nguyên cũng đổi tên là Sùng phúc tự, người đời bèn gọi chùa Sùng phúc này là Tân sùng phúc tự để phân biệt với chùa Sùng phúc ở Thái nguyên. Trong năm Khai Nguyên, pháp sư Trí Thăng trụ ở chùa này soạn Khai nguyên thích giáo lục, nổi tiếng ở đời.

Sùng Phước Tự

(崇福寺, Sūfuku-ji): ngôi tự viện cổ tọa lạc tại Ōtsu-shi (大津市), Shiga-ken (滋賀縣), hiện tại là ngôi chùa hoang phế. Tương truyền năm 668, sau khi dời đô về kinh đô Đại Tân (大津, Ōtsu), Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇, Tenchi Tennō) đã xây dựng ngôi chùa này trong ngọn núi phía Tây Bắc cung thành, tôn thờ tượng Di Lặc Bồ Tát nơi đây. Chùa rất hưng thạnh cho đến thời đại Bình An, về sau thì trải qua nhiều lần bị hỏa hoạn rồi dẫn đến tình trạng hoang phế. Vào năm 1230, chùa phụ thuộc vào Viên Thành Tự (園城寺, Onjō-ji), rồi sau đó thì bị phế tuyệt luôn.

Sùng Phạm

崇範; 1004-1087|Thiền sư Việt Nam thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi, pháp hệ thứ 11. Sư nối pháp Thiền sư Vô Ngại và truyền lại hai vị còn được nhắc đến là Ðạo Hạnh và Trì Bát.|Sư họ Mâu, dáng mạnh mẽ to lớn, hai lỗ tai dài chấm vai. Sau khi xuất gia, Sư đến Thiền sư Vô Ngại ở Hương Thành tu học và được truyền tâm ấn. Sau đó, Sư sang Thiên Trúc (Ấn Ðộ) 9 năm để tu học thêm. Trở về nước, Sư đến chùa Pháp Vân thuyết giảng Phật pháp, học chúng quy tụ rất đông.|Năm Ðinh Mão, niên hiệu Quảng Hựu thứ 3 đời Lí Nhân Tông, Sư viên tịch, thọ 84 tuổi.

sùng phạm

Thiền Sư Sùng Phạm (1004-1087)—Thiền sư Sùng Phạm, đời thứ 11 dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Sau khi xuất gia sư đến tham vấn với ngài Vô Ngại ở Hương Thành. Ít lau sau đó sư đi vân du khắp các miền xứ Thiên Trúc và trở về trụ tại chùa Pháp Vân làng Cổ Pháp để hoằng dương Phật Pháp. Sư thị tịch năm 1087, thọ 84 tuổi—Zen master Sùng Phạm, the Dharma heir of the eleventh lineage of the Vinitaruci Zen Sect. After leaving home to become a monk, he went to see Zen Master Vô Ngại to study meditation. Sometime later he went to India and wandered all over India to study dharmas. He went back to Vietnam and stayed at Pháp Vân Temple in Cổ Pháp to expand the Buddha Dharma. He passed away in 1087, at the age of 84.

Sùng Tuấn Thiên Hoàng

(崇峻天皇, Sushun Tennō, tại vị 587-592): vị Thiên Hoàng sống vào cuối thế kỷ thứ 6, con của Khâm Minh Thiên Hoàng (欽明天皇, Kimmei Tennō), tên là Bạc Lại Bộ (泊瀬部), nơi vua ở là Sài Thản Cung (柴坦宮) thuộc Thương Thê (倉梯, Kurahashi) thuộc nước Đại Hòa (大和, Yamato). Ông rất phẩn uất vì sự chuyên quyền của tay Đại Thần Tô Ngã Mã Tử (蘇我馬子, Soga-no-Umako) và định tìm cách hạ bệ tên này, nhưng ngược lại cuối cùng lại bị Tô Ngã ám sát.

Sùng Tín

崇信|Long Ðàm Sùng Tín

sùng tín

Tôn sùng và tin tưởng—Reverence and faith, to revere and trust.

Mùi hôi thối—Stinking smell.

sú khẩu quỷ

Demons with stinking breath.

súc

Nuôi nấng trong nhà—To rear—To feed—To domesticate.

súc sanh

Tiryagyoni (skt)—Để Lật Xa—Bàng Sanh—Một trong lục thú trong tam đồ ác đạo, nơi mà chúng sanh sanh vào để chịu khổ trong tay của thợ săn, đồ tể, hay bị thương buôn và nông dân bắt buộc phải làm việc cực nhọc—Domestic animals—Animals—The realm of animals—Animality—One of the sixth forms of rebirth and one of the three Evil Paths is rebirth as an animal in the human world. Beings who are reborn as animals suffer at the hands of hunters, trappers, and butchers, and by being forced to work as beast of burden for farmers and merchants.

súc sanh nhân

Nghiệp nhân khiến chúng sanh phải tái sanh vào loài súc sanh trong Thích Thị Yếu Lãm, có 5 tội phải sanh làm súc sanh: 1) Phạm giới trộm cắp, 2) Nợ nần không trả, 3) Sát sanh, 4) Không thích nghe giảng kinh pháp, 5) Thường vì nhân duyên khó đến trai hội. The cause, or karma, of rebirth as an animal.

súc sanh thú

Một trong sáu loại chúng sanh, nơi sinh sống của các loài súc sanh (do nghiệp nhân mà sau khi chết phải đọa vào súc sanh)—The way, destiny, or gati of rebirth as animals, one of the six forms of rebirth.

súc sanh đạo

See Súc Sanh Thú.

súc sinh

(畜生) Phạn: Tiryaĩc. Pàli: Tiracchana. Hán âm: Để lật xa. Cũng gọi Bàng sinh, Hoạnh sinh, Súc sinh đạo, Bàng sinh thú. Chỉ chung cho các loài động vật như chim, cá, muông thú, côn trùng... là 1 trong 3 ác đạo, 1 trong 6 đường, 1 trong 5 đường. Theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 18 thì súc sinh tổng cộngcó tới34 ức loại, về tướng mạo, màu sắc, cách ăn uống, sinh sống... đều khác nhau. Luận Đại trí độ quyển 30 cho rằng, căn cứ vào chỗ ở của súc sinh có thể chia làm 3 loại: Bay trên không, đi trên đất và bơi dưới nước. Nếu căn cứ vào ngày, đêm thì có thể chia làm 3 loại: Loài đi lúc ban ngày, loài đi lúc ban đêm và loài đi cả ban ngày lẫn ban đêm. Còn theo luận Đại tì bà sa quyển 120 và luận Câu xá quyển 8 thì súc sinh và loài người đều có 4 cách sinh: Sinh từ bào thai, từ trong trứng, sinh ở chỗ ẩm ướt và tự nhiên hóa sinh. Còn thọ mệnh của súc sinh thì hoặc 1 ngày 1 đêm, hoặc như Long vương... thọ 1 trung kiếp, mỗi loài mỗi khác. [X. luận Đại tì bà saQ.172; luận Lập thế a tì đàm Q.7; luận Câu xá Q.11; luận Tạp a tì đàm tâm Q.8; Đại thừa nghĩa chương Q.8, phần đầu].

súc sinh giới

(畜生界) Chỉ cho thế giới của loàisúc sinh, 1 trong 10 giới do tôngThiên thai lập ra. Các loài sinh sống trong thế giới này là những chúng sinh ngu si, do kiếp trước tạo nghiệp ác mà chuyển sinh đến. (xt. Thập Giới, Súc Sinh).

súc sinh hữu

(畜生有) Quả báo của loài súc sinh là có thật, 1 trong 7 Hữu được nói đến trong Trường A Hàm thập báo pháp kinh quyển thượng.

súc sinh nhân

(畜生因) Nghiệp nhân dẫn sinh vào đường súc sinh. Thích thị yếu lãm quyển trung dẫn lời trong kinh Biện ý cho rằng: Nghiệp nhân dẫn sinh vào đường súc sinh có 5: Phạm giới ăn trộm, mắc nợ không trả, giết hại, không thích nghe nhận kinh pháp, thường tìm mọi cách để ngăn cản, quấy rối người khác cử hành trai hội.

súc sinh thực thời

(畜生食時) Chỉ cho thời gian ăn uống của loài súc sinh, 1 trong 4 thời ăn. Loài súc sinh phần nhiều ăn uống vào buổi chiều. [X. Pháp uyển châu lâm Q.42].

súc sinh đạo

(畜生道) Cũng gọi Súc sinh thú. Chỗ nương ở của súc sinh, 1 trong Lục đạo.Chúng sinh lúc còn sống tạo các nghiệp ác, gieo nhân súc sinh, sau khi chết, sinh vào cõi súc sinh, gọi là Súc sinh đạo.(xt. Lục Đạo).

súc tích

To collect—To accumulate.

súc vật

See Súc Sanh.

sún

Toothless.

săn sóc

To take care—To care.

săn đuổi

To chase—To pursue.

A gentleman—Scholar.

sĩ diện

Scholar's pride.

sĩ dụng quả

Purusakara-phala (skt)—Quả đồng thời sanh ra bởi “câu hữu nhân,” có nghĩa là tứ đại đều là nhân câu hữu với nhau, không có cái gì bị loại bỏ; và “tương ưng nhân,” như sự tương ưng giữa những điều kiện tâm và tinh thần, chủ quan và khách quan—Simultaneous effect produced by the co-operative causes (sahabhu-hetu), as the four elements in nature, not one of which can be omitted; and the mutual responsive or associated causes (samprayukta-hetu), i.e. mind and mental conditions, subject with object. ; (士用果) Phạn: Puruwakàra-phala. Cũng gọi Sĩ phu quả, Công dụng quả. Chỉ cho quả do nhân Câu hữu và nhân Đồng loại mang lại, vì sức của nó mạnh nên gọi là Sĩ dụng quả (ví như sức người (sĩ) dùng công cụ tạo tác ra), là 1 trong 5 loại quả. LuậnThành duy thức quyển 8 (Đại31, 42 trung) nói: Sĩ dụng, nghĩa là những người làm (sĩ) mượn các công cụ để tạo ra sự nghiệp. Thành duy thức luận thuật kí quyển 8, phần đầu, dựa vào đó mà cho rằng Sĩ dụng quả có 2 nghĩa: 1. Nói về người: Lực dụng này nương vào hữu tình mà sinh, như lúa gạo của nhà nông, tiền bạc của nhà buôn... đều nhờ sức của con người(sĩ) mà làm nên sự nghiệp. 2. Nói về pháp: Các pháp sinh là do các công cụ mà có, như nhà nông do cấy lúa mà có thóc, nhà buôn do mua bán mà có lời, tác giả mượn các công cụ mà làm thành mọi việc. Kết quả này chung cho tất cả pháp hữu vi. Ngoài ra, luận Câu xá quyển 6 cho rằng quả do nhân Câu hữu và nhân Tương ứng mà được, cũng tương đương với quả Sĩ dụng nói ở đây. [X. luận Đại tì bà sa Q.121; luận Thuận chính lí Q.18; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Du già sư địa Q.5].

sĩ hạnh

Scholar's virtue.

sĩ khuê

(士圭) (1083-1146) Thiền sư Trung quốc, thuộc phái Dương kì, tông Lâm tế, sống vào đời Tống, người ở Thành đô, tỉnh Tứ Xuyên, họ Sử, tự Trúc am, hiệu Lão thiền. Sư xuất gia từ tuổi niên thiếu, siêng học kinh giáo, chuyên nghiên cứu Lăng nghiêm. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư đến tham học ngài Phật nhãn Thanh viễn và được nối pháp ngài. Sau, sư lần lượt trụ ở các chùa: Long Tường, Thiên Ninh, Bao Thiền, Đông Lâm... Khoảng năm Thiệu hưng, sư và ngài Tông cảo soạn chung hơn 100 tắc Tụng cổ ở Vân môn, được người đời quí trọng. Về sau, sư dời đến trụtại Cổ sơn thuộc tỉnh Phúc kiến, rồi lại dời đến trụ trì các chùa Năng nhân tại Nhạn đãng và Long tường ở Ôn châu... Sư tinh thông cả ngoại điển và thư pháp. Năm 1146, Sư tịch, thọ 63 tuổi. Sư có tác phẩm: Trúc Am Khuê hòa thượng ngữ yếu 1 quyển, Đông lâm hòa thượng Vân môn am chủ tụng cổ 1 quyển. [X. Gia thái phổ đăng lục Q.16; Ngũ đăng hội nguyên Q.20].

sĩ khí

See Sĩ Diện.

sĩ nhân

Man of letters—Learned man.

sĩ nông công thương

Bốn giai cấp chính trong xã hội phong kiến—Four main classes in the feudal society: 1) Sĩ: Intellectuals. 2) Nông: Peasants. 3) Công: Workers. 4) Thương: Tradesmen.

sĩ phu

được dịch từ tiếng Phạn là puruṣa, phiên âm là bổ-lô-sa (補盧沙), với nghĩa chỉ phần tình thức, tinh thần, bản thể của con người, hoàn toàn không liên quan đến nghĩa của chữ “sĩ phu” thường được hiểu trong chữ Hán (người có học, nho sĩ...). Có nơi cũng dịch chữ này là linh hồn. Khái niệm này đã có từ trước thời đức Phật. Sau khi chứng ngộ và nhận biết rõ ràng về tâm thức cũng như nghiệp lực của mọi chúng sanh, đức Phật đã chỉ ra rằng quan niệm về một linh hồn thường tồn là hoàn toàn sai lầm. ; Intellectuals.

sĩ đạt đa

See Siddhartha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

初; C: chū; J: sho;|Có các nghĩa sau: 1. Sự bắt đầu, ban đầu, sự khai mạc, lúc đầu, sự khởi đầu (s: adaya, adi); 2. Sự phát khởi niềm tin ban đầu; 3. Giai vị đầu tiên trong Thập trú (Phát tâm trú).

1) Bắt đầu: Beginning—First. 2) Cắt vải: To cut cloth for clothes. 3) Đơn sơ: simple. 4) Sơ khai: Primitive.

sơ a hậu đồ

(初阿後荼) Chữ A ở đầu, chữ Đồ ở cuối, tức chỉ cho 2 chữ đầu và cuối trong 42 chữ của tiếng Phạn. Các kinh như Hoa nghiêm, Bát nhã... đều lấy 42 chữ này làm pháp môn quán tưởng nghĩa chữ, bởi vì mỗi một chữ đều có ý nghĩa đặc thù của Phật pháp. Trong đó, chữ (a) có nghĩa tất cả các pháp vốn chẳng sinh; chữ (đha) có nghĩa vào chỗ rốt ráo các pháp chẳng diệt chẳng sinh.Ngoài ra, ngài Nam nhạc Tuệ tư soạn Tứ thập nhị tự môn thích 2 quyển, đem phối trí 42 chữ Phạm này với 42 giai vị tu hành của Bồ tát Đại thừa; 40 chữ trước là Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa, 2 chữ sau là Đẳng giác và Diệu giác.[X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.5; kinh Hoa nghiêm Q.57 (bản dịch cũ); luận Đại trí độ Q.48].

sơ canh

See Sơ Dạ.

Sơ chuyển pháp luân

初轉法輪; C: chūzhuănfǎlún; J: shotenbō-rin;|Chuyển pháp luân lần đầu. Lần giảng pháp đầu tiên của Phật Thích-ca Mâu-ni.

sơ chuyển pháp luân

(初轉法輪) Lần thuyết pháp đầu tiêncủa đức Phật sau khi xuất gia thành đạo. Lần này, ở vườn Lộc dã, đức Phật nói Tứ thánh đế, Bát chính đạo cho 5 vị tỉ khưu Kiều trần như... chỉ bày con đường lìa bỏ 2 cực đoan ái dục và khổ hạnh mà tu hành trung đạo. [X. Tạp a hàm Q.15; kinh Chuyển pháp luân]. (xt. Bát Tướng, Lộc Dã Uyển).

sơ cơ

(初機) Cũng gọi Sơ học, Sơ tâm, Sơ phát tâm. Cơ, tức căn cơ, cơ loại; Sơ cơ chỉ cho người mới học đạo. Bích nham lục tắc 2 (Đại 48, 141 trung) nói: Bậc thượng sĩ tham cứu đã lâu thì không cần phải nói, nhưng đối với kẻ sơ cơ hậu học thì cần được chỉ dạy.

Sơ duyên

初縁; C: chūyuàn; J: shoen;|Có hai nghĩa: 1. Duyên đầu tiên; 2. Duyên gần nhất (s: samanantara-pratyaya).

Sơ dạ

(s: prathama-yāma, p: paṭhama-yāma, 初夜): đầu đêm, còn gọi là sơ canh (初更, canh đầu), là một trong 6 thời khắc trong một ngày đêm; tức khoảng 8 giờ tối sau buổi trưa. Trong kinh điển thường dùng thuật ngữ này. Như trong Tứ Phần Luật (四分律, Taishō Vol. 22, No. 1428) quyển 53 có câu: “Ư thực trung năng tri chỉ túc, sơ dạ hậu dạ tinh tấn giác ngộ (於食中能知止足、初夜後夜精進覺悟, ngay trong khi ăn có thể biết đủ và dừng lại, đầu đêm giữa đêm tinh tấn giác ngộ).” Hay trong Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 16 lại có đoạn: “Hành giả như thị, ư thiện pháp trung, sơ dạ, trung dạ, hậu dạ, tụng kinh, tọa Thiền, cầu chư pháp thật tướng (行者如是、於善法中、初夜、中夜、後夜、誦經、坐禪、求諸法實相, hành giả như vậy, ở trong thiện pháp, đầu đêm, giữa đêm, cuối đêm, tụng kinh, ngồi Thiền, cầu thật tướng các pháp).” Hoặc trong Pháp Hoa Kinh Hiển Ứng Lục (法華經顯應錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1540) quyển 1, phần Thiên Thai Tảo Thiền Sư (天台璪禪師), cũng có đoạn: “Sơ dạ tọa Thiền, nãi kiến nhất cửu đầu long tùng địa dũng xuất, thượng thăng hư không (初夜坐禪、乃見一九頭龍從地涌出、上升虛空, Thiền Sư đầu đêm ngồi Thiền, bèn thấy một con rồng chín đầu từ đất vọt ra, bay lên hư không).”

sơ dạ

Lúc đầu hôm (phần đầu, giữ khuya và hừng sáng)—The first of the three divisions (watch) of the night. ; (初夜) Phạn: Prathama-yàma. Pàli: Paỉhama-yàma. Cũng gọi Sơ canh. Bắt đầu vào đêm, tức khoảng 8 giờ tối, 1 trong 6 thời. KinhQuá khứ hiện tại nhân quả quyển 3 (Đại 3, 641 trung) nói: Lúc bấy giờ, Bồ tát dùng sức từ bi (...) tự nghĩ rằng: Tất cả chúng sinh không người cứu vớt, trôi nổi trong 5 đường, không biết bến bờ thoát ra. Tất cả đều giảdối, không chân thực, cứ ở trong đó sinh ra khổ vui. Bồ tát suy nghĩ như thế đến hết sơ dạ. Phẩm Đại thừa trong luận Thập trụ tì bà sa quyển 15 (Đại 26, 104 trung) nói: Sơ dạ, hậu dạ tùy thời giác ngộ, quán tướng duyên thủ, ưa trụ chỗ không, quí ở trì giới. [X. kinh Thái tử thụy ứng bản khởi Q.hạ; luận Đại thừa A tì đạt ma tạp tập Q.8; Vãng sinh lễ tán kệ].

sơ dạ kệ

(初夜偈) Kệ được tụng vào lúc đầu đêm. Vãng sinh lễ tán kệ của ngài Thiện đạo ghi (Đại 47, 440 hạ): Phiền não sâu không ; Biển sinh tử không bờ; Thuyền cứu vớt chưa có; Làm sao vui ngủ yên? Hãy mạnh mẽ tinh ; Nhiếp tâm thường ngồi thiền. [X. kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.3; kinh Thái tửthụy ứng bản khởi Q.hạ; phẩm Đại thừa trong luận Thập trụ tì bà sa Q.15]. (xt. Lục Thời).

sơ giang vương

(初江王) Cũng gọi Sở giang vương. Ông vua thứ 2 trong 10 ông vua cõi U minh. Cứ theo kinh Dự tu thập vương sinh thất và kinh Địa tạng thập vương thì bản địa của vị vua này là đức Thích Ca Như lai, là ông quan coi việc người chết qua sông. Sau khi chết, thân Trung hữu trong 14 ngày đến trước đại điện vua này; trên quãng đường đến đây, có cây cầu Nại hà, bên bờ sông, dưới cây Y Lãnh, có bà già đoạt áo (Đoạt y bà), đợi khi người chết đến, lột lấy áo của họ, giao cho ông Huyền Y (Huyền y ông), ông này đem áo treo trên cành cây để xem tội nặng hay nhẹ; nếu tội nặng thì cành cây trĩu xuống và người chết bị 2 con quỉ đầu trâu, đầu ngựa lôi đến điện vua Sơ Giang để được phán quyết. [X. Phật tổ thống kỉ Q.33]. (xt. Diêm La Thập Điện).

sơ hoan hỷ địa

Địa vị thứ nhất của Thập Địa, giống như Hoan Hỷ Địa—The stage of joy, the first of the ten stages toward Buddhahood.

Sơ học

初學; C: chūxué; J: shogaku;|Mới bắt đầu tu học. Người mới học.

sơ học

Elementary.

sơ học kí

(初學記) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Bản Nhiên Thanh Giác (1043-1121) soạn vào đời Tống, ngài Đạo An chú thích, ấn hành vào năm Hoàng Khánh thứ 2 (1313) đời vua Nhân Tông nhà Nguyên, được thu vào Vạn tục tạng tập 112. Ngài Thanh giác cho rằng muốn đi nghìn dặm thì phải bước 1 bước đầu, nên viết Sơ học kí để tiếp dẫn kẻ hậu tiến, khai ngộ quần mê, hoằng dương yếu chỉ Tam thừa Thập địa, giúp những người sơ tâm dễ học tập, lâu ngày sẽ quen, tự có chỗ thấy biết, rồi tiến lên thực hành để đạt cứu cánh. Nội dung sách này bao gồm các vấn đề như: Phật đạo không thể không học, sinh tử không thể không lo, muốn không bị lừa dối thì chớ lìa Thập địa Tam thừa. Bát nhã tỏ lòng thấy tính, danh mục nhắc nhớ nội phàm; kẻ sơ học trước cầu nhân địa, tu tập theo giới định tuệ, phải biết danh mục thứ bậc. Ngoài ra, trong sách cũng bàn đến vài mươi hạng mục như: Quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, Pháp vân địa, Diệu giác địa...

sơ hội

(初會) Chỉ cho hội thuyết pháp đầu tiên của đức Phật sau khi Ngài thành đạo, hoặc chỉ cho hội đầu tiên Phật giảng nói về 1 bộ kinh nào đó.

sơ khai

Primitive—Aboriginal—Existing from the beginning.

Sơ khởi

初起; C: chūqǐ; J: shoki;|Sự sinh khởi đầu tiên của các pháp; khởi đầu sự vận hành của các pháp; sự hoạt hoá, khởi đầu (theo Đối pháp luận 對法論).

sơ kim hậu thai

(初金後胎) Đối lại: Sơ thai hậu kim. Trong Mật giáo, khi truyền (hoặc tu) pháp của 2 bộ Kim cương và Thai tạng, thì trước thực hành pháp Kim cương giới, rồi sau mới truyền pháp Thai tạng giới; trình tự này thường được áp dụng trong nghi thức nhập đàn quán đính, tức là trước truyền quán đính Kim cương giới rồi sau mới truyền quán đính Thai tạng giới, gọi là Sơ kim hậu thai. Ngược lại, nếu ban đầu thụ quán đính Thai tạng giới rồi sau mới truyền quán đính Kim cương giới, thì gọi là Sơ thai hậu kim. Sơ thai hậu kim và Sơ kim hậu thai đều là chân nghĩa của mật pháp tương truyền, nếu đứng về phương diện phối lập pháp môn mà nói thì hoàn toàn không có một chuẩn tắc nào nhất định, cho nên không thể bàn đến khía cạnh cạn sâu của nó. Trong đó, Sơ thai hậu kim là do Lí ngộ nhập Trí, thuộc thứ tự Bản hữu hướng Tu sinh; còn Sơ kim hậu thai thì do Trí hiển bày Lí, thuộc thứ tự Tu sinh hướng Bản hữu. Nhưng đối với địa vị cùng tột của 2 bộ Kim, Thai thì không thể nào bàn đến sự dị đồng giữa Bản hữu và Tu sinh, bởi vì Lí và Trí đều là bản hữu, chứ không phải Lí, Trí có trong ngoài, Kim cương, Thai tạng có cạn sâu khác nhau. Nếu nói theo thứ tự Sơ kim hậu thai hoặc Sơ thai hậu kim, thì đại khái cần lựa chọn pháp tu, nghĩa là pháp nào trọng yếu hơn. Sơ thai hậu kim là pháp do ngài Kim cương trí truyền cho ngài Bất Không; còn Sơ kim Hậu thai là pháp do ngài Long Trí truyền cho Ngài Bất Không.

sơ lược

Summary.

sơ nguyện

First vows.

sơ nhật phần

Buổi sáng sớm trong ngày—The first of the three divisions of the day—See Sơ Trung Hậu.

sơ nhị hồi hỗ

(初二回互) Cho cảnh giới Thiên trung chí trong thuyết Ngũ vị của ngài Động sơn. Ngài Động sơn Lương giới –Tổ khai sáng tông Tào động– chia quá trình tu hành làm 5 giai đoạn, gọi là Động sơn ngũ vị, gồm: Chính trung thiên, Thiên trung chính, Chính trung lai, Thiên trung chí và Kiêm trung đáo. Sơ nhị (Hai vị đầu) tức là Chính trung thiên và Thiên trung chính, ở 2 vị này, Chính vị và Thiên vị đều hoàn toàn độc lập, đến giai đoạn thứ 4, tức Thiên trung chí, thì Chính vị và Thiên vị mới hồi hỗ lẫn nhau, biểu thị từ diệu dụng sai biệt của hiện tượng giới mà thể ngộ hiện tượng và bản thể ngầm hợp với nhau, đạt đến cảnh giới vô niệm vô tưởng. [X. Bất năng ngữ ngũ vị thuyết]. (xt. Ngũ Vị, Động Sơn Ngũ Vị).

Sơ nhị quả

初二果; C: chūèrguǒ; J: shonika;|Hai quả vị đầu trong 4 quả vị của Tiểu thừa: Tu-đà-hoàn (Dự lưu) và Tư-đà-hàm. Tứ hướng tứ quả (四向四果).

sơ năng biến

Alaya-vijnana (skt)—Cái tâm thứ biến hiện chư cảnh thành tám thức. A-Lại Da hay thức thứ tám được gọi là “Sơ Năng Biến” vì các thức khác đều từ đó mà ra—The initiator of change, or the first power of change, or mutation, i.e. the alaya-vijnana, so called because other vijnanas are derived from it—See A Lại Da Thức in Vietnamese-English Section.

sơ pháp minh đạo

(初法明道) Tạng: Chos-snaí-ba#i-sgo chossnaí-ba#i-tshul-dan-po. Cũng gọi Tâm minh đạo, Sơ pháp minh môn.Hành giả chân ngôn chứng được tâm bồ đề thanh tịnh, diệt trừ các nghiệp khổ phiền não mà vào địa vị đầu tiên, gọi là Sơ pháp minh đạo. Hành giả lúc mới phát tâm, quán chiếu tâm bồ đề thanh tịnh vô tướng (Tạng: Byaí-chub-sems-dpa#i-sems-rnampar-dag-pa#i-sgo), tự biết thực tướng tâm mình vốn không sinh, tâm ấy thanh tịnh an trụ, phát sinh ánh sáng đại trí tuệ, chiếu khắp vô lượng pháp tính, thấy con đường chư Phật đã đi, liền được tam muội Trừ nhất thiết cái chướng, thấy rõ thực tướng của 8 vạn 4 nghìn phiền não, thành tựu 8 vạn 4 nghìn Bảo tụ môn. Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 590 thượng) nói: Bồ tát trụ nơi Bảo tụ môn này, cần khổ tu học, chẳng bao lâu đã chứng được tam muội Trừ nhất thiết cái chướng, nhập vào trí tuệ Phật, có vô lượng môn phương tiện. Nay tông này lấy tâm bồ đề thanh tịnh làm pháp môn, nếu vào môn này tức là bước đầu đi vào cảnh giới của Như lai, nhưbồ tát Di lặc mở cửa lầu gác, đồng tử Thiện tài liền thấy trong đó vô lượng sự việc không thể nghĩ bàn, khó dùng lời mà diễn tả được, chỉ có người bước vào tự biết mà thôi. Như thực nhất đạo vô vi tâm thứ 8 của Thập trụ tâm trong Bí tạng bảo thược quyển hạ (Đại 77, 371 trung ) nói: Tướng hư không vô tướng, chẳng phải xanh, chẳng phải vàng... đây là nói rõ về chân lí của pháp thân chân như và nhất đạo vô vi mà đức Phật gọi là Sơ pháp minh đạo, luận Đại trí độ gọi là Nhật Phật đạo sơ môn. Phật đạo là chỉ cho Đại mạn đồ la Phật ở cung Kim cương giới; đối với Hiển giáo thì đó là pháp thân Lí trí cứu cánh, trong môn Chân ngôn thì đó là Sơ môn. Đây chính là hành giả chân ngôn đã được tam muội Trừ cái chướng tiến vào giai đoạn phần chứng Sơ địa của Bí mật trang nghiêm trụ tâm thứ 10 vậy. [X. phẩm Trụ tâm kinh Đại nhật Q.1; kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.1; luận Đại trí độ Q.6; luận Bí mật mạn đồ la thập trụ tâm Q.8].

sơ phát tâm

Cái tâm mới phát cầu đạo Bồ Đề—The initial determination to seek enlightenment.

sơ phát tâm thời tiện thành chánh giác

Tần Hoa nghiêm Kinh nói rằng: “Vừa mới phát tâm, liền thành chánh giác, biết rõ chân tánh thật của chư pháp đầy đủ ở tuệ thân, không phải là sự giác ngộ từ những cái khác.”—The Chin dynasty Hua-Yen Ching says: “At the very moment of the initial determination, the novice enters into the status of perfect enlightenment.”

sơ quả

Quả dự lưu thứ nhất hay Tu Đà Hoàn, nơi đây mọi phiền não bị đoạn tận đề bước vào dòng giải thoát—The initial fruit or achievement—The stage of Srota-apanna, where illusion being discarded and the stream of enlightenment entered.

sơ quả hướng

Hướng về quả Tu Đà Hoàn hay Dự Lưu—The aiming at the fruit of Srota-apanna.

sơ quả nhị nghĩa

(初果二義) Chỉ cho quả Tu đà hoàn trong 4 quả Sa môn, người chứng quả này đã dứt trừ kiến hoặc trong 3 cõi Dục, Sắc và Vô sắc mà dự vào vòng Thánh nhân. Tu đà hoàn, Phạn: Srota-àpanna, Hán dịch: Dự lưu, Nghịch lưu. Chữ lưu ...ở đây có 2 nghĩa là Dự lưu và Nghịch lưu.1. Dự lưu: Dự nghĩa là vào, tức bậc thánh chứng được Sơ quả là đã nhập vào dòng Thánh đạo. Nghịch lưu: Nghịch nghĩa là ngược, tức bậc thánh Sơ quả đi ngược lại dòng sinh tử. [X. kinh Niết bàn quyển 36 (bản Bắc); luận Đại tì bà sa Q.46; luận Câu xá Q.23].

sơ sát na thức

Thức thứ tám là sơ thức. Trong sát na đầu tiên chỉ có a lại da thức hay thức thứ tám phát sinh mà thôi—The initial ksana, initial consciounes, i.e the eighth or alaya-vijnana, from which arises consciousness.

sơ sơ

Slightly.

Sơ Sơn Khuông Nhân

(疎山匡仁, Sozan Kyōnin, 837-909): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, còn gọi là Quang Nhân (光仁), người vùng Cam Dương (淦陽), Lô Lăng (廬陵, Tỉnh Giang Tây), họ Lý (李). Ông xuất gia lúc nhỏ, chuyên nghiên tầm kinh luật luận, đã từng tham vấn Hương Nghiêm Trí Nhàn (香嚴智閑), v.v., và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Động Sơn Lương Giới (洞山良价). Sau đó, ông cũng có đến tham học với Quy Sơn Đại An (潙山大安), và đến năm thứ 3 (883) niên hiệu Trung Hòa (中和), ông bắt đầu khai mở đạo tràng thuyết pháp giáo hóa tại Sơ Sơn (疎山) vùng Lâm Xuyên (臨川), Phủ Châu (撫州, Tỉnh Giang Tây). Vào năm thứ 6 niên hiệu Thiên Hựu (天祐), ông thị tịch, hưởng thọ 73 tuổi.

Sơ thiền

初禪; C: chūchán; J: shozen;|Sơ thiền định (初禪定).

sơ thiền

(初禪) Phạn: Prathama-dhyàna. Pàli: Pathama-jjhàna. Dịch mới: Sơ tĩnh lự. Một trong 4 Thiền. Chỉ cho cảnh giới thiền định trong tâm thanh tịnh, các lậu không động, đó là Sơ thiền. Cảnh giới thiền này có đủ 5 chi tầm, tứ, hỉ,lạc và tâm nhất cảnh tính, đạt được 8 xúc, 10 công đức, tâm thường tĩnh lặng thẩm lự, cảm thấy lìa các áccủacõi Dục mà mừng, vui, tâm cảm nhận hỉ thụ, thân cảm nhận lạc thụ, nên gọi là Li sinh hỉ lạc, nhưng vẫn có tâm lí tầm, tứ hoạt động, gọi là Sơ thiền. Tầm, xưa dịch là Giác, là tác dụng thô phân biệt của tâm; Tứ xưa dịch là Quán, là tác dụng tế phân biệt của tâm. Vì người được thiền định này vẫn còn tác dụng tầm, tứ nên cũng gọi là Hữu quán hữu giác. Nếu đời hiện tại thành tựu Sơ thiền, thì được quả báo sinh lên tầng trời Sơ thiền đối trị được 5 loại chướng nạn của việc tu đạo là: Tầm, khổ, ưu (lo), phạm giớivà tán loạn. Ngoài ra, ở trong thiền định này vì còn tâm lí tầm (tìm), tứ (dò xét) nên có các hoạt động như thấy, nghe, xúc chạm, vả lại có thể khởi ngữ nghiệp. [X. kinh Đạibátniết bàn Q.33 (bản Bắc); luận Câu xá Q.28; luận Hiển dương thánh giáo Q.2, 19]. (xt. Tứ Thiền).

sơ thiền phạm thiên

Chư Thiên trong cõi Trời sắc giới, do xa lìa dâm dục mà được thanh tịnh—Devas in the realms of form, who have purged themselves from all sexuality.

sơ thiền thiên

Cõi Thiền Thiên thứ nhất trong tứ thiền thiên—The first region, as large as one whole universe. The first of the four dhyana heavens, corresponding to the first stage of dhyana meditation. ** For more information, please see Tứ Thiền, and Tứ Thiền Thiên. ; (初禪天) Một trong 4 trời Thiền cõi Sắc, là nơi sinh đến của những người tu định Sơ thiền sau khi mệnh chung, hoặc chỉ cho chúng sinh sống ở cõi trời này. Vì chúng sinh ở cõi trời này đã xa lìa các pháp xấu ác ở cõi Dục, sinh khởi cảm nhận mừng, vui, nên cõi trời này còn được gọi là Li sinh hỉ lạc địa (nơi lìa ác sinh mừng vui). Cứ theo luận Câu xá quyển 8, 28 và luận Thuận chính lí quyển 21, chúng sinh cõi trời này được chia làm 3 hạng: 1. Đại phạm thiên (Phạn: Mahàbrahman): Vua cõi Sơ thiền, cũng là Đại phạm vương, chúa tể thế giớiSa bà. Đại phạm thiên nhờ có duyên lành rộng lớn mà được sinh ra, là người sinh đầu tiên và chết sau cùng, được định Trung gian, uy đức thù thắng. 2. Phạm chúng thiên (Phạn: Brahmapàriwadya): Chúng trời thuộc quyền sở hữu, giáo hóa và thống lãnh của Phạm thiên. 3. Phạm phụ thiên (Phạn: Brahmapurohita): Chúng trời xếp hàng đi trước để phụ giúp và bảo vệ Đại phạm thiên. Trong phẩm Đao lợi thiên kinh Trường a hàm quyển 20, ngoài 3 hạng trên, còn liệt kê,Phạm thân thiên (Phạn: Brahma- kàyika), cộng chung là 4 hạng. Ngoài ra, kinh Trường a hàm quyển 20, luận Đại tì bà sa quyển 136, luận Câu xá quyển 11 và luận Lập thế a tì đàm quyển 3, 7... còn nói rõ về chỗ ở, thân lượng, thọ lượng... của các chúng trời cõi Sơ thiền. Lại nữa, cõi trời này là thế giới của Đại phạm thiên cư trú, cho nên cũng gọi là Phạm giới (Phạn: Brahma-loka). [X. luận Du già sư địa Q.4; luận Đại tì bà sa Q.98; luận Đại trí độ Q.9]. (xt. Tứ Thiền Thiên, Sắc Giới).

Sơ thiền định

初禪定; C: chū chándìng; J: sho zenjō;|Trạng thái đầu tiên trong Tứ thiền định (四禪定).

sơ thiền định

Bậc thiền thứ nhất trong bốn bậc thiền định—The first dhyana, the first degree of dhyana, which produces rebirth in the first dhyana heaven. ** For more information, please see Tứ Thiền Định.

sơ thô

Rude—Coarse.

sơ thời giáo

Một trong ba thời giáo mà Pháp Tướng Tông đã lập ra, trong giai đoạn nầy Đức Phật cố vượt qua những tà thuyết cho rằng có một cái ngã thực, trong giai đoạn nầy Ngài cũng dạy về Tứ Diệu Đế và Ngũ Uẩn—A term of the Dharmalaksana school, the first of the three periods of the Buddha's teaching, in which he overcame the ideas of heterodox teachers that the ego is real, and preached the four noble truths and the five skandhas, etc.

Sơ Tri

初知; C: chūzhī; J: shochi;|»Biết trước tiên«. Tiếng Hán dịch tên của Ājñāta-kaundinya từ tiếng Phạn. A-nhã Kiêu-trần-như (阿若憍陳如).

sơ triển

(初展) Trong nghi thức lễ bái, khi lễ thì trải (triển) tọa cụ ra và lễ 3 lễ. Sơ triển là trải tọa cụ lễ 1 lễ đầu tiên. Trong tùng lâm, khi làm lễ để bày tỏ lời chúc mừng hoặc xin hỏi điều gì, đối với các bậc tông sư đángtôn kính như Trụ trì... muốn biểu ý rất tôn sùng thì 3 lạy. Nhưng khi trải tọa cụ để lạy 1 lạy đầu thì tôn sư thường khoát tay phải ra dấu miễn lễ, bởi thế có khichỉtrải tọa cụ ra mà không lễ bái, rồi gấp tọa cụ lại để thưa hỏi. [X. điều Tọa cụ tác pháp trong Hành trì quĩ phạm Q.3].

sơ trung hậu

Ba thời trong ngày—The three divisions of the day, beginning, middle and end.

sơ trung hậu thiện

The Dharma the Buddha preached is always good in the beginning, in the middle, and in the end. ; (初中後善) Từ ngữ khen ngợi kinh văn. Có 3 cách giải thích: 1. Phối hợp 3 mật thân khẩu ý: Vì thân mật là thô nên phối với Sơ thiện; vì ý mật là tế nên phối với Hậu thiện; vì ngữ mật là dẫn từ bên trong biểu hiện ra ngoài nên phối với Trung thiện. 2. Phối hợp giới định tuệ:Tức sự phối hợp y theo thứ tự tróc giới, phược định, sát tuệ nói trong luậnThành thực. 3. Phối hợp 3 phần tựa, chính tông, lưu thông của 1 bộ kinh: Phần tựa là Sơ thiện, phần chính tông là Trung thiện, phần lưu thông là Hậu thiện. Cứ theo Lí thú thích quyển thượng thì Sơ thiện là thân mật của tất cả Như lai, chỉ cho hết thảy ấn khế, thân uy nghi; Trung thiện là mật ngữ của tất cả Như lai, chỉ cho Chân ngôn đà la ni, Pháp vương giáo sắc, không được trái vượt; Hậu thiện là Du già của Bản tôn, chỉ cho tất cả Tam ma địa vô lượng trí giải thoát.

Sơ trụ

tức là Phát tâm trụ, địa vị đầu tiên trong Thập trụ của hàng Bồ Tát. Gồm có: 1. Phát tâm trụ, 2. Trì địa trụ, 3. Tu hành trụ, 4. Sanh quý trụ, 5. Phương tiện cụ túc trụ, 6. Chánh tâm trụ, 7. Bất thối trụ, 8. Đồng chân trụ, 9. Pháp vương tử trụ, 10. Quán đỉnh trụ.

sơ trụ

See Sơ Trụ Địa.

sơ trụ địa

Trụ thứ nhất trong thập trụ Bồ Tát—The first of the ten stages or resting places of the bodhisattva. 1) Trụ: The resting-place or stage for a particular course of development. 2) Địa: The position or rank attained by the spiritual characteristics achieved in this place.

Sơ tu quán Bồ Tát

初修觀菩薩; C: chūxiūguān púsà; J: sho-shukan bosatsu;|Bồ Tát vừa mới phát tâm (theo Nhiếp Đại thừa luận 攝大乘論).

sơ tuần

Mười ngày đầu trong tháng hay 10 năm đầu của thế kỷ—The first ten day (or decade) of the month.

sơ tâm

Cái tâm mới phát của người mới tu tập (chưa qua thực hành sâu sắc)—First intention or the initial resolve or mind of the novice. ; (初心) Phạn: Nava-yàna-saôprasthita. Gọi đủ: Sơ phát tâm, Sơ phát ý. Chỉ cho người mới phát tâm cầu đạo bồ đề. Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 1 (Đại 19, 106 trung) nói: Lại có vô lượng Bích chi vô học và những sơ tâm đều đến chỗ Phật. (xt. Tâm Phát Ý).

sơ tâm ngộ đạo

Newly awakened mind.

sơ tăng kỳ

Kiếp thứ nhất trong 3 a tăng kỳ kiếp—The first of the three assamkhyeya or incalculable kalpas.

Sơ tĩnh lự

初靜慮; C: chūjìnglǜ; J: shojōryo;|Sơ thiền. Sơ thiền định (初禪定).

sơ tổ

First ancestor—First Patriarch.

sơ tổ am

(初祖庵) Am ở dưới ngọn Ngũ nhũ, phía tây bắc chùa Thiếu lâm, chân núi phía bắc núi Thiếu thất, mạn bắc huyện Đăng phong, tỉnh Hà nam, Trung quốc. Hiện chỉ còn 1 điện, 2 đình và gác Thiên Phật. Đại điện được xây cất vào năm Tuyên hòa thứ 7 (1125) đời Bắc Tống, trên các trụ đá ở trong điện chạm trổ hình võ sĩ, rồng bay, phượng múa, phi thiên, đàn hạc đùa với hoa sen, chim công xuyên hoa... trông rất sống động như thật. Phía đông nam Đại điện có 1 cây bách cổ, tương truyền do Lục tổ Tuệ năng trồng. Hiện nay, ở gần am này, người ta còn bảo tồn được hơn 40 di hẩm khắc trên đá, chữ do các ông Hoàng đình kiên và Thái biện viết.

sơ vị

Địa vị thứ nhất của hành vị tam thừa trên đường đi đến giác ngộ—The initial stage on the road to enlightenment.

sơ xuất

Careless.

sơ ý

Negligent—Careless.

sơ đàn

(初壇) Trong thủ tục thụ giới Cụ túc, đầu tiên thụ giới Sa di, kế đến thụ giới Tỉ khưu, sau cùng thụ giới Bồ tát. Trong đó, đầu tiên thụ giới Sa di gọi là Sơ đàn, sau đó, Tượng đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên theo thứ tự là Nhị đàn, Tam đàn. Chương Phạm hạnh Hoàng bá thanh qui quyển 5 (Đại 82, 770 trung) nói: Hôm nay ở tại chùa... thuộc núi... phủ... tỉnh... kiến đàn thuyết giới, Sơ đàn vào ngày mồng 3 tháng... năm... truyền giới Sa di, Nhị đàn vào ngày 6 tháng... năm... truyền giới Tỉ khưu, Tam đàn vào ngày mồng 8 tháng... năm... truyền giới Bồ tát.

sơ đẳng

Elementary.

Sơ địa

địa vị đầu tiên trong Thập địa, cũng gọi là Hoan hỷ địa (Pramuditbhmi). Đạt đến địa vị này, Bồ Tát được hoan hỷ trên đường tu học, phát tâm cứu độ cho tất cả chúng sanh thoát khỏi luân hồi, không còn nghĩ riêng đến bản thân mình nữa. Bồ Tát vì thế thực hiện hạnh bố thí không cầu phước đức, chứng được tính vô ngã của tất cả các pháp. Xem Mười địa vị. ; 初地; C: chūdì; J: shoji;|Giai vị đầu tiên trong Thập địa.

sơ địa

Địa vị thứ nhất trong thập địa đi đến toàn giác và niết bàn—The first stage of the ten bodhisattva stages to perfect enlightenment and nirvana.

sơ địa dĩ thượng

The stages above the initial stage of a Bodhisatva's development.

sơn

1) Ngọn đồi: Hill. 2) Ngọn núi: Mountain. 3) Sơn: To paint. 4) Tịnh xá: Monastery.

sơn am tạp lục

(山庵雜錄) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Vô uẩn soạn vào khoảng năm Hồng vũ đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 148. Nội dung sách này thu chép hành trạng của các bậc tôn túc danh đức từ các sách La hồ dã lục, Vân ngọa kỉ đàm, Tùng lâm công luận, Thiền lâm bảo huấn, Chư truyền đăng lục và sự thấy nghe của các vị hành cước tham học đương thời. Đối với những truyện có sự nhầm lẫn thì soạn giả khảo xét lại những chứng cứ để sửa chữa lại cho rõ hơn. Quyển thượng thu chép từ Hòa thượng Định Thủy Bảo Nguyệt đến Hòa thượng Vô Tượng Vị, gồm hơn 70 điều. Quyển hạ thu chép từ ngài Hồ Châu Tăng Tịnh đến ngài Đàn Chủ Đức Ngung, gồm hơn 60 điều. Tất cả đều là những niêm đề và lời hay hạnh đẹp của các bậc danh đức trong Thiền lâm thời cận cổ.

sơn biên tập học

(山邊習學) (1882-1944) Danh tăng Nhật bản thuộc phái Đại cốc Chân tông, người huyện Sơn Hình. Sau khi tốt nghiệp Đại học Chân tông, sư đến Nam dương quan sát tình hình các tôn giáo. Sau đó, sư du học Ấn độ, Anh quốc trong 4 năm. Khi trở về nước, sư lập Hiệp hội Văn hóa Phật giáo làm cơ quan phổ biến tư tưởng Phật giáo, vận động đào tạo nhân tài. Sư lần lượt giữ các chức Giáo sư Đại học Đại cốc Chân tông, Thư viện trưởng... Sư có các tác phẩm: Phật đệ tử truyện, Phật giáo văn học, Phật giáo tinh yếu, Nhật bản văn hóa dữ Phật giáo, Thánh điển vật ngữ, Giáo hành tín chứng giảng nghĩa 3 quyển, Tân dịch Phật giáo thánh điển.

sơn chủ

(山主) Vị chủ của 1 sơn môn, là tiếng tôn xưng vị Trụ trì 1 ngôi chùa. Vì chùa viện phần nhiều được xây cất trong rừng núi, tên chùa lấy hiệu núi, cho nên vị Trụ trì gọi là Sơn chủ. Sơn trưởng của Thư viện cũng gọi là Sơn chủ. Ngoài ra, vị Thượng tọa của chùa viện lớn trong Thiền lâm cũng được gọi là Sơn chủ. [X. môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên].

sơn cân

Cân dùng để cân núi Tu Di, dùng để ví với thọ mệnh của Đức Phật khó thể nghĩ lường (núi Tu Di còn có thể cân lạng, nhưng thọ mạng của Đức Như Lai không thể nghĩ bàn)—The weight of a mountain, or of Sumeru—May be more readily ascertained than the eternity of the Buddha. ; (山斤) Chỉ cho trọng lượng của núi Tu di, ví dụ tuổi thọ vô lượng của Phật. Thích môn chính thống quyển 4 (Vạn tục 130, 400 thượng) nói: Thọ lượng của đức Thích tôn rất lâu dài, cho dù trọng lượng của núi, giọt nước của biển, hạt bụi của đất, cõi hư không, cũng không thể sánh được. [X. phẩm Thọ lượng kinh Kim quang minh].

Sơn Danh

(山名, Yamana): tên của một dòng họ thuộc hàng Chiến Quốc Đại Danh, một trong 4 dòng họ quan chức nổi tiếng của chính quyền Mạc Phủ Thất Đinh. Con của Tân Điền Nghĩa Trọng (新田義重, Nitta Yoshishige) là Nghĩa Phạm (義範, Yoshinori) đến sống ở vùng Sơn Danh, Thượng Châu và trở thành Tổ khai công của dòng họ này.

Sơn Danh Tông Toàn

(山名宗全, Yamana Sōzen, 1404-1473): vị Võ Tướng sống vào khoảng giữa thời đại Thất Đinh; húy là Trì Phong (持豐); Tông Toàn (宗全) là tên sau khi xuất gia; biệt danh là Tiểu Thứ Lang (小次郎), Tông Toàn Nhập Đạo (宗全入道), Xích Nhập Đạo (赤入道); giới danh là Đạt Ma Viện Điện Tối Cao Tông Phong Đại Cư Sĩ (達碧院殿最高宗峰大居士); thân phụ là Sơn Danh Thời Hy (山名時煕, Yamana Tokihiro), thân mẫu là con gái của Võ Tướng Sơn Danh Sư Nghĩa (山名師義, Yamana Moroyoshi). Trong vụ Loạn Gia Cát ông được Xích Từng Mãn Hựu (赤松滿祐, Akamatsu Mitsusuke) mến mộ, cả gia tộc đến giữ chức quan Thủ Hộ của 8 tiểu quốc. Sau đó ông kết thân với Tế Xuyên Thắng Nguyên (細川勝元, Hosokawa Katsumoto), rồi nhân việc người vợ của Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Chính (足利義政, Ashikaga Yoshimasa) là Nhật Dã Phú Tử (日野富子, Hino Tomiko) tín nhiệm người con là Túc Lợi Nghĩa Thượng (足利義尚, Ashikaga Yoshihisa), ông sinh ra đối kháng với Tế Xuyên Thắng Nguyên và tạo nên vụ Loạn Ứng Nhân (應仁の亂). Trong khi chiến loạn thì ông chết giữa trận mạc.

sơn gia

Thậm phái hay hệ phái giảng sâu về tông Thiên Thai, được phát triển bởi Tứ Minh—The “mountain school,” the profounder interpretation of T'ien-T'ai doctrines developed by Shu-Ming—For more information, please see Sơn Ngoại Tông. ; (山家) Chỉ cho sư chủ hoặc môn đồ của ngài trụ ở trong núi. Tại Trung quốc, Đại sư Trí khải của tông Thiên thai trụ trong núi Thiên thai khá lâu, ngài Tứminh Tri lễ thuộc tông Thiên thai thì trụ rất lâu trong núi Tứ minh, các ngài đều ở trong núi diễn nói pháp nghĩa, đề xướng học thuyết tông Thiên thai, cho nên đều gọi là Sơn gia. Lại như trong các sách Sơn gia nghĩa uyển, Sơn gia tự dư tập, Sơn gia giáo điển chí... từ Sơn gia là chỉ cho tông Thiên thai hoặc các nhà Thiên thai. Ở Nhật bản, từ Sơn gia đặc biệt chỉ cho ngài Tối trừng – Tổ khai sáng tông Thiên thai Nhật bản, đồng thời, cũng được sử dụng để chỉ chung cho môn phái núi Tỉ duệ, như ngài Tối trừng có danh xưng Sơn gia Đại sư, các tác phẩm Thiên thai Pháp hoa tông niên phần học sinh thức gọi là Sơn gia học sinh thức, Hợp đàn quán đính kí gọi là Sơn gia quán đính kí, Thiên thai Pháp hoa tông truyền pháp kệ, gọi là Sơn gia truyền pháp kệ, Viên đốn Bồ tát giới gọi là Sơn gia luật...

sơn gia học sinh thức

(山家學生式) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tối trừng, vị cao tăng Nhật bản soạn, được thu vào Đại chínhtạng tập 74. Nội dung sách này chia làm 3 phần: - Thiên thai Pháp hoa tông niên phần học sinh thức (gồm 6 điều). - Khuyến tưởng Thiên thai tông niên phần học sinh thức (gồm 8 điều). - Thiên thai Pháp hoa tông niên phần độ giả hồi tiểu hướng đại thức (gồm 4 điều). Đối với Phật giáo ở Nam đô, Nhật bản, thì sách này minh xác qui địnhtu hành của tông Thiên thai và là 1 tác phẩm trọng yếu y cứ vào giới Đại thừa để quyết định chủ trương độc lập của 1 tông phái.

sơn gia nghĩa uyển

(山家義苑) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Khả quán (1092-1182) tông Thiên thai soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 101. Mục đích sách này nói về phái Nam bình, môn hạ của ngàiTứ minh Tri lễ thuộc pháiSơn gia tông Thiên thai, đồng thời trình bày về nghĩa trọng yếu của tông Thiên thai. Nội dung gồm: - Quyển thượng: Song du nghĩa, Kim Ti nghĩa 10 thiên, Thập bất nhị môn trung tổng biệt nghĩa, Biện nhạc sư tam thiên thư. - Quyển hạ: Bộ giáo nghĩa, Định giáo nghĩa, Thụ giới phổ thuyết, Nghị lan bồn 5 chương, Sơ diệm chính nghĩa, Liệu giản tá biệt danh thông. Ngoài việc giải thích rõ về giáo phán của tông Thiên thai, sách này còn bàn đến nghĩa Ngũ nghịch báng pháp trong kinh QuánVô lượng thọ, yếu nghĩa thụ giới trong Phạm Võng giới sớ. Ngoài ra, đối với các cuộc tranh luận về các vấn đề như Phật thân thường trụ thuyết, Phật tính thuyết, Lí sự tam thiên thuyết... giữa phái Sơn gia và Sơn ngoại của tông Thiên thai đời Tống, sách này cũng có bình luận về quan điểm của các ngài Tứ minhTri lễ, Tịnh giác Nhân nhạc, Cô sơn Trí viên... về những vấn đề trên. Đây là tư liệutrọng yếuliên quan đến tông Thiên thai đời Tống. (xt. Sơn Gia Sơn Ngoại).

sơn gia quán tâm dị luận quyết

(山家觀心異論决) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Chân điêu (?-1659) thuộc tông Thiên thai Nhật bản soạn. Sách này trình bày về 2 luận thuyết khác nhau của pháiSơn gia và Sơn ngoại thuộc tông Thiên thai đời Tống, Trung quốc. Nội dung chia làm 5 thiên: Sự lí tức cụ, Tâm pháp quán thể, Quán cảnh chân vọng, Tam thiên tổng biệt và Tam đế minh thể.(xt. Sơn Gia Sơn Ngoại).

sơn gia sơn ngoại

(山家山外) Chỉ cho phái Sơn Gia và phái Sơn Ngoại thuộc tông Thiên thai Trung quốc. Vào những năm đầu đời Bắc Tống, tông Thiên thai bị chia làm 2 phái, phái được xem là Thiên thai chính thống do ngài TứminhTri lễ đứng đầu, gọi là phái Sơn gia; đối lại, phái Tiền đường của các ngài Khánh chiêu, Trí viên... không được xem là chính thống thì gọi là phái Sơn ngoại. Vào cuối đờiĐường, Trung quốc rơi vào trạng huống loạn lạc liên miên, sách vở của tông Thiên thai phần nhiều bị thất lạc, về sau, những sách vở ấy được mang về từ Triều tiên, Nhật bản tạo nên tình hình phục hưng học thuyết Thiên thai ở thế kỉ IX, X. Nhưng do cách nhìn khác nhau đối với sách cũ đã dẫn đến tình trạng chia rẽ về quan điểm, lâu dần trở thành 2 phái Sơn Gia và Sơn Ngoại đối lập nhau. Nguyên nhân bắt đầu từ cuộc tranh luận về vấn đề thật giả giữa Lược bản và Quảng bản Kim quang minh kinh huyền nghĩa củaĐại sư Trí Khải, vì Quảng Bản có 1 chương Quán tâm thích, còn Lược bản thì không. Hai phái thựcsự phân hóa vào cuối đời Ngũ đại. Bấy giờ, môn hạ của ngài Cao luận Thanh tủng – Tổ thứ 11 tông Thiên thai –có các vị Nghĩa tịch ở Loa Khê, Chí Nhân ở Chiết Giang. Đệ tử ngài Chí Nhân là Ngộ Ân ở Từ quang. Đệ tử ngài Ngộ Ân có Nguyên Thanh ở Phụng Tiên, Hồng Mẫn ở Linh Quang. Đệ tử ngài Nguyên Thanh có Khánh Chiêu ở Phạm Thiên, Trí Viên ở Cô Sơn. Đệ tử ngài Khánh Chiêu có Hàm Nhuận ở Vĩnh Phúc, Kế Tề ở Vĩnh Gia... Đó là hệ thống phái Sơn ngoại. Còn về hệ thống phái Sơn gia thì đệ tử ngài Nghĩa Tịch có Nghĩa Thông ở Bảo Vân, Tông dục ở Quốc Thanh. Đệ tử ngài Nghĩa Thông có Tri Lễ ở Tứ Minh, Tuân Thức ở Từ Vân, Thiện Tín ở Bảo Sơn. Ngài Tri Lễ lại có các đệ tử là Quảng Trí Thượng Hiền, Thần chiếu Bản Như, Hưng giáo Phạm Trăn, Quảng Từ Tuệ Tài, Tịnh Giác Nhân Nhạc, như đồ biểu sau đây: Cuộc bút chiến sôi nổi diễn ra giữa 2 phái, bắt đầu là ngài Ngộ Ân phái Sơn ngoại viết Phát huy kí cho rằng Quán tâm thích là do người đời sau thêm vào và chỉ giải thích Lược bản thôi. Môn đệ của ngài Ngộ Ân là các vị Nguyên Thanh, Hồng Mẫn nêu ra 20 câu hỏi và cũng theo chủ trương của ngài Ngộ ân, phủ định Quán tâm thích trong Quảng bản. Bấy giờ, có người thiện tín viết thư đến xin ngài Tứ minh Tri lễ soạn văn đáp lại 20 câu hỏi của các vị Nguyên thanh, Hồng mẫn. Do đó, ngài Tri lễ mới soạnPhù tông thích nạn chỉ trích 20 câu hỏi. Các vị đệ tử của ngài Nguyên thanh là Khánh chiêu và Trí viên cùng nhau soạn Biện ngoa để hỗ trợ Phát huy kí của thầy mình. Ngài Tri lễ lại viết Vấn nghi thư để vặn lại Biện ngoa, ngài Khánh chiêu cũng viết Đáp nghi thư để trả lời. Ngài Tri lễ lại viết Cật nạn thư, ngài Khánh chiêu thì soạn Ngũ nghĩa thư để trình bày thêm ý của mình, ngài Tri lễ lại viết Vấn nghi thư gạn hỏi, qua năm vẫn chưa nhận được thư đáp nên ngàiTri lễ lại gửiPhúc vấn thư để thúc dục, ngài Khánh chiêu liền soạn Thích nạn kí trả lời. Cứ như thế hỏi qua đáp lại 5 lần, suốt thời gian 7 năm. Năm Cảnh đức thứ 3 (1006), ngài Tri lễ tổng hợp văn nghĩa các luận văn qua lại giữa 2 bên trước sau 10 lần mà soạn thành Thậpnghĩathư. Năm sau, ngài Khánh chiêu cũng soạn Đáp thập nghĩa thư, để đối kháng, ngài Trilễ lại soạn Quán tâm nhị bách vấn để gạn hỏi. Hơn 10 năm sau, ngài Trí viên soạn Quang minh huyền biểu vi kí, lại dùng Tứ nạn phủ nhận Quán tâm thích trong Quảng bản. Năm sau, ngài Tri lễ soạn Quang minh huyền thập di kí, luận phá thuyết của ngài Trí viên. Từ khi ngài Ngộ Ân phủ nhận Quảng Bản cho đến khi ngài Tri Lễ Luận Phá Tứ Nạn, tổng cộng là 40 năm. Thời gian tranh cãi tuy có nhiều luận điểm, nhưng rốt cuộc thìchủ đề chính yếu vẫn là tranh luận về sự chân, vọng của cảnh giới quán tâm. Phái Sơn Gia chủ trương Vọng tâm quán, nghĩa là mục đích quán xét tâm là nhằm chuyển phàm tâm để thực hiện lí tâm, cho nên phải lấy tâm sát na sinh diệt hằng ngày làm đối tượng trực tiếp, chứ lí tâm chân tính vốn chẳng phải là cái có tính đối tượng, do đó, nó không là đối tượng để quán xét, mà chỉ có cái vọng tâm vô minh là đối tượng, vì chính vọng tâm này mới có thể quán xét diệu lí của 3 đế.Trái lại, phái Sơn ngoại thì chủ trương Chân tâm quán, nghĩa làđiểmcốt yếu của pháp tu quán là nương vào diệu giải để định diệu hạnh; diệu giải là hiểu rõ lí tam đế tam thiên viên dung, diệu hạnh là thực hành tam quán viên diệu. Nhờ diệu giải mà được diệu hạnh, tức không còn chân vọng khác nhau, cũng tức là nương vào diệu giải mà được lí tâm của thực tướng tam đế. Do đó, phải xem lí tâm này là đối tượng trực tiếp của quán pháp, lí tâm này (nhất tâm, nhất niệm) chẳng phải là nhất tâm của vọng tâm, vọng niệm, mà là cái tự tính linh tri, là cảnh giới bất khả tư nghị.Đứng trên quan điểm triết học mà nhận xét thì có thể nói sự tranh luận trên có thể được xem là cuộc tranh luận giữa Sơn gia thực tướng luận và Sơn ngoại duy tâm luận. Duy tâm luận của phái Sơn ngoại hiển nhiên đã bắt nguồn từ thuyết Tính cụ của tông Thiên thai, xích lại gần với lập trường tư tưởng Hoa nghiêm mà môi giới là luận Đại thừa khởi tín. Phái Sơn ngoại lấy luận Khởi tín làm tư tưởng Duy viên, phái Sơn gia thì lấy đó làm tư tưởng Biệt giáo và Viên giáo, cho nên trong Thập bất nhị môn chỉ yếu sao, ngài Tri lễ lập Hoa nghiêm làm Biệt giáo, chủ trương Biệt lí tùy duyên, bị phái Sơn ngoại phản đối.Ngoài ra, về vấn đề Lí tính độc hại nói trong Thỉnh quan âm kinh sớ của ngài Trí khải, giữa ngài Tri lễ và ngài Trí viên cũng có tranh luận. Ngài Trí viên soạn Xiển nghĩa sao, chủ trương lí độc phải tiêu phục, cho nên lí độc là có thể đoạn chớ không phải tính ác. Ngài Tri lễ liền soạn Thích tiêu độc tam dụng chương, Thập cửu, đề ra luận thuyết Lí độc tức tính ác nghĩa là tính ác có thể đoạn. Do đó mà biết ngài Trí viên chỉ đứng trên lập trường của Viên giáo mà lập luận, còn ngài Tri lễ thì đứng trên lập trường của Biệt giáo và Viên giáo mà lập thuyết. Về sau, đệ tử của ngài Khánh chiêu là Hàm nhuận soạn Tiêm nghi bài xích ngài Tri lễ, học trò ngài Tri lễ thì soạn Chỉ nghi để phản bác.Ngoài ra, về thuyết Sắc cụ tâm cụ nói trong Quán kinh sớ diệu tông sao, 2 phái cũng chủ trương khác nhau. Diệu tông sao là tác phẩm của ngài Tri lễ, trong đó tác giả chủ trương tâm pháp và sắc pháp là đồng thể, đều có đủ tam thiên, đều là tổng thể năng tạo năng cụ. Ngài Hàm nhuận thì soạn Chỉ hà phản đối thuyết của ngài Tri lễ, chủ trương tâm pháp và sắc pháp khác nhau, tâm pháp có đủ tam thiên, là tổng thể năng tạo năng cụ, nhưng sắc pháp thì không thế, mà chỉ là thể sở tạo sở cụ mà thôi. Ngài Tịnh giác liền soạn Quyết mô để bài xích ngài Hàm nhuận. Về hữu tướng vô tướng của tam thiên 2 phái cũng đều chấp 1 mối. Phái Sơn gia chủ trương lí sự nhất thể, bất luận là tam thiên lí tạo hay tam thiên sự tạo đều là hữu tướng, đồng thời có hiện tượng sai biệt. Phái Sơn ngoại thì cho rằng tam thiên lí cụ là bình đẳng vô tướng, còn tam thiên sự tạo mới là hữu tướng và có hiện tượng sai biệt. Từ những năm cuối đời Ngũ đại, phái Sơn gia gồm có các vị: Nghĩa tịch, Nghĩa thông, Đế quán, Tuân thức, Tri lễ, Tông dục, Thượng hiền, Bản như, Phạm trăn, Tuệ tài, Nhân nhạc... Còn phái Sơn ngoại thì gồm các vị: Chí nhân, Ngộ ân, Nguyên thanh, Trí viên, Khánh chiêu, Hàm nhuận, Kế tề... Nhưng đệ tử ngài Tri lễ là ngài Tịnh giác Nhân nhạc và pháp tôn (cháu nội trong đạo) của ngài là Thần trí Tòng nghĩa, về sau lại xung đột với ngài về quan điểm quán tâm quán Phật và từ bỏ pháp tọa của ngài mà ra sáng lập riêng thuyết mới, người đương thời gọi là Hậu sơn ngoại hay Tạp truyền phái. Để phân biệt với phái Hậu sơn ngoại này, phái Sơn ngoại của các ngài Nguyên thanh, Khánh chiên... nói trên được gọi là Tiền sơn ngoại. [X. Tứ minh thập nghĩa thư; Tứ minh tôn giả giáo hành lục Q.2, 3; Sơn gia tự dư tập Q.hạ; Thích môn chính thống Q.5; Phật tổ thống kỉ Q.8, 14; Thiên thai giáo học sử chương 4 (Tuệ nhạc); Tống đại Thiên thai giáo lí sử (Lí thế kiệt)]. (xt. Hậu Sơn Ngoại

sơn gia tự dư tập

(山家緒餘集) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Thiện nguyệt (?-1241) thuộc tông Thiên thai soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 101. Nội dung sách này gồm 2 thiên Giáo và Quán. TrongthiênGiáo gồm 31 luận đề, như Khai quyền thông luận, Thanh văn hóa nguyên, Vô lượng nghĩa kinh đồng dị thể luận, Tính ác nghĩa...Trong thiênQuán gồm có 8 luận đề, như Quán cảnh chân vọng luận, Tam thiên tổng biệt nghĩa, Thập chủng cảnh giới nghĩa... [X. Phật tổ thống kỉ Q.25]. (xt. SơnGia SơnNgoại).

sơn hiệu

(山號) Tên núi, thường được dùng để đặt cho tên chùa. Thời xưa,chùa việnphần nhiều được xây cất ở trong núi, vì thế thường lấy tên núi để đặt tên chùa. Cho mãi thời gần đây, dù chùa được xây dựng ở đồng bằng cũng vẫn thường phụ thêm tên núi, do đó, tên núi bèn trở thành tên riêng của ngôi chùa, như chùa Đông lâm ở Lô sơn thuộc Tầm dương, Giang châu, chùa Thê hà ở Nhiếp sơn, chùa Diệu thiện ở núi Cối kê, chùa Quốc thanh ở núi Thiên thai, chùa Đại hoa nghiêm ở núi Thanh lương, chùa Độ môn ở núi Đương Dương... đại khái đều lấy tên núi ở các nơi đó đặt trước tên chùa. Thời gần đây, ngôi chùa Luật tông nổi tiếng ở Trung Quốc là chùa Long Xương lại dùng tên núi Bảo Hoa – cũng là ngọn núi Trứ Danh – để gọi nên ít người biết đến tên chùa. Phật Quang Sơn ở Đài Loan cũng thuộc dạng này. Ngoài ra, ở Nhật bản thì chùa Diên Lịch ở núi Tỉ Duệ cũng chỉ gọi tên núi chứ không gọi tên chùa.

sơn hào

Writing brushes as numerous as mountains, or as the trees on the mountains, and ink as vast as the ocean. ; (山毫) Bút núi, ví dụ số nhiều vô lượng. PhẩmNhập pháp giới kinh Hoa nghiêm nói về số lượng rộng lớn của kinh,cho rằngdù có dùng nước của các đại dương để làm mực và gom góphết số bút nhiều như núi Tu di để biên chép kinh điển thì cũng không thể hết được. Hồng tự nghĩa (Đại 77, 406 hạ) nói: Bốn thân (Pháp thân, Báo thân, Ứng thân, Hóa thân) như mực đất; 3 mật (thân mật, khẩu mật,ýmật) như bút núi.

sơn hào hải vị

Những món ngon từ miền núi và miền biển—Succulent and fragrant dishes—Delicacies from the moutain and the sea.

sơn hình trụ trượng

(山形拄杖) Chỉ cho nguyên hình cây gậy được chặt từ trong núi mà không đẽo gọt gì thêm. Bích nham lục tắc 18 (Đại 48, 158 thượng) ghi: Ngài Tuyết đậu nói rằng: Cây gậy nguyên hình được chặt từ trong núi (...) dưới cây không bóng hội họp cùng thuyền.

Sơn hải chi công

(山海之功): công ơn to lớn như núi và biển của cha mẹ. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra, một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.” Trong bài tán dùng khi cúng lễ phát tang cũng có câu nói lên công đức trời biển của đấng sinh thành: “Hải đức thâm nan báo, sơn công đại mạc thù, linh tiền phi tố phục, ức niệm kỉ thời hưu (海德深難報、山功大莫酬、靈前披素服、憶念幾時休, đức biển sâu khó báo, công núi lớn sao đền, linh đài mang tang áo, thương nhớ bao giờ nguôi).”

sơn hải huệ tự tại thông vương như lai

See Sơn Hải Như Lai.

sơn hải không thị

Bốn nơi mà con người không thể tránh khỏi con mắt của vô thường hay sứ giả của tử thần—The four places which men cannot conceal from the eye of impermanence ( a messenger of death): 1) Sơn (núi): Mountain. 2) Hải (biển): Ocean. 3) Không (không trung): Sky or Space. 4) Thị (nơi chợ búa): Market place. ** Từ trên đây tóm tắc câu chuyện về bốn anh em cố dùng phép thần thông để trốn chạy tử thần bằng cách trốn lên non, xuống biển, vào hư không, và lẫn lộn vào nơi chợ búa. Người nơi chợ búa được báo cáo là chết trước nhất. Thế mới biết tu chợ là khó—This phrase sums up a story of four brothers who tried to use their miraculous power to escape death by hiding in the mountains, seas, sky, and market places. The one in the market place was the first to be reported as dead. It is so difficult to stay and cultivate in the market place. ; (山海空市) Núi, biển, hư không, giữa chợ. Từ ngữ này hình dung sự vô thường bức bách, khiến người ta không thể lẩn tránh. Bởi vì vô thường (cái chết) đối với loài hữu tình như bóng theo hình, sức mạnh của nó mau chóng như thác đổ, gió bão, điện xẹt, dù có trốn vào núi rừng, xuống đáy biển, lên hư không hay giữa chợ cũng không thoát, vẫn bị nó bức bách và theo đuổi bén gót. Cứ theo kinh Pháp cú thí dụ quyển 1, thời xưa có 4 anh em Phạm chí đều có thần thông, một hôm đoán biết sau 7 ngày đều sẽ bị chết, 4 người bàn nhau dùng sức thần thông để tránh tử thần. Sau đó, mỗi người tìm 1 nơi để trốn, người lặn xuống tận đáy biển, người chui vào trong lòng núi Tu di, người bay lên hư không và người ra giữa chỗ chợ đông đúc. Nhưng đúng 7 ngày sau, vô thường vụt đến, trong 4 Phạm chí không 1 ai thoát chết. [X. kinh Bà la môn tị tử]. (xt. Bà La Môn Tị Tử Kinh).

Sơn Hải Kinh

(山海經): điển tịch tối cổ của Trung Quốc, gồm 18 quyển, tương truyền do Vũ Vương (禹王) nhà Chu và triều thần của vua là Bá Ích (伯益) trước tác, nhưng đúng ra là do người đời sau viết ra. Nội dung bộ sách này gồm các ký thuật về những phương diện thần thoại, địa lý, động vật, thực vật, khoáng sản, tôn giáo, cổ sử, y dược, dân tục, dân tộc cổ đại, v.v. Đây cũng được xem như là bộ sách Địa Lý được viết dưới dạng không tưởng, cho nên trong phần ký thuật về các nước ven Trung Quốc, có rất nhiều ký sự kỳ quái. Trong đó có phần chú thích của Quách Phác (郭璞, 276-324) nhà Đường. Nguyên lai Sơn Hải Kinh có đồ hình, gọi là Sơn Hải Đồ Kinh (山海圖經), từ thời Ngụy, Tấn thì bị thất truyền.

sơn hải như lai

Sagara-varadhara-buddhi-vikridita-bhijna—Sơn Hải Tuệ (Huệ)—Tự Tại Thông Vương Như Lai—Theo Kinh Pháp Hoa, sau nầy A Nan Đà sẽ thành Phật hiệu là Sơn Hải Như Lai—According to the Lotus Sutra (in Anavanamita-vaijayanta), during the kalpa Manojna-sabdabhigarjita, this is the name under which Anada is to reappear as Buddha. ; (山海如來) Cũng gọi Sơn hải tuệ tự tại thông vương Như lai. Danh hiệu của ngài A nan trong vị lai khi thành Phật. Cứ theo phẩm Thụ học vô học nhân kí trong kinh Pháp hoa quyển 4 thì vô lượng kiếp về trước, đức Thế tôn và ngài A nan cùng phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề ở nơi đức Phật Không vương (Phạm: Dharmaganàbhyudgataràja). Vì ngài A nan thường ưa thích nghe nhiều và lấy đó làm bản nguyện hộ trì pháp tạng của đức Phật Thích ca và chư Phật đời vị lai, giáo hóa thành tựu các chúng Bồ tát, nên mới được thụ kí như vậy.

Sơn Khi Ám Trai

(山崎闇齋, Yamazaki Ansai, 1618-1682): Nho gia sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ; tên là Gia (嘉); tự Kính Nghĩa (敬義); thông xưng là Gia Hữu Vệ Môn (嘉右衛門); hiệu là Ám Trai (闇齋); Linh Xã hiệu là Thùy Gia Linh Xã (垂加靈社); xuất thân kinh đô Kyoto. Ông từng xuống tóc xuất gia ở Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji), rồi chuyển đến vùng Thổ Tá (土佐, Tosa, thuộc Kōchi-ken [高知縣]), theo học với Cốc Thời Trung (谷時中) về Chu Tử Học thuộc Nam Học Phái. Sau đó, ông hoàn tục, trở về kinh đô và khai giảng giữa chợ vào năm 1655 (Minh Lịch [明曆] nguyên niên). Ông được nhóm Bảo Khoa Chánh Chi (保科正之, Hoshina Masayuki), Phiên chủ của Phiên Hội Tân (會津藩, Aizu-han), đãi ngộ trọng dụng. Rồi ông theo học Thần Đạo với Cát Xuyên Duy Túc (吉川惟足, Yoshikawa Koretari), và khai sáng ra thuyết Thùy Gia Thần Đạo (垂加神道) mang tính Thần Nho Nhất Trí (神儒一致). Môn đệ của ông có đến 6.000 người, trong đó có những nhân vật kiệt xuất như Tá Đằng Trực Phương (佐藤直方), Chánh Thân Đinh Công Thông (正親町公通), v.v., hình thành nên Khi Môn Học Phái (崎門學派). Trước tác chủ yếu của ông có Văn Hội Bút Lục (文會筆錄), Thùy Gia Văn Tập (垂加文集), Y Thế Thần Cung Nghi Thức Tự (伊勢神宮儀式序), v.v.

Sơn Khoa

(山科, Yamashina): khu vực thộc phía Đông của Phố Kyoto, nơi ấy có lăng của Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇, Tenchi Tennō), Sơn Khoa Biệt Viện (山科別院), v.v.

sơn kì

(山琦) Phạn: Zànti. Thánh tích của Phật giáo nằm trên 1 giải đất gò cao gần vùng Belsa thuộc Bhopal, Trung Ấn Độ, nhờ có trụ đá do vua A Dục dựng và Đại tháp mà nổi tiếng khắp thế giới. Vùng đất này vốn tên là Kakanaya hoặc Kakanara, là con đường giao thông trọng yếu giữa miềnTrung Ấn Độ và nước Ujjayini (Ô xà diễn na) mà Đại sử gọi là Tháp sơn ở phía tây nam. Tên Sơn Kì (Sanchi) không biết được đặt từ thời nào, trong kinh Phật cũng chưa xác định rõ là đức Phật đã từng đến nơi này hoặc các vùng phụ cận hay không? Chỉ do chiều cao, kiểu cách của ngôi Đại tháp và hình dáng khám thờ Phật... phù hợp với lời ghi chép trong luật Ma ha tăng kì mà suy biết tòa tháp này đúng là kiểu tháp của Ấn độ đời xưa. Luật Ma ha tăng kì quyển 33 (Đại 22, 497 hạ) nói: Bấy giờ, đức Thế tôn tự dựng tháp Phật Ca diếp, nền tháp hình tròn, chung quanh có lan can bao bọc, 4 hướng có cửa ra vào, trên chóp tháp có lọng che biểu thị Luân tướng (tướng bánh xe). Phật dạy cách thức dựng tháp phải như thế. Khi chưa lên ngôi, vua A Dục từng giữ chức Tổng đốc ở Malwa và cưới 1 người con gái ở làng Vedisa (Thiện kiến luật tì bà sa quyển 2 gọi là thôn Ti đề tả), cách Sơn Kì chỉ vài dặm Anh, làm vợ. Về sau, Sơn kì trở thành 1 trung tâm Phật giáo quan trọng. Vào thế kỉ XI, nơi này bắt đầu đổ nát, mãi đến thế kỉ XVIII, XIX mới lần lượt được khai quật. Những văn vật cổ tích ở Sơn kì hiện còn gồm có: 1. Đại tháp:Nền hình tròn, đường kính hơn 36 mét, cao hơn 4 mét, thân tháp có hình dạng như cái bát úp, cao khoảng 12 mét, mặt bằng trên đỉnh tháp có đường kính hơn 10 mét, xung quanh có lớp lan can bằng đá bao bọc. Ở chính giữa mặt bằng vạch thành 16 ô vuông, trên đó dựng 1 cái khám thờ Phật bằng đá, hình vuông, cao 3,5 mét, trên nóc khám dựng cây lọng. Luân tướng cũ của Đại tháp đã đổ nát, gần đây, chính phủ Ấn Độ đã xây dựng lại. Chung quanh nền tháp có lan can bằng đá bao bọc, 4 hướng đều mở 1 cửa ra vào. Lan can cao 3,3 mét, niên đại kiến tạo muộn hơn Đại tháp. Bốn cửa đều được làm bằng đá màu vàng sậm. Trên đầu mỗi trụ đá hình vuông lớn ở 4 góc đều có hình tượng động vật hoặc thần Kim cương. Cửa Đông, cửa Bắc khắc hình voi chúa, cửa Tây là Lực sĩ Kim cương, cửa Nam là sư tử, chiều cao hơn 10 mét, trong đó, cửa Nam là xưa nhất, cửa Bắc được bảo toàn hoàn chỉnh hơn cả. Các cửa tháp đều có những bức khắc nổi liên quan đến Phật truyện, Bản sinh đàm là sự tích lễ bái cúng dường Phật. Những bức khắc nổi ở đây cùng với các bức tranh vách ở động đá Ajantà (A chiên đa) đều là tinh hoa của mỹ thuật Phật giáo Ấn độ. Vào thời vua A dục, Đại tháp được kiến tạo bằng đá và gạch, đến thế kỉ II trước Tây lịch từng được mở rộng thêm. 2. Tháp thờ di cốt: Cách Đại tháp về phía đông bắc khoảng 60 mét, có ngôi tháp thờ di cốt của ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, 2 vị đệ tử lớn củađức Phật, tháp có hình thức giống như Đại tháp và cũng rất nổi tiếng. Ngoài ra còn có các tháp nhỏ gần đó có xá lợi của các ngài Ca Diếp ba, Mạt thị ma... 3. Tháp số 2: Tháp này thờ di cốt của các vị Đại sư truyền giáo nổi tiếng trong đoàn truyền giáo của vua A dục. Những di cốt này do học giả Cunningham, người Anh, phát hiện và được đưa về đây. Tính cách quan trọng của tháp này là ở các bài văn khắc trên những hộp đá trắng đặt di cốt. Trên đó có ghi tên người và các sự tích có tính chính xác về các vị Đại sư truyền giáo do vua A Dục phái đi được nói đến trong các bộ Đại sử và Đảo sử. Do đó, giá trị sử liệu của 2 bộ sử trên rất được đề cao.4. Tháp số 4: Tháp nằm về phía đông bắc của tháp số 3, qui mô nhỏ hơn, là kiến trúc thuộc thời kì sau này, nhưng giữ gìn không được tốt. Gần đây đã được Chính phủ Ấn Độ sửa sang lại. 5. Trụ đá vua A Dục và các trụ đá khác: Trong số này, có 4 trụ tương đối quan trọng, xưa nhất là trụ đá vua A dục ở trước cửa Nam của Đại tháp, chiều cao khoảng 12 mét, được tạo nên bởi 1 khối đá hoàn chỉnh, nhưng nay chỉ còn đầu trụ và 1 phần thân, đầu sư tử của trụ đá thì còn được cất giữ trong viện bảo tàng. Còn 3 cây trụ kia thì là những kiến trúc thuộc cácVương triều Huân ca và Cấp đa, chiều cao đều kém xa trụ đá vua A Dục. 6. Chùa viện: Ở phía nam Đại tháp, có ngôi chùa được kiến tạo vào khoảng năm 650 Tây lịch, nay chỉ còn lại đầu cột của 9 cây cột rất lớn, 1 đoạn tường ngắn chỉ cao 1,2 mét, với mấy mảnh gạch ngói và bát vỡ. Chếch về phía đông Đại tháp 1 chút, có ngôi miếu nhỏ, được giữ gìn toàn vẹn, do các khối đá tạo thành, dọc hành lang trước điện, có 4 cây cột đá Làm trụ chống. Phía đông Đại tháp thì có một ngôi chùa được xây dựng vào khoảng thế kỉ IX, X Tây lịch, là kiến trúc muộn nhất ở Sơn kì và là di tích được xếp vào hàng thứ 45, phần lớn kiến trúc này đã sụp đổ. [X. Thế giới mỹthuật toàn tập Q.3, 5; The Bhilsa topes, by A unningham; Tree and Serpent Worship, by J. Fergusson; Modern India, by S.M. William; Ấn độ Phật giáo thánh tích giản giới (Phương chi)].

Sơn Lộc Tố Hành

(山鹿素行, Yamaga Sokō, 1622-1685): Nho gia và là nhà binh pháp học, Tổ của Phái Cổ Học; sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ; xuất thân vùng Hội Tân (會津, Aizu); tên là Cao Hựu (高祐), Nghĩa Củ (義矩); tự Tử Kính (子敬); thông xưng là Thậm Ngũ Hữu Vệ Môn (甚五右衛門); hiệu là Nhân Sơn (因山), Tố Hành (素行). Ông theo học Nho học với Lâm La Sơn (林羅山) và học về binh pháp học với Tiểu Phan Cảnh Hiến (小幡景憲, Obata Kagenori), Bắc Điều Thị Trường (北條氏長, Hōjō Ujinaga). Vì ông cho san hành bản Thánh Giáo Yếu Lục (聖敎要錄) với chủ trương phê phán Chu Tử Học và thay đổi theo tư tưởng của chư vị Thánh hiền cổ đại, vào năm 1666 (Khoan Văn [寛文] 6) thì bị lưu đày đến vùng Xích Tuệ (赤穗, Akō), Bá Ma (播磨, Harima). Đến năm 1675 (Diên Bảo [延寶] 3), ông được xá tội và trở về Giang Hộ. Ông là người thông hiểu về cổ điển cũng như Thần Đạo của Nhật Bản, đã lưu lại một số tác phẩm như Trung Triều Sự Thật (中朝事實) 2 quyển, Võ Gia Sự Kỷ (武家事紀) 58 quyển, v.v.

Sơn Môn

(山門): cửa núi. Các tự viện của Trung Quốc cũng như các nước Phật Giáo Đại Thừa phần lớn đều kiến lập trong núi; cho nên cổng lớn của chùa được gọi là Sơn Môn; tượng trưng cho cổng dẫn đến đường Bồ Đề, chuyển mê thành ngộ, rời ô nhiễm để nhập vào thanh tịnh, xa lìa khổ để chứng đắc an lạc. Thông thường Sơn Môn có một cổng hay 3 cổng; vì vậy có tên gọi là Bất Nhị Môn (不二門), hay Tam Môn (三門), thể hiện ba cánh cửa giải thoát, gồm: Không Môn (空門), Vô Tướng Môn (無相門) và Vô Tác Môn (無作門). Theo Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 20 có giải thích rằng: “Thí như thành hữu tam môn, nhất nhân thân bất đắc nhất thời tùng tam môn nhập; nhược nhập tắc tùng nhất môn; chư pháp thật tướng thị Niết Bàn thành, thành hữu tam môn: Không, Vô Tướng, Vô Tác (譬如城有三門、一人身不得一時從三門入、若入則從一門、諸法實相是涅槃城、城有三門、空、無相、無作, giống như thành có ba cổng, một thân người không thể cùng một lúc vào được ba cổng; nếu muốn vào thì phải vào một cổng; thật tướng của các pháp là thành Niết Bàn, thành ấy có ba cửa: Không, Vô Tướng, Vô Tác).” Hay như trong Lăng Nghiêm Kinh (楞嚴經) quyển 4 có câu: “Linh nhữ đản ư nhất môn thâm nhập, nhập nhất vô vọng, bỉ Lục Tri Căn nhất thời thanh tịnh (令汝但於一門深入、入一無妄、彼六知根一時清淨, khiến ngươi chỉ vào trong một cửa, vào rồi không sai lầm, sáu căn biết của người ấy nhất thời trong sạch).” Tánh quy nguyên vốn không có hai, và phương tiện thì có nhiều cửa để vào. Pháp môn tu hành của Phật Giáo có 84.000 loại khác nhau, tượng trưng cho vô số hình thức, phương pháp tu hành. Trong Phật Giáo Đại Thừa có rất nhiều hình thức cũng như cửa tu hành khác nhau, nhưng tựu trung nguyên tắc cũng như mục tiêu tu học thì giống nhau. Pháp môn vốn bình đẳng, không có cao thấp, sang hèn, tốt xấu, v.v. Như tại Thạch Đầu Tự (石頭寺), Hành Sơn (衡山), Tỉnh Hồ Nam (湖南省) có câu đối rằng: “Thạch kính hữu trần phong tự tảo, Sơn Môn vô tỏa nguyệt thường quan (石徑有塵風自掃、山門無鎖月常關, lối đá bụi trần gió tự quét, cửa Thiền chẳng khóa trăng thường soi).” Hay trong Tỉnh Am Pháp Sư Ngữ Lục (省庵法師語錄) quyển Hạ của Đại Sư Thật Hiền Tỉnh Am (實賢省庵, 1686-1734) có câu: “Tịnh Độ nhân hà độc chỉ Tây, yếu linh tâm niệm hữu quy thê, nhất môn nhập hậu môn môn nhập, sơ bộ mê thời bộ bộ mê (淨土因何獨指西、要令心念有歸栖、一門入後門門入、初步迷時步步迷, tịnh độ vì sao chỉ riêng Tây, cần khiến tâm niệm quay trở về, một cửa nhập rồi cửa cửa nhập, bước đầu mê lạc bước bước mê).” Trong thời công phu buổi khuya của Thiền môn có câu: “Thập Địa đốn siêu vô nan sự, Tam Môn thanh tịnh tuyệt phi ngu (十地頓超無難事、三門清淨絕非虞, Mười Địa siêu thăng không việc khó, Tam Môn thanh tịnh hết âu lo).”

sơn môn

Cửa chùa hay chùa chiền—The gate of a monastery—A monastery. ; (山門) I. Sơn Môn. Cũng gọi Tam môn. Chỉ cho cổng chính (cửa Tam quan) của các chùa viện. Vì chùa phần nhiều được xây cấtởchốn núi rừng nên có tên này. Thông thường Sơn môn có 3 cửa tượng trưng cho Tam giải thoát môn (Không môn, Vô tướng môn, Vô tác môn), cho nêncũng gọi là Tam môn. (xt. Tam Môn). II. Sơn Môn. Cũng gọi Sơn tự. Chỉ chung cho các chùa viện. Bởi vì các chùa viện thời xưa phần nhiều được kiến tạo trong núi rừng nên dùng Sơn Môn (cửa núi) làm tên khác của chùa viện. Nhưng đời sau, dù chùa viện được xây cất ở đồng bằng, nơi thị tứ, cũng vẫn gọi chung là Sơn Môn. Ngoài ra, toàn thể mọi người tu hành trong 1 ngôi chùa, từ vị Trụ trì trở xuống, cũng gọi chung là Sơn Môn. [X. môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên]. III. Sơn Môn. Chỉ cho phái Diên lịch tự ở núi Tỉ duệ thuộc phái Sơn Môn của tông Thiên Thai, Nhật bản,đối lại với phái Tự môn của chùa Viên thành ở Tam tỉnh.

sơn môn kị phật điện

(山門騎佛殿) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa đen là cổng chùa cỡi điện Phật. Nghĩa bóng là ngay cái thế giới sai biệt của hiện tượng giới là thực tướng bình đẳng, tức hàm ý tất cả đều thành Phật. Nhân thiên nhãn mục quyển 1 (Đại 48, 305 trung) nói: Hãy ở ngoài cửa giữ trọng trách làm thần Kim Cương, sơn môn cỡi điện Phật.

sơn môn la hán

(山門羅漢) Tượng 16 vị hoặc 500 vị La hán thờ trên lầu sơn môn để cầu các Ngài hộ trì sơn môn và làm cho chính pháp trụ lâu nơi thế gian.

sơn môn sớ

(山門疏) Bài văn sớ do vị Thư kí làm được đọc trong lễ khuyến thỉnh (chúc mừng) vị Tân trụ trì nhập tự viện trong Thiền tông. Văn sớ cung thỉnh các vị Trụ trì các sơn môn lân cận đến dự lễ, gọi là Chư sơn sớ; thiệp chúc mừng của các vị Trụ trì chùa viện các nơi gửi đến vị Tân trụ trì, gọi là Giang hồ sớ; bài biểu do đồng môn dâng lên chúc mừng Tân trụ trì, gọi là Đồng môn sớ. [X. Phật quang quốc sư ngữ lục Q.3; Thường quang quốc sư ngữ lục Q.hạ; môn Văn sớ trong Thiền lâm tượng khí tiên; điều Thỉnh tân trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.3].

sơn môn tam đại thiền sư

(山門三大禪師) Chỉ cho 3 vị: Đô Tự, Duy Na và Thị giả trong các Thiền viện. Từ Thiền sư ở đây chẳng phải là chức vị, mà chỉ được dùng để bày tỏ lòng tôn kính đối với các vị này. [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].

sơn môn tam đại thị giả

(山門三大侍者) Chỉ cho 3 vị thị giả lớn: Thị giả đốt hương, Thị giả thư kí vàThị giả thỉnh khách phụ távịTrụ trì trong mọi hoạt động trong chùa viện. [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Tam Môn Tam Đại Thị Giả).

sơn ngoại tông

Một nhánh của tông phái Thiên Thai được Ngộ Ân sáng lập khoảng năm 986 sau Tây Lịch, giảng cạn về tông phái. Sở dĩ gọi là “Sơn Ngoại” ví nó được phát triển trong những tự viện xa núi Thiên Thai. Thậm phái được phát triển ngay tại núi Thiên Thai nên được gọi là Tông Sơn Gia—A branch of the T'ien-T'ai school founded by Wu-En in around 986 A.D., giving the “shallower” interpretation of the teaching of this sect; called Shan-Wai because it was developed in temples away from the T'ien-T'ai mountain. The “profounder” sect was developed at T'ien-T'ai and is known as “the sect of the mountain family” or “home sect.” ** For more information, please see Sơn Gia.

sơn nhạc sùng bái

(山岳崇拜) Thần cách hóa núi cao để sùng bái. Tại Trung Quốc từ xưa đã có tín ngưỡng sơn thần, như truyền thuyết Sơn trung phương thất nhật, thế thượng sổ thiên niên (ở trong núi mới 7 ngày mà trên thế gian đã nghìn năm). Những chỗ mây phủ mịt mù trong núi sâu thường được xem là chỗ thần tiên cư trú. Truyện Tây nam di trong Hậu Hán thư cũng nói: Thần núi thần biển linh thiêng, chim thú lạ lùng. Những cuộc tế lễ lớn nhất ở Trung quốc đời xưa đều do Hoàng đế đích thân chủ trì, như cúng tế thần núi Thái Sơn. Ngoài ra, người Ấn Độ coi dãy núi Hỉ Mã Lạp Nhã là trung tâm của thế giới. Người Moses (Do thái) ở núi Si nại nhìn thấy Da hòa hoa (Jehowah: Thượng đế) hiện ra. Ở Nhật bản thời xưa cũng do tín ngưỡng sùng bái núi non kết hợp với Mật giáo mà đã sản sinh ra Tu nghiệm đạo, chủ trương người tu hành phải khổ tu trong rừng núi.

sơn pháp

(山法) Cũng gọi Sơn Qui. Chỉ cho những phép tắc, qui định riêng của mỗi chùa viện được đặt ra ngoài những thanh qui chung.

sơn phục

(山伏) Cũng gọi Sơn Ngọa, Tu Nghiệm giả, Nghiệm giả, Hành giả. Từ ngữ gọi vị hành giả thuộc phái Tu nghiệm đạo ở Nhật Bản. Phục Sơn có nghĩa là vào núi báu Pháp tính chân như, hàng phục vô minh phiền não. Là người ở trong núi hoang vắng, tu luyện khổ hạnh, được pháp thần nghiệm nhiệm mầu. Tùy theo trình độ tu hành mà Sơn phục có các cấp bậc khác nhau như: Đại tiên đạt, Chính tiên đạt, Tam tăng kì, Nhị tăng kì, Nhất tăng kì... Về mặt hình thức, Sơn phục có 2 hạng: Người để tóc có vợ con và tăng cạo tóc thanh tịnh.Người để tóc và cạo tóc khác nhau nên chia làm 3 loại: Pháp thân hình, Báo thân hình và Ứng thân hình. 1. Pháp thân hình(cũng gọi Hạ sơn phục): Chỉ cho Ưu bà tắc, hình thức bề ngoài giống người thế tục. 2. Báo thân hình (cũng gọi là Trích sơn phục): Người để tóc 1 tấc 8 phân. 3. Ứng thân hình (cũng gọi Thế sơn phục): Hình tướng Tỳ khưu cạo tóc. Từ thời đại Giang hộ về sau, phục sức, vật phẩm, khí cụ của hành giả Tu nghiệm đạo đều có qui định. Các đạo cụ được sử dụng chủ yếu có 12 loại: Khăn chít đầu,dù, áo pháp, kết ca sa, pháp loa (cái tù và), tràng hạt, gậy tích, trắp sách, hòm (rương), gậy kim cương, đồ trải để ngồi, mảnh vải quấn ống chân... (xt. Tu Nghiệm Đạo).

sơn thanh thủy tú

Fine scenery, lovely landscape.

sơn thuỷ bình phong

(山水屏風) Bức bình phong có vẽ cảnh non nước đặt ở phía sau tòa A xà lê khi cử hành nghi thức Quán đính hoặc tu pháp Cúng dường mạn đồ la trong Mật giáo. Bởi vì đàn tràng cử hành nghi thức Quán đính vốn được thiết lập trên bãi đất trống ngoài trời, đây là 1 định chế của Ấn Độ đời xưa, cho nên, đời sau, do không có điều kiện lập đàn tràng ngoài trời, giữa cảnh non nước thiên nhiên, người ta mới dùng bình phong có vẽ cảnh sơn thủy để tượng trưng. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật].

sơn thuỷ nạp

(山水衲) Y phục của Thiền tăng Trung quốc ở đời Tống, tức y phục có hoa văn được may bằng loại tơ lụa đắt tiền. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển hạ, phần 3 (Đại 40, 391 trung) nói: Thiền tăng thời nay phần nhiều mặc áo đơn trái với pháp phục, may bằng tơ lụa, có thêu hoa văn,gọi là Sơn thủy nạp, giá trị tới số nghìn.

sơn thế

Mountain world—Monasteries.

sơn thủy

Mountain and water.

sơn thủy nạp

Mountain and water robe. 1) Tên của một loại y mặc trong tu viện dưới thời nhà Tống: Name of a monastic garment during the Sung dynasty. 2) Về sau nầy từ nầy được dùng để chỉ những loại y thêu dệt màu mè: Later this was the name given to a richly embroidered dress.

sơn trang

House in the mountain.

sơn tăng

Hill monk. 1) Tăng lữ ở miền sơn dã xa rời sự sung túc của chùa chiền: A monk dwelling apart from monasteries. 2) Tăng lữ tự xưng hô một cách nhún nhường: A self-deprecatory term used by monks. ; (山僧) Chỉ cho các vị tăng ở trong núi. Về sau, các vị tu ở thôn làng cũng gọi là Sơn tăng. Sơn tăng trở thành từ tự xưng khiêm nhường và phần nhiều được các vị Thiền tăng sử dụng. Lâm tế thiền sư ngữ lục (Đại 47, 498 thượng) ghi: Lời sơn tăng nói khác với người trong thiên hạ. [X. Hoàng long Tuệ nam thiền sư ngữ lục; Đông Sơn Tuệ Không thiền sư ngữ lục].

sơn vương

Vua núi—ngôi vị cao nhất—The king of the mountains—The highest peak.

sơn vương quyền hiện

(山王權現) Cũng gọi Nhật cát quyền hiện, Sơn vương thất xã. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Từ gọi chung các vị thần hộ trì kinh Pháp Hoa của tông Thiên Thai ở núi Tỉ Duệ.Khi ngài Tối trừng khai sáng Tỉ duệ sơn, ngài khuyến thỉnh Tam luân đại thần làm thần trấn giữ. Về sau, vị thần này được thờ làm bản tôn của Sơn vương thần đạo. Những đạo tràng cúng tế Sơn vương quyền hiện gồm có: Đại cung, Nhị cung, Thánh chân tử, Bát vương tử, Khách nhân, Thập thiền sư và Tam cung, gọi là Thượng thất xã (7 xã bậc thượng); nếu thêm 7 xã bậc trung và 7 xã bậc hạ nữa thì thành 21 xã. Do chính sách tông giáo Thần và Phật tách rời nên Sơn vương quyền hiện bị phế bỏ mà đổi thành Nhật cát thần xã.

sơn ông đạo mân

(山翁道忞) (1596-1674) Cao tăng Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người ở Triều dương, Triều châu (Quảng đông), họ Lâm, tự Mộc trần, hiệu Sơn Ông. Thửa nhỏ, sư đã khác với những trẻ thường, lớn lên, sư đọc Đại tuệ thiền sư ngữ lục và có chí xuất gia. Sư tham yết ngài Nhã muội Trí minh ở chùa Khai tiên ở Khuông lư, rồi xuất gia. Sau, sư tham học Thiền sư Mật vân Viên ngộ 14 năm và được nối pháp của ngài. Sau đó, sư lần lượt trụ trì các chùa Linh phong, Vân môn, Quảng nhuận, Đại năng nhân, Vạn Thọ ở Chiết giang, chùa Pháp khánh ở Sơn đông và 2 lần chú tích núi Thiên Đồng. Năm Thuận trị 16 (1659) đời Thanh, sư vâng sắc cùng vấn đáp với học sĩ Vương hi ở điện Vạn thiện tại Bắc Kinh, được vua ban hiệu Hoằng Giác Thiền Sư. Năm Khang Hi 13 (1674), sư thị tịch, thọ 79 tuổi, pháp lạp 55. Sư có các tác phẩm: Ngữ lục 20 quyển, Tấu đối lục 3 quyển, Bắc du tập 6 quyển, Bố thủy đài văn tập 32 quyển. [X. Tục chỉ nguyệt lụcQ.19; Ngũ đăng toàn thư Q.66].

sơn đầu

(山頭) I. Sơn Đầu. Chỉ cho nghĩa trang, nơi chôn cất người chết.[X. điều Vong tăng bản trướng thức trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.7]. II. Sơn Đầu. Cũng gọi Hóa đàn. Chỉ cho đài Niết bàn, tức cái nền đặt quan tài. (xt. Hóa Đàn).

Upadryaya (skt)—Ô Ba Nễ. 1) Thầy: Teacher. 2) Nhà sư Phật giáo: Buddhist monk. ; (師) Phạn: Upàdhyàya, Zàstf. Pàli: Satthar hoặcSatthu. Hán âm: Ô ba nễ. Cũng gọi Sư trưởng, Sư tăng, Sư phụ, Sư gia. Từ gọi chung các bậc thầy đem đạo dạy người. Trong Luật tạng, Sư được chia làm 2 loại là Đắc giới sư và Thụ nghiệp sư. Thích thị yếu lãm thì nói 2 loại Thân giáo sư và Y chỉ sư. Hai loại sư trong Luật tạng chỉ cho bậc thầy độ người xuất gia, còn 2 loại sư trong Thích thị yếu lãm thì chỉ cho bậc thầy dạy người học Tam tạng. Cứ theo kinh Trường a hàm quyển 11 thì bậcSư trưởng đem 5 việc dạy đệ tử: 1. Thuận theo pháp mà răn dạy. 2. Dạy điều đệ tử chưa nghe. 3. Đệ tử hỏi điều gì đều phải giải thích nghĩa lí cho rõ ràng. 4. Xem đệ tử như người bạn tốt. 5. Truyền dạy cho đệ tử tất cả những chỗ mình hiểu biết, không xẻn tiếc. Còn theo Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển 15 thì vị Hòa thượng cần phải có 15 đức: 1. Phải hiểu biết về giới. 2. Phải giữ giới nghiêm túc. 3. Không phạm giới. 4. Phải hiểu biết rõ nghĩa lí của kinh. 5. Phải tự giữ mình. 6. Phải dạy kinh. 7. Phải răn dạy. 8. Phải dạy tu tâm, ý. 9. Nên dạy nhận lãnh vừa đủ. 10. Phải dạy phép tắc. 11. Cần tự có ẩn đức. 12. Thường dạy bảo tín đồ. 13. Không được có tâm che giấu. 14. Có người đem các thứ đến cúng dường, nên nói đều là các thứ của chúng tăng.15. Thăm người đau yếu phải đối xử bình đẳng. [X. Mục liên vấn giới luật trung ngũ bách khinh trọng sự; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.12; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng, phần 3].

sư bà

Old Buddhist nun.

sư bảo

(師保) Bậc sư trưởng che chở cho đệ tử, chỉ dạy cho họ tu hành các pháp lành để không bị đọa vào đường ác, nên gọi là Sư bảo. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.14; luận Đại trí độ Q.1].

sư bị

(師備) (835-908) Thiền sư Trung Quốc sống vào cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại, người huyện Mân, Phúc Châu, họ Tạ. Sư tinh khôn từ nhỏ, thích câu cá và dong thuyền đi chơi. Năm 30 tuổi, sư mới có chí thoát trần và lễ Thiền sư Linh huấn ở núi Phù dung cầu xuất gia. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư tu pháp Đầu đà, suốt ngày ngồi yên lặng, nên người đời gọi sư là Bị đầu đà. Sư thường gần gũi pháp huynh là ngài Tuyết Phong Nghĩa tồn như tình thầy trò, cùng nhau tu hành, người đến tham học rất đông. Một hôm, xem kinh Lăng Nghiêm, tâm địa của sư bừng sáng, người từ khắp nơi đến học đạo đông như ngày hội. Ban đầu, sư trụ ở viện Phổ ứng tại Mai khê, không bao lâu, sư dời đến núi Huyền Sa, tùy cơ tiếp hóa trên 30 năm, độ hơn 800 người. Bấy giờ có Mân soái là Vương thẩm tri hết lòng thờ kính sư, tâu vua ban cho sư áo đỏ và hiệu là Tông Nhất Đại Sư. Năm Khai bình thứ 2 (908) đời Hậu Lương, sư thị tịch, hưởng thọ 73 tuổi (có thuyết nói sư thọ 70 hoặc 75 tuổi). Sư có tác phẩm: Ngữ lục 3 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.13; Cảnh đức truyền đăng lục Q.18].

sư bồ

(樗蒲) Tên một trò chơi đánh bạc đời xưa. Vật này giống như hạt táo. Ném Sư bồ để vui chơi đỏ đen đại khái cũng giống như xoa hạt xúc xắc của người Trung Quốc. Luật Tứ phần quyển 19 (Đại 22, 692 hạ) nói: Thích tử Bạt nan đà vào thôn ngoài giờ qui định, cùng ném Sư bồ với các cư sĩ. Kinh Phạm Võng lục thập nhị kiến (Đại 1, 265 thượng) nói: Có người dị đạo, ăn của tín thí, thường ném Sư bồ. Suy đó thì có thể biết trò chơi Sư bồ đã thịnh hành ở Ấn độ từ rất sớm và bị đức Phật chế giới cấm.[X. Bồ tát giới nghĩa sớ sao Q.hạ;Loại tụ danh vật khảo Q.169].

sư chất

(師質) Tên 1 người Bà la môn ở nước Xá vệ vào thờiđức Phật tại thế. Ông này lo buồn vì không có con, nên đến nhờ Phật xem tướng. Đức Phật bảo là tướng ông ta sẽ có con. Ông vui mừng thỉnh Phật và các vị Tỳ khưu đến nhà để cúng dường. Khi Phật và các Tỳ khưu nhận sự cúng dường xong, trên đường trở về tinh xá, gặp 1 con vượn đến xin bát của ngài A Nan để đựng mật cúng dường Phật. Không bao lâu con vượn chết, liền sinh vào nhà ông Sư chất, tên là Ma đầu la thế chất, sau xuất gia và đắc đạo. [X. kinh Hiền ngu Q.12].

sư chủ

(師主) Cũng gọi Sư gia, Sư phụ. Chỉ cho vị thầy làm chủ răn dạy và là nơi nương tựa của đệ tử, cho nên gọi là Sư chủ. [X. Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ tì nại da Q.27].

sư cân

See Sư Huyền.

sư cô

A nun—A Buddhist nun (Bhiksuni)—See Tỳ Kheo Ni. ; (師姑) Vốn chỉ cho bậc Ni sư tuổi cao đức trọng. Từ đời Tống về sau, từ Sư cô được dùng dể chỉ chung cho các người nữ xuất gia.

sư gia

(師家) Chỉ cho bậc thầy có học vấn, đức hạnh, có khả năng hướng dẫn chúng tăng tu hành. Từ này cũng được dùng để gọi vị thầy tu Thiền. Trong Thiền tông Nhật Bản, người có đủ khả năng và tư cách làm thầy chúng tăng, nhưng phải được sư phụ của mình ấn khả, mới có thể trở thành bậc Sư gia.

sư giới

(師戒) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Vân ôn, sống vào đời Tống. Sư nối pháp ngài Song tuyền Sư khoan, trụ ở Long Tượng Hải Hội, núi Ngũ Tổ tại Kì châu (Hồ bắc), phát huy tông phong. Cứ theo Ngũ đăng toàn thư quyển 32 thì Thượng phương Tề nhạc kết bạn với ngài Tuyết đậu Trùng hiển đi du ngoạn Hoài Sơn, nghe tiếng sư hay trắc nghiệm người học, liền đến gạn hỏi sư. Sư hỏi (Vạn tục 140, 379 hạ): Thượng nhân tên gì? Đáp: Tề nhạc. Sư hỏi: Cái gì giống núi Thái Sơn? Tề nhạc không trả lời được, sư đánh đuổi ra. Hôm sau, Tề nhạc lại đến yết kiến. Sư hỏi: - Ông làm gì vậy? Tề nhạc xoay đầu làm thành 1 hình tròn trình sư. Sư bảo: - Đến treo cái lò sưởi này lên! Tề nhạc còn đang nghĩ ngợi, sư liền huơ gậy đuổi ra khỏi cửa. Vài ngày sau, Tề Nhạc lại đến chỗ sư, đưa tọa cụ lên nói: - Trải ra thì đại thiên sa giới, không trải thì mảy lông chẳng còn; như vậy thì nên trải hay không nên trải? Sư liền bước xuống giường, túm lấy Tề nhạc, nói: - Đã là người quen, tại sao phải như thế? Nhạc cũng ngậm miệng, sư liền đánh đuổi ra. Về già, sư trụ ở núi Đại Ngu tại Cao An (Giang tây), dựa cây gậy cười nói mà hóa.[X. Thiên thánh quảng đăng lục Q.21; Liên đăng hội yếu Q.27; Ngũ đăng hội nguyên Q.15].

Sư Hiệu

(師號, Shigō): còn gọi là Tứ Hiệu (賜號, danh hiệu được ban tặng), xưng hiệu do triều đình ban tặng cho chư vị cao tăng thạc đức, tỷ dụ như Đại Đức (大德), Quốc Sư (國師), Thiền Sư (禪師), v.v.

sư hiệu

(師號) Cũng gọi Tứ hiệu. Tên hiệu để gọi các bậc Sư tăng cao đức do vua ban tặng, như Đại sư, Quốc sư, Thiền sư...

sư huynh

(師兄) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho Pháp huynh, từ gọi chung những người xuất gia thụ giới trước mình. Môn Xưng Hô trong Thiền lâm tượng khí tiên trong quyển 5 nói: Cùng được một thầy dạy dỗ, người học trước ta gọi là Pháp huynh. [X. chương Thuyền tử đức thành trong tổ đường tập Q.5].

sư huyền

Ví như có người lấy gân sư tử làm dây đàn, một khi âm thanh gảy lên thì các loại đàn khác ắt phải im tiếng—A tiger's tendons as lute-strings, i.e. bodhi music silences all minor strings. ; (師弦) Dây đàn sư tử, tức dùng gân con sư tử làm dây đàn, khi gảy lên thì các loại đàn dây khác đều im bặt; dùng để ví dụ tâm bồ đề át hết những công đức nhỏ nhặt khác. [X. kinh Tân hoa nghiêm Q.78].

Sư hống

(獅吼): hay sư tử hống (獅子吼), là tiếng rống của con sư tử, tỷ dụ cho sự thuyết pháp của đức Phật hùng dũng như tiếng gầm của chúa tể sơn lâm làm chấn động cả vũ trụ, càn khôn. Như Thắng Man Kinh (s: Śrīmālā-siṁha-nāda-sūtra, 勝鬘經) còn có tên gọi khác là Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Kinh (勝鬘師子吼一乘大方便經), Sư Tử Hống Kinh (師子吼 經), Thắng Man Sư Tử Hống Kinh (勝鬘師子吼經), Sư Tử Hống Phương Quảng Kinh (師子吼方廣經), Thắng Man Đại Phương Tiện Phương Quảng Kinh (勝鬘大方便方廣經), v.v. Trong Duy Ma Cật Kinh (s: Vimalakīrti-nideśa, 維摩詰經), Phẩm Phật Quốc (佛國品) có đoạn: “Sư tử hống vô úy âm dã, phàm sở ngôn thuyết bất úy quần tà dị học, dụ sư tử hống chúng thú hạ chi (獅子吼無畏音也、凡所言說不畏群邪異學、諭獅子吼眾獸下之, tiếng rống của con sư tử là âm thanh không sợ hãi, phàm giáo thuyết của ngài nói ra đều không sợ giáo học khác của chúng tà đạo, giống như tiếng rống của con sư tử làm cho các loài thú đều phải thần phục).” Ngoài ra, sư tử hống còn được dùng để ví cho âm thanh chửi mắng người khác của người vợ hung dữ. Trong dân gian vẫn thường dùng từ “Hà Đông Sư Hống (河東獅吼, tiếng rống của con sư tử Hà Đông)”, vốn phát xuất từ trong Dung Trai Tùy Bút (容齋隨筆) quyển 3, phần Trần Quý Thường (陳季常) của Hồng Mại (洪邁, 1123-1202) nhà Tống. Dưới thời Bắc Tống có một văn nhân tên Trần Quý Thường, tự xưng là Long Kheo Cư Sĩ (龍丘先生), thường vui vẻ tiếp đãi khách quý, thích giao du với các kỹ nữ; tuy nhiên, vợ ông họ Liễu, là người rất hung dữ, thường hay la rầy chồng. Có hôm nọ, người bạn thân là Tô Đông Pha (蘇東坡) khiêu khích Quý Thường đi chơi xuân. Bà vợ sợ chồng mình đi chơi với hàng kỹ nữ nên không cho phép ông ra bước khỏi nhà; tuy nhiên, họ Trần bảo đảm và hứa hẹn là nếu có kỹ nữ thì sẽ chịu hình phạt thích đáng; nhờ vậy bà họ Liễu mới chấp thuận. Về sau, bà biết được chồng có ăn chơi với các kỹ nữ, nên phạt đánh đòn. Quý Thường sợ bị đánh, tha thiết cầu xin tha tội và chịu quỳ phạt bên bờ hồ. Tô Đông Pha ghé thăm, chứng kiến sự tình như vậy, cảm thấy sỉ nhục cho đấng đại trượng phu nam tử, bèn quở trách bà họ Liễu; từ đó cả hai bên bắt đầu cãi vả nhau. Cuối cùng, bà biết được sự việc Đông Pha đã dụ dỗ chồng chơi với các kỹ nữ, rồi lại còn đến can thiệp vào chuyện riêng của gia đình mình; cho nên, bà tức giận lớn tiếng đuổi ông ra khỏi nhà. Nhân sự việc này, Tô Đông Pha có làm bài thơ rằng: “Long Kheo Cư Sĩ diệc khả lân, đàm không thuyết hữu dạ bất miên, hốt văn Hà Đông sư tử hống, trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên (龍丘居士亦可憐、談空說有夜不眠、忽聞河東獅子吼、柱杖落手心茫然, Long Kheo Cư Sĩ cũng đáng thương, đàm không luận có suốt đêm trường, chợt nghe Hà Đông sư tử rống, gậy chống buông tay tâm hoảng liền).” Bà họ Liễu vốn người Hà Đông (河東), cho nên Hà Đông sư tử (河東獅子) được dùng để ví cho bà. Về sau, Uông Đình Nột (汪廷訥) nhà Minh soạn tác phẩm Sư Hống Ký (獅吼記) cũng dựa trên bài thơ của Tô Đông Pha. Câu “cách phàm thành Thánh, tốc đăng sư hống chi lâm (革凡成聖、速登獅吼之林)” có nghĩa là khi đã chuyển hóa phàm tâm thành bậc Thánh thì sẽ mau chóng được lên khu rừng có tiếng rống thuyết pháp của sư tử.

sư hội

(師會) (1102-1166) Cao tăng Trung Quốc, sống vào đời Tống, hiệu Khả Đường. Từ nhỏ sư đã nghiên cứu giáo chương Hoa nghiêm, không hề trễ nải. Đương thời sự học thịnh hành, các dị thuyết rối bời, học giả phần nhiều không biết chỗ qui thú, nên sư soạn sách Phần tân để cảnh giác người đời. Danh từ Phần tân (đốt củi) là lấy sự tích thu góp các kinh giả đem đốt ở Nam sơn để trở về với Chính pháp. Sư cũng đau xót trước sự suy đồi của tư tưởng Hoa nghiêm nên nghiên cứu cặn kẽ Khổng mục chương, Sưu huyền kí và Thám huyền kí, sư đặc biệt tinh thông Khổng mục chương, cùng suốt áo chỉ Lục tướng, Thập huyền. Về sau, vì cho rằng việc soạn thuật chẳng dễ, hoặc sợ làm cho người khác mê lầm, nên sư bỏ cầm bút rất lâu. Đến năm Càn đạo thứ 2, lúc đó đã 65 tuổi, sư mới bắt đầu soạn Ngũ giáo chương phục cổ kí để thỏa lòng mong muốn đã lâu. Nhưng khi soạn đến chương Đoạn hoặc phân tề thì sư lâm bệnh, an nhiên thị tịch, dạy đệ tử là Thiện hi tiếp tục công việc, thụy hiệu là Pháp Chân Đại Sư. Sư cùng với 3 vị: Đạo đình, Quan phục và Hi địch sau này được gọi chung là Tống Triều Hoa Nghiêm Tứ Đại Gia.Sư để lại các tác phẩm: Hoa nghiêm ngũ giáo chương phần tân 2 quyển, Hoa nghiêm ngũ giáo chương phục cổ kí 3 quyển, Hoa nghiêm dung hội nhất thừa nghĩa chương minh tông kí. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương phần tân Q.thượng; Chư tông chương sớ lục Q.2; Hoa nghiêm tông kinh luận chương sớ mục lục].

sư nương

Ni sư—A nun.

sư phụ

Master—Teacher.

sư thích

(師釋) Chỉ cho các trứ tác do các bậc sư gia đời sau soạn thuật, tức là các sách chú sớ, giải thích những kinh do đức Phật nói và những luận do các Bồ tát, La hán tạo.

sư trưởng

Elder master.

sư tôn

Học trò của học trò ai—Disciple of a disciple. ; (師孫) Từ gọi đệ tử của hàng đồ đệ, tức là Pháp tôn của thầy mình. Môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên nói: Đệ tử của đệ tử gọi là Sư tôn.

sư tăng

(師僧) Chỉ cho vị tăng có đức hạnh xứng đáng làm thầy người. Ngoài ra, Sư tăng cũng là từ tôn xưng chúng tăng. Hư đường hòa thượng ngữ lục quyển 1 (Đại 47, 988 trung) nói: Lại ngày trước có vị lão túc, suốt 9 tuần an cư chẳng vì Sư tăng thuyết pháp. Từ Sư tăng ở đây chỉ cho chúng tăng. Ngoài ra, trong Tùng Lâm, vị Thiền tăng có khả năng tự lập, tự gánh vác trách vụ của mình, thường được gọi là Sư tăng gia. Như Bích nham lục tắc 33 (Đại 48, 172 trung) ghi: Ngài Vân Môn nói: Này Thượng thư! Ông chớ nên sơ suất! Bậc sư tăng gia đã luyện hết 3 kinh 5 luận mà vào tùng lâm, trải 10 năm, 20 năm mà vẫn còn chưa được thì làm thế nào mà Thượng thư hiểu nổi?

Sư tư

(師資): ý là sư đệ, sư đồ, thầy trò. Sư (師) ở đây nghĩa là người, vị thầy dạy dỗ đồ đệ, học trò; tư (資) là tư tài do thầy dạy ban cho, cũng có nghĩa là đệ tử. Đối với nhà Phật, mối quan hệ thầy trò đóng vai trò vô cùng quan trọng. Thầy truyền trao pháp phái cho đệ tử, gọi là sư tư tương thừa (師資相承), huyết mạch (血脈). Theo Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ Kinh (尸迦羅越六方禮經, Taishō Vol. 1, No. 16) cho biết, đệ tử hầu thầy có 5 việc: (1) Phải kính cẩn, vui mừng; (2) Phải luôn nhớ ơn thầy; (3) Vâng theo lời thầy dạy; (4) Nghĩ nhớ không chán; (5) Phải đi theo sau khen ngợi thầy. Trong khi đó, thầy dạy đệ tử cũng có 5 điều: (1) Phải làm cho trò nhanh hiểu biết; (2) Phải làm cho trò hơn đệ tử người khác; (3) Muốn làm cho đệ tử không quên; (4) Các nghi vấn khó khăn đều phải giải thích rõ ràng; (5) Muốn khiến cho trí tuệ của đệ tử hơn thầy. Như trong Tuyết Phong Nghĩa Tồn Thiền Sư Ngữ Lục (雪峰義存禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1333) quyển 1, phần Khắc Tuyết Phong Ngữ Lục Duyên Khởi (刻雪峰語錄緣起), có đoạn: “Kiến đường trung hữu bảo tượng dữ Tam Môn điện vũ, hoảng như mộng trung sở kiến, nhân tất sư tư tương ngộ, thiên cổ do thông (見堂中有寶像與三門殿宇、恍如夢中所見、因悉師資相遇、千古猶通, thấy trong nhà có tượng báu và những ngôi điện vũ Tam Môn, mơ màng như thấy trong mộng, nhân đó thầy trò gặp nhau, thiên cổ được thông).”

sư tư

(師資) Chỉ cho thầy và trò. Sư là bậc thầy dạy dỗ đệ tử, Tư là những giáo pháp (tư liệu) mà thầy truyền trao cho đệ tử, đồng thời cũng có nghĩa là đệ tử. Trong Phật giáo, sự quan hệ giữa thầy và trò rất trọng yếu. Vị thầy trao truyền mệnh mạch giáo pháp cho đệ tử, gọi là Sư tư tương thừa, Huyết mạch. Cứ theo kinhThi ca la việt lục phương lễ thì đệ tử thờ thầy phải đủ 5 việc là: 1. Phải kính khen thầy. 2. Phải ghi nhớ ơn thầy. 3. Phải vâng theo những lời thầy dạy bảo.4. Luôn luôn nhớ nghĩ đến thầy. 5. Phải theo sau và tán thán thầy. Thầy dạy đệ tử cũng có 5 việc là: 1. Phải dạy cho chóng hiểu biết. 2. Phải dạy giỏi hơn đệ tử của người khác. 3. Muốn cho đệ tử nhớ biết mãi không quên. 4. Những điều khó khăn nghi ngờ của đệ tử đều phải giải nói cho hiểu biết. 5. Muốn cho trí tuệ của đệ tử được hơn thầy.Điều Sư tư chi đạo trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3 (Đại 54, 222 trung) nói: Phép thờ thầy được truyền dạy cho nhau ở bên Tây vực là: Đầu đêm, cuối đêm phải đến chỗ thầy ở. Thầy bảo đệ tử ngồi yên, sau đó, trong 3 tạng kinh điển tùy thời dạy trao, hoặc sự, hoặc lí không để luống qua. Thầy xét giới hạnh của đệ tử, không được để thiếu trái, biết đệ tử có phạm lỗi, phải dạy sám hối ngay. Về phần đệ tử thì có bổn phận xoa bóp thân thể cho thầy, gấp xếp xiêm áo, lau quét phòng thầy, xem trùng, lọc nước, các việc lớn nhỏ đều làm thay thầy. Đó là phép kính thờ thầy. Ngoài ra, trong Giáo giới tân học Tỳ khưu hành hộ luật nghi, ngài Đạo Tuyên nêu ra 51 điều về phép thờ thầy để làm khuôn phép thờ thầy cho hàng Tỳ khưu mới học. [X. kinh Thiện sinh trong Trường a hàm Q.11; bài Tựa luật Tứ phần; luận Lục môn giáo thụ tập định; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng, phần 3]. (xt. Huyết Mạch).

Sư Tư Huyết Mạch Truyện

(師資血脈傳, Shishikechimyakuden): tác phẩm của Thần Hội (神會), có ghi lời tựa của Độc Cô Phái (獨孤沛) trong Bồ Đề Đạt Ma Nam Tông Định Thị Phi Luận (菩提達摩南宗定是非論). Nó tương đương với truyền ký của 6 đời từ Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma (菩提達磨) cho đến Lục Tổ Huệ Năng (慧能) của thư tịch Đôn Hoàng bản Thần Hội Ngữ Lục (神會語錄). Ngoài ra, nó còn là tên gọi khác của Lịch Đại Pháp Bảo Ký (歷代法寳記). Trong phần chú giải đầu quyển của Lịch Đại Pháp Bảo Ký có đoạn rằng: “diệc danh Sư Tư Huyết Mạch Truyện, diệc danh Định Thị Phi Tồi Tà Hiển Chánh Phá Hoại Nhất Thiết Tâm Truyện, diệc danh Tối Thượng Thừa Đốn Ngộ Pháp Môn (亦名師資血脈傳、亦名定是非摧邪顯正破壞一切心傳、亦名最上乘頓悟法門沛, cũng có tên là Sư Tư Huyết Mạch Truyện, cũng có tên là Định Thị Phi Tồi Tà Hiển Chánh Phá Hoại Nhất Thiết Tâm Truyện, và cũng có tên là Tối Thượng Thừa Đốn Ngộ Pháp Môn).”

sư tư thất tổ phương tiện ngũ môn

(師資七祖方便五門) Tác phẩm, 1 quyển, phụ đề là: Trích cú trừu tâm lục chi như tả. Đây là quyển sách viết tay hình lá bối, tìm thấy ở Đôn Hoàng, do 1 người Nhật bản là Thốc thị Hựu tường cất giữ. Các học giả cho rằng sách này nêu lên tinh hoa yếu chỉ của bộ Lăng già sư tư kí và bộ Đốn ngộ chân tông kim cương bát nhã đạt bỉ ngạn yếu trạch. Ngoài ra, những văn hiến phát hiện ở Đôn hoàng tương quan với Đốn ngộ chân tông kim cương bát nhã đạt bỉ ngạn yếu trạch và Đại thừa khai tâm hiển tính đốn ngộ chân tông luận... đều là những tư liệu thuộc hệ thống Thiền Bắc tông. [X. Thiền tư tưởng sử nghiên cứu2].

sư tượng

(師匠) Thầy thợ. Bậc sư trưởng dạy dỗ đệ tử thành tựu giới, định, tuệ, như người thợ giỏi làm thành các đồ hữu dụng, cho nên ví dụ sư trưởng như người thợ (tượng). Kinh Đại Bảo Tích quyển112 (Đại 11, 638 trung) nói: Thành tựu được vô lượng nghiệp phúc đức, thiền định, khéo điều hòa tâm thường trong trạng thái vắng lặng, đó là sư tượng. Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da quyển 40 cũng nói (Đại 23, 845 hạ): Các ông nên tìm bậc sư tượng tốt nhất.

sư tổ

Thầy của thầy ai—The teacher of one's teacher. ; (師祖) I. Sư Tổ. Cũng gọi Sư ông. Chỉ cho sư phụ của thầy mình (tức ông nội của thế tục). Thiền lâm bảo huấn quyển 1 (Đại 48, 1019 thượng) ghi: Ngài Diễn tổ nói: (...) Người nắm giữ công việc trong sơn môn, phải hiểu biết nhân quả, như sư ông giúp sư tổ Từ Minh vậy!. II. Sư Tổ (?-?). Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, thuộc hệ thống ngài Nam nhạc, là đệ tử nối pháp của ngài Nam Tuyền Phổ Nguyện. Sau, sư trụ ở chùa Vân tế tại Nam Sơn. [X.Cảnh đức truyền đăng lục Q.10; Ngũ đăng hội nguyên Q.4].

sư tử

Simha (skt). 1) Sư tử là vua của loài thú: Loài sư tử trong các loài 4 chân, nó không sợ loài nào, mà ngược lại có khả năng hàng phục tất cả các loài—A lion, the king of animals. 2) Đức Phật cũng giống như loài sư tử vì đức vô úy của Ngài: The Buddha, likened to the lion, king of animals, in respect of his fearlessness. ; (師子) I. Sư Tử. Phạn: Siôha. Pàli: Sìha. Sư tử là chúa của trăm loài thú, cho nên trong các kinh, luận nó thường được dùng để ví dụ cho đức vô úy và tính vĩ đại của đức Phật. Lại như tòa ngồi của Phật gọi là tòa Sư tử, Phật nói pháp gọi là Sư tử hống. II. Sư Tử (?-259). Phạn, Pàli: Siôha. Cũng gọi Sư tử Tỳ khưu, Sư tử bồ đề. Vị Tổ thứ 24 trong 28 vị Tổ truyền thừa của hệ phổ Thiền tông Ấn Độ. Ngài là người Trung Ấn Độ, xuất thân từ dòng Bà la môn. Sau khi được Tổ Hạc lặc na truyền pháp cho, ngài đến nước Kế tân, giáo hóa các vị Ba lợi ca, Đạt ma đạt..., đồng thời, truyền pháp cho Bà xá tư đa và sai vị này qua Nam Thiên trúc giáo hóa, còn ngài một mình ở lại nước Kế tân. Bấy giờ gặp lúc nhà vua xứ ấy bách hại Phật giáo, ngài bị ác vương giết chết vào năm 259. [X. Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.6; Cảnh đức truyền đăng lục Q.2; Bảo lâm truyện Q.5].

Sư Tử Bồ-đề

獅子菩提; S: siṃhabodhi;|Tổ thứ 24 của Thiền tông Ấn Ðộ.

sư tử du hí tam muội

(師子游戲三昧) Phạn: Siôha-vikrìđita-samàdhi. Một trong 8 loại tam muội. Như sư tử vờn bắt hươu nai, tự tại đùa giỡn, đức Phật cũng vàoTam muội này, xoay chuyển cõi đất, làm cho đại địa rúng động, thế nên gọi là Sư tử du hí tam muội. Sư tử một mình đứng giữa trăm loài thú mà không sợ, đức Phật làbậcsư tử trong loài người, hàng phục các ngoại đạo mà không khiếp sợ. Ngài nương vào sức Tam muội này làm cho hết thảy chúng sinh trong đường ác địa ngục đều được giải thoát mà sinh lên cõi trời. [X. phẩm Tựa kinh Đại phẩm bát nhã Q.1, 5; luận Đại trí độ Q.8, 47].

sư tử du hý tam muội

Sư Tử Du Hý Tam Muội được ví với sự vui thú tự tại của sư tử giởn mồi làm chấn động các loài thú. Khi Đức Phật nhập vào Tam Muội nầy thì cả địa cầu chấn động, hào quang chiếu khắp các chúng sanh trong cõi địa ngục khiến họ được giải thoát mà sanh về cõi nhân Thiên—The joyous samadhi which is likened to the play of the lion with his prey. When the Buddha enters this degree of samadhi he causes the earth to tremble, and the purgatories to give up their unmates.

sư tử giác

(師子覺) Phạn: Buddhasiôha. Hán âm: Phật đà tăng ha. Cao tăng Ấn Độ, đệ tử của bồ tát Vô trước, thông suốt mật hạnh, nổi tiếng ở đời. Ngài có soạn chú sớ bộ Đại thừa A tì đạt ma tạp tập luận của bồ tát Vô trước. Theo điều A du đà quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 5 thì cả 3 ngài Sư tử giác, Vô trước và Thế thân từng nói với nhau (Đại 51, 896 hạ): Chúng ta tu hành mục đích mong được hầu cận đức Từ thị (Di lặc), nếu ai xả bỏ thân này trước, được toại nguyện xưa, thì nên báo tin cho nhau biết có được sinh về Đâu suất hay không? Về sau, ngài Sư tử giác tịch trước, nhưng đã 3 năm mà vẫn chưa thấy ngài về báo tin. Rồi tiếp theo,bồ tát Thế thân cũng tịch, nhưng 6 tháng đã trôi qua mà vẫn không thấy tin tức gì. Bấy giờ, các phái ngoại đạo đều chê cười họ, cho rằng các ngài Sư tử giác và Thế thân đã trôi lăn trong đường ác rồi, cho nên không linh hiển. Sau, vào lúc đầu đêm, bồ tát Vô trước đang dạy đệ tử phương pháp thiền định, thì cómột người cõi trời từ hư không đi xuống, bảo ngài Vô trước: Từ khi tôi bỏ thân mệnh được thác sinh từ hoa sen ra và ở trong chúng của đức Từ thị trên cõi trời Đổ sử đa, (...) Tôi vừa đi quanhđược1 vòng,liền trở lại đây báo tin cho ngài biết. Lại nói thêm: Khi tôi đi quanh thì thấy Sư tử giác ở trong số người bên ngoài đang tham đắm dục lạc, không còn rảnh rỗi để nhìn nhau, thì làm sao có thể trở về báo tin?.Cứ đó mà suy ra thì biết ngài Sư tử giác dù học vấn uyên bác nhưng chưa được hưởng ngôi cao. [X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.4].

sư tử giáp vương

Simhahanu (skt)—Ông nội của Đức Phật Thích Ca, vị chúa thành Ca Tỳ La Vệ, cha của Tịnh Phạn Vương, Hộc Phạn Vương…,—The paternal grandfather of sakyamuni, a king of Kapilavastu, father of Suddhodana, Suklodana, Dronodana, and Amrtodana. ; (師子頰王) Sư tử giáp, Phạn: Siôhahanu. Pàli: Sìha-hanu. Vua nước Ca tì la vệ, Ấn độ, ông nội Thái tử Tất đạt đa. Vua Sư tử giáp có 4 người con là Tịnh phạn, Bạch phạn, Hộc phạn và Cam lộ phạn. Vua Tịnh phạn là con lớn của vua Sư tử giáp và là thân phụ của Phật Thích Ca Mâu Ni. Nhưng, theo chương 3 trong Đảo sử thì vua Sư Tử Giáp có 5 người con. [X. kinh Khởi thế Q.10; luật Ngũ phần Q.15; luận Đại trí độ Q.3; luận Chương sở tri Q.thượng].

sư tử hiền

(師子賢) Phạn: Haribhadra. Cao tăng Ấn độ, sống vào giữa thế kỉ thứ VIII, xuất thân từ giai cấp Sát đế lợi Sư xuất gia vào đời vua Đức ngõa ba lạp (Phạn: Devapàla), học rộng cả nội điển và ngoại điển, đặc biệt tinh thông Bát nhã. Sư từng theo ngài Duy lô tả nẵng phạ đa lạp (Phạn: Vairocanabhadra) học tập pháp sám hối của đức Di lặc. Một hôm, sư bỗng nằm mộng thấy 1 vị tăng khuyên sư đến xứ Ca sa lộ ba nạp (Phạn: Khasarpaịa); sau khi tỉnh dậy, sư nhịn ăn trong 3 ngày để suy xét về việc trong giấc mộng. Sau, sư lại mộng thấy mình ở trong chùa Áo đan tháp phổ lợi (Phạn: Odantapuri), lúc ấy có vị thần, chỉ hiện nửa thân phía trên, đứng trong áng mây, cúi mình lễ bái sư, sư hỏi lí do vì sao lễ bái, vị thần nói với sư là mình đang lễ bái đức Di lặc giải nói 8 nghìn bài tụng Bát Nhã (Phạn: Awỉsàhasrikà). Không bao lâu, sư mộng thấy đức Di Lặc, toàn thân màu vàng ròng, trên đầu có Chi đề (tháp không có xá lợi), tay kết ấn Thuyết pháp, sư đính lễ thưa hỏi: Trong đa số các sách chú giải bộ luận Hiện quán trang nghiêm (Phạn: Abhisamayàlaôkara) do đức Di Lặc trứ tác thì nên lấy bản nào làm tiêu chuẩn? Đức Di Lặc liền bảo: Đợi sau khi ông đã lãnh hội toàn bộ các sách chú giải ấy, rồi từ trong đó, ông lại viết ra bộ sách chú giải khác. Do nhân duyên này nên sau khi tỉnh mộng, sư mới ra sức tìm xem và soạn thuật. Danh tiếng sư lúc bấy giờ được vua Mã Hi Ba Lạp (Phạn: Mahìpàla) trọng vọng, nhà vua triệu thỉnh sư đến đô thành để chuyên việc trứ tác. Sư soạn rất nhiều chú sớ, nổi tiếng hơn cả thì có các bộ: - Vimuktasena chú. -Paĩcaviôzàhasrikà-prajĩà pàramità chú (chú thích 25.000 bài tụng Bát nhã) -Awỉasàhasrikà-prajĩàpàramitàvyàkhyà, Abhisamayàlaôkàsàloka (Hiệnquán trang nghiêm minh chú thích 8 nghìn bài tụng Bát nhã). - Bhagavad-ratnaguịasaĩcaya-gàthà nàmapaĩjika (Bạc già phạm công đức bảo tập tụng nam ngữ thích). - Vibhakti-karikà (Chuyển thanh tụng)... Các tác phẩm trên hiện còn trong Đan châu nhĩ của Đại tạng kinh Tây tạng. [X. Pag Sam Jon Zang by Zrì Sarat Chandra Das; Geschichte des Buddhismus in Indien by F. A. Schiefner; History of Buddhism by Buston, by E. Obermiller].

sư tử hương bồ tát

(師子香菩薩) Sư tử hương, Phạn: Siôha-gandha. Tên của đức Phật A di đà (con trai thứ 7 của vuaVô tránh niệm) khi Ngài tu hành đạo Bồ tát ở đời quá khứ. Vị Bồ tát này và Bồ tát Quán Thế Âm đã cùng phát nguyện dưới tòa đức Bảo tạng Như Lai mà được thụ kí thành Phật. Kinh Bi Hoa quyển 4 (Đại 3, 191 trung) nói: Những điều ông nguyện cầu đã được thành tựu, từ trên trời, các loại hương vi diệu đã được rắc xuống và có vô số chúng sinh cung kính chắp tay phát tâm Vô thượng chính đẳng chánh giác, bởi thế nên tên ông là Sư Tử Hương. Kinh trên còn ghi: Bồ tát Sư Tử Hương phát 40 điều nguyện, trong đó, ý nghĩa của điều nguyện thứ 38 gần giống với ý nghĩa của các điều nguyện 17 và 18 trong kinh Vô lượng thọ. [X. kinh Đại thừa bi phân đà lợi Q.3; kinh Văn Thù Sư Lợi Phật độ nghiêm tịnh Q.thượng, hạ].

sư tử hống

Khi Phật thuyết pháp, bọn ma khiếp phục, ý dụ cho sư tử rống thì bách thú đều phục vậy. ; Simhanada (skt). (A) Đức Phật trong đại chúng nói điều quyết định mà không sợ hãi—The lion's roar, a term designating authoritative or powerful preaching. (B) Sư Tử Hống có bốn tác dụng—A lion's roar has four functions: 1) Làm cho cân não của các giống thú tê liệt: A lion'' roar makes all animals tremble. 2) Hàng phục loài voi: A lion's roar subdues elephants. 3) Làm cho chim sa: A lion's roar arrests birds in their flight. 4) Làm cho cá lặn: A lion's roar makes fishes sunk deeply in the water. (C) Tiếng Phật và Bồ Tát thuyết pháp cũng có bốn tác dụng—Buddha's or Bodhisattva's preaching also has four functions: 1) Đánh đổ mọi giáo thuyết khác: Overthrows all other religions or religious theories. 2) Hàng phục thiên ma: Subdues devils. 3) Đánh bạt tà đạo: Conquers heretics. 4) Thâu phục và đoạn diệt mọi phiền não: Arrest the misery of life. ; (師子吼) Phạn: Siôhanàda. Tiếng rống (kêu) của sư tử. Đức Phật dùng âm thanh vô úy để thuyết pháp như tiếng rống của sư tử. Sư tử là vua của trăm loài thú, đức Phật cũng là bậc chí tôn trong loài người, gọi là Nhân trung sư tử, cho nên tiếng thuyết pháp của Phật được ví với tiếng rống của sư tử. Khi đức Phật thuyết pháp, các Bồ tát khởi tâm dũng mãnh cầu đạobồ đề, do đó màngoại đạovà ác masợ hãi; cũng như khi sư tử cất tiếngkêurống thì những con sư tử nhỏ cũng tăng thêm uy lực, khiến trăm thú sợ hãi, nép phục. Về ngữ nghĩa của nhóm từ Sư tử hống thì Thắng nam bảo quật quyển thượng, phần đầu, nêu ra 3 ý: 1. Như thuyết tu hành: Lời nói phải đi đôi với việc tu hành, chứ không nói suông, hoặc nói 1 đường làm1nẻo. 2. Vô úy thuyết: Phu nhân Thắng man tự đứng trước đức Phật, dùng biện tài tuyên dương diệu pháp giữa đại chúng mà không sợ sệt. Trong đây lại chia làm 2: a) Không sợ người: Có khả năng hơn người nên lên pháp tòa hoằng đạo 1 cách tự tin vững chắc. b) Làm người sợ: Khiến cho ngoại đạo kinh thẹn, thiên ma khiếp đảm. 3. Quyết định thuyết: Nương vào lí tột cùng mà nói pháp cứu cánh, trên hoằng đại đạo, dưới lợi quần sinh, dẹp tà, hiển chính. Ngoài ra,Duy ma cật sở thuyết kinh chú quyển 1, Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 18, luận Đại trí độ quyển 25... cũng đều nêu ra nhiều cách giải thích về từ ngữ Sư tử hống. Trong đó, luận Đại trí độ quyển 25 có nêu ra sự sai khác giữa Phật sư tử hống và Sư tử hống. Tức Sư tử hống hay làm cho các loài thú kinh sợ, giống như sự đau khổ lúc hấp hối sắp chết, còn Phật sư tử hốngthìchẳng những không sợ như sợ chết mà còn làm cho người nghe sinh tâm vui mừng. Lại kinh Hoa Nghiêm quyển 57 (bản dịch mới) nêu ra 10 thứ Sư tử hống và kinh Niết bàn quyển 27 (bản Bắc) cũng nêu ra 11 việc liên quan đến Sư tử hống. Đời sau thường trích dẫn từ ngữ Sư tử hống trong kinh điển Phật để hình dung sự vâng giữ chính nghĩa, bài trừ dị đoan, giữa đám đông lớn tiếng cổ vũ lòng khảng khái. Hoặc dùng để ví dụ tiếng hung ác của người vợ dữ tợn thốt ra khiến người nghe run sợ; như thơ của Tô đông pha đời Tống, chế diễu Trần Quí thường bị vợ là Liễu thị hay ghen: Hốt văn Hà đông sư tử hống Trụ trượng lạc thủ tâm mang mang. (Bỗng nghe sư tử Hà đông rống. Tay run gậy rớt lòng sợ hãi). [X. kinh Sư tử hống trong Trung a hàm Q.26; kinh A Nâu Di trong Trường A Hàm Q.11; kinh Vô lượng thọ Q.thượng; chương Nhất thừa kinh Thắng Man].

sư tử khải

Harivarman (skt)—Cha đẻ của thuyết Thành Thực Luận—To whom the Satyasiddhi sastra is ascribed.

sư tử ngoạ pháp

(師子臥法) Cách nằm của Sư tử. Đồng nghĩa: Cát tường ngọa, Cát tường thụy.Phép nằm của Tỳ khưu giống như cách nằm của sư tử, tức là nằm nghiêng hông bên phải và 2 chân chồng lên nhau. Kinh Thị Giả trong Trung A Hàm quyển 8 (Đại 1, 473 hạ) nói: A nan! Ông nên nằm như cách nằm của sư tử. (...) Sư tử là chúa các loại thú, ban ngày đi kiếm ăn, ăn rồi vào hang. Lúc sư tử muốn ngủ thì nằm hông bên phải, chân trước chân sau đều chồng lên nhau,đuôi duỗi thẳng ra phía sau.[X. Bách trượng qui thằng tụng trong Thiền uyển thanh qui Q.10].

sư tử nhũ

(師子乳) Sữa của Sư tử. Ví dụ tâm bồ đề. Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm quyển 78 (Đại 10, 432 hạ) nói: Ví như người đem các loài sữa của bò, dê... chứa đầy cả biển lớn, nhưng chỉ cần nhỏ vào đó 1 giọt sữa sư tử rơi thẳng qua mà không bị ngăn ngại. Bậc Đại bồ tát cũng lại như thế, đem sữa tâm bồ đề của Như lai Sư tử bỏ vào giữa biển lớn sữa nghiệp phiền não từ vô lượng kiếp thì sữa nghiệp kia đều tan diệt hết, sữa tâm bồ đề thẳng suốt qua mà không bị ngăn ngại.

sư tử nhủ

Sữa sư tử, giống như sự giác ngộ bồ đề, có khả năng triệt tiêu nghiệp của vạn ức kiếp, chỉ cần một giọt sữa sư tử có thể làm mất hết mùi vị của tất cả các loại sữa khác—Lion's milk, like bodhi-enlightenment, which is able to annihilate countless ages of the karma of affliction, just as one drop of lion's milk can disintegrate an ocean of ordinary milk.

sư tử pháp môn

(師子法門) Chỉ cho pháp môn của chư Phật Bồ tát giáo hóa chúng sinh. Phẩm thứ 11 trong kinh Niết bàn (bản Bắc) có liệt kê 11 việc liên quan đến Sư tử hống, rồi phối hợp 11 việc ấy với các pháp môn của Bồ tát. Luận Đại Trí Độ, khi nói về hình tướng uy thế của sư tử chúa, cũng lần lượt đem phối với các công đức của chư Phật. Còn kinh Bảo Vũ quyển 5 thì nêu ra 10 thứ thiện pháp của Bồ tát, rồi lần lượt đem ra ví dụ với Sư tử vương.

sư tử phấn tấn

Khí thế của con sư tử dũng mãnh được dùng để ví với sự uy mãnh của chư Phật—The lion aroused to anger, i.e. the Buddha's power of arousing awe. ; (師子奮迅) Sư tử chồm lên nhanh chóng. Khi sư tử lấy sức chồm lên thì các căn của nó đều giãn ra và mở rộng, lông trên mình đều dựng đứng, uy thế mạnh mẽ nhanh nhẹn, cất tiếng gầm thét thìcác loài thú khác đều hoảng sợ và chạy trốn, làm cho uy thế củanhữngsư tử con cũng tăng thêm. Bởi vậy,trong các kinh thường dùng Sư tử phấn tấn để dụ cho sức uy thần lớn của Phật. [X. phẩm Dũng xuất trong kinh Pháp Hoa; phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa Nghiêm Q.45 (bản dịch cũ); Hoa Nghiêm kinh thám huyền kí Q.18]. (xt. Sư Tử Phấn Tấn Tam Muội).

sư tử phấn tấn tam muội

(師子奮迅三昧) Phạn: Siôha-vijfmbhita-samàdhi. Cũng gọi Sư tử uy tam muội, Sư tử tần thân tam muội. Gọi tắt: Phấn Tấn Tam Muội. Loại thiền định có uy lực lớn, giống như sức mạnh mẽ, nhanh nhẹn của sư tử, cho nên gọi là Sư Tử Phấn Tấn Tam Muội. Theo Hoa Nghiêm kinh pháp giới thứ đệ quyển trung thì Tam muội này có thể chia làm 2 loại: 1. Dứt trừ các hoặc vô tri nhỏ nhiệm. 2. Xuất nhậpTam muội cực kì nhanh chóng. Loại Tam muội thứ 2 này lại được chia làm 2 thứ: a) Nhập thiền phấn tấn tam muội: Xa lìa các pháp bất thiện của cõi Dục mà vào Sơ thiền cõi Sắc, có đầy đủ giác và quán, rồi cứ thế lần lượt tiến vào các Tam muội như: Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, Không xứ, Thức xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ và, cuối cùng, vào Diệt thụ tưởng định. b) Xuất thiền phấn tấn tam muội: Thứ tự xuất định của Tam muội này trái lại với thứ tự của Tam muội nhập định trên, nghĩa là bắt đầu ra từ định Diệt thụ tưởng, rồi vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ, lại ra khỏi Phi tưởng phi phi tưởng xứ mà tiến vào Vô sở hữu xứ, cứ như thế lần lượt ra và vào đến Thức xứ, Không xứ, Tứ thiền, Tam thiền, Nhị thiền, Sơ thiền cho đến Tam muội ra khỏi tâm tán loạn. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.18; kinh Hoa nghiêm Q.44 (bản dịch cũ); phẩm Thập định trong kinh Hoa nghiêm Q.40 (bản dịch mới); kinh Niết bàn Q.35 (bản Nam); Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.4, phần đầu].

sư tử quang

Simharasmi (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Sư Tử Quang là một người chống đối trường phái Du Già, sống vào khoảng năm 630 sau Tây Lịch—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Budhist Terms, Simharasmi was a learned opponent of the Ygacara school who lived about 630 A.D. ; (師子光) Phạn: Siôha-razmi. Tên vị học tăng ở chùa Na Lan Đà, Trung Ấn Độ vào thời ngài Huyền Trang đến Ấn Độ cầu pháp. Theo Đại Từ Ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 4, lúc ngài Huyền Trang ở chùa Na Lan Đà vâng lời Luận sư Giới hiền giảng về Duy thức. Trước đó, Đại đức Sư tử quang đã giảng chođại chúng nghe về Trung luận và Bách luận. Đại đức dựa vào nghĩa của luận Trung quán để bài xích học thuyết Du già. Ngài Huyền Trang thương Đại đức Sư tử quang hẹp lượng nên nhiều lần gạn hỏi, ngài lại trình lên Luận sư Giới hiền và đại chúng 300 bài tụng Tông luận do ngài soạn. Mọi người đều khen hay và cùng tuyên hành. Đại đức Sư tử quang tự cảm thấy hổ thẹn, bèn đến chùa Đại bồ đề, mời người bạn đồng học của mình ở Đông Ấn Độ là ngài Chiên Đà La Tăng Ha đến tranh luận với ngài Huyền Trang, mong rửa sạch nỗi nhục trước. Nhưng, khi ngài Chiên Đà La Tăng Ha đến chùa Na Lan Đà, thấy uy nghi của ngài Huyền Trang đâm ra sợ, nên im lặng không dám hé răng mở miệng, do đó, tiếng tăm ngài Huyền Trang càng lừng lẫy.

sư tử quốc

Simhala (skt)—Tích Lan, một vương quốc nổi tiếng được thành lập bởi một thương gia tên Sư Tử, trước là thương gia, sau hàng phục ma quỷ mà lập quốc và làm vua tại đảo quốc nầy—Ceylon, the kingdom reputed to be founded by Simha, first an Indian merchant, later king of the country, who overcame the demons of Ceylon and conquered the island.

sư tử sàng

Simhasana (skt)—See Sư Tử Tòa.

sư tử thân trung trùng

Trùng trong thân sư tử. Không một loài nào có thể ăn thây con sư tử, mà chỉ có những con trùng bên trong mới ăn chính nó; cũng như Phật pháp, không một giáo pháp nào có thể tiêu diệt được, mà chỉ những ác Tăng mới có khả năng làm hại giáo pháp mà thôi (trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phật bảo A Nan: “Này ông A Nan, ví như con sư tử mệnh tuyệt thân chết, tất cả chúng sanh không ai dám ăn thịt con sư tử ấy, mà tự thân nó sinh ra dòi bọ để ăn thịt tự nó. Này ông A Nan, Phật pháp của ta không có cái gì khác có thể hại được, chỉ có bọn ác Tỳ Kheo trong đạo pháp của ta mới có thể phá hoại mà thôi.”)—Just as no animal eats a dead lion, but it is destroyed by worms produced within itself, so no outside force can destroy Buddhism, only evil monks within it can destroy it. ; (師子身中蟲) Gọi tắt: Sư trùng. Trùng trong thân sư tử trở lại ăn thịt sư tử; ví dụ hạng tỉ khưu xấu ác vào trong cửa Phật, trở lại phá hoại Phật pháp. Theo kinh Liên hoa diện quyển thượng thì con sư tử tuy đã chết, nhưng trăm thú vẫn sợ uy của nó nên không dám đến ăn thịt, chỉ có những con trùng ở ngay trong thân sư tử trở lại ăn thịt sư tử mà thôi. Phật pháp cũng thế, ngoại đạo thiên ma không phá hoại được, chỉ do các Tỳ khưu xấu ác ở trong Phật pháp, như những trùng độc, trở lại phá hoại Phật pháp. [X. phẩm Chúc lụy trong kinh Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Q.hạ; Thành duy thức luận thuật kí Q.4, phần đầu].

sư tử toà

(師子座) Phạn: Siôhàsana. Cũng gọi Sư Tử Sàng, Nghê tòa. Vốn chỉ cho tòa ngồi của đức Thích Ca Mâu Ni. Vì đức Phật là sư tử trong loài người, nên nơi Phật ngồi (giường, chỗ... ) đều gọi làSư tử tòa. Lại vì Phật ngồi trên tòa này nói pháp Vô vi sư tử hống, nên cũng gọi là Sư tử tòa.Về sau, đài tòa của tượng Phật, Bồ tát trong các chùa viện và tòa ngồi thuyết pháp của các bậc cao tăng... đều gọi chung là Sư tử tòa. Tượng bồ tát Văn Thù cỡi Sư tử cũng mang ý nghĩa như trên.[X. kinh Sa môn quả trong Trường a hàm Q.17; luận Đại trí độ Q.7, 8; Hoa Nghiêm kinh thám huyền kí Q.3].

sư tử trụ

Harivarman (skt)—See Sư Tử Khải.

sư tử tòa

Simhasana (skt)—Theo Trí Độ Luận, Phật là sư tử trong loài người. Bất kỳ chỗ nào Phật ngồi, dù đó là góc phố, hay nơi trống trải, chỗ đó được gọi là “Tòa Sư Tử.”—According to the Maha-Prajnaparamita sastra, a lion throne, or couch. A Buddha throne, or seat; wherever the Buddha sits, even the corners of the town, the bare ground; a royal throne.

sư tử tôn giả

Aryasimha or Simha-bhiksu (skt)—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ (24).

sư tử tướng

Simhadhvaja (skt)—Tên vị Phật ở về phía đông nam của vũ trụ, con trai thứ tư của Mahabhijna—A Buddha south-east of our universe, fourth son of Mahabhijna.

sư tử tỳ kheo

Aryasimha or Simha-bhiksu (skt)—See Sư Tử Tôn Giả.

sư tử vương

Ví chư Phật và chư Bồ Tát là vua trong loài (vì đức vô úy)—The lion king Buddhas or Bodhisattvas for their fearlessness. ; (師子王) Cũng gọi Sư tử thú vương. Vua Sư Tử. Sự thuyết pháp của đức Như Lai có năng lực diệt trừ tất cả hí luận, đối với hết thảy ngoại đạo tà kiến không hề sợ sệt,giống như sư tử chúa kêu rống thì trăm loài thú đều phải nép sợ, vì thế ví dụ như Sư tử vương. [X. kinh Nhất A Hàm Q.22; kinh Vô Lượng Thọ Q.hạ]. (xt. SưTử Hống).

sư tử âm

Simhaghosa (skt)—Sư Tử Âm Phật, là vị Phật ở về phía đông nam vũ trụ, con trai thứ ba của Mahabhijna—Lion's voice, a Buddha south-east of our universe, third son of Mahabhijna.

sư vũ

(師雨) Đồng nghĩa: Pháp Lạp, Hạ Lạp. Sư là pháp sư; Vũ chỉ cho mùa mưa, tức mùa an cư kết hạ. Đức Phật chế định người xuất gia hàng năm vào mùa mưa phải kết hạ an cư, vì thế từ ngữ Sư vũ được sử dụng để tính số năm xuất gia của hàng tăng lữ. Huyền ứng âm nghĩa quyển 25 ghi: Sư vũ nghĩa là mùa mưa an cư, nói sư được bao nhiêu tuổi hạ.

sư đàn

Tăng và Đàn hay Tăng và tín thí—Teacher and donor, or monk and patron. ; (師檀) Từ ngữ gọi chung đàn việt (thí chủ) và sư tăng. Luận Thuyết pháp minh nhãn nói: Một ngày sư đàn, trăm kiếp kết duyên.

sư đệ

1) Teacher and student. 2) Younger disciple. ; (師弟) Chỉ cho sự quan hệ giữa sư phụ và đệ tử trong Phật giáo. Năm anh em Kiều trần như là những người đầu tiên nghe đức Phật thuyết pháp và trở thành đệ tử của Ngài, đây là quan hệ thầy trò sớm nhất trong Phật giáo.Về sau, hàng đệ tử của Phật tăng lên hơn nghìn người; trong tình hình ấy, đức Phật là bậc thầy đã đạt đạo lí mà con người chưa đạt, đã biết đạo lí mà con người không biết và đã nói đạo lí mà con người chưa nói. Còn đệ tử là những người nương theo chính đạo của Phật dạy và đi sau Ngài, được Ngài trao cho đạo lí giải thoát thực tiễn. Trong hàng đệ tử, có những vị lắng nghe âm thanh của đức Phật nói pháp mà được vào Thánh đạo, gọi là Thanh văn. Trong phần 5 của Luật tạng đại phẩm tiếng Pàli và trong luật Tứ phần quyển 34 Hán dịch, đều có nói rõ về nhiệm vụ mà thầy là Hòa thượng (Pàli: Upajjhàya) hoặc A xà lê (Phạn: Àcarya) và đệ tử (Pàli: Saddhivihàrika) phải thực hành. Trong Trường a hàm quyển 11 cũng nói đệ tử phải đem 5 việc để kính thờ thầy. Khi đức Thích tôn còn tại thế, Ngài là thầy của toàn thể giáo đoàn Phật giáo, sau khi Ngài nhập diệt thì hàng đệ tử lấy giáo pháp hoặc giới luật làm thầy, do các bậc Trưởng lão nối tiếp truyền thừa, vì thế mà Phật giáo chia ra nhiều học phái và giáo phái. Rồi các vị Trưởng lão của các phái lại tuần tự trao truyền cho đồ đệ, như vậy mới giữ gìn được truyền thống đời đời nối tiếp nhau. Riêng trong Mật giáo, không có sự trao truyền công khai, nên gọi là Bí truyền. Còn trong Thiền tông thì chỉ trao truyền giữa 1 thầy 1 đệ tử, vì thế, những người chưa tiếp nhận sự trao truyền ấy thì không được thừa nhận là đệ tử chính thức.(xt. Tương Thừa, Sư Tư).

sưï

(A) Artha (skt). 1) Nhật Ca Tha: Sự việc—Affair—Matter—Thing. 2) Biến Cố: Event. 3) Hành Động: Action. 4) Thực Hành: Practice. 5) “Sự” hay các pháp hữu vi do nhân duyên sanh ra, đối lại với “Lý” hay các pháp vô vi xa lìa khỏi mọi nhân duyên sanh ra: Phenomena in contrast with Noumena. 6) “Thực hành” đối lại với “Lý thuyết”: “Practice” or the thing, affair, matter, in contrast with “Theory” or the underlying principle. (B) Vastu (skt): 1) Vatsu nghĩa là một đối tượng đặc thù được cái tâm phân biệt, nhưng nó cũng có thể chỉ thực tính tối hậu được quan niệm như là một đối tượng của trực giác siêu việt: Vatsu means a particular object discriminated by the mind, but it may also designate ultimate reality conceived as an object of transcendental intuition. 2) Sự có nghĩa là sự việc, là cớ sự xãy ra, hay là một vật hiện hữu, nhưng nghĩa thông thường vẫn là “sự việc.” Phật tử không tin tưởng vào thực tại của những hiện hữu cá nhân vì kinh nghiệm cho biết không có gì tồn tại được dù chỉ trong chốc lát. Tất cả đều biến đổi, lần hồi, chầm chậm, nên lâu ngày chầy tháng ta mới nhận ra. Cảm giác của ta gắn liền với ý niệm thời gian và đo bằng không gian, cho nên mọi sự việc tiếp nối diễn ra trong thời gian đều chuyển thành một chuỗi thực tại cá biệt trong không gian—Vatsu means “a matter,” “an event,” or “a happening,” or “an existing thing.” However, its general meaning is “an event.” Buddhists do not believe in the reality of an individual existence, for there is nothing in our world of experience that keeps its identity even for a moment; it is subject to constant change. The changes are, however, imperceptively gradual as far as our human senses are concerned, and are not noticed until they pass through certain stages of modification. Human sensibility is bound up with the notion of time-divisions; it translates time into space; a succession of events is converted into a spatial system of individual realities. 3) “Sự” theo nghĩa thông thường là sự việc, là cơ sự, nhưng theo Phật giáo, “sự” có nghĩa là cái cá thể, cái dị biệt, cái cụ thể, cái đơn thể. Sự luôn đối lập với lý và đi đôi với lý thành “sự lý.” Sự thì sai biệt và phân biệt, còn lý thì vô sai biệt và vô phân biệt. Theo nghĩa thông thường trong đạo Phật, lý tức là “không,” và sự tức là “sắc.”: “Sự” ordinarily means “an event,” “a happening,” but according to Buddhist philosophy, “Vastu” means “the individual,” “the particular,” “the concrete,” “the monad.” “Sự” always stands contrasted to “lý.” “Sự” is distinction and discrimination, and “lý” is non-distinction and non-discrimination. In regular Buddhist terminology, “lý” corresponds to Sunyata, Void or Emptiness, while “sự” is form.

sương vệ

(厢衛) Gọi đủ: Giáp môn sương vệ. Cũng gọi Sương Khúc. Chỉ cho chỗ thần hộ vệ ở, canh giữ 2 bên cửa thông trong Mạn đồ la Mật giáo. Đại Nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao quyển 6 giải thích Giáp môn sương vệ như sau: Giáp là giữ gìn; Sương là chỗ quanh 2 bên đông tây của cửa; Vệ là hộ vệ. Tức là đặt chỗ hộ vệ 2 bên cửa để phòng ngừa việc ma tà. Ngoài ra, 4 phíacủa 3 lớp mạn đồ la đều có đặt cửa, nhưng chỉ mở 1 cửa phía tây, các cửa còn lại thì dùng dây kim cương giăng ngang. Sương vệ phía nam của cửa thông đặt Ưu a tốn na giữ cửa, phía bắc đặt Tốn na giữ cửa, phía nam của viện thứ 2 đặt Long vương Nan đà, phía bắc đặt Long vương Bạt nan đà, phía nam và phía bắc của viện gần giữa đặt 2 vị thần giữ cửa hướng vào nhau (Bất khả việt và Tương hướng). Mạn đồ la do A Xà Lê Thiện vô úy truyền chỉ đặt 1 cửa ở phương tây, các phương khác không đặt. Sương vệ ở 2 bên cửa thông làm thành hình chữ đột (.. ) hoặc hình chữ á (.. ), mỗi góc đặt cọc kim cương. Tức là lấy 1 phương của Sương vệ mà nói là hình (.. ), đặt 6 cọc, 2 phương hợp lại thì là hình (.. ), cộng chung là 12 cọc. Trong Đại Nhật kinh sớ quyển 6 có nói rộng về phân lượng của số cọc, cửa và sương vệ. Diễn mật sao căn cứ vào đây mà vẽ vị trí của 3 lớp mạn đồ la giáp môn (như hình vẽ), khuyên tròn trong hình vẽ biểu thị vị trí của những cọc kim cương. Trong Mạn Đồ La Thai tạng giới hiện nay, trừ phương đông của viện Ngoại Kim Cương bộ, 3 phươngtây, nam,bắc, mỗi nơi đặt 1 cửa, mỗi cửa đặt Sương vệ canh giữ; viện Thích ca và việnVăn Thù ở phương đông, mỗi viện đặt 1 cửa, ở chính giữa đặt vị Chủ tôn, nhưng chỉ vẽ Điểu cư môn (Phạn: Toraịa) để tượng trưng cho cửa chứ không làm Sương vệ. [X. Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.18; Mạn đồ la chi nghiên cứu (Mai vĩ Tường vân)].

sướng

Satisfied—Content.

sướng mắt

Pleasant to the eye.

sạ dung

(sạ dung ) (?-195) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào cuối đời Đông hán, người Đơn Dương (An huy), tự Vĩ Minh. Khi loạn Hoàng cân nổi lên, ông kêu gọi nhiều người đi theo quan Thứ sử Từ châu là Đào khiêm. Khiêm rất quí trọng và cho ông làm quan coi việc vận chuyển lương thực ở 3 quận Quảng Lăng, Hạ Bì và Bành Thành, đồng thời, làm tướng trấn giữ Hạ Bì. Cứ theo Ngô Chí trong Tam quốc chí quyển 4 thì Sạ dung rất kính tin Phật giáo, ông xây cất 1 ngôi chùa rất lớn, đúc tượng Phật bằng đồng mạ vàng, mặc áo gấm, hàng ngày ông tụng kinh. Mỗi lần Phật đản, ông làm lễ tắm Phật và đem thức ăn cho những người nghèo đói. Dân gian đời Hán xây chùa thờ Phật, làm các việc Phật, tụng kinh lễ bái, bắt đầu từ đó. Lại do việc Sạ dung tụ tập dân chúng đọc tụng kinh Phật mà người ta biết chắc là thời bấy giờ đã có kinh điển Phật giáo được dịch ra chữ Hán. Qua các sinh hoạt tín ngưỡng này, ta cũng có thể thấy được tình hình Phật giáo ở Từ châu vào những năm cuối đời Linh đế và thời Hiến đế (190) nhà Hậu Hán. [X. Phật tổ thống kỉ Q.35; Hậu Hán thư Q.103].

Sạc-va Bắc-sa

S: sarvabhakṣa; »Kẻ háo ăn«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ là đệ tử của Sa-ra-ha, sống trong khoảng cuối thế kỉ thứ 8, đầu thứ 9.|Ông là thần dân của vua Siṅgha-can-dra nước A-bi-ra (ābhira). Ông tham ăn, có cái bụng to như cái trống, cái gì cũng ăn được cả. Ngày nọ không kiếm ra gì để ăn, ông bị vào trong một hang động ngồi thở dốc. Ðạo sư Sa-ra-ha gặp ông hỏi han. Ông thú nhận nếu không ăn thì bụng như bị lửa đốt, cồn cào chịu không nổi. Sa-ra-ha nói nếu chút đói bụng mà không chịu được thì mai sau thành Ngạ quỷ sẽ như thế nào. Nghe xong, ông toát mồ hôi, cầu xin tu tập để thoát khổ đó. Sa-ra-ha cho ông nhập môn và dạy ông phép tu của »Kẻ lười biếng« (s: bhusuku) Tịch Thiên (s: śāntideva) như sau:|Hãy tưởng tượng ra rằng,|bụng: bầu trời trống rỗng,|lửa: hoả tai kiếp nạn;|mọi hiện tượng trên đời,|là thức ăn thức uống,|và ăn hết vũ trụ.|Ông tinh cần tu tập, ăn mặt trời mặt trăng, nuốt luôn núi Tu-di. Lúc đó loài người bị mất ánh sáng mặt trời mặt trăng, họ kêu gào sợ hãi. Các vị Không hành nữ (s: ḍākinī) phải đến cầu cứu Sa-ra-ha. Sa-ra-ha dạy tiếp cho ông, hãy quán tưởng những gì nhai nuốt vào bụng là tính Không. Ông lại đạt tri kiến hiện tượng và tính Không là một, lúc đó mặt trời mặt trăng lại hiện, mọi người hò reo. Sau 15 năm, ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa. Chứng đạo ca của ông như sau:|Vô minh, nhiều mùi vị,|Ðắc đạo, chỉ một thứ.|Ðối với kẻ phàm phu:|còn Niết-bàn, Sinh tử.|Khi đã chứng đắc rồi,|Một thanh tịnh duy nhất.

sạch

Clean—Pure.

sạo sụt

To search for something.

sạt nghiệp

To ruin oneself.

sải

Buddhist nun.

sản tử thiền

(剗子禪) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho Thiền pháp thấy tất cả đều là không. Sản tử là cái bừa, ý nói một mực phủ nhận sự tồn tại của tất cả sự vật, trong tâm hoàn toàn không có chút nghĩa lí hay các thứ pháp đối lập nào trong thế gian hết. Nhưng cũng vì hiểu các pháp không một cách hời hợt như thế, nên chẳng nhận thức được Phật pháp, không hiểu được yếu chỉ của tông môn. Giống như chỉ biết dùng bừa bừa bỏ hết tất cả sỏi cát, đất đá, bùn lầy chứ không biết lựa chọn đất đai màu mỡ để lại mà dùng. Vả lại, sau khi đã bừa bỏ tất cả, cũng không biết phải xây dựng 1 ngôi nhà nào để ở. Trong Thiền Lâm, từ ngữ Sản tử thiền thường được dùng để chê trách những người tu Thiền mà chủ trương tất cả đều là không một cách hời hợt, thiên lệch.

sảng

To rave (nói sảng).

sảng sốt

To fall into a panic.

sấm

Điềm báo trước—The book of oracles—Prognosticate--Prophecy.

sấm la bán ni

Ksarapaniya (skt). 1) Nước tro: Ash-water. 2) Y áo màu nước tro: Ash-coloured garments.

sấn

(䞋) Phạn: Dakwiịà. Pàli:Dakkhiịà. Gọi đủ: Đạt sấn noa, Đà khí ni. Gồm có 4 nghĩa: 1. Chỉ chung cho sự bố thí thông thường, cũng như Đànthí, Bố thí. 2. Chỉ cho tiền bạc, tài vật tín đồ dùng để bố thí cho chúng tăng. 3. Chỉ cho sự bố thí tiền bạc, tài vật của tín đồ cho chư tăng. 4. Chỉ cho việc chư tăng thuyết pháp sau khi được tín đồ bố thí thức ăn. Thuyết pháp ở đây cũng gọi là Đạt sấn, Đạt sấn thuyết pháp. Về các dụng ngữ thuộc loại bố thí tài vật thì ngoài chữ Sấn nói trên, trong Phật giáo còn có những từ ngữ như: Thượng sấn, hạ sấn, đường sấn, biểu sấn, trọng sấn, cung sấn, đàn sấn, đại sấn, sấn kim, sấn tài, sấn tư, sấn thí, sấn tiền... Trong đó, thượng sấn là tín đồ dâng tiền bạc, tài vật lên; hạ sấn là tín đồ đem tài vật bố thí đặt ở trước tượng chư Phật, Tổ sư; sấn thí là tín đồ bố thí cho chư tăng. Còn đường sấn, biểu sấn, sấn vật, sấn tư, sấn tiền... đều chỉ cho việc tín đồ bố thí tài vật cho chư tăng hoặc chùa viện, hoặc chỉ cho tài vật bố thí, hoặc đặc biệt chỉ cho tiền kinh sám mà tín đồ bố thí cho chư tăng sau khi đã vì họ mà làm xong các Phật sự. Ngoài ra, khi cử hành pháp hội trong Thiền lâm, vị Trụ trì đem tiền tài do tín đồ bố thí đặt trước tượng chư Phật và Tổ sư để cúng dường cũng gọi là Sấn kim, Sấn tiền. Lại trong pháp hội, nếu vị Trụ trì thấy các thí vật dâng cúng chưa được đầy đủ, liền bảo người dâng thêm, thì thí vật dâng thêm được gọi là Thiếp thí. Điều Đạt sấn trong Thiền lâm tượng khí tiên dẫn kinh Tăng nhất a hàm nói: Lúc đó, ngài Ca diếp vâng lời Phật dạy đến nhà người Phạm chí. Khi ngài Ca diếp đến nơi, vợ người Phạm chí thỉnh ngài ngồi và dâng các món ăn thịnh soạn cúng dường ngài. Sau khi thụ thực, ngài Ca diếp bèn nói pháp đạt sấn cho vợ người Phạm chí Bà la môn nghe. [X. kinh Hoa nghiêm Q.44 (bản dịch củ), luật Tứ phần Q.49; luận Tôn bà tu mật Bồ tát sở tập Q.2; Tứ phần luật hành sự sao Q.hạ, phần 3; điều Trung diên trai trong Thiền uyển thanh qui Q.6; Huyền ứng âm nghĩa Q.1; môn Tiền tài trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Đạt Sấn).

sấn kim

(嚫金) Cũng gọi Sấn tài, Sấn tiền. Gồm có 3 nghĩa: 1. Chỉ cho tiền bạc, y vật tín đồ dâng cúng Tam bảo. 2. Chỉ cho vàng bạc của tín đồ cúng dường mà vị Trụ trì đặt trước chư Phật và Tổ sư khi có pháp hội. 3. Chỉ cho số tiền tín đồ cúng dường chư tăng sau khi chư tăng đã làm xong các Phật sự cho tín đồ. (xt. Đạt Sấn, Sấn).

sấn thí

(嚫施) Sấn, Phạn: Dakwiịà. Pàli: Dakkhiịà. Hán dịch: Tài thí, Thí tụng. Cũng gọi: Sấn. Sấn thí là từ ghép chung tiếng Phạn và chữ Hán, nghĩa là bố thí. Điều Tôn túc thiên hóa trong Thiền uyển thanh qui quyển thượng (Vạn tục 111, 458 hạ) nói: Vào ngày khởi khám (động quan), bản viện tùy khả năng đặt trai soạn, sấn thí quí ở chỗ bình thường, không nên cầu kì; đến giờ, thỉnh 1 vị tôn túc nâng khám. (xt. Sấn).

sấn vật

(嚫物) Đồng nghĩa: Sấn tư. Chỉ cho vật bố thí, hoặc đặc biệt chỉ cho vật bố thí cho chúng tăng. (xt. Đạt Sấn, Sấn).

sấn y

(襯衣) Cũng gọi Sấn thân y, Sấn thể y. Áo lót mình. Áo này mặc khi lạnh hoặc khi có nhân duyên khác. Theo luật Thập tụng quyển 39, có lần, 1 vị Tỳ khưu không mặc sấn y mà đứng dựa vào bức tranh mới vẽ trên vách, làm cho nó tróc hết màu, đức Phật liền qui định Tỳ khưu không mặc sấn y mà dựa lưng vào tranh vách thì phạm tội Đột cát la. Luật Ngũ phần quyển 21 ghi: Bấy giờ, Lục quần Tỳ khưu may áo sấn thân cỡ bằng Tăng kì chi, hoặc bằng Nê hoàn tăng. Các Tỳ khưu đem việc ấy bạch đức Phật,Ngài dạy: Không nên may như thế, nên may theo 3 bậc sau đây: -Bậc thượng: Trên phủ đầu, dưới che đếnmắt cá chân, tay trái che kín hết. -Bậc trung: Trên phủ đầu, dưới phủđến nửa ống chân, tay trái che đến cổ tay. -Bậc hạ: Trên phủ đầu, dưới phủ đến đầu gối, tay trái che đến nửa khuỷu tay. [X. luật Tứ phần Q.52; Hữu bộ Tì nại da tạp sự Q.14].

sầu

Sorrowful—Sad.

sầu bi

Sad—Pitiful.

sầu cảm

Gloomy—Melancholy.

sầu khổ

To be sorrowful.

sầu muộn

Afflicted—Grieved—Distressed—Sadness.

sầu não

Mournful—Doleful.

sầu vạn cổ

Never-ending sorrow.

sập xuống

To fall down.

Sắc

色; S, P: rūpa;|Ngũ uẩn

sắc

hay sắc tướng, sắc pháp, Phạn ngữ rpa, chỉ chung mọi biểu hiện có thể nhận biết được của vật chất, gồm cả năm căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân), năm trần (hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, đối tượng xúc chạm) và mọi vật hữu hình. Sắc cũng là một trong năm ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). ; Rupa (skt)—Form—Hình tướng của vật chất. Có nhiều loại sắc (vật chất, hình thể, hay hình dáng vật thể—matter, form, or material shape)—Appearance—Object. There are several different categories of rupa: (I) Nghĩa của sắc—The meanings of Rupa: Sắc là hình thể, nhưng thường dùng theo nghĩa thể chất, có một vị trí trong không gian, và ngăn ngại với những hình thể khác. Vậy, sắc có thể tích, do đó có hạn cuộc, bị tùy thuộc. Sắc phát hiện khi hội đủ những nhân duyên nào đó, và tùy những nhân duyên ấy mà trụ một thời gian, rồi tiêu diệt mất. Sắc vốn vô thường, lệ thuộc, hư giả, tương đối, nghịch đảo và sai biệt—Form is used more in the sense of “substance,” or “something occupying space which will resist replacement by another form.” So it has extension, it is limited and conditioned. It comes into existence when conditions are matured, as Buddhists would say, and staying as long as they continue, pass away. Form is impermanent, dependent, illusory, relative, antithetical, and distinctive. (II) Phân loại sắc—Categories of Rupa: (A) Hai Loại Sắc—Two kinds of rupa. 1) Nội sắc (những căn của giác quan như nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân): inner rupa as the organs of sense (eye, ear, nose, tongue, body). 2) Ngoại sắc (những trần cảnh bên ngoài như màu sắc, âm thanh, mùi thơm, hương vị, sự xúc chạm): Outer rupa as the objects of sense (colour, sound, smell, taste, touch). (B) Ba loại sắc—Three kinds of rupa: 1) Khả kiến hữu đối sắc (các sắc trần, trắng, xanh, vàng, đỏ, v.v.): Visible objects (white, blue, yellow, red, etc.). 2) Bất khả kiến hữu đối sắc (thanh, hương, vị, xúc): Invisible objects (sound, smell, taste, touch). 3) Bất khả kiến vô đối sắc (những vật thể trừu tượng): Invisible immaterial or abstract objects. (C) Thập Nhất Sắc (Mười Một loại Sắc)—Eleven kinds of rupa: 1) Ngũ Căn—The five organs of the sense: a) Nhãn: Eye. ii) Nhĩ: Ear. iii) Tỷ: Nose. iv) Thiệt: Tongue. v) Thân: Body. 2) Ngũ Cảnh—The five objects of the sense: i) Sắc: Colour. ii) Thanh: Sound. iii) Hương: Smell. iv) Vị: Taste. v) Xúc: Touch. 3) Vô Biểu Sắc—The immaterial object: (D) Thập Tứ Sắc (Mười Bốn loại sắc)—The fourteen elements: 1) Ngũ Căn—The five organs of sense (see Ngũ Căn in (C) (a). 2) Ngũ Cảnh—The five objects of sense (see Ngũ Cảnh in (C) (b). 3) Tứ Đại—The four elements: i) Đất: Earth. ii) Nước: Water. iii) Lửa: Fire. iv) Gió: Air or wind. ; (色) Phạn, Pàli: Rùpa. Nói theo nghĩa rộng, Sắc là từ gọi chung tất cả vật chất tồn tại; còn nói theo nghĩa hẹp thì Sắc là chỉ những cảnh mà nhãn căn duyên theo. Ngữ căn của từ rùpa là động từ rùp (tạo hình), cho nên rùpa hàm nghĩa có hình dáng. Cũng có thuyết cho rằng ngữ căncủarùpa là động từrù (hoại) cho nên có nghĩa biến hoại, biến hóa. I. Sắc. Tên gọi chung tất cả vật chất tồn tại. Như là Sắc uẩn trong 5 uẩn, Sắc pháp trong 5 vị. Sắc có tính chất ngại và biến hoại. Cứ theo luận Câu xá quyển 1 thì Sắc gồm 11 thứ là: 5 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân), 5 cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc) và Vô biểu sắc. Tông Duy thức chia Sắc làm 11 thứ: 5 căn, 5 cảnh và Pháp xứ sở nhiếp sắc. Pháp xứ sở nhiếp sắc là đối cảnh củaÝ thức, bao gồm Cực lược sắc, Cực qúynh sắc, Thụ sở dẫn sắc, Biến kế sở khởi sắc và Tự tại sở sinh sắc. Trong các sắc pháp này lại có thể căn cứ vào tính chất của mỗi pháp mà qui nạp thành các loại sau: 1. Nội sắc (5 căn) và Ngoại sắc (5 cảnh). 2. Tế sắc (Vô biểu sắc, hoặc chỉ cho Sắc của cõi Sắc) và Thô sắc (sắc do Cực vi tạo thành, hoặc chỉ cho sắc của cõi Dục). 3. Định quả sắc (sắc dothiền định sinh ra) và Nghiệp quả sắc (sắc do nghiệp tạo ra). 4. Khả kiến hữu đối sắc (chỉ cho sắc theo nghĩa hẹp, tức sắc cảnh), Bất khả kiến hữu đối sắc (chỉ chothanh, hương, vị, xúc, 5 căn) và Bất khảkiếnvôđối sắc (chỉ cho Vô biểu sắc). X. kinh Tạp a hàm Q.1, 13; kinh Đại niết bàn Q.39 (bản Bắc);luận Câu xá Q.2; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập]. (xt. Ngũ Căn, Ngũ Cảnh,Sắc Uẩn, Pháp Xứ Sở Nhiếp Sắc). II. Sắc. Cũng gọi Sắc cảnh, Sắc xứ, Sắc giới. Đối cảnh của nhãn căn duyên theo, như các cảnh chất ngại xanh, vàng... là 1 trong 5 cảnh, 1 trong 6 cảnh, 1 trong 12 xứ, 1 trong 18 giới. Theo luận Du già sư địa quyển 1 thì Sắc này đại để có 3 loại: 1. Hình sắc: Dài, ngắn, vuông, tròn, cao thấp, ngay thẳng và không ngay thẳng. 2. Hiển sắc: Xanh, vàng, đỏ, trắng, mây, khói, bụi, sương mù, bóng, ánh sáng, bóng tối... 3. Biểu sắc: Đi, đứng,ngồi,nằm, lấy, bỏ, co, duỗi... Các loại sắc trên đặc biệt thuộc đối cảnh của nhãn căn duyên theo. [X. luận Thức thân túc Q.11; luận Đại tì bà sa Q.13, 75; luận Thuận chính lí Q.1; luận A tì đạt ma tạng hiển tông Q.2; Câu xá luận quang kí Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.2, phần đầu; Hữu tông thất thập ngũ pháp kí Q.1]. (xt. Biểu Sắc, Hình Sắc, Hiển Sắc).

sắc bào

Sắc Diệm—Vật chất vô thường như bào như diệm (như bong bóng như ánh lửa)—The material as a bubble, or a flame; impermanent.

sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ tưởng, hành, thức diệt phục như thị

Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy—Form does not differ from emptiness (the void), emptiness does not differ from form; form itself is emptiness, emptiness itself is form; the same is true for feelings, conceptions, impulses and consciousness.

sắc chúng

See Sắc Uẩn.

sắc cái

1) Bản chất của vật chất là che đậy và làm cho chúng sanh mê muội—The concealing, or misleading, character of the visible or material. 2) Cái giả che đậy cái thật: The seeming concealing reality. ; (色蓋) Sắc là sắc trần, Cái là che lấp. Vì sắc trần thường che lấp chân tính, cho nên gọi là Sắc cái.

sắc cảnh

Cảnh sắc, cảnh giới có hình sắc (các pháp xanh, vàng, đỏ, trắng đều là cảnh giới đối với nhãn căn)—Visible objects, the realm of vision or form. ; (色境) Cũng gọi Sắc xứ, Sắc giới. Gọi tắt: Sắc. Chỉ cho những đối cảnh xanh, vàng... chất ngại do nhãn căn duyên theo, là 1 trong 5 cảnh, 1 trong 6 cảnh, 1 trong 12 xứ, 1 trong 18 giới. Sắc cảnh được chia làm 2 loại: 1. Hình sắc: Dài, ngắn, vuông, tròn, cao, thấp, chính, bất chính. 2. Hiển sắc: Xanh, vàng, đỏ, trắng, mây, khói, sương mù, bụi, bóng, sáng... [X.luận Đại tì bà sa Q.13; luận Câu xá Q.1]. (xt. Thập Nhị Xứ, Thập Bát Giới, Ngũ Cảnh, Lục Cảnh, Biểu Sắc).

sắc cụ

Vật thể—Material objects.

Sắc cứu cánh thiên

cõi trời Sắc cứu cánh. Xem A-ca-ni-trá.

sắc cứu cánh thiên

Akanistha (skt)—Tầng trời sắc giới cao nhất—The highest of the material heavens. ** For more information, please see Sắc Giới and Thiên. ; (色究竟天) Sắc cứu cánh, Phạn: Akaniwỉha hoặc Aghaniwỉha. Hán âm: A ca ni tra, A ca ni sư tra, A ca nị tra, A ca ni sắt trá. Cũng gọi Ngại cứu cánh thiên, Chất ngại cứu cánh thiên,Nhất cứu cánh thiên, Nhất thiện thiên, Vô kết ái thiên, Vô tiểu thiên. Tầng trời cao nhất trong Tứ thiền thiên thuộc cõi Sắc, 1 trong 18 tầng trời cõi Sắc, 1 trong Ngũ tịnh cư thiên. Người tu Tứ thiền tối thượng phẩm được sinh về cõi trời này, quả báo ở đây thù thắng nhất trong cõi Sắc. Về tuổi thọ của chúng sinh ở cõi trời này, theo kinh Đại lâu thán quyển 4 là 100 kiếp, tuy nhiên cũng có sự chết yểu. Theo kinh Trường A Hàm quyển 20 thì tuổi thọ ở đây là 5 nghìn kiếp, hoặc giảm chút ít; còn luận Lập thế A Tì Đàm quyển 7 và luận Câu xá quyển 11 thì cho là 1 vạn 6 nghìn đại kiếp và thân cao 1 vạn 6 nghìn do tuần. [X. kinh Đại lâu thán Q.1; kinh Khởi thế Q.1; luận Đại tì bà sa Q.136; luậnTạp a tì đàm tâm Q.2; Pháp uyển châu lâm Q.3; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ; Phật tổ thống kỉ Q.31]. (xt. Ngũ Tịnh Cư Thiên, Sắc Giới).

sắc dục

Ham muốn nhục thể hay xác thịt—Sexual desire—Lusts of flesh—Passion. ; (色欲) Phạn: Rùpa-Kàma. Phàm đắm trước các sắc cảnh như xanh, vàng, dài, ngắn... hoặc rung động trước sắc tình nam, nữ, đều gọi Sắc dục, là 1 trong 5 dục. Ma ha chỉ quán quyển 4 (Đại 46, 43 hạ ghi: Như trong Thiền môn thường nói, sắc dục rất tai hại, hay làm cho người cuồng say, gốc rễ sinh tử đều do đó mà ra. (xt. Ngũ Dục).

Sắc giới

xem Ba cảnh giới. ; 色界; S, P: rūpadhātu, rūpaloka;|Ba thế giới

sắc giới

Rupadhatu, or rupavacara, or rupaloka (skt)—World of form or material world. (I) Nghĩa của Sắc giới—The meanings of Rupadhatu: Sắc giới, đệ nhị giới trong tam giới—Realm of form, or material form, or material world. It especially refers to the second Trailokya. (II) Phân loại Dục giới—Categories of Rupadhatu: Tứ Thiền Thiên: Brahmalokas (skt)—The four dhyana heavens—See Tứ Thiền Thiên. ; (色界) I. Sắc Giới. Phạn, Pàli:Rùpa-dhàtu. Cũng gọi Sắc thiên, Sắc hành thiên. Từ ngữ gọi chung thế giới và chúng sinh có sắc chất thanh sạch tốt đẹp, là chỗ cư trú của chư thiên, 1 trong 3 cõi. Chúng sinh ở cõi này tuy đã xa lìa dâm dục, không đắm trước các sắc pháp thô xấu nhơ nhớp, nhưng vẫn còn bị ràng buộc bởi sắc pháp nhỏ nhiệm thanh sạch, cho nên để phân biệt với cõi Dục ở dưới và cõi vô sắc ở trên mà gọi cõi này là cõi Sắc. Chư thiên cõi này không phân biệt nam nữ, y phục tự nhiên, dùng ánh sáng làm thức ăn và tiếng nói. Ở cõi này căn cứ vào thứ tự nhập định cạn sâu mà chia làm 4 địa (tức Tứ thiền thiên, Tứ tĩnh lự xứ). Sơ thiền gọi là Li sinh hỉ lạc địa, Nhị thiền gọi là Định sinh hỉ lạc địa, Tam thiền gọi là Li hỉ diệu lạc địa và Tứ thiền gọi là Xả niệm thanh tịnh địa. Cứ theo luận Câu xá quyển 8 thì Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền mỗi nơi đều có 3 tầng trời,còn Tứ thiền thì có 8 tầng trời, cộng chung lại thì tất cả là 17 tầng trời được phân bố như sau: A. Ba tầng trời cõi Sơ thiền: 1. Phạm chúng thiên (Phạn: Brahmapàriwadya) 2. Phạm phụ thiên (Phạn: Brahmapurohita) 3. Đại phạm thiên (Phạn: Mahàbrahman) B. Ba tầng trời cõi Nhị thiền: 1. Thiểu quang thiên (Phạn: Pàrìttàbha). 2. Vô lượng quang thiên (Phạn: Apramàịàbhà). 3. Cực quang tịnh thiên (Phạn: Àbhàsvara) C. Ba tầng trời cõi Tam thiền: 1. Thiểu tịnh thiên (Phạn: Parìtta- Zubha). . Vô lượng tịnh thiên (Phạn: Apramàịa- Zubha) 3. Biến tịnh thiên (Phạn: Zubhakftsna) D. Tám tầng trời cõi Tứ thiền: 1. Vô vân thiên (Phạn: Anabhraka). 2. Phúc sinh thiên (Phạn: Puịyaprasava). 3. Quảng quả thiên (Phạn: Bfhatphala). 4.Vô phiền thiên (Phạn:Avfha). 5. Vô nhiệt thiên( Phạn:Atapa). 6. Thiện hiện thiên (Phạn:Sudfza). 7. Thiện kiến thiên (Phạn: Sudarzana). 8. Sắc cứu cánh thiên: (Phạn: Akaniwỉha). Mười bảy tầng trời trên đây gồm khí thế gian và các hữu tình gọi chung là Sắc giới. Nhưng sự phế lập các tầng trời cõi Sắc có rất nhiều thuyết khác nhau. Kinh Trường a hàm quyển 20, kinh Khởi thế quyển 8 và kinhĐại bát nhã quyển 403, đều liệt kê 22 tầng trời: Phạm thân thiên, Phạm phụ thiên, Phạm chúng thiên, Đại phạm thiên, Quang thiên, Thiểu quang thiên, Vô lượng quang thiên, Quang âm thiên, Tịnh thiên, Thiểu tịnh thiên, Vô lượng tịnh thiên, Biến tịnh thiên, Nghiêm sức thiên, Tiểu nghiêm sức thiên, Vô lượng nghiêm sức thiên, Nghiêm sức quả thực thiên, Vô tưởng thiên, Vô tạo thiên, Vô nhiệt thiên, Thiện kiến thiên, Đại thiện kiến thiên và A ca ni tra thiên. Còn kinh Hoa nghiêm quyển 13 (bản dịchcũ), quyển 21 (bản dịch mới), kinh Đại Bát Nhã quyển 402 và kinh Phật bản hạnh tập quyển 9 thì bỏ bớt Vô tưởng thiên mà chỉ nêu có 21 tầng trời. Luận Đại Tì Bà Sa quyển 136, luận Lập thếa tì đàm quyển 6 và luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 6 thì bỏ đi 4 tầng trời: Phạm thân, Quang thiên, Tịnh thiên và Nghiêm sức thiên mà lập thuyết Thập bát thiên (18 tầng trời). Rồi kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 3, luận Thuận chính lí quyển 21 và luận Chương sở tri quyển thượng lại bỏ bớt Vô tưởng thiên trong Thập bát thiên mà lậpthuyết Thập thất thiên (17 tầng trời). A Tì Đàm tâm luận kinh cũng lập thuyết Thập thất thiên bằng cách cắt bỏ Đại phạm thiên mà thay bằng Vô tưởng thiên. Rồi trong thuyết này, kinh Địa động trong Trung a hàm quyển 9 lại loại bỏ Vô tưởng thiên mà chỉ nêu có 16 tầng trời thôi. Về chỗ ở, thân lượng, tuổi thọ của chúng sinh trong Tứ thiền thiên thuộc cõi Sắc thì kinh Trường a hàm quyển 20, kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 9,luận Lập thế a tì đàm quyển 3, luận Đại tì bà sa quyển 134, 136, luận Câu xá quyển 11, luận Thuận chính lí quyển 31... đều có trình bày rõ ràng nhưng hơi khác nhau. [X. kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.thượng; kinh Bồ tát địa trì Q.2; luận Đại trí độ Q.16; luận Thành thực Q.12; luận Câu xá Q.5, 28; Nhân vương bát nhã kinh sớ Q.1; Pháp hoa kinh huyền tán Q.2; Đại thừa nghĩa chương Q.8, phần cuối]. II. SắcGiới. Tức Sắc giới trong 18 giới. (xt. Sắc Cảnh).

sắc giới hệ

(色界系) Sự trói buộc bởi các pháp ở cõi Sắc. Luận Đại tì bà sa quyển 52 (Đại 27, 271 hạ) nói: Bị dục trói buộc nên gọi là Dục giới hệ; bị sắc trói buộc nên gọi là Sắc giới hệ, bị vô sắc trói buộc nên gọi là Vô sắc giới hệ. Như trâu, ngựa bị buộc vào cây cọc hoặc gốc cột, gọi là Trụ đẳng hệ.Cùng luận đã dẫn quyển 145 (Đại 27, 746 hạ) nói: Nếu pháp bị Ái và Kiến của cõi Dục chứa giấu và chấp trước thì gọi là Dục giới hệ, bị Ái và Kiến của cõi Sắc chứa nhóm và chấp trước thì gọi là Sắc giới hệ, bị Ái và Kiến của cõi Vô sắc chứa giấu và nắm giữ thì gọi là Vô sắc giới hệ. Nếu căn cứ vào 98 tùy miên (phiền não) để phân biệt sự trói buộc ở cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc, thì cõi Dục có 36 tùy miên, cõi Sắc, cõi Vô sắc mỗi cõi có 31 tùy miên. Luận Câu xá quyển 2 lại căn cứ vào 18 giới để phân biệt sự trói buộc ở các cõi, cho rằng sự trói buộc ở cõi Dục có đủ cả 18 giới, ở cõi Sắc chỉ có 14 giới vì trừ ra 2 cảnh hương, vị và 2 thức mũi, lưỡi. Luận Câu xá quyển 3 còn dùng 22 căn để phân biệt, bảo rằng sự trói buộc ở cõi Sắc là 15 căn, vì trừ ra 3 căn vô lậu và 4 căn nam, nữ, ưu, khổ. [X. luận Đại tì ba sa Q.50; luận Đại thừa A Tì Đạt Ma tạp tập Q.2; luận Câu xá Q.8]. (xt. Sắc Giới, Giới Hệ, Tùy Miên).

sắc giới thập bát thiên

Mười tám tầng tứ thiền sắc giới—Eighteen “Heavens of form.” Sơ Thiền Thiên—The first dhyana heavens: 1) Phạm Chúng Thiên: Brahmaparisadya (skt). 2) Phạm Phụ Thiên: Brahmapurohita or Brahmakayika (skt). 3) Đại Phạm Thiên: Mahabrahma. (II) Nhị Thiền Thiên—The second dhyana heavens: 4) Thiểu Quang Thiên: Parittabha (skt). 5) Vô Lượng Quang Thiên: Apramanabha (skt). 6) Quang Âm Thiên: Abhasvara (skt). (III) Tam Thiền Thiên—The third dhyana heavens: 7) Thiểu Tịnh Thiên: Parittasubha (skt). 8) Vô Lượng Tịnh Thiên: Apramanasubha (skt). 9) Biến Tịnh Thiên: Subhakrtsna (skt). (IV) Tứ Thiền Thiên—The fourth dhyana heavens: 10) Vô Vân Thiên: Anabhraka (skt). 11) Phúc Sanh Thiên: Punyaprasava (skt). 12) Quảng Quả Thiên: Brhatphala (skt). 13) Vô Tưởng Thiên: Asanjnisattva (skt). 14) Vô Phiền Thiên: Avrha (skt). 15) Vô Nhiệt Thiên: Atapa (skt). 16) Thiện Hiện Thiên: Sudrsa (skt). 17) Sắc Cứu Cánh Thiên: Akanistha (skt). 18) Đại Mục Tại Thiên: Mahamahesvara (skt). ** For more information, please see Thiên III. ; (色界十八天) Mười tám tầng trời của cõi Sắc. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 136 thì Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền cộng tất cả là 18 tầng trời. Sơ thiền gồm3 tầng trời: Phạm phụ, Phạm chúng, Đại phạm. Nhị thiền gồm 3 tầng trời: Thiểu quang, Vô lượng quang và Quang âm. Tam thiền gồm 3 tầng trời: Thiểu tịnh, Vô lượng tịnh và Biến tịnh. Tứ thiền gồm 9 tầng trời: Tiểu nghiêm sức, Vô lượng nghiêm sức, Nghiêm sức quả thực, Vô tưởng, Vô tạo, Vô nhiệt, Thiện kiến, Đại thiện kiến và A ca ni tra. Ngoài ra cũng có các kinh luận chủ trương các thuyết khác nhau như 22 tầng trời, 21 tầng trời, 17 tầng trời, 16 tầng trời... [X. luậnLập thế a tì đàm Q.6; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2; luận Đại thừa A Tì Đạt Ma Tạp tập Q.6]. (xt. Sắc Giới).

sắc hoàng

(勅黃) Sắc chỉ của Thiên tử viết trên giấy màu vàng. Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại48,1131 thượng) nói: Các bậc tôn túc danh đức thời xưa phần nhiều vâng theo sự triệu thỉnh của triều đình và các ngôi chùa lớn nổi tiếng hễ nhận được Thánh chỉ sắc hoàng thì vị Trụ trì liền chấp hành đầy đủ nghi thức tạ biểu.

sắc hữu

Một trong tam hữu—One of three kinds of existence, material existence. ** For more information, please see Tam Hữu. ; (色有) Chỉ cho cõi Sắc, 1 trong 3 hữu: Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu, đồng nghĩa với 3 cõi Dục, Sắc và Vô Sắc. Vì quả báo của Tứ thiền thiên thuộc cõi Sắc là có thật nên gọi cõi Sắc là Sắc hữu.[X. kinh Bồ tát thiện giới Q.1; luận Đại trí độ Q.3]. (xt. Tam Hữu, Sắc Giới).

Sắc không

(色空): sắc và không. Sắc (s, p: rūpa, 色) là cái mang tính vật chất. Không (s: śūnya, p: suñña, 空) là cái không có thật thể cố định. Trong Kinh Bát Nhã của Phật Giáo Đại Thừa đã phủ định triệt để hết thảy mọi cố định của các sự vật hiện tượng (sắc, pháp, v.v.) và chính Long Thọ (s: Nāgājruna, 龍樹) đã hoàn chỉnh và hình thành nên hệ thống lý luận triết học về Không này.

sắc không ngoại đạo

Một trong mười loại ngoại đạo, phủ nhận sắc hữu, tìm cầu sự tự kiểm soát và cho rằng đây là niết bàn (dùng sắc phá hữu dục, dùng không phá sắc hữu)—One of the ten kinds of heretics, who denied material existence, and consequently sought self-control, or nirvana.

sắc kim cương

(色金剛) Phạn: Rùpa-vajra. Vị Bồ tát ngồi ở cửa phía đông của viện ngoài hội Lí thú trong Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo, tương đương với bồ tát Câu trong Tứ nhiếp bồ tát. Vị tôn này dùng sắc đẹp và đức hạnh để hóa độ chúng sinh nên gọi là Sắc kim cương. Theo Lí thú hộiquĩ thì chân ngôn của vịtôn này là: Án (oô) phạ nhật ra (vajra,kim cương) rô bế (rùpe, sắc) nhạ (ja#, chủng tử câu). Ấn khế cũng dùng ấn Tứ minh, tức là kết ấn Hàng tam thế, co ngón tay trỏ lại thành hình móc câu. Vị tôn này cầm cái móc câu để biểu thị bản thệ nội chứng của mình. [X.Bát nhã ba la mật đa lí thú kinh đại thừa bất không tam muội chân thực kim cương tát đoá bồ tát đẳng nhất thập thất thánh đại mạn đồ la nghĩa thuật].

sắc lượng

(色量) Trong kinh điển Phật giáo, từ ngữ Sắc lượng được dùng để chỉ chung cho các đơn vị của các loại vật chất. Theo luận Câu xá quyển 12 thì đơn vị nhỏ nhất của sắc pháp là cực vi, 7 cực vi là 1 vi (Phạn: Aịu), 7 vi là 1 kim trần (Phạn: Loha-raja), 7 kim trần là 1 thủy trần (Phạn: Ap-raja), 7 thủy trần là 1 thố mao trần (Phạn: Zaza-raja), 7 thố mao trần là 1 dương mao trần (Phạn: Aviraja), 7 dương mao trần là 1 ngưu mao trần (Phạn: Go-raja), 7 ngưu mao trần là 1 khích du trần (Phạn: Vàtàyanacchidra-raja), 7 khích du trần là 1 con rận con (Phạn: Likwà), 7 con rận con là 1 con rận mẹ (Phạn: Yùka), 7 con rận mẹ là 1 hạt lúa mạch (Phạn: Yava), 7 hạt lúa mạch là 1đốt ngón tay (Phạn: Aíguliparva). Trên đây đều thuộc đơn vị dung tích. Ấn Độ còn định đốt ngón tay là đơn vị cơ bản đo chiều dài, 3 đốt ngón tay là 1 ngón tay (Phạn: Aígula), 24 ngón tay là 1 khuỷu tay (Phạn: Hasta), 4 khuỷu tay là 1 cung (Phạn: Dhanu), 500 cung là 1 câu lô xá (Phạn: Kroza), 8 câu lô xá là 1 du thiện na (Phạn: Yojana, tức do tuần). Như vậy, ta có thể biết sự đo lường dung tích của Ấn độ theo pháp tiến 7. Căn cứ theo sự giải thích trong Câu xá luận pháp nghĩa thì bất luận là vật chất phân tích đến đơn vị nào cũng đều phải đủ 7 phần (ngoại trừ cực vi) là: Trên, dưới, trái, phải, trước, sau, chính giữa. Theo luận Đại tì bà sa quyển 136 thì Vi (7 cực vi bằng 1 Vi) là sắc trần bé nhỏ nhất mà nhãn thức duyên theo, chỉ có mắt chư thiên, mắt Chuyển luân vương và mắt Bồ tát hậu hữu mới thấy được. Kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4 nói rằng: Chúng sinh không thể thấy được cực vi trần, chỉ có Như Lai và Bồ tát thân sau cùng mới thấy được. Về Sắc lượng, trên đại thể, các kinh luận nói giống nhau, chỉ có tên dịch là khác. Chẳng hạn như Cực vi có chỗ dịch là Lân hư và dịch âm là Ba la nô la xà; Vi có chỗ dịch âm là A nhu, a nậu; kim trần có chỗ dịch là thiết trần, đồng trần... [X. luận Tạp a tì đàm tâm Q.2; Câu xá luận quang kí Q.12; Đại đường tây vực kí Q.2]. (xt. Do Tuần, Câu Lô Xá, Cực Vi).

sắc nhập

Chỗ hay nơi mà căn trần gặp nhau thì gọi là “Sắc Nhập” hay “Sắc Xứ,” một trong thập nhị nhơn duyên—The entrances, or places, where the organs and objects of physical sense meet, one of the twelve nidanas. ** For more information, please see Lục Nhập.

sắc pháp

Rupani (skt)—Material. ; (色法) Phạn: Rùpa-dharma. Danh từ chỉ chung cho vật chất tồn tại, tức là những vật có tính chất ngại và biến hoại chiếm 1 khoảng không gian nhất định, ngăn trở lẫn nhau. Tất cả pháp có thể chia làm 5 vị: Sắc pháp, Tâm pháp, Tâm sở pháp, Tâm bất tương ứng hành pháp và Vô vi pháp. Trong đó, Sắc pháp trong 5uẩn gọi là Sắc uẩn, Tâm pháp gọi là Thức uẩn. Trong 5 vị 75 pháp của tông Câu xá Tiểu thừa và trong 5 vị 100 pháp của tông Pháp tướng Đại thừa, Sắc pháp được chia làm 3 loại 11 món: 1. Ngũ căn: Nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân. 2. Ngũ cảnh: Sắc, thanh, hương, vị, xúc. 3. Vô biểu sắc. Trong 5 vị 75 pháp, Sắc pháp được đặt trước Tâm pháp, vì nó có khả năng dẫn khởi các pháp nhơ nhớp như tham muốn, đắm đuối say mê... và được coi là đối tượng quan trọng nhất cần được đối trị. Còn trong 5 vị 100 pháp thì Sắc pháp đặt sau Tâm pháp và Tâm sở pháp, vì chính nó không có công năng sinh khởi mà chỉ là sự biến hiện của Tâm và Tâm sở. (xt. Tâm, Sắc).

sắc quang

Thân quang hay ánh hào quang, đối lại với “tâm quang;” mỗi vị Phật đều có đầy đủ cả hai—Physical light in contrast with light of the mind; every Buddha has both. ; (色光) Cũng gọi Ngoại quang, Thân quang. Đối lại: Tâm quang. Chỉ cho ánh sáng từ sắc thân của Phật, Bồ tát phóng ra. Trong các thứ sắc quang, ánh sáng từ toàn thân đức Phật phóng ra, gọi là Cử thân quang; ánh sáng từ tướng nào đó trong 32 tướng phóng ra, gọi là Tùy nhất tướng quang; ánh sáng phóng ra từ tướng Bạch hào (sợi lông trắng ở giữa 2 đầu chân mày), gọi là Bạch hào quang, Hào quang, Mi gian quang; ánh sáng phóng ra từ lỗ chân lông, gọi là Mao khổng quang; ánh sáng tròn từ đỉnh đầu phóng ra, gọi là Đầu quang; ánh sáng từ phía sau lưng của Phật phóng ra, gọi là Hậu Quang. (xt. Quang Minh).

sắc quang minh

Physical light.

sắc sai trụ trì viện

(勅差住持院) Chỉ cho những chùa viện thuộc cấp cao nhất ở đời Tống, được triều đình đãi ngộ đặc biệt. Vị Trụ trì của các chùa viện này do sắc chỉ của vua bổ nhiệm, khác hẳn với các chùa viện thông thường và chùa viện thập phương. Trong các tông phái, Thiền Tông chiếm số nhiều các chùa viện thuộc loại này.

sắc sứ niêm hương

(勅使拈香) Niêm hương cảm tạ vị Sắc sứ. Thời xưa, vị Trụ trì các ngôi chùa lớn nổi tiếng ở Trung Quốc là do sắc chỉ của vua tuyển chọn và bổ nhiệm, ngày cử hành lễ nhập tự, vua sai sứ đến dự và vị tân Trụ trì niêm hương cảm tạ sứ giả, gọi là Sắc sứ niêm hương. Môn Tùng quĩ 9 trong Thiền Lâm Tượng Khí Tiên ghi: Hai chùa Đại Đức và Diệu Tâm được vua bổ nhiệm Trụ trì, cho nên vào ngày khai đường, vị Sắc sứ đến dự pháp hội, 2 chùa viện đều niêm hương cảm tạ sứ giả.

sắc thanh

Thấy và nghe được—The visible and audible.

sắc thân

Rupakaya (skt)—Thân do các sắc pháp như tứ đại ngũ trần tạo ra của Phật, đối lại với pháp thân hay chân thân của Phật (phần tâm linh phi vật chất và bất tử)—The physical body (of the Buddha), as contrasted with the dharma-kaya, the immaterial, spiritual, or immortal body. ; (色身) Phạn, Pàli: Rùpa-kàya. Đối lại: Pháp thân, Trí thân. Chỉ cho nhục thân của đức Phật, có đầy đủ 32 tướng. [X. luận Thập trụ tì bà sa Q.12; Đại thừa nghĩa chương Q.19].

sắc thân viên đức

(色身圓德) Đức viên mãn của sắc thân Như lai, thuộc về Quả viên đức trong 3 Viên đức. Cứ theo luận Câu xá quyển 27 thì sắc thân viên đức có 4: 1. Đầy đủ 32 tướng. 2. Đủ 8 nét đẹp tùy hình. 3. Có sức mạnh lớn. 4. Xương trong thân cứng chắc hơn kim cương, ngoài chiếu ánh sáng hơn trăm nghìn mặt trời.

sắc thải

(色彩) Chỉ cho 5 màu sắc chính: Xanh, vàng, đỏ, trắng, đen là những màu sắc đẹp đẽ được dùng để trang nghiêm, như ánh sáng 5 màu ở cõi Tịnh độ của Phật A Di Đà, sợi tơ 5 màu trong kinh Dược Sư, áng mây ngũ sắc của bồ tát Thiên thủ Quan Âm... Mật giáo dùng 5 màu phối hợp với giáo nghĩa 5 Phật, 5 trí, 5 đại, 5 căn... Lá cờ Phật giáo cũng được biểu trưng bằng 5 màu xanh, vàng,đỏ,trắng và cam. Ngoài ra, thông thường hoa 5 màu, màn 5 màu cũng được xử dụng làm các đạo cụ để trang nghiêm đạo tràng. (xt. Ngũ Sắc, Phật GiáoGiáo Kì).

sắc thị sắc, không thị không

Matter is matter, immaterial is immaterial.

sắc thụy

(敕諡號) Cũng gọi Sắc thụy hiệu. Danh hiệu do triều đình truy tặng cho người đã qua đời căn cứ theo đức hạnh lúc còn sống. Tại Trung Quốc, việc vua ban hiệu cho chư tăng bắt đầu từ Minh Nguyên đế (ở ngôi 409-423) đời Bắc Ngụy; thời ấy, ngài Pháp quả được truy tặng hiệu là Hồ Linh Công. Đến đời Đường, vào năm Thần long thứ 2 (706), vua Trung tông truy tặng ngài Thần tú hiệu Đại Thông Thiền Sư. Ngoài ra, sau các tăng hiệu được ban thường có thêm những từ tôn xưng như Đại sư, Quốc sư, Thiền sư, Bồ tát, Hòa thượng, Pháp sư, Thượng nhân...

sắc trần

Ruparammana (skt)—The visual object—Một trong lục trần, các màu sắc (xanh, đỏ, vàng, trắng, v.v.) và hình sắc hấp dẫn của nam nữ (mang tánh ô nhiễm)—The quality of form, color, or sexual attraction. ** For more information, please see Lục Trần. ; (色塵) Chỉ cho đối cảnh mà nhãn căn, nhãn thức duyên theo, thu lấy, 1 trong 5 trần, 1 trong 6 trần. Sắc này làm cho tâm thức nhơ nhớp, sinh ra phiền não, cho nên gọi là Trần (bụi bặm). (xt. Ngũ Cảnh, Ngũ Trần, Sắc).

Sắc tu Bách Trượng thanh quy

敕修百丈清規; C: chìxiū bózhàng qīngguī; J: rokushu hyakujō shōki;|Sách, 1 quyển, tên gọi tắt là Bách Trượng thanh quy (百丈清規).

sắc tu bách trượng thanh quy

(勅修百丈清規) Gọi tắt: Sắc tu thanh qui, Bách trượng thanh qui. Thanh qui, 10 quyển (có chỗ ghi 2 quyển), do ngài Đông dương Đức huy biên soạn vào đời Nguyên, các ngài Toàn ngộ Đại hân và sa môn Học nghiệp cùng giáo chính, được thu vào Đại chính tạng tập 48. Năm Chí nguyên thứ 2 (1336) đời Nguyên, ngài Đức huy vâng sắc chỉ của Hoàng đế Thuận tông, đem bộ Bách trượng cổ thanh qui ở Đại trí Thọ thánh Thiền tự tại núi Bách Trượng, đối chiếu, tham khảo và so sánh với các bộ Cổ thanh qui, Giáo định thanh qui, Bị Dụng thanh qui và Huyễn Trụ thanh qui... rồi kết hợp lại để biên tập thành bộ Sắc tu Bách trượng thanh qui này. Nội dung của bộ thanh qui này chia làm 9 chương: 1. Chương Chúc li: Liệt kê 6 điều mục về cách thức chúc tụng tán thán đối với triều đình. 2. Chương Báo ân: Tán tụng công ơn quốc gia và ân đức rộng lớn của Phật. 3. Chương Báo bản: Liệt kê các điều mục theo thứ tự về ngày Phật đản sinh, Phật thành đạo, Phậtniết bàn và đề cao tinh thần báo ân. 4. Chương Tôn tổ: Ghi những ngày kị của 4 vị là tổ Đạt Ma, tổ Bách Trượng, tổ Khai Sơn và vị thầy nối pháp để báo đáp ân đức Tổ sư. 5. Chương Trụ trì: Đề ra 17 mục như Thướng đường, Tiểu tham, Nhập viện, Thiên hóa... để chỉ cho vị Trụ trì biết những việc phải làm hàng ngày. 6. Chương Lưỡng tự: Gồm 21 hạng mục chỉ dạy sự tiến thoái của Lưỡng tự (nhà Đông, nhà Tây), cách đi và đến của Thị giả, phép pha trà đun nước và các việc linh tinh khác. 7. Chương Đại chúng: Chỉ dạy các phép tắc hàng ngày như việc độ sa di, cách tham đường của người mới thụ giới Cụ túc, cho đến việc du phương tham thỉnh, phó trai chúc, phổ thỉnh, niệm tụng bệnh tăng... 8. Chương Tiết lạp: Nói về các việc kết chế, giới lạp, niệm tụng... 9. Chương Pháp khí: Nêu rõ tất cả pháp khí như: Chuông, mộc bản, mõ, khánh, trống... và chỉ dạy cách đánh các pháp khí này. Chín chương trên đây bao gồm hết các thanh qui của Thiền lâm. Đầu quyển có lời Thượng dụ viết vào năm Chí nguyên thứ 2 (1336) và bài tựa lần khắc in lại của quan Thượng thư bộ Lễ Hồ Huỳnh viết vào tháng 4 năm Chính thống thứ 7. Cuối quyển có bài minh tháp tổ Bách trượng, bài Bách Trượng Sơn Thiên Hạ Sư Biểu Các Kí của Hoàng tấn, bài tựa Cổ thanh qui của Dương Ức, bài tựa Sùng ninh thanh qui, bài tựa Hàm thuần thanh qui, bài tựa Chí đại thanh qui và bài tựa của Hàn Lâm Trực học sĩ Âu Dương Huyền viết vào tháng 3 năm Chí nguyên thứ 2 (1336). Cũng tháng 3 năm Chí nguyên thứ 2, tác giả Đức huy viết lời tựa, trong đó có đoạn (Đại 48, 1159 thượng): Bách trượng thanh qui vẫn còn lưu hành trong thế gian. Từ đời Đường đến nay, trải qua nhiều đời, bao nhiêu thay đổi khác nhau, do đó, không tránh khỏi có sự thêm bớt, luôn luôn thấy có các bản xuất hiện, người học không biết phải theo bản nào nên sinh ra ngờ vực, đó chính là nguyên do soạn bộ sách này. [X. Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Vĩnh bình thanh qui Q.hạ; Tăng đường thanh qui phàm lệ; Thiền học tư tưởng sử .thượng].

sắc tâm

1) Sắc (pháp có hình chất gây trở ngại và không có tri giác): Matter or material. 2) Tâm (pháp không có hình chất, không thể thấy được, nhưng có tri giác): Mind or immaterial. 3) Ở chư pháp thì gọi là “Sắc Tâm,” trong các loài hữu tình thì gọi là “Thân Tâm”: In inanimate we call “Material and immaterial,” in living things or animate we call “Matter and mind.”

sắc tướng

Rupalakshana (skt)—Tướng mạo sắc thân bên ngoài, có thể nhìn thấy được hay các đặc trưng của cơ thể—Material appearance—External manifestation—The visible or corporeal features. ; (色相) I. Sắc Tướng. Hình chất và tướng dáng, là 1 trong các bản chất của tất cả sắc pháp. Bất luận là sinh mệnh hữu tình hay khí thế gian đều có hình chất và tướng dáng của nó. Kinh Lăng nghiêm quyển 3 (Đại 19, 115 hạ) nói: Sắc tướng đã không có thì ai biết được bản chất của không? II. Sắc Tướng. Chỉ cho tướng dáng của sắc thân hiện ra bên ngoài có thể thấy được. Như chư Phật, Bồ tát vì phương tiện nhiếp hóa chúng sinh nên tạm thời giả hiện ra tướng dáng sắc thân. Kinh Hoa Nghiêm quyển 1, nói: Vô biên sắc tướng, ánh sáng tròn đầy.

sắc tướng độ

Thế giới sắc tướng của chư Phật (có thể thấy được)—A Buddha's material or visible world. ; (色相土) Chỉ cho cõi nướcnươngở của sắc thân vi trần tướng hải của Như lai, là 1 trong Ngũ độ. Cõi này muôn đức thành tựu và trang nghiêm bằng vô số báu vật, rộng khắp không ngằn mé. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.20]. (xt. Ngũ độ).

Sắc tứ

(敕賜): Hoàng Đế hạ lệnh ban cho. Như trong Đại Đường Thanh Long Tự Tam Triều Cúng Phụng Đại Đức Hành Trạng (大唐青龍寺三朝供奉大德行狀, Taishō Vol. 50, No. 2057) có đoạn: “Sắc tứ đao nhất khẩu, ư Thanh Long Đại Phật Điện tiền, thọ sắc dữ Hòa Thượng nhị đồng tử thế đầu, tứ Ca Sa y bát các lưỡng phó (敕賜刀一口、於青龍大佛殿前、授敕與和上二童子剃頭、賜袈裟衣缽各兩副, nhà vua sắc ban cho đao một lưỡi, tại trước Chánh Điện của Chùa Thanh Long, sắc ban cho Hòa Thượng [Huệ Quả] hai đồng tử xuống tóc, ban y Ca Sa và bình bát, mỗi thứ hai bộ).” Hay trong Kim Sử (金史) quyển 38, phần Ngoại Quốc Sứ Nhập Kiến Nghi (外國使入見儀) có đoạn: “Thứ dẫn Cao Lệ, Hạ sứ tinh chí đan trì, tam sứ tinh cúc cung, hữu sắc tứ tửu thực, vũ đạo, ngũ bái (次引高麗、夏使幷至丹墀、三使幷鞠躬、有敕賜酒食、舞蹈、五拜, kế đến dẫn sứ thần Cao Lệ, nhà Hạ cùng đến thềm ngọc, cả ba sứ thần vòng tay cúi đầu, vua ban cho rượu thịt, nhảy múa, rồi lạy năm lạy).” Xưa kia, dưới thời quân chủ, phần lớn các tự viện đều được nhà vua ban biển ngạch sắc tứ. Như tại Chùa Trúc Lâm ở Xã Thủy Xuân, Thành Phố Huế có bức hoành đề: “Sắc Tứ Trúc Lâm Đại Thánh Tự (敕賜竹林大聖寺)”. Tại Chùa Quốc Ân, Huế có Long Vị của Tổ Nguyên Thiều (元韶, 1648-1728) đề: “Sắc Tứ Quốc Ân Đường Thượng Lâm Tế Chánh Tông Tam Thập Tam Thế Húy Nguyên Thiều Thượng Thọ Hạ Tôn Lão Hòa Thượng (敕賜國恩堂上臨濟正宗三十三世諱元韶上壽下尊老和尚).”

sắc tứ quan âm cổ tự

See Quan Âm Sắc Tứ Tự.

sắc tứ tập phước

See Tập Phước.

sắc tứ từ ân tự

See Từ Ân Sắc Tứ Tự.

sắc tức thị không

(色即是空) Phạn: Rùpaô-zùnyatà hoặc Yad rùpaô sà zùnyatà. Đối lại: Không tức thị sắc. Sắc tức là không, câu này có xuất xứ từ Bát Nhã Tâm Kinh do ngài Huyền trang dịch. Chữ Sắc, theo nghĩa rộng, chỉ chung cho vật chất. Câu này có nghĩa là tất cả hiện tượng đều là không vô, hư huyễn, chẳng có thực thể. Tiểu thừa cho con người là do 5 uẩn hòa hợp, trong đó không có thực thể tồn tại độc lập nên nói Nhân vô ngã. Đại thừa chẳng những cho nhân vô ngã mà ngay cả 5 uẩn cũng hư giả chẳng thật, nên nói Pháp vô ngã. Nói 5 uẩn đều không, tức là bất luận hiện tượng vật chất (tương đương với sắc) hay hiện tượng tinh thần (thụ, tưởng, hành, thức), đều thuộc pháp nhân duyên sinh, không có tự thể cố định bất biến, vì thế bản chất của sắc là không. [X. Bát nhã ba la mật đa tâm kinh; phẩm Thực tế trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.25; kinh Liễu nghĩa bát nhã ba la mật đa; phẩm Nhập bất nhị pháp môn kinh Duy ma Q.trung; luận Đại trí độ Q.90; phẩm Quán hành Trung luận Q.2; Bát nhã tâm kinh sớ; Bát nhã ba la mật đa tâm kinh tán; Hoa nghiêm chú pháp giới quán môn]. (xt. Không Tức Thị Sắc).

sắc tức thị không, không tức thị sắc

Rupam eva sunyata, sunyataiva rupam (p & skt)—Trong Bát Nhã Tâm Kinh, Đức Phật bảo ngài Xá Lợi Phất: “Này Xá Lợi Phất! Thế giới hiện tượng hay sắc tướng này là không, và không quả thực là thế giới hiện tượng. Không không khác với thế giới hiện tượng hay Sắc, thế giới hiện tượng hay Sắc không khác với Không. Cái gì là thế giới hiện tượng thì cái đó là Không, cái gì Không thì cái đó là thế giới hiện tượng”—Matter is just the immaterial, the immaterial is just matter (form is emptiness and the very emptiness is form). In the Heart Sutra, the Buddha told Sariputra: “Sariputra! This phenomenal world or form is emptiness, and emptiness is truly the phenomenal world. Emptiness is not different from the phenomenal world, the phenomenal world is not different from emptiness. What is the phenomenal world that is emptiness, what is emptiness that is the phenomenal world.”

sắc tự tướng

Rupasvabhava (skt)—Tự tính của thế giới bên ngoài—The self-nature of the external world.

sắc uẩn

Sắc uẩn thuộc về thân, còn bốn uẩn kia thuộc về tâm—The skandha of rupa (or that which has form)—Aggregate matter or the skandha of form relates to the physical body, while the remaining four concern the mind. ; (色蘊) Phạn: Rùpa-skandha. Pàli:Rùpa-kkhandha. Cũng gọi Sắc ấm, Sắc tụ ấm. Sự tụ tập của các pháp có tính chất ngại và biến hoại, là 1 trong 5uẩn. Theo luận Hiển dương thánh giáo quyển 5 thì Sắc uẩn đại khái có 5 tướng: 1. Tự tướng: Các pháp sắc thân đều có tướng riêng khác nhau, như cứng là tướng của đất, ướt làtướngcủa nước, nóng là tướng của lửa, động là tướng của gió. 2. Cộng tướng: Tướng hòa hợp của các pháp sắc thân, nghĩa là tất cả sắc thân đều từ đất nước lửa gió hòa hợp thành tướng. 3. Sở y năng y tương thuộc tướng: Tức sắc thân 4 đại chủng là tướng sở y, sắc 4 đại tạo là tướng năng y. 4. Thụ dụng tướng:Các căn mắt, tai... có sức tăng thượng nên sản sinh ra các cảnh giới sắc trần, từ đó có tướng thụ dụng khổ vui nghịch thuận. 5. Nghiệp tướng: Sắc thân có khả năng tạo tác các tướng nghiệp hành, cho nên tất cả nghiệp hành đều nhờ sắc thân nhiếp thụ mà tăng trưởng. [X. kinh Tạp A Hàm Q.2; kinh Tăng Nhất A Hàm Q.26; luận Đại Tì Bà Sa Q. 75, 76, 128; luận Tạp A Tì Đàm Tâm Q.1, 2; Câu xá luận quang kí Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.5, phần đầu; luận Thuận chính lí Q.1; luận Đại thừa A Tì Đạt Ma Tạp tập Q.1; luận Đại thừa bách pháp minh môn; luận Duy thức Q.1, 2; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 1]. (xt. Ngũ Uẩn).

sắc vi

Vi trần—Atoms of things, of form, or colour.

sắc vị

Hương vị của sự hấp dẫn dục tình—The flavour of sexual attraction, or love of women.

sắc xứ

See Sắc Nhập.

sắc y

(色衣) Màu sắc của áo ca sa. Theo phẩm Thế gian giới trong kinh Văn thù sư lợi vấn quyển thượng thì 5 bộ (Đàm vô đức, Tát bà đa, Di sa tắc, Ca diếp di và Ma tăng ha kì) được khu biệt bằng màu sắc của áo ca sa, đời sau bèn dựa vào đó để biểu thị thứ bậc cao thấp của tăng chúng, nên ý nghĩa đã khác nhau. Nguyên do Sắc y của chư tăng Phật giáo Trung quốc bắt nguồn từ những tử y (áo tía), phi y (áo màu hồng đào) mà triều đình ban cho các bậc Cao tăng, Đại đức, hoặc vì mục đích lãnh đạo tăng ni mà đặt ra 1 màu áo nhất định để may phục sức của các vị quan tăng. Về sau, các tông căn cứ vào màu sắc của áo pháp để phân biệt cấp bậc của chư tăng. [X. điều Sắc y trong Phật tượng tiêu xí nghĩa đồ thuyết Q.thượng; Hiển mật uy nghi tiện lãm Q.thượng].

sắc âm

See Sắc Uẩn.

sắc ấm

một trong năm ấm. Xem năm ấm.

sắc, thanh, danh, lợi

Form, sound, fame, fortune or profit.

sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp

Forms, sounds, scents, tastes, textures (touches), and mental objects.

sắp

1) To put in order—To arrange. 2) To be on the point of (about to).

sắp xếp thời khắc tu hành

To establish (arrange) a time-table (frame) to practice the way.

sắp đặt

See Sắp (1).

sắt

Ống sáo—A lute.

sắt thạch

Tảng đá dùng làm ngôi cho Bất Động Minh Vương—The stone of which the throne of Arya-acalanatha-raja consists—See Bất Động Minh Vương.

Sằn-đề ba-la-mật

phiên âm từ Phạn ngữ là Kṣantipramit, tức là Nhẫn nhục ba-la-mật, một trong sáu pháp ba-la-mật. Cũng gọi là Nhẫn độ.

sẳn có

Available.

sẳn sàng

Ready—Prepared.

sỉ

1) Răng: Đặc biệt là răng trên phía trước—Teeth (especially the front and upper teeth). 2) Sỉ Nhục: Disgrace—Shame—Ashamed.

sỉ mạ

To affront—To insult.

sỉ mộc

Dantakastha (skt)—Cái que tăm làm sạch răng—A stick for cleaning the teeth.

sỉ nhục

Disgrace—Dishonour—Shame.

sỉ tiểu mộ đại

Chối bỏ hay mắc cở với cái nhỏ (Tiểu Thừa) và mến mộ cái lớn (Đại Thừa)—Ashamed of the small (Hinayana) and in love with the great (Mahayana). ; (耻小慕大) Hổ thẹn nhỏ, mến chuộng lớn. Nghĩa là khởi tâm hổ thẹn đối với sự nông cạn, yếu kém của Tiểu thừa giáo mà hâm mộ sự cao siêu, tôn quí của Đại thừa giáo. Trong 5 thời phán giáo do tông Thiên thai thành lập thì thời Phương đẳng thứ 3 là thời pháp quở trách sự thiên chấp của Tiểu thừa và khen ngợi sự viên dung của Đại thừa. Hàng Thanh văn được nghe thời pháp này liền phát tâm Sỉ tiểu mộ đại. Đây là lợi ích của sự quở trách ở thời Phương đẳng vậy. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.4; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.10]. (xt. Đàn Thiên Tích Tiểu).

sỉ ấn

Ấn có hình răng cưa—A serrated seal.

sị

Bí sị—Sad.

sỏi đời

Experienced.

số

1) Con số: Number (n). 2) Đếm số: To Count—To Enumerate—To figure out. 3) Số mệnh: Fate—Destiny—Lot. ; (數) Phạn: Saôkhyà. Số lượng biểu thị sự tồn tại của các pháp, 1 trong 24 pháp Bất tương ứng hành của tông Duy thức, 1 trong 24 đức của học phái Thắng luận. Ấn Độ chia Số làm 3 loại: Đơn số (1 số), Song sốb(2 số) và Phức số (nhiều số). Từ 1 đến vô số (Phạn:Asaôkhya, a tăng kì) thông thường được biểu thị bằng 52 loại số tăng dần theo pháp thập tiến (decimal system) như sau: Một, mười, trăm, nghìn, vạn, lạc xoa (Phạn: lakwa), a để lạc xoa (Phạn: atilakwa), câu chi (Phạn: koỉi), mạt đà (Phạn: madhya), a dođa (Phạn: ayuta), đại a do đa, na do đa (Phạn: nayuta), đại na do đa, bát la do đa, đại bát la do đa, căng yết la, đại căng yết la, tần bạt la, đại tần bạt la, a sô bà, đại a sô bà, tì bà ha, đại trí bà, đại địa trí bà, hê đô, đại hê đô, yết lạp bà, đại yết lạp bà, ấn đạt la (Phạn: indra), đại ấn đạt la, tam ma bát đam, đại tam ma bát đam, yết để, đại yết để, niêm phiệt la xà, đại niêm phiệt la xà, mỗ đạt la, đại mỗ đạt la, bạt lam, đại bạt lam, san nhã (Phạn: saôjĩà), đại san nhã, tì bộ đa, đại tì bộ đa, bạt la sàm, đại bạt la sàm, a tăng kì. A tăng kì cũng gọia tăng kì da,a tăng xí da,a tăng, tăng kì... Hán dịch là vô số, vô ương số, nghĩa là không thểtính đếm. Nhưng từ 1 đến a tăng kì vốn có 60 loại số, về sau thất lạc 8 số, cho nên chỉ còn 52 số, Phiên dịch danh nghĩa đại tập thì có thêmvào 8 số thất lạc mà thành 60 số. Ngoài ra, muốn biểu thị số cực lớn thì dùng số vi trần (bụi nhỏ) để ví dụ; phân số dưới số 1 là số cực nhỏ (hoặc1 phần 16), gọi là Ca la phần; phân số nhỏ nhất gọi là U ba ni sát đàm phần (Phạn: upaniwadam, Ưu ba ni sát đà phần). Kinh Hoa nghiêm quyển 45 (bản dịch mới) dùng 1 A tăng kì làm đơn vị rồi nêu ra 10 số:A tăng kì, vô lượng, vô biên, vô đẳng, bất khảsổ, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết, bất khả thuyết bất khả thuyết, đây gọi là Thập đại số. Phép tính này là đem A tăng kì nhân với A tăng kì, gọi là A tăng kì chuyển; A tăng kì chuyển lại nhân với A tăng kì chuyển thì thành vô lượng; các số lớn tiếp theo sau cứ đó mà suy ra. [X. luận Du già sư địa Q.3, 56; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Đại thừa bách pháp minh môn; Du già luận kí Q.15, phần cuối].

số châu

Lần chuỗi hạt, thường là 108—To count or tell beads (rosary), which consist of various numbers, generally 108. ; (數珠) Phạn: Pàsakamà là. Hán âm: Bát tắc mạc. Cũng gọi Niệm châu, Tụng châu, Chú châu. Tràng hạt dùng để niệm danh hiệu Phật. Theo kinh Đà la ni tập thì tràng hạt có các loại: 21 hạt, 42 hạt, 54 hạt và 108 hạt. Theo kinh Sổ châu công đức thì có các loại: 14 hạt, 27 hạt, 54 hạt và 108 hạt. Theo kinh Kim cương đính du già niệm châu thì loại nhiều nhất là 1.080 hạt, thông dụng là 108 hạt, trung bình là 54 hạt và ít nhất là 27 hạt. Theo đó thì số hạt cơ bản là 108 hạt. Về ý nghĩa thì 108 hạt là chỉ cho 108 tam muội đoạn trừ 108 phiền não; 54 hạt là biểu thị 54 giai vị trong quá trình tu hành của Bồ tát như Thậptín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa và 4 thiện căn nhân địa; 42 hạt thì biểu thị cho 42 giai vị: Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác và Diệu giác; 27 hạt là chỉ cho 18 bậc Hữu học và 9 Vô học tu hành Tứ hướng, Tứ quả của Tiểu thừa; 21 hạt biểu thị 21 giai vị là Thập địa, Thập ba la mật và Phật quả; còn 14 hạt thì chỉ cho 14 đức vô úy của bồ tát Quán thế âm. Về chất liệu thì tràng hạt được làm bằng các loại vàng, bạc, đồng đỏ, hạt bồ đề, hạt sen, hạt kim cương, chiên đàn đen, chiên đàn đỏ, chân châu, san hô, hổ phách, lưu li, sắt... Các kinh phần nhiều cho rằng dùng hạt bồ đề là tốt hơn cả. Về niên đại thì Phật giáo bắt đầu sử dụng tràng hạt từ sau thế kỉ II. Truyện ngài Đạo xước trong Tục cao tăng truyện quyển 30 (Đại 50, 593 hạ) nói: Mọi người đều lần tràng hạt, miệng cùng niệm Phật. Nhờ đó mà biết được việc dùng tràng hạt để đếm danh hiệu Phật đã có từ thời Tùy, Đường ở Trung quốc. [X. kinh Mộc hoạn tử; phẩm Trì niệm trong kinh Đại bi không trí; Thích thị yếu lãm Q.trung; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.18; Loại tụ danh vật khảo Q.255]. (xt. Niệm Châu).

số cát sông Hằng

(Hằng hà sa số): số lượng rất lớn, không thể tính đếm, cũng như số cát của con sông Hằng. Trong kinh Phật thường dùng cách nói này để diễn đạt những số lượng rất lớn.

số diệt vô vi

See Trạch Diệt.

số duyên tận

Pratisamkhyanirodha (skt)—Số diệt vô vi—See Trạch Diệt.

số hành phiền não

Dục vọng và hậu quả của nó—The common passions and their consequences.

số kiếp

Destiny—Fate.

số luận

Các bộ luận của phái Tát Bà Đa Bộ (bàn về bản pháp số của Phật giáo)—The sastras of the Sarvastivadins. (I) Triết học Số Luận (Nhị Nguyên), mà Câu Xá Tông lấy làm nền tảng triết học chính, là một trong những nền triết học tối cổ ở Ấn Độ, có nhiều điểm tương đồng với Phật Giáo. Theo “Những Nền Tảng Triết Học Chính Yếu Của Phật Giáo” của Giáo Sư Junjiro Takakusu, thì phái nầy chủ trương rằng vạn hữu thường tồn dù chúng biến chuyển liên tục không ngừng nghỉ; không có cái gì mới xuất hiện, mà cũng không có cái gì biến mất. Tuy nhiên, Phật giáo chủ trương vạn hữu chỉ hiện hữu trong từng sát na, chứ hoàn toàn không có bản thể lưu tồn. Cả Số Luận và Phật Giáo đều phủ nhận lý thuyết về suy luận (tỷ lường). Do đó ta có thể nói Phật giáo chủ trương lý thuyết về thể tính tạm thời hay tức khắc (thuyết sát na diệt), nghĩa là mọi phân chia mọi thực tại thành những pháp “sát na sinh diệt.” Trong khi học phái Số Luận chủ trương thuyết “cực vi” và thừa nhận có ba thứ cực vi—The Sankhya Philosophy (Dualism), which the Kusa School based on for its main philosophy, one of the oldest philosophies of India, which has several tenets in common with Buddhism. According to Prof. Junjiro Takakusu in “The Essentials Buddhist Philosophy,” this school maintains that all things exist eternally though they are constantly changing; nothing new appears and nothing disappears. Buddhism, however, holds that everything exists only instantaneously; there is no abiding substance at all. Both Buddhism and the Sankhya Philosophy deny the theory of inherence. Buddhism may be said to hold, therefore, the theory of momentariness or instantaneous being. All reality may be split into separate elements which are instantaneous. The Kusa School maintains the atomic theory and asserts the existence of three atoms: 1) Vi Tế Cực Vi: Parama-anu (skt)—Bảy vi tế cực vi tạo thành hữu hình cực vi, là bản thể vật chất nhỏ nhất, có hình lập phương. Vi tế cực vi bất khả phân, vô cùng vi tế và không thể phân tích được nữa, nó chỉ có thể nhận ra được bằng thiền định—The finest atom. Seven of these finest atoms constitute the form atom which is the finest substance. It is of cubic form. The finest atom is the finest divisable atom of all and cannot be further analyzed. It is conceived only by meditation. 2) Hữu Hình Cực Vi: Anu (skt)—The form atom—Bảy hữu hình cực vi tạo thành vi trần cực vi mà mắt của một vị Bồ Tát , một vị Phật tương lai, có thể nhận thấy được—Seven of these form atoms constitute the fine dust atom which can be perceived by the eyes of a Bodhisattva, a future Buddha. 3) Vi Trần Cưc Vi: Rajas (skt)—The fine dust atom. (II) Theo Số Luận, mỗi yếu tố hay pháp tạo thành những dữ kiện giác quan và những dữ kiện tư tưởng trong từng sát na, được phái Duy Thực nói đến lần đầu tiên trong lịch sử triết học Ấn Độ. Ý niệm một sự thể không có bản thể thường trụ đi đôi với thuyết sinh diệt hay vô thường, mọi vật không thường tồn. Theo thuyết nầy thì chỉ có hiện tại là hiện hữu. Quá khứ không hiện hữu vì nó không còn nữa, và vị lai thì bất thực vì nó chưa xuất hiện. Thuyết nầy được các bộ phái Phật giáo khác trung thành chủ trương như: Đại Chúng Bộ, Pháp Tạng Bộ, và Kinh Lượng Bộ—According to the Sankhya, all elements or dharmas which constitute momentary sense-data and thought-data were enumerated by the Realistic School, perhaps for the first time in the history of Indian philosophy. The idea that a thing has no “sub-stance” goes along with the theory of change or impermanence, everything has no duration. According to this theory, only the present exists. The pas does not exist, because it is no more, and the future is not real, because it has not yet come into existence. This theory has been faithfully held by such other Buddhist schools as the Mahasanghika, the Mahisasaka, and the Sautrantika. ; (數論) Cũng gọi Số kinh. Tên gọi khác củaLuận tạng thuộc Thuyết nhất thiết hữu bộ (Tát bà đa bộ) Tiểu thừa, cũng là từ gọi thay cho Thuyết nhất thiết hữu bộ. Chữ số trong Số luận có 2 nghĩa, một là Tuệ số, hai là Pháp số. Nói theo nghĩa Tuệ số thì trong Tam học của Tam tạng, Thuyết nhất thiết hữu bộ chú trọng về A tì đàm, vì thế cũng gọi là Tì đàm tông. Giáo nghĩa của tông Tì đàm hiển bày là dùng Tuệ học để đoạn hoặc chứng lí, nhưng tông nghĩa của tông này lại đặc biệt chú trọng Tâm sở hữu pháp mà thời xưa cũng gọilàTâm số, do đó, có thể thấy tông này lấyTuệ số làm gốc, vì thế nên tên Luận tạng của tông này cũng gọi là Số luận. Nếu nói theo nghĩa pháp số thì Thuyết nhất thiết hữu bộ lập 75 pháp số; hơn nữa, tông nghĩa của tông này cũng là căn bản pháp số của Phật giáo, vì thế mà pháp do tông này nói hoặc Luận tạng do tông này y cứ được gọi là Số luận. Từ thời đại Nam Bắc triều đến khoảng đầu đời Đường, giới Phật giáo Trung quốc quen gọi các vị Luận sư của tông Thành thực là Luận gia, gọi các vị Luận sư của tông Địa luận là Địa sư và gọi các vị Luận sư của tông Nhiếp luận là Nhiếp sư, theo đó nên gọi các Luận sư của tông Tì đàm là Số gia, Số sư, Số nhân... Ngoài ra, trong 6 phái Triết học ở Ấn độ, phái được thành lập sớm nhất cũng gọi là Số luận (Phạn: Saôkhya), tông nghĩa của phái này dùng trí tuệ phân biệt để suy tính các pháp và theo đó mà đặt tên là Số luận. Mặc dù tên gọi của phái này đồng với tông Tì đàm của Tiểu thừa, nhưng giáo nghĩa và chỉ thú của 2 phái thì khác nhau rất xa, cho nên xưa nay trong kinh điển Phật giáo thường gọi phái này là Số luận ngoại đạo để phân biệt với Số luận Tì đàm của Phật giáo. [X. Pháp hoa huyền luận Q.8, 10; Duy ma nghĩa sớ Q.trung; Duy ma kinh am la kí Q.16; Ma ha chỉ quán Q.5 thượng, 6 thượng; Đại thừa huyền luận Q.2, 5]. (xt. Tì Đàm Tông).

số luận học phái

(數論學派) Số luận, Phạn: Saôkhya. Hán âm: Tăng khư, Tăng xí da. Hán dịch: Số luận, Số thuật, Chế số luận. Học phái Số luận được thành lập sớm nhất trong 6 phái triết học của Ấn độ. Tương truyền Tổ khai sáng là tiên nhân Ca tì la (Phạm:Kapila). Học phái này dùng trí tuệ phân biệt để tính toán các pháp, đồng thời lấy số làm nền tảng để đặt tên luận thuyết, cho nên gọi là phái Số luận. Ởthời kì đầu, phái này chủ trương tinh thần và vật chất hợp nhất thành Ngã tối cao, tức là đứng trên lập trường Hữu thần luận và Nhất nguyên luận; nhưng đến thời kì cuối thì phủ nhận Ngãtối cao, trở thành Nhị nguyên luận của Vôthần luận.Thần ngã là ý thức thuầntúy, không có tác dụng, chỉ quán chiếu tự tính mà thôi. Tự tính theo thứ lớp triển khai thành Giác (Phạn: Buddhi), Ngã mạn (Phạn: Ahaôkàra), Ngũ đại, Thập lục biến dị. Nguyên lí này cùng với Thần ngã, Tự tính gọi chung là 25 đế. Cái gọi là Tự tính (Phạn: Prakfti) có khả năng triển khai thành 1 hạt nhân duy nhấtmà yếu tố cấu thành là 3 đức: Thuần chất (Phạn: Sattva), kích chất (Phạn: Rajas) và ế chất (Phạn: Tamas). Thần ngã thoát li kết quả của vật chất, phát sinh sau khi triển khai. KhiThần ngã tách rời vật chất mà tồn tại độc lập thì gọi là giải thoát. Kinh điển xưa nhất của học phái này là Tăng khư tụng (Phạn: Saôkhyakàrikà) do ngài Tự tại hắc (Phạn: Ìzvarakfwịa) trứ tác vào khoảng thế kỉ IV, V. Những sách chú thích Tăng khư tụng gồm có luận Kim thất thập và các sách chú thích của Gauđapàda và Màỉhàra... đều xuất hiện vào khoảng thế kỉ thứ VI. Về sau lại có Tăng khư kinh (Phạn: Saôkhya-sùtrà), cũng là sách quan trọng của học phái này. Trong các ngoại đạo ở Ấn độ, Số luận là học phái có thế lực nhất. Trong các kinh điển của Phật giáo có rất nhiều chỗ bác bỏ học thuyết của phái này. Ngày nay, Số luận trở thành học phái độc lập tồn tại ở vùng phụ cận phía tây Ngõa lạp na tại Ấn độ. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.16, 39 (bản Bắc); luận Đại trí độ Q.70; luận Du già sư địa Q.6; luận Thành thực Q.3; luận Ngoại đạo tiểu thừaniết bàn; luậnNgoại đạo tiểu thừa tứ tông; luận Kim thất thập Q.hạ; Đại thừa nghĩa chương Q.6; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu; Ngoại đạo triết học; Ấn độ lục phái triết học].

số luận ngoại đạo sư

Kapila (skt)—Kiếp Tỳ La là người sáng lập ra Số Luận Ngoại Đạo. Bộ luận cố đặt vạn pháp trong 25 đế. Thiên Thân Bồ Tát đã viết Chân Thực Luận để phá lại bộ Tăng Khư Luận nầy—Founder of the Sankhya philosophy (Tăng Khư Luận). It is an attempt to place all concepts in twenty-five categories, with Purusa at the head and the others in ordered progress. It also teaches “the eternity and multiplicity of souls.” Vasubandhu wrote in criticism of the system.

số luận sư

Kapila (skt)—See Số Luận Ngoại Đạo Sư.

số luận tụng

(數論頌) Phạn: Saôkhya-kàrikà. Cũng gọi Số luận kệ, Tăng khư tụng. Kinh điển của học phái Số luận (Phạn: Sàôkhya) trong 6 phái triết học của Ấn độ, do ngài Tự tại hắc (Phạn: Ìzvara= kfwịa) soạn vào khoảng thế kỉ IV, V. Nội dung sách này gồm 72 bài kệ, chủ trương lấy việc quán tưởng các nỗi thống khổ của cuộc đời làm điểm xuất phát và lấy 25 đế làm nguyên lí cơ bản mà thực tiễn tu hành pháp quán, thì có thể đạt được giải thoát. Hết thảy các pháp đều có thể tóm thu trong 25 đế; 25 đế lấy Thần ngã (Phạn: Puruwa) và Tự tính (Phạn: Prakfti) làm 2 nguyên lí trọng đại, từ Tự tính triển khai thành Giác (Phạn: Buddhi) và Ngã mạn (Phạn:Ahaôkàra), từ Ngã mạn triển khai thành Ý căn (Phạn: Manas), 5 Tri căn (Phạn: Buddhìndriya, tức 5 giác quan), 5 Tác căn (Phạn: Karmendriya, tức cơ năng vận động), 5 Duy (Phạn:Tanmàtra, tức sắc, thanh, hương, vị, xúc), 5 Duy lại triển khai ra 5 Đại (Phạn: Mahàbhùta, tức đất, nước, lửa, gió, không). Bản chất của Tự tính là 3 đức: Thuần (Phạn: Sattva), Kích chất (Phạn: Rajas) và Ế chất (Phạn: Tamas), sự hoạt động biến hóa của 3 đức sản sinh ra hết thảy mọi hiện tượng. Thần ngã là trí thuần túy, không có thuộc tính, không có tác dụng. Nếu thể nhận được sự sai khác về mặt bản chất giữa Tự tính và Thần ngã thì Tự tính đình chỉ hoạt động mà được giải thoát. Về những sách chú thích quan trọng của Số luận tụng thì có luận Kim thất thập và các bộ chú thích của Cao đạt phạ đạt (Phạn: Gauđapàda) và Ma đạt la (Phạn: Màỉhara)...

số mệnh

Destiny.

số nhân

Another name for the Sarvastivahad—See Số Pháp Nhân in Vietnamese-English Section, and Sarvastivada in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

số pháp nhân

Người của bộ Tát Bà Đa hay Đại Chúng Bộ cho rằng vạn hữu là thực—Those of the Sarvastivadah school, who held that all things are real. ** For more information, please see Sarvastivada in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

số rủi

Bad luck.

số thủ thú

Pudgala (skt)—Bổ Đặc Già La—Tất cả các loài hữu tình đều phải lưu chuyển trong luân hồi sanh tử—A definition of Pudgala, i.e. all beings subject to transmigration.

số tức

See Sổ Tức.

số tức quán

(數息觀) Phạn: Ànàpàna-smfti. Cũng gọi: A na ban na quán, An na ban na niệm, Niệm an ban, An ban thủ ý. Hán dịch: Niệm nhập xuất tức, Niệm vô sở khởi, Tức niệm quán, Trì tức niệm. Gọi tắt: An ban, Sổ tức. Phép đếm số lần hơi thở vào hoặc ra để thu nhiếp tâm vào 1 cảnh, khiến thân tâm ngưng lặng, 1 trong Ngũ đình tâm quán, 1 trong Bát niệm, 1 trong Thập niệm. Đây là pháp tu diệt trừ tán loạn để vào chính định. Trong tiếng Phạm, àna vốn có nghĩa là bảo đến, ở đây chỉ cho hơi thở vào;apàna vốn có nghĩa là đuổi đi, ở đây chỉ cho hơi thở ra. Đây là phương pháp điều hòa hơi thở, trước thở vào, sau thở ra. Nhưng cũng có thuyết chủ trương trước thở ra, sau thở vào mà Hán dịch là Niệm xuất nhập tức. Nếu chia nhỏ Sổ tức quán ra thì có 5 loại: Toán số tu tập, Ngộ nhập chư uẩn tu tập, Ngộ nhập duyên khởi tu tập, Ngộ nhập thánh đế tu tập và Thập lục hành quán tu tập. [X. kinh Tạp a hàm Q.29; kinh Tu hành đạo địa Q.5; kinh Đại an ban thủ ý Q.hạ; luận Câu xá Q.22; luận Du già sư địa Q.27].

số đỏ

Good fortune—Luck.

sống chết

Life and death.

sống dai

To live long.

sống hòa hợp với người khác

To live in harmony with each other.

sống lại

To revive—To come to life again—To come alive again—To arise from death.

sống sót

To survive.

sống sượng

Tactless—Crude.

sống theo dục lạc

Sống theo dục lạc, bất cần đạo lý—To operate under the pleasure principle. Doing things in life that brings one pleasure regardless of morals and virtues.

sống thác

See Sống Chết.

sống thọ

Longevity. Những lời Phật dạy về “Sống thọ” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Longevity” in the Dharmapada Sutra: 1) Sống trăm tuổi mà phá giới và buông lung, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà trì giới, tu thiền định—To live a hundred years, immoral and uncontrolled, is no better than a single-day life of being moral and meditative (Dharmapada 110). 2) Sống trăm tuổi mà thiếu trí huệ, không tu thiền, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà đủ trí, tu thiền định—To live a hundred years without wisdom and control, is no better than a single-day life of being wise and meditative (Dharmapada 111). 3) Sống trăm tuổi mà giải đãi không tinh tấn, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà hăng hái tinh cần—To live a hundred years, idle and inactive, is no better than a single-day life of intense effort (Dharmapada 112). 4) Sống trăm tuổi mà không thấy pháp vô thường sinh diệt, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà được thấy pháp sinh diệt vô thường—To live a hundred years without comprehending how all things rise and pass away, is no better than a single-day life of seeing beginning and end of all things (Dharmapada 113). 5) Sống trăm tuổi mà không thấy đạo tịch tịnh vô vi, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà được thấy đạo tịch tịnh vô vi—To live a hundred years without seeing the immortal state, is no better than a single-day life of one who sees the deathless state (nirvana) (Dharmapada 114). 6) Sống trăm tuổi mà không thấy pháp tối thượng, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà được thấy pháp tối thượng—To live a hundred years without seeing the Supreme Truth, is no better than a single-day life of someone who see the highest law (Dharmapada 115).

sống tạm

To live temporarily.

sống vào của cúng dường

To live on alms.

sống vất vưởng

Precrious lives.

sống yên ổn

Life of tranquility.

sống đầy đủ

To live in comfort.

sống động

Vivid.

sống đời khổ cực

To lead a miserable life.

sốt sắng

Fervent—Zealous.

sồng sộc

To rush into the room.

Sổ diệt vô vi

xem Ba pháp vô vi.

sổ lồng

To escape from a cage.

sổ sanh tử

Register of births and deaths.

sổ tức

Đếm hơi thở, từ đó lắng đọng thân tâm vào thiền định—To count the breathings in order to calm mind and body for meditation.

sổ tức môn

Pháp môn thiền quán bằng cách đếm hơi thở để lắng đọng thân tâm—The method of meditation practice through counting the breathings in order to calm mind and body.

sổ tức quán

Anapanasatti (p)—Contemplation by counting the breathing. (A) Ý nghĩa của Quán Sổ Tức—The meanings of Contemplation by counting the breathing: Có nhiều phương pháp quán, nhưng quán sổ tức là dễ thực hành nhất. Sổ tức là phép quán đến hơi thở để loại trừ những tạp niệm. Trước khi bắt đầu phải thở ra hít vào khoảng 10 lần cho điều hòa. Khi thở ra nhẹ nhàng và dài, nên tưởng 'những điều phiền não tham sân si cũng như các chất ô trược đều bị tống khứ ra ngoài hết.' Khi hít vào cũng nhẹ nhàng và dài như lúc thở ra và tưởng 'những chất thanh tịnh của vũ trụ đều theo hơi thở thấm vào khắp thân tâm.' Điều cần nhớ là cần phải chuyên tâm vào hơi thở, không để tạp niệm xen vào; nếu có quên hay lầm lộn con số, đừng nên lo lắng, chỉ cần bắt đầu đếm lại rõ ràng—There are many methods of contemplation, but the method of contemplation by counting the breathing is the easiest way to practice. A meditation of counting breathings to eliminate scattering thoughts. First we inhale and exhale the air ten times for normalization. When exhaling deeply, imagine that what is impure in our body such as worry, greed, anger, and ignorance would be rejected in the atmosphere. When inhaling deeply, imagine that what is pure from the cosmos would follow the air to impregnate our body and mind. The most important detail to remember is to pay close attention to the breathing. Do not let the mind wander. If there is some error in the counting, don't worry, just do it again. (B) Có bốn cách đếm như sau—There are four ways of counting: 1) Đếm hơi chẳn—Even counting: Hít vào, thở ra đếm 1; hít vào thở ra đếm hai; đếm đến 10 rồi đếm lại trong khoảng thời gian 30 đến 45 phút: Counting the cycle of breathing that comprises both inhaling and exhaling. Count 1 for the first cycle, count 2 for the second cycle, and so on until 10 and do it again and again for 30 or 45 minutes. This way of counting is the most commonly applied. 2) Đếm hơi lẽ—Odd counting: Thở vào đếm 1, thở ra đếm 2, đếm đến mười rồi tiếp tục trở lại trong khoảng thời gian 30 đến 45 phút—Counting 1 for the inhaling process; counting 2 for the exhaling process until 10 and repeat the same process for 30 or 45 minutes. 3) Đếm thuận: Đếm theo hai cách trên tuần tự từ 1 đến 10—Counting from 1 to 10, utilizing either one of the above two methods. 4) Đếm nghịch: Đếm theo hai cách trên từ 10 đến 1—Counting from 10 to 1 utilizing either one of the above two methods.

Sớ

(疏): còn gọi là Sớ Văn (疏文), Văn Sớ (文疏), hay Tấu Sớ (奏疏), có hai nghĩa: (1) Là văn thư của quần thần điều trần dâng lên bậc trên như đức vua, như trong Văn Thể Minh Biện (文體明辯) của Từ Sư Tằng (徐師曾, 1546-1610) nhà Minh có giải thích rằng: “Án Tấu Sớ giả, quần thần luận gián chi tổng danh dã (按奏疏者、群臣論諫之總名也, xét Sớ Tâu là tên gọi chung của các văn thư do quần thần can gián, luận nghị).” Hay như trong Tống Sử (宋史) quyển 32, Truyện Chu Trác (朱倬傳) có đề cập rằng: “Mỗi thượng sớ, triếp túc hưng lộ cáo; nhược Thượng Đế giám lâm, Tấu Sớ phàm số thập (每上疏、輒夙興露告、若上帝鑒臨、奏疏凡數十, mỗi lần dâng sớ, thường kính cẩn thưa rõ ràng; nếu Thượng Đế giáng xuống, sớ tâu thường mười phong).” Hoặc như trong bài Khiển Hứng Thi (遣興詩) của thi hào Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường cũng có câu: “Thượng sớ khất hài cốt, hoàng quan quy cố hương (上疏乞骸骨、黃冠歸故鄉, dâng sớ xin hài cốt, mũ vàng về cố hương).” Tấu Sớ còn gọi là Tấu Chương (奏章), Tấu Nghị (奏議). (2) Trong khoa nghi của Đạo Giáo cũng như Phật Giáo, Sớ Văn được dùng rất rộng rãi và phổ biến, với tư cách là văn thư thành kính dâng lên đấng tối cao, đấng chí tôn như Thần, Thánh, Phật; là chiếc cầu tiếp nối giữa cõi hữu hình với thế giới vô hình. Như trong Đạo Giáo có các bộ Linh Bảo Văn Kiểm (靈寶文檢), Tâm Hương Diệu Ngữ (心香妙語), v.v., là những thư tịch chuyên dùng cho khoa nghi Công Văn. Về phía Phật Giáo có bộ Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, CBETA No. 1252), 4 quyển, do Thạch Cổ Chủ Nhân Thích Nguyên Hiền (石鼓主人釋元賢) nhà Minh (1368-1662) biên soạn. Một số văn sớ thường dùng trong Đạo Giáo như: Nguyên Đán Khánh Hạ Văn Sớ (元旦慶賀文疏), Ngọc Hoàng Thượng Đế Khánh Hạ Văn Sớ (玉皇上帝慶賀文疏), Thượng Nguyên Thiên Quan Đại Đế Khánh Hạ Văn Sớ (上元天官大帝慶賀文疏), Thái Thượng Lão Quân Khánh Hạ Văn Sớ (太上老君慶賀文疏), Huyền Thiên Thượng Đế Khánh Hạ Văn Sớ (玄天上帝慶賀文疏), Thiên Thượng Thánh Mẫu Khánh Hạ Văn Sớ (天上聖母慶賀文疏), Trương Thiên Sư Khánh Hạ Văn Sớ (張天師慶賀文疏), Trung Nguyên Địa Quan Đại Đế Khánh Hạ Văn Sớ (中元地官大帝慶賀文疏), Hạ Nguyên Thủy Quan Đại Đế Khánh Hạ Văn Sớ (下元水官大帝慶賀文疏), Bắc Đẩu Giải Ách Văn Sớ (北斗解厄文疏), An Phụng Thần Vị Văn Sớ (安奉神位文疏), An Phụng Trị Niên Thái Tuế Văn Sớ (安奉值年太歲文疏), v.v. Linh Bảo Văn Kiểm nhấn mạnh vai trò của Sớ Văn là: “tuyên diễn đạo pháp, lợi thế chi tân lương dã (宣演道法、利世之津梁也, bờ bến để tuyên bày đạo pháp và làm lợi ích cho cuộc đời).” Từ ý nghĩa đó, Sớ được dùng rộng rãi trong Phật Giáo như là phương tiện độ sanh cần phải có đối với mọi trường hợp, như trong tác phẩm này có giới thiệu. Đặc biệt, có một loại Sớ Văn gọi là Pháp Đường Sớ (法堂疏) được dùng trong Thiền môn, là văn từ của vị Trưởng Lão Trú Trì của một tự viện nào đó, dùng để khải thỉnh khai đường thuyết pháp.

sớ

1) Giải thích: Explanation. 2) Sớ dâng lên Tây Phương Giáo Chủ khẩn nguyện Ngài cứu độ những vong linh quá vãng—Request addressed to the Lord of the Western Paradise asking him to save the souls of the deceased. ; (疏) I. Sớ. Cũng gọi Nghĩa sớ. Từ gọi chung các sách chú thích kinh luận.Kinh Phật nghĩa lí sâu xa, nếu không sớ giải khai thông thì khó thấu hiểu được, cho nên cần phải theo văn nghĩa mà giải thích, phân biệt chỉ thú, thẩm định hơn kém, khiến không bị tắc nghẽn. Như Pháp hoa nghĩa sớ của ngài Trúc pháp sùng; Pháp hoa kinh sớ của ngài Trúc đạo sinh đời Đông Tấn... Văn chú giảiSớ gọi là Sao. Sao là lược sao, tức thuận theo bảnSớ gốc mà giải thích sơ lược thêm, làm cho diệu nghĩa của kinh sớ rõ ràng dễ hiểu hơn. [X. A di đà kinh sớ sao diễn nghĩa Q.1].II. Sớ. Cũng gọi Tuyên sớ. Chỉ cho lá sớ được đọc trước Phật để bày tỏ ý thú phát nguyện trong pháp hội. Như Khai bạch sớ, Kết hội sớ... Điều Diên trai trong Thiền uyển thanh qui quyển 6 (Vạn tục 111, 454 hạ) nói: Pháp sự xướng lễ, Duy na tuyên sớ.

sớ lặc

(疏勒) Phạn: Khàsa. Hán dịch: Ác tính, Bất chính ngữ. Cũng gọi Sa lặc, Khư bộ đát lặc, Già sa, Khư sa, Kì sa, Thất lợi,Ngật lật đa để, Ca sư cát lê, Khả thất cáp nhĩ. Tên 1 nước thời xưa ởTây vực. Có thuyết cho rằng tên này lấytên1 ngọn núi trong xứ, ngày nay có lẽlàvùng Khách thập cát nhĩ ở Tân cương. Từ đời Tây Hán về sau, đây là con đường giao thông then chốt giữa Đông phương và Tây phương ở phía bắc Trung quốc. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2 thì người nước này tính tình dữ tợn, thường hay dối trá, chữ viết lấy từ Ấn độ. Phật giáo đã truyền vào nước nàykhoảng thế kỉIII, đến đầu đời Đường thìdần dần hưng thịnh, chủ yếu là Tiểu thừa giáo. Từ thời Trung đường về sau, vì tín đồ Hồi giáo xâm nhập nên Phật giáo bị tiêu diệt, hiện chỉ còn nền hoang của chùaOch-Merwan ở phía bắc Khách thậpcát nhĩ khoảng 16 cây số và tháp hoang Mauri Tìm ở phía đông bắc Khách thập cát nhĩ khoảng 48 cây số. Ngài Cưu ma la thập đời Hậu Tần có đến nước này lễ bái bình bát của đức Phật và thỉnh được luận A tì đàm, luận Lục túc, kinh Tăng nhất a hàm. Pháp sư Trí mãnh đời Hậu Tần thì thấy 1 cái ống nhổ bằng đá vân của Phật ở đây. Cao tăng Pháp hiển truyện có thuật lại việc nước này tổ chức hội Bát già việt sư (đại hội 5 năm). Đời Tùy, ngài Đạt ma cấp đa, trên đường đến Trung quốc, có dừng lại ở nước này giảng luận Thuyết phá (luận Niệm phá) và luận Như thực, mỗi luận đều có tới 2.000 bài kệ, cho chúng tăng nghe. Trong kinh Phật có nói nhiều về nước Sơ lặc,có chỗ nói nước này là 1 trong những nước biên thùy có kinh pháp hưng thịnh, hoặc nói nước này có núi Ngưu đầu là trụ xứ của Bồ tát; hoặc cho rằng nước này là nơi ở của thần Đạt ma ba la (Phạn: Dharmapàla), hoặc Phật từng đem nước này phó chúc cho Thiên tử Phát sắc, Tất tú, hoặc ở xứ này từng xuất hiện 98 vị Phật... X. kinh Thân nhật; kinh Hoa nghiêm Q.45 (bản dịch mới); kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương Q.trung; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.45, 55, 56; kinh Mật tíchkim cương lực sĩ Q.3; Đại đường tây vực kí Q.1; Xuất tam tạng kí tập Q.14; Tục cao tăng truyện Q.2; On Yuan Chwangvol. III,by T. Watters].

sớ mê hoặc

(疏迷惑) Cũng gọi Bối thượng sử. Chỉ cho 4 hoặc tham, sân, si, mạn trong 10 hoặc mà hành giả ở giai vị Kiến đạo phải đoạn trừ. Mười hoặc phải đoạn ở giai vị Kiến đạo là: Hữu thân kiến, Biên chấp kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến, Giới cấm thủ kiến, Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi. Trong đây, 5 hoặc đầu gọi là Ngũ kiến. Ngũ kiến và Nghi là hoặc thân duyên, tức là hoặc do trực tiếp mê chân lí mà khởi; còn tham, sân, mạn là hoặc trùng duyên, không phải là hoặc trực tiếp mê chân lí mà là hoặc duyên theo Ngũ kiến và Nghi mà khởi. Si (vô minh) thì thông cả thân duyên và trùng duyên; nên đối lại với thân mà gọi hoặc trùng duyên là Sơ mê hoặc. [X. luận Câu xá Q.19; Câu xá luận quang kí Q.19]. (xt. Kiến Hoặc).

sớ pháp hoa

Commentary on the Lotus Sutra—Trước khi tông Thiên Thai được thành lập, việc nghiên cứu Kinh Pháp Hoa đã được khởi xướng rất sớm, từ năm 300 sau Tây Lịch. Và những cuộc diễn giảng được mở ra khắp nơi. Một bản sớ giải gồm bốn quyển do Trúc Pháp Tổng hoàn thành, nhưng sự nghiên cứu chủ đề của Pháp Hoa thì bắt đầu từ sau bản dịch của ngài Cưu Ma La Thập, vào năm 406. Nhờ ghi nhận nhiều bản sớ giải Pháp Hoa được soạn từ thế kỷ thứ 5 do các đồ đệ và truyền nhân của Cưu Ma La Thập mà chúng ta có thể hiểu rõ và đánh giá được tầm phổ biến và việc nghiên cứu Kinh Pháp Hoa đã diễn ra nghiêm mật như thế nào. Suốt trong thời gian nầy, có tám bản sớ giải đã được hoàn tất và nhiều khảo cứu chuyên môn về những khía cạnh đặc biệt của học thuyết đã được thực hiện. Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, mặc dù công cuộc khảo cứu và những công trình về Pháp Hoa khởi đầu ở phương Bắc, nghĩa là những việc phiên dịch và sớ giải đã bắt đầu ở phương Bắc, tông phái nghiêng về học thuật nầy đặc biệt nẩy nở ở phương Nam, như sự kiện thành lập tông Thiên Thai—Prior to the establishment of the T'ien-T'ai School, a study of the Lotus text was commenced as early as 300 A.D. and lectures were delivered everywhere. A commentary in 4 volumes was completed by Chu-Fa-Tsung but research into the subject matter of Lotus was started after Kumarajiva's translation of the text in 406 A.D. By noticing the many commentaries compiled in the fifth century by his pupils and successors, we can well understand and appreciate to what an extent and how seriously the study of the Lotus was undertaken. During the time eight complete commentaries were written and many special studies of particular aspects of the doctrine were made. According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Phiosophy, although the study and the work of Lotus were commenced in the North., i.e., the translation and commentaries, was begun in the North, the school of learning flurished particularly in the South, a fact which eventually gave rise to the foundation of the T'ien-T'ai School.

sớ sơn

(疏山) I. Sơ Sơn. Núi ở cách huyện Kim khê, phủ Phủ châu, tỉnh Giang tây khoảng 29 cây số về hướng tây bắc. Trong núi có chùa Sơ Sơn. Sơ sơn vốn là nơi ẩn sĩ Hà tiên chu đời Đường ở ẩn đọc sách, nên gọi là Thư Sơn. Khoảng năm Trung hòa (881-884) cuối đời Đường, ngài Sơ Sơn Khuông Nhân,đệ tử nối pháp của Thiền sư Động Sơn Lương giới, bắt đầu xây chùa ở đây, vua ban tấm biển hiệu chùa là Bạch Vân. Đến đời Nam Đường, đổi là chùa Sơ Sơn. II. Sơ Sơn. Chỉ cho Thiền sư Sơ Sơn Khuông Nhân sống vào cuối đời Đường. xt. Khuông Nhân).

sớ sơn hữu cú vô cú

(疏山有句無句) Cũng gọi Sơ sơn hữu vô, Sơ sơn bố đơn. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về việc ngài Sơ sơn Khuông nhân cuối đời Đường, lần lượt tham yết ngài Trường khánh Đại an và ngài Minh Chiêu Đức Khiêm (Độc nhãn long) ởVụ châu, Chiết giang. Ngài Sơ Sơn đến Qui Sơn, Phúc châu tham học ngài Đại an câu Hữu cú vô cú, như đằng ỷ thụ (Có câu không câu, như bìm nương cây), hỏi (Vạn tục 138, 241 hạ): Bỗng gặp cây đổ, bìm khô, thì cú nương vào đâu? Ngài Đại an nghe xong, buông chậu đất xuống, cười hả hả trở về phương trượng. Ngài Sơ sơn bất mãn, tiếc thầm đã bán hết gia tài, chỉ vì 1 việc này mà đã từ xa đến đây, rốt cuộc chẳng được gì. Ngài Đại an bèn dặn thị giả đưa cho sư 200 tiền và mách cho sư biết là ngài Minh chiêu Đức Khiêm có thể điểm hóa cho sư. Sơ sơn đến chỗ ngài Minh Chiêu, ngài Minh chiêu muốn điểm hóa nên nói: Đầu cũng ngay mà đuôi cũng ngay, chỉ là chẳng gặp tri âm thôi!. Sư cũng không rõ được, lại hỏi: - Bỗng gặp cây đổ, bìm khô, cú nương vào đâu? Ngài Minh chiêu đáp: - Lại làm cho tiếng cườicủa Qui sơn càngthêm mới. Ngay câu nói đó, sư đại ngộ, cảm thán nói: Trong tiếng cườicủaQui sơn vốn có dao.[X. Ngũ đăng hội nguyên Q.13].

sớ sơn đảo a

(疏山倒屙) Tên công án trong Thiền tông. Sơ Sơn bị đại tiện ngược (đảo a), đây là câu chuyện ngài Sơ Sơn Khuông nhân cuối đời Đường, vì tội ngạo mạn, ác kiến nên sư huynh là ngài Hương Nghiêm Trí Nhàn đoán trước sẽ bị đại tiện ngược (đi tiêu đàng mồm) trong 30 năm. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 11, có 1 vị tăng hỏi ngài Hương Nghiêm Trí Nhàn (đệ tử nối pháp của Thiền sư Qui sơn Linh hựu): Khi không tôn trọng các bậc Thánh và bản lai diện mục của chính mình thì thế nào? Ngài Hương nghiêm trả lời (Đại 51, 284 thượng) nói: Muôn cơ chấm dứt, nghìn thánh chẳng mang. Lúc ấy ngài Sơ sơn có mặt bèn nôn ra tiếng cười mỉa; ngài Hương Nghiêm nhìn ngài Sơ sơn thỉnh giáo, Sơ sơn yêu cầu Hương Nghiêm phải lễ mình như thầy. Ngài Hương Nghiêm rời chỗ ngồi lễ bái. Ngài Sơ sơn bảo: Sao không nói dù có tôn trọng cũng chẳng được gì? Vì tội ác kiến và kiêu ngạo ấy nên ngài Hương Nghiêm đoán trước là ngài Sơ sơn sẽ phải đại tiện ngược 30 năm, hơn nữa, dù có ở núi cũng không có củi đốt, gần nước cũng không có nước uống. Sau đó, ngài Sơ Sơn Khuông Nhân về trụ ở núi Sơ Sơn và đúng như lời đoán trước của ngài Hương Nghiêm. Được 27 năm thì lành bệnh, liền nói: Sư huynh Hương Nghiêm thụ kí cho ta 30 năm đại tiện ngược, nay còn thiếu 3 năm!. Từ đó, sau mỗi bữa ăn, ngài Sơ Sơn lấy tay móc cho mửa ra để ứng với lời thụ kí trước.

sớ sở duyên duyên

(疏所緣緣) Đối lại: Thân sở duyên duyên. Một trong 2 tính sở duyên duyên do tôngDuy thức thành lập. Bản chất của Sơ sở duyên duyên là lìa thể tướng của năng duyên mà nương nhờ vào cảnh do thức của người khác biến ra và cảnh do thức khác trong thân mình biến ra, có khả năng sinh khởi tướng phần suy tư, vì nó gián tiếp cấu thành sở duyên duyên, cho nên gọi là Sơ sở duyên duyên. Gọi Sở duyên duyên là vì khi Kiến phần của tâm duyênvới Tướng phần thì tâm là Năng duyên, tướng là Sở duyên. Khi Năng duyênvà Sở duyên hợp với nhau, gọi là Sở duyên duyên. Sở duyên duyên lại được chia làm 2 thứ: 1. Thân sở duyên duyên: Kiến phần của ý thức duyên theo Tướng phần của những bóng dáng do chính nó biến ra. 2. Sơ sở duyên duyên: Phải nhờ vào bản chất mới có thể sinh khởi Tướng phần suy tư bên trong, vì bản chất sinh khởi nên gọi là duyên, đồng thời kiến phần cũng biến ra Tướng phần giống như bản chất, cho nên gọi là Sở duyên. Tóm lại, pháp và thể thức năng duyên tuy là lìa nhau, hoặc do tâm thức người khác biến ra và thức khác trong chính thân mình biến ra, nhưng vì bản chất nương nhờ không thể duyên thủ Tướng phần của chính nó, nên gọi là Sơ sở duyên duyên. Như núi sông, đất đai, mặt trời, mặt trăng, các tinh tú... là Tướng phần của thức thứ 8 biến ra, thức mắt nương nhờ vào Tướng phần này làm bản chất để duyên theo. Luận Thành duy thức quyển 7 (Đại 31, 40 hạ) nói: Nếu lìa thể năng duyên mà bản chất vẫn có thể khởi sự lo lường bên trong, thì nên biết đó chính là Sơ sở duyên duyên. Thân sở duyên duyên đều có năng duyên, nhưng nếu lìa sự lo lường bên trong thì không thể sinh khởi; còn Sơ sở duyên duyên thì hoặc có năng duyên, hay lìa sự nương gá bên ngoài vẫn có thể sinh khởi được. (xt. Tứ Duyên, Sở Duyên Duyên).

sớ tử

(疏子) Bài văn biểu bạch ca tụng PhậtTổ hoặc các bậc cao tăng đại đức. Thích thị yếu lãm quyển thượng (Đại 54, 276 trung) nói: Sớ tử tức là văn chúc Phật, thể theo ý của thí chủ. Trong lời chúc không dám lấy nhỏ làm lớn, cho nên văn từ cần phải xác thực, không thể dối trá ngụy vọng mà tự chuốc lấy sự lo buồn. Trong Thiền lâm, thường nhân dịp thỉnh bậc danh đứctrụ trì, có thói quen làm sớ để bày tỏ tấm lòng tha thiết. Văn sớ do chùa viện trình bày lời cầu thỉnh bậc danh đức đến trụ trì, gọi là Sơn môn sớ. Sớ của hững người đồng môn chúc mừng vịTân trụ trì, gọi là Đồng môn sớ. Sớ của các vị Trụ trì các chùa lân cận chúc mừng Tân trụ trì, gọi là Chư sơn sớ. Ngoài ra còn có Giang hồ sớ, Đạo cựu sớ, Pháp quyến sớ, Phương ngoại sớ... Ngôn ngữ tán thán Phật Tổ và các bậc cao tăng danh đức, gọi là Sớ ngữ. [X. Văn sớ môn trong Thiền lâm tượng khí tiên; điều Thánh tiết trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1].

sớm

Soon—Early.

sớm mai a di đà, chiều cũng a di đà, dù gấp thế mấy cũng không rời a di đà

Recite Amitabha Buddha's name in the morning, recite it again in the evening, no matter how rush you are, do not part from the recitation of Amitabha Buddha's name.

sớm muộn

Sooner or later.

sớm quá

Too soon—Too early.

sờ

To feel—To touch.

sờ sờ

Evident—Clear—Obvious.

sở

1) Cơ sở—A place—Where—What—That which. 2) Rõ ràng: Clear—To clear up.

sở biến kế

Hết thảy chư pháp đều do cái tâm hay ý thức so đo tính toán chấp trước mà sanh ra—That by which the mind is circumscribed, i.e. impregnated with the false view that the ego and thing possess reality.

sở biệt

Chủ đề của một luận đề có thể suy diễn, đối lại với năng biệt hay cái đã bị tách biệt không còn suy diễn gì được nữa—The subject of the thesis of a syllogism in contrast with the predicate; that which is differentiated. ; (所別) Cũng gọi: Hữu pháp (Phạn: Dharmin), Tiền trần, Thể, Tự tính. Tiếng dùng trong Nhân minh. Bộ phận chủ yếu của chi Tông (mệnh đề) trong tác pháp 3 chi của Nhân minh. Thông thường gọi là Tiền trần, tương đương với chủ từ của mệnh đề trong Luận lí học phương Tây. Trong Luận lí Nhân minh, danh từ Tiền trần (danh từ trước) phải bao hàm ý nghĩa của danh từ Hậu trần (danh từ sau), vìvậy, danh từ Tiền trần của Tông còn được gọi là Hữu pháp (có thuộc tính), danh từ Hậu trầncủaTông cũng gọi là Pháp (thuộc tính). Tiền trần của Tông là thể,Hậu trần là nghĩa. Như lập Tông Âm thanh là vô thường thì thể của Tiền trần âm thanh là Hữu pháp, sở biệt, còn nghĩa của Hậu trần vô thường là pháp, năng biệt. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng, phần đầu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.2, 3]. (xt. Thể).

sở biệt bất cực thành quá

(所別不極成過) Tiếng dùng trong Nhân minh. Sở biệt bất cực thành (Phạn: Aprasiddha-vizewya) là 1 trong 9 lỗi thuộc về Tông (mệnh đề) trong 33 lỗi của Nhân minh. Sở biệt chỉ cho danh từ trước(tiền trần) của Tông;Bất cực thành nghĩa là không thành tựu, tức là vấn đề không được thành lập vì không có sự đồng ý của cả 2 bên. Lỗi này là do danh từ trước của Tông không được đối phương (người vấn nạn) thừa nhận. Luận lí Nhân minh qui định, danh từ trước(tiền trần)và danh từ sau (hậu trần) của Tông (mệnh đề) đều phải được cả đôi bên (người lập luận và người vấn nạn) cùng thừa nhận mới thành lập được; như Tông Ngã là tư do ngoại đạo Số luận đối với đệ tử Phật mà lập, trong đó ngã là sở biệt, tư là năng biệt; tư tuy được cả đôi bên cùng chấp nhận, nhưng ngã thì đệ tử Phật không thừa nhận, vì đệ tử Phật chủ trương ngã chỉ là giả ngã do 5 uẩn hòa hợp, chứ không có ngã chân thực tồn tại, cho nên Tông ngã là tư doSố luận sư đề ra không thể thành lập khi 2 bên chưa tiến hành đối luận chính thức.Đó là lỗi Sở biệt bất cực thành. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa toản yếu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.4].

sở bất năng tri

An object cannot be recognized.

sở bị

(所被) Cũng gọi Sở bị chi duyên, Sở bị chi cơ, Sở vi. Gọi đủ: Sở bị cơ loại. Chỉ cho các loại căn cơ chúng sinh được giáo pháp của Phật thấm nhuần, Hoa nghiêm kinh sớ quyển 3 (Đại 35, 517 hạ) nói: Giáo sở bị cơ có nghĩa là giáo pháp nhân cơ mà được hiển bày, lìa cơ thì không có lời nói, nghĩa lí nói trên rất là sâu rộng, chưa biết phó thác cho căn khí nào; nếu Năng ứng là10 thân viên âm thì Sở bị chung có 10 loại. Theo Tam luận du ý nghĩa thì duyên sở bị tức bẩm thụ giáo Nhị đế. Quán kinh huyền nghĩa phần y cứ vào sự tích trong kinh QuánVô lượng thọ, Hoàng hậu Vi đề hi thỉnh cầu đức Phật thuyết pháp mà cho rằng Phật là Năng vi, Hoàng hậu Vi đề hi người lãnh thụ giáo pháp – là Sở vi, Sở vi tức chỉ cho Sở bị. Ngoài ra, Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu quyển thượng, phần đầu, Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1, Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển thượng... đều có giải thích rõ về căn cơ Sở bị. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1 thượng; Pháp hoa kinh huyền tán Q.1, phần đầu].

sở cầu

Desideratum. ; (所求) Điều mong cầu. Đối với Tịnh độ giáo thì điều mong cầu là được sinh về Tịnh độ ở phương Tây. Trong Thập nhất nghĩa môn của phần Tán thiện nghĩa trong Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ, ngài Thiện đạo đờiĐường chủ trương hồi hướng các công đức mà mình tu được nguyện sinh về cõi nước của Phật A di đà. Trong mục Thượng phẩm hạ sinh thì cho rằng nơi hồi hướng công đức chính là nơi sở cầu. Trong Quán kinh tán thiện yếu nghĩa thích quán môn nghĩa sao quyển 3, ngài Chứng Không – vị tăng người Nhật bản – cho rằng sở cầu nghĩa là hân cầu, chỉ cho cõi Cực lạc y theo hạnh sở ái mà cầu.

sở cầu như ý

Sự việc xãy ra như ý muốn—Things are going as (in accordance with) one's wishes—Things are going our way.

sở duyên

Alambana (skt)—Cảnh đối đãi với tâm thức (pháp tâm và sở tâm là năng duyên, cảnh là sở duyên)—Upon which something rests or depends, hence objects of perception; that which is the environmental or contributory cause; attendant circumstances. ; (所緣) Phạn, Pàli: Àlambana. Đối lại: Năng duyên. Chỉ cho đối tượng của sự nhận thức, là nhân sinh ra các pháp tâm, tâm sở, vả lại bị cácthứtâm ấy chấp lấy. Tông Câu xá kiến lập thuyết Sáu thức, cho nên chủ trương cảnh Sở duyên là 6 cảnh: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, tức là thức mắt duyên sắc cảnh, thức tai duyên thanh cảnh, thức mũi duyên hương cảnh, thức lưỡi duyên vị cảnh, thức thân duyên xúc cảnh, thức ý duyên pháp cảnh. Tông Pháp tướng kiến lập thuyết Tám thức, cho nên ngoài các thức và các cảnh sở duyên nói ở trên, còn nói đến cảnh sở duyên của 2 thức 7 và 8.Tức là thức thứ 7 lấy Kiến phần của thức thứ 8 làm cảnh sở duyên; thức thứ 8 thì lấy 3 cảnh là chủng tử, hữu căn thân và khí thế giới làm cảnh sở duyên. Vả lại, theo ý chỉ Vạn pháp duy tâm, tông Duy thức cho rằng các pháp của 6 cảnh sở duyên là do ảnh tượng Tướng phần của 6 thức tụ sinh khởi; những ảnh tượng ấy lấy Tướng phần của thức thứ 8 làm bản chất, tức Tướng phần là do nghiệp lực của thức thứ 8 nhậm vận biến hiện ra. Ngoài ra, luận Đại thừa a tì đạt matạp tập quyển 5, có nêu 29 loại Sở duyên như: Phi hữu sở duyên, Hữu sở duyên, cho đến Tu du sở duyên, Tùy chuyển sở duyên... Lại nữa, Sở duyên có 2 loại thân và sơ khác nhau: 1. Thân sở duyên: Tức ảnh tượng do tác dụng của thức bên trong sinh ra. 2. Sơ sở duyên: Tức bản chất của cảnh đối diện bên ngoài. Luận Thành duy thức quyển 7 cho rằng Thân sở duyên và Sơ sở duyên nói trên đều là Sở duyên duyên trong 4 duyên; nhưng luận Duy thức nhị thập thì cho rằng Thân sở duyên là Sở duyên duyên trong 4 duyên, còn Sơ sở duyên thì là Tăng thượng duyên trong 4 duyên. [X. luận Đại tì bà sa Q.16; luận Du già sư địa Q.1; luận Câu xá Q.7; luận Duy thức Q.2; Quán sở duyên luận thích]. (xt. Năng Duyên).

sở duyên duyên

See Duyên Duyên. ; (所緣緣) Phạn: Àlambana-pratyaya. Cũng gọi Duyên duyên. Duyên của sở duyên, 1 trong 4 duyên. Sở duyên chỉ cho đối tượng của tâm và tác dụng tâm (đối tượng của tác dụng nhận thức). Nếu khi đối tượng của tâm và tác dụng tâm trở thành nguyên nhân khiến tâm và tác dụng tâm sinh ra kết quả, thì đối tượng của tâm và tác dụng tâm được gọi là Sở duyên duyên, còn tâm và tác dụng tâmthìgọi là Tăng thượng quả. Xưa nay thường giải thích là tâm, tâm sở pháp do nương gá các duyên mà sinh khởi, là sở duyênlựcủa tự tâm. Bởi thế cũng có thể cho rằng Sở duyên duyên tức là tất cả pháp. Luận Câu xá quyển 7 (Đại 29, 37 thượng) nói: Tính của sở duyên duyên tức là tất cả pháp, tâm và tâm sở ứng hiện tùytheo sở duyên duyên này. Như thức mắt và pháp tương ứng, lấy tất cả sắc làm sở duyên duyên. Cũng thế, thức tai và pháp tương ứng lấy tất cả thanh, thức mũi tương ứng lấy tất cả hương, thức lưỡi tương ứng lấy tất cả vị, thức thân tương ứng lấy tất cả xúc, thức ý tương ứng lấy tất cả pháp làm sở duyên duyên. Luận Thành duy thức lập 2 loại sở duyên duyên là Thân sở duyên duyên và Sơ sở duyên duyên. Luận Thành duy thức quyển 7 (Đại 31, 40 hạ) nói: Thể của sở duyên duyên có thân và sơ. Nếu không lìa thể năng duyên mà nương gá lo lường trong Kiến phần này, thì nên biết đó là Thân sở duyên duyên; còn nếu lìa thể năng duyên, mà bản chất có thể nương gá lo lường bên trong, thì nên biết đó là Sơ sở duyên duyên. Năng duyên của Thân sở duyên duyên trong trường hợp nào cũng đều có, lìa sự nương gá lo lường bên trong thì chắc hẳn không sinh; còn năng duyên của Sơ sở duyên duyên thì hoặc có hoặc không, nếu lìa sự nương gá lo lường bên ngoài cũng có thể sinh được. Trong đó, Thân sở duyên duyên là pháp nương gá lo lường bên trong Kiến phần, Tự chứng phần..., tức chỉ cho Tướng phần ảnh tượng. Còn Sơ sở duyên duyên là pháp lìa tâm năng duyên, tức là Tướng phần bản chất. [X. luận Thuận chính lí Q.19; luận Hiển dương thánh giáo Q.18; luận Du già sư địa Q.3]. (xt. Tứ Duyên).

sở duyên hữu đối

(所緣有對) Đối nghĩa là ngăn chặn, chướng ngại. Sở duyên hữu đối chỉ cho 6 thức và các tâm sở tương ứng bị cảnh sở duyên làm chướng ngại, không sinh khởi được ở những cảnh khác, là 1 trong 3 hữu đối. Sáu thức và các tâm sở chỉ có thể chuyển biến được đối với cảnh sở duyên của chính chúng, như nhãn thức chỉ có thể chuyển biến được đối với sắc cảnh, nhĩ thức chỉ có thể chuyển biến được đối với thanh cảnh, như thể thì tất nhiên chúng bị pháp sở duyên câu thúc, ngăn ngại, khiến không thể nào sinh khởi tác dụng đối với các trần cảnh khác được, như nhãn thức không thể sinh khởi tác dụng với các trần cảnh thanh, hương, vị... [X.luận Đại tì bàsa Q.76, 128; luận Câu xá Q.2; Câu xá luận quang kí Q.2; Câu xá luận bảo sớ Q.2]. (xt. Hữu Đối).

sở duyên phọc

(所緣縛) I. Sở Duyên Phược. Đối lại: Tương ứng phược. Phược là trói buộc, tên khác của phiền não; vì các phiền não có khả năng trói buộc, khiến con người không được tự do, tự tại, nên gọi là Phược, 1 trong 2 phược. Các phiền não trói buộc tâm, tâm sở và cảnh sở duyên, có thể chia làm 2 loại là Tương ứng phược và Sở duyên phược. Trong đó, Tương ứng phược nghĩa là các phiền não trói buộc tâm, tâm sở, đồng thời lại tương ứng với các tâm này, làm cho không được tự tại đối với cảnh sở duyên. Còn Sở duyên phược nghĩa là khi các phiền não duyên với cảnh thì chắc chắn có thế lực rất mạnh trói buộc cảnh sở duyên này, khiến chúng không được tự tại. Trong Sở duyên phược lại có 4 thứ khác nhau là: Đồng bộ đồng phẩm, Đồng bộ dị phẩm, Dị bộ đồng phẩm và Dị bộ dị phẩm. Như 10 tùy miên của Khổ đế ở cõi Dục mỗi mỗi trói buộc nhau, thành Sở duyên phược đồng bộ; các hoặc Biến hành của Tập đế trói buộc các pháp thuộc Khổ đế, thành Sở duyên phược dị bộ; còn các phiền não ở giai vị Tu đạo thì trói buộc 5 uẩn thiện, vô kí... [X. luận Đại tìbà sa Q.86; Câu xá luận quang kí Q.1; Câu xá luận bảo sớ Q.1; Duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.5 phần đầu].II. Sở Duyên Phược. Đối lại: Năng duyên phược. Cảnh sở duyên bị tâm năng duyên trói buộc, gọi là Năng duyên phược; trái lại, tâm năng duyên bị cảnh sở duyên ngăn ngại thì gọi là Sở duyên phược. (xt. Sở Duyên, Sở Duyên Hữu Đối).

sở dĩ

That's why—Therefore.

sở dẫn

Đưa ra lời trích dẫn—That which is brought forward or out; a quotation.

sở dục trí hoạn kinh

(所欲致患經) Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời TâyTấn, được thu vào Đại chính tạng tập 17. Nội dung kinh này nói về những nỗi thống khổ lo buồn do 5 thứ sở dục gây nên. Lúc các tỉ khưu vào thành Xá vệ khất thực, gặp các ngoại đạo dị học... hỏi về nguyên nhân của những khổ hoạn như: Năm ấm, sáu sắc, đau ngứa, tư tưởng, sống chết, thức... ; các tỉ khưu bèn đến chỗ đức Phật thỉnh giáo, Phật liền chỉ dạy về 5 nhân duyên sinh ra sở dục và các sự lo buồn do 5 sở dục ấy gây ra. Đặc biệt đức Phật dạy dùng Bất tịnh quán để đối trị nữ sắc, khuyên họ đoạn trừ ái dục, nhập Tứ thiền. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.15; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.24].

sở giang vương

Vua của địa ngục thứ nhì trong thập điện địa ngục—King of the grievous river, the second of the ten rulers of Hades.

sở hoá

(所化) Phạn: Vinìta. Đối lại: Năng hóa. Chỉ cho đối tượng được giáo hóa. Trong 3 loại thế gian nêu trong Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 7 thì Trí chínhgiác thế gian của Thập Phật là Năng hóa, còn Chúng sinh thế gian thì là sở hóa. [X. kinh Cầu giải trong Trung a hàm Q.48; phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa Q.2; Phậtđịa kinh luận Q.7; luận Thi thiết Q.6]. (xt. Năng Sở).

sở huân tứ nghĩa

(所熏四義) Bốn nghĩa sở huân, tức là 4 điều kiện sở huân do tông Pháp tướng lập ra. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 2 thì năng huân (7 chuyển thức) và sở huân (thức A lại da thứ 8) mỗi thứ đều có 4 nghĩa, trong đó, 4 nghĩa sở huân là chỉ cho 4 điều kiện mà thức A lại da thứ 8 phải có đầy đủ, đó là: 1. Kiên trụ tính: Kiên ở đây có nghĩa là thuần 1 loại; Trụ có nghĩa là nối tiếp. Tức tính kiên trụ không có các biến động như lo, mừng, khổ, vui, thiện, bất thiện... , trước sau chỉ 1 loại nối tiếp mới giữ gìn được tập khí. Trái lại, như 7 chuyển thức năng huân thì dễ chuyển biến theo các cảnh lo, mừng, khổ, vui... , cho nên gọi là chuyển thức, vì thế không có tính kiên trụ.2. Vô kí tính (gọi đủ: Vô phú vô kí tính): Tức có tính chẳng phải thiện chẳng phải ác, vì thế xem các pháp đều bình đẳng, không có sai khác, nhờ vậy mới có khả năng dung chứa tập khí.3. Khả huân tính (gọi đủ: Khả thụ huân tính): Tức thể của nó độc lập tự tại, không cần nương vào pháp khác để sinh khởi, tính nó lại chẳng khép kín, nhờ thế mới có thể thu nhận tập khí. 4. Dữ năng huân cộng hòa hợp tính: Tức thức thứ 8 sở huânvà7 chuyển thức năng huân tồn tại cùng lúc, cùng chỗ, không là nhau mà cũng chẳng lìa nhau, hòa hợp một mối và làm nhân quả lẫn nhau. [X. luận Nhiếp đại thừa Q.thượng (bản dịch đời Lương); Nhiếp đại thừa luận thích Q.2 (bản dịch đời Lương); Thành duy thức luận thuật kí Q.3]. (xt. Huân Tập).

sở hóa

Người đã được chuyển hóa—The one who is transformed or instructed.

sở hạnh

(所行) Đối lại: Năng hành. Nói theo nghĩa rộng thì Sở hành chỉ chung cho tất cả hành vi, hành sự, hành pháp của ta; còn nói theo nghĩa hẹp thì chỉ riêng cho tất cả các pháp mà ta tu hành, các việc mà ta thực hiện trong quá trình cầu chứng bồ đề. Như trong việc niệm Phật thì danh hiệu Phật là sở hành, ý chí chủ quan, năng lực niệm danh hiệu Phật của chúng sinh là năng hành. Trong kinh Phật, cặp đôi Năng và Sở thường được sử dụng để biểu hiện mối quan hệ chủ thể và khách thể hoặc chủ động và bị động, trong đó Năng là chủ thể có đủ năng lực chủ động tự phát; còn Sở là đối cảnh, đối cơ bị động, hoặc các loại tác nghiệp được hình thành, được tạo tác. Thường thấy nhất là các cặp từ như Năng tạo sở tạo, Năng y sở y, Năng hóa sở hóa, Năng lập sở lập, Năng tu sở tu, Năng thuyên sở thuyên, Năng thủ sở thủ... [X. kinh Na tiên tỉ khưu Q.thượng (bản 2 quyển)].

sở hạnh tạng

(所行藏) Pàli: Cariỳa-piỉaka. Cũng gọi Nhã dụng tạng. Một trong các Tiểu bộ kinh (Khuddaka-nikàya) tiếngPàli. Nội dung nói về Sở hành (Cariya) của đức Thích tôn trong kiếp hiện tại, tức là truyện tích bản sinh của đức Thích tôn. Kinh này gồm 7 Ba la mật, thu chép 35 truyện Bản sinh.1. Thí ba la mật: Gồm có 10 chuyện bản sinh như Đại thiện kiến vương (Mahàsudassana), Đại điển tôn (Mahàgovinda), Ni di vương (Nimi)... 2. Giớ iba la mật: Gồm có 10 chuyện bản sinh như Chiêm tì da long (Campey= yanàga), Ma đăng già (Màtaíga), Pháp thiên tử (Dhamma-devaputta)... 3. Xuất li ba la mật: Gồm có 5 chuyện bản sinh như Ưu đát xà da vương tử (Yudhaĩjaya), Thụ mã na sa vương tử (Somanassa)... 4. Quyết định ba la mật: Chỉ có 1 chuyện bản sinh là Thiết mật nhã (Temiya). 5. Chân thực ba la mật: Gồm có 6 chuyện bản sinh như Ngư vương (Maccharàya), Phổ minh vương (Sutasoma)... 6. Từ bi ba la mật: Gồm có 2 chuyện bản sinh là Thư phàm na sa mã (Suvaịịasàma) và Da ca lạp nhạ vương (Ekaràja). 7. Xả ba la mật: Chỉ có 1 chuyện bản sinh là Ma ha lạc mã hãn tản (Mahàlomahaôsa). Sách chú thích của kinh này được thu vào Chân đế đăng (Paramattha-dìpanì) do ngài Đạt ma ba la soạn. Sách này liệt kê 7 Ba la mật, so sánh với 10 Ba la mật được lưu truyền trong Đại tạng kinhPàli thì không thấy nêu ra các bản sinh tương đương với 3 Ba la mật: Trí tuệ, Tinh tiến và Nhẫn nhục. Trong 35 bản sinh được thu tập trong sách này, trừ 2 bản sinh Đại điển tôn và Pháp thiên tử, số còn lại đều có cốt truyện tương đồng với khoảng 550 chuyện bản sinh trong kinh Bản sinh (Jàtaka) bằng tiếng Pàli. Nếu so với 34 loại bản sinh được thu chép trong Bản sinh man bằng tiếng Phạm của ngài Thánh dũng (Phạm: Àryazùra)thì có 12 loại mang nội dung giống nhau. Ngoài ra, cách trình bày về các bản sinh trong sách này so với cách trình bày trong kinh Bản sinh thì ngắn gọn quá, có chỗ cho là trích lục từ kinh Bản sinh. Nhưng dụng ngữ trong sách này thì chất phác, chân thật, giống như dụng ngữ của kinh Pháp cú tiếngPàli, mà kinh Bản sinh hiện còn lại cho thấy dấu vết chịu ảnh hưởng của sách này; bởi vậy, các học giả vẫn chưa xác định được trong 2 tác phẩm này, tác phẩm nào là gốc. [X. Thiện kiến luận tìbà sa Q.1; A History ofPàliLiterature by B. C. Law; Dictionary ofPàliProper Names by G.P. Malalasekera].

sở hữu

1) Cái mà người ta có: What one has—Possession—Ownership—Proprietorship. 2) Cái đang hiện hữu: What there is—What ever exists.

sở kiến

Drisya (skt)—Những gì hiển lộ ra cho người ta thấy—What is presented to one's view.

sở lưu sở mục nhiếp phương tiện

(所流所目攝方便) Chỉ cho Sở lưu nghĩa, Sở mục nghĩa và Nhiếp phương tiện nghĩa nói trong giáo học Đồng giáo Nhất thừa của tông Hoa nghiêm. Hoa nghiêm Khổng mục chương quyển 1 của ngài Trí nghiễm, Tổ thứ 2 của Tông Hoa nghiêm giải thích như sau: 1. Sở lưu: Tất cả phápTam thừa đều nương vào Nhất thừa mà được thành lập; tất thảy đều từ Nhất thừa lưu xuất. 2. Sở mục: Nhất thừa là giềng lưới rộng lớn, Tam thừa là mắt lưới; do giềng lưới rộng lớn mà có 3 mắt lưới. 3. Nhiếp phương tiện: Pháp Tam thừa do đức Phật nói đều vì khiến chúng sinh tiến vào Nhất thừa, đó là tiền phương tiện tóm thu Tam thừa về Nhất thừa; bởi vậy, nhờ Tam thừa mớicó thểthành tựu Nhất thừa.

sở lượng

That which is estimated; the content of reasoning, or reasoning. ; (所量) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận lí Nhân minh, đối tượng bị nhận biết gọi là Sở lượng; còn cái tính chất có thể bị suy lường thì gọi là Sở lượng tính. [X. Nhân minh nhập chính lí luận].

sở lập

Luận đề đã được xắp đặt sẳn—A thesis; that which is set up. ; (所立) I. Sở Lập. Phạn: Siddha. Hàm ý là được thành lập. [X. luận Câu xá Q.1]. II. Sở Lập. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong đối luận Nhân minh, Sở lập là mệnh đề chủ trương mà người lập luận đưa ra và chờ chứng minh, tức là chi Tông trong 3 chi của luận thức Nhân minh. Đối lại, chi Nhân (lí do) và chi Dụ (ví dụ) được dùng để chứng thành chi Tông có được xác lập hay không, thì gọi là Năng lập. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.hạ; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)].

sở lập bất khiển quá

(所立不遣過) Tiếng dùng trong Nhân Minh. Sở lập bất khiển, Phạm:Sàdhyaavyàvftta, nghĩa là lỗi không trái hẳn với Tông, 1 trong 5 lỗi thuộc Dị dụ trong 33 lỗi Nhân minh. Tức là khi dùng Li tác pháp, Dị dụ tuy trái với Nhân năng lập, nhưng lại không hoàn toàn trái với Tông sở lập, nên bị lỗi này. Như Thanh luận sư đối với Thắng luận sư lập luận: Tông: Âm thanh là thường còn. Nhân: Vì không là chất ngại. Đồng dụ: Những gì không chất ngại đều là thường còn,như hư không. Dị dụ: Những gì vô thường đều là chất ngại, như cực vi. Nhưng Thanh luận sư và Thắng luận sư đều thừa nhận cực vi là thường còn, có tính chất ngại, cho nên tuy có dị phẩm Nhân, nhưng vì cực vi là thường còn chứ không phải vô thường, nên không đủ dị phẩm Tông. Vì thế nên bị lỗi. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.hạ; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)].

sở lập pháp bất thành quá

(所立法不成過) Tiếng dùng trong Nhân minh. Sở lập pháp bất thành, Phạn: Sàdhyadharma-asiddha, 1 trong 5 lỗi thuộc Đồng dụ trong 33 lỗi Nhân minh. Khi Đồng dụ không cùng một phẩm loại với Tông thì bị lỗi này. Như lập luận: Tông: Âm thanh là thường còn. Nhân: Vì không phải là chất ngại. Dụ: Những gì không chất ngại đều là thường còn, như sự hiểu biết. Sự hiểu biết là một hiện tượng tinh thần, không phải là vật chất nênkhông chất ngại. Nhưng sự hiểu biết vốn là vô thường, chứ không phải là thường còn, cho nên Đồng dụ trong luận thức trên không phải là đồng phẩm với Tông, do đó mà phạm lỗi bất thành. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.hạ phần đầu; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa toản yếu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.5; Đông phương luận lí học (Nhất Hạnh)].

sở nam

(楚南) (813-888) Thiền sư Trung Quốc sống vào đời Đường, người tỉnh Phúc kiến, họ Trương. Thửa nhỏ, sư theo ngài Đàm Ái ở chùa Khai Nguyên. Sau khi cạo tóc, sư đến núi Ngũ Đài thụ giới Cụ túc, học luật. Theo lời chỉ dạy của ngài Phù Dung Linh huấn, sư đến tham yết ngài Hoàng Bá Hi Vận, sau được nối pháp của ngài. Gặp pháp nạn Hội Xương, sư ở ẩn trong rừng. Về sau, nhận lời thỉnh của Tướng quốc Bùi Hưu, sư trụ ở chùa Báo Ân hơn 20 năm. Năm Quang Khải thứ 3 (887), Tiền vương hạ chiếu thỉnh sư vào nội cung thuyết pháp và được ban tử y. Niên hiệu Văn đức năm đầu (888), sư thị tịch, hưởng thọ 76 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Bát nhã tâm kinh tụng 1 quyển, luận Phá tà 1 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.17; Cảnh đức truyền đănglụcQ.12; Thích thị kê cổ lược Q.3].

sở nguyện

Wish—Desire.

sở quy

(所歸) Nơi quay về. Tịnh độ giáo lấy đức Phật A di đà làm thể sở qui. Thuyết này có xuất xứ từ các mục Thượng phẩm thượng sinh, Thượng phẩm trung sinh... trong Quán kinh Tán thiện nghĩa của ngài Thiện đạo đời Đường. Trong Tịnh độ tông yếu tập quyển 4, ngài Lương trung, vị tăng người Nhật bản, lấy đức Di đà làm sở qui, lấy cõi Cực lạc làm sở cầu và lấy niệm Phật làm sở hành, 3 sở này có đủ trong nhất tâm. Còn trong Quán kinh tán thiện yếu nghĩa thích quán môn nghĩa sao quyển 4 thì ngài Chứng không vị tăng người Nhật lấy Cực lạc tịnh độ làm sở qui.

sở sơn thiệu kỳ

Ch'u-Shan-Shao-Chi—Thiền Sư Sở Sơn Thiệu Kỳ, tác giả công án 'Ai đang niệm Phật?' Trong Thiền Luận, Tập II của Thiền sư D.T. Suzuki, Thiền sư Sở Sơn Thiệu Kỳ đã dạy về công án và niệm Phật như sau: “Người sơ cơ cần nhất là phải có một vật để mà nắm vào Thiền; vì thế họ được dạy pháp môn niệm Phật. Phật tức tâm, Tâm tức Phật. Tâm và Phật từ đâu mà có? Có phải đều từ tâm?. Nhưng Tâm ấy không phải là tâm, không phải Phật, không phải vật. Vậy là cái gì? Muốn thấy ra, hãy vứt bỏ đi tất cả những cái đã tích chứa do học tập, tri thức, kiến giải; hãy chỉ hoàn toàn chuyên chú vào một câu hỏi: 'Ai đang niệm Phật?' Hãy để cho nghi tình nầy nghi đến cực độ; đừng say sưa theo những nghĩ tưởng mê lầm; đừng để cho những ý tưởng phân biệt cùng khởi lên. Một khi công phu bền bĩ, liên tục không gián đoạn, thì thiền định của các người sẽ được thuần thục, và nghi tình của các người nhất định bùng vỡ dữ dội. Rồi các người sẽ thấy rằng Niết Bàn và sanh tử, cõi tịnh độ và cõi uế trược chỉ là hý luận, và ngay từ đầu chẳng cần gì giải thích hay bình chú, và thêm nữa, Tâm không thuộc cảnh giới tâm ý thức, do đó là Bất Khả Đắc.”—Zen master Ch'u-Shan-Shao-Ch'i, the author of the koan 'Who is that practises the recitation of the Buddha name.' In the Essays in Zen Buddhism, composed by Zen master D.T. Suzuki, Zen master Ch'u-Shan-Shao-Ch'I taught about koan and recitation of Buddha name as follows: :It is necessary for the uninitiated to have a kind of too wherewith to take hold of Zen; and it is for this reason that they are told to practise the Recitation of Buddha name, that is thinking of the Buddha. The Buddha is no other than Mind, or rather, that which desires to see this Mind. Where does this desire, this thought, take its rise? From the Mind, we all say. And this Mind is neither a mind, nor a Buddha, nor a something. What is it then? To find it out, let them abandon all that they have accumulated in the way of learning, intellection, and knowledge; and let them devote themselves exclusively to this one question 'Who is it that practises the Recitation of Buddha name?' Let this inquiring spirit assert itself to the highest degree. Do not try to reason it out; do not assume a state of mere passivity for enlightenment to come by itself; do not allow yourself to cherish false thoughts and imaginations; do not let ideas of discrimination assert themselves. When your striving and seeking is constant, permitting to breaks and interruptions, your Dhyana will naturally be matured, and your inquiring spirit brough up to the inevitable crisis. You will then see that Nirvana and Samsara, the land of purity and the land of defilement, are mere idle talk, and that there is from the beginning nothing requiring explanation or commentary, and further that Mind is not somewhat belonging to the realm of empirical consciousness and therefore not an object of mental comprehension.

sở thuyên

Nghĩa lý của kinh điển là sở thuyên (còn dựa vào kinh văn mà làm cho sáng tỏ nghĩa lý thì gọi là năng thuyên)—That which is expounded, explained, or commented. ; (所詮) I. Sở Thuyên. Đối lại: Năng thuyên. Chỉ cho nghĩa lí trong kinh văn được giải thích rõ ràng. Căn cứ vào ngữ cú của kinh văn để giải thích rõ nội dung và hiển bày ý nghĩa của nội dung ấy, nên gọi kinh văn là Năng thuyên, nghĩa lí là Sở thuyên. Tứ giáo nghĩa quyển 1 cho rằng giáo là Năng thuyên, lí là Sở thuyên. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 1 phần đầu nói: Pháp được diễn bày là Sở thuyên, danh cú văn tự y cứ là Năng thuyên. [X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng, phần cuối]. II. Sở Thuyên. Hàm ý tột bậc. Tức chỉ cho mục đích sau cùng.

sở thích

Taste.

sở thạch

(楚石) (1296-1370) Thiền sư Trung Quốc, sống vào đời Nguyên, người ở Tượng Sơn, Minh Châu, họ Chu, tên Phạm Kì, tự Sở thạch. Sư là đệ tử nối pháp của ngài Hạnh đoan ở Kính Sơn, pháp tôn đời thứ 20 dòng Nam Nhạc. Năm 16 tuổi, sư thụ giới Cụ túc ở chùa Chiêu Khánh tại Hàng Châu. Về sau, sư đắc pháp nơi ngài Nguyên Tẩu Hạnh Đoan, lần lượt trụ trì các chùa Vĩnh tộ ở Thiên Ninh, chùa Bản Giác ở Gia Hưng và chùa Báo Quốc ở Hàng Châu. Năm Chí chính thứ 7 (1347) đời Nguyên, vua Thuận tông ban cho sư danh hiệu Phật Nhật Phổ Chiếu Tuệ Biện Thiền Sư. Năm Hồngvũ thứ 3 (1370), sư hét 1 tiếng rồi thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi. có tác phẩm: Sở thạch Phạm kì ngữ lục 20 quyển. [X. Thích thị kê cổ lược tục tập Q.2; Nam Tống Nguyên Minh thiền lâm tăng bảo truyện Q.10; Tăng tập tục truyền đăng lục Q.4]. (xt. Phạm Kì).

sở thạch phạm kì thiền sư ngữ lục

(楚石梵琦禪師語錄) Gọi đủ: Phật nhật phổ chiếu tuệ biện Sở thạch thiền sư ngữ lục. Cũng gọi Sở thạch thiền sư ngữ lục, Sở thạch lục. Ngữ lục, 20 quyển, do ngài Phạm kì soạn vào cuối đời Nguyên, các vị Tổ Quang, Đàm Thiệu, Lương Ngạn biên tập, được thu vào Vạn tục tạng tập 24. Nội dung bộ sách này biên tập các ngữ lục của ngài Phạm kì giảng dạy tại các chùa Phúc Trăn, chùa Vĩnh Tộ ở Thiên Ninh, chùa Bản Giác ở Gia Hưng, chùa Báo Quốc ở Hàng Châu và các phần Bỉnh phất tiểu tham, Tụng cổ, Pháp ngữ,Tạp trứ. Ngoài ra còn phụ thêm phần Hành trạng, bài tựa và bài minh tháp do ông Tống liêm soạn.

Sở Thạch Phạm Kỳ

(楚石梵琦, Soseki Bonki, 1296-1370): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Đàm Diệu (曇曜), Sở Thạch (楚石), hiệu Tây Trai Lão Nhân (西齋老人), sinh tháng 6 năm thứ 2 niên hiệu Nguyên Trinh (元貞), xuất thân Tượng Sơn (象山), Minh Châu (明州, Tỉnh Triết Giang), họ Chu (朱). Năm 9 tuổi, ông đến tham yết và xuất gia với Nột Ông Mô (訥翁模) ở Thiên Ninh Tự (天寧寺), Hải Diêm (海塩, Tỉnh Triết Giang). Ngoài ra, ông còn tham vấn Tấn Ông Tuân (晉翁洵) ở Sùng Ân Tự (崇恩寺) vùng Hồ Châu (湖州, Tỉnh Triết Giang). Năm 16 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới ở Chiêu Khánh Tự (昭慶寺) vùng Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang). Từ đó, ông lại đến tham yết một số danh tăng khác như Hư Cốc Hy Lăng (虛谷希陵) ở Kính Sơn (徑山), Vân Ngoại Vân Tụ (雲外雲岫) ở Thiên Đồng Sơn (天童山), Hối Cơ Nguyên Hy (晦機元熙) ở Tịnh Từ Tự (淨慈寺), v.v. Cuối cùng ông đến tham vấn Nguyên Tẩu Hành Đoan (元叟行端) ở Kính Sơn và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào mùa đông năm đầu (1324) niên hiệu Thái Định (泰定), thể theo lời thỉnh cầu ông đến trú trì Phước Trăn Tự (福臻寺) ở Hải Diêm, rồi đến ngày mồng 3 tháng 2 năm đầu (1328) niên hiệu Thiên Lịch (天曆) đến Thiên Ninh Vĩnh Tộ Tự (天寧永祚寺), ngày 25 tháng 7 năm đầu niên hiệu Chí Nguyên (至元) đến Đại Báo Quốc Tự (大報國寺) ở Lộ Phụng Sơn (路鳳山), Hàng Châu (杭州), và ngày mồng 8 tháng 8 năm thứ 4 (1344) niên hiệu Chí Chánh (至正) đến Bổn Giác Tự (本覺寺) ở Gia Hưng (嘉興, Tỉnh Triết Giang). Sau đó, ông nhận sắc chỉ được ban tặng hiệu Phật Nhật Phổ Chiếu Huệ Biện Thiền Sư (佛日普照慧辯禪師). Ngoài ra, vào ngày mồng 1 tháng 8 năm thứ 17 cùng niên hiệu trên, ông đến sống ở Báo Ân Quang Hiếu Tự (報恩光孝寺), rồi trở về lại Thiên Ninh Vĩnh Tộ Tự. Đến năm thứ 19 (1359) niên hiệu Chí Chánh, ông xây dựng một ngôi chùa ở phía tây Thiên Ninh Tự, đặt tên là Tây Trai Tự (西齋寺) và lui về đó ẩn cư. Sau đó, ông phụng chiếu khai đường thuyết pháp ở Tương Sơn Tự (蔣山寺), Kim Lăng (金陵). Ông có mối thâm giao với Tống Cảnh Liêm (宋景濂). Vào ngày 26 tháng 7 năm thứ 3 niên hiệu Hồng Võ (洪武), ông thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi đời và 63 hạ lạp. Ông có để lại một số trước tác như Tịnh Độ Thi (淨土詩), Từ Thị Thượng Sanh Kệ (慈氏上生偈), Bắc Du Tập (北遊集), Phụng Sơn Tập (鳳山集), Tây Trai Tập (西齋集), Hòa Thiên Thai Tam Thánh Thi (和天台三聖詩), Vĩnh Minh Thọ Thiền Sư Sơn Cư Thi (永明壽禪師山居詩), Đào Tiềm Thi (陶潛詩), Lâm Thông Thi (林通詩), v.v. Nhóm môn nhân Tổ Quang (祖光) của ông biên tập bộ Sở Thạch Phạm Kỳ Thiền Sư Ngữ Lục (楚石梵琦禪師語錄) 20 quyển, lại còn có Chí Nhân (至仁) soạn bản Sở Thạch Hòa Thượng Hành Trạng (楚石和尚行狀). Tống Cảnh Liêm soạn văn Phật Nhật Phổ Chiếu Huệ Biện Thiền Sư Tháp Minh (佛日普照慧辯禪師塔銘).

sở thủ

Grahya (skt)—Cái bị nắm lấy hay cái bị nhận thức—Seized, that which is perceived.

sở thủ năng thủ

Grahyagrahaka (skt)—Cái được nhận thức hay được hiểu, và cái nhận thức hay cái hiểu—That which is perceived or apprehended, and that which perceives or apprehends—See Năng Thủ.

sở tri

(所知) Tên khác của thức A lại da. Tông Duy thức lấy 3 tính Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực làm pháp Sở tri. Thức A lại da là chỗ y chỉ của 3 tính, nên gọi thức này là Sở tri y. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.1 (ngài Huyền trang dịch); Thành duy thức luận thuật kí Q.3]. (xt. A Lại Da Thức).

sở tri chướng

Tri kiến do bộ óc nhận thức được đều làm chướng ngại sự kiến tánh. ; Jneyavarana (skt)—Trở ngại của tri thức—Hindrance of knowledge—Thế gian trí thường coi sự vật như thật là một chướng ngại cho chân trí, thường đi kèm với phiền não chướng (trở ngại của các phiền não)—Worldly wisdom which assumes seeming as real which is a hindrance to true wisdom (the barrier of the known, arising from regarding the seeming as real), generally coupled with Klesavarana, hindrance of passions. ** For more information, please see Nhị Chướng (A) (2). ; (所知障) Phạn: Jĩeyàvaraịa. Cũng gọi Trí chướng, Trí ngại. Đối lại: Phiền não chướng. Chấp chặt vào pháp đã chứng được, khiền cho trí chân như căn bản bị ngăn che, là 1 trong 2 chướng. Do vô minh căn bản mà chúng sinh mờ mịt đối với cảnh giới sở tri, che lấp pháp tính mà trở thành chướng ngại cho chủng trí trung đạo, cho nên gọi là Trí ngại. Theo luận Đại tì bà sa quyển 141, luận Đại thừa khởi tín và Câu xá luận quang kí quyển 1 thì Bất nhiễm ô vô tri tức là Sở tri chướng. Còn luận Thành duy thức quyển 9 và Phật địa kinh luận quyển 7 thì cho rằng Sở tri chướng lấy Tát ca da kiến chấp trước các pháp biến kế làm đầu. Nghĩa là tất cả nghiệp phát khởi và quả thu được của các pháp Kiến, Nghi, Vô minh, Ái, Khuể, Mạn... đều bao hàm trong Sở tri chướng, đều lấy pháp chấp và vô minh làm căn bản, vì thế chướng này chỉ tương ứng với 2 tâm Bất thiện và Vô kí, trong tất cả phiền não đều có chướng này. Cứ theo kinh Bồ tát địa trì quyển 9 thì Nhiễm ô sở tri chướng có 3 loại: Bì (lớp bên ngoài), Phu (lớp ở giữa) và Cốt (lớp trong cùng),bậc Hoan hỷ trụ đoạn được Bì, bậc Vô khai phát vô tướng trụ đoạn được Phu, bậc Như lai trụ mới đoạn được Cốt tủycủa Sở tri chướng. [X. kinh Giải thâm mật Q.4; phẩm Hóa trong kinh Nhập lăng già Q.8; luận Thành duy thức Q.10; Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.thượng phần cuối, Q.hạ phần đầu; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3].

sở tri y

Là cơ sở cho mọi tri thức hay mọi pháp tốt xấu tùy thuộc vào, đây là tên khác của A Lại Da Thức—That on which all knowledge depends; another name for alaya-vijnana—See A Lại Da Thức. **For more information, please see Bát Thức.

sở trường

Strong point.

sở tác

To be done. ; (所作) I. Sở Tác. Đối lại: Năng tác. Chỉ cho sự phát động tạo tác của 3 nghiệp thân, miệng, ý. Ba nghiệp thân, miệng, ý là chủ thể năng tác, những cái do 3 nghiệp tạo tác ra gọi là Sở tác. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 trung) nói: Cũng không có sở tác, cũng không có sở hữu. [X. Đại thừa trung quán thích luận Q.4]. II. Sở Tác. Cũng gọi Yết ma. Làm việc theo đúng Thánh pháp mà có công giúp thành. (xt. Yết Ma).

sở tác tương tự quá loại

(所作相似過類) Tiếng dùng trong Nhân minh. Lỗi thứ12 trong 14 lỗi Tự năng phá do ngài Túc mục, Tổ của Cổ nhân minh lập ra. Đây là lỗi do ngườivấn nạn với ý đồ xấu dùng mánh khóe đểbác bỏ lập luận của đối phương, nhưng thất bại và tự chuốc lấy lỗi. Nghĩa là khi tranh luận, người lập luận dùng Nhân (lí do) chính xác để chứng minh cho chủ trương của mình, nhưng người vấn nạn lại tách rời Nhân và Đồng dụ ra để công kích là Nhân của đối phương không thành lập được. Như đệ tử Phật lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì nó được tạo tác ra. Dụ: Như cái bình. Đây là luận thức hoàn toàn chính xác, nhưng tín đồ ngoại đạo muốn bác bỏ mới bắt bẻ rằng: Cái bình là từ đất nặn thành, cho nên có thể nói là được tạo tác ra; nhưng âm thanh thì không từ đất nặn thành,vì thế nó không phải được tạo ra. Nạn phá như vậy là do không hiểu cái tướng chung của những vật thể được tạo tác ra nên mắclỗi. Loại lỗi này tương đương với Sự dị nạn nói đến ở phẩm Đạo lí nan trong luận Như thực của ngài Thế thân. X. luận Nhân minh chính lí môn; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.8; Nhân minh thập tứ tương tự quá loại lược thích (Duy hiền, Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 21]. (xt. Thập Tứ Quá Loại, Nhân Minh).

sở tín

See Năng Tín.

sở tướng năng tướng

Lashyalakshana (skt)—Cái nêu định và cái được nêu định—Predicating and predicated.

sở tạo sắc

(所造色) Gọi tắt: Sở tạo. Chỉ cho tất cả các sắc pháp đều do 4 đại đất, nước, lửa, gió tạo ra, vì thế gọi là Sở tạo sắc, còn 4 đại là Năng tạo. Theo luận Thành thực thì 4 trần (sắc, hương, vị, xúc) là Năng tạo, 5 căn (nhãn, nhĩ,tị, thiệt, thân) là Sở tạo, còn 4 đại thì vừa là Năng tạo vừa là Sở tạo. [X. luận Đại tìbà sa Q.127; phẩm Đại thực hữu trong luận Thành thực]. (xt. Tứ Đại, Năng Tạo SởTạo).

sở vi lượng

(所違量) Cũng gọi Tiền lượng. Tiếng dùng trong Nhân Minh. Tỉ lượng trong luận thức Nhân minh do người lập luận lập ra. Tỉ lượng chỉ cho sự hiểu biết do suy luận so sánh mà có được. Tỉ lượng của người vấn nạn (địch luận) dùng để chống lại người lập luận,gọi là Hậu lượng hoặc Năng vi lượng. Sở vi lượng và Năng vi lượng đều làtỉ lượng chính xác của Nhân (lí do) và Dụ (thí dụ), cho nên khó định đoạt giữa người lập luận và người vấn nạn ai đúng ai sai. [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)].

sở viên

(楚圓) (986-1039) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Tống, người ở Thanh tương, Toàn châu (huyện Quế lâm, tỉnh Quảng tây), họ Lí. Thủa nhỏ sư là 1 Nho sinh, rắp tâm theo đuổi sự nghiệp Khoa cử. Năm 22 tuổi, sư hồi tâm theo đạo Phật, xuất gia ở chùa Ẩn tĩnh tại Tương sơn. Không bao lâu, sư đến cửa Tương miễn, kết bạn với ngài Thủ chi Cốc tuyền cùng vào Lạc dương. Nghe tiếng tăm ngài Thiện chiêu là bậc nhất trong thiên hạ, sư bèn đến Phần châu, nương tựa ngài được 2 năm nhưng vẫn chưa được nghe pháp yếu. Mỗi lần thấy sư thì ngài Thiện chiêu lại chửi mắng, hoặc chê bai các nơi, có dạy bảo điều gì cũng chỉ là việc tầm thường của thế tục. Một hôm, sư đến trách ngài, chưa dứt lời thì ngài nhìn chằm chằm vào sư mà mắng rằng (Đại 51, 482 thượng): Ác tri thức này dám chê bai ta! rồi giơ gậy lên đuổi. Sư định giải thích, ngài liền bụm miệng. Sư chợt đại ngộ, thưa rằng: Thế mới biết đạo của Lâm tế vượt ngoài thường tình. Sư hầu hạ ngài Thiện chiêu khoảng 12 năm (có thuyết nói 7 năm), lãnh hội hết yếu chỉ của ngài. Sau, sư đến Tinh châu tham vấn ngài Đường Minh Trí tung, lại cùng với các bậc danh sĩ đương thời như Dương Đại Niên, Lí tuân úc thường họp bàn về đạo lí. Sư muốn về làng thăm mẹ, nhưng khi đi ngang qua Quân Châu (tỉnh Tứ Xuyên), sư gặp ngài Hiểu Tở Động Sơn, y chỉ ngài 3 năm, rồi lại đến Ngưỡng Sơn. Lúc đó, Dương Đại Niên gửi thư cho quan Thái thú Nghi xuân là Hoàng Tông Thả thỉnh sư đến trụ trì chùa Quảng Lợi ở Nam Nguyên tại Viên Châu (tỉnh Giang Tây). Ở đó được 3 năm, sư từ biệt về thăm mẹ. Sau đó, sư lại đến tham yết ngài Thần đỉnh Hồng Nhân. Ngài Hồng Nhân rất khen ngợi sư, từ đó danh tiếng sư lừng lẫy. Lúc đầu, sư làm Thủ tọa ở đạo tràng của ngài Đạo ngộ tại Đàm Châu (tỉnh Hồ Nam), kế đến trụ chùa Sùng Thắng ở núi Thạch Sương, rồi lại dời đến ở chùa Phúc nghiêm tại Nam nhạc; cuối cùng, lại dời đến trụ chùa Hưng hóa ở Đàm Châu. Tháng giêng năm Bảo Nguyên thứ 2 (1039), sư thị tịch ở chùa Hưng Hóa tại Đàm Châu, thọ 54 tuổi, thụy hiệu Từ Minh Thiền Sư. Trong 50 vị đệ tử nối pháp, nổi tiếng nhấtlà các sư Hoàng Long Tuệ Nam và Dương Kì Phương Hội, mỗi vị này lại thành lập 1 phái riêng. Sư có tác phẩm: Thạch Sương Sở Viên thiền sư ngữ lục 1 quyển (do ngài Tuệ nam biên chép lại). [X. Tục truyền đăng lục Q.3; Thiền lâm tăng bảo truyện Q.21].

sở viện từ minh thiền sư

Zen master Zhi-Ming-Chu-Yuan—See Từ Minh Sở Viện Thiền Sư.

sở vương anh

(楚王英) Con của vua Quang Vũ đế đời Đông Hán, Trung quốc, là em của vua Hiếu minh đế. Theo chính sử của Trung quốc thì ông là người đầu tiên tin theo Phật giáo. Cứ theo Liệt truyện thứ 32 trong Hậu Hán thư thì lúc còn trẻ, Vương anh thích làm hiệp sĩ, giao du với các tôn khách, về già, ông lại thích học thuyết của Hoàng lão, thực hành trai giới cúng lễ theo Phật giáo.Điều Thiên Trúc quốc trong Liệt truyện thứ 78 củaHậu Hán thư nói: Sở vương anh là người đầu tiên tin đạothuật ấy (đạo Phật), nhân đó Trung quốc có rất nhiều người thờ phụng đạo Phật. Điều này đủ chứng tỏ nền Phật giáo mà Sở vương anh tin thờ cũng chỉ thuộc loại phương thuật cúng tế. [X. Phật tổ thống kỉ Q.35; Phật tổ lịch đại thông tải Q.4; Thích thị kê cổ lược Q.1; Hậu hán kỉ Q.10].

sở y

Asraya (skt)—Cơ sở mà mọi thứ phải tùy thuộc vào, hay căn bản của các thức. Đây là sự chuyển biến hay đột chuyển xãy ra giữa căn bản của tâm thức, nhờ đó người ta có thể nắm được cái chân lý thâm sâu nhất của tất cả sự hiện hữu, mà giải thoát chúng ta khỏi những ràng buộc của phân biệt. Tất cả việc tu tập trong Phật giáo đều nhằm vào cái biến cố nầy, không có nó sẽ không có sự cải tiến nào cả. Khi người ta hiểu thông rằng thế giới bên ngoài chỉ là sự biểu hiện của chính tâm mình; thì có một sự đột chuyển từ căn bản của phân biệt, đấy là sự giải thoát chứ không phải là sự hủy diệt. Sự đột chuyển nầy là chân như, là chỗ trú thoát ngoài sự phân biệt—That on which anything depends, the basis of the vijnanas. This is a sudden revulsion or turning over which takes place at the basis of consciousness, whereby we are enabled to grasp the inmost truth of all existence, liberating us from the fetters of discrimination. All the Buddhist discipline aims at this catastrophe, without which there is no permanent conversion at all. When it is thoroughly comprehended that the external world is no more than the manifestation of one's own mind, there is a revulsion at the basis of discrimination, which is emancipation and not destruction. The revulsion is Suchness; the abode is free from discrimination—See Năng Y. ; (所依) Phạn: Àzraya. Pàli:Assaya. I. Sở Y. Đối lại:Năng y. Chỗ được nương tựa. Duy thức học gọi cái chỗ mà khi 8 thức tâm, tâm sở sinh khởi nương vào, gá vào là Sở y. Có 3 loại: 1. Nhân duyên y (cũng gọi Chủng tử y): Chỉ cho nhân sinh khởi của các pháp hữu vi, cũng tức là chủng tử của mỗi pháp trong tất cả các pháp.2. Tăng thượng duyên y (cũng gọi Câu hữu y): Chỉ cho chỗ nương của tâm, tâm sở pháp khi khởi chuyển, tức chỉ cho Nội lục xứ. 3. Đẳng vô gián duyên y (cũng gọi Khai đạo y): Chỉ cho chỗ nương hiện khởi của tâm, tâm sở pháp, tức là nghĩa tiền diệt. Luận Thành duy thức quyển 4, khi giải thích rõ về Câu hữu y của các thức, có phân biệt Y và Sở y, cho rằng Y là chung cho tất cả pháp sinh diệt, như vua và các quan nương lẫn nhau. Còn Sở y tức là Nội lục xứ, chỉ giới hạn ở 5 căn, và ý căn, phải có đủ 4 nghĩa: Quyết định, có đối tượng, làm chủ và giữ lấy cái mình duyên theo, mới được gọi là Câu hữu sở y. Trong 8 thức thì Câu hữu sở y của 5 thức gồm 4 loại: Đồng cảnh y (5 căn), Phân biệt y (thức thứ 6), Nhiễm tịnh y (thức thứ 7) và Căn bản y (thức thứ 8); ý thức thứ 6 thì có 2 loại Câu hữu sở y là thức thứ 7 và thức thứ 8, thức mạt na thứ 7 chỉ có 1 loại là thức thứ 8, thức thứ 8 cũng chỉ có 1 loại là thức thứ 7. Trên đây lại có Cộng y và Bất cộng y khác nhau. Cộng y là sở y chung, còn Bất cộng y là sở y riêng. Ngoài ra, trong kinh luận cũng có nhiều chỗ gọi cái có thể làm chỗ nương cho sự vật là Sở y. Như luận Du già sư địa quyển 99 có liệt kê 5 thứ Sở y mà người phạm hạnh nên an trụ là: Thôn điền sở y, Cư xứ sở y, Bổ đặc già la sở y, Chư y phục đẳng tư cụ sở y và Uy nghi sở y. Còn như giáo chỉ căn bản của các tông phái thì có các kinh luận chính sở y và bàng sở y... đều thuộc về nghĩa sở y nói ở đây. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.2; luận Đại tìbà sa Q.127; luận Du già sư địa Q.1, 55; Thành duy thức luận thuật kí Q.4; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.hạ, phần đầu]. (xt.Y, Năng Y). II. Sở Y. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho danh từ trước (tiền trần) của Tông (mệnh đề) trong luận thức Nhân minh. Luận Nhân minh nhập chính lí (Đại 32, 11 hạ) nói: Hư không có thật vì nó là sở y của muôn vật, nếu chấp hư không chẳng có thật thì nghĩa sở y không thành. Bởi vì trong Nhân minh qui định rằng danh từ trước của Tông là thể, là pháp sở y của Nhân (lí do), cho nên gọi là Sở y. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.trung, phần cuối].

sở y bất thành quá

(所依不成過) Tiếng dùng trong Nhân minh. Sở y bất thành, Phạn: Àzraya-asiddha. Sở y (cũng gọiTiền trần) chỉ cho Hữu pháp của chi Tông(mệnh đề) trong tác pháp 3 chi của Nhân minh; Bất thành(gọi đủ: Bất cực thành) nghĩa là không thành tựu. Sở ybất thành là 1 trong 4 lỗi Bất thành về Nhân (lí do) trong 33 lỗi của Nhân minh, tức là không được cả 2 bên chấp nhận nên Nhân không thành lập được. Bởi vì Nhân minh qui định rằng danh từ trước (tiền trần)và danh từ sau(hậu trần)của Tông đều phải được cả người lập luận và người vấn nạn chấp nhận, trong đó, danh từ trước là Sở y của Nhân(lí do) nếu đối phương không chấp nhận thì không thành lập được, như vậy thì chi Nhân và chi Dụ (thí dụ) cũng không thành lập được, gọi là Sở y bất thành. Như Thắng luận sư đối với Vô không luận sư mà lập luận thức: Hư không là có thật, vì nó là sở y của muôn vật, trong đó, danh từ trước của Tông là Hư không được Thắng luận sư chấp nhận nhưng không được Vô không luận sư thừa nhận, vì Vô không luận sư chủ trương Hư không không có thể thực. Do đó, không thể thành lập và bị lỗi Sở y bất thành. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.trung; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.5].

sở đoản

Weakness.

sở đắc chân lý

To attain the truth.

sợ

To be afraid of—To fear—To dread—To feel (be) frightened—To apprehend.

sợ chết

To be afraid of (fear) death.

sợ cuống chân

Paralyzed with fear.

sợ hãi

Fear.

sợ hãi chỉ là trạng thái tâm thần

Fear is only a state of mind.

sợ hết hồn

To be frightened out of one's wits.

sợ nhân quả

To fear of cause and Effect.

sợ run

To tremble (shiver—quiver) with fear.

sụ mặt

Sad face.

sục sạo

To search—To make (conduct) a search.

sụm

To drop on one's knees.

sụp

To fall in—To collapse—To come (go) down.

sụt

To lower—To decrease—To diminish.

sủng

Ân sủng—Favour—Grace.

sủng ái

To love.

sủy thực

(揣食) Phạn: Kavađiô - kàràhàra hoặc Kavalì - Kàràhàra. Pàli: Kabaliíkàràhàra. Cũng gọi Đoàn thực, Đoạn thực, Kiến thủ thực. Vê nhuyễn thức ăn thành viên để ăn. Đây là cách ăn của người Ấn độ, 1 trong 4 cách ăn. Ngoài ra, Sủy thực cũng chỉ cho tất cả thức ăn của cõi Dục. Thức ănởcõi Dục lấy 3 trần hương, vị, xúc làm thể, vì chia ra từng phần, từng đoạn mà ăn để nuôi sống, duy trì sinh mệnh nên gọi là Đoạn thực.[X. luận Câu xá Q.10; luận Thành duy thức Q.4; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.5]. (xt. Tứ Thực).

sứ chú pháp kinh

(使咒法經) Kinh, 1 quyển, do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung kinh nói về nghi quĩ của Hoan hỉ thiên Tì na dạ ca, bao gồm Nhất tự chú, Tượng pháp cúng dường pháp,Kệ tụng, Xử thế đà la ni... Ngài Bồ Đề Lưu Chí còn dịch kinh Đại Sử Chú Pháp, là quảng bản của kinh này, nội dung phần lớn giống nhau, chỉ khác nhau chút ít.

sứ giả

Messenger—Men of noble countenance. ; (使者) Phạn: Ceỉaka,Ceỉì, Dùta, Dùtì. Hán âm: Chế tra ca, Chế để, Độ đa, Độ để. Người truyền đạt mệnh lệnh giáo hóa và lòng từ bi của Phật, Bồ tát cho chúng sinh.Trong tiếng Phạn, các chữ Ceỉì (chế để),Dùta (độ đa) và Dù tì (độ để) cũng có thể dịch là Thị giả, Sứ giả, Nữ sứ giả... Độ đa, Độ để là truyền sứ của Phật và Bồ tát; Chế tra ca, Chế để nghĩa là nô bộc, nô tì, là những người gắng sức, siêng năng hoàn thành bản thệ của Phật và Bồ tát. Ngoài ra, Độ đa, Chế tra ca là các sứ giả nam, còn Độ để, Chế để là các sứ giả nữ. Trong các viện như: Quán âm, Kim cương thủ, Văn thù... của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, phần nhiều đều có vẽ các loại sứ giả này; trong kinh Bất không quyên sách cũng thường được nói đến. Ngoài ra, tên của các bộ, viện sở thuộc phần nhiều được đặt trước tên của sứ giả, như sứ giả của viện Quán Âm thì gọi là Liên hoa sứ giả, Liên hoa bộ sứ giả; sứ giả của viện Kim cương thủ thì gọi là Kim cương sứ giả... Còn có khi căn cứ vào bản thệ của Bản tôn mà vị sứ giả cung phụng để gọi tên như: Cung phụng sứ giả, Bảo cúng dường sứ giả, Thiên hương cúng dường sứ giả... Loại sứ giả này thường mang hình thiên nữ, hoặc quì 2 gối, hoặc quì 1 gối.

sứ giả như lai

A messenger of the Tathagata.

sứ mạng

Mission.

sứ đồ

Apostle.

sức

Trang sức—To adorn.

sức khỏe

Health.

sức lực

Strength.

sức mạnh

Forces.

sức mạnh thiên nhiên

Natural forces.

sức mạnh tinh thần

Thought-power.

sức nghe

Power of hearing—Audition.

sức ép

Pressure.

sừng sững

To stand motionless.

sừng thỏ

xem lông rùa, sừng thỏ.

Sử

使; C: shǐ; J: shi.|1. Phiền não, nhiễm ô, ưu phiền, sai khiến; vì sự sai sứ »khiến« cho con người làm đủ mọi việc; 2. Phiền não tiềm ẩn (= tùy miên 隨眠); 3. Theo luận Thập địa Tì-bà-sa (十地毘婆娑論), Sử được nhìn nhận như những Căn bản phiền não (根本煩惱), phân biệt với Cấu, được xem như là Tùy phiền não (隨煩惱); 4. Là 98 sử (九十八使); 5. Nếu, giả sử.

sử

1) History. 2) To order—To command. 3) Klesa (skt)—“Sử” là tên khác của phiền não hay những lo âu thế gian, dẫn đến luân hồi sanh tử. Chúng là những trở ngại như ham muốn, thù ghét, cao ngạo, nghi ngờ, tà kiến, vân vân, dẫn đến những hậu quả khổ đau trong tương lai tái sanh, vì chúng là những sứ giả bị nghiệp lực sai khiến—Affliction, distress, worldly cares, vexations, and as consequent reincarnation. They are such troubles as desire, hate, stupor, pride, doubt, erroneous views, etc., leading to painful results in future rebirths, for they are karma-messengers executing its purpose. ; (使) Gọi đủ: Chính Sử. Tên khác của phiền não. Vì phiền não xui khiến con người rong ruổi trong thế giới mê vọng, cho nên gọi phiền não là Sử (sai khiến). Sử đồng nghĩa với Tùy miên. Trong 10 Tùy miên, có 5 Kiến thuộc về tính thấy là: Hữu thân kiến, Biên chấp kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến, Giới cấm thủ kiến. Tính chất suy cầu đạo lí của 5 kiến này rất linh lợi nên gọi là Ngũ lợi sử. Còn tính chất của tham, sân, si, mạn, nghi thì chậm lụt và khó điều phục, nên gọi là Ngũ độn sử. (xt. Ngũ Lợi Sử, Ngũ Độn Sử, Chính Sử, Tùy Miên).

sử dụng

To employ—To utilize—To use—To exercise.

sử lợi na cách lạp

(史利那格拉) Phạn: Zrìnagara. Pàli: Sirìnagara. Thủ phủ của nước Ca thấp di la (Phạn: Kazmìra) ở Ấn Độ đời xưa, có Tân và Cựu đô, Cựu đô do vua A Dục (Phạn: Azoka) sáng lập, trongvăn khắc (văn khắc trên các vách đá – Ma nhai) gọi là Sirinagara, cũng gọi là Puràịàdhiwỉhàna. Vị trí của Cựu đô này có lẽ nằm khoảng Vùng Pàndreỉhan hiện nay, cách Tân đô 5 cây số về phía nam. Trong Đại vương thống sử (Pàli:Mahàvaôsa), kí sự về Phật giáo được đề cập đầu tiên là nói về việc xây dựng Cựu đô này. Tân đô do Phổ lạp ngoã bệ nạp (Phạn: Pravasena) đời thứ 2 sáng lập, cũng gọi là Phổ lạp ngõa lạp phổ nạp (Phạn: Pravarapura), tương đương với Sử lợi na gia (Srinagar) ngày nay. Điều Ca thấp di la quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 3 gọi 2 Tân đô và Cựu đô này là Tân thành và Cố thành.

sử mạn nhĩ tháp phái

(史曼爾塔派) Sử man nhĩ tháp, Phạn: Smàrta. Một trong các phái thuộc Ấn Độ giáo. Kinh điển căn bản mà phái này y cứ là Thánh truyện (Phạn: Smfti), nhất là kinh Gia đình (Phạn: Gfhya-sùtra), trong gia đình thực hành các nghi lễ cúng tế giản dị rõ ràng, về sau mở rộng phạm vi, trở thành 1 phái lưu hành tại Ấn Độ. Đặc sắc của phái này là ở chỗ lễ bái 5 vị thần: Tì thấp nô (Phạn: Viwịu), Thấp bà (Phạn: Ziva), Đỗ nhĩ gia (Phạn: Durgà), thần Thái dương (Phạn: Sùrya) và thần Học vấn (Phạn: Gaịeza), tức lấy việc cúng dường 5 vị thần này làm sự cầu nguyện hàng ngày. Sự thực tu có tính tông giáo của phái này là lấy giáo thuyết của học phái Di Mạn Sai trong 6 phái Triết học làm cơ sở; còn giáo lí có tính triết học thì lấy thuyết Bất nhị nhất nguyên của Thương yết la (Phạn: Zaíkaràcàrya), thuộc học phái Phệ Đàn Đa làm chỗ y cứ. Vì thế nên có thuyết cho rằng: Tổ khai sáng của phái này hoặc là Cưu ma lợi la (Phạn: Kumàrila) thuộc phái Di mạn sai, hoặc là Thương yết la thuộc phái Phệ đàn đa. Hiện nay, phái này ở Nam Ấn Độ và Tây Ấn Độ theo học thuyết của Thương yết la thì khá chặt chẽ, nhưng ở Bắc Ấn độ thì lỏng lẻo hơn.

sử mục nhĩ đệ cập nhiếp na khắc nhĩ đệ

(史穆爾弟及聶那克爾弟) Phạn: Smftijĩànakìrti. Danh tăng học giả người Ấn Độ sống vào khoảng thế kỉ XI. Vào thời A Lí vương (Tạng: Mía#-ris), thể theo lời mời của nhà dịch kinh người Ni Bạc Nhĩ (Nepal) là Phan Đức Mã Lỗ Kì (Phạn: Padmaruci, Tạng: Rme-ru-rtes), sư kết bạn với người Thù khố tu mã đệ lỗ ca (Phạn: Sùwmadìrgha, Tạng: Phra-larií-ba) cùng đến Tây Tạng. Nhưng không bao lâu thì Phan Đức Mã Lỗ Kì bị bệnh dịch tả và qua đời, 2 vị chưa thông hiểu tiếng Tây Tạng nên dời đến 2 châu Tạng, Vệ. Về sau, sư lại nhận lời mời của Dpyalse-rtsab bsod-nams-rgyal-mthan đến Sman-luịsthuyết giảng giáo nghĩa. Sau đó, sư đến Fdan-kloí-thaí thuộc châu Khams sáng lập học phái A tì đạt ma Câu Xá luận. Lúc đó, sư đã thông thạo tiếng Tây tạng và bắt đầu công việc trứ tác, phiên dịch. Sư soạn bộ Tứ tòa thích (Phạn: Catuwpìỉha-ỉìkà) và dịch ra tiếngTây tạng các bộ: Thánh văn thù sư lợi danh đẳng tụng cụ bí mật thành tựu pháp thích tuệ minh (Phạn: Àrya-Maĩjuzrìnàmasaígìtiguhyavadvidhi-vftti-jĩànadìpa), Chân ngôn nghĩa thắng quán (Phạn: Mantràrtha-vipazyinì). Sư còn soạn bộ sách về văn pháp (Grammar) đề là Ngữ ngôn (Phạn: Vacanamukha,Tạng: Smrasgo).Ngoài những sách đã kể trên, sư còn soạn các bộ: Chân tính an lập (Phạn: Waỉtattva-vyavasthàna), Bồ đề tâm thích chú (Phạn: Boddhicittavivaraịa-ỉìkà), Du già lục chi thích (Phạn: Wadaígayoga-nama-ỉìkà), Khai nhãn nghi quĩ (Phạn: Pratiwỉhà-vidhi), Kim cương tồi phá đà la ni ưu bà đề xá (Phạn: Vajravidàraịà nàma dhàraịyupadeza)... tất cả đều được xếp vào bộ Đan châu nhĩ (Luận trứ phiên dịch) trong Đại tạng kinh Tây tạng. [X. Tây tạng Đại tạng kinh tổng mục lục (Nhật bản Đông bắc Đại học); Pag sam jon zang bySarat Chandra Das; History of Buddhism by Bu-ston, Part 2, by E. Obermiller].

sử thản nhân

(史坦因) Stein, Sir Mark Aurel (1862-1943) Học giả khảo cổ học Đông phương người Anh, gốc Hungary. Thời còn trẻ, ông từng đến Ấn độ, giỏi tiếng Phạm. Từ năm 1899 về sau, ông thường đến thám hiểm ở các xứ Iran, Tây bắc Ấn độ, Trung á, miền Tây đại lục Trung quốc... và có những phát hiện trọng đại về mặt khảo cổ học. Trong đó, ở thung lũng Tháp lí mộc thuộc tỉnh Tân cương, ở Vu điền... ông đã tìm thấy những văn thư và bích họa cổ (1900- 1901), ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng phát hiện các loại kinh điển cổ (1906-1908) và dùng mánh khóe lừa đạo sĩ Vương viên lục– người trụ trì động Thiên Phật thời đó– để lấy đi hơn 9 nghìn quyển kinh Phật với giá rẻ mạt, sau đó, đăng trên Báo cáo thư Tắc lâm địch á Serindia, 1921). Sau sự kiện này, giới Hán học quốc tế đã dấy lên phong trào nghiên cứu Đôn hoàng học rất cuồng nhiệt. Một lượng lớn trong số 9 nghìn quyển kinh mà ông mang về hiện nay đang được cất giữ ở viện bảo tàng nước Anh. Ngoài ra, ở Mông cổ, cao nguyên Pamir, Afghanistan... ông còn tìm ra con đường giao thông trọng yếu (1913-1916) ở thời xưa. Ông rất nổi tiếng trong giới khảo cổ học. Sau, ông qua đời tại Afghanistan. Những trứ tác chủ yếu của ông gồm có: Chroircle of Kings of Kashmir, 3 vols., 1900; Sandburied Ruins of Khotan, 1903, Ruins of Desert Cathay, 2 vols., 1912, The Thousand Buddhas, 3 vols., 1922, On Alexander’s Track to the Indus, 1929, On Old Routes of Western Iran, 1940.

sử tích xước

(史錫綽) (1876-1925) Học giả Phật giáo Trung quốc, người huyện Vạn, tỉnh Tứ xuyên, tự Dụ như, Nhất như, Tĩnh như. Ông tốt nghiệp Đại học Đế quốc ở Đông kinh, Nhật bản, tinh thông tiếng Anh và tiếng Nhật, kiến thức uyên bác, ông từng dạy ở các trường Đại học tại Kinh đô (Kyoto). Năm Dân quốc thứ 7 (1918), ông phát tâm nghiên cứu Phật pháp, viết tác phẩm: Phật giáo luận lí học để làm sáng tỏ chỉ thú của môn Nhân minh học. Sau đó, ông nhận lời mời về giảngdạy tại Phật học viện Vũ xương. Ngoài việc dạy học, ông còn biên tập và viết bài cho tạp chí Hải Triều Âm. Những tác phẩm và dịch phẩm trọng yếu của ông gồm có: Tiểu thừa Phật giáo khái luận, Nhân minh nhập chính lí luận giảng nghĩa, Trung hoa Phật giáo sử, Ấn độ Phật giáo sử, Ấn độ lục phái triết học, Đại thừa khởi tín luận giảng nghĩa, Kim cương bát nhã kinh tổng cương, Luận hữu pháp sai biệt tương vi nhân chi phân bản tác biệt tác nhị pháp... Con ông là Sử giác thu gom các di phẩm của ông biên thành 1 tập gọi là Tuệ Viên Cư Sĩ Tập.

sửa chữa

To repair—To mend—To make repairs.

sửa lỗi

To correct an error (a mistake).

sửa sai

To correct a wrong doing.

sửa trị

To punish.

sửa tánh

To change one's way of living.

sửa túi nâng khăn

To serve one's husband.

sửa đổi

To reform—To mend—To modify.

sửng sốt

Amazed.

sửu giới già tỏa

(杻械枷鎖) Gông, cùm, xiềng, xích. Những đồ dùng để trói buộc phạm nhân trong tù. Cứ theo Quan âm nghĩa sớ quyển thượng của ngài Trí khải giải thích, bị trói ở tay, gọi là Nữu(xiềng), ở chân gọi là Giới(cùm), ở cổ gọi là Già (gông), quấn toàn thân gọi là Tỏa(xích). Phẩm Quan thế âm bồ tát phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7 (Đại 9, 56 hạ) nói: ... Nếu lại có người, hoặc có tội hoặc không tội, thân bị gông cùm xiềng xích, nếu xưng niệm danh hiệu bồ tát Quan thế âm, thì gông cùm xiềng xích ấy đều đứt nát mà được giải thoát. [X. phẩm Hộ quốc trong kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.hạ, kinh Đại bảo tích Q.55; kinh Đại thừa đại tập địa tạng thập luân Q.1; kinh Phật thuyết thập vương(đào được ở Đôn hoàng); Pháp hoa kinh huyền tán Q.10, phần cuối; Tuệ lâm âm nghĩa Q.18].

Sự

事; C: shì; J: ji;|1. Một sự việc, một công việc. Hiện tượng hiển nhiên (s: vastu); cụ thể; 2. Hiện tượng cá biệt, cá biệt, sai biệt; 3. Công năng, chức năng, hoạt động, chuyển động (s: kriyā); 4. Vật, đối tượng, thể chất (s: dravya); 5. Cõi, giới, trạng thái, môi trường, bối cảnh; 6. Theo giáo lí Hoa Nghiêm, Sự là một trong Tứ pháp giới, là pháp giới của những hiện tượng cá biệt, được nhắc trong mối tương phản với Lí pháp giới, cõi vô phân biệt.

sự

(事) Phạn: Artha. Đối lại: Lí. Chỉ cho tất cả pháp hữu vi do nhân duyên sinh, tức muôn ngàn hiện tượng sai biệt trong vũ trụ. Luận Bảo Tạng của ngài Tăng Triệu (Đại 45, 143 hạ) nói: Lí hợp muôn đức, sự thì nghìn thứ; sự tuy vô cùng, lí chỉ một đường. [X. luận Câu xá Q.25; Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chỉ Quán; Ma Ha Chỉ Quán Q.1, phần đầu]. (xt.Sự Lí).

sự báo ứng

Retribution.

sự bất yếm tế

(事不厭細) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Việc không ngán sự nhỏ nhặt. Nghĩa là đối với mọi sự vật đều phải xem xét thận trọng,làm việc phải chú tâm tinh tế. Trong Thiền lâm, nhóm từ trên được dùng để nhắc nhở người học trong việc tu hành phải luôn luôn tỉnh táo, không được lơ là, sơ suất. Thung dung lục tắc 89 (Đại 48, 385 trung) ghi: Cỏ um tùm, mông mênh (thẳng xuống không đáy, bên cạnh không bờ),trong cửa ngoài cửa ông tự xem (coi chừng vướng chân vấp ngã), giữa rừng gai gốc đặt chân dễ (trong ruộng hoang chọn cỏ), ngoài rèm trời sáng xoay mình khó(đất sạch khước từ người mê). Hãy xem (sự bất yếm tế) được bao nhiêu?

Sự chướng

事障; C: shìzhàng; J: jishou;|»Chướng ngại của thế giới hiện tượng«. Cùng với Lí chướng (理障) – theo kinh Viên Giác –, chúng trì hoãn quá trình đạt giác ngộ. Sự chướng bao gồm những tâm trạng mê muội của chúng sinh như yêu ghét, và tất cả những cảm giác tham ái cũng như đau khổ khác có liên quan đến chúng, nguyên nhân trói buộc chúng sinh vào vòng sinh tử. Vì thế nên Sự chướng này tương đương với Phiền não chướng (煩惱障) trong học thuyết của trường phái Duy thức. So với Lí chướng thì Sự chướng tương đối nhỏ nhặt, và vì vậy, có thể được khắc phục bằng những phương pháp tu tập của hàng Nhị thừa (二乘; theo Viên Giác kinh 圓覺經)

sự chướng

Chướng ngại của tham dục, đối lại với lý chướng—Hindrances of passions to entry into nirvana such as desires, in contrast with noumenal hindrances (lý chướng). ** For more information, please see Nhị Chướng (C). ; (事障) Đối lại: Lí chướng. Chỉ cho các phiền não tham, sân, mạn, vô minh, kiến, nghi..., những phiền não này thường khiến cho sinh tử tiếp tục mà ngăn ngại Niết bàn, nên gọi là Sự chướng, 1 trong 2 chướng. Kinh Viên Giác (Đại 17, 914 trung) nói: Hai chướng là gì? Một là Lí chướng, thường ngăn cản chính kiến; hai là Sự chướng, hay nối tiếp sinh tử. (xt. Nhị Chướng).

sự cung dưỡng

(事供養) Cũng gọi Sự cúng. Đối lại: Lí cúng dường. Tức đặt những vật cúng dường như hương thoa, tràng hoa... lên đàn, nhờ sức gia trì của Tam mật mà1 nén hương, 1 vòng hoa được lan tỏa khắp pháp giới để cúng dường hết thảy chư Phật trong 10 phương 3 đời. Trong đó, hương thoa tượng trưng cho nghĩa thanh tịnh, rửa sạch những cáu bẩn hí luận trong tâm bồ đề, tiêu trừ nhiệt não sinh tử; tràng hoa biểu thị chủng tử ở trong thai tạng đại bi nở rộ muôn hạnh. Lại nữa, 1 vòng hoa, 1 đĩa đèn đều là pháp tính khởi của 6 đại: Đất, nước, lửa, gió, không, thức, cũng tức là đều lấy 6 đại làm thể tính. [X. phẩm Cúng dường trong kinh Tô Tất Địa Yết La Q.hạ; Đại Nhật kinh sớ Q.7, 8].

sự cố

Reason of matter

Sự cứu cánh

事究竟; C: shìjiùjìng; J: jikukyō;|Cái tối hậu, cái tuyệt đối trong thế giới hiện tượng. Một cách dịch ý chữ Phạn pāramitā (Ba-la-mật 波羅密; theo Chính pháp hoa kinh 正法華經)

sự dữ nguyện vi

(事與願違) Sự việc thực tế trái với ý muốn của mình. Nói theo thường tình, người đời ai cũng mong cầu phúc lộc sống lâu, nhưng nhìn qua lăng kính của triết lí Phật giáo thì vì thế gian là vô thườngnênsinh lão bệnh tử hoàn toàn không do con người quyết định, dù chỉ là mảy may. Ngoài ra, còn có nỗi khổ như mong cầu không được, thương yêu mà phải chia lìa, oán ghét mà cứ gặp gỡ... luôn đeo đuổi con người như bóng theo hình; bởi vậy, sự mong muốn càng sâu nặng, thì sự bất như ý càng chồng chất, nỗi khổ não càng nhiều.

sự giáo

Giáo lý nói về hiện tượng—Teaching dealing with phenomena—Đặc tính Tam Tạng Kinh Điển được nêu ra bởi tông Thiên Thai Biệt Giáo và Tiểu Thừa Giáo Giới: The characterization by T'ien-T'ai of the Tripitaka or Hinayana teaching as: 1) Giới Nội Sự Giáo: Giáo thuyết về hiện tượng bên trong tam giới (Dục, sắc, và Vô Sắc): Teaching dealing with phenomena inside or inferior within the three realms of desire, form, and formlessness. 2) Giới Ngoại Sự Giáo: Giáo thuyết về hiện tượng siêu việt bên ngoài Tam Giới—Teaching dealing with outside or superior to those realms; the one deals with the activities of time and sense, the other transcended these but was still involved in the transcient. ; (事教) Trong 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên do tông Thiên thai thành lập, để phân biệt giữa Sự sai biệt và Lí chân đế nên gọi Tạng giáo là Sự giáo của giới nội (trong 3 cõi Dục, Sắc, Vô sắc), Thông giáo là Lí giáo của giới nội; Biệt giáo là Sự giáo của giới ngoại (ngoài 3 cõi), Viên giáo là Lí giáo của giới ngoại. Trong đó, Sự giáo của giới nội là phân tích và giải thích rõ sự tướng sai khác của các pháp sắc, tâm trong hiện thực; còn Sự giáo của giới ngoại thì trước hết từ giới ngoại lại trở về hiện thực; tức đối với các loại sự tướng của hiện thực, đặt chúng vào vị trí chân thực tự tại để giải thích hằng sa vô lượng sự tướng. (xt. Hóa Pháp Tứ Giáo).

sự hoả ngoại đạo

(事火外道) Ngoại đạo thờ lửa, 1 trong các phái ngoại đạo ở Ấn Độ đời xưa. Phái này thờ cúng các vị thần như Hỏa Thiên (Phạn: Agni, Pàli: Aggi)... và chấp lầm rằng cách thờ cúng này là nhân sinh lên cõi trời trong tương lai. Tín đồ của phái này gọi là Sự hỏa loa phát (Pàli:Aggikajaỉila, tóc xoắn thờ lửa), hoặc Sự hỏa bà la môn (Pàli: Aggikabràhmaịa). Bởi Sự hỏa ngoại đạo cho rằng lửa là cái miệng của các trời, vì thế mới bỏ các vật cúng như thóc gạo, dầu bơ vào trong lửa để cúng dường các trời. Các trời được ăn rồi thì sẽ ban phúc cho con người. Vào thời đức Phật còn tại thế, pháp thờ lửa rất thịnh hành. Sau khi đức Thế tôn thành đạo, Ngài đến thăm 3 anh em Ca Diếp Sự hỏa Bà la môn bên bờ sông Ni liên thiền, trước hết, đức Thế tôn hàng phục con rồng lửa, sau đó, Ngài lại thị hiện các thứ thần thông, 3 anh em Ca Diếp liệng bỏ các dụng cụ thờ lửa xuống sông, rồi qui y theo Phật. Luận Phương tiện tâm (Đại 32, 24 thượng) ghi: Sáng sớm kính lễ Sát sinh cúng tế Đốt các loại hương Dâng đủ đèn dầu Bốn thứ ấy là Sự hỏa ngoại đạo. Ngoài ra, phẩm Thế xuất thế hộ ma pháp trong kinh Đại nhật quyển 6 có nêu ra từng tên gọi của các pháp thờ cúng lửa mà ngoại đạo tu, đều là các pháp thờ lửa được ghi chép trong kinh điển Phệ đà, đó tức là 44 hỏa pháp, nhưng trong kinh Đại nhật chỉ nêu có 40 pháp. Đó là: 1. Đại hạm thiên(Tạng: shaís-pachen-po-me). 2. Phaphạ cú (Tạng: shaís- pa#ibu).3. Phạm phạn (Tạng: Tshaís-pa#i- Zas).4. Tất đát ra (Tạng: ha-ra-ta). 5. Phệ thấp bà nại la (Tạng:Bai-zvana-ra-da). 6. Ha phạ nô (Tạng: a-ba-na). 7. Hợp tì phạ ha na (Tạng: rog-byalen).8. Pha thuyết tamtịđổ (Tạng: Íosbsruís). 9. A thát mạt noa (Tạng: A-ta-ba-na). 10. Bát thể đa (Tạng: Par ?) 11. Bổ sắc ca lộ đào. 12. Mang lộ đa. 13. Phạ ha mang nang. 14. Mâng bálư. 15. Bát già bồ (Tạng:Pra-ga-la). 16. Pha thể vô (Tạng: Bar-ỉhi-ba). 17. Tuất chi (Tạng:Gtsaí). 18. Sát tì (Tạng:Zad-bi). 19. Mô bà phạ (Tạng:Kuí-byuí). 20. Tố lí da (Tạng:Ĩi-ma). 21. Du giả ca (Tạng: Sbyor-byed). 22. Bạt na dịch ca (Tạng:A-gne-ya). 23. Pha phạ cú (Tạng: Pa-ba-ka). 24. Phạm hỏa (Tạng: Tshaís-pa#ime).25. Phiến đô (Tạng: Shi-ba). 26. A phược hạninh (Tạng: A-ba-nika).27. Vi phệ chi (Tạng: Bi-ci-ci). 28. Bà ha sa (Tạng: Sva-ha-sa). 29. Hợp vi thệ da (Tạng: Ha-bi). 30. Nhĩ địa (Tạng: Gter). 31. A mật lật đa (Tạng: Mri-ỉa). 32. Na rô noa (Tạng:Da-ru-na). 33. Ngật lật đán đa (Tạng: Stobs-sbyin). 34. Phẫn nộ (Tạng:Khro-bo). 35. Ca ma nô (Tạng:Fdod-las-skyes). 36. Sứ giả (Tạng: Pho-ía). 37. Xã sá lộ (Tạng: Dsa-tha-ra). 38. Bạc xoa (Tạng: Za-za). 39. Phược noa bà mục khư (Tạng: Rgod-ma#i-kha). 40. Du càn đa (Tạng: jig-pa). Ngoài ra, pháp Hộ Ma của Mật giáo hiển nhiên là đã thực hành theo Sự hỏa của ngoại đạo, nhưng pháp Hộ Ma xuất thế gian trong Mật giáo lấy nội quán làm cơ sởcủaHộ ma, điều này thì Sự hỏa ngoại đạo không thể sánh được. [X. kinh Tần tì sa la vương nghinh Phật trong Trung a hàm Q.11; kinh Trường a hàm Q.19; kinh Đại bát niết bàn Q.16 (bản Bắc); Đại nhật kinh sớ Q.8; Bách luận sớ Q.trung]. (xt. Thập Nhị Hỏa).

sự hoặc

Illusions arising in practice.

sự hỏa

1) Sự hỏa đối lại với “tánh hỏa.”—Phenomenal fire, in contrast with natural fire (tánh hỏa). 2) Thờ Thần Lửa: Fire-worship.

sự hộ ma

(事護摩) Cũng gọi Ngoại hộ ma. Một trong các pháp tu hành của Mật giáo. Tức chọn đất lập đàn, đốt các vật cúng như nhũ mộc, ngũ cốc... để làm cho 3 nghiệp của hành giả thanh tịnh, thành tựu cácphápTức tai, Tăng ích. Pháp tu này là việc được thực hành ở ngoài tâm, vì thế cũng gọi Ngoại hộ ma. Ngược lại, nếu hành giả vận dụng lửa trí của sự quán tưởng để đốt sạch các nghiệp phiền não thì gọi là Nội hộ ma. (xt. Ngoại Hộ Ma, Hộ Ma).

sự khẩn yếu lúc lâm chung

The critical importance of the moment of death.

sự kiện

Fact.

sự luận

Bàn về sự sai biệt của sự tướng (hiện tượng hay sự thực hành) thì gọi là “Sự Luận,” đối lại với “Lý Luận” hay bàn về chân lý tuyệt đối—Discussion of phenomena in contrast with discussion of noumena or absolute truth. ** For more information, please see Lý Luận. ; (事論) Đối lại: Lí luận. Luận thuyết bàn rõ về các sự tướng sai biệt trong vũ trụ, tức làVũ trụ luận tìm hiểu xem vạn pháp trong vũ trụ sinh khởi như thế nào à các hiện tượng sai biệt hiển hiện như thế nào. Trong giáo lí Phật giáo, đối với 2 nghĩa Sự và Lí, cũng như sự sinh khởi của vạn pháp, thì các tông phái đều có luận thuyết khác nhau. 1. Tông Câu xá: Dùng nghiệp lực để thuyết minh sự sinh khởi của vạn pháp trong vũ trụ (Nghiệp cảm duyên khởi); rồi trong vạn pháp thì lấy các hiện tượng hư vọng làm Sự và lấy Tứ đế khổ, tập, diệt, đạo làm Lí. 2. Tông Duy thức: Chủ trương chủng tử của tất cả các pháp đều hàm chứa trong thức A lại da thứ 8 của con người, đã biến hiện ra muôn tượng sum la, đây chính là chủ trương Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức (A lại da duyên khởi); rồi trong vạn pháp thì cái nương vào duyên khác mà sinh khởi là Sự, còn chân như vốn tự viên thành như thực là Lí. 3. Luận Đại thừa khởi tín: Chủ trương bản thể (chân như) của tâm siêu việt hiện tượng là nguyên nhânthứ nhất của muôn pháp trong vũ trụ (Chân như duyên khởi); vì chân như là cái chẳng sinh chẳng diệt và tuyệt đối bình đẳng nên nói Sự tức Lí, Lí tức Sự, chỉ do nhiễm tịnh mê ngộ khác nhau mà có thuyết Tâm chân như môn và Tâm sinh diệt môn, tuy nhiên, 2 môn này chẳng phải một, chẳng phải khác, không có thể tính riêng. 4. Tông Hoa Nghiêm: Chủ trương từ thực thể của chân như khai phát ra vạn pháp trong vũ trụ, lại từ chân như bình đẳng mà biến hiện ra muôn ngàn hiện tượng sai biệt (Pháp giới duyên khởi), trong đó, các pháp duyên khởi sai biệt là Sự,lí tính chân như bình đẳng là Lí. Nhưng, Duyên khởi quan của tông Hoa Nghiêm có 2 điểm đặc biệt khác với thuyết Duyên khởi của các tông khác là: a) Mỗi một pháp của các pháp trong pháp giới đều là thực thể, mà thực thể của muôn tượng cũng đều là hiện tượng, 1 tức hết thảy, hết thảy tức 1, nêu 1 vật thì gồm thu tất cả vật, 1 hạt bụi là chủ thì các pháp là bạn, tương tức tương nhập, giao thoa, dung hợp tự tại, làm chủ, bạn lẫn nhau, nhân duyên, sự sự vô ngại, trùng trùng vô tận. b) Duyên khởi trong giáo nghĩa Hoa Nghiêmđặc biệt gọi là pháp môn Tính khởi, nghĩa là sự sinh khởi của các pháp là duyên khởi từ pháp tính, không nương vào duyên khác, chẳng phải như nhân duyên hoặc nghiệp của Câu xá, Sự tướng sai biệt thức của Duy thức, Chân như vô minh duyên sinh luận của luận Khởi tín, mà chính là học thuyết Tính khởi, tức là muôn pháp từ thể tính hiện khởi,chứ khôngcần chờ đợi các nhân duyên khởi, toàn thể tức dụng, pháp tính của chân như 1 khi khởi động thì liền hiện ngay tác dụng, biến thành các pháp mê và ngộ, tình và phi tình... trùm khắp 10 phương, xuyên suốt 3 đời. 5. Mật giáo: Chủ trương Tì lô giá na (Đại nhật Như lai) là nguồn gốc của vũ trụ, thực thể của vạn hữu, mà thể của Tì lô giá na thì tức là 6 đại: Đất, nước, lửa, gió, không, thức; 6 đại tức là thân Phật, thân Phật tức là 6 đại (Lục đại duyên khởi); đồng thời cho rằng trong vũ trụ vạn hữu do 6 đại tùy duyên khởi động mà thành thì pháp hữu vi do nhân duyên sinh là Sự, còn pháp vô vi không sinh không diệt là Lí. (xt. Sự Lý).

sự lí

(事理) Cũng gọi Lýsự. Sự là sự tướng, sự pháp; Lý là chân lí, lí tính. Trong Phật giáo, ý nghĩa tương đối giữa Sự và Lýcó 2: 1. Sự tướng mà phàm phu thấy được do mê tình, gọi là Sự; Chân lí mà bậc Thánh thấu suốt nhờ trí kiến, gọi là Lí.Chân lí ở đây tùy theo lập trường của các tông phái mà có khác, hoặc chỉ cho lí Tứ đế, hoặc chỉ cho lí Chân không, hoặc chỉ cho lí Trung đạo. 2. Sự pháp sai biệt của các hiện tượng, gọi là Sự; bản thể bình đẳng vô sai biệt của các hiện tượng, gọi là Lí. Về mối quan hệ giữa Sự của hiện tượng và Lí của bản thể, các tông phái lập thuyết có khác nhau: 1. Theo luận Câu xá quyển 25: Bốn đế khổ, tập, diệt, đạo, là Lí, hiện tượng hư vọng là Sự. Kiến hoặc do mê lí mà sinh khởi nên phải y theo vô sự mà tu, Tư hoặc thì do mê các hiện tượng thô tạp mà khởi nên phải y theo hữu sự mà tu. Cùng luận đã dẫn quyển 6, gọi Vô vi pháp là Vô sự, gọi Hữu vi pháp là Hữu sự; đồng thời, chia Sự tướng làm 5 loại: Tự tính, Sở duyên, Hệ phược, Sở nhân, Sở nhiếp. 2. Theo tông Duy thức: Sự là các sự pháp nương vào cái khác mà sinh khởi, còn Lí là chân như vốn tự viên thành như thực; giữa Sự và Lí có mối quan hệ bất tức bất li. Sự khác nhau giữa Sự và Lí chẳng qua là do hữu vi và vô vi bất đồng, cho nên nói Sự lí bất tức (không phải 1 thể); còn lí chân như thì tự thể của nó tuy lặng lẽ chẳng động, nhưng lại có thể liên tục phát sinh các hiện tượng và thực thể làm chỗ nương tựa cho các sự pháp, nên nói Sự lí bất li (ngoài pháp này không có pháp nào khác). 3. Theo luận Đại thừa khởi tín: Chân như (Lí) tùy duyên mà triển khai ra hiện tượng vạn pháp (Sự), do đó mà Sự tức Lí, Lí tức Sự. 4. Theo tông Hoa nghiêm: Các pháp duyên khởi sai biệt là Sự, lí tính chân như bình đẳng là Lí, Lí và Sự dung hợp nhau không ngăn ngại; là Lí sự vô ngạipháp giới trong 4 Pháp giới; là Lí sự vô ngại quán trong 3 lớp Quán môn. 5. Theo tông Thiên thai: Sự và Lí tương đương với Bản môn và Tích môn của kinh Pháp Hoa, Sự của tục đế thuộc Tích môn; Lí của chân đế thuộc Bản môn. Nếu phối hợp với 4 giáo hóa pháp, thì Tạng giáo là giới nội Sự giáo, Thông giáo là giới nội Lí giáo, Biệt giáo là giới ngoại Sự giáo, Viên giáo là giới ngoại Lí giáo. Ngoài ra, y cứ vào sự khác nhau giữa Sự và Lí này, tông Thiên thai còn chia Quán làm Sự quán và Lí quán, chia Hoặc làm Mê sự hoặc và Mê lí hoặc, chia Sám hối làm Sự sám và Lí sám. Lại nữa, theo nghĩa Tính cụ của tông Thiên thai thì ba nghìn các pháp trong 10 giới đều là tính cụ, chứ không phải nương vào nhân duyên mà sinh, vì thế cũng là pháp chân như thường trụ. 6. Theo thuyết của Mật giáo: Các pháp hữu vi do nhân duyên sinh là Sự, pháp vô vi bất sinh bất diệt là Lí. Lí là giữ lấy, nghĩa là tất cả sự tướng hữu vi, mỗi mỗi đều giữ lấy thể của nó, tức là Lí; thể của nó là 6 đại: Đất, nước, lửa, gió, không, thức, gọi là Lục đại pháp giới. Nói tóm lại, Sự chỉ cho thế giới mê lầm; Lí chỉ cho thế giới giác ngộ. Trong sự phát triển của các loại tư tưởng giáo lí từ xưa đến nay, nếu xem trọng Lí hơn, thì tư tưởng tương tức của sự lí thịnh hơn; còn nếu từ việc thực hiện đầy đủ chân lí mà đặc biệt coi trọng hiện thực, thì địa vị của Sự càng quan trọng hơn, ngay nơi Sự là chân, một niệm ba nghìn là những dụng ngữ nói rõ loại hiện tượng này. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chỉ quán; luận Bảo tạng; Ma ha chỉ quán Q.2, phần đầu; Đại thừa huyền luận Q.4; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần cuối; Hoa nghiêm pháp giới quán môn; Vạn thiện đồng qui tập Q.3; Tô tất địa kinh sớ Q.1; Bách pháp vấn đáp sao Q.4]. (xt. Sự Luận).

sự lí bất nhị

(事理不二) Pháp hữu vi do nhân duyên sinh là Sự, pháp vô vi không sinh không diệt là Lí. Sự tuy theo duyên mà sinh, nhưng lí không sinh không diệt lúc nào cũng ở trong Sự; Lí tuy là chân như lặng lẽ bất động, tịch tĩnh vô vi, nhưng nếu không nhờ cóSự do nhân duyên sinh thì Lí không thể hiển bày được. Do đó, tứcsự tứclí, tức lí tức sự, gọi là Sự lí bất nhị. VìSự và Lí tuy vốn hoàn toàn khác nhau, vảlại có tính đối đãi, nhưng ngoài Sự ra thì không có Lí và, ngược lại, ngoài Lí, cũng không có Sự, cho nên Sự và Lí tự nhiên không thể tồn tại 1 cách độc lập được. Nếu nói theo tính thực tiễn thì Sự lí bất nhị cũng có thể gọi là Sự lí vô ngại. Các dụng ngữ như Lí sự bất nhị, Lí sự mẫn nhiên là biểu thị lí và sự bình đẳng không sai biệt, đều đồng nghĩa với Sự lí bất nhị. [X. Hoa nghiêm pháp giới huyền kính Q.thượng].

sự lí song tu

(事理雙修) Cũng gọi Sự lí song hành. Tu cả sự và lí. Tức tu sự và quán lí đều quan trọng như nhau. Thông thường, nếu siêng năng tinh tiến thực hành các tác pháp về sự thì thường dễ xem nhẹ lí quán chứng ngộ, còn nếu coi trọng lí quán chứng ngộ thì lại dễ xem thường hành sự tác pháp. Chẳng hạn nói về việc niệm Phật thì xưng danh niệm Phật là sự hành, quán tưởng danh hiệu Phật là lí hành, tức phải trong miệng thì xưng niệm, trong tâm thì quán tưởng, đồng thời vận dụng cả 2 mới là hành pháp niệm Phật sự lí song tu. [X. Ma ha chỉ quán Q.7, phần cuối].

sự lí tam thiên

(事理三千) Cũng gọi Lưỡng trùng tam thiên, Lưỡng chủng tam thiên, Lý cụ tam thiên sự dụng tam thiên, Lý tạo tam thiên biến tạo tam thiên, Lýtạo tam thiên sự tạo tam thiên, Tính cụ tam thiên tu cụ tam thiên. Tông Thiên Thai đem Lí cụ tam thiên và Sự tạo tam thiên hợp chung lại gọi là Sự lý tam thiên. Cứ theo Thập bất nhị môn chỉ yếu sao quyển thượng của ngài Tứ Minh Tri Lễ soạn, thì Lí chỉ cho lí tính thực tướng, Cụ nghĩa là xưa nay vốn sẵn đủ. Lí cụ tam thiên nghĩa là vạn hữu xưa nay vốn mỗi mỗi đầy đủ 3 nghìn các pháp, chứ chẳng phải do ngườitrờiquỉ súc tạo ra. Sự chỉ cho sự tướng sum la sai biệt;Tạo đồng nghĩavới Cụ. Sự tạo tam thiên nghĩa là 3 nghìn các pháp do tâm tùy theo các duyên nhiễm tịnh mà biến hóa sinh khởi, mỗi mỗi pháp đều hiển hiện rõ ràng và có các tướngtrạng sum la sai biệt. Ngoài ra, Sự lí tam thiên là do phương tiện phối hợp đối chiếu danh mục, đối lại với Lí cụ tam thiên mà lập danh tướng Sự tạo tam thiên, hợp cả 2 lại tức là Sự lí tam thiên,chứ không phải nói tất cả 6 nghìn pháp, đó là vì lí thể không sai khác, sự lí chẳng phải 2, cho nên chỉ có 1 Tam thiên duy nhất. Lại nữa, trong 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên do tông Thiên thai lập ra, nếu nói theo quan điểm của Biệt giáo thì các pháp sự, lí rõ ràng có khác, nhưng nói theo quan điểm của Nhất thừa Viên giáo thì 7 đại: Đất, nước, lửa, gió, không, kiến,thứccho đếncác pháptrong Thập giới tam thiên, đương thể của mỗi mỗi pháp chính là lí tính thực tướng. Bởi thế, các pháp tuy muôn tượng sum la nhưng lại dung nhiếp lẫn nhau, 1 tức tất cả, tất cả tức 1, cho nên tông Thiên Thai đồng thời có thuyết Tam thiên viên cụ và Tam đế viên dung, cả 2 đều tồn tại 1 cách vô ngại, đây là chỗ tột cùng trong giáo nghĩa tông Thiên thai. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 3]. (xt. Sự LýBất Nhị).

sự lý

1) Thực hành và lý thuyết: Practice and theory. 2) Pháp hữu vi hay hiện tượng do nhân duyên sanh ra và pháp vô vi không do nhân duyên sanh ra, tuyệt đối, không thay đổi vì nó là chơn như bất biến: Phenomenon and noumenon, activity and principle or the absolute; phenomena ever change, the underlying principle, being absolute, neither change nor acts, it is the bhutatathata.

sự lý ngũ pháp

See Ngũ Pháp (B).

sự lý tam thiên

Ba ngàn sự tạo và ba ngàn sự lý được tông Thiên Thai dùng đến—The three thousand phenomenal activities and three thousand principles, a term of the T'ien-T'ai Sect.

sự lý vô ngại pháp giới

Một trong tứ pháp giới—One of the four realms—See Tứ Pháp Giới.

sự lười biếng hôn trầm

Lazy and lethargic manner.

sự mật lí mật

(事密理密) Cũng gọi Sự lí câu mật. Sự và Lý đều kín đáo. Sự mật chỉ cho sự tướng tam mật thân khẩu ý của Như lai; Lý mật chỉ cho sự nói rõ lí thực tướng bất nhị. Thai mật (Mật giáo do tông Thiên thai của Nhật bản truyền) của Nhật bản cho rằng vì các giáo pháp Đại thừa như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa...có bao hàm các lí bí mật do đức Như Lai nói như thế tục, thắng nghĩa, viên dung bất nhị... cho nên cũng có thể gọi là Mật giáo; tuy nhiên, trong đó chỉ nói lí viên dung bất nhị, vì thế chỉ có thể gọi là Lí bí mật giáo. Còn các kinh điển căn bản của Mật giáo như kinh Đại nhật, kinh Tô tất địa, kinh Kim Cương đính... thì không những chỉ tuyên thuyết về lí mật, mà còn nói rõ về pháp tam mật thân khẩu ý, giải bày hết lí nghĩa bí mật của Như lai, cho nên gọi là Sự lí câu mật giáo. [X. Tô tất địa yết la kinh lược sớ Q.1;Chân tông giáo thời vấn đáp Q.3].

Sự nghiệp

事業; C: shìyè; J: jigyō;|1. Việc làm, hành động, chức năng, hoạt động (s: karman, prakriyā); 2. Những gì nên được làm; 3. Những hoạt động, hành dộng có liên hệ đến cuộc sống của người ta.

sự nghiệp thế gian

Worldly careers or undertakings—Người tu nên luôn nhớ rằng sự nghiệp thế gian như giác chiêm bao, như trò huyễn hóa, như bọt bóng, như tiếng vang, chỉ thoáng chốc rồi tan biến, không có lợi gì cho công cuộc tu hành giải thoát—Cultivators should always remember that the worldly affairs are like a dream, an illusion, a bubble, an echo, existing for but a moment before returning to the void; they offer no real benefit to our cultivation for liberation.

sự nghiệp tối thắng

Perfect in constant performance.

Sự pháp

事法; C: shìfǎ; J: jihō;|Những hiện tượng riêng biệt.

sự pháp giới

Sự pháp giới, một trong bốn pháp giới—The phenomenal world, phenomenal existence, one of the four dharma-realms. ** For more information, please see Tứ Pháp Giới. ; (事法界) Đối lại: Lý pháp giới. Chỉ cho thế giới hiện tượng nghìn muôn sai khác trong vũ trụ, là pháp giới thứ nhất trong 4 pháp giới do tông Hoa Nghiêm thành lập. Tức các loại sự vật trong vũ trụ, mỗi loại đều có sự khu biệt và giới hạn, như các pháp sắc, tâm của chúng sinh, mỗi mỗi sai khác, đều có giới hạn riêng. (xt. Tứ Pháp Giới).

sự pháp thân

Phật tánh thực hành, đối lại với Phật tánh trong lý thuyết, hay chân lý, hay “Lý Pháp Thân.”—The Buddha-nature in practice, in contrast with the Buddha-nature in principle or essence, or the truth itself (Lý pháp thân). ** For more information, please see Lý Pháp Thân.

sự phân biệt thức

Vastuprativikalpajnana (skt)—Cái tâm thực nghiệm hay tâm thức theo nghĩa khả năng phân biệt các sự vật đặc thù—Emperical mind or consciousness as the faculty of discriminating particular object.

sự quán

Quán tưởng về hình tướng bên ngoài—Contemplation (meditation) on the external forms or the phenomenal—See Nhị Quán.

sự quán lí quán

(事觀理觀) Cũng gọi Sự lý nhị quán. Chỉ cho 2 pháp quán Sự và Lí. Sự quán là quán chiếu những sự vật sai biệt đến sum la; Lí quán là quán chiếu lí vô sinh bình đẳng. Đối với Sự quán và Lí quán, 2 phái Sơn gia, Sơn ngoại thuộc tông Thiên Thai đều có quan điểm khác nhau. Các học giả phái Sơn gia cho rằng sở dĩ có chỗ khác nhau giữa Sự quán và Lí quán là do phương pháp quán chiếu bất đồng, còn cảnh sở quán thì không sai khác mà chỉlà 1 niệm mê sự. Trong tông Thiên Thai, thuyết Sự Quán, Lí Quán này bắt đầu từ ngài Kinh Khê Trạm Nhiên, trong Chỉ quán nghĩa lệ 2 quyển do ngài soạn có dẫn dụng Duy thức quán và Thực tướng quán nói trong kinh Chiêm sát quyển hạ để ấn chứng cho Sự quán và Lí quán. Vì Duy thức quán tức là Sự quán gồm đủ 3 tính, dùng sự suy xét tứ cú để đạt đến lí thực tướng; còn Thực tướng quán tức là Lí quán để đạt đến Thực tướng; bởi vậy, nói theo Duy thức quán và Thực tướng quán thì cũng không được dùng cảnh sở quán để phân tích Sự sai biệt và Lí bình đẳng. Ngoài ra, trong Chỉ quán nghĩa lệ tùy thích quyển 4, ngài Nguyên xử theo ý ngài Tứ minh Tri lễ, chỉ trích thuyết của các học giả phái Sơn ngoại cho rằng quán chiếu nội tâm là lí quán, quán chiếu ngoại sắc là sự quán. Trong sách đã dẫn ở trên còn bàn rõ về sự quan hệ giữa 4 loại Tam muội và Sự quán lí quán. [X. Trung luận sớ Q.7; Thập bất nhị môn chỉ yếu sao Q.thượng]. (xt. Quán Pháp).

sự sám

(事懺) Cũng gọi Sự sám hối, Tùy sự phân biệt sám hối. Đối lại: Lí sám. Chỉ cho tác pháp sám hối theo sự tướng. Phàm các hành vi như lễ bái chiêm ngưỡng của thân, xưng niệm tán tụng của miệng, quán tưởng thánh dung của ý, dùng 3 nghiệp ân cần thiết tha cầu xin sám hối các tội nghiệp đã tạo trong quá khứ, hiện tại, đều gọi là Sự sám. Còn quán xét lí thực tướng để diệt trừ tội lỗi thì gọi là Lí sám. Thông thường, nói sám hối phần nhiều là chỉ cho Sự sám. [X. Ma ha chỉ quán Q.2, phần đầu]. (xt. Sám Hối).

sự sư pháp

(事師法) Phép thờ thầy. Trong Giáo giới tân học tỉ khưu hành hộ luật nghi, Luật sư Đạo tuyên có nêu ra 51 pháp Sự sư, như ở trước mặt thầy không được để người khác lễ bái mình, thấy khăn áo của thầy dơ bẩn phải thưa để thầy biết, sau đó mang đi giặt sạch sẽ; nếu theo thầy ra đi không được cười nói ồn ào; không được dẫm đạp lên bóng của thầy, phải đi cách thầy hơn 7 thước; không được gièm chê hoặc nịnh nọt người khác trước mặt thầy; nều thầy muốn đi xa phải chuẩn bị đầy đủ các vật cần dùng cho thầy.

Sự sư pháp ngũ thập tụng

事師法五十頌; C: shìshī fǎ wǔshí sòng; J: jishi hō gojū ju; S: gurupañcāśikā; T: bla ma lnga bcu pa;|Một tác phẩm được xem là của Bồ Tát Mã Minh (馬鳴菩薩; s: aśvaghoṣa), được Nhật Xứng (日稱) và một số người khác dịch sang Hán văn. Một luận văn hướng dẫn ngắn gọn tìm một bậc chân sư như thế nào, và khi đã có một mối liên hệ thầy trò rồi sử sự như thế nào mới đúng. Luận tụng này có mối liên hệ rõ ràng với hệ thống thực hành mật giáo Vô thượng du-già (無上瑜伽; s: anuttarayoga-tantra).

sự sư pháp ngũ thập tụng

(事師法五十頌) Tác phẩm, 1 quyển, dobồ tát Mã minh biên tập, ngài Nhật xứng dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Toàn quyển gồm 50 bài tụng, nói về việc 2 chúng xuất gia và tại gia đều phải kính trọng Quán đính sư A xà lê, nhờ đó mà được các công đức lợiích. Trái lại, nếu khinh nhờn, phỉ báng thì sẽ chịu các thứ khổ báo tai ách. Trong sách cũng nói rõ các lễ pháp và việc hầu hạ... mà người đệ tử nên phụng hành đối với bậc tôn sư của mình. Ngoài ra, những danh tướng nghi quĩ, quán đính, chân ngôn, hộ ma... xuất hiện trong sách này hiển nhiên là những dụng ngữ của Mật giáo, bởi vậy, tác giả có đích xác là bồ tát Mã Minh hay không thì còn phải chờ sự nghiên cứu khảo chứng.

sự sư pháp ngũ thập tụng thích

(事師法五十頌釋) Tác phẩm, do Tổ khai sáng phái Hoàng giáo thuộc Lạt Ma giáo Tây Tạng là ngài Tông Khách Ba soạn ở chùa Nhiệt Chấn vào năm Kiến văn thứ 4 (1402) đời Huệ Đế nhà Minh. Nội dung sách này nói rõ về thái độ và những phép tắc mà người học tăng nên tuân giữ đối với bậc thầy khuôn mẫu của mình. Cứ theo bản dịch Tây Tạng thì văn dụng gốc (nguyên tác) do ngài Bạt Tì Thiên biên tập, nhưng theo bản Hán dịch thì do bồ tát Mã Minh biên tập. Trước ngài Tông Khách Ba không có văn chú thích, chỉ do thầy truyền miệng cho trò, lâu ngày dần dần nảy sinh tranh luận. Ngài Tông Khách Ba trích dẫn các kinh luận để giải thích rộng về ý nghĩa của những bài tụng gốc. Đây là 1 trong các tác phẩm quan trọng của ngài Tông Khách Ba.

sự sự vô ngại

(事事無礙) Hết thảy sự sự vật trong thế giới hiện tượng đều liên quan rất mật thiết và giao thoa dung hợp mà không hề ngăn ngại lẫn nhau. Đây là dụng ngữ của tông Hoa Nghiêm hiển bày diệu nghĩa Nhất đa tương tức, Đại tiểu tương dung. Hiện tượng tức bản thể... (xt. Tam Trùng Quán Môn).

sự sự vô ngại pháp giới

Perfectly unimpeded interpenetration—“Sự” theo Hoa Nghiêm liên quan đến thuật ngữ “Vatsu” trong Phạn ngữ có nghĩa là “sự việc,” “cớ sự xãy ra,” hay “một vật hiện hữu.” Tuy nhiên nghĩa thông thường của “sự” là “sự việc.” Người Phật tử chúng ta không tin tưởng vào thực tại của những hiện hữu cá nhân vì kinh nghiệm cho biết không có gì tồn tại được dù trong chốc lát. Tất cả đều biến đổi, lần hồi, chầm chậm, nên lâu ngày chầy tháng ta mời nhận ra. Cảm giác của chúng ta thường gắn liền với ý niệm về thời gian và đo bằng không gian, cho nên mọi sự việc tiếp nối diễn ra trong thời gian đều chuyển thành một chuỗi thực tại cá biệt trong không gian. Giáo lý “sự sự vô ngại pháp giới,” chỉ thấu triệt được khi ý thức của chúng ta hoàn toàn thâm nhập với dòng diễn biến vô tận của muôn sự muôn vật kể trên—According to the Avatamsaka terminology, which is a Sanskrit term “Vatsu” meaning “matter,” or “event,” or “happening,” or “ an individual thing or substance.” However, its general idea is “an event.” We, Buddhists, do not believe in the reality of an individual existence, for there is nothing in our world of experience that keeps its identity even for a moment; it is subject to constant change. The changes are, however, imperceptively gradual as far as our human senses are concerned , and are not noticed until they pass through certain stages of modification. Human sensibility is bound up with the notion of time-divisions; it translates time into space; a succession of events is converted into a spatial system of individual realities. The idea of “pefectly unimpeded interpenetration Dharmadhatu” is attained only when our consciousness is thoroughly pervaded with a feeling for a never-ending process of occurrences mentioned above. ; (事事無礙法界) Pháp giới thứ 4 trong 4 giới do tông Hoa nghiêm thành lập. Nghĩa là thể dụng của các pháp tuy duyên khởi khác nhau, mỗi pháp giữ gìn tự tính của nó, nhưng sự sự trông nhau, nhiều duyên ứng hợp nhau mà thành môt duyên, một duyên cũng ứng hợp cùng khắp thành nhiều duyên, lực dụng giao thoa, nương nhau tồn tại, vô ngại tự tại, trùng trùng vô tận. (xt. Tứ Pháp Giới).

sự sự vô ngại quán

(事事無礙觀) Cũng gọi Sự sự vô ngại pháp giới quán. Pháp giới quán thứ 4 trong 4 pháp giới quán do tông Hoa nghiêm thành lập. Nghĩa là quán xét hết thảy sự vật trong thế giới hiện tượng đều giao thoa dung hợp với nhau mà không bị ngăn ngại. Pháp giới quán này cũng nói rõ sự thể nhận và chứng đắc chân lí tuyệt đối 1 cách trực tiếp ngay trong thế giới hiện tượng muôn nghìn sai khác. (xt. Thập Huyền Môn, Tam Trùng Quán Môn, Tứ Pháp Giới).

sự thiền

Hữu lậu định hay thiền định tập trung tư tưởng vào hiện tượng—The dhyana of or concentration on phenomena.

sự thần biến của chư phật

The miracles of all Buddhas.

sự thật

Realities—Truth.

sự thật của đời sống

The realities of life.

sự thể

Affairs—Matters.

sự trường tồn của phật giáo

The longevity for the Buddhism.

sự tình

Situation of matter.

sự tích

Dấu tích hành động hay đời sống của một cá nhân—Biography—Traces of the deeds or life of an individual.

sự tướng

Các pháp hữu vi hay các hiện tượng có sanh có diệt—Phenomenon—Affair—Practice. ; (事相) Đối với tác pháp tu hành Tam mật, Mật tông gọi là Sự tướng. Tức là tu hành các pháp như: Chọn đất, làm đàn, hộ ma, quán đính, kết ấn, tụng chú... Đây là nhân duyên sự tướng mà trong đó giáo lí Chân ngôn được kí thác. Lại vì mục đích của sự tu hành có khác nhau nên có thể chia làm 4 loại pháp, 5 loại pháp, 6 loại pháp... Bốn loại pháp là: Tức tai, Tăng ích, Hàng phục và Kính ái, nếu thêm pháp Câu triệu thì thành 5 loại pháp, lại thêm pháp Diên mệnh nữa thì thành 6 loại pháp. Sự tướng chủ yếu có: Thập Bát đạo, Kim Cương giới, Thai Tạng giới, Hộ Ma Hành pháp, Quán Đính... đều nương vào giáo lí và tương quan mật thiết với giáo tướng. Chẳng hạn như kết các loại thủ ấn, đều có bao hàm nghĩa lí bên trong, bởi thế, có thể nói, sự tu pháp trong Mật giáo là thông qua sự tướng để thực hành giáo lí. [X. phẩm Trụ tâm trong kinh Đại Nhật Q.1; Đại Nhật kinh sớ Q.7, 8].

sự tướng (thiền) sư

Vị (thiền) sư với hình tướng bên ngoài, nhưng kỳ thật chỉ bận bịu với những việc thế gian—A mystic, or monk in meditation, but always busy with worldly affairs.

sự tướng bộ

Pháp thực hành của mật giáo (thân khẩu ý mật), đối lại với “Giáo Tướng Bộ.”—The practices of the esoterics, as contrasted with their open teaching.

sự tướng cách lịch

(事相隔曆) Tất cả sự vật tồn tại trong thế giới hiện tượng đều sai khác nhau, không dung hợp lẫn nhau, gọi là Sự tướng cách lịch. Thế giới hiện tượng là từ trong thế giớibản thể hiển hiện ra, cho nên nếu khi nhiếp thế giới hiện tượng về bản thể thì mỗi mỗi sự tướng không có sai khác. Nhưng nếu chỉ nói riêng về thế giới hiện tượng thì thấy các sự tướng đều sai khác, không dung hợp lẫn nhau. Trong giáo phán về 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên của tông Thiên Thai thì thuyết Sự tướng cách lịch này là giáo lí của Biệt giáo, còn thuyết Hiện tượng giao dung trong bản thể là giáo lí của Viên giáo.[X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Duy ma nghĩa kí Q.1, phần cuối].

sự tạo

Lập thuyết của tông Thiên Thai về 3000 tính cụ—Phenomenal activities. According to T'ien-T'ai there are 3,000 underlying factors or principles giving rise to the 3,000 phenomenal activities. ; (事造) Đối lại: Lí cụ. Giáo nghĩa của tông Thiên Thai. Tông này cho rằng chân lí (lí thể pháp tính) tròn đủ 3 nghìn các pháp, 3 nghìn các pháp này do các duyên nhiễm, tịnh... mà hiển hiện các tướng trạng sai biệt, gọi là Sự tạo. (xt. Nhất Niệm Tam Thiên, Lí Cụ Sự Tạo).

sự việc kỳ lạ

Strange and wonderful occurrences.

sự độ

Cứu độ bằng cách hành trì ngũ giới hay thập thiện (sự tu phước là việc thiện)—Salvation by observing the five commandments, the ten good deeds, etc. ; (事度) Giữ gìn 5 giới, thực hiện 10 điều thiện để độ thoát các nỗi khổ của ác đạo. Bởi vì 5 giới, 10 điều thiện đều thuộc sự tướng hữu vi, cho nên gọi là Sự; Độ nghĩa là độ thoát các khổ trong 3 ác đạo địa ngục, súc sinh và ngã quỉ. Ma ha chỉ quán quyển 2 phần cuối (Đại 46, 17 trung) nói: Các cái che lấp là ác, sự độ là thiện. [X. Kim Quang Minh kinh Văn Cú Kí Q.3 phần cuối].

sực

All of a sudden---Suddenly.

sực nhớ

To remember suddenly.

sực tỉnh

To wake up suddenly.

ta

1) Nương tựa vào—To rely on—To avail oneself of. 2) Tiếng thở dài: To sigh—Alas!

Ta Bà

(s, p: sahā, j: saba, 娑婆): âm dịch là Sa Ha (娑訶), Sách Ha (索訶), ý dịch là nhẫn (忍), nói cho đúng là Ta Bà Thế Giới (s, p: sahā-lokadhātu, 娑婆世界), ý dịch là thế giới chịu đựng (nhẫn độ, nhẫn giới), tức chỉ thế giới, cõi đời này, thế giới mà đức Thích Tôn giáo hóa. Nó còn được gọi là Nhân Gian Giới (人間界, cõi con người), Tục Thế Giới (世俗界, thế giới phàm tục), Hiện Thế (現世, cõi đời này). Chúng sanh ở trong thế giới này chịu đựng các phiền não, vì vậy mới có tên là thế giới chịu đựng. Bên cạnh đó từ này còn được dịch là Tạp Hội (雜會) hay Tập Hội (集會). Nguyên ngữ của từ tập hội là sabhā, muốn ám chỉ sự tập hội phức tạp của các tầng lớp như con người, trên trời, Sa Môn, Bà La Môn, Sát Đế Lợi, cư sĩ, v.v. Người ta cho rằng nguyên lai từ sahā cũng phát xuất từ sabhā, là thế giới có nhiều loại người khác nhau làm đối tượng hóa độ của đức Phật Thích Ca. Thiền sư Chơn Không (眞空, 1045-1100) của Việt Nam có bài thơ rằng: “Diệu bổn hư vô minh tự khoa, hòa phong xuy khởi biến Ta Bà, nhân nhân tận thức vô vi lạc, nhược đắc vô vi thỉ thị gia (妙本虛無明自誇、和風吹起遍娑婆、人人盡識無爲樂、若得無爲始是家, diệu bản thênh thang sáng tự khoa, gió hòa thổi khắp cõi Ta Bà, người người thảy biết vô vi lạc, nếu đạt vô vi mới là nhà).” Cổ Côn Pháp Sư (古崑法師) cũng có hai câu đối như sau: “Ta Bà giáo chủ bi nguyện hoằng thâm thệ độ khổ nhân ly hỏa trạch, Cực Lạc đạo sư từ tâm quảng đại thường nghinh mê tử nhập Liên Trì (娑婆敎主悲願宏深誓度苦人離火宅、極樂導師慈心廣大常迎迷子入蓮池, Ta Bà giáo chủ bi nguyện rộng sâu thề độ người khổ xa nhà lửa, Cực Lạc đạo sư từ tâm rộng lớn thường đón kẻ mê vào Liên Trì).”

Ta bà

(娑婆): có mấy nghĩa. (1) Dáng vẻ cành lá trơ trọi. Như trong bài thơ Hậu Thổ Miếu Quỳnh Hoa (后土廟瓊花) của Vương Vũ Xưng (王禹偁, 954-1001) nhà Tống có câu: “Hốt tợ thử thiên thâm giản để, lão tùng kình tuyết bạch ta bà (忽似暑天深澗底、老松擎雪白娑婆, chợt giống mùa hè khe sâu đáy, tùng già vác tuyết trắng trọi trơ).” (2) Thong dong, nhàn rỗi. (3) Âm dịch của Phạn ngữ sahā, còn gọi là Sa Ha (娑訶), Sách Ha (索訶); ý dịch là nhẫn (忍); nói đủ là Ta Bà Thế Giới (s, p: sahā-lokadhātu, 娑婆世界); ý dịch là nhẫn độ (忍土), nhẫn giới (忍界, cõi chịu đựng), tức chỉ thế giới, cõi đời này, thế giới do đức Thích Tôn giáo hóa. Như trong Thích Tịnh Độ Quần Nghi Luận (釋淨土群疑論, Taishō Vol. 47, No. 1960) có đoạn: “Thánh chúng lai nghênh, quy thú Tịnh Độ, xả Ta Bà uế chất, thành Cực Lạc tịnh thân (聖眾來迎、歸趣淨土、捨娑婆穢質、成極樂淨身, Thánh chúng đến nghinh, quay về Tịnh Độ, bỏ Ta Bà chất nhớp, thành Cực Lạc sạch thân).”

ta bà

Jambudvida (skt)— The saha world—The worldly world—Impure Land—Ta Bà có nghĩa là khổ não, lại cũng có nghĩa là phiền lụy hay trói buộc, chẳng được ung dung tự tại. Thế giới Ta Bà, nơi đầy dẫy những mâu thuẫn, hận thù và bạo động. Nơi mà chúng ta đang sống là một thế giới bất tịnh, và Phật Thích Ca đã bắt đầu thanh tịnh nó. Con người sống trong thế giới nầy chịu phải vô vàn khổ hãi vì tam độc tham, sân, si cũng như những dục vọng trần tục. Cõi Ta Bà nầy đầy dẫy những đất, đá, gai chông, hầm hố, gò nổng, thường có những mối khổ về đói khát, lạnh, nóng. Chúng sanh trong cõi Ta Bà phần nhiều tham đắm nơi phi pháp, tà pháp, chớ chẳng chịu tin chánh pháp, thọ số của họ ngắn ngủi, nhiều kẻ gian trá. Nói về vua quan, dầu có nước để cai trị, họ chẳng hề biết đủ, mà ngược lại sanh lòng tham lam, kéo binh đánh chiếm nước khác, khiến cho nhiều người vô tội chết oan; lại thêm nhiều thiên tai như hạn hán, bão lụt, mất mùa, đói khát, vân vân nên chúng sanh trong cõi nầy phải chịu vô lượng khổ sở. Nơi cõi Ta Bà nầy, sự thuận duyên cùng an vui tu tập thì ít, mà nghịch duyên phiền não thì nhiều. Hầu hết người tu hành đều dễ bị thối thất tâm Bồ Đề đã phát lúc ban đầu. Theo Đức Phật, quả đất mà chúng ta đang ở đây có tên là Nam Thiệm Bộ Châu, nằm về hướng nam của núi Tu Di, vốn là một phần nhỏ nhất trong hệ thống Đại Thiên Thế Giới do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni làm giáo chủ—Saha means sufferings and afflictions; it also means worries, binding, unable to be free and liberated. The worldly world is full of storm, conflict, hatred and violence. The world in which we live is an impure field, and Sakyamuni is the Buddha who has initiated its purification. People in this world endure many sufferings stemming from three poisons of greed, anger and delusion as well as earthly desires. The Saha World is filled with dirt, rocks, thorns, holes, canyons, hills, cliffs. There are various sufferings regarding thirst, famine, hot, and cold. The people in the Saha World like wicked doctrines and false dharma; and do not have faith in the proper dharma. Their lives are short and many are fraudulent. Kings and mandarins, although already have had lands to govern and rule, are not satisfied; as they become greedy, they bring forces to conquer other countries causing innocent people to die in vain. In addition, there are other infinite calamities such as droughts, floods, loss of harvest, thirst, famine, epidemics, etc. As for this Saha World, the favorable circumstances to cultivate in peace and contenment are few, but the unfavorable conditions of afflictions destroying path that are rather losing Bodhi Mind they developed in the beginning. Moreover, it is very difficult to encounter a highly virtuous and knowledgeable advisor. According to the Buddha, the planet in which we are currently living is called Virtuous Southern Continent. It is situated to the south of Mount Sumeru and is just a tiniest part of the Great World System of the Saha World in which Sakyamuni Buddha is the ruler.

ta bà thế giới

Saha-loka-dhatu (skt)—The world of human beings.

ta bà tịnh độ

Samsara and the Pure Land—Theo Kinh Phật Thuyết A Di Đà, có hai cõi là Ta Bà và Tịnh Độ—According to the Amitabha Sutra, there are two realms, they are samsara and the Pure Land: 1) Ta Bà: Samsara—See Ta Bà. 2) Tịnh Độ: The Pure Land—See Tịnh Độ.

ta cát lợi đa da ni

Agni (skt)—See Ác Kỳ Ni.

ta la bồ tát

Bồ Tát Ta La là một hình thức của Quan Âm, người ta nói rằng Bồ Tát Ta La được tạo thành bởi con mắt của Quán Âm—Tara Bodhisattva, as a form of Kuan-Yin, is said to have been produced from the eye of Kuan-Yin.

Ta La Song Thọ

(娑羅雙樹): gọi tắt là Ta La (s: śāla, p: sāla, 娑羅) là một loại cây rất cứng, chắc, cao, lá rộng thường xuyên, vốn có của Ấn Độ, vỏ cây có màu xanh trắng, lá có hình tròn thuẫn. Khi đức Thế Tôn nhập diệt ở bên bờ Ni Liên Thuyền thuộc ngoại thành Câu Thi Na, chính Ngài đã nhập Niết Bàn dưới hai gốc cây Ta La này. Tương truyền khi ấy do đau buồn vì sự nhập diệt của đức Thế Tôn, cây này đã khô héo. Khi cây này khô héo đi thì biến thành sắc màu trắng giống như con bạch hạc, cho nên rừng Ta La Song Thọ còn được gọi là Hạc Lâm (鶴林). Cây Song Thọ ở phía đông được ví cho thường và vô thường, cây ở phía Tây là ví cho ngã và vô ngã, cây ở phía Nam ví cho lạc và vô lạc, còn cây ở phía Bắc là ví cho tịnh và vô tịnh.

ta la thọ

The Tala tree—Its edible fruit resembling the pomegranate, its leaves being used for writing.

ta thán

To complain.

ta thông khai đạo

Hai tông Biệt giáo và Viên giáo đều dựa vào Thông giáo để tiến hóa—The two other schools of Differentiated and Complete Teachings depend on the T'ung or Intermediate school for their evolution.

Ta-bà thế giới

娑婆世界; S: sahalokadhātu;|Sa-bà thế giới

Tai

哉; C: zāi; J: sai; |Có các nghĩa sau: 1. Dùng trong câu hỏi – Chẳng phải vậy sao?; 2. Nghi vấn từ; 3. Từ diễn đạt sự ngạc nhiên, thán phục, hay thương cảm; 5. Bắt đầu.

tai

1) Lỗ tai: Ear. 2) Tai họa: Calamity.

tai biến

Catastrophe—Disaster—Calamity.

tai hoạn

(灾患) Chỉ cho các chướng ngại làm phương hại việc hướng thượng tu đạo, gồm 8 thứ là tầm(tìm cầu), tứ(rình xét), khổ, vui, lo mừng, thở ra và hít vào. Tám thứ này ngăn trở việc tiến vào Đệ tứ thiền cõi Sắc, vì thế gọi là Bát tai hoạn.

tai hại

Damaging—Disastrous.

tai họa

Disaster—Terrible that happens unexpectedly.

tai nạn

Accident.

tai nạn bất kỳ

Unfoerseen accident.

tai thính

Quick ear.

tai tiếng

Bad reputation.

tai to mặt lớn

Important or distinguished person.

tai ương

Disaster.

Tai-lô-pa

S: tilopa, tailopa;|Một trong những vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahā-siddha) và là người đầu tiên truyền phép Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā). Sư là người thống nhất các phép tu Tan-tra của Ấn Ðộ và truyền cho đệ tử là Na-rô-pa (t: nāropa). Dưới tên Na-rô-pa (Na-rô lục pháp; t: nāro chodrug), giáo pháp này được truyền bá rộng rãi tại Tây Tạng và đóng vai trò quan trọng trong phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa). Tên »Tai-lô-pa« có nghĩa là »người làm dầu mè« vì Sư từng ép dầu mè kiếm sống.|Tai-lô-pa là vị Ðạo sư (s: guru; xem A-xà-lê) đầu tiên được biết đến trong lịch sử Phật giáo: không phải là một Pháp sư (người tinh thông và thuyết giảng Tam tạng), không phải là Luận sư (người chuyên tranh luận và viết luận) mà chỉ là một người siêng năng tu tập, thực hành Phật pháp. Với Tai-lô-pa, trong lịch sử Phật giáo xuất hiện một hạng Ðạo sư mới.||H 50: Tai-lô-pa (tilopa)|Sư sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn tại Śāliputra (Hoa Thị thành?). Mặc dù Long Thụ được xem là thầy của Sư nhưng Sư không theo tông phái nào, chỉ thí nghiệm nhiều phương pháp tu mật và trong lúc nhập định, Sư chứng kiến được các vị Không hành nữ (s: ḍākinī) và A-đề Phật, ngộ sự nhất thể của mình với họ. Hộ Thần (s: sādhita) của Sư là Cha-kra sam-va-ra (s: cakrasaṃvara). Về cuộc đời giáo hoá của Sư sau đó thì có nhiều tài liệu khác nhau. Tương truyền rằng, Sư trụ trì tại một tịnh viện tại Odantaputra và nơi đây Sư truyền pháp lại cho Na-rô-pa. Phật tử Tây Tạng rất tôn thờ Sư, mặc dù Sư không bao giờ bước chân đến đây. Ðại tạng của Tây Tạng còn giữ lại chín tác phẩm của Sư và dòng Ca-nhĩ-cư (kagyupa) xem Sư là Sơ tổ.|Trong hệ thống 84 vị Ma-ha Tất-đạt Ấn Ðộ, Tai-lô-pa là Ðạo sư của nhà vua xứ Viṣṇunagara. Ngày nọ, bỗng nhiên Sư cảm nhận cuộc đời vô thường, vô vị và ngay tối hôm đó lẳng lặng ra đi về miền Nam. Sư được môn đệ là Na-rô-pa tận lòng phục vụ. Sau mười năm tu tập, Sư đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa. Tranh tượng hay trình bày Sư tay không bắt cá. Kệ tụng của Sư như sau:|Chim đậu núi Tu-di,|hầu như làm bằng vàng.|Thánh nhân, kẻ đã biết,|tất cả đều khả dĩ,|bỏ thế gian vật chất,|bám đậu vào đất Phật.

tam

Tri or Traya (skt)—Three.

tam a tăng kỳ kiếp

Ba A Tăng Kỳ kiếp—The three great asamhkyeya kalpas—The three timeless periods of a bodhisattva's progress to Buddhahood. ; (三阿僧祇劫) Cũng gọi Tam đại a tăng kì kiếp, Tam kiếp a tăng xí da, Tam a tăng xí da, Tam a tăng kì, Tamkì, Tam vô số đại kiếp, Tam vô số kiếp, Tam kiếp. Ba kiếp a tăng kì, tức là khoảng thời gian mà vị Bồ tát phải trải qua kể từ khi phát tâm tu hành đến khi đạt thành quả Phật viên mãn. A tăng kì (Phạm: Asaôkhya) nghĩa là vô lượng số; Kiếp là đơn vị thời gian rất lâu xa, có đại kiếp, trung kiếp và tiểu kiếp khác nhau. Trong 3 kiếp a tăng kì, đức Thích ca đã được gặp vô số Phật. Theo luận Đại tì bà sa quyển 178, trong kiếp thứ nhất, Ngài phụng sự 7 vạn 5 nghìn đức Phật; trong kiếp thứ 2, Ngài phụng sự 7 vạn 6 nghìn đức Phật và trong kiếp thứ 3, Ngài phụng sự 7 vạn 7 nghìn đức Phật. Về việc phối hợp 3 kiếp với các giai vị tu hành,trong kinh luận có nhiều thuyết khác nhau. Trong Tứ giáo nghĩa quyển 4, Đại sư Trí khải tông Thiên thai, phối hợp 3 kiếp với các giai vị của Thanh văn như sau:1. Kiếp a tăng kì thứ nhất: Phối với vị Ngoại phàm, tức chứng được các giai vị Biệt tướng niệm xứ và Tổng tướng niệm xứ trong Ngũ đình tâm. 2. Kiếp a tăng kì thứ hai: Phối với Noãn vị của Nội phàm, tức giai vị dùng trí tuệ của pháp Noãn tu tập 6 độ. 3. Kiếp a tăng kì thứ ba: Phối với Đính vị, tức giai vị siêng tu 6 độ, quán xét và hiểu rõ Tứ đế.Theo thuyết của Nhiếp đại thừa luận bản quyển hạ thì: 1. Kiếp a tăng kì thứ nhất: Phối với các giai vị Bồ tát Địa tiền, tức 40 giai vị: Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng. 2. Kiếp a tăng kì thứ hai: Phối với các giai vị từ Sơ địa đến Thất địa. 3. Kiếp a tăng kì thứ ba: Phối với các giai vị từ Bát địa đến Thập địa. Luận Nhiếp đại thừa quyển hạ (bản dịch đời Lương) thì nêu các thuyết 7 a tăng kì và 33 a tăng kì: I. Bảy kiếp a tăng kì: 1. Bất định a tăng kì. 2. Địa a tăng kì 3. Thụ kí a tăng kì. (Ba kiếp a tăng kì trên đây phối với 40 giai vị Địa tiền). 4. Y thực đế a tăng kì (từ Sơ địa đến Tam địa). 5. Y xả a tăng kì (từ Tứ địa đến Lục địa). 6. Y tịch tĩnh a tăng kì (từ Thất địa đến Bát địa). 7. Y trí tuệ a tăng kì (từ Cửu địa đến Thập địa). II. Ba mươi ba kiếp a tăng kì, tức Địa tiền có: 1. Tín hành a tăng kì. 2. Tinh tiến a tăng kì. 3. Thú hướng hành a tăng kì. Trong Thập địa thì mỗi địa đều có 3 a tăng kì, vì mỗi địa đều có 3 thứ bậc: Nhập vị, Trụ vị, Xuất vị, mỗi thứ bậc lập 1 a tăng kì, cộng chung với 3 kiếp của Địa tiền thì thành 33 kiếp. Về số kiếp được lập tuy là 7 hoặc 33, nhưng về lượng kiếp thì không khác gì với 3 kiếp a tăng kì nói trên. Phẩm Tu tam thập nhị tướng nghiệp trong kinh Ưu bà tắc giới quyển 1 (Đại 24, 1039 thượng) ghi: Đại Bồ tát tu xong nghiệp này rồi thì gọi là Mãn tam a tăng kì kiếp, sẽ lần lượt được Vô thượng chính đẳng chánh giác. Thiện nam tử! Thủa xưa, ở nơi đức Phật Bảo đính ta đã đầy đủ kiếp a tăng kì thứ nhất;nơi đức Phật Nhiên đăng ta đã đầy đủ kiếp a tăng kì thứ hai và ở nơi đức Phật Ca diếp ta đã đầy đủ kiếp a tăng kì thứ ba. [X. luận Đại trí độ Q.4; luận Du già sư địa Q.48; luận Câu xá Q.18; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.trung; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2, 3; Câu xá luận quang kí Q.18].

Tam a-tăng-kì kiếp

三阿僧祇劫; C: sān āsēngqí jié; J: sana-sōgikō;|»Ba vô lượng kiếp« (A-tăng-kì). Năm mươi hai cấp bậc tu tập của một vị Bồ Tát được chia thành ba a-tăng kì kiếp. Thập tín (十信), Thập trú (十住), Thập hạnh (十行) và Thập hồi hướng (十迴向) thuộc về đại kiếp thứ nhất. Từ địa vị thứ nhất đến thứ bảy của Bồ Tát thập địa kéo dài một đại kiếp, đại kiếp thứ hai, và địa thứ tám đến mười được thực hiện trong đại kiếp thứ ba.

tam an cư

The three months of Summer Retreat.

tam ba la mật đa

(三波羅蜜多) I. Tam Ba La Mật Đa. Gọi tắt: Tam ba la mật. Tông Pháp tướng dựa vào địa vị Năng tu mà chia 10 Ba la mật làm 3 loại: 1. Ba la mật đa: Hàng Bồ tát giai vị Tam hiền thuộc Địa tiền ở vô số kiếp thứ nhất, tu 10 Ba la mật như Bố thí... thế lực của Bồ tát này còn yếu kém, không đàn áp được phiền não, mà trái lại, bị phiền não chinh phục và hiện hành. 2. Cận ba la mật đa: Bồ tát từ Sơ địa đến Thất địa, ở vô số kiếp thứ hai, tu 10 Ba la mật, thế lực của hàng Bồ tát này dần dần tăng lên, không bị phiền não áp phục, mà có khả năng áp phục được phiền não, nhưng lại cố ý hiện hành phiền não để tu hành, cho nên sự tu hành này là cố ý chứ chẳng phải là sự tu hành nhậm vận tự do, không cần dụng công. 3. Đại ba la mật đa: Hàng Bồ tát từ Bát địa đến Thập địa, ở vô số kiếp thứ ba, tu 10 Ba la mật, thế lực của hàng Bồ tát này đã trở nên lớn mạnh, đủ sức áp phục tất cả phiền não 1 cách hoàn toàn, vĩnh viễn không cho hiện hành. [X. kinh Giải thâm mật Q.4; luận Thành duy thức Q.9; Thành duy thức luận diễn bí Q.3, phần cuối]. II. Tam Ba La Mật Đa. Cũng gọi Tam chủng ba la mật. Căn cứ vào sự sai khác giữa phàm phu, Nhị thừa và Bồ tát mà chia 6 độ như Bố thí... làm 3 loại: 1. Thế gian ba la mật: Chỉ cho các pháp 6 độ hữu lậu mà hàng phàm phu tu hành với tâm chấp trước ngã, ngã sở, đoạn, thường... để cầu mong được quả báo tốt đẹp như sinh lên cõi trời Phạm thiên... 2. Xuất thế gian ba la mật: Chỉ cho 6 độ của hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác tu hành để tự độ, với lòng mong cầu đạt đến cảnh giới vắng lặng của Niết bàn vô dư.3. Xuất thế gian thượng thượng ba la mật: Sáu độ của các vị Bồ tát biết vạn pháp duy tâm, không trụ nơi 6 trần, thấu suốt mình và người là cùng 1 thể nên không bỏ tất cả chúng sinh, mà tu hành 6 độ với tâm không phân biệt năng sở để làm lợi ích cho họ.[X. kinh Lăng già a bạt đa la bảo Q.4; Lăng già a bạt đa la bảo kinh chú giải Q.4, phần cuối].

tam biến độ điền

(三變土田) Cũng gọi Tam biến độ tịnh, Tam biến độ.Ba lần biến đổi Uế độ thành Tịnh độCứ theo phẩm Kiến bảo tháp trong kinh Pháp hoa quyển 4, khi đức Thích ca Như lai giảng nói kinh Pháp hoa thì tháp báu của đức Phật Đa bảo từ dưới đất nhô lên, đức Thích ca liền nhân nơi nguyện xưa của Phật Đa bảo nhóm họp các phân thân của mình đang thuyết pháp trong khắp 10 phương, trước hết biến thế giới Sa bà thành Tịnh độ, chỉ trừ hội chúng của hội ấy (hội Pháp hoa), còn các trời, người đều được dời đến các cõi khác, nhưng vẫn không thể chứa hết phân thân của 1 phương, nên ở 8 phương mỗi phương đều biến 200 vạn ức na do tha cõi nước thành Tịnh độ, lại dời các trời, người đến cõi khác, nhưng vẫn không thể dung chứa hết, vì thế ở 8 phương mỗi phương lại biến 200 vạn ức na do tha cõi nước thành Tịnh độ và dời các trời, người đến cõi khác. Pháp hoa văn cú quyển 8, hạ, giải thích Tam biến độ điền là do năng lực của Tam muội, Tam muội này có 3 nghĩa: 1. Biến cõi Sa bà là Bối xả, có năng lực biến uế thành tịnh. 2. Biến 2 trăm na do tha là Thắng xứ, chuyển biến tự tại. 3. Biến 2 trăm na do tha là Nhất thiết thắng xứ đối với cảnh không trở ngại. Sự biến hóa lần thứ nhất biểu thị trừ sạch 4 trụ địa, sự biến hóa lần thứ hai biểu thị trừ sạch hoặc trần sa và sự biến hóa lần thứ ba biểu thị trừ sạch hoặc vô minh. [X. Pháp hoa huyền luận Q.9; Pháp hoa kinh huyền tán Q.8, phần cuối; Pháp hoa văn cú kí Q.8, phần 4].

tam bách lục thập hội

(三百六十會) Cũng gọi Tam bách hội. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Ba trăm sáu mươi hội. Chỉ cho số pháp hội rất nhiều trong 1 đời thuyết pháp của đức Phật. [X. Bích nham lục tắc 6].

tam báo

Three recompenses: 1) Hiện báo: Immediate result—Quả báo ngay trong kiếp hiện tại, hay quả báo của những hành động, lành hay dữ, ngay trong đời nầy—Recompeses in the present life for deeds done now, or result that happens in this present life. 2) Sinh báo: Future result—Hành động bây giờ mà đến đời sau mới chịu quả báo—Recompenses in the next rebirth for deeds now done, or future result which will happen in the next life. 3) Hậu báo: Deffered result—Hậu báo là quả báo về lâu xa sau nầy mới gặt—Recompenses in subsequent lives, or result that is deffered for some time to come. ; (三報) Chỉ cho 3 thứ nghiệp báo được chia theo thời gian chịu quả báo, đó là: 1. Hiện báo: Nghiệp thiện, ác được tạo ra ở đời hiện tại thì hiện thân này phải chịu quả báo của nghiệp thiện, ác ấy. 2. Sinh báo: Nghiệp thiện, ác tạo tác ở đời này, đến đời sau mới chịu quả báo thiện, ác. 3. Hậu báo: Nghiệp thiện, ác đã tạo ra trong vô lượng kiếp ở quá khứ, đến đời này chịu quả báo thiện, ác hoặc trong vô lượng kiếp ở vị lai mới chịu quả báo thiện ác. [X. luận Thành thực Q.8; Từ bi thủy sám pháp Q.trung; Lương cao tăng truyện Q.6; Đại minh tam tạng pháp số Q.11]. (xt. Tam Nghiệp).

tam bát la khư đa

(三鉢羅佉多) Phạm: Saôpràgata. Cũng gọi Tăng bạt. Hán dịch: Thời chí, Chính chí, Thiện chí.Lời của vị tăng Duy na xướng trước khi chúng tăng thụ trai, có 2 nghĩa: 1. Thí chủ bày tỏ ý bố thí bình đẳng đối với chúng tăng. 2. Chỉ cho các món ăn mà chúng tăng dùng đều 1 vị như nhau. Cứ theo Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ mục đắc ca quyển 8 và Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1, trước khi thụ trai, đem các thức cúng dường đặt trước chúng tăng, rồi sai 1 người cầm món ăn, chắp tay quì thẳng trước vị Thượng tọa, cúi đầu cung kính xướng Tam bát la già đa, xướng xong mới được thụ thực, nếu chưa xướng mà ăn thì phạm tội ác tác. Tam bát la già đa là tiếng thần chú có năng lực tiêu trừ chất độc trong thức ăn, làm cho độc tố (nếu có) đều thành mĩ vị. [X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 3; Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ mục đắc ca chú Q.8].

tam bát nhã

The three prajnas or perfect enlightenments: 1) Thực tướng Bát nhã: Wisdom in its essence or reality. 2) Quán chiếu Bát nhã: The wisdom of perceiving the real meaning of all things. 3) Phương tiện Bát nhã: The wisdom of knowing things in their temporal and changing condition. ** For more information, please see Bát Nhã. ; (三般若) Bát nhã, Phạm:Prajĩà. Hán dịch: Trí tuệ. Cũng gọi Tam chủng bát nhã. I. Tam Bát Nhã. Chỉ cho Thực tướng bát nhã, Quán chiếu bát nhã và Văn tự bát nhã. Đại thừa nghĩa chương quyển 10 căn cứ vào luận Đại trí độ mà lập 3 nghĩa Bát nhã:1. Văn tự: Văn tự tuy không phải là Bát nhã, nhưng là phương tiện để giải thích Bát nhã, lại có năng lực sinh khởi Bát nhã, vì thếgọilà Văn tự bát nhã. Tức chỉ cho các bộ kinh Bát nhã. 2. Quán chiếu: Dụng của tâm tuệ chiếu suốt, thể của nó tức là Bát nhã, cho nên gọi là Quán chiếu bát nhã. 3. Thực tướng:Cảnh giới do quán chiếu mà biết được, thể của nó tuy chẳng phải là Bát nhã, nhưng có năng lực sinh khởi Bát nhã, vì thế gọi là Thực tướng bát nhã. Trong 3 Bát nhã thì Văn tự bát nhã và Thực tướng bát nhã là pháp Bát nhã chứ không phải chính chúng là Bát nhã, còn Quán chiếu bát nhã thì là thể của Bát nhã. Theo Bích nham lục tắc 10 thì Thực tướng Bát nhã chính là chân trí, Quán chiếu bát nhã chính là chân cảnh, còn Văn tự bát nhã chính là Văn tự năng thuyên. Ba Bát nhã này thêm vào 2 Bát nhã nữa là Cảnh giới bát nhã và Quyến thuộc bát nhã, gọi là Ngũ chủng bát nhã. Ngoài ra, Văn tự bát nhã cũng có khi được gọi là Phương tiện bát nhã. [X. Kim cương bát nhã kinh sớ; Đại phẩm kinh nghĩa sớ Q.1; Bát nhã tâm kinh lược sớ; Tam luận huyền nghĩa; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.3]. II. Tam Bát Nhã. Chỉ cho Thực tướng bát nhã, Quán chiếu bát nhã và Phương tiện bát nhã. Cứ theo Kim quang minh kinh huyền nghĩa quyển thượng và Kim quang minh huyền nghĩa thập di kí quyển 2 thì Bát nhã là Đại giác viên mãn thường hằng, Đại giác này có 3 đức: 1. Thực tướng bát nhã: Lí thể của Bát nhã. Lí thể này tất cả chúng sinh đều có sẵn, chẳng phải vắng lặng chẳng phải chiếu soi, lìa hết thảy tướng hư vọng, là tính thực của Bát nhã. Tức là Nhất thiết chủng trí. 2. Quán chiếu bát nhã: Thực trí quán chiếu thực tướng. Nghĩa là đức quán chiếu chẳng phải soi mà soi, rõ suốt các pháp vô tướng, gọi là Quán chiếu. Tức Nhất thiết trí. 3. Phương tiện bát nhã: Quyền trí phân biệt các pháp. Nghĩa là đức phương tiện chẳng phải lặng mà lặng, khéo léo phân biệt các pháp, gọi là Phương tiện. Tức là Đạo chủng trí. Thuyết này cho rằng 3 thứ Phương tiện, Quán chiếu và Thực tướng chính là Bát nhã, đây là nghĩa của Tính tông.

tam bát nhật

(三八日) Chỉ cho 3 ngày mồng 8, 18 và 28 mỗi tháng, là những ngày chúng tăng trong Thiền gia tụng niệm trên điện Phật. Thời xưa thì thực hành trong 6 ngày mồng 3, 13, 23, mồng 8, 18, 28 mỗi tháng. Vào các ngày 3 thì cầu nguyện quốc gia thanh bình, thịnh vượng, Phật pháp hưng long, thí chủ an ổn; còn vào các ngày 8 thì quán niệm vô thường và cầu nguyện sự nghiệp tu hành của mình được thành tựu viên mãn. Về sau, diễn biến thành 3 ngày 8 là Thượng bát (mồng 8), Trung bát (18) và Hạ bát (28). Các ngày Thượng bát và Trung bát thì cầu nguyện cho đất nước phồn vinh, đạo pháp hưng thịnh; còn ngày Hạ bát thì đại chúng nhớ nghĩ vô thường. [X. điều Niệm tụng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; môn Tiết thời trong Thiền lâm tượng khí tiên].

Tam Bình Nghĩa Trung

三平義忠; C: sānpíng yìzháng; J: sampei gichū; tk. 8/9;|Thiền sư Trung Quốc dòng Thạch Ðầu Hi Thiên, môn đệ của Ðại Ðiên Bảo Thông.|Sư họ Dương, quê ở Phúc Châu. Ban đầu Sư đến tham vấn Thạch Củng Huệ Tạng. Thạch Củng dương cung bảo: »Xem tên đây!« Sư bèn vạch ngực thưa: »Ðây là mũi tên giết người, đâu là mũi tên cứu người?« Thạch Củng gảy dây cung ba cái, Sư liền làm lễ. Thạch Củng bảo: »Ba mươi năm một phen dương cung, một hai mũi tên chỉ bắn được nửa người thánh.«|Sư đến tham vấn Ðại Ðiên thuật lại việc trên, Ðại Ðiên bảo: »Ðã là mũi tên cứu người, vì sao nhằm trên dây cung mà biện?« Sư đáp không được. Ðại Ðiên bảo: »Ba mươi năm sau cần người nhắc câu này cũng khó được.« Sư hỏi: »Chẳng cần chỉ Ðông vẽ Tây, thỉnh thầy chỉ thẳng.« Ðại Ðiên bảo: »Cửa sông U Châu người đá ngồi xổm.« Sư bảo: »Vẫn là chỉ Ðông vẽ Tây« Ðại Ðiên bảo: »Nếu phượng hoàng con không đến bên này bàn.« Sư làm lễ, Ðại Ðiên bảo: »Nếu chẳng đặng câu sau thì lời trước khó tròn.«|Sư dạy chúng: »Các ngươi! Nếu chưa gặp trí thức thì chẳng nên, nếu từng gặp trí thức rồi phải nhân ngay ý độ ấy, đến trên chót núi, hóc đá, ăn cây, mặc lá, thế ấy mới có ít phần tương ưng. Nếu chạy cầu hiểu biết nghĩa cú, tức là trông quê hương muôn dặm xa vậy.«|Không biết Sư tịch nơi nào, năm nào.

tam bình đẳng

Tâm, Phật, chúng sanh là một—Mind, Buddha and the living are one and universal.

tam bình đẳng quán

(三平等觀) Cũng gọi Tam tam muội da quán. Quán xét 3 thứ đều bình đẳng, đây là giáo nghĩa của Mật giáo. Tức quán Phật, Pháp, Tăng; hoặc thân, ngữ, ý; hoặc tâm, Phật và chúng sinh là bình đẳng. Tam bình đẳng quán theo nghĩa rộng là dùng Tam mật thu nhiếp tất cả các pháp, tức là: Tất cả sắc nhiếp về thân mật, thân mật chính là ấn khế; tất cả thanh nhiếp về ngữ mật, ngữ mật chính là chân ngôn; tất cả lí nhiếp về tâm mật, tâm mật chính là thực tướng. Tam mật bình đẳng bao trùm khắp cả mọi nơi, cho nên cảnh giới mà hành giả trông thấy đều là thân trùm khắp mọi nơi của Đại nhật Như lai, âm thanh mà hành giả nghe thấy đều là Đà la ni, là tiếng nói pháp của chư Phật. Tam bình đẳng quán theo nghĩa hẹp thì chia làm 3 loại: 1. tự tam bình đẳng quán: quán xét Tam mật bình đẳng của hành giả là bình đẳng, bao trùm khắp pháp giới. 2. Tha tam bình đẳng quán: Quán xét Tam bình đẳng của hành giả và Tam bình đẳng của Bản tôn là cùng 1 duyên tướng. 3. Cộng tam bình đẳng quán: Quán tưởng hành giả, Bản tôn và hết thảy chư Phật đã thành, chưa thành đều là cùng 1 duyên tướng. Quán xét như thế, hành giả và Bản tôn dung hòa làm 1 thể, tức là chỗ tột cùng nhập ngã ngã nhập của năng chứng. Pháp quán trên đây thuộc về pháp quán Chính niệm tụng hoặc lúc bình thường. Nếu khi tu Hộ ma thì dựa vào Tam mật: Bản tôn, Lư đàn, Hành giả mà quán tưởng, Tam mật ấy là bình đẳng, gọi là Nội hộ ma quán. Nhờ tu quán tam bình đẳng của Nội hộ ma mà sự lí trong ngoài ứng hợp nhau, đạt được Tất địa. Bản tôn được quán tưởng và hành giả có thân khẩu ý, lư đàn cũng có thân khẩu ý (tức thân lò, miệng lò, lửa lò), thân của Bản tôn chính là thân lò, cũng là thân của hành giả; khẩu của Bản tôn chính là miệng lò, cũng là khẩu của hành giả; trí của Bản tôn chính là lửa lò, cũng là lửa trí của hành giả; quán xét sự bình đẳng của Tam mật này như thế cũng gọi là Tam bình đẳng quán. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.20; Quán nội hộ ma; Bí tạng kí; Hộ ma kí bản trong A sa phược sao Q.40].

tam bí mật

See Tam Mật.

tam bí mật thân

(三秘密身) Chỉ cho 3 thứ thân bí mật. Theo giáo nghĩa của tông Chân ngôn thì các vị tôn đều có 3 thứ thân là: 1. Tự bí mật thân: Dùng chữ (Phạm) làm thể, biểu thị công đức của Phật, được chia làm 2 loại: a) Âm thanh: Những âm thanh vi diệu của chuông, mõ... được biểu hiện cho những hành giả lấy âm thanh làm cảnh sở quán. b) Sắc tướng: Những chủng tử, chân ngôn... trong nguyệt luân được hiển hiện cho những hành giả lấy sắc tướng làm cảnh sở quán. 2. Ấn bí mật thân: Lấy ấn làm thể, biểu thị bản thệ của Phật, cũng được chia làm 2 loại:a) Ấn khế hữu tình: Ấn có hình tướng hiển hiện ra cảnh sở quán của những hành giả mới phát tâm. b) Ấn vô hình: Trong tâm vô tướng hiển hiện ra cảnh sở quán của hành giả đã đạt. 3. Hình bí mật thân: Thân lấy hình tượng làm thể, cũng được chia làm 2 loại: a) Phi thanh tịnh: Thân có tướng phi thanh tịnh thị hiện cho hành giả mới phát tâm. b) Thanh tịnh: Thân thanh tịnh vô tướng thị hiện cho hành giả đã đạt. [X. phẩm Thuyết bản tôn tam muội trong kinh Đại nhật Q.6; Thánh Quan âm quyển trong A sa phược sao Q.83; Đại nhật kinh sớ Q.20].

tam bạch thực

(三白食) Cũng gọi Tam chủng bạch thực, Tam chủng bạch tịnh thực, Tam tịnh thực. Chỉ cho 3 thức ăn trắng và sạch: Sữa, lạc (cao sữa) và cơm gạo, là thực phẩm của hành giả Mật giáo dùng khi tu pháp. Kinh Nhất tự tâm chú (Đại 19, 317 thượng) nói: Người trì pháp cần phải giữ giới, thường dùng Tam bạch thực, đó là sữa, lạc và cơm gạo, không được phá trai. [X. phẩm Thỉnh vũ trong kinh Đại vân; kinh Nhất thiết công đức trang nghiêm vương; kinh Thập nhất diện thần chú tâm; truyện Nguyên tuệ trong Lương cao tăng truyện Q.23].

tam bạt la đà da đát đặc la

(三跋羅陀耶怛特羅) Phạm: Zrì-mahàsaôvarsdayatantraràja. Gọi tắt: Saôvarodayatantra. Tác phẩm, là tư liệu trọng yếu của Mật giáo thuộc hệ thốngSaôvara. Từ trước đến nay, Đát đặc la này được xem là sách chú giải Đát đặc la Cakrasaôvara-tantra trung tâm (Laghusaôvaratantra hiện hành), nhưng thực ra, nội dung của sách này đã tiến bộ hơn và trở thành điển tịch căn bản của Mật giáo thuộc hệ thốngSaôvara. Toàn sách gồm 32 phẩm: Phẩm thứ nhất là phẩm Thỉnh vấn, bồ tát Kim cương thủ xin đức Thế tôn khai thị, phẩm thứ 2 là thứ tự sinh khởi, phẩm thứ 3 là thứ tự cứu cánh, phẩm thứ 4 là các pháp số: 4 Đại chủng, 5 uẩn, 18 giới... đối ứng với 5 trí, 5 Phật, phẩm thứ 5 là sự vận hành của mặt trời, mặt trăng đối ứng với sự vận động của gió trong thân người, phẩm thứ 6 là 5 thứ gió trong thân người, phẩm thứ 7 là sự đối ứng giữaPìỉha, các bộ phận của thân thể và mạch máu (Phạm:Nàđì) của các bộ phận tồn tại, trở thành tư liệu trọng yếu của thuyết Nộipìtha, phẩm thứ 8 là các vấn đề thực tiễn liên quan đến Mạn đồ la như: Cúng dường Mạn đồ la, đặc tính và hành vi của A xà lê, nghĩa vụ của thí chủ..., phẩm thứ 9 liên quan đến những động tác bí mật (Phạm:Chomà) và Du già giả và Du già nữ (Phạm:Đàkinì) cùng xác nhận, sự đối ứng giữa các chủng loại tuần lễ địa và địa danh thực tế, giữaPìỉhavà Bồ tát Thập địa, các loại hành pháp Tức tai, Hàng phục, Câu triệu..., phẩm thứ 10 nói về các loại chú pháp như sử dụng bùa hộ thân: (Phạm:Yantra)..., phẩm thứ 13 là Mạn đồ la Saôvarodaya, do 13 vị tôn tạo thành, phẩm thứ 17 nói về phương pháp cụ thể hướng dẫn vẽ Mạn đồ la, phẩm thứ 18 thuyết minh về Quán đính, phẩm thứ 19 là điềm báo trước về cái chết và gió Du già, phẩm thứ 21 nói rõ về thái độ sinh hoạt của hành giả Đát đặc la, phẩm 23 và phẩm 28 nói về Hộ ma, phẩm 26 nói về cách gây rượu thánh, phẩm 31 nói về 4 loại Du già nữ, thuyết Tứ luân (Phạm: Cakra), khai triển tâm bồ đề..., phẩm thứ 33 là nói vềSaôvara của trạng thái Tất địa. Còn các phẩm khác tuy là những mảnh đứt rách rời rạc nhưng nhiều chỗ vẫn còn phát hiện được các sự tích Mật giáo rất thú vị. [X. The Saôvarodayatantra Selected Chapters, Tokyo, 1974; by Shinichi TSUDA; Saôvara hệ Mật giáo ư pìỉha thuyết chi nghiên cứu (Phong sơn học báo); Đàkinìjàla chi thực thái; Saĩcàra (chuyển vị của Du già nữ); Tứ luân tam mạch chi thân thể quan].

Tam Bảo

(s: tri-ratna, ratna-traya, p: ti-ratana, ratanattaya, j: sampō, 三寶): chỉ cho ba ngôi báu, gồm Phật Bảo (佛寶), Pháp Bảo (法寶) và Tăng Bảo (僧寶), mà một tín đồ Phật Giáo cần phải tôn kính, cúng dường; còn gọi là Tam Tôn (三尊). (1) Phật (s, p: buddha, 佛), chỉ cho đấng tự giác ngộ mình và làm cho người khác giác ngộ, là vị giáo chủ phật giáo có thể dạy đỗ, hướng dẫn người khác; hoặc chỉ chung cho chư Phật. (2) Pháp (s: dharma, p: dhamma, 法), là giáo pháp, lời dạy được đức Phật giác ngộ và tuyên thuyết cho người khác. (3) Tăng (s, p: saṅgha, 僧), chỉ cho tập đoàn đệ tử của đức Phật chuyên hành tì, tu tập giáo pháp của Ngài. Thường giáo đoàn này phải 3 người trở lên mới được gọi là Tăng. Ba ngôi báu này có uy đức rất cao tột, vĩnh viễn không thay đổi, giống như bảo vật trên đời, nên có tên là Tam Bảo. Cứu Cánh Nhất Thừa Thật Tánh Luận (究竟一乘寶性論, Taishō Vol. 31, No. 1611) quyển 2 có nêu ra 6 nghĩa của Tam Bảo: (1) Hy hữu, hiếm có, nghĩa rằng ba ngôi này trãi qua trăm ngàn vạn kiếp khó mà găp được, giống như trân bảo trên thế gian vậy. (2) Minh tịnh, trong sạch, nghĩa là ba ngôi báu này xa lìa hết thảy các pháp Hữu Lậu (s: sāsava, p: sāsrava, 有漏); nên không nhơ nhớp mà trong sạch. (3) Có thế lực, nghĩa là ba ngôi báu này đầy đủ năng lực oai đức tự tại không thể nghĩa bàn. (4) Trang nghiêm, nghĩa là ba ngôi báu này có thể trang nghiêm cõi xuất thế gian; giống như các bảo vật có thể làm trang nghiêm thế gian vậy. (5) Tối thắng, nghĩa là trong các pháp xuất thế gian, ba ngôi báu này là pháp vượt hơn hết tất cả. (6) Bất biến, không thay đổi, nghĩa là ba ngôi báu này là pháp Vô Lậu (s: anāsrava, p: anāsava, 無漏), không bị Tám Pháp của thế gian làm cho lay động, thay đổi. Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương (大乘法苑義林章, Taishō Vol. 45, No. 1861) quyển 6 lại đưa ra 4 nghĩa khác để làm sáng tỏ nguyên do sáng lập Tam Bảo: (1) Tà Tam Bảo (邪三寶) để đối trị ngoại đạo, nghĩa là phản tà quy chánh. (2) Đức Phật là bậc thầy điều ngự, Pháp là giáo pháp của vị thầy đó, Tăng là học trò của thầy đó. Sự chứng đắc của ba ngôi này là vô lượng, chủng loại giống nhau, nên hợp thành một pháp; nhưng vì nhân quả chứng đắc có khác nhau, nên phân thành thầy trò. (3) Người thượng căn muốn chứng quả Bồ Đề của Phật, nên gọi đó là Phật Bảo; người trung căn muốn cầu trí tự nhiên mà liễu đạt pháp nhân duyên, nên gọi đó là Pháp Bảo; người hạ căn nương vào thầy thọ pháp, lý sự không sai khác, nên gọi đó là Tăng Bảo. (4) Đức Phật như vị lương y, Pháp như phương thuốc mầu nhiệm; Tăng giống như người khán bệnh; đối với người bệnh mà nói thì vị lương y, phương thuốc mầu nhiệm và người khán bệnh không thể nào thiếu được. Trong Lễ Phật Nghi Thức (禮佛儀式, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1492) có đoạn: “Hựu phàm vi lễ bái, tất tu tiên kính Tam Bảo, Tam Bảo thị tối thắng cát tường, lương hựu phước điền, năng tiêu chúng sanh nghiệp cấu (又凡爲禮拜、必須先敬三寶、三寶是最勝吉祥、良祐福田、能消眾生業垢, lại phàm là lễ lạy, tất nên trước kính trọng Tam Bảo, Tam Bảo là điều tốt lành trên hết, là ruộng phước phù hộ tốt, có thể tiêu trừ nghiệp cấu của chúng sanh).” Hay trong Quy Giới Yếu Tập (歸戒要集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1129) quyển 1 cũng có đoạn: “Phù Tam Bảo giả, tánh tướng thường trụ, thể châu pháp giới, tiếp vật ứng cơ, như nhật diệu ư thiên giang, vi thế chu hàng (夫三寶者、性相常住、體周法界、接物應機、如日曜於千江、爲世舟航, phàm ba ngôi báu, tánh tướng thường trụ, thể khắp pháp giới, theo vật ứng cơ, như mặt trời tỏa sáng nơi ngàn sông, làm thuyền bè cho thế gian).”

Tam bảo

Ba ngôi báu là Phật, Pháp và Tăng. ; 三寶; C: sānbăo; J: sanbō; S: triratna; P: tiratana; »Ba ngôi báu«;|Ba cơ sở chính của Phật giáo: Phật, Pháp, Tăng, tức là bậc giác ngộ, giáo pháp của bậc giác ngộ và bạn đồng học. Người có niềm tin kiên cố nơi Tam bảo được gọi là bậc Dự lưu (vào dòng). Người Phật tử biểu lộ sự tin tưởng bằng cách quy y Tam bảo (Ba quy y). Trong mười phép quán Tuỳ niệm (p: anussa-ti), ba đối tượng đầu tiên là Tam bảo.|Ý nghĩa của Tam bảo được hiểu rộng hơn theo truyền thống Ðại thừa. Trong các buổi giảng dạy về Thiền, đặc biệt sau các chương trình Tiếp tâm (j: sesshin), quán Công án, các thiền sinh được hướng dẫn vào lối nhìn Tam bảo của Ðại thừa. Theo cách nhìn này thì người ta có thể phân ý nghĩa Tam bảo ra ba tầng cấp: a) Nhất thể tam bảo (j: ittai-sambō), b) Hiện tiền tam bảo (j: genzen-sambō) và c) Trụ trì tam bảo (j: juji-sambō).|Nhất thể tam bảo (一體三寶; cũng được gọi là Ðồng thể tam bảo; 同體三寶) bao gồm: 1. Ðại Nhật Phật, hiện thân của Pháp thân (s: dharmakāya), biểu hiện của sự bình đẳng vô vi, sự thông suốt tính Không (s: śūnyatā) và Phật tính của vạn vật; 2. Pháp (s: dharma), được hiểu là luân lí của toàn thể vũ trụ và theo đó thì tất cả những pháp hiện hữu đều theo nhân duyên mà sinh, đều phụ thuộc vào nhau; 3. Sự xuyên suốt giữa hai điểm 1. và 2. nêu trên và từ đó xuất phát ra một sự thật, một sự thật mà chỉ một bậc Giác ngộ mới có thể trực chứng được.|Hiện tiền tam bảo (現前三寶; cũng có lúc được gọi là Biệt thể tam bảo; 別體三寶) gồm có: 1. Ðức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni (s: śākyamuni), người sáng lập Phật giáo qua sự giác ngộ của chính mình và là người đã thực hiện được Nhất thể tam bảo; 2. Pháp, ở đây được hiểu là giáo lí của đức Phật, được Ngài thuyết giảng và 3. Các vị đệ tử của Ngài.|Trụ trì tam bảo (住持三寶) bao gồm: 1. Những tranh tượng của đức Phật được truyền lại đến ngày nay; 2. Những lời dạy của chư vị Phật trong kinh sách và 3. Chư Phật tử hiện nay, những người đang tu học và thực hiện Chính pháp.

tam bảo

Nền móng trong Phật Giáo là Tam Bảo. Không tin, không tôn kính Tam Bảo thì không thể nào có được nếp sống Phật giáo—Three Precious Ones—Triple Jewel—Triple Gem (Buddha, Dharma, Sangha)—The foundation of Buddhism is the Three Treasures, without trust in which and reverence for there can be no Buddhist religious life. There are three kinds of Triratna (three Treasures): (A) Nhất Thể Tam Bảo—The Unified or one-body Three Treasures: 1) Phật Tỳ Lô Giá Na: Sự biểu thị sự thể hiện của thế giới Tánh Không, của Phật tánh, của tánh Bình Đẳng Vô Ngại: The Vairocana Buddha, representing the realization of the world of Emptiness, of Buddha-nature, of unconditioned Equality. 2) Pháp: Pháp từ vô thỉ vô chung mà tất cả mọi hiện tượng theo nhân duyên tùy thuộc vào đó: The Dharma that is the law of beginningless and endless becoming, to which all phenomena are subject according to causes and conditions. 3) Sự hòa hợp giữa Phật Tỳ Lô Giá Na và Pháp (hai yếu tố trên) tạo thành toàn bộ thực tại như những bậc giác ngộ kinh nghiệm: The harmonious fusion of the preceding two, which constitutes total reality as experienced by the enlightened. (B) Hiện Tiền Tam Bảo—The Manifested Three Treasures: 1) Đức Phật Lịch Sử Thích Ca Mâu Ni: Người đã thể hiện nơi chính mình sự thật của Nhất Thể Tam Bảo qua sự thành tựu viên mãn của Ngài: The historic Buddha Sakyamuni, who through his perfect enlightenment relaized in himself the truth of the Unified Three Treasures. 2) Pháp: Bao gồm những lời dạy và những bài thuyết pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni trong ấy đã giải rõ ý nghĩa của Nhất Thể Tam Bảo và con đường đi đến thể hiện được nó: The Dharma, which comprises the spoken words and sermons of Sakyamuni Buddha wherein he elucidated the significance of the Unified Three Treasures and the way to its realization. 3) Những môn đệ trực tiếp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: Bao gồm luôn cả những đệ tử trong thời Ngài còn tại thế, đã nghe, tin, và thực hiện nơi bản thân họ Nhất Thể Tam Bảo mà Ngài đã chỉ dạy: Sakyamuni Buddha's Disciples, including the immediate disciples of the Buddha Sakyamuni and other followers of his day who heard, believed, and made real in their own bodies the Unified Three Treasures that he taught. (C) Thọ Trì Tam Bảo—The Abiding Three Treasures: 1) Phật bảo: Sự thờ cúng hình tượng chư Phật như đã được truyền đến chúng ta: The Buddha—The Supremely Enlightened Being. The iconography of Buddhas which have come down to us. 2) Pháp bảo: Bao gồm những bài giảng, bài thuyết pháp của chư Phật (tức là những đấng giác ngộ viên mãn) như đã thấy trong các kinh điển và bản văn Phật giáo khác vẫn được phát triển: The Dharma—The teaching imparted by the Buddha. All written sermons and discourses of Buddhas (that is, fully enlightened beings) as found in the sutras and other Buddhist texts still extant. 3) Tăng bảo: Bao gồm các môn đệ đương thời tu tập và thể hiện chân lý cứu độ của Nhất Thể Tam Bảo đầu tiên được Phật Thích Ca Mâu Ni khai thị: The Sangha—The congregation of monks and nuns or genuine Dharma followers. Sangha consists of contemporary disciples who practice and realize the saving truth of the Unified Three Treasures that was first revealed by Sakyamuni Buddha. (D) See Kinh Tam Bảo in Appendix E. ; (三寶) Phạm: Tri-ratna hoặc Ratna-traya. Pàli: Ti-ratana hoặc Ratanattaya. Cũng gọi Tam tôn. Chỉ cho 3 ngôi báu: Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo được tín đồ Phật giáo tôn kính, cúng dường. Phật (Phạm:Buddha) là bậc đã giác ngộ, có năng lực giáo hóa, dắt dẫn chúng sinh, là Giáo chủ của Phật giáo, hoặc chỉ chung cho hết thảy chư Phật; Pháp (Phạm: Dharma) là giáo pháp của đức Phật; Tăng (Phạm: Saôgha) là tăng đoàn đệ tử của Phật tu học theo giáo pháp. Ba ngôi trên có uy đức cao tột, có năng lực mang lại giải thoát, yên vui cho hết thảy chúng sinh, như của báu thế gian, nên gọi là Tam bảo. Theo luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính quyển 2 thì Tam bảo có 6 nghĩa: 1. Hi hữu: Ba ngôi báu này trải qua trăm nghìn muôn kiếp mới có, cũng như vật trân bảo ở thế gian rất khó có được. 2. Minh tịnh: Ba ngôi báu này xa lìa tất cả pháp hữu lậu, trong sạch sáng suốt. 3. Thế lực: Ba ngôi báu này có đầy đủ uy đức tự tại không thể nghĩ bàn. 4. Trang nghiêm: Ba ngôi báu này có năng lực trang nghiêm xuất thế gian, giống như của báu ở thế gian có thể làm đẹp thế gian.5. Tối thắng: Ba ngôi báu này thù thắng mầu nhiệm hơn hết trong các pháp xuất thế gian. 6. Bất biến: Ba ngôi báu này là pháp vô lậu, tám pháp của thế gian không thể làm cho lay động, biến đổi. Đại thừa nghĩa chương quyển 6, phần đầu thì nêu 4 nghĩa thiết lập Tam bảo: 1. Vì đối trị tà tam bảo của ngoại đạo, đó là nghĩa bỏ tà về chính. 2. Phật là bậc Điều ngự sư, Pháp là giáo pháp của Phật, Tăng là đồ đệ của Phật. Chỗ chứng ngộ của 3 ngôi báu này là vô lượng, nhưng chủng loại giống nhau, cho nên lập chung là 1 pháp. Nhưng, vì nhân quả chứng ngộ có khác nhau nên chia ra thầy và trò. 3. Vì người thượng căn muốn chứng được quả Phật bồ đề mà nói Phật bảo; vì người trung căn cầu được trí tự nhiên để rõ suốt pháp nhân duyên mà nói Pháp bảo; vì người hạ căn nương theo thầy lãnh nhận giáo pháp, sự lí không trái mà nói Tăng bảo.4. Phật như thầy thuốc giỏi, Pháp như thuốc hay, Tăng như người khám bệnh; đối với 1 người đang có bệnh mà nói thì thầy thuốc giỏi, phương thuốc hay và người xem bệnh đều rất cần thiết, không thể thiếu một. Còn luận Du già sư địa quyển 64 thì nói Tam bảo có 6 nghĩa khác nhau: 1. Tướng khác nhau: Phật là tướng của sự giác ngộ tự nhiên, Pháp là quả tướng của sự giác ngộ, Tăng là tướng tu hành chân chính theo lời Phật chỉ dạy. 2. Việc làm khác nhau: Việc làm của Phật là giảng nói giáo pháp chân chính, việc của Pháp là diệt trừ các khổ phiền não do cảnh sở duyên tạo ra, việc của Tăng là dũng mãnh tinh tiến. 3. Tin hiểu khác nhau: Đối với Phật bảo phải có lòng tin hiểu gần gũi, phụng sự; đối với Pháp bảo phải có lòng tin mong cầu chứng ngộ; đối với Tăng bảo phải có lòng tin hiểu hòa hợp đồng nhất, cùng an trú trong pháp tính. 4. Tu hành khác nhau: Đối với Phật bảo phải tu hành chân chính, phụng thờ; đối với Pháp bảo phải tu chính hạnh phương tiện du già; đối với Tăng bảo phải tu chính hạnh cùng thụ tài pháp. 5. Tùy niệm khác nhau: Mỗi người nên tùy theo các tướng mà niệm Phật, Pháp và Tăng bảo. 6. Sinh phúc khác nhau: Đối với Phật y vào 1 hữu tình mà sinh phúc tối thắng; đối với Pháp y vào pháp này mà sinh phúc tối thắng; đối với Tăng y vào nhiều hữu tình mà sinh phúc tối thắng. Cứ theo các luận thì Tam bảo có nhiều chủng loại, phổ thông có 3 thứ: 1. Biệt tướng tam bảo(cũng gọi Giai thê tam bảo, Biệt thể tam bảo): Phật, Pháp, Tăng, mỗi mỗi đều khác nhau. Đầu tiên, Phật thành đạo ở gốc cây Bồ đề, chỉ thị hiện thân trượng sáu và khi nói kinh Hoa nghiêm thì đặc biệt hiện thân Phật Lô xá na, cho nên gọi là Phật bảo. Các kinh luật Đại thừa, Tiểu thừa do đức Phật nói trong 5 thời, gọi là Pháp bảo. Hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát nhờ tu theo giáo pháp của Phật mà chứng được quả giác ngộ, giải thoát gọi là Tăng bảo. 2. Nhất thể tam bảo(cũng gọi Đồng thể tam bảo, Đồng tướng tam bảo): Đứng về phương diện ý nghĩa và bản chất mà nói, Phật Pháp, Tăng có 3 tên gọi khác nhau nhưng thể tính chỉ là một. Chẳng hạn như đứng trên lập trường của người giác ngộ mà nói thì Phật là thể tính linh giác, soi rõ các pháp, chẳng phải không, chẳng phải có nên gọi là Phật bảo; chỉ Phật mới có đầy đủ đức hạnh làm khuôn phép cho tất cả chúng sinh, cũng tức là pháp tính vắng lặng mà có hằng sa tính đức, đều đáng làm khuôn mẫu, cho nên cũng gọi là Pháp bảo; lại như Phật là trạng thái hòa hợp, hoàn toàn không tranh đua, mà đặc chất của Tăng đoàn là hòa hợp không tranh đua, vì thế cũng gọi là Tăng bảo. Như vậy thì trong một Phật bảo mà có đủ cả Tam bảo. 3. Trụ trì tam bảo: Chỉ cho Tam bảo lưu truyền, duy trì Phật pháp ở đời sau, tức là 3 ngôi báu: Tượng Phật, kinh Phật và các tỉ khưu xuất gia. Đại thừa cho rằng 8 tướng thành đạo là Trụ trì Phật, tất cả giáo pháp làm lợi ích cho thế gian gọi là Trụ trì pháp và chúng Tam thừa được giáo hóa, thành lập là Trụ trì tăng. Ba ngôi báu này gọi chung là Trụ trì tam bảo. Ngoài ra còn có các thuyết 4 loại Tam bảo (Nhất thể Tam bảo, Duyên lí Tam bảo, Hóa tướng Tam bảo, Trụ trì Tam bảo), 6 loại Tam bảo (Đồng thể, Biệt thể, Nhất thừa, Tam thừa, Chân thực và Trụ trì)... Về tiêu biểu của Tam bảo thì Trung quốc và Nhật bản từ xưa đến nay tương đối ít dùng phù hiệu hay hình vẽ để tượng trưng Tam bảo, nhưng ở Ấn độ thì việc sử dụng phù hiệu hoặc hình vẽ để biểu thị Tam bảo tương đối phổ biến. Có 2 loại biểu hiện khác nhau: 1. Dùng hình tháp tượng trưng Phật bảo, bánh xe tượng trưng Pháp bảo và tòa Bồ đề hoặc tòa Sư tử tượng trưng Tăng bảo. 2. Vẽ hình dáng cây kích 3 chĩa để tượng trưng Tam bảo. Còn Phật giáo Tây tạng thì dùng hạt bảo châu có 3 cánh để tượng trưng Tam bảo.[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.12; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.3; kinh Quán Vô lượng thọ; kinh Hoa nghiêm Q.18 (bản dịch mới); phẩm Cụ túc trong luận Thành thực Q.1; luận Tạp a tì đàm tâm Q.10; luận Đại tì bà sa Q.34; luận Câu xá Q.14; Đại thừa nghĩa chương Q.10]. (xt. Tam Qui Y, Tam Bảo Chương, Tứ Chủng Tam bảo).

tam bảo chương

(三寶章) Cũng gọi Tam bảo tiêu, Tam bảo, Tam xoa, Tam cổ. Chỉ cho hình vẽ, phù hiệu... được dùng để tượng trưng Tam bảo. Tam bảo chương đã thịnh hành ở thời đại vua A dục tại Ấn độ. Tam bảo chương thường được sử dụng để trang sức đầu nhọn, cột, xà ngang của cửa tháp. Hình thức của Tam bảo chương là trên pháp luân(bánh xe pháp) đặt phù hiệu 3 chĩa để tượng trưng Tam bảo. Có thuyết cho rằng 3 chĩa tượng trưng Phật bảo, bánh xe pháp tượng trưng Pháp bảo và lá cây tượng trưng Tăng bảo. Hiện nay, ở 4 cửa ra vào của tháp Sơn kì (Phạm:Zànti) còn có các bức khắc Tam bảo chương. Và trên lan can của Đại tháp A ma la đề bà (Phạm: Amaràvatì) người ta tìm thấy 2 loại hình khắc Tam bảo chương, 1 loại ở khoảng trên khắc tháp Phật, khoảng giữa khắc bánh xe pháp, khoảng dưới khắc cái cây, còn 1 loại thì ở giữa khắc tháp Phật, bên trái khắc bánh xe pháp, bên phải khắc cây.[X. The Bhilsa Topes, Stùpa of Bharhut by A. Cunningham; Tree and Serpent Worship by J.Fergusson; History of Indian and Eastern Architecture by J.Fergusson; Ấn độ Phật tích thực tả giả thuyết; Ấn độ lữ hành kí (Thiên chiểu Tuấn nhất)].

tam bảo hội từ

(三寶繪詞) Cũng gọi Tam bảo hội. Tác phẩm, 3 quyển, do Nguyên vi hiến người Nhật bản soạn vào năm 984. Nội dung sách này thu chép các truyện tích của Phật giáo. Tam bảo chỉ cho Phật, Pháp, Tăng. Quyển thượng gồm các truyện bản sinh của đức PhậtThích ca; quyển trung gồm các truyện kí của 18 vị tăng tục người Nhật bản, đại thể đều được trích ra tự Linh dị kí của Nhật bản; còn quyển hạ thì giải thích về các hành sự (pháp hội) của Phật giáo vào mỗi tháng. Sách này là tư liệu trọng yếu giúp người ta hiểu rõ về xã hội Nhật bản ở thời bấy giờ. Ấn Tam Bảo Tam Bảo Chương Tam Bảo Điểu

Tam bảo kỉ

三寶紀; C: sānbăojì; J: sanbōki;|Lịch đại tam bảo kỉ (歴代三寶紀).

tam bảo lễ

(三寶禮) Cũng gọi Tam kính lễ, Kính lễ. Lễ bái Tam bảo. Có rất nhiều loại văn lễ, như văn lễ chép trong cuốn Phật môn tất bị khóa tụng bản thông dụng trong các chùa viện hiện nay vốn được trích ra từ phẩm Tịnh hạnh trong kinh Hoa nghiêm quyển 6 (bản dịch cũ) như sau (Đại 9, 430): Con qui Phật rồi, nguyện cho chúng sinh Hiểu thấu đạo lớn, phát lòng vô thượng. Con qui Pháp rồi, nguyện cho chúng sinh Hiểu sâu tạng kinh, trí tuệ như biển. Con quiTăng rồi, nguyện cho chúng sinh Thống lí đại chúng, hết thảy không ngại. Trong Pháp hoa tam muội sám nghi của ngài Trí khải thì chép (Đại 46, 950 trung): Hết thảy cung kính, Dốc lòng kính lễ 10 phương thường trụ Phật. Dốc lòng kính lễ 10 phương thường trụ Pháp. Dốc lòng kính lễ 10 phương thường trụ Tăng. Trong Vãng sinh tịnh độ sám nguyện nghi của ngài Tuân thức thì chép (Đại 47, 491 hạ): Dốc lòng kính lễ thường trụ Phật ở khắp pháp giới trong 10 phương. Dốc lòng kính lễ thường trụ Pháp ở khắp pháp giới trong 10 phương. Dốc lòng kính lễ thường trụ Tăng ở khắp pháp giới trong 10 phương. Tất cả văn lễ trên đây đều lấy việc lễ kính Tam bảo làm chủ yếu. Lại cứ theo Vãng sinh lễ tán kệ thì hư không trong 10 phương là vô biên, Tam bảo là vô tận, nếu dốc lòng đính lễ 1 lạy, thì thêm phúc vô lượng, công đức vô cùng, 3 nghiệp thân khẩu ý được thanh tịnh, giải thoát. [X. Pháp sự tán Q.thượng; Di đà sám nghi; Lễ niệm Di đà đạo tràng sám pháp Q.1].

tam bảo lục nghĩa

(三寶六義) Sáu nghĩa của Tam bảo được ghi trong Chư kinh yếu tập quyển 1: 1. Nghĩa hiếm có: Chúng sinh bạc phúc, trăm nghìn muôn đời không được gặp Tam bảo; giống như của trân quí ở thế gian, người nghèo cùng không có được. 2. Nghĩa lìa cáu bẩn: Tam bảo đã sạch hết lậu hoặc, không còn cấu nhiễm, giống như trân bảo ở thế gian, trong ngoài sáng bóng, trong suốt. 3. Nghĩa thế lực: Tam bảo có đầy đủ 6 thần thông, cứu giúp chúng sinh, ra khỏi đường khổ; giống như vật trân bảo ở thế gian làm cho chúng sinh hết nghèo khó, bệnh hoạn, có thế lực lớn. 4. Nghĩa trang nghiêm: Tam bảo có năng lực dùng chính pháp trang nghiêm người tu hành, khiến thân tâm được thanh tịnh, giống như vật trân quí ở thế gian, trang sức thân thể, làm cho người xinh đẹp.5. Nghĩa tối thắng: Tam bảo là thù thắng nhất thế gian, giống như vật trân quí ở đời là hơn hết trong các vật. 6. Nghĩa không biến đổi: Tam bảo không bị 8 pháp thế gian làm thay đổi, giống như vàng ròng, dù có nung đốt mài dũa cũng không làm cho nó biến đổi.

tam bảo phật

Phật Thích Ca là ngôi thứ Nhất của Tam Bảo, thì pháp của Ngài là ngôi Hai, và Tăng đoàn là ngôi Ba. Tất cả ba ngôi nầy được coi như là sự thị hiện của chư Phật—While Sakyamuni Buddha is the first person of the Trinity, his Law the second, and the Order the third, all three by some are accounted as manifestations of the All-Buddha. ** For more information, please see Tam Bảo.

tam bảo sắc tứ tự

Tên của một ngôi chùa tọa lạc trong thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, Nam Việt Nam. Chùa được xây vào đầu thế kỷ thứ 19. Khi Chúa Nguyễn Ánh lên ngôi, chùa đã được sắc phong là Sắc Tứ Tam Bảo Tự. Nguyên thủy chùa chỉ làm bằng gỗ, mái lợp tranh, do bà Dương Thị Cán dựng lên để làm nơi tu trì. Ngôi chùa hiện tại là do Hòa Thượng Chí Thiền xây dựng lại năm 1917—Name of a temple, located in Rạch Giá town, Kiên Giang province, South Vietnam. The temple was built in early nineteenth century. When Lord Nguyễn Ánh ascended the throne, the temple was offered the royal proclamation. At first the temple was made of wood and thatched roof, was a place for Ms. Dương Thị Cán stayed and worshipped Buddhism. The present temple was rebuilt by Most Venerable Chí Thiền in 1917.

tam bảo tương hệ tương tùy

Một người không nhận ra Nhất Thể Tam Bảo thì không thể nào hiểu sâu ý nghĩa sự giác ngộ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, không thể đánh giá sự quý báu vô cùng của những lời Ngài dạy, cũng như không thể ấp ủ hình ảnh chư Phật như những thực thể sinh động. Lại nữa, Nhất Thể Tam Bảo sẽ không được biết đến nếu nó không được Phật Thích Ca Mâu Ni thể hiện nơi thân tâm Ngài và con đường thể hiện do Ngài triển khai cũng vậy. Cuối cùng, không có những người giác ngộ theo con đường của Phật trong thời đại chúng ta khích lệ và dẫn dắt người khác theo con đường Tự Ngộ nầy thì Nhất Thể Tam Bảo chỉ là một lý tưởng xa xôi. Câu chuyện lịch sử cuộc đời Đức Phật Thích Ca sẽ là câu chuyện lịch sử khô héo về những lời Phật dạy, hoặc sẽ là những chuyện trừu tượng vô hồn. Hơn nữa, khi mỗi chúng ta thể hiện Nhất Thể Tam Bảo, thì nền móng của Tam Bảo không gì khác hơn chính tự tánh của mình—The Three Treasures are mutually related and interindependent. One unrealized in the Unified Three Treasures can neither comprehend in depth the import of Sakyamuni Buddha's enlightenment, nor appreciate the infinite preciousness of his teachings, nor cherish as living images and pictures of Buddhas. Again, the Unified Three Treasures would be unknown had not it been made manifest by Sakyamuni in his own body and mind and the Way to its realization expounded by him. Lastly, without enlightened followers of the Buddhas' Way in our own time to inspire and lead others along this Path to Self-realization, the Unified Three Treasures would be a remote ideal, the saga of Sakyamuni's life desiccated history, and the Buddhas' words lifeless abstractions. More, as each of us embodies the Unified Three Treasures, the foundation of the Three Treasures is none other than one's own self.

tam bảo vật

(三寶物) Chỉ cho những vật thuộc về Phật, Pháp, Tăng. 1. Phật vật: Như các loại tượng Phật, điện đường, hương hoa, phướn lọng... tất cả vật dụng cúng dường Phật đều không được dùng vào các việc khác, nếu lạm dụng thì phạm tội ăn cắp. Cứ theo Tứ phần luật hành sự sao quyển trung, phần 1 thì vật cúng dường Phật có 4 thứ: a) Phật thụ dụng vật: Những vật sở hữu của Phật như nhà cửa, y phục, giường màn... b) Thí thuộc Phật vật: Những vật bố thí cho Phật như tiền bạc, của báu, ruộng vườn, người và súc vật... c) Cúng dường Phật vật: Những vật cúng dường Phật như hương đèn, hoa phướn, vật cúng... d) Hiến Phật vật: Những vật dâng cúng như thuốc thang, thức ăn uống... Phạm võng kinh Bồ tát giới bản sớ quyển 1 thì nêu 6 thứ Phật vật, trong đó, 4 thứ trước giống như 4 thứ vừa nói ở trên, còn 2 thứ sau là: a) Phật bảo vật: Vật chuyên để cúng dường Phật: Lúc Phật còn tại thế thì do sắthân Phật thụ dụng; sau khi Phật nhập diệtthì do pháp thân Phật thụ dụng. b) Cục Phật vật: Tức là vật chỉ thuộc về 1 đức Phật, như vật cúng dường tượng Phật Thích ca thì không được đem cúng dường tượng Phật A di đà, hoặc gỗ vốn dành để khắc tượng Phật không được dùng để tạc tượng Tăng hoặc tượng thiên thần, Bồ tát... 2. Pháp vật: Như các loại kinh Phật, giấy bút, hòm tráp, khăn đậy kinh... Tất cả những vật này không được sửa đổi lại để dùng vào việc khác. Tứ phần luật hành sự sao quyển trung, phần 1, nêu 4 thứ Pháp vật: a) Pháp thụ dụng vật: Những vật sở hữu của Pháp, như trục cuốn, hòm tráp, khăn... b) Thí thuộc pháp vật: Những vật được bố thí cho Pháp như ruộng vườn... Có thể chia làm 2 phần, 1 phần dành cho kinh điển và 1 phần dành cho người đọc tụng kinh điển. c) Cúng dường pháp vật: Những vật cúng dường kinh điển như hương, hoa... d) Hiến pháp vật: Những thứ cúng dường kinh điển như thức ăn uống... Bồ tát giới bản sớ, ngoài 4 thứ cúng dường Pháp ghi trên, nêu thêm 2 thứ nữa là: a) Pháp bảo vật: Vật để trong tháp, chuyên dùng để cúng dường Pháp bảo. b) Cục pháp vật: Vật chỉ hạn cuộc ở 1 bộ kinh nhất định nào đó, như giấy định dùng để biên chép kinh Đại phẩm thì không được dùng để biên chép kinh Niết bàn... 3. Tăng vật: Chỉ cho các loại vật dụng thuộc về Tăng như: Phòng tăng, ruộng vườn, áo bát, thóc gạo, rau quả... Tăng vật có 2 loại: Một là Thường trụ vật, như chùa viện, tinh xá, rừng cây, kho lẫm...; hai là những vật đã có nơi chốn cố định, tức những vật không được dời đi nơi khác. Tứ phần luật hành sự sao quyển trung, phần 1, nêu ra 4 thứ Tăng vật: a) Thường trụ thường trụ vật: Gồm những vật cố định được sử dụng ở một trụ xứ như nhà bếp, nhà kho, chùa viện, tinh xá, đồ dùng, hoa trái, rừng cây, ruộng vườn, người giúp việc, súc vật... b) Thập phươngthường trụ vật: Những vật do chúng tăng trong 10 phương cùng nhau thụ dụng như cơm, bánh... c) Hiện tiền hiện tiền vật: Những vật như y phục, thuốc thang, phòng xá, đồ dùng... mà thí chủ cúng dường chúng tăng hiện tiền thì do chúng tăng ấy thụ dụng. d) Thập phương hiện tiền vật: Những vật do thí chủ cúng dường chúng tăng 10 phương hiện tiền thì chúng tăng ấy chia dùng. Bồ tát giới bản sớ thì nêu 5 thứ Tăng vật:a) Tăng bảo vật: Vật do thí chủ đặt vào trong tháp để cúng dường Tăng đệ nhất nghĩa đế. b) Thường trụ tăng vật: Tức là Thường trụ thường trụ vật và Thập phương thường trụ vật nói trong Tứ phần luật hành sự sao quyển trung, phần 1. c) Thập phương hiện tiền tăng vật. d) Chúng tăng vật. Hai thứ Tăng vật này hợp chung lại tức là Thập phương hiện tiền vật nói trong Tứ phần luật hành sự sao quyển trung, phần 1. e) Kỉ giới cục tăng vật: Như vật bố thí cho chúng tăng chùa này thì không được đem đi bố thí cho chư tăng chùa khác. Do đó mà biết, đối với vật của Tam bảo, hoặc lấy trộm, hoặc chuyển dụng hay vay mượn không trả thì tùy theo nặng nhẹ mà trị tội. [X. luận Hiển dương đại giới Q.3; Thích thị yếu lãm Q.trung; Ma ha chỉ quán Q.8 hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.8, phần 3; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4]. (xt. Phật Vật, Pháp Vật, Tăng Vật).

tam bảo điểu

(三寶鳥) Cũng gọi Phật pháp tăng điểu. Loại chim có tiếng hót nghe giống như âm thanh Phật pháp tăng nên gọi là chim Tam bảo. Hình dáng chim này giống như quạ khoang nhưng hơi béo và lớn hơn. Mình màu lục thẫm, cánh và đuôi màu xanh, đỏ tía; mỏ ngắn, đầu mỏ hơi cong, mỏ và chân đều đỏ như màu son. Loài chim này sống ở các vùng nhiệt đới, bình thường ít nghe nó kêu, hoặc chỉ trên hội giảng kinh tình cờ nghe nó hót.Đây là loài chim thiêng hiếm thấy.

tam bảo ấn

(三寶印) Chỉ cho khuôn dấu có khắc 4 chữ Phật Pháp Tăng Bảo, mục đích là cầu nguyện Tam bảo gia hộ, được dùng trong các chùa viện thuộc Thiền tông ở Nhật bản. Khuôn dấu có hình vuông hoặc tròn, đôi khi cũng có hình quả ấu. Còn chữ khắc trên khuôn dấu thì có nhiều kiểu: Chữ triện, chữ lệ, chữ Phạm... [X. môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].

tam bất dị

Three non-easy things—Three reasons why the text should not be changed.

tam bất hộ

Ba thứ không cần phải bảo hộ—The three that need no guarding because they are above error. They are Buddha's body, mouth and mind. ; (三不護) Phạm:Trìịi tathàgatasyàrakwyàni. Pàli: Tìni tathàgatassàrakkheyyàni. Chỉ cho Thân bất hộ, Ngữ bất hộ và Ý bất hộ. Nghĩa là 3 nghiệp thân khẩu ý của Như lai xưa nay vốn thanh tịnh, không lỗi lầm, không cần phải giữ gìn phòng hộ. Nếu thêm Mệnh bất hộ (sự sống của Như lai vốn thanh tịnh, không cần giữ gìn) thì gọi là Tứ bất hộ. Những đặc tính này của đức Phật khác với A la hán. Ba nghiệp của A la hán tuy thanh tịnh nhưng vẫn thường phải giữ gìn phòng hộ mới có thể tránh lỗi lầm. [X. luận Tập dị môn túc Q.4; luận Du già sư địa Q.83; luận Hiển dương thánh giáo Q.4; Đại thừa nghĩa chương Q.19]. (xt. Tứ Bất Hộ).

tam bất khả tận

(三不可盡) Ba thứ không thể hết: 1. Kinh pháp không thể hết: Các kinh pháp do đức Như lai nói ra tùy theo căn cơ của chúng sinh mà có khác nhau, hoặc rộng hoặc lược, tuy dùng 1 âm thanh để diễn nói nhưng trùm khắp 10 phương, cho nên nói là không thể hết. 2. Nghĩa của văn tự không thể hết: Diệu nghĩa của kinh giáo do đức Như lai nói ngang thì trùm khắp 10 phương, dọc thì suốt cả 3 đời, lớn thì không đâu không đến, nhỏ thì không sót mảy may. Những người căn cơ nhỏ hẹp, trí tuệ nông cạn không thể nào thấy được nghĩa sâu kín nhiệm mầu ấy, nên là không thể hết. 3. Sự dạy dỗ do đức Như lai tuyên nói không thể hết: Ngôn giáo do đức Như lai nói ra để dạy dỗ chúng sinh, hoặc nói Đại thừa, hoặc nói Tiểu thừa, tùy loại hiện hành, giáo hóa bằng nhiều cách, lợi ích vô lượng, cho nên nói là không thể hết. [X. kinh Đại bảo tích Q.14].

tam bất kiên pháp

Three unstable things: 1) Thân: The body. 2) Mạng: The length of life. 3) Tài: Wealth. ; (三不堅法) Ba thứ không bền chắc, không thể giữ được mãi mãi ở thế gian. Đó là: 1. Thân không bền chắc: Thân do cha mẹ sinh ra là nhờ sự giả hợp của 4 đại đất, nước, lửa, gió mà thành, sinh diệt vô thường, không thể giữ được mãi mãi. 2. Mệnh không bền chắc: Mệnh sống con người tuy có dài ngắn không đồng nhưng đều như mộng huyễn, không thể giữ được mãi mãi. 3. Của cải không bền chắc: Của cải ở thế gian tụ tán vô thường, còn đó rồi mất đó, không thể giữ được mãi mãi. [X. kinh Bản sự Q.7].

tam bất năng

(三不能) Chỉ cho 3 việc không thể làm được. 1. Không thể thay đổi được định nghiệp: Tuy đức Phật có đầy đủ trí tuệ, đối với tất cả hiện tượng không chấp trước, nhưng đối với định nghiệp mang lại quả báo thiện ác thì Phật cũng không có cách nào thay đổi được. 2. Không thể độ người vô duyên: Tuy Phật biết rõ tính chất của mọi chúng sinh, thấu suốt hết các sự việc, nhưng cũng không thể nào hóa đạo những chúng sinh không có duyên. 3. Không thể độ hết chúng sinh trong cõi chúng sinh: Đức Phật tuy có thể độ tất cả chúng sinh trong thế gian, nhưng không thể nào độ hết chúng sinh trong cõi chúng sinh.Tam bất năng là lời của Thiền sư Nguyên khuê ở đời Đường, nhưng ngài cho rằng Tam bất năng là nói theo Ứng thân Phật của Tiểu thừa, chứ nói theo Pháp thân Phật của Đại thừa thì không có Tam bất năng. [X. luận Đại thừa khởi tín; luận Đại trí độ Q.64; luận Hộ pháp; Cảnh đức truyền đăng lục Q.4].

Tam bất thiện căn

三不善根; C: sān bùshàngēn; J: san fuzengon;|Ba cội nguồn bất thiện là tham (貪), sân (瞋) và si (癡). Chúng tương đương với Ba độc (tam độc 三毒; theo Du-già luận 瑜伽論)

tam bất thiện căn

Theo Kinh Trường Bộ, Phúng Tụng Kinh, có ba bất thiện căn—According to the Long Discourses of the Buddha, Sangiti Sutra, there are three bad (unwholesome) roots or qualities: 1) Tham Bất Thiện Căn: The unwholesome root of Greed or Desire. 2) Sân Bất Thiện Căn: The unwholesome root of Anger or Hatred. 3) Si Bất Thiện Căn: The unwholesome root of Stupidity, or Ignorance, or Delusion. ; (三不善根) Phạm: Trìịy akuzala-mùlàni. Pàli: Tìịi akusala-mùlàni. Đối lại: Tam thiện căn. Chỉ cho 3 thứ bất thiện: Tham bất thiện, Sân bất thiện và Si bất thiện.Tham là tham đắm cảnh thuận, Sân là phẫn nộ trước cảnh nghịch, Si là vô minh, không phân biệt được sự lí. Ba phiền não này là gốc rễ sinh ra các điều ác, cho nên gọi là Bất thiện căn. Ngoài ra, Tam bất thiện căn đều tương ứng với 6 thức. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.13; luận Thành duy thức Q.6; luận A tì đạt ma Q.7; luận Đại tì bà sa Q.47, 112; Câu xá luận quang kí Q.16]. (xt. Tam Thiện Căn).

tam bất thiện giới

Theo Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, có ba loại bất thiện giới—According to The Long Discourses of the Buddha, Sangiti Sutra, there are three kinds of unwholesome elements. 1) Dục giới: The unwholesome element of sensuality. 2) Sân giới: The unwholesome element of enmity. 3) Hại giới: The unwholesome element of cruelty.

tam bất thiện nghiệp môn

Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), có ba cửa gây ra bất thiện nghiệp—According to the Abhidharma, there are three doors of unwholesome kamma: 1) Cửa Thân: The door of bodily action. i) Sát Sanh: Killing. ii) Trộm Cắp: Stealing. iii) Tà Dâm: Sexual misconduct. 2) Cửa Khẩu: The door of verbal action. i) Nói Dối: False speech. ii) Nói Đâm Thọc: Slandering. iii) Nói lời Thô Lỗ: Harsh speech. iv) Nói Nhảm Nhí: Frivolous talk. 3) Cửa Ý: The door of mental action. i) Tham Ái: Covetousness. ii) Sân Hận: Ill-will. iii) Tà Kiến: Wrong views.

tam bất thiện tư duy

Theo Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, có ba loại thiện tư duy—According to The Long Discourses of the Buddha, Sangiti Sutra, there are three kinds of unwholesome thought. 1) Dục tư duy: The unwholesome thought of sensuality. 2) Sân tư duy: The unwholesome of enmity. 3) Hại tư duy: The unwholesome of cruelty.

tam bất thiện tưởng

Theo Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, có ba loại bất thiện tưởng—According to The Long Discourses of the Buddha, Sangiti Sutra, there are three kinds of unwholesome perception. 1) Dục tưởng: The unwholesome perception of sensuality. 2) Sân tưởng: The unwholesome perception of enmity. 3) Hại tưởng: The unwholesome perception of cruelty.

tam bất thiện tầm

Akusala-vitakka (skt)—Theo Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, có ba thức suy nghĩ thiện—According to The Long Discourses of the Buddha, Sangiti Sutra, there are three kinds of unwholesome investigation. 1) Dục tầm: Kama-vitakko (skt)—The unwholesome investigation of sensuality. 2) Sân tầm: Vyapada-vitakko (skt)—The unwholesome investigation of enmity. 3) Hại tầm: Vihimsa-vitakko (skt)—The unwholesome investigation of cruelty.

tam bất thoái

(三不退) Trong quá trình tu hành Phật đạo, nhờ công đức đã giác ngộ mà vào được địa vị không trở lui, gọi là Bất thoái. Bất thoái có 3 là:1. Vị bất thoái: Địa vị đã chứng được không trở lui. 2. Hành bất thoái: Pháp tu hành không lui sụt. 3. Niệm bất thoái: Chính niệm không lui mất: Về việc phối hợp Tam bất thoái này với các giai vị tu hành của Bồ tát thì các tông nói không giống nhau. Tông Pháp tướng gọi giai vị muôn kiếp tu nhân vào Thập trụ, thành tựu Duy thức quán, không còn rơi trở lại địa vị do nghiệp ác mà phải trôi lăn trong sinh tử là Vị bất thoái; đã vào được Sơ địa, thành tựu chân Duy thức quán, đối với hạnh lợi tha không lui sụt, gọi là Hạnh bất thoái; từ Bát địa trở lên, được trí vô công dụng, niệm niệm nhập vào biển chân như, trong định, trong tán thường hằng tự tại, gọi là Niệm bất thoái. Tông Thiên thai thì chủ trương từ Sơ trụ đến Thất trụ của Biệt giáo là Vị bất thoái, trong giai đoạn này dứt trừ tất cả Kiến hoặc, Tư hoặc mà thoát hẳn sinh tử trong 3 cõi; từ Bát trụ đến hết Thập hồi hướng là Hạnh bất thoái, trong giai đoạn này phá trừ hoặc Trần sa mà không lui mất tâm lợi tha; từ Sơ địa trở lên là Niệm bất thoái, trong giai đoạn này dứt trừ hoặc Vô minh, vĩnh viễn không lui mất chính niệm Trung đạo. Nếu phối hợp với Viên giáo thì từ Sơ tín đến Thất tín là Vị bất thoái, từ Bát tín đến hết Thập tín là Hạnh bất thoái, từ Sơ trụ trở lên là Niệm bất thoái. Ngoài ra, trong Pháp hoa nghĩa sớ quyển 1, ngài Cát tạng có nêu ra 4 thuyết khác về Tam bất thoái sau đây: 1. Trong giai vị Thập trụ, Bồ tát từ Thật trụ trở lên không còn trở lui lại địa vị Nhị thừa, gọi là Vị bất thoái; trong Thập địa, sự tu hành của Bồ tát Thất địa không còn chuyển lui nữa, gọi là Hạnh bất thoái; Bồ tát từ Bát địa trở lên nhập vào Vô công dụng đạo, tự nhiên tiến đạo mà không động niệm, gọi là Niệm bất thoái. 2. Lục tâm của giai vị Ngoại phàm là Vị thoái, Thất tâm trở lên là Vị bất thoái, còn Hạnh bất thoái và Niệm bất thoái thì cũng giống như trước đã giải thích. 3. Tập chủng tính gọi là Vị bất thoái, Đạo chủng tính, giải và hành đều thuần thục, gọi là Hạnh bất thoái; Sơ địa trở lên được Vô sinh nhẫn, không còn sinh tâm động niệm, gọi là Niệm bất thoái. 4. Thập tín thập trụ là Tín bất thoái, Thập hành là Vị bất thoái, Thập hồi hướng là Hạnh bất thoái, Thập địa là Niệm bất thoái. Tam bất thoái nếu thêm Xứ bất thoái thì thành Tứ bất thoái. [X. Pháp hoa nghĩa sớ Q.2; Duy ma kinh lược sớ Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa Q.4, thượng; Pháp hoa văn cú kí Q.2, trung]. (xt. Bất Thoái).

tam bất thành

(三不成) Ba thứ không thành. Chỉ cho sự quan hệ giữa Tịnh độ và Uế độ, về mặt bản chất, có 3 thứ không thành. Đó là: 1. Một chất không thành: Tịnh độ và Uế độ chẳng phải được thành lập bởi cùng 1 bản chất. 2. Khác chất không thành: Tịnh độ và Uế độ chẳng phải được thành lập bởi bản chất hoàn toàn khác nhau. 3. Không chất chẳng thành: Tịnh độ và Uế độ đều chẳng phải được thành lập từ chỗ vô bản chất. Trong luận Thích tịnh độ quần nghi quyển 1, ngài Hoài cảm giải thích (Đại 47, 34 hạ): Tịnh độ và Uế độ là do 2 nghiệp tịnh, uế khiến cho tự tâm của chúng sinh biến hiện ra tướng tịnh, uế. Tướng tịnh, uế này là do tâm hiện ra, hễ tâm tịnh thì độ tịnh, tâm uế thì độ uế, đều do tự tâm cả. Tâm đã khác thì độ làm sao là 1 được, vì thế nói là 1 chất không thành. Lại tuy tịnh tâm và uế tâm biến hiện thành Tịnh độ và Uế độ, tâm có 2 thể, độ có 2 tướng, nhưng cùng chỗ cùng thời, không ngăn ngại nhau, không thể nói chỗ có tịnh không có uế, chỗ có uế không có tịnh. Vì cùng chỗ cùng thời biến hiện tịnh, uế nên nói là khác chất không thành. Tịnh độ và Uế độ tuy cùng hiện 1 chỗ nhưng 2 tướng khác nhau, đều do nhân duyên 2 nghiệp tịnh, uế không đồng mà biến hiện ra rừng cây, gai gốc, đất đá, gạch ngói... từ duyên sinh ra, Y tha khởi tính mới thành tướng độ, khác với tính Biến kế sở chấp tình có thể không, không hình không chất, cho nên nói không chất chẳng thành. Người chủ trương Tam bất thành này từ trước đến nay được xem là Pháp sư Đạo an, nhưng theo luận Thích tịnh độ quần nghi thì trong các sách từ An lạc tập về trước đều không thấy nói đến thuyết này, như vậy không thể đoán định Tam bất thành là của ngài Đạo an đời Tiền Tần mà có lẽ do ngài Đạo an đời Bắc Chu đề xướng. Tam bất thành thêm vào Hữu chất bất thành nữa thì là Tứ bất thành, do các ngài Trừng quán, Tông mật... chủ trương. [X. Đại thừa huyền luận Q.5; An lạc tập Q.thượng; Hoa nghiêm đại sớ sao Q.7; Tông kính lục Q.89; Thành duy thức luận học kí Q.3].

tam bất thối chuyển

The three non-backslidings—Three kinds of non-retreat: 1) Vị bất thối: Không thối chuyển từ chỗ đã đạt: From position attained—Non-retreat from position—Never receding from position attained. 2) Hạnh bất thối: Không thối chuyển từ những hành động thiện lành đang theo đuổi: From line of good action pursued—Non-retreat from practice—Never receding from a right course of action. 3) Niệm bất thối: Không thối chuyển trong thiền định: In dhyana—Non-retreat from mindfulness—Never receding from pursuing a right line of thought or mental discipline.

tam bất túc

(三不足) Ba thứ không đủ làm trở ngại việc tham thiền: Áo mặc không đủ, cơm ăn không đủ và ngủ nghỉ không đủ. Tọa thiền dụng tâm kí (Đại 82, 412 ha nói: Áo mặc không đủ, cơm ăn không đủ và ngủ nghỉ không đủ gọi là Tam bất túc, đều là nhân duyên làm cho việc tu hành lui sụt.

tam bất tịnh nhục

Three kinds of unclean flesh to a monk: 1) Mắt thấy giết: When he has seen the animal killed. 2) Tai nghe giết: When he has heard the animal killed. 3) Ngờ là người giết vì mình: When he has doubted that the animal killed to offer to him. ; (三不淨肉) Ba thứ thịt không thanh tịnh. Cứ theo luật Thập tụng quyển 26 thì tỉ khưu không được ăn 3 thứ thịt sau đây: 1. Kiến sát: Thấy giết, tức thấy con vật ấy vì mình mà bị giết để đãi mình. 2. Văn sát: Nghe giết, tức nghe người đáng tin nói rằng người ta giết con vật ấy để đãi mình. 3. Nghi sát: Ngờ giết, tức ở nơi không có nhà đồ tể, cũng không có con vật tự chết, ngờ là con vật ấy bị giết để đãi mình. (xt. Tam Chủng Tịnh Nhục).

tam bệnh

(三病) Bệnh, Phạm:Vyàdhi. I. Tam Bệnh. Tùy theo tính chất, bệnh được chia làm 3 loại: Phong, hàn, khí hoặc nhiệt, phong và lãnh, là 3 thứ bệnh lớn của thế gian.Theo kinh Đại bát niết bàn quyển 39 (bản Bắc) thì dùng tô đối trị bệnh nóng, dùng dầu đối trị bệnh phong và dùng mật đối trị bệnh lạnh. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.12]. II. Tam Bệnh. Ba thứ bệnh: Dễ trị, khó trị, không thể trị, hoặc bệnh nặng, bệnh rất nặng, bệnh không thể trị. Ngoài ra có chỗ dùng 3 thứ bệnh khó trị ví dụ cho 3 hạng người khó giáo hóa: 1. Người phỉ báng Đại thừa: Người không tin nhận giáo pháp của Như lai, vọng sinh hủy báng kinh điển Đại thừa, như căn bệnh nặng ở thế gian, thực là khó trị. 2. Người phạm năm tội nghịch: Giết cha, giết mẹ, hại A la hán, làm cho thân Phật chảy máu và phá hòa hợp tăng, như căn bệnh rất nặng ở thế gian, cực kì khó trị. 3. Nhất xiển đề: Người bài bác luậtnhân quả, tà kiến tráo trở, không tin có báo ở hiện tại và vị lai, không chịu gần gũi bạn lành, không nghe lời chư Phật răn dạy, như chứng bệnh nặng ở thế gian, rất khó chữa khỏi. [X. luật Ngũ phần Q.5; luận Hiển dương đại giới Q.1]. III. Tam Bệnh. Chỉ cho 3 thứ bệnh: Nghiệp, quỉ, tứ đại. Bệnh nghiệp dùng thiện căn đối trị, bệnh quỉ dùng chú dược đối trị và bệnh tứ đại dùng y dược đối trị. Đức Dược sư Như lai dùng lí trí giáo hóa 3 nghiệp để diệt trừ 3 thứ bệnh này. [X. Đại tạng pháp số Q.11; Nhũ vị sao Q.8].IV. Tam Bệnh. Chỉ cho 3 thứ bệnh nói trong kinh Niết bàn quyển 39 (bản Bắc). 1. Bệnh tham: Tu bất tịnh quán để đối trị. 2. Bệnh sân: Tu từ bi quán để đối trị. 3. Bệnh si: Tu nhân duyên quán để đối trị.

tam bịnh

The three ailments: (A) 1) Tham: Lust—Craving—Greed—For which the meditation on uncleanness (Quán thân bất tịnh) is the remedy. 2) Sân: Anger—Hate—Ire—For which the meditation on kindness (từ) and pity (bi) is the remedy. 3) Si: Stupidity—Ignorance—Unwilling to learn the truth—For which the meditation on causality (Nhơn duyên) is the remedy. (B) 1) Hủy báng Đại Thừa: Slander of Mahayana. 2) Phạm tội Ngũ nghịch: Commit the five gross sins (Xem Ngũ nghịch). 3) Tu theo ngoại đạo: To practice outsider or heathen doctrine.

tam bố thí

Three kinds of dana or charity: 1) Tài Thí: Tài thí gồm có ngoại tài (tiền bạc, vật chất) và nội tài thí (mắt, tai, óc, v.v.)—Giving of goods includes outward (money, materials) and inward giving (eyes, ears, brain, etc). 2) Pháp Thí: Nói pháp giảng kinh hóa độ quần sanh—Giving of the doctrine—Giving of the dharma to preach or to speak Dharma to save sentient beings. 3 Vô Úy Thí: Abhaya—Khi thấy ai sợ sệt, hay đang trong cơn nguy hiểm, mà mình có thể an ủi vỗ về, hay đem sự vô úy không sợ hãi lại cho người, là vô úy thí—Giving of courage or fearlessness—Whenever we find someone who is frightened or encountered some difficult circumstances, we try to comfort.

tam bối

(三輩) Ba nhóm. Chỉ cho 3 hạng chúng sinh vãng sinh Tịnh độ được nói trong kinh Vô lượng thọ. Đó là: 1. Thượng bối: Chúng sinh bỏ nhà lìa dục làm sa môn, phát tâm bồ đề, một lòng niệm danh hiệu Phật Vô lượng thọ, nguyện sinh về cõi nước của đức Phật ấy. 2. Trung bối: Chúng sinh phát tâm bồ đề, 1 lòng chuyên niệm danh hiệu Phật Vô lượng thọ, vâng giữ trai giới, xây tháp tạo tượng, cúng dường sa môn, treo phan thắp đèn, rải hoa đốt hương, nguyện sinh về cõi nước của đức Phật ấy. 3. Hạ bối: Những chúng sinh phát tâm bồ đề, 1 lòng chuyên chú cho đến 10 niệm, nguyện sinh về cõi nước của đức Phật kia. Về Tam bối này và Cửu phẩm (9 bậc) nói trong kinh Quán vô lượng thọ có các giải thích khác nhau. Trong Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển hạ, ngài Tuệ viễn cho rằng chúng sinh của 3 bậc Thượng phẩm (Thượng thượng, Thượng trung, Thượng hạ) hợp lại là Thượng bối, chúng sinh của 3 bậc Trung phẩm (Trung thượng, Trung trung, Trung hạ) hợp lại là Trung bối và chúng sinh của 3 bậc Hạ phẩm (Hạ thượng, Hạ trung, Hạ hạ) hợp lại là Hạ bối. Trong Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ của ngài Cát tạng thì cho rằng những chúng sinh bậc Thượng trung phẩm nói trong Quán kinh là Thượng bối, những chúng sinh của các bậc Trung thượng và Trung trung phẩm là Trung bối, còn những chúng sinh của bậc Hạ hạ phẩm là Hạ bối.Trong Du tâm an lạc đạo, ngài Nguyên hiểu cho rằng Biên địa thai sinh là 1 loại riêng chứ không nằm trong Cửu phẩm. Nhưng, trong Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán quyển hạ thì ngài Cảnh hưng lại cho rằng những chúng sinh Biên địa thai sinh nằm trong 2 phẩm Trung hạ và Hạ thượng,vì Tam bối Cửu phẩm không có tính cách rộng hẹp mà là thu nhiếp hết tất cả chúng sinh vãng sinh.Trong Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển hạ, ngài Nguyên chiếu cho rằng Tam bối của kinh Vô lượng thọ đều nêu rõ việc phát tâm bồ đề, cho nên đều thuộc về ba phẩm Thượng của Quán kinh, còn 3 phẩm Trung và 3 phẩm Hạ thì vì nhân hạnh khác nhau nên không được xếp vào Tóm lại, về phía chủ trương Tam bối và Cửu phẩm giống nhau thì gồm có các ngài: Đàm loan, Tuệ viễn, Trí khải, Cát tạng, Pháp vị, Long hưng và Cảnh hưng; còn phía cho Tam bối và Cửu phẩm khác nhau thì có các ngài: Nghĩa tịch, Trí viên, Nguyên chiếu và Giới độ. Hiện nay, tông Tịnh độ theo thuyết của ngài Đàm loan chỉ có khai hợp là khác nhau mà thôi. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ (Tuệ viễn); Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ (Cát tạng)].

tam bối sự phật

(三輩事佛) Ba hạng người phụng sự Phật. Cứ theo kinh Phân biệt thì phụng sự Phật có chân, giả khác nhau nên chia làm ba loại: . Đệ tử của ma thờ Phật: Đệ tử của ma tuy thụ giới của Phật, nhưng tâm ưa thích nghiệp tà, không tin đạo chân chính, không biết có quả báo của tội ác, giả danh thờ Phật, thường đi theo tà. 2. Trời, người thờ Phật: Trời, người giữ gìn 5 giới, làm 10 điều thiện, đến chết không phạm, dốc lòng tin nhân quả tội phúc, thường nhớ nghĩ chính pháp. 3. Đệ tử của Phật thờ Phật: Đệ tử của Phật vâng giữ 5 giới, học rộng kinh pháp, tu tập trí tuệ, biết rõ các khổ trong 3 cõi, tâm không tham đắm, muốn được giải thoát, thực hành 6 độ, không tiếc thân mệnh, không tạo nghiệp tà.

tam bồ đề

Sambodhi—The insight, wisdom and assimilation of truth essential to the higher attainment of Arhatship. ; (三菩提) I. Tam Bồ Đề. Cũng gọi Tam thừa bồ đề. 1. Thanh văn bồ đề: Thiện nam tử, thiện nữ nhân phát tâm Vô thượng chính đẳng chính giác mà không dạy người khác phát tâm bồ đề, không làm cho người khác khởi lòng tin, do nhân duyên này, tâm được giải thoát, gọi là Thanh văn bồ đề.2. Duyên giác bồ đề(cũng gọi Độc giác bồ đề, Bích chi phật bồ đề): Thiện nam tử, thiện nữ nhân, tự mình phát tâm bồ đề mà không dạy người khác phát tâm bồ đề, không làm cho người khởi tín tâm, không tự mình thụ trì nghĩa kinh Đại thừa, cũng không vì người khác giải nói rộng rãi, do nhân duyên này nên tâm chứng Bích chi bồ đề. 3. Vô thường chính đẳng bồ đề (cũng gọi Vô thượng bồ đề, A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, Chư Phật bồ đề): Thiện nam tử, thiện nữ nhân tự mình phát tâm bồ đề, cũng lại dạy người khác phát tâm bồ đề khiến người khác khởi lòng tin, dù có người đến hay không đến, đều cung kính tùy hỉ, sự tự lợi lợi tha như thế đều là vì lợi ích, an vui cho nhiều người, cho nên gọi là Vô thượng chính đẳng bồ đề. Ba thừa trên đây ví như 3 người vượt sông Hằng, người thứ nhất kết bè cỏ để qua; người thứ hai dùng đãy bằng da, hay thuyền bằng da để qua; người thứ ba làm 1 con thuyền lớn để qua, thuyền này chở được cả trăm nghìn người. Thí dụ này được thấy trong kinh Xuất sinh bồ đề tâm. [X. kinh Tạp a hàm Q.28; phẩm Tam chủng bồ đề trong kinh Ưu bà tắc giới Q.1; luận Đại trí độ Q.53]. II. Tam Bồ Đề. Dựa vào 3 thân Phật chia làm 3 loại: 1. Ứng hóa Phật bồ đề(cũng gọi Phương tiện bồ đề, Cứu cánh bồ đề): Bồ đề này lấy hóa dụng thiện xảo tự tại làm đạo. 2. Báo Phật bồ đề(cũng gọi Thực trí bồ đề, Thanh tịnh bồ đề): Bồ đề này lấy trí tuệ xứng lí làm đạo. 3. Pháp Phật bồ đề(cũng gọi Chân tính bồ đề, Thực tướng bồ đề, Vô thượng bồ đề): Bồ đề này lấy lí thực tướng làm đạo. Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 5, hạ, đem 3 bồ đề này phối hợp với Tư thành quĩ, Quán chiếu quĩ và Chân tính quĩ. Còn Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 3, phần 1, thì phối hợp với giải thoát, bát nhã và pháp thân. [X. Kim quang minh huyền nghĩa Q.thượng]. (xt. Tam Thân, Bồ Đề).

tam bộ

(三部) Ba bộ. Mật giáo chia các vị tôn của Thai tạng giới làm 3 bộ: Liên hoa bộ, Kim cương bộ và Phật bộ, biểu thị cho 3 đức của Phật là Đại bi, Đại trí và Đại định. 1. Liên hoa bộ: Chúng sinh vốn có sẵn lí của tâm bồ đề thanh tịnh, lí này tuy trải qua 6 đường, 4 loài, trôi lăn trong bùn lầy sinh tử mà không nhuốm bẩn giống như hoa sen mọc lên từ bùn nhơ mà vẫn thơm ngát, nên gọi Liên hoa bộ. 2. Kim cương bộ: Trong lí của tự tâm có trí, trí này tuy trải qua vô số kiếp mà vẫn không mất không nát, có khả năng tiêu trừ phiền não, tính chất cứng chắc và công năng phá dẹp của trí này giống như kim cương, cho nên gọi là Kim cương bộ.3. Phật bộ: Lí trí trọn đủ, giác đạo viên mãn, nên gọi là Phật bộ. Bộ mẫu và bộ chủ của 3 bộ này đều khác nhau, Phật bộ lấy Kim cương Phật đính làm Bộ chủ, lấy Bạn đà la phược tự ni (tức Bạch y Quan âm) làm Bộ mẫu. Kim cương bộ lấy Kim cương thủ làm Bộ chủ, lấy Mang ma kê làm Bộ mẫu. Nếu căn cứ vào viện Trung đài bát diệp để phân biệt 3 bộ thì Tì lô giá na biểu thị tổng thể, nên được dùng làm Phật bộ; Tứ hành bồ tát biểu thị đức Đại bi, nên được dùng làm Liên hoa bộ; Tứ Phật biểu thị trí giác, nên được dùng làm Kim cương bộ. Hoặc lấy Đại nhật Như lai làm Phật bộ; Di đà làm Liên hoa bộ và Bảo chàng làm Kim cương bộ. Hoặc lấy Phật Di đà làm Liên hoa bộ, Phật Thích ca làm Kim cương bộ, Phật Bảo chàng và Khai phu hoa làm Phật bộ.Nếu phân biệt 3 bộ trong lớp thứ nhất (của Mạn đồ la) thì viện Biến tri và viện Ngũ đại thuộc Phật bộ, viện Quan âm thuộc Liên hoa bộ và viện Kim cương thủ thuộc Kim cương bộ. Nếu y cứ vào toàn thể Mạn đồ la mà phân biệt 3 bộ thì các viện: Trung đài bát diệp, Biến tri, Thích ca, Văn thù, Ngũ đại, Hư không tạng và Tô tất địa thuộc Phật bộ; các viện Quan âm, Địa tạng ở bên phải thuộc Liên hoa bộ; còn các viện Kim cương thủ, Trừ cái chướng ở bên trái và viện Ngoại kim cương bộ chung quanh thì thuộc Kim cương bộ. Nếu thêm Bảo bộ và Yết ma bộ nữa thì thành 5 bộ (của Kim cương giới). [X. kinh Tô tất địa yết ra Q.thượng; Đà la ni chư bộ yếu mục; Đại nhật kinh sớ Q.5; Bí tạng kí; Thai tạng giới mạn đồ la sao Q.hạ]. (xt. Ngũ Bộ, Thai Tạng Giới).

tam bộ bí kinh

(三部秘經) Cũng gọi Chân ngôn tam bộ, Bí mật tam bộ, Đại nhật tam bộ. Gọi tắt: Mật giáo tam bộ kinh. Chỉ cho 3 bộ kinh: Kinh Đại nhật, kinh Kim cương đính, và kinh Tô tất địa. Ba bộ kinh này đặc biệt được Thai Mật (Mật giáo do tông Thiên thai của Phật giáo Nhật bản truyền thừa) xem trọng. (xt. Tam Bộ Kinh).

tam bộ giả danh sao

(三部假名鈔) Tác phẩm, 7 quyển, do ngài Hướng a Chứng hiền người Nhật soạn vào khoảng năm 1221-1323, được thu vào Đại chính tạng tập 83. Nội dung sách này dùng hình thức đối thoại của các vị cao tăng ở Chân như đường... ví dụ lòng từ bi của đức Phật A di đà như cha, tâm nhớ tưởng của chúng sinh là con, Thông thường, những tác phẩm Giả danh pháp ngữ của Nhật bản là nhắm vào các độc giả không thông thạo chữ Hán, nên phần nhiều không trau chuốt câu văn, nhưng sách này thì trái lại, được viết bằng tiếng Nhật, là 1 tác phẩm có giá trị văn học rất cao, cổ xúy mạnh mẽ tư tưởng Tịnh độ.

Tam Bộ Kinh

(三部經, Sambukyō): tên gọi ba bộ kinh có cùng chung nhất với nhau về nghĩa lý, được rút ra từ trong kinh điển. Tiêu biểu nhất là ba bộ Pháp Hoa, gồm Vô Lượng Nghĩa Kinh (無量義經), Pháp Hoa Kinh (法華經) và Quán Phổ Hiền Kinh (觀普賢經). Ở Nhật ngoài ba bộ này ra còn có ba bộ Trấn Hộ Quốc Gia, được gọi là Hộ Quốc Tam Bộ Kinh (護國三部經), gồm Pháp Hoa Kinh, Nhân Vương Bát Nhã Kinh (仁王般若經), và Kim Cang Minh Kinh (金剛明經). Thêm vào đó còn có ba bộ Đại Nhật gồm Đại Nhật Kinh (大日經), Kim Cang Đảnh Kinh (金剛頂經) và Tô Tất Địa Kinh (蘇悉地經); ba bộ Di Lặc gồm Di Lặc Thượng Sanh Kinh (彌勒上生經), Di Lặc Hạ Sanh Kinh (彌勒下生經), và Di Lặc Thành Phật Kinh (彌勒成佛經), v.v. Trong bộ Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập (選擇本願念佛集) của Pháp Nhiên, lần đầu tiên dùng đến tên gọi Tịnh Độ Tam Bộ Kinh (淨土三部經), gồm Vô Lượng Thọ Kinh (無量義經), Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量義經), và A Di Đà Kinh (阿彌陀經).

Tam bộ kinh

三部經; C: sānbùjīng; J: sanbukyō;|Ba bộ kinh căn bản, thay đổi tuỳ theo truyền thống: I. Pháp Hoa tam bộ kinh (法華三部經); 2. Di-lặc tam bộ kinh (彌勒三部經); 3. Tịnh độ tam bộ kinh (淨土三部經); 4. Đại Nhật tam bộ kinh (大日三部經); 5. Trấn hộ quốc gia tam bộ kinh (鎮護國家三部經).

tam bộ kinh

(三部經) Gọi tắt: Tam kinh. Ba bộ kinh. Các tông phái thường hay chọn lấy 3 bộ kinh đặc biệt trong tạng Kinh để làm chỗ y cứ cho giáo nghĩa của tôn phái mình. Phổ thông nhất thì có: 1. Tịnh độ tam bộ kinh(cũng gọi Tịnh độ tam bộ kinh điển): Gồm kinh Vô lượng thọ (2 quyển), kinh Quán Vô lượng thọ (1 quyển) và kinh A di đà (1 quyển). 2. Pháp hoa tam bộ kinh(gọi tắt: Trấn quốc tam bộ): Gồm kinh Vô lượng nghĩa (1 quyển), kinh Pháp hoa (7 quyển) và kinh Quán Phổ hiền (1 quyển). 3. Đại nhật tam bộ kinh (cũng gọi Chân ngôn tam bộ, Bí mật tam bộ): Gồm kinh Đại nhật (7 quyển), kinh Kim cương đính (3 quyển) và kinh Tô tất địa (3 quyển). 4. Di lặc tam bộ kinh: Gồm kinh Thướng sinh (1 quyển), kinh Há sinh, (1 quyển) và kinh Thành Phật (1 quyển). Ngoài ra Phật giáo Nhật bản cũng có Trấn hộ quốc gia tam bộ kinh, tức là kinh Pháp hoa (7 quyển), kinh Kim quang minh (10 quyển) và kinh Nhân vương (2 quyển).[X. Di lặc thướng sinh kinh sớ; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập].

tam bộ nhứt bái

Three steps one bow.

tam bộ đại pháp

(三部大法) Chỉ cho 3 bộ pháp lớn, đó là: Kim cương giới đại pháp, Thai tạng giới đại pháp và Tô tất địa đại pháp, là thuyết đặc biệt của Thai mật Nhật bản. Đông Mật(Mật giáo do ngài Không hải của Nhật bản truyền, lấy Đông tự làm đạo tràng căn bản nên gọi là Đông Mật)y cứ vào kinh Kim cương đính và kinh Đại nhật; chỉ nói có 2 bộ đại pháp Kim cương giới và Thai tạng giới mà thôi.

tam ca diếp

(三迦葉) Ca diếp, Phạm: Kàzyapa. Hán dịch: Quang ba. Ba vị Ca diếp. Vì thân của các vị tỏa ra ánh sáng nên có tên là Ca diếp. Ở thời đức Phật Tì bà thi, 3 vị cùng nhau xây dựng chùa viện, nhờ nhân duyên ấy nên chiêu cảm quả báo làm anh em. 1. Ưu lâu tần loa ca diếp (Phạm: Uruvilvà-kàzyapa): Ưu lâu tần loa nghĩa là rừng mộc qua (cognassier, loại cây có quả dùng làm rượu), vì chỗ ngài ở gần khu rừng này nên gọi là Ưu lâu tần loa. Ngài thường ủng hộ 4 chúng, cung cấp các thứ cần dùng, không thể thiếu thốn. 2. Na đề ca diếp (Phạm: Nadì- Kàzyapa): Na đề nghĩa là sông, vì chỗ ở của ngài gần con sông nên gọi là Na đề. Tâm ý ngài vắng lặng, hàngphục các kết nghiệp, tinh tiến tu hành. 3. Già da ca diếp (Phạm: Gayà- Kàzyapa): Già da nghĩa là thành, vì nhà ngài ở cách thành Vương xá 7 do tuần về phía nam nên gọi là Già da. Ngài thường quán xét các pháp, giáo hóa chúng sinh và không chấp trước vào bất cứ điều gì. Ba anh em ngài Ca diếp vốn là ngoại đạo thờ lửa, mỗi vị theo thứ tự, có 500, 300, 200 đồ chúng, sau khi đức Phật thành đạo ít lâu, cả 3 vị được Ngài giáo hóa, qui y chính pháp. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.3; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.4; kinh Thái tử thụy ứng bản khởi Q.hạ; kinh Phật ngũ bách đệ tử tự thuyết bản khởi].

Tam Ca-diếp

三迦葉; C: sān jiāyè; J: sankashō;|Ba anh em họ Ca-diếp: 1. Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp (優楼頻螺迦葉; s: uruvilvā-kāśya-pa); 2. Na-đề Ca-diếp (那提迦葉; s: kāśya-pa); 3. Già-da Ca-diếp (伽耶迦葉; s: gayā-kāśyapa). Họ nguyên là Pháp sư chuyên thờ thần lửa với hơn ngàn đệ tử. Khi được đức Phật chuyển hoá, họ gia nhập tăng-già với chúng đệ tử của họ. Ba anh em này sau là những người góp phần trong việc quản lí, tổ chức tăng-già sau này.

tam chi

(三支) I. Tam Chi. Gọi đủ: Tam chi tác pháp. Tiếng dùng trong Nhân minh. Tam chi là Tông (mệnh đề), Nhân (lí do) và Dụ (thí dụ). (xt. Tam Chi Tác Pháp). II. Tam Chi. Chỉ cho 3 vị danh tăng dịch kinh người nước Nguyệt chi: Chi lâu ca sấm đời Hậu Hán, Chi lượng và Chi khiêm đời Tam quốc.

Tam chi tác pháp

三支作法; C: sānzhī zuòfǎ; J: sanshi sahō;|Ba thành phần của Tam đoạn luận pháp (e: syllogism) trong tân phái của Nhân minh học Phật giáo. Ba thành phần này là: Tông (宗; s: pratijñā), là tông chỉ; Nhân (因; s: hetu), nguyên nhân; và Dụ (喩; s: udāharana), thí dụ cụ thể. Các cựu phái thường sử dụng luận pháp với năm thành phần (Ngũ chi tác pháp 五支作法), nhưng kể từ thời Trần-na, năm thành phần như vậy được xem là thừa và thay vào đó, Tam chi tác pháp được sử dụng.

tam chi tác pháp

(三支作法) Cũng gọi Tam phần tác pháp. Gọi tắt: Tam chi, Tam phần. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho luận thức gồm 3 phần Tông, Nhân, Dụ, của Tân nhân minh. 1. Tông là chủ đề của cuộc tranh luận. Tông do chủ từ và tân từ kết hợp thành. Theo qui định của Nhân minh, chủ từ và tân từ phải được cả người lập luận lẫn người vấn nạn chấp nhận. Khi kết hợp chủ từ và tân từ lại để thành lập 1 luận thức thì lúc đó mới trở thành chủ đề để tranh luận. Như Âm thanh là vô thường thì chủ từ âm thanh và tân từ vô thường được liên kết lại bằng chữ là. 2. Nhân là căn cứ của luận chứng, là lí do để thành lập Tông. Nhân phải có đủ 3 điều kiện sau đây: -Biến thị tông pháp tính, nghĩa là Nhân phải hoàn toàn có quan hệ với Tông, tức Nhân lúc nào cũng phải hiện hữu trong Tông. -Đồng phẩm định hữu tính, nghĩa là Nhân phải có tính cách cùng phẩm, cùng loại với Tông. -Dị phẩm biến vô tính, nghĩa là Nhân tuyệt đối không được mang tính cách khác loại với Tông. 3. Dụ là nguyên lí chung của sự tranh luận, biểu thị chân lí được cả đôi bên lập luận và địch luận cùng thừa nhận, tương đương với Đại tiền đề của Luận lí học phương Tây. Dụ có 2 thứ là Đồng dụ và Dị dụ; Đồng dụ là ví dụ cùng phẩm loại với Tông, Dị dụ là ví dụ khác phẩm loại với Tông. Luận thức dùng Đồng dụ gọi là Hợp tác pháp, còn luận thức dùng Dị dụ thì gọi là Li tác pháp. Sau đây là luận thức Tam chi tác pháp hoàn chỉnh: Tông(chi 1): Âm thanh là vô thường. Nhân (chi 2): Vì nó có tính cách được tạo ra. Dụ (chi 3): Những gì có tính cách được tạo ra đều là vô thường, như cái bình... (Đồng dụ–Hợp tác pháp); Những gì không phải là vô thường thì đều không có tính cách được tạo ra, như hư không (Dị dụ–Li tác pháp). [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng, phần đầu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí]. (xt. Ngũ Chi Tác Pháp, Nhân Minh).

tam chiếu

So sánh giáo pháp nhà Phật với ba ánh chiếu của mặt trời; một là ánh mặt trời trên đỉnh đồi, sau đó là ánh chiếu trong thung lũng và cuối cùng là ánh chiếu trên vùng đồng bằng. Đức Phật thuyết giảng Hoa nghiêm để chuyển hóa các đệ tử thành Bồ tát; sau đó Ngài giảng Tiểu thừa cho hàng Thanh văn Duyên giác trong vườn Lâm Tỳ Ni, và sau cùng Ngài thuyết giảng Phương Đẳng và Niết Bàn cho chúng sanh mọi loài—The Buddha's teachings compare to the three shinings of the sun; the sun first shining on the hill-tops, then the valleys and plains. The Buddha first preached Avatamsaka sutra (Kinh Hoa Nghiêm) transforming his chief disciples into bodhisattvas; second he preached Hinayana sutras to sravaskas and Pratyeka-buddhas in the Limbini garden; third he preached Vaipulya (Phương Đẳng) and Nirvana for all the living. ; (三照) Thứ tự chiếu soi của mặt trời có 3 nấc từ khi mới mọc. Cứ theo phẩm Bảo vương Như lai tính khởi trong kinh Hoa nghiêm quyển 34 (bản dịch cũ) thì ví dụ như mặt trời mọc, trước hết chiếu soi hết tất cả núi chúa(cao nhất), kế đến chiếu soi tất cả núi lớn và núi báu Kim cương, sau cùng chiếu soi tất cả đại địa. Sự giáo hóa chúng sinh của đức Phật cũng tuần tự theo các thứ lớp như sau: Trước hết, giáo hóa từ Đại bồ tát, rồi Duyên giác, Thanh văn, chúng sinh thiện căn quyết định, tất cả chúng sinh và cuối cùng cho đến chúng sinh tà định tụ. Trong Pháp hoa huyền nghĩa quyển 1, ngài Trí khải căn cứ vào thứ tự thuyết pháp của đức Phật mà chia ra: Núi cao, thung lũng và đồng bằng, rồi đem phối với 5 thời giáo để giải thích; nghĩa là: Chiếu núi cao là thời Hoa nghiêm, chiếu các thung lũng là thời A hàm, chiếu đồng bằng thì chia làm 3 thời, theo thứ tự là: Thời Phương đẳng(ví dụ lúc 8 giờ sáng), thời Bát nhã(lúc 10 giờ) và thời Pháp hoa Niết bàn(lúc 12 giờ trưa). [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1; Quán âm nghĩa sớ kí Q.3; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.14]. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo).

tam chu thuyết pháp

(三周說法) Cũng gọi Pháp hoa tam chu. Đức Phật vì muốn cho hàng đệ tử Thanh văn ngộ nhập lí Nhất thừa thực tướng, nên Ngài dựa theo căn cơ thượng, trung, hạ mà nói pháp lập đi lập lại 3 vòng, gọi là Tam chu thuyết pháp. Đó là: 1. Pháp thuyết chu(cũng gọi Sơ chu): Đức Phật vì hàng thượng căn, y cứ vào pháp thể mà trực tiếp nói thực tướng các pháp và lí Thập như, xóa bỏ Tam thừa phương tiện, khiến họ liễu ngộ Nhất thừa chân thực. Trong vòng thuyết pháp này chỉ có 1 vị là Đại trí Xá lợi phất tỏ ngộ và được thụ kí(phẩm Phương tiện). 2. Thí thuyết chu(cũng gọi Trung chu): Đối với hàng trung căn chưa tỏ ngộ ở vòng đầu (Sơ chu), đức Phật lại nói về ba xe, một xe để hóa độ họ. Trước nói 3 xe là dùng phương tiện, sau cho 1 xe lớn hiển chân thực để giúp họ tỏ ngộ lí Nhất thừa. Vòng thuyết pháp thứ 2 này có 4 vị đại đệ tử là các ngài Ma ha Ca diếp, Ma ha Ca chiên diên, Ma ha Mục kiền liên và Tu bồ đề lãnh ngộ và được thụ kí (phẩm Thí dụ). 3. Túc thế nhân duyên chu (cũng gọi Hạ chu, gọi tắt: Nhân duyên chu): Đức Phật vì hàng hạ căn không thể tỏ ngộ trong 2 vòng thuyết pháp trước mà nói đời trước họ đã gieo nhân căn cơ Nhất thừa dưới thời đức Phật Đại thông trí thắng, khiến họ thấy rõ cơ duyên lâu xa đời trước mà được tỏ ngộ. Trong vòng thuyết pháp này, có 1.200 vị Thanh văn tỏ ngộ và được thụ kí, đó là các ngài Phú lâu na, Kiều trần như...(phẩm Hóa thành dụ). Tam chu trên đây được chia làm 4 giai đoạn là: Chính thuyết(Phật nói),Lãnh giải (nói lên sự hiểu tỏ của đệ tử), Thuật thành (Phật thừa nhận sự hiểu tỏ của các đệ tử) và Thụ kí(Phật nói trước về sự thành Phật của các đệ tử). Đức Phật theo đây để hóa độ đầy đủ 3 căn thượng, trung, hạ. [X. Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.3; Pháp hoa kinh nghĩa sớ Q.8 (Cát tạng); Pháp hoa văn cú Q.4, thượng; Pháp hoa kinh huyền tán Q.3].

tam chu thụ ký

(三周授記) Đức Phật thụ kí cho hàng Thanh văn thành Phật qua 3 vòng thuyết pháp của kinh Pháp hoa. Đó là: 1. Pháp thuyết chu: Thụ kí cho bậc thượng căn, như việc thụ kí cho ngài Xá lợi phất trong phẩm Thí dụ. 2. Thí thuyết chu: Thụ kí cho hàng trung căn, như việc thụ kí cho 4 vị đại Thanh văn: Ma ha Ca diếp, Tu bồ đề, Ca chiên diên và Mục kiền liên trong phẩm Thụ kí. 3. Nhân duyên chu: Thụ kí cho hàng hạ căn, như việc thụ kí cho ngài Phú lâu na, 1.200 vị Thanh văn, các ngài Kiều trần như, Ưu lâu tần loa ca diếp... trong phẩm Ngũ bách đệtửthụ kí, việc thụ kí cho 2.000 vị như ngài A nan.. trong phẩm Thụ học vô học, việc thụ kí cho Đề bà đạt đa trong phẩm Đề bà đạt đa và việc thụ kí cho tỉ khưu ni Ba xà, cùng 6.000 vị tỉ khưu ni Hữu học vô học trong phẩm Khuyến trì. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.4 thượng; Pháp hoa văn cú kí Q.4 trung, hạ; Pháp hoa huyền luận Q.5]. (xt. Tam Chu Thuyết Pháp, Thụ Kí).

Tam chuyển ngữ

(三轉語, Santengo): ba loại ngữ cú làm chuyển từ mê sang ngộ, tỷ như Ba Lăng Tam Chuyển Ngữ (巴陵三轉語), Triệu Châu Tam Chuyển Ngữ (趙州三轉語), v.v.

tam chuyển

Ba lần chuyển Pháp Luân khi Đức Phật giảng pháp trong vườn Lộc uyển—The three turns of the law-wheel when the Buddha preached in the Deer Park: 1) Thị chuyển: Indicative, postulation and definition of the Four Noble Truths. 2) Cần chuyển: Khuyến chuyển—Hortative, suffering should be diagnosed—See Khuyến Chuyển. 3) Chứng chuyển: Evidential overcoming suffering.

tam chuyển pháp luân

(三轉法輪) I. Tam Chuyển Pháp Luân. Gọi tắt: Tam pháp luân, Tam luân. Chỉ cho 3 thứ chuyển pháp luân là Căn bản pháp luân, Chi mạt pháp luân và Nhiếp mạt qui bản pháp. Đây là danh từ phán giáo do ngài Cát tạng thuộc tông Tam luận đặt ra. 1. Căn bản pháp luân: Giáo thuyết căn bản trực tiếp tuyên bày cảnh giới giác ngộ cho các vị Đại bồ tát. Nhất thừa giáo 1 nhân 1 quả nói trong kinh Hoa nghiêm thuộc về giáo pháp căn bản này. 2. Chi mạt pháp luân: Vì những người ít phúc, căn tính chậm lụt, chưa có khả năng hiểu được Phật pháp nên phương tiện chia giáo pháp Nhất thừa làm Tam thừa mà nói các kinh. Đây là giáo pháp ngành ngọn(chi mạt) từ giáo pháp gốc rễ(căn bản) mà phân hóa ra, cho nên gọi là Chi mạt pháp luân. 3. Nhiếp mạt qui bản pháp luân(pháp luân đưa ngọn về gốc): Đưa giáo pháp Tam thừa chi mạt qui kết về giáo pháp Nhất thừa căn bản, đây chính là giáo thuyết của kinh Pháp hoa. Lại nữa, các kinh Đại thừa như Bát nhã, Tịnh danh, nếu nói theo ý nghĩa Bất phế Tam thừa(không bỏ Tam thừa)thì có thể gọi các kinh này là Chi mạt pháp luân hoặc giáo pháp Tam thừa nhập Nhất thừa cũng có thể gọi là Chi mạt pháp luân. Nếu nói theo giáo pháp Trực nhập Nhất thừa(vào ngay Nhất thừa) thì gọi là Căn bản pháp luân.Ngoài ra, theo sự phán giáo của tông Tam luận thì Thanh văn tạng và Bồ tát tạng là chính, còn Tam chuyển pháp luân thì là phụ. [X. phẩm Tín giải kinh Pháp hoa; Pháp hoa du ý; Trung luận sớ Q.1]. II. Tam Chuyển Pháp Luân. Chỉ cho pháp luân 3 lần chuyển Tứ đế của đức Phật. 1. Thị chuyển: Chỉ ra rằng Đây là khổ, đây là tập, đây là diệt, đây là đạo. 2. Khuyến chuyển: Khuyên rằng Đây là khổ, các ông nên biết; đây là tập, các ông nên dứt; đây là diệt, các ông nên chứng; đây là đạo, các ông nên tu. 3. Chứng chuyển: Chứng rằng Đây là khổ, ta đã biết, không còn gì để biết; đây là tập, ta đã dứt, không còn gì để dứt; đây là diệt, ta đã chứng, không còn gì để chứng; đây là đạo, ta đã tu, không còn gì để tu. Mỗi 1 lần chuyển đều có 4 hành tướng là nhãn, trí, minh, giác, cho nên 3 chuyển thành là 12 hành tướng. (xt. Tam Chuyển Thập Nhị Hành Tướng).

tam chuyển pháp luân kinh

(三轉法輪經) Phạm: Dharmacakrasùtra. Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 2. Lúc mới thành đạo, đức Phật đến vườn Lộc dã tuyên giảng về lí Tứ đế cho 5 vị tỉ khưu là các ngài Kiều trần như... nghe. Vì đức Phật giảng giải 3 lần, mỗi lần có 4 hành tướng, nên gọi là Tam chuyển thập nhị hành tướng mà thành kinh này. Kinh này còn có 1 bản dịch khác là kinh Chuyển pháp luân, 1 quyển, do ngài An thế cao dịch vào đời Đông Hán. Kinh này được xem là bản Tuyên ngôn khai giáo của đức Phật và là nền tảng của giáo nghĩa. Phật giáo Nam truyền cũng có kinh này.

tam chuyển thập nhị hành tướng

(三轉十二行相) Phạm:Trì-parivarta-dvàdazàkàradharma-cakra-pravartana.Cũng gọi Đương tam chuyển tứ luân thập nhị hành pháp luân, Tứ đế pháp luân tam hội thập nhị chuyển thuyết, Tam chuyển thập nhị hành pháp luân. Chỉ cho 3 lần đức Phật chuyển pháp luân Tứ đế, mỗi một lần chuyển đều có 4 hành tướng, cộng chung thành 12 hành tướng. Còn Tam chuyển thì 4 đế mỗi đế đều có 3 chuyển:Thị tướng chuyển (đây là khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế), Khuyến tướng chuyển(đây là khổ đế nên biết, là tập đế nên dứt, là diệt đế nên chứng, là đạo đế nên tu) và Chứng tướng chuyển (đây là khổ đế đã biết, là tập đế đã dứt, diệt đế đã chứng, đạo đế đã tu). Ba chuyển này mỗi chuyển đều có 4 hành tướng: Nhãn (Phạm: Cakwu= mắt), Trí (Phạm: Jĩàna), Minh (Phạm: Vidyà) và Giác (Phạm: Buddhi), hoặc 3 vòng xoay quanh 4 thánh đế, cho nên gọi là Thập nhị hành tướng.Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 79 thì Nhân, Trí, Minh, Giác có 2 nghĩa: 1. Nhãn tức Pháp trí nhẫn, Trí tức các Pháp trí, Minh tức các loại Trí nhẫn và Giác tức là các loại Trí. 2. Nhãn nghĩa là quán thấy: Trí nghĩa là quyết đoán; Minh tức là chiếu rõ và Giác nghĩa là tỉnh biết. Trong mỗi đế đều có 3 chuyển 12 hành tướng, cho nên 4 đế cộng chung lại thì có 12 chuyển 48 hành tướng. Ba chuyển này theo thứ tự có thể phối với Kiến đạo, Tu đạo và Vô học đạo, cứ như thế chuyển từng món một, mỗi chuyển đều có 4 hành tướng Nhãn, Trí, Minh, Giác, cho nên khổ đế có 3 chuyển 12 hành tướng, các đế khác cũng thế.[X. kinh Tạp a hàm Q.15; luật Tứ phần Q.32; luận Câu xá Q.24; luận Du già sư địa Q.95; Pháp hoa kinh huyền tán Q.4; Câu xá luận quang kí Q.24]. (xt. Chuyển Pháp Luân).

tam chuyển độc văn

(三轉讀文) Cũng gọi Thập như tam chuyển. Ba cách chuyển đọc văn kinh để hiển bày 3 đế Không, Giả, Trung do Đại sư Trí khải tông Thiên thai đặt ra. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa có đoạn văn Thập như thị (Đại 9, 5 hạ): Chư pháp như thị tướng, Như thị tính, Như thị thể, Như thị lực, Như thị tác, Như thị nhân, Như thị duyên, Như thị quả, Như thị báo, Như thị bản mạt cứu cánh đẳng. Đại sư Trí khải chia đoạn văn này làm 3 cách đọc khác nhau là Không chuyển, Giả chuyển và Trung chuyển, gọi là Tam chuyển: 1. Không chuyển: Nếu đọc là Thị tướng như cho đến Thị bản mạt cứu cánh đẳng như, thì sẽ hiểu là các pháp đều không, hiển bày Không đế. 2. Giả chuyển:Nếu đọc là Như thị tướng cho đến Như thị bản mạt cứu cánh đẳng, thì sẽ hiểu là Không tức giả, hiện tượng tức sai biệt, hiển bày Giả đế. 3. Trung chuyển: Nếu đọc là Tướng như thị cho đến Bản mạt cứu cánh như thị thì sẽ hiểu là Các pháp tức thực tướng các pháp, hiển bày Trung đế. [X. Pháp hoa huyền nghĩa giảng thuật Q.2, thượng].

tam chánh

(三正) Cũng gọi Tam trung. Chỉ cho 3 chính: Đối thiên chính, Tận thiên chính và Tuyệt đãi chính. Đây là sự giải thuyết về giáo nghĩa Phá tà hiển chính do tông Tam luận thành lập. 1. Đối thiên chính: Nhằm đối lại với các thiên kiến như đoạn kiến, thường kiến mà hiển bày chính lí, cũng như tùy bệnh cho thuốc. 2. Tận thiên chính: Diệt trừ các thiên kiến đoạn, thường mà hiển hiện chân lí, giống như dùng thuốc chữa bệnh. 3. Tuyệt đãi chính: Khi các thiên kiến đoạn, thường đã dứt sạch thì chính lí tương đối cũng chẳng còn, vì thế chính lí là chẳng phải thiên chẳng phải chính. Tuy không thể gọi là chính lí, nhưng vì để biểu thị tính chất tuyệt đối của nó, nên cũng gượng gọi là chính lí, cũng hệt như thuốc đến thì bệnh hết. [X. Tam luận huyền nghĩa].

Tam chánh niệm xứ

xem Ba chỗ niệm.

tam chân như

Three aspects of Bhutatathata: (A) 1) Vô tướng: Without form—Above the limitation of form. 2) Vô sinh: Without creation—Above the limit of creation. 3) Vô tánh: Without nature (soul)—Above the limit of a soul. (B) 1) Thiện pháp chân như: The bhutathatata as good. 2) Bất thiện pháp chân như: The bhutathatata as evil. 3) Vô ký pháp chân như: The bhutathatata as neither good nor evil. **For more information, please see Chân Như. ; (三真如) I. Tam Chân Như. Thể tính chân thực không thay đổi của các pháp gọi là chân như. Luận Thành duy thức y cứ vào Tam vô tính mà lập ra Tam chân như: 1. Vô tướng chân như: Thể của các pháp không có tướng hư vọng của Biến kế sở chấp. 2. Vô sinh chân như: Các pháp do nhân duyên mà sinh nên chẳng phải là thực sinh.3. Vô tính chân như: Thể chân thực của các pháp không rơi vào lời nói, dứt tuyệt lo lường, cho nên không có thực tính của vọng tình sở chấp. II. Tam Chân Như. Tam chân như do luận Tạp tập thành lập là: 1. Thiện pháp chân như: Chân như theo duyên thành thiện pháp. 2. Bất thiện pháp chân như: Chân như theo duyên thành bất thiện pháp. 3. Vô kí pháp chân như: Chân như theo duyên là vô kí pháp.

tam chướng

Ba loại chướng ngại—Three kinds of Vighna—Three hinderers—Three barriers (A) 1) Phiền não chướng: Hoặc chướng—Hindrances of affliction—Chướng gây nên bởi dục vọng, ham muốn, hận thù và ngu si—Hinderers or barriers caused by passions, desires, hate, stupidity. 2) Nghiệp chướng: Karmic hindrances—Chướng ngại gây nên bởi những nghiệp đã được làm—Hinderers caused by the deeds done. 3) Báo chướng: Hindrances of retribution—Chướng gây nên những quả báo—Hinderers caused by the retributions. (B) 1) Bì phiền não: Chướng ngại bởi ngoại cảnh—Delusions from external objects. 2) Nhục phiền não: Chướng ngại gây nên bởi nội kiến—Delusions from internal views. 3) Tâm phiền não: Chướng ngại gây nên bởi tâm thần mê muội—Delusions from mental ignorance. (C) 1) Ngã mạn: Self-importance. 2) Tật đố: Envy. 3) Tham dục: Desire. ; (三障) Phạm:Trìịy-àvaranàni. Ba thứ chướng ngại. I. Tam Chướng. Cũng gọi Tam trọng chướng. Chỉ cho Phiền não chướng, Nghiệp chướng và Dịthục chướng ngăn ngại thánh đạo và các thiện căn gia hạnh trước đó. 1. Phiền não chướng (Phạm: Klezàvaraịa): Bản tính con người vốn đầy đủ 3 phiền não tham, sân, si, rất khó trừ bỏ, khó dạy bảo, khó mở tỏ, khó chán lìa, khó được giải thoát. Đây cũng chính là chỉ cho phiền não thường xuyên sinh khởi. 2. Nghiệp chướng (Phạm: Karmàvaraịa: Tức chỉ cho nghiệp 5 vô gián, là những nghiệp ác do thân, miệng, ý tạo tác ra. 3. Dị thục chướng (Phạm: Vipakàvaraịa,cũng gọi Báo chướng, Quả báo chướng): Những quả báo 3 đường ác do nhân phiền não và nghiệp đưa đến. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.11 (bản Bắc); kinh Phật danh Q.1; luận Phát trí Q.11; luận Thành thực Q.8; luận Câu xá Q.17; luận Đại trí độ Q.5; luận Đại tì bà sa Q.115]. II. Tam Chướng. Cứ theo kinh Đại thừa du già đại giáo vương Q.5 thì vì 3 thứ chướng làm trở ngại nên không được gặp pháp Tam ma địa của Du già bí mật. Ba thứ chướng là: 1. Ngã mạn trọng chướng: Người bị cái chướng cao ngạo nặng nề, kiến chấp tà ác che lấp, đến nỗi không thể hạ tâm kính thờ chư Phật, Bồ tát, sư trưởng, phụ mẫu, không thể tu học chính pháp của Như lai. 2. Tật đố trọng chướng: Người bị cái chướng tật đố nặng nề thường hay ganh ghét bậc hiền đức, người tài năng, tự cho mình là hay, người khác là dở, thấy người tu thiện thì mang lòng đố kị, không thể tu học chính pháp của Như lai. 3. Tham dục trọng chướng: Người bịcái chướng nặng nề nhiều tham muốn, trây lười, ngủ nghỉ, tối tăm, động loạn, phá giới, không thể tu học chính pháp của Như lai.Ba hạng người trên đây, không biết gì về nhân quả, không kính sư trưởng, cũng chẳng trọng người hiền lương, không hộ trì đạo nghiệp, gây nhiều nghiệp ác, vì thếkhông được gặp chính pháp Tam mật. III. Tam Chướng. Chỉ cho 3 thứ chướng ngại ngăn trở thiền định. Đó là: 1. Hôn trầm ám tế chướng: Người thường ngủ gục li bì, tâm trí mờ tối khiến không phân biệt được điều gì, ngăn trở các thiền định, đến nỗi không khai phát được. 2. Ác niệm tư duy chướng: Tuy không mờ tối nhưng niệm ác chợt sinh, khiến phá các giới cấm, đến nỗi làm những việc bất thiện. 3. Cảnh giới bức bách chướng: Tuy tâm không mờ tối, không nghĩ đến các việc ác, nhưng thân lại đau nhức, hoặc bị đất vùi lửa đốt, ngã từ sườn núi, mãnh hổ rượt đuổi, ma phiền não nổi lên, các tướng ác như thế hiện ra, bức não người tu hành, khiến tâm sinh sợ hãi, đến nỗi chướng ngại các thiền định, không khai phát được. Ba thứ chướng nêu trên đều trở ngại việc tu tập thiền định. [X. Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn Q.4; Thiên thai tứ giáo nghi tập giải tiêu chỉ sao Q.hạ, phần 4; Đại tạng pháp số Q.9]. IV. Tam Chướng. Cũng gọi Tam thô trọng, Tam phiền não.Chỉ cho 3 thứ phiền não chướng là Tu hoặc, Kiến hoặc và Vô minh, theo thứ tự được ví dụ với da, thịt và tim, hoặc da dày da mỏng và xương. 1. Bì phiền não chướng: Chỉ cho Tu hoặc. Tu hoặc nổi lên khi 5 căn tiếp xúc với 5 trần bên ngoài, như da(bì) ở ngoài, nên dùng da làm ví dụ. 2. Nhục phiền não chướng: Chỉ cho Kiến hoặc. Kiến hoặc do mê lầm về lí luận, quan điểm mà sinh khởi, thuộc về chấp trước phân biệt trong tâm, như thịt ở phía trong da, nên dùng nhục (thịt) làm ví dụ. 3. Tâm phiền não chướng: Chỉ cho Vô minh. Vô minh là nguồn gốc của tất cả sự mê vọng, do mê chân theo vọng mà sinh ra, cho nên dùng tâm (tim) làm ví dụ.Đại thừa nghĩa chương quyển 5, phần đầu, lại lập Vô minh làm 3 chướng Bì, Phu, Cốt(da dày, da mỏng, xương). Nghĩa là Vô minh phẩm thô to là Bì chướng, Vô minh phẩm thô vừa là Phu chướng và Vô minh phẩm nhỏ nhiệm là Cốt chướng. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.15 (bản dịch đời Lương); Hoa nghiêm khổng mục chương Q.3]. (xt. Tam Thô Trọng, Tam Hoặc).

tam chấp thủ

Three attachments—Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, để chứng ngộ Nhất Thiết Không, người ta phải lìa bỏ ba sự chấp thủ—According to Prof. Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy, to realize Total-Voidness, one must do away with the three attachments. 1) Chấp thủ vào giả Danh Tâm—Attachment to the temporary name: Vạn hữu và vạn vật, vì hiện hữu như là sự kết hợp của những nhân quả được liệt vào giả danh bởi vì không có cách nào để chỉ định hiện hữu biến chuyển của nó ngoại trừ bằng tên gọi. Ta phải nhận ra rằng thật vô dụng khi bám chặt vào một tự ngã mà thực sự nó chỉ là một tên gọi. Trước hết chúng ta phải từ bỏ sự chấp thủ vào giả danh của mình—All beings and things, since they exist as the combination of causations, are given temporary names, beause there is no way to designate changing existence except by name. One must realize that it is useless to be attached to a self which is in truth only an appellation. One must first get rid of this attachment to one's temporary name. 2) Chấp thủ vào Pháp Tâm—Attachment to all elements: Các pháp là nền tảng mà tên giả danh khởi lên. Từ bỏ sự chấp thủ vào các pháp là chúng ta phải chứng nhập không tánh như trên—The elements are the basis on which the temporary name arises. To be rid of the attachment to the elements is to realize their voidness. 3) Chấp thủ vào Không Tâm—Attachment to the Void itself: Khi chúng ta chứng ngộ không tánh của Ngã và Pháp, chúng ta tưởng chừng đã có thể đạt được Nhất Thiết Không; kỳ thật, chúng ta vẫn còn có ý thức về Không chẳng khác gì như có một sự thể nào đó đang hiện hữu. Không tâm nầy có thể xóa bỏ khi người ta đi vào Diệt Tận Định (Nirodha-samapatti) hay vào Niết Bàn viên mãn. Diệt tận Định, như ở nơi vị A La Hán, là một trạng thái trong đó tất cả những tham dục đều bị xả ly; và Niết Bàn viên mãn, như ở trường hợp của Đức Phật, là trạng thái trong đó tất cả những điều kiện của sự sống, tâm và vật, đều bị diệt tận bằng sự giác ngộ, giống như bóng tối bị tiêu diệt bởi ánh sáng; bởi vì Đức Phật đã đạt đến trạng thái Niết Bàn viên mãn, nơi đây không còn những phẩm tánh phân biệt, và siêu viêu việt cả “Tứ Cú.”—When as above, we have realized the voidness of both the individual self and of the elements, we may sem to have attained Total Voidness, but the truth there still remains the consciousness of the Void, and we are liable to be attached to the idea of the Void as much as if it were something existent. This void-consciousness can be removed when one enters into the Meditation of Extinction (nirodha-samapatti or into Perfect Nirvana. The former is, as in an Arhat, a state in which all passions we have been done away with, and the later is as in the case of the Buddha, the state in which all conditions of life, matter and mind, have been extinguished by virtue of Enlightenment as darkness is extinguished by light, because the Buddha had attained the state of Perfect Nirvana which is in itself devoid of any extinguishing qualities and he had transcended the “four arhument.

tam chỉ

(三止) I. Tam Chỉ. Ba chỉ hành do tông Thiên thai lập ra để đối lại với Tam quán Không, Giả, Trung. Đó là: 1. Thể chân chỉ: Đối lại với Không quán. Thể đạt cái hư vọng điên đảo của vô minh chính là chân như của thực tướng, gọi là Thể chân chỉ. Vì người đã thấu suốt được các pháp do nhân duyên hòa hợp là không vô tự tính, nên có thể ngăn dứt hết thảy phan duyên vọng tưởng mà chứng lí không, không chính là chân, vì thế gọi là Thể chân chỉ. Nếu đạt được cảnh giới này thì phát định, mở mắt tuệ, thấy được Đệ nhất nghĩa, thành tựu tam muội Chân đế. 2. Phương tiện tùy duyên chỉ(cũng gọi Phương tiện chỉ, Hệ duyên thủ cảnh chỉ): Đối lại với Giả quán. Bồ tát tùy duyên từng trải các cảnh, tâm an trụ nơi tục đế mà bất động, gọi là Phương tiện tùy duyên chỉ. Bởi vì Bồ tát biết rõ không chẳng phải thật không nên dùng các phương tiện khéo léo, tùy duyên phân biệt thuốc và bệnh để giáo hóa chúng sinh, đồng thời, tâm ở trong tục đế mà không bị ngoại cảnh làm cho lay động. Nhờ đó mà mở mắt tuệ, thành tựu tam muội Tục đế. 3. Tức nhị biên phân biệt chỉ(cũng gọi Chế tâm chỉ): Đối lại với Trung quán. Chỉ cho tướng không phân biệt 2 bên: Sinh tử và Niết bàn, Hữu và Vô... Bởi vì, như đã trình bày ở trên, Thể chân chỉ thiên về Chân, Phương tiện tùy duyên chỉ thì thiên về Tục, đều không phù hợp với lí Trung đạo. Đã biết Chân chẳng phải chân thì là bên Không tịch tĩnh; biết Tục chẳng phải tục thì là bên Hữu tịch tĩnh, cũng tức là dứt 2 bên Chân, Tục mà trụ chỉ ở Trung đế. Nếu đạt được cảnh giới này thì phát định Trung đạo, khơi mở mắt Phật, thành tựu tam muội Trung đạo.[X. chương Tiểu chỉ quán chứng quả; Ma ha chỉ quán Q.3, thượng]. II. Tam Chỉ. Tức Phật tam chỉ, Xá lợi phất tam thỉnh nói trong phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa. (xt. Tam Chỉ Tam Thỉnh).

tam chỉ tam thỉnh

(三止三請) Ba lần ngăn lại, ba lần thỉnh cầu. Đây là điển tích đức Phật tuyên giảng kinh Pháp hoa. Theo phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa, lúc đầu, đức Phật định nói kinh Pháp hoa, nhưng Ngài tự nghĩ thực tướng các pháp rất sâu xa mầu nhiệm thính chúng khó lãnh hội được, nên Ngài thôi, không muốn nói nữa. Sau, tôn giả Xá lợi phất thay mặt đại chúng, thỉnh cầu đức Phật giảng nói nhưng Phật ngăn lại. Cứ như thế, bên thỉnh, bên ngăn đến 3 lần, đức Phật mới chấp nhận lời thỉnh cầu lần thứ 3 của Tôn giả Xá lợi phất mà nói rộng về Diệu pháp, nên gọi là Tam chỉ tam thỉnh.

tam chủng

Three kinds, sorts, classes or categories.

tam chủng ba la mật

Ba loại Ba La Mật—Three kinds of Paramitas. Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật đưa ra ba loại Ba La Mật—In the Lankavatara Sutra, the Buddha gave three kinds of Paramitas: 1) Xuất thế gian thượng thượng Ba La Mật—Paramitas of the supreme ones of Bodhisattvas, relating to the future life for all: Các loại Ba La Mật siêu thế gian trong ý nghĩa cao nhất được thực hành bởi một vị Bồ Tát hiểu rằng thế giới được quan niệm một cách nhị biên do bởi cái tâm phân biệt và vị ấy thoát khỏi những tưởng tượng sai lầm và những ràng buộc hư vọng như tâm, hình tưởng, đặc tính, vân vân. Vị ấy thực hành đức hạnh bố thí chỉ nhằm làm lợi cho tất cả chúng sanh hữu tình và đưa họ đến trạng thái tâm linh hạnh phúc. Vị ấy thực hành trì giới mà không ra bất cứ điều kiện hay sự ràng buộc nào, ấy là trì giới Ba La Mật của một vị Bồ Tát. Vị ấy biết được sự khác biệt giữa chủ thể và đối tượng, nhưng vẫn yên lặng chấp nhận mà không khởi lên bất cứ ý nghĩ nào về sự gắn bó hay tách rời nào, đó chính là nhẫn nhục Ba La Mật của một vị Bồ Tát. Vị ấy tu tập một cách mạnh mẽ suốt ngày suốt đêm, hòa mình theo mọi đòi hỏi của kỹ luật mà không khởi lên cái tâm phân biệt nào, đó chính là tinh tấn Ba La Mật. Vị ấy không chấp vào kiến giải về Niết Bàn của các triết gia và thoát khỏi mọi sự phân biệt, đó chính là Thiền định Ba La Mật. Còn về Bát Nhã Ba La Mật, vị ấy không sanh tâm phân biệt bên trong mình, không nhìn thế giới bằng bất cứ loại hiểu biết hay phân tách nào, không rơi vào nhị biên mà gây nên sự chuyển biến từ căn bản của tâm thức. Đó là không đoạn diệt sự vận hành của nghiệp trong quá khứ, mà cố gắng tu tập để tạo ra một trạng thái tự chứng—The Paramita that are super-worldly in the highest sense are practiced by a Bodhisattva who understands that the world is dualistically conceived, because of the discriminating mind, and who is detached from erroneous imaginations and wrong attachments of all kinds, such as mind, form, characters, etc. He would practice the virtue of charity solely to benefit sentient beings and to lead them a a blissful state of mind. To practice morality without forming any attachment to condition in which he binds himself, this is his sila-paramita. Knowing the distinction between subject and object, and yet quietly to accept it without waking any sense of attachment or detachment, this is the Bodhisattva's Kshanti-paramita. To exercise himself most intently throughout the day and night, to conform himself to all the requirements of discipline, and not to evoke a discriminating mind, this is his Vyria-paramita. Not to cling to the philosopher's view of Nirvana and to be free from discrimination, this is his Dhyana-paramita. As to Prajna-paramita, it is not to evoke a discriminating mind within oneself, nor to review the world with any kind of analytical understanding, not to fall into dualism, but to cause a turning at the basis of consciousness. It is not to destroy the working of a past karma, but to exert oneself in the exercise of bringing about a state of self-realization, this is Prajna-paramita. 2) Xuất thế gian Ba La Mật—Paramitas for Sravakas and Pratyeka-buddhas relating to the future life for themselves: Loại Ba La Mật siêu thế gian được chư Thanh Văn và Duyên Giác thực hành. Chư vị nầy chấp vào ý niệm về Niết Bàn và quyết đạt cho được Niết Bàn bằng mọi giá. Họ cũng giống như người thế gian bị ràng buộc vào sự hưởng thụ quy ngã—The super-worldly kind of paramitas is practiced by Sravakas and Pratyekabuddhas who, clinging to the idea of Nirvana, are determined to attain it at all costs; they are like the worldly people who are attached to the enjoyment of egotism. 3) Thế gian Ba La Mật—Paramitas for people in general relating to this world: Loại thế gian Ba La Mật được thực hành bởi những người thế gian tầm thường, thường chấp vào ý niệm về “ngã” và “ngã sở;” họ không thể vùng thoát khỏi những ràng buộc nhị biên như hữu và phi hữu, và tất cả những đức hạnh mà họ thực hành đều được đặt căn bản trên ý niệm đạt một cái gì đó có tính cách vật chất như là một sự đền đáp lại. Họ có thể đạt được một số khả năng tâm linh nào đó và sau khi chết được sanh vào cõi Trời của Phạm Thiên—The worldly kind of paramitas is practiced by worldly people who cling to the idea of an ego and what belongs to it; they are unable to shake themselves off the fetters of dualism such as being and non-being, and all the virtues they would practice are based on the idea of gaining something material as a reward. They may gain certain psychic powers and after death be born in the heaven of Brahma.

tam chủng biến dịch sanh tử

(三種變易生死) Ba nghĩa của sinh tử biến dịch: 1. Sự sinh diệt nhỏ nhiệm gọi là Biến dịch tử, vì vô thường đổi khác trong từng niệm, niệm trước đổi, niệm sau dời nên gọi là Biến dịch. Lại nữa, biến dịch là chết nên gọi là Biến dịch tử. Biến dịch tử này chung cho cả phàm và thánh. 2. Thân pháp tính chứng được do duyên theo vô lậu gọi là Biến dịch tử, vì thân này có thần thông biến hóa vô ngại, thường chuyển biến thường dời đổi, nên gọi là Biên dịch. Nghĩa này chung cho cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa. 3. Chỉ cho Pháp thân thực chứng, thân này ẩn hiển tự tại, thường chuyển biến, thường đổi dời nên gọi là Biến dịch. Sự biến dịch này chẳng phải là chết, nhưng Pháp thân này chưa ra khỏi sinh diệt, vẫn còn là pháp sinh tử vô thường, tùy theo chỗ biến đổi trên thân mà có sinh tử, cũng gọi là Biến dịch tử. Nghĩa này chỉ có trong Đại thừa. [X. Thắng man kinh bảo quật Q.trung, phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.8; Tam luận đại nghĩa sao Q.4]. (xt. Biến Dịch Sinh Tử).

tam chủng bất kiên dịch tam kiên pháp

(三種不堅易三堅法) Ba thứ bất kiên(không bền chắc)đổi thành 3 pháp kiên (3 pháp kiên cố). Kinh Bản sự quyển 7 đem 3 thứ bất kiên là tài, thân và mệnh chuyển thành 3 pháp kiên. Đó là: 1. Bất kiên tài đổi thành kiên tài: Tất cả của cải ở thế gian không có tính chất bền chắc, còn đó mất đó, không giữ được lâu. Nếu bố thí của cải ấy cho người nghèo khó, và người phạm hạnh thanh tịnh để cầu Niết bàn an lạc vô thượng, hoặc cầu quả vui trời, người trong đương lai, thì đó chính là Kiên tài(của cải kiên cố).2. Bất kiên thân đổi thành kiên thân: Thân cha mẹ sinh ra là do 4 đại giả hòa hợp, mong manh không thực, chẳng có tính bền chắc, sống chết bất kì, không giữ được lâu. Nếu giữ gìn 5 giới, thanh tịnh không nhơ nhuốm, tu tập đạo vô thượng bồ đề để chứng thân kim cương bất hoại, thì đó là Kiên thân (thân bền chắc). 3. Bất kiên mệnh đổi thành kiên mệnh: Mệnh sống của con người tuy có thọ yểu khác nhau nhưng đều là mộng huyễn, thể tính không bền chắc, giây phút vô thường, khó giữ lâu được. Nếu biết rõ 4 đế, tu tập chính pháp, siêu việt sinh tử để tuệ mệnh thường trụ, thì đó chính là Kiên mệnh (mệnh sống kiên cố).

tam chủng bệnh tướng

(三種病相) Ba thứ tướng bệnh nói trong Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn quyển 4. 1. Tướng bệnh do 4 đại thêm lên: a) Vì địa đại tăng lên nên sinh ra các bệnh sưng tấy trầm trọng, thân khô đét. b) Vì thủy đại tăng lên nên sinh ra bệnh phù thũng, ăn uống không tiêu. c) Vì hỏa đại tăng lên nên sinh ra bệnh nhiệt, các khớp xương đau nhức. d) Vì phong đại tăng lên nên sinh ra các chứng chóng mặt, nôn mửa, thở gấp... 2. Tướng bệnh do 5 tạng sinh: a) Nếu bệnh sinh từ tim thì thân nóng lạnh, trong miệng khô ráo. b) Nếu bệnh sinh từ phổi thì thân thể phù thũng, chân tay đau nhức, mũi bị nghẹt. c) Nếu bệnh sinh từ gan thì lo sầu nóng nảy, nhức đầu mỏi mắt. d) Nếu bệnh sinh từ lá lách thì khắp mình phong giật, ngứa ngáy khó chịu, ăn uống mất ngon. e) Nếu bệnh sinh từ thận thì cổ họng bị nghẹn, bụng trướng tai ù. 3. Tướng bệnh trong 5 căn: a) Mắt hoặc đỏ hoặc đau, màng mắt che mờ, thấy hoa giữa hư không, đó là bệnh mắt.b) Tai hoặc đau hoặc điếc, hoặc tự nhiên ù tai, nghe tiếng rầm rì, đó là bệnh tai.c) Mũi bị nghẹt và chảy mủ, đó là bệnh mũi.d) Lưỡi hoặc nổi nhọt, hoặc tê cứng, ăn uống không thấy ngon, đó là bệnh lưỡi.e) Tứ chi đau nhức, toàn thân ê ẩm, đó là bệnh thân.

tam chủng bố thí

Ba loại bố thí—Three kinds of dana or charity—See Tam Bố Thí.

tam chủng bồ đề

Three kinds of bodhi. (A) 1) Thanh Văn Bồ Đề: Bồ Đề mà hàng Thanh Văn đạt được—The enlightenment of sravakas. 2) Duyên Giác Bồ Đề: Bồ Đề mà hàng Duyên Giác đạt được—The enlightenment of Pratyeka-buddhas. 3) Phật Bồ Đề: Bồ Đề mà Phật đạt được—The enlightenment of Buddhas. (B) 1) Hành nguyện Bồ Đề Tâm: To start out for bodhi-mind to act out one's vows to save all living beings—See Hành Nguyện Bồ Đề Tâm. 2) Thắng Nghĩa Bồ Đề Tâm: Bodhi-mind which is beyond description, and which surpasses mere earthly ideas—See Thắng Nghĩa Bồ Đề Tâm. 3) Tam Ma Địa Bồ Đề Tâm: Samadhi-bodhi mind—See Tam Ma Địa Bồ Đề Tâm.

tam chủng bồ đề tâm

(三種菩提心) Cũng gọi Tam Bồ đề tâm. I. Tam Chủng Bồ Đề Tâm. Theo luận Bồ đề tâm thì hành tướng của tâm bồ đề có 3 thứ khác nhau là Hạnh nguyện, Thắng nghĩa và Tam ma địa, gọi là Tam chủng bồ đề tâm. 1. Hạnh nguyện bồ đề tâm: Tức tâm Đại bi. Hạnh chỉ cho tất cả muôn hạnh thuộc Tứ hoằng, Lục độ; Nguyện chỉ cho Nguyện ba la mật. Ngoại đạo và Nhị thừa không khởi tâm này, chỉ có hàng Bồ tát đại sĩ mới phát được. Tức Bồ tát làm lợi ích cho cõi hữu tình không sót, nguyện cho họ được yên vui, quán tưởng hàm thức trong 10 phương cũng như thân mình, lại cứu giúp bằng môn Đại bi, tùy nguyện của chúng sinh mà chu cấp cho họ, ngay cả thân mệnh cũng không tiếc. 2. Thắng nghĩa bồ đề tâm (cũng gọi Thân bát nhã tâm): Bồ tát rõ biết tất cả pháp không có tự tính, cũng tức quán Phật tính thắng nghĩa không, để cầu tâm bồ đề. Nói theo Thập trụ tâm thì trước hết chán bỏ vọng tâm dị sinh đê dương của thế gian, kế đến xả bỏ tâm Nhị thừa duy uẩn vô ngã, lại xả bỏ các pháp môn tiệm tu, cứ như thế y theo lời dạy của Như lai, trước hết dùng trí tuệ tối thượng đối chiếu với 10 tâm hơn kém mà quán không 9 thứ tín tâm; kế đến, dùng diệu tuệ bát nhã sâu xa, quán không tất cả vọng tưởng của chúng sinh, thuyết pháp của chư Phật, trực tiếp quán các pháp duyên sinh không có tự tính mà không hóa 9 thứ trụ tâm. Vượt qua các trụ tâm này mà phát tâm bồ đề, thực hành hạnh bồ đề, đó chính là Thắng nghĩa bồ đề tâm.3. Tam ma địa bồ đề tâm: Tức Ngũ bộ bí quán tương ứng với Tam mật. Tất cả chúng sinh tuy vốn có đủ 4 thứ Pháp thân của đức Phật Đại tì lô giá na và 4 thứ Mạn đồ la, nhưng vì 5 chướng, 3 độc... che lấp nên không giác ngộ được; nếu quán nhật nguyệt luân trong tâm, tụng từng chữ từng tiếng Chân ngôn, phát huy gia trì tam mật và sự diệu dụng của 4 trí thì ánh sáng của đức Đại nhật sẽ chiếu soi khắp pháp giới, các vị tôn của Ngũ bộ, Tam bộ đều hiển hiện, trụ trong Tam muội này thì tất cả đức dụng bất khả tư nghị đều đầy đủ trong thân tâm, biết ngay nơi thân này là thể của Đại nhật, đó là Tam ma địa bồ đề tâm. [X. Bồ đề tâm luận khám văn Q.thượng; Giáo thời vấn đáp Q.3, 4; Đại nhật kinh sớ trụ tâm sao Q.6]. (xt. Bồ Đề Tâm). II. Tam Chủng Bồ Đề Tâm. Chỉ cho 3 thứ tâm bồ đề được nêutrong luận Đại thừa khởi tín, đó là: 1. Trực tâm: Tâm thường ngay thẳng, không nịnh hót quanh co, thực hành chính pháp, đó chính là tâm bồ đề. 2. Thâm tâm: Đối với chính pháp, sinh tâm tin sâu và thích tu tất cả thiện hạnh. 3. Đại bi tâm: Thương xót tất cả chúng sinh chịu khổ, thường nghĩ đến việc cứu giúp khiến họ được yên vui.

tam chủng chí giáo

(三種至教) Chỉ cho 3 thứ giáo rất lớn nói trong luận Hiển dương thánh giáo quyển 11: 1. Thánh ngôn sở nhiếp: Đối với chính pháp, thánh chế do đức Như lai và các đệ tử của ngài nói ra, người tu hành nên tuân thủ, tin hiểu, tu tập, không được trái vượt. 2. Đối trị tạp nhiễm: Người tu hành làm điều thiện, bỏ các ác phải có pháp đối trị, như tâm tán loạn thì đối trị bằng thiền định, tâm tham nhiễm thì đối trị bằng bất tịnh quán, như thế thì dứt vọng về chân, được vào chính đạo. 3. Bất vi pháp tướng: Người tu hành phải tuân thủ pháp tướng của chính giáo do đức Như lai nói ra, tư duy và tu hành đúng như lí, 1 lòng tinh tiến, không dám trái vượt.

tam chủng chấp thủ

See Tam Chấp Thủ.

tam chủng chỉ quán

Ba loại chỉ quán—Three modes of entering dhyana (three methods of attaining abstraction): 1) Tiệm Thứ Chỉ Quán: Trước cạn sau sâu, trước đơn giản sau phức tạp, chẳng hạn như trụ tâm tại đỉnh mũi hay rốn, vân vân—Gradual, from the shallow to the deep, from the simple to the complex, such as fixing the mind on the nose, or navel, etc. 2) Bất Định Chỉ Quán: Đơn giản và phức tạp dung hòa lẫn nhau, chẳng hạn như ngừng sự suy nghĩ khi nó vừa khởi lên—Irregular, simple and complex mixed, such as stopping every thought as it arises. 3) Viên Đốn Chỉ Quán: Tức thì và toàn diện, nghĩa là trước và sau không khác, trụ tư tưởng vào chỗ không có gì tự hiện hữu, mà hiện hữu do nhân từ trước—Immediate and whole, such as dwelling on the thought that nothing exists of itself, but from a preceding cause. ; (三種止觀) Gọi tắt: Tam chỉ quán. Chỉ cho Tiệm thứ chỉ quán, Bất định chỉ quán và Viên đốn chỉ quán do tông Thiên thai thành lập. Đó là: 1. Tiệm thứ chỉ quán(gọi tắt: Tiệm thứ quán): Pháp quán trước cạn sau sâu dần, giống như bước lên thang lầu từ thấp đến cao. Đầu tiên là giữ giới, đạt được 3 đường thiện; kế đến là tu thiền định, dứt dục phá lưới Dục giới, đạt được Sắc định và Vô sắc định; kế nữa là tu vô lậu, ra khỏi ngục 3 cõi, đạt được đạo Niết bàn; lại tu từ bi, ngăn dứt việc tự chứng, đạt được đạo Bồ tát; sau đó, dần dần quán thực tướng, ngăn dứt thiên chấp 2 bên, đạt được đạo thường trụ. Đây chính là tướng của Tiệm thứ chỉ quán, các pháp môn này có năng lực khiến cho hành giả thấy được tính Phật, trụ Đại niết bàn. 2. Bất định chỉ quán: Pháp quán chẳng phải trước quán thực tướng, cũng chẳng phải theo thứ tự từ cạn đến sâu, mà là trước sau thay đổi nhau. Như đặt viên kim cương dưới ánh mặt trời thì hiện ra nhiều màu sắc bất định. Đây là giai vị không phân biệt, tùy theo căn cơ của chúng sinh mà thực hành pháp trước cạn sau sâu, hoặc trước sâu sau cạn, hoặc cạn sâu, sự lí, tiệm đốn bất định... để thành tựu pháp quán thực tướng. Tức chỉ cho thế giới là Đệ nhất nghĩa, hoặc chỉ cho Đệ nhất nghĩa là vị nhân đối trị; hoặc dứt Quán là Chỉ, hoặc chiếu Chỉ là Quán, cho nên gọi là Bất định chỉ quán. Đây là nhờ đã trồng căn lành từ nơi các đức Phật quá khứ, nên nay tu chứng Thập nhị môn, hoát nhiên khai ngộ mà được Vô sinh nhẫn. 3. Viên đốn chỉ quán: Vừa mới phát tâm liền quán thực tướng. Quán trong pháp giới nhất sắc nhất hương đều là Trung đạo, cõi mình, cõi Phật và cõi chúng sinh cũng thế, cho nên vô minh trần lao chính là bồ đề, không có Tập đế để đoạn; biên, tà đều là Trung, chẳng có Đạo đế để tu; sinh tử tức niết bàn, không có Diệt đế để chứng. Giống như người có thần thông bay lên hư không, mới duyên theo thực tướng mà hành, giải đều viên đốn. Đây là dùng pháp tính tịch nhiên mà tu 4 thứ Tam muội, thực hành 8 chính đạo, tuy có trước sau nhưng thực không hai không khác, cho nên ở nơi đạo tràng mà mở ra tri kiến Phật, được Vô sinh nhẫn.[X. Ma ha chỉ quán Q.1, thượng; Pháp hoa huyền nghĩa Q.10, thượng; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.10, thượng]. (xt. Bất Định Chỉ Quán, Chỉ Quán, Viên Đốn Chỉ quán, Tiệm Thứ Chỉ Quán).

tam chủng chứng tướng

(三種證相) Ba loại tướng chứng thấy. Cứ theo Pháp hoa sám nghi thì hành giả thuộc 3 căn thượng, trung, hạ tu tập tam muội Pháp hoa, trong 21 ngày, nhất tâm tinh tiến, nhưng vì căn tính khác nhau nên tướng chứng thấy không giống nhau, được biểu hiện qua 3 tướng như sau:1. Hạ căn chứng tướng: Chỉ cho người tu hành thuộc hạ căn, trong 21 ngày, đạt được giới căn thanh tịnh, được chia làm 3 phẩm: a) Tướng hạ phẩm giới căn thanh tịnh dần dần: Trong 21 ngày, hoặc đạt được mộng lành linh dị, hoặc có cảm giác các căn trong sáng, 4 đại nhẹ nhàng, tâm đạo phát khởi mạnh mẽ. b) Tướng trung phẩm giới căn thanh tịnh: Trong 21 ngày, khi hành đạo, tọa thiền chợt thấy các màu sắc trong sạch, sáng đẹp như hoa, nghe mùi hương mầu nhiệm và âm thanh vi diệu khen ngợi, thân tâm vui mừng, được pháp hỉ lạc. c) Tướng thượng phẩm giới căn thanh tịnh: Trong 21 ngày, thân tâm vắng lặng, hoặc tự thấy thân mình mặc áo pháp thanh tịnh, uy nghi tề chỉnh, thân tướng đoan nghiêm, lòng tin khơi mở, được pháp hỉ lạc, không còn sợ hãi. 2. Trung căn chứng tướng: Chỉ cho tướng chứng thấy của hành giả thuộc trung căn, cũng có 3 phẩm khác nhau: a) Tướng hạ phẩm định căn thanh tịnh: Trong lúc ngồi thiền, chợt có cảm giác thân tâm vắng lặng, phát được các thiền định, giác và quán rõ ràng, hỉ và lạc 1 tâm. b) Tướng trung phẩm định căn thanh tịnh: Trong khi tọa thiền thân tâm an định, cảm biết hơi thở dài ngắn nhỏ nhiệm ra vào trong các lỗ chân lông khắp trên thân không ngăn ngại, hoặc thấy các tướng bất tịnh của tự thân, nhân đó phát ra thiền định, thân tâm khoái lạc, lặng lẽ chính thụ. c) Tướng thượng phẩm định căn thanh tịnh: Lúc tọa thiền, thân tâm an tĩnh, duyên theo thân 5 ấm của mình liền cảm biết vô thường, khổ, không, mộng huyễn không thật, cho đến biết tất cả các pháp chẳng sinh chẳng diệt, tịch lặng vô vi, chán xa thế gian, dứt bặt phiền não. 3. Thượng căn chứng tướng: Chỉ cho tướng chứng biết của hành giả thuộc thượng căn. Cũng có 3 phẩm khác nhau: a) Tướng hạ phẩm chứng biết tuệ căn: Trong lúc đi lại, ngồi thiền hay tụng niệm, chợt có cảm giác thân tâm như mây như bóng, mộng huyễn không thật, nhân đó mà tâm tỉnh giác, phát sinh trí tuệ, rõ suốt các pháp, không bị ngăn ngại, đối với các kinh luận, theo nghĩa mà giải thích, vấn nạn không bị trở ngại. b) Tướng trung phẩm chứng biết tuệ căn: Trong khi đi lại, ngồi thiền hay tụng niệm, thân tâm vắng lặng, giống như hư không, trụ trong chính tuệ, trước mặt thấy bồ tát Phổ hiền và vô lượng Bồ tát khác tự vây quanh, đều hiện ở trước mặt mình, lúc đó được đại trí tuệ, thông suốt diệu nghĩa của các pháp do chư Phật nói, giảng thuyết vô cùng tận. c) Tướng thượng phẩm chứng biết tuệ căn: Trong lúc đi lại, tọa thiền hoặc tụng niệm, thân tâm hoát nhiên thanh tịnh, thâm nhập thiền định, giác tuệ rõ ràng, được tổng trì vô ngại, chứng lục căn thanh tịnh, khơi mở tri kiến Phật, nhập vào ngôivị Bồ tát.

tam chủng cúng dường

Ba loại cúng dường—The three kinds of offerings—See Tam Cúng Dường.

tam chủng cảnh a lại da thức

See A Lại Da Thức Tam Chủng Cảnh.

tam chủng diệt

(三種滅) I. Tam Chủng Diệt. Ba thứ diệt của các pháp Hữu vi và Vô vi: Trạch diệt, Phi trạch diệt, Vô thường diệt.1. Trạch diệt: Sự tịch diệt lìa tất cả phiền não ràng buộc. 2. Phi trạch diệt: Sự tịch diệt không lìa tất cả phiền não ràng buộc. 3. Vô thường diệt: Các hành tam hoại phá diệt. Trong 3 thứ tịch diệt trên đây, Trạch diệt và Phi trạch diệt thuộc về pháp Vô vi, còn Vô thường diệt thì thuộc về pháp Hữu vi. X. luận Đại tì bà sa Q.31]. (xt. Phi Trạch Diệt Vô Vi, Trạch Diệt). II. Tam Chủng Diệt. Ba thứ diệt của pháp Hữu vi: Niệm niệm diệt, Tương vi diệt và Vô dư diệt. 1. Niệm niệm diệt: Sự hoại diệt của tất cả pháp hữu vi trong từng sát na. 2. Tương vi diệt: Tính chất của sự phá diệt tương tục giữa các sát na trước sau trái nhau. 3. Vô dư diệt: Như sự diệt tắt của lửa đèn, sau khi diệt không còn gì sót lại. Ba thứ diệt trước đây đồng nghĩa với 3 thứ Vô thường nói trong luận Thuận trung quyển hạ là Niệm niệm hoại diệt vô thường, Hòa hợp li tán vô thường và Tất cánh như thị vô thường. III. Tam Chủng Diệt. Ba phương thức đoạn diệt phiền não, đó là: 1. Vị hữu diệt: Phiền não chưa sinh khởi thì không để cho nó sinh khởi. 2. Phục li diệt: Phiền não đã sinh khởi, nhờ ở đạo thế, xuất thế mà hiện thời không khởi.3. Vĩnh li diệt: Phiền não đã nép phục, không sinh khởi, xa lìa nhân diệt, diệt mãi không còn, cho nên trong vị lai chắc chắn sẽ không sinh khởi lại. [X. luận Tứ đế Q.3]. IV. Tam Chủng Diệt. Ba loại Diệt đế được nêu trong luận Thành duy thức quyển 8 và trong Thành duy thức luận thuật kí quyển 9, phần đầu. 1. Tự tính diệt: Chỉ cho tính Biến kế sở chấp. Diệt có nghĩa là không sinh, bởi vì tự tính không sinh nên giả gọi là Diệt. 2. Nhị thủ diệt: Chỉ cho tính Y tha khởi. Nhị thủ là Năng thủ, Sở thủ. Bởi vì tướng của Năng thủ, Sở thủ vốn không sinh nên gọi là Nhị thủ diệt. 3. Bản tính diệt: Chỉ cho Chân như. Bởi vì thể của Chân như xưa nay vốn vắng lặng, cho nên gọi là Bản tính diệt. X. luận Biện trung biên Q.trung; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.6, phần cuối; Thành duy thức luận đồng học sao Q.85].

Tam chủng duyên

三種縁; C: sānzhǒngyuàn; J: sanshuen;|Tam duyên.

Tam chủng duyên sinh

三種縁生; C: sānzhǒng yuànshēng; J: sanshu enshō;|Ba loại nhân duyên, nguyên do của một sự tái sinh: 1. Cùng sinh tử duyên sinh (窮生死縁生): nhân do đã đến giới hạn của sinh tử; 2. Ái phi ái đạo duyên sinh (愛非愛道縁生): nhân do không còn luyến ái và cũng không không luyến ái và 3. Thụ dụng duyên sinh (受用縁生): Đã đạt được một thân hưởng thụ (Thụ dụng thân; theo Nhiếp đại thừa luận 攝大乘論).

tam chủng dục

Three kinds of desire—See Tam dục.

tam chủng giáo tướng

See Tam Giáo Tướng. ; (三種教相) I. Tam Chủng Giáo Tướng. Cũng gọi Giáo tướng tam ý. Ba sự sai khác về mặt giáo tướng giữa kinh Pháp hoa và các kinh trướcPháp hoa.1. Căn tính dung bất dung tướng: Tức phán giáo Năm thời Tám giáo. Bốn thời (thời Hoa nghiêm, thời A hàm, thời Phương đẳng, thời Bát nhã) trước Pháp hoa là dùng 4 giáo Hóa nghi và Hóa pháp để giáo hóa hàng Nhị thừa, Tam thừa, Ngũ thừa căn tính chưa thuần thục. Trong 4 giáo Hóa pháp tuy có Viên giáo nhưng chỉ có Pháp khai hội(nghĩa là tất cả giáo pháp đều tương đồng nhất trí) chứ không có Nhân khai hội (nghĩa là loại bỏ sự khác nhau giữa Tam thừa, vì mọi người đều có khả năng thành Phật). Những người được Pháp hoa giáo hóa là những căn cơ Nhất Phật thừa, căn tính thuần thục, pháp năng hóa thì đủ cả Pháp khai hội và Nhân khai hội, tức là mở bày Viên giáo thuần tuý vi diệu. 2. Hóa đạo thủy chung bất thủy chung tướng: Các giáo khác ứng theo căn cơ làm lợi ích chúng sinh, không nói đến ý nghĩa giáo hóa bằng cách đưa Quyền về thực của Như lai. Còn Pháp hoa thì nói rõ bản ý thiết lập giáo pháp của Phật là khéo léo vì các căn cơ của chúng sinh mà gieo các chủng tử Đốn, Tiệm, Bất định, Hiển, Mật... sau đó dùng các giáo pháp này mà điều phục, trưởng dưỡng và làm cho họ thuần thục, cuối cùng là độ thoát họ. Đủ biết việc thiết lập giáo pháp của đức Phật có 3 giai đoạn lợi ích: Chủng, Thục, và Thoát. 3. Sư đệ viễn cận bất viễn cận tướng: Các kinh khác đều nói rằng khi Phật thành đạo ở gốc cây Bồ đề thì Thực trí mới tròn đủ, mới thi thiết Quyền trí, các đệ tử Nhị thừa không vào được Thực trí thì cũng không thi thiết được Quyền trí. Còn kinh Pháp hoa thì cho rằng trước khi Phật ngồi dưới gốc cây Bồ đề, Ngài đã thành Phật từ lâu, đã đầy đủ cả hai trí Quyền và Thực; vả lại, các đệ tử cũng đã vào Thực trí rất lâu, cũng đã hiểu Quyền trí và thực hành rồi, cho nên, thầy và đệ tử đều đã có Quyền và Thực trí từ lâu xa trước khi Phật ngồi ở gốc cây Bồ đề. Trong 3 loại giáo tướng trên đây, ngài Trí khải thường dùng cách phán giáo thứ nhất, ngài Kinh khê Trạm nhiên, ngài Tối trừng(người Nhật bản)thường dùng cách phán giáo thứ hai, ngài Nhật liên(Tổ của tông Nhật liên, Nhật bản) thì thường dùng cách phán giáo thứ ba. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.1, thượng; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1]. II. Tam Chủng Giáo Tướng. Chỉ cho 3 thứ giáo tướng thường được các Luận sư phương Nam sử dụng. 1. Đốn giáo: Giáo pháp Hoa nghiêm dùng để giáo hóa hàng Bồ tát, như mặt trời chiếu trên núi cao, nên gọi là Đốn giáo.2. Tiệm giáo: Lại chia làm Hữu tướng giáo và Vô tướng giáo. Tam tạng giáo(Tiểu thừa giáo) để hóa độ Tiểu thừa, trước dạy Bán tự giáo, gọi là Hữu tướng giáo. Sau khi thành Phật được 12 năm, đức Thế tôn vì hàng Đại thừa mà nói 5 thời Bát nhã cho đến thường trụ, gọi là Vô tướng giáo. Hữu tướng, Vô tướng đều thuộc về Tiệmgiáo.3. Bất định giáo: Như các kinh Thắng man, Kim quang... chẳng phải đốn, chẳng phải tiệm, nói rõ về Phật tính thường trụ, cho nên gọi là Thiên phương bất định giáo.[X. Nhân vương bát nhã kinh sớ Q.thượng, phần 1; Pháp hoa huyền nghĩa Q.10, thượng].

tam chủng hiện hữu

Theo quan niệm Phật Giáo, vạn hữu sinh khởi do tâm, và chỉ có tâm mà thôi. Nhứt là trong học thức “Duy Thức,” cái mà chúng ta gọi là hiện hữu nó tiến hành từ thức mà ra. Theo Duy Thức Tông, mọi vật hiện hữu được xếp tùy theo bản tánh của nó vào ba loại—According to the Buddhist idea, all things are born from mind and consist of mind only. Especially in the idealistic theory, what we generally call existence proceeds from consciousness. According to the Mind-Only School, everything that exists is classified as to the nature of its origin into three species: 1) Vọng Hữu Tánh: Parikalpita-laksana (skt)—Còn được gọi là “Biến Kế Sở Chấp Tánh.” Những hiện hữu không thật vốn đồng thời không có một bản thể, như ma quỷ chỉ hiện hữu trong sự tưởng tượng của con người chứ không có trong thực tại—False existence, also called “Character of Sole Imagination.” Those of false existence which are at the same time bereft of an original substance (adravya), just like a ghost that exists merely in one's imagination but not in reality. 2) Giả Hữu Tánh: Paratantra-laksana (skt)—Còn được gọi là “Y Tha Khởi Tánh.” Những hữu thể giả tạm hay nhất thời không có tánh thường tại, như căn nhà được dựng bằng gỗ, gạch, ngói, vân vân. Nó chỉ hiện hữu bằng một tràng tổng hợp những nhân duyên và không tự hữu. Nó không có thực tại thường tồn—Temporary or transitory existence, also called “Character of Dependence upon others.” Those of temporary or transitory existence, having no permanent character (asvabhava), like a house that is built by timbers, stones, tiles, etc. It exists only by a combination of causes or causal combination, and is not self-existent. It has no permanent reality. 3) Chân Hữu Tánh: Parinispanna-laksana (skt)—Còn được gọi là “Viên Thành Thật Tánh.” Những hữu thể chân thật, nghĩa là phi hữu trong ý nghĩa cao nhất của danh từ nầy, xa lìa tất cả tướng không thật và giả tạm hay vô tướng. Sự thực, cái nầy không phải là phi hữu mà là hiện hữu siêu việt. Tánh nầy còn được gọi là “Bản Thể của tất cả” và chỉ có những người có trí tuệ siêu việt mới thấu hiểu nó được. Tánh nầy tiêu biểu những gì còn sót lại sau khi hai tánh trước đã bị loại bỏ—True existence, also called “Character of Ultimate Reality.” Those of true existence, that is to say, non-existent in the highest sense of the word, bereft of all false and temporary nature (alaksana). This is, in truth, not non-existence but transcendental existence. This is also called the “Substratum of all” and can be known only by a person of supreme knowledge. It represents merely the remainder after the elimination of the first two.

Tam chủng huân tập

三種熏習 (薰) 習; C: sānzhǒng xūnxí; J: sanshu kunshū;|Ba loại Huân tập (chữ Huân cũng được viết 熏 thay vì 薰): I. 1. Danh ngôn huân tập (名言薫習): Sự huân tập của danh ngôn; 2. Sắc thức huân tập (色識薫習), huân tập của sắc thức và 3. Phiền não huân tập (煩惱薫習), sự huân tập của những loại phiền não. II. 1. Huân tập của ngôn thuyết (言説); 2. Huân tập của Ngã kiến (我見) và 3. Huân tập có liên hệ đến sự tồn tại của chính mình (有分), tỉ như ở trong một trong Tam giới hoặc Lục thú (theo Nhiếp đại thừa luận 攝大乘論).

tam chủng huân tập

(三種熏習) I. Tam Chủng Huân Tập. Chỉ cho 3 thứ tập khí: Danh ngôn tập khí, Ngã chấp tập khí và Hữu chi tập khí.[X. luận Nhiếp đại thừa Q.thượng (bản dịch đời Đường)]. (xt. Tam Chủng Tập Khí).II. Tam Chủng Huân Tập. Ba thứ huân tập. Huân là xông ướp (như ướp trà bằng các loại hoa); Tập là tập tành luôn thành thói quen, như ướp trà bằng nhị sen, lâu ngày trà có mùi sen. Ba thứ huân tập là: 1. Danh ngôn huân tập: Danh là danh tự; Ngôn là ngôn thuyết. Thức phân biệt danh tự và ngôn thuyết này chính là Ý thức thứ 6, do thức Mạt na thứ 7 truyền tống vào huân tập thức Chủng tử thứ 8, tạo thành tướng phần nhiễm ô, vì thế gọi là Danh ngôn huân tập. 2. Sắc thức huân tập: Sắc là các sắc này dẫn sinh ra nhãn thức, gọi là Sắc thức. Phân biệt các sắc này chính là Ý thức thứ 6, cũng do thức Mạt na thứ 7 truyền tống vào để huân tập trong thức Chủng tử thứ 8 mà tạo thành tướng phần nhiễm ô, nên gọi là Sắc thức huân tập. 3. Phiền não huân tập: Chỉ cho các phiền não tham, sân, tà kiến... Các phiền não này là do Ý thức thứ 6 khởi động rồi do thức Mạt na thứ 7 truyền tống vào để huân tập trong thức Chủng tử thứ 8 mà tạo thành tướng phần nhiễm ô, cho nên gọi là Phiền não huân tập. [X. Hoa nghiêm kinh Khổng mục chương Q.3].

tam chủng hành nghi

(三種行儀) Chỉ cho 3 nghi thức niệm Phật: Tầm thường hành nghi, Biệt thời hành nghi, và Lâm chung hành nghi. Ba nghi thức này do vị tăng người Nhật bản là ngài Biện a căn cứ vào thuyết của các ngài Thiện đạo (Trung quốc)và Nguyên tín(Nhật bản) mà lập ra. Cứ theo Mạt đại niệm Phật thụ thủ ấn của ngài Biện a thì Tầm thường hành nghi không câu nệ nơi chốn, thân thể, y phục, thức ăn uống tịnh hay bất tịnh, cũng không kể thời gianlâu mau hoặc lúc đi, đứng, ngồi, nằm... đều có thể niệm Phật. Biệt thời hành nghi thì phải chú trọng đến sự thanh tịnh của đạo tràng, thân thể, y phục... phải thường đứng, thường ngồi, thường ăn 1 bữa, không ăn thịt, hành tỏi... và không uống rượu, dốc lòng niệm Phật từ 1 ngày đến 10 ngày. Còn Lâm chung hành nghi thì cũng giống như Biệt thời hành nghi.

tam chủng hương

Ba loại nhang—Three kinds of scents or incense. 1) Nhang làm bằng cành cây: Incense made from branches. 2) Nhang làm bằng rễ cây: Incense made from roots. 3) Nhang làm bằng bông: Incense made from flower). ; (三種香) Chỉ cho 3 thứ hương ở thế gian được làm bằng rễ, cành và hoa của cây. Cứ theo kinh Giới đức hương thì người ta chỉ ngửi thấy mùi thơm của 3 thứ hương này khi thuận gió, còn nếu ngược gió thì không ngửi thấy. Ngài A nan tự nghĩ muốn tìm loại hương thù thắng hơn 3 thứ hương này, có thể bay ngược chiều gió mà lan tỏa khắp 10 phương, Ngài bèn thỉnh ý đức Phật. Phật liền dạy: Nếu giữ gìn 5 giới, làm 10 điều thiện, kính thờ Tam bảo, nhân từ đạo đức, không phạm uy nghi... thì hương giới của các việc ấy lan tỏa khắp 10 phương mà không phụ thuộc vào gió có hay không, xuôi hay ngược; hương giới ấy thanh tịnh nhất, không 1 loại hương thế gian nào có thể sánh được. (xt. Giới Hương).

tam chủng hữu

Three kinds of existence—See Tam Hữu. ; (三種有) Chỉ cho 3 thứ pháp tồn tại. 1. Tương đãi hữu: Như đối với dài mà có ngắn, đối với ngắn mà có dài; đối với cảnh mà có tâm, đối với tâm mà có cảnh. Lại như nặng nhẹ, đây kia, lớn nhỏ, cao thấp...cũng thế. 2. Giả danh hữu: Mượn nhiều thứ tập hợp lại thành 1 vật, như mượn 4 đại hòa hợp thành thân người, có cái tên giả mà không có thể thực. 3. Pháp hữu: Tất cả pháp do nhân duyên sinh ra, tuy không có tự tính, nhưng cũng chẳng như lông rùa, sừng thỏ hữu danh vô thực, cho nên gọi là Pháp hữu. [X. luận Đại trí độ Q.12; Đại minh tam tạng pháp số Q.13].

tam chủng khổ

xem ba loại khổ.

tam chủng kiến hoặc

Ba loại kiến hoặc—Three classes of delusive views or delusions: 1) Thường hoặc: Nghi hoặc thông thường—Common delusions to humanity. 2) Tụ hoặc: Trong khi tu tập thấy những điều nghi hoặc—Delusions of the inquiring mind. 3) Thông thái hoặc: Nghi hoặc của những học giả thông thái—Delusions of the learned and settled mind.

tam chủng kỳ đặc sự

(三種奇特事) Ba việc đặc biệt kì lạ. Cứ theo kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 4 thì Phật có 3 việc đặc biệt kì lạ, đó là: 1. Thần thông kì đặc: Phật khéo thích ứng với mọi căn cơ, hiện đại thần thông không thể nghĩ bàn, khiến tất cả chúng sinh và các tà ma ngoại đạo đều quay về với chính pháp. 2. Tuệ tâm kì đặc: Tâm trí tuệ của đức Phật sáng tỏ vắng lặng, soi rõ tất cả các pháp, thành tựu Nhất thiết chủng trí. 3. Nhiếp thụ kì đặc: Phật khéo biết các căn lợi độn của chúng sinh, mở đường giáo hóa, khiến họ đều nghe chính pháp, tiến tu các hạnh, ra khỏi sinh tử.

tam chủng luật nghi

(三種律儀) Ba loại luật nghi. Thuyết nhất thiết hữu bộ chia luật nghi (tức phòng hộ) làm 3 loại: 1. Biệt giải thoát luật nghi: (Phạm: Pràtimokwa-saôvara, cũng gọi Biệt giải thoát giới): Tức Dục triền giới, là những giới điều mà 8 chúng phải thụ trì. 2. Tĩnh lự sinh luật nghi: (Phạm: Dhyàna-saôvara, cũng gọi Tĩnh lự luật nghi hoặc Định cộng giới): Tức Sắc triền giới, là luật nghi do tĩnh lự sinh ra. 3. Đạo sinh luật nghi (Phạm: Anàsvara-saôvara, cũng gọi Vô lậu luật nghi hoặc Đạo cộng giới): Là luật nghi của các Thánh nhân thành tựu. Ba loại luật nghi trên, nếu thêm Đoạn luật nghi nữa thì thành là Tứ chủng luật nghi, cũng gọi Tứ giới. [X. luận Đại tì bà sa Q.119; luận Câu xá Q.14; luận Thuận chính lí Q.36]. (xt. Biệt Giải Thoát Luật Nghi, Giới, Vô Lậu Luật Nghi, Tĩnh Lự Luật Nghi).

tam chủng lạc sanh

Theo Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, có ba loại lạc sanh—According to The Long Discourses of the Buddha, Sangiti Sutra, there are three kinds of happy rebirths. 1) Có những loài hữu tình trong quá khứ luôn luôn tạo ra thiền định lạc hay sống trong sự an lạc, như các vị Phạm Chúng Thiên: There are beings who continually produced happiness now dwell in happiness, such as the devas of the Brahma group. 2) Có những loài hữu tình thấm nhuần, biến mãn, sung mãn, hưng thịnh với an lạc. Thỉnh thoảng họ thốt ra những câu cảm hứng 'Ôi an lạc thay,' như chư Quang Âm Thiên: There are beings who are overflowing with happiness, drenched with it, full of it, immersed in it, so that they occasionally exclaim 'oh what bliss' such as the Radiant Devas. 3) Có những loại hữu tình thấm nhuấn, biến mãn, sung mãn, hưng thịnh với an lạc. Họ sống mãn túc với an lạc ấy, cảm thọ an lạc, như chư Biến Tịnh Thiên: There are beings who are overflowing with happiness, drenched with it, full of it, immersed in happiness, who supremely blissful, experience only perfect happiness, such as the Lustrous Devas.

tam chủng lễ phật

(三種禮佛) Ba hình thức lễ Phật. 1. Thành quá lễ: Lúc lễ Phật, uy nghi của thân không nghiêm chính, tương ứng với khinh mạn mà thành ra lỗi lầm. 2. Tương tự lễ: Lúc lễ Phật, uy nghi của thân tuy có vẻ đoan chính, nhưng lại tương ứng với cảm giác tạp nhiễm. 3. Thuận thực lễ: Lúc lễ Phật, uy nghi của thân đoan chính, tương ứng với chính trí, thuận theo thực lí. [X.Hoa nghiêm khổng mục chương Q.1].

tam chủng ma

Three types of demons—“Ma” tiếng Phạn gọi là mara, Tàu dịch là “sát,” bởi nó hay cướp của công đức, giết hại mạng sống trí huệ của người tu. “Ma” cũng chỉ cho những duyên phá hoại làm hành giả thối thất đạo tâm, cuồng loạn mất chánh niệm, hoặc sanh tà kiến làm điều ác, rồi kết cuộc bị sa đọa. Những việc phát sanh công đức trí huệ, đưa loài hữu tình đến niết bàn, gọi là Phật sự. Các điều phá hoại căn lành, khiến cho chúng sanh chịu khổ đọa trong luân hồi sanh tử, gọi là ma sự. Người tu càng lâu, đạo càng cao, mới thấy rõ việc ma càng hung hiểm cường thạnh. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, ma tuy nhiều, nhưng cốt yếu chỉ có ba loại: phiền não ma, ngoại ma và Thiên ma—“Demons” are called “mara” in Sanskrit. In Chinese, the word has connotation of “murderer” because demons usually plunder the virtues and murder the wisdom-life of cultivators. “Demons” also represent the destructive conditions or influences that cause practitioners to retrogress in their cultivation. Demons can render cultivators insane, making them lose their right thought, develop erroneous views, commit evil karma and end up sunk in the lower realms. These activities which develop virtue and wisdom and lead sentient beings to Nirvana are called Buddha work. Those activities which destroy good roots, causing sentient beings to suffer and revolve in the cycle of Birth and Death, are called demonic actions. The longer the practitioner cultivates, and the higher his level of attainment, the more he discovers how wicked, cunning and powerful the demons are. According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism in Theory and Practice, although there are numerous demons, they can be divided into three types: demons of afflictions, external demons and celestial demons. 1) Phiền Não Ma: Demons of Afflictions. a) Phiền não ma chỉ cho các phiền não tham nhiễm, hờn giận, si mê, khinh mạn, nghi ngờ, ác kiến; cho đến các thứ ma ngũ ấm, lục nhập, mười hai xứ, mười tám giới. Loại ma nầy cũng gọi là nội ma, do lòng mê muội điên đảo sanh ra, nên phải dùng tâm chân chánh sáng suốt giác ngộ mà giải trừ. Phàm phu tự mình đã có những nghiệp riêng, lại do cộng nghiệp sống chung trong khung cảnh, mà người xung quanh phần nhiều tánh tình hiểm ác, nghiệp chướng sâu dầy, nên dễ động sanh phiền não. Có kẻ không chịu đựng nổi sự lôi cuốn của ngũ trần nên bị sa ngã. Có người vì nghịch cảnh, khiến cho bi thương sầu não, chí tiến thủ tiêu tan. Những sự việc nầy xui khiến người tu nhẹ thì ưu sầu, uất ức sanh đau bệnh; nặng thì chán nãn bỏ đạo, hoặc phẫn chí tự tận; nguy hại hơn nữa, tất đến chỗ đối với hàng xuất gia tại gia đều mất hết mỹ cảm, tránh xa chán ghét, sanh việc khinh rẽ chê bai, không tin nhân quả, làm điều ác, rồi phải đọa tam đồ—These demons represent the afflictions of greed, anger, resentment, delusion, contempt, doubt and wrong views. They also include the demons of the Five Skandas, the Six Entrances, the Twelve Sense Fields, and the Eighteen Elements. These demons are also called “internal” as they created by topsy-turvy, delusive states of mind. Therefore, they must be overcome by the bright, enlightened mind. The human mind is easily moved, developing afflictions not only because of personal karma but also because of the common karma of living in an environment filled, for the most part, with evil beings. Some persons cannot resist the attractions of the five Dusts and thus fall into evil ways. Others, encountering adverse conditions, grow sad and mournful and lose their determination to progress. Such developments depending on their severity, render the cultivator despondent , indignant and ill, or worse still, cause him to abandon the Buddhist Order or even to commit suicide out of despair. More harmful still, they can lead to loss of respect and good will toward other cultivators, sometimes even hatred and avoidance of clergy and lay people alike. Loss of faith in cause and effect, bad karma and finally, descent upon the three Evil Paths are the end result. b) Muốn đối trị thứ ma nầy, hành giả phải quán xét phiền não là hư huyễn, xao động, nóng bức, trói buộc, tối tăm, chỉ làm khổ cho người và mình. Dứt phiền não, ta sẽ trở về chân tâm tự tại giải thoát, mát lặng sáng trong, an vui mầu nhiệm. Đối với sự mê chấp từ năm ấm cho đến mười tám giới, cũng nên quán như thế—To counteract these demons, the practitioner should reflect that all afflictions are illusory, upsetting, suffocating, binding, evil and conducive only to suffering for both himself and others. To eliminate afflictions is to return to the True Mind, free and liberated, fresh and tranquil, bright and clear, happy and at peace, transcendental and wondrous. The cultivator should also meditate in the same way on all attachments, from the Five Skandas to the Eighteen Elements. • Trong Kinh Pháp Hoa, Đức Phật bảo: “Các ngươi chớ nên tham đắm sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, dù thô hay dù tế. Nếu mê đắm tham trước, Tất bị nó thiêu đốt: In the Lotus Sutra, Sakyamuni Buddha said: “You should not be greedy and attached to gross and vile forms, sound, smell, taste, touch and dharmas. If you do, they will burn you up.” • Khi xưa Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hỏi một vị Thiên nữ: “Ngươi xem mười tám giới như thế nào?” Thiên nữ đáp: “Như thấy kiếp lửa đốt thế gian!” Đây là những lời cảnh giác để phá trừ loại ma phiền não: Manjusri Bodhisattva once asked a female deity, “How do you see the Eighteen Elements?” The deity replied, “They are similar to the eonic fire burning up the whole world.” These are words of warning, reminding us to eliminate the demons of afflictions. • Phiền não ma hay nội ma, nếu không chế phục được, tất sẽ chiêu cảm đến ngoại ma ở ngoài đến phá. Lời xưa nói: “Trong cửa có tiểu nhơn, ngoài cửa tiểu nhơn đến. Trong cửa có quân tử, ngoài cửa quân tử đến.” Lại như khi ăn trộm đào ngách muốn vào nhà, gia chủ hay được tỏ ra bình tỉnh răn trách, tất nó phải sợ hãi bỏ đi. Nếu chủ nhà kinh sợ rối rít năn nỉ, đó chính là thái độ khuyên rước trộm vào nhà vậy: If the demons of afflictions or internal demons are not subdued, they will attract external demons which wreak havoc. The ancient have said: “If inside the door there are mean-spirited people, mean-spirited people will arrive at the door; if inside the door there are virtuous, superior people, noble superior people will arrive at the door.” As an example, when thieves try to enter a house through the side door, if the owner calmly scolds them in a loud voice, they will naturally be frightened and leave. If on the other hand, he is terrified and panic-stricken, and begs them to desist, he will unwittingly be inviting them into his house. 2) Ngoại Ma: External Demons—Ngoại ma là những loài ma quỷ thần yêu mị bên ngoài. Người tu khi có đôi chút công phu, liền bị nó đến thử thách phá khuấy. Loài nầy có thể chia thành ba hạng là bố ma, ái ma và não ma—External demons take the form of various spirits, ghosts and deities. Once the cultivator has reached a certain level of attainment, he will be subject to demonic disturbances which will put him to the test. External demons may be divided into three groups: a) Bố Ma: Terrorizing Demons—Bố ma là loài ma ưa khủng bố làm cho người kinh sợ. Thứ ma nầy thường hóa hình cọp, sói, rắn, rít, hoặc các loài thú hung dữ kỳ lạ, hay hình ác quỷ ghê rợn để dọa nhát người tu. Những hình tướng nầy biến huyễn vô cùng, hoặc không đầu, nhiều đầu, nhiều tay, nhiều mắt; hoặc mình người đầu thú, mình thú đầu người, hoặc cầm khí giới, hoặc phung lửa đỏ. Nếu hành giả kinh hãi, liền bị nó phá làm mất chánh niệm, lắm khi sanh điên cuồng. Gặp cảnh nầy, nên nghĩ các tướng đều giả dối, ma chỉ có thể hủy diệt huyễn thân chớ không thể phá hoại được chân tâm. Suy xét như thế rồi bình tĩnh không sợ chết, an nhiên chuyên tâm niệm Phật hoặc trì chú, nó sẽ tự rút lui—These are ghosts that like to frighten and terrorize people. They usually take the form of tigers, wolves, deadly serpents, poisonous snakes or other ferocious beasts or hallucinatory, diabolic apparitions to scare the cultivator. Their forms change ad infinitum. They may have no head or many heads, many hands, many eyes, or a half-human, half-bestial body. They may brandish weapons or spit fire. If the practitioner is frightened, he loses his right thought and often goes insane. Faced with these occurences, we should reflect that all forms and marks are illusory, and that demons can only destroy the illusory body, not the True Mind. Meditating this way, we should remain calm and unafraid of death, peacefully concentrating on Buddha or Mantra Recitation. The demons will then retrest of their own accord. b) Ái Ma: Demons of Lust and Attachment—Ái ma là loài ma khích động lòng ái dục cho đến tâm tham nhiễm cảnh ngũ trần. Chúng hóa hình nam, nữ lõa lồ xinh đẹp; hoặc hình cha mẹ anh em, kẻ thân mến, cho đến thân Phật, Bồ Tát tướng tốt trang nghiêm để khuyến dụ. Nếu người thích ăn ngon, chúng hóa sơn hào hải vị, hương thơm ngào ngạt đem dâng; người ưa bảo vật, chúng hiện hình thú lạ ngậm châu ngọc đến hiến tặng. Tùy tâm niệm hành giả ưa thích điều chi, chúng liền hiện ra thứ ấy. Chúng có thể dùng ma lực khiến cho người tu được tà định, tà trí, tài biện thuyết, phép thần thông biết quá khứ vị lai. Những kẻ không hiểu cho là đã chứng đạo quả, thảy đều tin phục; song kỳ thật người kia trong tâm điên đảo, chuyên làm phép quỷ mê hoặc thế gian—These are a type of demon which excites a range of emotions, from lust to delusive attachment to the realm of the five Dusts, i.e., this world. They take the appearance of alluring, nude men and women or of parents, siblings or close relatives, as well as of Buddhas and Bodhisattvas with beautiful, adorned features, in order to entice the practitioner. If he is fond of good food, these demons bring him succulent, fragrant dishes. If he likes diamonds or gold, they take the appearance of strange animals holding precious stones in their mouths as offerings. They cause whatever the practitioner desires to appear. They can also use their psychic power to lead him into evil samadhi, evil wisdom and eloquence, giving him the mystic power to know the past and the future. Those who do not understand will mistake these occurences for evidence that the practitioner has attained Enlightenment, and thus believe in and trust him. In reality, however, the cultivator's mind is upside down and he spends all his time engaging in errant, demonic practices to deceive others. • Có một nhà sư Việt Nam tu tại một ngôi chùa bỏ hoang bên Lào. Trong khi thiền định ông thấy một nhóm mỹ nhân lõa lồ, nắm tay nhau nhảy múa. Sư trấn định tâm không nổi, bèn thành khẩn niệm Phật, tướng ấy liền tan—Once there was a Vietnamese monk cultivating at a deserted temple in Laos. In one of his meditation sessions, he saw a group of beautiful, ethereal women, all naked, holding hands and dancing around. The monk, unable to calm his agitated mind, immediately recited the Buddha's name in all earnestness. Only then did this scene disappear. • Một câu chuyện khác—Another story—Khi xưa bên Trung Quốc có một vị sư đang tham thiền, nhân khi trời lạnh bụng đói, động niệm tưởng ăn; sư liền thấy một thiếu phụ bưng thức ăn đến cúng dường. Thiếu phụ quỳ xuống sớt đồ ăn vào bát, thỉnh sư nên dùng liền kẻo nguội mất ngon. Sư vì đói muốn thọ dụng ngay, nhưng nghĩ chưa đến giờ thọ trai, nên nhẫn nại bảo hãy tạm để một bên, chờ đúng giờ sẽ ăn. Thiếu phụ nghe nói, có vẻ hờn giận bỏ đi. Giây lâu sau đúng ngọ, sư giở bát ra thấy trong ấy toàn là dòi bò lúc nhúc. Chừng ấy ông mới tỉnh ngộ, biết vừa động sanh vọng niệm, liền rước lấy cảnh ma; may nhờ có chút định lực mới khỏi ăn đồ dơ và phạm giới sát—Once in China, there was a monk seated in meditation. Because he was cold and hungry, the thought of food arose in his mind. He suddenly saw a woman presenting him with an offering of food. The woman knelt, put food in his bowl, and respectfully asked him to eat immediately, before the food grew cold and lost all taste. The monk, being hungry wanted to eat at once but remembering that it was not yet noontime, he patiently told her to put the bowl aside for the time being. The woman left, appearing angry and upset. Some time later, at noon, he uncovered the bowl to discover that it was full of worms, crawling all around. He then understood that his false thought of food had attracted the demonic apparitions. Thanks to his self-restaint and power of concentration, however, limited, he avoided consuming the dirty food and violating the precept against killing. • Lại cũng một vị sư tu thiền trong núi, thấy mình lẻ loi cô quạnh, nên sanh vọng tưởng muốn được một ít người cùng ở chung cho vui. Vừa đâu có bà lão dẫn hai cô gái trẻ đẹp, bảo nhà ở dưới làng chân núi, tìm đến am tranh cầu xin dạy đạo. Vị Tăng ban đầu không nghi ngờ, liền thuyết pháp khai thị. Tới lui như thế lâu ngày, một hôm bà lão bạch sư xin cho hai cô gái làm thị giả lo việc giặt giủ cơm nước cho sư đỡ cực nhọc. Sư nghe nói thoáng sanh lòng nghi, liền nghiêm trách từ chối. Ba người tỏ vẻ hờn thẹn bỏ đi. Sư lén theo dõi qua một khúc quanh bỗng chợt mất bóng, sư đến xem thì đã cùn đường, lại không có nhà cửa chi cả, chỉ thấy ba gốc cổ thụ, một to hai nhỏ. Sư suy nghĩ biết đây là yêu tinh cổ thụ, muốn đem búa chặt đốn hoặc nổi lửa thiêu đốt để dứt trừ hậu hoạn. Vừa nghĩ đến đó bỗng thấy ba người hiện ra cầu sám hối và xin tha mạng. Thế mới biết tâm yên cảnh lặng, vọng khởi ma sanh, người tu phải ghi nhớ điều nầy—Yet another story concerns a Zen monk who practiced in a deserted mountain area. Lonely and isolated, he had a deluded thought, wishing to have some fellow-cultivators practicing along with him to make life more bearable. Immediately, an old woman appeared from nowhere, leading two beautiful young girls by the hand, who, she said, lived in the village down in the valley. They had come, they claimed , to seek guidance in the Way. The monk, unsuspicious, immediately gave a Dharma talk to the group. One day, after many such visits over a period of time, the old woman respectfully requested that the two girls be allowed to become attendants to the monk and relieve him of his daily chores. The monk, hearing this, became suspicious. He reprimanded the old woman severely and refused the offer. The three women left, apparently angry and ashamed. The monk, intrigued, followed them discreetly until they disappeared around a bend in the road. When he reached the spot, he found it was a dead end with no habitation or anything else around, except for three very old trees, one big tree and two small ones. He thought it over and realized that he had been tested . A fleeting thought occurred to him, that he should cut down the trees, start a bonfire, and burn them into ground. At that moment, the three women reappeared, repentant, begging him to forgive them and spare their lives. Therefore, the cultivator should remember: when the mind is still, all realms are calm; when delusion arises, demons are born. c) Não Ma: Nuisance Demons. • Não ma là loại ma chuyên phá rối, làm não loạn người tu. Có giống tinh mị mỗi loài đến theo giờ của nó, đại khái mỗi giờ có ba loài, mười hai giờ thành ba mươi sáu loài tinh thú. Như giờ Dần đến, tất là loài cọp, beo, gấu; giờ Mẹo đến là loài mèo, thỏ, cáo; giờ Thìn là loài, rồng, cá, thuồng luồng…Theo trong Tọa Thiền Chỉ Quán có thứ quỷ Du Lạp Kiết Chi, Tàu gọi là Đôi Dịch, đầu mặt như cây đàn tỳ bà, bốn mắt hai miệng, thường ưa khuấy động phá rối người tu. Chúng chờ khi người tu đang tụng niệm, hóa ra sâu trùng, hoặc bò lên khắp đầu mặt, hoặc chun vào miệng, lỗ mũi, mắt, lỗ tai; hoặc chui vào nách, bụng của hành giả mà cắn chích. Đôi khi chúng kêu vang vào lỗ tai, làm thành tiếng ồn ào, nhức óc; hoặc chợt ôm giữ người, quơ tìm thì không đụng thấy. Chúng còn hóa ra cảnh ngũ trần hoặc thuận, hoặc nghịch, hoặc không thuận nghịch, biến huyễn khôn lường, làm cho hành giả loạn động chẳng biết đâu mà nhận thức, dễ mất định tâm. Muốn đối trị với ba mươi sáu loài tinh thú, cứ theo giờ kêu tên của nó mà quở trách; với ma Đôi Dịch, nên tụng tam quy ngũ giới hoặc giới bổn, bởi chúng là thứ quỷ phạm tội phá giới. Làm như thế chúng liền ẩn mất. Hoặc cách đối trị tổng quát là nên nhiếp tâm vào chánh định, hay chuyên chỉ trì chú niệm Phật, chúng sẽ tan biến—This type of demon concentrates on harassing and disturbing the practitioner. There is a certain species of spirits and ghosts which can be subdivided into many types, each appearing at a fixed time of the day. In general, each hour has three types of spirits. For example, during the period between seven and nine in the morning, they take the appearance of dragons, fish, and serpent-like creatures. In his commentaries Samatha and Vipassana for Beginners, the Patriarch Chih-I mentioned a type of demon with a face like a pear-shaped lute, four eyes and two mouths, which enjoys disturbing cultivators. Waiting for the individual to begin to practice, it takes the form of worms or tiny insects and crawls all over his head and face, penetrates into his mouth, nose, eyes and ears, or goes under his armpits or belly to sting him. At other times it shouts loudly into the practitioner's ears, creating a great disturbance and giving him a headache; or it suddenly embraces him tightly. If the practitioner attempt to seize it in return, nothing is there. This type of nuisance demon also causes scenes of the five Dusts to appear, either favorable or unfavorable, or neither favorable nor unfavorable. Such transformations are countless and can cause the practitioner to become agitated. As he does not know what to make of all this, he loses his concentration. The general way to subdue these nuisance demons is to “gather” the mind in correct samadhi or diligently recite mantras or the Buddha's name, they will then all disappear. • Ngoại ma còn là những ma bàng môn tả đạo. Những vị kiếp trước hoặc kiếp nầy đã từng tu theo ngoại đạo, sau trở lại quy y Phật pháp; hoặc những vị tuy chỉ nương về Tam Bảo, nhưng xưa kia ông bà cha mẹ đều theo bàng môn tả đạo, thường hay bị ngoại ma phá rối. Bởi lối tu của ngoại đạo đều không rời phiền não hữu lậu, còn trong vòng tự cao chấp ngã, tham đắm quyền danh, nên hàng ngoại đạo hay quy tụ bè phái, không muốn cho người có ít nhiều liên hệ với phe mình tu theo đạo khác: External demons also include demons belonging to externalist cults and other false or quasi-Buddhist sects; or practitioners who have belonged to cults in this or previous lives but have now converted to Buddhism, as well as those who are themselves Buddhists but who come from families formerly active in other faiths and cults, tend to be bothered by external demons. This is because the cultivation methods of externalists are within the realm of worldly afflictions and are tainted with pride, ego attachment, power and fame. Therefore, they stick together and do not want people connected with them in some way to follow other teachings. 3) Thiên Ma: Celestial Demons. a) Thiên ma là loại ma ở cõi trời Tha Hóa Tự Tại, thuộc tầng thứ sáu của trời Lục Dục. Loại ma nầy có phước báo, hưởng sự vui mầu nhiệm cao tột của ngũ trần, cho đó là cảnh khoái lạc tuyệt đối, nắm quyền hạn về dục nhiễm, không muốn ai thoát khỏi phạm vi ấy. Khi hành giả đạt đến mức tu khá cao, tâm quang phát lộ, ánh sáng chiếu thấu lên cõi trời Tha Hóa làm cho cung điện ma rung động, chúng liền phát giác và vì sợ e có người giải thoát, quyến thuộc mình sẽ giảm bớt đi, nên tìm cách phá hoại. Chúng hiện ra nhiều cảnh, hoặc hăm dọa, hoặc khuyến dụ, hoặc giúp sức cho tà định tà trí cùng thần thông cốt để gạt gẫm; lại thay phiên nhau rình rập không giây phút nào rời để chờ cơ hội thuận tiện. Nếu hành giả có một niệm sơ hở, liền bị chúng ám nhập, xúi dục làm những điều trái đạo đức, đời tu kể như đã hư tàn: This refers to the type of demon that resides in the Sixth Heaven, also called the Heaven of Free Enjoyment of Others' Emanations. This type of demon possesses merits and blessings and enjoys the highest heavenly bliss in the Realm of desire, of which our world is but a small part. They then mistake such happiness and bliss as ultimate, and do not wish anyone to escape their influence. When a practitioner has attained a fairly high level of cultivation, his mind-light develops and shines up to the realm of the Sixth Heaven. It is then discovered by the celestial demons, who seek ways to sabotage his cultivation. Such action can take many forms, threatening or cajoling, or even helping the practitioner attain false samadhi “wisdom” and spiritual power, with the aim of ultimately deceiving him. These demons take turns watching the practitioner constantly and without interruption, waiting for the opportunity. If the practitioner has a delusive thought, they pounce on him or steer him toward things contrary to the Way. The practitioner's entire lifetime of cultivation is then over, for all practical purposes. b) Trong Đại Thừa Khởi Tín Luận, Mã Minh Bồ Tát đã từng khuyên dạy: “Trong khi hành giả tịnh tu, thường bị các thiên ma, ngoại đạo, hoặc quỷ thần làm não loạn. Chúng hiện các hình tướng ghê rợn để khủng bố, hoặc tướng nam nữ xinh đẹp để quyến rũ. Có khi chúng hiện thân Phật, Bồ Tát hay chư Thiên đẻ các tướng trang nghiêm; hoặc nói các môn đà la ni; hoặc nói pháp bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ; hoặc nói các pháp bình đẳng, không, vô tướng, vô nguyện, khen ngợi cảnh không oán không thân, không nhân không quả, cứu cánh rỗng không vắng lặng, bảo đó là chân niết bàn. Hoặc chúng làm cho hành giả biết đời trước của mình, suốt việc quá khứ vị lai, thấu rõ tâm niệm của mọi người, cho đến được biện tài vô ngại. Chúng khiến người tu tham luyến danh lợi thế gian, tánh tình thất thường, hay giận, hay cười, ưa ngủ, nhiều bệnh, dễ xót thương xúc cảm, có khi rất tinh tấn, lắm lúc lại trễ nải biếng nhác. Hoặc chúng xui hành giả sanh tâm nghi ngờ không tin, nhiều lo nghĩ, bỏ pháp tu căn bản trở lại tu các tạp hạnh, đắm nhiễm những việc triền phược ở thế gian. Hoặc chúng làm cho hành giả được một ít phần tương tợ như tam muội, có thể ở trong định từ một ngày cho tới bảy ngày, thân tâm an vui không biết đói khát; song đó là do sức tà chứng của ngoại đạo gia bị, không phải chân tam muội. Hoặc lại khiến cho hành giả ăn uống không chừng độ, khi nhiều khi ít, sắc mặt biến đổi luôn. Khi gặp những cảnh như trên, người tu phải dùng trí tuệ quán sát, gắng giữ chánh niệm, đừng sanh tâm chấp trước mà lạc vào lưới tà. Phải kiên trì như thế mới xa lìa được ma chướng.”—In the Awakening of Faith, the Patriarch Asvaghosha admonished: “There may be some disciples whose root of merit is not yet mature, whose control of mind is weak and whose power of application is limited, and yet who are sincere in their purpose to seek enlightenment, these for a time may beset and bewildered by maras and evil influences who are seeking to break down their good purpose. Such disciples, seeing seductive sights, attractive girls, strong young men, must constantly remind themselves that all such tempting and alluring things are mind-made; and, if they do this, their tempting power will disappear and they will no longer be annoyed. Or, if they have vision of heavenly gods and Bodhisattvas and Buddhas surrounded by celestial glories, they should remind themselves that those, too, are mind-made and unreal. Or, if they should be uplifted and excited by listening to mysterious Dharanis, to lectures upon the paramitas, to elucidations of the great principles of the Mahayana, they must remind themselves that these also are emptiness and mind-made, that in their essence they are Nirvana itself. Or, if they should have intimations within that they have atained transcendental powers, recalling past lives, or foreseeing future lives, or, reading others' thoughts, or freedom to visit other Buddha-lands, or great powers of eloquence, all of these may tempt them to become covetous for worldly power and riches and fame. Or, they may be tempted by extremes of emotion, at times angry, at other time joyous, or at times very kind-hearted and compassionate, at other times the very opposite, or at times alert and purposeful, at other times indolent and stupid, at times full of faith and zealous in their practice, at other times engrossed in other affairs and negligent. All of these will keep them vacillating, at times experiencing a kind of fictitious samadhi, such as the heretics boast of, but not the true samadhi. Or later, when they are quite advanced they become absorbed in trances for a day, or two, or even seven, not partaking of any food but upheld inward food of their spirit, being admired by their friends and feeling very comfortable and proud and complacent, and then later becoming very erratic, sometimes eating little, sometimes greedily, and the expression of their face constantly changing. Because of all such strange manifestations and developments in the course of their practices, disciples should be on their guard to keep the mind under constant control. They should neither grasp after nor become attached to the passing and unsubstantial things of the senses or concepts and moods of the mind. If they do this they will be able to keep far away from the hindrances of karma.” c) Kết lại, chỉ có hai loại ma là nội ma và ngoại ma; Thiên ma cũng thuộc về loài ngoại ma. Nhưng sở dĩ lập Thiên ma thành một loại riêng, là vì muốn cho hành giả lưu ý đến sự phá hoại nguy hiểm tinh vi của nó. Ngoài phiền não ma, ngoại ma, Thiên ma như trên, trong kinh còn nói đến bệnh ma và tử ma. Bởi cơn đau bệnh thường làm cho hành giả tiêu giảm công phu, lại tu chưa đến đâu rồi chết có thể khiến người thối thất đạo quả, nên mới gọi là ma. Nhưng bệnh ma và tử ma đại ý chí sự chướng ngại của bệnh và chết thuộc về thân tứ đại trên đường tu, không có tính cách phá hoại khuấy rối để giết hại đạo tâm theo đúng nghĩa của ma—In summary and as a further generalization, there are only two types of demon, internal and external. Celestial demons are within the category of external demons; however, we described them separately to alert the practitioner to the dangerous, subtle havoc they can cause. In addition to the demons of afflictions, external demons and celestial demons described above, Buddhist sutras also mention “disease demons” and the “demons of death.” For disease will usually wither the practitioner's efforts, while death in the midst of cultivation can make him retrogress. Thus, disease and death are called demons. In general, they represent obstacles to the way that affect the physical body, but they cannot harm and destroy the Bodhi-Mind in the true sense of the word “demon.” d) Sức tu của người thời nay phần nhiều bị phiền não ma hoặc ngoại ma phá hoại, chưa đủ để cho Thiên ma phải ra tay. Loại ma nầy chỉ đến với những vị tu cao. Nếu Thiên ma quyết phá, những vị sức tu tầm thường khó có hy vọng thoát khỏi. Trong Kinh Lăng Nghiêm, vì thương đường tu nhiều hiểm nạn, Đức Phật khuyên các hành giả tham thiền nên kiêm trì mật chú, để được nhờ thần lực gia hộ, thoát khỏi nạn ma thành tựu chánh định. Ấn Quang Đại Sư đã bảo: “Mới xem qua dường như Kinh Lăng Nghiêm khác quan điểm với Tịnh Độ, nhưng xét nghĩ sâu mới thấy kinh nầy vô hình đã khen ngợi tuyên dương Tịnh Độ. Tại sao thế? Bởi bậc đã chứng đệ tam Thánh quả A Na Hàm mà còn có thể bị ma cảnh làm cho thối đọa, thì sự niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ càng nổi bậc thêm tánh cách trọng yếu, trong ánh sáng nhiếp hộ của Đức A Di Đà không còn nạn ma nữa.”—Considering the level of cultivation of today's practitioners, they generally face harassment only from demons of afflictions or external demons. Such cultivators are not advanced enough to arouse opposition from celestial demons. However, should the latter set their minds to destroying someone, that person has little hope of escaping harm, unless his cultivation is examplary. In the Surangama Sutra, Sakyamuni Buddha, out of compassion for cultivators faced with many dangers along the Way, advised those who practiced meditation to recite mantras at the same time. This would enable them to rely on the power of the Buddhas to escape harm from demons and achieve correct samadhi. The Patriarch Yin Kuang once said: “At first glance, it would appear that the Surangama Sutra has a different viewpoint from Pure Land. However, upon closer scrutiny, that sutra, in its essence, actually praised and commended the Pure Land School. Why is this so? It is because, if even those who have attained the third level of sagehood can suffer retrogression caused by demons, we can see the crucial importance of Buddha Recitation and rebirth in the Pure Land: in the gathering and helping light of the Lord Amitabha Buddha, there is no more danger of demons. e) See Năm Điều Kiện Cần Thiết Để Thành Công Của Người Tu Thiền. f) Trong Đại Thừa Khởi Tín Luận, Mã Minh Bồ Tát sau khi kết hợp tổng quát về tinh yếu của pháp Đại Thừa, và trình bày xong đường lối tu tập, Ngài đã bảo: “Cõi Ta Bà phiền não cang cường, chánh tín khó vững, không thường được gặp Phật nghe pháp, đường tu nhiều hiểm nạn chướng duyên. Nên biết Đức Như Lai có phương tiện thù thắng, dạy cầu sanh về cõi Tịnh Độ ở Tây Phương. Như trong khế kinh nói 'nếu chuyên tâm niệm Phật A Di Đà, đem công đức tu hồi hướng cầu sanh Tây Phương, thì sẽ được về thế giới Cực Lạc, thường thấy Phật nghe pháp, không còn thối chuyển. Nếu hành giả y theo đường lối tu nầy, quyết định sẽ được vào chánh định tụ.”—In the Awakening of Faith, after summarizing the essential points of Mahayana doctrine and explaining the path of cultivation, the Patriarch Asvaghosha added: “Next, suppose there is a man who learn this teaching for the first time and wishes to seek the correct faith but lacks courage and strength. Because he lives in this world of suffering, he fears that he will not always be able to meet the Buddhas and honor them personally, and that faith being difficult to perfect, he will be inclined to fall back. He should know that the Tathagathas have an excellent expedient means by which they can protect his faith: that is, through the strength of wholehearted meditation-recitation on Amitabha Buddha, he will in fulfillment of his wishes be able to be born in the Buddha-land beyond, to see the Buddha always, and to be forever separated from the evil states of existence. It is as the sutra says, 'if a man meditates wholly on Amitabha Buddha in the world of the Western Paradise and wishes to be born in that world, directing all the goodness he has cultivated toward that goal, then he will be born there.' Because he will see the Buddha at all times, he will never fall back. If a cultivator follows this path, he will be able to be born there in the end because he abides in the correct samadhi.”

tam chủng nhân

Three kinds of people—See Nhị Chủng Nhân.

tam chủng nhân nan báo

(三種人難報) Ba hạng người khó báo đền ân đức. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 66 thì có 3 hạng người mà ân đức của họ đối với hữu tình rất khó báo đền. Đó là: 1. Người khuyên mình xuất gia: Nếu có người nói pháp cho mình nghe, khuyên mình xuất gia, cạo tóc nhuộm áo, đem tâm chính tín thụ trì tịnh giới, cho đến thành tựu bồ đề, thì ân đức của người ấy rất khó báo đền. 2. Người giúp mình biết rõ họa phiền não: Chúng sinh tích chứa phiền não hoặc nghiệp, chuốc lấy các khổ sinh tử; nếu có người nói pháp cho mình nghe, khiến mình thấy rõ sự tai hại của phiền não mà diệt trừ, thì ân đức của người ấy rất khó báo đền.3. Người giúp mình được lậu tận: Nếu có người nói pháp cho mình nghe, chỉ dạy mình tu hành đúng như pháp, phá trừ phiền não, thoát khỏi khổ sinh tử, chứng được niềm vui của Niết bàn chân không, thì ân đức người ấy rất khó báo đền.

tam chủng nhẫn hành

Three kinds of patience or forbearance—See Tam nhẫn. ; (三種忍行) Ba thứ hạnh nhẫn chịu. Cứ theo Chư kinh yếu tập quyển 10 thì Bồ tát tu hành có 3 hạnh nhẫn của thân, khẩu, ý: 1. Thân nhẫn hạnh: Khi tu hành, Bồ tát xả bỏ thân mệnh, tài sản không hề sẻn tiếc, cho đến dù có bị chém đứt thân thể cũng vẫn chịu đựng được. 2. Khẩu nhẫn hạnh: Khi tu hành, Bồ tát dẫu có bị khinh khi, đánh mắng, cũng vẫn nhẫn chịu, không phân trần tranh cãi. 3. Ý nhẫn hạnh: Khi tu hành, dù Bồ tát bị người hủy báng nhục mạ, nổi nóng mắng chửi, cũng vẫn nhẫn chịu như không nghe thấy gì, không sinh tâm oán giận...

Tam chủng phiền não

三種煩惱; C: sānzhǒng fánnăo; J: sanshu bonnō;|Ba loại phiền não: 1. Những phiền não xảy ra trên Kiến đạo (見道), Tu đạo (修道), và những phiền não không xuất sinh trên hai con đường trên (theo Nhị chướng nghĩa 二障義). 2. Lục căn (六根), Lục cảnh (六境) và Lục thức (六識).

tam chủng phiền não

xem ba loại phiền não.

tam chủng pháp hoa

(三種法華) Ba loại Pháp hoa. Chỉ cho Căn bản, Ẩn mật và Hiển thuyết Pháp hoa, đây là chủ trương của tông Thiên thai Nhật bản. 1. Căn bản Pháp hoa: Chỉ cho kinh Hoa nghiêm. Kinh này là pháp tự nội chứng của đức Phật, thuộc về Pháp hoa mà Phật vẫn chưa nói ra. 2. Ẩn mật Pháp hoa: Chỉ cho các kinh ở thời A hàm, Phương đẳng, Bát nhã. Các kinh này thuộc về Tam thừa mà đức Phật phương tiện nói rộng cho các căn cơ thấp kém hơn, nhưng nghĩa lí giáo thuyết trong đó cũng có ẩn chứa pháp Nhất thừa. 3. Hiển thuyết Pháp hoa: Chỉ cho kinh Pháp hoa. Kinh này nói rõ Phật thừa duy nhất. Về phương diện Pháp hoa khẩu truyền thì có Tam chủng Pháp hoa do ngài Tuệ tư và Tuệ uy lập riêng. Ngoài ra còn có các thuyết lập Tứ chủng Pháp hoa, Ngũ chủng Pháp hoa, Thất chủng Pháp hoa... Thuyết này kết hợp với Mật giáo thì nói rõ 2 bộ Thai tạng giới và Kim cương giới là chẳng phải hai, hoặc nói ấn và chủng tử là chẳng phải một cũng chẳng phải khác.

tam chủng pháp thân

Three kinds of dharmakaya—See Tam Pháp Thân. ; (三種法身) I. Tam Chủng Pháp Thân. Ba loại Pháp thân do ngài Cưu ma la thập thành lập. 1. Pháp hóa sinh thân: Hóa thân Phật do pháp tính hóa hiện, tức thân Kim cương. 2. Ngũ phần pháp thân: Tức 5 phần công đức giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát, tri kiến. 3. Thực tướng pháp thân: Tức thực tướng của các pháp tính không. [X. Chú Duy ma kinh Q.3]. II. Tam Chủng Pháp Thân. Ba loại Pháp thân do tông Thiên thai thành lập. 1. Đãn không pháp thân: Pháp thân của Tiểu thừa. 2. Tức giả pháp thân: Pháp thân của Đại thừa Biệt giáo, là diệt sắc vô thường mà đạt được Thường; 3 pháp còn lại là Lạc, Ngã, Tịnh cũng như thế. 3. Tức trung pháp thân: Pháp thân của Đại thừa Viên giáo. Nghĩa là pháp thân của Như lai chẳng phải thường chẳng phải vô thường, 3 pháp Lạc, Ngã, Tịnh, cũng thế.[X. Thiên thai nhân vương kinh sớ Q.2].III. Tam Chủng Pháp Thân. Chỉ cho Lí pháp thân, Trí pháp thân và Lí trí vô ngại pháp thân.

tam chủng phát tâm

(三種發心) I. Tam Chủng Pháp Tâm. Chỉ cho 3 thứ tâm bồ đề mà Bồ tát phát khởi ở giai vị tu đạo, đó là: 1. Tín thành tựu phát tâm: Hạnh Thập tín viên mãn, tín tâm đã thành tựu, tiến vào Sơ phát tâm trụ trong giai vị Thập trụ.2. Giải hành phát tâm: Giải là hiểu rõ, Hành là tu hành. Nghĩa là trong giai vị Thập hành hiểu được pháp tính vốn không, tu hành 6 độ, phát tâm hồi hướng, tiến vào giai vị Thập hồi hướng. 3. Chứng phát tâm: Chứng là chứng nhập. Nghĩa là nhập Sơ địa cho đến Thập địa. Sự chứng nhập này không có cảnh giới, chỉ là trí Chân như, gọi là Pháp thân; pháp thân hiển phát nên gọi là Chứng phát tâm. [X. Thập địa kinh luận Q.2; Đại thừa nghĩa chương Q.9]. II. Tam Chủng Phát Tâm. Ba thứ tâm bồ đề do Bồ tát phát khởi trong Bồ đề tâm văn. Đó là: 1. Đại bi tâm: Bồ tát đã liễu ngộ tự tâm vốn không sinh diệt nên thương xót chúng sinh uổng chịu trầm luân trong 6 đường, tuy mình chưa chứng bồ đề nhưng nguyện cho chúng sinh giải thoát. Do đó, phát tâm đại bi đồng thể rộng lớn, thực hành Tứ nhiếp pháp suốt đời vị lai, nhiếp thụ các chúng sinh ấy, khiến về nguồn chân, cùng thành Phật đạo. 2. Đại trí tâm: Bồ tát đã khởi phát đại trí, thệ độ chúng sinh, phẩm loại rất nhiều, căn khí khác nhau, nên phải phụng sự hết thảy chư Phật, học rộng diệu pháp, mỗi mỗi chứng nhập, chuyển hóa chúng sinh, phát trí đại bi rộng lớn. 3. Đại nguyện tâm: Tâm vốn thanh tịnh, nhưng bị trần lao che lấp lâu ngày nên tập khí khó có thể tiêu trừ ngay được, sợ bị luân hồi trong các đường ác, không gặp được thắng duyên Phật pháp, nên phát đại nguyện tu đủ muôn hạnh, hạnh và nguyện trợ giúp lẫn nhau, giống như chiếc xe vận chuyển không ngừng, thẳng đến bồ đề. III. Tam Chủng Phát Tâm. Chỉ cho 3 thứ phát tâm cầu vãng sinh nói trong kinh Quán Vô lượng thọ Phật, đó là: 1. Chí thành tâm: Chúng sinh ở thế giới Sa bà này muốn sinh về cõi nước của đức Phật kia thì nên phát tâm chuyên chí thành thực, chính niệm chân như, cầu nguyện vãng sinh. 2. Thâm tâm: Người muốn cầu quả Phật vô thượng thì tâm cần phải khế hợp thâm lí, trồng chắc căn lành, như gốc sâu khó trốc. 3. Phát nguyện tâm: Khéo hồi hướng công đức của thực tâm Chân như và thiện tâm Thú quả, phát nguyện cầu vãng sinh Tịnh độ, mau chứng pháp nhẫn, diệt trừ tất cả khổ não cho chúng sinh. [X. kinh Quán Vô lượng thọ Phật]. (xt. Tam Tâm).

tam chủng phương ngôn

(三種方言) Ba thứ ngôn giáo dùng để giải thích Bát bất trung đạo do ngài Hưng hoàng Pháp lãng thuộc tông Tam luận đời Tùy lập ra. Cứ theo Đại thừa huyền luận quyển 1 thì 3 loại phương ngôn ấy là: 1. Loại phương ngôn thứ nhất: Chẳng phải sinh, chẳng phải chẳng sinh là trung đạo, sinh mà chẳng sinh là giả danh. Đã là sinh giả thì khó gọi được là sinh hay chẳng sinh, cho nên gọi là Tục đế trung đạo. Mà chẳng sinh giả thì cũng khó gọi được là chẳng sinh hay chẳng phải chẳng sinh, cho nên gọi là Chân đế trung đạo. Sinh diệt của Tục đế đều chẳng phải là sinh diệt, là sinh diệt của vô sinh diệt, sinh diệt của Chân đế đều chẳng phải là vô sinh diệt, là vô sinh diệt của sinh diệt, cho nên chẳng phải là sinh diệt, chẳng phải là vô sinh diệt, là Nhị đế hợp minh trung đạo. Cách thuyết minh 3 thứ Trung đạo này là Đoạt phá môn triệt để phá trừ lập trường mà đối phương chấp trước để nêu tỏ trung đạo. 2. Loại phương ngôn thứ hai: Sinh diệt của vô sinh diệt là Tục đế trung đạo, vô sinh diệt của sinh diệt là Chân đế trung đạo; chẳng phải sinh diệt, chẳng phải vô sinh diệt là Nhị đế hợp minh trung đạo. Cách thuyết minh này là Tung phá môn tạm thời thừa nhận lập trường của đối phương để chỉ trích sự mâu thuẫn của họ là giả chấp, triệt để phá bệnh chấp của đối phương để nêu tỏ Trung đạo. 3. Loại phương ngôn thứ ba: Tục đế là giả sinh tức bất sinh, giả diệt tức bất diệt, loại bất sinh bất diệt này là Tục đế trung đạo; chẳng phải chẳng sinh, chẳng phải chẳng diệt là Chân đế trung đạo; chẳng phải sinh diệt, chẳng phải chẳng sinh diệt là Nhị đế hợp minh trung đạo. Cách thuyết minh này là Bình đẳng môn trực tiếp hiển bày đạo lí chân thực, triệt để phá trừ bệnh chấp của đối phương để nêu tỏ Trung đạo. Về ngữ nghĩa của từ ngữ phương ngôn, Đại thừa tam luận đại nghĩa sao quyển 2 của ngài Huyền duệ cho rằng: Phương là phương vực, là phương vực sở duyên của chúng sinh; Ngôn là ngôn giáo, là ngôn giáo tùy duyên của năng hóa. Tóm lại, ngôn ngữ của 1 địa phương gọi là Phương ngôn, cũng tức là ngôn giáo của bậc Thánh năng hóa là tùy theo căn cơ sở hóa mà được thiết lập. [X. Trung quán luận sớ Q.1, phần đầu; Đại thừa chính quán lược tư kí; Tam luận huyền sớ văn nghĩa yếu Q.3; Đại thừa huyền vấn đáp Q.1; luận Thập trụ tâm Q.7].

tam chủng phật tử

Có ba loại Phật tử—There are three kinds of Buddhist followers: 1) Ngoại Tử: Người chưa tin đạo—External sons, who have not yet believed. 2) Thứ Tử: Người theo Tiểu Thừa—Secondary sons, or Hinayanists. 3) Chân Tử: Người theo Đại Thừa—True sons, or Mahayanists.

tam chủng quang minh

Ba loại ánh sáng—Three kinds of light: 1) Ngoại quang: External light (sun, moon, stars, lamps, etc). 2) Pháp quang: Dharma light or light of right teaching and conduct. 3) Phật quang: The effulgence or bodily halo emitted by Buddhas, Bodhisattvas and devas, ; (三種光明) Ba thứ ánh sáng được nói trong luận Du già sư địa quyển 11, đó là: 1. Ánh sáng bên ngoài: Chỉ cho ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, các vì sao, hỏa châu, đèn đuốc... Các thứ ánh sáng này có khả năng xua tan bóng tối, vì thế gọi là Ánh sáng bên ngoài. 2. Ánh sáng của pháp: Chỉ cho ánh sáng do nghe pháp rồi quán sát tu tập mà hiển hiện, làm cho tâm sáng và thấy rõ tính. Loại ánh sáng này có công năng phá trừ bóng tối của sự ngu si, hiển phát bản giác diệu minh, vì thế gọi là Ánh sáng của pháp. 3. Ánh sáng trên thân: Chỉ cho ánh sáng hiển hiện trên thân của chư Phật, Bồ tát, Nhị thừa và chư thiên... Loại ánh sáng này cũng có công năng phá trừ bóng tối, nên gọi là Ánh sáng trên thân.

tam chủng quán đảnh

Ba loại quán đảnh—Three kinds of baptism—Every Buddha baptizes a disciple by either one of the below three kinds: (A) Theo truyền thống Đại Thừa—Mahayana Tradition: 1) Ma đảnh quán đảnh: Every Buddha baptizes a disciple by laying a hand on his head. 2) Thọ ký quán đảnh: Buddhas baptizes a disciple by predicting Buddhahood to him. 3) Phóng quang quán đảnh: Buddhas baptizes a disciple by revealing his glory to him to his profit. (B) Theo truyền thống Mật Giáo—Tantric Tradition: 1) Sái Thủy Quán Đảnh: To sprinkle the head with water. 2) See (A) (2). 3) See (A) (3).

tam chủng quỷ thần ma

(三種鬼神魔) Chỉ cho 3 loại quỉ nói trong Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn quyển 4: 1. Tinh mị quỉ: Quỉ này do yêu tinh biến hóa để mê hoặc người, hiện hình những con thú như chuột, trâu... trong 12 giờ, hoặc hình thiếu niên, thiếu nữ, ông già, hoặc các hình tướng dễ sợ để não loạn người tu hành. Mỗi con thú sẽ đến vào đúng giờ của nó. Nếu nó thường đến vào giờ mão thì chắc chắn đó là loài chồn, thỏ, hễ nói đúng tên của chúng thì tinh mị liền tan. Nếu chúng đến vào các giờ khác thì cứ suy đây mà biết, gọi đúng tên chúng thì đều tiêu diệt. 2. Phụ dịch quỉ: Phụ dịch tức là ác dạ xoa. Cứ theo Ma ha chỉ quán thì vào thời mạt pháp của đức Phật Câu na hàm, có 1 tỉ khưu thích não loạn chúng tăng, bị đuổi ra khỏi tinh xá, bèn phát lời thề ác độc là thường não loạn người tọa thiền. Loài quỉ này cũng biến ra nhiều hình tướng như loài sâu bọ bám vào đầu và mặt người mà châm chích, hoặc ôm chặt lấy người, hoặc nói năng ồn ào và biến làm hình các con thú để não loạn người tu hành. Hành giả phải hay biết ngay lúc đó và trong bóng tối quở mắng loài quỉ kia (Đại 46, 507 thượng): Ta hiện giờ biết ngươi rồi, ngươi ở trong cõi Diêm phù đề này ăn lửa và ngửi trộm hương lạp cát chi. Ngươi là loại tà kiến thích phá giới. Ta nay giữ giới, quyết không sợ ngươi, rồi tụng giới luật để trừ khử nó, quỉ kia liền rút lui, không não loạn được. 3. Ma la quỉ (Ma la, Phạm:Màra, nghĩa là hay cướp mệnh sống): Quỉ này thường cướp mệnh sống trí tuệ của người tu hành, thường biến ra 3 loại hình tướng để não loạn người tu hành, tức hiện ra 5 trần cảnh đáng sợ như màu sắc trông xấu xí, hôi thối, âm thanh nghe rùng rợn, chối tai... và các hình tướng trái ý như là hổ(cọp), chó sói, sư tử... hoặc hiện ra 5 trần cảnh khả ái như sắc đẹp, tiếng hay và các hình tướng thuận tình như cha, mẹ... hoặc hiện ra 5 trần cảnh tầm thường vẫn thấy và các hình tướng chẳng trái chẳng thuận... Ba loại hình trên đây hoặc làm sợ hãi, hoặc khiến ưa thích, đều có thể làm cho tâm người tu hành động loạn, thiền định không hiển phát được.

tam chủng sa di

Ba loại Sa Di dựa theo tuổi tác—Three kinds of Sramanera which are recognized according to age: 1) Khu Ô Sa Di: Sa Di đuổi quạ, tuổi từ 7 đến 13 (đủ khả năng đuổi quạ)—“Drive away crows” Sramanera, age from 7 to 13, old enough to drive away crows. 2) Ứng Pháp Sa Di: Sa Di Ứng Pháp, tuổi từ 14 đến 19, đủ khả năng thực hành theo Phật pháp—One who is able to respond to or follow the doctrine, age from 14 to 19. 3) Sa Di: Tuổi từ 20 đến 70—Sramanera, age from 20 to 70.

tam chủng sanh thân

(三種生身) Ba thứ thân do học phái Số luận thành lập.1. Vi tế thân(gọi tắt: Tế thân): Chỉ cho thân mới sinh, tức là thân trung ấm. Thân vi tế này sinh vào trong thai, nhờ tinh huyết của cha mẹ hòa hợp mà được tăng trưởng. Vì sự sai biệt vi tế của nó có khả năng sinh ra thân đầu tiên, nên gọi là thân Thường trụ. Ngay khi thô thân chết đi thì tế thân nếu tương ứng với thiện trong các pháp hữu lậu thì theo thứ tự thụ sinh trong các cõi: Phạm, Trời, Thế chủ, người...; nếu tương ứng với ác trong các pháp hữu lậu thì thụ sinh vào đường súc sinh như các loài 4 chân(bò, ngựa, chó, dê...), có cánh (chim), bò sát(rồng, rắn...), đi ngang(cua...). Vì thân vi tế thường trụ chưa sinh trí chán lìa nên luân chuyển trong 8 nơi; nếu sinh khởi trí chán lìa thì bỏ thân vi tế này mà được giải thoát. 2. Phụ mẫu sinh thân: Chỉ cho Tế thân vào trong thai mẹ dần dần đầy đủ tướng mạo con người. Thân này và Cộng hòa hợp thân đều thuộc thô thân. Thô thân nương vào máu, thịt, gân của mẹ và móng, lông, xương của cha mà sinh. Đây là Lục y thân (thân nương vào 6 thứ trên)giúp ích cho Tế thân ở trong. 3. Cộng hòa hợp thân(cũng gọi Đại dị thân): Thân sinh ra từ Phụ mẫu sinh thân trong thai và lấy 5 đại (đất, nước, lửa, gió, không)bên ngoài làm chỗ nương ở. Thân này và Phụ mẫu sinh thân đều có sinh diệt, cho nên không phải thân thường trụ. [X. luận Kim thất thập Q.trung; luận Đại trí độ Q.12].

tam chủng sinh ái dục

Ba nguồn gốc gây nên dục vọng và ảo tưởng—Three sources or causes of the rise of the passions and illusions: 1) Tưởng sinh: The mind or active thought. 2) Tướng sinh: The objective world. 3) Lưu chú sinh: Constant interaction, or the continuous stream of latent predispositions.

tam chủng sám hối pháp

Ba loại sám hối—Three modes of repentance: 1) Vô sinh sám hối: To meditate on the way to prevent wrong thoughts and delusions—See Vô Sanh Hối. 2) Thủ tướng sám hối: To seek the presence of the Buddha to rid one of sinful thoughts and passions—See Thủ Tướng Sám. 3) Tác pháp sám: In proper form to confess one's breach of the rules before the Buddha and seek remission—See Tác Pháp Sám.

tam chủng sắc

Ba loại sắc—Three kinds of rupa (appearance or object): (A) 1) Hiện sắc: Visible objects (body, face). 2) Ẩn sắc: Invisible objects (sound, voice). 3) Trừu tượng sắc: Immaterial or abstract objects. (B) 1) Sắc: Color. 2) Tướng (hình thể): Shape. 3) Phẩm chất: Quality.

tam chủng sở sanh khổ

xem ba loại khổ.

tam chủng tam thế

See Tam Thế.

tam chủng thanh tịnh

Ba loại thanh tịnh của Bồ Tát—Three purities of a bodhisattva—See Tam Thanh Tịnh. ; (三種清淨) Ba thứ thanh tịnh mà Bồ tát phải có đầy đủ được nói trong luận Đại trí độ quyển 43. Đó là: 1. Tâm thanh tịnh: Không sinh tâm nhiễm ô, tâm sân hận, tâm kiêu mạn, tâm keo tham, và tâm tà kiến. 2. Thân thanh tịnh: Tâm thanh tịnh nên không còn phải chịu thân đời sau, thường được hóa sinh. 3. Tướng thanh tịnh: Tâm và thân đều đã thanh tịnh, thì được thân có đầy đủ tướng hảo trang nghiêm.

tam chủng thiên

Ba loại trời—Thre kinds of heaven: (A) 1) Tự thiên: Heaven by name or title (divine king, son of king, etc). 2) Tái sanh thiên: Heaven as a place of rebirth (the heavens of the gods). 3) Tịnh Phật thiên: Cung trời nơi chư Phật đồng cư—The pure Buddha-land. (B) 1) Danh Thiên: Thiên vương hay thiên tử, vua trong loài người—Famous rulers on earth 2) Sanh Thiên: Thiên thú trong lục thú (từ vương thiên đến phi tưởng thiên)—The highest incarantions of the six paths. 3) Tịnh Thiên: Cõi của các bậc Thánh giả từ Thanh Văn đến Duyên Giác, đã diệt trừ hết phiền não cấu chướng—The pure or the saints, from Sravakas to Pratyeka-buddhas.

tam chủng thiền

(三種禪) Ba thứ thiền định. 1. Thế gian thiền: Chỉ cho thiền định cõi Sắc và cõi Vô sắc. Có 2 thứ: a) Căn bản vị thiền, có 3 phẩm: Tứ thiền, Tứ vô lượng và Tứ thông, gọi chung là Thập nhị môn thiền. Người chán ngán sự tán loạn ở cõi Dục thì tu Tứ thiền; người muốn cầu phúc lớn thì tu Tứ vô lượng, còn người chán sự bó buộc ở cõi Sắc thì tu Tứ không. b) Căn bản tịnh thiền: Gặp Phật ra đời, nghe Phật thuyết pháp, nhờ đó mà phát ngay được trí vô lậu, cho nên gọi là Tịnh thiền. Cũng có 3 phẩm: Lục diệu môn, Thập lục đặc thắng và Thông minh thiền, theo thứ tự là pháp tu của người nhiều tuệ tính, người nhiều định tính và người định tuệ bằng nhau. 2. Xuất thế thiền: Có 4 loại: Quán, Luyện, Huân, Tu. a) Quán thiền: Quán là quán chiếu rõ ràng các cảnh bất tịnh nên gọi là Quán. Có 4 thứ: Cửu tưởng, Bát bối xả, Bát thắng xứ và Thập nhất thiết xứ. b) Luyện thiền: Luyện là rèn luyện, tức chỉ cho Cửu thứ đệ định; định này từ cạn đến sâu, theo thứ tự rèn luyện Tứ thiền đến Diệt tận định, không xen lẫn các niệm khác, dùng vô lậu rèn luyện hữu lậu, thông suốt Bát địa. c) Huân thiền: Huân là huân tập thuần thục, như tam muội Sư tử phấn tấn có công năng diệt trừ sự xen tạp các niệm khác, thuận nghịch tiến thoái đều tùy ý tự tại. d) Tu thiền: Loại thiền định siêu việt, tu các định trước làm cho tinh diệu, có thể xuất nhập một cách tự tại. 3. Xuất thế gian thượng thượng thiền: Tức 9 thứ Đại thiền nói trong kinh Địa trì quyển 5. a) Tự tính thiền: Tu quán thực tướng của tâm, không tìm cầu bên ngoài. b) Nhất thiết thiền: Được tất cả công đức tự hành, hóa tha. c) Nan thiền: Thiền sâu xa, mầu nhiệm khó tu. d) Nhất thiết môn thiền: Tất cả thiền định đều từ môn này mà ra. e) Thiện nhân thiền: Thiền này các chúng sinh có thiện căn lớn đều cùng tu. f) Nhất thiết hành thiền: Bao nhiếp tất cả hành pháp của Đại thừa. g) Trừ não thiền: Trừ diệt khổ não của chúng sinh. h) Thử thế tha thế lạc thiền: Thiền khiến cho chúng sinh đều được niềm vui trong đời này và đời khác. i) Thanh tịnh tịnh thiền: Dứt hết hoặc nghiệp, được quả báo thanh tịnh đại bồ đề. [X. luận Câu xá Q.18; Pháp hoa huyền nghĩa Q.4, phần 1; Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn Q.1, thượng].

tam chủng thiện căn

Ba loại thiện căn—Three kinds of good roots: 1) Bố thí: Almsgiving. 2) Bi mẫn: Mercy. 3) Trí huệ: Wisdom.

tam chủng thiện thân

Ba điều thiện nơi thân—Three good deeds of the body: 1) Không sát sanh: Not to kill any living beings. 2) Không trộm cắp: Not to steal any properties of others. 3) Không tà dâm: Not to commit adultery.

tam chủng thiện tri thức

Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, người đả thất chuyên tu (chuyên tu bảy ngày trong thất), phải có ba bậc thiện tri thức—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism in Theory and Practice, in conducting a seven-day retreat, one can either practice alone, to attain purity more easily, or with many other cultivators. There are three types of good spiritual advisors: 1) Giáo Thọ Thiện Tri Thức: Teaching Spiritual Advisor—Giáo thọ thiện tri thức là vị thông hiểu Phật pháp và có kinh nghiệm về đường tu để thường chỉ dạy mình; hay mình đến để thỉnh giáo trước và sau khi kiết thất. Trong trường hợp nhiều người đồng đả thất, nên thỉnh vị giáo thọ nầy làm chủ thất, mỗi ngày đều khai thị nửa giờ hoặc mười lăm phút—This is someone conversant with the Dharma and experienced in cultivation. The retreat members can have him follow their progress, guiding them throughout the retreat, or they can simply seek guidance before and after the retreat. When several persons hold a retreat together, they should ask a spiritual advisor to lead the retreat and give a daily fifteen-to-thirty-minute inspirational talk. 2) Ngoại Hộ Thiện Tri Thức: Caretaking Spiritual Advisor—Đây là một hay nhiều vị ủng hộ bên ngoài, lo việc cơm nước, quét dọn, cho hành giả được yên vui tu tập. Thông thường, vị nầy thường được gọi là người hộ thất—This refers to one or several persons assisting with outside daily chores such as preparing meals or cleaning up, so that on retreat can cultivate peacefully without distraction. Such persons are called “Retreat assistant.” 3) Đồng Tu Thiện Tri Thức: Common Practice Spiritual Advisor—Đây là những người đồng tu một môn với mình, để nhìn ngó sách tấn lẫn nhau. Vị đồng tu nầy có thể là người đồng kiết thất chung tu, hoặc có một ngôi tịnh am tu ở gần bên mình. Ngoài sự trông nhìn sách tấn, vị đồng tu còn trao đổi ý kiến hoặc kinh nghiệm, để cùng nhau tiến bước trên đường đạo. Lời tục thường nói: “Ăn cơm có canh, tu hành có bạn” là ý nghĩa nầy—These are persons who practice the same method as the individual(s) on retreat. They keep an eye on one another, encouraging and urging each other on. These cultivators can either be participants in the same retreat or cultivators living nearby. In addition to keeping an eye out and urging the practitioners on, they can exchange ideas or experiences for the common good. This concept has been captured in a proverb: “Rice should be eaten with soup, practice should be conducted with friends.”

tam chủng thiện tâm

Ba điều thiện nơi tâm—Three good deeds of the mind: 1) Không tham lam: Not to be greedy. 2) Không sân hận: Not to be angry. 3) Không si mê tà kiến: Not to be ignorant with wrong views.

tam chủng thuỵ miên

(三種睡眠) Thụy miên nghĩa đen là ngủ gục, nghĩa bóng là phiền não; Thụy miên ở đây là tác dụng làm cho tâm trở nên mờ tối. Theo Di giáo kinh luận thì có 3 nguyên nhân gây ra thụy miên: 1. Do ăn uống gây ra. 2. Do thời tiết gây ra. 3. Do tâm sinh ra. Hai nguyên nhân đầu là Thụy miên của A la hán, có thể dùng sự tinh tiến để đối trị; như ban ngày thì siêng năng tu tập các pháp lành, lúc đầu hôm và cuối đêm cũng không bỏ phế, nửa đêm có thể tụng kinh, không vì ngủ nghĩ mà luống phí 1 đời. Riêng thụy miên từ trong tâm sinh khởi thì có 2 cách đối trị: 1. Đối trị bằng tư duy quán sát: Quán xét các pháp 5 ấm sinh diệt, hư hoại, nghĩ về lửa vô thường thiêu đốt các cõi thế gian, cầu trí tuệ thiền định để tự độ. 2. Đối trị bằng giới pháp thanh tịnh: Thiền định tương ứng với giới tâm, để tâm mình an trụ trong 6 cảnh sắc, thanh..., có năng lực làm cho tự địa(hoàn cảnh của mình) thanh tịnh trang nghiêm, cũng khiến cho tha địa(hoàn cảnh của người khác) không lỗi. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.31; kinh Phật bản hạnh tập Q.59]. (xt. Thụy Miên).

tam chủng thành tựu

(三種成就) Chỉ cho 3 thứ thành tựu: Chủng tử, Tự tại và Hiện hành là giáo thuyết của tông duy thức. 1. Chủng tử thành tựu: Chỉ cho tất cả phiền não do Kiến đạo đoạn và Tu đạo đoạn, các pháp vô kí tự nhiên sinh khởi và tất cả chủng tử chưa bị tổn hại, vẫn còn tồn tại như Sinh đắc thiện...; được chia làm 2 thứ: a) Thể thành tựu: Thể chân thực vĩnh viễn không bị tổn hoại. b) Công năng thành tựu: Tác dụng công năng không cần phải đối trị mà thành tựu. 2. Tự tại thành tựu: Chỉ cho những thiện pháp nhờ sức gia hạnh mà sinh ra; loại chủng tử này được nhậm vận tự tại, cho nên gọi là Tự tại thành tựu. 3. Hiện hành thành tựu: Chỉ cho sự hiện hành của tất cả pháp. Tức các pháp 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới thông cả hữu lậu, vô lậu, thiện, bất thiện, vô kí... [X. luận Du già sư địa Q.52, 56; luận Câu xá Q.21; luận Thành duy thức Q.1; luận Đại tì bà sa Q.15].

tam chủng thân

See Tam Thân. ; (三種身) Ba thứ thân. Thân nghĩa là tụ tập. Luận Đại thừa ngũ uẩn cho Danh, Cú, Văn là 3 thứ thân. Đó là: 1. Danh thân: Y cứ vào việc mà đặt tên, tên nói lên tự tính, đó là Danh thân. 2. Cú thân: Văn pháp tiếng Phạm là do liên kết các chữ lại thành câu, như bồ là 1 chữ, đề là 1 chữ, liên kết 2 chữ lại gọi là Bồ đề. Cho nên câu nói lên sự sai khác, đó là Cú thân: 3. Văn thân: Văn tức văn tự, là chỗ nương của 2 pháp Danh và Cú.

tam chủng thân khổ

Three dukhas or afflictions of the body: 1) Già: Old age. 2) Bịnh: Sickness. 3) Chết: Death.

tam chủng thường

Ba phẩm chất thường hằng của Phật—A Buddha in his three eternal qualities: 1) Bổn tánh thường: Buddha nature or Dharmakaya. 2) Bất đoạn thường: Buddha's unbroken eternity or Sambhogakaya. 3) Tương tục thường: Buddha's continuous and eternally varied forms or Nirmanakaya. ; (三種常) Chỉ cho 3 tính thường hằng của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân: 1. Bản tính thường: Bản tính của Pháp thân là thường trụ, không sinh không diệt.2. Bất đoạn thường: Báo thân thường nương vào Pháp thân, không có gián đoạn. 3. Tương tục thường: Ứng thân sau khi mất đi lại tiếp tục hóa hiện vô cùng.

tam chủng thần biến

(三種神變) Cũng gọi Tam chủng thị đạo, Tam thị hiện, Tam thần biến. Cứ theo kinh Đại bảo tích quyển 86 thì đức Như lai có 3 thứ thần biến là: 1. Thuyết pháp thần biến: Như lai dùng trí vô ngại biết rõ nghiệp nhân thiện ác và quả báo thiện ác của chúng sinh, hiện tất cả thần biến mà nói pháp cho chúng sinh nghe. 2. Giáo giới thần biến: Như lai dạy các đệ tử điều gì nên làm, điều gì không nên làm, điều gì nên tin, điều gì không nên tin, cái gì nên gần gũi, cái gì không nên gần gũi, các pháp tạp nhiễm, các pháp thanh tịnh... và hiện các thần thông biến hóa mà dạy răn họ. 3. Thần thông biến hóa: Như lai vì điều phục các chúng sinh kiêu mạn, nên hoặc hiện 1 thân làm nhiều thân, hoặc hiện nhiều thân làm 1 thân, ra vào sườn núi, vách đá không bị ngăn ngại, trên thân ra lửa, dưới thân ra nước; hoặc dưới thân ra lửa, trên thân ra nước; hoặc vào đất như vào nước, đi trên nước như đi trên đất... dùng các thứ thần thông biến hóa như thế để điều phục các chúng sinh.

tam chủng thắng dũng mãnh

(三種勝勇猛) Ba thứ dũng mãnh thù thắng trong việc tu tập Phật đạo được nói đến trong phẩm Qui y của Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 1. Đó là: 1. Nguyện thắng dũng mãnh: Lúc mới bắt đầu tu hành, phát 4 thệ nguyện rộng lớn, phát tâm mạnh mẽ thành Phật bồ đề, hóa độ tất cả chúng sinh. 2. Hạnh thắng dũng mãnh: Dốc lòng học đạo, tu các diệu hạnh, phát tâm mạnh mẽ, quyết tới bồ đề. 3. Quả thắng dũng mãnh: Nhất tâm tinh tiến, thường thực hành mọi thiện hạnh, phát tâm mạnh mẽ, quyết cầu thành Phật, nhờ tu nhân mà cảm quả, cùng với Phật bình đẳng không hai.

Tam Chủng Thế Gian

(三種世間, Ba Loại Thế Gian): gồm (1) Hữu Tình Thế Gian (有情世間), (2) Khí Thế Gian (器世間), và (3) Ngũ Ấm Thế Gian (五陰世間).

tam chủng thế gian

(三種世間) Cũng gọi Tam thề gian. Chỉ cho 3 loại thế gian. I. Tam Chủng Thế Gian. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 47 thì 3 loại thế gian là: 1. Chúng sinh thế gian: Chỉ cho tất cả chúng sinh được cấu tạo thành bằng 5 ấm, là chính báo năng cư. 2. Quốc độ thế gian: Tức khí thế gian, chỉ cho cõi nước mà hữu tình cư trú, như núi, sông, đất liền..., thuộc về y báo sở cư. 3. Ngũ uẩn thế gian(cũng gọi Ngũ ấm thế gian): Ngũ uẩn tức sắc, thụ, tưởng, hành, thức. Năm uẩn trong 10 cõi đều có sai khác, cho nên gọi là Ngũ uẩn thế gian, là thể chung của y báo và chính báo. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 3]. II. Tam Chủng Thế Gian. Cứ theo Hoa nghiêm kinh khổng mục chương quyển 3 thì Tam chủng thế gian gồm:1. Khí thế gian: Chỉ cho 3 nghìn thế giới, là cảnh giới do đức Thích ca Như lai hóa đạo. Khí nghĩa là dung chứa và nương dùng, tức là núi, sông, đất liền... dung chứa chúng sinh, là nơi chúng sinh dùng để nương ở. 2. Chúng sinh thế gian: Năm ấm hòa hợp, cùng chung sinh ra, gián cách khác nhau, là những căn cơ do đức Thích ca Như lai giáo hóa. 3. Trí chính giác thế gian: Chỉ cho bậc Trí giả dùng trí vô lậu mà được Chính giác, tức là đức Phật trong chính báo; hoặc chỉ cho cảnh giới mà các bậc trí nương ở, cũng tức là thế gian siêu xuất 3 cõi luân hồi.[X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.3; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.14]. (xt. Xuất Thế Gian). III. Tam Chủng Thế Gian. Ba loại thế gian do học phái Số luận của Ấn độ thành lập: 1. Thiên thượng thế gian: Chỉ cho các Thiên chúng ở trên cõi trời. 2. Nhân gian thế gian: Chỉ cho loài người sống trên mặt đất. 3. Thú đạo thế gian: Chỉ cho loài cầm thú sống ở giữa khoảng trời và đất. Ba loại thế gian này đều do 1 Tự tính đế duy nhất sinh ra. [X. luận Kim thất thập Q.thượng].

tam chủng thị đạo

Ba cách dẫn dắt—Three ways in which bodhisattvas manifest themselves for saving those suffering the pains of hell: 1) Thần biến thị đạo: Dùng thân nghiệp dẫn dắt—Physically, by supernatural powers, change of form. 2) Giáo giải thị đạo: Dùng khẩu nghiệp (lời nói) mà dẫn dắt—Orally, by moral exhortation. 3) Ký thuyết thị đạo: Lúc nào cũng ghi nhớ và tìm đủ mọi cách mả giảng giải bằng ý nghiệp—Mentally, through powers or memory and enlightenment. ; (三種示導) Phạm;Trìịi pràtihàryàịi. Pàli: Tìịi pàỉihàriyàni. Cũng gọi Tam thị hiện, Tam giáo hóa Tam biến hiện, Tam luân, Tam nghiệp luân, Tam thần túc, Tam chủng thần biến. Ba thứ thị đạo, là đức dụng của 3 nghiệp thân, khẩu, ý do Phật, Bồ tát thị hiện để giáo hóa chúng sinh. Cứ theo kinh Đại bát nhã quyển 469 thì Bồ tát có 3 thứ thị đạo là: 1. Thần biến thị đạo: Bồ tát vì thương xót nỗi khổ trong địa ngục kia nên thị hiện sức thần thông, diệt trừ các khổ cụ như nước sôi, dao kiếm, khiến cho chúng sinh nhờ sức thần biến này được ra khỏi địa ngục, sinh lên cõi trời, cõi người, hưởng mọi thú vui. 2. Kí thuyết thị đạo: Bồ tát vì thương xót nỗi khổ trong địa ngục kia, nên ghi lấy những điều mà chúng sinh nghĩ trong tâm rồi nói pháp cho họ nghe, khiến chúng sinh nhờ sức pháp này được ra khỏi địa ngục, sinh lên cõi trời, cõi người, hưởng mọi thú vui.3. Giáo giới thị đạo: Bồ tát vì thương xót nỗi khổ trong địa ngục kia, nên phát tâm từ bi hỉ xả, nói pháp dạy răn, khiến các chúng sinh nhờ sự dạy răn này, được ra khỏi địa ngục, sinh lên cõi trời, cõi người, hưởng mọi thú vui. Còn cứ theo luận Câu xá quyển 27 thì 3 thứ thị đạo là: 1. Thần biến thị đạo (Phạm:Fidhipratihàryaô). 2. Kí tâm thị đạo (Phạm:Anuzàsanìpratihàryaô). 3. Giáo giới thị đạo (Phạm:Àdesapratihàryaô). Ba thứ Thị đạo này tương đương với 3 thông trong 6 thông, tức là Thần biến thị đạo tương đương với Thần cảnh thông, Kí tâm thị đạo tương đương với Tha tâm thông và Giáo giới thị đạo thì tương đương với Lậu tận thông. Lại vì Thần biến, Kí tâm là để giáo hóa ngoại đạo khiến họ qui phục mà tin nhận, còn Giáo giới là để khiến họ phát tâm tu hành nên được xem là tôn quí và thù thắng nhất. Ngoài ra, luận Du già sư địa quyển 27, kinh Đại bảo tích quyển 86, kinh Trung a hàm quyển 35, kinh Trường a hàm quyển 16, kinh Tạp a hàm quyển 8... đều có thuyết Tam chủng thị đạo, hoặc Tam thị hiện, Tam thần túc, nhưng nội dung hơi khác. [X. luận Tập dị môn túc Q.6; luận Tạp a tì đàm tâm Q.6; luận Đại tì bà sa Q.103]. (xt. Lục Thông, Thị Hiện).

tam chủng tinh tiến

(三種精進) I. Tam Chủng Tinh Tiến. Ba thứ tinh tiến do luận Thành duy thức quyển 9 thiết lập. 1. Bị giáp tinh tiến: Phát đại thệ nguyện lợi mình lợi người mạnh mẽ, dù trải qua vô số kiếp cũng không có ý nghĩ trở lui, thề thành tựu việc lớn, cũng như người trong uy thế hùng dũng mặc giáp ra trận.2. Nhiếp thiện tinh tiến: Thu nhiếp các thiện pháp, tinh tiến tu hành. 3. Lợi lạc tinh tiến: Đem lại lợi lạc cho tất cả chúng sinh, tâm không mỏi mệt. II. Tam Chủng Tinh Tiến. Ba thứ tinh tiến được thành lập trong kinh Bồ tát thiện giới quyển 5. 1. Trang nghiêm tinh tiến: Bồ tát phát tâm tinh cần tu tập tất cả phạm hạnh, trang nghiêm đạo quả. Lại thị hiện thụ sinh trong 3 cõi để hóa độ chúng sinh, cho đến mở lòng đại bi đi vào trong địa ngục để chịu khổ thay cho chúng sinh, tâm không ngừng nghỉ.2. Nhiếp thiện pháp tinh tiến: Bồ tát đã tu 6 độ, phạm hạnh, không bị phiền não, ác nghiệp và tà kiến khuynh đảo, thu giữ tất cả pháp lành trong thế gian và xuất thế gian, tâm không buông lơi. 3. Lợi ích chúng sinh tinh tiến: Bồ tát trong tất cả thời gian, tu tập Thánh đạo, làm lợi ích hết thảy chúng sinh, dùng mọi phương tiện hóa đạo chúng sinh, khiến họ đều đoạn diệt nhân ác, thành tựu quả thiện, dù trải vô số kiếp, tâm không hề mỏi mệt. [X. luận Vô tính nhiếp Q.7]. (xt. Tinh Tiến).

tam chủng tinh tấn

Theo Luận Thành Duy Thức, có ba loại tinh tấn—According to the Consciousness Only Sastra (Mind-Only-Sastra), there are three kinds of virya: 1) Bộ Giáp Tinh Tấn: Luôn mặc áo đại giáp của Bồ tát, không còn sợ tai ương gì nữa—Entering the world with a Bodhisattva's robe, and without and fear of calmities, i.e. to go on a Bodhisattva path—See Bồ Tát Đạo. 2) Nhiếp Thiện Tinh Tấn: Chăm tu thiện pháp không biết mệt mỏi—To cultivate good deeds with zeal. 3) Lợi Lạc Tinh Tấn: Chuyên cầu giáo hóa chúng sanh mà không nhập vào thế tục—To benefit beings with the power of unfailing progress.

tam chủng trang nghiêm

(三種莊嚴) I. Tam Chủng Trang Nghiêm. Cũng gọi Tam chủng thành tựu tâm trang nghiêm, Tam chủng nguyện nghiêm, Tam nghiêm. Ba loại công đức trang nghiêm cõi Tịnh độ cực lạc. 1. Quốc độ trang nghiêm: Công đức trang nghiêm cõi nước của Phật, gồm có 17 thứ như Trang nghiêm thanh tịnh công đức thành tựu, Trang nghiêm lượng công đức thành tựu... 2. Phật trang nghiêm: Gồm có 8 thứ như Trang nghiêm tòa công đức thành tựu... 3. Bồ tát trang nghiêm: Gồm có 3 thứ công đức Trang nghiêm chia làm 29 câu, cho nên cũng gọi là Tam chủng nhị thập cửu cú trang nghiêm. [X. luận Vãng sinh; Vãng sinh luận chú Q.hạ]. II. Tam Chủng Trang Nghiêm. Chỉ cho 3 loại Y báo trang nghiêm do tông Tịnh độ lập ra, đó là: 1. Địa hạ trang nghiêm: Như ánh sáng của tất cả bảo chàng phản chiếu lẫn nhau. 2. Địa thượng trang nghiêm: Như tất cả đất báu, ao rừng, lầu báu, cung điện... 3. Hư không trang nghiêm: Tất cả cảnh biến hóa như cung báu, mạng lưới hoa, mây báu, chim hóa, phong quang, động phát, tiếng nhạc... Ba loại trang nghiêm này đều là tướng thù thắng, vô lậu chân thực ở cõi nước Cực lạc của đức Phật A di đà. [X. phần Huyền nghĩa trong kinh Quán Vô lượng thọ].

tam chủng trí

Ba loại trí huệ—Three kinds of wisdom—See Tam Trí.

tam chủng trọng tội

(三種重罪) Ba thứ tội nặng do Mật tông thành lập. Đó là: 1. Thoái tam muội da: Sau khi nhận pháp, hành giả lui mất bản thệ, không tu hành. 2. Phá tam muội da: Hành giả đã nhận mật pháp, lại sinh tâm ngờ vực và chê bai Mật tạng. 3. Việt tam muội da(cũng gọi Việt pháp tội): Chưa được cho phép mà tự ý xem nghe. [X. kinh Cù hê Q.hạ; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.1].

tam chủng tác ý

(三種作意) Ba loại tác ý. Tác ý là làm cho tâm chú ý để dẫn tới hoạt động. Ba loại tác ý là: 1. Tự tướng tác ý: Tức quán xét tự tướng của các pháp như sự biến đổi và chất ngại của sắc, sự phân biệt và rõ biết của thức... gọi là Tự tướng quán; còn sự chú ý do tương ứng với Tự tướng quán này mà sinh khởi thì gọi là Tự tướng tác ý, cũng tức là tác dụng tinh thần sinh khởi do tương ứng với trí tuệ của Tự tướng quán. 2. Cộng tướng tác ý: Tác ý sinh khởi do tương ứng với 16 hành tướng (16 hành tướng là cộng tướngchung của các pháp sắc và tâm) như khổ, không, vô thường, vô ngã... từ Tứ đế trở lên, cũng tức là tác dụng tinh thần sinh khởi do tương ứng với trí tuệ của Cộng tướng quán. 3. Thắng giải tác ý: Tác ý sinh khởi do tương ứng với Bất tịnh quán, Tứ vô lượng tâm, Hữu sắc giải thoát, Bát thắng xứ, Thập biến xứ..., cũng tức là tác dụng tinh thần sinh khởi do tương ứng với Giả tưởng quán. Bất tịnh quán là quán tưởng sự nhớp nhúa của các pháp để xa lìa tham dục, như quán tưởng xác chết của 1 người đẹp đã chương sình, hôi thối, và bị dòi bọ rút rỉa, đó là Giả tưởng quán; cảnh sở quán của Giả tưởng quán không bị ràng buộc mà tự do quán giải, cho nên gọi là Thắng giải. [X. luận Câu xá Q.7; luận Đại tì bà sa Q.11].

tam chủng tâm khổ

Three kinds of mental distress (tham: desire, sân: hatred, si: stupidity)—See Tam Độc.

tam chủng tăng

(三種僧) I. Tam Chủng Tăng. Cứ theo phẩm Báo ân trong kinh Tâm địa quán quyển 2 thì Tam chủng tăng là: 1. Bồ tát tăng: Như các vị bồ tát Văn thù, Di lặc... 2. Thanh văn tăng: Như các ngài Xá lợi phất, Mục kiền liên... 3. Phàm phu tăng: Những vị tăng có đầy đủ Biệt giải thoát giới, chính kiến... và có khả năng thuyết pháp làm lợi ích cho người khác. II. Tam Chủng Tăng. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 22 thì Tam chủng tăng là: Thanh văn tăng, Bích chi phật tăng và Bồ tát tăng. III. Tam Chủng Tăng. Cứ theo phẩm Kim cương thân trong Đại bát niết bàn quyển 3 (bản Bắc) thì Tam chủng tăng là: 1. Phạm giới tạp tăng: Tỉ khưu tuy giữ giới cấm nhưng vì lợi dưỡng nên thường gần gũi người phá giới, làm những việc giống như họ, tiêm nhiễm những thói thô tạp, lâu ngày nhân đó mà phá giới. 2. Ngu si tăng: Tỉ khưu tuy sống ở chốn A lan nhã(nơi yên tĩnh thanh tịnh) nhưng các căn chậm lụt, ngu độn, thô lỗ, không có khả năng hiểu rõ kinh luật luận, đối với các đệ tử vi phạm giới cấm cũng không có khả năng dạy bảo họ sám hối để được thanh tịnh.3. Thanh tịnh tăng: Tỉ khưu tính vốn thanh tịnh, giữ giới luật nghiêm túc, thông hiểu kinh luận, không bị các loại ma nhiễu loạn, lại có khả năng điều phục và làm lợi ích cho chúng sinh, giảng nói cho họ nghe về tính cách nặng nhẹ của các giới cấm, xứng đáng được gọi là những vị Đại sư hộ pháp vô thượng khéo giữ gìn giới luật. Luận Đại trí độ quyển 3 chia Phạm giới tạp tăng làm 2 loại là Hữu tu tăng(tăng biết xấu hổ)và Vô tu tăng(tăng không xấu hổ), cộng chung thành Tứ chủng tăng.

tam chủng tư hoặc

(三種思惑) Chỉ cho 3 thứ Tư hoặc sinh khởi do tâm tham đắm các trần cảnh. 1. Câu sinh tư hoặc: Tư hoặc sinh ra cùng lúc với thân, tức tâm yêu ghét sinh ra khi đầu thai. 2. Y kiến tư hoặc: Tư hoặc sinh ra theo kiến hoặc, tức hoặc nghiệp phát khởi do sự dắt dẫn của tà sư, tà giáo, tà tư duy... 3. Tam giới hệ tư hoặc(cũng gọi Chính tam độc): Tư hoặc trong 3 cõi 9 địa. (xt. Kiến Hoặc, Tu Hoặc).

tam chủng tướng

Ba loại tướng—Three kinds of appearance: (A) 1) Phiêu tướng: Inferential, as fire is inferred from smoke. 2) Hình tướng: Formal or spacial, as length, breadth, ect. 3) Thể tướng: Qualitative, as heat is in fire. (B) 1) Giả danh tướng: Names, which are merely indications of the temporal. 2) Pháp tướng: Dharmas or things. 3) Vô tướng tướng: The formless. ; (三種相) I. Tam Chủng Tướng. Theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao thì Tam chủng tướng là: Tiêu tướng, Hình tướng và Thể tướng. 1. Tiêu tướng: Tiêu là biểu hiệu, như thấy khói thì biết có lửa... 2. Hình tướng: Chỉ cho hình dáng dài, ngắn, vuông, tròn... 3. Thể tướng: Thể tức là thể chất, như thể chất của lửa là nóng. II. Tam Chủng Tướng. Theo luận Đại trí độ quyển 1 thì Tam chủng tướng là: Giả danh tướng, Pháp tướng và Vô tướng tướng. 1. Giả danh tướng: Tất cả sự vật và chúng sinh ở thế gian đều do các duyên hòa hợp mà có những tên gọi, đều không có tự tính, hư giả chẳng thật; vì mê lầm nên chúng sinh khởi tướng chấp lấy cái giả danh này, nên gọi là Giả danh tướng. 2. Pháp tướng: Các pháp 5 uẩn, 12 nhập, 18 giới... nhìn bằng con mắt thế tục thì thấy là có, nhìn bằng con mắt trí tuệ thì thấy là không; chúng sinh vì mê lầm nên khởi tướng chấp lấy các pháp này, nên gọi là Pháp tướng. 3. Vô tướng tướng: Xa lìa Giả danh tướng và Pháp tướng trên thì chỉ có Vô tướng; nhưng chúng sinh vì mê lầm nên trong vô tướng lại khởi tướng chấp thủ cho nên gọi là Vô tướng tướng. III. Tam Chủng Tướng. Theo luận Thành thực quyển 12 thì Tam chủng tướng là Phát tướng, Chế tướng và Xả tướng. 1. Phát tướng: Khi tâm mờ tối li bì thì dùng hạnh tinh tiến để kích phát, gọi là Phát tướng. 2. Chế tướng: Khi tâm động loạn thì dùng pháp tịch lặng để cấm chế, gọi là Chế tướng. 3. Xả tướng: Lúc tâm không mờ tối, không động loạn thì xả bỏ Phát tướng và Chế tướng nêu trên, gọi là Xả tướng.

Tam chủng tất-địa phá địa ngục chuyển nghiệp chướng xuất tam quả bí mật đà-la-ni pháp

三種悉地破地獄轉業障出三界祕密陀羅尼法; C: sānzhǒng xīdì pòdìyù zhuàn yèzhàng chū sānjiè mìmì tuóluónífǎ; J: sanshu shicchi hajigoku ten gosshō shutsu sangai himitsu daranihō;|»Bí mật đà-la-ni của ba loại thành tựu, tiêu diệt địa ngục, chuyển biến nghiệp chướng trong tam giới«. Một tác phẩm bao gồm một quyển, tác giả được xem là Thiện Vô Uý (善無畏; s: śubhākarasiṁha). Quyển này có những đoạn đề cập đến sự tương quan giữa Ngũ tự (五字) và Ngũ bộ (五部) của Mật giáo đạo Phật và Ngũ Hành thuyết (五行説) của Đạo giáo và chính những đoạn văn này cũng thường được trích dẫn làm một ví dụ – xuất phát từ phía Trung Hoa –, là biểu trưng của một sự tổng hợp tư tưởng Ấn Hoa.

tam chủng tầm cầu

Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba loại tầm cầu—According to the Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are three kinds of searches: 1) Tầm Cầu Về Dục: The search for sensual pleasure. 2) Tầm Cầu Về Hữu: The search for existence. 3) Tầm Cầu Về Phạm Hạnh: The search for a holy life.

tam chủng tập khí

(三種習氣) Cũng gọi Tam chủng huân tập, Tam huân tập. Chỉ cho 3 thứ tập khí: Danh ngôn, Ngã chấp và Hữu chi. 1. Danh ngôn tập khí: Các chủng tử thân nhân duyên khác nhau của pháp hữu vi do danh ngôn huân tập (xông ướp) mà thành, được chia làm 2 thứ: a) Biểu nghĩa danh ngôn: Những âm thanh khác nhau có năng lực giải thích nghĩa lí rõ ràng. b) Hiển cảnh danh ngôn: Tâm, tâm sở pháp có khả năng phân biệt rõ các cảnh giới.2. Ngã chấp tập khí: Các chủng tử do ngã chấp huân tập mà thành, làm cho hữu tình khởi lên sự sai khác về mình và người, cũng được chia làm 2 thứ: a) Câu sinh ngã chấp: Chung cho thức thứ 6(ý thức) và thức thứ 7(thức Mạt na), ngoại trừ các vị Vô học của Nhị thừa, hàng Bồ tát từ địa thứ 8 trở lên và Như lai, các chúng sinh khác đều có tập khí này.b) Phân biệt ngã chấp: Chỉ có ở thức thứ 6, là tập khí sinh khởi ở vị Tư lương của Dị sinh(phàm phu). 3. Hữu chi tập khí: Các chủng tử do Hữu chi huân tập mà thành quả Dị thục thiện, ác khác nhau, lại cũng được chia làm 2 thứ: a) Hữu lậu thiện: Nghiệp nhân có năng lực mang lại quả báo đáng ưa thích. b) Chư bất thiện: Những nghiệp nhân có năng lực đưa đến các quả báo chẳng đáng ưa. Hữu chi tập khí lấy thiện, ác tương ứng với Tư của thức thứ 6 làm Tăng thượng duyên, trợ giúp việc nuôi lớn các Danh ngôn chủng tử của Dị thục vô kí, làm cho sinh ra quả ở đương lai. Danh ngôn chủng tử là Tư chủng tử của thức thứ 6, có công năng hiển rõ tự nghĩa và phân biệt cảnh giới; theo đó, chủng tử huân tập 5 uẩn tự thân là lí do cắt nghĩa sự sai khác mình, người, sinh thành tập khí ngã chấp, xoay vần lẫn nhau mà làm thành các pháp hữu lậu, hữu vi, tự tha, thiện ác... [X. kinh Giải thâm mật Q.3; luận Thành duy thức Q.8; Nhiếp đại thừa luận thích Q.3 (bản dịch đời Đường); Thành duy thức luận thuật kí Q.8, phần đầu]. (xt. Tập Khí).

tam chủng tịnh nghiệp

Ba loại tịnh nghiệp—Three foldway of obtaining a pure karma—See Tam Phước. ; (三種淨業) Ba thứ chính nhân tịnh nghiệp vãng sinh Tịnh độ nói trong kinh Quán Vô lượng thọ, đó là: 1. Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm không giết, tu 10 điều thiện. 2. Thụ trì 3 qui y, đầy đủ các giới, không phạm uy nghi. 3. Phát tâm bồ đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyến khích người tinh tiến tu hành.

tam chủng tịnh nhục

xem ba loại thịt trong sạch. ; (三種淨肉) Chỉ cho 3 thứ thịt thanh tịnh tỉ khưu được phép ăn mà không phạm giới. 1. Không phải con vật bị giết để đãi mình ăn, mình không thấy nó bị giết. 2. Không phải vì mình mà con vật bị giết, mình cũng không nghe nó kêu khi bị giết.3. Mình không nghi ngờ là con vật bị giết để đãi mình ăn. Tuy nhiên, theo kinh điển Đại thừa, thì ăn thịt là trái với tinh thần đại từ bi của đức Phật, cho nên Đại thừa cấm chỉ ăn thịt. Còn cho phép ăn 3 thứ thịt thanh tịnh chẳng qua là phương tiện cho hàng Thanh văn mà thôi. [X. luật Tứ phần Q.42; luật Thập tụng Q.37; Thủ lăng nghiêm nghĩa sớ chú kinh Q.9; Phạm võng kinh yếu giải Q.5]. (xt. Tịnh Nhục).

tam chủng tức thân thành phật

(三種即身成佛) Chỉ cho 3 nghĩa Tức thân thành Phật: Lí cụ, Gia trì và Hiển đắc do tông Chân ngôn, Nhật bản, thành lập. Ba nghĩa này đều là sự nghiệp tự nhiên, vô tác trong pháp giới bình đẳng, gọi chung là Tức thân thành Phật.Nói theo thứ tự dọc thì Lí cụ thông cả nhân quả phàm thánh; Gia trì thì suốt từ Sơ địa trở lên cho đến quả Phật, mỗi mỗi giai vị đều có đủ sự gia trì cảm ứng; Hiển đắc chỉ cho giai vị Đệ thập nhất địa viên cực. Còn nói theo ý nghĩa ngang thì tâm bồ đề sẵn có của hành giả là Lí cụ; giáo môn của Bản tôn và Tam mật là Gia trì; nhân trong và duyên ngoài ứng hợp nhau thì công đức của Hải hội mạn đồ la hiện ra trước mắt là Hiển đắc. Nếu đem phối hợp với Tam đại thì Lí cụ là Thể, Gia trì là Tướng và Hiển đắc là Dụng. [X. Dị bản tức thân thành Phật nghĩa; Bí tông giáo tướng sao Q.6; Khai tâm sao Q.trung; Tông nghĩa quyết trạch tập Q.21]. (xt. Tức Thân Thành Phật).

tam chủng từ bi

Ba nguyên nhân của Từ bi—Three reasons of a bodhisattva's pity—See Tam Từ Bi.

tam chủng viên dung

See Tam Viên Dung.

tam chủng viên mãn an lạc

(三種圓滿安樂) Cứ theo luận Du già sư địa quyển 41 thì người tu hạnh Bồ tát có khả năngthành tựu 3 thứ viên mãn an lạc là: 1. Thành tựu gia hạnh viên mãn: Đối với tịnh giới không dám hủy phạm, thân khẩu ý thanh tịnh vô nhiễm, nếu có lỗi lầm thì sám hối ngay để giới thể viên mãn. 2. Thành tựu ý lạc viên mãn: Vì pháp mà xuất gia chứ không vì mưu sinh, chỉ vì cầu bồ đề vô thượng và niềm vui đại Niết bàn, hăng hái mạnh mẽ, không sinh tâm biếng nhác, không xen lẫn các pháp ác, không bị khổ sinh lão bệnh tử trong đương lai. 3. Thành tựu túc nhân viên mãn: Ở đời trước từng tu phúc thiện, cho nên đời này các nhu cầu cho cuộc sống đều được đầy đủ, còn có khả năng giúp đỡ người khác, tâm không sẻn tiếc.

tam chủng vãng sanh

Chúng sanh tu tập cầu vãng sanh về Cực Lạc nhiều không kể xiết, còn hơn vô số điểm giọt mưa. Tuy nhiên, theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, chúng sanh cầu về Tịnh Độ không riêng những hạng chán cảnh khổ Ta Bà ngũ trược ác thế, mà cũng có hạng vì thương xót muốn tế độ chúng sanh cõi Ta Bà, cho đến những bậc “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh.” Tuy sở nguyện có cao thấp, một khi đã sanh về Cực Lạc thì cũng đồng được sự lợi ích như nhau, nghĩa là tất cả đều không thối chuyển, cuối cùng đều đạt đến quả vị Phật. Cổ đức đã bảo: “Pháp môn Tịnh Độ rất cao thâm mầu nhiệm, duy có Phật với Phật mới biết hết được, vì bậc Đẳng giác còn nguyện vãng sanh, ngôi Nhất Sanh Bồ Tát còn phải trụ nơi miền Cực Lạc để học hỏi. Các Kinh Đại Thừa như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Đại Bảo Tích, vân vân đều khen ngợi Tịnh Độ và đề cập đến sự vãng sanh.” Xét chung về tâm nguyện cầu sanh của những vị ấy, có ba loại vãng sanh—Countless sentient beings will be reborn in the Pure Land, their numbers exceeding even the innumerable rain drops. However, according to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism in Theory and Practice, sentient beings who seek rebirth in the Pure Land are not limited to those weary of the sufferings in the realm of the Five Turbidities, there are also those who compassionately wish to save sentient beings in the Saha World, and those who look upward to the goal of Buddhahood and downward to the salvation of deluded sentient beings throughout the worlds of the ten directions. Whether their vows and aspirations are low or high, once they are reborn in the Pure Land, all derive the same benefits; none will ever retrogress and will ultimately achieve Buddhahood and help sentient beings. Ancient masters once said: “The Pure Land method is extremely lofty, profound and wonderful; only the Buddhas can really fathom its depth. This is why even those great Bodhisattvas who have reached the level of Equal Enlightenment still vow to be reborn there. Even “One-life Bodhisattvas” or those who will become Buddhas in their next lifetime must remain there to study and practice. Such Mahayana texts as the Avatamsaka Sutra, the Lotus Sutra, the Maharatnakuta Sutra, etc., all extol the Pure Land and discuss rebirth there. There are are three categories of rebirth in the Pure Land. 1) Hạng thứ nhất, là những phàm phu thấp kém nhưng chân thật, không hiểu công đức cùng sự trang nghiêm ở Tịnh Độ, chỉ cảm nghĩ đời sống nhiều vất vã khổ nhọc, cõi Ta Bà đầy chán nãn lo phiền, nên nguyện sanh về cõi nước thanh tịnh an vui—The first category comprises ordinary beings who are of limited capacities but true and sincere. They may not understand what constitutes the virtues or adornments of Buddha lands; nevertheless, realizing that life is full of hardship and suffering, and that the Saha World abounds in worries and troubles, they vow to be reborn in a pure and happy land. 2) Hạng thứ hai, tuy cũng là phàm phu nhưng có trí huệ và chí nguyện lớn, muốn sanh về cõi Cực Lạc để bảo đảm thoát ly nẻo luân hồi, mau chứng đạo quả, hoàn thành chí nguyện tự độ độ tha—The second category is composed of individuals who, although ordinary beings, possess great aspirations and a certain degree of wisdom. They seek rebirth in the Pure Land to ensure escape from transmigration, swift attainment of Buddhahood and fulfillment of their Vows to rescue themselves and others. 3) Hạng thứ ba, gồm từ hàng tiểu Thánh đã thoát ly vòng sống chết cho đến bậc Đẳng Giác Bồ Tát, vì muốn mau tiến lên thượng địa, muốn học hỏi diệu pháp thành Phật, nên phát nguyện vãng sanh—The third category ranges from the lesser saints who have escaped Birth and Death to the greatest Bodhisattvas, those at Equal Enlightenment stage. They vow to be reborn in the Pure Land in order to progress swiftly to the ultimate “Bodhisattva ground” and study the wonderful Dharma leading to Buddhahood.

tam chủng vô thường

xem ba loại vô thường.

tam chủng xiển đề

Ba loại xiển đề—Three kinds of icchantika: 1) Nhứt Xiển đề: The wicked. 2) A Xiển đề ca: Đại bi Xiển đề—Bodhisattvas who become icchantika to save all beings, i.e. Earth Store Bodhisattva. 3) Vô tính Xiển đề: Those without a nature for final nirvana.

tam chủng ác

(三種惡) Ba thứ ác nói trong luận Thành thực quyển 10. 1. Ác: Làm những việc trái với đạo lí như giết hại, trộm cướp, gian dâm, nói dối... đều thuộc về Ác. 2. Đại ác: Tự mình làm và dạy người làm, như mình giết, và dạy người giết, tự mình keo kiệt và dạy người keo kiệt... đều thuộc về Đại ác. 3. Ác trung ác: Tự mình sẻn pháp, và dạy người sẻn pháp, vì 1 người sẻn pháp thì làm cho nhiều người bị rơi vào ác đạo, cũng là đoạn diệt Phật pháp, đó là Ác trung Ác.

tam chủng ý sanh thân

(三種意生身) Ba thứ Ý sinh thân. Hàng Bồ tát Thông giáo Đăng địa được tam muội Như huyễn, có năng lực thị hiện vô lượng thần thông tự tại, vào khắp các cõi Phật, tùy ý không ngại, ý muốn đến nơi nào thì thân theo đến nơi ấy, cho nên gọi là Ý sinh thân. Cứ theo phẩm Nhất thiết ngữ tâm trong kinh Lăng già quyển 3 thì Bồ tát Thông giáo có 3 thứ Ý sinh thân là: 1. Tam muội lạc chính thụ ý sinh thân: Khi Bồ tát Đệ tam địa, Đệ tứ địa, Đệ ngũ địa của Thông giáo tu Tam muội thì chứng được niềm vui chân không tịch diệt, vào khắp tất cả cõi Phật, tùy ý không ngại.2. Giác pháp tự tính tính ý sinh thân: Bồ tát Thông giáo Đệ bát địa biết rõ tất cả tính của tự tính các pháp như huyễn như hóa, thảy đều không có, dùng vô lượng thần lực vào khắp tất cả cõi Phật, nhanh chóng như ý muốn, tự tại vô ngại. 3. Chủng loại câu sinh vô hành tác ý sinh thân: Bồ tát Đệ cửu địa và Đệ thập địa của Thông giáo, biết rõ tất cả pháp đều là Phật pháp, nếu được 1 thân thì cùng lúc phổ hiện vô lượng thân, như hình tượng trong gương, tùy theo các loại mà cùng hiện ra 1 lượt, tuy hiện các hình tượng nhưng không có tác vi.

tam chủng đoạn

Three kinds of cutting-off, excision or bringing to an end (Uccheda)—See Tam Đoạn.

tam chủng đà la ni

Three kinds of Dharani—See Tam Đà La Ni.

tam chủng đại trí

Ba loại đại trí—Three kinds of major wisdom: 1) Tự đạt trí: Self-acquired, no master needed. 2) Tự tánh trí: Unacquired or natural. 3) Phổ trí: Trí hiểu biết rộng lớn nhờ tu tập thiền định—Universal mind through practicing medtiation.

tam chủng địa ngục

Three kinds of hells: 1) Nhiệt địa ngục: Hot hells. 2) Hàn địa ngục: Cold hells. 3) Cô độc địa ngục: Solitary hells. ** See Địa Ngục.

tam chủng định nghiệp luân

(三種定業輪) Ba thứ bánh xe định nghiệp. Cứ theo phẩm Thập luân trong kinh Địa tạng thập luân quyển 2, đức Như lai dùng 3 bánh xe pháp Thiền định, Tụng tập và Doanh phúc để phá diệt tất cả phiền não hoặc nghiệp, đồng thời, khiến chúng sinh tu hành đúng như lời Phật dạy để chứng đạo quả, cho nên nói Tam chủng định nghiệp luân này. 1. Kiến lập tu định nghiệp luân: Khiến chúng sinh tu hành chính quán, quán xét tướng sinh diệt của vô minh phiền não, dùng các pháp như Sổ tức tu tập tĩnh lự, phá diệt tất cả hoặc nghiệp, khiến tâm an trụ nơi chính định. 2. Kiến lập tập tụng nghiệp luân: Khiến chúng sinh tập tụng kinh giáo Đại thừa, đầu hôm, nửa đêm, gần sáng, siêng năng không mệt mỏi, tâm không tán loạn, trừ diệt tất cả hoặc nghiệp. 3. Kiến lập doanh phúc nghiệp luân: Khiến chúng sinh tu hành giữ giới, bố thí, tạo tượng, xây tháp, cúng dường Tam bảo, làm mọi việc phúc báo để phá trừ tất cả hoặc nghiệp.

tam cung dưỡng

(三供養) Ba pháp cúng dường được nêu trong Phổ hiền hành nguyện sớ, đó là: 1. Tài cúng dường: Đem của báu thế gian và các thứ cúng dường thượng diệu để cúng dường chư Phật và Bồ tát. 2. Pháp cúng dường: Y theo giáo pháp đức Phật dạy mà tu mọi hạnh, cho đến không bỏ hạnh Bồ tát, không lìa tâm bồ đề, đó chính là đem pháp cúng dường chư Phật và Bồ tát. 3. Quán hạnh cúng dường: Nương vào diệu quán Trung đạo mà quán xét trong tâm 1 niệm có đầy đủ pháp Tam đế, không hề thiếu xót, chúng sinh và chư Phật là bình đẳng không 2, phiền não sinh tử tức là bồ đề niết bàn, niệm niệm quán xét như thế chính là cúng dường chư Phật và Bồ tát. (xt. Cúng Dường).

tam cá cáo sắc

(三個告敕) Ba lần dạy bảo của đức Phật đối với các Bồ tát tích hóa và các Bồ tát đến từ các phương khác được ghi trong kinh Pháp hoa.1. Không bao lâu nữa đức Như lai sẽ vào Niết bàn nên Ngài muốn phó chúc kinh Pháp hoa cho các đệ tử và người đời sau.2. Đức Phật bảo đại chúng, sau khi Ngài diệt độ, nếu ai có khả năng đọc tụng hộ trì kinh Pháp hoa thì nay trước đức Phật hãy tự nói lời thệ. 3. Đức Phật lại bảo các thiện nam tử, sau khi Phật diệt độ, nếu người nào có khả năng thụ trì, đọc tụng kinh Pháp hoa này thì nay trước đức Như lai hãy tự nói lời thệ.[X. phẩm Kiến bảo tháp trong kinh Pháp hoa Q.4].

tam cùng

Three togethers: 1) Cùng ăn: Eat together. 2) Cùng ở: Live together. 3) Cùng làm việc: Work together.

tam cú

(三句) Ba câu chuyển ngữ của các Thiền sư dùng để khai thị người học. Các tam cú sau đây được xem là có tính cách đại biểu: 1. Vân môn tam cú: Ba câu của Thiền sư Vân môn Văn yển: a) Hàm cái càn khôn: Ngậm chứa trời đất.b) Mục cơ thù lượng: Tùy theo căn cơ. Tam Cổ Câu Tam Cổ Kích Nội phược Tam cổ ấn c) Bất thiệp vạn duyên: Không dính các duyên. 2. Đức sơn tam cú: Ba câu của Thiền sư Đức sơn Duyên mật. a) Hàm cái càn khôn: Ngậm chứa trời đất.b) Tiệt đoạn chúng lưu: Dứt bặt các dòng. c) Tùy ba trục lãng: Theo nước đuổi sóng.(xt. Vân Môn Tam Cú). 3. Ba lăng tam cú: Ba câu của Thiền sư Ba lăng Hạo giám: a) Ngân uyển lí thịnh tuyết: Trong chén bạc đựng tuyết. b) San hô chi chi sanh trứ nguyệt: Cành cành san hô chống đỡ trăng. c) Kê hànthướng thụ áp hàn há thủy: Gà lạnh lên cây, vịt lạnh xuống nước. Ba câu này rất được ngài Vân môn Văn yển tán thưởng. Ngài từng nói (Đại 48, 313 thượng): Sau này vào ngày giỗ của lão tăng, các ông chỉ cần cử xướng 3 câu chuyển ngữ này để cúng dường lão tăng là đủ rồi!. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.2]. (xt. Ba Lăng Tam Chuyển Ngữ). 4. Nham đầu tam cú: Ba câu của Thiền sư Nham đầu Toàn khoát: a) Giảo khứ giảo trụ: Chấp trước đi và đứng. b) Dục khứ bất khứ dục trụ bất trụ: Muốn thoát khỏi đi, đứng lại bị kẹt vào đi, đứng. c) Hoặc thời nhất hướng bất khứ hoặc thời nhất hướng bất trụ: Hoàn toàn thoát khỏi đi, đứng. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.6]. 5. Phần dương tam cú: Ba câu của Thiền sư Phần dương Thiện chiêu: a) Trước lực lớn: Lực lượng lớn mạnh. b) Chuyển thân cú: Cơ dụng chắc chắn, vững chãi. c) Thân thiết cú: Khế hợp nhanh chóng. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.2]. 6. Lâm tế tam cú: Ba câu của Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền: a) Tam yếu ấn khai chu điểm trắc, Vị dung nghĩ nghị chủ tâm phân: Một niệm khai ngộ, Phật chân thật hiện tiền. b) Diệu giải khởi dung vô trước vấn, Âu hòa tranh phụ tiệt lưu cơ: Dùng các pháp phương tiện để cầu giải thoát tuyệt đối.c) Khán thủ bằng đầu lộng ổi lỗi, Trừu khiên đô lai lí hữu nhân: Vì những người độn căn mà bày ra các pháp môn phương tiện để dắt dẫn, giúp họ khai ngộ. (xt. Lâm Tế Tam Cú).

tam cú giai đoạn

(三句階段) Gọi tắt: Tam cú. Giai đoạn 3 câu. Ba câu hàm ý là Nhân, Căn, Cứu cánh hoặc Nhân, Hành, Quả. Ba câu này biểu thị giai đoạn từ tu nhân đến Phật qua của Mật giáo, tức lấy tâm bồ đề làm nhân, lấy đại bi làm căn và lấy phương tiện làm cứu cánh. 1. Tâm bồ đề là nhân: Tâm Bồ đề tức là lòng tin trong sạch, chúng sinh sẵn có tính Phật, có đầy đủ công đức nhân quả tự hành hóa tha, vượt ngoài tất cả hí luận, thanh tịnh như hư không, được sức tin sâu, lìa tâm ngờ vực, vào được biển Phật, công đức muôn hạnh từ đó tăng trưởng. 2. Đại bi là căn: Bi là dịch ý từ tiếng Phạm Karuịà (Hán âm: Ca lô noa); Ka nghĩa là khổ,ruịà nghĩa là cắt đứt. Từ như trồng cấy lúa tốt, Bi như cắt bỏ cỏ dại. Căn nghĩa là có khả năng giữ gìn, giống như gốc cây giữ gìn thân cây, cành lá, hoa quả, không để gãy đổ. Tức là hành giả dùng tâm bồ đề thanh tịnh trùm khắp mọi nơi làm các Phật sự, phát khởi bi nguyện hồi hướng chúng sinh, nhờ căn lành của chính mình và sức gia trì pháp giới của Như lai mà các sự nghiệp vi diệu mình làm đều được thành tựu. Tức muôn hạnh do hành giả tu, nhờ đại bi mà tự nhiên khai phát. 3. Phương tiện là cứu cánh: Muôn hạnh đầy đủ cùng tột, không còn gì thêm nữa, phương tiện tùy cơ độ sinh được tự tại, mọi việc làm được rốt ráo, tức diệu quả đề hồ, nguồn gốc tam mật. Nếu đem Tam cú phối hợp với Ngũ chuyển thì tâm bồ đề là nhân phối với phát tâm, đại bi là căn phối với tu hành, phương tiện là cứu cánh phối với bồ đề, niết bàn, cứu cánh. Nếu đem phối hợp với Tam bộ thì nhân phối với Liên hoa bộ năng tàng, căn phối với Kim cương bộ trí đức và cứu cánh phối với Phật bộ viên mãn.[X. kinh Đại nhật Q.1; kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.1; luận Bồ đề tâm; Đại nhật kinh sớ Q.1, 2].

tam cúng dường

Ba pháp cúng dường—Three modes of serving the Buddha: 1) Tài Cúng Dường: Dâng hương, hoa, quả—Offerings of incense, flowers and fruits. 2) Lễ Bái Cúng Dường: Tỏ lòng tôn kính—Offerings of praise and reverence. 3) Giới Cúng Dường: Hành trì tốt—Good (right) conduct.

Tam căn

三根; C: sāngēn; J: sankon;|1. Chỉ ba căn cơ của con người: Thượng, trung và hạ; 2. Ba nguồn gốc bất thiện là Tham, sân và si.

tam căn

Three cultivated levels—Mỗi căn trong lục căn đều có ba khả năng khác nhau—Each of the six organs has three different powers: 1) Thượng Căn: Clever (high). 2) Trung Căn: Middle capacity (intermediate). 3) Độn căn: Dull (low). ; (三根) I. Tam Căn. Cũng gọi Tam bối. Căn tính của chúng sinh có 3 bậc thượng, trung, hạ gọi là Tam căn. Cứ theo phẩm Dược thảo dụ trong kinh Ba vị Ca diếp qui y đức Phật (bức khắc nổi ở tháp Sơn kì)Pháp hoa quyển 3, giống như cây cỏ um tùm trong rừng, có loại gốc nhỏ thân nhỏ cành nhỏ lá nhỏ, có loại gốc vừa thân vừa cành vừa lá vừa, có loại gốc lớn thân lớn cành lớn lá lớn; bậc thượng, trung, hạ tùy cây lớn nhỏ mà sức hấp thu khác nhau. Chúng sinh cũng thế, người thượng căn (lợi căn) căn tính lanh lẹ, bén nhạy, trí hiểu biết phát sinh nhanh chóng, có năng lực chịu đựng đối với việc khó làm và có khả năng chứng diệu quả; kế đến là người trung căn, còn người hạ căn (độn căn) là yếu kém nhất. Ma ha chỉ quán quyển 6, hạ (Đại 46, 79 trung) nói: Người hạ căn dứt hết hoặc (phiền não) mới ra khỏi Giả, trong kinh Pháp hoa, Phật phá tâm chấp trước Niết bàn của hạng người này, khuyến khích họ phát tâm Vô thượng đạo, khởi tuệ phương tiện (...) Người trung căn sau khi đoạn Kiến hoặc thì sinh tử rút ngắn dần, Tư hoặc tự nhiên đoạn. (...) Người thượng căn thì tâm chớm sinh trí tuệ liền thấu suốt Kiến hoặc và Tư hoặc tức không. [X. luận Đại trí độ Q.54; Pháp hoa huyền luận Q.9; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.6, phần 3; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ]. II. Tam Căn. Gọi đủ: Tam bất thiện căn. Chỉ cho 3 phiền não tham, sân và si. (xt. Tam Bất Thiện Căn). III. Tam Căn. Gọi đủ: Tam vô lậu căn. Tức chỉ cho Vị tri đương tri căn, Dĩ tri căn và Cụ tri căn trong 22 căn. (xt. Tam Vô Lậu Căn).

tam cương

(A) Ba bổn phận của con người được Khổng Tử dạy trong Tứ thư—Three relations of a man's duty taught in Confucian theory: 1) Quân thần: King and subject. 2) Phụ tử: Father and son. 3) Phu phụ: Husband and wife. (B) Ba vị sư chính trong tự viện—Three main monks in a monastery: 1) Tự Chủ: Vị sư trong coi tổng quát trong tự viện—Head of a monastery—An abbot, or controller of all affairs in a monastery. 2) Thượng Tọa: Vị sư trông coi việc hoằng pháp—Venerable, or bhikkhu who is responsible for preaching the dharma. 3) Duy Na: Vị sư giám viện—Supervisors of monks in a monastery. ; (三綱) I. Tam Cương. Ba chức vụ nòng cốt lãnh đạo chúng tăng trong tùng lâm là Thượng tọa, Tự chủ và Đô duy na. 1. Thượng tọa(Phạm:Sthavira): Vốn chỉ cho vị tỉ khưu Thượng tọa có tuổi hạ cao, ở đây chỉ cho người có tuổi hạ cao, danh đức trọng vọng được cử ra để thống lãnh chúng tăng. 2. Tự chủ(Phạm: Vihàra-svàmin): Vốn chỉ cho người xây cất chùa viện, ở đây thì chỉ cho người trông coi việc tu tạo điện đường trong chùa hoặc quản lí mọi việc... 3. Đô duy na, gọi tắt: Duy na: Đô duy là tiếng Hán, Na là tiếng Phạm karmadàna (dịch âm là Yết ma đà na, dịch ý là trao việc), bởi thế, Đô duy na là danh từ ghép chung cả Phạm và Hán. Hoặc được dịch là Duyệt chúng(làm cho chúng tăng đẹp lòng), là trông coi các việc lặt vặt trong chúng tăng. Chế độ Tam cương bắt đầu được đặt ra vào thời đại Diêu Tần (cuối thế kỉ IV).[X. luận Tập dị môn túc Q.4; Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng; Phật tổ thống kỉ Q.38]. II. Tam Cương. Chỉ cho 3 chức vụ: Tự chủ, Tri sự, Duy na. Có khi cũng gọi là Thượng tọa, Duy na, Điển tọa. [X. Đại tống tăng sử lược Q.trung].

tam cảnh

Theo Pháp Tướng Tông, đối tượng của thế giới bên ngoài in hình bóng vào tâm thức gồm có ba loại cảnh. Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, thì thuyết về ba loại cảnh có thể là xuất xứ từ Na Lan Đà. Những bài kệ thông dụng của Pháp Tướng Tông lại hầu như có nguồn gốc từ Trung Hoa, như sau: “Tâm cảnh bất tùy tâm. Độc ảnh duy tùy kiến. Đái chất thông tình bản. Tánh chủng đẳng tùy ưng.” Bài kệ nầy giải thích bằng cách nào mà ba loại cảnh liên hệ với nhiệm vụ chủ thể và bản chất nguyên bản ngoại tại. Bạn có thể điên đầu trong khi tìm hiểu vì sao Duy Thức Học lại có cái gọi là “thực thể nguyên bản.” Thực ra, đừng quên rằng mặc dù nó là thực thể ngoại tại, nó lại là cái biểu lộ ra ngoài từ nơi thức. Đệ bát A Lại Da thức tự nó không phải là thực thể cố định không thay đổi; nó luôn luôn biến chuyển từng sát na, và được huân tập hay ghi nhận ấn tượng bằng tri nhận và hành động, nó trở thành tập quán và hiệu quả trong sự biểu lộ ngoại tại. Nó giống như dòng nước chảy không bao giờ dừng lại ở một nơi nào trong hai thời hạn tiếp nối nhau. Và chỉ duy có dựa vào sự liên tục của dòng nước ta mới có thể nói về “dòng sông”—According to the Dharmalaksana, the objects of the outer world (visaya), which throw shadows on the mind-face are of three kinds. The theory of three kinds of the object-domain may have originated from Nalanda, but the four-line memorial verse current in the school is probably of Chinese origin. It runs as follow: “The object of nature does not follow the mind (subjective). The subject may be good or evil, but the object is always neutral. The mere shadow only follows the seeing (subjective). The object is as the subject imagines. The object with the original substance. The character, seed, etc, are various as occasions require. The object has an original substance, but the subject does not see it as it is.” This four-line verse explains how the three kinds of the object-domain are related to the subjective function and the outer original substance. One may be puzzled in understanding how an idealism can have the so-called original substance. We should not forget that though it is an outer substance it is after all a thing manifested out of ideation. The eighth, the Alaya-consciousness itself, is not an unchangeable fixed substance (dravya), but is itself ever changing instantaneously (ksanika) and repeatedly; and, being 'perfumed' or having impressions made upon it by cognition and action, it becomes habituated and efficient in manifestation. It is like a current of water which never stops at one place for two consecutive moments. It is only with reference to the continuity of the stream that we can speak of a river. Let examine these three kinds of object-domain: 1) Tánh Cảnh: Tri nhận tức thời, nghĩa là đối tượng có bản chất nguyên bản và trình bày nó như là chính nó, cũng như năm đối tượng giác quan, sắc, thinh, hương, vị, xúc, được tri nhận như vậy. Tiền ngũ thức và đệ bát A Lại Da thức, tri nhận đối tượng theo cách nầy—The object domain of nature or immediate perception, i.e., the object that has the original substance and presents it as it is, just as the five objects of the sense, form, sound, smell, taste and touch, are perceived as they are. The first five sense-consciousnesses and the eighth, the store-consciousness, perceive the object in this way. 2) Độc Ảnh Cảnh: Hay là ảo giác. Hình bóng chỉ xuất hiện tự nơi tưởng tượng và không có hiện hữu thực sự. Lẽ dĩ nhiên, nó không có bản chất nguyên bản, như một bóng ma vốn không có hiện hữu. Chỉ có trung tâm giác quan thứ sáu hoạt động và tưởng tượng ra loại cảnh nầy—The object-domain of mere shadow or illusion. The shadow-image appears simply from one's own imagination and has no real existence. Of course, it has no original substance as a ghost which which does not exist at all. Only the six sense-center, functions on it and imagines it to be. 3) Đối Chất Cảnh: Đối tượng có một bản chất nguyên bản nhưng lại không được tri nhận đúng y như vậy. Khi đệ thất Mạt Na Thức nhìn lại nhiệm vụ chủ thể của đệ bát A Lại Da Thức, nó xem thức nầy như là ngã. Nhiệm vụ chủ thể của A Lại Da đệ bát thức có bản chất nguyên bản, nhưng nó không được đệ thất Mạt Na Thức nhìn thấy y như vậy, và chỉ được xem như là ngã, mà thực tại thì chỉ là ảo giác vì nó không phải là ngã—The object-domain with the original substance. The object has an original substance and yet is not perceived as it is. When the seventh, the thought-center, looks at the subjective function of the eighth, the store-center, it considers that it is self or ego. The subjective function of the eighth, the store-center, has its original substance or entity, but it is not seen as it is by the seventh consciousness and is regarded to be self or an abiding ego, which is in reality an illusion since it is not self at all.

tam cấu

(三垢) Cấu, Phạm: Mala. Ba thứ cáu bẩn. Chỉ cho 3 độc tham (Phạm: Ràga), sân (Phạm: Dvewa) và si (Phạm: Moha) làm cho tâm hành của chúng sinh nhớp nhúa. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển thượng (Đại 37, 103 hạ) nói: Tiêu trừ tam cấu, cứu giúp ách nạn, pháp Tiểu thừadạy dứt tuyệt 3 độc, gọi là Trừ tam cấu, tức nói tam độc là tam cấu. Hoa nghiêm kinh sớ diễn nghĩa sao quyển 16, thượng, giải thích câu Phật Tì xá phù không có tam cấu cho 3 thứ hiện hành, chủng tử và tập khí là tam cấu. Còn các nhà Thiên thai thì gọi Kiến tư hoặc, Trần sa hoặc và Vô minh hoặc là Tam cấu. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần đầu; Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán Q.trung].

tam cấu nhiễm

Tam Độc—Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba Cấu Nhiễm—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are three defilers or stains: 1) Tham Cấu Nhiễm: Desire—Greed—The stain of lust. 2) Sân Cấu Nhiễm: Anger—Ire—The stain of hatred. 3) Si Cấu Nhiễm: Stupidity—Ignorance—The stain of delusion.

tam cổ

(三股) Cũng gọi Tam cổ chử, Tam cổ kim cương, Tam cổ bạt chiếc la, Tam cổ phạ nhật ra, Để lí thường câu, Tam cổ. Chày 3 chĩa (Phạm: Tri-zaíku#), 1 trong các pháp khí của Mật giáo. Tam cổ vốn là 1 thứ vũ khí của Ấn độ đời xưa, ở đầu chia làm 3 chĩa, tượng trưng cho 3 bộ là Phật bộ, Kim cương bộ, Liên hoa bộ của Thai tạng giới và 3 mật Thân, Ngữ, Ý; hoặc tượng trưng chung cho pháp môn Tam quĩ là 3 trí, 3 quán... Theo kinh Tô tất địa, khi hành giả cầm chày 3 chĩa thì không bị Tì na dạ ca gây chướng ngại; còn khi niệm tụng Hộ ma, cầm chày 3 chĩa bên tay trái thì thành tựu mọi việc. [X. kinh Kim cương đính Q.2; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].

tam cổ câu

(三股鈎) Cũng gọi Kim cương câu. Móc câu 3 chĩa, vốn là 1 trong những thứ vũ khí của Ấn độ đời xưa, về sau được Mật giáo sử dụng để tượng trưng cho hình Tam muội da của các vị tôn. Như các bồ tát Kim cương câu trong Tứ nhiếp bồ tát của Mạn đồ la Kim cương giới, Kim cương diện thiên của Ngoại kim cương bộ, bồ tát Đại an lạc bất không chân thực trong viện Biến tri của Mạn đồ la Thai tạng giới, bồ tát Bất không câu Quán thế âm của viện Hư không tạng v.v... đều cầm Tam cổ câu.[X. Kim cương giới thất tập Q.thượng; Chư thuyết bất đồng kí Q.2]

tam cổ kých

(三股戟) Phạm:Tri-sùlahoặc Zakti#. Hán âm: Điệt lí thủ la. Cũng gọi Tam đầu kích, Tam kích xoa, Tam cổ mâu. Gọi tắt: Tam kích. Cây kích 3 chĩa đầu nhọn, 1 trong các thứ pháp khí của Mật giáo. Tam cổ kích là hình Tam muội da của Phẫn nộ nguyệt yểm tôn trong viện Kim cương thủ của Mạn đồ la Thai tạng giới, biểu thị ý hàng phục 3 độc tham, sân, si để hiển bày nghĩa của các vị tôn thuộc 3 bộ là Phật bộ, Kim cương bộ và Liên hoa bộ. Tam cổ kích là pháp khí cầm tay của các vị tôn như Hàng tam thế, Đại uy đức, Thắng tam thế phẫn nộ nguyệt yểm, Thiên thủ Quan âm, Tinh tiến ba la mật... trong Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới. Ngoài ra, Y xá na thiên, Quảng mục thiên, Ô ma phi, quyến thuộc của Thủy thiên... trong viện Ngoại kim cương bộ, cũng đều cầm cây kích này, đại khái là tượng trưng cho đức phá dẹp ác ma trong và ngoài. [X. Đại nhật kinh sớ Q.16; Chư thuyết bất đồng kí Q.4].

tam cổ ấn

(三股印) Cũng gọi Tam cốc ấn, Tam cổ kim cương chử ấn, Tam cổ chử ấn. Ấn khế tượng trưng hình cây chày kim cương 3 chĩa của Mật giáo. Ấn được kết 1 nửa gọi là Tam tiểu cổ ấn, đối lại, ấn này cũng được gọi là Tam đại cổ ấn. Y cứ vào Nội phược và Ngoại phược của ấn mẫu mà có 2 loại là Nội phược tam cổ ấn và Ngoại phược tam cổ Tam Cổ Chử ấn. Ấn tướng của Nội phược tam cổ ấn là 2 tay kết Nội phược quyền, 2 ngón giữa dựng thẳng chạm đầu vào nhau, 2 ngón trỏ co lại như hình móc câu, đều đặt ở lưng của 2 ngón giữa(để cách khoảng chừng 1 hạt thóc), tạo thành hình dáng cây chày 3 chĩa. Ấn Ma ma kê nói trong phẩm Mật ấn kinh Đại nhật chính là Nội phược tam cổ ấn. Về ấn tướng của Nội phược tam ấn còn có nhiều thuyết khác nhau. Trái lại, ấn mẫu ngoại phược, thì gọi là Ngoại phược tam cổ ấn. Ngoài ra, ấn Mãng mạc kê của Kim cương bộ mẫu, ấn Kết giới của Đại tam muội da... nói trong Cam lộ quân đồ lợi quĩ, cũng đều là Tam cổ ấn.

tam cổng niết bàn

Ba cửa ngõ đi vào Niết Bàn—Three gates to the city of nirvana: 1) Không: The emptiness—The void—Immaterial. 2) Vô tướng: Vô sắc—Formless. 3) Vô tác: Inactivity.

tam cụ túc

Ba món cần thiết khi thờ cúng—The three essential articles for worship: 1) Bình hoa: Flower vase. 2) Đèn: Candlestick. 3) Lư hương: Censer. ; (三具足) Đầy đủ 3 thứ. Tức chỉ cho lô hương, bình hoa và chân đèn cúng dường ở trước Phật.

tam cử

(三舉) Ba tội được nêu ra (cử) để chúng tăng xét xử trong khi làm pháp yết ma. Người vi phạm 1 trong 3 tội này thì bị đuổi ra khỏi đại chúng. Tam cử là: 1. Bất kiến cử: Người phạm tội, sau khi được người khác thành thực khuyên bảo nhưng vẫn không chịu thừa nhận là mình có tội. 2. Bất sám cử: Người có lỗi nhưng không có tâm ăn năn sửa đổi. 3. Ác kiến bất xả cử: Người cho mình biết tất cả pháp do đức Phật nói, đồng thời chủ trương phạm dâm dục không phải là chướng ngại đạo pháp. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 1, phần 2; thiên Trị nhân trong Tăng yết ma Q.hạ].

tam cực thiểu

(三極少) Chỉ cho đơn vị nhỏ nhất của 3 thứ là vật chất, danh xưng và thời gian. Đơn vị nhỏ nhất của vật chất là cực vi; đơn vị nhỏ nhất của danh xưng là 1 chữ; đơn vị nhỏ nhất của thời gian là sát na. [X. luận Câu xá Q.12].

tam dao động

Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba Dao Động—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are three kinds of trouble: 1) Tham Dao Động: The trouble of lust. 2) Sân Dao Động: The trouble of hatred. 3) Si Dao Động: The trouble of delusion.

tam diện đại hắc thiên

Trời mặt đen—The three-faced great black deva—Mahakala.

tam diệt đế

(三滅諦) Chỉ cho 3 loại Diệt đế do tông Duy thức dựa vào 3 tính mà lập ra. 1. Tự tính diệt: Tự tính của tính Biến kế sở chấp chẳng sinh. Diệt nghĩa là chẳng sinh. Tự tính chẳng sinh, giả gọi là Diệt, hoàn toàn chẳng thuộc về Đế. Đó là tính thực đế giả. 2. Nhị thủ diệt: Nhị thủ(năng thủ, sở thủ) của tính Y tha khởi là chẳng sinh. Diệt là trạch diệt. Theo ngài Hộ pháp thì đoạn trừ năng thủ, sở thủ của tính Y tha khởi thuộc phần nhiễm thì có thể được bất sinh, bất sinh là trạch diệt, đó tức là Diệt đế. Năng thủ, sở thủ chẳng sinh là cửa của trạch diệt từ đó mà ra, cho nên trạch diệt giả gọi là tính Y tha khởi, nhưng thể của diệt thì chẳng phải tính Y tha khởi. Đó là tính giả đế thực. Còn theo ngài An tuệ thì năng thủ, sở thủ là tính Biến kếsở chấp, nhị thủ nương vào phần thể của thức nhiễm ô là tính Y tha khởi. Nếu dứt phần tự thể của tính Y tha khởi làm chỗ nương cho năng thủ, sở thủ này thì có thể được không sinh, không sinh tức là diệt, giả gọi là tính Y tha khởi. 3. Bản tính diệt: Tức bản tính của chân như vốn vắng lặng. Bản tính chân như không có nhiễm ô, cho nên là bản tính diệt. Chân như là bản tính diệt, nếu chỉ nói theo thuyên(giải rõ)thì là tính thực, đế giả; còn nếu nói cả thuyên và chỉ(yếu chỉ) thì là đế và tính đều thực. [X. luận Thành duy thức Q.8; luận Biện trung biên Q.trung; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần đầu].

tam diệu

(三妙) Chỉ cho thuyết Tâm, Phật và chúng sinh dung hòa vào nhau một cách mầu nhiệm tự tại do tông Thiên thai thành lập. Đây là từ ngữ hình dung sự bao nhiếp lẫn nhau giữa mình và người. Bởi vì kinh Pháp hoa có 2 diệu là Tương đãi diệu và Tuyệt đãi diệu; 2 diệu này được dùng để dung hợp 3 pháp Tâm, Phật và chúng sinh 1 cách mầu nhiệm thì pháp chúng sinh cũng có 2 diệu, pháp Phật và pháp Tâm mỗi pháp cũng đều có 2 diệu, dung hòa lẫn nhau 1 cách tự tại mà thành là Tam diệu. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.2, thượng; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.2, thượng].

tam diệu hạnh

Ba phẩm chất của một tăng sĩ—Three characteristics of a good monk: 1) Kềm thúc nơi thân: Control his body. 2) Kềm thúc nơi khẩu: Control his mouth. 3) Kềm thúc nơi ý: Control his mind. ; (三妙行) Chỉ cho cái giường thiền trongTăng đường. Giường này rộng 3 thước (Tàu). Trên đầu giường có 3 cái đòn tay, cho nên gọi là Tam điều chuyên hạ. Chiều dài của giường là 6 thước, gọi là Đơn tiền; ván giường dày 1 thước, cộng chung là 7 thước, gọi là Thất xích đơn tiền. Tùy kích thước khác nhau mà có Lục xích đơn, Ngũ xích đơn... Bích nham lục tắc 25 (đại 48, 166 hạ) nói: Nếu những người ấy thấy được thì là cùng tham với am chủ Liên hoa phong. Còn nếu chưa được như thế thì tam điều chuyên hạ, thất xích đơn tiền, hãy tham kỹ thử xem!. [X. Kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục Tây thiền kế đồ thiền sư chương].

Tam duyên

三縁; C: sānyuàn; J: san'en;|Ba loại nhân duyên (điều kiện). I. 1. Chung sinh (終生): Nhân duyên chấm dứt cuộc sống; 2. Đoạn hoặc (斷惑): Nhân duyên cắt đứt lậu hoặc, phiền não; 3. Thụ sinh (受生): Nhân duyên thụ sinh (thụ thai, tái sinh). II. Tà sư, tà giáo và tà kiến. III. Theo Thiện Đạo (善導) thì có ba nhân duyên thiện hảo được khởi dẫn trong lúc niệm Phật: 1. Thân duyên (親縁): Hành giả trở nên thân thiện hơn với Phật A-di-đà trong lúc xưng tán hồng danh của ngài, quán tưởng công đức của ngài cũng như tỏ vẻ cung kính tuỳ thuận; 2. Cận duyên (近縁): Hành giả nhờ lòng thành tha thiết yết kiến Phật mà được ngài cảm ứng; 3. Tăng thượng duyên (増上縁): Vì lòng thành xưng tán danh hiệu Phật nên hành giả tiêu diệt được nghiệp chướng, đạt được một cấp bậc tái sinh tốt hơn.

tam duyên

Ba mối duyên nối kết khi chúng ta cầu niệm Phật—Three nidanas or links with the Buddha resulting from calling upon him: 1) Thân duyên: Đức Phật A Di Đà nghe những người trì niệm hồng danh của Ngài, thờ phụng Ngài, biết tâm họ và tâm Ngài là một—That Amitabha hears those who call his name, sees their worship, knows their hearts and is one with them. 2) Cận duyên: Đức Phật A Di Đà hiển hiện ngay trước những người mong mỏi được thấy Ngài—That Amitabha shows himself to those who desire to see him. 3) Tăng thượng duyên: Những người mà trong mỗi lời nguyện luôn nguyện tẩy sạch tội chướng, khi lâm mạng chung thời Đức Phật A Di Đà sẽ tiếp dẫn—At every invocation (cầu nguyện) aeons of sins are blotted out (tẩy đi), Amitabha and his sacred host receive such a disciple at death. ; (三緣) Cũng gọi Nhiếp thủ tam duyên. Chỉ cho Thân duyên, Cận duyên và Tăng thượng duyên. Từ ngữ này có xuất xứ từ Quán kinh sớ định thiện nghĩa quyển 3 của ngài Thiện đạo đời Đường, nói về duyên do mà những hành giả tu Tịnh độ được ánh sáng của đức Phật A di đà nhiếp thủ. Tam duyên là: 1. Thân duyên: Khi hành giả miệng xưng danh hiệu Phật, thân lễ kính Phật, tâm thầm niệm Phật thì Phật nghe người ấy xưng danh, thấy ngườiấy lễ kính, biết người ấy niệm Phật. Như vậy, hành giả và Phật nhớ nghĩ lẫn nhau, cả 2 đều có sự quan hệ thân thiết không thể chia cắt được. 2. Cận duyên: Khi hành giả muốn thấy Phật thì Phật liền đáp ứng lòng mong muốn ấy của hành giả mà hiện ra ở gần bên hành giả.3. Tăng thượng duyên: Hành giả xưng niệm danh hiệu Phật, niệm niệm diệt trừ tội chướng, lúc lâm chung, Thánh chúng đến đón, không bị nghiệp chướng trói buộc, chắc chắn được vãng sinh. Ngoài ra, Tam duyên cũng chỉ cho Từ bi duyên(tức Chúng sinh duyên), Pháp duyên và Vô duyên duyên. (xt. Từ Bi).

Tam Duyên Sơn Chí

(三緣山志, Sanenzanshi): 9 quyển, trước tác của Trúc Vĩ Thiện Trúc (竹尾善筑, Takeo Zenchiku, 1782-1839), cháu của Sơn Huyện Đại Nhị (山縣大貳, Yamagata Daini, 1725-1767), nhà binh học dưới thời Giang Hộ; là thư tịch viết về lịch sử của Tăng Thượng Tự (增上寺, Zōjō-ji), ngôi chùa trung tâm của Phái Trấn Tây (鎭西派) thuộc Tịnh Độ Tông.

tam dư

Ba thứ còn thừa lại khiến chúng sanh tiếp tục luân hồi—The three after death remainders, or continued mortal experiences, of sravakas and pratyeka-buddha, who mistakenly think they are going to final nirvana (Vô dư Niết bàn), but will still find the following three remainders: 1) Phiền não dư: Further passion and illusion. 2) Nghiệp dư: Further karma. 3) Quả dư: Continued rebirth, in realms beyond the trailoka (tam giới). ; (三餘) Cũng gọi Tam chủng dư. Dư là thừa ra, sót lại. Nghĩa là hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác tuy đã vào Niết bàn vô dư nhưng vẫn còn sót lại 3 thứ là phiền não, nghiệp và quả báo. Đó là: 1. Phiền não dư(cũng gọi Chướng dư): Hàng Nhị thừa tuy đã dứt trừ Phiền não chướng, vào Niết bàn vô dư nguội thân bặt trí, nhưng vẫn chưa đoạn trừ Sở tri chướng, các phiền não nhỏ nhiệm vẫn chưa được diệt hết, đây chính là tàn dư của phiền não. 2. Nghiệp dư(cũng gọi Đạo dư): Hàng Nhị thừa tuy đã dứt trừ tất cả nghiệp hữu lậu, nhưng vẫn còn chịu thân biến dịch và nghiệp vô lậu tàn dư. 3. Quả báo dư(cũng gọi Quả dư, Báo dư, Khổ dư): Hàng Nhị thừa tuy đã đoạn trừ Phiền não chướng, dứt hết nghiệp hữu lậu, xả bỏ thân phần đoạn mà vào Niết bàn vô dư, nhưng vì chưa đoạn trừ Sở tri chướng, chưa diệt hết nghiệp vô lậu, chưa dứt bỏ thân biến dịch nên vẫn còn chịu quả báo của thân biến dịch tàn dư. [X. luận Phật tính Q.3; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.50].

Tam Dương

(三陽): Dịch Học Tượng Số thời nhà Hán lấy 12 quẻ tượng trưng cho 12 tháng trong năm. Trong đó, tháng 10 là quẻ Khôn (坤卦), thuần về hào âm; tháng 11 là quẻ Phục (復卦), một dương sanh bên dưới; tháng 12 là quẻ Lâm (臨卦), hai dương sanh bên dưới; tháng Giêng là quẻ Thái (泰卦), ba dương sanh bên dưới. Lúc này âm dần tiêu, dương dần tăng trưởng, có ý là vạn sự vạn vật đều đổi mới. Cho nên, sau này người ta thường dùng từ Tam Dương khai thái (三陽開泰), Tam Dương giao thái (三陽交泰) để xưng tụng, chúc mừng đầu năm mới hoặc ngụ ý cát tường, tốt đẹp. Như trong tờ Hạ Nguyên Đán Biểu (賀元旦表) của Trương Cư Chánh (張居正, 1525-1582) nhà Minh có đoạn: “Tư giả đương Tam Dương khai thái chi hầu, chánh vạn vật xuất chấn chi thời, khí chuyển hồng quân, cọng lạc Nghiêu thiên chi hóa nhật (茲者當三陽開泰之候、正萬物出震之時、氣轉鴻鈞、共樂堯天之化日, nay gặp lúc khí tiết đầu xuân tốt đẹp, đúng phải lúc vạn vật chuyển mình, khí rung đất trời, cùng vui ngày chuyển hóa dưới trời vua Nghiêu).” Hay trong Tục Chỉ Nguyệt Lục (續指月錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1579) quyển 11 có câu: “Tam Dương giao thái, vạn vật hàm tân, hiển nhất chân chi diệu dụng, tổng tạo hóa chi uyên nguyên, trần trần hợp đạo, xứ xứ thông tân, pháp diên đại khải, giác uyển hoằng khai (三陽交泰、萬物咸新、顯一眞之妙用、總造化之淵源、塵塵合道、處處通津、法筵大啟、覺苑弘開, đầu xuân an thái, muôn vật mới toanh, lộ nguồn chơn ấy diệu dụng, thảy tạo hóa ấy uyên nguyên, nơi nơi hợp đạo, chốn chốn thấm nhuần, cỗ pháp rộng mở, vườn giác phô bày).”

Tam dục

xem Ba sự ham muốn.

tam dục

The three lusts—Three kinds of desire: (A) 1) Hình mạo dục: Ưa thích mặt mày mình mẩy đẹp đẻ—Lust for form. 2) Tư thái dục: Ưa thích dung nghi cốt cách—Lust for carriage or beauty. 3) Tế xúc dục: Thích sự xúc chạm nhẹ nhàng êm ái—Lust for softness to the touch or refinement. (B) 1) Dâm: Sex. 2) Thực: Food. 3) Thùy: Sleep. ; (三欲) I. Tam Dục. Ba cái tham muốn trong tâm chúng sinh, đó là: 1. Hình mạo dục: Thấy dáng người xinh đẹp liền sinh lòng tham đắm. 2. Tư thái dục: Thấy cử chỉ đi đứng khoan thai, thái độ vui vẻ, yểu điệu liền sinh tâm ái nhiễm. 3. Tế xúc dục: Thấy làn da của nam, nữ mịn màng, bóng láng liền sinh tâm đắm nhiễm. Kinh Đại niết bàn (bản Bắc) quyển 12 (Đại 12, 434 thượng) nói: Lúc Đại bồ tát quán xét như thế thì tất cả xương trong thân đều chia lìa. Quán được như vậy rồi liền dứt tam dục. II. Tam Dục. Ba thứ dục của người xuất gia nói trong kinh Niết bàn, đó là: 1. Ác dục: Muốn làm bậc Thượng thủ trong đại chúng, khiến tất cả chư tăng phải theo mình, 4 chúng đều phải cúng dường cung kính khen ngợi mình; nếu có nói pháp cho họ nghe thì muốn họ đều tin nhận và dâng cúng cho mình y phục, thức ăn, nhà cửa... dồi dào. 2. Đại dục: Bảo cho 4 chúng biết mình đã được Sơ thụ cho đến Tứ vô ngại trí để mong lợi dưỡng. 3. Dục dục: Muốn được sinh lên cõi trời Phạm thiên cho đến dòng Sát đế lợi để được tự tại. III. Tam Dục. Chỉ cho 3 thứ dục vọng lớn ở cõi Dục nói trong thiên Pháp giới của Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 3, đó là: 1. Ẩm thực dục: Đối với các thức ăn uống thơm ngon, người phàm phu thường sinh tâm tham đắm. . Thụy miên dục: Tâm người phàm phu thường mờ tối, không chịu siêng năng tu hành đạo nghiệp, chỉ thích ngủ nghỉ. 3. Dâm dục: Tất cả nam nữ đều say đắm nhau, làm các việc dâm dục.

tam dục sanh

Kamupapattiyo (skt)—Theo Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, có ba loại dục sanh—According to The Long Discourses of the Buddha, Sangiti Sutra, there are three kinds of rebirth in the realm of Sense-Desire. 1) Có những loại hữu tình do dục an trú. Đối với các dục họ chịu sự an trú, họ bị chi phối phụ thuộc, như loài người, một số chư Thiên, và một số tái sanh trong các đọa xứ: There are beings who desire what presents itself to them, and are in the grip of that desire, such as human beings, some devas, and some in state of woe. 2) Có những loại hữu có lòng dục đối với những sự vật do họ tạo ra. Họ tạo ra các sự vật và họ sống bị chi phối phụ thuộc trong những dục vọng ấy, như các loài chư Thiên, Hóa Lạc Thiên: There are beings who desire what they have created, such as the devas who rejoice in their own creation. 3) Có những loại hữu tình có lòng dục đối với sự vật do các loài khác tạo ra. Họ sống bị chi phối phụ thuộc trong những dục vọng đối với sự vật do các loài khác tạo ra, như các loài Tha Hóa Tự Tại Thiên: There are beings who rejoice the creations of others, such as the devas Having Power over Others' Creation.

Tam giai giáo

三階教; C: sānjiē-jiào; J: sankaikyō;|»Giáo lí dành cho ba giai cấp«. Một phong trào Phật giáo được khởi dẫn bởi Tín Hành (信行, 540-594). Tam giai tương ưng với căn cơ khác nhau của chúng sinh, bao gồm: 1. Căn cơ tu hành theo Nhất thừa, dành cho những người căn cơ tuyệt đỉnh; 2. Căn cơ thực hiện Tam thừa, dành cho những người tuy không thực hiện được Nhất thừa, nhưng vẫn có khả năng phán đoán chân chính, phân biệt đúng sai, và 3. Không có căn cơ, khả năng gì, hoặc căn cơ thấp kém nhất, phá giới, ôm ấp tà kiến. Giáo lí dành cho hai giai cấp đầu được gọi là Biệt pháp (別法), giáo lí phân tích, phân biệt được chân nguỵ và giáo lí dành cho giai cấp cuối cùng được gọi là Phổ pháp (普法), lấy nguyên tắc »tất cả đều là Pháp thân« làm cơ sở, đặc biệt dành cho những chúng sinh căn cơ thấp kém, mù quáng từ lúc sinh ra (sinh manh 生盲), không có khả năng phân biệt thiện ác, chân nguỵ.|Phái này chia giáo pháp đức Phật ra ba giai đoạn: 1. Giai đoạn Chính pháp, là lúc mọi người đều tuân thủ giáo pháp Phật, kéo dài khoảng 500 năm kể từ Phật nhập diệt; 2. Giai đoạn Tượng pháp, là lúc pháp bị lẫn lộn đúng sai, kéo dài khoảng 1000 năm; 3. Giai đoạn Mạt pháp, là lúc giáo pháp không còn ai tin và bị huỷ diệt, giai đoạn này kéo dài 10.000 năm. Thời mạt pháp được xem là bắt đầu từ năm 550 sau Công nguyên và hiện nay còn kéo dài.|Tín Hành và các môn đệ cho rằng, chỉ môn phái của mình mới giữ đúng giáo pháp. Phái Tam giai chủ trương giữ nghiêm khắc Giới luật (s: śīla), ép xác, khổ hạnh, chỉ ăn mỗi ngày một bữa. Giáo phái này công kích các phái khác, gọi các nhà cầm quyền là »chệch hướng« nên bị cấm năm 600, và khoảng năm 845 mới thật sự biến mất.|Theo Tín Hành thì Nhất thừa (s: ekayāna) hay Phật thừa được giảng trong giai đoạn thứ nhất. Trong giai đoạn thứ hai thì Ba thừa (Thanh văn, Ðộc giác, Bồ Tát thừa) được truyền bá. Theo tông này, cả hai giai đoạn này đều có giới hạn. Giai đoạn thứ ba dành cho thời kì mạt pháp. Giáo lí phải thật toàn triệt và Tam giai giáo là đại diện.|Thời kì mạt pháp có đặc tính là con người chê bai giới luật, ngã theo tà đạo, không phân biệt tốt xấu, đúng sai. Theo phái này thì con người như thế nhất thiết phải tái sinh ở địa ngục, và một đời sống thiền định, phạm hạnh trong tu viện cũng không cứu được con người trong thời mạt pháp. Tông này chủ trương tu sống khổ hạnh, rời tu viện và sống với sự nghèo khổ của quần chúng. Quan điểm của phái này là mọi hiện tượng đều do Phật tính biến hiện ra, tất cả chúng sinh là »Phật sẽ thành«. Nhằm biểu hiện quan điểm này, đệ tử phái này hay quì lạy những người chẳng quen biết ngoài đường ngoài chợ, thậm chí quì lạy cả chó mèo và vì vậy hay bị cười đùa. Ðệ tử của Tam giai giáo tu phép bố thí và vì thế, hay nhận được của bố thí. Nhờ vậy với thời gian, phái này có nhiều của cải, có nhiều phương tiện làm việc thiện xã hội. Họ tổ chức những hoạt động từ thiện, ban phát quần áo, thức ăn cho người nghèo khổ hay bỏ tiền sửa chữa chùa chiền, tổ chức nghi lễ.

tam giai giáo

(三階教) Cũng gọi Đệ tam giai tông, Tam giai tông, Phổ pháp tông. Tông phái Phật giáo Trung quốc do ngài Tín hành (540-594) sáng lập vào đời Tùy đến đời Trung đường thì bị cấm lưu hành. Ngài Tín hành tự xưng là Nhất thừa bồ tát, đề xướng Phật giáo giai đoạn thứ 3, bỏ giới Cụ túc, chủ trương khổ hạnh nhẫn nhục, làm các việc nặng nhọc, ngày ăn 1 bữa, và sống bằng cách khất thực. Phản đối việc sùng bái ngẫu tượng mà chỉ lễ bái tháp. Sư cho rằng tất cả chúng sinh đều là chân Phật, cho nên trên đường đi gặp bất cứ ai đều lễ lạy. Về phương diện kinh tế, vào năm Khai hoàng thứ 3 (583) đời vua Văn đế nhà Tùy, sư thiết lập chế độ 16 thứ Vô tận tạng hạnh, khuyến hóa tín đồ thí xả tiền tài, lương thực và do các chùa cất giữ, sau đó đem bố thí hoặc cho các tín đồ nghèo túng vay mượn, hoặc dùng vào việc sửa chữa chùa tháp, kinh tạng... Năm Khai hoàng thứ 9 (589) quan Thượng thư Tả bộc xạ là Cao dĩnh thỉnh ngài Tín hành vào ở chùa Chân tịch (chùa Hóa độ) tại Trường an để hoằng pháp, ở đây sư lại sáng lập các chùa Quang minh, Từ môn, Tuệ nhật, Hoằng thiện... Đến tháng giêng năm Khai hoàng 14 (594) sư thị tịch. Đệ tử có các vị: Tuệ định, Đạo tiến, Vương thiện hạnh, Vương thiện tính... Sư có các tác phẩm: Tam Giai Phật pháp, Đối căn khởi hành pháp... gồm 35 bộ, 44 quyển. Năm Khai hoàng 20 (600), hệ phái này bị coi là dị đoan và bị vua ban sắc lệnh cấm lưu hành, nhưng đồ chúng vẫn duy trì. Vào năm Chứng thánh thứ 2 (696), Vũ tắc thiên nhà Đường ban sắc cấm chỉ các hành pháp khác ngoài việc khất thực, trường trai, giải giới, tọa thiền. Năm Khai nguyên 13(725), vua Huyền tông lại ra lệnh phá bỏ các viện Tam giai do tín đồ Tam giai xây dựng trong khuôn viên các chùa để ngăn cách chùa, buộc chúng tăng ở chung với nhau và cấm chỉ giáo đồ Tam giai ở riêng 1 chỗ. Lại cứ theo Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục quyển 10 thì vào tháng 4 năm Trinh nguyên 16 (800) đời vua Đức tông nhà Đường, sách vở tông Tam giai được đưa vào Đại tạng kinh, nhưng về sau, lại bị loại trừ ra khỏi Đại tạng, đến đời Tống thì mất hẳn không nghe nói đến nữa. Mãi đến thời cận đại, khi những di vật văn hóa được phát hiện tại Đôn hoàng thì 2 ông A. Stein (người Anh) và P. Pelliot (người Pháp) mới lần lượt tìm được 1 số kinh sách của Tam giai giáo trong hang đá Đôn hoàng, từ đó, việc nghiên cứu về Phật pháp Tam giai mới dần dần được giới học giả xem trọng. Tông này căn cứ vào những yếu tố Thời(thời đại), Xứ(xứ sở) và Cơ(con người) mà chia Phật pháp ra làm 3 giai đoạn: 1. Giai đoạn thứ nhất: Thời là thời đại Chính pháp, Xứ là nước Phật, Cơ là Phật, Bồ tát. Giáo pháp thụ trì trong giai đoạn này là Phật pháp Nhất thừa của Đại thừa.2. Giai đoạn thứ hai: Thời là thời đại Tượng pháp. Xứ là thế giới 5 trược ác, Cơ là phàm thánh lẫn lộn, giáo pháp lưu hành trong giai đoạn này là Tam thừa (gồm cả Đại thừa và Tiểu thừa). 3. Giai đoạn thứ ba: Thời là thời Mạt pháp, Xứ cũng là thế giới 5 trược ác, Cơ thì đều là tà giải tà hành(hiểu sai làm sai).Ngài Tín hành cho rằng thời đại của ngài lúc bấy giờ đã là giai đoạn thứ 3, chỉ toàn là những người không giữ giới, mất chính kiến mà thôi, nếu nương theo các pháp khác như Nhất thừa của giai đoạn thứ nhất, Tam thừa của giai đoạn thứ hai mà tu hành thì thực rất khó khăn cho nên phải nương vào Phổ pháp của giai đoạn thứ ba mà qui y tất cả Tam bảo, đoạn trừ tất cả điều ác, tu trì tất cả đều thiện thì Khai nguyên thích giáo lục Q.18; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; luận Thích tịnh độ quần nghi Q.4; Tam giai giáo nghi nghiên mới dễ thành tựu. Đó chính là chủ trương căn bản của tông Tam giai. X. Tam giai Phật pháp mật kí Q.thượng; cứu (Thỉ xuy Khánh huy)].

Tam giai Phật pháp

三階佛法; C: sānjiē fófǎ; J: sankai buppō;|Tam giai Phật pháp là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của Tam giai giáo trong thời kì Tuỳ-Đường; người ta đã tìm thấy lại nhiều bản ở cả hai nước, Nhật Bản và Trung Hoa.

tam giai phật pháp

(三階佛法) Cũng gọi Tam giai biệt tập, Tam giai tập lục, Tam giai tập, Tứ quyển tam giai. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Tín hành (549-594) soạn vào năm Khai hoàng 12 (592) đời Tùy và được thu vào Đại chính tạng tập 85, cũng được thu chép vào thiên Tam Giai giáo chi nghiên cứu của học giả Thỉ xuy Khánh huy người Nhật bản. Sách này là giáo điển căn bản của Tam giai giáo thịnh hành 1 thời váo các đời Tùy Đường và cũng là Thánh điển được giáo đồ Tam giai tôn sùng nhất. Vào các đời Tùy, Đường, Tam giai giáo đã từng nhiều lần bị triều đình cấm lưu hành, nên sách này cũng như các sách vở khác của Tam giai giáo hầu hết đã bị thất truyền. Nhưng, thời gần đây, toàn bộ 4 quyển của sách này đã được tìm thấy ở chùa Hưng thánh tại Kyoto, Nhật bản. Còn trong các di vật văn hóa đào được ở Đôn hoàng cũng bao gồm các mảnh đứt rách của quyển 2, quyển 3 sách này; quyển 2 do ông A. Stein thu tập, hiện được cất giữ ở viện bảo tàng Đại anh tại Luân đôn, quyển 3 thì do ông P. Pelliot sở hữu và hiện được tàng trữ ở thư viện Quốc gia tại Ba lê. Lại theo tác phẩm Tam giai Phật pháp mật kí đào được ở Đôn hoàng thì nội dung sách này có thuyết Ba đại đoạn, Mười tử đoạn, Hai mươi lăm tử cú. Đại đoạn thứ nhất căn cứ vào tập khí ở quá khứ mà giải thích rõ về nghĩa của căn cơ Tam giai; Đại đoạn thứ hai căn cứ vào con người hiện tại mà bàn về sự tà chính của Tam giai; Đại đoạn thứ ba thì trước hết căn cứ vào kinh giáo được bẩm thụ mà nêu rõ pháp Tam giai có thượng trung hạ, nhẹ nặng, cạn sâu khác nhau, sau đó căn cứ vào bi điền(ruộng thương), kính điền(ruộng kính) mà nói rõ rằng người Tam giai giáo nương theo cảnh mà khởi hành, sự lợi ích và duyên do của sự khởi hành ấy... [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.12; Đại đường nội điển lục Q.10; Khai nguyên thích giáo lục Q.18]

tam giai phật pháp mật ký

(三階佛法密記) Tác phẩm, 3 quyển, hiện nay chỉ còn quyển thượng, là bản do ông P. Pelliot lấy được ở Đôn hoàng, mang số hiệu 2412. Đây là sách chú thích bộ Tam giai Phật pháp do ngài Tín hành soạn vào đời Tùy. Nội dung quyển thượng có 4 môn: Thị danh, Cử số, Thích nghĩa và Chỉ văn, trình bày về giáo nghĩa Tam giai.

tam giác

Ba loại giác ngộ—Three kinds of enlightenments: (A) 1) Tự giác: Enlightenment for self. 2) Giác tha: Help others attain enlightenment. 3) Giác hạnh viên mãn: Perfect enlightenment and achievement. (B) 1) Bổn giác: Inherent, potential enlightenment or intelligence of every being. 2) Thủy giác: Initial or early stage of enlightement, brought about through the external or influence of teaching. 3) Cứu cánh giác: Completion of enlightenment. ; (三覺) I. Tam Giác. Cũng gọi Tam bất thiện giác, Tam ác giác, Tam giới. Chỉ cho Dục giác, Sân giác, và Hại giác, là 3 thứ ác giác làm chướng ngại thiền định của phàm phu. 1. Dục giác(cũng gọi Tham giác): Suy nghĩ về những thứ hấp dẫn của thế gian mà sinh tâm ham muốn. 2. Sân giác(cũng gọi Khuể giác): Suy nghĩ về những việc oán ghét ở thế gian mà sinh tâm tức giận. 3. Hại giác(cũng gọi là Não giác): Sinh tâm ghen ghét mà có ý niệm làm não hại người khác. [X. kinh Tạp a hàm Q.24; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.17; luận Phẩm loại túc Q.5]. (xt. Tam Tưởng). II. Tam Giác. Cũng gọi Tam thiện giác. Chỉ cho 3 thứ Thiện giác dùng để đối trị 3 thứ Ác giác, đó là: 1. Li dục giác(cũng gọi Xuất giác): Dùng để đối trị Dục giác. 2. Vô khuể giác(cũng gọi Vô sân giác): Dùng để đối trị Sân giác. 3. Vô hại giác: Dùng để đối trị Hại giác.[X. kinh Trường a hàm Q.8; luận Phẩm loại túc Q.5; phẩm Thiện giác luận Thành thực Q.14]. III. Tam Giác. Chỉ cho Tự giác, Giác tha, và Giác hạnh viên mãn của quả Phật Diệu giác. 1. Tự Giác: Giác biết tất cả các pháp trong 3 đời, pháp nào là thường, pháp nào là vô thường..., tỏ ngộ tính chân không, rõ biết các hoặc là hư vọng, thành tựu trí mầu nhiệm, chứng đạo viên giác nên gọi là Tự giác.2. Giác tha: Vận dụng tâm từ bi vô duyên, cứu độ chúng sinh, khiến họ thoát khổ sinh tử, được vui Niết bàn. 3. Giác hạnh viên mãn(cũng gọi Giác mãn): Hết sạch 3 hoặc, đầy đủ mọi đức, lên ngôi Diệu giác, hạnh mãn quả viên. Bậc A la hán chỉ có Tự giác; hàng Bồ tát được Tự giác và Giác tha, chỉ có Phật mới đầy đủ Tam giác. [X. luận Phẩm loại túc Q.5; Quán kinh huyền nghĩa phần Q.1; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng]. IV. Tam Giác. Chỉ cho Bản giác, Thủy giác và Cứu cánh giác nói trong luận Đại thừa khởi tín. 1. Bản giác: Chỉ cho tâm tự tính thanh tịnh xưa nay vốn có của tất cả chúng sinh. 2. Thủy giác: Tri giác có được nhờ bản giác huân tập(xông ướp) bên trong và giáo pháp huân tập bên ngoài mà vọng tâm dần dần khế hợp với bản giác. 3. Cứu cánh giác: Thủy giác và bản giác hoàn toàn nhất trí.

Tam Giác sơn

三角山; C: sānjueshān; J: sankakusan; K: samgaksan.|Một ngọn núi nằm ở quận Cao Dương (高陽郡; k: koyanggun), Hàn Quốc, nổi danh vì những chùa chiền ở đây.

Tam giáo

三教; C: sānjiào; J: sankyō;|Có hai cách phân loại thường gặp: I. Ba truyền thống Đạo học lớn tại Đông á: 1. Phật giáo (佛教), 2. Nho giáo (儒教) và 3. Đạo giáo (道教); II. Theo Thiền sư Khuê Phong Tông Mật trong bài chú giải Viên Giác kinh (圓覺經) thì cách phân chia Tam giáo trong Phật giáo như sau: 1. Đốn giáo (頓教) được trình bày trong kinh Hoa nghiêm (華嚴經), 2. Tiệm giáo (漸教) trong thời kì Phật giảng dạy ở Lộc Uyển cho đến khi nhập niết-bàn tại Sa-la thụ viên, và 3. Bất định giáo (不定教), dạy về tính viên mãn vô khiếm, vĩnh hằng của Phật tính.

tam giáo

(A) Three religions: Buddhism, Confucianism and Taoism. (B) Sakyamuni's teaching: 1) Tạng giáo hay Tam tạng giáo: The Tripitaka doctrine (the orthodox of Hinayana)—See Tạng Giáo, Thiên Thai Ngũ Thời Bát Giáo and Thiên Thai Tông. 2) Thông giáo: The intermediate, or interrelated doctrine (Hinayana-cum-Mahayana)—See Thông Giáo and Thiên Thai Hóa Pháp Tứ Giáo. 3) Biệt giáo: The differentiated or separated doctrine (Early Mahayana as a cult or development, as distinct from Hinayana)—See Biệt Giáo. ; (三教) Thánh giáo 1 đời của đức Phật được các nhà phán giáo chia làm 3 loại: Thuyết này thịnh hành ở Trung quốc từ thời Nam Bắc triều về sau. I. Tam Giáo. Chỉ cho Đốn giáo. Tiệm giáo và Bất định giáo. 1. Đốn giáo: Giáo này không tuần tự theo thứ lớp mà ngay từ đầu đã nói giáo pháp sâu xa, kín nhiệm như kinh Hoa nghiêm. 2. Tiệm giáo: Chỉ cho giáo pháp tiến tới dần dần theo thứ lớp từ cạn đến sâu, từ nhỏ đến lớn, như các kinh A hàm, Bát nhã, Niết bàn... 3. Bất định giáo(cũng gọi Thiên phương bất định giáo, Vô phương giáo): Giáo pháp thu nhiếp cả Đốn lẫn Tiệm, tùy cơ, tùy thời mà ứng biến, như các kinh Thắng man, kinh Kim quang minh... Tiệm giáo nói trên lại được chia ra nhiều tầng bậc giáo pháp, cho nên đã sản sinh các thuyết như Tam thời giáo, Tứ thời giáo, Ngũ thời giáo... Pháp sư Cấp ở núi Hổ khâu chia làm 3 giáo, nghĩa là trong thời gian từ khi đức Phật thành đạo đến năm thứ 12, Ngài tuyên giảng đạo lí các pháp có thật, gọi là Hữu tướng giáo, như kinh A hàm; trong thời gian từ năm thứ 12 trở đi đến thời Pháp hoa thì Ngài tuyên giảng yếu chỉ các pháp đều không, gọi là Vô tướng giáo; sau cùng, khi ở rừng Song thụ là lúc tuyên thuyết giáo pháp Hữu, Vô song chiếu, đức Thế tôn nói tất cả chúng sinh đều có Phật tính và Xiển đề cũng có khả năng thành Phật, gọi là Thường trụ giáo. Giữa khoảng Vô tướng giáo và Thường trụ giáo, Pháp sư Tông ái lại thêm Đồng qui giáo mà thành 4 giáo. Ngài Tăng mân ở chùa Trang nghiêm cũng cùng chủ trương này. Còn các ngài Tuệ quán ở chùa Đạo tràng, Tăng nhu ở chùa Định lâm, Tuệ thứ ở chùa Tạ... thì giữa khoảng Vô tướng giáo và Đồng qui giáo, lại thêm Bao biếm ức dương giáo (như các kinh Tịnh danh, Tư ích...) mà thành 5 giáo. Về Bất định giáo thì Ngài Trí khải chia làm 2 loại là Hiển lộ bất định và Bí mật bất định, được gọi tắt là Bất định giáo, Bí mật giáo rồi thêm vào 2 giáo Đốn, Tiệm, tuy thành 4 giáo nhưng thực ra không ngoài 3 Đốn, Tiệm, và Bất định nói trên. Ngoài ra, Pháp hoa huyền nghĩa quyển 10 tuy nói 3 giáo này thông dụng cả ở Nam và bắc, nhưng có lẽ đã do các sư ở Giang nam lập ra, cho nên còn có tên là ‘Nam trung tam giáo. Trong đó, Đốn giáo và Tiệm giáo do ngài Tuệ quán thành lập đầu tiên, còn Bất định giáo thì do người sau thêm vào, nhưng không rõ người đầu tiên đề xướng là ai. [X. Đại phẩm kinh du ý (Cát tạng); Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh sớ Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm giảng nghĩa Q.10 (Tuệ trừng); Đại thừa nghĩa chương Q.1; Tam luận huyền nghĩa]. II. Tam Giáo.Cũng gọi Quang thống tam giáo. Chỉ cho Tiệm giáo, Đốn giáo và Viên giáo do ngàiTuệ quang (người đời gọi là Luật sư Quang thống) đời Bắc ngụy lập ra. 1. Tiệm giáo: Giáo pháp nói theo thứ lớp từ cạn đến sâu để độ những người căn cơ chưa thuần thục, như trước nói vô thường, sau nói thường, trước nói không, sau nói bất không. 2. Đốn giáo:Đối với những căn cơ bén nhạy thì trong 1 pháp môn, nói đủ cả thường, vô thường, không, bất không. 3. Viên giáo: Vì những người đạt đến cảnh giới Phật mà nói các pháp môn tự tại của Như lai như Vô ngại giải thoát,cứu cánh quả hải, viên cực bí mật... như kinh Hoa nghiêm chính là Viên giáo. Như vậy, ngài Tuệ quang là người đầu tiên lập kinh Hoa nghiêm làm Viên giáo. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm Q.4; Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.1, phần đầu; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1].III. Tam Giáo. Chỉ cho Lập tướng giáo, Xả tướng giáo và Hiển chân thực giáo do tông Địa luận thành lập. 1. Lập tướng giáo: Giáo pháp hữu tướng nói cho hàng Nhị thừa. 2. Xả tướng giáo: Kinh Đại phẩm... thuyết minh rộng về lí vô tướng, nên gọi là Xả tướng. 3. Hiển chân thực giáo: Kinh Hoa nghiêm... hiển bày đạo lí chân thực, nên gọi là Hiển chân thực giáo. Thuyết này được khai sáng sau ngài Tuệ quang. [X. Đại thừa huyền luận Q.5] IV. Tam Giáo. Chỉ cho Tính không giáo, Tướng Không giáo và Duy thức viên giáo do ngài Nam sơn Đạo tuyên thành lập. 1. Tính Không Giáo: Các pháp tính không, vô ngã, đem lí này soi rọi tâm, đó là Tiểu thừa. 2. Tướng Không giáo: Tướng của các pháp vốn là không, chỉ do tình chấp mà thấy có, dùng lí này soi rọi là Tiểu bồ tát, thuộc giáo nông cạn của Đại thừa như kinh Bát nhã... 3. Duy thức viên giáo: Các pháp trần bên ngoài vốn không, chỉ do thức biến hiện, lí nầy sâu xa mầu nhiệm, chỉ có ý duyên biết, bao nhiếp tất cả thâm nghĩa Đại thừa, như các kinh Hoa nghiêm, Pháp hoa, Lăng già, luận Nhiếp đại thừa... đều thuộc Duy thức Viên giáo. Trong 3 giáo trên, 2 giáo trước là Quyền giáo, giáo thứ 3 là Thực giáo. Còn 3 pháp quán dựa theo 3 giáo này mà được lập ra thì gọi là Tính không quán, Tướng không quán và Duy thức quán. [X. thiên Sám lục tụ pháp trong Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung, phần 4; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung, phần 4; Bát tông cương yếu Q.thượng]. V. Tam Giáo. Chỉ cho Hiển giáo, Mật giáo và Tâm giáo, do ngài Tán ninh đời Tống thành lập.1. Hiển giáo: Chỉ cho kinh, luật, luận của các thừa. Giáo này tôn ngài Ca diếp ma đằng làm Thủy tổ. 2. Mật giáo: Chỉ cho Du già, Quán đính, Ngũ bộ, Hộ ma, Tam mật, Mạn noa, Luân pháp... Giáo này tôn ngài Kim cương trí làm Thủy tổ. 3. Tâm giáo: Chỉ cho pháp thiền chỉ tâm người, thấy tính thành Phật. Giáo này tôn ngài Bồ đề đạt ma làm Thủy tổ. [X. Tống cao tăng truyện Q.3]. VI. Tam Giáo. Chỉ cho 3 giáo: Chuyển pháp luân, Chiếu pháp luân, và Trì pháp luân do ngài Chân đế dựa theo kinh Kim quang minh (phẩm Nghiệp chướng kinh Hợp bộ Kim quang minh quyển 2) mà thành lập. Trong 7 năm, sau khi thành đạo, đức Phật giảng nói về lí Tứ đế ở vườn Lộc dã, gọi là Chuyển pháp luân. Sau 7 năm ấy, ở nước Xá vệ, đức Phật nói Bát nhã... dùng Không chiếu Hữu, lúc này có đủ cả Chuyển pháp luân và Chiếu pháp luân. Ba mươi năm sau, trước khi vào Niết bàn, ở nước Tì xá li, Phật nói kinh Giải tiết... cho các vị Bồ tát nghe, Không, Hữu đều chiếu, lúc này đủ cả 3 luân là Chuyển pháp luân, Chiếu pháp luân và Trì pháp luân. Đây là thuyết của ngài Chân đế nói trong Giải tiết kinh sớ, được ghi trong Giải thâm mật kinh sớ quyển 5 của ngài Viên trắc và Hoa nghiêm kinh sớ quyển 1 của ngài Trừng quán. Theo Giải thâm mật kinh sớ quyển 5, Tam giáo lập trong Bộ tông dị luận kí của ngài Chân đế là: Tiểu thừa pháp luân, Đại thừa pháp luân, và Nhất thừa pháp luân. Trong đó, Pháp luân đầu là Tam tạng giáo, chỉ cho Tiểu thừa, tức kinh A hàm; Pháp luân thứ 2 chung cho cả Đại thừa và Tiểu thừa, tức kinh Niết bàn; Pháp luân thứ 3 thì chỉ riêng cho Đại thừa, tức các kinh Hoa nghiêm, Bát nhã... Đây là thuyết khác của 3 pháp luân: Chuyển pháp luân, Chiếu pháp luân, và Trì pháp luân. VII. Tam Giáo. Chỉ cho 3 giáo: Căn bản pháp luân, Chi mạt pháp luân và Nhiếp mạt qui bản pháp luân, do ngài Cát tạng ở chùa Gia tường thành lập vào đời Tùy. 1. Căn bản pháp luân: Chỉ cho kinh Hoa nghiêm. Kinh này được đức Phậtgiảng nói đầu tiên sau khi thành đạo. 2. Chi mạt pháp luân: Các kinh Phật giảng nói sau đó cho hàng Tiểu thừa. 3. Nhiếp mạt qui bản pháp luân: Chỉ cho kinh Pháp hoa. Nội dung kinh này nói về lí Hội tam qui nhất (qui Tam thừa về Nhất thừa) tức Nhiếp mạt qui bản (đưa ngọn về gốc) được đức Phật tuyên thuyết sau khi thành đạo 40 năm. (xt. Tam Chuyển Pháp Luân). VIII. Tam Giáo. Chỉ cho Hữu giáo, Không giáo, và Trung đạo giáo, do ngài Huyền trang thành lập vào đời Đường. Đây là phán giáo của tông Pháp tướng. 1. Hữu giáo: Thời đầu tiên ở vườn Lộc dã, đức Phật chuyển pháp luân Tứ đế của Tiểu thừa, nói về yếu chỉ Ngã không pháp hữu. 2. Không giáo: Thời thứ 2 ở núi Linh thứu, đức Phật tuyên thuyết các bộ Bát nhã, nói về ý chỉ các pháp đều không. 3. Trung đạo giáo: Thời thứ 3, đức Phật tuyên thuyết kinh giải Thâm mật... nói về sự phá chấp Hữu, Không mà hiển bày lí Trung đạo. Trong Hoa nghiêm ngũ giáo chương,3 thời này được dùng để chỉ cho Chuyển pháp luân, Chiếu pháp luân và Trì pháp luân. Lại theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1 thì Luận sư Giới hiền của Ấn độ lập thời thứ nhất là Nhân không pháp hữu (Hữu giáo), thời thứ hai là Chư pháp giai không (không giáo) và thời thứ 3 là Phi hữu phi không (Trung đạo giáo) nội dung cũng giống với Tam giáo do ngài Huyền trang thành lập. [X. bài tựa trong Khởi tín luận nghĩa kí]. (xt. Tam Pháp Luân, Tam Thời Giáo).IX. Tam Giáo. Chỉ cho Tam thời giáo do Luận sư Trí quang của Ấn độ y cứ vào kinh Bát nhã, luận Trung quán... mà thành lập. 1. Thời đầu tiên: Đức Phật vì những người tiểu căn mà nói các pháp Tiểu thừa như Tứ đế ở vườn Lộc dã để hiển bày ý chỉ Tâm cảnh đều có. 2. Thời thứ hai: Phật nói pháp tướng Đại thừa cho những người trung căn để hiển bày lí cảnh không tâm có theo nghĩa Duy thức. 3. Thời thứ ba: Phật vì những người thượng căn mà nói Đại thừa vô tướng để hiển bày nghĩa tâm cảnh đều không, bình đẳng nhất vị, tức nghĩa Bát nhã. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; bài tựa Khởi tín luận nghĩa kí]. Ngoài 9 loại Tam giáo được phân biệt theo nội dung Phật pháp nói trên, ở Trung quốc người ta cũng thường gọi Phật giáo, Nho giáo, và Đạo giáo là Tam giáo, còn tại Nhật bản thì Phật giáo, Thần đạo giáo và Nho giáo cũng được gọi là Tam giáo. Loại Tam giáo này, trong lịch sử Trung quốc và Nhật bản từng xảy ra sự kiện bài xích lẫn nhau. (xt. Tam Giáo Luận Hành).

tam giáo bình tâm luận

(三教平心論) Tác phẩm, 2 quyển, do ông Lưu mật soạn vào đời Nguyên, được thu vào Đại chính tạng tập 52. Vì thấy cuộc tranh luận giữa Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo kéo dài cả nghìn năm đến nay mà đúng sai vẫn chưa dứt khoát, cho nên tác giả Tĩnh trai Lưu mật mới đặc biệt soạn sách này để biện minh. Trước hết tác giả cho rằng Tam giáo đều là pháp ngăn ác làm thiện, Phật dùng để trị tâm, Đạo dùng để trị thân và Nho dùng để trị đời, không thể bỏ 1 bên nào; kế đến nói về hiệu quả của Tam giáo có cạn, sâu khác nhau nên giáo có rộng, hẹp, xa, gần bất đồng; Nho giáo và Đạo giáo là pháp thế gian, Phật giáo thì bắt đầu ở pháp thế gian, mà kết thúc ở pháp xuất thế gian; sau cùng, tác giả cực lực bác bỏ thuyết của Phó dịch, Hàn dũ đời Đường, đồng thời, nêu ra các quan điểm chủ trương của Trình minh đạo, Chu hi, Trương hoành cừ, Trình y xuyên... để luận phá.

Tam Giáo Chỉ Quy

(三敎指歸, Sankōshiiki, Sankōshiki): sách tuyên ngôn xuất gia của Không Hải Đại Sư, được viết dưới dạng tiểu thuyết ngụ ý mang tính tôn giáo, là trước tác ra đời vào năm thứ 16 (797) niên hiệu Khánh Lịch (慶曆), lúc Đại Sư 24 tuổi; gồm 3 quyển: quyển Thượng là Quy Mao Tiên Sinh Luận (龜毛先生), quyển Trung là Hư Vong Ẩn Sĩ Luận (虛亡隱士論) và quyển Hạ là Giả Danh Khất Nhi Luận (假名乞兒論). Trong lời tựa, Đại Sư thuật rõ lý do rời khỏi ghế nhà trường, nhân duyên gặp gỡ vị Sa Môn, phát tâm xuất gia và viết bộ này. Từ phần luận của Quy Mao Tiên Sinh trở về sau được cấu thành theo phong cách Hí Khúc. Trước hết, trong phần Quy Mao Tiên Sinh Luận, đối với tuổi thanh niên bất lương, phóng đãng, không chịu vâng lời của đứa cháu ngoại của Ông Thố Giác (兔角公) là Điệt Nha Công Tử (蛭牙公子), từ lập trường của Nho Giáo, Quy Mao Tiên Sinh thuyết giáo về đạo lý nhân luân, trung hiếu để cải hóa. Kế đến, trong phần Hư Vong Ẩn Sĩ Luận, khi ngồi bên lắng nghe sự việc như vậy, Hư Vong Ẩn Sĩ thuyết về tính ưu việt của Đạo Giáo hơn Nho Giáo để khuất phục Quy Mao Tiên Sinh, Điệt Nha Công Tử và Ông Thố Giác. Trong quyển Hạ Giả Danh Khất Nhi Luận, nhân vật Giả Danh Khất Nhi dưới dạng nhà khất thực (sự thật là Không Hải lúc tuổi thanh niên) khẳng định rằng chữ Hiếu vốn phủ định việc xuất gia là hạnh hiếu nhỏ; chính xuất gia mới là đại hiếu; vì vậy Phật Giáo ưu việt hơn cả Nho Giáo và Đạo Giáo; và cuối cùng Đại Sư kết thúc với bài Sanh Tử Hải Chi Phú (生死海之賦) cũng như Thập Vận Chi Thi (十韻之詩). Trong tác phẩm này, Quy Mao Tiên Sinh ám chỉ cho người chú bên mẹ của Không Hải là A Đao Đại Túc (阿刀大足). Tác phẩm thêu dệt câu chuyện Đại Sư nghỉ học, sống cuộc đời của người cư sĩ tại gia với chí nguyện xuất gia; nhưng bị cả gia đình dòng họ Tá Bá (佐伯) phản đối kịch liệt. với ý nghĩa đó, đây là thư tịch rất quý báu, thể hiện rõ bóng dáng thời đại thanh niên của Không Hải và sự chuyển biến về mặt tư tưởng của Đại Sư trong thời gian ấy.

tam giáo chỉ quy

(三教指歸) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Không hải, vị tăng người Nhật soạn. Năm 18 tuổi, tác giả soạn bản thảo của sách này đặt tên là Lung cổ chỉ qui (bản viết tay của tác giả hiện được cất giữ ở núi Cao dã), đến năm 20 tuổi, tác giả sửa chữa lại và lấy tên sách như hiện nay. Sách này viết bằng chữ Hán theo thể văn biền ngẫu tứ lục, lời đẹp, ý tứ phong phú, nói về sự hơn kém giữa Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo, chủ trương xuất gia là đạo trung hiếu chân chính. Nội dung chủ yếu sách này gồm: Tiên sinh Qui mao nói về Nho giáo, ẩn sĩ Hư vong nói về Đạo giáo và Khất sĩ Giả danh bàn về sự tu hành của Phật giáo.

tam giáo luận hoành

(三教論衡) I. Tam Giáo Luận Hành. Chỉ cho cuộc tranh luậngiữa 3 giáo Nho, Phật và Đạo. Nho giáo và Đạo giáo là các tông giáo của Trung quốc, còn Phật giáo là tông giáo ngoại nhập, được truyền từ Ấn độ tới, cho nên bất luận về phương diện nào, hoặc tư tưởng tín ngưỡng hoặc nghi lễ tập quán, đều có sự sai khác rất lớn, cho nên giữa Tam giáo thường xảy ra các cuộc tranh luận về giáo nghĩa, nghi lễ... Cứ theo Hán pháp bản nội truyện vào thời vua Minh đế nhà Hậu Hán (lúc Phật giáo mới truyền vào Trung quốc) thì đạo sĩ Chử thiện tín đã từng tranh biện với các ngài Ca diếp ma đằng và Trúc pháp lan (hai người đầu tiên truyền Phật giáo vào Trung quốc) và cuối cùng đã bị ngài Ma đằng hàng phục. Vào thời Tam quốc, ngài Khang tăng hội ở nước Ngô từng biện luận với Tôn hạo về thuyết Thiện ác báo ứng của Chu công, Khổng tử, và cho rằng thuyết này còn thiển cận, không sánh được với thuyết Thiện ác báo ứng của Phật giáo. Rồi Tào thực cũng viết Biện đạo luận để bác bỏ thuyết Trường sinh bất lão bất tử của Đạo giáo. Những sự kiện này đều là Tam giáo luận hành thuộc thời kì đầu. Sang thời Tây Tấn, có Đạo sĩ Vương phù và ngài Bạch viễn tranh luận về sự hơn, kém giữa Đạo giáo và Phật giáo. Vương phù ngụy tác kinh Lão tử hóa hồ để phỉ báng đức Phật, sau đó, Phật giáo đồ soạn kinh Thanh tịnh pháp hành để đáp lại. Đến thời Đông Tấn, Tôn thịnh viết Thánh hiền đồng quĩ Lão đam phi đại hiền luận để bài xích Đạo giáo. Rồi cư sĩ Quân chương ở La hàm và ngài Tuệ viễn ở Lô sơn đều soạn Cánh sinh luận. Hình tận thần bất diệt luận để biện luận về thần thức bất diệt. Ngoài ra, ngài Tuệ viễn còn viết Sa môn bất kính vương giả luận và Sa môn đản phục luận để nói rõ rằng lễ nghi Phật giáo khác với lễ nghi truyền thống của Trung quốc. Nghĩa là các vị sa môn Ấn độ không bao giờ lạy các ông vua Ấn độ thì cũng đừng bắt các vị sa môn Trung quốc lạy vua Trung quốc. Thời đại Lưu Tống, Trịnh đạo tử, và Tăng hàm viết Thần bất diệt luận, Tuệ lâm viết Bạch hắc luận; Hà thừa thiên thì soạn Đạt tính luận; chủ trương thần thức tiêu diệt để chê bai Phật giáo. Tông bính liền soạn Minh Phật luận, Nhan diên soạn Thích hà hành dương Đạt tính luân và Lưu thiếu phủ viết luận Đáp hà thừa thiên để luận phá thuyết của Hà thừa thiên. Đạo sĩ Cố hoan viết Di hạ luận cho rằng Phật pháp là pháp của dân mọi rợ (di địch). Lập tức ngài Tăng thiện viết Chính nhị giáo luận, cư sĩ Tạ trấn chi viết Dữ Cố đạo sĩ chiết Di hạ luận, ngài Tuệ thông thì soạn Bác cố đạo sĩ Di hạ luận... để bài bác chủ trương của đạo sĩ Cố hoan. Vào thời Tiêu Tề, Trương dung viết Môn luật đề xướng chủ trương Đạo, Phật nhất trí’, Mạnh cảnh dực viết Chính nhất luận tán thành đề xướng của họ Trương. Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy thâm tín Đạo giáo, nghe lời Đạo sĩ Khấu khiêm, vào năm Thái bình chân quân thứ 7 (446), bắt đầu thi hành chính sách bài Phật giáo, đến thời vua Văn thành đế Phật giáo mới được phục hưng. Vua Văn tuyên nhà Bắc Tề từng tổ chức các cuộc tranh luận giữa Phật giáo và Đạo giáo nhằm bài xích Đạo giáo. Đến Vũ đế nhà Bắc Chu ban sắc cho tín đồ Đạo giáo và Phật giáo tranh luận về sự hơn, kém của 2 tông giáo theo lời tâu thỉnh của đạo sĩ Trương tân và Vệ nguyên tung. Vua sai quan Tư lệ đại phu là Chân loan chủ tọa và thẩm định việc này. Sau đó, Chân loan làm Tiếu đạo luận nói lên sự hư dối của Đạo giáo, đồng thời, ngài Đạo an viết Nhị giáo luận công kích Đạo giáo. Đến năm Kiến đức thứ 3 (574) Vũ đế nhà Bắc Chu hạ lệnh phế bỏ Đạo giáo và Phật giáo, nhưng thực ra là bãi bỏ Phật giáo để lập Đạo giáo. Sang đời Đường, vì tổ tiên nhà Đường là họ Lí nên Đạo giáo được xem trọng, bởi vậy, giữa Đạo giáo và Phật giáo thường xảy ra xung đột. Vào đầu đời Đường các cuộc thảo luận về Tam giáo thường được tổ chức và rất hữu ích. Năm Vũ đức thứ 4 (621), có thuyết nói năm thứ 7) đời vua Cao tổ, quan Thái sử là đạo sĩ Phó dịch dâng biểu phế Phật, Ngài Pháp lâm liền viết Phá tà luận; Lí sư chính viết Nội đức luận và Minh khái viết Quyết đối Phó dịch phế Phật pháp tăng sự để phá chủ trươngcủa Phó dịch. Năm Trinh quán 13 (639) đời Vua Thái tông, quan Tế tửu là Khổng dĩnh đạt, sa môn Tuệ tịnh và đạo sĩ Thái hoảng họp nhau ở điện Hoằng văn để đàm luận về Tam giáo. Thời vua Cao tông, Đạo giáo được nhận làm quốc giáo và Lão tử được trung phong thụy hiệu là Huyền Nguyên hoàng Đế, thế lực của Đạo giáo được hưng thịnh một thời và lượm lặt những giáo lí của Phật giáo để soạn thành kinh của Đạo giáo. Vào niên hiệu Lân đức năm đầu (664), Đạo thế dâng biểu tâu về sự dối trá của các kinh Đạo giáo, do đó, đến niên hiệu Tổng chương năm đầu (668), vua ban lệnh thảo luận về việc kinh Lão tử hóa hồ là thật hay giả, nhưng chưa bao lâu việc này đã bị cấm. Năm Trinh nguyên 12 (796), Từ đại cùng với Sa môn Đàm diên và Đạo sĩ Cát tham thành họp ở điện Lân đức để giảng bàn Tam giáo. Năm sau, Tả nhai tăng sự là ngài Đoan phủ vào nội điện để giảng về Nho giáo và Đạo giáo, được vua ban cho áo đỏ. Thời kì từ vua Huyền tông đến Văn tông, ngài Trạm nhiên, vốn xuất thân từ Nho gia, hoằng dương Thiên thai giáo quán, đệ tử của ngài lànhàNho Lương túc soạn Chỉ quán thống lệ; ngài Trừng quán thì bàn về Hoa nghiêm và Kinh Dịch, Lí tường viết Phục tính thư sử dụng tư tưởng Đại thừa khởi tín, Viên giác và Lăng nghiêm, đây chính là đầu mối của Tống Nho sau nầy. Thời vua Hiến tông, Hàn dũ viết Nguyên đạo, Nguyên nhân dâng Luận Phật cốt biểu và viết Dữ mạnh tường thư để công kích và bài bác Phật giáo. Mạnh giản liền soạn Luận Di hạ và Nhân quả báo ứng để trả lời Hàn dũ. Ngài Khuê phong Tông mật soạn Nguyên nhân luận để phá sự chấp mê của Đạo giáo và Nho giáo, đồng thời, trình bày về sự quan hệ giữa Chu dịch và Chân như duyên khởi. Năm Hội xương thứ 5 (845), Vũ tông thi hành chính sách phế Phật, nhất thời Đạo giáo hưng thịnh, nhưng không bao lâu, Phật giáo lại được phục hưng. Từ đây trở đi, Tam giáo luận hành chỉ còn là hình thức và Tam giáo luận đàm cũng chỉ là 1 nghi lễ của triều đình mà thôi. Sang đời Tống, Nho giáo bỗng hưng thịnh, một mặt hấp thu giáo lí Phật giáo để tạo thành 1 nền học vấn mới, đồng thời, mặt khác lại dấy lên 1 phong khí bài Phật cũng ồn ào không kém. Như Nho nhục thuyết của Tôn thái sơn, Bản luận của Âu dương tu, Quái đạo của Thành thủ đạo, Sùng chính biện của Hồ dần, Tiềm thư của Lí thái bá... đều chủ trương bài Phật; Âu dương tu soạn Tân đường thư, Ngũ đại sử, trong đó, họ Âu lại bỏ hết những sự việc có liên quan đến Phật giáo! Về vấn đề này, ngài Trí viên soạn Nhàn cư biên đề xướng thuyết Tam giáo tịnh tồn (ba tông giáo cũng tồn tại) không thể bỏ; ngài Khế tung soạn Phụ giáo biên và Phi hàn cực lực chủ trương Nho Thích nhất quán (Nho giáo và Phật giáo cùng một lí mà suốt cả mọi việc); cư sĩ Trương thương anh soạn Hộ pháp luận bác bỏ chủ trương của Hàn dũ và Âu dương tu. Đặc biệt các nhà Đại nho như Trương tái, Trình minh đạo, Trình y xuyên, Chu hối am... tuy chủ trương bài Phật, nhưng trong các học thuyết của họ lại nhan nhản những tư tưởng của Phật giáo. Đến khi Tống huy tông sùng tín Đạo giáo thì năm Sùng ninh thứ 5 (1106), vua ban sắc các chùa viện phải thờ tượng Khổng tử và Lão tử, thứ bậc các Đạo sĩ được xếp ở trên tăng ni; trong sách Phật hễ có chỗ nào chê Đạo giáo và Nho giáo thì đều bị đốt bỏ. Vào đời Nam Tống, ngài Tông cảo là người đầu tiên đề xướng thuyết Tam giáo dung hợp, vua Hiếu tông, các vị Tông hiểu, Lưu mật, Tử thành, Chí bàn, Lí thuần phủ... đều kế thừa thuyết của ngài Tông cảo. Năm Thuần hựu thứ 9 (1249), Lí chí thường nắm quyền quản lí Đạo giáo trên toàn quốc thì lại đẩy Đạo giáo và Phật giáo vào vết xẻ đổ tương tranh cũ. Đến đời Nguyên, vua Thế tổ được vị tăng Quốc sư người Tây tạng là Bát tư ba truyền giới Bồ tát, thì phản cảm của các đạo sĩ càng mãnh liệt hơn. Vào năm Bảo hựu thứ 3 (1255), đạo sĩ Khâu xử cơ, Lí chí thường... phá hủy miếu thờ Khổng tử ở Tây kinh, chiếm đoạt hơn 400 ngôi chùa Phật giáo. Năm Chí nguyên 18 (1281), vua ban sắc, chỉ trừ Đạo đức kinh, còn Đạo tạng và tất cả kinh sách liên quan đến Đạo giáo đều bị đốt hết. Đồng thời với biến cố này, Vương trung phu sáng lập Toàn chân giáo, Lịch hi thành lập Đại đạo giáo và Trương tông diễn lập Chính nhất giáo, thống nhất Bắc nam, và xác định Giáo hội Đạo giáo. Sang đời Minh, khoảng năm Chính thống, việc biên soạn Đạo tạng được hoàn thành. Tam giáo luận và Thích đạo luận của vua Minh thái tổ, Tục nguyên giáo luận của Trần sĩ vinh, Đạo dư lục của Diêu quảng hiếu, Phật pháp kim thang biên của Đồ long, Trung môn sùng hành lục của Châu hoành, Chu dịch của Thiền giải và Tứ thư ngẫu ích giải của Trí húc... tất cả đều chủ trương thuyết Tam giáo điều hoà; nhưng Hồ kính trai và Vương dương minh thì theo Nho, bài Phật. Tóm lại, đời Minh, chủ trương điều hòa giữa Nho giáo và Phật giáo tương đối mạnh hơn các đời trước. Sang đầu đời Thanh, có Nhất minh soạn Hội tâm nội tập cũng đề xướng thuyết Tam giáo dung hội. Nhưng thời kì này, các tông giáo đều rơi vào tình trạng trầm trệ, mất sinh khí và suy vi, không còn thế lực gì đáng nói. [X. Hoằng minh tập, Lương cao tăng truyện Q.7; thiên Qui chính trong Quảng hoằng minh tập; Đường hộ pháp sa môn Pháp lâm biệt truyện Q.thượng; Thích thị lục thiếp Q.8; Âu dương tu ngoại truyện]. II. Tam Giáo Luận Hành. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tuệ huấn, thuộc tông Tào động, Nhật bản soạn vào năm Diêu hưởng thứ 3 (1746). Nội dung sách này chia làm 3 thiên: Tổng luận, Tạp luận, và Biệt luận, trình bày về sự dị đồng giữa Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và đại ý của các nhà, các tông.

tam giáo sưu thần đại toàn

(三教搜神大全) Tác phẩm, 7 quyển, không rõ tác giả, có lẽ được trứ tác vào khoảng năm Vĩnh lạc (1402-1424) đời Minh về sau. Nội dung sách này là vẽ hình tượng của 120 vị thần, thánh thuộc 3 tông giáo Nho, Phật, Đạo như Ngọc hoàng thượng đế, Tây nhạc thần, Chiêu linh hầu, Ngũ ôn sứ giả, Đảng nguyên soái, Phật đà da xá thiền sư, Bản tịnh thiều sư... Ở đầu quyển 1 ghi chép nguồn gốc của Tam giáo. Bộ sách rất có giá trị về mặt nghiên cứu tông giáo. Có thuyết cho rằng sách này chính là Họa tượng sưu thần quảng kí bản đời Nguyên, hoặc y cứ vào sách này rồi khắc thêm mà thành.

tam giáo thông khảo

A Thorough Study in the Three Religions—Bộ sách được biên soạn bởi An Thiền Thiền Sư, Thiền sư nổi tiếng của Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ 19. Sách được biên soạn vào giữa thế kỷ thứ 19, có lẽ được in vào khoảng năm 1845. Sách gồm ba phần—A book composed by Zen master An Thiền, A Vietnamese famous Zen master in the early nineteenth century. The book was composed in the middle of the nineteenth century. Probably printed in 1845. The bok included three divisions: I) Quyển thứ nhất—Phật Giáo: First volume—Buddhism. 1) Phụng Chiếu cầu pháp: Việc du học của Thiền sư Tính Tuyền Trạm Công—The travel in seeking the Buddha Dharma of Zen Master Tính Tuyền Trạm Công. 2) Bản Quốc Thiền Môn Kinh Bản: Các bản kinh khắc ở Việt Nam—Sutras printed in Vietnam. 3) Đại Nam Thiền Học Sơ Khởi: Khởi thủy Thiền học Việt Nam—The beginning of Zen in Vietnam. 4) Đại Nam Phật Tháp: Các tháp Phật ở Việt Nam—Buddha stupas in Vietnam. 5) Vô Ngôn Thông Truyền Pháp: Thiền phái Vô Ngôn Thông—Wu-Yun-T'ung Zen Sect. 6) Danh Trấn Triều Đình: Các cao Tăng nổi tiếng ở triều đình—Famous monks at the Royal Palace. 7) Lê Triều Danh Đức: Các cao Tăng thời Tiền Lê—Famous monks during the Tiền Lê Dynasty. 8) Lý Triều Danh Đức: Các cao Tăng thời nhà Lý—Famous monks during the Lý Dynasty. 9) Trần Triều Danh Đức: Các cao Tăng đời Trần—Famous monks during the Trần Dynasty. 10) Tỳ Ni Đa Lưu Chi Truyền Pháp: Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi—Vinitaruci Zen Sect. 11) Tuyết Đậu Truyền Pháp: Thiền phái Thảo Đường—Thảo Đường Zen Sect. 12) Những việc thần bí liên quan đến các Thiền sư Việt Nam qua các triều đại: Mystic things involving Vietnamese Zen masters throughout all dynasties. 13) Danh từ Phật học và các thần thoại Phật Giáo ở Trung Hoa và Việt Nam: Buddhist terms and mythological stories about Buddhism in China and Vietnam. II) Quyển thứ hai—Khổng Giáo: Second volume—Confucianism. III) Quyển thứ ba—Lão Giáo: Third volume—Taoism.

tam giáo tướng

Ba cách dạy của Phật—The three modes of the Buddha's teaching of the Southern sects: 1) Đốn: Immediate—See Đốn Giáo and Đốn Tiệm. 2) Tiệm: Gradual or progressive—See Tiệm Giáo. 3) Bất định: Intermediate—See Bất Định Giáo.

tam giáo đồ

(三教圖) Cũng gọi Tam giáo thánh nhân đồ, Tam thánh đồ. Bức họa vẽ tượng 3 vị Thánh là Khổng tử, Thích ca và Lão tử để biểu trưng sự hòa hợp giữa Tam giáo Nho, Thích, Đạo. Ngoài ra, cũng có các bức tranh vẽ 3 vị; Thiền sư Phật ấn, Tô đông pha và Hoàng lỗ trực đại biểu cho tam giáo Phật, Nho, Đạo. Tư tưởng Tam giáo nhất trí đã thịnh hành ở Trung quốc từ xưa, từ giữa đời Đường về sau rất nhiều Thiền sư tán đồng tư tưởng này. Về giới hội họa thì có Tôn vị đời Đường, Mã viễn, Trần thanh ba, Vương tề hàn, Hứa đạo ninh... đời Tống rất thích vẽ 3 vị Thánh này. [X. Biện ngụy lục Q.2; Thiền tông chính mạnh Q.16; Sơn phòng tạp lục]. (xt. Tam Toan Đồ). Tam Giáo Đồ

tam giả

Prajnapti (skt)—Ba cái không thật—Trong Phật giáo, đặc biệt là trong Thành Thực Luận và Kinh Bát Nhã, mọi vật chỉ là hiện tượng, gồm những yếu tố cấu thành; không có cái gì có thực hữu, chỉ là hư không và không thật—Three unrealities or three phenomenals—Three fallacious postulates—In Buddhism, especially in the Satyasiddhi-sastra and the Maha-Prajna Sutra, everything is merely phenomenal, and consists of derived elements; nothing therefore has real existence, but all is empty and unreal: 1) Pháp giả: Chư pháp tự tánh vốn là hư giả không thật (pháp do nhân duyên mà sinh ra)—All dharmas (things) are unreal. 2) Thọ giả: Thọ nhận vốn không thật (chư pháp đều thọ nhận nơi các pháp khác, như thọ nhận tứ đại mà thành vô tình chúng sanh, thọ nhận ngũ uẩn mà thành hữu tình chúng sanh, tức là thọ nhận biệt thể để làm thành tổng thể)—Sensations (feelings) are unreal. 3) Danh giả: Cái tên của chư pháp đều không thật (Danh nương vào ý tưởng mà có chứ không có tự tánh)—Names are unreal.

tam giả quán

Ba cách quán chư pháp là giả tạm—The meditation on three unreal objects: 1) Quán pháp giả: Contemplate on unreal dharmas. 2) Quán thọ giả: Contemplate on unreal sensations. 3) Quán danh giả: Contemplate on unreal names. ; (三假觀) Chỉ cho 3 pháp quán: Pháp giả hư thực quán, Thụ giả hư thực quán và Danh giả hư thực quán được nêu trong phẩm Tựa kinh Nhân vương bát nhã ba la mật quyển thượng. Tông Thiên thai giải thích rõ 3 pháp quán này như sau: 1. Pháp giả hư thực quán: Quán xét sắc ấm hư thực. 2. Thụ giả hư thực quán: Quán xét 4 ấm thụ, tưởng, hành, thức hư thực. 3. Danh giả hư thực quán: Quán xét 2 thứ pháp và thụ hư thực. Ba pháp này tự chúng không có thực thể, phải nhờ pháp khác mới có nên gọi là giả(mượn). Một hư một thực cùng sánh với nhau thì không có tên, cả 3 đều là hư dối, phàm phu cho là thực, người trí thì thấy hư dối, thực chính là hư, cho nên gọi là hư thực, đây là nghĩa của Thông giáo. Nếu nói theo nghĩa của Biệt giáo thì trong Tam giả, mỗi giả đều có Tam quán. Nói pháp tức hư, đó là Không quán; nói Giả tức thực, đó là Giả quán; còn nói 1 chữ Quán không thôi thì đó là Trung quán. Vì không và Giả là phương tiện nên không đặt tên Quán, khi đã vào Trung đạo thì chỉ có 1 thôi nên gọi là Quán. Trên đây là giải thích Pháp giả hư thực quán, còn Thụ giả và Danh giả thì cứ theo cách giải thích trên cũng rõ. Nếu theo nghĩa của Viên giáo thì 3 pháp tức Không tức Giả tức Trung, đều chiếu soi, đều dứt bặt. [X. Nhânvươngkinh hợp sớ Q.thượng].

tam giả thí thiết

(三假施設) Gọi tắt: Tam Giả. I. Tam Giả Thi Thiết. Cũng gọi Tam nhiếp đề, Tam ba la nhiếp đề. Chỉ cho 3 thứ pháp giả được thiết lập trong kinh Bát nhã. Đó là: 1. Pháp giả: Pháp chỉ cho các pháp sắc tâm, tự tính của các pháp ấy xưa nay vốn hư giả không thật, cho nên gọi là Pháp giả. Các pháp nhờ nhân duyên giả hợp mà sinh, không có thực tính, đó là Tự tính giả.2. Thụ giả: Pháp chung hàm chứa pháp riêng mà cấu thành nhất thể, như hàm chứa 4 đại mà thành cỏ cây, hòa hợp 5 uẩn mà thành chúng sinh, tức hợp riêng làm chung, nên gọi là Thụ giả. 3. Danh giả: Danh là tên gọi của tất cả các pháp; vì pháp nương theo ý tưởng giả mà đặt ra tên gọi cho nên gọi, là Danh giả.Theo thứ tự quán xét để phá bỏ thì trong Tam quán, trước hết phá bỏ Danh giả, kế đến, phá bỏ Thụ giả và sau cùng phá bỏ Pháp giả mà chứng nhập thực tướng các pháp, tức là Chân không. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.23; luận Đại trí độ Q.41; Đại thừa nghĩa chương Q.1; Đại thừa huyền luận Q.1]. II. Tam Giả Thi Thiết. Chỉ cho Nhân thành giả, Tương tục giả và Tương đãi giả được nói trong phẩm Giả danh tướng của luận Thành thực. Tức là: 1. Nhân thành giả: Tất cả pháp hữu vi đều nhờ nhân duyên mà được thành lập, cho nên gọi là giả. 2. Tương tục giả: Tâm thức chúng sinh niệm niệm nối nhau, niệm trước vừa diệt, niệm sau sinh liền. Trong dòng nối tiếp này vốn không có thực thể, cho nên gọi là giả.3. Tương đãi giả: Tất cả các pháp đều có đối đãi, như đối với dài mà nói ngắn, đối với ngắn mà nói dài, đối với không mà nói có, đối với có mà nói không, lớn nhỏ, nhiều ít, mạnh yếu... cũng đều như thế. Biết rõ các pháp đối đãi này vốn không có thực thể, cho nên gọi là giả. Ngoài ra, luận Thành duy thức quyển 8, cũng nêu Tam giả là Tụ tập giả, Tương tục giả và Phần vị giả. Như cái bình, cái chậu, hữu tình... do nhiều pháp đồng thời tụ tập lại mà thành, năng tập tuy thật nhưng sở thành là giả, gọi là Tụ tập giả, tương đương với Nhân thành giả nói ở trên; như nhân quả các đời quá khứ, vị lai... trong nhiều pháp nhiều thời gian lập thành 1 pháp giả, gọi là Tương tục giả, cũng giống với Tương tục giả nói ở trên; như pháp Bất tương ứng hành trong 1 pháp cùng 1 thời gian thành lập 1 pháp giả, gọi là Phần vị giả, tương đương với Tương đãi giả nói ở trên.[X. phẩm Giáo hóa kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.thượng; Thành duy thức luận thuật kí Q.9; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.6, phần cuối; Ma ha chỉ quán Q.5; Chỉ quán phụ hành truyền hoằngquyết Q.5, phần 5]. III. Tam Giả Thi Thiết. Y cứ vào nghĩa Tam vô tính thì 5 uẩn, 12 nhân duyên, mỗi pháp đều có Tam giả là Phân biệt giả, Y tha giả và Chân thực giả. Cảm nhận khổ, vui là Phân biệt giả; thể của phân biệt do nhân duyên mà sinh, tức do nhân sinh ra quả, là Y tha giả, còn như Đệ nhất nghĩa đế là Chân thực giả. [X. luận Thập bát không].

tam giải thoát

Vimokshatraya (skt)—Ba đối tượng quán chiếu dẫn tới giải thoát—Three subjects or objects of the meditation that lead toward liberation (three emancipations): 1) Không: Sunyata (skt)—Emptiness—Hiểu được bản chất của vạn hữu vốn không nên làm cho cái tâm không, cái tôi không, cái của tôi không, khổ không, là giải thoát—To empty the mind of the ideas of me, mine and sufferings which are unreal. 2) Vô Tướng: Animitta (skt)—Signlessness (having no-signs)—Đoạn trừ mọi hình tướng bên ngoài là giải thoát—To get rid of the idea of form, or externals. There are no objects to be perceived by sense-organs. 3) Vô Nguyện: Apranihita (skt)—Wishlessness (desirelessness)—Đoạn trừ tất cả mọi mong cầu cho đến khi nào không còn một mảy may ham muốn hay cố gắng để đạt được bất cứ thứ gì là giải thoát—To get rid of all wishes or desires until no wish of any kind whatsoever remains in the cultivator's mind, for he no longer needs to strive for anything.

Tam giải thoát môn

xem Ba môn giải thoát. ; 三解脫門; C: sān jiětuō mén; J: sange-datsumon;|Ba cửa giải thoát.

tam giải thoát môn

Ghi trong Đại Bát Nhã, tức là Không, Vô tướng, Vô nguyện. Tên gọi dù có ba, nhưng thể vốn là một, chư pháp thể “không”, có tướng đều vọng, nguyện là mong cầu. Người sơ tham phát nguyện chỉ là phương tiện tạm thời. Phật là người vô cầu, nếu chấp tướng, chấp nguyện thì chẳng thể từ “không” hiển dụng, mà lại chướng ngại sự giải thoát, vì là có sở trụ vậy. ; (三解脫門) Phạm: Trìịi vimokwa-mukhàni. Gọi tắt: Tam Giải thoát, Tam thoát môn, Tam môn. Chỉ cho 3 pháp môn giúp hành giả được giải thoát, đến Niết bàn. Đó là: 1. Không môn (Phạm: Sùnyatà): Quán xét tất cả các pháp đều không tự tính, do nhân duyên hòa hợp mà sinh; nếu thông suốt lí ấy thì đối với các pháp được tự tại. 2. Vô tướng môn (Phạm: Animitta), cũng gọi Vô tưởng môn: Đã biết tất cả pháp là Không, liền quán tưởng các tướng nam nữ, nhất dị... thực bất khả đắc; nếu thông suốt lí các pháp vô tướng, thì lìa tướng sai biệt mà được tự tại. 3. Vô nguyện môn (Phạm: Apraịihita), cũng gọi Vô tác môn, Vô dục môn: Nếu biết tất cả pháp vô tướng thì trong 3 cõi không mong cầu điều gì; nếu không mong cầu thì không tạo tác nghiệp sinh tử; nếu không tạo nghiệp sinh tử thì không phải chịu quả khổ, do đó được tự tại. Ba môn giải thoát nương vào 3 Tam muội vô lậu là Không tam muội, Vô tướng tam muội, và Vô nguyện tam muội mà vào; 3 Tam muội này giống như 3 cái cửa đưa vào giải thoát, cho nên gọi là Tam giải thoát môn. Tuy nhiên, Tam muội chung cho cả hữu lậu và vô lậu, còn Tam giải thoát môn thì chỉ dành cho vô lậu thôi. Bởi vì Tam giải thoát môn là Pháp đặc biệt thanh tịnh vô lậu của thế gian và xuất thế gian nên là cửa vào của Niết bàn. Ngoài ra, theo luận Du già sư địa quyển 74 thì Tam giải thoát môn là y cứ vào tam tự tính mà được kiến lập, tức do tự tính Biến kế sở chấp mà lập Không giải thoát Tam Giai Phật Pháp (bản đào được ở Đôn hoàng) môn, do tự tính Y tha khởi mà lập Vô nguyện giải thoát môn và do tự tính Viên thành thực mà lập Vô tướng giải thoát môn. [X. luận Câu xá Q.28; luận Đại tì bà sa Q.104; Thập địa kinh luận Q.8; Đại thừa nghĩa chương Q.2; Ma ha chỉ quán Q.7 thượng]. (xt. Tam Tam Muội).

Tam Giới

(s: trayo dhātavaḥ, p: tisso dhātuyo, 三界): Ba Cõi, có nhiều ý nghĩa khác nhau. (1) Chỉ ba cõi mà chúng sanh đang sống gồm Dục Giới (s: kāma-dhātu, 欲界), Sắc Giới (s: rūpa-dhātu, 色界) và Vô Sắc Giới (s: ārūpa-dhātu, 無色界). Chúng hữu tình mê vọng lưu chuyển trong vòng sanh tử biến hóa, tùy theo cảnh giới mà chia thành 3 giai cấp khác nhau. Nó còn được gọi là Tam Hữu (三有). Tam Giới là lãnh vức mê khổ của chúng sanh, như biển lớn không có giới hạn, nên được gọi là Khổ Giới (苦界, Cõi Khổ), Khổ Hải (苦海, Biển Khổ). Dục Giới là thế giới cư trú của chúng hữu tình đầy dâm dục, tình dục, sắc dục, tham dục, v.v. Cõi này bao gồm trên từ cõi trời thứ 6 Tha Hóa Tự Tại Thiên (他化自在天), giữa có bốn châu lớn của con người và dưới đến Vô Gián Địa Ngục (無間地獄), v.v. Do vì nam nữ cùng sống chung với nhau, nhiễm các mong muốn, nên gọi là Dục Giới. Cõi Dục Giới có Địa Cư (s: Bhauma, 地居), Hư Không Cư (s: Āntarikṣavāsina, 虛空居), Tứ Thiên Vương Thiên (s: Cāturṁahārājakāyika, 四天王天, gồm Trì Quốc Thiên [s: Dhṛtarāṣṭra, 持國天], Tăng Trưởng Thiên [s: Virūḍhaka, 增長天], Quảng Mục Thiên [s: Virūpākṣa, 廣目天] và Đa Văn Thiên [s: Vaiśrāmana, 多聞天]), Đao Lợi Thiên (s: Trāyastriṁśa, 忉利天), Tu Dạ Ma Thiên (s: Yāma, 須夜摩天), Đâu Suất Thiên (s: Tuṣita, 兜率天), Hóa Lạc Thiên (s: Nirmāṇarati, 化樂天), Tha Hóa Tự Tại Thiên (s: Parmanirmitavaśavartin, 他化自在天). Sắc Giới, sắc ở đây có nghĩa là thị hiện (hiện rõ), là thế giới cư trú của chúng hữu tình đã xa lìa được dâm dục, thực dục và có đầy đủ sắc chất thanh tịnh. Cõi này năm trên Dục Giới, không có dục nhiễm, cũng chẳng có hình nữ; chúng sanh ở đây đều do hóa sanh mà có. Cung điện tại đây cao lớn, do sắc hóa sanh, nên hết thảy đều đặc biệt, khác thường. Do vì cõi này có sắc chất nên được gọi là Sắc Giới. Căn cứ vào Thiền định sâu cạn, thô tế mà cõi này được chia thành 4 cấp khác nhau, từ Sơ Thiền Phạm Thiên (初禪梵天) cho đến A Ca Nị Tra Thiên (阿迦膩吒天), có 28 cõi trời. Cõi này có Sơ Thiền Thiên (初禪天, gồm Phạm Thiên [s: Brahmakaya, 梵天], Phạm Chúng Thiên [s: Brahmapārṣadya, 梵眾天], Phạm Phụ Thiên [s: Brahmapurohita, 梵輔天] và Đại Phạm Thiên [s: Mahābrahmā, 大梵天]), Nhị Thiền Thiên (二禪天, gồm Thiểu Quang Thiên [s: Parittābha, 少光天], Vô Lượng Quang Thiên [s: Apramāṇābha, 無量光天] và Quang Âm Thiên [s: Ābhāsvara, 光音天]), Tam Thiền Thiên (三禪天, gồm Thiểu Tịnh Thiên [s: Parittaśubha, 天], Vô Lượng Tịnh Thiên [s: Apramāṇaśubha, 天] và Biến Tịnh Thiên [s: Śubhakṛtsna, 少淨天]), Tứ Thiền Thiên (四禪天, gồm Vô Vân Thiên [s: Anabhraka, 無雲天], Phước Sanh Thiên [s: Puṇyaprasava, 福生天] và Quảng Quả Thiên [s: Bṛhatphala, 廣果天]) và Tịnh Phạm Địa (淨梵天, gồm Vô Tưởng Thiên [s: Avṛha, 無想天], Vô Phiền Thiên [s: Atapa, 無煩天], Vô Nhiệt Thiên [s: Sudrśa, 無熱天], Thiện Kiến Thiên [s: Sudarśana, 善見天], Sắc Cứu Cánh Thiên [s: Akaniṣṭha, 色究竟天], Hòa Âm Thiên [s: Aghaniṣṭha, 和音天] và Đại Tự Tại Thiên [s: Mahāmaheśvara, 大自在天]). Vô Sắc Giới là thế giới cư trú của chúng hữu tình không có vật chất mà chỉ có 4 tâm là Thọ (受), Tưởng (想), Hành (行) và Thức (識). Cõi này không có vật chất, thân thể, cung điện, quốc độ gì cả; chỉ lấy tâm thức mà trú trong Thiền định sâu xa vi diệu; nên có tên gọi như vậy. Nó nằm trên Sắc Giới, có 4 cõi trời (Không Vô Biên Xứ [s: Akāśānantyāyatana, 空無邊處], Thức Vô Biên Xứ [s: Vijñānānantyāyatana, 識無邊處], Vô Sở Hữu Xứ [s: Ākiñcanyāyatana, 無所有處] và Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ [s: Naivasaṁjñānāsaṁjñāyatana, 非想非非想處]), được gọi là Tứ Vô Sắc (四無色), Tứ Không Xứ (四空處). Quả báo, khổ vui, v.v., trong Tam Giới tuy có khác nhau; nhưng cả 3 đều thuộc vào cõi mê lầm, nên chúng sanh trong đó đều phải chịu sự chi phối của quy luật luân hồi sanh tử. Vì vậy, bậc thánh thường xa rời ba cõi này. Trong Phẩm Thí Dụ (譬喩品) của Kinh Pháp Hoa (法華經) có đoạn rằng: “Tam Giới vô an, do như hỏa trạch, chúng khổ sung mãn, thậm khả bố úy (三界無安、猶如火宅、眾苦充滿、甚可怖畏, Ba Cõi không an, giống như nhà lửa, các khổ đầy ắp, rất đáng sợ hãi)”. Bên cạnh đó, Phẩm Hóa Thành Dụ (化城喩品) của kinh này cũng diễn tả rằng: “Năng ư Tam Giới ngục, miễn xuất chư chúng sanh (能於三界獄、勉出諸眾生, có thể nơi ngục của Ba Cõi, làm cho các chúng sanh ra khỏi)”. Như vậy, kinh này muốn cho mọi người thấy rõ rằng Tam Giới không phải là thế giới an ổn thật sự, nên phải thường cầu mong thoát khỏi thế giới ấy. (2) Tam Giới chỉ cho ba con đường đối trị của giải thoát, gồm: Đoạn Giới (斷界), Ly Giới (離界) và Diệt Giới (滅界). Đoạn Giới là đoạn trừ Cửu Kết (九結, 9 loại phiền não), trong đó trừ Tham ra, còn lại 8 thứ kia đều đoạn trừ, hoặc đoạn trừ Vô Minh Kết (無明結, sự ràng buộc của vô minh). Ly Giới là đoạn trừ phiền não của Tham, hay đoạn trừ Ái Kết (愛結, sự ràng buộc của ái). Diệt Giới là đoạn diệt Hữu Lậu (有漏) và các pháp Hữu Vi (有爲), v.v. (3) Chỉ Sắc Giới (色界), Vô Sắc Giới (無色界) và Tận Giới (盡界). (4) Chỉ Pháp Giới (法界), Tâm Giới (心界) và Chúng Sanh Giới (眾生界). Trong Phong Thần Diễn Nghĩa (封神演義), hồi thứ 26 có đoạn: “Siêu xuất Tam Giới ngoại, bất tại Ngũ Hành trung (超出三界外、不在五行中, vượt ra ngoài Ba Cõi, chẳng ở trong Năm Hành).” Hay trong Đạt Ma Đại Sư Phá Tướng Luận (達磨大師破相論, CBETA No. 1220) cũng có đoạn rằng: “Tam Giới nghiệp báo, duy tâm sở sanh, bổn nhược vô tâm, ư Tam Giới trung, tức xuất Tam Giới; kỳ Tam Giới giả, tức Tam Độc giả; Tham vi Dục Giới, Sân vi Sắc Giới, Si vi Vô Sắc Giới; cố danh Tam Giới (三界業報、唯心所生、本若無心、於三界中、卽出三界、其三界者、卽三毒也、貪爲欲界、嗔爲色界、癡爲無色界、故名三界, nghiệp báo của Ba Cõi, do tâm sanh ra, nếu vốn không tâm, ở trong Ba Cõi, tức ra Ba Cõi; Ba Cõi ấy tức là Ba Độc; Tham là Cõi Dục, Sân là Cõi Sắc, Si là Cõi Vô Sắc; nên gọi là Ba Cõi).”

Tam giới

三戒; C: sānjiè; J: sankai;|Ba loại giới luật. Giới luật dành cho cư sĩ, cho tăng sĩ và giới luật dành chung cho cả hai nhóm này. ; 三界; C: sānjiè; J: sangai; S: triloka;|Ba cõi hiện hữu trong Vòng sinh tử: 1. Dục giới (欲界), nơi chúng sinh chỉ đắm say vào những khoái lạc thân thể; 2. Sắc giới (色界), nơi chúng sinh đã vượt khỏi những khoái lạc thân thể nêu trên, nhưng vẫn còn cảm nhận thân sắc vi tế. Đây là cõi của Tứ thiền thiên (四禪天); 3. Vô sắc giới (無色界), là cõi tối cao của Luân hồi, chúng sinh đã thoát khỏi sự tồn tại vật chất, hoàn toàn không có sắc tướng. Đây là cõi của Tứ vô sắc định (四無色定).|Theo A-tì-đạt-ma Câu-xá luận của Thế Thân, Tam giới nêu trên còn được phân thành nhiều cõi khác nhau. Dục giới bao gồm 20 cõi. Gồm có: Tứ đại châu (四大洲), Bát nhiệt địa ngục (八熱地獄), và sáu cõi trời của Dục giới – Lục dục thiên (六欲天). Ngoài Lục dục thiên ra còn có 17 cõi trời của Sắc giới – Sắc giới thập thất thiên (色界十七天). Bên trên Sắc giới là Vô sắc giới, nơi vật chất, sắc tướng không còn tồn tại. Ba thế giới

tam giới

Traidhatuka (skt)—Trailokya (p)—Tại Thế—Three realms (three worlds) and Three sets of commandments: (A) Three realms: Theo Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, cõi luân hồi sanh tử được chia làm ba—According to The Long Discourses of the Buddha, Sangiti Sutra, the realms of births and deaths divided into three realms of existence: 1) Dục giới: Kamadhatu (skt)—Cảnh giới tham sắc dục và thực dục. Gồm sáu cõi trời, cõi người và địa ngục. Chúng sanh trong cõi dục giới nầy đều có ngũ uẩn tạo thành thân thể vật chất (thế giới vật chất bao trùm từ lục đạo đến các cõi trời đều thuộc dục giới nầy)—The realm of passions—The realm of (sensuous) desire of sex and food. It includes the six heavens, the human world, and then hells. All beings in this realm possess five aggregates or panca-skandha—See Ngũ Uẩn. 2) Sắc giới: Rupadhatu (skt)—Cảnh giới bên trên Dục giới gồm Tứ Thiền Thiên—Đây là cõi của thiên thần bậc thấp (Chúng sanh trong cõi nầy không có dâm dục và thực dục, chỉ có thân thân thể vật chất tốt đẹp thù thắng, cõi nước cung điện nguy nga. Tóm lại trong cõi nầy tham dục vật chất không ngừng tự thạnh, nhưng chưa giải thoát hết các mối phiền trược của vật chất vi tế. Y cứ theo tinh thần tu dưỡng cao cấp, cõi nầy chia làm tứ thiền thiên)—The realm of Beauty—The realm of form or matter. It is above the lust world. It is represented in the Brahamlokas (tứ thiền thiên)—The realm of the lesser deities—See Tứ Thiền Thiên. 3) Vô sắc giới: Arupadhatu (skt)—Cảnh giới vô sắc, không còn thân thể, cung điện, đồ vật. Nơi đó tâm an trụ trong thiền định thâm diệu. Cảnh giới nầy trải dài đến Tứ Không Xứ—Đây là cõi của thiên thần bậc cao (cảnh giới nầy cao hơn cảnh sắc giới, chúng sanh không còn bị vật chất ràng buộc, đương thể thuần là tinh thần độc lập, chúng sanh trong cõi nầy thường trụ trong thâm định, không có cảnh giới xứ sở. Y theo thắng liệt của thiền định, cõi nầy là cõi tứ không xứ)—The realm of no Beauty (non-form)—The formless or immaterial realm of pure spirit. There are no bodies, palaces, things. Where the mind dwells in mystic contemplation. Its extent is indefinable in the four “empty” regions of spaces (Tứ không xứ)—This is the realm of the higher deities—See Tứ Không Xứ. (B) Ba giới khác—Three more realms: 1) Sắc giới: Rupa-dhatu (skt)—The realm of form. 2) Vô sắc giới: Arupa-dhatu (skt)—The formless realm. 3) Diệt giới: Nirodha-dhatu (skt)—The realm of cessation. (C) Ba loại giới khác—Three other realms: 1) Liệt giới: Hina-dhatu (skt)—The low realm. 2) Trung giới: Majjhima-dhatu (skt)—The middle realm. 3) Thắng giới: Panita-dhatu (skt)—The sublime realm. (D) Ba loại giới luật—Three sets of commandments: 1) Sa di giới: Mười giới Sa Di—The ten commandments for the novice. 2) Bát quan trai giới: The eight commandments for the devout Buddhist at home. 3) Ngũ giới: Năm giới cho Phật tử tại gia—The five commandments for the ordinary laity. ** For more information, please see Tam Hữu. ; (三界) Phạm: Trayo-dhàtava# Pàli:Tisso dhàtuyo. I. Tam Giới. Cũng gọi Khổ giới, Khổ hải. Chỉ cho Dục giới, Sắc giới, và Vô sắc giới.1. Dục giới (Phạm:Kama-dhàtu): Thế giới của các loài hữu tình có tính dâm dục, tình dục, sắc dục và thực dục cư trú. Trên từ cõi trờiTha hóa tự tại thứ 6, giữa gồm 4 đại châu cõi người, dưới đến địa ngục Vô gián; vì nam nữ ở lẫn lộn, nhiều thứ dục nhiễm nên gọi là Dục giới. 2. Sắc giới (Phạm:Rùpa-dhàtu): Sắc có nghĩa biến ngại hoặc thị hiện, là thế giới cư trú của loài hữu tình đã xa lìa dâm dục và thực dục của cõi Dục, nhưng vẫn còn có sắc chất thanh tịnh. Cõi này ở phía trên cõi Dục, không có các thứ dục nhiễm, cũng không có thân nữ, chúng sinh ở cõi này đều do hóa sinh, cung điện cao lớn, là do sự hóa sinh của sắc, tất cả đều thù thắng đẹp đẽ. Vì cõi này vẫn còn sắc chất nên gọi là Sắc giới. Cõi này tùy theo thiền định sâu cạn thô diệu mà được chia làm 4 bậc, từ Sơ thiền Phạm thiên cho đến A ca nị tra thiên, tất cả có 18 tầng trời.3. Vô sắc giới (Phạm:Àrùpya-dhàtu): Thế giới cư trú của loài hữu tình chỉ có thụ, tưởng, hành, thức không có 1 vật gì là vật chất, cũng không có thân thể, cung điện, quốc độ, chỉ có tâm thức trụ trong thiền định sâu xa mầu nhiệm, nên gọi là Vô sắc giới. Thế giới này ở phía trên cõi Sắc, có tất cả 4 tầng trời(Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, và Phi phi tưởng xứ), cũng gọi là Tứ vô sắc, Tứ không xứ. Tam giới được chia nhỏ ra làm 25 Hữu (Giới), nếu chia Na hàm thiên của cõi Sắc ra làm 5(tức Ngũ na hàm thiên) thì có tất cả 29 Hữu. Sự quan hệ giữa Tam giới và Cửu địa (9 nơi) được biểu đồ như sau: Hữu Ngũ Thú Tạp Cư Địa LiSinh Hỉ Lạc Địa Định Sinh Hỉ Lạc Địa Li Hỉ Diệu Lạc Địa Xả Niệm Thanh Tịnh Địa Không Vô Biên Xứ Địa Thức Vô Biên Xứ Địa Vô Sở Hữu Xứ Địa Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Địa Cửu Địa Sơ Thiền Nhị Thiền Tam Thiền Tứ Thiền Tam Giới Dục Giới Sắc Giới Vô Sắc Giới Bốn ác thú (4) Bốn châu cõi người (4) Sáu trời Dục (6) trời cõi Thiền (4) Phạm thiên (1) Năm Na hàm thiên (1) Vôtưởng thiên (1) Bốn Vô Sắc thiên (4) Lục Đạo Địa ngục Ngã quỉ Súc sinh Tula Nhân ThiênQuả báo của 3 cõi này tuy có hơn, kém, khổ, vui, khác nhau, nhưng đều thuộc cõi mê, là đường sinh tử luân hồi của chúng sinh, cho nên các bậc Thánh đều nhàm chán lìa bỏ. Phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa (Đại 9, 14 hạ) nói: Ba cõi (tam giới) không yên ổn, giống như căn nhà lửa, chúng sinh chịu toàn khổ não, rất đáng sợ hãi. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.13; (bản Nam); luận câu xá Q.8; luận Phẩm loại tác Q.5; luận Đại tì bà sa Q.75; luận Du già sư địa Q.4; Đại trí độ Q.21; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.2]. (xt. Cửu Địa, Sắc Giới, Dục Giới, Vô Sắc Giới). II. Tam Giới. Chỉ cho Đoạn giới, Li giới, và Diệt giới là 3 pháp đoạn trừ phiền não đưa đến vô vi giải thoát. 1. Đoạn giới: Tức đoạn trừ 8 phiền não trong 9 kết(trừ tham)hoặc đoạn trừ Vô minh kết. 2. Li giới: Đoạn diệt phiền não tham hoặc đoạn trừ ái kết. 3. Diệt giới: Đoạn diệt các pháp hữu lậu, hữu vi và các phiền não vô phú vô kí... tức là đoạn trừ tất cả các pháp hữu lậu còn sót lại. Luận Đại tì bà sa quyển 29 (Đại 27, 148 trung) nói: Tất cả hành đoạn nên gọi là Đoạn giới; tất cả hành lìa nên gọi là Li giới; tất cả hành diệt nên gọi là Diệt giới.[X. luận Thuận chính lí Q.72; luận Câu xá Q.25]. III. Tam Giới. Chỉ cho Sắc giới, Vô sắc giới và Tận giới.[X. kinh Trường a hàm Q.8; luận Phẩm loại túc Q.5]. IV. Tam Giới. Chỉ cho Pháp giới, Tâm giới, và Chúng sinh giới. Tam giới này là căn cứ vào thuyết Tâm, Phật và chúng sinh không sai khác nhau trong kinh Hoa nghiêm mà được thành lập. [X. Đại nhật kinh sớ Q.3]. V. Tam Giới. Chỉ cho Thượng giới, Trung giới và Hạ giới.Đây là quan niệm cơ bản của Tát mãn giáo. Theo quan niệm này thì vũ trụ được chia ra làm Tam giới thượng, trung, hạ, nhưng tùy theo các dân tộc mà ý nghĩa có hơi khác nhau. Như Tát mãn giáo của dân tộc Mông cổ thì cho rằng Thượng giới là thế giới của Thần linh, Trung giới là nơi ở của loài người và động vật; còn Hạ giới là thế giới của thần chết và ma quỉ tu tập, tức là địa ngục. Ở khoảng giữa Trung giới và Hạ giới lại có một thế giới không thể biết được, là nơi mà con người sau khi chết sẽ đi đến.

tam giới do tâm sinh

Cittamhi-traidhatukayonih (skt)—Tâm là nguồn gốc của ba cõi—The mind is the origin of the triple world.

tam giới duy nhất tâm

Tribhavasva-cittamatram (skt)—Tam giới duy thị tự tâm hay tam giới duy chỉ do tâm nầy. Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật dạy: “Vị Bồ tát Ma ha Tát thấy rằng thế giới chỉ là sự sáng tạo của tâm, mạt na và ý thức; rằng thế giới được sinh tạo do phân biệt sai lầm bởi cái tâm của chính mình; rằng không có những tướng trạng hay dấu hiệu nào của một thế giới bên ngoài mà trong đó nguyên lý đa phức điều động; và cuối cùng rằng ba cõi chỉ là cái tâm của chính mình—The triple world is but one mind—The triple world is just Mind. In the Lankavatara Sutra, the Buddha taught: “The Bodhisattva-mahasattvas sees that the triple world is no more than the creation of the citta, manas, and mano-vijnana, that it is brought forth by falsely discriminating one's own mind, that there are no signs of an external world where the principle of multiplicity rules, and finally that the triple world is just one's own mind.”

tam giới duy thị tự tâm

Svacitta-matram-traidhatukam (skt)—Ba cõi chỉ là tâm của mình—The triple world is no more than one's own mind—See Tam Giới Duy Nhất Tâm.

tam giới duy tâm

(三界唯心) Cũng gọi Tam giới duy nhất tâm. Ba cõi do một tâm. Tất cả mọi hiện tượng trong 3 cõi đều do tâm biến hiện ra, vì tâm là bản thể của muôn vật nên không 1 vật nào ngoài tâm. Kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển 10 (Đại 9, 465 hạ) nói: Tâm như người thợ vẽ, vẽ các thứ 5 ấm, trong tất cả thế giới, không pháp nào chẳng tạo. Tâm cũng như Phật, Phật cũng như chúng sinh. Tâm, Phật và chúng sinh, cả 3 không sai khác. Chư Phật đều biết rõ, tất cả do tâm chuyển, (...) tâm tạo các Như lai. Về nghĩa của Tâm này; các nhà Pháp tính và Pháp tướng đều nói khác nhau: Theo tông Pháp tướng thì Tâm này là chỉ cho tâm thức A lại da, vì dùng tâm này mà chứng A lại da duyên khởi là nghĩa duy thức biến hiện, cho nên Nhiếp đại thừa luận thích quyển 4 giải là Tam giới duy thức nghĩa là tâm tương ứng với các ái kết như dục... nên bị đọa trong 3 cõi. Còn theo tông Pháp tính thì Tâm này là chỉ cho Tự tính thanh tịnh tâm của Như lai tạng, có nghĩa là chân như tùy duyên mà tạo tác các pháp. Tức là Tâm tạo tất cả pháp, còn tất cả pháp thì vốn lìa tướng ngôn thuyết, tướng danh dự, tướng tâm duyên, rốt ráo bình đẳng, không chuyển dời, không đổi khác, tất cả chỉ có Tâm này, cho nên gọi là Chân như. Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh sớ quyển 40 căn cứ vào nghĩa này mà nêu ra 3 cách giải thích khác nhau: 1. Hàng nhị thừa thấy cảnh trước mắt không rõ đó là duy tâm, giả sử có nghe nói tâm thì cũng chỉ cho đó là 1 trong các chân đế, hoặc cho là do tâm chuyển biến, chứ chẳng phải đều là tâm. 2. A lại da dị thục được coi là 1 tâm, vì chỉ có tâm chứ không có ngoại cảnh nên nói là 1 tâm. 3. Tính Như lai tạng thanh tịnh, lí không có 2 thể nên vốn là 1 tâm. [X. Thập địa kinh luận Q.8; luận Biện trung biên Q.thượng, luận Đại thừa khởi tín; Đại nhật kinh sớ Q.2; Duy thức nhị thập luận thuật kí Q.thượng].

tam giới hùng

(三界雄) Đức hiệu của Phật. Phật là bậc đại hùng trong 3 cõi, có năng lực hàng phục tất cả ma chướng. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 296 trung) nói: Nguyện và trí tuệ đều viên mãn, được là bậc đại hùng trong 3 cõi.

tam giới hỏa trạch

The burning house of the triple worlds—See Tam Giới Như Hỏa Trạch.

tam giới khổ luân

(三界苦輪) Ba cõi là vòng mê khổ, quay mãi không ngừng. Tức là cảnh giới sinh tử luân hồi của chúng sinh. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa quyển thượng (Đại 8, 837 trung) nói: Thập thiện bồ tát phát tâm rộng lớn, mãi mãi xa lìa biển khổ luân hồi 3 cõi (Tam giới khổ luân hải). [X. kinh Thắng thiên vương bát nhã Q.1].

tam giới nhãn

The trailokya—Buddha who sees all the realms and the way of universal escape. ; (三界眼) Con mắt của 3 cõi, danh từ tôn xưngđức Phật. Phật là bậc đại trí đại giác, là con mắt của mọi loài trong 3 cõi, dắt dẫn chúng sinh ra khỏi hiểm nạn sinh tử, vì thế gọi là Tam giới nhãn. Kinh Phật bát nê hoàn quyển hạ (Đại 1, 169 thượng) nói: Phật là bậc đại minh, là con mắt trong 3 cõi, nay Phật vào Niết bàn là con mắt trong 3 cõi không còn nữa.

tam giới như hỏa trạch

Dục giới, sắc giới và vô sắc giới đang thiêu đốt chúng sanh với những khổ đau không kể xiết. Tam giới giống như nhà lửa đang hừng hực cháy. Kinh Pháp Hoa dạy: “Ba cõi không an, dường như nhà lửa, sự khổ dẫy đầy, đáng nên sợ hãi.” Chúng sanh trong ba cõi, đặc biệt là chúng sanh trong cõi Ta Bà nầy, luôn bị những sự khổ não và phiền muộn bức bách. Sống chen chúc nhau trong đó như ở giữa một căn nhà đang bốc cháy, dẫy đầy hiểm họa, chẳng biết còn mất lúc nào. Ấy thế mà mọi người chẳng biết, chẳng hay, cứ mãi nhởn nhơ vui thú của ngũ dục, làm như không có chuyện gì xãy ra cả. Phật tử chơn thuần nên luôn nhớ vậy để lúc nào cũng chuyên cần tinh tấn tu hành cầu giải thoát—The three realms of Desire, Form and Formless realms scorching sentient beings, such sufferings are limitless. The triple worlds as a burning house. In the Lotus Sutra, the Buddha taught: “The three worlds are unsafe, much like a house on fire. Suffering is all pervasive, truly deserving to be terrified and frightened.” Sentient beings in the three worlds, especially those in the Saha World, are hampered constantly by afflictions and sufferings. Living crowded in the suffering conditions of this Saha World is similar to living in a house on fire, full of dangers, life can end at any moment. Even so, everyone is completely oblivious and unaware, but continues to live leisurely, chasing after the five desires, as if nothing was happening. Sincere Buddhists should always remember this and should always diligently cultivate to seek liberation.

tam giới sàng

The sick-bed of the Trailokya—The Saha World of suffering.

tam giới trí

(三界智) Nyanatiloka (1878-1960) Danh tăng người Đức, sinh ở thành phố Wiesbaden, là vị tỉ khưu đầu tiên của nước Đức.Sư vốn là 1 học giả Phật giáo và lại chuyên nghiên cứu âm nhạc. Sau sư đến Rangoon, thủ đô nước Miến điện và xuất gia tại đó. Năm 1903, sư đến Tích lan cư trú trên đảo Polgasduwa, tham dự vào tăng đoàn Tích lan, học tập và nghiên cứu kinh điển bằng tiếngPàli. Về sau, sư chuyên phiên dịch kinh điển Phật và tu trì độ chúng, trong đó có vài mươi vị tỉ khưu người Đức. Sư là khuôn mẫu điển hình của việc học tập và thực hành giáo lí Phật giáo đối với giới nghiên cứu Phật học phương Tây. Trong cuộc đại chiến lần thứ nhất, sư bị người Anh nghi là gián điệp nước Đức nên bắt giam tại Hán khẩu ở Trung quốc; sau nhờ sự can thiệp của hội Hồng thập tự quốc tế nên sư được trả tự do và trở về nước. Năm 1926, sư lại đến Tích lan và thị tịch tại đó vào năm 1960, thọ 82 tuổi. Sư có các tác phẩm:Pàli văn pháp, Phật giáo kệ tụng, Phật giáo từ điển.

Tam giới tôn

bậc cao quý nhất trong Ba cõi là Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.

tam giới tôn

The Honoured One of the three worlds (Buddha). ; (三界尊) Bậc tôn quí trong 3 cõi. Là danh từ tôn xưng đức Phật. Phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma (đại 14, 537 hạ) nói: Con nay cúi đầu kính lễ bậc tôn quí trong 3 cõi(Tam giới tôn).

Tam giới tạng

三界藏; C: sānjiècáng; J: sankaizō;|Ba cõi hiện hữu được xem như là xuất xứ của tất cả những phiền não, nghiệp chướng (Nhất thiết chúng sinh phiền não bất xuất tam tạng giới 一切衆生煩惱不出三界藏, theo Nhân vương kinh 仁王經).

tam giới tạng

The Trailokya-garbha—The womb or storehouse of all the transmigrational. ; (三界藏) Ba cõi là cái kho chứa đựng phiền não nghiệp quả của tất cả chúng sinh, cho nên gọi là Tam giới tạng. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật quyển thượng (Đại 8, 826 hạ) nói: Phiền não của hếtthảychúng sinh không ngoài kho 3 cõi.

tam giới từ phụ

The kindly father of the triple world.

tam giới vô an

(三界無安) Trong 3 cõi: Dục, Sắc và Vô sắc không thể tìm được sự an lành chân thật. Phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa (Đại 9, 14 hạ) nói: Ba cõi không yên, giống như nhà lửa; đầy dẫy các khổ, rất đáng sợ hãi.Phẩm Thế tục kinh Pháp cú quyển thượng (Đại 4, 566 trung) nói: Đời đều có chết, ba cõi không yên; các trời tuy vui, phúc hết cũng mất. [X. Phẩm Vô não chỉ man trong kinh Hiền ngu Q.11; kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 3, 4; Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh sớ Q.hạ, phần 1].

tam giới vạn linh bài

(三界萬靈牌) Bài vị của các vong linh trong 3 cõi được đặt ở điện Phật của các chùa viện để hàng ngày nguyện cầu cho những chúng sinh vô duyên cũng được nhờ ơn Phật mà chóng siêu thoát. Trên bài vị này, viết các hàng chữ: Tam giới vạn linh, Thập phương chí thánh, Lục thân quyến thuộc, Thất thế phụ mẫu.(Muôn linh ba cõi, Các thánh mười phương, Họ hàng sáu thân, Cha mẹ bảy đời). Hoặc viết: Tam giới vạn linh, Lục đạo tứ sinh, Thất thế phụ mẫu, Lục thân quyến thuộc... bài vị này cũng được đặt trên đàn cúng ngạ quỉ khi mở hội Thí ngạ quỉ. Tại Nhật bản, phong tục thờ bài vị này thịnh hành từ đầu thời đại Liêm thương. [X. Đại giám thiền sư tiểu thanh qui; môn Đồ bài trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.16].

tam giới độc tôn

(三界獨尊) Từ tôn xưng đức Phật. Phật là đấng tôn quí nhất trong 3 cõi, đầy đủ trí tuệ và phúc đức, là bậc duy nhất được 3 cõi tôn kính quí trọng, là bậc thầy dẫn đường cho 4 loài. Phẩm Quang chiếu không hữu trong luận Bảo tạng (Đại 45, 145 trung) nói: Phật là bậc tôn quí nhất trong 3 cõi, đã giác ngộ lí không, không làm mà làm, việc làm đã viên mãn. [X. kinh Trường a hàm Q.1].

Tam hiền

三賢; C: sānxián; J: sangen;|1. Trong A-tì-đạt-ma của Tiểu thừa, Tam hiền đây là Ngũ đình tâm quán (五停心觀), Biệt tướng niệm trú (別相念住), và Tổng tướng niệm trú (總相念住). 2. Trong Pháp tướng tông, Tam hiền gồm ba nhóm Thập trú, Thập hạnh và Thập hồi hướng.

tam hiền

Người chứng đắc ba quả vị Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng. ; (三賢) Chỉ cho 3 giai vị tu hành các thiện căn để ức chế phiền não, khiến cho tâm được điều hoà. Tam hiền có Tiểu thừa và Đại thừa khác nhau. 1. Tiểu thừa tam hiền vị (cũng gọi Ngoại phàm vị): Giai vị tu các thiện căn hữu lậu,(tức Thuận giải thoát phần), có 3 vị: a. Ngũ đình tâm quán vị: Giai vị dùng Ngũ đình tâm quán để ngăn dứt tham, sân, si, ngã kiến và tâm tán loạn. b. Biệt tướng niệm trụ vị: Giai vị quán riêng các tự tướng: Bất tịnh, khổ, vô thường và vô ngã thuộc thân, thụ, tâm, pháp, đồng thời, quán các cộng tướng: Vô thường, khổ, không, và vô ngã. c. Tổng tướng niệm trụ vị: Giai vị quán chung các cộng tướng: Vô thường khổ, không và Vô ngã thuộc Tứ niệm trụ.Ba giai vị trên đầy và 4 giai vị Thiện căn hợp lại gọi chung là Thất phương tiện vị, là giai vị tu hành chuẩn bị vào Kiến đạo. Giai vị Ngũ đình tâm quán thành tựu Xa ma tha(Chỉ), 2 giai vị còn lại thì thành tựu Tì bát xá na(Quán). 2. Đại thừa tam hiền vị(cũng gọi Tam thập tâm): Chỉ cho hàng Bồ tát trước Thập địa, giai vị này có 3 bậc Thập tâm khác nhau. a. Thập trụ: Tâm lãnh hội được lí, an trụ chẳng động, gọi là Trụ. Thập trụ gồm có: Phát tâm trụ, Trị địa trụ, Tu hành trụ, Sinh quí trụ, Cụ túc phương tiện trụ, Chính tâm trụ, Bất thoái trụ, Đồng chân trụ, Pháp vương tử trụ và Quán đính trụ. b. Thập hạnh: Tu hành 10 hạnh này sẽ có năng lực tiến tới quả, gọi là Hạnh. Thập hạnh gồm có: Hoan hỉ hạnh, Nhiêu ích hạnh, Vô vi nghịch hạnh, Vô khuất náo hạnh, Vô si loạn hạnh, Thịện hiện hạnh, Vô trước hạnh, Nan đắc hạnh, Thiện pháp hạnh, và Chân thực hạnh. c. Thập hồi hướng: Hồi nhân hướng quả, gọi là Hồi hướng. Thập hồi hướng gồm có: Cứu chư chúng sinh li chúng sinh tướng hồi hướng, Bất hoại hồi hướng, Đẳng nhất thiết chư Phật hồi hướng, Chí nhất thiết xứ hồi hướng, Vô tận công đức tạng hồi hướng, Nhập nhất thiết bình đẳng thiện căn hồi hướng, Đẳng tùy thuận nhất thiết chúng sinh hồi hướng, Chân như tướng hồi hướng, Vô phược vô trước giải thoát hồi hướng, và Nhập pháp giới vô lượng hồi hướng. Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng là Tam hiền vị của kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp, còn Tam hiền vị của kinh Nhân vương bát nhã ba la mật là Thập tín tập chủng tính, Thập chỉ tính chủng tính, Thập kiên tâm đạo chủng tính và Tam hiền vị của kinh Phạm võng quyển thượng là Thập phát thú Thập trưởng dưỡng, Thập kim cương... [X. Tứ giáo nghĩa Q.5; Bồ tát anh lạc bản nghiệp kinh sớ Q.hạ; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.5; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3]. (xt. Ngũ Thập Nhị Vị, Ngũ Đình Tâm Quán, Tứ Niệm Trụ, Bồ Tát Giai Vị).

tam hiện quán

(三現觀) Chỉ cho Kiến hiện quán, Duyên hiện quán và Sự hiện quán. Hiện quán là dùng, trí tuệ vô lậu quán xét lí của Tứ thánh đế hiện tiền. 1. Kiến hiện quán: Pháp này căn cứ vào pháp Kiến đế mà được thành lập, tức dùng trí huệ vô lậu quán xét cảnh các đế, hiện thấy rõ ràng. 2. Duyên hiện quán: Pháp quán này là dựa vào pháp năng duyên mà được thành lập, tức trí tuệ vô lậu và các tâm, tâm sở tương ứng với trí ấy đều duyên theo cảnh của Tứ đế. 3. Sự hiện quán: Pháp quán này là y cứ vào pháp cùng làm 1 việc mà được thành lập, tức pháp năng duyên nói trên cùng với Đạo cộng giới và các pháp không tương ứng như sinh, trụ, dị, diệt,.. cùng làm 1 việc hiện quán Tứ đế. [X. luận Câu xá Q.22, 23; Dị bộ tông luân luận thuật kí]. (xt. Hiện Quán).

tam hoang vu

Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba Hoang Vu—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are three kinds of barrenness: 1) Tham Hoang Vu: The barrenness of lust. 2) Sân Hoang Vu: The barrenness of hatred. 3) Si Hoang Vu: The barrenness of delusion.

Tam hoặc

三惑; C: sānhuò; J: sanwaku;|Ba sự mê hoặc, ba phiền não. Có hai cách phân loại: 1. Ba loại phiền não căn bản là Tham dục (貪欲), Sân khuể (瞋恚), và Ngu si (愚癡). Chúng tương đương với Ba độc (Tam độc 三毒); 2. Trong Thiên Thai tông, ba loại hoặc chính là là Kiến tư hoặc (見思惑) – Phiền não xuất phát từ những kiến giải, những mối tư duy sai –, Trần sa hoặc (塵沙惑) – phiền não cản trở trí huệ và nhiều như số cát sông Hằng –, và Vô minh hoặc (無明惑), những phiền não gây chướng ngại cho việc thấu hiểu sự vật. Loại hoặc đầu được phá huỷ bởi hành giả Tiểu cũng như Đại thừa. Hai loại hoặc sau chỉ được tiệt đoạn bởi những vị Bồ Tát.

tam hoặc

Tam phiền não—Tam lậu—Tam cấu—Three delusions. (A) Theo tông Thiên Thai, có ba loại hoặc—According to the T'ien-T'ai Sect, there are three delusions: 1) Kiến tư hoặc: Thấy và nghĩ tưởng theo ảo vọng từ những nhận xét không hoàn hảo, với những cám dỗ của yêu ghét, vân vân. Muốn loại bỏ những cấu chướng nầy, người ta phải tuân thủ và hành trì giới luật (mê chấp tướng sanh tử)—Things seen and thought illusions from imperfect perception, with temptation to love, hate, etc., to be rid of these false views and temptations, one must cultivate and observe moral precepts. 2) Trần sa hoặc: Phiền não và cám dỗ trong lúc cứu độ chúng sanh (mê chấp cứu độ chúng sanh để đuợc vào cõi Niết Bàn)—Illusion and temptation through the immense variety of duties in saving others. 3) Vô minh hoặc: Phiền não và cám dỗ khởi lên từ chỗ không hiểu chư pháp và thực tánh của chúng. Phiền não khởi lên từ căn bản vô minh làm che lấp mất chân lý. Trong Biệt Giáo và Viên Giáo, Bồ Tát khắc phục vô minh hoặc trong sơ địa (mê chấp về tướng nhị biên)—The illusions and temptations that arise from failure philosophically to understand things in their reality—Illusion arising from primal ignorance which covers and hinders the truth. In the Differentiated Teaching, this illusion is overcome by the Bodhisattva from the first stage; in the Perfect Teaching, it is overcome by the Bodhisatva in the first resting-place. (B) Theo Phật Giáo Nguyên Thủy, có ba nhóm lậu hoặc—According to the Hinayana Buddhism, there are three groups of delusions: 1) Dục lậu: Say mê về dục lạc trần thế: Kamasava (p)—Intoxicant of worldly desires or sensual pleasures. 2) Hữu lậu: Bhavasava (p)—Sự ham muốn hiện hữu trong một trong những cảnh giới hữu lậu—The love of existence in one of the conditioned realms. 3) Vô minh lậu: Avijjasava (p)—Sự uế nhiễm trong tâm khởi lên từ sự ngu si—The defilements of ignorance in mind. *** Ngoài ra, có người còn cho rằng có lậu thứ tư là Kiến lậu, là những quan điểm đồi bại—Besides, some considers the fourth delusion: the corruption of views. ; (三惑) I. Tam Hoặc. Cũng gọi Tam chướng. Chỉ cho Kiến tư hoặc, Trần sa hoặc và Vô minh hoặc. 1. Kiến tư hoặc: Kiến hoặc và Tư hoặc. Kiến hoặc là do các tà kiến sinh khởi khi ý căn tiếp xúc với pháp trần. Tức là phiền não mê lầm đối với đạo lí trong 3 đời. Tư hoặc là tư tưởng chấp trước dấy lên khi 5 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân tham đắm nơi 5 trần sắc, thanh, hương, vị, xúc. Tức là phiền não mê lầm đối với sự lí ở hiện tại. Kiến hoặc và Tư hoặc này do cả 3 thừa Thanh văn, Duyên giác, và Bồ tát cùng đoạn trừ, cho nên gọi là Thông hoặc. Vì chúng chiêu cảm sinh tử trong 3 cõi nên thuộc về hoặc giới nội, phải dùng Không quán để đối trị. 2. Trần sa hoặc: Các hoặc chướng sinh khởi vì mê lầm đối với các pháp thuộc giới nội, giới ngoại nhiều như số cát sông Hằng, gọi là Trần sa hoặc. Bồ tát sau khi đoạn trừ Kiến tư hoặc, dễ bị dính mắc vào Không quán, gây chướng ngại cho việc tự tại giáo hóa độ sinh của Bồ tát, nên Trần sa hoặc còn được gọi là Trước không hoặc, Hóa đạo chướng hoặc. Vì hoặc này chỉ do Bồ tát đoạn trừ nên cũng gọi là Biệt hoặc, thuộc cả giới nội và giới ngoại, phải dùng Giả quán để đối trị. 3. Vô minh hoặc: Đối với tất cả pháp không rõ biết nên gọi là Vô minh. Tức là phiền não mê lầm về Trung đạo đệ nhất nghĩa đế. Vô minh hoặc là chủng tử của nghiệp thức, cội rễ của phiền não, thuộc về giới ngoại, chỉ có Bồ tát Đại thừa, tu cả định lẫn tuệ, đầy đủ muôn hạnh mới đoạn trừ được hoặc này, cho nên cũng gọi là Biệt hoặc và phải dùng Trung quán để đối trị. Nếu bàn về giai vị đoạn trừ thì giữa Biệt giáo và Viên giáo có khác nhau. Theo thuyết của Biệt giáo thì giai vị Thập tín mới chỉ nép phục được Kiến tư hoặc, Sơ trụ đoạn trừ được Kiến hoặc, Thất trụ đoạn sạch Tư hoặc, Bát trụ, Cửu trụ, và Thập trụ đoạn trừ được Trần sa hoặc thuộc giới nội, Thập hạnh đoạn trừ Trần sa hoặc thuộc giới ngoại, Thập hồi hướng nép phục Vô minh hoặc, từ Sơ địa trở lên cho đến giai vị Diệu giác đoạn trừ được 12 phẩm Vô minh hoặc. Còn theo thuyết của Viên giáo thì Giai vị Ngũ phẩm đệ tử nép phục được phiền não Ngũ trụ địa, giai vị đầu của Thập tín đoạn trừ được Kiến hoặc, giai vị Thất tín đoạn trừ hết Tư hoặc, Bát tín, Cửu tín và Thập tín, đoạn trừ được Trần sa hoặc thuộc giới nội, từ Sơ trụ trở lên cho đến giai vị Diệu giác đoạn trừ được 12 phẩm Vô minh hoặc. Thật ra Tam hoặc vốn từ 1 hoặc mà chia ra theo tính chất thô và tế, chứ thể của hoặc thì không khác, tính thô gọi Kiến tư, tính tế gọi là Vô minh, ở khoảng giữa thì gọi là Trần sa, cho nên việc đoạn trừ lẽ ra không có thời gian trước, sau khác nhau. Nếu lại phối hợp Tam hoặc với Nhị chướng thì tương đương với Sở tri chướng. [X. Ma ha chỉ quán Q.4 thượng; 6 thượng; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.3 hạ, 4 hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.6, phần 3, 7, phần 4; Tứ giáo nghĩa Q.1; Tứ niệm xứ Q.4]. II. Tam Hoặc. Tên gọi khác của Tam độc, tức 3 thứ mê hoặc căn bản là tham dục, sân khuể và ngu si.

Tam Huyền

(三玄): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Từ gọi chung của các nhà huyền học thời Ngụy Tấn (魏晉南北朝, 220-589) đối với 3 thư tịch Lão Tử (老子), Trang Tử (莊子) và Chu Dịch (周易). Đạo Giáo cũng dùng đến thuật ngữ này. Như trong Nhan Thị Gia Huấn (顏氏家訓), chương Miễn Học (勉學), giải thích rằng: “Kịp ư Lương thế, tư phong phục xiển, Trang, Lão, Chu Dịch, tổng vị Tam Huyền (洎於梁世、茲風復闡、莊、老、周易、總謂三玄, đến thời nhà Lương, phong thái này lại được mở ra, Trang Tử, Lão Tử và Chu Dịch, gọi chung là Tam Huyền).” (2) Chỉ cho mặt trời, mặt trăng và sao. Như trong Vân Cấp Thất Thiêm (雲笈七籤) có đoạn: “Thiên hữu Tam Huyền, vị nhật, nguyệt, tinh dã (天有三玄,謂日、月、星也, trời có Tam Huyền, tức là mặt trời, mặt trăng và sao).” (3) Thuật ngữ Thiền, chỉ cho 3 loại áo nghĩa, giáo chỉ do Thiền sư Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄, ?-866) của Lâm Tế Tông tuyên xướng; gồm: (1) Thể Trung Huyền (體中玄), (2) Cú Trung Huyền (句中玄), (3) Huyền Trung Huyền (玄中玄). Trong một câu có Ba Huyền, trong một Huyền có Ba Yếu, tổng cọng có 9 pháp. Như trong Tục Truyền Đăng Lục (續傳燈錄, Taishō Vol. 51, No. 2077) quyển 9, phần Đông Kinh Hoa Nghiêm Phổ Tư Thiền Sư (東京華嚴普孜禪師), có đoạn: “Sư vi nhân thanh tú kiệt xuất, xướng Lâm Tế hạ Tam Huyền Cửu Đái, tạo Tào Động Ngũ Vị Thập Huyền, giai diệu đắc kỳ gia phong yếu chỉ (師爲人清秀傑出、唱臨濟下三玄九帶、造曹洞五位十玄、皆妙得其家風要旨, Thiền Sư là người thanh tú kiệt xuất, cổ xướng Ba Huyền Chín Pháp của Lâm Tế, tạo ra Năm Vị Mười Huyền của Tào Động, đều đạt được gia phong yếu chỉ của người một cách diệu xảo).” Hay trong bài thơ Tiên Hòa Thượng Tọa Thoát (仙和尚坐脫) của Triệu Phong (趙渢, ?-?) nhà Kim cũng có đoạn: “Dũng để thoát thời vô nhất vật, cơ luân chuyển xứ hữu Tam Huyền (桶底脫時無一物、機輪轉處有三玄, đáy thùng vỡ rồi chẳng một vật, cơ phong chuyển hóa có Ba Huyền).” Hoặc trong Liệt Tổ Đề Cương Lục (列祖提綱錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1260) quyển 38, phần Đầu Thủ Tứ Tiết Bỉnh Phất (頭首四節秉拂), lại có câu: “Hoát khai Tam Yếu Tam Huyền lộ, tọa đoạn Tu Di đệ nhất phong (豁開三要三玄路、坐斷須彌第一峰, mở toang Ba Yếu Ba Huyền nẻo, nghiễm nhiên ngồi chót đỉnh Tu Di).”

tam huyền tam yếu

Là cơ xảo của Lâm Tế để kích thích hành giả tham thiền phát khởi nghi tình. ; (三玄三要) Tiếng dùng trongThiền lâm. Phương pháp tiếp dẫn người học của Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền. Tam huyền là: 1. Thể trung huyền: Chỉ cho câu nói hoàn toàn không trau chuốt văn hoa, chỉ y cứ vào chân tướng là đạo lí của mọi sự vật mà biểu hiện. 2. Cú trung huyền: Chỉ cho lời nói chân thực, không hề liên quan đến tình thức phân biệt, tức không câu nê vào ngôn ngữ mà chỉ nhằm tỏ ngộ ý nghĩa sâu kín của lời nói. 3. Huyền trung huyền (cũng gọi Dụng trung huyền): Chỉ cho câu nói sâu xa mầu nhiệm, xa lìa tất cả lí luận tương đãi và sự trói buộc củangữ cú... Trong 3 huyền môn, mỗi huyền môn lại có 3 yếu tố quan trọng gọi là Tam yếu. Theo Thiền sư Phần dương Thiện chiêu thì Tam yếu là: 1. Yếu thứ nhất: Trong lời nói không có phân biệt tạo tác. 2. Yếu thứ hai: Nghìn Thánh vào thẳng nghĩa sâu xa mầu nhiệm. 3. Yếu thứ ba: Dứt bặt nói năng. [X. bài tựa trong Lâm tế Nghĩa huyền thiền sư ngữ lục; Ngũ gia huyền chỉ toản yếu Q.thượng; Thiền học đích hoàng kim thời đại (Ngô kinh hùng); Nhân thiên nhãn mục Q.1]. (xt. Lâm Tế Tam Cú).

Tam huệ

三慧 (惠); C: sānhuì; J: san'e;|Ba loại trí huệ, Văn tư tu.

tam huệ

Theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy, có ba cách đạt được trí huệ—According to the Theravadan Buddhism, there are three modes of attaining moral wisdom: 1) Văn Huệ: Sutamaya-panna (p)—Đạt được văn huệ qua đọc nghe và những lời giáo huấn—Attaining moral wisdom from reading, hearing and instruction—Attaining wisdom based on learning. 2) Tư huệ: Cintamaya-panna (p)—Đạt được tư huệ qua suy tư—Attaining moral wisdom from reflection—Attaining wisdom based on thinking. 3) Tu huệ: Bhavanamaya-panna (p)—Đạt được tu huệ qua tu hành phát triển tâm linh—Attaining moral wisdom from practice of abstract meditation (attaining wisdom based on mental development).

Tam Hà

(三河): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Dưới thời nhà Hán, là tên gọi của 3 quận Hà Nội (河內), Hà Đông (河東) và Hà Nam (河南), tức hiện tại là Tỉnh Hà Nam (河南省), Phố Lạc Dương (洛陽市) và một dãy Nam Bắc. Như trong Sử Ký (史記), phần Hóa Thực Liệt Truyện (貨殖列傳) có đoạn rằng: “Tích Đường nhân đô Hà Đông, Ân nhân đô Hà Nội, Chu nhân đô Hà Nam; phù Tam Hà, tại thiên hạ chi trung; nhược đỉnh túc, vương giả sở cánh cư dã (昔唐人都河東、殷人都河內、周人都河南、夫三河、在天下之中、若鼎足、王者所更居也, xưa kia kinh đô nhà Đường là Hà Đông, kinh đô nhà Ân là Hà Nội, kinh đô nhà Chu là Hà Nam; phàm ba quận này ở trong thiên hạ; nếu kết hợp thành thế chân vạc, là chốn an cư của bậc đế vương).” (2) Chỉ cho 3 con sông Hoàng Hà (黃河), Tứ Chi Hà (賜支河) và Hoàng Hà (湟河). Như trong bài Nghệ Lâm Phạt Sơn (藝林伐山), phần Tam Hà (三河) của Dương Thận (楊愼, 1488-1559) nhà Minh có câu: “Đường thi 'Thiên Tử Tam Hà mộ thiếu niên' (唐詩'天子三河募少年', thơ Đường có câu 'ba sông của Thiên Tử chiêu mộ thiếu niên').” (3) Chỉ cho 3 con sông Hoàng Hà (黃河), Hoài Hà (淮河) và Lạc Hà (洛河); và đôi khi cũng chỉ cho tất cả các sông ngòi.

Tam Hà Tứ Hải Cửu Giang

(三河四海九江): ba sông, bốn biển, chín sông, là từ chỉ chung cho những nơi có nước như ao hồ, sông ngòi, biển cả trên khắp thế giới. Như trong Thái Thượng Linh Bảo Ngọc Quỹ Minh Chơn Đại Trai Quan Công Nghi (太上靈寶玉匱明眞大齋官功儀) của Đạo Giáo có đoạn cung thỉnh rằng: “Cẩn thượng thỉnh Tam Nguyên Quân, Thượng Nguyên Thiên Quan, Trung Nguyên Địa Quan, Hạ Nguyên Thủy Quan, Tam Cung Cửu Phủ, Bách Nhị Thập Tào, Ngũ Nhạc Đại Thần, Thập Đại Động Thiên, Tam Thập Lục Động Thiên, Nhị Thập Tứ Hóa, Tam Hà Tứ Hải, Cửu Giang Thủy Đế, Thập Nhị Hà Nguyên, Cửu Cung Chân Nhân, Thập Nhị Tiên Quân, Cửu Thiên Ty Mạng, Ngũ Nhạc Trượng Nhân, Cửu Thiên Sứ Giả, Trữ Phó Chánh Chức Tá Mạng Đại Thần, Thiên Tiên Địa Tiên, Phi Tiên Thần Tiên, Vương Đồng Ngọc Nữ, binh mã kỵ thừa, giáng lâm tiêu tòa (謹上請三元君、上元天官、中元地官、下元水官、三宮九府、百二十曹、五嶽大神、十大洞天、三十六洞天、二十四化、三河四海、九江水帝、十二河源、九宮眞人、十二仙君、九天司命、五嶽丈人、九天使者、儲副正職佐命大神、天仙地仙、飛仙神仙、王童玉女、兵馬騎乘、降臨醮座, xin cung thỉnh Tam Nguyên Quân, Thượng Nguyên Thiên Quan, Trung Nguyên Địa Quan, Hạ Nguyên Thủy Quan, Ba Cung Chín Phủ, Trăm Hai Mươi Tào, Đại Thần Năm Núi, Trời Mười Động Lớn, Trời Ba Mươi Sáu Động, Hai Mươi Bốn Hóa, Ba Sông Bốn Biển, Chín Sông Thủy Đế, Mười Hai Nguồn Sông, Chân Nhân Chín Cung, mười hai tiên quân, Cửu Thiên Ty Mạng, Ngũ Nhạc Trượng Nhân, Cửu Thiên Sứ Giả, Trữ Phó Chánh Chức Tá Mạng Đại Thần, Thiên Tiên Địa Tiên, Phi Tiên Thần Tiên, Vương Đồng Ngọc Nữ, cỡi mang binh ngựa, giáng xuống đàn cúng).” Hay như trong Thái Thượng Thần Chú Diên Thọ Diệu Kinh (太上神呪延壽妙經) cũng có đoạn: “Tam Hà Tứ Hải, Cửu Giang Bát Cực, chư chân nhân đẳng, Tiên Đồng Ngọc Nữ, Tam Giới Địa Kỳ, Tam Quan Cửu Thự, nhất thiết thần minh, văn trì thử kinh, tức vi tiêu trừ nhất thiết khổ não (三河四海、九江八極、諸眞人等、仙童玉女、三界地祇、三官九署、一切神明、聞持此經、卽爲消除一切苦惱, Ba Sông Bốn Biển, Chín Sông Tám Hướng, các vị chân nhân, Tiên Đồng Ngọc Nữ, Thổ Thần Ba Cõi, Ba Quan Chín Sảnh, hết thảy thần minh, nghe trì kinh này, tức được tiêu trừ hết thảy khổ ách).”

Tam Hàn

(三韓): tên gọi chung của ba tiểu quốc Mã Hàn (馬韓), Thần Hàn (神韓) và Biện Hàn (辨韓), đã chiếm cứ phía Nam Triều Tiên cổ đại. Nó còn là tên gọi chung của Tân La (新羅), Bách Tế (百濟) và Cao Cú Lệ (高句麗).

tam hành

Three lines of action that affect karma: (A) Sự hành động dưới ba loại nghiệp—Actions under three kinds of karma: 1) Thập thiện nghiệp: Phước Hành—The ten good deeds that cause happy karma. 2) Thập ác nghiệp: The ten evil deeds that cause unhappy karma. 3) Vô ký nghiệp (Vô thiện vô ác): Bất động nghiệp—Neither good nor evil karma, that arise without activity. (C) Sự hành động dưới ba hình thức—Actions in three forms: 1) Thân hành: Kaya-sankhara (p)—Physical actions. 2) Ngôn hành: Vaci-sankhara (p)—Verbal actions. 3) Tâm hành: Citta-sankhara (p)—Mental actions.

tam hòa

(三和) Ba hòa hợp, tức chỉ cho căn, cảnh và thức hòa hợp mà sinh ra tâm sở Xúc. Luận Thành duy thức quyển 3 (Đại 31, 11 trung) nói: Căn, cảnh, thức, tùy thuận nhau gọi là Tam hòa, Xúc do đó mà sinh. Tuy nhiên, các sư khác đối với vấn đề này cũng có những quan điểm bất đồng. [X. luận Câu xá Q.10. luận Thành duy thức Q.6]. (xt. Xúc).

tam hóa

(三化) Ba phương pháp giáo hóa. I. Tam Hóa. Phạm:Trìịi nirmàịàni. Dựa theo sự lợi ích của chúng sinh mà chia ra 3 cách giáo hóa là Nghiệp hóa, Tùy hóa và Thượng hóa. 1. Nghiệp hóa (Phạm: Karmanirmàịa): Giáo hóa về công nghiệp một cách khéo léo tự tại. 2. Tùy hóa (Phạm: Upapattinirmàịa): Tùy điều người ta mong muốn mà giáo hóa 1 cách tự tại. 3. Thượng hóa (Phạm: Uttamanirmàịa): Trụ ở nơi thắng thượng như cõi trời Đâu suất mà giáo hóa 1 cách tự tại.[X. Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.2]II. Tam Hóa. Dựa theo 3 nghiệp thân ngữ ý mà chia làm Thân hóa, Ngữ hóa và Ý hóa đồng nghĩa với với Tam thị hiện, Tam luân. 1. Thân hóa: Nương vào Thần cảnh thông, biến hóa ra các cảnh thù thắng lạ kì để hướng dẫn chúng sinh phát tâm sau khi được giáo hóa. Thân hóa lại được chia làm 3 thứ là Hiện thần thông hóa, Hiện thụ hóa sinh, và Hiện nghiệp quả hóa.2. Ngữ Hóa(cũng gọi Khẩu hóa): Nương vào Tha tâm thông mà diễn nói giáo pháp, hướng dẫn chúng sinh phát tâm sau khi giáo hóa. Cũng chia làm 3 thứ là Kháng úy ngữ hóa, Phương tiện ngữ hóa và Biện dương ngữ hóa. 3. Ý hóa: Nương vào Lậu tận thông, giám sát căn cơ và ý muốn của chúng sinh để tùy nghi nói pháp, hướng dẫn chúng sinh phát tâm sau khi được giáo hóa. Ý hóa lại được chia làm 4 thứ là Quyết trạch ý hóa, Tạo tác ý hóa, Phát khởi ý hóa và Thụ lãnh ý hóa. Thân biến hóa của Thanh văn, Bồ tát, và Phật đều đủ đức Tam hóa, nhưng để hiển bày đức Tam hóa thù thắng của Phật nên gọi đó là Uy lực. Ngoài ra, các loài chúng sinh được thân Tha thụ dụng hóa độ tuy không có các ác kiến, nhưng khi họ được giáo hóađể vào địa vị trên thì cũng thị hiện Tam hóa. [X. Phật địa kinh luận Q.6; luận Thành duy thức Q.5; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.6, phần cuối]. (xt. Tam Luân).

Tam hạnh

三行; C: sānxíng; J: sangyō;|1. Ba hạnh tạo nghiệp của thân, khẩu và ý; 2. Ba hạnh: thiện, ác và không thiện không ác; 3. Ba hạnh theo kinh Kim Cương: Hành động theo tình thế, hành động theo tâm thức và hành động tuỳ theo Chân như.

tam hạnh

(三行) I. Tam Hành. Chỉ cho 3 nghiệp thân, khẩu, ý. Trong luận Trung quán có câu Khởi tam hành, nghĩa là khởi động 3 nghiệp. (xt. Tam Nghiệp). II. Tam Hành. Chỉ cho Phúc hành, Tội hành, và Bất động hành. 1. Phúc hành: Làm các việc phúc như 10 điều thiện... có công năng mang lại quả báo cõi trời, cõi người... 2. Tội hành(cũng gọi Phi phúc hành): Tạo các tội như 10 điều ác: Giết hại, trộm cướp... có công năng mang lại khổ đau trong 3 đường ác. 3. Bất động hành(cũng gọi Vô động hành): Tu thiền định hữu lậu, có năng lực chiêu cảm quả báo cõi Sắc, cõi Vô sắc... Vì thiền định không thay đổi và biến động như phúc hành và tội hành nên gọi là Bất động. [X. luận đại trí độ Q.88].

Tam học

三學; C: sānxué; J: sangaku;|Chỉ ba việc thực hành Phật pháp: Giới (戒; s: śīla), định (定; s: dhyāna) và Huệ (慧; s: prajñā). Ba môn học.

tam học

Three studies—Three practices of precepts, meditation and wisdom: 1) Giới: Sila (skt & p)—Trì giới là để tránh những hậu quả xấu ác do thân khẩu ý gây nên. Theo Phật Giáo Nhìn Toàn Diện của Tỳ Kheo Piyadassi Mahathera, trước khi gia công thực hành những nhiệm vụ khó khăn hơn, như tu tập thiền định, điều chánh yếu là chúng ta phải tự khép mình vào khuôn khổ kỷ cương, đặt hành động và lời nói trong giới luật. Giới luật trong Phật Giáo nhằm điều ngự thân nghiệp và khẩu nghiệp, nói cách khác, giới luật nhằm giúp lời nói và hành động trong sạch. Trong Bát Chánh Đạo, ba chi liên hệ tới giới luật là chánh ngữ, chánh nghiệp, và chánh mạng. Người muốn hành thiền có kết quả thì trước tiên phải trì giữ ngũ giới căn bản không sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ và uống rượu cũng như những chất cay độc làm cho tâm thần buông lung phóng túng, không tỉnh giác—Discipline—Learning by the commandments or prohibitions, so as to guard against the evil consequences of error by mouth, body or mind. According to Bhikkhu Piyadassi Mahathera in The Spetrum of Buddhism, it is essential for us to discipline ourselves in speech and action before we undertake the arduous task of training our mind through meditation. The aim of Buddhism morality is the control of our verbal and physical action, in other words, purity of speech and action. This is called training in virtue. Three factors of the Noble Eightfold Path form the Buddhsit code of conduct. They are right speech, right action, and right livelihood. If you wish to be successful in meditation practice, you should try to observe at least the five basic precepts of morality, abstinence from killing, stealing, illicit sexual indulgence, speaking falsehood and from taking any liquor, including narcotic drugs that cause intoxication and heedlessness—See Giới (I). 2) Định: Dhyana (skt)—Thiền định. Theo Tỳ Kheo Piyadassi Mahathera trong Phật Giáo Nhìn Toàn Diện, giới đức trang nghiêm giúp phát triển định tâm. Ba chi cuối cùng của Bát Chánh Đạo là chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định, hợp thành nhóm định. Hành giả có thể ngồi lại trong một tịnh thất, dưới một cội cây hay ngoài trời, hoặc một nơi nào thích hợp khác để gom tâm chăm chú vào đề mục hành thiền, đồng thời không ngừng tinh tấn gội rữa những bợn nhơ trong tâm và dần dần triệt tiêu năm triền cái để định tâm vào một điểm—Meditation—By Dhyana or quiet meditation. According to Bhikkhu Piyadassi Mahathera in The Spectrum of Buddhism, virtue aids the cultivation of concentration. The first three factors of the Noble Eightfold Path, right effort, right mindfulness and right concentration, form the concentration group. This called training in concentration or samadhi-sikkha. Progressing in virtue the meditator practices mental culture, Seated in cloister cell, or at the foot of a tree, or in the open sky, or in some other suitable place, he fixes his mind on a subject of meditation and by unceasing effort washes out the impurities of his mind and gradually gains mental absorption by abandoning the five hindrances. 3) Huệ: Prajna (skt)—Cũng theo Tỳ Kheo Piyadassi Mahathera trong Phật Giáo Nhìn Toàn Diện thì tâm định ở mức độ cao là phương tiện để thành đạt trí tuệ hay tuệ minh sát. Tuệ bao gồm chánh kiến và chánh tư duy, tức là hai chi đầu trong Bát Chánh Đạo. Trí tuệ giúp chúng ta phá tan lớp mây mờ si mê bao phủ sự vật và thực chứng thực tướng của vạn pháp, thấy đời sống đúng như thật sự, nghĩa là thấy rõ sự sanh diệt của vạn hữu—Wisdom—By philosophy—Study of principles and solving of doubts. Also according to Bhikkhu Piyadassi Mahathera in The Spectrum of Buddhism, high concentration is the means to the acquisition of wisdom or insight. Wisdom consists of right understanding and right thought, the first two factors of the path. This is called the training in wisdom or panna-sikkha. Wisdom helps us get rid of the clouded view of things, and to see life as it really is, that is to see life and things pertaining to life as arising and passing. ** For more information, please see Tam Tu in Vietnamese-English Section. ; (三學) I. Tam Học. Phạm:Tisra# zikwà#. Pàli:Tisso sikkhà. Cũng gọi Tam thắng học. Gọi đủ: Giới định tuệ tam học. Ba môn giới, định, tuệ mà người học Phật phải tu. 1. Tăng giới học (Phạm: Adhizìla) cũng gọi Giới học, Tăng thượng giới học: Giới có năng lực tu thiện, đồng thời ngăn ngừa các nghiệp ác do thân, khẩu, ý tạo ra. 2. Tăng tâm học (Phạm: Addhicitta), cũng gọi Định học, Tăng ý học, Tăng thượng ý học, Tăng thượng tâm học: Định có năng lực nhiếp tâm tán loạn, diệt trừ các niệm tạp nhạp, thấy tính ngộ đạo. 3. Tăng tuệ học (Phạm:Adhiprajĩà), cũng gọi Tuệ học, Tăng thượng tuệ học: Tuệ có năng lực hiển phát bản tính, đoạn trừ phiền não, thấy thực tướng của chư Phật.Ba môn học này là giềng mối thực hành của Phật giáo, tức nhờ giới sinh định, do định phát ra tuệ. Vì thế, kinh Bồ tát địa trì quyển 10 đem Lục độ phối hợp với Tam học, tức 4 Ba la mật: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến là Giới học, Thiền ba la mật là Định học và Bát nhã ba la mật là Tuệ học. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.17, (bản Bắc); kinh Bản sự Q.6; Luật Tứ phần Q.58; luật Ma ha tăng kì Q.2; Đại thừa nghĩa chương Q.10]. (xt. Giới Định Tuệ). II. Tam Học. Chỉ cho Hữu học, Vô học và Phi hữu học phi vô học. Cứ theo sự giải thích trong luận Đại trí độ quyển 18 và luận Câu xá quyển 24 thì: 1. Hữu học (Phạm: Zaikwa): Chỉ cho Tứ hướng tam quả. Còn Hữu học trí thì chỉ cho Khổ pháp trí nhẫn, cho đến Kim cương tam muội tuệ trong Vô ngại đạo thứ 9 của A la hán hướng. Hữu học pháp chỉ cho Ngũ uẩn của Hữu học thuộc vô lậu hữu vi. 2. Vô học (Phạm: Asaikwa): Chỉ cho quả A la hán. Vô học trí thì chỉ cho giải thoát trí thứ 9 của A la hán. Còn Vô học pháp thì chỉ cho Ngũ uẩn của Vô học thuộc Vô lậu hữu vi. 3. Phi học phi vô học (Phạm: Naivazaikwa-nàzaikwa): Chỉ cho dị sinh (tức phàm phu). Phi học phi vô học trí thì chỉ cho pháp bất tịnh của Can tuệ địa, an na ban na, tứ niệm xứ thuộc Dục giới hệ, noãn pháp, đính pháp, nhẫn pháp, và thế đệ nhất pháp... Còn phi học phi vô học pháp thì chỉ cho Ngũ uẩn hữu lậu và pháp vô vi. [X. kinh Tạp a hàm Q.28; kinh Phúc điền trong kinhA hàm Q.30; luận Đại trí độ Q.22; luận Câu xá Q.4; Câu xá luận quang kí Q.4]. (xt. Tứ Hướng Tứ Quả, Dị Sinh).

tam hỏa

Three fires: 1) Lửa Tham dục: Fire of desire. 2) Lửa Sân hận: Fire of hatred. 3) Lửa Vô minh: Fire of stupidity or ignorance. ; (三火) I. Tam Hỏa. Cũng gọi Tam độc, Tam cấu. Ba thứ lửa. Chỉ cho tham, sân, si. 1. Tham hỏa: Khao khát nhận lấy tất cả cảnh thích ý. 2. Sân hỏa: Phẫn nộ trước mọi cảnh trái ý mà mình gặp. 3. Si hỏa: Tâm trí mù mờ, không rõ sự lí, điên đảo làm bậy. Kinh Đại bảo tích quyển 96 (Đại 11, 542 hạ) có câu: Ta thấy các chúng sinh bị tam hỏa nung đốt. Trong các thứ phiền não của phàm phu thì tham dục, sân khuể và ngu si là độc hại nhất nên cũng gọi là Tam độc. Sự nhỏ nhiệm của 3 thứ độc này rất khó quán xét, chúng tàn hại thân tâm, thường làm cho con người chìm đắm trong sinh tử luân hồi. Ba cái độc này là nguồn gốc của mọi tội ác, tàn phá xã hội loài người, cho nên cũng gọi là Tam bất thiện căn. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.29 (bản Bắc); Hữu bộ tì nại da Q.34; luận Đại trí độ Q.21]. II. Tam Hỏa. Chỉ cho Gia chủ hỏa, Cúng dường hỏa và Tiên tổ tế hỏa, là các vật thờ cúng được bài trí trong lễ đại tế của Bà la môn giáo và Ấn độ giáo ở Ấn độ. 1. Gia chủ hỏa (Phạm: Garhapat= yagni): Lò lửa hình tròn, dùng để điều lí các vật cúng dường chư thần và Bà la môn. 2. Cúng dường hỏa (Phạm:Àhavanì= yàgni): Lò lửa hình vuông, đặt ở phía tây của Gia chủ hỏa, dùng để đốt những vật dâng cúng các thần. 3. Tổ tiên hỏa (Phạm: Anvàharya= pacana): Lò lửa hình bán nguyệt, là vật thờ cúng tổ tiên, được đặt ở phía nam của Gia chủ hỏa, vì thế cũng gọi là Nam hỏa (Phạm:Dakwinàgni).

tam hồn thất phách

(三魂七魄) Ba hồn 7 vía trong thân của chúng sinh.Tam hồn chỉ cho Thai quang nghiệp hồn thần thức, U tinh chuyển hồn thần thức và Tương linh hiện hồn thần thức; Thất phách chỉ cho Tước âm phách thần thức, Thiên tặc phách thần thức, Phi độc phách thần thức, Thi cấu phách thần thức, Xú phế phách thần thức, Trừ uế phách thần thức và Phục thi phách thần thức. Theo truyền thuyết, tất cả chúng sinh lúc hấp hối, Diêm ma pháp vương sai lính Diêm ma trói 3 hồn của người chết ở gốc cây trước cửa ngục; thuyết này có lẽ đã bắt nguồn từ thuyết Tam tinh (Đài quang, Sảng linh, U tinh) của Đạo giáo; hoặc là căn cứ vào luận Đại thừa khởi tín đem Tam tế do nghiệp chuyển hiện phối hợp với Tam hồn và 7 thức trước phối với Thất phách. [X. kinh Địa tạng bồ tát phát tâm nhân duyên thập vương; Trì bảo thông giám Q.trung].

tam hội

(三會) I. Tam Hội. Ba hội thuyết pháp của chư Phật. Trong các kinh điển đều có ghi chép về ba hội thuyết pháp và số chúng nghe pháp trong hội của các đức Phật quá khứ như Tì bà thi Như lai, Thi khí Như lai, Tì xá bà Như lai, Câu lâu tôn Như lai, Câu na hàm Như lai và Ca diếp Như lai... Đức Phật Di lặc giáng sinh trong vị lai cũng sẽ có Tam hội thuyết pháp, gọi là Di lặc tam hội, cũng gọi Long hoa tam hội, để giáo hóa những chúng sinh mà đức Thích ca chưa hóa độ. [X. kinh Trường a hàm Q.1; kinh Tăng nhất a hàm Q.44; kinh Di lặc há sinh; kinh Thất Phật; kinh Bồ tát xử thai Q.2]. (xt. Long Hoa Tam Hội). II. Tam Hội. Chỉ cho 3 hồi trống, chuông. Trong tùng lâm đánh chuông hoặc đánh trống đủ 36 tiếng, gọi là Nhất hội. Cứ như thế đánh 3 lần, cộng tất cả là 108 tiếng, gọi là Tam hội[X. điềuCảnh chúng trong Thiền uyển thanh qui Q.6]. III. Tam Hội. Chỉ cho 3 pháp hội lớn của Phật giáo Nhật bản được tổ chức tại Nam đô (Nara) và Bắc kinh (Kyoto). Nam đô tam hội: Hội Duy ma ở chùa Hưng phúc, hội Tối thắng ở chùa Dược sư và Hội Ngự trai ở điện Đại cực. Còn Bắc kinh tam hội là: Hội pháp hoa và hội Tối thắng ở chùa Viên tông, hội Đại thừa ở chừa Pháp thắng. Bắc kinh tam hội cũng gọi là Thiên thai tam hội.

Tam hữu

chỉ sự tồn tại trong Ba cõi, nên là tên khác của sanh tử luân hồi. Xem Ba cảnh giới. ; 三有; C: sānyǒu; J: san'u;|1. Ba cách tồn tại: Cách tồn tại trong Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới; 2. Đồng nghĩa với Tam giới (三界), Ba thế giới.

tam hữu

Ba loại hiện hữu—Three kinds of existence—Three states of mortal existence in the trailikya: (A) 1) Tướng trì hữu: Qualities (good, bad, length, shortness). 2) Giả danh hữu: Phenomenal things—See Giả Danh Hữu. 3) Pháp hữu: The noumenal or imaginary, understood as facts and not as illusions—See Pháp Hữu. (E) Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba loại hữu—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are three kinds of existence: 1) Dục Hữu: Hiện hữu dục giới—Existence in the realm of desire—Sense-sphere existence. 2) Sắc Hữu: Hiện hữu sắc giới—Existence in the realm of form—Form-sphere existence. 3) Vô Sắc Hữu: Hiện hữu hay quả báo thực tại của vô sắc giới—Existence in the realm of formlessness (immaterial realm)—Formless-sphere existence. (C) 1) Hiện hữu: Bổn Hữu—Present existence or the present body and mind. 2) Trung hữu: Antara-bhava (skt)—Thân tâm sau khi chết—The intermediate state of existence. 3) Đương hữu: Thân tâm đời sau—Existence in the future state. ** For more information, please see Tam Giới. ; (三友) Ba hạng bạn thân. Câu xá luận tụng sớ quyển 29, chia bạn thân ra làm 3 bậc: Bậc thượng sinh được pháp thân; bậc trung thì giao du bằng tài (của cải vật chất) và pháp; còn bậc hạ thì chỉ giao du bằng tài vật. Ma ha chỉ quán quyển 4, hạ, thì cho 3 hạng thiện tri thức: Ngoại hộ, đồng hành và giáo thụ là Tam hữu. [X. Tinh độ pháp sự tán Q.hạ; Pháp sự tán tư kí Q.hạ]. (xt. Thiện Tri Thức). I. Tam Hữu: Hữu, Phạm: Bhava. Tam hữu chỉ cho Dục hữu, Sắc hữu và Vô sắc hữu, tức đồng nghĩa với Tam giới(3 cõi). Vì chúng sinh trong 3 cõi này có(hữu)tạo nghiệp dẫn đến quả báo dị thục nên gọi là Tam hữu.1. Dục hữu: Nơi cư trú của các loài trời, người, tu la, địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, mỗi loài tùy theo nghiệp nhân mà chịu quả báo.2. Sắc hữu: Các trời Tứ thiền của cõi Sắc, tuy đã lìa thân thô nhiễm của cõi Dục nhưng còn sắc thanh tịnh. 3. Vô sắc hữu: Các trời Tứ không của cõi Vô sắc, tuy không còn sắc chất làm ngại, nhưng cũng vẫn tùy theo chỗ tạo nghiệp nhân mà chịu quả báo. [X. luận Đại trí độ Q.3; luận Tập dị môn túc Q.4; luận Đại tì bà sa Q.60] ; (三有) Chỉ cho Sinh hữu, Bản hữu và Tử hữu gồm trong 1 đời của loài hữu tình. 1. Sinh hữu: Chỉ cho sát na(tích tắc) đầu tiên gá vào thai mẹ. 2. Bản hữu: Chỉ khoảng thời gian từ lúc sinh ra cho đến lúc chết. 3. Tử hữu: Chỉ cho giây lát trút hơi thở cuối cùng. Tông hữu bộ của Tiểu thừa thêm Trung hữu vào Tam hữu này mà chủ trương thuyết Tứ hữu. [X. luận Dị bộ tông luận]. (xt. Tứ Hữu). III. Tam Hữu. Tên gọi khác của Hữu lậu. Lậu là tên khác của phiền não. Phiền não từ trong 6 căn môn của chúng sinh hữu tình tuôn chảy ra vô cùng, khiến chúng sinh phải trôi lăn trong vòng sinh tử, vì thế nói hữu lậu là nhân, là chỗ nương, chỗ nhiếp thuộc của Tam hữu. (xt. Hữu Lậu). IV. Tam Hữu. Chỉ cho Thiện thành hữu, Tích đắc hữu và Biến dị hữu do ngoại đạo Số luận thành lập.1. Thiện thành hữu: Như Tổ của phái Số luận là tiên nhân Ca tì la, lúc mới sinh ra đã có đủ 4 đức: Pháp, trí, li dục và tự tại, 4 đức này là nhờ thiện mà được thành tựu, cho nên gọi là Thiện thành hữu. 2. Tích đắc hữu: Như Phạm vương thủa xưa sinh ra 4 người con là Sa na ca, Sa nan đà na, Sa na đa na, và Sa nan cưu ma la; 4 người con này lúc mới lên 16 tuổi thì tự nhiên thành tựu được 4 đức là pháp, trí, li dục và tự tại, chứ không do nhân duyên nào cả. Vì tự nhiên mà được nên gọi là Tích đắc hữu. 3. Biến dị hữu: Thân thầy gọi là Biến dị(đổi khác), nhờ cung kính gần gũi và lắng nghe thầy mà đệ tử có được trí tuệ, nhờ có trí tuệ mà được li dục, nhờ li dục mà được thiện pháp, nhờ thiện pháp mà được tự tại. Như vậy, 4 đức của đệ tử là nhờ thân thầy mà có được, cho nên gọi là Biến dị hữu.Tam hữu trên đây của ngoại đạo Số luận tương đương với Đẳng khởi thiện, Sinh đắc thiện và Gia hạnh thiện của Phật giáo.[X. luận Kim thất thập Q.trung].

tam hữu duy phân biệt

Ba cõi là sản phẩm của phân biệt, không có cái gì như là thế giới bên ngoài cả—The triple world is no more than the product of discrimination, there is no such thing as an external world.

tam hữu vi

(三有爲) Cũng gọi Tam hữu vi tướng, Tam tướng. Chỉ cho 3 loại pháp hữu vi: Sắc pháp, Tâm pháp và Phi sắc phi tâm pháp 1. Sắc pháp: Pháp chất ngại. Theo tông Câu xá của tiểu thừa chỉ cho 11 pháp: 5 căn, 5 cảnh và Vô biểu sắc; còn theo tông Pháp tướng của Đại thừa thì chỉ cho 11 pháp: 5 căn, 5 cảnh và Pháp xứ sở nhiếp sắc.2. Tâm pháp: Pháp suy biết. Theo Câu xá thì chỉ cho 1 tâm vương và 46 tâm sở; còn theo Đại thừa thì chỉ cho 8 tâm vương và 51 tâm sở. 3. Phi sắc phi tâm pháp: Pháp không thuộc sắc không thuộc tâm. Theo Câu xá thì chỉ cho 14 pháp Bất tương ứng; còn theo Đại thừa thì chỉ cho 24 pháp Bất tương ứng.Ba loại pháp trên đây đều do sự tạo tác của nhân duyên nên gọi là pháp Hữu vi. Trong hết thảy các pháp, trừ pháp vô vi, còn lại đều thuộc pháp hữu vi... [X. điều Tam hữu vi nghĩa trong Đại thừa nghĩa chương Q.2].

tam hữu đối

(三有對) Chỉ cho 3 thứ Hữu đối là Chướngngại hữu đối, Cảnh giới hữu đối và Sở duyên hữu đối. Đối có nghĩa là ngại, là ngăn trở. Tức các pháp 5 căn, 5 cảnh, tâm và tâm sở bị ngăn ngại không sinh ra được, hoặc cảnh sở thủ sở duyên bị câu thúc không thể chuyển được cảnh khác. Đó là: 1. Chướng ngại hữu đối: Các sắc pháp 5 căn, 5 cảnh... tự ngăn ngại và làm chướng ngại lẫn nhau, như tay này ngăn ngại tay kia, vật này làm trở ngại vật khác... 2. Cảnh giới hữu đối: Năm căn, 7 tâm giới và tâm sở tương ứng bị các sắc cảnh... câu thúc, chướng ngại nên thủ cảnh không được tự tại, như mắt của loài cá bị nước làm chướng ngại, mắt người bị đất ngăn ngại.3. Sở duyên hữu đối: Vì 6 thức và 1 phần pháp cảnh bị ngăn ngại nên tác dụng duyên lự không được tự tại. Cảnh giới hữu đối khác với Sở duyên hữu đối, tức Cảnh giới hữu đối là 5 căn và pháp tâm, tâm sở đối với cảnh giới của chúng có công năng thấy nghe và nắm bắt; còn Sở duyên hữu đối là các pháp tâm, tâm sở chấp chặt vào cảnh giới của chúng, nên mang theo hình tướng mà sinh khởi. Nếu lại so sánh giữa Chướng ngại hữu đối và Cảnh giới hữu đối thì cũng có sự khác nhau, tức 7 tâm giới và các pháp tương ứng thuộc 1 phần của pháp giới là cảnh giới chứ không phải chướng ngại; 5 cảnh như sắc... là chướng ngại chứ không phải cảnh giới; 5 căn như nhãn... vừa là chướng ngại và vừa là cảnh giới, pháp phi tương ứng thuộc 1 phần của pháp giới chẳng phải chướng ngại, cũng chẳng phải cảnh giới. Còn nếu so sánh giữa Cảnh giới hữu đối và Sở duyên hữu đối thì Sở duyên hẹp hơn Cảnh giới, tức Sở duyên phải là Cảnh giới, nhưng Cảnh giới chưa hẳn là sở duyên, như 5 căn nhãn... vậy. [X. luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Thành duy thức Q.1; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.2].

tam hữu-vi pháp

Three active or functioning dharmas: 1) Sắc pháp: Pratigha—Matter or form which has substantial resistance—Material or things which have form. 2) Tâm Pháp: Phi sắc pháp—The mind (mental). 3) Phi sắc phi tâm pháp: Những pháp không phải sắc mà cũng không phải tâm—Entities neither of matter nor mind.

tam hữu-vi tướng

Ba tướng hữu vi—Three forms of all phenomena: 1) Sanh: Upada—Birth. 2) Trụ: Sthiti—Stay or life. 3) Chết: Nirvana—Death.

Tam khoa

三科; C: sān kē; J: sanka;|Cách phân chia tất cả các pháp thành ba loại: Ngũ uẩn (五蘊), Thập nhị xứ (十二處) và Thập bát giới (十八界).

tam khoa

(三科) Tất cả các pháp được chia làm 3 loại: Uẩn, Xứ, Giới gọi là Tam khoa. Uẩn xứ giới cũng gọi là Ấm nhập giới, Ấm giới nhập. Tức là: 1. Ngũ uẩn(cũng gọi Ngũ ấm, Ngũ chúng, Ngũ tụ): Chỉ cho sắc, thụ, tưởng, hành, thức. 2. Thập nhị xứ (cũng gọi Thập nhị nhập): Chỉ cho 6 căn(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và 6 trần(sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). 3. Thập bát giới: Gồm 6 căn(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) và 6 thức(thức mắt, thức tai, thức mũi, thức lưỡi, thức thân, thức ý). Theo luận Câu xá quyển 1 thì y cứ vào mức ngu muội khác nhau mà chia ra 3 khoa, như đối với người ngu về tâm sở thì chia nhỏ tâm sở mà nói Ngũ uẩn; với người ngu về sắc pháp thì chia nhỏ sắc pháp mà nói Thập nhị xứ; với người ngu cả về tâm pháp và sắc pháp thì chia nhỏ sắc pháp và tâm pháp mà nói Thập bát giới. Nếu y cứ vào căn cơ lợi(bén nhạy), độn,(cùn lụt), thì với người lợi căn, nói Ngũ uẩn, với người Trung căn, nói Thập nhị xứ, với người độn căn thì nói Thập bát giới. Tức dựa vào 3 khoa để quán xét con người và thế giới, rồi căn cứ vào tình huống khác nhau giữa mê và ngộ của phàm phu mà thiết lập lí vô ngã để phá trừ cái mê lầm chấp ngã. Các bộ phái Tiểu thừa đối với Tam khoa có đặt ra vấn đề giả và thật. Trong đó, Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương Tam khoa đều là thật, Kinh bộ thì chủ trương Uẩn, Xứ là giả, chỉ có Giới là thật. Còn luận Câu xá thì cho rằng Uẩn là giả, Xứ và Giới là thật. Theo luận Câu xá thì Uẩn có nghĩa tích tụ, tích tụ nhiều pháp là Uẩn, vì thế Uẩn là pháp giả; còn Xứ và Giới thì không phải vậy, nên là thật. Hữu bộ thì cho rằng một pháp trong uẩn có cái tướng của Uẩn, do đó gọi là Uẩn, chứ không phải tích tụ nhiều pháp mới gọi là Uẩn, vì thế uẩn là pháp thật. Kinh bộ thì chủ trương Xứ là sự tích tụ của cực vi, là cửa sinh ra thức, cho nên là giả. Thuyết giả bộ thì cho Uẩn là thật, Xứ và Giới là giả, vì Xứ là 6 căn, 6 cảnh đối nhau, Giới là căn, cảnh đối nhau, thức, cảnh đối nhau, căn, thức đối nhau mới thành lập được, Uẩn thì không phải thế, nên Uẩn là thật. [X. luận Đại tỳ bà sa Q.71, 72, 73, 74; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; Câu xá luận quang kí Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.8, phần đầu; Bách pháp vấn đáp sao Q.1]. (xt. Thập Nhị Xứ, Thập Bát Giới, Ngũ Uẩn).

tam khoa giản cảnh

(三科揀境) Lựa chọn cảnh trong 3 khoa (ấm nhập giới) để quán xét. Tông Thiên thai bàn về cảnh của pháp quán tâm, trong 10 cảnh Viên đốn chỉ quán, chọn lấy 3 khoa: 5 ấm, 12 nhập, 18 giới để chỉ bày quán cảnh. Thứ tự lựa chọn như sau: Trước hết, lựa bỏ 18 giới và 12 nhập, chỉ giữ lại năm ấm; kế đến, trong 5 ấm, lựa bỏ sắc, thụ, tưởng, hành, chỉ giữ lại thức. Rồi trong thức ấm, lựa bỏ 5 thức trước là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, chỉ giữ lại ý thức thứ 6; trong thức thứ 6, lựa bỏ thức thiện ác, giữ lại thức vô kí(không thiện không ác); sau cùng, trong tâm vương và tâm sở thì lựa bỏ tâm sở mà giữ lại tâm vương để làm cảnh quán xét. Đây là pháp quán cảnh trọng yếu và cũng chính là chứng cứ mạnh mẽ nhất của Vọng tâm quán mà ngài Tứ minh Tri lễ chủ trương. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5; Ma ha chỉ quán Q.5 thượng].

tam khát ái

Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba loại Khát Ái—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are three kinds of craving: 1) Dục Khát Ái: Craving (thirst) for sensual pleasures. 2) Hữu Khát Ái: Craving (thirst) for existence. 3) Phi Hữu Khát Ái: Craving (thirst) for extermination.

Tam Không

(三空): Ba Không. Các nhà Duy Thức nương vào 3 tánh Biến (遍), Y (依), Viên (圓) để lập ra nghĩa của Ba Không; tức là: (1) Vô Tánh Không (無性空), còn gọi là Vô Thể Không (無體空), nghĩa là Tánh Biến Kế Sở Chấp (遍計所執性) trước khi vọng tình tuy là có nhưng thể tánh của nó thật sự là không. (2) Dị Tánh Không (異性空), nghĩa là thể tướng của Tánh Y Tha Khởi (依他起性) khác hẳn với Biến Kế Sở Chấp, tuy chẳng phải là không có, nhưng cũng như sở chấp vào vọng tình mà chẳng phải có. (3) Tự Tánh Không (自性空), có nghĩa Tánh Viên Thành Thật (圓成實性) là tự tánh của các pháp, thể hiện rõ hai tánh không của người và pháp. Trong Hiển Dương Thánh Giáo Luận (顯揚聖敎論, Taishō Vol. 31, No. 1602) quyển 15 có nêu ra Ba Không khác là Vô Thể Không (無體空), Viễn Ly Không (遠離空) và Trừ Di Không (除遺空). Hơn nữa, tùy theo sở chấp mà Không được chia thành 3 loại khác là: (1) Ngã Không (我空), còn gọi là Nhân Không (人空); vì cho rằng pháp Ngũ Uẩn (s: pañca-skandha, p: pañca-khandha, 五蘊, Năm Uẩn) độc lập, chủ tể, nên sinh ra có ngã chấp, nhưng nếu biết rõ Năm Uẩn Sắc (s, p: rūpa, 色), Thọ (s, p: vedanā, 受), Tưởng (s: sañjā, p: saññā, 想), Hành (s: saṁkhāra, p: saṅkhāra, 行) và Thức (s: vijñāna, p: viññāṇa, 識) vốn không có tự tánh, do nhân duyên mà sanh, thì chẳng hiện hữu ngã thể; đó được gọi là Ngã Không. (2) Pháp Không (法空), nghĩa là đối với pháp Năm Uẩn cho là thật có, gọi là chấp vào pháp; nếu nhận thức rõ pháp Năm Uẩn ấy như huyễn hóa, từ duyên mà sanh khởi, vốn chẳng có tự tánh; đó được gọi là Pháp Không. (3) Câu Không (倶空), tức hai chấp trước về ngã và pháp đều đoạn tận, ngay cả pháp chấp vào Không cũng không có thực thể, như vậy mới khế hợp với chân tâm bản tánh. Bên cạnh đó, Tam Không còn chỉ cho Tam Giải Thoát (三解脫, Ba Pháp Giải Thoát) là Không (空), Vô Tướng (無相) và Vô Nguyện (無願); vì 3 pháp này đều làm sáng tỏ đạo lý Không, nên được gọi là Tam Không. Hay khi bố thí, nên quán 3 pháp người thọ nhận, người bố thí và vật bố thí đều là Không. Trong Duy Ma Kinh Lược Sớ Thùy Dụ Ký (維摩經略疏垂裕記, Taishō Vol. 38, No. 1779) quyển 2 có khẳng định rằng: “Tam Không giả, tức Không, Vô Tướng, Vô Nguyện (三空者、卽空、無相、無願, Ba Không là Không, Vô Tướng và Vô Nguyện).” Hay trong Kim Cang Tam Muội Kinh Luận (金剛三昧經論, Taishō Vol. 34, No. 1730) quyển Thượng có câu: “Phù nhất tâm chi nguyên ly hữu vô nhi độc tịnh, Tam Không chi hải dung chơn tục nhi trạm nhiên (夫一心之源離有無而獨淨、三空之海融眞俗而湛然, phàm nguồn nhất tâm lìa xa có không mà thanh tịnh, biển Ba Không dung nhiếp cả chơn tục mà sáng suốt).” Tác phẩm Long Hưng Biên Niên Thông Luận (隆興編年通論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 75, No. 1512) quyển 29, phần Thái Bình Hưng Quốc Tam Niên (太平興國三年, năm thứ 3 [978] niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc) có đoạn: “Hữu Tây Vức Pháp Sư Thiên Tức Tai đẳng, thường trì Tứ Nhẫn, tảo ngộ Tam Không, phiên bối diệp chi chơn thuyên, tục nhân thiên chi thánh giáo (有西域法師天息災等、常持四忍、早悟三空、翻貝葉之眞詮、續人天之聖敎, có Pháp Sư Thiên Tức Tai người Tây Vức, v.v., thường hành trì Bốn Nhẫn, sớm giác ngộ Ba Không, phiên dịch kinh điển chân lý, kế tục Trời người Thánh giáo).” ; (三空): Ba Không. Các nhà Duy Thức nương vào 3 tánh Biến (遍), Y (依), Viên (圓) để lập ra nghĩa của Ba Không; tức là (1) Vô Tánh Không (無性空), còn gọi là Vô Thể Không (無體空), nghĩa là Tánh Biến Kế Sở Chấp (遍計所執性) trước khi vọng tình tuy là có nhưng thể tánh của nó thật sự là không. (2) Dị Tánh Không (異性空), nghĩa là thể tướng của Tánh Y Tha Khởi (依他起性) khác hẳn với Biến Kế Sở Chấp, tuy chẳng phải là không có, nhưng cũng như sở chấp vào vọng tình mà chẳng phải có. (3) Tự Tánh Không (自性空), có nghĩa Tánh Viên Thành Thật (圓成實性) là tự tánh của các pháp, thể hiện rõ hai tánh không của người và pháp. Trong Hiển Dương Thánh Giáo Luận (顯揚聖敎論) quyển 15 có nêu ra Ba Không khác là Vô Thể Không (無體空), Viễn Ly Không (遠離空) và Trừ Di Không (除遺空). Hơn nữa, tùy theo sở chấp mà Không được chia thành 3 loại khác là: (1) Ngã Không (我空), còn gọi là Nhân Không (人空); vì cho rằng pháp Ngũ Uẩn (s: pañca-skandha, p: pañca-khandha, 五蘊, Năm Uẩn) độc lập, chủ tể, nên sinh ra có ngã chấp, nhưng nếu biết rõ Năm Uẩn Sắc (s, p: rūpa, 色), Thọ (s, p: vedanā, 受), Tưởng (s: sañjā, p: saññā, 想), Hành (s: saṁkhāra, p: saṅkhāra, 行) và Thức (s: vijñāna, p: viññāṇa, 識) vốn không có tự tánh, do nhân duyên mà sanh, thì chẳng hiện hữu ngã thể; đó được gọi là Ngã Không. (2) Pháp Không (法空), nghĩa là đối với pháp Năm Uẩn cho là thật có, gọi là chấp vào pháp; nếu nhận thức rõ pháp Năm Uẩn ấy như huyễn hóa, từ duyên mà sanh khởi, vốn chẳng có tự tánh; đó được gọi là Pháp Không. (3) Câu Không (倶空), tức hai chấp trước về ngã và pháp đều đoạn tận, ngay cả pháp chấp vào Không cũng không có thực thể, như vậy mới khế hợp với chân tâm bản tánh. Bên cạnh đó, Tam Không còn chỉ cho Tam Giải Thoát (三解脫, Ba Pháp Giải Thoát) là Không (空), Vô Tướng (無相) và Vô Nguyện (無願); vì 3 pháp này đều làm sáng tỏ đạo lý Không, nên được gọi là Tam Không. Hay khi bố thí, nên quán 3 pháp người thọ nhận, người bố thí và vật bố thí đều là Không. Trong Duy Ma Kinh Lược Sớ Thùy Dụ Ký (維摩經略疏垂裕記, Taishō Vol. 38, No. 1779) quyển 2 có khẳng định rằng: “Tam Không giả, tức Không, Vô Tướng, Vô Nguyện (三空者、卽空、無相、無願, Ba Không là Không, Vô Tướng và Vô Nguyện).” Hay trong Kim Cang Tam Muội Kinh Luận (金剛三昧經論, Taishō Vol. 34, No. 1730) quyển Thượng có câu: “Phù nhất tâm chi nguyên ly hữu vô nhi độc tịnh, Tam Không chi hải dung chơn tục nhi trạm nhiên (夫一心之源離有無而獨淨、三空之海融眞俗而湛然, phàm nguồn nhất tâm lìa xa có không mà thanh tịnh, biển Ba Không dung nhiếp cả chơn tục mà sáng suốt).” Tác phẩm Long Hưng Biên Niên Thông Luận (隆興編年通論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 75, No. 1512) quyển 29, phần Thái Bình Hưng Quốc Tam Niên (太平興國三年, năm thứ 3 [978] niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc) có đoạn: “Hữu Tây Vức Pháp Sư Thiên Tức Tai đẳng, thường trì Tứ Nhẫn, tảo ngộ Tam Không, phiên bối diệp chi chơn thuyên, tục nhân thiên chi thánh giáo (有西域法師天息災等、常持四忍、早悟三空、翻貝葉之眞詮、續人天之聖敎, có Pháp Sư Thiên Tức Tai người Tây Vức, v.v., thường hành trì Bốn Nhẫn, sớm giác ngộ Ba Không, phiên dịch kinh điển chân lý, kế tục Trời người Thánh giáo).”

Tam không

xem ba pháp tam-muội. ; 三空; C: sānkōng; J: sankū;|1. Ba loại tính Không được mô tả trong Kim cương tam-muội kinh (金剛三昧經): Tướng không (相空), Không không (空空) và Sở không (所空); 2. Theo Kỉ Hoà trong tác phẩm Ngũ gia giải thoát nghị (五家解説誼; k: o ka hae sǒrǔi) thì Tam không bao gồm Ngã không (我空), Pháp không (法空) và Không không (空空); 3. Ngã không (我空), Pháp không (法空) và Ngã pháp không (我法空), tính không của cả hai, Ngã và Pháp; 4. Không (空), Vô tướng (無相) và Vô nguyện (無願); 5. Trong khi thực hiện hạnh bố thí thì Tam không gồm Tính không của người bố thi, của người nhận và Tính không của vật được bố thí; 6. Vô tính không (無性空), Dị tính không (異性空) và Tự tính không (自性空).

tam không

The three voids or immaterialities, or the threefold of svabhava: (A) 1) Không: Empty—Void. 2) Vô tướng: No-appearance. 3) Vô nguyện: No vow. (B) Svabhava (skt). 1) Ngã không: No-self. 2) Pháp không: All things are empty. 3) Câu không: Tất cả đều không—All phenomena are empty or immaterial. (C) Tam Không trong bố thí Ba La Mật—Three voids in Paramita charity: 1) Không thấy người nhận: No receiver. 2) Không thấy người cho: No giver. 3) Tất cả đều không: All are empty.

Tam khổ

三苦; C: sānkǔ; J: sanku;|Ba loại khổ: 1. Khổ khổ (苦苦): Khổ não khi phải chạm trán những sự việc không hay; 2. Hành khổ (行苦): Khổ não vì sự biến chuyển; 3. Hoại khổ (壞苦): Khổ não vì sự hoại diệt.

tam khổ

Khổ khổ, hoại khổ, hành khổ. Khổ khổ là lúc thân tâm đang chịu thống khổ; hoại khổ là cái khổ vì sự vật vui thú bị mất đi; hành khổ là cái khổ chuyển biến chẳng yên định. Dục giới có đủ ba khổ; Sắc giới chỉ có hoại khổ, hành khổ; Vô sắc giới chỉ có hành khổ. ; Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba loại khổ—Chúng sanh mọi loài đều kinh qua ba loại khổ—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are three aspects of Dukkha—Three kinds of duhkha (Pain—Sufferings)—All sentient beings experience three types of sufferings: 1) Khổ Khổ Tánh: Dukkha-dukkha (skt)—Khổ gây ra bởi những nguyên nhân trực tiếp hay khổ khổ, gồm những nỗi khổ xác thân như đau đớn, già, chết; cũng như những lo âu tinh thần—Dukkha as ordinary suffering—Suffering due to pain—Suffering that produce by direct causes or suffering of misery, Including physical sufferings such as pain, old age, death; as well as mental anxieties. 2) Hoại Khổ Tánh: Viparinama-dukkha (skt)—Khổ gây ra bởi những thay đổi—Dukkha as produced by change—Suffering due to change—Suffering by loss or deprivation or change. 3) Hành Khổ Tánh: Samkhara-dukkha (skt)—Khổ vì chư pháp vô thường, thân tâm nầy vô thường—Dukkha as conditioned states—Suffering due to formations—Suffering by the passing or impermanency of all things, body and mind are impermanent. ; (三苦) Phạm: Tisro-du#khatà#. I. Tam Khổ. Căn cứ vào tánh chất của khổ mà chia làm 3 loại là Khổ khổ, Hoại khổ và Hành khổ.1. Khổ khổ (Phạm: Du#khadu#khatà): Nỗi khổ bức não thân tâm thuộc các pháp khổ thụ trái ý trong hành uẩn hữu lậu. 2. Hoại khổ (Phạm: Vipariịàmadu#khatà): Cái khổ do các pháp lạc thụ như ý gây ra, nghĩa là các pháp như ý khi sinh thì vui, khi hoại thì dày vò thân tâm làm cho khổ não. 3. Hành khổ (Phạm: Saôskàra- du#khatà): Ngoài các pháp như ý (vui) và trái ý (khổ), các pháp không vui không khổ (xả thụ) còn lại, vì do nhân duyên tạo ra nên khó tránh khỏi sinh diệt đổi dời, bậc Thánh quán thấy điều đó, thân tâm cảm thấy bức não, cho nên gọi Hành khổ.Tất cả các hành hữu lậu đều vô thường, sinh diệt, đổi dời, cho nên đều thuộc về Hành khổ. Do đó, các pháp trái ý có 2 thứ khổ là Khổ khổ và Hành khổ, còn các pháp như ý cũng có 2 thứ khổ là Hoại khổ và Hành khổ. [X. luận Câu xá Q.22; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.13]. II. Tam khổ. Chỉ cho 3 loại khổ: Sở thủ khổ, Sự tướng khổ và Hòa hợp khổ trong 4 hành tướng của Khổ đế do tông Duy thức thành lập.1. Sở thủ khổ(cũng gọi Thủ khổ): Do tính Biến kế sở chấp nhận có thực ngã, thực pháp nên tâm năng thủ cảm thấy khổ não.2. Sự tướng khổ(cũng gọi Tướng khổ): Nương vào tính Y tha khởi mà thấy có 3 tướng khổ khổ, hoại khổ và hành khổ. 3. Hòa hợp khổ: Đối với tính Viên thành thực chấp lấy nghĩa khổ, tức chân như và tất cả khổ của hữu lậu, hữu vi hòa hợp nhau, nên gọi là khổ, nhưng không có thực thể. [X. luận Thành duy thức Q.8; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần đầu]. III. Tam Khổ. Chỉ cho 3 cái khổ do 3 cách ăn gây ra, đó là: 1. Giới bất bình đẳng sở sinh bịnh khổ: Nỗi khổ do 4 đại đất, nước, lửa, gió không điều hòa nên sinh bệnh. Đây thuộc về đoạn thực. 2. Dục hi cầu khổ: Cái khổ vì mong cầu, khát vọng. Đây thuộc về Xúc thực. 3. Cầu bất doãn khổ: Cái khổ vì mong cầu không được. Đây thuộc về Ý tư thực. [X. luận Du già sư địa Q.94]. IV. Tam Khổ. Chỉ cho Y nội khổ, Y ngoại khổ và Y thiên khổ do học phái Số luận trong 6 phái triết học ở Ấn độ đời xưa thành lập. 1. Y nội khổ (Phạm: Àdhyàtmikadu#khatà): Chỉ cho các bệnh khổ của thân như cảm mạo, thương hàn và các bệnh khổ của tâm như oán ghét gặp gỡ, thương yêu chia lìa, cầu mong chẳng toại v.v...2. Y ngoại khổ (Phạm:Àdhibhautikadu#khatà): Chỉ cho các nỗi khổ do người đời gia hại, hoặc do thú dữ, rắn độc cắn, hoặc do núi lở, đất chuồi, lụt lội gây ra. 3. Y thiên khổ (Phạm: Adhidaivikadu#khatà): Chỉ cho các khổ do thiên nhiên gây ra như nóng rét, gió mưa, sấm sét...[X. luận Kim thất thập Q.thượng].

tam khổ tướng

xem ba tướng khổ.

tam khổ đối tam giới

(三苦對三界) Thiên thai tứ giáo nghi tập chú đem 3 khổ phối hợp với 3 cõi. 1. Khổ khổ đối Dục giới: Thụ sinh trong 3 cõi đều là khổ, các cảnh cõi Dục bức bách, nỗi khổ ở đây rất nhiều, nên cõi Dục được phối với khổ khổ. 2. Hoại khổ đối Sắc giới: Nỗi khổ phát sinh khi niềm vui tan hoại, gọi là Hoại khổ. Các người trời cõi Sắc tuy được cái vui thiền vị, nhưng khi quả báo đã hết lại phải chịu khổ sinh tử trong 5 đường, nên cõi Sắc được phối hợp với Hoại khổ. 3. Hành khổ đối Vô sắc giới: Trong cõi Vô sắc tuy không có sắc chất ngại, nhưng vì tâm thức hữu lậu sinh diệt biến hóa mà có hành khổ, cho nên cõi Vô sắc được phối với Hành khổ. TAM KHÔNG I. Tam Không. Chỉ cho 3 thứ không do tông Duy thức dựa theo nghĩa của 3 tính Biến kế, Y tha, Viên thành mà lập ra, đó là: 1. Vô tính không(cũng gọi Vô thể không): Tính Biến kế sở chấp đối trước vọng tình tuy có nhưng thực ra thể tính của nó thì không. 2. Dị tính không: Thể tướng của tính Y tha khởi khác với tính Biến kế sở chấp; tuy chẳng phải không vô, nhưng cũng giống như cái do vọng tình chấp trước nên chẳng phải có. 3. Tự tính không: Tính Viên thành thực chính là tự tính của các pháp, hiển bày lí Nhân không và Pháp không. Luận Hiển dương thánh giáo quyển 15 cũng y cứ vào tự thể của 3 tính Biến kế, Y tha, Viên thành mà lập 3 không: Vô thể không, Viễn li không và Trừ khiển không. [X. luận Biện trung biên Q.trung; luận Trung biên phàn biẽt Q.thượng; Biện trung biên luận thuật kí Q.trung]. II. Tam Không. Căn cứ theo cái chúng sinh chấp trước mà chia Không làm 3 loại: 1. Ngã không (cũng gọi Nhân không): Đối với pháp 5 uẩn cưỡng lập chủ tể, gọi là Ngã chấp; nếu suy tìm trong sắc, thụ, tưởng, hành, thức thì đều không có tự tính, không thấy ngã thể, gọi là Ngã không. 2. Pháp không: Đối với pháp 5 uẩn chấp là có thật, gọi là Pháp chấp, nếu suy tìm trong pháp 5 uẩn thì như huyễn như hóa, đều do nhân duyên sinh, không có tự tính, gọi là pháp không. 3. Câu không: Ngã chấp và Pháp chấp đã trừ, cái không của năng không cũng diệt, Không và Chấp đều mất, khế hợp bản tính, gọi là Câu không. [X. Kim cương kinh sớ luận toản yếu Q.thượng; Kim cương kinh toản yếu san định kí Q.1].

Tam kinh

三經; C: sānjīng; J: sangyō;|Ba bộ kinh được xem là căn bản của mỗi truyền thống Phật giáo. Tam bộ kinh (三部經).

Tam Kinh Nghĩa Sớ

(三經義疏, Sangyōgisho): thư tịch chú thích kinh điển do Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi) truyền lại, tên gọi chung của Pháp Hoa Kinh Nghĩa Sớ (法華經義疏) 4 quyển, Thắng Man Kinh Nghĩa Sớ (勝鬘經義疏) 1 quyển và Duy Ma Kinh Nghĩa Sớ (維摩經義疏) 2 quyển. Theo ký lục của thời đại Nại Lương về bộ sách này thì trong Pháp Long Tự Già Lam Duyên Khởi Tinh Lưu Ký Tư Tài Trương (法隆寺伽藍緣起并流記資材帳) có ghi là Thượng Cung Thánh Đức Thái Tử Vương Ngự Chế Giả (上宮聖德太子王御制者); còn trong Thượng Cung Thánh Đức Pháp Vương Đế Thuyết (上宮聖德法王帝說) cũng có ghi là ngự chế sớ kinh 7 quyển của Pháp Hoa, v.v.; và trong Tịnh Danh Huyền Luận Lược Thuật (淨名玄論略述) của Trí Quang (智光, Chikō) cũng như trong Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương Chỉ Sự Ký (華嚴五敎章指事記) của Thọ Linh (壽靈, Jurei), v.v., cũng có dẫn dụng những ngôn từ trong bộ Tam Kinh Nghĩa Sớ này. Vào thời Bình An và Liêm Thương thì rất nhiều các học tăng của các tông phái như Tối Trừng (最澄, Saichō), Không Hải (空海, Kūkai), Viên Trân (圓珍, Enchin), Huyền Duệ (元叡, Genei), Trọng Toán (仲算, Chūsan), Trinh Khánh (貞慶, Jōkei), Trừng Thiền (澄禪, Chōzen), Tông Tánh (宗性, Sōshō), v.v., cũng đã có dẫn dụng về bộ luận này. Đặc biệt Ngưng Nhiên (凝然, Gyōnen) đã tiến hành chú thích toàn bộ thư tịch này. Vào năm 1274 thì cả ba bộ sớ này được khắc gỗ và xuất bản. Từ đó trở đi có rất nhiều bản in khắc khác ra đời.

tam kinh nghĩa sớ

(三經義疏) Cũng gọi Tam kinh sớ thích. Gọi chung 3 bộ Pháp hoa nghĩa sớ 4 quyển, Duy ma kinh sớ 3 quyển và Thắng man kinh nghĩa sớ 1 quyển, do Thái tử Thánh đức, người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 56. Mục đích của việc tuyển chọn 3 bộ kinh này để giải thích là kinh Pháp hoa thuộc về lí luận Phật giáo, còn kinh Duy ma và Thắng man là sinh hoạt thực tiễn. Thái tử Thánh đức sống đúng vào thời kì sáng lập của Phật giáo Nhật bản; vào thời ấy mà đã có loại chú thích đặc biệt này thì thật rất có ý nghĩa, có thể nói đó là điểm xuất phát của Phật giáo Nhật bản. Cũng có thuyết cho rằng 3 bộ kinh sớ này chưa chắc đã là soạn phẩm của Thái tử.

tam kinh nhất luận

(三經一論) Ba kinh 1 luận. Tức 4 bộ kinh luận mà tông Tịnh độ y cứ. Tam kinh chỉ cho kinh Vô lượng thọ 2 quyển(do ngài Khang tăng khải dịch vào đời Tào Ngụy), kinh Quán vô lượng thọ 1 quyển(do ngài Cương lương da xá dịch vào đời Lưu Tống), và kinh A di đà 1 quyển(do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần). Còn nhất luận thì chỉ cho Vô lượng thọ kinh ưu bà đề xá nguyện sinh kệ 1 quyển(do Bồ tát Thiên thân soạn, ngài Bồ đề lưu chi dịch vào đời Nguyên Ngụy). Ý chỉ trọng yếu của 4 bộ kinh luận này đều nhằm hiển bày giáo pháp vãng sinh Tịnh độ. Tam kinh còn được gọi là Tịnh độ tam bộ kinh.

Tam Kinh Nhất Luận Ngũ Bộ Cửu Quyển

(三經一論五部九巻): các kinh điển thuộc Tịnh Độ Tông. Tam Kinh gồm Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經), Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經) và A Di Đà Kinh (阿彌陀經). Nhất Luận là bộ Vãng Sanh Luận (徃生論) của Thế Thân (s: Vasubandhu, 世親). Còn Ngũ Bộ Cửu Quyển là từ tổng xưng các trước tác của Thiện Đạo (善導, Zendō, 613-681), gồm: Quán Kinh Sớ (觀經疏) 4 quyển, Pháp Sự Tán (法事讚) 2 quyển, Quán Niệm Pháp Môn (觀念法門) 1 quyển, Vãng Sanh Lễ Tán (徃生禮讚) 1 quyển và Ban Chu Tán (般舟讚) 1 quyển.

tam kinh thông biệt

(三經通別) Chỉ cho nghĩa thông và biệt trong 3 phần Giáo, Hành, Lí, của các kinh. Cứ theo Pháp hoa huyền nghĩa quyển 1, hạ, các kinh do đức Phật nói đều có đủ 3 phần Giáo, Hành và Lí. Ba phần này mỗi phần đều có nghĩa thông và biệt, Biệt hợp với Thông, Thông ứng với Biệt. Cho nên Giáo có thông biệt, nương vào Giáo mà rõ Hành; Hành có thông biệt, từ Hành mà rõ Lí; Lí cũng có thông biệt. 1. Giáo kinh Thông biệt: Tất cả ngôn giáo, do bậc Thánh đối cơ mà giảng nói, vì cơ nghi bất đồng, bộ bộ khác nhau, nên gọi là Giáo biệt; các bộ tuy khác, nhưng nói chung (thông) đều do Phật thuyết, nên gọi là Giáo thông. 2. Hành kinh thông biệt: Hành nghĩa là nương theo giáo mà tu hành. Chúng sinh tu hành bằng nhiều pháp môn, gọi là Hành biệt; pháp môn tuy khác nhưng lí khế hợp thì giống nhau, gọi là Hành thông. 3. Lí kinh thông biệt: Nghĩa lí do tất cả ngôn giáo giải thích, danh tự chẳng phải 1, gọi là Lí biệt; còn lí thì không 2, gọi là Lí thông.

tam kinh tịnh độ

Three Pure Land Sutras: 1) Kinh A Di Đà: Amitabha Sutra. 2) Kinh Vô Lượng Thọ: Longer Amitabha Sutra. 3) Kinh Quán Vô Lượng Thọ: Meditation Sutra.

tam kiên

The three sure or certain things for the true disciple: 1) Thân sống vô cực: Infinite body or personality. 2) Mạng thọ vô cùng: Endless life. 3) Tài sản vô tận: Boundless sipritual possessions.

tam kiêu

Three intoxications—See Tam Pháp (xxxxxiii).

tam kiêu mạn

Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba loại kiêu mạn—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (searches), there are three kinds of discrimination: 1) Kiêu mạn 'Tôi hơn': The discrimination 'I am superior.' 2) Kiêu mạn 'Tôi bằng': The discrimination 'I am equal.' 3) Kiêu mạn 'Tôi thua': The discrimination 'I am inferior.'

Tam kiến

三見; C: sānjiàn; J: sanken;|Ba kiến ở đây có nghĩa là ba kiến giải sai lầm sau hai tà kiến đầu là Thân kiến (身見) và Biên kiến (邊見), tất cả đều hệ thuộc vào hệ thống Thập hoặc (十惑). Chúng là: Tà kiến (邪見), Kiến thủ kiến (見取見) và Giới cấm thủ kiến (戒禁取見).

Tam kiếp

三劫; C: sānjié; J: sankō;|Ba kiếp, ba giai đoạn rất dài: 1. Là lối viết tắt của Tam a-tăng-kì kiếp (三阿僧祇劫); 2. Trong Chân Ngôn tông, thuật ngữ này chỉ những vướng mắc, trói buộc mù quáng; 3. Ba thời kiếp: Dĩ vãng, hiện tại và tương lai.

tam kiếp

The three asankhyeya kalpas—The three countless aeons—The periods of a bodhisattva's development: 1) Trang nghiêm kiếp: The past aeon. 2) Hiền kiếp: The present aeon. 3) Tinh túc kiếp: The future kalpa. ; (三劫) I. Tam Kiếp. Chỉ cho 3 đại kiếp: Quá khứ, Hiện tại và Vị lai. Trụ kiếp ở quá khứ gọi là Trang nghiêm kiếp (Phạm: Vỳuha-kalpa), Trụ kiếp ở hiện tại gọi là Hiền kiếp (Phạm: Bhadra-kalpa), Trụ kiếp ở vị lai gọi là Tinh tú kiếp (Phạm: Nakwatra-kalpa). Trong trụ kiếp của mỗi Đại kiếp đều có 1 nghìn đức Phật ra đời, gọi là Tam kiếp tam thiên Phật. Cứ theo kinh Quán dược vương dược thượng nhị bồ tát thì trong Hiền kiếp hiện tại có 1 nghìn đức Phật xuất hiện, từ Phật Câu lưu tôn, Câu na hàm, Ca diếp, Thích ca mâu ni, cho đến cuối cùng là đức Phật Lâu chí; trong kiếp Trang nghiêm ở quá khứ có 1 nghìn đức Phật, bắt đầu từ Phật Hoa quang, cho đến cuối cùng là Phật Tì xá phù; trong kiếp Tinh tú ở vị lai, có 1 nghìn đức Phật ra đời, bắt đầu từ Phật Nhật quang, cho đến sau cùng là đức Phật Tu di tướng... II. Tam Kiếp. Gọi đủ: Tam kiếp hoặc. Cũng gọi Tam vọng chấp. Chỉ cho Thô vọng chấp, Tế vọng chấp, Cực tế vọng chấp. (xt. Tam Vọng Chấp). III. Tam Kiếp. Gọi đủ: Tam a tăng kì kiếp. Khoảng thời gian mà Bồ tát phải trải qua để tu hành từ lúc phát tâm đến thành tựu quả Phật viên mãn. (xt. Tam A Tăng Kì Kiếp).

tam kiếp tam thiên phật

The thousand Buddhas in each of the three kalpas.

Tam kết

xem Ba kết.

tam kết

Samyoga (skt)—Đức Phật đã nói trong Kinh Niết Bàn: “Này thiện nam tử, Tu Đà Hoàn tuy có thể cắt đứt vô lượng phiền não, nhưng vì ba kết rất nặng nên chúng cũng bao hàm tất cả kết mà Tu Đà Hoàn đã đoạn.”—In the Nirvana Sutra, the Buddha said: “Srota-apanna though has cut off inummerable illusions; however, the three ties are so serious that if he is able to cut off these three ties, he can cut off all other ties: 1) Kiến Kết: Ngã kiến—The tie of false views of permanent ego. 2) Giới Thủ Kết: Silavrataparamarsa (skt)—Giới Cấm Thủ Kết. • Hành tà giới: The tie of wrong discipline. • Chấp vào cái công hạnh phát sinh do sự tuân thủ giới luật đạo đức: Taking hold of the merit accruing from the observance of the rules of morality. 3) Nghi Kết: Nghi ngờ chánh lý—The tie of doubt. ; (三結) Phạm: Trìịi saôyojanàni. Pàli:Tìịi saôyojanàni. Cũng gọi Sơ quả tam kết. Kết chính là Kiến hoặc, chúng sinh do Kiến hoặc này trói buộc nên không thể thoát li sinh tử. Hàng Thanh văn dứt hết Hoặc này thì chứng được Sơ quả Tu đà hoàn, vì thế gọi là Sơ quả tam kết. Tam kết là. 1. Hữu thân kiến kết (Phạm: Satkàyadfwỉi-saôyojana): Đối với pháp năm ấm, chúng sinh chấp lầm làm thân, thường khởi ngã kiến, cưỡng lập chủ tể. Đây là Không cận chướng trong ba pháp Tam ma địa cận chướng, cũng là cội rễ của 62 kiến thú. Vì các kiến thú là căn bản của dư phiền não, dư phiền não là gốc của nghiệp, các nghiệp lại là gốc của quả Dị thục; nương vào quả Dị thục thì tất cả pháp thiện, bất thiện, vô kí đều được sinh trưởng, cho nên cần phải đoạn trừ. 2. Giới cấm thủ kết (Phạm:Zìlavra= taparàmarza-saôyojana): Chỉ cho việc thực hành các tà giới. Đây là Vô nguyện cận chướng trong ba pháp Tam ma địa cận chướng; chẳng hạn những người ngoại đạo đối với điều chẳng phải giới lại lầm tưởng là giới, như giữ giới bò(ăn cỏ), giới chó(ăn phân)... 3. Nghi kết (Phạm: Vicikitsàsaôyojana): Tức nghi ngờ chính lí, mê tâm trái lí, không tin sâu chính pháp. Đây là Vô tướng cận chướng trong 3 pháp Tam ma địa cận chướng. Tam kết trên đây là quan trọng nhất trong Kiến hoặc, cho nên được dùng làm tên chung cho Kiến hoặc, nếu đoạn được 3 kết này thì chứng quả Dự lưu, không còn trở lui, nhất định tiến tới Bồ đề. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.16; luận Đại tì bà sa Q.46; Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần cuối].

Tam kết phược

xem Ba kết.

tam kết sử

ba sự trói buộc và sai sử nằm trong ngũ hạ kết, bao gồm sự trói buộc do quan điểm sai lầm, trói buộc vì sự nghi ngờ và trói buộc vì giữ theo tà giới.

Tam Kỳ

(三祇, Sangi): hay còn gọi là Tam A Tăng Kỳ Kiếp (三阿僧祇劫), Tam Đại A Tăng Kỳ Kiếp (三大阿僧祇劫), Tam Đại Tăng Kỳ (三大僧祇). A Tăng Kỳ Kiếp (s: asaṅkhyeya-kalpa, p: asaṅkheyya-kappa, 阿僧祇劫) có nghĩa là số lượng kiếp (thời gian vĩnh hằng) quá lớn đến nỗi không thể nào đếm được, và gấp lên ba lần như vậy được gọi là Tam A Tăng Kỳ Kiếp. Vị Bồ Tát từ khi bắt đầu phát tâm bồ đề cho đến khi thành Phật cần phải trải qua tu hành trong khoảng thời gian Tam A Tăng Kỳ Bách Đại Kiếp (三阿僧祇百大劫, tức ba kỳ và trăm kiếp lớn). Vị Bồ Tát đang tu hành 50 vị, trong A Tăng Kỳ Kiếp đầu tiên, cần phải tu tập 40 vị gồm Thập Tín (十信), Thập Hạnh (十行), Thập Trụ (十住), Thập Hồi Hướng (十回向); trong A Tăng Kỳ Kiếp thứ hai thì cần tu từ Sơ Địa cho đến Địa Thứ Bảy trong Thập Địa (十地); trong A Tăng Kỳ Kiếp thứ ba thì cần tu từ Địa Thứ Tám cho đến Địa Thứ Mười. Sau khi tu hạnh Ba La Mật trãi qua Ba A Tăng Kỳ Kiếp, trong thời gian trăm đại kiếp, vị Bồ Tát cần phải tu hành thêm nữa để đạt đến 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp. Trong Phật Thuyết A Di Đà Kinh (佛說阿彌陀經, Taishō No. 366) có giải thích về vị giáo chủ cõi Cực Lạc (s: Sukhāvatī, 極樂) như sau: “Hựu Xá Lợi Phất ! Bỉ Phật thọ mạng cập kỳ nhân dân, vô lượng vô biên A Tăng Kỳ Kiếp, cố danh A Di Đà (又舍利弗、彼佛壽命及其人民、無量無邊阿僧祇劫、故名阿彌陀, Lại nữa Xá Lợi Phất ! Thọ mạng và nhân dân của đức Phật kia vô lượng vô biên không thể tính đếm được, nên được gọi là A Di Đà).” Hay như trong Đạt Ma Đại Sư Phá Tướng Luận (達磨大師破相論, CBETA No. 1220) có đoạn: “A Tăng Kỳ Kiếp giả, tức Tam Độc tâm dã, cố ngôn A Tăng Kỳ; Hán danh bất khả số; thử Tam Độc tâm, ư trung hữu Hằng sa ác niệm, ư nhất nhất niệm trung, giai vi nhất thiết, như thị Hằng sa bất khả số dã; cố ngôn Tam Đại A Tăng Kỳ; chơn như chi tánh, ký bị Tam Độc chi sở phú cái; nhược bất siêu bỉ tam đại Hằng sa độc ác chi tâm, vân hà danh vi giải thoát (阿僧祇劫者、卽三毒心也、胡言阿僧祇、漢名不可數、此三毒心、於中有恆沙惡念、於一一念中、皆爲一劫、如是恆沙不可數也、故言三大阿僧祇、眞如之性、旣被三毒之所覆蓋、若不超彼三大恆沙毒惡之心、云何名爲解脫, A Tăng Kỳ Kiếp tức là tâm có Ba Độc; nên gọi là A Tăng Kỳ; Tàu gọi là không thể tính đếm được; tâm có Ba Độc này, trong đó có niệm ác nhiều như sông Hằng; trong mỗi một niệm đều có tất cả, như vậy cát sông Hằng không thể nào tính đếm được; nên có tên là Ba A Tăng Kỳ Kiếp Lớn; tánh của chơn như, đã bị Ba Độc che lấp, nếu không vượt qua tâm ác độc lớn như cát sông Hằng, thế nào gọi là giải thoát đây).”

tam kỳ mạt kiếp

(三期末劫) Tiếng dùng trong tông giáo dân gian ở đời Minh, Thanh tại Trung quốc. Thế giới được chia làm 3 thời kì, các tông giáo dân gian chủ trương trải qua hết kiếp mạt ở cuối thời kì thứ 2 thì sẽ tiến vào thế giới lí tưởng của thời kì thứ 3. Hoằng dương giáo gọi 3 thời kì này là Thanh dương, Hồng dương, Bạch dương. Viên đốn giáo gọi là Long hoa tam hội, tức Long hoa sơ hội, Nhị hội, Tam hội, theo thứ tự đại biểu cho quá khứ, hiện tại và vị lai. (xt. Viên Đốn Giáo).

tam kỳ đặc

The three incomparable kinds of rareness. 1) Thần Thông Kỳ Đặc: Thần lực kỳ đặc hóa độ chúng sanh—Incomparable kinds of power to convert all beings. 2) Huệ Tâm Kỳ Đặc: Trí huệ Phật—Buddha wisdom. 3) Nhiếp Thọ Kỳ Đặc: Phật lực có khả năng lôi kéo và cứu độ chúng sanh—Buddha-power to attract and save all beings.

Tam li dục

三離欲; C: sānlíyù; J: sanriyoku;|Ba dạng li dục. Theo Du-già sư địa luận thì Tam li dục bao gồm: 1. Vị li dục (未離欲), chưa rời bỏ dục vọng; 2. Bội li dục (倍離欲), thoát khỏi khát vọng gấp đôi bình thường và 3. Dĩ li dục (已離欲), đã thoát khỏi dục vọng hoàn toàn.

tam liễu tri

Theo Thanh Tịnh Đạo, có ba loại Liễu Tri—According to The Path of Purification, there are three kinds of Full-Understanding. 1) Sở Tri Liễu Tri: Trí trong ý nghĩa hiểu biết—Full understanding as the known. Understanding that is direct-knowledge is knowledge in the sense of the known 2) Suy Đạt Liễu Tri: Tuệ với tư cách liễu tri gọi là trí trong ý nghĩa phê phán—Full understanding as investigating or judging. Whatever states are fully-understod are judged. 3) Đoạn Trừ Liễu Tri: Trí theo ý nghĩa từ bỏ—Full understanding as abandoning.

tam loại cường địch

(三類强敵) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho 3 loại người mang tâm thù địch hoặc bức hại những hành giả kinh Pháp hoa, đó là: 1. Người thế tục tà ác, cũng gọi những người tục tăng thượng mạn. 2. Những tì khưu tà trí, cũng gọi Đạo môn tăng thượng mạn. 3. Những tì khưu đội lốt, giả danh thánh nhân, cũng gọi Tiếm thánh tăng thượng mạn.Tổ khai sáng tông Nhật liên là ngài Nhật liên cho rằng chỉ có những người bị 3 loại cường địch bức hại nơi thân thì mới là chứng cứ biểu thị chính mình là hành giả Pháp hoa. Còn đối với các hành giả tông Nhật liên mà nói thì loại cường địch thứ nhất tương đương với các quan lại của Mạc phủ, loại thứ hai là các tăng lữ thuộc tông Chân ngôn, tông Tịnh độ; loại thứ 3 là chư tăng thuộc Thiền tông và Luật tông.

Tam loại cảnh

三類境; C: sān lèijìng; J: san ruikyō;|»Ba loại cảnh giới«. I. Theo thuyết Duy thức (唯識), các cảnh giới tâm thức được phân loại tuỳ theo bản chất của chúng. Bao gồm: 1. Tính cảnh (性境): Cảnh giới xuất phát từ những chủng tử trong A-lại-da thức; 2. Độc ảnh cảnh (獨影境): là những cảnh giới xuất phát một cách tạm thời từ một quan điểm chủ quan; và 3. Đái chất cảnh (帶質境): Cảnh giới hiển hiện tuỳ thuộc vào cả hai trường hợp vừa nêu trên.

tam loại cảnh

(三類境) I. Tam Loại Cảnh. Cũng gọi Tam loại, Tam cảnh. Chỉ cho 3 loại cảnh do tông Pháp tướng căn cứ vào tính chất của cảnh sở duyên mà thành lập, đó là: 1. Tính cảnh: Chỉ cho cảnh chân thực. Cảnh này tự giữ lấy tính chất của nó, không theo tâm. Tức chỉ cho cảnh có đầy đủ thể tính và tác dụng chân thực và do chủng tử thật sinh khởi. Nó bao gồm tướng phần(chủng tử, ngũ căn, khí thế gian) của thức thứ 8, tướng phần của 5 thức trước và Ngũ câu ý thức(đồng thời sinh khởi với bất cứ thức nào trong 5 thức trước). Cảnh này có 3 thứ Bất tùy tâm(chẳng theo tâm) a. Tính bất tùy: Kiến phần năng duyên chung cả 3 tính thiện, bất thiện và vô ký, tướng phần sở duyên chỉ có tính vô kí, tính Bất tùy năng duyên chung cả 3 tính. b. Chủng bất tùy: Kiến phần từ Tự kiến phần sinh ra, Tướng phần cũng từ Tự tướng phần sinh ra chứ không theo chủng tử năng duyên sinh ra. c. Hệ bất tùy: Hệ chỉ cho giới địa hệ (nơi chỗ trói buộc). Nghĩa là giới địa hệ của cảnh sở duyên không theo tâm năng duyên. Như 5 thức trước, thức thứ 8 và Ngũ câu ý thức, khi duyên theo 5 trần của tự giới, thì tướng phần và năng duyên tuy là Dục giới hệ, nhưng 5 trần sở duyên chẳng phải theo năng duyên để trở thành Dục giới hệ. 2. Độc ảnh cảnh: Độc là khác với bản chất; ảnh là bóng dáng, tức tướng phần. Nghĩa là cảnh do vọng phân biệt nương vào tâm năng duyên mà biến sinh ra, chỉ là bóng dáng chứ không có bản chất. Như lông rùa, sừng thỏ, hoa đốm... do thức thứ 6 vọng phân biệt mà biến ra, toàn thuộc ảo ảnh. Cảnh này có 3 thứ tùy tâm: a. Tính tùy tâm: Cảnh và tâm năng duyên cùng chung 1 tính. b. Chủng tùy tâm: Cảnh và tâm năng duyên từ cùng 1 chủng tử sinh ra. c. Hệ tùy tâm: Cảnh và tâm năng duyên cùng chung 1 giới hệ. 3. Đới chất cảnh: Đới chất là bản chất kiêm đới. Nghĩa là tâm năng duyên duyên theo cảnh sở duyên, tướng phần của nó có bản chất làm chỗ nương chứ không có tự tướng của cảnh. Cảnh này do năng lực của tâm và cảnh hợp thành, ở khoảng giữa Tính cảnh và Độc ảnh cảnh. Như tướng phần hiển hiện khi thức thứ 7 duyên theo kiến phần của thức thứ 8 và thức thứ 6 truy tưởng hình tượng của quá khứ. Cảnh này có 3 thứ Thông tình bản(Tình là kiến phần năng duyên; bản là bản chất). a. Tính thông tình bản: Như khi kiến phần của thức thứ 7 duyên theo kiến phần của thức thứ 8 thì tướng phần được biến hiện ra không khác loại, nhưng 1 nửa cùng loại với bản chất và một nửa cùng loại với kiến phần năng duyên, nếu từ bản chất sinh thì là tính vô phú vô kí, còn nếu từ kiến phần năng duyên sinh thì là tính hữu phú vô kí, tính ấy bất định. b. Giới thông tình bản(cũng gọi Hệ thông tình bản): Giới địa của tướng phần này chung với giới địa hệ của bản chất và kiến phần mà là bất định. c. Chủng thông tình bản: Chủng tử của tướng phần này cũng tùy theo bản chất và kiến phần mà bất định. Tên gọi của 3 loại cảnh tuy trong các kinh không thấy ghi chép, nhưng về vấn đề Tướng phần và Kiến phần là cùng loại hay khác loại thì ở Ấn độ đã có các thuyết khác nhau, đến thời Ngài Huyền trang thì thuyết của ngài Hộ pháp được dùng làm chính nghĩa, ngài làm ra bài tụng truyền cho đệ tử là sư Khuy cơ như sau (Đại 43, 633 trung): Tính cảnh bất tùy tâm Độc ảnh duy tòng kiến Đới chất thông tình bản Tính chủng đẳng tùy ứng. Sau, ngài Khuy cơ giải thích rằng: Tướng phần do khác loại sinh ra là Tính cảnh, Tướng phần do cùng loại sinh ra là Độc ảnh cảnh và Tướng phần do cả 2 cùng loại và khác loại sinh ra là Đới chất cảnh. [X.Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng, phần cuối; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.4, phần cuối; Bách pháp vấn đáp sao Q.2]. II. Tam Loại Cảnh. Chỉ cho 3 loại cảnh mà thức A lại da thứ 8 duyên theo, đó là: 1. Chủng tử cảnh: Thức thứ 8 có khả năng nắm giữ chủng tử của tất cả pháp thế gian và xuất thế gian, nên gọi là Chủng tử cảnh. 2. Căn thân cảnh: Thức thứ 8 là tâm tròn sáng rõ suốt, phát khởi tướng trần lao trong, ngoài; từ 1 tâm tròn sáng lặng lẽ, chia ra căn trần, tụ tập 4 đại bên trong làm thân phần, cho nên gọi là Căn thân cảnh. 3. Khí thế gian cảnh: Từ thức thứ 8 chuyển tướng mà thành hiện tướng, tức các cảnh giới núi sông, đất đai..., vì vậy gọi là khí thế gian cảnh.

tam luân

The three-wheel. (A) 1) Thân Phật: Buddha's body or deeds. 2) Khẩu Phật: Buddha's mouth or discourses. 3) Tâm Phật: Buddha's mind or ideas. (B) 1) Thần Thông Luân: Buddha's supernatural powers, or powers of bodily self-transformation, associated with his body. 2) Ký Tâm Luân: Buddha's discriminating understanding of others, asociated with his mind. 3) Giáo Giới Luân: Buddha's oral powers of teaching, associated with his discourses or speech. (C) Bánh xe phiền não sanh nghiệp, nghiệp sanh khổ đau, và khổ đau lại sanh phiền não. Ba bánh xe này luân chuyển không ngừng nghỉ—The wheel of illusion produces karma, that of karma sets rolling that of suffering, which in turn sets rolling the wheel of illusion. These three wheels are in constant revolution 1) Hoặc Luân: The wheel of Delusions. 2) Nghiệp Luân: The wheel of Karma. 3) Khổ Luân: The wheel of Suffering. (D) 1) Vô Thường Luân: The wheel of Impermanence. 2) Bất Tịnh Luân: The wheel of Impurity. 3) Khổ Luân: The wheel of Distress. ; (三輪) I. Tam luân. Chỉ cho 3 lớp vật chất cấu tạo thành khí thế giới. Đó là: 1. Phong luân (Phạm: Vàyumaịđala), cũng gọi phong giới: Lúc mới đầu thành lập khí thế giới, do nghiệp lực chung của loài hữu tình, nương tựa vào hư không mà sinh ra phong luân ở dưới cùng. 2. Thủy luân (Phạm: Jala-maịđala), cũng gọi Thủy giới: Do nghiệp lực tăng thượng của hữu tình mà nổi lên trận mây mưa lớn, trút xuống trên lớp phong luân, tích chứa nước thành lớp thủy luân. 3. Kim luân (Phạm: Kàĩcanamaịđala), cũng gọi Kim tính địa luân, Địa luân, Địa giới: Do sức nghiệp của hữu tình va đập vào thủy luân mà kết thành vàng (kim) trên thủy luân. Tam luân trên đây có thể được xem là Vũ trụ luân (cosmologie) của Phật giáo. Ngoài Tam luân cấu thành Khí thế giới, trên Kim luân lại hình thành thế giới hiện thực.[X. kinh Trường a hàm Q.18; kinh Tăng nhất a hàm Q.37; kinh Khởi thế Q.1; kinh Đại lâu thán Q.1; luận Câu xá Q.11; luận Lập thế a tì đàm Q.1]. (xt. Đại Địa Tứ Luân, Tu Di Sơn). II. Tam Luân. Dùng bánh xe báu của vua Chuyển luân thánh vương để ví dụ tác dụng thù thắng của 3 nghiệp thân, khẩu, ý của Như lai. Đó là: 1. Thần biến luân(cũng gọi Thần thông luân, Thân luân): Hiển hiện thần thông, biến hóa ra những cảnh thù thắng, khác lạ để khiến chúng sinh phát tín tâm. 2. Giáo giới luân(cũng gọi Thuyết pháp luân, Khẩu luân): Phật diễn nói giáo pháp khiến chúng sinh phát tín tâm bỏ tà về chính. 3. Kí tâm luân(cũng gọi Ức niệm luân, Ý luân): Khi đức Phật nói pháp, trước hết Ngài dùng ý luân để xét biết căn cơ lợi độn của chúng sinh hầu tùy nghi diễn giảng, không phạm sai lầm. Tam luân trên đây có ý nghĩa giống với Tam thị hiện, Tam chủng thị đạo. [X. kinh Đại thừa đại tập địa tạng thập luân Q.6; luận Du già sư địa Q.27, 37; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.6, phần cuối]. (xt. Tam Chủng Thị Đạo). III. Tam Luân. Chỉ cho sự vô thường, bất tịnh và khổ nãotrong thế gian. Ba thứ này giống như bánh xe (luân) quay vòng không ngừng, không đầu không cuối, cho nên ví dụ như bánh xe mà gọi là Vô thường luân, Bất tịnh luân và Khổ luân. [X. lời tựa trong A di đà kinh thông tán sớ; Vãng sinh yếu tập Q.1, thượng]. IV. Tam Luân. Gọi đủ: Tam chuyển pháp luân. Ngài Cát tạng thuộc tông Tam luận chia giáo pháp của đức Phật làm 3 pháp luân là: Căn bản pháp luân, Chi mạt pháp luân và Nhiếp mạt qui bản pháp luân. (xt. Tam Chuyển Pháp Luân). V. Tam Luân. Gọi đủ: Tam pháp luân. Sự thuyết pháp của đức Phật có 3 ý nghĩa: Chuyển pháp luân, Chiếu pháp luân và Trì pháp luân, gọi là Tam pháp luân.(xt. Tam pháp luân). VI. Tam Luân. Chỉ Thí giả(người bố thí), Thụ giả(người nhận của bố thí) và Thí vật(vật dùng để bố thí)... Khi người thực hành pháp bố thí, nếu trụ nơi Không quán thì không chấp trước vào 3 thứ này, gọi là Tam luân thể không, Tam luân thanh tịnh, Tam sự giai không. (xt. Tam Luân Tướng). VII. Tam Luân. Theo thứ tự từ quả hướng tới nhân trong Mạn đồ la Kim cương giới của Mật giáo, thì có thể chia sự giáo hóa lợi sinh của đức Đại nhật Như lai làm 3 thứ là: Tự tính luân thân, Chính pháp luân thân và Giáo lệnh luân thân. (xt. Tam Luân Thân). TAM LUÂN GIÁO I. Tam Luân Giáo. Chỉ cho Tam luân giáo do ngài Chân đế căn cứ vào kinh Kim quang minh mà thành lập vào đời Lương. Đó là: 1. Chuyển pháp luân: Sau khi thành đạo, trong 7 năm đầu, đức Phật chuyển pháp luân Tứ đế của Tiểu thừa. 2. Chiếu pháp luân: Sau 7 năm đó, đức Phật nói các bộ Bát nhã để hiển bày lí không, dùng Không chiếu rọi Hữu, nên gọi là Chiếu pháp luân. 3. Trì pháp luân: Sau 30 năm, đức Phật nói kinh Giải thâm mật... giảng về Không, Hữu để giữ gìn Chuyển pháp luân và Chiếu pháp luân nên gọi là Trì pháp luân.[X. Hoa nghiêm Huyền đàm Q.4]. II. Tam Luân Giáo. Chỉ cho 3 thứ pháp luân do Đại sư Gia tường Cát tạng y cứ vào phẩm Tín giải kinh Pháp hoa mà thành lập, đó là: 1. Căn bản pháp luân: Chỉ cho kinh Hoa nghiêm. Kinh này chỉ vì hàng Bồ tát mà mở bày pháp môn 1 nhân 1 quả. 2. Chi mạt pháp luân: Chỉ cho các kinh Tiểu thừa như A hàm, cho đến các kinh Đại thừa như Phương đẳng, Bát nhã... Trong các kinh này, vì những người độn căn không kham nổi pháp môn 1 nhân 1 quả, nên đức Phật chia Nhất Phật thừa làm Tam thừa giáo. 3. Nhiếp mạt qui bản pháp luân: Chỉ cho kinh Pháp hoa. Tức đưa Tam thừa về Nhất Phật thừa. [X. Pháp hoa du ý Q.thượng]. III. Tam Luân Giáo. Chỉ cho 3 pháp luân do ngài Huyền trang y cứ vào kinh Giải thâm mật và luận Du già mà thành lập. Đó là: 1. Chuyển pháp luân: Chỉ cho Hữu giáo của các kinh Tiểu thừa thời kì đầu. 2. Chiếu pháp luân: Chỉ cho Không giáo của kinh Bát nhã thới kì thứ hai. 3. Trí pháp luân: Chỉ cho Trung đạo giáo của kinh Giải thâm mật... ở thời kì thứ ba. Đây là Tam thời giáo của tông Pháp tướng. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.thượng; Hoa nghiêm huyền đàm Q.4].

tam luân giáo

The three periods of the Buddha's teaching: 1) Chuyển Pháp Luân: The first rolling onwards of the Law-wheel, the first years teaching of Hinayana, four axioms (Tứ Đế) and unreality (Không). 2) Chiếu Pháp Luân: Illuminating or explaining the law-wheel, the thirty years teaching of the Prajna (Bát Nhã) or Wisdom Sutras. 3) Trì Pháp Luân: Maintaining the law-wheel, the remaining years of teaching of the deeper truths of both unreality (Không) and reality (Hữu).

tam luân hóa đạo

Three sovereign powers for converting others: 1) Thần biến: Do thân nghiệp của Đức Phật hiện đủ loại thần biến, khiến chúng sanh khởi chánh tín—Supernatural transformation (thân: physical). 2) Ký tâm: Dùng ý nghiệp của Đức Phật phân biệt được tâm hành sai biệt của kẻ khác (thức biệt tha tâm)—Memory or knowledge of all the thoughts of all beings (ý: mental). 3) Giáo giới: Dùng khẩu nghiệp của Đức Phật để răn dạy chúng sanh khiến họ tu hành—Teaching and warning.

tam luân thân

(三輪身) Cũng gọi Tam chủng luân thân, Tam luân.Chỉ cho 3 thứ luân thân: Tự tính luân thân, Chính pháp luân thân và Giáo lệnh luân thân. Mạn đồ la Kim cương giới của Mật giáo được chia làm 2 thứ lớp từ quả hướng đến nhân và từ nhân hướng đến quả. Về thứ lớp từ quả hướng đến nhân, sự giáo hóa làm lợi ích chúng sinh của đức Đại nhật Như lai, từ Bản địa đến Thùy tích có thể theo thuận tự chia làm 3 thứ, tức là vì cứu độ chúng sinh mà đức Đại nhật Như lai phương tiện hiện ra các hình tướng Bồ tát, Minh vương... theo thứ tự chia làm 3 loại:1. Tự tính luân thân: Tức Đại nhật Như lai dùng Phật thể của tự tính bản địa để giáo hóa làm lợi ích chúng sinh. 2. Chính pháp luân thân: Tức Đại nhật Như lai là hiển hiện thân Bồ tát tuyên giảng chính pháp để giáo hóa làm lợi ích chúng sinh.3. Giáo lệnh luân thân: Tức Đại nhật Như lai hiển hiện tướng phẫn nộ (tướng của Minh vương Bất động) để giáo hóa những chúng sinh ương ngạnh khó cứu độ.Tam luân thân trên đây còn gọi là Tam thân, Tam thân cũng có thể dùng cho Ngũ Phật, Ngũ Bồ tát, Ngũ đại Minh vương...

tam luân thế giới

The Three-Wheel world.

tam luân thể không

Nói về việc bố thí: kẻ bố thí, kẻ nhận bố thí, tài vật để bố thí, gọi chung là Tam luân. Thí mà chẳng trụ nơi thí gọi là Tam luân thể không. ; (三輪體空) Thể của 3 luân là Không. Tức là khi thực hành pháp bố thí, Bồ tát phải thấu suốt thể của người bố thí, người nhận sự bố thí và vật dùng để bố thí đều là không để phá trừ tướng chấp trước. 1. Thí không: Người bố thí thấu rõ thân mình vốn không, đã biết thân ta là không thì không có tâm mong cầu phúc báo.2. Thụ không: Đã thấu suốt vốn không có người bố thí thì cũng chẳng có người nhận sự bố thí, vì thế không sinh ý tưởng kiêu mạn. 3. Thí vật không: Vật tức là tiền bạc, của cải, vật báu... đã thấu suốt tất cả đều không thì tài vật dùng để bố thí cũng là không, do đó không sinh tâm tham lam hối tiếc. [X. Năng đoạn kim cương bát nhã ba la mật đa kinh thích Q.thượng]. (xt. Tam Luân Tướng). TAM LUÂN TƯỚNG Ba tướng luân. Chỉ cho người bố thí, người nhận sự bố thí và vật để bố thí. Tướng Tam luân tồn tại trong ý tưởng gọi là Hữu tướng tam luân. Diệt Tam luân này, trụ nơi vô tâm mà thực hành pháp bố thí thì đó là Thí ba la mật tam luân thanh tịnh. Theo Kim cương bát nhã ba la mật kinh chú giải, người đời làm việc bố thí tâm mong cầu quả báo, đó là trước tướng; nhưng Bồ tát tu hành bố thí thì thấu suốt Tam luân thể không, nên không chấp tướng. Pháp giới thứ đệ quyển hạ (Đại 46, 686 trung) nói:Nếu khi thực hành bố thí mà thấy người thí, người nhận và vật thí đều là không, bất khả đắc, thì vào được Thực tướng chính quán. Cho nên Tam luân tướng có chia ra thô và tế. Tự thân người bố thí khởi tâm kiêu mạn, đối với người nhận sự bố thí thì có ý nghĩ yêu ghét, đối với vật bố thí thì sinh tâm hối tiếc, đó là Tam luân tướng thô, chưa đạt được lí vạn pháp như huyễn. Còn người chấp thực ngã, thực pháp mà bố thí thì là Tam luân tướng tế. [X. kinh Đại bát nhã ba la mật Q.192]. (xt. Tam Luân Thể Không).

Tam luận

三論; C: sānlùn; J: sanron;|Ba bộ luận. Chỉ ba bộ luận quan trọng, được xem là cơ sở của một tông phái Phật giáo Trung Quốc có cùng tên: Tam luận tông (三論宗). Ba bộ luận này là 1. Trung quán luận (中觀論), 2. Thập nhị môn luận (十二門論) với tác giả là Long Thụ (龍樹) và 3. Bách luận (百論) của Thánh Thiên (聖天). Cả ba bộ luận này được Cưu-ma-la-thập (鳩摩羅什; s: kumārajīva) dịch sang Hán văn. Tông Tam luận góp phần quan trọng trong lĩnh vực luận lí Tính không. Trung quán luận dạy Tám phủ định (Bát bất 八不): Bất sinh bất diệt, bất thường bất đoạn, bất nhất bất nhị, bất lai bất xuất (不生不滅,不常不斷,不一不異,不來不出). Tám phủ định này được dùng để đả phá tất cả những khái niệm, tất cả những quan điểm về Hữu, Vô, và như vậy thì ý nghĩa của »Trung đạo« nằm ở chỗ: Tất cả các pháp đều được xem là tồn tại, nhưng lại không mang một bản chất, một tự ngã nào. Thập nhị môn luận giảng giải Tính không của tất cả các pháp trong mười hai chương, và Bách luận giảng giải Tính không để đả phá luận cứ của những triết gia ngoại đạo.|Cưu-ma-la-thập truyền ba bộ luận này đến ba đại đệ tử của mình là Đạo Sinh (道生), Tăng Triệu (僧肇) và Tăng Lãng (僧朗). Tăng Lãng là người nhấn mạnh sự khác biệt của tông Tam luận và tông Thành Thật và vì vậy, có thể được xem là người sáng lập tông môn Tam luận đích thật. Trong thế kỉ thứ 6, những đại biểu quan trọng nhất là Pháp Lãng (法朗), Cát Tạng (吉藏) và lúc này cũng là thời hoàng kim của giáo lí Tam luận. Trong thế kỉ thứ 7, giáo lí Tam luận được truyền sang Hàn Quốc bởi Huệ Quán (慧觀), một đệ tử của Cát Tạng. Sau khi tông Pháp Tướng xuất hiện, tông Tam luận ngày càng rơi vào quên lãng.

tam luận

(三論) Chỉ cho luận Trung quán 4 quyển, luận Thập nhị môn 1 quyển của ngài Long thụ và Bách luận 2 quyển của ngài Đề bà. Ba bộ luận này đều là điển tịch trọng yếu của tông Tam luận và đều do ngài Cưu ma la thập dịch. 1. Luận Trung quán: Trung quán là quán chiếu sự thực; Luận là tận cùng lời nói. Vì nội tâm người tu hành bị dính mắc mê hoặc mà sinh ra tà kiến điên đảo, hoặc chấp thiên ngộ, phải dùng lí trung đạo để chiết phục, khiến họ lìa bỏ tướng 2 bên, cho nên gọi là Trung quán. 2. Bách luận: Sau Phật nhập diệt hơn 800 năm, ngoại đạo rối ren, dị đoan tranh nhau nổi dậy, tà biện bức ngặt, làm loạn chính đạo, cho nên ngài Đề bà làm ra luận này, nêu rõ tông nghĩa để chặn đứng tà bậy. Bộ luận này có 100 bài kệ, vì thế gọi là Bách luận. 3. Thập nhị môn luận: Môn là mở rộng thông thoáng, Luận là cùng nguồn hết lí. Bắt đầu bằng Quán nhân duyên môn và kết thúc với Sinh môn, tất cả gồm 12 môn, nên gọi là Thập nhị môn luận. Về lí do tại sao gọi chung là Tam Luận thì trong Tam luận huyền nghĩa có nêu ra 8 nghĩa để nói rõ như sau: 1. Mỗi luận đều có 3 nghĩa: Phá tà, hiển chính và ngôn giáo. 2. Ba luận hợp chung lại mới đủ 3 nghĩa: Như Trung luận nói rõ về lí được hiển bày, Bách luận phá dẹp tà chấp, còn Thập nhị môn luận là ngôn giáo. Vì 3 nghĩa này bổ xung cho nhau mà được thành tựu nên gọi là Tam luận. 3. Ba bộ gồm đủ ba phẩm thượng, trung, hạ: Tức Trung luận là quảng luận, Bách luận là thứ luận và Thập nhị môn luận là lược luận. 4. Tất cả kinh luận có 3 hình thức: Một là luận chỉ có kệ tụng(văn vần), hai là luận chỉ có trường hàng(văn xuôi), ba là luận vừa có kệ tụng vừa có trường hàng. Trong ba loại này thì Trung luận thuộc loại thứ nhất, Bách luận thuộc loại thứ hai và Thập nhị môn luận thuộc loại thứ ba. Ba luận này tuy mỗi luận đều khai diễn thuyết của riêng mình, nhưng lại cũng hoàn thành lẫn nhau. 5. Cùng là Đại thừa thông luận: Ba luận đều phá sự mê chấp của các bộ phái Tiểu thừa, thuyết minh cả Đại thừa giáo và Tiểu thừa giáo. 6. Ba luận đều hiển bày thực tướng bất nhị để giải thích rõ diệu lí Trung đạo. 7. Đều là trứ tác của Bồ tát. 8. Đều được soạn thuật vào thời đại tượng, mạt nhằm duy trì đại pháp và diễn giải nghĩa của các kinh. Tông Tứ luận (chi phái của tông Tam luận) thêm luận Đại trí độ vào ba luận nói trên hợp chung làm 4 luận và lấy đó làm yếu điểm y cứ. Có rất nhiều sách chú thích các luận trên đây, nhưng chỉ có bộ Tam luận sớ (16 quyển) của ngài Cát tạng là nổi tiếng hơn cả. [X. Tam luận huyền nghĩa]. (xt. Thập Nhị Môn Luận, Trung Luận, Tứ Luận Tông, Bách Luận).

Tam luận huyền nghĩa

三論玄義; C: sānlùn xuányì; J: sanron gen-gi;|»Ý nghĩa sâu sắc của Tam luận«, một tác phẩm của Cát Tạng (吉藏).

tam luận huyền nghĩa

(三論玄義) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Cát tạng soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung sách này trình bày 1 cách khái quát về đại nghĩa của ba bộ Trung luận, Bách luận và Thập nhị môn luận mà tông Tam luận y cứ, là sách cương yếu ngắn gọn, sáng sủa nhất của tông Tam luận, đồng thời, cũng là sách nhập môn để hiểu rõ tư tưởng Trung quán của ngài Long thụ. Sách này chia làm 2 môn: Thông tự đại qui và Biệt thích chúng phẩm. Môn Thông tự đại qui lại chia ra 2 chương Phá tà và Hiển chính. Trong chương Phá tà gồm có các mục: Tồi ngoại đạo, Chiết tì đàn, Bài Thành thực và Ha đại chấp, trong chương Hiển chính thì có các mục: Minh nhân chính và Hiển pháp chính. Môn Biệt thích chúng phẩm thì trước hết, nói rõ về lí do tạo luận, kế đến trình bày về những điểm chung và riêng giữa các bộ, đặt tên và ý chỉ qui kết của các luận, cuối cùng, y cứ vào Tam luận để phu diễn tông yếu. Toàn sách bài bác ngoại đạo, chê trách các mê chấp của Phật giáo Đại, Tiểu thừa mà nêu tỏ cái lí các pháp tính không và trung đạo phi hữu phi không của tông Tam luận. Ngoài ra, sách này còn liệt kê 8 điểm chung của Tam luận và đặc sắc riêng của mỗi luận, như Bách luận thì phá ngoại giáo là chính, Trung luận thì giảng Đại, Tiểu thừa, còn Thập nhị môn thì phá chỗ mêchấp của Đại thừa mà hiển bày chính giáo.[X. Phật điển sớ sao mục lục Q.thượng].

tam luận huyền sớ văn nghĩa yếu

(三論玄疏文義要) Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Trân hải, người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 70. Tác giả căn cứ vào hơn 30 loại trứ tác của ngài Cát tạng, trích lấy nghĩa cương yếu của tông Tam luận, thêm phần giải thích chung mà biên tập thành sách này. Toàn sách chia làm 13 chương: Đại ý, Tạo luận duyên khởi, Nhị đế nghĩa, Bát bất nghĩa, Nhị trí nghĩa, Bát thức nghĩa, Phật tính nghĩa, Nhị thừa nghĩa, Bồ tát địa vị nghĩa, Tam Phật nghĩa, Tịnh độ nghĩa, Niết bàn nghĩa và Tạp vấn đáp. Mỗi chương lại chia ra mười mấy điều mục nhỏ, trưng dẫn rất nhiều kinh luận sớ. Đây là tác phẩm quan trọng về tông Tam luận.

tam luận sự

Three topics of discussion—See Tam Pháp (xxxxxv).

Tam Luận Tông

(三論宗, Sanron-shū): tên gọi một trong 13 tông phái lớn của Phật Giáo Trung Quốc, học phái nghiên cứu dựa trên 3 bộ luận chính là Trung Luận (s: Mādhyamakakārikā, 中論) 4 quyển, Thập Nhị Môn Luận (s: Dvādaśa-dvāra-śāstra, 十二門論) 1 quyển của Long Thọ (s: Nāgārjuna, 龍樹, khoảng 150-250), vị khaitổ của Phật Giáo Trung Quán, và Bách Luận (百論) củaThánh Đề Bàhay Thánh Thiên (s: Āryadeva, 聖提婆 hay 聖天, khoảng 170-270), đệ tử của Long Thọ. Cả 3 bộ luận này đều do Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) dịch. Đây là học phái không những dựa trên kinh điển mà còn y cứ vào các luận thư, trong đó lấy cả Bát Nhã Kinh (般若經) làm gốc căn bản cho tư tưởng Không, vì thế nó còn được gọi là Trung Quán Tông (中觀宗), Không Tông (空宗), Vô Tướng Tông (無相宗), Vô Tướng Đại Thừa Tông (無相大乘宗), Vô Đắc Chánh Quán Tông (無得正觀宗). Ở Nhật Bản, tông này được Huệ Quán (慧觀) của vương triều Cao Lệ (高麗) Triều Tiên, đệ tử của Cát Tạng (吉藏), truyền vào năm 625, và được xem như là đệ nhất truyền của dòng Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji). Ngoài ra, sau này Trí Tạng (智藏) thuộc pháp hệ này có sang nhà Đường cầu pháp, sau khi trở về nước ông đã nỗ lực hoằng dương tông phong ở Pháp Long Tự (法隆寺, Hōryū-ji), và vị này được xem như là đệ nhị truyền. Về sau, đệ tử của Trí Tạng là Đạo Từ (道慈) cũng sang nhà Đường cầu pháp trong vòng 18 năm, và truyền thừa nên dòng Đại An Tự (大安寺, Daian-ji). Cứ như vậy tông này đã nghiễm nhiên trở thành 1 trong 6 tông lớn vùng Nam Đô và tiến hành giảng dạy nghiên cứu rất thịnh hành, nhưng sau đó thì lại suy vong.

Tam luận tông

三論宗; C: sānlùn-zōng; J: sanron-shū; K: samnon chong. |Tông phái Ðại thừa của Phật giáo Trung Quốc. Danh xưng này xuất phát từ ba bộ luận căn bản của tông này: Trung quán luận tụng (中觀論頌; s: madhyamaka-kārikā), Thập nhị môn luận (十二門論; s: dvā-daṣadvāra-śāstra hoặc dvādaśanikāya-śās-tra) của Long Thụ (龍樹; s: nāgārjuna) và Bách tuận (百論; s: śata-śāstra) của Thánh Thiên (聖天; s: āryadeva). Các bộ luận này được Cưu-ma-la-thập dịch và chú giải trong thế kỉ thứ 5. Cưu-ma-la-thập (鳩摩羅什; s: kumārajīva) truyền cho đệ tử là Ðạo Sinh (道生), Tăng Triệu (僧肇), Tăng Duệ (僧叡) và Ðạo Dung (道融). Các vị này vạch rõ sự khác nhau giữa tông phái mình với Thành thật tông và có thể xem là những người sáng lập Tam luận tông.|Trong thế kỉ thứ 6, Tam luận tông rất thịnh hành và những Cao tăng thời này là Pháp Lãng (法朗) và đệ tử là Cát Tạng (吉藏). Trong thế kỉ thứ 7, Tam luận tông được Cao tăng Huệ Quán (慧灌; ekwan), đệ tử của Cát Tạng truyền qua Nhật. Tam luận tông dần dần mất ảnh hưởng sau khi Pháp tướng tông ra đời.|Tam luận tông bắt nguồn từ Trung quán tông của Ấn Ðộ nhưng cũng có những nét đặc thù của Trung Quốc: Tam luận tông cho rằng đức Phật đã chỉ dạy hai phép tu: Thanh văn thừa và Bồ Tát thừa, và Tam luận tông thuộc về Bồ Tát thừa. Tông này cho rằng có ba thời giáo: kinh Hoa nghiêm là thời giáo thứ nhất. Kinh này chứa những lời khai thị cho Bồ Tát nhưng các đệ tử Phật thời đó chưa đủ sức lĩnh hội. Vì vậy thời giáo thứ 2, kéo dài giữa thời kinh Hoa nghiêm và kinh Diệu pháp liên hoa, trong đó mọi giáo pháp của Phật bao gồm cả Tiểu thừa lẫn Ðại thừa, có giá trị cho Thanh văn thừa, Ðộc giác thừa và Bồ Tát thừa. Thời kì thứ 3 là thời kì mà mọi đệ tử đã sẵn sàng để nghe kinh Diệu pháp liên hoa, đó là thời Phật thừa, chỉ một pháp duy nhất.|Tam luận tông Nhật Bản (j: sanron-shū) được đưa từ Trung Quốc qua năm 625 do Cao tăng Huệ Quán (慧灌; ekwan), người Triều Tiên truyền lại. Huệ Quán có hai đệ tử chính và Tam luận tông Nhật Bản cũng vì vậy mà có hai bộ phái (Thành thật tông). Tam luận tông không có mấy ảnh hưởng tại Nhật, mặc dù nhiều trường phái khác cũng tham khảo giáo pháp của tông này để hiểu thêm kinh điển Ðại thừa.|Tam luận tông tại Nhật có ảnh hưởng lớn lên hoàng thân Thánh Ðức (shotoku, 574-622), người đã thống nhất nước Nhật. Trong thiền viện của vị hoàng thân này thời đó có ba vị luận sư Triều Tiên của Tam luận tông giảng dạy. Trong »hiến pháp« của Nhật Bản mà Thánh Ðức soạn thảo, người ta thấy có vài yếu tố của Tam luận tông.

tam luận tông

(A) Cương yếu Tam Luận Tông—Preliminary of the Madhyamika School—Đây là tông phái chủ trương “Đại Thừa Phủ Định Luận.” Tiếng Phạn gọi là Madhyamika, chủ trương học thuyết Trung Đạo, Không Luận, hay Tương Đối Luận. Tam Luận Tông dựa vào ba bộ luận được Ngài Long Thọ và đệ tử của ngài là Đề Bà biên soạn. Ba bộ luận ấy là Trung Quán Luận, Thập Nhị Môn Luận, và Bách Luận (see Trung Quán Luận, Thập Nhị Môn Luận, and Bách Luận). Những cố gắng của Tam Luận Tông quy tụ vào sự bài bác tất cả các quan điểm tích cực và khẳng định của các tông không lấy phủ định biện chứng làm căn bản. Sự bài bác trước tiên nhắm thẳng vào những quan điểm sai lầm của Bà La Môn và tà giáo; kế đến nhắm vào những thiên kiến của phái Tiểu Thừa; và sau cùng nhắm vào những kiến giải độc đoán của đề ra bởi các tác giả của phái Đại Thừa không phải là Tam Luận. Lý tưởng của Tam Luận Tông hình như là tiêu diệt hý luận. Căn bản của mọi luận chứng của Tam Luận Tông là 'Tứ Cú.' (see Tứ Cú Tam Luận Tông (A))—Madhyamika school of Nagarjuna, or the Mahayanistic Negativism, called Madhyamika in Sanskrit. The doctrine of the Middle Path, or Sunyatavada, the “Theory of Negativity” or “Relativity.” The school was based on the three main sastras, Madhyamika-Sastra or Middle Path, Dvadasa-dvara-Sastra or the Twelve Gates, and the Sata-Sastra or the One Hundred Verse Treatise. The efforts of the Madhyamika School are centered on the refutation of all positive and affirmative views of other schools which have no foundation of dialectical negation. The refutation is directed first against the wrong views of Brahmanism and heretics, secondly against the one-sided views of Hinayana, and thirdly against the dogmatic views positively set forth by the Mahayanistic authors other than San-Lun School. The ideal of the Madhyamika School seems to have been eliminated the 'inexplicable in speech and unrealizable in thought.' The basis of all arguments is what we called the 'Four Points of Argumentation.” (B) Sơ Tổ Tam Luận Tông—The founder of the Madhyamika School: Long Thọ Bồ Tát—Nagarjuna Bodhisattva—See Long Thọ (2) in Vietnamese-English Section, and Nagarjuna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. (C) Lịch sử thành lập Tam Luận Tông ở Ấn Độ—History of the formation of the Madhyamika School in India—Theo Giáo Sư Stcherbatsky trong “Cương Yếu Triết Học Phật Giáo,” được soạn bởi Giáo Sư Takakusu, những giai đoạn phát triển của giáo lý Đại Thừa đặc biệt đề cập đến Trung Quán sau đây—According to Prof. Stcherbatsky in The Essentials of Buddhist Philosophy composed by Prof. Takakusu, the Mahayana philosophy has developed in the following periods with special reference to Madhyamika: 1) Thế kỷ thứ nhất sau Tây Lịch—First century A.D.: Sự hưng khởi của Đại Thừa A Lại Da Thức và Chân Như, cả hai đều do Ngài Mã Minh khởi xướng—The rise of Mahayana Alaya-vijnana or Store-Consciousness and Tathata or Thusness, both admitted by Asvaghosa. 2) Thế kỷ thứ hai sau Tây Lịch—Second century A.D.: Tánh Không Duyên Khởi Luận, do Long Thọ và Đề Bà thành lập—The theory of universal relativity or Sunyata, formulated by Nagarjuna and Aryadeva. 3) Thế kỷ thứ ba và thứ tư sau Tây Lịch—Third and fourth centuries A.D.: Một khoảng trống. Tuy nhiên, trong thời gian nầy có hai ngài Kiên Huệ và Di Lặc. Di Lặc là vị thầy trực tiếp hay gián tiếp của ngài Vô Trước, và tính cách lịch sử của ông thì không thể nghi ngờ gì được, mặc dù có những huyền thuyết nên một số học giả xem ông như là nhân vật tưởng tượng—A gap; however, during this time two great monks Saramati and Maiteya appeared. Maitreya is a direct or indirect teacher of Asanga and his historicity cannot be doubted, although, because of mysterious legends surrounding him, some scholars are inclined to regard him as an imaginary person. 4) Thế kỷ thứ năm—Fifth century: Lập trường duy tâm của Vô Trước và Thế Thân—The idealistic interpretation of Asanga and Vasubandhu. 5) Thế kỷ thứ sáu—Sixth century: Phân tranh giữa các phái duy tâm và tánh không—A split between the idealistic and relativistic schools. a) An Huệ và Trần Na là những đại biểu cho phái Duy Tâm: Sthiramati and Dignaga are representatives for the idealistic school. b) Phật Hộ và Thanh Biện là những đại biểu cho phái Tánh Không—Buddhapalita and Bhavaviveka are representatives for the relativistic school. 6) Thế kỷ thứ bảy—Seventh century: Hệ thống Trung Quán hoàn thành triệt để dưới sự xiển dương của Nguyệt Xứng—Final establishment of Madhyamika system in its extreme form by Candrakirti. (D) Lịch sử thành lập Tam Luận Tông ở Trung Quốc—History of the formation of the Madhyamika School in China: Lịch sử của Tam Luận Tông bắt đầu ở Trung Hoa với sự xuất hiện của Cưu Ma La Thập như sau—The history of the Madhyamika School begins in China with the advent of the famous Kumarajiva, and the transmission is said to have been as follows: 1) Thế kỷ thứ năm sau Tây Lịch—Fifth century A.D.: Trung Luận Quán của ngài Long Thọ được Cưu Ma La Thập phiên dịch và truyền cho các đồ đệ Đạo Sanh, Đàm Tế, và Tăng Lãng. Trong số đó Tăng Lãng là một truyền nhân xuất sắc, cuối cùng đã tách hẳn Tam Luận tông khỏi Thành Thật tông (Tiểu Thừa Không Luận tông). Tam Luận Tông Trung Quốc có nền tảng thực thụ là do công trình của Tăng Lãng—Nagarjuna's Madhyamika Sastra was translated and expounded by Kumarajiva and handed down to his pupil Tao-Sheng, T'an-Chi, and Seng-Lang. Seng-Land, a distinguished successor, finally separated the San-Lun School clearly from Satyasiddhi School, the Hinayanistic Nihilism. The Chinese San-Lun School owes its real foundation to Seng-Lang's work. 2) Thế kỷ thứ sáu sau Tây Lịch—Sixth century A.D.: Pháp Lãng là một đạo sư vĩ đại, có hai mươi lăm đệ tử dưới tay. Cát Tạng là một nhân vật lỗi lạc trong nhóm nầy. Thân phụ ông đã xuất gia và thường dẫn ông đi nghe ngài Chân Đế thuyết pháp. Rồi Cát Tạng xuất gia theo Pháp Lãng và được Pháp Lãng đặc biệt dạy dỗ. Khi được 19 tuổi đọc và trùng tuyên những bài giảng của Thầy không mảy may sai lạc, khiến thính chúng rất đỗi ngạc nhiên. Ông trụ tại chùa Gia Tường, do đó được gọi là Gia Tường Đại Sư—Fa-Lang was a great leader who had twenty-five pupils under him. Chi-Tsang was the outstanding member of this group. His father had entered the order and often took him to hear lectures by Paramartha, the then flourishing Indian teacher in China. Chi-Tsang himself joined the order under Fa-Lang and received a special training from him. When nineteen years of age, he lectured and recapitulated his teacher's lectures without any mistakes, to the great atonishment of the listeners. He lived in Chia-Hsiang monastery and is known by the name Chia-Hsiang Tashih, or the great master of Chia-Hsiang—See Cát Tạng Đại Sư. (E) Các bộ luận căn bản—Basic commentaries: 1) Trung Quán Luận: Trung Quán Luận được viết bởi Ngài Long Thọ. May mắn là bản Phạn ngữ vẫn còn tồn tại. Bản Hán văn do Cưu Ma La Thập dịch—Madhyamika Sastra written by Nagarjuna. Fortunately the Sanskrit text of it has been preserved. It was translated into Chinese by Kumarajiva—See Trung Quán Luận. 2) Thập Nhị Môn Luận: Thập Nhị Môn Luận cũng được viết bởi Ngài Long Thọ—The Twelve Gates, also written by Nagarjuna—See Thập Nhị Môn Luận. 3) Bách Luận: Bách Luận được viết bởi Đề Bà, đệ tử của Ngài Long Thọ—The One Hundred Verse Treatise, written by Aryadeva—See Bách Luận. 4) Đại Trí Độ Luận: Prajnaparamita sastra—See Đại Trí Độ Luận. (F) Lịch sử thành lập Tam Luận tông tại Nhật Bản—The history of the formation of the Madhyamika School in Japan: Ở Nhật Bản, Tam Luận tông không hề là một ngành học độc lập, nhưng học thuyết vẫn được tiếp nối học hỏi một cách nồng nhiệt đến cả ngày nay, vì nó thiết yếu cho người học Phật, là một khí giới sắc bén của luận chứng biện chứng, cũng như là căn bản lý thuyết làm nền tảng cho nhiều tông phái tích cực và hoạt động của Phật Giáo ngày nay—In Japan, the school was never an independent institution, but the study of its doctrine has been ardently continued even to the present time because it is indispensable for Buddhist students as one of the chief objects of Buddhist learning and a strong weapon of dialectic argument, as well as the theoretical basis underlying many of the more positive and active schools of Buddhism today. 1) Thế kỷ thứ bảy—Seventh century A.D.: Huệ Quán, người Cao Ly, đồ đệ của Cát Tạng, sang Nhật năm 625 và giảng giáo lý Tam Luận tại chùa Nguyên Hưng ở Nại Lương. Đây là sự truyền thừa Tam Luận tông đầu tiên tại Nhật Bản—Chi-Tsang's Korean pupil, Hui-Kuan from Kauli, a state in Korea, came to Japan in 625 and taught the Madhyamika doctrine at the monastery Gwangoji in Nara. This is the first transmission of Madhyamika to Japan. 2) Truyền thừa thứ hai do Trí tạng, một đồ đệ của Huệ Quán—The second transmission was by Chizo, a pupil of Hui-Kuan. 3) Truyền thừa thứ ba do Đạo Từ, đồ đệ của Nguyên Khang, tác giả bản Sớ Giải Tam Luận—The third transmission was by Doji, a pupil of Yuan-K'ang, the author of the commentary on the Three treatise. (G) Triết Lý Tam Luận Tông—Philosophy of the Madhyamika School: Triết lý Tam Luận Tông có ba phần—The teaching of the Madhyamika School has three aspects: 1) Phá tà hiển chánh: The refutation of erroneous views and elucidation of right views—See Phá Tà Hiển Chánh. 2) Phân biệt Chân Đế Tục Đế: The distinction between worldly truth and the higher truth—See Nhị Đế. 3) Bát Bất Trung Đạo: The Middle Path of the Eightfold Negation—See Bát Bất Trung Đạo. ; (三論宗) Cũng gọi Không tông, Vô tướng tông, Trung quán tông, Vô tướng đại thừa tông, Vô đắc chính quán tông, Gia tường tông, Đề bà tông, Bát nhã tông, Phá tướng tông. Tông phái lấy ba bộ Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận làm chỗ y cứ, tuyên dương các nghĩa Không, Vô tướng, Bát bất trung đạo... 1 trong 13 tông của Phật giáo Trung quốc, 1 trong 8 tông của Phật giáo Nhật bản. Tông này còn chú trọng xiển dương các pháp tính không, nên cũng gọi là Pháp tính tông.Hệ thống truyền thừa của tông Tam luận như sau: 1. Ấn độ. Theo Tam luận tổ sư truyện tập, đức Thích ca được tôn làm Tổ thứ nhất của tông này, các ngài Văn thù, Mã minh, Long thụ, Đề bà, La hầu la theo thứ tự là Tổ thứ hai đến Tổ thứ sáu. Tam luận tông huyết mạch và Bát tông cương yếu thì tôn ngài Văn thù là Cao tổ, ngài Mã minh là Tổ thứ hai, ngài Long thụ là Tổ thứ ba. Trong đó, ngài Long thụ ra đời vào đầu thế kỉ III tại Nam Ấn độ, soạn Trung luận tụng, Thập nhị môn luận, khởi xướng yếu chỉ Trung đạo chính quán vô y vô đắc mà đặt nền móng cho tông này. Ngài Đề bà là người Nam Ấn độ, nhận pháp nơi ngài Long thụ, từng luận phá ngoại đạo, Tiểu thừa, ngài La hầu la lễ tán Bát nhã không quán, Phạm chí Thanh mục soạn văn xuôi giải thích Trung luận tụng; ngoài ra, ngài Thế thân chú thích Bách luận của ngài Đề bà, ngài Phật hộ chú thích Trung luận, ngài Vô trước soạn luận Thuận trung, ngài An tuệ soạn Đại thừa trung quán thích luận, ngài Thanh biện soạn Bát nhã đăng luận thích, Đại thừa chưởng trân luận, ngài Hộ pháp soạn Quảng bách luận, ngài Nguyệt xứng soạn Trung luận sớ, Bách luận sớ. Ấn độ có hơn 70 nhà chú thích bộ Trung luận, căn cứ vào đó ta có thể biết sự lưu hành bộ luận này vào thời ấy hưng thịnh như thế nào.2. Trung Quốc. Tông Tam luận được truyền vào Trung quốc có 2 phái: Phái do ngài Cưu ma la thập truyền vào thời đại Diêu tần gọi là Cổ tam luận; còn hệ thống của 2 luận sư Thanh biện và Trí quang do Tam tạng Nhật chiếu truyền đến Trung quốc vào khoảng năm Nghi phụng (676-678) đời vua Cao tông nhà Đường thì gọi là Tân tam luận. Trong đó, ngài Cưu ma la thập dịch kinh Đại phẩm bát nhã 30 quyển, luận Đại trí độ 100 quyển, Trung luận 4 quyển, Thập nhị môn luận 1 quyển, đồng thời, dịch truyện kí của ngài Long thụ và Đề bà... đã đặt vững chắc nền tảng của tông Tam luận Trung quốc. Học trò ngài La thập có tới 3 nghìn người, nhưng chỉ có 10 người giỏi, đó là các ngài: Tăng triệu, Đạo sinh, Tăng duệ, Đàm ảnh, Tuệ nghiêm, Tuệ quán, Tăng khế, Đạo hằng, Đạo tiêu, Đạo dung... Trong đó, ngài Tăng triệu soạn Triệu luận, ngài Đạo sinh soạn Nhị đế, ngài Đàm ảnh soạn Trung luận sớ, ngài Đạo dung soạn Tam luận chú... Các ngài Tuệ quán, Đạo sinh, Tăng duệ... hoằng pháp ở Giang nam, các ngài Tăng triệu, Đàm ảnh, Đạo dung... thì truyền giáo ở Quan trung, do đó mà hình thành 2 học phái của tông Tam luận ở 2 miền Nam Bắc. Về sau, có ngài Đàm tế xuất hiện, soạn luận Thất tông. Từ khoảng năm 401 đến 480, phái ở miền Bắc vì không có nhân tài nên dần dần sa sút, còn phái ở miền Nam cũng bị luận Thành thực lấn át nên không phát triển được. Vào thế kỉ thứ VI, có ngài Tăng lãng(cũng gọi Đạo lãng), người Cao li, đến Trung quốc thờ ngài Đàm tế làm thầy, được Lương vũ đế kính tin, nên có thế chấn hưng Tam luận. Nhưng ngài tu tập Chỉ quán ở núi, vả lại, sự nghiên cứu luận Thành thực lúc đó đang thịnh hành nên ít ai chú ý đến ngài. Sau ngài Tăng lãng, có ngài Tăng thuyên nối tiếp, muốn chấn hưng học phong Tam luận, nhưng vì bấy giờ pháp môn Duyên khởi luận của Địa luận, Nhiếp luận đang lưu hành, nên Tam luận do ngài Tăng thuyên đề xướng cũng chịu ảnh hưởng mà khác với Tam luận cũ của ngài La thập. Học trò của ngài Tăng thuyên có các vị Pháp lãng,Biện công, Tuệ dũng, Tuệ bá(được gọi là Từ triết), trong đó, đặc biệt ngài Pháp lãng vượt trội hơn cả, được Vũ đế nhà Trần triệu về trụ trì chùa Hưng hoàng tại kinh đô, mở trường giảng pháp, học chúng thường trên nghìn người, môn hạ có 25 vị, trong đó, Đại sư Gia tường Cát tạng là bậc kiệt xuất. Ngài Cát tạng soạn thuật mấy mươi bộ như: Đại phẩm kinh nghĩa sớ, Trung quán luận sớ, Bách luận sớ, Thập nhị môn luận sớ, Đại thừa huyền luận, Nhị đế nghĩa, Tam luận huyền nghĩa, Pháp hoa huyền luận, Pháp hoa nghĩa sớ... tập đại thành tông Tam luận, đưa tông này vào thời đại vàng son (581- 623). Sau ngài Cát tạng, tuy có các vị cao túc như Trí khải, Tri mệnh, Trí thực, Tịch sư, Tuệ viễn... kế thừa, nhưng vì không vị nào vượt trội, lại thiếu hành chứng thiết thực và bị tông Pháp tướng bài xích; rồi do ảnh hưởng của những nhân tố như trào lưu tư tưởng biến thiên, học giả thích đổi mới tư tưởng và Thiền tông bành trướng... nên từ giữa đời Đường về sau, tông này không còn được ai nhắc đến nữa. Học trò ngài Pháp lãng còn có Tuệ quân (soạn Tứ luận huyền nghĩa) và Thạc pháp sư (soạn Tam luận sớ, Tam luận du ý), không rõ hệ thống, cũng là các bậc thạc học về Tam luận 1 thời.3. Triều Tiên: Ngài Tăng lãng phục hưng tông Tam luận của Trung quốc vào thời Nam Bắc triều vốn là người ở thành Liêu đông, nước Cao li, trước khi đến Trung quốc, ngài đã có kiến thức về Tam luận. Ngoài ra, cáccao tăng từ Cao li, Bách tế đến Nhật bản triều cống vào thời các Thiên hoàng Khâm minh, Suy cổ đều là các học giả thông suốt Tam luận và Thành thực, trong đó, ngài Tuệ quán của Cao li là đệ tử của Đại sư Cát tạng, sau trở thành Thủy tổ của tông Tam luận Nhật bản. Do đó, có thể biết thời đại truyền nhập nghĩa Không luận (thuộc Cổ tam luận)vào Cao li, Bách tế là rất sớm. Sự nghiên cứu Tam luận ở Tân la thuộc Tân tam luận do ngài Nhật chiếu truyền, phát khởi cùng lúc với sự truyền bá tông Hoa nghiêm. Ngài Nguyên hiểu và Pháp tạng cùng thụ học Tân tam luận nơi ngài Nhật chiếu. Ngài Nguyên hiểu có soạn Chưởng trân luận tông yếu, Tam luận tông yếu... Lại theo Tam quốc di sự quyển 4 thì ngài Nghĩa tương từng nhận được các trứ tác của ngài Pháp tạng ở nơi ngài Thắng thuyên, trao cho các môn đệ, vì thế mà biết được là pháp nghĩa Tân tam luận cũng còn do ngài Nghĩa tương truyền nữa. Ngoài ra, những tác phẩm của các học giả Cổ tam luận ở đương thời cũng đã được truyền đến Tân la. 4. Nhật Bản. Ngài Tuệ quán, người Cao li, đệ tử của Đại sư Cát tạng, truyền tông Tam luận đến Nhật bản (625), về sau, pháp tôn của ngài Tuệ quán là Trí tạng lại đến Trung quốc vào đời Đường để học giáo nghĩa tông Tam luận. Sau khi về nước, sư Trí tạng truyền bá Tam luận, hình thành 2 dòng phái Nguyên hưng tự và Đại an tự. Điều đáng tiếc là sau khi truyền bá vào Nhật bản, vì phải cạnh tranh với Duy thức nên Tam luận đã mất đi cái bản chất của mình, như các sư Cần tháo, Huyền duệ, Long hải đã dùng Tam luận để phá Duy thức, đó chính là noi theo thuyết quyền thực của Thiên thai vậy. Giáo nghĩa chủ yếu của tông Tam luận gồm 3 khoa: Phá tà hiển chính, Chân tục nhị đế và Bát bất trung đạo. Trung luận, Bách luận và Thập nhị môn luận đều không ngoài2 mục đích phá tà và hiển chính. Theo Đại thừa huyền luận thì hữu đắc là tà, mà vô đắc là chính, phá tà là phá trừ cái kiến giải hữu sở đắc (có cái để được), còn hiển chính là nêu tỏ cái lí không vô sở đắc. Thông thường, phá tà hiển chính là chỉ cho phá bỏ tà kiến, hiển bày chính lí, nhưng tông Tam luận chủ trương ngoài phá tà không có hiển chính, bởi vì phá tà tức là hiển chính. Hiển chính là Trung đạo vô sở đắc, lìa tứ cú, dứt bách phi, lời mất, ý bặt. Vì muốn cho chúng sinh lãnh ngộ được cái lí thể vô sở đắc này mà trong chỗ vô danh tướng, cưỡng lập ra danh tướng, để nói Chân đế và Tục đế, 2 đế chính là ngôn giáo giải thích rõ lí vô sở đắc. Vì thế, Trung luận đặc biệt dùng Bát bất thuyết minh nghĩa của 2 đế. Bát bất là bất sinh, bất diệt, bất thường, bất đoạn, bất nhất, bất dị, bất xuất, bất lai. Cái gọi là tà tuy có nhiều thứ khác nhau, nhưng có thể tóm lại mà gọi chung bằng kiến giải nhất thiết hữu sở đắc(tất cả đều có chỗ được); nói cách khác, không ngoài 4 đôi 8 chấp: Sinh-diệt, thườngđoạn; nhất-dị, xuất-lai. Phá trừ 8 cái chấp tà mê này để hiển bày chính quán vô sở đắc, tức là Bát bất trung đạo. Tông này phá trừ tất cả kiến giải hữu sở đắc, lấy vô sở đắc làm tông chỉ, bởi thế, đối với giáo pháp 1 đời của đức Phật không lập quyền thực chân giả, hoặc chia sâu, cạn, hơn, kém. Tuy nhiên, để thích ứng với căn cơ của chúng sinh, vẫn lập giáo phán Nhị tạng và Tam luân. Nhị tạng chỉ cho tạng Thanh văn, tạng Bồ tát, Tam luân chỉ cho căn bản pháp luân (tức kinh Hoa nghiêm), Chi mạt pháp luân (tất cả các kinh Đại, Tiểu thừa sau Hoa nghiêm, trước Pháp hoa), Nhiếp mạt qui bản pháp luân(tức kinh Pháp hoa). [X. Tam luận huyền nghĩa; Pháp hoa huyền luận Q.1,3; Pháp hoa du ý Q.thượng; Trung quán luận sớ Q.1, phần đầu và phần cuối; Thập nhị môn luận tông trí nghĩa kí; Đại thừa tam luận đại nghĩa sao Q.1]. (xt. Nhị Đế, Tứ Luận Tông, Cát Tạng, Long Thụ).

tam luận tổ sư truyện tập

(三論祖師傳集) Tác phẩm, 3 quyển, thu chép truyện kí về các Tổ thuộc tông Tam luận của Ấn độ và Trung quốc. Quyển thượng: Gồm truyện Phật Thích ca và các chư Tổ Ấn độ như ngài Văn thù, Mã minh, Long thụ, La hầu la, Tu lợi da tô ma...Quyển trung: Nói về ngài Cưu ma la thập.Quyển hạ: Gồm truyện kí của các vị Tăng triệu, Đạo sinh, Đạo dung, Tăng duệ, Đàm ảnh, Tuệ nghiêm, Tuệ quán, Tăng khế, Đạo hằng, Đạo tiêu, Đàm tế, Đạo lãng, Tăng thuyên, Cát tạng...

tam lý tâm duyên quyết định

Theo Trí Giả và Thiên Như Đại Sư trong Tịnh Độ Thập Nghi Hoặc Vấn Luận, có ba lý do khiến vãng sanh Tịnh Độ không tùy thuộc vào ác nghiệp, hạnh tu và thời gian tu tập lâu mau—According to Masters Chih-I and T'ien-Ju in The Pure Land Buddhism, there are three reasons why rebirth in the Pure Land does not necessarily depend on the weight of bad karma, the amount of practice or the duration of cultivation. 1) Do bởi Tâm—Because of Mind: Là loài hữu tình khi tạo tội đều từ nơi vọng niệm điên đảo mà sanh, còn lúc niệm Phật lại từ nơi nghe danh hiệu công đức chân thật của Phật A Di Đà mà khởi; một bên hư một bên thật đâu thể sánh nhau! Ví như một gian thạch thất đóng kín để tối muôn năm, nếu được người mở ra cho ánh sáng mặt trời soi vào, sự tối ấy liền mất; đâu phải vì do tối tăm đã lâu mà không làm được sáng ư? Người tạo ra tội nhiều kiếp, khi lâm chung với tâm thành tựu mười niệm vãng sanh cũng lại như vậy—The transgressions committed by sentient beings spring from deluded, perverse thought. Recitation of the Buddha's name, on the other hand, arises from right thought, that is, hearing of Amitabha Buddha's name and true virtues. One is false and the other is true. There is no possible comparison between them! This is similar to a house which has been boarded up for ten thousand years. If the windows are suddenly opened to let the sunlight in, all darkness immediately dissipates. However, long the period of darkness may have been, how can it fail to disappear? It is likewise for sentient beings who have committed transgressions for many eons but achieve rebirth at the time of death through ten pure recitations. 2) Do bởi Duyên—Because of Conditions: Là loài hữu tình khi tạo tội đều từ nơi vọng niệm tối tăm điên đảo, duyên theo cảnh giới hư huyễn mà sanh; lúc niệm Phật từ nơi nghe danh hiệu công đức chân thật thanh tịnh của Phật A Di Đà duyên theo Bồ Đề tâm mà khởi. Như thế, một bên chân một bên ngụy, đâu thể sánh nhau! Ví như có người bị trúng tên độc, tên ghim sâu sức độc mạnh, xương thịt nhiễm trọng thương, nếu được nghe tiếng trống thần dược, thì tên tự bắn ra, độc tiêu tan hết; đâu phải vì do tên sâu độc nặng mà không được an lành ư? Người tạo tội nhiều kiếp, khi lâm chung có duyên thành tựu mười niệm mà được vãng sanh cũng lại như vậy—Transgressions grow out of dark, inverted thoughts, combined with illusory circumstances and environments. Buddha Recitation, on the contrary, arises from hearing of Amitabha Buddha's name and pure virtues, combined with the aspiration for enlightenment. One is false and the other is true. There is no possible comparison between them! This is analogous to a person struck by a poisoned arrow. The arrow has penetrated deep inside his body and the poison is strong, deeply wounding his flesh and bones. Still, if at that moment he hears the 'celestial drum,' the arrow will shoot out of his flesh by itself and the poison will be neutralized. The arrow has not penetrate so deep nor is the poison so strong that he cannot recover! It is likewise for sentient beings who have committed transgressions for many eons but achieve rebirth at the time of death through ten pure recitations. 3) Do Bởi Quyết Định—Because of Certainty of Salvation: Là loài hữu tình khi tạo tội đều từ nơi gián tâm hoặc hậu tâm; lúc lâm chung niệm Phật lại không có hai tâm đó, mà từ nơi một niệm mãnh liệt trì danh rồi xả mạng, nên được siêu thoát. Ví như sợi dây cực to, cả ngàn người bứt không đứt, nếu có đứa bé cầm gươm Thái A mà chém, dây liền đứt đoạn. Lại như đống củi rất lớn chứa góp từ cả ngàn năm, nếu có người dùng một đốm lửa mà đốt, củi liền cháy hết. Và như có người trong đời tu mười nghiệp lành, ưng được sanh về cõi trời, nhưng khi lâm chung kẻ ấy khởi một niệm tà kiến mạnh mẽ, liền bị đọa vào A Tỳ địa ngục. Nghiệp ác vẫn hư vọng, mà do bởi tâm niệm quyết liệt, còn có thể lấn lướt nghiệp lành một đời, khiến cho chúng sanh bị đọa vào ác đạo; huống chi sự niệm Phật là nghiệp lành chân thật, có người khi lâm chung, dùng tâm mãnh liệt trì danh, lại không thể lấn áp ác nghiệp từ vô thỉ ư? Cho nên người tạo tội nhiều kiếp, khi lâm chung tâm mãnh liệt thành tựu mười niệm mà không được vãng sanh, quyết không có lý do đó!—When sentient beings committed transgressions, they do so either from the 'intervening mental state' or the 'post mental state.' These two mental states do not apply, however, at the time of death: there is only one extremely powerful, utterly intense thought of recitation, letting go of everything before dying. Therefore, rebirth is achieved. This is analogous to a very large, strong cable which even thousands of people cannot break. Yet, a child wielding a 'celestial sword' can cut it in a several pieces without difficulty. It is also similar to a huge pile of wood, accumulated for thousands of years, which, when set on fire by a small flame, is completely consumed within a short time. The same is true of someone who has practiced the Ten Virtues throughout his life, seeking rebirth in the Heavens. If, at the time of death, he develops an intense perverse thought, he will immediately descend, instead, into the Avici or Never-Ending Hell. Although bad karma is intrinsically false and illusory, the overpowering strength of Mind and thought can still upset a lifetime of good karma and cause the individual to descend onto the evil paths. How, then, can Buddha Recitation, which is true, wholesome karma, generated intensely at the time of death, fail to upset his bad karma, even though that karma may have been accumulated from time immemorial? Therefore, someone who has committed transgressions for many eons, but, at the time of death accomplishes ten recitations with a totally earnest Mind, will certainly be reborn in the Pure Land. Not to achieve rebirth under such circumstances would indeed be inconceivable!

Tam lượng

三量; C: sānliáng; J: sanryō;|Ba cách suy lượng theo cựu phái của Nhân minh học: 1. Hiện lượng (現量; s: prayakṣa), thấy rõ trực tiếp bằng cặp mắt; 2. Tỉ lượng (比量; s: anumāna), biết bằng suy ngẫm; 3. Thánh giáo lượng (聖教量), biết được qua giáo lí của những bậc thánh hiền.

tam lượng

Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu và Liên Tông Thập Tam Tổ, kinh điển dạy rằng người niệm Phật nên y theo ba lượng để củng cố lòng tin—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism in Theory and Practice and The Thirteen Patriarchs of Pure Land Buddhism, the Buddhist sutras and commentaries, the Pure Land practitioner should follow three guidelines to consolidate his faith. 1) Lý Trí Lượng: The Guideline of Reason—Lý trí lượng là sự suy lường tìm hiểu của lý trí, chẳng hạn như suy nghĩ, 'các thế giới đều do tâm tạo, đã có cõi người thuộc phân nửa thiện ác, tất có tam đồ thuộc nhiều nghiệp dữ, và các cõi trời thuộc nhiều nghiệp lành. Như thế tất cũng có cõi Cực Lạc do nguyện lực thuần thiện của Phật, và công đức lành của chư Bồ Tát cùng những bậc thượng thiện nhơn—This is the reasoning and understanding of human logic. For example, we may reflect, 'all realms are created from the mind. If there is a world such as ours, where god karma and bad karma are about equal, there must exist other worlds such as the three Evil Paths, with a preponderance of evil karma, as well as celestial realms, where good karma prevails. It therefore stands to reason that the Western Pure Land exists as a result of the pure, good Vows of Amitabha Buddha as well as the virtues of the Bodhisattvas and other morally superior beings. 2) Thánh Ngôn Lượng: The Guideline of the Teachings of the Sages—Thánh ngôn lượng là giá trị lời nói của chư Phật và chư Bồ Tát trong các kinh điển. Đức Thế Tôn đã dùng tịnh nhãn thấy rõ y báo và chánh báo nơi cõi Cực Lạc, và diễn tả cảnh giới ấy trong các kinh Tịnh Độ. Các bậc đại Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền đều ngợi khen cõi Cực Lạc và khuyên nên cầu vãng sanh. Người Phật tử nếu không lấy lời của Phật, Bồ Tát làm mực thước, thử hỏi còn phải tin ai hơn?—These are the words of the Buddhas and Bodhisattvas in sutras and commentaries. Buddha Sakyamuni, with his pure vision, clearly saw the auspicious environment and superior beings of the Western Pure Land and described them in the Pure Land sutras. The great Bodhisattvas, such as Manjusri and Samantabhadra, all extolled the Land of Ultimate Bliss and enjoined sentient beings to seek rebirth there. If Buddhists are not guided by the words of Buddhas and Bodhisattvas, whom then should they believe? 3) Hiện Chứng Lượng: The Guideline of Actual Seeing and Understanding—Hiện chứng lượng là lối tìm hiểu do sự thấy biết hoặc chứng nghiệm hiện thực để khởi lòng tin. Trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục đã chứng minh rất nhiều vị niệm Phật được vãng sanh, và ở Việt Nam cũng có nhiều Phật tử tu Tịnh Độ được về Cực Lạc. Chẳng những thế mà hiện tiền khi tịnh niệm, các vị ấy cũng thấy cảnh Tịnh Độ hiện bày. Nếu không có cõi Cực Lạc, và không có Phật A Di Đà tiếp dẫn, thì làm sao những vị ấy thấy rõ và được kết quả vãng sanh?—This is a method of reasoning based on actual occurences, verifiable through our eyes and understanding. The commentary, Biographies of Pure Land Sages and Saints, has amply documented the stories of individuals who have achieved rebirth in the Land of Ultimate Bliss through Buddha Recitation. Moreover, those who have practiced Buddha Recitation with a pure mind have been known to witness scenes of the Pure Land during their current lifetimes. ; (三量) I. Tam Lượng. Lượng nghĩa là đo lường, tiêu chuẩn. Chỉ cho nguồn gốc tri thức, hình thức nhận thức và tiêu chuẩn để lượng định về sự chân ngụy của tri thức. Giữa các tông phái triết học ở Ấn độ từ xưa đã thịnh hành về việc tìm hiểu về nguồn gốc, hình thức cũng như sự chân ngụy của tri thức, do đó đã sinh ra nhiều thuyết về Lượng Luận trong đó phổ biến nhất là Tam lượng. Nhưng về nội dung và tên gọi của Tam lượng thì các tông phái đều nói khác nhau. 1. Tam lượng được tông Duy thức và luận Nhân minh ứng dụng là: a) Hiện lượng (Phạm: Pratyakwapramàịa), cũng gọi Chân hiện lượng: Khi tâm đối trước cảnh không có bất cứ sự phân biệt, tính toán nào, chỉ hoàn toàn do tự thể hiện phân minh, nhận biết rõ ràng, cũng tức là các giác quan trực tiếp nhận biết những hiện tượng bên ngoài; sự nhận biết này là nguồn gốc, là cơ bản nhất của tri thức. Như thấy khói chỉ biết đó là khói. b) Tỉ lượng (Phạm: Anumànapramàịa): Dựa vào đối cảnh đã biết mà so sánh(tỉ), tính lường(lượng) để biết 1 cách chính xác đối cảnh chưa hiện trước và chưa biết. Như thấy khói thì suy tính mà biết có lửa.c) Phi lượng: Từ gọi chung Tự hiện lượng và Tự tỉ lượng. Tức sự suy tính không chính xác, hoặc sự tình không thể lường biết được. 2. Tam lượng của luận Du già sư địa quyển 15 và luận Hiển dương thánh giáo quyển 11 lập: a) Hiện lượng:(giống như trên). b) Tỉ lượng:(giống như trên). c) Thánh giáo lượng(cũng gọi Chí giáo lượng, Chính giáo lượng): Ngôn giáo của bậc Nhất thiềt trí nói ra, hoặc nghe Ngài nói, hoặc tu theo giáo pháp của Ngài. Trong đó lại chia làm 3 trường hợp: -Bất vi Thánh ngôn: Phật tự nói kinh giáo, đắp đổi lưu truyền, không trái với chánh pháp, chính nghĩa. -Năng trị tạp nhiễm: Nếu khéo tu pháp này thì dứt khoát điều phục được phiền não tham si... -Bất vi pháp tướng: Đối với tất cả pháp lìa nói năng, không đặt ra lời nói. 3. Tam lượng do ngoại đạo Số luận thành lập: a) Chứng lượng: Chỉ cho tác dụng nhận biết hiển hiện khi 5 tri căn duyên với 5 trần cảnh. Tương đương với Hiện lượng nói trên. b) Tỉ lượng: Chia làm 3 loại: Hữu tiền, Hữu dư và Bình đẳng. Hữu tiền là tác dụng suy biết vị lai, Hữu dư là tác dụng suy biết quá khứ, Bình đẳng là tác dụng suy biết hiện tại. c) Thánh ngôn lượng: Tương đương với Thánh giáo lượng nói trên. Tuy chẳng phải do 5 giác quan cảm biết, cũng không do so sánh tính lường mà có, nhưng vì dốc lòng tin tưởng nơi bậc Thánh, nên cũng tin lời dạy của Ngài, là chính xác là chân lí. Như sự tồn tại của châu Bắc câu lô, chúng ta không thể cảm biết được, cũng không thể so sánh, suy lường mà biết được, nhưng vì tin lời bậc Thánh nói, nên chúng ta tin là có châu Bắc câu lô. [X. kinh Giải thâm mật Q.5, luận A tì đạt ma tạp tập Q.16, luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng, phần đầu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.1]. (xt. Tỉ Lượng; Chân Hiện Lượng, Lượng). II. Tam Lượng. Ba lượng của Thành duy thức quyển 2 thành lập: 1. Sở lượng: Chỉ cho đối tượng được suy tính, đo lường mà biết. 2. Năng lượng: Chỉ cho người tính toán, lường biết. 3. Lượng quả: Chỉ cho kết quả được lường biết. Chẳng hạn muốn lượng biết 1 tấm vải thì tấm vải là sở lượng, thước đo là nănglượng và độ dài của tấm vải là Lượng quả. Luận Thành duy thức lại căn cứ vào thuyết này mà chia tác dụng của tâm thức làm 4 phần, cho Tướng phần là Sở lượng, Kiến phần là Năng lượng và Tự chứng phần là Quả lượng. (xt. Tứ Phần).

tam lạc

Three joys: 1) Vui được sanh Thiên: The joy of being born a deva. 2) Vui trong thiền định: The joy of meditation. 3) Vui nhập Niết bàn: The joy of nirvana. ; (三樂) I. Tam Lạc. Chỉ cho Ngoại lạc, Nội lạc và Pháp lạc nói trong Vãng sinh luận chú quyển hạ. 1. Ngoại lạc: Niềm vui do 5 thức(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) duyên với 5 cảnh(sắc, thanh, hương, vị, xúc) sinh ra. 2. Nội lạc: Niềm vui do ý thức ở Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền sinh ra. 3. Pháp lạc lạc: Niềm vui do trí tuệ sinh ra, từ sự yêu kính công đức của Phật mà khởi, đồng thời cũng xa lìa 3 thứ tâm là Ngã tâm, Vô an chúng sinh tâm và Tự cúng dường tâm mà sinh ra. [X. luận Đại trí độ Q.3, 8]. II. Tam Lạc. Chỉ cho Thiên lạc, Thiền lạc, Niết bàn lạc nói trong kinh Đại bảo tích quyển101. 1. Thiên lạc: Người tu Thập thiện, sau khi mạng chung, được sinh lên cõi trời hưởng các thú vui thù thắng vi diệu. 2. Thiền lạc: Người tu hành vào các thiền định, một lòng thanh tịnh, mọi tư lự đều lặng bặt, được niềm vui thiền định tự nhiên. 3. Niết bàn lạc: Dứt hết phiền não, chứng được Niết bàn, sinh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui. Đây là niềm vui cùng tột.

tam lạc xoa

(三落叉) Chỉ cho 3 ức, là số hạn thành tựu việc niệm tụng Đà la ni trong Mật giáo. Lạc xoa vốn là danh số của Ấn độ, 10 vạn là 1 lạc xoa, vì 10 vạn là 1 ức nên 3 lạc xoa dịch là 3 ức. Hoặc chỉ cho 3 thời sáng, trưa, chiều, và 3 mùa lạnh, nóng, mưa, đây đều là cách giải thích theo nghĩa nông cạn và sơ lược. Còn nếu giải thích theo nghĩa sâu xa và kín nhiệm thì Lạc xoa nghĩa là tứơng và kiến, 3 lạc xoa nghĩa là hành giả quán xét thực tướng của 3 bình đẳng: Tự bình đẳng, Ấn bình đẳng và Bản tôn bình đẳng, để đạt đến cảnh giới nhất thể viên dung vô ngại. Ngoài ra, 3 lạc xoa cũng có nghĩa là 3 nghiệp thân, khẩu, ý đều hiện 3 tướng lành: Hơi ấm(Tức tai), khói(Hàng phục) và ánh sáng(Tăng ích). [X. Đại nhật kinh sớ Q.17, 20; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao Q.10].

Tam lậu

三漏; C: sānlòu; J: sanro; S: traya-āsravāh.|Ba loại ô nhiễm, rỉ chảy: I. 1. Dục lậu (欲漏), sự ô nhiễm của tham dục; 2. Hữu lậu (有漏), ô nhiễm của sự tồn tại và 3. Vô minh lậu (無明漏), ô nhiễm của vô minh (theo Du-già luận 瑜伽論). II. Sự nhiễm ô của ba giới: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.

tam lậu

Three taints—See Tam Lậu Hoặc. ; (三漏) Cũng gọi Tam hữu lậu. Chỉ cho 3 thứ phiền não trói buộc hữu tình trong 3 cõi, khó thoát ra được. 1. Dục lậu (Phạm:Kàmàsrava), cũng gọi Dục hữu lậu: Trong 36 tùy miên phiền não căn bản trói buộc chúng sinh trong cõi Dục thì trừ 5 bộ vô minh ra, 31 thứ còn lại cộng thêm 10 triền thành 41 thứ Dục lậu. 2. Hữu lậu (Phạm:Bhavàsrava), cũng gọi Hữu hữu lậu: rong 31 tùy miên phiền não căn bản ràng buộc trong mỗi cõi sắc và Vô sắc, trừ 5 bộ Vô minh của mỗi cõi ra, còn lại 26 thứ, 2 cõi hợp thành 52 thứ Hữu lậu. Luận Nhập a tì đạt ma quyển thượng thì thêm Hôn trầm, Điệu cử thành 54 thứ. 3. Vô minh lậu (Phạm:Avidyàsrava): Năm bộ vô minh(tức phiền não Si)trong 3 cõi gọi là Vô minh lậu. Theo luận Đại tì bà sa quyển 47 thì Luận sư Thí dụ cho Vô minh, Hữu ái đều là cội rễ của Tiền tế duyên khởi và Hậu tế duyên khởi, nên chỉ lập thuyết Nhị lậu. Cùng luận này, quyển 48, thì cho rằng ngoài Tam lậu ra, các nhà Phân biệt luận lại thêm Kiến lậu mà lập thuyết Tứ lậu. [X. kinh Trường a hàm Q.2; kinh Đại bát niết bàn Q.22 (bản Bắc), luận Tập dị môn túc Q.4; luận Phẩm loại túc Q.5; luận Thuận chính lí Q.53].

tam lậu hoặc

Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có ba lậu hoặc—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are three affluences or taints that feed the stream of mortality or transmigration: 1) Dục Lậu Hoặc: Tất cả phiền não trong dục giới, ngoại trừ vô minh—Desire or the taint of sensuality. 2) Hữu Lậu Hoặc: Tất cả phiền não trong sắc giới và vô sắc giới ngoại trừ vô minh—Material or phenomenal existence—The taint of existence. 3) Vô Minh Lậu Hoặc: Vô minh trong tam giới—Ignorance of the way of escape—The taint of ignorance.

tam lễ

(三禮) Cũng gọi Tam bái. I. Tam Lễ. Gọi đủ: Tam bảo lễ. Cũng gọi Tam kính lễ. Chấp tay lễ bái Tam bảo Phật Pháp Tăng. Trong phẩm Tịnh hạnh kinh Hoa nghiêm quyển 6 (bản dịch cũ) và Vãng sinh tịnh độ sám nguyện nghi đều có chép văn xướng khi lễ bái Tam bảo. (xt. Tam Bảo Lễ). II. Tam Lễ. Gọi đủ: Tam qui lễ. Kính lễ khi qui y Tam bảo Phật Pháp Tăng. Theo Vãng sinh lễ tán kệ của ngài Thiện đạo thì khi qui y Tam bảo nên xướng rằng (Đại 47, 440): Qui y Phật được bồ đề, đạo tâm thường chẳng lui, nguyện cùng các chúng sinh, hồi hướng nguyện sinh về cõi Vô lượng thọ, Qui y pháp Tát bà nhã, được môn Đại tổng trì, nguyện cùng các chúng sinh, hồi hướng nguyện sinh về cõi Vô lượng thọ; Qui y tăng dứt tranh luận, cùng vào biển hòa hợp, nguyện cùng với chúng sinh, hồi hướng nguyện sinh về cõi Vô lượng thọ. (xt. Tam Qui Y). III. Tam Lễ. Gọi đủ: Tam tôn lễ. Tức kính lễ khi qui mệnh đức Phật A di đà, bồ tát Quán thế âm và bồ tát Đại thế chí.IV. Tam Lễ. Tam lễ của Mật giáo, tức hành giả Chân ngôn 3 lần lễ bái Bản tôn thánh chúng. Khi vị đạo sư lễ Tam lễ trước đàn tu pháp thì phần nhiều cầm lư hương có cán; hành giả sơ tâm thì cầm tràng hạt hoặc chắp tay kim cương, miệng tụng chân ngôn Phổ lễ để lễ. Chân ngôn là Án tát phạ đát tha nghiệt đa bả na mãn na nâm ca lô di. Còn khi cử hành nghi thức Quán đính, Truyền thụ... thì đệ tử lãnh thụ phải hướng vào vị Đại a xà lê mà lễ 3 lễ. V. Tam Lễ. Gọi đủ: Tam thân lễ. Tức kính lễ 3 thứ công đức của A di đà Như lai. Văn xướng khi lễ là: Nam mô Tây phương cực lạc thế giới, Bản nguyện thành tựu thân A di đà Phật. Nam mô Tây phương cực lạc thế giới, Quang minh nhiếp thủ thân A di đà Phật. Nam mô Tây phương cực lạc thế giới, Lai nghinh tiếp dẫn thân A di đà Phật. VI. Tam Lễ. Gọi đủ: Thích ca tam lễ. Tức kính lễ di thân xá lợi của đức Thích ca Như lai. Tịnh độ chư hồi hướng bảo giám quyển 2 có ghi văn lễ. VII. Tam Lễ. Gọi đủ: Tam xướng lễ. Ba lần xướng 6 chữ hồng danh của đức Phật A di đà khi lễ bái Ngài. VIII. Tam Lễ. Gọi đủ: Vô ngôn tam lễ. Tức im lặng không nói mà lễ Phật, Bồ tát và Sư trưởng 3 lễ. [X. điều Sư tư chi đạo trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.3]. IX. Tam Lễ. Ba kiểu lễ nói trong luận Đại trí độ quyển 10: Thượng lễ, trung lễ và hạ lễ. Thượng lễ là cúi đầu lễ, trung lễ là quì lễ, hạ lễ là chắp tay vái. X. Tam Lễ. Khi điêu khắc tượng Phật, mỗi nhát dao lễ bái 3 lần, gọi là Nhất đao tam lễ, lại khi viết chép văn kinh hoặc vẽ tranh tượng Phật, cũng có tác pháp Nhất bút tam lễ (đưa 1 nét bút lễ 3 lễ), Nhất tự tam lễ(viết 1 chữ lễ 3 lễ).

tam lục độc pháp

(三六獨法) Tam lục là 18 (3x6=18), Độc pháp chỉcho pháp riêng biệt. Tức là 18 pháp đặc biệt, chỉ riêng Phật mới có, gọi là Thập bát bất cộng pháp. Mười tám thứ công đức này, hàng Nhị thừa Thanh văn và Duyên giác không có được, nên gọi là Độc pháp, cũng gọi Bất cộng. Kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển thượng (Đại 24, 1010 hạ) nói: Tam lục bất cộng, tất cả công đức. [X. luận Tạp a tì đàm tâm Q.1]. (xt. Thập Bát Bất Cộng Pháp).

tam lực

Three powers: 1) Ngã công đức lực: Năng lực tu hành của tự thân hay tự duyên—Personal power. 2) Như lai gia trì lực: Sự gia trì của Đức Như Lai hay tha duyên—Tathagata power. 3) Pháp giới lực: Phật tính sẳn có trong tự tâm hay nội nhân—Power of Buddha-nature within. ; (三力) I. Tam Lực. Ba thứ lực dụng gia trì tương ứng giữa Phật và chúng sinh của Mật giáo. 1. Ngã công đức lực: Sức công đức thiện căn của hành giả tu diệu hạnh tam mật thân, khẩu, ý; là duyên tăng thượng của Liễu nhân Phật tính. 2. Như lai gia trì lực: Sức đại bi gia trì hộ niệm của Như lai; là duyên tăng thượng của Duyên nhân Phật tính. 3. Pháp giới lực: Chỉ cho sức pháp giới thanh tịnh của pháp tính tâm, Phật, chúng sinh là bình đẳng bất nhị, là thân nhân duyên của Chính nhân Phật tính. Ba thứ lực dụng này gia trì lẫn nhau, dung nhập vào nhau không ngăn ngại, mở ra tính Phật sẵn có của hành giả để thành Phật, vì thế gọi là Tam lực hòa hợp, Tam lực gia trì. Đại nhật kinh sớ quyển 11 (Đại 39, 696 hạ) nói: Nhờ sức công đức của hành giả, nhờ sức gia trì của Như lai, nhờ sức pháp giới bình đẳng hợp lại, nên thành tựu được sự nghiệp bất khả tư nghì. [X.kinh Tạp a hàm Q.26; kinh Đại nhật Q.3, 7; Đại nhật nghĩa thích Q.8]. II. Tam Lực. Ba năng lực thành tựu mọi hành pháp, đó là: 1. Pháp lực(cũng gọi kinh pháp lực): Tức năng lực của kinh Diệu pháp liên hoa. Kinh này nói về công đức tự lợi lợi tha của chư Phật trong 3 đời, 10 phương, là diệu pháp trọng yếu của 8 vạn pháp tạng, là hạnh nguyện tu hành của chư Phật quá khứ và chư Phật vị lai. Cho nên, nương vào 2 hạnh hữu tướng và vô tướng của Pháp hoa mà tu Tam muội thì thành tựu tất cả các hạnh. 2. Phật lực (cũng gọi Nguyện lực): Chỉ cho nguyện lực của Phật muốn làm cho người tu hành được giải thoát. Nguyện thứ 52 trong 500 đại nguyện của đức Thích tôn nói: Đối với các pháp vi diệu, nếu chúng sinh khởi 1 niệm tin tưởng và dốc lòng thụ trì thì Như lai và chư Phật 10 phương đều hiện thân, hoặc ẩn thân trước mặt người ấy, người ấy có nguyện điều gì thì chắc chắn được thành tựu, cho đến mau thành đạo Vô thượng. 3. Tín lực: Lòng tin được khởi dậy do tự lực của hành giả. Tức đối với Phật pháp sinh lòng tin tưởng không nghi ngại, đối với việc xuất li sinh tử, chứng đắc bồ đề không sinh tâm do dự. Nếu 3 năng lực này thầm hợp thì thành tựu diệu hạnh, gọi là Tam lực minh hợp. III. Tam Lực. Ba năng lực được lợi ích thấy Phật khi hành giả nhập vào định Tam muội: Uy thần lực,Tam muội lực vàBản công đức lực. Hai lực trước là Phật lực, lực thứ ba là thiện lực đời trước của chúng sinh. Có thuyết nói rằng lực trước thuộc về Phật lực, 2 lực còn lại là lực dụng của chúng sinh.Trong trường hợp nào cũng đều có ý là lực dụng của chúng sinh và lực dụng của Phật phải dựa vào nhau mới được lợi ích thấy Phật.[X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.2, phần 1]. (xt. Tam Niệm Nguyện Lực).

tam ma ba đa pháp

(三摩波多法) Tam ma ba đa, Phạm: Samàpta. Cũng gọi Tam pha đa, Tam ba đa. Hán dịch: Cứu cánh. Gọi đủ: Tam ma ba đa hộ ma pháp; Thành tựu hộ ma pháp. Cũng gọi Chung pháp. Pháp cầu nguyện cho được thành tựu viên mãn lúc kết thúc 1 pháp Hộ ma, 1 trong các pháp tu Hộ ma của Mật giáo. Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ nói về pháp này như sau (Đại 18, 920 thượng): Đặt vật thành tựu ờ trước đồ đựng váng sữa (tô), nếu là vật lớn thì đặt ở bên phải hay bên trái. Tự thân hành giả, đồ đựng váng sữa, vật thành tựu, lò đốt và Thánh chúng, cứ như thế theo thứ tự lần lượt an lập. Lấy cái môi nhỏ múc đầy váng sữa để trên vật thành tựu vàtụng chân ngôn đến chữ tát phạ thì đưa cái môi vào lửa theo với chữ ha, kéo dài tiếng ha để chờ khi cái môi đến trên vật thành tựu thì tiếng ha mới dứt, lần khác cũng như thế. Nếu gia trì trên người thì đặt cái môi lên đầu. Nếu dùng chân ngôn của Bản tôn mà không có chữ tát phạ ha thì nên thêm vào mà tụng. [X. phẩm Bổ khuyết thiểu pháp trong kinh Tô tất địa yết la Q.trung; kinh Bồ đề tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương Q.4; Kiến lập mạn đồ la hộ ma nghi quĩ].

tam ma bát để

(三摩鉢底) Phạm,Pàli:Samàpatti. Hán âm: Tam ma bạt đề, Tam ma nga. Hán dịch: Đẳng chí, Chính thụ, Chính định hiện tiền. Chỉ cho cảnh giới thiền định do xa lìa các phiền não hôn trầm, trạo cử... mà thân tâm hành giả đạt đến trạng thái bình đẳng, an hòa. Cứ theo luận Câu xá quyển 28 thì 4 Tĩnh lự và 4 định Vô sắc là 8 Đẳng chí căn bản, trong đó, 4 Tĩnh lự và 3 định Vô sắc sau, cả 7 loại đều có 3 thứ Vị đẳng chí, Tịnh đẳng chí và Vô lậu đẳng chí, còn Hữu đính địa thì chỉ có Vị đẳng chí và Tịnh đẳng chí mà thôi. Về sựsaikhác giữa Tam ma bát để và Tam ma địa (Đẳng trì) thì trong luận Đại tì bà sa quyển 162 có nêu ra mấy thuyết, trong đó, có thuyết cho rằng Đẳng trì lấy 1 vật làm thể, Đẳng chí lấy 5 uẩn làm thể. Có thuyết nói Đẳng trì là 1 sát na, Đẳng chí thì tương tục. Có thuyết cho rằng các Đẳng trì tức là Đẳng chí, còn Đẳng chí thì không phải Đẳng trì, như Vô tưởng đẳng chí, Diệt tận đẳng chí chẳng phải là Đẳng trì. Cũng có thuyết nói Đẳng trì chẳng phải là Đẳng chí, như Bất định tâm tương ứng đẳng trì chẳng phải là Đẳng chí. Theo Câu xá luận quang kí quyển 6 thì Tam ma địa thông cả định, tán và 3 tính thiện, ác, vô kí, chỉ có tâm bình đẳng, giữ tâm hướng tới cảnh, cho nên gọi là Đẳng trì. Còn Tam ma bát để thì thông cả định hữu tâm và định vô tâm, chỉ có ở định chứ không hiện diện ở tán. Ngoài ra cũng có thuyết cho rằng Tam ma bát để là tên khác của thiền định. Trong Nhiếp đại thừa luận thích quyển 11 (bản dịch đời Lương) có lược nêu 6 thể loại Tam ma bát để khác nhau là: Cảnh, chúng loại, đối trị, tùy dụng, tùy dẫn, do sự... [X. luận Du già sư địa Q.11; Thập địa kinh luận Q.5; luận Tạp a tì đàm tâm Q.7; luận Câu xá Q.5; Thành duy thức luận thuật kí Q.6, phần đầu; Du già luận lược toản Q.1,5]. (xt. Tam Muội).

tam ma da

(三摩耶) Phạm: Samaya. Cũng gọi Tam muội da, Sai ma dã, Sa ma da. Hán dịch: Thời, Chúng hội, Nhất trí, Qui tắc, Giáo lý. I. Tam Ma Da. Có hàm nghĩa là thời như ở đầu các kinh có câu Như thị ngã văn, nhất thời... (Phạm: Evaô maỳa Zrutam ekamsmin samaye), cũng tức là thời thành tựu trong Lục sự thành tựu. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 1 thì Ấn độ đời xưa dùng 2 từ để chỉ nghĩa thời: Một là Ca la (Phạm:Kàla); hai là Tam ma da. Trong đó, từ Ca la thường được ngoại đạo Ấn độ sử dụng; ngoại đạo này chấp thời gian là có thật, hơn nữa, chủ trương thời gian là nhân sinh ra muôn vật, nhưng Phật giáo thì cho đó là tà kiến, bởi vậy, trong kinh thường dùng từ Tam ma da chứ không dùng từ Ca la. Ngoài ra có thuyết cho rằng Ca la biểu thị thời trong trường thời, như 1 năm chia làm 3 phần bằng nhau; còn Tam ma da thì biểu thị tiểu thời trong thời, như 1 ngày chia làm 6 thời ngày đêm, trong 6 thời lại chia ra tiểu phần. [X. Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao Q.8; Đại nhật kinh sớ sao Q.2]. (xt. Nhất Thời). II. Tam Ma Da. Mật giáo cho Tam ma da là bản thệ (thệ nguyện ở nhân vị)của chư Phật hoặc chư tôn, có 4 nghĩa: Bình đẳng, bản thệ, trừ chướng và kinh giác. Đứng về phương diện bản chất mà nhận xét, thì Phật và chúng sinh hoàn toàn bình đẳng, không có sai khác(bình đẳng), vì thế, Phật phát thệ làm cho tất cả chúng sinh được khai ngộ thành Phật(bản thệ), còn chúng sinh thì nhờ sức gia trì của Phật, cho nên có thể diệt trừ phiền não(trừ chướng), tâm mê do đó cũng được thức tỉnh(kinh giác). Trong 4 nghĩa này, bình đẳng là trung tâm. Cho nên kinh Đại nhật quyển 6 nói cả 3(bản thệ, trừ chướng, kinh giác) đều bình đẳng nhất trí, tức hàm ý cả 3 đều là Tam muội, gọi là Tam tam muội da. Ở đây có 4 thứ: Nhất tâm tam tam muội da, Tam bảo tam tam muội da, Nhất thân tam tam muội da và Tam thừa tam tam muội da. Cứ theo kinh Đại nhật quyển 2 và Đại nhật kinh sớ quyển 9, tu theo pháp Tam muội(Tam ma da) của chư tôn thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới thì khế hợp với bản thệ và cùng với chư tôn trở thành nhất thể, vì chư tôn thuộc Thai tạng giới chia làm 3 bộ là Phật bộ, Liên hoa bộ và Kim cương bộ, pháp quán tưởng cũng có 3 thứ, gọi là Tam tam muội da. Ba thứ Tam muội da này cũng gọi là Phật bộ tam muội da, Liên hoa bộ tam muội da và Kim cương bộ tam muội da, hoặc gọi chung là Tam bộ tam muội da. Khi có nghĩa bình đẳng, bản thệ, thì giới của Phật giáo gọi là Tam muội da giới, Tam ma da giới, gọi tắt là Tam giới. Còn tác pháp của giới này gọi là Tam muội da giới nghi, Tam muội da giới tác pháp; đạo tràng của giới này gọi là Tam muội da giới tràng, Tam muội da giới đàn.Giới này lấy tâm Bồ đề thanh tịnh sẵn có của chúng sinh làm giới thể và lấy công đức pháp giới làm hành tướng. Giới này được truyền trao khi hành giả thụ pháp Quán đính. Mật giáo cho rằng sau khi thụ pháp mà không tu hành thì bản thệ của mình sẽ bị lui mất và phạm tội, gọi là tội Thoái tam muội da. Người hoài nghi và chê bai giáo thuyết (Mật tạng) của Mật giáo thì gọi là tội Phá tam muội da. Nếu chưa được chấp nhận cho học pháp mà tự trao truyền, nhận lãnh với nhau thì phạm tội, gọi là tội Việt tam muội da(tội vượt pháp). Ba thứ tội nêu trên hợp lại gọi chung là Tam chủng trọng tội. Những vật như khí trượng, ấn khế... tượng trưng bản thệ Phật, Bồ tát, chư tôn... gọi là Tam muội da hình, Tam ma da hình(gọi tắt là Tam hình), hoặc Ba la mật hình, Mạn đồ la vẽ hình Tam muội da để tượng trưng cho tôn hình, gọi là Tam muội da mạn đồ la, 1 trong 4 loại Mạn đồ la. Quá trình tu hành trong Mật giáo có 5 giai đoạn gọi là Ngũ chủng tam muội da, Ngũ chủng quán đính. Đó là: 1. Sơ kiến tam muội da: Giai vị chưa được trao cho chân ngôn và ấn khế, mới chỉ thấy được Mạn đồ la từ đàng xa phía ngoài đàn. 2. Nhập đổ tam muội da: Giai vị được phép vào phía trong đàn để cúng dường, lễ bái, rải hoa và được nghe danh hiệu của Bản tôn. Giai đoạn này được thụ chân ngôn và ấn khế. 3. Cụ đàn tam muội da: Giai vị tu nghiệp vi diệu sau khi đã được thấy Mạn đồ la và ấn khế. 4. Truyền giáo tam muội da: Giai vị tu hành các phép tắc, hiểu biết các việc tất yếu mà được làm thầy các người khác. 5. Bí mật tam muội da: Giai vị cuối cùng phát sinh trí tuệ bí mật. Năm thứ Tam muội da trên tương đương với Mạn đồ la cúng, Kết duyên quán đính, Thụ minh quán đính, Truyền pháp quán đính và Dĩ tâm quán đính của đời sau.[X. phẩm Nhập bí mật mạn đồ la pháp trong kinh Đại nhật Q.5; Lí thú thích Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.16].

tam ma da đạo

(三摩耶道) Từ gọi chungphápcủa Mật giáo. Tam mada nghĩa là bình đẳng, Mật giáo lấy pháp Tam mật bình đẳng làm nghĩa lí căn bản, vì thế gọi chung pháp của Mật giáo là Tam ma da đạo. (xt. Tam Ma Da).

tam ma hứ đa

(三摩呬多) Phạm,Pàli:Samàhita. Hán dịch: Đẳng dẫn, Thắng định. Chỉ cho thân tâm an hòa bình đẳng do định lực dẫn sinh. Phần vị định do gia hạnh trước dẫn phát, cũng gọi là Tam ma hi đa. Cứ theo Thành duy thức luận thuật kí quyển 6, phần đầu và Du già luận lược toản quyển 1 thì Tam ma hi đa chỉ có ở định chứ không có ở tán, nhưng thông cả hữu tâm, vô tâm và lấy công đức 5 uẩn hữu lậu, vô lậu làm thể tính. Lãnh vực của Đẳng dẫn bao gồm: Bốn tĩnh lự, 8 giải thoát, 3 đẳng trì và 5 hiện kiến tam ma bát để. Do đó mà biết rằng phạm vi của Đẳng dẫn (Tam ma hi đa) rộng hơn so với Đẳng chí (Tam ma bát để). Câu xá luận quang kí quyển 6 (Đại 41, 124 trung) nói: Tam ma hi đa, Hán dịch là Đẳng dẫn, thông cả định hữu tâm và vô tâm. Phần nhiều có trong định hữu tâm nhưng không có ở tán, nếu gọi định hữu tâm là Đẳng dẫn, thì tâm lìa hôn trầm, điệu cử, gọi là Đẳng, có năng lực dẫn khởi định này gọi là Dẫn, đây là theo gia hạnh mà đặt tên. Cũng giải thích là định lìa hôn trầm, điệu cử, gọi là Đẳng, thường dẫn khởi thân tâm bình đẳng, gọi là Dẫn. Nếu gọi định vô tâm là Đẳng dẫn thì lại có 2 cách giải thích, cứ theo như định hữu tâm mà giải thích, chỉ có khác chữ vô tâm. Căn cứ vào sự giải thích trên đây thì Đẳng dẫn có 3 nghĩa: 1. Xa lìa hôn trầm, điệu cử... 2. Thường dẫn khởi bình đẳng... 3. Dẫn phát ra phương tiện bình đẳng... [X. luận Du già sư địa Q.11; Du già luận kí Q.4, thượng; Huyền ứng âm nghĩa Q.21]. (xt. Tam Muội).

tam ma nhã

(三摩若) Dịch cũ: Tổng tướng. Dịch mới: Hữu. Chỉ cho Cú nghĩa (nguyên lí) thứ 4 trong 6 cú nghĩa do học phái Thắng luận lập ra. Bách luận sớ quyển thượng (Đại 42, 246 hạ) nói: Thứ tư là Tam ma nhã đế, Hán dịch là Tổng tướng đế, nghĩa là thu tóm muôn pháp thành một Đại hữu.

tam ma đát trá quốc

(三摩呾咤國) Tam ma đát tra, Phạm: Samataỉa. Tên một nước đời xưa ở miền Đông Ấn độ.Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 10 thì nước này chu vi hơn 2000 dặm, vùng gần bờ biển ẩm thấp, đô thành chu vi hơn 20 dặm, khí hậu ôn hòa, phong tục nhu thuận, tính người cứng cỏi, siêng năng hiếu học, tin cả tà lẫn chính, có hơn 2 nghìn vị tăng, đều tu học giáo pháp Thượng tọa bộ. Cách đô thành không xa, có ngôi tháp do vua A dục xây dựng. Về sau, khi ngài Nghĩa tịnh sang Tây trúc cầu pháp có đi qua nước này, quốc vương lúc ấy tên là Hạt la xã bạt tra, chư tăng trong nước đều tu học Đại thừa giáo. Nước này tương đương với vùng đất hiện nay cách Calcutta khoảng 99 km về phía đông bắc. [X. điều Tăng triết thiền sư trong Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.hạ; Ancient Geography of India by A. Cunmingham].

tam ma đề

Là thiền quán tùy duyên biến hiện, quán các pháp đều giả, như lúa mạ huyễn hóa mà dần dần tăng trưởng.

Tam Ma Địa

(s, p: samādhi, 三摩地): còn gọi là Tam Muội (三昧), Tam Ma Đề (三摩提), Tam Ma Đế (三摩帝), Tam Ma Để (三摩底), Tam Muội Địa (三昧地), v.v.; ý dịch là Đẳng Trì (等持), Chánh Định (正定), Chánh Ý (定意), Điều Trực Định (調直定), Chánh Tâm Hành Xứ (正心行處), Định (定); nghĩa là xa lìa hôn trầm, trạo cử, là tác dụng của tinh thần, tâm chuyên trú vào một cảnh, không tán loạn. Tam Ma Địa là một trong 75 pháp, hay 100 pháp. Như trong Phật Thuyết Pháp Thân Kinh (佛說法身經, Taishō Vol. 17, No. 766) có câu: “Hữu tam chủng Tam Ma Địa vị Không Vô Tướng Vô Nguyện, phục danh Tam Giải Thoát Môn (有三種三摩地謂空無相無願、復名三解脫門, có ba loại Tam Ma Địa là Không, Vô Tướng, Vô Nguyện; lại có tên là Ba Cửa Giải Thoát).” Hay trong Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經, Taishō Vol. 19, No. 945) quyển 6 có câu: “Bỉ Phật giáo ngã, tùng văn tư tu, nhập Tam Ma Địa (彼佛敎我、從聞思修、入三摩地, Phật kia dạy ta, từ lắng nghe, tư duy, tu tập, đi vào Tam Ma Địa [định]).”

tam ma địa

Tam Muội—Samadhi (skt)—Concentration—Contemplation on reality—Trạng thái tâm không loạn động, tập trung vào không định vì thế mà nội tâm đi vào trạng thái yên tĩnh hoàn toàn—A state of mind in which the mind is free from distraction (loạn động), is absorbed in intense, purposeless concentration, thereby entering a state of inner serenity—See Samatha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section and Samadhi in English-Vietnamese Section. ; (三摩地) Phạm,Pàli:Samàdhi. Cũng gọi Tam muội, Tam ma đề, Tam ma đế. Hán dịch: Đẳng chí, Chính định, Định ý, Điều trực định, Chính tâm hành xứ. Tâm chuyên chú vào 1 cảnh, xa lìa hôn trầm, trạo cử, 1 trong 75 pháp của Câu xá, 1 trong 100 pháp của Duy thức. Từ ngữ Tam ma địa có nhiều nghĩa, theo Thuyết nhất thiết hữu bộ thì Tam ma địa là 1 trong 10 Đại địa pháp, tương ứng với tất cả tâm, tâm sở pháp, thông cả định, tán, cũng thông cả 3 tính thiện, ác, vô kí, nhưng không có thể riêng biệt. Theo Kinh Lượng bộ, tâm ở 1 cảnh mà chuyển liên tục, gọi là Tam ma địa. Hành giả trụ trong Tam ma địa, lặng lẽ quán tưởng, trí tuệ sáng rỡ, chiếu soi, đoạn trừ tất cả phiền não mà chứng đắc chân lí. [X. luận Đại tì bà sa Q.104; phẩm Định tướng trong luận Thành thực Q.12; luận Thành duy thức Q.5; Đại thừa nghĩa chương Q.13]. (xt. Tam Muội).

tam ma địa bồ đề

Samadhi-bodhi (skt)—Trạng thái giác ngộ trong đó tâm hành giả thoát khỏi mọi loạn động, thoát mọi cấu chướng, tập trung vào “không định,” vì thế mà nội tâm đi vào một trạng thái yên tĩnh hoàn toàn—A state of enlightenment in which the mind is free from distraction, free from unclean hindrances, absorbed in intense, purposeless concentration, thereby entering a state of inner serenity. ** For more information, please see Samadhi in English-Vietnamese Section.

tam ma địa pháp

(三摩地法) Từ gọi chungphápcủa Mật giáo. Vì bản ý của Mật tông là tu Tam ma địa Tam mật bình đẳng, cho nên pháp của Mật giáo được gọi chung là Tam ma địa pháp. Pháp này cũng là pháp lắng tưởng 5 tướng thành thân, quán xét 3 mật sâu kín để thông suốt Tam ma địa bồ đề tâm. Vì thế, tâm bồ đề trong Mật giáo cũng được gọi là Tam ma địa bồ đề tâm. Theo luận Bồ đề tâm thì pháp Tam ma địa chỉ có trong nghĩa Tức thân thành Phật của pháp Chân ngôn, cho nên trong các giáo không nói đến pháp Tam ma địa này.

Tam minh

三明; C: sānmíng; J: sammyō; S: tisrovidyā;|I. Ba »Nhận thức«, »Hiểu biết«: 1. Nhận thức được nhân duyên, những nghiệp còn lại của những cuộc sống trước đây (để rồi qua đó đoạn diệt Thường kiến); 2. Nhận thức được những gì xảy ra trong tương lai (để rồi qua đó diệt trừ Đoạn kiến); 3. Một sự hiểu biết vô cấu (giúp diệt trừ những kiến hoặc trong thâm tâm). II. Ba trong sáu loại thần thông (Lục thần thông 六神通): 1. Thiên nhãn thông (天眼通; s: divyācakṣurjñānasākṣat-kriyāvidyā), có thể thấy được chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi; 2. Túc mệnh thông (宿命通; s: pūrvanivāsānusmṛtijñāna-sākṣatkriyāvidyā) hoặc Túc trú thông (宿住通), biết được những gì xảy ra trong những cuộc sống của chính mình trước đây, trong những kiếp trước đây cũng như cuộc sống của chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi (Lục đạo 六道, Lục thú 六趣); 3. Lậu tận thông (漏盡通; s: āśravakṣayajñānasākṣatkriyāvi-dyā), biết được là mình đã đoạn diệt tất cả những ô nhiễm, lậu hoặc, sẽ không phải tái sinh trong Tam giới.

tam minh

Three insights—Three kinds of clarity—Ba loại sáng suốt có thể đạt được bằng trì giới (theo Thanh Tịnh Đạo của Ngài Bhadantacariya Buddhaghosa)—Three kinds of knowledge which can be obtained by observing precepts (according to The Path of Purification by Bhadantacariya Buddhaghosa): 1) Túc mạng minh: Biết được các đời trước—Insight into the mortal conditions of self and others in previous life. 2) Thiên nhãn minh: Biết sự chết và tái sanh của các loài hữu tình—Supernatural insight into future mortal conditions (deaths and rebirths). 3) Lậu tận minh: Đoạn trừ tất cả các lậu hoặc (những dục vọng và quyến rủ)—Nirvana insight—Insight into present mortal sufferings so as to overcome all passions or temptations. ; (三明) Phạm:Tri-vidya. Pàli:Ti-vijjà. I. Tam Minh. Cũng gọi Tam đạt, Tam chứng pháp. Trí tuệ sáng tỏ, thông đạt vô ngại, trừ hết ngu muội, chứng được vị Vô học. Tam minh gồm có: 1. Túc mệnh trí chứng minh (Phạm: Pùrva-nivàsànusmfti-jĩàna-sàkwàtkriya-vidỳa); cũng gọi Túc trụ tùy niệm trí tác chứng minh, Túc trụ trí chứng minh, Túc trụ trí minh,Túc mệnh minh, Túc mệnh trí: Trí tuệ biết rõ tướng trạng của mình và chúng sinh từ một đời cho đến trăm nghìn vạn ức đời. 2. Sinh tử trí chứng minh (Phạm: Cyuty-upapattì-jĩàna-sàkwàt-kriyavidỳa), cũng gọi Sinh tử trí chứng minh, Thiên nhãn minh, Thiên nhãn trí: Trí tuệ biết rõ tướng trạng sống chết của chúng sinh lúc tử lúc sinh, sắc thiện sắc ác, hoặc do nhân duyên tà pháp thành tựu ác hạnh, khi mệnh chung sinh vào đường ác; hoặc do nhân duyên chính pháp thành tựu thiện hạnh, khi mệnh chung sinh vào đường thiện... 3. Lậu tận trí chứng minh (Phạm: Àsrava-kwaya-jĩàna-sàkwàt-kriyavidỳa), cũng gọi Lậu tận trí minh, Lậu tận minh, Lậu tận trí: Trí tuệ biết rõ như thực đã chứng được lí Tứ đế, giải thoát tâm hữu lậu, diệt trừ tất cả phiền não. Theo luận Đại tì bà sa quyển 102 thì Túc mệnh minh thấy được các việc quá khứ nên sinh tâm chán lìa, Thiên nhãn minh thì thấy được các việc vị lai mà sinh tâm chán lìa, còn Lậu tận minh thì đã chán lìa rồi bèn ưa thích Niết bàn. Ngoài ra, Túc mệnh minh có thể đoạn trừ thường kiến, Thiên nhãn minh thì dứt trừ được đoạn kiến; còn Lậu tận minh thì xa lìa cả hai bên thường, đoạn mà an trụ ở Trung đạo. Nếu phối với 6 thần thông thì Tam minh này theo thứ tự lấy thần thông thứ 5, thứ 2, thứ 6 trong 6 thần thông làm tự tính.[X. kinh Tạp a hàm Q.31; luận Đại trí độ Q.2; luận Tập dị môn túc Q.3,15; luận Tạp a tì đàm tâm Q.6; luận Câu xá Q.27]. (xt. Lục Thần Thông]. II. Tam Minh. Chỉ cho Bồ tát minh, Chư Phật minh và Vô minh minh. Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 18 (bản Bắc) thì Bồ tát minh tức Bát nhã ba la mật, Chư Phật minh tức Phật nhãn, Vô minh minh tức Tất cánh không. [X. Niết bàn kinh hội sớ Q.16; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.15].

tam minh trí

The three clear conceptions of all beings: 1) Vô thường: Anitya—All is impermanent. 2) Khổ: Duhkha—All is sorrowful. 3) Vô ngã: Anatman—All is devoid of a self.

tam miệu

Turn together or in one direction—Right and balanced. ** For more information, please see Đẳng Chánh Giác in Vietnamese-English Section, and Samyak-sambuddha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

tam miệu tam bồ đề

Samyak-sambodhi—Correct universal intelligence—Perfect knowledge or wisdom—See Tam Miệu.

tam miệu tam phật đà

Samyaksambuddha—One who has perfect universal knowledge or understanding. ; (三藐三佛陀) Phạm: Samyak-saôbuddha. Pàli: Sammà-sambuddha. Cũng gọi Tam miệu tam một đà, Tam da tam Phật, Tam da tam Phật đà. Hán dịch: Chính biến tri, Chính đẳng giác, Chính đẳng giác giả. Một trong mười danh hiệu của Như lai.Cứ theo luận Đại trí độ quyển 2, trong Tam miệu tam Phật đà thì Tam miệu nghĩa là Chính, Tam nghĩa là Biến, Phật nghĩa là Tri, cho nên Tam miệu tam Phật đà nghĩa là Chính biến tri nhất thiết pháp. Như lai có năng lực biết rõ lí Tứ đế, biết tướng của tất cả các pháp thực không hoại, không tăng, không giảm, lại biết danh hiệu của các thế giới trong mười phương và danh hiệu của chúng sinh trong 6 đường... vì thế Như lai được gọi là Tam miệu tamphật đà. [X. kinh Tọa thiền tam muội Q.thượng; kinh Đại bát niết bàn Q.18 (bản Bắc); Đại thừa nghĩa chương Q.20, phần cuối].

tam muội

Tự tánh như như bất động gọi là chánh định. Đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc đều trong định. Nếu tĩnh tọa mới nhập định, có xuất có nhập thì chẳng phải đại định. ; (三昧) I. Tam Muội. Phạm,Pàli:Samàdhi. Cũng gọi Tam ma địa, Tam ma đề, Tam ma đế. Hán dịch: Đẳng trì, Định, Chính định, Định ý, Điều trực định, Chính tâm hành xứ.Chỉ cho trạng thái thiền định, an trú tâm ở 1 chỗ, 1 cảnh. Trong kinh Phật, từ Samàdhi được dịch là Đẳng trì thời, đẳng là giữ cho tâm được bình đẳng an lành, không để cho lao xao, lay động; trì là chuyên tâm ở 1 cảnh, không tán loạn, gọi là Tâm nhất cảnh tính. Tông Câu xá coi Tam muội là 1 trong 10 Đại địa pháp, tông Duy thức thì cho là 1 trong 5 Biệt cảnh, cả 2 tông đều cho Tam muội thuộc 1 trong các tâm sở, nhưng kinh Lượng bộ và tông Thành thực đều cho tâm sở không có tính riêng biệt. Nói chung, việc tu hành cốt yếu là chuyên tâm chú ý ở 1 chỗ, không để tán loạn mà phải giữ cho tâm an tĩnh, trạng thái này gọi là Tam muội. Khi đạt đến trạng thái Tam muội thì liền phát khởi trí tuệ mà khai ngộ chân lí, vì thế khi dùng Tam muội này tu hành mà đạt được cảnh giới Phật thì gọi là Tam muội phát đắc hoặc phát định. Các nhà dịch cũ thường lầm 3 từ: Tam ma địa (Phạm: Samàdhi, Tam muội; Đẳng trì), Tam ma bát để (Phạm: Samàpatti, Đẳng chí, Chính thụ, Chính định, Hiện tiền) và Tam ma hi đa (Phạm: Samàhita, Đẳng dẫn, Thắng định) là giống nhau và đều dịch là Tam muội. Nhưng trên thực tế, Tam muội chỉ là Tam ma địa mà thôi.Hữu bộ cho rằng phàm là tác dụng tinh thần chung cho tất cả tâm (tức Đại địa pháp) thì đều có định, tán và 3 tính thiện, ác, vô kí, nhưng chỉ giới hạn ở tâm không tán loạn của tất cả định Hữu tâm (không có trong định Vô tâm) và có tác dụng tập trung trong 1 cảnh thì gọi là Tam ma địa. Ngược lại, Tam ma bát để và Tam ma hi đa thì thông cả Hữu tâm, Vô tâm, nhưng chỉ giới hạn ở định (bao gồm định Hữu tâm,định Vô tâm chứ không chung cho định, tán).Luận Câu xá quyển 28 cho rằng thiền định làm chỗ y chỉ có 4 loại khác nhau là 4 Tĩnh lự(Tứ thiền), 4 định Vô sắc, 8 Đẳng chí và 3 Đẳng trì. Bốn Tĩnh lự và 4 định Vô sắc lấy Thiện đẳng trì(Tam ma địa, Tam muội) làm thể. Đẳng chí(Tam ma bát để) căn bản của 4 Tĩnh lự và 4 định Vô sắc có 8 thứ, vì thế gọi là Bát đẳng chí; 3 Đảng trì có 3 loại là Hữu tầm hữu tứ, Vô tầm duy tứ và Vô tầm vô tứ. Ngoài ra, 3 Đẳng trì (Tam tam muội) cũng chỉ cho 3 lớp Đẳng trì(Tam trùng tam muội) là: Không, Vô tướng, Vô nguyện hoặc Không không, Vô tướng vô tướng, Vô nguyện vô nguyện. Trong 2 loại Tam muội thì loại thứ nhất tùy theo có Tầm và Tứ hay không mà được chia làm 3 thứ Tĩnh lự. 1. Sơ tĩnh lự(Sơ thiền)và Vị chí định (cũng gọi Hữu giác hữu quán tam muội): Tĩnh lự này thuộc về Tam ma địa hữu tầm hữu tứ. 2. Trung gian tĩnh lự(cũng gọi Vô giác hữu quán tam muội, Trung gian định): Tĩnh lự này thuộc Tam ma địa vô tầm duy từ. 3. Cận phần của Đệ nhị tĩnh lự (Đệ nhị thiền) trở lên(cũng gọi Vô giác vô quán tam muội): Cận phần này thuộc Tam ma địa vô tầm vô tứ. Còn loại thứ 2 thì chỉ cho Tam muội quán xét nhân và pháp đều không, gọi là Không tam muội. Tam muội lìa bỏ tướng sai biệt, gọi là Vô tướng tam muội. Tam muội lìa bỏ ý nghĩa mong cầu, gọi là Vô nguyện tam muội. Kế đến, trong 3 lớp tam muội còn có Không không tam muội, Vô tướng vô tướng tam muội và Vô nguyện vô nguyện tam muội. Cứ theo luận Thập trụ tì bà sa quyển 11, chỉ trừ Tứ thiền (4 Tĩnh lự)và Bát giải thoát, còn tất cả định đều là Tam muội. Lại cho rằng chỉ có 3 môn Giải thoát(Không tam muội, Vô tướng tam muội, Vô nguyện tam muội vô lậu) và 3 Tam muội Hữu tầm hữu tứ, Vô tầm duy tứ và Vô tầmvô tứ được gọi là Tam muội. Cũng luận đã dẫn còn chỉ ra rằng phạm vi của Định hẹp hơn phạm vi của Tam muội, theo đó thì Định mà chư Phật và Bồ tát chứng đắc có thể được xem là Tam muội. Đại thừa nghĩa chương quyển 13 có nêu các thuyết trong luận như Tạp a tì đàm tâm quyển 6, luận Thành thực quyển 12, Thập địa kinh luận quyển 5... rồi y cứ vào đó mà giải thích rõ sự khác nhau giữa: Thiền, Định, Tam muội, Chính thụ, Tam ma nga (Phạm, Pàli: Samàpatti: Đẳng chí), Giải thoát, Xa ma tha (Phạm: Samàtha, Pàli: Samatha: Chỉ)... Theo sự giải thích này thì Tam muội với nghĩa hẹp là chỉ cho 3 loại Tam muội Không, Vô tướng và Vô nguyện; còn Tam muội với nghĩa rộng thì chỉ cho 4 tâm Vô lượng và tất cả Định khác. Kinh A hàm cho rằng ngoài 4 thiền, 8 định ra, còn có 3 tam muội Không, Vô tướng, Vô nguyện(3 môn Giải thoát) và 3 tam muội Hữu tầm hữu tứ, Vô tầm duy tứ và Vô tầm vô tứ. Nhưng trong các kinh Đại thừa thì có từ vài trăm trở lên đến cả nghìn loại Tam muội. Về càc kinh Đại thừa có mang tên Tam muội thì gồm: Kinh Bát chu tam muội, kinh Thủ lăng nghiêm tam muội, kinh Tuệ ấn tam muội, kinh Tự thệ tam muội, kinh Phật ấn tam muội, kinh Pháp hoa tam muội, kinh Niệm Phật tam muội, kinh Nguyệt đăng tam muội, kinh Kim cương tam muội... Tiêu đề Tam muội trong các kinh trên được giải thích rất tỉ mỉ, rõ ràng. Trong đó, Bát chu tam muội còn được gọi Chư Phật hiện tiền tam muội, Phật lập tam muội. Ngoài ra, kinh Pháp hoa quyển 1 có nêu tên Vô lượng nghĩa xứ tam muội; kinh Hoa nghiêm quyển 6 và 44 (bản dịch cũ) thì có: Hoa nghiêm tam muội, Hải ấn tam muội, Sư tử phấn tấn tam muội... kinh Đại phẩm Bát nhã quyển 3, quyển 5 cũng có thuyết 108 tam muội, như Thủ lăng nghiêm (Kiện hành) tam muội, Bảo ấn tam muội, Sư tử du hí tam muội... Trong tông Thiên thai thì Ma ha chỉ quán quyển 2 thượng có nêu 4 loại Tam muội: Thường tọa, Thường hành, Bán hành bán tọa và Phi hành phi tọa. Đạo tràng để tu 4 loại Tam muội này gọi là Tứ tam muội viện. Ngoài ra, luận Thành thực quyển 12 có nêu 3 thứ Tam muội là Nhất phần tu tam muội(chỉ tu 1 phần định hay huệ), Cộng phần tu tam muội(gồm tu cảđịnh và tuệ hữu lậu) và Thánh chính tam muội(gồm tu cả định và tuệ vô lậu). Kinh Niết bàn quyển 13 (bản Nam) liệt kê tên 25 loại Tam muội mà Bồ tát tu để phá trừ 25 Hữu, 16 Tam muội trong kinh Pháp hoa quyển 7, tức là tên gọi khác của Pháp hoa tam muội. Tam muội từ thân phát ra lửa, gọi là Hỏa giới tam muội, Hỏa định tam muội, Hỏa quang tam muội, hàm ý là hỏa táng thi hài. Tam muội tối thắng thì gọi là Vương tam muội hoặc Tam muội vương tam muội. Trong Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập, ngài Pháp nhiên vị tăng người Nhật, gọi niệm Phật là Vương tam muội. Lại trong Tọa thiền dụng tâm kí, ngài Oánh sơn Thiệu cẩn, cũng gọi tọa thiền là Vương tam muội. Ngôi nhà để tu Tam muội, gọi là Tam muội đường. Nếu chia theo chủng loại Tam muội được tu thì có Pháp hoa tam muội đường, Thướng hành tam muội đường, Lí thú tam muội đường... [X. kinh Tạp a hàm Q.18; kinh Trường a hàm Q.9,10; kinh Đại bát niết bàn Q.25 (bản Bắc); kinh Đại phẩm Bát nhã Q.1,23; luận Đại trí độ Q.28; luận Du già sư địa Q.11; luận Tập dị môn túc Q.6; Phật địa kinh luận Q.1, luận Thành duy thức Q.8; Đại thừa nghĩa chương Q.13; Viên giác kinh lược sớ chú Q.thượng; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.4, thượng]. (xt. Bách Bát Tam Muội, Định). II. Tam Muội. Tại Nhật bản, nơi thiêu thi hài, nghĩa địa, cũng được gọi là Tam muội. Để cầu siêu cho người chết, phần nhiều nhà Pháp hoa tam muội được dựng bên cạnh mộ phần và thỉnh chư tăng tu tam muội Pháp hoa. Ngôi nhà Pháp hoa tam muội gọi tắt là Tam muội đường hoặc Tam muội.

tam muội (tam ma địa)

Chánh định—Samaya—Samadhi—Từ nầy có nhiều nghĩa khác nhau. Theo Phật giáo, Tam Muội có nghĩa là tâm định tĩnh, không bị quấy rối. Sự nối kết giữa người quán tưởng và đối tượng thiền. Trong nhà Thiền, Tam Muội chẳng những ám chỉ sự quân bình, tĩnh lặng hay nhất tâm bất loạn, mà nó còn ám chỉ trạng thái tập trung mãnh liệt nhưng không hề gắng sức, mà là sự thấm nhập trọn vẹn của tâm trong chính nó hay là sự trực quan cao rộng (nhập chánh định). Tam Muội và Bồ Đề đồng nhất với nhau theo cái nhìn của tâm Bồ Đề Giác Ngộ, tuy nhiên nhìn theo giai đoạn đang phát triển thì tam muội và ngộ khác nhau—This term has a variety of meanings. In Buddhism, it means the mind fixed and undisturbed—To assemble together—Putting together—Composing the mind, intent contemplation, perfect absorption, union of the meditator with the object of meditation. In Zen it implies not merely equilibrium, tranquility, and one-pointedness, but a state of intense yet effortless concentration, of complete absorption of the mind in itself, of heightened and expanded awareness. Samadhi and Bodhi are identical from the view of the enlightened Bodhi-mind. Seen from the developing stages leading to enlightenment-awakening; however, samadhi and enlightenment are different.

tam muội da

Samaya (skt)—Coming together—Meeting—Convention—Riddance of unclean hindrances (trừ cấu chướng).

tam muội da giới

Giới Tam Muội phải được nghiêm trì trước khi thọ giới đàn trong Mật Giáo—Samaya commandments to be strictly observed before full ordination in the esoteric sect. ; (三昧耶戒) Cũng gọi Tam ma da giới, Bí mật tam muội da giới, Phật tính tam muội da giới, Bí mật giới, Tam thế vô chướng ngại trí giới, Vô vi giới. Gọi tắt: Tam giới. Tức là giới Chân ngôn bí mật trụ nơi lí Tam tam bình đẳng, lấy tâm bồ đề thanh tịnh vốn có làm giới thể, lấy pháp giới vô lượng vạn đức làm hành tướng. Giới này có công năng thành tựu trí thanh tịnh của Như lai, chư Phật ba đời nhờ giới này mà chứng được Bồ đề, cho nên giới này còn gọi là Tam thế vô chướng ngại trí giới. Tướng giới của giới này là 4 trọng cấm: Không được bỏ chánh pháp, không được lìa bỏ tâm Bồ đề, không được sẻn tiếc tất cả pháp, không được làm điều gì bất lợi cho chúng sinh. Giới này là kim chỉ nam cho việc tu hành trong Mật giáo, hành giả chân ngôn đều phải thụ trì, trước khi vào đàn thực hành quán đính, phải thụ giới này trước rồi mới được vào. Tam muội da vốn đủ 4 nghĩa bình đẳng, bản thệ, trừ chướng và kinh giác, bởi vậy giới này cũng có 4 nghĩa. 1. Bình đẳng: Khi hành giả mới phát tâm, biết rõ lí Tam tam bình đẳng, an trụ nơi Phật địa tam muội đạo, thấy suốt tâm, Phật và chúng sinh không sai khác nhau. 2. Bản thệ: Lấy lí 3 bình đẳng làm duyên, phát khởi thệ nguyện rộng lớn, tu Đại bi, thực hành 4 vô lượng, 4 nhiếp pháp... làm lợi ích chúng sinh, không bao giờ dừng nghĩ. 3. Trừ chướng: Khi nhờ bản nguyện mà phát được giới thể Tam tam bình đẳng thì có năng lực trừ diệt các tội chướng nghiệp ác ở quá khứ, hiện tại và vị lai. 4. Kinh giác: Tự tỉnh thức và quán xét thân tâm, dứt bỏ tính buông thả, biếng nhác, tinh tiến tu hành, thành tựu giác ngộ, giải thoát. Tác pháp trao truyền giới này gọi là Tam muội da giới nghi, Tam muội da giới tác pháp; đạo tràng để truyền thụ thì gọi là Tam muội da giới tràng, Tam muội da giới đàn.[X. kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.9; kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.15; Đại nhật kinh sớ Q.9,11,16].

tam muội da hình

Một biểu tượng đặc biệt của Phật và Bồ Tát—The distinguishing symbol of a Buddha or Bodhisattva (The Lotus of Kuan Shi Yin). ; (三昧耶形) Cũng gọi Tam ma da hình. Gọi tắt: Tam hình. Chỉ cho các hình tướng như khí tượng, ấn khế... tiêu biểu cho bản thệ của các vị tôn.Cứ theo thuyết trong Lưỡng bộ mạn đồ la nghĩa kí quyển 5 thì Tam muội da hình cũng gọi Ba la mật hình, trụ trong hình Tam muội da của chư tôn tức là hình tướng nhập định, lặng lẽ an trụ trong bản thệ nguyện. Tam muội da có 4 nghĩa là bình đẳng, bản thệ, trừ chướng và kinh giác.1. Bình đẳng: Hình Tam muội da và ấn khế, khí trượng... tượng trưng cho nội chứng của Phật, cùng với nội đức, ngoại tướng đều bình đẳng không sai khác. 2. Bản thệ: Như tháp Ngũ luân của đức Đại nhật. 3. Trừ chướng: Dùng hình tướng này biểu thị cho chúng sinh xa lìa 3 chướng phiền não, nghiệp và khổ. 4. Kinh giác: Dùng hình Tam muội da này đánh thức giấc ngủ dài của chúng sinh, khiến họ phát tâm tu hành. Như thanh kiếm sắc mà bồ tát Văn thù cầm tượng trưng cho nguyện xưa dùng đại trí để dứt trừ phiền não, hoa sen của bồ tát Quán âm, tượng trưng cho bản thệ đại bi đồng thể, không có nhiễm trước; bánh xe báu mà bồ tát Chuyển pháp luân cầm tượng trưng cho bản thệ thuyết pháp phá chấp. Khi cầm các hình Tam muội da như dao, bánh xe báu, chày kim cương... thì Thiên ma Ba tuần không dám trái vượt, tự thân chư tôn cũng không thể trái vượt. Nếu chúng sinh thấy các hình Tam muội da này mà tin tưởng nơi bản thệ rồi như pháp tu hành thì sẽ toại nguyện và được phúc đức. [X. Kim cương giới thất tập Q.thượng; Lưỡng bộ mạn đồ la tùy văn kí Q.3].

tam muội da mạn đà la

Samaya-mandala (skt)—One of the four kinds of magic circles in which the saints are represented by the symbols of their powers.

tam muội da mạn đồ la

(三昧耶曼荼羅) Phạm: Samaya-maịđala. Cũng gọi Tam ma da mạn đồ la, Bình đẳng mạn đồ la, Tam muội da trí ấn. Gọi tắt: Tam mạn. Chỉ cho Mạn đồ la vẽ các khí trượng (như dao, kiếm, hoa sen...) mà các vị tôn cầm và ấn khế(thủ ấn)của các Ngài, 1 trong 4 loại Mạn đồ la của Mật giáo. Khi dùng 4 loại Mạn đồ la bao nhiếp vạn hữu trong toàn thể pháp giới thì Tam muội da mạn đồ la là chỗ nương của khí thế giới. Nếu phối hợp 4 loại Mạn đồ la với Tam bảo thì Tam muội da mạn đồ la tương đương với Tăng bảo; nếu phối hợp với Tam mật thì tương đương với Ý mật; nếu phối hợp với 4 loại pháp thân thì tương đương với Đẳng lưu pháp thân. [X. Lí thú thích Q.thượng; Tức thân thành Phật nghĩa]. (xt. Tứ Mạn Tướng Đại).

tam muội da thân

(三昧耶身) Chỉ cho thân Phật trong Mạn đồ la tam muội da, giống với hình Tam muội da. Các phù hiệu tượng trưng cho bản thệ, nội chứng... của chư tôn trong Mật giáo và tháp, bánh xe báu, hoa sen, quốc độ, khí thế giới... đều gọi là Tam muội da thân. Như lầu gác bảo vương tức là thân Tam muội da của Như lai; trong Hiển giáo, tứ đại được xem là phi tình nhưng trong Mật giáo thì chúng là thân Tam muội da của Như lai. (xt. Tam Muội Da Hình).

tam muội da trí

See Tam Muội Trí.

tam muội giới

1) Tam Muội Giới là một danh từ phổ thông trong Mật Giáo: Samaya world, a general name for esoteric sect. 2) Giới phải nghiêm giữ trước khi được thọ giới đàn Cụ Túc trong Mật Giáo: Samaya commandments (the rules to be strictly observed before full ordination in the esoteric sect.

tam muội hoả

(三昧火) Lửa Tam muội(Lửa định). Cứ theo Truyền pháp chính tông kí quyển 1, đức Thích ca tự biết mình sắp đến ngày nhập diệt, liền phó chúcpháp nhãn thanh tịnh và tấm áo Tăng già lê bằng kim lũ cho vị đệ tử hàng đầu là ngài Đại ca diếp, sau đó, đức Phật đi đến thành Câu thi na ca la, vào rừng cây Sa la song thụ, trải giường tòa, nằm nghiêng hông bên phải, trong lúc các vị tỉ khưu đệ tử đứng vây chung quanh, Phật an nhiên thị tịch. Ngài Đại ca diếp nghe tin vội đến thì thấy Tam muội chân hỏa trong kim quan cháy đỏ rực, ánh sáng xá lợi chiếu khắp đất trời.

tam muội hình

Tam muội thân, biểu tượng đặc sắc của Phật và Bồ Tát, dùng diễn tả nội tánh—The distinguishing symbol of a Buddha or a Bodhisattva which expresses his inner nature (the stupa as one of the symbol of Vairocana, the lotus for Kuan Shi Yin)—The embodiment of Samaya—Báo thân—Sambhogakaya.

tam muội hỏa

Fire of samadhi (the fire that consumed the body of the Buddha when he entered nirvana).

tam muội lạc

Samadhisukha (skt)—Hạnh phúc khởi sinh từ trạng thái tập trung của tâm. Những vị chưa có thể lên đến hàng Bồ Tát thì quá mê đắm vào hạnh phúc của Tam Muội và quên mất thế giới bên ngoài mà tại đấy có rất nhiều chúng sanh chưa giác ngộ đang mong chờ sự giải thoát. Loại người theo Phật giáo tự mãn nầy thường bị Đức Phật lên án nghiêm khắc—The bliss arising from a concentrated state of mind. Those who have not yet been able to rise to the rank of Bodhisattvahood are too deeply drunk with the beatitude of a samadhi, forgetful of the outside world where so many unenlightened ones are waiting for emancipation. This class of self-complacent Buddhists is severely indicted by the Buddha.

tam muội lạc chánh thọ ý sanh thân

Samadhi-sukha-samapatti-manomayakaya (skt)—Một trong ba loại thân do ý sanh—One of the three will-bodies.

tam muội ma

Một trong thập ma ẩn núp trong tâm làm chướng ngại tiến bộ trong thiền định, làm cản trở chân lý và phá nát trí tuệ—Samadhi mara, one of the ten maras who lurks in the heart and hinders progress in meditation, obstructs the truth and destroys wisdom.

tam muội môn

(三昧門) Chỉ cho cánh cửa Tam muội, từ đó có thể tiến vào vô lượng Tam muội của Phật. Tam muội của Phật có vô lượng, vô số, hàng Bồ tát không thể nào thâm nhập được hết các Tam muội này, hoặc có vị nghe việc ấy sinh tâm trở lui, vì thế đức Phật giảng nói về Tam muội môn, hễ vào được 1 môn thì thu tóm vô lượng Tam muội, hệt như nắm 1 góc tấm áo thì có thể giơ toàn thể tấm áo lên. [X. luận Đại trí độ Q.28].

tam muội mạn đà la

Samaya-mandala—Một trong bốn vòng ảo thuật trong đó Thánh chúng dùng để làm biểu tượng cho sức mạnh—One of the four kinds of magic circles in which the saints are represented by the symbols of their power.

tam muội nguyệt luân tướng

The candra-mandala—The moon-wheel or disc samadhi (Nagarjuna is said to have entered it).

tam muội pháp giới

Ba phương pháp thiền quán về sự liên hệ giữa lý và sự trong Kinh Hoa Nghiêm—Three meditations, on the relationship of the noumenal and phenomenal in the Flower Ornament Scripture (Kinh Hoa Nghiêm): 1) Lý pháp giới: The universe as law or mind that things or phenomena are of the same Buddha-nature, or the Absolute. 2) Lý Sự pháp giới: The Buddha-nature and the thing, or the Absolute and phenomena are not mutually exclusive. 3) Sự sự vô ngại pháp giới: Phenomena are not mutually exclusive, but in a common harmony as pasrts of the whole.

tam muội phát đắc

(三昧發得) Cũng gọi Phát định. Phát được Tam muội. Nghĩa là nhờ pháp chuyên niệm mà tâm trụ ở 1 cảnh, liền được thắng cảnh hiện tiền. Cũng tức là ban đầu nhờ gia hành tư duy, nên tư tưởng dần dần nhỏ nhiệm, cho đến giác và tưởng đều mất, đạt đến cảnh giới Tam muội chính thụ, cuối cùng thầm hợp với thắng cảnh sở quán, thấy biết được rõ ràng, gọi là Tam muội phát đắc. Trong số các vị Tổ sư của tông Tịnh độ thì các ngài Thiện đạo, Hoài cảm... từng đã phát đắc Tam muội, thấy được tướng thù thắng của cõi Tịnh độ. [X. luận Thích tịnh độ quần nghi Q.7; Quán niệm pháp môn; Vãng sinh thụy ứng san truyện; Quảng hoằng minh tập Q.30].

tam muội trí

Samaya-wisdom—Buddhas' or bodhisattvas' wisdom.

tam muội trường

(三昧場) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Cũng gọi Tam muội sở. Gọi tắt: Tam muội. Chỉ cho khu vực thiêu đốt và chôn cất người chết, ý nói là môi trường tiến vào Tam muội (vào an định). [X. Loại tụ danh vật khảo Q.322].

tam muội tương ưng

The symbols or offerings should tally with the object worshipped.

Tam muội Vô nguyện

xem ba pháp tam-muội.

tam muội vương

See Vương Tam Muội.

Tam Muội Vương Tam Muội

(三昧王三昧, Zammaiōzammai): quyển thứ 72 trong bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng (正法眼藏), là phần Thị Chúng (示眾) tại Cát Phong Tự (吉峰寺) vùng Việt Tiền (越前, Echizen), vào ngày 15 tháng 2 năm 1244. Đây là thiên dạy rõ rằng ngồi Thiền là vua của hết thảy các Tam Muội, hành Thiền là loại Tam Muội thâu nhiếp tất cả các Tam Muội khác.

tam muội vương tam muội

See Vương Tam Muội.

tam muội đường

(三昧堂) Cũng gọi Pháp hoa tam muội viện, Pháp hoa đường. Ngôi nhà được kiến trúc để giảng kinh Pháp hoa dài hạn của giới Phật giáo Nhật bản. Ngôi Tam muội đường đầu tiên là do ngài Tối trừng xây dựng ở Đông tháp thuộc núi Tỉ duệ, về sau, ở Tây tháp và Hoành xuyên cũng có các Tam muội đường được kiến tạo. Trong các chùa viện lớn thuộc tông Thiên thai đều có Tam muội đường. Đến đời sau, Tam muội đường không phải chỉ dành riêng cho việc giảng kinh Pháp hoa mà cũng là đạo tràng để giảng các kinh khác.

tam môn

(三門) I. Tam Môn. Cũng gọi Sơn môn. Cổng chính của các chùa Thiền tông. Tam môn nghĩa là 3 cửa giải thoát: Từ bi, Trí tuệ và Phương tiện, hoặc tượng trưng cho 3 môn Tín, Giải, Hành, chứ không hẳn là phải có 3 cánh cửa. Hoặc kiến trúc Tam môn đã được căn cứ vào đoạn văn sau đây trong luận Đại trí độ quyển 20 (Đại 25, 207 hạ): Ví như tòa Thành có 3 cửa, 1 thân người không thể cùng 1 lúc vào cả 3 cửa, mà chỉ có thể từ 1 cửa đi vào. Thực tướng các pháp là thành Niết bàn, thành có 3 cửa: Không, Vô tướng, Vô tác. [X. Phật địa kinh luận Q.1]. II. Tam Môn. Chỉ cho 3 loại pháp môn mà Bồ tát tu hành để hướng tới Bồ đề. Đó là: 1. Trí tuệ môn: Biết tiến, giữ thoái là trí, biết không, vô ngã là tuệ, y vào Trí nên không cầu sự an vui cho mình, y vào Tuệ nên xa lìa tham đắm. 2. Từ bi môn: Cứu khỏi khổ là Từ, ban cho vui là Bi; y vào Từ nên cứu tất cả chúng sinh thoát khỏi khổ não, y vào ¨ Bi nên mang lại an vui cho tất cả chúng sinh.3. Phương tiện môn: Ngay thẳng là Phương, ngoài mình là Tiện; y vào ngay thẳng nên sinh tâm thương xót tất cả chúng sinh, y vào ngoài mình nên xa lìa tâm mong cầu sự cung kính cúng dường đối với chính mình. Như trên, Trí tuệ môn thuộc tự lợi, Từ bi môn thuộc lợi tha, Phương tiện môn thì thuộc cả tự lợi và lợi tha. Tuy chia làm 3 môn nhưng thực ra chẳng phải là hai, vì Trí tức Bi, Bi tức Trí, thực hành cả Trí lẫn Bi để nhiếp hóa chúng sinh mà thành Phương tiện môn. [X. luận Tịnh độ; Vãng sanh luận chú Q.hạ]. III. Tam Môn. Gọi đủ: Tam giải thoát môn. Chỉ cho 3 pháp môn đạt đến sự giải thoát của Niết bàn vô dư, đó là: Không, Vô tướng và Vô nguyện. (xt. Tam Giải Thoát Môn).

tam môn tam đại thị giả

(三門三大侍者) Cũng gọi Sơn môn tam thị giả. Ba vị đại thị giả trong tùng lâm. 1. Thiêu hương thị giả: Chức vụ trông coi các việc thướng đường, tiểu tham, phổ thuyết, khai thất, niệm tụng, thiêu hương, hành lễ và kiêm cả việc ghi chép các pháp ngữ của vị Trụ trì. 2. Thư trạng thị giả: Chức vụ phụ trách việc thảo các thư từ qua lại để trình lên vị Trụ trì và tất cả các văn thư trong sơn môn. 3. Thỉnh khách thị giả: Chức vụ trông coi việc tiếp khách, khoản đãi các bậc tôn túc, tiết lạp, cụ trạng, hành lễ... [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.hạ; Thích thị yếu lãm Q.hạ; Thiền uyển thanh qui Q.thượng].

tam môn tịnh độ

Three Methods in the Pure Land Cultivation—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Tịnh Độ Thập Nghi Hoặc Vấn Luận, pháp môn không cao không thấp, cao thấp do căn tánh mà phân. Vì chúng sanh căn cơ sai biệt nhau, nên pháp tu cũng có nhiều cách. Tuy nhiên, căn bản có ba môn tu trong Tịnh Độ—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism, the Dharma methods are not, in themselves, high or low. It is only because the different natures and capacities of individuals that they have been categorized as such. Sentient beings are at different levels of spiritual development, and therefore, various methods are required. There are numerous methods; however, we can summarize in the three basic ones. (I) Đệ Nhất Môn là pháp môn Quán Tưởng—First Method, Visualization Method—Quán tưởng là như trong Quán Kinh dạy: “Chư Phật Như Lai là thân pháp giới, vào trong tâm tưởng của tất cả chúng sanh. Cho nên khi tâm các bạn tưởng Phật, thì tâm ấy chính là 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp tùy hình, tâm ấy là tâm Phật, tâm ấy chính là Phật. Biển chánh biến tri của Phật từ nơi tâm tưởng mà sanh. Vì thế các bạn phải nhớ nghĩ và quán tưởng kỹ thân Đức Phật kia.”—Visualization Method, is explained as follows in the Meditation Sutra: “Every Buddha, Tathagata, is One who is a Dharma realm Body and enters into the Mind of all beings. For this reason when you perceive the Buddha-state in your Minds, this indeed is the Mind which possesses the thirty-two signs of perfection and the eighty minor marks of excellence. It is the Mind that becomes Buddha; indeed, it is the Mind that is Buddha. The ocean of true and universal knowledge of all the Buddhas is born of Mind and thought. For this reason, you ought to apply your Mind with one thought to the meditation on that Buddha. 1) Thiên Thai sớ nói mấy chữ “Chư Phật Như Lai” sắp xuống, là thuyết minh tất cả chư Phật; lại nói mấy chữ “Phải nhớ nghĩ” sắp xuống, là chỉ cho quán tưởng riêng Đức Phật A Di Đà, pháp giới thân là pháp thân của Báo Phật. Tâm chúng sanh tịnh, pháp thân tự hiện, nên gọi là “vào;” như khi vầng hồng nhật mọc lên tất bóng hiện xuống trăm sông. Đây là chỉ cho Phật thân tự tại, có thể tùy vật hiện hình vậy. Lại “pháp giới thân” là chỉ cho thân Phật, khắp tất cả chỗ, lấy pháp giới làm thể. Khi hành giả chứng được môn Quán Phật Tam Muội nầy, giải nhập tương ưng, nên nói “vào trong tâm tưởng.” “Tâm nầy là Phật” là Phật nguyên vẫn không, nhân chúng sanh tâm tịnh mới có, sợ e người hiểu lầm cho rằng bỗng nhiên mà có, nên mới nói “là Phật.” Mới khởi tu quán nên nói “làm,” sự tu đã thành nên gọi “là.”—According to the T'ien-T'ai Treatise, the passage beginning from 'Every Buddha, Tathagata' refers to all Buddhas. The passge beginning with 'You ought to apply your Minds,' etc., refers specifically to meditation on Buddha Amitabha. The Dharma Realm Body is the Dharma Body of the Reward Buddha. If the Minds of sentient beings are pure, the Dharma Body reveals itself. Thus, the word 'enter' is used. This is similar to the brilliant sun; when it rises, its image appears in a multitude of rivers. This is to indicate that the Buddha Body is free and unimpeded and can manifest itself according to the object. Moreover, the 'Dharma Realm Body' refers to the Buddha Body, appearing everywhere, taking the Dharma Realm as its nature. When the practitioner achieves this Buddha Visualization Samadhi, his understanding and actions (noumenon and phenomenon) interpenetrate and become one. This is expressed in the words 'enters into the Minds of all beings.' “It is the Mind that becomes Buddha” means that the Buddha has always been inherently empty and void. Because the Minds of sentient beings are pure, Buddha exists. Indeed, it is the Mind that is Buddha. Since people might misunderstand what was said previously and think that the Buddha has spontaneously come into existence, the words 'is Buddha' are used. The word 'become' indicates the beginning of visualization, while the word 'is' means that visualization has been accomplished. 2) Diệu Tông Thích nói: “Muốn tưởng thân Phật phải hiểu rõ quán thể. Thể đó là bản giác; từ nơi đây mà khởi thành pháp quán. Bản giác là thân pháp giới của chư Phật, vì chư Phật không sở chứng chi khác, toàn chứng bản tánh của chúng sanh. Nếu thỉ giác có công, bản giác mới hiển, nên nói “pháp thân từ nơi tâm tưởng mà sanh.” Lại Đức Di Đà cùng tất cả chư Phật đồng như một pháp thân, một trí huệ, sự ứng dụng cũng như vậy. Hiển được thân Đức Di Đà tức là hiển được thân chư Phật, tỏ được thân chư Phật tức là lộ được thể Di Đà. Cho nên trong văn kinh nói rộng qua chư Phật để kết về sự quán tưởng Đức A Di Đà. Từ mấy chữ “thân pháp giới” trở xuống là nói về sự giao cảm của đạo cảm ứng và ước về lý giải nhập tương ưng—Another commentary states: “To visualize the Buddha's body, you should clearly understand the nature of visualization. That nature is self-enlightenment. Visualization methods are developed from there. Self-enlightenment is the Dharma Realm Body of the Buddhas because what the Buddhas have completely attained is nothing other than the Self-Nature of sentient beings. Only when the 'initial enlightenment' is meritorious does 'self-enlightenment' appear. This is the meaning of the words 'the Dharma Realm Body is born of Mind and thought.' Moreover, Amitabha Buddha and all Buddhas possess the same Dharma Body, the same wisdom and the same capacities and functions. When the body of Amitabha Buddha is manifested, the bodies of all Buddhas are manifested; when the bodies of the Buddhas are understood, the nature of Amitabha Buddha is revealed. Therefore, the Meditation Sutra refers broadly to all Buddhas in order to end in the visualization of Amitabha Buddha. “From the words 'Dharma Realm Body' on, the Sutra refers to the mutual response between the Buddhas and the practitioner and the ''nterpenetration' between understanding and action (theory and practice). Đại Sư Dung Tâm đã phê bình về hai lời giải trên như sau: “Nếu không có lời giải trước, thì môn quán tưởng ấy không phải là quán Phật; như không có lời giải sau, e hành giả hiểu lầm rằng thể của chúng sanh và Phật khác nhau, nên hai lối giải đã tác thành cho nhau mà thuyết minh thuyết Quán Pháp vậy.”—Commenting on these two explanations, Elder Master Dung Tâm has written: “Without the first explanation, the above visualization would not be a meditation on the Buddha. Without the second explanation, the practitioner could misunderstand and think that the nature of sentient beings is different from that of the Buddhas. The two explanations are complementary in elucidating the Visualization method.” (II) Đệ Nhị Môn là pháp môn Ức Niệm—The Second Method, Recitation or Recollection Method—Nói ức niệm là hành giả hoặc duyên theo tướng tốt, hoặc trì danh hiệu của Phật, đều gọi là ức niệm. Môn nầy có cả lý lẫn sự—With recitation or recollection method, the cultivator either “recollects” the auspicious features of Amitabha Buddha or “recites” His name. This method has both noumenal and phenomenal aspects. 1) Lý Nhất Tâm—One-pontedness of Mind on noumenal level: Trong Kinh Hoa Nghiêm, Giải Thoát Trưởng Giả nói: “Nếu tôi muốn thấy Đức Vô Lượng Thọ Như Lai và thế giới an lạc, thì tùy ý liền được thấy. Tôi có thể biết rõ tất cả chư Phật, quốc độ tùy thuộc, cùng những việc thần thông của các ngài. Bao nhiêu cảnh tướng trên đây, không từ đâu mà đến, không đi về đâu, không có xứ sở và không chỗ trụ; cũng như thân tôi không thật có đi, đứng, tới lui. Các Đức Như Lai kia không đến chỗ tôi, tôi cũng không đi đến chỗ của các Ngài. Sở dĩ như thế, vì tôi hiểu rõ tất cả chư Phật cùng với tâm mình đều như mộng. Lại hiểu tự tâm như nước trong chum, các pháp như hình bóng hiện trong nước. Tôi đã ngộ tâm mình như nhà huyễn thuật, tất cả chư Phật như cảnh huyễn hóa. Lại biết chư Phật chư Bồ Tát trong tự tâm, đều như tiếng vang, như hang trống, tùy theo âm thanh mà phát ra tiếng dội lại. Ví tôi ngộ giải tâm mình như thế nên có thể tùy niệm thấy Phật.” Về đoạn kinh trên, ngài Trinh Nguyên giải rằng: “Từ đầu đến mấy chữ 'chỗ của các Ngài' chính là thuyết minh lý duy tâm, nếu ngộ tức tâm mà vô tâm liền vào chân như tam muội. Khi hành giả hiểu rõ các cảnh tướng đều như huyễn, duy tâm hiện ra, đã ngộ duy tâm và tức tâm tức Phật, thì tùy chỗ tưởng niệm, không đâu chẳng là Phật. Đoạn văn sau nêu ra bốn điều thí dụ với đều đủ bốn quán thông và biệt để hiển lý duy tâm, tất cả vẫn viên dung không ngại: In the Avatamsaka Sutra, the Elder Liberation said: “If I wish to see Amitabha Thus Come One in the World of Happiness, then as soon as I formulate the intention I see Him. I can clearly see all the various Buddhas, their lands and retinues as well as their spiritual powers. And yet, these Thus Come Ones do not come here, nor do I go to them. . This is so because I know that all Buddhas and my own Mind are completely like a dream. I know that all Buddhas are like an image or reflection in the water. I know that all thephysical characteristics of all Buddhas together with my own Mind, are both like an illusion, an echo. I realize this as such and recollect and consider this as such, that all Buddhas I see arise from my own Mind. Because I clearly understand my Mind as such, I can at will see the Buddhas. An Elder Master commented on the above quote as follows: “From the first sentence to the words 'Nor do I go to the Buddhas,' the sutra elucidates the truth of Mind-Only. If the practitioner is enlightened to the truth of 'Mind but not Mind,' he immediately enters the True Thusness Samadhi. When the practitioner truly understands that all realms and marks are illusory, created from the Mind, and awakens to the truth of 'Mind-Only and Mind is Buddha,' then, depending on the object of his thoughts and recollection, there is nothing which is not Buddha. The second part of this quote refers to four examples. These four examples encompass the Four Meditations and include the 'general' and the 'specific,' thus revealing the truth of Mind-Only, everything has always been perfect and unobstructed: a) Cảnh mộng là dụ cho lý không đến không đi, có nghĩa là toàn thể đều duy tâm: 'Like a dream' stands for the truth of 'neither coming nor going.' This means that everything is Mind-Only. b) Hình bóng trong nước là dụ cho lý không ra không vào, vì duy tâm nên tất cả đều “không”: 'Like a reflection in the water' represents the truth of 'neither leaving nor entering.' This shows that because it is Mind-Only, it is empty. c) Tướng huyễn hóa là dụ cho lý chẳng có chẳng không, vì duy tâm nên tất cả đều “giả”: 'Like an illusion' stands for the truth of 'neither existing nor non-existing.' This indicates that because it is Mind-Only, it is false. d) Tiếng vang là dụ cho lý chẳng tan chẳng hợp, vì duy tâm nên tất cả đều “trung”: 'Like an echo' means 'neither disintegrating nor amalgamating.' This shows that because it is Mind-Only, it is the Middle Way. ** Nếu hành giả hiểu rõ lý trên đây, rồi chấp trì bốn chữ A Di Đà Phật, sẽ không còn những thứ sau đây—If the practitioner clearly understands this truth and concentrates upon the Buddha's name, he or she will be free of the followings: e) Tâm có tâm không: The Mind of existence and non-existence. f) Tâm cũng có cũng không: The Mind of simultaneous existence and non-existence. g) Tâm chẳng phải có chẳng phải không: The Mind of simultaneous non-existence and non-non-existence. h) Dứt cả quá khứ hiện tại vị lai mà niệm, đó gọi là “lý ức niệm” hay lý nhất tâm: Serving all past, present and future, this is call “Noumenal recitation. i) Và ngày đêm sáu thời cứ như thế mà nhiếp tâm trì niệm, không cho gián đoạn, không sanh một niệm, thì chẳng cần vượt giai tầng mà đi thẳng vào cõi Phật. Đây cũng gọi là “lý nhất tâm.” Tóm lại, lý nhất tâm là người thông đạt bốn lý quán trên, dùng tâm ấy mà niệm Phật, tương ưng với không huệ, đi đến chỗ thuần chơn. Lý nhất tâm là hành môn của bậc thượng căn: If the practitioner can recite singlemindedly in this way throughout the six periods of day and night, i.e., all the time, without interruption and without developing a single thought , he need not pass through any stage of cultivation but can enter directly into the realm of the Buddhas. This is also called “One-pointedness of Mind” or noumenal level. One-pointedness of Mind on noumenal level is the practice of those of the highest capacities. 2) Sự Nhất Tâm—One-pointedness of Mind on phenomenal level: Về “sự ức niệm,” như trong Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nhớ Phật niệm Phật, hiện đời hoặc đương lai nhất định sẽ thấy Phật, cách Phật không xa, không cần mượn phương tiện chi khác mà tâm tự được khai ngộ.” Hay như các kinh sách khác đã chỉ dạy, 'hoặc hệ niệm suốt một đời, hoặc trì niệm trong ba tháng, bốn mươi chín ngày, một ngày đêm, cho đến bảy ngày đêm, hoặc mỗi buổi sớm mai giữ mười niệm. Nếu hành giả dùng lòng tin sâu, nguyện thiết, chấp trì câu niệm Phật như rồng gặp nước, như cọp dựa non, thì được sức Phật gia bị đều vãng sanh về Cực Lạc. Theo trong Kinh cho đến hạng phàm phu tạo tội ngũ nghịch thập ác, nếu khi lâm chung chí tâm xưng danh hiệu Phật mười niệm, cũng được vãng sanh. Và đây gọi là “sự nhất tâm.” Tóm lại, sự nhất tâm là hành giả tâm còn giữ niệm, mỗi niệm không cho xen hở, đi đến chỗ không còn tạp niệm. Sự nhất tâm thông dụng cho hàng trung hạ: The Surangama Sutra states: “Moreover, whoever recites the name of Amitabha Buddha, whether in the present time, or in the future time, will surely see the Amitabha Buddha and never become separated from him. By reason of that association, just as one associating with the maker of perfumes becomes permeated with the same perfumes, so he will become enlightened without Amitabha's compassion, and will become enlightened without any other expedient means. Another sutra teaches that: “Whether he focusses on the Buddha constantly throughout his life, or recites assiduously for three months, or forty-nine days, or one to seven days and nights, or recites only ten times each morning, as long as the practitioner holds the Buddha's name with deep faith and fervent vows, like a dragon encountering water or a tiger hidden deep in the mountains, he will be assisted by the Buddha's power and achieve rebirth in the Pure Land. A dragon outside the ocean or a tiger without the protection of the forest has but one thought in mind: to return to its environment. One-pointedness of Mind on phenomenal level refers to the practitioner whose Mind is still attached to recitation, one recitation following another without pause, leading to he state of extinction of all sundry thought. (III) Đệ Tam Môn là pháp môn Chúng Hạnh—The Third Method, method of “Sundry Practices: 1) Nguyện Lực Vãng Sanh—Seeking rebirth through the power of vows: Pháp Môn Chúng Hạnh là môn nói về hành giả dùng nhiều hạnh để vãng sanh về Cực Lạc. Như trong Kinh Hoa Nghiêm, Phổ Hiền Bồ Tát khuyến tấn Thiện Tài đồng tử và đại chúng nơi hải hội dùng mười đại nguyện cầu sanh Tịnh Độ (see Thập Hạnh Phổ Hiền). Trong mỗi nguyện ấy đều có nói khi nào cõi hư không, cõi chúng sanh, nghiệp chúng sanh, phiền não của chúng sanh hết, thì nguyện tôi mới hết. Và hành giả phải dùng ba nghiệp thân, khẩu, ý, thực hành nguyện đó không gián đoạn, không chán mỏi. Đến khi lâm chung, tất cả mọi thứ tùy thân đều để lại, cho đến các căn đều tan rã, duy những đại nguyện ấy hằng theo bên mình trong khoảng sát na hành giả liền được sanh về Cực Lạc—The “Sundry Practices” is the method in which the cultivator engages in many practices seeking rebirth in the Pure Land. Thus, in the Avatamsaka Sutra, the Bodhisattva Samantabhadra advises and urges the youth Sudhana (Good Wealth) and the Ocean-Wide Great Assembly to seek rebirth throught the Ten Great Vows (see Thập Hạnh Phổ Hiền). Each Vow contains the clause: “When the realm of empty space is exhausted, my Vows will be exhausted. But because the realm of empty space is inexhaustible, my Vows will never end. In the same way, when the realm of living beings, the karma of living beings, and the afflictions of living beings are exhausted, my Vows will be exhausted. But the realms of living beings, the karma of living beings, and the afflictions of living beings are inexhaustible. Therefore, my Vows are inexhaustible. They continue in thought after thought without cease. My body, mouth and mind never tire of doing these deeds. At the time of death, when all family and possessions are left behind and all faculties disintegrate, only these great vows will follow close behind, and in an instant, the practitioner will be reborn in the Pure Land. 2) Tâm Lực Vãng Sanh—Achieving rebirth through Mind-power: Lại như trong Kinh Đại Bảo Tích, Đức Thế Tôn bảo Ngài Di Lặc về mười tâm như sau: “Mười thứ tâm nầy không phải hạng phàm phu, bất thiện hay kẻ có nhiều phiền não có thể phát được. Nếu có kẻ nào thành tựu một trong mười tâm trên, muốn sanh về thế giới Cực Lạc mà không được như nguyện, đó là điều không khi nào có.”—Moreover, in the Maharatnakuta Sutra, Sakyamuni Buddha told Maitreya Bodhisattva: “These Ten Minds cannot be developed by ordinary people, nor those who lack virtue and beset by afflictions (See Thập Tâm Tịnh Độ). For someone to attain one of these ten frames of Mind while seeking rebirth in the Pure Land and yet fail to be reborn is simply impossible.” 3) Thần Lực Vãng Sanh—Achieving rebirth through spiritual power: Trong Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Nếu chúng sanh nào trì tụng thần chú Đại Bi, mà còn bị đọa vào ba đường ác, tôi thề không thành Chánh Giác. Tụng trì thần chú Đại Bi, mà không được sanh về cõi Phật, tôi thề không thành Chánh Giác. Tụng trì thần chú Đại Bi nếu không được vô lượng tam muội biện tài, tôi thề không thành Chánh Giác. Tụng trì thần chú Đại Bi, tất cả sự mong cầu trong đời hiện tại, nếu không được như nguyện, thì chú nầy không được gọi là chú Đại Bi Tâm Đà La Ni; duy trừ cầu những việc bất thiện, trừ kẻ tâm không chí thành.” Ngoài ra, những kẻ chí tâm trì tụng các chú như Bạch Tán Cái, Chuẩn Đề, Vãng Sanh, đều có thể sanh về Cực Lạc hoặc các Tịnh Độ khác—Moreover, in the Sutra of the Heart of Great Compassion Mantra, Avalokitesvara Bodhisattva (Kuan-Yin) said to the Buddha: “Great Honored Teacher! If any sentient being should assiduously recite the Great Compassion Mantra and still descend upon the Three Evil Paths, I vow not to attain Buddhahood. If any practitioner should assiduously recite the Great Compassion Mantra and fail to be reborn in the lands of the Buddhas, I vow not to attain Buddhahood. If any practitioner should assiduously recite the Great Compassion Mantra and not to achieve innumerable samadhis and great eloquence, I vow not to attain Buddhahood. If anyone should assiduously recite the Great Compassion Mantra and not have all wishes and hopes of his present life fulfilled, this dharani cannot be called the Great Compassion Mantra! The only exceptions are wishes which are unwholesome and those made when the Mind is not utterly sincere."”Moreover, practitioners who assiduously recite such dharani as the Thousand-Armed Avalokitesvara Mantra, the Rebirth Mantra, etc. with utmost sincerity, can all be reborn in the Western Pure Land or other pure lands. 4) Phước Lực Vãng Sanh—Achieving rebirth through the power of accumulated merits: Lại nữa, Kinh Quán Vô Lượng Thọ có nói: “Muốn sanh về Cực Lạc, phải tu ba thứ phước. Ba thứ phước nầy là chánh nhân tịnh nghiệp của chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai”—Moreover, the Meditation Sutra states: “Those who wish to be reborn in the land of Ultimate Bliss, must cultivate the three-fold goodness. These are the efficient causes for the pure actions of all the Buddhas of the three worlds, past, present and future. a) Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, tâm từ bi không giết hại, tu mười nghiệp lành: They should be filial toward their parents and support them; serve and respect their teachers and elders; be of compassionate heart and abstain from doing harm; and cultivate the ten virtuous actions. b) Thọ trì tam quy, giữ kỹ các giới, không phạm oai nghi: They should accept and hold on to their refuge in the Three Jewels; perfectly observe all moral precepts and not lower their dignity nor neglect ceremonial observances. c) Phát lòng Bồ Đề, tin lý nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại Thừa, khuyến tấn người tu hành. Ngoài ra, những kẻ cất chùa xây tháp, tạo tượng, lễ bái tán tụng, giữ gìn trai giới, đốt hương, rải hoa, cúng dường tràng phan bảo cái, trai Tăng bố thí, nếu hạnh lành thuần thục, dùng lòng tín nguyện hồi hướng, đều có thể vãng sanh: They should awaken in their Minds a longing for Bodhi, deeply believe in the principle of cause and effect, recite Mahayan sutras, persuade and encourage other practitioners. Furthermore, those who perform good deeds, carrying them out to perfection and transferring the merits with a Mind of faith and vows, can all achieve rebirth as well. These meritorious acts include erecting temples, stupas and statues of the Buddhas, worshipping the Buddhas, burning incense, offering flowers, donating pennants and other decorations to Buddhist temples, making offerings of food to the clergy, practicing charity, etc.

tam môn đồ phái

(三門徒派) Cũng gọi Việt tiền tam môn đồ bất bái chi chúng. Một trong các dòng phái của Tịnh độ chân tông ở Nhật bản. Khi ngài Giác như (1270-1351) thuộc đời thứ 3 của chùa Bản nguyện du hóa đến Việt tiền đã đề xướng cho 3 người là Như đạo ở Đại dã, Đạo tính ở Hoành việt và Như giác ở Chinh giang, vâng giữ Bất bái chi bí sự(Việc bí mật không lạy), gọi là Tam môn đồ phái(dòng phái của 3 vị nói trên). Phái này chủ trương tất cả chúng sinh và Phật vốn là đồng nhất, khi đức Phật A di đà khai ngộ, Ngài đã nhận định chúng sinh cũng có khả năng khai ngộ, cho nên hành giả chỉ cần tin tưởng vào bản nguyện của Ngài chứ không cần phải niệm Phật hay lễ bái. Về sau, chủ trương này được bãi bỏ và thay vào đó là chủ trương tín ngưỡng giống như chủ trương của phái Bản nguyện tự, rồi nhập chung với phái Chân tông, trở thành Nội tứ phái trong 10 phái: Tam môn đồ phái, Sơn nguyên phái, Xuất vân lộ phái và Thành chiếu tự phái.

tam mật

Thân Khẩu Ý—Thân khẩu ý của mọi sinh vật là những phần của Chân như, nhưng phiền não che lấp bản tánh chân như—The three mystic things (body, mouth and mind) of the Tathagata—All creatures in body, voice and mind are only individualized parts of the Tathagata, but illusion hides their Tathagata nature from them. Buddhist cultivators seek to realize their Tathagata nature by physical signs and postures, by voicing of dharani and by meditation: 1) Thân mật: All things being this mystic body. 2) Khẩu mật: All sound this mystic voice. 3) Ý mật: All thought this mystic mind. ; (三密) Phạm:Trìịi guhỳani. Chỉ cho 3 nghiệp bí mật, tức Thân mật (Phạm: Kàya-guhya), Khẩu mật (Phạm: Vàg-guhya)) và Ý mật (Phạm: Manoguhya). Khẩu mật cũng gọi là Ngữ mật và Ý mật cũng gọi là Tâm mật. Từ Tam mật chủ yếu do Mật giáo sử dụng. 1. Theo sự giải thích của Hiển giáo, không thể dùng sự suy tư của phàm phu mà lường biết được ba nghiệp của Phật, nên gọi là Tam mật. Thân mật: Đức Như lai ở giữa đại hội, đại chúng thấy sắc thân của Phật cao, thấp khác nhau, cho đến hiện đại thần biến đều không thể nghĩ bàn. Ngữ mật: Khi đức Phật nói pháp, người ở cách xa hoặc một dặm, hoặc mười dặm hoặc trăm ngàn dặm đều nghe được âm thanh của Phật. Hơn nữa, trong cùng một hội, người nghe bố thí, người nghe trì giới... mỗi người tùy theo chỗ mình nghe đều không thể nghĩ bàn. Ý mật: Phật thường ở trong thiền định vắng lặng, những chỗ ngài tư duy, quán xét đều không thể nghĩ bàn. 2. Theo sự giải thích của Mật giáo thì ba nghiệp của Phật thuộc về Dụng đại (tác dụng của Chân như) trong 3 đại Thể, Tướng, Dụng. Tác dụng ấy rất sâu xa nhỏ nhiệm, sự nghĩ lường của phàm phu không thể nào biết được, hàng Bồ tát Thập địa, Đẳng giác cũng không thể thấy nghe, cho nên gọi là Tam mật. Tam mật của Phật nếu ứng hợp với Tam nghiệp của chúng sinh thì thành tựu nghiệp dụng không thể nghĩ bàn. Tam nghiệp của chúng sinh chẳng những khế hợp với Tam mật của Phật mà còn hàm nhiếp trong đó. Lại nữa, bản tính ẩn kín trong tâm chúng sinh cũng giống với Tam mật của Phật, tức thực tướng tam nghiệp của chúng sinh đều là tác dụng của pháp tính Lục đại và tương đồng với Tam mật của Phật, vì thế ba nghiệp thân, khẩu, ý của chúng sinh cũng gọi là Tam mật. Trong Tam mật của chúng sinh, hành giả dùng tay kết ấn của Bản tôn, cho đến tất cả việc đi, đứng, ngồi, nằm của hành giả đều gọi là Thân mật. Miệng hành giả tụng chân ngôn, cho đến tất cả lời nói thuộc về khẩu nghiệp, đều gọi là Ngữ mật. Tâm của hành giả quán tưởng Bản tôn, cho đến khởi lên ý niệm về tất cả sự nghiệp... đều gọi là Ý mật. Tam nghiệp của chúng sinh tương ứng với Tam mật của Phật, gọi là Tam mật dụng đại, cùng với Lục đại thể đại và Tứ mạn tướng đại gọi chung là Tam đại. Tam mật của Phật trùm khắp vũ trụ. Nói một cách cụ thể thì có thân của bốn loại Mạn đồ la, trong đó, Đại mạn đồ la có đầy đủ mọi tướng tốt đẹp, chính là Thân mật của Như lai; Tam muội da mạn đồ la dùng mật ấn và các kí hiệu để biểu trưng bản thệ, là Ý mật của Như lai; Pháp mạn đồ la là biểu thị ngôn giáo, chủng tử, chân ngôn, đà la ni... là Ngữ mật của Như lai; còn Yết ma mạn đồ la thì chung cho cả ba loại Mạn đồ la nêu trên, nên cũng chung cho cả Tam mật. Phật bộ, Liên hoa bộ, Kim cương bộ theo thứ tự phối hợp với Thân mật, Ngữ mật và Ý mật. Tam mật có hai loại là Hữu tướng và Vô tướng. 1. Hữu tướng tam mật: Phật và chúng sinh dung hòa lẫn nhau, nhập vào cảnh giới Du già; chúng sinh thân kết ấn(Thân mật), miệng tụng chân ngôn(Khẩu mật) và ý quán tưởng Bản tôn(Ý mật). 2. Vô tướng tam muội: Tất cả việc làm, lời nói thuộc thân, khẩu và những ý nghĩ trong tâm của chúng sinh đều là Tam mật.Tam mật có bốn lớp gốc, ngọn: -Lớp thứ nhất: Đức của Ý mật hiển bày rõ, đó là gốc. Thân mật và Khẩu mật theo tâm quán tưởng, thành tựu những việc của Bản tôn, đó là ngọn. -Lớp thứ hai: Tam mật đều cùng đạt đến cảnh cực vi diệu Đệ nhất thực tế, cho nên bình đẳng, không chia gốc ngọn. -Lớp thứ ba: Từ nhân đến quả lấy ý làm gốc, chính vị quả Phật lấy thân tướng làm gốc, phương tiện sau khi chứng quả lấy lời nói làm gốc, bởi thế Tam mật đều có gốc ngọn lẫn nhau. -Lớp thứ tư: Thân là thể, thuộc Phật bộ nên là gốc, Ngữ và Ý là tướng và dụng thuộc Liên hoa bộ và Kim cương bộ nên là ngọn. Về sự quan hệ giữa Tam mật, Lục đại và Tứ mạn thì có 2 nghĩa ngang và dọc. Nói theo nghĩa dọc thì trong Lục đại, đất, nước và lửa là Thân mật, gió và hư không là Ngữ mật, thức là Ý mật; trong Tứ mạn thì chữ, ấn và hình theo thứ tự là Ngữ mật, Thân mật và Ý mật. Còn nói theo nghĩa ngang thì tất cả hiển sắc là Thân mật, tất cả âm thanh là Ngữ mật và tất cả ý thú là Ý mật. Theo đó thì trong Tam mật, 2 nghĩa ngang, dọc nhiếp thuộc thể và tướng, bởi vậy, pháp thể nhỏ nhiệm của Tứ mạn, Lục đại, cho đến 1 phần nhỏ như lân hư trần cũng đều là nghiệp dụng, 1 pháp trong Tam mật hàm nhiếp hết mọi đức, cho nên Tam mật tức là Đại nhật Như lai. [X. hội Mật tích kim cương lực sĩ trong kinh Đại bảo tích Q.10; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; luận Bồ đề tâm, Đại nhật kinh sớ Q.1; luận Thập trụ tâm Q.10; luận Biện hiển mật nhị giáo Q.10; Đại nhật kinh khai đề; Ngũ luân cửu tự minh bí mật thích; Tức thân thành Phật nghĩa].

tam mật dụng đại

(三密用大) Tác dụng to lớn của Tam mật. Tam mật chỉ cho Thân mật, Ngữ mật và Ý mật. Tác dụng của Tam mật trùm khắp pháp giới, bao quát cả vũ trụ vạn hữu, cho nên gọi là Tam mật dụng đại. Tam nghiệp của chúng sinh tương ứng với Tam mật của Phật, không cách biệt, chẳng phải hai; lí này phàm phu không thể nào hiểu rõ được, cần phải tu trì mới thể ngộ được, vì thế gọi là Mật. Như lai nhờ Tam mật mà thành tựu các công đức thanh tịnh; tất cả núi sông đất đai, thể tướng pháp giới đều là pháp thân thanh tịnh của Như lai, vì chúng sinh không biết nên gọi là Thân mật. Tất cả âm thanh đều là tiếng nói pháp của Như lai, vì chúng sinh không biết nên gọi là Ngữ mật. Thức đại của Như lai trùm khắp pháp giới, không điều gì mà Như lai không biết, không việc gì mà Như lai không hiểu, nhưng vì chúng sinh không biết nên gọi là Ý mật. Người tu hành Mật tông nhờ sức công đức tay kết thủ ấn mà chuyển thân nghiệp của chính mình thành Thân mật của Như lai, nhờ sức công đức trì chú mà chuyển ngữ nghiệp của chính mình thành Ngữ mật của Như lai; nhờ sức công đức quán tưởng Bản tôn mà chuyển ý nghiệp của chính mình thành Ý mật của Như lai. Nhờ tác dụng gia trì của Tam mật, tất cả chúng sinh đều có thể thành Phật, tất cả cõi nước đều trở thành Tịnh độ. Nhờ sức gia trì của Tam mật, chúng sinh đều có thể trở nên viên mãn đầy đủ đức tướng trí tuệ của Như lai, thành tựu diệu hạnh Tức thân thành Phật, hiển bày quả đức bản giác của chúng sinh. (xt. Tam Mật)

tam mật gia trì

Thân, ngữ, ý là tam mật. Đại Nhựt Như lai bản thể khắp thời gian không gian là Thân mật. Tiếng nói khắp thời gian không gian là Ngữ mật. Thức đại khắp thời gian không là Ý mật. Bàn tay kiết ấn là Thân mật, miệng tụng chú là Ngữ mật, tâm quán tưởng là Ý mật. Thân, ngữ, ý đồng thời thực hành gọi là Tam mật gia trì. ; (三密加持) Chỉ cho sự gia trì của Tam mật đức Phật. Khi chúng sinh tu hành Tam mật thì 3 nghiệp thân, khẩu, ý của mình được Tam mật của Phật gia trì, Phật và chúng sinh Tam mật tương ứng, dung hợp không cách ngăn (Tam mật du già) thì phát sinh công năng chẳng thể nghĩ bàn, thân này có khả năng thành Phật ngay. Lúc đó tựa hồ có 1 thứ năng lực siêu nhân hiển hiện. Việc tương ứng và được cảm ứng này gọi là Gia trì. Nếu nói theo Sai biệt môn thì Tam mật mà chúng sinh phát khởi vốn bắt nguồn từ vọng tưởng, lấy tam độc(tham, sân, si) làm thể, nên khác với Tam mật của Phật giới. Nhưng, nếu căn cứ vào Bình đẳng môn mà nói và nhìn bằng con mắt Phật, thì Tam mật của chúng sinh và Tam mật của chư Phật là bình đẳng, không khác nhau. Vì thế, nếu Tam mật của hành giả và Tam mật của Bản tôn gia trì cho nhau thì mau chóng thành tựu Đại tất địa. Quả tương ứng của Tam mật này gọi là Tam pháp đạo giới. [X. kinh Đại nhật Q.7; luận Bồ đề tâm; Đại nhật kinh sớ Q.1; Tức thân thành Phật nghĩa].

tam mật quán

(三密觀) Cũng gọi Tam kim cương quán, Tam kim quán, Tam hồng quán. Pháp quán tưởng của Mật giáo tu để diệt trừ những tội cấu của 3 nghiệp thân khẩu ý, hiển hiện công đức của chư tôn. Thứ tự tu hành pháp này như sau: Trước hết trải tòa ngồi, xoa hương, trước khi thực hành pháp hộ thân thì thực hành Liên hoa hợp chưởng (chắp tay theo hình hoa sen chưa nở), quán tưởng nguyệt luân(vòng tròn như mặt trăng) ở bàn tay, lưỡi và tim, trên nguyệt luân có 8 cánh hoa sen; trên hoa sen quán tưởng chữ Hồng, lại quán tưởng chữ Hồng biến thành cây chày kim cương năm chĩa, tượng trưng năm trí, dùng để đoạn trừ các phiền não bất tịnh của 3 nghiệp thân, khẩu, ý. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; Kim cương đính du già tha hóa tự tại thiên lí thú hội Phổ hiền tu hành niệm tụng nghi quĩ; Thánh như ý luân Quán tự tại bồ tát niệm tụng thứ đệ].

tam mặc đường

(三默堂) Chỉ cho 3 nơi mà khi vào trong phải giữ im lặng, đó là nhà tắm, nhà tăng, và nhà xí. 1. Nhà tắm: Trong nhà tắm không được nói chuyện, cho nên Phật qui định 2 nghi thức tắm gội: Một là nói pháp, hai là im lặng.2. Nhà tăng (tức là nhà ngồi thiền): Ở đây không được chụm đầu nói cười, cũng không được đọc kinh xem sách. 3. Nhà xí (nhà vệ sinh): Khi vào nhà xí, thân và miệng nên giống như gỗ đá, tuyệt đối giữ im lặng. [X. Tì nại da tạp sự Q.3; Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.thượng; Sa di uy nghi; điều Nhật dụng quĩ phạm trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; môn Điện đường Thiền lâm tượng khí tiên].

tam nan

See Tam Ác Đạo.

Tam nghi

三疑; C: sān yí; J: sangi;|Ba mối nghi ngờ cản trở việc tu hành nghiêm túc bất động: Nghi ngờ chính mình, nghi ngờ bậc thầy, nghi ngờ Phật pháp.

tam nghi

(A) Three doubts: 1) Nghi mình: Doubts of self. 2) Nghi Thầy: Doubts of teachers. 3) Nghi Pháp: Doubts of Dharma. (B) Three ranks: 1) Trời: Heaven. 2) Đất: Earth. 3) Người: Man. ; (三疑) Ba mối ngờ vực phát sinh khi tu tập thiền định. Cứ theo Thích thiền Ba la mật thứ đệ pháp môn quyển 2, khi hành giả tu thiền, nếu sinh khởi 3 mối ngờ sau đây thì không thể vào được thiền định. 1. Nghi tự: Ngờ chính mình, nếu người vì các căn ám độn, tội chướng sâu nặng, ngờ mình chẳng phải là pháp khí để được thầy truyền đạo cho, thì thiền định không thể phát khởi. 2. Nghi sư: Ngờ thầy, ngờ vị thầy dạy đạo uy nghi, tướng mạo đều không đầy đủ. Nếu người có tâm hoài nghi ngạo mạn như vậy thì thiền định không thể phát sinh.3. Nghi pháp: Ngờ pháp, ngờ rằng giáo pháp mà mình nhận lãnh chẳng phải là đạo chân chính nên không kính tin. Nếu người có tâm hoài nghi như vậy thì thiền định không sinh được. Từ các nhân duyên trên đây, nếu biết hoài nghi là lỗi thì phải xả bỏ ngay. Xả bỏ Nghi cái(phiền não ngờ) tức là bỏ được 1 trong 5 cái. (xt. Khí Ngũ Cái).

tam nghiệm

(三驗) Ba cách để nghiệm xem những cảnh tượng như Phật, Bồ tát hiện ra khi hành giả ở trong định là chính hay tà. 1. Dùng định để xét nghiệm: Khi ở trong định, các cảnh tướng hiện ra mà khó biết là tà hay chính thì phải đi sâu vào tâm định, đối với các cảnh ấy không nắm giữ không buông bỏ,chỉ bình đẳng trụ trong định, nếu do thiện căn hiện ra thì sức định càng sâu, thiện căn càng phát; còn nếu do ma biến ra thì chẳng bao lâu sẽ tự mất. 2. Cứ y theo pháp vốn tu mà đối trị: Nếu pháp vốn tu là Bất tịnh quán thì lúc này cũng vẫn theo đó mà tu, nếu cảnh giới sáng thêm thì biết cảnh ấy là chính, nếu cảnh ấy dần dần hoại diệt thì biết đó là cảnh tà. 3. Dùng trí tuệ quán xét: Quán sát tướng đã phát, xét nghiệm đến cội nguồn mà không thấy chỗ sinh của cảnh tướng thì biết là không tịch, tâm không dính mắc, tướng tà sẽ tự diệt, cảnh chính tự hiện.Ba phương pháp xét nghiệm trên đây nếu dùng việc luyện vàng để ví dụ thì: Dùng định để xét nghiệm ví như mài dũa vàng, y theo pháp vốn tu để đối trị ví như búa đập; dùng trí tuệ quán xét thì ví như nấu đúc. Dùng 3 cách nghiệm xét trên đây thì tà hay chính có thể tự biết.

Tam Nghiệp

(s: trīni-karmāṇi, 三業): ba nghiệp gồm thân, miệng và ý. (1) Thân nghiệp (s: kāya-karman, p: kāya-kamma, 身業) là việc làm do thân làm ra, có thiện và ác. Như sát sanh, trộm cắp, tà dâm là nghiệp xấu của thân. Còn nếu không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, v.v., là nghiệp tốt của thân. (2) Khẩu nghiệp (s: vāk-karman, p: vacī-kamma, 口業) là việc làm do miệng làm ra, có thiện có ác khác nhau. Tỷ dụ như nói dối, nói lời ly gián, nói lời thô ác, nói lời thêu dệt là nghiệp xấu của miệng. Và nếu không nói dối, không nói lời ly gián, không nói lời thô ác, không nói lời thêu dệt là nghiệp tốt của miệng. (3) Ý nghiệp (s: manas-karman, p: mano-kamma, 意業) là việc làm do ý tạo ra, cũng có thiện và ác. Như tham dục, sân hận, tà kiến là nghiệp không tốt của ý. Và không tham lam, không sân hận, không tà kiến là nghiệp tốt của ý. Ngoài ra, Tam Nghiệp còn có nghĩa là: (1) Thiện Nghiệp (善業, hành vi tạo tác mang tính tốt, lương thiện), (2) Ác Nghiệp (惡業, hành vi tạo tác mang tính xấu, thấp kém) và (3) Vô Ký Nghiệp (無記業, hành vi tạo tác không thể phân biệt, chẳng thuộc về thiện và ác). Hay Tam Nghiệp là: (1) Lậu Nghiệp (漏業, tác nghiệp có phiền não, có thể chiêu cảm quả báo Phần Đoạn Sanh Tử, thuộc về hành vi tạo tác của phàm phu), (2) Vô Lậu Nghiệp (無漏業, tác nghiệp không có phiền não, có thể chiêu cảm quả báo Phương Tiện Hữu Dư Độ, thuộc về tác nghiệp của hàng Nhị Thừa Thanh Văn và Duyên Giác) và (3) Phi Lậu Phi Vô Lậu Nghiệp (非漏非無漏業, tác nghiệp không thuộc về hữu lậu và vô lậu, có thể chiêu cảm quả báo Thật Báo Độ, là tác nghiệp của Bồ Tát). Như trong Thọ Bồ Tát Giới Nghi (受菩薩戒儀, CBETA No. 1085) có giải thích rằng: “Giới chi nhất tự thị danh, Phạn vân Thi La, diệc vân Tỳ Ni Ba La Đề Mộc Xoa đẳng, thử vân thanh lương, diệt Tam Nghiệp chi quá khiên, đắc giải thoát dã (戒之一字是名、梵云尸羅、亦云毗尼波羅提木叉等、此云清涼、滅三業之過愆、得解脫也, một chữ Giới là tên gọi, tiếng Phạn là Thi La, còn gọi là Tỳ Ni Ba La Đề Mộc Xoa, v.v.; Tàu gọi là trong mát, diệt các tội lỗi của Ba Nghiệp, được giải thoát).” Hay trong (憨山老人夢遊集, CBETA No. 1456) có câu: “Kim trì giới chi yếu, tiên tu Tam Nghiệp thanh tịnh, tắc tâm tự tịnh (今持戒之要、先須三業清淨、則心自淨, nay điều côt yếu của việc giữ giới là trước hết phải Ba Nghiệp trong sạch, tức tâm tự trong sạch).”

tam nghiệp

xem ba nghiệp. ; Ba nghiệp—The three conditions, inheritances, or three kinds of karma: (A) Three kinds of behavior: 1) Thân nghiệp: Behavior of body—Action—Deed—Doing. 2) Khẩu nghiệp: Behavior of speech—Speech—Word—Speaking. 3) Ý nghiệp: Behavior of mind—Thought—Thinking. (B) 1) Hiện Phước nghiệp: Present life happy karma. 2) Hiện Phi Phước nghiệp: Present life unhappy karma. 3) Hiện Bất Động nghiệp: Karma of an imperturbable nature. (C) 1) Hữu lậu nghiệp: Karma of ordinary rebirth. 2) Vô lâu nghiệp: Karma of Hinayan Nirvana. 3) Phi lậu phi vô lậu nghiệp: Karma of Mahayana Nirvana. ; (三業) Phạm: Trìịi-karmàịi. I. Tam Nghiệp. Ba nghiệp thân, khẩu, ý. 1. Thân nghiệp: Chỉ cho nghiệp tạo tác và không tạo tác của thân, có thiện có ác khác nhau; nếu làm các việc như giết hại, trộm cướp, tà dâm... là Thân ác nghiệp; nếu không giết hại, không trộm cướp, không tà dâm... là Thân thiện nghiệp. 2. Khẩu nghiệp(cũng gọi Ngữ nghiệp): Chỉ cho nghiệp tạo tác và không tạo tác của miệng, có thiện, có ác, nếu nói dối, nói lời ly gián, nói ác, nói thêu dệt... là khẩu ác nghiệp; nếu không nói dối, không nói 2 lưỡi, không nói ác, không nói đơm đặt thì là Khẩu thiện nghiệp. 3. Ý nghiệp: Chỉ cho nghiệp do ý thức dấy lên, có thiện có ác, nếu tham muốn, sân hận, tà kiến là Ý ác nghiệp; nếu không tham, không sân, không tà kiến... thì là Ý thiện nghiệp. Ngoài ra còn có 3 nghiệp thân, khẩu, ý vô kí, tức là các nghiệp không phải thiện không phải ác, không có năng lực chiêu cảm quả báo. [X. kinh Biệt dịch tạp a hàm Q.5; luận Đại tì bà sa Q.113; luận Tập dị môn túc Q.6; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3 phần cuối]. (xt. Nghiệp Đạo). II. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo 3 tính thiện, ác và vô kí: 1. Thiện nghiệp (Phạm: Kuzalakarma): Nghiệp lấy vô tham, vô sân, vô si làm nhân duyên. 2. Ác nghiệp(Phạm:Akuzala-karma), cũng gọi Bất thiện nghiệp: Chỉ cho nghiệp lấy tham, sân, si làm nhân duyên. 3. Vô kí nghiệp (Phạm: Avỳakftakarma): Nghiệp chẳng lấy vô tham, vô sân, vô si làm nhân duyên, cũng chẳng lấy tham, sân, si làm nhân duyên. [X. luận Câu xá Q.15; luận Du già sư địa Q.9; luận Phẩm loại túc Q.5; luận Phát trí Q.11]. (xt. Tam Tính). III. Tam Nghiệp. Cũng gọi Tam thụ nghiệp, Tam thụ báo nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo 3 thứ cảm thụ khổ, lạc, xả, đó là: 1. Thuận lạc thụ nghiệp (Phạm: Sukha-vedanìya-karma), cũng gọi Lạc báo nghiệp: Chỉ cho phúc nghiệp và thiện nghiệp cảm nhận theo Đệ tam tĩnh lự. 2. Thuận khổ thụ nghiệp (Phạm: Du#kha-vedanìya-karma), cũng gọi Khổ báo nghiệp: Chỉ cho phi phúc nghiệp. 3. Thuận bất khổ bất lạc thụ nghiệp (Phạm: Adu#khàsakha-vedanìyakarma), cũng gọi Bất khổ bất lạc báo nghiệp: Chỉ cho nghiệp Dị thục có năng lực chiêu cảm thức A lại da ở tất cả mọi nơi và nghiệp thiện của Đệ tứ tĩnh lự trở lên.[X. luận Câu xá Q.15, luận Du già sư địa Q.9; luận Phẩm loại túc Q.5]. IV. Tam Nghiệp. Cũng gọi Tam thời nghiệp, Tam báo nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo quả báo 3 đời hiện tại(hiện), đời kế(thứ) hoặc nhiều đời sau(hậu). 1. Thuận hiện pháp thụ nghiệp (Phạm: Dfwỉa-dharam-vedanìyakarma): Nghiệp được tạo ra ở đời này và thành thục ngay ở đời này. Tức gây nhân ở hiện tại và chịu quả báo ngay trong hiện tại.2. Thuận thứ sinh thụ nghiệp (Phạm: Upapadya-vedanìya-karma): Nghiệp tạo ở đời này đến đời thứ 2 mới thành thục. Tức là đời này gieo nhân sang đời kế tiếp mới chịu quả báo. 3. Thuận hậu thứ thụ nghiệp (Phạm: Apara-paryàya-vedanìya-karma): Nghiệp tạo ở đời này đến đời thứ 3 hoặc nhiều đời sau nữa mới thành thục. Tức gây nhân ở đời hiện tại đến đời thứ 3 hoặc nhiều đời sau mới chịu quả báo. V. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo cảnh giới trên dưới và cảm quả đáng ưa, không đáng ưa khác nhau. Đó là: 1. Phúc nghiệp (Phạm: Puịyakarma): Nghiệp chiêu cảm quả thiện cõi Dục; nghiệp này có công năng mang lại quả đáng ưa, có ích cho hữu tình. 2. Phi phúc nghiệp (Phạm: Apuịyakarma), cũng gọi Tội nghiệp: Nghiệp chiêu cảm quả ác ở cõi Dục; nghiệp này có công năng mang lại quả không đáng ưa, gây tổn hại cho hữu tình. 3. Bất động nghiệp (Phạm:Aniĩjyakarma): Nghiệp chiêu cảm quả thiện ở cõi Sắc và cõi Vô sắc. Nghiệp ở cõi Sắc và cõi Vô sắc, nhờ sức định nên nghiệp Sơ thiền chắc chắn cảm quả Sơ thiền, nghiệp Nhị thiền nhất định cảm quả Nhị thiền, nghiệp và quả này đều không biến động, vì thế gọi là Bất động; trái lại, nghiệp cõi Dục thì thường bị các duyên khác làm cho biến động, cho nên gọi là Động nghiệp. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.55; luận Câu xá Q.15; luận Thuận chính lí Q.40]. VI. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo Thí, Giới, Tu là: -Thí loại phúc nghiệp sự (Phạm:Dànamaya-puịya-kriỳa-vastùni). -Giới loại phúc nghiệp sự (Phạm:Zìlamaya-puịya-kriỳa-vastùni). -Tu loại phúc nghiệp sự (Phạm: Bhàvanà-maya-puịya-kriỳa-vastùni). Cũng gọi Tam phúc nghiệp sự (Phạm: Trìịi puịya-kriỳa-vastùni), Tam loại phúc nghiệp sự, Tam tính phúc nghiệp sự. Gọi tắt: Tam phúc nghiệp. Luận Du già sư địa quyển 9 (Đại 30, 319 hạ) nói: Thí tính nghiệp(Thí loại phúc nghiệp sự) có 4 nghĩa: Nhân duyên, Đẳng khởi, Y xứ và Tự tính. Nhân duyên nghĩa là vô tham, vô sân, vô si làm nhân duyên; Đẳng khởi nghĩa là cùng thực hành vô tham, vô sân, vô si, xả bỏ vật sở thí, khởi nghiệp thân ngữ ý. Y xứ nghĩa là lấy vật để bố thí và người nhận làm chỗ nương; Tự tính nghĩa là Tâm sở Tư khởi nghiệp thân và ngữ thường xả bỏ vật sở thí. Đó là nói về Thí là tính nghiệp. Còn về Giới tính nghiệp(Giới loại phúc nghiệp sự)và Tu tính nghiệp(Tu loại phúc nghiệp sự) thì cũng giống như thế, cứ suy nghĩa này thì biết. Trong đó, nghĩa nhân duyên và đẳng khời của Giới tính nghiệp giống như trên; còn Tự tính là thuộc về luật nghi của thân và ngữ nghiệp. Y xứ là số hữu tình và phi hữu tình. Nghĩa nhân duyên của Tu tình nghiệp là nhân duyên Tam ma địa, tức vô tham, vô sân, vô si. Đẳng khởi là định phát khởi cùng lúc với Tư; Tự tính là Tam ma địa; Y xứ là cõi hữu tình không có khổ, lạc trong khắp 10 phương. [X. kinh Ngưu phẩn dụ trong Trung a hàm Q.11; kinh Tăng nhất a hàm Q.12; kinh Đại bát nhã Ba la mật đa Q.3]. VII. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo luật nghi, bất luật nghi và phi luật nghi phi bất luật nghi là: Luật nghi sở nhiếp nghiệp, Bất luật nghi sở nhiếp nghiệp và Phi luật nghi phi bất luật nghi sở nhiếp nghiệp. 1. Luật nghi sở nhiếp nghiệp (cũng gọi Luật nghi nghiệp), có 3 thứ: Biệt giải thoát luật nghi sở nhiếp chi nghiệp, Tĩnh lự đẳng chí quả đoạn luật nghi sở nhiếp chi nghiệp và Vô lậu luật nghi sở nhiếp chi nghiệp. 2. Bất luật nghi sở nhiếp nghiệp(cũng gọi Bất luật nghi nghiệp). Luận Du già sư địa quyển 9 liệt kê 12 thứ Bất luật nghi sở nhiếp nghiệp là: Giết dê, bán gà, bán lợn, bắt chim, bẫy thỏ, trộm cắp, đồ tể, giữ ngục, dèm pha, cai ngục, bắt voi, dùng chú thuật hại rồng. 3. Phi luật nghi phi bất luật nghi sở nhiếp nghiệp(cũng gọi Phi luật nghi phi bất luật nghi nghiệp). Trừ Luật nghi nghiệp và Bất luật nghi nghiệp nói trên, tất cả thiện nghiệp, bất thiện nghiệp và vô kí nghiệp còn lại đều thuộc Phi luật nghi phi bất luật nghi sở nhiếp nghiệp.[X. luận Phát trí .12; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.8]. (xt. Phi Luật Nghi Phi Bất Luật Nghi). VIII. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo 3 đời: Quá khứ, Hiện tại, Vị lai. 1. Quá khứ nghiệp: Nghiệp trụ ở vị tập khí, hoặc đã thành quả, hoặc chưa thành quả. 2. Vị lai nghiệp: Nghiệp chưa sinh chưa diệt.3. Hiện tại nghiệp: Nghiệp đã tạo tác đã tư duy nhưng chưa diệt. [X. luận Phát trí Q.11; luận Câu xá Q.17; luận Du già sư địa Q.9]. IX. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo sự trói buộc trong 3 cõi là: Dục giới hệ nghiệp, Sắc giới hệ nghiệp và Vô sắc giới hệ nghiệp. 1. Dục giới hệ nghiệp: Nghiệp có năng lực chiêu cảm Dị thục trong cõi Dục mà rơi vào cõi Dục. 2. Sắc giới hệ nghiệp: Nghiệp có năng lực chiêu cảm Dị thục ở cõi Sắc mà rơi vào Sắc giới. 3. Vô sắc giới hệ nghiệp: Nghiệp có năng lực chiêu cảm Dị thục ở cõi Vô sắc mà rơi vào Vô sắc giới. [X. luận Phát trí Q.11; luận Du già sư địa Q.9, luận Đại tì bà sa Q.115]. X. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo 3 bậc Học, Vô học, Phi học phi vô học là: Học nghiệp, Vô học nghiệp và Phi học phi vô học nghiệp. 1. Học nghiệp (Phạm:Zaiksa-karma): Tất cả thiện nghiệp trong sự tương tục của bậc Hữu học thuộc hàng dị sinh và phi dị sinh.2. Vô học nghiệp (Phạm: Azaikwakarma): Tất cả thiện nghiệp trong sự tương tục thuộc bậc Vô học. 3. Phi học phi vô học nghiệp (Phạm: Naivazaikwa-nàzaikwa-karma): Trừ 2 thứ thiện nghiệp nói trên, tất cả thiện nghiệp, bất thiện nghiệp và vô kí nghiệp trong sự tương tục khác đều thuộc về Phi học phi vô học nghiệp. XI. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia loại theo đoạn và phi đoạn là: Kiến sở đoạn nghiệp, Tu sở đoạn nghiệp và Vô đoạn nghiệp. 1. Kiến sở đoạn nghiệp (Phạm: Darzana-heya-karma): Nghiệp bất thiện chiêu cảm ác thú. 2. Tu sở đoạn nghiệp (Phạm:Bhàvanàheya-karma): Các nghiệp thiện, bất thiện, vô kí... chiêu cảm thiện thú. 3. Vô đoạn nghiệp (Phạm: Aheyakarma): Các nghiệp vô lậu thế gian và xuất thế gian. [X. luận Du già sư địa Q.9; luận Phẩm loại túc Q.5; luận Đại tì bà sa Q.115]. XII. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp được chia theo sự nhiễm ô của 3 nghiệp thân, khẩu, ý là: Khúc nghiệp, Uế nghiệp và Trược nghiệp. 1. Khúc nghiệp: Ba nghiệp thân, ngữ, ý nương vào sự dua nịnh mà sinh. 2. Uế nghiệp: Ba nghiệp thân, ngữ, ý nương vào sân hận mà sinh. 3. Trược nghiệp: Ba nghiệp thân, ngữ, ý nương vào tham lam mà sinh. [X. luận Câu xá Q.15; luận Phát trí Q.11; luận Đại tì bà sa Q.117; Đại thừa nghĩa chương Q.7]. XIII. Tam Nghiệp. Dựa theo ba thứ Ưng tác, Bất ưng tác và Phi ưng tác phi bất ưng tác khác nhau mà chia nghiệp làm 3 loại là: -Ưng tác nghiệp (Phạm: Yoga-vihitakarma). -Bất ưng tác nghiệp (Phạm: Ayogavihita-karma). -Phi ưng tác phi bất ưng tác nghiệp (Phạm: Nayoga-vihita-nàyoga-vihitakarma). Luận Câu xá quyển 17 (Đại 29, 92 thượng) nói: Có thuyết cho rằng nghiệp ô nhiễm được gọi là Bất ưng tác, vì nó từ sự tác ý phi lí mà sinh ra. Có các Luận sư khác lại chủ trương các nghiệp thân ngữ ý làm bại hoại pháp tắc cũng là Bất ưng tác, nghĩa là tất cả càc việc nên đi như thế, nên đứng như thế, nên nói như thế, nên mặc áo như thế, nên ăn uống như thế..., nếu không như thế thì gọi là Bất ưng tác. Những việc không hợp với lễ nghi thế tục, trái với thế tục, gọi là Ưng tác nghiệp. Có thuyết cho rằng thiện nghiệp gọi là Ưng tác, vì nó từ sự tác ý hợp lí mà sinh ra. Các Luận sư khác cho rằng các nghiệp thân ngữ ý hợp với quĩ tắc cũng gọi là Ưng tác. Đây là thuyết thứ 3, đều trái với 2 chủ trương trước, tùy theo chỗ nên làm mà 2 thuyết khác nhau. [X. luận Thuận chính lí Q.43]. XIV. Tam Nghiệp. Ba thứ nghiệp theo 3 cảm thụ hỉ(mừng), ưu (lo), xả(không mừng không lo) mà được phân loại là: -Thuận hỉ thụ nghiệp (Phạm: Saumanasya-vedanìya-karma). -Thuận ưu thụ nghiệp (Phạm: Daurmanasya-vedanìya-karma). -Thuận xả thụ nghiệp (Phạm:Upekwàvedanìya-karma). [X. luận Câu xá Q.3; Câu xá luận quang kí Q.3].

tam nghiệp cúng dường

Ba loại cúng dường—The three kinds of offerings or praises: 1) Thân nghiệp cúng dường: The offering or praise of the body. 2) Khẩu nghiệp cúng dường: The offering or praise of the lips. 3) Ý nghiệp cúng dường: The offering or praise of the mind.

Tam Nghiệp Hoặc Loạn

(三業惑亂, Sangōwakuran): cuộc pháp luận (luận tranh về giáo pháp) xảy ra trong nội bộ Phái Bổn Nguyện Tự (本願寺派, Honganji-ha, phía Tây Bổn Nguyện Tự) thuộc Tịnh Độ Chơn Tông dưới thời Giang Hộ (江戸, Edo, 1600-1867). Người đứng ra xét xử để dẹp yên vụ náo động này là Hiếp Phản An Đổng (脇坂安董, Wakizaka Yasutada), quan Tự Xã Phụng Hành (寺社奉行, Jishabugyō) và là Phiên chủ đời thứ 8 của Phiên Long Dã (龍野藩, Tatsuno-han). Trong phần An Đổng của cuốn Hiếp Phản Gia Phổ (脇坂家譜) có ghi rằng: “Ngày 11 tháng 7 năm Văn Hóa thứ 3 (1806), xét xử vụ náo động về Tông ý của Tây Bổn Nguyện Tự.” Tại Thiện Long Tự (善龍寺, Zenryū-ji, thuộc Tatsuno-shi [龍野市], Hyōgo-ken [兵庫縣]) vẫn còn thư tịch Chơn Tông Tân Nghĩa Cổ Nghĩa Tài Đoạn Thật Ký (眞宗新義古義裁斷實記), được xuất bản ở Long Dã. Sự kiện Tam Nghiệp Hoặc Loạn này là cuộc luận tranh về vấn đề gọi là Dị An Tâm (異安心, ianshin, an tâm theo nghĩa khác). Dị An Tâm ở đây có nghĩa là an tâm của Chơn Tông, khác với an tâm của cảnh giới cứu độ; cho nên đây là cuộc luận tranh để nêu rõ đâu là an tâm đúng nghĩa. An tâm và giáo tướng (giáo lý) có mối quan hệ mật thiết hỗ tương lẫn nhau, không thể phân ly; cho nên nếu giáo thuyết mà sai lạc thì có khả năng nảy sinh mê tín, tà tín. Sự kiện này phát sinh vào năm 1791 (Khoan Chính [寛政] 3) và chấm dứt vào năm 1806 (Văn Hóa [文化] 3). Thật ra, vụ này cần phải mất 10 năm mới giải quyết xong. Nguyên nhân xảy ra cuộc náo động này là sau lễ Húy Kỵ lần thứ 300 của Liên Như Thượng Nhân (蓮如上人) vào năm 1798 (Khoan Chính 10). Năm trước đó, 1797, Trí Động (智洞), người nhậm chức Năng Hóa (能化, Nōke) đời thứ 7 của Học Lâm, thay thế Văn Như Thượng Nhân (文如上人) giảng thuyết về Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經); trong đó, ông tuyên xướng thuyết gọi là Tam Nghiệp Quy Mạng (三業歸命), Dục Sanh Quy Mạng (欲生歸命). Nếu truy nguyên đầu nguồn của thuyết này, nó vốn phát xuất từ Tri Không (知空), vị Năng Hóa đời thứ 3, cho đến Tuấn Đế (峻諦), cho đến vị Năng Hóa đời thứ 7 là Công Tồn (功存). Vị này viết cuốn Nguyện Sanh Quy Mạng Biện (願生歸命辨) để đưa ra chủ thuyết mới là Tam Nghiệp Quy Mạng; và đến thời của Trí Động thì thuyết này đã trở thành tiêu chuẩn an tâm của Chơn Tông thuộc phái Bổn Nguyện Tự. Như có đề cập ở trên, vào ngày 11 tháng 7 năm 1806, An Đổng đứng ra xét xử vụ dao động này, phán quyết rằng thuyết Tam Nghiệp Quy Mạng là không đúng chánh nghĩa, tuyên phạt rất khoan dung phía Tông môn Phái Bổn Nguyện Tự phải bế môn trong vòng 100 ngày. Cũng nhân xảy ra vụ này, chức Năng Hóa bị phế bỏ hẳn luôn.

tam nghiệp hằng thanh tịnh, đồng phật vãng tây phương

By keeping the karma of body, speech and mind pure, we will be no different from Buddhas when reborn into the Pure Land.

tam nghiệp tứ uy nghi

(三業四威儀) Ba nghiệp và 4 uy nghi. Ba nghiệp là những sự tạo tác của thân, khẩu, ý, 4 uy nghi là các nghi biểu đi, đứng, ngồi, nằm. Ba nghiệp và 4 uy nghi là chỉ chung cho tất cả mọi hành vi của người tu.

tam nghĩa hoan hỉ

(三義歡喜) Sau khi nghe đức Phật giảng nói kinh Quán Vô lượng thọ thì phu nhơn Vi đề hi, ngài A nan và vô lượng người, trời, rồng, thần, dạ xoa... đều vui mừng và làm lễ lui ra. Sự vui mừng này có 3 nghĩa sau đây:1. Gặp người vui mừng: Người chính là đức Phật. Phật có đầy đủ 4 trí vô ngại, diễn nói pháp môn quán tưởng Phật A di đà, lìa các sai lầm; nay được gặp người này lòng sinh vui mừng. 2. Nghe pháp vui mừng: Mười sáu môn quán tưởng do đức Phật nói là chỗ tận cùng của sự mầu nhiệm, có năng lực khiến cho tâm phàm phu tiến sâu vào Tam muội; được nghe pháp như thế tâm sinh vui mừng. 3. Được quả vui mừng: Phu nhân Vi đề hi nghe nói về pháp môn quán Phật, y theo đó tu hành, được Phần chân quả; thị nữ, chư thiên được Tương tự quả, được quả như thế, sinh tâm vui mừng. [X. Quán Vô lượng thọ kinh sớ diệu tông sao Q.6 phần cuối].

tam nghĩa quán

(三義觀) Theo thứ tự quán xét nghĩa chân thực của 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới... Luận Đại tì bà sa quyển 183 có thuyết này, nhưng luận Câu xá chỉ nói sơ lược chứ không trình bày chi tiết. Câu xá luận quang kí quyển 33 (Đại 41, 344 trung): Hỏi: Luận Bà sa nói về Tam nghĩa quán, Thất xứ thiện, tại sao luận này không nói? Đáp: Tam nghĩa quán là theo thứ tự quán Uẩn, Xứ, Giới. (...) cho nên không nói 2 quán môn ấy.

Tam Nguyên

(三元): (1) Trời, đất và người, đồng nghĩa với Tam Tài (三才). (2) Thượng Nguyên (上元, rằm tháng giêng), Trung Nguyên (中元, rằm tháng 7) và Hạ Nguyên (下元, rằm tháng 10). (3) Ngày đầu năm, ý muốn nói về ngày đầu tiên của một ngày, tháng và năm, đồng nghĩa với Tam Thỉ (三始), Tam Triêu (三朝). (4) Tên gọi 3 người thi đậu Tiến Sĩ hạng cao nhất dưới thời nhà Minh. (5) Giải Nguyên (解元), Hội Nguyên (會元) và Trạng Nguyên (狀元), ba người đứng đầu trong 3 cuộc thi Hương, Hội và Đình được tổ chức dưới thời nhà Thanh. (6) Trong Đạo Gia, nó có nghĩa là trời đất và nước.

tam nguyên

The three big days of the year in Buddhism tradition: 1) Thượng nguyên (ngươn): Ngày rằm tháng giêng—The fifteen of the first moon. 2) Trung nguyên (ngươn): Ngày rằm tháng bảy—The fifteen of the seventh moon. 3) Hạ nguyên (ngươn): Ngày rằm tháng mười—The fifteen of the tenth moon.

tam nguyện

(三願) I. Tam Nguyện. Ba thứ thệ nguyện Bốn mươi tám nguyện của đức Phật A di đà được chia làm 3 loại chung sau đây: 1. Nhiếp tịnh độ nguyện (cũng gọi Nhiếp độ nguyện, Cầu Phật độ nguyện): Chỉ cho các nguyện có liên quan đến việc trang nghiêm cõi Tịnh độ, nguyện thứ 31, nguyện thứ 32 trong 48 nguyện là thuộc Nhiếp tịnh độ nguyện. 2. Nhiếp pháp thân nguyện (cũng gọi Nhiếp Phật thân nguyện, Cầu Phật thân nguyện): Chỉ cho các nguyện liên quan đến việc thành tựu thân Phật; các nguyện thứ 12, thứ 13 và thứ 17 trong 48 nguyện thuộc về Nhiếp pháp thân nguyện. 3. Nhiếp chúng sinh nguyện (cũng gọi Lợi chúng sinh nguyện, Nhiếp sinh nguyện): Chỉ cho các nguyện liên quan đến việc làm lợi ích chúng sinh; 3 nguyện còn lại đều thuộc Nhiếp chúng sinh nguyện [X. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng (Tịnh ảnh); Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ (Cát tạng); Vô lượng thọ kinh sao Q.3].II. Tam Nguyện. Chỉ cho 3 nguyện thứ 18, 19, 20 nói về tu nhân vãng sinh trong 48 nguyện của đức Phật A di đà. Nhưng sự giải thích về 3 nguyện này có nhiều thuyết khác nhau. Ngài Nghĩa tịch lần lượt gọi 3 nguyện này là Nhiếp thủ chí tâm dục sinh nguyện, Nhiếp thủ tu đức dục sinh nguyện, Nhiếp thủ văn danh dục sinh nguyện và theo thứ tự qui thuộc vào Hạ hạ phẩm, Thượng phẩm và Trung phẩm của Quán kinh; còn các ngài Pháp vị, Huyền nhất, Cảnh hưng... thì theo thứ tự qui thuộc 3 nguyện này vào Thượng phẩm, Trung phẩm và Hạ phẩm của Quán kinh. Ngài Trí quang chùa Nguyên hưng thì lần lượt gọi 3 nguyện này là Chư duyên tín nhạo thập niệm vãng sinh nguyện, Hành giả mệnh chung hiện tiền đạo sinh nguyện và Văn danh hệ niệm tu phúc tức sinh nguyện; ngài Nguyên không của Nhật bản thì gọi là Niệm Phật vãng sinh nguyện, Lâm chung hiện tiền nguyện và Tam sinh qủa toại nguyện. III. Tam Nguyện. Chỉ cho nguyện thứ 18, 11, 22 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà, nói về việc nhờ có đầy đủ 5 nhân 5 quả mà mau chứng được Vô thượng bồ đề. Trong đó, 10 niệm của nguyện thứ 18 tương đương với nhân của 5 niệm, lời thệ của nguyện thứ 11 tương đương với Cận môn, Đại hội chúng môn, Trạch môn, Ốc môn trong Ngũ quả môn; nguyện thứ 22 tương đương với Viên lâm du hí địa môn. [X. Vãng sinh luận chú]. (xt. Tam Nguyện Đích Chứng). IV. Tam Nguyện. Chỉ cho 3 thứ nguyện do Bồ tát phát khởi, đó là: 1. Nguyện làm cho tất cảchúng sinh chứng biết Phật pháp. 2. Nguyện vì chúng sinh nói pháp mà tâm không chán nản, mỏi mệt. 3. Nguyện xả bỏ thân mệnh để bảo vệ chính pháp. Chư thừa pháp số quyển 1 thì nêu Tam nguyện là: Tự hành, Thần thông, Hóa tha. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.12].

tam nguyện chuyển nhập

(三願轉入) Chuyển dần đến 3 nguyện. Đây là giáo nghĩa của Tịnh độ chân tông ở Nhật bản. Tông này chủ trương từ giáo Phương tiện (phương tiện dẫn đến chân thực) đến giáo chân thực là quá trình tín ngưỡng từ nguyện thứ 19(yếu môn) trong 48 nguyện của đức Phật A di đà tiến đến nguyện thứ 20(chân môn), rồi sau lại chuyển tiến đến nguyện thứ 18(hoằng nguyện). Tức là: Trước hết, xả bỏ giáo thánh đạo, nguyện sinh Tịnh độ(nguyện thứ 19); kế đến, xả bỏ các hạnh để chuyên tu niệm Phật (nguyện thứ 20); cuối cùng, quyết lìa bỏ tâm tự lực mà nương tựa vào nguyện tâm tha lực(nguyện thứ 18). Tam nguyện chuyển nhập bắt nguồn từ thuyết Hóa thân độ trong Giáo hành tín chứng của ngài Thân loan. Ngài Thân loan trình bày quá trình nhập tín của chính mình là từ nguyện thứ 19 qua nguyện thứ 20 mà chuyển vào nguyện thứ 18. Nhưng đối với Chân tông, vấn đề tín ngưỡng giáo chân thực có cần phải trải qua tiến trình Tam nguyện chuyển nhập hay không thì có nhiều thuyết khác nhau.

tam nguyện đích chứng

(三願的證) Cũng gọi Đích thủ tam nguyện. Sự chứng minh của 3 nguyện. Nghĩa là dùng 3 nguyện thứ 18, 11, 22, trong 48 nguyện của đức Phật A di đà để nói rõ rằng nhân(Ngũ niệm môn) và quả(Ngũ công đức môn) của việc vãng sinh Tịnh độ đều là nhờ sức bản nguyện của Phật A di đà mà có, đồng thời, để chứng minh rằng sinh về Tịnh độ thì mau chóng được thành Phật. Cũng tức là dùng 3 nguyện này để chứng minh cái lực dụng của nguyện lực Phật A di đà. Thuyết này có xuất xứ từ Vãng sinh luận chú quyển hạ. Cũng sách này còn nói, nếu chúng sinh tu Ngũ niệm môn và lấy sức bản nguyện của Phật A di đà làm duyên tăng thượng thì sẽ được vãng sinh Tịnh độ. Tam nguyện đích chứng là: 1. Nguyện thứ 18: Nếu chúng sinh trong 10 phương dốc lòng tin ưa dù chỉ niệm Phật được 10 niệm mà muốn sinh về Tịnh độ thì cũng được vãng sinh. Nguyện này là nhân vãng sinh của chúng sinh, tương đương với nhân hạnh của Ngũ niệm môn (5 pháp môn tu hành mà chúng sinh nhớ nghĩ, quán tưởng đức Phật A di đà và cõi Tịnh độ của ngài để cầu vãng sinh), vì thế dùng nguyện này ấn chứng. 2. Nguyện thứ 11: Nguyện cho người, trời trong cõi Tịnh độ đều trụ trong Chính định tụ, cho đến diệt độ. Nguyện này là quả báo mà chúng sinh sẽ có được sau khi sinh về Tịnh độ, tương đương với 4 môn trước trong Ngũ công đức môn (là 5 thứ quả báo mà người tu hành Ngũ niệm môn có được sau khi sinh về Tịnh độ), cho nên dùng nguyện này để ấn chứng. 3. Nguyện thứ 22: Nguyện cho các chúng Bồ tát ở cõi Phật phương khác sinh về Tịnh độ, trừ những vị có bản nguyện tự tại hóa độ(tức du hóa các cõi nước của chư Phật để hóa độ tất cả chúng sinh)ra, những vị còn lại đều đạt đến Nhất sinh bổ xứ. Các Bồ tát Tịnh độ trong nguyện này dùng việc du hóa để độ sinh, tương đương với Viên lâm du hí địa môn (là địa vị giáo hóa chúng sinh bằng thần thông du hí sau khi tu hành thành tựu) trong Ngũ công đức môn, vì thế dùng nguyện này để ấn chứng. Qua sự trình bày trên đây, người ta có thể chứng biết nhân và quả vãng sinh Tịnh độ đều nhờ sức bản nguyện của Phật A di đà mà có, đồng thời, cũng chứng biết chúng sinh nhờ sức bản nguyện của Phật A di đà mà được sinh về Tịnh độ, an trụ trong Chính định tụ, cho đến mau chóng thành Phật.

tam ngôn thanh

(三言聲) Cũng gọi Tam số. Thuật ngữ đặc biệt trong văn pháp tiếng Phạm. Ngôn thanh, Phạm: Vacana. Về mặt văn pháp, các loại từ như danh từ, đại danh từ, hình dung từ, số từ... trong tiếng Phạm đều có 3 thứ khác nhau, cho nên để phân biệt, thuật ngữ Tam ngôn thanh được dùng làm pháp tính số. Số đơn gọi là Nhất ngôn thanh (Phạm: Eka-vacana), số kép gọi là Nhị ngôn thanh (Phạm: Dvivacana), số nhiều gọi là Đa ngôn thanh (Phạm:Bahu-vacana), các nhà văn pháp Tất đàm đời xưa gọi chung 3 số này là Tam ngôn thanh. Chẳng hạn như 1 con ngựa gọiazva, 2 con ngựa gọi làazvau, nhiều con ngựa gọi làazvàs.

tam ngại

Ba mối lo ngại về tự ngã, về tôn sư và về chư pháp—The three doubts of self, of teacher, and of the dharma-truth.

tam nhiễm

Three kasaya—Ba nhiễm trược—Three infections: 1) Dục nhiễm: The infection of the passions. 2) Nghiệp nhiễm: Karma infection. 3) Tái sanh nhiễm: The infection of reincarnation.

tam nhiệt

Ba nỗi khổ đau—The three heats—Three kinds of burning: 1) Khổ đau vì ngoại nhiệt làm nóng cháy da: The pain of hot wind and sand being blown against the skin. 2) Khổ đau vì tai ương làm tiêu tan trang sức áo quần: The pain of disasters (violent winds) which take away jeweled clothes and ornaments. 3) Khổ đau vì bị garuda (loài chim hay ăn thịt rồng) ăn thịt: Khổ đau vì bị ngũ dục giết chết huệ mạng—The pain of being eaten by a garuda, a dragon-eating bird—The pain of wisdom-life being killed by the five desires. ; (三熱) Cũng gọi Tam hoạn. Ba cái nóng. Tức là 3 nỗi khổ não mà loài rồng phải chịu đựng nói trong kinh Trường a hàm quyển 18. Đó là: 1. Nỗi khổ vì gió nóng, cát nóng làm cháy bỏng da thịt, xương tủy... 2. Nỗi khổ não vì bị gió dữ thổi bay mất chỗ cư trú và y phục. 3. Nỗi khổ não vì bị loài chim cánh vàng cướp mất rồng con trong cung điện. [X. điều Ca sa công đức trong Chính pháp nhãn tạng].

tam nhân

Chánh nhân (bản nhân thành Phật), liễu nhân (liễu triệt lý thành Phật), duyên nhân (trợ duyên thành Phật). ; (三因) I. Tam Nhân. Chỉ cho tâm chí thành, tâm sâu xa, tâm hồi hướng phát nguyện. Ba tâm này là nhân chính yếu để được vãng sinh Tịnh độ, cho nên gọi là Tam nhân. [X. Vãng sinh lễ tán kệ]. (xt. Tam Tâm). II. Tam Nhân. Chỉ cho Ứng đắc nhân, Gia hành nhân, Viên mãn nhân do luận Phật tính y cứ theo thứ tự giác ngộ thành Phật mà lập ra. 1. Ứng đắc nhân: Nương vào lí không của chân như mà tu nhân hạnh, ứng được quả bồ đề nên gọi là Ứng đắc nhân. 2. Gia hành nhân: Nương vào tâm bồ đề mà thêm công dụng tu hành, lấy đó làm nhân mà có thể chứng được quả pháp thân, nên gọi là Gia hành nhân. 3. Viên mãn nhân: Nhờ gia hành mà nhân hạnh tròn đầy, vì thế gọi là Viên mãn nhân. Trong 3 nhân này, Ứng đắc nhân lấy vô vi như lí làm thể, còn Gia hành nhân và Viên mãn nhân thì lấy hữu vi nguyện hành làm thể. Lại trong Ứng đắc nhân có 3 thứ Phật tính là Trụ tự tính, Dẫn xuất tính và Chí đắc tính. Trụ tự tính chỉ cho vị phàm phu trước Tu đạo; Dẫn xuất tính chỉ cho vị Phát tâm trở lên đến tột cùng Thánh vị Hữu học; Chí đắc tính tức là Thánh vị vô học. III. Tam Nhân. Chỉ cho 3 thứ nhân quả trong quá trình tu hành của Bồ tát. Đó là: 1. Dị thục nhân: Do nghiệp thiện, ác chiêu cảm quả vui, quả khổ; vì 2 quả khổ, vui chẳng phải thiện chẳng phải ác mà là pháp vô kí, nên gọi nghiệp thiện, ác là Dị thục nhân. 2. Phúc nhân: Lấy 3 Ba la mật thí, giới, nhẫn làm nhân mà chiêu cảm quả báo phúc đức, cho nên gọi thí, giới, nhẫn là Phúc nhân. 3. Trí nhân: Lấy Tuệ ba la mật làm nhân mà chiêu cảm quả trí bồ đề, vì thế gọi Tuệ ba la mật là Trí nhân. Tinh tiến ba la mật và Thiền định ba la mật thì chung cho cả Phúc nhân và Trí nhân. (xt. Tam Nhân Tam Quả). IV. Tam Nhân. Chỉ cho 3 nhân do luận Thành thực căn cứ vào 6 nhân của luận Câu xá mà lập ra, đó là: 1. Sinh nhân: Chỉ cho pháp khi sinh ra có thể làm nhân, tức là Dị thục nhân. 2. Tập nhân: Như tập quen tham dục thì tham dục càng thêm lớn, tức Đồng loại nhân. 3. Y nhân: Như lấy 6 căn 6 cảnh làm chỗ nương mà sinh ra 6 thức, tức 3 nhân Câu dụng, Tương ứng và Biến hành. Còn Năng tác nhân trong 6 nhân là Tăng thượng duyên trong 4 duyên nên luận Thành thực không lập. V. Tam Nhân. Gọi đủ: Tam nhân Phật tính. Chỉ cho Chính nhân Phật tính, Liễu nhân Phật tính và Duyên nhân Phật tính. (xt. Tam Nhân Phật Tính).

tam nhân phật tánh

(三因佛性) I. Tam Nhân Phật Tính. Ba nhân Phật tính do Đại sư Trí khải tông Thiên thai căn cứ vào thuyết trong kinh Đại bát niết bàn quyển 28 (bản Bắc) mà lập ra. Nghĩa là tất cả chúng sinh đều có đủ 3 nhân Phật tính này, nếu được hiển bày thì liền thành diệu quả tam đức. 1. Chính nhân Phật tính: Chính tức là trung chính, trung ắt song chiếu, lìa thiên lìa tà, chiếu không chiếu giả, chẳng không chẳng giả, đầy đủ Tam đế, là chính nhân Phật tính. Cũng tức là lí thể của thực tướng các pháp, là nhân chính để thành Phật. 2. Liễu nhân Phật tính: Liễu tức là soi rõ, do Chính nhân ở trước mà phát ra trí soi rõ này, trí và lí ứng hợp nhau, đó là Liễu nhân Phật tính. 3. Duyên nhân Phật tính: Duyên tức là trợ duyên, tất cả công đức thiện căn đều giúp đở Liễu nhân để khai phát tính của Chính nhân, đó là Duyên nhân Phật tính.[X. Kim quang minh kinh huyền nghĩa Q.thượng; Tứ giáo nghĩa Q.6]. II. Tam nhân Phật tính. Ba nhân Phật tính theo thuyết của luận Phật tính quyển 2. 1. Ứng đắc nhân: Chỉ cho Chân như do ngã không, pháp không hiển hiện. 2. Gia hành nhân: Chỉ cho tâm bồ đề.3. Viên mãn nhân: Chỉ cho gia hành. Trong 3 nhân trên, Ứng đắc nhân có 3 thứ Phật tính là: Trụ tự tính, Dẫn xuất tính và Chí đắc tính. (xt. Tam Nhân).

tam nhân quán thập nhị nhân duyên

(三人觀十二因緣) Ba bậc người cùng quán xét 12 nhân duyên. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 40 (bản Bắc) thì Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát của Thông giáo, tuy cùng quán xét 12 nhân duyên, nhưng tùy theo trí có cạn, sâu, pháp thành cao, thấp cho nên có 3 loại khác nhau. 1. Quán xét bằng hạ trí cho nên chứng được bồ đề của Thanh văn: Hàng Thanh văn dùng trí của thể không, trước hết quán 12 nhân duyên sinh, kế đến quán 12 nhân duyên diệt, quán sinh, diệt như thế liền ngộ được chẳng sinh chẳng diệt, phá trừ Kiến hoặc và Tư hoặc mà chứng lí Chân không. 2. Quán xét bằng trí bậc trung cho nên chứng được bồ đề của Duyên giác: Hàng Duyên giác cũng dùng trí của thể không, bắt đầu quán 12 nhân duyên sinh, sau đó quán 12 nhân duyên diệt, quán sinh quán diệt như thế liền ngộ được chẳng sinh chẳng diệt, phá trừ Kiến hoặc, Tư hoặc, lại dần dần trừ được tập khí. Vì trí năng quán của Duyên giác thù thắng hơn trí năng quán của Thanh văn, nên lí chân không mà hàng Duyên giác chứng được cũng sâu hơn. 3. Quán xét bằng trí bậc thượng cho nên được bồ đề của Bồ tát: Bồ tát cũng dùng trí thể không mà quán xét sự sinh diệt của 12 nhân duyên, liễu ngộ phi sinh phi diệt, tức khắc đoạn trừ Kiến hoặc, Tư hoặc và tập khí của chúng. Vì trí năng quán của Bồ tát thù thắng hơn trí năng quán của Duyên giác, nên lí chân không mà Bồ tát chứng được là sâu xa nhất. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên).

tam nhân tam quả

(三因三果) Ba thứ nhân quả trong quá trình tu hành của Bồ tát. Đó là: 1. Dị thục nhân dị thục quả: Đời này gieo nhân thiện, ác, đời sau được quả. 2. Phúc nhân phúc quả: Lấy bố thí, trì giới, nhẫn nhục làm nhân, đời này và đời sau được quả tự tại. 3. Trí nhân trí quả: Tiến tu tất cả trí tuệ làm nhân, chứng được Tam thừa và Phật quả. Về nhân quả Dị thục, như Bồ tát nhờ không làm hại tất cả chúng sinh nên được thọ lượng đầy đủ; nhờ cúng dường bậc tôn trưởng nên được thế lực đầy đủ; do huệ thí cứu giúp nên được tự tại đầy đủ. Về nhân quả của Phúc, Trí, lấy Thí, Giới, Nhẫn làm Phúc, Tuệ làm Trí; còn Tinh tiến, Tĩnh lự thì chung cho cả Phúc và Trí. Người tu phúc là nhân phúc, không bị trôi lăn trong sinh tử, không bị tổn não, lại có thể giúp ích chúng sinh, mang lại quả phúc. Người tu Trí là nhân Trí, quyết định tính chất phải quấy, chính tà của Phúc, phát khởi vô lượng sự nghiệp thiện xảo là quả trí. Nhờ phúc và trí này mà chứng được Vô thượng chính đẳng bồ đề, đó là quả nghiệp rốt ráo.

tam nhãn

(三眼) Chỉ cho nhục nhãn (mắt thịt), thiên nhãn (mắt trời) và tuệ nhãn(mắt tuệ). 1. Nhục nhãn (Phạm: Màôsacakwus): Loại mắt có khả năng soi thấy các sắc Hữu kiến hiển lộ không bị ngăn ngại.2. Thiên nhãn (Phạm: Dìvyacakwus): Loại mắt chiếu thấy các sắc Hữu kiến hiển lộ, không hiển lộ, hữu chướng, vô chướng. 3. Tuệ nhãn (Phạm:Prajĩà-cakwus): Loại mắt có khả năng chiếu soi tất cả các pháp, có sắc hay không sắc. [X. kinh Trường a hàm Q.8; luận Du già sư địa Q.14; luận Câu xá Q.1]. (xt. Ngũ Nhãn).

tam nhơn

Three causes: 1) Sanh nhơn: Producing cause, as good or evil deeds cause good or evil karma. 2) Tập nhơn: habit cause—Lust breeding lust. 3) Y nhơn: dependent or hypostatic cause (Lục căn Six organs and their lục trần or six objects causing the cognitions lục thức or six consciousnesses).

tam nhơn phật tánh

The first three characteristics of Buddha's nature—See Ngũ Phật Tánh (A).

tam nhơn tam quả

The three causes produce their three effects: 1) Dị thục nhơn dị thục quả: Mọi nhân trong kiếp hiện tại đều tạo thành quả trong kiếp tới—Differently ripening causes produce differently ripening effects (every developed cause produces its developed effect, especially the effect of the present causes in the next transmigration). 2) Phúc nhơn phúc báo: Phúc nhơn tạo phúc quả ở đời nầy và đời sau—Blessed deeds produce blessed rewards, now and hereafter. 3) Trí nhơn trí quả: Trí nhơn tạo trí quả sau nầy—Wisdom now produces wisdom-fruit hereafter.

tam như lai tạng

(三如來藏) Ba nghĩa của Như lai tạng. Như lai tạng chỉ cho tâm tự tính thanh tịnh ẩn chứa trong thân tạp nhiễm của tất cả hữu tình.1. Theo thuyết trong Đại thừa chỉ quán pháp môn quyển 1, Như lai tạng có 3 nghĩa: a. Năng tàng: Pháp thân của quả đức và tịnh tâm của tính tịnh, bao gồm 2 tính nhiễm, tịnh và 2 sự nhiễm, tịnh nhưng không bị ngăn ngại. b. Sở tàng: Tâm tự tính thanh tịnh bị cái vỏ của vô minh bao phủ. c. Năng sinh:Tâm thể này có cái dụng của 2 tính nhiễm và tịnh, đồng thời có sức huân tập(xông ướp) của 2 thứ nhiễm và tịnh, có khả năng sinh ra các pháp thế gian và xuất thế gian. 2. Theo thuyết trong Viên giác kinh lược sớ quyển thượng, phần 1, Như lai tạng là chỉ cho pháp thân của Như lai, có 3 nghĩa sau đây: a. Ẩn phú: Pháp thân của Như lai bị phủ kín trong sinh tử phiền não, giống như thỏi vàng bị vùi trong đống rác nhơ nhớp. b. Hàm nhiếp: Pháp thân Như lai bao hàm vô lượng công đức như thân tướng, quốc độ, thần thông đại dụng, cũng bao hàm hết thảy chúng sinh, tất cả đều hàm nhiếp trong Như lai tạng. c. Xuất sinh: Đứng về phương diện giác ngộ mà nói thì pháp thân Như lai đã bao gồm mọi đức, được rõ suốt chứng nhập thì có năng lực xuất sinh. [X. kinh Chiêm sát Q.hạ; Thắng man bảo quật Q.hạ, phần đầu; Khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng].

tam nhất nhị thừa

Có ba hàng nhị thừa trước khi Phật thuyết Kinh Pháp Hoa là Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát, khi tới hội Pháp Hoa thì tất cả đều đã được thành thục để đi vào Nhứt Thừa—The “Two Vehicles” of “Three” and “One,” the three being the pre-Lotus ideas of Sravaka, Pratyeka and Bodhisattva, the one being the doctrine of the Lotus Sutra which combined all three in one. ; (三一二乘) Chỉ cho Tam thừa và Nhất thừa. 1. Tam thừa: Tức 3 thừa Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát nói trong kinh Pháp hoa, có sự khác nhau về chứng đạo. Trong 3 thừa này thì 2 thừa Thanh văn và Duyên giác nhiếp thuộc Ngu pháp (ngu mê về lí pháp không của Đại thừa). 2. Nhất thừa: Tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật, trong các cõi Phật ở 10 phương chỉ có pháp Nhất thừa, đây là hội Tam thừa qui về Nhất Phật thừa nói trong kinh Pháp hoa. Nếu phối hợp với 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên của tông Thiên thai thì Tạng giáo và Thông giáo là Tam thừa, Biệt giáo và Viên giáo là Nhất thừa; nếu phối hợp với 5 giáo Tiểu, Thủy, Chung, Đốn, Viên của tông Hoa nghiêm thì Tiểu giáo và Thủy giáo là Tam thừa, còn Chung giáo, Đốn giáo và Viên giáo thì thuộc Nhất thừa. Nếu phối hợp với các tông thì 4 tông: Tam luận, Pháp tướng, Thành thực, Câu xá thuộc về Tam thừa, còn 2 tông Hoa nghiêm và Thiên thai thì thuộc Nhất thừa.

tam nhẫn

Ba loại nhẫn—Three forms of ksanti (Patience—Endurance—Tolerance): (A) 1) Âm hưởng nhẫn: Kham nhẫn chịu đựng những âm thanh mình nghe—Endure the sound we hear—Patience in hearing the sound—Understanding the truth we hear. 2) Nhu thuận nhẫn: Kham nhẫn khi lắng nghe chân lý—Patience in obeying the truth. 3) Vô sanh pháp nhẫn: Kham nhẫn khi đạt thành chân lý tuyệt đối—Patience in attaining absolute reality. (B) 1) Thân nhẫn: Nhẫn nhục nơi thân—Patience or forbearance of the body. 2) Khẩu nhẩn: Nhẫn nhục nơi khẩu—Patience or forbearance of the mouth. 3) Ý nhẫn: Nhẫn nhục nơi ý—Patience or forbearance of the mind.

tam nhật phần

Ba phần trong một ngày—The three divisions of the day. 1) Sơ Nhật Phần: The beginning of the day. 2) Trung Nhật Phần: The middle of the day. 3) Hậu Nhật Phần: The end of the day.

tam nhật trai

(三日齋) Cũng gọi Kiến vương trai. Sau khi người chết đến ngày thứ 3, thân nhân thỉnh tăng ni thiết trai cúng dường để cầu siêu độ cho người quá cố, gọi là Tam nhật trai. [X. Thích thị yếu lãm Q.hạ; môn Ẩm đạm trong Thiền lâm tượng khí tiên].

tam nhứt nhị thừa

See Tam Nhất Nhị Thừa in Vietnamese-English Section.

Tam niên nhũ bộ

(三年乳哺): ba năm trường mẹ cho con bú và mớm cơm cho con ăn. Trong Địa Mẫu Kinh (地母經) của Đạo Giáo có câu: “Thùy phi phụ mẫu sanh, thập nguyệt hoài thai khổ, tam niên nhũ bộ tân (誰非父母生、十月懷胎苦、三年乳哺辛, ai là người không phải do cha mẹ sanh ra, mười tháng mang thai cực khổ, ba năm cho con bú mớm nhọc nhằn).” Hơn nữa, trong Tây Du Ký (西遊記), hồi thứ 78 cũng có đoạn: “Thiên vô nhị nhật, nhân vô nhị lý, dưỡng dục hài đồng, phụ tinh mẫu huyết, hoài thai thập nguyệt, đãi thời nhi sanh, sanh hạ nhũ bộ tam niên, tiệm thành thể tướng, khởi hữu bất tri chi lý (天無二日、人無二理、养育孩童,父精母血,怀胎十月,待时而生,生下乳哺三年,渐成体相,岂有不知之理!養育孩童、父精母血、懷胎十月、待時而生、生下乳哺三年、漸成體相、豈有不知之理, trời không có hai mặt trời, người không có hai lý, nuôi dưỡng con nhỏ, tinh cha huyết mẹ, mang thai mười tháng, đợi đến lúc sanh con, sanh xong cho bú mớm ba năm, dần dần thành hình tướng, liệu làm sao chẳng biết lý ấy).” Hay như trong Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn (勸發菩提心文) của Tỉnh Am Đại Sư (省庵大師, 1686-1734) có câu: “Vân hà niệm phụ mẫu ân ? Ai ai phụ mẫu, sanh ngã cù lao, thập nguyệt tam niên, hoài thai nhũ bộ (云何念父母恩、哀哀父母、生我劬勞、十月三年、懷胎乳哺, Thế nào là nhớ đến công ơn cha mẹ ? Thương thay cha mẹ, sanh ta khó nhọc, mười tháng ba năm, mang thai bú mớm).”

tam niết bàn

(三涅槃) I. Tam Niết Bàn. Ba thứ Niết bàn do tông Thiên thai dựa theo 3 phương diện Thể, Tướng, Dụng mà lập ra để nêu tỏ nghĩa bất sinh bất diệt. Đó là: 1. Tính tịnh Niết bàn: Thực tướng các pháp không nhiễm không tịnh, không nhiễm tức không sinh, không tịnh tức không diệt, không sinh không diệt tức là Tính tịnh Niết bàn. 2. Viên tịnh Niết bàn: Trí đạt đến cùng cực là Viên, Hoặc bị trừ hết sạch là Tịnh; Trí mà khế hợp với Lí thì Hoặc rốt ráo chẳng sinh, Trí rốt ráo chẳng diệt, chẳng sinh chẳng diệt tức là Viên tịnh Niết bàn.3. Phương tiện tịnh Niết bàn: Trí thường khế lí thì chiếu rọi các cơ. Chiếu ắt ứng hiện, cơ cảm liền sinh, sinh này chẳng phải sinh, cơ duyên đã hết thì ứng than liền diệt. Diệt này chẳng phải diệt, chẳng sinh chẳng diệt tức là Phương tiện tịnh Niết bàn.Trên đây, theo thứ tự là Thể đại, Tướng đại và Dụng đại trong 3 đại, Pháp thân, Báo thân và Ứng hóa thân trong 3 thân. [X. Kim quang minh kinh huyền nghĩa Q.thượng; Pháp hoa huyền nghĩa Q.5 hạ; Thập địa kinh luận nghĩa kí Q.1 phần cuối; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.3, phần 1]. II. Tam Niết Bàn. Ba loại Niết bàn của Tiểu thừa, Tam thừa và Nhất thừa. 1. Niết bàn của Tiểu thừa: Thân và trí đều còn, gọi là Hữu dư Niết bàn; thân và trí đều không còn, gọi là Vô dư Niết bàn. Cả hai đều lấy tịch diệt vô vi làm thể.2. Niết bàn của Tam thừa: Gồm có 5 thứ:a. Vô trụ niết bàn: Vận dụng cả bi và trí, không trụ trước. b. Tính tịnh niết bàn: Vì vốn có sẵn nên Niết bàn này thường vắng lặng, thanh tịnh.c. Phương tiện tịnh niết bàn: Vì Niết bàn này nhờ các duyên tu hành mà có được. d. Hữu dư niết bàn: Vì còn có thân ứng hóa, chưa cùng tận. e. Vô dư niết bàn: Pháp thân vắng bặt, vì thuận theo tịch diệt. 3. Niết bàn của Nhất thừa: Nói theo Biệt giáo thì có 10 thứ Niết bàn, như 10 thứ Niết bàn nói trong phẩm Li thế gian của kinh Hoa nghiêm. [X. Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.4]. (xt. Niết Bàn).

tam niết bàn môn

See Tam Giải thoát môn—Three gates to the city of Nirvana: 1) Không: The void—Immaterial. 2) Vô tướng: Formlessness. 3) Vô tác: Inactivity.

tam niệm nguyện lực

(三念願力) Cũng gọi Tam niệm lực, Tam lực, Tam sự. Chỉ cho ba thứ lực dụng của đức Phật A di đà nhớ nghĩ và hộ trì chúng sinh để khiến cho họ được thấy Phật. Đó là: 1. Đại thệ nguyện lực: Tức nguyện lực ở nhân vị(lúc còn tu nhân) của Phật, sức uy thần của Phật, cũng tức là lực dụng khi đã đắc quả, Phật dùng 3 thứ lực dụng này gia hộ chúng sinh thì chúng sinh liền được thấy Phật.2. Tam muội định lực: Phật thường an trụ trong định, tâm ý không tán loạn, hiện đại lực dụng; Phật gia hộ chúng sinh bằng lực dụng này, chúng sinh liền được thấy Phật. 3. Bản công đức lực: Tức sức công đức sẵn có của hành giả, có 2 nghĩa: Tính bản và Túc bản. Tính bản chỉ cho Phật tính vốn có; Túc bản chỉ cho sức thiện căn của đời trước. Ngài Thiện đạo chủ trương 3 lực dụng trên đây đều là của đức Phật A di đà và gọi là Di đà tam niệm nguyện lực. Nhưng Ma ha chỉ quán quyển 2 thượng, thì cho rằng Đại thệ nguyện lực và Tam muội định lực là lực dụng của Phật, còn Bản công đức lực là lực dụng thuộc về hành giả.[X. kinh Bát chu tam muội Q.thượng; Hiền hộ phần trong kinh Đại phương đẳng đại tập Q.2; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyển Q.2, phần 1; Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ chính quán kí Q.trung; Vãng sinh yếu tập Q.trung, phần cuối].

tam niệm trụ

(三念住) Phạm: Trìịi smfty-upasthànàni. Cũng gọi Tam niệm xứ, Tam ý chỉ. I. Tam niệm trụ. Chỉ cho 3 ý niệm trong đó chư Phật thường an trụ. Phật dùng tâm đại bi độ hóa chúng sinh, thường an trụ trong 3 niệm, không có các cảm giác lo mừng, vui buồn. Đây là 1 trong 18 pháp riêng (bất cộng pháp) của đức Phật. Tam niệm trụ là: 1. Đệ nhất niệm trụ: Chúng sinh tin Phật, vâng theo lời Phật dạy mà tu hành, Phật cũng không vì thế mà sinh tâm vui mừng, nhưng thường an trụ trong chính niệm chính trí. 2. Đệ nhị niệm trụ: Chúng sinh không tin Phật, chẳng làm theo lời Phật dạy, Phật cũng không vì thế mà sinh tâm lo buồn, nhưng thường an trụ trong chính niệm chính trí. 3. Đệ tam niệm trụ: Trong chúng sinh có người tin, người không tin, Phật biết điều đó, nhưng không vì thế mà sinh tâm vui buồn, chỉ an trụ trong chính niệm chính trí. Ba niệm trên đây đều lấy niệm và tuệ làm thể, là các công đức chỉ một mình Phật có, chứ hàng nhị thừa không có được. II. Tam Niệm Trụ. Dựa theo thể của Tứ niệm trụ (thân, thụ, tâm, pháp) mà Niệm trụ được chia làm 3 loại sau đây: 1. Tự tính niệm trụ(cũng gọi Tính niệm xứ): Tứ niệm xứ đều lấy tuệ làm thể, có 3 thứ là Văn tuệ, Tư tuệ và Tu tuệ. 2. Tương tạp niệm trụ(cũng gọi Cộng niệm xứ, Tương ứng niệm xứ): Lấy tuệ và các pháp câu hữu khác làm thể. 3. Sở duyên niệm trụ(cũng gọi Duyên niệm xứ, Cảnh giới niệm xứ): Lấy các pháp sở duyên của tuệ làm thể. Theo luận Đại tì bà sa quyển 187 thì trong Tam niệm trụ trên, Tự tính niệm trụ và Sở duyên niệm trụ không đoạn trừ được phiền não, chỉ có Tương tạp niệm trụ là có khả năng ấy. Ngoài ra, Tứ giáo nghĩa quyển 2 cho rằng tu 3 niệmxứ có khả năng thành tựu 3 loại La hán, như tu Tính niệm xứ có thể thành Tuệ giải thoát la hán; tu Cộng niệm xứ có thể thành Câu giải thoát la hán, tu Duyên niệm xứ có thể thành tựu Vô ngại giải thoát la hán. [X. luận Tạp a tì đàm tâm Q.5; luận Câu xá Q.33; luận Du già sư địa Q.28; luận Đại trí độ Q.19].

tam niệm trụ (xứ)

Phật luôn luôn trụ trong chánh tâm và trí huệ. Phật không vui sướng cũng không khổ sầu, dù rằng chúng sanh có tin, không tin, hơi tin hay hơi không tin, Phật vẫn luôn giữ mình vượt trên những vui sướng khổ sầu—The Buddha always rests in his proper mind and wisdom. He neither rejoices, nor grieves whether all creatures believe, do not believe, part believe and part do not believe. The Buddha always keep himself above the disturbances of joy and sorrow.

Tam niệm xứ

xem Ba chỗ niệm.

tam năng biến

1. Trong thức tám, khi có một chủng tử nào chín muồi, gặp duyên biến hiện thuộc về dị thục năng biến. 2. Dù trong chủng tử đủ sức biến hiện, còn phải chờ thức bảy, ngày đêm suy lường chấp ngã, mới được biến hiện ra, thuộc về suy lường năng biến. 3. Hai thức thứ bảy và thức thứ tám, dù có tính năng biến, còn phải chờ thức thứ sáu liễu biệt lục trần (phân biệt rõ ràng) mới được sanh khởi hiện hành, thuộc liễu biệt năng biến; ba thức sáu, bảy, tám hợp tác biến hiện vũ trụ vạn vật, gọi là Tam năng biến. ; Duy Thức Luận chia tám thức ra làm ba loại năng biến—The “Only-Consciousness” Sastra divided the eight consciousnesses into three powers of change. 1) Sơ Năng Biến: The first power of change—See A Lại Da Thức. 2) Đệ Nhị Năng Biến: The second power of change—See Mạt Na Thức. 3) Đệ Tam Năng Biến: The third power of change—See Lục Thức. ; (三能變) Phạm: Trividha-pariịàma. Ba thứ chủ động sự biến hiện. Hành phái Du già và tông Duy thức chủ trương Thức có năng lực chuyển biến sinh khởi tất cả muôn pháp, hoặc biến hiện là chủ thể của tác dụng nhận thức chủ quan (Kiến phần) và khách quan(Tướng phần) trong nội tâm, vì thế gọi là Năng biến. Y cứ vào đặc tính của tác dụng, Năng biến được chia làm 3 loại là Dị thục, Tư lương và Liễu cảnh. 1. Dị thục (Phạm,Pàli:Vipàka)năng biến(cũng gọi Đệ nhất năng biến, Sơ năng biến): Tức thức A lại da thứ 8. Thức thứ 8 là quả báo chung của hữu tình từ cõi người cho đến các cõi trời, quả báo này do Dẫn nghiệp dắt dẫn mà trở thành thể tổng báo thường hằng tương tục, cho nên gọi là Dị thục, hoặc gọi là Dị thục năng biến, Di thục thức, Chân dị thục. Chẳng hạn như 6 thức trước(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và quả báo riêng biệt về giàu nghèo, sang hèn... là do thể biệt báo của Mãn nghiệp mà có; nhưng quả báo này có lúc dứt mất nên không gọi là Dị thục mà gọi là Di thục sinh. Nếu nói theo Lại da tam vị thì tên Dị thục thức tương đương với Thiện ác nghiệp quả vị. 2. Tư lương (Phạm: Manana) năng biến(cũng gọi Đệ nhị năng biến): Chỉ cho thức Mạt na thứ 7. Vì thức thứ 7 là thức thường so đo, nghĩ ngợi, tính lường nên gọi là Tư lương năng biến. Trong các thức thì thức thứ 6 và thức thứ 7 luôn luôn suy nghĩ, lo lường, nhưng vì thức thứ 6 có lúc gián đoạn chứ không thường hằng như thức thứ 7 nên không được gọi là Tư lương năng biến.3. Liễu cảnh năng biến(cũng gọi Đệ tam năng biến, gọi đủ: Liễu biệt cảnh năng biến): Tức chỉ cho 6 thức trước(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Sáu thức này có tác dụng phân biệt rõ ràng các đối tượng(như màu sắc, âm thanh...) khi chúng hiển hiện, cho nên gọi là Liễu biệt cảnh năng biến. Thức thứ 7 và thức thứ 8 thì không có tác dụng phân biệt rõ ràng các đối tượng. Chỉ có 6 thức trước của đức Phật đối với các cảnh nhỏ nhiệm như Chân như cũng có thể phân biệt rõ ràng. Trên đây, thức năng biến thứ nhất do nghiệp đời trước và chủng tử của Danh ngôn biến hiện ra cảnh thực, vì thế gọi là Biến. Trong đó, nếu nói theo chủng tử(hạt giống) được tích chứa thì gọi là Nhân năng biến, còn nói theo phần tự thể của thức thể có năng lực biến hiện mà sinh ra quả Kiến phần và Tướng phần thì gọi là Quả năng biến. [X. Duy thức tam thập luận tụng; luận Thành duy thức Q.4,7; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần đầu, Q.2, phần đầu]. (xt. Nhân Năng Biến, Quả Năng Biến).

tam nội

(三內) Ba âm bên trong. Chỉ cho Hầu nội (cổ họng), Thiệt nội(lưỡi)và Thần nội(môi). Đây là tiếng dùng trong Tất đàm học của Nhật bản, tức là 3 cách phát âm tiếng Phạm. Phần đệ ngũ hạ tự liên thành thượng tự âm lệ trong Tất đàm thập nhị lệ của ngài An nhiên, cao tăng người Nhật bản, có ghi: Ngũ cú tự có 3 loại âm, thứ nhất là âm đầu của hầu nội; tức là chữ ka; thứ hai là âm đầu của thiệt nội, tức chữ ca, ỉa, ta; thứ ba là âm đầu của thần nội, tức chữ pa. Chín chữ sau đó cũng có 3 loại âm. Một là âm đầu của hầu nội, tức chữ ya, ha, kwa; hai là âm đầu của thiệt nội, tức các chữ ra, la, za, wa, sa; ba là âm đầu của thần nội, tức chữ va. Cũng tức là dùng âm đầu của các chữ thuộc 5 loại, 9 loại mà làm thành âm cuối của các chữ 3 loại âm. Chẳng hạn như âm đại không, âm niết bàn đều hàm chứa âm của hầu nội, thiệt nội và thần nội. Ba âm của đại không là Hạnh, Kiến, Khiếm; 3 âm của niết bàn là Cách, Yết, Kiếp. Cách dùng này rất giống với Song thanh, Điệp vận của Trung quốc. [X. Tất đàm lược kí; Tất đàm yếu quyết Q.1].

Tam phiền não

三煩惱; C: sānfánnăo; J: sanbonnō;|Trong luận Du-già sư địa (瑜伽師地論; s: yogācārabhūmi-śāstra), Vô minh (無明), Ái (愛) và Thủ (取) là ba nhánh nghiệp quan trọng trong Thập nhị chi (十二支).

tam phiền não

Three kinds of afflictions: 1) Kiến Tư Hoặc: The ilusion or misleading views and thoughts—See Kiến Hoặc Tư Hoặc. 2) Trần Sa Hoặc: Delusion of “Dust and sand.” 3) Vô Minh Hoặc: The illusion arising from primal ignorance—See Vô Minh and Vô Minh Hoặc.

tam phong phái

(三峰派) Chi phái thuộc tông Lâm tế, hưng thịnh vào thời Minh, Thanh, Tổ khai sáng là ngài Hán nguyệt Pháp tạng (1573-1635), người huyện Vô tích, tỉnh Giang tô, Trung quốc. Cứ theo Ngũ đăng toàn thư quyển 65, ngài Pháp tạngnghetiếng chẻ tre mà khai ngộ ở Tam phong (nằm về phía tây nam huyện Ngô, tỉnh Giang tô) tại Hải ngu. Vào năm Thiên khải thứ 4 (1624), sư đến chùa Kim túc làm Thủ tọa của ngài Mật vân Viên ngộ, nhưng không đồng ý với thuyết Tự tính tự ngộ do ngài Viên ngộ đề xướng, mà chủ trương sự phân phái của Ngũ gia Thiền tông đều có lí do, dựa theo Nhất đại viên tướng mà suy tìm khảo xét về nguồn gốc của Phật tổ, rồi vào năm Thiên khải thứ 5 (1625), soạn Ngũ tông nguyên 1 quyển. Để đối lại, vào năm Sùng trinh thứ 7 (1634), ngài Viên ngộ soạn Thất tịch và 2 năm sau (1636) lại soạn Tam tịch để bác bỏ thuyết của ngài Pháp tạng, đệ tử ngài Pháp tạng là ngài Đàm cát Hoằng nhẫn soạn Ngũ tông cứu để ủng hộ ngài Pháp tạng. Vào năm ngài Hoằng nhẫn thị tịch (1638), ngài Viên ngộ lại bác bỏ chủ trương của các ngài Pháp tạng và Hoằng nhẫn. Nhưng học trò ngài Pháp tạng còn có nhiều người như: Cụ đức Hoằng lễ, Kế khởi Hoằng trừ..., lại có pháp tôn là Kỉ ấm (trụ trì chùa Tường phù tại Thường châu) soạn Tông thống biên niên 33 quyển, vì thế phái Tam phong rất hưng thịnh tại Giang nam. Nhưng vua Thế tông nhà Thanh tự soạn Giản ma biện dị lục 8 quyển để bác bỏ phái này, đồng thời, hủy hoại những bản khắc in Ngũ tông nguyên và Ngũ tông cứu; hơn nữa, vào năm Ung chính 11 (1733) cấm chỉ sự lưu truyền của phái này. [X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.8; Ngũ đăng nghiêm thống Q.24].

Tam pháp

三法; C: sānfǎ; J: sanhō;|Ba loại pháp: I. 1. Giáo (教), nghĩa là giảng dạy; 2. Hành (行) với ý nghĩa thực hành và 3. Chứng (證) với ý nghĩa chứng ngộ, trực chứng; II. Chỉ ba bộ phần trong tam tạng là Kinh (經), Luật (律) và Luận (論); III. Chỉ ba loại pháp: 1. Chân pháp (真法), giáo lí chan thật; 2. Giả pháp (假法), pháp giả tạo và 3. Mạt pháp (末法), pháp trong lúc suy tàn.

tam pháp

(A) Three dharma: 1) Phật pháp: The Buddha's teaching. 2) Hành pháp: The practice of Buddha dharma. 3) Chứng pháp: The realization of experiential proof of the dharma in bodhi or nirvana. (B) Tam Bất Thiện Căn—Three unwholesome roots: Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có một chuỗi ba pháp—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are sets of THREE THINGS: 1) Tham bất thiện căn: Lobho akusala mulam (p)—Unwholesome root of greed. 2) Sân bất thiện căn: Doso akusala mulam (p)—Unwholesome root of hatred. 3) Si bất thiện căn: Moho akusala mulam (p)—Unwholesome root of delusion. (D) Tam Thiện Căn—Three wholesome roots: 1) Vô tham thiện căn: alobho kusala (p)—Wholesome root of non-greed. 2) Vô sân thiện căn: Adoso kusala (p)—Wholesome root of non-hatred. 3) Vô si thiện căn: Amoho kusala (p)—Wholesome root of non-delusion. (E) Tam Ác Hạnh—Three kinds of wrong conduct: 1) Thân ác hạnh: Kaya-duccaritam (p)—Wrong conduct in body. 2) Khẩu ác hạnh: Vaci-duccaritam (p)—Wrong conduct in speech. 3) Ý ác hạnh: Mano-duccaritam (p)—Wrong conduct in thought. (F) Tam Thiện Hạnh—Three kinds of right conduct: 1) Thân thiện hạnh: Kaya-succaritam (p)—Roght conduct in body. 2) Khẩu thiện hạnh: Vaci-succaritam (p)—Right conduct in speech. 3) Ý thiện hạnh: Mano-succaritam (p)—Right conduct in thought. (G) Tam Bất Thiện Tầm: Akusala vitakka (p)—Three kinds of unwholesome thought: 1) Dục tầm: Kama-vitakko (p)—Unwholesome thought of sentuality. 2) Sân tầm: Vyapada-vitakko (p)—Unwholesome thought of enmity. 3) Hại tầm: Vihimsa-vitakko (p)—Unwholesome thought of cruelty. (H) Tam Thiện Tầm—Three kinds of wholesome thought: 1) Ly dục tầm: Nekkkama-vitakko (p)—Wholesome thought of renunciation. 2) Vô sân tầm: Wholesome thought of non-enmity. 3) Vô hại tầm: Wholesome thought of non-cruelty. (I) Tam Bất Thiện Tư Duy—Three kinds of unwholesome motivation: 1) Dục bất thiện tư duy: Unwholesome motivation through sensuality. 2) Sân bất thiện tư duy: Unwholesome motivation through enmity. 3) Hại bất thiện tư duy: Unwholesome motivation through cruelty. (J) Tam Bất Thiện Tưởng—Three kinds of unwholesome perception: 1) Dục bất thiện tưởng: Unwholesome perception of sensuality. 2) Sân bất thiện tưởng: Unwholesome perception of enmity. 3) Hại bất thiện tưởng: Unwholesome perception of cruelty. (K) Tam Thiện Tưởng—Three kinds of wholesome perception: 1) Ly dục tưởng: Wholesome perception of renunciation. 2) Vô sân tưởng: Wholesome perception of non-enmity. 3) Vô hại tưởng: Wholesome perception of non-cruelty. (L) Tam Bất Thiện Giới—Three unwholesome elements: 1) Dục giới: Sensuality. 2) Sân giới: Enmity. 3) Hại giới: Cruelty. (M) Tam Thiện Giới—Three wholesome elements: 1) Ly dục giới: Renunciation. 2) Vô sân giới: Non-enmity. 3) Vô hại giới: Non-cruelty. (N) Ba Giới Khác—Three more elements: (a) i) Dục giới: kama-dhatu (p)—The element of sense-desire. ii) Sắc giới: Rupa dhatu (p)—The element of form. iii) Vô sắc giới: Arupa-dhatu (p)—The formless element. (b) i) Sắc giới: Rupa-dhatu (p)—The element of form. ii) Vô sắc giới: Arupa-dhatu (p)—The formless element. iii) Diệt giới: Nirodha-dhatu (p)—The element of cessation. (c) i) Liệt giới: Hina-dhatu (p)—The low element. ii) Trung giới: Majjhima-dhatu (p)—The middling element. iii) Thắng giới: Patina-dhatu (p)—The sublime element. (O) Tam Ái—Three kinds of craving: 1) Dục ái: Kama-tanha (p)—Sensual craving. 2) Hữu ái: Bhava-tanha (p)—Craving for becoming. 3) Vô hữu ái: Vibhava-tanha (p)—Craving for extinction. (P) Ba Ái Khác—Three more kinds of craving: 1) Dục ái: Kama-tanha (p)—Craving for the world of sensual desire. 2) Sắc ái: Rupa-tanha (p)—Craving for the world of form. 3) Vô sắc ái: Arupa-tanha (p)—Craving for the formless world. (Q) Ba Ái Khác—Three more kinds of craving: 1) Sắc ái: Craving for the world of form. 2) Vô sắc ái: Craving for the formless world. 3) Diệt ái: Craving for cessation. (R) Tam Kiết Sử: Samyojanani (p)—Three fetters: 1) Thân kiến kiết sử: Sakkaya-ditthi (p)—The fetter of personality belief. 2) Nghi kiết sử: Vici-kiccha (p)—The fetter of doubt. 3) Giới cấm thủ: Silabhata-paramaso (p)—The fetter of attachment to rite and ritual. (S) Tam Lậu: Asava (p)—Three corruptions: 1) Dục lậu: kamasavo (p)—The corruption of desire. 2) Hữu lậu: Bhavasavo (p)—The corruption of becoming. 3) Vô minh lậu: Avijjasavo (p)—The corruption of ignorance. (T) Tam Hữu—Three kinds of becoming: 1) Dục hữu: Kama-bhavo (p)—Becoming in the world of sense-desire. 2) Sắc hữu: Rupa-bhavo (p)—Becoming in the world of form. 3) Vô sắc hữu: Arupa-bhavo (p)—Becoming in the formless world. (U) Tam Cầu—Three quests: 1) Dục cầu: Kamesana (p)—Quests for sense-desire. 2) Hữu cầu: Bhavesana (p)—Quests for becoming. 3) Phạm hạnh cầu: Brahmacariyesana (p)—Quests for the holy life. (V) Tam Mạn—Three forms of conceit: 1) Thắng mạn: Tôi tốt hơn—I am better than… 2) Đẳng mạn: Tôi bằng—I am equal to… 3) Ty liệt mạn: Tôi tệ hơn—I am worse than… (W) Tam Thời—Three times: 1) Quá khứ: Atito addha (p)—Past. 2) Vị lai: Anagato addha (p)—Future. 3) Hiện tại: Paccuppanno addha (p)—Present. (X) Tam Biên—Three ends: 1) Hữu thân biên: Sakkaya anto (p)—Personality. 2) Hữu thân tập biên: Sakkaya-samudayo anto (p)—Arising of personality. 3) Hữu thân diệt biên: Sakkaya-noridho anto (p)—Cessation of personality. (Y) Tam Thọ—Three feelings: 1) Lạc thọ: Sukha vedana (p)—The pleasant feeling. 2) Khổ thọ: Dukkha vedana (p)—The painful feeling. 3) Phi khổ phi lạc thọ: Adukkham-asukha vedana (p)—Neither pleasant nor painful feeling. (Z) Tam Khổ Tánh—Three kinds of suffering: 1) Khổ khổ: Dukkha-dukkhata (p)—Suffering as pain. 2) Hành khổ: sankhara-dukkhata (p)—Suffering as inherent in formations. 3) Hoại khổ: Viparinama-dukkhata (p)—Suffering as due to change. (AA) Tam Tụ—Three accumulations: 1) Tà định tụ: Micchatta-niyato rasi (p)—Evil accumulation with fixed result. 2) Chánh định tụ: Sammatta-niyato rasi (p)—Good accumulation with fixed result. 3) Bất định tụ: Aniyato rasi (p)—Indeterminate. (BB) Tam Nghi—Three obscurations: 1) Đối với vấn đề thuộc về quá khứ nghi ngờ, do dự, không quyết định, không hài lòng: One hesitates, vacillates, is undecided, is unsettled about the past. 2) Đối với vấn đề thuộc về tương lai nghi ngờ, do dự, không quyết định, không hài lòng: One hesitates, vacillates, is undecided, is unsettled about the future. 3) Đối với vấn đề thuộc về hiện tại nghi ngờ, do dự, không quyết định, không hài lòng: One hesitates, vacillates, is undecided, is unsettled about the present. (CC) Ba điều Như Lai không cần gìn giữ—Three things a Tathagata has no need to guard against: 1) Như Lai thanh tịnh hiện hành về thân, Như Lai không có ác hạnh về thân mà Như Lai phải gìn giữ: A Tathagata is perfectly pure in bodily conduct. There is no misdeed of the body which He must conceal lest anyone should get to hear about it. 2) Như Lai thanh tịnh hiện hành về miệng. Như Lai không có ác hạnh về miệng mà Như Lai phải gìn giữ: A Tathagata is perfectly pure in speech. There is no misdeed of the speech. 3) Như Lai thanh tịnh hiện hành về ý. Như Lai không có ác hạnh về ý mà Như Lai phải gìn giữ: A Tathagata is perfectly pure in thought. There is no misdeed of thought. (DD) Tam Chướng—Three obstacles: 1) Tham chướng: Rago-kincanam (p)—Obstacles of Lust. 2) Sân chướng: Dosa kincanam (p)—Obstacles of hatred. 3) Si chướng: Moho kincanam (p)—Obstacles of delusion. (EE) Tam Chủng Hỏa—Three fires: 1) Lửa tham: Ragaggi (p)—Fire of lust. 2) Lửa sân: Dosaggi (p)—Fire of hatred. 3) Lửa si: Mohaggi (p)—Fire of delusion. (FF) Ba Loại Lửa Khác—Three more fires: 1) Lửa của người hiếu kính: Ahuneyyaggi (p)—The fire of those to be revered. 2) Lửa của người gia chủ: Gahapataggi (p)—The fire of the householder. 3) Lửa của người đáng cúng dường (cha mẹ, vợ con, và các vị xuất gia): Dakkhineyyaggi (p)—The fire of those worthy of offerings (parents, husband, wife, children, monks and nuns). (GG) Tam Chủng Sắc Tụ—Threefold classification of matter: 1) Hữu kiến hữu đối sắc: Sanidas-sana-sappatigham rupam (p)—Visible and resisting matter. 2) Vô kiến hữu đối sắc: Anidassana-sappatigham rupam (p)—Invisible and resisting matter. 3) Vô kiến vô đối sắc: Anidas-sana-appatigham-rupam (p)—Invisible and unresisting matter. (HH) Tam Hành—Three kinds of karmic formation: 1) Phước hành: Punnabhisankharo (p)—Meritorious karmic formation. 2) Phi phước hành: Apunnabhisankharo (p)—Demeritorious karmic formation. 3) Bất động hành: Anenjabhisankharo (p)—Imperturbable karmic formation. (II) Tam Chủng Nhân—Three persons: 1) Hữu học nhân: Sekho puggalo (p)—The learner. 2) Vô học nhân: Asekho puggalo (p)—The non-learner. 3) Phi hữu học phi vô học nhân: N'eva sekho nasekho puggalo (p)—The one who is neither the learner nor the non-learner. (JJ) Tam Vị trưởng Lão—Three elders: 1) Sanh trưởng lão: Jati-thero (p)—An elder by birth. 2) Pháp trưởng lão: Dhamma thero (p)—An elder in Dhamma. 3) Nhập định trưởng lão: Sammuti-thero (p)—An elder by convention. (KK) Tam Phước Nghiệp Sự—Three grounds based on merit: 1) Thí hành phước nghiệp sự: Danamayam punna kiriya vatthu (p)—The merit of giving. 2) Giới hành phước nghiệp sự: Silamayam punna kiriya vatthu (p)—The merit of morality. 3) Tu hành phước nghiệp sự: Bhavanamaya punna kiriya vatthu (p)—The merit of meditation. (LL) Tam Cử Tội Sự—Three grounds for reproof: 1) Thấy: Ditthena (p)—Reproof based on what has been seen. 2) Nghe: Sutena (p)—Reproof based on what has been heard. 3) Nghi: Parisankaya (p)—Reproof based on what has been suspected. (MM) Tam Dục Sanh—Three kinds of rebirth in the realm of Sense-Desire: 1) Hữu tình do dục an trú, họ bị chi phối phụ thuộc, như loài người, một số chư Thiên, và một số tái sanh trong đọa xứ: Paccuppatthita-kama (p)—There are beings who desire what presents itself to them, and are in the grip of that desire, such as human beings, some devas, and some in states of woe. 2) Hữu tình có lòng dục đối với những sự vật do họ tạo ra, như chư Hóa Lạc Thiên: Nimmita-kama (p)—There are beings who desire what they have created, such as the devas who rejoice in the own creation (nimmanarati). 3) Hữu tình có lòng dục đối với sự vật do các loài khác tạo ra, như chư Thiên Tha Hóa Tự Tại: There are beings who rejoice in the creations of others, such as the devas Having Power over Others' Creation (Pranimmita-vasavati). (NN) Tam Chủng Lạc Sanh: Sukhupapattiyo (p)—Three happy rebirths: 1) Hữu tình luôn tạo ra thiền định lạc hay sống trong sự an lạc, như các vị Phạm Thiên: There are beings who, having continually produced happiness now dwell in happiness, such as the devas of the Brahma group. 2) Hữu tình thấm nhuần, biến mãn, sung mãn, hưng thịnh với an lạc. Thỉnh thoảng họ thốt ra những câu cảm hứng: “Ôi an lạc thay! Ôi an lạc thay!” như chư Quang Âm Thiên: There are beings who are overflowing with happiness, drenched with it, fuul of it, immersed in it, so that they occasionally exclaim: “Oh what bliss!” such as the Radiant devas (abhasara). 3) Hữu tình thấm nhuần, biến mãn, sung mãn, hưng thịnh với an lạc. Họ sống mãn túc với an lạc ấy, cảm thọ an lạc, như chư Biến Tịnh Thiên: There are beings who are overflowing with happiness, drenched with it, full of it, immersed in it, who, supremely blissful, experience only perfect happiness, such as the lustrous devas (subhakina). (OO) Tam Tuệ—Three kinds of wisdom: 1) Hữu học tuệ: The wisdom of the learner. 2) Vô học tuệ: The wisdom of the non-learner. 3) Phi hữu học phi vô học tuệ: The wisdom of the one who is neither the learner nor the non-learner. (PP) Ba Loại Tuệ Khác—Three Three more kinds of wisdom: 1) Tư sanh tuệ: Cintamaya panna (p)—The wisdom based on thought. 2) Văn sanh tuệ: Sutamaya panna (p)—The wisdom based on learning. 3) Tu sanh tuệ: Bhavanamaya panna (p)—The wisdom based on mental development. (QQ) Tam Chủng Binh Khí—Three armaments; 1) Nghe: Sutavudham (p)—What one has learnt. 2) Xả ly: Pavivekavudham (p)—Detachment. 3) Tuệ: Pannavudham (p)—Wisdom. (RR) Tam Căn—Three faculties: 1) Vị tri đương tri căn: Anannatam-nassamitindriyam (p)—Trí căn dùng để biết những gì chưa được biết—The faculty of knowing that one will know the unknown. 2) Dĩ tri căn: Annindriyam (p)—Trí căn tối thượng—The faculty of highest knowledge. 3) Cụ tri căn: Annata-indriyam (p)—Trí căn của bậc thức giả—The faculty of the one who knows. (SS) Tam Nhãn—Three eyes: 1) Nhục nhãn: Mamsa-cakkhu (p)—The fleshly eye. 2) Thiên nhãn: Dibba-cakkhu (p)—The divine eye. 3) Tuệ nhãn: Panna-cakkhu (p)—The eye of wisdom. (TT) Tam Học—Three kinds of training: 1) Tăng thượng giới học: Adhisila-sikkha (p)—Training in higher morality. 2) Tăng thượng tâm học: Adhicitta-sikkha (p)—Training in higher thought. 3) Tăng thượng tuệ học: Adhipanna-sikkha (p)—Training in higher wisdom. (UU) Tam Sự Tu Tập—Three kinds of development: 1) Thân tu: Kaya-bhavana (p)—Development of the emotions. 2) Tâm tu: Citta-bhavana (p)—Development of mind. 3) Tuệ tu: Panna-bhavana (p)—Development of wisdom. (VV) Tam Vô Thượng—Three unsurpassables: 1) Kiến vô thượng: Dassananuttariyam (p)—The unsurpassable of vision. 2) Hành vô thượng: Patipadanuttariyam (p)—The unsurpassable of practice. 3) Giải thoát vô thượng: Vimuttanuttariyam (p)—The unsurpassable of liberation. (WW) Tam Định—Three kinds of concentration: 1) Hữu tầm hữu tứ định: Savotakko-savicaro samadhi (p)—The concentration of thinking and pondering. 2) Vô tầm hữu tứ định: Avitakko-vicara-matto samadhi (p)—The concentration with pondering without thinking. 3) Vô tầm vô tứ định: Avitakko-avicaro samadhi (p)—The concentration with neither thinking nor pondering. (XX) Ba Định Khác—Three more kinds of concentration: 1) Không định: Sunnato-samadhi (p)—The concentration on emptiness. 2) Vô tướng định: Animitto-samadhi (p)—The concentration on the signlessness. 3) Vô nguyện định: Appanihito samadhi (p)—The concentration on desirelessness. (YY) Tam Thanh Tịnh—Three purities: 1) Thân thanh tịnh: Kaya-socceyam (p)—Purity of body. 2) Ngữ thanh tịnh: Vaci-socceyam (p)—Purity of speech. 3) Ý thanh tịnh: Mano-socceyam (p)—Purity of mind. (ZZ) Tam Tịnh Mặc—Three qualities of the sage: 1) Thân tịnh mặc: Kaya-moneyyam (p)—Qualities of the sage as to the body. 2) Ngữ tịnh mặc: Vaci-moneyyam (p)—Qualities of the sage as to speech. 3) Ý tịnh mặc: Mano-moneyyam (p)—Qualities of the sage as to mind. (3A) Tam Thiện Xảo—Three skills: 1) Tăng ích thiện xảo: Aya-kosallam (p)—Skills in going forward. 2) Tổn ích thiện xảo: Apaya-kosallam (p)—Skills in going down. 3) Phương tiện thiện xảo: Upaya-kosallam (p)—Skills in means to progress. (3B) Tam Kiêu—Three intoxications: 1) Vô bệnh kiêu: Arogya-mado (p)—Kiêu mạn vì thân không bệnh—Intoxication with health. 2) Niên tráng kiêu: Yobbana-mado (p)—Kiêu mạn vì tuổi tráng niên—Intoxciation with youth. 3) Hoạt mạng kiêu: Jivita-mado (p)—Kiêu mạn vì có đời sống sung túc—Intoxication with one's prosperous life. (3C) Tam Tăng Thượng—Three Predominant influences: 1) Ngã tăng thượng: Attadhipateyyam (p)—The predominant influence on oneself. 2) Thế tăng thượng: Lokadhipateyyam (p)—The predominant influence on the world. 3) Pháp tăng thượng: Dhammadhipateyyam (p)—The predominant influence on the Dhamma. (3D) Tam Luận Sự—Three topics of discussion: 1) Bàn luận về vấn đề quá khứ (sự việc nầy xãy ra trong quá khứ): Talk may be of the past (that's how it used to be). 2) Bàn luận về vấn đề tương lai ((sự việc nầy xãy ra trong tương lai): Talk may be of the future (that's how it will be). 3) Bàn luận về vấn đề hiện tại (sự việc này xãy ra trong hiện tại): Talk may be of the present (that's how it is now). (3E) Tam Minh—Three knowledges: 1) Túc mạng minh: Pubbenivasanussati-nanam-vijja (p)—Knowledge of one's past lives. 2) Hữu tình sanh tử minh: Sattanam-cutupapate-nanam-vijja (p)—Knowledge of the decease and rebirth of beings. 3) Lậu tận trí minh: Asavanam-khaye-nanam-vijja (p)—Knowledge of the destruction of the corruption. ** For more information, please see Tam Minh. (3F) Tam Trú—Three abidings: 1) Thiên trú: Dibbo-viharo (p)—Deva-abiding. 2) Phạm trú: Brahma-viharo (p)—Brahma-abiding. 3) Thánh trú: Ariyo-viharo (p)—Ariyan-abiding. (3G) Tam Thần Thông—Three miracles: 1) Thần túc thần thông: Iddhi-patihariyam (p)—The miracle of psychic power. 2) Tha tâm thần thông: Adesana-patihariyam (p)—The miracle of telepathy. 3) Giáo giới thần thông: Anusasani-patihariyam (p)—The miracle of instruction. ; (三法) I. Tam Pháp. Chỉ cho Giáo pháp, Hành pháp và Chứng pháp. Gọi tắt: Giáo hành chứng.Giáo là lời đức Phật chỉ dạy; Hành là chúng sinh tu hành giáo pháp của Phật; Chứng là tu hành để chứng ngộ chân lí. Đầy đủ 3 pháp này được gọi là Giáo pháp hoàn bị. Thập địa kinh luận quyển 3 (Đại 26, 138 hạ) nói: Thụ trì tất cả pháp luân của chư Phật có nghĩa là biên chép, cúng dường, đọc tụng, giãng diễn cho mọi người nghe về giáo pháp, Tu đa la... do Phật nói; nhiếp thụ tất cảPhậtbồ đề có nghĩa là chứng pháp, chứng 3 pháp Phật bồ đề; nhiếp thụ sự chứng pháp này để giáo hóa, truyền trao. Còn giữ gìn bảo vệ tất cảgiáo pháp của Phật chính là sự tu hành giáo pháp ấy. Trong lúc tu hành nếu gặp các chướng nạn thì phải giữ gìn, cứu giúp. [X. Pháp hoa huyền nghĩa (hội bản) quyển 1 thượng, 3 hạ; Tứ giáo nghĩa Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.9]. II. Tam Pháp. Chỉ choTâm, Phật và Chúng sinh cả 3 không sai khác, gọi là Tam phápvô sai. [X. kinh Hoa nghiêm Q.10 (bản dịch cũ)].

tam pháp diệu

The mystery of the three things—See Tâm, Phật, Cập Chúng Sanh Thị Tam Vô Sai Biệt.

tam pháp giới

Three realms—See Ngũ Pháp Giới, Lý Pháp Giới and Sự Sự Pháp Giới.

tam pháp luân

(三法輪) Gọi tắt: Tam luân. I. Tam Pháp Luân. Chỉ cho 3 pháp luân do ngài Chân đế và ngài Huyền trang thành lập. Đó là: 1. Chuyển pháp luân(cũng gọi Sơ chuyển pháp luân): Tức giáo pháp Tứ đế của Tiểu thừa do đức Phật nói lần đầu tiên ở vườn Lộc dã, thuộc Hữu giáo trong Tam thời giáo.2. Chiếu pháp luân: Chỉ cho giáo pháp kinh Bát nhã nói các pháp đều không, vì đây là lí Không chỉ có hàng Đại thừa thực hành, dùng Không chiếu phá Hữu, cho nên gọi là Chiếu pháp luân, thuộc về Không giáo trong Tam thời giáo. 3. Trì pháp luân: Để loại bỏ lí Không mà thời thứ 2 chấp trước, đức Phật lại nói về 3 tính và diệu lí chân như bất không khiến cho hàng Tam thừa đều tu trì được, cho nên gọi là Trì pháp luận. Đây là giáo pháp Duy thức trung đạo Bất không diệu hữu, tức là Trung đạo giáo trong Tam thời giáo.[X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Hoa nghiêm kinh sớ Q.1;Hoa nghiêm kinh huyền tán Q.1]. (xt. Tam Thời Giáo). II. Tam Pháp Luân. Chỉ cho Căn bản pháp luân, Chi mạc pháp luân và Nhiếp mạt qui bản pháp luân do ngài Cát tạng thành lập. 1. Căn bản pháp luân: Trong hội Hoa nghiêm, khi đức Phật mới thành đạo. Ngài vì hàng Bồ tát mà nói pháp môn Nhất nhân nhất quả, gọi là Căn bản giáo. Đây tức là Nhất thừa giáo nói trong kinh Hoa nghiêm. 2. Chi mạt pháp luân: Hàng độn căn phúc mỏng không nghe nổi Nhất thừa giáo 1 nhân 1 quả, cho nên ngoài Nhất Phật thừa, đức Thế tôn còn chia ra nói Tam thừa giáo để thích ứng với mọi căn cơ, đó tức là Chi mạt pháp luân. 3. Nhiếp mạt qui bản pháp luân: Đến hội Pháp hoa, lúc đó cơ duyên đã thuần thục, đức Phật lại qui nhiếp hàng Tam thừa trước kia trở về Nhất thừa, gọi là Nhiếp mạt qui bản pháp luân. Đây chính là giáo pháp Hội tam qui nhất của kinh Pháp hoa. Cứ theo giáo phán trên thì kinh Bát nhã... mà tông Tam luận y cứ đáng lẽ phải thuộc Chi mạt pháp luân, nhưng theo bản ý của ngài Cát tạng thì ở cả 3 thời đức Phật đều giảng nói Đại thừa, mà kinh Bát nhã là kinh Đại thừa nên tất nhiên là thuộc về Căn bản pháp luân.Tông Tam luận dùng giáo phán Nhị tạng làm chính, còn giáo phán Tam pháp luân này thì được xem là phụ.[X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.1; Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm Q.4; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm yếu quyết Q.10]. (xt. Hội Tam Qui Nhất).

tam pháp nhẫn

(三法忍) Phạm: Tisra# kwàntaya#. Cũng gọi Tam nhẫn. I. Tam Pháp Nhẫn:Ba loại nhẫn. Nhẫn nghĩa là thể ngộ, nhận thức sự lí mà tâm được an. 1. Âm hưởng nhẫn (Phạm: Ghowà= nugama-dharma-kwànyi), cũng gọi Tùy thuận âm thanh nhẫn, Sinh nhẫn: Lắng nghe giáo pháp mà tâm được an. Đây là giai vị Thập tín, nhờ nghe pháp âm mà liễu ngộ nên gọi là Âm hưởng nhẫn. 2. Nhu thuận nhẫn (Phạm: Anulo= mikì-dharma-kwànyi), cũng gọi Tư duy nhu thuận nhẫn, Nhu thuận pháp nhẫn: Nhờ sự tư duy của chính mình mà được liễu ngộ và tùy thuận chân lí. Đây là giai vị Tam hiền, hàng phục các hoặc nghiệp, khiến 6 trần vô tính không sinh ra được, cho nên gọi là Nhu thuận nhẫn. 3. Vô sinh pháp nhẫn (Phạm: Anutpattika-dharma-kwànyi), cũng gọi Tu tập vô sinh nhẫn, Vô sinh nhẫn. Nghĩa là khế hợp chân lí. Tức Thất địa trở lên, lìa tất cả tướng mà chứng ngộ thực tướng. Trong Vô lượng thọ kinh kí quyển thượng, ngài Huyền nhất đời Đường đem Tam nhẫn phối với Tam tuệ: Nhờ được nghe âm giáo mà có Âm hưởng nhẫn là Văn tuệ; nhờ tùy phần điều phục tâm mà có Nhu thuận nhẫn là Tư tuệ; nhờ quán xét chứng lí vô sinh mà có Vô sinh nhẫn là Tu tuệ. Lại trong Vô lượng thọ kinh sao quyển 5, vị tăng người Nhật bản là Liễu huệ, có dẫnlời giải thích của ngài Nghĩa tịch, người nước Tân la, về Tam nhẫn như sau: 1. Âm hưởng nhẫn: Nếu nghe pháp chân thực mà không kinh nghi sợ hãi, lại tin hiểu thụ trì, ưa thích thuận theo, tu tập an trụ, thì đó là Tùy thuận âm hưởng nhẫn bậc nhất. Đây là lời giải thích trong phẩm Thập nhẫn. 2. Tùy thuận nhẫn: Bồ tát tùy thuận tịch tĩnh quán xét tất cả pháp, bình đẳng chính niệm, không trái nghịch các pháp, dùng tùy thuận vào sâu tất cả các pháp, dùng trực tâm thanh tịnh phân biệt các pháp, tu bình đẳng quán và thâm nhập đầy đủ, đó là thuận nhẫn thứ 2, gọi là Tùy thuận nhẫn. 3. Vô sinh pháp nhẫn: Bồ tát không thấy có pháp sinh, không thấy có pháp diệt; nếu không sinh thì không diệt, không diệt thì không hết, không hết thì lìa cấu, lìa cấu thì không hoại, không hoại thì chẳng động, chẳng động thì vắng lặng, đó là Vô sinh pháp nhẫn. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Tọa thiền tam muội Q.hạ; kinh Nguyệt đăng tam muộiQ.2; luận Du già sư địa Q.49; Vô lượng thọ kinh sao Q.4]. II. Tam Pháp Nhẫn. Ba pháp Vô sinh nhẫn theo quan điểm Tịnh độ giáo. Do thấy cõi Tịnh độ của đức Phật A di đà mà lòng sinh vui mừng và được 3 Vô sinh nhẫn: Hỉ nhẫn, Ngộ nhẫn và Tín nhẫn. Sự phân chia 3 Vô sinh nhẫn này là dựa theo 3 trạng thái của tâm là hỉ(mừng), ngộ (hiểu rõ) và tín (tin), khi được Vô sinh nhẫn nhờ sự quán tưởng mạnh mẽ chuyên tinh, thấy cõi Tịnh độ trang nghiêm mà tâm sinh hoan hỉ. Nhưng vẫn còn nhiều thuyết phân vân, không biết rốt cuộc thì loại Vô sinh nhẫn này là do quán tưởng Phật mà được, hay do lòng tin mà được? [X. Quán kinh tự phần nghĩa]. III. Tam Pháp Nhẫn. Chỉ cho 3 thứ nhẫn: Nại oán hại nhẫn, An thụ khổ nhẫn và Đế sát pháp nhẫn thuộc Nhẫn nhục Ba la mật. 1. Nại oán hại nhẫn: Dù bị người ta oán ghét, hãm hại thì mình vẫn thản nhiên chịu đựng, không có tâm trả thù. 2. An thụ khổ nhẫn: Dù có bị các nỗi khổ não bức ngặt như tật bệnh, nước lửa, dao gậy thì vẫn yên lòng nhẫn nại, điềm nhiên bất động. 3. Đế sát pháp nhẫn: Xét kĩ thể tính các pháp hư dối, vốn không sinh diệt, tin hiểu chân thực, tâm không vọng động, an nhiên lãnh nhận. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.7 (Thế thân); Duy thức luận thuật kí Q.10, phần đầu; Hoa nghiêm đại sớ sao Q.5]. (xt. Nhẫn).

tam pháp thân

Ba Pháp Thân—Three kinds of dharmakaya: 1) Pháp Hóa Sinh Thân: Pháp thân Phật do pháp tính hóa hiện như Phật Thích Ca Mâu Ni—The manifested Buddha, i.e., Sakyamuni. 2) Ngũ Phần Pháp Thân: Năm phần công đức giới, định, tuệ hay lực thuyết giáo của Phật—The power of his teaching. 3) Thực Tướng Pháp Thân: Thực tướng không tính của chư pháp—The absolute or ultimate reality.

tam pháp triển chuyển nhân quả đồng thời

(三法展轉因果同時) Chỉ cho 3 pháp: Chủng tử năng sinh, Hiện hành năng huân và Chủng tử sở huân xoay vần, đắp đổi, đồng thời làm nhân làm quả lẫn nhau. Đây là tiếng dùng của tông Duy thức biểu thị sự quan hệ nhân quả giữa chủng tử và hiện hành. Tông Duy thức cho rằng những chủng tử trong thức thứ 8 phải đợi các duyên hòa hợp mới khởi lên hiện hành(tác dụng về mặt hiện thực), rằng chủng tử của pháp hiện hành và sát na(khoảng 1 nháy mắt), hiện hành cũng được huân tập(xông ướp) trong bản thức(thức thứ 8), tức cái được gọi là Chủng tử sinh hiện hành, hiện hành huân chủng tử. Lúc này, chủng tử năng sinh, hiện hành sở sinh làm năng huân và chủng tử sở huân xoay vần đắp đổi làm tác dụng lẫn nhau, mà sự quan hệ nhân quả giữa chúng là cùng 1 sát na, chứ không phải khác thời, đó tức là Tam pháp triển chuyển, nhân quả đồng thời. Mối quan hệ nhân quả giữa chủng tử và hiện hành của các pháp quá khứ, vị lai đều là tương tục đồng thời, như đốt bấc thì có tia lửa, lửa cháy thì thành ngọn đèn. [X. luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.3, phần đầu]. (xt. Thất Chuyển Đệ Bát Hỗ Vi Nhân Quả).

tam pháp tánh

Three tones of all dharmas: 1) Lạc: The tone of pleasure. 2) Khổ: The tone of displeasure. 3) Không khổ không lạc: The tone of indifference.

tam pháp y

xem ba tấm pháp y.

tam pháp độ luận

(三法度論) Phạm: Tri-dharmika-zàstra. Cũng gọi Tam pháp độ kinh luận. Luận, 3 quyển, do ngài Tăng già đề bà dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 25. Nội dung luận này dựa theo các kinh A hàm mà nói về 3 pháp 9 chân độ là: Đức (3 chân độ: Thí, Giới, Tu); Ác (3 chân độ: Ác hạnh, Ái, Vô minh) và Y (3 chân độ: Ấm, Giới, Nhập), đồng thời, giải thích rộng về đạo giải thoát. Chân độ là dịch âm từ tiếng Phạmkhaịđa, cũng gọi Kiền độ.Tứ a hàm mộ sao giải 2 quyển (cũng được thu vào Đại chính tạng tập 25) là bản dịch khác của luận này. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.3].

Tam pháp ấn

三法印; C: sānfǎyìn; J: sanbōin;|Ba dấu ấn của pháp, ba đặc tính của nguyên tắc. Chỉ ba khía cạnh đặc thù của Phật pháp, hoàn toàn khác biệt những giáo lí ngoại đạo: 1. Chư hành vô thường (諸行無常), tất cả đều vô thường; 2. Chư pháp vô ngã (諸法無我), tất cả đều không có một cơ sở tự tồn và 3. Niết-bàn tịch tĩnh (涅槃寂靜), tức là niết-bàn là sự an tĩnh tuyệt đối.

tam pháp ấn

Chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, Niết bàn tịch tịnh, thuộc pháp ấn chứng của Tiểu thừa. ; Trilaksana (skt)—Tilakkhana (p)—Three Dharma Seals—Three marks of existence, or three characteristics of all phenomenal existence: (A) 1) Vô thường: Anicca (p)—Impermanence. 2) Khổ: Dukkha (p)—Suffering or unsatisfaction. 3) Vô ngã: Anatta (p)—No-self—Egoless—Impersonality. (B) 1) Vô Thường: Impermanence. 2) Vô Ngã: Non-ego. 3) Niết Bàn: Niết Bàn Tịch Tĩnh Ấn—Nirvana. ; (三法印) Ba pháp môn tiêu biểu đặc biệt của Phật giáo. Tức là 3 pháp nghĩa căn bản của Phật giáo: Các hành vô thường, các pháp vô ngã và Niết bàn tịch tĩnh. Ba thứ nghĩa lí này được dùng để ấn chứng xem các pháp nghĩa giảng nói có chính xác hay không, nên gọi là Tam pháp ấn. Các kinh điển Tiểu thừa nếu được ấn định bởi Tam pháp ấn vô thường, vô ngã, niết bàn thì đó chính là do đức Phật nói, nếu không thì do ma nói. Từ ngữ Tam pháp ấn này không thấy trong kinh điển thuộc hệ thốngPàli, còn trong kinh Tạp a hàm Hán dịch quyển 10 thì có thuyết giống với Tam pháp ấn. Đó là: 1. Các hành vô thường (Phạm: Anitỳa# sarva-saôskàrà#), cũng gọi Nhất thiết hành vô thường ấn, Nhất thiết hữu vi pháp vô thường ấn, gọi tắt: Vô thường ấn: Tất cả các pháp hữu vi ở thế gian đều là vô thường, vì chúng sinh không rõ biết, cho nên đối với vô thường lại chấp thường, bởi vậy Phật nói vô thường để phá cái chấp thường của chúng sinh. 2. Các pháp vô ngã (Phạm: Niràtmàna# sarva-dharmà#), cũng gọi Nhất thiết pháp vô ngã ấn, gọi tắt: Vô ngã ấn: Tất cả các pháp hữu vi vô vi trong thế gian đều là vô ngã, vì chúng sinh không rõ biết, cho nên đối với hết thảy pháp cưỡng lập chủ tể, bởi vậy Phật nói vô ngã để phá cái chấp ngã của chúng sinh. 3. Niết bàn tịch tĩnh (Phạm:Zantaô nirvàịaô), cũng gọi Niết bàn tịch diệt ấn, Tịch diệt niết bàn ấn, gọi tắt: Niết bàn ấn: Hết thảy chúng sinh không biết cái khổ sinh tử, nên khởi hoặc tạo nghiệp, trôi lăn trong 3 cõi, bởi thế Phật nói pháp Niết bàn để ra khỏi khổ sinh tử, được Niết bàn tịch diệt. Trên đây các hành vô thường nói về hữu vi, Niết bàn tịch tĩnh nói về vô vi, còn các pháp vô ngã thì nói chung cả hữu vi và vô vi. Tam pháp ấnnếu thêm vào Nhất thiết hành khổ nữa thì gọi là Tứ pháp ấn, Tứ pháp bản mạt, Tứ ưu đàn na. Ngoài ra, nếu lại thêm Nhất thiết pháp không(tất cả mọi hiện tượng đều hư dối không thật) thì là Ngũ pháp ấn. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.8; Hữu bộ mục đắc ca Q.6; luận Đại trí độ Q.32; luận Đại tì bà sa Q.9; Câu xá luận quang kí Q.1].

tam phát nguyện

(三發願) Chỉ cho 3 nguyện đã phát, đang phát và sẽ phát nói trong kinh A di đà. 1. Nguyện đã phát: Tâm nguyện vãng sinh Tịnh độ đã phát trong quá khứ. 2. Nguyện hiện phát: Nguyện hiện đang phát. 3. Nguyện sẽ phát: Nguyện sẽ phát trong tương lai. Vì nhân duyên đời trước khác nhau, nhiều căn cơ bất đồng, nên tâm phát nguyện có chia ra trước sau, mau chậm, vì thế nên vãng sinh Tịnh độ cũng có 3 thời khác nhau như trên. Kinh A di đà (Đại 12, 348 thượng) nói: Nếu những ai đã phát nguyện, đang phát nguyện và sẽ phát nguyện muốn sinh về cõi nước của Phật A di đà thì các người ấy đều được bất thoái chuyển đối với quả vị Vô thượng chính đẳng chính giác.

tam phát tâm

Three vows of the awakening of faith: 1) Tín thành tựu phát tâm: To perfect bodhi of faith. 2) Giải hành phát tâm: To understand and carry into practice this wisdom. 3) Chứng phát tâm: The realization or proof of or union with bodhi.

Tam phân biệt

三分別; C: sānfēnbié; J: sanfunbetsu;|Sự phân biệt với ba thành phần; xảy ra giữa giác quan, đối tượng, và nhận thức hệ thuộc phát sinh qua sự tiếp xúc (theo Biện trung biên luận 辯中邊論).

tam phân biệt

(三分別) Phân biệt, Phạm:Vikalpa. Chỉ cho 3 loại tác dụng suy tư, phân biệt, đó là:1. Tự tính phân biệt (Phạm: Svab= hàva-vikalpa), cũng gọi Nhậm vận phân biệt, Tự tính tư duy. Tức là tác dụng nhận biết của tâm thức, đối trước cảnh sở duyên hiện tại, nhận biết 1 cách tự nhiên, ít phải suy tư khảo xét; đây là 1 loại tác dụng tư khảo đơn thuần. 2. Tùy niệm phân biệt (Phạm:Anus= maraịa-vikalpa), cũng gọi Tùy ức tư duy. Tức 1 loại tác dụng tương ứng với ý thức, đối với các việc quá khứ nhớ nghĩ không quên, nhớ tưởng tùy theo việc hoặc truy niệm tùy theo cảnh. 3. Kế đạc phân biệt (Phạm: Abhin= ràpaịà-vikalpa), cũng gọi Suy đạc phân biệt, Phân biệt tư duy. Tác dụng tính toán suy lường đối với các sự tướng không hiện tiền.Theo thuyết của luận Bà sa thì Nhị thiền trở lên là các cõi không có Tầm và Tứ nên không có Tự tính phân biệt; từ Sơ thiền trở lên là cõi định nên không có Kế đạc phân biệt, chỉ có Tùy niệm phân biệt là 3 cõi đều có. [X. luận Đại tì bà sa Q.42; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.2; luận Câu xá Q.2; Duy thức nhị thập luận thuật kí Q.hạ]. (xt. Phân Biệt).

tam phân khoa kinh

Ba phần của kinh—The three divisions of a treatise on a sutra: 1) Tự phân: Giới thiệu Kinh—Introduction. 2) Chính tông phân: Thảo luận Kinh—Discussion of the subject. 3) Lưu thông phân: Áp dụng Kinh—Application.

tam phú bát hiệu

(三覆八校) Tam (3) chỉ cho ngày mùng 1 của các tháng 1, 5, 9; Bát (8) chỉ cho các ngày Bát vương: Lập xuân, Xuân phân, Lập hạ, Hạ chí, Lập thu, Thu phân, Lập đông, Đông chí. Vào 11 ngày này, các sứ giả của Chư thiên Đế thích và trăm vạn chúng thần, như Nhật nguyệt quỉ thần, địa ngục Diêm la... đều tâu lại(phúc tấu)các việc thiện ác của chúng sinh trong 3 cõi và so sánh (tỉ giảo)xem có giống như những điều mà thiện thần của Tứ thiên vương đã tâu lại vào 6 ngày trai mỗi tháng hay không, xem xét kĩ những việc tội phúc của chúng sinh để tránh sự sai lầm oan uổng, rồi căn cứ vào tội phúc nhiều hay ít mà quyết định sống chết, thêm bớt tuổi thọ và phúc đức. Cứ theo Vô lượng kinh sớ của ngài Gia tường thì tất cả chúng sinh đều có 2 vị thần theo giữ gìn bên mình, 1 là Đồng danh(thần nam) ở trên vai bên trái, ghi chép các việc thiện của chúng sinh ấy; vị thần thứ 2 là Đồng sinh(thần nữ) ở trên vai bên phải, ghi chép các việc ác của chúng sinh ấy. Thiện thần của Tứ thiên vương thì cứ vào 6 ngày trai hàng tháng xem xét sổ sách và tâu lên Thiên vương, rồi trong 1 năm lại có Tam phúc bát giảo, tra xét lại không để lầm lẫn. [X. kinh Ngũ giới, Pháp uyển châu lâm Q.88].

tam phúc

(三福) Chỉ cho 3 thứ tịnh nghiệp mà các hành giả Tịnh độ tu để cầu vãng sinh Cực lạc. Đây là chính nhân tịnh nghiệp của chư Phật 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai. 1. Thế phúc(cũng gọi Thế thiện): Các pháp thiện hiếu đễ trung tín xưa nay vẫn tồn tại ở thế tục, như hiếu dưỡng cha mẹ, kính thờ sư trưởng, tâm từ không giết hại, tu 10 việc thiện... 2. Giới phúc(cũng gọi Giới thiện): Những giới pháp do đức Phật chế định như: Tam qui, Ngũ giới cho đến giới Cụ túc mà các hàng người, trời, Thanh văn, Bồ tát... vâng giữ, không phạm uy nghi... Trong đó, hoặc thụ đầy đủ hay không đầy đủ, hoặc giữ đầy đủ hay không đầy đủ, tất cả đều hồi hướng cho việc vãng sinh Tịnh độ.3. Hành phúc(cũng gọi Hành thiện): Thiện căn của hàng phàm phu phát tâm Đại thừa, đầy đủ tự hành hóa tha; tức phát tâm đại Bồ đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa(khơi mở trí tuệ, chán khổ, ưa thích Niết bàn), khuyến tiến hành giả(khuyên mọi người xả bỏ việc ác, hướng tới đạo Niết bàn), phát nguyện vãng sinh Tịnh độ... [X. Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ (Trí khải); Quán kinh tán thiện nghĩa; Quán kinh tự phần nghĩa; Quán vô lượng thọ Phật kinh nghĩa sớ Q.trung (Nguyên chiếu)].

tam phúc nghiệp

(三福業) Cũng gọi Tam phúc nghiệp sự, Tam tính phúc nghiệp sự. I. Tam Phúc Nghiệp. Chỉ cho 3 thứ phúc nghiệp nói trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 12, đó là: 1. Thí phúc nghiệp: Người tu hành khi gặp người nghèo cùng đến xin, tùy theo nhu cầu, nếu cần thức ăn thì cho thức ăn, cần áo mặc thì cho áo mặc, cho đến họ cần mền, chiếu, thuốc thang thì đều cung cấp cho họ. Vì bố thí được phúc nên gọi là Thí phúc nghiệp. 2. Bình đẳng phúc nghiệp: Người tu hành thường giữ giới luật, không nghĩ việc ác, phạm hạnh đoan chính, nói năng hòa nhã, đem tâm từ bi bình đẳng thương xót, che chở tất cả chúng sinh, khiến họ được an ổn. Vì tâm bình đẳng mang lại phúc đức nên gọi là Bình đẳng phúc nghiệp. 3. Tư duy phúc nghiệp: Người tu hành dùng trí tuệ tư duy quán xét, rõ biết pháp yếu, xa lìa các trần duyên tạp nhiễm của thế gian. Vì sự tư duy này là nghiệp phúc thiện xuất thế, cho nên gọi là Tư duy phúc nghiệp. II. Tam Phúc Nghiệp. Chỉ cho 3 loại phúc nghiệp: Thí, Giới, Tu.1. Thí loại phúc nghiệp sự (Thí tính nghiệp): Đem những vật như: Thức ăn uống, y phục, mền chiếu, phòng xá, thuốc thang, đèn nến... bố thí cho các bậc sa môn, người tu khổ hạnh, những người xin ăn...; hoặc thực hành thân nghiệp thí, ngữ nghiệp thí, ý nghiệp thí, đó là Thí loại.2. Giới loại phúc nghiệp sự(Giới tính nghiệp): Hễ xa lìa các việc như: Giết hại, trộm cướp, tà dâm, nói dối, uống rượu, buông lung... đó là Giới loại. 3. Tu loại phúc nghiệp sự (Tu tính nghiệp): Bốn tâm vô lượng: Từ, bi, hỉ, xả, đó là Tu loại. [X. kinh Đại bát nhã ba la mật đa Q.3; luận Tập dị môn túc Q.5; luận Đại tì bà sa Q.82].

tam phương tiện

Three means to cultivate or practice Buddha dharma: 1) Kềm thân: Kềm thân không cho làm điều ác—To control one's body for not doing bad deeds. 2) Kềm khẩu: Kềm khẩu không cho nói những điều vô ích hay tổn hại—To control one's mouth for not speaking vain talk or harsh speech. 3) Kềm tâm: Kềm tâm không cho dong ruổi tạo nghiệp bất thiện—To control one's mind for not wandering with unwholesome karma. ; (三方便) Khéo sử dụng các pháp, tùy theo căn cơ làm lợi ích chúng sinh, gọi là phương tiện.Cứ theo Tịnh danh kinh sớ thì Phương tiện có 3 loại: 1. Tự hành phương tiện: Phật và các Bồ tát thuộc 41 giai vị, trong tâm tự chứng lí chân đế và tục đế chẳng thể nghĩ bàn.2. Hóa tha phương tiện: Các vị Bồ tát thuộc Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo, và Viên giáo hữu môn không đoạn phiền não, chiếu soi giới nội, giới ngoại và dùng nhiều pháp môn hóa độ chúng sinh. 3. Tự tha phương tiện: Hợp chung 2 loại phương tiện Tự hành và Hóa tha, gọi là Tự tha phương tiện.

tam phước

Tam Phúc—Three sources of felicity: (A) Theo Vô Lượng Thọ Kinh—According to The Infinite Life Sutra: 1) Ân phước hay Thế phước: Hiếu dưỡng cha mẹ và tu hành thập thiện, bao gồm cả việc phụng thờ sư trưởng, tâm từ bi không giết hại, và tu thập thiện: Filial piety toward one's parents and support them, serve and respect one's teachers and the elderly, maintain a compassionate heart, abstain from doing harm, and keep the ten commandments. 2) Giới phước: Thọ tam quy, trì ngũ giới cho đến cụ túc giới, không phạm oai nghi—For those who take refuge in the Triratna, observe other complete commandments, and never lower their dignity as well as miantaining a dignified conduct. 3) Hành phước—Tu hành phát bồ đề tâm, tin sâu nhơn quả—Đọc tụng và khuyến tấn người cùng đọc tụng kinh điển Đại thừa—For those who pursue the Buddha way (Awaken their minds a longing for Bodhi), deeply believe in the principle of cause and effect, recite and encourage others to recite Mahayana Sutras. (B) Câu Xá Luận—According to The Abhidharma Kosa: 1) Ân phước hay thí loại phước (Quả phước bố thí): Almsgiving, in evoking resultant wealth. 2) Giới loại phước (Quả phước của trì giới): Obtaining a happy lot in the heaven for observing commandments (not killing, not stealing, not lying, not commiting adultery, etc). 3) Tu loại phước (Phước tu hành): Observance meditation in obtaining final escape from the mortal round.

tam phước điền

Three fields for cultivating welfare—See Tam Phước.

tam phược

Three fetters—See Tam Độc. ; (三縛) Chỉ cho 3 thứ trói buộc. Phược là tên khác của phiền não. Như 3 căn bất thiện tham sân si trói buộc chúng sinh khiến không được tự tại, cho nên gọi là Phược. 1. Tham phược (Phạm: Ràgabandhana): Tâm chấp thủ gọi là Tham. Đối với 5 trần cảnh vừa ý, chúng sinh khởi tâm tham đắm nhiễm trước, gây các hoặc nghiệp, do đó bị ràng buộc, không được tự tại.2. Sân phược (Phạm: Dvewabandhana): Tâm phẫn nộ gọi là Sân. Đối với 5 trần cảnh trái ý, chúng sinh sinh tâm phẫn nộ, khởi các hoặc nghiệp, do đó bị ràng buộc, không được tự tại. 3. Si phược (Phạm: Mohabandhana): Tâm mê hoặc, gọi là Si. Đối với sự lí của tất cả các pháp, chúng sinh không rõ biết, vọng sinh tà kiến, khởi các hạnh tà, trói buộc không ngừng, không được giải thoát. [X. luận Câu xá Q.21; luận Du già sư địa Q.8; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.6; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.3].

tam phạm

(三梵) Trời Sơ thiền trong Tứ thiền thiên cõi Sắc có 3 tầng trời là Phạm chúng,Phạm phụ và Đại phạm, gọi chung là Tam phạm. Đại phạm là vua,Phạm phụ là quan, Phạm chúng là dân. [X. Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7; Chư tôn yếu sao Q.12]. (xt. Đại Phạm Thiên).

tam phạt nghiệp

(三罰業) Phạm: Trìịi daịđàni. Pàli:Tìịi daịđàni. Gọi tắt Tam phạt. Chỉ cho 3 loại ác nghiệp: Thân phạt nghiệp, khẩu phạt nghiệp và ý phạt nghiệp. 1. Thân phạt (Phạm: Kàya-daịđa): Chỉ cho các tội ác do thân nghiệp gây ra như sát sinh, trộm cướp, gian dâm...2. Khẩu phạt (Phạm:Vàg-daịđa): Chỉ cho các tội ác do khẩu nghiệp sinh ra như nói dối, nói thêu dệt, ác khẩu, 2 lưỡi và phỉ báng Tam bảo... 3. Ý phạt (Phạm: Mano-daịđa) Chỉ cho các tội ác từ ý nghiệp sinh ra như tham, sân, si... Duy thức nhị thập luận thuật kí quyển hạ (Đại 43, 1004 hạ) nói: Tội ác do 3 nghiệp gây nên, hiện tại bị trời, người quở trách, vị lai sẽ phải chịu quả báo thống khổ, xấu ác, đáng trị phạt, đáng quở trách, nên gọi là phạt. [X. kinh Trung a hàm Q.32; Duy thức nhị thập luận; luận Câu xá Q.18; Câu xá luận quang kí Q.18].

tam phần khoa kinh

(三分科經) Cũng gọi Nhất kinh tam đoạn. Chia một bộ kinh ra làm 3 phần để giải thích. Nói chung, y cứ vào nội dung của 1 bộ kinh luận nào đó để phân chia thích đáng, gọi là Khoa văn. Thông thường đều chia làm 3 phần: Phần tựa, phần chính tông, phần lưu thông, cho nên gọi là Tam phần khoa kinh. 1. Phần tựa(cũng gọi Tự thuyết, Giáo khởi nhân duyên phần): Tức phần trình bày nguyên do phát khởi ra giáo thuyết của 1 bộ kinh. 2. Phần chính tông(cũng gọi Chính tông thuyết, Thánh giáo chính thuyết phần): Tức phần trình bày tông chỉ của bộ kinh, chính thức bàn về pháp môn được nói trong Thánh giáo. 3. Phần lưu thông(cũng gọi Lưu thông thuyết): Tức phần nói về sự lợi ích của việc thụ trì bộ kinh, khuyến khích mọi người lưu truyền rộng rãi để bộ kinh được lưu hành lâu dài, giúp chúng sinh đời mạt pháp y theo lời dạy mà vâng làm. Thuyết Tam phần khoa kinh do ngài Đạo an sáng lập vào đời Đông Tấn và thịnh hành từ đời Lưu Tống về sau. [X. Phật địa kinh luận Q.1; Nhân vương Bát nhã kinh sớ Q.thượng, phần 1; Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh sớ Q.4; Pháp hoa nghĩa kí Q.1]. (xt. Khoa Văn).

Tam Phẩm

(三品): (1) Vàng, bạc và đồng. (2) Ba loại tiền đồng có hình thái đặc thù được dùng dưới thời nhà Hán: tiền rồng (龍幣), tiền ngựa (馬幣) và tiền rùa (龜幣). (3) Ba giai cấp thượng trung hạ của tánh con người. (4) Chức vị Tam Phẩm thứ 3 tính từ Nhất Phẩm đến Cửu Phẩm (nghĩa trong bài). (5) Ba giai cấp vãng sanh Cực Lạc: thượng phẩm, trung phẩm và trung phẩm.

tam phẩm sa di

Ba phẩm Sa Di—The three grades of Sramanera: 1) Hạ phẩm Sa Di: Khu Ô Sa Di—Tuổi từ 7 đến 13—From 7 to 13 years old. 2) Trung phẩm Sa Di: Ứng Pháp Sa Di—Tuổi từ 14 đến 19—From 14 to 19 years old. 3) Thượng phẩm Sa Di: Danh Tự Sa Di—Tuổi từ 20 trở lên—20 years or older. ; (三品沙彌) Chỉ cho 3 loại Sa di, tức là: 1. Hạ phẩm sa di: Từ 7 tuổi đến 13 tuổi, gọi là Khu ô sa di(Sa di đuổi quạ). Trẻ nhỏ xuất gia, ngài A nan không dám độ, đức Phật dạy: Nếu đuổi được chim quạ không để chúng khuấy phá thì độ được. 2. Trung phẩm sa di: Từ 14 tuổi đến 19 tuổi, gọi là Ứng pháp sa di(Sa di đúng pháp). Đây đúng là địa vị sa di, nương thầy điều luyện thuần thục, có khả năng thụ giới Cụ túc của Tỉ khưu. 3. Thượng phẩm sa di: Hai mươi tuổi trở lên, gọi là Danh tự sa di, vốn là địa vị của tăng, nhưng vì chưa đủ duyên nên gọi là Danh tự sa di. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 4; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 4]. (xt. Sa Di).

tam phẩm thính pháp

Ba phẩm thính pháp—Three grades of hearers: 1) Thượng phẩm thính pháp: Nghe Pháp bằng cả tâm thức—Hearing Dharma with the spirit. 2) Trung phẩm thính pháp: Nghe Pháp bằng tâm—Hearing Dharma with the mind. 3) Hạ phẩm thính pháp: Nghe Pháp bằng lổ tai—Hearing Dharma with the ear. ; (三品聽法) Nghe kinh pháp có 3 phẩm thượng, trung, hạ khác nhau, tức là: Thượng phẩm dùng thần để nghe, Trung phẩm dùng tâm để nghe, còn Hạ phẩm thì dùng tai để nghe.

tam phẩm tất địa

(三品悉地) Tất địa của người tu hành Mật giáo có 3 phẩm thượng, trung, hạ. Tất địa, tiếng Phạm làSiddhi, dịch ý là thành tựu, nghĩa là hành nghiệp của Tam mật ứng hợp nhau thì thành tựu diệu quả. Trong 3 phẩm Tất địa, Tất địa thượng phẩm vãng sinh về cõi nước Mật nghiêm của Phổ môn Đại nhật; Tất địa trung phẩm vãng sinh về các cõi Tịnh độ ở 10 phương, trong đó có cõi Cực lạc ở phương Tây; còn Tất địa hạ phẩm thì sinh về các cung trời và cõi Tu la.

tam phẩm tịnh độ

Ba phẩm Tịnh Độ—Three kinds of attainment in the Pure Land: 1) Thượng phẩm: Superior—To be born in the Vairocana Pure Land (Mật nghiêm quốc). 2) Trung phẩm: Medium—To be born in the Western Paradise of the Pure Land (Tây Phương Cực Lạc). 3) Hạ phẩm: Inferior—To be born in the Sun Palace (Tu La Cung) among the devas.

tam phật bồ đề

Thân hay trí trong tam thân—The body or wisdom of each of the Trikaya (Trikaya Tam thân): 1) Ứng Hóa Phật Bồ Đề: Nơi nào nên hiện thì hiện, như Phật Thích Ca đã thành đạo dưới cội Bồ Đề để cứu độ chúng sanh—One under the bodhi-tree. 2) Báo Phật Bồ Đề: Thập địa viên mãn, chứng niết bàn chân thường—One of parinirvana. 3) Pháp Phật Bồ Đề: Như Lai tạng tính vốn thanh tịnh hay niết bàn miên viễn—One of Tathagatagarbha in its eternal nirvana aspect.

tam phật ngữ

The Buddha's three modes of discourse: 1) Tùy tự ý ngữ: Unqualified (out of the fullness of his nature). 2) Tùy tha ý ngữ: Qualified to suit the intelligence of his hearers. 3) Tùy tự tha ý ngữ: A combination of both of the above two methods. ; (三佛語) Cũng gọi Phật Tam ngữ, Tam Ý ngữ. Chỉ cho 3 thứ ý ngữ của Phật. 1. Tùy tự ý ngữ: Phật tùy thuận tự ý nói ra pháp nội chứng chân thực rõ ràng. 2. Tùy tha ý ngữ: Phật tùy thuận căn cơ chúng sinh mà nói các pháp phương tiện.3. Tùy tự tha ý ngữ: Lời vừa tùy thuận tự chứng, vừa tùy theo đối cơ mà nói. [X. kinh Niết bàn Q.32 (bản Nam); Ma ha chỉ quán Q.3, phần 2].

tam phật tánh

Trikaya—Three kinds of Buddha-nature: 1) Tự tánh trụ Phật tánh: The Buddha-nature which is in all living beings, even those in the three evil paths (gati). 2) Dẫn xuất Phật tánh: The Buddha-nature developed by the right discipline. 3) Trí đắc quả Phật tánh: The final or perfected Buddha-nature resulting from the development of the original potentiality. ; (三佛性) I. Tam Phật Tính. Chỉ cho 3 nhân Phật tính: Chính nhân Phật tính, Liễu nhân Phật tính, và Duyên nhân Phật tính, do ngài Trí khải căn cứ vào kinh Đại bát niết bàn Q.28 (bản Bắc) mà lập ra. (xt. Tam Nhân Phật Tính, Phật Tính). II. Tam Phật Tính. Cũng gọi Tam vị Phật tính. 1. Tự tính trụ Phật tính(cũng gọi Trụ tự tình tính): Phật tính của Giai vị phàm phu trước Kiến đạo, là Phật tính vốn sẵn có của chúng sinh mặc dù chúng sinh chưa tu hành. Tự tính của Phật tính này là thường trụ. 2. Dẫn xuất Phật tính(cũng gọi Dẫn xuất tính): Phật tính của Thánh vị Hữu học từ Phát tâm trở lên, nhờ sức tu tập, trí tuệ, thiền định... mà dẫn phát Phật tính vốn có của mình. 3. Chí đắc quả Phật tính(cũng gọi Chí đắc Phật tính, Chí cứu cánh quả): Phật tính của Thánh vị Vô học, nhờ tu nhân đầy đủ mà hiển hiện quả tính, tức là Phật tính sẵn có được thể hiện rõ ràng, giác ngộ rốt ráo.[X. luận Phật tính Q.2; luận Thành duy thức Q.6; Nhiếp đại thừa luận thích Q.7, 9 (bản dịch đời Lương); Hoa nghiêm kinh Khổng mục chương Q.2; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.4]. III. Tam Phật Tính. Chỉ cho 3 loại Phật tính: Lí Phật tính, Hành Phật tính, và Ẩn mật Phật tính được nói trong Duy thức nghĩa tư kí quyển 4, phần đầu. Đó là: 1. Lí Phật tính: Chân như còn bị trói buộc là nhân của quả Phật và 4 đức Niết bàn, gọi là Lí Phật tính. 2. Hành Phật tính: Lục độ vạn hạnh là nhân 4 trí để thành quả Phật bồ đề, gọi là Hành Phật tính. 3. Ẩn mật Phật tính: Tham, sân, si... là pháp sở đoạn, sinh ra trí năng đoạn, như cục phân là nhân của lửa, nên gọi là Ẩn mật Phật tính. [X. luận Năng hiển trung biên tuệ nhật Q.4; Duy thức nghĩa chương Q.4, phần đầu]. (xt.Nhị Phật Tính, Phật Tính).

tam phật tử

(三佛子) Chỉ cho 3 loại Phật tử được nói trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 7, đó là:1. Ngoại tử: Hàng phàm phu chưa hề vào đạo, không thể nối tiếp hạt giống Phật, gọi là Ngoại tử. 2. Thứ tử: Hàng Thanh văn, Duyên giác tu theo giáo pháp Tiểu thừa, không sinh ra từ giáo pháp Đại thừa của Như lai, cho nên gọi là Thứ tử. 3. Chân tử: Hàng Bồ tát Đại thừa vâng lãnh pháp Đại thừa của Như lai,sinh ra từ Pháp thân của Như lai, cho nên gọi là Chân tử.

tam phật đà

Sambuddha—The truly enlightened one—Correct enlightenment.

tam phật đỉnh

(三佛頂) Chỉ cho 3 Phật đính trong viện Thích ca thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, là đính biểu thị mọi đức của 3 bộ Như lai. Phật đính là Vô kiến đính tướng của Như lai, là tôn quí nhất trong các đức Phật. Tam Phật đính là: 1. Quảng đại Phật đính(cũng gọi Đại chuyển luân Phật đính, Quảng sinh Phật đính, Hội thông đại Phật đính, Hoàng sắc Phật đính). Hình tượng vị tôn này ngồi kết già trên hoa sen đỏ, tay phải cầm hoa sen, trên hoa sen dựng cây chày 1 chĩa, cánh tay đề ngang trước ngực; ngón cái và ngón giữa của tay trái bấm vào nhau, ngón trỏ dựng thẳng, bàn tay hướng ra ngoài, đặt ở trước ngực. Mật hiệu là Phá ma kim cương, hình Tam muội da là chày Kim cương 5 chĩa.2. Cực quảng đại Phật đính(cũng gọi Cao Phật đính, Quảng đại phát sinh Phật đính, Cực quảng sinh Phật đính). Hình tượng vị tôn này thân màu vàng, ngồi trên hoa sen đỏ, tay trái cầm hoa sen đặt ở cạnh sườn, trên hoa sen có hạt châu màu lục; mật hiệu là Nan đô kim cương, hình Tam muội da là hoa sen nở rộ. 3. Vô biên âm thanh Phật đính (cũng gọi Vô lượng thanh chuyển luân Phật đính). Phạm âm thuyết pháp của Như lai vô lượng vô biên, khế hợp với mọi căn cơ, nên gọi là Vô biên âm thanh Phật đính. Hình tượng vị tôn này thân màu vàng, bàn tay phải dựng đứng, co ngón trỏ, ngón giữa, để ở trước ngực; tay trái cầm hoa sen đặt ở cạnh sườn, trên hoa sen có vỏ ốc. Mật hiệu là Diệu hướng kim cương, hình Tam muội da là vỏ ốc trên hoa sen. [X. phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật; kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.9; Đại nhật kinh sớ Q.5].

tam phật độ

(三佛土) Chỉ cho 3 cõi Phật nói trong luận Thành duy thức; Pháp tính độ; Thụ dụng độ và Biến hóađộ. Phật có 3 thân nên cõi nước Ngài an trụ cũng có 3 loại, tức Pháp thân Phật an trụ ở cõi Pháp tính, Báo thân Phật an trụ ở cõi Thụ dụng và Ứng thân Phật cư trụ trong cõi Biến hóa. [X. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7, phần cuối]. (xt. Thụ DụngĐộ, Pháp Tính Độ, Biến Hóa Độ).

Tam quan

三關|Ba ải

tam quan

(三關) Chỉ cho 3 câu hỏi hoặc 3 câu nói rất khó đáp như vượt qua cửa ải (quan) nên gọi là Tam quan. Có 2 thuyết: I. Lăng nghiêm tam quan: Ba câu hỏi của Đại sư Từ vân Tuân thức đời Tống. Khi ngài trụ tại chùa Thiên trúc ở Hàng châu, tỉnh Chiết giang, có 1 vị quan chú giải kinh Lăng nghiêm, mang bản thảo đến xin ngài ấn khả. Ngài đang nhóm lửa, bảo rằng (Đại 49, 208 hạ): Các hạ lưu tâm đến Phật pháp thật là điều hiếm có. Nhưng, trước hết tôi có 3 câu hỏi, nếu Các hạ đáp đúng thì sách này sẽ được lưu thông, còn nếu không đúng thì tôi sẽ cho nó vào đống lửa này!. Vị quan đồng ý. Ngài hỏi: 1. Chân tinh diệu nguyên tính tịnh minh tâm, chẳng hay Các hạ chú thích thế nào?2. Ba nhân bốn, bốn nhân ba, uyển chuyển thành 12, lưu biến 3 lớp một mười trăm nghìn, đó là nghĩa gì? 3. Viên thông mà 25 bậc Thánh chứng ngộ, đã nói là thực không hơn kém, thế tại sao ngài Văn thù lại chỉ chọn 1 mình Quan âm?Vị quan nghe xong, ngồi như phỗng đá, không biết trả lời ra sao, ngài Từ vân liền ném tập bản thảo vào lửa, từ ngữ Lăng nghiêm tam quan từ đó mà ra. [X. Từ vân truyện trong Phật tổ thống kỉ Q.10]. II. Hoàng long tam quan: Thiền sư Phổ giác ở núi Hoàng long vào đời Tống, thường dùng 3 câu nói để hỏi người học (Vạn tục 138, 326 thượng): 1. Mọi người đều có sinh duyên, vậy sinh duyên của Thượng tọa ở chỗ nào? 2. Tay tôi sao giống tay Phật? 3. Chân tôi sao giống chân lừa? Người học đương thời không ai khế hội được yếu chỉ của các câu hỏi ấy, tùng lâm trong thiên hạ bèn gọi đó là Tam quan. [X. Ngũ đăng hộinguyên Q.17]. TAM QUÁN I. Tam Quán. Chỉ cho 3 pháp quán: Không quán, Giả quán, Trung quán do tông Thiên thai thành lập.1. Không quán(cũng gọi Tòng Giả nhập Không quán, Nhị đế quán): Không nghĩa là lìa tính, lìa tướng. Tức quán tâm 1 niệm không ở trong, không ở ngoài, không ở khoảng giữa, gọi đó là Không. Do quán 1 niệm không, cho nên 1 không thì tất cả không, Giả, Trung cũng đều là Không; 3 pháp quán Không, Giả, Trung này có công năng trừ sạch tướng Tam hoặc, dùng Không quán trừ sạch tướng Kiến hoặc, dùng Giả quán trừ sạch tướng Trần sa và dùng Trung quán trừ sạch tướng Vô minh. Ba tướng đều sạch, rốt ráo là không, đó là Không quán. Nói một cách đơn giản là từ lập trường thường thức của thế tục(Giả) tiến vào lập trường chân lí của tông giáo (Không), đó là Không quán. 2. Giả quán(cũng gọi Tòng không nhập giả quán, Bình đẳng quán): Giả nghĩa là tất cả các pháp đều đầy đủ. Tức quán tâm 1 niệm có đầy đủ tất cả pháp, gọi đó là Giả. Do quán 1 niệm giả nên 1 giả thì tất cả đều giả, Không, Trung cũng đều là Giả; vì 3 pháp quán Không, Giả, Trung, này đều có công năng lập pháp,nên dùng Không quán lập pháp Chân đế, dùng Giả quán lập pháp Tục đế và dùng Trung quán lập pháp Trung đế, 3 pháp đều lập, tức là diệu quả, đó là Giả quán. Nói cách đơn giản là chẳng bị dính mắc nơi Không mà tiến vào cảnh giới thế tục có trí Phật chiếu soi cùng khắp, đó là Giả quán. 3. Trung quán(cũng gọi Trung đạo đệ nhất nghĩa đế quán): Trung tức là ở chính giữa, dứt bặt 2 bên đối đãi. Nghĩa là quán tâm 1 niệm chẳng phải không chẳng phải giả, tức không tức giả, gọi đó là Trung. Do quán 1 niệm trung, nên 1 trung thì tất cả trung, Không, Giả đều là Trung. Vì 3 pháp quán Không, Giả, Trung này đều có công năng dứt bặt đối đãi, nên nói Không thì không có pháp nào ngoài Không, nói Giả thì không có pháp nào ngoài Giả, nói Trung thì không có pháp nào ngoài Trung, cả 3 đều tuyệt đãi, tức là Viên trung, đó là Trung quán. Nói cách đơn giản là chẳng chấp Không quán, chẳng chấp Giả quán, hạnh của Bồ tát đại bi là Không, Giả viên dung, đó là Trung đạo quán. Duy ma kinh văn sớ quyển 21, y cứ vào Biệt giáo và Viên giáo để phân biệt tướng Tam quán, có nêu ra 3 loại Tam quán khác nhau: Biệt tướng, Thông tướng và Nhất tâm, gọi là Tam chủng tam quán. 1. Biệt tướng tam quán: Tức lần lượt quán 3 đế 1 cách riêng rẽ. Nghĩa là nếu từ Giả vào Không(Không quán) thì chỉ được quán Chân đế; nếu từ Không vào Giả(Giả quán) thì chỉ được quán Tục đế; nếu vào Trung đạo chính quán thì mới chiếu rọi được cả Chân đế và Tục đế. Đây tức chỉ cho Tam quán của Biệt giáo, vì Biệt giáo cho rằng Tam quán không giống nhau, vả lại, phải lần lượt quán theo thứ tự nên còn gọi là Thứ đệ tam quán, Cách dịch tam quán, theo thứ tự đoạn trừ được 3 hoặc mà chứng được 3 trí. 2. Thông tướng tam quán: Tức trong 1 pháp quán mà hiểu suốt cả 3 đế. Nghĩa là nếu từ Giả vào Không thì biết Tục giả là Không, Chân đế trung đạo cũng đều là Không; nếu từ Không vào Giả thì biết Tục giả là Giả, Chân đế trung đạo cũng đều là Giả; nếu vào Trung đạo chính quán thì biết Trung đạo là trung, Tục giả, Chân không cũng đều là Trung. Tức dùng 1 pháp quán làm tên mà tâm thì hiểu suốt cả 3, đó là Thông tướng tam quán. 3. Nhất tâm tam quán: Tức trong 1 tâm niệm mà quán đủ cả 3 đế. Nghĩa là quán tâm 1 niệm rốt ráo không có, thanh tịnh như hư không, gọi là Không quán; tâm năng quán và cảnh sở quán đều rõ ràng sáng tỏ, gọi là Giả quán; tuy rõ ràng sáng tỏ nhưng tính thường tự không, không chẳng cố định là không, giả chẳng cố định là giả, gọi là Trung quán. Tức 3 mà 1, tức 1 mà 3, đó là Nhất tâm tam quán.Thông tướng tam quán và Nhất tâm tam quán nói trên là chỉ cho Tam quán của Viên giáo, vì Viên giáo cho rằng Tam quán là ở trong tâm 1 niệm chung hợp chân lí của cả 3 đế Không Giả Trung để quán xét, cho nên gọi là Viên dung tam quán, Bất thứ đệ tam quán. Lại vì đối tượng để quán xét là tâm 1 niệm nên nói 1 không tất cả không, 1 giả tất cả giả, 1 trung tất cả trung mà trở thành pháp quán tức không, tức giả, tức trung. Đây tức là ở trong 1 niệm quán phá tâm chấp (Không), cho tất cả hiện tượng dường như có(Giả) và thể đạt thế giới tuyệt đối(Trung). Về 1 niệm này có 2 cách nhìn khác nhau: Phái Sơn gia tông Thiên thai đời Tống bảo rằng 1 niệm này là chỉ cho vọng tâm, còn phái Sơn ngoại thì lại cho đó là chân tâm. Phái Sơn gia lấy vọng tâm làm đối tượng(cảnh) quán xét, đâylà 1 trong những lí do rất vững mạnh và chủ trương này được căn cứ vào thuyết Tam khoa giản cảnh (Khu biệt) trong Ma ha chỉ quán quyển 5 thượng. Tức là khi quyết định đối tượng quán xét thì cần phải phân biệt cảnh giới của 3 khoa: 5 ấm, 12 nhập, 18 giới. Trước hết, trong 3 khoa chọn lấy 5 ấm, trong 5 ấm lấy Thức ấm, trong Thức ấm, lấy thức thứ 6, trong thức thứ 6 lấy vô kí, cuối cùng, trong tâm vương và tâm sở thì lấy tâm vương làm đối tượng quán xét. Đây là trực tiếp lấy vọng tâm vô kí của phàm phu làm đối tượng quán xét. Trong 4 giáo Hóa pháp, Tam quán là pháp quán của Biệt giáo và Viên giáo. Nếu phối hợp Tam quán với 4 giáo thì Không quán thuộc Tạng giáo và Thông giáo. Tạng giáo phân tíchsự tồn tại của tất cả tâm và vật đều không có thực thể và cuối cùng qui về lí không, đây chính là Tích không quán. Thông giáo thì lại tiến thêm bước nữa, trực tiếp thể đạt tất cả các pháp như huyễn tức không mà vào lí không, đây chính là Thể không quán; loại quán này có công năng đoạn trừ Kiến hoặc và Tư hoặc trong 3 cõi. Nhưng Không quán này chỉ thiên hẳn về 1 lí không, nên gọi là Đãn không quán, trái lại, Không quán của Biệt giáo và Viên giáo thì gọi là Bất đãn không quán. Nhưng đối với những người lợi căn, độn căn trong Thông giáo khi tu quán, cũng có trường hợp người lợi căn từ Đãn không quán tiến vào Bất đãn không quán, như Biệt tiếp Thông, Viên tiếp Thông chính đã căn cứ vào lí do này. Giả quán là pháp quán của Biệt giáo. Tông Thiên thai chia Giả quán làm 2 loại: 1. Sinh tử giả: Tức tình kiến si mê của chúng sinh. 2. Kiến lập giả: Tức tri kiến được trí nhãn xuất thế gian của bậc Thánh soi sáng. Cái giả khi từ Giả vào Không của Không quán thuộc Tạng giáo và Thông giáo nói trên là thuộc Sinh tử giả chứ chưa đạt đến Kiến lập giả. Còn Giả quán của Biệt giáo thì quán từ Không vào Giả, trên không có an lập giả sai biệt, cho nên thuộc Kiến lập giả. Đặc chất của Biệt giáo là quán vô lượng Tứ đế mà kiến lập hằng sa Phật pháp để ra khỏi cái giả nhằm làm lợi ích chúng sinh. Còn sự khác nhau giữa Giả quán của Viên giáo và Giả quán của Biệt giáo là ở chỗ Biệt giáo xem Không quán khác với Trung quán, không tương tức nhau, vả lại, chỉ lập riêng Giả quán làm đối tượng, có công năng đoạn trừ Trần sa hoặc; trái lại, Viên giáo thì xem Không quán và Trung quán là 1, tức không tức trung, lấy diệu giả làm đối tượng, có công năng cùng lúc đoạn trừ cả 3 hoặc. Trung quán thuộc Viên giáo, là pháp quán tối cao vô thượng, nó dung hợp cả Không quán và Giả quán, tức 3 mà 1, tức 1 mà 3, dùng quán lí Trung đạo mà hiểu cả 3 đế, gọi là Bất đãn trung quán; trái lại, Trung quán của Biệt giáo thì gọi là Đãn trung quán. Người tu Đãn trung quán của Biệt giáo, trước hết phải tu Không quán ở giai vị Thập trụ để phá trừ Kiến hoặc và Tư hoặc, kế đến, tu Giả quán ở giai vị Thập hành để phá trừ Trần sa hoặc, sau cùng mới tu Trung quán (Đãn trung quán) để phá trừ Vô minh hoặc. Lúc này, Tam quán nhất tâm của Biệt giáo gần giống với Bất đãn trung quán của Viên giáo.[X. Duy ma kinh huyền sớ Q.2; Ma ha chỉ quán Q.5; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1; Kim quang minh kinh huyền nghĩa Q.hạ; Tứ giáo nghĩa Q.1; Tông kính lục Q.35]. II. Tam Quán. Chỉ cho 3 pháp quán tâm do ngài Trí khải lập riêng khi giảng kinh Pháp hoa. 1. Tòng hành quán(cũng gọi Ước hành quán): Nghĩa là chuyên y cứ vào pháp môn tu hành của các kinh mà tu quán, tức là chỉ đối với muôn cảnh mà quán 1 tâm, muôn cảnh tuy khác nhau, nhưng lí quán mầu nhiệm thì chỉ là 1, như quán xét ấm tức là nghĩa này. 2. Phụ pháp quán: Dựa vào các pháp tướng để tu Viên quán, tức căn cứ theo các pháp tướng như Tứ đế, Ngũ hạnh mà vào tâm 1 niệm để thành tựu pháp quán. 3. Thác sự quán(cũng gọi Lịch sự quán): Mượn nghĩa các việc để thành tựu tu quán, tùy theo mỗi việc đều dùng quán pháp biểu thị để trợ duyên giúp cho việc tu quán. Như mượn thành nhà vua để quán thì quán vua là 6 thức tâm vương, nhà là 5 ấm, thành nhà vua là thân của chúng ta, cho đến thành vua này tức Không, Giả, Trung, tâm vương làm ra nhà này, nếu tách rời 5 ấm thì nhà là Không, Không tức là thành Niết bàn. Theo Thập bất nhị môn xu yếu quyển thượng thì Thập thừa là thể chung của 3 loại quán pháp, còn Thác sự, Phụ pháp và Tòng hành là tướng riêng của 3 loại quán pháp. [X. Thập bất nhị môn chỉ yếu sao Q.thượng; Chỉ quán nghĩa lệ; Chỉ quán nghĩa lệ tùy thích Q.6]. III. Tam Quán. Chỉ cho 3 pháp quán do Luật sư Đạo tuyên ở núi Chung nam thành lập, gọi là Nam sơn tam quán. Ba pháp này theo thứ tự là pháp quán của Nhị thừa, Tiểu bồ tát và Đại bồ tát. Đó là: 1. Tính không quán: Hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác quán xét tất cả các pháp đều do nhân duyên sinh ra, vốn không có tự tính, là vô ngã; thường dùng lí này để soi rọi tâm mình, gọi là Tính không quán, tương đương với Tích không quán và Thể không quán của tông Thiên thai.2. Tướng không quán: Hàng Bồ tát thuộc Tạng giáo và Thông giáo quán xét tất cả các pháp đều do nhân duyên sinh ra, vốn không có tướng, nhưng vì chúng sinh mê chấp nên lầm thấy các tướng sai khác. Bồ tát thường dùng lí này để soi rọi tâm mình, gọi là Tướng không quán. 3. Duy thức quán: Thức là tâm thức. Hàng Bồ tát Đại thừa thuộc Biệt giáo và Viên giáo rõ biết tất cả các pháp ngoại trần ở thế gian đều do thức biến hiện ra, ngoài tâm không có vật gì tồn tại, tự tính vốn tự thanh tịnh. Lí này rất sâu xa mầu nhiệm, chỉ có ý duyên biết được, gọi là Duy thức quán. Duy thức quán lại được chia ra 2 thứ: Trực nhĩ thông quán là pháp tu của hàng lợi căn và Lịch sự biệt quán là pháp tu của những người mới phát tâm. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5 phần 4]. (xt. Duy Thức) IV. Tam Quán. Chỉ cho 3 pháp quán về pháp giới do ngài Đỗ thuận, Tổ của tông Hoa nghiêm, y cứ vào kinh Hoa nghiêm mà thành lập. 1. Chân không quán: Tức là Lí pháp giới trong 4 pháp giới. Chân là ý niệm không hư dối; Không là sắc tướng không phải hình chất trở ngại. Nghĩa là lựa bỏ vọng tình để hiển bày chân tính mà qui về tính không bình đẳng, khiến thấy sắc chẳng phải thực sắc mà là chân không; thấy không chẳng phải đoạn không mà là chân tính; như vậy mới dứt bặt được những sự tướng của cái thấy do vọng tình mà hiển bày thể mầu nhiệm của chân không. 2. Lí sự vô ngại quán: Tức là Lí sự vô ngại pháp giới trong 4 pháp giới. Lí nghĩa là tính lặng thể sáng; Sự nghĩa là hình tướng phần hạn. Tức quán sự tướng sai biệt và lí tính bình đẳng không sai biệt của muôn tượng, dung thông hòa nhập lẫn nhau 1 cách tự tại vô ngại; đây là vì muôn tượng đều do chân như tùy duyên biến hiện ra, hệt như nước tức sóng, sóng tức nước, chẳng hể ngăn ngại lẫn nhau. Cũng tức là quán xét tính chân như sinh khởi muôn pháp và muôn pháp mỗi mỗi đều lấy chân như làm tính. 3. Chu biến hàm dung quán: Tức là Sự sự vô ngại pháp giới trong 4 pháp giới. Chu biến nghĩa là trùm khắp mọi nơi; Hàm dung nghĩa là ngậm chứa hết thảy. Tính của chân như 1 vị bình đẳng, không thể phân chia, mỗi mảy bụi đều hàm chứa toàn thể chân như, mỗi sự tướng bao trùm tất cả pháp giới, do đó, 1 tướng và nhiều tướng dung hòa nhau vô ngại, lớn nhỏ bao hàm lẫn nhau, dung nhiếp vào nhau, trùng trùng vô tận. Ba loại cảnh sở quán(3 pháp giới) trình bày ở trên tuy giống nhau ở nhất tâm pháp giới, nhưng do trí năng quán sâu, cạn khác nhau mà có 3 thứ sai biệt ấy, vì thế cũng gọi là Tam trùng quán môn. Trong Pháp giới quán môn, ngài Đỗ thuận lại chia Chân không quán làm Tứ cú: Hội sắc qui không quán, Minh không tức sắc quán, Không sắc vô ngại quán và Mẫn tuyệt vô kí quán; chia Lí sự vô ngại quán làm 10 môn: Lí biến ư sự môn, Sự biến ư lí môn, Y lí thành sự môn, Sự năng hiển lí môn, Dĩ lí đoạt sự môn, Sự năng ẩn lí môn, Chân lí tức sự môn, Sự pháp tức lí môn, Chân lí phi sự môn và Sự pháp phi lí môn; rồi lại chia Chu biến hàm dung quán làm 10 môn: Lí như sự môn, Sự như lí môn, Sự hàm lí sự môn, Thông cục vô ngại môn, Quảng hiệp vô ngại môn, Biến dung vô ngại môn, Nhiếp nhập vô ngại môn, Giao thiệp vô ngại môn, Tương tại vô ngại môn và Phổ dung vô ngại môn để giải thích thêm cho rõ ràng. [X. Hoa nghiêm pháp giới quán môn; Hoa nghiêm ngũ giáo chỉ quán; Hoa nghiêm kinh chỉ qui]. (xt. Tứ Pháp Giới, Tứ Pháp Giới Quán). V. Tam Quán. Chỉ cho 3 pháp quán nói trong kinh Viên giác. Đó là: 1. Xa ma tha (Phạm: Zamatha, Hán dịch: Chỉ): Chỉ nghĩa là dừng lặng. Người muốn cầu Viên giác, phải dùng tâm tỉnh biết thanh tịnh mà giữ lấy sự lặng lẽ làm hạnh, tâm không vọng động duyên theo các cảnh nhiễm tịnh, đó chính là thể chân chỉ, tương đương với Không quán của Thiên thai.2. Tam ma bát đề (Phạm: Samàpatti, Hán dịch: Đẳng chí): Đẳng nghĩa là xa lìa hôn trầm, điệu cử, Chí nghĩa là làm cho tâm bình đẳng an hòa. Người muốn cầu Viên giác, phải dùng tâm tịnh giác biết rõ tâm tính và căn trần đều do huyễn hóa mà có, rồi khởi huyễn quán mà tu để trừ các huyễn; đây chính là Phương tiện tùy duyên chỉ, thường tùy duyên theo cảnh mà an tâm chẳng động, tương đương với Giả quán của Thiên thai. 3. Thiền na (Phạm:Dhyàna, Hán dịch: Tĩnh lự): Tĩnh tức là định, lự tức là tuệ. Người muốn cầu Viên giác, phải dùng tâm tỉnh biết thanh tịnh không chấp lấy huyễn hóa và các tướng tĩnh lặng, mà thường thuận theo cảnh giới tịch diệt; đây chính là Tức nhị biên chỉ, không phân biệt tướng đối đãi 2 bên như: Sinh tử và niết bàn, chỉ tức và hữu vô..., tương đương với Trung quán của Thiên thai. Ngài Tông mật theo thứ tự gọi 3 pháp quán trên đây là: Mẫn tướng trừng thần quán(Tĩnh quán), Khởi huyễn tiêu trần quán(Huyễn quán) và Tuyệt đãi linh tâm quán(Tịch quán) Ngoài ra, về chỗ giống nhau và khác nhau giữa 3 pháp quán của kinh Viên giác và 3 pháp quán của tông Thiên thai thì trong Viên giác kinh lược sớ quyển hạ, ngài Tông mật có chỉ ra rằng nghĩa lí của 2 bên tuy giống nhau nhưng ý thú thì khác nhau. Chỗ giống nhau là Mẫn tướng tức Không quán, Khởi huyễn tức Giả quán và Tuyệt đãi tức Trung quán. Còn chỗ khác nhau là Tam quán của Viên giác chỉ rõ phương tiện dụng tâm của hành giả, thường dựa vào tâm mà thành hạnh, cho nên không lập cảnh sở quán; còn Tam quán của tông Thiên thai thì suy cứu đến tận cùng tính tướng các pháp, thường nhờ vào nghĩa lí mà sinh hiểu biết, cho nên kiến lập Tam đế sở quán. Cũng sách đã dẫn có nói Tam quán của kinh Viên giác có tất cả 25 thứ Định luân thanh tịnh. Luân nghĩa là xoaychuyển phá dẹp, có năng lực phá dẹp hoặc chướng mà chuyển thành chính trí, cho nên gọi là Luân. Trong 25 luân, trước hết theo thứ tự chỉ tu riêng Tam quán; Tĩnh quán, Huyễn quán, và Tịch quán, gọi là Đơn tu Tam quán, đó là Tam luân. Kế đến tu Giao lạc tam quán (kết hợp 3 pháp quán với nhau), tức ban đầu lấy Tĩnh quán làm chính và Kiêm tu Huyễn quán, Tịch quán, 3 thứ quán này kết hợp với nhau thành 7 luân, rồi sau lại theo thứ tự đều lấy Huyễn quán, Tịch quán làm chính và kiêm tu 2 thứ quán còn lại; như vậy 3 cái 7 luân cộng chung thành 21 luân. Sau đó, dùng Tuệ viên giác viên tu Tam quán, gọi là Như ý viên tu quán, đây chỉ là 1 luân, trở lên tổng cộng là 25 luân. [X. Ngự chú viên giác kinh Q.thượng; Viên giác kinh sớ Q.hạ, phần 1]. VI. Tam Quán. Chỉ cho 3 pháp quán tâm nói trong Quán kinh sớ truyền thống kí quyển 3: 1. Quán chúc quán: Năm thức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân duyên theo 5 cảnh trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, hiển hiện rõ ràng, đối cảnh biết liền, không cần tính toán suy lường. 2. Quán tri quán: Sự hiểu biết tương ứng với trí thức,nhờ các tướng mà quán xét nghĩa. 3. Quán hành quán: Tức 13 quán. Nghĩa là nhờ vào sức chính định mà thực hành pháp quán suy lường cảnh giới. Nếu phối hợp 3 pháp quán này với 3 phân biệt thì Quán chúc quán là Tự tính phân biệt, Quán tri quán là Tùy niệm phân biệt và Quán hành quán là Kế đạc phân biệt.[X. Tịnh độ pháp môn nguyên lưu chương; Truyền thông kí nhu sao Q.16]. (xt. Tam Phân Biệt, Ngũ Tâm).

tam quang

Three lights (sun, moon, and star). ; (三光) Chỉ cho mặt trời, mặt trăng và sao. Cũng chỉ cho 3 tầng trời: Thiểu quang, Vô lượng quang, và Quang âm thuộc Đệ nhị thiền cõi Sắc.

tam quang thiên

See Tam Quang Thiên Tử.

tam quang thiên tử

Devas from the Three lights: 1) Bảo Quang Thiên Tử: Nhựt Thiên Tử—Đức Quán Âm tên là Bảo Ý Thiên Tử—Avalokitesvara—Divine son of the Sun. 2) Minh Nguyệt Thiên Tử: Bảo Cát Tường Thiên Tử—Nguyên Thiên Tử—Đại Thế Chí Bồ Tát—Mahasthamaprpta—Divine son of the Moon. 3) Minh Tinh Thiên Tử: Phổ Quang Thiên Tử—The bodhisattva of the empyrean (Hư không tạng Bồ Tát)—Divine son of the bright stars. ; (三光天子) Chỉ cho 3 vị Thiên tử: Nhật thiên tử, Nguyệt thiên tử và Minh tinh thiên tử. Trong phẩm Tựa kinh Pháp hoa quyển 1 thì có: Danh nguyệt thiên tử, Phổ hương thiên tử, Bảo quang thiên tử. Pháp hoa văn cú quyển 2 hạ cho rằng 3 vị Thiên tử Danh nguyệt... là nội thần của trời Đế thích, giống như các khanh tướng. Còn Pháp hoa kinh huyền tán quyển 2, phần đầu thì cho rằng Tam quang là chỉ cho 3 vị: Bảo quang, Danh nguyệt và Phổ hương. Quán thế âm tên là Bảo ý, là Nhật thiên tử, tức Bảo quang; Đại thế chí tên là Bảo cát tường, là Nguyệt thiên tử, tức Danh nguyệt; Hư không tạng tên là Bảo quang, là Tinh thiên tử, tức Phổ hương. Đây là phối hợp Nhật, Nguyệt, Tinh với 3 vị Thiên tử trong kinh Pháp hoa, nhưng kinh Pháp hoa bản tiếng Phạm ở đoạn văn kinh tương ứng đồng thời nêu tên 5 vị Thiên tử, Nguyệt thiên tử (Candra devaputra), Nhật thiên tử (Sùrya deva-putra), Phổ hương thiên tử (Samantagandha deva-putra), Bảo quang thiên tử (Ratnapsabha deva-putra), và Quang minh thiên tử (Avabhàsaprabha devaputra). Ngoài ra, theo Học hải dư trích quyển 4, khi người thợ làm tượng Phật tạo tượng Tam quang thì tượng Đại minh tinh thiên tử có hình tướng Bồ tát, còn Nhật thiên tử và Nguyệt thiên tử thì theo hình tướng người trời. Nếu y theo Bản môn của Tam quang thì đều có hình tướng Bồ tát, còn theo Tích môn thì đều lấy hình người trời, tức dùng cả Bản và Tích để tạo thành hình tượng Tam quang. [X. kinh Hư không Bồ tát thần chú; kinhThất Phật bát bồ tát sở thuyết đại đà la ni thần chú Q.1; Pháp hoa nghĩa sớ Q.1].

Tam Quy

(三皈): hay Tam Quy Y (s: tri-śaraṇa-gamana, p: ti-saraṇa-gamana, 三皈依、三歸依), Tam Quy (三歸), Tam Tự Quy (三自歸), Tam Quy Giới (三歸戒), Thú Tam Quy Y (趣三歸依). Riêng từ quy y hàm nghĩa cứu hộ, hướng về. Tam Quy Y tức là quay trở về và nương tựa vào Tam Bảo (三寶, Ba Ngôi Báu gồm Phật, Pháp và Tăng) và cầu xin quý Ngài cứu giúp để được vĩnh viễn thoát khỏi tất cả khổ. Đó là Quy Y Phật (s: Buddhaṃ śaraṇaṃ gacchāmi, 皈依佛, I take refuge in the Buddha), Quy Y Pháp (s: Dharmaṃ śaraṇaṃ gacchāmi, 皈依法, I take refuge in the Dharma) và Quy Y Tăng (s: Saṃghaṃ śaraṇaṃ gacchāmi, 皈依僧, I take refuge in the Sangha). Đây là nghi thức cần phải có để trở thành tín đồ Phật Giáo. Sau khi đức Phật Thích Ca thành đạo, khi chưa có Tăng Bảo thì chỉ truyền thọ hai phép quy y Phật và Pháp mà thôi. Theo Ngũ Phần Luật (五分律) quyển 15 cho biết rằng người thọ Tam Quy Y đầu tiên là thân phụ của Tỳ Kheo Da Xá (s: Yaśa, Yaśoda, 耶舍). Phép Tam Quy Y này có thể chia làm 2 loại: (1) Phiên Tà Tam Quy (翻邪三歸), nghĩa là Ba Phép Quy Y thọ nhận khi từ bên tà đạo quay về với chánh đạo; (2) Thọ Giới Tam Quy (受戒三歸), gồm có 4 loại như Ngũ Giới Tam Quy (五戒三歸, người Phật tử tại gia trước khi thọ Năm Giới thì phải thọ Ba Phép Quy Y); Bát Giới Tam Quy (八戒三歸, trước khi thọ Bát Quan Trai Giới thì phải thọ Ba Phép Quy Y); Thập Giới Tam Quy (十戒三歸, trước khi thọ Mười Giới để trở thành Sa Di [s: śrāmaṇera, p: sāmaṇera, 沙彌], Sa Di Ni [s: śrāmaṇerikā, p: sāmaṇerā, sāmaṇerī, 沙彌尼] thì phải thọ Ba Phép Quy Y); Cụ Túc giới Tam Quy (, trước khi thọ Cụ Túc giới để trở thành Tỳ Kheo [s: bhikṣu, p: bhikkhu, 比丘], Tỳ Kheo Ni [s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī, 比丘尼] thì phải thọ Ba Phép Quy Y). Về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc Quy Y Tam Bảo, Câu Xá Luận (倶舍論) quyển 14 có giải thích rằng người phát tâm Quy Y Tam Bảo thì sẽ vĩnh viễn giải thoát hết thảy các khổ. Trong khi đó, Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章) quyển 10 có nêu ra 3 ý nghĩa khác về việc Quy Y Tam Bảo nhằm: (1) Vì để xa lìa các điều ác bất thiện của sanh tử; (2) Vì để cầu xuất thế Niết Bàn; (3) Vì để lợi ích chúng sanh. Pháp Giới Thứ Đệ Sơ Môn (法界次第門) quyển Thượng cũng cho biết rằng công dụng của việc Quy Y Tam Bảo là để phá Ba Tà, cứu độ Ba Đường (Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh), v.v. Trước khi vào phần chính văn của Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 1, Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo Tánh Luận (究竟一乘寶性論) quyển 1, Đại Thừa Khởi Tín Luận (大乘起信論), Phật Địa Kinh Luận (佛地經論) quyển 1, A Tỳ Đàm Tâm Luận (阿毘曇心論), v.v., đều có nêu văn Quy Kính Tam Bảo. Trong Tỳ Ni Thảo Yếu (毘尼討要) quyển 5 có đoạn: “Ngã mỗ giáp tận hình thọ Quy Y Phật, Quy Y Pháp, Quy Y Tăng [tam thuyết]; ngã mỗ giáp tận hình thọ Quy Y Phật cánh, Quy Y Pháp cánh, Quy Y Tăng cánh [tam thuyết] (我某甲盡形壽歸依佛、歸依法、歸依僧[三說]、我某甲盡形壽歸依佛竟、歸依法竟、歸依僧竟[三說], con … nguyện suốt đời Quy Y Phật, Quy Y Pháp, Quy Y Tăng [ba lần]; con … nguyện suốt đời Quy Y Phật rồi, Quy Y Pháp rồi, Quy Y Tăng rồi [ba lần]).” Bên cạnh đó, trong Thọ Bồ Tát Giới Nghi (授菩薩戒儀) của Trạm Nhiên (湛然) lại có đoạn: “Đệ tử mỗ giáp nguyện tùng kim thân, tận vị lai tế, Quy Y Phật Lưỡng Túc Tôn, Quy Y Pháp Ly Dục Tôn, Quy Y Tăng Chúng Trung Tôn [tam thuyết]; đệ tử mỗ giáp nguyện tùng kim thân, tận vị lai tế, Quy Y Phật cánh, Quy Y Pháp cánh, Quy Y Tăng cánh [tam thuyết] (弟子某甲願從今身、盡未來際、歸依佛兩足尊、歸依法離欲尊、歸依僧眾中尊[三說]、弟子某甲願從今身、盡未來際、歸依佛竟、歸依法竟、歸依僧竟[三說], đệ tử … nguyện từ đời này cho đến cùng tận tương lai, Quy Y Phật Lưỡng Túc Tôn, Quy Y Pháp Ly Dục Tôn, Quy Y Tăng Chúng Trung Tôn [ba lần]; đệ tử … nguyện từ đời này cho đến cùng tận tương lai, Quy Y Phật rồi, Quy Y Pháp rồi, Quy Y Tăng rồi [ba lần]).” Nguyên Không (源空, Genkū), tức Pháp Nhiên (法然, Hōnen, 1133-1212), người khai sáng Tịnh Độ Tông Nhật Bản, có giải thích trong tác phẩm Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập (選擇本願念佛集, Senchakuhongannembutsushū) rằng “tận hình thọ (盡形壽, cho đến suốt đời này)” là Tam Quy của Tiểu Thừa; trong khi đó, “tận vị lai tế (盡未來際, cho đến tận cùng tương lai, tức đời sau và nhiều đời sau nữa)” là Tam Quy của Đại Thừa. Trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō No. 2122) quyển 87 còn cho biết rằng: “Vân hà danh vi Tam Quy ? Phật ngôn: 'Thiện nam tử vi phá chư khổ, đoạn trừ phiền não, thọ ư vô thượng tịch diệt chi lạc, dĩ thị nhân duyên thọ Tam Quy Y' (云何名爲三歸、佛言、善男子爲破諸苦、斷除煩惱、受於無上寂滅之樂、以是因緣受三歸依, Thế nào là Ba Phép Quy Y ? Phật dạy: 'Thiện nam tử vì phá các khổ, đoạn trừ phiền não, thọ niềm vui vắng lặng vô thượng, lấy nhân duyên này mà thọ Ba Phép Quy Y).” Riêng trong Thái Thượng Tam Nguyên Từ Bi Thủy Sám (太上三元慈悲水懺) có đề cập đến “Quy Thân, Quy Mạng, Quy Thần (歸身、歸命、歸神)” là Tam Quy Y của Đạo Giáo; và “Đạo, Kinh, Sư (道、經、師)” là Ba Ngôi Báu của họ.

tam quy

See Tam Quy-Y

tam quy ngũ giới

Nghi lễ thọ Ưu Bà Tắc hay Ưu Bà Di Giới, trong đó Phật tử tại gia nguyền thọ tam quy gìn ngũ giới—The ceremony which makes the recipient an upasaka or upasika—Laymen or laywomen taking refuge in the Triratna, receiving the Law and accepting the five commandments—See Tam Quy Y and Ngũ Giới in Vietnamese-English Section.

tam quy thọ pháp

Về nương nơi Tam Bảo, thọ pháp và được nhận làm Phật tử tại gia, sau nghi thức sám hối—Take refuge in the Triratna, receiving of the Law, or admission of a lay disciple, after recantation and repentance of his previous wrong belief and sincere repetition to the abbot or monk of the three surrenders (to Buddha, Dharma, Sangha).

Tam quy y

三歸依; S: triśaraṇa; P: tisaraṇa;|Ba quy y

tam quy y

Sarana-gamana (skt)—Take refuge in Triratna—Take refuge in the three Precious Ones—The Three Refuges: (A) 1) Quy y Phật vị đạo sư vô thượng: Take refuge in the Buddha as a supreme teacher. 2) Quy y Pháp thần y lương dược: Take refuge in the Dharma as the best medicine in life. 3) Quy y Tăng đệ tử tuyệt vời của Phật: Take refuge in the Sangha, wonderful Buddha's disciples. (B) 1) Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm (1 lạy): To the Buddha, I return to rely, vowing that all living beings understand the great way profoundly, and bring forth the bodhi mind (1 bow). 2) Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải (1 lạy): To the Dharma, I return and rely, vowing that all living beings deeply enter the sutra treasury, and have wisdom like the sea (1 bow). 3) Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại: To the Sangha, I return and rely, vowing that all living beings form together a great assembly, one and all in harmony without obstructions(1 bow). ** Trong lúc lắng nghe ba pháp quy-y thì lòng mình phải nhất tâm hướng về Tam Bảo và tha thiết phát nguyện giữ ba pháp ấy trọn đời, dù gặp hoàn cảnh nào cũng không biến đổi—When listening to the three refuges, Buddhists should have the full intention of keeping them for life; even when life is hardship, never change the mind. (C) Tam quy chính là ba trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà tam ác đạo được thanh tịnh—The three refuges are three of the most important entrances to the great enlightenment; for they purify the evil worlds. (D) Người Phật tử mà không quy y Tam Bảo sẽ có nhiều vấn đề trở ngại cho sự tiến bộ trong tu tập—There are several problems for a Buddhist who does not take refuge in the Three Gems. 1) Không có dịp thân cận chư Tăng (Tăng Bảo) để được chỉ dạy dẫn dắt. Kinh Phật thường dạy, “không quy y Tăng dễ đọa súc sanh.” Không quy-y Tăng chúng ta không có gương hạnh lành để bắt chước, cũng như không có ai đưa đường chỉ lối cho ta làm lành lánh ác, nên si mê phát khởi, mà si mê là một trong những nhân chính đưa ta tái sanh vào cõi súc sanh: There is no chance to meet the Sangha for guidance. Buddhist sutras always say, “If one does not take refuge in the Sangha, it's easier to be reborn into the animal kingdom.” Not taking refuge in the Sangha means that there is no good example for one to follow. If there is no one who can show us the right path to cultivate all good and eliminate all-evil, then ignorance arises, and ignorance is one of the main causes of rebirth in the animal realms. 2) Không có dịp thân cận Pháp để tìm hiểu và phân biệt chánh tà chân ngụy. Do đó tham dục dấy lên, mà tham dục là một trong những nhân chính để tái sanh vào cõi ngạ quỷ. Vì thế mà kinh Phật luôn dạy, “không quy y pháp dễ đọa ngạ quỷ”: There is no chance to study Dharma in order to distinguish right from wrong, good from bad. Thus desire appears, and desire is one of the main causes of rebirth in the hungry ghost. Therefore, Buddhist sutras always say, “if one does not take refuge in the Dharma, it's easier to be reborn in the hungry ghost realms.” 3) Không được dịp thân cận với chư Phật chẳng những không cảm được hồng ân của quý ngài, mà không có dịp bắt chước đức từ bi của các Ngài. Do đó sân hận ngày một tăng, mà sân hận là một trong những nguyên nhân chính của địa ngục. Vì thế mà kinh Phật luôn dạy, “không quy y Phật dễ bị đọa địa ngục”: There is not any chance to get blessings from Buddhas, nor chance to imitate the compassion of the Buddhas. Thus, anger increased, and anger is one of the main causes of the rebirth in hell. Therefore, Buddhist sutras always say, “if one does not take refuge in Buddha, it's easier to be reborn in hell. (E) Muốn quy y Tam Bảo, trước hết người Phật tử nên tìm đến một vị thầy tu hành giới đức trang nghiêm để xin làm lễ quy y thọ giới trước điện Phật: To take refuge in the Triratna, a Buddhist must first find a virtuous monk who has seriously observed precepts and has profound knowledge to represent the Sangha in performing an ordination ceremony. ; (三歸依) Phạm: Tri-zaraịa-gamana. Pàli: Tì-saraịa-gamana. Cũng gọi Tam qui, Tam tự qui, Tam qui giới, Thú tam qui y. Qui y Tam bảo, nghĩa là quay về nương tựa Phật, Pháp, Tăng và xin được cứu giúp, che chở để mãi mãi thoát khỏi tất cả khổ não của thân tâm. Tam qui y được chia làm 2 thứ: 1. Phiên tà tam qui: Tam qui được lãnh nhận khi bỏ tà đạo, trở về chính đạo. 2. Thụ giới tam qui: Có 4 loại là Ngũ giới tam qui(tín đồ tại gia khi thụ Ngũ giới thì phải thụ Tam qui trước), Bát giới tam qui(khi thụ 8 giới trai thì phải thụ Tam qui trước), Thập giới tam qui(khi thụ 10 giới Sa di, Sa di ni thì phải thụ Tam qui trước) và Cụ túc giới tam qui(khi thụ giới Cụ túc của tỉ khưu, tỉ khưu ni thì phải thụ Tam qui trước). Nếu thêm Phiên tà tam qui nữa thì thành5 loại, gọi chung là Ngũ chủng Tam qui.Về chỉ thú của sự qui y Tam bảo, luận Câu xá quyển 14 cho rằng qui y Tam bảo mãi mãi xa lìa được tất cả khổ não. Đại thừa nghĩa chương quyển 10 thì nêu ra 3 nghĩa: Vì xa lìa khổ sinh tử, vì cầu Niết bàn xuất thế và vì lợi ích chúng sinh. Pháp giới thứ đệ sơ môn quyển thượng, phần cuối, cho rằng công dụng của Tam qui chính là phá Tam tà, cứu Tam đồ, nối tiếp Tam thừa, ra khỏi Tam hữu, Phật pháp lấy Tam qui này làm gốc, chung cho tất cả giới phẩm và các pháp lành xuất thế.Trong các luận Đại trí độ quyển 1, Cứu cánh nhất thừa bảo tính quyển 1, Đại thừa khởi tín, Phật địa kinh luận quyển 1, A tì đàm tâm... ngay ở trang đầu đều có nêu văn Qui kính Tam bảo, bày tỏ sự cúi đầu kính lễ Tam bảo. Ngoài ra, lúc thụ Tam qui, người thụ phải theo lời dạy của Giới sư, xướng văn Tam qui tam cánh. Tì ni thảo yếu quyển 5 ghi văn Tam qui tam cánh như sau (Vạn tục 70, 176 hạ): Con tên là... xin trọn đời qui y Phật, qui y pháp, qui y tăng(nói 3 lần); Con tên là... trọn đời qui y Phật rồi, qui y pháp rồi, qui y tăng rồi(nói 3 lần). Thụ Bồ tát giới nghi của ngài Trạm nhiên thì ghi (Vạn tục 105, 5 hạ): Đệ tử tên là... nguyện từ đời này đến hết kiếp vị lai qui y Phật lưỡng túc tôn, qui y pháp li dục tôn, qui y tăng chúng trung tôn (nói 3 lần). Đệ tử tên là... nguyện từ đời này đến hết kiếp vị lai qui y Phật rồi, qui y pháp rồi, qui y tăng rồi(nói 3 lần). Trong Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập, ngài Nguyên tín của Nhật bản cho rằng Tam qui y được chia làm Tiểu thừa và Đại thừa khác nhau, trọn đời là Tam qui của Tiểu thừa, còn hết kiếp vị lai là Tam qui của Đại thừa. Lại theo Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 4, phần đầu, Qui y và Kính lễ có 7 nghĩa khác nhau: 1. Qui y chỉ hạn cuộc ở nghiệp thân và nghiệp khẩu, kính lễ thì chung cho cả 3 nghiệp thân, khẩu, ý. 2. Qui y là qui y cả Tam bảo, phạm vi rộng hơn; còn kính lễ thì chỉ kính 1 vị tôn, phạm vi không rộng. 3. Qui y có giới hạn, cho nên phải nói hết kiếp vị lai; còn kính lễ chỉ cần nói lên lòng kính ngưỡng là được, cho nên hoặc lâu hoặc mau, không bị hạn định. 4. Qui y vì thành khẩn, thiết tha, nên phải có biểu nghiệp và vô biểu nghiệp; còn kính lễ thì chỉ cần thiện biểu nghiệp là thành. 5. Qui y phải hợp cả thân nghiệp và khẩu nghiệp, ý nghĩa quan trọng hơn; còn kính lễ thì chỉ cần 1 nghiệp là thành. 6. Qui y thuộc về hình tướng nên chỉ có ở cõi Dục và cõi Sắc; còn kính lễ thì thông cả ba cõi Dục, Sắc và Vô sắc. 7. Qui y do quán chân lí mà thành, ý nghĩa thù thắng hơn; còn kính lễ thì trọng hiền thiện là thành, ý nghĩa kém hơn. [X. kinh Trường a hàm Q.11; kinh Đại bát niết bàn Q.5 (bản Bắc); kinh Thắng man; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.32; luật Thập tụng Q.56;Hữu bộ tì nại da Q.44; luận Đại trí độ Q.13; luận Đại tì bà sa Q.34, 124; luận Thập trụ tì bà sa Q.7]. (xt. Tam Bảo).

tam quyết định nghiệp

(三决定業) Cũng gọi Tam thời nghiệp, Tam báo nghiệp. Chỉ cho 3 thứ nghiệp quyết định thời gian chịu quả báo dị thục. Đây là thuyết của luận Câu xá quyển 15, đó là: 1. Thuận hiện pháp thụ nghiệp (gọi tắt: Thuận hiện nghiệp): Nghiệp tạo tác tăng trưởng ở đời này thì ngay đời này phải chịu quả báo dị thục. 2. Thuận thứ sinh thụ nghiệp (cũng gọi Thuận thứ nghiệp, Thuận sinh nghiệp): Nghiệp tạo tác tăng trưởng ở đời này, sang đời thứ 2 mới chịu quả báo dị thục. 3. Thuận hậu thứ thụ nghiệp (cũng gọi Thuận hậu nghiệp): Nghiệp tạo tác tăng trưởng ở đời này đến đời thứ 3 hoặc lâu hơn nữa mới chịu quả báo dị thục. [X. luận Du già sư địa Q.9; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.40]. (xt. Định Nghiệp Bất Định Nghiệp).

tam quyền nhất thật

(三權一實) Ba giả tạm, một chân thực. Chỉ cho 4 giáo Hóa pháp của tông Thiên thai. Trong 4 giáo thì 3 giáo Tạng, Thông, Biệt là giáo pháp phương tiện tạm thời lập ra chứ chưa phải là giáo pháp liễu nghĩa, cho nên gọi là Tam quyền; trái lại, Viên giáo là giáo pháp chân thật liễu nghĩa, nên gọi là Nhất thực.Pháp hoa văn cú quyển 3 thượng (Đại 34, 36 thượng) nói: Tam quyền là cái khuôn vuông, Nhất thực là cái khuôn tròn. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.7]. (xt. Hóa Pháp Tứ Giáo).

tam quá

Three transgressions of the body, mouth and mind (deeds, words, thoughts).

Tam quán

三觀; C: sānguān; J: sangan;|I. Ba cách quán sát. Ba cách thiền quán được dạy đầu tiên trong Anh lạc bản nghiệp kinh, sau được chiếu rọi tường tận bởi Trí Khải (智顗). Chúng là: 1. Không quán (空觀), phủ nhận những cảm thụ, nhận thức hiện thật một cách sai lạc; 2. Nhân duyên quán (因緣觀), giúp diệt trừ kiến giải chấp không; 3. Trung quán (中觀), dung nhiếp cả hai lối quán trên nhưng không chấp trước, vướng mắc vào chúng. II. Ba phương pháp thiền định được dạy trong kinh Viên Giác: 1. Xa-ma-tha (奢摩他; s: śamatha), một dạng thiền định mà trong đó, tâm thức của hành giả được lắng đọng qua sự tập trung vào một đối tượng; 2. Tam-ma Bát-để (三摩鉢提; s: samāpatti), quán sát một chân lí Phật pháp, ví như nguyên lí Duyên khởi, và 3. Thiền-na (禪那; s: dhyāna), không dựa vào hai cách Thiền quán trên. Ba phương pháp thiền này gần giống như ba phương pháp nêu bên trên.

tam quán

Không quán, giả quán, trung quán, do Thiên thai tông kiến lập. ; Theo tông Thiên Thai, có ba loại quán—According to the T'ien-T'ai sect, there are three contemplations (meditations). 1) Quán chân không lìa tướng: The meditation (contemplation) of true emptiness that cuts off marks. 2) Quán lý sự vô ngại: The meditation (contemplation) of the non-obstruction between noumena and phenomena. 3) Quán sự sự vô ngại: The meditation of pervasive inclusiveness—The meditation of non-obstruction between phenomena and phenomena.

tam quán đảnh

Three kinds of baptism—See Tam Chủng Quán Đảnh.

tam quý

Three seasons in India (Spring, Summer and Winter).

Tam quả

三果; C: sānguǒ; J: sanka;|1. Là quả vị thứ ba của bốn thánh quả (Tứ quả 四果) được dạy trong Tiểu thừa: quả vị Bất Hoàn (不還), hoặc ba quả vị đầu của Tứ quả; 2. Ba loại hậu quả hoặc ba loại (cách) tái sinh; 3. Trong Thiên Thai tông, đây là quả vị của Tạng (藏, với ý nghĩa Đại tạng), Thông (通) và Biệt (別).

tam quả

Ba quả báo và bốn nhân khiến cho đứa trẻ sanh vào một gia đình nào đó—Three consequences associated with the causes for a child to be born into a certain family: 1) Hiện báo: Current requital—Những tạo tác thiện ác sẽ có quả báo lành dữ ngay trong đời nầy—Transgressions and wholesome deeds we perform, we will receive misfortunes or blessings in this very life. 2) Sanh báo: Birth requital—Những tạo tác thiện ác của đời nầy sẽ có quả báo lành dữ của đời sau—Transgressions and wholesome deeds we perform in this life, we will receive the good or bad results in the next life. 3) Hậu báo: Future requital—Những tạo tác thiện ác đời nầy sẽ có quả báo lành dữ, không phải ngay đời sau, mà có thể là hai, ba, hoặc bốn, hoặc trăm ngàn hay vô lượng kiếp đời sau—Transgressions or wholesome deeds we perform in this life, we will not receive good or bad results in the next life; however, good or bad results can appear in the third, fourth or thousandth lifetime, or until untold eons in the future.

Tam Quốc

(三國): 3 nước phân chia thiên hạ làm ba phần và cạnh tranh lẫn nhau vào thế kỷ thứ 3, gồm nhà Ngụy (魏, 220-265) chiếm cứ lưu vực Hoàng Hà (黃河), nhà Ngô (呉, 222-280) hùng cứ hạ lưu Dương Tử Giang (揚子江) và nhà Thục (蜀, 221-263) chiếm lĩnh thượng lưu Dương Tử Giang. Nó còn là tên gọi thời đại Tam Quốc.

Tam quốc di sự

三國遺事; C: sānguó wèishì; J: sankoku yuiji;|Một tác phẩm bao gồm năm quyển của Cao tăng Hàn quốc Nhất Nhiên (一然; k: iryǒn, 1206-1289), với những mẩu chuyện nói về sự truyền bá và phát triển đạo Phật tại Hàn quốc, đặc biệt chú trọng đến thời kì Tam quốc và Tân La. Tác phẩm này là nền tảng của việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo Hàn quốc, đã được dịch sang Anh ngữ năm 1972.

tam quốc di sự

(三國遺事) Tác phẩm, 5 quyển, do vị tăng người Cao li là Nhất thiên (1206-1289) soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 49. Nội dung sách này ghi chép các truyền thuyết dân gian được truyền tụng ở 3 nước Triều tiên (Tân la, Cao cú li và Bách tế) mà trước đó chưa sách nào ghi chép. Trước tác phẩm này 150 năm đã có bộ Tam quốc sử kí lưu hành ở đời. Sách này do thu chép các kí sự và truyền thừa đời xưa còn thiếu trong Tam quốc sử kí mà thành. Trong sách này bao gồm nhiều tư liệu Phật giáo, ca dao đời cổ ở Tân la, những truyện về Đàn quân, truyền thuyết khai quốc của Giá lạc... tất cả 5 quyển gồm 9 môn. Đầu quyển có Tam quốc niên biểu, quyển 1 làKỉ dị(ghi chép các truyện khác lạ) quyển 2 là phần tiếp tục quyển 1, quyển 3 có các mục Hưng pháp, Tháp tượng, quyển 4 là phần Nghĩa giải, quyển 5 gồm các mục Thần chú, Cảm thông,Tị ẩn, Hiếu thiện... Sách này là 1 trong những sử liệu quan trọng của Triều tiên sử cổ đại và Phật giáo sử. Về cách chia khoa và thể lệ thì sách này chịu ảnh hưởng Lương cao tăng truyện của Trung quốc.

tam quốc phật pháp truyện thông duyên khởi

(三國佛法傳通緣起) Tác phẩm 3 quyển, do ngài Ngưng nhiên, người Nhật bản soạn vào năm 1311. Nội dung sách này lược thuật về thông sử Phật giáo do các tông truyền bá ở 3 nước Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản. Quyển thượng trình bày khái quát về tình hình truyền thông Phật pháp ở Ấn độ, kế đó nêu ra 13 tông như Tì đàm, Thành thực, Luật... ở Trung quốc; quyển trung và quyển hạ thì nói về sự lưu truyền của các tông Tam luận, Pháp tướng, Hoa nghiêm... ở Nhật bản. [X. Chư tông chương sớ lục Q.2].

tam quốc truyện ký

(三國傳記) Tác phẩm, 12 quyển, do ngài Huyền đống, người Nhật bản soạn, được thu vào Đại nhật bản Phật giáo toàn thư quyển 148.Nội dung sách này ghi chép rộng rãi về các nhân duyên tạp sự, sự thực lịch sử nổi tiếng, các truyền thuyết quí lạ... của Phật giáo tại 3 nước Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản, bắt đầu từ đức Thích ca Như lai xuất hiện, Khổng tử ra đời, Thái tử Thánh đức đản sinh... tất cả gồm 357 điều.

tam quỹ

Three sources of cultivation. 1) Từ Bi: Compassion and pity—See Từ Bi in Vietnamese-English Section. 2) Nhẫn Nhục: Patience—See Nhẫn Nhục, and Nhẫn Nhục Ba La Mật in Vietnamese-English Section. 3) Pháp Không: The emptiness or unreality of all things—See Pháp Không in Vietnamese-English Section. ; (三軌) I. Tam Quĩ. Ba thứ quĩ phạm(khuôn phép để noi theo). Khi giải thích chữ Diệu trong đề kinh Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, tông Thiên thai có nói về 10 Diệu, trong đó có Tam pháp diệu chính là Tam quĩ. Đó là: 1. Chân tính quĩ: Tính chân lí không hư dối, không thay đổi, tức là chân như thực tướng. 2. Quán chiếu quĩ: Tác dụng của trí tuệ có năng lực phá trừ mê tình, hiển bày chân lí. 3. Tư thành quĩ: Muôn hạnh giúp thành trí dụng(tác dụng của trí tuệ) quán chiếu. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.5, hạ; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.11]. II. Tam Quĩ. Chỉ cho 3 thứ quĩ phạm của người hoằng bá, lưu truyền kinh pháp, đó là nhà từ bi, áo nhẫn nhục và tòa pháp không, gọi chung là Y tòa thất tam quĩ. Vì lòng từ bi cứu khổ ban vui giống như mái nhà che chở chúng sinh, hạnh nhẫn nhục như chiếc áo ngăn ngừa phiền não ác chướng của chúng sinh, tất cả các pháp không như tòa ngồi để tự an ổn và làm cho chúng sinh an ổn. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.8, thượng]. (xt. Y Tòa Thất Tam Quĩ).

Tam sanh

(三生): ba đời, đời trước, đời này và đời sau. Trong dân gian Trung Quốc có câu ngạn ngữ “tam sanh hữu hạnh (三生有幸, ba đời gặp may)”, vốn xuất phát từ câu chuyện của vị cao tăng thời nhà Đường. Lúc bấy giờ, có một Hòa Thượng hiệu là Viên Trạch (圓澤), thông hiểu kinh luận, thâm giao với Lý Nguyên Thiện (李源善). Có hôm nọ, hai người cùng đi ngao du sơn thủy, đến địa phương nọ, chợt thấy một người phụ nữ đang múc nước bên bờ sông, bụng người đó rất lớn, đang mang thai. Viên Trạch đưa tay chỉ người phụ nữ ấy bảo với Lý Nguyên Thiện rằng: “Người ấy mang thai đã ba năm rồi, đang chờ ta chết đi đầu thai vào. Nay gặp bà ấy, ta chẳng biết dùng biện pháp nào để tránh được đây ? Ba ngày sau, khi người phụ nữ ấy sanh con xong, đúng lúc ấy mong người hãy đến nhà bà ta xem thử, như quả thật đứa hài nhi nhìn người mà nở nụ cười, đó chính là ta. Hãy lấy nụ cười đó làm bằng chứng nhé ! Đợi đến mười ba năm sau, vào đêm trăng Trung Thu, ta sẽ chờ người tại Thiên Trúc Tự (天竺寺), Hàng Châu (杭州). Lúc ấy chúng ta lại gặp nhau nhé !” Sau khi hai người chia tay, quả nhiên đêm ấy Viên Trạch viên tịch; đồng thời người phụ nữ kia cũng hạ sanh một hài nhi. Ba hôm sau, nhớ lời dặn của Viên Trạch, Lý Nguyên Thiện đến nhà người phụ nữ kia xem thử hư thực thế nào, và quả nhiên đứa bé nhìn ông nở nụ cười. Vào một đêm trăng sáng Trung Thu của mười ba năm sau, Lý Nguyên Thiện tìm đến Thiên Trúc Tự. Vừa đến cổng chùa, ông thấy có một chú mục đồng ngồi trên lưng trâu, nghêu ngao hát câu: “Tam sanh thạch thượng cựu tình hồn, thưởng nguyệt ngâm phong bất yếu luân, tàm quý tình nhân viễn tương phỏng, thử thân tuy dị tánh thường tồn (三生石上舊情魂、賞月吟風不要論、慚愧情人遠相訪、此身雖異性常存, ba đời trên đá tình cũ hồn, trăng ngắm gió ngâm chẳng luận bàn, hổ thẹn người xưa xa đến viếng, thân này tuy khác tánh vẫn còn).” Vì vậy, hiện tại người ta thường dùng câu “tam sanh hữu hạnh” để tỷ dụ cho trường hợp có duyên phận rất đặc biệt; hay bạn bè do một cơ duyên ngẫu nhiên nào đó gặp nhau và trở thành tri kỷ. Câu “đản ước bách niên hảo hợp, tam sanh hương hỏa hữu dư duyên (但約百年好合、三生香火有餘緣)” có nghĩa là chỉ ước mong sao trăm năm hòa hợp chung sống với nhau, nay ba năm lo phụng thờ hương khói, dầu đã mãn tang nhưng vẫn còn duyên phận với nhau hoài.

tam sanh

(三生) I. Tam Sinh. Chỉ cho Tiền sinh, Kim sinh, Hậu sinh. 1. Tiền sinh(cũng gọi Tiền thế, Túc thế): Đời sống ở quá khứ. 2. Kim sinh(cũng gọi Hiện thế, Hiện sinh): Đời sống ở hiện tại. 3. Hậu sinh(cũng gọi Hậu thế, Lai thế, Lai sinh): Đời sống trong vị lai. II. Tam Sinh. Gọi đủ: Tam sinh thành Phật. Chúng sinh nhờ thấy và nghe, hiểu và làm, chứng và vào mà trong 3 đời được Viên thành Phật đạo. Đây là giáo nghĩa của tông Hoa nghiêm. (xt. Tam Sinh Thành Phật).

tam sanh lục thập kiếp

(三生六十劫) Ba đời sáu mươi kiếp. Đây là thời gian mà người tu Thanh văn thừa phải trải qua. Tức là tu quán 16 hành tướng của Tứ đế, dứt hết phiền não trong 3 cõi, chứng được quả A la hán thì nhanh nhất là 3 đời, mà chậm nhất là 60 kiếp. Trong 3 đời thì đời thứ nhất là tính tập tư lương Ngũ đình tâm và Tổng, Biệt niệm trụ... gieo trồng căn lành thuận với Giải thoát phần, đời thứ hai thì nương vào định Vị chí mà phát khởi trí tuệ thuận với Quyết trạch phần, đời thứ ba nương vào định Căn bản, một lần nữa, phát khởi trí tuệ thuận với Quyết trạch phần để vào Kiến đạo. Cũng có thuyết cho rằng đời thứ ba mới phát khởi trí tuệ thuận với Quyết trạch phần. Lí do của việc Thanh văn chứng quả nhập đạo có nhanh có chậm là vì căn cơ có lợi có độn khác nhau. Tuy nhiên, về vấn đề này, các luận thuyết nói không đồng nhất, như Ngũ giáo chương thông lộ kí quyển 41 và Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ quyển 4 đều chủ trương 3 đời là lợi căn, 60 kiếp là độn căn; còn Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 2, Pháp hoa kinh huyền tán yếu tập quyển 21 và Câu xá luận quang kí quyển 23 thì, ngược lại, chủ trương chậm là lợi căn, nhanh là độn căn, lí do là vì người lợi căn mới kham nổi việc tu hành lâu dài, như đức Phật đã trải qua thời kỳ tu hành trong 3 tăng kì trăm đại kiếp! [X. luận Đại tì bà sa Q.7, 31; luận Du già sư địa Q.21, luận Hiển dương thánh giáo Q.7; Tam đại bộ bổ chú Q.8 (Tòng nghĩa)]. (xt. Tam Tăng Kì Bách Đại Kiếp).

tam sanh thành phật

(三生成佛) Gọi tắt: Tam sinh. Trải qua 3 đời tu hành có thể thành Phật. Thuyết này do Ngài Trí nghiễm, Tổ thứ 2 của tông Hoa nghiêm đề xướng, ngài Pháp tạng tập đại thành. 1. Kiến văn sinh(cũng gọi Kiến văn vị): Quán tưởng thấy cảnh giới Phật, Pháp, Tăng bảo, thiện hữu, kinh điển trong Biệt giáo Nhất thừa của Hoa nghiêm, nghe giáo pháp do Như lai nói và giáo môn do thiện hữu tăng bảo chỉ dạy, huân tập thành chủng tử vô tận vô ngại để thành tựu thiện pháp của Giải thoát phần. 2. Giải hành sinh(cũng gọi Giải hành vị): Trước được thấy nghe cảnh giới Nhất thừa, nhờ đó pháp lực được huân tập, xả bỏ thân trói buộc, cảm được sự thắng giải của Nhất thừa pháp giới, thành tựu viên mãn đại hạnh tự hành. 3. Chứng nhập sinh (cũng gọi Chứng quả sinh, Chứng nhập vị, Chứng quả hải vị): Hành giải đã trọn đủ, chứng được quả Phật bồ đề, tức thành tựu diệu quả viên mãn cùng tột. Trong Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 2, Tam sinh thành Phật được giải thích rộng như sau: 1. Kiến văn sinh: Chúng sinh trong 8 nạn ở đời trước, thấy nghe chính pháp kinh Hoa nghiêm, chẳng những không tin nhận mà còn hủy báng, vì thế bị quả báo 8 nạn, đọa trong địa ngục, chịu các khổ cực. Sau, được đức Như lai phóng ánh sáng công đức thanh tịnh từ luân tướng dưới lòng bàn chân chiếu rọi đến, nhờ hạt giống lành thấy nghe kinh Hoa nghiêm ở đời trước, liền được thoát khổ địa ngục, sinh lên cõi trời Đâu suất, được thành đạo, chỉ nội trong 1 đời vượt lên ngôi Thập địa. 2. Giải hành sinh: Đồng tử Thiện tài đầu tiên yết kiến bồ tát Văn thù ở Phúc thành, nhờ đó được khai phát và khởi tín giải, bồ tát Văn thù bảo Thiện tài đi tham vấn các vị thiện tri thức khác và đi tới đâu cũng được chỉ bày pháp môn tu hành. Cuối cùng, đồng tử Thiện tài tham kiến bồ tát Phổ hiền, ngài Phổ hiền chỉ bảo Thiện tài tu nhân đại nguyện rộng lớn của Bồ tát, viên mãn đạo quả vô thượng của chư Phật. 3. Chứng nhập sinh: Ngài Xá lợi phất bảo 6 nghìn vị tỉ khưu, đứng đầu là tỉ khưu Hải giác, quán tưởng vô lượng công đức của bồ tát Văn thù sư lợi, đầy đủ trang nghiêm, tin hiểu vững chắc, đính lễ ngài Văn thù, đồng thời cùng với ngài Xá lợi phất nói rằng nguyện được sắc thân tướng hảo như bồ tát Văn thù. Bấy giờ, bồ tát Văn thù khai thị diễn nói pháp Đại thừa cho các vị tỉ khưu nghe, khiến họ thành tựu niềm thâm tín, được đại trí tuệ, chỉ trong 1 đời, chứng nhập pháp giới. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.18; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2; Hoa nghiêm nhất thừa thành Phật diệu nghĩa; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.40].

Tam sinh

三生; C: sānshēng; J: sanshou;|Ba đời sống, ba kiếp sống. I. Kiếp sống trước, hiện tại và tương lai. II. Ba cấp bậc chính trong thời gian thực hiện Phật quả: 1. Phát nguyện, quyết định trở thành một Phật-đà; 2. Tu tập và tích luỹ công đức; 3. Chứng ngộ Phật quả, thành Phật. III. Ba cấp bậc (cuộc sống) được dạy trong tông Thiên Thai, cơ bản cũng như ba cấp bậc trước đây: 1. Chủng (種, cũng gọi là Phát tâm 發心); 2. Thục (熟, chín muồi, có thể gọi là Tu hành 修行) và 3. Giải thoát (解脱). VI. Ba cuộc sống theo Hoa Nghiêm tông: 1. Kiến văn sinh (見聞生), thấy và nghe Phật thuyết pháp trong kiếp sống trước đây; 2. Giải hành sinh (解行生), nghĩa là tu tập đạt giải thoát đời nay và 3. Chứng nhập sinh (證入生), tức là chứng ngộ và nhập đạo trong cuộc đời tương lai.

tam sinh

Three generations (Past, present, and coming).

tam sinh thành phật

Three births to become a Buddha: 1) Kiến văn sinh: A past life of seeing and hearing Buddha-truth. 2) Giải hành sinh: Liberation in the present life. 3) Chứng nhập sinh: Realization of life in Buddhahood.

tam sám

(三懺) Chỉ cho 3 pháp sám hối. 1. Tác pháp sám: Thân lễ bái, miệng xưng niệm, ý tư duy, 3 nghiệp theo đúng pháp giãi bày tội lỗi, cầu xin sám hối. 2. Thủ tướng sám: Định tâm vận tưởng, ở trong đạo tràng, hoặc thấy Phật đến xoa đầu, hoặc thấy ánh sáng xuất hiện, hoặc thấy hoa bay, hoặc mộng thấy các tướng tốt lành, hoặc nghe tiếng trong hư không. Tùy theo các tướng ấy, hễ thấy được 1 tướng thì tội liền tiêu diệt. 3. Vô sinh sám: Tất cả tội nghiệp đều từ 1 niệm tâm tính không rõ mà sinh, nếu rõ tâm tính vốn không, tội phúc vô tướng thì hết thảy pháp đều rỗng lặng, tội cũng tiêu diệt. Ba pháp sám trên đây thì Tác pháp sám và Thủ tướng sám là Sự sám, còn Vô sinh sám thì là Lí sám. Lí sám là chính yếu, Sự sám là phụ trợ. Nếu chính trợ đều thực hành, Lí sự đều vận dụng thì không tội nào không diệt, không phúc nào không sinh.

tam sĩ giáo

(三士教) Tạng: Skyes-bu gsum. Cũng gọi Tam sĩ phu đạo, Tam trượng phu đạo luận. Chỉ cho Thượng sĩ giáo, Trung sĩ giáo và Hạ sĩ giáo, tức là giáo thuyết được chia theo 3 căn cơ thượng, trung, hạ của người (sĩ) tu hành. 1. Hạ sĩ giáo: Tức Nhân thiên thừa, tin thực có đời sau, quán xét sự vô thường của cái chết và nỗi khổ của ác thú, qui y Tam bảo, nói lí nghiệp quả, Thập thiện nghiệp đạo. 2. Trung sĩ giáo: Tức Nhị thừa giáo. Quán xét 4 đế khổ tập diệt đạo, lí pháp 12 nhân duyên, nói nghiệp và phiền não, luật nghi giới... 3. Thượng sĩ giáo: Tương đương với Đại thừa giáo, nói phát tâm Bồ đề, Lục độ, Tứ nhiếp sự... Giáo thuyết trên đây được nói trong luận Bồ đề đăng của ngài A đề sa, vị cao tăng người Ấn độ, được ngài Tông khách ba, nhà cải cách lớn của Phật giáo Tây tạng, tổ thuật trong tác phẩm Bồ đề đạo thứ đệ. Giáo thuyết này vốn do ngài A đề sa khởi xướng và ngài Tông khách ba kế thừa, nhưng quan điểm của 2 ngài có hơi khác nhau: Ngài A đề sa vì thích ứng với các căn cơ thượng, trung, hạ mà nói Tam sĩ giáo, còn ngài Tông khách ba thì nói Tam sĩ giáo làthứ tự tu hành mà 1 sĩ phu phải trải qua.Phái Cách lỗ cho rằng Tam sĩ giáo có 4 đặc sắc: 1. Có thể giải trừ các mâu thuẫn thấy trong giáo lí Phật giáo. 2. Tín thuận toàn bộ giáo pháp trong kinh Phật. 3. Dễ dàng hiểu rõ chính nghĩa của giáo pháp đức Phật. 4. Tránh được tội hủy báng chánh pháp. [X. Tây tạng Phật giáo nghiên cứu; Tây tạng (Đa điền Đẳng quán); A đề sa giáo học chi lịch sử đích vị trí (Phương thôn Tu cơ, Phật giáo sử học 2)].

Tam Sơn Đăng Lai

(三山燈來, Sanzan Tōrai, 1614-1685): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Vi Độ (葦度), hiệu Tam Sơn (三山), xuất thân Điếm Giang (墊江), Trùng Khánh (重慶, Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Tằng (曾). Đi thi cử không đỗ, ông chuyên tâm nghiên cứu Thiền học, đọc say sưa bộ Cổ Âm Lục (古音錄) cũng như Bình Sơn Lục (平山錄) của Tụ Tuyết Xuy Phương Quảng Chơn (聚雪吹風廣眞) và muốn trở thành con cháu của Tụ Tuyết. Vào năm thứ 6 (1643) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), lúc 30 tuổi, ông theo xuất gia với Nam Triết Nhị (南浙二) ở Phí Nham Sơn (弔嵓山). Năm sau, ông đến trú tại Đông Minh Tự (東明寺) ở Trung Châu (忠州, Tỉnh Tứ Xuyên), rồi chuyển đến Thạch Phong (石峰), tham bái Khánh Trung Thiết Bích Huệ Cơ (慶忠鐵壁慧機), nhưng chẳng khế ngộ, nên ông quay về đất Thục. Đến năm thứ 5 (1648) niên hiệu Thuận Trị (順治), lúc 35 tuổi, ông trở về tham yết Huệ Cơ lần thứ hai. Vào năm thứ 11 (1654) cùng niên hiệu trên, ông viếng thăm Huệ Cơ ở Trung Nam Ngọc Ấn Sơn (忠南玉印山), kế thừa dòng pháp của vị này và đến trú tại Sùng Thánh Viện (崇聖院), Trung Châu. Sau đó, ông đã từng sống qua một số nơi khác như Hưng Long Viện (興龍院), Ngũ Vân Viện (五雲院) và Ngũ Vân Bổn Viện (五雲本院) ở Huyện Lương Sơn (梁山縣), Phủ Quỳ Châu (夔州府, Tỉnh Tứ Xuyên), Bàn Thạch Sơn Đàm Hoa Viện (磐石山曇華院) ở Huyện Vân Dương (雲陽縣), Phủ Quỳ Châu, Thiên Ninh Viện (天寧院) ở Phủ Gia Hưng (嘉興府, Tỉnh Triết Giang). Vào ngày 18 tháng 7 năm thứ 24 (1685) niên hiệu Khang Hy (康熙), ông thị tịch, hưởng thọ 72 tuổi đời và 43 hạ lạp. Tác phẩm của ông để lại có Tam Sơn Lai Thiền Sư Ngữ Lục (三山來禪師語錄) 16 quyển, Ngũ Gia Tông Chỉ Toản Yếu (五家宗旨纂要) 3 quyển, Cao Phong Tam Sơn Thiền Sư Sớ Ngữ (高峰三山禪師疏語) 3 quyển. Bên cạnh đó, ông có bản tự thuật về hành trạng và Tánh Thống (性統) soạn bản Niên Phổ.

tam sư

Ba loại thầy trong Phật giáo—Three kinds of teachers in Buddhism. 1) Luật Sư: Teacher of Vinaya. 2) Pháp Sư: Teacher of doctrine. 3) Thiền Sư: Teacher of the Intuitive school.

tam sư thất chúng

See Tam Sư Thất Chứng.

tam sư thất chứng

Trong nghi thức truyền giới đầy đủ hay đại giới đàn phải có sự chứng minh của ba vị Tăng cao tuổi Hạ và bảy người chứng—For a full ordination or triple platform ordination, it is required three superior monks and a minimum of seven witnesses, except in outlandish places, two witnesses are valid. Witnesses are usually monks. (A) Tam sư gồm A xà lê, Giáo thọ và Hòa thượng trụ trì—Three superior monks include the Dharma master, the teaching spiritual advisor, and the most venerable (head of the ceremony). (B) Thất chứng gồm bảy vị sư: Seven witnesses include seven venerables ; (三師七證) Cũng gọi Thập sư, Thập tăng. Tam sư là 3 vị thầy, Thất chứng là 7 vị chứng minh. Chỉ cho số Giới sư phải có đủ trong giới tràng khi truyền giới Cụ túc cho tỉ khưu. Tam sư gồm: 1. Giới hòa thượng: Chỉ cho Hòa thượng chính trao truyền giới luật, vị này là gốc, là chỗ qui hướng để tỉ khưu được giới, cho nên phải chí thành cung thỉnh 3 lần. Người đảm nhiệm chức vị này phải có từ 10 hạ trở lên, là người nghiêm trì giới luật, đầy đủ trí tuệ, có khả năng dạy bảo đệ tử. 2. Yết ma sư: Vị A xà lê đọc văn Yết ma, chủ trì nghi thức bạch tứ Yết ma truyền giới. Yết ma sư là nhân duyên chính cho việc thụ giới của tỉ khưu; nếu không có Yết ma sư vâng theo thánh pháp thì pháp lành trong pháp giới không từ đâu sinh khởi. Người lãnh trách nhiệm này phải có từ 5 hạ trở lên. 3. Giáo thụ sư: Người dạy về uy nghi tác pháp, hương dẫn, mở đường hiểu biết cho các giới tử. Giáo thụ sư cũng phải có từ 5 hạ trở lên. Còn Thất chứng sư thì chỉ cho 7 vị tỉ khưu họp lại để chứng minh cho việc thụ giới. Tam sư thất chứng đều phải được cung thỉnh trước khi cử hành nghi thức thụ giới. Tại Ấn độ cũng như Trung quốc, ở những khu vực trung quốc (nơi trung tâm văn hóa), Phật giáo thịnh hành hơn, dân chúng cũng đông đúc, chư tăng cũng có nhiều nên mới qui định Thập sư; còn những nơi biên quốc hẻo lánh thì chỉ cần Ngũ sư, tức Tam sư nhị chứng là được, gọi là Trung thập biên ngũ. Nhưng khi thụ Ngũ giới thì chỉ cần 1 vị Hòa thượng, khi thụ Thập giới thì cần 1 vị Hòa thượng và 1 vị Yết ma sư là được. Ngoài ra, pháp Thỉnh sư thụ giới Bồ tát Đại thừa nói trong Thụ bồ tát giới nghi của ngài Trạm nhiên khác với phép Thỉnh sư nói trong luật Tứ phần trình bày ở trên. Tức thỉnh đức Thích ca Như lai làm Giới hòa thượng, bồ tát Văn thù làm Yết ma sư và bồ tát Di lặc làm Giáo thụ sư, hết thảy Như lai làm Tôn chứng sư, tất cả Bồ tát làm bạn đồng học; nhưng trên thực tế thì chỉ có 1 vị Truyền giới sư đảm nhiệm việc giáo thụ. [X. kinh Tì ni mẫu Q.1; luật Tứ phần Q.31; luật Ngũ phần Q.17; luật Ma ha tăng kì Q.24]. (xt. Trung Quốc).

tam sắc

Three kinds of rupa—See Sắc (B). ; (三色) I. Tam Sắc. Chỉ cho 3 loại sắc pháp. 1. Ngũ căn: Tức 5 sắc căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. 2. Ngũ cảnh(cũng gọi Ngũ trần). Tức là 5 cảnh giới: Sắc, thanh, hương, vị, xúc. 3. Vô biểu sắc(cũng gọi Vô tác sắc). Chỉ cho thế dụng của các hành vi(nghiệp)huân tập nơi thân thể, là các thói quen vô thức, mặc dù không biểu hiện ra ngoài, nhưng là nhân chiêu cảm quả báo, nương vào thân thể mà tồn tại. [X. luận Đại tì bà sa Q.140; Đại thừa nghĩa chương Q.7]. (xt. Ngũ Căn, Ngũ Cảnh, Vô Biểu Sắc). II. Tam Sắc. Gọi đủ: Tam chủng sắc. 1. Hiển sắc: Sắc rõ ràng trông thấy được, như vàng xanh đỏ trắng, sáng tối, khói mây, bụi sương mù, hư không... 2. Hình sắc: Có các hình tướng trông thấy được, như dài ngắn, vuông tròn, to nhỏ, cao thấp... 3. Biểu sắc: Những việc sở hành có tướng tương đối biểu hiện ra ngoài có thể trông thấy, như đi đứng ngồi nằm, co duỗi, lấy bỏ... [X. luận Ngũ uẩn; Tam tạng pháp số Q.11]. III. Tam Sắc. Chỉ cho 3 loại sắc nói trong Tam tạng pháp số quyển 13, đó là: 1. Khả kiến hữu đối sắc: Tất cả các sắc trần, mắt thấy được(khả kiến), có đối ở trước. 2. Bất khả kiến hữu đối sắc: Chỉ cho 5 căn 4 trần. 3. Bất khả kiến vô đối sắc: Chỉ cho Vô biểu sắc. Ý thức duyên theo cảnh đã thấy trong quá khứ, gọi là Lạc tạ(tàn lụi).[X. kinh Tạp a hàm Q.13, luận Tập dị môn túc Q.3].

tam sở y

(三所依) Cũng gọi Tam chủng sở y. Ba chỗ nương, tức chỉ cho Nhân duyên, Tăng thượng duyên và Đẳng vô gián duyên. Ba loại duyên này là chỗ nương của tâm và tâm sở khi sinh khởi tác dụng. Đây là giáo nghĩa của tông Pháp tướng. 1. Nhân duyên y (Phạm: Hetupratyaya), cũng gọi Chủng tử y, Căn bản y. Chỉ cho chủng tử trong thức A lại da thứ 8 (Sở y) làm nhân duyên trực tiếp sinh ra tâm và tâm sở. Nhân duyên y là chỗ nương chung cho tất cả pháp hữu vi, còn Chủng tử y thì chỉ giới hạn cho chủng tử. 2. Tăng thượng duyên y (Phạm: Adhipati-pratyaya), cũng gọi Câu hữu y, Câu hữu sở y. Chỉ cho các duyên đồng thời tồn tại với tâm và tâm sở, vừa làm chỗ nương vừa cung cấp năng lực cho tâm, tâm sở để sinh khởi tác dụng. Như 5 căn mắt, tai... chính là Tăng thượng duyên y. Duyên này được chia làm 4 y: a. Đồng cảnh y: Năm thức trước lấy 5 căn làm Đồng cảnh y. b. Phân biệt y: Chỉ cho thức thứ 6, vì Ý thức thứ 6 có phân biệt nên gọi là Phân biệt y. c. Nhiễm tịnh y: Chỉ cho thức Mạt na thứ 7. Sự nhiễm ô và thanh tịnh của các thức đều lấy thức Mạt na làm chỗ nương. d. Căn bản y: Chỉ cho thức A lại da thứ 8. Thức này là gốc sinh khởi các thức. Trong đó, 5 thức trước có đủ cả 4 y, thức thứ 6 có Nhiễm tịnh y và Căn bản y, thức thứ 7 chỉ có Căn bản y, thức thứ 8 lấy Nhiễm tịnh y làm Câu hữu y. Nhưng, ngài Hộ pháp cho rằng sự khác nhau giữa Sở y và Y là ở chỗ Y là chung cho tất cả pháp hữu vi, còn Sở y thì chỉ hạn cuộc ở 6 căn. Từ đó về sau, các nhà phần nhiều cho đó là chính nghĩa. 3. Đẳng vô gián duyên y (Phạm: Samanantara-pratyaya), cũng gọi Khai đạo y. Chỉ cho ý căn của niệm trước diệt đi, nhường chỗ cho tâm và tâm sở của niệm sau sinh khởi, không gián đoạn. Đẳng vô gián duyên trong 4 duyên thì chung cho các tâm sở, còn Khai đạo y thì chỉ hạn cuộc ở tâm vương. [X. luận Du già sư địa Q.1; luận Thành duy thức Q.4; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.hạ, phần đầu; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.4, phần cuối; Thành duy thức luận thuật kí Q.4, phần cuối].(xt. Khai Đạo Y).

Tam sự

三事; C: sānshì; J: sanji;|Có nhiều cách phân loại: 1. Giới, định và huệ; 2. Tham, sân, si; 3. Uống, ăn và quần áo (ẩm, thực, y phục 飲食衣服); 4. Kinh, luật, luận.

tam sự giới

Giới liên hệ tới thân, khẩu và ý—The commands relating to body, speech and mind (thân khẩu và ý). ; (三事戒) Chỉ cho 3 thứ tịnh giới: Thân giới, Ngôn giới và Ý giới nói trong kinh Đại bảo tích quyển 117. 1. Thân tịnh giới: Thân thụ các giới, không thiếu sót, hủy phạm. 2. Ngôn tịnh giới: Tất cả lời nói đều chân thật, không nịnh hót, lừa gạt. 3. Ý tịnh giới: Trừ bỏ ác ý, xa lìa tham dục.

tam sự nhân thắng chư thiên

(三事人勝諸天) Có 3 việc mà cõi người hơn cõi trời theo luận Đại tì bà sa quyển 172. Đó là: 1. Năng dũng mãnh: Các trời đam mê vui sướng, không chịu tiến tu nữa; còn loài người tuy không trông thấy quả ở đương lai, nhưng lại chịu khó tiến tu không biếng nhác, dũng mãnh hơn các trời.2. Năng ức niệm: Các trời mê đắm dục lạc, tuệ tính thường mờ tối, còn loài người có khả năng ghi nhớ những việc làm và lời nói rất lâu, phân biệt rõ ràng, thường không quên mất, nhớ dai hơn các trời. 3. Năng phạm hạnh: Các trời say đắm thú vui, không tu thiện nghiệp thêm nữa; con người khi mới phát tâm, thường vun trồng gốc lành thù thắng, thụ trì giới luật, hành nghiệp thanh tịnh, phạm hạnh hơn các trời.

tam sự vô tận

(三事無盡) 1. Bố thí vô tận: Bồ tát thích bố thí, cho đến bố thí cả thân mệnh mà tâm cũng không chán bỏ. 2. Trì giới vô tận: Bồ tát hộ trì giới cấm, chưa hề trái phạm, thấy người phạm giới thì thương tiếc xót xa, thấy người giữ giới thì tôn trọng quí kính, lại dùng giới pháp giáo hóa làm lợi ích chúng sinh, tâm không chán mệt. 3. Bác văn vô tận: Bồ tát muốn giáo hóa chúng sinh, nghe nhiều học rộng tất cả kinh điển, thậm chí luyện tập các nghệ thuật thế gian mà tâm không bao giờ mỏi mệt chán nản.

Tam Tai

(三災): ba loại tai ách, gồm tiểu tam tai và đại tam tai, còn gọi là Tam Tai Kiếp (三災刼). Thế giới nương theo 4 thời kỳ: Thành Kiếp (成刼, thời kỳ thành lập), Trụ Kiếp (住刼, thời kỳ tồn tục), Hoại Kiếp (壞刼, thời kỳ hoại diệt) và Không Kiếp (空刼, thời kỳ trống không) mà tuần hoàn vô cùng tận, không ngừng nghỉ. Trong đó, chúng hữu tình xuất hiện ở thời kỳ nhất định của Trụ Kiếp; đến thời kỳ cuối cùng của Hoại Kiếp thì thế giới hoàn toàn bị hoại diệt. Trong hai thời kỳ Trụ và Hoại, có 3 loại tai ách xảy ra. Theo thuyết của Câu Xá Luận (倶舍論) quyển 12 có (1) Tiểu Tam Tai (小三災): Trụ Kiếp chia thành 20 thời kỳ, tuổi thọ của loài hữu tình từ 80.000 đến 10 tuổi, tăng giảm lui tới khoảng 20 lần, phát sanh 3 loại tai ách như nạn đao binh chém giết lẫn nhau, tai họa dịch bệnh, nạn đói kém, v.v. (2) Đại Tam Tai (大三災): Hoại Kiếp chia thành 20 thời kỳ, nơi kiếp cuối cùng thế giới bắt đầu hoại diệt và dẫn đến thiên tai như về lửa (phá hoại Cõi Dục cho đến Cõi Thiền Thứ Nhất), nước (cho đến Cõi Thiền Thứ Hai) và gió (hoại diệt cho đến Cõi Thiền Thứ Ba). Như vậy 3 tai ách về lửa, nước và gió được gọi là Kiếp Hỏa (刼火), Kiếp Thủy (刼水) và Kiếp Phong (刼風). Sự phát sanh Tam Tai này theo thứ tự nhất định, nghĩa là trước hết tai ách về lửa hoại diệt 10 lần, sau đó đến tai ách về nước hoại diệt 1 lần, cứ tuần hoàn như vậy trải qua 7 lần, rồi lại bị tai ách về lửa hoại diệt 7 lần nữa và cuối cùng là sự hoại diệt của tai ách về gió. Theo Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林) quyển 1 cho biết: (1) Tiểu Tam Tai có tai ách đói kém (tuổi thọ con người từ 84.000 tuổi, mỗi 100 năm giảm xuống 1 tuổi, cho đến khi còn 30 tuổi thì nảy sinh hạn hán lớn không có mưa, cỏ cây không mọc được, trên đời vô số người chết vì đói khát); tai ách dịch bệnh (tuổi thọ con người giảm xuống còn 20, các bệnh hoạn sinh khởi, trên đời vô số người chết vì dịch bệnh); và tai ách đao binh (khi tuổi thọ con người giảm xuống còn 10, mọi người bắt đầu đấu tranh lẫn nhau, tay cầm cỏ cây cũng thành đao gậy, tàn sát nhau và vô số người chết vì đao binh). (2) Đại Tam Tai có tai ách về lửa (vào thời Hoại Kiếp, đại địa và núi Tu Di dần dần băng hoại, nước của 4 biển lớn cũng từ từ cạn đi, Cõi Dục và Cõi Thiền Thứ Nhất đều bị cháy rụi, chẳng còn chút nào); tai ách về nước (từ Cõi Thiền Thứ Nhất trở xuống trải qua 7 lần bị hỏa tai, thế giới lại hình thành, đến thời Hoại Kiếp có trận mưa lớn, giọt mưa to như trục xe, nước từ trong lòng đất phun ra ồ ạt, từ Cõi Dục cho đến Cõi Thiền Thứ Hai nước tràn đầy, tất cả đều bị hoại diệt); và tai ách về gió (từ Cõi Thiền Thứ Hai trở xuống trải qua 7 lần bị tai ách về nước, rồi thêm 7 lần bị tai ách về lửa, hoàn toàn tiêu diệt, cho đến khi thế giới được hình thành lại, đến thời Hoại Kiếp, có con gió mạnh dấy lên, và do nghiệp của chúng sanh đã hết, nên nơi nơi đều có gió, từ Cõi Dục cho đến Cõi Thiền Thứ Ba đều bị thổi bay tung, quét sạch không còn gì cả).

tam tai

xem ba tai kiếp lớn. ; Three calamities or three final catastrophes: 1) Phong Tai: Storm—See Phong Tai. 2) Thủy Tai: Water—See Thủy Tai. 3) Hỏa Tai: Fire—See Hỏa Tai. ; (三灾) Cũng gọi Tam tai kiếp. Tam tai có 2 thứ là Tiểu tam tai và Đại tam tai. Thế giới tuần hoàn theo 4 chu kì là Thành kiếp(thời kì thành lập), Trụ kiếp(thời kì tồn tục), Hoại kiếp(thời kì phá hoại) và Không kiếp(thời kì rỗng không). Trong đó, loài hữu tình xuất hiện trong 1 thời kì nhất định ở Trụ kiếp, đến thời kì cuối cùng của Hoại kiếp thì thế giới hoàn toàn bị phá hoại. Trong Trụ kiếp và Hoại kiếp lần lượt xảy ra 3 tai ách. I. Theo thuyết của luận Câu xá quyển 12:1. Tiểu tam tai: Kiếp Trụ được chia làm 20 thời kì, tuổi thọ của loài hữu tình từ 8 vạn tuổi giảm dần xuống đến lúc còn 10 tuổi, lại tăng dần lên đến 8 vạn tuổi, cứ như thế tăng giảm lên xuống, lập đi lập lại khoảng 10 lần(đầu tiên là Kiếp giảm, cuối cùng là Kiếp tăng). Mỗi lần tuổi thọ con người giảm xuống đến còn 10 tuổi, thì xảy ra 1 tai ách, gồm có 3 thứ: Đao binh tai (dùng các thứ vũ khí giết hại lẫn nhau), Tật dịch tai(các loại bệnh dịch lưu hành) và Cơ cận tai(nạn hạn hán mất mùa đói kém)... gọi là Tiểu tam tai. 2. Đại tam tai: Hoại kiếp được chia làm 20 thời kì, vào thời kiếp cuối cùng thì thế giới bắt đầu hoại diệt và sinh ra thiên tai, gồm Hỏa tai(thiêu hủy từ cõi Dục đến các cõi trời Sơ thiền), Thủy tai(nước cuốn trôi và dâng lên đến các cõi trời Nhị thiền) và Phong tai(thổi bay tất cả cho đến các cõi trời Tam thiền). Sự phát sinh Đại tam tai theo 1 trình tự nhất định. Tức đầu tiên là Hỏa tai hủy diệt thế giới 7 lần, sau đó đến Thủy tai hủy diệt 1 lần; cứ như thế lập đi lập lại 7 lần, cuối cùng thì Phong tai thổi bay tất cả, thế giới không còn gì nữa, gọi là Đại tam tai. [X. kinh Chuyển luân vương tu hành trong Trường a hàm Q.6; phẩm Tam tai trong kinh Trường a hàm Q.21; kinh Khởi thế Q.9; kinh Đại lâu thán Q.5; kinh Ưu bà tắc giới Q.7; luận Đại tì bà sa Q.13; Câu xá luận quang kí Q.12]. (xt. Kiếp). II. Theo thuyết trong Pháp uyển châu lâm quyển 1. 1. Tiểu tam tai: a. Cơ cận tai: Nạn đói kém. Con người thọ 8 vạn 4 nghìn tuổi, cứ mỗi trăm năm giảm đi 1 tuổi, cho đến khi giảm xuống còn 30 tuổi thì hạn hán xảy ra, trời không mưa, cây cỏ không mọc, vô lượng nhân dân trong thế gian chết vì đói kém. b. Tật dịch tai: các loại bệnh dịch lưu hành. Khi tuổi thọ con người giảm xuống đến còn 20 tuổi thì các chứng bệnh dịch xảy ra, vô lượng nhân dân ở thế gian phải chết.c. Đao binh tai: Khi tuổi thọ con người giảm xuống còn 10 tuổi thì xảy ra chiến tranh, mọi người dùng dao gậy đánh chém, tàn sát lẫn nhau, vô lượng nhân dân ở thế gian chết vì chiến tranh. 2. Đại tam tai: a. Hỏa tai: Đến kiếp hoại, có 7 mặt trời xuất hiện, mặt đất và núi Tu di dần dần sụp đổ, nước 4 biển lớn cạn hết, cõi Dục và các cõi trời Sơ thiền đều bị cháy tiêu, không sót 1 vật. b. Thủy tai: Từ cõi trời Sơ thiền trở xuống bị lửa thiêu hủy 7 lần, thế giới lại thành, vào thời kiếp Hoại, dần dần có mưa lớn, hạt nước to bằng bánh xe, lại thêm thủy luân dưới đất phun vọt lên, từ cõi Dục đến các tầng trời Nhị thiền đều bị nước tràn ngập, tất cả đều hoại diệt, như hạt muối tan trong biển nước. c. Phong tai: Từ cõi trời Nhị thiền trở xuống trải qua 7 lần thủy tai, rồi lại trải qua 7 lần hỏa tai phá hủy cõi thế gian, đến khi thế giới hình thành trở lại, rồi vào thời kiếp Hoại, từ phía dưới phong luân có gió mạnh nổi lên, cộng thêm với nghiệp lực của chúng sinh đã hết nên mọi nơi đều nổi gió, từ cõi Dục cho đến các tầng trời Tam thiền thảy đều bị thổi bay, hết sạch không sót 1 vật gì. [X. luận Du già sư địa Q.2].

tam tam muội

The three samadhis or the samadhi on the three subjects: 1) Không tam muội: Thẩm định về lẽ không—To empty the mind of the ideas of me and mine and suffering, which are unreal. 2) Vô tướng tam muội: Thẩm định về lẽ không có tướng—To get rid of the idea of form, or externals. 3) Nguyện tam muội: Thẩm định về lẽ không nguyện cầu—To get rid of all wish or desire. ; (三三昧) Phạm: Traya# samàdhaya#. Pàli:Tayo samàdhì. Cũng gọi Tam tam ma địa, Tam đẳng trì, Tam định. Chỉ cho 3 loại Tam muội. 1. Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 16 thì 3 loại Tam muội là: a). Không tam muội (Phạm: Sùnyatàsamàdhi): Quán xét hết thảy các pháp đều rỗng không, là Tam muội tương ứng với 2 hành tướng Không và Vô ngã của Khổ đế, quán các pháp do nhân duyên sinh, ngã và ngã sở đều là không. b). Vô tướng tam muội (Phạm: Animitta-samàdhi): Tức tất cả các pháp đều không tưởng niệm, cũng không thể thấy, là Tam muội tương ứng với 4 hành tướng diệt, tĩnh, diệu, li của Diệt đế. Niết bàn lìa 5 pháp sắc thanh hương vị xúc, 2 tướng nam, nữ và 10 tướng của 3 tướng hữu vi, cho nên gọi là Vô tướng. c). Vô nguyện tam muội (Phạm: Apraịihita-samàdhi), cũng gọi Vô tác tam muội; Vô khởi tam muội. Nghĩa là đối với tất cả các pháp không có mong cầu gì, là Tam muội tương ứng với 2 hành tướng khổ và vô thường của Khổ đế, với 4 hành tướng nhân, tập, sinh, duyên của Tập đế. Các pháp vô thường, khổ, nhân... đều đáng chán xa, cho nên đạo như thuyền bè cần phải xả bỏ, vì thường xuyên theo định ấy nên có tên là Vô nguyện. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.25 (bản Bắc); luận Đại tì bà sa Q.104; luận Câu xá Q.28; luận Thành duy thức Q.8; Câu xá luận quang kí Q.28]. 2. Theo luận Câu xá quyển 28 thì 3 loại Tam muội là: a). Hữu tầm hữu tứ tam ma địa(cũng gọi Hữu giác hữu quán tam muội): Đẳng trì tương ứng với Tầm, Tứ, thuộc về Sơ tĩnh lự và Vị chí định. b). Vô tầm duy tứ tam ma địa (cũng gọi Vô giác hữu quán tam muội): Đẳng trì chỉ tương ứng với Tứ, thuộc về Tĩnh lự trung gian địa. c). Vô tầm vô tứ tam ma địa(cũng gọi Vô giác vô quán tam muội): Đẳng trì không tương ứng với Tầm và Tứ, thuộc về Cận phần của Đệ nhị tĩnh lự cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Trên đây, tâm thô gọi là Tầm(tìm cầu), tâm tế gọi là Tứ(dò xét). [X. luận Đại trí độ Q.23, luận Du già sư địa Q.12; luận Thuận chính lí Q.79]. 3. Theo luận Thành thực quyển 12 thì 3 loại Tam muội là: a). Nhất phần tam muội: Tu định không tu tuệ, hoặc tu tuệ không tu định. b). Cộng phần tu tam muội: Vừa tu định vừa tu tuệ, là Tam muội thế gian, thuộc trong các pháp như Noãn (...). c.) Thánh chính tam muội: Tam muội nhập vào pháp vị và chứng được Diệt đế. Hành giả dùng định tu tâm, nhờ tuệ ngăn dứt phiền não; dùng tuệ tu tâm, nhờ định ngăn dứt phiền não. Dùng cả định lẫn tuệ tu tâm, nhờ tính mà được tính giải thoát; lại vì định tuệ cùng lúc đầy đủ, nên gọi là Thánh chính. 4. Theo Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 4 thì 3 loại Tam muội là: a). Chân đế tam muội: Phá trừ Kiến hoặc và Tư hoặc cấu uế. b). Tục đế tam muội: Phá trừ ác nghiệp cấu uế, Trần sa cấu uế. c). Trung đạo tam muội: Phá trừ vô minh cấu uế. [X. Phật địa kinh luận Q.1; luận Tạp a tì đàm tâm Q.7; Chú duy ma kinh Q.4; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.5, thượng; Ma ha chỉ quán Q.7, thượng].

tam tam muội da

(三三昧耶) Phạm: Tri-samaya#. I. Tam Tam Muội Da. Cả 3 pháp đều là Tam muội da. Tam muội da nghĩa là bình đẳng, như Tam mật thân, ngữ, ý cả 3 pháp đều bình đẳng và viên dung vô ngại, gọi là Tam tam muội da, cũng gọi là Tam bình đẳng. Ngoài ra, tâm trí bi, Phật pháp tăng, pháp báo ứng(3 thân)... cũng đều gọi là Tam tam muội da. [X. phẩm Tam tam muội da trong kinh Đại nhật Q.6; Đại nhật kinh sớ sao Q.4; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao Q.10]. II. Tam Tam Muội Da. Chỉ cho 3 loại Tam muội da. Tức là ấn tướng và chân ngôn của 3 bộ Tam muội da: Nhập Phật tam muội da, Pháp giới sinh và Chuyển pháp luân khi tu pháp Thai tạng giới của Mật giáo. 1. Nhập Phật tam muội da: Biểu thị ý nghĩa gá vào thánh thai của Phật, trở thành Phật tử mà nhập vào bình đẳng giới của Như lai. 2. Pháp giới sinh: Biểu thị ý nghĩa thánh thai đã đầy đủ, sinh ra trong nhà Phật, hết thảy đều trang nghiêm và bình đẳng với Như lai. 3. Chuyển pháp luân: Biểu thị ý nghĩa con Phật lớn lên, thành Kim cương tát đỏa, đầy đủ sự nghiệp kim cương tự lợi, lợi tha hết thảy đều trang nghiêm và bình đẳng với Như lai. Ba loại ấn minh trên đều có nghĩa bình đẳng như thế, cho nên gọi là Tam tam muội da. Tam muội da cũng là Tam ma da, có đủ 4 nghĩa: Bình đẳng, bản thệ, trừ chướng và tỉnh biết. [X. Phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.9; Thai tạng nhập lí sao Q.thượng]. (xt. Tam Ma Da). III. Tam Tam Ma Da. Gọi đủ: Tam bộ tam muội da. Chỉ cho 3 bộ Tam muội da: Liên hoa, Kim cương và Phật bộ thuộc Thai tạng giới của Mật giáo. 1. Liên hoa bộ tam muội da: Chỉ cho lí tâm bồ đề thanh tịnh vốn có trong thân mình, lí ấy tuy ở trong bùn sinh tử của 4 loài 6 đường nhưng vẫn không bị nhơ nhuốm, giống như hoa sen mọc lên từ vũng bùn mà vẫn thanh khiết, vì thế gọi là Liên hoa bộ tam muội da. 2. Kim cương bộ tam muội da:Chỉ cho trí của lí tâm vốn có, trí này chìm trong biển sinh tử, tuy trải qua vô số kiếp nhưng vẫn không mất, mà lại có năng lực diệt trừ các phiền não, giống như Kim cương có công năng phá tan các vật khác, vì thế gọi là Kim cương bộ tam muội da. 3. Phật bộ tam muội da: Hai bộ Liên hoa và Kim cương ở trên vẫn còn thuộc địa vị phàm phu, lí và trí chưa hiển bày; nếu lí trí đầy đủ, giác đạo viên mãn thì gọi là Phật bộ. Hai bộ trước thuộc nhân vị tại triền(còn trong giai đoạn tu nhân và bị trói buộc), còn Phật bộ thì thuộc quả vị xuất triền.

tam tam pháp môn

(三三法門) Cũng gọi Lục tam phân biệt, Lục chủng tam pháp. Chỉ cho 3 môn: Yếu môn, Chân môn, và Hoằng nguyện môn, là giáo lí do Tịnh độ chân tông của Phật giáo Nhật bản dựa theo các danh số như Tam kinh, Tam nguyện, Tam sơ, Tam vãng sinh... mà tổ chức thành. Hai môn trước thuộc về môn Phương tiện, môn thứ 3 thuộc về môn Chân thực. 1. Yếu môn: Chỉ cho giáo pháp do chính mình tu các thiện hạnh để hồi hướng Tịnh độ, nghĩa là Giáo pháp nương vào chút ít thiện căn phúc đức nhân duyên, nên cũng gọi là Phúc đức tạng. Giáo pháp này xuất phát từ nguyện thứ 19 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà, nói trong kinh Quán vô lượng thọ; đối tượng thụ giáo phải là căn cơ Tà định tụ (căn cơ định thiện và tán thiện), vãng sinh về Hóa độ của Phật A di đà, gọi là Song thụ lâm hạ vãng sinh. Song thụ lâm hạ là biểu thị Hóa độ của Phật A di đà, lấy tên từ Sa la song thụ là nơi đức Phật Thích ca nhập diệt. 2. Chân môn: Chỉ cho giáo pháp nương vào tự lực niệm danh hiệu Phật để cầu vãng sinh, nghĩa là giáo pháp nương vào công đức chẳng thể nghĩ bàn (tức là danh hiệu) cho nên cũng gọi là Công đức tạng. Giáo pháp này phát xuất từ nguyện thứ 20 trong 48 nguyện của Phật A di đà, được nói trong kinh A di đà; đối tượng thụ giáo phải là căn cơ Bất định tụ(căn cơ tự lực niệm Phật) và vãng sinh về cõi Hóa độ của Phật A di đà, gọi là Nan tư vãng sinh. Nan tư nghĩa là không thể nghĩ lường, chỉ cho quả nương vào công đức của danh hiệu mà cảm được, khó mà suy lường được, vì sự vãng sinh này nông cạn hơn so với Nan tư nghị vãng sinh kế tiếp, nên bỏ bớt đi chữ Nghị. 3. Hoằng nguyện môn: Chỉ cho giáo pháp bỏ hết tâm tự lực vãng sinh Tịnh độ, mà hoàn toàn nương nhờ vào bản nguyện của Phật A di đà, nghĩa là giáo pháp đầy đủ 2 thứ trang nghiêm phúc đức và trí tuệ của Phật. Vì thế còn gọi là Phúc trí tạng. Giáo pháp này phát xuất từ nguyện thứ 18 trong 48 nguyện của Phật A di đà, được nói trong kinh Vô lượng thọ; đối tượng thụ giáo phải là căn cơ Chính định tụ và vãng sinh về Báo độ của Phật A di đà, gọi là Nan tư nghị vãng sinh. Nan tư nghị có nghĩa là nhân và quả đều không phải cái mà trí lự của phàm phu có thể suy tư đo lường được.

Tam tam-muội

三三昧; C: sān sānmèi; J: sansanmai;|Ba loại tam-muội (Định): 1. Không tam-muội (空三昧); 2. Vô tướng tam-muội (無相三昧); 3. Vô tác tam-muội (無作三昧; theo Kim cương tam-muội kinh 金剛三昧經)

tam thanh tịnh

Three purities of a Bodhisattva: 1) Thân thanh tịnh: A pure body. 2) Tướng thanh tịnh: Perfectly pure and adorned appearance. 3) Tâm thanh tịnh: A mind free from all impurity.

tam thanh tịnh tâm

(三清淨心) Cũng gọi Tam chủng tùy thuận bồ đề môn pháp. Chỉ cho 3 thứ tâm thanh tịnh nương vào 3 môn Trí tuệ, Từ bi và Phương tiện mà phát khởi. Đó là: 1. Vô nhiễm thanh tịnh tâm: Tâm nương theo môn Trí tuệ, không mong cầu sự an vui cho chính mình, xa lìa sự tham đắm tự thân. 2. An thanhtịnh tâm: Tâm nương theo môn Từ bi, dứt trừ các nỗi khổ của tất cả chúng sinh, tránh xa những việc không mang lại sự yên vui cho chúng sinh.3. Lạc thanh tịnh tâm: Tâm nương theo môn Phương tiện, thương xót tất cả chúng sinh, xa lìa sự cúng dường cung kính đối với tự thân mà phải làm cho chúng sinh được bồ đề thường lạc. [X. luận Vãng sinh; Vãng sinh luận chú Q.hạ; Vãng sinh yếu tập Q.trung, phần cuối].

tam thiên

(三千) Gọi đủ: Tam thiên pháp, Tam thiên pháp môn, Tam thiên thế gian, Tam thiên chư pháp. Ba nghìn. Tức là từ chỉ chung tất cả muôn pháp, là tiếng dùng của tông Thiên thai.Theo lí viên dung thì 10 giới từ địa ngục giới cho đến Phật giới, trong mỗi giới đều có bao hàm 9 giới kia, hợp làm 100 giới. Rồi mỗi giới trong 100 giới lại có 10 Như, từ Tướng như cho đến Bản mạt cứu cánh như, tổng cộng là 1000 như (thiên như); 1000 như này lại có chúng sinh, quốc độ, ngũ ấm(3 thế gian) khác nhau, thành 3 loại thiên như, cho nên tổng hợp là 3000 thế gian. Vì 3000 tóm thu hết thảy muôn vật (các pháp) trong vũ trụ, cho nên gọi Tam thiên chư pháp (ba nghìn các pháp). Tam thiên chư pháp này đều đầy đủ trong tâm sát na thường ngày của chúng sinh, do ý nghĩa ấy nên gọi là Tâm cụ tam thiên. Lại trong Tam thiên chư pháp này có bao hàm bản thể chân như, cho nên gọi là Lí cụ tam thiên(cũng gọi Bản cụ tam thiên, Tính cụ tam thiên, Tính đức tam thiên). Vì Lí cụ tam thiên theo nhân duyên mà hiển bày ra thế giới hiện tượng, cho nên gọi là Sự tạo tam thiên(cũng gọi Biến tạo tam thiên, Sự dụng tam thiên, Tu đức tam thiên, Tu khởi tam thiên). [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.2, thượng; Pháp hoa văn cú Q.9; Quan âm huyền nghĩa Q.thượng; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 3].

tam thiên chư pháp

(三千諸法) Cũng gọi Tam thiên, Tam thiên thế gian.Ba nghìn các pháp. Tiếng dùng của tông Thiên thai, bao quát hết thảy muôn pháp. Tam thiên là con số mà Viên giáo Thiên thai dùng để diễn tả khái niệm các pháp xưa nay vốn Nhất đa tương tức, Viên dung hỗ cụ, Bất tăng bất giảm. Đây là pháp số do nhân 10 pháp giới của kinh Hoa nghiêm, 10 Như thị của kinh Pháp hoa và 3 thế giancủaluận Đại trí độ mà thành. Bởi vì trong 1 tâm có 10 pháp giới (địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, tu la, nhân gian, thiên thượng, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Phật), trong 10 pháp giới mỗi giới lại có đủ 9 giới kia, nên thành là 100 giới; mỗi pháp giới có 10 Như thị (tướng, tính, thể, lực, tác, nhân, duyên, quả, báo, bản mạt cứu cánh đẳng) vì thế, 100 giới nhân với 10 Như thị thành là 1000 Như thị, rồi lại nhân với 3 thế gian(quốc độ, chúng sinh, ngũ ấm) thành là 3000 thế gian. Do đó mà thuyết Nhất niệm tam thiên (Một niệm ba nghìn), tức là trong 1 niệm tâm của sát na ấm vọng có đủ 3000 các pháp, cho nên cũng gọi là Tâm pháp tam thiên, Tâm tạo tam thiên. Nói tóm lại, tuy dùng con số 3000 nhưng thực ra các pháp là vô lượng, cho nên từ 100 giới suốt đến 1000 Như, cho đến 3000 thế gian, số lượng ấy cuối cùng ngôn ngữ không nói lên được, tư tưởng cũng không tới được, vì thế nên biết 3000 thực ra chỉ là số lượng bày tỏ vô số lượng. Ngoài ra còn có các từ ngữ biểu thị ý nghĩa tóm thu các pháp như: Nhất sắc tam thiên, Nhất hương tam thiên, Nhất thanh tam thiên, Tam thiên viên cụ... Ma ha chỉ quán quyển 5 thượng (Đại 46, 54 thượng) nói: Một tâm có 10 pháp giới, 1 pháp giới có đủ 10 pháp giới thành là 100 pháp giới. Một pháp giới có 30 thế gian, 100 pháp giới tức có 3000 thế gian. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.2, thượng; Ma ha chỉ quán Q.5, thượng; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 3; Chỉ quán nghĩa lệ tùy thích Q.2].(xt. Nhất Niệm Tam Thiên).

tam thiên phật

(三千佛) Cũng gọi Tam kiếp tam thiên Phật, Tam thế tam thiên Phật. Chỉ cho ba nghìn đức Phật lần lượt ra đời trong 3 kiếp quá khứ, hiện tại và vị lai. Đây là con số gọi chung 1000 đức Phật kiếp Trang nghiêm (đời quá khứ), 1000 đức Phật kiếp Hiền (đời hiện tại) và 1000 đức Phật kiếp Tinh tú (đời vị lai). Danh hiệu của 3000 đức Phật được ghi chép đầy đủ trong kinh Tam kiếp tam thiên Phật danh. Trung quốc đã sớm có tập tục tín ngưỡng Tam thiên Phật, như điều Tùy khai hoàng tam niên trong Phật tổ thống kỉ quyển 39 (Đại 49, 359 hạ) nói: Sa môn Huệ doanh ở Hải lăng mỗi ngày 6 thời lễ Tam thiên Phật danh để cầu cứu nạn đói cho dân. [X. kinh Quán Dược vương Dược thượng nhị bồ tát; Phật tổ thống kỉ Q.30].

Tam Thiên Phật Danh Kinh

(三千佛名經), gọi đủ là Tam Kiếp Tam Thiên Phật Danh Kinh (三劫三千佛名經), thâu lục vào Taishō với 3 quyển riêng biệt là Quá Khứ Trang Nghiêm Kiếp Thiên Phật Danh Kinh (過去莊嚴劫千佛名經, No. 446a, thất dịch) 1 quyển; Hiện Tại Hiền Kiếp Thiên Phật Danh Kinh (現在賢劫千佛名經, No. 447a, thất dịch), 1 quyển; Vị Lai Tinh Tú Kiếp Thiên Phật Danh Kinh (未來星宿劫千佛名經, No. 448a, thất dịch), 1 quyển.

tam thiên trần điểm kiếp

(三千塵點劫) Ba nghìn kiếp chấm mực. Đây là số kiếp ví dụ thời gian lâu xa kể từ khi đức Phật Đại thông trí thắng diệt độ đến nay trong phẩm Hóa thành dụ kinh Pháp hoa. Đức Phật Đại thông trí thắng diệt độ đến nay đã rất lâu xa, ví như đem tất cả địa chủng (Phạm: Pfthivì-dhàtu, cõi đất) trong thế giới Tam thiên đại thiên nghiền ra làm mực (Phạm:Mawi), cứ trải qua một thế giới đại thiên thì chấm một chấm, chấm đến khi hết số mực ấy; rồi lại nghiền tất cả cõi nước đã trải qua thành bụi nhỏ (Phạm: Paramàịu-rajas), mỗi hạt bụi(trần)tính là một kiếp. Dùng số kiếp chấm mực(điểm) và bụi nhỏ(trần)này để ví dụ thời gian lâu xa từ khi đức Phật Đại thông trí thắng diệt độ đến nay. Khái niệm thời gian này thật không thể tưởng tượng được. Tương tự như thế, phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Pháp hoa có lập thuyết Năm trăm trần điểm kiếp hoặc Năm trăm ức trần kiếp để nói rằng đức Phật Thích ca đã thành Phật từ lâu xa lắm rồi, chứ chẳng phải mới thành Phật dưới cội Bồ đề cách đây hơn 2500 năm![X. luận Đại trí độ Q.32; Pháp hoa kinh huyền tán Q.9].(xt. Trần Điểm Kiếp).

tam thiên tứ tiên

(三天四仙) Ba trời bốn tiên. Tức thuyết của ngoại đạo Ấn độ. Ba trời là: 1. Ma hê thủ la thiên: Tức trời Đại tự tại. Hình tượng vị trời này có 8 tay 3 mắt, cỡi trâu trắng. Những người tin thờ trời này cho rằng Ngài là nhân sinh ra muôn vật.2. Vi nữu thiên (cũng gọi Tì nữu thiên): Tức trời nghe khắp. Vị trời này có 4 tay, cầm vỏ ốc (tù và), bánh xe, cỡi chim cánh vàng. Những người tin thờ, cho vị trời này là nhân sinh ra muôn vật. 3. Cưu ma la thiên: Tức Đồng tử thiên. Vị trời này tay nâng con gà, cầm cái chuông nhỏ, lá phướn đỏ, cỡi chim công. Trong 3 vị trời trên đây, Ma hê thủ la thiên và Tì nữu thiên được gọi chung là Nhị thiên. Bốn vị tiên là: 1. Ca tì la tiên: Tức Số luận sư, chấp các pháp là một. 2. Ưu lâu tăng khư: Tức Thắng luận sư, chấp các pháp là khác. 3. Lặc sa bà tiên: Tức Ni kiền tử, ngoại đạo khổ hạnh, chấp các pháp cũng một cũng khác. 4. Nhã đề tử: Tức ngoại đạo lõa thể, chấp các pháp chẳng phải 1 chẳng phải khác. Trong 4 vị tiên trên, Ca tì la tiên, Ưu lâu tăng khư và Lặc sa bà được gọi chung là Tam tiên. [X. luận Đại trí độ Q.2; luận Nhập đại thừa Q.thượng; luận Thành duy thức Q.1].

tam thiên uy nghi bát vạn tế hạnh

(三千威儀八萬細行) Ba nghìn uy nghi tám vạn tế hạnh của tỉ khưu phải ứng xử hàng ngày. Vị tỉ khưu phải giữ 250 giới, đem phối hợp với 4 uy nghi: Đi, đứng, ngồi, nằm thì thành 1.000 giới, lưu chuyển theo 3 đời(có thuyết nói Tam tụ tịnh giới) thì thành 3.000 uy nghi. Lại phối với 7 chi thân khẩu (giết hại, trộm cắp, dâm dục, 2 lưỡi, nói ác, nói dối, nói thêu dệt), 3 độc tham, sân, si và 4 thứ phiền não(ngã si, ngã mạn, ngã kiến, ngã ái)cộng chung thành 84.000. Các kinh chỉ nêu số chẵn là 80.000 tế hạnh. Tịnh tâm giới quán pháp dựa vào cách nhận xét khác nhau giữa Tiểu thừa và Đại thừa mà cho rằng giới Bồ tát có 8 vạn uy nghi, giới Thanh văn có 3 nghìn uy nghi. Bát tông cương yếu quyển thượng thì cho rằng giới tăng và giới ni khác nhau, tăng có 250 giới, tức 3 nghìn uy nghi, 6 vạn tế hạnh. Ni có 340 giới, tức 8 vạn uy nghi, 12 vạn tế hạnh. Khảo sát các văn hiến, người ta thấy danh mục Ba nghìn uy nghi được sử dụng sớm nhất, có lẽ đã lấy từ câu thành ngữ cổ đại ở Trung quốc ghi trong sách Trung dung: Ưu ưu đại tai, lễ nghi tam bách, uy nghi tam thiên. [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.5; Pháp hoa tam đại bộ bổ chú Q.11; Đại tạng pháp số Q.86].

tam thiên viện

(三千院) Môn tích của tông Thiên thai. Nhật bản, tọa lạc tại khu Tả kinh ở Kyoto. Khoảng năm 782-806, ngài Tối trừng xây dựng Tam thiên viện ở Đông tháp núi Tỉ duệ, sau dời đến làng Vĩ tỉnh ở phía đông Osaka, trở thành chùa Môn tích. Sau loạn Ứng nhân, chùa được dời về địa chỉ hiện nay. Viện Vãng sinhcực lạc của Bản đường là di tích kiến trúc do ngài Nguyên tín sáng lập vào thời bấygiờ, thiên tỉnh của kiến trúc A di đà đường mang hình đáy thuyền, hiện còn lưugiữ các bức vẽ rất đẹp, tượng Hiếp sĩ của Bản tôn A di đà là tượng Phật xưa nhất của thời Đằng nguyên.

tam thiên đại thiên (Phật chi) thế giới

Một cõi đại thiên thế giới do một vị Phật xuất thế giáo hóa. Cứ một ngàn cõi thế giới hợp thành một tiểu thiên thế giới, một ngàn tiểu thiên thế giới hợp thành một trung thiên thế giới, lại một ngàn trung thiên thế giới hợp thành một đại thiên thế giới. Vì tính lên đến ba lần một ngàn nên người ta quen gọi là tam thiên, nhưng thực ra về số lượng thì chỉ là một đại thiên thế giới, gồm 1.000.000.000 thế giới. Cách dịch cũ trước đây là “ba ngàn đại thiên thế giới” xem ra không được chính xác lắm.

Tam thiên đại thiên thế giới

三千大千世界; C: sānqiān dàqiān shìjiè; J: sanzen daisen sekai; S: trisāhasra-mahāsāha-sra-loka-dhātu.|Hàng tỉ thế giới, tạo thành một cõi Phật. Là thế giới bao gồm đục giới và tầng thứ nhất của cung trời thuộc Sắc giới. Một ngàn nhân một ngàn nhân một ngàn là một tỉ thê giới, thường được viết ngắn là Tam thiên thế giới (三千世界). Đây là một cách mô tả tính chất rộng mở mênh mông, xuyên suốt của toàn thể vũ trụ theo vũ trụ quan của người Ấn thời xưa.

tam thiên đại thiên thế giới

(三千大千世界) Phạm: Tri-sàhasra-mahà-sàhasraloka-dhàtu. Pàli: Ti-sahassì-mahà-sahassìloka-dhàtavo. Cũng gọi Nhất đại tam thiên đại thiên thế giới, Nhất đại tam thiên thế giới, Tam thiên thế giới. Ba nghìn thế giới đại thiên. Tức vũ trụ quan của người Ấn độ đời xưa. Nghĩa là lấy núi Tu di làm trung tâm, chung quanh có 4 đại châu và 9 dãy núi, 8 lớp biển bao bọc, gọi là một Tiểu thế giới, tức phạm vi từ trời Sơ thiền của cõi Sắc đến lớp phong luân dưới đáy mặt đất, trong đó bao gồm mặt trời, mặt trăng, núi Tu di, 4 Thiên vương, trời Ba mươi ba, trời Dạ ma, trời Đâu suất, trời Lạc biến hóa, trời Tha hóa tự tại, trời Phạm thế... Một tiểu thế giới này lấy số 1000 làm đơn vị, hình thành một Tiểu thiên thế giới, một nghìn Tiểu thiên thế giới tập hợp thành một Trung thiên thế giới, một nghìn Trung thiên thế giới tập hợp thành một Đại thiên thế giới; Đại thiên thế giới này do Tiểu thiên thế giới, Trung thiên thế giới và Đại thiên thế giới tập hợp thành, cho nên gọi là Tam thiên đại thiên thế giới. Nhưng theo sự suy định chính xác thì Tam thiên thế giới thực ra là gồm 10 ức Tiểu thế giới, còn Tam thiên đại thiên thế giới thì gồm nghìn trăm ức thế giới, thực khác xa với các khái niệm mô hồ chung chung như vô hạn thế giới, toàn thể vũ trụ... Theo vũ trụ quan trong kinh điển Phật giáo thì Tam thiên thế giới là lãnh vực do một đức Phật giáo hóa, vì thế cũng gọi là Nhất Phật quốc. [X. kinh Quán vô lượng thọ Q.12; luận Câu xá Q.11; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.2; Vãng sinh yếu tập Q.84].

tam thiếp hoà tán

(三帖和贊) Từ ngữ gọi chung ba bộ hòa tán. Tịnh độ, Cao tăng và Chính tượng mạt, do ngài Thân loan người Nhật bản soạn. Lúc về già, vì muốn cho giáo nghĩa căn bản của Chân tông dễ hiểu hơn, nên ngài Thân loan đã soạn ra các hòa tán này và, cùng với Chính tín kệ, các hòa tán này đều được đọc tụng trong các khóa lễ sớm chiều tại các chùa viện Nhật bản. Tịnh độ hòa tán gồm 118 bài kệ, khen ngợi đức Phật A di đà, Tam kinh(kinh Vô lượng thọ, kinh Quán vô lượng thọ và kinh A di đà), lợi ích đời hiện tại...; Cao tăng hòa tán gồm 117 bài kệ, khen ngợi 7 vị cao tăng (Long thụ,Thiên thân, Đàm loan, Đạo xước, Thiện đạo, Nguyên tín và Nguyên không); Chính tượng mạt hòa tán gồm 108 bài kệ, nói về Chính tượng mạt Tịnh độ, Nghi hoặc, Thánh đức phụng tán, Thuật hoài... Ngoài ra còn có Thiếp ngoại hòa tán, có phụ thêm Tự nhiên pháp nhĩ chương bằng tiếng Nhật.

tam thiền thiên

(三禪天) Cũng gọi Đệ tam tĩnh lự, Đệ tam thiền. Chỉ cho cõi Thiền thứ 3 trong 4 cõi thiền của Sắc giới. Vìlìabỏ hỉ của thiền thứ 2 thì lại sinh lạc tĩnh diệu, nên cõi thiền này cũng gọi là Li hỉ diệu lạc địa. Cõi này chỉ có ý thức và có 2 cảm thụ lạc, xả tương ứng với ý thức. Tướng vui thích của ý thức ở cõi này cực kì tĩnh diệu nên gọi là Lạc thụ. Trong 18 tầng trời cõi Sắc thì 3 tầng trời Thiểu tịnh, Vô lượng tịnh và Biến tịnh chính là Tam thiền thiên. Trong Tam địa thì Tam thiền thiên thuộc về Vô tầm vô tứ địa. [X. kinh Trường a hàm Q.20; luận Thuận chính lí Q.21; luận Câu xá Q.8]. (xt. Sắc Giới).

Tam thiện căn

三善根; C: sān shàngēn; J: san zenkon;|Có hai cách phân chia: 1. Ba thiện căn của Vô tham (無貪), vô sân (無瞋), và vô si (無癡). Chúng được gọi như vậy bởi gì được xem là những tâm trạng căn bản của thiện lành. Theo Du-già hành tông thì tất cả những nhân tố thiện lành đều xuất phát từ ba thiện căn này. 2. Thí (施), Từ (慈) và Huệ (慧). Chúng được xem là đối nghịch với Tam độc (三毒).

tam thiện căn

(三善根) Phạm: Trìịikuzala-mùlani. Pàli:Tìịi kusala-mùlàni. Chỉ cho 3 loại tâm sở đối trị 3 thứ bất thiện căn. Đó là: 1. Vô tham thiện căn (Phạm:A-lobhakuzala-mùla), cũng gọi Bất tham thiện căn. Nghĩa là đối với các cảnh 5 dục lạc không tham đắm, không ưa thích. Pháp vô tham này là chủng tính thiện, là cội gốc của vô lượng thiện pháp, vì thế gọi là Vô tham thiện căn. 2. Vô sân thiện căn (Phạm: A-dvewakuzala-mùla), cũng gọi Bất khuể thiện căn. Nghĩa là đối với tất cả chúng sinh không phẫn nộ, không muốn làm tổn não. Pháp vô sân này là chủng tính thiện, là cội gốc của vô lượng thiện pháp, cho nên gọi là Vô sân thiện căn. 3. Vô si thiện căn (Phạm: A-mohakuzala-mùla), cũng gọi Bất si thiện căn. Nghĩa là đối với tất cả các pháp đều hiểu biết thông suốt; có khả năng thấy rõ các pháp thiện, các pháp bất thiện, pháp có tội, pháp không tội, pháp nên tu, pháp không nên tu... Pháp vô si này là chủng tính thiện, là cội gốc của vô lượng thiện pháp, vì thế gọi là Vô si thiện căn. Ba thiện căn này có thể đầy đủ trong một tâm, hiện hữu trong 6 thức và tương ứng với tất cả tâm thiện hữu lậu, vô lậu để cùng khởi, là cội gốc của các điều thiện. Luận Đại tì bà sa quyển 112 giải nghĩa các pháp: Năng sinh thiện (hay sinh điều thiện), tăng thiện(thêm điều thiện), trưởng thiện(nuôi lớn điều thiện), ích thiện(làm cho điều thiện thêm nhiều lên), trì thiện(giữ gìn điều thiện), quảng bá thiện(mở rộng điều thiện)... là thiện căn. [X. kinh Trường a hàm Q.8; luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; Câu xá luận quang kí Q.16].

tam thiện tri thức

(三善知識) Chỉ cho 3 bậc thiện tri thức chỉ dạy, khích lệ, giúp đỡ người tu hành. Đó là: 1. Giáo thụ thiện tri thức: Tức bậc thầy dạy bảo. Các phương pháp tu học bên ngoài cũng như những chướng ngại bítlấp bên trong... đều được bậc thầy chỉ dạy rõ ràng, dứt khoát, vì thế gọi là Giáo thụ thiện tri thức.2. Đồng hành thiện tri thức: Người tu hành khích lệ lẫn nhau, khuyên răn sách tiến lẫn nhau, đồng tâm nhất chí như đi chung một thuyền, nên gọi là Đồng hành thiện tri thức. 3. Ngoại hộ thiện tri thức: Những tín đồ có khả năng giúp đỡ người xuất gia tu hành về mọi phương diện cần thiết, nếu bị hiếp đáp họ cũng có thể can thiệp, che chở, cho nên gọi là Ngoại hộ thiện tri thức. [X. Ma ha chỉ quán Q.4, hạ].

tam thiện đạo

(三善道) Cũng gọi Tam thiện thú Chỉ cho 3 đường thiện trời, người, a tu la do tu 3 phẩm thiện nghiệp mà hướng tới để sinh về. Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 2 hạ (Đại 33, 698 hạ) nói: Vô minh kết hợp với hạnh tu thiện phẩm hạ thì khởi nhân duyên Tu la, như bức tranh màu vàng; vô minh kết hợp với hạnh tu thiện phẩm trung thì khởi nhân duyên cõi người, như bức tranh màu trắng; vô minh kết hợp với hạnh tu thiện phẩm thượng thì khởi nhân duyên cõi trời, như bức tranh màu trắng toát. [X. luận Đại trí độ Q.30; Ma ha chỉ quán Q.5 thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.8, phần cuối; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.4].

tam thoái

(三退) Ba thứ lui mất. Tức sự lui mất công đức của hàng Thanh văn, Duyên giác và Phật có 3 loại như sau: 1. Dĩ đắc thoái(cũng gọi Dĩ đắc pháp thoái). Nghĩa là bậc Thánh đã dứt trừ hoặc nghiệp rồi lại thoái hóa, khiến phiền não hiện khởi trở lại và làm mất công đức. 2. Vị đắc thoái(cũng gọi Vị đắc pháp thoái). Nghĩa là vẫn chưa chứng được công đức thù thắng. 3. Thụ dụng thoái(cũng gọi Tập hành pháp thoái). Nghĩa là công đức thù thắng đã đạt được, nhưng khi thụ dụng lại không hiện tiền. Trong 3 loại thoái trên đây, Phật chỉ có Thụ dụng thoái; Duyên giác và bậc La hán bất động có Vị đắc thoái và Thụ dụng thoái, nhờ có lợi căn nên không có Dĩ đắc thoái; còn 5 loại La hán: Thoái pháp, Tư pháp, Hộ pháp, An trụ pháp và Kham đạt pháp thì vì có độn căn nên có cả 3 loại thoái. [X. luận Câu xá Q.25; luận Du già sư địa Q.62; Câu xá luận tụng sớ Q.25; Du già luận kí Q.17; Câu xá luận quang kí Q.25].

tam thoái khuất

(三退屈) Cũng gọi Tam chủng thoái khuất. Ba lui khuất. Tức chỉ cho ba thứ tâm thoái khuất sinh khởi khi Bồ tát ở vào giai vị Tư lương(giai vị thứ nhất trong 5 giai vị Bồ tát). Đó là: 1. Bồ đề quảng đại khuất: Vô thượng bồ đề rộng lớn sâu xa, Bồ tát nghe thế bèn sinh tâm thoái khuất; trong trường hợp này, Bồ tát phải nghĩ rằng người khác đã chứng được bồ đề để rèn luyện tâm mình. 2. Vạn hạnh nan tu khuất: Sáu hạnh Ba la mật nhưBố thí... rất khó tu, Bồ tát nghe vậy liền sinh tâm thoái khuất; trong trường hợp này, Bồ tát phải xét đến sơ tâm của mình để rèn luyện tự tâm. 3. Chuyển y nan chứng khuất: Việc chuyển phiền não thành bồ đề, chuyển sinh tử thành Niết bàn cực kì khó chứng, Bồ tát nghe thế liền sinh tâm thoái khuất; trong trường hợp này, Bồ tát phải nghĩ rằng nhân thiện yếu kém cũng có thể chứng được quả vi diệu để rèn luyện tâm mình. [X. luận Thành duy thức Q.9].

tam thuyết thanh

(三說聲) Cũng gọi Tam sĩ. Chỉ cho 3 ngôi trong văn pháp tiếng Phạm. 1. Tự thuyết thanh(cũng gọi Thuyết tự thanh, Thượng sĩ): Đại danh từ chỉ người ở ngôi thứ nhất. 2. Thuyết tha thanh(cũng gọi Tha thuyết thanh, Trung sĩ): Đại danh từ chỉ người ở ngôi thứ hai. 3. Phiếm thuyết thanh(cũng gọi Hạ sĩ): Đại danh từ chỉ người ở ngôi thứ ba. [X. Từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.3].

tam thuật

(三術) Gọi đủ: Nội ngoại tam thuật. Chỉ cho 3 phương pháp trong, ngoài được tông Thiên thai sử dụng để trừ khử ma chướng trong lúc tu thiền quán. Nghĩa là hành giả khi tu xong pháp quán thứ 8 Tri thứ vị, thường dễ bị nhiễu loạn bởi nghịch duyên bên trong (giặc cứng mạnh) và thuận duyên bên ngoài(giặc dịu dàng), đến nỗi tổn hại nội đức, rước lấy danh lợi mà tự phá hoại mình. Vì mục đích ngăn chặn 2 chướng duyên thuận và nghịch này để đạt đến cảnh giới an nhẫn bất động, cho nên dùng Nội ngoại tam thuật lần lượt đối trị. 1. Nội tam thuật: Tức dùng 3 quán Không, Giả, Trung để đối trị các ma chướng như Mạn, Kiến, Phiền não... từ trong nội tâm nổi lên. 2. Ngoại tam thuật: Đối trị các chướng danh dự lợi dưỡng đến từbên ngoài cũng có 3 pháp, đó là: a. Không nhận lãnh, không tham đắm tất cả danh lợi. b. Giấu kín đức của mình và để lộ rõ những khuyết điểm của mình. c. Sống ẩn dật ở những nơi vắng vẻ. Những hành giả Viên đốn nếu ứng dụng Nội ngoại tam thuật này, an nhẫn không lay động trước thuận duyên và nghịch duyên thì sẽ thành tựu được Năng an nhẫn thứ 9 trong 10 thừa quán pháp, mau tiến lên Ngũ phẩm mà được 6 căn thanh tịnh. [X. Ma ha chỉ quán Q.7; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.7, phần 4].

tam thuỷ

(三水) Chỉ cho 3 thứ nước: Thời, phi thời và xúc dụng. 1. Thời thủy: Nước dùng uống từ khi mặt trời mọc đến giờ Ngọ. 2. Phi thời thủy: Nước sạch dùng để uống từ sau giờ Ngọ. 3. Xúc dụng thủy: Nước để rửa sạch được sử dụng bất cứ vào lúc nào. [X. Thụ dụng tam thủy yếu hành pháp].

tam thánh

The three sages or holy ones: (A) Tam Thánh Hoa Nghiêm: Ba vị Thánh trong thế giới Hoa Nghiêm—The three divinities in the Flower Ornament world: 1) Phật Tỳ Lô Giá Na ở giữa: Vairocana in the center. 2) Văn Thù bên trái: Manjusri on the left. 3) Phổ Hiền bên phải: Samantabhadra on the right. (B) Thích Ca Tam Thánh: Ba vị Thánh được nói đến trong kinh Hoa Nghiêm—The three divinities in the Flower Ornament Scriptures: 1) Phật Thích Ca Mâu Ni ở giữa: Sakyamuni Buddha in the center. 2) Same as in (A) (2). 3) Same as in (A) (3). (C) Tam Thánh Di Đà: Ba vị Thánh trong cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà. Người ta tin rằng ba vị Thánh nầy là những vị đạo sư tiếp dẫn linh hồn của người quá vãng. Trong một vài trường hợp hiếm hoi, ta thấy ngài Địa Tạng được thay vào chỗ của ngài Đại Thế Chí Bồ Tát—The three Pure Land divinities in the Pure Land Sect. These three divinities are believed to welcome the departed into the Pure Land. In some rare instances, Ksitigarbha Bodhisattva takes the place of Mahasthamaprapta: 1) A Di Đà ở giữa: Amitabha in the center. 2) Quan Âm bên trái: Avalokitesvara (Kuan Yin) on the left. 3) Đại Thế Chí bên phải: Mahasthama-prapta on the right. (D) Tam Thánh Dược Sư—The three divinities, according to the Bhaisajya-guru-vaidurya-prabhasa sutra: 1) Phật Dược Sư ở giữa: Bhaisajya-guru-vaidyrya-Buddha in the centre—See Dược Sư Tam Tôn. 2) Nhật Quang Bồ Tát bên trái: Surya-prabhasana on the left. 3) Nguyệt Quang Bồ Tát bên phải: Candra-prabhasana on the right. ; (三聖) I. Tam Thánh. Ba bậc Thánh của kinh Hoa nghiêm, tức chỉ cho đức Bản sư Tì lô giá na và 2 vị Đại bồ tát Phổ hiền, Văn thù. (xt. Hoa Nghiêm Tam Thánh). II. Tam Thánh. Ba bậc Thánh của giới đàn Viên đốn. Chỉ cho 3 vị thầy: Hòa thượng, Yết ma và Giáo thụ khi truyền thụ giới Bồ tát Viên đốn. Tức tôn đức Thích ca mâu ni làm Hòa thượng, bồ tát Văn thù làm Yết ma A xà lê và bồ tát Di lặc làm Giáo thụ A xà lê. (xt. Tam Sư Thất Chứng). III. Tam Thánh. Chỉ cho 3 bậc Thánh ngoài đức Phật Thích ca. Cứ theo phẩm Quán bản tế trong Trung luận quyển 2 thì Tam thánh là Ngoại đạo có 5 thần thông, hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác và Đại Bồ tát chứng đắc thần thông. IV. Tam Thánh. Chỉ cho Thiền sư Tuệ nhiên, đệ tử nối pháp của ngài Lâm tế Nghĩa huyền. Vì sư trụ ở viện Tam thánh tại Trấn châu thuộc Hà bắc rất lâu, cho nên người đời gọi sư là Tam thánh, hoặc Tam thánh Tuệ nhiên. (xt. Tuệ Nhiên) V. Tam Thánh. Chỉ cho 3 vị Đại sư thuộc tông Thiên thai của Phật giáo Nhật bản là các ngài: Truyền giáo, Tứ giác và Trí chứng. Ba vị Đại sư này cùng với 2 ngài An nhiên và Từ huệ gọi chung là Tam thánh nhị sư. Ngoài ra, thôngthường, đức Phật A di đà, bồ tát Quán thế âm, bồ tát Đại thế chí được gọi là Tây phương Tam thánh.

Tam Thánh Huệ Nhiên

(三聖慧然, Sanshō Enen, ?-?): nhân vật sống vào thời nhà Đường, vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, đã từng trú tại Tam Thánh Viện ở Trấn Châu (鎮州, thuộc Tỉnh Hà Bắc). Ông đắc được huyền chỉ của Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨済義玄), sau đi du hóa các nơi, cũng đã từng đến tham yết Ngưỡng Sơn (仰山), Đức Sơn (德山) cũng như Tuyết Phong (雪峰). ; 三聖慧然; C: sānshèng huìràn; J: sanshō enen; tk. 9; |Thiền sư Trung Quốc, một trong những môn đệ thượng thủ nối pháp của Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền. Sư cũng là người biên soạn những pháp ngữ của Lâm Tế trong Lâm Tế ngữ lục.|Sau khi được Lâm Tế ấn khả, Sư chu du khắp nơi, tiếng tăm lừng lẫy. Sư thăm viếng nhiều tùng lâm và đến đâu cũng được tiếp đãi trọng hậu. Công án 49 trong Bích nham lục thuật lại cuộc gặp gỡ của Sư với Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Sư hỏi: »Cá vàng thoát lưới lấy gì làm thức ăn?« Tuyết Phong đáp: »Ðợi ông ra khỏi lưới rồi đến đây sẽ nói.« Sư bảo: »Là thiện tri thức của 1500 người mà thoại đầu cũng không biết.« Tuyết Phong bèn nói: »Lão tăng trụ trì nhiều việc.«|Ðến gặp Thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn. Hương Nghiêm hỏi: »Từ đâu đến?« Sư đáp: »Từ Lâm Tế đến.« Hương Nghiêm hỏi: »Ðem được kiếm của Lâm Tế đến chăng?« Sư chẳng nói, lấy toạ cụ đánh Hương Nghiêm rồi đi. Hương Nghiêm im lặng mỉm cười.|Ðến viếng Thiền sư Ðức Sơn Tuyên Giám. Vừa thấy Sư trải toạ cụ ra, Ðức Sơn liền bảo: »Chớ có trải cái khăn phủi bụi, nơi đây không có canh cặn cơm thừa.« Sư đáp: »Dù có cũng không có chỗ đổ.« Ðức Sơn liền đánh, Sư chụp gậy và đẩy thẳng đến giường thiền. Ðức Sơn cười to. Sư nói: »Trời xanh!« rồi xuống nhà tham thiền.|Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch rất mến tài hùng biện của Sư. Lúc mới gặp, Ngưỡng Sơn hỏi: »Ông tên gì?« Sư thưa: »Huệ Tịch.« Ngưỡng Sơn ngạc nhiên bảo: »Huệ Tịch là tên của ta.« Sư liền nói: »Huệ Nhiên.« Ngưỡng Sơn cười lớn.|Một ông quan đến thăm, Ngưỡng Sơn hỏi: »Quan ở vị nào?« Quan thưa: »Dẹp quan.« Ngưỡng Sơn dựng phất tử hỏi: »Lại dẹp được cái này chăng?« Ông quan không đáp được và trong chúng cũng không ai trả lời vừa lòng Ngưỡng Sơn. Lúc đó Sư đang nằm tại Niết-bàn đường (nơi nuôi dưỡng bệnh nhân), Ngưỡng Sơn sai thị giả đến trình. Sư đáp: »Hoà thượng có việc.« Ngưỡng Sơn lại sai thị giả hỏi: »Chưa biết có việc gì?« Sư lại đáp: »Tái phạm chẳng tha.« Nghe vậy Ngưỡng Sơn thầm nhận và có ý định truyền Phất tử của Bách Trượng lại cho Sư (Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải trao cho Hoàng Bá Hi Vận thiền bản bồ đoàn, trao cho Quy Sơn Linh Hựu phất tử, Quy Sơn lại truyền cho Ngưỡng Sơn) nhưng Sư từ chối không nhận vì đã có thầy. Ngưỡng Sơn nhân đây mới biết Sư là môn đệ của Lâm Tế.|Sau, Sư trụ trì tại Viện Tam Thánh, học chúng đến rất đông. Không biết Sư tịch nơi nào, năm nào.

tam thánh kim lân

(三聖金鱗) Cũng gọi Tam thánh thấu võng kim ngư, Tam thánh dĩ hà vi thực. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này trình bày về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Tam thánh Tuệ nhiên và Thiền sư Tuyết phong Nghĩa tồn.Bích nham lục tắc 49 (Đại 48, 184 hạ) ghi:Tam thánh hỏi Tuyết phong: Cá vàng thoát khỏi lưới, không biết lấy gì làm thức ăn?Tuyết phong đáp: Đợi ông ra khỏi lưới, tôi sẽ nói cho ông hay. Tam thánh nói: Là thiện tri thức của 1.500 người mà thoại đầu cũng không biết! Tuyết phong nói: Lão tăng trụ trì bận rộn.[X. Thiên đồng tụng cổ trực chú Q.thượng; Thung dung lục tắc 33; Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.29].

tam thánh viên dung quán

(三聖圓融觀) Pháp quán của tông Hoa nghiêm, tức quán tưởng đức Phật Tì lô giá na và 2 vị bồ tát Phổ hiền và Văn thù dung hòa làm 1 thể không ngăn ngại. Trong đó, Phật Tì lô giá na là thể chung của tất cả mọi đức, tượng trưng cho quả phần bất khả thuyết, còn 2 vị bồ tát Phổ hiền và Văn thù là đức riêng của Phật Tì lô giá na, tượng trưng cho nhân phần khả thuyết. Trong 2 vị Bồ tát này, ngài Phổ hiền biểu trưng chân lí của pháp giới sở tín và pháp giới do tu hành chứng được; trái lại, ngài Văn thù thì biểu trưng cho tín tâm đối với chân lí của pháp giới năng tín, sự lí giải đối với chân lí của pháp giới và đại trí chứng chân lí của pháp giới ấy. Sở tín cũng như Hành, Lí của ngài Phổ hiền và Năng tín cũng như Giải, Trí của ngài Văn thù mỗi mỗi đều viên dung và năng, sở bất nhị. Như vậy, pháp mà 2 vị Bồ tát biểu hiện là tương tức hỗ dung, trùng trùng vô tận, đó là biểu thị Nhân dẫn đến quả Phật đã hoàn thành, cho nên lập trường của Nhân và lập trường của Quả là đồng nhất và qui thuộc về cảnh giới của quả Phật, do đó mà Tam thánh dung hòa làm 1 thể. Pháp môn Tam Thánh viên dung là nghĩa sâu xa nói trong kinh Hoa nghiêm, cho nên, nếu người muốn tu theo kinh Hoa nghiêm thì phải quán xét pháp môn này trong 1 niệm của chính mình. Đây chính là 3 pháp Tâm, Phật và Chúng sinh không sai khác, lí, chứng và trí sở chứng cũng không lìa tâm. Tâm niệm của chúng sinh chính là Như lai tạng, phương diện Không Như lai tạng là Phổ hiền, phương diện Bất không Như lai tạng là Văn thù. Lại lí chung của Như lai tạng là Phật Tì lô giá na, phải quán tưởng trong 1 niệm có đủ tướng Tam Thánh viên dung. Pháp quán viên dung này do ngài Trừng quán đề xướng vào đời Đường; nhưng thực ra, trước ngài Trừng quán, cư sĩ Lí thông huyền đã có thuyết này rồi. [X. Tam thánh viên dung quán môn (Trừng quán); Hoa nghiêm pháp giới nghĩa kính Q.thượng; Hoa nghiêm kinh quyết nghi luận Q.1, thượng; Hoa nghiêm kinh hợp luận Q.3].

Tam Thân

(s: tri-kāya, 三身): ba loại thân của Phật, gồm có Pháp Thân (s: dharma-kāya, 法身), Báo Thân (s: sambhoga-kāya, 報身) và Ứng Thân (s: nirmāṇa-kāya, 應身). Với ý nghĩa là thân thể của chân lý (pháp), Pháp Thân là đương thể chân lý vĩnh viễn bất biến, là đức Phật lý tánh không sắc không hình mà đem lại ý nghĩa mang tính nhân cách cho lý thể của chân như. Báo Thân là thân Phật có tướng tốt hiển hiện tùy theo hạnh nguyện của nhân vị, tích chứa các hạnh làm nhân để thành Phật và đầy đủ công đức. Ứng Thân là thân Phật hóa hiện ứng theo căn cơ của chúng sanh. Theo Pháp Tướng Tông, Tam Thân là Tự Tánh Thân (自性身), Thọ Dụng Thân (受用身) và Biến Hóa Thân (變化身). Tự Tánh Thân tương đương với Pháp Thân, là thân nương tựa vào Thọ Dụng Thân và Biến Hóa Thân. Thọ Dụng Thân là thân để thọ dụng pháp lạc, gồm có 2 loại: Tự Thọ Dụng Thân (自受用身) và Tha Thọ Dụng Thân (他受用身). Tự Thọ Dụng Thân tương đương với Báo Thân và Tha Thọ Dụng Thân thì ứng với Ứng Thân. Còn Biến Hóa Thân là thân thị hiện đem lại lợi ích cho hàng Bồ Tát trước khi vào Thập Địa cũng như chúng sanh. Trong Thiếu Thất Lục Môn (少室六門, Taishō No. 2009) có giải thích về Tam Thân rằng: “Phật hữu Tam Thân giả, Hóa Thân Báo Thân Pháp Thân; nhược chúng sanh thường tác thiện căn, tức Hóa Thân hiện; tu trí tuệ tức Báo Thân hiện; giác Vô Vi tức Pháp Thân hiện; phi đằng thập phương tùy nghi cứu tế giả, Hóa Thân Phật dã; đoạn cảm tu thiện Tuyết Sơn thành đạo giả, Báo Thân Phật dã; vô ngôn vô thuyết trạm nhiên thường trú giả, Pháp Thân Phật dã (佛有三身者、化身報身法身、若眾生常作善根、卽化身現、修智慧卽報身現、覺無爲卽法身現、飛騰十方隨宜救濟者、化身佛也、斷惑修善雪山成道者、報身佛也、無言無說湛然常住者、法身佛也, Phật có ba thân là Hóa Thân, Báo Thân, và Pháp Thân; nếu chúng sanh thường tạo căn lành, tức Hóa Thân hiện; nếu tu trí tuệ tức Báo Thân hiện; hiểu rõ Vô Vi tức Pháp Thân hiện; thân bay cùng khắp mười phương, tùy nghi cứu độ là Hóa Thân Phật; thân đoạn trừ các hoặc, tu thiện và thành đạo ở Tuyết Sơn là Báo Thân Phật; thân không nói lời nào, không thuyết lời nào, vắng lặng thường trú là Pháp Thân Phật).” Tại Chánh Điện Chùa Trúc Lâm, thành phố Huế, có câu đối rằng: “Hương lí kết tường vân Tam Thân viên hiển, hoa khai trình diệu tướng Thập Hiệu hùng tôn (香裡結祥雲三身圓顯、花開呈妙相十號雄尊, trong hương kết mây lành Ba Thân lộ rõ, hoa nở trình tướng báu Mười Hiệu hùng tôn).”

Tam thân

三身; C: sānshēn; J: sanshin; S: trikāya; |Ba thân

tam thân

Pháp thân (bản thể Phật tánh), Báo thân (thân Tự thọ dụng và Tha thọ dụng), Ứng hóa thân (vì độ chúng sanh mà biến hiện những thân thích ứng với chúng sanh). ; (三身) Phạm: Traya# kàyaø#. Cũng gọi Tam thân Phật, Tam Phật thân, Tam Phật. Chỉ cho Pháp thân, Báo thân và Ứng thân của chư Phật. Thân nghĩa là tụ tập, tụ tập các pháp mà thành thân, vì thế sự tụ tập về lí pháp gọi là Pháp thân (Phạm: Dharma-kàya), sự tụ tập về trí pháp gọi là Báo thân (Phạm: Saôbhoga-kàya), sự tụ tập của các pháp công đức gọi là Ứng thân (Phạm: Nirmàịa-kàya). Hoặc gọi là Pháp thân Phật Báo thân Phật Ứng thân Phật, Pháp Phật Báo Phật Ứng Phật, Pháp thân Ứng thân Hóa thân, Pháp thân Phật Báo Phật Hóa Phật, Pháp Phật Báo Phật Ứng hóa Phật, Chân thân Báo thân Ứng thân, Tự tính thân Mãn tư dụng thân Hóa thân, Tự tính thân Ứng thân Hóa thân, Pháp thân Ứng thân Hóa thân, Pháp tính thân Thụ dụng thân Biến hóa thân, Tự tính thân Thụ dụng thân Biến hóa thân, Tự tính thân Thực thân Biến hóa thân, Pháp thân Phật Thụ dụng thân Phật Hóa thân Phật, Chính pháp Phật Tu thành Phật Ứng hóa Phật, Phật sở kiến thân Bồ tát sở kiến thân Nhị thừa phàm phu sở kiến thân. Kim quang minh tối thắng vương kinh sớ quyển 3 cho rằng Hóa thân Phật có 5 tên gọi: Hóa thân, Phụ mẫu sinh thân, Tùy thế gian thân, Sinh thân và Giả danh thân; Ứng thân Phật có 6 tên gọi: Ứng thân, Thụ dụng thân, Báo thân, Trí tuệ thân, Công đức thân và Pháp tính sinh thân; Pháp thân Phật có 5 tên gọi: Pháp thân, Tự tính thân, Chân thực thân, Như như Phật và Pháp Phật.Theo Kim quang minh tối thắng vương kinh huyền xu quyển 4, 5 tên gọi của Hóa thân nói trên, nếu thêm 4 tên nữa là Thích ca thân, Nhị thừa phàm phu sở kiến thân, Ứng thân và Biến hóa thân thì thành tất cả 9 tên; 6 tên gọi của Ứng thân nếu thêm 2 tên nữa là Xá na thân và Bồ tát sở kiến thân thì tất cả là 8 tên; Pháp thân có 5 tên, nếu thêm 2 tên nữa là Phật sở kiến thân và Tì lô giá na thì thành 7 tên. Các kinh luận nêu tên gọi của 3 thân và giải thích rất khác nhau. 1. Ba thân nói trong Phật địa kinh luận: a. Pháp thân: Chứng ngộ và hiển bày lí thể của chân như thực tướng, không 2 không khác, thường trụ vắng lặng, gọi là Pháp thân. b. Báo thân: Thân báo đáp lại những công đức tu hành ở nhân vị và hiển hiện tướng hảo trang nghiêm. c. Ứng thân: Thân ứng theo căn tính của chúng sinh mà hiển hiện để giáo hóa. 2. Ba thân nói trong phẩm Tam thân phân biệt kinh Hợp bộ Kim quang minh quyển 1: a. Hóa thân: Khi còn tu hành ở nhân địa trong quá khứ, đức Như lai đã tu nhiều pháp, đến khi tu hành thành tựu viên mãn, tế độ tất cả chúng sinh, nhờ năng lực tu hành mà được tự tại và tùy theo căn cơ chúng sinh, ứng hiện các loại thân tướng dưới nhiều hình thức để cứu độ, gọi là Hóa thân.b. Ứng thân: Để khiến các Bồ tát được thông suốt, đồng thời thể nhận được sinh tử và Niết bàn là nhất vị, lấy đó làm căn bản cho vô biên Phật pháp, nên chư Phật Như lai thị hiện thân này có đầy đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp, có vòng hào quang phía sau lưng, gọi là Ứng thân. c. Pháp thân: Để diệt trừ tất cả phiền não chướng mà đầy đủ hết thảy các thiện pháp, nên chỉ có Như như và Như như trí, gọi là Pháp thân. Hai loại thân trước(Hóa thân, Ứng thân) là Giả danh hữu, loại thân thứ ba(Pháp thân) là Chân hữu và là gốc của 2 loại thân trước. 3. Ba thân nói trong kinh Giải thâm mật quyển 5: Tức Pháp thân, Giải thoát thân và Hóa thân. Trong đó, Hóa thân là chỉ cho thân thị hiện 8 tướng; Giải thoát thân chỉ cho Ngũ phần pháp thân; Pháp thân chỉ cho Ba la mật đa ở các Địa, khéo tu diệu quả xuất li chuyển y thành tựu viên mãn. Vì Ngũ phần pháp thân hàng Thanh văn Độc giác cũng có thể chứng được, cho nên nếu chỉ nói theo phạm vi của thân này thôi thì Nhị thừa và Như lai không khác nhau. Nhiếp đại thừa luận thích (bản dịch đời Lương) quyển 13 (Đại 31, 249 trung) nói: Quả cùng tột củađạo Nhị thừa gọi là Giải thoát tri kiến. Trong Giải thoát tri kiến của Nhị thừa không có 3 thân. Trong Giải thoát tri kiến của Bồ tát có 3 thân khác nhau. Tại sao vậy? Vì Nhị thừa không diệt được trí chướng, không có Nhất thiết trí, không được Pháp thân thanh tịnh viên mãn, không có đại từ bi, không thực hành các việc lợi ích người khác, không có Ứng thân và Hóa thân. Vì thế mà biết Giải thoát thân của Nhị thừa không có Pháp thân, Ứng thân và Hóa thân. 4. Ba thân nói trong Tông kính lục quyển 89: a. Tự tính thân: Chư Phật Như lai có vô biên tế công đức chân thường, thực tính bình đẳng này của tất cả các pháp chính là Tự tính, cũng gọi Pháp thân. b. Thụ dụng thân: Được chia làm 2 thứ: -Tự thụ dụng thân: Các đức Như lai tu tập vô lượng phúc tuệ, tạo vô biên công đức chân thực, thường tự thụ dụng pháp lạc rộng lớn. -Tha thụ dụng thân: Các đức Như lai do trí bình đẳng thị hiện thân công đức thanh tịnh vi diệu, trụ ở cõi nước thuần tịnh, vì chúng Bồ tát Thập địa mà hiển hiện đại thần thông, quay bánh xe chánh pháp. c. Biến hóa thân: Các đức Như lai dùng thần lực bất tư nghị, biến hiện vô lượng, tùy theo các loài mà hóa thân, trụ ở các cõi tịnh uế, tùy theo cơ nghi của các Bồ tát Địa tiền và Nhị thừa mà hiện thần thông nói pháp. Cũng trong Tông kính lục quyển 89 còn nêu ra thuyết chuyển 3 tâm được 3 thân, tức là: Chuyển Căn bản tâm(thức thứ 8) thì được Pháp thân, chuyển Y bản tâm(thức thứ 7)thì được Báo thân và chuyển Khởi sự tâm (thức thứ 6)thì được Hóa thân. 5. Ba thân theo sự giải thích của Lục tổ Tuệ năng thuộc Thiền tông: a. Thanh tịnh pháp thân Phật: Thân của chúng ta chính là pháp thân Như lai, cho nên tự tính của chúng ta vốn thanh tịnh và có khả năng sinh ra tất cả các pháp. b. Viên mãn báo thân Phật: Ánh sáng Bát nhã do tự tính sinh ra có năng lực trừ sạch tất cả tình cảm dục vọng, giống như vầng mặt trời chói lọi trên cao, chiếu xa muôn dặm, tỏa ánh sáng khắp hư không, xua tan mây mù tăm tối. c. Tự tính hóa thân Phật: Nếu chúng ta tin chắc rằng năng lực của tự tính hơn tất cả hóa thân Phật thì khi tâm này hướng theo ác liền vào địa ngục, nếu khởi tâm độc hại liền biến làm rồng, rắn; nếu tâm này hướng theo thiện thì liền sinh trí tuệ, nếu khởi tâm từ bi thì liền biến làm Bồ tát.[X. kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.2; Nhiếp đại thừa luận thích Q.10 (bản dịch đời Lương); luận Du già sư địa Q.78; Phật địa kinh luận Q.7; Quán kinh huyền nghĩa phần truyền thông kí Q.6]. (xt. Phật Thân).

tam thân biến tướng

(三身遍相) Tướng bao trùm của 3 thân Phật. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 8 dùng ba thứ là hư không, ánh sáng mặt trời và bóng mặt trời để ví dụ 3 thân Phật là Pháp thân, Báo thân và Hóa thân. 1. Pháp thân như hư không biến: Bản thể của thân Pháp tính trùm khắp, giống như hư không, không có chướng ngại. 2. Trí thân như nhật quang biến: Trí thân tức là Báo thân. Trí thủy giác rốt ráo có năng lực phá tan vô minh tăm tối, hiển bày chân thân sẵn có, giống như ánh sáng mặt trời chiếu rọi khắp nơi, xua tan sự tối tăm.3. Sắc thân như nhật ảnh biến: Sắc thân tức là Ứng thân. Trí thủy giác rốt cùng khế hợp với lí bản giác pháp thân, nên có công năng từ thể khởi dụng, thích ứng với mọi căn cơ, giống như bóng mặt trời, lan tỏa khắp nơi, không phân biệt cao thấp.

tam thân hoa phạm

(三身華梵) Cũng gọi Tam Như lai. Tên gọi 3 thân Như lai được ghép chung giữa tiếng Hoa và tiếng Phạm. 1. Pháp thân Tì lô giá na Như lai: Tì lô giá na, Phạm:Vairocana, nghĩa là bao trùm mọi nơi. Tính tướng của Pháp thân là thường hằng tự nhiên, chân như bình đẳng, thân và cõi nước không ngăn ngại, trùm khắp mọi nơi. 2. Báo thân Lô xá na Như lai: Lô xá na, Phạm:Rocana, nghĩa là thanh tịnh viên mãn. Báo thân đã hết sạch các phiền não, mọi đức đều tròn đủ, bên trong dùng ánh sáng trí tuệ chiếu soi pháp giới chân thực, tức Tự báo thân; bên ngoài dùng ánh sáng trên thân chiếu soi ứng hợp đại cơ, tức Tha báo thân. 3. Ứng thân Thích ca Mâu ni Như lai: Thích ca mâu ni, Phạm: Zàkyamuni, nghĩa là Năng nhân(hay làm điều nhân từ), Tịch mặc(ưa thích sự vắng lặng). VìTịch mặc nên không trụ nơi sinh tử, vì Năng nhân nên không trụ nơi Niết bàn, tùy theo các loài mà hiện khắp, thuyết pháp lợi ích chúng sinh. [X. Diệu pháp lien hoa kinh văn cú Q.9, hạ].

tam thân phật

Trikaya (skt)—Ba loại thân Phật. Một vị Phật có ba loại thân hay ba bình diện chơn như—Buddha has a three-fold body. A Buddha has three bodies or planes of reality. (A) Theo triết học Du Già, ba thân là Pháp thân, Báo thân, và Hóa thân—According to the Yogacara philosophy, the Triple Body is Dharmakaya, Sambhogakaya, and Nirmanakaya: 1) Pháp Thân: Dharmakaya (skt). a) Pháp (dharma) ở đây có thể được hiểu như là “thực tính,” hoặc là “nguyên lý tạo luật” hay đơn giản hơn là “luật.”—Dharma here may be understood in either way as “reality,” or as “law giving principle,” or simply as “law.” b) Thân (kaya) nghĩa là “thân thể” hay “hệ thống.”—Kaya means “body” or “system.” c) Tập hợp Pháp Thân (Dharmakaya) có nghĩa đen là thân thể hay một người hiện hữu như là nguyên lý, và nay nó có nghĩa là là thực tính tối thượng mà từ đó các sự vật có được sự hiện hữu và luật tắc của chúng, nhưng thực tính nầy tự nó vốn vượt khỏi mọi điều kiện—The combination, dharmakaya, is then literally a body or person that exists as principle, and it has now come to mean the highest reality from which all things derive their being and lawfulness, but which in itself transcends all limiting conditions. d) Tuy nhiên Dharmakaya không phải là một từ triết học suông như khi nó được nêu định bằng từ “kaya” là từ gợi lên ý niệm về nhân tính, đặc biệt là khi nó liên hệ với Phật tính một cách nội tại và một cách thiết yếu, vì không có nó thì Đức Phật mất đi toàn bộ sự hiện hữu của Ngài—However, Dharmakaya is not a mere philosophical word, as is indicated by the term “kaya,” which suggests the idea of personality, especially as it relates to Buddhahood. It belongs to the Buddha, it is what inwardly and essentially constitutes Buddhahood, for without it a Buddha loses altogether his being. e) Pháp Thân cũng còn được gọi là Svabhavakaya, nghĩa là “cái thân thể tự tính” tự tính thân, vì nó trú trong chính nó, nó vẫn giữ như là giự tự tính của nó. Đây chính là ý nghĩa của khía cạnh tuyệt đối của Đức Phật mà trong Ngài sự tịch lặng toàn hảo là thù thắng—Dharmakay is also known as Svabhavakaya, meaning “self-nature-body”, for it abides in itself, it remains as such retaining its nature. It is this sense the absolute aspect of the Buddha, in whom perfect tranquility prevails. 2) Báo Thân: Sambhogakaya (skt)—Cái thân thứ hai là Báo Thân, thường được dịch là cái thân của sự đền bù hay sự vui hưởng—The second body is the Sambhogakaya, which is ordinarily translated as Body of Recompense, or Enjoyment. a) Theo nguyên nghĩa “sự vui hưởng: là tốt nhất để dịch “sambhoga” vì nó nó xuất phát từ ngữ căn “bhuj,” nghĩa là “ăn,” hay “vui hưởng,” tiền từ của nó là “sam,” nghĩa là “cùng với nhau” được thêm vào đó—Literally, “enjoyment” is a better word for sambhoga, for it comes originally from the root “bhuj,” which means “to eat” or “to enjoy,” to which the prefix “sam” meaning “together” is added. b) Sambhogakaya được dịch sang Hoa ngữ là “Cộng Dụng Thân” hay “Thọ Dụng Thân,” hay “Thực Thân.”—Thus “sambhogakaya” is often translated into the Chinese as “Kung-Yung-Shên,” or “Shou-Yung-Shen,” or “Chih-Shên.” c) Khi chúng ta có từ Báo Thân, cái thân của sự khen thưởng, đền đáp dành cho nó. Cái thân thọ dụng nầy đạt được như là kết quả hay sự đền đáp cho một chuỗi tu tập tâm linh đã thể hiện xuyên qua rất nhiều kiếp. Cái thân của sự đền đáp, tức là cái thân được an hưởng bởi một vị rất xứng đáng tức là vị Bồ Tát Ma Ha Tát—Since we have the term “sambhogakaya,” recompense or reward body for it. This body of Enjoyment is attained as the result of or as the reward for a series of spiritual discipline carried on through so many kalpas. The body thus realized is the sambhogakaya, body of recompense, which is enjoyed by the well-deserving one, i.e., Bodhisatva-Mahasattva. d) Đức Phật như là cái thân thọ dụng thường được biểu thị như là một hình ảnh bao gồm tất cả sự vinh quang của Phật tính; vì ở trong Ngài, với hình hài, có một thứ tốt đẹp thánh thiện do từ sự toàn hảo của đời sống tâm linh. Những nét đặc trưng của từng vị Phật như thế có thể thay đổi theo các bổn nguyện của Ngài, ví dụ, hoàn cảnh của Ngài, danh tánh, hình tướng, xứ sở và sinh hoạt của Ngài có thể không giống với các vị Phật khác; đức Phật A Di Đà có Tịnh Độ của Ngài ở phương Tây với tất cả mọi tiện nghi như Ngài mong muốn từ lúc khởi đầu sự nghiệp Bồ Tát của Ngài; và Đức Phật A Súc cũng thế, như được miêu tả trong bộ Kinh mang tên Ngài là A Súc Phật Kinh—The Buddha as the Body of Enjoyment is generally represented as a figure enveloped in all the glory of Buddhahood; for in Him incarnated there is everything good and beautiful and holy accruing from the perfection of the spiritual life. The particular features of each such Buddha may vary according to his original vows; for instance, his environment, his name, his form, his country, and his activity may not be the same; Amitabha Buddha has his Pure Land in the West with all the accommodations as he desired in the beginning of his career as Bodhisattva; and so with Akshobhya Buddha as described in the sutra bearing his name. e) Báo Thân thỉnh thoảng cũng được gọi là “Ứng Thân.”—The Body of Recompense is sometimes called “Ying-Shên” or the Responding Body. 3) Hóa Thân: Nirmanakaya (skt). a) Cái thân thứ ba là Hóa Thân, nghĩa là “thân biến hóa” hay đơn giản là cái thân được mang lấy. Trong khi Pháp Thân là cái thân quá cao vời đối với những chúng sanh bình thường, khiến những chúng sanh nầy khó có thể tiếp xúc tâm linh được với nó, vì nó vượt khỏi mọi hình thức giới hạn nên nó không thể trở thành một đối tượng của giác quan. Những phàm nhân phải chịu sinh tử như chúng ta đây chỉ có thể nhận thức và thông hội với cái thân tuyệt đối này nhờ vào những hình tướng biến hóa của nó mà thôi. Và chúng ta nhận thức những hình tướng nầy theo khả năng của chúng ta về tâm linh, trí tuệ. Những hình tướng nầy xuất hiện với chúng ta không theo cùng một hình thức như nhau. Do đó mà chúng ta thấy trong Kinh Pháp Hoa rằng Bồ Tát Quán Thế Âm hóa hiện thành rất nhiều hình tướng khác nhau tùy theo loại chúng sanh mà Ngài thấy cần cứu độ. Kinh Địa Tạng cũng ghi rằng Bồ Tát Địa Tạng mang nhiều hình tướng khác nhau để đáp ứng những nhu cầu của chúng sanh—The third Body is Nirmanakaya, usually translated as “Hua-Shên,” which means “Body of Transformation,” or simply “Assumed Body.” The Dharmakaya is too exalted a body for ordinary mortals to come to any conscious contact with. As it transcends all forms of limitation, it cannot become an object of sense or intellect. We ordinary mortals can perceive and have communion with this body only through its transformed forms. And we perceive them only according to our capacities, moral and spiritual. They do not appear to us in the same form. We thus read in the Saddharma-Pundarika Sutra that the Bodhisattva Avalokitesvara transforms himself into so many different forms according to the kind of beings whose salvation he has in view at the moment. The Kshitigarbha Sutra also mentions that Kshitigarbha Bodhisattva takes upon himself a variety of forms in order to respond to the requirements of different sentient beings. b) Quan niệm về Hóa Thân là quan trọng, vì cái thế giới tương đối nầy đối lập với giá trị tuyệt đối của Như Như là giá trị vốn chỉ đạt được tới bằng cái trí như như. Bản thể của Phật tính là Pháp Thân, nhưng hễ chừng nào Đức Phật vẫn ở trong bản thể của Ngài thì cái thế giới của những đặc thù vẫn không có hy vọng được cứu độ. Vì thế Đức Phật phải từ bỏ trú xứ nguyên bổn của Ngài và mang lấy hình tướng mà các cư dân của trái đất nầy có thể nhận thức và chấp nhận được—The conception of the Nirmanakaya is significant, seeing that this world of relativity stands contrasted with the absolute value of Suchness which can be reached only by means of the knowledge of Suchness or Tathatajnana. The essence of Buddhahood is the Dharmakaya, but as long as the Buddha remains such, there is no hope for the salvation of a world of particulars. Thus the Buddha has to abandon his original abode, and must take upon himself such forms as are conceivable and acceptable to the inhabitants of this world. (B) Theo Thiền Sư D.T. Suzki trong Thiền Luận, Tập III—According to Zen Master D.T. Suzuki in Essays in Zen Buddhism, Book III: 1) Pháp Thân: Dharmakaya (skt)—Pháp thân là tự thể của hết thảy chư Phật và chúng sanh. Do Pháp thân mà chư pháp có thể xuất hiện. Không có Pháp thân sẽ không có thế giới. Nhưng đặc biệt, Pháp thân là bản thân yếu tính của hết thảy mọi loài, đã có sẵn từ trước. Theo nghĩa nầy, Pháp thân là Pháp tánh (Dharmata) hay Phật tánh (Buddhata), tức Phật tánh trong hết thảy mọi loài—The Dharmakaya is the essence-being of all the Buddhas and also of all beings. What makes at all possible the existence of anything is the Dharmakaya, without which the world itself is inconceivable. But, especially, the Dharmakaya is the essence-body of all beings which forever is. In this sense it is Dharmata or Buddhata, that is, the Buddha-nature within all beings. 2) Báo Thân: Sambhogakaya (skt)—Cũng gọi là Thọ Dụng Thân, là bản thân tâm linh của các Bồ Tát, được Bồ Tát thọ dụng như là kết quả do tu tập các Ba La Mật. Các ngài tự mình thành tựu điều nầy tùy theo định luật nhân quả trên phương diện đạo đức, và trong đây các ngài giải trừ trọn vẹn tất cả những sai lầm và ô nhiễm trong cảnh giới của năm uẩn—The Sambhogakaya is the spiritual body of the Bodhisattvas which is enjoyed by them as the fruit of their self-discipline in all the virtues of perfection. This they acquire for themselves according the law of moral causation, and in this they are delivered at last from all the defects and defilements inherent in the realm of the five Skandhas. 3) Hóa Thân: Nirmanakaya (skt)—Cũng gọi là Ứng Hóa Thân hay Biến Hóa Thân, phát sinh từ đại bi tâm (mahakaruna) của chư Phật và chư Bồ Tát. Bằng lý thể của đại bi mà các ngài hướng tới chúng sanh, các ngài không bao giờ thọ dụng những kết quả của các hành vi đạo đức của mình. Chí nguyện thiết tha của các ngài là chia xẻ những kết quả nầy cho tất cả chúng sanh. Nếu Bồ Tát có thể thay thế kẻ phàm phu chịu khổ não, Bồ Tát thực hiện ngay. Nếu kẻ phàm phu có thể được giác ngộ do Bồ Tát hồi hướng công đức cho mình, ngài sẽ thực hiện ngay. Bồ Tát hồi hướng công đức và chịu khổ thay cho chúng sanh nhờ Biến Hóa Thân của ngài. Hóa thân là hình tướng mà Đức Phật đã xử dụng khi muốn dùng thân hình của một con người để đi vào thế giới nầy. Do đó, trong tính cách không gian, Bồ Tát chia thân mình thành trăm nghìn koti vô số thân. Ngài có thể hóa thân làm những loài bò bay máy cựa, làm Thánh, làm Ma vương, nếu ngài thấy đó là cơ duyên thích hợp để cứu vớt thế gian ra khỏi sự kềm tỏa của vô minh, phiền não và đủ mọi thứ nhiễm ô bất tịnh—The Nirmanakaya is born of great loving heart (mahakaruna) of the Buddhas and Bodhisattvas. By reason of this love they have for all beings, they never remain in the self-enjoyment of the fruits of their moral deeds. Their intense desire is to share those fruits with their fellow-beings. If the ignorant could be saved by the Bodhisattva by his vicariously suffering for them, he would do so. If the ignorant could be enlightened by the Bodhisattva by turning his stock of merit over to them, he would do so. This turning over of merit and this vicarious suffering are accomplished by the Bodhisattva by means of his Nirmanakaya, transformation-body. Nirmanakaya is a body assumed by the Buddha in order to establish contact with the world in a human form. In this form, therefore, the Bodhisattva, spatially speaking, divides himself into hundreds of thousands of kotis of bodies. He can then be recognized in the form of a creeping caterpillar, in a sky-scraping mountain, in the saintly figure of Saints, and even in the shape of a world-devouring Evil One (Mara), if he thinks it necessary to take this form in order to save a world that has passed into the hands of ignorance, evil passions, and all kinds of defilements and corruptions. (C) Theo Nhiếp Luận Tông—According to Samparigraha School: 1) Pháp Thân: Dharmakaya (skt)—Bản tánh là lý thể và trí tuệ—Ideal body whose nature is principle and wisdom. 2) Báo Thân: Sambhogakaya (skt)—Thọ dụng thân, chỉ thị hiện cho Bồ Tát—Enjoyment or Reward-body which appears only for the Bodhisattva. 3) Hóa Thân: Nirmanakaya (skt)—Biểu hiện cho thường nhân để họ tôn sùng. Hóa thân Phật là thân vật chất mà chư Phật thị hiện để cứu độ chúng sanh—Transformation-body which manifests itself for ordinary people for their worship. The transformation body of the Buddha, the body-of-form of all Buddhas which is manifested for the sake of men who cannot yet approach the Dharmakaya (the formless True Body of Buddhahood). (D) Theo Pháp Tướng Tông—According to Dharmalaksana School—See (C) (Vì Nhiếp Luận Tông là tiền thân của Pháp Tướng Tông—For Samparigraha School was a forerunner of the Dharmalaksana School). (E) 1) Sắc thân: The physical body of the Buddha. 2) Pháp môn thân: His psychological body with its vast variety. 3) Thực tướng thân: His real body—Dharmakaya. (F) (F1) Tam Thân Phật theo tông Thiên Thai. Ba thân Phật được coi như là Phật quả; đây là lý thuyết đặc trưng của tông Thiên Thai. Mỗi Đức Phật giác ngộ viên mãn đều được quan niệm là có ba thân—Trikaya. According to the T'ien-T'ai, the Threefold Body of the Buddha is mentioned as Buddhahood. Every Buddha of Perfect Enlightenment is supposed to possess three bodies: 1) Pháp Thân: Dharmakaya (skt)—See Tam Thân Phật (D) (3). 2) Thọ Dụng Thân: Sambhogakaya (skt)—See Tam Thân Phật (D) (2) (a) and (b). 3) Ứng Hóa Thân: Nirmanakaya (skt)—See Tam Thân Phật (D) (1). (F2) Tam Thân Phật, trong đó Pháp Thân là lãnh vực chuyên môn, Báo Thân với sự luyện tập để thâu thập được lãnh vực chuyên môn nầy, và Hóa Thân với sự áp dụng lãnh vực chuyên môn trong cuộc sống hằng ngày: Trikaya (skt)—Dharmakaya or Dharma body (Law body) is likened to the field of a specific career; the Sambhogakaya or bliss-body is a person's training by which that person acquires the knowledge of that specific career; and the Nirmanakaya or the body of transformation is likened the application of this knowledge in daily life to earn a living. 1) Hóa thân (Ứng thân): Nirmana-kaya (skt)—Ứng thân—Từ ngữ “thân,” theo nghĩa thường rất dễ bị hiểu lầm vì nó gợi ra ý tưởng về một hiện hữu thể xác. Tuy nhiên, theo Thiên Thai tông thì Ứng Hóa Thân là thân thể xuất hiện qua nhiều hình thức hay thân chuyển hóa của chư Phật. Khi muốn cứu độ chúng sanh, một vị Phật có thể hóa thân vào một thân thể, như trường hợp Phật Thích Ca Mâu Ni là hóa thân của Phật Tỳ Lô Giá Na—The term “body” in the ordinary sense is rather misleading because it conveys the idea of a bodily existence. However, according to the T'ien-T'ai Sect, Nirmanakaya means body of manifestation, or the body of transformation (incarnation)—Transformation body or the incarnated body of the Buddha—The body in its various incarnation. In order to benefit certain sentient beings, a Buddha can incarnate himself into an appropriate visual body, such as that of Sakyamuni which is the transformation body of Vairocana Buddha. It is twofold: a) Thân thể chỉ riêng cho các vị Bồ Tát sơ cơ: The body exclusively for Bodhisattvas of primary stage, that is, a superior body of Transformation. b) Thân thể dành cho những chúng sanh dưới hàng Bồ Tát sơ cơ: The body for those who are prior to the primary stage. 2) Báo thân: Sambhogakaya (skt)—Báo thân Phật là báo thân của sự thọ hưởng. Đây là kinh nghiệm về sự cực lạc của giác ngộ, về pháp tâm của Phật và chư tổ, và về sự tu tập tâm linh được truyền từ thế hệ nầy qua thế hệ khác. Phật A Di Đà trong cõi Tây Phương Cực Lạc tượng trưng cho báo thân nầy. Báo thân nầy luôn đang ngự trị trên cõi Tịnh Độ, chỉ hiển hiện trên cõi trời chứ chẳng bao giờ hiển hiện trong cõi trần, báo thân nầy thường được chư Bồ tát giác ngộ tháp tùng. Theo tông Thiên Thai, thọ dụng thân là hiện thân hữu ngã với chứng ngộ chân thật, nghĩa là tự thân đạt được do báo ứng của một tác nhân lâu dài. Thân nầy có hai loại—Potentiality—The reward body of bliss or enjoyment—Celestial body or bliss-body of the Buddha, personification of eternal perfection in its ultimate sense. The experience of the rapture of enlightenment, of the Dharma-mind of the Buddha and the patriarchs, and of the spiritual practices which they have transmitted from generation to generation. Amitabha Buddha in his Western Paradise symbolizes this "bliss-body." It always resides in the Pure Land and never manifests itself in the mundane world, but only in the celestial spheres, acompanied by Enlightened Bodhisattvas. According to the T'ien-T'ai Sect, the Enjoyment or Reward-body is the person embodied with real insight, i.e., the body attained as the value of a long causal action. There are two kinds of Sambhogakaya: a) Tự Thọ Dụng: Vô lượng công đức chân thực và viên tịnh thường biến sắc thân của các Đức Như Lai do ba a tăng kỳ kiếp tu tập vô lượng phước huệ tư lương mà khởi lên—Sambhogakaya for the Buddha's own use, or bliss. b) Tha Thọ Dụng: Vi diệu tịnh công đức thân của các Đức Như Lai do bình đẳng trí thị hiện ra, chư Bồ Tát trụ nơi Thập Địa hiện đại thần thông, chuyển chánh pháp luân, xé rách lưới nghi của chúng sanh khiến họ thọ dụng được pháp lạc Đại Thừa—Sambhogakaya for the spiritual benefit of others. 3) Pháp thân: Dharmakaya—Pháp thân Phật vô sắc, bất biến, siêu việt, không thể nghĩ bàn và đồng nghĩa với “Tánh không.” Đây là kinh nghiệm về tâm thức vũ trụ, về nhất thể ở bên kia mọi khái niệm. Pháp thân được thừa nhận vô điều kiện là bản thể của tánh viên dung và toàn hảo tự do phát sinh ra mọi hình thức hữu sinh hoặc vô sinh và trật tự luân lý. Phật Tỳ Lô Giá Na, tức Quang Minh Biến Chiếu Phật, là hiện thân hình thái nầy của tâm thức vũ trụ. Theo tông Thiên Thai, Pháp thân chính là lý niệm, lý tánh hay chân lý, không có một hiện hữu hữu ngã nào. Nó đồng nhất với “Trung Đạo Đế.”—Essence—Absolute or spiritual body or Law Body—Dharma body of reality which is formless, unchanging, transcendental and inconceivable and synonymous with “Emptiness.” The dharma body includes meditation, wisdom, and nirvana (Thể, trí, dụng). This is the experience of cosmic consciousness, of oneness that is beyond every conception. The unconditioned dharmakaya is the substratum of completeness and perfection out of which arise all animate and inanimate forms and moral order. Vairocana Buddha, the “All-Illuminating One” embodies this aspect of universal consciousness. According to the T'ien-T'ai, Dharmakaya is the idea or Principle or Truth itself without any personal existence.

tam thân tam đức

(三身三德) Tam thân là Pháp thân, Báo thân và Ứng thân; Tam đức là Pháp thân đức, Bát nhã đức và Giải thoát đức. Nếu Tam thân và Tam đức được phối hợp với nhau, thì pháp thân là đức của Pháp thân, Báo thân là đức của Bát nhã, Ứng thân là đức của Giải thoát. (xt. Tam Thân, Tam Đức).

tam thân thanh tịnh

Three bodies of pure precepts—Three comprehensive precepts—Three kinds of pure precepts: 1) Không làm các điều ác: Do not do what is evil. 2) Làm các hạnh lành: Do what is good. 3) Luôn làm lợi lạc cho chúng sanh: Be of benefit to all sentient beings.

tam thân thế tục

Three worldly intimate relations: 1) Cha: father. 2) Mẹ: Mother. 3) Anh chị em: Brothers and sisters.

tam thân thọ lượng

(三身壽量) Chỉ cho tuổi thọ của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân. 1. Pháp thân thọ lượng: Pháp thân chẳng thuộc về sắc chất, không phải tâm trí, cưỡng gọi Pháp tính là thân, cho nên tuổi thọ của Pháp thân chẳng phải mệnh sống do quả báo mà được, chẳng phải tuổi thọ kéo dài liên tục, mà cưỡng gọi cái không dời không đổi là thọ; thọ này chẳng phải trường thọ, chẳng phải đoản thọ, không ở đời và diệt độ, chẳng phải thực, chẳng phải hư. 2. Báo thân thọ lượng: Trí lực do tu lâu mà được, ánh sáng trí tuệ chiếu soi vô lượng, thọ mệnh vô số kiếp 3. Ứng thân thọ lượng: Trí và thể thầm hợp, phát khởi đại dụng, độ những ai có thể độ được, tự thuyết giảng ở khắp mọi nơi, tên gọi khác nhau, tuổi thọ lâu mau bất định. [X. Diệu pháp liên hoa kinh văn cú Q.9, hạ].

tam thí

(三施) Chỉ cho ba cách bố thí. Theo luận Đại trí độ quyển 11 thì 3 cách bố thí là: 1. Tài thí: Người giữ giới, không những chẳng xâm phạm tài vật của người khác mà còn đem tài vật của mình bố thí cho người khác. 2. Pháp thí: Nói pháp cho người khác nghe, khiến họ được khai ngộ. 3. Vô úy thí: Người trì giới, không có tâm giết hại, khiến người và vật không sợ hãi; hoặc khi người và vật gặp tai nạn, mình che chở cho họ khỏi sợ hãi. Theo luận Đại trí độ quyển 12 thì Tam thí là: 1. Vật thí: Tức tài thí. 2. Cúng dường cung kính thí: Tức lòng tin thanh tịnh, cung kính lễ bái. 3. Pháp thí: Tức nói pháp cho người nghe. Theo Hoa nghiêm kinh sớ sao quyển 2 thì Tam thí là: 1. Ẩm thực thí: Thấy người đói khát liền đem thức ăn uống cứu giúp họ qua cơn đói khổ, cũng gọi là Hạ phẩm thí. 2. Trân bảo thí: Thấy người nghèo cùng liền đem tài vật quí báu chu cấp cho họ qua cơn khốn quẫn, cũng gọi là Hạ phẩm thí.3. Thân mệnh thí, được chia làm 2: a. Chỉ cắt 1 ít thịt trên thân thể để cứu chúng sinh trong cơn đói, đó là Thân thí. b. Nếu bố thí toàn thân, sinh mệnh cũng hết thì đó là Mệnh thí. Cách bố thí này rất khó thực hiện nên cũng gọi là Thượng phẩm thí.

tam thô trọng

(三粗重) Ba to nặng. Tức chỉ cho 3 thứ tập khí thô to, nặng nề mà người tu hành phải lần lượt đoạn trừ trong 3 a tăng kì kiếp. Ba thứ tập khí này là hạt giống của Phiền não chướng và Sở tri chướng, cho nên cũng gọi là Tam chướng, Tam phiền não. 1. Bì thô trọng(cũng gọi Bì chướng, Bì quá, Bì phiền não chướng). Nghĩa là tập khí tuy thô trọng nhưng tương đối còn dễ đoạn trừ, ví như bệnh còn ở ngoài da (bì), vì thế gọi là Bì thô trọng. 2. Phu thô trọng(cũng gọi Phu chướng, Phu quá, Nhục phiền não chướng, Nhục thô trọng). Nghĩa là tập khí thô trọng tương đối đã trở nên khó đoạn trừ, ví như bệnh đã thấm vào lớp da mỏng (phu)và thịt (nhục) bên trong, cho nên gọi là Phu thô trọng. 3. Cốt thô trọng(cũng gọi Cốt chướng, Cốt quá, Tâm phiền não chướng, Thực thô trọng). Nghĩa là tập khí thô trọng được xông ướp trong nhiều đời, nhiều kiếp, nên việc đoạn trừ trở nên cực kì khó khăn, ví như bệnh đã thấm vào tận xương(cốt), vì thế gọi là Cốt thô trọng. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 48, nếu trải qua thời gian 3 vô số đại kiếp thì đoạn trừ được tất cả thô trọng của Phiền não chướng và Sở tri chướng; trong Tam trụ thì đoạn được tất cả thô trọng của Phiền não chướng, tức trong Cực hoan hỉ trụ thì tất cả thô trọng của các phiền não trong hết thảy ác thú đều dứt trừ hẳn, tất cả phiền não bậc thượng bậc trung đều không hiện hành; trong Vô gia hạnh, vô công dụng, vô tướng trụ thì thô trọng của tất cả phiền não gây chướng ngại cho Vô sinh pháp nhẫn thanh tịnh thảy đều dứt hẳn, hết thảy phiền não đều không hiện tiền; trong Tối thượng thành mãn bồ tát trụ thì tất cả tập khí phiền não tùy miên chướng ngại hết thảy đều dứt trừ vĩnh viễn mà vào Như lai trụ. Còn về tất cả thô trọng của Sở tri chướng thì có 3 loại: Bì, Phu, Cốt như đã nói trên, cũng được đoạn trừ trong Tam trụ, tức là trong Cực hoan hỉ trụ đoạn trừ Bì thô trọng, trong Vô gia hạnh, vô công dụng, vô tướng trụ đoạn trừ Phu thô trọng, trong Như lai địa(tức Tối thượng thành mãn bồ tát trụ)đoạn trừ Cốt thô trọng. Về thể tính của thô trọng thì có nhiều thuyết khác nhau. Luận Du già sư địa quyển 73 cho rằng Ác thú bất lạc phẩm là Bì thô trọng, tức do đoạn trừ Bì thô trọng mà không rơi váo ác thú, lúc tu gia hạnh không bị những cái không vui(bất lạc) xen lẫn. Phiền não chướng là Phu thô trọng, tức nhờ đoạn trừ Phu thô trọng nên tất cả hạt giống của những phiền não cực vi tế không hiện hành, nhưng chưa dứt hẳn tất cả tùy miên. Sở tri chướng là Tâm thô trọng, tức do đoạn trừ Tâm thô trọng nên vĩnh viễn đoạn trừ tất cả tùy miên, có mặt ở khắp tất cả cảnh giới sở tri mà không bị ngăn ngại, trí chuyển một cách tự tại. Cũng có nghĩa là Phu thô trọng thuộc về Phiền não chướng, Tâm thô trọng(tức Cốt thô trọng) thuộc Sở tri chướng, còn Bì thô trọng thì bao hàm cả 2 chướng. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng quyển 7 phần cuối thì cho rằng Phiền não chướng và Sở tri chướng, mỗi chướng đều có 3 loại thô trọng bì, phu, cốt và bàn chung về 3 loại thô trọng này. [X. kinh Giải thâm mật Q.4; Giải thâm mật kinh sớ Q.9; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần cuối, Q.10, phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần đầu; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.3; Đại thừa pháp uyển nghĩalâm chương Q.1].

tam thông lực

(三通力) Chỉ cho 3 thứ năng lực thần thông nói trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 20: 1. Báo đắc thông lực: Chư thiên trong 3 cõi đều có 5 thứ thần thông, cho đến quỉ thần cũng có tiểu thông lực, tuy hơn kém khác nhau nhưng đều biến hiện vô ngại. Loại thần thông này do quả báo tự nhiên cảm được, nên gọi Báo đắc thông lực. 2. Tu đắc thông lực: Hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát do tu giới định tuệ, khi công hạnh thanh tịnh thì phát được 6 thứ thần thông, biến hiện tự tại, ẩn hiển khó lường. Loại thần thông này nhờ tu mà có được nên gọi Tu đắc thông lực. 3. Biến hóa thông lực: Chư Phật và Bồ tát dùng năng lực thần thông biến hiện ra các loại thân tướng, hoặc hơn hoặc kém, cho đến hiện ra các quốc độ hoặc sạch hoặc nhơ... cho nên gọi là Biến hóa thông lực.

tam thú độ hà

(三獸渡河) Ba con thú lội qua sông, ví dụ sự tu hành đoạn hoặc của Tam thừa có sâu cạn khác nhau. 1. Voi lội qua sông: Ví dụ hàng Bồ tát tu 6 độ muôn hạnh, lợi ích chúng sinh, đoạn trừ Kiến, Tư hoặc, tập khí sạch hết, chứng được bồ đề giống như voi lội qua sông, chân chạm đến tận đáy. 2. Ngựa lội qua sông: Ví dụ hàng Duyên giác tu 12 nhân duyên, đoạn trừ Kiến, Tư hoặc, tuy đoạn cả tập khí nhưng chưa hết sạch và chỉ chứng lí chân không, như ngựa lội qua sông, tuy chưa đến tận đáy, nhưng đã hơi sâu. 3. Thỏ lội qua sông: Ví dụ hàng Thanh văn tu pháp Tứ đế, đoạn trừ Kiến, Tư hoặc, chưa đoạn được tập khí, chỉ chứng lí chân không, như thỏ lội qua sông, chỉ nổi trên mặt nước mà qua chứ không lội sâu xuống được. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 8 hạ (Đại 33, 781 hạ) nói: Ba con thú lội qua sông, cùng ở trong nước, 3 con thú mạnh yếu, nước có đáy bờ, thỏ và ngựa sức yếu, tuy lội đến bờ bên kia nhưng nổi cạn không sâu, không chạm đến đáy. Voi lớn sức mạnh, đến được bờ kia, lại vừa chạm đáy. Ba con thú ví dụ Tam thừa, nước dụ tức không, đáy dụ bất không. Nhị thừa trí cạn không thể cầu sâu, ví như thỏ và ngựa. Bồ tát trí sâu, giống như voi lớn, sự êm đềm của nước ví dụ với Không, cùng thấy không, chẳng thấy Bất không. Đáy dụ cho thực tướng, chỉ một mình Bồ tát đến được đáy, bậc trí thấy Không và cả Bất không. Qua ví dụ trên cho thấy Thanh văn ngộ đạo cạn nhất, Duyên giác ngộ đạo hơi sâu, còn Bồ tát thì ngộ đạo sâu nhất. Lí không của pháp tính giống như nước sông. Hàng Tam thừa tuy chứng cùng một pháp tính, bơi lội trong cùng một dòng sinh tử, nhưng vì căn cơ có sâu cạn khác nhau mà nảy sinh bất đồng. Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 8, hạ, còn chia voi 2 loại lớn nhỏ, voi nhỏ dụ cho Bồ tát Biệt tiếp Thông, voi lớn thí dụ cho Bồ tát Viên tiếp Thông. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.27 (bản Bắc); kinh Ưu bà tắc giới Q.1; luận Đại tì bà sa Q.143; Ma ha chỉ quán Q.6 thượng].

tam thường

(三常) Chỉ cho 3 thứ thường trụ của thân Phật. Đó là: 1. Bản tính thường(cũng gọi Tự tính thường, Ngưng nhiên thường): Chỉ cho thân Tự tính của tất cả các pháp, thân này thường trụ, rốt ráo vô lậu. 2. Bất đoạn thường(cũng gọi Vô gián thường): Chỉ cho thân Thụ dụng của hết thảychưPhật; thân này thường trụ, hằng thụ pháp lạc, không lúc nào gián đoạn. 3. Tương tục thường: Chỉ cho thân Biến hóa của tất cả chư Phật, thân này thường trụ, nhập diệt ở nơi này lại thị hiện ở nơi khác, không bao giờ cùng tận. Phật địa kinh luận quyển 7 (Đại 26, 326 trung) nói: Có ba thứ thường, (...) pháp thân này tuy lìa tất cả sinh diệt hí luận mà không sinh diệt nên gọi là Thường, 2 thân tuy có niệm niệm sinh diệt, nhưng nương vào thường thân nên không có gián đoạn, vì hằng tương tục nên gọi là Thường. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.10 (bản dịch đời Đường); Thành duy thức luận thuật kí Q.10, phần đầu; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2].

tam thảo nhị mộc

(三草二木) Dùng cây cỏ lớn, nhỏ để ví dụ các căn tính khác nhau. Tam thảo là cỏ thuốc nhỏ, cỏ thuốc vừa và cỏ thuốc lớn. Nhị mộc là cây nhỏ và cây to. Phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 20 thượng) nói: Hoặc ở cõi người, cõi trước, làm Chuyển luân thánh vương, Đế thích, Phạm vương, đó là loại cỏ thuốc nhỏ; rõ biết pháp vô lậu, chứng được Niết bàn, khởi 6 thần thông, có được Tam minh, ở một mình nơi núi rừng, thường tu thiền định chứng quả Duyên giác, đó là cỏ thuốc loại vừa; cầu địa vị Thế tôn, ta sẽ thành Phật, thực hành định tinh tiến, đó là cỏ thuốc loại lớn. Lại các Phật tử, chuyên tâm về Phật đạo, thường tu hạnh từ bi, tự biết mình là Phật, quyết định không nghi, đó là loại cây nhỏ; an trụ trong thần thông, chuyển pháp luân bất thoái, độ vô lượng ức trăm nghìn chúng sinh, Bồ tát như thế gọi là cây lớn. Bởi vì giáo thuyết của Phật tuy bình đẳng nhất vị, nhưng tùy theo căn cơ chúng sinh mà chỗ hấp thụ có khác, giống như cây cỏ thấm nhuần mưa móc khác nhau. Về việc giải thích và phối hợp 3 cỏ 2 cây có nhiều thuyết bất đồng. Ngài Trí khải phối hợp 3 cỏ 2 cây với 7 phương tiện, theo thứ tự ví dụ cho Nhân thiên thừa, Nhị thừa, Tạng giáo bồ tát, Thông giáo bồ tát và Biệt giáo bồ tát, 5 thừa này mỗi thừa tùy phần mà hấp thụ. Ngài Khuy cơ thì, trái lại, cho rằng 3 cỏ không có hạt giống thành Phật và, theo thứ tự, ví dụ cho Vô chủng tính, Thanh văn chủng tính và Duyên giác chủng tính; còn 2 cây thì được thành Phật và lần lượt dụ cho Bất định chủng tính và Bồ tát chủng tính. Tóm lại, ngài Trí khải dùng 3 cỏ 2 cây để biểu thị ý thú Mười cõi đều được thành Phật, còn ngài Khuy cơ thì dùng 3 cỏ 2 cây để hiển bày yếu chỉ Năm tính đều khác(Ngũ tính các biệt). [X. Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.6; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.4, hạ; Pháp hoa văn cú Q.7, thượng; Pháp hoa nghĩa sớ Q.8; Pháp hoa huyền tán Q.7].

Tam thất nhật

三七日; C: sānqī rì; J: sanshichinichi;|1. Một chu kì bao gồm 21 ngày; 2. Ngày thứ hai mươi mốt.

tam thần thông

Three miracles—See Tam Pháp (xxxxxviii).

tam thập bổng

(三十棒) Ba mươi gậy. Dùng gậy đánh là 1 trong những phương pháp mà các Thiền sư sử dụng để tiếp hóa và khai thị người học. Trong Thiền lâm có những từ ngữ như: Đức sơn bổng(gậy của Đức sơn), Lâm tế hát(tiếng hét của Lâm tế), nghĩa là Thiền sư Đức sơn thường dùng cơ pháp đánh và Thiền sư Lâm tế thường dùng cơ pháp hét để chỉ dẫn và khai ngộ người học. Mục Khám biện trong Lâm tế lục (Đại 47, 503 hạ) ghi: Sư nghe ngài Đức sơn đời thứ 2 chỉ dạy rằng: Nói được cũng lãnh 30 gậy, nói không được cũng lãnh 30 gậy!.

tam thập chủng bất tịnh bố thí

Theo Thương Tọa Thích Hải Quang trong Thơ Gửi Người Học Phật, có ba mươi loại bất tịnh bố thí, mà người thí chẳng được phước, cũng chẳng được gọi là “Hảo Tâm Bố Thí Nhân”—According to Venerable Thích Hải Quang in Letters To Buddhist Followers, there are thirty types of giving that are not pure that the givers will neither gain merits, nor will they be called “People who give out of the goodness of their hearts”. 1) Thấy biết điên đảo mà bố thí: Give while having delusional and chaotic views—Tức là bố thí theo kiểu thí cô hồn, mong người nhận rồi đi cho khuất mắt, chứ kỳ thật chẳng có lòng thương xót chi cả. Hoặc là bố thí tùy hứng, nghĩa là vui thì cho, buồn thì không cho, thậm chí còn đòi lại những gì đã cho, hoặc chưởi bới, vân vân—This is similar to giving to “ghosts,” so people will no longer bother them. Otherwise, there is not an ounce of compassion. This also indicates people who give depending on their moods, meaning if they are happy they will give, if they are sad they will not give, or they may ask for it back, or going as far as insulting people while in the process of giving. 2) Bố thí vì báo ân: Tức là trước kia đã lỡ mang ơn người đó rồi nên bây giờ bố thí lại như trừ nợ—Give to return a favor, or to even out a past favor. 3) Bố thí mà chẳng có lòng thương: Tức là bố thí theo kiểu ném liệng vào mặt người—Give without having any compassion. 4) Bố thí vì sắc dục: Give because of form desire—Tức là thấy người đàn bà hay đàn ông có sắc đẹp nên khởi tâm tà dục, muốn giả bộ bố thí để lấy lòng trước, để sau nầy có thể thỏa mãn được dục tâm của mình—This is seeing an individual who is beautiful, and so one pretends to give in hope of gaining sexual relations with that person or give in hope of winning that person as a spouse. 5) Hoặc mưu đồ đe dọa người mà bố thí: Give and then make threats—Tức là bố thí trước rồi hăm dọa sau với ý đồ gài bẫy để hối lộ, làm cho người nhận phải sợ mà làm thinh không dám tố cáo những điều sai quấy của mình trước pháp luật—Make bribes to a person or threaten the person with “blackmail,” so the individual will not dare go to the authorities. 6) Đem đồ ăn có độc ra mà bố thí với mục đích giết hại người: Use poisonous foods to give to someone with the purpose to murder that person. 7) Đem dao gậy, binh khí, súng ống, bom đạn ra mà bố thí, như viện trợ về quân sự: Use knives, daggers, weapons, guns, tanks, bombs, bullets, etc, i.e., military assistance. 8) Vì được khen ngợi mà bố thí, tức là bố thí để cầu danh và muốn được tiếng tăm khen tặng: Give because of praises. 9) Vì ca hát mà bố thí: Thấy ca sĩ đẹp, hát hay mà bố thí để cầu thân, chớ còn xấu xa và hát dở thì không thèm cho một xu—Give because someone has a marvelous voice. 10) Vì xem tướng mà bố thí: Give by basing on someone's physical characteristics—Tức là mình biết tướng, thấy kẻ đó bây giờ tuy còn nghèo, nhưng về sau nầy sẽ trở thành người giàu sang quyền quý, nên bây giờ làm bộ bố thí, trước để lấy lòng, hầu cầu lợi lộc cho mình về sau nầy—These are people who have the unique ability to foretell someone's future based on their physical characteristics. Thus, they may see someone as being poor now but that person's future is promising, so they give now in order to win that person over, hoping in the future that individual will remember them. 11) Vì muốn kết bạn mà bố thí: Give in hope of winning someone's friendship. 12) Vì học nghề mà bố thí: Give in hope to learn the tricks of the trade—Thấy người ấy tuy nghèo nhưng cò nghề hay trong tay, muốn cầu học nghề nên làm bộ bố thí để lấy thiện cảm—These are people who realize a person's talents despite the fact such a person is of “lower status,” so they pretend to give and befriend such an individual hoping to steal that person's ideas to benefit themselves. 13) Bố thí mà nghi ngờ là có quả báo hay không có quả báo: Give but doubt whether there will be retributions or not—Tức là bố thí mà trong lòng còn nghi ngờ, do dự là không biết bố thí như vậy thì sau nầy có được hưởng quả báo tốt đẹp hay không—These are people who give but are still skeptical whether their good deeds will bring them benefits in the future. This is a type of giving in hope of something in return. 14) Trước mắng chửi cho hả hê rồi sau đó mới chịu bố thí: Give but only after insulting someone until gaining contentment. 15) Bố thí rồi mà trong lòng bực bội, ghét tức và hối tiếc: Give but thereafter begin having regrets, resentments, and angers. 16) Bố thí rồi mà nói rằng các người thọ lãnh sau nầy sẽ phải làm thân trâu ngựa, súc vật, tôi tớ để đền trả lại cho mình: Give and then say to the receivers, “in the future you will become servants, slaves, or various animals such as buffaloes and horses to repay the debts you owe me.” 17) Bố thí rồi mà nói rằng sau nầy mình sẽ được thọ phước báo, giàu sang lớn: Give and then say in the future I will reap great meritorious retributions of wealth and luxury 18) Già yếu đau bệnh nên sợ chết mà bố thí: Give out of fear of old age, sickness, and death—Tức là khi còn trẻ đẹp mạnh khỏe thì không có tâm bố thí, đến chừng già yếu, bệnh hoạn mới chịu xuất tiền ra bố thí—Meaning when they are young and healthy, the tought of giving never crosses their minds, but when they are old, weak, bedridden, afaid they will be condemned to hell or hungry ghost, only then are they willing to dispense their fortunes to give, hoping to escape their potential fates. 19) Bố thí mà muốn được nổi danh khắp mọi nơi rằng ta đây là một người đại thí chủ: Tức là bố thí chỉ muốn được nổi danh để hân hạnh, khoe của mà thôi chớ không có tâm từ bi, thương xót ai—Give in hope of being known throughout the land as a “Great Benefactor.” 20) Hoặc ganh ghét ngạo nghễ mà bố thí: Give because of jealousy or to ridicule others—Tức là các người chỉ bố thí có một, chớ ta đây bố thí gấp hai, ba lần hơn cho biết mặt, kỳ thật không có tâm thanh tịnh thương xót chi cả. Đây là loại bố thí vì muốn cạnh tranh sự giàu sang thế lực và hơn thua lẫn nhau mà thôi—This is giving based on ulterior motives, such as 'you only gave one, but I gave tens and thousands more' in order to ridicule someone. Otherwise, there is not any purity or compassion in this charitable act. This type of giving is to show off how much power and wealth one has over another person. 21) Hoặc ham mộ giàu sang, danh vọng mà bố thí: Give because of fondness for wealth and notoriety—Tức là thấy gia đình người ta giàu có, danh vọng, quý phái nên làm bộ bố thí để cầu thân, cầu hôn, như tặng quà cáp, biếu xén, vân vân—This refers to people who notice a family is wealthy and influential, so they pretend to give hoping to get to know or marry into the family, such as buying gifts, doing favors, etc. 22) Vì cầu hôn nhân mà bố thí: Give in hope of marriage—Tức là thấy người ta có con gái hay con trai quý tướng, xinh đẹp, nhưng mà nghèo, muốn cưới về làm vợ làm chồng, nên làm bộ bố thí để lấy lòng—This refers to people who notice another family as having a boy or a girl who is precious, talented, but that family is poor; thus, in wishing to marry the child as a husband or wife, these people pretend to give to the family to win the family over. 23) Mong cầu được con trai, con gái mà bố thí: Give in hope of having a son or a daughter—Tức là người tuy giàu có nhưng không có tâm bố thí, đến chừng lớn tuổi bị hiếm con, hoặc có toàn con trai, nay muốn con gái; hay toàn con gái, nay muốn con trai, nên mới chịu xuất tiền của ra bố thí, mục đích chỉ để cầu được con mà thôi, chớ không có thật lòng từ bi thương xót—This refers to people who despite having wealth are not charitable people. As they get older but have no children or have all girls, but no boys, or all boys but no girls, only then are they willing to dispense their money to give. However, their giving is not genuine or arising from compassion because their only intention is to pray to have a child. 24) Hoặc muốn cầu giàu sang mà bố thí: Give in hope of being wealthy—Tức là đã giàu rồi, lại còn muốn được giàu hơn nữa nên bố thí—This refers to people who are already wealthy, so they give more in hope of being even richer. 25) Hoặc suy nghĩ rằng kiếp nầy ta bố thí để kiếp sau được giàu sang mà bố thí: Give in hope that if I give in this life, in the next life I will be rich—Tức là bố thí với ý định thủ lợi, có tính toán lời lỗ ở kiếp nầy, kiếp sau—This is giving for self-benefit, calculating the loss and gain of this life, the next life, and so forth. 26) Thấy kẻ nghèo không bố thí, mà cứ chăm chỉ bố thí cho người giàu: Do not give to the poor, but spend all of one's focus to give to the rich—Thấy kẻ nghèo đã không bố thì mà còn khi dễ, và chẳng có lòng thương xót—This refers to people who show disrespect and have not the slightest compassion for those less fortunate, yet when they see wealthy and influential people, they give readily in hope of befriending these people. 27) Vì bị cưỡng ép, hăm dọa mà bố thí: Give out of threats and coercion—Tức là người tuy giàu nhưng không chịu bố bố thí, bị kẻ “anh hùng nghĩa hiệp” nửa đêm phi thân đột nhập vào nhà hăm dọa: “Nếu không chịu bố thí thì ta sẽ giết chết,” hoặc là bị chúng nắm được chuyện bí mật riêng tư, dọa sẽ đăng báo, bêu xấu, vân vân, sợ quá nên bất đắc dĩ phải bố thí theo yêu sách của đối phương—This refers to people who are wealthy yet they refuse to give. Only when a more 'powerful' person makes threats 'if you do not give, I will take your life,' are they willing to give. Or if someone discovers 'hidden secrets' and forces them to give, or face the consequence of getting reported to the newspapers, magazines, etc. In fear of being exposed, these people then give as demanded by the opposition. 28) Vì giết hại mà bố thí: Give for killing and harming—Tức là bố thí cho kẻ ác nhân đặng lấy lòng mang ơn của nó, rồi sau đó sai nó đi giết hại kẻ thù của mình—This refers to people who give to wicked and evil beings to win these people over and then later ask them to kill or harm the enemy. 29) Bố thí trong lửa: Give while being under fire—Tức là ngoài mặt thì bố thí, chớ trong lòng thì đầy lửa giận. Ý nói chỉ bị bắt buộc, chớ không có lòng nhân từ, vừa cho vừa quăng ném vào mặt—On the outside, they appear to be giving, but in the inside the fire of anger rages on. Thus, this is referring to people who feel obligated or having no other choice but to give; otherwise there is not the slightest bit of compassion. Therefore as they give, they throw the gift in people's faces, insulting them, etc. 30) Bố thí vì ái dục: Give in water of desire—Bố thí để lấy lòng người đẹp, hy vọng sau nầy có dịp thỏa mãn được tâm ái dục, tà dâm của mình—This is giving in order to win the heart of someone beautiful hoping one day this act will lead to sexual gratification.

tam thập chủng ngoại đạo

(三十種外道) Ba mươi thứ ngoại đạo. Tức 30 loại ngoại đạo được liệt kê trong phẩm Nhập chân ngôn môn trụ tâm kinh Đại nhật quyển 1. Đó là: 1. Thời ngoại đạo: Vọng chấp Thời là nhân sinh ra tất cả muôn vật. 2. Địa đẳng biến hóa ngoại đạo(cũng gọi Ngũ đại ngoại đạo): Vọng chấp 5 đại:Đất, nước, lửa, gió và hư không là nhân sinh ra muôn vật. 3. Du già ngã ngoại đạo(cũng gọi Tương ứng ngoại đạo): Vọng chấp lí tương ứng với nội tâm người tu định là Ngã chân thực. 4. Kiến lập tịnh ngoại đạo: Vọng chấp kiến lập tất cả pháp và nương vào những pháp này mà tu hành thì được thanh tịnh. 5. Bất kiến lập vô tịnh ngoại đạo: Vọng chấp không cần kiến lập các pháp, mà lấy vô vi vô tu làm Ngã chân thực. 6. Tự tại thiên ngoại đạo: Vọng chấp trời Tự tại là thường, tự tại, là nhân sinh ra muôn vật. 7. Lưu xuất ngoại đạo: Vọng chấp từ tay sinh ra tất cả pháp. 8. Thời ngoại đạo: Ngoại đạo này và Thời ngoại đạo nói ở trên hơi khác nhau, tức ngoại đạo này vọng chấp Thời là do trời Tự tại tạo ra. 9. Tôn quí ngoại đạo: Vọng chấp trời Na la diên vắng lặng, thường trụ, là nhân sinh ra muôn vật. 10. Tự nhiên ngoại đạo: Vọng chấp tất cả pháp đều tự nhiên sinh ra, chẳng có người nào tạo tác cả. 11. Nội ngã ngoại đạo: Vọng chấp trong thân có cái Ngã riêng, có năng lực vận chuyển thân này làm các việc. 12. Nhân lượng ngoại đạo: Vọng chấp lượng của Thần ngã bằng với lượng lớn, nhỏ của thân người. 13. Biến nghiêm ngoại đạo: Vọng chấp Thần ngã tuy có năng lực tạo tác các pháp, nhưng các việc tôn thắng trang nghiêm khắp thế gian đều do Ngã làm ra. 14. Thọ ngoại đạo(cũng gọi Thọ giả ngoại đạo): Vọng chấp tất cả pháp cho đến 4 đại, cỏ cây………... đều có thọ mệnh. 15. Bổ đặc già la ngoại đạo: Vọng chấp Bổ đặc già la(Ngã) từ đời nàyđitới đời sau. 16. Thức ngoại đạo: Vọng chấp thức có mặt ở khắp nơi, cho đến đất, nước, lửa, gió, hư không cũng bao trùm mọi chốn. 17. A lại da ngoại đạo: Vọng chấp thức A lại da có công năng giữ gìn thân này, chứa đựng muôn tượng. 18. Tri giả ngoại đạo: Vọng chấp trong thân có người biết, biết được các việc khổ, vui...19. Kiến giả ngoại đạo: Vọng chấp trong thân có người thấy, người thấy này chính là Chân ngã. 20. Năng chấp ngoại đạo: Vọng chấp trong thân có người năng chấp khác, đó tức là Chân ngã. 21. Sở chấp ngoại đạo: Vọng chấp cảnh giới sở chấp là Chân ngã, Chân ngã này có mặt ở khắp mọi nơi. 22. Nội tri ngoại đạo: Vọng chấp trong thân có người biết riêng ở bên trong là Chân ngã.23. Ngoại tri ngoại đạo: Vọng chấp bên ngoài có người rõ biết các cảnh giới ngoại trần là Chân ngã. 24. Xã đát phạm ngoại đạo: Ngoại đạo này đại khái giống với Tri giả ngoại đạo ở trên. 25. Ý sinh ngoại đạo(cũng gọi Ma nô xà ngoại đạo). Ý sinh (Phạm:Manuja, Hán âm: Ma nô xà) nghĩa là người, người sinh. Tức vọng chấp do người sinh ra. 26. Nho đồng ngoại đạo(cũng gọi Ma nạp bà ngoại đạo). Nho đồng (Phạm: Manava, Hán âm: Ma nạp bà) nghĩa là thắng ngã. Tức vọng chấp Ngã ở trong thân là vi diệu, thù thắng nhất. Ngoại đạo này thuộc về bộ loại Tì nữu thiên ngoại đạo. 27. Thường định sinh ngoại đạo: Vọng chấpNgã là thường trụ, không thể phá hoại, tự nhiên thường sinh chứ không sinh lại. 28. Thanh ngoại đạo: Được chia làm 2 loại: a. Thanh hiển ngoại đạo: Vọng chấp thể của âm thanh là vốn đã có sẵn, thường trụ, hễ đủ điều kiệnlàphát ra thành tiếng rõ ràng. b. Thanh sinh ngoại đạo: Vọng chấp thể của âm thanh vốn không có sẵn, nhờ duyên(phát âm) mới sinh, sinh rồi thì thường trụ. 29. Phi thanh ngoại đạo: Vọng chấp bác không có thể của âm thanh và chỗ của chữ âm thanh. Bản văn kinh Đại nhật vốn hợp Thanh hiển ngoại đạo và Thanh sinh ngoại đạo làm 1 là Thanh ngoại đạo, nên tổng cộng có 29 thứ ngoại đạo, nhưng Đại nhật kinh sớ quyển 1 lại chia ra làm 2 thứ nên tổng cộng có 30 loại ngoại đạo. Ngoài ra, Đại nhật kinh sớ thập nghĩa sao quyển 6 đem thêm Tổng ngã ngoại đạo vào 29 thứ ngoại đạo mà thành 30 thứ ngoại đạo. [X. luận Đại trí độ Q.12, 35; luận Đại tì bà sa Q.172; luận Ngoại đạo Tiểu thừa niết bàn; luận Thành duy thức Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.2; Đại nhật kinh sớ sao Q.1, phần cuối; luận Thập trụ tâm Q.1]. (xt. Ngoại Đạo).

tam thập giới xả đọa tỳ kheo ni

Nissaggiya-pacittiya (skt)—Từ Nissaggiya-pacittiya gốc Nam Phạn, có hai phần: phần thứ nhất là Nissaggiya có nghĩa là từ bỏ; phần thứ hai Pacittiya có nghĩa là điều giải trước giáo đoàn. Con người thường có khuynh hướng sa ngã; vì thế dù đã gia nhập vào cuộc sống tự viện, chư Ni vẫn thỉnh thoảng vi phạm luật sống trong tự viện, như chấp nhận quá số vật dụng hằng ngày được Đức Phật quy định cho Ni chúng. Chính vì thế mà Đức Phật đã đặt ra thanh quy tự viện, nhằm giúp chư Ni tránh phạm phải lỗi lầm. Theo Luật Nghi Khất Sĩ được Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang soạn từ Luật Tạng cho Tăng Ni hệ phái Khất Sĩ, ba mươi giới mà người phạm tội phải giải thích trước giáo đoàn và phải bị phạt cấm phòng sáu bữa—The Nissaggiya-pacittiya has two components: the word Nissaggiya means giving up; and the word Pacittiya means reconciliation or expiation. A person by his or her true nature is subject to lapses; therefore, even after joining the monastic life, the nun sometimes, makes transgression of the monastic rules, i.e., accepting things of daily use in excess of the number allowed by the Buddha is not proper for monks and nuns. Thus, the Buddha set forth rules that help making nuns free from transgressions. According to Rules for Mendicants composed by Most Honerable Master Minh Đăng Quang, thirty offences which require explanation and punishment for the offenders is six-day room retention. 1) Cấm cất giữ dư chăn áo quá mười ngày: A nun should not wear or keep an extra robe for more than ten days. 2) Cấm bỏ chăn áo ở một nơi khác, trong một đêm: a nun should not leave robes and sleeping material in another place, even for one night (nuns should not be away, separated from the three robes, even for one night). 3) Khi áo rách mất, có người cúng dường vải, dù không đúng thời (trai tăng tự tứ) vị Ni vẫn có thể nhận. Khi nhận là phải may cho nhanh; tuy nhiên, nếu không đủ vải may, có thể để dành chờ có thêm, nhưng cấm để dành vải quá một tháng: When robes worn out, and the robe-material is accrued to the nun, even not at the right time, it may be accepted by that nun if she so wish. Having accepted it, it should be made up quickly. But if it is not sufficient for her, that robe-material may be laid aside by that nun for a month at most. 4) Cấm hỏi xin áo với nam nữ thí chủ, trừ khi thắt ngặt (khi áo bị mất hay bị hư hại): A nun should not ask a man or woman householder for a robe, except at the right time (robe is stolen or destroyed). 5) Cấm nhận nhiều chăn áo quá bộ, trừ khi thắc ngặc: a nun should not accept more than an inner and upper robes (if a nun is offered robe-material for many robes, then at most she should accept enough for an inner and an upper robe. If she accepts more than that there is an offence of expiation involving forfeiture). 6) Cấm tự ý muốn kiểu cắt may, khi có một thí chủ định sắm cho áo: When there is a householder plans to offer robe-material, or robe-fund, a nun should not design the robe as he wishes. 7) Cấm tự ý muốn kiểu cắt may, khi có nhiều thí chủ định sắm cho: When there are two or more householders plan to offer robe-material or robe-fund, a nun should not design the robe as he wishes. 8) Cấm nhận tiền để may áo, và hối thúc Giáo Hội may liền: A nun should not obtain robe-fund and urge the Order to make the robe immediately. 9) Cấm nhận tiền bạc vàng, gởi hoặc bảo kẻ khác nhận thế: A nun should not take gold and silver, nor should she ask another person to take for her. 10) Cấm buôn bán đồ quý báu: A nun should not engage in various transactions in which gold and silver is used. 11) Cấm buôn bán bất luận vật gì: A nun should not engage in any kinds of bartering. 12) Cấm kiếm bát mới tốt, mặc dầu đúng năm mà cái cũ vẫn còn xài được: A nun should not get another new bowl in exchange for the old bowl, even though the old bowl is very old, but is still usable (If a nun should get another new bowl in exchange for a bowl mended in less than five places, there is an offence of expiation involving forfeiture. That bowl is to be forfeited by that nun to the company of nuns, and whatever the last bowl belonging to that company of nuns, that should be given to this nun with the words: “Nun, this is a bowl for you; it should be kept until it breaks.” That is the proper course in this case). 13) Cấm đem chỉ cho thợ dệt xa lạ dệt áo cho mình khi có người cúng: A nun should not ask a man or a woman householder who is not a relation to weave her robe (saying this robe-matrial is being especially woven for me, please make it long and wide, and make it evenly woven, well woven and well scraped, etc). 14) Cấm ra kiểu ni cho thợ dệt, khi thí chủ dệt áo cho mình: A nun should not ask for yarn, or should not have robe-material woven by weavers. 15) Cấm giận hờn đòi lại áo khi đã cho người rồi: A nun should not give a robe to another monk and then take it back because she is angry or displeased of that nun. 16) Cấm để dành thuốc, đường, dầu, quá bảy ngày, trừ khi đau bệnh mà có người cúng dường: A nun should not store medicine, sugar, fresh butter, oil, honey, etc. for over seven days, except when she is ill. 17) Cấm đã lãnh áo trước kỳ, mà khi đến lệ lại còn hỏi nữa: A nun should not obtain the robe before the robe-season, lay it aside, and ask again during the robe-season. 18) Cấm lén lấy một món đồ gì của Giáo Hội: A nun should not take any things that belong to the Order. 19) Cấm mua sắm đồ cho một người đàn ông: A nun should not do any shopping for a man. 20) Cấm dùng làm của riêng mình món đồ người ta cúng cho Giáo Hội: a nun should not take away any thing that is offered to the Order. 21) Cấm dùng làm của riêng mình món đồ mà một cô khác trao ra để giao cho Giáo Hội: A nun should not take away anything that another nun offers to the Order. 22) Cấm dùng đồ của thí chủ cho về việc khác: A nun should not use the donations from lay Buddhists for personal purposes. 23) Cấm nhơn danh Giáo Hội mà sắm đồ riêng cho mình: A nun should not gain any personal gains on behalf of the Order. 24) Cấm có đến hai cái bát để thay đổi: A nun should not keep an extra bowl. 25) Cấm chứa nhiều đồ tốt đẹp: A nun should not store beautiful things, such as art crafts, pictures, etc. 26) Cấm hứa cho một cô khác vải bó rịt trong cơn đau mà không cho: A nun should not brak her promise to give cloth for bandage to another nun. 27) Cấm đổi lấy áo của thí chủ cho, chớ không lấy áo của Giáo Hội phát (vì áo của thí chủ tốt hơn): A nun should not exchange the robe which is given by the Order for another one from lay Buddhists. 28) Cấm bất bình, giận hờn đòi lại áo khi đã cho người rồi: A nun should not give a robe to another nun and then take it back because he is angry or displeased of that nun. 29) Cấm may áo mùa đông đến bốn xấp vải: A nun should not use more than four batches of cloth for heavy (winter) clothes. It is advisable for a nun to bargain for a heavy cloth for four bronzes. If she bargains one worth more than that, she commits the offense of expiation. 30) Cấm may áo mùa hè trên hai xấp rưỡi vải: A nun should not use more than two and a half batches for light (summer) clothes. Bargaining for light clothes should be made for at most two and half bronzes. If she bargains a light cloth worth more than that, she commits an offense of expiation involving forteature.

Tam Thập Lục Bộ

(三十六部): 36 bộ quỷ thần, 36 loại thân hình Ngạ Quỷ. Trong Phật Thuyết Thí Ngạ Quỷ Cam Lồ Vị Đại Đà La Ni Kinh (佛說施餓鬼甘露味大陀羅尼經, Taishō No. 1321) có đề cập đến một số thân Ngạ Quỷ do ác nghiệp mà phải chịu quả báo thân hình như vậy: Bế Lệ Đa Quỷ (薜荔多鬼, Tàu gọi là Ngạ Quỷ [餓鬼, quỷ đói]), Xa Da Quỷ (車耶鬼, Tàu gọi là Ảnh Quỷ [影鬼, quỷ bóng]), Kiện Đà Quỷ (健駄鬼, Tàu gọi là Thực Hương Quỷ [食香鬼, quỷ ăn mùi hương]), Bố Sắt Ba Quỷ (布瑟波鬼, Tàu gọi là Thực Hoa Ngạ Quỷ [食花餓鬼, quỷ đói ăn hoa]), Kệ Bà Da Quỷ (偈婆耶鬼, Tàu gọi là Thai Tàng Quỷ [胎藏鬼, quỷ nằm trong bào thai]), A Thâu Già Quỷ (阿輸遮鬼, Tàu gọi là Bất Tịnh Quỷ [不淨鬼, quỷ bất tịnh]), Bà Đa Quỷ (婆哆鬼, Tàu gọi là Thực Phong Quỷ [食風鬼, quỷ ăn gió]), Ô Đà Ha La Quỷ (烏駄訶羅鬼, còn gọi là Thực Tinh Khí Quỷ [食精氣鬼, quỷ ăn tinh khí]), Đà La Chất Đa Quỷ (駄羅質多鬼, còn gọi là Sân Tất Tâm Quỷ [嗔悉心鬼, quỷ thường nỗi tâm giận dữ]), Chất Đa Quỷ (質多鬼, hay Ác Tâm Quỷ [惡心鬼, quỷ có tâm ác]), Bà Rô Da Quỷ (皤嚕耶鬼, hay Thực Tế Tự Quỷ [食祭祀鬼, quỷ ăn các đồ cúng tế]), Thị Vĩ Đa Quỷ (視尾哆鬼, hay Thực Nhân Thọ Mạng Quỷ [食人壽命鬼, quỷ ăn thịt người có tuổi thọ]), Tỳ Sa Kê Đà Quỷ (芑莎鷄駄鬼, hay Thực Nhục Thực Chỉ Đẳng Quỷ [食肉食脂等鬼, quỷ ăn thịt ăn mỡ, v.v.]), Xà Để Quỷ (蛇底鬼, hay Thực Sơ Sản Tử Quỷ [食初産子鬼, quỷ ăn thịt con nít sơ sinh]), Yết Tra Bố Đơn Na Quỷ (羯吒布單那鬼, hay Kì Xú Quỷ [希臭鬼, quỷ thân hình có mùi hôi thối như xương cháy]), Cưu Bàn Trà Quỷ (鳩盤茶鬼, hay Thủ Cung Quỷ [守宮鬼, quỷ bảo vệ cung điện]), Tất Xá Già Quỷ (畢舍遮鬼, hay Xí Thần [廁神, thần bảo vệ nhà xí, chuyên ăn những đồ bất tịnh]), v.v. Theo Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō No. 2122) quyển 6, phần Liệt Số Bộ (列數部) thứ 4 có liệt kê rất rõ 36 loại như sau: (1) Hoạch Thang Quỷ (鑊湯鬼, quỷ vạc nước sôi), loại này do được người khác mướn đi giết người nên phải chịu quả báo bị sắc nấu trong vạc nước sôi; hoặc được người khác gởi đồ, nhưng chống cự không hoàn trả, cũng chịu quả báo này. (2) Châm Khẩu Xú Quỷ (針口臭鬼, quỷ miệng nhỏ như cây kim), do vì lấy tiền mướn người khác thi hành sát hại, nên cổ họng nhỏ như cây kim, thậm chí một giọt nước cũng không lọt được. (3) Thực Thổ Quỷ (食吐鬼, quỷ ăn rồi mữa ra), do chồng khuyên vợ bố thí, nhưng vợ tiếc không thực hành, tích chứa tài của, bỏn xẻn; nên bị quả báo ăn vào thường nôn mữa ra. (4) Thực Phẩn Quỷ (食糞鬼, quỷ ăn phân), do vợ lừa dối chồng để tự ăn uống một mình, vì ghét bỏ chồng; nên thường bị quả báo ăn phân nhơ nhớp. (5) Thực Hỏa Quỷ (食火鬼, quỷ ăn lửa), do vì ngăn cấm lương thực của người, khiến họ phải tự tử; nên phải chịu quả báo khổ sở do lửa bốc cháy, kêu gào đói khát. (6) Thực Khí Quỷ (食氣鬼, quỷ ăn hơi), do tham lam ăn nhiều thức ăn ngon, chẳng chia cho vợ con; nên thường bị khốn khổ, đói khát, chỉ ngửi được hơi thôi. (7) Thực Pháp Quỷ (食法鬼, quỷ ăn pháp), vì cầu tài lợi mà thuyết pháp cho người, nên thân thường đói khát, thịt trong thân tiêu mòn hết do nhòi rút, chỉ mong nhờ nghe chư tăng thuyết pháp mà mạng được tồn tại. (8) Thực Thủy Quỷ (食水鬼, quỷ ăn nước), do vì bán rượu nhạt như nước để lừa người ngu, chẳng giữ gìn trai giới; nên thường bị quả báo bệnh khô nhát. (9) Hy Vọng Quỷ (希望鬼, quỷ hy vọng), do vì tranh đấu giá cả mua bán, lừa dối lấy vật của người khác; nên thường bị bệnh đói khát, luôn trông mong có cúng tế các vong linh đã khuất để được hưởng. (10) Thực Thóa Quỷ (食唾鬼, quỷ ăn đồ khạc nhổ), do vì lấy thức ăn không trong sạch lừa gạt người xuất gia; nên thân thường đói khát, hay bị nấu đốt, cầu mong người khác khạt nhổ ra và ăn những đồ bất tịnh. (11) Thực Man Quỷ (食鬘鬼, quỷ ăn tràng hoa), do vì đời trước trộm cắp tràng hoa của Phật để tự làm đẹp cho mình; nếu người gặp việc lấy tràng hoa cúng tế, nhờ vậy mà được hưởng. (12) Thực Huyết Quỷ (食血鬼, quỷ ăn máu), do vì sát sanh để ăn uống máu tanh mà không cho vợ con; nên bị thân quỷ này; nhờ có cúng tế thoa máu huyết mới được thọ hưởng. (13) Thực Nhục Quỷ (食肉鬼, quỷ ăn thịt), do vì lấy thịt thân thể chúng sanh, cắt từng miếng nhỏ đem cân, mua bán dối trá; nên phải chịu quả báo này, nhiều lần dối trá, xấu xa, người khác nhìn thấy ghê tởm. (14) Thực Hương Quỷ (食香鬼, quỷ ăn nhang), do vì bán loại nhang xấu, lại lấy giá mắc; nên chịu quả báo chỉ ăn khói nhang, sau cùng bị bần cùng, khốn khổ. (15) Tật Hành Quỷ (疾行鬼, quỷ chạy nhanh), nếu có người phá giới mà vẫn mặc tăng phục, lừa gạt lấy tài của người khác để hứa giúp bệnh nhân, cuối cùng chẳng làm, đem tự dùng cho mình; nên bị quả báo này, thường ăn đồ bất tịnh, tự đốt cháy thân mình. (16) Tứ Tiện Quỷ (伺便鬼, quỷ dòm rình đại tiểu tiện), do vì mưu mô, lường gạt lấy tài vật người khác mà không chịu tu tập phước nghiệp, mới chịu quả báo này; lông trên thân thường phát ra lửa, ăn khí lực bất tịnh của người để tồn tại. (17) Hắc Ám Quỷ (黑闇鬼, quỷ tối đen), do dùng phương pháp gian xảo để lấy tài của, làm cho người khác phải bị giam cầm trong ngục tù, mắt không trông thấy, thường cất tiếng đau thương; nên bị đọa vào chỗ tối tăm, có rắn độc cùng khắp. (18) Đại Lực Quỷ (大力鬼, quỷ có sức mạnh lớn), do trộm cắp vật của người khác, đem cho bạn ác mà không bố thí để tạo phước điền; nên chịu quả báo này, dù có sức mạnh thần thông, nhưng lại bị nhiều khổ não. (19) Xí Nhiên Quỷ (熾然鬼, quỷ bốc cháy), do vì phá thành, cướp giựt, giết hại bá tánh; nên chịu quả báo này, than khóc kêu gào, khắp thân lửa bốc cháy; sau được làm người thì thường bị cướp giựt. (20) Tứ Anh Nhi Tiện Quỷ (伺嬰兒便鬼, quỷ rình con nít đại tiểu tiện), do vì giết con nít, tâm sanh giận dữ; nên chịu quả báo này, thường rình dòm người đại tiểu tiện, có thể hại trẻ nít nhỏ. (21) Dục Sắc Quỷ (欲色鬼, quỷ ham sắc dục), do vì thích dâm dục, có được của cải mà không bố thí để tạo phước điền; nên chịu quả báo này, thường du hành trong cõi người, cùng người giao du, giả làm yêu quái để cầu cúng tế được hưởng. (22) Hải Chử Quỷ (海渚鬼, quỷ cồn biển), do khi đi ngoài đồng trống thấy người bịnh khổ, lường gạt lấy của người; nên sanh nơi cồn biển, chịu khổ nóng lạnh, gấp hơn mười lần người. (23) Diêm La Vương Chấp Trượng Quỷ (閻羅王執杖鬼, quỷ cầm gậy cho vua Diêm La), do vì đời trước gần gủi quốc vương, đại thần chuyên làm việc hung ác; nên bị quả báo này, bị vua Diêm La sai khiến, làm quỷ cầm gậy. (24) Thực Tiểu Nhi Quỷ (食小兒鬼, quỷ ăn thịt con nít), do vì dùng chú thuật để lường gạt, lấy tài sản của người, giết hại heo, dê, sau khi chết bị đọa vào địa ngục, thọ quả báo này, thường ăn thịt con nít. (25) Thực Nhân Tinh Khí Quỷ (食人精氣鬼, quỷ ăn tinh khí người), do vì dối trá bạn thân, bảo rằng ta vì bảo hộ cho ngươi, khiến người dũng mãnh xông trận mà chết, cuối cùng lại chẳng cứu hộ; nên chịu quả báo này. (26) La Sát Quỷ (羅剎鬼, quỷ la sát), do vì đời trước giết hại sinh mạng để làm tiệc đại hội; nên bị quả báo đói khát, lửa đốt cháy. (27) Hỏa Thiêu Thực Quỷ (火燒食鬼, quỷ ăn lửa cháy), do vì tâm keo kiệt, ganh tỵ, che giấu, ưa ăn vật thực của chúng tăng, trước đọa vào địa ngục, rồi từ địa ngục ra, chịu quả báo làm con quỷ thân hình đốt cháy trong lò lửa. (28) Bất Tịnh Hạng Mạch Quỷ (不淨巷陌鬼, quỷ ăn đồ bất tịnh nơi đường hẽm bờ ruộng), do vì đem đồ ăn bất tịnh cúng cho người tu hành Phạm hạnh, nên đọa làm quả báo như vậy, thường ăn đồ nhơ nhớp. (29) Thực Phong Quỷ (食風鬼, quỷ ăn gió), do vì thấy người xuất gia đến khất thực, hứa mà không bố thí thức ăn; nên chịu quả báo này, thường bị bịnh đói khát, như cái khổ trong địa ngục. (30) Thực Thán Quỷ (食炭鬼, quỷ ăn than), do làm chủ ngục hình, cấm không cho tội nhân ăn uống; nên chịu quả báo này, thường ăn than lửa. (31) Thực Độc Quỷ (食毒鬼, quỷ ăn chất độc), do vì lấy thức ăn độc làm cho người khác mất mạng, nên đọa xuống địa ngục, sau đó trở ra làm quỷ, thường chịu đói khát, ăn lửa độc, làm cho đốt cháy thân hình. (32) Khoáng Dã Quỷ (曠野鬼, quỷ đồng ruộng), do vì nơi đồng trống có ao hồ được đào lên để cấp nước cho người đi đường, có người thốt lời độc ác quyết phá, khiến cho mọi người chịu khát; nên bị quả báo như vậy, thường bị bịnh đói khát, lửa đốt cháy thân. (33) Trủng Gian Thực Hôi Thổ Quỷ (塚間食灰土鬼, quỷ ăn đất tro giữa gò mã), do vì trộm lấy bông hoa cúng Phật đem bán lấy tiền kiếm sống; nên chịu quả báo này, thường ăn tro nóng nơi chỗ thiêu thây người chết. (34) Thọ Hạ Trú Quỷ (樹下住鬼, quỷ sống dưới gốc cây), do vì thấy người trồng cây để đem bóng mát cho mọi người, nhưng lại ác tâm chặt gãy cây đó, lấy làm đồ dùng cho mình; nên đọa làm quỷ trong cây, thường phải chịu nóng lạnh bức bách. (35) Giao Đạo Quỷ (交道鬼, quỷ nơi đường giao thông), do trộm cắp lương thực của người đi đường, vì ác nghiệp đó, thường bị cưa sắt cắt thân; nhờ có cúng tế nơi đường giao nhau, lấy thức ăn đó mà tự nuôi sống. (36) Ma La Thân Quỷ (魔羅身鬼, quỷ thân Ma La), do vì làm việc tà đạo, không tin chánh pháp, nên đọa làm thân quỷ này, hay phá hoại thiện pháp của người.

Tam Thập Lục Bộ Quỷ Vương

(三十六部鬼王): 36 vị Quỷ Vương. Trong Chánh Pháp Niệm Xứ Kinh (正法念處經, Taishō Vol. 17, No. 721) quyển 16, Phẩm Ngạ Quỷ (餓鬼品) cũng như Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 6, phần Liệt Số Bộ (列數部) thứ 4 có nêu rõ tên 36 loại Ngạ Quỷ, nhưng tên gọi có khác. Đặc biệt, Pháp Uyển Châu Lâm quyển 6 nêu rõ từng nguyên nhân vì sao bị đọa làm thân quỷ của từng loại như vậy. (1) Hoạch Thang Quỷ (鑊湯鬼, quỷ vạc nước sôi), do được người khác thuê sát sanh, nên bị bỏ vào vạc nước sôi nấu luộc; (2) Châm Khẩu Xú Quỷ (針口臭鬼, quỷ hôi thối có miệng nhỏ như cây kim), do vì lấy tiền tài mướn người giết hại, nên bị quả báo cổ họng nhỏ như cây kim, đến nỗi giọt nước cũng không chảy lọt; (3) Thực Thổ Quỷ (食吐鬼, quỷ ăn vào nôn mữa ra), chồng khuyên vợ bố thí, nhưng vợ tiếc của mà từ chối, tích trữ tài sản, keo kiệt, bỏn xẻn, nên thường ăn vào mà nôn mữa ra; (4) Thực Phẩn Quỷ (食糞鬼, Quỷ Ăn Phân), do vì người vợ lừa dối chồng, tự ăn các thức ăn uống, hiềm ghét chồng, nên ăn rồi mữa ra phân; (5) Thực Hỏa Quỷ (食火鬼, quỷ ăn lửa), do vì cấm người khác không cho lương thực, khiến họ tự chết, cho nên bị lửa thiêu đốt, kêu la thất thanh, đói khát khổ sở; (6) Thực Khí Quỷ (食氣鬼, quỷ ăn hơi), ăn nhiều đồ thức ăn ngon, không cho vợ con đang bị đói khát ăn, nên bị quả báo ngửi không khí mà thôi; (7) Thực Pháp Quỷ (食法鬼, quỷ ăn pháp), vì cầu tài lợi mà nói pháp cho người, nên thân thường đói khát, thịt nơi thân tiêu mất dần, chỉ mong chư tăng thuyết pháp thì mạng mới bảo tồn được; (8) Thực Thủy Quỷ (食水鬼, quỷ ăn nước), do bán rượu như nước để phỉnh gạt người ngu, không giữ trai giới, nên thường bị khát nước; (9) Hy Vọng Quỷ (希望鬼, quỷ hy vọng), do mua bán tranh giành giá cả, lừa gạt lấy đồ, nên thường bị đói khát, nhờ cúng tế cho các vong linh đời trước mà được ăn no đủ; (10) Thực Thùy Quỷ (食唾鬼, quỷ ăn đồ khạc nhổ), do vì lấy đồ không được trong sạch mà lừa dối người xuất gia, nên thân thường đói khát, luôn bị thiêu đốt, cầu mong người khạc nhổ ra để ăn đồ bất tịnh; (11) Thực Man Quỷ (食鬘鬼, quỷ ăn tràng hoa), do vì vào đời trước, trộm cắp tràng hoa của Phật để tự trang sức cho mình; nên nếu có người lấy tràng hoa cúng tế, nhờ vậy mà có tràng hoa để ăn; (12) Thực Huyết Quỷ (食血鬼, quỷ ăn máu), do giết hại sinh mạng, ăn máu huyết mà không chia cho vợ con, nên phải chịu làm thân quỷ này; chỉ nhờ cúng tế máu mơi được ăn; (13) Thực Nhục Quỷ (食肉鬼, quỷ ăn thịt), do vì lấy thịt thân chúng sanh, băm nhỏ từng miếng rồi đem cân, mua bán lừa đảo, vì vậy phải chịu quả báo này; nhờ cúng tế thịt đủ loại mới có thể ăn được; (14) Thực Hương Quỷ (食香鬼, quỷ ăn hương), do vì bán loại hương xấu mà lại được lợi nhiều, nên bị quả báo chỉ ăn hương khói mà thôi; (15) Tật Hành Quỷ (疾行鬼, quỷ đi nhanh), nếu có phá giới mà lại mang pháp phục tu sĩ, lường gạt, làm mê hoặc để lấy tài của; bảo cúng cho người bệnh, cuối cùng chẳng đưa cho người đó, lại lấy tự ăn một mình, nên bị quả báo thường ăn đồ nhơ nhớp, tự thiêu cháy thân mình; (16) Tứ Tiện Quỷ (伺便鬼, quỷ dòm rình đại tiểu tiện), do dùng mưu mô, lường gạt lấy tài của mà chẳng tu phước nghiệp, vì vậy mới thọ quả báo này, nơi lông của thân có lửa phát ra, thường ăn khí lực bất tịnh của người để tự tồn tại; (17) Hắc Ám Quỷ (黑闇鬼, quỷ đen tối), do vì làm trái pháp luật mà mong cầu tài của, làm cho người khác phải bị vào lao ngục, nên mắt chẳng thấy được, tiếng thường ai oán, bị ở trong chỗ tối tăm có nhiều rắn; (18) Đại Lực Quỷ (大力鬼, quỷ có sức mạnh lớn), do vì trộm cắp đồ của người, lại đem cho kẻ ác, nên chịu quả báo này, có sức thần thông lớn, chịu nhiều khổ não; (19) Xí Nhiên Quỷ (熾然鬼, quỷ bốc cháy), do phá thành, lục soát, cướp bóc, sát hại bá tánh, nên chịu quả báo này, thường la hét, khóc than, thân biến bốc lửa cháy; (20) Tứ Anh Nhi Tiện Quỷ (伺嬰兒便鬼, quỷ dòm rình con nít đại tiểu tiện), do giết hại con nít, tâm sanh giận dữ, nên chịu quả báo này, thường rình dòm người đại tiểu tiện, và có thể hại con nít; (21) Dục Sắc Quỷ (欲色鬼, quỷ ham sắc dục), do háo dâm, có tài của mà không bố thí để tạo ruộng phước, nên chịu quả báo này, du hành trong cõi người, cùng người giao tiếp, liều làm yêu quái để cầu mạng sống; (22) Hải Chử Quỷ (海渚鬼, quỷ sống ở cồn biển), do khi đi nơi đồng trống thấy người bệnh khổ, lừa dối người để lấy tài vật, nên bị sanh nơi cồn biển, chịu nỗi khổ nóng lạnh, gấp hơn con người 10 lần; (23) Diêm La Vương Chấp Trượng Quỷ (閻羅王執杖鬼, quỷ cầm gậy vua Diêm La), do đời trước, từng gần gũi quốc vương đại thần, chuyên làm việc bạo ác, nên chịu quả báo này, làm sứ giả cho nhà vua, làm con quỷ cầm gậy; (24) Thực Tiểu Nhi Quỷ (食小兒鬼, quỷ ăn con nít), do vì nói chú thuật làm mê hoặc, lừa dối lấy tài vật của người, giết hại heo dê, chết rồi đọa Địa Ngục, sau chịu quả báo này, thường ăn thịt con nít; (25) Thực Nhân Tinh Khí Quỷ (食人精氣鬼, quỷ ăn tinh khí người), do lừa dối là bạn thân, bảo rằng tôi sẽ cứu giúp bạn, khiến người ấy dung sức mạnh xông pha chết trong trận chiến, rốt cuộc không được cứu giúp, nên chịu quả báo này; (26) La Sát Quỷ (羅剎鬼, quỷ La Sát), do giết hại sinh mạng để làm đại hội, nên chịu quả báo đói khát, lửa thường bốc cháy; (27) Hỏa Thiêu Thực Quỷ (火燒食鬼, quỷ lửa cháy), do tâm keo kiệt, ganh tỵ, ăn đồ chúng tăng, nên trước đọa Địa Ngục, rồi từ Địa Ngục ra, làm thân con quỷ lửa thiêu đốt thân; (28) Bất Tịnh Hạng Mạch Quỷ (不淨巷陌鬼, quỷ ăn đồ bất tịnh nơi đường hẽm, bờ ruộng), do lấy đồ bất tịnh này mà cho người Phạm hạnh, nên chịu quả báo này, thường ăn đồ bất tịnh; (29) Thực Phong Quỷ (食風鬼, quỷ ăn gió), do thấy người xuất gia đến khất thực, hứa mà không bố thí cho họ thức ăn, nên thường bị đói khát, như cái khổ địa ngục; (30) Thực Thán Quỷ (食炭鬼, quỷ ăn than), do làm chủ hình ngục, cấm không cho ăn uống, nên chịu quả báo này, thường ăn than lửa; (31) Thực Độc Quỷ (食毒鬼, quỷ ăn chất độc), do vì lấy thức ăn độc làm cho người mất mạng, nên bị đọa Địa Ngục, sau làm thân quỷ, thường đói khát, ăn lửa độc, đốt cháy thân hình; (32) Khoáng Dã Quỷ (曠野鬼, quỷ nơi đồng trống), do các ao hồ nơi đồng trống tạo nên để bố thí nước cho người, nhưng vì ác khẩu, quyết phá khiến cho người đi đường phải chịu khát mệt, nên chịu quả báo này, thường bị đói khát, lửa đốt cháy thân hình; (33) Trũng Gian Thực Thán Thổ Quỷ (塚間食灰土鬼, quỷ sống nơi gò mã ăn tro đất), do lấy trộm hoa cúng Phật bán để nuôi sống, nên chịu quả báo này, thường ăn người chết, thây chết bốc cháy thành tro nóng; (34) Thọ Hạ Trú Quỷ (樹下住鬼, quỷ sống dưới gốc cây), do thấy người trồng cây để đem lại bóng mát cho người, lấy ác tâm mà chặt đi, lấy làm tài vật sử dụng, nên bị đọa vào trong thân cây, thường bị nóng lạnh bức thân; (35) Giao Đạo Quỷ (交道鬼, quỷ sống nơi đường giao thông), do cướp đoạt lương thực người đi đường, nên thường bị cưa sắt cắt thân, nhờ cúng tế nơi ngã tư đường, lấy thức ăn để nuôi sống bản thân; (36) Ma La Thân Quỷ (魔羅身鬼, quỷ thân Ma La), do làm việc tà đạo, không tin chân chánh, đọa làm ma quỷ, thường phá pháp lành của người.

tam thập lục bộ thần vương

(三十六部神王) Cũng gọi Tam thập lục thiện thần. Chỉ cho 36 vị thiện thần theo truyền thuyết do trời Đế thích sai xuống nhân gian để che chở cho loài người, đồng thời tiếp nhận Tam qui của thiện nam, tín nữ. Đó là: 1. Di lật đầu bất la bà(Hán dịch: Thiện quang), coi về tật bệnh. 2. Di lật đầu bà ha sa (Thiện minh), chủ việc đau đầu. 3. Di lật đầu bà la ba (Thiện phương), coi về việc lạnh nóng. 4. Di lật đầu chiên đà la (Thiện nguyệt), coi về việc đầy bụng. 5. Di lật đầu đà lợi xa (Thiện kiến), chủ về bệnh ung nhọt. 6. Di lật đầu a lâu ha (Thiện cung), coi về bệnh điên cuồng. 7. Di lật đầu bà già đế(Thiện xả), chủ việc ngu si. 8. Di lật đầu tất đế đá(Thiện tịch), chủ về việc sân khuể. 9. Di lật đầu bồ đề tát(Thiện giác), chủ việc dâm dục. 10. Di lật đầu đề bà la(Thiện thiên), coi về tà quỉ. 11. Di lật đầu ha ba đế(Thiện trụ), chủ về thương vong. 12. Di lật đầu bất nhược la (Thiện phúc), coi về việc mồ mả. 13. Di lật đầu bật xà già(Thiệt thuật), chủ việc4phương. 14. Di lật đầu già lệ bà(Thiện đế), chủ việc oán gia. 15. Di lật đầu la xà già(Thiện vương), coi việc trộm cắp. 16. Di lật đầu tu càn đà(Thiện hương), coi việc nợ nần. 17. Di lật đầu đàn na ba(Thiện thí), coi việc giặc cướp. 18. Di lật đầu chi đa na (Thiện ý), chủ về việc dịch độc. 19. Di lật đầu la ba na(Thiện cát), coi về việc ngũ ôn. 20. Di lật đầu bát bà đà(Thiện sơn), coi việc trùng độc. 21.Di lật đầu tam ma đà(Thiện điều), coi việc chú liên. 22. Di lật đầu lệ đế đà(Thiện bị), coi việc qua lại. 23. Di lật đầu ba lợi đà(Thiện kính), chủ việc dắt dẫn nhau. 24. Di lật đầu ba lợi na(Thiện tịnh), coi về việc các đảng xấu ác. 25. Di lật đầu kiền già địa (Thiện phẩm), coi việc dòi bọ độc hại. 26. Di lật đầu tì lê đà(Thiện kết), chủ việc khủng bố. 27. Di lật đầu chi đà na (Thiện thọ), chủ việc ách nạn. 28. Di lật đầu già lâm ma (Thiện du), chủ việc sinh nở. 29. Di lật đầu a lưu già (Thiện nguyện), chủ việc quan huyện. 30. Di lật đầu xà lợi đà(Thiện nhân), chủ việc miệng lưỡi. 31. Di lật đầu a già đà(Thiện chiếu), chủ việc lo buồn. 32. Di lật đầu a sa ha (Thiện sinh), chủ việc bất an. 33. Di lật đầu sa hòa la(Thiện chí), chủ việc quái gở. 34. Di lật đầu ba lợi na (Thiện tạng), chủ việc ghen ghét. 35. Di lật đầu chu đà na (Thiện âm), chủ việc nguyền rủa. 36. Di lật đầu vi đà la(Thiện diệu), chủ việc yếm đảo. Nguồn gốc thuyết Thiện thần thủ hộ này đã rất lâu xa, có lẽ chịu ảnh hưởng tư tưởng của Đạo giáo mà ra. [X. kinh Quán đính Q.3; Vãng sinh yếu tập Q.hạ phần đầu; Chỉ quất dịch thổ tập Q.25].

tam thập lục cú

(三十六句) Ba mươi sáu câu. Khi bàn về cảm ứng đạo giao, Pháp hoa kinh huyền nghĩa căn cứ vào sự tương xứng giữa Cơ và Ứng mà lập thành 36 câu. Cơ của chúng sinh tương ứng với Như lai, đó là Cơ ứng; lí tính của chúng sinh và lí tính của Phật không khác nhau, nhưng ở chúng sinh thì lí ấy ẩn kín, còn ở Phật thì hiển hiện rõ ràng. Cơ và Ứng được dựa vào tính chẳng 1 chẳng khác ấy mà lập ra. Cơ được chia làm 4 loại: Cơ thầm kín, Cơ hiển hiện, Cơ vừa thầm kín vừa hiển hiện, Cơ chẳng phải thầm kín chẳng phải hiển hiện. Ứng cũng được chia làm 4 loại là Ứng thầm, Ứng hiển, Ứng vừa thầm vừa hiển, Ứng chẳng phải thầm chẳng phải hiển. Bốn cơ trên được phối với 4 ứng: Cơ thầm ứng thầm, cơ thầm ứng hiển, cơ thầm ứng vừa thầm vừa hiển, cơ thầm ứng chẳng phải thầm chẳng phải hiển; ba cơ còn lại cũng giống như thế, cộng tất cả thành 16 câu. Cơ đã triệu Ứng thì ứng cũng thành 16 câu, như ứng thầm cơ thầm, ứng thầm cơ hiển, ứng thầm cơ vừa thầm vừa hiển, ứng thầm cơ chẳng phải thầm chẳng phải hiển; 3 ứng còn lại cũng giống như thế, Cơ và Ứng mỗi thứ đều 16 câu, hợp chung lại là 32 câu. Lại cộng thêm 4 câu gốc: Cơ thầm, Cơ hiển, Cơ vừa thầm vừa hiển, Cơ chẳng phải thầm chẳng phải hiển, thành 36 câu. Trong đó, thầm là quá khứ, hiển là hiện tại, vừa thầm vừa hiển là quá khứ và hiện tại, chẳng phải thầm chẳng phải hiển là vị lai. Cơ của thân nghiệp mỗi người có 36 cơ, 3 nghiệp có 108 cơ, 3 nghiệp trong 3 đời có 324 cơ. Trong 1 cõi(giới) có 324 cơ, tự hành hóa tha có 6480 cơ, bởi thế, trong cả 10 cõi có 64800 cơ. [X. Quán âm huyền nghĩa Q.hạ; Quán kinh sớ diệu tông sao Q.4; Nhân vương hộ quốc bát nhã kinh sớ Q.2]. (xt. Cảm Ứng Đạo Giao).

tam thập lục cầm

(三十六禽) Cũng gọi Tam thập lục thời thú, Tam thập lục thú. Chỉ cho 36 cầm thú thay nhau xuất hiện trong 12 thời của 1 ngày đêm để não loạn người tu thiền. Mỗi 1 thời(2 tiếng đồng hồ) đều có 3 con thú, giờ Dần có chồn, báo, hổ; giờ Mão là cáo, thỏ, cầy(lạc); giờ Thìn là rồng, thuồng luồng, cá; giờ Tị là ve sầu, cá chép, rắn; giờ Ngọ là nai, ngựa, hoẵng; giờ Mùi là dê, ngỗng trời, chim ưng; giờ Thân là dứu(1 giống khỉ), vượn, khỉ; giờ Dậu là quạ, gà, trĩ; giờ Tuất là chó, sói, sài; giờ Hợi là lợn, lợn lòi, lợn con; giờ Tí là mèo, chuột, dơi; giờ Sửu là bò, cua, ba ba. Chín con thú vào các giờ Dần, Mão, Thìn thuộc về Mộc ở phương đông; 9 con thú vào các giờ Tị, Ngọ, Mùi thuộc về Hỏa ở phương nam; 9 con thú vào các giờ Thân, Dậu, Tuất thuộc về Kim ở phương tây; 9 con thú vào các giờ Hợi, Tí, Sửu thuộc về Thủy ở phương bắc. Cứ theoThời mà gọi tên những con thú ấy thì tiêu trừ được quỉ mị.Ngoài ra, 36 con thú này được xếp vào Tinh mạn đồ la của Mật giáo. [X. Ma ha chỉ quán Q.8 hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.8, phần3].

tam thập lục vật

xem ba mươi sáu thứ. ; (三十六物) Ba mươi sáu vật. Tức chỉ cho 36 yếu tố cấu tạo thành thân người. Tuy nhiên, về số mục thì có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo Đại minh tam tạng pháp số quyển 48 thì 36 vật được chia làm 3 loại là Ngoại tướng, Thân khí và Nội hàm. 1. Ngoại tướng, gồm 12 vật: Tóc, lông, móng, răng, nhử mắt, nước mắt, nước miếng, nước dãi, phân, nước tiểu, ghét gúa, mồ hôi. 2. Thân khí, gồm 12 vật: Da dày, da mỏng, máu, thịt, gân, mạch, xương, tủy, mỡ lá, mỡ nước, não, màng. 3. Nội hàm, gồm 12 vật: Gan, mật, ruột, dạ dày(bao tử), lá lách, thận, tim, phổi, sinh tạng, thục tạng, đàm đỏ, đàm trắng. Theo kinh Tạp a hàm quyển 43 thì 36 vật là: Tóc, lông, móng, răng, ghét, nước miếng, dạ dày, thịt, xương, gân, mạch, tim, gan, phổi, lá lách, thận, ruột, bao tử, sinh tạng, thục tạng, cái nhau, nước mắt, mồ hôi, nước mũi, nước bọt, mỡ lá, mỡ nước, tủy, đàm, ấm, mủ, máu, não, chất nhờn, phân, nước tiểu. Kinh Niết bàn (bản Nam) quyển 22 (Đại 12, 749 trung) nói: Thấy thân phàm phu đầy dẫy 36 vật nhơ nhớp. Cho nên Bất tịnh quán chính là quán xét 36 vật nhơ nhớp này(nhơ nhớp từ tự thể). [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.25; kinh Đại phẩm bát nhã Q.5; kinh Tọa thiền tam muội Q.thượng].

tam thập lục đối

(三十六對) Cũng gọi Tam khoa tam thập lục đối pháp môn. Ba mươi sáu đối. Tức 36 khái niệm có tính chất tương đối do Lục tổ Tuệ năng của Thiền tông phó chúc cho đệ tử. Ba mươi sáu khái niệm này gồm trong 3 khoa: 1. Đối pháp ngoại cảnh: Có 5 cặp đối nhau: Trời đối với đất, mặt trời đối với mặt trăng, sáng đối với tối, âm đối với dương và nước đối với lửa. 2. Pháp tướng ngữ ngôn: Có 12 cặp đối nhau: Ngữ đối với pháp, hữu đối với vô, có sắc đối với không sắc, có tướng đối với không tướng, hữu lậu đối với vô lậu, sắc đối không, động đối với tĩnh, trong đối với đục, phàm đối với thánh, tăng đối với tục, già đối với trẻ và lớn đối với nhỏ. 3. Tự tính khởi dụng: Có 19 cặp đối nhau: Dài đối với ngắn, tà đối với chính, si đối với tuệ, ngu đối với trí, loạn đối với định, lành đối với độc, giới đối với lỗi, thẳng đối với cong, thực đối với hư, hiểm đối với bình, phiền não đối với bồ đề, thường đối với vô thường, bi đối với hại, mừng đối với giận, xả bỏ đối bỏn sẻn, tiến đối với lui, sinh đối với diệt, phápthân đối với sắc thân và hóa thân đối với báo thân... Lục tổ đại sư pháp bảo đàn kinh (Đại 48, 360 trung) nói: Nếu hiểu và ứng dụng được 36 đối pháp này thì hiểu thấu tất cả kinh pháp, ra vào lìa được 2 bên; hoạt động theo tự tính, nói năng với mọi người. Bên ngoài đối với tướng lìa tướng, bên trong đối với không lìa không. Nếu chỉ chấp tướng thì mãi mãi ở trong tà kiến, nếu chỉ chấp không thì mãi mãi sống trong vô minh. Vậy làm thế nào mà ứng dụng đúng 36 đối pháp này để đạt được nghĩa Trung đạo? Đức Lục tổ dạy tiếp (Đại 48, 360 hạ): Nếu có người hỏi về nghĩa lí, hễ họ hỏi hữu thì đáp bằng vô, hỏi vô thì đáp bằng hữu, hỏi phàm thì đáp thánh, hỏi về thánh thì đáp bằng phàm. Hai bên (thiên lệch) làm nhân cho nhau mà phát sinh nghĩa Trung đạo. [X. Thiền học đích hoàng kim thời đại (Ngô kinh hùng)].

tam thập ngũ phật

(三十五佛) Ba mươi lăm đức Phật thường trụ trong tất cả thế giới ở 10 phương. Theo Tam thập ngũ Phật danh lễ sám văn thì 35 đức Phật gồm: 1. Phật Thích ca mâu ni. 2. Phật Kim cương kiên cố năng tồi, cũng gọi là Phật Kim cương bất hoại. 3. Phật Bảo diệm, cũng gọi là Phật Bảo quang. 4. Phật Long tự tại vương, cũng gọi là Phật Long tôn vương. 5. Phật Cần dũng quân, cũng gọi Phật Tinh tiến quân. 6. Phật Cần dũng hỉ, cũng gọi Phật Tinh tiến hỉ. 7. Phật Bảo hỏa. 8. Phật Bảo nguyệt quang. 9. Phật Bất không kiến, cũng gọi Phật hiện vô ngu. 10. Phật Bảo nguyệt. 11. Phật Vô cấu. 12. Phật Li cấu. 13. Phật Dũng thí. 14. Phật Tịnh hạnh, cũng gọi Phật Thanh tịnh. 15. Phật Phạm thí, cũng gọi Phật Thanh tịnh thí. 16. Phật Thủy vương, cũng gọi Phật Bà lưu na. 17. Phật Thủy thiên. 18. Phật Hiền cát tường, cũng gọi Phật Kiên đức. 19. Phật Vô lượng uy đức, cũng gọi Phật Chiên đàn công đức. 20. Phật Chiên đàn cát tường, cũng gọi Phật Vô lượng cúc quang. 21. Phật Quang cát tường, cũng gọi Phật Quang đức.22. Phật Vô ưu cát tường, cũng gọi Phật Vô ưu đức. 23. Phật Na la diên cát tường, cũng gọi Phật Na la diên. 24. Phật Hoa cát tường, cũng gọi Phật Công đức hoa. 25. Phật Liên hoa quang du hí thần thông. 26. Phật Tài cát tường, cũng gọi Phật Tài công đức. 27. Phật Niệm cát tường, cũng gọi Phật Đức niệm. 28. Phật Thiện xưng danh hiệu cát tường, cũng gọi Như Lai Thiện xưng danh công đức. 29. Phật Đế chàng phan vương, cũng gọi Như laiHồng viêm chàng vương. 30. PhậtĐấu chiến thắng, cũng gọi Như lai Thiện du bộ công đức. 31. PhậtDũng kiện cát tường, cũng gọi Như lai Đấu chiến thắng. 32.PhậtDũng kiệntiến, cũng gọi Như lai Thiện du bộ. 33.Phật Phổ biến chiếu diệu trang nghiêm cát tường, cũng gọi Như lai Chu táp trang nghiêm công đức. 34. Phật Bảo liên hoa du bộ, cũng gọi Như lai Bảo liên du bộ. 35. Phật Bảo liên hoa diệu trụ sơn vương, cũng gọi Như lai Bảo liên hoa thiện trụ Sa la thụ vương. Lời bạt trong Tam thập ngũ Phật danh lễ sám văn còn nói rằng những nhà tu hành Đại thừa ở Ngũ thiên trúc thường lễ sám 35 đức Phật này vào 6 thời trong ngày. Hiện nay, tín ngưỡng Tam thập ngũ Phật vẫn còn thịnh hành tại Tây tạng. [X. kinh Quyết định tì ni; hội Ưu ba li trong kinh Đại bảo tích Q.90; kinh Quán hư không tạngbồ tát; Pháp uyển châu lâm Q.86].

tam thập nhất sắc

(三十一色) Ba mươi mốt loại sắc. Tức cộng chung 13 loại hiển sắc, 10 loại hình sắc và 8 loại biểu sắc thành 31 loại sắc. Trong đó, 13 loại: Xanh, vàng, đỏ, trắng, ánh sáng, bóng, sáng, tối, khói, mây, bụi, móc và hư không là Hiển sắc, vì chúng lấy sự hiện rõ làm sắc; 10 loại: Dài, ngắn, vuông, tròn, to, nhỏ, cao, thấp, ngay ngắn và không ngay ngắn là Hình sắc, vì chúng lấy hình lượng làm sắc, còn 8 thứ là lấy, bỏ, co, duỗi, đi, đứng, ngồi và nằm là Biểu sắc, vì chúng lấy sựbiểu hiện rõ ràng làm sắc. (xt. Sắc).

tam thập nhật phật danh

(三十日佛名) Cũng gọi Tam thập Phật danh, Tam thập nhật bí Phật. Danh hiệu Phật và 30 ngày. Nghĩa là 30 vị Phật, Bồ tát được phối hợp với 30 ngày trong 1 tháng. Nghĩa này trong các kinh luận không thấy có, nhưng cứ theo Hư đường hòa thượng ngữ lục quyển 10 thì do Thiền sư Sư giới ở núi Ngũ tổ soạn vào khoảng đời Ngũ đại. Cách phối hợp ấy là: -Mồng 1 là PhậtĐịnh quang. -Mồng 2 là Phật Nhiên đăng. -Mồng 3 là Phật Đa bảo. -Mồng 4 là Phật A súc. -Mồng 5 là bồ tát Di lặc. -Mồng 6 là Phật Nhị vạn đăng. -Mồng 7 là Phật Tam vạn đăng. -Mồng 8 là Dược sư Như lai. -Mồng 9 là Phật Đại thông trí thắng. -Mồng 10 là Phật Nhật nguyệt đăng minh. -Ngày 11 là Phật Hoan hỉ. -Ngày 12 là Nan thắng Như lai. -Ngày 13 là bồ tát Hư không tạng. -Ngày 14 là bồ tát Phổ hiền. -Ngày 15 là Phật A di đà. -Ngày 16 là bồ tátĐà la ni. -Ngày 17 là bồ tát Long thụ. -Ngày 18 là bồ tát Quán thế âm. -Ngày 19 là bồ tát Nhật quang. -Ngày 20 là bồ tát Nguyệt quang. -Ngày 21 là bồ tát Vô tận ý. -Ngày 22 là bồ tát Thí vô úy. -Ngày 23 là bồ tát Đắc đại thế chí. -Ngày 24 là bồ tát Địa tạng. -Ngày 25 là bồ tát Văn thù sư lợi. -Ngày 26 là bồ tát Dược thượng. -Ngày 27 là Lô xá na Như lai. -Ngày 28 là Đại nhật Như lai. -Ngày 29 là bồ tát Dược vương. -Ngày 30 là Phật Thích ca mâu ni. [X. môn Xưng hô Thiền lâm tượng khí tiên].

tam thập nhị khí

(三十二器) Chỉ cho 32 pháp mà Bồ tát thành tựu. Vì 32 pháp này được sử dụng để thành biện sự và lí nên gọi làKhí. 1. Bồ đề tâm khí: Chỉ cho cái được Phật hộ trì. 2. Vô ngụy khí: Chuyên tâm chất phác chính trực. 3. Thiện căn khí: Tăng trưởng ý chí. 4. Bồ đề trụ khí(cũng gọiBồ đề căn khí): Tu tập hành đạo. 5. Đa văn khí: Chính ý tư duy. 6. Xuất đạo khí: Chỉ cho tuệ. 7. Tập nghĩa khí: Chỉ cho sự tiến thủ. 8. Đại phú khí: Chỉ cho sự bố thí. 9. Mãn nguyện khí: Chỉ cho sự giữ giới. 10. Tam thập nhị trượng phu tướng khí(gọi tắt: Đoan chính khí): Chỉ cho nhẫn nhục. 11. Nhất thiết Phật pháp khí: Chỉ cho tinh tiến. 12. Luyện tâm khí: Chỉ cho thiền định. 13. Độ chướng khí: Chỉ cho trí tuệ. 14. Đẳng chư chúng sinh khí: Chỉ cho đại từ. 15. Cứu bạt bần cùng khí: Chỉ cho đại bi. 16. Hỉ lạc Phật pháp khí: Chỉcho đại hỉ. 17. Xả li ái khuể khí: Chỉ cho đại xả. 18. Chư thiện căn khí: Chỉ cho thiện tri thức. 19. Bát nhã ba la mật khí: Chỉ cho tinh tiến đa văn. 20. Li phược ngại khí: Chỉ cho xuất gia.21. Thiểu sự vụ vô não loạn khí: Chỉ cho chỗ A lan nhã, tức nơi yên tĩnh. 22. Chư thiền định thần thông khí: ưa sự tĩnh lặng. 23. Hóa chúng sinh khí: Chỉ cho Tứ nhiếp pháp. 24. Tứ minh khí: Giữ gìn các pháp. 25. Văn nhất thiết vị văn pháp khí: Chỉ cho Đà la ni. 26. Đoạn nhất thiết nghi khí: Chỉ cho biện tài. 27. Kiến chư Phật khí(gọi tắt: Kiến Phật khí): Niệm Phật. 28. Hộ nhất thiết thiện căn khí: Không có tâm não hại. 29. Đoạn ngã kiến khí:Chỉ cho pháp không. 30. Xả chư sở trân khí: Chỉ cho nhân duyên. 31. Xả chư chướng ngại thụ kí khí: Chỉ cho vô sinh pháp nhẫn. 32. Vô úy khí: Địa vị Duyên bất thoái. [X. kinh Đại thụ khẩn na la vương sở vấn Q.4].

Tam Thập Nhị Tướng

(s: dvatriṃśan-mahāpurisa-lakṣaṇāni, p: dvattiṃsa-mahāpurisa-lakkhaṇāni, 三十二相): 32 loại hình tướng và dung mạo rất thù thắng của vị Chuyển Luân Thánh Vương cũng như Phật, còn gọi là 32 tướng của một bậc đại nhân, 32 tướng của bậc đại trượng phu, 32 tướng của bậc đại sĩ. Theotruyền thuyết của Ấn Độ ngày xưa, người nào có đầy đủ các tướng hảo như thế này sẽ trở thành Chuyển Luân Vương thống trị thiên hạ; nếu người ấy xuất gia thì sẽ khai ngộ vô thượng chánh giác. Về thứ tự tên gọi các tướng có nhiều thuyết khác nhau, nay y cứ theo quyển 4 của Đại Trí Độ Luận (大智度論), 32 tướng gồm: (1) Đứng an trụ dưới chân (s: su-pratiṣṭhita-pāda, 足下安平立): có nghĩa rằng lòng bàn chân của bằng phẳng, mềm mại, đứng trụ vững chắc trên mặt đất. Khi đức Phật còn đang hành đạo Bồ Tát, tu sáu ba la mật nên cảm được tướng mầu như vậy. Tướng này dẫn đến công đức có lợi ích. - (2) Dưới bàn chân có hai bánh xe (足下二輪): hay còn gọi là tướng nghìn bánh xe, tướng này có thể hàng phục được oán địch, ác ma, thể hiện công đức chiếu phá vô minh và ngu si. Khi nói chân có nghĩa là cả tay chân, nên gọi là tướng tay chân có vòng tròn (s: cakrāṅkita-hasta-pāda-tala). (3) Ngón tay dài (s: dīrghāṅguli, 長指): tức cả hai tay chân đều thon nhỏ, dài và thẳng, đó chính là do nhờ cung kính lễ bái các vị sư trưởng, phá trừ tâm kiêu căng ngã mạn nên cảm được tướng tốt như vậy. Nó thể hiện tuổi thọ lâu dài, có công đức khiến cho chúng sanh vui thích quy y theo. - (4) Gót chân rộng và bằng phẳng (s: āyata-pāda-pārṣṇi, 足跟廣平): hay còn gọi là tướng gót chân tròn đầy, gót chân dài. Nhờ có giữ giới, nghe pháp, siêng năng tu tập mà có được tướng này. Nó thể hiện công đức hóa độ và làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh cho đến đời tương lai. (5) Ngón tay ngón chân có màng lưới (s: jālāvanaddha-hasta-pāda, 手足指縵綱): hay còn gọi là tướng của vua chim nhạn giữa các ngón tay, nghĩa là giữa mỗi ngón tay và chân đều có lớp màng lưới giao nhau hình hoa văn, giống như vua loài chim nhạn khi dang móng vuốt ra liền hiện tướng này. Nhờ có tu tứ nhiếp pháp mà có được tướng như vậy. Nó có hiện ra hay mất đi một cách tự do tự tại, thể hiện công đức xa lìa phiền não, nghiệp ác, đạt đến bờ vô vi bên kia. - (6) Tay chân mềm mại (s: mṛdu-taruṇa-hasta-pāda-tala, 手足柔軟): nghĩa là tay chân vô cùng mềm mại, như lông mịn. Nhờ có dùng các thức ăn uống cao quý, y cụ cúng dường cho thầy mình, hay khi cha mẹ và thầy bị bệnh hoạn, nhờ hết mình gần gủi chăm sóc, hầu hạ nên có được tướng tốt như vậy. Nó thể hiện công đức mà đức Phật dùng bàn tay mềm mại từ bi để nhiếp độ những người thân hay xa lạ. (7) Mu bàn chân cao đầy (s: ucchaṅkha-pāda, 足趺高滿): hay còn gọi là mu bàn chân cao bằng, mu bàn chân thẳng dày. Nhờ tu phước, dũng mãnh tinh tấn nên có được tướng này, thể hiện công đức làm lợi ích cho chúng sanh và có tâm đại bi vô thượng. - (8) Bắp đùi tròn mềm như con nai chúa (s: aiṇeya-jaṅgha, 腨鹿王): có nghĩa là xương thịt bắp đùi tròn mềm như con sơn dương, do vì xưa kia chuyên tâm nghe pháp và diễn thuyết, nên có được tướng tốt như vậy. Nó thể hiện công đức tiêu diệt hết tất cả tội chướng. (9) Đứng thẳng tay dài quá gối (s: sthitānavanata-pralamba-bāhutā, 正立手摩膝): hay còn gọi là tướng tay buông xuống quá gối, đứng thẳng tay quá gối. Tướng này có được là nhờ xa lìa ngã mạn, khéo bố thí, không tham lam. Nó thể hiện công đức hàng phục hết thảy ác ma, thương xót xoa đầu chúng sanh. - (10) Nam căn ẩn kín (s: kośopagata-vasti-guhya, 陰藏): có nghĩa là nam căn dấu kín trong cơ thể như âm vật của con ngựa hay con voi. Tướng này có được là nhờ đoạn trừ tà dâm, cứu giúp các chúng sanh sợ hãi, v.v. Nó thể hiện công đức tuổi thọ lâu dài và có nhiều đệ tử. (11) Thân thể dài rộng (s: nyagrodha-parimaṇḍala, 身廣長等): thân Phật ngang rộng, phải trái, trên dưới, tất cả đều nhau, xung quanh thân tròn đầy, như cây Ni Câu Luật (s: nyagrodha, p: nigrodha, 尼拘律, Ficus indica), do vì ngài thường khuyên chúng sanh hành trì tam muội, làm việc bố thí không sợ hãi nên có được tướng tốt như vậy. Nó thể hiện công đức tự tại tôn quý của đấng pháp vương. (12) Lông hướng lên trên (s: ūrdhvaṃ-ga-roma, 毛上向): hay lông tóc của thân thể đều hướng về bên phải, có màu xanh nhạt, mềm mại. Tướng này có được do nhờ hành tất cả các pháp, có thể khiến cho chúng sanh chiêm ngưỡng, tâm sanh vui vẻ, có được lợi ích vô lượng. (13) Mỗi lỗ chân lông đều có lông mọc (s: ekaika-roma-pradakṣiṇāvarta, 一一孔一毛生): nghĩa là mỗi lỗ chân lông đều có lông mọc ra, lông ấy xanh như màu ngọc lưu ly, và nơi mỗi lỗ chân lông đều toát ra mùi thơm vi diệu. Tướng này có được là nhờ tôn trọng, cúng dường hết thảy chúng hữu tình, chỉ bày cho người không biết mệt mỏi, gần gủi người trí, dọn dẹp nhưng con đường gai góc. Người có được ánh sáng từ lỗ chân lông ấy có thể tiêu trừ 20 kiếp tội chướng. - (14) Thân thể vàng rực (s: suvarṇa-varṇa, 金色): hay gọi là có thân tướng vàng rực tuyệt diệu, da thân màu vàng rực, tức là thân Phật cũng như tay chân đều có màu vàng rực, giống như đài vàng tuyệt diệu làm trang nghiêm cho các báu vật. Tướng này có được nhờ xa lìa các sự tức giận, nhìn chúng sanh với con mắt hiền từ. Đức tướng này có thể khiến cho chúng sanh chiêm ngưỡng, chán bỏ vui thích, diệt tội, phát sanh điều thiện. (15) Thân phát ánh sáng lớn (大光): tức thân của Phật có ánh sáng chiếu khắp ba ngàn thế giới, bốn mặt xa đến 1 trượng. Tướng này có được nhờ phát tâm bồ đề lớn và tu tập vô lượng hạnh nguyện. Nó có thể trừ đi các hoặc, phá tan chướng ngại và thể hiện công đức có thể làm cho đầy đủ hết thảy các chí nguyện. (16) Da mềm mỏng (s: sūkṣma-suvarṇacchavi, 細薄皮): tức da mềm mỏng, trơn láng, không bị nhiễm bởi bụi nhơ. Do nhờ lấy các thứ y phục, phòng ốc, lầu gác sạch sẽ cho chúng sanh, xa rời người ác, gần gủi người trí mà có được tướng tốt này. Nó thể hiện sự bình đẳng, không nhơ nhớp của đức Phật, và công đức từ bi lớn hóa độ và làm lợi ích cho chúng sanh. (17) Bảy chỗ tròn đầy (s: saptotsada, 七處隆滿): có nghĩa là 7 chỗ gồm thịt ở hai tay, dưới hai chân, hai vai và cuống cổ đều tròn đầy, mềm mại. Tướng này có được nhờ không tham tiếc đồ vật mình yêu thích, đem cho chúng sanh. Nó thể hiện công đức làm cho hết thảy chúng sanh đạt được tướng này và tiêu diệt tội lỗi, sanh điều thiện. - (18) Dưới hai nách đầy đặn (s: citāntarāṃsa, 兩股下隆滿): hay dưới hai nách bằng phẳng và đầy đặn, có nghĩa rằng xương thịt dưới hai nách của đức Phật đầy đặn không khuyết. Tướng này có được nhờ đức Phật ban cho chúng sanh thuốc men, thức ăn uống và có thể tự khám bệnh cho mình. (19) Thân trên như sư tử (s: siṃha-pūrvārdha-kāya, 上身如師子): tức nữa phần trên của thân đức Phật rộng lớn, đi đứng nằm ngồi đều oai nghiêm, đoan chánh giống như con sư tử. Tướng này có được nhờ đức Phật trong vô lượng thế giới chưa bao giờ nới lời hai lưỡi, dạy người các pháp thiện, thực hành lòng nhân và sự hòa hợp, xa rời ngã mạn. Nó thể hiện công đức có dung mạo cao quý, đầy đủ lòng từ bi. - (20) Thân thẳng to lớn (s: ṛjugātratā, 大直身): có nghĩa rằng trong tất cả thân con người, thân Phật là to lớn nhất mà thẳng. Nhờ cho thuốc, khám bệnh, giữ gìn giới không sát sanh, không trộm cắp, xa rời sự kiêu căng ngã mạn, nên có được tướng tốt như vậy. Nó có thể khiến cho chúng sanh thấy nghe, chấm dứt khổ đau, đạt được chánh niệm, tu 10 điều thiện. (21) Vai tròn to (s: su-saṃvṛta-skandha, 肩圓好): tức hai vai tròn đầy, to lớn, ngay thẳng, thù thắng, tuyệt diệu. Tướng này có được nhờ thường hay làm tượng, tu bổ tháp, ban bố sự không sợ hãi. Nó thể hiện công đức vô lượng của sự diệt trừ các lậu hoặc và tiêu nghiệp chướng. - (22) Có bốn mươi răng (s: catvāriṃśad-danta, 四十齒): tướng này chỉ đức Phật có đầy đủ 40 cái răng, cái nào cũng ngay thẳng, trắng như tuyết. Nhờ xa rời nghiệp không nói lời hai lưỡi, nói lời xấu ác, tâm tức giận, tu tập sự bình đẳng và từ bi nên có được tướng tốt như vậy. Nó thường tỏa ra mùi thơm vi diệu. Tướng tốt này có thể ngăn chận nghiệp nói lời xấu ác của chúng sanh, diệt hết tội vô lượng và thọ nhận sự vui vẻ vô lượng. (23) Răng thẳng (s: sama-danta, 齒齊): nghĩa là răng đều, khít nhau, bằng phẳng, không to không nhỏ, giữa hai răng không có khoảng hở lọt qua một sợi lông. Tướng này có được nhờ lấy 10 điều thiện để hóa độ và làm lợi ích cho chúng sanh, cũng như thường hay tán dương công đức của người khác. Nó thể hiện công đức có thể làm cho được thanh tịnh, hòa thuận, tất cả quyến thuộc đều đồng tâm nhất trí. - (24) Răng trắng như ngà (s: suśukla-danta, 牙白): hay răng trắng như tuyết, ngài 40 cái răng ra, trên dưới đều có 2 răng khác, màu sắc của nó tươi trắng, sáng trong, nhọn sắc như đỉnh núi, cứng rắn như kim cương. Tướng này có được nhờ thường suy nghĩ đến các pháp thiện, tu tập lòng từ. Tướng tốt này có thể giúp phá tan ba thứ độc cứng chắc, ương ngạnh của chúng sanh. (25) Má như sư tử (s: siṃha-hanu, 獅子頰): tức hai má tròn đầy như má của con sư tử. Người thấy tướng này có thể trừ được tội sanh tử trong trăm kiếp và thấy được các đức Phật. - (26) Trong nước miếng có chất thơm ngon (s: rasa-rasāgratā, 味中得上味): ám chỉ trong miệng của đức Phật thường có mùi vị thơm ngon nhất trong các mùi vị. Tướng này có được nhờ thường xem chúng sanh như con mình, và lấy các pháp thiện hồi hướng để trọn thành chánh quả. Nó biểu hiện công đức của Phật mà có thể làm cho đầy đủ chí nguyện của chúng sanh. (27) Lưỡi dài rộng (s: prabhūta-tanu-jihva, 廣長舌): tức đầu lưỡi dài rộng, mềm mỏng, khi thè lưỡi ra có thể chạm đến tóc. Nhờ có tâm phát thệ nguyện rộng lớn, lấy hạnh đại bi mà hồi hướng khắp pháp giới, nên có được tướng tốt như vậy. Khi nhìn thấy được tướng này, người ta có thể diệt trừ được tội sanh tử của 24.000 kiếp, được gặp 80 ức các đức Phật và Bồ Tát thọ ký cho. - (28) Tiếng nói của Phạm Thiên (s: brahma-svara, 梵聲): tiếng nói tròn đầy như tiếng vang của trống trời, cũng giống như tiếng chim Ca Lăng Tần Già (s: karaviṅka, kalaviṅka; p: karavīka, 迦陵頻伽). Nhờ có nói lời chân thật, lời nói hay, chế ngự hết thảy những lời nói xấu ác mà có được tướng tốt như vậy. Người nghe được tiếng nói như vậy, tùy theo căn cơ của mình mà có được lợi ích, sanh khởi điều tốt, cảm nhận và đoạn trừ được quyền thật lớn nhỏ, tiêu trừ mọi nghi ngờ. (29) Mắt trong xanh (s: abhinīla-netta, 眞青眼): tức mắt Phật có màu trong xanh, như hoa sen xanh (s: utpala, p: uppala, âm dịch là Ưu Bát La [優鉢羅], 青 蓮). Nhờ đời đời kiếp kiếp lấy tâm từ bi, con mắt từ bi và tâm hoan hỷ ứng xử đối với người ăn xin, nên có được tướng tốt này. - (30) Lông mi như bò rừng (s: go-pakṣmā, 牛眼睫): tức lông mi ngay thẳng, không tạp loạn. Tướng này có được nhờ quán hết thảy chúng sanh như cha mẹ mình, lấy tâm của người con mà thương xót, yêu mến. (31) Có nhục kế trên đầu (s: uṣṇīṣa-śiraskatā, 頂髻): tức trên đỉnh đầu có nhục kế nhô lên. Tướng này có được nhờ dạy người thọ trì pháp 10 điều thiện và tự bản thân mình cũng thọ trì. - (32) Lông mi trắng (s: ūrṇā-keśa, 白毫): tức giữa hai khoảng cách của lông mày có lông mi trắng, mềm mại như bông Đâu La (s, p: tūla, 兜羅), dài 1 trượng 5 thước, xoắn lại về phía bên phải. Do vì nó thường phóng ra ánh sáng nên được gọi là hào quang. Do nhờ thấy chúng sanh tu pháp Tam Học mà xưng dương tán thán nên có được tướng tốt như vậy. Trên đây là 32 tướng tốt. Nếu như người nào làm 100 điều thiện mới có được 1 tướng tốt như vậy, cho nên được gọi là “bách phước trang nghiêm (百福莊嚴, trăm phước trang nghiêm”. Như trong Trung A Hàm Kinh (中阿含經), quyển 11, Tam Thập Nhị Tướng Kinh (三十二相經) thứ 2, có đoạn: “Nhược Thế Tôn vị chư Tỳ Kheo thuyết Tam Thập Nhị Tướng giả, chư Tỳ Kheo văn dĩ đương thiện thọ trì (若世尊爲諸比丘說三十二相者、諸比丘聞已當善受持, nếu Thế Tôn vì các Tỳ Kheo nói Ba Mươi Hai Tướng, các Tỳ Kheo nghe xong nên khéo thọ trì).” Hay trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經), Phẩm Đề Bà Đạt Đa (提婆達多品) thứ 12 cũng có đoạn: “Phật cáo chư Tỳ Kheo: 'Nhĩ thời vương giả, tắc ngã thân thị, thời tiên nhân giả, kim Đề Bà Đạt Đa thị; do Đề Bà Đạt Đa thiện tri thức cố, linh ngã cụ túc Lục Ba La Mật, từ bi hỷ xả, Tam Thập Nhị Tướng, Bát Thập Chủng Hảo, tử ma kim sắc, Thập Lực, Tứ Vô Sở Úy, Tứ Nhiếp Pháp, Thập Bát Bất Cọng, thần thông đạo lực, thành Đẳng Chánh Giác, quảng độ chúng sanh, giai nhân Đề Bà Đạt Đa thiện tri thức cố' (佛告諸比丘、爾時王者、則我身是、時仙人者、今提婆達多是、由提婆達多善知識故、令我具足六波羅蜜、慈悲喜捨、三十二相、八十種好、紫磨金色、十力、四無所畏、四攝法、十八不共、神通道力、成等正覺、廣度眾生、皆因提婆達多善知識故, Phật bảo các Tỳ Kheo: 'Vị vua lúc bấy giờ tức là thân ta, tiên nhân lúc ấy là Đề Bà Đạt Đa; do vì Đề Bà Đạt Đa là thiện tri thức, khiến cho ta đầy đủ Sáu Ba La Mật, từ bi hỷ xả, Ba Mươi Hai Tướng, Tam Mươi Loại Sắc Đẹp, sắc hình vàng tía, Mười Lực, Bốn Vô Úy, Bốn Nhiếp Pháp, Mười Tám Pháp Bất Cọng, đạo lực thần thông, thành Đẳng Chánh Giác, độ khắp chúng sanh, đều do Đề Bà Đạt Đa là thiện tri thức').”

Tam thập nhị tướng

三十二相; C: sānshíèr xiāng; J: sanjūni sō; S: dvātriṃśan mahā-puruṣa-lakṣaṇāni.|Ba mươi hai tướng đặc thù của một hóa thân Phật. Có nhiều kinh luận khác nhau miêu tả, trình bày ba mươi hai tướng này khác nhau, nhưng một trong những cách trình bày thường gặp nhất được tìm thấy trong Du-già sư địa luận (瑜伽師地論; s: yogācārabhū-mi-śāstra) bao gồm: |1. Lòng bàn chân phẳng (túc hạ an bình lập tướng 足下安平立相; s: supratiṣṭhita-pāda); 2. Bánh xe pháp dưới lòng bàn chân (túc hạ nhị luân tướng 足下二輪相; s: cakrāṅkita-hasta-pāda-tala); 3. Ngón tay thon dài (trường chỉ tướng 長指相; s: dīr-ghāṅguli); 4. Bàn chân thon (túc cân phu trường tướng 足跟趺長相; s: āyata-pāda-pārṣṇi); 5. Ngón tay ngón chân cong lại (thủ túc chỉ man võng tướng 手足指縵網相; s: jālāvanaddha-hasta-pāda); 6. Tay chân mềm mại (thủ túc nhu nhuyễn tướng 手足柔軟相; s: mṛdu-taruṇa-hasta-pāda-tala); 7. Sống (mu) chân cong lên (túc phu cao mãn tướng 足趺高滿相; s: ucchaṅkha-pāda); 8. Cặp chân dài thon như chân sơn dương (y-ni-diên-đoán tướng 伊泥延踹相; s: aiṇeya-jaṅgha); 9. Đứng thẳng tay dài quá đầu gối (正立手摩膝相; s: sthi-tānavanata-pralamba-bāhutā); 10. Nam căn ẩn kín (âm tàng tướng 陰藏相; s: kośopagata-vasti-guhya); 11. Dang tay ra rộng dài bằng thân mình (thân quảng trường đẳng tướng 身廣長等相; s: nyagrodha-parimaṇḍala); 12. Lông đứng thẳng (mao thượng hướng tướng 毛上向相; s: ūr-dhvaṃga-roma); 13. Mỗi lỗ chân lông có một cọng lông (nhất nhất khổng nhất mao sinh tướng 一一孔一毛生相; s: ekaika-roma-pradakṣiṇāvarta); 14. Thân vàng rực (kim sắc tướng 金色相; s: suvarṇa-varṇa); 15. Thân phát sáng (đại quang tướng 大光相); 16. Da mềm mại (tế bạc bì tướng 細薄皮相; s: sūkṣma-suvarṇa-cchavi); 17. Tay, vai và đầu tròn tương xứng (thất xứ long mãn tướng 七處隆滿相; s: sapta-utsada); 18. Hai nách đầy đặn (lưỡng dịch hạ long mãn tướng 兩腋下隆滿相; s: citāntarāṃsa); 19. Thân người như sư tử (thượng thân như sư tử tướng 上身如獅子相; s: siṃha-pūrvārdha-kāya); 20. Thân thẳng đứng (đại trực thân tướng 大直身相; s: ṛjugātratā); 21. Hai vai đầy đặn mạnh mẽ (kiên viên hảo tướng 肩圓好相; susaṃvṛta-skandha); 22. Bốn mươi cái răng (tứ thập xỉ tướng 四十齒相; s: catvāriṃśad-danta); 23. Răng đều (xỉ tề tướng 齒齊相; s: sama-danta); 24. Răng trắng (nha bạch tướng 牙白相; s: suśukla-danta); 25. Hàm sư tử (sư tử giáp tướng 獅子頰相; s: siṃha-hanu); 26. Nước miếng có chất thơm (vị trung đắc thượng vị tướng 味中得上味相; s: rasa-rasāgratā); 27. Lưỡi to dài (đại thiệt tướng 大舌相; s: prabhūta-tanu-jihva); 28. Tiếng nói tao nhã (phạm thanh tướng 梵聲相; s: brahma-svara); 29. Mắt xanh trong (chân thanh nhãn tướng 眞青眼相; s: abhinīla-netra); 30. Mắt giống mắt bò (ngưu nhãn tiệp tướng 牛眼睫相; s: go-pakṣmā); 31. Lông trắng giữa cặp chân mày (bạch mao tướng 白毛相; s: ūrṇā-keśa); 32. Một khối u trên đỉnh đầu (đỉnh kế tướng 頂髻相; s: uṣṇīṣa-śiraskatā).

tam thập nhị tướng

xem ba mươi hai tướng tốt. ; (三十二相) Phạm: Dvàtriôzan mahà-puruwalakwaịàni. Pàli: Dvattiôsa mahà-parisalakkhaịàni. Cũng gọi Tam thập nhị đại nhân tướng, Tam thập nhị đại trượng phu tướng, Tam thập nhị đại sĩ tướng, Đại nhân tam thập nhị tướng. Gọi tắt: Đại nhân tướng, Tứ bát tướng, Đại sĩ tướng, Đại trượng phu tướng. Chỉ cho 32 dung mạo thù thắng và hình tướng vi diệu của Chuyển luân thánh vương và thân Ứng hóa của Phật. Về thứ tự tên gọi 32 tướng thì có các thuyết khác nhau, ở đây ghi theo thứ tự trong luận Đại trí độ quyển 4 như sau: 1. Túc hạ an bình lập tướng (Phạm: Su-pratiwỉhita-pàda), cũng gọi Túc hạ bình mãn tướng, Lưỡng túc chưởng hạ giai tất bình mãn tướng. Tướng lòng bàn chân bằng phẳng mềm mại, đặt sát mặt đất khít khao, là tướng vi diệucảmđược nhờ Phật tu 6 Ba la mật khi hành đạo Bồ tát ở Nhân vị, tướng này biểu thị đức dắt dẫn, làm lợi ích. 2. Túc hạ nhị luân tướng, cũng gọi Thiên phúc luân tướng. Tướng bánh xe báu nghìn nan hoa bằng những vân thịt hiện ở giữa lòng bàn chân. Tướng này có công năng phá dẹp oán địch, ác ma, biểu trưng đức chiếu phá ngu si và vô minh. Có thuyết cho rằng Túc cũng chỉ cho cả chân lẫn tay, nên còn gọi Thủ túc luân tướng (Phạm: Cakràíkita-hasta-pàda-tala), Thủ chưởng luân tướng. 3. Trường chỉ tướng (Phạm: Dìrghàíguli), cũng gọi Chỉ tiêm trường tướng, Chỉ trường hảo tướng, Tiêm trường chỉ tướng. Chỉ cho tướng các ngón tay thon dài, ngay thẳng, là tướng do cung kính lễ bái Sư trưởng, diệt trừ tâm kiêu ngạo mà cảm được, biểu thị tướng sống lâu, khiến chúng sinh ưa thích qui y. 4. Túc cân quảng bình tướng (Phạm: Àgata-pàda-pafwni), cũng gọi Túc cân viên mãn tướng, Túc cân trường tướng, Cước cân trường tướng. Tướng gót chân đầy đặn tròn trịa, do trì giới, nghe pháp và siêng tu hạnh nghiệp mà được. Tướng này biểu thị cho đức giáo hóa làm lợi ích cho tất cả chúng sinh suốt đời vị lai. 5. Thủ túc chỉ man võng tướng (Phạm: Jàlàvanadha-hasta-pàda), cũng gọiChỉ gian nhạn vương tướng, Câu hữu võng man tướng, Chỉ võng man tướng. Tức giữa khoảng các ngón tay, ngón chân đều có màng nối dính với nhau, như chân ngỗng chúa, hễ xòe ngón tay, ngón chân ra thì thấy màng, không xòe thì không thấy. Tướng này là do tu Tứ nhiếp pháp, nhiếp trì chúng sinh mà cảm được, biểu thị đức lìa phiền não ác nghiệp, ẩn hiện tự tại vô ngại, đến bờ vô vi bên kia. 6. Thủ túc nhu nhuyến tướng (Phạm: Mfdu-taruịa-hasta-pàda-tala), cũng gọi Thủ túc như đâu la miên tướng, Thủ túc tế nhuyến tướng. Tức tướng tay chân rất mềm mại như lông tơ, là tướng có được do cúng dường bậc sư trưởng thức ăn uống thượng diệu, y phục, đồ dùng, hoặc đích thân hầu hạ và làm các việc như lau chùi, tẩy rửa... khi cha mẹ, sư trưởng lâm bệnh. Tướng này biểu thị cái đức dùng tay từ bi mềm mại của Phật nhiếp thủ chúng sinh thân cũng như sơ. 7. Túc phu cao mãn tướng (Phạm: Ucchaíkla-pàda), cũng gọi Túc phu long khởi tướng, Túc phu đoan hậu tướng, Túc phu cao bình tướng. Tức tướng mu bàn chân nổi lên cao tròn đầy đặn, là tướng cảm được nhờ Phật khi còn ở Nhân vị đã dũng mãnh tinh tiến tu phúc. Tướng này biểu thị cái nội đức đại bi vô thượng làm lợi ích cho chúng sinh. 8. Y nê diên thuyển tướng (Phạm: Aiịeya-jaígha), cũng gọi Thuyên như lộc vương tướng, Lộc vương thuyên tướng, Lưỡng thuyên lộc vương tướng. Tức tướng xương bắp đùi tròn nhỏ như xương đùi của nai chúa, là tướng cảm được do các kiếp quá khứ chuyên tâm nghe pháp và nói pháp. Tướng này biểu thị cái đức tất cả tội chướng đều đã tiêu diệt. 9. Chính lập thủ ma đằng tướng (Phạm: Sthitànavanata-pralamba-bàhutà), cũng gọi Thúy thủ quá tất tướng, Thủ quá tất tướng, Bình trụ thủ quá tất tướng. Tức khi đứng ngay ngắn, 2 tay rủ xuống, dài quá đầu gối. Tướng này do lìa ngã mạn, thích bố thí, không tham đắm mà cảm được, biểu thị các đức nhiếp phục tất cả ác ma, thương xót xoa đầu chúng sinh. 10. Âm tàng tướng (Phạm: Kozopagata-vasti-guhya), cũng gọi Mã âm tàng tướng, Âm mã tàng tướng, Tượng mã tàng tướng. Tức tướng nam căn ẩn kín trong mình, giống như sinh thực khí của loài ngựa (hoặc loài voi). Tướng này do đoạn trừ tà dâm và che chở cho chúng sinh trong lúc sợ hãi mà cảm được, biểu thị đức trường thọ và có nhiều đệ tử. 11. Thân quảng trường đẳng tướng (Phạm: Nyagradha-parimaịđala), cũng gọi Thân tung quảng đẳng như ni câu thụ tướng, Viên thân tướng, Ni câu lô đà thân tướng. Chỉ cho thân Phật ngang dọc, phải trái, trên dưới đều có hình lượng quân bình, chung quanh tròn trịa, đầy đặn như cây Ni câu luật. Tướng này do đức Phật thường khuyên chúng sinh tu hành Tam muội và thực hiện Vô úy thí mà cảm được, biểu thị cái đức vô thượng tôn quí tự tại. 12. Mao thượng hướng tướng (Phạm: Ùrdhvaô-ga-roma), cũng gọi Mao thượng toàn tướng, Thân mao hữu toàn tướng. Tất cả lông tóc của Phật từ đầu đến chân đều xoay về bên phải và có màu xanh biếc, rất mềm mại, óng mượt. Tướng này là do tu hành tất cả pháp lành mà cảm được, thường khiến cho chúng sinh chiêm ngưỡng đều sinh tâm hoan hỉ, được vô lượng lợi ích. 13. Nhất nhất khổng nhất mao sinh tướng (Phạm: Ekaika-roma-pradakwiịàvarta), cũng gọi Mao khổng nhất mao tướng, Khổng sinh nhất mao tướng, Nhất nhất mao tướng, Nhất khổng nhất mao bất tương tạp loạn tướng. Tức tướng mỗi lỗ chân lông mọc 1 sợi lông có màu lưu li xanh, mỗi lỗ chân lông đều toát ra mùi thơm vi diệu. Tướng vi diệu này cảm được là nhờ tôn trọng, cúng dường tất cả hữu tình, giáo hóa người không biết mỏi mệt, gần gũi bậc trí, dọn dẹp sạch sẽ đường sá gai gốc; ánh sáng của tướng vi diệu này có năng lực tiêu trừ tội chướng của 20 kiếp. 14. Kim sắc tướng (Phạm: Suvarịa- Varịa), cũng gọi Chân diệu kim sắc tướng, Kim sắc thân tướng, Thân bì kim sắc tướng. Thân Phật và tay chân đều có màu vàng ròng, như đài vàng trang nghiêm bằng các thứ báu vi diệu. Tướng này là do lìa các phẫn nộ, nhìn chúng sinh bằng ánh mắt từ bi mà cảm được. Đức tướng này có năng lực khiến chúng sinh khi chiêm ngưỡng thì chán bỏ ái lạc, diệt tội sinh thiện. 15. Đại quang tướng,cũng gọi Thường quang nhất tầm tướng, Viên quang nhất tầm tướng, Thân quang diện các nhất trượng tướng. Ánh sáng trên thân Phật nhậm vận chiếu soi, 4 phía mỗi phía đều chiếu xa 1 trượng. Tướng này là nhờ phát tâm Đại bồ đề, tu vô lượng hạnh nguyện mà cảm được, có năng lực trừ hoặc phá chướng, biểu thị cái đức tất cả chí nguyện đều viên mãn. 16. Tế bạc bì trướng (Phạm:Sùkwmasuvarịa-echavi), cũng gọi Bì phu tế nhuẫn tướng, Thân bì tế hoạt trần cấu bất trước tướng. Tức da mỏng mịn, bóng láng, tất cả bụi bặm không dính. Tướng này có được là do bố thí y phục, đồ dùng thanh tịnh và phòng xá, lầu gác... cho chúng sinh, xa lìa kẻ ác, gần gũi bậc trí... Tướng này biểu thị cái đức bình đẳng thanh tịnh, dùng đại từ bi giáo hóa làm lợi ích chúng sinh. 17. Thất xứ long mãn tướng (Phạm: Saptotsada), cũng gọi Thất xứ mãn kiên tướng, Thất xứ long tướng. Tức thịt ở 7 chỗ: Hai tay, dưới lòng 2 bàn chân, 2 vai và ở cổ đều đầy đặn, mềm mại. Tướng này là do xả bỏ những thứ mình yêu quí một cách không nuối tiếc để bố thí cho chúng sinh mà cảm được, biểu thị cái đức làm cho tất cả chúng sinh đều được diệt tội sinh thiện. 18. Lưỡng dịch hạ long mãn tướng (Phạm:Citàntaràôsa), cũng gọi Dịch hạ bình mãn tướng, Kiên bác viên mãn tướng. Xương thịt dưới 2 nách của Phật đầy đặn không lõm. Diệu tướng này có được là do Phật đã cho thuốc thang, thức ăn uống và đích thân săn sóc bệnh cho chúng sinh. 19. Thượng thân như sư tử tướng (Phạm: Siôha-purvàrdha-kàya), cũng gọi Thượng thân tướng, Sư tử thân tướng, Thân như sư tử tướng. Nghĩa là nửa thân trên của Phật rộng lớn, uy dung đi đứng ngồi nằm trang nghiêm giống như sư tử chúa. Do đức Phật trong vô lượng thế giới chưa từng nói 2 lưỡi, dạy người các pháp lành, mang lại những điều nhân ái, hòa thuận, xa lìa ngã mạn... mà cảm được tướng này, biểu thị cái đức uy dung cao quí, từ bi quảng đại. 20. Đại trực thân tướng (Phạm: Fjugàtratà), cũng gọi Thân quảng hồng trực tướng, Quảng hồng trực tướng, Đại nhân trực thân tướng. Nghĩa là trong tất cả mọi người, Phật có thân cao lớn, ngay thẳng nhất. Tướng này do cho thuốc, chẩn bệnh, không giết hại, không trộm cắp, xa lìa kiêu mạn mà cảm được; có năng lực khiến cho chúng sinh khi chiêm ngưỡng thì dứt khổ, được chính niệm, tu 10 điều thiện. 21. Kiên viên hảo tướng (Phạm: Susaôvfta-skandha), cũng gọi Kiên viên đại tướng, Lưỡng kiên bình chỉnh tướng. Tức tướng 2 vai tròn trịa, đầy đặn, thù thắng vi diệu. Nhờ tạo tượng, xây tháp, bố thí sự không sợ hãi mà cảm được tướng này, biểu trưng vô lượng công đức diệt trừ phiền não nghiệp chướng. 22. Tứ thập xỉ tướng (Phạm: Cartvàriôzad-danta), cũng gọi Khẩu tứ thập xỉ tướng, Cụ tứ thập xỉ tướng. Nghĩa là Phật có 40 chiếc răng, mỗi mỗi đều bằng nhau, đầy đặn và trắng như tuyết. Tướng này là do không nói 2 lưỡi, không nói ác, không có tâm nóng giận, tu tập từ bi bình đẳng mà cảm được. Từ hàm răng thường thoảng ra mùi thơm thanh tịnh, vi diệu. Diệu tướng này có năng lực ngăn chặn nghiệp ác khẩu của chúng sinh, diệt vô lượng tội, được vô lượng an lạc. 23. Xỉ tề tướng (Phạm:Sama-danta), cũng gọi Xỉ mật tề bình tướng, Chư xỉ tề mật tướng. Nghĩa là các cái răng đều đặn, không to không nhỏ, liền khít khau, không hở 1 mảy may. Do dùng pháp Thập thiện giáo hóa làm lợi ích chúng sinh, lại thường khen ngợi công đức của người khác mà cảm được tướng răng này; nó biểu thị cái đức có được quyến thuộc thanh tịnh, đồng tâm hòa thuận. 24. Nha bạch tướng (Phạm: Suzukladanta), cũng gọi Tứ nha bạch tịnh tướng, Xỉ bạch như tuyết tướng. Nghĩa là ngoài 40 răng, hàm trên và dưới mỗi hàm đều có 2 chiếc răng nanh màu sắc tươi trắng sáng sạch, sắc bén như mũi nhọn, cứng chắc như kim cương. Có được tướng này là nhờ thường tư duy về các pháp lành và tu các hạnh từ bi. Diệu tướng này có năng lực phá trừ tam độc mạnh mẽ bền chặt của tất cả chúng sinh. 25. Sư tử giáp tướng (Phạm:Siôhahanu), cũng gọi Giáp xa tướng, Giáp sa như sư tử tướng. Tức là 2 má đầy đặn như má sư tử. Người được thấy tướng này thì diệt trừ tội sinh tử trong 100 kiếp và được diện kiến chư Phật. 26. Vị trung đắc thượng vị tướng (Phạm:Rasa-rasàgratà), cũng gọi Đắc thượng vị tướng, Thường đắc thượng vị tướng, Tri vị vị tướng. Nghĩa là trong miệng đức Phật thường có mùi vị tối thượng trong các mùi vị. Tướng này là do coi tất cả chúng sinh như con một, lại đem các pháp lành hồi hướng bồ đề mà cảm được, nó biểu thị cái đức diệu pháp của Phật có năng lực thỏa mãn chí nguyện của tất cả chúng sinh. 27. Đại thiệt tướng (Phạm:Prabhùtatanu-jihva), cũng gọi Quảng trường thiệt tướng, Thiệt quảng bác tướng, Thiệt nhuyến bạc tướng. Tức là tướng đầu lưỡi rộng, dài, mỏng và mềm mại, khi thè ra thì che đến chân tóc. Tướng này là do phát tâm nguyện rộng lớn, đem hạnh đại bi hồi hướng pháp giới mà cảm được. Quán tưởng tướng này thì diệt được tội sinh tử trong trăm ức 8 vạn 4 nghìn kiếp sinh tử và được 80 ức chư Phật, Bồ tát thụ kí. 28. Phạm thanh tướng (Phạm: Brahma-svara), cũng gọi Phạm âm tướng, Thanh như phạm vương tướng. Tức tiếng Phạm âm viên mãn, thanhtịnhcủa Phật, vang dội như tiếng trống trời và êm hòa như tiếng chim Ca lăng tần già. Tướng này là do nói lời chân thật, lời đẹp đẽ, ngăn dứt tất cả lời nói xấu ác mà cảm được. Người nghe tùy theo căn khí đều được lợi ích sinh thiện, Đại thừa, Tiểu thừa, quyền pháp, thực pháp đều được dứt hoặc, trừ nghi.29. Chân thanh nhãn tướng (Phạm: Abhinìla-netra), cũng gọi Mục cám thanh sắc tướng, Cám nhãn tướng, Cám thanh nhãn tướng, Liên mục tướng. Tức mắt Phật có màu biếc như hoa sen xanh. Tướng này do đời đời kiếp kiếp khi bố thí, nhìn những người nhận của bố thí bằng ánh mắt từ bi và lòng hoan hỉ mà cảm được. 30. Ngưu nhãn tiệp tướng (Phạm:Gopakwmà), cũng gọi Nhãn tiệp như ngưu vương tướng, Nhãn như ngưu vương tướng, Ngưu vương tiệp tướng. Tướng lông mi tề chỉnh không tạp loạn. Tướng này do quán tưởng tất cả chúng sinh với tâm từ bi, thương xót che chở như cha mẹ thương nhớ đứa con một mà cảm được. 31. Đỉnh kế tướng (Phạm: Uwịìwaziraskatà), cũng gọi Đính thượng nhục kế tướng, Nhục kế tướng, Ô sắc nị sa tướng. Tướng đỉnh đầu có bướu thịt nổi lên như hình búi tóc. Tướng này do dạy người giữ gìn pháp Thập thiện và tự mình thụ trì mà cảm được. 32. Bạch mao tướng (Phạm: Ùrịàkeza), cũng gọi Bạch hào tướng, Mi gian hào tướng. Tức giữa 2 đầu chân mày có sợi lông trắng, mềm mại như đâu la miên (bông), dài 1 trượng 5 thước, cuộn tròn lại theo chiều bên phải. Vì sợi lông này thường phóng ra ánh sáng nên được gọi là Hào quang, Mi gian quang. Diệu tướng này do thấy chúng sinh tu giới, định, tuệ thì vui mừng, khen ngợi mà cảm được. Ba mươi hai tướng trên, làm 100 điều thiện thì được 1 diệu tướng gọi là Bách phúc trang nghiêm. [X. kinh Tam thập nhị tướng trong Trung a hàm Q.11; kinh Đại bát nhã ba la mật đa Q.381; kinh Bồ tát giới Q.9; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.1; luận Du già sư địa Q.49].

tam thập nhị ứng

(三十二應) Gọi đủ: Diệu tịnh tam thập nhị ứng nhập quốc độ thân. Chỉ cho 32 thân tướng màbồ tát Quán thế âm tùy theo các loại căn cơ ứng hiện ra để tế độ chúng sinh. Cứ theo kinh Thủ lăng nghiêm quyển 6 thì tướng thị hiện và nhân duyên ứng hóa(chúng sinh cần loại thân hình nào để được cứu độ thì Bồ tát liền ứng hiện loại thân hình ấy để thuyết pháp, khiến họ giải thoát) của bồ tát Quán thế âm như sau: 1. Phật thân ứng: Nếu khi thấy các Bồ tát vào Tam ma địa, tiến tu vô lậu, thắng giải hiện tiền, thì bồ tát Quán thế âm liền ứng hiện thân Phật ở trước họ để nói pháp cho nghe. 2. Độc giác ứng: Nếu các bậc Hữu học được tịch tĩnh diệu minh, thắng diệu hiển hiện viên mãn thìbồ tát Quán thế âm ứng hiện thân Độc giác ở trước các vị ấy để nói pháp cho nghe. 3. Duyên giác ứng: Đối với những người đã dứt 12 nhân duyên, tính thắng diệu của việc đoạn duyên hiển hiện viên mãn, thìbồ tát Quán thế âm ứng hiện thân Duyên giác trước những người ấy nói pháp cho nghe. 4. Thanh văn ứng: Đối với những người được Tứ đế không, tu đạo nhập diệt, tính thắng diệu hiển hiện viên mãn, Bồ tát liền ứng hiện thân Thanh văn nói pháp cho nghe. 5. Phạm vương ứng: Nếu những chúng sinh muốn tâm được sáng tỏ, không phạm dục trần, muốn thân được thanh tịnh, thì Bồ tát ứng hiện thân Phạm vương để nói pháp. 6.Đế thích ứng: Nếu các chúng sinh muốn làm Thiên vương thống lãnh chư thiên, Bồ tát liền ứng hiện thân Đế thích để nói pháp, khiến họ thành tựu. 7. Tự tại thiên ứng: Tự tại thiên là vị trời ở tầng trời thứ 5 thuộc cõi Dục. Nếu các chúng sinh muốn thân được tự tại du hành 10 phương thì Bồ tát liền ứng hiện thân Tự tại thiên để nói pháp cho nghe. 8. Đại tự tại thiên ứng: Đại tự tại thiên là vị trời đứng đầu tầng trời thứ 6 thuộc cõi Dục. Nếu các chúng sinh muốn mình được tự tại bay đi trong hư không thì Bồ tát liền hiện thân Đại tự tại thiên để nói pháp, khiến họ thành tựu. 9. Thiên đại tướng quân ứng: Nếu các chúng sinh muốn thống lãnh quỉ thần cứu hộ đất nước thì Bồ tát liền ứng hiện thân Thiên đại tướng quân để nói pháp. 10. Tứ thiên vương ứng: Tứ thiên vương là Trì quốc thiên vương ở phương đông, Tăng trưởng thiên vương ở phương nam, Quảng mục thiên vương ở phương tây và Đa văn thiên vương ở phương bắc. Nếu có chúng sinh muốn thống lãnh thế giới để bảo vệ và cứu hộ các chúng sinh thì Bồ tát liền hiện thân Tứ thiên vương nói pháp. 11. Tứ thiên vương thái tử ứng: Nếu các chúng sinh muốn sinh lên cõi trời, sai khiến quỉ thần thì Bồ tát liền ứng hiện thân Tứ thiên vương thái tử để nói pháp. 12. Nhân vương ứng: Nếu các chúng sinh thích làm vua cõi người thì Bồ tát liền ứng hiện thân Nhân vương để nói pháp cho nghe, khiến họ thành tựu. 13. Trưởng giả ứng: Nếu các chúng sinh thích đứng đầu dòng họ, được thế gian suy tôn, thì Bồ tát ứng hiện thân Trưởng giả nói pháp cho nghe. 14. Cư sĩ ứng: Nếu các chúng sinh thích bàn về danh ngôn, sống đời thanh tịnh thì Bồ tát ứng hiện thân cư sĩ nói pháp cho nghe. 15. Tể quan ứng: Nếu các chúng sinh muốn sửa sang đất nước, chỉnh đốn làng ấp, thì Bồ tát ứng hiện thân Tể quan nói pháp cho nghe, khiến họ thành tựu. 16. Bà la môn ứng: Nếu các chúng sinh ưa thích số thuật, sinh hoạt an nhàn thì Bồ tát ứng hiện thân Bà la môn nói pháp cho nghe. 17. Tỉ khưu ứng: Nếu có các thiện nam tử muốn học xuất gia, giữ các giới luật, thì Bồ tát ứng hiện thân tỉ khưu nói phápcho nghe. 18. Tỉ khưu ni ứng: Nếu các người thiện nữ muốn học xuất gia, giữ gìn giới cấm, thì Bồ tát ứng hiện thân tỉ khưu ni nói pháp cho họ nghe. 19. Ưu bà tắc ứng: Nếu có người thiện nam muốn giữ 5 giới, thì Bồ tát ứng hiện thân ưu bà tắc nói pháp cho họ nghe. 20. Ưu bà di ứng: Nếu có người thiện nữ, muốn thụ trì 5 giới thì Bồ tát ứng hiện thân ưu bà di nói pháp cho nghe. 21. Nữ chủ ứng: Nữ chủ tức vợ của Thiên tử. Nếu có người nữ lập thân nội chính để sửa sang nước nhà thì Bồ tát hiện thân Nữ chủ để nói pháp cho họ nghe. 22. Đồng nam ứng: Nếu có chúng sinh không hoại nam căn thì Bồ tát ứng hiện thân đồng nam để nói pháp cho họ nghe. 23. Đồng nữ ứng: Nếu có người xử nữ thích sống độc thân, không muốn lập gia đình thì Bồ tát liền hiện thân đồng nữ để nói pháp cho họ nghe. 24. Thiên ứng: Nếu có chư thiên muốn ra khỏi thiên luân(luân thường thứ bậc của các trời) thì Bồ tát ứng hiện thântrờiđể nói pháp. 25. Long ứng: Nếu có các rồng muốn ra khỏi loài rồng thì Bồ tát thị hiện thân rồng để nói pháp. 26. Dược xoa ứng: Dược xoa cũng gọi Dạ xoa. Nếu có Dược xoa muốn thoát khỏi bản luân (loài giống của mình) thì Bồ tát hiện thân Dược xoa nói pháp. 27. Càn thát bà ứng: Càn thát bà là thần âm nhạc của trời Đế thích. Nếu có Càn thát bà muốn thoát khỏi loài của mình, thì Bồ tát thị hiện thân Càn thát bà nói pháp cho nghe, giúp họ thành tựu nguyện vọng. 28. A tu la ứng: Nếu A tu la muốn thoát khỏi loài của mình thì Bồ tát ứng hiện thân A tu la để nói pháp cho nghe. 29. Khẩn na la ứng: Khẩn na la cũng gọi Nhân phi nhân, trên đầu có sừng, giống như người nhưng không phải người. Nếu Khẩn na la muốn thoát khỏi loài của mình thì Bồ tát ứng hiện thân Khẩn na la để nói pháp cho nghe. 30. Ma hầu la già ứng: Ma hầu la già tứclàloài trăn lớn. Nếu Ma hầu la già muốn thoát khỏi loài của mình thì Bồ tát liền hiện thân Ma hầu la già để nói pháp cho nghe. 31. Nhân ứng: Nếu các chúng sinh muốn làm thân người, tu các hạnh người, thì Bồ tát ứng hiện thân người để nói pháp cho nghe. 32. Phi nhân ứng: Phi nhân tức là loài quỉ, súc sinh... Nếu các phi nhân có hình, không hình, có tưởng, không tưởng, muốn thoát khỏi loài của mình, thì Bồ tát liền ứng hiện thân phi nhân để nói pháp cho nghe, giúp họ giải thoát. Trong các ứng thân trên đây thì Độc giác ứng, Duyên giác ứng trùngphức, Tứ thiên vương ứng, Tứ thiên vương thái tử ứng, Nữ chủ ứng... đều là thân tập hợp chứ không phải là 1 thân. Ba mươi hai ứng này là do Bồ tát dùng diệu lực của Tam muội văn huân, văn tu và vô tác mà thành tựu được 1 cách tự tại. Ba mươi hai ứng này về đại thể thì giống nhưng về tiểu tiết thì khác với 33 thân nói trong phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa. [X. kinh Đại tát già ni kiền tử sở thuyết Q.10; Quan âm nghĩa sớ Q.hạ; Pháp hoa huyền luận Q.10]. (xt. Tam Thập Tam Thân).

tam thập tam gian đường

(三十三間堂) Ngôi nhà 33 gian, một danh thắng của Phật giáo Nhật bản tại Kyoto. Vốn có tên làViện Liên hoa vương thuộc tông Thiên thai Nhật bản. Vì trong viện được ngăn chia ra làm 33 gian nên gọi là Tam thập tam gian đường. Trong Đại đường khoảng 120m của viện này an trí 1001 pho tượng Quan âm. Vào năm Trường khoan thứ 2 (1164), Thượng hoàng Hậu bạch hà sắc lệnh cho Bình thanh thịnh xây dựng viện này, phòng xá theo thứ tự đều nhau, đến niên hiệu Kiến trường năm đầu (1249) thì bị thiêu hủy. Năm Kiến trường thứ 3 (1251) viện này được tạo dựng lại, đó chính là kiến trúc hiện nay. Tượng bản tôn Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm là pho tượng lớn cao 3,3m, còn 28 pho tượng bộ chúng quyến thuộc củabồ tát Quán thế âm thì có hình dáng rất lạ và quí, biểu hiện nét đặc sắc của nghệ thuật điêu khắc thời Liêm thương.

tam thập tam quan âm

(三十三觀音) Ba mươi ba Quán âm. Tức chỉ cho 33 loại thân tướng màbồ tát Quán thế âm thị hiện để hóa độ chúng sinh. Đó là: 1. Dương liễu Quán âm: Ngồi trên sườn núi, tay phải cầm nhành dương liễu, biểu thị Tam muội dương liễu thủ của Thiên thủ Quán âm (Quán âm nghìn tay). 2. Long đầu Quán âm: Ngồi trên lưng con rồng ở trong đám mây, biểu thị thân Thiên long trong 33 thân tướng. 3. Trì kinh Quán âm: Ngồi trên sườn núi, tay phải cầm quyển kinh, biểu thị thân Thanh văn trong 33 thân tướng. 4. Viên quang Quán âm: Trên thân phóng ra ánh sáng, biểu thị ý Hoặc nạn khổ phép vua, khi hành hình sắp chết, nhờ sức niệm Quán âm, Đao liền gãy từng đoạn(văn phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa).5. Du hí Quán âm: Ngồi trong đám mây biểu thị ý Hoặc bị kẻ ác đuổi, rơi xuống núi Kim cương, nhờ sức niệm Quán âm, không tổn thương một mảy (văn trong Phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa). 6. Bạch y Quán âm: Trải cỏ ngồi trên mỏm đá, tay kết định ấn, biểu thị thân tỉ khưu, tỉ khưu ni trong 33 thân tướng. 7. Liên ngọa Quán âm: Chắp tay, ngồi trên lá sen, xoay mặt về phía trái, biểu thị thân tiểu vương trong 33 thân tướng. 8. Lang kiến Quán âm: Dựa núi, nhìn về dòng thác ở bên phải, biểu thị ý Giả sử khởi ác tâm, xô xuống hố lửa lớn, nhờ sức niệm Quán âm, hố lửa biến thành ao (văn trong phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa). 9. Thí dược Quán âm: Ngồi bên bờ ao, chăm chú nhìn hoa sen, biểu thị ý Hoặc ở núi Tu di, bị người xô đẩy xuống; nhờ sức niệm Quán âm, như mặt trời trong không(văn trong phẩm Phổ môn). 10. Ngư lam Quán âm: Ngồi trên lưng con cá lớn, nổi trên mặt nước, biểu thị ý Hoặc gặp ác La sát, rồng độc và quỉ dữ, nhờ sức niệm Quán âm, đều không dám làm hại(văn trong phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa). 11. Đức vương Quán âm: Ngồi xếp bằng trên núi, tay phải cầm nhành liễu, biểu thị thân Phạm vương trong 33 thân tướng. 12. Thủy nguyệt Quán âm: Đứng trên cánh sen nổi trên mặt nước, chăm chú nhìn bóng trăng trong nước, biểu thị thân Bích chiphật trong 33 thân tướng. 13. Nhất diệp Quán âm: Ngồi trong một lá sen nổi trên mặt nước, biểu thị tướng tể quan trong 33 thân tướng. 14. Thanh cảnh Quán âm: Dựa vào núi, bên trái có chiếc bình, trong bình cắm cành dương liễu, biểu thị thân Phật trong 33 thân tướng. 15. Uy đức Quán âm: Ngồi xoạc chân, tay trái cầm hoa sen, biểu thị thân Thiên đại tướng quân trong 33 thân tướng. 16. Diên mệnh Quán âm: Dựa mỏm đá trên bờ nước, tay phải chống vào má, biểu thị ý Nếu người muốn hại mình, bằng thuốc độc, chú thuật, nhờ sức niệm Quán âm, trở lại hại người ấy(văn phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa). 17. Chúng bảo Quán âm: Ngồi bình thân hướng về bên trái, biểu thị thân trưởng giả trong 33 thân tướng. 18. Nham hộ Quán âm: Ngồi ngay thẳng trong hang núi, biểu thị ý rắn rết cùng bò cạp, phun khói độc và lửa, nhờ sức niệm Quán âm, đều tìm đường bỏ chạy (Văn phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa). 19. Năng tĩnh Quán âm: Ở khoảng giữa vách núi, 2 tay đặt trên 1 núi, biểu thị ý Nếu có những người rabiển cả để tìm các vật báu như vàng, bạc, lưu li (...), giả sử thuyền bè của họ bị gió bão thổi tấp vào nước quỉ La sát. Trong đó dù chỉ có 1 người xưng niệm danh hiệu bồ tát Quán thế âm thì mọi người đều thoát khỏi được nạn La sát(văn phẩm Phổ minh kinh Pháp hoa). 20. A nậu Quán âm: Ngồi trên núi nhìn ra biển, biểu thị ý (Đại 9, 57 hạ) Hoặc trôi giữa biển lớn, gặp các nạn rồng cá, nhờ sức niệm Quán âm, sóng không nhận chìm được. 21. A ma đề Quán âm: Ngồi xoạc chân trên núi, biểu thị thân Tì sa môn trong 33 thân tướng. 22. Diệp y Quán âm: Trải cỏ ngồi trên núi, biểu thị thân Đế thích trong 33 thân tướng. 23. Lưu li Quán âm: Đứng trên cánh hoa sen nổi trên mặt nước, 2 tay cầm bát, biểu thị thân Tự tại thiên trong 33 thân tướng. 24. Đa la tôn Quán âm: Đứng trong đám mây, biểu thị ý (Đại 9, 57 hạ): Hoặc gặp oán giặc vây, cầm dao gậy muốn hại, nhờ sức niệm Quán âm, đều phát khởi lòng từ. 25. Cáp lợi Quán âm: Thị hiện trong con vọp, biểu thị thân Bồ tát trong 33 thân tướng. 26. Lục thời Quán âm: Tượng đứng, tay phải cầm kinh tiếng Phạm, biểu thị thân cư sĩ trong 33 thân tướng. 27. Phổ bi Quán âm: Tượng đứng, chéo áo bay phấp phới, biểu thị thân Đại tự tại thiên trong 33 thân tướng. 28. Mã lang phụ Quán âm: Tượng đứng, hình phụ nữ, biểu thị thân phụ nữ trong 33 thân tướng. 29. Hợp chưởng Quán âm: Tượng đứng, chắp tay, biểu thị thân Bà la môn trong 33 thân tướng. 30. Nhất như Quán âm: Ngồi trong đám mây, dáng đang bay đi, biểu thị ý (Đại 9, 58 thượng): Mây đen sấm sét vang, mưa đá lớn trút xuống, nhờ sức niệm Quán âm, tiêu tan trong chốc lát. 31. Bất nhị Quán âm: Đứng trên lá sen, 2 tay tréo nhau, biểu thị thân Chấp kim cương trong 33 thân tướng. 32. Trì liên Quán âm: Đứng trên lá sen, tay cầm 1 cọng hoa sen, biểu thị thân đồng nam đồng nữ trong 33 thân tướng. 33. Sái thủy Quán âm: Tượng đứng, tay trái cầm bát, tay phải cầm cành dương liễu, biểu thị ý (Đại 9, 56 hạ): Nếu bị nước lớn cuốn trôi mà niệm danh hiệu của Ngài thì liền được đến chỗ cạn. Trong 33 vị Quán âm, trừ 5 vị là: Bạch y, Thanh cảnh, Đa la tôn, Diệp y và A ma đề, còn lại đều là những hình tượng Quán âm được dân gian tin thờ và lưu truyền từ đời Đường về sau. [X. Phật tượng đồ vựng Q.2].

tam thập tam quá

(三十三過) Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho 33 lỗi của 3 chi Tông (mệnh đề), Nhân(lí do) và Dụ(thí dụ)do Tân nhân minh thành lập. Trong đó, Tông gồm 9 lỗi, Nhân gồm 14 lỗi và Dụ gồm 10 lỗi. 1. Chín lỗi thuộc Tông: a. Năm lỗi tương vi: Hiện lượng tương vi, Tỉ lượng tương vi, Tự giáo tương vi, Thế gian tương vi và Tự ngữ tương vi. b. Bốn lỗi bất cực thành: Năng biệt bất cực thành, Sở biệt bất cực thành, Câu bất cực thành và Tương phù cực thành. 2. Mười bốn lỗi thuộc Nhân: a. Bốn lỗi bất thành: Lưỡng câu bất thành, Tùy nhất bất thành, Do dự bất thành và Sở y bất thành. b. Sáu lỗi bất định: Cộng bất định, Bất cộng bất định, Đồng phần dị toàn bất định, Dị phần đồng toàn bất định, Câu phần bất định và Tương vi quyết định bất định. c. Bốn lỗi tương vi: Pháp tự tướng tương vi, Pháp sai biệt tương vi, Hữu pháp tự tướng tương vi và Hữu pháp sai biệt tương vi. 3. Mười lỗi thuộc Dụ: a. Năm lỗi thuộc Đồng dụ: Năng lập pháp bất thành, Sở lập pháp bất thành, Câu bất thành, Vô hợp và Đảo hợp. b. Năm lỗi thuộc Dị dụ: Sở lập pháp bất khiển, Năng lập pháp bất khiển, Câu bất khiển, Bất li và Đảo li. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ sao Q.41; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.8]. (xt. Nhân Thập Tứ Quá, Nhân Minh, Tông Cửu Quá, Dụ).

Tam thập tam thiên

xem cõi trời Ba mươi ba. ; 三十三天; C: sānshísān tiān; J: sanjūsan ten; S: trāyastriṃśa.|Ba mươi ba vị Thiên sống trên đỉnh của núi Tu-di, trong tầng trời thứ hai của sáu tầng trời cõi dục (Lục dục thiên 六欲天). Đế-thích thiên ngự tại trung tâm với tám vị Thiên khác ở mỗi hướng trong bốn hướng xung quanh.

tam thập tam thiên

(三十三天) Phạm: Tràyastriôzat-deva. Cũng gọi Đao lợi thiên. Cõi trời này có 33 tòa thành nên gọi là Tam thập tam thiên, là 1 trong 6 tầng trời thuộc cõi Dục. Theo vũ trụ quan của Phật giáo thì cõi trời này ở trên đỉnh núi Tu di, thuộc tầng trời thứ 2 của cõi Dục, 4 phía mỗi phía đều rộng 8 vạn do tuần, 4 góc trên đỉnh núi mỗi góc đều có 1 ngọn núi cao 500 do tuần; cõi trời này do thần Kim cương thủ dược xoa bảo vệ. Cung điện ở trung ương (thành Thiện kiến) là nơi ở của trời Đế thích, chung quanh phía ngoài thành, có 4 khu vườn là chỗ vui chơi của các người trời. Về mạn đông bắc thành có cây Viên sinh nở hoa rất thơm; phía tây nam thành có tòa nhà Thiện pháp, các chúng trời hội họp ở đây để bàn luận về pháp lí. Bốn phía mỗi phía đều có 8 thành, cộng chung với thành Trung ương là 33 thành, vì thế gọi là Tam thập tam thiên. Cứ theo kinh Chính pháp niệm quyển 25, sau khi mệnh chung, Phật mẫu Ma da phu nhân đã sinh lên cõi trời này, đức Phật đã lên đây nói pháp trong 3 tháng để độ cho mẫu thân. Tín ngưỡng Tam thập tam thiên và Diệm ma thiên đã thịnh hành rất sớm tại Ấn độ vào thời đại Phệ đà. [X. kinh Trường a hàm Q.18; Phật địa kinh luận Q.5; luận Đại trí độ Q.9; luận Câu xá Q.11]. (xt. Đao Lợi Thiên).

tam thập tam thân

(三十三身) Cũng gọi Tam thập tam ứng hóa thân. Chỉ cho 33 loại hóa thân mà bồ tát Quán thế âm thị hiện trong Tam muội để nhiếp thủ và làm lợi ích cho khắp cả chúng sinh. Ba mươi ba thân này được nói trong phẩm Quán thế âm bồ tát phổ môn kinh Pháp hoa, thứ tự như sau: 1. Thân Phật. 2. Thân Bích chiphật. 3. Thân Thanh văn. 4. Thân Phạm vương. 5. Thân Đế thích. 6. Thân Tự tại thiên. 7. Thân Đại tự tại thiên. 8. Thân Thiên đại tướng quân. 9. Thân Tì sa môn thiên. 10. Thân Tiểu vương. 11. Thân Trưởng giả. 12. Thân Cư sĩ. 13. Thân Tể quan. 14. Thân Bà la môn. 15. Thân Tỉ khưu. 16. Thân Tỉ khưu ni. 17. Thân Ưu bà tắc. 18. Thân Ưu bà di. 19. Thân Trưởng giả phụ nữ. 20. ThânCư sĩ phụ nữ. 21. Thân Tể quan phụ nữ. 22. Thân Bà la môn phụ nữ. 23. Thân Đồng nam. 24. Thân Đồng nữ. 25. Thân Trời. 26. Thân Rồng. 27. Thân Dạ xoa. 28. Thân Càn thát bà. 29. Thân A tu la. 30. Thân Ca lâu la. 31. Thân Khẩn na la. 32. Thân Ma hầu la già. 33. Thân Chấp Kim cương. Trong Bổ đà lạc hải hội vô thượng kí, 4 thân phụ nữ: Trưởng giả phụ nữ, Cư sĩ phụ nữ, Tể quan phụ nữ, Bà la môn phụ nữ được thay bằng 4 thân: Thân người, thân phi nhân, thân phụ nữ và thân đồng mục thiên nữ. Trong kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 6 thì không có 7 thân sau đây: Thân Tì sa môn thiên, thân Trưởng giả phụ nữ, thân Cư sĩ phụ nữ, thân Tể quan phụ nữ, thân Bà la môn phụ nữ, thân Ca lâu la và thân Chấp kim cương, nhưng lại thêm 5 thân: Thân Tứ thiên vương, thân Tứ thiên vương quốc thái tử, thân Nữ chủ, thân người và thân Phi nhân, rồi lại chia thân Bích chi phật làm 2 thân là thân Độc giác và thân Duyên giác. Còn trong kinh Pháp hoa tiếng Phạm và tiếng Tây tạng thì chỉ nêu có 16 thân. Lại nữa, phẩm Diệu âm bồ tát trong kinh Pháp hoa quyển 7 cũng nói bồ tát Diệu âm có 36 ứng thân, nhưng bản tiếng Phạm và tiếng Tây tạng đều chỉ nói có 33 thân. [X. kinh Đại tát già ni kiền tử sở thuyết Q.10; Quán âm nghĩa sớ Q.hạ; Pháp hoa huyền luận Q.10; Pháp hoa nghĩa sớ Q.12]. (xt. Tam Thập Nhị Ứng).

Tam Thập Thiếp Sách Tử

(三十帖册子, Sanjūjōsakushi): còn gọi là Chơn Ngôn Pháp Văn Sách Tử Tam Thập Thiếp (眞言法文策子三十帖), Hoằng Pháp Đại Sư Thỉnh Lai Pháp Văn Sách Tử Tam Thập Thiếp (弘法大師請來法文册子三十帖). Đây là bộ thư tịch quan trọng và có giá trị rất lớn đối với Chơn Ngôn Tông. Khi Không Hải Đại Sư sang nhà Đường, được thầy là Huệ Quả (惠果) truyền trao cho các nghi quỹ, pháp văn, khoảng hơn 140 loại khác nhau. Nhờ nhiều người giúp sức, Đại Sư đã chép thành chữ nhỏ, thâu lại thành khoảng 30 bức thiếp (bề dọc 15.0~18.2, bề ngang khoảng 13.5cm). Trong bản Tam Thập Thiếp Sách Tử Khám Văn (三十帖册子勘文) của Quán Hiền (觀賢) có ghi rõ truyền thừa cũng như ý nghĩa của bộ này, được bảo quản tại Tàng Kinh của Đông Tự (東寺, Tō-ji). Sau đó Chơn Nhiên đưa bộ này nộp vào Tàng Kinh của Cao Dã Sơn. Sau khi ông qua đời, Vô Không (無空), người thay thế chức Tọa Chủ của Thọ Trường (壽長), lấy ra đem theo về Vi Đề Tự (圍堤寺) ở vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro) và viên tịch tại đây. Sau này đệ tử của ông cũng không hoàn trả bộ này lại cho Cao Dã Sơn, vì vậy tương truyền rằng Đằng Nguyên Trọng Bình (藤原仲平) đã dùng quyền lực của mình để lấy lại đem nộp vào Đông Tự. Trên nắp đậy cái thùng đựng các bức thiếp này do triều đình ban tặng, có dòng chữ ghi thành 2 hàng rằng: “Nạp Chơn Ngôn A Xà Lê Không Hải Nhập Đường Cầu Đắc Pháp Văn Sách Tử Chi Sương (納眞言阿闍梨空海入唐求得法文册子之箱).” Từ đó về sau, Đông Tự bảo quản bộ này rất nghiêm mật. Đến năm 1186 (niên hiệu Văn Trị [文治] thứ 2), thể theo lời thỉnh cầu của Thân Vương Thủ Giác (守覺) ở Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji), bộ Tam Thập Thiếp Sách Tử lại được cho mượn ra ngoài, cuối cùng không hoàn trả lại cho Đông Tự, và hiện tại trở thành Quốc Bảo của Nhân Hòa Tự. Vào năm 1341 (niên hiệu Lịch Ứng [曆應] thứ 4), Cảo Bảo (杲寶) của Đông Tự tiến hành sao chép lại bộ này; rồi đến năm 1678 (niên hiệu Diên Bảo [延寶] thứ 6), thể theo nguyện vọng của Thật Tú (實秀)—Môn Chủ của Vô Lượng Thọ Viện (無量壽院) trên Cao Dã Sơn—10 học sinh chép kinh tiến hành sao chép bộ này vào năm sau. Hiện tại bộ này đã được san hành dưới nhiều hình thức khác nhau.

tam thập thiếp sách tử

(三十帖策子) Cũng gọi Chân pháp văn sách tử tam thập thiếp, Tam thập thiếp sách tử, Tam thập thiếp thảo tử. Tập pháp ngữ gồm 30 thếp(giấy bản) theo hình thức nhỏ, là di vật quan trọng của tông Chân ngôn Nhật bản. Đây là tập sách viết bằng mực do Đại sư Hoằng pháp (774-835) chép các kinh quĩ và văn pháp trong thời gian ngài ở Trung quốc rồi mang về Nhật bản. Toàn bộ 30 thếp được viết bằng nhiều thể chữ: Khải thư(viết ngay ngắn, rõ ràng), Hành thư(viết hơi đá thảo), Thảo thư(lối viết nhanh)... Di phẩm này hiện được cất giữ ở chùa Nhân hòa tại Nhật bản.

Tam thập thất Bồ-đề phần

xem Ba mươi bảy pháp trợ đạo.

Tam thập thất giác phần

xem Ba mươi bảy pháp trợ đạo.

Tam thập thất trợ đạo chi pháp

xem Ba mươi bảy pháp trợ đạo.

Tam thập thất đạo phẩm

xem Ba mươi bảy pháp trợ đạo. ; 三十七道品; C: sānshíqī dàopǐn; J: sanjū-nanadōhin;|Ba mươi bảy thành phần hỗ trợ con đường giác ngộ, là những cách tu tập giúp hành giả đạt bồ-đề. Chúng bao gồm: Tứ niệm xứ (四念處), Tứ chính cần (四正勤), Tứ thần túc (四神足), Ngũ căn (五根), Ngũ lực (五力), Thất giác chi (七覺支) và Bát thánh đạo (八聖道).

tam thập thất đạo phẩm

(三十七道品) Đạo phẩm, Phạm: Bodhi-pàkwika. Cũng gọi Tam thập thất giác chi, Tam thập thất bồ đề phần, Tam thập thất trợ đạo pháp, Tam thập thất phẩm đạo pháp. Chỉ cho 37 phương pháp tu hành tiến tới cảnh giới Niết bàn. 37 đạo phẩm được chia làm 7 khoa như sau: 1. Tứ niệm xứ(cũng gọi Tứ niệm trụ): a. Thân niệm xứ: Tức quán tưởng sắc thân này đều là chẳng sạch. b. Thụ niệm xứ: Quán xét các cảm nhận khổ, vui... đều là khổ. c. Tâm niệm xứ: Quán xét tâm thức này niệm niệm sinh diệt, không thường trụ. d. Pháp niệm xứ: Quán xét các pháp do nhân duyên sinh, không có tính cách tự chủ, tự tại, đó là các pháp vô ngã. 2. Tứ chính cần(cũng gọi Tứ chính đoạn): a. Điều ác đã sinh phải diệt trừ hẳn. b. Điều ác chưa sinh không cho sinh ra. c. Điều thiện chưa sinh phải làm cho phát sinh. d. Điều thiện đã sinh phải làm cho tăng trưởng. 3. Tứ như ý túc(cũng gọi Tứ thần túc): a. Dục như ý túc: Mong cầu pháp mình tu được đầy đủ như nguyện. b. Tinh tiến như ý túc: Đối với pháp mình tu 1 lòng chuyên chú, không có xen tạp, được đầy đủ như nguyện. c. Niệm như ý túc: Đối với pháp mình tu ghi nhớ không quên, đầy đủ như nguyện. d. Tư duy như ý túc: Tâm ghi nhớ pháp mình tu không để quên mất, được đầy đủ như nguyện. 4. Ngũ căn, Căn nghĩa là năng sinh; 5 căn này có khả năng sinh ra các thiện pháp. a. Tín căn: Tin sâu chính đạovà pháp trợ đạo thì có thể sinh ra tất cả pháp vô lậu thiền định giải thoát. b. Tinh tiến căn: Đối với chính pháp, tu tập không gián đoạn, không xen tạp. c. Niệm căn: Đối với chính pháp, ghi nhớ không quên. d. Định căn: Thu nhiếp tâm, không để tán loạn, 1 lòng tịch định, đó là định căn. 5. Tuệ căn (Phạm: Prajĩendriya): Ở trong định khởi trí quán, biết rõ chân lí như thực. Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 16 thì 5 căn này theo thứ tự còn có tác dụng đối trị với bất tín, giải đãi (biếng nhác), phóng dật (buông thả), trạo cử (xao động) và phiền não vô minh. 5. Ngũ lực, lực tức lực dụng, có công năng phá ác thành thiện. a. Tín lực: Tín căn tăng trưởng, có năng lực phá các nghi hoặc. b. Tinh tiến lực: Tinh tiến căn tăng trưởng, có công năng phá sự biếng nhác của thân tâm. c. Niệm lực: Niệm căn tăng trưởng, có công năng phá các tà niệm, thành tựu công đức chính niệm xuất thế. d. Định lực: Định căn tăng trưởng, có công năng phá các loạn tưởng, phát khởi các thiền định. 6. Thất giác phần(cũng gọi Thất giác chi, Thất giác ý): a. Trạch pháp giác phần: Có khả năng lựa chọn các pháp chân ngụy. b. Tinh tiến giác phần: Tu các đạo pháp, không có gián tạp. c. Hỉ giác phần: Khế ngộ chân như, tâm được hoan hỉ. d. Trừ giác phần: Có khả năng đoạn trừ các phiền não kiến chấp. e. Xả giác phần: Có khả năng lìa bỏ cảnh giới kiến chấp đắm trước. f. Định giác phần: Có khả năng rõ biết thiền định phát được. g. Niệm giác phần: Có khả năng tư duy về đạo pháp mình tu tập. 7. Bát chính đạo(cũng gọi Bát thánh đạo, Bát đạo đế): a. Chính kiến: Có khả năng thấy chân lí. b. Chính tư duy: Tâm không nghĩ điều tà bậy. c.Chính ngữ: Lời nói chân thật không hư dối. d. Chính nghiệp: Trụ nơi thiện nghiệp thanh tịnh. e. Chính mệnh: Theo pháp xin ăn để nuôi thân mệnh. f. Chính tinh tiến: Tu các đạo hạnh không xen lẫn. g. Chính niệm: Chuyên tâm nhớ nghĩ thiện pháp. h. Chính định: Thân tâm vắng lặng trụ nơi lí chân không. [X. kinh Tạp a hàm Q.26, 27, 28; luận Câu xá Q.25; luận Đại tì bà sa Q.96; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.trung, hạ].

tam thập tứ tâm đoạn kết thành đạo

(三十四心斷結成道) Gọi tắt: Tam thập tứ tâm. Tức dùng 34 thứ tâm sát na dứt hếtphiền não để thành tựu Phật đạo. Bồ tát Tam tạng giáo khi Phù hoặc nhuận sinh(nghĩa là Bồ tát vì cứu độ chúng sinh nên không đoạn trừ phiền não mà, trái lại, nhờ sự giúp đỡ của phiền não để ở lại trong 3 cõi hầu làm lợi ích cho chúng sinh, nên gọi là Phù hoặc nhuận sinh. Đây là hạnh nguyện của Xiển đề đại bi), trải qua nhiều kiếp tu đủ 6 độ phạm hạnh, nhiêu ích hữu tình, cuối cùng, đến dưới gốc câyBồ đề, 1 niệm tương ứng, tuệ phát chân vô lậu trí thì dứt ngay tập khí Kiến, Tư bằng 8 nhẫn, 8 trí, 9 vô ngại, 9 giải thoát mà thành bậc Chính giác, cho nên gọi là Tam thập tứ tâm đoạn kết thành đạo. Theo luận Đại tì bà sa, trước khi Bồ tát đến ngồi dưới gốc cây bồ đề đã dùng trí Hữu lậu đoạn trừ Tu hoặc của 8 địa dưới, nhưng vì trí Hữu lậu không đoạn trừ được Kiến hoặc và Hoặc của Hữu đính địa, cho nên khi ngồi ở tòa Kim cương sắp thành đạo mới khởi trí vô lậu đoạn trừ Kiến hoặc và Hoặc của Hữu đính địa bằng 34 tâm. [X. luận Câu xá Q.5; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.trung, phần cuối].

Tam thập xả đọa

xem Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.

tam thắng học

(三勝學) Những điều kiện giúp cho 3 môn học Giới, Định, Tuệ được thêm thù thắng hơn.1. Tăng thượng giới học: Thụ trì đầy đủ các giới Đại thừa, Tiểu thừa, khắc phục các lỗi lầm, thành tựu uy nghi, đối với các giới pháp, có năng lực làm cho tăng thắng. 2. Tăng thượng tâm học: Xả bỏ các pháp bất thiện của cõi Dục, tiến vào Sơ thiền cho đến Đệ tứ thiền. Đối với các tâm định, có năng lực làm cho tăng thắng. 3. Tăng thượng tuệ học: Đối với các pháp Tứ thánh đế rõ biết 1 cách như thực và đối với các Thánh tuệ thì có năng lực làm cho tăng thắng. [X. luận Du già sư địa Q.28].

tam thắng nghĩa

(三勝義) Ba thứ nghĩa thù thắng. Tông Pháp tướng chia Chân đế làm Nghĩa thắng nghĩa, Đắc thắng nghĩa, Chính hành thắng nghĩa. Vì 3 nghĩa này lìa lời nói, siêu việt cácpháptướng, cho nên gọi là Thắng nghĩa, cũng gọi Đệ nhất nghĩa, hoặc Chân đế, đối lại với Tục đế. 1. Nghĩa thắng nghĩa: Nghĩa là cảnh giới, thể của cảnh giới này là Chân như. Trong 4 loại thắng nghĩa, Nghĩa thắng nghĩa thuộc về Chân thắng nghĩa thứ 4. 2. Đắc thắng nghĩa: Đắc nghĩa là chứng được; thể của nó là Niết bàn đã diệt sạch phiền não. Trong 4 loại thắng nghĩa, Đắc thắng nghĩa thuộc về Chứng đắc thắng nghĩa thứ 3. 3. Chính hành thắng nghĩa: Hành nghĩa là hành tướng; thể của nó là hành thắng cảnh, thuộc trí vô lậu. Trong 4 loại thắng nghĩa, Chính hành thắng nghĩa thuộc về Đạo lý thắng nghĩa thứ 2. [X. luận Biện trung biên Q.trung; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần đầu]. (xt. Tứ Chủng Thắng Nghĩa Đế).

Tam thế

xem ba đời. ; 三世; C: sānshì; J: sansei;|Ba thế giới; ba thời; ba thời dĩ vãng, hiện tại và vị lai (s: try-adhvan, try-adhvahak, loka-traya). Cũng gọi là Tam tế (三祭).

tam thế

(三世) Phạm: Trayo-dhvana#. Pàli:Tayo-addhà. Cũng gọi Tam tế, Khứ lai kim, Khứ lai hiện, Dĩ kim đương. Chỉ chung cho 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai. Nói một cách tổng quát thì quan điểm về 3 đời của các tông phái có 4 Thuyết sau: 1. Hữu bộ cho rằng pháp thể của các pháp hữu vi như sắc, tâm... tràn khắp 3 đời và có thật, cho nên bộ này gọi là Tam thế thực hữu, pháp thể hằng hữu. Nói theo quan điểm này thì pháp quá khứ và pháp hiện tại không cách nào an lập được. Về điểm này, phần nhiều do sự bất đồng về chủng loại, tướng trạng, vị trí, sự đối đãi mà có nhiều thuyết khác nhau. Trong đó, Hữu bộ lấy sự bất đồng về vị trí làm chính nghĩa và cho rằng pháp thể là thực tại có thật trùm khắp 3 đời, bản thân pháp thể tuy không có sự sai biệt về 3 đời, nhưng lấy tác dụng của nó làm tiêu chuẩn để lượng định thì pháp khi chưa khởi tác dụng gọi là Vị lai pháp, pháp hiện đang khởi tác dụng gọi là Hiện tại pháp và pháp đã khởi tác dụng thì gọi là Quá khứ pháp. Trên đây là nói theo thuyết Hiện tại tức là một sát na. 2. Đại chúng bộ và Kinh lượng bộ chủ trương chỉ có các pháp sinh khởi 1 sát na hiện tại là có thật, còn các pháp quá khứ và vị lai đều không có. Đó chính là chủ trương Quá khứ không, hiện tại có, có rồi lại không. Vì thế cho pháp quá khứ là đã có, pháp vị lai là sẽ có để thuyết minh 3 đời, đó gọi là Hiện tại có thực thể, quá khứ và vị lai không có thực thể. 3. Phái Duy thức dựa trên lập trường Quá khứ, vị lai không có thực thể mà chủ trương có 3 thứ tam thế: a. Đạo lí tam thế: Về pháp hiện tại, có nhân tướng đã có ở quá khứ và quả tướng sẽ có ở vị lai, cho nên đầy đủ quá khứ và hiện tại. b. Thần thông tam thế: Quá khứ, vị lai tuy chẳng phải có thật nhưng nương vào Túc mệnh trí(Túc mệnh thông)mà quán xét quá khứ, nương vào Tha tâm trí (Tha tâm thông) mà quán xét hiện tại, nương vào sinh tử trí(Thiên nhãn thông) mà quán xét vị lai, như vậy nương vào tam thế được hiển bày do sức thần thông để làm tướng phần của tâm thức ở sát na hiện tại. c. Duythức tam thế: Dựa theo sự hư vọng của tâm mê mà phân biệt tam thế, nhưng đây chỉ là tướng phần do tâm thức của hiện tại biến hiện. 4. Tông Hoa nghiêm lập thuyết Chín đời, Mười đời. Tức trong 3 đời, mỗi đời lại có 3 đời, tổng cộng là 9 đời, như quá khứ của quá khứ, cho đến vị lai của vị lai... đây kia giống nhau, đây kia hòa hợp(tương tức tương nhập) và qui nạp vào trong 1 niệm. Chín đời cộng thêm 1 niệm là 10 đời, cho nên trong 10 huyền môn có lập Thập thế cách pháp dị thành môn. [X. kinh Hoa nghiêm Q.37 (bản 60 quyển); luận Đại tì bà sa Q.76, 77; luận Câu xá Q.20, 21; luận Dị bộ tông luân; luận Biện trung biên Q.1; Pháp hoa huyền luận Q.9; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4; Thành duy thức luận thuật kí Q.3, phần cuối]. (xt. Tam Thế Thực Hữu, Tam Sinh, Thời).

tam thế bất khả đắc

(三世不可得) Ba đời không có thực thể. Tức là các loại sự vật trong 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai, không có 1 sự tồn tại nào có thực thể, cho nên gọi là bất khả đắc. [X. phẩm Đệ tử kinh Duy ma cật; kinh Kim cương]. (xt. Tam Thế).

tam thế chư phật

(三世諸佛) Cũng gọi Nhất thiết chư Phật, Thập phương Phật, Tam thế Phật. Chư Phật 3 đời. Tức chỉ chung toàn thể chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai trong vũ trụ. Về tên gọi và số mục chư Phật được liệt kê trong kinh luận có khác nhau. Kinh A hàm quyển 1, kinh Tăng nhất a hàm quyển 45 và kinh Tạp a hàm quyển 34 nêu tên của 7 đức Phật đời quá khứ; kinh Di lặc đại thành Phật và kinh Di lặc há sinh nói về sự ra đời của đức Phật Di lặc ở vị lai; kinh Quyết định tì ni, văn Tam thập ngũ Phật danh lễ sám, kinh Đại bảo tích quyển 90... liệt kê tên của 35 đức Phật như Phật Thích ca...; kinh Quán Dược vương Dược thượng nhịbồ tát, kinh Quán Hư không tạng bồ tát... nêu tên 53 đức Phật đời quá khứ như Phật Phổ quang...; kinh Vô lượng thọ liệt kê 53 đức Phật đời quá khứ như Phật Đĩnh quang...; kinh Hiền kiếp quyển 6 thì liệt kê 1000 vị Phật xuất hiện trong Hiền kiếp; kinh Tam thiên Phật danh liệt kê 1000 vị Phật của kiếp Trang nghiêm ở quá khứ, 1000 vị Phật của Hiền kiếp ở hiện tại và 1000 vị Phật của kiếp Tinh tú trong vị lai; kinh Ngũ thiên ngũ bách Phật danh nêu tên của 5 nghìn 5 trăm vị Phật. Kinh Hiền kiếp quyển 8 nói rằng: Sau khi một nghìn đức Phật của Hiền kiếp xuất hiện thì có kiếp Đại danh xưng, trong kiếp ấy sẽ có 1000 vị Phật ra đời; sau kiếp Đại danh xưng, có kiếp Dụ tinh tú, trong kiếp ấy sẽ có 8 vạn vị Phật xuất hiện; sau kiếp Dụ tinh tú lại có kiếp Trùng thanh tịnh, trong kiếp ấy sẽ có 8 vạn 4 nghìn Phật ra đời. Cứ theo Quán vô lượng thọ kinh sớ của ngàiCát tạng, Đại thừa cho rằng: Nói về không gian thì có chư Phật tồn tại ở 10 phương, nói về thời gian thì có chư Phật xuất hiện khắp trong 3đời. Nhưng Tiểu thừa thì không chủ trương thuyết 10 phương, mà chỉ nói về Phật ở3 đời và chủ trương mỗi đời chỉ có 1 vị Phật. [X. Kinh Tín Phật công đức; kinh Quán vô lượng thọ; phẩm Phương tiện kinh pháp hoa]. (xt. Tam Thế).

tam thế gian

(三世間) Gọi đủ: Tam chủng thế gian. Ba loại thế gian: có 5 thuyết về Tam thế gian như sau: 1.Theo luận Đại trí độ quyển 70 thì Tam thế gian là: a. Ngũ ấm thế gian(cũng gọi Ngũ chúng thế gian, Ngũ uẩn thế gian): chúng sinh của loại thế gian này được hình thành bởi 5 pháp khác nhau, đó là: sắc, thụ, tưởng, hành và thức. b. Chúng sinh thế gian(cũng gọi Giả danh thế gian): chỉ cho chúng sinh do 5 uẩn giả danh cấu thành mỗi mỗi đều khác nhau. c. Quốc độ thế gian(cũng gọi Trụ xứ thế gian): các cõi nước mà chúng sinh của loại thế gian này nương ở mỗi mỗi đều khác nhau. 2.Theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 4, Tam thế gian là: a. Hành thế gian: Tất cả chúng sinh thuộc loại thế gian này đều nhờ ăn uống mà sống còn. b. Chúng sanh thế gian: Thế gian thường và vô thường. c. Xứ thế gian: Thế gian được chiếu soi bởi sự vận hành của mặt trời, mặt trăng. 3. Theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 17, Tam thế gian là: a. Khí thế gian: Chỉ cho khí thế giới là chỗ nương ở sống còn của hữu tình. b. Chúng sinh thế gian: Trong chính báo, chỉ trừ đức Phật, tất cả chúng sinh còn lại đều thuộc chúng sinh thế gian. Như đồng sinh chúng, dị sinh chúng... được Phật giáo hóa. c. Trí chính giác thế gian: Chỉ cho tam thân, thập Phật năng hóa. 4. Theo Nhiếp đại thừa luận thích quyển 15 (bản dịch đời Lương) Tam thế gian là: a. Thế gian: Chỉ cho Khổ, Tập trong 3 cõi.b. Xuất thế gian: Chỉ cho 3 cõi đã thoát khỏi Khổ, Tập. c. Xuất xuất thế gian: Chỉ cho Bát địa đến Phật địa, được thành Phật. 5. Theo luận Kim thất thập quyển thượng, Tam thế gian là: a. Thiên đạo: Chỉ cho chư thiên ở các cõi trời. b. Nhân đạo: Chỉ cho loài người sống trên mặt đất. c. Thú đạo: Chỉ cho loài cầm thú sống ở khoảng giữa trời và đất. Cứ theo luận Kim thất thập quyển thượng, trong Tự tính đế (Phạm: Prakfti) do sự hòa hợp nhiều hay ít của 3 đức: Tát đỏa (Phạm:Sattva), La xà (Phạm:Rajas) và Đa ma (Phạm: Tamas) mà có sự khác nhau về Tam thế gian: Nếu Tát đỏa nhiều thì là Thiên đạo; La xà nhiều thì là Nhân đạo; còn nếu Đa ma nhiều thì là Thú đạo. Thiên đạo chia ra 8 loại: Phạm thiên, Thế chủ, Thiên đế, Càn thát bà, A tu la, Dạ xoa, La sát và Quỉ thần; Thú đạo chia ra 5 loại: Bốn chân, bay, bò, đi, không chân... Nhân đạo thì chỉ có loài người. [X. luận Đại trí độ Q.47; Thập địa kinh luận Q.10; Hoa nghiêm kinh sớ Q.3; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.3; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.6].

tam thế giác mẫu

(三世覺母) Tên khác của bồ tát Văn thù. Văn thù đứng đầu về trí tuệ của các đức Như lai, trí tuệ lại là nguồn gốc giác ngộ của chư Phật 3 đời, vì vậy gọi là Tam thế giác mẫu(mẹ của sự giác ngộ trong 3 đời). (xt. Văn Thù Bồ Tát).

tam thế nghiệp

(三世業) Nghiệp ba đời. Tức chỉ cho 3 loại nghiệp phân chia theo thời gian mà nghiệp nhân được tạo ra. Đó là: 1. Quá khứ thế nghiệp: Nghiệp thiện, ác tạo ra ở đời quá khứ, chịu quả báo ở đời quá khứ, hiện tại, vị lai. 2. Hiện tại thế nghiệp: Nghiệp tạo ra ở đời hiện tại, chịu quả báo ở đời hiện tại, vị lai. 3. Vị lai thế nghiệp: Nghiệp tạo ra ở đời vị lai, không phải tạo ra ở hiện tại, nhưng chúng sinh chưa dứt phiền não, nhìn về vị lai, từ thân khẩu ý chắc chắn sẽ tạo các nghiệp thiện, ác, đó là Vị lai thế nghiệp. [X. luận Đại trí độ Q.24; Đại minh tam tạng pháp số Q.12].

tam thế nhân quả

(三世因果) Nhân quả ba đời. Tức lí nhân quả nghiệp cảm được thành lập suốt trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Bởi vì nghiệp tạo ra ở đời quá khứ là nhân, chiêu cảm quả ở hiện tại; rồi lại do nghiệp được tạo ở hiện tại làm nhân, chiêu cảm quả ở vị lai. Cứ như thế nhân quả nối nhau, sinh tử vô cùng, đó chính là tướng trạng lưu chuyển trong thế giới mê vọng. Bởi vậy, Thuyết nhất thiết hữu bộ đã dùng thuyết Nhân quả tam thế lưỡng trùng để giải thích 12 nhân duyên, tức cho rằng Vô minh, hành là nhân quá khứ chiêu cảm 5 quả ở hiện tại là thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thụ, lại lấy ái, thủ, hữu làm 3 nhân ở hiện tại chiêu cảm 2 quả sinh, lão tử ở vị lai. Đối với các tông giáo khác vốn chỉ bàn về 1 đời hiện tại, hoặc 2 đời hiện tại và vị lai, thuyết Tam thế nhân quả này thực là 1 đặc sắc lớn của giáo lí Phật giáo. [X. kinh Niết bàn Q.33 (bản Nam); kinh Vô lượng thọ Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.20; luận Câu xá Q.6, 9; luận Thành duy thức Q.8]. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên, Tam Thế, Nhân Quả, Báo Ứng).

tam thế như lai

(三世如來) Cũng gọi Tam thế Phật. Như lai trong 3 đời. Tức chỉ cho Phật Di đà, Phật Thích ca, Phật Di lặc được phối với 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Đức Thích ca là Phật về mặt lịch sử, cho nên gọi là Hiện tại Phật; đức Di đà là Phật của 10 kiếp đã qua, cho nên là Phật quá khứ; còn đức Di lặc thì trong 56 ức 7 nghìn vạn năm sau đây sẽ là Phật xuất hiện ở thế giới Sa bà này, cho nên gọi là Vị lai Phật. [X. Động thượng già lam tạp kí].

Tam thế Phật

三世佛|Ba thời Phật

tam thế tam thiên phật

(三世三千佛) Ba đời ba nghìn Phật. Tức 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai, trong mỗi đời đều có 1000 vị Phật. Trong kiếp Trang nghiêm quá khứ, Hiền kiếp ở hiện tại và kiếp Tinh tú ở vị lai, mỗi kiếp đều có 1000 đức Phật, cộng lại thành 3 đời 3 nghìn Phật. [X. kinh Tam thiên Phật danh; kinh Quán Dược vương Dược thượng]. (xt. Tam Thiên Phật).

tam thế thật hữu

(三世實有) Ba đời thật có. Tức là 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai thực sự tồn tại. Đây là giáo nghĩa do Thuyết nhất thiết hữu bộ thành lập. Theo luận Đại tì ba sa quyển 77, 4 vị Đại luận sư của Thuyết nhất thiết hữu bộ có 4 quan điểm về 4 vấn đế này như sau:1. Thuyết Loại hữu dị của ngài Pháp cứu cho rằng các pháp trong 3 đời chỉ khác nhau về hình loại chứ thực chất thì giống nhau. 2. Thuyết Tướng hữu dị của ngài Diệu âm, chủ trương khi các pháp chuyển biến thì mỗi pháp đều có tướng 3 đời, khi trụ ở đời quá khứ thì chính hợp với tướng quá khứ và lìa tướng của 2 đời kia. 3. Thuyết Vị hữu dị của ngài Thế hữu cho rằng các pháp trải qua 3 đời do vị(vị trí, tác dụng) mà có khác, chẳng phải thể có khác. Tức các pháp trải qua 3 đời tuy tên gọi có khác nhưng thể thì không khác. 4. Thuyết Đãi hữu dị của ngài Giác thiên chủ trương các pháp trước sau đối đãi nhau mà có tên gọi 3 đời. Sự luận chứng của 4 thuyết trên tuy có khác nhau nhưng đều chủ trương 3 đời là có thật, trong đó, thuyết Vị hữu dị của ngài Thế hữu là quan điểm chính thống của Thuyết nhất thiết hữu bộ. (xt. Tam Thế).

tam thế tâm

(三世心) Chỉ cho quá khứ tâm, hiện tại tâm và vị lai tâm. Tâm sinh diệt từng sát na, cho nên ở bất cứ 1 đời nào trong 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai đều không thể nắm bắt được tâm, gọi là Tam thế tâm bất khả đắc.Kinh Kim cương (Đại 8, 751 trung) nói: Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc.

tam thế tục

(三世俗) I. Tam Thế Tục. Ba pháp thế tục do tông Pháp tướng y cứ vào tính Biến kế, Y tha, Viên thành mà lập ra. Đó là: 1. Giả thế tục: Tính Biến kế sở chấp. Tức lấy thế tục làm tên và chỉ có cái tên suông chứ không có thể tính. Tương đương với Đệ nhất thế gian thế tục trong 4 tục. 2. Hành thế tục: Tính Y tha khởi. Hành là nghĩa trôi chảy, đổi dời, là hành hữu vi, thể tính là thế tục. Tương đương với Đệ nhị đạo lí thế tục, Đệ tam chứng đắc thế tục trong 4 tục. 3. Hiển liễu thế tục: Tính Viên thành thực. Tức đoạn trừ sự nhiễm ô của tính Y tha khởi và tính Biến kế sở chấp. Chỉ cho Chân như y cứ vào 2 Không môn này mà hiển bày, tương đương với Đệ tứ thắng nghĩa thế tục trong 4 tục. [X. luận Thành duy thức Q.8; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2]. II. Tam Thế Tục. Ba thứ thế tục được thành lập trong luận Hiển dương thánh giáo quyển 6: 1. Thế gian tục: Cái không có thực thể, chỉ có giả danh mà an lập, như ruộng vườn, nhà cửa... 2. Đạo lí tục: Cái có thực thể và nương vào thực thể ấy mà an lập như uẩn, giới, xứ... 3. Chứng đắc tục: Phương pháp nhằm đạt đến cảnh giới giác ngộ mà an lập, như quả Dự lưu... Ba thế tục trên đây tương đương với 3 thế tục trước trong 4 thế tục đế. [X. luận Biện trung biên Q.trung].

tam thế vô chướng ngại trí giới

(三世無障礙智戒) Cũng gọi Tam muội da giới, Tự tính bản nguyên giới. Gọi tắt: Tam giới. Chỉ cho giới Chân ngôn bí mật trụ nơi lí Tam tam bình đẳng, lấy tâm bồ đề thanh tịnhsẵn có làm giới thể và lấy pháp giới vô lượng vạn đức làm hành tướng. Giới này có công năng thành tựu trí thanh tịnh của Như lai, chư Phật 3 đời nhờ giới này mà chứng được bồ đề, cho nên gọi là Tam thế vô chướng ngại trí giới. Trước khi vào đàn, hành giả Chân ngôn thụ giới này để làm người dẫn đường, sau đó mới tiếp tục cử hành nghi thức quán đính. Người thụ trì giới này, trụ trong pháp môn thân, ngữ, ý tam mật bình đẳng thì vô lượng hí luận, tà kiến đều được trừ sạch. [X.kinhThủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.9; phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.5, 17]. (xt. Tam Muội Da Giới).

Tam thỉnh

三請; C: sānqǐng; J: sanshō;|Ba lời thỉnh cầu. Hỏi ba lần. Trong những bài kinh, đức Phật thường được thỉnh cầu ba lần trước khi ngài thuyết pháp.

tam thỉnh

(三請) Chỉ cho 3 lần xin đức Phật nói pháp. Phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Pháp hoa quyển 5 (Đại 9, 42 trung) nói: Lúc bấy giờ, đại chúng Bồ tát, đứng đầu là ngài Di lặc, chắp tay bạch Phật rằng: Bạch đức Thế tôn! Kính xinNgài hãy nói pháp ấy, chúng con sẽ tin nhận lời Ngài.Bạch như thế 3 lần rồi lại nói: Kính xin Phật nói pháp ấy, chúng con sẽ tin nhận lời Ngài. Lúc bấy giờ đức Thế tôn biết các Bồ tát đã 3 lần thỉnh không thôi, Ngài liền bảo rằng: Các ông hãy lắng nghe! Theo luận Pháp hoa quyển hạ thì Tam thỉnh có 3 ý nghĩa: 1. Vì muốn khiến đại chúng tìm cầu cảnh giới Phật sâu xa. 2. Vì muốn khiến đại chúng khởi tâm tôn trọng, chân thật muốn nghe. 3. Vì muốn khiến những người tăng thượng mạn rời khỏi pháp hội. [X. Pháp hoa kinh huyền tán Q.3, phần cuối].

tam thị kệ

(三是偈) Cũng gọi Tam đế kệ. Chỉ cho 1 bài kệ của phẩm Quán tứ đế trong Trung luận do ngài Long thụ soạn (Đại 30, 33 trung): Chúng nhân duyên sinh pháp Ngã thuyết tức thị vô Diệc vi thị giả danh Diệc thị Trung đạo nghĩa (Pháp do các duyên sinh Ta nói tức là không Đó chính là giả danh Cũng là nghĩa Trung đạo). Bài kệ này được xem là nghĩa chung của các kinh điển thuộc hệ Trung quán của họcpháiTrung quán. Nghĩa là tất cả các pháp thế gian đều do những thứ nhân duyên kết hợp sinh thành, hoàn toàn không có tự tính cố hữu; những sự vật thực tại mà con người nhận biết chỉ là các danh ngôn, khái niệm rỗng không được bày đặt ra, chứ chẳng có thực chất gì cả. Đối với các pháp do nhân duyên sinh, 1 mặt thừa nhận chúng chỉ là giả danh, mặt khác lại thấy suốt tính không của chúng, đó chính là Trung đạo. Các tông Tam luận, Thiên thai của Trung quốc ở thời đại Tùy, Đường đều đặc biệt phát huy bài kệ này mà hình thành hệ thống của mỗi tông.

Tam thời

三時; C: sānshí; J: sanji;|Ba thời; cách hệ thống hoá, phân chia giáo pháp của Phật Thích-ca Mâu-ni thành ba thời đoạn, ba chu kì: Chính pháp (正法); Tượng pháp (像法) và Mạt pháp (末法). Chính tượng mạt (正像末).

tam thời

(三時) I. Tam thời. Chỉ cho 3 thời kì chuyển biến, phát triển củagiáo pháp đức Phật, đó là: Chính pháp, Tượng pháp và Mạt pháp. (xt. Chính Tượng Mạt). II. Tam Thời. Chỉ cho 3 thời Hữu, Không, Trung. Tức chiếu theo nội dung mà chia giáo thuyết của đức Phật làm 3 loại là Hữu giáo, Không giáo, Trung đạo giáo và theo thứ tự gọi là Sơ thời thuyết pháp, Đệ nhị thời thuyết pháp, Đệ tam thời thuyết pháp. Đối với 3 thời này, tông Pháp tướng có 3 cách nhận xét khác nhau: 1. Chia theo thời gian thuyết pháp thực tế của đức Phật, gọi là Niên nguyệt tam thời.2. Chia theo nội dung và ý nghĩa của giáo pháp, gọi là Nghĩa loại tam thời: 3. Chia theo thời kỳ thuyết pháp khi đức Phật còn tại thế(Tại thế tam thời)và sự phát triển của Phật giáo sau khi đức Phật nhập diệt(Diệt hậu tam thời). (xt. Tam Thời Giáo). III. Tam Thời. Chỉ cho 3 thời: Chủng, Thục, Thoát. Đây là thuyết của tông Thiên thai Trung quốc và của tông Nhật liên, Nhật bản. Ba thời này chia theo sự giáo hóa của đức Phật và chúng sinh được lợi ích. (xt. Chủng Thục Thoát). IV. Tam Thời. Chỉ cho Tam tế thời. Ở Ấn độ, một năm được chia làm 3 mùa: Nhiệt tế thời (mùa nóng), Vũ tế thời(mùa mưa) và Hàn tế thời(mùa lạnh). (xt. Lịch). V. Tam Thời. Ấn độ chia một ngày đêm làm 6 thời, tức ngày 3 thời và đêm 3 thời. Ngày 3 thời là sáng sớm, giữa trưa và chiều hôm, đêm 3 thời là đầu đêm, nửa đêm và cuối đêm. Sáng sớm là khoảng 8 giờ trước ngọ, giữa trưa là 12 giờ đúng ngọ, chiều hôm là khoảng 4 giờ sau ngọ, đầu đêm là khoảng 8 giờ tối sau ngọ, nửa đêm là khoảng 12 giờ giữa đêm, cuối đêm là khoảng 4 giờ sáng. (xt. Lục Thời). VI. Tam Thời. Chỉ cho 3 thời quá khứ, hiện tại, vị lai. Cũng gọi Tam thế. (xt. Tam Thế).

tam thời chướng

(三時障) Nghiệp dị thục làm chướng ngại Tam thời. Tam thời chỉ cho lúc sắp được Nhẫn vị, quả Bất hoàn, quả Vô học. Tam thời chướng là: 1. Khi từ Đính vị của giai vị Tứ thiện căn sắp được Nhẫn vị thì chiêu cảm nghiệp 3 đường ác, trở thành cực chướng ngại. Bởi vì nếu đạt đến Nhẫn vị thì đã vượt qua được quả báo của 3 đường ác. 2. Khi sắp được quả Bất hoàn trong 4 quả thì nghiệp Dục giới hệ trở nên cực chướng ngại, chỉ trừ Tùy thuận hiện pháp thụ nghiệp(tạo nghiệp ở đời hiện tại, chịu quả báo ngay ở đời hiện tại). Đó là vì quả Bất hoàn là quả vị không còn trở lại trong cõi Dục nữa. 3. Khi sắp được quả A la hán thì nghiệp Sắc giới hệ và Vô sắc giới hệ trở nên cực kì chướng ngại, cũng trừ Tùy thuận hiện pháp thụ nghiệp. Đó là vì quả A la hán vĩnh viễn thoát li 3 cõi. Hệt như người sắp lìa bỏ nơi mình cư trú từ trước đến nay thì các chủ nợ trở thành cực chướng ngại, hiện muốn xa lìa 3 đường ác, cõi Dục và 3 cõi cho nên có các chướng ngại này. Nếu diệt trừ được chướng ngại này thì được tiến tới. [X. luận Câu xá Q.18; luận Đại tì bà sa Q.6; luận Thuận chính lí Q.61].

tam thời giáo

(三時教) Cũng gọi Tam thời giáo phán. Chỉ cho 3 thời kì của giáo pháp đức Phật được chia loại theo thời đại đức Phật thuyết pháp khác nhau và ý nghĩa cạn sâu của nội dung kinh điển. 1. Theo thuyết của tông Pháp tướng: Ngài Khuy cơ căn cứ vào phẩm Vô tự tính tướng trong kinh Giải thâm mật mà lập Tam thời giáo là: a. Đệ nhất thời giáo: Lúc đầu, vì những người phát tâm xu hướng Thanh văn thừa nên đức Thích tôn tuyên giảng lí Tứ đế, gọi là Đệ nhất thời Hữu giáo, chỉ cho lí Ngã không pháp hữu nói trong kinh A hàm. Nghĩa là các pháp tồn tại đều do nhân duyên sinh diệt, cho nên không có thực thể, nhưng những yếu tố cấu thành các pháp tồn tại thì có thật, vì thế gọi là Hữu giáo, chỉ cho Tiểu thừa giáo. b. Đệ nhị thời giáo: Vì những người phát tâm xu hướng Đại thừa nên đức Thích tôn tuyên giảng lí Các pháp đều không, như nói trong các kinh Bát nhã. Nghĩa là hết thảy các pháp xưa nay vốn là không, đó là giáo pháp phủ định, gọi là Không giáo, chỉ cho Đại thừa không tông. c. Đệ tam thừa giáo: Vì những người phát tâm xu hướng Nhất thiết thừa nên đức Thích tôn tuyên giảng nghĩa Trung đạo, như kinh Hoa nghiêm, kinh Giải thâm mật..., dùng thuyết Tam tính tam vô tính để bàn về chân ý của Không, khẳng định Trung đạo chẳng phải có chẳng phải không, cho nên gọi là Trung đạo giáo, chỉ cho Duy thức tông. Giáo này là Đại thừa giáo từ Tiểu thừa giáo tiến vào Đại thừa nên cũng gọi là Chân đại thừa giáo. Đệ nhất thời Hữu giáo và Đệ nhị thời Không giáo trong Tam thời giáo này được gọi là Phương tiện vị liễu nghĩa giáo(giáo pháp phương tiện tạm thời chứ chưa viên mãn, về nhiếp cơ cũng như giáo lí đều có những khiếm khuyết); trái lại, Đệ tam thời Trung đạo giáo được gọi là Chân thực liễu nghĩa giáo(giáo thuyết hoàn toàn, chân thực, cả về nhiếp cơ và giáo lí đều viên mãn). Tam thời giáo phán vốn do Luận sư Giới hiền người Ấn độ thành lập, tông Pháp tướng đối với Tam thời cũng có cách giải thích khác: Có thuyết Niên nguyệt tam thời được chia theo thời kì thuyết pháp thực tế của đức Phật, có thuyết Nghĩa loại tam thời được phán theo nội dung ý nghĩa sâu cạn khác nhau và có thuyết Kiêm đới tam thời chiết trung 2 thuyết Niên nguyệt và Nghĩa loại ở trước. [X. luận Thành duy thức Q.1, phần đầu; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm kinh sớ Q.1]. 2. Theo thuyết của tông Tam luận: Luận sư Trí quang người Ấn độ lập Tam thời giáo là: a. Sơ thời giáo: Tâm(chủ quan), cảnh (khách quan) đều là thực tại, vì thế tâm và cảnh đều có, chỉ cho Tiểu thừa giáo. b. Đệ nhị thời giáo: Chỉ có tâm là thực tại, cho nên là cảnh không tâm có, chỉ cho Đại thừa Pháp tướng. c. Đệ tam thời giáo: Tâm và cảnh đều không, chỉ cho Đại thừa vô tướng. Trong Tam thời giáo trên, Đệ tam thời giáo là Chân thực liễu nghĩa giáo. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng]. (xt. Tam Thời, Tam Giáo).

Tam thời giáo phán

三時教判; C: sānshí jiāopàn; J: sanji kyōhan;|Cách phân loại giáo lí thành ba thời. Chỉ cách phân loại giáo lí của đức Phật Thích-ca Mâu-ni thành ba thời. Pháp tướng tông (法相宗) chủ trương ba thời giáo: Phật thuyết các pháp đều hiện hữu, đều trống không và Phật thuyết trung đạo. 1. Giáo lí của thời kì đầu (hữu) chủ trương tồn tại trên cơ sở nhân duyên, nhưng những thành phần (pháp) của sự tồn tại này thật sự tồn tại. Giáo lí này được giảng dạy trong những bộ kinh A-hàm và những bộ kinh Tiểu thừa khác; 2. Giáo lí thời kì thứ hai, chủ trương nguồn gốc của tất cả vạn vật đều là trống không. Thời kì này cũng được gọi là »thời kì phủ định«, là thời điểm bắt đầu của giáo lí Đại thừa, chuyển đổi dần từ giáo lí Tiểu thừa. Kinh điển hệ Bát-nhã Ba-la-mật-đa là những ví dụ tiêu biểu cho giáo lí thời kì này; 3. Giáo lí thời kì thứ ba được gọi là »Chân không«: Trung đạo được giải thích một cách xác định trong những bộ kinh như Hoa nghiêm và Giải thâm mật. Thời kì này cũng được gọi là »Chân Đại thừa«.

tam thời hệ niệm

(三時繫念) Nhớ nghĩ 3 thời. Tức là một trong các pháp môn niệm Phật của tông Tịnh độ, do Quốc sư Trung phong đời Nguyên đề xướng, mục đích chủ yếu là cầu cho các vong linh được sinh về thế giới Cực lạc phương Tây, vĩnh viễn ra khỏi biển nghiệp mênh mông mờ mịt. Thời gần đây pháp môn này lưu hành rất rộng rãi, có xu hướng muốn thay thế nghi thức cúng thí ngã quỉ. Tam thời, một là chỉ cho buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều; hai là chỉ cho 3 thời: Thuyên nhất thiết hữu, Thuyên nhất thiết không và Thuyên nhất thiết trung. Nhưng người đời sau kết hợp 3 thời này làm một và phải thực hành xong trong khoảng thời gian một buổi chiều. Hệ niệm là 3 nghiệp thân, khẩu, ý quán tưởng văn kinh của kinh A di đà và luôn nhớ nghĩ đến việc sinh về Tịnh độ của Phật A di đà. Ngài Trung phong Minh bản có soạn 2 cuốn sách về Tam thời hệ niệm: Một là Tam thời hệ niệm nghi phạm, dùng cho việc kết hội tự tu; hai là Tam thời hệ niệm Phật sự, dùng cho việc tác pháp độ vong. Nội dungcủa 2 cuốn sách này đều gồm 7 phần: Tụng kinh, Trì danh, Giảng diễn, Hành đạo, Sám hối, Phát nguyện và Xướng tán, mỗi 1 thời cũng đều bao hàm 7 hạng mục này. Thời thứ nhất: Chỉ bảo cho hành giả (người sống cũng như người chết) biết rằng thế giới Cực lạc không có các nỗi khổ, người tu đạo nếu muốn tìm đường trở về thì chỉ cần nhìn vào cõi trần lao mà rõ tự tâm. Chúng sinh sở dĩ chịu khổ vô tận là từ tham dục mà ra, tham dục lại do quên mất tự tính, vọng tưởng lăng xăng mà có. Muốn lìa khổ được vui, sinh về Tịnh độ thì phải có đầy đủ 3 điều kiện là tín, nguyện và hành. Bởi vậy, hành giả phải có lòng tin sâu xa, nguyện vọng tha thiết và xưng niệm danh hiệu của đức Phật A di đà, tâm không tán loạn, lúc lâm chung tâm không điên đảo thì chắc chắn được vãng sinh Cực lạc Tịnh độ của Phật A di đà.Thời thứ hai: Chỉ bảo cho hành giả biết rằng tâm, Phật và chúng sinh không sai khác nhau, hiển bày Tịnh độ duy tâm, Di đà tự tính. Tuy pháp tính lặng lẽ tự nhiên, nhưng vô sinh mà sinh, nghiệp quả rõ ràng, vì thế chúng sinh vòng quanh trong các nẻo, lăn lộn trong 4 loài, cho nên hành giả phải phát lộ sám hối, tẩy sạch nghiệp nhơ, tăng trưởng căn lành, xả bỏ các duyên nghiệp mà cầu sinh về cõi nước Cực lạc, vĩnh viễn chấm dứt mọi khổ đau.Thời thứ ba: Khai thị cho hành giả biết công đức của 6 chữ hồng danh Nam mô A di đà Phật. Một câu danh hiệu A di đà Phật có năng lực dứt hết 6 căn, diệt trừ trọng tội sinh tử của 8 muôn ức kiếp. Giống như hạt ngọc trong sáng bỏ vào nước đục thì nước đục trong ngay, bởi thế hành giả chỉ cần cất lên một tiếng niệm danh hiệu Phật, bổ thẳng xuống giống như thanh kiếm Thái a chặt đứt hết vô minh phiền não, thẳng đến một lòng không rối loạn, năng sở đều dứt bặt thì thôi. Cứ như trên, 3 thời hệ niệm danh hiệu muôn đức của Phật A di đà, hạnh nguyện đã sâu, công không luống bỏ, thì chắc chắn được thác chất trong thai sen, lìa hẳn biển nghiệp, chứng thẳng A bệ bạt trí(Bất thoái), viên mãn Vô thượng bồ đề. [X. Trung phong quốc sư tam thời hệ niệm Phật sự].

tam thời hệ niệm nghi phạm

(三時繫念儀範) Gọi đủ: Trung phong tam thời hệ niệm nghi phạm. Tác phẩm, một quyển, do ngài Trung phong Minh bản soạn vào đời Nguyên, được thu vào Vạn tục tạng tập 128. Nội dung sách này, trước hết là các mục: Cử chú, vân tập tán, Đăng tọa kệ, đề cương, duyên khởi... kế đến là trình bày về Tam thời Phật sự. Thời Phật sự thứ nhất tụng kinh Đại a di đà quyển thượng, thời Phật sự thứ hai tụng kinh Đại a di đà quyển hạ, thời Phật sự thứ ba tụng kinh Quán vô lượng thọ, hoặc cả ba thời Phật sự đều tụng kinh Di đà. Mỗi thời đều theo thứ tự: Đề cương, giảng diễn, cử niệm, sám hối, phát nguyện và Tây phương tán hòa niệm. Giữa thời Phật sự thứ nhất và thứ hai, có cử hành nghi thức cúng Phật; giữa thời Phật sự thứ hai và thứ ba thì tu sám nghi Di đà. Cuối sách có phụ thêm bài văn khuyên người niệm Phật và nói về chính nhân niệm Phật...

tam thời luận môn

(三時論門) Liên kết 3 thời quá khứ, hiện tại và vị lai để thảo luận và nghiên cứu tất cả sự pháp. Phẩm Luận môn trong luận Thành thực (Đại 12, 248 trung) nói: Tam thời luận môn nghĩa là nếu trong việc này mà nói về sắc, thì nếu sắc đã có, sẽ có, đang có cũng đều gọi là sắc. Thức cũng như thế, nếu thức đã biết, sẽ biết, đang biết, đều gọi là thức. Nói về các pháp như vậy gọi là Tam thời luận môn.

tam thời toạ thiền

(三時坐禪) Ba thời ngồi thiền. Tức là Hoàng hôn tọa thiền, Tảo thần tọa thiền và Bô thời tọa thiền. 1. Hoàng hôn tọa thiền: Bắt đầu vào khoảng 8 giờ tối. 2. Tảo thần tọa thiền: Bắt đầu vào khoảng 10 giờ sáng. 3. Bô thời tọa thiền: Bắt đầu vào khoảng 4 giờ chiều. Vào thời đại Phật giáo nguyên thủy có Tứ thời tọa thiền, tức 3 thời trên và thêm thời thứ tư là Hậu dạ tọa thiền(vào khoảng 4 giờ sáng), nhưng đến đời sau chỉ thực hành 3 thời trên, gọi là Tam thời tọa thiền. [X. Thiền lâm tượng khí tiên Q.9].

tam thời vô hối

(三時無悔) Ba thời không ăn năn. Tức trong 3 giai đoạn khởi tâm làm ác mà không một giai đoạn nào sinh tâm hối cải. Cứ theo Thiên thai tứ giáo nghi tập chú, khi chúng sinh tạo tác các tội như ngũ nghịch... vào lúc định làm, đang làm, đã làm mà tâm không một mảy may hối hận thì đó là thượng phẩm cực ác, nhất định chiêu cảm quả báo địa ngục. Tam thời là: 1. Gia hành tâm thời: Muốn gây nghiệp ác thì trước hết khởi tâm tạo nghiệp, kế đến nghĩ phương cách thực hiện, tức chuẩn bị hành động, gọi là Gia hành tâmthời. 2. Căn bản tâm thời: Chính lúc đang gây nghiệp ác, tâm quyết định không lay chuyển, gọi là Căn bản tâm thời. 3. Hậu khởi tâm thời: Tức sau khi đã gây nghiệp ác rồi, lại khởi tâm nhớ lại các việc đã làm, gọi là Hậu khởi tâm thời.

tam thời điện

(三時殿) Cung điện được xây cất để thích ứng với 3 thời xuân, hạ và đông. Tại Ấn độ, một năm được chia làm 3 mùa, tức từ ngày 16 tháng 1 đến ngày 15 tháng 5 là mùa nóng (xuân), từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 15 tháng 9 là mùa mưa(hạ), từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 15 tháng 1 là mùa lạnh (đông). Theo truyền thuyết, khi đức Phật Thích ca còn là Thái tử, vì muốn cho Ngài vui sống trong cung đình mà bỏ chí xuất gia, nên vua cha cho xây dựng Tam thời điện.[X. kinh Đại phẩm nhu nhuyến trong Trung a hàm Q.29].

Tam thụ

三受; C: sānshòu; J: sanju;|Ba cảm thụ, cảm xúc: An vui, đau khổ, và chẳng vui chẳng khổ.

tam thụ

Khổ thụ, lạc thụ, bất khổ bất lạc thụ (cũng gọi là xả thụ). ; (三受) Phạm: Tisro-vedanà#. Pàli:Tisso-vedanà. Cũng gọi Tam thống. Chỉ cho ba thứ cảm nhận khi 6 căn tiếp xúc với 6 cảnh(đối tượng). Đó là: 1. Khổ thụ (Phạm: Du#kha-vedanà), cũng gọi Khổ thống. Nghĩa là lãnh nhận những cảnh tướng trái ý làm cho thân tâm bị bức bách. 2. Lạc thụ (Phạm: Sukha-vedanà), cũng gọi Lạc thống. Nghĩa là nhận lãnh những cảnh tướng như ý khiến cho thân tâm vui thích. 3. Xả thụ (Phạm: Upekwà-vedanà), cũng gọi Bất khổ bất lạc thụ, Bất khổ bất lạc thống. Nghĩa là nhận lãnh những cảnh tướng trung dung, thân tâm không bị bức bách, cũng không vui thích. Tam thụ này thông cả 6 căn mắt, tai... và chung cho hữu lậu, vô lậu. Hoặc mỗi thụ tự chia làm 2 thứ, thứ nào tươngứng với 5 thức thì gọi là Thân thụ, thứ nào tươngứng vớiý thức thì gọi là Tâm thụ. [X. kinh Tạp a hàm Q.8; luận Thành duy thức Q.5; luận A tì đạt ma phát trí Q.14; luận Thành duy thức Q.6]. (xt. Ngũ Thụ, Thụ).

tam thụ nghiệp

(三受業) Cũng gọi Tam thụ báo nghiệp. Chỉ cho 3 thứ nghiệp được phân loại theo 3 cảm thụ: Khổ, lạc, xả. Đó là: 1. Thuận lạc thụ (Phạm: Sukhavedanìya-karma), cũng gọi Phúc nghiệp, Lạc báo nghiệp, Nghiệp chiêu cảm lạc thụ, bắt đầu từ cõi Dục đến Đệ tam tĩnh lự. Nếulạc thụ ở đây làlạc thụ trong Tam thụ môn thì bao gồm hỉ thụ, vì thế lạc thụ này tồn tại ở Đệ tam thiền thiên. 2. Thuận khổ thụ nghiệp (Phạm: Du#kha-vadanìya-karma), cũng gọi Phi phúc nghiệp, Khổ báo nghiệp. Nghiệp mang lại cảm giác khổ, tức là tất cả nghiệp ác ở cõi Dục. 3. Thuận bất khổ bất lạc thụ nghiệp (Phạm: Adu#khàsukha-vedanìyakarma), cũng gọi Thuận phi nhị nghiệp, Bất khổ bất lạc báo nghiệp. Tức nghiệp chiêu cảm quả báo từ Đệ tứ thiền thiên trở lên, ở cõi này chỉ có Xả thụ. Tuy nhiên, từ Đệ tam thiền thiên trở xuống cũng có Thuận bất khổ bất lạc thụ nghiệp, nếu cảm quả ở các cõi trời Trung gian thì gọi là Trung gian định nghiệp. Ở đây nói theo Thụ sở cảm thì ngoài sự chiêu cảm được Thụ ra, còn chiêu cảm được cả 4 uẩn là Sắc, Tưởng, Hành và Thức. [X. luận Phát trí Q.11; luận Thuận chính lí Q.40; luận Câu xá Q.15, luận Du già sư địa Q.9]. (xt. Tam Nghiệp).

tam thức

(三識) I. Tam Thức. Tám thức được chia làm 3 loại, gọi là Tam thức. Đây là thuyết của kinh Lăng già (bản 4 quyển). Tức là: 1. Chân thức: Chỉ cho thức chân tịnh của tự tính thanh tịnh, tức là thức A lại da thứ 8 của tịnh phần; thức này có khả năng biết rõ tự thể chân thực. 2. Hiện thức: Chỉ cho thức chủng tử sở tàng(được cất chứa) biến hiện ra căn thân và thế giới, tức là thức A lại da thứ 8 của nhiễm phần; nhưng cũng có chỗ cho rằng thức Mạt na thứ 7 có khả năng biết rõ vọng tướng và được xem là một vọng thức khác. 3. Phân biệt sự thức: Chỉ cho thức dấy lên sự phân biệt các cảnh như 6 trần... tức là thức thứ 6 và thức thứ 7; nhưng cũng có chỗ cho 6 thức trước có khả năng rõ biết các sự tướng và xem là một Phân biệt sự thức khác. Ngoài ra, kinh Lăng già quyển 2 (bản 10 quyển) cũng nêu ra thuyết Tam thức: Chuyển tướng thức, Nghiệp tướng thức và Trí tướng thức. [X. Duy ma kinh huyền sớ Q.5; Trung quán luận sớ Q.7, phần đầu; Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.3, phần cuối]. (xt. Bát Thức). II. Tam Thức. Chỉ cho thức A ma la(Thanh tịnh thức), thức A lại da(Vô một thức) và thức Mạt na (Phân biệt thức)trong 9 thức do tông Thiên thai thành lập. Kim quang minh kinh huyền nghĩa quyển thượng (Đại 39, 4 thượng) ghi: Thế nào là Tam thức? Thức gọi là giác liễu, là tên khác của trí tuệ. Thức A ma la là Bất động thức thứ 9, nếu phân biệt thì đó chính là Phật thức; thức A lê da tức là Vô một thức thứ 8, vẫn còn tùy miên phiền não hợp với vô minh, nếu phân biệt thì đó là Bồ tát thức; (...) thức A đà na là Phân biệt thức thứ 7, chán ghét sinh tử, ưa thích Niết bàn, nếu phân biệt thì đó là Nhị thừa thức. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 5, hạ cho Tam thức này là cùng loại với Tam quĩ: Chân tính, Quán chiếu và Tư thành, hơn nữa, thông cả 10 loại Tam pháp, cũng tức là Tam thức, Tam quĩ cho đến Tam đạo đều là cùng thể mà chỉ khác tên, đều là diệu pháp đầy đủ tam thiên tam đế, cho nên tất cả đều viên thông dung tức. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm hội bản Q.5, hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.3, phần 1; Pháp hoa huyền nghĩa tư kí Q.5, phần cuối]. (xt. Thập Chủng Tam Pháp, Tam Quĩ, A La Ma Thức).

tam thức duyên cảnh quảng hiệp

(三識緣境廣狹) Cảnh(đối tượng) mà 3 thức thứ 8, thứ 7 và thứ 6 duyên theo có rộng, hẹp khác nhau. Tức là: 1. Cảnh của thức thứ 8 duyên theo rộng nhất: Thức thứ 8 là thức căn bản, là chỗ nương của cả nhiễm lẫn tịnh, có năng lực biến hiện ra 3 cảnh là chủng tử, căn thân và khí thế gian, cho nên cảnh duyên là rộng nhất. 2. Cảnh của thức thứ 7 duyên theo hẹp nhất: Thức thứ 7 không có thể tướng riêng, chỉ nương vào thức thứ 8 làm nhân để sinh khởi, lại duyên theo Kiến phần của thức thứ 8 làm Tướng phần của mình, vì thế cảnh duyên của thức này là hẹp nhất. 3. Cảnh của thức thứ 6 duyên theo rộng vừa: Thức thứ 6 có khả năng duyên theo tất cả cảnh của 3 tính thiện, bất thiện, vô kí..., có năng lực phân biệt tất cả pháp trần như sắc, tâm..., vì thế nên cảnh duyên hơi rộng. [X. Tông kính lục Q.36; luận Du già sư địa Q.51].

Tam Thừa

(s: yāna-traya, tri-yāna, 三乘): ba cỗ xe. Cỗ xe là ví dụ cho giáo lý dẫn dắt chúng sanh đi đến giác ngộ; có Nhất Thừa (一乘) cho đến Ngũ Thừa (五乘); đức Phật tùy theo căn cơ của chúng sanh là chậm chạp, trung bình, lanh lợi mà chế ra 3 loại pháp môn khác nhau gọi là Tam Thừa. (1) Thanh Văn Thừa (s: śrāvaka-yāna, 聲聞乘), còn gọi là Tiểu Thừa (小乘); nếu nhanh thì trong 3 đời, chậm thì trong vòng 60 kiếp, tu pháp Không, cuối cùng đến đời này nghe giáp pháp của đức Như Lai, ngộ lý Tứ Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-ariya-sacca, 四諦), chứng quả A La Hán (s: arhat, p: arahant, 阿羅漢). (2) Duyên Giác Thừa (s: pratyeka-buddha-yāna, 緣覺乘), còn gọi là Trung Thừa (中乘), Bích Chi Phật Thừa (辟支佛乘), Độc Giác Thừa (獨覺乘); nếu nhanh thì trong 4 đời, chậm thì trong 100 kiếp tu pháp Không, vào đời cuối cùng thì không nương vào giáo pháp của Như Lai, mà cảm các ngoại duyên như hoa bay, lá rụng, suối reo, v.v., tự giác ngộ lý Thập Nhị Nhân Duyên (s: dvādaśāṅga-pratītya-samutpāda, p: dvādasaṅga-paṭicca-samuppāda, 十二因緣), và chứng quả Bích Chi Phật (辟支佛). (3) Bồ Tát Thừa (s: bodhisattva-yāna, 菩薩乘), hay còn gọi là Phật Thừa (佛乘), Đại Thừa (s: mahāyāna, 大乘); trong khoảng thời gian vô số kiếp tu hành hạnh Lục Độ (六度), rồi trong 100 kiếp trồng nhân 32 phước tướng để chứng vô thượng Bồ Đề. Ba cỗ xe này được ví cho xe dê, hươu, xe trâu; hay ví cho ba loại thú là voi, ngựa và thỏ. Như trong Thích Ca Như Lai Thành Đạo Ký Chú (釋迦如來成道記註) quyển hạ do Vương Bột (王勃, 649-675) nhà Đường soạn, Huệ Ngộ Đại Sư (慧悟大師) ở Nguyệt Luân Sơn (月輪山), vùng Tiền Đường (錢唐) chú giải, có đoạn rằng: “Pháp Hoa Kinh Tam Xa dụ dã, Dương Xa dụ Thanh Văn Thừa, Lộc Xa dụ Duyên Giác Thừa, Ngưu Xa dụ Bồ Tát Thừa; Tam Thừa câu dĩ vận tải vi nghĩa (法華經三車喻也、羊車喻聲聞乘、鹿車喻緣覺乘、牛車喻菩薩乘、三乘俱以運載爲義, về thí dụ Ba Xe của Kinh Pháp Hoa, Xe Dê ví cho Thanh Văn Thừa, Xe Nai ví cho Duyên Giác Thừa, Xe Trâu ví cho Bồ Tát Thừa; cả Ba Thừa đều có nghĩa vận tải).” Hay như trong Phẩm Thí Dụ (譬喻品) của Pháp Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 法華經) có giải thích rằng: “Nhược hữu chúng sanh, nội hữu trí tánh, tùng Phật Thế Tôn, văn pháp tín thọ, ân cần tinh tấn, dục tốc xuất Tam Giới, tự cầu Niết Bàn, thị danh Thanh Văn Thừa. … Nhược hữu chúng sanh, tùng Phật Thế Tôn, văn pháp tín thọ, ân cần tinh tấn, cầu tự nhiên tuệ, độc lạc thiện tịch, thâm tri chư pháp nhân duyên, thị danh Bích Chi Phật Thừa. … Nhược hữu chúng sanh, tùng Phật Thế Tôn, văn pháp tín thọ, cần tu tinh tấn, cầu nhất thiết trí, Phật trí, tự nhiên trí, vô sư trí, Như Lai tri kiến, lực, vô sở úy, mẫn niệm an lạc, vô lượng chúng sanh, lợi ích nhân thiên, độ thoát nhất thiết, thị danh Đại Thừa (若有眾生、內有智性、從佛世尊、聞法信受、慇懃精進、欲速出三界、自求涅槃、是名聲聞乘…若有眾生、從佛世尊、聞法信受、慇懃精進、求自然慧、獨樂善寂、深知諸法因緣、是名辟支佛乘…若有眾生、從佛世尊、聞法信受、勤修精進、求一切智、佛智、自然智、無師智、如來知見、力、無所畏、愍念安樂、無量眾生、利益天人、度脫一切、是名大乘, Nếu có chúng sanh, theo Phật Thế Tôn, nghe pháp tin thọ, siêng năng tinh tấn, muốn mau ra Ba Cõi, tự cầu Niết Bàn, đó là Thanh Văn Thừa. … Nếu có chúng sanh, theo Phật Thế Tôn, nghe pháp tin thọ, siêng năng tinh tấn, cầu trí tuệ tự nhiên, vui một mình, khéo vắng lặng, biết sâu nhân duyên các pháp, đó là Bích Chi Phật Thừa. … Nếu có chúng sanh, theo Phật Thế Tôn, nghe pháp tin thọ, siêng tu tinh tấn, cầu tất cả trí tuệ, trí tuệ Phật, trí tuệ tự nhiên, trí tuệ không cần thầy chỉ dạy, tri kiến của Như Lai, năng lực, sự khoogn sợ hãi, niệm thương xót an lạc, vô lượng chúng sanh, làm lợi ích trời người, độ thoát hết thảy, đó là Đại Thừa).” Hoặc như trong Tứ Giáo Nghi Chú (四敎儀註) quyển Thượng cho biết rằng: “Tam Thừa, thừa dĩ vận tải vi nghĩa; Thanh Văn dĩ Tứ Đế vi thừa, Duyên Giác dĩ Thập Nhị Nhân Duyên vi thừa, Bồ Tát dĩ Lục Độ vi thừa, vận xuất Tam Giới quy ư Niết Bàn (三乘、乘以運載爲義、聲聞以四諦爲乘、緣覺以十二因緣爲乘、菩薩以六度爲乘、運出三界歸於涅槃, Ba Thừa, thừa có nghĩa là vận chuyển, Thanh Văn lấy Tứ Đế làm phương tiện vận chuyển, Duyên Giác lấy Thập Nhị Nhân Duyên làm phương tiện vận chuyển, Bồ Tát lấy Lục Độ làm phương tiện vận chuyển, chở cả Ba Cõi quay về Niết Bàn).” Hai Thừa đầu chỉ có tự lợi, không có lợi tha, nên được gọi là Tiểu Thừa (小乘, cỗ xe nhỏ). Riêng Bồ Tát Thừa thì có đầy đủ cả tự lợi và lợi tha, nên có tên là Đại Thừa (大乘, cỗ xe lớn). Một số kinh điển như Tịch Điều Âm Sở Vấn Kinh (寂調音所問經), Đại Tỳ Bà Sa Luận (大毘婆沙論) quyển 127, Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 11 gọi Tam Thừa là Hạ Thừa (下乘), Trung Thừa (中乘) và Thượng Thừa (上乘). Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận (大乘莊嚴經論) quyển 4, Lương Dịch Nhiếp Đại Thừa Luận Thích (梁譯攝大乘論釋) quyển 1 gọi chung cả 2 thừa trước là Hạ Thừa, Bồ Tát Thừa là Thượng Thừa. Hoa Nghiêm Tông, Thiên Thai Tông lấy Tam Thừa làm pháp môn phương tiện, cứu cánh đều quy về Nhất Phật Thừa (一佛乘); cho nên hai tông phái này chủ xướng tư tưởng “Tam Thừa Phương Tiện Nhất Thừa Chân Thật (三乘方便一乘眞實, Ba Thừa Phương Tiện Một Thừa Chân Thật).” Trong khi đó, Pháp Tướng Tông lại chủ trương ngược lại là “Tam Thừa Chân Thật Nhất Thừa Phương Tiện (三乘眞實一乘方便, Ba Thừa Chân Thật Một Thừa Phương Tiện).” Bên cạnh đó, Tam Thừa còn có nghĩa là Ba Thừa tùy thời tu tập của vị Bồ Tát, gồm: (1) Thiên Thừa (天乘), tức Sơ Thiền (初禪), Nhị Thiền (二禪), Tam Thiền (三禪) và Tứ Thiền (四禪). (2) Phạm Thừa (梵乘), tức từ, bi, hỷ và xả. (3) Thánh Thừa (聖乘), tức là Bát Chánh Đạo (s: āryāṣṭāṇga-mārga, āryāṣṭāṇgika-mārga, p: ariyāṭṭhaṅgika-magga, 八正道), gồm Chánh Kiến (s: samyag-dṛṣṭi, p: sammā-diṭṭhi, 正見), Chánh Tư Duy (s: samyak-saṃkalpa, p: sammā-saṅkappa, 正思惟), Chánh Ngữ (s: samyag-vāc, p: sammā-vācā, 正語), Chánh Nghiệp (s: samyakkarmanta, p: sammā-kammanta, 正業), Chánh Mạng (s: samyag-ājīva, p: sammā-ājīva, 正命), Chánh Tinh Tấn (s: samyag-vyāyāma, p: sammā-vāyāma, 正精進), Chánh Niệm (s: samyak-smṛti, p: sammā-sati, 正念), và Chánh Định (s: samyak-samādhi, p: sammā-samādhi, 正定).

Tam thừa

xem Ba thừa. ; 三乘; C: sānshèng; J: sanjō; S: triyāna;|Ba thừa

tam thừa

(三乘) Phạm:Trìịi yànàni. Chỉ cho 3 loại xe, ví dụ 3 pháp môn vận chuyển chúng sinh vượt qua sinh tử đến bờ Niết bàn. I. Tam Thừa. Để thích ứng với 3 loại căn cơ của chúng sinh là độn căn, trung căn và lợi căn, đức Phật nói 3 thứ giáo pháp là Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa, gọi là Tam thừa.1. Thanh văn thừa (Phạm: Zràvakayàna): Nhờ nghe tiếng nói pháp của đức Phật mà được ngộ đạo nên gọi là Thanh văn. Hàng Thanh văn biết khổ, đoạn tập, ưa diệt, tu đạo, dùng 4 đế ấy làm thừa. 2. Duyên giác thừa (Phạm:Pratyekabuddha-yàna), cũng gọi Bích chi phật thừa, Độc giác thừa. Nhờ quán xét 12 nhân duyên mà giác ngộ lí chân đế, cho nên gọi là Duyên giác. Bắt đầu quán xét vô minh cho đến lão tử, kế quán vô minh diệt cho đến lão tử diệt, do nhân duyên sinh diệt này mà ngộ chẳng sinh chẳng diệt, cho nên lấy 12 nhân duyên này làm thừa. 3. Bồ tát thừa (Phạm: Boddhisattvayàna), cũng gọi Đại thừa (Phạm: Mahàyàna), Phật thừa, Như lai thừa: Cầu bồ đề vô thượng, nguyện độ tất cả chúng sinh, tu 6 độ muôn hạnh, lấy 6 độ này làm thừa. Hai thừa trước chỉ tự lợi, không lợi tha nên gọi chung là Tiểuthừa, còn Bồ tát thừa thì đủ cả tự lợi và lợi tha, cho nên gọi Đại thừa. Tát bà đa tì ni tì bà sa quyển 1 và luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính đều cho rằng chỗ chứng đắc của Tiểu thừa thì Tam thừa đều biết, chỗ chứng đắc của Trung thừa thì Nhị thừa đều biết và chỗ chứng đắc của Phật thì chỉ một mình Phật biết chứ Nhị thừa không biết, đó là lí do để gọi Tam thừa là Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa; kinh Tịch điều âm sở vấn, luận Đại tì bà sa quyển 127 và luận Đại trí độ quyển 11 thì lấy việc trong pháp nhất vị không phân biệt mà nói thượng trung hạ để hiển bày sự sai khác giữa Tam thừa làm lí do gọi Tam thừa là Hạ thừa, Trung thừa và Thượng thừa; Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 4 và Nhiếp đại thừa luận thích quyển 1 (bản dịch đời Lương) thì gọi chung Thanh văn thừa và Duyên giác thừa là Hạ thừa, còn gọi Bồ tát thừa là Thượng thừa. Tông Hoa nghiêm và tông Thiên thai cho Tam thừa là pháp môn phương tiện, cuối cùng qui về Nhất Phật thừa, đó là Nhất thừa giáo, tức ngoài Tam thừa còn lập riêng Nhất Phật thừa; tông Pháp tướng thì cho rằng Nhất thừa chỉ vì một cơ mà tạm thời đặt ra, thuộc Quyền giáo, còn Tam thừa mới là Thực giáo. Tức tông Hoa nghiêm và tông Thiên thai chủ trương Tam thừa phương tiện, Nhất thừa chân thực, còn tông Pháp tướng thì, trái lại, chủ trương Tam thừa chân thực, Nhất thừa phương tiện. [X. kinh Đại bảo tích Q.94; kinh Giải thâm mật Q.2; luận Hiển dương thánh giáo Q.3; luận Phật tính Q.1; Phật địa kinh luận Q.2; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Pháp hoa huyền tán Q.1; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng]. (xt. Nhất Thừa, Nhị Thừa, Tứ Thừa). II. Tam Thừa. Chỉ cho Thiên thừa, Phạm thừa và Thánh thừa mà Bồ tát tu tập. 1. Thiên thừa: Tức Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền. 2. Phạm thừa: Tức từ, bi, hỉ, xả. 3. Thánh thừa: Tức chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến và chính định. [X. kinh Đại bảo tích Q.94].

tam thừa quán môn

(三乘觀門) Môn quán của Tam thừa. Tức chỉ cho Tam thừa: Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát thuộc Tam tạng giáo trong 4 giáo Thiên thai, lần lượt lấy quán khổ đế, quán tập đế, quán đạo đế làm pháp môn tu hành bước đầu. 1. Thanh văn quán khổ đế: Hàng Thanh văn căn cơ chậm lụt nhất, trước hết quán xét thân sinh tử 5 ấm của quả khổ, lấy quán Khổ đế làm môn tu bước đầu.2. Duyên giác quán tập đế: Hàng Duyên giác căn cơ hơi bén nhạy, quán xét hoặc nghiệp là tập nhân của quả khổ, lấy quánTập đế làm môn tu bước đầu. 3. Bồ tát quán đạo đế: Hàng Bồ tát căn cơ nhạy bén nhất, quán thẳng đạo pháp của nhân xuất thế, lấy quán Đạo đế làm môn tu bước đầu. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 1, phần 4 (Đại 46, 166 hạ) ghi: Nếu bàn về pháp môn tu hành bước đầu thì có khác nhau, cho nên ngài Chương an nói: Thanh văn lấy Khổ đế làm đầu, Duyên giác lấy Tập đế làm đầu, Bồ tát lấy Đạo đế làm đầu. Đây nói về Tứ đế sinh diệt của Tam thừa thuộc Tam tạng giáo, Bồ tát Thông giáo lấy Diệt đế của giới nội làm đầu, Bồ tát Biệt giáo lấy Đạo đế của giới ngoại làm đầu, Bồ tát Viên giáo lấy Diệt đế của giới ngoại làm đầu. [X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng].

Tam thừa thánh nhân

三乘聖人; C: sānshèngshèngrén; J: sanjō shōnin;|Chỉ ba hàng Thánh nhân của ba cỗ xe: Thanh Văn (聲聞; s: śrāvaka), Duyên Giác (縁覺; s: pratyekabuddha) và Bồ Tát (菩薩; s: bodhisattva).

Tam thừa thập nhị bộ phần giáo

三乘十二部分教|Ba thừa mười hai phần giáo

tam tiêu phục

(三消伏) Tiêu phục 3 thứ độc hại. Đó là: 1. Sự tiêu phục: Dùng tán tâm tiêu phục các thứ độc hại như hổ lang, dao kiếm... 2. Hạnh tiêu phục: Tiêu phục các hạnh độc của Ngũ trụ địa. Tức hàng Nhị thừa Tạng giáo, Thông giáo và hàng bồ tát Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo tuy có khả năng dùng Tam quán để áp phục các phiền não Ngũ trụ địa nhưng vẫn ngăn cách với pháp tính, còn cần phải tu riêng các hạnh hữu tác nên gọi là Hạnh tiêu phục. 3.Lí tính tiêu phục: Nương vào Nhất tâm tam quán để tiêu phục sự độc hại của lí tính không nhiễm mà nhiễm. Theo thuyết trong kinh Thỉnh Quán thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni, nếu dốc lòng xưng niệm danh hiệu bồ tát Quán thế âm, tụng trì đà la ni Tiêu phục độc hại thì nhờ sự gia hộ của bồ tát Quán thế âm mà tiêu phục được 3 thứ độc hại. [X. Tứ minh tôn giả giáo hành lục Q.2; Thỉnh Quán âm kinh sớ xiển nghĩa sao Q.1]. (xt. Lí Độc Tính Độc).

tam tiệm thứ

(三漸次) Chỉ cho 3 pháp thứ bậc căn bản mà đức Phật nói trước khi giảng về các địa vị tu hành. 1. Trừ trợ nhân: Tức trừ bỏ nhân giúp cho điều ác của chúng sinh, như 5 thứ rau cay hành, hẹ, tỏi, củ kiệu, hưng cừ, hễ ăn chúng thì dễ phát dâm dục, nóng giận, bị tà mị bám sát, khiến trời, người xa lánh, cho nên người tu hành trước phải trừ bỏ những cái nhân giúp phát sinh điều ác này. 2. Phá chính tính: Tất cả việc ác như trộm cắp, nói dối... đều do dâm dục, sát sinh khởi lên, cho nên chúng sinh lấy các tính dâm, sát làm chính tính, nếu muốn tu đạo giác ngộ thì phải phá trừ các tính dâm, sát...3. Trái hiện nghiệp: Người tu đạo giác ngộ đã dứt bỏ 5 món rau cay, không phạm dâm dục, sát sinh thì không còn dính mắc vào cảnh lục trần hiện tiền nữa.

tam tiện

(三賤) Ba thứ tầm thường hèn mọn khi may áo ca sa giúp cho tỉ khưu đối trị được tâm tham nhiễm. Đó là: 1. Đạo tiện: Cắt may áo đơn giản, tầm thường, không kiểu cách. 2. Y tiện: Vải may áo cũng dùng loại thông thường, thô xấu. 3. Sắc tiện: Không dùng màu tươi, sáng mà dùng vỏ cây nấu lên để nhuộm thành hoại sắc. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.7].

tam toan đồ

(三酸圖) Bức tranh vẽ 3 nhân vật Nho, Thích, Đạo làm đề tài. Tương truyền, một hôm, Tô đông pha (Nho), Hoàn lỗ trực(Đạo), cùng đến chùa Kim sơn thăm Hòa thượng Phật ấn (Thích). Sau đó, khi ra về, cả 3 vị cùng nếm rượu hoa đào, tuy 3 người cùng uống một loại rượu nhưng mùi vị thì mỗi người đều cảm thấy khác nhau, nếm xong, 3 người đều chau mày, đó là nội dung vẽ trong bức tranh. Bức tranh này và Tam giáo đồ đều tượng trưng cho tinh thần Tam giáo dung hợp.Ngoài ra còn có các bức họa vẽ 3 vị Thánh nhân: Thích ca, Lão tử, Khổng tử, 3 vị cũng cùng nếm một vò rượu nhưng cảm nhận mùi vị khác nhau. Loại tranh này gọi chung là Tam thánh đồ và nổi tiếng hơn cả là tác phẩm của các họa sĩ Mã viễn, Trần thanh ba, Nhan huy người Trung quốc, đời Tống và Thú dã Nguyên tín, Hải bắc Hữu tùng người Nhật bản. (xt. Tam Giáo Đồ, Tam Giáo Luận Hành).

tam toà thuyết pháp

(三座說法) Tên công án trong Thiền tông. Tam tòa chỉ cho vị Thủ tọa thứ 3. Cứ theo Vô môn quan thì Tổ của tông Qui ngưỡng là ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch nằm mộng thấy mình lên đến chỗ ngài Di lặc trên cung trời Đâu suất, ngồi ở tòa thứ 3 (Đại 48, 296 thượng): Có một tôn giả đánh bạch chùy thưa: Hôm nay do vị Thủ tọa thứ ba thuyết pháp (Đệ tam tòa thuyết pháp). Ngài Ngưỡng sơn bèn đứng dậy, bạch chùy rằng: Pháp Ma ha diễn lìa tứ cú, dứt bách phi, lắng nghe! Lắng nghe! [X. Tam luận huyền nghĩa kiểm u tập Q.2; Khoa chú Tam luận huyền nghĩa Q.2].

tam trai

(三齋) I. Tam Trai. Chỉ cho 3 thứ trai là Mục ngưu trai, Ni kiền trai và Thánh bát chi trai. 1. Mục ngưu trai (Phạm: Gopàlakauposatha): Ví như người chăn bò tìm cỏ non nước sạch cho bò ăn uống, đến chiều đắt bò về nhà, lại chăm chăm nghĩ tới việc ngày mai sẽ đưa bò đến cánh đồngcỏtốt tươi cho bò ăn; nếu người đã thụ trì trai giới mà ở nhà thì tham lợi nuôi thân, suốt ngày đắm say dục lạc, ý nghĩa của người này cũng hệt như ý nghĩa của người chăn bò, trì trai như vậy sẽ chẳng được lợi ích gì, cũng không được quả thiện. 2. Ni kiền trai (Phạm: Nigaịỉhauposatha): Vào ngày 15 mỗi tháng nằm đất, thụ trai giới, lễ bái các vị thần trong vòng 10 do tuần, khấn rằng (Đại 1, 911 thượng): Hôm nay con trì trai, không dám làm điều ác (...), vợ con, tôi tớ chẳng phải là của con. Nói những lời hư dối sẽ không được quả báo lớn. 3. Thánh bát chi trai (Phạm:Ariyauposatha), hoặc gọi là Phật pháp trai, tức đệ tử nội đạo thụ trì 8 giới vào 6 ngày trai.[X. Trai kinh]. II. Tam Trai. Cũng gọi Tam thiện nguyệt, Tam trường nguyệt, Tam trai nguyệt. Chỉ cho 3 tháng trường trai. Tức mỗi năm thụ trì 8 trai giới trong 3 tháng là tháng giêng, tháng 5 và tháng 9. Trong thời gian 3 tháng này chiếc gương nghiệp ở cõi âm chiếu soi đến châu Nam, những điều thiện, ác sẽ hiện hết trong gương. Vào 3 tháng này là lúc thuận tiện cho các ác quỉ, cho nên phải tu thiện. Những người tu 3 tháng trường trai, ngày đêm chăm chỉ, một lòng khổ hạnh, sẽ được sinh về cõi nước Cực lạc của Phật A di đà ở phương Tây. [X. kinh Trung a hàm Q.55; kinh Quán đính Q.12; kinh Phạm võng Q.hạ; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.1, phần 3]. (xt. Tam Trường Trai Nguyệt). III. Tam Trai. Chỉ cho 3 ngày trai, tức giới thanh tịnh được thụ trì vào các ngày mồng 8, ngày 14 và ngày 15 mỗi tháng.

tam trang nghiêm

(三莊嚴) Chỉ choba thứ trang nghiêm. 1. Sự trang nghiêm: Chỉ cho các sự vật như sắc, thanh, hương, vị... 2. Pháp trang nghiêm: Chỉ cho các pháp âm thù thắng, vi diệu. 3. Nhân trang nghiêm: Chỉ cho các Bồ tát, Thanh văn... Đại thừa nghĩa chương quyển 19 (Đại 44, 835 hạ) nói: Thể của hai cõi này (Chân, Ứng) trang nghiêm thanh tịnh. Còn tướng của các cõi này nói chung có ba thứ: Một là Nhân trang nghiêm, những chúng sinh thắng thiện cư trú trong đó, tên cõi nước là Tịnh độ. Hai là Pháp trang nghiêm, có đủ các Phật pháp, cõi nước tên là Tịnh độ, cho nên Địa luận nói rằng: Nhân và các Pháp trang nghiêm. Ba là Sự trang nghiêm, ngũ dục thù thắng vi diệu. Trong 3 thứ này, Địa luận chỉ nói nhiều về Sự trang nghiêm, trong đó có 3 thứ: Một làThần thông trang nghiêm, tất cả cảnh giới biến hiện vô ngại. Hai là Quang minh trang nghiêm, thường có ánh sáng diệt trừ bóng tối. Ba là Tướng trang nghiêm, được trang sức toàn bằng các thứ báu. [X. kinh Đại ai Q.2; kinh Đại lâu thán Q.1; luận Đại trí độ Q.5; Đại đường tây vực kí Q.2; Pháp hoa kinh huyền tán Q.8].

Tam trí

三智; C: sānzhì; J: sanchi;|Ba loại trí huệ. Có nhiều cách phân loại trong nhiều kinh luận khác nhau nên mối liên hệ trong mỗi trường hợp phải được chú ý:|I. 1. Pháp trí (法智), trí huệ hiểu biết chư pháp; 2. Tỉ trí (比智), trí hiểu biết, phân biệt vạn vật sai biệt và 3. Đẳng trí (等智), trí thế tục (theo A-tì-đàm Tì-bà-sa luận 阿毘曇毘婆沙論).|II. 1. Nhất thiết trí (一切智), trí huệ hiểu biết tất cả; 2. Đạo chủng trí (道種智), trí biết được những con đường tu tập khác nhau; 3. Nhất thiết trí trí (一切智智), trí thông đạt tất cả những loại trí huệ khác. Ba loại trí này tương quan đến ba Thánh quả Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát (theo Tứ giáo nghi chú 四教儀註).|III. 1. Văn huệ (trí); 2. Tư huệ và Tu huệ (theo Du-già luận 瑜伽論, Tam huệ).|VI. Ba loại trí được dạy trong Đại trí độ luận (大智度論): 1. Nhất thiết trí (一切智) của hàng Nhị thừa (Thanh Văn), là trí hiểu biết tất cả những khía cạnh khác biệt của chư pháp; 2. Đạo chủng trí (道種智) của hàng Bồ Tát, là trí hiểu biết khía cạnh toàn vẹn của chư pháp và 3. Nhất thiết chủng trí (一切種智) của chư Phật, trí huệ toàn hảo biết được tất cả khía cạnh của các pháp.

tam trí

(三智) I. Tam Trí. Chỉ cho 3 thứ trí được nói ở phẩm Thích tam tuệ trong luận Đại trí độ quyển 84.1. Nhất thiết trí: Trí biết rõ cái tướng chung của tất cả các pháp. Cái tướng chung ấy chính là Không tướng. Trí này là trí của hàng Thanh văn, Duyên giác. 2. Đạo chủng trí(cũng gọi Đạo chủng tuệ, Đạo tướng trí): Trí biết rõ tướng riêng của tất cả các pháp. Cái tướng riêng ấy tức là các thứ đạo pháp sai biệt. Trí này là trí của hàng Bồ tát. 3. Nhất thiết chủng trí (cũng gọi Nhất thiết tướng trí): Tức trí biết rõ suốt tướng chung và tướng riêng, đó là Phật trí. Tông Thiên thai cho rằng 3 trí này là do 3 pháp quán Không, Giả, Trung cấu thành, tức Nhất thiết trí do Không quán mà thành, Đạo chủng trí do Giả quán mà thành và Nhất thiết chủng trí do Trung quán mà thành. Rồi các nhà Thiên thai lại dựa theo nghĩa Tam quán (Không, Giả, Trung) mà lập riêng 2 thứ Tam trí là: 1. Biệt tướng tam trí: Bồ tát Biệt giáo lần lượt tu tập Biệt tướng tam quán, thành tựu Nhất thiết trí, Đạo chủng trí, cho đến tu tập Trung đạo quán mà thấy rõ Phật tính, thành tựu Nhất thiết chủng trí, thường an trụ Niết bàn. 2. Nhất tâm tam trí: Không nương theo thứ tự tướng riêng mà dung hợp 3 đế trong một cảnh, tức tu 3 quán trong một tâm, cho nên khi phát khởi thì 3 trí cũng chứng được trong một tâm, không có trước, sau sai khác. Ngoài ra, Hoa nghiêm kinh sớ quyển 4 cũng nêu ra 3 trí là Tục trí, Chân trí và Trung đạo trí, trong đó, Chân trí tức là trí quán chiếu lí không của Chân đế, tương đương với Nhất thiết trí; Tục trí tức là trí quán chiếu các pháp sai khác của Tục đế, tương đương với Đạo chủng trí; còn Trung đạo trí thì không nghiêng về 2 bên Chân, Tục mà là song già song chiếu, tương đương với Nhất thiết chủng trí. [X. kinh Đại phẩm Bát nhã Q.1; luận Đại trí độ Q.27, Ma ha chỉ quán Q.3, thượng; Quán âm huyền nghĩa Q.hạ]. (xt. Nhất Thiết Trí, Nhất Thiết Chủng Trí, Đạo Chủng Trí). II. Tam Trí. Chỉ cho Thanh tịnh trí, Nhất thiết trí và Vô ngại trí được nói ở phẩm Phương tiện xứ vô thượng bồ đề trong kinh Bồ tát địa trì quyển 3. 1. Thanh tịnh trí (Phạm: Zuddhajĩàna): Trí quánĐệ nhất nghĩa, đoạn trừ tất cả tập khí phiền não, lìa chướng, vô nhiễm. Đây là trí Đệ nhất nghĩa của Như lai. 2. Nhất thiết trí(Phạm:Sarva-jĩàna): Trí biết rõ tất cả pháp tướng như tất cả thời, tất cả cõi, tất cả việc, tất cả giống loài... Đây là trí thế đế của Như lai. 3. Vô ngại trí(Phạm:Asaíga-jĩàna): cũng gọi Vô trệ trí. Tức trí đối với tất cả pháp tướng trong 4 loại nói trên, hễ phát tâm là biết liền, không nhờ phương tiện, không cần suy nghĩ, rõ suốt không ngại. Đây là trí thế đế của Như lai. Tam trí này thuộc về Quán chiếu bát nhã trong 3 loại Bát nhã, cũng thuộc về Nhất thiết chủng trí. [X. luận Du già sư địa Q.38; Đại thừa nghĩa chương Q.19]. III. Tam Trí. Chỉ cho 3 loại trí nói trong Lăng già quyển 3, đó là: 1. Thế gian trí (Phạm: Laukikajĩàna): Tức trí của phàm phu, ngoại đạo. Phàm phu, ngoại đạo đối với tất cả pháp phân biệt theo các quan điểm, chấp trước hữu vô, nên không thể ra khỏi thế gian. 2. Xuất thế gian trí (Phạm:Lokottarajĩàna):Trí của hàng Thanh Văn, Duyên giác. Thanh văn, Duyên giác tu 4 đế, 12 nhân duyên, có khả năng ra khỏi thế gian, nhưng vẫn còn rơi vào cái thấy tự tướng, cộng tướng, cho rằng có sinh tử đáng chán, có Niết bàn để cầu. 3. Xuất thế gian thượng thượng trí (Phạm: Lokottaratama-jĩàna): Trí của chư Phật, Bồ tát. Trí của chư Phật, Bồ tát quán thấy tất cả pháp đều vắng lặng, chẳng sinh chẳng diệt, được địa vị Như lai, vượt trên Thanh văn, Duyên giác. IV. Tam Trí. Chỉ cho 3 thứ trí là Ngoại trí, Nội trí và Chân trí. 1. Ngoại trí: Trí khéo phân biệt rõ ràng các cảnh 6 căn 6 trần, biết suốt cổ, kim, thông hiểu mọi việc thế tục. 2. Nội trí: Trí khéo diệt trừ vô minh phiền não, tâm ý tịch tĩnh. 3. Chân trí: Trí khéo thông suốt tịnh và uế là cùng một thể, không có sai khác, muôn vật vốn tự vắng lặng. [X. phẩm Li vi thể tịnh trong luận Bảo tạng].

tam trùng niệm phật

(三重念佛) Ba thứ phân loại về sự niệm Phật do tông Tịnh độ ở Nhật bản đặt ra. I. Tam Trùng Niệm Phật. Dựa vào việc có phân biệt chính hạnh, tạp hạnh, trợ nghiệp, chính nghiệp hay không mà chia việc niệm Phật làm 3 thứ sau đây: 1. Niệm Phật do các Tổ sư đặt ra: Chỉ cho cách niệm Phật do ngài Tuệ viễn ở chùa Tịnh ảnh và ngài Trí khải ở núi Thiên thai lập ra. Phương pháp niệm Phật này chưa phân biệt chính-tạp, trợ-chính, tức muôn hạnh chỉ là một. 2. Bản nguyện niệm Phật: Hạnh niệm Phật do ngài Thiện đạo lập ra. Tức đã phân biệt chính-tạp, trợ-chính và lấy Chính nghiệp xưng danh niệm Phật làm bản nguyện. 3. Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật: Do ngài Nguyên không – vị tăng Nhật bản – lập ra. Hai chữ Tuyển trạch(lựa chọn) được thêm vào trước Bản nguyện niệm Phật, lập niệm Phật làm bản nguyện, tức nói rõ kết quả của sự lựa chọn, lấy bỏ. [X. Tuyển trạch truyền hoằng quyết nghi sao Q.1]. II. Tam Trùng Niệm Phật. Y cứ vào sự khác nhau về Sự lí quán xưng mà chia niệm Phật thành 3 loại là: 1. Niệm Phật theo Ma ha chỉ quán. 2. Niệm Phật theo Vãng sinh yếu tập. 3. Niệm Phật theo sự khuyến hóa của Đại sư Thiện đạo. [X.Quyết đáp thụ thủ ấn nghi vấn sao Q.thượng; Quyết vấn nghi vấn minh tâm sao Q.thượng].

tam trùng pháp giới

(三重法界) Chỉ cho bản thể của thân tâm tất cả chúng sinh. Tông Hoa nghiêm vốn lập 4 thứ pháp giới, để đối ứng với trí năng quán nên lập riêng Tam trùng pháp giới. Tức là: 1.Lí pháp giới: Lí thể thống nhiếp sự hình thành của muôn vật. Trong thế giới vật chất có muôn tượng sum la nhưng lí thể của nó thì bất biến; nói cách khác, sự pháp giới là những hiện tượng sai khác do nhân duyên sinh khởi, sự sinh diệt biến đổi của nó đều qui về không. Đứng về phương diện bản thể của muôn vật mà nói thì đó là lí thể tuyệt đối, không sinh diệt, không thêm bớt, vĩnh viễn không thay đổi, tức là Lí pháp giới. Lí pháp giới này vượt ra ngoài tư tưởng và ngôn ngữ của con người, chỉ miễn cưỡng gọi là Không, nhưng cái không này cũng chẳng phải là cảnh địa tuyệt đối. 2. Lí sự vô ngại pháp giới: Chỉ cho pháp giới mà bản thể và hiện tượng tương tức tương nhập, cả 2 giao thoa dung hợp lẫn nhân, sự nếu chẳng có lí thì sự không thành, lí nếu chẳng có sự thì lí không hiển, có thể nói sự lí là tên khác của không hữu, tính tướng, do lí và sự dung thông nhiếp nhập mà thành là Lí sự vô ngại pháp giới. 3. Sự sự vô ngại pháp giới: Tất cả sự vật trong vũ trụ đều có tính thống nhất, liên tục và bao nhiếp, trong phạm trù này, không có giới hạn thời gian và không gian, pháp với pháp tương dung tương thành. Trong khoảng vũ trụ, mỗi mỗi hiện tượng đều là bản thể, bản thể lại có khả năng trở thành mỗi mỗi hiện tượng, cho nên toàn thể vũ trụ thu nhiếp vào trong một hiện tượng, một tức tất cả, tất cả tức một, tương tức tương nhập, trùng trùng vô tận, vượt ra ngoài quan niệm thị phi thiện ác, mà chỉ còn là cảnh giới viên mãn bình đẳng. (xt. Tứ Pháp Giới).

tam trùng quán môn

(三重觀門) Gọi đủ: Tam trùng pháp giới quán môn. Cũng gọi Tam trùng quán, Pháp giới tam quán. Chỉ cho 3 pháp quán do tông Hoa nghiêm thành lập. Sơ tổ của tông Hoa nghiêm là ngài Đỗ thuận mở ra quán môn tu hành thực tiễn, kiến lập 3 pháp quán để hiển bày quán hạnh, ngộ nhập Nhất chân pháp giới. Ba pháp quán là: 1. Chân không quán: Lí pháp giới trong 4 pháp giới. Chân lấy niệm lự không hư vọng làm chân; Không lấy sắc tướng không hình chất phòng ngại làm không. Vì phàm phu thấy sắc nhận lầm là thật, thấy không nhận lầm là đoạn không, cho nên bị sa vào đường mê, do đó không chứng ngộ được lí này. Nay mở ra pháp quán Chân không, khiến quán sắc chẳng phải thực sắc, toàn thể là chân không, quán không chẳng phải là đoạn không, toàn thể là huyễn sắc, có như thế mới thoát khỏi được sự trói buộc của tất cả tình trần mà đạt đến cảnh giới không sắc vô ngại. 2. Lí sự vô ngại quán: Tức lí sự vô ngại pháp giới. Trước hết đem lí dung hòa với sự, cuối cùng đem sự dung hòa vào lí, khiến cho lí và sự 2 mà chẳng 2, chẳng 2 mà 2, đó là vô ngại. Ta có thể thấy lí chân không, nhưng đối với sự lại chưa thể rõ hết, cho nên mở bày lí sự vô ngại, làm cho cái lí bất khả phân đều có thể viên dung hỗ nhiếp trong một mảy bụi và sự khả phân hạn cũng có thể thông suốt khắp trong pháp giới, mỗi sự lí đều có thể hiển hiện một cách rõ ràng vô ngại, hỗ dung tương tức. Lí sự vô ngại thuộc về phạm vi của cảnh sở quán, còn tâm là chủ thể năng quán. Nếu chỉ quán xét các sự tướng thì sẽ dẫn khởi tâm thế tục, bám dính vào cảnh hưởng lạc. Cũng thế, nếu chỉ quán về lí thì ắt dẫn khởi tâm xuất thế, và e chỉ hạn cuộc ở sự ưa thích cảnh vô lậu tiểu quả. Còn nếu quán cả lí và sự thì đạt đến cảnh giới dung thông vô ngại, khiến tâm không thiên chấp, tự vận dụng cả bi lẫn trí mà thành tựu hạnh vô trụ, chứng nhập Vô trụ xứ niết bàn. 3. Chu biến hàm dung quán: Tức sự sự vô ngại quán. Chu biến là trùm khắp tất cả cõi sắc và phi sắc, hàm dung là bao hàm tất cả, không một pháp nào có thể vượt ra ngoài cõi hư không này. Pháp quán này dùng sự trông sự, khiến quán lí của toàn sự đều có thể tùy pháp đồng sự mà thấy được mỗi mỗi pháp, sự của toàn lí cũng có thể tùy pháp đồng lí mà có thể bao dung tất cả. Nương vào sự sự trùm khắp thì có thể dung nhiếp, giao thoa nhau một cách tự tại, một nhiều không ngại, lớn nhỏ dung thông. [X. Hoa nghiêm pháp giới quán môn; Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh sớ Q.2; Pháp giới huyền kính Q.thượng; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.10]. (xt. Tứ Pháp Giới).

tam trùng thất cá pháp môn

(三重七個法門) Cũng gọi Giáo hành chứng tam phần. Bảy pháp môn được lí giải theo 3 lớp Giáo, Hành, Chứng, là giáo pháp khẩu truyền của tông Thiên thai Nhật bản. Thất cá pháp môn(7 cái pháp môn)gồm có 4 pháp khẩu truyền là: Nhất tâm tam quán, Nhất niệm tam thiên, Chỉ quán đại chỉ và Pháp hoa thâm nghĩa. Nội dung của Pháp hoa thâm nghĩa lại được chia làm 3 pháp lớn nữa là: Viên giáo tam thân, Liên hoa nhân quả và Thường tịch quang độ, cộng chung thành 7 pháp môn. Phương pháp để hiểu các pháp môn này gồm Tam trùng là: Giáo trùng(lời dạy của các Tổ sư lưu lại bằng văn tự), Hành trùng(Phương pháp thực hành của các Tổ sư) và Chứng trùng(sự thực hành và thể hội trong nội tâm của hành giả), vì thế nên gọi là Tam trùng thất cá pháp môn.

Tam trú (trụ)

三住; C: sānzhù; J: sanjū; S: trayo vihārāḥ; P: tayo vihārā.|Ba chỗ trú của tâm: Thiên trú, Phạm trú và Huệ trú. Nói một cách khác: Ba chỗ an trú thiện hảo của tâm (theo Du-già luận 瑜伽論).

tam trướng vật

(三長物) Chỉ cho vật dư thừa mà tỉ khưu không nên cất giữ. Đó là: 1. Y trướng vật: Áo dư. Phật qui định người xuất gia chỉ được phép có 3 áo, ngoài ra không được cất giữ. 2. Bát trướng vật: Bát dư. Phật chế định người xuất gia chỉ được phép có một cái bát, ngoài ra không được cất giữ. 3. Dược trướng vật: Thuốc dư. Phật qui định nếu tỉ khưu bị bệnh chỉ được phép cất giữ số thuốc đủ dùng trong 7 ngày, không được quá số đó. Sở dĩ đức Phật chế định điều giới này là vì Lục quần tỉ khưu tích trữ nhiều áo để làm đẹp, trái với phép tắc của người thiểu dục tri túc(ít muốn, biết đủ), đến nỗi khiến người đời chê cười. Bởi vậy, đức Phật qui định trong vòng 10 ngày phải đem các vật dư thừa ngoài 3 áo, 1 bát bố thí cho người khác. [X. luật Ma ha tăng kì Q.8; Tứ phần luậttỉ khưu hàm chú giới bảnQ.thượng; Tứ phần luật sớ hành tông kí Q.12; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung, phần 2].

tam trường trai nguyệt

(三長齋月) Cũng gọi Tam trường nguyệt, Tam trai nguyệt, Thiên nguyệt, Thần túc nguyệt, Thần thông nguyệt, Thần biến nguyệt. Ba tháng trường trai. Chỉ cho tháng giêng, tháng 5 và tháng 9 âm lịch. Cứ theo Thích thị yếu lãm quyển hạ và kinh Tứ thiên vương... thì tháng giêng, tháng 5 và tháng 9 là các tháng trai, vì vào các tháng này, trời Đế thích và Tứ thiên vương xuống nhân gian xem xét việc thiện ác của loài người, bởi thế, người ta nên ăn chay trì trai để tu phúc thiện, đây cũng là phương tiện khéo léo tùy cơ nhiếp hóa của Như lai. 1. Tháng giêng: Vào tháng này, trời Đế thích dùng gương báu lớn chiếu soi châu Nam thiệm bộ, xem xét các việc thiện ác của con người. Còn Tì sa môn thiên vương ở phương bắc thì đi tuần tra 4 châu, vào tháng giêng đến châu Nam, cũng dùng gương chiếu soi, vì vậy, vào tháng này, người châu Nam nên ăn chay trì trai tu phúc thiện. 2. Tháng 5: Từ tháng giêng, trời Đế thích dùng gương báu lớn chiếu soi châu Nam thiệm bộ, tháng 2 chiếu soi châu Tây cù da ni, tháng 3 chiếu soi châu Bắc uất đơn việt, tháng 4 chiếu soi châu Đông phất vu đãi, đến tháng 5 thì trở lại chiếu soi châu Nam thiệm bộ lần thứ hai. Tì sa môn thiên vương phươngbắc, tháng 5 cũng trở lại tuần tra châu Nam. 3. Tháng 9: Từ tháng 5, trời Đế thích chiếu soi châu Nam thiệm bộ, tháng 6, tháng 7 và tháng 8 lần lượt chiếu soi 3 châu kia, đến tháng 9 lại trở lại chiếu soi châu Nam, Tì sa môn thiên vương phương bắc cũng thế. Cứ theo Thích môn chính thống quyển 4 thì vào đời Đường pháp Tam trường trai nguyệt rất thịnh hành, vào3tháng này, trong nước không thi hành án tử hình, không giết súc vật, gọi là Đoạn đồ nguyệt, Đoạn nguyệt. [X. kinh Phạm võng Q.hạ; điều Thiện nguyệt chương Chúc li Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 3].

tam tu

(三修) Chỉ cho ba lối tu. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 2 (bản Bắc) thì Tam tu có 2 thứ: Liệt tam tu và Thắng tam tu. 1. Liệt tam tu: Ba lối tu của hàng Thanh văn yếu kém hơn so vớilối tu của Bồ tát nên gọi là Liệt tam tu. Đó là: a. Vô thường tu: Hàng Thanh văn không biết lí pháp thân thường trụ, cho nên quán hết thảy các pháp hữu vi trong 3 cõi đều là sinh diệt vô thường. b. Phi lạc tu: Hàng Thanh văn không biết rằng trong các pháp vốn có cái vui của Niết bàn tịch diệt, cho nên quán tất cả các pháp thảy đều là khổ. c. Vô ngã tu: Hàng Thanh văn không biết đến cái chân ngã tự tại vô ngại, cho nên quán pháp 5 ấm đều là không, không có ngã và ngã sở. 2. Thắng tam tu: Ba lối tu của hàng Bồ tát theo giáo pháp thù thắng của Phật để phá trừ lối liệt tu mà hàng Thanh văn chấp trước nên gọi Thắng tam tu. Đó là: a. Thường tu: Bồ tát rõ biết thể của pháp thân xưa nay vốn thường trụ bất biến, chẳng diệt chẳng sinh để phá trừ cái vô thường mà Thanh văn chấp trước. b. Lạc tu: Bồ tát rõ biết trong các pháp có niềm vui của Niết bàn vắng lặng, cho nên lạc tu để phá trừ cái thấy tất cả đều khổ mà hàng Thanh văn chấp trước. c. Ngã tu: Bồ tát rõ biết trong các pháp vô ngã có cái chân ngã, được đại tự tại, không có chướng ngại, cho nên ngã tu để phá trừ kiến giải vô ngã, vô ngã sở mà hàng Thanh văn cố chấp.

tam tuyên tam nhất

(三宣三一) Ba Tuyên ba Nhất. Chỉ cho 6 vị tông tượng của tông Tứ phần luật đời Đường, Trung quốc. Tam tuyên chi cho 3 vị: Nghĩa tuyên, Tuệ tuyên và Đức tuyên, gọi chung là Tấn dương tam tuyên. Còn tam nhất thì chỉ cho 3 vị: Linh nhất, Đàm nhất và Hoài nhất. Hệ thống truyền thừa như sau: Tổ của Tướng bộ tông là Đại sư Pháp lệ truyền cho ngài Đạo thành, Đạo thành truyền cho ngài Hoài tố, Hoài tố truyền cho ngài Pháp thận, Pháp thận truyền cho ngài Linh nhất và Nghĩa tuyên, Nghĩa tuyên truyền cho ngài Tuệ tuyên và Đức tuyên; còn Linh nhất thì ngang hàng với ngài Đàm nhất ở Cối kê và Hoài nhất ở Mân xuyên, cho nên đời sau mới gọi là Tam tuyên tam nhất.

tam tuệ

(三慧) Phạm: Tisra# prajĩà#. Chỉ cho 3 thứ tuệ có khả năng phân biệtsựlí các pháp. Đó là: 1. Văn tuệ (Phạm:Zrutamayì prajĩà): Tuệ do nghe từ 3 tạng 12 phần giáo hoặc từ thiện tri thức mà biết; tuệ này có khả năng sinh ra Thánh tuệ vô lậu, vì thế gọi là Văn sở thành tuệ(tuệ do chỗ nghe mà thành). Đây là tuệ do Thanh văn thành tựu được. 2. Tư tuệ (Phạm:Cintàmayì prajĩà): Thánh tuệ vô lậu sinh ra từ sự tư duy về đạo lí đã nghe, đã thấy. Tuệ này do Duyên giác thành tựu. 3. Tu tuệ (Phạm: Bhàvanàmayì prajĩà): Thánh tuệ vô lậu nương vào sự tu tập mà phát sinh; tuệ này do Bồ tát thành tựu được. Trong Tam tuệ thì Văn tuệ là nhân, nếu chúng sinh thụ trì chuyển đọc, truyền bá rốt ráo các kinh tạng thì phát sinh Tuệ; nương theo Văn tuệ này thì phát sinh Tư tuệ; nương vào Tư tuệ mà có Tu tuệ. Đây là tiến trình đoạn trừ phiền não, chứng đắc Niết bàn, giống như nương vào hạt giống mà nảy mầm, từ mầm mà sinh ra thân, từ thân chuyển sinh ra cành lá, hoa quả. Cho nên 2 tuệ trước là tán trí, chỉ là trợ duyên để phát khởi Tu tuệ; Tu tuệ thì là định trí, có đủ tác dụng đoạn hoặc chứng lí. Nếu nói theo giai vị của Bồ tát Đại thừa thì Thập trụ được Văn tuệ, Thập hành được Tư tuệ và Thập hồi hướng được Tu tuệ. Còn nói theo giới hệ của Tì đàm thì Dục giới có Văn tuệ và Tư tuệ, vì Dục giới là cõi bất định, không phải nơi tu hành, cũng không phải nơi lìa nhiễm, nếu khi muốn tu thì rơi vào Tư tuệ, cho nên Dục giới không có tuệ do tu mà thành. Sắc giới có Văn tuệ và Tu tuệ, còn Vô sắc giới thì chỉ có tuệ do tu mà thành; vì Sắc giới và Vô sắc giới là các cõi định, là những nơi tu hành, cũng là những nơi lìa nhiễm, nếu khi muốn tư duy thì đã rơi vào trong tu rồi, cho nên ở Sắc giới và Vô sắc giới không có tuệ do Tư mà thành. Hơn nữa, ở cõi Vô sắc không dùng căn tai để lắng nghe Phật pháp, cho nên không có tuệ do Văn mà thành. [X. kinh Ưu bà tắc giới Q.1; luận Du già sư địa Q.28; luận Thành thực Q.16; luận Tập dị môn túc Q.5; luận Đại tì bà sa Q.42; luận Câu xá Q.22; Phật địa kinh luận Q.1].

tam tuệ kinh

(三慧經) Kinh, 1 quyển, được thu vào Đại chính tạng tập 17. Nội dung kinh này do thu chép các nhân duyên, pháp nghĩa trong các kinh luận mà thành, tất cả có hơn 60 điều, có thể làm kim chỉ nam cho sự tu dưỡng của tín đồ Phật giáo. Chính vua Lương vũ đế đã từng giảng kinh này ở chùa Đồng thái. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.4].

tam tà hạnh

(三邪行) I. Tam Tà Hạnh. Chỉ cho 3 thứ tà hạnh mà luận Câu xá quyển 17 căn cứ vào Sắc nghiệp (tức thân nghiệp, ngữ nghiệp) để lập riêng ra như sau: 1. Tà ngữ: Ngữ nghiệp do sân, si sinh ra. 2. Tà nghiệp: Thân nghiệp do sân, si sinh ra. 3. Tà mệnh: Thân nghiệp, ngữ nghiệp do tham dục sinh ra. Luận Đại tì bà sa quyển 116 (Đại 27, 605 trung) nói: Tại sao tà mệnh khó trừ sạch? Vì có 2 pháp khó bỏ: Tức người tại gia tà kiến và người xuất gia tà mệnh.Người tại gia tuy rất khôn ngoan, thụ trì 5 giới, nhưng nếu bị khổ bức bách thì đem các thứ hương thơm, hoa tươi và thức ăn uống đến cúng tế, cầu đảo trời, thần. Những người xuất gia tuy rất thông minh, thụ trì giới Cụ túc, nhưng vì điều kiện sinh sống lệ thuộc người khác, cho nên khi thấy thí chủ thì uy nghi tề chỉnh, hiện tướng thân thiện, vì thế mà phân biệt tà mệnh và chính mệnh. II. Tam Tà Hạnh. Chỉ cho 3 thứ hành nghiệp trái với chính đạo nói trong luận Thành thực quyển 7. Tức là Thân tà hành, Khẩu tà hành và Ý tà hành. Phẩm Tà hành trong luận Thành thực quyển 7 (Đại 32, 295 hạ) nói: Các việc ác do thân tạo tác gọi là Thân tà hành. Tà hành này có 2 loại: Một là thuộc về 10 đạo bất thiện, như giết hại, trộm cắp, gian dâm... Hai là không thuộc về 10 đạo bất thiện, như roi gậy, trói buộc, làm dâm với vợ mình... và các nghiệp ác khác (...). Các nghiệp ác do miệng gây ra, gọi là Khẩu tà hành, trong đó cũng có 2 loại: Nếu khi người quyết định hỏi thì hiện tiền dối lừa người khác, đó thuộc về đạo bất thiện; còn tham, sân, tà kiến... thì là Ý tà hành. [X. Đại thừa nghĩa chương].

tam tài phối tam thế gian

(三才配三世間) Tam tài là trời, đất và người được phối hợp với 3 loại thế gian. 1. Trời phối với Chính giác thế gian: Đạo trời to lớn, bao quát muôn tượng không sót; trí Phật sâu rộng, chiếu rọi khắp 10 phương, vì thế trời được phối hợp với Chính giác thế gian. 2. Đất phối với khí thế gian: Đất có khả năng chứa đựng, chuyên chở, là chỗ nương của thế giới; thế giới vô biên trong 10 phương cũng là chỗ nương của tất cả hữu tình chúng sinh, vì thế đất được phối hợp với khí thế gian. 3. Người phối với chúng sinh thế gian: Người là 1 trong các loài chúng sinh thuộc 6 đường; người và chúng sinh đều có tính biết, vì thế người được phối hợp với Chúng sinh thế gian. [X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.1]. (xt. Tam Thế Gián).

tam tánh

Là thiện, ác, vô ký (phi thiện, phi ác), gọi chung là tam tánh. Còn tam tánh của Duy Thức tông làm Biến kế chấp (chấp trước), Y tha khởi (nhân duyên), Viên thành thật (Phật tánh). ; Three types of characters. (A) 1) Tốt: good. 2) Xấu: Bad. 3) Trung Tính: Không tốt không xấu—Undefinable (neutral). (B) See Biến Y Viên. ; (三性) Cũng gọi Tam tự tính, Tam tính tướng, Tam chủng tự tướng, Tam tướng. I. Tam Tính. Chỉ cho 3 tính tướng của hết thảy các pháp. Đây là chủ trương trọng yếu của học phái Duy thức tại Ấn độ, là giáo nghĩa căn bản của tông Pháp tướng ở Trung quốc. Nghĩa là đứng trên lập trường hữu vô hoặc giả thật mà chia bản tính và trạng thái(tính tướng) của tất cả sự tồn tại làm 3 loại, gọi là Tam tính. Học phái Duy thức ở Ấn độ căn cứ vào sự thuyết minh trong phẩm Nhất thiết pháp tướng của kinh Giải thâm mật quyển 2 mà chủ trương Tam tính không có tự tính và gọi là Tam vô tính. Chủ trương này về sau trở thành một trong các giáo nghĩa căn bản của tông Pháp tướng Trung quốc, đồng thời, cũng được tông Hoa nghiêm thu dụng. 1. Theo thuyết của tông Pháp tướng, Tam tính là: a. Biến kế sở chấp tính (Phạm: Parikalpita-svabhàva), cũng gọi Hư vọng phân biệt tướng, Phân biệt tính. Đối với các pháp vốn không có thực thể mà lại cho là thực ngã, thực pháp rồi khởi tâm vọng chấp, đó là Năng biến kế, còn cái đối cảnh bị thức chấp thì gọi là Sở biến kế. Nói cách khác, do thức (Năng biến kế) và cảnh(Sở biến kế) này mà nhận lầm sự tồn tại ngoài tâm có thực thể, sự nhận lầm ấy gọi là Biến kế sở chấp tính. Vì cái tướng trạng tồn tại ấy là do tâm mê mà hiện ra cho nên thuộc về pháp đương tình hiện tướng. Đứng về phương diện chân lí mà nhận xét thì tính này thuộc về pháp tình hữu lí vô chẳng phải có thật, là pháp thể tính đô vô, hoàn toàn không có thực thể. Về tính Biến kế sở chấp, các Luận sư Ấn độ có nhiều thuyết khác nhau, tông Pháp tướng theo quan điểm của ngài Hộ pháp. Về Năng biến kế thì ngài An tuệ cho rằng tất cả 8 thức hữu lậu đều thuộc Năng biến kế, còn ngài Hộ pháp thì chủ trương chỉ có thức thứ 6 và thức thứ 7 thuộc về Năng biến kế mà thôi. Còn về Sở biến kế thì ngài Nan đà cho đó là đương tình hiện tướng của thực ngã thực pháp, nhưng ngài Hộ pháp thì cho đó chỉ là tự ngã tự pháp (dường như ngã dường như pháp) của tính Y tha khởi; nếu nói theo quan điểm đối tượng từ chân như không thể trở thành là mê tình thì không thể coi đó là sở biến kế; nhưng nói theo quan điểm bản thể tồn tại từ Y tha khởi thì cũng có thể gọi là Sở biến kế. Ngoài ra, về Biến kế sở chấp thì ngài An tuệ chủ trương đó là Kiến phần và Tướng phần, còn ngài Hộ pháp thì cho rằng, trong Kiến phần và Tướng phần thì cái đương tình hiện tướng nương vào mê tình mà khởi mới là Biến kế sở chấp. b. Y tha khởi tính (Phạm: Paratantra-svabhàva), cũng gọi Nhân duyên tướng, Y tha tính. Tha tức chỉ cho pháp do các duyên sinh khởi. Vì là pháp duyên hợp thì sinh, duyên hết thì diệt, nên nó hư giả như huyễn, chứ chẳng phải thực tại cố định vĩnh viễn bất biến, bởi thế nói là như huyễn giả có giả có thật không, nhưng đây chẳng phải là mê tình do Biến kế sở chấp mà có, nhưng là nhờ các trợ duyên mà sinh, cũng tức là lí có tình không lìa vọng tình mà tự có. Tính này có 2 phần là Nhiễm phần y tha khởi và Tịnh phần y tha khởi khác nhau. Nhiễm phần chỉ cho tất cả pháp hữu lậu và Tịnh phần chỉ cho tất cả pháp vô lậu. Nhưng Tịnh phần y tha là nói theo ý nghĩa xa lìa phiền não, còn tính Tịnh phần y tha thì bao hàm trong tính Viên thành thực, cho nên Nhiễm phần y tha chính là tính Y tha khởi vậy. c. Viên thành thực tính (Phạm: Pariniwpanna-svabhàra), cũng gọi Đệ nhất nghĩa tướng, Chân thực tướng. Thể chân thực(chân như)của tính Y tha khởi trùm khắp tất cả pháp(viên mãn), chẳng sinh chẳng diệt(thành tựu), thể tính chân thật (chân thực), cho nên gọi là Viên thành thực. Chân như lìa tất cả tướng(vô tướng), bản thể của tất cả pháp thảy đều chân thực, vì thế nên thuộc về Chân không diệu hữu; lại vì tính này chỉ có thể nhờ trí tuệ giác ngộ chân lí mới biết được nên thuộc về lí hữu tình vô. Ba tính trên đây có mối quan hệ bất tức bất li(chẳng tức là nhau cũng chẳng lìa nhau). Nếu dùng 3 vật là con rắn, sợi dây và gai làm ví dụ thì như người ngu (Năng biến kế) trong đêm tối thấy sợi dây, tin đó là con rắn thật(tính Biến kế sở chấp đối với tướng ngã chân thật)nên sinh tâm sợ hãi; sau, được người hiểu biết(Phật, Bồ tát) chỉ bảo cho mới biết chẳng phải rắn(sinh không) mà chỉ là sợi dây giống như con rắn(tức sự có giả của tính Y tha). Lại tiến thêm bước nữa là hiểu rõ thực tế sợi dây mà mình chấp trước(tính Biến kế sở chấp đối với tướng pháp chân thật) cũng không có ý nghĩa thực thể(pháp không) mà bản chất của nó là gai (tính Viên thành thực); sợi dây(tính Y tha khởi) chỉ là hình thái nhân duyên giả hợp do gai bện thành mà thôi. 2. Theo thuyết của tông Hoa nghiêm: Tam tính cũng giống như Tam tính của tông Pháp tướng nhưng lập trường thì khác nhau. Tức tông Pháp tướng đứng trên lập trường Tính tướng cách biệt, nghĩa là căn cứ vào điểm khác nhau giữa tính chất và trạng thái của tất cả sự vật mà lập thuyết Tam tính. Trái lại, tông Hoa nghiêm thì đứng trên lập trường Tính tướng viên dung mà luận về Tam tính. Tức trên căn bản, tông Hoa nghiêm cho rằng hết thảy sự tồn tại(các pháp) đều từ chân như hiển hiện. Tức chân như của tính Viên thành thực có 2 nghĩa là bất biến và tùy duyên. Bất biến nghĩa là xa lìa sự sinh diệt biến hóa, tùy duyên là theo duyên nhiễm tịnh mà mỗi cái tồn tại. Tính Y tha khởi nói về mặt thể thì là chân như, vì nó siêu việt sinh diệt nên thuộc vô tính, nhưng lại do nhân duyên mà sinh, cho nên thuộc tự hữu (tựa như có). Còn tính Biến kế sở chấp là do phàm phu vọng tình chấp trước ngoài tâm có thực ngã thực pháp tồn tại, cho nên thuộc về tình hữu(do mê tình mà có); nhưng tướng ngã, pháp ấy đối với lí thì hoàn toàn không có, nên thuộc lí vô. Bất biến, Vô tính, Lí vô, gọi là Bản tam tính; còn Tùy duyên, Tự hữu, Tình vô gọi là Mạt tam tính. Về sự giống nhau và khác nhau giữa 3 tính, nói theo ý nghĩa Bản tam tính thì tất cả hiện tượng(các pháp) của Chân như tùy duyên tức là Chân như, vì thế Tam tính không khác nhau; còn nói theo ý nghĩa Mạt chân như thì vì chân như theo duyên mà thành các pháp, cho nên Tam tính cũng không khác nhau. Nhưng nếu nói theo ý nghĩa các pháp tức Chân như của Bản tam tính và Chân như tức các pháp của Mạt tam tính thì ý nghĩa tam tính Bản, Mạt có khác nhau. 3. Theo thuyết của luận Nhiếp đại thừa do ngài Chân đế dịch: Tính Phân biệt là chỉ cho cảnh Sở phân biệt, tính Y tha là chỉ cho thức Năng phân biệt, mà cảnh của tính Phân biệt này là Vô, vì thế tính Y tha cũng bất khả đắc, bất khả đắc là tính chân thực của Hữu. [X. kinh Giải thâm mật Q.2; luận Thành duy thức Q.8; Duy thức tam thập tụng; luận Du già sư địa Q.74; luận Hiển dương thánh giáo Q.6; luận Tam vô tính Q.thượng; Nhiếp đại thừa luận thích Q.5 (bản dịch đời Lương); Nhiếp đại thừa luận thích Q.4 (bản dịch đời Đường); Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4]. (xt. Tam Vô Tính, Tứ Phần). II. Tam Tính. Về mặt tính chất, tất cả các pháp được chia làm 3 tính là thiện, bất thiện và vô kí. 1. Thiện(Phạm:Kuzala): Pháp có năng lực mang lại lợi ích cho đời này và đời sau. Theo luận Câu xá quyển 13, Thiện có 4 loại:a. Thắng nghĩa thiện: Tức chân giải thoát, trạch diệt niết bàn. Niết bàn an ổn, trong tất cả các pháp, thể của niết bàn là tôn quí nhất. b. Tự tính thiện: Tức hổ, thẹn và 3 căn lành không tham, không sân, không si. Không đợi tương ứng và các đẳng khởi khác mà thể tính vốn đã là thiện, giống như thuốc hay. c. Tương ứng thiện: Không tương ứng với hổ, thẹn... thì không trở thành tính thiện, như nước lẫn với thuốc. d. Đẳng khởi thiện: Pháp do tự tính thiện và tương ứng thiện cùng khởi lên một lượt, như bò uống nước cam thảo cho ra sữa ngon ngọt. Câu xá luận quang kí quyển 2 thì chia Thiện làm 3 loại: Đắc, Gia hành(nghe, suy nghĩ, tu hành) và Vô lậu(học, vô học và thắng nghĩa). 2. Bất thiện (Phạm:A-kuzala), cũng gọi Ác. Chỉ cho pháp có khả năng gây tổn hại cho đời này và đời sau. Theo luận Câu xá quyển 13, Bất thiện có 4 loại: a. Thắng nghĩa bất thiện: Tức pháp sinh tử. Các pháp trong sinh tử đều lấy khổ làm tự tính, rất không an ổn, giống như căn bệnh kinh niên. b. Tự tính bất thiện: Chỉ cho không hổ, không thẹn và 3 căn xấu xa tham, sân, si trong các pháp hữu lậu; thể tính của chúng là ác, giống như thuốc độc. c. Tương ứng bất thiện: Tâm, tâm sở ứng hợp với tự tính ác, giống như trong nước có lẫn chất độc. d. Đẳng khởi bất thiện: Pháp do tự tính bất thiện và tương ứng bất thiện cùng khởi lên một lượt, giống như sữa từ thuốc độc rót ra. 3. Vô kí (Phạm: A-vyàkfta): Chẳng phải thiện, chẳng phải ác, không thể ghi là thiện hay bất thiện, cho nên gọi là Vô kí. Có thuyết cho rằng không thể đưa đến quả dị thục(quả báo thiện, ác), không ghi nhớ quả dị thục, vì thế nên gọi là Vô kí. Nhưng thuyết này chỉ dùng cho pháp hữu lậu mà thôi.Câu xá luận quang kí quyển 2 chia Vô kí làm 2 thứ là Hữu phú và Vô phú, Vô phú lại được chia ra làm 6 loại: Dị thục, uy nghi, công xảo, thông quả, tự tính và thắng nghĩa, nên tổng cộng có 7 loại. Ngoài ra, luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 3 chia Thiện làm 13 thứ: Tự tính, tương thuộc, tùy trục, phát khởi, đệ nhất nghĩa, sinh đắc, phương tiện, hiện tiền cúng dường, nhiêu ích, dẫn nhiếp, đối trị, tịch tĩnh và đẳng lưu. Cũng luận này quyển 4 chia Bất thiện làm 12 thứ: Tự tính, tương thuộc, tùy trục, phát khởi, đệ nhất nghĩa, sinh đắc, phương tiện, hiện tiền, cúng dường, tổn hại, dẫn nhiếp, sở trị và chướng ngại; chia Vô kí làm 14 thứ: Tự tính, tương thuộc, tùy trục, phát khởi, đệ nhất nghĩa, sinh đắc, phương tiện, hiện tiền cúng dường, nhiêu ích, thụ dụng, dẫn nhiếp, đối trị, tịch tĩnh và đẳng lưu. [X. luận Thuận chính lí Q.4; luận Đại tì bà sa Q.51, 144, 197; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Thành duy thức Q.3; Thành duy thức luận thuật kí Q.5, phần cuối; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.5, phần đầu]. (xt. Thiện, Vô Kí). III. Tam Tính. Chỉ cho 3 tính của A la hán nói trong luận Thành thực quyển 14: 1. Đoạn tính: A la hán trụ ở Niết bàn hữu dư đoạn trừ tất cả phiền não. 2. Li dục tính: Xa lìa dục trong ba cõi.3. Diệt tính: Dứt hẳn sự nối tiếp của 5 ấm mà vào Niết bàn vô dư.

tam tánh nghiệp

(三性業) Chỉ cho 3 nghiệp: Thiện, Bất thiện và Vô kí. 1. Thiện nghiệp(cũng gọi An ổn nghiệp): Nghiệp có năng lực mang lại quả dị thục đáng ưa thích(tức quả tốt lành cõi người, cõi trời) và Niết bàn. 2. Bất thiện nghiệp(cũng gọi Bất an ổn nghiệp): Nghiệp có năng lực mang lại quả dị thục chẳng đáng ưa thích(tức quả báo xấu ác trong 3 đường). 3. Vô kí nghiệp: Nghiệp chẳng phải thiện, chẳng phải ác gọi là Vô kí, tức là nghiệp không mang lại kết quả. [X. kinh Tạp a hàm Q.18; luận Câu xá quyển 15, luận Thành duy thức Q.5; luận Thành duy thức Q.5, Đại thừa nghĩa chương Q.7]. (xt. Tam Tính).

tam tánh nhất tế

(三性一際) Ba tính Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực thông suốt lẫn nhau từ đầu đến cuối và không sai khác, nên gọi là Tam tính nhất tế. Đây là một trong các giáo nghĩa cơ bản của tông Hoa nghiêm ứng dụng vào việc thuyết minh lí pháp giới duyên khởi. Cứ theo Hoa nghiêm Nhất thừa giáo nghĩa phân tề chương quyển 4, trong 3 tính mỗi tính đều có 2 nghĩa, 2 nghĩa của Chân (Viên thành thực) là nghĩa Bất biến và nghĩa Tùy duyên, 2 nghĩa của Y tha là nghĩa Tự hữu(tựa như có) và nghĩa Vô tính, 2 nghĩa của Biến kế sở chấp là nghĩa Tình hữu(về mặt tình thì có) và nghĩa Lí vô(về mặt lí thì không). Vì nghĩa bất biến của Viên thành thực, nghĩa vô tính của Y tha khởi và nghĩa lí vô của Biến kế sở chấp đều do không phá hoại Mạt hữu mà nói về Bản của Nhất tâm chân như, cho nên Tam tính nhất tế là giống nhau chứ không khác. Lại nữa, nghĩa tùy duyên của Viên thành thực, nghĩa tự hữu của Y tha khởi và nghĩa tình hữu của Biến kế sở chấp là do Bản của Bất động tâmchânnhư nói về Mạt hữu của thế giới, cho nên 3 nghĩa cũng giống nhau. Theo đó thì Tam tự tính do tông Duy thức đề xướng được giải thích là Tam tính nhất tế, nêu một thu hết, chân vọng dung nhau, tính không ngăn ngại nhằm nói rõ cái trạng huống của pháp giới duyên khởi. Phật giáo dùng lí Pháp giới duyên khởi để thuyết minh chân như và vạn hữu, thế giới bờ bên kia và thế giới bờ bên này đều dung thông hòa nhập lẫn nhau trên cơ sở nhất tâm, không thể tách rời.

tam tánh đối vọng trung đạo

(三性對望中道) Cũng gọi Tam tính tương đối trung đạo, Ngôn thuyên trung đạo. Đối lại: Nhất pháp trung đạo. Nghĩa trung lập được thành lập qua sự đối nhau của 3 tính: Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực. Đây là nghĩa trung đạo căn bản của tông Pháp tướng. Tông Pháp tướng cho rằng tính Biến kế sở chấp là vọng tình cho nên phán định là không, rằng tính Y tha khởi là do các duyên hòa hợp nên phán định là có giả, rằng tính Viên thành thực là chân thực thường như nên phán định là chân không diệu hữu. Nếu 3 tính này là 3 tính trong một pháp thì pháp ấy tức là Trung đạo chẳng phải có chẳng phải không; trái lại, nếu y cứ vào mỗi tính mà thiết lập nghĩa Trung đạo thì gọi là Nhất pháp trung đạo. Luận Thành duy thức quyển 7 nói rằng: Ngã, pháp chẳng phải có; không, thức chẳng phải không; lìa có, lìa không nên khế hợp với Trung đạo, đây là thuyết căn bản. Bởi vì ngã và pháp của tính Biến kế sở chấp là tình có lí không, cho nên chẳng phải có, tính Y tha khởi là lí có tình không, tức là cái có giả của các duyên hòa hợp, cho nên chẳng phải không; tính Viên thành thực là chân không diệu hữu, vì thế chẳng phải không. Chẳng phải có chẳng phải không nên khế hợp với Trung đạo.[X. Thành duy thức luận thuật kí Q.7, phần cuối; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu]. (xt. Tam Tính).

tam táp

(三匝) Đi nhiễu 3 vòng theo chiều bên phải. Đây là 1 trong những hình thức kính lễ, bắt nguồn từ nghi thức của Ấn độ. Tức đi vòng quanh bậc tôn túc hoặc tháp Phật 3 vòng theo chiều tay phải để bày tỏ tâm thành ngưỡng vọng. Có khi đi quanh 1 vòng, có khi đi 3 vòng; hoặc do tâm nguyện, biệt thỉnh mà tùy ý người đính lễ đi quanh nhiều vòng. Đến đời sau, trong công án Thiền tông, thông thường sau khi vấn đáp, người tham vấn liền bái vị Tông sư, đi nhiễu 3 vòng rồi lui ra. Phẩm Cơ duyên trong Lục tổ đàn kinh (Đại 48, 357 hạ) có câu: Đi quanh sư 3 vòng rồi đứng chống Tích trượng. (xt. Hữu Nhiễu).

Tam Tâm

(三心): ba loại tâm. (1) Ba tâm phát khởi để cầu vãng sanh Tịnh Độ, gồm: Chí Thành Tâm (至誠心, tâm chí thành), Thâm Tâm (深心, tâm sâu xa) và Hồi Hướng Phát Nguyện Tâm (廻向發願心, tâm phát nguyện hồi hướng); tương đương với nguyện thứ 18 trong 48 lời nguyện của Đức Phật Di Đà là Chí Tâm (至心, tâm chí thành), Tín Nhạo Tâm (信樂心, tâm tin tưởng vui mừng) và Dục Sanh Tâm (欲生心, tâm muốn sanh về cõi Cực Lạc). Có nhiều giải thích khác nhau về ba tâm này, như trong Vãng Sanh Lễ Tán Kệ (徃生禮讚偈), Thiện Đạo (善導, 613-681) cho rằng Chí Thành Tâm là thân nghiệp lễ bái đức Phật Di Đà, khẩu nghiệp tán thán Ngài, và ý nghiệp chuyên niệm quán sát Ngài; Ba Nghiệp này phải chân thật; Thâm Tâm tức là tâm tin tưởng một cách chân thật, tin và hiểu được tự thân mình có đầy đủ phiền não của kẻ phàm phu, nay tin hiểu rõ thệ nguyện rộng lớn của đức Phật Di Đà, rồi xưng danh hiệu Ngài, thậm chí ít nhất cho đến 10 tiếng, 1 tiếng, nhất định sẽ được vãng sanh, cho đến trong một niệm mà không có tâm nghi ngờ; Hồi Hướng Phát Nguyện Tâm nghĩa là hết thảy các thiện căn mình đã tạo nên lâu nay, đầu xin hồi hướng và nguyện vãng sanh. (2) Ba tâm trong 10 Tín phát khởi để thành tựu Bồ Tát, gồm: Trực Tâm (直心), Thâm Tâm (深心), và Đại Bi Tâm (大悲心). Trực Tâm chỉ cho tâm chánh niệm chơn như. Thâm Tâm là tâm vui vẻ tập trung tất cả các hạnh lành. Đại Bi Tâm chỉ cho tâm muốn bạt trừ hết thảy khổ não của chúng sanh. Ba Tâm này tương đồng với Trực Tâm, Thâm Tâm, và Đại Thừa Tâm có đề cập trong Đại Thừa Khởi Tín Luận (大乘起信論), Phẩm Phật Quốc (佛國品) của Duy Ma Kinh (維摩經) quyển Thượng. (3) Là ba tâm do vị Bồ Tát từ Sơ Địa (初地) trở lên phát khởi, gồm: Chân Tâm (眞心), Phương Tiện Tâm (方便心) và Nghiệp Thức Tâm (業識心). Chân Tâm, còn gọi là Siêu Việt Tâm (超越心), tức là tâm của trí căn bản, không phân biệt. Phương Tiện Tâm là tâm từ này về sau có được trí tuệ làm lợi ích chúng sanh. Nghiệp Thức Tâm là khi sanh khởi hai trí Căn Bản (根本) và Hậu Đắc (後得), vẫn còn lưu lại tâm sanh diệt vi tế. (4) Ba tâm của người phàm phu chưa nhiếp trừ, gồm: Khởi Sự Tâm (起事心), Y Căn Bản Tâm (依根本心), và Căn Bản Tâm (根本心). (5) Ba tâm của vị Thánh cần phải đoạn trừ, gồm: Giả Danh Tâm (假名心), Pháp Tâm (法心) và Không Tâm (空心). Giả Danh Tâm là tâm chấp trước thật ngã. Pháp Tâm là tâm chấp trước các pháp có thật. Không Tâm là tâm chấp trước ngã, pháp đều không. Khi ba tâm này được chuyển hóa, các nghiệp phiền não tức vĩnh viễn không còn dấy khởi và vào Niết Bàn. (6) Ba tâm có trong mỗi Địa của Thập Địa, gồm: Nhập Tâm (入心), Trú Tâm (住心) và Xuất Tâm (出心).

tam tâm

The three minds or hearts—Three assured ways of reaching the Pure Land: (A) 1) Chí thành tâm: Perfect sinerity. 2) Thâm tâm: Profound resolve. 3) Hồi hướng phát nguyện: Resolve on demitting one's merits to others. (B) 1) Căn bổn tâm: The 8th Alaya vijnana—The store-house—Nguồn chứa mọi chủng tử thiện ác—Source of all seeds of good or evil. 2) Y bổn tâm: The 7th Mano-vijnana mind—Mạt na thức—The mediating cause of all taint. 3) Khởi sự tâm: The sadayatana mind—The immediate influence of the six senses. (C) 1) Nhập tâm: Entering into a condition. 2) Trụ tâm: Staying in a condition. 3) Xuất tâm: Departing the condition. ; (三心) Ba thứ tâm. I. Tam Tâm. Chỉ cho Chí thành tâm, Thâm tâm và Hồi hướng phát nguyện tâm mà hành giả Tịnh độ phát để cầu được vãng sinh. Tương đương với Chí tâm, Tín nhạo tâm, Dục sinh tâm của nguyện thứ 18 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà. Về sự giải thích Tam tâm có nhiều thuyết khác nhau. Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển cuối của ngài Tịnh ảnh cho rằng: Chí thành tâm là khởi hành bất hư, thực tâm cầu đi đến; Thâm tâm là tin tưởng sâu xa tha thiết, muốn sinh về nước kia; Hồi hướng phát nguyện tâm, cầu thẳng tới gọi là nguyện; cầu tới kèm theo điều thiện là hồi hướng. Trong Vãng sinh lễ tán kệ, ngài Thiện đạo cho rằng: Chí thành tâm là thân nghiệp lễ bái đức Phật A di đà, khẩu nghiệp tán thán công đức của Phật, ý nghiệp chuyên quán niệm danh hiệu Phật, như thế 3 nghiệp đều phải chân thật chí thành; Thâm tâm tức là lòng tin chân thật, tự tin thân mình là thân phàm phu đủ thứ phiền não, thiện căn yếu kém, trôi giạt trong 3 cõi, khó ra khỏi nhà lửa; nay tin thệ nguyện rộng lớn của Phật A di đà và xưng niệm danh hiệu của Ngài, dù chỉ niệm 10 tiếng, 1 tiếng... cũng nhất định được vãng sinh, đó là niền tin sâu xa không 1 mảy ngờ vực; Hồi hướng phát nguyện tâm nghĩa là tất cả thiện căn tu được đều hồi hướng cho việc vãng sinh Tịnh độ. Ngoài ra, luận Tịnh độ quyển thượng của ngài Ca tài, Vãng sinh luận sớ của ngài Trí quang, Quán kinh sớ diệu tông sao quyển 6 của ngài Tri lễ... đều cho rằng 3 tâm này giống với Trực tâm, Thâm tâm và Đại bi tâm nói trong luận Đại thừa khởi tín, đều được phát khởi vào lúc đạt đến vị cuối cùng của giai vị Thập tín. [X. Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ Q.hạ; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.11; Niệm Phật tam tâm yếu tập; Niệm Phật danh nghĩa tập Q.trung]. II. Tam Tâm. Chỉ cho Trực tâm, Thâm tâm và Đại bi tâm mà Bồ tát phát khởi khi thành tựu được giai vị Thập tín. 1. Trực tâm: Chỉ cho tâm chình hiệu chân như. 2. Thâm tâm: Chỉ cho tâm ưa thích tích tập tất cả các thiện hạnh. 3. Đại bi tâm: Chỉ cho tâm muốn cứu giúp tất cả các chúng sinh khổ nạn. Ba tâm này do luận Đại thừa khởi tín thành lập, giống với Trực tâm, Thâm tâm và Đại thừa tâm nói trong phẩm Phật quốc kinh Duy ma quyển thượng. [X. luận Tịnh độ Q.thượng (Ca tài); Hoa nghiêm kinh sớ Q.18]. III. Tam Tâm. Chỉ cho 3 thứ tâm do Bồ tát từ Sơ địa trở lên phát khởi, đó là: 1. Chân tâm(cũng gọi Siêu việt tâm): Tức là tâm của trí căn bản vô phân biệt. 2. Phương tiện tâm: Tức là tâm dùng trí hậu đắc làm lợiíchchúng sinh. 3. Nghiệp thức tâm: Tức là tâm còn lưu lại sự sinh diệt nhỏ nhiệm khi sinh khởi 2 trí căn bản và hậu đắc. [X. luận Đại thừa khởi tín; Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.hạ]. IV. Tam Tâm. Chỉ cho 3 thứ tâm mà người phàm phu chưa thể trừ bỏ được. Đó là: 1. Khởi sự tâm: Chỉ cho tâm do phiền não sinh khởi ở Tứ trụ địa thô trọng, mạnh mẽ, có khả năng phát khởi các nghiệp sự ngăn che hóa thân của Phật. Bồ tát tu tập đạo phục kết, đoạn trừ tâm này, cho nên được hóa thân. 2. Y căn bản tâm: Tâm nương vào vô minh căn bản mà sinh phiền não (hoặc) Tứ trụ địa. Tâm này ngăn che báo thân của Phật, Bồ tát tu tập đạo đoạn kết, dứt trừ tâm này, cho nên được báo thân. 3. Căn bản tâm: Tâm vô minh địa lấy phiền não Tứ trụ làm gốc. Tâm này ngăn che pháp thân Phật, Bồ tát tu tập đạo thắng bạt, diệt trừ tâm này cho nên được pháp thân.Tôngkính lục quyển 89, theo thứ tự, phối hợp 3 tâm này với 6 thức trước, thức thứ 7 và thức thứ 8. [X. kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 2; Đại thừa nghĩa chương Q.19; Đại thừa pháp uyểnnghĩalâm chương Q.7, phần đầu]. V. Tam Tâm. Chỉ cho 3 loại tâm mà bậc Thánh phải diệt trừ. Đó là: 1. Giả danh tâm: Tâm chấp trước thực ngã, làkiến chấp của ngoại đạo. 2. Pháp tâm: Tâm chấp trước thực pháp, làkiến chấp của Hữu bộ Tiểu thừa. 3. Không tâm: Tâm chấp trước pháp không, ngã không, nghĩa là khi tâm này diệt thì các nghiệp phiền não không bao giờ sinh khởi trở lại nữa và được vào Niết bàn.[X. phẩm Giả danh luận Thành thực Q.11]. VI. Tam Tâm. Chỉ cho 3 loại tâm mà mỗi địa trong Thập địa bồ tát đều có, đó là: 1. Nhập tâm: Tâm khi nhập địa chưa trụ lâu. 2. Trụ tâm: Tâm trụ lâu khi trụ địa thịnh. 3. Xuất tâm: Tâm trụ lâu vào lúc cuối, dần dần gần với Hậu thắng vị. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.11 (bản dịch đời Lương); Thành duy thức luận thuật kí Q.10, phần đầu].

tam tín

(三信) I. Tam Tín. Chỉ cho 3 thứ tín tâm cầu vãng sinh Tịnh độ: Thuần tâm, Nhất tâm và Tương tục tâm. (xt. Tam Tín Tam Bất). II. Tam Tín. Cũng gọi Tam tâm, Tam tín tâm. Chỉ cho Chí tâm, Tín nhạo tâm, Dục sinh tâm do đức Phật A di đà thệ nguyện trong điều nguyện thứ 18 của Ngài, được gọi là Đại kinh tam tâm. Tịnh độ chân tông của Nhật bản chủ trương bản nguyện của Phật là cứu độ những người tội ác sâu nặng, cho nên nếu chúng ta bỏ tâm tự lực mà tin sâu sức cứu độ của Phật thì chắc chắn sẽ được cứu. Nếu người nghe ý nghĩa của bản nguyện này(nguyện thứ 18) mà tâm không sinh một mảy may nghi hoặc thì gọi là Tín nhạo (tin ưa). Sự tín nhạo này là do Chí tâm của Phật ban cho, do đó bản chất của niềm tin ưa ấy là chân thực không hư dối. Lòng tin này chính là tâm Dục sinh của đức Phật A di đà muốn cho chúng ta sinh về cõi Tịnh độ của Ngài. Tổ của Tịnh độ chân tông Nhật bản là ngài Thân loan chủ trương Tam tín tức là Tín tâm, biểu thị đức tín mà Phật A di đà ban cho chúng ta, còn Nhất tâm thì biểu thị điều căn bản là chúng ta có thể được cứu độ. Nếu từ lập trường tự lực thì tín tâm này khó có thể vào được, nhưng một khi đã vào được rồi thì nó trở nên cứng chắc như kim cương, cho nên gọi là Nan tín kim cương tín nhạo. Lòng tin ưa này là do sức cứu độ sâu rộng của Phật A di đà ban cho chúng ta nên cũng gọi là Lợi tha thâm quảng tín nhạo.

tam tín tam bất

(三信三不) Cũng gọi Tam bất tam tín. Chỉ cho 3 thứ tâm tin và 3 thứ tâm không tin do ngài Đàm loan thuộc tông Tịnh độ của Phật giáo Trung quốc nêu ra. Tam tín tâm là: 1. Thuần tâm: Tâm có niềm tin bền vững. 2. Nhất tâm: Tâm chỉ tin không nghi. 3. Tương tục tâm: Tâm liên tục không gián đoạn. Trái lại, tín tâm không thuần, tín tâm bấtnhất, tín tâm không tương tục thì gọi là Tam bất tín. Nếu phối hợp Tam tín này với các Tam tâm thì Thuần tâm lìa hư giả không thật, hợp với Chí tâm; Nhất tâm thì chuyên nhất không hai, phối với Tín nhạo; còn Tương tục tâm thì không bị dị học dị kiến làm tổn hại, phối với Dục sinh tâm. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ; An lạc tập Q.thượng; Vãng sinh luận chú kí Q.4]. (xt. Tam Tâm).

Tam tính

三性; hoặc Tam tướng; S: trilakṣaṇa; P: ti-lakkhaṇa;|Ba tính

tam tòng

(三從) Cũng gọi Tam chướng, Tam cách, Tam giam. Chỉ cho 3 đức mục mà người phụ nữ thời xưa phải suốt đời giữ gìn, tuân theo. Tức ở nhà thì theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết thì theo con. Người phụ nữ bị Tam tòng ràng buộc làm cho suốt đời không được tự do, cũng như Ngũ chướng khiến việc tu hành Phật đạo rất khó khăn, cho nên Tam tòng cùng với Ngũ chướng gọi chung là Ngũ chướng tam tòng, dùng để biểu thị căn cơ yếu kém của người phụ nữ. Kinh Siêu nhật minh quyển hạ (Đại 15, 541 trung) nói: Người nữ cóba việc ngăn cách, năm việc chướng ngại. Ba việc ngăn cách là những gì? Còn nhỏ bị cha mẹ chế ngự, khi xuất giá bị chồng ràng buộc mất tự do, khi về già bị con làm khó, đó là 3 việc ngăn cách. [X. kinh Ngọc da nữ; kinh Hiền ngu Q.4; Vô lượng thọ kinh thích; Đại tạng pháp số Q.16]. (xt. Ngũ Chướng).

Tam Tôn

(三尊): hay Tam Tôn Phật (三尊佛); tức lấy đấng Trung Tôn ở giữa làm chủ và có hai vị hầu hai bên. Hình thức này phát xuất từ dạng thức Nhất Quang Tam Tôn (一光三尊) của Ấn Độ. Thông thường, đấng Trung Tôn là Phật Thích Ca (s: Śākya, p: Sakya, 釋迦), bên trái là Phật Dược Sư (s: Bhaiṣajyaguru, 藥師), bên phải là Phật Di Đà (s: Amitāyus, Amitābha; 彌陀). Ngoài ra, còn có hình thức một Phật hai Bồ Tát hay Minh Vương hầu hai bên. Xưa nay Tam Tôn vốn có hình thức nhất định, như Phật Thích Ca cùng với hai vị đệ tử Thanh Văn là Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, p: Mahākassapa, 迦葉), A Nan (s: Ānanda, 阿難); hay Phật Thích Ca với hai Bồ Tát Phổ Hiền (s: Samantabhadra, 普賢) và Văn Thù (s: Mañjuśrī, 文殊), được gọi là Thích Ca Tam Tôn (釋迦三尊). Phật Di Đà với hai Bồ Tát Quan Thế Âm (s: Avalokiteśvara, 觀世音) và Đại Thế Chí (s: Mahāsthāmaprāpta, 大勢至) được gọi là Di Đà Tam Tôn (彌陀三尊) hoặc Tây Phương Tam Thánh (西方三聖). Dược Sư Như Lai cùng với hai Bồ Tát Nhật Quang (s: Sūryaprabha, 日光) và Nguyệt Quang (s: Candraprabha, 月光), được gọi là Dược Sư Tam Tôn (藥師三尊); hoặc Dược Sư Như Lai cùng với hai Bồ Tát Dược Vương (s: Bhaiṣajyarāja, 藥王) và Dược Thượng (s: Bhaiṣajyasamudgata, 藥上). Cũng có trường hợp Bát Nhã Bồ Tát (般若菩薩) với hai vị trời Phạm Thiên (s: Braḥma, 梵天) và Đế Thích (s: Indra, p: Inda, 帝釋). Bất Động Minh Vương (s: Acalanātha, 不動明王) với hai đồng tử Chế Tra Ca (s: Ceṭaka, 制吒迦) và Căng Yết La (s: Kiṅkara, 矜羯羅), v.v. Như trong Cư Sĩ Truyện (居士傳, CBETA No. 1646) quyển 22, phần Dương Thứ Công Vương Mẫn Trọng Truyện (楊次公王敏仲傳) có đoạn: “Quy mạng Chánh Biến Tri, Như Lai diệu pháp tạng, thập phương đại Bồ Tát, Tam Tôn chơn Thánh chúng, ngã kim ư pháp bảo, nguyện tác thắng diệu duyên (歸命正遍知、如來妙法藏、十方大菩薩、三尊真聖眾、我今於法寶、願作勝妙緣, quy kính Chánh Biến Tri, Như Lai pháp tạng mầu, mười phương đại Bồ Tát, Tam Tôn các bậc Thánh, con nay nơi pháp bảo, nguyện tạo nhân duyên lành).” ; Ba bậc đáng tôn kính, chỉ Phật, Pháp, Tăng, xem Tam bảo.

tam tôn

(三尊) Cũng gọi Tam tôn Phật. Cách bài trí 3 pho tượng Phật trong chùa. Trung tôn là chính, 2 bên Trung tôn có 2 vị hiếp thị khác. Cách sắp xếp này bắt nguồn từ Nhất quang tam tôn của Ấn độ, thường thì Trung tôn là Phật Thích ca, bên trái là Phật Dược sư, bên phải là Phật Di đà. Ngoài ra cũng có cách thờ một Phật hai Bồ tát, tức chính giữa là Phật, 2 bên là 2 vị Bồ tát hoặc 2 vị Minh vương. Từ xưa đến nay, Tam tôn có hình thức nhất định, tức Phật Thích ca, 2 vị đệ tử Thanh văn là Ca diếp, A nan; Phật Thích ca và 2 vị bồ tát Phổ hiền, Văn thù, gọi là Thích ca tam tôn; Phật Di đà và 2 bồ tát Quán thế âm, Đại thế chí, gọi là Di đà tam tôn; hoặc Tây phương tam thánh; Dược sư Như lai và 2 bồ tát Nhật quang, Nguyệt quang, gọi là Dược sư tam tôn; hoặc Phật Dược sư và 2 bồ tát Dược vương, Dược thượng; Bồ tát Bát nhã và 2 vị trời Phạm thiên, Đế thích; Minh vương Bất động và 2 đồng tử Chế tra ca, Căng yết la. Hiếp thị(cũng gọi là Hiếp sĩ, Giáp thị: Đứng hầu 2 bên) là biểu trưng cái đức của vị Trung tôn, như Quán thế âm biểu trưng từ bi, Đại thế chí biểu trưng trí tuệ; Văn thù biểu trưng sự hiểu biết, Phổ hiền biểu trưng sự thực hành. Tượng Tam tôn Phật nếu ở chính giữa an trí chung vầng ánh sáng phía sau lưng thì gọi là Nhất quang Tam tôn, vầng ánh sáng ấy thông thường được biểu hiện bằng hình chiếc thuyền(Thuyền hậu quang). [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.28; kinh Quán Dược vương Dược thượng nhị bồ tát; kinh Hoa nghiêm Q.60 (bản dịch cũ); kinh Nhất thiết công đức trang nghiêm; Đại đường tây vực kí Q.8]. (xt. Quang Bối, Hiếp Sĩ).

tam tôn lai nghênh

(三尊來迎) Ba vị Tôn đến đón. Chỉ cho lúc lâm chung, đức Như lai A di đà, bồ tát Quán thế âm và bồ tát Đại thế chí đến đón. Tức ứng theo bản nguyện mà các Ngài hiện ở trước để tiếp dẫn hành giả về Tịnh độ Cực lạc. (xt. Lai Nghinh).

tam tông

(三宗) I. Tam Tông. Ba tông. Tức ngài Tông mật thuộc tông Hoa nghiêm chia Phật giáo Đại thừa làm 3 tông là Pháp tướng, Phá tướng và Pháp tính.1. Pháp tướng tông: Chỉ cho các tông Du già, Duy thức. Tông này chủ trương 6tất cả vọng pháp hữu lậu và tịnh pháp vô lậu từ vô thủy đến nay đều có chủng tử ở trong thức A lại da, gặp duyên thì huân tập(xông ướp). Tức mỗi pháp đều từ tự tính sinh khởi, đều không quan hệ đến chân như, cho nên đối với các pháp sắc tâm kiến lập nhiều danh tướng, như các giáo nghĩa Ngũ vị bách pháp, Tam tính nhị vô ngã, Tứ trí tam thân... Trong Ngũ giáo phán của tông Hoa nghiêm, Pháp tướng tông tương đương với Tướng thủy giáo của Thủy giáo. 2. Phá tướng tông: Chỉ cho tông Tam luận. Tông này chủ trương tất cả pháp phàm thánh nhiễm tịnh đều vốn là không, dù thấy một pháp nào vượt hơn cả Niết bàn thì đó cũng như mộng như huyễn, bởi thế tông này dùng giáo nghĩa Tứ cú bách phi, Bát bất trung đạo, Vô sở đắc... để phá tất cả pháp tướng. Trong Ngũ giáo phán, tông này tương đương với Không thủy giáo của Thủy giáo. 3. Pháp tính tông: Chỉ cho các tông Hoa nghiêm, Thiên thai. Tông này chủ trương nương vào chân mà khởi lên vọng, chân như bất biến, vô ngại tùy duyên, như nói pháp thân lưu chuyển trong ngũ đạo, Như lai tạng cảm nhận khổ vui...; nếu tỏ ngộ vọng chính là chân thì chân vọng chẳng phải 2. Đồng thời cho rằng tâm của tất cả chúng sinh không phải do đoạn trừ hết phiền não mới được thanh tịnh, mà tâm ấy xưa nay vốn đã thanh tịnh rồi. Tâm ấy của chúng sinh tức là pháp tính. Trong Ngũ giáo phán, tông này tương đương với 3 giáo: Chung, Đốn, Viên của Đại thừa. Ngài Tông mật còn căn cứ vào tính chất bất đồng giữa 3 tông mà nêu ra 10 điểm khác nhau của pháp tính và pháp tướng, 5 điểm khác nhau giữa pháp tính và phá tướng, từ đó mà phán định rằng Pháp tính tông vượt hơn 2 tông trước. [X. Viên giác kinh lược sớ Q.thượng; Tông kính lục Q.5]. II. Tam Tông. Chỉ cho Thực pháp tông, Giả danh tông và Viên giáo tông do Luật tông thành lập. 1. Thực pháp tông: Tức Tát bà đa Hữu bộ tông, chủ trương tất cả các pháp đều có thật.2. Giả danh tông: Tức tông Thành thực, chủ trương các pháp chỉ có tên giả chứ không có thể thật. 3. Viên giáo tông: Chỉ cho Duy thức viên giáo. (xt. Hóa Giáo, Chế Giáo).

tam tông luận

(三宗論) Tác phẩm, do cư sĩ Chu ngung soạn vào đời Nam Tề. Nội dung sách này dùng nghĩa Chân đế và Tục đế để bàn thuật ý chỉ của 3 tông: Không giả danh, Bất không giả danh và Giả danh không. Không giả danh và Bất không giả danh là thuyết của các Luận sư Thành thực; còn Giả danh không là thuyết của Chu ngung. Sách này là tác phẩm đầu tiên phục hưng Tam luận học bát nhã ở Giang nam. [X. Trung quán luận sớ Q.2, phần cuối; Nhị đế chương Q.hạ; Quảng hoằng minh tập Q.24].

tam tông nhị đế

(三宗二諦) Chỉ cho thuyết Chân đế và Tục đế nói trong luận Tam tông của ẩn sĩ Chu ngung đờiNamTề. 1. Bất không giả danh: Như sắc, không nói trong kinh, thực tính của chúng là không, cho nên gọi là Không; còn giả sắc chẳng phải không, đây chính là thực tính. Không không có thực tính, nên là Chân đế, Bất không là giả danh, nên là Tục đế. 2. Không giả danh: Tất cả các pháp đều do nhân duyên mà thành, vì thế nên có cái thể giả danh. Nếu đem các duyên ấy mà phân tích thì đều bất khả đắc, bởi vậy, thể củagiả danh là Tục đế, bất khả đắc mới là Chân đế. 3. Giả danh không: Giả danh thì rõ ràng tức là không. Đại thừa huyền luận quyển 1 cho rằng 2 đế này tương đương với Nhị đế, lớp đầu trong 4 lớp Nhị đế. Còn Nhị đế chương quyển hạ thì cho Bất không giả danh là Thử lâu lật nhị đế, cònKhông giả danh là Án qua nhị đế. Giả danh không có nguồn gốc từ câu nói sau đây của ngài Tăng triệu (Đại 42, 29 hạ): Vì vật chẳng phải vật thật nên là giả vật; vì là giả vật nên tức là không. [X. Trung quán luận sớ Q.2, phần cuối]. (xt. Nhị Đế).

tam tùy miên

(三隨眠) Cũng gọi Tam sử. Tùy miên (Phạm:Anuzaya) là tên khác của phiền não mà Bồ tát ở giai vị Thập địa phải đoạn trừ. Dựa theo tính chất thô tế của chúng mà các Tùy miên được chia làm 3 loại là: 1. Hại bạn tùy miên(cũng gọi Hại bạn sử phiền não, Hại bạn, Hại bạn sử): Phiền não này là thứ thô nhất trong 3 phiền não, là phiền não mà Bồ tát 5 Địa trước trong 10 Địa phải đoạn trừ. Trong 5 Địa trước thì các phiền não hiện hành không cùng sinh một lượt là bạn giúp đỡ cho sự hiện hành của các phiền não sinh cùng một lượt, cho nên gọi là Hại bạn tùy miên. Cứ theo Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 1, phần cuối thì các phiền não tham, sân, si... cùng khởi một lượtvới thân kiến tương ứngvới thức thứ 6, gọi là Câu sinh (cùng sinh một lượt), các phiền não khác thì gọi là Bấtcâu sinh(không cùng sinh một lượt); thể của các phiền não Bất câu sinh hơi thô, là bạn giúp đỡ cho sự hiện hành của phiền não Câu sinh, cho nên gọi là Hại bạn. 2. Luy liệt tùy miên(cũng gọi Bạc sử phiền não, Luy sử): Sự hiện hành củaPhiền não chướng vàSở tri chướng cùng sinh một lượt tương ứng với thức thứ 6, cũng tức là các phiền não nhỏ nhiệm yếu kém hiện hành ở Đệ lục và Đệ thất địa. Nếu khi khởi Phục đạo thì phiền não này không hiện hành, nhưng lúc không khởi Phục đạo thì nó len lén hiện hành một cách tinh tế. Đối với Hại bạn tùy miên ở trên mà nói thì tướng của Luy liệt tùy miên hơi nhỏ nhiệm tinh tế, cho nên gọi là Luy liệt(yếu kém). 3. Vi tế tùy miên(cũng gọi Vi tế sử phiền não, Vi tế sử, Tế sử): Sự hiện hành của Sở tri chướng tương ứng với thức thứ 7, là tập khí còn sót lại sau khi đã đoạn trừ Hại bạn tùy miên và Luy liệt tùy miên, loại phiền não này là nhỏ nhiệm nhất trong 3 phiền não, là phiền não do Bát địa trởlên đoạn trừ. Nếu phiền não này cũng đã bị đoạn trừ thì tất cả phiền não không còn hiện hành trở lại nữa. [X. kinh Giải thâm mật Q.4; kinh Thâm mật giải thoát Q.5, kinh Tương tục giải thoát địa ba la mật liễu nghĩa; luận Du già sư địa Q.78; Thành duy thức luận xu yếu Q.thượng, phần đầu; Duy thức chương tư kí Q.6, phần cuối]. (xt. Tùy Miên).

tam tùy phiền não

(三隨煩惱) Chỉ cho 3 thứ Tùy phiền não nói trong Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 34. 1. Tiểu tùy phiền não: Chỉ cho 10 phiền não là Phẫn, Hận, Phú, Não, Tật, Khan, Cuống, Siểm, Kiêu và Hại. Mười phiền não này đều sinh khởi một cách riêng rẽ và vì chúng sinh khởi riêng rẽ, có tính cách cục bộ, cho nên gọi là Tiểu tùy phiền não.2. Trung tùy phiền não: Chỉ cho 2 thứ phiền não Vô tàm (không biết thẹn)và Vô quí(không biết hổ); hai thứ phiền não này cùng nhau sinh ra một lượt, chứ không sinh khởi riêng rẽ và khởi lên trong tất cả các pháp bất thiện, nên gọi là Trung tùy phiền não.3. Đại tùy phiền não: Chỉ cho 8 thứ phiền não là Điệu cử, Hôn trầm, Bất tín, Giải đãi, Phóng dật, Tán loạn, Bất chính và Thất niệm; 8 thứ phiền não này chẳng những chỉ cùng nhau sinh ra một lượt, mà còn có mặt khắp trong các pháp ô nhiễm, vì thế nên gọi là Đại phiền não.

tam tăng kỳ bách đại kiếp

(三僧祇百大劫) Cũng gọi Tam kì bách kiếp. Ba tăng kì trăm đại kiếp, từ gọi chung Tam a tăng kì kiếp và Bách đại kiếp, là thời gian vị Bồ tát tu hành từ lúc mới phát tâm đến khi thành quả Phật. Tam a tăng kì cũng gọi là Tam kiếp, a tăng kì dịch là vô số, hoặc chỉ cho sự tột cùng của số; Kiếp là tên gọi thời gian, dịch là lâu xa, lâu dài... trong đó có đại kiếp, trung kiếp, tiểu kiếp khác nhau. Ba cái A tăng kì đại kiếp gọi là Tam đại a tăng kì kiếp, là khoảng thời gian vị Bồ tát tích lũy tư lương bồ đề; còn 100 đại kiếp là thân của quả Phật được tướng hảo trang nghiêm, là thời gian tu phúc nghiệp. Bồ tát vì sự nghiệp độ tha mà tu hành trong 3 a tăng kì kiếp, lại vì chính thân mình thành Phật cảm được 32 tướng mà trong khoảng thời gian 100 đại kiếp vun trồng vô lượng phúc đức. Nhưng luận Du già sư địa quyển 48 và luận Nhiếp đại thừa quyển hạ chỉ nêu Tam kì, chứ không nói Bách kiếp, cho nên các ngài Trí khải, Pháp tạng... đều chủ trương thuyết Tam kì bách kiếp là do Tiểu thừa thành lập. [X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.178; luận Câu xá Q.18; luận Thuận chính lí Q.44; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2]. (xt. Tam A Tăng Kì Kiếp, Kiếp).

tam tăng thượng

Three predominant influences—See Tam Pháp (xxxxxiv).

tam tư

(三思) Chỉ cho 3 tác dụng tinh thần suy tư về đối cảnh(đối tượng). 1. Thẩm lự tư(cũng gọi Gia hành tư): Nghĩ xét kĩ về đối cảnh chấp lấy các tướng chính nhân tà nhân đều trái nhau... 2. Quyết định tư: Sau khi đã nghĩ xét kĩ thì ý quyết định. 3. Động phát thắng tư(cũng gọi Đẳng khởi tư): Sau khi đã quyết định, phát động thân nghiệp và ngữ nghiệp. Vì thế lực của Tư này mạnh mẽ hơn nên gọi là Thắng. Trong đó, 2 Tư trước thuộc về Ý nghiệp. Động phát thắng tư lại được chia làm Động thân tư và Phát ngữ tư; Động thân tư thuộc về Thân nghiệp, Phát ngữ tư thuộc về Ngữ nghiệp. Tam tư phối hợp với Nhân đẳng khởi, Sát na đẳng khởi thì có 2 thuyết như sau:1. Ý nghĩ ban đầu của Thẩm lự tư và Quyết định tư là Nhân đẳng khởi xa, ý nghĩ sau cùng của Quyết định tư là Nhân đẳng khởi gần, Phát động thắng tư là Sát na đẳng khởi.2. Hai tư trước là Nhân đẳng khởi xa, ý nghĩ ban đầu của Động phát thắng tư là Nhân đẳng khởi gần, từ ý nghĩ thứ 2 trở về sau là Sát na đẳng khởi. [X. luận Đại thừa thành nghiệp; luận Thành duy thức Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.2, phần đầu]. (xt. Tư).

tam tương tục

(三相續) Ba thứ tiếp nối nhau, chỉ cho thế giới, chúng sinh và nghiệp quả, lần lượt đổi dời, nối tiếp nhau không dứt. 1. Thế giới tương tục: Chúng sinh gây nghiệp, dẫn đến phiền não trần lao, chiêu cảm phong luân, kim luân, thủy luân... làm nhân duyên lẫn nhau mà tạo thành quốc độ thế giới này, như rừng cây bị cháy thì thành đất, vắt đất thì ra nước; đá núi đập vào nhau thì bắn ra lửa, nung nấu thì tan thành nước. Cứ nhưthế sinh ra lẫn nhau, làm chủng tử cho nhau mà thành thế giới tương tục. 2. Chúng sinh tương tục: Chúng sinh vì có 6 thứ hư vọng như sắc, hương, vị, xúc..., nên hễ thấy khác nhau thì ghét nhau, thấy giống nhau thì yêu mến nhau, lấy yêu mến làm hạt giống nên phát sinh giao cấu, hấp dẫn đồng nghiệp, tùy theo cảm ứng mà vào 4 loài(đẻ bọc, đẻ trứng, đẻ ở chỗ ẩm ướt, tự nhiên hóa sinh), vì nguyên nhân ấy nên chúng sinh tương tục. 3. Nghiệp quả tương tục: Chúng sinh lấy tham ái làm gốc, ái kết không lìa, cho nên cha mẹ, con cháu ở thế gian sinh ra nhau không dứt; lấy tham sát làm gốc, rồi tùy theo sức vóc mạnh yếu mà ăn nuốt lẫn nhau, người ăn dê thì dê chết thành người, người chết làm dê, cứ như thế cho đến 10 loài sinh, chết chết sống sống, ăn thịt lẫn nhau; lấy tham trộm làm gốc nên người nợ mệnh ta, ta trả nợ người, trăm nghìn kiếp thường ở trong sự trói buộc, vì lí do ấy nên nghiệp quả tương tục. Ba thứ điên đảo trên đây đều do vọng kiến sinh ra, đến cuối cùng thì trở lại từ đầu, nối nhau không dứt, vì thế gọi là Tam tương tục. [X. kinh Lăng nghiêm Q.4].

tam tướng

(三相) I. Tam Tướng. Chỉ cho 3 tướng của hết thảy các pháp, đó là: 1. Giả danh tướng: Tức tướng chỉ có tên giả chứ không thể thật. 2. Pháp tướng: Chỉ cho các tướng của 5 uẩn, 12 xứ, 8 giới... 3. Vô tướng tướng: Chỉ cho tướng của vô tướng, là tướng lìa Giả danh tướng và Pháp tướng. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.13]. II. Tam Tướng. Chỉ cho 3 tướng của sự vật. 1. Tiêu tướng: Như khói là tướng chỉ bày cho biết sự tồn tại của lửa. 2. Hình tướng: Như tướng dài, ngắn, vuông, tròn... 3. Thể tướng: Tướng bản chất của tự thân vật thể, như lửa lấy nóng làm tướng. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.13]. III. Tam Tướng. Ba tướng trị tâm khi tu thiền định. 1. Phát tướng: Tướng phấn phát khởi lên khi đối trị sự trầm trệ của tâm. 2. Chế tướng: Tướng ngăn chặn tâm tán loạn. 3. Xả tướng: Tướng buông bỏ sự điều hòa tâm. [X. phẩm Định tướng trong luận Thành thực Q.12]. VI. Tam Tướng. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong tác pháp 3 chi Nhân minh, chi Nhân phải có đủ 3 điều kiện gọi là Nhân tam tướng, đó là: Nhân phải hoàn toàn quan hệ với Tông, phải có tính cách của Đồng phẩm và tuyệt đối không được xen lẫn tính cách của Dị phẩm. (xt. Nhân Tam Tướng). V. Tam Tướng. Cũng gọi Tam hữu vi, Tam hữu vi tướng. Ba tướng của pháp hữu vi. 1. Sinh tướng: Có năng lực sinh khởi các pháp. 2. Trụ dị tướng: Có năng lực làm cho các pháp biến đổi, suy hoại. 3. Diệt tướng: Có nănglựclàm cho các pháp tan diệt. Luận Câu xá quyển 5 (Đại 29, 27 thượng) nói: Nếu pháp làm cho hành 3 đời trôi chảy đổi dời thì kinh này gọi đó là tướng hữu vi khiến cho các hữu tình sinh tâm chán sợ. Nghĩa là khi các hành đổi dời thì chúng sẽ từ vị lai trôi dời vào hiện tại, rồi bị năng lực của dị tướng và diệt tướng thôi thúc khiến cho từ hiện tại trôi dời vào quá khứ, cứ thế đổi khác và hoại diệt. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.12; luận Đại tì bà sa Q.39; luận Thuận chính lí Q.13; Câu xá luận quang kí Q.5]. (xt. Tứ Tướng). VI. Tam Tướng. Cũng gọi Tam tính. Tức ý cứ vào tính cách hữu vô giả thực mà chia tính tướng của tất cả pháp làm 3 thứ là Biến kế sở chấp tính(tướng hư vọng, phân biệt), Y tha khởi tính (tướng nhân duyên) và Viên thành thực tướng(tướng Đệ nhất nghĩa). (xt. Tam Tính). VII. Tam Tướng. Chỉ cho 3 tướng củathức A lại da: Tự tướng, Quả tướng và Nhân tướng. Tự tướng chỉ cho Sơ a lại da, Quả tướng chỉ cho Dị thục và Nhân tướng chỉ cho Nhất thiết chủng. (xt. Lại Da Tam Tướng).

tam tướng thần

(三相神) Phạm:Trimùrti. Chỉ cho 3 vị thần liên quan với nhau nhưng mỗi vị có một tướng. Chủ yếu chỉ cho 3 vị thần lớn mà Ấn độ giáo tin thờ là Phạm thiên, Tì thấp nô và Thấp bà. Người Ấn độ giáo tin rằng 3 vị thần này theo thứ tự đại biểu cho sự sáng tạo, sự duy trì và sự hủy diệt vũ trụ. Tín ngưỡng này bắt nguồn từ thời kì Phệ đà. Cứ theo Lê câu phệ đà thì Hỏa thần A kì ni có 3 chỗ, gọi là Tam tòa (Phạm: Triwadhasthà), chỗ trên mặt đất là 2 miếng gỗ chà xát vào nhau sinh ra lửa, gọi là con của Lực (Phạm: Sahasas-putra); chỗ trong hư không chỉ cho lửa chớp trong mây, gọi là con của nước (Phạm:Apputra); còn chỗ ở trên trời thì thái dương(mặt trời) là bản xứ của thần này, gọi là Thiên hỏa (Phạm:Divyàgni).

tam tưởng

(三想) I. Tam Tưởng. Cũng gọi Tam ác tưởng, Tam bất thiện tưởng. 1. Dục tưởng (Phạm:Kàma-saôjĩà): Ý tưởng nổi lên từ sự tham muốn. 2. Sân khuể tưởng (Phạm:Vyàpàdasaôjĩà): Ý tưởng nổi lên từ sự tức giận. 3. Sát hại tưởng (Phạm: Vihiôsàsaôjĩà), cũng gọi Não tưởng. Nghĩa là nổi lên ý tưởng hại người. Cứ theo Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán quyển trung, nếu không tham danh lợi thì không sinh dục giác, không não chúng sinh thì không sinh sân giác, không tổn sự sống của vật thì không sinh hại giác. Do đó, nếu Tam giác không sinh thì Tam tướng cũng diệt. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.13; luận Di thục bộ tông luận; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng]. II. Tam Tưởng. Cũng gọi Tam thiện tưởng. Chỉ cho 3 thứ thiện tưởng. 1. Xuất yếu tưởng (Phạm: Naiwkramya-saôjĩà): cũng gọi Xuất li tưởng. Nghĩa là ý tưởng thoát li. Người có ý tưởng này, sau khi chết sẽ sinh vào cõi người. 2. Bất hại tưởng (Phạm:Avihiôsàsaôjĩà): Ý tưởng không làm hại người. Người có ý tưởng này, khi mệnh chung tự nhiên sinh lên cõi trời. 3. Bất khuể tưởng (Phạm:Avỳapàdasaôjĩà): Ý tưởng không sân hận. Người có ý tưởng này, khi mệnh chung sẽ dứt trừ 5 kết sử sau mà nhập Niết bàn. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.13; kinh Trường a hàm Q.8]. III. Tam Tưởng. Chỉ cho 3 thứ tâm niệm mà Bồ tát tại gia phát khởi khi thấy người ăn xin. 1. Thiện tri thức tưởng: Ý tưởng được gặp bậc thiện tri thức. 2. Tha thế phú tưởng(cũng gọi Linh hậu thế đại phú tưởng): Ý tưởng nếu bố thí thì đời sau được giàu to. 3. Bồ đề cơ tưởng(cũng gọi Linh đắc Phật đạo tưởng): Khởiýtưởng bố thí là nền tảng để thành Bồ đề. [X. kinh Đại bảo tích Q.82; kinh Úcca la việt vấn Bồ tát hạnh]. IV. Tam Tưởng. Chỉ cho 3 thứ tâm niệm khởi lên khi đoạn trừ các phiền não tham, sân... 1. Li tưởng(cũng gọi Li dục tưởng): Hành giả ở trong các pháp Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất... muốn dùng chính trí tuệ quán tưởng để xa lìa các phiền não. 2. Đoạn tưởng: Hành giả muốn được đạo vô lậu để đoạn trừ các kết sử. 3. Tận tưởng(cũng gọi Diệt tưởng): Khi vào Niết bàn, hành giả muốn diệt 5 thụ, không cho nối tiếp nữa. [X. luận Đại trí độ Q.33; luận Đại tì bà sa Q.29; luận Thành thực Q.14; Vô lượng thọ kinh tập giải Q.8]. V. Tam Tưởng. Chỉ cho 3 thứ tâm niệm sinh khởi khi hành giả Tịnh độ niệm Phật. 1. Qui mệnh tưởng: Bản tôn quay về hướng Đông, hành giả hướng về Phật qui mệnh. 2. Dẫn nhiếp tưởng: Bản tôn quay về hướng Tây, hành giả khởi ý niệm theo sau Phật qua 10 vạn ức cõi nước. 3. Vãng sinh tưởng: Tâm niệm tưởng tượng hành giả đã sinh về cõi nước Cực lạc và được thấy Phật nghe pháp. [X. Vãng sinh yếu tập Q.trung, phần đầu; Vãng sinh yếu tập nghĩa kí Q.trung, 5]. VI. Tam Tưởng. Chỉ cho 3 thứ tâm tưởng bình đẳng của Bồ tát đối với tất cả chúng sinh, không phân biệt oán, thân. 1. Oán tưởng: Có người làm hại mình và hại cha mẹ anh em mình, cũng khởi ý tưởng thân ái. 2. Thân tưởng: Đối với cha mẹ, anh em, họ hàng, bạn bè đều khởi ý tưởng thân ái. 3. Trung nhân tưởng: Đối với những người chẳng phải oán chẳng phải thân, cũng sinh khởi ý tưởng thân ái. [X. kinh Bát nhã; luận Đại trí độ Q.72].

tam tại

(三在) Tại tâm, tại duyên và tại quyết định, được nói trong Vãng sinh luận chú quyển thượng của ngài Đàm loan. Nghĩa là nếu so sánh hiệu lực của việc suốt đời tạo các tội ác và việc niệm Phật 10 niệm lúc hấp hối thì hiệu lực của việc niệm Phật thù thắng hơn vì 3 lẽ: 1. Tại tâm: Nói theo tâm thì niệm Phật là căn cứ chân lí, tội ác là căn cứ hư vọng. 2. Tại duyên: Nói theo duyên thì niệm Phật là căn cứ danh hiệu Phật chân thực, còn tội ác thì do chúng sinh mà có. 3. Tại quyết định: Niệm Phật lúc hấp hối, vì thời cơ cấp bách, có tính cách quyết định, cho nên tâm định, còn tâm tạo tội ác thì lúc đó không khởi lên.

Tam tạng

三藏; S: tripiṭaka; P: tipiṭaka;|I. Là ba phần cốt tuỷ của kinh sách đạo Phật, gồm: Kinh tạng (經藏; s: sūtra-piṭaka; p: sutta-piṭaka), Luật tạng (律藏; s, p: vinaya-piṭaka), Luận tạng (論藏; s: abhi-dharma-piṭaka; p: abhidhamma-piṭaka).|Kinh tạng gồm các bài giảng của chính đức Phật hoặc các đại đệ tử, chia làm năm bộ: Trường bộ kinh (p: dīgha-nikāya), Trung bộ kinh (p: majjhima-nikāya), Tương ưng bộ kinh (p: saṃyutta-nikāya), Tăng-nhất bộ kinh (p: aṅguttara-nikāya) và Tiểu bộ kinh (p: khuddaka-nikāya).|Luật tạng chứa đựng lịch sử phát triển của Tăng-già (s, p: saṅgha) cũng như các giới luật của người xuất gia, được xem là tạng sách cổ nhất, ra đời chỉ vài mươi năm sau khi Phật nhập Niết-bàn.|Luận tạng – cũng được gọi là A-tì-đạt-ma – chứa đựng các quan niệm đạo Phật về triết học và tâm lí học. Luận tạng được hình thành tương đối trễ, có lẽ là sau khi các trường phái đạo Phật tách nhau mà vì vậy, nó không còn giữ tính chất thống nhất, mặc dù sự khác biệt giữa các trường phái không đáng kể.|Tam tạng còn được truyền lại trọn vẹn nhất chính là Tam tạng Pā-li, có lẽ xuất phát từ một bản của Trưởng lão bộ (s: sthavira) ở Trung Ấn. Theo truyền thuyết, Kinh tạng và Luật tạng bằng tiếng Pā-li được viết lại trong lần kết tập thứ nhất (năm 480 trước Công nguyên), trong đó Ưu-bà-li nói về Luật và A-nan-đà trình bày giáo pháp. Những lời thuật lại của hai vị đại đệ tử này của Phật (Mười đại đệ tử) đã trở thành cơ sở của hai tạng đó. Theo một số tài liệu thì Luận tạng cũng hình thành ngay sau đó. Ngoài văn hệ Pā-li, ngày nay người ta cũng còn các tạng kinh, luật bằng Phạn ngữ (sanskrit), được Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) lưu truyền, nhất là ở những vùng Tây Bắc Ấn Ðộ.|Kinh sách của các tông phái khác như Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika) và Pháp Tạng bộ (s: dhar-maguptaka) ngày nay chỉ còn trong bản chữ Hán. Các kinh sách quan trọng của Phật giáo Trung Quốc và Nhật Bản phần lớn đều xuất phát từ Pháp Tạng bộ. Các bộ này không xếp thành hệ thống nghiêm khắc như những tạng Pā-li và qua thời gian cũng có thay đổi. Danh mục cũ nhất về các Kinh tạng vào năm 518 (sau Công nguyên) ghi lại 2113 tác phẩm. Toàn bộ kinh sách đó được in lại lần đầu trong năm 972 (Ðại chính tân tu đại tạng kinh, Cam-châu-nhĩ/Ðan-châu-nhĩ).|II. Một danh hiệu dành cho những Cao tăng, những vị Đại sư được xem là tinh thông Tam tạng, như vậy là thông suốt hết tất cả những thánh điển nhà Phật. |III. Một cách gọi kinh điển, giáo lí của hàng Nhị thừa. |VI. Chỉ ba loại hành giả: Hành giả Thanh Văn (聲聞), hành giả Duyên Giác (緣覺) và hành giả Bồ Tát (菩薩).

tam tạng

Tripitakas—Tam Tạng Kinh điển gồm trọn vẹn giáo lý của Đức Phật (bằng 11 lần quyển Thánh Kinh), được viết bằng tiếng Pali trong trường phái Tiểu Thừa và tiếng Phạn trong trường phái Đại Thừa—The three store houses—Three Buddhist Canon Baskets—The three baskets (tripitaka) of Buddhist Teachings which contains the essence of the Buddha's teaching (is estimated to be about eleven times the size of the Bible)—The Theravada canon written in Pali and the Mahayana canon written in Sanskrit. (I) Luật Tạng: Vinaya (skt)—Precepts—Theo Hòa Thượng Narada trong Đức Phật và Phật Pháp, Luật Tạng được xem là cái neo vững chắc để bảo tồn con thuyền Giáo Hội trong những cơn phong ba bão táp của lịch sử. Phần lớn Luật Tạng đề cập đến giới luật và nghi lễ trong đời sống xuất gia của các vị Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni—According to Most Venerable Narada in The Buddha and His Teaching, the Vinaya Pitaka, which is regarded as the sheet anchor of the Holy Order, deals mainly with the rules and regulations of the Order of Bhikkhus and Bhikkhunis. 1) Ngót hai mươi năm sau khi thành đạo, Đức Phật không có ban hành giới luật nhứt định để kiểm soát và khép chư Tăng vào kỷ cương. Về sau, mỗi khi có trường hợp xãy đến, Đức Phật đặt ra những điều răn thích hợp—For nearly twenty years after the enlightenment of the Buddha, no definite rules were laid down for the control and discipline of the Sangha. Subsequently as occasion arose, the Buddha promulgated rules for the future discipline of the Sangha. 2) Luật Tạng nêu rõ đầy đủ lý do tại sao và trường hợp nào mà Đức Phật đặc ra một giới, và mô tả rành mạch các nghi thức hành lễ sám hối của chư Tăng—Vinaya Pitaka mentions in details (fully describes) reasons for the promulgation of rules, their various implications, and specific Vinaya ceremonies of the Sangha. 3) Ngoài ra, lịch trình phát triển đạo giáo từ thuở ban sơ, sơ lược đời sống và chức nhiệm của Đức Phật, và những chi tiết về ba lần kết tập Tam Tạng Kinh Điển cũng được đề cập trong Luật Tạng—Besides the history of the gradual development of the Sasana from its very inception, a brief account of the life and ministry of the Buddha, and details of the thee councils are some other additional relevant contents of the Vinaya Pitaka. 4) Tóm lại, đây là những tài liệu hữu ích về lịch sử thời thượng cổ, về các cổ tục ở Ấn Độ, về kiến thức và trình độ thẩm mỹ thời bấy giờ—In summary, Vinaya Pitaka reveals useful information about ancient history, Indian customs, ancient arts and sciences. 5) Luật Tạng gồm năm quyển—The Vinaya Pitaka consists of five books: a) Tội Nặng: Parajika (skt)—Major offences. b) Tội Nhẹ: Pacittiya (skt)—Minor offences. c) Phần lớn: Mahavagga (skt)—Great Section. d) Phần nhỏ: Cullavagga (skt)—Lesser Section. e) Giới luật toát yếu: Parivara (skt)—Epitome of the Vinaya. 6) See Cụ Túc Giới Tỳ Kheo. (II) Kinh Tạng: Sutra (skt). 1) Kinh Tạng đại để gồm những bài pháp có tính cách khuyên dạy mà Đức Phật giảng cho cả hai, bậc xuất gia và hàng cư sĩ, trong nhiều cơ hội khác nhau. Một vài bài giảng của các vị đại đệ tử như các ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên và A Na Đà cũng được ghép vào Tạng Kinh và cũng được tôn trọng như chính lời Đức Phật vì đã được Đức Phật chấp nhận—The Sutra Pitaka consists chiefly of instructive discourses delivered by the Buddha to both the Sangha and the laity on various occasions. A few discourses expounded by great disciples such as the Venerable Sariputra, Moggallana, and Ananda, are incorporated and are accorded as much veneration as the word of the Buddha himself, since they were approved by him. 2) Phần lớn các bài pháp nầy nhắm vào lợi ích của chư Tỳ Kheo và đề cập đến đời sống cao thượng của bậc xuất gia—Most of the sermons were intended mainly for the benefit of Bhikkhus, and they deal with the holy life and with the exposition of the doctrine. 3) Nhiều bài khác liên quan đến sự tiến bộ vật chất và tinh thần đạo đức của người cư sĩ. Kinh Thi Ca La Việt chẳng hạn, dạy về bổn phận của người tại gia. Ngoài ra, còn có những bài giảng lý thú dành cho trẻ em—There are several other discourses which deal with both the material and the moral progress of his lay-followers. The Sigalaka Sutra, for example, deals mainly with the duties of a layman. There are also a few interesting talks given to children. 4) Tạng Kinh giống như một bộ sách ghi lại nhiều quy tắc để theo đó mà thực hành, vì đó là các bài pháp do Đức Phật giảng ở nhiều trường hợp khác nhau cho nhiều người có căn cơ, trình độ và hoàn cảnh khác nhau. Ở mỗi trường hợp Đức Phật có một lối giải thích để người thính pháp được lãnh hội dễ dàng. Thoáng nghe qua hình như mâu thuẫn, nhưng chúng ta phải nhận định đúng Phật ngôn theo mỗi trường hợp riêng biệt mà Đức Phật dạy điều ấy. Tỷ như trả lời câu hỏi về cái “Ta,” có khi Đức Phật giữ im lặng, có khi Ngài giải thích dông dài. Nếu người vấn đạo chỉ muốn biết để thỏa mãn tánh tọc mạch thì Ngài chỉ lặng thinh không trả lời. Nhưng với người cố tâm tìm hiểu chơn lý thì Ngài giảng dạy rành mạch và đầy đủ—The Sutra Pitaka may be compared to books of prescriptions, since the discourses were expounded on diverse occasions to suit the temperaments of various persons. There may be seemingly contradictory statements, but they should not be misconstrued, as they were uttered by the Buddha to suit a particular purpose; for instance, to the self-same question he would maintain silence, when the inquirer was merely foolishly inquisitive, or give a detailed reply when he knew the inquirer to be an earnest seeker after the truth. 5) Tạng Kinh gồm năm bộ—The Sutra Pitaka consists of five volumes: a) Tên những kinh gọi theo Phật Giáo Nguyên Thủy—Names of the sutras called by the Theravada: i) Trường A Hàm: Digha-Nikaya (p)—Ghi chép những bài pháp dài—Collection of Long iscourses. ii) Trung A Hàm: Majjhima Nikaya (p)—Ghi chép những bài pháp dài bậc trung—Collection of Middle-Length Discourses. iii) Tạp A Hàm: Samyutta Nikaya (p)—Ghi chép những câu kinh tương tự nhau—Collection of Kindred Sayings. iv) Tăng Nhứt A Hàm: Anguttara Nikaya (p)—Ghi chép những bài pháp sắp xếp theo số—Collction of Gradual sayings. v) Tiểu A Hàm: Khuddaka Nikaya (p)—Ghi chép những bài kệ ngắn—Smaller Collection—See Tiểu A Hàm. b) Tên kinh gọi theo Phật Giáo Đại Thừa—Names of the sutras called by the Mahayana: i) Trường Bộ Kinh: See (A) (1). ii) Trung Bộ Kinh: See (A) (2). iii) Tương Ưng Bộ Kinh: See (A) (3). iv) Tăng Chi Bộ Kinh: See (A) (4). v) Tiểu Bộ Kinh: See (A) (5). (III) Luận Tạng: Abhidharma or sastra (skt)—Abhidhamma Pitaka (p)—Commentaries. (A) Theo Hòa Thượng Narada trong Đức Phật và Phật Pháp, Luận Tạng thâm diệu và quan trọng nhất trong toàn thể giáo pháp, vì đây là phần triết lý cao siêu, so với Kinh tạng giản dị hơn. Đây là tinh hoa của Phật giáo. Đối với một vài học giả, Luận Tạng không phải do Đức Phật mà do các nhà sư uyên bác khởi thảo về sau nầy. Tuy nhiên, đúng theo truyền thống thì chính Đức Phật đã dạy phần chánh yếu của Luận Tạng. Những đoạn gọi là Matika hay Nồng Cốt Nguyên Thủy của giáo lý cao thượng nầy như thiện pháp, bất thiện pháp, và bất định pháp, trong sáu tập của Luận Tạng (trừ tập nói về những điểm tranh luận) đều do Đức Phật dạy—The Abhidhamma Pitaka is the most important and most interesting of the three, containing as it does the profound philosophy of the Buddha's teaching in contrast to the simpler discourses in the Sutta Pitaka. Abhidhamma, the higher doctrine of the Buddha, expounds the quintessence of his profound teachings. According to some scholars, Abhidhamma is not a teaching of the Buddha, but is later elaboration of scholastic monks. Tradition, however, attributes the nucleus of the Abhidhamma to the Buddha himself. The Matika or Matrices of the Abhidhamma such as wholesome states (kusala dhamma), unwholesome states (akusala dhamma), and indeterminate states (abhyakata dhamma), etc., which have been elaborated in the six books, except the Kathavatthu, were expounded by the Buddha a) Ngài Xá Lợi Phất được danh dự lãnh trọng trách giảng rộng và giải thích sâu vào chi tiết—Venerable Sariputta was assigned the honour of having explained all these topics in detail. b) Dầu tác giả, hay các tác giả là ai, chắc chắn Luận Tạng là công trình sáng tác của một bộ óc kỳ tài chỉ có thể so sánh với một vị Phật. Và điểm nầy càng nổi bậc hiển nhiên trong tập Patthana Pakarana, vừa phức tạp vừa tế nhị, diễn tả mối tương quan của luật nhân quả với đầy đủ chi tiết—Whoever the great author or authors may have been, it has to be admitted that the Abhidhamma must be the product of an intellectual genius comparable only to the Buddha. This is evident from the intricate and subtle Patthana Pakarana which describes in detail the various causal relations. c) Đối với bậc thiện tri thức muốn tìm chân lý, Luận Tạng là bộ sách chỉ đạo khẩn yếu, vừa là một bộ khải luận vô giá. Ở đây có đủ thức ăn tinh thần cho học giả muốn mở mang trí tuệ và sống đời lý tưởng của người Phật tử. Luận Tạng không phải là loại sách để đọc qua cầu vui hay giải trí—To the wise truth-seekers, Abhidhamma is an indispensable gide and an intellectual treat. Here is found food for thought for original thinkers and for earnest students who wish to develop wisdom and lead an ideal Buddhist life. Abhidhamma is not a subject of fleeting interest designed for the superficial reader. d) Khoa tâm lý học hiện đại, còn hạn định, vẫn nằm trong phạm vi của Vi Diệu Pháp khi đề cập đến tâm, tư tưởng, tiến trình tư tưởng, các trạng thái tâm. Nhưng Luận Tạng không chấp nhận có một linh hồn, hiểu như một thực thể trường tồn bất biến. Như vậy Vi Diệu Pháp dạy một thứ tâm lý trong đó không có linh hồn—Modern psychology, limited as it is, comes within the scope of Abhidhamma inasmuch as it deals with mind, thoughts, thought-processes, and mental properties; but it does not admit of a psyche or a soul. It teaches a psychology without a psyche. (B) Trong Vi Diệu Pháp, tâm hay tâm vương được định nghĩa rõ ràng. Tư tưởng được phân tích và sắp xếp đại để thành từng loại về phương diện luân lý. Tất cả những trạng thái tâm hay tâm sở đều được lược kê cẩn thận. Thành phần cấu hợp của mỗi loại tâm được kể ra từng chi tiết. Tư tưởng phát sanh như thế nào cũng được mô tả tỉ mỉ. Riêng những chập tư tưởng bhavanga và javana, chỉ được đề cập và giải thích trong Vi Diệu Pháp—Consciousness (citta) is defined. Thoughts are analyzed and classified chiefly from an ethical standpoint. All mental properties (cetasika) are enumerated. The composition of each type of consciousness is set forth in detail. How thoughts arise is minutely described. Bhavanga and javana thought-moments. 1) Trong Vi Diệu Pháp, những vấn đề không liên quan đến giải thoát đều bị gác hẳn qua một bên—Irrelevent problems that interest students and scholars, but have no relation to one's deliverance, are deliberately set aside. 2) Vi Diệu Pháp không nhằm tạo lập một hệ thống tư tưởng về tâm và vật chất, mà chỉ quan sát hai yếu tố cấu tạo nên cái được gọi là chúng sanh để giúp hiểu biết sự vật đúng theo thực tướng—Abhidhamma does not attempt to give a systematized knowledge of mind and matter. It investigates these two composite factors of the so-called being, to help the understanding of things as they truly are. (C) Bà Rhys Davids đã viết: “Vi Diệu Pháp đề cập đến cái gì ở bên trong ta, cái gì ở chung quanh ta, và cái gì ta khao khát thành đạt.”—Mrs. Rhys Davids wrote about Abhidhamma as follows: “Abhidhamma deals with what we find within us, around us, and of what we aspire to find.” (D) Tạng Kinh chứa những giáo lý thông thường, còn Luận Tạng chứa đựng những giáo lý cùng tột—While the Sutta Pitaka contains the conventional teaching, the Abhidhamma Pitaka contains the ultimate teaching. (E) Hầu hết các học giả Phật giáo đều cho rằng muốn thông hiểu Giáo lý của Đức Phật phải có kiến thức về Luận Tạng vì đó là chìa khóa để mở cửa vào “thực tế.”—It is generally admitted by most exponents of the Dhamma that a knowledge of the Abhidhamma is essential to comprehend fully the teachings of the Buddha, as it represents the key that opens the door of reality. (F) Luận Tạng gồm bảy bộ— 1) Pháp Trụ hay Phân Loại Các Pháp: Dhammasanghani (p)—Classification od Dhamma. 3) Phân Biệt hay những tiết mục: Vibhanga (p)—Divisions. 4) Đại Thuyết hay luận giải về các nguyên tố: Dhatukatha (p)—Discourses of Elements. 5) Nhơn Thi Thuyết hay những danh tính cá nhơn: Puggala Pannatti (p)—The Book on Individuals. 6) Thuyết Sự hay những điểm tranh luận: Kathavathu (p)—Points of Controversy. 7) Song Đối hay quyển sách về cặp đôi: Yamaka (p)—The Bok of Pairs. 8) Phát Thú hay quyển sách đề cập đến nhân quả tương quan: Patthana (p)—The Bok of Causal Relations. ; (三藏) Phạm:Trìịi piỉakàni. Pàli:Tìịi piỉakàni. Cũng gọi Tam pháp tạng. Tạng (Phạm:Piỉaka) nghĩa là cái đồ chứa đựng, kho lẫm, hòm đan bằng tre. I. Tam Tạng. Chỉ cho Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng.Cứ theo phẩm Thuật cầu trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 4 thì Tạng nghĩa là nhiếp, tức là tổng nhiếp tất cả những điều nên biết. Nếu theo thuyết của ngài Giác âm thì tạng nghĩa là am kí(ghi nhớ thành thuộc), tức thầy trò dùng phương pháp tụng thuộc lòng mà truyền miệng cho nhau. Theo kinh Văn thù chi lợi phổ siêu tam muội quyển trung thì Tạng nghĩa là đồ chứa, hàm ý là chứa đựng tất cả các giáo pháp cần phải biết. Đại chúng bộ và các bộ phái khác, ngoài Tạp tạng còn thêm Tam tạng..., Độc tử bộ thêm Chú tạng mà thành lập Tứ tạng; Pháp tạng bộ thêm Chú tạng và Bồ tát tạng, Nhất thuyết bộ trong Đại chúng bộ thì thêm Tạp tập tạng và Cấm chú tạng, luận Thành thực thêm Tạp tạng và Bồ tát tạng, kinh Lục ba la mật thì thêm Bát nhã ba la mật đa tạng và Đà la ni tạng. Năm tạng này gọi chung là Ngũ tạng. Ngoài ra, Kinh tạng và Luật tạng, hoặc Thanh văn tạng và Bồ tát tạng, gọi chung là Nhị tạng. 1. Kinh tạng (Phạm: Sùtràntapiỉaka,Pàli: Sutta-piỉaka, Hán âm: Tố đát lãm tạng, Tu đa la tạng, Hán dịch: Khế kinh tạng): Kinh điển do đức Phật nói, trên thì khế hợp với lí nghĩa của chư Phật, dưới thì khế hợp với căn cơ của chúng sinh. Các nghĩa trọng yếu trong giáo thuyết của đức Phật đều thuộc về bộ loại Kinh.2. Luật tạng (Phạm, Pàli:Vinayapiỉaka, Hán âm: Tì nại da tạng, Tì ni tạng, Hán dịch: Điều phục tạng): Những luật nghi do đức Phật chế có công năng sửa trị những cái xấu ác của chúng sinh, điều phục tâm tính chúng sinh; những pháp tắc sinh hoạt của giáo đoàn mà đức Phật qui định đều thuộc về bộ loại Luật. 3. Luận tạng (Phạm: Abhidharmapiỉka, Pàli: Abhidhamma-piỉaka, Hán âm: A tì đạt ma tạng, A tì đàm tạng, Hán dịch: Đối pháp tạng): Luận bàn thêm về ý nghĩa kinh điển của Phật, làm sáng tỏ những điểm súc tích để quyết định tính tướng các pháp; phát triển giáo thuyết của đức Phật rộng hơn, đến người đời sau lại dùng trí tuệ thù thắng thảo luận, giải thích thêm nữa rồi hệ thống hóa, tổ chức hóa làm cho giáo pháp hoàn chỉnh. Luận tạng cũng gọi là Luận bộ, có quan hệ mật thiết với Ma đát lí ca (hoặc Ma đắc lặc già) (Phạm: Màtfkà,Pàli:Màtikà, Hán dịch: Bản mẫu, Luận mẫu), Ưu ba đề xá (Phạm: Upadeza,Pàli:Upadesa, Hán dịch: Luận nghị). Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 1 thì những điều mà Tam tạng hiển bày đều khác nhau: Những điều mà Kinh tạng hiển bày là thứ tự, những điều mà Luật tạng hiển bày là duyên khởi, những điều mà Luận tạng hiển bày là tính tướng; Kinh tạng nói về các thuyết khác nhau, Luật tạng giảng về các học xứ, Luận tạng thì phân biệt tự tướng và cộng tướng của các pháp. Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 4 cũng nêu ra 9 nguyên nhân thành lập Tam tạng, đó là: 1. Vì đối trị sự ngờ vực nên thiết lập Tu đa la. 2. Để đối trị sự thụ dụng nghiêng hẳn về 2 bên, khiến xa lìa lạc hạnh cũng như khổ hạnh, nên thiết lập Ti ni. 3. Vì đối trị kiến thủ của tự tâm nên thiết lập A tì đàm. 4. Để nói 3 học nên thiết lập Tu đa la. 5. Để thành tựu giới học, tâm học nên thiết lập Tì ni. 6. Vì thành tựu tuệ học nên thiết lập tì đàm. 7. Vì mục đích giảng nói pháp và nghĩa, nên thiết lập Tu đa la. 8. Để thành tựu pháp và nghĩa nên thiết lập Tì ni. 9. Vì mục đích thông suốt pháp và nghĩa nên thiết lập A tì đàm. Thích thị yếu lãm quyển trung cũng viện dẫn thuyết của A tì đạt ma tập, cho rằng dùng Kinh tạng để đối trị phiền não Nghi, dùng Luật tạng để đối trị Tùy phiền não thụ dụng hai bên thiên lệch, dùng Luận tạng để đối trị Tùy phiền não tự kiến thủ chấp. Ngoài ra, Lạt đạt ma giáo Tây tạng đem phối Tam tạng với Tam độc, cho rằng Luật tạng đoạn trừ tham dục, Kinh tạng đoạn trừ sân khuể và Luận tạng đoạn trừ ngu si. Về thứ tự của Tam tạng thì cho đến nay vẫn chưa có luận thuyết nhất định, có thuyết chủ trương nếu nói theo sự kết tập trước sau của Tam tạng, thì thứ tự là Kinh, Luật, Luận, còn nếu nói theo thứ tự tu hành thì là Luật, Kinh, Luận. Nếu phối hợp Tam tạng với Tam học thì Kinh tương đương với Định học, Luật tương đương với Giới học, còn Luận thì tương đương với Tuệ học. Đồng thời, Kinh bao hàm cả giới, định, và tuệ, Luật bao hàm giới và định, còn Luận thì chỉ bao hàm tuệ học mà thôi. Ngoài ra, còn có các phương diện khác nhau về việc thiết lập Tam tạng. Từ xưa đến nay, Tam tạng vốn chỉ cho Thánh điển của Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo bộ phái, cũng tức là Tam tạng giáo(Tạng giáo) của Tiểu thừa, về sau, từ ngữ này được Đại thừa sử dụng, do đó, Tam tạng có Hạ thừa (Thanh văn thừa) và Thượng thừa(Bồ tát thừa) khác nhau, hợp chung lại thì thành Lục tạng. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.2; luật Thập tụng Q.60; luận Phân biệt công đức Q.1, luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.11; Nhiếp đại thừa luận thích Q.1 (bản dịch đời Đường), Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng]. II. Tam Tạng. Giáo pháp vì hàng Tam thừa Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát mà lần lượt được nói ra, tức là Thanh văn tạng, Duyên giác tạng và Bồ tát tạng, hợp chung lại gọi là Tam tạng. 1. Thanh văn tạng: Nói rõ về lí, hành, quả của Thanh văn. 2. Duyên giác tạng: Nói rõ về lí, hành, quả của Duyên giác. 3. Bồ tát tạng: Nói rõ về lí, hành, quả của Bồ tát. [X. phẩm Tam tạng trong kinh Văn thù chi lợi phổ siêu tam muội Q.trung; kinh A xà thế vương Q.hạ; luận Nhập đại thừa Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.1; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng]. III. Tam Tạng. Tịnh độ chân tông ở Nhật bản gọi giáo pháp(pháp môn) được nói trong 3 bộ kinh của Tịnh độ là Tam tạng. Cứ theo sách Giáo hành tín chứng nói thì Tam tạng này là Phúc trí tạng, Phúc đức tạng và Công đức tạng. 1. Phúc trí tạng: Tức thành tựu viên mãn 2 thứ trang nghiêm là trí tuệ và phúc đức, là chỉ cho danh hiệu Nam mô a di đà Phật, từ đó mở ra giáo pháp của nguyện thứ 18 thuộc những hoằng nguyện chân thực nói trong kinh Đại vô lượng thọ.2. Phúc đức tạng: Tức các hạnh định thiện, tán thiện được nói trong kinh Quán vô lượng thọ, từ đó mở ra giáo pháp phương tiện của nguyện thứ 19 thuộc yếu môn. 3. Công đức tạng: Tức dùng danh hiệu tự lực hồi hướng được nói trong kinh A di đà, từ đó mở ra giáo pháp phương tiện của nguyện thứ 20 thuộc Chân môn.

tam tạng giáo

(三藏教) I. Tam Tạng Giáo. Từ ngữ gọi chung giáo pháp của đức Phật.II. Tam Tạng Giáo. Chỉ cho giáo pháp Tiểu thừa, cũng là 1 trong 4 giáo Hóa pháp thuộc phán giáo của tông Thiên thai. Năm đức Phật nhập diệt, ngài Đại ca diếp kết tập Tam tạng Kinh, Luật, Luận gồm thu tất cả giáo lí Tiểu thừa, vì thế nên gọi Tiểu thừa là Tam tạng giáo. Đại thừa cũng có Tam tạng riêng, nhưng không chia ra pho bộ rõ ràng như Tam tạng Tiểu thừa, nên lấy đó làm 1 tạng Ma ha diễn để đối lại với Tam tạng của Tiểu thừa.Tam tạng giáo tuy có 4 môn Có, Không, cũng Có cũng Không, chẳng phải Có chẳng phải Không, nhưng chủ yếu đều chấp lí không thiên lệch mà nói Ngã không, Pháp có. Người tu hành được chia làm 3 hạng Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát; Thanh văn quán 4 đế, Duyên giác quán 12 nhân duyên, Bồ tát thì tu 6 độ. Pháp quán của Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát đều là Tích không quán, tức phân tích sắc pháp đến cực vi, phân tích tâm pháp đến sát na, quán xét thể của chúng là Không, Vô ngã. Về quả vị thì Thanh văn có Thất hiền, Thất thánh, cuối cùng chứng quả A la hán, Duyên giác chứng được Bích chi phật, Bồ tát thì chứng được quả Phật của Ứng thân. Ba hạng người này tuy đã dứt hết các phiền não trong 3 cõi, nhưng vẫn còn thân tâm, là Niết bàn hữu dư, cuối cùng, thân diệt, trí bặt, trở về Niết bàn vô dư vắng lặng. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.10, thượng; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng; Hoa nghiêm san định kí Q.1; Hoa nghiêm huyền đàm Q.4]. (xt. Tam Tạng, Ngũ Thời Bát Giáo, Tạng Giáo).

tam tạng học giả

A student of Tripitaka.

tam tạng pháp sư

Tu sĩ thông suốt Kinh tạng, Luật tạng, Luận tạng, gọi là Tam tạng Pháp sư. ; Tripitaka Dharma Master—Vị Thầy làu thông Kinh Luật Luận—A teacher of the law or a master who is fluent in sutras, precepts and expounding of sutras. ; (三藏法師) Phạm: Tripiỉakàcàrya. Cũng gọi Tam tạng thánh sư, Tam tạng tỉ khưu. Gọi tắt: Tam Tạng. Chỉ cho vị pháp sư tinh thông Tam tạng Kinh, Luật, Luận. Tại Ấn độ, từ ngữ Tam tạng pháp sư đã được sử dụng rất sớm, như trong kinh Ma ha ma da quyển hạ có nói (Đại 12, 1013): Nước Câu thiểm di có vị Tam tạng tỉ khưu thuyết pháp rất hay, có năm trăm đồ chúng. Ở Trung quốc thì danh hiệu này chuyên chỉ cho vị cao tăng thông hiểu Tam tạng, đồng thời, làm việc phiên dịch Kinh, Luật, Luận. Trong số các vị Tam tạng thì ngài Huyền trang nổi tiếng nhất, thường được người đời tôn xưng là Huyền Trang Tam Tạng, hoặc Đường Tam Tạng. Ngoài ra, trong kinh Di lan đà vấn (Milinda-paĩha), bảnPàli thuộc hệ Nam truyền có nêu từ ngữ Tipeỉaka và Tepiỉaka, hàm ý là Người thông suốt Tam tạng. Trong tiếng Pàli, từEkapiỉakadhara là chỉ cho Người nhớ giữ một tạng, Dvipiỉaka-dhara chỉ cho Người nhớ giữ hai tạng, Tipiỉaka-dhara là chỉ cho Người nhớ giữ ba tạng, do đó mà người ta thấy danh từ Tam tạng đã được lưu hành rất sớm tại Ấn độ. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; Xuất tam tạng kí tập Q.6; Lương cao tăng truyện Q.2].

tam tạng thuyên tam học

(三藏詮三學) Tam tạng tức Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng; Tam học chỉ cho Giới học, Định học và Tuệ học. Tam tạng giải nói đầy đủ và rõ ràng về sự lí của Tam học, vì thế gọi là Tam tạng thuyên tam học. Luận Đại tì bà sa quyển 1 và Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển thượng, cho rằng trong Tam tạng mỗi tạng giảng giải 1 ngành học. 1. Kinh tạng giảng giải Định học: Những điều được giảng nói trong kinh A hàm đều là pháp an tâm, nương vào đó mà thu nhiếp tâm thì tâm không tán loạn. Hơn nữa, trước khi nói Kinh, đức Phật thường nhập định, vì thế nên gọi Kinh giảng giải Định học (Kinh thuyên định học). 2. Luật tạng giảng giải Giới học: Luật tạng nhân sự việc xảy ra mà chế giới, ngăn ngừa việc xấu ác của thân, khẩu; Giới là hạnh sở thuyên, Luật là giáo năng thuyên, vì thế nên nói là Luật giảng giải Giới học (Luật thuyên giới học). 3. Luận tạng giảng giải Tuệ học: Các bộ luận A tì đàm đều biện giải và quyết trạch tất cả pháp nghĩa, dùng trí tuệ phân biệt, vì thế gọi là Luận giảng giải Tuệ học (Luận thuyên tuệ học). Nếu theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 11 và Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 4 thì Kinh tạng giảng giải cả Tam học, Luật tạng giảng giải Giới học và Định học, còn Luận tạng thì chỉ giảng giải Tuệ học mà thôi.

tam tạo tác pháp

Three active things: 1) Sắc: Material or things which have form. 2) Tâm: Mental. 3) Phi sắc phi tâm: Neith form nor mental.

tam tạp nhiễm

The three kasaya—Mixed dyes or infections: (A) 1) Dục vọng: Passion. 2) Nghiệp: Karma. 3) Luân hồi: Reincarnation. (B) 1) Ảo vọng: Illusion. 2) Nghiệp: Karma. 3) Khổ đau: Suffering. ; (三雜染) Chỉ cho 3 thứ tạp nhiễm làm nhơ nhớp chân tính. 1. Phiền não tạp nhiễm(cũng gọi Hoặc tạp nhiễm): Chỉ cho thân kiến, biên kiến và tất cả phiền não như tham sân si... làm ô nhiễm chân tính, khiến mất thanh tịnh. Bao gồm tất cả phiền não và tùy phiền não, được chia làm 2 loại lớn là Kiến sở đoạn và Tu sở đoạn; hoặc chia làm 3 loại lớn là Dục giới hệ, Sắc giới hệ và Vô sắc giới hệ; hoặc chia làm 10 loại là Tát ca da kiến, Biên chấp kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến, Giới cấm thủ kiến, Tham, Sân, Vô minh, Mạn và Nghi. 2. Nghiệp tạp nhiễm: Chỉ cho tất cả 3 nghiệp thân, khẩu, ý do phiền não sinh ra, hoặc lấy phiền não làm trợ duyên sinh ra, tạo tác các việc xấu ác, làm nhớp nhúa chân tính. 3. Sinh tạp nhiễm(cũng gọi Khổ tạp nhiễm):Do phiền não và nghiệp mà có sinh, do có sinh nên có khổ, lại thêm các cái khổ như già, bệnh, chết, khổ vì yêu thương mà chia lìa, khổ vì mong cầu mà không được, khổ vì oán ghét nhau mà cứ phải gặp gỡ... tất cả đều làm cho chân tính ô nhiễm, mất hết sự thanh tịnh. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.1].

tam tập đế

(三集諦) Chỉ cho 3 thứ Tập đế do tông Pháp tướng thành lập, đó là: 1. Tập khí tập: Chỉ cho tập khí của tự tính Biến kế sở chấp, tức tập khí chấp trước ngã pháp; thể tính của tập khí này là y tha, cho nên thuộc Đế thực tính giả. 2. Đẳng khởi tập: Chỉ cho nghiệp phiền não, khởi lên 1 cách bình đẳng nên gọi là Đẳng khởi. Do phiền não khởi nghiệp, do nghiệp cảm quả; phiền não và nghiệp ấy là thể của Tập, lại vì là pháp Y tha nên thuộc về Đế tính đều thực. 3. Vị li hệ tập: Chỉ cho chân như chưa lìa chướng. Chân như viên thành này là thể tính của Tập, cho nên thuộc về tính thực Đế giả. [X. luận Thành duy thức Q.8, 9; Thành duy thực luận diễn bí Q.7].

Tam Tế

(三際): tức Tam Thế (三世), ba đời; gồm (1) Tiền Tế (s: pūrvānta, 前際), chỉ cho quá khứ; (2) Hậu Tế (s: aparānta, 後際), chỉ tương lai; (3) Trung Tế (s: madhyānta, 中際), chỉ hiện tại. Như trong Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh (仁王護國般若波羅蜜多經, Taishō Vol. 8, No. 246) quyển Thượng, Phẩm Quán Như Lai (觀如來品) thứ 2 có đoạn: “Quán thân thật tướng, quán Phật diệc nhiên, vô tiền tế, vô hậu tế, vô trung tế, bất trú Tam Tế, bất ly Tam Tế (觀身實相、觀佛亦然、無前際、無後際、無中際、不住三際、不離三際, quán thật tướng của thân, quán Phật cũng như vậy, không quá khứ, không tương lai, không hiện tại, chẳng trú ba đời, chẳng lìa ba đời).” Hay trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 5 lại có đoạn: “Tam Tế cầu tâm tâm bất kiến, lưỡng nhãn y nhiên đối lưỡng nhãn, bất tu di kiếm khắc chu tầm, tuyết nguyệt phong hoa thường kiến diện (三際求心心不見、兩眼依然對兩眼、不須遺劍刻舟尋、雪月風華常見面, ba đời tìm tâm tâm chẳng thấy, hai mắt như xưa đối hai mắt, chẳng nên mất kiếm khắc thuyền tìm, trăng tuyết gió hoa thường thấy mặt).” Ngoài ra, tại Ấn Độ một năm chia ra ba kỳ, lấy tam tế phối với nhật nguyệt thì có các thuyết khác nhau, như thuyết của Thần Thái (神泰), Chơn Đế (眞諦), Phổ Quang (普光), Huyền Trang (玄奘), v.v.; trong đó, thuyết của Chơn Đế và Huyền Trang thì tương đồng. Tam Tế ở đây là (1) Nhiệt Tế (s: grīṣma-ṛtu, 熱際), từ ngày 16 tháng Giêng đến 15 tháng 5; (2) Vũ Tế (s: varṣa-ṛtu, 雨際), từ ngày 16 tháng 5 đến 15 tháng 9; (3) Hàn Tế (s: hemanta-ṛtu, 寒際), từ ngày 16 tháng 9 đến 15 tháng Giêng. Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 2 lại lấy Tam Tế chia thành 6 thời, gồm: (1) Từ ngày 16 tháng Giêng đến 15 tháng 3, gọi là tạm nhiệt (漸熱, tạm nóng, nóng sơ); (2) Từ ngày 16 tháng 3 đến 15 tháng 5, gọi là thạnh nhiệt (盛熱, nóng gắt); (3) Từ ngày 16 tháng 5 đến 15 tháng 7, gọi là vũ thời (雨時, mùa mưa); (4) Từ ngày 16 tháng 7 đến 15 tháng 9, gọi là mậu thời (茂時, mùa tươi tốt); (5) Từ ngày 16 tháng 9 đến 15 tháng 11, gọi là tạm hàn (漸寒, hơi lạnh); (6) Từ ngày 16 tháng 11 đến 15 tháng Giêng, gọi là thạnh hàn (盛寒, lạnh gắt).

Tam tế

三際; C: sānjì; J: sanzai;|»Ba thời kì«. 1. Trước, giữa, và sau hoặc là dĩ vãng, hiện tại và vị lai; 2. Ba thế giới, thời gian vô hạn lượng. ; 三細; C: sānxì; J: sansai;|»Ba tinh tế« hoặc »Ba tướng tinh tế«. Là cách phân chia Vô minh thành ba thành phần tinh tế, được tìm thấy trong luận Đại thừa khởi tín (大乘起信論): 1. Vô minh nghiệp tướng (無明業相), tướng vi tế của nghiệp, được thúc đẩy bởi vô minh; 2. Năng kiến tướng (能見相), là tướng vi tế của kẻ nhìn, tâm thức chủ quan; 3. Cảnh giới tướng (境界相), tướng vi tế của thế giới khách quan. Tuỳ người cảm nhận (năng kiến), cảnh giới trình hiện một cách sai lạc. Chức năng của những khía cạnh nêu trên rất vi tế, đối nghịch với Lục thô (六麁), sáu tướng thô trọng (theo Khởi tín luận 起信論).

tam tế

Ba thứ vi tế—Three refined, or subtle conceptions: 1) Vô minh nghiệp tướng: Vô minh hay tình trạng không giác ngộ—Ignorance or the unenlightened condition, considered as in primal action, the stirring of the perceptive faculty, associated with corpus or substance—The objective illusory world. 2) Năng kiến tướng: Có thể thấy được mọi hiện tượng—Ability to perceive phenomena—Perceptive faculties, associated with function—The subjective mind. 3) Cảnh giới tướng: Thế giới hiện tượng bên ngoài, còn gọi là Hiện Tướng hay Hiện Thức—The object perceived, or empirical world, associated with function—The external, or phenomenal world. ; (三際) I. Tam Tế. Tức Tam thế. 1. Tiền tế(Phạm:Pùrvànta): Chỉ cho quá khứ. 2. Hậu tế(Phạm:Aparànta): Chỉ cho vị lai. 3. Trung tế (Phạm: Madhyànta): Chỉ cho hiện tại. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa quyển thượng (Đại 8, 836 thượng) nói: Quán xét thực tướng của thân, quán Phật cũng thế. Không tiền tế, không hậu tế, không trung tế; chẳng trụ ở tam tế, cũng chẳng lìa tam tế. [X. luận Đại tì bà sa Q.24; luận Câu xá Q.9]. (xt. Tam Thế). II. Tam Tế. Phạm: Traya ftavà#. Cũng gọi Tam tế thời. Tại Ấn độ, 1 năm được chia làm 3 thời kì gọi là Tam tế. Nhưng xưa nay đem tam tế phối hợp với ngày tháng thì có nhiều thuyết khác nhau, đáng chú ý hơn cả thì có thuyết của các ngài Thần thái, Chân đế, Phổ quang, Huyền trang..., trong đó, thuyết của ngài Chân đế và Huyền trang giống nhau. Đó là: 1. Nhiệt tế(Phạm:Grìsma-rtu, mùa nóng): Bắt đầu từ ngày 16 tháng 1 đến ngày 15 tháng 5 âm lịch. 2. Vũ tế(Phạm:Varwa-ftu, mùa mưa): Bắt đầu từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 15 tháng 9 âm lịch. 3. Hàn tế (Phạm: Hemanta-rtu, mùa lạnh): Bắt đầu từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 15 tháng 1 âm lịch. Đại Đường tây vực kí quyển 2 lại chia Tam tế làm 6 thời: 1. Tiệm nhiệt(nóng dần): Từ ngày 16 tháng 1 đến ngày 15 tháng 3 âm lịch. 2. Thịnh nhiệt(rất nóng): Từ ngày 16 tháng 3 đến ngày 15 tháng 5 âm lịch. 3. Vũ thời(mùa mưa): Từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 15 tháng 7 âm lịch. 4. Mậu thời(mùa cây cối xanh tốt): Từ ngày 16 tháng 7 đến ngày 15 tháng 9 âm lịch.5. Tiệm hàn(lạnh dần): Từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 15 tháng 11 âm lịch. 6. Thịnh hàn(rất lạnh): Từ ngày 16 tháng 11 đến ngày 15 tháng 1 âm lịch. [X. Câu xá luận bảo sớ Q.11; Phạm võng kinh cổ tích kí Q.hạ, phần cuối;Đại tạng pháp số Q.12]. (xt. Lịch).

Tam tế lục thô

三細六麁; C: sānxì liùcū; J: sanzairokuso;|»Ba tướng vi tế và sáu tướng thô thiển« được giảng thuyết trong luận Đại thừa khởi tín (大乘起信論).

tam tế lục thô

(三細六粗) Chỉ cho 3 tướng nhỏ nhiệm, 6 tướng thô to. Đây là 9 tướng trạng của tất cả vọng pháp do vô minh căn bản dấy động chân như mà sinh khởi. Tam tế lục thô là dụng ngữ của luận Đại thừa khởi tín. Tế là giữa tâm vương và tâm sở không có sự phân biệt, tướng trạng của chúng tinh tế khó lường biết; còn Thô là tâm vương và tâm sở tương ứng, tướng tác dụng của chúng rõ rệt dễ thấy. Tam tế gồm: 1. Vô minh nghiệp tướng (gọi tắt: Nghiệp tướng): Chỉ cho tướng dấy động đầu tiên từ chân khởi vọng. Tức là trạng thái đầu tiên do vô minh căn bản khởi động chân như, là tướng thứ nhất trong vô minh chi mạt, tướng này còn chưa phân biệt được trạng thái chủ, khách. 2. Năng kiến tướng(cũng gọi Kiến tướng, Chuyển tướng): Chỉ cho tướng thấy khởi động đầu tiên, tức nương vào nghiệp thức dấy động đầu tiên mà chuyển thành tướng năng kiến. Đó là tâm (chủ quan) nhận thức đối tượng nương vào vô minh nghiệp tướng đã nói ở trên mà khởi lên. 3. Cảnh giới tướng(cũng gọi Hiện tướng, Cảnh tướng): Là tướng nương vào Chuyển tướng đã nói ở trước mà vọng hiện các cảnh giới. Bời vì tướng Năng kiến đã phát khởi thì đồng thời vọng hiện ra đối tượng (khách quan) nhận thức này. Lục thô gồm: 1. Trí tướng: Nương vào cảnh giới tướng mà vọng khởi phân biệt nhiễm tịnh đối với cảnh giới tịnh thì ưa thích, đối với cảnh giới nhiễm thì chán ghét. 2. Tương tục tướng: Nương vào trí tướng phân biệt, đối với cảnh ưa thích thì sinh vui, đối với cảnh chán ghét thì sinh khổ, giác tâm khởi niệm, tương tục không dứt.3. Chấp thủ tướng: Nương vào tướng tương tục ở trước, duyên theo các cảnh khổ vui, khởi tâm chấp trước. 4. Kế danh tự tướng: Nương vào tướng chấp thủ nói trên mà phân biệt tướng ngôn thuyết giả danh. 5. Khởi nghiệp tướng: Nương vào kế danh tự tướng nói trên mà sinh ra đắm trước chấp lấy, tạo tác các thứ nghiệp thiện ác...6. Nghiệp hệ khổ tướng: Vì các nghiệp thiện ác trói buộc nên bị khổ sinh tử bức ngặt, không được tự tại. Dựa vào những điểm trên đây, nếu từ tế tướng tiến vào thô tướng, tức là từ A lại da thức vị của tâm bất tương ứng tiến vào Lục thức vị của tâm tương ứng, thì thế giới mê cũng theo đó mà triển khai. Bởi vậy, nếu muốn đạt đến cảnh giới giác ngộ thì phải cố gắng tiến từ thô tướng vào tế tướng. Cảnh giới của phàm phu là thô trong thô (bốn tướng sau của Lục thô), cảnh giới của Bồ tát là tế trong thô(2 tướng trước của Lục thô) và thô trong tế(2 tướng sau của Tam tế), còn cảnh giới Phật thì là tế trong tế(Vô minh nghiệp tướng). Ngoài ra, nếu phối hợp Tam tế Lục thô với Ngũ ý thì Tam tế theo thứ tự phối với Nghiệp thức, Chuyển thức, Hiện thức, Trí tướng phối với Trí thức và Tương tục tướng phối với Tương tục thức. Nếu phối Tam tế Lục thô với Lục nhiễm tâm, thì Tam tế theo thứ tự phối với Căn bản nghiệp bất tương ứng nhiễm. Năng kiến tâm bất tương ứng nhiễm, Bất đoạn tương ứng nhiễm, Chấp thủ tướng và Kế danh tự tướng phối với Chấp tương ứng nhiễm. Nếu phối hợp Tam tế Lục thô với Tứ tướng, thì Nghiệp tướng phối với Sinh tướng, các tướng: Năng kiến, Cảnh giới, Trí và Tương tục phối với Trụ tướng, các tướng: Chấp thủ và Kế danh tự phối với Dị tướng, còn Khởi nghiệp tướng thì phối với Diệt tướng. [X. luận Thích ma ha diễn Q.4; Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.thượng; Khởi tín luận sớ Q.thượng; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.trung, phần đầu].

Tam tế tướng

三細相; C: sānxìxiāng; J: sansaisō;|Tam tế (三細).

tam tỉ lượng

(三比量) Cũng gọi Tam lượng, Tam chi tỉ lượng. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho Tự tỉ lượng, Tha tỉ lượng và Cộng tỉ lượng. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí Q.hạ, phần cuối]. (xt. Tha Tỉ Lượng, Cộng Tỉ Lượng, Tự Tỉ Lượng).

Tam Tỉnh Tự

(三井寺, Mii-dera) hay Viên Thành Tự (園城寺, Onjō-ji): ngôi chùa trung tâm của Thiên Thai Tự Môn Tông (天台寺門宗), hiện tọa lạc tại số 246 Onjōji-chō (園城寺町), Ōtsu-shi (大津市), Shiga-ken (滋賀縣), nói cho đúng là Trường Đẳng Sơn Viên Thành Tự (長等山園城寺), nhưng thường được gọi là Tam Tỉnh Tự, hay Ngự Tỉnh Tự (御井寺), và rất nổi tiếng là ngôi chùa linh thiêng thứ 14 trong số 33 ngôi danh lam ở vùng Tây Quốc (西國) được mọi người thường đến tham bái. Tượng thờ chính là Di Lặc Bồ Tát. Suốt trong thời gian từ thời Bình An cho đến Liêm Thương, chùa đã từng đối kháng với Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), rồi cùng với Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji) ở vùng Nam Đô, chùa còn nuôi dưỡng lớp Tăng Binh để tranh đấu với hàng võ môn, là một trong những ngôi tự viện có quyền lực mạnh nhất đương thời. Sau khi Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇, Tenchi Tennō) băng hà, chùa bắt đầu được dựng lên bởi vị Hoàng Tử của Hoằng Văn Thiên Hoàng (弘文, Kōbun Tennō) là Đại Hữu Dữ Đa Vương (大友與多王) cúng dường khu đất của ông. Đến năm 859 (Trinh Quán [貞觀] nguyên niên), Trí Chứng Đại Sư Viên Trân (圓珍, Enchin) tái kiến lại chùa. Có thuyết cho rằng tên gọi Tam Tỉnh Tự vốn phát xuất từ sự việc phía sau Kim Đường của chùa có một cái giếng, người ta thường dùng nước giếng này để hành lễ Tam Bộ Quán Đảnh (三部灌頂), cho nên chùa có tên như vậy. Cũng có thuyết cho rằng chính nước giếng này được dùng để tắm rửa cho ba vị Thiên Hoàng Thiên Trí (天智, Tenchi), Thiên Võ (天武, Temmu) và Trí Thống (持統, Jitō) khi vừa mới sinh ra. Chùa này ngày xưa là ngôi Biệt Viện của Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji), môn đồ của chùa đã từng tranh đấu với môn đồ của Viên Nhân (圓仁, Ennin) trên Tỷ Duệ Sơn; cuối cùng vào năm 993 (Chánh Lịch [正曆] 4), chùa tách riêng ra trở thành ngôi chùa tổ trung tâm. Đến cuối thời Bình An, chùa có khoảng 80 ngôi đường tháp, 600 tăng phòng; song chùa cũng đã gặp mấy lần hỏa hoạn, bị cháy tan tành. Ngôi già lam hiện tại có thể nói là kiến trúc tái kiến của mấy vị Tướng Quân nổi tiếng đời đầu của dòng họ Đức Xuyên (德川, Tokugawa) là Gia Khang (家康, Ieyasu), Tú Trung (秀忠, Hidetada), v.v. Hiện tại chùa được liệt vào một trong 4 ngôi tự viện lớn nhất Nhật Bản. Một phần rất rộng lớn của chùa nằm trên núi, lấy Quan Âm Đường làm trung tâm; một phần thì nằm dưới chân núi, chủ yếu là phối trí các ngôi đường tháp. Nơi Quan Âm Đường có tôn thờ tượng Như Ý Luân Quan Âm bằng gỗ Chiên Đàn, là một trong 33 chốn linh trường của vùng Tây Quốc. Tương truyền tượng này là tác phẩm của vị Tổ khai sơn Trí Chứng Đại Sư (智証大師). Ngôi đường hiện tại là kiến trúc được xây dựng vào năm 1689. Trong núi có Kim Đường, là kiến trúc được xây dựng vào năm 1252 (Kiến Trường [建長] 4), được xếp vào hạng quốc bảo. Các ngôi Khách Đường ở Khuyến Học Viện cũng như ở Quang Tịnh Viện cũng đều là quốc bảo. Cách đó khoảng 3 cây số về phía Bắc có Tân La Thiên Thần Đường (新羅天神堂), trong đó Tu Di Đàn cũng được xếp hạng quốc bảo. ngoài ra trong khuôn viên chùa còn có Nhân Vương Môn, Tam Trùng Tháp, Lầu Chuông, Đường Viện, Kinh Đường, Nhà Ăn, Tỳ Sa Môn Đường, v.v., đều là những kiến trúc được xếp hạng tài sản văn hóa trong yếu của quốc gia, và quanh đó cũng có rất nhiều ngôi đường tháp lớn nhỏ. Nơi Kinh Tàng có lưu trữ những bản kinh tạng Cao Lệ (Triều Tiên). Bên cạnh đó, chùa còn lưu giữ vô số các bảo vật khác.

tam tịch mặc

(三寂默) Tịch mặc, Phạm: Mauneya, Mauna, Maunì. Hán âm: Mâu ni. Cũng gọi Tam tịch tĩnh. Ba vắng lặng. Tức thân vắng lặng, ngữ vắng lặng và ý vắng lặng, nghĩa là trạng thái 3 thứ phiền não của thân, ngữ, ý vắng lặng vĩnh viễn. Luận Câu xá quyển 16 nói rằng: Thân nghiệp của bậc Vô học(tức A la hán) gọi là Thân mâu ni, Ngữ nghiệp gọi là Ngữ mâu ni và Ý(tâm vương) của bậc Vô học gọi là Ý mâu ni, nhưng ý nghiệp của tâm sở Tư không được gọi là Ý mâu ni. [X. luận Tập dị môn túc Q.6; luận Đại tì bà sa Q.117; luận Thuận chính lí Q.41, Câu xá luận quang kí Q.16].

tam tịnh nhân

(三淨因) Cũng gọi Thân khí thanh tịnh tam nhân. Chỉ cho 3 nguyên nhân làm cho thân tâm thanh tịnh. Đó là: 1. Thân tâm viễn li (thân tâm xa lìa): Thân không gần bạn xấu, tâm không khởi niệm ác. 2. Hỉ túc thiểu dục(cũng gọi Thiểu dục tri túc): Ít ham muốn, biết đủ. Nghĩa là thỏa mãn với những cái mình hiện có (biết đủ), không tham cầu nhiều. 3. Tứ thánh chủng: Có tâm hỉ túc(biết đủ)đối với áo mặc, cơm ăn, chăn mền, nguyện tu Thánh đạo để đoạn trừ phiền não. Tức chỉ cho 4 Thánh chủng: Y phục hỉ túc thánh chủng, Ẩm thực hỉ túc thánh chủng, Ngọa cụ hỉ túc thánh chủng và Nhạo đoạn tu thánh chủng. Đây là 4 thứ nhân làm nảy sinh hạt giống Thánh, cho nên gọi là Thánh chủng. [X. kinh Trung a hàm Q.21; luận Câu xá Q. 22; luận Đại tì bà sa Q.181].

tam tịnh nhục

(三淨肉) Ba thứ thịt thanh tịnh mà người bệnh được phép ăn. Theo luận Thập tụng quyển 37, khi vị tỉ khưu bị bệnh, thầy thuốc bảo phải ăn thịt mới chữa được thì 3 trường hợp sau đây, thịt được xem là thanh tịnh và tỉ khưu được phép dùng: 1. Mắt không thấy giết: Chính mắt mình không thấy sinh vật ấy vì mình mà bị giết. 2. Tai không nghe giết: Đối với người đáng tin, không nghe nói sinh vật ấy vì mình mà bị giết. 3. Không nghi giết: Biết nơi đókhông có nhà đồ tể, hoặc sinh vật ấy đã tự chết, vì thế không còn ngờ là vì mình mà sinh vật ấy bị giết. (xt. Tam Bất Tịnh Nhục).

tam tịnh đầu

(三淨頭) Chỉ chỗ đầu giường trong Tăng đường. Chỗ này có 3 công dụng: Thứ nhất, dùng để cất ca sa, thứ hai, dùng để bình bát và thứ ba, dùng để làm gối khi ngủ(dùng đầu giường làm gối), cho nên gọi là Tam tịnh đầu.[X. điều Nhật dụng quĩ phạm trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.6; Thiền lâm tượng khí tiên Q.1 thượng].

tam tổ tự

(三祖寺) Cũng gọi Càn nguyên thiền tự, Sơn cốc tự. Chùa ở núi Thiên trụ, tỉnh An huy, Trung quốc, tương truyền do Thiền sư Bảo chí sáng lập vào thời Nam triều. Về sau, Tổ thứ 3 của Thiền tông là ngài Tăng xán đến đây, xây cất chùa viện rộng thêm, trở nên nổi tiếng cả vùng Giang nam, Giang bắc. Vào năm Đại nghiệp thứ 2 (606) đời Tùy, Tam tổ đứng mà tịch ở gốc cây trong chùa, người đời sau xây đình Lập hóa để kỉ niệm. Phía đông chùa có động Bảo công, giếng Tích trượng, suối Trác tích. Tương truyền, động Bảo công là chỗ ở của Thiền sư Bảo chí lúc sáng lập chùa, giếng và suối là do Thiền sư Bảo chí dùng tích trượng để đào. Phía tây chùa có động Thạch ngưu là nơi đọc sách của Hoàng đình kiên đời Tống. Trong chùa có tòa tháp tên là Giác tịch. Từ khi chùa được sáng lập đến nay, khách đến lễ bái không dứt, văn nhân thi sĩ thường đến thưởng ngoạn và ngâm vịnh. Trên vách chùa có ghi câu thơ của Trương đồng đời Tống: Thiền lâm thùy đệ nhất? Thử địa quán Nam châu. (Rừng thiền ai bậc nhất? Nơi này trùm châu Nam). Hiện nay chỉ còn lầu chứa kinh và vài gian phòng.

Tam Tụ

(三聚): có 4 nghĩa chính. (1) Còn gọi là Tam Định Tụ (三定聚); tức là (a) Chánh Định Tụ (正定聚), (b) Tà Định Tụ (邪定聚), (c) Bất Định Tụ (不定聚). Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 84 dạy rằng cái có thể phá được điên đảo là Chánh Định, cái không phá được điên đảo thì gọi là Tà Định; có được nhân duyên thì có thể phá được, không có nhân duyên thì không phá được, gọi là bất định. Lại theo thuyết của Thích Ma Ha Diễn Luận (釋摩訶衍論, Taishō Vol. 32, No. 1668) quyển 1 cho biết rằng 10 vị Thánh là Chánh Định Tụ, 3 vị Hiền là Bất Định Tụ, phàm phu là Tà Định Tụ. (2) Lấy ngã (我) và pháp (法) phân làm 3 loại lớn; gồm: (a) Lấy nhân duyên lìa hợp mà nói, phàm cái có đủ tánh chất của sanh diệt thì gọi là Hữu Vi Tụ (有爲聚); (b) Phàm cái không có đủ tánh chất của sanh diệt thì gọi là Vô Vi Tụ (無爲聚); (c) Quy nạp cả hai tụ này không theo nguyên tắc nào, gọi là Phi Nhị Tụ (非二聚). (3) Tất cả các pháp Hữu Vi được phân làm 3 loại: (a) Sắc Pháp (色法), chỉ cho Bốn Đại đất, nước, lửa, gió cấu thành nên vật chất; (b) Tâm Pháp (心法), tức các loại tác dụng tinh thần; (c) Không Sắc Không Tâm, đã không phải sắc pháp cũng chẳng phải tâm pháp, như trong 75 pháp do Pháp Tướng Tông lập ra, 14 pháp Bất Tương Ưng Hành (不相應行) đều thuộc về pháp của Không Sắc Không Tâm. (4) Từ gọi tắt của Tam Tụ Tịnh Giới (s: tri-vidhāni śīlāni, 三聚淨戒); chỉ cho giới pháp của Đại Thừa Bồ Tát; còn gọi là Bồ Tát Tam Tụ Giới (菩薩三聚戒), Tam Tụ Thanh Tịnh Giới (三聚清淨戒), Tam Tụ Viên Giới (三聚圓戒), Tam Tụ Giới (三聚戒). Tụ (聚) ở đây nghĩa là chủng loại. Vì ba loại giới pháp này vô cấu nhiễm, trong sạch, nhiếp hết các giới của Đại Thừa, viên dung vô ngại, nên gọi là Tam Tụ Tịnh Giới, Tam Tụ Viên Giới. Ba loại giới ấy gồm: (a) Nhiếp Luật Nghi Giới (s: saṃvara-śīla, 攝律儀戒), còn gọi là Tự Tánh Giới (自性戒), Nhất Thiết Bồ Tát Giới (一切菩薩戒), xả đoạn hết thảy các điều ác, nhiếp trọn các pháp môn dừng ác của luật nghi; là giới của 7 chúng thọ trì, tùy theo sự khác nhau về tại gia, xuất gia mà phân biệt thành 5 giới, 8 giới, 10 giới, cụ túc giới; cũng có thể tổng quy thành 3 loại là Biệt Giải Thoát Giới (別解脫戒), Định Cọng Giới (定共戒), Đạo Cọng Giới (道共戒). Hơn nữa, giới này là nhân của Pháp Thân, vì Pháp Thân vốn tự thanh tịnh; do đối với điều ác thì che giấu, nên không được lộ ra, nay lìa đoạn các điều ác, thì công thành đức hiện rõ. (2) Nhiếp Thiện Pháp Giới (s: kuśala-dharma-saṃgrāhaka-śīla, 攝善法戒), còn gọi là Thọ Thiện Pháp Giới (受善法戒), Nhiếp Trì Nhất Thiết Bồ Đề Đạo Giới (攝持一切菩提道戒), nghĩa là tu tập tất cả các pháp lành. Đây là pháp môn tu thiện, thuộc về giới luật nghi do vị Bồ Tát tu tập, lấy việc thiện của thân, miệng, ý để hối hướng vô thượng Bồ Đề, như thường siêng năng tinh tấn, cúng dường Tam Bảo, tâm không phóng dật, giữ gìn nhiếp hộ cửa các căn và thực hành Lục Độ Ba La Mật, v.v.; nếu phạm tội thì như pháp sám hối để nuôi dưỡng các pháp lành. Đây chính là nhân của Báo Thân, nhờ dừng điều ác và tu tập việc thiện, nên tạo duyên thành Báo Phật (報佛). (3) Nhiếp Chúng Sanh Giới (s: sattvārtha-kriyā-śīla, 攝眾生戒), còn gọi là Nhiêu Ích Hữu Tình Giới (饒益有情戒), Tác Chúng Sanh Ích Giới (作眾生益戒); nghĩa là lấy tâm từ bi để nhiếp thọ lợi ích chúng sanh; đây là pháp môn làm lợi lạc cho chúng sanh. Bồ Tát Địa Trì Kinh (菩薩地持經, Taishō Vol. 30, No. 1581) quyển 4 nêu ra 11 loại làm lợi lạc, gồm: (1) Các việc làm lợi ích do chúng sanh làm đều cùng làm bạn; (2) Các nỗi khổ do bệnh hoạn của chúng sanh chưa sinh khởi cũng như đã sinh khởi, và người khan bệnh, cùng làm bạn; (3) Vì chúng sanh nói các pháp thế gian, xuất thế gian, hay dùng phương tiện khiến cho họ có được trí tuệ; (4) Biết ơn và báo ơn; (5) Các loại sợ hãi của chúng sanh, thảy đều cứu giúp; (6) Thấy có chúng sanh bần cùng, khốn khổ, bèn cung cấp cho họ những thứ họ cần; (7) Đức hạnh đầy đủ, thọ trì nương tựa, như pháp mà dạy nuôi chúng; (8) Trước dùng lời an ủi, tùy thời mà đến thăm, ban cho thức ăn uống, nói những lời tốt lành của thế gian; (9) Đối với người có thật đức, thì ca tụng, vui mừng; (10) Đối với người tạo điều sai lầm, không tốt, lấy từ tâm mà trách la, phạt xử nghiêm minh, khiến họ hối lỗi, sửa đổi; (11) Lấy oai lực thần thông, thị hiện đường ác, khiến cho chúng sanh kia sợ hãi, xa lìa điều ác, vâng tu theo Phật pháp, hoan hỷ tin mừng, sanh tâm hy hữu. Ba Tu Tịnh Giới này là giới thông cả tăng lẫn tục của Đại Thừa. Tăng sĩ Đại Thừa ban đầu thọ Nhiếp Luật Nghi Giới, tức thọ 250 giới, đây gọi là biệt thọ (別受); sau lại thọ chung Ba Tu Tịnh Giới này, gọi là thông thọ (通受). Như trong Đạt Ma Đại Sư Phá Tướng Luận (達磨大師破相論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1220) có đoạn: “Cầu giải thoát giả, năng chuyển Tam Độc, vi Tam Tụ Tịnh Giới, chuyển Lục Tặc vi Lục Ba La Mật, tự nhiên vĩnh ly nhất thiết chư khổ (求解脫者、能轉三毒、爲三聚淨戒、轉六賊為六波羅蜜、自然永離一切諸苦, người cầu giải thoát, có thể chuyển Ba Độc thành Ba Tụ Tịnh Giới, chuyển Sáu Tặc thành Sáu Ba La Mật, tự nhiên mãi lìa hết thảy các khổ).”

Tam tụ

三聚; C: sānjù; J: sanju;|Ba loại hội tụ, ba nhóm: 1. Chính tính định tụ (正性定聚): Nhóm sẽ theo con đường chân chính; 2. Tà tính định tụ (邪性定聚): Nhóm sẽ theo con đường tà và 3. Bất định tụ (不定聚): Nhóm sẽ theo con đường bất định.

tam tụ

(三聚) I. Tam Tụ. Cũng gọi Tam định tụ. Ba tụ: Chỉ cho Chính định tụ, Tà định tụ và Bất định tụ. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 84 thì hễ phá trừ được điên đảo gọi là Chính định, không phá được điên đảo gọi là Tà định, còn gặp nhân duyên thì phá được, không gặp nhân duyên thì không phá được gọi là Bất định. Ngoài ra, theo Thích ma ha diễn luận quyển 1 thì Thập thánh là Chính định tụ, Tam hiền là Bất định tụ, Phàm phu là Tà định tụ. [X. kinh Trường a hàm Q.8; luận Tập dị môn túc Q.4 (xt. Tam Định Tụ). II. Tam Tụ. Ngã và Pháp được chia làm 3 loại lớn gọi là Tam tụ: 1. Hữu vi tụ: Pháp sinh diệt. 2. Vô vi tụ: Pháp không sinh không diệt.3. Phi nhị tu: Các pháp còn lại không thuộc 2 loại pháp trên. III. Tam Tụ. Ba loại pháp hữu vi. 1. Sắc pháp: Chỉ cho các vật chất được cấu tạo thành bởi 4 nguyên tố đất, nước, lửa và gió. 2. Tâm pháp: Chỉ cho các thứ tác dụng tinh thần. 3. Phi sắc phi tâm: Các pháp chẳng phải sắc chẳng phải tâm, như 14 pháp thuộc Bất tương ứng hành trong 75 pháp do tông Câu xá thành lập, đều là pháp phi sắc phi tâm. IV. Tam Tụ. Gọi đủ: Tam tụ tịnh giới. Tức là Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới và Nhiếp chúng sinh giới. (xt. Tam Tụ Tịnh Giới).

tam tụ tịnh giới

(三聚淨戒) Phạm:Tri-vidhàni Zìlàni. Cũng gọi: Bồ tát tam tụ giới, Tam tụ thanh tịnh giới, Tam tụ viên giới. Gọi tắt: Tam tụ giới, Tam tụ. Chỉ cho giới pháp của Bồ tát Đại thừa. Tụ nghĩa là chủng loại. Vì 3 loại giới pháp này rất thanh tịnh, bao hàm các giới Đại thừa, viên dung vô ngại, cho nên gọi là Tam tụ tịnh giới, Tam tụ viên giới. Tức là: 1. Nhiếp luật nghi giới (Phạm: Saôvara-zìla), cũng gọi Tự tính giới, Nhất thiết bồ tát giới: Chỉ cho môn ngăn ác, bao hàm mọi luật nghi, dứt bỏ tất cả các điều ác; là giới của 7 chúng thụ trì, tùy theo tại gia, xuất gia khác nhau mà chia ra các giới điều như: 5 giới, 8 giới, 10 giới, giới Cụ túc...; cũng có thể qui thành 3 loại chung là Biệt giải thoát giới, Định cộng giới và Đạo cộng giới. Lại nữa, giới này là nhân của Pháp thân, vì Pháp thân vốn tự thanh tịnh, nhưng bị điều ác che lấp nên không hiển lộ ra được; nay dứt lìa các điều ác thì thì công thành đức hiện. 2. Nhiếp thiện pháp giới (Phạm: Kuzala-dharma-saôgràhaka-zìla), cũng gọi Thụ thiện pháp giới, Nhiếp trì nhất thiết bồ tát đạo giới. Nghĩa là tu tập tất cả pháp lành. Đây là môn tu thiện, là luật nghi giới mà Bồ tát tu hành, đem các điều thiện do thân, khẩu, ý tu được hồi hướng về Vô thượng bồ đề, như thường siêng chăm tinh tiến, cúng dường Tam bảo, tâm không buông thả, giữ gìn các căn môn và thực hành 6 ba la mật..., nếu phạm lỗi thì như pháp sám trừ, nuôi lớn các thiện pháp. Đây là nhân của Báo thân, do tu thiện dứt ác nên trở thành duyên của Báo thân Phật.3. Nhiếp chúng sinh giới (Phạm: Sattvàrtha-kriyà-zìla), cũng gọi Nhiêu ích hữu tình giới, Tác chúng sinh ích giới. Nghĩa là vận dụng từ tâm nhiếp thụ làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, đây là môn lợi sinh. Kinh Bồ tát địa trì nêu ra 11 thứ lợi ích như sau: -Cùng làm bạn với những việc lợi ích mà chúng sinh thực hiện. -Cùng làm bạn với các bệnh khổ của chúng sinh đã khởi hoặc chưa khởi và người khán bệnh. -Nói pháp thế gian, xuất thế gian cho các chúng sinh nghe, hoặc dùng phương tiện giúp họ đạt được trí tuệ. -Biết ân báo ân. -Chúng sinh gặp các thứ sợ hãi, đều ra tay cứuhộ. Nếu họ bị các tai nạn như mất người thân thích, tài vật thì làm cho họ hết lo buồn. -Thấy có chúng sinh nghèo cùng khốn khó thì chu cấp những vật cần dùng. -Đức hạnh đầy đủ, xứng đáng làm chỗ y chỉ, nuôi chúng đúng pháp. -Trước nói lời an úy, tùy thời qua lại, cấp cho thức ăn uống, nói các lời tốt lành, tới lui thăm viếng... -Đối với những người có thực đức, tâm vui vẻ khen ngợi. -Đối với người có lỗi xấu, dùng từ tâm quở trách, chiết phục xử phạt, khiến họ hối cải. -Dùng sức thần thông, thị hiện đường ác, khiến chúng sinh sợ hãi các điều ác, tu theo Phật pháp, vui mừng tin ưa, sinh tâm hiếm có. Tam tụ định giới này là giới chung của tăng, tục Đại thừa thực hành, nhưng chúng tăng Đại thừa trước hết thụ Nhiếp luật nghi giới, tức thụ 250 giới, đây gọi là Biệt thụ; sau đó lại thụ chung Tam tụ tịnh giới, gọi là Thông thụ. [X. kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.3; kinh Giải thâm mật Q.4; luận Du già sư địa Q.41; Nhiếp đại thừa luận thích Q.11 (bản dịch đời Lương); Phạm võng kinh bồ tát giới bản sớ Q.1 (Pháp tạng)].

tam tử

(三子) Chỉ cho ba người con. Tức ví dụ cho 3 loại căn cơ: Bồ tát, Thanh văn và Nhất xiển đề giống như 3 người con có bản tính khác nhau. Điển tích này có xuất xứ từ kinh Đại bát niết bàn quyển 33 (bản Bắc) nói rằng: Trong 3 người con, người con thứ nhất có tâm tín thuận, cung kính cha mẹ, lợi căn trí tuệ, đối với các việc thế gian rõ biết nhanh chóng; người con thứ 2 không có tâm tín thuận, không cung kính cha mẹ, nhưng cũng lợi căn thông minh và đối với các việc thế gian cũng hiểu biết mau chóng; còn người thứ 3 thì đã không có tâm tín thuận, không kính cha mẹ lại ngu si vô trí. Ở đây, người con thứ nhất ví dụ cho Bồ tát, người con thứ 2 ví dụ cho Thanh văn và người con thứ 3 thí dụ cho Xiển đề. Trong Hóa giáo của tông Thiên thai thì vào thời Hoa nghiêm đầu tiên hóa đạo Bồ tát, kế đến là làm lợi ích cho hàng Thanh văn, cuối cùng đến thời Niết bàn mới mở đường tiếp hóa Xiển đề.Cũng kinh Đại bát niết bàn quyển 33 (bản Bắc) còn có các thí dụ như: Tam điền, Tam mã, Tam khí, Tam bệnh nhân... dùng để nói lên sự khác biệt giữa 3 căn cơ Bồ tát, Thanh văn và Nhất Xiển đề. [X. kinh Tạp a hàm Q.32, 33; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1, thượng, Niết bàn kinh hội sớ Q.31].

tam tự

(三自) I. Tam Tự. Chỉ cho 3 tự là Tự điều, Tự tịnh và Tự độ.Luận Đại trí độ quyển 81 chia Bát chính đạo làm 3 loại là: 1. Tự điều: Chỉ cho Chính ngữ, Chính nghiệp và Chính mệnh thuộc về trì giới. 2. Tự tịnh: Chỉ cho Chính niệm và Chính định thuộc về tu thiền. 3.Tự độ: Chỉ cho Chính kiến, Chính tư và Chính tinh tiến thuộc về trí tuệ. II. Tam Tự. Gọi đủ: Tam tự nhất tâm ma ha diễn pháp. (xt. Tam Tự Nhất Tâm Ma Ha Diễn Pháp)

tam tự nhất tâm ma ha diễn pháp

(三自一心摩呵衍法) Gọi tắt: Tam tự. Chỉ cho tâm tuyệt đối duy nhất có đủ Thể, Tướng, Dụng, cũng tức là Nhất tâm nói trong luận Đại thừa khởi tín. [X. luận Biện Hiển Mật nhị giáo Q.thượng].

tam tự thiền

(三字禪) Cũng gọi Vân môn tam tự thiền. Tên công án trong Thiền tông. Thiền ba chữ, tức chỉ cho 3 chữ Cố, Giám, Di của Thiền sư Vân môn Văn yển thường dùng để tiếp hóa người học. Cố nghĩa là tự mình phàn tỉnh; Giám nghĩa là tự xem xét, răn giữ mình; còn Di nghĩa là lãnh hội được ý chỉ sâu xa, kín nhiệm mà ngôn ngữ, ý thức không thể đạt tới, tức chỉ cho cảnh giới an nhiên tự tại, siêu vượt tất cả các pháp tương đối. [X. Bích nham lục tắc 6, Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.32].

tam uẩn

(三蘊) Ba uẩn. Hóa địa bộ của Tiểu thừa chia vạn pháp thành 3 loại, gọi là Tam uẩn: 1. Nhất niệm uẩn: Chỉ cho các pháp sinh diệt trong sát na. 2. Nhất kì uẩn: Chỉ cho các pháp nối tiếp nhau trong khoảng thời gian từ lúc sinh ra cho đến lúc chết, như 5 căn... của con người. 3. Cùng sinh tử uẩn: Chỉ cho pháp tiếp tục trong thời gian từ khi hết sinh tử cho đến lúc được Kim cương dụ định.

tam viên mãn

(三圓滿) Chỉ cho 3 pháp tròn đầy nói trong luận Du già sư địa quyển 85, đó là:1. Hành viên mãn: Lắng nghe chính pháp rồi theo đúng chính pháp mà tu hành, lại vì người khác mà diễn nói chính pháp làm cho việc tự lợi lợi tha được viên mãn.2. Quả viên mãn: Do tu hành mà chứng được quả Niết bàn, thành tựu viên mãn. 3. Sư viên mãn: Tức bậc thầy dùng giáo pháp của Phật để dạy răn ta, làm cho tất cả phạm hạnh của ta được viên mãn.

tam vô gián nghiệp

(三無間業) Chỉ cho 3 thứ nghiệp cực ác chiêu cảm quả địa ngục Vô gián, đó là giết cha, giết mẹ và giết A la hán. [X. Chính pháp nhãn tạng biệt lập tam thời nghiệp].

Tam vô lậu căn

三無漏根; C: sān wúlòugēn; J: san murō-kon;|Ba căn cơ không bị ô nhiễm: 1. Hiểu được nguyên tắc của Tứ đế (四諦) mà trước đó chưa hề biết; 2. Nghiên cứu thực hiện Tứ đế để tiêu diệt phiền não; 3. Biết là mình đã chứng ngộ được tứ đế (theo Câu-xá luận 倶舎論).

tam vô lậu căn

(三無漏根) Phạm: Trìny anàsravendriyàịi. Gọi tắt: Tam căn. Chỉ cho 3 căn vô lậusau trong 22 căn. Ba căn vô lậu này do lấy 9 căn là ý, lạc, hỉ, xả, tín, cần, niệm, định và tuệ làm thể mà được lập ra, vì 3 căn vô lậu này có lực dụng tăng thượng, không nhiễm ô, không khởi phiền não, có công năng sinh ra Thánh pháp thanh tịnh vô lậu, nên gọi là Căn. Đó là: 1. Vị tri đương tri căn (Phạm: Anàjĩàtàjĩàsyàmìndriya), cũng gọi Vị tri dục tri căn. Căn cơ thuộc giai vị Kiến đạo. Người ở giai vị này từ vô thủy đến nay chưa từng nghe chân lí Tứ đế, vì muốn biết đế lí chân như ấy, liền tu tập giải hành của Địa tiền phương tiện, nên gọi là Vị tri dục tri căn(căn chưa biết muốn biết). 2. Dĩ tri căn(Phạm:Àjĩendriya), cũng gọi Tri căn. Căn cơ thuộc giai vị Tu đạo. Người ở giai vị này đã biết chân lí Tứ đế, đồng thời đã đoạn trừ các hoặc mê lí, nhưng vì muốn đoạn trừ cáchoặcmê sự, nên tiến tới quán lí Tứ đế, biết rõ cảnh Tứ đế, nên gọi là Dĩ tri căn (Căn đã biết). 3. Cụ tri căn (Phạm:Àjĩàtàvìndriya), cũng gọi Tri dĩ căn, Vô tri căn. Căn cơ thuộc địa vị Vô học. Người ở địa vị này đã biết suốt lí Tứ đế một cách đầy đủ, vì đã dứt hết các phiền não, tất cả việc cần làm đã làm xong, nên gọi là Cụ tri căn (Căn biết đầy đủ). Người ở địa vị Vô học này đã được Tận trí và Vô sinh trí. [X. luận Câu xá Q.3; luận Du già sư địa Q.57; luận Phát trí Q.14; luận Thuận chính lí Q.9; Du già luận kí Q.16, thượng].

tam vô lậu học

(三無漏學) Chỉ cho Giới, Định, Tuệ là Tam học vô lậu của bậc Thánh. Kinh Lăng nghiêm quyển 6 (Đại 19, 131 hạ) nói: Nhiếp tâm là giới, nhân giới sinh định, do định phát tuệ, cho nên gọi là Tam vô lậu học.

tam vô minh

(三無明) Ba thứ vô minh của phàm phu nói trong kinh Phật thuyết quyết định nghĩa. 1. Si vô minh: Phàm phu ngu si ám độn, chẳng hiểu biết gì, đối với chính pháp không tin, chỉ theo tà sư tà giáo, vọng chấp điên đảo nên gọi Si vô minh. 2. Mê vô minh: Phàm phu hôn mê không rõ, bị quyến rũ bởi các cảnh như 5 trần, không xem xét cái hại của chúng, lại khởi tâm tham đắm, nhiễm trước. 3. Điên vô minh: Phàm phu không rõ biết, đối với chính pháp khởi lên cái thấy tà đảo, thường cho là vô thường, vui chấp là chẳng vui, nên gọi là Điên vô minh.

tam vô ngã

(三無我) Chỉ cho 3 thứ Vô ngã do tông Pháp tướng dựa theo 3 tính Biến kế, Y tha và Viên thành mà lập ra. Đó là: 1. Vô tướng vô ngã: Cái thực ngã, thực pháp của tính Biến kế sở chấp là tình có lí không; thể tướng của cái ngã ấy vốn không, cho nên gọi là Vô tướng. 2. Dị tướng vô ngã: Các pháp của tính Y tha khởi là do nhân duyên sinh ra, thể tướng là vô ngã; nhưng tướng này chẳng phải hoàn toàn là không, mà chỉ khác với ngã tướng của tính Biến kế sở chấp, cho nên gọi là Dị tướng. 3. Tự tướng vô ngã: Tính Viên thành thực lấy chân như do vô ngã hiện bày làm tướng, vì thế gọi là Tự tướng vô ngã. [X. luận Biện trung biên Q.trung; luận Thành duy thức Q.8].

tam vô ngại

(三無礙) Chỉ cho 3 thứ vô ngại của Bồ tát nói trong kinh Đại bảo tích quyển 14, đó là: 1. Tổng trì vô ngại: Bồ tát được đại tổng trì, đối với các thiện pháp giữ gìn không mất, đối với các pháp ác nắm giữ không để sinh ra, vì thế tất cả ngôn ngữ, các pháp phân biệt đều biết, đều không quên mất, không có điều gì trở ngại. 2. Biện tài vô ngại: Bồ tát được đại biện tài, đối với các pháp Đại, Tiểu thừa, có các khả năng tùy theo căn cơ chúng sinh mà tự tại tuyên giảng, thảy đều thông suốt, không bị ngăn ngại. 3. Đạo pháp vô ngại: Bồ tát được đại trí tuệ, đối với tất cả đạo pháp Đại thừa, Tiểu thừa và các loại ngôn ngữ văn tự của thế gian, thảy đều thông suốt, không hề bị trở ngại.

tam vô sai biệt

(三無差別) Cũng gọi Tam pháp vô sai, Tam tam bình đẳng quán. Chỉ cho 3 thứ tâm, Phật và chúng sinh không sai khác nhau. 1. Tâm vô sai biệt: Tâm thể của một niệm phàm, thánh không hai, đầy đủ pháp 10 giới, 10 như thị, cùng với tính của chư Phật và chúng sinh không sai khác nhau. 2. Phật vô sai biệt: Chư Phật trong 10 phương do liễu ngộ pháp 10 giới, 10 như thị mà thành Chính giác, tức là ngộ cái sẵn có của bản tâm, ngộ chỗ mê của chúng sinh; mê ngộ tuy khác, nhưng thể thì không sai biệt.3. Chúng sinh vô sai biệt: Chúng sinh trong 9 cõi đều có đầy đủ pháp 10 giới, 10 như thị, chỗ ngộ của chư Phật và cái sẵn có của bản tâm thể không khác nhau. Mật giáo thì cho tam mật Ngã, Phật và Chúng sinh là trông nhau, nên quán Tam tam bình đẳng không sai khác, gọi là Tam tam bình đẳng quán. Ngoài ra, Phật pháp tăng, thân ngữ ý cũng là Tam pháp bình đẳng; 1mà vô lượng, vô lượng mà 1, rốt cuộc không tạp loạn và cũng là Tam pháp vô sai biệt. (xt. Tam Bình Đảng Quán).

tam vô sanh nhẫn

(三無生忍) Ba thứ Vô sinh nhẫn do tông Pháp tướng dựa theo 3 tính Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực mà thành lập, đó là: 1. Bản tính vô sinh nhẫn(cũng gọi Bản lai vô sinh nhẫn): Bồ tát quán xét thể tính của Biến kế sở chấp đều là không. 2. Tự nhiên vô sinh nhẫn: Bồ tát quán xét các pháp của Y tha đều do nhân duyên sinh. 3. Hoặc khổ vô sinh nhẫn (cũng gọi Phiền não khổ cấu vô sinh nhẫn): Bồ tát chứng biết thực tính của các pháp là chân như pháp tính, an trụ trong vô vi, không tương ứng với tất cả tạp nhiễm mà vốn tự vắng lặng.Theo luận Hiển dương thánh giáo thì Tam vô sinh nhẫn này ở địa vị Bất thoái (tức Sơ địa trở lên), khi chứng Tam tính thì được Tam nhẫn này. [X. luận Du già sư địa Q.23; luận Thành duy thức Q.8, luận Hiển dương thánh giáo Q.6].

Tam vô số đại kiếp

三無數大劫; C: sānwúshǔdàjié; J: sanmushudaikō;|Ba kiếp lớn vô số kể, Tam a-tăng-kì kiếp (三阿僧祇劫).

tam vô thường

(三無常) Ba thứ vô thường. Vô thường nghĩa là các pháp sinh diệt đổi dời, không có thể tính cố định và có thể trình bày qua 3 phương diện. Theo luận Thuận trung quyển hạ của ngài Long thụ thì 3 thứ vô thường là: 1. Niệm niệm hoại diệt vô thường: Khi căn(chủ quan) và trần(khách quan) đối nhau thì tâm niệm dấy lên, niệm trước diệt niệm sau sinh, cứ thế niệm niệm nối nhau không dừng, đó đều là vô thường. 2. Hòa hợp li tán vô thường: Các pháp vốn không có thực thể nhất định, chỉ tùy thuộc nhân duyên (điều kiện): Nhân duyên hòa hợp thì sinh, nhân duyên lìa tan thì diệt.3. Tất cánh như thị vô thường: Các pháp do nhân duyên hòa hợp mà sinh, hư giả chẳng thật, rốt cuộc trở về hoại diệt.Ngoài ra, Đại thừa nghĩa chương quyển 2 và quyển 18 cũng nêu ra 3 thứ vô thường, tên gọi tuy khác nhưng ý nghĩa thì đại khái giống với 3 thứ vô thường trên, đó là: 1. Phần đoạn vô thường: Tương đương với Hòa hợp li tán vô thường. 2. Niệm vô thường: Tương đương với Niệm niệm hoại diệt vô thường. 3. Tự tính bất thành vô thường: Tương đương với Tất cánh như thị vô thường. Theo tông Pháp tướng, sự vô thường của Khổ đế có đủ 3 tính nên thành lập 3 thứ vô thường sau đây: 1. Vô tính vô thường(cũng gọi Vô vật vô thường): Biến kế sở chấp thường không có thể tính, cho nên là vô tính. 2. Khởi tận vô thường(cũng gọi Sinh diệt vô thường): Các pháp nương vào vật khác (y tha) mà khởi là do nhân duyên sinh ra, cho nên tùy theo nhân duyên mà khởi, sinh diệt không thôi. 3. Cấu tịnh vô thường(cũng gọi Hữu cấu vô cấu vô thường): Chân như của tính Viên thành thực không có cấu tịnh, nếu ở trong vị sinh tử thì là Hữu cấu chân như; dứt hết sinh tử thì gọi là Vô cấu chân như.[X. luận Biện trung biên Q.trung; luận Thành duy thức Q.8; luận Trung biên phân biệt Q.thượng; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần đầu].

tam vô tánh

(三無性) Phạm:Trividhà ni#svabhàvatà. Cũng gọi Tam chủng vô tự tính, Tam vô tự tính, Tam chủng vô tính. Ba thứ Vô tính đối lại với 3 pháp hữu tính do tông Pháp tướng thành lập. Tức khi luận cứu về 3 tính: Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực thì thấy chúng đều không có tự tính, nên mới thành lập thuyết Tam vô tính. Đó là: 1. Tướng vô tính (Phạm: Lakwaịani#svabhàvatà), cũng gọi Tướng vô tự tính tính. Đối với tính Biến kế sở chấp mà lập ra tính này. Bởi vì tính Biến kế sở chấp vốn là cái tình có lí không, nghĩa là về mặt mê tình tuy có, nhưng chẳng qua chỉ là giả tướng hiện ra ngay lúc ấy, ví như hoa đốm trong hư không, đứng về phương diện lí mà nói thì thể và tướng đều không có, nên gọi là Tướng vô tính. 2. Sinh vô tính (Phạm: Utpattini#svabhàvatà), cũng gọi Sinh vô tự tính tính. Đối với tính Y tha khởi mà lập ra tính này. Bởi vì các pháp y tha là nhờ nhiều duyên mà sinh, không có thực tính nhất định, ví như việc ảo thuật, nên gọi là Sinh vô tính. 3. Thắng nghĩa vô tính (Phạm: Pramàrtha-ni#svabhàvatà), cũng gọi Thắng nghĩa vô tự tính tính, Vô chân tính, Đệ nhất nghĩa đế vô tự thể tướng. Đối lại với tính Viên thành thực mà lập ra tính này. Chân như là chân lí thù thắng, cũng là đối cảnh của trí căn bản vô phân biệt, vì thế gọi là Thắng nghĩa. Do xa lìa tính Ngã pháp của Biến kế sở chấp ở trước mà giả nói là vô tính chứ chẳng phải hoàn toàn vô tính. Đây chính là chân như, cũng chính là thực tính Duy thức. Nhưng Tam vô tính này được coi là mật ý thuyết chứ chẳng phải liễu nghĩa, vì tính của 2 tự tính sau trong 3 tự tính chẳng phải là không; ở đây tạm nói nó là vô tính để bác bỏ cái thực tính do người thế tục chấp trước. [X.phẩm Vô tự tính tướng trong kinh Giải thâm mật Q.2, luận Du già sư địa Q.73, 74; luận Hiển dương thánh giáo Q.16; luận Biện trung biên Q.thượng; luận Tam vô tính]. (xt. Tam Tính).

tam vô tánh luận

(三無性論) Phạm: Try-asvabhàva-prakaraịa. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Chân đế dịch vào đời Trần, Trung quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 31. Nội dung sách này trước nói về lí do tạo luận, tức giải thuyết ý nghĩa Tam vô tính để nêu tỏ lí pháp không, kế đến trình bày sự khác nhau về công dụng của tính Biến kế sở chấp, cái lí thành lập tính Y tha khởi và thể tướng của nó, về 7 thứ chân như, 4 loại đạo, 2 loại chuyển y... Về tác giả của sách này thì có thuyết cho là ngài Thế thân, lại có thuyết cho là ngài Vô trước, đến nay chưa xác định được. [X. Giải thâm mật kinh sớ; Duyệt tạng tri tân Q.37; Khai nguyên thích giáo lục Q.7; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.9].

Tam vô tính

三無性; C: sān wúxìng; J: sanmushō;|Ba loại vô tính. Đối nghịch với Tam tính (Biến kế sở chấp tính, Y tha khởi tính và Viên thành thật tính), Ba loại vô tính này được kiến lập trên cơ sở các pháp đều không có một cơ sở tự tồn. 1. Tướng vô tính (相無性): Các tướng, các trình hiện, những gì thấy được đều không thật, ví như một sợi dây thừng trông giống như một con rắn; 2. Sinh vô tính (生無性): Sinh thành, tồn tại không có một cơ sở tự tồn nào. Sinh thành trình hiện tuỳ nhân duyên, và sự tồn tại của nó chỉ tạm thời; 3. Thắng nghĩa vô tính (勝義無性): Sự thật tối thượng cũng vô tính.

Tam vô tính luận

三無性論; C: sānwúxìng lùn; J: sanmushō ron;|Luận nói về thuyết Tam vô tính, được Chân Đế dịch sang Hán văn, gồm hai quyển. Tác phẩm này đặc biệt chú trọng đến thuyết Tam vô tính trong hệ thống Du-già hành. Tác giả được xem là Vô Trước (無著) hoặc Thế Thân (世親).

Tam vô vi

xem Ba pháp vô vi.

tam vô vi

(三無爲) Phạm: Tri-saôskfta. Chỉ cho 3 pháp vô vi: Hư không, Trạch diệt và Phi trạch diệt theo sự phân loại của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Pháp vô vi tức là lí chân không vắng lặng, vốn không tạo tác. Tam vô vi là: 1. Hư không vô vi (Phạm: Àkàzàsaôskfta): Hư không tức vô ngại, nghĩa là lí chân không không bị các hoặc nghiệp ô nhiễm làm chướng ngại, lấy vô ngại làm tính, dung nạp muôn vật và trùm khắp tất cả chỗ. 2. Trạch diệt vô vi (Phạm: Pratisaôkhyà-nirodhàsaôskfta): Hàng Thanh văn dùng trí để lựa chọn hầu xa lìa sự trói buộc của Kiến, Tư hoặc, chứng lí tịch diệt chân không. 3. Phi trạch diệt vô vi (Phạm: Apratisaôkhyà-nirodhàsaôskfta): Hàng Thanh văn sau khi chứng quả thì các hoặc chướng không còn tiếp tục sinh khởi nữa, nên tự nhiên khế ngộ lí tịch diệt chân không mà không cần đến sức lựa chọn. [X. luận Câu xá Q.1; luận Thành duy thức Q.2; luận Đại tì bà sa Q.32; luận Di bộ tông luận; luận Nhập a tì đạt ma Q.hạ]. (xt. Phi Trạch Diệt Vô Vi, Hư Không Vô Vi, Trạch Diệt).

tam vũ nhất tông pháp nan

(三武一宗法難) Chỉ cho 4 lần pháp nạn nghiêm trọng nhất trong lịch sử Phật giáo Trung quốc do các Hoàng đế gây ra. Đó là: 1. Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy: Vua nghe theo lời của quan Tư đồ Thôi hạo và Đạo sĩ Khấu khiêm chi mà áp bức Phật giáo. Năm Thái bình chân quân thứ 7 (446), các sa môn ở thành Trường an bị giết sạch, tất cả kinh sách và tranh tượng Phật đều bị phá hoại, Phật giáo ở Bắc Ngụy lúc đó bị hủy diệt hoàn toàn. Đến khi vua Văn thành đế phục hưng, Phật giáo mới khôi phục địa vị. 2. Vũ đế nhà Bắc Chu: Vua nghe lời của các đạo sĩ Trương tân và Vệ nguyên tung, có ý muốn phế bỏ Phật giáo. Bấy giờ có các ngài Chân loan, Đạo an, Tăng miến, Tĩnh ái... đứng ra bênh vực Phật giáo. Năm Kiến đức thứ 2 (573), vua ra lệnh phế bỏ Phật giáo và Đạo giáo, hủy hoại kinh điển và tượng Phật, đồng thời, bắt sa môn, đạo sĩ phải hoàn tục, chỉ chọn 120 vịdanh đức để lại ở Thông đạo quán. Năm Kiến đức thứ 6 (577), Bắc Chu diệt Bắc Tề, lúc ấy tuy cóngàiTuệ viễn nhiều lần biện hộ, nhưng Vũ đế vẫn thi hành chính sách bài Phật ở đất Bắc tề. Năm sau, vua băng, Phật giáo và Đạo giáo mới được phục hưng. 3. Vũ tông nhà Đường: Vua nghe theo lời nhóm người chủ trương chính sách bài Phật, đứng đầu là Tể tướng Lý đức dụ, vào năm Hội xương thứ 5(845), vua ban lệnh chỉ giữ lại một số chùa và 30 vị tăng, còn lại bao nhiêu chùa viện đều bị phá bỏ và tăng ni phải hoàn tục, các tượng Phật và chuông, khánh bằng đồng được dùng vào việc đúc thành tiền và các công cụ... lịch sử gọi biến cố này là Hội Xương Pháp Nạn. Năm sau, Vũ đế băng, Vũ tông lên ngôi, lại cho phục hưng Phật pháp. 4. Thế tông nhà Hậu Chu: Năm Hiển đức thứ 2 (955), vua thi hành chính sách bài Phật, hạ lệnh phá bỏ 3 vạn 336 ngôi chùa viện, (Phật tổ thống kỉ ghi là 3336 ngôi), tịch thu các tượng Phật, chuông, khánh và tất cả pháp khí bằng đồng để đúc tiền, còn bằng các chất liệu khác thì đập phá hết! Thời ấy, ở Trấn châu có pho tượng Quan âm bằng đồng rất linh ứng, cho nên dù có lệnh của vua cũng không ai dám đến gần. Vua nghe tin, đích thân đến chùa này, dùng búa chém vào mặt và ngực tượng đồng, những người đứng xem đều run sợ. Năm Hiển đức thứ 6 (959), trên đường đi chinh phạt miền Bắc, vua phát bệnh nhọt ở ngực và chết. Về sau, vua Thái tổ nhà Tống thống nhất đất nước, ban sắc xây dựng lại các chùa, đúc tạo các tượng, Phật giáo bắt đầu được khôi phục. Trong 4 lần pháp nạn nói trên, nguyên nhân của 2 lần trước chủ yếu là về tư tưởng, còn 2 lần sau là vì lý do kinh tế. Phật tổ thống kỉ quyển 42 của ngài Chí bàn đời Tống gọi đó là Tứ Đại Pháp Nạn, hoặc Tam Vũ Nhất Tông Chi Nạn; còn luận Hộ pháp của Thừa tướng Trương thương anh đời Tống thì nói (Đại 52, 640 trung): Đời trước tuy có 3 vua Vũ nghe lời tâu của các quan tà ác mà quyết chí diệt Phật pháp, nhưng sau khi phế bỏ lại càng hưng thịnh hơn, giống như vạn vật lại càng xanh tốt sau cơn mưa gió. [X. Tống cao tăng truyện Q.17; Thích thị kê cổ lược Q.2, 3, 4; Lịch đại tam bảo kỉ Q.3; Cổ kim Phật đạo luận hành Q.1; Ngụy thư thích lão chí 20; Bắc sử Q.2; Bắc chu thư Q.5; Cựu đường thư Q.18].

Tam vật

三物; J: sanmotsu;|Chỉ ba vật mà một vị Lão sư nhận được từ Bản sư của mình sau một thời gian hoằng hoá đạt kết quả tốt đẹp. Ai chính thức được công nhận là Chính sư (j: shōshi) và đã hướng dẫn những người khác trên thiền đạo với kết quả tốt đẹp, người ấy sẽ được trao tam vật trong một buổi lễ. Thời xưa, tiêu chuẩn để được trao tam vật được đặt rất cao, rất nghiêm ngặt.|Trong buổi lễ này, pháp danh của vị được trao tam vật được ghi bằng ba cách khác nhau trên ba tấm giấy (vì vậy mà có tên là tam vật, kích thước khoảng 30x100 cm) và trên ba tấm giấy này, hệ thống truyền thừa từ Phật Thích-ca đến người được truyền trao tam vật được ghi lại.

tam vọng chấp

(三妄執) Cũng gọi Tam kiếp vọng chấp, Tam kiếp hoặc. Gọi tắt: Tam vọng, Tam chấp, Tam kiếp.Chỉ cho 3 thứ phiền não thô, tế và cực tế do Mật giáo thành lập mà người tu hành từ lúc phát tâm ra khỏi thế gian đến khi thành tựu quả vị Phật phải vượt qua. 1. Thô vọng chấp(cũng gọi Kiếp sơ chi hoặc): Vọng tâm chấp trước các pháp ngoài tâm là cóthật, rồi nương vào tâm này mà chấp thân người do 5 uẩn hòa hợp là có thật, do sinh ra cái thấy mình, người khác nhau. 2. Tế vọng chấp(cũng gọi Nhị kiếp chi hoặc): Vọng tâm chấp trước pháp 5 uẩn có thực tính, 2 pháp sinh tử và niết bàn là có thật.3. Cực tế vọng chấp(cũng gọi Tam kiếp chi hoặc): Tức vô minh hoặc, là vọng tâm chấp trước tất cả pháp có năng, có sở và trái với pháp giới bình đẳng. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 2, nếu lấy tâm bồ đề thanh tịnh làm tâm xuất li thế gian thì 3 vọng chấp vượt thế gian là chỉ cho sự tu hành trong 3 kiếp, tức từ lúc phát tâm bồ đề cho đến khi thành tựu Chính giác phải trải qua 3 a tăng kì kiếp: Kiếp thứ nhất vượt qua lớp Thô vọng chấp (160 tâm), kiếp thứ 2 vượt qua lớp Tế vọng chấp(cũng 160 tâm), kiếp thứ 3 vượt qua lớp Cực tế vọng chấp mới đạt được Phật tuệ. Tuy nhiên, nếu chỉ trong 1 đời vượt qua 3 vọng chấp, thì trong 1 đời được thành Phật.Bí tạng kí thì ngoài 3 vọng chấp nói trên, còn lập riêng Vi tế vọng chấp thì do Phật địa đoạn trừ, thuyết này khác với thuyết của Đại nhật kinh sớ. [X. phẩm Trụ tâm kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ sao Q.1; Đại nhật kinh chỉ tâm sao Q.1; Đại kinh yếu nghĩa sao Q.3; Chân ngôn danh mục].

Tam xa

三車; C: sānchē; J: sansha;|»Ba cỗ xe«. Một ẩn dụ trong kinh Pháp Hoa, câu chuyện »căn nhà cháy«, cụ thể như sau: Một vài đứa trẻ đang chơi trong nhà, mà không ngờ nó căn nhà đang cháy. Bố của chúng dụ chúng ra khỏi nhà bằng cách nói bên ngoài có ba chiếc xe, một chiếc xe kéo bởi con dê, một chiếc thứ hai được kéo bởi con hưu và chiếc thứ ba được kéo bởi con bò. Và khi những đứa trẻ ra khỏi nhà, chúng chỉ thấy tất cả chỉ là một chiếc xe bò trắng. Ba cỗ xe này là ví dụ cho Tam thừa: Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát thừa. Câu chuyện này được đề ra để giảng giải rằng, mặc dù có Đại thừa Tiểu thừa trong giáo lí nhà Phật, nhưng chung quy thì tất cả những phương tiện đều dẫn đến giác ngộ như nhau. Căn nhà cháy tượng trưng cho biển sinh tử luân hồi, bị vây phủ bởi phiền não vô minh. Những đứa trẻ là hành giả của Tam thừa. Cỗ xe kéo bởi con dê tượng trưng cho Thanh văn thừa, xe với con hưu là Duyên Giác thừa và xe bò tượng trưng cho Bồ Tát thừa. Và khi bọn trẻ ra khỏi nhà thì những cỗ xe bò trắng giống nhau đã được chuẩn bị để trao cho chúng. Đây là những ẩn dụ chỉ lòng đại từ đại bi của đức Phật khi ngài gạt bỏ những phương tiện tam thời, dẫn dắt chúng sinh trở về một Phật thừa duy nhất. Các đại biểu Phật giáo Trung Quốc được chia thành hai nhóm: nhóm thứ nhất với quan điểm xe bò trước khi nhóm trẻ thơ ra khỏi nhà và xe bò trắng to (như vậy là xe thứ tư) là một (và như vậy thì chỉ có ba cỗ xe). Thuộc vào nhóm này là tông Pháp tướng và tông Tam luận. Nhóm thứ hai, với tông Hoa Nghiêm và Thiên Thai là đại biểu, quan niệm rằng, cỗ xe trắng lớn sau này khác cỗ xe bò trước đây. Như vậy thì »Tam thừa gia« quan niệm Bồ Tát thừa và Phật thừa như nhau, trong khi »Tứ thừa gia« lại quan niệm chúng khác nhau.

tam xa tứ xa

(三車四車) Ba xe 4 xe. Xe có thể chuyên chở các vật, ví dụ Phật pháp hóa độ chúng sinh đưa đến Niết bàn. Ba xe chỉ cho xe dê, xe nai và xe bò, nếu thêm xe trâu trắng lớn nữathìlà 4 xe. Phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa có ví dụ Hỏa trạch tam xa (nhà lửa 3 xe): 1. Xe dê: Xe do dê kéo, ví dụ hàng Thanh văn tu hành Tứ đế, cầu ra khỏi 3 cõi (nhà lửa), nhưng chỉ muốn độ lấy mình chứ không nghĩ đến người khác, như con dê chạy không bao giờ ngoái cổ lại nhìn đàn dê ở phía sau 2. Xe nai: Xe do nai kéo, ví dụ hàng Duyên giác tu 12 nhân duyên cầu ra khỏi 3 cõi, hơi có lòng vị tha, như con nai khi chạy thỉnh thoảng ngó lại nhìn đàn phía sau.3. Xe bò: Xe do bò kéo, ví dụ hàng Bồ tát Tam tạng giáo tu hành Lục độ, nhưng muốn độ người ra khỏi 3 cõi chứ không muốn độ mình, như bò chở vật, chịu khó vận chuyển tất cả. Ngoài ra còn dùng xe trâu trắng lớn kéo ví dụ Nhất Phật thừa. Về sự giải thích Tam xa tứ xa thì xưa nay có 2 phái lớn: Phái thứ nhất coi xe bò biểu thị Bồ tát thừa và xe trâu trắng lớn biểu thị Phật thừa là một, phái này gồm tông Tam luận, tông Pháp tướng, gọi là Tam thừa gia, Tam xa gia. Phái thứ 2, ngoài xe bòcòn lập riêng xe trâu trắng lớn, phái này gồm tông Thiên thai, tông Hoa nghiêm, gọi là Nhất thừa gia, hoặc Tứ xa gia. [X. Pháp hoa kinh huyền tán Q.4, phần đầu; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.3, 4].

tam xứ a lan nhã

(三處阿蘭若) Ba loại A lan nhã. A lan nhã là nơi vắng vẻ, an nhàn, ở cách xa làng xóm 1 câu lô xá(tức nơi mà tiếng kêu của con bò lớn không vang tới), là nơi thích hợp nhất cho việc tu hành. Theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển thượng thì có 3 loại A lan nhã sau đây: 1. Đạt ma a lan nhã (Phạm: Dharmàraịya): Chỉ cho các pháp xưa nay vốn vắng lặng, không tạo tác, cho nên gọi chỗ vắng vẻ là Pháp a lan nhã xứ. 2. Ma đăng già a lan nhã (Phạm: Màtaígàraịya): Chỉ cho chỗ gò mả, nơi cách làng xóm 1 câu lô xá. 3. Đàn đà ca a lan nhã (Phạm: Daịđakàraịya): Chỉ cho vùng sa mạc. [X. luận Thập trụ tì bà sa Q.16; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.4, phần 3; Huyền ứng âm nghĩa Q.1]. (xt. A Lan Nhã).

tam xứ bất chuyển pháp luân

(三處不轉法輪) Không quay bánh xe pháp ở 3 nơi. Nghĩa là không diễn nói giáo pháp cho 3 hạng người: Ngã mạn, tà kiến và đam mê ngũ dục. Ba hạng người này tự buộc mình trong vòng ngã mạn, tà kiến, ngũ dục, giống như sống trong 3 nơi: Núi cao, rừng rậm và bùn lầy nên gọi là Tam xứ. 1. Ngã mạn cao sơn: Phàm phu và ngoại đạo kiêu căng cao ngạo, như ngọn núi chót vót, tuy nghe chính pháp chẳng những không tin mà còn phỉ báng, chiêu cảm ác báo, cho nên không thể vì họ mà chuyển pháp luân. 2. Tà kiến trù lâm: Phàm phu, ngoại đạo cố chấp các tà kiến, như rừng rậm um tùm, đối với chính pháp không thể tin nhận, nên không vì họ mà chuyển pháp luân.3. Ngũ dục ứ nê: Phàm phu tham đắm 5 cảnh dục: sắc, thanh, hương, vị, xúc, nhầy nhụa nhơ nhớp, như sống trong vũng bùn lầy, không thể nhận lãnh chính pháp nên không vì họ mà chuyển pháp luân.

tam xứ mộc xoa

(三處木叉) Chỉ cho giới pháp giữ gìn che chở 3 chỗ thân, khẩu, ý. Mộc xoa, gọi đủ là Ba la đề mộcxoa (Phạm:Pratimokwa), dịch ý là Biệt giải thoát, tức là giới pháp ngăn chặn những điều trái quấy, xấu ác. Tam xứ mộc xoa là: 1. Thân xứ mộc xoa: Như tiết chế tự thân, ăn đúng giờ, sống đơn giản thanh tịnh, không tham gia việc đời, không làm sứ giả cho ai. 2. Khẩu xứ mộc xoa: Như không nói chú thuật, thuốc tiên, không gần gũi giới quí tộc, kết bạn với người giàu sang, thân mật với kẻ kiêu hãnh. 3. Ý xứ mộc xoa: Như tự dốc lòng chính niệm cầu độ, nên tự lượng biết đủ đối với việc cúng dường, không được che giấu lỗi xấu, lập dị gạt người. [X. kinh Phật thùy bát niết bàn lược thuyết giáo giới; Di giáo kinh luận]. (xt. Ba La Đề Mộc Xoa).

tam xứ nhập pháp giới

(三處入法界) Chỉ cho 3 chỗ chứng nhập pháp giới của Bồ tát. Pháp giới là cảnh giới Thánh trí vắng lặng, thường trụ bất biến, bình đẳng nhất như. Cũng chỉ cho tâm sẵn có của tất cả chúng sinh và lí bình đẳng mà chư Phật chứng được. Vì căn tính của Bồ tát có thượng, trung, hạ khác nhau nên chỗ chứng nhập pháp giới cũng có 3 loại bất đồng: 1. Trụ thập sơ tâm nhập pháp giới: Bồ tát thượng căn ở giai vị Sơ trụ phá trừ hoặc vô minh, chứng nhập lí pháp giới bình đẳng. 2. Hồi hướng chung tâm nhập pháp giới:Bồ tát trung căn ở giai vị Thập hồi hướng, các hạnh thuần thục viên mãn, chứng nhập lí pháp giới bình đẳng. 3. Sơ địa nhập pháp giới: Bồ tát hạ căn ở giai vị Sơ địa chứng nhập lí pháp giới. [X. Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh sớ Q.7].

tam xứ truyện tâm

(三處傳心) Truyền tâm ở 3 nơi. Đây làtruyền thuyết của Thiền tông. Nghĩa là đức Phật Thích ca truyền tâm cho ngài Đại ca diếp ở 3 nơi: Một là trên núi Linh thứu, Phật cầm hoa sen đưa lên, ngài Ca diếp mỉm cười; hai là Phật chia nửa tòa ngồi cho ngài Ca diếp ở trong tháp Đa tử; ba là Phật ló 2 chân ra khỏi kim quan cho ngài Ca diếp thấy khi Ngài nhập diệt ở rừng Sa la song thụ.

Tam y

三衣; S: tricīvara; y phục ba phần, cũng được gọi là »Nạp y« (衲衣; s: kanthā) bộ áo vá chắp;|Y phục của một Tỉ-khâu hoặc Tỉ-khâu-ni. Phần trong (dưới) được gọi là An-đà-hội (安陀會; s: antaravāsaka) là một mảnh vải vá (năm mảnh vải vá lại) cuộn lại dùng làm đồ lót dưới. Phần ngoài là Uất-đa-la-tăng (鬱多羅僧; s: uttarāsaṅga) cũng là một tấm vải vá dùng để khoác ngoài để đi khất thực. Phần thứ ba là Tăng-già-lê (僧伽梨; s: saṅgāti), một tấm vải khoác ngoài, chỉ được dùng trong những ngày lễ và được vá từ 9-25 mảnh vải nhỏ. Màu của nạp y thường là màu vàng nhưng cũng thay đổi tuỳ theo tông phái, theo truyền thống. Tăng, ni tại Trung Quốc thường mang màu xanh, nâu. Tại Tây Tạng người ta chuộng màu đỏ, tại Nhật màu đen. Tất cả những y phục này đều phải được may từ nhiều mảnh vải để nhấn mạnh truyền thống sống cơ hàn, vô sản của một tỉ-khâu.

tam y

xem ba tấm pháp y. ; Hạ y may năm điều là An đà hội, Trung y may bảy điều là Uất đa la tăng, Thượng y may chín điều đến hai mươi lăm điều là Tăng già lê. ; (三衣) Phạm:Trìịi cìvaràịi. Pàli:Tìịi cìvaràịi. Chỉ cho 3 thứ áo của tỉ khưu. Đó là: 1. Tăng già lê(Phạm,Pàli:Saôphàti), cũng gọi Cửu điều y, Đại y, Trọng y, Tạp toái y, Cao thắng y. Áo mặc chính, gồm 9 đến 25 nẹp vải khâu lạimàthành, mặc mỗi khi vào làng xóm, thành ấp khất thực, hoặc vâng chiếu chỉ vào cung vua. 2. Uất đa la tăng (Phạm, Pàli: Uttarasaíga), cũng gọi Thượng y, Trung giá y, Nhập chúng y, Thất điều y. Áo 7 nẹp, mặc khi lễ bái, nghe giảng, bố tát... 3. An đà hội(Phạm:Antarvàsa,Pàli: Antarvàsaka), cũng gọi Trung y, Trung túc y, Nội y, Ngũ điều y. Áo 5 nẹp, mặc khi làm công việc hoặc khi ngủ. Theo qui định, 3 áo trên đây đều được maybằng loại vải thô xấu và nhuộm bằng hoại sắc (Phạm:Kawàya) vì thế, 3 áo còn có tên là Ca sa. Mặc loại áo này khiến người ta xả bỏ được các dục vọng và không sợ bị lấy trộm, vì nó vô dụng đối với người thế gian, cho nên cũng được gọi là Phẩn tảo y (Phạm:Pàmwu-kula = Áo vá).[X. luật Ma ha tăng kì Q.23; Tát bà đa tì bà sa Q.4; luận Đại trí độ Q.68; luận Phân biệt công đức Q.4; Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.thượng]. (xt. Ca Sa).

tam y nhất bát

(三衣一鉢) Ba áo một bát. Trong 6 vật của tỉ khưu, đặc biệt quan trọng là 3 áo: An đà hội, Uất đa la tăng, Tăng già lê và 1 chiếc bát là những vật dụng mà vị tỉ khưu thường mang bên mình. Luật Ma ha tăng kì quyển 8 (Đại 22, 293 hạ) nói: Người xuất gia là vui bậc nhất, bất cứ ở nơi nào cũng thường mang theo 3 áo bên mình, cầm bát đi xin ăn, giống như 2 cánh của con chim, lúc nào cũng dính liền với thân chim. [X. kinh Đại kiên cố bà la môn duyên khởi Q.hạ; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 1; điều Thị kính hộ tam y bát cụ pháp trong Trung môn cảnh huấn Q.3]. (xt. Lục Vật, Tứ Hữu Tài Sản, Trướng Vật).

tam yết-ma

xem bạch tứ-yết-ma.

Tam Yếu

(三要): 3 yếu tố quan trọng, có 2 nghĩa. (1) Đạo gia cho Tam Yếu là tai, mắt và miệng. Như trong Âm Phù Kinh (陰符經) có đoạn: “Cửu Khiếu chi tà, tại hồ Tam Yếu, khả dĩ động tĩnh (九竅之邪、在乎三要、可以動靜, Chín Lỗ sai lầm, ở ba điểm chính, có thể động tĩnh).” Thái Công giải thích rằng: “Tam Yếu giả, nhĩ, mục, khẩu dã (三要者、耳、目、口也, ba nơi trọng yếu là tai, mắt, miệng).” (2) Chỉ cho 3 yếu tố quan trọng trong mỗi một huyền môn, do Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền cử xướng. Đó là: (a) Trong lời nói không có phân biệt tạo tác; (b) Chư vị thánh đều phải vào thẳng chỗ huyền áo; (c) Dứt bặt ngôn ngữ. Trong Thiền Gia Quy Giám (禪家龜鑑, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1255) giải thích rằng: “Tham Thiền tu cụ tam yếu, nhất hữu đại tín căn, nhị hữu đại phẫn chí, tam hữu đại nghi tình (參禪須具三要、一有大信根、二有大憤志、三有大疑情, tham Thiền phải có đủ ba yếu tố chính, một là có tín căn lớn, hai là có chí giận dữ lớn, ba là có nghi tình lớn).” Hay trong Thiền Lâm Loại Tụ (禪林類聚, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 67, No. 1299) quyển 6, phần Thị Chúng (示眾), lại có đoạn: “Phù nhất cú ngữ tu cụ Tam Huyền môn, nhất huyền môn tu cụ Tam Yếu, hữu quyền hữu dụng (夫一句語須具三玄門、一玄門須具三要、有權有用, phàm một câu nói phải có Ba Huyền môn, một huyền môn phải có Ba Yếu, có quyền có dụng).”

tam ác

(三惡) I. Tam Ác. Ba thứ tâm xấu ác của con người: 1. Tâm tính độc ác xấu xa, không thể tiếp nhận những lời nói lương thiện. 2. Khí lượng nhỏ hẹp, thường ôm lòng ghen ghét, chỉ sợ người khác hơn mình. 3. Nếu biết người khác hơn mình thì hổ thẹn, không chịu thưa hỏi. [X. kinh Đại pháp cự đà la ni Q.1]. II. Tam Ác. Gọi đủ: Tam ác thú. Chỉ cho địa ngục, ngã quỉ, súc sinh. [X. luận A tì đạt ma tạp tập Q.7]. (xt. Tam Ác Thú). Chỉ cho 3 thứ cảm giác xấu ác: Dục, giác, Khuể giác và Hại giác. Cứ theo Tông kính lục quyển 81, khi tu định, nếu chỉ tu tập thiền định thế gian thì tuy nói là tu hành, nhưng vẫn sinh 3 thứ ác giác như sau: 1. Dục giác: Phàm phu không rõ biết những cái hại của 5 trần, nên đối với cảnh thích ý thì tham cầu bằng mọi cách mà sinh ra ác giác. 2. Khuể giác: Phàm phu vì không rõ biết những mối họa của 5 trần, nên đối với cảnh trái ý thì nổi giận mà sinh ra các ác giác.3. Hại giác: Phàm phu thường khởi tri giác xâm hại người khác, làm cho sân giác tăng trưởng. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng].

tam ác giác

xem ba loại tư tưởng xấu ác. ; The three evil mental states: 1) Tham: Desire. 2) Sân: Hate—Anger. 3) Hại: Malevolence.

tam ác hạnh

Theo Kinh Trường Bộ, Phúng Tụng Kinh, có ba ác hạnh—According to the Long Discourses of the Buddha, there are three kinds of wrong conduct. 1) Thân ác hạnh: Wrong conduct in body. 2) Khẩu ác hạnh: Wrong conduct in speech. 3) Ý ác hạnh: Wrong conduct in thought. ; (三惡行) Phạm:Trìni duzcaritàni. Pàli: Tìni duccaritàni. Đối lại: Tam diệu hạnh. Chỉ cho tất cả hành vi bất thiện của 3 nghiệp thân, khẩu, ý. 1. Thân ác hạnh: Chỉ cho gia hạnh, căn bản, hậu khởi và tất cả hành vi bất thiện khác của thân nghiệp. 2. Ngữ ác hạnh: Chỉ cho gia hạnh, căn bản, hậu khởi và tất cả lời nói bất thiện khác của ngữ nghiệp. 3. Ý ác hạnh: Chỉ cho tất cả ý nghĩ bất thiện như tham, sân, tà kiến... [X. kinh Trường a hàm Q.8; luận Tập dị môn túc Q.3; luận Thuận chính lí Q.40; luận Câu xá Q.16].

Tam ác thú

xem Ba đường ác.

tam ác thú

(三惡趣) Cũng gọi Tam ác đạo, Tam đồ, Tam ác.Chỉ cho địa ngục, ngã quỉ, súc sinh.1. Địa ngục: Ở dưới đất, giữa núi Thiếtvi có 8 địa ngục lạnh, 8 địa ngục nóng; những người tạo nghiệp Thập ác thượng phẩm sẽ bị đọa vào đường này.2. Ngã quỉ: Những người tạo nghiệp .Thập ác trung phẩm sẽ bị đọa vào đường này. Trong đó, người tội nặng thì nhiều kiếp không nghe thấy tên nước uống; người tội vừa thì chỉ tìm kiếm được máu mủ, phẩn dơ của người thế gian; người tội nhẹ hơn nữa thì họa huần lắm mới được 1 bữa ăn no.3. Súc sinh: Những người tạo nghiệp Thập ác hạ phẩm thì rơi vào đường này. Có loài khoác lông, đội sừng, loài có vảy có cánh, 4 chân nhiều chân, có chân không chân, bơi dưới nước, đi trên đất, bay trên không... Theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 13, kinh Vô lượng thọ quyển thượng, kinh Phật địa... thứ tự 3 đường là địa ngục, ngã quỉ, súc sinh; còn theo kinh Pháp hoa quyển 2, kinh Đại A di đà quyển thượng, kinh Đại bát niết bàn quyển 10 (bản Bắc)... thì thứ tự là địa ngục, súc sinh, ngã quỉ. Về nỗi khổ, Phật giáo Đại thừa cho rằng súc sinh đỡ khổ hơn ngã quỉ, là vì ngã quỉ lúc nào thân hình cũng bị lửa đốt, chịu khổ rất nặng nề, cổ thì nhỏ bụng lại to, thường bị đói khát, nếu gặp dòng nước trong thì bỗng biến thành lửa cháy dữ dội; còn trong đường súc sinh thì không có các nỗi khổ này, cho nên còn tốt hơn ngã quỉ. Theo luận Du già lược toản quyển 3 thì ngã quỉ có 2 loại: Loại quỉ có phúc là do ác nghiệp hạ phẩm chiêu cảm, còn loại quỉ bạc phúc thì do ác nghiệp trung phẩm chiêu cảm.[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.5; kinh Chính pháp niệm xứ Q.5-21; luận Tùy tướng; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.7, 13].

Tam ác đạo

xem Ba đường ác.

tam ác đạo

(A) Tam ác thú—Three evil gati, or paths of transmigration—Three hardships or sufferings in the three lower paths of transmigration: 1) Địa ngục: The hells. 2) Ngạ quỷ: The hungry ghosts. 3) Súc sanh: The animals. (B) Ấn Quang Đại Sư khuyên người chuyên nhất niệm Phật cho tâm mình không còn tham luyến chi đến việc trần lao bên ngoài. Đừng quên cái chết đang rình rập bên mình chẳng biết xãy ra lúc nào. Nếu như không chuyên nhất niệm Phật cầu sanh về Tây Phương, thì khi cái chết đến thình lình, chắc chắn là phải bị đọa vào trong tam đồ ác đạo. Nơi đó phải chịu khổ có khi đến vô lượng chư Phật ra đời hết rồi mà vẫn còn bị xoay lăn trong ác đạo, không được thoát ly. Vì thế, hành giả lúc nào cũng phải nghĩ đến thân người mong manh, cái chết thình lình. Đời trước và đời nầy đã tạo ra vô lượng vô biên ác nghiệp, và luôn nghĩ đến sự khổ nơi tam đồ ác đạo đang đợi chúng ta, để luôn tỉnh ngộ mà tâm không còn tham luyến chi đến các cảnh ngũ dục, lục trần ở bên ngoài nữa: Great Master Ying-Kuang reminded Buddhist followers to singlemindedly recite the Buddha's name if they wish for their mind not to be attaching and wandering to the external world. Do not forget that death is lurking and hovering over us, it can strike us at any moment. If we do not wholeheartedly concentrate to practice Buddha Recitation, praying to gain rebirth to the Western Pureland, then if death should come suddenly, we are certain to be condemned to the three unwholesome realms where we must endure innumerable sufferings and sometime infinite Buddhas have in turn appeared in the world, but we are still trapped in the evil paths and unable to find liberation. Thus, cultivators should always ponder the impermanence of a human life, while death could come at any moment without warning. We should always think that we have committed infinite and endles unwholesome karmas in our former life and this life, and the sufferings awaiting for us in the unwholesome realms. Upon thinking all these, we will be awakened in every moment, and we no longer have greed and lust for the pleasures of the five desires and six elements of the external world. 1) Nếu như bị đọa vào địa ngục thì bị cảnh non đao, rừng kiếm, lò lửa, vạc dầu; một ngày đêm sống chết đến vạn lần, sự đau khổ cùng cực không sao tả xiết: If condemned to hell, then we will experience the torturous and agonizing conditions of a moutain of swords, a forest of knives, stoves, frying pans; in each day and night living and dying ten thousand times, the agony of pain and suffering is inconceivable—See Núi Đạo, Rừng Kiếm, and Vạc Dầu. 2) Nếu như bị đọa vào ngạ quỷ thì thân mình xấu xa hôi hám. Bụng lớn như cái trống, còn cổ họng thì nhỏ như cây kim; đói khát mà không ăn uống được. Khi thấy thức ăn nước uống thì các vật ấy đều hóa thành ra than lửa, chịu đói khát khổ sở, lăn lộn, khóc la trong muôn vạn kiếp: If condemned to the path of hungry ghost, then the body is hideously ugly wreaking foul odors. Stomach is large as a drum but neck is as small as a needle; though starving and thirsty, the offenders cannot eat or drink. When seeing food and drinks, these items transform into coals and fires. Thus, they must endure the torture and suffering of famine and thirst, throwing, banging their bodies against everything, crying out in pain and agony for tens and thousands of kalpas. 3) Nếu như bị đọa vào súc sanh thì bị nghiệp chở, kéo, nặng nề, bị người giết mà ăn thịt, hoặc bị cảnh loài mạnh ăn loài yếu, hân tâm kinh sợ, khủng hoảng, không lúc nào yên: If condemned to the animal realm, then they must endure the karmic consequences of carrying and pulling heavy loads, get slaughtered for food, or the strong prey on the weak, mind and body always paranoid, frightened, and fearful of being eaten or killed, without having any moment of peace.

Tam ái

三愛; C: sānài; J: san'ai;|Ba loại luyến ái: 1. Dục ái (欲愛), Sắc ái (色愛, cũng gọi là Hữu ái 有愛) và Vô sắc ái (無色愛 hoặc Vô hữu ái 無有愛); 2. Ba loại ái, đặc biệt trở nên mạnh mẽ khi giờ phút lâm chung đến gần: a. Tự thể ái (自體愛), lưu luyến thân thể đang có, b. Cảnh giới ái (境界愛), lưu luyến gia quyến, vật sở hữu, c. Đương sinh ái (當生愛), lưu luyến những cảnh tượng đã trải qua trong cuộc sống.

tam ái

(I) Theo Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng, có ba loại ái—According to The Long Discourses of the Buddha, there are three kinds of craving. (A) Tam ái—Three kinds of craving: 1) Dục ái: Kama-tanha (skt)—Sensual craving. 2) Hữu ái: Bhava-tanha (skt)—Craving for becoming. 3) Vô hữu ái: Vibhava-tanha (skt)—Craving for extinction. (B) Tam ái khác—Three other kinds of craving: 1) Dục ái: Kama-tanha (skt)—Craving for the world of Sense-Desire. 2) Sắc ái: Rupa-tanha (skt)—Craving for the world of form. 3) Vô sắc ái: Arupa-tanha (skt)—Craving for the formless world. (C) Ba ái khác nữa—Three other kinds of craving: 1) Sắc ái: Craving for the world of form. 2) Vô sắc ái: Craving for the formless world. 3) Diệt ái: Craving for cessation. (II) Three kinds of love—See Nhuận Sinh. ; (三愛) Chỉ cho 3 thứ yêu thương, luyến tiếc khởi lên lúc hấp hối sắp chết. 1. Cảnh giới ái: Yêu thương vợ con, quyến thuộc, gia tài rất sâu nặng và cố sức bám níu lấy. 2. Tự thể ái: Thương tiếc, quyến luyến thân thể của mình, cố sức bám níu lấy. 3. Đương sinh ái: Yêu mến nơi mình sẽ sinh đến. Ba thứ ái này là nguồn gốc thụ thân của tất cả hữu tình thiện cũng như ác; nếu ái dục chưa dứt thì khi mệnh sống sắp hết, tâm sẽ sinh sầu não, các khổ bức bách, bởi thế sinh ba thứ ái trên, đó chính là duyên tưới tẩm cho kiếp sau. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng quyển 5, phần cuối (Đại 43, 759 hạ) nói: Khi hấp hối mà có tâm thì nhất định khởi lên yêu đắm (...) sự yêu đắm này tưới tẩm Trung hữu, khởi lên yêu đắm tự thể; tưới tẩm Sinh hữu, khởi lên yêu đắm cảnh giới. Vì ở tử hữu (lúc chết), không thấy trung hữu (thân sau khi chết), cho rằng không có ta, nên khởi lên yêu đắm tự thể; ở vị trung hữu, thấy nơi sinh đến, nên khởi lên yêu đắm cảnh giới. Vì thế nên biết yêu đắm cảnh giới và yêu đắm tự thể chỉ trợ giúp sự nhuận sinh (tẩm tưới cho sinh ra ở đời sau), còn yêu đắm chỗ sinh ra ở đời sau mới là sự nhuận sinh chính yếu. [X. Thích thị yếu lãm Q.hạ; Thành duy thức luận diễn bí Q.4].

tam ích

(三益) I. Tam Ích. Cũng gọi chủng thục thoát. Chỉ cho 3 thứ lợi ích: Hạ chủng ích, Điều thục ích và Giải thoát ích do tu hành mà có được. 1. Hạ chủng ích: Lợi ích của sự gieo giống. Tức đem việc người nông dân gieo hạt giống xuống ruộng để ví dụ cho việc đức Phật gieo hạt giống đắc đạo thành Phật vào trong ruộng tâm của chúng sinh; đây chính là sự kết duyên đầu tiên của chúng sinh với Phật pháp. 2. Điều phục ích: Lợi ích của hạt giống thành thục. Dùng việc hạt giống nảy mầm rồi dần dần lớn lên và thành thục để ví dụ cho hạt giống Phật trong ruộng tâm của chúng sinh dần dần tăng trưởng và thành tựu.3. Giải thoát ích: Lợi ích của sự giải thoát. Dùng việc hạt giống thành thục và được thu họach để ví dụ cho hạt giống Phật đã hoàn toàn điều thục, nhân viên quả mãn, được tự tại giải thoát. [X. luận Câu xá Q.23; luận Đại tì bà sa Q.178; Pháp hoa văn cú Q.1]. (xt. Chủng Thục Thoát). II. Tam Ích. Chỉ cho 3 thứ lợi ích ví như lá, hoa, quả của cây giác ngộ mà Bồ tát mang lại cho chúng sinh sau khi tu hành thành tựu 6 loại Ba la mật, được Nhất thiết chủng trí. Đó là: 1. Diệp ích: Sự lợi ích của lá. Tức chúng sinh nhờ Bồ tát mà được xa lìa 3 đường ác, đó là Diệp ích chúng sinh. 2. Hoa ích: Sự lợi ích của hoa. Tức chúng sinh nhờ Bồ tát mà được sinh vào các nhà dòng dõi lớn như Sát đế lợi, Bà la môn, Cư sĩ... các cõi trời như cõi Tứ thiên vương cho đến cõi Phi tưởng phi phi tưởng đó là Hoa ích chúng sinh. 3. Quả ích: Sự lợi ích của quả. Tức Bồ tát được Nhất thiết chủng trí, khiến chúng sinh được các quả như Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán, Bích chi phật, cho đến quả Phật. Nhờ pháp Tam thừa, chúng sinh dần dần tiến vào Niết bàn vô dư, đó là Quả ích chúng sinh. Tông Thiên thai đem Tam ích này theo thứ tự phối hợp với Viên giáo quán hành ích, Viên giáo tương tự ích và Viên giáo phần chân ích. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.22; luận Đại trí độ Q.85; Ma ha chỉ quán Q.7 thượng].

Tam Đa

(三多): nhiều ba điều, có những thuyết khác nhau như: (1) Ba điều điện để có văn chương giỏi là đọc sách nhiều, viết nhiều và tư duy nhiều. (2) Ba điều kiện của một học giả gồm đọc sách nhiều, tham luận nhiều và trước tác nhiều. (3) Phước nhiều, thọ nhiều và sanh con trai nhiều.

tam đa

Three More Dharmas. 1) Thêm bạn tốt: Making more friends with good people. 2) Nghe nhiều Phật pháp: Hearing more of Dharma law. 3) Quán chiếu nhiều hơn về sự bất tịnh: Meditation more on the impure. ; (三多) I. Tam Đa. Chỉ cho 3 việc mang lại nhiều công đức. Đó là gần gũi bạn tốt, lắng nghe pháp âm và tu Bất tịnh quán. [X. kinh Thập thượng trong Trường a hàm Q.9]. II. Tam Đa. Chỉ cho 3 việc: Thường cúng dường Phật, thường gần bạn lành, thường thưa hỏi về pháp yếu của Phật. [X. Thiên thai tứ giáo nghi tập giải Q.trung]. III. Tam Đa. Chỉ cho 3 pháp quán của tông Thiên thai. (xt. Tam Quán). IV. Tam Đa. Chỉ cho 3 việc: Làm phúc, cúng dường và cầu pháp. Làm tất cả các việc trên đây đều được nhiều công đức nên gọi là Đa.

tam điên đảo

xem ba sự điên đảo. ; Ba điên đảo làm cho chúng sanh nghĩ tưởng điên đảo, vô thường cho là thường, khổ cho là lạc, vô ngã cho là ngã, bất tịnh cho là tịnh—The three subversions or subverters which make beings to apprehend objects that are impermanent, painful, not self, and foul, as permanent, pleasant, self, and beautiful: 1) Tưởng đảo: Evil thoughts. 2) Kiến đảo: False views. 3) Tâm đảo: A deluded mind. ** For more information, please see Tứ Điên Đảo, Thất Điên Đảo, and Bát Điên Đảo in Vietnamese-English Section.

tam điền

(三田) Ba loại ruộng được dùng để ví dụ cho 3 hạng người là Bồ tát, Thanh văn và Xiển đề. 1. Loại ruộng thứ nhất: Ruộng này đường mương dẫn nước tiện lợi, không có các thứ cát sỏi, gạch đá, gai gốc gieo trồng một, thu họach trăm; ví dụ cho Bồ tát căn tinh sắc bén, trí tuệ sáng suốt, mang lại lợi ích cho chúng sinh không cùng tận. 2. Loại ruộng thứ hai: Ruộng này tuy không có cát sỏi, gạch đá, gai gốc, nhưng đường mương dẫn nước bị nghẽn lấp, thu họach giảm một nửa; ví dụ cho Thanh văn căn tính hơi chậm lụt, tuy được vô lậu nhưng chỉ có khả năng tự lợi, không thể độ sinh. 3. Loại ruộng thứ ba: Ruộng này không có đường mương dẫn nước, có nhiều sỏi cát, gạch đá, gai gốc, gieo trồng một thu họach một; ví dụ cho hạng người Xiển đề, đối với Phật pháp không có lòng tin, nay nói pháp cho họ nghe để gieo hạt giống lành cho đời sau. [X. kinh Đại bát niết bànQ.33 (bản Bắc)].

tam điều triện hạ thất xích đan tiền

(三條椽下七尺單前) Phạm:Trìịi sucaritàni. Pàli: Tìịi sucaritàni. Cũng gọi Tam thanh tịnh. Đối lại: Tam ác hạnh. Chỉ cho diệu hạnh của thân, ngữ và ý, đó là: 1. Thân diệu hạnh (Phạm: Kàyasucarita): Chỉ cho tất cả thân nghiệp thiện như gia hạnh, căn bản, hậu đắc... 2. Ngữ diệu hạnh (Phạm: Vàksucarita): Cũng là tất cả ngữ nghiệp thiện gia hạnh, căn bản, hậu đắc... 3. Ý diệu hạnh (Phạm: Mana#- sucarita): Chỉ cho tất cả sự suy nghĩ lương thiện, cũng tức là 3 ý nghiệp không tham, không sân và chính kiến... Giữa Tam diệu hạnh và Thiện nghiệp đạo có sự khác nhau, tức là Nghiệp đạo chỉ dùng căn bản của thô phẩm làm tính, không bao gồm các cái thiện khác; còn Diệu hạnh thì hàm nhiếp tất cả thiện. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng Ý nghiệp lấy Tư (suy nghĩ) làm thể, chủ trương Tư và Vô tham đều có thể riêng biệt, vì thế lập vô tham, vô sân, chính kiến của Ý nghiệp và Phi nghiệp làm Ý diệu hạnh. Kinh lượng bộ cho rằng vô tham... lìa Tư ra thì không có thể riêng biệt, cho nên vô tham... chính là Ý nghiệp, vì thế, ngoài Ý nghiệp ra, Kinh lượng bộ không lập vô tham... làm Ý diệu hạnh. Ngoài ra, luận Đại tì bà sa quyển 17 cho rằng các thân diệu hạnh tức là thân thanh tịnh, các ngữ diệu hạnh tức là ngữ thanh tịnh, các ý diệu hạnh tức là ý thanh tịnh, cho nên gọi Tam diệu hạnh là Tam thanh tịnh. [X. kinh Tạp a hàm Q.11; luận Tập dị môn túc Q.3; luận Đại tì bà sa Q.112; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.41].

tam điểu xuất võng

(三鳥出網) Ba loại chim bay ra khỏi lưới, ví dụ cho căn khí của chúng sinh Tam thừa đều khác nhau. Các chúng sinh Tam thừa thoát khỏi sự ràng buộc của vọng chấp, giống như 3 loài chim bung ra khỏi lưới, đều bay vào thế giới tự do không phiền não, không chướng ngại; họ đều ở trong hoàn cảnh giống nhau, nhưng vì chủng tính bất đồng nên cảnh giới mà họ cảm được có khác nhau. Ba loại chúng sinh này (Tam thừa) đều đã thoát khỏi cảnh khổ phiền não, hướng tới cảnh giải thoát vô vi, nhưng do căn khí thượng,trung, hạ khác nhau, nên cảnh giới do tu mà chứng được cũng bất đồng. [X. Nhân vương hộ quốc bát nhã kinh sớ Q.2; Pháp hoa nghĩa sớ Q.3,Triệu luận].

tam đoạn

Ba diệt đoạn—Three cutting off or excisions of beguiling delusions or perplexities: (A) 1) Kiến sở đoạn: To cut off delusions of view. 2) Tu sở đoạn: Practice to cut off delusions. 3) Phi sở đoạn: Nothing left to cut off. (B) 1) Tự tính đoạn: To cut off the nature or roots of delusions. 2) Duyên phược đoạn: To cut off the external bonds, or objective cause of delusion. 3) Bất sinh đoạn: Delusions no longer arise, therfore, nothing produced to cut off. This is the stage of an Arhat. (C) Theo Thanh Tịnh Đạo—The Path of Purification: 1) Ức đoạn: Đoạn trừ bằng cách ức chế như đè cây lau bằng cách đặt trên ngọn cây một cái bình đầy nước có lỗ—Abandoning by supressing. This is like the pressing down of water-weed by placing a porous pot on weed-filled water. 2) Đoạn bằng cách thay vào một pháp ngược lại, giống như thay thế bóng tối bằng ánh sáng: Abandoning by substitution of opposite. It is like the abandning of darkness at night through the means of a light—Please see Thập Bát Tuệ Quán. 3) Đoạn trừ bằng cách cắt đứt: Abandoning by cutting off. ; (三斷) I. Tam Đoạn. Chỉ cho Kiến sở đoạn,Tu sở đoạn và Phi sở đoạn. Đoạn có nghĩa là cắt đứt tất cả sự trói buộc mà được giải thoát, tự do. 1. Kiến sở đoạn (Phạm: Darzanaheya), cũng gọi Kiến đạo sở đoạn chi pháp, Kiến đoạn: Pháp được đoạn trừ ở giai vị Kiến đạo. 2. Tu sở đoạn (Phạm: Bhàvanàheya), cũng gọi Tu đạo sở đoạn chi pháp, Tu đoạn: Pháp được đoạn trừ ở giai vị Tu đạo.3. Phi sở đoạn (Phạm:A-heya), cũng gọi Phi sở đoạn chi pháp, Phi đoạn: Tức chẳng phải pháp đoạn trừ ở giai vị Kiến đạo, Tu đạo. Sự giải thích về Tam đoạn giữa Đại thừa và Tiểu thừa có hơi khác nhau. Theo quan điểm của Tiểu thừa, như luận Câu xá quyển 2 và luận Phẩm loại túc quyển 2, thì Kiến sở đoạn là hàng Thanh văn quả đầu tiên dứt hoặc thấy lí, gọi là Kiến đạo, vì các bậc này đã đoạn trừ 88 Tùy miên (phiền não)và các pháp cùng sinh ra với Tùy miên, nên gọi là Kiến sở đoạn. Tu sở đoạn là hàng Thanh văn quả thứ 2 và quả thứ 3, tu chân đoạn hoặc, gọi là Tu đạo; vì các bậc này đã đoạn trừ 15 giới (10 sắc giới và 5 thức giới) và các phápHữu lậu khác(81 phẩm hoặc), cùng với các pháp do 81 phẩm hoặc sinh ra, cho nên gọi là Tu sở đoạn. Phi sở đoạn là hàng Thanh văn quả thứ 4 đã dứt hết phiền não trong 3 cõi mà chứng được quả vô lậu, không còn hoặc để đoạn, nên gọi là Phi sở đoạn. Ngoài ra, 3 giới là Ý căn giới; Pháp cảnh giới và Ý thức giới trong 18 giới là chung cho cả 3 đoạn, 15 giới còn lại chỉ thuộc Tu sở đoạn mà thôi. Về quan điểm của Đại thừa, như luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 4, luận Du già sư địa quyển 66..., thì cho rằng Kiến, Nghi, Kiến xứ, Nghi xứ... do phân biệt khởi; tà hành, phiền não, tùy phiền não... do Kiến sinh khởi, các nghiệp thuộc thân, ngữ, ý, do Kiến... phát động, cho đến uẩn, xứ, giới... là Kiến sở đoạn. Tu sở đoạn là sau khi đã được Kiến đạo, tiếp tục đoạn trừ tất cả các pháp hữu lậu, là Tu sở đoạn. Còn phi sở đoạn chính là các pháp vô lậu. Cũng tức là dùng pháp vô vi của Thánh đạo xuất thế mà chứng được Vô học vị, thân, ngữ, ý nghiệp đều thanh tịnh, là Phi sở đoạn. Ngoài ra, 7 tâm giới và 3 giới sắc, thanh, pháp trong 18 giới là chung cho cà 3 đoạn, 8 giới còn lại chỉ thuộc 2 đoạn Kiến, Tu mà thôi. [X. luận Đại tì bà sa Q.51, 52; luận Thuận chính lí Q.6; luận Thành duy thức Q.5; Câu xá luận quang kí Q.2]. II. Tam Đoạn. Căn cứ vào tính chất của các pháp bị đoạn trừ mà đoạn được chia làm 3 thứ là Tự tính đoạn, Bất sinh đoạn và Duyên phược đoạn. Tông kính lục quyển 76 giải thích như sau:1. Tự tính đoạn: Khi trí tuệ phát sinh thì tự tính của các phiền não ám chướng bị đoạn diệt. 2. Bất sinh đoạn: Khi đã chứng được pháp không ở Sơ địa thì khiến cho quả khổ của 3 đường ác không bao giờ sinh lại được nữa.3. Duyên phược đoạn: Đoạn trừ hoặc trong tâm, còn đối với các trần cảnh bên ngoài thì không khởi tâm tham, sân, tuy duyên theo cảnh nhưng không nhiễm trước, đó là Duyên phược đoạn. Trong 3 đoạn thì Tự tính đoạn và Bất sinh đoạn có năng lực đoạn trừ một cách nhậm vận tự nhiên, đó đều do Duyên phược đoạn làm cho nhân quả của 3 cõi không sinh lại nữa. Ngoài ra, Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng quyển 5, phần cuối, ngoài Tam đoạn còn thêm Tương ứng đoạn, gọi là Tứ đoạn. [X. luận Thành duy thức Q.8; Đại minh tam tạng pháp số Q.10]. (xt. Tứ Đoạn).

tam đà la ni

Ba pháp Đà La Ni hay là ba lực trì giữ trí huệ—Three kinds of Dharani or the power to maintain wisdom or knowledge: 1) Thính trì Đà La Ni: The power to retain all the teaching one hears. 2) Phân biệt Đà La Ni: Unerring powers of discrimination. 3) Nhập Âm thanh Đà La Ni: Power to rise superior to external praise or blame. ; (三陀羅尼) I. Tam Đà La Ni. Chỉ cho 3 Đà la ni đầu tiên của 500 Đà la ni nói trong luận Đại trí độ quyển 5. Đó là: 1. Văn trì đà la ni: Tai nghe và nhớ giữ không quên. 2. Phân biệt đà la ni: Phân biệt và biết rõ các đối tượng của thế giới khách quan. 3. Nhập âm thanh đà la ni: Đối với những lời chê bai hay khen ngợi của người khác không động tâm. II. Tam Đà La Ni. Chỉ cho 3 Đà la ni nói trong phẩm Khuyến phát kinh Pháp hoa. Ba Đà la ni này tương đương với 3 pháp quán Không, Giả, Trung của tông Thiên thai. Đó là: 1. Toàn đà la ni: Toàn nghĩa là xoay chuyển. Phàm phu chấp trước Hữu tướng, nên phải khiến họ xoay chuyển giả tướng sai biệt để thể nhập vào lí Không bình đẳng; đây là Không trì(nắm giữ cái Không) của từ Giả vào Không. 2. Bách thiên vạn ức đà la ni: Xoay chuyển cái Không bình đẳng mà nhập vào cái giả tướng(thế giới hiện tượng)của trăm nghìn muôn ức pháp sai biệt; đây chính là Giả trì của từ Không vào Giả. 3. Pháp âm phương tiện đà la ni: Dùng Không trì và Giả trì nói trên làm phương tiện mà nhập vào Trung đạo tuyệt đối; đây chính là Trung trì của Trung đạo đệ nhất nghĩa đế. III. Tam Đà La Ni. Chỉ cho Đại bi tâm đà la ni, Phật đính tôn thắng đà la ni và Tiêu tai diệu cát tường đà la ni, được đọc tụng vào thời khóa buổi chiều hàng ngày. [X. điều Nhật trung hành sự trong Xương thụ lâm thanh qui Q.thượng].

Tam Đàn

(三壇): tức Tam Đàn Đại Giới (三壇大戒), là nghi thức thọ giới đặc biệt, phân thành 3 giai đoạn là Sơ Đàn Chánh Thọ (初壇正授), Nhị Đàn Chánh Thọ (二壇正授) và Tam Đàn Chánh Thọ (三壇正授). Đàn đầu tiên thọ giới Sa Di (s: śrāmaṇera, p: sāmaṇera, 沙彌), Sa Di Ni (s: śrāmaṇerikā, p: sāmaṇerā, sāmaṇerī, 沙彌尼); đàn thứ hai thọ giới Tỳ Kheo (s: bhikṣu, p: bhikkhu, 比丘) và Tỳ Kheo Ni (s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī, 比丘尼); đàn thứ ba thọ giới Bồ Tát (s: bodhisattva, p: bodhisatta, 菩薩). Như trong Truyền Giới Chánh Phạm (傳戒正範, CBETA No. 1128) có câu: “Tam Đàn quỹ tắc, cự tế hữu điều, thất chúng khoa nghi, tinh tường bất vặn (三壇軌則、巨細有條、七眾科儀、精詳不紊, Ba Đàn nguyên tắc, lớn nhỏ có điều, Bảy Chúng khoa nghi, rõ ràng không rối).”

tam đàn

Tam bố thí—Three kinds of dana—See Tam Bố Thí. ; (三檀) Cũng gọi Tam thí. Đàn nói đủ là Đàn na, nghĩa là bố thí. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 14 thì Tam đàn là: 1. Tài thí(cũng gọi Tư sinh thí): Đem tài vật của mình bố thí cho người. 2. Pháp thí: Nói pháp cho người khác nghe, giúp họ khai ngộ đắc đạo. 3. Vô uý thí: Nói cho người nghe về sự lợi ích của lòng can đảm, khiến họ không sợ hãi. Ngoài ra, Đại minh tam tạng pháp số quyển 11, căn cứ vào công đức bố thí có hơn kém khác nhau mà lập thành Tam thí như sau: 1. Hạ phẩm thí: Thấy người đói khát, đem thức ăn uống đến cho, đó là Ẩm thực thí.2. Trung phẩm thí: Thấy người nghèo cùng, đem tài vật quí báu đến cho, đó là Trân bảo thí. 3. Thượng phẩm thí: Cắt thịt mình cho chúng sinh, bỏ thân mệnh để cứu người khác, đó là Thân mệnh thí. [X. Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.8; luận Kim cương bát nhã Q.3 (Vô trước); Duy ma kinh văn sớ Q.8; Chư kinh yếu tập Q.10; Hoa nghiêm tùy sớ diễn nghĩa sao Q.22]. (xt. Bố Thí).

tam đàn đại giới

(三壇大戒) Nghi thức thụ giới được chia làm 3 giai đoạn gọi là Tam đàn đại giới. Tức là: 1. Sơ đàn chính thụ: Truyền giới Sa di và Sa di ni. 2. Nhị đàn chính thụ: Truyền giới Tỉ khưu và Tỉ khưu ni. 3. Tam đàn chính thụ: Truyền giới Bồ tát xuất gia. Về thời gian truyền giới thì từ khoảng 30 ngày đến 40 ngày. Chủ trì giới đàn gồm có 10 vị Hòa thượng, trong đó, 1 vị Đắc giới hòa thượng, 1 vị Yết ma a xà lê, 1 vị Giáo thụ a xà lê, gọi là Tam sư hòa thượng, cùng với 7 vị Tôn chứng a xà lê, gọi chung là Tam sư thất chứng. Khi truyền giới thì 2 đàn giới xuất gia chính thụ được truyền trước, sau đó, đến giới Bồ tát xuất gia. Cuối cùng đến giới tại gia thì chia làm 2 giai đoạn là Tam qui Ngũ giới và giới Bồ tát. [X. Truyền thụ tam đàn hoằng giới pháp nghi (Pháp tạng); Truyền giới chính phạm (Độc thể)]. (xt. Truyền Giới).

Tam đại

三大; C: sāndà; J: sandai;|Là ba sự huyền diệu to lớn đã có sẵn trong tâm bồ-đề của chúng sinh, được dạy trong luận Đại thừa khởi tín. Sự huyền diệu lớn đầu tiên là Thể đại (體大), có tương quan đến chất lượng căn bản của tâm thức là Chân như. Thứ hai là Tướng đại (相大), có liên hệ đến muôn vàn hiện tượng kì diệu xuất phát từ Như Lai tạng (如來藏; s: tathāgatagarbha), và thứ ba là Dụng đại (用大), liên hệ đến những chức năng có thể thấy được trong việc nỗ lực tu tập để trực chứng tâm bồ-đề. Đại thừa khởi tín luận viết như sau:|云何爲三一者體大謂一切法眞如平等不增減故二者相大謂如來藏具足無量性功徳故三者用大能生一切世間出世間善因果故|Vân hà vi tam? Nhất giả Thể đại vị nhất thiết pháp chân như bình đẳng bất tăng giảm cố. Nhị giả Tướng đại vị Như Lai tạng cụ túc vô lượng tính công đức cố. Tam giả Dụng đại năng sinh nhất thiết thế gian xuất thế gian thiện nhân quả cố.

tam đại

Ba “Đại” được nói đến trong Khởi Tín Luận—The three great characteristics mentioned in the Awakening of Faith: (A) 1) Thể đại: Substance—The greatness of the bhutatathata in its essence or substance. 2) Tướng đại: Form—The greatness of its attributes or manifestations; perfect in wisdom and mercy and every achievement. 3) Dụng đại: Function—The greatness of its functions and operations within and without, perfectly transforming all the living to good works and good karma now and hereafter. (B) Three generations: 1) Ông: Grandfather. 2) Cha: Father, 3) Con: Son. ; (三大) I. Tam Đại. Chỉ cho bản thể, tướng trạng và tác dụng của Chân như theo thuyết trong luận Đại thừa khởi tín. Ba thứ này rất rộng lớn nên gọi là Đại. Đó là: 1. Thể đại: Bản thể của chân như thường hằng bất biến, không thêm không bớt, bao trùm khắp tất cả, nên gọi là Thể đại.2. Tướng đại: Tướng trạng của chân như đầy đủ vô lượng công đức trí tuệ... Theo nghĩa Như lai tạng thì tướng công đức vô lượng như cát sông Hằng nên gọi là Tướng đại.3. Dụng đại: Tác dụng củachân như có năng lực sinh ra hết thảy nhân quả thiện của thế gian và xuất thế gian, nên gọi là Dụng đại. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 579 thượng) nói: Tự thể của chân như trong tất cả phàm phu, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và chư Phật, đều không có thêm bớt, chẳng phải trước sinh, sau diệt mà là rốt ráo thường hằng, từ xưa đến nay, vốn tự đầy đủ tất cả công đức. Tự thể ấy có đại trí tuệ quang minh, chiếu rọi khắp pháp giới; tự tính thanh tịnh tâm, thường lạc ngã tịnh, tự tại bất biến, đầy đủ Phật pháp không lìa, không đoạn, không khác, nhiều hơn số cát sông Hằng, không thể nghĩ bàn; do các nghĩa ấy mà tự thể chân như được gọi là Như lai tạng, cũng gọi là Như lai pháp thân. Đây là thuyết Chân như duyên khởi của luận Đại thừa khởi tín. Ngoài ra, các thuyết Duyên khởi như Lục nhân tứ duyên duyên khởi của Tiểu thừa, A lại da thức duyên khởi của tông Pháp tướng, Pháp giới duyên khởi của tông Hoa nghiêm... đều có lập Tam đại. X. Đại thừa khởi tín luận sớ Q.thượng; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng; Đại thừa khởi tín luận biệt kí]. II. Tam Đại. Chỉ cho bản thể, tướng trạng và tác dụng rộng lớn vô biên của vũ trụ pháp giới theo thuyết của Mật tông. Đó là: 1. Thể đại: Thể của 6 đại đất, nước, lửa, gió, hư không và thức đều hàm nhiếp trong hết thảy hữu tình và phi tình. 2. Tướng đại: Chỉ cho tướng trạng rõ ràng của 4 mạn đồ la là Đại mạn đồ la, Tam muội da mạn đồ la, Pháp mạn đồ la và Yết ma mạn đồ la. 3. Dụng đại: Chỉ cho tác dụng của Tam mật thân, ngữ, ý ứng hợp với nhau trong nghĩa sâu kín.

tam đại bí pháp

(三大秘法) Cũng gọi Tam bí. Chỉ cho 3 pháp môn đại bí mật của tông Nhật liên, Nhật bản. Đó là: 1. Bản môn bản tôn. 2. Bản môn đề mục. 3. Bản môn giới đàn. Ba pháp môn này rất sâu xa, mầu nhiệm, là pháp chứng ngộ giữa Phật với Phật.

tam đại bộ

(三大部) I. Tam Đại Bộ. Cũng gọi Thiên thai tam đại bộ, Pháp hoa tam đại bộ, Tam đại chương sớ. Chỉ cho 3 bộ sách căn bản của tông Thiên thai là Diệu pháp liên hoa kinh văn cú 10 quyển, Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa, 10 quyển và Ma ha chỉ quán, 10 quyển, do Đại sư Trí khải soạn, đệ tử của ngài là sư Quán đính ghi chép. Trong đó, bộ Diệu pháp liên hoa kinh văn cú được ngài Trí khải giảng ở chùa Ngõa quan tại Kim lăng vào năm Khai hoàng thứ 7 (587) đời Tùy, nội dung giải thích rõ câu văn của kinh Pháp hoa; Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa lúc đầu được ngài giảng ở chùa Ngõa quan, sau, vào năm Khai hoàng thứ 13 (593) lại giảng ở chùa Ngọc tuyền tại Kinh châu, nội dung giảng rõ về đề kinh và giáo tướng của Pháp hoa; còn Ma ha chỉ quán cũng do ngài Trí khải giảng cùng thời gian và cũng ở chùa Ngọc tuyền, nội dung giải thích về pháp quán tâm của kinh Pháp hoa. Về các sách chú sớ Tam đại bộ thì có: Tam đại bộ khoa văn 16 quyển (Trạm nhiên), Tam đại bộ bổ chú 14 quyển (Tòng nghĩa) và Tam đại bộ độc giáo kí 20 quyển (Pháp chiếu). [X. Pháp hoa văn cú kí Q.10, thượng; Tùy thiên thai Trí giả đại sư biệt truyện; Đệ tử chí trong Thích môn chính thống Q.3; Sơn gia chính thống học tắc Q.thượng]. . Tam Đại Bộ. Chỉ cho 3 bộ sách lớn của Luật tông do Luật sư Đạo tuyên soạn vào đời Đường, đó là: Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao 3 quyển, Tứ phần luật giới bản sớ 4 quyển và Tứ phần luật yết ma sớ 4 quyển. Ba bộ này là sách căn bản của Tứ phần luật tông Trung quốc. Ngoài ra, còn thêm Thập tì ni nghĩa sao 3 quyển và Tỉ khưu ni sao 3 quyển mà gọi là Ngũ đại bộ. (xt. Ngũ Đại Bộ).

tam đại nguyện

(三大願) I. Tam Đại Nguyện. Cũng gọi Tam đại thệ nguyện, Tam hoằng nguyện. Chỉ cho 3 thệ nguyện lớn của phu nhân Thắng man. Cứ theo chương Tam nguyện trong kinh Thắng man, sau khi được đức Phật thụ kí, phu nhân Thắng man liền phát 3 đại nguyện: 1. Dùng thực nguyện này đem lại sự an ổn cho vô lượng vô biên chúng sinh; nhờ căn lành này, nguyện trong tất cả đời được trí chính pháp. 2. Sau khi được trí chính pháp sẽ hết lòng nói pháp chúng sinh nghe mà không bao giờ mỏi mệt, nhàm chán. 3. Đối với chính pháp mình nhiếp thụ sẽ bỏ cả thân mệnh, tài sản để hộ trì. Phu nhân Thắng man phát nguyện xong, đức Thế tôn liền ghi nhận 3 đại thệ nguyện của Bà. Vì 3 nguyện này là những lời thề nguyền chân thực rộng lớn nên đức Phật đem thu nhiếp tất cả các thệ nguyện của các Bồ tát nhiều như số cát sông Hằng vào trong 3 đại nguyện náy, giống như tất cả sắc đều vào cõi không. [X. kinh Đại bảo tích Q.119; Thắng man bảo quật Q.thượng, phần cuối; Thắng man nghĩa sớ; Thắng man kinh sớ tường huyền kí Q.6]. II. Tam Đại Nguyện. Chỉ cho 3 thệ nguyện lớn của ngài Nhật liên, Tổ khai sáng của tông Nhật liên, Nhật bản, khi ngài bị lưu đày đến đảo Tá độ. Ba thệ nguyện ấy là: 1. Nguyện được làm cột trụ của Nhật bản.2. Nguyện được làm con mắt của Nhật bản.3. Nguyện được làm chiếc thuyền của Nhật bản. Tức nguyện hoằng dương kinh Pháp hoa để thực hiện 3 đại nguyện trên.

tam đại ngũ tiểu bộ

(三大五小部) Tam đại bộ chỉ cho Diệu pháp liên hoa kinh văn cú 10 quyển, Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa 10 quyển và Ma ha chỉ quán 10 quyển. Còn Ngũ tiểu bộ thì chỉ cho Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ 1 quyển, Kim quang minh kinh huyền nghĩa 2 quyển, Kim quang minh kinh văn cú 6 quyển, Quán âm huyền nghĩa 2 quyển và Quán âm nghĩa sớ 2 quyển. Tất cả những sách trên đây đều do Đại sư Trí khải thuộc tông Thiên thai soạn vào đời Tùy. (xt. Tam Đại Bộ, Ngũ Tiểu Bộ).

tam đại tai

Ba tai họa lớn—Three major calamities: 1) Thủy tai: Calamities of water. 2) Hỏa tai: Calamities of fires. 3) Phong tai: Calamities of wind.

Tam Đại Thật Lục

(三代實錄, Sandaijitsuroku): một trong Lục Quốc Sử (六國史), 50 quyển, còn gọi là Nhật Bản Tam Đại Thật Lục (日本三代實錄, Nihonsandaijitsuroku). Đây là bộ sử thư kế thừa sau Văn Đức Thật Lục (文德實錄, Montokujitsuroku), được viết theo thể biên niên, ghi lại những sự kiện trong vòng 30 năm của thời đại của 3 vị Thiên Hoàng là Thanh Hòa (清和, Seiwa), Dương Thành (陽成, Yōsei) và Quang Hiếu (光孝, Kōkō). Công trình này mất trong vòng 30 năm, từ tháng 8 năm 858 (niên hiệu Thiên An [天安] thứ 2) cho đến tháng 8 năm 887 (niên hiệu Nhân Hòa [仁和] thứ 3), do nhóm Đằng Nguyên Thời Bình (藤原時平, Fujiwara-no-Tokihira), Đại Tạng Thiện Hành (大藏善行) phụng sắc chỉ soạn. Vào năm 901 (niên hiệu Diên Hỷ [延喜] thứ 1), bộ này được hoàn thành và trình lên triều đình.

tam đại thừa

(三大乘) Chỉ cho 3 nghĩa của Đại thừa nói trong Kim quang minh kinh huyền nghĩa quyển thượng. Đó là: 1. Tính thừa(cũng gọi Lí thừa): Lí tính rỗng không thông suốt, tự nhiên vận chuyển các pháp. 2. Tùy thừa: Trí theo lí cảnh, như nắp theo hộp, tùy lí vận chuyển. 3. Đắc thừa: Đắc nghĩa là được quả, được cơ. Nhờ được quả nên có khả năng tự giải thoát. Tam Đại thừa này là thường, lạc, ngã tịnh nên cùng với 3 đức pháp thân, bát nhã và giải thoát là một, không khác. Lại nữa, Tam quĩ: Chân tính (tức Lí thừa), Quán chiếu(tức Tùy thừa) và Tư thành (tức Đắc thừa) được nói trong Pháp hoa huyền nghĩa quyển 5 hạ, cũng tương tự với Tam đại thừa này. Tam đại thừa, Tam quĩ, cho đến Tam đạo rốt cuộc là cùng thể khác tên, đều là diệu pháp có đầy đủ tam thiên tam đế, mỗi mỗi pháp đều dung nhập với nhau một cách mầu nhiệm, tự tại. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.11 (bản dịch đời Lương); Thập nhị môn luận sớ Q.1].

Tam đạo

三道; C: sāndào; J: sandō;|I. Ba thánh đạo (ba con đường lấy giác ngộ làm cơ sở) trong Du-già hành tông: Kiến đạo (見道), Tu đạo (修道) và Vô học đạo (無學道). II. Ba ác đạo, Tam ác đạo (三惡道). III. Hoặc (惑), Nghiệp (業), Khổ (苦).

tam đạo

(A) Ba con đường mà mọi người chúng ta đều phải đi qua—The three paths all have to tread: 1) Phiền não đạo: The path of misery, illusion, mortality. 2) Nghiệp đạo: The path of works, action or doing, productive of karma. 3) Khổ đạo: The resultant path of suffering. (B) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy: Phật giáo đặt nền tảng trên Tam Học (siksa): Giới, Định, Tuệ. Nghĩa là nếu không trì giới thì tâm không định, tâm không định thì không phát tuệ. Định ở đây bao gồm những kết quả vừa tư biện vừa trực quán. Tiếp đó Đạo Phật còn dạy hành giả phải đi vào Tam Đạo là Kiến đạo, Tu đạo, và Vô học đạo. Đây là ba giai đoạn mà hành giả phải trải qua khi tu tập Kiến Đạo với Tứ Diệu Đế bằng cách thực hành Bát Chánh Đạo; kế đến, hành giả tu tập Tu Đạo với Thất Giác Chi. Tu đạo ở đây lại có nghĩa là kết quả của suy tư chân chánh; và cuối cùng là thực hiện hoàn toàn bằng Vô Học Đạo. Nói cách khác, không thấy được đạo thì không tu được đạo và không thực hiện được đời sống lý tưởng—Buddhism lays stress on the Threefold Learning (siksa) of Higher Morality, Higher Thought, and Higher Insight. That is to say, without higher morals one cannot get higher thought and without higher thought one cannot attain higher insight. Higher thought here comprises the results of both analytical investigation and meditative intuition. Buddhism further instructs the aspirants, when they are qualified, in the Threefold Way (marga) of Life-View, Life-Culture and Realization of Life-Ideal or No-More Learning. These are three stages to be passed through in the study of the Fourfold Truth by the application of the Eightfold Noble Path; in the second stage it is investigated more fully and actualized by the practice of the Seven Branches of Enlightenment, life-culture here again means the results of right meditation; and in the last stage the Truth is fully realized in the Path of No-More-Learning. In other words, without a right view of life there will be no culture, and without proper culture there will be no realization of life. 1) Kiến Đạo—The Path of Life-View: Thấy được chân lý chấm dứt luân hồi sanh tử, như các bậc Thanh Văn và Sơ Địa Bồ Tát. Trong Tứ Diệu Đế, Đạo đế với Bát Thánh Đạo mà Đức Phật dạy hàng Thánh giả phải tu tập (chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh mạng, chánh định)—The way or stage of beholding the truth of no reincarnation, i.e. that of the Sravakas and the first stage of the Bodhisattvas. In the Fourfold Noble Truth, the Path to Enlightenment with the Eightfold Noble Path which the Buddha taught to be pursued by the Ariya (right view, right thought, right speech, right action, right mindfulness, right endeavor, right livelihood, right concentration)—See Tứ Diệu Đế and Bát Chánh Đạo. 2) Tu Đạo—The Path of Life-Culture (Cultivating the truth): Giai đoạn thứ hai của con đường nầy là con đường tu tập hay Tu Đạo theo Thất Giác Chi (trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, niệm, định, và xả)—The next stage of the path is the Path of Practice and is described as the Seven Branches of Enlightenment (thorough investigation of the Principle, brave effort, joyous thought, peaceful thought, mindfulness, concentration, and equanimity)—See Thất Giác Chi. 3) Vô Học Đạo—The Path of No-More-Learning: Đã hoàn toàn thấu triệt chân lý mà không phải học nữa. Hành giả đi đến giai đoạn sau cùng, tức là con đường không còn gì để học nữa, Vô Học Đạo. Khi đó kết quả mà hành giả hướng đến khi tu tập tứ diệu đế sẽ tự đến. Khi hành giả đạt đến giai đoạn cuối cùng nầy thì trở thành một vị A La Hán. Theo Tiểu Thừa, đó là quả vị giác ngộ cao nhất. Nhưng theo Đại Thừa, A La Hán chỉ mới giác ngộ được một phần mà thôi. Lý tưởng của đạo Phật là hoàn tất đức tính của con người, hay là đưa con người đến Phật quả bằng căn bản trí tuệ giới hạnh, đó là nhân cách cao nhất. Đó là những đặc điểm của đạo Phật—Completely comprehending the truth without further study. Practitioners proceed to the last stage, i.e., the Path of No-More-Learning. Then the firm conviction that they have realized the Fourfold Truth will present itself. When the Ariya reaches this stage, he becomes an arhat. According to the Hinayanistic view this is the perfect state of enlightenment, but according to the Mahayanistic view an arhat is thought to be only partially enlightened. The purpose of Buddhism is to perfect a man's 'haracter, or to let him attain Buddhahood on the basis of wisdom and right cultivation, i.e., the highest personality. Such are the characteristics of Buddhism—See A La Hán. ** For more information, please see Nghiệp, Khổ, Hoặc nghiệp Khổ, and Phiền Não Nghiệp Khổ. ; (三道) I. Tam Đạo. Cũng gọi Tam tụ. Chỉ cho Hoặc đạo, Nghiệp đạo và Khổ đạo; ba đạo này là nhân quả của sự sinh tử lưu chuyển. 1. Hoặc đạo(cũng gọi phiền não đạo): Là vọng tâm mê hoặc não loạn sự lí các pháp. 2. Nghiệp đạo: Do vọng tâm phát khởi mà 3 nghiệp thân, khẩu, ý tạo tác. 3. Khổ đạo: Lấy hoặc nghiệp làm nhân, chiêu cảm quả của 6 đường trong 3 cõi.Đạo có nghĩa là thông suốt; 3 đức này là từ Hoặc Khởi Nghiệp, do nghiệp cảm khổ; rồi trong Khổ lại khởi Hoặc, cứ thế xoay vần lẫn nhau, sinh tử không dứt, vì thế gọi là Tam đạo. Cũng có chỗ giải thích Hoặc, Nghiệp, Khổ như cái bánh xe quay vòng không dứt nên gọi là Tam đạo. Kim quang minh huyền nghĩa quyển thượng đem 12 nhân duyên phối hợp với Tam đạo, cho rằng 3 chi Vô minh ở quá khứ, Ái và Thủ ở hiện tại là Phiền não đạo, 2 chi Hành ở quá khứ và Hữu ở hiện tại là Nghiệp đạo, 7 chi Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thụ ở hiện tại và Sinh, Lão tử ở vị lai là Khổ đạo. Tông Thiên thai thì y cứ vào Tam báo: Phần đoạn, Phương tiện, và Thực báo mà mỗi báo nói 3 đạo khác nhau, tức cho rằng Kiến hoặc và Tư hoặc là Phiền não đạo phiền não tẩm tưới nghiệp gọi là Nghiệp đạo, chiêu cảm sự sống trong 3 cõi là Khổ đạo, đây là Phần đoạn tam đạo. Trần sa hoặc là Phiền não đạo, nghiệp vô lậu gọi là Nghiệp đạo, biến dịch sinh tử gọi là Khổ đạo, đây là Phương tiện tam đạo. Vô minh là Phiền não đạo, nghiệp chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu là Nghiệp đạo, cõi kia biến hóa đổi dời gọi là Khổ đạo, đây là Thực báo tam đạo. Ngoài ra, theo thuyết Viên giáo của Thiên thai thì Tam đạo và 3 đức pháp thân, bát nhã, giải thoát, cùng với Tam quĩ: Chân tính, Quán chiếu và Tư thành, đều dung hợp lẫn nhau một cách tự tại mầu nhiệm mà cùng thành diệu pháp đầy đủ tam thiên tam đế. [X. luận Câu xá Q.9; luận A tì đàm tâm Q.8; luận Du già sư địa Q.93; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.13; Pháp hoa huyền nghĩa Q.5, hạ]. II. Tam Đạo. Chỉ cho 3 giai vị của hàng Thanh văn và Bồ tát là Kiến đạo, Tu đạo, Vô học đạo. 1. Kiến đạo (Phạm:Drazana-màrga), cũng gọi Kiến địa: Tức giai vị bắt đầu thấy Tứ đế và đoạn trừ Kiến hoặc. 2. Tu đạo (Phạm: Bhàvanà-màrga), cũng gọi Tu địa, Phân biệt địa: Tức giai vị thường tu tập để đoạn trừ Tu hoặc. 3. Vô học đạo (Phạm: Azaikwamàrga), cũng gọi Vô học địa: Tức giai vị đoạn trừ hết sạch các hoặc, cởi bỏ mọi sự buộc. Trong đó, Kiến đạo và Tu đạo cũng gọi là Hữu học đạo; Kiến đạo chỉ có vô lậu, còn Tu đạo thì có cả hữu lậu và vô lậu. Nếu phối hợp cả 3 đạo này với 4 hướng 4 quả thì Kiến đạo là Dự lưu hướng, Tu đạo là 3 hướng sau và 3 quả Dự lưu, Nhất lai và Bất hoàn, còn Vô học đạo là quả A la hán. Nếu phối hợp 3 đạo với 5 vị của Duy thức thì theo thứ tự là Thông đạt vị, Tu tập vị, và Cứu cánh vị. Nếu phối hợp với Thập địa thì theo thứ tự là Sơ địa, Nhị địa cho đến Cửu địa, Thập địa và Phật địa. X. luận Câu xá Q.21, 25; luận Chương sở tri Q.hạ; Đại thừa nghĩa chương Q.10; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3]. (xt. Ngũ Vị, Tứ Hướng Tứ Quả). III. Tam Đạo. Chỉ cho Chứng đạo, Trợ đạo, và Bất trụ đạo nói trong Thập địa kinh luận quyển 10. Đó là: 1. Chứng đạo: Chứng ngộ lí của thực tính. Chứng có nghĩa là biết được vàkhế hợp; tâm thầm hợp thực tính, không có phân biệt, khế hội bình đẳng, cho nên gọi là Chứng. 2. Trợ đạo: Hạnh giúp đở cho 6 độ. Trợ có nghĩa là nâng đở thuận giúp, hạnh nâng đỡ trợ giúp 6 độ để thành tựu bồ đề, nên gọi là Trợ. 3. Bất trụ đạo: Phương tiện và trí tuệ ngang nhau, không thiên không chếch. Bất trụ có nghĩa là lìa chấp trước; xảo (phương tiện) tuệ (trí tuệ) song tu, không bám dính vào bất cứ chỗ nào mà du hành khắp nơi, vì thế gọi là Bất trụ. X. Đại thừa nghĩa chương Q.10].

tam đạo bảo giai

(三道寶階) Cũng gọi Tam đạo bảo thê. Ba bậc thềm báu bằng vàng, bạc và lưu li, tức là 3 bậc thềm mà đức Phật bước xuống khi Ngài từ cung trời Đao lợi trở lại nhân gian. Tương truyền, đức Phật từng lên cung trời Đao lợi trong 3 tháng để nói pháp cho thân mẫu là phu nhân Ma da nghe. Sau đó, lúc Ngài từ cõi trời trở về nhân gian, trời Đế thích liền hóa hiện ra 3 bậc thềm bằng vàng, bạc, và lưu li để đức Phật bước xuống, gọi là Tam đạo bảo giai. Kinh A súc Phật quốc quyển thượng (Đại 11, 757 thượng) nói: Cõi Phật A súc dùng 3 thứ báu làm thềm thang, 1 là vàng, 2 là bạc, 3 là lưu li. Khi từ cõi trời Đao lợi xuống cõi Diêm phù hoặc từ cõi trời Đao lợi đến chỗ đức A súc Như lai thì bước từ thềm thang này mà xuống. Như vậy, việc Hải long vương hóa làm 3 bậc thềm báu bằng vàng, bạc, lưu li, để rước đức Phật, chúng tỉ khưu và các Bồ tát đến cung điện dưới đáy biển được ghi trong kinh Hải long vương quyển 3, thực ra đã lấy ý từ câu chuyện đức Phật lên cung trời Đao lợi thuyết pháp. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.28; phẩm Liên hoa sắc tỉ khưu ni trong kinh Nghĩa túc Q.hạ; phẩm Kiến a súc Phật trong kinh Duy ma Q.hạ; Cao tăng pháp hiển truyện].

Tam đạo quả

xem Ba quả đạo.

tam đạt

Ba siêu việt của Phật—The three aspects of the omniscience of Buddha: 1) Biết nghiệp tương lai: Knowledge of future karma. 2) Biết nghiệp quá khứ: Knowledge of past karma. 3) Biết phiền não và giải thoát trong hiện tại: Knowledge of present illusion and liberation.

tam đảnh lễ

Three prostrates or prostrating to the Triple Jewel. 1) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo—With one mind I now prostrate: Namo to the end of space of all the infinite dharma realms of the three lifespans of all the ten directions of Buddhas, Dharmas and virtuous Sangha of the Unchanging Triple Jewels. 2) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát—With one mind I now prostrate: Namo the ruler of the Saha World, Sakyamuni Buddha, future born Maitreya Buddha, Great Wisdom Manjusri Maha-Bodhisattva, Great Conduct Samantabhadra Maha-Bodhisattva, Dharma Protectors Maha-Bodhisattvas, Mount Gradhakuta Assembly of Buddha and Maha-Bodhisattvas. 3) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát—With one mind I now prostrate: Namo Western Ultimate Bliss World, the Greatly Compassionate Amitabha Buddha, Greatly Compassionate Avalokitesvara Bodhisattva, Great Strength Mahasthamaprapta, Bodhisattva, Great Vow Ksitigarbha King Bodhisattva, and the Ocean Assembly of Peaceful Bodhisattva.

tam đảo

xem ba sự điên đảo.

tam đắc

Ba loại thọ giới—Three kinds of obtaining the commandments. 1) Đắc Giới: Hiểu và hành trì được theo giới pháp—To attain to the understanding and performance of the moral law—See Đắc Giới. 2) Tác Pháp Đắc: Được truyền giới qua nghi thức—To obtain ordination in a ceremony—See Tác Pháp Đắc. 3) Tự Thệ Đắc: Self-ordination—See Tự Thệ Thọ Giới.

tam đẳng

Ba bình đẳng tánh—Three equal and universal characteristics of the one Tathagata: (A) 1) Thân: Body. 2) Ngữ: Discourse. 3) Ý: Mind. (B) 1) Tu hành: Buddha's life or works. 2) Pháp thân: Spiritual body. 3) Độ sinh: Salvation. ; (三等) I. Tam Đẳng. Cũng gọi Tam bình đẳng, Tam tam muội da. Mật giáo lấy Tam mật(thân mật, ngữ mật, ý mật) bình đẳng làm Tam bình đẳng, đây là 1 trong những giáo nghĩa nền tảng của Mật giáo. Tất cả các hành pháp Chân ngôn đều lấy Tam đẳng này làm căn bản. Đại nhật kinh khai đề (Đại 58, 1 thượng) nói: Lí tam đẳng, kia đây không khác. [X. kinh Đại nhật Q.6]. II. Tam Đẳng. Chư Phật lấy 3 việc tu hành, pháp thân và độ sinh làm bình đẳng. Luận Câu xá quyển 27 (Đại 29, 141 trung) nói: Do 3 việc nên chư Phật đều bình đẳng như nhau, 1 là do Tư lương bình đẳng nên tất cả đều viên mãn; 2 là do pháp thân bình đẳng nên mọi việc đều thành tựu; 3 là do việc lợi tha bình đẳng nên đều được rốt ráo.

tam đẳng chí

(三等至) Cũng gọi Tam định. Chỉ cho 3 tính chất: Vị, tịnh và vô lậu của 8 thứ thiền định căn bản: 1. Vị đẳng chí (Phạm: Àsvàdanasamàpatti): Định tương ứng với phiền não tham mà đắm trước đối với cảnh địa mình đang trụ. Cũng tức là người độn căn tham nhiễm đối với mùi vị công đức của tĩnh lự. 2. Tịnh đẳng chí (Phạm: Zuddhasàmàpatti): Định tương ứng với các pháp thanh tịnh như vô tham... Cũng tức là những người trung căn hoặc lợi căn rõ biết cái tai hại của sự tham đắm mùi vị nên không tương ứng với ái. 3. Vô lậu đẳng chí (Phạm:Anàsravasamàpatti): Định không tương ứng với ái, cũng không đắm nhiễm mùi vị xuất thế. Cũng tức là những người Tùy tín hành, Tùy pháp hành hoặc Bạc trần hành Tam Đạo Bảo Giai quán xét 4 đế, lại tu hiện quán mà vào định vô lậu. Trong 8 thiền định căn bản thì 7 định trước có đủ tướng của Tam đẳng chí. [X. luận Đại trí độ Q.17; luận Đại tì bà sa Q.162; luận Câu xá Q.28; luận Du già sư địa Q.12; luận Hiển dương thánh giáo Q.2]. (xt. Định).

tam đẳng lưu

Three equal or universal currents or consequences: 1) Chân đẳng lưu: Hậu quả theo sau hành động thiện, bất thiện hay trung tính—The certain consequences that follow on a good, evil or neutral kind of nature respectively. 2) Giả đẳng lưu: Hậu quả đặc biệt của tiền kiếp như giết người thì yểu mệnh—The temporal or particular fate derived from a previous life's ill deeds (shortened life from taking life). 3) Phân vị đẳng lưu: Từng bộ phận khi tái sanh theo hậu quả trước, chẳng hạn mình làm mù mắt ai trong kiếp trước thì kiếp nầy mình mù mắt—Each organ as reincarnated according to its previous deeds (if you had made someone blind in your previous life, you will be blind this or next life). ; (三等流) Chỉ cho 3 tính chất: Chân, Giả, và Phần vị của quả Đẳng lưu trong 5 quả do tông Duy thức thành lập. 1. Chân đẳng lưu: Do nhân thiện, ác, vô kí(không thiện không ác) mà dẫn sinh ra quả thiện ác, vô kí cùng loại. Vì tính chất của nhân và quả là chân thực và lưu loại giống nhau nên gọi là Chân đẳng lưu.2. Giả đẳng lưu: Như đời trước giết hại, rút ngắn mệnh sống của chúng sinh thì đời này mệnh sống của mình cũng ngắn. Quả và nhân này có ý nghĩa giống nhau, vì giả gọi là Đẳng lưu nên có tênGiả đẳng lưu. 3. Phần vị Đẳng lưu: Các thức mắt, tai... đều theo loại của mình mà chuyển biến, như thức mắt từ chủng tử của thức thứ 8 mà sinh, đối với sắc trần gọi là Đẳng lưu quả; nếu thức thứ 6 từ chủng tử thức mà sinh khởi các phân biệt thì cũng gọi là Đẳng lưu quả. Vì phần vị của thức và trần giống nhau nên gọi là Phần vị Đẳng lưu.[X. Tông kính lục Q.71].

Tam đẳng trì

xem ba pháp tam-muội.

tam đẳng trì

Samadhi-equilibrium.

Tam Đế

(三諦, Santai hay Sandai): gồm Không (空), Giả (假), và Trung (中) được Thiên Thai Đại Sư Trí Khải (智顗, c: Zhì-yĭ, j: Chigi, 538-597) triển khai thuyết Chơn Tục Nhị Đế (眞俗二諦) từ tư tưởng Tam Quán (三觀). Có nghĩa rằng nếu đứng trên bình diện phủ định thì hết thảy các tồn tại đều không có thật thể nên được xem là không và gọi là Không Đế (空諦). Tuy thật thể không có, nhưng trên bình diện khẳng định thì hết thảy các pháp đều tồn tại nhờ nhân duyên, nên được xem như là giả và gọi là Giả Đế (假諦). Và nếu đứng về mặt bản thể siêu việt cả không và giả thì cả Không Đế cũng như Giả Đế đều mang tính hiện tượng cả, nên được gọi là Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa Đế (中道第一義諦). So với Tam Đế của Biệt Giáo, Tam Đế của Viên Giáo được gọi là Tam Đế Viên Dung (三諦圓融) của cái gọi là Tức Không Tức Giả Tức Trung mà dung nhiếp cả Tam Đế vào trong một đế. Như trong Thỉ Chung Tâm Yếu Chú (始終心要注) do Kinh Khê Đại Sư Trạm Nhiên (荊溪大師湛然, 711-782) thuật, có đoạn: “Tam Đế thị nhất pháp, Phật thuyết chủng chủng danh, Long Mãnh ngộ chi nhi tạo luận, Trí Giả đắc chi dĩ khai thác, Kinh Khê truyền chi vi tâm yếu (三諦是一法、佛說種種名、龍猛悟之而造論、智者得之以開拓、荊溪傳之爲心要, Tam Đế là một pháp, Phật thuyết đủ các tên, Long Thọ ngộ nó mà tạo ra luận, Trí Khải đạt được nó mà khai thác, Kinh Khê truyền nó làm tâm yếu).”

Tam đế

三諦; C: sāndì; J: sandai;|»Ba chân lí« hoặc »Chân lí ba phần«. Một thuật ngữ của tông Thiên Thai để giải thích hiện thật qua ba khía cạnh: 1. Không đế (空諦), sự thật của Tính không, nghĩa là tất cả những hiện hữu đều trống không, không có một bản chất nào; 2. Giả đế (假諦), tất cả đều là giả hợp tạm thời. Tất cả những hiện hữu đều do nhân duyên hợp lại mà thành; 3. Trung đế (中諦), sự thật không thể được diễn bày qua phủ định hoặc xác định, mà nằm ở khoảng giữa.

tam đế

(三諦) Chỉ cho Không đế, Giả đế và Trung đế là chân lí của thực tướng các pháp theo thuyết của tông Thiên thai. Cách chia Tam đế này có xuất xứ từ phẩm Hiền thánh học quán trong kinh Anh lạc bản nghiêp quyển thượng và phẩm Nhị đế trong kinh Nhân vương bát nhã quyển thượng. TrongPháp hoa huyền nghĩa quyển 1, thượng, 2 hạ và Ma ha chỉ quán quyển 1, hạ, 3 thượng, 5 thượng... ngài Trí khải nói về Tam đế như sau: 1. Không đế(cũng gọi Chân đế, Vô đế): Các pháp vốn không, chúng sinh không rõ, chấp đó là thực nên sinh ra vọng kiến. Nếu dùng Không quán để đối trị thì tính chấp tự diệt, liền lìa các tướng, tỏ ngộ lí chân không. 2. Giả đế(cũng gọi Tục đế, Hữu đế): Các pháp tuy vốn không nhưng khi nhân duyên hội tụ thì hiện ra có rõ ràng; ở trong chỗ không ấy mà giả lập tất cả pháp, cho nên gọi là Giả đế. 3. Trung đế(cũng gọi Trung đạo đệ nhất nghĩa đế): Dùng Trung quán mà quán xét thì các pháp xưa nay chẳng lìa 2 bên, chẳng là 2 bên, chẳng phải chân chẳng phải tục, là Chân là Tục, thanh tịnh rỗng suốt, viên dung vô ngại, cho nên gọi là Trung đế. Tam đế tuy là luận thuyết của Biệt giáo và Viên giáo trong 4 giáo Hóa pháp, nhưng Tam đế của Biệt giáo có nhiều cách gọi, như Cách lịch Tam đế, Lịch biệt tam đế, Thứ đệ tam đế, Bất dung tam đế, Biệt tướng tam đế, Lị dĩ tam đế... Tức Tam đế mỗi đế là 1 chân lí độc lập, trong đó, Không đế và Giả đế là nói về hiện tượng, còn Trung đế là bàn về bản thế, cho nên Không đế và Giả đế thì kém hơn, còn Trung đế là thù thắng nhất. Đối lại, Tam đế của Viên giáo cũng có nhiều tên gọi, như Viên dung tam đế (cũng gọi Tam đế viên dung), Nhất cảnh tam đế, Bất thứ đệ tam đế, Phi tung phi hoành tam đế, Bất tư nghị tam đế... Tuy nhiên, Tam đế này chẳng phải hoàn toàn cô lập mà là dung nhập lẫn nhau, hình thành Tam đế Tức không, Tức giả, Tức trung. Pháp tu quán xét về chân lí của Tam đế này gọi là Tam đế viên dung quán của Viên giáo, chủ trương trong 1 niệm của chúng sinh có đầy đủ Tam đế viên dung, gọi là Nhất tâm tam quán. Tông Thiên thai lại y cứ vào 5 giai đoạn tu hành khác nhau là Biệt nhập Thông, Viên nhập Thông, Biệt giáo, Viên nhập Biệt và Viên giáo mà cứu xét về sự sâu cạn của Tam đế, đó là: 1. Biệt nhập Thông(cũng gọi Biệt tiếp Thông): Chỉ cho hàng Thông giáo tiếp vào căn cơ của Biệt giáo. Những người này nghe nói chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu, bèn cho hữulậu là Tục đế, vô lậu là Chân đế và chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu là Trung đạo. Cho nên biết rằng cái mà những người Thông giáo tiếp vào căn cơ Biệt giáo gọi là Trung đạo là do họ lãnh ngộ Trung đế từ Chân đế và Tục đế do Thông giáo chủ trương, đây chính là Đãn trung, chỉ có ý nghĩa Song phi chứ không có ý nghĩa Song chiếu. 2. Viên nhập Thông(cũng gọi Viên tiếp Thông): Tức hàng Thông giáo được tiếp vào căn cơ Viên giáo. Chân đế và Tục đế mà những người này hiểu cũng không khác với hàng Biệt nhập Thông, nhưng khi họ nghe nói chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu, thì có đủ cả ý nghĩa Song phi và Song chiếu, cho nên biết Trung đạo mà những người này lãnh ngộ khác hẳn với Trung đạo do những người Biệt nhập Thông lãnh ngộ, đây là Trung đạo Bất đãn trung. 3. Biệt giáo: Những người này cho hữu là Giả đế, Không là Chân đế, Phi hữu phi không là Trung đạo, cho nên biết cái mà những người này gọi là Trung đạo cũng là Đãn trung. 4. Viên nhập Biệt(cũng gọi Viên tiếp Biệt): Tức hàng Biệt giáo được tiếp vào căn cơ Viên giáo. Chân đế và Tục đế mà những người này hiểu cũng không khác với 3 hạng người nói trước đó, nhưng Trung đạo mà họ lãnh ngộ là Bất đãn trung đầy đủ tất cả Phật pháp. 5. Viên giáo: Những người này không chỉ hiểu rõ Trung đạo đầy đủ tất cả Phật pháp, mà còn hiểu rõ Chân đế và Tục đế do họ lãnh ngộ cũng đều đầy đủ Phật pháp, 3 đế viên dung, 1 tức 3, 3 tức 1; họ là những người thù thắng nhất trong 5 hạng người nói trên. Ngoài ra, chân lí của Tam đế, nếu phải thích ứng với tâm(tình)của phàm phu mà đặt ra cách nói thì gọi là Tùy tình thuyết. Nếu đối với hàng Bồ tát từ Thập tín trở lên, nói Không đế, Giả đế là tình, nói Trung đế là ngộ trí thì gọi là Tùy tình trí thuyết. Nếu đối với hàng Bồ tát từ Thập trụ trở lên, nói Bất tư nghị tam đế do chân trí chiếu rọi thì gọi là Tùy trí thuyết. [X. Kim quang minh kinh văn cú Q.2, 4, 5; Quán âm huyền nghĩa Q.4; Ma ha chỉ quán Q.7, thượng]. (xt. Nhất Tâm Tam Quán).

tam đế thiên thai

Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, nếu bạn giả thuyết thật thể là một bản thể trường tồn là bạn hoàn toàn mê hoặc, thế nên tông Thiên Thai đề ra ba chân lý hay tam đế. Theo tông nầy thì cả ba chân lý ấy là ba trong một, một trong ba. Nguyên lý thì là một, nhưng phương pháp diễn nhập lại là ba. Mỗi một trong ba đều có giá trị toàn diện—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, if you suppose noumenon to be such an abiding substance, you will be misled altogether; therefore, the T'ien-T'ai School sets forth the threefold truth. According to this school the three truths are three in one, one in three. The principle is one but the method of explanation is threefold. Each one of the three has the value of all: 1) Không Đế: Chân lý của của Không—The truth of void—Mọi sự thể đều không có hiện thực tính và do đó, tất cả đều không. Vì vậy, khi luận chứng của chúng ta y cứ trên “Không,” chúng ta coi “Không” như là siêu việt tất cả ba. Như vậy, cả thảy đều là “Không.” Và khi một là không thì cả thảy đều là “Không.” (Nhất không nhất thiết không, nhất giả nhất thiết giả, nhất trung nhất thiết trung). Chúng còn được gọi là “Tức không, tức giả, và tứ trung,” hay Viên Dung Tam Đế, ba chân lý đúng hợp tròn đầy, hay là tuyệt đối tam đế, ba chân lý tuyệt đối. Chúng ta không nên coi ba chân lý nầy như là cách biệt nhau, bởi vì cả ba thâm nhập lẫn nhau và cũng tìm thấy sự dung hòa và hợp nhất hoàn toàn. Một sự thể là không nhưng cũng là giả hữu. Nó là giả bởi vi nó không, và rồi, một sự là không, đồng thời là giả cho nên cũng là trung—All things have no reality and, therefore, are void. Therefore, when our argument is based on the void, we deny the existence of both the temporary and the middle, since we consider the void as transcending all. Thus, the three will all be void. And, when one is void, all will be void (When one is void, all will be void; when one is temporary, all is temporary; when one is middle, all will be middle). They are also called the identical void, identical temporary and identical middle. It is also said to be the perfectly harmonious triple truth or the absolute triple truth. We should not consider the three truths as separate because the three penetrate one another and are found perfectly harmonized and united together. A thing is void but is also temporarily existent. It is temporary because it is void, and the fact that everything is void and at the same time temporary is the middle truth. 2) Giả Đế: Chân lý của giả tạm—The truth of temporariness—Dù sự thể có hiện hữu thì cũng chỉ là giả tạm. Giống như khi biện luận về Không Đế, khi một là Giả thì tất cả là Giả—Although things are present at the moment, they have temporary existence. The same will be the case when we argue by means of the temporary truth. 3) Trung Đế: Chân lý của phương tiện—The truth of mean—Sự thể chỉ là phương tiện, hay quảng giữa. Giống như biện luận trên Không Đế, khi một là Trung thì tất cả là Trung. Trung không có nghĩa là ở giữa hai cái phi hữu và giả hữu, mà nó ở trên, nó vượt qua cả hai. Thực ra nó là cả hai bởi vì thực tướng có nghĩa Trung chính là không tướng và giả tướng—They are only mean or middle. The same will be the case when we argue by means of the middle truth. The middle does not mean that it is between the non-existence and temporary existence. In fact, it is over and above the two; nor it is identical with the two, because the true state means that the middle is the very state of being void and temporary.

tam đế tương tức

(三諦相即) Chỉ cho Tam đế Không, Giả, Trung viên dung bất nhị của Viên giáo Thiên thai, khác với Tam đế cách lịch của Biệt giáo.[X. Ma ha chỉ quánQ.3, thượng]. (xt. Tam Đế).

Tam đế viên dung quán

三諦圓融觀; C: sāndì yuánróng guān; J: sandaienyūkan;|Sự quán sát nguyên tắc hiện thật, giúp hành giả nhận thức được tính viên dung thông suốt của Tam đế: Không, Giả và Trung.

Tam địa

三地; C: sāndì; J: sanchi;|Địa vị thứ ba trong Thập địa; được gọi là Phát quang địa (發光地; theo Nhị chướng nghĩa 二障義.)

tam địa

(三地) I. Tam Địa. Chỉ cho 3 chỗ nương ở trong 3 cõi được chia theo sự Hữu, Vô của 2 tâm sở Tầm và Tứ như sau: 1. Hữu tầm hữu tứ địa: Chỗ nương ở cõi Dục và Sơ tĩnh lự. 2. Vô tầm hữu tứ địa: Chỗ nương ở trong tĩnh lự trung gian. 3. Vô tầm vô tứ địa: Các chỗ nương ở từ Đệ nhị tĩnh lự trở lêncho đến Hữu đính địa. Sự phân biệt Tam địa là chung cho cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa. Tầm và Tứ là tâm sở phân biệt thô và tâm sở phân biệt tế do đối cảnh sinh ra. [X. luận Câu xá Q.2]. (xt. Tứ, Tầm). II. Tam Địa. Chỉ cho Phát quang địa, là địa thứ 3 trong Thập địa bồ tát. Bồ tát ở địa vị này đã sạch hết tình kiến đồng dị, ánh sáng trí tuệ của bản giác đã khai phát.

tam định

xem ba pháp tam-muội. ; Three Samadhis—See Tam Giải Thoát.

tam định tụ

(三定聚) Phạm: Trayo-ràzaya#. Pàli:Tayo ràsì. Gọi tắt: Tam tụ,Tam đế. Chỉ cho 3 loại chúng sinh được chia theo lập trường tu hành cầu chính quả, đó là: Chính định tụ, Tà định tụ, Bất định tụ. Ba loại Định tụ này còn có nhiều tên khác như: Chính tính định tụ, Tà tính định tụ, Bất định tính tụ; hoặc Tất chính tụ, Tất tà tụ, Bất định tụ; hoặc Trực kiến tế, Tà kiến tế, Diệc bất tại tà diệc bất tại chính kiến tế(gọi tắt là Chính định, Tà định, Bất định). Tên gọi của 3 tụ nói trên được thấy trong kinh A hàm; tuy nhiên, kinh A hàm còn nói 3 tụ khác nữa là Đẳng tụ, Tà tụ, Bất định tụ; hoặc Thiện tụ, Đẳng tụ và Định tụ. Cứ theo luận Câu xá quyển 10, các bậc Thánh từ Kiến đạo trở lên dứt hết Kiến hoặc... thì tất định chứng vào Trạch diệt (tức Niết bàn, được gọi là Chính tính), đây là Chính tính định tụ; những người phạm 5 tội Vô gián thì chắc chắn phải đọa vào địa ngục, đây là Tà tính định tụ(ba đường ác gọi là Tà tính); còn các trường hợp khác thì tùy theo thứ tự bất định, đó là Bất định tính tụ. Luận Du già sư địa quyển 64 chia mỗi tụ trong 3 tụ làm 2 loại là Bản tính và Phương tiện mà thành là 6 tụ. Dựa theo đó, tông pháp tướng căn cứ vào giáo nghĩa Ngũ tính các biệt để giải thích. Còn tông Hoa nghiêm thì theo 5 phương diện đắc, thất như chủng tính, giải hoặc, hành nghiệp, tà chính vị và Đại thừa bồ tát để giải thích. Luận Thích ma ha diễn quyển 1, phối hợp 3 tụ với giai vị Bồ tát, cho rằng Thập tín trở xuống là Tà định, Thập tín là Bất định, Thập tín trở lên là Chính định. Cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển hạ thì ở cõi Tịnh độ của đức Phật A di đà không có Tà định tụ và Bất định tụ..., tất cả đều trụ trong Chính định tụ mà thường được gọi là Xứ bất thoái(không còn trở lui để bị rơi vào chỗ ác duyên). Căn cứ vào đây mà Tịnh độ Chân tông của Nhật bản cho rằng hành giả tin vào tha lực theo nguyện thứ 18 là Chính định tụ; hành giả tạp tu muôn điều thiện theo điều nguyện thứ 19 là Tà định tụ; còn những hành giả dùng tự lực niệm Phật theo nguyện thừ 20 là Bất định tụ. Chỉ có các hành giả Chính định tụ được Báo độ chân thực mới có khả năng thành Phật. [X. kinh Phóng quang bát nhã Q.12; luận Đại tì bà sa Q.186; Hoa nghiêm kinh thám huyền nghĩa Q.3; Viên giác kinh đại sớ sao Q.3, phần đầu].

Tam Đồ

(三途・三塗): ba đường gồm hỏa đồ, đao đồ và huyết đồ, đồng nghĩa với Địa Ngục, Ngạ Quỷ và Súc Sanh của Ba Đường Ác, do vì các nghiệp ác của thân, miệng và ý gây ra nên dẫn đến kết quả sanh vào ba đường này. (1) Hỏa Đồ (tức đường Địa Ngục): do vì chúng sanh của cõi này thường chịu nỗi khổ bức bách, nóng bỏng của lò sôi, vạc cháy, hoặc do vì nơi ấy lửa tích tụ rất nhiều, nên có tên gọi là Hỏa Đồ. (2) Đao Đồ (tức đường Ngạ Quỷ): do chúng sanh ở cõi này thường chịu cái khổ bức bách của đao gậy nên có tên gọi như vậy. (3) Huyết Đồ (tức đường Súc Sanh): do chúng sanh ở cõi này tranh giành cấu xé lẫn nhau, người mạnh lấn áp kẻ yếu, uống máu ăn thịt nhau, nên có tên gọi như vậy.

Tam đồ

xem Ba đường ác.

tam đồ

Ba đường dữ—The three unhappy gati or ways: 1) Hỏa đồ: The hell of fires. 2) Huyết đồ: The hell of blood where animals devour each other. 3) Đao đồ: The hell of swords where the leaves and grasses are sharp-edged swords. ; (三塗) Ba đường. Chỉ cho Hỏa đồ(đường lửa), Đao đồ(đường dao), và Huyết đồ(đường máu), đồng nghĩa với Tam ác đạo là địa ngục, ngã quỉ, và súc sinh, là những nơi do các nghiệp ác của thân, khẩu, ý dẫn đến.1. Hỏa đồ: Tức địa ngục đạo. Chúng sinh ở đây chịu khổ nung nấu như bị bỏ vào vạc dầu sôi, lò than hồng; hoặc ở đây có rất nhiều đống lửa lớn thiêu đốt tội nhân, vì thế gọi là Hỏa đồ. 2. Đao đồ: Tức ngã quỉ đạo. Chúng sinh chịu tội ờ đây thường bị cái khổ đánh chém bằng dao gậy và bức bách xua đuổi, cho nên gọi là Đao đồ. 3. Huyết đồ: Tức súc sinh đạo. Vì chúng sinh chịu tội ở đây thường bị cái khổ kẻ mạnh đè bẹp kẻ yếu, ăn nuốt lẫn nhau, uống máu của nhau nên gọi là Huyết đồ.Chữ Đồ ờ đây có 2 nghĩa: Một là tàn hại, như đồ thán, hai là nơi đến, tức A ba da già để (apaya-gati,Hán dịch: Ác thú, ác đạo) nói trong kinh Vô lượng thọ bản tiếng Phạm. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.11; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7; Thích thị yếu lãm Q.trung]. (xt. Tam Ác Thú).

tam đồ chi xuyên

(三途之川) Cũng gọi Tam đồ hà, Tam lại xuyên, Độ hà, Táng đầuhà. Chỉ cho bến Nại hà. Bến này nằm ở nửa đường đi đến cõi U minh. Tương truyền, sau khi chết được 7 ngày, vong linh người chết phải đi qua bến này. Ở đây có 3 dòng thác chảy êm đềm, và chảy cuồn cuộn khác nhau, tức thác Sơn thủy, thác Thâm uyên và thác có cầu bắc ngang. Người chết tùy theo nghiệp đã tạo lúc còn sống, phải đi qua 1 trong 3 dòng thác này. Ba dòng thác này gọi là Tam đồ. Trên bờ thác có 1 cái cây rất to gọi là Y lãnh thụ(cây lãnh áo), trên cây có 2 con quỉ cư trú, đó là Đoạt y bà(bà cướp áo) và Huyền y ông (ông treo áo). Khi vong linh người chết đi qua đây, 2 con quỉ này cướp lấy y phục của họ rồi đem treo lên cành cây Y lãnh, tùy theo tội lỗi tạo tác lúc sinh tiền nặng, nhẹ khác nhau mà cành cây rũ xuống cũng có cao, thấp khác nhau. Thuyết này nói trong kinh Thập vương. Nhưng kinh này bị giới nghiên cứu cho là kinh giả, nên thuyết này chẳng phải đã có từ Ấn độ.

tam đồ lục đạo

Ba nẻo sáu đường—Three miserable paths and six realms—See Tam Đồ, Tam đồ Ác đạo and Lục Đạo in Vietnamese-English Section.

tam đồ ác đạo

Ba đường dữ—Three realms (paths) of woe—Three lower paths of the six destinations—The paths of evil deeds—Three evil courses—Three miserable worlds: 1) Địa ngục: The hells. 2) Ngạ quỷ: The world of hungry ghosts. 3) Súc sanh: The world of animals.

tam đồ đối tam độc

(三途對三毒) Tam đồ được phối hợp với Tam độc. Đại minh Tam tạng pháp số quyển 12 đem Tam đồ phối hợp với Tam độc như sau:1. Hỏa đồ phối với sân hận: Nếu chúng sinh không có tâm từ bi, thường mang lòng sân hận thì sẽcảm sinh vào đường địa ngục, thường xuyên bị bức não bởi cái khổ nung nấu của vạc dầu, lò than. 2. Đao đồ phối với khan tham: Nếu chúng sinh không có tâm huệ thí, thường mang lòng tham lam, bỏn sẻn thì cảm sinh vào đường ngạ quỉ, thường xuyên bị bức não bởi cái khổ của dao gậy, đánh chém, lùa đuổi. 3. Huyết đồ phối với ngu si: Nếu chúng sinh không có trí tuệ, ngu ngơ ngây dại thì sẽ cảm sinh vào đường súc sinh, thường bị bức não bởi cái khổ kẻ mạnh đè bẹp kẻ yếu, ăn thịt, uống máu, nhai nuốt lẫn nhau.

Tam Độc

(三毒): còn gọi là Tam Hỏa (三火), Tam Cấu (三垢), Tam Bất Thiện Căn (三不善根); ba độc, ba loại phiền não, gồm Tham Dục (貪欲), Sân Nhuế (瞋恚) và Ngu Si (愚癡); hay Tham, Sân, Si; Dâm (淫), Nộ (怒), Si (癡); Dục (欲), Sân (瞋), Vô Minh (無明). Hết thảy phiền não đều được gọi là độc; ba loại phiền não này thông nhiếp cả Ba Cõi, làm độc hại thiện tâm của chúng sanh; có thể khiến cho chúng hữu tình vĩnh kiếp chịu khổ, không thể nào lìa ra khỏi được. Ba Độc này là căn nguyên các việc làm ác của thân, miệng và ý. Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 34 phân ba độc thành Chánh Tam Độc (正三毒, tức Tham Dục, Sân Nhuế, Ngu Si) và Tà Tam Độc (邪三毒, tức Tà Tham Dục, Tà Sân Nhuế, Tà Kiến Ngu Si). Đối với Tà Tam Độc thì khó độ, Chánh Tam Độc thì dễ độ; cho nên cõi Tịnh Độ của chư Phật chỉ có Chánh Tam Độc mà thôi. Theo Đại Tạng Pháp Số (大藏法數) quyển 15, hàng Nhị Thừa, Bồ Tát đều có Ba Độc. Hàng Nhị Thừa vui mừng cầu Niết Bàn (s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃) là tham dục, chán ghét xa lìa sanh tử là sân nhuế, mê ở trong Trung Đạo (s: madhyamā-pratipad, p: majjhima-paṭipadā, 中道) là ngu si. Hàng Bồ Tát muốn rộng cầu Phật pháp là tham dục, trách la hàng Nhị Thừa là sân nhuế, và chưa liễu đạt Phật tánh là ngu si. Như trong Đại Ma Đại Sư Phá Tướng Luận (達磨大師破相論, CBETA No. 1220) có đoạn giải thích về Ba Độc rằng: “Vô Minh chi tâm, tuy hữu bát vạn tứ thiên phiền não tình dục, cập hằng hà sa chúng ác, giai nhân Tam Độc, dĩ vi căn bổn; kỳ Tam Độc giả, Tham Sân Si thị dã; thử Tam Độc tâm, tự năng cụ túc nhất thiết chư ác, do như đại thọ, căn tuy thị nhất, sở sanh chi diệp kỳ số vô biên (無明之心、雖有八萬四千煩惱情欲、及恆河沙眾惡、皆因三毒、以爲根本、其三毒者、貪嗔癡是也、此三毒心、自能具足一切諸惡、猶如大樹、根雖是一、所生枝葉其數無邊, tâm Vô Minh, tuy có tám vạn bốn ngàn phiền não tình dục, và hằng hà sa số các điều ác, đều do Ba Độc, lấy làm căn bản; Ba Độc này chính là Tham Sân Si; tâm Ba Độc này, tự có thể đầy đủ hết thảy các điều ác, giống như cây lớn, gốc tuy là một, các cành lá của nó số lượng vô biên).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, CBETA No. 1277) quyển 12 có câu: “Thập Ác Ngũ Nghịch tất băng tiêu, Tam Độc Thất Tình câu tuyết hóa, Ngũ Lậu hóa vi vô lậu, Lục Căn biến tác thiện căn, trượng Nhất Thừa tiến điệu chi công, chỉ Cửu Phẩm vãng sanh chi lộ (十惡五逆悉冰消、三毒七情俱雪懺、五漏化爲無漏、六根變作善根、仗一乘薦悼之功、指九品徃生之路, Mười Ác Năm Nghịch thảy băng tiêu, Ba Độc Bảy Tình đều hóa giải, Năm Lậu hóa thành vô lậu, Sáu Căn biến nên thiện căn, nương Một Thừa dâng cúng công phu, chỉ Chín Phẩm vãng sanh về nẻo).”

Tam độc

三毒; C: sāndú; J: sandoku;|Ba độc.

tam độc

xem ba mũi tên độc. ; Tức là tham, sân, si. ; Còn gọi là Tam Cấu hay Tam Chướng, là ba thứ độc hại hay ba món phiền não lớn. Đây là những thứ ác căn bản gắn liền trong đời sống khởi sanh đau khổ. Phiền não có rất nhiều, nói rộng thì đến 84 ngàn, nói hẹp thì có 10 loại phiền não gốc, trong có có tam độc tham sân si—Three Poisons—Three sources of all passions and delusions. The fundamental evils inherent in life which give rise to human suffering. The three poisons are regarded as the sources of all illusions and earthly desires. They pollute people's lives. Men worry about many things. Broadly speaking, there are 84,000 worries. But after analysis, we can say there are only 10 serious ones including the three evil roots of greed, hatred, and delusion. 1) Tham: Raga (skt)—Greed—Concupiscience—Lust—Wrong desire—Lòng ham muốn vị kỷ thúc đẩy chúng ta thỏa mãn những gì mình cần cũng như những gì mình không xứng đáng được như ăn uống, nhà cửa, xe cộ, tài sản và danh vọng, vân vân. Mắt thì ham nhìn nơi sắc đẹp không biết chán, tai ham nghe mọi thứ âm thanh du dương, mũi ham mong ngửi mùi hương các loại, lưỡi ham nếm các vị béo bổ ngọt ngon, thân ham những xúc chạm mịn màng, và ý ham các sự ghét thương bỉ thử, vân vân. Lòng tham của con người như thùng không đáy, như biển cả lấy nước liên tục từ trăm ngàn sông hồ to nhỏ, hết ngày nầy qua ngày khác. Trong thời mạt pháp nầy, chúng sanh nói chung và nhân loại nói riêng, đã và đang dùng đủ mọi phương cách, thủ đoạn, mưu chước để lường gạt và tàn hại lẫn nhau. Thế nên cuộc đời của chúng sanh, nhất là nhân loại, vốn dĩ đã đau khổ, lại càng đau khổ hơn. Tất cả đều do nơi tánh tham lam, lòng ích kỷ bỏn xẻn mà ra. Chính bằng mưu gian chước quỷ, dối gạt, phương tiện cũng như lật lọng bằng mọi thủ đoạn để đạt cho bằng được. Lòng tham là mãnh lực tinh thần mạnh mẽ khiến cho người ta đấu tranh giết chóc, lọc lừa dối trá lẫn nhau, ngay cả những hành động tàn độc cũng không chừa—It is a selfish desire for more than we need or deserve, such as food, house, car, wealth, honors, etc. Eyes are longing for viewing beautiful forms without any satisfaction, ears are longing for melodious sounds, nose is longing for fragrance, tongue is longing for delicate tastes, body is longing for soothing touches, and mind is longing for various emotions of love and hate from self and others. Human beings' greediness is like a barrel without bottom. It is just as the great ocean obtaining continuously the water from hundreds and thousands of large and small rivers and lakes everyday. In this Dharma Ending Age, sentient beings, especially human beings use every method to manipulate and harm one another. Sentient beings' lives, especially, those of human beings' are already filled with pain and sufferings, now there are even more pain and sufferings. Through tricks, expedients, and manipulations we try to reach our goal irrespective of whatever happens to others. Greed is a powerful mental force that drives people to fight, kill, cheat, lie and perform various forms of unwholesome deeds. 2) Sân: Pratigha (p)—Dosa or Dvesa (skt)—Anger—Aversion—Hate—Resentment—Sự sân hận đốt cháy trong lòng chúng sanh, gây nên biết bao cảnh trái ý và thù nghịch cho người khác. Người sân hận nói năng thô bỉ không có chút từ bi, tạo nên không biết bao nhiêu là khổ não. Trong Tam Độc, mỗi thứ có một ác tính độc đáo khác nhau; tuy nhiên, sân hận có một tướng trạng vô cùng thô bạo, nó là kẻ thù phá hoại đường tu cũng như công hạnh của người tu Phật mạnh mẽ nhất. Lý do là khi một niệm sân hận đã sanh khởi trong tâm thì liền theo đó có muôn ngàn thứ chướng ngại khác lập tức hiện ra, ngăn trở con đường tu đạo, công hạnh cũng như sự tiến tu của người học đạo. Chính vì thế mà cổ đức có dạy rằng: “Nhứt niệm sân tâm khởi, bá vạn chướng môn khai.” (có nghĩa là khi một niệm oán thù vừa chớm khởi, thì có ngàn muôn cửa chướng khai mở). Thí dụ như đang lúc ngồi thiền, bỗng chợt nhớ đến người kia bạc ác, xấu xa, gây cho ta nhiều điều cay đắng xưa nay. Do nghĩ nhớ như thế nên tâm ta chẳng những không yên, mà còn sanh ra các sự buồn giận, bức rức. Thân tuy ngồi yên đó mà lòng dẫy đầy phiền não sân hận. Thậm chí có người không thể tiếp tục tọa thiền được nữa, cũng như không thể tiếp tục làm những gì họ đang làm vì tâm họ bị tràn ngập bởi phiền não. Lại có người bực tức đến quên ăn bỏ ngủ, nhiều khi muốn làm gì cho kẻ kia phải chết liền tức khắc mới hả dạ. Qua đó mới biết cái tâm sân hận nó luôn dày xéo tâm can và phá hoại con đường tu tập của người tu như thế nào. Chính vì thấy như thế mà Đức Phật đã dạy cách đối trị sân hận trong Kinh Pháp Hoa như sau: “Lấy đại từ bi làm nhà, lấy nhẫn nhục làm áo giáp, lấy tất cả pháp không làm tòa ngồi.” Chúng ta phải nên nghĩ rằng khi ta khởi tâm giận hờn phiền não là trước tiên tự ta làm khổ ta. Chính ngọn lửa sân hận ấy bên trong thì thiêu đốt nội tâm, còn bên ngoài thì nó khiến thân ta ngồi đứng chẳng yên, than dài, thở vắn. Như thế ấy, chẳng những chúng ta không cải hóa được kẻ thù, mà còn không đem lại chút nào an vui lợi lạc cho chính mình—It is a fire that burns in all human beings, causing a feeling of displeasure or hostility toward others. Angry people speak and act coarsely or pitiless, creating all kinds of sufferings. Of the three great poisons of Greed, Hatred and Ignorance, each has its own unique evil characteristic. However, of these poisons, hatred is unimaginably destructive and is the most powerful enemy of one's cultivated path and wholesome conducts. The reason is that once hatred arises from within the mind, thousands of karmic obstructions will follow to appear immediately, impeding the practitioner from making progress on the cultivated path and learning of the philosophy of Buddhism. Therefore, the ancient virtuous beings taught: “One vindictive thought just barely surfaced, ten thousands doors of obstructions are all open.” Supposing while you were practicing meditation, and your mind suddenly drifted to a person who has often insulted and mistreated you with bitter words. Because of these thoughts, you begin to feel sad, angry, and unable to maintain peace of mind; thus, even though your body is sitting there quietly, your mind is filled with afflictions and hatred. Some may go so far as leaving their seat, stopping meditation, abandoning whatever they are doing, and getting completely caught up in their afflictions. Furthermore, there are those who get so angry and so depressed to the point where they can't eat and sleep; for their satisfaction, sometimes they wish their wicked friend to die right before their eyes. Through these, we know that hatred is capable of trampling the heart and mind, destroying people's cultivated path, and preventing everyone from practicing wholesome deeds. Thus the Buddha taught the way to tame hatred in the Lotus Sutra as follows: “Use great compassion as a home, use peace and tolerance as the armor, use all the Dharma of Emptiness as the sitting throne.” We should think that when we have hatred and afflictions, the first thing that we should be aware of is we are bringing miseries on ourselves. The fire of hatred and afflictions internally burns at our soul, and externally influences our bodies, standing and sitting restlessly, crying, moaning, screaming, etc. In this way, not only are we unable to change and tame the enemy, but also unable to gain any peace and happiness for ourselves. 3) Si: Mudhaya (p)—Moha (skt)—Folly or Ignorance—Stupidity—Delusion—Unwillingness to accept Buddha-truth—Unintelligence—Vì si mê mà người ta không thấy được cái nhìn như thị, không thể phân biệt đúng sai. Ngu si làm cho người ta mù quáng về chấp ngã, chấp pháp là những thứ vô thường, luôn thay đổi và hoại diệt—Due to ignorance, people do not see things as they really are, and cannot distinguish between right and wrong. They become blind under the delusion of self, clinging to things which are impermanent, changeable, and perishable. ; (三毒) Cũng gọi Tam hỏa, Tam cấu. Chỉ cho 3 thứ phiền não: Tham dục, sân khuể, ngu si(cũng gọi tham sân si, dâm nộ si, dục sân vô minh). Tất cả phiền não gọi chung là Độc, nhưng 3 thứ phiền não này có khắp 3 cõi, là thứ độc hại nhất trong thiện tâm xuất thế của chúng sinh, thường khiến loài hữu tình chịu khổ trong nhiều kiếp không thoát ra được, cho nên đặc biệt gọi là Tam độc. Ba thứ độc này là nguồn gốc của 3 hành vi ác thân, khầu, ý, cho nên cũng gọi là Tam bất thiện căn, đứng đầu các phiền não căn bản. Luận Đại trí độ quyển 34, chia Tam độc thành Chính tam độc (tham dục, sân khuể, ngu si)và Tà tam độc(tà tham dục, tà sân khuể, tà kiến ngu si), cho tà tam độc khó cứu độ, còn chính tam độc thì dễ cứu độ, cho nên trong các cõi Tịnh độ của chư Phật có chính tam độc mà không có tà tam độc. Ma ha chỉ quán quyển 6 thượng cho tham, sân, si, về phương diện Tư hoặc là Chính tam độc, còn tham, sân, si, về phương diện Kiến hoặc là Tà tam độc. Còn theo Đại tạng pháp số quyển 15 thì Nhị thừa và Bồ tát đều có Tam độc: Hàng Nhị thừa ưa thích Niết bàn là tham dục, nhàm chán sinh tử là sân khuể, mê lí Trung đạo là ngu si. Hàng Bồ tát thì muốn rộng cầu Phật pháp là tham dục, quở trách Nhị thừa là sân khuể, chưa rõ Phật tính là ngu si. [X. kinh Tạp a hàm Q.23; kinh Đại bát niết bàn Q.hạ (bản Bắc); Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần đầu; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.thượng]. (xt. Tam Bất Thiện Căn).

tam độc lợi tiễn

xem ba mũi tên độc.

tam độc tham, sân, si chẳng những gây phiền chuốc não cho ta, mà còn ngăn chận không cho chúng ta hưởng được hương vị thanh lương giải thoát

Three poisons of greed, hatred and ignorance do not only cause our afflictions, but also prevent us from tasting the pure and cool flavor of emancipation (liberation).

tam độc tiễn

xem ba mũi tên độc.

Tam Đức

(三德): tức là Pháp Thân Đức (法身德), Bát Nhã Đức (般若德) và Giải Thoát Đức (解脫德). Căn cứ vào Phẩm Tựa của Kinh Đại Bát Niết Bàn, khi Phật sắp nhập diệt, các Phật tử đã chuẩn bị rất nhiều phẩm vật để dâng lên cúng dường đức Phật và chư Tăng một lần sau cuối. Những thực phẩm rất phong phú, đặc biệt có đầy đủ ba đức tính và sáu hương vị. Nghĩa là những thức ăn dâng cúng cho Phật và tăng thì phải đầy đủ 3 đức tính (yếu tố), gồm: (1) Trong sạch, không nhơ nhớp; (2) Mềm mại, ngon ngọt; (3) Như pháp, tùy thời mà chế biến, làm ra đúng pháp. Tam Đức này tượng trưng cho Ba Thân (Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Hóa Thân) của Phật hoặc ba đức tướng (Trí Đức, Đoạn Đức, Ân Đức) của quả vị Phật. Từ sự kiện lịch sử này, đời sau, các chùa thường thiết lễ Cúng Ngọ và đọc câu “Tam Đức, Lục Vị, cúng Phật cập tăng, pháp giới hữu tình, phổ đồng cúng dường (三德六味、供佛及僧、法界有情、普同供養, ba đức, sáu vị, cúng Phật cùng tăng, cùng khắp cúng dường).” Trong Tông Kính Lục (宗鏡錄, Taishō Vol. 48, No. 2016) quyển 90 có đoạn rằng: “Tại kính tắc Tam Đế viên dung, tại tâm tắc Tam Quán câu vận, tại nhân tắc Tam Đạo tương tục, tại quả tắc Tam Đức châu viên, như thị bản mạt tương thâu, phương nhập Đại Niết Bàn bí mật chi tạng (在境則三諦圓融、在心則三觀俱運、在因則三道相續、在果則三德周圓、如是本末相收、方入大涅槃祕密之藏, nơi kính thì Ba Đế viên dung, nơi tâm thì Ba Quán vận hành, nơi nhân thì Ba Đường liên tục, nơi quả thì Ba Đức tròn khắp, như vậy gốc ngọn cùng thâu, rồi nhập vào kho tàng bí mật của Đại Niết Bàn).” Hay như trong Thiền Môn Yếu Lược (禪門要略, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 55, No. 908) cũng có câu: “Hựu Tam Quán thành cố tức Tam Đức mãn, Trung Quán thành tức Pháp Thân mãn, Giả Quán thành tức Bát Nhã mãn, Không Quán thành tức giải thoát mãn, Tam Đức mãn cố danh Bí Mật Tạng (又三觀成故卽三德滿、中觀成卽法身滿、假觀成卽般若滿、空觀成卽解脫滿、三德滿故名秘密藏, lại Ba Quán thành nên Ba Đức tròn, Trung Quán thành tức Pháp Thân tròn, Giả Quán thành tức Bát Nhã tròn, Không Quán thành tức giải thoát tròn, vì Ba Đức tròn nên gọi là Kho Tàng Bí Mật).” Hoặc như trong Vạn Thiện Đồng Quy Tập (萬善同歸集, Taishō Vol. 48, No. 2017) quyển Trung lại có câu: “Lịch Ngũ Vị Bồ Đề chi đạo, nhập Tam Đức Niết Bàn chi thành, luyện Tam Nghiệp nhi thành Tam Luân, ly Tam Thọ nhi viên Tam Niệm (歷五位菩提之道、入三德涅槃之城、練三業而成三輪、離三受而圓三念, trãi qua con đường Bồ Đề Năm Vị, vào thành trì Niết Bàn Ba Đức, luyện Ba Nghiệp trở thành Ba Luân, lìa Ba Thọ tròn thành Ba Niệm).”

Tam đức

三徳; C: sāndé; J: santoku;|Ba khía canh công đức của một vị Phật: 1. Công đức của lòng bi; 2. Công đức của sự đoạn diệt phiền não và 3. Công đức của trí huệ.

tam đức

Ba đức của Phật là thường hằng, hỷ lạc, và thanh tịnh (Thường, Lạc, Tịnh)—Three Buddha's virtues or powers which are eternal, joyful, and pure : (A) Theo Đại Thừa, có ba đức của Phật—According to the Mahayana, there are three Buddha's virtues: 1) Pháp thân đức: Pháp thân Phật là vĩnh hằng—Dharmakaya—The virtue or potency of the Buddha's eternal sipritual body. 2) Bát nhã đức: Trí huệ Phật biết được thực tính của chư pháp—Buddha's prjana or wisdom, knowing all things in their reality. 3) Giải thoát đức: Phật giải thoát, không còn vướng mắc nào—Buddha's freedom from all bonds and his sovereign liberty. (B) Theo Kinh Niết Bàn có ba đức của Phật—According to Nirvana Sutra, there are another three Buddha's virtues: 1) Trí đức: Đức toàn giác—The potency of Buddha perfect knowledge. 2) Đoạn đức: Đức đoạn diệt khổ đau và chứng nhập Niết bàn tối thượng—Buddha's ability to cut off all illusion and perfect of supreme nirvana—The power or virtue of bringing to an end all passion and illusion, and enter the perfect nirvana. 3) Ân đức: Đức phổ cứu chúng sanh—Buddha's universal grace and salvation which bestows the benefits he has acquired on others. (C) 1) Nhân viên đức: Qua ba a tăng kỳ kiếp, nhân duyên tròn đầy—The perfection of Buddha's causative or karmaic works during his three great kalpas of preparation. 2) Quả viên đức: Toàn thiện quả vị và trí huệ Phật—The perfection of the fruit or result of Buddha's own character and wisdom. 3) Ân viên đức: Toàn thiện ân cứu độ chúng sanh—The perfection of Buddha's grace in the salvation of others. (D) 1) Trí Đức: All-knowing virtues or qualities of a Buddha. 2) Bi Đức: All-pitying virtues of a Buddha. 3) Định Đức: Contemplative virtues of a Buddha. ; (三德) I. Tam Đức. Chỉ cho 3 đức tướng của Đại niết bàn: Pháp thân, Bát nhã, và Giải thoát Theo kinh Niết bàn quyển 2 (bản Nam) thì 3 đức giống như 3 cái chấm của chữ Y (chữ Y tất đàm là( ), hoặc 3 con mắt( )của trời Ma hê thủ la (trời Đại tự tại). Cứ theo Đại thừa nghĩa chương Q.18 thì:1. Pháp thân: Chỉ cho chân như vốn có sẵn của tất cả hiện tượng tồn tại, hoặc chỉ cho thân được hoàn thành bằng pháp công đức. 2. Giải thoát: Tức cởi bỏ tất cả sự trói buộc của phiền não. 3. Bát nhã: Chỉ cho trí tuệ giác ngộ. Sự quan hệ giữa 3 đức này là 3 tức 1, 1 tức 3. Khi còn ở Nhân vị thì gọi là Tam Phật tính; khi đến Quả vị thì gọi là Tam đức.Đại bát niết bàn kinh huyền nghĩa quyển thượng, phiên dịch từ Ma ha bát niết bàn na là Đại diệt độ, cho rằng Đại là Pháp thân, Diệt là Giải thoát và Độ là Bát nhã. Ngoài ra, do nhân và quả đối nhau, nên Tam đức cũng có 2 thứ thuận và nghịch khác nhau. Tam đức thuận là: Quả của Chính nhân Phật tính thành tựu đức của Pháp thân, quả của Liễu nhân Phật tính thành tựu đức của Bát nhã, còn quả của Duyên nhân Phật tính thì thành tựu đức của Giải thoát. Trái lại, nếu do chuyển Khổ mà thành tựu đức Pháp thân, do chuyển Hoặc mà thành tựu đức Bát nhã và do chuyển Nghiệp mà hoàn thành đức Giải thoát thì gọi là Nghịch tam đức. Theo tông Thiên thai thì thuyết Tam đức đã xuất hiện trong các kinh trước kinh Pháp hoa, nhưng Tam đức của Pháp hoa Viên giáo là Phi tung phi hoành, Phi tam phi nhất, có thể nói khác hẳn với các thuyết trước. Đồng thời, Tam đức của Pháp hoa Viên giáo cũng có thể phối hợp với Tam bồ đề, Tam Phật tính, Tam bảo, Tam đạo, Tam thức, Tam bát nhã, Tam đại thừa, Tam thân, Tam niết bàn... Ngoài ra, theo luận Nhiếp đại thừa thì có thể chuyển 5 uẩn thành 3 đức, tức có thể chuyển Sắc uẩn thành đức Pháp thân, chuyển 3 uẩn Thụ, Tưởng, Hành, thành đức Giải thoát, và chuyển Thức uẩn thành đức Bát nhã. [X. Ma ha chỉ quán Q.3 thượng; Pháp hoa huyển nghĩa Q.5, hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.3, phần 1; Kim quang minh kinh huyền nghĩa Q.thượng]. II. Tam Đức. Chỉ cho 3 thứ đức tướng của quả vị Phật là Trí đức, Đoạn đức và Ân đức. Luận Phật tính quyển 2 giải thích Tam đức này như sau: 1. Trí đức: Chỉ cho trí tuệ của Phật quán xét tất cả các pháp. 2. Đoạn đức: Chỉ cho đức diệt trừ hết tất cả phiền não hoặc nghiệp. 3. Ân đức: Đức do nguyện lực cứu độ chúng sinh mà ban ân huệ cho tất cả chúng sinh.Ba đức trên đây phối với Pháp thân, Báo thân và Ứng thân, đồng thời, Trí đức và Đoạn đức có nội dung tự lợi, tự hành, và tự giác, còn Ân đức thì mang nội dung lợi tha, hóa tha và giác tha. Hoa nghiêm kinh sớ quyển 12 (Đại 35, 589 hạ) nói: Hạt giống Phật không dứt mất có tướng như thế nào? Là thành tựu Tam đức: Cứu độ chúng sinh, thành tựu Ân đức; đoạn hẳn phiền não, thành tựu Đoạn đức; rõ biết các hạnh, thành tựu Trí đức. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.8 (bản dịch đời Lương); Di lặc thướng sinh kinh sớ Q.hạ]. III. Tam Đức. Chỉ cho 3 tính chất của tất cả sự vật. Đó là: 1. Tát đóa(Phạm:Sattva): Biểu thị tính chất mạnh mẽ. 2. Lạt xà (Phạm:Rajas): Biểu thị tính chất bụi bặm. 3. Đáp ma (Phạm: Tamas): Biểu thị tính chất ám độn. Đây là chủ trương của học phái Số luận ở Ấn độ được thấy trong luận Kim thất thập quyển thượng. Ba đức này theo thứ tự được dịch là mừng, lo, mờ tối; hoặc mạnh, bụi, mờ; hoặc tham, sân, si; hoặc vui, khổ, không vui không khổ; hoặc vàng, đỏ, đen; hoặc nhuốm, thô, đen..., tức là đế thứ nhất(Tự tính minh đế) trong 25 đế. Đức này có đức của năng lực sinh ra các vật thiện ác, đẹp, xấu. Ngoài ra, chỉ trừ Thần ngã đế, còn 23 đế kia đều có đủ 3 đức này. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần đầu]. IV. Tam Đức. Cũng gọiTamchủng viên đức, Tam viên đức. Chỉ cho đức tướng viên mãn của Như lai. Đó là: 1. Nhân viên đức: Nhân hạnh của Như lai hoàn toàn viên mãn. Nhân hạnh này có 4 phương pháp tu hành: a. Vô dư tu: Tu cả 2 thứ tư lương phúc đức và trí tuệ, không bỏ sót. b. Trường thời tu: Trải qua 3 đại a tăng kìkiếp tu hành mà vẫn không mỏi mệt. c. Vô gián tu: Tinh tiến dũng mãnh, tu liên tục, không một sát na gián đoạn. d. Tôn trọng tu: Cung kính những điều học được, không điều nào mà không tôn quí, tu mà không kiêu mạn. 2. Quả viên đức: Quả đức của Như lai viên mãn, đầy đủ. Có 4 đức: a. Trí viên đức: Có đủ 4 loại: Vô sư trí, Nhất thiết trí, Nhất thiết chủng trí và Vô công dụng trí. b. Đoạn viên đức: Có 4 loại Nhất thiết phiền não đoạn, Nhất thiết định chướng đoạn, Tất kính đoạn và Tập đoạn. c. Uy thế viên đức: Uy thế được tự tại đối với sự biến hóa của ngoại cảnh; uy thế được tự tại đối với tuổi thọ dài hay ngắn; uy thế được tự tại đối với không, chướng, cực xa, tốc hành, lớn nhỏ, tương nhập...; uy thế hiếm lạ làm cho bản tính của các pháp thế gian chuyển hóa tự nhiên. Hoặc 4 thứ uy thế: Hóa độ được những chúng sinh ương ngạnh khó hóa độ; quyết nghi được những vấn nạn khó quyết nghi; đã lập giáo là chắc chắn xuất li; có khả năng hàng phục được các bè đảng xấu ác. d. Sắc thân viên đức: Đầy đủ các tướng tốt đẹp, có sức lực lớn và gân cốt trong thân cứng chắc hơn kim cương, bên ngoài phóng hào quang rực rỡ hơn trăm nghìn mặt trời. 3. Ân viên đức: Đức từ bi thương xót chúng sinh của Như lai trọn vẹn đầy đủ, vĩnh viễn thoát khỏi cái khổ sinh tử và 3 đường ác; Ngài cũng khiến chúng sinh an trụ trong đường lành trời người và trong Tam thừa. [X. luận Câu xá Q.27; Câu xá luận quang kí Q.27].

tam đức lục vị

(三德六味) Chỉ cho 3 đức, 6 vị. Ba đức là: Mềm mại, sạch sẽ, và đúng phép. Sáu vị là: Đắng cay, ngọt, chua, mặn và lạt. Cứ theo phẩm Tựa trong kinh Đại bát niết bàn quyển 1 (bản Nam), khi đức Phật sắp vào Niết bàn, các Phậttử ưu bà tắc sắm sửa thức ăn uống, dâng cúng Phật và chúng tăng. Thức ăn uống ngon ngọt, có đủ 3 đức, 6 vị. Đến đời sau, 3 đức, 6 vị trở thành những câu kệ được đọc tụng hàng ngày tại các chùa viện mỗi khi thụ trai: Tam đức lục vị, cúng Phật cập tăng. (xt. Thực Tam Đức).

tam ư

(三於) Chỉ cho 3 thứ Sở y(chỗ nương, điểm tựa). Ư nghĩa là chỗ nương. Đại sư Gia tường thuộc tông Tam luận dựa vào 3 thứ sở y mà thành lập 3 thứ Nhị đế: 1. Bản ư nhị đế: Tức Không, Hữu nhị đế, là Nhị đế vốn đã có trước khi đức Phật ra đời, là sở y của Nhị đế của Phật. 2. Giáo ư nhị đế: Tức ngôn giáo của Phật, là sở y của Không, Hữu nhị đế. 3. Mạt ư nhị đế: Chỉ cho Mê giáo nhị đế. Sau khi Phật nhập diệt, vì mê lầm về Giáo (lời dạy của Phật) nên chúng sinh khởi kiến chấp Không và Hữu. [X. Tam luận đại nghĩa sao Q.1].

tam ấn

Three signs (usually in Hinayana sutras): 1) Vô thường: Non-permanence. 2) Vô ngã: Non-personality. 3) Niết bàn: Nirvana.

tam ấn nhứt

The three vehicles (Hinayana Tiểu thừa, Madhyamayana Trung Thừa, Mahayana Đại thừa) are one. The three lead to bodhisattvaship and Buddhahood for all.

tam ứng cung dưỡng

(三應供養) Chỉ cho 3 đối tượng mà chúng sinh nên cúng dường, đó là: 1. Như lai ưng cúng dường: Vì Như lai đã viên mãn việc tự lợi, lợi tha và là bậc tôn quí nhất trong thế gian. 2. A la hán ưng cúng dường: Vì A la hán đã ra khỏi vòng sinh tử và là bậc phúc điền cho thế gian. 3. Chuyển luân thánh vương ưng cúng dường: Vì Chuyển luân thánh vương dùng Chính pháp trị nước và là cha mẹ của thiên hạ.[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.12].

Tam-da-tam-phật

三耶三佛; C: sānyésānfó; J: sanyasanbut-su;|Tam-miệu Tam-phật-đà.

Tam-da-tam-phật-đà

三耶三佛陀; C: sānyésānfótuó; J: sanya-sanbudda;|Tam-miệu Tam-phật-đà.

Tam-ma-bát-đề

三摩鉢提; C: sānmóbōtí; J: sanmapattei;|Một cách dịch âm của chữ Phạn samāpatti. Tam-ma-bát-để (三摩鉢底).

Tam-ma-bát-để

三摩鉢底; C: sānmóbōdī; J: sanmapattei;|Cách dịch âm của chứ Phạn samāpatti. Một thuật ngữ thiền định. Một trạng thái định. Một tâm thức cân bằng, đạt được qua sự tập trung chuyên nhất, hội tụ những năng lực trong tâm. Được dịch ý là Đẳng chí (等至).

Tam-ma-bạt-đề

(samdhi), tức là Tam-muội, cũng đọc là Tam-ma-đề hay Tam-ma-địa, Hán dịch nghĩa là Thiền định hay Đại định, chỉ pháp tu đạt đến chỗ thân và tâm không còn xao động, dứt hết vọng tưởng, tà kiến, thể nhập Pháp thân của chư Phật.

Tam-ma-đề

xem Tam-ma-bạt-đề. ; 三摩提; C: sānmótí; J: sanmaji;|Một cách phiên âm của chữ Phạn và Pa-li samādhi, cũng được phiên âm là Tam-muội (三昧) và Tam-ma-địa (三摩地). Dịch ý là Định.

Tam-ma-địa

xem Tam-ma-bạt-đề.

Tam-miệu tam-bồ-đề

三藐三菩提; C: sānmiǎo sānpútí; J: sammyaku sambodai;|Cách dịch âm từ chữ Phạn saṃyak-saṃbodhi, có nghĩa là »giác ngộ một cách chân chính«, chỉ sự giác ngộ viên mãn của một vị Phật; được Hán dịch ý là Đẳng chính giác (等正覺) và Chính đẳng giác (正等覺). Thuật ngữ này thường được thấy trong biểu thị A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề (阿耨多羅三藐三菩提; s: anuttarā-saṃyak-saṃbodhi).

Tam-miệu-tam-một-đà

三藐三沒馱; C: sānmiǎosānmòtuó; J: san-myakusanbodda;|Tam-miệu Tam-phật-đà (三藐三佛陀).

Tam-miệu-tam-phật

三藐三佛; C: sānmiǎosānfó; J: sanmyaku-sanbutsu;|Tam-miệu Tam-phật-đà (三藐三佛陀).

Tam-miệu-tam-phật-đà

三藐三佛陀; C: sānmiǎosānfótuó; J: san-myaku sambutta; S: samyak-saṃbuddha; P: sammā-sambuddha;|»Một vị Phật giác ngộ viên mãn«. Một trong Mười danh hiệu của một vị Phật. Cũng được dịch âm là Tam-miệu Tam-một-đà (三藐三沒馱), Tam-da Tam-phật (三耶三佛), Tam-da Tam-phật-đà (三耶三佛陀), và dịch nghĩa là Chính Biến Tri (正遍知), Chính Đẳng Giác (正等覺), Chính Đẳng Giác giả (正等覺者).

Tam-muội

xem Tam-ma-bạt-đề. ; 三昧; C: sānmèi; J: sammai, zammai; S, P: samādhi; J: zan-mai; dịch âm, dịch nghĩa là Ðịnh;|Thuật ngữ dịch âm từ chữ Phạn samādhi, có nghĩa là »Gom lại«, »phối hợp tâm«, »Tĩnh lự một cách chuyên chú«, »Hấp thụ toàn hảo«. Một cấp bậc tập trung thiền định cao. Ðịnh.

Tam-muội chính thụ

三昧正取; C: sānmèi zhèngqǔ; J: sanmai-shōju;|1. Hoàn toàn tin tưởng không nghi ngờ giáo lí của một Thánh nhân đã đạt một cấp bậc thiền định thâm sâu; 2. Định, cấp bậc tập trung cao.

Tam-muội Không

xem ba pháp tam-muội.

Tam-muội Vô tác

xem ba pháp tam-muội.

Tam-muội Vô tướng

xem ba pháp tam-muội.

Tam-muội-da

三昧耶; C: sānmèiyé; J: sanmaiya;|Một cách phiên âm chữ Phạn »samaya«: 1. Thời gian, đặc biệt là một khoảng thời gian đặc thù; 2. Một cuộc hội họp, gặp gỡ; 3. Giáo lí cơ bản của một trường phái.

Tam-muội-da hình

三昧耶形; C: sānmèiyéxíng; J: sanmaiya-gyō;|Một hình ảnh với giá trị biểu tượng. Trong đạo Phật thì đây chính là những biểu tượng tỏ bày lời nguyện ước của chư Phật, chư Bồ Tát như cung, tên, gậy, bình hoặc những thủ Ấn.

Tan-ti-pa

S: tantipa; »Người thợ dệt«;|Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong đầu thế kỉ thứ 9.|Ông là một thợ dệt, có nhiều con. Ðến lúc được 89 tuổi, ông bị con cái lại ruồng bỏ, cho vào ở một túp lều trong vườn. Ngày nọ, một vị Ma-ha Tất-đạt là Ja-lan-đa-ra (s: jālandhara) đến nhà ông khất thực, được con cái của ông bố thí thức ăn và mời ở lại nghỉ qua đêm. Ông gặp vị Du-già sư này và than: »Cuộc đời thật bạc bẽo, nuôi con cho lớn khôn rồi chúng nó hổ thẹn với người ngoài vì có ông cha già nua, đem dấu trong vườn để không ai phải nhìn.« Ja-lan-đa-ra khuyên ông: »Tất cả những gì chúng ta làm là một trò chơi, một trò chơi có ngày phải chấm dứt; ai bước vào cõi này đều cũng phải chịu đau khổ; tất cả, và thật là tất cả đều là Ảo ảnh, không có tự tính. Niết-bàn mới là tịch tịnh, là hạnh phúc«, rồi hỏi: »Ông có muốn tu tập chuẩn bị đón cái chết không?« Người thợ dệt nhận lời ngay và Ja-lan-đa-ra truyền cho ông bí mật của Hô Kim cương tan-tra (s: hevajra-tantra) và phép thiền quán. Sau mười hai năm tu tập, ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahā-mudrāsiddhi). Về sau con cái tình cờ thấy ông được thiên nhân hầu hạ mới biết cha mình đắc đạo. Nhờ phép thần, ông trẻ lại và sống thêm 16 năm nữa. Trong thời gian này, ông giáo hoá rất nhiều người và sau đó được lên cõi của các vị Không hành nữ (s: ḍākinī). Thánh đạo ca của Tan-ti-pa như sau:|Căng ngang rồi căng dọc,|là cách dệt thế gian.|Còn ta, với Ðạo sư,|dệt tấm vải chứng thật,|bằng sợi chỉ Năm trí.|Lược là lời Khai thị,|Khung là chính tri kiến,|toàn hảo về tính Không|Dệt chiếc áo Pháp thân,|từ không gian vô tận,|và tri kiến thuần tịnh.

Tan-tra

S: tantra; cũng được gọi theo âm Hán Việt là Ðát-đặc-la (怛特羅), nguyên nghĩa »tấm lưới dệt«, »mối liên hệ«, »sự nối tiếp«, »liên tục thống nhất thể«, đôi lúc được dịch là Nghi quỹ;|Một danh từ trừu tượng, khó dịch nên phần lớn các ngôn ngữ trên thế giới (Anh, Pháp, Ðức) đều không có từ tương ưng. Trong Phật giáo Tây Tạng, Tan-tra chỉ tất cả các kinh sách về nhiều ngành khác nhau (Tan-tra y học, Tan-tra thiên văn…), nhưng trong nghĩa hẹp Tan-tra chỉ tất cả các sách vở nói về phép tu thiền định của Kim cương thừa và cũng được dùng để chỉ những phép tu thiền định này. Phép tu luyện Tan-tra có tính chất kinh nghiệm cá nhân, và thường dựa trên ba khái niệm: Nhân, Ðạo, Quả. Nhân chính là hành giả, Ðạo là con đường, phương pháp tu luyện, nhằm thanh lọc con người và Quả là tình trạng mà hành giả chứng ngộ. Ba giai đoạn này được Tan-tra chỉ bày trong vô số phương tiện khác nhau. Người ta cho rằng khi Phật Thích-ca thể hiện Phật quả qua dạng Pháp thân (s: dharmakāya) thì Ngài đã hành trì Tan-tra. Vì vậy cũng có người xem đức Phật là người sáng lập Tan-tra.|Truyền thống Tây Tạng chia Tan-tra làm bốn loại để tương ưng với căn cơ của từng người:|1. Tác tan-tra (s: kriyā-tantra): Tan-tra hành động (tác), nghi lễ. Người tu tập Tan-tra này có kết đàn trường, cúng dường, đọc chú, bắt ấn nhưng chưa quán tưởng, tu tập thiền định;|2. Hành tan-tra (s: caryā-tantra): Tan-tra tu luyện qua hành động hằng ngày, dành cho những người tu tập nhưng không cần hiểu rõ lí tột cùng;|3. Du-già tan-tra (s: yoga-tantra): Tan-tra luyện tâm (thiền định);|4. Vô thượng du-già tan-tra (s: anuttarayoga-tantra): phương pháp tu luyện tột cùng, thành Phật trong kiếp này, với thân này.|Sự khác nhau giữa bốn cấp này xuất phát từ căn cơ của hành giả và tính hiệu quả của các phép tu. Các tác phẩm quan trọng của Vô thượng du-già tan-tra là Bí mật tập hội tan-tra (s: guhyasamāja-tantra), Hô kim cương tan-tra (s: hevajra-tantra) và Thời luân tan-tra (s: kālacakra-tantra). |Trường phái Ninh-mã (t: nyingmapa) lại chia Vô thượng du-già tan-tra làm ba loại: Ma-ha du-già (s: mahāyoga), A-nậu du-già (s: anuyoga) và A-tì du-già (s: atiyoga, xem Ðại cứu kính). Những phép Tan-tra này xem tâm thanh tịnh là gốc của mọi phép tu. Ngoài ra, Tan-tra xem việc vượt qua tính nhị nguyên để đạt nhất thể là một nguyên lí quan trọng. Tính nhị nguyên có khi được Tan-tra diễn tả bằng nguyên lí nam tính (s: upāya; khía cạnh Phương tiện) và nữ (s: prajñā; Trí huệ), vì vậy tại phương Tây không ít người hiểu lầm, cho rằng tu tập Tan-tra là thuần tuý liên hệ với tính dục nam nữ.

Tan-tê-pa

S: taṅtepa; »Người mê cờ bạc«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (siddha) Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.|Ông ở xứ Câu-thướng-di (s: kauśāmbī), thuộc giai cấp thấp kém, ham đánh bạc. Khi thua hết gia sản, không còn ai cho mượn tiền đánh bạc, ông buồn rầu rút lui sống trên bãi đốt xác. Một vị Du-già sư đi ngang, khuyên ông tu tập, ông trả lời có phép nào tu tập mà vẫn đánh bạc được thì ông mới chịu tu. Vị này liền dạy ông phép quán tưởng, »xem thế giới trống rỗng như túi tiền của mình, nếu có thể phá tan gia sản bằng con súc sắc, thì cũng thể phá tan khái niệm bằng tri kiến. Sự mất mát chính là niềm vui!« |Như ngươi mất hết tiền,|lúc đánh trò súc sắc,|hãy đánh mất tư duy,|về cả ba cõi giới,|hãy chơi trò súc sắc,|của tâm thức vô niệm.|Như bị con nợ đánh,|hãy đánh hạ tư duy,|vào không gian trống rỗng.|Ngồi trên bãi đốt xác,|mà tự hoà tan mình|trong Ðại lạc mênh mông.||H 51: Tan-tê-pa (taṅtepa) đang trình bày tính Không (s: śūnyatā).|Tan-tê-pa nghe lời tu phép quán niệm và đạt tri kiến. Sau khi đạt Tất-địa, ông biến mất vào thế giới của các vị Không hành nữ (s: ḍākinī). Chứng đạo ca của ông có những dòng sau:|Mọi tư duy, tưởng tượng|đã biến mất tan vào,|trong thức vô biên xứ.|Mọi kinh nghiệm hiện tượng,|tan biến trong tính Không.|Trong 84 vị Tất-đạt, Tan-tê-pa (kẻ đánh bạc) làm ta nhớ đến Khát-ga-pa (khaḍgapa), người ăn trộm và Tha-ga-na-pa (thaganapa), người mang tật nói dối.

tang diên tự

(桑鳶寺) Tạng: Bsam-yas. Gọi đủ: Bsam-yas mi-#gyur Ihungyis grupa#i gsug-lag-khaí. Cũng gọi Tang y tự, Tang da tự. Chùa ở ngoại ô, phía đông nam thủ do Lạp tát (Tạng: Lhasa), mạn bắc sông Nhã lỗ tạng bố (Tạng:Tsaí-po), là ngôi chùa đầu tiên ở Tây tạng, do vua Khất lật song đề tán (Tạng:Khri-sroí-lde-btsan) xây dựng vào năm 766. Có thuyết nói chùa này được sáng lập vào năm 779, với sự giúp đỡ của ngài Tịnh hộ (Phạm: Zàntiraksita) và Liên hoa sinh (Phạm: Padmasambhava). Chùa này được xây cất phỏng theo chùa Âu đan đa phá lê (Phạm: Udaịđapura), một tổng hợp các phong cách kiến trúc Tây tạng, Trung quốc và Ấn độ, cho nên cũng gọi là Tam dạng tự. Cách bố cục, chính giữa là núi Tu di, phía ngoài có 4 đại châu, 8 tiểu châu và 2 vầng nhật nguyệt, ngoài cùng có tường bao chung quanh, 4 góc đều có xây 4 ngôi tháp Xá lợi, 4 cửa đều dựng 4 tấm bia. Chùa gồm một tòa Đại điện, 4 viện Đại học và các kiến trúc khác, chung quanh xây tường cao, dài khoảng 2,4km, trên tường có 1030 ngôi tháp gạch. Tượng Đại Phật thờ ở chính điện cao 16m, các tượng Phật được tôn trí trong chùa phần nhiều được đúc bằng vàng ròng và trang sức bằng châu báu, các đồ thờ trước Phật đa số cũng được làm bằng vàng bạc. Tấm bia đá hình trụ vuông trước chùa được dựng vào thời vua Ngật lật song đề tán (742-797), có khắc bài minh tiếng Tây tạng. Hiện nay chùa đã bị phá hủy, các di vật văn hóa đều bị mất. Chùa có thiết lập Viện Dịch kinh (Tạng: Sgra-bs-gyur lha-khaí), bên trong tàng trữ các nguyên điển Ấn độ, nhưng rất tiếc phần lớn đã bị thiêu hủy vào năm 1810. Các vị tăng học giả người Ấn độ như Tang đề ca nhĩ phạ (Phạm: Zàntigarbha), Duy hưu đạt hân ha (Phạm: Vizuddha= siôha)... và các vị tăng dịch kinh người Tây tạng như Khúc kì nam ba (Tạng: Choskyi naí-pa), Bàng đức nạp mục ca (Tạng: Bande nammkha#)... từng phiên dịch kinh điển Phật bằng tiếng Phạm sang tiếng Tây tạng tại chùa này dưới sự giúp đỡ của vua Khất lật song đề tán, đồng thời, vâng sắc biên tập bộ Kinh tạngmục lụcđược cất giữ trong cung Điền ca nhĩ (Tạng: Denkar).Vào thế kỉ IX, người Thổ phồn cấm truyền bá Phật giáo, chùa này từng bị đóng cửa. Đến nửa sau của thế kỉ X, Phật giáo mới được khôi phục. Hiện nay chùa này do các vị tăng Lạt ma thuộc phái Tát ca cai quản, nhưng phần lớn trong số 1000 vị tăng hiện tu học ở đây lại thuộc phái Ninh mã (Tạng: Rĩií-ma-pa). [X. The Buddhism of Tibet (L. A. Waddell); The Tibetan Book of the Great Liberation (Evans-Wentz); Tibet and the Tibetans (Tsung-Lien Slen and Shen Chi Liu); Pag Sam Jon Zang (S.Candra Das); Die Religionen Tibet (H.Hoffmann); Mk’ yen Brtse’s Guide to the Holy places of Central Tibet (A. Ferrari)].

tang phương sá mã cáp nhã ni khang

(桑芳卡馬哈雅尼康) Sang Hyang Kamahàyànikan. Hán dịch: Đại thừa Thánh giáo. Tác phẩm của Phật giáo Java (Indonesie) đời xưa. Nội dung sách này nói về việc tu đạo và chứng quả của hành giả Du già Mật giáo. Toàn sách gồm có phần kệ tựa bằng tiếng Phạm và phần chính văn bằng tiếng Java xưa. Phần kệ tựa gồm 42 bài tụng khuyên người tu hành trụ ở nơi líthú của hạnh Đại thừa diệu đạo chân ngôn của chư Phật 3 đời, giữ gìn Tam muội da, được sự gia bị của Kim cương tát đóa, biết rõ các pháp không tự tính, vốn trong sạch, mở bày lí thú của chân ngôn cho thế gian, tự trì Kim cương ấn khế..., tôn kính A xà lê cũng như tôn kính chư Phật, phải cầu đạt đến quả vị Phật... Phần chính văn sử dụng thể vấn đáp, vốn không chia chương tiết, nhưng người đời sau chia làm 4 chương: 1. Chương thứ nhất: Nói sơ qua các qui định về chỗ ở và các thứ cần dùng mà người tu hành phải chuẩn bị trước khi vào hạnh Ba la mật. 2. Chương thứ hai: Nói rõ về 10 Ba la mật, tức là 6 pháp Ba la mật và 4 pháp từ, bi, hỉ, xả. 3. Chương thứ ba: Nói tỉ mỉ về hạnh Du già mà hành giả phải luyện tập sau khi đã thành tựu đầy đủ các Ba la mật, đồng thời, dựa trên nền tảng của định Bất nhị để rèn luyện hơi thở, cho đến nêu ra các giải thuyết bí mật, giải thích về văn tự âm thanh, trong đó, thỉnh thoảng có trích dẫn thuyết của ngài Trần na. 4. Chương thứ tư: Cách sắp xếp rất lộn xộn, mục đích nhằm thuyết minh ý nghĩa bí mật của các Bồ tát và của chư Phật ở trong định mà hành giảDugià cần phải đạt đến. [X. Hinduism and Buddhism vol. III by Ch. Eliot; Buddhism in Java (Peace, 1934) by Arthur Fitz].

tang-môn

xem sa-môn.

tao khang

(糟糠) Tao là bã rượu; Khang là cám gạo. Vốn chỉ cho thức ăn hèn mọn, sau được dùng để ví dụ tỉ khưu kiêu mạn và pháp thô xấu.Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 7 hạ) nói: Hạng tao khang trong chúng vì sợ uy đức của Phật nên bỏ đi; những người ấy ít phúc đức không kham nổi pháp này.[X. kinh Đại pháp cổ Q.thượng].

tao tì la

(騷毘羅) Phạm: Parisràvaịa. Hán âm: Bát lí tát la phạt noa. Chỉ cho cái túi may bằng vải dùng để lọc bỏ những vi trùng trong nước trước khi sử dụng, 1 trong 6, hoặc 1 trong 18 vật dụng của tỉ khưu thường mang bên mình. Hi lân âm nghĩa quyển 7 nói: Tao tì la, Hán dịch là Lộc thủy nang. (xt. Lộc Thủy Nang).

tao đà kỳ lê

(臊陀祁梨) Phạm:Sodàgiri (?). Hán dịch: Dự sơn. Tên của một con chim Anh vũ ở thời quá khứ, là tiền thân của đức Thế tôn. Cứ theo kinh Phật bản hạnh tập quyển 31, vô lượng kiếp trước có 2 con chim Anh vũ, chim anh tên là Ma la kì lê, chim em tên là Tao đà kì lê. Bấy giờ, Tao đà kì lê bị chim cắt đánh bất ngờ, chim anh là Ma la kìlêbảo chim em gắng sức mổ vào chỗ hiểm yếu của chim cắt thì sẽ thoát nạn. Tao đà kì lê bèn mổ thật mạnh và chống trả liên tiếp, quyết liệt, cuối cùng chiến thắng chim cắt, tự cứu được mình. Chim Anh vũ kia là tiền thân của đức Phật, còn chim cắt là tiền thân của ma Ba tuần. [X. Huyền ứng am nghĩa Q.19].

Ter-ma

T: terma [gter-ma]; dịch nghĩa là »báu vật«;|Trong Phật giáo Tây Tạng, Ter-ma là kinh sách của thế kỉ thứ 8, trong thời gian mới đầu lúc truyền bá Phật pháp, phải được dấu kín để được khám phá ra lúc cơ duyên chín muồi. Người khám phá ra kinh sách đó được gọi là Ter-ton, và có trách nhiệm truyền bá và giải thích. Ðặc biệt trong giáo phái Ninh-mã (t: nyingmapa) người ta rất tin tưởng các Ter-ma. Việc cất giữ kinh sách trong một chỗ bí mật thật ra là truyền thống Ấn Ðộ. Người ta còn kể lại rằng, Long Thụ đã nhận được kinh điển từ Long vương (s: nāga) trao cho và có trách nhiệm truyền bá giáo pháp ấy.|Tông phái có nhiều Ter-ma nhất của Tây Tạng là Ninh-mã (nyingmapa), mà phần quan trọng nhất do Liên Hoa Sinh (padmasambhava) và nữ đệ tử là Ye-she Tsog-yel (t: yeshe tsogyel) truyền lại. Các bí lục này không chỉ gồm giáo pháp từ Ấn Ðộ mà của cả xứ Ô-trượng-na (t: orgyen). Tương truyền Liên Hoa Sinh đã dấu các tác phẩm này trong 108 chỗ bí mật tại Tây Tạng, trong các hang hốc hay tranh tượng. Một trong những bí lục quan trọng đó là hồi kí cuộc đời của Liên Hoa Sinh cũng như bộ Tử thư (t: bardo thodol). Ngoài ra các tài liệu về thiên văn và y học cũng được xem là Ter-ma.|Khoảng giữa thế kỉ 10 và 14, nhiều vị nhận được khải thị tìm thấy Ter-ma, thường thường là khải thị trong giấc mộng hoặc linh ảnh. Các vị đó có trách nhiệm tìm kiếm, xếp đặt lại và luận giải thêm về các Ter-ma đó. Trong trường phái Ninh-mã, người ta rất trọng thị các vị Ter-ton (người tìm ra các Ter-ma), nhất năm vị »vua tìm thấy báu vật« mà một trong năm vị đó là Org-yan Pe-ma Ling-pa (1445-1521), được xem là hậu thân của Long-chen-pa. Có khi một Ter-ma vừa tìm ra được lại phải dấu kín lại vì chưa đến lúc công bố. Các Ter-ma đó được gọi là »của báu phải dấu hai lần.«

Tha

他; C: tā; J: ta;|Có các nghĩa sau: 1. Kia, cái khác (s: para); 2. (Một) người khác (s: para-puruṣa); 3. Trong ngôn ngữ Thiền, đó là nhân vật đang được đề cập đến trong cuộc nói chuyện, nhân vậy thứ 3 (ông ấy, cô ấy); 4. Tiếng dùng để chuyển âm tha trong tiếng Phạn (sanskrit).

tha

1) Khác: Another—Other—The other. 2) Mài: To polish. 3) Tha tội: To pardon—To forgive—To condone—To excuse—To condole—To forgive someone. 4) Ông ấy, bà ấy, hay cái ấy: He, she, it. ; (他) I. Tha. Chỉ cho chữ (tha), 1 trong 50 chữ cái, 1 trong 42 chữ cái Tất đàm. Chữ này có 3 cách giải thích: 1. Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính (Đại 18, 338 hạ) nói: Chữ Tha nghĩa là trụ xứ của tất cả pháp bất khả đắc. Y cứ vào đây ta biết chữ Tha có nghĩa là trụ xứ là do nghĩa trụ xứ của tiếng Phạm Tát tha na (Phạm:Sthàna) mà ra. 2. Phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù vấn (Đại 14, 509 hạ) nói: Khi đọc chữ Tha (đà) thì âm thanh ấy có thế lực tiến đến sự vô úy. Chữ Tha ở đây được giải thích theo chữ đầu của chữ thàma-balaô nghĩa là thế lực. 3. Phẩm Như lai tính trong kinh Niết bàn quyển 8 (Đại 12, 413 hạ) nói: Tha nghĩa là ngu si. Chúng sinh trôi lăn, sinh tử trói buộc, như tằm, bọ hung. Do đó mà biết chữ Tha cũng có nghĩa là ngu si, tức giải thích từ tục ngữ thì naô mà ra. [X. phẩm Nhập pháp giới tứ thập nhị tự quán môn trong kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm; kinh Đại bát nhã Q.490; phẩm Thị thư trong kinh Đại trang nghiêm; phẩm Quảng thừa trong luận Đại trí độ Q.48]. II. Tha. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong đối luận Nhân minh, người lập luận dùng tác pháp 3 chi: Tông (mệnh đề), Nhân(lí do), Dụ(thí dụ) để kiến lập Tông của mình, gọi là Tự (người lập luận), còn những người ngoài người lập luận thì gọi là Tha (người khác). Tha bao gồm người vấn nạn và người chứng nghĩa. - Người vấn nạn: là người đối lập với người lập luận. Đối lập ở đây không phải chỉ riêng người có ý kiến tương phản để tranh luận với người lập luận mà phàm những ai còn có ý kiến chưa nhất trí với ý kiến của người lập luận thì đều được xếp vào phía đối lập, vì thế phạm vi của Tha rất rộng, chẳng những chỉ bao gồm người tranh luận với người lập luận mà còn bao gồm cả người chất nghi vấn nạn, lại cũng bao gồm cả người mà đối với lí chưa sáng tỏ, còn cần người lập luận phải giải thích. - Người chứng nghĩa: theo lệ thường của các cuộc biện luận ở Ấn độ thì khi người lập luận và người địch luận tranh biện với nhau, phải có người thứ 3 làm trọng tài để phán quyết phải, trái và thắng, thua; người thứ 3 ấy chính là người Chứng nghĩa. ; (他) Cũng gọi Xa, Xước, Sát, Sa, Ta, Trùng, Thả.Chỉ cho chữ ( ) (cha), 1 trong 50 chữ cái, 1 trong 42 tự môn Tất đàm. Có nhiều thuyết về ý nghĩa của chữ này. Nghĩa bóng dáng của tất cả pháp bất khả đắc. Thuyết này là do chữ Phạm Chàyà (Hán âm: Xa dã) có nghĩa là cái bóng mà ra. Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 652 hạ) nói: Chữ Phạm Xa dã (Chàyà) nghĩa là cái bóng, như bóng của người ta đều nương vào thân mình, muôn pháp trong 3 cõi cũng như thế chỉ là do nhân duyên tâm thức biến hiện mà giống như có các cảnh (...), hoặc thấy được sắc thân của chư Phật hiển hiện trong 10 phương thì cũng đều là bóng dáng của tâm. Vì tâm vốn không sinh, nên biết bóng dáng cũng không có chỗ sinh; bởi không có chỗ sinh nên tâm chẳng dời đổi, bóng dáng cũng không dời đổi, sở dĩ như thế là vì bóng dáng không có tính chất nhất định, mọi cử chỉ hoàn toàn tùy thuộc nơi thân, bóng dáng của tâm cũng vậy. Vì tâm dong ruổi hí luận, không một niệm dừng nghỉ nên muôn vàn công dụng trong thế gian cũng theo đó mà trôi lăn. Nếu khi rõ được tướng như thực của tâm thì tướng của bóng dáng cũng như thực, cho nên là bất khả đắc. Nghĩa ham muốn thú vui che lấp chân tính. Thuyết này là do chữ Phạm Chattra (Hán âm: Sai đát la) có nghĩa là muốn và che đậy mà ra. Tứ thập nhị tự quán môn trong phẩm Nhập phápgiới, kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm (Đại 19, 708 trung) nói: Khi quán tưởng chữ Tha thì vào môn tu hành gia hạnh tàng cái sai biệt đạo tràng Bát nhã ba la mật, rõ biết tất cả pháp ham muốn các thú vui che lấp chân tính là bất khả đắc. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 8 (Đại 12, 413 hạ) nói: Chữ Xa có nghĩa Như lai che mát cho tất cả chúng sinh, giống như cây lọng lớn. Nghĩa đi. Thuyết này là do tiếng Phạm Gaccha (Hán âm: Già xa) có nghĩa là đi mà ra. Luận Đại trí độ quyển 48 (Đại 25, 408 hạ) nói: Nếu nghe chữ Xa thì biết tất cả pháp đều không có chỗ đi. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.8; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.10; kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.4; phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng; phẩm Phổ hiền hạnh nguyện trong kinh Hoa nghiêm Q.31; kinh Phóng quang bát nhã Q.4; kinh Phổ diệu Q.3; kinh Bất không quyến sách thần biến chân ngôn Q.14].

tha bảo

Những thứ quý giá của người khác—The valuables of another person—Other valuables.

tha bổng

To discharge—To acquit.

tha cho

See Tha.

tha di phẩm

(他异品) Tiếng dùng trong Nhân minh. Dị phẩm chỉ cho phẩm loại khác với tông nghĩa (ý nghĩa của mệnh đề). Trong luận thức Nhân minh, Dị phẩm nếu chỉ được người lập luận(Tự) chấp nhận, còn người vấn nạn(Tha) không chấp nhận thì gọi là Tha dị phẩm. Tha dị phẩm chính là Tự đồng phẩm. (xt. Cộng Đồng Phẩm, Tự Đồng Phẩm).

tha duyên

(他緣) Chỉ cho các duyên chủ động (năng) trong thuyết Duyên khởi của Phật giáo. Tính không duyên khởi là 1 trong các lí luận cơ bản của Phật giáo, tất cả sự vật đều không có tự tính, đó là Tính không; tất cả sự vật được hình thành đều do các duyên hòa hợp mà sinh khởi, đó là Duyên khởi. Trong pháp duyên khởi, pháp sở khởi (được khởi lên = bị động) là Tự(mình), các duyên năng khởi(làm cho khởi lên = chủ động) là Tha(người, nó, khác), cho nên gọi là Tha duyên. Thích môn qui kính nghi quyển thượng (Đại 45, 856 thượng) nói: Thân ta thuộc về tha duyên, mờ mịt chẳng biết từ đâu đến.

tha duyên đại thừa tâm

(他緣大乘心) Cũng gọi Tha duyên đại thừa trụ tâm, Vô duyên thừa tâm. Chỉ cho tâm Bồ tát đem lòng từ bi vô duyên (vô điều kiện) gia bị tất cả chúng sinh, là Trụ tâm thứ 6 trong 10 Trụ tâm do tông Chân ngôn Nhật bản thành lập. Luận Thập trụ tâm quyển 6 (Đại 77, 337 thượng) nói: Duyên các hữu tình trong pháp giới nên gọi là Tha duyên; phân biệt với xe dê, xe nai của Thanh văn, Độc giác nên gọi là Đại; vận chuyển mình và người về tính Viên giác nên gọi là Thừa. Đó là hành nghiệp của người quân tử, là dụng tâm của hàng Bồ tát. Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 18, 3 trung) nói: Hạnh Đại thừa phát tâm vô duyên thừa, pháp vô tự tính. Tiếng Phạm của chữ Vô này là màpara (Hán âm: Mãng bát la) bao hàm 2 nghĩa vô và tha, cho nên có 2 cách giải thích là Tha duyên thừa và Vô duyên thừa. Ngài Không hải dựa theo Sở kí tề đem tâm Vô duyên thừa phối hợp với giáo ý của Pháp tướng Đại thừa. Nếu nói theo Năng kí tề của hành giả Chân ngôn thì tâm Vô duyên thừa tương đương với giai vị Pháp vô ngã vô úy, thứ 5 trong 6 Vô úy, tức dùng các pháp tu hành như huyễn mà đi sâu vào pháp không, trụ nơi tâm vô duyên để xa lìa sự trói buộc của các pháp. Nói theo 10 Trụ tâm thì trong Trụ tâm thứ 5 vừa nói trên đã xa lìa sự trói buộc của 5 uẩn, nhưng vẫn chưa phát khởi bi nguyện, đến Trụ tâm này mới vào Bồ tát phần, theo thứ tự biết rõ lí Tâm vốn không sinh mà dần dần tiến lên Trụ tâm thứ 7. Ở giai vị trung gian chính là Tha duyên đại thừa tâm của Trụ tâm thứ 6. [X. Đại nhật kinh sớ Q.2, 3; Bí tạng bảo thược Q.hạ]. (xt. Thập Trụ Tâm).

tha giới

(他界) Phạm: Para-loka. Cũng gọi Tha thế, Tha độ. Chỉ cho các thế giới khác ngoài thế giới này.Theo thuyết luân hồi, khi chúng sinh hữu tình chưa được giải thoát thì phải thụ sinh trong các thế giới địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, Tu la, cõi người và cõi trời. Bởi vậy, đối với thế giới loài người mà nói, các thế giới khác đều gọi là Tha giới. Do những hành vi thiện ác ở đời này mà sau khi chết, con người sẽ thụ sinh trong các thế giới khác (Tha giới), nhưng người đã sinh về Tịnh độ thì sẽ không còn rơi trở lại vào thế giới luân hồi trừ nguyện độ sinh.Thông thường nói sinh về thế giới khác là chỉ cho sau khi chết. Chỉ có những người có đầy đủ năng lực thần thông mới có thể đến các thế giới khác lúc đang còn sống. Như kinh Tăng già la sát sở tập quyển hạ ghi đức Phật đã hiển hiện những việc lạ, Ngài lên cõi trời Đao lợi trải qua 2 mùa mưa; kinh Tạp a hàm quyển 40, phần 10, thuật lại việc ngài Mục liên lên cõi trời Ba mươi ba nói pháp cho trời Đế thích nghe. Ngoài ra còn có các vị Trưởng lão, tỉ khưu qua lại các cõi trời và địa ngục... một cách tự tại. [X. kinh Văn thù sư lợi bát niết bàn; kinh Đại bi Q.4; Ấn độ Phật giáo học nghiên (Tiền điền Huệ học)].

Tha hoá tự tại thiên

他化自在天; C: tāhuà zìzài tiān; J: takejizai ten;|Cõi trời nơi mà chư thiên ở đó có thể hưởng được sự khoái lạc nhờ vào việc tạo khoái lạc từ các cõi trời khác, đó cũng là nơi Thiên ma Ba-tuần cư ngụ (s: para-nirmita-vaśa-vartino-devāḥ). Đó là cõi thứ 6 của Lục dục thiên (六欲天).

tha hoá tự tại thiên

(他化自在天) Tha hóa tự tại, Phạm: Para-nirmitavaza-vartin. Pàli: Para-nimmita-vasa-vattin. Hán âm: Ba la ni mật hòa da việt trí, Ba la ni mật, Ba la duy ma bà sa, Sa xá bạt đề. Cũng gọi Tha hóa lạc thiên, Tha hóa tự chuyển thiên, Hóa ứng thanh thiên. Gọi tắt: Tự tại thiên, Tha hóa thiên, Hóa tha thiên. Chỉ cho tầng trời thứ 6 trong 6 tầng trời của cõi Dục. Người cõi trời này lấy những việc vui thú do người khác hóa ra làm niềm vui của mình, cho nên gọi là Tha hóa tự tại thiên. Luận Đại trí độ quyển 9 (Đại 25, 122 thượng) nói: Cõi trời này lấy những việc do người khác hóa ra để tự vui, cho nên gọi là Tha hóa tự tại. Tức là được tự tại trong các việc do người khác hóa ra. Vị trời này đứng đầu cõi Dục, cũng như trời Ma hê thủ la đứng đầu cõi Sắc, đều là các ma vương nhiễu hại Chính pháp, là Thiên ma trong 4 loại ma, được gọi là Thiên ma vương thứ 6. Cứ theo phẩm Đao lợi thiên trong kinh Trường a hàm quyển 20, trên từng trời thứ 6, có riêng một cung điện Thiên ma, rộng 6 nghìn do tuần. Luận Đại trí độ quyển 5 (Đại 25, 99 trung) nói: Ma có 4 loại (...), loại thứ 4 là Tha hóa tự tại thiên tử ma..Cõi trời này là cõi cao nhất trong 6 tầng trời của cõi Dục, ở trên tầng mây dày đặc cách mặt biển 128 vạn do tuần, rộng 8 vạn do tuần, đồng với cõi trời Đao lợi. Ở cõi trời này có các loại hoa mọc dưới nước như hoa sen và các loại hoa mọc trên đất liền như hoa giải thoát... Cõi trời này có 3 việc hơn hẳn cõi Diêm phù đề, đó là: Sống lâu, xinh đẹp và nhiều thú vui. Chúng trời cõi này sống tới 16.000 tuổi, 1 ngày đêm ở đây bằng 1.600 năm ở nhân gian. Tuy nhiên, cũng có những người chết yểu nửa chừng. Người cõi trời này cao 16 do tuần, hoặc 1,5 Câu lô xá, áo dài 32 do tuần, rộng 16 do tuần, nhưng chỉ nặng nửa thù (bằng 100 gam). Ăn thức ăn tự nhiên, nam nử chỉ nhìn nhau mà thành dâm; khi muốn có con thì con liền hóa sinh ra trên đầu gối. Lúc mới sinh ra, đứa con này đã to bằng đứa trẻ 10 tuổi ở nhân gian, vóc dáng tròn đầy, y phục có đủ. Theo sự miêu tả trong các kinh thì cảnh tượng của cõi trời này rất trang nghiêm. Hơn nữa, trong 7 nơi 8 hội của kinh Hoa nghiêm thì hội Tha hóa tự tại thiên cung thứ 6 được nói ở cõi trời này; rồi hội Tha hóa tự tại thiên cung thuyết Bát nhã lí thú phần trong 4 nơi 16 hội của kinh Bát nhã cũng được tuyên thuyết ở cõi trời này. Ngoài ra, trong Mật giáo, trời Tha hóa tự tại được an vị ở phía tây bắc của viện Ngoại Kim cương bộ trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới. Hình tượng là thân màu da người, ngồi xếp bằng, tay phải cầm mũi tên, tay trái co 3 ngón, cầm cung. Chủng tử là (paô), hình Tam muội da là cung tên trên lá sen. [X.phẩm Xuất gia trong kinh Tu hành bản khởi Q.hạ; luận Câu xá Q.8, 11; luận Lập thế a tì đàm Q.6; Pháp uyển châu lâm Q.2, 3].

Tha hóa tự tại

xem cõi trời thứ sáu.

tha hóa tự tại thiên

Paranirmita-Vasavartin (skt)—Bà Xá Bạt Đề—Bà La Ni Mật Bà Xá Bạt Đề Thiên—Bà Na Hòa Đề—Cõi trời thứ sáu trong sáu cõi trời dục giới (đệ lục thiên), nơi trú ngụ của Ma Hê Thủ La Thiên và Ma vương—The sixth of the six heavens of desire, or passion-heavens, the last of the sixth devalokas, the abode of Mahesvara (Siva), and of Mara.

tha hồ

As one please—At will—Without control or limitation.

tha hứa

(他許) Tiếng dùng trong Nhân minh. Tha chỉ cho người vấn nạn, người chứng nghĩa. Hứa là chấp nhận. Tức những lời nói hoặc ý kiến do người lập luận đưa ra đều được người vấn nạn và người chứng nghĩa chấp nhận thì gọi là Tha hứa.

tha hữu tự vô thể

(他有自無體) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, Thể (tiền trần, chủ từ) được người vấn nạn thừa nhận là có thật nhưng người lập luận không thừa nhận là có thật, thì gọi là Tha hữu tự vô thể.

tha kỷ

Người và ta—Another and oneself—Both he and I.

tha lợi lợi tha

(他利利他) Người lợi lợi người. Tức làm lợi cho người có 2 ý nghĩa sâu xa là người lợi và lợi người khác nhau. Luận Tịnh độ của ngài Thế thân (Đại 26, 233 thượng) nói: Bồ tát tu hạnh 5 môn như thực, lợi mình lợi người, mau được Vô thượng chính đẳng chính giác. Vãng sinh luận chú quyển hạ của ngài Đàm loan (Đại 40, 843 hạ) giải thích: Tu hạnh 5 môn để thành tựu việc lợi mình lợi người, nhưng xét tìm đến gốc nguồn của việc này thì đức Phật A di đà là tăng thượng duyên. Bàn về tha lợi và lợi tha thì có 2 phương diện. Nếu đứng về phương diện Phật mà bàn thì nên nói là lợi tha; còn đứng về phía chúng sinh mà bàn thì nên nói là tha lợi. Bởi vì 4 môn trước của 5 môn công đức nói trong luận Tịnh độ mục đích là nêu bày pháp môn tự lợi của chúng sinh; thuộc về công đức Nhập; còn môn thứ 5 thì nêu bày pháp môn lợi tha, tức sau khi đã vãng sinh Tịnh độ thì nên trở lại thế giới Sa bà để cứu độ những chúng sinh khổ não, đây là thành tựu hạnh lợi tha, thuộc về công đức Xuất. Ngài Đàm loan căn cứ vào đây mà nói rằng sở dĩ chúng sinh thành tựu hạnh tự lợi, lợi tha đều là nhờ vào việc lấy bản nguyện của đức Phật A di đà làm tăng thượng duyên. Bởi thế biết sự lợi tha của chúng sinh và sự lợi tha rộng lớn của Phật A di đà có khác nhau. Do đó, để phân biệt mới gọi sự lợi tha của chúng sinh là Tha lợi, còn sự lợi tha của đức Phật A di đà thì gọi là Lợi tha. Văn trong luận Tịnh độ nêu trên, không nói Tự lợi, tha lợi mà nói Tự lợi lợi tha. Tha lợi lấy việc chúng sinh được lợi ích làm chính, sức của người thực thi khó hiển bày; còn nói Lợi tha thì nói rõ việc làm lợi ích chúng sinh mà hiển bày sức của người thực thi, trong đó cũng bao hàm sức từ bi của Phật. Tịnh độ chân tông của Nhật bản lấy đây làm 1 trong các luận đề tông thừa của mình. [X. Vãng sinh luận chú kí Q.5; Luận chú phục tông kí Q.6]. (xt. Ngũ Niệm Môn).

Tha lực

他力; C: tālì; J: tariki; là lực từ bên ngoài, lực của người khác;|Tha lực ở đây được hiểu là sức cứu độ của Phật A-di-đà, mà theo quan điểm của Tịnh độ tông là vị sẽ tiếp dẫn những ai cầu xin Ngài. Tha lực được dùng đối ngược lại từ Tự lực (自力). Thiền tông là một môn phái dựa trên tự lực.

tha lực

Sức mạnh của người khác, đặc biệt là của Phật và Bồ Tát mà hành giả đạt được bằng niềm tin cứu độ trong giáo lý Đại Thừa—Other power—The power or stregth of another, especially that of a Buddha or Bodhisattva, obtained through faith in Mahayana salvation. ; (他力) Đối lại: Tự lực. Sức giúp đỡ của người khác. Tức ngoài năng lực của chính mình, còn đặc biệt nhờ năng lực cứu giúp của Phật và Bồ tát mà được độ giải thoát. Tông Tịnh độ nói: Chỉ dùng sức mình để cầu Thánh đạo mà không nhờ năng lực của Phật thì không thể nào đạt được giải thoát. Ví như mong được cảm ứng đạo giao cũng là 1 trường hợp về tha lực. Giáo pháp chủ trương nương nhờ tha lực để thành Phật gọi là Tha lực giáo, Tha lực tông, như tông Tịnh độ, Tịnh độ chân tông và Thời tông của Nhật bản. Trái lại, giáo pháp chủ trương dùng tự lực để đạt giải thoát gọi là Tự lực giáo, Tự lực tông, như các tông Thiên thai, Hoa nghiêm, Mật, Thiền, Pháp tướng, Nhật liên Nhật bản... đều là Tự lực tông. Ngoài ra, sức bản nguyện và sức gia bị của Phật chính là Tha lực, trong đó, đặc biệt sức bản nguyện của đức Phật A di đà thường giúp chúng sinh thành Phật. Thệ nguyện của Ngài là: Chỉ nguyện tin ta sẽ được vãng sinh về cõi ta và khiến thành Phật đạo, cho nên người bỏ tự lực mà tin Di đà thì tương ứng với bản nguyện này. Tín tâm này chính là Tha lực. Tại Trung quốc, từ sau khi tư tưởng vãng sinh hưng khởi thì dần dần coi trọng việc giải thích về tha lực, như ngài Đàm loan đã y cứ vào Nan dị nhị đạo của bồ tát Long thụ mà phán lập thuyết Nan hành đạo và Dị hành đạo. Dị hành đạo là phương pháp tu hành nương vào nguyện lực của Phật hoặc tha lực gia trì của Phật lực để vãng sinh thành Phật. Về sau, các ngài Trí khải, Thiện đạo, Hoài cảm... cũng đều soạn sách lập thuyết để đề xướng giáo pháp Tha lực. Luận Tịnh độ quyển trung (Đại 47, 91 thượng) nói: Bản nguyện Di đà là duyên tăng thượng. [X. Đại bảo tích kinh luận Q.1; Thập địa kinh luận Q.1; luận Tịnh độ thập nghi; Vãng sinh luận chú Q.thượng (Đàm loan); An lạc tập Q.thượng].

tha lực bản nguyện

(他力本願) Tha lực hàm ý là bản nguyện. Nghĩa là tất cả chúng sinh nếu nương nhờ vào sức bản nguyện của Phật A di đà thì đều được cứu độ, sinh về Cực lạc phương Tây. Quán kinh sớ tán thiện nghĩa của ngài Thiện đạo (Đại 37, 271 trung) nói: Một lòng tin sâu 48 nguyện của đức Phật A di đà nhiếp thụ chúng sinh, quyết định không nghi, nương vào nguyện lực của Ngài, chắc chắn được vãng sinh. Đây nói 48 nguyện của Phật A di đà tức là tha lực. Cũng có khi Tha lực bản nguyện là chỉ riêng cho nguyện niệm Phật vãng sinhthứ 18. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ].

tha lực niệm phật

Tin tưởng và niệm hồng danh Phật để vãng sanh, đặc biệt là Phật A Di Đà—Trusting to and calling on the Buddha, especially Amitabha. ; (他力念佛) Đối lại: Tự lực niệm Phật. Dốc toàn lực vào sức bản nguyện của Phật A di đà để xưng danh niệm Phật, xưng danh niệm Phật như vậy gọi là Tha lực niệm Phật. Trái lại, nếu dùng tự lực để cầu khơi mở trí tuệ, chứa góp công đức, thì xưng danh niệm Phật, hoặc quán niệm niệm Phật như thế đều gọi là Tự lực niệm Phật.

tha lực thất dụ

(他力七喻) Chỉ 7 thí dụ về tha lực. Tức dùng 7 thứ thí dụ để ví dụ việc nương nhờ vào tha lực bản nguyện của đức A di đà mà được vãng sinh Tịnh độ. Đại khái 7 thí dụ đều nói lên sức không thể nghĩ bàn của chư Phật, giống như 7 việc sau đây không thể dùng trí của thường tình mà suy lường tính toán được. Theo An lạc tập quyển thượng, 7 thí dụ ấy là: 1. Như trăm người xếp củi thành đống trong 100 năm, cao đến 1000 nhận, nhưng lửa chỉ đốt trong nửa ngày là hết sạch. 2. Như thuyền chở người, nhờ sức gió thổi vào cánh buồm mà 1 ngày có thể đi nghìn dặm. 3. Như người gặp vật quí, đem dâng vua mà được trọng thưởng, bỗng chốc trở nên giàu có. 4. Như người đau yếu, thậm chí không thể leo lên lưngconlừa, nhưng nếu đi tháp tùng Luân vương thì có thể bay lướt trong hư không. 5. Như sợi dây to lớn, cả nghìn người không bứt được, nhưng 1 đứa trẻ cầm kiếm, chặt 1 nhát liền đứt. 6. Như lông con chim trấm rơi xuống nước thì cá tôm đều chết, nhưng con tê ngưu xuống bùn thì cá tôm nào chết đều sống lại, do đó mà biết mệnh sống tuy đã dứt nhưng nếu nương nhờ vào sức bất khả tư nghị thì vẫn có thể sống lại. 7. Như Tử an chết nằm dưới mộ đã nghìn năm, vậy mà Thiên nga gọi thì liền sống lại. Bảy thí dụ nói trên đều hiển bày tất cả muôn pháp đều có tự lực tha lực, tự nhiếp tha nhiếp, nghìn mở muôn đóng, vô lượng vô biên, không thể dùng kiến thức hữu hạn của con người mà biết được các pháp vô ngại ấy. [X. Lược luận an lạc tịnh độ nghĩa; Vãng sinh yếu tập Q.hạ].

tha lực tông

Tông chỉ của những người tin vào tha lực mà vãng sanh, đối lại với những người tự cứu độ bằng sức của chính mình (Tự Lực Tông)—Those who trust to salvation by faith, contrasted with those who seek salvation by works, or by their own strength.

tha lực vãng sinh

(他力往生) Chỉ cho việc chúng sinh nương nhờ vào tha lực bản nguyện của đức Phật A di đà mà được vãng sinh Tịnh độ. Đây là giáo nghĩa tông Tịnh độ.

tha mạng

To spare someone's life.

tha nga niệm phật

(嵯峨念佛) Cũng gọi Tha nga đại niệm Phật. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Tại Nhật bản, hàng năm, trong khoảng thời gian 10 ngày từ ngày mùng 6 đến ngày 15 tháng 3 âm lịch, chùa Thanh lương ở Tha nga, Nhật bản, có cử hành hội niệm Phật dung thông, được gọi là Tha nga niệm Phật, tương truyền do ngài Viên giác sáng lập vào năm 1279. Khi niệm Phật thì vừa niệm vừa đánh trống gõ chiêng. Sau khi niệm Phật thì mang mặt nạ để diễn kịch câm và đi diễu hành trên đường phố.

Tha Nga Thanh Lương Tự

(嵯峨清涼寺, Sagaseiryō-ji) hay Thanh Lương Tự (清涼寺, Seiryō-ji): ngôi chùa của Tịnh Độ Tông, hiện tọa lạc tại số 46 Sagashakadōfujinoki-chō (嵯峨釈迦堂藤ノ木町), Sakyō-ku (右京區), Kyōto-shi (京都市), Kyōto-fu (京都府); hiệu núi là Ngũ Đài Sơn (五台山), thường được gọi là Tha Nga Thích Ca Đường (嵯峨釋迦堂). Tượng thờ chính của chùa là Thích Ca Như Lai (quốc bảo). Ban đầu chùa thuộc về Hoa Nghiêm Tông, rồi sau đến Thiên Thai, Chơn Ngôn, Niệm Phật Tông, nhưng hiện tại thì thuộc về Tịnh Độ Tông. Ngôi chùa này nguyên sơ là sơn trang của Hoàng Tử Nguyên Dung (源融), con của Tha Nga Thiên Hoàng (嵯峨天皇, Saga Tennō, tại vị 809-823), sau đó được cải thành chùa với tên là Thê Hà Tự (棲霞寺). Đến năm 987 (niên hiệu Vĩnh Diên [永延] thứ nhất), vị Tăng Điều Nhiên (奝然) lấy bức tượng Thích Ca đem từ nhà Tống về tôn trí tại đây, sau đó vào năm 1016, khi Điều Nhiên qua đời, thì cao đệ là Thạnh Toán (盛算) mới theo di chí của sư huynh mà tiếp tục khai sáng chùa. Nguyên bản tên chùa Thê Hà Tự hiện vẫn còn lưu lại ở A Di Đà Đường. Tượng Thích Ca đứng bằng gỗ ở chùa này cao 6 mét, có hình tướng đặc dị nhất ở Nhật, tương đương với tượng Phật ở Mathura, Ấn Độ, là loại tượng gỗ bằng Chiêu Đàn. Tượng thờ chính của chùa là A Di Đà Phật, một danh tác vào đầu thời đại Đằng Nguyên, được gọi là Tha Nga Quang Phật (嵯峨光佛). Chùa này cũng đã mấy lần bị hỏa tai cháy rụi, các đường vũ hiện tại là những kiến trúc do vị trú trì Nghiêu Trấn Hòa Thượng (堯鎭和上) tái tạo nên theo mệnh lệnh của Tướng Quân Đức Xuyên Cương Cát (德川綱吉, Tokugawa Tsunayoshi) vào khoảng niên hiệu Văn Lộc (文祿, 1592-1596). Quần thể kiến trúc hiện tại của chùa có Chánh Điện, Tàng Kinh Các, Dược Sư Đường, Linh Bảo Tháp, Sơn Môn, Cổ Tháp, v.v. Chùa còn lưu giữ nhiều bảo vật thuộc dạng quốc bảo hay tài sản văn hóa trọng yếu như tượng đứng Thích Ca Như Lai, bằng gỗ, do Điều Nhiên tạc nên vào năm 985 tại Khai Nguyên Tự (開元寺) ở Đài Châu (台州), khi đang còn ở bên nhà Tống cầu pháp; tượng ngồi A Di Đà Tam Tôn, bằng gỗ, nguyên lai là tượng thờ chính của Thê Hà Tự, được hoàn thành vào năm 896, nhân lễ Húy Kỵ của Hoàng Tử Nguyên Dung; 16 bức tranh màu trên lụa tượng Thập Lục La Hán, v.v.

Tha Nga Thiên Hoàng

(嵯峨天皇, Saga Tennō, tại vị 809-823): vị Thiên Hoàng sống đầu thời Bình An, hoàng tử của Hoàn Võ Thiên Hoàng (桓武天皇, Kammu Tennō), tục danh là Thần Dã (神野, Kamino). Ông đã từng biên tập bộ Hoằng Nhân Cách Thức (弘仁格式), Tân Soạn Tánh Thị Lục (新撰姓氏錄), rất sở trường về văn chương Hán Thi, và soạn nên bộ Văn Hoa Tú Lệ Tập (文華秀麗集), Lăng Vân Tập (菱雲集). Ngoài ra, ông lại rất giỏi về Thư Đạo.

Tha ngộ

他悟; C: tāwù; J: tago;|Được người khác đánh thức; giác ngộ qua sự giúp đỡ của người khác.

tha nhiếp

(他攝) Đối lại: Tự nhiếp. Tha lực thu nhiếp, giữ gìn, 1 trong 2 nhiếp. Nhiếp là nhiếp trì, nghĩa là nhờ tha lực của Phật và Bồ tát nhiếp trì mà thành tựu việc tu hành, chứng được đạo quả. Tha nhiếp đồng nghĩa với Tha lực, nhưng Tha lực là gọi theo thể, còn Tha nhiếp thì gọi theo dụng; tất cả pháp tu hành đều có tự lực tha lực, tự nhiếp tha nhiếp. (xt. Tha Lực).

tha nhân

other people.

tha phương bạch y bồ tát viện

(他方白衣菩薩院) Tòa viện ở trong tinh xá Kì viên, Ấn độ.Khi các Bồ tát tại gia ở thế giới phương khác từ xa đến lễ bái đức Thế tôn thì trước vào nghỉ ngơi ở viện này, sau đó mới đến bái kiến Thế tôn. [X. kinh Trung thiên trúc Xá vệ quốc Kì hoàn tự đồ].

tha ra

To let go—To set free—To free.

tha sinh

Tha Thế—Đời khác hay thế giới khác, hoặc đời trước hoặc đời sau—Another life or another world, either previous or after this. ; (他生) Đối lại: Kim sinh, Tự sinh. Đời khác. Chỉ cho đời quá khứ, vị lai. Không phải tự sinh mà nương vào nguyên nhân khác để tự sinh, cũng gọi là Tha sinh.

Tha sự

他事; C: tāshì; J: taji;|Có các nghĩa: 1. Việc khác, chuyện của người khác; 2. Hoạt động của các yếu tố khác.

tha thiết khuyên răn

To admonish earnestly.

tha thắng tội

Ba La Di—Tội nặng của Tỳ Kheo (thiện căn bị ác pháp lướt thắng)—Overcome by specific sin, any of the four parajikas, or sins of excommunication.

tha thế

(他世) Đối lại: Hiện thế, Kim thế. Đời khác. Tức chỉ cho đời quá khứ hoặc đời vị lai. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 342 thượng) nói: Bỏ mình, đời sau(tha thế) chắc chắn sẽ sinh cõi tịnh, tâm không còn ngờ. (xt. Tha Giới).

tha thọ dụng độ

Báo Độ của Phật trong đó chúng sanh nhận và tuân giữ theo chân lý của Ngài—Reward land of a Buddha or Buddhaksetra, in which all beings receive and obey his truth. ** For more information, please see Báo Độ.

Tha thụ dụng thân

他受用身; C: tā shòuyòng shēn; J: taju-yūshin;|Có các nghĩa sau: 1. Thân hiện tại của đức Phật, xuất hiện vì lợi ích của chúng sinh. Một trong bốn thân của một vị Phật-đà. Là phần bổ sung của Tự thụ dụng thân (自受用身); 2. Thân hiện diện của một vị Phật, khiến chúng sinh nhận thức và an lạc nơi Phật pháp; 3. Thân Phật hiển hiện để thuyết pháp cho những vị Bồ Tát từ địa (Thập địa) thứ nhất trở lên. Cũng được gọi là Ứng thân (應身).

tha thụ dụng độ

(他受用土) Chỉ cho cõi nước của thân Tha thụ dụng cư trú, thuộc 1 trong 4 cõi nước an trụ của Phật do tông Duy thức thành lập. Khi còn ở địa vị tu nhân, theo hạnh nguyện lợi tha và thích ứng với căn cơ lớn nhỏ, hơn kém của các Bồ tát Thập địa, đức Phật đã kiến lập cõi Thụ dụng này để các vị Bồ tát được thụ dụng pháp lạc. Vì thế nên cõi Phật này cũng có sự lớn nhỏ, hơn kém khác nhau. (X. luận Thành duy thức Q.10]. (xt. Tứ Độ).

tha thứ

See Tha.

Tha tác

他作; C: tāzuò; J: tasa;|Sự tạo tác nhờ vào những yếu tố khác.

tha tác cung dưỡng

(他作供養) Đối lại: Tự tác cúng dường. Do người khác khuyến hóa mà cúng dường, 1 trong 10 thứ cúng dường. Nghĩa là nhờ sự giáo hóa, kêu gọi, khuyến khích của người khác mà phát tâm cúng dường Phật, tháp, chùa... Còn Tự tác cúng dường là chưa được người khácgiáo hóa, kêu gọi, khuyến khích mà tự mình phát tâm cúng dường Phật, tháp, chùa... Đại thừa nghĩa chương quyển 14 (Đại 44, 742 trung) nói: Tha tác cúng dường, có chút tài vật, không nên giải đãi, giáo hóa người làm.

Tha tâm thông

他心通; C: tāxīntōng; J: tashintsū; S: para-citta-jñāna.|Khả năng siêu nhiên đọc được ý nghĩ của người khác. Một tróng sáu loại thần thông (Lục thần thông 六神通).

tha tâm thông

Divine mind—See Lục Thông (3), Ten Kinds of Wisdom, Tứ Thập Bát Nguyện, and Tha Tâm Trí. ; (他心通) Gọi Đủ: Tha tâm trí chứng thông (Phạm: Para-ceta#-paryàya-jĩànasàkwàtkriyàbhijĩà), Trí tâm sai biệt trí tác chứng thông. Cũng gọi: Quán tâm tâm số pháp trí chứng thông, Tri tha tâm thông, Tâm sai biệt thông. Chỉ cho năng lực thần thông chứng được trí tha tâm, biết rõ đúng như thực các ý nghĩ sai biệt trong tâm người khác. Tương đương với Tha tâm trí trong 10 trí, là 1 trong 5 thần thông, 1 trong 6 thần thông. Luận Tập dị môn túc quyển 15 (Đại 26, 432 trung) nói: Thế nào là Tha tâm trí chứng thông? Đáp: Đối với tâm tầm tứ (suy xét) của các hữu tình khác đều biết đúng như thực; nghĩa là có tâm tham thì biết đúng là có tâm tham, lìa tâm tham thì biết đúng là lìa tâm tham. (...) Tâm giải thoát, tâm không giải thoát đều biết đúng như thực, đó gọi là Tha tâm trí chứng thông. Theo luận Câu xá quyển 27, người muốn tu Tha tâm thông thì lấy 4 tĩnh lự căn bản của cõi Sắc làm chỗ nương, trước hết phải xét kĩ sự biến đổi trước sau xoay vần theo nhau của 2 tướng thân và tâm nơi chính mình, sau đó lại quán xét thân tâm của người khác, nếu gia hành ấy thành tựu thì biết được đúng như thực tướng tâm của người khác. [X. luận Đại tì bà sa Q.12; luận Đại trí độ Q.5, 28].

Tha tâm trí

Trí tuệ sáng suốt thấy biết được tâm niệm của người khác, cũng gọi là Tha tâm thông, một trong Ngũ thông.

tha tâm trí

Paracittajnana (skt)—Tên đủ là Trí Tha Tâm Thông hay là trí biết rõ tâm trạng của người khác —Intuitive knowledge or understanding the minds of others (all other beings). 1) Trí thứ tám trong thập trí: The eighth of the ten kinds of wisdom—See Ten Kinds of Wisdom. 2) Thần Thông thứ ba trong Lục Thông: The third of the six transcendental powers—See Lục Thông. 3) Lời nguyện thứ tám trong bốn mươi tám lời nguyện của Phật A Di Đà; Ngài nguyện không thành Phật cho đến khi nào hết thảy chúng sanh đều có được Tha Tâm Trí nầy: The eighth of the Amitabha's forty-eight vows that men and devas in his paradise should all have the joy of this power—See Tứ Thập Bát Nguyện. ; (他心智) Phạm:Para-citta-jĩàna. Cũng gọi Tri tha nhân tâm trí, Tâm sai biệt trí. Trí biết những ý nghĩ trong tâm người khác, 1 trong 10 trí. Những người đã xa lìa dục hoặc và chứng nhập thiền định căn bản của cõi Sắc trở lên thì phát được trí này. Trong 6 thần thông, trí này được gọi là Tha tâm thông. Luận Đại tì bà sa quyển 99 cho rằng Tha tâm trí lấy tutuệ làm tự tính, lấy 4 tĩnh lự căn bản làm chỗ nương, biết rõ được Dục giới hệ, Sắc giới hệ và tướng tâm vô lậu của người khác; nhờ gia hành mà chứng được trí này. Đại thừa nghĩa chương quyển 15 (Đại 44, 757 thượng) nói: Tha tâm trí, sự suy nghĩ chẳng phải của mình gọi là Tha tâm, hiểu suốt sự suy nghĩ ấy, gọi là Tha tâm trí.Trí này do pháp trí, loại trí, đạo trí và thế tục trí cấu tạo thành, chung cho cả hữu lậu, vô lậu và đều lấy pháp đồng loại làm Sở duyên, nhưng không biết được tâm của bậc ở giai vị thù thắng và tâm quá khứ, vị lai. Chỉ dùng 1 niệm hiện tại duyên theo 1 việc có thật mà nắm giữ lấy tự tướng, chứ không thể nắm giữ tâm năng duyên và hành tướng sở duyên của người khác. Lại vì chỉ có Tứ thiền, cho nên chỉ biết Dục giới hệ, Sắc giới hệ và pháp vô lậu, chứ không duyên với Vô sắc giới hệ. [X. luận Câu xá Q.26; kinh Đại bát nhã Q.489; luận Tập dị môn túc Q.7; luận Đại tì bà sa Q.109]. (xt. Thập Trí).

tha tâm trí thông

See Tha Tâm Trí.

tha tâm trí thông nguyện

(他心智通願) Chỉ cho thệ nguyện làm cho tất cả người và trời trong nước Cực lạc đều có thần thông biết được tâm niệm của người khác, là nguyện thứ 8 trong 48 thệ nguyện của Phật A di đà. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 thượng) nói: Nếu tôi thành Phật mà người và trời trong cõi nước của tôi không được trí biết tâm người khác, cho đến biết rõ ý niệm của các chúng sinh trong trăm nghìn ức na do tha cõi nước của chư Phật thì tôi không ở ngôi Chính giác.

tha tỉ lượng

(他比量) Phạm: Paràrthànumàna. Cũng gọi Tha tỷ, Vi tha tỷ lượng. Tiếng dùng trong Nhân minh. Tức là Lượng(luận thức) được thành lập theo pháp tha hứa(sự đồng ý của người vấn nạn), 1 trong 3 Tỷ lượng của Nhân minh. Y cứ vào Tự tỷ lượng mà biết 1 cách chính xác về nghĩa do chính mình (người lập luận) lập ra, lại nhằm phá đổ nghĩa do người khác thành lập mà dùng pháp được người vấn nạn đồng ý để lập Lượng thì gọi là Tha tỷ lượng. Khi lập Tha tỷ lượng thì trong Tông(mệnh đề) phải dùng từ ngữ phân biệt như Ông chấp rằng, ông cho rằng... . Tha tỷ lượng lại được chia nhỏ thành 3 loại khác nhau là Tha, Tự, Cộng. Trong đối luận, mỗi loại đều có qui định khác nhau: 1. Pháp Tha trong Tha tỷ lượng: Trong 3 chi Tông, Nhân (lí do), Dụ (thí dụ) đều dùng pháp tha hứa. 2. Pháp Tự trong Tha tỷ lượng: Trong 3 chi thì Tông dùng pháp tha hứa, còn Nhân và Dụ thì dùng pháp tự hứa (mình đồng ý). 3. Pháp Cộng trong Tha tỷ lượng: Tông và Dụ dùng pháp tha hứa, Dùng pháp Cộng hứa (cả đôi bên cùng thừa nhận). [X. Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa toản yếu]. (xt. Tam Tỷ Lượng, Tự Tỷ Lượng).

tha tội

See Tha.

tha đồng phẩm

(他同品) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, các phẩm loại có ý nghĩa giống nhau gọi là Đồng phẩm. Nếu Đồng phẩm không được người lập luận chấp nhận mà chỉ có người vấn nạn chấp nhận, thì gọi là Tha đồng phẩm. Tha đồng phẩm tức là Tự dị phẩm. (xt. Cộng Dị Phẩm, Tự Đồng Phẩm, Tự Dị Phẩm).

Tha-ga-na-pa

S: thaganapa; »Người bệnh nói dối«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem là sống trong thế kỉ 11.|Tha-ga-na-pa là người mang bệnh nói dối, vì vậy mà mọi người đều tránh xa. Lần nọ, ông gặp một Du-già sư, vị này nghe biết ông nói dối liền khuyên: »Nếu ngươi nói dối thường xuyên và nghiệp báo đến lúc chín muồi, ngươi sẽ tái sinh trong Ðịa ngục. Nói dối nhiều lần sẽ thấy quen và hậu quả là lưỡi bị chẻ làm đôi, hơi thở hôi hám…«. Nghe như vậy ông sợ quá và cũng thú nhận muốn học hỏi nhưng sự dối trá đã trở thành thói quen. Vị Du-già sư dạy ông phép quán tưởng rằng mọi sự trên đời đều là hư dối:|Vì ngươi không hề biết,|hiện tượng là dối trá,|nên ngươi mới dối trá.|Nếu ngươi biết rõ rằng,|vật biết và người biết,|đều cùng giả dối cả,|và sáu căn sáu trần,|đều cũng đang lừa dối,|ngươi tìm đâu sự thật?|Tưởng mê vọng là chân,|nên còn dính sinh tử.|Trẻ không thấy tuồng giả,|tưởng cái giả là thật,|các ngươi quay không nghỉ,|trong bánh xe sinh tử,|chẳng khác bánh xe nước,|đi lên rồi đi xuống.|Hãy quán mọi hiện tượng,|là ảo ảnh, giả tạo.|Mọi sắc thể: giả tướng,|mọi âm thanh: tiếng vọng,|và cuối cùng hãy xem|lòng tin của chính ngươi,|rằng chúng là giả tạo,|lòng tin đó cũng giả!|Sau bảy năm thiền định, vị Du-già sư lại xuất hiện và khuyên ông quán tưởng tự tính mọi sự đều là tính Không (s: śūnyatā). Sau đó Tha-ga-na-pa đạt thánh quả, chứng ngộ được Không. Bài ca ngộ đạo sau của ông bày tỏ phép vận dụng đặc biệt của Kim cương thừa, dĩ độc trị độc:|Muốn nước chảy khỏi tai,|hãy xòt nước vào tai.|Muốn thấy rõ thật tại,|quán hiện tượng đều giả.

thai

Garbha (skt)—Foetus—Embryo—The womb—Uterus.

thai cung

Thai Ngục—Thai Tạng hay tử cung được xem như là ngục thất—The womb prison, the womb regarded as a prison. ; (胎宮) Chỉ cho nơi vãng sinh của các hành giả Tịnh độ, tuy tu các công đức nhưng tâm còn ngờ vực. Thai là thai sinh, Cung là cung điện. Những hành giả tu các thiện căn mà tâm nghi hoặc thì tuy được sinh về Tịnh độ Di đà, nhưng phải ở trong hoa sen (thai hoa) chứ không được ra, trong 500 năm không được thấy Phật, nghe pháp, xa lìa tất cả thiện căn thù thắng, giống như người nằm trong thai mẹ tối tăm, nên gọi là Thai sinh; nhưng hành giảthìvẫn tự cho rằng mình đang ở trong cung điện, nên gọi là Thai cung. Cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển hạ thì cung điện mà người thai sinh ở hoặc rộng 100 do tuần, hoặc rộng 500 do tuần. Còn hội Vô lượng thọ trong kinh Đại bảo tích quyển 18 thì cho rằng các chúng sinh ở trongthai hoa có cảm tưởng giống như đang ở trong cung điện vườn rừng, vì trong đó thanh tịnh không có các thứ ô uế.[X. Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ định thiện nghĩa (Thiện đạo)].

thai hoành

(台衡) Chỉ cho ngài Trí khải và Đại sư Tuệ tư. Vì ngài Trí khải trụ ở núi Thiên thai, còn Đại sư Tuệ tư thì trụ ở núi Hành sơn thuộc Nam nhạc. Đại sư Tuệ tư là thầy, ngài Trí khải là đệ tử. Vì mối liên hệ ấy, nên người đời sau thường thuận miệng gọi chung 2 ngài là Thai Hành, cũng như người ta quen gọi chung 2 vị Động sơn Lương giới và Tào sơn Bản tịch là Tào Động vậy. Tứ giáo nghi tập giải quyển hạ (Vạn tục 102, 57 thượng) ghi: Đại sư Thanh lương Trừng quán nói rằng: Nắm lấy ý Tam quán huyền diệu của Thai Hành để làm cho Giáo hợp với chỉ thú vong ngôn, tâm đồng với tâm chư Phật, không còn cần phải tìm kiếm bên ngoài. (xt. Trí Khải, Tuệ Tư).

thai hoá tạng

(胎化藏) Một trong 8 tạng nói trong phẩm Xuất kinh của kinh Bồ tát xử thai quyển 7. Tạng nghĩa là hàm chứa. Sau khi đức Phật diệt độ, ngài A nan kết tập kinh pháp do Phật thuyết giảng, thu tập vào 8 tạng, trong đó, tạng thứ nhất gọi là Thai hóa tạng, chỉ cho pháp tạng mà Phật đã giáo hóa bằng mọi cách khi Ngài còn ở trong thai mẹ, như kinh Bồ tát xử thai chính là thuộc loại này. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.31].

thai mật

(台密) Chỉ cho Mật giáo do tông Thiên thai của Nhật bản truyền, lấy chùa Diên lịch và chùa Viên thành tại núi Tỉ duệ làm trung tâm. Vì khác với Đông tự Mật giáo (Đông mật) do ngài Không hải truyền nên gọi là Thai mật. TôngThiên thai của Nhật bản được hình thành là do kế thừa tư tưởng của 4 tông: Thai, Mật, Thiền và Luật, trong đó, ngoài việc phát triển tông nghĩa của chính tông Thiên thai ra, thì việc phát triển Mật giáo là đáng chú ý nhất. Giữa Thai mật và Đông mật có 4 điểm khác biệt chủ yếu sau đây: 1. Thai mật cho Tam thừa giáo là Hiển giáo và Nhất thừa giáolà Mật giáo; Đông mật thì cho giáo pháp do Pháp thân Đại nhật Như lai tuyên thuyết là Mật giáo, còn giáo pháp do Ứng thân Thích ca Như lai tuyên thuyết là Hiển giáo. 2. Thai mật chủ trương Viên giáo và Mật giáo là một, còn Đông mật thì chủ trương Mật giáo hơn Hiển giáo kém. 3. Thai mật cho rằng Đại nhật Như lai và Thích ca Như lai là đồng thể, còn Đông mật thì cho 2 vị là khác thể. 4. Thai mật đối với 3 bộ đại pháp: Kim cương, Thai tạng và Tô tất địa đều coi trọng; nhưng Đông mật thì chỉ xem trọng 2 bộ Kim cương và Thai tạng. Những kinh điển mà Thai mật sử dụng làm y cứ gồm có: Kinh Đại nhật 7 quyển, kinh Kim cương đính 3 quyển, kinh Tô tất địa 3 quyển, Kinh Nhất tự đính luân vương 5 quyển, kinh Du kì 1 quyển, gọi chung là Ngũ bộ mật kinh (5 bộ kinh bí mật).Thai mật có 3 lưu phái chủ yếu là : - Căn bản đại sư lưu, đại biểu là ngài Tối trừng. - Từ giác đại sư lưu, đại biểu là ngài Viên nhân. - Trí chứng đại sư lưu, đại biểu là ngài Viên trân. 1. Ngài Tối trừng được tôn xưng là Truyền giáo đại sư, đến Trung quốc vào đời Đường, theo A xà lê Thuận hiểu nhận lãnh 2 bộ đại pháp Kim cương, Thai tạng và các học thuyết ở chùa Linh nham. Sau khi trở về nước, sư tổng hợp giáo nghĩa Thiên thai và Mật tông làm nền tảng mà sáng lập tông Thiên thai Nhật bản, đặc biệt lấy Chỉ quán(Viên giáo Thiên thai), Già na (Mật giáo) làm qui củ tu học, đề xướng thuyết Viên Mậtnhấttrí(Viên giáo Mật giáo một mối). 2. Tổ thứ 4 của Thai mật là ngài Tứ giác Viên nhân cũng đến Trung quốc, theo A xà lê Toàn nhã nhận lãnh pháp Quán đính của Kim cương giới và theo A xà lê Nguyên chính học tập pháp Kim cương giới. Ngoài ra, sư còn theo A xà lê Nghĩa chân ở chùa Thanh long thụ đại pháp Thai tạng và Tô tất địa, đồng thời, theo A xà lê Pháp toàn thụ đại pháp Thai tạng. Chủ trương của sư hơi khác với thuyết của ngài Tối trừng, tức là trong Viên Mật nhất trí có một phần sai khác, do đó, sư đề xướng thuyết Lí mật sự mật, Lí đồng sựbiệt. Nghĩa là đứng về mặtLí mà nói thì Thích ca Như lai và Đại nhật Như lai là tương đồng, nhưng nói theo phương diện Sự thì có sai khác. 3. Tổ thứ 6 của Thai mật là ngài Trí chứng Viên trân cũng từng đến Trung quốc, sư theo Tam tạng Bát nhã đát la học 2 bộ Mật ấn, rồi theo Tam tạng Trí tuệ luân tu tập 2 bộ bí pháp và theo A xà lê Pháp toàn nhận lãnh 3 bộ đại pháp Thai tạng, Kim cương, Tô tất địa. Chủ trương của sư khác nhiều với thuyết của các ngài Tối trừng và Viên nhân; sư nói rõ sự sai khác giữa Viên giáo và Mật giáo, lập thuyết Hiển liệt Mật thắng (Hiển giáo kém, Mật giáo hơn). Mật giáo do 3 vị Tối trừng, Viên nhân và Viên trân truyền thừa, được gọi là Căn bản tam lưu, Thai mật tam lưu. Trong đó, ngài An nhiên (đệ tử Đại sư Viên nhân) là người tập đại thành Thai mật, sư đề xướng thuyết Lí đồng sự thắng, chủ trương Đại nhật Như lai hơn Thích ca Như lai. Dưới cửa ngài Viên nhân lại có 2 dòng phái là Từ tuệ đại sư lưu (cũng gọi Xuyên lưu) và Hoành khánh lưu(cũng gọi Tục lưu). Hoành khánh lưu là người tập đại thành về sự tướng, dòng này lại tách ra làm 8 lưu phái là: Viện tôn, Tam muội, Phật đính, Liên hoa, Vị cương, Trí tuyền, Huyệt thái, Pháp mạn, Công đức và Lê bản, gọi chung là Thai mật thập tam lưu (13 dòng Thai mật). Ngoài ra còn có danh xưng Sơn tự lục lưu(6 dòng chùa núi), tức là 3 dòng Tam muội, Huyệt thái, Pháp mạn nói trên và 2 dòng Tây sơn, Diệp thượng từ dòng Huyệt thái tách ra cùng với dòng của Đại sư Trí chứng. [X. Thai mật cửu lưu tương thừa; Hợp quán kí trong A sa phược sao; Viên mật nhị giáo danh mục; Mật giáo phát đạt chí]. (xt. Đông Mật).

thai ngoại ngũ vị

Năm giai đoạn sau khi ra khỏi bào thai của một con người—The five periods of a person after birth: 1) Hài nhi: Infancy. 2) Trẻ thơ: Childhood. 3) Thiếu niên: Youth. 4) Trung niên: Middle age. 5) Già lão: Old age. ; (胎外五位) Đối lại: Thai nội ngũ vị. Năm giai đoạn ở ngoài thai. Luận Câu xá quyển 15 chia một đời người từ sau khi sinh ra làm 5 giai đoạn là: 1. Anh hài: Từ lúc sinh ra đến khoảng 6 tuổi. 2. Đồng tử: Từ 7 tuổi đến 15 tuổi. 3. Thiếu niên: Từ 16 tuổi đến 30 tuổi. 4. Trung niên: Từ 31 tuổi đến 40 tuổi. 5. Lão niên: Từ 41 tuổi trở về sau. Luận Đại tì bà sa quyển 114 thì cho rằng Ngũ vị là Sơ sinh, Anh hài, Đồng tử, Thiếu tráng và Suy lão, tức chia ra Sơ sinh và Anh hài, hợp thiếu niên và trung niên làm Thiếu tráng, gồm 5 giai đoạn. Còn ngoại đạo Số luận thì gộp chung 2 thời thiếu niên và thời trung niên làm thời thiếu tráng, cho nên chỉ có 4 giai đoạn. [X. kinh Niết bàn Q.34 (bản Nam); luận Thuận chính lí Q.40; luận Hiển tông Q.21].

thai ngục

(胎獄) I. Thai Ngục. Chỉ cho Thai sinh trong Tứ sinh. Ví dụ những nỗi khổ mà người còn nằm trong thai mẹ phải chịu cũng giống như các nỗi khổ ở trong ngục tối, cho nên gọi là Thai ngục. II. Thai Ngục. Chỉ cho Thai cung. Bài tựa trong Quán vô lượng thọ kinh sớ (Đại 37, 186 trung) nói: Giống như vàng ngọc so với cát bùn, người ở trong thai ngục mà hướng nhìn về ao sen cũng như thế. (xt. Thai Cung).

thai nhi

See Thai.

thai noãn thấp hóa

Bốn loại sanh—The four yoni or modes of birth (womb-born, egg-born, spawn-born, and born by transformation). ** For more information, please see Tứ Sanh.

thai nội ngũ vị

Năm giai đoạn trong thai mẹ của một con người—The five periods of the child in the uterus. ; (胎內五位) Cũng gọi Kết thai ngũ vị. Đối lại: Thai ngoại ngũ vị. Chỉ cho 5 giai đoạn ở trong thai. Trong truyền thống Phật giáo, khoảng thời gian 266 ngày kể từ khi thai nhi thụ thai trong bụng mẹ đến lúc sinh ra, được chia làm 5 giai đoạn theo thứ tự như sau: 1. Yết lạt lam (Phạm:Kalala), cũng gọi Ca la la, Yết la lam. Hán dịch: Ngưng hoạt (lùng nhùng, nhơ nhớp): Chỉ cho 7 ngày đầu tiên sau khi thụ thai. 2. Át bộ đàm (Phạm: Arbuda), cũng gọi A bộ đàm. Hán dịch: Pháo, kết pháo (nốt phỏng da mọng nước): Chỉ cho khoảng 7 ngày thứ hai (14 ngày). 3. Bế thi (Phạm:Pezì), cũng gọi Tế thi, Bề thi. Hán dịch: Ngưng kết, nhục đoàn (ngưng kết lại thành cục thịt mềm nhũn): Chỉ cho 7 ngày thứ ba (21 ngày). 4. Kiền nam (Phạm: Ghana), cũng gọi Kiện nam, Yết nam. Hán dịch: Ngưng hậu, Ngạnh nhục(ngưng kết lại thành cục thịt dày và cứng): Chỉ cho 7 ngày thứ tư (28 ngày). 5. Bát la xa khư (Phạm: Prazàkha). Hán dịch: Chi tiết, Chi chi(giai đoạn bắt đầu hình thành tay chân), tức thời gian từ 7 ngày thứ 5 (35 ngày) đến 7 ngày thứ 38 (266 ngày, lúc sinh ra) sau khi thụ thai. Ngoài ra, về sự khác nhau của phần vị trong thai thì ở Ấn độ xưa nay có nhiều thuyết: Luận Du già sư địa chia làm 8 vị, Hóa địa bộ và Chính lượng bộ thì chia làm 6 vị, còn ngoại đạo Số luận thì hợp vị thứ 5 vào với vị thứ 4 mà lập thuyết 4 vị. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.30; kinh Niết bàn Q.34 (bản Nam); luận Đại trí độ Q.4; Huyền ứng âm nghĩa Q.23; Tuệ lâm âm nghĩa Q.13].

thai sanh

1) Một trong tứ sanh, thai sanh là một hình thức sanh ra từ trong thai mẹ. Trước khi có sự phân chia trai gái, chúng sanh đều ở trong tình trạng hóa sanh (về sau nầy do có tình dâm dục mà chia thành trai gái và bắt đầu có thai sanh): Uterine birth or womb-born, one of the four modes of yoni. Uterine birth is a form of viviparous birth, as with mammalia. Before the differentiation of the sexes birth is supposed to have been transformation. 2) Từ ngữ nầy cũng dành cho những người vãng sanh Cực Lạc trong những búp sen vì không có lòng tin nơi Phật A Di Đà, mà chỉ tin vào tự lực niêm Phật. Họ phải ở tại đây trong một thời gian dài mà không thấy Phật, Bồ Tát, hay Thánh chúng; cũng không nghe được giáo thuyết của Phật (kông thấy Tam Bảo). Tình trạng nầy còn được gọi là “thai cung” vì chúng sanh ở trong bụng mẹ không thấy được ánh nhật nguyệt—The term is also applied to beings enclosed in unopened lotuses in paradise, who have not had faith in the Amitabha but trusted to their own strength to attain salvation; there they remain for proportionate periods, happy, but without the presence of the Buddha, or Bodhisattvas, or the sacred host, and do not hear their teaching. The condition is also known as the womb-place.

thai tông nhị bách đề

(台宗二百題) Tác phẩm, 15 quyển, do ngài Trí chu (1659-1743) thuộc tông Thiên thai Nhật bản soạn. Nội dung sách này thu chép tất cả 207 luận đề trọng yếu về giáo nghĩa của tông Thiên thai, bao quát: 1. Tông yếu, 94 luận đề: Gồm các luận đề như: Hai đức Phật cùng xuất hiện, 8 tướng ứng thân... 2. Nghĩa Khoa, 43 luận đề: Gồm các luận đề như: Ba thân thành đạo, tính niệm xứ đoạn hoặc... 3. Vấn yếu, 70 luận đề: Gồm các luận đề như: Giáo quán bàng hệ và chính thống, hình sắc tâm pháp... Sách này được viết theo thể vấn đáp, trình bày về các luận thuyết của các ngài Thiên thai, Kinh khê... người Trung quốc và các thuyết khác của các học giả người Nhật bản.

thai tướng

(胎相) Cũng gọi là Thai tạng. Chỉ cho các lí pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên. Dùng việc thai mẹ giữ gìn nuôi nấng thai nhi để ví dụ cho líthể chân thực có đầy đủ tất cả côngđức, có khả năng nuôi nấng, giữ gìn mọi người; lại dùng việc thai nhi nằm trong bụng mẹ để ví dụ cho lý thể ẩn trong phiền não của phàm phu mà không hiện. Vĩnh bình thanh qui (Đại 82, 333 trung) ghi: Đức Phật dạy: Vì cái vui cõi trời mà tu phạm hạnh nên mắc lỗi ấy. Phật cùng Nan đà trở về rừng Thệ đa, Ngài nói rộng về thai tướng cho Nan đà nghe, nhờ đó Nan đà mới phát tâm, vì cầu giải thoát nên giữ giới và sau được quả A la hán.

thai tạng giới

Garbhadhatu (skt)—Tích Phược Câu—Thai tạng là nguồn gốc của sự sản sanh mọi thứ, như đứa trẻ được nuôi dưỡng trong thai mẹ (cả thân tâm được chứa đựng và nuôi dưỡng)—The womb treasury, the universal source from which all things are produced—The womb of all things—The womb in which a child is conceived. Its body, mind, etc. It is container and content; it covers and nourishes; and is the source of all supply. 1) Các nhà triết học Chân Ngôn giáo miêu tả như sau—The Shingon philosophers describe as follows: a) Thai Tạng Giới là cấu trúc và sự phát triển của thế giới tâm linh. Thai Tạng Giới quan niệm thế giới như là một cảnh giới trên đó Đức Tỳ Lô Giá Na an trú trong cái tâm thâm sâu nhất của mỗi chúng sanh mà phát triển những khả năng vốn có của Ngài: Garbhadhatu is the constitution and development of the spiritual world. The Garbhakosa conceives the world as a stage on which Vairocana Buddha residing in the inmost heart of every being develops his inherent possibilities. b) Kim Cang Giới miêu tả Đức Phật trong những biến hóa riêng của Ngài. Trong Kim Cang Giới, những hình ảnh minh họa sơ đồ và quá trình của những phát triển này được gọi là Mạn Đà La: Vajragarbha depicts the Buddha in his own manifestations. In Vajragarbha, the pictures illustrating the scheme and process of these developments are called Madala. 2) Thai Tạng Giới tiêu biểu cho “Lý Tính” về cả hai phương diện yếu tố vật chất và bồ đề thanh tịnh—It represents the fundamental nature, both material elements and pure bodhi, or wisdom in essence or purity: a) Thai tạng là lý: The garbhadhatu as fundamental wisdom. b) Kim Cương tạng là trí: Acquired wisdom or knowledge, the vajradhatu. 3) Thai Tạng giới tiêu biểu cho tâm chúng sanh với tám múi thịt như hình sen tám cánh: The Garbhadhatu represents the eight parts of the human heart as the eight-petal lotus mandala. 4) Thai Tạng giới là cái “bổn giác” (vốn đã giác ngộ rồi), đối lại với Kim Cang giới tiêu biểu cho “thủy giác” (bắt đầu giác ngộ)—Garbhadhatu is the original intellect, or the static intellectuality, in contrast with intellection, the initial or dynamic intellectuality represented in the Vajradhatu. 5) Thai Tạng giới là cái từ quả đến nhân, trong khi Kim Cang giới là cái từ nhân đến quả: The Garbhadhatu is the cause and Vajradhatu is the effect. Though as both are a unity, the reverse may be the rule, the effect being also the cause. 6) Thai Tạng giới tiêu biểu cho sự “lợi tha,” trong khi Kim Cang giới lại tiêu biểu cho “tự lợi.”—The Garbhadhatu is likened to enrich others, as Vajradhatu is to enriching self. ; (胎藏界) Thai tạng, Phạm: Garbha, Hán âm: Nghiệt lạt bà. Giới, Phạm:Dhàtu, Hàn âm: Đà đô. Gọi đủ: Đại bi thai tạng sinh. Đối lại: Kim cương giới. Một trong 2 giới của Mật giáo. Thai tạng có nghĩa hàm chứa, che chở và giữ gìn. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 3 thì hành giả mới phát tâm Nhất thiết trí, giống như chủng tử của thức được thai mẹ cưu mang che chở, đến khi các căn đầy đủ thì sinh ra, rồi lớn lên, học tập các kĩ nghệ để thực hiện sự nghiệp trong đời; cũng như nương vào lí tính sẵn có của chúng sinh mà học tập muôn hạnh đại bi, hiển hiện tâm thanh tịnh, phát khởi các phương tiện, tu sửa tự thân, lợi mìnhlợi người, rốt ráo viên mãn, gọi là Đại bi thai tạng sinh. Vì thế nên biết Thai tạng là chỉ cho lí tính sẵn có của chúng sinh, còn pháp mônLí bình đẳng thì gọi là Thai tạng giới, đối lại với pháp môn Trí sai biệt của Kim cương giới. Thai tạng giới cũng là Hóa tha môn từ quả hướng tới nhân, bản giác chuyển trở xuống, gồm đủ 3 đức đại định, đại trí, đại bi mà lập ra pháp môn của 3 bộ là Phật bộ, Kim cương bộ và Liên hoa bộ.[X. Đại nhật kinh sớ Q.5; Bí tạng kí].

thai tạng giới mạn đồ la

(胎藏界曼荼羅) Gọi đủ: Đại bi thai tạng sinh mạn đồ la. Gọi tắt: Thai tạng mạn đồ la, Đại bi mạn đồ la. Đối lại: Kim cương giới mạn đồ la. Cũng gọi: Nhân mạn đồ la, Đông mạn đồ la, Lí mạn đồ la. Mạn đồ la thuộc Thai tạng giới của Mật giáo.Thai tạng, Phạm: Garbha, hàm nghĩa đại bi. Mạn đồ la, Phạm: Maịđala, bao hàm các nghĩa: Sinh ra chư Phật, ý vị cùng tột không gì sánh bằng, tròn trịa đầy đủ. Mạn đồ laThai tạng giới chính là Đại mạn đồ la sinh ra từ trong tâm địa bình đẳng của Đại bi thai tạng của Tì lô giá na Như lai. Bởi vì Mạn đồ la Thai tạng giới vốn căn cứ vào ý nghĩa nói trong phẩm Cụ duyên, kinh Đại nhật mà được kiến lập, rồi Đại nhật kinh sớ lại bổ sung thêm, vì thế xưa nay thường gọi Mạn đồ la Thai tạng giới này là Kinh sớ mạn đồ la. Lấy phía trên của Mạn đồ la làm phương Đông mà chia ra như sau: 1. Viện Trung Đài Bát Diệp: Đại nhật Như lai trụ ở Trung đài. Bốn đức Phật Vô lượng thọ, Bảo chàng, Khai phu hoa, Thiên cổ và 4 vị Bồ tát Văn thù, Quán âm, Di lặc, Phổ hiền trụ ở Bát diệp (8 cánh sen), tất cả có 9 vị tôn. Hoa sen 8 cánh tượng trưng cho trái tim có 8 khía của chúng sinh, biểu thị ý nghĩa chữ A vốn không sinh, hiển bày lí thú tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Viện Trung đài bát diệp là tổng thể của Thai tạng Mạn đồ la, các viện khác là biệt đức của viện này.2. Viện Biến Tri(cũng gọi Viện Phật Mẫu): Nằm ở phía trên viện Trung Đài Bát Diệp, có 7 vị tôn gồm Phật nhãn, Phật mẫu... Viện này biểu thị cho đức biến tri(biết khắp) và đức năng sinh của chư Phật. 3. Viện Quán âm: Nằm về phía bắc viện Trung Đài Bát Diệp, có 37 vị tôn như bồ tát Đại thế chí... Viện này biểu thị cho đứcđại bi hạ hóa của Như lai. 4. Viện Kim Cương Thủ(cũng gọi Viện Tát Đóa), nằm về phía nam viện Trung Đài Bát Diệp, có 33 vị tôn như Hư không vô cấu luân trì kim cương... Viện này biểu thị cho đức đại trí thượng cầu. 5. Viện Trì Minh(cũng gọi Ngũ đại viện, Phẫn nộ viện): Nằm ở phía dưới viện Trung Đài Bát Diệp, có 5 vị tôn như bồ tát Bát nhã... Viện này biểu thị cho 2 đức chiết phục và nhiếp thụ. 6. Viện Thích ca: Nằm phía trên viện BiếnTri, có 39 vị tôn như đức Phật Thích ca mâu ni... Viện này biểu thị cho đức phương tiện nhiếp hóa. Dùng 2 đức trí và bi biến hiện thành Thích ca Như lai cứu độ chúng sinh. 7. Viện Trừ Cái Chướng: Nằm về phía nam viện Kim cương thủ, có 9 vị tôn, như bồ tát Bi mẫn... Viện này biểu thị cho việc dùng trí môn kim cương để diệt trừ phiền não chướng của chúng sinh. 8. Viện Địa Tạng: Nằm về phía bắc viện Quán Thế Âm, có 9 vị tôn, như bồ tát Địa tạng... Viện này biểu thị việc dùng bi môn của Quán âm để cứu mê tình trong chín cõi. 9. Viện Hư Không Tạng: Nằm ở phía dưới viện Trì minh, có 28 vị tôn, như bồ tát Hư không tạng... Viện này biểu thị cho bi và trí hợp nhất, bao hàm muôn đức, có năng lực tùy theo nguyện vọng của chúng sinh mà ban cho tất cả của báu, đầy đủ trí đức và lấy phúc đức làm gốc. 10. Viện Văn Thù: Nằm ở phía trên viện Thích ca, gồm có 25 vị tôn, như bồ tát Văn thù... Viện này biểu thị cho trí tuệ của đức đại lực, cócôngnăng dứt trừ tất cả hí luận, đầy đủ phúc đức và lấy trí tuệ làm gốc.11. Viện Tô Tất Địa: Nằm phía dưới viện Hư Không Tạng, gồm có 8 vị tôn, như bồ tát Thập nhất diện Quan âm... Viện này biểu thị cho đức thành tựu việc lợi mình lợi người. 12. Viện Ngoại Kim Cương Bộ: Lớp bên ngoài bao quanh 4 phía đông, tây, nam, bắc của Mạn đồ la Thai tạng giới, cộng chung 4 phía có tất cả 205 vị tôn. Viện này biểu thị đức tùy loại ứng hóa và lí phàm thánh bất nhị. 13. Viện Tứ ĐạiHộ: Trong Hiện đồ Mạn đồ la lược bỏ viện thứ 13 này. Còn lại 12 viện thì viện Trung Đài là Phật bộ, viện Quán Âm là Liên hoa bộ, viện Kim Cương Thủ là Kim cương bộ, 6 viện Biến Tri, Thích Ca, Văn Thù, Trì Minh, Hư Không Tạng và Tô Tất Địa thuộc Phật bộ, viện Địa tạng thuộc Liên hoa bộ, viện Trừ Cái Chướng thuộc Kim cương bộ, Ngoại Kim Cương thuộc cả 3 bộ. Nay đồ biểu Thai tạng Hiện đồ Mạn đồ la như sau: [X. kinh Đại nhật Q.1,2,4,5; Tôn thắng Phật đính tu Du già pháp nghi quĩ Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.1,3,4,5,6; Thai tạng đồ tượng; Hiện đồ mạn đồ la; Đà la ni môn chư bộ yếu mục]. (xt. Mạn Đồ La).

thai tạng giới pháp

(胎藏界法) Gọi đủ: Đại bi thai tạng sinh mạn đồ la pháp. Gọi tắt: Thai tạng pháp. Đối lại: Kim cương giới pháp. Chỉ cho pháp tu trong Mật giáo thờ đức Đại nhật Như lai của Thai tạng giới làm Bản tôn và cúng dường chư tôn trong Thai tạng mạn đồ la. Pháp này chủ yếu là tu Tam mật của chư tôn trong Mạn đồ la và pháp môn Tam cú Nhân, Căn, Cứu cánh.

thai tạng tứ bộ nghi quỹ

(胎藏四部儀軌) Gọi tắt: Tứ bộ nghi quĩ. Nghi quĩ, 11 quyển, là 4 bộ Nghi quĩ bao gồm ý nghĩa các phẩm của kinh Đại nhật thuộc Bí mật bộ, đồng thời chỉ rõ pháp Cúng dường của Thai tạng giới và ấn khế, chân ngôn của chư tôn, được thu vào Đại chính tạngtập 18. Bốn bộ nghi quĩ này là: 1. Nhiếp đại tì lô giá na thành Phật thần biến gia trì kinh nhập liên hoa thai tạng hải hội bi sinh mạn đồ la quảng đại niệm tụng nghi quĩ cúng dường phương tiện hội, 3 quyển, do ngài Du bà ca la dịch vào đời Đường, gọi tắt làNhiếp đại nghi quĩ.2. Đại tì lô giá na kinh quảng đại nghi quĩ, 3 quyển, do ngài Thiện vô úy dịch vào đời Đường, gọi tắt làQuảng đại nghi quĩ. 3. Đại tì lô giá na thành Phật thần biến gia trì kinh liên hoa thai tạng bi sinh mạn đồ la quảng đại thành tựu nghi quĩ cúng dường phương tiện hội, 2 quyển, do ngài Pháp toàn soạn vào đời Đường, gọi tắt làHuyền pháp tự nghi quĩ. 4. Đại tì lô giá na thành Phật thần biến gia trì kinh liên hoa bồ đề chàng tiêu xí phổ thông chân ngôn tạng quảng đại thành tựu du già, 3 quyển, do ngài Pháp toàn biên tập vào đời Đường, gọi tắt là Thanh long tự nghi quĩ. Trong 4 bộ nghi quĩ trên, 2 nghi quĩ Nhiếp đại và Quảng đại là diệu hạnh của chư Phật 10 phương 3 đời lưu nhập vào Pháp giới mạn đồ la do đức Đại nhật Như lai hiển hiện ra; còn 2 nghi quĩ Huyền pháp và Thanh long thì là nghi tướng mở hội do đức Thích ca mâu ni Như lai hiển bày trong Pháp giới mạn đồ la của Đại nhật Như lai. [X. Chư A xà lê chân ngôn Mật giáo bộ loại tổng lục Q.thượng; Bảo sách sao Q.2; Bí mật nghi quĩ tùy văn kí Q.18; Bí mật nghi quĩ truyền thụ khẩu quyết Q.6].

thai tạng đồ tượng

(胎藏圖像) Gọi đủ: Đại tì lô giá na thành Phật thần biến gia trì kinh trung dịch xuất đại bi thai tạng sinh bí mật mạn đồ la chủ họa tượng đồ.Đồ tượng, 2 quyển, tương truyền do ngài Thiện vô úy sao chép vào đời Đường. Nội dung sách này sắp xếp tượng vẽ của các vị tôn thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới. Bề mặt của bản đồ tượng này được chia làm 2 đoạn trên, dưới, mỗi đoạn theo thứ tự vẽ hình chư tôn, ở góc phía trên bên trái viết tên và chân ngôn của chư tôn. Ở đầu quyển thượng vẽ 1 vị hành giả tu Du già, lư hương, bình hoa sen Nhất thiết không, kế đến vẽ 9 vị tôn gồm 5 đức Phật, 4 vị Bồ tát thuộc viện Trung đài bát diệp, kế nữa là vẽ 36 vị tôn từ Hư không nhãn cho đến Hàngtam thế; đây chính là bức vẽ chư tôn của 2 viện Biến tri và Trì minh thuộc Hiện đồ mạn đồ la, gọi là Như lai bộ(Phật bộ). Sau đó là 46 vị tôn từ bồ tát Quántự tại trở xuống đến Thủy phạ ma ca, đấy chính là chư tôn viện Quán âm của Hiện đồ mạn đồ la, đó là Liên hoa bộ. Sau nữa là 30 vị tôn từ bồ tát Chấp kim cương tạng trở xuống đến Nhất thiết thụ la thần, tương đương với chư tôn viện Kim cương thủ và viện Tứ đại bộ của Hiện đồ mạn đồ la, đó là Kim cưong bộ. Sau đó là 28 vị tôn từ Lục diện tôn trở xuống đến bồ tát Chấp liên hoa chử, tức là chư tôn thuộc các viện Văn thù, viện Trừ cái chướng, viện Địa tạng và viện Hư không tạng của Hiện đồ mạn đồ la, gọi chung là Mạn thù thất lợi chủng tộc, kế đến, vẽ người giữ cửa của viện thứ 2 và bồ tát Phổ hiền. Quyển hạ có 124 vị tôn, từ...(trong sách thiếu 2 chữ?) Ấn Bồ tát(trong bức vẽ Tam muội da mạn đồ la gọi là Phật nhãn) cho đến Nan đà long vương, tương đương với chư Thiên thuộc viện Ngoại kim cương bộcủa Hiện đồ mạn đồ la. Kế đến, vẽ cửa lớn của đàn căn bản bên ngoài Đại đàn, tượng Tam tạng Thiện vô úy, 10 vị Tam tôn Phật, cửa, sen, 3 chĩa...(từ tượng Tam tạng Thiện vô úy trở xuống là do người đời sau thêm vào); từ Tì lô giá na Như lai trở xuống đến Nan đà long vương có tất cả 300 vị tôn. Đồ tượng này là Chư tôn mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền, nếu thêm vào 4 viện Đại hộ thì gọi là Tứ trùng. [X. Đại nhật kinh tự (Thôi mục); Đại chính tân tu Đại tạng kinh đồ tượng bộ Q.2].

thai tức pháp

(胎息法) Tác phẩm, do ngài Đàm loan thuộc tông Tịnh độ soạn vào đời Bắc Ngụy. Ngài Đàm loan do trông thấy những dấu tích thiêng liêng ở núi Ngũ đài mà phát tâm xuất gia, chuyên nghiên cứu 4 bộ luận của ngài Long thụ và Đề bà như Trung luận, Bách luận..., còn tiến xa hơn là lập chí chú thích kinh Đại tập. Trong lúc chú thích thì lâm bệnh nên sư phải dừng bút, đến đất Lương cầu được pháp sống lâu của thần tiên, lại được đạo sĩ Đào hoằng cảnh tặng 10 quyển kinh Tiên mang về Lạc dương. Sư lại theo ngài Bồ đề lưu chi học kinh Quán vô lượng thọ, chăm chú nghiên cứu giáo nghĩa Tịnh độ một cách thực tiễn. Theo truyền thuyết, sư đã dựa vào những kinh nghiệm này mà soạn thành Thai tức pháp(tức thuật điều hòa hơi thở để kéo dài sinh mệnh). Nhưng cứ theo sự khảo chứng của các học giả đời sau thì Thai tức pháp là sách ngụy tác. Căn cứ vào Hậu Hán thư... thì Thai tức (phương pháp điều hòa hơi thở) là do đạo sĩ Vương chân thực hành vào những năm cuối đời Đông Hán.

thai đại nhật

Đức Đại Nhật Như Lai trong Thai Tạng giới—Vairocana in the Garbhadhatu.

tham

Có tâm mong cầu sự thành công hay đắc vật và muốn thỏa mãn dục vọng của mình đều gọi là tham. ; 1) Chúng Tăng trong thiền môn tập trung lại ngồi thiền hay thuyết pháp tụng kinh. Có ba loại “Tham”—An assembly, or a gathering for the purpose of meditation, preaching, worship. There are three different classes: a) Tảo Tham: Tập họp lại vào buổi sáng sớm—Morning assembly. b) Vãn Tham: Tập họp lại vào buổi chiều—Evening assembly. c) Tiểu Tham: Tập họp tùy thời để bàn luận lý nghĩa sau buổi thuyết pháp—A special meeting; a discussion following an address. 2) Tham lam: Raga (skt)—Passion—Greed—Affection—Vehement longing or desire. Raga is also interpreted as tainted by and in bondage to the five desires—See Ngũ Độn Sử, and Tam Độc (1). 3) Tham quan: To visit superior. 4) Tham vấn: Counsel. ; (貪) Phạm: Abhhidhyà, Lobha, Ràga. Pàli:Abhijjhà,Ràga. Cũng gọi Tham dục, Tham ái, Tham trước. Gọi tắt: Dục, Ái. Sự tham muốn trong 5 món dục lạc, tiếng tăm, tiền của... không biết nhàm chán, không biết bao nhiêumớiđủ, là 1 trong 75 pháp củaCâu xá, 1 trong 100 pháp của Duy thức. Tức đối với những thứ mà mình yêu thích, thèm muốn, khởi tâm đắm trước ô nhiễm, dẫn đến Ngũ thủ uẩn và các khổ não.Luận Câu xá trích dẫn rộng các kinh cho rằng duyên theo cảnh 5 dục mà sinh ra tham muốn, trói buộc tâm mình, cho nên gọi là Dục ách(cái ách của sự tham muốn). Trong luận này còn nêu ra 12 tên gọi khác của Tham có chữ Dục ở đầu, đó là: Dục tham, dục dục, dục thân, dục ái, dục lạc, dục muộn, dục đam, dục thị, dục hỉ, dục tàng, dục tùy và dục trước. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 55 thì Tham nảy sinh là do 10 việc: Thủ uẩn, các kiến chấp, cảnh giới chưa được, cảnh giới đã được, cảnh giới quá khứ đã thụ dụng, ác hạnh, nam nữ, bạn thân, các thứ đồ dùng, hậu hữu và vô hữu. Tâm tham do 10 việc kể trên mà sinh khởi, theo thứ tự gọi là sự tham, kiến tham, tham tham, khan tham, cái tham, ác hạnh tham, tử tức tham, thân hữu tham, tư cụ tham, hữu vô hữu tham. Luận Câu xá quyển 22 chia tham làm 4 loại là Hiển sắc tham, Hình sắc tham, Diệu xúc tham và Cung phụng tham, có thể tu các pháp bất tịnh quán để đối trị. Tham hiện hữu ở cả 3 cõi, trong đó, tham ở cõi Dục gọi là Dục tham, tính chất của tham ở đây là bất thiện, là 1 trong 10 điều ác, 1 trong 5 phiền não, 1 trong 3 căn bất thiện. Tham ở cõi Sắc và cõi Vô sắc gọi là Hữu tham, tính chất của chúng là Hữu phú vô kí (tính nhiễm ô có công năng ngăn che Thánh đạo, nhưng vì lỗi của nó quá nhẹ và tác dụng rất yếu nên không đủ sức mang lại quả báo). Hữu tham và Dục tham đều là 1 trong 6 phiền não căn bản, 1 trong 10 Tùy miên và 1 trong 9 kết; lại vì tính của chúng không nhạy bén nên là 1 trong Ngũ độn sử. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng Tham là 1 trong các Bất định địa pháp, vì không phải duyên theo pháp vô lậu mà sinh ra, chỉ tương ứng với 2 thứ cảm thụ là Hỉ và Lạc nên là Đẳng lưu của Tùy phiền não, củavô tàm, trạo cử, khan trong Bát triền và của cuống, kiêu trong Lục cấu. Nhưng các nhà Duy thức thì cho rằng Tham là 1 trong các pháp phiền não, ngoài 2 thứ cảm thụ Hỉ và Lạc, nếu trong nghịch cảnh thì cũng sẽ tương ứng với 2 thứ cảm thụ Ưu và Khổ, đồng thời, cùng với Kiến đều duyên theo pháp vô lậu mà sinh ra. Lại theo thuyết của luận Câu xá quyển 22 thì Kinh bộ lấy phẩm Phân biệt thánh đế trong kinh Trung a hàm quyển 7 làm căncứ, chủ trương trong Tứ đế chỉ có Tập đế lấy Ái làm thể, Ái và Tham là đồng thể mà khác tên. [X. luận Câu xáQ.16, 20; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1; luận Phẩm loại túc Q.3; luận Hiển dương thánh giáo Q.1]. (xt. Ái). ; (參) Có hàm ý là tham yết, tham tầm, tham vấn, tham học, tham cứu... Tức người học tham yết bậc thầy để hỏi đạo, như Tham sư vấn pháp, tu hành tọa thiền cũng gọi là Tham, như Tham thiền biện đạo. Ngoài ra, vị Trụ trì của Thiền lâm nhóm họp đại chúng toàn chùa để mở bày thuyết pháp, cũng gọi là Tham, tức tham kiến Trụ trì để cầu được khai thị. Tham có rất nhiều chủng loại như Thăng đường vào buổi sáng gọi là Tảo tham (Triêu tham), niệm tụng vào buổi chiều gọi là Vãn tham, ngồi thiền trước lúc vãn tham gọilàTọa tham, cách 5 ngày tham một lần gọi là Ngũ tham thướng đường, thướng đường theo địnhkìgọi là Đại tham, không định ngày giờ trước, vị Trụ trì bỗng nhiên họp chúng hỏi đáp qua lại, gọi là Tiểu tham, đại chúng cùng tham gọi là Quảng tham... [X. điều Trụ trì nhật dụng vãn tham trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; điều Tiểu tham trong Tổ đình sự uyển Q.8; môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên].

tham bão

(參飽) Cũng gọi Bão tham. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hàm ý là giác ngộ đến chỗ cùng tột. Chỉ có người tham học Phật pháp đạt đến triệt ngộ, như người đói được ăn uống no đủ(bão), gọi là Bão thamnhân, Bão tham khách, Bãi tham nhân. Thung dung lục quyển 1 (Đại 48, 235 thượng) nói: Nếu không phải là người bãotham thì không biết, còn bão tham thì biết rõ không có gì để mong cầu.

tham bảng

(參榜) Cũng gọi Tham trạng, Môn trạng. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho tấm bái thiếp (tức danh thiếp hiện nay) được xuất trình khi tham kiến người khác. Tấm thiếp rộng khoảng 15 cm, bên trong không ghi chữ mà chỉ cuốn lại từ phía trái, dùng 1 sợi chỉ buộc ngang nó(hơi nhích lên phía trên), rồi đề tên họ lên đó. Môn Văn sớ trong Thiền lâm tượng khí tiên ghi: Hàn mặc đại toàn nói: Nếu là bảng thì dùng giấy trắng, rộng khoảng 4 tấc (khoảng 15 cm), viết một hàng ngay chính giữa, rồi cuốn lại theo chiều ngang. Bình thường yết kiến người thì thêm 2 chữ Thủ phúc. Những việc còn lại như chúc mừng, tạ từ... thì tùy theo trường hợp mà sửa đổi, rồi viết ngay ở dưới tên cho hợp cách.

tham bệnh

(貪病) Chỉ cho bệnh tham ái. Tâm tham ái thường gây bệnh phiền não cho loài hữu tình, làm hại thiện tâm xuất thế. Phải tu bất tịnh quán để đối trị bệnh này. [X. kinh Niết bàn Q.39 (bản Bắc)]. (xt. Tam Bệnh).

tham chiếu

To refer.

tham của

Greedy for property.

tham cứu

(參究) Tham học, nghiên cứu. Trong Thiền tông, từ ngữ này chỉ cho việc tham vấn sư gia, tận lực thể ngộ Phật pháp. Thiền gia không đánh giá cao sự hiểu biết đơn phương, nhưng lấy việc tham học nơi sư phụ để cầu khai thị làm việc quan trọng của một đời, cũng tức là nhấn mạnh việc tham thiền học đạo nơi bậc thầy chính thức. Các từ ngữ như tham tầm, tham vấn, tham khấu, tham huyền, tham học, tham tường... được thấy rải rác trong Bích nham lục đều là đồng nghĩa với từTham cứu. [X. Bích nham lục tắc 7].

tham danh

Greedy for fame.

tham dục

(貪欲) Phạm: Lobha, Ràga, Abhidhyà. Cũng gọi: Tham độc. Gọi tắt: Tham. Đồng nghĩa: Khát ái (Phạm:Tfwịà). Đối với những đối tượng mình yêu thích sinh tâm tham đắm và ước ao muốn chiếm đoạt được, là 1 trong 3 độc, 1 trong 10 điều xấu ác, 1 trong 10 đại phiền não. Tham dục và vô minh đều là phiền não căn bản sinh ra các nỗi khổ luân hồi trong 3 cõi. Phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa (Đại 9, 15 thượng): Nguyên nhân của các khổ lấy tham dục làm gốc. (xt. Tham)

tham dục cái

Một trong ngũ cái, những phiền não của lòng tham muốn che lấp tâm thức hữu tình thì không cho phép thiện pháp nẩy sinh—One of the five hindrances, the cover of desire which overlays the mind and prevents the good from appearing—See Ngũ Triền Cái. ; (貪欲蓋) Phạm:Ràga-àvaraịa. Phiền não tham dục có công năng ngăn ngại, che lấp tâm thức của chúng sinh làm cho các pháp lành không sinh ra được, 1 trong Ngũ cái(5 thứ che lấp). Theo sự giải thích trong luận Đại tì bà sa quyển 48 thì Cái có tác dụng chướng ngại Thánh đạo vàthiện căn gia hạnh của Thánh đạo, có công năng phá hoại cây thiện tâm của hữu tình trong cõi Dục, khiến không thể sinh ra hoa Thất giác chi, quả Tứ sa môn. Cũng sách đã dẫn quyển 48 còn nói: Tham dục cái và Sân khuể cái đều làm chướng ngại Giới uẩn trong 3 uẩn, nhưng vì Tham dục cái lấy tịnh diệu tướng làm thức ăn nên có thể tu bất tịnh quán để đối trị. (xt. Ngũ Cái).

tham dục sử

Những phiền não của lòng tham muốn xô đẩy sai khiến thân tâm hữu tình khiến cho đắm đuối mãi trong vòng luân hồi sanh tử—The messenger, or temptation of desire which causes clinging to earthly life and things, therefore reincarnation. ; (貪欲使) Cũng gọi Tham sử. Chỉ cho phiền não tham dục, 1 trong 10 Sử, 1 trong 10 phiền não Căn bản, 1 trong 10 Tùy miên. Sử nghĩa là sai khiến, tức phiền não tham dục thường sai khiến, xúi dục thân tâm chúng sinh, làm cho trôi lăn trong 3 cõi.(xt. Phiền Não).

tham dục tam chủng phát tướng

(貪欲三種發相) Chỉ cho 3 thứ tham dục phát ra tướng. Cứ theo Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn quyển 4, khi hành giả tu thiền định thì có 3 thứ tham dục phát tướng như sau:1. Ngoại tham dục tướng: Khi hành giả tu thiền định nhớ đến dáng dấp của người nữ(hoặc người nam) mà nổi lòng dục, niệm niệm không dứt, làm chướng ngại các thiền định, đó là phiền não tham dâm phát tướng ra bên ngoài.2. Nội ngoại tham dục tướng: Khi hành giả tu thiền định, lòng dục chợt nổi lên, hoặc tưởng nhớ thân hình người khác, hoặc nghĩ về dung mạo của mình, niệm niệm đắm đuối, tham ái khơi dậy, làm chướng ngại các thiền định, đó là phiền não tham dục cả trong lẫn ngoài đều phát ra tướng. 3. Biếnnhất thiết xứ tham dục tướng: Khi hành giả tu thiền định, trừ cảnh tham đắm trong và ngoài nói trên, đối với tất cả 5 trần cảnh(sắc, thanh, hương, vị, xúc) và các vật dụng trong đời sống hàng ngày... đều khởi tâm tham muốn, làm chướng ngại các thiền định, đó là tham dục phát ra tướng ở khắp mọi nơi.

tham dục tức thị đạo

Pháp môn tính ác do tông Thiên Thai lập ra. Sự tham dục tuy xấu xa nhưng lại có lý pháp tính. Do vậy, người quen thói tham dục có thể dùng nó mà quán pháp tính—Desire is part of the universal law, and may be used for leading into the truth, a tenet of T'ien-T'ai. ; (貪欲即是道) Đồng nghĩa: Dâm dục tức thị đạo. Tham muốn chính là đạo. Việc tham muốn tuy là xấu ác nhưng vẫn có thực lí của pháp tính, cho nên người quen tham muốn có thể nương ngay vào tham muốn mà quán xét pháp tính. Đây là căn cứ vào pháp môn Tính ác do tông Thiên thai thành lập, tức chủ trương Ác là tính đức sẵn có của chúng sinh. Ma ha chỉ quán quyển 10 hạ (Đại 46, 136 trung) nói: Người làm ác chấp theo lập trường của Đại thừa cho rằng tham dục chính là đạo, trong 3 độc có đầy đủ tất cả Phật pháp, thực ngữ này vốn diệt phiền não, nhưng vì họ không thấu suốt, chỉ chấp chặt một chiều nên lại tạo ra kết nghiệp. [X. kinh Tạp a hàm Q.21]. (xt. Tính Thiện Tính Ác).

tham dụïc

Greed and Desire. (I) Nghĩa của Tham Dục—The meanings of Greed and desire: 1) Tham muốn của cải trần thế. Hầu hết người đời thường định nghĩa hạnh phúc trần tục như là sự thỏa mãn của mọi tham dục: Desire for and love of the things of this life—Craving (greed, affection, desire). Most people define happiness as the satisfaction of all desires. 2) Tham dục trần thế là vô hạn, nhưng chúng ta lại không có khả năng nhận ra chúng và tham dục không được thỏa mãn thường gây ra khổ đau phiền não cho mình và cho người. Khi chúng ta chỉ phần nào thỏa mãn tham dục, chúng ta luôn có khuynh hướng tiếp tục theo đuổi chúng cho đến khi được thỏa mãn, chính vì vậy mà chúng ta càng gây nên khổ đau cho mình và cho người. Ngay cả khi đã thỏa mãn tham dục, chúng ta cũng khổ đau. Chúng ta chỉ nghiệm được chân hạnh phúc và an nhin tự tại khi chúng ta có ít tham dục. Đây cũng là một trong những bước lớn đến bến bờ giải thoát của chúng ta—The desires are boundless, but our ability to realize them is not, and unfulfilled desires always create suffering. When desires are only partially fulfilled, we have a tendency to continue to pursue until a complete fulfillment is achieved. Thus, we create even more suffering for us and for others. We can only realize the true happiness and a peaceful state of mind when our desires are few. This is one of the great steps towards the shore of liberation. 3) Phật dạy: “Tham dục chính là nguồn gốc của khổ đau. Mọi vật rồi sẽ thay đổi, vì thế không nên luyến ái hay vướng víu vào một thứ gì. Nên nhiếp tâm thanh tịnh tìm chân lý và đạt đến hạnh phúc vĩnh hằng.” Biết tri túc thiểu dục là biết sẽ giúp chúng ta diệt trừ tham dục. Điều nầy có nghĩa là biết thỏa mãn với những điều kiện vật chất khả dĩ giúp cho chúng ta có đầy đủ sức khỏe để tu tập. Đây là phương cách hữu hiệu nhất để cắt đứt lưới tham dục, an ổn thân tâm và có nhiều thì giờ giúp đở tha nhân---Buddha taught: “Craving and desire are the cause of all unhappiness or suffering. Everything sooner or later must change, so do not become attached to anything. Instead devote yourself to clearing your mind and finding the truth, lasting hapiness.” Knowing how to feel satisfied with few possessions help us destroy greed and desire. This means being content with material conditions that allow us to be healthy and strong enough to cultivate. This is an effective way to cut through the net of passions and desires, attain a peaceful state of mind and have more time to help others. (II) Phân loại Tham Dục—Categories of Greed and Desire: Có năm loại Tham Dục—There are five types of Greed and Desire: 1) Tài Tham Dục: Greed and desire for Wealth. 2) Sắc Tham Dục: Greed and desire for Beauty. 3) Danh Tham Dục: Greed and Desire for ambitions. 4) Thực Tham Dục: Greed and desire for finding pleasure in eating. 5) Thùy Tham Dục: Greed and Desire for sleeping or laziness.

tham dự

To take part in—To participate.

tham gia

To join—To adhere to.

tham giàu

Greedy of wealth.

tham huyền nhân

(參玄人) Chỉ cho người tu hành Phật đạo. Tham huyền nghĩa là tham cứu tu học ý thú sâu xa huyền nhiệm của Phật pháp. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 30 (Đại 51, 459 trung) nói: Kính bạch tham huyền nhân, Thời gian chớ luống phí.

tham hà

(參暇) Cũng gọi Tham giả. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thiền tăng xin nghỉ ra khỏi Thiền viện trong vòng 15 ngày thì trở về chùa, gọi là Tham hạ. Người đời sau gọi việc tạm trú trong chùa viện là Tham hạ, đó là lầm lẫn với từ ngữ Quải đáp của người xưa thường gọi.Oánh sơn thanh qui quyển hạ (Đại 82, 447 hạ) nói: Người không xin nghỉ mà đi thì không được tái tham hạ. Trà lễ được tổ chức khi quải đáp, gọi là Tham hạ trà, Nhập liêu trà. Điều Xưng hô trong Tiểu tùng lâm lược thanh qui quyển thượng (Đại 81, 692 thượng) nói: Tham hạ phiến, Tham hạ trà của các liêu ở các nơi cũng nên gọi là Quải đáp phiến, Quải đáp trà. (xt. Quải Đáp, Thỉnh Giả).

tham hậu

Sau buổi Vãn Tham—After the evening assembly—See Tham (1) (b). ; (參後) Cũng gọi: Tham thoái. Đối lại: Tham tiền. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho thời gian sau khi vãn tham hoặc phóng tham, tức thời gian sau khi tham thiền niệm tụng lúc chiều tối, hoặc chỉ cho thời gian sau khi nghỉ ngồi thiền hay thôi làm việc... Điều Tọa thiền trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1142 hạ) nói: Tham hậu, tọa thiền như thường. Chân tịnh ngữ lục quyển 2 trong Cổ tôn túc ngữ lục quyển 43 (Vạn tục 118, 36 thượng) nói: Hôm nay Trang chủ thiết trai tăng, sau giờ tham thiền buổi chiều tối, thỉnh chư tăng đến Tăng đường uống trà.

tham học

(參學) Gọi đủ: Tham thiền học đạo. Chỉ cho việc vị Thiền sinh đi tham vấn các Thiền viện về tông phong và qui củ của những Thiền viện đó, rồi theo minh sư học tập. Thơ của Hoàng trấn thành tiễn chân Thượng nhân Giản tuyền du phương tham học có câu: Tham học Vô sinh khi đến nơi, Gặp người xin chớ nói luân hồi. Còn thơ của vị tăng tên là Phạm kì tiễn đưa Mật tạng chủ chùa Thiên ninh lên đường tham học cũng có câu: Tào khê hái củi mấy năm dư, Phật pháp đã từng tham học ư?. Ngoài ra, việc thực tham, thực cứu Chính pháp đích truyền của Phật tổ, cũng gọi là Tham học.

tham khảo

To refer—To consult.

tham kiến

The illusion or false views caused by desire.

tham kết

The bond of desire (binding in the chain of transmigration). ; (貪結) Chỉ cho phiền não tham dục, 1 trong 5 kết. Kết, Phạm:Bandhana, nghĩa là phiền não trói buộc chúng sinh, làm cho không thoátkhỏisinh tử. Nói cách khác, phiền não tham dục thường sai khiến, trói buộc chúng sinh sống chết trong 3 cõi, không được giải thoát, nên gọi là Tham kết. (xt. Kết, Ngũ Kết).

tham lam

Abhijjha (p)—Greed—Miserly—Lust. (A) Theo Hoà Thượng Narada trong Đức Phật và Phật Pháp, có hai điều kiện cần thiết để thành lập nghiệp tham lam—According to Most Venerable in The Buddha and His Teachings, there are two conditions that are necessary to complete the evil of covetousness: 1) Vật sở hữu của người khác: Another's possession. 2) Tâm thèm muốn, ước mong được làm chủ vật ấy: Adverting to it, thinking “would this be mine!” (B) Cũng theo Hòa Thượng Narada trong Đức Phật và Phật Pháp, hậu quả tất yếu của tham lam là không bao giờ được mãn nguyện: Also according to Most Venerable Narada in The Buddha and His Teaching, the inevitable consequence of covetousness is non-fulfillment of one's wishes.

tham lang

Tham dục được ví như lòng tham của bầy lang sói—Greedy wolf, wolfish desire or cupidity. ; (貪狼) Sói tham, ví dụ lòng tham không đáy của con người giống như chó sói. Vì loài thú này có bản tính rất tham lam, cho nên người có lòng tham quá độ được ví như chó sói mà gọi là Tham lang. Cũng tương tự như bản tính của loài cáo là đa nghi, bởi thế cũng có từ ngữ Hồ nghi(Hồ là con cáo).[X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ].

tham liêu tử tập

(參寥子集) Cũng gọi Tham liêu tử thi tập. Tập thơ, 12 quyển, do vị tăng là Đạo tiềm soạn vào đời Tống. Tham liêu tử là hiệu của ngài Đạo tiềm. Thơ của Đạo tiềm biểu hiện rõ cá tính của ngài, tuy không được hàm súc lắm nhưng cũng không rơi vào khuôn sáo thế tục. Tập thơ lưu truyền ở đời có 2 loại bản in, số quyển giống nhau, nhưng thứ tự hơi khác; một bản đề là Tam học pháp tự Quảng tân hiệu đính, còn bản kia thì đề là Pháp tự Pháp dĩnh biên tập. Trong tập thơ cũng có thơ xướng họa của ngài Pháp dĩnh. [X. Tứ khố đề yếu biệt tập loại].

tham luyến

Attached to and fond of.

tham luận

To discuss.

tham lợi

Eager for gain—Greedy for gain.

tham muốn của cải vật chất

Greed for material wealth.

tham nghệ

Khi lễ bái, người ta tin rằng mình có thể đến học hỏi với chư Thiên hay chư Phật—To approach the gods or Buddhas in worship.

tham nghị

To participate in a discussion

tham nhiễm

Defiled grees---The taint of desire or greed. ; (貪染) Tham nhuốm, tức tham đắm, nhiễm trước các cảnh 5 dục, 6 trần. Năm dục là: Sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc giác trơn láng mịn màng; hoặc tiền của, sắc đẹp, thức ăn uống ngon ngọt, danh vọng và ngủ nghỉ. Còn 6 trần là: Sắc, Thanh, hương, vị, xúc, pháp. Ngoài ra, theo luận Đại tì bà sa quyển28, dùng thiện căn vô tham để đối trị tham nhiễm, gọi là Li tham (lìa tham). (xt. Li Tham).

tham phiền não

The klesa, temptation or passion of desire. ; (貪煩惱) Chỉ cho tâm tham dục là gốc rễ của phiền não, 1 trong 6 đại phiền não. Phiền não, Phạm:Kleza. Tức là tác dụng tâm lí làm cho chúng sinh cảm thấy buồn bực, phiền muộn, mê loạn, nhơ nhớp... Nghĩa là lòng tham muốn thường khiến cho thân tâm chúng sinh não loạn, đắm chìm trong cảnh khổ, vui, có cảm giác bị ràng buộc, không được thanh thoát, tự tại, nên gọi là Tham phiền não. (xt. Phiền Não, Tùy Miên).

tham phược

Sự trói buộc của lòng tham—The tie of desire.

tham phọc

(貪縛) Phạm: Ràga-bandhana. Chỉ cho phiền não tham muốn, 1 trong 3 phược. Phược nghĩa là trói buộc, tức lòng tham muốn thường trói buộc chúng sinh khiến mất tự do, tự tại, không ra khỏi sinh tử. Trong 3 cảm thụ khổ, vui, không khổ không vui, thì Tham phược gia tăng đối với cảm thụ vui. (xt. Tam Phược).

tham quyền

Greed for power—To love power.

tham sanh

To cling to life.

tham sanh úy tử

To cling to life and to fear death—The desire to survive, coupled with fear of death.

tham sân si

(貪嗔痴) Cũng gọi Tham khuể si, Dâm nộ si. Chỉ cho 3 thứ phiền não căn bản là Tham dục, Sân khuể và Ngu si, 3 thứ này gọi chung là Tam hỏa (3 thứ lửa), Tam độc (3 cái độc hại), Tam cấu(3 cái nhớp nhúa), Tam bất thiện căn(3 cái gốc xấu ác). Cứ theo luận Đại trí độ quyển 31, đối với những thứ có lợi ích cho mình thì sinh lòng ham muốn, còn đối với những cái trái với ý muốn của mình thì sinh tâm tức giận, 2 phiền não này không sinh ra từ trí sáng mà từ mê loạn sinh ra, vì thế nên gọi là Si. Ba phiền não này là gốc rễ của tất cả phiền não, đầu độc thân tâm chúng sinh rất nặng nề, có công năng phá hoại thiện tâm xuất thế, cho nên gọi là Tam độc. Tam độc có chính, tà khác nhau, như trong các cõi Tịnh độ của chư Phật chỉ có Chính tam độc chứ không có Tà tam độc. Đại tạng pháp số thì phân biệt Nhị thừa và Bồ tát đều có Tam độc: Nhị thừa ưa thích Niết bàn là Tham dục, nhàm chán sinh tử là Sân khuể, mê mờ đối với Trung đạo là Ngu si; còn Bồ tát thì rộng cầu Phật pháp là Tham dục, chê trách Nhị thừa là Sân khuể và chưa rõ tính Phật là Ngu si. (xt. Tam Hỏa, Tam Độc).

tham sống sợ chết

See Tham sanh úy tử.

Tham Sự

(參事, Sanji): hiện tại ở Nhật Bản, đây là một loại chức danh của viên chức thuộc các cơ quan pháp nhân như Quốc Hội, hành chính độc lập, đoàn thể công cọng địa phương, v.v. Về ngữ nghĩa, Tham Sự có nghĩa là “tham mưu sự việc”, là người tham dự, tham mưu vào sự vụ của các cơ quan pháp lý vốn dưới quyền của Tri Sự (知事), người đại diện và quyết định các cơ quan ấy.

tham sự

1) To take part in an affair—To participate in. 2) Chief clerk.

tham thiên thai ngũ đài sơn kí

(參天台五臺山記) Cũng gọi Thiện huệ đại sư Tứ tử thành tầm kí. Du kí, 8 quyển, do ngài Thành tầm (1011-1081), vị tăng người Nhật bản soạn. Năm Diên cửu thứ 4 (1072), ngài Thành tầm lúc ấy đã 62 tuổi, cùng với các vị Lại duyên, Khoái tông, Thánh tú, Duy quán, Tâm hiền, Thiện cửu, Trường minh... từ Phì tiền tùng phố đến Trung quốc (đời Tống). Tháng 6 năm sau, ngài đến chiêm bái các Thánh tích như núi Thiên thai, núi Ngũ đài... rất được triều đình nhà Tống đãi ngộ, nên dùng chữ Hán viết nhật kí mà soạn thành sách này. Đây là tư liệu quí giá giúp người đời sau hiểu rõ sự giao thông bằng đường biển giữa Nhật bản và Trung quốc, tình hình chung của Phật giáo đời Tống, cũng như văn vật, phong tục Trung quốc đương thời. Toàn sách bắt đầu được viết từ lúc phát xuất ở Phì tiền tùng phố vào năm Diên cửu thứ 4 (1072) của Nhật bản cho đến khi gửi tượng Phật và các kinh Phật mới dịch về Nhật bản vào tháng 6 năm Hi ninh thứ 6 (1073) đời Tống của Trung quốc thì dừng. Tác phẩm này được người đời sau là Thành đảo Nhượng kiệm khảo chứng và chú thích mà thành San bổ Thiên thai ngũ đài sơn kí 8 quyển và ông Cao nam Thuận thứ lang dùng nguyên bản được cất giữ ở chùa Đông phúc tại Kyoto làm bản gốc, đối chiếu và hiệu đính bản sao ở nhiều chỗ, rồi lại soạn Thành tầm sở kí nhập Tống chư sư truyện khảo 1 quyển. Sách này được thu vàoĐạinhật bản Phật giáo toàn thư quyển 115, Cải đính sử tịch tập lãm quyển 26.

Tham thiền

參禪; J: sanzen; nghĩa là »đến với Thiền«, »đi đến Thiền«, hoặc Toạ thiền;|Ðến tham vấn một vị Lão sư để nhận sự chỉ dạy. Trong tông Lâm tế tại Nhật Bản thì Tham thiền đồng nghĩa với Ðộc tham (j: dokusan), theo Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền thì Tham thiền chính là sự tu tập thiền đúng đắn (Tổng tham).

tham thiền

Tham thiền chẳng phải ngồi thiền, ngồi thiền chẳng phải tham thiền. Tham thiền ở nơi tâm ngộ mà chẳng ở nơi ngồi. Trước đời nhà Tống Trung Quốc (cách đây 60 năm), các Tổ sư mỗi mỗi dùng cơ xảo khiến thiền giả tự khởi nghi tình mà chẳng biết mình đã tham thiền, nên kẻ ngộ nhiều, lại mau ngộ. Từ khi Truyền Đăng Lục (Lịch sử Thiền tông) ra đời, thiền giả đã biết cơ xảo của Tổ sư nên chẳng thể tự khởi nghi tình, Tổ sư bất đắc dĩ phải dạy tham thoại đầu, nên sau này kẻ ngộ ít mà lại chậm ngộ. ; Tham nhập vào đạo thiền, hay tham vấn về thiền tập—To wrap in deep meditation—To enter into meditation—To seek, inquire or discuss religious instruction. ; (參禪) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho sự tọa thiền tu hành dưới sự chỉ dạy của bậc thầy, sau chuyển sang chỉ cho sự tham cứu chân lí trong Thiền định. Vô môn quan tắc 1 (Đại 48, 292 hạ) nói: Tham thiền phải thấu cửa Tổ sư, Diệu ngộ đường tâm cần dứt bặt. Chính pháp nhãn tạng tam muội vương tam muội (Đại 82, 243 hạ) nói: Tham thiền là thân tâm rỗng rang, chuyên vào một việc ngồi thiền, không cần đốt hương, lễ bái, niệm Phật, tu sám, xem kinh... Ngoài ra, tham thiền nên chọn nơi yên tĩnh, tiết chế việc ăn uống, buông bỏ các duyên, dứt hẳn mọi việc, không nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, gác ngoài thị phi.

tham thoại đầu (công án)

Chữ tham tức là nghi. Đề câu thoại đầu hỏi thầm trong tâm, cảm thấy không hiểu nên sanh khởi nghi tình. Có nghi tình mới gọi là tham thiền. Tham thoại đầu cũng gọi là khán thoại đầu, tức là nhìn ngay chỗ một niệm chưa sanh khởi (là vô thủy vô minh) không biết đó là cái gì, phối hợp với câu thoại đầu để tăng thêm nghi tình.

tham thỉnh

Thỉnh ý—To request instruction or discussion. ; (參請) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho việc đệ tử thưa hỏi và nhận lãnh lời chỉ dạy của Thầy, cũng như nghĩa tham vấn thỉnh ích, tham thiền biện đạo. Lâm tế lục khám biện (Đại 47, 504 trung) nói: Ngài Kính sơn có năm trăm chúng, nhưng ít có người tham thỉnh. Ngoài ra, đến chỗ của Thầy thưa hỏi về ý chỉ sâu xa của Phật pháp cũng gọi là Thỉnh vấn.

tham thủy

Tham dục ví như dòng nước chuyên chở hết thảy những điều ác—Desire is like water carrying things along. ; (貪水) Nước tham. Tình ái tham dục có sức hấp dẫn mọi vật và nuôi lớn các pháp ác, cho nên được ví dụ như nước mà gọi là Tham thủy.Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 8 (Đại 19, 143 hạ) nói: Hễ mắt nhìn thấy sắc thì sinh nhiều tham cầu, cho nên các đức Như lai trong mười phương đều gọi đó là Tham thủy. Bồ tát thấy tham thì tránh xa như tránh xa biển độc.

tham tiếc

To begrudge; be unwilling to give.

tham tiền

1) Tham lam tiền bạc: Greed for money. 2) Trước buổi Vãn Tham: Before the evening assembly—See Tham (1) (b). ; (參前) Đối lại: Tham hậu. Chỉ cho thời gian trước Vãn tham (tức là tham thiền niệm tụng vào lúc chiều tối). Nếu không có Vãn tham thì Tham tiền là chỉ cho thời gian phóng tham trở về trước. Điều Đạt ma kị trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1117, hạ) nói: Ngày hôm sau, sau ngọ trai, đại chúng phải đầy đủ uy nghi, tán kệ tụng kinh, trước vãn tham(tham tiền) thỉnh chuông ở nhà tăng.

tham trước

Tham trước là người ta cứ bám vào lòng tham không biết chán—The attachment of desire. ; (貪著) Tham đắm. Mong cầu thật nhiều mà không chán là Tham; tâm tham bám chặt không chịu lìa bỏ là Trước. Tức chỉ cho tâm tham ái chấp trước trong các dục nhiễm. Tham trước là do tà niệm, các thứ phiền não đều do tham trước mà ra. Kinh Di giáo (Đại 12, 1112 thượng) nói: Người có trí tuệ thì không tham trước. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa; kinh Nghĩa túc Q.thượng].

tham trọc

(貪濁) Tham đục. Chỉ cho phiền não tham dục. Tham dục thường vẩn đục, não loạn thân tâm chúng sinh, vì thế nên gọi Tham trược. Cứ theo kinh Tùy nguyện vãng sinh thì người ở thế giới Sa bà phần nhiều là tham trược, cho nên rất ít người tin vào việc vãng sinh.

tham tài

Greedy (eager) for wealth.

tham tàn

Greedy and harsh.

tham tâm

(貪心) Cũng gọi Hữu tham tâm. Tâm tham tức là tâm thuận theo các pháp nhơ nhớp, tham đắm các cảnh trước mắt mà làm cho tâm bị ô uế, là 1 trong 60 vọng tâm nói trong phẩm Trụ tâm của kinh Đại nhật quyển 1. Nếu quán xét thực tướng của tâm tham thì đối trị được tâm này. Đại nhật kinh sớ quyển 2 (Đại 39, 596 trung) ghi: Thế nào là Tham tâm? Là tâm thuận theo các pháp ô nhiễm; tham đắm các cảnh trước mắt, làm ô uế tịnh tâm. (xt. Lục Thập Tâm).

tham tích

(貪惜) Tham tiếc. Tức chúng sinh ngu si, không rõ nhân quả tội phúc nên tham lam sẻn tiếc tài vật, không có lòng thương bố thí cho người khác. Kinh Quán đính quyển 12 (Đại 21, 533 thượng) nói: Người đời ngu si, chỉ biết tham tiếc, thà tự cắt thịt trên thân mình mà ăn còn hơn là đem tiền của bố thí cho người khác để cầu phúc ở đời sau.

tham tú

(參宿) Phạm:Àrdrà. Hán âm: Át đạt ra. Hán dịch: Thấp, Mễ thấp, Vị thấp. Cũng gọi Sinh sảnh tú, Sinh dưỡng tú. Chỉ cho sao Tham, 1 trong 28 vì sao, thuộc về Lỗ đạt la (Phạm:Rudra, Hán dịch: Âm hưởng, Bạo phong vũ). Trong Mạn đồ la Bắc đẩu của Mật giáo, vị tôn này được an trí ở cực nam phía tây Ngoại viện, còn trong Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới thì vị này được bày ở phía đông Ngoại viện. Hình tượng vị tôn này trong Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới ngồi tréo chân, bàn tay phải ngửa lên, để ở trước rốn, bàn tay trái dựng thẳng, ngón trỏ và ngón giữa co lại, cầm hoa sen, trên hoa sen có hạt châu. [X. kinh Tú diệu Q.thượng; kinh Đại khổng tước chú vương Q.hạ].

tham tập

Thói quen của lòng tham (tham mãi thành thói quen)—The habit of desire, desire becomes habitual. ; (貪習) Chỉ cho tính quen tham muốn. Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 8 (Đại 19, 143 hạ) nói: Tham tập với tính quen, phát ra sức hấp dẫn lẫn nhau, lôi quấn mãi không thôi.

tham tập nhân

Một trong mười nhơn, thói quen của tham dục khiến người ta bị đọa vào địa ngục lạnh—Habitual cupidity leading to punishment in the cold hells, one of the ten causes—See Thập Nhân Thập Quả (2).

Tham tỉnh

(參省): Tham (參) ở đây nghĩa là xem xét, quan sát; tỉnh (省) là phản tỉnh, nhìn lại chính mình. Từ này vốn xuất xứ từ trong Thiên Khuyến Học (勸學篇) của Tuân Tử (荀子): “Quân tử bác học nhi nhật tham tỉnh hồ kỉ, tắc tri minh nhi hành vô quá hỉ (君子博學而日參省乎己、則知明而行無過矣, người quân tử học rộng mà mỗi ngày kiểm điểm lại mình thì trí tuệ mới sáng suốt và hành vi sẽ không có lỗi lầm).” Đối với Thiền Tông, tham tỉnh có nghĩa là đến tham học Thiền pháp với bậc cao đức nào đó và được vị ấy làm cho tỉnh ngộ; tương đương với nghĩa của tham học (參學), tham vấn (參問). Như trong Thiên Thánh Quảng Đăng Lục (天聖廣燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1553) quyển 17, phần Tương Châu Cốc Ẩn Sơn Uẩn Thông Từ Chiếu Thiền Sư (襄州谷隱山蘊聰慈照禪師) có câu: “Sư ly Bách Trượng, chí Nhữ Châu tham tỉnh Niệm Thiền Sư (師離百丈、至汝州參省念禪師, sư rời Bách Trượng, đến Nhữ Châu tham học với Thiền Sư Niệm).” Hay như trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 30, phần Nhữ Châu Nam Viện Huệ Ngung Thiền Sư (汝州南院慧顒禪師) có đoạn: “Hậu ư Vân Môn hội hạ, văn biệt tăng cử thử thoại, phương ngộ chỉ, khước hồi tham tỉnh, sư dĩ viên tịch, toại lễ Phong Huyệt Hòa Thượng (後於雲門會下、聞別僧舉此話、方悟旨、卻回參省、師已圓寂、遂禮風穴和尚, sau nhân trong hội chúng của Vân Môn, ông nghe có vị tăng nọ nêu ra câu chuyện này, mới ngộ được yếu chỉ; liền quay về tham học, nhưng thầy đã qua đời, ông bèn lạy Hòa Thượng Phong Huyệt làm thầy).”

tham từ tạ hạ

(參辭謝賀) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Lời cảm tạ và chúc mừng được bày tỏ đối với vị Giám viện từ nhiệm hay tựu chức. Thiền uyển thanh qui quyển 3 (Vạn tục 111, 445 hạ) nói: Chức Giám viện trông coi toàn bộ các công việc trong chùa viện, cũng như vị quan quản trị một vùng, cho nên phải bày tỏ lời tham từ tạ hạ.

tham vấn

Hành giả đi các nơi tham học, hỏi đạo gọi là tham vấn. ; Xin lời hướng dẫn—To seek instruction, generally as a class.

tham vọng

Desire—Craving for—Ambition.

tham vọng muốn bất tử

The craving for immortality.

tham ái

Passion—Desire—Cupidity—Tham ái, tham dục đòi hỏi những sự ham muốn về vật chất như thèm ăn, thèm ngủ, thèm ân ái, vân vân, là những khoái lạc về ngũ quan. Con người còn ham muốn để được thỏa mãn những nhu cầu về tinh thần như ham chiếm đoạt, ham phô trương, ham quyền lực, ham lợi lộc. Lòng ham muốn đắm mê không bao giờ biết ngừng, không bao giờ được thỏa mãn cả, như chiếc thùng không đáy. Để thỏa mãn dục vọng mà con người sanh ra vị kỷ, độc ác, làm hại, làm khổ người khác để mình được vui, được sung sướng. Vì lòng tham mà chúng ta không ngại xử dụng mọi thủ đoạn để đạt cho được mục đích, bất kể chuyện gì xãy đến cho người khác. Phật tử chúng ta nên thấy rõ vì không tu nên cõi đời trở thành một đấu trường mà nước mắt đổ như mưa rào, bể khổ dâng lên như nước thủy triều biển khơi—Greed and lust are unrestrained desires for material possessions such as food, sleeping, sexual intercourse, etc., all related to sensual pleasures. We also have a desire for appropriations, showing off, authority, and profits. Since they are like bottomless barrel, neither obsessive greed nor desire can be stopped or satisfied. Through tricks, expedients, and manipulations we try to reach our goal irrespective of whatever happens to others. We Buddhists must see that greedy people are generally selfish, wicked, and prone to cause sufferings to others. As a result, they transform this world into a battlefield where tears are shed like streams, and sufferings rise like an ocean tide. ; (貪愛) Tham đắm yếu thích Ngũ dục nên không thể ra khỏi sinh tử luân hồi. Tham vàái(yêu) là cùng thể khác tên. Tham là sự ham muốn, mong cầu những tài vật nhiễm ô mà không biết nhàm chán. Ái là yêu thích đắm đuối, là 1 trong 12 nhân duyên, hoặc là 1 trong 9 kết. Theo kinh Thắng thiên vương bát nhã quyển 1 thì sở dĩ chúng sinh bị trôi lăn trong 6 đường luân hồi mãi mãi không dứt là đều do Tham ái. Luận Đại tì bà sa quyển 50 cho rằng Ái kết là Tham trong 3 cõi; trong 9 kết, Tham trong 3 cõi được lập chung làm Ái kết, trong 7 Tùy miên lập làm 2 Tùy miên: 1. Tham ở cõi Dục gọi là Dục tham tùy miên. 2. Tham ở cõi sắc, cõi Vô sắc gọi là Hữu tham tùy miên. Trong các kinh luận khác thì có lập Tam ái: Dục ái, Sắc ái và Vô sắc ái. (xt. Tham, Ái).

tham ái mẫu

Tham ái là mẹ, vô minh là cha sản sanh ra cái “ngã”—Desire as mother and ignorance as father produce the ego.

tham đường

Bắt đầu những nghi thức hay công việc của một vị Tỳ Kheo vừa mới thọ cụ túc giới—The initiation to the services of one newly ordained. ; (參堂) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trong Thiền lâm, vị sa di mới gia nhập làm 1 thành viên của Tăng đường thì gọi là Tham đường, ý nói mới được vào nhà tăng. Điều Tân giới tham đường trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1138 trung) nói: Sau khi đã thụ giới, tân Sa di phải đến bạch vị Trụ trì xem ngày nào được tham đường?. [X. môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên].

tham đầu

Vị khởi đầu để dẫn chúng trong các nghi lễ—One versed in the ceremonies and capable of leading others. ; (參頭) Cũng gọi Tham đầu hòa thượng. Một trong các chức vụ của Tăng trong Thiền lâm. Tham là Tham tăng, tức vị tăng này từ 4 phương đến tham thiền học đạo ở một nơi nào đó; Đầu là Đầu thủ, tức vị tăng đứng đầu, chỉ đạo, trông nom đại chúng. Tham đầu là người đứng đầu trong các vị tăng mới đến, thay cho các vị này để làm các thủ tục nhập chúng. Tham đầu lại được chia làm 2 thứ là Tứ lai tham đầu và Hành giả tham đầu. Tứ lai tham đầu gọi tắt là Tham đầu, tức người đã quen việc tham phỏng và am hiểu phép tắc lễ nhạc trong số các vị tăng mới đến, được tuyển chọn để hướng dẫn các vị ấy về hành nghi tiến thoái trong các nghi thức Cáo hương, Phổ thuyết... Điều Cáo hương trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1119 hạ) nói: Trước mỗi hạ, trong số những vị tăng mới đến, phải cử một người Tham đầu hướng dẫn nghi thức Cáo hương (nghi thức người học thắp hương thỉnh sư gia thuyết pháp, khai thị). Nếu đại chúng đều dự Cáo hương thì vị Thủ tọa là Tham đầu. Dưới Tham đầu có Tiểu tham đầu, tức trong 3 vị tăng mới đến chọn lấy 1 người làm Tiểu tham đầu.Điều Tạ quảiđáptrong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1141 hạ) nói: Tham đầu phải có Tiểu đồ tập nghi, 3 người 1 dẫn, mỗi dẫn có 1 người làm Tiểu tham đầu. Ngoài ra, Tham đầu của các hành giả, gọi là Tham đầu hành giả, trong số các hành giả, chọn 1 người cựu tham lớn tuổi nhất làm chức này, nhiệm vụ của chức này được qui định trong điều Huấn đồng hành, Sắc tuBách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1122 thượng): Tham đầu hành giả bảo Hát thực hành giả trình bày mọi việc, trước hành đường treo bảng cáo thị cho đại chúng biết. Người phụ tá Tham đầu trong việc chỉ dẫn các vị tăng mới đến, gọi là Phó tham; người dự bị chức Phó tham, gọi là Vọng tham. [X. Thiền uyển thanh qui Q.1; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].

tham đắm danh lợi chẳng khác nào đang đi vào nẻo súc sanh hay ngạ quỷ

To be sunk (attached) to fame and fortune is to head for the realms of animals or hungry ghosts.

tham đồng khế

(參同契) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Thạch đầu Hi thiên soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Đây là một bài thơ cổ gồm 44 câu, mỗi câu 5 chữ, tất cả có 220 chữ, giải thích rõ ý nghĩa muôn pháp giao thoa xen lẫn nhau vô cùng, do sự khế hợp với nhau này mà hòa tan dung hợp lẫn nhau. Tập sách này cùng với tác phẩm Bảo kính của Thiền sư Động sơn Lương giới đều là Thánh điển được tông Tào động trân trọng và thường đọc tụng trước bàn Phật vào mỗi buổi sáng.Theo Bích nham lục tắc 4, động cơ sáng tác là lúc ngài Thạch đầu Hi thiên xem Triệu luận đến câu Muôn vật là chỗ của mình thì hoát nhiên đại ngộ, do đó mà soạn Tham đồng khế. Còn nguyên do đặt tên tác phẩm là Tham đồng khế thì có lẽ đã mượn tên sách Tham đồng khế do đạo sĩ Ngụy bá dương soạn để hiển bày lí sâu kín huyền diệu của Phật pháp, đồng thời có ý sửa chữa cái tệ bệnh chê bai lẫn nhau của Thiền Nam tông và Thiền Bắc tông lúc bấy giờ. Cũng có thuyết cho rằng tên Tham đồng khế là do người đời sau đặt. Tham là muôn tượng sum la xen lẫn nhau, dung hợp nhau; Đồng là bản thể bình đẳng của muôn tượng; Khế là khế hợp nhau, in hệt như nhau, hiển bày lí Sai biệt tức Bình đẳng, Bình đẳng tức Sai biệt.Toàn văn tập sách này cũng được thu vào Cảnh đức truyền đăng lục quyển 30, Ngũ đăng hội nguyên quyển 5, Giáo ngoại biệt truyền quyển 14 và Phật tổ lịch đại thông tải quyển 19. Toàn văn ấy như sau (Đại 51, 459 trung): Trúc độ đại tiên tâm, Đông tây mật tương phó. Nhân căn hữu lợi độn, Đạo vô Nam Bắc tổ. Linh nguyên minh kiểu thiết, Chi phái ám lưu chú. Chấp sự nguyên thị mê, Khế lí diệc phi ngộ. Môn môn nhất thiết cảnh, Hồi hỗ bất hồi hỗ. Hồi nhi cánh tương thiệp, Bất nhĩ y vị trụ. Sắc bản thù chất tượng, Thanh nguyên dị lạc khổ. Ám hợp thượng trung ngôn, Minh minh thanh trược cú. Tứ đại tính tự phục, Như tử đắc kì mẫu. Hỏa nhiệt phong động dao, Thủy thấp địa kiên cố. Nhãn sắc nhĩ âm thanh, Tị hương thiệt hàm thố. Nhiên y nhất nhất pháp, Y căn diệp phân bố. Bản mạt tu qui tông, Tôn ti dụng kì ngữ. Đương minh trung hữu ám, Vật dĩ ám tương ngộ. Đương ám trung hữu minh, Vật dĩ minh tương đổ. Minh ám các tương đối, Tỉ như tiền hậu bộ. Vạn vật tự hữu công, Đương ngôn dụng cập xứ. Sự tồn hàm cái hợp, Lí ứng tiễn phong trụ. Thừa ngôn tu hội tông, Vật tự lập qui củ. Xúc mục bất hội đạo, Vận túc yên tri lộ? Tiến bộ phi cận viễn, Mê cách sơn hà cố. Cẩn bạch tham huyền nhân, Quang âm mạc hư độ. (Tâm Đại tiên đất Ấn, Đông, Tây thầm truyền nhau. Căn cơ có bén lụt, Tổ đạo không Bắc, Nam. Nguồn thiêng vốn trong sáng, Chia dòng chảy tối tăm. Chấp sự vốn là mê, Khế lí chưa hẳn ngộ. Hết thảy các môn, cảnh, Hòa nhau hay chẳng hòa? Hòa nhau thì dung hợp, Không thì đứng nguyên chỗ. Sắc vốn khác chất tượng, Thanh chẳng giống khổ vui. Lời nói về thầm hợp, Rõ ràng câu đục trong. Tính bốn đại tự về, Như con được gặp mẹ. Lửa nóng, gió lay động, Nước ướt, đất cứng chắc. Mắt sắc, tai âm thanh, Mũi hương, lưỡi nếm vị. Nhưng tùy mỗi mỗi pháp, Phân bố theo ngành ngọn. Ngành ngọn phải về gốc, Tôn ti chia rõ ràng. Ngay trong sáng có tối, Chớ tưởng tối ngoài sáng. Ngay trong tối có sáng, Chớ nghĩ sáng lìa tối. Sáng tối đều đối nhau, Như bước trước, bước sau. Muôn vật tự có công, Nên nói dụng và xứ, Sự tồn, nắp, hộp hợp, Lí ứng, tên, giáo hòa. Nương lời phải hiểu tông, Đừng tự lập qui củ. Trước mắt không thấy đạo, Biết trước đi đường nào? Tiến bước chẳng gần xa, Mê tức cách sông núi. Kính bạch người tham huyền, Chớ luống phí thời gian!) Về sách chú thích Tham đồng khế thì có rất nhiều như: Động thượng cổ triệt của ngài Vĩnh giác Nguyên hiền đời Minh, Báo ân biên của Thiên quế Truyền tôn người Nhật bản, Xuy xướng của Diện sơn Thụy phương... [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.14; Thích thị kê cổ lược Q.3; Lâm gian lục Q.hạ].

tham độc

Một trong tam độc—One of the three poisons. 1) Chất độc của tham dục: The poison of desire. 2) Sự nhiễm uế của tham dục: The contamination of desire. ; (貪毒) Cũng gọi Tham dục. Tâm tham dục làm cho thân tâm loài hữu tình chịu các khổ to lớn trong vòng sinh tử luân hồi, làm độc hại thiện tâm khiến không thể đạt đến cảnh giới giác ngộ thanh tịnh, cho nên gọi là Tham độc, 1 trong 3 độc. Ba độc chỉ cho 3 thứ phiền nãotham, sân, si, bao nhiếp tất cả phiền nãotrong 3 cõi. Gọi là độc, bởi vì chúng thường xuyên gây độc hại cho chúng sinh, như loài rắn độc, rồng độc... Cũng có nghĩa trầm độc, vì chúng rất não hại nên gọi là trầm độc. Vì chúng làm độc hại thiện tâm xuất thế nên gọi là Độc. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần đầu; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.thượng]. (xt. Tam Hỏa).

tham, sân, mạn, nghi, tà kiến, sát, đạo, dâm, vọng đều do si mê ngu muội mà ra cả

Greed, anger, arrogance, doubt, wrong views, killing, stealing, lust, illusive (erroneous) thoughts all stem from ignorrance or delusion.

tham, sân, si

Greed, anger and ignorrance, binding in the chain of transmigration—See Nhiễm Khuể Si, and Tam Độc.

tham-sân-si-mạn-nghi-tà kiến-sát-đạo-dâm-vọng-thân kiến-biên kiến-giới kiến thủ-giới cấm thủ

Greed—Hatred—Ignorance—Haughtiness—Suspicion—Heretic views—Killing—Stealing—Lewd—Lying speech—Self- concept—One-sided standpoint—Coservative sptandpoint—Uphold forbidden religious practices. 1) Tham—Greed: See Tham Sân Si (1), and Ngũ Giới (2). 2) Sân—Hatred: See Tham Sân Si (2). 3) Si—Ignorance: See Tham Sân Si (3). 4) Mạn—Haughtiness: See Mạn. 5) Nghi—Doubt: See Nghi Cái, and Ngũ Triền Cái. 6) Tà Kiến—Heretic views: See Tà Kiến. 7) Sát—Killing: See Sát, and Ngũ Giới (1). 8) Đạo—Stealing: See Ngũ Giới (2). 9) Dâm—Lewd: See Ngũ Giới (3). 10) Vọng—Lying speech: See Ngũ Giới (4). 11) Thân Kiến—Illusion of the self: See Thân Kiến, Ngã Kiến, Ngũ Kiến Vi Tế, and Tam Kết. 12) Biên Kiến—One-sided standpoint: See Biên Kiến, and Ngũ Kiến Vi Tế. 13) Giới Kiến Thủ—Coservative standpoint: See Giới Kiến Thủ. 14) Giới Cấm Thủ—Upholding forbidden religious practices: See Giới Cấm Thủ Kiến.

than

To complain.

than phiền

See Than.

than thân

To complain about one's lot

than thở

To lament.

than tiếc

To regret.

than vãn

See Than thở.

than ôi!

Alas!

thang

1) Canh: Soup. 2) Nước nóng: Hot liquid—Hot water.

thang danh vọng

Ladder of fame.

thang dược thị giả

(湯藥侍者) Cũng gọi Thị dược. Thị giả coi việc thuốc thang, 1 trong 5 vị Thị giả trong Thiền lâm. Tức chỉ cho người Thị giả vị Trụ trì, chăm lo việc cơm nước, thuốc thang. Cứ theo điều Tây tự đầu thủ thị giả, chương Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4, Thang dược thị giả có bổn phận sớm chiều lo việc cơm nước, thuốc thang (nếu đau ốm) cho vị Trụ trì, ứng tiếp mọi bề, giúp đỡ thị giả Y bát, an úy, nâng đỡ người cận sự giúp việc. Ngoài ra, khi thị giả tạm vắng mà có khách đến, thì mọi việc thông báo, phúc đáp, đốt hương...vịThang dược thị giả đều phải giúp đỡ làm thay. Thông thường, chọn người trẻ tuổi, cẩn thận,giàukinh nghiệm đảm nhiệm chức này. [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].

thang dụng đồng

(湯用彤) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người tỉnh Cam túc(có thuyết nói là người huyện Hoàng mai, tỉnh Hồ bắc), tự là Tích dư. Ông rất nổi tiếng trong giới học thuật nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Trung quốc. Ông từng học tại Đại học Harvard của Hoa kì. Lần lượt làm Giáo sư các trường Đại học Bắc kinh, Trung ương, Tây nam liên đại... và giữ các chức vụ Viện trưởng việnVăn học Đại học Bắc kinh,Viện sĩviệnNghiên cứu Trung ương. Ông tinh thông các thứ tiếng Phạm, Pàli, Anh, Nhật, am hiểu triết học và văn học Đông Tây, từng gần gũi Đại sư Duy thức học Âu dương tiệm ở viện Nội học China tại Nam kinh. Trình độ Phật học của ông rất sâu sát, cả về nghĩa lí và sử học đều thông suốt. Các tác phẩm của ông như: Hán ngụy lưỡng tấn nam bắc triều Phật giáo sử, Vãng nhật tạp cảo, Ngụy tấn huyền học luận cảo, Ấn độ triết học sử lược... đều là các tác phẩm thượng thừa trong giới học thuật. Trong đó, đặc biệt là bộ Hán ngụy lưỡng tấn nam bắc triều Phật giáo sử, tài liệu phong phú, phương pháp chặt chẽ, về mặt khảo chứng và nghĩa lí có khá nhiều sáng kiến, rất được giới học giả quốc tế coi trọng.

Thang giới

(湯界): cõi nước nóng sôi sùng sục, tức chỉ cho Địa Ngục, như trong 18 cõi địa ngục có 18 Địa Ngục Vạc Nước Sôi (十八鑊湯地獄, Thập Bát Hoạch Thang Địa Ngục).

thang quán

(湯灌) Cũng gọi Dục vong. Tắm vong. Chỉ cho nghi thức tắm rửa cho người chết trước khi bỏ vào quan tài. Cứ theo điều Thiên hóa, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 3, tiểu sư (vị tăng thụ giới Cụ túc chưa đầy 10 năm), thị giả, người theo hầu... sắp đặt việc tắm rửa, mặc áo, cạo tóc, sau đó nhập khám(đặt vào quan tài). Điều Vong tăng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 6 nói: Sai người khiêng khám và bồn tắm đến tắm cho người chết, tắm xong, lau khô, cạo tóc, xem xét lại y phục, trao khăn lau cho người cạo tóc, vị Duy na lo việc mặc áo, nhập quan. Truyện Đào hoằng cảnh trong Nam sử quyển 76 có câu: Theo lời trối lại không cần tắm rửa, căn cứ vào đó thì biết nghi thức tắm rửađãcó từ xưa. Về việc cạo tóc, vì người tại gia lúc còn sống muốn xuất gia, thụ giới, nhưng bị duyên trần trói buộc, chưa thực hiện được ý định, nên lúc lâm chung, cạo tóc, nhận lãnh pháp danh, biểu trưng cho uy nghi sa môn để được toại nguyện lúc bình sinh.

thang tuyền tam duyên

(湯泉三緣) Ba lí do khiến cho nước suối nóng như nước đun sôi. Cứ theo Đại minh tam tạng pháp số quyển 12 thì vua nước Ca thắng ở Trung thiên trúc hỏi tôn giả Bà xá tư đa về nguyên nhân tại sao nước suối lại nóng như nước đang sôi, tôn giả trả lời do 3 duyên sau đây:1. Thần nghiệp: Thần không giữ đạo của mình, tạo bừa họa phúc để hưởng sự cúng tế, nghiệp ác tràn lan, nên làm cho nước suối nóng lên để đền tội lạm dụng việc cúng tế. 2. Quỉ nghiệp: Nghĩa là quỉ ra khỏi nơi chịu tội, dạo chơi cõi nhân gian, dùng sức nghiệp còn sót lại làm cho nước suối nóng lên để trả nợ kiếp trước. 3. Nhiệt thạch(Đá nóng): Màu của đá nóng như vàng, tính nó thường nóng làm cho nước suối từ chỗ đá nóng ấy chảy ra nóng như nước sôi.

thang xã hội

Social ladder.

thang đầu

Vị sư lo việc nấu nước trong chùa—The monk in charge of the kettles in a monastery. ; (湯頭) Chỉ cho chức vụ coi việc trà nước, thuốc thang trong Thiền lâm. Điều Trấn thang đầu trong Thạch khê Tâm nguyệt thiền sư ngữ lục quyển hạ (Vạn tục 123, 64 thượng) nói: Ngọt tựa hoàng liên pha tí chát, Đắng như cam thảo lẫn hơi cay. Mỗi lần nếm thử mỗi lần khác, Chỉ sợ khó lừa kẻ lưỡi hư.[X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].

Thang-ton Gyel-po

T: thangtong gyelpo [thaṅ-ston rgyal-po]; »Vua của miền hoang dã«;|Tên của một vị Lạt-ma Tây Tạng, sống ở thế kỉ 15. Tương truyền Sư sống đến 125 tuổi. Một trong những tác phẩm nổi tiếng của Sư nói về phép Thiền quán về đức Quán Thế Âm (Nghi quỹ). Ngày nay, bộ luận đó vẫn còn được tu học trong phái Cát-mã Ca-nhĩ-cư (t: karma-kagyu) và được nhiều Ðạo sư đời sau luận giải thêm. Sư là người xây những chiếc cầu sắt tại Tây Tạng và tông phái của Sư được gọi là »Thiết kiều tông.« Trong tông Ninh-mã (t: nyingmapa), Sư được xem là người chuyên đi tìm các kinh sách được dấu kín (Ter-ma).

thanh

1) Âm thanh: Sabda (skt)—Một trong ngũ căn—Sound—Voice—Tone, one of the five physical senses or sensations. 2) Thanh sắt: A bar of metal. 3) Tiếng thanh: Clear voice. 4) Thanh sắc: Nila (skt)—Màu xanh nước biển—Dark blue coloured; also green, black. 5) Thanh tịnh: Amala (skt)—Pure—Clear—Tranquil—Serene. ; (聲) Phạm: Zabda. Pàli:Sadda. Hán âm: Nhiếp đà. Chỉ cho tiếng, là đối tượng mà tai nghe được, thức tai liễu biệt(nhận biết) được, mắt không thấy được, có tính chất ngăn ngại, tức là sắc pháp Vô kiến hữu đối là 1 trong 6 cảnh (6 trần), 1 trong 12 xứ (12 nhập), 1 trong 18 giới, 1 trong 75 pháp của Câu xá, 1 trong 100 pháp của Duy thức. Y cứ vào Xứ, Giới mà gọi Thanh là Thanh cảnh, Thanh trần, Thanh xứ, Thanh nhập, Thanh giới. Về cách phân loại Thanh, có nhiều thuyết khác nhau. Theo luận Đại tì bà sa quyển 13 và luận Câu xá quyển 1 thì do Vật thể phát ra tiếng có cảm giác hay không mà chia Thanh làm 2 loại là Thanh hữu chấp thụ đại chủng nhân và Thanh vô chấp thụ đại chủng nhân. Chấp thụ là tên khác của tâm, tâm sở; Hữu chấp thụ, chỉ cho thân của hữu tình; Đại chủng chỉ 4 đại chủng đất, nước, lửa, gió. Tiếng phát ra từ 4 đại chủng của hữu tình, gọi là Thanh hữu chấp thụ đại chủng nhân, như tiếng nói tiếng vỗ tay của người ta; tiếng phát ra từ 4 đại chủng của loài vô tình, gọi là Thanh vô chấp thụ đại chủng nhân, như tiếng nói của người hóa, hoặc tiếng phát ra từ gỗ, đá. Kế đến lại xem tiếng ấy có ý nghĩa, ý chí hay không, mỗi thứ lại chia làm Thanh hữu tình danh và Thanh phi tình danh. Lại do tiếng có làm người khoái cảm hay không màchia làm Tiếng đáng ưa và Tiếng không đáng ưa. Đồ biểu như sau:(xemĐồ biểu cuối trang) Luận Tạp a tì đàm tâm quyển 1 chia Thanh làm 3 loại là: 1. Nhân thụ tứ đại thanh: Tiếng chấp nhận 4 đại chủng làm nhân. 2. Nhân bất thụ tứ đại thanh: Tiếng không chấp nhận 4 đại chủng làm nhân. 3. Nhân câu thanh: Có chấp nhận và không chấp nhận 4 đại chủng làm nhân và lấy tiếng phát ra từ việc đánh trống và thổi tù và làm Nhân câu thanh. Nhưng luận Câu xá không tán đồng thuyết này. Còn theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 1 thì Thanh có 11 thứ: 1. Khả ý thanh: Tiếng vừa ý. 2. Bất khả ý thanh: Tiếng không vừa ý. 3. Câu tương vi thanh: Tiếng chẳng vừa ý cũng chẳng phải không vừa ý, cho nên đặc biệt gọi là Tiếng ở chặng giữa (xử trung chi thanh). 4. Nhân thụ đại chủng thanh: Tiếng có chấp nhận đại chủng làm nhân. 5. Nhân bất thụ đại chủng thanh: Tiếng không chấp nhận đại chủng làm nhân. 6. Nhân câu đại chủng thanh: Tiếng vừa chấp nhận đại chủng vừa không chấp nhận đại chủng làm nhân. 7. Thế sở cộng thành thanh: Tiếng có tính chất thế tục. 8. Thành sở dẫn thanh: Chỉ cho lời nói của bậc Thánh. 9. Biến kế sở chấp thanh: Lời nói của ngoại đạo ngoài Phật giáo. 10. Thánh ngôn sở nhiếp thanh: Chỉ Cho những lời nói đúng như thực, tức đối với 4 thứ thấy, nghe, hay, biết, hễ thấy thì nói là thấy, không thấy nói không thấy... 11. Phi thánh ngôn sở nhiếp thanh: Không phải lời nói của bậc Thánh. Luận Du già sư địa quyển 1 thì liệt kê 18 thứ Thanh là: Tiếng tù và tiếng trống, Tiếng có chấp nhận đại chủng nhân Hữu tình danh Phi tình danh Tiếng vừa ý –––––––– Tiếng nói đáng ưa Tiếng không vừa ý –––– Tiếng nói đáng ghét Tiếng vừa ý –––––––– Tiếng vỗ tay đáng ưa Tiếng không vừa ý –––– Tiếng vỗ tay đáng ghét Tiếng vừa ý –––––––– Tiếng nói đáng ưa của người hóa Tiếng không vừa ý –––– Tiếng nói đáng ghét Tiếng không chấp nhận của người hóa đại chủng nhân Tiếng vừa ý –––––––– Tiếng đáng ưa của gỗ, đá Tiếng không vừa ý –––– Tiếng đáng ghét của gỗ, đá Tiếng lớn nhỏ, tiếng múa, tiếng hát, tiếng nhạc, tiếng tuồng, tiếng nữ, tiếng nam, tiếng gió thổi, tiếng rõ ràng, tiếng không rõ ràng, tiếng có nghĩa, tiếng vô nghĩa, tiếng hạ trung thượng, tiếng nước chảy, tiếng cãi cọ tạp nhạp, tiếng thụ trì giảng nói, tiếng luận nghĩa quyết trạch. Ngoài ra, Mật giáo thì nhân cách hóa các loại âm thanh, gọi là Kim cương ca bồ tát, cho rằng vị Bồ tát này có đến 64 thứ âm thanh. [X. luận Thuận chính lí Q.1; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; luận Du già sư địa Q.3; Câu xá luận quang kí Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.8, phần cuối].

Thanh Biện

清辯; ?-686|Thiền sư Việt Nam thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ tư, nối pháp Thiền sư Huệ Nghiêm.|Sư họ Ðỗ, quê ở Cổ Giao, xuất gia năm 12 tuổi với Thiền sư Pháp Ðăng. Khi Pháp Ðăng thị tịch, Sư chuyên trì tụng kinh Kim cương và lấy đó làm sự nghiệp. Một hôm, một vị thiền khách ghé chùa, hỏi Sư: »Kinh này là mẹ của Phật tam thế (quá khứ, hiện tại, vị lai), thầy hiểu ›mẹ Phật‹ thế nào?« Sư đáp: »Tôi từ trước trì tụng kinh này nhưng cũng chư hiểu ý ấy.« Khách hỏi: »Trì tụng đã bao lâu?« Sư thưa: »Tám năm.« Khách bảo: »Tám năm chỉ trì tụng một kinh mà chưa hiểu ý nghĩa thì dù trì tụng cả trăm năm cũng chẳng có công dụng gì.«|Nghe lời khuyên của thiền khách, Sư đến tham vấn Thiền sư Huệ Nghiêm tại chùa Sùng Nghiệp. Thấy Sư, Huệ Nghiêm hỏi: »Ngươi đến có việc chi?« Sư thưa: »Ðệ tử trong tâm chưa yên ổn.« Huệ Nghiêm hỏi: »Chưa ổn cái gì?« Sư thuật lại cuộc đàm thoại với thiền khách. Huệ Nghiêm bảo: »Ngươi quên hết rồi! Sao ngươi không nhớ câu kinh ›Các Phật tam thế cùng lối pháp Vô thượng chính đẳng chính giác đều xuất xứ ở kinh Kim cương‹, thế chẳng là ›Mẹ của Phật‹ hay sao?« Sư thưa: »Quả thật đệ tử còn mê muội.« Huệ Nghiêm lại hỏi: »Thế kinh ấy ai thuyết.« Sư hỏi: »Chẳng phải là lời thuyết pháp của Như Lai hay sao?« Huệ Nghiêm nói: »Trong kinh nói ›Nếu nói Như Lai có thuyết pháp gì thì phỉ báng Như Lai.‹ Câu ấy người ta không giải được. Cái nghĩa ta vừa nói, ngươi cứ thử nghĩ xem, nếu nói kinh ấy không phải là lời thuyết pháp của Phật thì thế là phỉ báng kinh; nếu lại nói đúng là những lời thuyết pháp của Phật lại là phỉ báng Phật. Sao ngươi lại cứ muốn ta trả lời ngay?« Sư suy nghĩ, muốn hỏi thêm, Huệ Nghiêm bèn cầm Phất tử đánh vào miệng. Sư ngay đây tỉnh ngộ, bèn sụp lạy.|Sau, Sư đến trụ trì chùa Kiến Dương giáo hoá tông đồ. Năm Bính Tuất, niên hiệu Ðường Thuỳ Cung thứ hai (686), Sư quy tịch. ; 清辯; S: bhāvaviveka, bhavya; C: qīngbiàn; J: shōben;|Một Luận sư quan trọng của tông Trung quán (s: mādhyamika), sống khoảng giữa 490 và 570. Sư sinh tại Nam Ấn Ðộ, theo học giáo lí của Long Thụ (nāgārjuna) tại Ma-kiệt-đà (magadha). Sau đó Sư trở về quê hương và trở thành một luận sư danh tiếng. Trong các tác phẩm được dịch ra chữ Hán và chữ Tây Tạng (phần lớn của nguyên bản Phạn ngữ đã thất truyền), Duy thức tông (s: vijñānavāda, yogācāra) là đối tượng bị Sư chỉ trích. Là người sáng lập hệ phái Trung quán-Y tự khởi (中觀依自起; mādhya-mika-svātantrika, cũng được gọi là Độc lập luận chứng phái 獨立論證派), một trong hai trường phái của Trung quán, Sư cũng đả kích Phật Hộ (s: buddhapālita), người sáng lập hệ phái Trung quán-Cụ duyên (中觀具緣; prāsaṅgika-mādhyamika) bằng một phương pháp suy luận biện chứng trên cơ sở nhân minh học (s: hetuvidyā), Nhận thức học (s: pramāṇavāda). Vào thế kỉ thứ 8, trường phái của Sư được Tịch Hộ (s: śānta-rakṣita) biến thành phái Trung quán-Duy thức (mādhyamika-yogācāra).|Các trứ tác của Sư (trích): 1. Ðại thừa chưởng trân luận (mahāyānatālaratnaśāstra), Huyền Trang dịch; 2. Bát-nhã đăng luận thích (prajñāpradīpa, cũng có tên prajñāpradīpa-mūlamadhyamaka-vṛtti), Ba-la-phả Mật-đa dịch; 3. Trung quán tâm luận tụng (madhyamakahṛdayakārikā), Tạng ngữ; 4. Trung quán tâm quang minh biện luận (madhyamaka-hṛdaya-vṛttitarkajvālā), chú giải Trung quán tâm luận tụng (madhyamakahṛdayakārikā), Tạng ngữ; 5. Trung quán nhân duyên luận (madhyamikapratītya-samutpāda-śāstra), Tạng ngữ; 6. Nhập trung quán đăng luận (madhyamakāvatārapradīpa), Tạng ngữ; 7. Nhiếp trung quán nghĩa luận (madhyamārtha-saṃgraha), còn bản Tạng ngữ và Phạn ngữ; 8. Dị bộ tông tinh thích (nikāyabheda-vibhaṅgavyākhyāna), chỉ còn lưu lại trong Tạng ngữ, nói về các tông phái phật giáo sau khi Phật diệt độ đến thời Thanh Biện, rất giống Dị bộ tông luân luận (samayabhedavyū-hacakraśāstra) của Thế Hữu (vasumitra).

thanh biện

Bhavaviveka (skt)—Bà Tỳ Phệ Da, một luận sư nổi tiếng (đồng thời với Bồ Tát Hộ Pháp, nhưng bác bỏ thuyết hữu tông của Hộ Pháp), là đệ tử của ngài Long Thọ. Ngài là người cùng thời với Phật Hộ, nhưng trẻ tuổi hơn. Ngài cho rằng , chỉ nêu ra sự sai lầm không chưa đủ, mà còn phải đề ra tự y luận chứng, hoặc luận chứng độc lập hợp lý để khiến kẻ đó phải im tiếng. Ngài đã viết bộ Đại Thừa Chưởng Trân Luận, Trung Quán Tâm Luận, và Trung Luận Yếu Chỉ để chú giải Trung Luận của Ngài Long Thọ—A noted Buddhist philosopher, around 60 A.D., a follower of Nagarjuna. Bhavaviveka was a junior contemporary of Buddhapalita. He maintained that the opponent should not only be reduced to absurdity, but svatantra or independent logical arguments should also be advanced to silence him. He wrote Mahayana-Karatala-ratna sastra, Madhyamikahrdaya with an auto commentary called Tarkajvala, Madhyamartha-Samgraha and Prajna-pradipa, a commentary on the Madhyamaka Sastra of Nagarjuna. ; (清辨) Phạm: Bhàvaviveka, Bhavya. Hán âm: Bà tì phệ già, Bà tì bệ ca. Cũng gọi Minh biện, Phân biệt minh. Cao tăng Ấn độ sống vào thế kỉ VI, Luận sư của học phái Trung quán thuộc Phật giáo Đại thừa tại Nam Ấn độ. Có thuyết cho rằng sư thuộc Vương tộc nước Mạt lợi da na (Phạm: Malyara)ở Nam Ấn độ; lại có thuyết nói sư thuộc chủng tính Sát đế lợi ở nước Ma già đà. Sư từng đến Trung Ấn độ thờ ngài Tăng hộ (Phạm: Saôgharakwita) làm thầy, chuyền cần tu học kinh điển Đại thừa và giáo thuyết của bồ tát Long thụ (Phạm:Nàgàrjuna). Sau, sư trở về Nam Ấn độ tuyên dương nghĩa Không mở màn cho cuộc tranh luận về Không, Hữu với ngài Hộ pháp (Phạm: Dharmapàla) thuộc tông Du già ở nước Ma yết đà. Ngài Hộ pháp thừa kế học thuyết của các bồ tát Vô trước, Thế thân, chủ trương Hữu là tận cùng của không, ngài Thanh biện thì noi theo học thuyết của bồ tát Long thụ, chủ trương Không là tận cùng của Hữu, 2 bên bác bỏ nhau và thành tựu cho nhau. Hoặc truyền thuyết cho rằng sau khi trở về Nam Ấn độ, sư chủ trì hơn 50 ngôi già lam, tuyên thuyết giáo pháp, soạn Trung luận thích, bác bỏ thuyết của ngài Phật hộ (Phạm:Buddhapàlita), cũng là người thuộc học phái Trung quán, cứ xem Bát nhã đăng luận thích của sư thì thấy ý kiến của sư trái với quan điểm của ngài Phật hộ. Về già, sư ở ẩn trong núi phía nam nước Đà na yết trách ca, đọc tụng chân ngôn rồi thị tịch. Sư soạn các tác phẩm: Luận Đại thừa chưởng trân 2 quyển, Bát nhã đăng luận thích 15 quyển, Trung quán tâm luận tụng (đã được truyền đến Tây tạng). [X. luận Biện chính Q.4; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4; điều Đà na yết trách ca quốc trong Đại đường tây vực kí Q.10; Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.4; Pháp hoa kinh huyền tán yếu tập Q.5; Ấn độ triết học nghiên cứu 5; The Conception of BuddhistNirvàna by Th. Stcherbatsky].

thanh bình

Tranquil—Quiet—Calm—Peaceful.

thanh bạch

Pure—Honest—Pháp do Đức Phật thuyết ra làm sáng tỏ mọi thiện pháp vô lậu, làm cho người nghe có khả năng rời bỏ phiền não ô trược—Pure and white, as the Buddha-truth, or as pure as goodness. ; (清白) Pháp thanh bạch, nghiệp thanh bạch. Chỉ cho giáo pháp do đức Phật hiển bày, cũng chỉ chung cho các thiện pháp vô lậu. Thanh bạch có nghĩa là xa lìa các phiền não cấu nhiễm. Trong phẩm Tựa của kinh Pháp hoa, Thanh bạch được xếp vào 1trong 7 thiện pháp. [X. kinh Như huyễn tam muội Q.hạ; kinh Vô lượng thọ Q.thượng].

thanh bần

Poor but unsullied

thanh ca sa

(青袈裟) Chỉ cho áo ca sa mà vị tiểu sư nối pháp, thị giả... mặc khi cử hành Phật sự treo chân dung(ảnh) và nghi thức Cử ai(khóc) vào ngày thứ 3 sau khi vị Trụ trì thị tịch. Vì áo ca sa này màu xanh nên gọi là Thanh ca sa. [X. chương Thiên hóa trong Hoàng bá thanh qui].

Thanh Chuyết Chánh Trừng

(清拙正澄, Seisetsu Shōchō, 1274-1339): vị Thiền Tăng của Phái Dương Kì (楊岐) và Phá Am (破庵), thuộc Lâm Tế Tông, vị Tổ khai sáng Phái Đại Giám (大鑑派), hiệu là Thanh Chuyết (清拙), ngoài ra còn có hiệu khác là Tất Cánh Diệt (畢竟滅), thụy hiệu là Đại Giám Thiền Sư (大鑑禪師); người vùng Phúc Châu (福州, thuộc Tỉnh Phúc Kiến), họ là Lưu (劉). Năm 15 tuổi, ông theo xuất gia với người bác mình là Nguyệt Khê Viên (月溪圓) ở Báo Ân Tự (報恩寺), năm sau thì thọ Cụ Túc Giới ở Khai Nguyên Tự (開元寺). Ông đến tham vấn ở pháp tịch của Cổ Sơn Bình Sở Tủng (鼓山平楚聳), rồi đến Tịnh Từ Tự (淨慈寺) ở vùng Triết Giang bái yết Ngu Cực Trí Tuệ (愚極智慧), và sau khi Ngu Cực qua đời thì ông kế thừa dòng pháp của Phương Sơn Văn Bảo (方山文寶). Về sau, ông cũng đã từng đến tham học ở các nơi như Hổ Nham (虎巖) tại Linh Ấn Tự (靈隱寺), Đông Nham (東巖) tại Dục Vương Sơn (育王山), Nguyệt Đình (月庭) ở Tương Sơn (蔣山), cũng như Hư Cốc Hy Lăng (虛谷希陵) ở Ngưỡng Sơn (仰山). Sau đó, ông bắt đầu hóa đạo ở Kê Túc Sơn (雞足山), chuyên tâm báo đáp ơn pháp nhũ của Ngu Cực Trí Tuệ. Đến năm thứ 3 (1326) niên hiệu Thái Định (泰定), nhận lời mời của dòng họ Bắc Điều (北條, Hōjō), ông cùng với người đệ tử Vĩnh Kỳ (永錤) sang Nhật Bản. Thể theo lời thỉnh cầu của Tướng Quân Bắc Điều Cao Thời (北條高時, Hōjō Takatoki), ông đến sống tại Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji). Sau đó, ông đã từng sống qua ở hai chùa Tịnh Trí (淨智) và Viên Giác (圓覺), nhưng sau ông lại trở về dựng ngôi thảo am lấy tên Thiền Cư Am (禪居庵) ở trong khuôn viên Kiến Trường Tự mà sống. Vào năm thứ 3 (1333) niên hiệu Nguyên Hoằng (元弘), ông chuyển đến Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji) ở vùng Kinh Đô Kyoto, rồi Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji). Sau đó, nhận lời thỉnh cầu của vị thí chủ Tiểu Lạp Nguyên Trinh Tông (小笠原貞宗), ông đến làm Tổ khai sơn Khai Thiện Tự (開善寺, Kaizen-ji) ở vùng Y Hạ Lương (伊賀良) thuộc Tín Nùng (信濃, Shinano, thuộc Nagano-ken [長野縣]). Nhưng sau ông lại rút lui khỏi đây mà trở về Thiền Am Cư. Tiếp theo sau đó, nhận sắc chỉ của triều đình, lần thứ hai ông trở về sống ở Kiến Nhân Tự, và đến ngày 17 tháng giêng năm thứ 2 niên hiệu Ứng Lịch (應曆), ông thị tịch, hưởng thọ 66 tuổi đời và 53 hạ lạp. Ông được ban cho thụy hiệu là Đại Giám Thiền Sư. Trước tác của ông để lại có Thanh Chuyết Hòa Thượng Ngữ Lục (清拙和尚語錄), Đại Giám Thanh Quy (大鑑清規), Đại Giám Tiểu Thanh Quy (大鑑小清規), Thanh Chuyết Hòa Thượng Thiền Cư Tập (清拙和尚前居集), Vô Môn Quan Chú (無門關註). Đông Lăng Vĩnh Dư (東陵永璵) soạn bài Thanh Chuyết Đại Giám Thiền Sư Tháp Minh (清拙大鑑禪師塔銘).

thanh chuyết hoà thượng thiền cư tập

(清拙和尚禪居集) Gọi tắt: Thiền cư tập. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Thanh chuyết Chính trừng soạn vào cuối đời Tống, ngài Vĩnh kì biên tập. Thiền cư là tên ngôi am ở chùa Kiến nhân tại Nhật bản, nơi ngài Chính trừng ở ẩn. Sách này lấy các trứ tác của ngài Chính trừng khi còn ở Trung quốc làm thiên trước, sưu tập các trứ tác của ngài sau khi sang Nhật bản thành 1 thiên và gom các trứ tác lặt vặt khác vào cuối quyển. Nội dung gồm các phần: Chư thể hỗn, Phật tổ tán, Tự tán, Tiểu Phật sự, Đề bạt, Minh, Kí, Tự, Tự thuyết, Sớ, Tế văn...

thanh châu bách vấn

(青州百問) Tác phẩm, 1 quyển, do vị tăng tông Tào động đời Tống tên là Nhất biện (1081 -1149) hỏi, ngài Từ vân giác đáp, ngài Lâm tuyền Tòng luân phụ thêm kệ tụng, được thu vào Vạn tục tạng tập 119. Khi Hòa thượng Nhất biện chùa Phổ chiếu ở Thanh châu, trụ trì chùa Đại vạn thọ ở Yên kinh, khoảng năm Tuyên hòa (1119-1125), ngài nhóm họp tăng chúng khắp nơi, thử dùng sự khám nghiệm trong thất để nêu rõ tông cương, đặt ra 100 câu hỏi dạy chúng. Trong chúng có ngài Từ vân giác ở chùa Thập thân lần lượt trả lời từng câu hỏi một. Về sau, ngài Lâm tuyền Tòng luân làm thêm 1 bài tụng sau mỗi câu hỏi đáp. Sách này và bộ Thung dung lục có chung một hình thức, đều là tập Công án của tông Tào động. Người đời sau thường gọi chung tác phẩm này và bộ Thông huyền bách vấn của ngài Thông huyền Viên thông – học trò ngài Nhất biện – là Thông huyền Thanh châu nhị bách vấn và được lưu hành song song.

thanh chúng

(清衆) Cũng gọiThanh tịnh đại hải chúng, Thanh tịnh chúng. Chỉ cho giáo đoàn xuất gia, hoặc đại chúng tu hành trong tùng lâm. Cũng như 4con sông lớn ở Ấn độ, khi chảy ra biển cả thì mất tên sông cũ mà đều là nước biển; tỉ khưu xuất gia cũng bỏ tên hiệu và dòng họ trước kia, không phân biệt sang hèn, trên dưới, đều trở thành đại chúng thanh tịnh, một lòng cầu đạt giải thoát.

thanh cảnh quan âm

(青頸觀音) Thanh cảnh, Phạm: Nìlakaịỉha. Hán âm: Ni la kiện thác, Nễ la kiến chế. Cũng gọi Thanh cảnh Quán tự tại bồ tát. Một trong các hóa thân của bồ tát Quán âm, tức vị Quán âm thứ 14 trong 33 vị Quán âm. Nếu chúng sinh nào niệm danh hiệu của vị Quán âm này thì xa lìa sự sợ hãi ách nạn, thoát khỏi các khổ. Pháp tu thờ vị tôn này làm Bản tôn để cầu trừ bệnh, diệt tội, sống lâu... gọi là Thanh cảnh Quán âm pháp. Về hình tượng, cứ theo kinh Bất không quyên sách quyển 9, vị tôn này ngồi kiết già, tay trái cầm hoa sen, bàn tay phải đưa lên. Còn theo Thanh cảnh Quán âm niệm tụng nghi quĩ thì hình tượng tôn vị này có 3 hoặc 4 tay, cầm bốn vật là gậy, hoa sen, bánh xe và vỏ ốc, thân màu trắng hồng, cổ màu xanh (thanh cảnh), biểu trưng ý nghĩa phiền não chính là bồ đề. Hình Tam muội da là hoa sen, hoặc bánh xe báu, chủng tử là (sa). Theo kinh Bất không quyên sách quyển 4 thì ấn khế của vị tôn này là chấp tay để rỗng lòng bàn tay, 2 ngón cái co lại để trong lòng bàn tay, 2 ngón trỏ mỗi ngón úp lên lóng thứ nhất của ngón cái, các ngón giữa, ngón vô danh và ngón út của 2 tay đều hơi co và chấm đầu ngón vào nhau. Chân ngôn là: Án (oô) bát đầu mễ (padme, hoa sen), nễ la kiến chế (nìlakaịỉha, cổ xanh) thấp phạ ra (zvara, tự tại), bộ rô bô (bharu bharu) hồng (hùô). [X. kinh Thanh cảnh Quán tự tại bồ tát tâm đà la ni; Kim cương đính du già Thanh cảnh đại bi vương Quán tự tại niệm tụng nghi quĩ].

thanh danh

Renown—Fame—Reputation.

thanh diện kim cang

Vị Thiên vương mặt xanh, làm hộ pháp cho Phật giáo, vua của các loài Dạ Xoa, miệng lúc nào cũng mở to, có móng chó, ba mắt, đeo sọ người trên đầu và đeo rắn trên chân—The blue-faced raja, protector of Buddhism, king of the yaksas, with open mouth, dog's fangs, three eyes, four arms, wearing skulls on his head, serpents on his legs.

thanh diện kim cương

(青面金剛) Cũng gọi Đại thanh diện kim cương, Thanh sắc đại kim cương dược xoa. Chỉ cho thần Dược xoa. Cứ theo Đại thanh diện kim cương chú pháp trong kinh Đà la ni tập quyển 9, vị tôn này thân màu xanh, có 4 tay, tay trên bên trái cầm cây xoa 3 chĩa, tay dưới bên trái cầm gậy; tay trên bên phải nâng 1 bánh xe, tay dưới bên phải cầm vòng dây lụa; há to miệng, nhe răng nanh trên, 3 mắt đỏ như máu, đội đầu lâu, tóc có màu đỏ rực như tia lửa, dựng lên tua tủa, trên đầu quấn 1 con rắn lớn, mỗi cổ tay có 1 con rồng, đầu rồng hướng vào nhau, quanh lưng quấn 2 con rắn to, màu đỏ, cây gậy cầm tay cũng quấn con rắn to; mặc quần đùi may bằng da hổ(cọp), mỗi chân đạp 1 con quỉ. Ở 2 bên tượng của vị tôn này đều có đồng tử mặc áo màu xanh, tóctết thành 2 búi trên chỏm đầu, tay bưng lò hương. Ấn tướng của vị tôn này có 14 loại như Lập thân ấn, Câu ấn..., trong đó Lập thân ấn, kết như sau: Dựng đứng 3 ngón tay trái, ngón cái bấm vào đầu móng của ngón út, dùng 4 ngón hướng về phía trước chống vào eo; 5 ngón tay phải ấn lên mặt và mặt lộ vẽ giận dữ. Về chân ngôn thì có Đại chú, Tâm chú, Lập thân chú... trong đó chú Lập thân thường được dùng nhiều hơn. Xưa nay, người ta thường lẫn lộn Thanh diện kim cương với thần Canh thân và cho rằng Thanh diện kim cương là bản địa của thần Canh thân, đồng thời, việc cúng tế vị tôn này rất thịnh hành. Điều Thủ canh thân thuyết trong Chư hồi hướng bảo giám quyển 3 tức là phê bình việc trà trộn sai lầm này. [X. Thanh sắc đại kim cương dược xoa tịch quỉ ma pháp; Khê lam thập diệp tập Q.35].

thanh duyên

See Thanh Văn, and Duyên Giác in Vietnamese-English Section. ; (聲緣) Cũng gọi Thanh độc. Từ gọi chung Thanh văn thừa và Duyên giác thừa. Thanh văn chỉ cho người lắng nghe tiếng thuyết giáo của đức Phật mà hiểu rõ lí 4 đế, đoạn trừ Kiến hoặc và Tư hoặc, nhập Niết bàn. Duyên giác chỉ cho người quán xét lí 12 nhân duyên mà đoạn hoặc chứng lí, hoặc nhân cảnh duyên bên ngoài như hoa rơi, lá rụng mà tự thấy lẽ vô thường, nhờ đó mà đoạn hoặc chứng lí. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.17]. (xt. Duyên Giác, Thanh Văn).

thanh dương

Clear and resonant.

thanh dương giáo

(青陽教) Tông giáo dân gian xuất hiện vào khoảng năm Càn long (1736-1795) đời vua Cao tông nhà Thanh, Trung quốc. Vào ngày mồng 1 và 15 hàng tháng, đốt hương và tụng niệm lời ca: Phụng mẫu thân mệnh tổ vạn thiên, An nhiên lập địa tổng thâu nguyên. Thế phụ hoàn kết lập hậu thế, Chân kinh nữ tử bảo đoàn viên. (Kính dâng lên mẹ muôn lời, Người đã sinh ra trời đất. Thay cha tạo dựng đời sau, Con cháu xum vầy hạnh phúc). Mỗi buổi sáng thành tâm lễ bái mặt trời (thanh dương), cầu tai qua nạn khỏi và các khổ luân hồi, đời sau được sinh làm người tốt đẹp.

Thanh Dục

(聲欲) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Nguyên, người ở Lâm hải, Thai châu (tỉnh Chiết giang), họ Chu, tự Liễu am, hiệu là Nam đường. Năm lên 9 tuổi, sư mồ côi cha, năm 16 tuổi, sư theo ngài Hổ nham Tịnh phục xuất gia, thi kinh được đậu. Nhờ sự khuyên bảo của Hi bạch Minh tạng chủ, sư đến chùa Khai nguyên tại Tô châu tham yết ngài Cổ lâm Thanh mậu, khế ngộ và được nối pháp ngài. Niên hiệu Hoàng khánh năm đầu (1312), ngài Thanh mậu cho sư làm Nhập viện thị giả. Năm Thiên lịch thứ 2 (1329), sau khi ngài Thanh mậu thị tịch, sư lui về chùa Khai phúc ở Phiêu thủy. Niên hiệu Nguyên thống năm đầu (1333), sư dời đến chùa Bản giác ở Gia hưng, trụ 10 năm, người đương thời tôn sư là Đông nam đại pháp chàng, các sĩ đại phu đến hỏi đạo rất đông và được vua ban cho áo Kim lan với danh hiệu Từ Vân Phổ Tế Thiền Sư. Tháng 8 năm Chí chính 23 (1363), sư thị tịch, thọ 76 tuổi. Sư có các tác phẩm: Liễu am Thanh dục thiền sư ngữ lục 9 quyển, Tập khánh lộ Trung sơn khai phúc tự ngữ lục, Gia hưng lộ Bản giác thiền tự ngữ lục, Bình giang lộ Linh nham thiền tự ngữ lục, Si tuyệt hòa thượng thư ứng am sư tổ pháp ngữ.[X. Tống học sĩ toàn tập bổ di Q.3; Tăng tập tục truyền đăng lục Q.6; Ngũ đăng nghiêm thống Q.11; Thích thị kê cổ lược tục tập Q.2; Mặc tích tổ sư truyện Q.thượng; Thiền lâm mặc tích giải thuyết (Điền sơn Phương nam)].

thanh dục

(聲欲) Làm thỏa mãn lỗ tai bằng các âm thanh như những lời nỉ non, nũng nịu, dịu dàng dễ thương, những lời khiêu gợi lòng dục ô nhiễm, những tiếng đàn sáo trầm bổng du dương, những giọng hát ngọt ngào ấm áp... 1 trong 5 dục. [X. Ma ha chỉ quán Q.4 hạ]. (xt. Ngũ Dục).

Thanh giá

(聲價): bên cạnh ý nghĩa thanh danh và giá trị, nó còn có nghĩa là sự bình phẩm, mến chuộng, yêu thích. Cho nên trong cuốn Thượng Hàn Kinh Châu Thư (上韓荊州書) của Lý Bạch (李白) có đoạn rằng: "Nhất đăng Long Môn, thanh giá thập bội" (一登龍門、聲價十倍, Một lần lên Long Môn thì yêu thích gấp mười lần).

thanh giá

Danh giá—Fame and dignity.

thanh giác

(清覺) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Tống, người ở Đăng phong, Lạc dương, họ Khổng, hiệu là Bản nhiên. Thủa nhỏ, sư theo Nho học. Năm 27 tuổi, sư xem kinh Pháp hoa liền phát tâm cầu Phật đạo, sư lễ ngài Tuệ hải chùa Bảo ứng ở núi Long môn tại Nhữ châu xin xuất gia. Sau đó, sư xuống miền Nam tham yết Hòa thượng Thiên tuế ở núi Nga mi tại Gia châu, rồi đến núi Phù sơn ở Thư châu lập am tĩnh tu trong 20 năm. Năm Nguyên hựu thứ 7 (1092), sư đến tỉnh Chiết giang, năm sau, đến chùa Linh ẩn ở Hàng châu tham yết ngài Viên minh đồng, theo chúng tu học. Về sau, người đến theo học ngày càng đông nên sư ra trụ ở am Bạch vân sơn phía sau chùa và đề xướng nghĩa mới, phỏng theo kinh Phật lập Tứ quả, Thập địa, cũng chia Đại thừa, Tiểu thừa, lấy việc bài bác Thiền tông làm mục đích. Sớm chiều trì tụng, tự mình cày cấy, người theo ngày càng đông, họ gọi sư là Bạch vân hòa thượng, Bạch vân đại sư, đồ đệ của sư tự xưng là Bạch vân thái, đó chính là Bạch vân tông. Sau, sư lại dời đến núi Long môn tại Dư hàng, lập am Phúc địa, phát triển dần thành chùa Bảo ứng, dùng Tam qui ngũ giới để dẫn dắt học chúng khắp nơi. Sư lại nhận lời thỉnh của tăng tục giảng kinh Hoa nghiêm ở chùa Chính tế. Bấy giờ, rất nhiều người bắt bẻ nghĩa mới của sư, sư bèn soạn Chứng tông luận, Tam giáo biên, Thập địa ca... để biện giải. Niên hiệu Đại quan năm đầu (1107), sư cất am Thập địa ở phố Thiên kim tại Hồ châu, kế đó đến núi Ô trình thanh cất am Xuất trần và cư ngụ ở đó. Bấy giờ, có Giác hải ngu... cho rằng thuyết của sư làm loạn chính đạo, trái triều chính, nên tố cáo lên các quan địa phương. Do đó, năm Chính hòa thứ 6 (1116), sư đến ẩn náu ở Ân châu tại Quảng nam. Năm Tuyên hòa thứ 2 (1120), 10 người đệ tử của sư do Chính bố dẫn đầu về kinh đô trình bày sự việc và xin tạ lỗi, sư mới được bỏ qua. Năm sau, sư thị tịch, thọ 79 tuổi. Đệ tử là Tuệ năng tuân theo di chúc an táng ở núi Nam sơn thuộc huyện Dư hàng, tháp tên là Bạch vân, viện hiệu là Phổ an, sau đổi là Phổ ninh. Sư có các tác phẩm: Chứng tông luận, Tam giáo biên, Chính hành tập, Sơ học kí, Thập địa ca. [X. Thích môn chính thống Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.46; Thích thị kê cổ lược Q.4].

thanh giáo

Giáo pháp dạy bằng cách nói thành tiếng—Vocal teaching. ; (聲教) Giáo pháp nhờ âm thanh mà được giảng nói, vì thế gọi là Thanh giáo. Phật có lục trần thuyết pháp, đây chính là Thanh trần thuyết pháp. Ma ha chỉ quán quyển 7 hạ (Đại 46, 97 hạ) nói: ... Tức là Tiệm, Đốn, Bất định, Bí mật, Tạng, Thông, Biệt, Viên, nếu biết được ý này thì biết được sự khai hợp, hóa đạo của Thanh giáo. [X. Tứ phần luật hàm chú giới bản sớ hành tông kí Q.1, thượng]. (xt. Thanh Trần Đắc Đạo).

thanh giáp

(青甲) Cũng gọi Thanh hành. Một trong các loại áo 7 điều (ca sa 7 nẹp). Tức giáp ca sa được may bằng những nẹp(điều)vải màu xanh, thường được các phàm tăng mặc. Nhật bản chia áo 7 điều thành 3 loại ca sa là Nạp, Giáp, Bình, trong đó, Giáp ca sa vì các nẹp(điều)nổi rõ lên, giống như những đường vân trên mai (giáp)rùa nên gọi là Giáp ca sa. Đường viền chung quanh Giáp ca sa có màu đen và căn cứ vào màu sắc khác nhau mà chia làm thanh giáp(màu xanh), lô giáp(màu vàng), tử giáp(màu tía) và xích giáp(ca sa màu đỏ). [X. Sơn môn tăng phục khảo].

thanh hoát quy sơn

(清豁歸山) Tên công án trong Thiền tông. Thanh hoát về núi. Tức Thiền sư Thanh hoát (?-972) ở viện Bảo phúc tại Chương châu đời Tống tự biết giờ lâm chung, trước khi tịch, sư đi qua cái cầu gai, có để lại bài kệ như sau (Đại 51, 384 trung). Thế nhân hưu thuyết lộ hành nan, Điểu đạo dương trường chỉ xích gian. Trân trọng trữ khê khê bạn thủy, Nhữ qui thương hải, ngã qui san. (Chớ nói đường đi lắm gian nan, Thẳng tắp, quanh co chỉ tấc gang. Chia tay bờ cỏ bên giòng nước, Biển cả bạn về, tớ lên ngàn). Ngàn(núi) tượng trưng cho bản lai diện mục, biểu thị ý nghĩa Thực tướng. [X. chương Bảo phúc Thanh hoát trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.22].

thanh hà

Vanksu or Vaksu (skt). • Dòng sông có nước trong xanh: The blue or clear river. • Dòng Oxus: The Oxus.

Thanh Hòa Thiên Hoàng

(清和天皇, Seiwa Tennō, tại vị 858-876): vị Thiên Hoàng sống vào đầu thời kỳ Bình An, Hoàng Tử thứ 4 của Văn Đức Thiên Hoàng (文德天皇, Montoku Tennō), mẹ là Đằng Nguyên Minh Tử (藤原明子), tên là Duy Nhân (惟仁, Korehito), còn gọi là Thủy Vĩ Đế (水尾帝). Khi ông lên ngôi còn nhỏ tuổi, nên ông ngoại là Đằng Nguyên Lương Phòng (藤原良房, Fujiwara-no-Yoshifusa) làm Nhiếp Chính. Ông quy y theo Phật Giáo và xuất gia năm 879 (niên hiệu Nguyên Khánh [元慶] thứ 3), với pháp húy là Tố Chơn (素眞).

Thanh Hư Đại Đế

(清虛大帝): một trong Tam Quan (三官), là Địa Quan Đại Đế (地官大帝), gọi đủ là Trung Nguyên Xá Tội Địa Quan Nhị Phẩm Thanh Hư Đại Đế (中元赦罪地官二品清虛大帝), Trung Nguyên Nhị Phẩm Xá Tội Địa Quan Thanh Hư Đại Đế (中元二品赦罪地官清虛大帝); lệ thuộc Thượng Thanh Cảnh (上清境). Địa Quan do khí nguyên động hỗn linh hòa với tinh màu vàng kết thành, chủ quản tất cả các cõi thần tiên của Ngũ Đế, Ngũ Nhạc. Ngày đản sanh của vị này là Rằm tháng Bảy. Vào ngày này, Địa Quan xuống nhân gian, chỉnh đốn tội phước và ân xá tội cho người; nên được gọi là Địa Quan Xá Tội (地官赦罪).

thanh hải mạn đồ la

(清海曼荼羅) Cũng gọi Siêu thăng tự mạn đồ la. Một trong các Mạn đồ la Tịnh độ. Thanh hải là tên vị tăng người Nhật bản ở chùa Siêu thăng tại Đại hòa, sống vào giữa thời đại Bình an, Nhật bản. Theo truyền thuyết, Thanh hải mạn đồ la là Tịnh độ biến tướng do bồ tát Quan âm chùa Thanh thủy trao cho ngài Thanh hải, nhưng bản gốc đã bị thất lạc. Thanh hải mạn đồ la được cất giữ ở chùa Cực lạc tại Nại lương hiện nay là tác phẩm được vẽ lại vào đầu thời đại Liêm thương. Bức vẽ này giống như Trí quang mạn đồ la, nhưng phức tạp hơn. Ngoài ra cũng có rất nhiều bản mô tả theo Thanh hải mạn đồ la.

Thanh Học

清學; C: qīngxué; J: shōgaku; K: ch'ŏnghak, 1570-1654.|Thiền sư Triều Tiên. Tác giả của Vịnh nguyệt đường đại sư văn tập (詠月堂大師文集; k: yŏngwŏldang taesa munjip).

thanh khiết

Pure and clean.

thanh liêm

Upright—Honest.

Thanh Liên

(青蓮, Shōren, ?-?): vị học tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Bình An, húy là Thanh Liên (青蓮), thông xưng là A Ba Thượng Nhân (阿波上人), Bán Quyền Hiện (半權現); xuất thân vùng A Ba (阿波, Awa, thuộc Tokushima-ken [德島縣]). Ông xuất gia lúc 7 tuổi, học về Mật Giáo, thông đạt pháp môn Du Già, từng đến tham bái đền thờ Hùng Dã (熊野, Kumano) và đạt ngộ. Vào năm 1114, ông gặp được Giác Noan (覺鑁) tại Căn Bản Đại Tháp trên Cao Dã Sơn, và kết tình đạo lữ. Đến cuối đời, ông lập Thanh Liên Viện (青蓮院) và lui về ẩn cư, chuyên tâm tu niệm.

Thanh liên

(青蓮): hoa sen xanh, từ ý dịch của Ưu Bát La (s: utpala, p: uppala, 優鉢羅), hay Ô Bát La (烏鉢羅), Âu Bát La (漚鉢羅), Ưu Bát Lạt (優鉢剌), Ôn Bát La (殟鉢羅); tên khoa học là Nymphaca tetragona. Bên cạnh đó, nếu thêm tính từ nīla vào, ta có loại hoa sen xanh khác tên nīlotpala (Nê Lô Bát La [泥廬鉢羅], loại hoa của Bồ Tát Văn Thù [s: Mañjuśrī, 文殊) hay cầm). Pháp Hoa Huyền Tán (法華玄贊) quyển 1 ghi rằng: “Ôn Bát La hoa vi thanh liên hoa (殟鉢羅華爲青蓮華, Ôn Bát La hoa là hoa sen xanh)”. Huyền Ứng Âm Nghĩa (玄應音義) quyển 3 gọi loại hoa này là Đại Hoa (黛花, hoa xanh đậm). Đại Nhật Kinh Sớ (大日經疏) quyển 15 cho biết loài hoa này có hai màu: đỏ và trắng; bên cạnh đó còn có loại không đỏ không trắng, hình như hoa Nê Lô Bát La. Do đó, phần lớn hoa Ưu Bát La được xem là có màu xanh, hơn nữa màu này rất nổi bật và khác lạ. Lý Bạch (李白, 701-762), đại thi hào theo chủ nghĩa lãng mạn, sống dưới thời nhà Đường, cũng có hiệu là Thanh Liên Cư Sĩ (青蓮居士). Trong bài Túc Long Hưng Tự (宿龍興寺) của Kì Vô Tiềm (綦毋潛, 691-756) nhà Đường có câu: “Hương sát dạ vong quy, tùng thanh cổ điện bài, đăng minh Phương Trượng thất, châu hệ Tỳ Kheo y, bạch nhật truyền tâm tĩnh, thanh liên dụ pháp vi, thiên hoa lạc bất tận, xứ cứ điểu hàm phi (香剎夜忘歸、松青古殿扉、燈明方丈室、珠繫比丘衣、白日傳心靜、青蓮喻法微、天花落不盡、處處鳥銜飛, hương ngát đêm quên về, tùng xanh cửa điện xưa, đèn sáng Phương Trượng thất, châu buộc Tỳ Kheo y, ban ngày truyền tâm lắng, sen xanh dụ pháp quy, hoa trời rơi bất tận, chốn chốn chim tha đi).”

thanh liên

Utpala (skt)—Ưu Bát La—Hoa sen xanh—Blue lotus.

thanh liên giáo

(青蓮教) Cũng gọi Ngũ hành thập địa Phật giáo. Tông giáo dân gian ở Trung quốc xuất hiện khoảng năm Gia khánh (1796-1820) đời vua Nhân tông nhà Thanh. Tông giáo này tôn thờ Tổ sư Đạt ma và Vô sinh lão mẫu, tụng niệm kinh Vô thượng phẩm, thực hành nghi thức tam qui, ngũ giới, tuyên truyền các đại kiếp thủy(nước dâng), binh(chiến tranh), đao(giết chóc lẫn nhau) và hỏa(nạn lửa đốt)... sẽ đến. Người trong tông giáo này được chia làm 3 hạng: 1. Thanh gia: Chỉ cho những người ăn chay.2. Hồng gia: Chỉ cho những người không ăn chay. 3. Lí gia: Chỉ cho những người theo việc vũ lực. Tông giáo này thịnh hành ở các vùng như Tứ xuyên, Thiểm tây, Hồ nam, Hồ bắc... Năm Đạo quang 25 (1845), các giáo đồ từng tổ chức cuộc nổi dậy ở tỉnh Tứ xuyên.

thanh liễu chơn yết thiền sư

Thiền sư Thanh Liễu Chơn Yết sanh năm 1089 tại tỉnh Tứ Xuyên. Sư xuất gia năm mười một tuổi, đến năm mười tám tuổi sư thi đậu Kinh Pháp Hoa. Sau đó sư tiếp tục đi đến Thành Đô tiếp tục học tập kinh điển—Xing-Liao-Zhen-Yieh was born in 1089 in Si-Chuan province. He left home at the age of eleven and passed his scriptural examinations on the Lotus Sutra at the age of eighteen. He then traveled to Cheng-Tu, where he continued his scriptural study. • Một lần trên đường vân du, sư gặp thiền sư Đơn Hà. Đơn Hà hỏi sư: “Thế nào là chính mình trước không kiếp?” Sư suy nghĩ để trả lời, thì Đơn Hà đã chận lại bảo: “Ngươi còn ồn ào thế sao, hãy đi đi!”—One time on the way of traveling, he met Tan-Xia. Tan-Xia asked him: “What is the self before the empty eon?” When Xing-Liao began to answer, Tan-Xia stopped him and said: “You are disturbed now. Go!” • Một hôm sư lên ngọn Bát-Vu, bỗng nhiên khế ngộ. Trên đường sư trở về gặp Đơn Hà, thì Đơn Hà đã biết, tát ông một cái và nói: “Đã nói là ông sẽ chạy về đây nói cho ta biết mà.” Sư lễ bái rồi lui ra. Hôm sau, Đơn Hà thượng đường nói kệ: “Nhật soi cô phong biếc, Nguyệt đến nước trong khe, Tổ sư huyền diệu quyết, Chớ hướng tất lòng an.” Nói xong Đơn Hà liền xuống tòa. Thanh Liễu bèn tiến đến trước tòa thưa: “Ngày nay đăng tòa lại chẳng lừa được con.” Đơn Hà hỏi: “Ngươi thử nhắc lại ngày nay ta đăng tòa xem?” Sư im lặng giây lâu. Đơn Hà bảo: “Sẽ nói ông khắp đất.” Sư liền đi ra. One day he went to nearby Bo-Yu Peak, he suddenly experienced enlightenment. Upon returning to see Tan-Xia, his teacher immediately knew what had transpired. Before Tan-Xia could speak, Tan-Xia slapped him saying: “You were going to tell me what you know!” He bowed and retreated. The next day, Tan-Xia entered the hall and said to the monks this verse: “The sun shines on a solitary green peak, The moon reflects in the cold creek water. The sublime mystery of the ancestors, Is not found in the small mind.” Tan-Xia then got down from the seat. Xing-Liao came forward and said: “A talk like the one you gave today won't deceive me again.” Tan-Xia said: “Then explain it to me and we will see if you understand.” Xing-Liao was silent. Tan-Xia said: “I will say you caught a glimpse of it.” Xing-Liao then went out. • Có vị Tăng hỏi: “Chư Phật ba đời nhằm trong đống lửa xoay bánh xe đại pháp, lại quả thực đấy chăng?”Thanh Liễu bảo: “Ta lại nghi đấy.” Vị Tăng bảo: “Hòa Thượng vì sao lại nghi?” Sư đáp: “Hoa đồng thơm đầy đất, chim rừng chẳng biết thơm.”—A monk asked Xing-Liao: “All the Buddhas in the three worlds have turned the great wheel of Dharma into the flames. Has this ceased or not?” Xing-Liao laughed out loud and said: “I have doubts about it.” The monk said: “Master, why do you have doubts about this?” Xing-Liao said: “The fragrance of wild flowers fills the road. The secluded bird does not know it's spring.” • Vị Tăng thưa: “Chẳng rơi phong thể lại nhận chuyên thân hay không?” Sư đáp: “Chỗ đi người đá chẳng đồng công.”—A monk asked: “Without letting go of wind and color, is it still possible to pivot oneself or not?” Xing-Liao said: “Whre the stone person walks, there is no other activity.” • Một hôm sư vào nhà trù xem làm bún, chợt thùng thông lủng đáy. Tăng chúng la hoảng: “Uổng lắm!” Sư bảo: “Thùng thông lủng đáy tự nên vui mừng, vì sao lại phiền não?” Tăng chúng thưa: “Hòa Thượng thì được.” Sư nói: “Quả thực đáng tiếc một thùng bún.”—One day Xing-Liao went into the kitchen and saw a pot of boiling noodles. Suddenly, the bottom fell out of the pot. The monks there were crestfallen, saying: “Oh, what a waste!” Xing-Liao said: “An overturned bucket is a joy. Why are you disturbed?” the monks said: “The master can take delight in it.” Xing-Liao said: “Really, it's a shame to waste a pot of noodles!” • Thiền sư Thanh Liễu thị tịch năm 1151, ngài được vua ban danh hiệu “Ngộ Không Thiền Sư.”—Xing-Liao died in 1151. He received the posthumous name “Zen Master Enlightened Emptiness.”

Thanh Long

(青龍): tên gọi của cây đao báu được Quan Công thường đeo bên mình, còn gọi là Thanh Long Yển Nguyệt Đao (青龍偃月刀). Nhờ cây đao này, Quan Công đã từng tạo những chiến công hiển hách như chém Hoa Hùng (華雄), Phách Nhan Lương (劈顏良), Tru Văn Xú (誅文醜), v.v.; cho nên người Trung Quốc cũng thần thánh hóa và xem nó như là Tướng Quân Võ Thánh. Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa (三國演義), hai người con của Quan Công là Quan Hưng (關興) và Quan Sách (關索) cũng cầm cây đao này. Như trong bài thơ Quá Ngũ Quan Trảm Lục Tướng (過五關斬六將) có câu: “Quải ấn phong kim từ Hán tướng, tầm huynh diêu vọng viễn đồ hoàn, mã kỵ Xích Thố hành thiên lý, đao yển Thanh Long xuất ngũ quan (掛印封金辭漢相、尋兄遙望遠途還、馬騎赤兔行千里、刀偃青龍出五關, treo ấn niêm phong thôi Hán tướng, tìm anh xa tít muôn dặm đàng, cỡi ngựa Xích Thố đi vạn nẻo, Thanh Long đao xếp ra cửa quan).” Sau này, khi điêu khắc hay tạc vẽ hình tượng của Quan Công đều có hình tay cầm cây Thanh Long Yển Nguyệt Đao này. Ngoài ra, Thanh Long còn gọi là Thương Long (蒼龍). Trong truyền thống văn hóa của Trung Quốc, Thanh Long là một trong Tứ Tượng (四象). Căn cứ học thuyết Ngũ Hành, Thanh Long đại biểu cho loại linh thú ở phương Đông, là con rồng có màu xanh. Phương vị của sao này nằm ở phương Đông, đại biểu cho mùa Xuân. Trong 28 chùm sao theo quan niệm của Trung Quốc, Thanh Long là tên gọi chung của 7 ngôi sao ở phương Đông, gồm: Giác (角), Cang (亢), Để (氐), Phòng (房), Tâm (心), Vĩ (尾) và Ky (箕). Hình trạng của 7 ngôi sao này rất giống một con rồng. Trong phần Tạp Ứng (雜應) của Bão Phác Tử (抱朴子) có đề cập đến Tiên Kinh (仙經) chỉ dẫn cho cách khi vẽ hình Thái Thượng Lão Quân thì bên trái phải có 12 con Thanh Long, bên phải có 26 con Bạch Hổ, phía trước 24 con Châu Tước và phía sau là 72 Huyền Võ. Sau này, Tứ Tượng được nhân cách hóa và phong hiệu như vậy. Theo Bắc Cực Thất Nguyên Tử Diên Bí Quyết (北極七元紫延秘訣) cho biết rằng Thanh Long hiệu là “Mạnh Chương Thần Quân (孟章神君)”, Bạch Hổ hiệu “Giám Binh Thần Quân (監兵神君)”, Châu Tước là “Lăng Quang Thần Quân (陵光神君)” và Huyền Võ là “Chấp Minh Thần Quân (執明神君).” Trong cuốn Nhạc Dương Phong Thổ Ký (岳陽風土記) của Phạm Trí Năng (範致能) nhà Tống có đoạn rằng: “Lão Tử từ hữu nhị thần tượng, vị Thanh Long, Bạch Hổ dã (老子祠有二神像、謂青龍、白虎也, tại đền thờ Lão Tử có hai tượng thần là Thanh Long và Bạch Hổ).” Bên cạnh đó, trong Thường Thục Tư Chí (常熟私志), Thiên Thư Tự Quan (舒寺觀篇) của Diêu Tông Nghi (姚宗儀) cũng có ghi rằng: “Trí Đạo Quán sơn môn nhị đại thần, tả vi Thanh Long Mạnh Chương Thần Quân, hữu vi Bạch Hổ Giám Binh Thần Quân (致道觀山門二大神、左爲青龍孟章神君、右爲白虎監兵神君, đặt tại sơn môn của Đạo Quán hai tượng thần lớn, bên trái là Thanh Long Mạnh Chương Thần Quân, bên phải là Bạch Hổ Giám Binh Thần Quân).” Thái Thượng Hoàng Lục Trai Nghi (太上黃籙齋儀) quyển 44 nhà Minh gọi 7 ngôi sao Thanh Long ở phương Đông là “Giác Tú Thiên Môn Tinh Quân (角宿天門星君), Cang Tú Đình Đình Tinh Quân (亢宿庭庭星君), Đê Tú Thiên Phủ Tinh Quân (氐宿天府星君), Phòng Tú Thiên Tứ Tinh Quân (房宿天駟星君), Tâm Tú Thiên Vương Tinh Quân (心宿天王星君), Vĩ Tú Thiên Kê Tinh Quân (尾宿天雞星君), và Ky Tú Thiên Luật Tinh Quân (箕宿天律星君)”. Về hình tượng của Thanh Long, Đạo Môn Thông Giáo Tất Dụng Tập (道門通敎必用集) quyển 7 có giải thích rằng: “Rồng nhả mây nuốt khí, phun sấm sét phát ra tiếng, bay khắp Tám Cực, chu du Tứ Minh.” Lại nữa, bộ Linh Cấp Thất Thiêm (靈笈七籖) quyển 72 có dẫn rằng: “Thanh Long là Giáp, Ất, Mộc, Thủy, Ngân ở phương Đông, lắng trong mà không chút gợn, quậy lên mà không đục, đến gần không thể lấy được, cách xa chẳng thể bỏ qua, tiềm tàng biến hóa vô tận, nên gọi là rồng”. Tục ngữ có câu rằng: “Nam tánh sanh thực khí vô âm mao, tại quá khứ dã khiếu thanh long (男性生殖器無陰毛、在過去也叫青龍, người nam sanh ra dương vật không có lông, tại vì đời trước gào thét Thanh Long).” Ngoài ra, dân gian thường cho rằng rồng có tánh dâm, nên khi nó hòa hợp với bò thì sinh ra kỳ lân, với con heo thì sinh ra con voi.

thanh long

Rồng xanh—Blue or green dragon.

thanh long sớ

(青龍疏) I. Thanh Long Sớ. Chỉ cho Ngự chú Kim cương bát nhã ba la mật kinh tuyên diễn, 6 quyển, hiện nay còn 2 quyển. Sách này là bản chú sớ kinh Kim cương do sa môn Đạo nhân chùa Thanh long vâng sắc vua Huyền tông soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 85. II. Thanh Long Sớ. Chỉ cho Tân dịch Nhân vương kinh sớ, 3 quyển, nay còn 1 quyển, do sa môn Lương bôn ở chùa Thanh long vâng sắc vua Huyền tông soạn vào đời Đường,được thu vào Đại chính tạng tập 85.

thanh long tự

(青龍寺) Chùa nằm cách huyện Trường an, tỉnh Thiểm tây khoảng 4km về phía tây nam. Chùa này là đạo tràng căn bản của Mật tông Trung quốc ở đời Đường và là nơi phát nguyên của tông Chân ngôn Nhật bản. Chùa được xây cất vào năm Khai hoàng thứ 2 (582) đời Tùy, ban đầu được đặt tên là Linh cảm tự. Năm Vũ đức thứ 4 (621) đời Đường, chùa bị hoang phế. Đến năm Long sóc thứ 2 (662), công chúa Thành dương tâu xin phục hưng, đổi tên là Quan âm tự. Năm Cảnh vân thứ 2 (711) lại đổi là Thanh long tự. Đến Pháp nạn Hội xương (845), chùa lại bị hoang phế. Năm Hội xương thứ 6, chùa lại được xây dựng lại, đổi tên là Hộ quốc tự.Năm Đại trung thứ 9 (855), tên cũ Thanh long lại được khôi phục. Sau niên hiệu Nguyên hựu năm đầu (1086), đời Bắc Tống, chùa bị phá hủy. Vào thời vua Đức tông đến vua Mục tông nhà Đường, các ngài Huệ quả, Nghĩa tháo, Pháp toàn... trụ ở chùa này tuyên dương Mật tông. Ngoài ra còn có các vị cao tăng đời Đường như các ngài Đạo thế, Đạo nhân, Pháp lãng, Quang nghi, Đàm bích... cũng từng trụ ở chùa này để soạn thuật, hoặc trì chú, hoặc tu thiền quán... đều đã lưu danh trong giáo sử. Các vị danh tăng Nhật bản như Không hải, Viên hạnh, Viên nhân, Viên trân, Tuệ viễn, Viên tải, Tông duệ... đều đã từng theo học ở đây. Riêng ngài Không hải, vào niên hiệu Vĩnh trinh năm đầu (805) đến chùa Thanh long theo Tổ Huệ quả học pháp của 2 bộ Thai tạng và Kim cương, đồng thời thụ Quán đính. Truyền pháp a xà lê vị ở viện Đông tháp; sau khi trở về Nhật bản, ngài Không hải đã sáng lập tông Chân ngôn.

thanh lung quyền hiện

(清瀧權現) Cũng gọi Thanh long quyền hiện, Thanh lương quyền hiện. Chỉ cho Long vương thiện nữ, con gái thứ 3 của Long vương Bà yết la. Mật giáo tôn thờ vị này làm Quan âm Như ý luân hóa hiện, là thần Thủ hộ của Mật giáo, trụ trong ao Vô nhiệt tại Ấn độ. Vào đời Đường, Trung quốc, vị tôn này là thần trấn giữ chùa Thanh long ở Trường an. Sau, được ngài Không hải thỉnh về Nhật bản, thờ ở núi Cao hùng, rồi lại được dời đến núi Đề hồ tại Tokyo. Theo truyền thuyết, vốn theo tên chùa mà gọi là Thanh long......, vì vượt biển đến Nhật bản nên có thêm bộ thủy bên cạnh mà thành Thanh lang ( ,nghĩa là nước trong chảy xiết). Tên Thanh lang trong các kinh quĩ không thấy ghi, mà sự thực của việc trấn giữ chùa Thanh long cũng không được rõ, cho nên ngờ là sự thờ phụng này mới bắt đầu ở Nhật bản. [X. Nhũ vị sao Q.1; Đề hồ tự duyên khởi].

thanh luận

(聲論) Cũng gọi Thanh thường trụ luận, Thanh luận sư. Chỉ cho chủ trương chấp trước âm thanh là thường còn, là 1 hệ phái triết học ở Ấn độ, chủ trương quan niệm là thường hằng và âm thanh là thường trụ. Nghĩa là chủ trương cho âm thanh là sự tồn tại thực tại (reality) của vũ trụ, còn tiếng nói của con người là từ âm thanh thực tại của vũ trụ mà phát rõ ra, chứ không phải con người là phù hiệu của tính âm thanh. Thuyết này bắt nguồn từ sự cầu đảo ở thời đại Phạm thư, tức sự cầu đảo có tác dụng của sức thần linh chi phối, do đó cấu thành ngôn ngữ cầu đảo, có sức thần bí vô hạn tuyệt đối. Trong tư tưởng Phệ đà của Ấn độ, Phệ đà được cho là tiên thiên thường trụ, là 1 thực tại chân thực tuyệt đối, cho nên âm thanh của Phệ đà cũng được giải thích là 1 thực thể tuyệt đối bất biến, là chuẩn tắc nhận thức các pháp, có năng lực quyết định sự đúng, sai của những điều được nói ra. Thuyết này từ xưa đã lưu hành trong giới Bà la môn, đặc biệt nó là chỗ y cứ quan trọng của phái văn điển Ba nhĩ ni (Phạm:Pàịini) về sau, cho đến khi các học phái như Di mạn sai (Phạm: Mìmàôsà), Phệ đàn đa (Phạm:Vedànta)... hưng khởi, lập ra Thanh thường trụ luận, rồi từ đó diễn sinh 2 phái là Thanh hiển luận và Thanh sinh luận, cho rằng tất cả âm thanh đều là thường trụ bất biến. Trong đó, Thanh sinh luận (Phạm: Janma-vàda, tức luận thuyết về sự sinh khởi của âm thanh), chủ trương âm thanh vốn không có, chỉ do sau khi phát âm mới có và từ đó cứ thường còn mãi. Thanh hiển luận (Phạm: Abhivyakti-vàda), cho rằng trước khi phát âm thì âm thanh đã có rồi, đến khi phát âm mới hiển rõ ra, tức âm thanh là thường trụ. Thanh hiển luận là chủ trương của phái Di mạn sai, là tông Tòng duyên hiển liễu trong 16 tông ngoại đạo. Còn về Thanh sinh luận thì có nhiều thuyết, hoặc cho là thuyết của phái Di mạn sai, hoặc cho rằng do 1 phái không rõ tên nào đó lập ra, hoặc cho là thuyết của phái Thắng luận... Hai phái trên đây thường tranh luận với phái Thắng luận, phái Số luận, phái Chính lí, và cả với Phật giáo vốn chủ trương âm thanh là vô thường, đặc biệt tranh luận với phái Thắng luận là nổi tiếng nhất. Các vị Đại luận sư của Phật giáo như Vô trước, Thế thân, Trần na, Hộ pháp... đều bác bỏ thuyết Âm thanh thường trụ. Như các nhà Nhân minh dùng Nhân được tạo tác ra để bác bỏ Thanh sinh luận và dùng Nhân do sự cần dũng không gián đoạn phát ra để bác bỏ Thanh hiển luận. [X. luận Thành duy thức Q.1; luận Phương tiện tâm; luận Du già sư địa Q.6; luận Hiển dương thánh giáo Q.9; luận Nhân minh nhập chính lí; luận Nhân minh chính lí môn; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng, phần cuối; Ấn độ trung thế tinh thần sử thượng (Kim thương Viên chiếu); Triết học đích tư sách chi Ấn độ chi triển khai (Trung thôn nguyên)].

Thanh Lâm Sư Kiền

(青林師虔, Seirin Shiken, ?-904): họ Trần (陳), xuất thân Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), đã từng đắc pháp với Động Sơn Lương Giới (洞山良价). Ông trú tại Thanh Lâm (青林), Hán Đông (漢東), sau đó làm vị tổ đời thứ 3 của Động Sơn (洞山, Tỉnh Giang Tây). Vào năm đầu niên hiệu Thiên Hựu (天祐), ông thị tịch. Trước tác của ông có Huyền Cơ Thị Hối Tập (玄機示誨集).

thanh lãng

Sound wave.

thanh lưu

Clear current.

Thanh Lương

清涼; C: qīngliáng; J: shōryō;|Thiền sư Trung Hoa, thường gọi Quốc sư Thanh Lương. Xem Pháp Nhãn Văn Ích.

thanh lương

Trong sạch và tươi mát, ý nói thanh tịnh—Clear and fresh (cool)—Clean and pure.

thanh lương nguyệt

Mặt trăng thanh tịnh, ý nói Đức Phật—The pure moon, i.e., the Buddha. ; (清凉月) Trăng trong mát, ví dụ đức từ bi của Bồ tát giống như vầng trăng trong sáng mát mẻ. Tức nội chứng của Bồ tát đã lìa chướng, đó là tịnh trí; thường dùng tịnh trí chiếu soi muôn vật, đó là ánh sáng, cho nên dùng ánh sáng của vầng trăng để ví dụ cho đức từ bi của Bồ tát. Phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) (Đại 9, 670 hạ) nói: Bồ tát thanh lương nguyệt, Du ư tất cánh không (Bồ tát như vầng trăng mát rượi, Thường dạo chơi trong rốt ráo không).

thanh lương quốc sư

Vị quốc sư giới luật thanh tịnh, danh hiệu của vị tổ thứ tư của tông Hoa Nghiêm (húy Trừng Quán, tự Đại Hưu, họ Hạ Hầu, người đất Sơn Âm, xuất gia năm 11 tuổi, trụ trì tại Ngũ Đài Sơn, được vua Đường Đức Tông tôn làm Thanh Lương Quốc Sư. Ngài thị tịch năm 120 tuổi)—Pure-minded preceptor of the State, title of the fourth patriarch of the Hua-Yen school.

thanh lương sơn

• Tên của núi Ngũ Đài Sơn, nằm về phía bắc tỉnh Sơn Tây, nơi trú ngụ của các vị Bồ Tát—A name for Wu-T'ai-Shan in north Shan-Si, the abode of Bodhisattvas. • Nơi trú ngụ của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, về phía đông của vũ trụ: The abode of Manjusri Bodhisattva, in the north-east of the universe.

Thanh Lương Thái Khâm

(清涼泰欽, Shōryō Taikin, ?-974): vị tăng của Pháp Nhãn Tông Trung Quốc, xuất thân vùng Ngụy Phủ (魏府, Tỉnh Hồ Bắc). Ông đến tham vấn Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau đó ông đến sống tại Song Lâm Viện (雙林院) ở vùng Hồng Châu (洪州, Tỉnh Giang Tây), rồi chuyển đến Thanh Lương Tự (清涼寺) ở Kim Lăng (金陵, Nam Kinh). Pháp từ của ông có Vân Cư Đạo Tề (雲居道齊) là nhân vật kiệt xuất. Ông thị tịch vào ngày 24 tháng 6 năm thứ 7 niên hiệu Khai Bảo (開寳) và được ban cho thụy hiệu là Pháp Đăng Thiền Sư (法燈禪師).

thanh lương trì

Hồ thanh tịnh, dùng để ví với cảnh niết bàn, nơi không có sóng gió và nhiễm trược phiền não—The pure lake or pool, i.e., nirvana. ; (清凉池) Ao mát mẻ, ví dụ Niết bàn không có nhiệt não. Luận Đại trí độ quyển 22 (Đại 25, 221 hạ) nói: Người đang nóng bức phiền muộn mà được vào trong ao Thanh lương thì liền mát mẻ thanh tịnh, không còn nhiệt não. Thanh lương trì cũng chỉ cho ao A nậu đạt là nơi cư trú của Long vương A nậu đạt. Ở trong ao A nậu đạt thì không còn bị cái khổ nhiệt não như Long vương ở cõi Diêm phù đề thường phải chịu đựng. Hoa nghiêm kinh sớ quyển 7 (Đại 35, 550 trung) nói: Ao thanh lương này là nơi cư trú của rồng Vô nhiệt não, thường chảy ra nước thơm. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.2, 4].

Thanh Lương Trừng Quán

(清涼澄觀, Shōryō Chōkan, 738-839): vị tổ thứ 4 của Thiên Thai Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Đường, người Sơn Âm (山陰), Việt Châu (越州, Thiệu Hưng, Triết Giang), họ Hạ Hầu (夏候), tự Đại Hưu (大休), hiệu Thanh Lương Quốc Sư (清涼國師), Hoa Nghiêm Bồ Tát (華嚴菩薩), Hoa Nghiêm Sớ Chủ (華嚴疏主). Năm 11 tuổi, ông xuất gia với Bái Thiền Sư (霈禪師) ở Bảo Lâm Tự (寳林寺) và đến năm 14 tuổi thọ giới đắc độ. Từ năm đầu (758) niên hiệu Càn Nguyên (乾元) trở về sau, ông theo Lễ Luật Sư (醴律師) ở Thê Hà Tự (棲霞寺) vùng Nhuận Châu (潤州) học về Luật; rồi lại nương theo Huyền Bích (玄璧) ở Kim Lăng (金陵) học về Tam Luận. Trong khoảng thời gian niên hiệu Đại Lịch (大曆), ông học Đại Thừa Khởi Tín Luận, Niết Bàn Kinh ở Ngõa Quan Tự (瓦官寺). Bên cạnh đó, ông còn theo Hoài Nam Pháp Tạng (淮南法藏) học Hoa Nghiêm Kinh. Năm thứ 7 (772) niên hiệu Đại Lịch, ông đến Diệm Khê (剡溪) theo Huệ Lượng (慧量) ở Thành Đô (城都) học Tam Luận lần nữa. Đến năm thứ 10 cùng niên hiệu trên, ông đến Giang Tô (江蘇), theo Trạm Nhiên (湛然) học Thiên Thai Chỉ Quán, Pháp Hoa Kinh, Duy Ma Kinh, v.v. Ông còn tham yết Duy Trung (惟忠) ở Ngưu Đầu Sơn (牛頭山), Đạo Khâm (道欽) ở Kính Sơn (徑山), v.v., để học về Thiền pháp của Nam Tông, rồi học Thiền pháp của Bắc Tông với Huệ Vân (慧雲). Ngoài ra, ông còn thông cả Phệ Đà, Ngũ Minh, nghi thức bí chú, v.v. Vào năm thứ 11 niên hiệu Đại Lịch, ông đi ngao du Ngũ Đài Sơn (五台山), Nga Mi Sơn (峨嵋山), sau trở về sống tại Đại Hoa Nghiêm Tự (大華嚴寺) trên Ngũ Đài Sơn, chuyên tu Phương Đẳng Sám Pháp. Ông thường giảng tông chỉ Hoa Nghiêm tại chùa này và Sùng Phước Tự (崇福寺), danh tiếng vang khắp kinh đô. Đến năm thứ 12 (796) niên hiệu Trinh Nguyên (貞元), thể theo lời mời của vua Đức Tông, ông vào Trường An (長安), cùng với Tam Tạng Bát Nhã (三藏般若) người Kế Tân (罽賓) dịch Tứ Thập Hoa Nghiêm Kinh (四十華嚴經) do quốc vương Ô Trà (烏茶) dâng cống, rồi đem dâng lên cho triều đình; nhân đó nhà vua rất vui mừng, ban cho Tử Y và hiệu Giáo Thọ Hòa Thượng (敎授和尚). Ngoài ra, ông còn phụng sắc chỉ triều đình chế 10 quyển kinh sớ tại Thảo Đường Tự (草堂寺) thuộc Chung Nam Sơn (終南山) và đây chính là bản Trinh Nguyên Tân Dịch Hoa Nghiêm Kinh Sớ (貞元新華嚴經疏). Vào năm thứ 15 (có thuyết cho là 11) niên hiệu Trinh Nguyên, nhân dịp sinh nhật, vua Đức Tông mời ông vào nội điện, diễn thuyết tông chỉ Hoa Nghiêm, nhờ vậy nhà vua mới giác ngộ, bảo rằng: “nhờ diệu pháp mà làm cho trong sạch, mát mẻ tâm của Trẫm”, cho nên ban cho ông hiệu là Thanh Lương Quốc Sư. Ông đã từng lập ra 10 thệ nguyện để tự khuyên răn mình, cho nên người ta gọi là Thanh Lương Thập Nguyện. Đến khi vua Thuận Tông lên ngôi, vua cũng lấy lễ bái ông làm Quốc Sư, trong triều đình ngoài dân dã đều mến mộ cao phong của ông. Vào năm thứ 5 (810) niên hiệu Nguyên Hòa (元和) đời vua Hiến Tông, ông trả lời các câu vấn đáp của nhà vua, giảng rõ về nghĩa của pháp giới Hoa Nghiêm, được vua hài lòng, bèn tặng cho ông hiệu là Tăng Thống Thanh Lương Quốc Sư (僧統清涼國師). Đến năm thứ 4 niên hiệu Khai Thành (開成), ông thị tịch, hưởng thọ 102 tuổi. Có thuyết cho là ông mất trong khoảng thời gian niên hiệu Nguyên Hòa, hưởng thọ 70 tuổi. Ông được táng trong thạch thất trên Chung Nam Sơn và Tướng Quốc Bùi Hưu (裴休) soạn bia văn. Ông đã trãi qua 9 triều đại, từng giảng kinh cho 7 đời vua, đệ tử có Tông Mật (宗密), Tăng Duệ (僧叡), Pháp Ấn (法印), Tịch Quang (寂光), và đệ tử đắc pháp có hơn 100 người. Trước tác của ông có rất nhiều như Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Sớ (大方廣佛華嚴經疏) 60 quyển, Tùy Sớ Diễn Nghĩa Sao (隨疏演義鈔) 90 quyển, Hoa Nghiêm Kinh Cương Yếu (華嚴經綱要) 3 quyển, Ngũ Uẩn Quán (五蘊觀), Tam Thánh Viên Dung Quán Môn (三聖圓融觀門), v.v.

Thanh Lương Tự

(清涼寺, Seiryō-ji): xem Tha Nga Thanh Lương Tự (嵯峨清涼寺, Sagaseiryō-ji) bên trên.

thanh lương tự

Tên của một tự viện trên núi Ngũ Đài Sơn, được ngài Thanh Lương Quốc Sư xây dựng vào thời nhà Đường—A monastery at Wu-T'ai-Shan, built by preceptor of the State Sin-Liang during the T'ang Dynasty.

thanh lịch

Refined—Fine—Elegant.

Thanh Minh

(s: śadha-vidhyā, j: shōmyō, 聲明): trong các kinh điển Hán dịch, nó là một trong Ngũ Minh, là hình thức văn pháp học. Nó còn được gọi là Phạn Bối (梵唄, bonbai), một hình thức âm nhạc cổ điển theo nghi thức Phật Giáo, có thêm âm tiết vào trong chơn ngôn (thần chú) cũng như kinh văn để xướng tụng. Hình thức này được truyền từ Trung Quốc vào Nhật Bản, sau này hình thức do Không Hải (空海, Kūkai) truyền vào là thuộc Dòng Nam Sơn Tấn (南山進流) của Chơn Ngôn Tông. Còn hình thức do Viên Nhân (圓仁, Ennin) truyền thừa là Đại Nguyên Ngư Sơn Thanh Minh (大原魚山聲明) của Thiên Thai Tông. Đa số các Thanh Minh Khúc do Viên Nhân truyền vào được phân chia ra các phái để lưu truyền, và đến thời Lương Nhẫn (良忍, Ryōnin) thì Thanh Minh Học đã hình thành hệ thống rõ rệt. Vào đầu thời Liêm Thương, Trạm Trí (湛智, Tanchi) thuộc Phái Cách Tân xác lập luận lý cùng với Tịnh Tâm (淨心, Jōshin) thuộc Phái Bảo Thủ trọng thị khẩu xướng, đã xuất hiện rồi tranh nhau về chủ trương của họ; thế nhưng không bao lâu thì Phái Bảo Thủ điêu tàn và Phái Cách Tân hưng thịnh. Thanh Minh được tổ chức từ 3 loại, 5 âm, 7 thanh và 12 luật. Năm âm là Cung (宮), Thương (商), Giác (角) Trưng (徴) và Vũ (羽), có cùng tính cách với Do, Re, Mi của âm nhạc phương Tây. Bảy thanh gồm 5 âm kể trên cọng thêm vào nữa âm trên dưới hai âm Anh (嬰) và Biến (變) để hình thành nên. Ba loại gồm Lữ (呂), Luật (律) và Trung (中); nếu thêm Biến Cung (變宮) và Biến Trưng (變徴) vào 5 âm thì hình thành Lữ Khúc (呂曲); chỉ riêng 5 âm được gọi là Luật Khúc (律曲); hơn nữa, nếu thêm Anh Thương (嬰商), Anh Vũ (嬰羽) vào thì gọi là Trung Khúc (中曲). Mười hai luật là 12 âm vị được gắn thêm vào giữa một quãng tám độ sai khoảng nữa âm, có tên gọi là Nhất Việt (一越), Đoạn Kim (斷金), Bình Điệu (平調), v.v. Thanh Minh có đặc chất của từng âm trong Ngũ Âm; hơn nữa, ngoài hai khúc Lữ Luật của Nhã Nhạc ra, nó còn phối thêm 3 loại Trung Khúc, v.v., và được xem như là nguyên lưu của âm nhạc Nhật Bản.

thanh minh

1) Trong sáng: Clear and bright. 2) Giải thích rõ ràng: To explain or to state clearly. 3) Ngày lễ Thanh Minh sau Tết, thường vào ngày rằm tháng ba Âm lịch, ngày lễ dành cho những vong linh. Các dân tộc Đông Á như Tàu, Nhựt, Đại Hàn và Việt Nam, thường cử hành lễ nầy bằng cách đi đến các nghĩa trang để vãy cỏ và làm sạch mộ tổ tiên, cũng như dâng cúng thực phẩm và hoa quả: The Chinese festival or a festival after Spring, usually on 15th of the third lunar month, when honour is paid to departed spirits. East Asian peoples such as Chinese, Japanese, Korean, Vietnamese, often celebrate this festival by going to the cemetery to cut grasses, clean and offer food and fruits on their ancestors' tombs. 4) Thanh Minh có nghĩa là truyền tin, một trong Ngũ Minh: The learning of communication, one of the five sciences—Đức Phật đã nhìn thấy sự quan trọng của truyền tin, vì vậy Ngài đã đặt nó lên hàng đầu. Vì nếu không có kỹ thuật truyền tin thì các môn học khác sẽ không phát huy được. Khoa truyền tin tự cổ chí kim chịu ảnh hưởng của chữ viết hay lời nói. Đức Phật khuyến khích con người hãy học cách diễn đạt và làm cho người khác hiểu rõ mình. Vì vậy, ngoài tiếng mẹ đẻ ra, chúng ta cần phải học thêm những sinh ngữ thông dụng để có thể truyền đạt và hiểu rõ tư tưởng của các dân tộc khác, từ đó cải thiện cuộc sống về cả vật chất lẫn tinh thần—The Buddha realized the importance of communication; therefore, he made it the first of the “Five Great Learning.” For without adequate means of communication, all other learning types cannot be carried out. From ancient time till now, communication can be effected by written languages or by speech. The Buddha encouraged people to learn how to express themselves and make themselves understood. Thus, we should learn not only our own languages, but also learn other living and popular languages to communicate with and understand other peoples' ideas and thoughts to improve our physical and spiritual life—See Ngũ Minh. a) Truyền đạt bằng lời nói—Communication by speech: Lời nói vừa là phương tiện truyền thông chính, vừa cũng là phương tiện phá tan những rào cản khác biệt về tư tưởng—Speech is not only a main means of communication, but it is also a means to destroy barriers of different ideas and thoughts. b) Truyền đạt bằng chữ viết—Communication by writing: Sự tiến triển của văn minh tùy thuộc vào sách vở của các bậc tiền bối để lại. Phật giáo xuất phát từ Ấn Độ nên tất cả các kinh điển đều được viết bằng Phạn ngữ. Sau đó, kinh điển được dịch sang tiếng Hoa. Hiện tại tại Việt Nam kinh điển được dịch sang Việt ngữ từ Phạn hay Hoa ngữ—The advancement of civilization depends on the scriptures left to us by the ancient sages. Buddhism originated from India; therefore, all scriptures were written in either Sanskrit or Pali. Later, they were translated into Chinese. Nowadays, Vietnamese Buddhist monks and nuns are translating these scriptures into Vietnamese, either from Sanskrit, Pali, or Chinese. c) Truyền đạt bằng những phương cách khác—Communication by other media: Chắc chắn có người cho rằng chân lý tối thượng của Đức Phật không thể giải thích bằng ngôn ngữ, nhưng nếu không dùng ngôn ngữ thì không thể nào diễn đạt được Phật Pháp, tức là chân lý tối thượng của Đức Phật, nó siêu việt lên trên mọi hình thức, tuy nhiên phải dùng tới phương tiện của hình thức thì mới có thể thực hiện được bằng các môn nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, âm nhạc, và hành động, như các tông phài Mật Tông đã ứng dụng. Trong Thiền Tông, sự truyền đạt trí huệ cao siêu được thực hiện bằng tâm truyền tâm. Tuy nhiên, với đa số đại chúng với căn cơ trình độ khác nhau, thì sự truyền đạt bằng ngôn ngữ và hình ảnh chân thật vẫn phổ thông và hữu hiệu hơn nhiều—Of course some may argue that the law has no speech; however, without speech it cannot be expressed. The ultimate truth of the Buddha transcends form, yet only by means of form can it be understood. Doctrinal transmission can also be accomplished by arts, such as painting, sculpture, music, and actions, as is the case with the esoteric sects of Buddhism. While in Zen the transmission of high wisdom is carried out from mind to mind. However, the masses with different levels of faculties, the transmission by way of speech and real pictures is much more popular and effective. ; (聲明) I. Thanh Minh. Phạm:Zabda-vidyà. Hán âm: Nhiếp đà bí đà. Chỉ cho môn học về văn tự, âm vận và ngữ pháp, 1 trong 5 minh của Ấn độ. Luận Du già sư địa quyển 15 chia Thanh minh làm 6 hạng mục chủ yếu như sau: 1. Pháp thi thiết kiến lập tướng: Thanh minh là danh (tên gọi), cú(câu), văn thân(văn chương)... và lấy những âm thanh tương ứng với 5 đức: Bất bỉ lậu (không thô bỉ), khinh dị(hờ hững xem là dễ dàng), hùng lãng(mạnh mẽ, sáng sủa), tương ứng(ứng hợp với nhau) và nghĩa thiện làm thể. 2. Nghĩa thi thiết kiến lập tướng: Tức nghĩa được bao hàm phải rõ ràng. Có 10 nghĩa: Sáu căn, 4 đại chủng, nghiệp, sự tìm cầu, trái pháp, pháp, hưng thịnh, suy tổn, thụ dụng và thủ hộ, cùng 6 nghĩa: Tự tính, nhân, quả, tác dụng, sai biệt tương ứng và chuyển. 3. Bổ đặc già la thi thiết kiến lập tướng: Tính khác nhau của ngôn ngữ. Tức tính nam, tính nữ(giống đực, giống cái), trung tính và sự biến hóa của chuyển thanh. 4. Thời thi thiết kiến lập tướng: Sự sai khác về thời gian. Tức sự biến hóa về quá khứ xa, quá khứ gần, cho đến vị lai xa, vị lai gần... 5. Số thi thiết kiến lập tướng: Sự sai khác về số lượng. Tức số đơn, số 2, số nhiều... 6. Xứ sở căn tài thi thiết kiến lập tướng: Pháp nói về cách soạn lời, soạn tụng. Khi giải thích về Xứ sở căn tài thi thiết kiến lập, Du già sư địa luận lược toản quyển 6 nói như sau: Xứ sở căn bản của Thanh minh gồm có 4 luận, đó là: Phạm vương bách vạn tụng, Đế thích thập vạn tụng, Ca đơn một la tiên nhất vạn nhị thiên tụng và Ba nị ni tiên bát thiên tụng và 5 luận chú thích là: Tự thể căn tài Thanh minh luận (300 bài tụng), Thanh minh lược bản tụng (1000 bài tụng), Bát giới luận (800 bài tụng), Văn Thích ca luận (1500 bài tụng) và Ôn na địa luận (2500 bài tụng). Vì Thanh minh là 1 trong 5 môn học (Ngũ minh) của Ấn độ nên nói chung người Ấn độ đều học tập nghiên cứu, còn ở Trung quốc thì vì kinh luận đều đã được phiên dịch ra chữ Hán mà văn pháp rất khác với văn pháp tiếng Phạm, cho nên phần nhiều Thanh minh không được giảng dạy học tập. Mãi đến đời Đường, ngài Huyền trang truyền tiếng Phạm, thêm vào đó Mật giáo cũng lưu truyền nên môn học Phạm tự Tất đàm bỗng rộ lên một thời, các trứ tác về Tất đàm học cũng xuất hiện vào thời ấy. Tại Nhật bản, các vị cao tăng như Tối trừng, Không hải... đến Trung quốc tham học, sau khi về nước cũng truyền pháp Tất đàm, do đó Tất đàm học cũng dần dần hưng thịnh. [X. luận Du già sư địa Q.38; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.5; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng, phần cuối; Tây phương học pháp trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.5]. (xt. Ngũ Minh). II. Thanh Minh. Đồng nghĩa: Phạm bái. Chỉ cho sự phúng tụng, ngâm vịnh các bài kệ, tức phương pháp có phụ thêm sự phổ âm để ca và ngâm kệ tụng, danh hiệu... Thanh minh trong 5 minh nghiên cứu tận cùng nghĩa Tam thanh bát chuyển (thuộc văn pháp tiếng Phạm), còn Thanh minh này thì chuyên nói về phương pháp hòa âm, phổ nhạc, ca hát, ngâm vịnh... Sự ngâm vịnh các bài tán ca, kệ tụng đã thịnh hành ở Ấn độ xưa ngay từ thời đại Phệ đà, về sau, Phật giáo cũng sử dụng phương pháp ấy, đức Phật cho phép các tỉ khưu được thanh bái(đọc canh, tán), nhưng không được theo cách ca vịnh của Bà la môn để hòa âm tụng kinh. Ở Trung quốc, phương pháp Phạm bái(đọc canh, tán tụng) đã được truyền vào từ sớm, trong Pháp uyển tạp duyên nguyên thủy tập mục lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 12, có liệt kê các mục như: Trần tư vương cảm Ngư sơn Phạm thanh chế bái kí, Chi khiêm chế liên cú Phạm bái kí; Khang tăng hội truyền Nê hoàn bái kí...; còn Lương cao tăng truyện quyển 33 có trình bày sơ qua về sự thịnh hành Phạm bái. [X. kinh Tì ni mẫu Q.6; luật Thập tụng Q.37; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.6; Âm nghệ chí trong nguyên hanh thích thư Q.29; Thanh minh nguyên lưu kí]. (xt. Phạm Bái).

Thanh minh ký luận

xem Tỳ-già-la.

thanh minh luận

Sabdavidya-sastra (skt)—Bộ luận về chữ và nghĩa—A treatise on the words and meanings.

thanh minh nguyên lưu kí

(聲明源流記) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Ngưng nhiên thuộc tông Hoa nghiêm Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 84. Nội dung sách này nói về nguyên do, nguồn gốc của Phạm bái và thứ tự truyền thừa giữa thầy và trò ở Nhật bản. Tác phẩm này được khắc in vào tháng 2 năm Hưởng bảo thứ 4 (1719), có lời bạt của ngài Quang huân ở viện Liên quang.

thanh miêu hội

(青苗會) Hội lúa xanh non. Tức pháp hội trong Thiền tông cầu cho lúa xanh được thành thục.Ở Trung quốc, từ đời Tống về sau, hằng năm vào mùa gieo mạ thì các tự viện Thiền tông cử hành Thanh miêu hội, tụng đọc kinh Hoa nghiêm. Điều nguyệt phần tu tri trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 7 (Đại 48, 1155 thượng) nói: Vào lúc sáng sớm ngày Đoan ngọ tháng 5, vị Tri sự thắp hương trong Tăng đường, châm trà xương bồ, vị Trụ trì thướng đường lần lượt kiến lập Thanh miêu hội, vị Đường ti dự bị đưa ra danh sách xem kinh tụng kinh của các liêu, vị Trực tuế kiểm điểm các nơi có gọn gàng ngăn nắp không, nạo vét các cống rãnh, vị Trụ trì đến các liêu, các am tháp, mỗi nơi đều pha trà, tiếp đãi trong một ngày, treo màn trong Tăng đường. Qua đây ta có thể biết Thanh miêu hội được liên kết với các hoạt động trong ngày Đoan ngọ. [X. Thiền lâm bị dụng thanh qui Q.10; Huyễn trụ am thanh qui; Tùng lâm hiệu định thanh qui tổng yếu Q.2; Cát tường sơn Vĩnh bình tự tiểu thanh qui Q.2; môn Báo đảo trong Thiền lâm tượng khí tiên].

Thanh Mậu

(清茂) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Nguyên, người ở Lạc thanh, Ôn châu (Chiết giang), họ Lâm, tự là Cổ lâm, hiệu là Kim cương chàng, Lâm cư tẩu, người ta thường gọi là Mậu cổ lâm, rất nổi tiếng về mặc tích(viết chữ đẹp). Năm 12 tuổi, sư theo ngài Cô nham khải, chùa Quốc thanh, núi Thiên thai xuất gia, thi kinh được đậu. Sau đó, bất chấp sự khó khăn trong lúc đầu nhà Nguyên, sư vân du khắp trong nước, lần lượt tham yết các ngài Giản ông kính ở núi Tuyết đậu tại Minh châu, Thạch lâm củng ở Nam bình, Giác an chân ở Thừa thiên... Cuối cùng, sư tham học ngài Hoành xuyên Như củng chùa Năng nhân tại Nhạn hoành, tinh tiến nghiên tu và được nối pháp lúc sư 19 tuổi. Sau, sư trở về chùa Quốc thanh. Năm Đại đức thứ 2 (1298) đời Nguyên, sư ẩn cư ở chùa Bạch vân, núi Thiên bình, phủ Bình giang, được 9 năm thì dời đến chùa Khai nguyên, không bao lâu sư lui về tháp viện Thiệu long ở núi Hổ khâu, niêm lại 100 tắc tụng cổ của ngài Tuyết đậu Trùng hiển. Niên hiệu Hoàng khánh năm đầu (1312), sư lại trụ chùa Khai nguyên lần thứ 2; bấy giờ, do lời tâu xin của Dương quốc công, sư được vua ban cho danh hiệu Phù Tông Phổ Giác Phật Tính Thiền Sư. Về già, vâng mệnh triều đình, sư đến tham dự Đại hội Kim sơn, được vua và các Đại thần tôn sùng, người đến cầu pháp ngữ tới số vài nghìn. Năm Thiên lịch thứ 2 (1329), sư thị tịch, thọ 68 tuổi. Đệ tử nối pháp có các vị: Liễu amThanh, Trọng mưu Lương du, Trúc tiên Phạm tiên... Sau, sư Trúc tiên sang Nhật bản, khai sáng phái Mặc tích của ngài Thanh Mậu Trúc tiên, là 1 trong 24 dòng của Thiền tông Nhật bản. Sư có các tác phẩm: Cổ lâm Thanh mậu thiền sư ngữ lục 5 quyển, Cổlâm Thanh mậu thiền sư thập di kệ tụng 2 quyển, Sơ trụ Bình giang phủ Thiên bình sơn Bạch vân thiền tự ngữ lục, Khai nguyên thiền tự ngữ lục. [X. Tăng tập tục truyền đăng lục Q.5; Tục đăng tồn cảo Q.6; Ngũ đăng nghiêm thống Q.21; Mặc tích tổ sư truyện Q.thượng; Thiền lâm mặc tích giải thuyết (Điềnsơn Phương nam)].

thanh mục

(青目) Phạm: Piígalanetra. Hán âm: Tân già la, Tần la già. Cao tăng Ấn độ, sống vào khoảng thế kỉ IV, chú thích bộ Trung luận của ngài Long thụ. Theo Đại thừa huyền luận quyển 2 thì sư ra đời vào khoảng 1000 năm sau khi đức Phật nhập diệt. Bài tựa Trung luận của ngài Tăng duệ (Đại 30, 1 thượng) nói: Những nhà chú thích Trung luận thật không ít. Bản chú thích được nêu ra ở đây là do Phạm chí người Thiên trúc tên là Tân già la, Hán dịch là Thanh mục, soạn. So với các bản chú thích khác thì bản chú thích này của Phạm chí rất đầy đủ. Theo sự khảo chứng của các học giả cận đại thì Thanh mục tức là tên khác của ngài Đề bà. [X. Trungquánluận sớ Q.1, phần đầu (Cát tạng); Tam luận huyền sớ văn nghĩa yếu Q.2; Xuất tam tạng kí tập Q.11; Notes on Chinese Buddhist Books (J.R.A.S.1903) by J.Tanakusu].

thanh nghiêm

(清嚴) Cao tăng Trung quốc sống vào thời Dân quốc, người ở Tùy ấp, tỉnh Hồ bắc, họ Hoàng, tên Hưng hoa. Năm 12 tuổi, sư lễ ngài Thánh tường chùa Cổ đàm ở Hoàng pha xin xuất gia, được đặt pháp danh là Quả hoa. Năm 20 tuổi, sư thụ giới Cụ túc ở chùa Qui nguyên tại Hán dương. Năm Dân quốc 34 (1945), sư làm chức Tri khách chùa Cổ đức ở Hán khẩu. Năm Dân quốc 43 (1954), sư từ Hương cảng đến Đài loan, trụ ở chùa Thập phổ, làm các chức Tri khách, Duy na... Ba năm sau, sư sáng lập chùa Vĩnh minh ở Gia nghĩa, mở các khóa giảng kinh và tu trì. Sư từng giữ các chức Lí sự, Giám sự của hội Phật giáo Trung quốc, Cố vấn Chi hội Phật giáo Đài bắc. Sư thị tịch năm 1970, hưởng dương 47 tuổi, tăng lạp 35, giới lạp 27. lúc sinh tiền, sư từng dặn dò đệ tử sau khi sư thị tịch thì bỏ di hài vào cái chum, đậy lại và chôn trong đất chùa, 6 năm sau hãy mở ra xem. Theo di chúc, vào ngày 21 tháng giêng năm Dân quốc 65 (1970), đại chúng mở chum ra xem thì thấy sư nhắm mắt ngồi ngay thẳng như đang nhập thiền định, da dẻ tươi sáng, màu hổ phách, hệt như lúc sống, làm chấn động dư luận một thời và truyền thành giai thoại. Sư là 1 trong những vị có nhục thân bất hoại kế sau toàn thân xá lợi của Pháp sư Từ hàng ở Tịch chỉ tại Đài loan.

Thanh Nguyên Hành Tư

(青原行思, Seigen Gyōshi, ?-740): nhân vật sống dưới thời nhà Đường, người vùng An Thành (安城), Cát Châu (吉州, Tỉnh Giang Tây), họ là Lưu (劉). Ông xuất gia hồi còn nhỏ, sau đến tham học với Lục Tổ Huệ Năng và kế thừa dòng pháp của vị này. Ông cùng với Nam Nhạc Hoài Nhượng (南岳懷讓) được gọi là hai vị đại đệ tử của Lục Tổ. Từ khi ông đến sống tại Tĩnh Cư Tự (靜居寺) thuộc Thanh Nguyên Sơn (青原山), chúng môn đồ vân tập đến tham học rất đông, và sau này ba pháp hệ thuộc đời cháu là Vân Môn Tông, Tào Động Tông và Pháp Nhãn Tông liên tục xuất hiện. Vào ngày 13 tháng 11 năm thứ 28 niên hiệu Khai Nguyên (開元), ông thị tịch, có thuyết cho là ông thọ 68 tuổi, và được vua Hy Tông ban cho thụy hiệu là Hoằng Tế Đại Sư (弘濟大師). ; 青原行思; C: qīngyuán xíngsī; J: seigen gyōshi; 660-740;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ hàng đầu của Lục tổ Huệ Năng. Từ dòng thiền của Sư xuất phát ra ba tông trong Ngũ gia thất tông mặc dù Sư chỉ có một đệ tử đắc pháp là Thạch Ðầu Hi Thiên.|Sư họ Lưu, quê ở Kiết Châu, An Thành, xuất gia từ nhỏ. Nhân nghe Lục tổ dạy chúng ở Tào Khê, Sư đến tham học. Sư được Lục tổ ấn khả và trở về trụ trì chùa Tịnh Cư trên núi Thanh Nguyên ở Kiết Châu.|Thiền sư Hà Trạch Thần Hội đến, Sư hỏi: »Ở đâu đến?« Thần Hội đáp: »Từ Tào Khê đến.« Sư hỏi: »Ý chỉ Tào Khê thế nào?« Thần Hội chỉnh thân rồi thôi. Sư bảo: »Vẫn còn đeo ngói gạch.« Thần Hội hỏi: »Ở đây Hoà thượng có vàng ròng chăng?« Sư đáp: »Giả sử có cho, ông để chỗ nào?«|Sau khi truyền pháp cho Hi Thiên xong, ngày 13 tháng 12 năm Canh Thìn, đời Ðường niên hiệu Khai Nguyên năm thứ 28, Sư từ biệt chúng lên pháp đường viên tịch. Vua Ðường Hiến Tông ban hiệu là Hoằng Tế Thiền sư, tháp hiệu Quy Sơn.

thanh nguyên hành tư thiền sư

Zen master Xing-Si-Qing-Yuan—See Hành Tư Thanh Nguyên Thiền Sư.

thanh nguyên hạ

(青原下) Một trong các phái của Thiền tông Trung quốc. Thanh nguyên chỉ cho Thiền sư Thanh nguyên Hành tư đời Đường; Hạ hàm ý là phái dưới. Tức là pháp hệ của ngài Thanh nguyên Hành tư, đệ tử nối pháp của Lục tổ Tuệ năng, đối lại với Nam nhạc hạ là pháp hệ của ngài Nam nhạc Hoài nhượng, cũng là đệ tử của Lục tổ. Sau khi đắc pháp, ngài Hành tư trụ ở chùa Tĩnh cư, núi Thanh nguyên tại Cát châu thuộc tỉnh Giang tây, hoằng dương Thiền pháp. Pháp tự của ngài là Thạch đầu Hi thiên trụ ở núi Nam nhạc, tiếp hóa hậu học, soạn ra Tham đồng khế mở rộng tông phong, người đời tôn xưng là Thạch đầu đại sư; đệ tử ưu tú của sư có các vị Thiên hoàng Đạo ngộ, Đơn hà Thiên nhiên, Dược sơn Duy nghiễm... Hệ thống của ngài Thiên hoàng lần lượt có các vị: Long đàm Sùng tín, Đức sơn Tuyên giám, Tuyết phong Nghĩa tồn, Vân môn Văn yển... Trong đó, ngài Vân môn Văn yển trụ ở núi Vân môn tại Thiều châu (huyện Khúc giang, tỉnh Quảng đông) phát triển tông thú, môn hạ có tới 1000 người, pháp hệ của sư chính là tông Vân môn trong Ngũ gia thất tông của Thiền tông Trung quốc. Còn ngài Tuyết phong Nghĩa tồn thì mở mang Thiền pháp ở núi Tuyết phong tại Phúc châu, có tới hơn 1500 người từ khắp nơi qui tụ về tham học. Môn hạ của sư lần lượt có các vị: Huyền sa Sư bị, La hán Quế sâm, Pháp nhãn Văn ích... Trong đó, ngài Pháp nhãn Văn ích ở chùa Thanh lương tại Kim lăng (nay là huyện Giang ninh, tỉnh Giang tô), phát triển Thiền pháp một cách độc đáo. Pháp hệ của sư chính là tông Pháp nhãn trong Ngũ gia thất tông của Thiền tông Trung quốc. Còn pháp hệ của ngài Dược sơn Duy nghiễm thì lần lượt có các vị: Vân nham Đàm thạnh, Động sơn Lương giới, Tào sơn Bản tịch, Vân cư Đạo ưng. Trong đó, pháp hệ của các ngài Lương giới và Bản tịch chính là tông Tào động trong Ngũ gia thất tông của Thiền tông Trung quốc. Cho nên, hệ thống của 3 tông Vân môn, Pháp nhãn và Tào động đều được gọi là Thanh nguyên hạ. Trong 3 tông trên thì tông Vân môn từ đời Ngũ đại đến đời Tống, từ Quảng đông dần dần mở rộng phạm vi đến các tỉnh Giang tô, Chiết giang, Phúc kiến... và lấy đó làm trung tâm phát triển giáo pháp. Tông Pháp nhãn thì theo sự hưng thịnh của giáo đoàn ngài Tuyết phong Nghĩa tồn mà phát triển và được Mân vương họ Tiền qui y. Các vị Thiên thai Đức thiều, Vĩnh minh Diên thọ, Vĩnh an Đạo nguyên... của tông Pháp nhãn đều được các tông tôn là Cao tăng, ngài Đức thiều còn được khen là Trí khải tái thế. Ngoài ra, các tác phẩm quan trọng của Thiền như Tổ đường tập, Cảnh đức truyền đăng lục (do ngài Đạo nguyên soạn), Tông kính lục (do ngài Diên thọ biên tập)... cũng lần lượt được thành lập. Tông Tào động, sau ngài Động sơn Lương giới, vào các đời Nam Tống, Minh, Thanh thì có pháp hệ của ngài Vân cư Đạo ưng truyền nối, song song với tông Lâm tế thuộc pháp hệ Nam nhạc hạ đều nêu cao tông phong của mình, nhất là ngài Hoành trí Chính giác đề xướng Mặc chiếu thiền, đối lại với Khán thoại thiền do ngài Đại tuệ Tông cảo của tông Lâm tế chủ trương cùng nổi tiếng ở đời. (xt. Nam Nhạc Hạ).

thanh nguyên sơn

(青原山) Cũng gọi Thanh nguyên an ẩn sơn. Núi ở cách Lư lăng (nay là huyện Cát an) 15 km về phía đông nam thuộc tỉnh Giang tây. Trong núi có ngọn Lạc đà, dãy Chá cô cao đến tận mây, lại có các suối Lôi tuyền, Tích tuyền, Hổ bào tuyền, nổi tiếng xa gần. Thiền sư Hành tư (?-740), Tổ thứ 7 của Thiền tông Trung quốc từng khai sáng chùa Tĩnh cư ở núi này, năm Trị bình thứ 3 (1066) đời Bắc Tống được vua ban tấm biển hiệu là An Ẩn Tự, đến khoảng năm Sùng đức (1636-1643) đời vua Thái tông nhà Thanh, chùa được khôi phục lại tên cũ là Tĩnh cư. Cuối đời Nguyên, chùa bị thiêu hủy; cuối đời Minh được sửa lại làm tùng lâm, hiện nay vẫn còn, người đời gọi là Đại miếu. Trong chùa có điện Thiên vương, điện Đại hùng, gác Tì lô... thờ 4 vị Kim cương, 18 vị La hán, bồ tát Quán âm..., còn có các cổ vật như nồi đồng nghìn người ăn, lò hương nặng trăm cân, chuông lớn nặng nghìn cân, trên cửa chính của chùa có khắc chữ: Thanh Nguyên Sơn do Văn thiên tường viết. Ngoài ra, trong núi còn có các di tích cổ nổi tiếng như tháp Thất tổ, tháp Phi lai, thành Niết bàn, nhà tháp, am Thanh hựu, chùa Phương quảng ở núi Hoa cái, chùa Tư phúc... Kế tiếp sau ngài Hành tư, có các vị cao tăng lần lượt cư trụ núi này như ngài Thanh nguyên tề, Thanh nguyên Duy tín, Bản tịch Chân nguyên, Chuyên ngu Quán hành, Mi am Hành tú, Tiếu phong Đại nhiên... Ngài Tiếu phong Đại nhiên đời Thanh có biên tập Thanh nguyên sơn chí lược, sau do ngài Thi nhuận chương biên tập bổ sung, tất cả 13 quyển, được ấn hành vào năm Khang hi 41 (1702), nội dung ghi chép thơ văn, sớ, bia minh, du kí, kỉ sự... của các vị Thiền sư, cư sĩ, văn nhân, mặc khách cư trụ hoặc du ngoạn núi này để lại trong khoảng hơn 1000 năm từ khi ngài Thanh nguyên Hành tư vào núi khai sáng về sau. [X. Đại minh nhất thống chí Q.46; Đại thanh nhất thống chí Q.249; Thanh nguyên sơn chí lược].

thanh nhàn

Unoccupied.

thanh nhã

Grace—Refined—Elegant—Courteous.

thanh nhập

(聲入) Chỉ cho âm thanh, 1 trong 12 nhập. Nhập là vào. Sáu căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý và 6 trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nhập vào lẫn nhau, gọi là 12 nhập. Nghĩa là tất cả âm thanh nghe được, đối với lỗ tai gọi là Thanh nhập. [X. Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.thượng]. (xt. Thập Nhị Xứ).

thanh niệm tụng

Tụng niệm ra tiếng—Vocal intonation. ; (聲念誦) Niệm tụng bằng cách phát ra âm thanh dài, ngắn rõ ràng, khiến cho mình và người khác đều nghe được, là 1 trong 6 phương pháp niệm tụng nói trong Kim cương giới đại pháp đối thụ kí quyển 6. (xt. Ngũ Chủng Niệm Tụng).

Thanh Phong Truyền Sở

(青峰傳楚, Seihō Denso, ?-?): vị Thiền tăng sống vào cuối đời nhà Đường, người vùng Kinh Châu (涇州, Tỉnh Cam Túc), người kế thừa dòng pháp của Lạc Phổ Nguyên An (樂普元安). Ông đã từng sống tại Thanh Phong Sơn (青峰山) thuộc Phủ Phong Tường (風翔府).

thanh phạn

• Phạn ngữ là ngôn ngữ của thanh tịnh: Pure Sanskrit. • Tiếng Phật thanh tịnh: Buddha's resonant voice, or pure enunciation.

thanh phẩu hưng dương thiền sư

Zen master Qing-Pou-Xing-Yang—Thiền sư Thanh Phẩu Hưng Dương là đệ tử của Thiền sư Đại Dương. Tuy vậy ông không may chết trước Đại Dương và không có Pháp từ nào để nối dõi Tào Động—Zen master Qing-Pou-Xing-Yang was a disciple of Zen master T'a-Yang. Although he was a successor of T'a-Yang, he unfortunately did not outlive his teacher, nor did he have any Dharma heirs to carry on the Cao-T'ong line. • Sau khi trụ ở Hưng Dương, sư thượng đường dạy chúng: “Đại đạo từ Tây sang, lý bặt bách phi, trong câu hợp cơ toàn trái diệu chỉ, bất đắc dĩ mà có làm cong vạy tông Tổ Sư, huống là lăng xăng có lợi ích gì? Tuy nhiên như thế, việc không phải một chiều, hãy ở trong cửa xướng giáo mở một con đường cùng toàn thể thương lượng.”—After becoming the abbot of a temple, Xing-yang entered the hall and addressed the monks, saying: “The principle of the great way that came from the west cuts off the hundred negations. Words that accord with the essential teaching go on without end. But what benefit could there be in just arduously submitting to the teachings of our school? Although it's like this, there are many different affairs to deal with. But in the teaching of our school, there is only one path that passes through. Everyone discuss this!” • Có vị Tăng hỏi: “Rồng Ta Kiệt ra khỏi biển thì càn khôn chấn động, thấy mặt trình nhau việc thế nào?” Sư đáp: “Chim Đại bàng cánh vàng kình vũ trụ, trong ấy ai là người xuất đầu?” Vị Tăng hỏi: “Nếu khi gặp người xuất đầu thì làm sao?” Sư đáp: “Giống như chim cắt anh không tin, trước sọ khô nghiệm mới biết thật.” Vị Tăng hỏi: “Thế ấy thì khoanh tay bày ngực lui ba bước?” Sư đáp: “Dưới tòa Tu Di con rùa quạ, chớ đợi điểm trán lần thứ hai.”—A monk asked Xing-Yang-Qing-Pou: “When the Sagara Dragon emerges from the sea, the entire universe shudders. At just such a time, how is this expressed?” Qing-Pou said: “The Garuda King confronts the universe! Among you here, who can come forth?” The monk asked: “If suddenly someone comes forth, then what?” Qing-Pou said: “It's like a falcon striking a pigeon. You don't believe me. If you can experience it behind your skull, then you'll at last realize the truth.” The monk said: “In that case, I'll just fold my hands on my chest and retreat three steps.” Qing-Pou said: “The tortoise that upholds Mount Sumeru won't tolerate another one going back with a dot on its forehead!” • Sư bệnh, Đại Dương đến hỏi: “Thân nầy như bọt huyễn, trong bọt huyễn thành tựu. Nếu không có cái bọt huyễn thì đại sự không do đâu mà hiện. Nếu cần đại sự xong, biết cái bọt huyễn này làm gì?” Sư thưa: “Vẫn là việc bên này.” Đại Dương bảo: “Việc bên kia thế nào?” Sư thưa: “Khắp đất vầng hồng suốt, đáy biển chẳng trồng hoa.” Đại Dương cười: “Là người tỉnh chăng?” Sư hét: “Nói! Sẽ bảo tôi mất rồi.” Nói xong thầy thị tịch—When Qing-Pou was ill in bed, T'a-Yang said to him: “The body is an illusion, and within this illusion affairs are carried out. If not for this illusion, the great matter would have no place from which to be undertaken. If the great matter is undertaken, it is seen to be an illusion. What do you say?” Qing-Pou said: “There is still this matter here.” T'a-Yang said: “And what is that matter?” Qing-Pou said: “Encircling the earth, the lustrous crimson orb. At ocean bottom, not planting flowers.” Qing-Pou paused and closed his eyes. T'a-Yang smile and said: “Are you awake?” Qing-Pou said: “I've forgotten what I was about to say.” He then passed away.

thanh phật sự

(聲佛事) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Dùng âm thanh để làm các Phật sự, tức công đức của âm thanh có khả năng thành tựu các Phật sự. Duy ma kinh lược sớ quyển 10 (Đại 38, 699 hạ) nói: Trong lúc đó nhĩ căn là nhạy bén, cho nên dùng thanh trần để phát khởi. Không hẳn chỉ có thanh trần mà không có 5 trần, như trong đây dùng thanh làm Phật sự, cũng phóng ánh sáng, cũng mây thơm, lọng thơm, y phục... để làm Phật sự. Nhưng dùng thứ thù thắng là chính, ngoài ra là phụ, cho nên quyết định dùng âm thanh làm Phật sự. Lại theo bài tựa Tịnh độ ngũ hội niệm Phật lược pháp sự nghi tán thì dùng danh hiệu của 48 nguyện Di đà pháp vương làm Phật sự. Vì nhờ đọc tụng, xưng danh mà được lợi ích vãng sinh, lại nghe pháp âm thì tự nhiên không sinh khởi trần lao, cấu nhiễm, tất cả việc đó đều là thí dụ chứng minh cho Thanh Phật sự. Đến đời sau, thậm chídùng ca múa, kĩ nhạc để cúng dường, cũng là 1 trong các Thanh Phật sự. [X. phẩm Bồ tát hạnh trong kinh Duy ma Q.hạ].

thanh quan

Honest officials.

thanh quang

Pure and bright.

Thanh quy

清規; J: shingi; nghĩa là »Quy luật rõ ràng«;|Danh từ chỉ những quy luật cho tăng, ni và Cư sĩ trong cũng như ngoài những Thiền viện. Trong những tác phẩm nói về quy luật, người ta thường gắn hai chữ Thanh quy phía sau, ví dụ như Bách Trượng thanh quy của Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải, Vĩnh Bình thanh quy của chùa Vĩnh Bình tại Nhật Bản.

thanh quy

Luật thanh tịnh—Pure rules. ; (清規) Chỉ cho những qui tắc sinh hoạt hằng ngày của chúng tăng(thanh chúng) trong các chùa viện(tùng lâm) của Thiền tông. Tức là các phép tắc được đặt ra để qui định uy nghi đi, đứng, ngồi, nằm của đại chúng trong tùng lâm mà chúng tăng phải tuân thủ. Thanh gọi đủ làThanh tịnh đại hải chúng. Qui nghĩa là khuôn phép mực thước. Khuôn phép mực thước được đặt ra này có năng lực làm cho đại chúng thanh tịnh, cho nên gọi là Thanh qui. Các Thiền tăng trong khoảng 300 năm từ sau khi Tổ Đạt ma đến Trung quốc, phần nhiều cư trú trong các luật viện, hoặc hang núi, gốc cây, chứ chưa xây dựng các Thiền viện. Đến đời Đường, vì muốn cho Thiền tăng có chỗ an trú để tu hành, thuyết giảng đúng pháp, nên Thiền sư Hoài hải ở núi Bách trượng tại Hồng châu mới thiết lập Thiền viện, đồng thời tham chiếu các kinh luật Đại, Tiểu thừa chế định các nghi tắc tùng lâm, soạn ra Thanh qui 2 quyển lưu hành rộng rãi, người đời gọi là Cổ qui, Cổ thanh qui, Bách trượng thanh qui. Đây là Thanh qui đầu tiên của Thiền tông. Bộ Bách trượng thanh qui bao gồm tất cả các việc trong tùng lâm và các thiết trí như Pháp đường, Tăng đường, Phương trượng, đồng thời từ trong tăng chúng chọn ra 10 Hiền chúng để đảm nhiệm 10 chức, được chia làm Tây tự và Đông tự. Tây tự gồm: Thủ tọa (Tiền đường, Hậu đường), Thư kí, Tri tạng, Tri khách, Tri dục; Đông tự gồm: Giám tự, Duy na, Phó tự, Điển tọa, Trực tuế. Ngoài ra còn đặt các chức vụ như Liêu nguyên, Đường chủ, Hóa chủ, Trang chủ, Tri điện..., tóm lại, tất cả mọi việc trong tùng lâm đều có người chuyên môn chịu trách nhiệm. Tất cả các việc triêu tham(tham thiền buổi sáng), tịch tụ(nhóm họp buổi tối), trai chúc(cơm cháo), phổ thỉnh(thỉnh toàn thể chư tăng)... của đại chúng đều có qui định. Học chúng nhóm họp ở Tăng đường, thứ tự chỗ ngồi được sắp xếp theo năm thụ giới; đồng thời đặt những chiếc giường dài liền nhau để ngồi thiền và nghỉ ngơi. Còn Trụ trì thì phải là người có đủ đạo nhãn và đức hạnh, cư trụ trong Phương trượng, thường lên Pháp đường nói pháp, hỏi đạo, chỉ dạy để nhắc nhở và điều phục đại chúng. Những việc như vậy đã trở thành nếp mới trong tùng lâm, nhưng khác với luật pháp. Người đời gọi nếp sinh hoạt mới này là Bách trượng thanh qui. Từ đó về sau, các tùng lâm trong nước đều y theo thanh qui này mà làm phép tắc sinh hoạt tự viện. Tuy nhiên, đời sau cũng có người cho rằng Thiền lâm thanh qui là trái với giới luật Phật chế, nên tỏ thái độ chê bai. Trải qua thời gian cuối đời Đường, sang đời Ngũ đại thì bộ Bách trượng thanh qui dần dần bị thất lạc, hiện nay chỉ còn thấy một phần trong 2 sách Thiền môn qui thức và Bách trượng qui thằng tụng của Dương ức. Sau Bách trượng thanh qui, ở Trung quốc có những thanh qui khác lần lượt được soạn ra như sau: 1. Thiền uyển thanh qui (Sùng ninh thanh qui), 10 quyển, do ngài Tông trách soạn vào đời Tống. 2. Nhật dụng tiểu thanh qui (Nhập chúng nhật dụng thanh qui; Nhập chúng thanh qui, Nhật dụng qui phạm), 1 quyển, do Thiền sư Vô lượng Tông thọ ở Thụy nghiêm soạn. 3. Tùng lâm giáo định thanh qui tổng yếu(Hàm thuần thanh qui, Giáo định thanh qui, Vụ châu thanh qui), 2 quyển, do Thiền sư Duy miễn ở Kim hoa, Vụ châu soạn. 4. Thiền lâm bị dụng thanh qui (Chí đại thanh qui, Trạch sơn thanh qui, Đông lâm thanh qui), 10 quyển, do Thiền sư Nhất hàm ở Trạch sơn thuộc Đông lâm soạn vào đời Nguyên. 5. Huyễn trụ am thanh qui, 1 quyển, do Thiền sư Trung phong Minh bản soạn. 6. Thiền uyển thanh qui tổng yếu, 2 quyển, do Thiền sư Đạo tề soạn. 7. Thôn tự thanh qui, 1 quyển, do Thiền sư Kế hồng soạn. 8. Thọ xương thanh qui, 1 quyển, do Thiền sư Đạo thịnh soạn vào đời Minh. Ngoài ra, Thiền sư Đức huy trụ trì núi Bách trượng, tỉnh Giang tây, vâng sắc vua, đem 4 bản Sùng ninh thanh qui, Hàm thuần thanh qui, Chí đại thanh qui và Huyễn trụ am thanh qui, lược bỏ bớt những chỗ rườm rà, bù thêm vào những chỗ thiếu sót mà biên soạn lại bộSắc tu Bách trượng thanh qui 2 quyển, chia ra làm 9 chương, sửa lại làm 2 quyển. Từ đời Minh đến nay, bản này rất thông dụng, tuy tên gọi vẫn là Bách trượng thanh qui nhưng tinh thần nội dung thì đã cách Cổ thanh qui xa lắm. Trong 9 chương, 4 chương đầu qui định về các nghi thức chúc thánh, quốc kị, kì đảo, Phật đản tiết, Niết bàn tiết, Đạt ma kị, Bách trượng kị và Kị chư Tổ nhiều đời của các chùa, đây đều là các nghi thức mà trong luật không qui định hoặc trong Cổ thanh qui còn thiếu. Từ chương 5 đến chương 9 là những qui chương chế độ của chính tùng lâm. Ngoài ra, các tông phái khác cũng phỏng theo qui chế trong thanh qui này mà soạn ra các thanh qui của tông phái mình, như ngài Tỉnh ngộ thuộc Luật tông soạn Luật uyển sự qui 3 quyển, ngài Tự khánh tông Thiên thai soạn Giáo uyển thanh qui 1 quyển... Từ sau đời Minh, qui chế của Giáo môn rơi vào tình trạng hỗn loạn, các hành pháp trong tùng lâm cũng lỏng lẻo theo. Ở Nhật bản, về việc soạn thuật thanh qui thì có Thiền sư Đạo nguyên soạn Vĩnh bình thanh qui, Thiền sư Thiệu cẩn soạn Oánh sơn thanh qui, ngài Tức trung Huyền thấu soạn Vĩnh bình tiểu thanh qui, ngài Thanh chuyết Chính trừng soạn Đạo giám thanh qui, ngài Đông tiệm Dị công soạn Tùng lâm thập di lược thanh qui, ngài Vô trước Đạo trung soạn Tiểu tùng lâm thanh qui... Đến thời đại Đức xuyên thì có ngài Ẩn nguyên Long kì soạn Hoàng bá thanh qui, Tiểu tùng lâm lược thanh qui của phái Diệu tâm, ngài Diện sơn thuộc tông Tào động soạn Tăng đường thanh qui... Ngoài ra còn có ngài Từ không thuộc tông Tịnh độ soạn Liên môn thanh qui, ngài Nhật đăng tông Nhật liên soạn Thảo sơn thanh qui... Về các điều mục chủ yếu được thực hành trong các tùng lâm hiện đại thì có: 1. Kết hạ và kết đông: Bốn lễ lớn được tùng lâm rất xem trọng là Kết hạ, Giải hạ, Đông chí và Niên triêu. Kết hạ tức kết hạ an cư, cũng gọi kết chế, vốn bắt đầu từ ngày 15 tháng 4 hoặc tháng 5 hằng năm theo âm lịch; Giải hạ thì vào ngày 15 tháng 7 hoặc tháng 8, nhưng từ đời Nguyên về sau thì trước 1 ngày có giảng tập lễ nghi để tiện cho việc chuyên tâm tu đạo trong 3 tháng; Kết đông thì trong khoảng thời gian từ ngày 15 tháng 10 đến ngày 15 tháng giêng năm sau, kết chế an cư, chuyên tu Thiền pháp. Tức thường gọi là Đông tham hạ giảng. 2. An đơn: Tỉ khưu đã thụ giới Cụ túc, nếu y bát giới điệp đều đủ, khi hành cước(đi tham học) đến các chùa đều có thể quải đơn tạm trú. Nếu quải đơn (ở tạm) đã lâu, biết là người có hạnh kiểm tốt có thể sống chung thì cho vào Thiền đường, gọi là An đơn (được chính thức an trụ).3. Đại thỉnh chức: Tức việc sắp xếp nhân sự trong một chùa. Đây là sự kiện quan trọng vào mùa đông trong tùng lâm, thông thường được tổ chức vào ngày 15 tháng 8 hằng năm. 4. Thiếp đơn: Chỉ cho việc công bố danh sách các chức sự và nhân viên thường trú của một chùa, thường thường được tổ chức vào ngày 15 tháng 10 hằng năm. 5. Đả thất: Cầu hẹn ngày chứng ngộ, mỗi năm từ ngày 15 tháng 10 âm lịch đến ngày mồng 7 tháng giêng năm sau, Thiền chúng trong tùng lâm cử hành Thiền thất, cứ 7 (thất) ngày là 1 kì, hoặc đả thất (7 ngày), hoặc đả thập thất (70 ngày) không nhất định. Đây là việc làm quan trọng trong kì Kết đông. 6. Phổ thỉnh(cũng gọi Xuất pha): Thỉnh toàn thểđại chúng làm việc. 7. Tuế kế: Báo cáo tổng kết việc chi thu trong năm của tùng lâm. 8. Túc chúng: Phân xử những vị tăng vi phạm thanh qui. 9. Bảng trạng bài thị: Chỉ cho phương thức thông tri hành sự trong tùng lâm, tức thông báo cho đại chúng trong tùng lâm biết các việc bằng cách viết yết thị lên bảng gỗ treo ở các nơi như Pháp đường, Tăng đường, chúng liêu... 10. Chung cổ pháp khí: Chuông trống pháp khí dùng làm hiệu lệnh trong tùng lâm.[X.Thiền tịch chí Q.thượng; điều Truyền thiền qui pháp trong Đại tống tăng sử lược; Cảnh đức truyền đăng lục Q.6, phần cuối; Thiền tông tùng lâm chế độ dã Trung quốc xã hội]. (xt. Nam Hoài Cẩn).

thanh quỷ

Loại quỷ xanh, luôn miệng trách mắng tội nhân trong địa ngục—Blue or green demons who abuse the sufferers in Hades.

thanh sinh niệm tụng

(聲生念誦) Cũng gọi Sinh niệm tụng. Một trong 5 cách niệm tụng nói trong Bí tạng kí. Nghĩa là trong tâm quán tưởng pháp loa, niệm tưởng từ pháp loa này phát ra âm thanh mầu nhiệm, rồi theo âm thanh ấy mà tụng. (xt. Ngũ Chủng Niệm Tụng).

thanh sách

(青册) Tạng (gọi đủ): Bod-kyi yul-du chos daí chos-smra-ba ji-ltar byuí-ba#i rim-pa deb-ther síon-po. Gọi tắt:Deb-ther síon-po. Cũng gọi: Thanh sử. Bộ sử nói về sự lưu thông giáo pháp ở Tây tạng và thứ tự xuất hiện của các giáo thuyết. Tác giả là Khuếch dịch sư hùng nỗ phẫu (Tạng: Fgos-lotsà-ba Gshon-nudpal, 1392-1481, cũng gọi Đồng tử Cát tường). Đây là bộ sử đáng tin cậy nhất trong các sách sử của Phật giáo Tây tạng. Nội dung nói về các sự kiện từ thời đại Tùng tán cương bạc đến năm hoàn thành sách này (1478) thì dừng, tức khoảng thời gian 848 năm. Bản hiện còn là bản Thanh sử của Công đức lâm (Tạng: Kun-bde-glií) gồm 485 trang, chia làm 15 chương. Nội dung bắt đầu từ lịch sử hoằng thông Phật giáo ở Ấn độ và Tây tạng thời xưa, đồng thời trình bày khái quát về giáo nghĩa và sự truyền thừa của các phái. Đặc sắc lớn nhất của sách này là sử dụng lịch Can chi (Tạng:Rab-#byuị) được truyền vào Tây tạng năm 1027. Ngoài ra, sách này cũng nhờ trình bày một cách khách quan và niên đại chính xác mà được nổi tiếng. Sách này không những chỉ là lịch sử Phật giáo mà còn ghi chép về các Vương triều cũng như lịch sử chính trị, xã hội một cách rất rõ ràng, xác thực, màu sắc huyền thoại rất mờ nhạt. Những văn hiến cổ đại được trưng dẫn trong sách phần lớn đã bị thất truyền, do đó, qua sách này, người ta có thể biết được một số ghi chép quan trọng của thời xưa. Về phần sử liệu thì tác giả cũng tham chiếu rất nhiều sử liệu Hán văn. Còn sự tính toán về niên đại của phần lịch sử cổ đại trong sách này thì sót mất một chu kì lịch Can chi. Sách này hiện có các bản dịch tiếng Anh và tiếng Nhật. [X. Tây tạng soạn thuật Phật điển mục lục; Lược thuật Tây tạng sử tịch – Thanh sử (Lâm truyền phương, Nội minh tạp chí số 11)].

thanh sơn thiền viện

(青山禪院) Tên ngôi chùa cổ ở núi Thanh sơn (xưa gọi là núi Đồn môn) tại Hương cảng. Chùa này đã có từ đời Đường, bấy giờ gọi là am Bôi độ, chùa Bôi độ, vốn được xây cất để kỉ niệm Thiền sư Bôi độ. Ở bên phải phía sau chính điện của chùa có động Thạch Phật gọi là động Bôi độ, phía trước động có tượng Thiền sư Bôi độ khắc bằng đá. Cảnh sắc nơi này rất đẹp, gió mát trăng thanh, là di tích xưa nhất của Phật giáo ở Hương cảng. (xt. Bôi Độ Sơn).

thanh sắc thanh quang

Green colored of green light.

thanh sử

History book.

thanh tao

Noble—Elevated.

thanh thanh

Greenish.

thanh thoát

Spontaneously.

thanh thái quốc

(清泰國) Tên cõi nước Phật A di đà cư trụ. Chỉ cho cõi nước thanh tịnh thư thái. Kinh A di đà cổ âm thanh vương đà la ni ghi rằng: Cõi nước của Phật A di đà hiệu là Thanh thái, Ngài và cha mẹ cùng các Thánh chúng đều an trụ trong cõi nước ấy.Nhưng kinh Vô lượng thọ thì nói đức Phật A di đà là Giáo chủ của thế giới Cực lạc ở phương Tây, Ngài thường an trụ trong thế giới ấy, như vậy, thuyết này khác xa với thuyết trên cho rằng cõi nước đức Phật A di đà cư trụ tên là Thanh thái, có quyến thuộc như cha mẹ, Thánh chúng..., vì thế xưa nay đã có các luận thuyết khác nhau về 2 cõi nước này và về Báo thân, Hóa thân của Phật. Đối với vấn đề này, quan điểm của tác giả An lạc tập quyển thượng cho rằng Cực lạc là Tịnh độ, do Báo thân của Phật A di đà cư trụ; còn Thanh thái là Uế độ, do Hóa thân Phật A di đà cư trú. Còn Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 7, phần cuối, thì cho rằng Thanh thái và Cực lạc là cùng một chỗ, nếu dựa theo sự phối hợp giữa Báo thân và Hóa thân thì có 2 thuyết: Thuyết thứ nhất cho rằng trong kinh nói có quyến thuộc như cha mẹ là để chứng minh Cực lạc ở phương Tây chung cho cả Hóa độ; thuyết thứ 2 thì cho rằng kinh nói có cha mẹ là sự thị hiện của Tha thụ dụng thân chứ thực tế thì không có việc này, cho nên cõi ấy chỉ có Báo thân, không có Hóa thân. Ngoài ra, luận Thích tịnh độ quần nghi quyển 6 cũng nêu ra 3 thuyết: Hai thuyết trước chủ trương Thanh thái và Cực lạc là cùng một chỗ, còn thuyết thứ 3 thì cho rằng Thanh thái là Uế độ, đức Phật A di đà chịu thai sinh ở cõi Thanh thái và thành Chính giác ở Cực lạc. [X. Pháp hoa kinh huyền tán Q.7; A di đà kinh sớ (Nguyên hiểu)].

thanh thản

Serene.

thanh thế

Prestige—Fame and influence.

thanh thế tông

(清世宗) Vua Thế tông nhà Thanh, con thứ 4 của Thánh tổ, tên Dận chân. Ông làm vua trong 14 năm (từ năm 1722 đến năm 1735). Lúc còn trẻ, ông được Phật sống Chương gia (Chương gia hô đồ khắc đồ) giáo hóa, lại theo ngài Ca lăng Tính âm tu tập thiền định, tự lấy hiệu là Viên minh Cư sĩ. Sau khi lên ngôi, ông nghiêm cấm mọi hoạt động của Cơ đốc giáo. Ông đặt một vị Sứ thần ở Lha-sa, Tây tạng, cùng với các Vương công Đại thần đồng tham thiền. Ông rất coi trọng Tịnh độ giáo của ngài Vân thê Châu hoành (1535-1615). Nhà vua có các tác phẩm: Ngự soạn ngữ lục 19 quyển, Giản ma biện dị lục 8 quyển. Tác phẩm sau nhằm bác bỏ thuyết phái Tam phong(một phái thuộc tông Lâm tế) và đến năm Ung chính 11 (1733) thì cấm hẳn phái này không được sinh hoạt. (xt. Tam PhongPhái).

thanh thỏ

Quiet—Calm.

thanh thủy giáo

(清水教) Một trong các tông giáo dân gian Trung quốc ở đời Thanh, một chi phái của Bạch liên giáo, do Vương luân (?-1774) kế thừa Trương kí thành ở Duyện châu, tỉnh Sơn đông làmgiáothủ, lấy huyện Cốc dương làm căn cứ địa, tự xưng gặp được dị nhân truyền cho bùa phép, có thể triệu thỉnh quỉ thần, lại tung tin rằng kiếp Hắc phong sắp đến, nếu theo đạo thì tránh được tai họa. Vương luân lại kêu gọi đồ chúng thờ Phật Di lặc, Vô sinh thánh mẫu, phao tin Thánh mẫu giáng sinh, dao chém không đứt, giáo đâm không thủng. Trong đạo chia làm 2 ban văn, vũ; đồ chúng của ban văn gọi là Văn đệ tử, luyện tập khí công, không được bỏ đạo; đồ chúng ban vũ gọi là Vũ đệ tử, học tập võ thuật, được phép bỏ đạo nửa chừng, gọi là Thái bình khứ. Tông giáo này lưu hành ở các vùng Sơn đông, Hà bắc... Vào những năm đầu niên hiệu Càn long, phái này triệu tập tín đồ vùng nông thôn ở phía tây tỉnh Sơn đông, cử hành Đại hội tông giáo. Năm Càn long 39 (1774), Vương luân lãnh đạo đồ chúng nổi loạn, gọi là loạn Thanh thủy giáo, hoặc loạn Vương luân.[X. Tiễu bộ lâm thanh nghịch phỉ kỉ lược; Thanh vũ kí (Ngụy nguyên)].

Thanh Thủy Tự

(清水寺, Kiyomizu-dera hay Seisui-ji): ngôi chùa trung tâm của Bắc Pháp Tướng Tông, tọa lạc tại số 1-294 Kiyomizu (清水), Higashiyama-ku (東山區), Kyōto-shi (京都市), Kyōto-fu (京都府); hiệu núi là Âm Vũ Sơn (音羽山), nơi tham bái hành hương thứ 16 trong suốt 33 nơi tham bái chính ở vùng Tây Quốc (西國, Saikoku). Tượng thờ chính của chùa là Thiên Thủ Quan Âm (千手觀音). Vào năm 796, ngôi Quan Âm Tự (觀音寺) được dời đến vùng đất này, rồi đệ tử của Báo Ân Đại Sư (報恩大師) là Diên Trấn (延鎭) mới làm Tổ khai sơn chùa, còn hào tộc Điền Thôn Ma Lữ (田村麻呂) thì có công khai sáng chùa. Mấy năm sau các đường vũ của chùa được dựng lên và chùa trở thành ngôi chùa sắc nguyện của Hoàn Võ Thiên Hoàng (桓武天皇, Kammu Tennō), với tên gọi là Thanh Thủy Tự. Vào năm 811, chùa trở thành đạo tràng trấn hộ quốc gia, triều đình và hoàng thất quy y theo rất nhiều, nên chùa rất hưng thạnh. Sau đó, chùa phụ thuộc vào Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji) ở vùng Nam Đô, chuyên tu cả Chơn Ngôn và Pháp Tướng, nhưng do chùa bị lôi cuốn vào cuộc phân tranh với Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji), nên cũng bao lần bị đốt cháy. Sau cuộc loạn Bình Nguyên (平源) thì chùa hoàn toàn suy thối, nhưng trong khoảng thời gian niên hiệu Kiến Cửu (建久, 1190-1198) thì chùa lại được tái kiến. Vào thời đại Thất Đinh (室町, Muromachi) thì Tướng Quân Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏, Ashikaga Takauji) cúng dường đất xây chùa nên các đường vũ mới được tạo dựng nên. Sau đó chùa lại trải qua đến ba lần bị cháy rụi, rồi đến năm 1633 thì được Tướng Quân Đức Xuyên Gia Quang (德川家光, Tokugawa Iemitsu) tái kiến lại. Hiện tại có Thành Tựu Viện (成就院), Thái Sản Tự (泰産寺), Từ Tâm Viện (慈心院), Lai Nghênh Viện (來迎院), v.v. Chánh điện của chùa được tái kiến lại do sự hỗ trợ của Đức Xuyên Gia Quang, vẫn còn bảo trì cho đến ngày nay. Đây là một trong những ngôi chùa nổi tiếng nhất ở kinh đô Kyoto.

thanh tiền nhất cú thiên thánh bất truyền

(聲前一句千聖不傳) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thanh tiền nhất cú(một câu trước tiếng nói) chỉ cho một câu nói khi chưa phát ra âm thanh, một câu nói khi cha mẹ chưa sinh, đây là Chính pháp nhãn tạng, Niết bản diệu tâm của Phật tổ. Thiên thánh (nghìn bậc Thánh) là chỉ cho chư Phật, chư Tổ trước đã ra đời. Nghĩa là một câu Chính pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm này chẳng phải lời, chẳng phải câu, cũng chẳng phải điều mà nghìn Phật muôn Tổ có thể truyền được. Nhóm từ này hiển bày ý nghĩa là đại sự tông thừa hướng thượng (chân lí thiền) chẳng phải cái mà người khác có thể trao truyền, mà phải do chính mình thực tế thể ngộ chứng đắc. Bích nham lục tắc 7 (Đại 48, 147 thượng) nói: Thanh tiền nhất cú, thiên thánh bất truyền, chính mình chưa từng thấy thì như cách muôn trùng. Cho dù có biện biệt được trước khi phát ra âm thanh, có cắt đứt đầu lưỡi của mọi người trong thiên hạ thì cũng chưa hẳn là kẻ đã thấy tính.

thanh toán

To liquidate.

thanh tra

To inspect.

thanh trai

Giữ trai giới thanh tịnh—Pure observance of monastic rules for food; to eat purely, i.e. vegetarian food; fasting. ; (清齋) Trì trai thanh tịnh. Trai nghĩa là trang nghiêm thanh khiết, nhất là chỉ cho thức uống ăn, động tác, tư duy, ý niệm... Trong Phật giáo, từ 12 giờ trưa đến sáng sớm hôm sau không ăn, gọi là Trai. Theo Thích thị yếu lãm quyển hạ thì dân gian có phong tục uống một chén nước vào giờ Thìn và suốt ngày không ăn, gọi là Thanh trai. Thanh trai cũng chỉ cho ăn chay, kiêng các loại rau cay nồng như hành, tỏi... hoặc chỉ căn tịnh thất.

thanh trà môn giáo

(清茶門教) Một trong các tông giáo dân gian lưu hành vào cuối đời Minh đến giữa đời Thanh, Trung quốc, do con cháu của Vương sâm(Giáo chủ Văn hương giáo cuối đời Minh)sáng lập. Giáo đồ tông giáo này ăn chay, thờ thần Phật như Di lặc, Quan âm, Vô sinh lão mẫu... Ngày mồng 1 dâng hương, cúng 3 tách trà xanh (Thanh trà) và tụng kinh. Lúc thu nhận tín đồ, ngoài việc truyền thụ Tam qui, Ngũ giới còn truyền các chú ngữ. Đối tượng đồ chúng được thu nhận phần nhiều là thành phần nông dân nghèo khổ, những người có cuộc sống thấp kém và dân lang thang vô nghề nghiệp là chính. Những giáo đồ bái kiến Giáo chủ và người mang họ Vương đều phải lạy sátđầu xuống đất và dâng hiến tiền bạc, gọi là Triều thướng (dâng Thiên tử). Hàng năm vào tháng giêng và tháng chạp theo định kì dâng hiến tiền bạc một lần, gọi là Căn cơ tiền hoặc Phúc quả tiền, hàm ý là gieo trồng hạt giống nền tảng và hạnh phúc vào thời ngài Di lặc giáng sinh. Kinh điển chủ yếu của phái này gồm có Cửu liên như ý hoàng cực bảo quyển chân kinh, Nguyên hanh lợi trinh thược thỉ kinh, Tam giáo ứng kiếp tổng quan thông thư... Trong đó, Tam giáo ứng kiếp tổng quan thông thư bên trong chứa đựng tư tưởng phản Thanh phục Minh rõ ràng, có ảnh hưởng rất lớn đối với các cuộc khởi nghĩa của nông dân đời Thanh, khoảng 200nămtrở lại đây vẫn ngấm ngầm truyền bá tại các vùng như Kí, Tấn, Dự, Ngạc, Hoàn, Tô..., từ sau năm Gia khánh 18 (1813), triều đình nhà Thanh ra sức trấn áp, gia tộc họ Vương bị giết hại và lưu đày, từ đó Thanh trà môn giáo mới suy tàn.

thanh trước

Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng tọa lạc tại ấp Gò Tre, xã Long Thuận, thị xã Gò Công, Nam Việt Nam. Ban đầu chùa có tên là Phật Linh do các mục đồng dựng lên năm 1826. Đến năm 1851, Hòa Thượng Quý Chơn Hội đứng ra xây chùa và lấy tên là Thanh Trước Tự. Chùa đã trải qua bảy đời truyền thừa. Năm 1896, Hòa Thượng Hải Tràng cho trùng tu lần thứ nhất. Từ năm 1941, Hòa Thượng Hoằng Thông đã cho trùng tu các năm 1946 và 1958—Name of a famous ancient pagoda located in Gò Tre hamlet, Long Thuận village, Gò Công town, South Vietnam. The pagoda was built by some herdsmen in 1826 and called Phật Linh. Up to 1851, Most Venerable Quý Chơn Hội took responsibility of rebuilding the pagoda and remaned it Thanh Trước. It has been headed by seven successors. In 1896, Most Venerable Hải Tràng had it restored for the first time. Since 1941, Most Venerable Hoằng Thông, Head of the pagoda, had the pagoda rebuilt in 1946, 1958.

thanh trượng

Cây gậy đã được Đức Phật cho thọ giới, dùng để đuổi những loại côn trùng độc—The sounding or rattling staff, said to have been ordained by the Buddha to drive away crawling poisonoue insects. ; (聲杖) Chỉ cho tích trượng. Đầu trên của tích trượng được làm bằng kim loại, có treo những cái vòng, khi rung gậy thì phát ra âm thanh, các loài cầm thú nghe tiếng giật mình bỏ chạy, vì thế gọi là Thanh trượng (gậy phát ra tiếng). Cứ theo luật Thập tụng quyển 56 thì thủa xưa, lúc đức Phật trụ ở trong rừng Hàn viên(vườn lạnh) có rất nhiều trùng độc bò sát cắn các tỉ khưu, do đó Phật liền dạy nên làm gậy phát ra tiếng để xua đuổi trùng độc. (xt. Tích Trượng).

thanh trần

Saddarammana (skt)—The audible object.

thanh trần đắc đạo

(聲塵得道) Nương theo âm thanh mà được đạo. Thanh(tiếng nói)là đối tượng của nhĩ căn (lỗ tai), thuộc 1 trong 6 trần cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), cho nên cũng gọi là Thanh trần. Tức lắng nghe Phật, Bồ tát nói pháp, cho đến nghe các âm thanh tán tụng Phạm bái... nhờ đó mà chứng nhập Phật đạo. Kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 6 nói về âm thanh viên thông của bồ tát Quán âm như sau (Đại 19, 130 hạ): Nay con bạch Thế tôn, Phật hiện cõi Sa bà. Chân giáo thể phương này, Thanh tịnh nhờ nghe tiếng. Muốn chứng tam ma đề, Thực phải từ tính nghe. Lìa khổ được giải thoát. Do đây mà biết bồ tát Quán âm cho rằng nhĩ căn của chúng sinh ở thế giới Sa bà đặc biệt nhạy bén, dùng âm thanh được đạo dễ nhất, cho nên Ngài lấy Thanh trần làm giáo thể để dìu dắt chúng sinh cõi Sa bà. Tông Thiên thai dùng từ ngữ Thanh trần đắc đạo làm luận đề, chủ trương người bắt đầu học Phật nên lấy nhân duyên Thanh trần làm giới hạn. Nhật bản gọi tán bái, niệm danh hiệu Phật và cúng dường ca múa, âm nhạc... là Thanh Phật sự, chính đã do ý nghĩa này mà ra. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.6 hạ; Nhân vương hộ quốc bát nhã kinh sớ Q.1; Khởi tín luận sớ bút tước kí Q.3; Thủ lăng nghiêm kinh nghĩa hải Q.18; Tống cao tăng truyện Q.30]. (xt. Thanh Phật Sự).

thanh trừ

To eliminate.

Thanh Trừng Tự

(清澄寺, Seichō-ji): ngôi chùa trung tâm của Nhật Liên Tông, hiện tọa lạc tại số 322-1 Seichō (清澄), Kamogawa-shi (鴨川市), Chiba-ken (千葉縣); hiệu núi là Thiên Quang Sơn (千光山), người thế gian thường gọi là Thanh Trừng Sơn (清澄山, Kiyosumiyama). Tượng thờ chính của chùa là Pháp Hoa Mạn Trà La (法華曼荼羅). Đây được xem là ngôi chùa nơi Nhật Liên xuất gia thọ giới, nên hiện tại nó gắn liền rất mật thiết với Nhật Liên Tông; nhưng nguyên gốc chùa thì không phải như vậy. Theo truyền thuyết của chùa, vào năm 771 (Bảo Quy [寶龜] 2) dưới thời đại Nại Lương, có vị Pháp Sư tên Bất Tư Nghì (不思議) đến thăm địa phương này, rồi lấy cây bách mà khắc thành tượng Hư Không Tạng Bồ Tát, từ đó nó trở thành tượng thờ chính của chùa. Sau đó, Từ Giác Đại Sư (慈覺大師) cũng đến đây rồi khắc bức tượng Bất Động Minh Vương, và từ nhân duyên đó chùa trở thành nơi của Dòng Thiên Thai Từ Giác. Theo như bài minh nơi pho Đại Hồng Chung được đúc vào năm 1392 vốn hiện còn lưu giữ trong nhà kho, có dòng chữ “Thiên Quang Sơn Thanh Trừng Tự ở Phòng Châu do Từ Giác Đại Sư sáng lập”, ta có thể biết được rằng dưới thời Nam Bắc Triều thì Viên Nhân (圓仁, Ennin) là người khai cơ chùa này. Nhưng hiện tại Thanh Trừng Tự là linh địa của Nhật Liên Tông. Khi mới bước vào cửa Sơn Môn, trong khuôn viên chùa ta sẽ thấy có tượng Hư Không Tạng Bồ Tát đứng trên đài cao phía bên tay trái, và chung quanh với rất nhiều cây đại thụ. Lúc còn nhỏ, Nhật Liên thường đến trước tượng này cầu nguyện rằng: “xin cho con trở thành bậc trí giả số một của Nhật Bản” suốt trong 37 ngày liên tục, đến sáng hôm sau thì nằm mộng thấy có vị lão tăng hiện đến ban cho xâu chuỗi ngọc. Chính điều này, Nhật Liên có ghi lại trong di văn của ông, và ngay trước bức tượng Hư Không Tạng này, có những cây tre thấm máu, tương truyền rằng đây là dấu hiệu chứng tỏ ngày Nhật Liên được mãn nguyện, ông thổ máu và máu ấy thấm vào cây này. Khoảng cuối thời đại Thất Đinh, chùa thuộc về Phái Trí Sơn của Chơn Ngôn Tông, nhưng sau đó thì hoàn toàn quy về Nhật Liên Tông.

thanh tuyền

Limpid spring.

thanh tâm

Không không uế nhiễm—An unperturbed mind—Pure heart. ; (青心) Từ rút gọn của 2 chữ Tĩnh Lự, nghĩa là lấy chữ Thanh (...) trong chữ Tĩnh ( ...)và lấy chữ Tâm ( )trong chữ Lự ( ...)gọi chung là Thanh tâm. Tĩnh lự nghĩa là lắng tâm yên lặng, chỉ chuyên chú vào một cảnh(đối tượng) duy nhất để quán xét tư duy, tức là trạng thái định và tuệ ngang bằng nhau. Luận Đại tì bà sa quyển 141 (Đại 27, 726 hạ) nói: Tĩnh nghĩa là vắng lặng, Lự nghĩa là tính liệu. Trong 4 địa này định tuệ ngang nhau, cho nên gọi là Tĩnh lự. Còn các địa khác thì có khuyết nên không được gọi là Tĩnh lự. Luận Du già sư địa quyển 33 (Đại 30, 467 hạ) nói: Tĩnh lự nghĩa là trước một đối tượng(sở duyên)nào đó, phải lắng tâm yên lặng để quán sát tư duy, cho nên gọi là Tĩnh lự.

thanh tân

Pure and fresh.

thanh tín nam

Upasaka (skt)—Ưu Bà Tắc—Male lay devotees—See Upasaka in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Ưu Bà Tắc in Vietnamese-English Section.

thanh tín nữ

Upasika (skt)—Ưu Bà Di—Female lay devotees—See Upasika in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Ưu Bà Di in Vietnamese-English Section.

thanh tú

Beautiful—Elegant.

thanh tạng

(清藏) Đại tạng kinh khắc bản vào đời Thanh, được chia làm 3 loại: 1. Long tạng: Do vua Thế tông nhà Thanh ban sắc khắc bản in tại Bắc kinh vào năm Ung chính 13 (1735), đến năm Càn long thứ 3 (1738) thì hoàn thành. Bản khắc này lấy Bắc tạng đời Minh làm bản gốc, có chỗ thêm bớt, gồm 1662 bộ, 7168 quyển, bắt đầu từ Bát nhã bộ thuộc kinh Đại thừa đến các soạn tập của các bậc Hiền Thánh ở Tây vực, hoàn toàn y theo thứ tự biên tập của Bắc tạng, ngoài ra có phụ thêm mục lục. Hình thức theo kiểu Chiết bản, mỗi dòng 17 chữ, mỗi mặt 5 dòng. Bản gỗ khắc kinh từ điện Vũ anh được dời về cất giữ ở chùa Bách lâm tại Bắc kinh. Long tạng do bà Thái hậu Từ hi tặng cho Nhật bản vào cuối đời Thanh được cất giữ ở thư viện của trường Đại học Đại cốc, Nhật bản. 2. Bách nạp tạng(cũng gọi Bách nạp bản): Do Dương nhân sơn phát khởi khắc kinh ở Kim lăng vào năm Đồng trị thứ 5 (1866) đời vua Mục tông nhà Thanh, chủ trương các chùa lớn trên toàn quốc chia nhau khắc trọn bộ Đại tạng. Tạng kinh này là do tập hợp các bản kinh khắc từ các nơi như Bắc bình, Thiên tân, Kim lăng, Giang bắc, Dương châu, Tì lăng, Tô châu và Hàng châu mà thành, vì thế nên gọi là Bách nạp bản. Các kinh luận được thu chép trong tạng này tương đối hơi ít hơn so với Long tạng; kiểu bản phần nhiều theo bản Kính sơn, nhưng khuôn khổ lớn nhỏ không giống nhau, cho đến nay vẫn chưa được sửa đổi. 3. Tần già tạng: Khoảng năm Tuyên thống đời Thanh, tinh xá Tần già ở Thượng hải, dùng tạng kinh rút gọn do thư viện Hoằng pháp của Nhật bản biên tập và ấn hành làm bản mẫu, thay đổi bằng cách in chữ rời cỡ 4, là bộ Đại tạng kinh đầu tiên của Trung quốc được ấn loát bằng hoạt bản, gồm 40 hòm, 414 tập, các hòm được đánh số theo thiên tự văn, có 1 tập Tổng mục lục. Tạng này tuy y cứ theo Hoằng giáo tạng, nhưng tinh hoa của Hoằng giáo tạng là phần Giáo Khám Kí thì lại bị cắt bỏ toàn bộ, đến nổi bị chê là bỏ tinh túy, giữ cặn bã. [X. Đại thanh trùng khắc Long tạng vậng kí; Phật điển phiếm luận (Lữ trừng); Trung quốc tạng kinh dịch ấn sử (Đạo an); Phật giáo thánh điển khái luận (Thâm phố Chính văn)]. (xt. Trung Văn Đại Tạng Kinh).

Thanh tịnh

清淨; C: qīngjìng; J: shōjō; S: pariśuddha|1. Trong sáng, tinh khiết, không bị ô uế. Không có tội lỗi (s: samśuddhi, śauca, viśodhita, viśuddha). Không động niệm; 2. Được làm trong sạch, làm an định; 3. Làm cho thanh khiết, làm cho sạch sẽ; sự lắng trong; 4. Một người thanh tịnh (s: tathāgata). Đối nghịch với nhiễm (染), ô (汚).

thanh tịnh

Visuddhi (p)—Parisudhi or Visudhi (skt)—Purity—Purification. (I) Nghĩa của Thanh Tịnh—The meanings of Purity: 1) Dứt bỏ mọi sai phạm tà ác và nhiễm trược: Free from evil and defilement. 2) Hoàn toàn thanh tịnh: Pure—Chaste—Calm—Quiet—Purity—To purify (v)—To become purity—Serenity—Pure and clean—Perfectly clean. (II) Phân loại Thanh Tịnh—Categories of Purity: (A) Nhị chủng Thanh Tịnh—There are two kinds of purity: 1) Tự tánh thanh tịnh: Natural purity—Chân như. 2) Ly cấu thanh tịnh: Acquired purity through avoiding pollution. (B) Tam chủng Thanh Tịnh—Three kinds of purity: See Tam Thanh Tịnh in Vietnamese-English Section. ; (清淨) Phạm: Zuddha, Vizuddha, Parizu= ddha. Thanh Thế TôngPàli: Suddha, Visuddha, Parisuddha. Hán âm: Tì du đà, Du đà, Vĩ thú đà, Thú đà. Gọi tắt: Tịnh. Cũng gọi: Phạm ma (Phạm: Brahma). Trong sạch, tức đã xa lìa lỗi lầm phiền não do các việc làm xấu ác gây ra. Phổ thông thường dùng 3 thứ thanh tịnh là: Thân thanh tịnh, Khẩu thanh tịnh và Ý thanh tịnh, tức việc làm, lời nói và ý nghĩ đều trong sạch. Về chủng loại thanh tịnh, trong các kinh luận đều có nói rõ như sau: 1. Nhiếp đại thừa luận thích quyển 2 của ngài Vô tính nêu 2 loại thanh tịnh trong việc áp phục và đoạn trừ phiền não: a. Thế gian thanh tịnh: Nhờ tu hành đạo hữu lậu, có thể tạm thời đè nén sự hiện hành của phiền não, không cho trỗi dậy, gọi là Thế gian thanh tịnh. b. Xuất thế gian thanh tịnh: Nhờ tu hành đạo vô lậu, có năng lực diệt hết sạch phiền não, gọi là Xuất thế gian thanh tịnh. 2. Luận Tịnh độ của ngài Thế thân nêu ra 2 thứ thanh tịnh: a. Khí thế gian thanh tịnh: Làm cho hoàn cảnh trở nên thanh tịnh. b. Chúng sinh thế gian thanh tịnh: Một khi khí thế gian đã thanh tịnh, thì chúng sinh ở trong đó biến thành Thánh chúng. Hai thế gian trên đây hiển bày nghĩa Y báo và Chính báo đều thanh tịnh. 3. Luận Đại trí độ quyển 73 nêu 3 thứ thanh tịnh: a. Tâm thanh tịnh: Người tu học Bát nhã sẽ không dấy lên tâm ô nhiễm và tâm sân hận. b. Thân thanh tịnh: Tâm đã thanh tịnh thì thường được hóa sinh, cho nên thân thanh tịnh. c. Tướng thanh tịnh: Thân được đầy đủ các tướng tốt đẹp, trang nghiêm. 4. Luận Nhiếp đại thừa quyển trung (bản dịch đời Lương) nêu 4 thứ thanh tịnh: a. Bản lai tự tính thanh tịnh. b. Vô cấu thanh tịnh. c. Chí đắc đạo thanh tịnh. d. Đạo sinh cảnh giới thanh tịnh. 5. Luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính quyển 4 nêu 2 thứ thanh tịnh, tức Bản lai tự tính thanh tịnh được chia làm 2: a. Tự tính thanh tịnh: Muôn pháp đều không, xưa nay vốn tức thanh tịnh. b. Li cấu thanh tịnh: Tách khỏi phiền não mà thành thanh tịnh. 6. Luận Hiển dương thánh giáo quyển 3 liệt kê 9 thứ thanh tịnh: Thi la(tức giới) thanh tịnh, Tâm thanh tịnh, Kiến thanh tịnh, Độ nghi thanh tịnh(hết ngờ vực), Đạo phi đạo trí kiến thanh tịnh, Hành trí kiến thanh tịnh, Hành đoạn trí kiến thanh tịnh, Vô duyên tịch diệt thanh tịnh và Quốc độ thanh tịnh. 7. Kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 7 liệt kê 8 thứ thanh tịnh: Tam muội thanh tịnh, Trí tuệ thanh tịnh, Thần thông thanh tịnh, Hiện thân thanh tịnh và Đa văn thanh tịnh... [X. phẩm Thán tịnh trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 12; kinh Đại bảo tích Q.14, 39; kinh Vô thượng y Q.thượng; luận Tập dị môn túc Q.6, luận Thích tịnh độ quần nghi Q.1].

thanh tịnh biện tài

Purity of intellectual powers.

thanh tịnh bản nhiên

(清淨本然) Cũng gọi Lang gia thanh tịnh bản nhiên, Lang gia sơn hà. Tên công án trong Thiền tông. Công án này phát sinh từ câu Thanh tịnh bản nhiên(tự nhiên vốn thanh tịnh), thế tại sao bỗng sinh núi sông đất liền? do Thiền sư Trường thủy Tử tuyền đời Tống hỏi Thiền sư Lang gia Tuệ giác. Thung dung lục tắc 100 (Đại 48, 291 hạ) ghi: Vị tăng hỏi Hòa thượng Lang gia giác: Thanh tịnh bản nhiên, vì sao bỗng sinh ra núi sông đất liền? Hòa thượng đáp: Thanh tịnh bản nhiên, vì sao bỗng sinh ra núi sông đất liền? Công án này căn cứ vào kinh Thủ lăng nghiêm quyển 4 do ngài Bát lạt mật đế dịch vào đời Đường, trong đó, ngài Phú lâu na hỏi đức Phật (Đại 19, 119) hạ: Bạch Thế tôn! Nếu tất cả căn, trần, ấm, xứ, giới ở thế gian đều là Như lai tạng, thanh tịnh bản nhiên, vì sao bỗng sinh ra các tướng hữu vi núi sông, đất liền, lần lượt xoay vần dời đổi, cứ đến cuối thì trở lại đầu? [X. chương Trường thủy trong Ngũ đăng hội nguyên Q.14; Phổ đăng lục Q.3].

thanh tịnh bổn nhiên

Purely and naturally so—Spontaneous.

Thanh tịnh chân chư

清淨眞如; C: qīngjìng zhēnrú; J: shōjō shinnyo;|Chân như thanh tịnh, đề cập đến chân đế của sự diệt khổ. Là một trong 7 loại chân như (七種眞如).

thanh tịnh chân như

The pure bhutatathata.

thanh tịnh công đức

(清淨功德) Công đức thanh tịnh, 1 trong 17 thứ công đức về đất nước trong 29 thứ trang nghiêm cõi Cực lạc tịnh độ. Nghĩa là cõi Cực lạc tịnh độ kia là nơi đại thanh tịnh, tuyệt đối yên vui, chứ không như 3 cõi là nơi điên đảo bất tịnh và bất an. Bởi vì Tịnh độ ấy được hình thành theo nghiệp trí tuệ thanh tịnh của bồ tát Pháp tạng, ứng hợp với pháp tính, thuận theo chân đế, tục đế, vĩnh viễn xa lìa tướng điên đảo bất tịnh, là nơi được đại thanh tịnh, rốt ráo yên vui, cũng thu nhiếp chúng sinh khiến vào nơi thanh tịnh cùng tột. [X. Vãng sinh luận chú Q.thượng].

thanh tịnh giác hải

Bản giác thanh tịnh rộng sâu như biển cả, không chứa đựng những phiền trược của cuộc đời (như biển cả không chứa rác rưởi, mà rác rưởi phải bị sóng tấp vào bờ)—The pure ocean of enlightenment, which underlies the disturbed life of all. ; (清淨覺海) Ví dụ bản giác thanh tịnh sâu rộng như biển. Kinh Viên giác (Đại 17, 920 thượng) nói: Cầu thiện tri thức không rơi vào tà kiến, nếu đối với sở cầu mà sinh tâm yêu ghét thì khôngvàođược biển giác thanh tịnh (thanh tịnh giác hải). Còn từ ngữ Thanh tịnh giác tướng là chỉ cho chân tướng(chính thể) của bản giác, xa lìa cáu bẩn, nhơ nhớp. (xt. Thanh Tịnh).

thanh tịnh giải thoát tam muội

Tam muội sở không có ô nhiễm, thoát ly mọi hệ lụy ràng buộc, và hoàn toàn thanh thản tự tại—A samadhi free from all impurity and in which complete freedom is obtained. ; (清淨解脫三昧) Chỉ cho Thiền định xa lìa tất cả sự trói buộc. Tam muội này trong sạch không cáu bẩn, là cảnh giới xa lìa tất cả sự trói buộc mà được tự tại, cho nên gọi là Thanh tịnh giải thoát tam muội. Người trụ trong Tam muội này, chỉ trong khoảng một niệm cũng có thể cúng dường vô lượng chư Phật mà không mất định ý. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng].

Thanh Tịnh Hoa Viện

(清淨華院, Shōjōke-in): một trong 4 ngôi chùa bổn sơn trung tâm của Tịnh Độ Tông; hiện tọa lạc tại Teramachidōri (寺町通), Jōkyō-ku (上京區), Kyoto-shi (京都市), không có hiệu chùa cũng như hiệu núi. Tượng thờ chính là Pháp Nhiên Thượng Nhân. Tương truyền theo sắc nguyện của Thanh Hòa Thiên Hoàng (清和天皇, Seiwa Tennō, tại vị 858-876), ngôi viện vốn phát xuất từ đạo tràng nhỏ do Viên Nhân (圓仁, Ennin) sáng lập, rồi vị khai Tổ của Tịnh Độ Tông là Nguyên Không (源空, Genkū, tức Pháp Nhiên) mới khai sáng ra ngôi viện này; nhưng thật tế người khai sơn viện này chính là Hướng A Chứng Hiền (向阿証賢), vào khoảng đầu thế kỷ 14. Đầu tiên nó nằm ở vùng Cao Thương (高倉, Takakura), nhưng đến năm 1339 thì Tướng Quân Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏, Ashikaga Takauji) mới dựng lên Đẳng Trì Tự (等持寺) và dời về chùa này. Hơn nữa, trong khoảng niên hiệu Thiên Chánh (天正, 1573-1592), do chính sách cải cách kinh đô của Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi), nên chùa được dời về vị trí hiện tại. Với tư cách là cứ điểm của Phái Nhất Điều (一條派) thuộc Tịnh Độ Tông, chùa đã hưng thạnh rực rỡ, rồi được hàng ngũ công khanh cũng như Hoàng Thất quy y theo rất nhiều; nhưng trong hai vụ Loạn Ứng Nhân (應仁) và Văn Minh (文明) thì vận chùa bị suy thối, nhưng đến khoảng đầu thế kỷ thứ 17 thì chùa lại được phục hưng. Nguyên lai chùa này vốn là đạo tràng trong cung cấm nên hiện tại trong khuôn viên chùa vẫn còn nhiều ngôi mộ của các Hoàng Tử, Hoàng Nữ, Công Chúa, v.v.

Thanh tịnh huệ

清淨慧; C: qīng jìng huì; J: shōjōe;|Tên của 1 trong 12 vị Bồ Tát xuất hiện như là 1 đương cơ trong phẩm thứ 6 trong kinh Viên Giác.

thanh tịnh huệ bồ tát

(清淨慧菩薩) Phạm: Visuddha-mati. Hán âm: Vĩ thú đà ma đế. Chỉ cho bồ tát Thanh tịnh tuệ, tương đương với bồ tát Sinh niệm xứ nói trong phẩm Mật ấn kinh Đạinhật. Theo kinh Bất không quyên sách quyển 9 thì hình tượng vị tôn này ngồi bán già, tay trái cầm hoa sen, trên đài sen códựng cái vỏ óc(tù và), bàn tay phải giơ lên. Chân ngôn là: Nam ma tam mạn đa bột đà nam (nama# samata buddànàm, Qui mệnh phổ biến chư Phật) đạt ma (dharma, pháp) tam bà phạ (sambhava, sinh) sa phạ hạ (svàhà, thành tựu). Đại nhật kinh sớ quyển 13 giải thích chân ngôn trên là: Bồ tát này được tự tại, đồng cảnh giới với Phật, từ pháp sinh ra, cho nên gọi là Pháp sinh, ý nói từ pháp tự tính thanh tịnh mà sinh ra. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật].

thanh tịnh nghiệp xứ

Trạng thái thanh tịnh mà những người có thiện nghiệp đạt đến (đất Phật thanh tịnh kỳ diệu, nơi sanh của những người có nghiệp thuần lành)—The state which one who has a pure karma reaches.

thanh tịnh nhân

Bậc thanh tịnh, đặc biệt ám chỉ Đức Phật—The pure and clean man, especially the Buddha. ; (清淨人) I. Thanh Tịnh Nhân. Người trong sạch. Chỉ chung cho chư Phật. Chư Phật đã xa lìa các phiền não ô nhiễm, 3 nghiệp đều trong sạch, cho nên gọi là Thanh tịnh nhân. Luận Thành duy thức quyển 1 thì gọi là Mãn thanh tịnh giả (người thanh tịnh đầy đủ). [X. kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.11; luận Hiển dương thánh giáo Q.13; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần đầu].II. Thanh Tịnh Nhân. Chỉ cho đức hiệu của Phật A di đà. Phẩm Dị hành trong luận Thập trụ tì bà sa quyển 5 khen ngợi công đức của Phật A di đà như sau (Đại 26, 43 hạ). Chư Phật vô lượng kiếp, Tán dương công đức Ngài; Cũng vẫn chưa thể hết, Kính lễ Thanh tịnh nhân. Luận Tịnh độ của ngài Thế thân thì cho rằng vì đức Phật A di đà có đủ cả 2 thứ thanh tịnh của Khí thế gian và Chúng sinh thế gian, cho nên gọi là Thanh tịnh nhân.

thanh tịnh pháp

Dharmaviraja (skt)—Chân lý thanh tịnh—Pure truth.

Thanh tịnh pháp giới

清淨法界; C: qīngjìng făjiè; J: shōjōhōkai;|Pháp giới thanh tịnh. Pháp giới trong trí huệ giác ngộ của chư Phật. Pháp giới bản thể thanh tịnh. Nền tảng của mọi công đức. Chân như.

thanh tịnh pháp giới

Pháp giới thanh tịnh hay chân thể mà Đức Phật đã chứng được—The pure Buddha-truth or realm. ; (清淨法界) Cũng gọi Tịnh pháp giới. Chỉ cho thể chân thực do đức Phật chứng được. Thanh tịnh là thể của chân như, lìa tất cả phiền não nhơ nhớp; Pháp giới là chỗ nương của tất cả công đức thế gian và xuất thế gian. Cứ theo Phật địa kinh luận quyển 3 thì thanh tịnh pháp giới tức là công đức chân như vô vi. Còn theo kinh Thất Phật thì đức Phật có thanh tịnh pháp giới, trí chứng chân giác, biết rõ tất cả. Ấn tướng của Tịnh pháp giới là: Hai tay nắm lại, để 2 ngón cái vào trong lòng bàn tay, 2 ngón trỏ duỗi thẳng. Chân ngôn là: Nam mô tam mạn đa Phật đà nam (Qui mệnh phổ biến chư Phật) đạt ma đà đô(pháp giới) tát phạ bà phạ(tự tính)câu hàm(ngã). Chân ngôn này cũng được gọi là Pháp giới sinh chân ngôn. Trong đó, pháp giới chính là thân Phật; ngã tức là pháp giới. Tuy hành giả chưathểnhập được chân tính, nhưng kết ấn và tụng chân ngôn này cũng đồng với thể nhập pháp giới. Một chân ngôn khác của Tịnh pháp giới là: (Án) (Lam). Trong đó, chữ Án là lời qui mệnh Kim cương giới, nghĩa của 3 thân như thường; còn chữ Lam, theo Du già liên hoa bộ niệm tụng pháp, nếu tiếp xúc với chỗ ô uế thì quán chữ Pháp giới sinh ở trên đỉnh đầu, phóng ra ánh sáng màu đỏ, đó là chữ Lam. Nếu gia trì chữ này vào các thức ăn thì không trở thành ô uế. Nếu gia trì chữ Lam vào tất cả vật cúng dường như hương, hoa... thì phóng ra ánh sáng màu trắng liền không còn ô uế, những vật cúng dường sẽ biến khắp pháp giới. [X. phẩm Mật ấn kinh Đại nhật; Đại nhật kinh sớ Q.13].

thanh tịnh pháp hành kinh

(清淨法行經) Kinh, 1 quyển, nay đã thất truyền nên không rõđượcnội dung. Cứ theo truyền thuyết thì kinh này rất nổi tiếng vì cho rằng các ngài Lão tử, Khổng tử và Nhan hồi là thân Ứng hóa của ngài Đại ca diếp. Lại theo Quảng hoằng minh tập quyển 8 thì thuyết Phái khiển Tam thánh (sai phái 3 vị Thánh) trong luận Nhị giáo của ngài Đạo an đời Hậu Chu, luận Phá tà quyển thượng của ngài Pháp lâm, Duy ma kinh huyền sớ quyển 1 và Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 6 phần 3, đều cho thấy đã thừa kế từkinh này, do đó ta có thể xét biết thuyết này đã thịnh hành vào thời Nam Bắc triều ở Trung quốc. Có lẽ đã do sự thay đổi của thời đại hoặc văn kinh mà các nhân vật của Phật giáo được ghi trong kinh luận và các nhân vật của Nho gia, Đạo gia mà các vị ấy ứng hóa ra có hơi khác nhau. Như luận Nhị giáo cho rằng ngài Lão tử là sự ứng sinh của ngài Ma ha ca diếp, ngài Khổng tử là sự ứng sinh của bồ tát Nhođồng, ngài Nhan hồi là sự ứng sinh của bồ tát Quang tịnh. Còn Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết thì chủ trương Lão tử là sự ứng hóa của ngài Ca diếp, Khổng tử là sự ứng hóa của bồ tát Quang tịnh và Nhan hồi là sự ứng hóa của bồ tát Nguyệt quang. Theo sự khảo chứng của các học giả thì kinh này là ngụy tạo, được soạn ra nhằm đối lại với kinh Lão tử hóa Hồ do quan Tế tửu đời Tây Tấn là Vương phù soạn. Kinh Thanh tịnh pháp hành này có lẽ đã được soạn vào khoảng đời Lương trở về trước. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.12, 13; luận Biện chính Q.5, 6; Xuất tam tạng kí tập Q.4].

thanh tịnh pháp nhãn

Pháp nhãn thanh tịnh (pháp nhãn là một trong năm nhãn). Ở bậc Thanh Văn Duyên Giác thấy được Tứ Thánh Đế; còn các bậc Bồ Tát Đại Thừa, có trí lực thấy được ngã không và lý không của vạn hữu—The pure dharma-eye (one of the five eyes) with which one discerns the four noble truths and the unreality of self or things (Hinayans disciple first discerns the four noble truths, and the Mahayana disciple discerns the unreality of self and things). **For more information, please see Ngũ Nhãn.

thanh tịnh pháp thân phật

Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng đã dạy về Thanh Tịnh Pháp Thân Phật như sau: “Nầy thiện tri thức! Sao gọi là Thanh Tịnh Pháp Thân Phật? Người đời bản tánh là thanh tịnh, muôn pháp từ nơi tánh mà sanh, suy nghĩ tất cả việc ác tức sanh hạnh ác, suy nghĩ tất cả việc lành tức sanh hạnh lành. Như thế các pháp ở trong tự tánh như trời thường trong, mặt trời mặt trăng thường sáng, vì mây che phủ nên ở trên sáng, ở dưới tối, chợt gặp gió thổi mây tan, trên dưới đều sáng, vạn tượng đều hiện. Tánh của người đời thường phù du như là mây trên trời kia. Nầy thiện tri thức! Trí như mặt trời, huệ như mặt trăng, trí huệ thường sáng, do bên ngoài chấp cảnh nên bi mây nổi vọng niệm che phủ tự tánh không được sáng suốt. Nếu gặp thiện tri thức, nghe được pháp chơn chánh, tự trừ mê vọng, trong ngoài đều sáng suốt, nơi tự tánh muôn pháp đều hiện. Người thấy tánh cũng lại như thế, ấy gọi là Thanh Tịnh Pháp Thân Phật.”—According to The Dharma Jewel Platform Sutra, the Sixth Patriarch taught: “Good Knowing Advisor! What is the clear, pure Dharma-body Buddha? The worldly person's nature is basically clear and pure, and the ten thousand dharmas are produced from it. The thought of evil produces evil actions and the thought of good produces good actions. Thus all dharmas exist within self-nature. This is like the sky which is always clear, and the sun and moon which are always bright, so that if they are obscured by floating clouds it is bright above the clouds and dark below them. But if the wind suddenly blows and scatters the clouds, there is brightness above and below, and the myriad forms appear. The worldly peson's nature constantly drifts like those clouds in the sky. Good Knowing Advisors, intelligence is like the sun and wisdom is like the moon. Intelligence and wisdom are constantly bright, but if you are attached to external states, the floating clouds of false thought cover the self-nature so that it cannot shine. If you meet a Good Knowing Advisor, if you listen to the true and right Dharma and destroy your own confusion and falseness, then inside and out there will be penetrating brightness, and within the self-nature all the ten thousand dharmas will appear. That is how it is with those who see their own nature. It is called the clear, pure Dharma-body of the Buddha.”

Thanh tịnh pháp thân Tì-lô-giá-na tâm địa pháp môn thành tựu nhất thiết đà-la-ni tam chủng tất địa

清淨法身毘盧遮那心地法門成就一切陀羅尼三種悉地; C: qīngjìng făshēn pílúzhēnă xīndì fămén chéngjiù yīqiè tuóluó ní sānzhŏng xīdì; J: shōjō hosshin birushana shinji hōmon jōju issai darani sanshu shicchi;|1 quyển; Dịch giả khuyết danh (có ý kiến cho là ít nhất kinh được biên soạn hay phiên dịch từng phần do một tăng sĩ Ấn Độ).

thanh tịnh pháp tràng cao phong quán tam muội

(清淨法幢高峰觀三昧) Gọi đủ: Mãn nhất thiết nguyện xuất quảng trường thiệt tướng biến phú nhất thiết Phật sát thanh tịnh pháp chàng cao phong quán tam muội. Cũng gọi: Cao phong pháp chàng quán tam muội, Pháp chàng cao phong quán gia trì tam muội. Tức Tam muội an trụ trong chữ (a) vốn chẳng sinh. Thanh tịnh pháp chàng chỉ cho tâm bồ đề thanh tịnh. Như dựng ngọn cờ quân đội trên ngọn núi cao để chỉ huy binh sĩ, dựng ngọn cờ pháp đứng đầu muôn hạnh(tâm bồ đề thanh tịnh) trên ngọn núi cao Đệ nhất nghĩa đế, quán khắp 10 phương, ủng hộ chúng sinh, giữ gìn chính pháp, gọi là Thanh tịnh pháp chàng cao phong quán tam muội. [X. phẩm Cụduyên kinh Đại nhật; Đại nhật kinh sớ Q.9; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.31].

Thanh tịnh phẩm

清淨品; C: qīngjìngpĭn; J: shōjōhon;|Phẩm chất thanh tịnh, khác biệt với phẩm chất ô nhiễm.

thanh tịnh quang minh thân

Thân thanh tịnh chiếu sáng của Đức Phật—The pure, shining body or appearance of the Buddha.

Thanh Tịnh Quán Thế Âm Phổ Hiền đà-la-ni kinh

清淨觀世音普賢陀羅尼經; C: qīngjìng guānshìyīn pŭxián tuóluóní jīng; J: shōjō kanzeion fugen darani kyō;|Xem Quán tự tại Bồ Tát thuyết Phổ Hiền đà-la-ni kinh (觀自在菩薩説普賢陀羅尼經)

thanh tịnh tam nghiệp

(清淨三業) Chỉ cho 3 nghiệp trong sạch. Cứ theo kinh Bồ tát anh lạc quyển 11, ngài Tu bồ đề thưa hỏi thế nào là sắc thân Phật? Phật trả lời: Sắc thân Phật là 3 nghiệp thanh tịnh. 1. Thân nghiệp thanh tịnh: Những việc làm của thân đều có năng lực chặn đứng tất cả các pháp bất thiện. 2. Khẩu nghiệp thanh tịnh: Những lời nói từ miệng thốt ra đều là những lời chân thật thành tín, vĩnh viễn xa lìa tà vọng. 3. Ý nghiệp thanh tịnh: Thu nhiếp thân tâm, thường trụ trong thiền định vắng lặng, không có ý niệm nào khác.

thanh tịnh thân

(清淨身) Chỉ cho thân Phật thanh tịnh, không có cấu nhiễm. Thân quang minh thanh tịnh nói trong phẩm Pháp sư kinh Pháp hoa và Pháp thân thanh tịnh nói trong kinh Hoa nghiêm quyển 42 (bản dịch mới) đều thuộc Thanh tịnh thân. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 8 (Đại 35, 275 hạ) nói: Bên sung mãn tịnh đức, gọi là Thanh tịnh thân [X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.4].

thanh tịnh thân tâm

To purify the body and mind.

thanh tịnh thí

(清淨施) Bố thí với tâm thanh tịnh. Nghĩa là khi thực hành bố thí, đối với người thí, người nhận và vật thí đều không mảy may nghĩ đó là có thật, màđạtđến cảnh giới Không, gọi là Thanh tịnh thí.

thanh tịnh thức

Amalavijnana (skt)—Thức thanh tịnh, trước đây gọi là thức thứ chín, về sau nầy gọi là thức thứ tám hay A-Lại-Da thức—Pure and uncontaminated knowledge, earlier regarded as the ninth, later as the eighth or alaya-vijnana.

thanh tịnh trang nghiêm

Purely adorned.

thanh tịnh trí

Vô lậu trí hay trí không nhuốm phiền não—Undefiled knowledge.

thanh tịnh tâm

1) Tâm địa trong sạch không nhuốm não phiền: A pure mind free from doubt or defilement. 2) Làm cho tâm địa trong sạch: To purify the mind. ; (清淨心) Chỉ cho tâm tin trong sạch, không mảy may nghi ngờ, tâm xa lìa phiền não ô nhiễm, tâm tự tính thanh tịnh. Kinh Kim cương (Đại 8, 749 hạ) nói: Các đại Bồ tát nên sinh tâm thanh tịnh như thế, không nên trụ vào sắc sinh tâm, không nên trụ vào thanh, hương, vị, xúc, pháp sinh tâm. Tức chỉ cho tâm không chấp trước, không để bị dính mắc vào bất cứ vật gì. [X. kinh Trung a hàm Q.141; Thắng man bảo quật Q.thượng, phần đầu].

thanh tịnh tì ni phương quảng kinh

(清淨毗尼方廣經) Cũng gọi Thanh tịnh tỳ nại da phương quảng kinh, Thanh tịnh tỳ ni kinh, Tỳ ni phương quảng kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Cưu ma la thập (hoặc Trúc pháp hộ) dịch vào đời Hậu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 24. Kinh này nói về giới thanh tịnh của Đại thừa phương quảng, lấy cuộc vấn đáp giữa Tịch điều phục âm thiên tử và ngài Văn thù làm trung tâm, nêu ra 17 điểm so sánh đối chiếu sự khác nhau giữa luật hạnh Thanh văn và luật hạnh Bồ tát. Các bảndịch khác của kinh này gồm có: -Tịch điều âm sở vấn kinh, 1 quyển, do ngài Pháp hải dịch vào đời Tống. -Văn thù sư lợi tịnh luật kinh, 1 quyển (cũng gọi Tịnh luật kinh, Tịnh kinh, Văn thù tịnh luật kinh), do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.12; Đại đường nội điển lục Q.6].

thanh tịnh tích

(清淨積) Chỉ cho sự chứa góp tất cả công đức thanh tịnh không nhiễm ô, là 1 trong Tứ thần tam muội thuộc diệu đức của Phật. Tứthần tam muội tức chỉ cho 4 đức vi diệu của Phật, đó là: Vô hình, vô lượng ý, thanh tịnh tích và bất thoái chuyển. [X. Pháp hoa văn cú Q.1, hạ]. (xt. Tứ Thần Tam Muội).

thanh tịnh tỉ khâu

(清淨比丘) Chỉ cho vị thứ 6 trong 8 vị đại Đồng tử sứ giả của Minh vương Bất động thuộc Mật giáo.Vị tôn này sinh ra từ chữ (va) trong câu Chân ngôn Qui mệnh Bất động, đứng đầu về tâm hạnh phúc đức Bảo ba la mật của Bất động tôn. Vì vị sứ giả này tượng trưng cho tỉ khưu giữ gìn pháp bảo, nên gọi là Thanh tịnh tỷ khưu. Hình tượng vị tôn này là cạo tóc, mặc ca sa, tay trái cầm quyển kinh tiếng Phạm, tay phải cầm chày 5 chĩa để ngay ngực, vai phải để trần, eo quấnxiêm màu đỏ, nét mặt không trẻ không già, mắt giống hoa sen xanh, khóe miệng có răng nanh chìa ra ngoài Chủng tử là . Ấn khế dùng ấn Phạm khiếp, tức bàn tay trái ngửa lên, các đầu ngón hướng về phía bên phải, bàn tay phải đầu ngón hướng về phía trái, úp lên trên bàn tay trái. Chân ngôn là: Án (oô, qui mệnh) ma ni (maịi, bảo châu) vĩ du đà đạt ma câu rô (vizuddha dharma guru, thanh tịnh pháp sư) la khất xoa đạt ma (raksa dharma, hộ pháp) phạ (va). [X. Thánh vô động tôn bát đại đồng tử bí yếu pháp].

thanh tịnh tối thắng

Perfect purity and peace.

thanh tịnh viên

Vườn Thanh Tịnh, một trong mười tên dùng để gọi tự viện—Pure garden, or garden of purity, i.e. monastery or convent, one of the ten names for a monastery.

thanh tịnh đại nhiếp thụ

(清淨大攝受) Một trong 37 danh hiệu của đức Phật A di đà. Trong tán A di đà kệ của ngài Đàm loan có câu (Đại 47, 423 thượng): Khể thủ thanh tịnh đại nhiếp thụ(Cúi đầu đính lễ đức Đại nhiếp thụ thanh tịnh). Về danh hiệu này có nhiều cách giải thích: Thanh tịnh nghĩa là đức của Niết bàn rốt ráo thanh tịnh; Nhiếp thụ là 48 đức thu nhiếp chúng sinh; đức của Phật A di đà rộng lớn trùm khắp nên gọi là Đại. Hoặc giải thích rằng Tịnh độ tròn đầy 3 đức của Phật A di đà là Thanh tịnh, là thân độ nhiếp thụ tất cả phàm thánh không thể nghĩ bàn nên gọi là Thanh tịnh đại nhiếp thụ.[X. Tịnh độ hòa tán vọng minh kí (Pháp lâm); Tịnh độ hòa tán lược giải (Ngưỡng thệ)].

Thanh tịnh đạo

清淨道; P: visuddhi-magga; nghĩa là con »Ðường dẫn đến thanh tịnh«;|Tên của một bộ luận cơ bản của Thượng toạ bộ (p: theravāda), được Phật Âm (p: bud-dhaghosa) soạn trong khoảng thế kỉ thứ 5 sau Công nguyên. Thanh tịnh đạo trình bày giáo lí của Ðại Tự (p: mahāvihāra), một trong những trường phái Pā-li.|Bộ luận này gồm có 3 phần với 23 chương: chương 1-2 nói về Giới (p: sīla), chương 3-13 nói về Ðịnh (s, p: samādhi) và chương 14-23 nói về Trí huệ (p: pañña). Phần nói về Ðịnh trình bày rõ các phương pháp và đối tượng quán niệm của Thượng toạ bộ, khả năng phát triển và thánh quả của các phép thiền định. Trong phần Huệ, Thanh tịnh đạo trình bày giáo lí cơ bản của đạo Phật như Tứ diệu đế, Mười hai nhân duyên, Bát chính đạo…|Thanh tịnh đạo là một bộ luận tuyệt hảo, gần như là một bộ Bách khoa toàn thư của Phật giáo và được rất nhiều Phật tử chú trọng đến, không phân biệt Tiểu hay Ðại thừa. Nhà Phật học danh tiếng của châu Âu, Ed-ward Con-ze có lần nói rằng, nếu ông chỉ được mang theo một quyển sách ra một hòn đảo hoang vắng thì đó là quyển Thanh tịnh đạo.

thanh tịnh đạo

The way of purification.

thanh tịnh đạo luận

(清淨道論) Pàli: Visuddhimagga. Luận, 3 quyển, do vị Cao tăng Ấn độ là Phật âm (Phạm:Buddhaghosa) soạn vào thế kỉ V, được thu vào Đại tạng kinh phương Nam tập 62 đến 64. Đây là bộ luận trọng yếu của Thượng tọa bộ thuộc Phật giáo Nam truyền. Thời gần đây, học giả Nhật bản là ông Thủy dã Hoằng nguyên đã dịch ra tiếng Nhật (1937-1940). Tháng 5 năm 1958, ông Diệp quân (Liễu tham) dịch ra tiếng Trung quốc và xuất bản. Toàn sách gồm 23 phẩm, giải thích một cách có hệ thống về giáo nghĩa của Thượng tọa bộ, thứ tự tổ chức và nộidung cũng giống như luận Giải thoát đạo, nhưng trong đó lại có xen lẫn quan điểm phản bác luận ấy. Tác phẩm này trình bày theo thứ tự Giới, Định, Tuệ. Phẩm 1,2 nói về Giới; phẩm 3 đến 13 nói về Định, đồng thời phân tích tỉ mỉ một loạt phương pháp tu tập; từ phẩm 14 đến phẩm 23 nói về Tuệ, trong đó, từ phẩm 14 đến phẩm 17 chủ yếu trình bày về 5 uẩn, 4 đế, 8 chính đạo, 12 nhân duyên..., đồng thời nói khái quát về 3 tướng Vô thường, khổ, vô ngã. Đầu sách cũng như cuối sách trình bày về lí do soạn thuật và kết luận rằng Giới, Định, Tuệ là con đường dẫn đến Niết bàn thanh tịnh. Đây là bộ luận có giá trị rất cao đối với Phật giáo Nam truyền, nội dung với hình thức một bộ Bách khoa toàn thư có thể sánh với luận Đại tì bà sa của Thượng tọa hữu bộ. Ngoài ra, sách chú thích bộ luận này có: Chấn đế khuông (Pàli:Paramatthamaĩjusà), cũng gọi Đại chú (Mahà-ỉìkà), do ngài Đạt ma ba la (Pàli:Dhammapàla) soạn. [X. ThePàli Literature of Ceylon, 1928, byMalalasekera; Vimutimagga and Visuddhimagga, Poona, 1937, by P.V.Bapat; Giải thoát đạo luận dữ Thanh tịnh đạo luận chi tỉ giảo nghiên cứu (Thủy dã Hoằng nguyên, Phật giáo nghiên cứu Q.3, số 2)]. (xt. Nam Truyền Phật Giáo).

thanh tủng

(清竦) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Ngũ đại (Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tần, Hậu Hán và Hậu Chu), người ở Thai châu (huyện Thiên thai, tỉnh Chiết giang), Tổ thứ 14 của tông Thiên thai. Sư theo ngài Nguyên tú xuất gia, chuyên tu Thập thừa quán pháp của tông Thiên thai, ngày đêm tinh tiến. Không bao lâu sau, sư kế thừa ngài Nguyên tú trụ trì chùa Quốc thanh. Bấy giờ, họ Tiền dựng nước Ngô việt, rất ngưỡng mộ đức hạnh của sư, tận lực hộ trì, nhờ đó tránh khỏi tai họa binh lửa, sư bèn gắng chí, suốt ngày lên tòa, giảng nói không ngừng, đại chúng không dám tỏ dấu hiệu mệt mỏi, vì thế sư có biệt hiệu là Cao Luận Tôn Giả. Đệ tử có các vị: Nghĩa tịch, Chí nhân, Giác trân... [X. Thích môn chính thống Q.2; Phật tổ thống kỉ Q.8].

thanh tự kinh quán

(清字經館) Nơi phiên dịch Đại tạng kinh Phật giáo sang tiếng Mãn châu. Cứ theo Khiếu đình tục lục quyển 1, vào năm Càn long 37 (1772) đời Thanh, vua Nhân tông cho rằng Đại tạng kinh Phật giáo đã được phiên dịch thành tiếng Tây tạng, tiếng Hán, tiếng Mông cổ..., nhưng Thiền ngộ sâu thẳm, các kệ chú trong tạng kinh Hán dịch tuy có thay bằng phiên thiết, nhưng vẫn không thể hiện được ý chỉ kín nhiệm, còn tiếng Mãn châu thì văn ý rõ ràng, thông suốt, lại có thể chứng được Tam muội, vì thế thiết lập Thanh Tự Kinh Quán ở phía trong cửa Tây hoa, ban sắc giao cho Quốc sư Chương gia trông coi tổng quát công việc này với sự phụ tá của chư tăng như Đạt thiên, Liên phiệt... Ròng rã hơn 10 năm, Đại tạng kinh được hoàn thành, đầy đủ 4 thứ tiếng (Hán, Mãn, Mông, Tạng). Bản khắc gỗ lúc đầu được cất giữ trong quán. Về sau, Thanh tự kinh quán đổi làm Thực Lục Quán, cho nên các bản gỗ ấy mới được dời về lầuNgũ phượng. (xt. Tứ Thể Tự Kinh Điển).

thanh tự thật tướng

(聲字實相) Chỉ cho thực tướng của âm thanh, văn tự, 1 trong các giáo nghĩa của tông Chân ngôn Nhật bản. Tức âm thanh, văn tự chính là thể của thực tướng, cũng tức là tự thể của tất cả âm thanh, văn tự đều không ngoài thực tướng này. Đứng về phương diện Tam mật của Như lai mà nói thì 3 nghiệp thân, ngữ, ý vốn là bình đẳng, trùm khắp toàn thể vũ trụ, tức hết thảy sum la muôn tượng đều đầy đủ Tam mật của Như lai, đây là Phật sẵn có, chỉ vì chúng sinh không tự biết, cho nên đức Như lai mới phải dùng âm thanh nói pháp, dùng văn tự để chỉ dạy cho chúng sinh tỉnh ngộ mà tự nhận ra Phật sẵn có của mình. Vì thế biết âm thanh, văn tự là Ngữ mật của Như lai, hoàn toàn bình đẳng với Thân mật(thực tướng, tức bản lai diện mục của sự vật) của Như lai, cho nên âm thanh và văn tự chính là thực tướng sẵn có của Thân mật ấy. Lại 5 đại đầy đủ tất cả âm hưởng, 10 cõi đều đầy đủ ngôn ngữ, 6 trần có đầy đủ văn tự, Pháp thân chính là thực tướng, vì thế thực tướng âm thanh, văn tự là Tam mật biểu thị Phật pháp bình đẳng, cũng là Mạn đồ la sẵn có của chúng sinh. [X. Thanh tự thực tướng nghĩa (Không hải)].

thanh tự thật tướng nghĩa

(聲字實相義) Gọi tắt: Thanh tự nghĩa, Thanh tự thực nghĩa. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Không hải người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 77. Nội dung sách này nói rõ về ý nghĩa thực tướng của tất cả âm thanh và văn tự theo lập trường của Chân ngôn Mật giáo, y cứ vào bài tụng Đẳng chính giác chân ngôn trong phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật mà triển khai; cho rằng âm thanh, văn tự tức là thựctướng, là Ngữ mật trong Tam mật, cho nên lại tiến thêm bước nữa mà thuyết minh thực tướng của Ngữ mật, đồng thời căn cứ vào đó mà hiển bày ý chỉ tột cùng của Tam mật bình đẳng. Đây là tác phẩm trọng yếu về mặt giáo tướng.

thanh u

Calm—Silent—Quiet.

thanh uy

Fame and pretige.

thanh vi giáo thể

(聲爲教體) Âm thanh là thể của giáo pháp. Đây là giáo nghĩa của Thuyết nhất thiếthữu bộ thuộc Tiểu thừa. Nghĩa là giáo pháp của Phật lấy âm thanh làm thể, khiến người nghe được đạo. Cũng tức là lấy âm thanh làm kinh. Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 8 thượng (Đại 33, 776 hạ) nói: Như lúc đức Phật còn tại thế, miệng vàng diễn nói, chỉ giải thích bằng âm thanh, người nghe được đạo, cho nên dùng âm thanh làm kinh. [X. luận Câu xá Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần đầu; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng].

thanh vi phật sự

(聲爲佛事) Âm thanh làm việc Phật. Phàm các việc phát huy công đức của Phật đều gọi là Phật sự. Thanh vi Phật sự nghĩa là dùng âm thanh giảng nói giáo pháp nhờ đó mà tế độ chúng sinh, mang lại lợi ích cho họ. Duy ma kinh lược sớ quyển 2 (Đại 38, 589 hạ) nói: Bồ tát quán tưởng 6 căn mắt, tai... của chúng sinh xem căn nào nhạy bén? Nếu căn tai nhạy bén thì dùng âm thanh làm Phật sự. (xt. Thanh Phật Sự).

thanh viên tự

(青園寺) Chùa nằm ở chân núi Phúc chu, gần thành phố Nam kinh, tỉnh Giang tô, do Hoàng hậu Chử cung tư sáng lập vào đời Đông Tấn. Ngài Trúc đạo sinh từng trụ ở chùa này giảng nói về nghĩa đốn ngộ thành Phật. Vào niên hiệu Cảnh bình năm đầu (423) đời Lưu Tống, điện Phật bị rúng động, tương truyền có con rồng bay lên trời, từ đó mới đổi tên là chùa Long quang. Các ngài Bảo lâm, Pháp bảo, Tuệ sinh... nối tiếp nhau đến trụ trì. Khoảng năm Hội xương (841-846) chùa rơi vào tình trạng hoang tàn. Không bao lâu, vào năm Hàm thông thứ 2 (861), chùa được xây dựng lại, vua ban biển hiệu là Long Quang Viện. Năm Thăng nguyên thứ 2 (938) đời Nam Đường, chùa được trùng tu, các ngài Trừng cải, Thái khâm... lần lượt trụ trì, hoằng dương Thiền pháp. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.12, 15; Lịch đại tam bảo kỉ Q.10; Phật tổ thống kỉ Q.36; Kim lăng phạm sát chí Q.48].

Thanh Viễn Phật Nhãn

清遠佛眼; ?-1120|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Lâm Tế hệ phái Dương Kì. Sư là bạn đồng học với hai vị »Phật« khác là Viên Ngộ Khắc Cần Phật Quả và Huệ Cần Phật Giám dưới trướng của Thiền sư Ngũ Tổ Pháp Diễn.|Sư họ Lí, quê ở Lâm Ngang, phong cách nghiêm chỉnh, ít nói. Năm lên 14, Sư xuất gia học luật. Nhân lúc đọc kinh Pháp hoa đến câu »Pháp ấy không phải chỗ suy nghĩ phân biệt hay hiểu«, Sư hỏi giảng sư. Giảng sư không giải được, Sư thất vọng tự than: »Nghĩa học danh tướng không phải nguyên nhân liễu việc lớn sinh tử.« Sư bèn sửa soạn hành lí đến phương Nam tham vấn các thiền gia.|Ðến Pháp Diễn tại chùa Thái Bình, Thô Châu, Sư nhập hội. Nhân một hôm làm công tác, Sư có chút ngộ nhập bèn đến Pháp Diễn trình bày. Nói lời gì Pháp Diễn cũng bảo »Ta chẳng bằng ông, ông tự hội được thì tốt«, hoặc »Ta chẳng hội, ông hội được thì tốt.« Sư càng nghi ngờ liền đến Thủ toạ hỏi. Thủ toạ nắm lỗ tai Sư đi quanh lò mấy vòng, vừa đi vừa nói: »Ông tự hội được thì tốt.« Sư thưa: »Có lòng mong khai phát có phải đùa với nhau sao?« Thủ toạ bảo: »Ông về sau ngộ rồi mới rõ được việc khúc chiết ngày nay.« Nghe tin Pháp Diễn đến Hải Hội, Sư bèn từ giã ra đi.|Nhân gặp được Thiền sư Linh Nguyên, Linh Nguyên khuyên Sư trở về học với Pháp Diễn. Sư nghe lời trở về, được Pháp Diễn cử làm Ðiển toạ. Gặp lúc đêm lạnh, Sư vạch trong lò thấy một đóm lửa bằng hạt đậu bỗng nhiên mừng rỡ nói: »Vạch sâu thấy đóm lửa nhỏ xíu, việc bình sinh chỉ như đây.« Sư đứng dậy đến bàn mở bộ Cảnh Ðức truyền đăng lục, đọc đến nhân duyên của sư Phá Táo Ðọa bỗng nhiên triệt ngộ, liền làm kệ:|刀刀林鳥啼。披衣終夜坐|撥火悟平生。窮神歸破墮|事皎人自迷。曲淡誰能和|念之永不忘。門開少人過|Ðao đao lâm điểu đề|Phi y chung dạ toạ|Bát hoả ngộ bình sinh|Cùng thần quy Phá Ðọa|Sự hiểu nhân tự mê|Khúc đạm thuỳ năng hoà|Niệm chi vĩnh bất vong|Môn khai thiểu nhân quá|*Líu lo chim rừng hót|Khoác áo ngồi đêm thâu|Vạch lửa, bình sinh tỏ|Quẫn trí về Phá Ðọa|Việc rõ người tự mê|Nhạc khúc ai hoà được|Nghĩ đó khăng khăng nhớ|Cửa mở, ít người qua.|Sư trước trụ trì chùa Vạn Thọ, sau chùa Long Môn. Danh tiếng của sư vang khắp nơi.|Sư dạy chúng: »Nói ngàn nói muôn không bằng chính mặt thấy, dù chẳng nói cũng tự phân minh. Dụ đao báu vương tử, dụ đám mù sờ voi, trong thiền học việc cách sông đưa tay ngoắt, việc trông châu đình thấy nhau, việc xa bặt chỗ không người, việc chỗ núi sâu bờ cao, đây đều chính mặt thấy đó, chẳng ở nói suông vậy.«|Sắp tịch, Sư ngồi Kết già bảo đồ chúng: »Những bậc lão túc các nơi sắp tịch để kệ từ biệt thế gian, thế gian có thể từ biệt sao? Sắp đi an ổn!« Nói xong Sư vui vẻ chắp tay viên tịch.

Thanh Văn

(s: śrāvaka, p: sāvaka, 聲聞): âm dịch là Xá La Bà Ca (舍羅婆迦), ý dịch là Tác Đệ Tử (作弟子); là một trong Nhị Thừa, Tam Thừa; chỉ cho hàng đệ tử xuất gia lắng nghe giáo pháp của đức Phật mà chứng ngộ. Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章, Taishō Vol. 44, No. 1851) quyển 17, giải thích danh nghĩa Thanh Văn có 3: (1) Theo nhân duyên đắc đạo mà giải thích, nghĩa là nghe lời dạy của đức Phật mà giải ngộ đắc đạo, nên được gọi là Thanh Văn; (2) Theo pháp môn quán sát mà giải thích, như Thập Địa Kinh Luận (十地經論, Taishō Vol. 26, No. 1522) quyển 4 dạy rằng ngã, chúng sanh, v.v., đều có tên, nên được gọi là thanh (âm thanh, tiếng); nhờ âm thanh mà giải ngộ, nên gọi là Thanh Văn; (3) Nhân sự lợi lạc hóa độ tha nhân mà giải thích, như trong Phẩm Tín Giải của Kinh Pháp Hoa dạy rằng nhờ Phật đạo nghe mà khiến cho tất cả được nghe, nên gọi là Thanh Văn. Trong 3 giải thích trên, hai giải thích đầu là thanh văn của Phật Giáo Nguyên Thủy; loại thứ ba là Bồ Tát, tùy nghi mà gọi là Thanh Văn. Nguyên lai, Thanh Văn chỉ cho các đệ tử của đức Phật khi còn tại thế, về sau đối với Duyên Giác, Bồ Tát mà thành ra Nhị Thừa, Tam Thừa. Thanh Văn là vị quán lý Tứ Đế, tu 37 phẩm trợ đạo, đoạn hai hoặc kiến và tu, rồi dần dần chứng được 4 quả Sa Môn, và nhập vào Vô Dư Niết Bàn (無餘涅槃). Thanh Văn Thừa (聲聞乘) là giáo pháp chuyên thuyết về Thanh Văn. Thanh Văn Tạng (聲聞藏) là kinh điển xiển dương giáo thuyết của Thanh Văn. Trong các kinh luận, Thanh Văn có hai loại, 3 loại, 4 loại, 5 loại. Theo Phẩm Vô Tự Tánh Tướng (無自性相品) của Giải Thâm Mật Kinh (解深密經, Taishō Vol. 16, No. 676) quyển 2, có 2 loại Thanh Văn là Nhất Hướng Thú Tịch Thanh Văn (一向趣寂聲聞) và Hồi Hướng Bồ Đề Thanh Văn (迴向菩提聲聞). Nhập Lăng Già Kinh (入楞伽經, Taishō Vol. 16, No. 671) quyển 4 lại nêu ra 3 loại Thanh Văn khác là Quyết Định Tịch Diệt Thanh Văn (決定寂滅聲聞), Phát Bồ Đề Nguyện Thiện Căn Danh Thiện Căn Thanh Văn (發菩提願善根名善根聲聞), Hóa Ứng Hóa Thanh Văn (化應化聲聞). Du Già Sư Địa Luận (Taishō Vol. 30, No. 1579 瑜伽師地論) quyển 73 lại nêu ra 3 loại khác: Biến Hóa Thanh Văn (變化聲聞), Thệ Nguyện Thanh Văn (誓願聲聞), Pháp Tánh Thanh Văn (法性聲聞). Trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Ưu Ba Đề Xá (妙法蓮華經憂波提舍, Taishō Vol. 26, No. 1519) quyển Hạ, Thế Thân (s: Vasubandhu, 世親) chia Thanh Văn làm 4 loại là Quyết Định Thanh Văn (決定聲聞), Tăng Thượng Mạn Thanh Văn (增上慢聲聞), Thối Bồ Đề Tâm Thanh Văn (退菩提心聲聞), Ứng Hóa Thanh Văn (應化聲聞). Bên cạnh đó, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú (妙法蓮華經文句, Taishō Vol. 34, No. 1718) quyển 4 chia Thanh Văn thành 5 loại, gồm: (1) Quyết Định Thanh Văn (決定聲聞), nghĩa là tu tập tiểu thừa đã lâu, muôn kiếp đạo chín muồi mà chứng đắc quả nhỏ; (2) Thối Bồ Đề Tâm Thanh Văn (退菩提心聲聞), vị này vốn tu tập Đại Thừa, muôn kiếp tu đạo, tuy nhiên giữa chừng vì chán ghét sanh tử mà thối đạo tâm lớn, chỉ chứng quả nhỏ thôi; (3) Ứng Hóa Thanh Văn (應化聲聞), nghĩa là các Bồ Tát vì hóa độ hai loại Thanh Văn vừa nêu, nên bên trong thì có đủ hạnh của chư Phật Bồ Tát, ngoại hình thì hiện thân Thanh Văn, để khuyến dụ hàng Tiểu Thừa, khiến cho nhập vào Đại Thừa; (4) Tăng Thượng Mạn Thanh Văn (增上慢聲聞), nghĩa là vì chán ghét sanh tử, vui mừng Niết Bàn, tu tập pháp Tiểu Thừa, chứng đắc pháp nhỏ mà đã thấy đầy đủ, chưa đạt mà cho đã đạt, chưa chứng mà bảo đã chứng; (5) Đại Thừa Thanh Văn (大乘聲聞), vị này lấy âm thanh của Phật đạo, khiến cho hết thảy người được nghe không trú vào thành hóa hiện (tỷ dụ cho cõi Niết Bàn của Tiểu Thừa), mà thảy đều quay về với lý của thật tướng Đại Thừa. Ngoài ra, trong các kinh điển của hệ A Hàm thuộc Phật Giáo Nguyên Thủy, từ Thanh Văn đều chỉ chung cho hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia. Về sau, khi giáo đoàn Phật Giáo được xác lập, từ này được dùng chủ yếu chỉ cho các tăng sĩ xuất gia tu hành. Trong Vạn Thiện Đồng Quy Tập (萬善同歸集, Taishō Vol. 48, No. 2017) quyển Trung có đoạn: “Tu Phạm hạnh, đoạn trần tập chi căn nguyên; hiện bệnh hạnh, khế Thanh Văn chi hóa thành (修梵行、斷塵習之根源、現病行、憩聲聞之化城, tu Phạm hạnh, dứt tập khí ấy nguồn căn; hiện bệnh hạnh, nghỉ Thanh Văn ấy hóa thành).”

Thanh văn

聲聞; S: śrāvaka; nghĩa là »người nghe«;|Lúc đầu, Thanh văn có nghĩa là học trò của đức Phật. Dần dần, trong Ðại thừa, người ta cũng dùng từ Thanh văn để chỉ tất cả những ai nhờ nghe pháp và nhờ cố gắng cá nhân mà đạt đến giác ngộ, chứng tri kiến Tứ diệu đế và tính Không của thế giới hiện tượng. Mục đích cao nhất của Thanh văn là đạt Vô dư Niết-bàn (s: nirupadhiśeṣa-nirvāṇa), lúc đó Thanh văn trở thành A-la-hán.

thanh văn

Văn Phật thanh giáo, nghĩa là nghe Phật thuyết Tứ Diệu Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo) mà giác ngộ đạo Tiểu thừa. ; Savaka (p)—Sravaka (skt)—Sound hearer. • Thanh Văn quán Tứ Đế mà tu hành và mức độ phát triển bị hạn hẹp. Mục tiêu chỉ là giác ngộ cá nhân mà thôi. Chính vì thế mà trong Pháp Hội Hoa Nghiêm trong rừng Thệ Đa, Hết thảy các đại Thanh Văn, kể cả các ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, vân vân, không có phước quả, không có tuệ nhãn, không có tam muội , không có giải thoát, không có thần lực biến hóa, không có uy lực, không có tự chủ, không có trụ xứ, không có cảnh giới để họ bước vào chúng hội của Bồ Tát và tham dự vào cuộc diễn xuất tâm linh diễn ra trong rừng Thệ Đa. Vì họ đã riêng tầm cầu giải thoát theo thừa và đạo của Thanh Văn; những gì họ thành tựu đã không vượt ngoài quả vị Thanh Văn. Quả thực, họ đã đạt được trí tuệ làm hiển lộ chân lý, an trụ trong biên tế của thực tại (bhutakoti), hưởng thụ tịch diệt cứu cánh, nhưng họ không có tâm đại bi rộng lớn đối với hết thảy chúng sanh, vì họ chỉ chuyên tâm vào những hành nghiệp của riêng mình, không có tâm chứa nhóm trí tuệ Bồ Tát và tự mình tu tập theo đó. Họ có riêng sự chứng ngộ và giải thoát, nhung họ không mong cầu, không phát nguyện làm cho kẻ khác cũng tìm thấy chỗ an trụ trong đó. Như thế họ không hiểu thế nào là thần lực bất khả tư nghì của Như Lai: Hearer of the four noble truths and limited to that degree of development. The objective is personal salvation. Therefore, in the assembly of the Gandavyuha in the Jetavana, all the great Sravakas, including Sariputra and Maudgalyayana, etc., have no stock of merit, no wisdom-eye, no samadhi, no emancipation, no power of transformation, no sovereignty, no energy, no mastery, no abode, no realm, which enable them to get into the assemblage of the Bodhisattvas and participate in the performance of the greatspiritual drama that is going on in Jetavana. As they have sought their deliverance according to the vehicle and way of Sravakahood, what they have accomplished does not go beyond Sravakahood. They have indeed gained the knowledge whereby the truth is made manifest, they are abiding in the limit of reality (bhutakoti), they are enjoying the serenity of the ultimate (atyantasanti); but they have no great compassionate all-embracing heart for all beings, for they are too intently occupied with their own doings (atmakarya) and have no mind to accumulate the Bodhisattva-knowledge and to discipline themselves in it. They have their own realization and emancipation, but they have no desire, make no vows to make others also find their resting abode in it. They do not thus understand what is really meant by the inconceivable power of the Tathagata. • Chữ Sravaka có nghĩa là kẻ nghe giảng, dùng để gọi những đệ tử Phật, có thể là Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni hay cận sự nam nữ, văn kinh thính pháp và tu tập theo lời Phật dạy mà đạt được đạo quả Niết Bàn. Người ấy cũng có lúc độ tha, nhưng khả năng rất hạn hẹp. Hàng Thanh Văn còn chịu khuất phục dưới nghiệp chướng nặng nề; họ không thể hoài bảo những tâm nguyện lớn lao như các vị Bồ Tát để làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh; sở kiến của họ không đủ sáng và không đủ sâu nên họ không nhìn thấy tất cả những bí ẩn của sự sống, họ chưa hề khai mở con mắt trí tuệ (see Tuệ Nhãn)—Sound-hearer—The word 'Sravaka' literally means 'hearer.' This name was given to the disciple of the Buddha, may be a monk, a nun, a layman or a laywoman, bent on his or her liberation. A Sravaka hears and learns the truth from the Buddha, then follows and practices the teachings of the Buddha and finally attains Nirvana. He or she also serves others, but his or her capacity to do so is limited. Sravakas are yet under the covering of too great a karma-hindrance; they are unable to cherish such great vows are made by the Bodhisattvas for the spiritual welfare of all beings; their insight is not clear and penetrating deep enough to see all the secrets of life; they have not yet opened the wisdom-eye. ; (聲聞) Phạm:Zràvaka. Pàli:Sàvaka. Hán âm: Xá la bà ca. Hán dịch: Đệ tử. Chỉ cho các đệ tử xuất gia nghe âm thanh thuyết pháp của Phật mà chứng ngộ, là 1 trong 2 thừa, 1 trong 3 thừa. Theo Đại thừa nghĩa chương quyển 17 phần đầu thì có 3 cách giải thích về ý nghĩa tên gọi Thanh văn, đó là: 1. Giải thích theo nhân duyên đắc đạo: Nghe âm thanh thuyết giáo của Phật mà tỏ ngộ được đạo, gọi là Thanh văn. 2. Giải thích theo pháp môn được quán xét: Như Thập địa kinh luận quyển 4 nói: Ngã, chúng sinh... chỉ có tên suông, gọi là Thanh(tiếng), nhờ Thanh mà được tỏ ngộ, gọi là Thanh văn. 3. Giải thích theo phương diện hóa tha: Như phẩm Tín giải trong kinh Pháp hoa quyển 2 nói: Dùng âm thanh Phật đạo khiến tất cả đều nghe, nên gọi là Thanh văn. Trong 3 cách giải thích trên, 2 giải thích đầu là Thanh văn của Tiểu thừa, còn giải thích thứ 3 thì thuộc Bồ tát, theo nghĩa nên gọi là Thanh văn. Thanh văn vốn chỉ cho các đệ tử lúc đứcPhật còn tại thế, về sau, đối lại với Duyên giác, Bồ tát mà trở thành 1 trong 2 thừa, 1 trong 3 thừa. Thanh văn là những người quán xét lí của 4 đế, tu phẩm trợ đạo, dứt trừ Kiến hoặc, Tư hoặc, lần lượt chứng được 4 quả sa môn, chờ mong vào Niết bàn vô dư khôi thân diệt trí. Thanh văn thừa là giáo pháp chỉ được nói cho hàng Thanh văn. Còn Thanh văn tạng là những kinh điển trình bày rõ về giáo pháp ấy. Về chủng loại của Thanh văn thì trong cáckinh luận có 2 loại, 3 loại, 4 loại, 5 loại khác nhau. Theo phẩm Vô tự tính tướng trong kinh Giải thâm mật quyển 2 thì có 2 loại Thanh văn là Hướng thú tịch thanh văn và Hồi hướng bồ đề thanh văn. Theo kinh Nhập lăng già quyển 4 thì có 3 loại Thanh văn là Quyết định tịch diệt thanh văn, Phát bồ đề nguyện thiện căn danh Thiện căn thanh văn và Hóa ứng hóa thanh văn. Theo luận Du già sư địa quyển 73 thì có 3 loại Thanh văn là Biến hóa thanh văn, Thệ nguyện thanh văn và Pháp tính thanh văn. Cứ theo luận Pháp hoa quyển hạ của ngài Thế thân thì có 4 loại Thanh văn là Quyết định thanh văn, Tăng thượng mạn thanh văn, Thoái bồ đề tâm thanh văn và Ứng hóa thanh văn. Còn Pháp hoa văn cú quyển 4thượng thì chia Thanh văn làm 5 loại, gọi là Ngũ chủng thanh văn như sau: 1. Quyết định thanh văn: Tu tập Tiểu thừa đã lâu, trải qua nhiều kiếp đạo lực thành thục, chứng được tiểu quả. 2. Thoái bồ đề thanh văn: Loại Thanh văn này vốn tu tập Đại thừa, trải qua nhiều kiếp tu đạo, nhưngnửa chừng vì nhàm chán sinh tử mà lùi bỏ tâm Đại đạo để chứng lấy tiểu quả. 3. Ứng hóa thanh văn: Vì hóa độ 2 loại Thanh văn trên nên chư Phật, Bồ tát, bên trong ẩn hạnh Phật, Bồ tát, bên ngoài hiện hình tướng Thanh văn để khuyên dụ Tiểu thừa nhập vào Đại thừa. 4. Tăng thượng mạn thanh văn: Loại Thanh văn ngạo mạn vì chán ghét sinh tử, ưa thích Niết bàn, tu tập Tiểu thừa chỉ mới được chút ít đã tự cho là đủ, chưa được nói là được, chưa chứng bảo đã chứng. 5. Đại thừa thanh văn: Dùng âm thanh Phật đạo, khiến tất cả người nghe không trụ ở hóa thành(ví dụ cho Niết bàn Tiểu thừa) mà cuối cùng trở về lí thực tướng của Đại thừa. Sự phân loại trên đây là căn cứ theo giáo nghĩa Đại thừa, nhưng các bộ kinh A hàm và các luận như luận Phát trí, luận Lục túc... thì không theo thuyết này; Thanh văn, theo các kinh luận này, chỉ có 1 loại là Thú tịch thanh văn nói trên mà thôi. Ngoài ra, trong Thánh điển nguyên thủy như kinh A hàm... từ ngữ Thanh văn là chỉ chung cho cả đệ tử xuất gia lẫn tại gia. Nhưng đến đời sau, khi giáo đoàn Phật giáo đã được xác lập, thì Thanh văn chuyên chỉ cho chư tăng xuất gia tu hành. [X. kinh Tạp a hàm Q.31; kinh Trường a hàm Q.1; luận Du già sư địa Q.67, 80; Pháp hoa huyền luận Q.1, 4, 7; Đại thừa nghĩa chương Q.17, phần cuối; Đại thừa pháp uyển nghĩalâmchương Q.2; Pháp hoa văn cú Q.1, thượng].

thanh văn bồ đề

(聲聞菩提) Chỉ cho trí tuệ của quả Thanh văn, 1 trong 3 loại bồ đề. Trí tuệ của quả Thanh văn là kết quả của sự nghe pháp, khác với trí tuệ của hàng Duyên giác do tư duy quán xét mà được, cũng khác với trí tuệ của Phật là trí vô sư, không do thầy chỉ dạy mà do tự tu đạt được. Vì khác nhau như thế nên gọi là Thanh văn bồ đề để phân biệt. Phẩm Tam chủng bồ đề trong Ưu bà tắc giới quyển 1 (Đại 24, 1038 thượng) nói: Nếu người nào được bồ đề thì gọi là Phật. Vì sao Thanh văn và Bích chi Phật không được gọi là Phật? (...) Vì Thanh văn do nghe mà được, nên không gọi là Phật; Bích chi phật do tư duy mà được một phần giác, nên gọi là Bích chiphật; Như lai không có thầy, không do nghe, không do tư duy, nhưng do tu mà được, biết rõ tất cả, nên gọi là Phật. [X. kinh Xuất sinh bồ đề tâm]. (xt. Tam Bồ Đề).

thanh văn giới

(聲聞界) Cũng gọi Thanh văn pháp giới. Một trong 10 pháp giới. Chỉ cho cảnh giới của những người nghe âm thanh thuyết giáo của Phật, quán xét lí 4 đế mà chứng được quả A la hán, nhập vào Niết bàn vô dư khôi thân diệt trí, đó là cảnh giới của Thanh văn. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2, thượng; Ma ha chỉ quán Q.5, thượng]. (xt. Thập Giới).

thanh văn hình

(聲聞形) Cũng gọi Tỉ khưu hình, Tăng hình. Một trong các loạitạohình tượng Phật. Tức là tượng có hình tướng cạo tóc, khoác áo ca sa. Tượng của các đệ tử Phật và tượng bồ tát Địa tạng đều được tạo theo hình tướng Thanh văn.

thanh văn thuyết

(聲聞說) Chỉ cho sự thuyết pháp của Thanh văn, 1 trong 5 loại thuyết pháp. Cách phân loại này là y cứ vào những người có khả năng nói kinh Hoa nghiêm. Tức chỉ cho phần đầu của phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm là do hàng Thanh văn nhờ sức gia bị của Phật mà nói pháp. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.1]. (xt.Ngũ Loại Thuyết Pháp).

thanh văn thân

(聲聞身) Phạm:Zràvaka-kàya. Chỉ cho quả vị Thanh văn. Tức là người quán xét 4 Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo để cầu Niết bàn giải thoát, 1 trong Giải cảnh thập Phật. [X. kinh Hoa nghiêm Q.26 (bản dịch cũ); Hoa nghiêm huyền đàm Q.3]. (xt. Giải Cảnh Thập Phật).

thanh văn thập lục hành

(聲聞十六行) Cũng gọi Tứ đế thập lục hành tướng. Chỉ cho 16 hành tướng quán sát của Thanh văn. Ở giai vị Tứ thiện căn(tức Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất pháp), trước khi tiến vào Thánh vị kiến đạo, hàng Thanh văn tiểu thừa quán xét lí 4 đế, vì mỗi đế đều có 4 thứ hành tướng, nên cộng lại thành 16 hànhtướng. Tức quán Khổ đế có 4 hành tướng: Phi thường, khổ, không, phi ngã; quán Tập đế có 4 hành tướng: Nhân, tập, sinh, duyên; quán Diệt đế có 4 hành tướng: Diệt, tĩnh, diệu, li; quán Đạo đế có 4 hành tướng: Đạo, như, hành, xuất. [X. kinh Tọa thiền tam muội Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.79]. (xt. Tứ Đế).

Thanh văn thừa

xem Ba thừa. ; 聲聞乘; S: śrāvakayāna;|Dùng chỉ »cỗ xe« đầu tiên của ba cỗ xe (Ba thừa; s: triyāna) có thể đưa đến Niết-bàn. Thanh văn thừa đưa đến thánh quả A-la-hán và được xem là Tiểu thừa.

thanh văn thừa

See Sravakayana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (聲聞乘) Chỉ cho pháp môn Tứ đế đưa người đến quả Thanh văn, 1 trong 2 thừa, 1 trong 3 thừa, 1 trong 5 thừa. Thừa nghĩa là vận chuyển, chỉ cho sự chuyên chở chúng sinh đến bờ bên kia, tức chỉ cho giáo pháp của đức Phật. Hàng Thanh văn nhờ quán xét lí Tứ đế mà ra khỏi sinh tử, đạt đến Niết bàn, cho nên gọipháp môn Tứ đế là Thanh văn thừa. Thanh văn thừa cũng chỉ cho căn cơ chủng loại Thanh văn. [X. kinh Xưng tán đại thừa công đức; Pháp hoa huyền luận Q.7; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần cuối]. (xt. Nhị Thừa).

thanh văn thừa giáo

(聲聞乘教) Một trong 4 thừa giáo do ngài Quang trạch phán thích. Quang trạch chỉ cho Pháp sư Pháp vân chùa Quang trạch, sống vào đời Lương thuộc Nam triều. Ngài Pháp vân căn cứ vào 4 xe: Dê, nai, bò, trâu trắng lớn nói trong phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa mà chia giáo pháp của đức Phật làm 4 thừa giáo, lấy xe do dê kéo để ví dụ cho Thanh văn thừa giáo. Nghĩa là hàng Thanh văn dùng Tích không quán để quán xét sinh diệt Tứ đế, phá trừ Kiến hoặc, Tư hoặc, chứng lí Chân đế, lìa được sinh tử trong 3 cõi, như ngồi xe dê ra khỏi nhà lửa. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Pháp hoa nghĩa kí Q.4]. (xt. Quang Trạch Tứ Thừa).

thanh văn tăng

(聲聞僧) Chỉ cho những người cạo tóc, mặc áo ca sa, hiện hình tướng sa môn, tu học giới định, tuệ, 1 trong 2 loại tăng, 1 trong 3 loại tăng.Luận Đại trí độ quyển 34 nêu 2 loại tăng là Thanh văn tăng và Bồ tát tăng. Còn kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 2 thì nêu 3 loại tăng là Bồ tát tăng, Thanh văn tăng và Phàm phu tăng. Như các tôn giả Xá lợi phất, Mục kiền liên... chính là Thanh văn tăng. (xt. Tăng Già).

thanh văn tạng

The Sravaka—Hinayana Canon. ; (聲聞藏) Chỉ cho các giáo pháp 4 đế, 12 nhân duyên mà đức Thích tôn nói cho hàng Thanh văn nghe, là 1 trong 2 tạng, 1 trong 3 tạng. Còn giáo pháp 6 độ mà đức Thích tôn nói cho Bồ tát nghe thì gọi là Bồ tát tạng. Từ ngữ Thanh văn tạng có xuất xứ từ kinh Bồ tát địa trì quyển 12. Ngài Tuệ viễn đời Tùy và các ngài Cát tạng, Thiện đạo đời Đường đều chia loại kinh điển thành 2 tạng để nghiên cứu, phân tích. Kinh Văn thù chi lợi phổ siêu tam muội quyển trung thì nêu thuyết Ba tạng: Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát. Nếu khi chỉ nói đến 2 tạng Thanh văn và Bồ tát thì trong tạng Thanh văn đã bao hàm cả tạng Duyên giác rồi. Cách phân loại 2 tạng này đồng nghĩa với Nhị thừa (Đại thừa, Tiểu thừa), Nhị giáo(Bán giáo, Mãn giáo). [X. luận Nhậpđại thừa Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.1]. (xt. Nhị Tạng).

thanh văn uý khổ chướng

(聲聞畏苦障) Hàng Thanh văn bị phiền não sợ khổ làm chướng ngại. Nghĩa là hàng Thanh văn sợ hãi nỗi khổ sinh tử luân hồi ở thế gian, ưa đắm Niết bàn, lại bị ngay nỗi sợ hãi và niềm ưa đắm ấy làm chướng ngại việc chứng đắc quả Phật. Niết bàn tông yếu (Đại 38, 246 thượng) nói: Thanh văn sợ khổ, chướng ngại đức vui, không biết khổ ấy chính là vui lớn.

thanh văn ứng

(聲聞應) Ứng thân thứ 4 trong 32 ứng thân của bồ tát Quán thế âm. Vì giáo hóa chúng sinh nên bồ tát Quán thế âm thị hiện 32 thân tướng để thích hợp với các căn cơ chủng loại. Thanh văn ứng tức là dùng thân Thanh văn ứng hiện trước chúng sinh.Kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 6 ghi: Nếu các vị Hữu học chứng được lí không của Tứ đế, tu đạo nhập diệt, thắng tính hiện tròn đủ, thì Bồ tát liền hiện ra thân Thanh văn ở trước vị ấy, nói pháp cho nghe, khiến được giải thoát. (xt. Tam Thập Nhị Ứng).

thanh vắng

Deserted and silent.

thanh đàm

(清談) Bàn luận về lí cao xa, trống không. Chỉ cho cái phong khí xã hội Trung quốc được hình thành vào cuối đời Đông Hán đến đầu đời Ngụy, trong đó, giai tầng trí thức muợn sự đàm luận biện biệt để cầu đạt chân lí. Phong khí này thịnh hành vào đời Ngụy và Tấn (202-419). Thanh đàm thuần túy thuộc phạm vi tư tưởng triết học, như Nhân sinh luận, Vũ trụ luận, Bản thể luận, Tri thức luận, Nhạc lí, Luân lí, Mĩ học, Ngữ ngôn ngữ ý học... chứ không dính dáng gì đến chính trị, công danh, lợi lộc hoặc thuật mưu sinh..., cho nên ý thức xã hội đương thời biểu hiện phong cách tìm cầu sự thanh khiết. Cũng thời kì này, còn có phong khí Huyền đàm (bàn về lí sâu xa, kín nhiệm)mà chủ đề chỉ giới hạn ở Vũ trụ luận và Bản thể luận thuần túy trong Thanh đàm và làm thế nào để phối hợp phần Vũ trụ luận này với Nhân sinh luận. Các danh sĩ đương thời như Vương bật, Hướng tú... phần nhiều chuộng Huyền đàm, đề cao học thuyết Lão Trang, do đó Huyền đàm rất thịnh. Các danh sĩ Huyền học tuy bị chê là những người theo lí suông, bàn suông nhưng lúc Phật giáo truyền vào thì chính cũng nhờ Huyền đàm, Thanh đàm mà truyền bá đến được các phần tử trí thức.

thanh đạm

Slight—Frugal.

thanh đầu quán âm

• Vị Quán Âm đầu xanh, ngồi trên vách đá dựng đứng: The blue-head Kuan-Yin, seated on a steep cliff. • Vị Quán Âm cổ xanh, có ba mặt: The blue-knech Kuan-Yin, with three faces.

thanh đề nữ

Mẹ của Mục Kiền Liên trong một tiền kiếp, nổi tiếng về sự bần tiện của bà—The mother of Maugalyaya na in a former incarnation, noted for her meanness.

thao dượt

To manoeuver—To exercise.

thao luyện

To drill—To exercise.

thao láo

To be wide-open (eyes).

thao thao bất tuyệt

Volubly and interminably (speaking).

thao túng

To do as one pleases, hold or release whenever one can benefit.

Thạch Sương Khánh Chư

(石霜慶諸, Sekisō Keisho, 807-888): xuất thân vùng Tân Cam (新淦), Cổ Châu (古州, thuộc Tỉnh Triết Giang), họ là Trần (陳). Năm lên 13 tuổi, ông xuống tóc xuất gia với Tây Sơn Thiệu Giám (西山紹鑑) ở Hồng Châu (洪州, thuộc Huyện Nam Xương, Tỉnh Triết Giang), rồi thọ cụ túc giới với Tung Nhạc (嵩岳) và học về giới luật. Sau đó, ông đến tham yết Đạo Ngô Viên Trí (道吾圓智) và kế thừa dòng pháp của vị nầy. Về sau, ông đến sống ở Thạch Sương Sơn (石霜山) trong vòng 10 năm, và chính trong khoảng thời gian nầy, ông đã cùng với môn đệ mình chuyên tâm ngồi Thiền mà không hề nằm nghỉ như cây khô, nên người đời thường gọi họ là Người Cây Khô. Vua Hy Tông (僖宗) nhà Đường nghe được đạo phong của ông nên ban cho Tử Y, nhưng ông cố từ không thọ nhận. Vào ngày 20 tháng 2 năm Mậu Thân (888, năm đầu niên hiệu Văn Đức), ông thị tịch, hưởng thọ 82 tuổi đời và 59 hạ lạp. Ông được sắc phong thụy hiệu là Phổ Hội Đại Sư (普會大師).

then chốt

1) Latch and bolt. 2) Essential—Important.

theo

1) According to—In accordance with. 2) To follow—To go (come) after—To accompany someone.

theo bén gót

To follow close behind.

theo bản năng

Instinctively.

theo dõi

To observe—To watch.

theo dấu

To track—To trail—To trace.

theo gót

To follow someone closely.

theo kinh pháp cú, câu 183, đức phật dạy

“Chớ làm các điều ác, gắng làm các việc lành, giữ tâm ý trong sạch. Ấy lời chư Phật dạy.”—According to the Dharmapada Sutra, verse 183, the Buddha taught: Not to do evil, to do good, to purify one's mind, this is the teaching of the Buddhas.”

theo kịp

To catch (come) up with.

theo như

In accordance with.

theo phe

To take sides with.

theo quan niệm

Conceptually

theo riết

See Theo gót.

theo sau

To go after—To follow.

theo sự sắp đặt

Structurally.

theo truyền thống thiền tông

To follow the Zen Practice—To be a follower of Zen.

theo đuổi

To pursue—Chase after.

theo đuổi dục vọng

Chase after pleasures.

theo đòi

To imitate.

theo đúng con đường giác ngộ

To follow the right way of Enlightenment.

thi

1) Bố thí (cho): To give—To offer—To donate. 2) Đi thi: To go in (sit) for an examination. 3) Tử thi: Dead body—Corpse (of a murder person). 4) Thơ: Poetry.

Thi ba-la-mật

phiên âm từ Phạn ngữ là ỵla-pramit, hay Thi-la ba-la-mật, tức Giới ba-la-mật, hay Trì giới ba-la-mật, cũng gọi là Giới độ.

thi bán thi

Giết người bằng phương pháp Tỳ Đà La, nghĩa là lấy ma lực bằng cách luyện chú trên một thây ma. Nếu là thây không đầu hay từng phần của thây thì gọi là “Bán Thi.” Nếu là toàn thây thì gọi là “Thi.”—To kill a person by the Vetala Method of obtaining magic power by incantations on a dead body; when a headless corpse, or some part of the body is use, it is called “Half-Corpse Vetala.” When the corpse is used, it is called “Whole-Corpse Vetala.” ; (尸半尸) Chỉ cho Thi chú và Bán thi chú. Tức ở Ấn độ và miền Tây vực đời xưa, người ta dùng chú thuật sai khiến tử thi đi giết người. Nếu dùng toàn bộ tử thi để giết người thì gọi là Thi chú; nếu dùng tử thi không có đầu đi giết người thì gọi là Bán thi chú. Du già luận kí quyển 17, phần đầu (Đại 42, 688 hạ) ghi: Thái nói: Có kẻ muốn giết người, dùng chú thuật sai toàn thân xác chết đi giết oan gia, nên gọi là Thi chú; sai xác chết không có đầu, không nói được, đi giết người, nên gọi là Bán thi.Trắc nói: Có kẻ muốn giết người, dùng bùa chú sai quỉ giết người, hoặc sai tử thi giết hại chúng sinh, cho nên gọi là Thi. Hoặc dùng tay chân của tử thi giết hữu tình, cho nên gọi là Bán thi.

thi ca

(尸迦) Cũng gọiTắc ca, Sa ca, Ca. Tức chữ (ska) trong 42 chữ cái Tất đàm.Kinh Quang tán bát nhã quyển 7 và kinh Đại phẩm bát nhã quyển 5 đều theo chữ đầu trong tiếng Phạm Skandha (Hán dịch là Tụ, Uẩn) mà giải thích Skanghĩa là Tất cả các pháp không có 5 uẩn, Các pháp tụ bất khả đắc... Kinh Phóng quang bát nhã quyển 4 thì giải thích là pháp tính. Kinh Hoa nghiêm quyển 57 (bản 60 quyển) nói rằng: Khi xướng chữ Thi ca thì nhập vào môn Bát nhã ba la mật, gọi là Chư địa mãn túc vô trước vô ngại giải thoát quang minh biến chiếu (Phạm: Bhùmigarbhàsaôga-pratisamvit-prabhacakra-spharaịa).

thi ca la việt

Tu Xà Đà, con trai của một vị trưởng giả trong thành Vương Xá—Sujata, son of an elder of Rajagrha.

thi hành

To carry out—To execute—To perform or fulfil (a promise)—To give effect to (decree)—To enforce (the law)—To achieve (work).

thi hào

Great poet.

thi họa

Poetry and painting.

thi khí

Sikhin (skt)—Thức Khí—Thức Cật—Crested or flame, explained by fire. 1) Trong Câu Xá Luận bản cũ gọi là Lạt Na Thi Khí: Called Ratnasikhin in Abhidharma, Kosa sastra old version. 2) Trong Bản Hạnh Kinh gọi là Loa Kết: Called “A Shell-like tuft of hair” in the Orginal Practice Sutra. 3) Vị Phật thứ 999 của kiếp cuối cùng mà Đức Thích Ca Mâu Ni đã từng gặp, cũng là vị Phật thứ nhì trong bảy vị cổ Phật: The 999th Buddha of the last (preceeding) kalpa, whom Sakyamuni is said to have met, the second of the Sapta Buddha. 4) Vị Phật thứ hai trong bảy vị Phật quá khứ, sanh tại Quang Tướng Thành—The second of the seven Buddhas of antiquity, born in Prabhadvaja as a Ksatriya. 5) Thi Khí còn là tên gọi của Đại Phạm Thiên Vương, nghĩa là “Đỉnh Kết” hay “Hỏa Tai Đỉnh” (đại hỏa tai thời kiếp mạt). Vì nhập Hỏa Quang Định mà đoạn lìa dục hoặc mà trở về theo giới đức—A Mahabrahma, whose name Sikhin is defined as having a flame tuft on his head; connected with the world-destruction by fire. Sikhin is also described as a flame or a flaming head and as the god of fire, styled also “Suddha Pure.” He observed the Fire Dhyana, broke the lures of the ralm of desire, and followed virtue.

Thi Khí Phật

(s: Śikhin-buddha, p: Sikhin-buddha, 尸棄佛): ý dịch là Đảnh Kế (頂髻), Trì Kế (持髻), Hữu Đảnh (有髻), vị thứ 2 trong 7 vị phật thời quá khứ. Vào thời quá khứ 31 kiếp, khi con người có tuổi thọ 70.000, vị Phật này ra đoìư trong dòng dõi Sát Đế Lợi (刹帝利) của Thành Quang Tướng (光相城). Ngài có họ là Cù Đàm Câu Lân Nhã (瞿曇拘隣若), cha tên Minh Tướng (明相), mẹ là Quang Diệu (光妙). Ngài thành đạo dưới gốc cây Phân Đà Lợi (分陀利), thuyết pháp 3 hội và độ được hơn 200.000 người.

thi khí phật

See Thi Khí (3) and (4). ; (尸棄佛) Phạm: Zikhi-buddha. Pàli:Sikhi-buddha. Cũng gọi Thức Phật, Thức cật Phật, Thức khí Phật, Thức khí na Phật. Hán dịch: Đính kế, Hữu kế, Hỏa thủ, Tối thượng. Theo kinh Đại bản trong Trường a hàm quyển 1, đức Phật Thi khí ra đời vào kiếp thứ 31 ở quá khứ, bấy giờ con người sống lâu 7 vạn tuổi, họ của ngài là Câu lợi nhã (Pàli: Koịđaĩĩa), cha là Minh tướng (Pàli:Aruịa) thuộc dòng Sátđếlợi, mẹ tên là Quang diệu (Pàli:Pathàvatì). Ngài thành Chính giác dưới gốc cây Phân đà lợi (Pàli:Puịđarìka). Hội thuyết pháp đầu tiên độ 18 vạn tỉ khưu, hội thứ hai thuyết pháp độ 8 vạn người, hội thứ 3 thuyết pháp độ 7 vạn người. Đệ tử thượng thủ là A tì phù (Pàli:Abhibhù), đệ tử thứ 2 là Tam bà bà (Pàli:Sambhava), đệ tử chấp sự là Nhẫn hành (Pàli: Khemankara). Ngoài ra, các kinh Tăng nhất a hàm quyển 45, kinh Thất Phật phụ mẫu tính tự và kinh Phật danh quyển 19... đều có nói về đức Phật này, nhưng về tuổi thọ con người đương thời, tên họ cha mẹ, đệ tử, số người được độ... đều có khác nhau. Còn theo Tứ phần luật tỉ khưu giới bản thì đức Phật Thi khí từng nói Giới kinh (Đại 22, 1022 trung): Ví như người mắt sáng, tránh được đường nguy hiểm, đời có người thông minh, thường xa lìa điều ác.

thi khí tỳ

tên một vị trời phụ trách về âm nhạc ở Thiên Đường Đông Độ—A deva of music located in the Eastern Paradise.

thi khí đại phạm

(尸棄大梵) Phạm: Zikhi-brahman. Thi khí, Phạm: Zikhin. Hán dịch: Đính kế, Hỏa. Vị trời đứng đầu Sơ thiền thuộc cõi Sắc. Vị trời này tu định Hỏa quang phá trừ hoặc lậu cõi Dục, cho nên có tên là Hỏa. Phẩm Hiện tướng trong kinh Đại bát nhã quyển 570 cho rằng Trì kế Phạm vương đứng đầu thế giới Kham nhẫn; Pháp hoa huyền tán quyển 2, phần đầu, thì cho rằng Trì kế Phạm vương chính là Thi khí Đại phạm, đứng đầu cõi trời Tứ thiền thuộc thế giới Kham nhẫn(tức thế giới Sa bà).Các học giả cận đại cho rằng Thi khí Đại phạm là biểu thị sự hỗn hợp về tư tưởng giữa đức Phật Thi khí thứ 2 trong 7 đức Phật quá khứ và Phạm thiên. Thuyết của Đại thừa chủ trương Phật hiện tại xuất hiện cũng từ tư tưởng Phạm thiên mà ra.

thi la

Sila (skt)—Thi Đát La. 1) Thanh lương: Pure and cool. 2) Giới: Commandments—Restraint or keeping the commandments. 3) Ba La Mật thứ nhì trong Lục Ba La Mật, thanh tịnh ba nghiệp thân, khẩu, ý: It is the second of the six paramitas, moral purity of thought, word, and deed. 4) Bốn nghĩa hay bốn điều kiện của giới—Four meanings or four conditions of sila: a) Thanh lương: Chaste (pure and cool). b) Yên ổn: Calm. c) Yên tĩnh: Quiet. d) Tịch Diệt: Extinguished (Nirvana). 5) Năm giới đầu trong thập giới là dành cho tất cả Phật tử: The first five or panca-sila, of the ten sila or commandments are for all Buddhists. ** For more information, please see Giới. ; (尸羅) Phạm:Zìla. Gốc của danh từ này là từ động tựzìl (thực hành) mà ra, bao gồm các nghĩa hành vi, tập quán, tính cách, đạo đức, cung kính..., cũng chỉ cho giới hạnh trong 6 .Ba la mật do đức Phật chế định để các đệ tử giữ gìn khiến ngăn ngừa điều lỗi. Về ngữ ý của danh từ này, ngoài các nghĩađãnêu trên, theo luận Tạp a tì đàm tâm quyển 10, còn có các nghĩa khác như tu tập, chính thuận, tam muội, thanh lương(mát mẻ), an miên(ngủ yên giấc)... Luận Đại tì bà sa quyển 44 thì nêu ra các nghĩa: Thanh lương, an miên, sác tập (tập luôn luôn), đắc định, nghiêm cụ(đồ dùng để trang nghiêm), minh kính(gương sáng), tăng thượng(thêm lên), đầu thủ... Tội lỗi do 3 nghiệp thân, khẩu, ý tạo ra làm cho người tu hành bị thiêu đốt nóng bức; Giới có công năng chấm dứt nóng bức khiến được yên vui thoải mái, cho nên gọi là Thanh lương. Các kinh luận khác cũng có những giải thích khác nhưng đại khái đều lấy việc ngăn ngừa điều lỗi làm nghĩa gốc.Luận Đại trí độ quyển 13 (Đại 25, 53 trung) nói: Thích tu hành thiện đạo, không tự buông thả, gọi là Thi la. Hoặc thụ giới làm thiện, hoặc không thụ giới mà làm thiện đều gọi là Thi la. Luận A tì đạt ma câu xá quyển 14 (Đại 29, 73 thượng) nói: Có năng lực diệt trừ các nghiệp ác nên gọi là Thi la.

thi la a điệt đa

Siladitya (skt)—Giới Nhật—Son of Pratapaditya and brother of Rajyavardhana. Under the spiritual auspices of Avalokitesvara, he became king of Kanyakubja, 606 A.D. and conquered India and the Punjab. He was merciful to all creatures, strained drinking water for horses and elephants, he was most liberal patron of Buddhism, re-established the great quinquennial assembly, built many stupas, showed special favour to Silabhadra and Hsuan-Tsang, and composed the Astama-hasri-Caitya-Samskrta-Strota (Bát Đại Linh Tháp Phạm Tán). He reigned about 40 years.

thi la ba la mật

Silaparamita (skt)—Hạnh trì một trong sáu hay mười giới Ba La Mật—Morality—The second of the six or ten paramitas. ** For more information, please see Giới.

thi la bát phả

Silaprabha (skt)—Giới Quang là tên Phạn của Pháp Sư Đạo Lâm ở Thiên Trúc—The Sanskrit name of a learned monk (T'ao-Lin) in India.

thi la bạt đà la

Silabhadra (skt)—Một danh Tăng tại tu viện Na Lan Đà, thầy của Huyền Trang, vào khoảng năm 625 sau tây Lịch—A famously learned monk of Nalanda, teacher of Hsuan-Tsang, 625 A.D.

thi la bạt đà đề

Silabhadra (skt)—Tên của một vương tử trong Kinh Hiền Ngu quyển 6—Name of a prince.

thi la bất thanh tịnh

Impure commandments—Nếu giới bất tịnh, không ai vào được tam muội—If the sila, or moral state, is not pure, none can enter samadhi.

thi la thanh tịnh

Thanh Tịnh Giới, cấp thiết cho việc nhập định—Moral purity, essential to enter into samadhi.

thi la tàng

Màn làm bằng đá quý thanh lương—A curtain made of chaste precious stones.

thi la tứ nghĩa

(尸羅四義) Chỉ cho 4 nghĩa chính của Thi la (giới), được giải thích theo công dụng. 1. Thanh lương: Xa lìa sự lo khổ nhiệt não trong lòng mà được mát mẻ, thoải mái.2. An ổn: Là nhân của sự an vui đời sau.3. An tỉnh: Kiến lập được chỉ quán. 4. Tịch diệt: Là nhân chứng đắc Niết bàn.

thi la đạt ma

Siladharma (skt)—Giới Pháp, tên một vị sa môn nước Vu Điền—Name of a sramana of Khotan. ; (尸羅達摩) Cũng gọi Giới pháp. Danh tăng nước Vu điền đến Trung quốc dịch kinh vào đời Đường. Sư thông thạo tiếng Trung quốc, Ấn độ. Trong năm Trinh nguyên (785-?), sư nhận lời thỉnh cầu của quan Tiết độ sứ là Dương tập cổ, dịch kinh Thập địa 9 quyển ở chùa Long hưng tại Bắc đình (nay là huyện Phu viễn, tỉnh Tân cương), do sa môn Đại chấn ghi chép, ngài Ngộ không kiểm chứng tiếng Phạm. Sau đó, sư lại dịch kinh Hồi hướng luân 1quyển. Hai kinh này được nhập tạng vào năm Trinh nguyên 15 (799).

thi lại nã phạt để

Hiranyavati (skt)—Kim Hà hay sông Vàng, tên của con sông trong lãnh thổ Né-Pal, bây giờ là Gandaki, gần nơi Phật Thích Ca nhập Niết Bàn—The gold river, a river of Nepal, now called Gandaki, near which Sakyamuni is said to have entered nirvana.

thi lợi

Cũng còn được gọi là (also called) Sư Lợi, Thất Lợi, Thất Ly, Thất Lý, Tu Lợi, Tất Lợi. 1) Danh từ Phạn ngữ có bốn nghĩa—A Sanskrit term with four meanings: • Thủ (đầu): High rank. • Thắng (trội hơn, tốt đẹp hơn): Success. • Cát Tường (tốt lành): Good—Good fortune—Prosperity. • Đức: Virtues. 2) Tên vắn tắt của Ngài Văn Thù Sư Lợi: An abbreviation for the name of Manjusri. 3) Một tiếp đầu ngữ hay tiếp vĩ ngữ có nghĩa là danh dự hay được tôn vinh trước tên các vị Thần, các bậc vĩ nhân, hay những quyển sách quý: An honorific prefix or affix to names of gods, great men, and books. 4) Tên của vợ của Thần Visnu: Name of the wife of Visnu.

thi lợi ca (già) na

Sriguna (skt)—Hậu Đức, một danh hiệu của Phật—Abundantly virtuous, a title of a Buddha.

thi lợi cúc đa

Srigupta (skt)—Thi Lợi Quật Đa—Thất Lợi Cúc Đa—Tên một vị trưởng giả ở thành Vương Xá, người đã dùng hầm lửa và cơm trộn thuốc độc định hại Phật, nhưng không thành. Ông bèn quy y theo Phật—An elder in Rajagrha, who tried to kill the Buddha with fire and poison, but he failed. He then took refuge in the Triratna.

thi lợi dạ

Sriyasas (skt)—Vị Thần mang đến sự kiết tường—A god who bestows good luck.

thi lợi mật đa la

Srimitra (skt)—Một hoàng thái tử Ấn Độ, người đã thoái vị nhường ngôi cho em mình, rồi xuất gia đi tu, sang Tàu, dịch bộ “Quán Đảnh” và các kinh khác—An Indian prince who resigned his throne to his younger brother, became a monk, came to China, translated the Summit of Contemplation and other books.

thi lợi phật thệ

Sribhuja (skt)—Tên nước Châu Mạt La Du tức nước Thi Lợi Phật Thệ ngày nay—Name of Malaya which is now Sribhuja.

thi lợi sa

Sirisa—Acacia Sirissa (skt)—Also called Thi Lợi Sắc, Sá Lợi Sa, Dạ Hợp Thụ, Hợp Hôn Thụ—Sa La Thụ—Cây Hợp Hôn, có hai loại—The marriage tree. There are two kinds: 1) Thi Lợi Sa: Loại có lá và quả to—Described as with large leaves and fruit. 2) Thi Lợi Sử: Loại có lá và quả nhỏ—Described as with small leaves and fruit.

thi lợi sa ca

Sirisaka (skt)—Tên của một vị sư—Name of a monk.

thi lợi sa thụ

(尸利沙樹) Thi lợi sa, Phạm:Zirìwa,Pàli:Sirìsa. Cũng gọi Thi lợi sái thụ, Sư lợi sa thụ, Xá li sa thụ. Hán dịch: Hợp hoan thụ, Dạ hợp thụ, Hợp hôn thụ. Tên khoa học: Acacia sirissa. Loại cây mọc ở Ấn độ, có nghĩa là tốt lành, thường tiết ra chất nhựa dùng để chế thuốc thơm. Kinh Kim quang tối thắng vương quyển 7 cho rằng hương thơm của cây này đứng vào hàng thứ 6 trong 32 vị thuốc thơm. Cứ theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 3 thì cây này có 2 chủng loại, đó là: 1. Thi lợi sa: Lá và quả tương đối lớn. 2. Thi lợi sử: Lá và quả nhỏ hơn loại trên.Kinh Niết bàn quyển 32 (bản Nam) cho rằng khi sao Mão xuất hiện thì quả Thi lợi sa mới hình thành, dài 5 tấc. Tuệ lâm âm nghĩa nói rằng quả Thi lợi sa giống như ái đầu, vì thế Thi lợi sa còn có nghĩa là đầu. Cây này là cây đạo tràng của đức Phật Câu lâu tôn(đức Phật thứ 4 trong 7 đức Phật ở quá khứ).

thi ma xá na

Smasana (skt) or Asmasayana (skt)—Một nghĩa địa trong vùng Thi Đà Lâm—A cemetery in Sitavana.

thi phật

(詩佛) Từ ngữ tôn xưng thi hào Vương duy đời Đường. Ông rất kính tin Phật pháp, ăn hay trường. Kiến thức của ông về Phật học rất sâu sắc, mỗi khi làm thơ đều có ngụ Phật lí, thiền cơ, nên được người đời khen là Thi Phật. Về già, ông biết trước giờ lâm chung, bèn làm thơ gởi các bạn, viết xong, buông bút, ngồi yên lặng mà qua đời.

thi quỷ

Quỷ tử thi, được dựng dậy và sai đi giết hại kẻ thù (đây là một thứ chú thuật của ngoại đạo)—A corpse-ghost, called up to kill an enemy.

thi thiền nhất trí thuyết

(詩禪一致說) Thuyết cho rằng thi đạo và thiền đạo cùng tương quan nhau và qui về một mối. Cứ theo Thương Lãng thi thoại thì dòng phái nhà Thiền, thừa thì có Đại Tiểu, tông thì có Nam Bắc, đạo thì có chính tà, người học phải theo Tối thượng thừa, có chính pháp nhãn, ngộ Đệ nhất nghĩa; như Tiểu thừa thiền, Thanh văn, Bích chi quả... đều chẳng phải chính tông. Bàn về thơ như bàn về thiền, thơ đời Hán, Ngụy, Tấn vàthịnh Đường thì thuộc về Đệ nhất nghĩa; còn thơ Đại tông, Đại lịch về sau thì thuộc về Tiểu thừa thiền, đã rơi vào Đệ nhị nghĩa. Theo đây thì thơ vãn Đường thuộc loại Thanh văn, Bích chi quả. Nói một cách tổng quát thì mục đích của thiền đạo là diệu ngộ, thi đạo cũng có diệu ngộ. Chẳng hạn như học lực của Mạnh hạo nhiên kém Hàn dũ rất xa, nhưng thơ họ Mạnh lại vượt trội hơn họ Hàn rất nhiều, đó chỉ do một vịdiệu ngộ mà thôi. Văn nhân đời Minh là Đô mục cho bài thơ sau đây là cước chú đẹp nhất cho thuyết này: Học thi hồn tự học tham thiền, Bất ngộ chân thừa uổng bách niên; Công mạc ẩu tâm tinh dịch phế, Tu tri diệu ngộ xuất thiên nhiên. Tạm dịch: Học thơ cũng hệt học tham thiền, Chẳng ngộ chân thừa uổng bách niên; Đâu phải vò tim và xé phổi, Chỉ cần diệu ngộ vượt thiên nhiên.

thi thành

Kusinagara or Kusigramaka (skt)—Tên tắt của thành Câu Thi Na, thuộc Vương Quốc cổ Ấn Độ, gần thành Kasiah, nơi Đức Phật nhập diệt, và cũng là nơi sanh của chín học giả nổi tiếng ở Ấn Độ—Belonged to an ancient Indian Kingdom, near Kasiah, the place where Sakyamuni died, also the birth place of nine famous scholars.

thi thâu ma la sơn thôn

(尸收摩羅山村) Phạm: Zizumàragira. Pàli:Siôsumàragira. Cũng gọi Thi thiết thủ bà la sơn, Thất thu ma la sơn. Hán dịch:Đà sơn, Giao ngư ơn. Tên vùng đất xưa ởẤn độ, thuộc nước Bà già. Hữu bộ tì nại da quyển 42 (Đại 23, 857 thượng) nói; Khi đức Phật trụ ở vườn Cấp cô độc, rừng Thệ đa, thành Thất la phạt, thì ở chân núi Thất thu ma la thuộc Kiêu thiểm tì (Pàli:Kosambì) có nhiều thôn làng. Ngoài ra, Tạp a hàm quyển 5, 19, 37, kinh Bồ đề vương tử trong Trường bộ 85, Tăng chi bộ 7, 57... đều nói thôn này là nơi mà đức Phật và các đệ tử từng nhiều lần nghỉ lại khi các Ngài du hóa nhân gian.

Thi thư

(詩書): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho Thi Kinh (詩經) và Thượng Thư (尚書). Như trong Tả Truyện (左傳), thiên Hi Công Nhị Thập Thất Niên (僖公二十七年), có đoạn: “Thi, Thư, nghĩa chi phủ dã; Lễ, Nhạc, đức chi tắc dã (詩、書、義之府也、禮、樂、德之則也, Thi và Thư là tủ sách chứa đựng nghĩa; Lễ và Nhạc là khuôn phép của đức).” (2) Chỉ chung cho các thư tịch, sách vở. Như trong bài thơ Văn Quan Quân Thu Hà Nam Hà Bắc (聞官軍收河南河北) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Khước khan thê tử sầu hà tại, mạn quyển thi thư hỷ dục cuồng (卻看妻子愁何在、漫卷詩書喜欲狂, nhìn lại vợ con buồn cớ lẽ, bao quyển văn thư vui muốn điên).” (3) Làm thơ và thư pháp. Như trong Tống Thư (宋書), Truyện Tạ Linh Vận (謝靈運傳), có đoạn nhận xét rằng: “Linh Vận thi thư giai kiêm độc tuyệt, mỗi văn cánh, thủ tự tả chi, Văn Đế xưng vi nhị bảo (靈運詩書皆兼獨絕、每文竟、手自寫之、文帝稱爲二寶, cả thơ và thư pháp của Tạ Linh Vận [385-433] đều độc đáo, có một không hai; mỗi cuối đoạn văn, tự tay ông viết, vua Văn Đế [tại vị 424-353] gọi đó là hai báu vật).”

thi thố

To perform—To realize.

thi tì vương

(尸毗王) Thi tỳ, Phạm:Zibi;Pàli:Sibi. Cũng gọi Thấp tì vương, Thi tì ca vương. Vị Thánh vương ở Ấn độ thời xưa cắt thịt trên thân mình cho chim ưng ăn để cứu mạng chim bồ câu, cũng là tiền thân của Phật Thích ca khi còn tu hạnh Bồ tát ở đời quá khứ. Cắt thịt trên thân mình cho chim ưng ăn là sự tích rất nổi tiếng trong các sự tích bản sinh của đức Phật. Truyền thuyết về vị vua này được lưu hành rất rộng, thấy rải rác trong văn học cổ đại của Ấn độ. Trong các kinh luận của Phật giáo thì như luận Bồ tát bản si nh m an quyển 1, kinh Hiền ngu quyển 1, luận Đại trang nghiêm quyển 12, luận Đại trí độ quyển 4... đều có ghi sự tích này. Truyền thuyết kể rằng: Thủa xưa, ở cõi Diêm phù đề có vị vua Thi tì ca, một hôm, có con chim ưng đuổi bắt con chim bồ câu, chim bồ câu bay vào núp trong lòng vua, vì tâm từ bi nên vua tự cắt thịt của mình cho chim ưng ăn để thế mạng cho chim bồ câu. Truyền thuyết cho rằng bồ câu là do thần Lửa biến ra, còn chim ưng là hóa thân của trời Đế thích, vì muốn thử lòng từ bi của nhà vua mà sắp đặt việc này. Nước Túc ha đa nói trong Phật quốc kí của ngài Pháp hiển chính là nơi diễn ra sự kiện này, ở đây có ngôi tháp kỉ niệm, là 1 trong 4 ngôi tháp lớn ở Ấn độ. Điều Ô trượng na quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 2 cũng có nói đến sự tích này và địa điểm cũng nhất trí với địa điểm ghi trong Phật quốc kí, nghĩa là ở phía Đông bắc nước Kiện đà la. Theo Lục độ tập kinh quyển 1 thì tên vị vua này là Tát bà đạt (Phạm: Sarvadatta), nghĩa là Nhất thiết thí(cho tất cả). Còn theo kinh Soạn tập bách duyên thì nhà vua khoét mắt cho chim ưng chứ không phải cắt thịt cho chim ưng. Từ xưa, sự tích bản sinh nổi tiếng này đã có rất nhiều biến tướng điêu khắc và hội họa miêu tả, như trên lan can của Đại tháp A ma la bà đề (Phạm:Amaràvatì), ở hang 17 tại A chiên đa (Phạm:Ajantà) tại Ấn độ, ở Bà la phù đồ tại Java, Indonesia, ở Đôn hoàng, Tân cương, Trung quốc...

thi tăng

(詩僧) Cũng gọi Văn tăng. Vị tăng thông hiểu văn nghệ, giỏi thi ca. Đặc biệt chỉ cho các vị thi tăng ở Giang tả sống vào đời Đường. Giang tả tức vùng Giang tô, Chiết giang. Từ giữa đời Đường về sau, vùng này trở thành nơi trung tâm văn nghệ, kế sau Trường an và Lạc dương. Các thi tăng đời Đường có tác phẩm được thu chép vào Phương ngoại bộ trong Đường âm quí tiêm quyển 30, gồm có: Huệ di(8 quyển), Huyền phạm(20 quyển), Pháp lâm(30 quyển), Linh triệt(10 quyển), Kiểu nhiên(10 quyển), Linh nhất(1 quyển), Hoài phố(1 quyển), Vô khả (1 quyển), Thê bạch(1 quyển), Thượng nhan (Kinh môn tập 5 quyển), Tử lan(1 quyển), Tề kỉ(Bạch liên tập 10 quyển, Ngoại biên tập 10 quyển), Quán hưu(30 quyển), Hư trung (Bích vân tập 1 quyển), Tu lục(Đông lâm tập 1 quyển), Xử mặc(Thơ, 1 quyển), Khả minh (10 quyển), Đàm vực(Long hoa tập 10 quyển), Tự mục(Quát nang tập 10 quyển), Sở loan (Thơ, 1 quyển), Vô nhan(1 quyển), Ứng chi (1 quyển), Trí tiên(1 quyển), Khang bạch (Thơ, 1 quyển), Hàn sơn tử(Thơ, 7 quyển), Trí nhàn(Kệ tụng 1 quyển, hơn 200 thiên). Còn trong Toàn đường thi thì thu chép tác phẩm của 115 vị, gồm 2913 bài. Trong các vị thi tăng đời Đường thì các ngài Kiểu nhiên, Linh triệt, Quán hưu... là những nhân vật đại biểu. Đến đời Tống, tuy có các vị thi tăng xuất chúng như Tham liêu tử Đạo tiềm, Giác phạm Tuệ hồng... nhưng tác phẩm của các vị này không giống tác phẩm của các sĩ đại phu, cho nên bị người đương thời chê bai. Đáng chú ý hơn là các vị thi tăng đời Minh. Trong Liệt triều thi tập của Tiền khiêm ích có thu chép tiểu truyện và tác phẩm của 107 vị thi tăng từ cuối đời Nguyên đến cuối đời Minh.

thi tỳ ca

Sivi (skt)—Thi Tỳ Già—Theo Đại Trí Độ Luận, Thi Tỳ Ca là một trong những tiền thân của Đức Phật, người đã từng cắt thịt mình bố thí cho chim bồ câu—According to the sastra on Prajna-Paramita Sutra, Sivi was one of Sakyamuni's former incarnations, when to save a life of a dove he cut off and gave his own flesh to an eagle which pursued it, which eagle was Siva transformed in order to test him.

thi ân

To grant (do) a favour.

thi ân bất cầu báo, còn cầu báo là thi ân có mưu đồ và sự thi ân như vậy sẽ đưa tới ham muốn danh lợi

One should not wish to be repaid for good deeds. Doing good deeds with an intention of getting repayment will lead to greed for fame and fortune.

thi đa bà na

Sitavana (skt)—Tên vùng Thi Đà Lâm ở Bắc Ấn Độ—A place named Sitavana in Northern India.

thi đà lâm

Sitavana (skt)—Còn gọi là Thi Đà Bà, Thi Đa Bà Na, An Đà Lâm, Trú Ám Lâm, Khủng Tỳ Lâm, Khủng Úy Lâm, Hàn Lâm—Rừng lạnh, nơi bỏ xác người chết hay là nghĩa địa (chính âm là Thi Đa Bà Na, có nghĩa là Hàn Lâm hay rừng lạnh. Rừng nầy nằm sâu trong rừng thẳm lạnh lẽo. Lúc Phật còn tại thế thì khu rừng nầy nằm cạnh thành Vương Xá, xác người chết được đem bỏ vào đó cho kên kên rỉa thịt)—Cold grove, a place for exposing corpses, a cemetery. ; (尸陀林) Phạm: Zìtavana. Pàli:Sìta-vana. Cũng gọi Hàn lâm, Thi đa bà na lâm, Thâm ma xá na lâm, Thi ma xa na lâm. Khu rừng rậm nằm về phía bắc thành Vương xá, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ. Rừng này âm u lạnh lẽo, vốn là nơi dân chúng trong thành bỏ tử thi; về sau là nơi ở của tội nhân.

Thi-la ba-la-mật

xem Thi ba-la-mật.

Thi-lạt-noa-phạt-để

xem A-lỵ-la-bạt-đề.

thi-lỵ-sa

tên một loại cây, phiên âm từ Phạn ngữ là Śiriṣa, dịch nghĩa là hợp hôn thọ (合昏樹), cũng dịch là hợp hoan thọ (合歡樹).

thin thít

To keep (hold) silent.

thinh

1) Sound—Voice. 2) To keep silent—To hold one's tongue.

thinh danh

Thanh danh—Fame—Renown.

thiu thiu

To sleep lightly.

thiêm

Thêm vào—To add—To increase—Additional.

thiêm phẩm

Phẩm được thêm vào—Additional chapter or chapters.

thiêm phẩm diệu pháp liên hoa kinh

(添品妙法蓮華經) Cũng gọi Thiêm phẩm pháp hoa kinh. Kinh, 7 quyển, do 2 ngài Xà na quật đa và Cấp đa cùng dịch ở chùa Đại hưng thiện tại Trường an vào niên hiệu Nhân thọ năm đầu (601) đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 9. Cứ theo Kinh lục thì kinh Pháp hoa gồm 6 bản Hán dịch, nhưng hiện chỉ còn 3 bản là kinh này, kinh Diệu pháp hoa và kinh Chính pháp hoa.

thiêm thiếp

To be asleep.

Thiên

天; S, P: deva; nguyên nghĩa »người sáng rọi«; |Chỉ chư Thiên, chỉ chúng sinh sống trong thiện đạo (Lục đạo), trong một tình trạng hạnh phúc, tuy nhiên vẫn nằm trong Luân hồi (saṃsāra). Nhờ những nghiệp tốt đã tạo, chư thiên có thọ mệnh rất dài và rất sung sướng. Nhưng chính hạnh phúc này là chướng ngại trên đường giải thoát vì họ không hiểu được khổ đế trong Tứ diệu đế.|Theo Phật giáo, có 28 cõi thiên, gồm có 6 thuộc Dục giới (s, p: kāmaloka, kāmadhātu), 18 thuộc Sắc giới (s, p: rūpaloka, rūpadhātu) và 4 thuộc Vô sắc giới (s, p: arūpaloka, arūpadhātu, xem Ba thế giới; s: triloka).|Trong Dục giới có: 1. Tứ thiên vương (四天王; s: caturmahārājika-deva), sống gần núi Tu-di; 2. Tam thập tam thiên (三十三; s: trāyastriṃśa-deva), chư thiên sống trên đỉnh Tu-di; 3. Dạ-ma thiên (夜摩; s: yāma-, suyāma-deva), sống hạnh phúc trường cửu; 4. Ðâu-suất thiên (兜率天; s: tuṣita-deva), cõi của thiên nhân »có niềm vui thầm lặng«, chỗ Phật Di-lặc đang giáo hoá; 5. Hoá lạc thiên (化樂天; s: nirmāṇarati-deva), loài thiên nhân thấy niềm vui nơi sự biến hoá; 6. Tha hoá tự tại thiên (他化自在天; paranirmita-vaśavarti-deva), các chư thiên của dục giới còn tham ái xác thịt.|Sinh trong sắc giới là các vị đạt Tứ thiền, đã diệt tận tham ái xác thịt, nhưng vẫn còn sắc thân. Các vị Phạm thiên (brahma) sống trong cấp thấp của sắc giới. Các vị đạt Bốn xứ sẽ sinh trong vô sắc giới, các vị này đã giải thoát khỏi sắc uẩn nhưng vẫn còn có bốn uẩn thụ, tưởng, hành thức (Ngũ uẩn). ; 偏; C: piān; J: hen;|Có các nghĩa sau: 1. Nghiêng về một phía. Khuynh hướng, thiên vị, thành kiến. Quả quyết, trong ý không tốt; 2. Đôi lúc do những nét viết giống nhau, từ nầy cũng được dùng khác hẳn với nghĩa chính xác của nó là Biến (遍, 徧), có nghĩa là toàn thể, hoàn toàn, rộng khắp; 3. Biến đổi, đảo lộn, thay đổi.

thiên

I) Bài văn hay quyển sách: A Text or a book. II) Nghiêng về một bên hay thiên lệch: On one side—Biased—Partial—Prejudiced—Deflected—One-sided. III) See Deva. IV) Dọn đi: To move—To remove. V) Từ mà người Đông Á dùng để gọi Trời: A term which Eastern Asian peoples used to call “Heaven.” VI) The sky—The heavens of the gods—The Pure Buddha-Land—Sahasra (thousand). There are many different heavens: (A) Sơ Thiền Thiên (See Tứ Thiền thiên in Vietnamese-English Section): 1) Phạm Phụ thiên: Brahma-parisadya (p)—The realm of Brahma's retinue. 2) Phạm Chúng thiên: Brahma-purohita (p)—The realm of Brahma' ministers. 3) Đại Phạm thiên: Mahabrahma (p)—The realm of the great Brahmas. (B) Nhị Thiền Thiên (See Tứ Thiền Thiên): 4) Diệu Quang thiên hay Thiểu Quang Thiên: Parittabha (p)—Cõi trời có ít ánh sáng nhất trong cõi Nhị Thiền—Minor Light—The realm of minor lustre. 5) Vô Lượng Quang thiên: Cảnh giới của những vị Phạm Thiên có ánh sáng vô cùng và vô hạn định—Apramanabha (p)—Infinite Light—The realm of infinite lustre. 6) Cực Quang Tịnh thiên: Quang Âm Thiên—Cảnh giới của những vị Phạm Thiên có ánh sáng rực rỡ sáng lòa hơn hai cõi trời trên, chiếu khắp mọi nơi. Ở đấy không nghe thấy âm thanh nào; khi các cư dân muốn nói chuyện, một tia sáng thanh tịnh thoát ra khỏi miệng được dùng như ngôn ngữ—Abhasvara—Utmost Light-Purity—The realm of the radiant Brahmas. There are no sounds heard in this heaven; when the inhabitants wish to talk, a ray of pure light comes out of the mouth, which serves as speech. (C) Tam Thiền Thiên (See Tứ Thiền thiên): 7) Thiểu Tịnh thiên: Cảnh giới của những vị Phạm Thiên có hào quang nhỏ—Parittasubha (p)—Minor Purity—The realm of the Brahmas of minor aura. 8) Vô Lượng Tịnh thiên: Cảnh giới của những vị Phạm Thiên có hào quang vô cùng, vô hạn định—Apramanasubha (p)—Infinite Purity—The realm of the Brahmas of infinite aura. 9) Biến Tịnh thiên: Cảnh giới của những vị Phạm Thiên có hào quang vững chắc không lay động—Subhakrusna (p)—Universal Purity—The realm of the Brahmas of steady aura. (D) Tứ Thiền Thiên (See Tứ Thiền thiên): 10) Phúc Sanh thiên: Punyaprasava—Felicitous birth. 11) Vô Vân thiên: Anabhraka—Cloudless. 12) Quảng Quả thiên: Cảnh trời của những vị Phạm Thiên hưởng quả rộng lớn—Brhatphala—Vehapphala (p)—Large fruitage—The realm of the Brahmas of great reward. 13) Vô Phiền thiên:Asanjnisattva—No vexations, or free of trouble. 14) Vô Nhiệt thiên: Avrha—No heat. 15) Thiện Kiến thiên: Atapa—Beautiful to see. 16) Thiện Hiện thiên: Sudrsa—Sudassa (p)—Beautiful appearing—The beautiful realm. 17) Sắc Cứu Cánh thiên: Sudarsana—The end of form. 18) Vô Tưởng thiên: Akanistha—The heaven above thought—The realm of mindless beings. (E) Chư thiên khác: Other devas: 19) Quang Âm thiên: Abhasvara—Light-sound heavens. 20) Cực Quang Tịnh thiên: The heavens of utmost light and purity (one of the second dhyana heavens). 21) Địa Cư Thiên: Indra's heaven on the top of Sumeru. 22) Không Cư Thiên: Heaven in space. 23) Tự Tại Thiên: Isvaradeva—King of the devas—God of Free Will—God of Free Movement. 24) Diệu Hỷ Túc thiên: The heaven full of wonderful joy. 25) Biện Tài Thiên Nữ: Goddess of eloquence. 26) Diệu Âm Nhạc Thiên: Sarasvati—The wife or female energy of Brahma—Biện Tài Thiên Nữ. 27) Đại Kiết Tường thiên: Mahasri. ** For more information, please see Tam Chủng Thiên. ; (天) Phạm: Deva-loka. Hán âm:Đề bà. Đồng nghĩa: Thiên thượng, Thiên hữu, Thiên thú, Thiên đạo, Thiên giới, Thiênthượng giới. Trời, chỉ cho loài hữu tình tối cao, tối thắng trong 5 đường, 6 đường của cõi mê, hoặc chỉ thế giới(cõi trời)mà loài hữu tình ấy cư trụ. Nếu khi chỉ cho tự thể hữu tình thì gọi là Thiên nhân(người trời),Thiên bộ (số nhiều), Thiên chúng(số đông), tương đương với danh từ Thần mà người thế tục thường gọi. Ngoài ra, giáo pháp nói về nguyên nhân(thập thiện, tứ thiền, bát định) sau khi chết được sinh lên cõi trời gọi là Thiên thừa. Giáo pháp của Phật giáo ở thời kì đầu lấy Niết bàn làm trung tâm, giáo thuyết đối với tín đồ tại gia thì lấy việc sinh lên cõi trời làm chính, nghĩa là y theo đạo đứcmà làm điều thiện thì được sinh lên cõi trời. Như Kinh tập (Pàli:Sutta-nipatà) là bộ kinh xưa nhất có nói: Nếu bố thí thức ăn cho Sa môn, Bà la môn, người xin ăn thì sau khi chết được sinh lên cõi trời. Về sau, Thí luận, Giới luận, và Sinh thiên luận trở thành 3 bộ luận lớn để giảng dạy cho tín đồ tại gia. Vềnguyên ngữ của Thiên, ngoài Devaloka còn có Devanagara, Sagga, Saggapatha Saggapada... đều thuộc về số ít, Thiên chỉ là một, chứ không qui định nội dung tỉ mỉ và sự sai khác về tầng bậc. Tư tưởng Thiên này chẳng phải chỉ Phật giáo mới có, mà là tín ngưỡng của dân chúng ởẤn độ đương thời, về sau Phật giáo cũng sử dụng. Cứ theo kinh Phật, thế giới của Thiên ở phương trên cách mặt đất rất xa; từ dưới lên trên theo thứ tự là: Tứ đại vương chúng thiên(cũng gọi Tứ thiên vương, là nơi ở của Trì quốc thiên, Tăng trưởng thiên, Quảng mục thiên, Đa văn thiên và quyến thuộc của các vị Thiên này), Tam thập tam thiên(cũng gọi Đao lợi thiên; đứng đầu cõi trời này là Thích đề hoàn nhân, tức Đế thích thiên); Dạ ma thiên(cũng gọi Diệm ma thiên, Đệ tam diệm thiên), Đổ sử đa thiên(cũng gọi Đâu suất thiên), Lạc biến hóa thiên(cũnggọi Hóa lạc thiên) và Tha hóa tự tại thiên(cũng gọi Đệ lục thiên, Ma thiên), gọi chung là Lục dục thiên, tức là 6 tầng trời cõi Dục. Kế đó, các Thiên thuộc cõi Sắc được chia làm Tứ thiền thiên, gồm có 17 tầng trời(hoặc 16 tầng trời, 18 tầng trời), đó là: -Sơ thiền thiên, có 3 tầng trời: Trời Phạm chúng, trời Phạm phụ và trời Đại phạm. -Đệ nhị thiền thiên, có 3 tầng trời, trời Thiểu quang, trời Vô lượng quang và trời Cực quang. -Đệ tam thiền thiên, có 3 tầng trời: Trời Thiểu tịnh, trời Vô lượng tịnh và trời Biến tịnh.-Đệ tứ thiền thiên, có 8 tầng trời: Trời Vô vân, trời Phúc sinh, trời Quảng quả, trời Vô phiền, trời Vô nhiệt, trời Thiện hiện và trời Sắc cứu cánh(trời A ca ni tra). Nếu gọi Thập lục thiên thì đem Đại phạm thiên xếp chung vào Phạm phụ thiên; nếu gọi Thập bát thiên thì trên Quảng quả thiên lập thêm Vô tưởng thiên. Chín tầng trời thuộc Sơ thiền, Đệ nhị thiền và Đệ tam thiền đều là các tầng trời sinh lạc thụ lạc, cho nên gọi là Lạc sinh thiên(tầng trời sinh ra và thụ hưởng sự vui thú). Đại Phạm thiên cũng gọi là Phạm thiên, Đại phạm thiên vương, cùng với trời Đế thích được gọi chung là Thích Phạm; nếu lại thêm Tứ thiên vương thì gọi là Thích Phạm tứ vương, đều là những vị Thiện thần giữ gìn Phật pháp. Trong các Thiên nói trên thì Tứ đại vương chúng thiên và Tam thập tam thiên ở tại phần trên núi Tu di, cho nên gọi là Địa cư thiên, từ Dạ ma thiên trở lên thì trụ ởhưkhông, nên gọi là Không cư thiên. Cung điện của các vị trời này gọi là Thiên cung, Thiên đường. Các trời càng ở cao thì thân thể càng lớn, tuổi thọ cũng theo thứ tự tăng lên, điều kiện nhục thể càng thêm thù thắng. Chư thiên thuộc cõi Vô sắc do Tứ vô sắc thiên hình thành, đó là: Không vô biên xứ thiên, Thức vô biên xứ thiên, Vô sở hữu xứ thiên và Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên (Hữu đính thiên). Vì là thuộc cõi Vô sắc cho nên chư thiên này không có trụ xứ.Trong Tứ đại vương chúng thiên hoặc trong Tam thập tam thiên, nếu các trời vì khởi sân tâm hoặc đam mê các thú vui mà mất chính niệm thì bị rơi xuống. Các trời khởi sân tâm gọi là Ýphẫn thiên(Ýphẫn khuể thiên), còn các trời đam mê thú vui thì gọi là Hí vong thiên(Hí vong niệm thiên). Kinh Niết bàn quyển 22 (bản Bắc) cũng nêu 4 loại thiên là: 1. Thế gian thiên(cũng gọi Danh thiên, Thế thiên): Tức các đại quốc vương trong tất cả đất nướcở10 phương thế giới, tuy ở thế gian nhưng lại hưởng phúc trời nên gọi là Thế gian thiên (trời ở thế gian). 2. Sinh thiên: Tất cả chúng sinh nhờ nhân tu hành giữ 5 giới cấm, làm 10 điều thiện nên được quả báo sinh lên các tầng trời thuộc cõi Dục, cõi Sắc hoặc cõi Vô sắc, cho nên gọi là Sinh thiên. 3. Tịnh thiên: Hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác dứt trừ các phiền não, được đại thần thông, biến hóa tự tại, thanh tịnh vô nhiễm, gọi là Tịnh thiên. 4. Nghĩa thiên: Hàng Bồ tát Thập trụ khéo hiểu yếu nghĩa của các pháp, gọi là Nghĩa thiên. Trong 4 thứ Thiên trên đây, nếu thêm Đệ nhất nghĩa thiên(tức Phật) thì thành 5 thứThiên. Đức Phật là bậc tôn quí nhất trong Tịnh thiên, cho nên gọi là Thiên trung thiên, Thiên trung tối thắng tôn, Thiên nhân sư. Ngoài ra còn có 12 loại thiên(Thiên bộ giữ gìn thế giới, che chở thế gian), đó là: Địa thiên, Thủy thiên, Hỏa thiên, Phong thiên, Y xá na thiên, Đế thích thiên, Diệm ma thiên, Phạm thiên, Tì sa môn thiên, La sát thiên, Nhật thiên và Nguyệt thiên. Trong Mật giáo cũng có 20 vị trời như Kim cương diện thiên... Khi chư thiên sắp mệnh chung thì thân thể hiện ra 5 tướng suy, gọi là Ngũ suy (Thiên nhân ngũ suy). Về vấn đề này, xưa nay có nhiều thuyết khác nhau, ở đây chỉ nêu 1 thuyết về Ngũ suy: 1. Y phục cấu: Xiêm áo dơ bẩn. 2. Đầu đính hoa khô nuy: Chiếc mũ kết bằng hoa trên đầu khô héo. 3. Thân thể phát xú: Thân thể toát ra mùi hôi hám. 4. Dịch hạ lưu hãn: Đổ mồ hôi nách. 5. Bất nhạo kì vị: Không thích chỗ ngồi của mình. Ngoài ra, việc hành dâm của Lục dục thiên, Tứ đại vương chúng thiên và Tam thập tam thiên thì giống với loài người, nghĩa là nhục thể giao nhau, Dạ ma thiên thì nắm tay nhau, Đổ sử đa thiên thì nhớ nghĩ đến nhau, Lạc biến hóa thiên thì nhìn nhau, Tha hóa tự tại thiên thì nói với nhau là đã thành dâm, trên đây gọi là Dục thiên ngũ dâm(năm cách hành dâm của các trời cõi Dục).

Thiên biểu

(阡表): tấm bia dựng trước ngôi mộ.

thiên bách ức hóa thân phật

The hundred thousand myriad Transformation bodies of the Buddha—Theo Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng dạy về Thiên Bách Ức Hóa Thân Phật như sau: “Này thiện tri thức! Sao gọi là Thiên Bách Ức Hóa Thân? Nếu chẳng nghĩ muôn pháp thì tánh vốn như không, một niệm suy nghĩ gọi là biến hóa. Suy nghĩ việc ác là hóa làm địa ngục, suy nghĩ việc thiện thì hóa làm thiên đường, độc hại thì hóa làm rồng rắn, từ bi thì hóa làm Bồ Tát, trí huệ thì hóa làm thượng giới, ngu si thì hóa làm hạ giới. Tự tánh biến hóa rất là nhiều, người mê không hay tỉnh giác, mỗi niệm khởi ác thường đi trong con đường ác, xoay về một niệm thiện, trí huệ liền sanh, đây gọi là Tự Tánh Hóa Thân Phật.”—According to the Dharma Jewel Platform Sutra, the Sixth Patriarch taught: “Good Knowing Advisors! What are the hundred thousand myriad Transformation bodies of the Buddha? If you are free of any thought of the ten thousand dharmas, then your nature is basically like emptiness, but in one thought of calculation, transformation occurs. Evil thoughts are being tranformed into hell-beings and good thoughts into heavenly beings. Viciousness is transformed into dragons and snakes, and compassion into Bodhisattvas. Wisdom is transformed into the upper realms, and delusion into the lower realms. The transformations of the self-nature are extremely many, and yet the confused person, unawakened to that truth, continually gives rise to evil and walks evil paths. Turn a single thought back to goodness, and wisdom is produced. That is the Transformation-body of the Buddha within your self-nature.”

Thiên Bình Tùng Y

(天平從漪, Tempei Shūi, ?-?): nhân vật sống dưới thời nhà Tống, pháp từ của Thanh Khê Hồng Tấn (清谿洪進). Ông đã từng sống tại Thiên Bình Sơn (天平山), Tương Châu (相州, Tỉnh Hà Nam).

thiên bình tả kinh

(天平寫經) Chỉ cho các bản kinh chép tay vào khoảng niên hiệu Thiên bình ở Nhật bản, cũng là từ gọi chung của các kinh chép tay của triều đại Nại lương. Kinh chép tay vào thời này phần lớn được hoàn thành trong sở Tả kinh. Tình hình sáng lập sở Tả kinh của nhà nước không được rõ, chỉ biết vào năm Thiên bình thứ 6 (734) đã có ti Tả kinh, đến khoảng năm Thiên bình 13 đổi làm sở Tả kinh; khoảng năm Thiên bình 16 thì thành lập sở Tả sớ để chuyên viết chép các tác phẩm chú sớ. Khoảng năm Thiên bình 18 (746) thì chuyên gọi nơi chép kinh Pháp hoa và kinh Tối thắng vương là sở Tả kinh, còn gọi nơi viết chép các kinh, luật, luận khác là sở Tả hậu kinh. Về sau, Tả sớ dần dần suy vi và các sở Tả kinh Đông đại tự, sở Phụng tả ngự chấp kinh của Nội đạo tràng hưng khởi, lại có các sở Tả kinh của các chùa, của các nhà quí tộc tiếp tục tồn tại cho đến cuối thời kì Nại lương. Trong sở Tả kinh đặt vị Giám đốc, vị Kiểm giáo, dưới 2 chức vụ này là Kinh sinh(người viết chữ), Giáo sinh(người sửa chữa), Trang hoàng (người trang hoàng bên ngoài), Đề sư(người viết tựa đề)... Những kinh được viết chép vào thời Thiên bình hiện nay vẫn còn, được chia ra cất giữ ở các địa phương tại Nhật bản. Trong đó, di bản Nhất thiết kinh có: Thiên bình lục niên Thánh vũ Thiên hoàng ngự nguyện kinh, Thiên bình thập nhị niên Đằng nguyên phu nhân phát nguyện kinh (trong đó, phần lớn hiện được cất giữ trong tạng Thánh ngữ ở viện Chính thương), Thiên bình thập nhị niên Quang minh hoàng hậu ngự nguyện kinh, Thiên bình thập ngũ niên Quang minh Hoàng hậu ngự nguyện kinh, Thiên bình thắng bảo thất niên (755) Lục nhân Bộ đông nhân phát nguyện kinh, Thiên bình thần hộ nhị niên (766) Cát bị Do lợi phát nguyện kinhvà Thần hộ cảnh vân nhị niên (768), Hiếu liêm Thiên hoàng ngự nguyện kinh...

thiên bẩm

Inborn—Innate.

thiên bệnh

(偏病) Chỉ cho các kiến giải thiên lệch, tà vạy của chúng sinh đối với sự lí, như hữu vô, đoạn thường... Vì các tà kiến này không thấy được thực tướng của các pháp, mà chỉ khởi nghiệp mê hoặc, điên đảo, luân hồi sinh tử, cho nên ví dụ là bệnh. Tam luận huyền nghĩa (Đại 45, 7 trung) nói: Chính có 3 loại: Một là đối thiên bệnh mà gọi là Chính, đó là đôi Thiên chính (...) ba là Thiên bệnh đã trừ thì Chính cũng chẳng giữ.

thiên bộ

The classes of devas—The host of devas—The host of heaven. ; (天部) Cũng gọi Chư thiên bộ. Chỉ cho những hữu tình ở cõi trời. Một trong các phân loại về tranh tượng của Phật giáo. Các vị thần ngoài Phật giáo phần nhiều được thờ làm thần Hộ pháp, chẳng hạn như các vị tôn thuộc Ngoại kim cương bộ(ngoại chúng của Mạn đồ la Kim cương giới) của Mật giáo, vốn là chư Thiên ở cõi trời. Tứ thiên vương như Tì sa môn thiên (Đa văn thiên)... và những vị có hình tướng thần vương như Đế thích thiên, Thập nhị thần tướng, Kim cương lực sĩ... cũng mặc áo, đội mũ trụ theo kiểu Trung quốc. Lại có chư thiên do thần cách hóa tự nhiên mà hình thành, những vị này mình mặc áo trời, mang hình Thiên nữ, như Cát tường thiên, Biện tài thiên, Phạm thiên, Nhật thiên, Nguyệt thiên, Kĩ nghệ thiên... Lại tư thái thuộc các loại khác như Thiên long bát bộ, Ca lâu la thiên, Thâm sa đại tướng... cũng rất nhiều.

thiên bộ hội

(千部會) Cũng gọi Thiên tăng độc kinh, Thiên bộ kinh. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Pháp hội trong đó 1 bộ kinh được tụng 1000 biến để cầu vãng sinh cho vong linh tổ tiên. Nghĩa là thỉnh nhiều chúng tăng, mời mỗi vị tụng 1 biến, 10 biến, cho đến 50 biến, tụng đủ 1000 biến thì gọi là Thiên bộ hội. Cũng có trường hợp thỉnh 500 vị, 1000 vị. Phong tập này ở Nhật bản đã thịnh hành từ thời đại Bình an đến thời đại Giang hộ. Ngoài ra còn có Vạn bộ hội, Tam bách bộ hội...

thiên bộ luận sư

Ngài Long Thọ Bồ Tát viết 1000 (thiên) bộ luận. Thế Thân hay Thiên Thân Bồ Tát căn cứ vào Tiểu Thừa mà viết 500 bộ luận Tiểu Thừa, rồi sau đó lại viết thêm 500 bộ luận Đại Thừa—Master of a thousand sastras, a title for Nagarjuna (Long Thọ) and Vasubandhu (Thế Thân Bồ Tát).

thiên bộ thiện thần

Thiên bộ thiện thần gồm Phạm thiên, Trời Đế Thích, Tứ thiên vương và các vị long thần hộ pháp khác—Brahma, Indra, the four devaloka-rajas, and the other spirit guardians of Buddhism. ; (天部善神) Chỉ cho các vị thiện thần cõi trời thủ hộ Phật pháp, như Phạm thiên, Đế thích thiên, Tứ thiên vương (Trì quốc thiên vương, Tăng trưởng thiên vương, Quảng mục thiên vương, Đa văn văn thiên vương)...

Thiên Bức Luân Tướng

(p: heṭṭhā pāda-talesu cakkāni jātāni, 千輻輪相): chỉ cho tướng tốt vi diệu có đầy đủ ngàn bánh xe dưới chân, thuộc một trong 32 tướng tốt, còn gọi là Túc Hạ Thiên Bức Luân Tướng (足下千輻輪相), Thường Hiện Thiên Bức Luân Tướng (常現千輻輪相), Song Túc Hạ Hiện Thiên Bức Luân Triển Chuyển Chúng Tướng (雙足下現千輻輪輾轉眾相). Tướng này chỉ cho các hoa văn dưới lòng bàn chân Phật có hình dáng cả ngàn bánh xe rõ ràng. Tướng này do nghiệp nhân mà cảm được, do thời quá khứ đức Phật đã từng cúng dường, bố thí các thứ cho cha mẹ, sư trưởng, bạn tốt cho đến hết thảy chúng sanh. Tướng này không những chỉ thấy hiện nơi chân Phật, mà còn có cả nơi hai bàn tay Ngài. Tướng ngàn bánh xe còn thể hiện cho sự chuyển bánh xe giáo pháp của ngài; nếu hiện dưới chân là thể hiện cho việc du hóa khắp mọi nơi để chuyển pháp luân; khi thuyết pháp thì tướng này hiện ra nơi lòng bàn tay. Tướng này có thể hàng phục được oán địch, ác ma, thể hiện công đức chiếu phá vô minh và ngu si. Khi nói chân có nghĩa là cả tay chân, nên gọi là tướng tay chân có vòng tròn (s: cakrāṅkita-hasta-pāda-tala). Từ ngàn xưa đã có truyền thống lễ bái dưới lòng bàn chân Phật rồi. Trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō No. 2122) quyển 9, phần Xuất Thai Bộ (出胎部) có câu: “Thân biên tắc quang sắc nhất trượng, mi gian tắc bạch hào ngũ xích, khai Vạn tự ư hung tiền, nhiếp thiên luân ư túc hạ (身邊則光色一丈、眉间则白毫五尺。眉間則白毫五尺、开万字于胸前。開萬字於胸前、蹑千轮于足下。躡千輪於足下, bên thân sắc ánh sáng một trượng, giữa lông mi có lông mày trắng năm tấc, mở chữ Vạn nơi trước ngực, hiện ngàn bánh xe ở dưới chân).” Hay trong Đại Bát Niết Bàn Kinh Hậu Phần (大般涅槃經後分, Taishō No. 377) quyển hạ có đoạn: “Thế Tôn đại bi tức hiện nhị túc thiên bức luân tướng, xuất ư quan ngoại hồi thị Ca Diếp, tùng thiên bức luân phóng thiên quang minh, biến chiếu thập phương nhất thiết thế giới (世尊大悲卽現二足千輻輪相、出於棺外迴示迦葉、從千輻輪放千光明、遍照十方一切世界, Thế Tôn có lòng thương xót lớn, tức hiện tướng hai bàn chân có ngàn bánh xe, ra bên ngoài quan tài cho Ca Diếp biết rõ, từ ngàn bánh xe ấy phong ra ngàn ánh sáng, chiếu khắp mười phương hết thảy các thế giới).” Hoặc như trong Biệt Thích Tạp A Hàm Kinh (別譯雜阿含經, Taishō No. 100) quyển 13 cũng có đoạn rằng: “Thời hữu nhất Bà La Môn tánh viết Yên thị, tại Phật hậu lai, kiến Phật tích trung thiên bức luân tướng quái vị tằng hữu, tức tự tư duy, ngã vị kiến nhân hữu như thọ tích (時有一婆羅門姓曰煙氏、在佛後來、見佛跡中千輻輪相怪未曾有、卽自思惟、我未見人有如是跡, lúc bấy giờ có một Bà La Môn họ Yên, từ phía sau Phật đến, thấy trong dấu chân Phật có hình tướng ngàn bánh xe, lấy làm lạ chưa từng có, bèn tự suy nghĩ rằng ta chưa hề thấy người nào có dấu chân như vậy).”

thiên chân

Bhutatathata (skt). 1) Chân lý tự nhiên, không phải do con người tạo ra; chân như hay bản tánh thật thường hằng nơi vạn hữu, thanh tịnh và không thay đổi, như biển đối nghịch lại với sóng (bản chất cố hữu của nước là phẳng lặng và thanh tịnh chứ không dập dồn như sóng)—Permanent reality underlying all phenomena, pure and unchanged, such as the sea in contrast with the waves. 2) Nghĩa lý về cái “không” của Tiểu Thừa chỉ thiên lệch về một bên chứ không siêu việt như cái “không” của Đại Thừa: The Hinayana doctrine of unreality, a one-sided dogma in contrast with transcendental reality of Mahayana. ; (天真) Chân lí tự nhiên không do tạo tác. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 1 (Đại 46, 143 hạ) nói: Lí chẳng phải tạo tác cho nên gọi là Thiên chân.

thiên chân chi lí

(偏真之理) Chân lí thiên lệch. Tức chỉ cho líNhân không, Pháp không mà bậc Chứng tịch nhiên giới Bồ tát chứng được. Bồ tát này tuy đã ngộ 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới... là vô tính không, lìa bỏ 1 phần pháp chấp, nhưng lại bỏ Hữu vào Không, chỉ quán Khôngmột cách thiên lệch, vẫn chưa rõ biết duy tâm sở quán, cho nên chân lí sở nhập vẫn chưa phải là thể của Hữu, Không chẳng hai. Vì đối lại với lí Trung đạo Hữu, Không chẳng hai nên gọi lí này là Thiên chân chi lí. Đại nhật kinh sớ quyển 2 (Đại 39, 602 thượng) nói: ... Nhưng đối tượng quán xét là nhân, pháp đều không chưa cách xa các tông Thành thực... vẫn y theo lí thiên chân mà thực hành pháp quán bình đẳng này.

thiên chân phật

1) Chân Như: The Bhutatathata—The real or ultimate Buddha. 2) Tên khác của Pháp thân Phật: Another name for the Dharmakaya, the source of all life.

thiên chân viên chân

(偏真圓真) Chỉ cho líThiên chân và lí Viên chân (lí thiên lệch và lí tròn đủ). Trong 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên do tông Thiên thái phán lập thì lí Không mà Tạng giáo và Thông giáo chứng nhập, gọi là lí Thiên chân; còn lí Trung đạo mà Biệt giáo và Viên giáo chứng nhập thì gọi là lí Viên chân. Tứ giáo nghĩa quyển 3 (Đại 46, 730 thượng) ghi: Một là nói rõ 4 môn của Tạng giáo và 4 môn của Thông giáo cùng vào lí thiên chân: Nghĩa là cả 2 giáo đều nhờ 4 môn mà cùng vào Thiên chân đệ nhất nghĩa, cùng được 2 thứ Niết bàn. Lí tuy là một nhưng môn thì có khéo, vụng khác nhau, cho nên mới có 2 loại 4 môn năng thông khác nhau. (...) Hai là nói rõ 4 môn của Biệt giáo và 4 môn của Viên giáo, cùng vào lí Trung đạo thực tướng: Nghĩa là cả 2 giáo đều nhờ 4 môn mà chứng thấy thực tướng Phật tính, cùng được Niết bàn thường lạc. Lí tuy đồng nhưng môn có khác, tức giáo môn đã có thiên, viên khác nhau cho nên có 2 loại 4 môn năng thông bất đồng.

thiên chân độc lãng

Chân như là sự chiếu sáng duy nhứt. Đây là lời tuyên bố quả quyết của Đạo Thúy thời nhà Đường với nhà sư Nhật Bản Truyền Giáo. Hiểu được cơ bản của chân như sẽ làm sáng tỏ mọi thứ, kể cả Phật quả—The fundamental reality, or the bhutatathata, is the only illumination. It is a dictum of Tao-Sui of the T'ang to the famous Japanese monk Dengyo. The apprehension of this fundamental reality makes all things clear, including the universality of Buddhahood. ; (天真獨朗) Chân lí tự nhiên sáng chói một mình. Nghĩa là bậc Đại giác đã tỏ ngộ bản thể chẳng sinh chẳng diệt, không tạo tác, vượt ra ngoài vòng sinh tử sai biệt mà thấu suốt tất cả. Tông Thiên thai rất coi trọng từ ngữ này, dùng nó để biểu thị Chỉ quán viên mãn. Hòa thượng Đạo thúy đời Đường, lúc truyền trao Quán tâm khẩu quyết cho ngài Tối trừng của Nhật bản cũng dùng từ ngữ này. Thiền tông cũng thường sử dụng. Ma ha chỉ quán quyển 1 (Đại 46, 1 thượng) nói: Pháp môn rộng lớn nhiệm mầu, là thiên chân độc lãng.

Thiên chính

偏正; C: piānzhèng; J: henshō;|Thành kiến và công bằng. Sai và đúng.

thiên chúa giáo

Catholic or Christianity—Hai mươi thế kỷ trước, chúa Giê Su đã sáng lập ra Thiên Chúa giáo, và tín đồ Thiên Chúa xem chúa Giê Su như là con của Thượng đế. Đây là tôn giáo cải cách từ Do Thái giáo, theo đó họ xem Đức Chúa Trời là vị duy nhất sanh ra trời, đất, và vạn vật. Theo bộ Tân và Cựu Ước thì vũ trụ trước đây là một khoảng mênh mông mù mịt. Nhờ quyền phép của Đức Chúa Trời mà trong bảy ngày đã tạo thành mặt trời, mặt trăng, tinh tú, đất, nước, sông, cây cối, người và vật. Vào ngày thứ bảy, Ngài lấy chút đất hà hơi thành ra ông A Đam, đồng thời lấy chút đất khác cùng một miếng xương sườn rồi hà hơi vào thành ra bà Ê Và. Hai người ấy lấy nhau và sống như vợ chồng trong Vườn Địa Đàng. Sau vì phạm tội ăn trái cấm trong vườn nên cả hai bị đày xuống cõi trần làm thủy tổ loài người. Từ đó con cháu loài người đều bị bó buộc trong tội tổ tông truyền. Theo giáo lý đạo Thiên Chúa thì ai biết tôn trọng, kính thờ, và vâng lời Chúa sẽ được lên Thiên Đàng đời đời sống hạnh phúc; trái lại sẽ bị đọa xuống địa ngục—Twenty centuries ago, Jesus Christ, the founder of Christianity and regarded by Christians as the son of God, reformed an old Hebrew religion according to which God is the only creator of the universe and sentient beings. From the Old and New Testaments, it is said that the universe at the start was a dark and immense expanse. God with His supernatural powers and magic created within seven days the sun, moon, stars, earth, water, mountains, vegetation, man, and animals. On the seventh day of creation, God breathed into the dust of the earth to create Adam. He also created Eve by breathing into some dust mixed with the rib of Adam. They were told to dwell in the Garden of Eden as husband and wife. But after they had eaten the forbidden fruit of the Tree of Knowledge of Good and Evil, they were evicted from the Garden and condemned to live on earth as originators of mankind. From that time, mankind had to suffer from the original sin. According to the Catholic doctrine, whoever knows how to respect, venerate and obey God will be saved to live happily in Heaven forever; those who do not will be banished into Hell.

thiên chúng

The host of heaven, includes Brahma, Indra, and all their host.

thiên chúng ngũ tướng

Năm dấu hiệu tiến gần về sự chết của chư thiên—The five signs of approaching demise (death) among the devas—See Ngũ Suy.

Thiên chấp

偏執; C: piānzhí; J: henshu;|Khuynh hướng, sự thiên về, thành kiến. Không chịu thay đổi quan niệm của mình.

thiên chấp

Chấp về một phía—To hold firmly to a one-sided interpretation. ; (偏執) Cố chấp nghiêng về một mặt nào đó mà không thấy rõ được mặt khác. Lương cao tăng truyện quyển 3 (Đại 50, 342 thượng) nói: Các luận tuy có nhiều thuyết khác nhau, nhưng lí tu hành thì chỉ là một; vì thiên chấp nên có phải, quấy; người thông đạt thì không tranh cãi. Quảng bách luận thích luận quyển 10 (Đại 30, 249 trung) ghi: Thiên chấp không giáo phá tướng, chẳng phải là hủy báng pháp môn hiển thực do đức Như lai nói ra.

thiên chủ

Devapati (skt)—Thiên chủ của chư Thiên, danh hiệu của trời Đế Thích, thiên chủ của cõi trời dục thiên thứ sáu—The lord of devas, a title of Indra—Lord of the sixth heaven of desire. He is also opposing the Buddha-truth. ; (天主) I. Thiên Chủ. Là tên khác của trời Đại tự tại; là vị thần chính của ngoại đạo Đại tự tại thiên. II. Thiên Chủ. Cũng gọi Thiên đế. Chỉ cho trời Đế thích. Đế thích thiên đứng đầu cõi trời Đao lợi nên gọi là Thiên chủIII. Thiên Chủ. Phạm: Zaôkara-svàmin. Hán âm: Thương yết la chủ. Thương yết la là tên khác của trời Đại tự tại, vì cha mẹ ngài cầu xin trời Đại tự tại mà sinh được ngài, cho nên đặt tên là Thương yết la chủ. Sư là đệ tử của ngài Trần na, rất giỏi Nhân minh học, sư giải thích luận Nhân minh chính lí môn của ngài Trần na và soạn luận Nhân minh nhập chính lí, 1 quyển. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng]. (xt. Thương Yết La Chủ).

thiên chủ giáo pháp

Devendra-samaya (skt)—Giáo pháp của Thiên Chủ—Doctrinal method of the lord of devas—A work on royalty in the possession of a son of Rajabalendraketu.

thiên chủ tam mục

(天主三目) Ba con mắt trên mặt của trời Đại tự tại. Vị trí của ba con mắt này được sắp đặt không dọc không ngang, giống như 3 cái chấm của chữ (i) Tất đàm, 3 mắt này là 3 chấm của chữ i cùng đượcdùngđểví dụ Niết bàn có đầy đủ 3 đức là Pháp thân, Bát nhã và Giải thích. Phẩm Ai thán trong kinh Niết bàn (bản Nam) quyển 2 (Đại 12, 616 trung) ghi: Thế nào gọi là những tạng bí mật? Giống như chữ (i), nếu3chấm xếp thành hàng ngang thì không thành chữ i, mà xếp dọc cũng không thành. Như 3 con mắt trên mặt của trời Ma hê thủ la mới thành chữ i, nếu 3 cái chấm được sắp xếp khác đi thì cũng không thành. Ta cũng như thế, pháp giải thoát cũng chẳng phải niết bàn, thân Như lai cũng chẳng phải niết bàn, Ma ha bát nhã cũng chẳng phải niết bàn, 3 pháp khác nhau cũng chẳng phải niết bàn. Nay ta an trụ 3 pháp như thế, vì chúng sinh mà gọi là Nhập niết bàn, như chữ i ở thế gian.

thiên chức

Natural duty.

Thiên Cung

(s: deva-pura, 天宮): âm dịch là Nê Phược Bổ La (泥縛補羅), là cung điện của trời cư trú, hay chỉ cung điện của Trời Đế Thích (帝釋天). Từ đó, nó có nghĩa là trời, trời xanh. Như trong Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu Nghĩa Kinh (大方廣圓覺修多羅了義經, Taishō No. 842) có đoạn rằng: “Chúng sanh quốc độ, đồng nhất pháp tánh, Địa Ngục Thiên Cung, giai vi Tịnh Độ, hữu tánh vô tánh, tề thành Phật đạo (眾生國土、同一法性、地獄天宮、皆爲淨土、有性無性、齊成佛道, chúng sanh quốc độ, cùng một pháp tánh, Địa Ngục Thiên Cung, đều là Tịnh Độ, có tánh không tánh, đều thành Phật đạo).” Hay trong Phật Thuyết Thiện Sanh Tử Kinh (佛說善生子經, Taishō No. 17) cũng có câu: “Dữ thân chúng tòa an, như Thích xử Thiên Cung (與親眾座安、如釋處天宮, cùng chúng thân ngồi yên, như trời ngự Thiên Cung).”

thiên cung

1) Cung của cõi trời: The deva bow—The rainbow. 2) Devapura—Devaloka—The palace of devas—The abode of the gods—Heavenly palace. 3) Cung trời thứ sáu nằm trên núi Tu Di, giữa thế giới và Phạm Thiên giới—The six celestial world situated above the Meru, between the earth and the Brahmalokas. 4) The deva-bow—The rainbow. ** For more information, please see Thiên—Tam Chủng Thiên—Tứ Chủng Thiên—Ngũ Chủng Thiên. ; (天宮) Phạm: Deva-pura. Hán âm: Ne phạ bổ la. Cung điện của chư Thiên, hoặc chỉ riêng cho cung điện của trời Đế thích. ; (天弓) Cũng gọi Đế cung, Thiên đế cung. Cầu vồng. Vãng sinh yếu tập quyển trung (Đại 84, 53 hạ) nói: Đôi lông mày sáng óng thanh tịnh, giống như Thiên đế cung.

thiên cung bảo tạng

Thư viện chứa kinh tạng—Tàng kinh các—Tàng kinh các nơi cung trời Đâu Suất trong cung của Đức Di Lặc—A library of the sutras—The treasury of all the sutras in the Tusita Heaven in Maitreya's palace. ; (天宮寶藏) Tên gọi khác của Kinh tạng. Theo truyền thuyết, sau khi đức Phật nhập diệt, Pháp tạng được cất giữ ở 2 nơi là Thiên cung và Long cung. Theo Thích môn chính thống quyển 3 thì Long cung hải tạng(tạng kinh được cất giữ ở cung điện của vua rồng dưới đáy biển) là nói theo việc ngài Long thụ xuống biển; còn Thiên cung bảo tạng(tạng kinh được cất giữ ở cung điện của trời) là nói theo nơi ở của Bồ tát Di lặc.

thiên cung sự

(天宮事) Pàli:Vimàna-vatthu. Gọi tắt: Tì ma na (Pàli:Vimàna). Một phần trong Tiểu bộ kinh (Khuddaka-nikàya) tiếngPàli, nội dung thu tập các bài tụng ngắn nói về quả báo thù thắng của chư Thiên và nhân hạnh vãng sinh cõi trời. Toàn bộ chia làm 7 phẩm, 85 thiên cung.Ởđầu mỗi phần nói về Thiên cung đều có lời tán thán sự thù thắng về chính báo, y báo của Thiên tử hoặc Thiên nữ ở Thiên cung ấy của ngài Mục kiền liên (Pàli:Moggallàna)... đồng thời hỏi về nhân hạnh để đạt được quả báo ấy. Sau đó là lời trình bày của Thiên tử hoặc Thiên nữ về nhân sinh lên cõi trời mà mình đã gieo trong quá khứ khi còn sống ởnhângian. Các Thiên cung được nói trong kinh phần nhiều là Tam thập tam thiên, ít nói đến Hóa lạc thiên, Phạm thiên giới và Tứ thiên vương. Cuối mỗi phẩm đều có phụ thêm phần kệ tụng tóm tắt. Cứ theo Đại vương thống sử (Pàli:Mahàvaôsa, XIV) và Thiện kiến luậttì bà sa quyển 2 thì ngài Ma hi đà con vua A dục, lúc mở giáo tại Tích lan, trước tiên giảng nói về kinh Ngã quỉ bản sinh và Thiên cung sự cho Hoàng hậu A nâu la và 500 phu nhân trong cung nghe; căn cứ vào đó mà biết được niên đại thành lập kinh này là muộn nhất. Nguyên văn kinh này được P.T.S. (Pàli Text Society), xuất bản năm 1886, bản Anh dịch do SBBIZ, Minor Anthologies IV, Jean Kenenedy, 1942 và bản dịch tiếng Nhật (Nam truyền Đại tạng kinh quyển 24).

Thiên Cung Tự

(天宮寺): ngôi bảo sát được kiến lập dưới thời nhà Đường, hiện tọa lạc tại Phủ Lạc Dương (洛陽府), Hà Nam (河南). Nguyên lai chùa là tư gia của vua Thái Tông (太宗, tại vị 626~649); đến năm 632 (Trinh Quán [貞觀] 6), nhà vua hạ chiếu cải gia vi tự. Vào năm 638 (Trinh Quán 12), Pháp Hộ (法護, ?-?) được sắc chỉ trú trì chùa này. Từ đó trở đi, chư vị cao đức, tiếng tăm đến đây cư trú mỗi ngày một nhiều; chùa trở thành ngôi danh sát ở Đông Đô. Vua Cao Tông (高宗, tại vị 649-683) nhà Đường đã từng thân chinh đến đây thiết trai cúng dường. Vào năm 692 (Trường Thọ [長壽] 2) đời Võ Hậu, Tam Tạng Pháp Sư của nước Ca Thấp Di La (s: Kaśmīra, p: Kasmīra, 迦濕彌羅) là A Nhĩ Chơn Na (阿儞眞那, Bảo Tư Duy [寶思惟]) đến Lạc Dương, phụng sắc chỉ trú tại chùa này, dịch một số kinh điển như Cầu Tức Đắc Tự Tại Đà La Ni Kinh (求得自在陀羅尼經), Bất Không Quyên Sách Đà La Ni Tự Tại Vương Chú Kinh (不空羂索陀羅尼自在王咒經), v.v. Lúc bấy giờ, Huệ Tú (慧秀) cũng trú tại đây, chuyên trì giới kiên cố, thông đạt Thiền định. Mỗi khi Võ Hậu đến Đông Đô, đều mời ông đến để tham vấn pháp yếu. Đặc biệt, Thần Tú (神秀, 605-706) đã từng truyền bá Bắc Tông Thiền tại ngôi già lam này. Sau này có Quảng Tế (廣濟) đến trú, cùng với Bát Nhã Tam Tạng (s: Prajñā, 般若三藏, 734-?) tham gia công tác phiên dịch bộ Tứ Thập Hoa Nghiêm. Dưới thời Ngũ Đại, có Tùng Ẩn (從隱) trú trì tại đây, rất nổi tiếng với Tánh Tướng Học. Về sau, chùa hưng thịnh thế nào không rõ và cuối cùng phải chịu số phận phế tuyệt.

thiên cung tự

(天宮寺) Chùa ở phủ Hà nam (Lạc dương), tỉnh Hà nam, Trung quốc, vốn là nhà cũ của vua ĐườngThái tông, năm Trinh quán thứ 6 (632), vua ban chiếu chỉ đổi làm chùa, năm Trinh quán 12 (638) tôn ngài Pháp hộ làm Tự chủ. Các vị Đại đức đến chùa này rất đông, là ngôi chùa nổi tiếng tại Đông đô. Vua Đường cao tông từng thiết trai cúng dường ở đây. Năm Trường thọ thứ 2 (692), Tam tạng nước Ca thấp di la là ngài A nễ chân na (Bảo tư duy) đến Lạc dương, vâng sắc trụ chùa này dịch nhiều bộ kinh như: Kinh Tùy cầu tức đắc tự tại đà la ni, kinh Bất không quyên sách đà la ni tự tại vương chú... Bấy giờ ngài Tuệ tú cũng trụ ở chùa này, ngài kiên trì giới luật, thông suốt thiền định, mỗi lần Vũ hậu đến Đông đô đều triệu ngài vào cung để hỏi pháp yếu. Sau lại có ngài Thần tú xiển dương thiền Bắc tông ở chùa này. Rồi vào năm Trinh nguyên 14 (798), ngài Quảng tế đến đây tham dự dịch trường của Tam tạng bát nhã, đảm nhiệm phần dịch ngữ kinh Hoa nghiêm (bản 40 quyển). Khoảng thời Ngũ đại, ngài Tòng ẩn trụ ở đây, nhờ Tính tướng học mà nổi tiếng. Về sau,chùatrải qua nhiều thay đổi và cuối cùng bị hoang phế.

thiên cái

A Buddha's canopy, or umbrella—A nimbus of rays of light—A halo. ; (天蓋) Cũng gọi Hoa cái, Huyền cái. Lọng trời. Tức cái lọng ở Ấn độ dùng để che nắng. Về sau trở thành pháp cụ để trang nghiêm tượng Phật. Trên lọng có trang sức bảo châu, lưới báu, chuỗi anh lạc, phan, phướn... Về hình dáng thì có vuông, lục giác, bát giác, tròn... Lúc chư tăng hành đạo(đi nhiễu) cũng sử dụng Thiên cái có cán dài để che, chẳng hạn như ngài Huyền trang khi đi Ấn độ cầu pháp cũng từng dùng. Ngoài ra, trong Mật giáo khi cử hành Quán đính, như Tam muội da giới đàn, Kim cương giới đại đàn, Thai tạng giới đại đàn... đều có dùng Thiên cái. Thiên cái được sử dụng ở Kim cương giới đại đàn, gọi là Kim thiên cái; được dùng ở Thai tạng giới đại đàn, gọi là Thai thiên cái. Còn Thiên cái dùng để che trên đầu vị A xà lê lúc hành pháp và che trên mâm lễ trong Phật đường, đều gọi là Nhân thiên cái; Thiên cái chuyên được dùng để che tượng Phật thì gọi là Phật thiên cái.

thiên cát tường

(天吉祥) Danh tăng Ấn độ ở chùa Na lan đà, người nước Ma yết đà, Trung Ấn độ. Vào khoảng năm Hoàng hựu thứ 3 (1051) đời vua Nhân tông nhà Tống, sư đến chùa Thái bình hưng quốc tham dự dịch trường của Tam tạng Nhật xứng. Năm Hoàng hựu thứ 4 (1052) tại Tô châu, sư bổ xung những chỗ thiếu sót trong Lăng nghiêm kinh Bạch tản cái chân ngôn của ngài Miêu chấn. Tháng 4 năm sau, sư hợp chung bản Phạm và Hán rồi cho khắc in ở Hàng châu. Năm Thiệu thánh thứ 2 (1095) sư vẫn trụ ở viện Truyền pháp của chùa Thái bình hưng quốc chuyên việc dịch kinh. Sư được vua ban hiệu là Quảng Phạm Đại Sư.[X. San bổ tham thiên thai ngũ đài sơn kí Q.4].

thiên công

Eternalists believe that there exists a so-called Creator who created all creatures.

thiên căn

Tượng Dương Vật của Thần Siva, mà Huyền Trang đã tìm thấy trong các đình miếu ở Ấn Độ; ông nói rằng những người Ấn Giáo đã “sùng bái tượng nầy không biết ngượng”—The phallic emblem of Siva, which Hsuan-Tsang found in the emples of India; he says the Hindus “worship it without being ashamed.” ; (天根) Nam căn lớn của trời Đại tự tại, cũng là biểu trưng của vị trời này. Là thần thể của phái Thấp bà (Phạm:Ziva) thuộc Ấn độ giáo, vì 6 đường đều do thiên cănnàysinh ra nên phải tôn kính. [X.truyện ngài Huyền trang trong Tục cao tăng truyện].

thiên cơ

Natural capacity—The nature bestowed by Heaven. ; (天機) Cơ trời. Tức là sự cơ cảm mầu nhiệm, hoặc là sự cơ mật của trời. Cũng chỉ cho Thiên tính hoặc Thiên ý.

thiên cư

1) The abode of the gods. 2) To change one's residence.

thiên cẩu

Ulka (skt)—The heavenly dog—A meteor—A star in Argo. ; (天狗) Người Trung quốc gọi loại sao chổi, sao băng là Thiên cẩu(chó trời). Cứ theo kinh Sơn hải quyển 2 thì Thiên cẩu là tên một loài thú quáidị, hình dáng giống như con chồn, mà đầu trắng, tiếng sủa gâu! gâu!có thể ngăn được tai họa xấu ác. Ấn độ thì gọi sao chổi là Ưu lưu ca (Phạm:Ulka), vì thế phần chú thích trong phẩm Súc sinh kinh Chính pháp niệm xứ quyển 19, phối hợp chữ Phạm Ulka với Thiên cẩu. Còn ở Nhật bản thì từ đời Trung cổ trở về sau, dân gian coi Thiên cẩu là 1 loại Thiên ma, cho rằng Thiên cẩu trụ ở trong núi sâu, là hình người, mũi cao, có cánh, bay đi tự tại, mặc tăng phục hoặc phục trang của người Tu nghiệm. Lại có thuyết cho rằng Thiên cẩu là người xuất gia chấp ngã, kiêu mạn, bị rơi vào ma đạo. [X. Đạinhậtkinh sớ Q.5; Sử kí thiên quan thư Q.5; Cổ sự đàm Q.3; Tịch chiếu đường cốc hưởng tập Q.2].

thiên cổ

1) Cổ xưa lâu đời: Antiquity. 2) Trống trời: Theo Phẩm 15 Kinh Hoa Nghiêm, ở Thiện Pháp Đường nơi cõi Trời Đao Lợi có một cái trống chẳng đánh mà tự nhiên phát diệu âm, cảnh báo chúng thiên trên cõi Trời nầy rằng đời vô thường và luôn bị nghiệp báo chi phối. Chư Thiên trên tầng trời nầy nghe tiếng trống bèn kéo nhau nghe Trời Đế Thích nói pháp vi diệu khiến họ đều phát tâm làm lành lánh dữ. Do vậy chư Phật còn có danh hiệu là Thiên Cổ hay Trống Trời. Lúc trống trời vang lên thì chúng ma đều sợ hãi bỏ chạy—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 15, in the Good Law Hall of Trayas-trimsas heavens, there is a deva-drum which sounds of itseft, warning the inhabitants of the thirty-three heavens that even their life is impermanent and subject to karma; at the sound of the drum Indra preaches against excess. Hence it is a title of Buddhas as the geat law-drum, who warns, exhorts, and encourages the good and freightens the evil and demons. . ; (天鼓) Trống trời.Tức chỉ cho quả trống lớn đặt ở Thiện pháp đường trên cõi trời Đao lợi. Trống này do nghiệp báo của chư thiên mà có, không cần đánh mà tự phát ra âm thanh vi diệu, cảnh tỉnh các thiên chúng biếng nhác, buông thả, các vị trời nghe đềusinh tâm thích thiện, ghét ác. Vì âm thanh của Thiên cổ không có chủ, không tạo tác, không khởi, không diệt, làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh, cho nên được dùng để ví dụ việc thuyết pháp của đức Phật. Cứ theo Pháp hoa nghĩa sớ quyển 1 thì lúc có giặc đến, giặc đi, Thiên cổ đều vang lên, làm cho tâm chư thiên mạnh mẽ, A tu la thì sợ hãi;chúngsinh phiền não đến hay đi, Phật đều thuyết pháp, khiến tâm đệ tử mạnh mẽ, các ma sợ hãi. Thiên cổ vô tâm mà có thể làmđược4 việc, Như laituynói nhưng cũng vô tâm, cho nênThiên cổ được dùng để ví dụ âm thanh thuyết pháp của đức Phật.

thiên cổ lôi âm phật

Cổ Âm Như Lai—Divyadundubhimeghanirghosa (skt)—Một trong năm vị Phật trong Thai Tạng Giới Mạn Đà La, ở phía bắc của nhóm trung tâm. Người ta nói đây là pháp thân hay “Đẳng Lưu” thân của Phật Thích Ca. Vị Phật nầy cũng được biết đến như là Bất Động Tôn tương ứng với A Súc Bệ Phật—One of the five Buddhas in the Garbhadhatu mandala, on the north of the central group; said to be one of the dharmakaya of Sakyamuni or his universal emanation body; it is known as Immutably-Honoured One corresponding with Aksobhya. ; (天鼓雷音佛) Thiên cổ lôi âm, Phạm: Divyadundubhi meghanirghowa. Cũng gọi Cổ âm Như lai, Cổ âm Phật, Cổ âm vương. Chỉ cho đức Như lai ở phương bắc (1 trong 4 đức Phật ở 4 phương) ngồi trong viện Trung đài Bát diệp thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Theo phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật và Đại nhật kinh sớ quyển 4 thì đức Phật này an trụ trong tướng tịch định, chủ về đức Đại niết bàn, cho nên căn cứ theo nghĩa mà gọi là Bất động. Nhưng Đại niết bàn này khác với niết bàn vĩnh tịch, không có diệu dụng của Nhị thừa, giống như Thiên cổ không có hình tướng mà thường diễn nói pháp âm của Như lai, thành tựu mọi sự nghiệp, cho nên gọi là Cổ âm Như lai. Về hình tượng thì toàn thân Ngài màu vàng ròng, tay trái nắm lại để ở dưới rốn, các đầu ngón tay phải chấm đất, kết ấn Xúc địa(chạm đất), ngồi kết già trên hoa sen báu, mật hiệu là Bất động kim cương, chủng tử là (a#) hoặc (haô), hình Tam muội da là Vạn đức trang nghiêm ấn hoặc Bảo loa(vỏ ốc báu). Có thuyết cho rằng đức Phật này và đức A súc Như lai ở phương đông thuộc Kim cương giới cùng là 1 vị tôn.[X. phẩm Bí mật bát ấn trong kinh Đại nhật Q.5; phẩm Nhập bí mật mạn đồ la vị trong kinh Đại nhật Q.5; Nhiếp đại nghi quĩ Q.2; Quảng đại nghi quĩ Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.17, 20; Bí tạng kí].

thiên cổ âm

Vân Tự Tại Đăng Vương—Dundubhisvara-raja (skt)—Lord of the sound of celestial drums, such as thunder. Name of each of 2,000 kotis of Buddhas who attained Buddhahood.

Thiên Diệp

(千葉, Chiba): tên gọi của một dòng họ, chi lưu của Lương Văn (良文, Yoshifumi) thuộc họ Hoàn Võ Bình (桓武平). Vào thời Trung Đại, dòng họ này vốn là hào tộc, đến sinh sống ở Quận Thiên Diệp (千葉郡, Chiba-gun), Hạ Tổng (下總, Shimōsa), rồi lấy tên vùng này làm họ của mình. Sau đó, dòng họ này đi theo dòng họ Bắc Điều (北條, Hōjō), và cuối cùng bị dòng họ Phong Thần (豐臣, Toyotomi) tuyệt diệt.

thiên diệp liên hoa

(千葉蓮華) I. Thiên Diệp Liên Hoa. Hoa sen nghìn cánh dùng để cúng dường Phật. Phẩm tựa trong Đại bát nhã quyển 1 (Đại 8, 218 trung) nói: Bấy giờ, đức Phật Bảo tích đưa đóa hoa sen nghìn cánh cho bồ tát Phổ minh và dạy rằng: Thiện nam tử !Ông hãy đem hoa này rải trên đức Phật Thích ca mâu ni. Theo luận Đại trí độ quyển 10 thì có 3 loại hoa sen: 1. Nhân hoa: Có hơn 10 cánh. 2. Thiên hoa: Có 100 cánh. 3. Bồ tát hoa: Có 1000 cánh. Thế giớiĐa bảo nơi Phật Bảo tích an trụ cũng có hoasennghìn cánh màu vàng ròngsángóng ánh. II. Thiên Diệp Liên Hoa. Đài hoa nghìn cánh dùng làm tòa ngồi của đức Phật. Kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 2 (Đại 3, 298) hạ) ghi: Thân Phật thứ nhất ngồi trên hoa sen trăm cánh giảng nói pháp minh môn cho Bồ tát Sơ địa nghe. (...) Thân Phật thứ hai ngồi trên hoa sen nghìn cánh giảng nói Thiên bách minh môn cho Bồ tát Nhị địa nghe. (...) Thân Phật thứ ba ngồi trên hoa sen vạn cánh giảng nói vạnpháp minh môn cho Bồ tát Tam địa nghe. Ngoài ra, cứ theo kinh Phạm võng thì đài sen trên đó đứcPhậtLô xá na ngồi chung quanh có 1000 cánh, thị hiện nghìn Phật Thích ca, mỗi một cánh hoa đều có trămức cõi nước, mỗi cõi nước thị hiện một Phật Thích ca đều ngồi dưới gốc cây Bồ đề, thành đạo cùng lúc. Tông Thiên thai cho rằng nghìn cánh hoa sen nói trong kinh Phạm võng là đài hoa sen mà đức Phật của Biệtgiáo trong 4 giáo ngồi, Pháp hoa huyền nghĩa (hội bản) quyển 7, phần đầu, gọi đó là Thất bảo hoa ở đạo tràng Tịch diệt; còn Thiên thai tứ giáo nghi của ngàiĐế quán thì gọi đó là Liên hoa tạng thế giới thất bảo Bồ đề thụ hạđại bảo hoa vương tọa (Tòa hoa báu lớn dưới gốc cây Bồ đề bảy báu ở thế giới Liên hoa tạng).

Thiên Diệp Thị Dận

(千葉氏胤, Chiba Ujitane, 1337-1365): vị Võ Tướng dưới thời đại Nam Bắc Triều; Đương Chủ đời thứ 13 của dòng họ Thiên Diệp; con trai thứ của Thiên Diệp Trinh Dận (千葉貞胤, Chiba Sadatane); thân mẫu là cháu của Tằng Cốc Giáo Tín (曾谷敎信, Soya Kyōshin). Ông kế thừa làm chức Thủ Hộ 3 tiểu quốc: Thượng Tổng (上總, Kazusa), Hạ Tổng (下總, Shimōsa) và Y Hạ (伊賀, Iga). Ông đã từng lập khá nhiều chiến công trong trận mạc. Vào năm 1365, ông nhuốm bệnh ở kinh đô Kyoto, và trên đường về cố hương, ông qua đời tại Mỹ Nùng (美濃, Mino), hưởng dương 29 tuổi. Con trai ông, Thánh Thông (聖聰, Shōsō), là vị Tăng của Tịnh Độ Tông và cũng là người có công trong việc sáng kiến Tăng Thượng Tự (增上寺, Zōjō-ji).

thiên dân

Chư Thiên cư ngụ trên các cõi trời—Heavenly beings or beings who live in the various Heavens—See Thiên.

Thiên gia

(天家): có hai nghĩa chính. (1) Từ xưng hô đối với thiên tử. Như trong tác phẩm Độc Đoán (獨斷) của Thái Ung (蔡邕, 133-192) nhà Hán có giải thích rằng: “Thiên gia, bách quan tiểu lại chi sở xưng, thiên tử vô ngoại, dĩ thiên hạ vi gia, cố xưng thiên gia (天家、百官小吏之所稱、天子無外、以天下爲家、故稱天家, thiên gia là từ xưng hô của trăm quan lại, thiên tử không ngoại lệ, lấy thiên hạ làm nhà, nên gọi là thiên gia [nhà trời]).” Hay trong bài thơ Tri Phủ Tôn Học Sĩ Kiến Thị Ngũ Thủ Nhân Dĩ Xuyết Thiên (知府孫學士見示五首因以綴篇) của Phạm Trọng Yêm (范仲淹, 989-1052) nhà Tống có câu: “Hồng hà lục trúc vong cơ địa, vị miễn thiên gia hạ chiếu cầu (紅霞綠竹忘機地、未免天家下詔求, ráng hồng trúc biếc quên vạn sự, chẳng khỏi vương gia hạ chiếu tìm).” (2) Chỉ nhà đế vương. Như trong Tấn Thư (晉書), Truyện Hồ Phấn (胡奮傳), có câu: “Lịch quán tiền đại, dữ thiên gia hôn (歷觀前代、與天家婚, xét khắp các đời trước, đều cùng với nhà đế vương kết hôn).”

thiên giáo

1) Quyền giáo: Partial or relative teaching. 2) Tông Thiên Thai cho rằng giáo thuyết Thiên Thai là “Viên Giáo,” bao gồm hết tất cả những lời Phật dạy, trong khi Pháp Tướng và Tam Luận chỉ là Quyền giáo. Tông nầy cũng xem ba giáo Tạng, Thông, Biệt là quyền giáo—Partial or relative teaching; T'ien-T'ai regarded its own teaching as the complete, or final and all-embracing teaching of the Buddha, while that of Madhyamika school of Nagarjuna and Dharmalaksana schools were partial and imperfect; in like manner, the three schools of Pitaka, Intermediate, and Separate were also partial and imperfect. ** For more information, please see Quyền Giáo in Vietnamese-English Section. ; (偏教) Đối lại: Viên giáo. Giáo pháp thiên về 1 bên, thông thường phần nhiều chỉ cho Tiểu thừa giáo, hoặc chỉ cho Quyền giáo trong Đại thừa. Chẳng hạn như tông Thiên thai chủ trương kinh Pháp hoa là giáo pháp chân thực bất diệt, còn tất cả các kinh khác đều là giáo pháp phương tiện quyền biến bày đặt tạm thời.

thiên giới

See Thiên Đạo.

thiên giới lực sĩ

See Thiên Đạo.

Thiên Giới Tự

(天界寺, Tenkai-ji): hiện tọa lạc tại phía Nam Kim Lăng (金陵, Nam Kinh), Phủ Giang Ninh (江寧府, Tỉnh Giang Tô), trên núi Phụng Sơn (鳳山), tên cũ là Long Tường Tập Khánh Tự (龍翔集慶寺), còn gọi là Đại Long Tường (大龍翔), một trong những danh lam của Trung Quốc. Vào năm đầu (1328) niên hiệu Thiên Lịch (天曆), vua Văn Tông nhà Nguyên bỏ ly cung của mình ở phía bắc Cầu Đại Thị (大市橋) trong Thành Kim Lăng (金陵城) và biến nơi đây thành chùa; năm sau nhà vua cung thỉnh Tiếu Ẩn Đại Hân (笑隱大訢) ở Trung Thiên Trúc Tự (中天竺寺), Hàng Châu (杭州) đến làm tổ khai sơn chùa này. Đến năm thứ 9 (1349) niên hiệu Chí Chánh (至正), Phù Trung Hoài Tín (孚中懷信) đến trú tại đây và làm cho chùa hưng thịnh. Vào năm thứ 17 (1357) cùng niên hiệu trên, Giác Nguyên Huệ Đàm (覺源慧曇) đến trú trì và theo sắc chỉ chùa được đổi tên thành Đại Thiên Giới Tự (大天界寺). Đến tháng 3 năm đầu (1368) niên hiệu Hồng Võ (洪武) đời vua Thái Tổ nhà Minh, nhà vua cho kiến lập Thiện Thế Viện (善世院) trong khuôn viên chùa, cử Huệ Đàm trú trì nơi đây và quản lý toàn thể Phật Giáo. Cũng vào lúc này, chùa được đổi tên thành Thiên Giới Thiện Thế Thiền Tự (天界善世禪寺) và xếp lên trên cả hệ thống Ngũ Sơn. Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji) của Nhật Bản do Quy Sơn Pháp Hoàng (龜山法皇) kiến lập được liệt trên Ngũ Sơn cũng bắt chước theo trường hợp này. Vào năm thứ 21 (1388) cùng niên hiệu trên, chùa bị lửa thiêu cháy tan tành nên được dời về vị trí hiện tại; đến năm thứ 23 (1390), chùa được trùng tu lại và có tên là Thiên Giới Thiện Thế Thiền Viện (天界善世禪院). Sau đó, vào năm thứ 30 (1397) niên hiệu Hồng Võ, Thứu Phong Đạo Thành (鷲峰道成) đến trú trì chùa; ngoài ra, trong khoảng thời gian niên hiệu Sùng Trinh (崇禎, 1628-1644), Vô Dị Nguyên Lai (無異元來) cũng như Giác Lãng Đạo Thạnh (覺浪道盛) thay nhau làm trú trì và nỗ lực cử xướng tông phong của họ. Vào năm thứ 17 (1660) niên hiệu Thuận Trị (順治), chùa nhất thời bị hoang phế, nhưng sau đó thì được trùng tu lại.

thiên hoa

Thiên hoa được kể trong Kinh Pháp Hoa có bốn loại—Deva or divine flowers, stated in the Lotus Sutra as of four kinds: 1) Mạn Đà La (màu trắng): Mandaras (white in color). 2) Ma Ha Mạn Đà La (màu trắng): Mahamandaras (white in color). 3) Mạn Thù Sa (màu đỏ): Manjusakas (red in color). 4) Ma Ha Mạn Thù Sa (màu đỏ): Mahamanjusakas (red in color). ; (天華) Phạm: Divya-puwpa. Pàli: Deva-puppha. Hoa vi diệu trên cõi trời, hoặc chỉ cho những cánh hoa sen làm bằng giấy rải ở trước Phật trong pháp hội. Cứ theo phẩm Tựa trong kinh Pháp hoa quyển 1 thì lúc đức Phật giảng nói kinh Pháp hoa xong rồi, Ngài vào tam muội Vô lượng nghĩa xứ, thân tâm bất động. Bấy giờ, từ trên trời mưa xuống 4 thứ hoa là hoa Mạn đà la, hoa Đại mạn đà la, hoa Mạn thù sa, hoa Đại mạn thù sa, rải ở trước Phật và trên thân đại chúng. Phẩm Tựa kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 1 thì nêu 12 thứ thiên hoa, ngoài 4 thứ nói trên còn thêm8 thứ nữa là: HoaƯu bát la (Phạm:Utpala), hoa Ba đầu ma (Phạm, Pàli: Padma), hoa Phân đà lợi (Phạm,Pàli:Puịđarìka), hoa Câu vật đầu (Phạm,Pàli:Kumuda), hoa Chiêm bặc ca (Phạm: Campaka), hoa A đề mục đa (Phạm:Atimuktaka), hoa Ba lợi thi ca (Phạm:Vàrwika) và hoa Tô ma na (Phạm: Sumanas). Ngoài ra, người Ấn độ đời xưa quen gọi các vật đẹp là Thiên vật, các loại hoa đẹp trong cõi người như thiên vật cũng gọi là Thiên hoa.

thiên hoa phái

(千華派) Một phái thuộc Nam sơn Luật tông của Trung quốc, lấy chùa Long xương, núi Bảo hoa, huyện Cú dung, tỉnh Giang tô làm trung tâm. Ngài Đạo tuyên đời Đường là Cao tổ của phái này, ngài Như hinh đời Minh là Thái tổ, ngài Tịch quang là tổ Trung hưng thứ nhất ở núi Bảo hoa. Danh từ Thiên hoa lấy từ tên của Liên xã do ngài Tịch quang sáng lập ở chùa Long xương. Sự truyền thừa của phái này như sau: Từ ngài Đạo tuyên đời thứ nhất truyền đến đời thứ 13 là ngài Tuệ vân Như hinh, ngài Như hinh lại truyền cho ngài Tam muội Tịch quang, là đời thứ nhất của Bảo hoa sơn. Thái tổ của phái này là ngài Như hinh, khi lên núi Ngũ đài lễ bái, quán thấy bồ tát Phổ hiền mà đốn ngộ ý chỉ của Luật, từ đó cho đến trọn đời tận lực hoằng dương giới luật, người đời gọi ngài là Trung Hưng Luật Tổ, có soạn Kinh Luật giới tướng Bồ tát quĩ nghi 1 quyển. Đệ tử ngài rất đông, trong đó, 2 vị Tính lí và Tính phúc kế thừa pháp thống chùa Cổ lâm(là nơi hoằng giới của ngài Như hinh) ở Nam kinh, gọi là Cổ lâm phái. Còn ngài Tam muội Tịch quang truyền thừa pháp của ngài Như hinh, có soạn Phạm võng kinh trực giải 4 quyển, giáo hóa rất rộng, trùng hưng chùa Long xương ở núi Bảo hoa thành đạo tràng của Luật tông và đặt Liên xã được sáng lập ở đây là Thiên hoa, đó chính là nguồn gốc của Thiên hoa phái. Ngài Tịch quang là đời thứ nhất của núi Bảo hoa, ngài Độc thể là người thứ 2, rồi theo thứ tự truyền đến các ngài Đức cơ, Chân nghĩa, Thường tùng, Thực vĩnh, Phúc tụ... lần lượt truyền thừa cho đến đời gần đây, giới luật được truyền nối khắp trong thiên hạ, khiến cho Bảo hoa sơn chẳng những là nơi qui tụ của những người cầu giới từ 4 phương mà còn là khuôn phép cho sự truyền giới ở các nơi. Phái này lấy 2 môn Chỉ trì và Tác trì làm tông. Chỉ trì nghĩa là không làm các điều ác; Tác trì nghĩa là làm tất cả việc thiện. Tông chỉ của phái này tương đồng với Tướng bộ tông, nhưng trong Nhị trì thì phái này nhấn mạnh việc tuyên dương nghĩa Tác trì. Ngoài ra, Tứ phần luật phần thông Đại thừa mà phái này chủ trương cũng gần giống với tông Nam sơn, tức cho rằng Tứ phần luật và Đại thừa là đồng chế, trên hình thức tuy thuộc Tiểu thừa, nhưng nội dung thì thuộc Đại thừa. Phái này rất coi trọng kinh Phạm võng. Học trò của ngài Độc thể là Thư ngọc có soạn Phạm võng Bồ tát giới sơ tân 8 quyển là thí dụ chứng minh. Lại tượng Bản tôn thờ trong điện Tì lô chùa Long xương ở Bảo hoa sơn cũng căn cứ vào tướng được nói trong kinh Phạm võng; viên quang phía sau tượng Bản tôn có nhiều tượng Phật Thích ca nhỏ.

thiên hoa trước xá lợi phất y

(天華著舍利弗衣) Hoa trời dính vào áo của ngài Xá lợi phất.Theo phẩm Quán chúng sinh trong kinh Duy ma, Trưởng giả Duy ma cật ở thành Tì xá li, Trung Ấn độ, nói pháp cho các Bồ tát, các vị đại đệ tử như Xá lợi phất... và chư thiên nghe, bấy giờ có vị thiên nữ rải hoa trời trên thân của hội chúng, vì Bồ tát đã dứt tất cả tưởng phân biệt nên thiên hoa không dính thân, riêng các vị đại đệ tử thì vì chưa dứt tưởng phân biệt, vẫn còn sợ sinh tử, 5 dục sắc, thanh, hương, vị, xúc được cơ hội quấy nhiễu, cho nên thiên hoa mới dính vào áo, dùng thần lực cũng không thể phủi đi được.

thiên hoàng

Deva-king.

thiên hoàng tự

Chùa Thiên Hoàng nơi trụ trì của Sư Đạo Ngộ dưới thời nhà Đường—T'ien-Huang monastery where Tao-Wu master resided during the T'ang dynasty.

Thiên Hoàng Ðạo Ngộ

天皇道悟; C: tiānhuáng dàowù; J: tennō dōgo; 738/748-807; |Thiền sư Trung Quốc thuộc dòng Thanh Nguyên Hành Tư, đắc pháp nơi Thiền sư Thạch Ðầu Hi Thiên. Nối pháp của Sư là Long Ðàm Sùng Tín.|Sư họ Trương, quê ở Ðông Dương Vụ Châu, xuất gia với Ðại đức Minh Châu. Sư còn nhỏ mà đã nổi danh dũng mãnh phi phàm, mưa gió mà vẫn dám thiền nơi gò mã. Lúc đầu, Sư có tham vấn Quốc sư Nam Dương Huệ Trung và Mã Tổ, nhân đây có chút sở đắc.|Sau Sư đến yết kiến Thạch Ðầu, hỏi: »Lìa định, huệ, Hoà thượng lấy gì dạy người?« Thạch Ðầu đáp: »Ta trong ấy không tôi tớ, lìa cái gì?« Sư hỏi: »Làm sao rõ được?« Thạch Ðầu hỏi lại: »Ông bắt được hư không chăng?« Sư đáp: »Thế ấy ắt chẳng từ ngày nay đi.« Thạch Ðầu bảo: »Chưa biết ông bao giờ từ bên kia đến?« Sư thưa: »Ðạo Ngộ chẳng phải từ bên kia đến.« Thạch Ðầu: »Ta đã biết chỗ ông đến.« Sư hỏi: »Sao thầy lại lấy tang vật vu khống người?« Thạch Ðầu đáp: »Thân ông hiện tại.« Sư hỏi lại: »Tuy nhiên như thế, rốt ráo vì người sau thế nào?« Thạch Ðầu hỏi vặn lại: »Ông hãy nói, ai là người sau?« Sư nhân câu hỏi này triệt ngộ, mọi thắc mắc nghi ngờ đều tan biến.|Có vị tăng hỏi: »Thế nào là nói huyền diệu?« Sư bảo: »Chớ bảo ta hiểu nhiều Phật pháp.« Tăng thưa: »Nỡ để học nhân nghi mãi sao?« Sư hỏi lại: »Sao chẳng hỏi Lão tăng?« Tăng đáp: »Tức nay hỏi rồi.« Sư quát: »Ði! Chẳng phải chỗ ông nương tựa.«

Thiên Hoàng Đạo Ngộ

(天皇道悟, Tennō Dōgo, 748-807): vị Thiền tăng xuất thân Huyện Kim Hoa (金華), Tỉnh Triết Giang (浙江, thuộc Vụ Châu), họ là Trương (張). Năm lên 14 tuổi, ông đã có chí xuất gia, rồi sau xuống tóc xuất gia với vị Đại Đức ở Minh Châu (明州, thuộc Tỉnh Triết Giang); đến năm 25 tuổi thì thọ Cụ Túc giới tại Trúc Lâm Tự (竹林寺) ở Hàng Châu (杭州, thuộc Tỉnh Triết Giang). Sau đó, ông chuyên tâm tu tập phạm hạnh. Có hôm nọ, ông ngao du Dư Hàng, tham yết Kính Sơn Pháp Khâm (徑山法欽) và theo hầu vị này trong vòng 5 năm. Trong khoảng thời gian niên hiệu Đại Lịch (大歷, 766-779), ông vào tu trong Đại Mai Sơn (大梅山), rồi vào khoảng đầu niên hiệu Kiến Trung (建中, 780-783), ông đến vùng Chung Lăng (鍾陵, Tỉnh Giang Tây), tham bái Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一), và lưu lại với vị này được 2 năm. Cuối cùng ông đến tham bái Thạch Đầu Hy Thiên (石頭希遷) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau đó, ông đến sống tại Sài Tử (柴紫) thuộc Đương Dương (當陽), Kinh Châu (荆州), học đồ theo ông rất đông. Sau đó, ông chuyển đến sống tại Thiên Hoàng Tự (天皇寺) ở Thành Đông, Kinh Châu. Vào ngày 30 tháng 4 năm thứ 2 niên hiệu Nguyên Hòa (元和), ông thị tịch, hưởng thọ 60 tuổi đời và 35 hạ lạp.

Thiên hoá

遷化; J: senge; có thể dịch là »bước vào cõi biến hoá«;|Một danh từ chỉ cái chết của một người (Tử), đặc biệt là cái chết của một Cao tăng. Qua danh từ »Thiên hoá« này người ta có thể thấy rằng, Phật giáo không có quan niệm rằng, cái chết (Tử) không phải là sự chấm dứt, mà chỉ là một sự biến chuyển của chư Pháp, sắc tướng; Phật tính của mỗi người đều trường tồn, vượt thời gian và không gian.

thiên hoá

(遷化) Gọi tắt: Hóa. Đồng nghĩa: Niết bàn, Viên tịch, Diệt độ, Thuận thế, Qui chân. Thiên hóa là dời đổi, hóa diệt, tức chỉ cho sự thị tịch của chư tăng. Hoặc có thuyết giải thích rằng những vị có đức sau khi đã hết duyên giáo hóa chúng sinh ở cõi này thì dời(thiên)đến hóa độ(hóa)chúng sinh ở thế giới khác, gọi là Thiên hóa. Cứ theo Tục cao tăng truyện quyển 14 thì ngài Tuệ trì đời Đường lúc lâm chung có nói (Đại 50, 538 thượng): Tôi muốn đi đến phương khác để giáo hóa. Truyện ngài Đàm giới trong Lương cao tăng truyện quyển 5 (Đại 50, 356 hạ) nói: Có ánh sáng chiếu nơi thân, dung mạo vui hòa, bỗng nhiên thiên hóa.. Ngoài ra, từ ngữ thiên hóa cũngđược dùng cho người tại gia, như sau khi Lí phu nhân qua đời, Hán vũ đế làm bài phú có câu Bỗng thiên hóa mà không trở lại, hồn phách nhẹ nhàng bay lên. ; (千化) Chỉ cho đức Hóa Phật Thích ca ngồi trên hoa sen 1000 cánh của Mật giáo. Cứ theo kinh Phạm võng quyển hạ thì đài hoa sen mà đức Phật Lô xá na ngồi, chung quanh có 1000 đóa hoa, trên mỗi đóa hoa lại hiện 1000 Phật Thích ca, mỗi đóa hoa là 100 ức cõi nước, mỗi cõi nước là một Phật Thích ca, tất cả đều ngồi ở gốc cây Bồ đề, cùng một lúc chứng thành Phật đạo. Những Phật Thích ca này đều là bản thân của nghìn trăm ức Lô xá na.

Thiên huống

(天貺): ân sủng trời ban. Như trong Thông Dịch Luận (通易論) của Nguyễn Tịch (阮籍, ?-?) nhà Ngụy thời Tam Quốc có câu: “Chiêu minh kỳ đạo, dĩ đáp thiên huống (昭明其道、以答天貺, sáng tỏ đạo ấy, để đáp ơn trời).” Hay trong bài Thành Quân Phúng (成均諷) của Tư Không Đồ (司空圖, 837-908) nhà Đường lại có câu: “Cố dĩ cảm động thiên huống, cương kỷ nhân luân (故以感動天貺、紀綱人倫, nên lấy sự cảm động ơn trời ban để làm kỷ cương luân lý con người).” Hiện tại dân gian Trung Quốc vẫn còn lưu hành Thiên Huống Tiết (天貺節) vào ngày mồng 6 tháng 6 Âm Lịch. Thời xưa, dân gian Hoài An (淮安) thuộc Tỉnh Giang Tô (江蘇省) có tập tục gọi là Sái Hồng Lục (曬紅綠) vào ngày mồng 6 tháng 6. Tương truyền tập tục này xuất phát từ thời nhà Đường (唐, 618-907). Huyền Trang (玄奘, 602-664), cao tăng nhà Đường, sang Tây Thiên thỉnh kinh, trên đường trở về nước, khi đi ngang qua biển, một số kinh điển bị rơi xuống biển, ẩm ướt, nên vào ngày mồng 6 tháng 6 này người ta lấy kinh văn ra để phơi khô. Từ đó, ngày này trở thành ngày tốt lành. Khởi đầu, vào ngày này trong hoàng cung tiến hành phơi Long Bào của nhà vua, sau đó tập tục này được lưu truyền ra dân gian. Vào đúng ngày này, nhà nào cũng đem áo quần ra phơi nơi cổng nhà. Vì vậy, ở Dương Châu (揚州) vẫn có câu ngạn ngữ rằng: “Lục nguyệt lục gia gia sái hồng lục (六月六家家曬紅綠, mồng sáu tháng sáu nhà nhà phơi áo quần).”

thiên hành

(天行) Thiên là Đệ nhất nghĩa thiên, chỉ cho lí thực tướng thiên nhiên. Bồ tát nhờ tu lí thiên nhiên mà thành tựu diệu hạnh nên gọi là Thiên hạnh, là 1 trong 5 hạnh tu của Bồ tát. Theo Biệt giáo của Thiên thai thì Thiên hạnh là nội chứng của Địa tiền; Viên giáo thì lấy Như lai tòa nói trong kinh Pháp hoa làm Viên thiên hạnh.

thiên hình vạn trạng

Multiform.

thiên hóa

Chết—To pass away—To be taken away—To die.

thiên hưng

Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chưa biết thời điểm xây dựng chùa, chỉ biết năm Minh Mạng thứ 6 (1825), chùa Thiên Hưng chỉ là một thảo am. Năm 1893, chùa được sư Thanh Chân, tức là đại sư Viên Giác sau nầy, phát nguyện trùng tu, với sự hỗ trợ của một mệnh phụ tên là Tôn Nữ Thanh Lương. Do đó chùa đã thay đổi cảnh sắc và qui mô, chuyển tranh thành ngói, và có pháp khí tốt đẹp, tượng đồng được đúc, tượng gỗ được thếp vàng lại, làm cho cảnh chùa sáng sủa hơn. Năm 1911, Hòa Thượng Thanh Tú cùng với đồ đệ và giáo hội đã trùng tu lại chùa, khiến cho cảnh chùa uy nghi tráng lệ hơn xưa. Vào năm 1927, Hòa Thượng Quảng Tu trùng tu chánh điện. Năm 1935, chùa được ban biển ngạch sắc tứ và Hòa Thượng được ban giới đạo độ điệp. Chùa Thiên Hưng hiện vẫn còn giữ được hệ thống tượng thờ từ cuối thế kỷ thứ 19—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The date of building of the temple is unknown. It is merely recorded that in the sixth year of king Minh Mạng's reign, Thiên Hưng temple was only a thatched house. In 1893, a monk named Thanh Chân, later he became great master Viên Giác, committed himself to rebuild the temple with the assistance of a noble lady named Tôn Nữ Thanh Lương. As a result, the appearance and structure of the temple were changed considerably. Thatch was changed to tiles, bronze statues were introduced and some wooden statues were gilded, giving the temple a brighter look. In 1911, Most Venerable Thanh Tú together with his disciples and the congregation, rebuilt the temple, giving it a more impressive and magnificent appearance. In 1927, Most Venerable Quảng Tu rebuilt the main hall. In 1935, Thiên Hưng temple was recognized as national temple by the throne and Most Venerable Quảng Tu was honoured by the king with “Giới Đạo Độ Điệp.” The temple still remains its system of statues from the late nineteenth century.

thiên hương

Deva incense—Celestial perfume—Divine or excellent incense. ; (天香) Hương trên cõi trời, hoặc chỉ cho hương vi diệu của nhân gian. Phẩm Pháp sư công đức trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 48 trung) nói: Người trì kinh này, tuy ở nơi đây nhưng cũng ngửi thấy mùi hương của chư thiên trên cõi trời.

thiên hướng

Tendency—Inclination.

thiên hạ

People—The whole world.

thiên hạnh

A bodhisattva's natural or spontaneous correspondence with fundamental law. One of the five natures of Bodhisattvas in the Nirvana Sutra (Kinh Niết Bàn).

Thiên Hải

(天海, Tenkai, 1536-1643): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống vào khoảng thời đại An Thổ Đào Sơn (安土桃山) và đầu thời Giang Hộ, vị tổ thời Trung Hưng của Thiên Thai Tông, húy là Tùy Phong (隨風), Thiên Hải (天海), hiệu Nam Quang Phường (南光坊) và Trí Lạc Viện (智樂院), thụy hiệu là Từ Nhãn Đại Sư (慈眼大師), xuất thân vùng Fukushima-ken (福島縣). Ông xuất gia lúc 11 tuổi, đến năm 14 tuổi thì lên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), theo học Thiên Thai với Thật Toàn (實全), Câu Xá với Tôn Thật (尊實), rồi Tam Luận và Pháp Tướng với Thật Không (實空). Sau khi Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga) đốt cháy toàn bộ Tỷ Duệ Sơn, ông dẫn đồ chúng đến nương náu nơi Võ Điền Tín Huyền (武田信玄, Takeda Harunobu) ở vùng Giáp Phỉ (甲斐, Kai). Từ đó về sau, ông từng đến trú ở Bất Động Viện (不動院), rồi Hỷ Đa Viện (喜多院) vùng Võ Tàng (武藏, Musashi, thuộc Saitama-ken [埼玉縣]). Đến năm 1607, ông trở về sống tại Nam Quang Phường trên Tỷ Duệ Sơn, rồi nỗ lực tập trung cho việc phục hưng Sơn Môn. Năm 1616, ông được cử làm Đại Tăng Chánh, rồi cùng năm đó, ông lấy nghi Nhất Thật Thần Đạo để làm lễ an táng cho Gia Khang (家康, Ieyasu). Vào năm 1624, ông kiến lập Khoan Vĩnh Tự (寬永寺) ở Đông Duệ Sơn (東叡山) và làm tổ khai sơn của chùa này. Ông được sự tín nhiệm của 3 đời Tướng Quân Gia Khang, Tú Trung và Gia Quang; nên thường tham gia bàn chính sự trong Mạc Phủ, và lần đầu tiên đã thống chế các phái của Thiên Thai Tông Nhật Bản. Trước tác của ông để lại có Nhất Thật Thần Đạo Bí Quyết (一實神道秘決) 1 quyển, Dị Bộ Kiến Văn Thuật Ký Định Thư (異部見聞述記掟書) 1 quyển, v.v.

thiên hậu

Queen of Heaven.

thiên họa

Deva lines or pictures.

thiên học sơ chinh

(天學初征) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trí húc soạn.Cuối đời Minh, Thiên chúa giáo truyền vào Trung quốc. Năm Vạn lịch thứ 10 (1582), hội Da tô đếnÁo môn, lấy Lợi mã đậu (Matteo Ricci) làm trung tâm tiến hành tuyên giáo, xuất bản Thiên chúa thực nghĩa 2 quyển, chủ trương Thiên của Nho gia và Thiên của Thiên chúa giáo là đồng nhất và chê trách Phật giáo là trái với đạo Thánh hiền. Ngài Trí húc bèn soạn Thiên học sơ trưng(Chê trách Thiên chúa giáo lần đầu), chỉ rõ ra 22 điều mâu thuẫn của Thiên chúa giáo. Sau đó, ngài lại soạn Thiên học tái trưng(Chê trách Thiên chúa giáo lần thứ hai), liệt kê 28 điều phê phán, bác bỏ. Hai tác phẩm trên đây của ngài Trí húc gọi là Thiên học nhị trưng, được thu chép vào Tịch tà tập. Nội dung gồm các vấn đề: Chúa tể sáng tạo, giáng sinh chuộc tội, phụng thờ lễ bái, linh hồn bất diệt, thiên đường địa ngục, sắp chết hối hận...

thiên hữu

Existence and joy as a deva, derived from previous devotion, the fourth of the seven forms of existence. ; (天有) Nghĩa là nhờ vào nhân giới, định... quá khứ mà hiện tạicảmđược quả vui cõi trời. Quả báo tồn tại, có thật nên gọi là Hữu. Một trong Thất hữu.

thiên hữu chấp

Kiến giải thiên về một bên cho vạn hữu là có và chấp chặt vào đó—Strong attachment to the idea of a real existence of all things. ; (偏有執) Chấp trước vạn pháp là Hữu(có thật). Theo quan điểm của Phật giáo thì chủ trương Vạn pháp là Hữu có thể chia làm 3 bậc: 1. Người thế gian nói chung cho rằng hễ vật nào có hình thể, âm thanh, lạnh nóng... có thể nương gá được thì đều tồn tại chân thực. 2. Thuyết nhất thiết hữu bộ(tức Tát bà đa bộ) thuộc Tiểu thừa cho rằng các pháp do nhiều nhân duyên hòa hợp mà sinh, cho nên thuộc về Hữu, chủ trương Ba đời có thật, pháp thể hằng có. Về cách nhận xét đối với chúng sinh hữu tình thì bộ phái này cũng xem đó là sự giả hòa hợp của 5 uẩn và đề xướng thuyết Tứ hữu: Sinh hữu, Bản hữu, Tử hữu và Trung hữu. Thuyết này thuộc về Thực tại luận cơ giới. 3. TôngPháp tướng thuộc Đại thừa, đặt nền tảng trên Duyên khởi luận, cũng chủ trương tính của các pháp là thực Hữu, thể của nó cùng khắp và thường hằng không diệt. Tuy nhiên, chủ trương này hoàn toàn khác với quan điểm của Thuyết nhất thiết hữu bộ nói trên; bởi vì tính của các pháp mà tông Pháp tướng chủ trương là thuộc về tính Viên thành thực mà thông thường gọi là Chân như, cho nên tuy chủ trương Hữu nhưng thực ra là Hữu của Chân hữu, Diệu hữu, vốn là 1 trong các tư tưởng quan trọng của Phật giáo Đại thừa. Vì thế biết, chấp trước thiên về Hữu là chỉ cho cái thấy biết của người thế tục nói chung và chủ trương của Thuyết nhất thiết hữu bộ...

thiên không

(偏空) Cũng gọi Thiên chân, Đơn không, Thiên chân không lí. Chỉ cholíKhông của Tiểu thừa, vì lí Không thiên về bên Không nên gọi là Thiên không. Thiên thai tứ giáo nghi (Đại 46, 778 thượng) nói:Ba thừa của giáo này nhân giống nhau nhưng quả thì khác, chứng quả tuy khác (...) nhưng cùng ngộ lí thiênchân. Còn trong Bồ tát thì có 2 loại lợi và độn, độn thì chỉ thấy thiên không, chứ chẳng thấy bất không.

thiên khải

(天啓) Phạm:Zruti. Trời mở bày. Tiếng dùng của Bà la môn ở Ấn độ, vốn có nghĩa là nghe, về sau triển khai thành nghĩa sự mở bày của thần. Bà la môn giáo cho rằng kinh Phệ đà là Thánh nhân được thần mở bày mà tụng ra, cho nên là tri thức của thần thánh. Do đó, từ xưa đến nay, 4 Phệ đà được xem là một bộ trứ tác thiên khải điển hình.

thiên khẩu

Miệng Trời—Phép của Bà La Môn coi lửa là miệng trời, hỏa thiêu vật cúng thì chư Thiên được ăn. Đây là nguồn gốc của Hộ Ma Cúng—The mouth of Brahma, or the gods, a synonym for fire, as that element devours the offerings; to this the homa, or fire altar cult is attributed, fire becoming the object of worship for good fortune. Fire is also said to speak for or tell the will of the gods. ; (天口) Miệng của trời. Chỉ cho lửa. Bà la môn ở Ấn độ đời xưa cho lửa là miệng của trời, lửa đốt các vật cúng tế, mùi thơm bay lên, do đó mà chư thiên được ăn. Đây chính là nguồn gốc của pháp tu Hộ ma cúng trong Mật giáo. Trong Bách luận sớ có dẫn thuyết của luận Câu xá cho rằng có vị trời từ trong lửa phát ra tiếng nói. Lại trong miệng chư thiên có ánh sáng, bèn cho là lửa, bởi vậy ngoại đạo cho lửa là Thiên khẩu.

thiên kiến

Partial idea.

thiên la quốc

The kingdom of the king with kalmasapada (with spotted or striped feet). ; (天羅國) Thiên la, Phạm: Devala. Hán âm: Đề bà la. Đất nước của vua Ban túc. Cứ theo phẩm Hộ quốc trong kinh Nhân vương do ngài Cưu ma la thập dịch thì chân (túc) của nhà vua Ban túc bị loang lổ(ban), cho nên khi ông còn là Thái tử nước Thiên la, ông được gọi là Thái tử Ban túc. Ông từng được tà sư giáo hóa, sau nghe Tứ vô thường kệ mà chứng được Không tam muội.

Thiên Long

(天龍, Tenryū, ?-?): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, người vùng Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang). Ông kế thừa dòng pháp của Đại Mai Pháp Thường (大梅法常), môn hạ của Mã Tổ. Khi có ai hỏi điều gì ông thường hay đưa một ngón tay lên. Chính ông là người đã đả thông cho Câu Chi (倶胝) ở Kim Hoa Sơn (金華山). Phong cách Thiền gọi là một ngón tay (Nhất Chỉ Thiền, 一指禪) của ông rất nổi tiếng, nhưng truyền ký về những lần ông thăng đường thuyết pháp cũng như ngôn ngữ vấn đáp thì quá ít.

thiên long

Thiên Long bao gồm—Devas and nagas includes: 1) Chư Long Thiên: Nagas together with the Devas. 2) Phạm Thiên: Brahma. 3) Đế Thích: Indra. ; (天龍) I. Thiên Long. Núi ở huyện Thái nguyên, tỉnh Sơn tây, Trung quốc. Nhờ có các hang đá mà núi này nổi tiếng ở đời. II. Thiên Long. Chư thiên và long thần trong 8 bộ chúng. Phẩm Tựa kinh pháp hoa (Đại 9, 3 thượng) nói: Thiên long cung kính, không lấy làm vui

thiên long bát bộ

Thiên, long, dạ, xoa (Quỷ dũng mãnh), Càn thát bà (Hương thần), A tu la (Phi thiên), Câu lâu na (Kim xí điểu), Khẩn na la (Phi nhơn), Ma hầu la già (Đại mãng xà), gọi chung là Bát bộ chúng. ; (A) Thiên long và các chúng khác trong bát bộ, đã có trong truyền thuyết cổ Ấn Độ; tuy nhiên, thường được dùng trong Kinh điển Phật giáo—Devas, nagas and others of the eight classes—The eight groups of demon followers which existed in ancient Indian legends; however, they were often utilized in Buddhist sutras to suggest the diversity of the Buddha's audiences. (B) Bát bộ chúng hay tám loại chúng gồm chư thiên, hay phi nhân được xem như là những thiên long hộ pháp, hay những vị cùng đến tham dự những buổi pháp hội của Phật—Eight classes of divinities, or eight kinds of gods and demi-gods. These are various classes of non-human beings that are regarded as protectors of Buddhist Dharma and Buddhism as part of the audience attending the Buddha's sermons. (C) Phân loại—Categories: 1) Thiên chúng: Deva (skr)—Chư Thiên trong các cõi trời (sáu cõi trời Dục Giới, bốn trời Tứ Thiền Sắc Giới, Tứ Không Xứ)—Devas, gods, or angels in the Heavens. 2) Long chúng: Nagas (skt)—Rồng—Dragons—Heavenly dragons. 3) Dạ Xoa chúng: Yaksas (skt)—Quỷ bay cực nhanh, giữ các cửa trời, có liên hệ tới trời Đâu Suất, nhưng thường thấy nơi cõi người—Extremely fast demons that guard Heaven's Gates, sometimes associated with the Tusita Heaven, but usually located on the human plane (realm). 4) Càn Thát Bà chúng: Gandharvas (skt)—Thần âm nhạc nơi cõi trời Đế Thích—Musician Angels for the Cakra Heaven Kings. 5) A Tu La chúng: Asuras (skt)—Thần chiến đấu thường ở núi và đáy biển quanh những triền bọc quanh núi Tu Di, bên dưới cõi trời Tứ Thiên Vương—War gods, or evil spirits which live on the slopes of Mount Meru, below the lowest heavenly sphere, that of the four Guardian Kings. 6) Ca Lâu La chúng: Garudas (skt)—Thần chim đại bàng cánh vàng, dài đến 3.360.000 dặm—Heavenly (celestial) birds with golden wing spans of approximately 3,360,000 miles. 7) Khẩn Na La chúng: Kinnaras (skt)—Nửa giống người nửa giống thần, có tài trổi nhạc—Heavenly beings with human bodies and animal heads (half-horse, half-men). 8) Ma Hầu La Già chúng: Mahoragas (skt)—Thần mãng xà (rắn lớn) có thân dài trên 100 dậm—Serpent or Snake gods with body length over 100 miles. ; (天龍八部) Cũng gọi Bát bộ chúng. Chỉ cho 8 bộ trời, rồng. Đó là: Thiên (Phạm:Deva), Long (Phạm:Nàga), Dạ xoa (Phạm:Yakwa), A tu la (Phạm: Asura), Ca lâu la (Phạm:Garuđa), Càn thát bà (Phạm: Gandharva), Khẩn na la (Phạm: Kiônara), Ma hầu la ca (Phạm: Mahoraga). Trong 8 bộ chúng thì 2 chúng Thiên và Long là thượng thủ, cho nên nêu tên của 2 chúng này đại diện cho cả 8 bộ, vì thế mà gọi là Thiên long Bát bộ.

thiên long dạ xoa

Devas, nagas, yaksas. ; (天龍夜叉) Chỉ cho chư thiên,long thần,dạ xoa, là 3 bộ trong 8 bộ chúng. Trong đó,dạ xoa là loài quỉ ở hư không, hoặc ở trên mặt đất, dùng uy thế não hại người, hoặc giữ gìn chính pháp.

thiên long sơn

(天龍山) Núi ở phía tây huyện Thái nguyên, tỉnh Sơn tây, Trung quốc. Núi này và núi Hưởng đường đều là đại biểu cho văn hóa Phật giáo Bắc Tề, nổi tiếng về các chùa Hang đá. Từ các chùa do vua Văn tuyên và vua Toàn cảnh hang đá núi Thiên long Hiếu chiêu nhà Bắc Tề tạo mở, núi Thiên long trải qua các đời vẫn tiếp tục được đục mở các chùa Hang(Thạch quật tự). Núi này có tất cả 21 hang động, nổi tiếng nhất là gác Mạn sơn và động Cửu Liên. Trong 21 hang, nhà Bắc Tề mở 4 hang, nhà Tùy mở 3 hang, 14hangcòn lại được đục mở vào đầu đời Đường. Nghệ thuật tạo tượng ở đây kế thừa nghệ thuật đời Bắc Ngụy, phong cách cũng chịu ảnh hưởng phong cách Bắc Ngụy. Những hang động ở đây và các hang động ở Đôn hoàng, ở Vân cương Đại đồng, ở Long môn Lạc dương... đều là những hang động nổi tiếng của Phật giáo Trung quốc. Ở chân núi Thiên long có ngôi chùa gọi là Thiên long tự, cũng gọi là Thánh thọ tự.

Thiên Long Tự

(天龍寺, Tenryu-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Thiên Long Tự (天龍寺派) thuộc Lâm Tế Tông, ngôi Thiền Tự được xây dựng vào đời đại Nam Bắc Triều, tọa lạc tại số 68 Sagatennōjisusukinobabachō (嵯峨天龍寺芒ノ馬場町), Ukyō-ku (右京区), Kyoto-shi (京都市), Kyoto-fu (京都府); hiệu núi là Linh Quy Sơn (靈龜山), còn gọi là Thiên Long Tư Thánh Thiền Tự (天龍資聖禪寺); tên chính thức là Linh Quy Sơn Thiên Long Tư Thánh Thiền Tự (靈龜山天龍資聖禪寺). Lúc ban đầu mới thành lập thì chùa được gọi là Lịch Ứng Tự (曆應寺), nhưng không bao lâu thì tên này được sửa đổi. Đây là ngôi chùa đứng hàng đầu nổi tiếng trong năm ngôi bảo sát ở vùng kinh đô Kyoto. Nơi vùng đất chùa ngày xưa có Đàn Lâm Tự (檀林寺), rồi có Tiên Động Ngự Sở của Hậu Tha Nga Thượng Hoàng (後嵯峨上皇), và Ly Cung của Quy Sơn Thiên Hoàng (龜山天皇, Kameyama Tennō). Vào năm thứ 4 (1339) niên hiệu Diên Nguyên (延元), khi Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇, Godaigo Tennō) băng hà ở vùng Cát Dã (吉野, Yoshino), theo lời khuyên của Mộng Song Sơ Thạch (夢窻疎石), Tướng Quân Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏, Ashikaga Takauji) mới nhận chiếu chỉ và khai sáng chùa này. Chính bản thân Mộng Song và Túc Lợi đã tự mình bưng đất cát xây chùa, rồi cho đến năm thứ 6 (1345) niên hiệu Hưng Quốc (興國) thì chùa được hoàn thành, và Mộng Song trở thành vị Tổ khai sơn chùa này. Kế đến bảy ngôi đường vũ già lam cũng đều được hoàn bị. Về sau, chùa cũng đã nhiều lần bị nạn binh hỏa, các ngôi đường vũ dần dần bị cháy tan tành. Đến trong khoảng niên hiệu Ứng Vĩnh (應永, 1394-1427), khuôn viên chùa được nới rộng ra thêm, có đến khoảng 110 ngôi tháp. Kiến trúc hiện còn lại là Tổng Môn, Sắc Tứ Môn, Chánh Điện, Pháp Đường, Thư Viện, Đại Phương Trượng, Tuyển Phật Trường, Tàng Kinh, Sơn Môn, v.v. Phần lớn những kiến trúc này đều được xây dựng lại dưới thời Minh Trị trở về sau. Chánh Điện chùa được gọi là Đa Vũ Điện (多宇殿), nơi đây an trí tôn bia của Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng. Còn ở trên trần nhà của Pháp Đường có vẽ hình rồng ẩn trong mây, là thư bút nổi tiếng của Linh Mộc Tùng Niên (鈴木松年). Trong khuôn viên chùa còn có rất nhiều tòa viện và chùa nhỏ như Kim Cang Viện (金剛院), Bảo Thọ Viện (寶壽院), Từ Tế Viện (慈濟院), Diệu Trí Viện (妙智院), Tùng Nham Tự (松岩院), Lộc Vương Viện (鹿王院), Tây Phương Tự (西芳寺), Địa Tạng Viện (地藏院), v.v. Đình viên Tào Nguyên Trì (曹源池) của chùa được công nhận là thắng cảnh nổi tiếng, tương truyền do tay Mộng Song Sơ Thạch làm ra.

Thiên Long tự

天龍寺; J: tenryū-ji;|Một trong những Thiền viện lớn của Kinh Ðô (kyōto), Nhật Bản. Thiền viện này được kiến lập với sự hỗ trợ của vị Tướng quân (j: shōgun) Túc Lợi Tôn Thị (ashikaga takauji) và sự chỉ đạo của Thiền sư Mộng Song Sơ Thạch (musō soseki), được xếp vào Ngũ sơn của Kinh Ðô. Thiền viện này nổi danh với một vườn cảnh tuyệt đẹp do chính tay Quốc sư Mộng Song xếp đặt.

thiên long tự

(天龍寺) Cũng gọi Thánh thọ tự. Chùa ở chân núi Thiên long, huyện Thái nguyên, tỉnh Sơn tây, Trung quốc, được sáng lập vào đời Bắc Tề, về sau, qua nhiều đời bị hoang phế, đến đời Minh được kiến thiết lại. Trong chùa có mấy pho tượng được đắp vào đời Tùy và vô số phù điêu, tượng Phật, bích họa... Trong các điện đường, có điện Thiên vương thờ tượng Tứ thiên vương và tượng 2 vị vua. Trong Đại hùng bảo điện thờ tượng Phật Dược sư, tượng 2bồ tát Nhật quang, Nguyệt quang đứng hầu 2 bên, tượng 12 thần tướng và tượng cácbồ tát Quán âm, Văn thù, Phổ hiền..., điện Tì lô thì thờ tượng Phật Tì lô giá na, Phật Dược sư và Phật Di đà. Phía bắc và phía nam chùa đều có những ngôi tháp nổi tiếng như tháp thờ Triệt chứng Lão nhân, tháp Đại lạt ma, tháp Thiền sư Huyền ngộ Thê nham...

Thiên luân

(天倫): (1) Đạo lý tự nhiên. (2) Chỉ mối quan hệ thân thiết của cha con, anh em; cho nên có thuật ngữ “thiên luân chi lạc (天倫之樂)” được dùng để chỉ niềm lạc thú của gia đình, sự đoàn tụ của mọi người trong nhà. Như trong bài Xuân Dạ Yến Tùng Đệ Đào Hoa Viên Tự (春夜宴從弟桃花園序) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Hội đào hoa chi phương viên, tự thiên luân chi lạc sự (會桃花之芳園、序天倫之樂事, gặp chốn vườn thơm đào hoa, bày chuyện vui thú gia đình).” Hay như trong hồi thứ 17, 18 của Hồng Lâu Mộng (紅樓夢) có đoạn: “Điền xá chi gia, tuy tê diêm bố bạch, chung năng tụ thiên luân chi lạc (田舍之家、雖虀鹽布帛、終能聚天倫之樂, nhà nghèo nàn, tuy ăn dưa muối, mặc vải bố, nhưng cuối cùng vẫn có thể tập trung niềm vui thú gia đình).” Câu “sanh tắc đồng bào, thường đốc thiên luân chi ái (生則同胞、常篤天倫之愛)” có nghĩa là sanh cùng một bào thai, nên thường phải khuyến khích nhau tình thương yêu của anh em ruột thịt.

thiên lôi

God of thunder.

Thiên Lợi Hưu

(千利休, Sen-no-Rikyū, 1522-1591): vị tổ khai sáng ra Trà Đạo Nhật Bản, sống vào khoảng giữa hai thời đại Chiến Quốc (戰國, Sengoku) và An Thổ Đào Sơn (安土桃山, Azuchimomoyama), húy là Tông Dị (宗易), hiệu Lợi Hưu (利休), Phao Thuyên Trai (抛筌齋), Bất Thẩm Am (不審庵), xuất thân vùng Hòa Tuyền (和泉, Izumi, thuộc Ōsaka-fu [大阪府]). Ban đầu ông theo học với mấy nhân vật nỗi tiếng về trà như Đạo Trần (道陳) và Thiệu Âu (紹鷗) ở vùng Hòa Tuyền, kế đến tham vấn Thiền với Đại Lâm Tông Sáo (大林宗套), Tiếu Lãnh Tông Hân (笑嶺宗訢), và thành công trong việc sáng tạo ra loại hình thức uống trà trong tĩnh lặng gọi là Wabicha (侘茶) để thấu triệt tận cùng tinh thần của Thiền. Ông cũng đã từng phục vụ cho hai Tướng Quân Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga) và Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) với tư cách là Thiền tăng pha trà. Đến năm 1587, ông đã cùng với Kim Tỉnh Tông Cửu (今井宗久), Tân Điền Tông Cập (津田宗及) đóng vai trò người ngồi hầu sau lưng Tú Cát trong Đại Hội Trà Bắc Dã, và được xem như là bậc trà tượng số một trong thiên hạ. Vào năm 1589, theo lời khuyên của Cổ Khê Tông Trần (古溪宗陳), ông đem an trí tiêu tượng của mình ở Sơn Môn Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji). Tương truyền rằng cũng chính vì việc làm nầy mà ông tạo nên mối nghi ngờ cho Tú Cát, nên ông đã dùng đao tự vẫn.

thiên lệch

Partial.

thiên lực sĩ

See Thiên Đạo.

thiên ma

Deva Mara (skt). 1) Một trong tứ ma trên cõi trời thứ sáu, thường che lấp hay cản trở chơn lý Phật giáo—Celestial demons—Demons in heavens—One of the four maras who dwells in the sixth heaven (Paranirmita-vasavartin), at the top of the Kamadhatu, with his innumerable host, whence he constantly obstructs the Buddha-truth and followers. 2) Danh từ nầy tiêu biểu cho những người lý tưởng luôn tìm cách quấy phá Đạo Phật—This symbolizes idealistic people who disturb Buddhism. 3) Sát Giả: Thường làm những chuyện phóng dật hại thân—The slayer. 4) Ba Tuần: Còn gọi là Ác Ái (là loại ma vương xuất hiện trong thời Phật còn tại thế)—The mara who is sinful of love or desire, as he sends his daughters to seduce the saints. 5) Ba Ty Dạ: Papiyan (skt)—Một loại ma vương đặc biệt hồi Phật còn tại thế—The evil one. He is the special Mara of the Sakyamuni period.

thiên ma ba tuần

(天魔波旬) Thiên ma chỉ choma vương ở tầng trời thứ 6(Tha hóa tự tại thiên) thuộc cõi Dục, tên là Ba tuần, thường nhiễu loạn việc tu hành của đức Thích tôn. Bởi vì chư Phật ra đời thường có ma chướng đồng thời gây khó khăn cho việc tu hành thành đạo và mỗi đức Phật đều có ma chướng khác nhau, Ba tuần là ma vương của thời đại Phật Thích ca xuất thế, có vô lượng quyến thuộc, thường chướng hại Phật đạo.

thiên ma ngoại đạo

Thiên ma và ngoại đạo đều là kẻ thù của chân lý—Maras and heretics are both enemies of Buddha-truth. ; (天魔外道) Chỉ chothiên ma và ngoại đạo, thường phá hại Phật đạo. Kinh Phạm võng quyển thượng (Đại 24, 1002 hạ) nói: Thiên ma ngoại đạo, xem nhau như cha mẹ.

thiên môn

Cửa hông, cửa mà tội nhân bị tống khứ (nói về cửa hông của địa ngục)—A side door, one through which offenders are expelled. ; (偏門) Cũng gọi: Bàng môn. Đối lại: Chính môn. Cửa nách. Trong Thiền lâm, hễ người phạm tội thì khi ra vào phải đi qua cửa nách chứ không được đi qua cửa chính. Điều Túc chúng trong Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1121 hạ) nói: Nếu có kẻ phạm tội thì dùng gậy đánh, rồi tập hợp chúng đốt áo bát, đạo cụ, đuổi ra khỏi cửa nách để cho thấy nỗi sỉ nhục.

thiên mệnh

Ngoại đạo tin rằng có cái gọi là “Thiên mệnh”—Externalists believe that there exists so called “Decree of God and destiny (fate).”

thiên mụ

Chùa Thiên Mụ ở Huế, Trung Việt, là một trong những ngôi chùa nổi tiếng ở Việt Nam với hơn 500 năm lịch sử. Chùa được xây vào khoảng thế kỷ thứ 15, tọa lạc trên bờ bắc sông Hương, cách Huế khoảng 10 cây số về phía tây. Năm 1601, khi chúa Nguyễn Hoàng từ Quảng Trị vào tuần du Hóa Châu, thì chùa chỉ còn là phế tích. Chúa bèn cho trùng tu lại nhưng vẫn giữ tên là Thiên Mụ. Năm 1664, chúa Nguyễn Phước Tần cho trùng tu lần nữa. Năm 1695, Hòa Thượng Thạch Liêm đã ghé lại đây vài tháng trong khi chờ thuận gió để trở về Trung Quốc. Năm 1710, chúa Nguyễn Phước Châu cho đúc đại hồng chung nặng 3.284 cân và đích thân làm bài minh khắc trên chuông. Đây là một trong những đại hồng chung lớn nhất ở Việt Nam. Năm 1714, chúa cho trùng tu chùa lần nữa. Có lẽ vì quá hâm mộ thầy bổn sư là Hòa Thượng Thạch Liêm nên chúa cho khắc long vị và tôn là Hòa Thượng khai sơn của chùa dù chùa có đã lâu trước khi Hòa Thượng đến Việt Nam. Năm 1815, vua Gia Long cho trùng tu chùa lần nữa và cử Hòa Thượng Đạo Trung làm trụ trì. Năm 1831, vua Minh Mạng cho trùng tu chùa. Năm 1844, vua Thiệu Trị cho trùng tu chùa. Năm 1892, vua Thành Thái cho trùng tu chùa lần nữa. Sau năm 1945, Hòa Thượng Đôn Hậu được cử làm trụ trì chùa, ngài đã cho trùng tu lại chùa trên qui mô rộng lớn như chúng ta thấy ngày nay—A temple in Hue, Central Vietnam, one of the famous temples in Vietnam with more than 500 year-long- history. The temple was built in the fifteenth century, located at the north side of the Perfume River, about 10 kilometers west of Huế. In 1601, when Lord Nguyễn Hoàng from Quảng Trị came to Hóa Châu, now Hue, the temple had been ruined completely. The Lord had the temple rebuilt with its old name. In 1664, Lord Nguyễn Phước Tần had it rebuilt again. In 1695, Most Venerable Thạch Liêm stayed here for several months while awaiting the monsoon favorable for his return to China by sea. In 1710, Lord Nguyễn Phước Châu ordered to cast a great-size bell, about 3,285 pounds, and he himself composed the eulogy to be carved on the bell. This is one of the biggest bells in Vietnam. In 1714, Lord Nguyễn had it rebuilt again. It might be because of Lord Nguyễn Phước Châu's admiration for Most Venerable Thạch Liêm, his original master, so he recognized the monk as the founder of the temple, despite the fact that the temple had actually been built a long time before the arrival of Thạch Liêm. In 1815, king Gia Long had the temple rebuilt again and assigned Most Venerable Đạo Trung the head of the temple. In 1831, king Minh Mạng had it rebuilt. In 1844, king Thiệu Trị ordered to build a seven-storey stupa named Phước Duyên. In 1892, king Thành Thái had it rebuilt again. After 1945, Most Venerable Đôn Hậu was designated head monk of the temple. He carried out a large scale reconstruction giving the temple its vitality as we can see now.

Thiên Mục

(天目, Temmoku, 1245-1308 hay 1337 [?]): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương, húy là Thiên Mục (天目), Nhật Thạnh (日盛); hiệu là Mỹ Nùng A Xà Lê (美濃阿闍梨), Thượng Pháp Phòng (上法房); xuất thân vùng Tĩnh Cương (靜岡, Shizuoka). Năm 1281, ông theo xuất gia với Nhật Liên, rồi sau khi thầy qua đời; ông chủ xướng về Nghĩa Bổn Tích Thắng Liệt, và luận nạn với 6 vị lão Tăng hàng đầu của Nhật Liên. Sau ông khai sáng ra Diệu Hiển Tự (妙顯寺) ở vùng Tá Dã (佐野, Sano), Hạ Dã (下野, Shimotsuke); Diệu Quốc Tự (妙國寺) ở Phẩm Xuyên (品川, Shinagawa), Võ Tàng (武藏, Musashi, thuộc Tokyo), và Bổn Môn Tự (本門寺) ở Tiểu Thắng (小勝), Thường Lục (常陸, Hitachi). Đời sau mới lấy mấy chùa này làm cứ điểm cho Phái Nhất Mục mà hóa đạo. Trước tác của ông có Viên Cực Thật Nghĩa Sao (圓通極實義抄) 2 quyển, Bổn Tích Vấn Đáp Thất Trùng Nghĩa (本迹問答七重義).

thiên mục

Đề mục—A subject or text exposed on a slip.

Thiên Mục Trung Phong Hòa Thượng Quảng Lục

(天目中峰和尚廣錄, Temmokuchūhōoshōkōroku): xem Trung Phong Hòa Thượng Quảng Lục (中峰和尚廣錄, Chūhōoshōkōroku) bên dưới.

thiên nghiệp thí dụ

(天業譬喻) Phạm:Dìvyàvadàna. Tác phẩm sưu tập các truyện cổ thí dụ bằng tiếng Phạm, mà theo sự suy đoán, đã được biên tập vào đầu thế kỉ III. Trong sách có dẫn dụng Trường bộ kinh (Dìghanikàya), Trưởng lão kệ (Theragàthà) trong Thánh điểnPàli và Đại trang nghiêm luận kinh của ngài Mã minh. Đây là 1 trong các bộ kinh điển quan trọng cho việc nghiên cứu quá trình thành lập Phật giáo Đại thừa. Hiện đã được các học giả Ấn độ, học giả người Anh là Cowell và Neil cùng chỉnh lí và xuất bản.

thiên ngục

The heavens and hells—Devalokas and purgatories.

thiên ngữ

Tiếng Trời chỉ tiếng Phạn, Bà La Môn tự cho tiếng Phạn là tiếng Trời—The deva language (the language of Brahma or Sanskrit). ; (天語) Ngôn ngữ của trời. Tức chỉ cho tiếng Phạm. Người Bà la môn ở Ấn độ đời xưa tự cho rằng tiếng Phạm mà họ sử dụng là tiếng nói của Phạm thiên, vì thế gọi là Thiên ngữ.

Thiên Nham Nguyên Trường

(千巖元長, Sengan Genchō, 1284-1357): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu Thiên Nham (千巖), tự là Vô Minh (無明), xuất thân Tiêu Sơn (蕭山), Việt Châu (越州, Tỉnh Triết Giang), họ Đổng (董). Năm lên 7 tuổi, ông cùng với Tỳ Kheo Đàm Phương (曇芳) nhập môn Pháp Môn Viện (法門院) ở Phú Dương (富陽, Tỉnh Triết Giang), rồi đến năm 19 tuổi thì xuất gia và thọ giới Cụ Túc. Sau đó, ông học về giới luật ở Linh Chi Tự (靈芝寺), Võ Lâm Sơn (武林山, Tỉnh Triết Giang) và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Trung Phong Minh Bổn (中峰明本). Từ đó, ông bắt đầu giáo hóa ở Vô Minh Tự (無明寺) thuộc Phục Long Sơn (伏龍山), Ô Thương (烏傷). Vào tháng 10 năm thứ 4 (1327) niên hiệu Thái Định (泰定), ông tiến hành tu sửa Thánh Thọ Tự (聖壽寺) và làm trú trì chùa này. Ông được ban tặng cho một số danh hiệu như Phổ Ứng Diệu Trí Hoằng Biện (普應妙智弘辯), Phật Huệ Viên Giám Đại Nguyên Phổ Tế (佛慧圓鑑大元普濟), Phật Huệ Viên Minh Quảng Chiếu Vô Biên Phổ Lợi Đại Thiền Sư (佛慧圓明廣照無邊普利大禪師). Đến ngày 14 tháng 6 năm thứ 17 niên hiệu Chí Chánh (至正), ông thị tịch, hưởng thọ 74 tuổi đời và 56 hạ lạp. Ông có để lại tác phẩm Thiên Nham Hòa Thượng Ngữ Lục (千巖和尚語錄) 1 quyển.

thiên nhiên

Natural.

thiên nhiên chân như-phi nhân tạo tác

Thiên nhiên chi chân như, phi nhân tạo tác giả—Nature—Natural reality, not of human creation.

thiên nhân

Devas and men—Superior persons. ; (天人) Cũng gọi Thiên chúng. Người và Trời. Tức chỉ cho các hữu tình trụ ở 6 tầng trời cõi Dục và cõi Sắc, hoặc chỉ cho chúng sinh ở cõi Trời, cõi người. Cứ theo kinh điển thì Thiên nhân thường vui mừng khen ngợi Phật sự, tấu nhạc trời, rải hoa trời, xông hương trời, bay đi trong hư không. Vì phần nhiều chư thiên đeochuỗi anh lạc, bay trong hư không nên gọi là Phi thiên. Trong các kinh nói về thiên nhân cõi Sắc rất ít, mà nói về thiên nhân ở 6 tầng trời cõi Dục thì rất rõ ràng, đầy đủ. Sắc thân của chư thiên cõi Dục có 7 loại ánh sáng là: Màu lửa, màu vàng ròng, màu xanh, màu đỏ, màu trắng, màu vàng và màu đen, rất thanh tịnh vi diệu, không có da thịt gân mạch mỡ máu tủy xương... có năng lực biến hiện các loại hình tượng cao thấp lớn nhỏ thô tế... tùy theo ý muốn; tóc mềm mại bóng mượt, răng trắng sạch, vuông khít; đi đứng tới lui vô ngại, nhanh chậm tùy ý; hai mắt trong suốt, nhìn lâu không chớp. Chư thiên cõi Dục vẫn còn có dâm dục. Về cách hành dâm thì chư thiên cõi trời Dạ ma nắm tay nhau là thành dâm, cõi trời Đâu suất thì nhớ nghĩ đến nhau, chư thiên cõi trời Hóa lạc thì ngắm nhìn nhau, chư thiên cõi Tha hóa tự tại thì chỉ cần nói với nhau và chư thiên cõi trời Lạc biến hóa thì chỉ cần thoáng nhìn nhau là thành dâm. Khi tuổi thọ của chư thiên sắp hết thì thân sẽ hiện ra 5 tướng suy, gọi là Thiên nhân ngũ suy. Về hình tượng của Thiên nhân thì hiện nay còn hình 2 vị Phi thiên được khắc trên viên quang phía sau tượng đức Phật Thích ca thuyết pháp bằng đá, cất giữ ở viện bảo tàng Mạt thố la tại Ấn độ. Còn trong các bích họa ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng, Trung quốc, cũng có bức vẽ Phi thiên rải hoa và tấu nhạc. Trong vòng hào quang phía sau của 3 tôn tượng ở điện Ngọc Phật của chùa Pháp vũ tại núi Phổ đà thuộc tỉnh Chiết giang, Trung quốc, cũng có khắc tượng Phi thiên(trời bay), áo của vị Phi thiên này giống như những ngọn lửa, trông như sống. Trong các chùa viện nổi tiếng ở Nhật như chùa Pháp long, chùa Dược sư, chùa Cương, chùa Pháp giới, viện Bình đẳng... cũng còn có những bích họa, bình phong... vẽ tượng Thiên nhân

thiên nhân bất động chúng

(天人不動衆) Chỉ cho đại chúng ở Tịnh độ cực lạc. Thực ra, ở Tịnh độ cực lạc không có Thiên nhân tồn tại, nhưng vì thuận theo thế giới ở các phương khác nên có tên gọi Thiên nhân. Đại chúng thiên nhân này đúng ra là các vị Bồ tát Nhất sinh bổ xứ (chờ thành Phật), đã chứng diệu lí Niết bàn, thành tựu căn tính Đại thừa, hoàn toàn không còn lay động, lui sụt, cho nên gọi là Bất động.

thiên nhân ngũ suy

(天人五衰) Năm tướng suy của người trời. Thiên nhân ở các cõi Dục, Sắc và Vô sắc, khi tuổi thọ sắp hết thì 5 tướng suy xuất hiện. Năm tướng này thông thường được chia làm 2 loại: Đại ngũ suy tướng và Tiểu ngũ suy tướng. I. Đại Ngũ Suy Tướng: 1. Y phục cấu uế:Áo xiêm dơ bẩn. Nghĩa là áo xiêm của chư thiên vốn nhẹ nhàng, tươi sáng, sạch sẽ, nhưng khi phúc báo và tuổi thọ sắp hết thì tự nhiên dơ bẩn.2. Đầu thượng hoa nuy: Hoa trên đầu héo úa. Nghĩa là hoa trang điểm trên mũ báu của thiên chúng vốn có màu sắc tươi sáng, nhưng khi hết phúc báo và tuổi thọ thì những hoa ấy tự nhiên phai nhạt và khô héo. 3. Dịch hạ hãn lưu: Nách chảy mồ hôi. Nghĩa là thân thể của thiên chúng vốn nhẹ nhàng, sáng sủa, sạch sẽ, nhưng khi phúc báo và tuổi thọ gần hết thì 2 nách tự nhiên đổ mồ hôi. 4. Thân thể xú uế: Thân thể dơ bẩn, hôi hám. Nghĩa là thân thể của thiên chúng thường sạch sẽ và tự nhiên thoảng ra mùi thơm, nhưng khi sắp hết phúc báo và tuổi thọ thì dơ bẩn, hôi hám. 5. Bất nhạo bản tọa: Không thích chỗ ngồi cũ. Nghĩa là chỗ ngồi của các người trời là đẹp nhất, sướng nhất, thế gian không thể sánh bằng; nhưng khi phúc báo và tuổi thọ gần hết thì thiên chúng thường chán cả chỗ ngồi của mình. Khi 5 tướng đại suy trên đây xuất hiện thì vị thiên nhân ấy sắp chết. II. Tiểu Ngũ Suy Tướng: 1. Nhạc thanh bất khởi: Tiếng nhạc không khởi. Nghĩa là âm nhạc của chư thiên không đánh tự kêu, nhưng khi tướng suy xuất hiện thì tự nhiên tiếng nhạc không khởi.2. Thân quang hốt diệt:Ánh sáng trên thân bỗng tắt. Nghĩa là ánh sáng trên thân vị trời bay (ở động Thiên Phật tại Khắc tư nhĩ)các thiên chúng vốn rực rỡ, ngày đêm soi chiếu, nhưng khi tướng suy xuất hiện thì ánh sáng ấy tự nhiên tan biến. 3. Dục thủy trước thân: Nước tắm dính thân. Nghĩa là các thiên chúng có làn da thơm ngát, tươi đẹp như hoa sen, không dính nước; nhưng khi tướng suy hiển hiện thì nước tắm đẵm thân, đọng mãi không khô.4. Trước cảnh bất xả: Đắm cảnh không bỏ. Nghĩa là dục cảnh các thiên chúng thù thắng, tự nhiên không đắm đuối, nhưng khi tướng suy xuất hiện, thì bám níu không buông bỏ. 5. Nhãn mục sác thuấn: Thường nháy mắt luôn. Nghĩa là mắt của các thiên chúng vô ngại, thấy khắp 3 nghìn thế giới, nhưng khi tướng suyhiểnhiện, thì con mắt chớp luôn.Khi 5 loại tướng tiểu suy trên đây đã hiển hiện, nhưng nếu gặp thiện căn thù thắng thì vẫn còn có khả năng xoay chuyển cơ duyên.

Thiên Nhân Sư

(s: śāstā deva-manuṣyāṇāṃ, p: satthā deva-manussānaṃ, 天人師): một trong 10 hiệu của đức Phật; âm dịch là Xá Đa Đề Bà Ma Nậu Xá Nam (舍多提婆魔㝹舍喃); còn gọi là Thiên Nhân Giáo Sư (天人敎師); nghĩa đức Phật là thầy dạy của chư thiên và loài người, dẫn dắt và chỉ cho biết hết thảy những điều gì nên làm và không nên làm, đâu là thiện và bất thiện; nếu có thể vâng theo lời dạy mà thực hành, không bỏ đạo pháp, có thể được báo ứng giải thoát phiền não; nên gọi là Thiên Nhân Sư. Như trong Chúng Hứa Ma Ha Đế Kinh (眾許摩訶帝經, Taishō Vol. 3, No. 191) quyển 3 có đoạn rằng: “Kim thử phu nhân tất sanh Thái Tử, cụ chư tướng hảo, nhược tại vương cung tác Chuyển Luân Vương, nhược thị xuất gia tu chư Phạm hạnh, thành Chánh Đẳng Giác hiệu Thiên Nhân Sư (今此夫人必生太子、具諸相好、若在王宮作轉輪王、若是出家修諸梵行、成正等覺號天人師, nay phu nhân này sẽ sanh Thái Tử, đủ các tướng tốt, nếu ở vương cung thì làm Chuyển Luân Vương, nếu là xuất gia tu Phạm hạnh, thì thành Chánh Đẳng Giác hiệu là Thiên Nhân Sư [thầy trời người]).” Hay trong Phật Thuyết Vô Thường Kinh (佛說無常經, Taishō Vol. 17, No. 801) cũng có đoạn rằng: “Đại xả phòng phi nhẫn vô quyện, nhất tâm phương tiện chánh tuệ lực, tự lợi lợi tha tất viên mãn, cố hiệu Điều Ngự Thiên Nhân Sư (大捨防非忍無倦、一心方便正慧力、自利利他悉圓滿、故號調御天人師, xả bỏ ngừa sai nhẫn không mệt, nhất tâm phương tiện sức trí tuệ, tự lợi lợi tha đều viên mãn, nên hiệu Điều Ngự Thiên Nhân Sư).”

thiên nhân sư

Sasta Deva-manusyanam (skt)—Xá Đa Đề Bà Ma Thố Xá Nam—Xá Đa Đề Bà Ma Mâu Nam. 1) Vị giáo sư bậc thầy của trời và người: An Unequaled teacher of Humans and Heavenly beings. He reveals goodness and morality, and he is able to save. 2) Một trong các danh hiệu của Phật: One of the ten titles (epithets) of a Buddha. ; (天人師) Phạm: Zàstà deva-manuwyàịaô. Pàli: Satthà deva-manussanaô. Hán âm: Xáđa đề bà ma nâu xá nẫm. Cũng gọi Thiên nhân giáo sư. Là bậcThầy của các trời và loài người, 1 trong 10 hiệu của Như lai. Đức Phật chỉ dạy cho trời và người những việc nên làm, những việc không nên làm, điều gì là thiện, điều gì là bất thiện, nếu y theo lời chỉ dạy của Ngài mà làm thì sẽ không bỏ đạo pháp và được quả báo giải thoát khỏi các phiền não, nên gọi là Thiên nhân sư.

thiên nhân trí kính nguyện

(天人致敬願) Cũng gọi Nhân thiên trí kính nguyện. Nguyện trời và người đều cung kính, là nguyện thứ 37 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà. Tức thệ nguyện nếu ai nghe được danh hiệu của Phật A di đà mà sinh tâm hoan hỉ thì sẽ được chư thiên và người đời tôn kính. Kinh Vô lượng thọ (bản dịch đời Ngụy) quyển thượng (Đại 12, 268 hạ) nói: Nếu tôi thành Phật mà nhân dân và chư thiên trong các thế giới của vô lượng bất khả tư nghị chư Phật ở 10 phương nghe danh hiệu của tôi, 5 thể gieo sát đất, cúi đầu lễ bái, vui mừng tin ưa, tu hạnh Bồ tát, được chư thiên và người đời thảy đều cung kính, nếu không như thế thì tôi không giữ ngôi Chính giác.

thiên nhân tán hoa thi thượng

(天人散花尸上) Người trời rải hoa lên thân cũ của mình. Cứ theo kinh Thiên tôn thuyết A dục vương thí dụ, có 1 vị người trời lúc sinh tiền là người hiếu thuận cha mẹ, trung tín thờ vua, kính phụng Tam tôn, lại thường vâng lời thầy dạy, nên sau khi chết thần thức được sinh lên cõi trời làm thiên nhân, chonên nay rải hoa để đền đáp ân đức thân cũ của mình.

thiên nhân tán hoa thân thượng

The story of a man who saw a disembodied ghost beating a corpse which he said was his body that had led him into all sins, and further on an angel stroking and scattering flowers on a corpse, which he said was the body he had just left, always his friend.

thiên nhân đạo sư

See Thiên Nhân Sư in Vietnamese-English Section.

thiên nhãn

Divyacaksus (skt)— 1) Mắt trời hay là mắt của thiên thú, thần thông thứ nhứt. Thiên nhãn là mắt không bị giới hạn, thấy tất cả mọi thứ lớn nhỏ, xa gần, thấy tất cả chúng sanh trong tam đồ lục đạo. Thiên nhãn có thể đạt được bằng “tu đắc” qua thiền định hay “báo đắc” do tu phước mà được—Divine eyes, the first abhijna. Divine sight is unlimited vision which all things are open to it, large and small, near and distant, the destiny of all beings in future rebirths. It may be obtained among men by their human eyes through the practice of meditation, and as a reward or natural possession by those born in the deva heavens. 2) Một trong năm loại Nhãn: One of the five classes of eyes.

thiên nhãn a na luật

Divine sight of Aniruddha. • Thời Đức Phật còn tại thế, có vị Phạm Vương tên Nghiêm Tịnh, cùng với một muôn Phạm Vương khác, phóng ánh sáng trong sạch rực rỡ đến chỗ ngài A Na Luật cúi đầu lễ và hỏi, “Thưa ngài A Na Luật! Thiên nhãn của ngài thấy xa được bao nhiêu?”—At the time of the Buddha, a Brahma called 'The Gloriously Pure' together with an entourage of ten thousand devas sent off rays of light, came to Aniruddha's place, bowed their heads to salute him and asked: “How far does your deva eye see?” • A Na Luật liền đáp, 'Nhơn giả, tôi thấy cõi Tam thiên Đại thiên Thế giới của Phật Thích Ca Mâu Ni đây như thấy trái Am ma lặc trong bàn tay vậy.” Aniruddha replied: “Virtuous one, I see the land of Sakyamuni Buddha in the great chiliocosm like an amala fruit held in my hand.” • Lúc đó ông Duy Ma Cật đến nói với A Na Luật: “Thưa ngài A Na Luật! Thiên nhãn của ngài thấy đó làm ra tướng mà thấy hay là không làm ra tướng mà thấy? Nếu như làm ra tướng mà thấy thì khác gì ngũ thông của ngoại đạo? Nếu không làm ra tướng mà thấy thì là vô vi, lẽ ra không thấy chứ?”—Vimalakirti (suddenly) came and said: “Aniruddha, when your deva eye sees, does it see form or formlessness? If it sees form, you are no better than those heretics who have won five supernatural powers. If you see formlessness, your deva eye is non-active (we wei) and should be unseeing.' • Lúc ấy A Na Luật nín lặng—Aniruddha kept silent. • Các vị Phạm Thiên nghe ông Duy Ma Cật nói lời ấy rồi đặng chỗ chưa từng có, liền làm lễ hỏi ông rằng: “Bạch ngài ở trong đời ai là người có chơn thiên nhãn?”—And the devas praised Vimalakirti for what they had not heard before, They then paid reverence and asked him: “Is there anyone in this world who has realized the real deva eye?” • Trưởng giả Duy Ma Cật đáp: “Có Phật Thế Tôn được chơn Thiên nhãn, thường ở tam muội, thấy suốt các cõi Phật không có hai tướng.”—Vimalakirti replied: “There is the Buddha who has realized the real deva eye; He is always in the state of samadhi and sees all Buddha lands without (giving raise to) the duality (of subjective eye and objective form).”

thiên nhãn lực

Một trong mười lực của Phật—The power of the celestial or deva eye, one of the ten powers of a Buddha.

thiên nhãn minh

Thiên nhãn của một vị Thánh, khiến vị nầy có thể thấy được những kiếp tái sanh của chính mình và chúng sanh, đây là một trong tam minh—Clear vision of the saint, or supernatural insight which enables him to know the future rebirths of himself and all beings (future mortal conditions), one of the three enlightenments. ; (天眼明) Phạm:Cyuty-upapàda-jĩàna-sàkwàtkriya-vidya. Cũng gọi Sinh tử trí chứng minh, Tử sinh trí minh, Thiên nhãn trí. Chỉ cho trí tuệ sáng suốt, biết rõ tướng trạng của sự sống chết, là 1 trong 3 trí sáng của bậc A la hán chứng được. Tức đối với lúc tử lúc sinh, thiện sắc ác sắc, thượng sắc hạ sắc của tất cả chúng sinh đều rõ biết, đồng thời biết rõ chúng sinh do 3 nghiệp thân, khẩu, ý mà có hạnh thiện, hạnh ác, do nhân duyên chính pháp hoặc tà pháp mà sau khi chết sẽ sinh vào đường lành hay đường ác. Theo luận Đại tì bà sa quyển 102 thì Thiên nhãn minh thấy suốt các việc vị lai mà sinh tâm chán lìa, có năng lực dứt trừ đoạn kiến, đưa đến cửa Vô nguyện giải thoát.

thiên nhãn thiên

Deva who has thousand eyes

thiên nhãn thiên tí quán thế âm bồ tát đà la ni thần chú kinh

(千眼千臂觀世音菩薩陀羅尼神咒經) Kinh, 2 quyển, do ngài Trí thông dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung nói về pháp ấn chú của bồ tát Thiên thủ Quán âm và cách lập đàn. Trước hết nói về bồ tát Quán thế âm đem lòng đại bi vì các chúng sinh bạc phúc ở 500 năm sau, nói về pháp môn Thiên nhãn thiên tí Quán thế âm đà la ni mà Ngài đã thụ trì trong vô lượng kiếp quá khứ; kế đến nêu 12 ấn như ấn Tổng nhiếp thân... và các pháp tu trì, 13 pháp ấn chú. Kinh Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát mỗ đà la ni thân, 1 quyển, do ngài Bồ đề lưu chí dịch là bản dịch khác của kinh này.

thiên nhãn thông

1) Có khả năng thấy được những diễn biến từ xa, cũng như thấy được luân hồi sanh tử của chúng sanh—Celestial (Divine) Eye—Can see death and rebirth—Power to see anywhere any time—The eye with which we can see very distant things—Ability to see things and events at great distance—Ability to see the births and deaths of sentient beings everywhere. 2) Mắt của những người thực tập thôi miên: The vision of those who practice hypnotism. ; (天眼通) Phạm: Divya-cakwur-jĩànasàksàtkriyàbhijĩà. Cũng gọi Thiên nhãn trí thông, Thiên nhãn thông chứng, Thiên nhãn trí chứng thông. Năng lực thần thông dùng thiên nhãn (mắt trời)chiếu soi rõ sắc xứ của cõi Dục và cõi Sắc, 1 trong 5 thần thông, 1 trong 6 thần thông. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 141 và luận Đại trí độ quyển 5 thì dùng 4 tĩnh lự căn bản làm chỗ nương mà chứng được nhãn căn tịnh sắc do 4 đại chủng của cõi Sắc tạo ra, gọi là Thiên nhãn. Vì nhãn căn này có năng lực soi thấy các vật xa gần, thô tế... của tự địa và trong 6 đường của hạ địa, cho nên gọilàThiên nhãn thông, lấytuệ tương ứng với nhãn thức làm thể, tính nó vô kí, thuộc vềtríthế tục hữu lậu trong 10 trí. Thiên nhãn có 2 loại là Tu đắc và Báo đắc.Ởcõi người, nhờ tu 4 thiền định mà được tịnh nhãn, gọi là Tu đắc; còn chư thiên sinh về cõi sắc mà tự được tịnh nhãn thì gọi là Báo đắc. Thiên nhãn trong Ngũ thông chỉ do Tu đắc, còn Thiên nhãn trong Ngũ nhãn thì chung cho cả Tu đắc và Báo đắc. Ngoài ra, Thiên nhãn thông còn có năng lực dẫn phát sinh tử trí; Thiên nhãn thông và Sinh tử trí cùng biết rõ trạng huống chết đây sinh kia của hữu tình nên cũng gọi là Tử sinh trí chứng (Phạm: Cyuty-upapatti-jĩànàbhijĩà), gọi tắt là Tử sinh trí thông.

thiên nhãn trí

The wisdom obtained by the deva eye.

thiên nhãn trí chứng thông

Theo Câu Xá Luận, lục thông đều lấy trí làm thể, làm lực dụng chứng tri sự phân biệt và thông đạt vô ngại. Thiên nhãn trí chứng thông là dựa vào trí tuệ được khởi lên bởi thiên nhãn—According to the Kosa sastra, the wisdom or knowledge that can see things as they really are is the complete universal knowledge and assurance of the deva eye.

thiên nhãn trí thông nguyện

Lời nguyện thứ sáu trong 48 lời nguyện của Phật A Di Đà, ngài sẽ chẳng thành Phật cho đến khi nào pháp giới chúng sanh đều đạt được thiên nhãn—The sixth of Amitabha's forty-eight vows, that he would not enter the final stage until all beings had obtained this divine vision.

thiên nhĩ

(天耳) Tai trời. Tức các người trời ở cõi Sắc lấy 4 tĩnh lự căn bản làm chỗ nương, được nhĩ căn tịnh sắc do 4 đại chủng cõi Sắc tạo thành, gọi là Thiên nhĩ. Thiên nhĩ có năng lực nghe được tất cả âm thanh của người, của phi nhân, xa gần, thô tế...

thiên nhĩ thông

Divyasrotra (skt)—Một trong lục thông, nghe và hiểu mọi ngôn ngữ—The Divine (Celestial—Deva) Ear—Supernatural or transcendental hearing—Power to hear and understand all languages—One of the six miraculous powers—Ability to hear the sounds of human and nonhumans, distant and near sounds. ; (天耳通) Phạm: Divya-zrotra-jĩànasàkwàtkriyàbhijĩà. Cũng gọi Thiên nhĩ trí thông, Thiên nhĩ trí chứng thông, Thiên nhĩ thông chứng. Chỉ cho năng lực thần thông dùng Thiên nhĩ duyên theo thanh xứ của cõi Dục và cõi Sắc, 1 trong 5 thần thông, 1 trong 6 thần thông. Cứ theo luận Tập dị môn túc quyển 15 và luận Đại trí độ quyển 5 thì lấy 4 tĩnh lự căn bản làm chỗ y cứ mà được nhĩ căn tịnh sắc do 4 đại chủng cõi Sắc tạo ra, gọi là Thiên nhĩ. Vì Thiên nhĩ này có năng lực nghe được tiếng trời, tiếng người, tiếng phi nhân và tất cả âm thanh xa gần... của tự địa và hạ địa, cho nên gọi là Thiên nhĩ thông, vốn lấy tuệ tương ứng với nhĩ thức làm thể, tính nó vô kí, thuộc về trí thế tục hữu lậu trong 10 trí. Thiên nhĩ thông có 2 loại là Tu đắc và Báo đắc, nếu ở cõi người tu 4 thiền định, nhờ định lực phát được 4 đại tạo sắc thanh tịnh của cõi Sắc mà có tác dụng Thiên nhĩ thì gọi là Tu đắc; còn quả báo nhờ sinh vào Tứ thiền thiên mà được thì gọi là Báo đắc.

thiên nhĩ trí

(天耳智) Phạm:Divya-zrotra-bhijĩà. Đồng nghĩa: Thiên nhĩ thông. Chỉ cho Thiên nhĩ vàtrí tuệ tương ứng với thức.

thiên nhĩ trí chứng thông

See Thiên Nhĩ Trí Thông.

thiên nhĩ trí thông

Thần thông thứ nhì trong lục thông, có khả năng nghe và hiểu tiếng nói trong sắc giới—The second of the six abhijnas (lục thông) by which devas in the form-world, certain arhats through the fourth dhyana, and others can hear all sounds and understand all languages in the realms of form, with resulting wisdom.

thiên nhĩ trí thông nguyện

Lời nguyện thứ bảy trong bốn mươi tám lời nguyện của Đức Phật A Di Đà, nguyện chẳng thành Phật cho đến khi nào tất cả chúng sanh đều có được Thiên Nhĩ Thông—The seventh of the forty-eight vows of Amitabha, not to become Buddha until all obtain the divine ear.

Thiên Như Duy Tắc

(天如惟則, Tenjo Isoku, ?-1354): vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Thiên Như (天如), người vùng Vĩnh Tân (永新), Cát An (吉安, Tỉnh Giang Tây), họ Đàm (譚). Lúc nhỏ ông lên Hương Sơn (香山), xuống tóc xuất gia, rồi đến tham học với Trung Phong Minh Bổn (中峰明本) ở Thiên Mục Sơn (天目山) và kế thừa dòng pháp của vị này. Về sau, ông dừng chân trú tại Sư Tử Lâm (師子林) ngoài Thành Cô Tô (姑蘇城), Tô Châu (蘇州, Tỉnh Giang Tô) và cổ xướng Thiền phong của mình. Ông có bộ Sư Tử Lâm Thiên Như Hòa Thượng Ngữ Lục (師子林天如和尚語錄) 9 quyển, và được ban tặng hiệu là Phật Tâm Phổ Tế Văn Huệ Đại Biện Thiền Sư (佛心普濟文慧大辨禪師). Vào năm thứ 14 niên hiệu Chí Chánh (至正), ông thị tịch. Trong Tịnh Độ Đàm Chung (淨土曇鐘) 10 có thâu lục các tác phẩm của ông như Lăng Già Kinh Viên Thông Sớ (楞伽經圓通疏), Thiền Tông Ngữ Lục (禪宗語錄), Tịnh Độ Hoặc Vấn (淨土或問), Thập Pháp Giới Đồ Thuyết (十法界圖說), v.v.

thiên như thị

(千如是) Nghìn như thế, là tiếngtôngThiên thai sử dụng để lập số mục 3000 dung nhiếp tất cả các pháp. Tông Thiên thai thu nhiếp tất cả các pháp, từ cõi Phật đến cõi địa ngục, cộng chung là 10 cõi, tính của mỗi cõi có đủ 10 cõi, nhân với nhau thành 100 cõi; mỗi một cõi trong 100 cõi đều có 10 như thị: Tướng, Tính, Thể, Lực, Tác, Nhân, Duyên, Quả, Báo và Cứu cánh bản mạt, cho nên gọi Thiên như thị. Lại nhân 1000 như thị này với 3 thế gian thì thành 3000, là con số thực tướng của các pháp do tông Thiên thai lập ra. Tuy nhiên, 100 cõi, 1000 như hoàn toàn không phải là số lượng cố định, bởi vì thực lí thì mỗi mỗi đều đầy đủ vô lượng các pháp, cho nên 100 hay 1000 chính là hiển bày rốt ráo vô số, vô lượng. Lại vì 10 như thị có thể dùng Tam chuyển độc để hiển bày sự chứng ngộ viên lí của Tam đế, còn 100 hay 1000 như thị chính là thực tướng tam đế, vì thế cũng có thể biểu thị lí Tam đế viên dung.

thiên nhạc

1) Nhạc trời hay nhạc của chư Thiên—Heavenly (Celestial) music—The music of the inhabitants of the heavens. 2) Một trong ba thứ hỷ lạc của chư Thiên: One of the three “joys” of that of those in the heavens.

thiên nhật nghệ

(千日詣) Cũng gọi Thiên nhật tham. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Tức trong khoảng 1000 ngày liên tục đến các thần xã, chùa viện tham bái cầu nguyện. Tương truyền, phong tục này thịnh hành từ cuối thời kì Bình an ở Nhật bản.Đến đời sau, nếu đối với những ngày qui định đặc biệt nào mà đi tham bái thì cũng có công đức của mộtnghìn ngày tham bái. Những ngày đặc định ấy tức cũng gọi là Thiên nhật nghệ. Như ngày mùng 10 tháng 7 là Thiên nhật nghệ của chùa Thanh thủy, ngày 24 tháng 6 là Thiên nhật nghệ của thần xãÁi đãng...

Thiên nhị bách ngũ thập nhân

(千二百五十人): tức là 1.250 người. Đây là số lượng chúng đệ tử thường đi theo đức Phật. Trong số đó, có các đệ tử của ba vị Ca Diếp: 500 người của Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp (s: Uruvilvā-kāśyapa, p: Uruvela-kassapa, 優樓頻螺迦葉), 250 người của Ca Da Ca Diếp (s: Gayā-kāśyapa, 伽耶迦葉), 250 người của Na Đề Ca Diếp (s: Nadī-kāśyapa, p: Nadī-kassapa, 那提迦葉); cọng thêm 200 người đồ chúng đồng môn của Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗) và Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana, p: Moggallāna, 目犍連); và 50 người đệ tử của Da Xá (s: Yaśa, Yaśoda, 耶舍), tổng cọng là 1.250 người. Tất cả đều một dạ chí thành theo Phật hầu hạ, nghe pháp, tu tập, làm Phật sự, tận lực suốt đời, thường xuyên bên Ngài, cho đến khi Ngài nhập diệt mới phân tán.

thiên nhị bách ngũ thập nhân

(千二百五十人) Chỉ cho 1250 người, gồm 50 người đồng bạn của con Trưởng giả Da xá, 500 thầy Trò Ưu lâu tần loa ca diếp, 250 thầy trò Na đề ca diếp, 250 thầy trò Già da ca diếp, 100 thầy trò Xá lợi phất và 100 thầy trò Đại mục kiền liên, tổng cộng 1250 người. Một nghìn hai trăm năm mươi vị này trước thờ ngoại đạo, siêng năng khổ tu trong nhiều kiếp mà không chứng ngộ, sau được Phật hóa độ liền được chứng quả, do thâm cảm ân đức của Phật, nên trong pháp hội nào 1250 vị này cũng tham dự không bỏ, gọi là Thường tùy chúng, cho nên ở đầu các kinh liệt kê thính chúng đều nêu 1250 vị.

thiên ninh tự

(天寧寺) Chùa ở ngoài cửa Quảng an, ngoại thành Bắc Bình, được xây dựng vào thời Hiếu văn đế (ở ngôi 471-499) nhà Bắc Ngụy, bấy giờ gọi là chùa Quang lâm, sau mấy năm thì đổi tên. Đến đời vua Thành tổ nhà Minh, qui mô chùa được mở rộng và vào năm Tuyên đức thứ 10 (1435), chùa được đổi tên là chùa Thiên ninh. Năm Chính thống thứ 10 (1445), Giới đàn được thiết lập, gọi là Quảng thiện giới đàn, thỉnh 10 vịĐại đức làm Tông sư; hằng năm vào hạ tuần tháng 4, nhóm tập tăng đồ thụ giới thuyết pháp, gọi là Viên giới, theo truyền thuyết, đương thời tu tập tăng ni tới gần 1 vạn vị. Các điện đường ở chùa này lấy ngôi tháp gạch làm trung tâm, tháp hình bát giác, gồm 13 tầng, cao hơn 600 mét, thân tháp được xây trên 2 lớp nền, có điêu khắc tinh xảo, thân tháp từ lớp thứ 2 trở lên hơi thấp. Bên trong tháp có tôn trí hơn 2 nghìn pho tượng Phật. Ngoài ra, chùa này còn giữ được quả chuông đồng đúc vào năm Gia tĩnh thứ 4 (1525), xứng đáng được gọi là tác phẩm đại biểu của đời Minh.

thiên nữ

Devakanya or Apsaras (skt)—Goddess—Female deity—Attendants on the regents of the sun and the moon—Wives of Gandharvas. ; (天女) Phạm: Devakanyà. Hán âm: Nệ phạ ca nhĩ. Chỉ cho người nữ ở các tầng trời cõi Dục. Những người trời từ cõi Sắc trở lên không có dâm dục, cho nên cũng không có tướng nam nữ.

thiên nữ hình

(天女形) Chỉ cho tượng Bồ tát và chư thiên có nét mặt từ bi, dáng dấp xinh đẹp của nữ tính(Như Biện tài thiên, Cát tường thiên).

thiên nữ tán hoa

(天女散華) Thiên nữ rải hoa. Cứ theo phẩm Quán chúng sinh trong kinh Duyma thì Thiên nữ rải hoa lên thân các Bồ tát và ngài Xá lợi phất... nhưng vì ngài Xá lợi phất vẫn chưa dứt hết tưởng phân biệt nên hoa dính thân, còn các vị Bồ tát thì không bị dính.

thiên pháp minh môn

(千法明門) Minh môn là tên khác của trí tuệ, trí tuệ thông suốt nghìn pháp, gọi là Thiên pháp minh môn, là pháp tu của Bồ tát Đệ nhị địa. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa quyển thượng (Đại 8, 837 thượng) nói:Bồ tát ma ha tát trụ ở nghìn cõi Phật, làm vua cõi trờiĐao lợi, tu Thiên pháp minh môn, giảng nói 10 điều lành, giáo hóa tất cả chúng sinh.

thiên phú

Inborn—Innate—Connate.

thiên phúc luân tướng

(千輻輪相 ) Cũng gọi Túc hạ luân tướng (Pàli: Hetthà pàda-talesu cakkàni jàtàni), Túc hạ thiên bức luân tướng, Thường hiện thiên bức luân tướng, Song túc hạ hiện thiên bức luân võng cốc chúng tướng. Chỉ cho tướng quí có hình bánh xe nghìn nan hoa do các đường vân hiện thành dưới lòng bàn chân của Phật, là 1 trong 32 tướng của đức Phật. Tướng này rất vi diệu, nếu chẳng phải là bậc Thiên tử có phúc nghiệp thù thắng thì không thể có được. Nghiệp nhân cảm được tướng này là do thuở xưa đức Phật đã vì cha mẹ, sư trưởng, bạn lành cho đến tất cả chúng sinh bôn tẩu ngược xuôi mà làm các việc cúng dường, bố thí. Tướng này không những chỉ hiện ở dưới bàn chân mà còn thấy ở trong 2 bàn tay của Phật. Thiên bức luân tướng là tượng trưng cho việc đức Phật chuyển bánh xe pháp, hiện dưới lòng bàn chân là biểu thị việc đức Phật du hành các nơi thuyết pháp giáo hóa; lúc Phật quay bánh xe pháp thì ấn Chuyển pháp luân hiện trên bàn tay, dùng để chỉ rõ các sự vật; hiện ở răng thì biểu thị cho giáo lí đức Phật tuyên thuyết.

thiên phúc tự

Tên của một ngôi chùa cổ, tọa lạc trong phường Khương Thượng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, Bắc Việt Nam. Chùa còn có tên là Sùng Phúc Tự hay chùa Bộc. Chùa được xây dựng từ rất lâu, là nơi thanh vắng, giữa rừng tĩnh mịch. Đời vua Lê Hy Tông, năm 1676, có vị Tăng tên Trương Trung Bá cùng với nhân dân trong vùng đứng lên xây lại chùa sau khi bị chiến tranh tàn phá. Chùa lại được trùng tu vào năm 1792, năm Quang Trung năm thứ tư, và được đổi tên là Thiên Phúc. Trước năm 1945, Hòa Thượng Chính Công đã khai trường thuyết pháp, đa phần Tăng Ni tài giỏi đều xuất thân từ chùa nầy—Name of an ancient temple, located in Khương Thượng quarter, Đống Đa district, Hanoi City, North Vietnam. It is also called Sùng Phúc Tự, or Chùa Bộc. It was built a long time ago in a beautiful, deserted place in the middle of an iron-wood forest (exythrophloeum fordii). In the Lê Hy Tông dynasty, in 1676, Ch'an Master Trương Trung Bá and local people rebuilt the temple that was damaged by the war. It was rebuilt again in 1792, the fourth Quang Trung year and renamed Thiên Phúc Temple. Before 1945, Most Venerable Chính Công was Head of the temple. He organized a school to propagate the Buddha's Dharma in decades. Lots of monks and nuns were students of this school. ; (千福寺) Ngôi chùa cổ nằm ở phường An định, huyện Trường an, tỉnh Thiểm tây. Năm Hàm hanh thứ 4 (673), Thái tử Chương hoài sửa dinh thự của mình thành chùa, thỉnh ngài Hoài cảm làm Trụ trì, người từ khắp nơi đến cầu học mỗi ngày một đông. Vào cuối năm Khai nguyên, ngài Sở kim trụ trì chùa này. Một hôm, ngài tụng kinh Pháp hoa, lúc đến phẩm Bảo tháp thì chợt thấy tháp báu hiển hiện, ngài bèn tọa thiền trong 6 năm phát nguyện xây tháp. Vua tự tay viết 3 chữ Đa Bảo Tháp trên tấm biển hiệu, đồng thời ban cho tơ lụa. Năm Thiên bảo thứ 3 (744) bắt đầu xây tháp, tập họp các vị Đại đức ở dưới tháp tu Tam muội Pháp hoa. Bấy giờ, ngài Phi tích vâng sắc từ thảo đường ở núi Chung nam dời đến trụ ở đạo tràng Pháp hoa của chùa này, trước sau 30 năm. Năm Thượng nguyên thứ 2 (761), vua Túc tông thỉnh ngài Tuệ trung đến cung đình, lễ tôn ngài làm thầy và thỉnh ngài trụ ở viện Tây thiền chùa này. Tháng 4 niên hiệu Vĩnh thái năm đầu (766), các ngài Pháp tông, Phi tích ở chùa này cùng tham dự việc dịch kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã do Tam tạng Bất không chủ trì. Về sau, thời vua Hiến tông, ngài Vân thúy vâng sắc làm Thượng tọa, nhờ sự chấn chỉnh của ngài mà kỉ cương được trang nghiêm. Trong thời gian Pháp nạn Hội xương, chùa bị hủy hoại. Đến năm Đại trung thứ 6 (852) đời vua Tuyên tông, chùa được phục hưng và đổi tên là chùa Hưng nguyên. Về sau, lại dần dần suy vi và cuối cùng bị hoang phế hoàn toàn.

thiên phật

(千佛) Chỉ cho 1000 đức Phật cùng xuất hiện trong một thời kì. Phẩm Dược vương bồ tát bản sự trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 54 hạ) nói: Công đức của ông dù có nghìn Phật (thiên Phật (Phạm: Buddha-sahasra) cùng nói cũng không thể hết được. Một số bản chép tay bằng tiếng Phạm cho rằng Buddha-zata-sahasra là nguyên ngữ của Thiên Phật,nghĩa là trăm ghìn vị Phật. Trong bản dịch của Tây tạng có 2 chỗ đều ghi là Saís-rgyyas brgya-stoí, cũng chỉ cho trăm nghìn vị Phật. Tuy nhiên, theo nguyên ý trong kinh thì Thiên Phật là chỉ cho 1000 đức Phật kiếp Hiền. Về Thiên Phật thì có Thiên Phật kiếp Hiền như Phật Câu lưu tôn... nối tiếp nhau từ quá khứ, hiện tại cho đến vị lai; lại có Thiên Phật kiếp trang nghiêm thời quá khứ như Phật Hoa quang và Thiên Phật kiếp Tinh tú thời vị lai như Phật Nhật quang..., trong các kinh Phật danh đều có liệt kê danh hiệu của các Ngài.

thiên phật sơn

(千佛山) Núi nằm về phía nam thành Tế nam, tỉnh Sơn đông.Vì trên vách núi có tạc 1000 tượng Phật lớn nhỏ nên gọi là Thiên Phật sơn. Tên cũ vốn là Lịch sơn, tương truyền thủa xưa vua Ngu thuấn từng cày cấy ở đây, cho nên còn gọi là núi Thuấn canh. Ởlưng chừng núi có nhiều miếu, am, khoảng giữa có đình đài, từ đây, trông xa xa là dòng sông Hoàng, nhìn xuống là tỉnh thành, là một trong những thắng cảnh ở địa phương. Khoảng năm Khai hoàng, vua Văn đế nhà Tùy bắt đầu đục mở hang đá trên núi, khắc tạo hơn 1000 pho tượng Phật, trải hơn nghìn năm, các pho tượng Bức vẽ khung trang trí lọng tròn ở hang số 2 mới của động Thiên Phật ở Thố mộc khổ lạt Động Thiên Phật ở Khố tư ca cáp Quần thể tượng Phật trên Thiên Phật sơn phần nhiều đã bị nắng mưa, sương gió xói mòn, chỉ còn vài mươi pho trong chùa trên sườn núi cheo leo, bộ diện chỉ còn lờ mờ khó phân biệt được. Trên sườn Hoàng thạch của núi Thiên Phật, vài nơi còn những pho tượng đá khắc tạo vào thời Bắc Ngụy và 1 pho tượng Phật rất lớn được tạo lập vào đời Đường, rất cóýnghĩa lịch sử và giá trị nghệ thuật.

thiên phật động

(千佛洞) I. Thiên Phật Động. Ở chân núi Minh sa phía đông nam huyện Đôn hoàng, tỉnh Cam túc, có ngôi chùa Tam giới (gồm 3 chùa Thượng, Trung, Hạ); phía bên phải chùa có rất nhiều hang đá mà xưa gọi là hang Mạc cao, người đời thì gọi là Thiên Phật động. Tương truyền những hang động này được bắt đầu đục mở vào năm Kiến nguyên thứ 2 (366) đời Phù Tần, là những hang động xưa nhất hiện còn. Nhưng niên đại đục mở những hang động này có lẽ là vào đời Bắc Lương (đầu thế kỉ V). Từ đó về sau, trải qua các đời Bắc Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Chu, Tùy, Đường, Ngũ đại, Tống, Tây hạ, cho đến đời Nguyên nối nhau khai tạc không dừng; số hang động được bảo tồn đến nay tổng cộng có 492 hang. Trong đó, những bích họa chiếm tổng diện tích hơn 45.000 m2, có hơn 2.400 pho tượng đắp, sơn màu. Đề tài toàn bộ bích họa chia làm 2 loại lớn là sự tích trong kinh Phật và tượng Phật, đồng thời miêu tả tình hình sinh hoạt như cày cấy, hôn lễ, tang lễ, thuốc thang, bói toán... phản ánh phần nào các sinh hoạt xã hội của Trung quốc từ các thế kỉ V, VI, cho đến thế kỉ XIV và tình hình phát triển nghệ thuật tạo hình qua các thời đại. Năm Quang tự 26 (1900) đời Thanh, ngườita dự định sửa chữa lại, nhưng khi quét dọn sỏi đá thì phát hiện1hang đá, bên trong cất chứa sách vở, bia đá và rất nhiều tác phẩm mĩ thuật khác, trong đó có khá nhiều kinh Phật và phần lớnlàcác bản chép tay của người đời Đường, là những thứ được cất giữ ở đây trong thời chiến tranh với quân Tây Hạ. Năm Quang tự 33 (1907), Sử thản nhân (M. Aurel Stein) người Anh đến nơi đây sưu tập hơn 30 hòm(rương), các bản chép tay, tranh vẽ, nghệ phẩm thêu... mang về trưng bày ở bảo tàng viện Luân đôn nước Anh.Sau đó, Bá hi hòa (P.Pelliot) người Pháp lại tiếp tục lấy lén hơn 1000 quyển kinh sách đem về trưng bày ở thư viện Quốc gia tại Paris nước Pháp. Mãi đến năm Dân quốc 19 (1930), chính phủ Trung quốc mới biết việc này, nên đến tìm kiếm, lượm lặt cácvật còn sót lại đem về lưu giữ tại thư viện ở Bắc kinh, nhưng những vật quí tốt thì đã bị mất gần hết. Trong các sách vở, kinh điển và bia đá tìm được, về phương diện tông giáo thì có Phật giáo, Đạo giáo, Ma ni giáo, Cảnh giáo...; về mặt văn tựthì có chữ Hán, chữ Pháp lô, chữ Hồi cốt, chữ Khang cư, chữ Hòa điền xưa, chữ Cưu tư, chữ Tây tạng... Còn về nội dung thì trên từ kinh sử chính điển, dưới đến tiểu thuyết bình dân, ca khúc, điệu nhạc dân gian... đủ các loại. Đây chẳng những là kho báu của nghệ thuật Phật giáo với qui mô lớn nhất trên thế giới hiện còn, mà cũng là kho tàng quí giá của văn hóa Trung quốc. (xt. ĐônHoàng ThạchQuật). II. Thiên Phật Động. Chỉ cho động Thạch kinh ở núi Thạch kinh tại huyện Phòng sơn thuộc tỉnh Hà bắc, Trung quốc, cũng gọi là Thiên Phật động. III. Thiên Phật Động. Cũng gọi Khắc tư nhĩ thiên Phật động. Chỉ cho động Thiên Phật ở nước Cưu tư, nằm về phía đông cách huyện Bái thành, tỉnh Tân cương 50km. Chiều dài của động này từ đông sang tây 2km, tất cả gồm có 3 quần thể hang đá với hơn 200 hang động, được đục mở từ thế kỉ IV đến thế kỉ VIII, IX. Trong các hang đá ở đây thì các hang hình chữ nhật chiếm đa số và được tạo lập .Một góc của hang đá Mạc cao tại Đôn hoàng Bích họa đời Đường ở Đôn hoàng vẽ cảnh xuống tóc xuất gia theo kiểu Chi đề (Phạm:Caitya) ở Ấn độ. Tượng Phật phần nhiều là tượng đắp, sắc thái của các bức bích họa rất tươi đẹp với các màu chính là hồng, vàng, trắng, xanh lục, lam tươi. Nội dung bích họa, ngoài chủ đề Phật giáo còn xen lẫn hình thái nhân vật, phong tục, trang sức, hoa văn... của thế tục, phần lớn chịu ảnh hưởng phong cách bích họa của Kiện đà la thuộc Ấn độ, của Hy lạp, Ba tư tát tang... Bích họa lấy Phật giáo làm chủ đề thì phần nhiều dùng truyện tích Phật và tranh bản sinh làm trọng điểm, như tranh thuyết pháp, tranh niết bàn, tranh trà tì, tranh chia xá lợi, tranh bản sinh Đăng minh vương và tranh xả thân cho cọp ăn... IV. Thiên Phật Động. Chỉ cho động Thiên Phật ở Bối sa khắc lỗ khắc tại Thổ lỗ phiên, được đục mở trên sườn núi bên bờ tây sông Mộc đầu câu chảy qua chân núi Hỏa diệm. Những hang động ở đây gồm có 57 hang, phần lớn được đục mở vào các thế kỉ IX, X; về hình thức thì phần nhiều mô phỏng kiểu hang động hình vuông và hình chữ nhật của Cưu Tư. Về bích họa thì quá nửa vẽ tranh thệ nguyện thụ kí và các loại tranh biến tướng. Ngoài ra còn có các bích họa của dòng quí tộc Duy ngô nhi sống với hạnh cúng dường, Thánh giả Ma ni giáo, tín đồ Cảnh giao. Nội dung rất giàu tính biến hóa, thường gọi chung là kiểu Hồi hột, rất có giá trị nghệ thuật. V. Thiên Phật Động. Chỉ cho động Thiên Phật ở Khố mộc thổ lạt gần Khố xa, nổi tiếng ngang với các hang động ở Cưu Tư, có khoảng 100 tự viện thạch quật, trong đó phần lớn là hang hình vuông được đục mở vào thế kỉ VII, Tranh Phi thiên tấu nhạc trong hang thứ 8 của động Thiên Phật tại Cưu tư Động Thiên Phật ở Bối sa khắc lỗ khắc Bích họa vẽ thệ nguyện thụ kí ở Bối sa khắc lỗ khắc trên trần nóc hang được trang sức bằng chiếc lọng tròn dáng lông cánh chim công đặc biệt ở Khố xa. Chung quanh có hàng tượng Bồ tát mô phỏng tượng đắp ở Ấn độ. Tượng Phật trong hang động phần nhiều theo kiểu tượng Trung quốc, xiêm y nhẹ nhàng phơi phới, tư thái tự nhiên, biểu hiện đầy đủ đường nét tinh vi của các bức họa đời Đường. Về chủ đề bích họa thì có tranh biến tướng của kinh, tranh sơn thủy kiểu Trung quốc, nhất là động Niết bàn, động Phi thiên và động chim cánh vàng, rất có tính đại biểu. Niên đại tạocác bích họa kiểu Trung quốc, theo thứ tự là năm Khai nguyên 15 (727) đời vua Huyền tông nhà Đường, năm Hội xương thứ 3 (843) đời vua Vũ tông và niên hiệuCàn ninh năm đầu (894) đời vua Chiêu tông. Ngoài ra còn có Tân tân Thiên Phật động ở phía đông Khố xa và Khố tư ca cáp Thiên Phật động(có khoảng 40 hang) ở phía bắc Khố xa. Các bích họa và tượng đắp ở đây phần nhiều có phong cách Tây vực và Trung quốc.

Thiên Quan

(天官): tên gọi của một trong ba vị Tam Quan Đại Đế (三官大帝), tức Thiên Quan Đại Đế (天官大帝), còn gọi là Thượng Nguyên Tứ Phước Thiên Quan Nhất Phẩm Tử Vi Đại Đế (上元賜福天官一品紫微大帝), và hai vị kia là Trung Nguyên Xá Tội Địa Quan Nhị Phẩm Thanh Hư Đại Đế (中元赦罪地官二品清虛大帝), Hạ Nguyên Giải Ách Thủy Quan Tam Phẩm Động Âm Đại Đế (下元解厄水官三品洞陰大帝). Từ thời Thượng Cổ, tại Trung Quốc đã có nghi lễ tế trời, đất và nước rồi. Ba vị Đại Đế này được thần cách hóa chỉ dưới Ngọc Hoàng Thượng Đế (玉皇上帝) một bậc, chuyên chưởng quản việc phước lộc, tội ác và giải trừ tai ách của con người. Trong dân gian vẫn truyền tụng rằng: “Thiên Quan hảo lạc, Địa Quan hảo nhân, Thủy Quan hảo đăng (天官好樂、地官好人、水官好燈, Thiên Quan thích vui, Địa Quan thích người, Thủy Quan thích đèn).” Thượng Nguyên (上元, rằm tháng giêng), Trung Nguyên (中元, rằm tháng bảy) và Hạ Nguyên (下元, rằm tháng mười) là ba ngày tế hội của ba vị Đại Đế này. Thiên Quan Đại Đế lệ thuộc vào Ngọc Thanh Cảnh (玉清境), do 3 khí xanh, vàng, trắng mà kết hợp thành, tổng chủ quản các đế vương trên trời. Mỗi năm vào ngày rằm tháng giêng, vị này thường giáng phàm xem xét tội phước của con người, nên có tên là Thiên Quan Tứ Phước (天官賜福, Quan Trời Ban Phước). Có nhiều truyền thuyết khác nhau liên quan đến vị này. Có thuyết cho rằng ông là Nghiêu Đế (堯帝); do vì nhà vua có lòng nhân lớn nên được phong làm Thiên Quan, phụng mạng Ngọc Hoàng Thượng Đế, xem xét việc tốt xấu của con người. Nghiêu Đế họ là Y Kì (伊祁), tên Phóng Huân (放勳), con vua Khốc (嚳), em của vua Chí (摰). Khi Chí lên ngôi vua thì phong cho Nghiêu là (陶侯), rồi đổi tên là Đường (唐); nên được gọi là Đào Đường (陶唐). Tương truyền Đường Nghiêu (唐堯) có dung mạo rất quái dị, lông mày có 8 sắc màu, tai có 3 lỗ thông. Khi vua Chí nhường ngôi cho Nghiêu thì bốn phương xuất hiện hung thần, ác khí, làm nguy hại đến tánh mạng của bá tánh. Nhà vua bèn sai Hậu Nghệ (后羿) đến hàng phục hung thần kia. Ông tóm thâu gió lớn nơi sông hồ, chém chết mãnh thú ven hồ Động Đình (洞庭), thâu tóm độc xà và làm cho dân chúng được yên ổn. Vua Nghiêu lại vẽ ra bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, chế định một năm có 12 tháng. Sau khi tại vị được 98 năm, vua Nghiêu truyền ngôi vị lại cho Thuấn (舜), hưởng thọ 177 tuổi; được tôn xưng là Thiên Quan Tứ Phước Thần (天官大帝賜福神). Trong Đạo Giáo tôn sùng ông là Thượng Nguyên Nhất Phẩm Tứ Phước Thiên Quan Đại Đế (上元一品賜福天官大帝). Thuyết khác cho rằng Thiên Quan là vị quan thường tâu những lời can gián lên nhà vua tên Đường Hoằng (唐宏) dưới thời Chu U Vương (周幽王, tại vị 781-771 tcn). Ông cùng với Cát Ung (葛雍), Chu Thật (周實) từ quan và sống cuộc đời vui thú điền viên. Đến thời Tống Chơn Tông (宋眞宗, tại vị 997-1022), cả ba được phong làm Thiên Quan, Địa Quan, Thủy Quan và được tế tự hàng năm. Cũng có truyền thuyết giải thích rằng từ khi Trương Thiên Sư (張天師, 34-156, tức Trương Đạo Lục [張道陵], tự là Phụ Hán [輔漢], cháu đời thứ 8 của Trương Lương [張良], xuất thân Phong Huyện [豐縣], Tỉnh Giang Tô [江蘇省]) khai sáng Đạo Giáo về sau, dân gian mới bắt đầu biết cúng tế ba vị Thiên Quan, Địa Quan và Thủy Quan. Ngoài ra, có thuyết lại cho rằng Ngôn Vương Gia (言王爺) có 3 người con gái, đem gả cho Trần Tử Thung (陳子摏) làm vợ; mỗi người lại hạ sinh một người con, có bẩm tính khác thường. Nguyên Thỉ Thiên Tôn (元始天尊) phong cho 3 người này làm Thiên Quan, Địa Quan, Thủy Quan và ra lệnh cho họ cai quản ba cõi. Trong Thái Thượng Tam Nguyên Tứ Phước Xá Tội Giải Ách Tiêu Tai Diên Sanh Bảo Mạng Diệu Kinh (太上三元賜福赦罪解厄消災延生保命妙經), phần Thiên Quan Bảo Cáo (天官寶誥) của Đạo Giáo có đoạn: “Chí tâm quy mạng lễ: Huyền Đô Nguyên Dương, Tử Vi Cung trung, bộ Tam Thập Lục Tào, giai cửu thiên vạn chúng, khảo hiệu đại thiên thế giới chi nội, lục tịch thập phương quốc độ chi trung; phước bị vạn linh, chủ kiêm sanh thiện ác chi tịch; ân đàm Tam Giới, trí chư tiên thăng giáng chi ty, trừ vô vọng chi tai, giải thích túc ương, thoát sanh tử chi thú, cứu bạt u khổ, quần sanh thị lại, xuẩn động hàm khang, đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ, Thượng Nguyên Cửu Khí, Tứ Phước Thiên Quan, Diệu Linh Nguyên Dương Đại Đế, Tử Vi Đế Quân (志心皈命禮、玄都元陽、紫微宮中、部三十六曹、偕九千萬眾、考較大千世界之內、錄籍十方國土之中、福被萬靈、主兼生善惡之籍、恩覃三界、致諸仙升降之司、除無妄之災、解釋宿殃、脫生死之趣、救拔幽苦、群生是賴、蠢動咸康、大悲大願、太聖大慈、上元九氣、賜福天官、曜靈元陽大帝、紫微帝君, Một lòng quy mạng lễ: Huyền Đô Nguyên Dương, trong Tử Vi Cung, cai quản 36 bộ quan, nhiếp chín ngàn vạn chúng, giám sát trong khắp thế giới đại thiên, xét hồ sơ mười phương quốc độ, chủ quản hồ sơ thiện ác con người, phước nhuần vạn sinh, chủ kiểm soát hồ sơ thiện ác; ơn ban Ba Cõi, quản lý chư tiên lên xuống, trừ các tai họa, giải trừ oan khiên đời trước, thoát khỏi đường sanh tử, cứu bạt khổ ách, chúng sanh nương tựa, động vật đều yên, đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ, Thượng Nguyên Cửu Khí, Tứ Phước Thiên Quan, Diệu Linh Nguyên Dương Đại Đế, Tử Vi Đế Quân).”

thiên quan

A deva crown, surpassing human thought.

thiên quán

(天冠) Mũ đội đầu của chư thiên, hoặc chỉ cho chiếc mũ vi diệu như mũ của chư thiên mà ở nhân gian khôngthểcó.

Thiên Quế Truyền Tôn

(天桂傳尊, Tenkei Denson, 1648-1735): vị tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, tự là Thiên Quế (天桂), thường gọi là Đồng Nhãn Lâu (瞳眼樓), Diệt Tông (滅宗), Lão Loa Cáp (老螺蛤), Lão Mễ Trùng (老米虫), họ là Đại Nguyên (大原), xuất thân vùng Kỷ Y (紀伊, Kii, thuộc Wakayama-ken [和歌山縣] ngày nay). Năm lên 8 tuổi, ông theo xuất gia với Truyền Cung (傳弓) ở Song Dự Tự (窻譽寺) vùng Kỷ Y; đến năm 18 tuổi thì lên đường hành cước tu tập, đã từng đến tham vấn chư vị tôn túc như Tổ Hải (祖海) ở Vạn Tùng Tự (萬松寺), Xung Thiên (衝天) ở Khả Thùy Trai (可睡濟), Long Bàn (龍蟠) ở Hưng Thánh Tự (興聖寺). Đến năm thứ 5 (1677) niên hiệu Diên Bảo (延寳), ông đến tham yết Ngũ Phong Hải Âm (五峰海音) ở Tĩnh Cư Tự (静居寺) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông sống ở chùa này, rồi đến năm thứ 2 (1689) niên hiệu Nguyên Lộc (元祿), ông được Phùng Tu Hạ Hầu (蜂修賀候) quy y theo, và chuyển đến sống tại Đại Vân Tự (大雲寺) ở vùng Cận Giang (近江, Ōmi, thuộc Shiga-ken [滋賀縣]). Thêm vào đó, ông còn di chuyển đến Tàng Lộ Am (藏鷺庵) ở vùng Lãng Hoa (浪華, thuộc Ōsaka ngày nay), Trượng Lục Tự (丈六寺) vùng A Ba (阿波, Awa, thuộc Tokushima-ken [德島縣] ngày nay); và cuối cùng vào năm thứ 6 (1721) niên hiệu Hưởng Bảo (享保), ông lui về sống tại Thối Tàng Phong (退藏峰, tức Dương Tùng Am) ở vùng Nhiếp Tân (攝津, Settsu, thuộc Ōsaka ngày nay). Vào ngày mồng 10 tháng 12 năm thứ 20 niên hiệu Hưởng Bảo, ông thị tịch, hưởng thọ 88 tuổi.

thiên quỷ

1) Chư Thiên và ma quỷ: Devas and demons. 2) Tái sanh vào cõi chư Thiên và quỷ: Reincarnation among devas and demons. ; (天鬼) Chỉ cho cõi trời và cõi quỉ trong 6 đường. Cõi trời chỉ chochưthiên ở các tầng trời cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc, là các cõi hơn hết, vui nhất, tốt lành nhất, vi diệu nhất, cao nhất trong tất cả các cõi. Còn cõi quỉ là chỉ cho thế giới các loàiquỉnhư quỉ đói, quỉ Dạ xoa, quỉ La sát...

thiên sam

Loại áo của chư Tăng mặc phủ qua một vai, có người nói phủ vai phải, lại có người nói phải phủ vai trái (tất cả chỉ là hình tướng bên ngoài, nội tâm mới là phần quan trọng)—The monk's toga, or robe, thrown over one shoulder, some say the right, others the left. ; (偏衫) Cũng gọi Biên sam, Biến sam, Thiên tụ. Pháp y của tăng ni, giống như áo tràng. Nghĩa là Tăng kì chi và Phú kiên y may chung lại với nhau, rồi thêm vạt nữa mà trở thành 1 loại áo có 2 tay, vạt trước vạt sau và phần trên thì giao nhau với mặt sau lưng, ở chỗ giao nhau cột lại bằng những cái nút. Cứ theo Phật chế tỉ khưu lục vật đồ thì chư tăng đời xưa ở Trung quốc đã có tập quán mặc Tăng kì chi, đến đời Hậu Ngụy mới có thêm tay áo bên phải, khâu dính 2 mép lại gọi là Thiên sam. Về cách may thì cổ áo mở theo hình tướng xưa, cho nên biết vai trái của thiên sam chính là Tăng kì chi cũ, còn vai phải chính là Phú kiên y. Lại cứ theo điều Phục chương pháp thức trong Đại tống tăng sử lược quyển thượng và điều Biện đạo cụ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5, vào thời Hậu Ngụy, chư tăng được thỉnh vào cung vua làm lễ tự tứ, những người trong cung thấy chư tăng mặc áo để lộ vai bên phải cho là không tốt, vì thế mới may Thiên đản kiên y chồng lên Tăng kì chi, gọi là Thiên sam. Theo phong tục người Ấn độ, khi lễ Phật, Sư tăng, hoặc làm các việc thì tỉ khưu đều được mặc áo để lộ vai bên phải. Trung quốc do khí hậu tương đối lạnh, vả lại, mặc áo để lộ vai và cánh tay thì không hợp lễ tục, cho nên phỏng theo hình thức trùm kín vai mà chế ra 1 loại tiểu sam đặc biệt là trên hẹp dưới rộng để vắt lên vai bên phải, đây chính là nguồn gốc của Thiên sam, được bắt đầu vào khoảng đời Hậu Ngụy, rồi thịnh hành vào đời Tùy, Đường. Tứ phần luật sưu huyền lục ghi: Thiên sam che vai bên phải là do Luật sư Tuệ quang đời Hậu Ngụy sáng chế. Nhưng 2 tay áo đều là thiên sam thì không rõ ai chế ra.

thiên sư

1) Thầy dạy của vua: Preceptor of the emperor. 2) Danh hiệu của Sư Nhất Hành: A title of the monk I-Hsing. 3) Danh hiệu của giáo chủ Lão Giáo: A title of Taoist Pope. ; (天師) I. Thiên Sư. Một trong 10 hiệu của đức Phật. II. Thiên Sư. Thầy của Thiên tử. Phật tổ thống kỉ quyển 51 (Đại 49, 454 thượng) nói: Sa mônNhất hạnh hiệu là Thiên sư.

thiên sư đạo

(天師道) Chỉ cho Ngũ đẩu mễ đạo, tổ khai sáng là Trương lăng, vì ông này tự xưng là Thiên sư nên gọi là Thiên sư đạo.

Thiên sứ

天使; S: devadūta; nghĩa là »Sứ giả của chư thiên«; |Danh từ này được dùng để chỉ Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Các Thiên sứ này có nhiệm vụ giúp đỡ, nhắc nhở loài người nhận thức được tính chất Vô thường và Khổ đau của cuộc sống, tìm con đường giải thoát.

thiên sứ

Deva-messegers—Divine (heaven) messengers, especially those of Yama—See Tam Thiên Sứ and Ngũ Đại Sứ Giả. ; (天使) Chỉ cho sứ giả của vua Diêm ma. Thiên nghĩa là tự nhiên, vì xuất phát từ nghiệp đạo tự nhiên để cảnh tỉnh người đời, cho nênđượcví dụ là Thiên sứ. Kinh Chính pháp niệm xứ quyển 19 nêu 3 Thiên sứ là: Lão, bệnh và tử. Kinh Phật thuyết Diêm ma vương ngũ thiên sứ giả thì nêu ra 5 Thiên sứ là: Sinh, lão, bệnh, tử và vương pháp lao ngục, cũng gọi là Ngũ đại sứ giả.

thiên tai

Calamity—Disaster.

thiên thai

The T'ien T'ai or Heavenly terrace mountain.

thiên thai bát giáo

See Thiên Thai Ngũ Thời Bát Giáo.

thiên thai bát giáo đại ý

(天臺八教大意) Cũng gọi Bát giáo đại ý. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Quán đính soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Nội dung sách này trình bày đại cương về 8 giáo(4 giáo hóa nghi và 4 giáo hóa pháp), trong giáo phán của tông Thiên thai. Trước hết, phối hợp 4 giáo hóa nghi với 5 thời như Hoa nghiêm... và nói sơ qua về sự phối hợp ấy; sau đó là nói về danh nghĩa, căn cơ, hành vị, đắc quả của 4 giáo hóa pháp, nói về 4 môn quán hành và quán pháp 10 thừa, đồng thời, nói rõ về sự thông, biệt và quyền thực... của 5 thời.

thiên thai cửu tổ

Chín vị Tổ liên tiếp của Tông Thiên Thai—The sucession of the nine founders of the T'ien-T'ai Sect—The nine patriarchs of the T'ien-T'ai Sect: 1) Long Thọ: Long Thọ được xem là Cao Tổ của tông Thiên Thai—Nagarjuna was considered as the founder of the T'ien-T'ai School—See Nagarjuna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. 2) Huệ Văn (505-577): Nhị Tổ—Hui-Wen—See Huệ Văn. 3) Huệ Tư: Tam Tổ Huệ Tư—Hui-Su—See Huệ Tư. 4) Trí Giả: Tứ Tổ Trí Khải—Chih-Chê (Chih-I)—See Trí Khải. 5) Quán Đảnh: Ngũ Tổ Quán Đảnh—Kuan-Ting—See Quán Đảnh (3). 6) Pháp Hoa: Lục Tổ Pháp Hoa—Fa-Hua. 7) Thiên Cung: Thất Tổ Thiên Cung—T'ien-Kung. 8) Tả Khê: Bát Tổ Tả Khê—Tso-Ch'i. 9) Trạm Nhiên: Cửu Tổ Trạm Nhiên—Chan-Jan—See Trạm Nhiên. ; (天臺九祖) Chỉ cho 9 vịTổ của tông Thiên thai, đó là: Tổ thứ nhất bồ tát Long thụ, tổ thứ 2 Bắc tề Tuệ văn, tổ thứ 3 Nam nhạc Tuệ tư, tổ thứ 4 Thiên thai Trí khải, tổ thứ 5 Chương an Quán đính, tổ thứ 6 Pháp hoa Trí uy, tổ thứ 7 Thiên cung Tuệ uy, tổ thứ 8 Tả khê Huyền lãng và tổ thứ 9 Kinh khê Trạm nhiên. Bồ tát Long thụ tuy sinh ở Ấn độ, nhưng ngài Tuệ văn đời Bắc Tề y cứ vào luận Trung quán của Bồ tát để chứng minh diệu chỉ Nhất tâm tam quán, cho nên thờ Bồ tát làm vị Tổ thứ nhất. Tuy nhiên, cũng có khi gọi ngài Tuệ văn đời Bắc Tề là Sơ tổ tông Thiên thai, lí do là vìbồ tát Long thụ là người Ấn độ cho nên không được liệt vào số các Tổ.

thiên thai cửu tổ truyện

(天臺九祖傳) Truyện kí, 1 quyển, do sa môn Sĩ hành biên soạn vào đời Nam Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Nội dung sách này trình bày sơ lược truyện của 9 đời Tổ sư tông Thiên thai là Cao tổ Long thụ người Ấn độ, Nhị tổ Tuệ văn đời Bắc Tề, Tam tổ Tuệ tư ở Nam nhạc, Tứ tổ Thiên thai Trí khải, Ngũ tổ Chương an Quán đính, Lục tổ Pháp hoa Trí uy, Thất tổ Thiên cung Tuệ uy, Bát tổ Tả khê Huyền lãng và Cửu tổ là Kinh khê Trạm nhiên.

thiên thai hóa nghi tứ giáo

Bốn giáo pháp được định nghĩa bởi tông Thiên Thai—The four modes of teaching, defined by the T'ien-T'ai: 1) Đốn Giáo: Direct Teaching. 2) Tiệm Giáo: Gradual Teaching. 3) Mật Giáo: Esoteric Teaching. 4) Bất Định Giáo: Indefinite Teaching.

thiên thai hóa pháp tứ giáo

The four periods of teaching. 1) Tạng Giáo: Tạng Giáo Tiểu Thừa—The Tripitaka Teaching, or the Pitaka School was that of Hinayana. 2) Thông Giáo: Thông Giáo là giai đoạn phát triển đầu tiên của Phật Giáo Đại Thừa với đầy đủ Tam Thừa (Thanh Văn, Duyên Giác, và Bồ Tát). Giáo thuyết triển khai của Thông giáo nối liền Thông Giáo với Biệt Giáo và Viên Giáo—Interrelated Teaching, or intermediate school, was the first stage of Mahayana, having in it elements of all the three vehicles (sravaka, pratyekabuddha, and bodhisattva). Its developing doctrine linked it with Hinayana on the one hand and on the other hand with the two further developments of the “separate” or “differentiated” Mahayana teaching, and perfect teaching. 3) Biệt Giáo: Differentiated Teaching. 4) Viên Giáo: Tên khác của Bí Mật giáo—Complete, Perfect, or Final Teaching; a name for the esoteric sect.

thiên thai luật

Luật của tông Thiên Thai hay còn gọi là Đại Thừa Viên Đốn Giới—The laws (which are ascribed as the Mahayana perfect and immediate moral precepts) of the T'ien-T'ai sect as given in: 1) Luật đã được Phật nói tới trong Kinh Pháp Hoa: The commandments which the Buddha mentioned in the Lotus Sutra. 2) Mười Giới trọng: The ten primary commandments in the Brahma's Net Sutra—See Mười Giới Trọng Của Chư Bồ Tát Trong Kinh Phạm Võng. 3) Bốn Mươi Tám Giới Khinh (Kinh Phạm Võng): Forty-eight secondary commandments of the Brahma's net Sutra (Brahmajala)—See Bốn Mươi Tám Giới Khinh.

thiên thai ngũ hối

(天臺五悔) Cũng gọi Lục thời ngũ hối. Chỉ cho 5 pháp môn mà hành giả tông Thiên thai ngày đêm 6 thời tu tập để sám hối cầu diệt tội sinh phúc. Pháp tu này do ngài Trí khải y cứ vào kinh Di lặc vấn, kinh Chiêm sát, kinh Phổ hiền quán... mà lập ra. Đó là: 1. Sám hối: Phát lộ và hối cải các tội lỗi mà 3 nghiệp thân, khẩu, ý đã tạo ra từ vô thủy đến nay. 2. Khuyến thỉnh: Khuyến thỉnh chư Phật trong 10 phương trụ lâu ở thế gian và thường chuyển bánh xe pháp để cứu độ chúng sinh. 3. Tùy hỉ: Trừ bỏ các ý niệm ganh ghét, khen ngợi tất cả các thiện căn của mình và người đã tu tập được. 4. Hồi hướng: Đem tất cả thiện căn của mình hồi hướng về Bồ đề. 5. Phát nguyện: Phát 4 thệ nguyện lớn để thể hiện 4 hạnh nói trên thành sự thật. Năm pháp trên đây đều là các pháp hối tội diệt ác, cho nên đều gọi là Hối pháp. Tông Thiên thai dùng Ngũ hối làm trợ duyên cho việc tu hành Pháp hoa. Cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 7, phần cuối thì ngày đêm 6 thời phải tu 5 pháp này. Sám hối có năng lực phá được tội nghiệp đại ác, Khuyến thỉnh phá được tội phỉ báng pháp, Tùy hỉ phá được tội ghen ghét, Hồi hướng thì phá được tội chấp các Hữu (sở hữu), công đức có được không thể hạn lượng. Phần nhiều đã bị nắng mưa, sương gióxói mòn, chỉ còn vài mươi pho trong chùa trên sườn núi cheo leo, bộ diện chỉ còn lờ mờ khó phân biệt được. Trên sườn Hoàng thạch của núi Thiên Phật, vài nơi còn những pho tượng đá khắc tạo vào thời Bắc Ngụy và 1 pho tượng Phật rất lớn được tạo lập vào đời Đường, rất có ý nghĩa lịch sử và giá trị nghệ thuật.

thiên thai ngũ thời

(天臺五時) Đại sư Trí Giả tông Thiên Thai dùng ví dụ Mặt trời chiếu soi muôn vật để chia thánh giáo trong 1 đời giáo hóa của Phật làm 5 thời, gọi là Thiên thai ngũ thời. Đó là: 1. Thời Hoa nghiêm: Theo tên kinh mà lập danh. Đầu tiên, đức Như lai nói Hoa nghiêm cho những người mà căn cơ Đại thừa đã thuần thục nghe, giống như mặt trời mới mọc chiếu trên núi cao. Thời này nói về pháp giới vô tận, tính hải viên dung, không hữu đều hiển, sắc-tâm đều nhập, lặng lẽ sâu thẳm trùm hải ấn(ví dụ Phật trí), hiện cõi nước trên đầu lông, dùng thời kinh này hóa độ hàng Bồ tát Đại thừa. 2. Thời Lộc uyển: Căn cứ vào địa điểm mà lập danh. Nghĩa là sau thời Hoa nghiêm, Như lai giảng nói kinh A hàm, như lúc mặt trời chiếu vào hang tối. Thời này, Như lai vì hàng Tiểu thừa đối với đại pháp Hoa nghiêm như điếc, như mù, không nghe, không thấy, cho nên ẩn đi đại hóa mà thi hành tiểu hóa, nói pháp Tứ đế, giảng nói kinh A hàm trong vườn Lộc uyển. 3. Thời Phương đẳng: Theo pháp được nói mà lập danh. Phương là rộng lớn bao trùm khắp hết các căn cơ; Đẳng là nói chung cả 4 giáo(Tạng, Thông, Biệt, Viên). Sau thời Lộc uyển, Như lai nói các kinh Phương đẳng, như lúc mặt trời chiếu trên đồng bằng. Ở vườn Lộc uyển, Như lai nói pháp Tiểu thừa, hàng Nhị thừa mới được chút ít đã cho là đủ, Như lai bèn giả ra cư sĩ Duy ma để quở trách, khiến cho họ hổ thẹn Tiểu thừa mà mến mộ Đại pháp, cho nên giảng nói kinh Duy ma, kinh Lăng già... 4. Thời Bát nhã: Căn cứ vào tên kinh mà lập danh. Sau thời Phương đẳng, Như lai nói kinh Bát nhã, như lúc mặt trời chiếu vào giờ Tị (9-11 giờ), Tiểu thừađã bị chê trách, hồi tâm hướng Đại, nhưng tình chấp vẫn chưa dứt liền, Như lai bèn nói pháp Bát nhã không tuệ để rửa sạch tình chấp ấy. 5. Thời Pháp hoa Niết bàn: Căn cứ vào kinh để lập danh. Nghĩa là sau thời Bát nhã, Như lai chính thức giảng nói kinh Pháp hoa và kinh Niết bàn, như mặt trời chiếu đúng ngọ. Ở 4 thời giáo trước, Như lai đã điều phục các căn cơ thuần thục, cho nên trong hội Linh sơn, đức Như lai giảng thuyết xứng tính, khiến từ quyền (tạm thời) vào thực(chân thật), rõ vọng tức chân, nói về tuổi thọ lâu dài, hiển bày sự xa thẳm của Chí đạo, thượng trung hạ căn đều được thụ kí, đây chính là lí do đức Như lai tuyên thuyết kinh Pháp hoa. Tuy nhiên vẫn còn các căn cơ khác nên đức Phật lại nói kinh Niết bàn để thu nhặt hết, không bỏ sót. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo).

thiên thai ngũ thời bát giáo

(Five Periods and Eight Teachings of the T'ien T'ai school)—Đây là cách xếp loại những lời Phật dạy theo quan điểm của phái Thiên Thai, do Trí Giả Đại Sư người Trung Quốc thiết lập. Phái Thiên Thai, học thuyết dựa vào Kinh Diệu Pháp Liên Hoa và thừa nhận Ngài Long Thọ Bồ tát làm trưởng lão đầu tiên của mình. Trường phái nầy lợi dụng tất cả mọi phương tiện nhằm đạt tới đại giác. Qua việc phân loại tiến trình giảng kinh và học thuyết Phật thành năm thời kỳ và Tám Giáo Lý (bốn loại giáo lý cộng thêm bốn phương pháp giảng giải) chứng tỏ trường phái nầy hệ thống hóa sự thuyết giảng của Phật—A classification of the Buddha's teachings from the standpoint of the T'ien-T'ai sect, made by its Chinese founder Chih-I. The school of Celestial Platform of which doctrine is based on the Lotus Sutra and sees Nagarjuna as its first patriarch. This sect takes advantage of all expedients to practice to attain enlightenment. The classification of sutras and the teachings of Buddha into five periods (or five stages) and eight teachings (four doctrines plus four methods of expounding them) represents and attempt to systematize the teachings of Buddha: A) Năm Thời Kỳ, trong đó thời Hoa Nghiêm kéo dài 21 ngày, thời A Hàm kéo dài 12 năm, thời Phương Quảng kéo dài 8 năm, thời Bát Nhã kéo dài 22 năm, và thời Niết Bàn kéo dài 8 năm—Five Periods in which the Avatamsaka period lasted for twenty-one days, the Agama period for twelve years, the Vaipulya period for eight years, the Prajna period for twenty-two years, and the Nirvana period for eight years: 1) Thời kỳ Hoa Nghiêm: Thời Hoa Nghiêm không phải là thuần viên vì nó gồm cả biệt giáo. Thời kỳ nầy kéo dài ba tuần lễ và Phật đã thuyết giảng ngay sau khi Ngài đạt được đại giác. Với giáo thuyết nầy, Đức Phật muốn đánh thức các đệ tử của Ngài, nhưng vì giáo pháp quá thậm thâm nên đa phần các đệ tử của Ngài đã không hiểu được những lời thuyết giảng nầy, tức là ý tưởng cho rằng vũ trụ là biểu hiện của cái tuyệt đối. Nói chung, giáo lý được giảng dạy trong thời kỳ nầy là pháp tự chứng của Phật trong sự đại giác của Ngài, nghĩa là khai thị về sự giác ngộ của Ngài. Thính chúng không thể thấu triệt nổi nên họ như câm như điếc—The Time of the Wreath is not yet pure 'round' because it includes the Distinct Doctrine. The period of the Buddhavatamsaka-Sutra, which lasted for three weeks and the Buddha taught immediately after his enlightenment. With this teaching, the Buddha awoke his disciples to the greatness of Buddhism; however, it was too profound for them to grasp and most of his disciples did not understand the principal idea of the sutra, that the universe is the expression of the absolute. Generally speaking, the first period was was the Time of Wreath. The doctrine taught in this period was what the Buddha had conceived in his Great Enlightenment, i.e., the elucidation of his Enlightenment itself. His disciples could not understand him at all and they stood as if they were “deaf and dumb.” 2) Thời kỳ A Hàm: Thời kỳ thứ hai còn gọi là thời Lộc Uyển. Thời Lộc Uyển chỉ phiến diện vì chỉ giảng các kiến giải Tiểu Thừa. Sau khi Đức Phật thấy rằng không đệ tử nào của Ngài sẳn sàng tiếp nhận và hiểu nổi kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật bèn giảng các kinh A Hàm nguyên thủy để khế hợp với những kẻ căn tánh thấp kém. Chúng đệ tử của Ngài bây giờ có thể tuân theo lời dạy của Ngài và thực hành một cách xứng lý để đạt được quả vị A La Hán. Thời kỳ nầy còn được gọi là thời dụ dẫn, tức là thời kỳ mà mỗi người được dẫn dụ để đi đến giáo lý cao hơn. Trong giai đoạn nầy, Đức Phật không dạy toàn bộ giáo điển nữa, mà Ngài chỉ dạy những gì mà các môn đồ có thể hiểu được. Ngài trình bày về khổ, không, vô thường, vô ngã, Tứ diệu đế, Bát chánh đạo và Thập nhị nhân duyên, vân vân, nhằm giúp chúng sanh giải thoát khỏi tam đồ lục đạo. Giai đoạn nầy kéo dài 12 năm. Giáo thuyết nầy tương xứng với giáo thuyết của Phật giáo Nguyên Thủy—The second period, also called the “Time of the Deer Park.” The Time of the Deer Park is only one-sided as it teaches only Hinayanistic views. Perceiving that his disciples were not yet ready for the teachings of the Avatamsaka Sutra, the Buddha next preached the early Agamas to suit the people of the inferior capacity. His disciples were now able to follow his teaching and practiced accordingly in order to attain the fruition of arhat or saintly position. This period is also called the Time of Inducement, or a period in which the people were attracted to the higher doctrine. In the period of the Agama-Sutra. In this period, the Buddha did not teach the complete truth, but only what his disciples could understand. He presented the truths of suffering, emptiness, impermanence, egolessness, the four noble truths, the eightfold noble path and conditioned arising, etc., which help free people from the three realms and six paths. This phase lasted twelve years. The teachings in this period correspond to the Theravada teachings. 3) Thời kỳ Phương Quảng hay thời kỳ phôi thai của Phật giáo Đại Thừa: Thời Phương Đẳng giảng cùng lúc cả bốn giáo thuyết nhưng vẫn còn tương đối. Trong giai đoạn kéo dài tám năm nầy, Đức Phật bác bỏ sự luyến chấp vào Tiểu Thừa và hướng dẫn đệ tử đi vào nẻo Đại Thừa. Đức Phật bắt đầu thuyết giảng về Đại thừa và tính ưu việt của Bồ tát, cũng như làm sáng tỏ sự thống nhất giữa Phật và người, giữa cái tuyệt đối và tương đối. Đây là thời kỳ mà những người Tiểu Thừa quy đầu sang giáo lý Đại Thừa và vì mục đích nầy mà Đức Phật đã giảng các kinh Phương Đẳng, tức triển khai, kinh Đại Nhật Như Lai và kinh Duy Ma Cật. Vì Phật thường hay khiển trách các vị La Hán do tà kiến hay thiên kiến của họ, nên thời kỳ nầy còn được gọi là thời “Đàn Ha.” Các vị Tiểu Thừa, theo giảng luận của Phật, thức tỉnh về những thiên kiến của mình và học hỏi để thấy giá trị Đại Thừa—The period of the Vaipulya-Sutra or the period of the introductory Mahayana. The Time of Development teaches all four doctrines together and therefore is still relative. In this eight-year period, the Buddha taught the first level of the Mahayana. During this phase the Buddha refuted his disciples' attachment to the Lesser Vehicle and directed them toward provisional Mahayana. He stressed the superiority of a bodhisattva. He clarified the unity of Buddha and sentient beings, of absolute and relative. This was the time when the Hinayanistic people were converted to the Mahayana doctrine and for that purpose the Buddha preached what we call “Vaipulya” or developed texts, Maha-Vairocana and Vimalakirti Sutras. As the Buddha often rebuked the arhats for their wrong or short-sighted views, this period is called the Time of Rebuke. The Hinayanists, after the Buddha's reasoning, became aware of the short-sightedness and learned to appreciate Mahayana. 4) Thời kỳ Bát Nhã hay Liên Hoa: Thời Bát Nhã chủ yếu giảng Viên giáo nhưng còn liên hệ Thông giáo và Biệt giáo. Do đó nó chưa hoàn toàn viên mãn. Trong 22 năm của thời kỳ nầy, Đức Phật thuyết giảng giáo pháp Đại Thừa ở cấp cao hơn và bác bỏ sự luyến chấp Tiểu Đại của các hàng đệ tử. Đức Phật đã giảng về tính hư không trong Kinh Bát Nhã. Trong thời kỳ nầy, Đức Phật giảng thuyết kinh Bát Nhã và mọi ý niệm biện biệt và chấp thủ đều bị quyết liệt loại bỏ. Bởi vậy, nó được gọi là thời “Đào Thải.” Suốt trong thời kỳ nầy, giáo lý về “không” được giảng dạy, nhưng chính “không” lại bị phủ nhận. Do đó, thời Bát Nhã cũng được gọi là thời “Hội Nhất Thiết Pháp,” nghĩa là bác bỏ mọi phân tích và thống nhất chúng lại—The period of Prajnaparamita-Sutra or Lotus-Sutra. The Time of Wisdom mainly teaches the Round Doctrine and yet is linked with the Common and Distinct Doctrines. Therefore, it is not quite perfect or complete. This phase lasted twenty-two years, in which the Buddha expounded a higher level of provisional Mahayana and refuted his disciples' attachment to the distinction between Theravada and Mahayana by teaching the doctrine non-substantiality or emptiness. He taught the teachings of shunyata in the Prajnaparamita-sutra, and all the ideas of distinction and acquisition were mercilessly rejected. It is therefore, called the Tome of Selection. During this period, the doctrine of “Void” was taught but the “Void” itself was again negated. In the end everything reverts to the ultimate Void. So the time of Priajna was also called the Time of Exploring and Uniting of the Dharmas, denying all analysis and unifying them all in one. 5) Thời kỳ Pháp Hoa và Niết Bàn: Trong tám năm cuối đời, Đức Phật thuyết giảng trực tiếp từ những kinh nghiệm mà Ngài đã giác ngộ. Ngài đã giảng về tính đồng nhứt tuyệt đối giữa các mặt đối lập và về sự hạn hẹp của Tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) nên Ngài đã chỉ dạy cách hòa lẫn nhau thành Nhất thừa (một cỗ xe duy nhất): Phật thừa. Thời kỳ nầy còn gọi là thời Pháp Hoa. Trong thời kỳ nầy, sự truy cứu hay phân tích và dung hợp về các học thuyết được giảng dạy. Quan điểm về Tam thừa Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát có thể đạt được Thánh quả chỉ là một giáo thuyết “khai mở” tạm thời để cuối cùng cả ba đều được “hội” về Phật Thừa. Như thế thời thứ năm đặc biệt được gọi là thời “Khai Hội.” Nhân duyên xuất hiện ở thế gian của Phật là cứu độ tất cả chúng sanh và nhân duyên ấy chỉ có thể được hoàn thành bởi Kinh Pháp Hoa. Do đó Pháp Hoa là giáo lý rốt ráo trong tất cả những giáo lý của Phật, và là vua của tất cả các kinh. Thời kỳ Pháp Hoa là thời kỳ thuần “Viên” và tối thượng. Vì ở đây nhân duyên xuất hiện thế gian của Phật được biểu lộ đầy đủ. Kinh phụ thuộc, Niết Bàn, tóm tắt những gì Phật đã dạy trong suốt cả cuộc đời của Ngài, nghĩa là Tam thừa và Tứ giáo đều được xóa bỏ do hội tam thừa về nhất thừa và hợp tứ giáo thành viên giáo cứu cánh. Như vậy, tất cả giáo lý của Phật sau cùng đều quy tụ vào Pháp Hoa mà tông Thiên Thai coi như là giáo lý tối thượng của Phật giáo—The period of the Mahaparinirvana-Sutra, also called the period of the Lotus-Sutra. In the last eight years of his life, the Buddha taught directly from his own enlightenment, fully revealing the truth. He emphasized the absolute identity of all opposites and the temporary and provisional nature of the three vehicles of Sravakas, Pratyeka-buddhas and Bodhisattvas. Then he taught how to validify and merge them into a single vehicle or Ekayana or Buddhayana. This period was also called the Time of the Lotus. Here the exploring or analyzing and the uniting of the doctrines are taught. The view that the three Vehicles of Hearers, Self-Enlightened Ones and Would-Be Buddhas can obtain saintly fruition was only an exploring, a temporary teaching, but the three finally were united into one Vehicle, or “Uniting.” Thus the fifth period is especially called the Time of “Opening and Meeting.” The object of the appearance of the Buddha was to save all beings and that object can be accomplished only by the Lotus. Therefore, the Lotus is the ultimate doctrine among all the Buddha's teachings and is the king of all the sutras. The Time of the Lotus alone is purely 'round' and superlatively excellent, wherein the purpose of the Buddha's advent on earth is fully and completely expressed. The supplementary Nirvana Sutra summarizes that the Buddha had preached during his whole life, i.e., the three Vehicles and the four doctrines were dismissed by converting the three Vehicles to One Vehicle and combining the four doctrines with the one ultimate Round Doctrine. Thus, all teachings of the Buddha are absorbed finally into the Lotus which is considered by the T'ien-T'ai to be the Supreme Doctrine of all Buddhism. B) Bát giáo—Eight methods: Tám giáo còn gọi là Bát Giáo, tức là tám khoa hay tám phương thức giáo hóa của Phật dạy cho chúng sanh tu hành. Bát Giáo chia ra làm bốn về phương pháp và bốn về nội dung—Eight Doctrines are eight methods or means used by the Buddha to teach sentient beings to cultivate. Eight teachings, four of which are methods, and the rest four are contents: a) Bốn phương pháp—Four methods: 1) Đốn giáo—Instantaneous Doctrine: Ở đây Đức Phật tuyên thuyết về sở chứng của Ngài mà không cần đến phương tiện nào cả, đây là thời Hoa Nghiêm. Phương pháp đốn giáo nầy được những người thượng căn thượng trí áp dụng, vì những người nầy có khả năng hiểu được chân lý bằng trực giác. Đốn giáo là giáo pháp đốn ngộ hay ngộ cấp kỳ tức là pháp môn trực chỉ dành cho những hành giả thượng căn trong nhà Thiền—The Sudden (Abrupt) Doctrine, in which the Buddha preached what he had conceived without using any expediency, this is the time of the Wreath. This sudden method or the method of the Buddhavatamsaka-Sutra, which is to be used with the most talented students who understand the truth directly. Instantaneous or Sudden Doctrine is Dharma teachings which will lead to a fast awakening and enlightenment such as Zen Buddhism, reserved for those at the highest level of cultivators. 2) Tiệm giáo—Gradual or Deliberate Doctrine: Đức Phật dùng “Tiệm Giáo” dẫn dụ mọi người đi lần vào sự tư duy sâu thẳm, dùng tất cả mọi phương tiện, đây là thời Lộc Uyển, Phương Đẳng và Bát Nhã. Phương pháp “Tiệm Giáo” nầy được đại đa số áp dụng vì nó đi từ thấp đến cao, từ căn bản đến phức tạp như Pháp Môn Tịnh Độ. Phương pháp nầy bao hàm các thời kỳ A Hàm, Phương Quảng và Bát Nhã—The Buddha utilized the “Gradual Doctrine” to induce people gradually into deeper thinking, using all sorts of measures, this is the time of the Deer Park, of Development and of Wisdom. The Gradual Doctrine teaches cultivators to gain enlightenment gradually from lower to higher levels such as the Pureland Dharma Door. This gradual method or the method of Agama, Vaipulya and Parinirvana-sutras. This method is utilized by the majority of people because it progresses from the elementary to more complex teachings. 3) Mật giáo—Esoteric Doctrine: Trên thực tế, đây là giáo lý bí mật bất định, nó không nhất định và biến thiên vì thính giả khuất lấp nhau bởi sức thần thông của Phật và mỗi người nghĩ rằng Phật chỉ giảng cho riêng mình mà thôi. Phương pháp bí truyền chỉ được Phật dùng khi nói riêng với một người và chỉ có người đó hiểu được. Khác với Thông giáo, Mật giáo dạy về nghĩa thâm mật của Phật giáo. Phương pháp dạy hành giả về cách bắt ấn, trì chú, tam mật tương ưng, tức thân thành Phật. Thân khẩu ý của hành giả tương ưng với thân khẩu ý của Phật—The Secret Teaching. In fact, it is a mystical indeterminate doctrine. It is indeterminate and varied because many a listener is concealed from another by the Buddha's supernatural power and each thinks that the Buddha is teaching him alone. Thus all hear separately and variously. Such indeterminacy exists from the time of the Wreath to the time of Wisdom. The secret method, which was used by the Buddha only when addressing to one person, in which case the Buddha was understood by this only person. Opposite to the Common Doctrine, this Dharma is passed on at a hidden level and has the characteristics of the deepest and most profound meanings of Buddhism. This doctrine teaches cultivators to recite mantras, make Buddha seals with hands, etc. If the three karmas of the cultivators become one with the Buddha, then the cultivators will attain Buddhahood. Meaning if the cultivators' Mind, Spech and Body is similar to that of the Buddha, then Buddhahood is attained. 4) Bất Định giáo—Indefinite or Indeterminate Doctrine: Giáo lý bất định, không bí mật mà Phật dùng khi có mặt nhiều đệ tử khác trình độ nhau, nhưng đều hiểu lời Phật giảng. Giáo pháp mà Phật tùy theo căn cơ nghi thuyết dạy, chớ không nhứt định là phải thuộc riêng về một căn cơ nào cả—The Indeterminate Doctrine, non-mystical indeterminate doctrine, in which though the students have different levels, they still understood his words in different ways (all listeners know that all are hearing together and yet they hear differently and understand vaiously). The Buddha used Indefinte Doctrine to teach sentient beings with different levels of understanding. b) Bốn nội dung—Four contents: 5) Tiểu Thừa hay Tạng Giáo—Pitaka Doctrine: Tạng giáo là các pháp môn tu học có dạy chung trong Tam Tạng kinh luật và luận. A Hàm và tất cả giáo lý Tiểu Thừa, như được thấy trong văn học Tỳ Bà Sa, thích hợp với Thanh văn và Duyên giác—The Doctrine of Tripitaka teaching (Scriptures) or Pitaka (Storage) Doctrine includes various Dharma Doors of cultivation taught to all in the Tripitaka or 'Three Storages.' (Sutra, Precept Pitaka, and Upadesa Pitaka or commentary of Sutra). Agamas or traditions of discourses and all Hinayana doctrines, such as those found in the Vaibhasika literature, appropriate for Sravakas and Pratyeka-buddhas. 6) Thông Giáo—Common Doctrine: Chung cho tất cả ba thừa và là giáo lý sơ cơ của Đại Thừa. Trong khi một vị sơ tâm Bồ Tát theo những tu tập như các vị trong tam thừa, thì một đại Bồ Tát thâm nhập cảnh giới của Biệt Giáo và Viên Giáo. Đây là giáo thuyết tổng quát, dành cho cả Tiểu lẫn Đại thừa, nhằm chỉ dạy cho Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát trong giai đoạn phát triển đầu tiên. Giáo pháp nầy dạy chung cho tất cả ba căn cơ thượng trung hạ và cả ba thừa Tiểu Trung Đại: The Doctrine Common to All or the connecting teaching. It is common to the three Vehicles and is elementary doctrine of Mahayana. While an inferior Bodhisattva follows the same practices as the people of the three Vehicles, a superior Bodhisattva will penetrate into “Distinct Doctrine” and “Doctrine of Perfection.” This general teaching, which is for both Hinayana and Mahayana. And is meant for Sravakas, Pratyeka-buddhas and Bodhisattvas in their first level of progress. The Common Doctrine or Apparent Doctrine refers to the teachings used collectively to reach all three levels of sentient beings High, Intermediate, and Low. 7) Biệt Giáo—Specific Doctrine: Đây là học thuyết thuần nhất Đại Thừa và chỉ dành riêng cho Bồ Tát. Tạng giáo và Thông giáo chỉ giảng về cái “không” phiến diện hay “thiên không,” Biệt giáo giảng về Trung Đạo, và do đó nó riêng biệt. Có người nói Biệt Giáo là pháp dạy riêng cho mỗi căn cơ hoặc Thượng, hoặc Trung, hoặc Hạ, cùng ba thừa, hoặc riêng cho Tiểu Thừa Thanh Văn, hoặc riêng cho Trung Thừa Duyên Giác, hoặc riêng cho Đại Thừa Bồ Tát—The Distinct Doctrine or special teaching for Mahayana Bodhisattvas. The Doctrine of Pitakas and the Doctrine Common to all teach the simple one-sided “Void” while this doctrine teaches the Middle Path, and, therefore, is distinct and separate. Someone says that Specific Doctrine include teachings geared specifically to each level of High, Intermediate, or Low of the three vehicles which include Sravakas or Lesser Vehicle, or Pratyeka-Buddhas or Intermediate Vehicle, or Mahayana Bodhisattvas or Greater Vehicle. 8) Viên giáo—Perfect Doctrine: Học thuyết hoàn hảo hay tròn đầy, thuyết giảng con đường giữa. Viên có nghĩa là toàn thiện, biến mãn, viên mãn, viên thông. Biệt giáo giảng về một “trung đạo” độc lập và cách biệt, và chỉ một phương tiện riêng biệt, còn Viên giáo là giáo pháp tròn đầy, giảng vể Trung Đạo của viên thông và quán triệt. Do đó, nó không phải là một trung đạo cách biệt, phiến diện, mà là một trung đạo thực thể, hoàn toàn hòa hợp , trên lý thuyết cũng như thực tế. Như thế “Viên” có nghĩa là một pháp chứa đựng tất cả các pháp, nghĩa là “Nhất tức nhất thiết và nhất thiết tức nhất.” Viên giáo còn gọi là “Đại Thừa Giáo Pháp Tối Thượng Thừa” như giáo pháp trong Kinh Hoa Nghiêm chỉ chuyên dạy cho các hàng Bố Tát Đại Sĩ Pháp Thân, từ Thập Trụ đến Thập Địa Bồ Tát—The complete, round teaching, or perfect teaching that of the Middle-Way. “Round” means perfection, all pervading, all fulfilling, all permeating. The Distinct Doctrine teaches an independent and separate Middle Path and is simple-separate mean, while the Round Doctrine, the most complete and penetrating which teaches the Middle Path of perfect permeation and mutual identification. Therefore, it is not a separate, one-sided Middle Path, but the Middle Path as noumenon, perfectly harmonious, theoretically and practically. Thus “round” means that one element contains all elements, i.e., the principle of “One is all and all is one.” The Perfect Doctrine is also called the ultimate teaching of Mahayana Buddhism. It is the most complete and penetrating teaching used to teach the Maha-Bodhisattvas, or Enlightened Beings striving to attain the Ultimate Enlightenment of Buddhahood, such as the teachings in the Avatamsaka Sutra, which were taught specifically for the Great Strength Dharma Body Maha-Bodhisattvas from Ten-Entrances to Ten-Grounds Maha-Bodhisattvas.

thiên thai nhị ứng thân

Tông Thiên Thai lập ra hai loại thân—T'ien-T'ai sect has the distinction of two kinds of nirmanakaya. 1) Thắng Ứng Thân: Superior or supernatural Nirmanakaya. 2) Liệt Ứng Thân: Inferior or natural Nirmanakaya.

thiên thai sơn

Núi Thiên Thai, nơi xuất phát của tông phái Thiên Thai. Tên Thiên Thai dùng để chỉ chân núi Tiên Hà Lĩnh, Thai Châu, miền Nam Trung Hoa, nơi có “Tam Đài Lục Tinh,” nơi mà Chih-I (Trí Khải) hay Đại Sư Thiên Thai đã xây dựng những tự viện và sáng lập ra tông phái nầy—The T'ien-T'ai or Heavenly Terrace mountain, T'ai-Chou, South China, the location of the T'ien-T'ai sect; its name is attributed to the “Three Stairs Six Stars” at the foot of Ursa Major, under which it is supposed to be, but more likely because of its height and appearance. It gives its name to a hsien in the Chekiang T'aichow prefecture, southwest of Ningpo. The monastery, or group of monasteries was founded there by Chih-I, who is known as the T'ien-T'ai Great Master. ; (天臺山) Cũng gọi Thiên thê sơn, Thai nhạc. Núi ở phía đông bắc dãy Phật hà lãnh sơn, phủ Thai châu (nay là huyện Thiên thai) tỉnh Chiết giang, Trung quốc. Hình thể núi như đóa sen 8 cánh úp xuống, có 8 nhánh, 8 khe, Thượng thai, Trung thai, Hạ thai, giống như chòm sao Thai có 3 sao, vì thế gọi là Thiên thai. Núi này do 8 ngọn hợp thành, tức các ngọn: Đồng bách, Xích thành, Bộc bố, Phật lũng, Hương lô, La hán, Đông thương và Hoa đính, trong đó, ngọn Hoa đính cao 1136 mét, là ngọn cao nhất. Theo truyền thuyết, núi này tên cũ là Nam nhạc, con vua Linh vương nhà Chu là Thái tử Tấn đến đây ở, sau khi chết, hồn ông trở thành thần núi, báo mộng cho các quan tả hữu bảo đổi tên núi là Thiên thai sơn. Núi rất quanh co nhiều lớp, có các núi Chiêu hiền, Kim đôn..., các ngọn Trích tinh, Ngọc nữ..., các hang Bách trượng, Sư tử..., các động Lưu nguyễn, Đơn hà... ; các khe Náo, Tú..., các đầm Huệ trạch, Linh trạch, Bách trượng, các hồ Tuyền, Mặc... Còn có suối nước ngọt, suối Trí giả, suối Tích trượng, ao mực, ao phóng sinh, đá 500 La hán... từ xưa đã rất nổi tiếng. Đây cũng là nơi ở ẩn của các Đạo sĩ, ẩn sĩ như Ba di, Thúc tề, Bành tông, Nguyễn triệu, Hứa mại, Cát huyền, Cố hoan, Diệp pháp thiện, Tư mã Thừa trinh, Lã đồng tân, Trương tử dương... Tương truyền, Phật giáo đến núi này khoảng năm Xích ô (238-251) đời Ngô thời Tam quốc, đầu tiên xây chùa Thanh hóa, am Thúy bình, không bao lâu, có các ngài Chi độn, Vu pháp lan, Đàm quang, Trúc đàmdu... lần lượt sáng lập các chùa như chùa Thê quang, chùa Ẩn nhạc, chùa Trung nham... Về sau, ngài Pháp thuận sáng lập chùa Bộc bố, ngài Tuệ minh sáng lập chùa Ngọa Phật. Ngài Tăng hộ ở Thạch thành phát nguyện tạo lập tượng Phật Di lặc bằng đá, các ngài Tăng thục, Tăng hựu nối tiếp sự nghiệp này và đến năm Thiên giám 15 (516) đời Lương thì tượng được hoàn thành. Ngoài ra, ngài Trí đạt sáng lập chùa Thêthiền, tôn giả Thiên hoa xây chùa Khai nghiêm, ngài Tăng hựu cũng cất chùa Bạch nham. Đến năm Thái kiến thứ 7 (575) đời Trần Tuyên đế thuộc Nam triều, ngài Trí khải dựng chùa Tu thiền (sau gọi là chùa Thiền lâm) ở ngọn Phật lũng, từ đó chùa Tu thiền trở thành đạo tràng căn bản của tông Thiên thai. Lúc về già, ngài Trí khải được Tấn vương (vua Dạng đế nhà Tùy sau này) xây dựng Thiên thai sơn tự để ngài an trụ và vào niên hiệu Đại nghiệp năm đầu (605), vua ban biển hiệu Quốc Thanh Tự, lịch đại Tổ sư tông Thiên thai đều trụ ở chùa này. Sau lại xây thêm chùa Bình điền. Năm Trinh quán thứ 6 (632) đời Đường, ngài Quán đính nhập tịch ở chùa Quốc thanh. Về sau, có các ngài Trí việt, Phổ minh, Trí uy... nối tiếp nhau trụ trì chùa này. Tương truyền, khi ngài Phong can trụ ở Quốc thanh thì ngài Thập đắc làm điển tọa, lúc đó thi sĩ Hàn sơn trụ ở hang Hàn nham thường đến chùa này xin ăn, giao du rất thân mật với ngài Thập đắc, làm hơn 300 bài thơ kệ. Sau, các ngài Huyền lãng, Trạm nhiên kế tiếp nhau đến trụ ở chùa này. Năm Kiến trung thứ 3 (782), ngài Trạm nhiên thị tịch ở đạo tràng Phật lũng, các đệ tử xây tháp thờ toàn thân xá lợi của ngài ở góc phía nam khu tháp của ngài Trí khải. Năm Trinh nguyên 20 (804) đời Đường, các vị tăng người Nhật bản là Tối trừng,Nghĩa chân... đến Thiền viện Trí giả (chùa Chân giác) theo học giáo pháp tông Thiên thai nơi các ngài Đạo thúy, Hành mãn... Sau khi về nước sáng lập tông Thiên thai của Phật giáo Nhật bản. Trong Pháp nạn Hội Xương (841-846), Vũ tông nhà Đường phá hoại Phật giáo, phần lớn chùa tháp ở núi Thiên thai bị hủy hoại. Thiền viện do sư Tối trừng của Nhật bản sáng lập trong chùa Thiền lâm nơi sư đã học Thiền với ngài Tiêu nhiên từ năm 804 cũng đã bị hoang phế. Sau, các ngài Viên trân, Viên giác đến Trung quốc lưu học xây dựng lại Thiền viện này và đặt tên là: Thiên thai sơn Quốc thanh tự Nhật bản quốc đại đức tăng viện(Tăng viện của các Đại đức Nhật bản ở chùa Quốc thanh tại núi Thiên thai). Các vị tăng Nhật bản đến Trung quốc du học phần nhiều thường lên chiêm bái núi Thiên thai. Trong các năm Long đức đời Hậu Lương, các ngài Đức thiều, Sư uẩn trụ ở Vân cư, nhận sự qui y của Ngô Việt vương và phục hưng lại các di tích cũ của ngài Trí khải. Từ cuối đời Đường về sau, Thiền tông hưng thịnh, cho nên các Thiền tự ở núi Thiên thai đặc biệt được xây cất rất nhiều. Vào thời Ngũ đại, các ngài Đức thiều, Nghĩa tịch phục hưng. Đến đời Tống, các ngài Tri lễ, Tuân thức dời trung tâm của giáo học Thiên thai đến núi Tứ minh, Tây hồ, về sau, núi Thiên thai dần dần suy vi. Đời Nguyên có ngài Vô kiến Tiên đổ trụ ở núi Thiên thai; đời Minh thì có các ngài Đàm ngạc, Tượng tiên Chân thỉnh, Dịch am Như thông, Nguyệt đình Minh đắc... trụ núi này. Nhưng đến khoảng các năm Hoằng trị, Chính đức đời Minh thì giáo tích của tông Thiên thai ở núi này hầu như đã suy diệt. Trong núi Thiên thai vốn có 72 ngôi chùa Phật, đến khoảng năm Vạn lịch đời Minh thì đã bị phá phân nửa, còn phân nửa. Hiện nay còn các chùa: Quốc thanh, Chân giác, Cao minh, Đại Phật, Hoa đính, Thượng phương quảng, Hạ phương quảng, Vạn niên, Bảo tướng... Trong đó, chùa Quốc thanh là đạo tràng căn bản, các điện đường còn nguyên vẹn, nổi tiếng nhất. Chùa Chân giác là nơi an táng ngài Tríkhải, trước tháp có 2 tòa tháp bằng đá, hiệu là Định tuệ chân thân tháp viện. Chùa Cao minh còn lưu giữ di tích ngài Trí khải giảng kinh Tịnh danh, hiệu là Trí giả U khê đạo tràng.Chùa Bảo tướng cũng gọi là chùa Xích thành, chùa Đại Phật là nơi ngài Trí khải thị tịch, thời Ngô Việt vương, ngài Đức thiều xây dựng điệnđường, hiệu là Bảo quốc Hoa nghiêm viện, đến đời Tống mới đổi tên như hiện nay. Trên đỉnh núi có ngôi tháp gạch gồm 7 tầng cao 20 trượng, do Vương phi Nhạc dương xây cất vào đời Lương, hiện nay chỉ còn 4 tầng. Ngoài ra, còn có 5 động là Phi hà, Ngọc kinh, Xan hà, Hoa dương và Tử dương. [X. Thiên thai tứ giáo nghi tập giải Q.thượng; Lương cao tăng truyện Q.11, 13, 14; Quốc thanh bách lục Q.2, 3, 4; Tùy Thiên thai Trí giả đại sư biệt truyện, Thiên thai sơn phương ngoại chí; Pháp hoa trì nghiệm kí Q.thượng; Cổ kim đồ thư tập thành sơn xuyên điển 121-126; Chức phương điển 995-1000, 1002; Thiên thai hà tiêu Q.5, phần 4; Chi na Phật giáo sử tích bình giải Q.4].

thiên thai tam giáo

Ba giáo của Thiên Thai tông. Theo tông Thiên Thai thì giáo thuyết của Phật Thích Ca được chia làm ba loại—Three modes of Sakyamuni's teaching, according to the T'ien T'ai: (A) Đại Cương Tam Giáo: 1) Đốn giáo: Tức thì khai ngộ—The sudden or immediate teaching, by which the learner is taught the whole truth at once. 2) Tiệm giáo: Từ từ khai ngộ—The gradual teaching. 3) Bất định giáo: The undetermined or variable method whereby he is taught what he is capable of receiving. (B) Quyền Môn Tam Giáo: 1) Tiệm Giáo: Gradual Teaching. 2) Đốn Giáo Immediate Teaching. 3) Viên Giáo: Perfect teaching—The last being found in the final or complete doctrine of the Lotus Sutra. (C) 1) Tam Tạng Giáo: The Tripitaka doctrine or orthodox Hinayana. 2) Thông Giáo: Intermediate, or interrelated doctrine, such as Hinayana-cum-Mahayana. 3) Biệt Giáo: Differentiated or separated doctrine, such as the early Mahayana as a cult or development, as distinct from Hinayana. ; (天臺三教) Chỉ cho 3 giáo trong phán giáo của tông Thiên thai. Gồm 3 loại: 1. Đại cương tam giáo: Đốn giáo, Tiệm giáo và Bất định giáo. Ngoài Bí mật giáo trong 4 giáo Hóa nghi của tông Thiên thai, 3 giáo này thu nhiếp các kinh trước khi kinh Pháp hoa xuất hiện. 2. Quyền môn tam giáo: Tạng giáo, Thông giáo và Biệt giáo trong 4 giáo Hóa pháp. 3. Chỉ cho Tiệm giáo, Đốn giáo và Viên giáo: Tổng nhiếp giáo pháp 1 đời của đức Thích tôn. Viên giáo tức chỉ cho kinh Pháp hoa. [X. Pháp hoa kinh khoa chú Q.1, phần cuối].

thiên thai tam sinh

(天臺三生) Ba giai đoạn biểu thị tướng thành tựu Phật đạo do tông Thiên thai lập ra. Đó là: 1. Chủng: Gieo giống. Tức đầu tiên phải gieo giống thành Phật đắc đạo. 2. Thục: Chín mùi. Tức tu hành theo thứ tự cho đến thành thục. 3. Thoát: Giải thoát. Tức việc tu hành đã thành tựu, nhân viên quả mãn. Ba giai đoạn này hoặc phối hợpvớilâu xa, trung bình và đời này, hoặc lập trong1 đời, 1 niệm. Tam sinh chỉ hiển bày sự khác nhau giữa 3 giai đoạn mà thôi. [X. Pháp hoa văn cú (hội bản) Q.1]. (xt. Chủng Thục Thoát).

thiên thai tam thời giáo

Theo tông Thiên Thai, giáo thuyết của Đức Phật có thể chia làm ba thời kỳ, thí, khai, và phế—According to the T'ien-T'ai sect, Buddha's teaching can be divided into three periods of bestowing, opening, and abrogating—See Thí Khai Phế.

thiên thai thiều quốc sư

Thiên Thai Thiều Quốc Sư là một Tăng sĩ đã phục hưng tông phái Thiên Thai bằng cách du hành sang Cao Ly để ghi chép lại Thiên Thai Tam Bộ còn giữ được nguyên bản của Ngài Trí Giả, rồi trở về xây dựng chùa chiền và chấn hưng tông phái. Ngài được Tiền Chu (960-997 sau Tây Lịch), lúc bấy giờ là vua của nước Ngô Việt mà kinh đô ở Hàng Châu phong cho ngài làm Quốc Sư—T'ien-T'ai Shao Kuo Shih, a Chekiang priest who revived the T'ien-T'ai sect by journeying to Korea, where the only copy of Chih-I's works existed, copied them, and returned to revive the T'ien-T'ai school. Ch'en-Shu (960-997 AD), ruler of Wu-Yueh, whose capital was at Hangchow, entitled him Imperial Teacher.

thiên thai thập tổ

Mười vị Tổ của tông phái Thiên Thai—The ten patriarchs of the T'ien-T'ai sect: 1) Từ tổ thứ nhất đến tổ thứ 9 đã nói trong Thiên Thai Cửu Tổ—From 1 to 9 already mentioned in the nine patriarchs of the T'ien-T'ai sect—See Thiên-Thai Cửu Tổ. 10) Tổ thứ mười của tông phái Thiên Thai là ngài Đạo Thúy. Ngài được xem là tổ thứ mười tại Nhật Bổn, vì ngài là người đã mang giáo pháp Thiên Thai truyền qua Nhật vào thế kỷ thứ chín và là thầy của Tuyền Giáo Đại Sư (sơ tổ tông Thiên Thai tại Nhật)—The ten patriarch was Tao-Sui. He was considered a patriarch in Japan, because he was the teacher of Dengyo Daishi who brought the Tendai system to that country in the ninth century.

thiên thai thập định

The T'ien-T'ai's ten fields of meditation or concentration—See Chỉ Quán Thập Định.

thiên thai tiểu chỉ quán

(天臺小止觀) Cũng gọi Đồng mông chỉ quán. Tác phẩm, 1 quyển, do Đại sư Thiên thai Trí khải soạn, có 2 loại bản, trong đó, bản Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu được thu vào Đại chính tạng tập 64. Tiểu chỉ quán là đối lại với Đại chỉ quán (tức bộ Ma ha chỉ quán 10 quyển). Sách này tuy nhỏ nhưng thuyết minh về yếu nghĩa của Chỉ quán, cho nên được gọi chung là Tiểu chỉ quán. Lạivìnhững điều đượcnói trong Ma ha chỉ quán phần nhiều sâu xa, kín nhiệm, còn Tiểu chỉ quán rất mộc mạc, bình dị nên gọi là Đồng mông (con trẻ cũng đọc được). Nội dung nói về tácphápvà dụng tâm tọa thiền, là cuốn sách chỉ nam về tọa thiền. Nội đề và soạn hiệu của Thiên thai chỉ quán có 2 loại: Một là Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu, do sa môn Trí khải chùa Tu thiền núi Thiên thai soạn; hai là Lược minh khai mông sơ học tọa thiền chỉ quán yếu môn, do Khải thiền sư núi Thiên thai giảng, sa môn nước Tề là Tịnh biện ghi lại. Hai sách trên tuy là cùng bản nhưng nội dungcó rất nhiều chỗ khác nhau và bản Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu được lưu hành rộng rãi hơn. [X. Tùy Thiên thaiTrí giả đại sư biệt truyện; Khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ, phần cuối; Duyệt tạng tri tân Q.39].

thiên thai truyện phật tâm ấn kí

(天臺傳佛心印記) Cũng gọi Phật tâm ấn kí. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Hoài tắc soạn vào đời Nguyên, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Nội dung sách này thuyết minh về pháp Phật tâm ấn Tính cụ tính ác do tông Thiên thai truyền, đồng thời bài bác các nghĩa: Truyền riêng ngoài giáo, thấy tính thành Phật của Thiền tông; Định tính Nhị thừa của Tướng tông và Vô Phật tính của Tính tông. Sách chú thích có Thiên thai truyền Phật tâm ấn kí chú, 2 quyển, do ngài Truyền đăng soạn vào đời Minh. [X. Phật tổ thống kỉ Q.24; Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Duyệt tạng tri tân Q.42].

Thiên Thai Tông

(天台宗, Tendai-shū): tên gọi của một trong 13 tông phái lớn của Phật Giáo Trung Quốc, học phái lấy Thiên Thai Trí Giả Đại Sư Trí Khải (天台智者大師智顗, 538-597) của Trung Quốc làm vị Cao Tổ, lấy Truyền Giáo Đại Sư Tối Trừng (傳敎大師最澄, Saichō, 767-822) của Nhật làm Tông Tổ. Tông này còn được gọi là Pháp Hoa Viên Tông (法華圓宗) hay Thiên Thai Pháp Hoa Tông (天台法華宗). Chính vị tổ sư của tông này là Trí Khải đã từng sống ở núi Thiên Thai, nên lấy tên núi này đặt tên cho tông phái của mình. Tông này dựa trên tông chỉ của Pháp Hoa Kinh, lấy Ngũ Thời Bát Giáo (五時八敎) làm giáo tướng, rồi lấy Thập Thừa Quán Pháp (十乘觀法), Nhất Niệm Tam Thiên (一念三千), Thập Giới Hỗ Cụ (十界互具), Chư Pháp Thật Tướng (諸法實相) làm quán tâm mà tu tập. Ở Trung Quốc,trước thời Trí Khải có Huệ Văn (慧文) và Huệ Tư (慧思), sau này Trí Khải đã để lại rất nhiều trước tác như Tam Đại Bộ Pháp Hoa Huyền Nghĩa (三大部法華玄義), Pháp Hoa Văn Cú(法華文句), Ma Ha Chỉ Quán (摩訶止觀),v.v. Tiếp theo đó trải qua các đời của Quán Đảnh (觀頂), Trí Uy (智威), Huệ Uy (慧 威), Huyền Lãng (玄朗), cho đến Lục Tổ Kinh Khê Trạm Nhiên (湛然) đã tiến hành chú thích rất nhiều kinh điển và làm cho tông này hưng thịnh tột độ. Đến dưới thời vị tổ thứ 12 là Thanh Tủng (清竦) có hai nhân vật Nghĩa Tịch (義寂) và Chí Nhân (志因); từ đó tông này chia thành 2 phái là Sơn Gia (山家) và Sơn Ngoại (山外). Phái Sơn Gia có Trí Lễ (智禮) xuất hiện và đã nỗ lực phục hưng tông phong. Đối với trường hợp Nhật Bản thì cả 3 bộ kinh luận của Thiên Thai Đại Sư đều được truyền vào nhưng không phát triển cho mấy; sau này Truyền Giáo Đại Sư Tối Trừng mới học giáo lý này, sang nhà Đường cầu pháp và trực tiếp được chân truyền, vì thế ông được xem như là vị tổ khai sáng ra Thiên Thai Tông Nhật Bản. Đối với Thiên Thai Tông của Nhật, ngoài Thiên Thai Viên Giáo ra còn có sự hợp nhất của Thiền pháp, Viên Đốn Giới, và Mật Giáo nữa. Đây chính là đặc thù nỗi bật nhất của Thiên Thai Tông Nhật Bản, khác với Thiên Thai Tông của Trung Quốc. Đặc biệt từ sau thời của Từ Giác Đại Sư Viên Nhân (慈覺大師圓仁) và Trí Chứng Đại Sư Viên Trân (智証大師圓珍) thì yếu tố mang tính Mật Giáolại càng mạnh thêm. Tuy nhiên, về sau Phái Sơn Môn (山門派) của Từ Giác (慈覺) lấy trung tâm là Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji) trên Tỷ Duệ Sơn, còn Phái Tự Môn (寺門派) của Trí Chứng (智証) lấy Viên Thành Tự (園城寺, Onjō-ji) làm trung tâm, bắt đầu phân liệt và tranh giành nhau thế lực. Bên cạnh đó lại xuất hiện Thiên Thai Luật Tông (天台律宗) của Phái Chơn Thạnh (眞盛派), bắt đầu tách riêng ra khỏi sơn môn vào cuối thế kỷ thứ 15. Chính Đạo Nguyên (道元, Dōgen), Vinh Tây (榮西, Eisai), v.v., tổ sư khai sáng các tông phái Thiền của Nhật sau này, cũng đã từng xuất gia theo Thiên Thai Tông, và cũng từ đây mà chuyển hướng sang Thiền. Sau khi vị Tông Tổ qua đời, nội bộ mâu thuẩn nhau và các dòng phái phân chia rõ rệt. Trong đó, có ba dòng căn bản nhất của Thai Mật là Dòng Căn Bản Đại Sư (根本大師流), Dòng Từ Giác Đại Sư (慈覺大師流) và Dòng Trí Chứng Đại Sư (智証大師流). Trong ba dòng trên thì dòng của Từ Giác Đại Sư là dòng hưng thạnh nhất, rồi từ hai dòng nầy lại xuất hiện ra hai nhân vật nổi tiếng là Hoàng Khánh (皇慶) ở Đông Tháp Nam Cốc và Giác Siêu (覺超) ở Hoành Xuyên (横川). Sau nầy, hai vị nầy lại phân chia thành hai dòng khác gọi là Dòng Cốc (谷流) và Dòng Xuyên (川流). rồi từ hai dòng nầy, lại phân chia thành 13 chi nhánh nhỏ khác, gọi chung là 13 dòng Thai Mật. Đồng thời với sự phân phái mạnh mẽ của Thiên Thai Mật Giáo thì Thiên Thai Viên Giáo vốn lấy giáo học của vị Tông Tổ làm trung tâm đã phát triển rõ rệt. Khởi đầu là hai vị môn hạ tuyệt bích của Từ Huệ Đại Sư Lương Nguyên (良源) là Huệ Tâm Viện Nguyên Tín (慧心院源信) và Đàn Na Viện Giác Vận (檀那院覺運). Họ lấy tên mình đặt cho hai dòng phái là Dòng Huệ Tâm và Đàn Na. Hai dòng nầy lại phân chia thành 8 dòng khác, gọi là Huệ Đàn Bát Lưu (慧檀八流). Theo bản Tôn Giáo Niên Giám (宗敎年鑑, năm 1997) của Bộ Văn Hóa Nhật Bản, hiện tại trong hệ Thiên Thai có các tông phái như sau: (1) Thiên Thai Tông (天台宗, 3,349 ngôi chùa), (2) Thiên Thai Tự Môn Tông (天台寺門宗, 235 ngôi chùa), (3) Thiên Thai Chơn Thạnh Tông (天台眞盛宗, 426 ngôi chùa), (4) Bổn Sơn Tu Nghiệm Tông (本山修驗宗, 218 ngôi chùa), (5) Kim Phong Sơn Tu Nghiệm Bổn Tông (金峰山修驗本宗, 211 ngôi chùa), (6) Hòa Tông (和宗, 29 ngôi chùa), (7) Phấn Hà Quan Âm Tông (粉河觀音宗, 5 ngôi chùa), (8) Vũ Hắc Sơn Tu Nghiệm Bổn Tông (羽黑山修驗本宗, 23 ngôi chùa), (9) Thánh Quan Âm Tông (聖觀音宗, 26 ngôi chùa). Một số ngôi chùa trung tâm nổi tiếng của tông này là Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji, Shiga-ken), Trung Tôn Tự (中尊寺, Chūson-ji, Iwate-ken), Luân Vương Tự (輪王寺, Rinnō-ji, Tōchigi-ken), Khoan Vĩnh Tự (寛永寺, Kanei-ji, Tōkyō-to), Thiện Quang Tự (善光寺, Zenkō-ji, Nagano-ken), Tư Hạ Viện (滋賀院, Shiga-in), Diệu Pháp Viện (妙法院, Myōhō-in, Kyōto-shi), Tam Thiên Viện (三千院, Sanzen-in, Kyōto-shi), Thanh Liên Viện (青蓮院, Shōren-in, Kyōto-shi), Mạn Thù Viện (曼殊院, Manshu-in, Kyōto-shi), Tỳ Sa Môn Đường (毘沙門堂, Bishamon-dō, ), Mao Việt Tự (毛越寺, Mōtsū-ji, Iwate-ken), Thâm Đại Tự (深大寺, Jindai-ji, Tōkyō-to), Quang Tiền Tự (光前寺, Kōzen-ji, Nagano-ken), Thủy Gian Tự (水間寺, Mizuma-dera, Ōsaka-fu), (圓敎寺, Engyō-ji, Hyōgo-ken), v.v.

Thiên Thai tông

天台宗; C: tiāntāi-zōng; J: tendai-shū;|Một tông phái Phật giáo Trung Quốc do Trí Khải (538-597) sáng lập. Giáo pháp của tông phái này dựa trên kinh Diệu pháp liên hoa.|Thiên Thai tông xem Long Thụ (s: nāgār-juna) là Sơ tổ vì ba quan điểm chính (Ba chân lí) của tông phái này dựa trên giáo lí của Long Thụ – đó là: tất cả mọi hiện tượng dựa lên nhau mà có và thật chất của chúng là tính Không (s: śūnyatā). Mọi hiện tượng là biểu hiện của một thể tuyệt đối, đó là Chân như (s: tathatā). Tông phái này gọi ba chân lí đó là không (空), giả (假) và trung (中):|1. Chân lí thứ nhất cho rằng mọi Pháp (s: dharma) không có thật thể và vì vậy trống rỗng;|2. Chân lí thứ hai cho rằng, tuy thế, các pháp vẫn có một dạng tồn tại tạm thời với thời gian và giác quan con người có thể nắm bắt được;|3. Chân lí thứ ba tổng hợp hai chân lí đầu, cho rằng thể của sự vật lại không nằm ngoài tướng, không thể bỏ hiện tượng để tìm bản chất, thể và tướng là một.|Quan điểm này nhấn mạnh tính toàn thể và xuyên suốt của sự vật. Cái toàn thể và cái riêng lẻ là một. Toàn bộ các pháp có khác nhau nhưng chúng đan lồng vào nhau, cái này chứa đựng cái kia. Không, giả và trung chỉ là một và từ một mà ra.|Các Ðại sư của tông phái này hay nói »toàn thể vũ trụ nằm trên đầu một hạt cải« hay »một ý niệm là ba ngàn thế giới.« Tổ thứ hai của tông này là Huệ Văn, Tổ thứ ba là Huệ Tư và Tổ thứ tư là Trí Khải. Dưới sự lĩnh đạo của Ðại sư Trí Khải, giáo lí của tông Thiên Thai đã đạt đến tuyệt đỉnh.|Phép tu của Thiên Thai tông dựa trên phép thiền Chỉ-Quán, và chứa đựng các yếu tố mật tông như Man-tra (thần chú) và Man-đa-la (s: maṇḍala). Tông này sau được Truyền Giáo Ðại sư Tối Trừng (767-822), đệ tử của Tổ thứ 10 Thiên thai tông, truyền qua Nhật trong thế kỉ thứ 9. Tại đây, Thiên Thai tông đóng một vai trò quan trọng.|Thiên Thai tông được xem như một tông phái rộng rãi vì nó tổng hợp, chứa đựng nhiều quan điểm của các phái khác. Sự tổng hợp này phản ánh trong quan điểm »năm thời, tám giáo« (五時八教; Ngũ thời bát giáo), trong quan niệm mọi loài đều có Phật tính và vì vậy Thiên Thai tông có đầy đủ phương tiện đưa đến giác ngộ. Các bộ luận quan trọng của Thiên Thai tông là: Ma-ha Chỉ-Quán (s: mahā-śamatha-vipāśyanā), Lục diệu pháp môn và những bài luận của Trí Khải về kinh Diệu pháp liên hoa.|Phép Chỉ-Quán có hai mặt: Chỉ là chú tâm và qua đó thấy rằng mọi pháp đều không. Nhờ đó không còn ảo giác xuất hiện. Quán giúp hành giả thấy rằng, tuy mọi pháp đều không, nhưng chúng có một dạng tồn tại tạm thời, một sự xuất hiện giả tướng và lại có một chức năng nhất định. Trí Khải phân chia kinh sách thành »năm thời và tám giáo« với mục đích hệ thống hoá Phật giáo theo trình tự thời gian và theo nội dung giáo pháp. Sự phân chia đó cũng giúp giải thích các vấn đề siêu hình. Hơn các tông phái khác, Thiên Thai tông là phái tìm cách thống nhất mọi giáo pháp trong hệ thống của mình bằng cách dành cho mọi kinh sách một chỗ đứng và xem Tiểu thừa cũng như Ðại thừa đều là những lời dạy của chính đức Phật.|Sự phân chia làm năm thời dựa trên trình tự thời gian như sau: 1. Thời giáo Hoa nghiêm, 2. Thời giáo A-hàm, 3. Thời giáo Phương đẳng, 4. Thời giáo Bát-nhã ba-la-mật-đa và 5. Thời giáo Diệu pháp liên hoa và Ðại bát-niết-bàn.|Thời giáo thứ nhất chỉ kéo dài 3 tuần, theo Trí Khải, dựa trên Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh (s: buddhāvataṃsaka-sūtra) là giai đoạn giáo hoá của Phật ngay sau khi Ngài đắc đạo. Kinh Hoa nghiêm chỉ rõ, toàn thể vũ trụ chỉ là phát biểu của cái Tuyệt đối. Thời đó các vị đệ tử của Phật chưa lĩnh hội được điều này. Vì thế mà Phật bắt đầu giảng các kinh A-hàm (s: āgama), thời giáo thứ hai. Trong giai đoạn này, Phật chưa nói hết tất cả, chỉ thuyết những điều mà đệ tử có thể hiểu nổi. Ngài thuyết Tứ diệu đế, Bát chính đạo và thuyết Mười hai nhân duyên. Thời giáo này kéo dài 12 năm. Trong thời giáo thứ ba, Phật bắt đầu giảng giai đoạn sơ khởi của Ðại thừa. Ngài nhắc đến tính ưu việt của một vị Bồ Tát nếu so sánh với một vị A-la-hán và nhấn mạnh đến sự đồng nhất giữa Phật và chúng sinh, giữa Tương đối và Tuyệt đối. Thời giáo thứ tư, kéo dài 22 năm, chứa đựng giáo pháp của kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, tức là nói đến tính Không của vạn sự và cái ảo tưởng giả tạo của mọi hiện tượng nhị nguyên. Thời giáo cuối cùng, thời giáo thứ năm, bao gồm 8 năm cuối đời đức Phật. Trong thời giáo này, Phật thuyết về thể tính duy nhất của mọi hiện tượng tưởng chừng rất khác biệt. Ba thừa là Thanh văn, Ðộc giác và Bồ Tát thừa chỉ có giá trị tạm thời và nằm chung trong một thừa duy nhất, đó là Nhất thừa (s: ekayāna) hay Phật thừa (s: buddhayāna). Trong thời giáo cuối cùng này, thời giáo của kinh Diệu pháp liên hoa và Ðại bát-niết-bàn, Phật đã nói rõ và trọn vẹn nhất giáo lí của mình. Ðó là năm thời giáo theo thứ tự thời gian.|Thiên Thai tông cũng chia giáo pháp đức Phật ra làm tám hệ thống, trong đó bốn hệ thống dựa trên phương pháp và bốn dựa trên tính chất. Bốn hệ thống có tính phương pháp luận là: 1. Phương pháp đốn ngộ, dành cho hạng đệ tử xuất sắc nhất có khả năng tiếp cận sự thật nhanh chóng. Ðó là phương pháp của kinh Hoa nghiêm; 2. Phương pháp tiệm ngộ, đi từ giản đơn đến phức tạp, là phương pháp của các kinh A-hàm, Phương đẳng, Bát-nhã ba-la-mật-đa. Còn kinh Diệu pháp liên hoa lại không thuộc »đốn« hay »tiệm« mà chứa đựng sự thật cuối cùng; 3. Phương pháp mật giáo, là cách Phật dạy cho một người nhất định và chỉ người đó được lĩnh hội. Phương pháp này có thể được Phật áp dụng trong chốn đông người, nhưng nhờ thần thông của Phật chỉ có người đó được hiểu; 4. Phương pháp bất định, là phương pháp Phật dùng dạy cho nhiều người, nhưng mỗi người nghe hiểu khác nhau. Hai phương pháp 3 và 4 được Phật áp dụng khi người nghe có trình độ không đồng đều.|Bốn hệ thống có tính chất luận là: 1. Giáo pháp Tiểu thừa, dành cho Thanh văn và Ðộc giác Phật, 2. Giáo pháp tổng quát, bao gồm Tiểu thừa và Ðại thừa, dành cho Thanh văn, Ðộc giác và Bồ Tát cấp thấp. 3. Giáo pháp đặc biệt dành cho Bồ Tát và 4. Giáo pháp viên mãn, tức là giáo pháp trung quán phá bỏ mọi chấp trước. Kinh Hoa nghiêm đại diện cho giáo pháp 3 và 4. Kinh A-hàm là kinh của Tiểu thừa. Các kinh Phương đẳng chứa đựng cả 4 giáo pháp. Kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa chứa giáo pháp 2, 3, 4. Cuối cùng thì chỉ có kinh Diệu pháp liên hoa chứa giáo pháp viên mãn.

thiên thai tông

T'ien-T'ai School. (I) Thiên Thai tông Trung Quốc—Chinese T'ien-T'ai: (A) Lịch sử tông Thiên Thai—The history of the T'ien-T'ai School: Tông Thiên Thai là tông phái Phật giáo duy nhất còn tồn tại ngày nay tại Trung Quốc. Thiên Thai là tên của một hòn núi ở Thai Châu, miền nam Trung Hoa. Tông Thiên Thai được Đại Sư Trí Giả đời Tùy sáng lập, lấy tên núi đặt tên cho tông phái. Trí Giả Đại Sư đã trú ngụ tại núi Thiên Thai và giảng dạy đồ chúng suốt thời nhà Trần và Tùy. Tông phái do ông thành lập thường được gọi là Thiên Thai theo tên núi, nhưng đúng tên của nó là Pháp Hoa vì tông nầy lấy Kinh Pháp Hoa làm bản kinh. Tông phái chủ trương khai mở chân lý vạn pháp bằng thiền quán. Tông cực thịnh vào đời nhà Đường. Dưới thời nhà Tống khi tông phái nầy suy vi, thì Sư Tứ Minh khởi lên trung hưng tông nầy và hiển dương chính tông của Sơn Gia, trong khi Sơn Ngoại thì có Sư Ngộ Ân, nhưng về sau nầy phái Sơn Ngoại bị mai một, còn phái Sơn Gia với giáo thuyết thâm sâu và sự trung hưng của Sư Tứ Minh, nên đã lan truyền qua đến Nhật Bản—T'ien-T'ai is the only living Buddhist school in China today. T'ien-T'ai is the name of a mountain in T'ai-Chou, South China. This school was founded by Great Master Chih-Chê (or Chih-I). The T'ien-T'ai or Tendai Sect was named after the name of the mountain. Chih-I lived on the mountain and taught his disciples during the Ch'ên and Sui Dynasties. The school founded by him was generally called the T'ien-T'ai (after the name of the mountain), but was properly named the Fa-Hua after the title of the text Saddharma-pundarika from which the doctrine of the school is derived. It maintains the identity of the Absolute and the world of phenomena, and attempts to unlock the secrets of all phenomena by means of meditation. It flourished during the T'ang dynasty. Under the Sung, when the school was decadent, arose Ssu-Ming, under whom there came the division of Hill or T'ien-T'ai School and the School outside, the later following Wu-ên and in time dying out; the former, a more profound school, adhered to Ssu-Ming; it was from this school that the T'ien-T'ai doctrine spread to Japan. Thiên Thai Tam Bộ (gồm Kinh Pháp Hoa với Luận Trí Độ, Kinh Niết bàn và Đại Phẩm Kinh). (B) Triết lý và kinh luận—Philosophy and chief works: a) Triết lý—Philosophy: Tuy là những bộ phái Phật giáo đều có nguồn gốc từ Ấn Độ, nhưng sự miệt mài nghiên cứu kinh điển Phật giáo của các học giả Trung Hoa đã làm xuất hiện những dạng thức tu hành hoàn toàn mới mẽ, dường như phát sanh ra từ bối cảnh Trung Hoa hơn là Ấn Độ. Ngài Trí Khải lập ra một hệ 'Tam Quán' có tên là Chí Quán hay sự quán triệt hoàn toàn. Hệ tam quán nầy gồm 'Không-Giả-Trung' (see Không Giả Trung): Although these Buddhist schools in China had their origin in Indian Buddhism, but the ceaseless study of the Buddhist texts by the Chinese schools resulted in completely new religious experiences which seem to have grown out of the historical background of China rather than of India. Chi-K'ai established a threefold system of comprehension which is called Chi-Kuan, or 'Perfect Comprehension.' This system consists of three comprehensions, namely, empty, hypothetical, and medial (see Không Giả Trung). b) Kinh luận—Main texts: các kinh sách chính của tông phái nầy gồm có kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Đại Trí Độ Luận, kinh Niết Bàn, kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa: The main texts of the T'ien-T'ai sect include the The Wonderful Dharma of the Lotus Sutra (Saddharma-Pundarika-Sutra),the Mahaprajna-paramita-sastra, the Mahanirvana sutra, and the Mahaprajnaparamita sutra. c) Tác phẩm—Chief works: Ngài Trí Giả đã thuyết giảng Tam Bộ: Huyền Nghĩa (nói về giáo tướng), Văn Cú (nói về kinh văn), và Chỉ Quán (chỉ rõ nhất tâm quán hành): The three principal works of the T'ien-T'ai founder are called The Tri-Sutras of the T'ien-T'ai (Thiên Thai Tam Bộ), such as the exposition of the deeper meaning of the Lotus Sutra (Pháp Hoa Huyền Nghĩa), Exposition of its text (Văn Cú), and meditation which stressed on the “inner light” (Chỉ Quán). (II) Thiên Thai tông Nhật Bản—Japanese T'ien-T'ai: (A) Lịch sử tông Thiên Thai Nhật Bản—The history of the Japanese T'ien-T'ai: Tông Thiên Thai Nhật Bản được Đại sư Tối Trừng (Saicho) sáng lập tại Nhật vào năm 804. Ông thường được biết nhiều qua tên Dengyo-Daishi. Ông gia nhập Tăng đoàn khi còn trẻ và đi đến Trung Hoa để nghiên cứu thêm về đạo Phật. Tại đây ông được các luận sư của trường phái Thiên Thai nổi tiếng truyền dạy Chánh Pháp. Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, thì Tối Trừng được Đạo Toại truyền cho học thuyết Thiên Thai và Bồ Tát giới, được Thuận Giáo truyền cho học thuyết Chân Ngôn tông, và Tu Nhiên truyền cho Thiền tông. Sau một năm lưu trú ở Trung Hoa, ông trở về Nhật Bản để truyền bá giáo lý mới nầy tại chùa Enryakuji trên núi Tỷ Duệ (Hiei). Ngôi chùa nầy chẳng bao lâu đã phát triển thành một trung tâm quan trọng cho tất cả mọi công cuộc nghiên cứu và tu tập Phật giáo tại Nhật—The T'ien-T'ai (Tendai) sect was founded in Japan in 804 A.D. by Saicho, who was better known as Dengyo-Daishi. He entered the Order young and went for further study to China, where he received instruction in the Dharma from teachers at the famous T'ien-T'ai school. According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, he received the T'ien-T'ai doctrine and the Bodhisattva ordination from Tao-Sui, the mystic doctrines (mantra) from Shun-Chiao, and the Zen meditation from Hsiu-Jan. On his return to Japan, he propagated the new doctrine in the temple called Enryakuji on Mount Hiei. This temple soon grew to be an important center of all Buddhist studies and practices in Japan. (B) Triết lý tông Thiên Thai—The philosophy of the Japanese T'ien-T'ai school: Dù rằng tông Thiên Thai Nhật Bản và Trung Quốc đều căn cứ chủ yếu vào kinh sách của Đại Thừa là Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, và Ngũ thời Bát giáo, tông phái nầy khác với Thiên Thai Trung Hoa ở đường lối thực hành. Đại sư Tối Trừng đã đề ra phương pháp hành trì gọi là 'Trực giác của tâm.'—Even though both Chinese and Japanese T'ien-T'ai sects base themselves essentially on the Mahayana texts, i.e., the Saddharma-pundarika, and the T'ien-T'ai's Five Periods and Eight Doctrines, the Japanese T'ien-T'ai differs from the Chinese T'ien-T'ai in its practical approach. Dengyo Daishi also introduced a practical method called 'intuition of the mind' (kwanjin)—See Thiên Thai Ngũ Thời Bát Giáo. (C) Sự phát triển của tông Thiên Thai tại Nhật Bản—The development of the Tendai sect in Japan: Trung tâm giảng huấn trên núi Tỷ Duệ do đại sư Tối Trừng thành lập đã trở thành trung tâm lớn của nhành Phật học tại Nhật. Một thời đã có 3.000 tự viện làm túc xá cho học chúng, qui tụ tất cả mọi ngành Phật học hiển và mật. Hiện tại có ba chi phái của tông Thiên Thai, đó là Sơn Môn (Sammon), Tự Môn (Jinon), và Chân Thạnh (Shinsei). Chi phái sau nầy là Tịnh Độ. Những tự viện thuộc ba chi phái nầy hiện thời tính khoảng trên 4.000—The educational headquarters on Mount Hiei was established by Saicho and became the greatest center of Buddhist learning in Japan. Once there were some 3,000 monasteries to house the students thronging there from all branches of Buddhism, exoteric and esoteric. At present there are three branches of the Tendai in Japan; namely, Samon, Jimon, and Shinsei, the last being an Amita-pietism. The monasteries belonging to the three branches number more than 4,000 at the present time. *** For more information, please see Thiên Thai Sơn and Thiên Thai Ngũ Thời Bát Giáo. ; (天臺宗) Cũng gọi Pháp hoa tông, Thiên thai pháp hoa tông, Thai tông, Viên tông, Thai gia.Tông phái lớn của Phật giáo Trung quốc, lấy giáo chỉ kinh Pháp hoa làm nền tảng, doĐại sư Trí khảitrụ ở núi Thiên thai sáng lập, là 1 trong 13 tông ở Trung quốc, 1 trong 8 tông ở Nhật bản. Ngài Trí khải vốn thờ Thiền sư Tuệ tư (511- 577) ở núi Nam nhạc làm thầy, tu tập 3 loại pháp Chỉ quán; Thiền sư Tuệ tư kế thừa yếu chỉ Nhất tâm tam trí nơi Thiền sư Tuệ văn đời Bắc Tề. Cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 1,phần đầu thì Thiền sư Tuệ văn nương vào luận Đại trí độ mà tu được pháp quán tâm, lại nêu bài kệ Trung luận làm nền tảng cho nhất tâm tam quán, sau khi ngài Tuệ tư học được pháp quán tâm ấy liền khai phát tam muội Pháp hoa, soạn ra Pháp hoa kinh an lạc hành nghi, Tùy tự ý tam muội, Chư pháp vô tránh tam pháp môn... Vào niên hiệu Thiên gia năm đầu (560) đời Trần, ngài Trí khải yết kiến Thiền sư Tuệ tư, thụ họctam muội Pháp hoa, 4 hạnh an lạc, đọc kinh Pháp hoa đến câu Thị chân tinh tiến, thị danh chân pháp cúng dường (là tinh tiến chân thực, đó gọi là pháp cúng dường chân thực), liền bừng tỉnh tỏ ngộ. Sau, sư đến chùa Ngõa quan ở Kim lăng dùng khai đề của kinh Pháp hoa để diễn giảng luận Đại trí độ, giải thích Thứ đệ thiền môn. Năm Thái kiến thứ 7 (575), ngài Trí khải đến núi Thiên thai, ở ẩn trong 10 năm. Sư soạn Pháp hoa huyền nghĩa, Ma ha chỉ quán và Pháp hoa văn cú, được gọi là Thiên thai tam đại bộ. Đầu đời Đường, sư đến chùa Ngọc tuyền ở Kinh châu giảng Pháp hoa huyền nghĩa, thuyết Ma ha chỉ quán, cho nên tông Thiên thai tuy tônồ tát Long thụ làm Sơ tổ, ngài Trí khải là tổ thứ 4, nhưng y cứ vào việc tập đại thành tư tưởng truyền thừa thì đúng ra ngài Trí khải mới là Tổ khai sáng của tông Thiên thai. Học trò của sư rất đông, đệ tử nối pháp thì có 32 vị, trong đó, ngài Quán đính (561- 632), thờ Đại sư Trí khải hơn 20 năm, có khả năng nhận lãnh và truyền trì di giáo của Đại sư. Ngài Quán đính soạn Đại bát niết bàn kinh huyền nghĩa cập sớ, Quán tâm luận sớ... vài mươi quyển, là Tổ thứ 2. Rồi truyền thừa đến Tổ thứ 3 Trí uy, Tổ thứ 4 Tuệ uy, Tổ thứ 5 Huyền lãng, dưới ngài Huyền lãng có Tổ thứ 6 Trạm nhiên (711- 782) vốn tu tập Thai học hơn 20 năm. Sư mở rộng giáo pháp Thiên thai, từng được sắc triệu của 3 vị vua như Huyền tông... nhưng sư đều tạ từ. Sư chuyên việc soạn thuật và diễn giảng, được tôn xưng là Tổ trung hưng của tông Thiên thai. Soạn phẩm của sư gồm hơn 20 bộ như Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm, Pháp hoa văn cú kí, Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết, Chỉ quán nghĩa lệ, Kim cương ti... Sư đề xướng các nghĩa Phi tình Phật tính, Vô tình hữu tính, chủ trương cây cỏ, gạch đá cũng có tính Phật. Ngoài ra, sư còn dung hợp tư tưởng của tông này với thuyết của luận Đại thừa khởi tín để xác lập nền tảng cho giáo học Thiên thai đời Tống. Đệ tử của sư có các vị Đạo thúy, Hành mãn, Nguyên hạo, Đạo xiêm, Minh khoáng... ngài Đạo thúy lại truyền cho các vị Tông dĩnh, Lương tư. Không bao lâu xảy ra pháp nạn Hội Xương và các cuộc chiến loạn ở cuối đời Đường, đầu thời Ngũ đại kéo dài, đã làm cho phần lớn sách vở chương sớ của tông Thiên thai bi thất lạc, do đó tông này dần dần rơi vào tình trạng suy vi. Sau, có vị tăng nước Cao li là ngài Đế quán, đáp lời thỉnh cầu của Trung ý vương nước Ngô Việt, mang 1 lượng lớn kinh sách Thiên thai đến Trung quốc, tông Thiên thai nhờ đó dần dần được phục hưng. Ngài Nghĩa thông từ nước Cao li đến thờ Tổ Nghĩa tịch thứ 12 của tông Thiên thai làm thầy, hoằng dương giáo quán, đó là Tổ thứ 13. Học trò của sư Nghĩa thông có các vị Tứ minh Tri lễ (960-1028), Từ vân Tuân thức..., ngài Tri lễ soạn Chi yếu sao, Diệu tông sao, cùng với hệ thống ngài Tuân thức đều cùng phái Thiên thai sơn gia. Một vị đệ tử khác của ngài Nghĩa tịch là Từ quang Chí nhân, truyền xuống cho các vị Ngô ân, Nguyên thanh, Hồng mẫn, Cô sơn Trí viên (976-1022), Phạm thiên Khánh chiêu (963-1017)... Hệ thống này gọi là phái Sơn ngoại. Cuộc tranh luận giữa 2 phái Sơn gia và Sơn ngoại bắt nguồn từ vấn đề chân, ngụy liên quan đến quảng bản Kim quang minh huyền nghĩa của Đại sư Trí khải, từ đó dần dần diễn biến thành cuộc tranh luận đối lập giữa Duy tâm luận và Thực tướng luận. Ngài Tri lễ thuộc phái Sơn gia từng đối lại với thuyết Chân tâm quán của ngài Ngô ân thuộc phái Sơn ngoại mà soạn Phù tông thích nạn đề xướng thuyết Vọng tâm quán đã làm cho cuộc luận chiến giữa 2 phái kéo dài đến 40 năm! Về phái Sơn ngoại, học trò ngài Khánh chiêu có các vị Hàm nhuận, Kế tề... tiếp nối. Học thuyết của phái Sơn ngoại thường bị chê trách là không thuần túy, cho nên chẳng bao lâu bị suy vi. Pháp hệ của ngài Tứ minh Tri lễ thuộc phái Sơn gia thì rất phồn thịnh, có 3 vị đệ tử là Quảng trí Thượng hiền, Thần chiếu Bản như và Nam bình Phạm trăn được gọi là Tứ minh tam gia. Đến đời Nguyên thì thế lực tông Thiên thai quá suy yếu, khó vực dậy được. Sang đời Minh, các ngài U khê, Truyền đăng, Chân giác... mở rộng Sơn gia chính tông. Đến ngài Ngẫu ích Trí húc (1599-1655) thì viện dẫn Duy thức, yếu chỉ Thiền tông để hỗ trợ cho việc phát huy giáo quán Thiên thai. Nhưng cũng vì đề xướng thuyết Tính, Tướng dung hợp, Thiền, Tịnh nhất trí mà tự rước lấy vận suy. Tông Thiên thai Nhật bản thì tôn Truyền giáo Đại sư Tối trừng làm Sơ tổ. Sư từng đến Trung quốc vào đời Đường thụ pháp nơi các vị đệ tử ngài Trạm nhiên như Đạo thúy, Hành mãn... Sau khi trở về Nhật bản, sư khai sáng yếu chỉ nhất trí giữa 4 tông: Viên giáo, Thiền, Viên giới và Mật giáo ở núi Tỉ duệ, khác với tông Thiên thai của Trung quốc. Rồi đệ tử của ngài Tối trừng là sư Viên nhân và đệ tử của ngài Nghĩa chân là sư Viên trân cũng lần lượt đến Trung quốc vào đời Đường thờ các ngài Tông dĩnh, Lương tư làm thầy, học giáo pháp Thiên thai, lại còn thụ học các pháp bí yếu của 3 bộ Kim, Thai, đại pháp Tô tất địa và các kinh quĩ tân dịch, làm cho giáo học Mật giáo Thiên thai được phát triển phổ biến. Đến thời ngài An nhiên thì tông Thiên thai của Nhật bản đã được Mật giáo hóa một cách cực đoan. Từ ngài Nghĩa chân về sau, vị Tọa chủ Thiên thai thống trị một tông, nhưng đến các ngài Viên nhân, Viên trân trở đi thì pháp hệ tách ra làm hai. Đồ chúng của ngài Viên trân đi ra khỏi núi Tỉ duệ, trụ ở chùa Viên thành(chùa Tam tỉnh) gọi là Tự môn; núi Tỉ duệ thì gọi là Sơn môn. Sơn môn đến thời ngài Lương nguyên, giáo học lấy Viên giáo sẵn có làm tông chỉ, các đệ tử ưu tú xuất hiện rất đông và thế lực tông này nổi lên khá mạnh. Đệ tử ngài Lương nguyên là Nguyên tín thì cổ xúy tư tưởng Tịnh độ, lập ra dòng Huệ tâm; một vị đệ tử khác là Giác vận thì lập dòng Đàn na, gọi chung là Huệ Đàn Nhị Lưu (Hai dòng Huệ-Đàn). Cộng chung, hệ thống Thai mật(Mật giáo thuộc tông Thiên thai) đến đời sau, có tất cả 13 dòng phái thuộc tông Thiên thai. Đến cuối thời kì Bình an về sau thì các dòng phái thuộc tông Thiên thai nói trên dần dần xem trọng khẩu truyền, do đó sinh ra chủ trương Khẩu truyền pháp môn. Trái lại, phương diện giáo học thì dần dần suy vi. Ngoài ra, sự vùng dậy của tăng binh, sự tranh cướp của chính quyền, cộng với việc đốt phá của Chức điền Tín trường... đều đã góp phần đưa núi Tỉ duệ đến thời sụp đổ. Cho mãi đến thời đại Giang hộ, núi Đông duệ, núi Nhật quang lần lượt được khai sáng mới phục hồi được sự hưng thịnh như xưa. Lại nhờ Mạc phủ đương thời khuyến khích việc học vấn nên giáohọc cũng dần dần phục hưng. Hiện nay có các tông phái như: Tông Thiên thai (chùa Diên lịch, núi Tỉ duệ), tông Thiên thai tự môn(chùa Viên thành), tông Thiên thai chân thịnh (chùa Tây giáo)... Giáo nghĩa của tông Thiên thai có thể lược chia ra các khoa: Tam đế viên dung, Nhất niệm tam thiên, Nhất tâm tam quán, Lục tức...Tông này lại dùng 5 thời 8 giáo để phán thích Thánh giáo một đời của đức Phật.Từ đời Dân quốc (1912) về sau, Thiên thai học được phục hưng nhờ sự nỗ lực của Đại sư Đế nhàn (1858-1932), ngài sáng lập Quán tông nghiên cứu xã, chuyên môn giáo dục người học Thiên Thai, nhân tài xuất hiện rất nhiều, như các vị tôn túc: Nhân sơn, Thường tỉnh, Bảo tĩnh, Tĩnh tu,Đàm hư, Thiên định, Khả đoan... [X. Phật tổ thống kỉ Q.5-22; Thiên thai cửu tổ truyện; Thiên thai sơn phương ngoại chí; Bát tông cương yếu Q.hạ; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.12]. (xt. Sơn Gia Sơn Ngoại; Ngũ Thời Bát Giáo, Thai Mật, Tam Đế, Nhất Niệm, Tam Thiên, Nhất Tâm Tam Quán, Lục Tức).

thiên thai tông toàn thư

(天臺宗全書) Tùng thư, 25 tập, do hội Thiên thai tông điển san hành của Nhật bản biên soạn, được ấn hành từ tháng 4 năm Chiêu hòa thứ 10 (1935) đến tháng 5 năm Chiêu hòa 12 (1937). Nội dung bộ tùng thư này sưu tập rất rộng, bao gồm các chú thích về văn hiến của tông Thiên thai Trung quốc, Nhật bản và các chương sớ của Hiển giáo, Mật giáo, do chùa Chân thịnh và hội xuất bản Đại tạng tại Tokyo phát hành.

thiên thai tứ giáo

The four types each of method and doctrine, as defined by T'ien-T'ai school—See Thiên Thai Hóa Nghi Tứ Giáo. ; (天臺四教) Bốn giáo Thiên thai. Tức chỉ cho 4 giáo hóa pháp và 4 giáo hóa nghi trong phán giáo của tông Thiên thai. Đó là: 1. Bốn giáo hóa pháp: Tức nội dung thuyết pháp của Phật chia làm 4 giáo: Tạng, Thông, Biệt, Viên. 2. Bốn giáo hóa nghi: Tức hình thức thuyết pháp của Phật chia làm 4 giáo: Đốn, Tiệm, Bí mật, Bất định. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo).

thiên thai tứ giáo nghi

(天臺四教儀) Cũng gọi Tứ giáo nghi, Đế quán Lục. Tác phẩm, 1 quyển, do vị tăng Cao li là ngài Đế quán soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Đây là bộ sách nhập môn nghiên cứu về đại cương giáo nghĩa Thiên thai và yếu lược của pháp quán tâm(tu hành thực tiễn). Nội dung do thêm bớt từ bộ Thiên thai bát giáo đại ý của ngài Quán đính mà thành, lấy các thí dụ như thí dụ trong phẩm Tín giải kinh Pháp hoa, thí dụ 5 vị trong kinh Niết bàn, thí dụ 3 chiếu soi trong kinh Hoa nghiêm... làm trung tâm mà chia ra 5 thời giáo và 4 giáo hóa nghi Đốn, Tiệm, Bí mật, Bất định, đồng thời trình bày sơ lược về danh nghĩa của 4 giáo hóa pháp Tạng, Thông, Biệt, Viên, về giáo thuyết, hành nhân, hành vị, chứng quả...; lại dùng 25 phương tiện của Ma ha chỉ quán để nói qua về Thập thừa quán pháp của Viên giáo. Về sau, ngài Trí húc cho rằng quan điểm của sách này quá sơ lược, cho nên mới nảy ra ý định soạn bộ Giáo quán cương tông. Tác phẩm này có rất nhiều sách chú thích, nhưng có 3 bộ quan trọng hơn cả là: -Tứ giáo nghi tập giải, 3 quyển, do ngài Tòng nghĩa soạn vào đời Tống. -Tứ giáo nghi bị thích, 2 quyển, do ngài Nguyên túy soạn vào đời Nam Tống. -Tứ giáo nghi tập chú, 3 quyển, do ngài Mông nhuận soạn vào đời Nguyên. [X. Phật tổ thống kỉ quyển 10; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3; Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Duyệt tạng tri tân Q.42].

thiên thai tứ giáo nghi tập chú

(天臺四教儀集注) Gọi tắt: Tứ giáo nghi tập chú. Tác phẩm, 3 quyển(hoặc 10 quyển), do ngài Mông nhuận soạn vào đời Nguyên, được thu vào Tạng đời Minh. Nội dung sách này căn cứ theo chính nghĩa của phái Sơn gia mà giải thích rõ về 4 giáo Hóa nghi của tông Thiên thai, là con đường tắt của người mới học. Sách này có rất nhiều sách chú thích như: Thiên thai tứ giáo nghi tập chú khoa văn 1 quyển của ngài Mông nhuận, Chú vậng bổ phụ hoành kí 20 quyển của ngài Tính quyền đời Thanh... [X. Đại minh tam tạngThánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Phật điển sớ sao mục lục Q.hạ].

thiên thai tứ giáo nghi tập giải

(天臺四教儀集解) Cũng gọi Tứ giáo nghi tập giải, Tứ giáo tập giải, Thiên thai tứ giáo nghi khoa giải. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Tòng nghĩa tông Thiên thai soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 102. Nội dung sách này giải thích rõ bộ Thiên thai tứ giáo nghi của ngài Đế quán.

thiên thai tứ thích

(天臺四釋) Cũng gọi Thiên thai tứ đại thích lệ, Tứ đại thích lệ, Tứ chủng tiêu thích, Tứ chủng tiêu văn. Chỉ cho 4 phương pháp mà Đại sư Trí khải tông Thiên thai sử dụng trong việc giải thích kinh Pháp hoa. Đó là: 1. Nhân duyên thích (cũng gọi Cảm ứng thích): Tức căn cứ vào quan hệ nhân duyên giữa Phật và chúng sinh mà giải thích. Giáo pháp là do cảm ứng đạo giao mà hưng khởi, dùng 4 tất đàn làm nhân duyên mà lập ra 4 cách thích nghĩa: a) Thế giới tất đàn: Khiến cho chúng sinh ưa muốn. b) Cáccácvị nhân tất đàn: Làm cho chúng sinh sinh lòng tin. c) Đối trị tất đàn: Phá trừ thói chấp ác. d) Đệ nhất nghĩa tất đàn: Đưa chúng sinh vào thực tướng. 2. Ước giáo thích: Căn cứ vào nghĩa của 4 giáo: Tạng, Thông, Biệt, Viên, mà giải thích văn kinh từ cạn đến sâu. 3. Bản tích thích: Chỉbàyrõ sự khác nhau giữa Bản và Tích, căn cứ vào 2 môn Bản địa và Thùy tích mà giải thích pháp nghĩa. 4. Quán tâm thích: Hiểu rõ pháp nghĩa, nhưng nếu sự tu hành không ăn khớp với hiểu biết ấy thì chẳng lợi ích gì cho mình, bởi vậylạiphải dùng từng câu văn làmđối cảnhquántâm, quán xét sự cao rộng của tâm mình. Về 4 cách giải thích trên đây nếu liên quan đếnviệc làm củaPhật và cácvịđệ tử thì thường dùng Nhân duyên thích; đối với các giáo nghĩa như Như thị ngã văn... thì thường dùngƯớc giáo thích; về sự tích của đức Phật và bản thân của các đệ tử thì thường dùng Bản tích thích; còn về tên đất như thành Vương xá và các danh số thì thường dùng Quán tâm thích. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.1, phần đầu; Pháp hoa văn cú kí Q.1, phần đầu].

thiên thai tứ tương thừa

(天臺四相承) Chỉ cho 4 loại truyền thừa theo chủ trương của tông Thiên thai, đó là: 1. Viên đốn giới tương thừa: Chỉ cho sự truyền thừa giới Bồ tát Đại thừa. 2. Chỉ quán nghiệp tương thừa: Chỉ cho sự truyền thừa của tông Thiên thai. 3. Già na nghiệp tương thừa: Chỉ cho sự truyền thừa của Mật giáo. 4. Đạt ma thiền tương thừa: Chỉ cho sự truyền thừa của Thiền tông.

thiên thai tự

Tên của một ngôi tự viện tọa lạc trên đường lên núi Châu Tiên, cạnh Đình Bà Cố, trong xã Tam An, huyện Long Đất, Vũng Tàu Bà Rịa, Nam Việt Nam. Chùa được Hòa Thượng Thanh Kế Huệ Đăng xây năm 1909. Điện thờ Phật được xây như một trụ đá bốn mặt. Một mặt là chánh điện có tôn trí xá lợi Đức Phật. Hai mặt hai bên là điện thờ Bồ Tát Chuẩn Đề và Bồ Tát Quán Thế Âm. Năm 1931, Hòa Thượng Huệ Đăng thành lập Thiên Thai Thiền Giáo tông, Liên Hữu hội và cho xuất bản tạp chí Bát Nhã Âm, một cơ quan ngôn luận của Phật giáo thời bấy giờ—Name of a pagoda located on the way to Mount Châu Tiên by Bà Cố Palace, in Tam An village, Long Đất district, Bà Rịa Vũng Tàu, South Vietnam. It was built in 1909. The Buddha Shrine was built with four sides of square stone pillar. The Main Hall is on the front side. The Shrine of Cundi and Avalokitesvara Bodhisattvas are placed on both sides of the Buddha shrine. The former patriarchs are worshipped at the rear part. In 1931, Most Venerable Huệ Đăng established T'ien-T'ai Dhyana Sect, Liên Hữu Association and had Bát Nhã Âm Reviews, the Buddhism Press of that time, published. In the back yard, there stands Thiên Bảo Stupa of Patriarch Huệ Đăng.

Thiên Thai Ðức Thiều

天台得韶; C: tiāntāi déshōo; J: tendai tokushō; 881-972; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ đắc pháp của Thiền sư Pháp Nhãn Văn Ích. Người nối pháp của Sư là Vĩnh Minh Diên Thọ và Ðạo Nguyên, người đã soạn bộ sử kí danh tiếng nhất của Thiền tông là Cảnh Ðức truyền đăng lục.|Sư họ Trần quê ở Long Tuyền, Xử Châu. Năm Sư 15 tuổi, một vị tăng lạ đến vỗ vai Sư nói: »Ông nên xuất gia, trần tục không phải là chỗ của ông.« Sư xuất gia năm 17 tuổi, năm 18 tuổi đến chùa Khai Nguyên ở Tín Châu thụ giới.|Sau, Sư cất bước du phương, lúc đầu đến tham vấn Thiền sư Ðầu Tử Ðại Ðồng có chút tỉnh. Sau Sư đến Thiền sư Long Nha Cư Độn, hỏi: »Bậc tôn hùng hùng vĩ sao gần chẳng được?« Long Nha đáp: »Như lửa với lửa.« Sư lại hỏi: »Bỗng gặp nước đến thì sao?« Long Nha bảo: »Ði! Ông chẳng hội lời ta nói.« Sư hỏi tiếp: »Trời chẳng che, đất chẳng chở là lí gì?« Long Nha đáp: »Ðạo giả nên như thế.« Cứ hỏi như thế nhiều lần mà Sư vẫn không thông, Long Nha bèn nói: »Ðạo giả, ông về sau tự hội lấy.«|Sau khi rời Long Nha, Sư còn tham vấn rất nhiều vị Thiền sư khác nhưng vẫn chưa triệt ngộ, cuối cùng dừng chân tại hội của Pháp Nhãn. Sư vì mệt chán nên chẳng buồn thưa hỏi. Một hôm nghe vị tăng hỏi Pháp Nhãn: »Thế nào là một giọt nước nguồn Tào?« Pháp Nhãn trả lời: »Là một giọt nước nguồn Tào.« Tăng mờ mịt thối lui nhưng Sư nhân đây đại ngộ. Sư đem chỗ sở đắc trình Pháp Nhãn. Pháp Nhãn khen nói: »Ông sau làm thầy của vua, làm Tổ đạo sáng ngời, ta chẳng bằng.«|Sư đến núi Thiên Thai thăm những di tích của Ðại sư Trí Khải, có cảm giác là chỗ ở cũ. Vì họ của Sư (Trần) cũng như Trí Khải nên thời nhân nói Sư là hậu thân của Trí Khải Ðại sư.|Sư thượng đường dạy chúng: »Phật pháp hiện hành, tất cả đầy đủ. Người xưa nói ›viên đồng thái hư, vô khiếm vô dư.‹ Nếu như thế thì cái gì thiếu, cái gì dư, cái gì phải, cái gì quấy? Ai là người hội, ai là người chẳng hội? Do đó nói, đi Ðông cũng cũng là Thượng toạ, đi Tây cũng là thượng toạ, đi Nam cũng là Thượng toạ, đi Bắc cũng là Thượng toạ. Thượng toạ lại sao được thành Ðông, Tây, Nam, Bắc? Nếu hội được tự nhiên con đường thấy nghe hiểu biết bặt dứt, tất cả các pháp hiện tiền. Vì sao như thế? Vì Pháp thân không tướng, chạm mắt đều bày, Bát-nhã vô tri, đối duyên liền chiếu, một lúc hội triệt để là tốt. Chư thượng toạ! Kẻ xuất gia làm gì? Cái lí bản hữu này chưa phải là phần bên ngoài. ›Thức tâm đạt bản nguyên nên gọi là Sa-môn.‹ Nếu biết rõ ràng, không còn một mảy tơ làm chướng ngại. Thượng toạ đứng lâu, trân trọng.«|Niên hiệu Khai Bảo thứ tư, ngày 28 tháng sáu, Sư có chút bệnh, họp chúng từ giã rồi ngồi kết già viên tịch, thọ 82 tuổi, 65 tuổi hạ.

thiên thai đại sư

T'ien-T'ai Great Master—Chih-I (Thạch Khải)—Vị sư đã sáng lập ra tông phái Thiên Thai, ngài tên Đức An, họ Trần (538-597 sau Tây Lịch). Ngài theo học tu và chịu ảnh hưởng rất lớn với Sư Huệ Tư ở Hồ Nam. Ngài thấy được trong Kinh Pháp Hoa một lối diễn giảng đúng nghĩa của Đại Thừa Giáo. Vào năm 575 sau Tây Lịch, lần đầu tiên ngài đến núi Thiên Thai và sáng lập tông phái nầy tại đó. Giáo thuyết của tông phái nầy trở thành căn bản cho các trường phái Phật giáo tại Đại Hàn và Nhật Bản sau nầy—The monk who founded T'ien-T'ai Sect—The actual founder of the T'ien-T'ai school, Chih-I, his name was Tê-An, and his surname Ch'ên (538-597 AD). He studied under Hui-Ssu of Hunan, he was greatly influenced by his teaching; and found in the Lotus Sutra the real interpretation of Mahayanism. In 575 AD, he first came to T'ien-T'ai and established his school, which in turn was the foundation of important Buddhist schools in Korea and Japan—See Thiên Thai Sơn. ; (天臺大師) Biệt hiệu của đại sư Trígiả, người Hoa dung, Kinh châu (nay là huyện Hoa dung, tỉnh Hồ nam), họ Trần, tự Đức an, tên là Trí khải. Năm 18 tuổi, sư xuất gia ở chùa Quả nguyện tại Tương châu. Sau, sư đến núi Đại tô ở Quang châu theo ngài Tuệ tư tu tập 4 hạnh an lạc.ỞKim lăng, sư lần lượt giảng kinh Pháp hoa, luận Đại trí độ và xiển dương Thiền pháp. Năm Thái kiến thứ 7 (575), sư đến núi Thiên thai, tăng tục theo về rất đông. Năm Khai hoàng 11 (591), sư truyền giới Bồ tát cho Tấn vương Quảng (tức vua Tùy Dạng đế sau này) ở Dươngchâu, vương ban cho sư hiệu Trí Giả. Tháng 11 năm Khai hoàng 17 (597), sư thị tịch, thọ 60 tuổi, người đời gọi sư là Thiên thai Đại sư. Một đời sư xây dựng 36 ngôi chùa, viết được 15 tạng kinh, tạo 10 vạn tôn tượng(có thuyết nói 80 vạn tôn), độ trên 1000 vị tăng, 32 vị học sĩ được truyền nghiệp. Trong số đệ tử của sư, các ngài Quán đính, Trí việt, Trí tảo... là nổi tiếng hơn cả. Sư để lại các tác phẩm: -Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa, 20 quyển. -Diệu pháp liên hoa kinh văn cú, 20 quyển. -Duy ma kinh lược sớ, 10 quyển. -Kim quang minh kinh văn cú, 6 quyển. -Nhân vương hộ quốc bát nhã kinh sớ, 5 quyển. -Bồ tát giới nghĩa sớ, 2 quyển. -Ma ha chỉ quán, 10 quyển.

Thiên Thai Đức Thiều

(天台德韶, Tendai Tokushō, 891-972): vị tăng của Pháp Nhãn Tông Trung Quốc, người vùng Long Tuyền (龍泉), Xử Châu (處州, thuộc Tỉnh Triết Giang), họ là Trần (陳). Năm lên 17 tuổi, ông đến xuất gia tại Long Quy Tự (龍歸寺) ở trong vùng, rồi trong khoảng niên hiệu Khai Bình (開平, 907-910), ông đi du hóa khắp nơi, tham bái Đầu Tử Đại Đồng (投子大同), Long Nha Cư Độn (龍牙居遁), nhưng sau đến tham yết Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益) ở Lâm Xuyên (臨川, Tỉnh Giang Tây) và kế thừa dòng pháp của vị này. Về sau, ông lên Thiên Thai Sơn, chấn hưng lại di tích của Trí Khải Đại Sư, và vào năm đầu (948) niên hiệu Càn Hựu (乾祐), ông được vua Trung Ý Vương (忠懿王) của Ngô Việt (呉越) đãi ngộ như là Quốc Sư. Vào ngày 28 tháng 6 năm thứ 5 niên hiệu Khai Bảo (開寳) nhà Bắc Tống, ông thị tịch, hưởng thọ 82 tuổi.

thiên thai đức thiều thiền sư

Zen master T'ien-Te-Shao—See Đức Thiều Thiền Sư.

thiên thu

A thousand autumns—Eternity.

Thiên Thánh Quảng Đăng Lục

(天聖廣燈錄, Tenshōkōtōroku): gọi tắt là Quảng Đăng Lục (廣燈錄, Kōtōroku), 30 quyển, do Lý Tuân Úc (李遵勗) biên tập, san hành năm thứ 18 (1148) niên hiệu Thiệu Hưng (紹興) nhà Tống. Lý Tuân Úc có tự là Công Võ (公武), là người đã từng đến tham vấn Cốc Ẩn Uẩn Thông (谷隱蘊聰) của Lâm Tế Tông và có chỗ sở ngộ. Vào năm thứ 7 (1029) niên hiệu Thiên Thánh (天聖) đời vua Tống Nhân Tông, khi bộ này được soạn ra và dâng trình lên nhà vua, nó được xem như là bản tục biên của Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄), được lấy niên hiệu lúc bấy giờ và đặt tên là Thiên Thánh Quảng Đăng Lục. Tác phẩm này nêu lên khoảng 370 truyền ký cũng như cơ duyên từ thời đức Phật Thích Ca trở đi cho đến 27 vị tổ Tây Thiên, 6 vị tổ Đông Độ, trải qua 9 đời của môn hạ Nam Nhạc (南岳), 12 đời của môn hạ Thanh Nguyên (青原). Đặc biệt điều quý nhất là thư tịch này đã tường thuật rõ chư vị Thiền sư thuộc môn hạ Nam Nhạc và hầu hết các Ngữ Lục của chư vị tổ sư từ thời Mã Tổ (馬祖) trở về sau đều được thâu lục vào đây.

thiên thánh quảng đăng lục

(天聖廣燈錄) Lục, 30 quyển, do quan Trấn quốc quân Tiết độ sứ đời Tống là Lí tuân úc (?-1038) biên tập, ấn hành vào năm Thiệu hưng 18 (1148) đời vua Cao tông, được thu vào Vạn tụctạngtập 135. Năm Thiên thánh thứ 7 (1029), quan Trấn quốc dâng Quảng đăng lục lên vua Nhân tông. Vua Nhân tông liền ban 2 chữ Thiên thánh và viết bài tựa. Sách này được soạn kế sau Cảnh đức truyền đăng lục, thu chép lược truyện và cơ duyên ngữ cú của hơn 370 vị từ đời đức Phật Thích tôn cho đến 27 vị Tổ Tây thiên (Ấn độ), 6 vị Tổ Đông độ(Trung quốc), 9 đời thuộc hệ thống Nam nhạc bắt đầu từ ngài Hoài nhượng và 12 đời thuộc hệ thống Thanh nguyên bắt đầu từ ngài Hành tư trở xuống. Phần trình bày về các Thiền sư thuộc hệ thống ngài Nam nhạc đặc biệt tỉ mỉ, rõ ràng và ngữ lục của các Thiền sư từ ngài Mã tổ về sau gần như được thu chép toàn bộ.

thiên thánh thích giáo tổng lục

(天聖釋教總錄) Lục, 3 tập, do ngài Duy tịnh biên tu vào đời Bắc Tống. Nội dung sách này thu chép những kinh điển Hán dịch từ đời Đông Hán đến năm Thiên thánh thứ 5 (1027) và các soạn phẩm Phật điển của Trung quốc được nhập tạng. Bản Kim tạng hiện còn có chỗ thiếu sót, khó thấy được toàn diện. Căn cứ theo nội dung thì bộ lục này ghi chép các kinh điển trong Khai nguyên thích giáo lục(nhập tạng lục) của ngài Trí thăng đời Đường, các kinh sách mới được đưa vào tạng, Đại đường trinh nguyên tục Khai nguyên thích giáo lục của ngài Viên chiếu đời Đường, Đại trung tường phù pháp bảo lục của ông Dương Úc đời Bắc Tống..., tổng cộng gồm 1496 bộ, 6208 quyển, 602 pho. Sách này bị thất truyền đã lâu, mãi đến thời gần đây người ta mới tìm thấy 1 bản không hoàn chỉnh gồm 2 tập trung và hạ ở chùa Quảng thắng tại Triệu thành, tỉnh Sơn tây, Trung quốc, hiện nay được chụp in và thu chép vào Tống tạng di trân tập thứ 6. [X. Phật tổ thống kỉ Q.45 (điều Thiên thánh ngũ niên)].

thiên thân

Tên Bà Tẩu Bàn Đậu (Vasubandhu), người Peshawar, sanh 900 năm sau ngày Phật nhập Niết bàn. Sáng tác nổi tiếng của Ngài là Abhidharmakosa. Ông đã được người anh là Vô Trước (Asanga) giúp chuyển tu từ Tiểu Thừa sang Đại Thừa. Vào ngày lễ đổi tông phái ấy, ông muốn cắt bỏ cái lưỡi đã phỉ báng Đại Thừa, nhưng ngài Vô Trước đã can ngăn và khuyên ông nên dùng chính cái lưỡi ấy chuộc lỗi. Ông đã viết bộ Duy Thức Học và những tác phẩm Đại Thừa khác. Ông là tổ thứ 21 của dòng Thiền Ấn Độ—Vasubandhu (a native of Peshawar, born 900 years after the Buddha's nirvana). Vasubandhu's great work, Abhidharmakosa. He was converted from Hinayana to Mahayana by his brother, Asanga. On his conversion he would have cut out his tongue for its past heresy, but he was dissuaded by his brother, who bade him use the same tongue to correct his errors, whereupon he wrote “The Teaching of the Nature of the Eight Consciousnesses” (Duy Thức Học) and other Mahayanist works. He is called the twenty-first patriarch.

thiên thê sơn

1) Núi Thang Lên Trời: The ladder-to-heaven hill or monastery. 2) Núi Thiên Thai: T'ien-T'ai mountain in Chekiang.

Thiên thùy bảo cái, địa dõng kim liên

(天垂寳蓋、地湧金蓮): trên trời rũ lọng báu xuống, dưới đất vọt lên hoa sen vàng ròng. Trong Độ Kiều Khoa Ngân Kiều Nghi (度橋科銀橋儀) của Đạo Giáo có đoạn: “Thiên thùy bảo cái trùng trùng hiện, địa dõng kim liên đóa đóa tiên, sám hối do như liên thủy xuất, siêu thăng hảo tợ nguyệt đương viên (天垂寳蓋重重現、地湧金蓮朵朵鮮、懺悔猶如蓮出水,超升好似月當圓, Trời buông lọng báu lớp lớp hiện, đất vọt sen vàng đóa đóa nguyên, sám hối giống như sen khỏi nước, siêu thăng nào khác nguyệt đang viên).” Hay trong Phật Nhật Phổ Chiếu Huệ Biện Sở Thạch Thiền Sư Ngữ Lục (佛日普照慧辯楚石禪師語錄, Taishō No. 1420) quyển 1 cũng có câu: “Thiên thùy bảo cái, địa dõng kim liên, nhất cú vô tư, như hà chúc tán (天垂寶蓋、地湧金蓮、一句無私、如何祝贊, trời buông lọng báu, đất vọt sen vàng, một câu vô tư, làm sao chúc tán ?).” Trong văn cúng thỉnh Phật an vị cũng có đoạn rằng: “Nam mô nhất tâm phụng thỉnh: thiên hoa đài thượng, bách bảo quang trung, Tam Thập Nhị Tướng chi Năng Nhân, Bát Thập Chủng Hảo chi Đại Giác, quá hiện vị lai vô lượng Phật Đà Gia. Duy nguyện: thiên thùy bảo cái, địa dõng kim liên, quang giáng đạo tràng, chứng minh công đức (南無一心奉請、千花臺上、百寳光中、三十二相之能仁、八十種好之大覺、過現未來無量佛陀耶。惟願、天垂寶蓋、地湧金蓮、光降道塲、證明功德, Kính thành một lòng phụng thỉnh: trên đài ngàn hoa, trăm báu ánh sáng, Ba Hai Tướng Tốt đấng Năng Nhân, Tám Mươi Vẻ Đẹp bậc Đại Giác, quá khứ, hiện tại, tương lai vô lượng các đức Phật. Cúi mong: trời ban lọng báu, đất nỗi sen vàng, giáng xuống đạo tràng, chứng minh công đức).”

thiên thú

See Thiên Đạo.

thiên thượng

Những tầng trời bên trên, như lục dục Thiên, lục sắc Thiên và lục vô sắc Thiên—The heavens above, such as the six devalokas, six rupalokas and six arupalokas. ; (天上) Trên trời. Tức chỉ cho các người trời sống trong 3 cõi Dục, Sắc, và Vô sắc, là 1 trong 6 đường. Ngoài ra, Thiên thượng cũng chỉ cho thế giớicủacác thần.

thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn

“Trên trời dưới trời, riêng ta cao nhất. Trên trời dưới trời riêng ta tôn quý nhất.” Đó là lời Đức Phật lúc Ngài mới giáng sanh từ bên sườn phải Hoàng Hậu Ma Da và bước bảy bước đầu tiên. Đây không phải là một câu nói cao ngạo mà là câu nói để chứng tỏ rồi đây Ngài sẽ hiểu được sự đồng nhứt của bản tánh thật của toàn vũ trụ, chứ không phải là bản ngã theo thế tục. Lời tuyên bố nầy cũng là thường pháp của chư Phật ba đời. Đối với Đại Thừa, Ngài là tiêu biểu cho vô lượng chư Phật trong vô lượng kiếp—The first words attributed to Sakyamuni after his first seven steps when born from his mother's right side: “In the heavens above and earth beneath I alone am the honoured one.” This is not an arrogant speaking, it bears witness to an awareness of the identity of I, the one's own true nature or Buddha-nature with the true nature of the universe, not the earthly ego. This announcement is ascribed to every Buddha, as are also the same special characteristics attributed to every Buddha, hence he is the Tathagata come in the manner of all Buddhas. In Mahayanism he is the type of countless other Buddhas in countless realms and periods.

thiên thần

Deva (skt)—Đề Bà—Celestial (Heaven) spirit—God of heaven. 1) Tổ thứ 15 dòng Thiền Ấn Độ, gốc người Tích Lan, là đệ tử của Ngài Long Thọ Bồ Tát. Ông cũng được gọi là Đề Bà Bồ Tát, Thánh Thiên và Thanh Mục. Ông là tác giả của chín tác phẩm và là một người nổi tiếng về chống lại Bà La Môn—The fifteen patriarch, a native of South India, or ceylon, and disciple of Nagarjuna; he is also styled as Devabodhisattva, Aryadeva, and Nilanetra. He was the author of the nine works and a famous antagonist of Brahmanism. 2) Chư thiên, kể cả chư thiên cư ngụ trên cung trời dục giới: Deva and gods in general, including the inhabitants of the the devalokas, all subject to metempsychosis.

thiên thần địa kì

(天神地祇) Thiên thân, Phạm: Devatà. Hán âm: Nê phạ đa.Chỉ cho các vị thần trên trời, tứctừchỉ chung Phạm thiên, Đế thích... Còn Địa kì thì chỉ cho các quỉ thần sống trên mặt đất, tức Kiên lao địa thần, Bát đại long vương... Ngoài ra, các Thiên chúng lệ thuộc từ cõi Sắc trở xuống và các Dạ xoa... của cõi Dục, cũng gọi chung là Thiên thần đia kì.

thiên thần địa kỳ

1) Thiên Thần: Devas. 2) Địa Kỳ: Earth spirits, nagas, demons, ghosts, etc.

thiên thể

Celestial body.

thiên thể sùng bái

(天體崇拜) Xem các thiên thể như mặt trời, mặt trăng, những ngôi sao như thần linh, hoặc chỗ ở của thần linh và dốc lòng kính tin, sùng bái, gọi là Thiên thể sùng bái. Thiên thể sùng bái đã lưu hành trong rất nhiều tông giáo đời xưa. Trong các tông giáo ở Mesopotamia, Ai cập và Trung quốc thời cổ đại đều có tín ngưỡng này. Thông thường cho rằng Thiên thể sùng bái bắt đầu ở thời kì du mục, do mối tương quan trọng đại giữa mặt trời và sự sinh trưởng của muôn vật cũng như mọi khí tượng trong vũ trụ, bởi thế lấy mặt trời hoặc thần mặt trời làm đối tượng sùng bái là điều tự nhiên, nhất là vào thời kì canh nông thì tín ngưỡng này càng phát triển mạnh và phổ biến.

thiên thọ

Heaven-bestowed—A name of Devadatta.

thiên thọ quốc tú trướng

(天壽國綉帳) Cũng gọi Thiên thọ quốc mạn đồ la. Chỉ cho bức màn thêu nước Thiên thọ, một cổ vật của Nhật bản. Vào năm Suy cổ Thiên hoàng 30 (622), sau khi Thái tử Thánh đức qua đời, vợ Thái tử là Quất đại nữ lang muốn thấy quang cảnh vãng sinh về nước Thiên thọ của Thái tử, nên tâu xin Thiên hoàng ban sắc cho các thể nữ thêu 2 bức màn. Màn thêu dài hơn 5m, rộng hơn 1m, phía trên có bài minh 400 chữ, theo thứ lớp thêu trên mai 100 con rùa, toàn văn bài minh này do chính Thượng cung Thánh đức Pháp vương thuyết. Hiện còn 6 mảnh, màu sắc tươi sáng, mũi thêu tinh xảo, là di phẩm xưa nhất thuộc loại này của Nhật bản. Nước Thiên thọ có lẽ là cõi nước của đức Phật Vô lượng thọ, cũng có thuyết cho rằng nước Thiên thọ là cung trời Đâu suất. [X. Thánh dự sao Q.hạ; Thượng cung thái tử thập di kí Q.5; Thiên thọ quốc tân mạn đồ la lí thư; Quan cổ tạp thiếp].

thiên thọ vương

The parijata tree which grown in front of Indra's palace—The king among the heavenly trees.

thiên thủ kinh

(千手經) Chỉ cho những kinh điển ghi chép về bồ tát Thiên thủ Quan âm, gồm có 4 bàn, đó là: 1. Kinh Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni(gọi tắt: Kinh Thiên thủ thiên nhãn đại bi tâm, kinh Thiên thủ đà la ni, kinh Thiên thủ Quan âm đại bi tâm đà la ni, kinh Đại bi tổng trì, kinh Thiên thủ): Có 1 quyển, do ngài Già phạm đạt ma dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20.Nội dung kinh này nói về nguyên do, phát nguyện, 15 thứ thiện sinh, công đức không bị 15 thứ chết dữ, Đà la la ni nghìn tay, công đức thụ trì, pháp chú trớ, công đức của mỗi tay trong 42 tay, chú ủng hộ củabồ tát Nhật quang vàbồ tát Nguyệt quang... Ở đầu quyển có phụ thêm bài tựa do vua soạn. Thông thường, gọi kinh Thiên thủ chính là chỉ cho kinh này. 2. Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát đại bi tâm đà la ni(gọi tắt: Thiên thủ Quán âm đại bi tâm đà la ni, Đại bi tâm đà la ni kinh): Có 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này trích lấy tinh túy kinh Thiên thủ do ngài Già phạm đạt ma dịch, Đà la ni từ phần phát nguyện trở xuống đến công đức mỗi tay trong 42 tay..., ngoài ra còn có thêm hình vẽ 42 tay và chân ngôn. Kinh này là bản dịch khác của kinh Thiên thủ ở trên. 3. Kinh Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát đà la ni thân(gọi tắt: kinh Thiên thủ Quán âm mỗ đà la ni thân, kinh Thiên thủ): Có 1 quyển, do ngài Bồ đề lưu chí dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20.Nội dung kinh này trước hết nói về Mỗ đà la ni và công đức, kế đến nói về Tổng nhiếp thân, Tổng trì đà la ni, về 12 ấn minh tam muội của chư Phật, kế nữa, nói về cách vẽ đàn Thiên thủ Quán âm và pháp chú trớ, sau cùng, nói về 13 ấn minh(ấn khế và chân ngôn) như Biện tài, Thành đẳng chính giác, Thần biến tự tại, Thỉnh thiên nhãn Quán âm vương tâm ấn chú... 4. Kinh Thiên nhãn thiên tí Quán thế âm bồ tát đa la ni thần chú(gọi tắt: kinh Thiên nhãn Quán thế âm đà la ni thần chú): Gồm 2 quyển, do ngài Trí thông dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này nói về phép ấn chú và đàn pháp của bồ tát Thiên thủ Quan âm. Kinh này là bản dịch khác của kinh Thiên thủ do ngài Bồ đề lưu chi dịch ở trên. Hai mươi lăm pháp ấn chú nói trong 2 bản dịch này về phần tổng quát thì giống nhau, nhưng về chi tiết Đại thân chú và Mạn đồ la đàn pháp thì có khác nhau. Bản tiếng Phạm của kinh này là do vị tăng người Bắc Ấn độ đem đến dâng cho vua nhà Đường trong niên hiệu Trinh quán.

thiên thủ quan âm

(千手觀音) Gọi đủ: Thiên thủ thiên nhãn Quán tự tại (Phạm:Avalokitesvara-sahasrabhujalocana) Cũng gọi Thiên thủ thiên nhãn Quán âm, Thiên nhãn thiên tí Quán âm, Thiên thủ thánh Quán tự tại (Phạm: Sahasrabhujàryàvalokitesvara), Thiên tí Quán âm, Thiên quang Quán tự tại, Thiên nhãn thiên thủ thiên túc thiên thiệt thiên tí Quán tự tại. Một trong 6 loại Quan âm. Cứ theo Thiên thủ thiên nhãn đại bi tâm kinh thì bồ tát Quán tự tại ở quá khứ nghe Đà la ni Quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm, vì muốn làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, nên phát nguyện có đủ nghìn tay nghìn mắt, liền tức khắc được thân này.Về hình tượng của vị Bồ tát này các kinh ghi chép có khác nhau. Có kinh nói vị Bồ tát này thân màu vàng Diêm phù đàn, một mặt, nghìn cánh tay; có kinh nói thân Ngài màu vàng ròng, ngồi bán già trên hoa sen đỏ, có 11 mặt 40 tay, 3 mặt trước hiện tướng Bồ tát, mặt chính có 3 mắt, 3 mặt bên phải có răng nanh chìa ra hướng lên trên, 3mặt bên trái hiện tướnggiận dữ, một mặt phía sau hiện vẻ cười dữ tợn, một mặt trên đỉnh đầu hiện tướng Như lai; có kinh thì nói rằng thân Ngài màu vàng, có nghìn tay nghìn mắt 500 mặt. Hình tượng vị Bồ tát này trong Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo thì có 27 mặt 1000 tay, ngồi kết già trên hoa sen báu; trong 1000 tay, có 40 (hoặc 42) tay cầm các khí trượng. Lại theo kinh Thiên quang nhãn Quán tự tại bồ tát bí mật pháp thì 1000 tay là con số tượng trưng, vì dùng 40 tay, mỗi tay tế độ 25 Hữu, nhân lên thành con số 1000, vì thế không cần phải đủ 1000 tay, chỉ cần 40 tay cũng được, biểu thị cho hóa dụng từ bi rộng lớn của bồ tát Quán thế âm, cho nên thường gọi Ngài là Thiên tí (1000 tay); vả lại, pháp công đức thành tựu mà mỗi mặt, mỗi tay biểu thị và ấn ngôn cũng tùy theo bản thệ bất đồng cỉa mỗi vị tôn mà có khác nhau. Nghìn mắt là trong lòng tay của 1000 tay đều có 1 mắt, nhưng nếu là 40 tay thì chỉ có 40 mắt. Cứ theo kinh Đại bi tâm đà la ni thì các vật cầm ở 40 tay hoặc tướng tay biểu thị ở 40 tay là: Thí vô úy, nhật tinh ma ni, nguyệt tinh ma ni, cung(nỏ) báu, tên báu, bình báu, nhành dương liễu, phất trần trắng, bình nước, tấm khiên(lá chắn), rìu búa, gậy báu đầu lâu, xâu chuỗi, kiếm báu, chày kim cương, móc sắt câu thi, gậy tích, hoa sen trắng, hoa sen xanh, hoa sen tía, hoa sen đỏ, gương báu, ấn báu, hóa Phật trên đỉnh đầu, tay chắp, hộp báu, mây 5 sắc, kích báu, vỏ ốc báu, ngọc báu như ý, dây lụa, bát báu, xuyến báu, chuông báu, Kim cương, Hóa Phật, cung điện hóa, kinh báu, bất thoái chuyển Kim luân và chùm nho, lại thêm tay cam lộ cộng chung là 41 tay. Pháp thành tựu công đức của mỗi tay và ấn ngôn(ấn khế và chân ngôn) có nói đầy đủ trong kinh quĩ. Trong các tôn vị thuộc Liên hoa bộ thì vị tôn này là tối thắng, cho nên còn gọi là Liên hoa vương. Chủng tử là chữ (hrì#), là chữ do 4 chữ (ha ra ì a#) hợp thành, biểu thị cho nghĩa 3 độc tham (ra) sân (ì) si (ha) chuyển vào Niết bàn (a#). Theo Thiên thủ nghi quĩ thì ấn căn bản của vị tôn này là 2 tay chắp lại thành Kim cương hợp chưởng, lưng bàn tay hơi cong, 2 ngón giữa hợp vào nhau, 2 ngón cái, 2 ngón út cách ra và dựng thẳng. Ấn này cũng gọi là ấn hoa sen 5 chĩa, ấn 9 núi 8 biển, ấn 9 ngọn Bổ đà lạc. Các kinh quĩ khác còn có những thuyết 24 loại ấn, 25 loại ấn... Khi kết ấn căn bản thì tụng Đà là ni căn bản và được 4 thứ thành tựu như sau: Tức tai, Tăng ích, Hàng phục và Kính ái câu triệu. Nhưng vì Đà la ni tương đối dài nên thông thường chỉ tụng niệm tiểu chú là: Án (oô, qui mệnh) phạ nhật la (vajra, kim cương) đạt ma (dharma, pháp) hột lí (hrì#, chủng tử). Theo kinh Thiên thủ thiên nhãn đại bi tâm đà la ni thì tụng trì Đà la ni của vị tôn này có thể tránh khỏi 15 trường hợp chết thảm như chết đói, chết vì các loại thú cắn xé, chết vì ngã cây ngã núi... và được 15 điều sống an lành như họ hàng hòa thuận, ăn mặc đầy đủ, của cải dồi dào, đạo tâm thuần thục... hoặc chữa khỏi các chứng tật bệnh, trùng độc, chết vì khó sinh nở, vợ chồng hòa thuận, sống lâu, diệt tội... Về nghi quĩ và cách vẽ tượng của vị tôn này, đến đời Đường mới truyền đến Trung quốc. Cứ theo bài tựa trong kinh Thiên nhãn thiên tí Quán thế âm bồ tát đà la ni thần chú thì trong năm Vũ đức (618- 626), vị tăng Trung thiên trúc là ngài Cù đa đề bà mang hình tượng vị tôn này và các bản kinh kết đàn thủ ấn đến Trung quốc. Trong năm Trinh quán (627-649), lại có vị tăng Bắc Thiên trúc mang bản tiếng Phạm của Đà la ni Thiên tí thiên nhãn đến dâng lên vua nhà Đường, sau được ngài Trí thông dịch ra chữ Hán. Do đó, tín ngưỡng về vị tôn này đến thế kỉ VII đã dần dần hình thành. Khi khảo sát vềviệchình thành tín ngưỡng vị tôn này ởẤn độ, các học giả cận đại đã phát hiện ra những thần cách trong thần thoạiẤn độ tương đương với vị tôn này thì có: Nhân đà la ni (Phạm: Indra), Nguyên nhân (Phạm: Pusawa), Thấp bà (Phạm:Ziva), Tì nữu noa (Phạm:Viwịu)... các vị thần này đều có thuyết nghìn mắt. Kinh Đại giáo vương quyển 9 cũng có ghi thuyết trời Đại tự tại có nghìn tay nghìn mặt. Khi thám hiểm vùng Tây vực, các học giảthờigần đây cũng đã tìm thấy nhiều mảnh tượng vẽ Quán âm nghìn mắt nghìn tay và Mạn đồ la... [X. kinh Thiên quang nhãn Quán tự tại bồ tát bí mật pháp; kinh Thiên thủ Quán âm mỗ đà la ni thân; Bổ đà lạc hải hội quĩ; Mật giáo phát đạt chí Q.2; Die Buddhistische Sptantike in Mittelasien by Le cop; The Thousand Buddhas, by A. Stein].

thiên thủ thiên nhãn đại bi quán thế âm bồ tát

Thousand-Hand Thousand-Eye Great Mercy Avalokitesvara Bodhisattva.

thiên thức

Chân Như—Natural perception or wisdom—The primal endowment in men—The Bhutatathata (chân như). ; (天識) Thức trời. Tức chỉ cho bản tính thiên chân của người ta. Lưu vũ Tích Tào khê Lục tổ Đại giám thiền sư đệ nhị bi ghi: ...Khiến cho học giả trở về với thiên thức của mình.

thiên thừa

Devayana (skt)—Một trong ngũ thừa, có công năng đưa những người tu tập thiện nghiệp đến một trong sáu cõi trời dục giới, cũng như đưa những người tu tập thiền định đến những cảnh trời sắc giới hay vô sắc giới cao hơn—The deva vehicle—Divine Vehicle—One of the five vehicles—It transports observers of the ten good qualities (thập thiện) to one of the six deva realms of desire, and those who observe dhyana meditation to the higher heavens of form and non-form.

thiên thực

Sudha (skt)—Thực phẩm của chư Thiên gồm nước cam lộ, nước hồ đào và trường sanh bất tử—Food of the gods include sweet dew, nectar and ambrosia: (A) Thực phẩm cho chư Thiên cao cấp màu trắng: White-coloured Food for gods of higher ranks. (B) Thực phẩm cho chư Thiên cấp thấp hơn thì có nhiều màu (xanh, vàng, đỏ): Coloured Food for gods of lower ranks (blue—yellow—red). ; (天食) Chỉ cho thức ăn thơm ngon vi diệu của cõi trời màởnhân gian không có mùi vị nào sánh bằng. Kinh Khởi thế quyển 7 (Đại 1, 345 hạ) nói: Tứ thiên vương và các thiên chúng đều dùng vị thiên tu đà ấy. (...) khi khởi tâm muốn ăn thì ở ngay trước mặt đã có các đồ đựng quí báu, tự nhiên đựng đầy các vị thiên tu đà với nhiều màu sắc khác nhau. Trong các Thiên tử, ai có thắng nghiệp thì màu sắc vị tu đà của người ấy trắng sạch nhất. Nếu quả báo của Thiên tử ấy trung bình thì màu sắc vị tu đà của người ấy hơi đỏ. Còn nếu phúc đức củaThiên tử ấy ở mức thấp thì màu sắc của vị tu đà của người ấy hơi đen. Khi Thiên tử ấy dùng tay cầm vị tu đà bỏ vào trong miệng thì vị tu đà tự tan ra và biến hóa dần dần, giống như vị tô và sinh tô bỏ vào lửa vậy.

thiên tiên

Deva-Rsis (skt)—Deva and rsis—Heavenly fairies—Immortals—Deva genii—Thiên Tiên có nghĩa là những người tu tiên đắc đạo được lên cõi trời—Heavenly Fairies are people who cultivate and attain the Taoist path so that they are reborn in Heavens. 1) Ngài Long Thọ Bồ Tát đưa ra mười loại Tiên có đời sống đến 100.000 năm mới đi đầu thai—Nagarjuna gives ten classes of rsis whose lifetime is 100,000 years, the they reincarnated. 2) Năm loại Tiên khác—Another category is fivefold: • Thiên Tiên: Thiên Tiên ở quanh núi Tu Di—Deva-rsis in the mountain round Sumeru. • Thần Tiên: Những vị Tiên bay vút trên không trung—Spirit-rsis who roam the air. • Nhân Tiên: Những người đã đạt được năng lực trường sanh bất tử—Humans who have attained the powers of immortals. • Địa Tiên: Earth-rsis, subterranean. • Quỷ Tiên: Pretas, or malevolent rsis. ; (天仙) Phạm: Devafwi. Chỉ chung cho người trời và thần tiên. Cứ theo Lí thú phân thuật tán quyển trung thì loài hữu tình cao tột trong 5 đường gọi là Thiên; còn người có thần đức thì gọi là Tiên.

thiên tiểu

Nghiêng về cái nhỏ, chỉ sự thuyết pháp của Đức Phật trong 12 năm sau khi thành đạo (người ta cho rằng nghĩa lý mà Đức Phật thuyết giảng trong thời kỳ nầy chỉ mới là bước đầu hạn hẹp)—The partial and minor teaching of the Buddha during the first twelve years of his ministry. ; (偏小) Chỉ cho giáo lí của Tiểu thừa, nghĩa là giáo lí này nghiêng hẳn về bên không, thành là pháp môn nhỏ hẹp. Đứng trên lập trường của giáo nghĩa Đại thừa mà nói, thì giáo lí ấy gọi là Thiên tiểu. Chỉ quán đại ý (Đại 46, 460 trung) nói: Như thế mới có thể xa lìa thiên tiểu và tà ngoại, cho nên đứng đầu trong 10 pháp. Ngoài ra, Thiên tiểu cũng có khi chỉ cho người chuyên chấp trước Tiểu thừa.

thiên tiểu tình

Tư tưởng thiên lệch nhỏ hẹp, cho rằng dù ngã giả, nhưng chư pháp là thật—The partial or narrower idea that thought the ego is unreal, things are real. ; (偏小情) Chỉ cho sự thấy biết nông nổi, hẹp hòi, chỉ biết nhân không chứ chưa biết pháp không. Tức làkiến chấp Tiểu thừa. Tiểu thừa tuy nhận ra rằng thân chúng sinh là do 5 uẩn giả hòa hợp, nhưng lại cho pháp 5 uẩn sinh diệt là có thật, cho nên sợ sinh tử, vọng cầu Niết bàn. Chương Nhân pháp nhị không trong Hoa nghiêm kinh khổng mục chương quyển 3 nói rằng: Nhân không chung cho Tiểu thừa, nhưng chưa được thanh tịnh, đến Tam thừa mới thanh tịnh. Nhưng kinh Pháp hoa thì cho rằng Tam thừa vẫn chưa thanh tịnh, đến Nhất thừa mới được thanh tịnh rốt ráo.

thiên toạ

(偏坐) Ngồi lệnh, 1 trong các cách ngồi. Tức ngồi 1 chân xếp bằng, 1 chân đầu gối dựng đứng. Hoặc có thuyết cho rằng cách ngồi này giống với Thiên già(kết già một bên). Kinh A tra bạc câu nguyên súy nghi quĩ quyển hạ (Đại 21, 201 hạ) nói: Nếu sai khiến quỉ thần thì nênthiên tọa, tay trái để ở bẹn.

Thiên Trung Thiên

Một tôn hiệu của Phật, xưng tụng Phật là vị chẳng những được loài người lễ bái, lại được tất cả chư thiên trong Ba cõi đều tôn trọng hơn hết, là bậc cao trổi nhất trong hàng chư thiên.

thiên trung thiên

Tôn hiệu của Đức Phật (Thiên là đấng được người tôn kính, Phật là đấng được Thiên tôn kính, nên gọi là Thiên Trung Thiên). Phật được danh hiệu nầy khi Ngài thuyết pháp trên cung Thiên Vương. Ngày nay chúng ta còn thấy hình tượng chư Thiên quỳ mọp trước mặt Ngài—Devatideva (skt)—Deva of devas. The name given to Siddhartha (Sakyamuni) when, on his presentation in the temple of Mahesvara (Siva), the statues of all the gods prostrated themselves before him. ; (天中天) Phạm,Pàli:Devàtideva. Cũng gọi là Thiên nhân trung tôn, Thiên trung vương. Bậc tối thắng trong hàng chư thiên, 1 trong các tôn hiệu của Phật. Vì sau khi giáng sinh, đức Thích tôn từng được chư thiên lễ bái, cho nên có tôn hiệu này. [X. phẩm Bồ tát giáng sinh trong kinh Tu hành bản khởi Q.thượng; phẩm Phạm chí chiêm tướng trong kinh Phật bản hạnh Q.1; kinh A súc Phật quốc Q.thượng; Thích thị yếu lãm Q.trung].

thiên trung vô nhất

(千中無一) Trong một nghìn người không được một người, đây là tiếng dùng chỉ cho lỗi của sự tu hành tạp nhạp. Ý nói những người tu hành tạp nhạp được vãng sinh Cực lạc rất ít, trong 1000 người không có được 1 người. Những người tạp tu, các duyên tạp nhạp loạn động, dễ mất chính niệm, không ứng hợp với bản nguyện của Phật, không có tâm sám hối, lại thường đi theo danh lợi, không gần gũi thiện hữu cùng chí hướng, gây chướng ngại cho chính hạnh vãng sinh của mình và người. Cho nên, trong Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập (Đại 83, 4 trung) mới nói: Người tạp tu không dốc lòng, trong nghìn người không được một (thiên trung vô nhất). Tư tưởng này có xuất xứ từ Vãng sinh lễ tán của Đại sư Thiện đạo đời Đường. [X. Lục yếu sao Q.6, phần cuối (Tồn giác)]. (xt. Chuyên Tạp Nhị Tu).

Thiên Trù

(天厨): Bếp Trời. Từ này có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Tên gọi của một vì sao, như trong phần Thiên Văn Chí Thượng (天文志上) của Tấn Thư (晉書) có câu: “Tử Vi thản, đông bắc duy ngoại lục tinh viết Thiên Trù, chủ thịnh soạn (紫微垣、東北維外六星曰天廚、主盛饌, trong khu vực sao Tử Vi, sáu ngôi sao ngoài phương đông bắc gọi là Thiên Trù, chủ quản về cỗ ăn uống).” (2) Nhà Bếp của Thiên Đình, như trong bài thơ Đề Tuyên Luật Sư Họa Tượng (題宣律師畫像) của Lục Du (陸游, 1125-1210) nhà Tống có câu: “Bình sanh nhất ngõa bát, hà xứ hữu Thiên Trù (平生一瓦缽、何處有天廚, bình sanh một bình bát, nơi đâu có Bếp Trời).” Hay trong bài Mai Hoa Am Đồng Lâm Nhã Phủ Thoại Vũ Liên Cú (梅花庵同林若撫話雨聯句) của Ngô Vĩ Nghiệp (吳偉業, 1609-1672) nhà Thanh lại có câu: “Tiên lạc Thanh Thương thái, Thiên Trù pháp tửu triêm (仙樂清商奏、天廚法酒霑, tiên vui Thanh Thương rộn, Bếp Trời rượu thấm ngon).” (3) Nhà Bếp của Hoàng Đế, như trong bài Nguyên Hựu Bát Niên Sanh Nhật Tạ Biểu (元祐八年生日謝表) của Tô Triệt (蘇轍, 1039-1112) nhà Tống có đoạn: “Lão phùng đản nhật, khấp dưỡng thân chi vô tùng, tứ xuất Thiên Trù, quý quân tư chi mạc báo (老逢誕日、泣養親之無從、賜出天廚、愧君恩之莫報, già gặp ngày sinh nhật, khóc xót nuôi song thân không được toại nguyện, nhận ân sủng Nhà Bếp triều đình, thẹn ơn nhà vua chưa báo đáp).” Trong Phật Giáo, có những câu chuyện của các vị thần tăng đã từng được trời cúng dường cho thức ăn như trong Ngọc Thanh Vô Cực Tổng Chơn Văn Xương Đại Động Tiên Kinh (玉清無極總眞文昌大洞仙經) quyển 6 của Đạo Giáo có đoạn rằng: “Tích hữu tăng tọa Thiền, văn Hương Tích chi khí, tâm niệm viết tất thị trai cúng, hoặc kiến thiên tiên lai thỉnh phó Thiên Trù cúng, tăng ư định trung tiện khứ, nhật mỗi như thị; hoặc nhật minh, nhãn sư kiến chi, vị viết: 'Nhữ đọa nhất xí trung hỉ'. Tăng bất tín, toại linh tái phó cúng, hồi, sư thủ xí trung nhất trùng sát chi, tăng phương ngộ (昔有僧坐禪、聞香積之炁、心念曰必是齋供、或見天仙來請赴天厨供、僧於定中便去、日每如是、或日明、眼師見之、謂曰汝墮一廁中矣、僧不信、遂令再赴供、回、師取廁中一蟲殺之、僧方悟, xưa kia có vị tăng đang ngồi Thiền, chợt nghe mùi thơm xứ Hương Tích, tâm niệm cho rằng đó là đồ chay cúng dường, hoặc có khi thấy tiên trên trời đến mời dự cúng dường trên Thiên Trù, vị ấy trong định mà đi; mỗi ngày đều như vậy; có hôm nọ lúc trời sáng, thầy ông thấy vậy, bảo rằng: 'Ngươi đọa vào trong nhà xí rồi !' Vị tăng chẳng tin, lại tiếp tục đi tham dự lễ cúng dường; đến khi trở về, thầy ông lấy trong nhà xí ra một con trùng và giết đi; khi ấy vị tăng mới tỉnh ngộ).” Hay như trong Thần Tăng Truyện (神僧傳, Taishō No. 2064) quyển 6, truyện Khuy Cơ (窺基) có đoạn kể rằng: “Sơ Nam Sơn Tuyên Luật Sư, dĩ hoằng luật danh chấn Ngũ Đại, cảm thiên trù cúng soạn; Cơ thường phỏng Tuyên, kỳ nhật quá ngọ nhi thiên soạn bất chí, cập Cơ từ khứ Thiên Thần nãi giáng, Tuyên trách dĩ hậu thời, Thiên viết: 'Thích kiến Đại Thừa Bồ Tát tại thử dực vệ nghiêm thậm, cố vô tự nhi nhập.' Tuyên văn chi đại kinh (初南山宣律師、以弘律名震五天、感天廚供饌、基嘗訪宣、其日過午而天饌不至、及基辭去天神乃降、宣責以後時、天曰、適見大乘菩薩在此翊衛嚴甚、故無自而入、宣聞之大驚, lúc ban đầu Nam Sơn Đạo Tuyên Luật Sư truyền bá Luật Tông danh thanh vang khắp mọi nơi, cảm động khiến cho trời dâng cúng thức ăn; Khuy Cơ thường đến thăm Đạo Tuyên, có hôm nọ đến quá ngọ mà cơm trời vẫn chưa đến, khi Khuy Cơ chuẩn bị ra về thì Thiên Thần giáng xuống; Đạo Tuyên phiền trách vì sao đến trễ; Thiên Thần thưa rằng: 'Tôi thấy có các vị Bồ Tát Đại Thừa canh giữ nơi đây rất nghiêm mật, nên không tự tiện vào.' Đạo Tuyên nghe vậy rất kinh sợ).” Trong Thiền môn có các bài tán về Thiên Trù Cúng như “Thiên Trù cúng, Thuần Đà tối hậu lai, cơ xan ma mạch sung bì đại, tiên nhân hựu hiến trai thực tại, song song mục nữ hiến hương mi, Tứ Thiên Vương bổng bát, diêu vọng Linh Sơn bái. Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát (天厨供、淳陀最後來、飢飡麻麥充皮袋、仙人又献齋食在、雙雙牧女献香糜、四天王捧鉢、遙望靈山拜、南無香供養菩薩, món trời cúng, Thuần Đà đến cuối cùng, đói khát mè thóc cũng no đủ, tiên nhân lại dâng thức chay đến, hai hàng mục nữ cúng cháo thơm, Tứ Thiên Vương nâng bát, xa hướng Linh Sơn vái. Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát)”; hay “Thiền duyệt Tô Đà, tạo xuất Thiên Trù cúng, thành đạo đương sơ, mục nữ tiền lai tống Lão Mẫu, phó thác tại kim bàn, phụng hiến thượng Như Lai, hiền thánh vô biên chúng. Nam Mô Thiền Duyệt Tạng Bồ Tát (禪悅酥酡、造出天厨供、成道當初、牧女前來送老母、付托在金盤、奉献上如來、賢聖無邊眾。南無禪悅藏菩薩, Thiền vui Tô Đà, tạo nên món trời cúng, thành đạo ban sơ, mục nữ đến trước dâng Lão Mẫu, phó thác tại bàn vàng, dâng cúng lên Như Lai, hiền thánh vô biên chúng. Nam Mô Thiền Duyệt Tạng Bồ Tát)”, v.v. Từ đó, chúng ta thấy rằng Thiên Trù Cúng còn có nghĩa là món thức ăn trân quý do trời cúng, hay món thức ăn cao quý đem dâng cúng cho các bậc cao tăng, thạc đức.

thiên trù

Tên của một ngôi chùa tọa lạc trong làng Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội chừng 38 dậm. Chùa Thiên Trù được xây dựng dưới triều vua Lê Hy Tông, nhưng bị sụp đổ năm 1947. Hiện chùa đang được xây lại. Chùa nằm trong một khu vực rộng lớn đẹp dẽ, có khe suối, có rừng và hang động. Trong sân chùa có tấm bia cổ được dựng lên từ năm 1686, nói về việc Sư Viên Quang có công sang sửa hang động Hương Tích và xây dựng ngôi chùa. Chùa Hương và động Hương Tích là một danh lam thắng cảnh của Việt Nam—Name of a temple which located in Hương Sơn village, Mỹ Đức district, Hà Tây province, about 38 miles from Hanoi. Thiên Trù temple was established under Emperor Lê Hy Tông; however, it was collapsed in 1947. It has been being rebuilt recently. The temple covers a large area with beautiful sceneries as streams, springs, mountains, forests, and caves, etc. In the yard, there is an ancient stele, set up in 1686, recording the event of restoration of Hương Tích by the monk named Vien Quang. Hương Sơn Temple and Hương Tích cave are most famous and beautiful sceneries in Vietnam.

Thiên Trúc

một tên gọi khác của nước Ấn Độ thời cổ.

thiên trúc

Hiền Đậu—Ấn Độ—India—Hindu. ; (天竺) I.Thiên trúc Cũng gọi Thiên đốc, Thiên độc, Thân độc.Tên gọi xưa của nước Ấn độ. Tây vực truyện trong Hậu Hán thư ghi: Nước Thiên trúc còn có tên khác là Thân độc, ở cách nước Nguyệt thị vào nghìn dặm về phía đông nam, tục cho là đồng với nước Nguyệt thị. Đại đường tây vực kí quyển 2 (Đại 51, 875 trung) nói: Đối với tên gọi nước Thiên trúc có rất nhiều ý kiến khác nhau, xưa gọi là Thân độc, hoặc gọi là Hiền đậu, nay theo chính âm Indu thì nên đọc là Ấn độ, (...) Ấn độ đời Đường dịch là Nguyệt, Nguyệt có nhiều tên, ở đây là 1 tên trong đó, (...) Bởi vì ở nước này Thánh hiền kế tiếp nhau ra đời, dắt dẫn chúng sinh phàm phu, như mặt trăng(Nguyệt) soi đến, do nghĩa ấy nên gọi là Ấn độ. Quát địa chí ghi: Thiên trúc có 5 nước: Đông thiên trúc, Tây thiên trúc, Nam thiên trúc, Bắc thiên trúcvà Trung thiên trúc, tức là Ngũ Ấn độ hiện nay. (xt. Ấn Độ). II. Thiên Trúc. Gọi đủ: Thiên trúc tự. Chùa ở huyện Hàng, tỉnh Chiết giang, Trung quốc. Có 3 ngôi: Ngôi ở phía bắc ngọn Bạch vân gọi là chùa Thượng thiên trúc; ngôi ở phía bắc ngọn Kê lưu gọi là chùa Trung thiên trúc và ngôi ở chân ngọn Phi lai gọi là chùa Hạ thiên trúc. Chùa Thượng thiên trúc được sáng lập vào đời Ngô Việt thuộc Ngũ đại, chùa Trung thiên trúc được sáng lập vàođời Tùy và chùa Hạ thiên trúc được sáng lập vào đời Đông Tấn. (xt. Thiên Trúc Tự).

thiên trúc cửu nghi

The nine forms of etiquette of India—See Cửu Nghi. ; (天竺九儀) Chín phép tắc của Thiên trúc. Tức chỉ cho 9 cách lễ bày tỏ lòng tôn kính của người Ấn độ đời xưa. Đó là: 1. Nói lời thăm hỏi ân cần. 2. Cúi đầu bày tỏ lòng tôn kính. 3. Giơ tay vái chào. 4. Chắp tay ngang ngực. 5. Co đầu gối. 6. Quì thẳng lưng. 7. Tay và đầu gối sát đất. 8. Năm ngón tay đều co lại. 9. Đầu, 2 khuỷu tay và 2 đầu gối đặt sát đất.[X. Đại đường tây vực kí Q.2]. THIÊN TRÚC DẠNG Cũng gọi Đại Phật dạng. Tiếng dùng trong kiến trúc của Nhật bản, là kiểu dáng kiến trúc được truyền đến Nhật bản vào thời đại Liêm thương. Vào thời chùa Đông đại được phục hưng, Tuấn thừa phường Trọng nguyên du nhập kiểu dáng kiến trúc mới của đời Nam Tống ở Trung quốc để xây dựng lại điện Đại Phật, đó là khởi nguồn cho Thiên trúc dạng ở Nhật bản. Thiên trúc vốn chỉ cho Ấn độ, ở đây, để phân biệt với Đường dạng(kiểu kiến trúc của Trung quốc vào đời Đường) vốn đã sớm được du nhập Nhật bản, cho nên gọi là Thiên trúc dạng, chứ thực tế thì chính là kiểu dáng kiến trúc đời Nam Tống.

thiên trúc lục thời

Sáu mùa trong năm ở Ấn Độ—Six seasons of a year in India: 1) Tiệm Nhiệt Thời: Vasanta (skt)—Mùa nóng dần từ 16 tháng giêng đến 15 tháng ba—Entering hot season, from the first month, sixteenth day, to the third month, fifteenth. 2) Nhiệt Thời: Grisma (skt)—Mùa nóng từ 16 tháng 3 đến 15 tháng 5—From the third month, sixteenth day, to the fifth month, fifteenth—See Thiên Trúc Tam Thời (1). 3) Vũ Thời: Varsakala (skt)—Mùa mưa từ 16 tháng 5 đến 15 tháng 7—From the fifth month, the sixteenth day, to the seventh month, fifteenth—See Thiên Trúc Tam Thời (2). 4) Mậu Thời: Sarada (skt)—Mùa tươi tốt từ 16 tháng bảy đến 15 tháng chín—Verdant season, from the seventh month, the sixteenth day, to the ninth month, fifteenth. 5) Tiệm Hàn Thời: Hemanta (skt)—Mùa lạnh dần từ 16 tháng chín đến 15 tháng mười một—From the ninth month, the sixteenth day, to the eleventh month, fifteenth—See Thiên Trúc Tam Thời (3). 6) Thịnh Hàn Thời: Sisira (skt)—Mùa cực lạnh từ 16 tháng mười một đến 15 tháng giêng—Very-cold season, from the eleventh month, the sixteenth day, to the first month, fifteenth.

thiên trúc ngũ sơn

Năm núi ở Ấn Độ, những nơi mà Phật hội họp chúng đệ tử của Ngài—The five mountains of India on which the Buddha assembled his disciples: 1) Bề Ba La Bạt Thứ: Vaibhara. 2) Tát Đa Bát Na Cầu Ha: Nam Sơn Thạch Thất—Saptaparnaguha. 3) Nhân Đà La Thế La Cầu Ha: Indrasailaguha. 4) Tát Pha Thứ Hồn trực Ca Bát Ba La: Sarpiskundika-pragbhara. 5) Kỳ Xà Quật: Grdhrakuta.

thiên trúc quốc

1) Ấn Độ: India. 2) Thân Độc: Sindhu. 3) Hiền Đậu: Hindu. 4) Ấn Trì Già La hay Ấn Đà La Bà Tha Na: Indravadana or Indrabhavana (skt)—Nơi cư ngụ của Trời Đế ThíchThe region where Indra dwells.

thiên trúc tam thời

Ba mùa trong một năm ở Ấn Độ—Three seasons of an Indian year: 1) Nhiệt Thì: Grisma (skt)—Mùa nóng từ 16 tháng giêng đến 15 tháng năm—The hot season, from first month sixteenth day, to fifth month, fifteenth. 2) Vũ Thì: Varsakala (skt)—Mùa mưa từ 16 tháng năm đến 15 tháng chín—The rainy season, from fifth month, sixteenth, to ninth month, fifteenth. 3) Hàn Thì: Hemanta (skt)—Mùa lạnh từ 16 tháng chín đến 15 tháng giêng—The cold season, from ninth month sixteenth, to first month fifteenth.

thiên trúc tam tế

(天竺三際) Cũng gọi Tam thời. Chỉ cho 3 mùa ở Ấn độ. Ấn độ chia 1 năm làm 3 mùa nóng, mưa, lạnh gọi là Tam tế (Phạm:Traya ftava#). Đó là: Nhiệt tế (Phạm:Grìwma-rtu), Vũ tế (Phạm:Varwartu) và Hàn tế (Phạm:Hemanta-rtu). Thời gian bắt đầu và kết thúc Tam tế, tùy theo phong tục bất đồng của mỗi địa phương tại Ấn độ mà có nhiều thuyết khác nhau. Theo Câu xá luận quang kí quyển 11, ngài Thần thái cho rằng từ ngày 16 tháng 2 đến ngày 15 tháng 6 là Nhiệt tế; từ ngày 16 tháng 6 đến ngày 15 tháng 10 là Vũ tế; từ ngày 16 tháng 10 đến ngày 15 tháng 2 năm sau là Hàn tế. Còn ngài Chân đế thì cho rằng từ ngày 16 tháng giêng đến ngày 15 tháng 5 là Nhiệt tế; từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 15 tháng 9 là Vũ tế và từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 15 tháng giêng năm sau là Hàn tế. Thuyết trong Đại đường tây vực kí quyển 2 cũng giống với thuyết của ngài Chân đế và lại chia Tam tế làm 6 thời, tức từ ngày 16 tháng giêng đến ngày 15 tháng 3 là Tiệm nhiệt thời(thời gian nóng dần); từ ngày 16 tháng 3 đến ngày 15 tháng 5 là Thịnh nhiệt thời(thời gian nóng dữ); từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 15 tháng 7 là Vũ thời (thời gian mưa); từ ngày 16 tháng 7 đến ngày 15 tháng 9 là Mậu thời(thời gian cây cỏ tốt tươi); từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 15 tháng 11 là Tiệm hàn thời(thời gian lạnh dần) và từ ngày 16 tháng 11 đến ngày 15 tháng giêng năm sau là Thịnh hàn thời(thời gian lạnh dữ). Sáu thời này được phối hợp với 12 tháng: Tháng Chế đát la (Phạm: Caitra), tháng Phệ xá khư (Phạm:Vaizàkha), tháng Phệ sắt tra (Phạm:Jyaiwỉha), tháng Át sa đồ (Phạm:Àwàđha), tháng Thất la phạt noa (Phạm:Zràvaịa), tháng Bà đạt la bát đà (Phạm:Bhàdrapada), tháng Át thấp phạ dữu xà (Phạm: Azvayuja), tháng Ca lạt để ca (Phạm:Kàrttìka), tháng Mạt già thủy la (Phạm:Màrgasìrwa), tháng Báo sa (Phạm: Pauwa), tháng Ma già (Phạm: Màgha) và tháng Phả lặc lũ noa (Phạm: Phàlguna). [X.luận Câu xá Q.12; Câu xá luận bảo sớ Q.11; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.5; Đại tạng pháp số Q.12; Phạm võng kinh cổ tích kí Q.hạ, phần cuối; Đại thừa pháp tướng tông danh mục Q.6, hạ].

thiên trúc tam tự

(天竺三寺) Chỉ cho 3 loại chùa khác nhau ở Ấn độ đời xưa. Căn cứ vào sở học, các chùa ở Ấn độ thời xưa được chia làm 3 loại. Nếu chúng tăng chùa nào chuyên học Đại thừa thì chùa ấy được gọi là chùa Nhất hướng Đại thừa; hoặc chuyên học Tiểu thừa thì gọi là chùa Nhất hướng Tiểu thừa; hoặc học cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa thì gọi là chùa Đại tiểu kiêm hành. Các chùaĐạithừa tôn bồ tát Văn thù làmThượng tọa; các chùa Tiểu thừa tôn ngài Tân đầu lô làm Thượng tọa, còn các chùa Đại tiểu kiêm hành thì tôn cả 2 ngài Văn thù và Tân đầu lô làm Thượng tọa.[X.luận Hiển giới Q.thượng].

thiên trúc thập nhị nguyệt

Mười hai tháng trong năm ở Ấn Độ—The twelve months of a year in India: 1) Tháng Giêng: Caitra (skt)—January. 2) Tháng Hai: Vaisakha (skt)—February. 3) Tháng Ba: Jyaistha (skt)—March. 4) Tháng Tư: Asadha (skt)—April. 5) Tháng Năm: Sravana (skt)—May. 6) Tháng sáu: Bhadrapada (skt)—June. 7) Tháng Bảy: Asvayuja (skt)—July. 8) Tháng Tám: Karttika (skt)—August. 9) Tháng Chín: Margasirsa (skt)—September. 10) Tháng Mười: Pausa (skt)—October. 11) Tháng Mười Một: Magha (skt)—November. 12) Tháng Mười Hai: Phalguna (skt)—December.

thiên trúc tự

(天竺寺) Chùa ở huyện Hàng, tỉnh Chiết giang, do 3 chùa Hạ thiên trúc, Trung thiên trúc và Thượng thiên trúc hợp thành. Hạ thiên trúc là ngôi chùa xưa nhất kế đó là Trung thiên trúc, Thượng thiên trúc. 1. Hạ thiên trúc tự: Hiện nay gọi là Pháp kính tự, ở chân núi Linh ẩn(ngọn Phi lai). Vào đầu năm Hàm hòa đời Đông Tấn, vị tăng người Tây Thiên trúc là ngài Tuệ lí xây 1 ngôi chùa ở đây, phỏng theo ngọn núi Linh thứu ở thành Vương xá mà đặt tên là chùa Linh thứu. Năm Khai hoàng 15 (595) đời Tùy, các ngài Chân quán, Đạo an cùng đến nơi này tu hạnh đầu đà, đồng thời xây chùa ở núi Hổ lâm gọi là chùa Nam Thiên trúc. Khoảng năm Đại lịch đời Đường, các ngài Pháp sân, Trừng quán và Đạo tiêu lần lượt đến trụ chùa này. Ngài Đạo tiêu giỏi về văn chương, thường đàm luận với Tướng quốc Lí cát phủ và thi nhân Bạch cư dị. Trong năm Trinh nguyên, ngài Đạo tiêu dựng một thảo am dưới Tây lãnh, lui về ở ẩn nơi rừng núi, người đời gọi ngài là Tây lãnh Hòa thượng. Năm Trinh nguyên 21 (805), chùa này có khai giảng kinh Hoa nghiêm, hiện ra nhiều điềm lành, được vua ban bảng hiệu là Hậu Thiên Trúc Linh Sơn Tự, hưng thịnh một thời. Đến cuối đời Đường, chùa bị tàn phá trong binh lửa, về sau, được Ngô Việt vương Tiền lưu xây dựng lại, đặt tên là Ngũ bách La hán viện. Khoảng năm Đại trung tường phù (1008-1016) đời vua Chân tông nhà Tống, ngài Từ vân Tuân thức thuộc phái Sơn gia tông Thiên thai, phát huy giáo cương tông Thiên thai ở chùa này, người đời gọi ngài là Thiên trúc sám chủ, Từ vân sám chủ. Thời vua Cao tông nhà Tống, chùa được đổi tên là Tư tiến phúc tự, đến năm Khánh nguyên thứ 3 (1197), lại khôi phục tên cũ là Hậu Thiên trúc Linh sơn tự. Vào đầu năm Gia định, vị tăng người Nhật bản là Tuấn nhưng từng ngụ chùa này, học tập giáo học Thiên thai. Chùa này vốn là đạo tràng của tông Thiên thai, sau thuộc về tông Lâm tế. 2. Trung thiên trúc tự: Cũng gọi Pháp tịnh tự, ở phía nam chùa Hạ thiên trúc và phía bắc ngọn Kê lưu. Chùa này do vị tăng người Thiên trúc xây dựng vào năm Khai hoàng 17 đời Tùy, có thuyết nói được xây cất vào năm Trinh quán 15 (641) đời Đường. Vào đầu đời Tống, chùa được gọi là Sùng thọ viện. Đến thời vua Huy tông, đổi là Thiên minh vĩnh tộ thiền tự; đến đời Nguyên lại được đổi là Thiên lịch vĩnh tộ thiền tự. Trong 400 ngôi chùa Phật ở Tiền đường, chùa này cùng với chùa Linh ẩn và chùa Tịnh từ đều là những Thiền viện nổi tiếng. 3. Thượng thiên trúc tự: Hiện nay gọi là chùa Pháp hỉ, ở phía nam chùa Trung thiên trúc, phía bắc ngọn Bạch vân. Khoảng năm Thiên phúc (936-941) đời Hậu Tấn, ngài Đạo dực kết am tranh ở đây, một hôm được khúc gỗ lạ, ngài khắc thành tượng Quán âm. Năm Càn hựu thứ 2 (949) đời Ẩn đế nhà Hậu Hán, có vị tăng tên là Sùng huân, từ Lạc dương mang xá lợi của Cổ Phật để trên đỉnh đầu, diệu tướng đầy đủ, ban ngày phóng ra ánh sáng trắng. Bấy giờ, Ngô Việt vương Tiên hoằng thúc cảm được sự mách bảo củabồ tát Quán âm nên xây một ngôi chùa, gọi là Thiên trúc khán kinh viện, đó là đầu mối việc sáng lập Thượng thiên trúc tự. Năm Gia hựu thứ 7 (1062), vua Nhân tông nhà Tống ban cho bộ Đại tạng gồm 5330 quyển, bèn xây kinh lâu để cất chứa. Năm Trị bình thứ 2 (1065), vua Anh tông ban biển hiệu Thiên trúc linh cảm Quán âm viện. Trải qua các đời vua: Thần tông, Triết tông, Cao tông...vận chùa thịnh lớn, vua ban ấn Bạch vân đường để thống lãnh các tông Thiền, Giáo, Luật trong nước. Cảba chùa Thiên trúc đều thờ bồ tát Quán âm làm Bản tôn, hằng năm vào tiết Dương xuân, có hàng trăm vạn nam, nữ ở 2 tỉnh Giang tô vàChiết giang về chùa này dâng hương. [X. Tục cao tăng truyện Q.30; Tống cao tăng truyện Q.5, 15, 29; Tục Phật tổ thống kỉ, Đại minh cao tăng truyện Q.1, 3, Tuyền dũng tự bất khả khí pháp sư truyện, Chiết giang thông chí; Cổ kim đồ thư lập thành thần dị điển thứ 110].

thiên trúc tự nguyên

(天竺字源) Cũng gọi Cảnh hựu thiên trúc tự nguyên. Tác phẩm, 7 quyển, do 2 ngài Duy tịnh và Pháp hộ soạn vào đời Bắc Tống. Nội dung sách này là chia loại các chữ Phạm, đồng thời giải thích rõ về âm và nghĩa của các chữ ấy. Trước hết giải thích sơ lược về 13 chuyển thanh, 34 chữ cái, 5 âm và sinh tự, kế đến lập 4 chương để phân biệt rộng. Những chữ Phạm được nêu ra trong sách này khác với các chữ Tất đàm phổ thông, gần với văn thể của Ni ba la Phạm giáp. Sách này được vua ban sắc khắc in vào tháng 9 năm Cảnh hựu thứ 2 (1035) đời Tống, sau đó có bản khắc lại, nhưng không rõ năm ấn hành. [X. Phật tổ thống kỉ Q.45, 46; Quảng thanh lương truyện Q.trung].

thiên trúc y

(天竺衣) Chỉ cho 3 áo đúng như luật Phật chế định do Tam tạng Nghĩa tịnh đời Đường truyền về Trung quốc. Đây là loại áo ca sa không dùng vòng và móc. Ba áo của Nam sơn luật tông theo luật cũ thì gọi là Nam sơn y, phải dùng vòng và móc để phân biệt với Thiên trúc y. [X. Họa tượng tu tri]. (xt. Nam Sơn Y).

thiên trụ tập

(天柱集) Cũng gọi Trúc tiên hòa thượng thiên trụ tập. Tác phẩm, 1 quyển, do vị tăng phái Dương kì thuộc tông Lâm tế là Trúc tiên Phạm tiên (1292-1348) soạn vào đời Nguyên, được thu vào Trúc tiên hòa thượng ngữ lục trong Đại chính tạng tập 80. Năm Thiên lịch thứ 2 (1329 đời Văn tông, ngài Phạm tiên đến Nhật bản hoằng pháp. Nội dungtậpsách này là thu chép các bài kệ tụng, tựtán, tạp trứ...mà sư đã soạn và trứ tác tại Nhật bản. Phần kệ tụng bao gồm những bài kệ gửi cho các học trò của sư nhưXuân ốc, Biệt nguyên, Trung nham, Minh cực, Vật ngoại, Vô dụng... và các pháp ngữ gửi các bậc kì túc đương thời, Mạc phủ tướng quân Túc lợi tôn. Phần tạp trứ bao gồm thư gửi Quốc sư Mộng song, thư gửi vũ tướng đương thời, lời tựa, lời bạt, hóa sớ, bài minh trên tháp ngài Đông minh Tuệ nhật...

thiên tu bồ đề

Deva-Subhuti (skt)—Một trong ba vị đệ tử Phật có tên là Thiên Tu Bồ Đề, vị nầy thì thích ăn mặc áo quần tươm tất và sống đời tịnh hạnh—One of the three Subhutis, disciples of the Buddha; said to have been so called because of his love of fine clothing and purity of life. ; (天須菩提) Tu bồ đề, Phạm:Subhùti. Chỉ cho vịA la hán đệ tử đức Phật. Vì trong 500 đời, ngài Tu bồ đề thường sinh lên cõi trời, rồi lại sinh xuống nhân gian vào nhà vương giả, cho nên gọi là Thiên tu bồ đề. Lại vì phúc báo tự nhiên, việc uống ăn không thiếu thốn, thường mặc áo tốt đẹp, cho nên ngài được gọi là Trước hảo y đệ nhất(mặc áo tốt bậc nhất) trong hàng Thanh văn. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.3; luận Phân biệt công đức Q.5].

thiên tà quỷ

(天邪鬼) Cũng gọi Hà bá diện, Hà bá, Hải nhược. Tên thần sông. Chỉ cho mặt quỉ ở phần bụng của trời Tì sa môn. Ngoài ra, người đời cũng gọi những kẻ ngỗ nghịch là Thiên tà quỉ.

thiên tài

Genius.

thiên tào

The court of Heaven.

thiên tâm

Partial mind (heart)—Partiality.

thiên tính

Nature.

Thiên Tôn

(天尊): có hai nghĩa chính: (1) Tôn xưng cao quý nhất trong chư vị thiên thần của Đạo Giáo; như Nguyên Thỉ Thiên Tôn (元始天尊), Ngọc Hoàng Thiên Tôn (玉皇天尊), v.v. (2) Phật Giáo gọi đức Phật là Thiên Tôn. Như trong Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh (佛說無量壽經, Taishō Vol. 12, No. 360) có đoạn: “Kim nhật Thế Tôn trú kỳ đặc pháp, kim nhật Thế Hùng trú Phật sở trú, kim nhật Thế Nhãn trú đạo sư hành, kim nhật Thế Anh trú tối thắng đạo, kim nhật Thiên Tôn hành Như Lai đức (今日世尊住奇特法、今日世雄住佛所住、今日世眼住導師行、今日世英住最勝道、今日天尊行如來德, hôm nay đức Thế Tôn trú nơi pháp đặc biệt, hôm nay đấng Thế Hùng trú nơi Phật thường trú, hôm nay đấng Thế Nhãn trú nơi hạnh của đạo sư, hôm nay đấng Thế Anh trú nơi đạo tối thắng, hôm nay đấng Thiên Tôn trú nơi đức của Như Lai).” Hay trong Nhất Thiết Trí Quang Minh Tiên Nhân Từ Tâm Nhân Duyên Bất Thực Nhục Kinh (一切智光明仙人慈心因緣不食肉經, Taishō Vol. 3, No. 183) cũng có đoạn: “Thế Tôn ! Như thử đồng tử, uy nghi tường tự, quang minh vô lượng, dữ Phật vô dị, ư hà Phật sở, sơ phát đạo tâm, thọ trì thùy kinh; duy nguyện Thiên Tôn, vị ngã giải thuyết (世尊、如此童子、威儀庠序、光明無量、與佛無異、於何佛所、初發道心、受持誰經、唯願天尊、爲我解說, Thế Tôn ! Đồng tử như vậy, oai nghi rõ ràng, ánh sáng vô lượng, với Phật không khác, ở nơi Phật nào, mới phát đạo tâm, thọ trì kinh gì; cúi mong Thiên Tôn, vì con nói rõ).” Trong Long Hưng Biên Niên Thông Luận (隆興編年通論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 75, No. 1512) còn giải thích rằng: “Thế hữu Tam Tôn đồng hưu thiên hạ, Phật viết Thế Tôn, Đạo viết Thiên Tôn, đế viết Chí Tôn (世有三尊同休天下、佛曰世尊、道曰天尊、帝曰至尊, trên đời có ba đấng tôn kính cùng làm yên thiên hạ, Phật gọi là Thế Tôn, Đạo gọi là Thiên Tôn, nhà vua gọi là Chí Tôn).”

thiên tôn

1) Bậc tôn quý nhứt của chư Thiên—The most honoured among devas—The highest of divine beings. 2) Thiên vương hộ pháp và những bậc tôn quý khác của chư Thiên—The Maharaja protectors of Buddhism and others in the sense of honoured devas. 3) Những bậc Thần Thánh của những người theo Lão Giáo: Title applied by the Taosits to their divinities. 4) Danh hiệu của Đức Phật: A title of the Buddha.

thiên tôn phật

(千尊佛) Một nghìn tôn Phật. Tức khi tạo tượng Phật cúng dường thì xếp đặt các tôn tượng Phật lớn nhỏ cùng kiểu ngang nhau để vẽ hoặc khắc. Trên mặt vách trong các chùa hang đá ở Ấn độ và vùng Tây vực có vô số tượng Phật cùng kiểu được xếp ngang nhau, thường được gọi là Thiên Phật Động(hang động nghìn Phật), Phật giáo Đài loan cũng có phong khí này, như các tượng Phật trong điện Đại bi, trong Đại hùng Bảo điện của Phật quang sơn tại Cao hùng, ở chùa Vạn Phật tại Vụ phong, Trung đài... Ngoài ra, vào thời khóa hàng ngày trong các chùa viện thường niệm cùng một danh hiệu Phật, ý nghĩa ấy giống với Thiên tôn Phật.

thiên tùng bút kí

(千松筆記) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đại thiều soạn và ấn hành vào cuối đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 114. Sách này gồmcó4 thiên: Thiên tùng bút kí, Thiền tông hợp luận, Lăng nghiêm kinh tiết và Tạp trứ, thu chép các kí thuật của ngài Đại thiều lúc trụ ở Thiền viện Thiên tùng tại núi Biện sơn. Nội dung nêu rõ sự tham thiền ngộ đạo có thể ở trong pháp thế gian mà tìm ra pháp xuất thế gian, ở trong pháp xuất thế gian mà tìm ra pháp xuất thế gian. Cóthuyết nói sách này vốn có 5 thiên, tức còn có 1 thiên Kim cương chính nhẫn, nhưng Vạn tục tạng không ghi chép.

thiên tý thành

Devadarsita or Devadista (skt)—Nơi cư ngụ của ngài Thiện Giác Trưởng Giả, là cha của Hoàng hậu Ma Da (mẹ của Đức Phật)—Deva-arm city, the residence of Suprabhuddha, father of Maya (who is the mother of the Buddha).

thiên tăng cung dưỡng

(千僧供養) Cũng gọi Thiên tăng trai, Thiên tăng hội.Pháp hội cúng dường cùng lúc một nghìn vị tăng. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 2, 3, Thiên sam thời đức Thích tôn tại thế, vua Tần bà sa la từng cúng dường 1000 vị tăng một lượt. Sau khi đức Phật nhập diệt, ngài Ma ha ca diếp cũng từng triệu tập 1000 vị tỉ khưu để tổ chức đại hội kết tập tạng kinh. Ở Trung quốc, từ thời Nam Bắc triều, Thiên tăng cúng dường rất thịnh hành, hàng vương hầu quí tộc thường có tổ chức. Như vào năm Chí đức thứ 4 (586), Trần hậu chủ ban sắc thỉnh đại sư Trí khải truyền giới Bồ tát cho Hoàng thái tử, thiết Thiên tăng trai cúng dường. Năm Trinh quán thứ 8 (634) đời Đường, vua vì Thái hậu thiết Thiên tăng trai; năm Khai thành thứ 2 (837), vua Văn tông thiết trai ở chùa Khai nguyên cúng dường 500 vị tăng; năm Hàm thông 12 (871) vua Ý tông thiết Vạn tăng trai cúng dường 10.000 vị tăng trong cung. Niên hiệu Đồng quang năm đầu (923), vua Trang tông nhà Hậu Đường cũng từng thiết Thiên tăng trai trong nội điện. Những năm gần đây, từ năm 1969 về sau, Đài loan cũng cử hành Thiên tăng trai, thường là vào ngày 15 tháng 7 âm lịch. Số tăng dự trong pháp hội này không hạn định 1000 vị, mà cũng có khi 500 vị, hoặc 5.000 vị, hoặc 10.000 vị. Pháp hội này còn có các hạng mục khác như hội Vô già, Sám pháp, Giảng kinh, Niên kị pháp yếu...

thiên tư

Innate gift.

thiên tải

One thousand years.

Thiên Tải Tập

(千載集, Senzaishū): hay còn gọi là Thiên Tải Hòa Ca Tập (千載和歌集), một trong những bộ Sắc Soạn Hòa Ca Tập (勅撰和歌集), bộ thứ 7 trong Bát Đại Tập (八代集), gồm 20 quyển. Năm 1183, vâng sắc chỉ của Hậu Bạch Hà Pháp Hoàng (後白河法皇), Đằng Nguyên Tuấn Thành (藤原俊成, Fujiwara-no-Toshinari) soạn nên tập này. Đây là ca tập thể hiện cảnh giới u tịch trong sắc thái ôn nhã, diêm tuyệt.

thiên tắc

Natural principle.

thiên tịch vấn

(偏僻問) Nghĩa là người học nêu ra các vấn đề có tính chất thiên lệch, quanh co để hỏi thầy, nhằm mục đích thử thăm dò trình độ kiến thức của thầy. Là 1 trong Phần dương thập bát vấn. Nhân thiên nhãn mục quyển 2 (Đại 48, 307 hạ) ghi: Hỏi ngài Ba tiêu: Khắp đại địa là con mắt, xin thầy chỉ dạy. Ngài Ba tiêu nói:Đứa bé nghèo gặp cơm thiu.

thiên tụ

(A) Nghĩa của Thiên Tụ—The meanings of “Thiên Tụ: 1) Làm sai: Wrong doing. (B) Phân loại Thiên Tụ—Categories of “Wrong-doing” 1) Ngũ Thiên Tụ: Năm loại làm sai—Five kinds of wrong doing—See Ngũ Thiên Tụ. 2) Lục Thiên Tụ: Six kinds of wrong doing-See Lục Thiên Tụ. 3) Thất Thiên Tụ: Seven kinds of wrong doing—See Thất Thiên Tụ. ; (篇聚) Chỉ cho giới luật. Vì giới luật mà các tỉ khưu, tỉ khưu ni tu học có chia ra từng thiên, từng tụ nên gọi chung là Thiên tụ. Giới Cụ túc được chia làm Thiên môn và Tụ môn; Thiên môn căn cứ vào tội quả kết thành và tính cách cấp yếu mà chia ra 5 thiên; còn Tụ môn thì gom tội tính và nhân nơi tội mà chia loại thành 6 tụ, 7 tụ, 8 tụ... (xt. Ngũ Thiên).

thiên từ

miếu, đền thờ các vị thiên thần trong đạo Bà-la-môn. ; Devalaya—Devatagara—Devatagrha (skt)—Đình miếu Bà La Môn—Brahminical temples. ; (天祠) Phạm: Deva-kula. Đền thờ trời. Tức nơi thờ cúng các vị thần thuộc Thiên bộ như trời Đại tự tại... ở Ấn độ. [X. kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.4].

thiên tử

tên gọi chung của chư thiên, khác với từ thiên tử dùng để chỉ vị vua ở cõi người. ; Son of heaven king—A son of heaven. 1) Vua hay Thái tử, những người đã từng tu tập thập thiện trong đời trước và kết quả là đời nầy sanh ra làm vua hay thái tử—Emperor or Princes, those who in previous incarnations have kept the middle and lower grades of the ten good qualities (thập thiện), and in consequence, are born here as princes or kings. 2) Thiên Tử Nghiệp Ma: Tên của một loài ma vương của cõi trời dục giới thứ sáu, chuyên chống lại chân lý nhà Phật—The title of one of the four maras, who is the lord of the sixth heaven of desire, who also opposes the Buddha-truth. ; (天子) I. Thiên Tử. Con trời. Tức ông vua trong cõi người được các trời hộ trì. Đây là quả báo do đời trước làm 10 điều thiện hạ phẩm mà được. Kinh Kim quang minh quyển 3 (16, 347 thượng) nói: Tuy sinh trong cõi người, làm vua thế gian, nhưng được trời hộ trì, nên gọi là Thiên tử. II. Thiên Tử. Chỉ cho Ma vương ở tầng trời thứ 6 của cõi Dục, tức là Tha hóa tự tại Thiên tử ma. III. Thiên Tử. Chỉ cho người trời ở các cõi trời. THIÊN TỬ MA Phạm: Deva-putra-màra. Gọi đủ: Tha hóa tự tại thiên tử ma. Cũng gọi: Thiên ma. Chỉ cho Ma vương và quyến thuộc trụ ở tầng trời thứ 6 cõi Dục, 1 trong 4 loại ma.Thiên tử ma này hay làm chướng ngại pháp lành của người, ghen ghét pháp của hiền thánh, đồng thời thường gây sự nhiễu loạn, cản trở thiện căn xuất thế không cho thành tựu. Loài ma này là do nghiệp đời trước mà cảm được quả báo này, cho nên cũng gọi là Thiên tử nghiệp ma, là ngoại ma duy nhất trong 4 ma. [X. Luận Đại trí độ Q.5, 56, 68]. (xt. Tha Hóa Tự Tại Thiên, Tứ Ma). THIÊN TỨC TAI (?-1000) Cao tăng nước Ca thấp di la thuộc Bắc Ấn độ, đến Trung quốc dịch kinh vào đời nhàTống. Sư vốn trụ ở chùa Mật lâm tại nước Nhạ lan đà, Trung Ấn độ. Vào năm Thái bình hưng quốc thứ 5 (980) đời Tống, sư cùng với ngài Thí hộ đến Biện kinh. Vua mời vào yết kiến, ban cho sư áo đỏ và ban sắc cùng xem kinh Phật bản tiếng Phạm. Bấy giờ vua mới quyết định cho phiên dịch và truyền bá kinh Phật và sai quan Trung sứ là Trịnh thủ quân xây viện Dịch kinh ở mé tây chùa Thái bình hưng quốc. Tháng 6 năm Thái bình hưng quốc thứ 7 (982), Viện Dịch kinh được hoàn thành, vua liền ban sắc thỉnh các ngài Thiên tức tai, Thí hộ và Pháp thiên cùng đến ở trong viện và chuyên việc dịch kinh, vua ban hiệu cho ngài Thiên tức tai là Minh Giáo Đại Sư. Tháng 7 cùng năm, sư dâng lên vua kinh Tân dịch Thánh Phật mẫu tiểu tự bát nhã ba la mật đa 1 quyển. Năm sau, sư dịch kinh Đại thừa trang nghiêm bảo vương 4 quyển, đồng thời, sư tâu xin vua lệnh cho Lưỡng nhai tuyển chọn 50 đồng tử để học tập tiếng Phạm. Từ đó, sư dịch kinh không nghỉ. Năm Ung hi thứ 2 (985), vua ban Triều tán Đại phu thí Hồng lô thiếu khanh cho sư, năm sau, vua soạn Ngự chế Tam tạng Thánh giáo tự. Cứ theo Đại trung tường phù pháp bảo lục quyển 6 thì vào năm Ung hi thứ 4 (987), sư vâng chiếu đổi tên là Pháp hiền. Từ tháng 7 năm Thái bình hưng quốc thứ 7 (982) đến tháng 10 năm Ung hi thứ 4 (985), ngài Thiên tức tai dịch tất cả 18 bộ 57 quyển kinh, nhập tạng khắc in lưu hành khắp trong nước. Sau đó, sư tiếp tục phiên dịch được các kinh quĩ như: Kinh Chúng hứa ma ha đế 13 quyển, kinh Diệu cát tường tối thắng căn bản đại giáo vương 3 quyển, kinh Diệu cát tường du già đại giáo kim cương bồi ra phạ luân quán tưởng thành tựu nghi quĩ, kinh Tần bà sa la vương 1 quyển... Tháng 8 năm Hàm bình thứ 3 (1000), sư thị tịch, thụy hiệu Tuệ biện. [X. Phật tổ thống kỉ Q.43, 44; Phật tổ lịch đại thông tải Q.26; Bổ tục cao tăng truyện Q.1]. THIÊN TÝ THIÊN BÁT MẠN THÙ THẤT LỢI BỒ TÁT Gọi đủ: Ngũ đính ngũ trí tôn thiên tý thiên thủ thiên bát thiên Phật Thích ca mạn thù thất lợi bồ tát. Gọi tắt: Thiên bát văn thù. Bồ tát Văn thù nghìn tay nghìn bát, là 1 trong Ngũ tựVăn thù. Trong động Thiên Phật ở Đôn hoàng có 2 loại bích họa về vị Bồ tát này. Theo sự biên chép của ông Bá hi hòa (P.Pelliot) thì ở động thứ 6 còn giữ được bức bích họa vẽ bồ tát Văn thù ngồi kết già trên hoa sen báu lớn ở núi Tu di, trên đầu có 5 búi tóc, chính giữa mũ báu có 1 đức Phật, trang sức bằng trăm thứ báu anh lạc, vòng xuyến, áo trời, tay phải tay tráí thứ nhất co lại để ở trước ngực, tay trái cầm bát, trong bát đặt Phật Thích ca, ngón thứ nhất, ngón thứ hai của tay phải ấn cạnh miệng bát; tay phải tay trái thứ 2 kết ấn pháp giới định đặt ở trước rốn, giữa lòng bàn tay để bát, trong bát cũng có Phật Thích ca; nghìn cánh tay còn lại chia làm 6 tầng vây quanh toàn thân, tạo thành 1 vòng tròn ánh sáng lớn, tất cả có 200 cánh tay, 200 chiếc bát. Còn bức họa ở động thứ 72 cũng giống như bức trước, đội mũ báu Ngũ Phật, có khoảng 350 cánh tay, tầng tầng vây quanh, tạo thành 1 vòng tròn lớn, cực kì hoành tráng, mĩ lệ. Hai bức bích họa này đều được vẽ vào cuối thời Ngũ đại đầu đời Tống và được liệt vào hàng đẹp nhất trong các bích họa ở động Thiên Phật.[X.kinh Đại thừa du già kim cương tính hải Mạn thù thất lợi thiên tí thiên bát đại giáo vương Q.1, 5; Les Grottes de Touen- Houang, I, II, by Pelliot].

thiên tử nghiệp ma

See Thiên Chủ.

thiên tửu

xem cam lộ.

thiên viên

Thiên là thiên hướng một bên, viên là đầy khắp không gian thời gian. Tương đối là thiên, tuyệt đối là viên. Thiên có giới hạn, viên chẳng có giới hạn. ; 1) Tương đối còn nghiêng lệch và viên mãn: Relative and complete. 2) Cái tương đối thiên lệch của Tiểu Thừa và cái viên mãn của Đại Thừa: Partial and all-embracing, i.e. Hinayana and Mahayana. 3) Thông giáo và Viên giáo của tông Thiên Thai: The intermediate schools and perfect schools (between Hinayana and Mahayana) of T'ien-T'ai sect. ; (偏圓) Từ ngữ được sử dụng để phân biệt sự hơn, kém của giáo lí. Thiên là lí thiên lệch, hẹp hòi, nghiêng hẳn về bên Không cho đến Trung; còn Viên là lí tròn đủ tất cả. Nói theo Đại thừa, Tiểu thừa thì Tiểu thừa là Thiên, Đại thừa là Viên. Tuy nhiên, trong Đại thừa cũng có Thiên, Viên khác nhau, như chỉ cho Viên giáo trong 5 giáo của Hoa nghiêm và Viên giáo trong 4 giáo hóa pháp của Thiên thai là Viên giáo, còn 3 giáo Tạng, Thông, Biệt(Thiên thai) và 2 giáo Chung, Đốn(Hoa nghiêm) thì đều là Thiên giáo.[X. Ma ha chỉ quán Q.3 hạ].

thiên vô nhất thất

(千無一失) Nghìn người không sót một. Theo tông Tịnh độ, người niệm Phật hoằng nguyện chuyên tu chính nghiệp vãng sinh Báo độ, giữ tâm bền chắc, nhất định sẽ được sinh về nước Cực lạc, một nghìn người không sót một. Còn những người tu tạp nhạp thì trong một nghìn người không có được một người vãng sinh Tịnh độ. [X.luận Thích tịnh độ quần nghi Q.4]. (xt. Thiên Trung Vô Nhất, Chuyên Tạp Nhị Tu).

Thiên Võ Thiên Hoàng

(天武天皇, Temmu Tennō, tại vị 672-686): vị Thiên Hoàng sống vào hậu bán thế kỷ thứ 7, tên là Thiên Đình Trung Nguyên Doanh Chân Nhân (天渟中原瀛眞人), hay còn gọi là Đại Hải Nhân (大海人), vị Hoàng Tử thứ 3 của Thư Minh Thiên Hoàng (舒明天皇, Jomei Tennō, tại vị 629-641). Năm 671, ông xuất gia, rồi ẩn cư tại vùng Cát Dã (吉野). Sau khi Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇, Tenji Tennō, tại vị 661-671) băng hà, ông giành được thắng lợi dẹp yên vụ loạn năm Nhâm Thân (672), đến năm sau thì lên ngôi ở Tịnh Ngự Nguyên Cung (淨御原宮). Chính nhà vua đã cải định lại giai phẩm trong triều, chế ra luật lịnh mới, và biên sửa lại Quốc Sử.

thiên võng

Heaven's net.

thiên văn

Astronomy.

Thiên vương

天王; S: devarāja; C: tiānwáng; J: tennō;|Ðược xem như là người canh giữ thế giới, thường được thờ trong các chùa. Truyền thuyết cho rằng các Thiên vương sống trên núi Tu-di (s: meru), canh giữ thế giới và Phật pháp. Các vị đó chiến đấu chống cái ác và bảo vệ những nơi Phật pháp được truyền bá. Thân thể các vị đó được áo giáp che chở, đầu mang giáp sắt.|Có bốn vị Thiên vương (Tứ Thiên vương; s: catur-mahārāja) ở bốn hướng: |1. Bắc Thiên vương với tên là Ða văn thiên (多聞天; s: vaiśravaṇa) có thân màu lục, tay trái cầm cờ chiến thắng, tay phải mang tượng chùa hoặc một bảo tháp (mà trong đó – theo truyền thuyết – Long Thụ đã tìm được những bộ kinh dưới Long cung), hoặc một con chuột mầu bạc phun ngọc. Vị Bắc Thiên vương là vị quan trọng nhất trong bốn vị Thiên vương;|2. Nam Thiên vương là Tăng trưởng thiên (增長天; virūḍhaka) có thân màu xanh, cầm gươm chém Vô minh. Vị này chuyên giữ gìn những chủng tử tốt đẹp trong con người; |3. Ðông Thiên vương là Trì quốc thiên (持國天; dhṛtarāṣṭra) có thân trắng, tay cầm đàn, tiếng đàn sẽ làm tâm thức con người trở nên thanh tịnh;|4. Tây Thiên vương tên Quảng mục thiên (廣目天; virūpākṣa) có thân màu đỏ, tay phải cầm rắn (s: nāga) nhưng không cho nó chiếm giữ Như ý châu (ngọc như ý). Ngọc như ý chỉ chuyên dành cho những bậc giác ngộ và rắn chỉ là người canh giữ viên ngọc đó.|Truyền thuyết Trung Quốc đã nhắc các vị này từ thế kỉ thứ 4, nhưng đến đời Ðường (thế kỉ thứ 7) người ta mới thật sự thờ cúng các vị Thiên vương. Mỗi vị này có 91 con trai và 8 tướng quân, giúp canh giữ mười phương thế giới. Tương truyền rằng, năm 742, Ðại sư Bất Không Kim Cương (s: amoghavajra, Mật tông) niệm chú Ðà-la-ni gọi các vị Thiên tướng xuống giúp chống ngoại xâm. Vị Bắc Thiên vương và Tây Thiên vương hiện xuống đẩy lùi giặc, nhà vua nhớ ơn cho xây tượng các vị trong chùa chiền.

thiên vương

Bốn nhân vật có hình dáng như quỷ. Theo truyền thuyết thì họ sống bên trên núi Tu Di, họ là những thần hộ pháp, họ chiến đấu chống lại cái ác và bảo vệ cái thiện, mỗi thiên vương canh giữ một phương—Mahasvara—Maharaja-devas—There are four demonic-looking-figures deva kings in the first lowest devaloka (Tứ Thiên Vương). According to the myth, they dwell on the world mountain Meru and are guardians of the four quarters of the world and the Buddha teaching. They fight against evil and protect places where goodness is taught: 1) Trì Quốc Thiên Vương: Dhartarastra (skt)—Deva king in the East. 2) Tăng Trưởng Thiên Vương: Virudhaka (skt)—Deva king in the South. 3) Quảng Mục Thiên Vương: Virupaksa (skt)—Deva king in the West. 4) Đa Văn Thiên Vương: Dhanada or Vaisravana (skt)—Deva king in the North.

thiên vương như lai

Devaraja-Tathagata (skt)—Tên của vị Phật mà tiền thân là Đề Bà Đạt Đa, kẻ đã nhiều lần hãm hại Phật—The name on which Devadatta, the enemy of Sakyamuni Buddha, will be known on his future appearance as a Buddha in the universe called Devasopana (Devadatta's present residence in hell being temporary for his karmaic expurgation). ; (天王如來) I. Thiên Vương Như Lai. Danh hiệu của tỉ khưu Đề bà đạt đa khi ông thành Phật ở đời vị lai. Cứ theo phẩmĐề bà đạt đa trong kinh Pháp hoa thì Đề bà đạt đa phạm tội ngũ nghịch, đọa địa ngục Vô gián, đức Phật bảo các vị Bồ tát và 4 chúng người, trời rằng: Đề bà đạt đa thủa xưa từng đã là thầy của ta, vì phương tiện quyền biến mà tạo ra tội nghịch, đọa vào địa ngục để răn dạy người đời, chứ thực ra ông ấy không phải là người ác. Trong đời vị lai Đề bà đạt đa sẽ thành đạo hiệu là Thiên vương Như lai. II. Thiên Vương Như Lai. Tên của vị Phật quá khứ dùng thân hình thế tục mà thành Phật. Cứ theo kinh Tự tại vương bồ tát quyển hạ thì đây là vị Phật ở đời quá khứ trước các đức Phật Nhiên đăng, Uy đức, Đề sa, Quang minh. Vị Phật này và các quyến thuộc đều không mặc ca sa, mà mặc áo trời thanh tịnh, vi diệu tự sinh, cũng không có kết hoặc, là những trường hợp đặc biệt của việc thành Phật.

thiên vương đường

The hall of the deva kings.

thiên vận

Course of nature.

thiên vị

Partial.

thiên y

Deva garment, of extreme lightness. ; (天衣) I. Thiên Y. Áo của người trời. Cứ theo kinh Trường a hàm quyển 20 thì áo của Tứ thiên vương nặng nửa lạng, áo của các người trời cõi Đao lợi nặng 6 thù (¼lạng). Nghĩa là áo của các người trời có trọng lượng rất nhẹ. II. Thiên Y. Chỉ cho vũ y, tức áo được may bằng lông cánh của loài chim. Vãng sinh yếu tập quyển trung dẫn lời trong kinh Chư Phật cảnh giới (Đại 84, 63 thượng) nói: Nếu bố thí trăm vị thức ăn uống, áo trời vi diệu cho chư Phật và chúng Thanh văn nhiều như bụi nhỏ của các thế giới trong 10 phương, ngày ngày không quên,trải qua số kiếp như cát sông Hằng (...). Áo trời nói ở đây tức chỉ cho vũ y.

Thiên Y Nghĩa Hoài

(天衣義懷, Tenne Gie, 993-1064): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, người Huyện Lạc Thanh (樂清縣), Ôn Châu (溫州, Tỉnh Triết Giang), họ là Trần (陳). Hồi nhỏ ông đã theo cha làm nghề đánh cá, nhưng tương truyền bắt được bao nhiêu cá ông đều thả hết. Sau được cha mẹ cho phép, ông theo học với vị tăng trong quận và xuất gia trong khoảng thời gian niên hiệu Thiên Thánh (天聖, 1023-1031). Đầu tiên ông đến tham bái Pháp Hoa Chí Ngôn (法華志言), rồi Kim Loan Thiện (金鑾善) và Diệp Huyện Quy Tỉnh (葉縣歸省). Cuối cùng ông đến tham yết Tuyết Đậu Trùng Hiển (雪竇重顯) ở Thúy Phong Tự (翠峰寺) và kế thừa dòng pháp của vị này. Đầu tiên ông diễn xướng pháp môn của mình tại Thiên Y Sơn (天衣山) vùng Việt Châu (越州, Tỉnh Triết Giang), rồi sau lui về ẩn cư tại Sam Sơn Am (杉山庵) vùng Trì Châu (池州, Tỉnh An Huy). Vào ngày 25 tháng 9 năm đầu niên hiệu Trị Bình (治平), ông thị tịch, hưởng thọ 72 tuổi đời và 46 hạ lạp. Ông được ban cho thụy hiệu là Chấn Tông Đại Sư (振宗大師). ; 天衣義懷; C: tiānyī yìhuái; tk. 11;|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Vân Môn. Sư là môn đệ đắc pháp của sư Tuyết Ðậu Trọng Hiển và là thầy của hai vị Viên Chiếu Tông Bản và Viên Thông Pháp Tú.|Sư họ Trần, quê ở Lạc Thanh, Vĩnh Gia. Mẹ Sư nằm mộng thấy ngôi sao rơi vào nhà liền có thai Sư. Thuở bé, Sư theo cha đi đánh cá. Cha bắt được con cá nào thì Sư lén thả hết và an nhiên chịu đòn khi bị cha đánh. Lớn lên, Sư đến chùa Cảnh Ðức xuất gia.|Một hôm, đang lúc đi trong chợ có một vị tăng lạ vỗ vai Sư nói: »Vân Môn, Lâm Tế.« Sư nghe vậy liền đi đến yết kiến nhiều vị Thiền sư bấy giờ nhưng không khế hợp.|Sau, Sư đến Thiền sư Tuyết Ðậu Trọng Hiển (lúc này còn đang hoằng hoá tại Thuý Phong, chưa dời sang Tuyết Ðậu). Tuyết Ðậu hỏi Sư: »Ngươi tên gì?« Sư thưa: »Nghĩa Hoài.« Tuyết Ðậu hỏi: »Sao chẳng đặt là Hoài Nghĩa?« Sư thưa: »Bây giờ sẽ được.« Tuyết Ðậu hỏi: »Ai vì ngươi đặt tên?« Sư thưa: »Thụ giới đến bây giờ đã mười lăm năm.« Tuyết Ðậu hỏi: »Ngươi hành cước đã rách bao nhiêu đôi giày?« Sư thưa: »Hoà thượng chớ có lừa người tốt.« Tuyết Ðậu bảo: »Ta không xét tội lỗi, ngươi cũng không xét tội lỗi, ấy là sao?« Sư không đáp được, Tuyết Ðậu bảo: »Kẻ rỗng nói suông đi đi!«|Sư vào thất, Tuyết Ðậu trông thấy bảo: »Thế ấy chẳng được, chẳng thế ấy cũng chẳng được, thế ấy chẳng thế ấy cũng chẳng được.« Sư suy nghĩ, Tuyết Ðậu đánh đuổi ra. Cứ như thế Sư bị ăn gậy bốn lần. Một hôm, Sư đang gánh nước bỗng nhiên đòn gánh gẫy đánh rơi cặp thùng. Sư nhân đây đại ngộ, liền làm bài kệ:|一二三四五六七。萬仞峰頭獨足立|驪龍頷下奪明珠。一言勘破維摩詰|Nhất nhị tam tứ ngũ lục thất|Vạn nhẫn phong đầu độc túc lập|Li Long hạm hạ đoạt minh châu|Nhất ngôn khám phá Duy-ma-cật.|*Một hai ba bốn năm sáu bảy|Chót núi muôn nhẫn một chân đứng|Dưới hàm Li long đoạt minh châu|Một lời phá được Duy-ma-cật.|Tuyết Ðậu nghe kệ vỗ bàn khen hay.|Sư thượng đường: »Nạp tăng nói ngang nói dọc mà chưa biết có con mắt trên trán.« Một vị tăng bước ra hỏi: »Thế nào là con mắt trên trán?« Sư đáp: »Áo rách bày xương gầy, nhà lủng thấy trăng sao.«|Sư trụ trì tất cả bảy đạo trường, giáo hoá rất nhiều người và tông phong của Vân Môn rất thịnh. Lúc sắp tịch, Sư sai gọi đệ tử là Trí Tài về gấp. Vừa thấy Trí Tài về, Sư bảo: »Ðến giờ đi đây« và nói kệ:|紅日照扶桑,寒雲封華嶽|三更過鐵圍,拶折驪龍角|Hồng nhật chiếu phù tang|Hàng vân phong hoa nhạc|Tam canh quá thiết vi|Tạt chiết Li long giác.|*Ðất Nhật trời hồng soi|Ðảnh đỉnh hoa mây lạnh quấn|Canh ba vượt thiết vi|Sừng Li long bẻ gẫy.|Trí Tài hỏi: »Tháp trứng đã thành, thế nào là việc cứu kính?« Sư nắm tay chỉ đó và đến bên giường, xô gối rồi viên tịch.

thiên y nghĩa hoài

See Nghĩa Hoài Thiền Sư.

thiên y phái

(天衣派) Phạm: Digambara. Cũng gọi Khỏa thể phái, Không y phái, Không y ngoại đạo, Lộ hình ngoại đạo. Ngoại đạo khỏa thân, 1 trong các phái của Kì na giáo ở Ấn độ, hình thành vào thế kỉ I Tây lịch. Phái này chủ trương giáo đồ Kì na giáo không nên có tài sản riêng, thậm chí không nên có cả quần áo, lấy trời làm áo, vì thế mới đặt tên là Thiên y phái(phái áo trời). Vì họ sống cuộc sống trần truồng mà không cảm thấy hỗ thẹn nên gọi là Vô tàm ngoại đạo (ngoại đạo không hổ thẹn). Hoặc có giáo đồ chỉ buộc 1 dây lưng dài không quá nửa mét. Giáo đồ phái này tay cầm cây phất trần làm bằng lông chim công, dùng để xua đuổi những côn trùng nhỏ trên đường đi để khỏi bị chúng làm thương tổn, họ ở trong các chùa miếu hoặc nơi cách xa làng xóm, xin ăn để sống, ngày ăn một bữa, coi thường phụ nữ.Giáo phái Thiên y lưu hành ở Bắc Ấn độ, sau lại chia ra các chi phái như: -Tì sa bát đề (Phạm:Bìsapanthì). -Đạt la na bát đề (Phạm:Tàraịapanthì). -Đức phạ bát đề (Phạm: Topapanthì). -Cưu ma na bát đề (Phạm: Gumanapanthì). Về sau, còn tiếp tục phân chia nhiều phái nữa.

thiên y phất thiên tuế

Áo trời ngàn năm—Thí dụ lấy một tảng đá một dặm, hai dặm, vẩn đến mười dặm vuông, rồi lấy áo trời chỉ nặng ba thù, cứ ba năm thì lấy áo quẹt đá một lần, quẹt mãi cho đến khi mòn hết đá. Số thời gian áo trời quẹt mòn hết tảng đá gọi là một tiểu kiếp—An illustration of the length of a small kalpa: if a great rock, let it be one, two, or even 40 li-square, be dusted with a deva garment once in a hundred years till the rock be worn away, the kalpa would still be unfinished. ; (天衣拂千歲) Dùng áo trời lau phủi nghìn năm, đây là thí dụ biểu thị thời gian lâu dài. Luận Đại trí độ quyển 5 nói rằng: Ví như có tòa ngồi bằng đá rộng 40 dặm, có người sống lâu thường ngồi trên đó, cứ mỗi nghìn năm, người ấy dùng áo trời mỏng nhẹ mềm mại lau tòa đámột lần, cho đến khi tòa đá bị mòn hết sạch, mà kiếp số vẫn chưa hết! [X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ]. THIÊN Y VÔ PHÙNG Áo trời không cần cắt may, không khâu dính nên không có dấu vết chắp nối, nên gọi là Thiên y vô phùng(phùng nghĩa là may áo, vá áo). Áo của những người các cõi trời mặc trọng lượng rất nhẹ, các tầng trời càng cao thì áo càng nhẹ. Luận Đại trí độ quyển 34 (Đại 25, 310 hạ) nói: Thiên y cõi Sắc không có trọng lượng, thiên y ở cõi Dục từ bên cây sinh ra không đan không dệt. Theo đó có thể biết được thiên y rất thù thắng, không cần cắt may, thêu dệt, cũng không có dấu vết khâu ráp. Ngoài ra, nguyện thứ 38 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà (Đại 12, 269 thượng) nói: Nếu tôi thành Phật thì trời, người trong cõi nước của tôi, hễ muốn có áo mặc thì áo mặcliền hiện, đúng như Phật khen ngợi, áo mầu nhiệm ứng theo pháp, tự nhiên mặc ở thân; nếu phải cắt may, nhuộm giặt thì tôi không ở ngôi Chính giác. Trời, người đều có áo vi diệu, không cần cắt may, tự nhiên mà được là điểm trọng yếu của điều nguyện này. Đến đời sau, ví dụ việc này không để lại dấu vết, hoặc hình dung thi ca, văn chương lưu loát, hoặc việc làm tự nhiên trôi chảy... đều gọi là Thiên y vô phùng.

thiên y thiền sư

Zen Master Tian-Yi-Yi-Huai—See Nghĩa Hoài Thiền Sư.

Thiên Y Tông Bổn

(天衣宗本, Tenne Sōhon, ?-?): vị tăng của Thiên Thai Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Minh, hiệu là Nhất Nguyên (一元) hay Thiên Y (天衣), xuất thân Tứ Minh (四明, Tỉnh Triết Giang), họ Trần (陳). Năm 15 tuổi, nhân gặp một vị tăng nơi quán trà, ông được phó chúc cho phép 10 Pháp Giới và chuyên tâm sống với pháp môn Niệm Phật. Ông có viết bộ Quy Nguyên Trực Chỉ Tập (歸元直指集) tại Diên Thọ Giảng Tự (延壽講寺), Tứ Minh vào năm thứ 32 (1553) niên hiệu Gia Tĩnh (嘉靖) với chủ trương tổng hợp Thiền và Niệm Phật.

thiên ái

Devanampriya—Beloved of the gods (natural fools, simpletons, or the ignorants). ; (天愛) Phạm: Devànàô-priya. Pàli: Devànaô piyo. Người được trời yêu thương. VàothờiVương triều Khổng tước ở Ấn độ, từ ngữ này biểu trưng cho sự uy nghiêm của nhà vua, tức kính xưng vua là Thiên ái, như vua A dục cũng được gọi là Thiên ái hỉ kiến vương(vị vua được trời thương yêu mà ai thấy cũng mừng). Về sau, từ Thiên ái được chuyển dụng với nghĩa chê mắng người ngu.

thiên ái đế tu vương

(天愛帝須王) (247-207, hoặc 307-267 tr.Tây lịch) Thiên ái đế tu, Pàli:Devànaôpiyatissa. Vua nước Tích lan (nay là Sri Lanka), người đầu tiên tiếp nhận tín ngưỡng Phật giáo và tận lực hoằng truyền. Cứ theo Đại sử (Pàli:Mahàvaôsa) 1, 7-20 và bài tựa trong Luật tạng chú nhất thiết thiện kiến của Luận sư Phật âm (Pàli:Buddha-ghosa) thì khi vua Thiên ái đế tu mới lên ngôi, vua A dục của Ấn độ sai con là Ma hi đà (Pàli:Mahinda) và Sa di Tu ma na (Pàli:Sumana)... đến Tích lan giảng kinh Chú la ha tượngthí (Pàli:Cùơahatthipadùpamà-suttanta) ở núi Mi sa già (Pàli:Missaka, nay làMihintale) cho vua nghe, đồng thời, trong 7 ngày hóa độ cho 8.500 người. Sau, nhà vua xây dựng Đại tự (Pàli:Mahà-Vihàra) ở rừng Đại mi già, rồi đục mở 68 hang động ở núi Chi đế da (Pàli:Cetiya-pabbata) và xây Tháp viên (Pàli:Thùpàsàma) để thờ xá lợi của đức Phật. Không bao lâu, em của vua là Vô úy (Pàli:Mattàbhaya) và 3 vạn người cùng xuất gia, vua bèn xây tinh xá ở Tháp viên để cúng dường. Về sau, vua Thiên ái đế tu được ngài Ma hi đà hướng dẫn qui y Tam bảo, vua thỉnh ngài Ma hi đà lập đàn giới (Sìmà) ở khắp nơi trong nước để truyền trao giáo pháp, độ cho đại chúng xuất gia.

thiên ân

Hòa Thượng Thích Thiên Ân, một trong những danh Tăng Việt Nam tại Hoa Kỳ trong thời cận đại. Ông thuộc dòng Thiền Lâm Tế. Vào năm 1966, ông sang Hoa Kỳ thuyết giảng tại Đại Học UCLA. Năm 1967, ông bắt đầu giảng dạy tại Trung Tâm Thiền Phật Giáo Thế Giới tại Hollywood. Năm 1973, trường nầy trở thành trường Đại Học Đông Phương. Sau cuộc thay đổi chính trị tại Việt Nam vào năm 1975, ông hoạt động rất tích cực giúp đở những người tỵ nạn trên đất Mỹ—Most Venerable Thích Thiên Ân, one of the most outstanding Vietnamese monks in the United States in the modern era. He was trained in the Lin-Chi Lineage. He came to the USA in 1966 to lecture at UCLA. In 1967, he began to teach at Hollywood Founded International Buddhist Meditation Center, later in 1973 it became a college and University of Oriental Studies in Los Angeles. After the political change over in Vietnam in 1975, he was active in helping Vietnamese refugees in the USA.

Thiên Ðồng Như Tịnh

天童如淨; C: tiāntóng rújìng; J: tendō nyojō; 1163-1228; |Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Tào Ðộng, nối pháp Thiền sư Trúc Am Trí Giám. Pháp tự nổi danh của Sư là Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền, vị Tổ thứ nhất tông Tào Ðộng Nhật Bản.

thiên ý thụ

The tree in each devaloka (tầng trời) which produces whatever the devas desire—See Thiên Đức Bình (3). ; (天意樹) Chỉ cho cây như ý trên cõi trời. Cây này chuyển biến theo ý muốn của các người trời, hễ mong cầu điều gì thì đều được như ý cả.

thiên đao lợi

See Trời Đao Lợi.

thiên đàng

Heaven.

thiên đô

To move the capital.

thiên đăng hội

(千燈會) Pháp hội thắp một nghìn ngọn đèn để cúng dường đức Phật. Mục đích của việc thắp một nghìn ngọn đèn cúng dường Phật hoặc Bồ tát là để sám hối diệt tội, cầu chứng Vô thượng chính đẳng chính giác. Giới Phật giáo Trung quốc và Nhật bản đều có phong tập này.

Thiên Đường

(天堂): hay Thiên Quốc (天國), chỉ cho trú xứ hay quốc độ trên trời, là cung điện của thiên chúng, đối lập với Địa Ngục. Theo đa số các tôn giáo cũng như triết học tâm linh đều công nhận đây là nơi tồn tại hình thức sinh mạng con người sau khi chết. Theo tín ngưỡng dân gian Trung Quốc, Thiên Đường, Thiên Quốc, Thiên Giới (天界), Thần Giới (神界), v.v., đều cùng ngữ nghĩa với nhau, chỉ cho cảnh giới thần tiên do Ngọc Hoàng Đại Đế (玉皇大帝) thống quản. Nhân gian tin rằng con người sau khi chết sẽ lên Trời, tổ tiên của mỗi cá nhân đều ở trên đó nhìn mình, và linh hồn tổ tiên luôn hộ trì, che chở cho con cháu mình dưới trần thế. Do đó, người Trung Quốc có truyền thống kính Trời và thờ cúng tổ tiên. Thần và người đều giữ đạo riêng của mình. Thần tiên có khả năng hạ phàm xuống cõi người. Theo Đạo Giáo, người nào đắc đạo, đều có thể thành thần tiên. Thái Bình Kinh (太平經), kinh thư trọng yếu của tôn giáo này, giải thích rằng: “Thượng thiện chi nhân, tử hậu Âm Tào Phán Quan trước thiện tịch chi văn, danh chi vi thiện nhân chi tịch, hành ngưỡng thiện, dữ thiên địa Tứ Thời Ngũ Hành hợp tín, chư thần tương ái … cọng tấn ư thiên thần (上善之人、死後陰曹判官著善籍之文、名之爲善人之籍、行仰善、與天地四時五行合信、諸神相愛…共進於天神, người mà lương thiện, sau khi chết Âm Tào Phán Quan viết văn sổ lương thiện, đó gọi là sổ người lương thiện; làm và kính trọng việc thiện, cùng hợp niềm tin với Bốn Thời, Ngũ Hành của trời đất, các thần đều thương … cùng phong làm thiên thần).” Thanh Thành (青城), nơi phát xuất Đạo Giáo Trung Quốc, được xem như là đô thành Thiên Quốc trên cõi thế. Cho nên tác phẩm Quảng Hoàng Đế Bản Hạnh Ký (廣黃帝本行記) có ghi rằng: “Thanh Thành, Thiên Quốc chi đô (青城、天國之都, Thanh Thành là kinh đô của Thiên Quốc).” Theo tín ngưỡng dân gian, Ngọc Hoàng Đại Đế là vua của các Thần; nhưng trong Đạo Giáo thì chức năng của Ngài là thừa mạng của Tam Thanh (三清), tức Nguyên Thỉ Thiên Tôn (元始天尊), Đạo Đức Thiên Tôn (道德天尊, Thái Thượng Lão Quân [太上老君]) và Linh Bảo Thiên Tôn (靈寶天尊, Thượng Thanh Đại Đế [上清大帝]). Căn cứ vào tác phẩm Vân Cấp Thất Tiêm (雲笈七籤), phần Thiên Địa Bộ (天地部) cho biết rằng Trời có 36 tầng. Trong bài kệ thỉnh chuông chiều có câu: “Hồng chung sơ khấu, bảo kệ cao ngâm, thượng triệt Thiên Đường, hạ thông Địa Phủ (洪鐘初扣、寶偈高吟、上徹天堂、下通地府, chuông chùa mới đánh, kệ báu ngâm vang, trên thấu Thiên Đường, dưới thông Địa Phủ).” Cho nên, Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu Hương Nhũ Ký (毗尼日用切要香乳記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1116) quyển Thượng có giải thích rằng: “Kim minh chung thời, trượng Tam Bảo uy lực, nhi linh thử thanh, thượng triệt Thiên Đường, hạ thông Địa Phủ, giai đắc văn dã (今鳴鐘時、仗三寶威力、而令此聲、上徹天堂、下通地府、皆得聞也, nay khi đánh chuông, nương nhờ oai lực Tam Bảo, mà có âm thanh này, trên thấu Thiên Đường, dưới thông Địa Phủ, thảy đều được nghe).” Trong Đạt Ma Đại Sư Huyết Mạch Luận (達磨大師血脈論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1218) có cho biết rằng: “Thiện ác lịch nhiên, nhân quả phân minh, Thiên Đường Địa Ngục chỉ tại nhãn tiền (善惡歷然、因果分明、天堂地獄只在眼前, thiện ác sáng tỏ, nhân quả rõ ràng, Thiên Đường Địa Ngục chỉ tại trước mắt).”

thiên đường

Chỗ ở của người cõi trời chỉ thọ vui chẳng thọ khổ, phước lớn chừng nào thì tuổi thọ cao chừng nấy. ; The mansions of the devas, located between the earth and the Brahmalokas—The heaven halls—Heaven.

thiên đường địa ngục

The heavens and the hells, places of reward or punishment for moral conduct.

thiên đạo

Deva-gati—Devasopana (skt). 1) Cõi trời, cảnh giới cao nhất trong lục đạo, gồm 18 tầng trời sắc giới và bốn tầng trời vô sắc giới. Một nơi hưởng phước, nhưng không là nơi để tiến lên quả vị Bồ Tát—The highest of the six paths—The realm of devas includes the eighteen heavens of form and four of formlessness. A place of enjoyment, where the meritorious enjoy the fruits of good karma, but not a place of progress toward bodhisattva perfection. 2) Đạo Trời: Đạo tự nhiên, lý tự nhiên, hay qui luật tự nhiên—The Tao of Heaven—According to the Taoists, natural law or cosmic energy is the origin and law of all things. ; (天道) Chỉ cho chư thiên ở trong 3 cõi Dục, Sắc và Vô Sắc, 1 trong 6 đạo, 1 trong 3 thiện đạo. Hoặc chỉ cho đạo tự nhiên, vị thần chúa tể trời đất, mặt trời, mặt trăng, các vì sao...

thiên đản

Hở một bên vai, như mặc áo cà sa choàng qua vai phải và để hở vai trái. Đây là dấu hiệu của sự tôn kính—Bare on one side, i.e. to wear the toga, or robe, over the right shoulder, baring the other as a mark of respect.

Thiên đản hữu kiên

偏袒右肩; C: piāntăn yòujiān; J: hendan'u-ken;|Vạch y bày vai bên phải (hướng về phía đức Phật). Nghi thức Ấn Độ biểu hiện lòng tôn kính bậc Đạo sư.

thiên đản hữu kiên

(偏袒右肩) Phạm: Ekàôsam uttaràsaígaô kftvà. Pàli: Ekaôsaô uttaràsôgaô korati. Cũng gọi Thiên lộ hữu kiên, Thiên đản nhất kiên, Thiên lộ nhất bác. Gọi tắt: Thiên đản. Đối lại: Thông kiên. Mặc áo ca sa đểlộvai bên phải. Đây vốn là lễ phép biểu thị sự tôn kính của ngườiẤn độ đời xưa, sau được Phật giáo dùng theo. Tức khi vị tỉ khưu lễ bái đức Phật hoặc thăm hỏi bậc thầy thì phải để lộ vai phải để làm các việc như phủi bụi giường chiếu, lau chùi, quét dọn... cho nên Thiên đản hữu kiên là để tiện cho việc phục vụ, sẵn sàng để được sai bảo làm việc, cũng tức là dùng Thiên đản để bày tỏ sự kính lễ. Trong các tượng Phật, có tượng thiên đản hữu kiên, có tượng thông kiên(che kín 2 vai), như Thiên cổ lôi âm Như lai, Bảo chàng Như lai trong viện Trung đài Bát diệp và Thích ca mâu ni Như lai, A nan, Ca chiên diên... trong viện Thích ca thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo đều là tượng Thiên đản hữu kiên.

thiên đản phái

(偏袒派) Pàli: Ekaôsikanikàya. Một chi phái củaPhậtgiáo Thượng tọa bộ ở Miến điện hình thành vào đầu thế kỉ XVIII, do Thượng tọa Cù na tì lăng già la (Pàli:Guịàbhilaĩkàra) ở thôn Đăng na (Tunna) tại Đông Miến điện khởi xướng. Thượng tọa Cù na tì lăng giàlavốn theo học Trưởng lão Diệu pháp hành (Pàli: Saddhammacàra) tại Tích lan, khi trở về Miến điện, y cứ theo sự chỉ dạy của Trưởng lão Diệu pháp hành, Thượng tọa Cù na chủ trương khi ra khỏi chùa hoặc vào làng ấp,chư tăng nên mặc áo để lộ vai bên phải (thiên đản hữu kiên), không cần phải cầm lá đalache đầu, nhưng dùng quạt đa lađể che nắng, người đời gọi tăng đoàn này là Đăng na phái (Pàli:Tunna-guịa). Phái này xem trọng A tì đạt ma (luận), ít nghiên cứu kinh, luật và chú thích. Việc này làm cho các Thượng tọa khác ở trong vùng như Phật đà câu la (Pàli: Buddhaíkura), Chất đa (Pàli:Citta), Tu nan đa (Pàli:Sunanta), Ca da na (Pàli: Kalyàịa)... chê trách.Các vị này chủ trương việc mặc áođể lộ vai phải chỉ được thực hành khi lễ bái trước đức Phật hoặc tăng trưởng để tỏ lòng cung kính, còn ngoài ra phải che kín cả 2 vai, nhất là khi ra khỏi chùa. Từ đó hình thành 2 phái đối lập, tranh luận mãi mà không được giải quyết. Sau, đến đời vua Mạnh vân (Bodawpaya, ở ngôi 1782-1819) cuộc tranh luận về cách mặc áo lại bùng lên một cách sôi động, nhà vua bèn ra lệnh đôi bên tiến hành biện luận. Kết quả, luận điển mà phái Thiên đản y cứ là không đúng, cho nên bị vua cấm chỉ, phái này từ đó dần dầnsuy vong, kết thúc cuộc tranh luận kéo dài 75 năm (1708-1785).

thiên đế

1) Vua của cõi Trời: King or emperor of Heaven—Heaven. 2) Nhân Đà La: Thích Ca—Thích Ca Bà—Indra. 3) Vua Trời Đế Thích, vua của cung trời Đao Lợi, một trong những vị trời của Ấn Độ thời cổ. Vua cõi trời chiến đấu chống lại ma quỷ bằng kim cang chùy. Phật giáo xem vị nầy như là vị trời hộ pháp, thấp hơn Phật và các vị đã chứng ngộ Bồ Đề: Sakra, king of the devaloka. One of the ancient gods of India, the god of the sky who fights the demons with his vajra or thunderbolt. He is inferior to the trimurti, Brahma, Visnu, and Siva, having taken the place of Varuna or sky. Buddhism adopted him as its defender, though, like all the gods, he is considered inferior to a Buddha or any who have attained bodhi.

thiên đế sinh lư thai

Thiên Đế thác sanh vào thai lừa—Theo Kinh Pháp Cú kể lại, thì có một truyện tích kể lại vụ trời Đế Thích biết mình sắp thác sanh vào thai lừa nên lòng buồn bã không nguôi. Người khác bảo rằng muốn thoát khỏi cảnh nầy chỉ có cách là tin Phật. Trước khi ông tới được Phật thì đã thác và thấy mình tái sanh vào bụng lừa. Tuy nhiên, lời nguyện của ông đã có hiệu quả vì chủ lừa đánh lừa mẹ quá mạnh đến sẩy thai và Thiên Đế được trở về kiếp cũ và lên gặp Phật—According to the Dharmapada Sutra, Lord of devas, born in the womb of an ass, a Buddhist fable, that Indra knowing he was to be reborn from the womb of an ass, in sorrow sought to escape his fate, and was told that trust in Buddha was the only way. Before he reached Buddha his life came to an end and he found himself in the ass. His resolve, however, had proved effective, for the master of the ass beat her so hard that she dropped her foal dead. Thus Indra returned to his former existence and began his ascent to Buddha. ; (天帝生驢胎) Thiên đếđầu thai vào con lừa. Kinh Pháp cú thí dụ quyển 1 nói rằng: Thuở xưa, có vị Thiên đế biết mình sau khi chết sẽ đọa vào thai con lừa của nhà thợ gốm, liền đến chỗ đức Phật quì sát đất đính lễ qui y, nhưng chưa kịp đứng lên thì đã mệnh chung, trong giây lát đọa vào thai con lừa. Khi sắp sinh, lừa mẹ chuyển dạ, vì đau đớn nênchạylồng lên, làm vỡ đồ gốm, người chủ tức giận đánh nó sẩy thai; thần thức trở lại trong thân Thiên đế và sau chứng được Sơ quả.

thiên đế thích

Đế Thích Thiên—Trời Đế Thích, vị chúa tể của cung trời Đao Lợi cùng họ với Phật Thích Ca—Sakra, king of the devaloka.

thiên đế thích thành

Còn gọi là Hỷ Kiến Thành hay Thiên Kiến Thành, thành của Thiên Đế, vua của chư thiên. Thủ phủ của ba mươi ba tầng Trời Đế Thích. Cũng gọi là Thiện Kiến Thành hay Hỷ Kiến Thành—The city of beautiful, or the city of Sakra, the Lord of devas. The chief city or capital of the thirty-three Indra-heavens. Also called the Sudarsana city good to behold, or city a joy to behold.

thiên địa bát dương thần chú kinh

(天地八陽神咒經) Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung nói về danh nghĩa việc đức Phật nói kinh này và về phúc báo, công đức của việc thụ trì, đọc tụng, đồng thời bài bác việc xem ngày giờ tốt, xấu trong việc tang ma, cưới hỏi... Kinh này bị xem lànghi ngụy kinh.

thiên địa kính

The mirror of heaven and earth (The Prajna-paramita sutra). ; (天地鏡) Gương trời đất. Tức chỉ cho kinh Nhân vương bát nhã ba la mật, vì kinh này được ví dụ như chiếc gương sáng chiếu soi thực tướng của trời đất. Thiên địa kính và Hộ quốc châu(hạt châu che chở đất nước) đều là ví dụ cho kinh Nhân vương.

thiên địa tam dương hội

(天地三陽會) Tông giáo dân gian ở đời Minh, Trung quốc, do Vương đạc sáng lập vào khoảng năm Vạn lịch (1573-1619). Vương đạc tự xưng là Tam dương hội thủ, xây điệnTam dương, tạo Hỗn nguyên chủ Phật, tuyên cáo đại kiếp đã đến. Tín đồ có tới hơn 6.000 người. Năm Vạn lịch thứ 7 (1590) Vương đạc bị bắt rồi bị giết.

thiên định

Externalists believe in a so-called Determinism: everything is predetermined by God.

thiên đốc

Một hình thức viết sai của người Trung Hoa về chữ Ấn Độ—T'ien-Tu, an erroneous form of Yin-Tu or India.

thiên đồng

Thiên đồng hộ pháp, những thiên đồng sứ giả của chư Phật và chư Bồ Tát—Divine youths, such as deva guardians of the Buddha-law who appear as Mercuries, or youthful messengers of the Buddhas and Bodhisattvas. ; (天童) I. Thiên Đồng. Chư thiên hộ trì Phật pháp, thường dùng hình đồng tử xuất hiện ở nhân gian để phục vụ loài người, gọi là Thiên đồng (con thiên thần). II. Thiên Đồng. Chỉ cho chùa Thiên đồng nằm ở huyện Ngân, tỉnh Chiết giang.

thiên đồng chính giác

(天童正覺) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Tào động sống vào đời Tống, người ởThấp châu, tỉnh Sơn tây, họ Lí, là đệ tử nối pháp của Thiền sư Tử thuần ở núi Đan hà, tại Đặng châu, phủ Nam dương, tỉnh Hà nam. Sư từng trụ ở chùa Trường lư, sau trụ núi Thiên đồng trong 30 năm.Sư lấy Thung dung lụclàmcơ sở mà soạn 100 tắc tụng cổ. Thiền phong của sư gọi là Mặc chiếu thiền(thiền lặng soi), đối lại với Khán thoại thiền(thiền tham cứu công án), chủ trương ngồi thiền để đạt được tự tại trong nội tâm. Tháng 10 năm Thiệu hưng 27 (1157) đời Tống, sư nhập tịch, thọ 67 tuổi, thụy hiệu là Hoành Trí Thiền Sư, tên tháp là Diệu quang.

thiên đồng chính giác thiền sư quảng lục

(天童正覺禪師廣錄) Cũng gọi Hoành trí thiền sư quảng lục, Phổ chiếu giác hòa thượng ngữ lục, Hoành trí lục. Ngữ lục, 9 quyển, do Thiền sư Chính giác soạn vào đời Tống, các ngài Pháp tông, Tập thành... biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 48. Nội dung sách này thu chép các ngữ lục thướng đường khi sư trụ ở Cảnh đức thiền tự tại núi Thiên đồng, Minh châu, tỉnh Chiết giang. Trong quyển 9 bao gồm: Thướng đường, tụng cổ, niêm cổ, tiểu tham, pháp ngữ, chân tán, kệ tụng... Quyển 1 và quyển 5 thu chép tông phong của Vân môn, Lâm tế, Tào động, Pháp nhãn và Qui ngưỡng. Phần Minh châu Thiên đồng sơn Giác hòa thượng tiểu tham cũng gọi là Thiên đồng tiểu tham lục, Hoành trí cổ Phật tiểu tham lục có bản lưu hành riêng.

Thiên Đồng Như Tịnh

(天童如淨, Tendō Nyojō, 1163-1228): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, vì tánh tình của ông hào sảng vui vẻ nên trong tùng lâm đương thời thường gọi ông là Tịnh Trưởng (淨長), sau này thì gọi là Trưởng Ông (長翁), sinh ngày mồng 7 tháng 7 năm đầu (1163) niên hiệu Long Hưng (隆興) ở vùng Việt Châu (越州, Tỉnh Triết Giang), còn năm tháng ông xuất gia và thọ cụ túc thì không rõ. Sau khi xuất gia, ông chuyên tâm học giáo lý, đến năm 19 tuổi thì đến tham vấn Túc Am Trí Giám (足菴智鑑) ở Tuyết Đậu Sơn (雪竇山). Ông khai ngộ với câu chuyện cây bá trước sân của Trí Giám, và được chấp thuận cho tu tập tại đây. Sau đó, ông trãi qua hơn 20 năm du lãng giang hồ, đến năm thứ 3 (1210) niên hiệu Gia Định (嘉定), ông đến trú tại Thanh Lương Tự (清涼寺) thuộc Phủ Kiến Giang (建江府, Tỉnh Giang Tô). Về sau, ông đã từng sống qua các chùa như Thoại Nham Tự (瑞巖寺) ở Đài Châu (台州, Tỉnh Triết Giang), Nam Sơn Tịnh Từ Tự (南山淨慈寺) ở Phủ Lâm An (臨安府, Tỉnh Triết Giang), Thoại Nham Tự ở Minh Châu (明州, Tỉnh Triết Giang), rồi sau đó lại quay trở về Tịnh Từ Tự. Nhận được di thư của Phái Vô Tế Liễu (無濟了派) ở Thiên Đồng Sơn (天童山), vào năm thứ 17 niên hiệu Gia Định (嘉定), ông đến trú trì Thái Bạch Sơn Thiên Đồng Cảnh Đức Thiền Tự (太白山天童景德禪寺) vùng Minh Châu. Chính trong khoảng thời gian này thì Đạo Nguyên (道元) của Nhật sang tham vấn và được chân truyền pháp môn tu gọi là Thân Tâm Thoát Lạc (身心脫落), Chỉ Quản Đả Tọa (只管打坐). Trong bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng (正法眼藏, Shōbōgenzō) do Đạo Nguyên sáng tác sau này đã thể hiện đầy đủ phong cách và dung mạo của Như Tịnh. Vào ngày 17 tháng 7 năm đầu niên hiệu Thiệu Định (紹定) nhà Tống, ông thị tịch, hưởng thọ 66 tuổi. Ông có để lại bài kệ là “Lục thập lục niên, tội phạm di thiên, đả cá bột khiêu, hoạt hãm Huỳnh Tuyền. Di ! Tùng lai sanh tử bất tương cán (六十六年、罪犯彌天、打箇臉跳、活陷黃泉、咦、從來生死不相干, Sáu mươi sáu năm, phạm tội ngất trời, nhảy nhót lung tung, rơi xuống suối vàng. Ôi chà ! Xưa nay sống chết chẳng hề hấn gì !).” Trước tác của ông để lại có Như Tịnh Thiền Sư Ngữ Lục (如淨禪師語錄) 2 quyển, Như Tịnh Thiền Sư Tục Ngữ Lục (如淨禪師續語錄) 1 quyển.

thiên đồng như tịnh

(天童如淨) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Tào động, sống vào đời Tống, người ở Vi giang, Minh châu(nay là huyện Ngân, tỉnh Chiết giang), họ Du, là đệ tử nối pháp của ngài Túc am Trí giám. Sư lần lượt trụ ở các chùa Hoa tạng Bao trung, chùa Thanh lương ở Kiến khang, chùa Thụy nham ở Minh châu, sau sư vâng sắc trụ trì chùa Cảnh đức ở núi Thiên đồng. Ngài Đạo nguyên người Nhật bản đã tham học sư và được nối pháp. Tháng 7 niên hiệu Thiệu định năm đầu (1228) sư thị tịch, thọ 66 tuổi. Đệ tử nối pháp: Đạo nguyên, Lộc môn giác, Tuyết amTòng cẩn, Thạch lâm tú, Cô thiềm oánh...

thiên đồng sơn

Một nhóm tự viện nổi tiếng gần núi Thiên Đồng, cũng được gọi là núi Thái Bạch; đây là một trong năm núi nổi tiếng của Trung Quốc—A famous group of monasteries in the mountain near Ningpo, also called Venus planet mountain; this is one of the five famous mountains of China. ; (天童山) Núi nằm cách huyện Ngân(xưa gọi là phủ Ninh ba), tỉnh Chiết giang khoảng 35 km về mạn đông, là 1 trong các ngọn của núi Thái bạch, cũng là 1 trong 5 ngọn núi của Thiềntông.

Thiên Đồng Sơn Cảnh Đức Thiền Tự

(天童山景德禪寺): hay Thiên Đồng Tự (天童寺), Thiên Đồng Thiền Tự (天童禪寺); hiệu là Đông Nam Phật Quốc (東南佛國); là ngôi tự viện Thiền Tông trứ danh, được xếp hạng thứ 2 trong 5 ngôi chùa nổi tiếng của Thiền Tông Trung Quốc; hiện tọa lạc tại sườn núi Thái Bạch Sơn (太白山), Ngân Huyện (鄞縣), Phố Ninh Ba (寧波市), Tỉnh Triết Giang Thánh địa này có liên quan mật thiết với Thiền Tông Nhật Bản, Tào Động Tông nước này xem nơi đây là Tổ Đình. Vào năm 1983, chùa được Quốc Vụ Viện công nhận là ngôi tự viện trọng yếu thuộc địa khu Hán tộc của Phật Giáo toàn quốc. Thiên Đồng Tự được sáng kiến dưới thời nhà Tấn, tương truyền do vị tăng vân du tên Nghĩa Hưng (義興) từng kết thảo am tu tập tại đây vào năm đầu (300) niên hiệu Vĩnh Khang (永康) nhà Tây Tấn. Vào năm đầu nhà Đường (唐, 618-907), chùa được dời về vị trí hiện tại. Đến năm thứ 2 (759) niên hiệu Càn Nguyên (乾元) nhà Đường, vua Túc Tông (肅宗, tại vị 756-762) ban cho tên chùa là Thiên Đồng Linh Lung Tự (天童玲瓏寺). Năm thứ 10 (869) niên hiệu Hàm Thông (咸通) nhà Đường, vua Ý Tông (懿宗, tại vị 859-873) sắc phong tên chùa là Thiên Thọ Tự (天壽寺). Đến năm thứ 4 (1007) niên hiệu Cảnh Đức (景德) nhà Tống, vua Chơn Tông (眞宗, tại vị 997-1022) ban cho chùa tên Thiên Đồng Cảnh Đức Thiền Tự (天童景德禪寺). Vào năm 1125, Thiền Sư Như Tịnh (如淨, 1163-1228), vị Tổ đời thứ 13 của Tào Động Tông Trung Quốc, đến trú trì chùa này. Lúc bấy giờ, có Đạo Nguyên (道元, Dōgen) của Nhật bản đến tham học và sau khi trở về nước thì sáng lập Tào Động Tông Nhật Bản. Vào năm thứ 5 (1178) niên hiệu Thuần Hy (淳熙) nhà Tống, vua Hiếu Tông (孝宗, tại vị 1162-1189) ban cho 4 chữ Thái Bạch Danh Sơn (太白名山). Năm thứ 4 (1134) niên hiệu Thiệu Quang (紹光) nhà Tống, ngôi Đại Điện ở phía Đông Nam được mở rộng thêm. Trong khoảng thời gian niên hiệu Gia Định (嘉定, 1208-1224) nhà Tống, chùa được liệt vào hàng thứ 3 trong Thiền Viện Ngũ Sơn Thập Sát. Sau đó, Chu Nguyên Chương (朱元璋, tức vua Thái Tổ [太祖, tại vị 1368-1398]) nhà Minh sắc phong chùa là Thiên Hạ Danh Tự (天下名寺), xếp chùa vào hàng thứ 2 trong Thiên Hạ Thiền Tông Ngũ Sơn (天下禪宗五山). Về sau, vua Ung Chính (雍正, tức vua Thế Tông [世宗, tại vị 1722-1735]) nhà Thanh ban cho chùa tấm biển Từ Vân Mật Bố (慈雲密布). Về xuất xứ tên chùa, tương truyền khi Nghĩa Hưng đến đây lập thảo am tu hành thì có sao Thái Bạch (太白) xuất hiện, biến thành đồng tử, hằng ngày hái củi, gánh nước cúng dường; nên cảm niệm ơn đó, Nghĩa Hưng đặt tên cho ngọn núi này là Thiên Đồng Sơn. Ngoài Đạo Nguyên ra, Minh Toàn (明全, Myōzen), Vinh Tây (榮西, Eisai) cũng đã từng đến đây tham bái.

Thiên Đồng Thiền Tự

(天童禪寺): xem Thiên Đồng Sơn Cảnh Đức Thiền Tự (天童山景德禪寺) bên trên.

Thiên Đồng Tự

(天童寺): xem Thiên Đồng Sơn Cảnh Đức Thiền Tự (天童山景德禪寺) bên trên.

thiên đồng tự

(天童寺) Chùa ở núi Thiên đồng, Tứ minh, Chiết giang, cách huyện Ngân(xưa gọi là phủ Ninh ba) 35 km về phía đông. Trong năm Vĩnh khang đời Tây Tấn, ngài Nghĩa hưng sáng lập 1 ngôi am trên sườn đá giữa khe núi cách huyện Mậu, quận Cối kê khoảng 17 km về phía đông nam để ở, nhân cảm được sao Thái bạch hóa làm đồng tử hàng ngày mang củi, nước đến dâng, cho nên đặt tênnúilà Thái bạch, đặt tên chùa là Thiên đồng. Năm Long an thứ 3 (399) đời Đông Tấn, chùa bị thiêu hủy trong hỏa hoạn. Khoảng năm Khai nguyên đời vua Huyền tông nhà Đường, ngài Pháp tuyền cất chùa trên nền cũ đặt tên là tinh xá Thái bạch và xây tháp Đa bảo ở góc tây nam chùa, hằng ngày đọc tụng kinh Pháp hoa. Năm Chí đức thứ 2 (757), ngài Tông bật... dời chùa về địa chỉ hiện nay. Trong khoảng vài trăm năm, trải qua các đời vua Đường vũ tông, Đường ý tông, Tống chân tông... chùa lần lượt được ban hiệu là Thiên đồng linh lung tự, Thiên thọ tự, Cảnh đức thiền tự... trở thành trọng tâm của các tùng lâm trong 10 phương, đồng thời có các bậc danh tăng như ngài Hoài thanh, Bảo kiên, Phổ giao... đến cư trụ, ngài Hoành trí Chính giác cũng trụ ở chùa này suốt 30 năm, đổi tam môn thành đại các, xây 7 ngôi tháp, sửa chữa tăng đường, các liêu, lại lập chế độ tự sản, cảnh quan chùa mỗi ngày một đổi mới, chư tăng từ khắp nơi tụ tập rất đông, có tới hơn 1000 vị. Lại có các vị tăng người Nhật như Minh am Vinh tây, Hi huyền Đạo nguyên, Hàn nham Nghĩa doãn, Triệt thông Nghĩa giới, Tây giản Tử đàm, Tuyết chu Đẳng dương..lần lượt đến đây tham học. Năm Sùng trinh thứ 4 (1631) đời vua Tư tông nhà Minh, Thiền sư Mật vân Viên ngộ trụ trì chùa này,mở rộng tông phong Lâm tế.Mỗi lần tổ chức pháp hội giảng kinh, tín đồ tham dự thường lên đến con số trên 3 vạn người, giới vương công, danh sĩ đến hỏi đạo cũng rất đông. Đến đời Thanh, vua Thế tông ban biển hiệu Từ Vân Mật Bố. Chùa có các kiến trúc như: Khánh điện, Già lam đường, Vân thủy đường, Thiền đường, Phương trượng, Thiên vương điện, Phật điện, Pháp đường... đáng gọi là Đại thiền sát của 1 dòng ở Trung quốc.

thiên đồng tự chí

(天童寺志) Cũng gọi Thiên cung. Đối lại: Địa ngục. Chỉ cho cung điện của các trời, là nơi hưởng phúc lạc mà những người tạo nghiệp thiện sau khi chết sẽ sinh về.

thiên đức bình

1) Bình chứa công đức của chư thiên: The vase of deva (divine) virtue, i.e. the bodhi heart, all that one desires comes from it. 2) Như Ý Châu: The talismanic pearl. 3) Thiên Ý Thụ: Mỗi cõi trời dục giới đều có một cây Thiên Ý, sanh ra tất cả những gì mà chư thiên mong muốn—The deva tree, the tree in each devaloka which produces whatever the devas desire.

thiên ương

See Tai Ương.

Thiên Ẩn Viên Tu

(天隱圓修, Tenin Enshū, 1575-1635): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Thiên Ẩn (天隱), xuất thân Nghi Hưng (宜興), Kinh Khê (荆溪, Tỉnh Giang Tô), họ Mẫn (閔). Năm 24 tuổi, ông xuất gia với Huyễn Hữu Chánh Truyền (幻有正傳) ở Long Trì Viện (龍池院), rồi được đại ngộ và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm thứ 4 (1620) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), ông đến trú tại Khánh Sơn (磬山), Thường Châu (常州, Tỉnh Giang Tô), và sau đó sống qua một số nơi như Pháp Tế Thiền Viện (法濟禪院), Báo Ân Thiền Viện (報恩禪院) ở Võ Khang (武康, Tỉnh Triết Giang), v.v. Đến ngày 23 tháng 9 năm thứ 8 niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), ông thị tịch, hưởng thọ 61 tuổi đời và 37 hạ lạp. Ông có để lại bộ Thiên Ẩn Hòa Thượng Ngữ Lục (天隱和尚語錄) 15 quyển. Trương Ngọc (張玉) soạn bài minh tháp của ông.

thiêng liêng

Sacred.

thiêu

1) Hỏa Thiêu: To cremate. 2) Thiêu Đốt: To burn.

thiêu chỉ

(燒指) Cũng gọi Nhiên chỉ. Đốt ngón tay, bày tỏ lòng tín ngưỡng chân thành. Trong Phật giáo có việc dùng thân thể để phát đại nguyện cứu khổ cứu nạn cho dân hoặc để cúng dường Phật. Thiêu chỉ chính là thuộc loại này, gọi là Thiêu chỉ cúng dường hoặc là Nhiên chỉ cúng dường. Cứ theo phẩm Dược vương bồ tát bản sự trong kinh Pháp hoa thì ở đời quá khi bồ tát Dược vương còn là bồ tát Nhất thiết chúng sinh hỉ kiến, ngài đã từng đốt thân để cúng dường Phật. Những trường hợp thiêu chỉ có thật như truyện kí về các ngài Tuệ bân đời Tùy trong Hoằng tán pháp hoa truyện quyển 7, ngài Tức trần đời Hậu Tấn trong Tống cao tăng truyện quyển 23, ngài Vô nhiễm đời Đường, ngài Tăng khánh đời Lưu Tống trong Lương cao tăng truyện quyển 12, ngài Pháp ngưng đời Nam Tề trong Tục cao tăng truyện quyển 27 và ngài Tăng thôi đời Bắc Chu đều có ghi hạnh thiêu chỉ cúng dường của các ngài.Về thiêu thân, thiêu chỉ đã gây ra nhiều tranh luận và có phái tán đồng, phái không tán đồng. Phái không tán đồng thì dẫn chứng phẩm Thích dược vương trong Pháp hoa văn cú quyển hạ nêu rõ qui định Người thiêu thân phạm tội Thâu lan giá, người thiêu chỉ phạm tội Đột cát la để chê trách việc thiêu thân. Còn phái tán đồng thì dẫn chứng kinh Phạm võng quyển hạ có nói người không thực hành thiêu thân không phải là Bồ tát xuất gia để bênh vực cho hạnh thiêu thân, thiêu chỉ.[X.Pháp hoa nghĩa sớ Q.11; Pháp hoa kinh tam đại bộ bổ chú Q.10; mục Thiêu thân bất hợp trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; mục Xả thân trong Thích thị yếu lãm Q.trung].

thiêu cứu địa ngục

Địa ngục đốt nóng, một trong bát đại nhiệt địa ngục—The burning, blistering hell, one of the eight great hot hells. ** For more information, please see Bát Đại Nhiệt Địa Ngục.

thiêu hương

Đốt hương cúng Phật, một trong năm loại cúng dường—To burn incense, one of the five kinds of offering. ** For more information, please see Ngũ Cúng Dường. ; (燒香) Phạm,Pàli:Dhùpana. Cũng gọi Niệm hương, Niệp hương, Phần hương, Chú hương. Đốt hương. Tức là đốt các loại hương trước tượng chư Phật, Bồ tát, Tổ sư. Ban đầu, ở Ấn độ, vì khí hậu rất nóng bức nên dân chúng đều thoa hương để trừ khử mùi hôi trên thân thể. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 30 thì lúc trời lạnh người ta thường đốt hương, còn thoa hương thì làm cả lúc trời nóng và trời lạnh. Về sau, thiêu hương được dùng trong các việc rước mời và cúng dường Phật, Bồ tát. Trong các kinh phần nhiều có ghi chép việc thiêu hương cúng dường. Theo kinh Du hành trong Trường a hàm quyển 2 thì vì Như lai mà xây cất nhà lớn sửa sang chỗ ở, đồng thời lau rửa, quét dọn và thiêu hương cúng dường. Theo phẩm Pháp sư công đức trong kinh Pháp hoa quyển 4, nếu người thụ trì, đọc tụng, hoặc giảng nói, viết chép kinh Pháphoa thì nên nhận các thứ cúng dường như hoa, hương, anh lạc, hương bột, hương hoa, hương đốt, phan lọng, cờ phướn, y phục, kĩ nhạc (10 thứ cúng dường)... Theo kinh Vô lượng thọ quyển hạ hành giả nên treo phan, đốt đèn, rải hoa,thiêu hương... hồi hướng các thứ cúng dường này để nguyện sinh về Tịnh độ cực lạc. Còn theo phẩm Phú na kì duyên trong kinh Hiền ngu quyển 6 (bản Tống, Nguyên, Minh) thì ông Phú na kì và người anh bưng lô hương cùng bước lên lầu cao, trông xa hướng về tinh xá Kì hoàn, thiêu hương cúng dường, nguyện cầu qui mệnh đức Phật và thánh tăng, kính xin đức Phật như mặt trời sáng chiếu soi đến đất nước của ông để khai ngộ cho chúng sinh ngu muội. Khói hương liền theo ý 2 người, nương hư không bay đến trên đỉnh đầu đức Thế tôn rồi kết tụ lại hợp thành 1 chiếc lọng khói. Theo kinh Đại nhật quyển 8 thì thiêu hương có ý nghĩa là đi đến khắp pháp giới, như khi hoa cây Thụ vương trên cõi trời nở thì mùi thơm tự nhiên bay khắp theo chiều gió xuôi cũng như ngược. Trong Mật giáo, hương được dùng cho 3 bộ Thai tạng giới có khác nhau. Theo phẩm Phân biệt thiêu hương trong kinh Tô tất địa yết ra quyển thượng thì Phật bộ đốt hương trầm thủy, Kim cương bộ đốt hương bạch đàn và Liên hoa bộ thì đốt hương uất kim. Hoặc trộnlẫn 3 thứ hương trên để dùng chung cho 3 bộ; hoặc chỉ dùng 1 thứ chung cho cả 3 bộ. Trong các loại hương thì loại được chế bằng nhựa của cây Thất lị phệ sắt tra ca, được dùng chung cho 3 bộ, cũng có thể dùng loại hương này cho chư Thiên; còn hương an tức thì dùng cho Dược xoa, hương huân lục dùng cho chư thiên và thiên nữ, hương chiết ra sa dùng cho Địa cư thiên, hương sa lạc sí dùng cho nữ sứ giả, hương càn đà ra sa dùng cho nam sứ giả... Bảy thứ hương như long não, càn đà ra sa, sa chiết ra sa, huân lục, an tức, sa lạc sí và thất lị phệ sắt tra ca được gọi chung là Thất giao hương(7 thứ hương chế bằng nhựa cây), là hương tốt hơn hết, trộn lẫn với nhau để đốt thì có thể dùng chung cho 9 loại (ba pháp: Tức tai, Tăng ích, Hàng phục của 3 bộ). Còn theo phẩm Thỉnh cúng dường trong kinh Nhuy hi da quyển trung thì trong pháp cúng dường phổ thông, phải dùng hương bạch đàn trộn lẫn với hương trầm thủy để cúng dường Phật bộ, dùng hương chế bằng nhựa của các thứ cây như cây Thi lợi tì sắt đa ca(Thất lị phệ sắt tra ca)... để cúng dường Liên hoa bộ, dùng hương hắc trầm thủy và an tức để cúng dường Kim cương bộ. Còn dùng các loại hương như: Bạch đàn, trầm thủy, long não, tô hợp, huân lục, thi lợi tì sắt đa ca, tát xà la sa, an tức, sa la chỉ, ô thi la, ma lặc ca, hương phụ tử, cam tùng, át già đá lí, bách mộc, thiên mộc, bát địa dạ... trộn chung với đường cát, gọi là Phổ thông hòa hợp, có thể tùy ý sử dụng cúng dường chư tôn.Cứ theo phẩm Phân biệt thiêu hương trong kinh Tô tất địa yết ra quyển thượng, thì vì các loại pháp tu có khác nhau, cho nên những thứ hương được đốt cũng bất đồng, như tu pháp Phiến để ca (pháp Tức tai)thì đốt hương viên (hương liệu được nghiền ra bột rồi vo lại thành viên), tu pháp A tì gia rô ca(pháp Hàng phục), phải đốt hương bột, tu pháp Bổ sắt trưng ca (pháp Tăng ích) cũng đốt hương viên. Cứ theo Phật đính tôn thắng đà la ni niệm tụng Nghi quĩ của ngài Tam tạng Bất không thì tu pháp Tức tai phải đốt hương trầm thủy, tu pháp Tăng ích phải đốt hương bạch đàn, tu pháp Hàng phục phải đốt hương an tức và tu pháp Kính ái thì phải đốt hương Tô hợp. Còn kinh Kim cương đính du già thiên thủ thiên nhãn Quán tự tại bồ tát tu hành nghi quĩ quyển hạ và Kim cương thọ mệnh đà la ni kinh pháp cũng có nói như trên. Ngoài ra, Mật giáo còn hợp chung 6 thứ: Hương đốt, nước trong(át già), hương thoa, tràng hoa, đèn sángvà thức uống ăn thành Lục chủng cúng dường. Trong Thiền lâm thiêu hương được gọi là niêm hương, hoặc chú hương. Trong pháp hội, người bưng hộp hương, gọi là Thiêu hương thị giả. Về cách thiêu hương thì điều Đường đầu tiễn điểm trong Thiền uyển thanh qui quyển 5 có nói rất rõ ràng. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.13; kinh Đại bát niết bàn Q.trung (bản 3 quyển); kinh Quán Phật tam muội hải Q.10; phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.2; kinh Thập nhất diện Quán tự tại bồ tát tâm mật ngôn niệm tụng nghi quĩ Q.thượng; Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.hạ; Tam hành hương chú nguyện pháp trong Tứ phần luật hành sự sao Q.hạ; điều Tây tự đầu thủ trong Sắc tuBách trượng thanh qui Q.4; mục Thụ trai pháp tắc trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1; Đại tống tăng sử lược Q.trung; Pháp uyên châu lâm Q.36]. (xt. Thướng Hương, Niêm Hương).

thiêu hương thị giả

(燒香侍者) Cũng gọi Thị hương. Thị giả phụ trách việc cầm hộp hương và thiêu hương, 1 trong 5 thị giả. Trong Thiền lâm, Thiêu hương thị giả có nhiệm vụ cầm hộp hương và đốt hương hành lễ trong pháp hội. Vị này còn kiêm cảviệc ghi chép pháp ngữ của vị Trụ trì trong các buổi thướng đường, tiểu tham, phổ thuyết, niệm tụng, tiết lạp, quải đáp... [X. Điều Tây tự đầu thủ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4, Thướng đường trong Thiền uyển thanh qui Q.2.

thiêu hủy

To destroy completely by fire—To burn down.

Thiệu Âu

(紹鷗, Jōō, 1504-1555): một trà nhân sống vào khoảng cuối thời đại Thất Đinh (室町, Muromachi), xưa kia họ Võ Điền (武田, Takeda), sau đổi sang họ Võ Dã (武野, Takeno), hiệu Nhất Nhàn Cư Sĩ (一閑居士), Đại Hắc Am (大黒庵). Ông đã từng theo học Trà Đạo với môn nhân của Châu Quang (珠光) là Tông Trần (宗陳), Tông Ngộ (宗悟), rồi tạo nên cốt cách của Wabicha và truyền lại cho Lợi Hưu (利休).

Thiếp

(帖): một loại danh thiếp dùng để đáp lễ qua lại trong ứng xử hằng ngày, như Thỉnh Thiếp (請帖, thiệp mời), Tạ Thiếp (謝帖, thiệp cám ơn), v.v. Có một số loại Thiếp thông dụng như: (1) Báo Thiếp (報帖), là loại thiệp dùng để thông báo; như trong Kinh Bản Thông Tục Tiểu Thuyết (京本通俗小說), phần Bồ Tát Man (菩薩蠻) có câu: “Kính đáo Tây Sơn Linh Ẩn Tự, tiên hữu báo thiếp báo tri, Trưởng Lão dẫn chúng tăng minh chung lụy cổ, tiếp Quận Vương thượng điện thiêu hương (逕到西山靈隱寺、先有報帖報知、長老引眾僧鳴鐘擂鼓、接郡王上殿燒香, đến thẳng Tây Sơn Linh Ẩn Tự, có thiệp thông báo trước, nên Trưởng Lão dẫn chúng tăng đánh chuông gióng trống, tiếp đón Quận Vương lên Chánh Điện dâng hương).” (2) Thỉnh Thiếp (請帖), thiệp dùng để cung thỉnh hay mời ai đó đến tham dự buổi lễ hay yến tiệc, v.v. (3) Tạ Thiếp (謝帖), thiệp bày tỏ sự tri ân sau khi đã hoàn thành xong một việc nào đó. (4) Bát Tự Thiếp (八字帖), xưa kia khi bàn chuyện hôn nhân, cả hai nhà gái và trai đều dùng tấm thiệp viết 8 chữ ngày giờ sinh, trao đổi qua lại để xem thử có xung khắc thế nào không; còn gọi là Bát Tự Toàn Thiếp (八字全帖), Canh Thiếp (庚帖). (5) Bái Thiếp (拜帖), thời xưa, đây là một tấm thiếp dùng thông báo đến thăm ai đó. Như trong tác phẩm Nghi Diệu (疑耀) quyển 4 của Trương Huyên (張萱) nhà Minh, phần Bái Thiếp Bất Cổ (拜帖不古) có giải thích rằng: “Cổ nhân thư khải vãng lai, cập tánh danh tương thông, giai dĩ mộc trúc vi chi, sở vị thứ dã; chí Tống thời, Vương Kinh Công cư Bán Sơn Tự, mỗi dĩ kim tất mộc bản tả kinh thư danh mục, vãng tự tăng xứ tá kinh; thời nhân toại dĩ kim tất bản đại thư thiếp, dĩ nhi khủng hữu tuyên tiết, hựu tác lưỡng bản tương hợp, dĩ phiến chỉ phong kỳ tế; cửu chi, kỳ chế tiệm tinh; kim chi Bái Thiếp dụng chỉ, cái khởi vu Hy Ninh dã (古人書啟往來、及姓名相通、皆以木竹為之、所謂刺也、至宋時、王荊公居半山寺、每以金漆木版寫經書名目、往寺僧處借經、時人遂以金漆版代書帖、已而恐有宣洩、又作兩版相合、以片紙封其際、久之、其製漸精…今之拜帖用紙、蓋起于熙寧也, người xưa thư từ qua lại, đến nỗi tên họ biết rõ nhau, đều lấy thẻ tre để viết vào, gọi là thứ; cho đến thời nhà Tống, Vương Kinh Công [tức Vương An Thạch, 1021-1086] từng sống ở Bán Sơn Tự, cứ mỗi lần lấy bản gỗ bằng sơn mạ vàng chép danh mục kinh, đều qua chỗ chư tăng ở để mượn kinh; do đó người đương thời bèn lấy bản gỗ sơn mạ vàng thay thế để viết thiệp, xong rồi sợ bị truyền lan ra, lại làm thành hai bản giống nhau, lấy giấy phong kín ở đầu bìa; trãi qua thời gian lâu, sự chế tạo dần dần tinh xảo …, loại giấy dùng cho Bái Thiếp ngày nay, vốn xuất phát từ thời Hy Ninh [1068-1077]).” (6) Báo Tang Thiếp (報喪帖) là tấm thiệp dùng trong tang lễ ngày xưa để thông báo cho bà con, thân hữu biết có người đã từ trần; khác với bản Cáo Phó. (7) Bảng Thiếp (榜帖, 牓帖) là tấm cáo thị để chiêu dụ bá tánh, hay là bảng niêm yết danh tánh của các thí sinh thi đỗ. Như trong bài Từ Tương Châu Bi (徐襄州碑) của Lý Chất (李騭) nhà Đường có câu: “Tê Bảng Thiếp tiên chí Giang Tây, an tồn bá tánh (齎榜帖先至江西、安存百姓, trước hết mang tấm Bảng Thiếp đến Giang Tây để làm yên lòng bá tánh).” Trong Công Văn Đàn Tràng, một số Thiếp được dùng như Tịnh Trù Thiếp (淨廚帖), Cấp Thủy Thiếp (汲水帖), Tứ Sanh Lục Đạo Thiếp (四生六道帖), Tam Bảo Thiếp (三寶帖), v.v.

thiếp

Phụ thêm vào—To add—To attach to.

thiếp khố

(貼庫) Giữ kho. Chỉ cho chức vụ phụ trách việc xuất, nhập các phẩm vật trong Thiền viện.[X. chương Lễ pháp trong Hoàng bá thanh qui].

thiếp sân

Daksina (skt)—Bố thí cúng dường—Offerings—Donations.

thiếp đan

(貼單) Chỉ cho việc công bố các chức sự và nhân viên thường trụ trong 1 ngôi chùa, được cử hành vào ngày 15 tháng 10 hàng năm. Trước hết, vịKhách đường và Duy na ghi tên và tuổi hạ của chúng tăng trong toàn chùa, dù đã ở lâu hay mới đến, rồi đưa nạp cho vị Trụ trì. Sau khi phân phối các chức vụ thì viết các chức vụ và pháp danh của chúng tăng nhậm chức thành đơn phiếu. Ngày 14 tháng 10, vị Khách đường treo bảng Thiếp đơn. Hôm sau, vị Trụ trì vào tăng đường nói pháp, dán thiếp đơn của vị Thủ tọa, các chức vụ còn lại thì do vị Duy na dán, thứ tự trước sau xếp theo chức sự lớn nhỏ và tuổi hạ nhiều ít.

thiết

1) Cắt—To cut—To carve. 2) Giả thiết: Suppose—Assume. 3) Sắt: Iron. 4) Thiết lập: To set up—To establish—To institute—To arrage.

thiết bát

Bát bằng sắt—Iron patra, or almsbowl. ; (鐵鉢) Bát được làm bằng sắt, 1 trong 6 vật dụng của tỉ khưu. Bát gọi đủ là Bát ta la (Phạm: Pàtra, Hán dịch là Ứng lượng khí), tức khí vật tùy theo thực lượng của mỗi người mà nhận thức ăn. Theo Phật chế định, tỉ khưu được dùng 2 loại bátlà bát đất nung và bát sắt, chỉ có Phật mới được dùng bát đá. (xt. Bát).

thiết bích cơ thiền sư ngữ lục

(鐵壁機禪師語錄) Gọi đủ: Khánh trung Thiết bích cơ thiền sư ngữ lục. Ngữ lục, 20 quyển, do ngài Thiết bích Tuệ cơ (1603-1668) thuộc tông Lâm tế soạn vào đời Minh,ngài Huyễn mẫnbiên tập lại và chùa Lăng nghiêm ở phủ Gia hưng, tỉnh Chiết giang tái bản vào đời Thanh. Nội dung bộ ngữ lục này gồm: Thướng đường, bỉnh phất, phổ thuyết, tiểu tham, thị chúng, trà thoại, pháp ngữ, cơ duyên, vấn đáp, tiên sách ngữ, Phật sự, tượng tán, tự tán, thi, tụng, kệ,liên phương, ca, minh, tụng cổ(niêm, biệt, bình, trưng, đại), tạp trứ, thư vấn, thỉnh khải, hành trạng,tháp minh, tế văn và phụ thêm Niên phổ 1 thiên. Đầu sách có bài tựa của Hùng nhữ học và lời dẫn của Hành hoằng ngộ soạn vào năm Sùng trinh 15 (1642) đời Minh. Bộ ngữ lục này có tính chất của 1 loại quảng lục, cho nên cũng thu chép tất cả bộ Thiết bích cơ thiền sư ngữ lực (bản 3 quyển) do Tam sơn Đăng lai biên tập và ấn hành vào nămSùng trinh 15 (1642).

thiết bích ngân sơn

(鐵壁銀山) Cũng gọi Ngân sơn thiết bích. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho vách sắt, núi bạc. Có 2 ý: Mô tả tính linh sẵn có của chúng sinh cao vòi vọi, giống như núi bạc, vách sắt khó có thể bám vào được. 2. Ví dụ hành giả tu thiền, khi đến 1 cảnh giới nào đó thì sinh khởi nỗi khổ không cách nào thấu thoát. Nghĩa là lúc hành giả đến trình độ này thì đã cảm nhận được chỗtận cùng của kĩ năng, nhưng không thể phá tan vách sắt, đạp lên núi bạc được. [X. Bích nham lục tắc 42; Thiên mục sơn Trung phong hòa thượng quảng lục Q.12].

Thiết Chi Đan

(切支丹): xem Cát Lợi Chi Đan (吉利支丹) bên trên.

thiết chuỷ trùng

(鐵嘴蟲) Trùng mồm sắt. Chỉ cho loại trùng độc trong địa ngục A tị. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 16 thì ở địa ngục A tị có loại trùng mồm sắt bò qua mũi của tội nhân mà vào, rồi ra ở chân; hoặc bò từ dưới chân vào rồi ra đàng mồm. [X.phẩm Bất thoái chuyển trong kinh Lục ba la mật đa].

thiết cơ địa ngục

(鐵機地獄) Địa ngục máy sắt. Nghĩa là địa ngục trong đó tội nhân bị trừng trị bằng máy sắt. Những kẻ bất hiếu với cha mẹ, chẳng kính sư trưởng, không nghe theo lời dạy bảo, giết hại chúng sinh... thì sau khi chết bị đọa vào địa ngục này. Ở đây có 1 chiếc giường sắt lớn, rộng 400 do tuần, trên giường có để muôn ức cái nỏ sắt, đầu mỗi nỏ sắt có trăm ức mũi dao nhọn. Tội nhân sau khi chết sinh trên chiếc máy sắt lớn, làm lay động những cái nỏ và vô lượng nỏ sắt đều cùng lúc căng dây, trăm nghìn mũi tên sắt bắn vào tim của tội nhân, trong khoảng thời gian 1 ngày 1 đêm, chết đi sống lại 600 ức lần. Chịu tội xong, lại sinh làm loài súc sinh, trải qua 500 đời, mới được sinh làm người, nhưng nghèo cùng, hèn hạ, sau gặp thiện tri thức mới phát tâm bồ đề. [X. kinh Quán Phật tam muội hải Q.5].

Thiết Cước Ứng Phu

(鐵脚應夫, Tekkyaku Ōfu, ?-?): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Tống, người vùng Thanh Lưu (清流), Trừ Châu (滁州, Tỉnh An Huy), họ là Tương (蔣). Ông nương theo Thừa Thái (承泰) ở Bảo Ninh Thiền Viện (保寧禪院) thuộc Phủ Giang Ninh (江寧府, Tỉnh Giang Tô) xuất gia và thọ Cụ Túc giới. Sau đến tham học với Thiên Y Nghĩa Hoài (天衣義懷) và kế thừa dòng pháp của vị này. Ban đầu ông đến trú tại Cam Lồ (甘露) ở Nhuận Châu (潤州, Tỉnh Giang Tô), kế đến là Sùng Phước Thiền Viện (崇福禪院) ở Trường Lô Sơn (長蘆山), thuộc Chơn Châu (眞州, Tỉnh Giang Tô). Ông được ban cho hiệu là Quảng Chiếu Thiền Sư (廣照禪師).

thiết giáp địa ngục

(鐵鉀地獄) Chỉ cho địa ngục, trong đó, tội nhân mình mặc áo giáp bằng sắt, không cử động được, đau đớn vô cùng.

thiết hoàn địa ngục

(鐵丸地獄) Địa ngục mà tội nhân bị trừng trị bằng cách bắt nuốt các viên sắt nóng. Những người hủy nhục sự bố thí, cho rằng bố thí không có quả báo, sẽ bị đọavào địa ngục này. Chu vi địa ngục này rộng 80 do tuần, trong đó có 88 tòathành sắt, trong mỗi thành sắt có 5 núi dao che phủ ở trên, phía dưới thì có 18 con rắn sắt rất độc, lưỡi nó phun ra kiếm sắt, đầu kiếm lửa cháy đỏ rực, tội nhân chết rồi sinh vào thành sắt, rắn sắt quấn thân, trên đầu lửa đốt, lại mưa xuống những viên sắt nóng lớn; từ đỉnh đầu vào, từ dưới chân ra. Chịu tội xong, lại sinh làm người nghèo cùng trơ trọi câm ngọng, sau gặp được thiện tri thức mới phát tâmbồ đề. [X.kinh Quán Phật tam muội hải Q.5].

thiết luân

Cakravala (skt). 1) Bánh xe bằng sắt: The iron wheel. 2) See Thiết Vi Sơn.

thiết luân vương

Người trị vì cõi Nam Diêm Phù Đề, một trong tứ Luân Vương—Iron-Wheel King, ruler of the South and of Jambudvipa, one of the four Cakravala kings. **For more information, please see Tứ Luân.

thiết lập

To found—To establish—To errect—To form—To constitute.

thiết lợi la

Sarira (skt)—Xá lợi—Relics or remains—See Xá Lợi.

thiết lợi phất đát la

Sariputra (skt)—See Xá Lợi Phất.

thiết ma lão tự ngưu

(鐵磨老牸牛) Cũng gọi làLưu thiết ma lão tự ngưu, Thiết ma đáo qui sơn, Qui sơn Lưu thiết ma.Tên công án trong Thiền lâm. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Qui sơn Linh hựu và Lão ni Lưu thiết ma. Bích nham lục tắc 24 (Đại 48, 165 thượng) ghi: Lưu thiết ma đến chỗ Qui sơn, ngài Qui sơn nói: Lão tự ngưu (con trâu cái già)đến đấy à? Lưu thiết ma hỏi: Mai đây, Đài sơn có đại hội trai, Hoà thượng có đến dự không? Qui sơn ngã mình nằm xuống, Thiết ma liền bỏ đi. Ngài Qui sơn thường tự xưng là trâu đực(thủy cổ ngưu), ở đây, ngài gọi Lão ni Thiết ma là trâu cái già, là đối chọi với cái mình tự xưng để khen Thiết ma có cơ phong ngang với mình chứ không tầm thường. Đối với câu hỏi của Thiết ma, ngài Qui sơn ngả mình nằm xuống thay vì trả lời là biểu thị sống trong trạng thái vô tâm; còn Thiết ma bỏ đi là biểu thị trạng thái về nhà yên ổn ngồi định. Trong lúc hỏi đáp, 2 người đều tự giữ phận mình, qua lại không ngại. Bởi vậy, công án này là hiển bày ý vị 2 người là tri âm cùng đắc cùng chứng. [X. Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.15; Liên đăng hội yếu Q.7; Ngũ đăng hội nguyên Q.9].

thiết nghĩ

To think.

thiết ngưu

(鐵牛) Trâu sắt, tương truyền do vua Vũ đúc ở ngoài thành phủ Thiểm, tỉnh Hà nam, Trung quốc, để phòng nước sông Hoàng gây lũ lụt, là thần thủ hộ của Hoàng hà. Thiền tông có từ ngữ Thiết ngưu chi cơ(máy trâu sắt), tức đại cơ dụng tự tại, thể thì bất động, còn dụng thì không dấu vết; cũng được sử dụng để hình dung tâm ấn của Phật là vô tướng. Bích nham lục tắc 38 (Đại 48, 175 hạ) nói: Tâm ấn của Tổ sư, hình dáng giống như máy trâu sắt.

thiết ngưu đạo cơ

(鐵牛道機) Cao tăng Nhật bản, thuộc tông Hoàng bá, người ở Thạch kiến (huyện Đảo căn), họ Đằng nguyên, tự Thiết ngưu, hiệu Tự mục tử. Sư từng đến nhiều nơi tìm thầy học đạo, sau qui y ngài Ẩn nguyên Long kì, đồng thời được ngài Mộc am Tính thao ấn kí. Sau đó, sư hết sức giúp đỡ việc khai sáng tông Hoàng bá, lại đi các nơi hoằng hóa, xây hơn 60 chùa viện. Năm Nguyên lộc 13 (1700) sư thị tịch, thọ 73 tuổi, được vua ban thụy hiệu Đại Từ PhổỨng Quốc Sư. Sư có các tác phẩm: Thất hội ngữ lục, Tự mục trích cảo, Thiết ngưu thiền sư ngữ lục.

thiết nhãn tạng

(鐵眼藏) Đại tạng kinh do Nhật bản khắc in, tức bản Hoàng bá, do ngài Thiết nhãn Đạo quang, thuộc tông Hoàng bá Nhật bản khắc bản(1669-1681) ở chùa Vạn phúc tại Vũ trị. Toàn tạng gồm 1618 bộ, 7334 quyển. Bản gỗ của bản này hiện còn được cất giữ ởviện Tháp đầu bảo tạng của chùa Vạn phúc, núi Hoàng bátạiVũ trị. (xt. Trung Văn Đại Tạng Kinh).

thiết nhãn đạo quang

(鐵眼道光) Cao tăng Nhật bản, thuộc tông Hoàng bá, người ở Phì hậu (huyện Hùng bản) họ Tá bá, hiệu Thiết nhãn. Sư xuất gia năm 13 tuổi, 26 tuổi đến tham yết ngài Ẩn nguyên Long kì, thờ ngài Mộc am Tính thao làm thầy. Về sau, sư dốc sức vào việc phiên dịch và khắc bản Đại tạng kinh ở viện Bảo tạng tại chùa Vạn phúc, đồng thời, sư đi các nơi khuyến hóa và nhận được nhiều sự giúp đỡ, trải qua hơn 10 năm phiên dịch và ấn loát Đại tạng kinh mới được hoàn thành, người đời gọi làThiết nhãn tạng, Hoàng bá bản tạng kinh, cũng nhân đó mà sư nổi tiếng ở trong nước. Năm Thiên hòathứ 2 (1682) sư thị tịch, thọ 53 tuổi, vua ban thụy hiệu Bảo Tạng Quốc Sư.

thiết quyết tử

(鐵橛子) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cây cọc sắt. TrongThiền lâm, từ ngữ này được chuyển dụng để chỉ cho việc không bám dính vào đâu được. Bích nham lục tắc 44 (Đại 48, 180 hạ) ghi: Ngài Hòasơn dạy rằng: Học tập gọi là Văn, tuyệt học gọi là Lân (Nạp tăng trong thiên hạ nhảy không ra khỏi, dùi sắt không có lỗ, một cây cọc sắt. [X.luận Vô tận đăng Q.thượng].

thiết quật địa ngục

(鐵窟地獄) Địa ngục hang sắt. Những kẻ tham lam keo kiệt, không bố thí cho cha mẹ, vợ con, người giúp việc trong nhà, bạn bè thân thuộc, coi sư trưởng như phân dơ... thì sau khi chết sẽ bị đọa vào địa ngục này. Đây là 1 núi sắt lớn, chu vi rộng 25 do tuần; trên núi có năm trăm vạn ức viên sắt nóng lớn, giữa núi lại có một trăm nghìn vạn dao kiếm. Tội nhân chết rồi, sinh trên núi lửa, trong hang thì trùng kiếm, trùng dao cắn rỉa tội nhân, khói hun mắt tội nhân, không trông thấy gì, sợ hãi chạy tứ tung, chịu khổ những viên sắt nóng bắn vào thân, núi sắt va vào đầu. Sau, sinh trong loài quỉ đói, cổ nhỏ như kim, bụng to như núi, khổ đau vô hạn. Nếu được sinh làm người thì nghèo cùng hèn hạ, sau được gặp thiện trí thức mới phát tâm bồ đề. [X.kinh Quán Phật tam muội hải Q.5].

thiết thành

Thành bằng sắt hay địa ngục—The iron city or the hell. ; (鐵城) Phạm:Aya#-pràkarà. Địa ngục thành sắt. Theo kinh luận chép thì nếu người không hiếu thuận với cha mẹ, không kính thờ sư trưởng, không sợ giới cấm, không sợ đời này, đời sau thì sau khi chết sẽ đọa vào địa ngục Thiết thành. [X.kinh Thiết thành nê lê].

thiết tháp

Tháp bằng sắt—Iron-stupa. ; (鐵塔) Tháp sắt. Tức chỉ cho tòa tháp sắt ở Nam Ấn độ, trong đó có cất chứa kinh Kim cương đính... Cứ theo Kim cương đính kinh nghĩa quyết thì sau khi đức Phật nhập diệt khoảng vài trăm năm, không một ai đã mở được tháp này. Về sau, có vị Đại đức (bồ tát Long mãnh) tụng trì chân ngôn Đại tì lô giá na, đồng thời được Phật Tì lô giá na hiện thân giảng nói niệm tụng pháp yếu, trì tụng thành tựu, nguyện mở tháp này. Trong 7 ngày, Đại đức đi quanh tháp niệm tụng, dùng 7 hạt cải trắng rải ở cửa tháp này, cửa tháp liền mở ra và ngài được thấy bộ kinh Kim cương đính quảng bản. Thuyết này do Tam tạng Kim cương trí truyền miệng, đệ tử của ngài là Trí tạng ghi vào Kim cương đính nghĩa quyết. Lại theo Giáo vương kinh khai đề, do ngài Không hải người Nhật soạn, thì kinh Kim cương đính và kinh Đại nhật đều do bồ tát Long mãnhtụng ra trong tháp sắt ở Nam Thiên trúc. Thuyết Thiết tháp tương thừa của Mật giáo cho rằngbồ tát Long mãnh mở cửa tháp sắt này và được kế thừa Mật giáo từ ngài Kim cương tát đỏa. Đông mật ở Nhật bản(Mật giáo do tông Chân ngôn của Nhật bản truyền)căn cứ vào thuyết của ngài Không hải, cho rằng kinh Kim cương đính và kinh Đại nhật đều được truyền nối từ bên trong thápsắt; còn Thai mật (Mật giáo do tông Thiên thai của Nhật bản truyền) thì dựa theo thuyết trong Lưỡng bộ đại pháp tương thừa sư tư phó pháp kí của ngài Hải vân mà chủ trương 2 bộ đều được truyền nối bên ngoài tháp sắt.

thiết thích lâm địa ngục

(鐵刺林地獄) Địa ngục rừng gai sắt. Những người phạm tội tà dâm phải đọa địa ngục này. Trong ngục này có cây gai lớn, trên có rắn độc, hóa làm người nữ hiền lành, xinh đẹp, cám dỗ tội nhân. Khi tội nhân leo lên cây này, thì gai đều tủa xuống đâm vào tội nhân. Nhưng lúc leo lên đến nơi thì người nữ hóa kia lại biếnthành thân rắn độc rất lớn, cắn phá đầu, bụng tội nhân, toàn thân bị đâm nát. [X.luận Đại trí độ Q.17].

thiết thưởng ca

Sasanka (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Thiết Thưởng Ca, quốc vương của xứ Karnasuvarna, người đã cố tình hủy hoại Bồ Đề Thọ thiêng liêng. Về sau ông bị Siladitya sát hại—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Sasanka, a king of Karnasuvarna, who tried to destroy the sacred Bodhidruma. Later he was destroyed by Siladitya.

thiết thắng

Một danh hiệu của Ngài Mã Minh Bồ Tát—A title of Asvaghosa Bodhisattva.

thiết thụ

Cây sắt—Không hy vọng nở hoa kết trái được—Iron tree. ; (鐵樹) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cây sắt. Dùng cây sắt không hoa, không quả để ví dụ sự diệu dụng của vô tâm, vô tác, dứt hẳn tư duy, phân biệt. Thiền tông dùng câu Thiết thụ khai hoa thế giới hương(cây sắt nở hoa thế giới thơm)để ví dụ tất cả vạn vật trong tận cùng pháp giới đều do sự diệu dụng của vô tâm, vô tác biến hiện ra. Không yêu ghét, không lấy bỏ, không mình người, không năng sở mà cõi thiên chân cứ tự nhiên rộngmở, đó là bản lai diện mục của thiết thụ, dùng đó để nói về hành tung không nhiễm ô, không tăm hơi, dấu vết của nạp tăng. Câu Thiết thụ khai hoa(cây sắt nở hoa)được xem như lí cố định, bất biến, nhưng thực ra thì có biến hóa. Nếu được phối với thể dụng thì thiết thụ là thể, khai hoa là dụng, biểu thị công dụng vô vi, vô tác, từ cái chết mà hiển hiện sự sống, từ tĩnh mà phát động. [X. Bích nham lục tắc 40].

thiết thực

Realistic.

thiết toả kim toả

(鐵鎖金鎖) Khóa sắt, khóa vàng. Ví dụ thân bị trói buộc. Tỏa là dụng cụ để trói buộc. Vàng (kim) sắt(thiết) phẩm chất có cao, thấp khác nhau, nhưng ý nghĩa mất tự do thì như nhau. Tức dù trói buộc bằng khóa vàng hay khóa sắt thì cũng là mất tự do. Ở đây, Thiết tỏa là dụ cho phiền não chướng hữu lậu, còn Kim tỏa thì dụ cho sở tri chướng vô lậu.

thiết trát

Sổ sách bằng sắt ở dưới âm phủ, dùng để ghi tội và công của mỗi người—Iron tablets in hades, on which are recorded each person's crimes and merits.

thiết trụ

Trụ sắt—The iron-pilar.

thiết tát la

(鐵薩羅) Vị tỉ khưuniđời Lưu Tống, người nước Sư tử (Tích lan). Năm Nguyên gia thứ 10 (433), Ni sư hướng dẫn 10 vị tỉ khưu ni đến Kiến khang (nay là Nam kinh), sáng lập giới đàn ở chùa Nam lâm, thỉnh ngài Tăng già bạt ma người Ấn độ làm Truyền giới sư, thụ giới Cụ túc cho hơn 300 ni chúng, mở đầu việc truyền giới đúng như pháp cho Ni giới Trung quốc. Tương truyền, chùa Thiết tát la đã được xây dựng ở Kiến khang để ghi nhớ việc này. [X. Lương cao tăng truyện Q.3; Tỉ khưu ni truyện Q.2].

thiết tật lê

(鐵蒺藜) Tiếng dùng trong Thiền lâm. I. Thiết Tật Lê. Tật lê làmộtloại cỏ thuốc, bò lan trên mặt đất, quả có 5 gai nhọn chìa ra. Thiết tật lê là một thứ vũ khí bằng sắt, hình dáng giống quả tật lê, dùng để chống kẻ địch. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được mượn dùng để chỉ cho sự dạy đạo nghiêm khắc của sư gia. Bích nham lục tắc 12 (Đại 48, 152 hạ) ghi: Vị tăng hỏi người Động sơn: Thế nào là Phật? Quả tật lê bằng sắt (thiết tật lê), nạp tăng trong thiên hạ nhảy không ra khỏi. II. Thiết tật lê. Gọi đủ: Lô sơn Biệt truyền thiền sư thiết tật lê. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Biệt truyền soạn vào đời Minh, các ngài Nguyên hiền và Nguyên hoảng biên tập. Nội dung sách này nêu rõ bản văn của 100 tắc trong bộ Bích nham lục, đồng thời có phụ thêm kệ tụng.

thiết tế

Biên tế của các vị Thiết Luân Vương—The boundary of the Cakravalas.

Thiết Tử Đan

(切死丹): xem Cát Lợi Chi Đan (吉利支丹) bên trên.

thiết vi kết tập

(鐵圍結集) Chỉ cho việc kết tập kinh Đại thừa ở núi Thiết vi. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 100 thì sau khi đức Phật nhập diệt, các vị Đại bồ tát như Văn thù, Di lặc... cùng ngài A nan vào núi Thiết vi kết tập các kinh Đại thừa, gọi là Bồ tát tạng. Nhưng đây có lẽ thuộc truyền thuyết từ khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi về sau. Về việc kết tập kinh Đại thừa còn có nhiều thuyết khác nhau. (xt. Kết Tập).

thiết vi sơn

Cakravala (skt)—Cakravada (skt)—Núi Thiết Vi hay núi sắt bao quanh thế giới. Núi Tu Di là trung tâm, bên ngoài có tứ châu, bảy núi và tám biển—The Iron Ring Mountain, supposed to encircle the earth, forming the periphery of a world. Mount Meru is the centre and between it and the Iron Mountains are four continents, seven metal-mountains and the eight seas. ; (鐵圍山) Phạm: Cakravàđa-parvata. Pàli:Cakkavàơa-pabbata. Cũng gọi Thiết luân vi sơn, Luân vi sơn, Kim cương sơn, Kim cương vi sơn. Thế giới quan Phật giáo lấy núi Tu di làm trung tâm, chung quanh có 8 núi và 8 biển bao bọc, dãy núi bao bọc ngoài cùng được cấu tạo bằng sắt, cho nên gọi là Thiết vi sơn, tức dãy núi phía ngoài Hàm hải bao bọc núi Tu di và 4 châu. Có thuyết cho rằng Tam thiên thế giới Đại Trung Tiểu đều có núi Thiết vi Đại Trung Tiểu bao quanh. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 133 thì chính giữa thế giới này là núi Tu di, do 4 thứ báu cấu tạo thành, chung quanh núi Tu di có 7 núi vàng từ Kiện đạt la đến Ni dân đạt la bao bọc, khoảng giữa mỗi núi đều có 1 biển, biển thứ 8 bao quanh núi Ni dân đạt la chính là Hàm hải (biển nước mặn), 4 châu Diêm phù nằm trong biển này. Chung quanh Hàm hải có núi bao bọc, giống như bức tường, nên gọi là Luân vi; lại vì núi này được cấu tạo bằng sắt nên cũng gọi là Thiết vi. [X. phẩm Diêm phù châu trong kinh Khởi thế Q.1; phẩm Địa ngục trong kinh Khởi thế Q.2; phẩm Số lượng trong luận Lập thế a tì đàm Q.2; phẩm Khí thế giới trong luận Chương sở tri Q.thượng]. (xt. Cửu Sơn, Bát Hải, Đại Thiết Vi Sơn).

thiết võng địa ngục

(鐵網地獄) Địa ngục lưới sắt. Tức địa ngục trong đó tội nhân bị trừng phạt bằng cách bắt nằm trên lưới sắt nóng, là nơi mà những chúng sinh giả dối, tàtâm dua nịnh, dùng thuật yêu mị mê hoặc người đời thì sau khi chết phải đọa vào. Địa ngục này có giăng 89 lớp lưới sắt, giữa mỗi lớp có trăm ức cây kim sắt, mỗi kim sắt có 1 cái nảy. Khi tội nhân chết, sinh vào lưới sắt, động đến cái nảy, lập tức trăm nghìn cây kim bắn vào lỗ chân lông của tội nhân. Cứ như thế xoay chuyển giữa các lớp lưới sắt, thoắt chết thoắt sống, đau đớn vô cùng. Khi hết tội, được sinh làm người, nhưng ở nơi biên địa, không có Phật pháp, cũng như sinh trong ác đạo; trải qua vô lượng kiếp mới được gặp thiện tri thức, dẫu được nghe Phật pháp nhưng tâm không hiểu rõ. [X.kinh Quán Phật tam muội hải Q.5].

thiết xí công đức

(設厠功德) Công đức làm nhà xí cho người ta dùng. Theo kinh Phân biệt nghiệp báo lược thì xây dựng nhà xí, quét dọn các thứ dơ bẩn khiến thân tâm thường thanh tịnh, nhờ đó xa lìa các cấu nhiễm, rốt ráo được an vui. Kinh Phúc điền nói rằng: Nhờ công đức thiết trí nhà xí thủa xa xưa mà nay đức Phật được đời đời thanh tịnh, các thứ nhơ nhớp không làm bẩn được, thức ăn tự tiêu hóa, không bị các bệnh về tiêu hóa. Còn Thích thị yếu lãm quyển hạ và kinh Hư không tạng thì nói rằng: Nếu người nào sám hối tội lỗi, dọn dẹp nhà xí 800 ngày thì trừ diệt sạch tội cấu. [X.kinh Tăng nhất a hàm Q.10].

thiết yếu nhứt

Most essentially.

thiết đa đồ lô

(設多圖盧) Phạm: Zatadru. Cũng gọi là Thiết đát đồ lô. Tên một đô thành ở phía đông nam nước Trách ca, BắcẤn độ. Theo Đại đường tây vực kí quyển 4 thì ở trong và ngoài vương thành này có 10 ngôi già lam, điện đường hoang vắng, rất ít chúng tăng, chỉ còn 1 tòa tháp cao hơn 200 thước (Tàu) do vua A dục xây dựng. Theo suy đoán thì nền thành xưa nằm về phía đông nam thành phố Lỗ đức hi nạp (Ludhiana) ở tỉnh Bàng già phổ (Punjab) hiện nay. Tên gọi thành phố này có lẽ đã y cứ vào tên cũ của sông Tát đặc nhật (Sutlej), 1 trong 5 con sông ở Bắc Ấn độ.

thiết đa đồ lư

Satadru (skt). 1) Sông Sutlej thuộc vùng bắc Ấn Độ: The River Sutlej in northern India. 2) Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Thiết Đa Đồ Lư là một vương quốc cổ về phía bắc Ấn Độ, nổi tiếng giàu khoáng sản. Vị trí chính xác của vương quốc nầy cho tới hiện nay vẫn chưa ai biết—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Satadru is an ancient kingdom in northern India, noted for its mineral wealth. Exact position is unknown.

thiết đô lô

(設都嚧) Phạm:Zatru. Hán dịch: Oán gia. Cũng gọi Thiết đổ lô, Thiết đốt rô, Xả đổ lô, Thước đổ lô, Sa nột rô, Tốt đổ hoán. Chỉ cho người kết oán với mình, gây oan hại đối với tất cả thiện pháp. KinhVô lượng thọ nói rằng: Oan gia trái chủ, đốt phá cướp giật. Kinh Di giáo thì nói: Bọn giặc phiền não thường rình rập hại người, còn hơn cả oan gia. [X. Hi lân âm nghĩa Q.6].

thiết địch đảo xuy

(鐵笛倒吹) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Huyền lâu Áo long thuộc tông Tào động Nhật bản soạn vào năm Thiên minh thứ 3 (1783). Nội dung sách này phỏng theo Bích nham lục, tuyển tập 100 tắc công án, có phần bình xướng và thêm tụng cổ. Quyển thượng thu chép 50 tắc từ Văn thù nhập môn đến Nghĩa trung thăng tòa; quyển hạ thu chép 50 tắc từ Bảo phúc Phật điện đến Qui sơn phương trượng...

thiết đổ lỗ

Satru (skt)—Kẻ thù—An enemy—A destroyer.

thiếu

1) To want—To lack—To be short of something. 2) Deficiency—Want—Lack. 3) To owe. 4) Almost—Nearly (thiếu chút nữa).

thiếu hụt

Shortage—Deficiency.

thiếu khang

(少康) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Tịnh độ, sống vào đời Đường, Tổ thứ 5 tông Tịnh độ, người ở núi Tiên đô tại Tấn vân (Chiết Giang), họ Chu. Sư xuất gia năm 7 tuổi, 15 tuổi thụ giới ở chùa Gia tường tại Việt châu, đọc nhiều kinh luận. Sau, nhân đọc bài Tây phương hóa đạo văn của ngài Thiện đạo ở chùa Bạch mã tại Lạc dương mà sư quyết tâm chuyên tu niệm Phật. Khi đi khất thực, sư thường được tiền, sư bảo trẻ con niệm A di đà Phật, cứ niệm 1 tiếng thì sư cho 1 đồng tiền; 1 năm sau, hễ nam nữ thấy sư đều niệm A di đà Phật. Sau sư đến núi Ô long tại Lục châu mở đạo tràng Tịnh độ nhóm họp chúng niệm Phật, mỗi lần sư niệm Phật 1 tiếng thì từ miệng sư bay ra 1 đức Phật, niệm 10 tiếng ra 10 đức Phật, người đương thời gọi sư là Hậu Thiện đạo.Năm Trinh nguyên 20 (805) sư thị tịch. Sư có các tác phẩm: Nhị thập tứ tán 1 quyển, Thụy ứng san truyện 1 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.25, Phật tổ thống kỉ Q.26; Liên tông bảo giám Q.4]. Ngài Thiếu khang

thiếu khang đại sư

Shao-Kang—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, Thiếu Khang Đại Sư là Liên Tông Ngũ Tổ. Ngài họ Châu, người đời nhà Đường, quê vùng Tiên Đô thuộc xứ Tấn Vân. Từ buổi sơ sinh, ngài lặng im không nói. Năm lên bảy tuổi, nhân lễ trai hội, ngài theo mẹ vào chùa lễ Phật. Bà chỉ Phật hỏi đùa cùng ngài rằng, “Con có biết đó là ai chăng?” Ngài bỗng nhiên ứng tiếng đáp rằng: “Đó là Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn.” Biết con có duyên lành đối với Phật pháp, song thân ngài liền cho phép ngài xuất gia. Ngài căn cơ và trí huệ rất linh mẫn, sau khi xuất gia đến năm 15 tuổi, ngài đã thông suốt năm bộ kinh điển. Niên hiệu Trinh Nguyên nguyên niên (năm đầu), đại sư đến viếng chùa Bạch Mã tại Lạc Dương. Thấy chỗ để kinh sách trong đại điện phóng ánh quang minh, ngài lại tìm xem thì thấy quang minh ấy phát xuất từ nơi tập văn Tây Phương Hóa Đạo của Hòa Thượng Thiện Đạo, ngài liền quỳ xuống khấn rằng: “Nếu tôi có nhân duyên với Tịnh Độ, xin nguyện cho tập văn nầy phóng quang minh thêm một lần nữa.” Ngài vừa dứt lời nguyện thì ánh sáng lại càng chiếu ra rực rỡ, trong ấy có ẩn hiện hình dạng các hóa Bồ Tát. Ngài chấp tay nói: “Kiếp đá có thể mòn, nguyện nầy thề không dời đổi.” Nhân đó đại sư đến Trường An, chiêm lễ di tượng của Hòa Thượng Thiện Đạo. Đang khi lễ, tượng của Nhị Tổ bỗng bay lên cao, bảo với ngài rằng: “Ông nên y theo lời dạy của ta mà phổ độ chúng sanh, ngày kia công quả đắc thành, sẽ được sanh về Cực Lạc.” Sau đó ngài đi ngang qua miền Giang Lăng, bỗng gặp một sư cụ bảo rằng: “Ông muốn hoằng hóa, nên sang qua xứ Tân Định, cơ duyên ở tại nơi đó.” Nói xong sư cụ biến mất. Sau thời gian ấy, đại sư đến Tân Định. Thấy người xứ nầy chưa biết niệm Phật là gì cả, ngài mới dùng phương tiện. Ban sơ ngài quyên tiền dẫn dụ trẻ con niệm Phật. Nếu đứa nào niệm được một câu thì ngài thưởng cho một đồng tiền. Như thế hơn một năm sau, không cần thưởng tiền nữa mà chúng cũng tự niệm. Về sau quen lần, lúc gặp đại sư, dù ở trong nhà hay ngoài đường, chúng cũng vẫn cứ niệm Phật. Từ đó nam, nữ, già, trẻ, bất cứ ai hễ gặp ngài đều niệm: “A Di Đà Phật.” Nhờ đó dân chúng trong vùng lần lượt phát tâm thờ cúng và niệm Phật rất nhiều. Thấy cơ duyên đã có phần thành thục, đại sư mới thành lập Tịnh Độ Đạo Tràng ở Ô Long, xây đàn tam cấp. Cứ đến ngày trai, vài ba ngàn thiện nam tín nữ đều họp lại đó để niệm Phật, nghe pháp. Mỗi khi thăng tòa, ngài chắp tay niệm Phật to tiếng thì đại chúng ở dưới đều xướng niệm hòa theo. Có lúc đại sư xưng một câu Phật hiệu, hội chúng thấy có một Đức Phật từ trong miệng ngài bay ra. Niệm đến mười câu, trăm câu, ngàn câu đều có mười, trăm, ngàn vị Phật bay ra, liên tiếp như xâu chuỗi. Đại sư bảo: “Quí vị đã được thấy Phật, chắc chắn đều sẽ được vãng sanh.” Mọi người nghe ngài nói như vậy đều có cảm niệm vui mừng, an ủi. Năm Trinh Nguyên thứ 21, vào tháng mười, đại sư họp chúng đệ tử Tăng Tục đến dặn bảo rằng: “Các vị nên phát tâm chán lìa cõi Ta Bà ác trược, khởi lòng ưa thích miền Tịnh Độ an vui mà cố gắng tu hành tinh tấn.” Giờ phút nầy ai thấy được quang minh của ta thì kẻ ấy mới thật là hàng đệ tử của ta. Nói xong, ngài phóng ra vài tia sáng lạ, đẹp, dài, rồi ngồi yên lặng mà thoát hóa. Đại chúng xây tháp thờ ngài ở Đài Nham, tôn hiệu của ngài là Đài Nham Pháp Sư—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, Shao-Kang was the Fifth Patriarch of Pureland Buddhism. His family's name was Châu. He was from T'ien-Do Mountain of the Tan-Van region, lived during the T'ang Dynasty. He remained mute from birth until he turned seven. Then during the celebation of Buddhist Memorial Day, he followed his mother to the temple to prostrate to Buddha. His mother pointed at the Buddha's statue and playfully asked him: "Do you know who that is?" He unexpectedly spoke for the first time: “That is the statue of Sakyamuni Buddha.” Knowing their son had a great destined connection with the Buddha-Dharma, his parents immediately allowed him to leave home to join the order. His intelligence and wisdom were extraordinary. After becoming a Bhiksu at the age of fifteen, he had completely understood and deeply penetrated the hidden meanings of the five collections of sutras. In the first year of the Trinh Nguyên reign period, he visited White Horse Temple at Luo-Yang. Seeing lights radiating from the collection of sutras kept in the prayer hall, he investigated and saw the source of light came from the written text, “Propagation of the Western Pureland's Teachings” written by the Great Venerable Master Shen-T'ao; he immediately knelt down and prayed: “If I have a special destiny with Pureland Buddhism, I ask for this book to emit light once more.” As soon as he finished his prayer, the luminous light from within the book became even brighter, clearer, and shone further; within it were appearances of various transformation Bodhisattvas. He put his palms together and said: “A 'rock kalpa' will wear down and come to pass, but this vow is unchanging and unwavering.” For this reason, he came to the Imperial Capital Ch'ang-An to pay homage and to prostrate to the statue of the Great Venerable Master Shen-T'ao sculptured by those before him. As he was in the process of prostrating himself, the statue of the Second Patriarch suddenly flew straight into the air, and spoke: “You should follow according to what I taught to help and guide sentient beings everywhere; one day when the fruit of your accomplishments ripens, you shall gain rebirth to the Ultimate Bliss World.” Thereafter, when he passed by the Jiang-Lang region, he encountered unexpectedly an elderly woman; she told him: “If you want to prostrate Buddhism, go to Tsin-Ting region; you are destined for that area.” Finished speaking, the elderly woman disappeared. Following this advice, he came to Tsin-Ting region. When he saw the local residents did not know what it meant to practice Buddha Recitation, he began making applications of a skillful means. In the beginning, he would “bribe” the children to recite Buddha's name. Whoever recited the Buddha's name one time, he would give that child one coin. He continued this practice, and over a year later, even if he did not give them money, the children continued to practice Buddha Recitation on their own. This practice became a natural habit, and eventually whenever seeing him, whether they were inside their houses or out playing on the streets, they continued to practice Buddha Recitation. From that time on, men, women, children, young, and old, no matter who they were, as soon as they saw him, they would put their hands together to recite respectfully “Amitabha Buddha.” Through his skillful means of transformation, gradually, many residents from the area began worshiping and practicing Buddha Recitation. Seeing the time was right, he established a Pureland Congregation at Ou-Lung Mountain, which was built three steps above the ground. Each time a vegeterian day came, several thousand good men and faithful women assembled there to pratice Buddha Recitation and to listen to the Dharma. Each time getting on the throne to preach the Dharma, he would loudly recite Buddha's name and then the great assembly would harmoniously follow him. Sometimes when he recited Buddha' name, with each recitation, the assembly would witness a Buddha soaring out of his mouth. If he recited ten, hundred, or thousand recitations, there would be ten, hundred, or thousand Buddhas soaring out of his mouth, continuously like counting prayer beads. The Great Master then taught: "Now that all of you have witnessed Buddha, you are guaranteed to gain rebirth.” Upon hearing him say this, everyone felt contented and satisfied. In October of the twenty first year of Trinh Nguyên reign period, the Great Master gathered all his disciples, ordained and lay, and instructed them: “Everyone must develop the mind to be tired of this Saha World of evils and turbidities, begin yearning for the blissful existence of the Pureland in order to cultivate with vigor and diligence. At this moment, if anyone is able to see my aura then such an individual is truly a disciple of mine.” After he spoke, several long, unique and beautiful beams of light from the Great Master's body shone and then he sat there silently to gain rebirth. The great assembly built a pagoda to worship the Great Master at Dai-Nham. They honored him with the title: “Dai-Nham Dharma Master.”

Thiếu Lâm Tự

(少林寺): còn gọi là Trắc Hỗ Tự (陟岵寺), là ngôi cổ sát nổi tiếng của trung quốc, ngôi tổ đình tiếng tăm lừng lẫy của Thiền Tông, nơi phát xuất công phu Thiếu Lâm; hiện tọa lạc tại Huyện Đăng Phong (登封縣), sườn núi phía Tây Tung Sơn (嵩山), Tỉnh Hà Nam (河南省); thuộc một trong Ngũ Nhạc (五岳). Chùa được vua Hiếu Văn Đế (孝文帝, tại vị 471-499) kiến lập vào năm thứ 19 (495) niên hiệu Thái Hòa (太和) nhà Bắc Ngụy (北魏), cho vị cao tăng người Thiên Trúc là Phật Đà (佛陀). Vị này từng dịch kinh ở tại đây, rồi Đạo Phòng (道房), Đạo Bằng (道憑), hay Phật Quang (佛光), Tăng Trù (僧稠), Bồ Đề Lưu Chi (s: Bodhiruci, 菩提流支, 562-727), Lặc Na Ma Đề (s: Ratnamati, 勒那摩提, ?-?), Huệ Viễn (慧遠, 523-592) của Tịnh Ảnh Tự (淨影寺), Huyền Trang (玄奘, 602-664), v.v., cũng đã từng dừng chân tại chùa này. Bồ Đề Đạt Ma (s: Bodhidharma, 菩提達磨) đã từng quay mặt vào tường chùa 9 năm, và truyền thuyết Huệ Khả (慧可, 487-593) chặt tay dâng cho Đạt Ma để cầo đạo cũng phát xuất từ Thánh địa này. Sau đó, bốn phương tăng chúng quy tụ về đây để tu tập theo Thiền phong của Đạt Ma, nên chùa đã từng một thời cực thịnh. Tuy nhiên, chùa lại gặp phải tai ách Bài Phật Phế Thích của vua Võ Đế (武帝, tại vị 560-578) nhà Bắc Chu (北周), nên ngôi già lam dã bị phá hủy tan tành. Đến thời nhà Tùy, chùa được phục hưng lại, đổi tên thành Trắc Hỗ Tự; song đến thời vua Văn Đế (文帝, tại vị 581-604) nhà Tùy, chùa được đổi tên lại như xưa. Từ thời Nam Bắc Triều (南北朝, 420-589) cho đến đầu thời nhà Đường (唐, 618~907), nơi đây đã từng là căn cứ địa của Đạo Giáo. Vào khoảng cuối niên hiệu Đại Nghiệp (大業, 605-616), chùa lại bị sơn tặc đốt cháy tan tành, may thay còn sót lại các ngôi linh tháp. Dưới thời nhà Đường, chùa được sự sùng kính của Cao Tông (高宗, tại vị 649-683) cũng như Tắc Thiên Võ Hậu (則天武后, tại vị 684-705), nên ngôi già lam được trùng hưng, chỉnh đốn lại toàn bộ. Sau đó, đến cuối thời nhà Đường, do vì loạn Ngũ Đại mà chùa lại bị suy vong; nhưng vào năm 1245, vâng mệnh vua Thế Tổ (世祖, tại vị 1260-1294) nhà Nguyên; Tuyết Đình Phước Dụ (雪庭福裕, 1203-1275) đến trú trì nơi đây và phục hưng lại chùa rất nhiều. Đệ tử ông có có các vị đã từng trú trì tại đây như Linh Ẩn Văn Thái (靈隱文泰), Cổ Nham Phổ Tựu (古巖普就), Tức Am Nghĩa Nhượng (卽菴義讓), Thuần Chuyết Văn Tài (淳拙文才), Ngưng Nhiên Liễu Cải (凝然了改), Câu Không Khế Bân (倶空契斌), Huyễn Hưu Thường Nhuận (幻休常潤), Vô Ngôn Chánh Đạo (無言正道), Tâm Duyệt Tuệ Hỷ (心悅慧喜), v.v. Sau đó vào năm 1735, vua Thế Tông (世宗, tại vị 1722-1735) nhà Thanh lại cho trùng tu chùa. Hiện tại, quần thể kiến trúc chùa có Sơn Môn, Thiên Vương Điện, Đại Hùng Điện, Bạt Đà Điện, Diêm Vương Điện, v.v. Ở bên phải phía Tây chùa có tảng đá Diện Bích của Đại Sư Đạt Ma; tại địa điểm cách chùa 3 dặm có Am Diện Bích. Trong khuôn viên chùa có rất nhiều ngôi tháp, văn bia của các vị vua của nhiều triều đại, cũng như của bao nhân vật nổi tiếng ngày xưa.

Thiếu Lâm tự

少林寺; C: shàolín-sì; J: shōrin-ji;|Một ngôi chùa nổi danh nằm trên ngọn Thiếu Thất thuộc dãy Tung sơn. Chùa này do vua Hiếu Văn Ðế nhà Hậu Nguỵ xây dựng cho một vị sư là Phật-đà Thiền sư người Thiên Trúc (Ấn Ðộ). Ðầu thế kỉ thứ 6, Bồ-đề Lưu-chi có dừng chân tại đây và phiên dịch rất nhiều kinh sách. Sau, Bồ-đề Ðạt-ma cũng đến đây vì Ngài thấy thời hoằng hoá chưa đến. Tương truyền rằng, Bồ-đề Ðạt-ma lưu lại đây chín năm và trong thời gian này chỉ xoay mặt vào tường Toạ thiền.|Bây giờ khi nhắc đến Thiếu Lâm tự, người ta chỉ thường nghĩ đến những môn võ công của chùa này. Theo truyền thuyết thì võ công, một dạng của khí công được các vị Cao tăng tại đây sáng tạo và phát triển. Câu chuyện sau đây thường được nhắc lại khi nói đến võ công chùa Thiếu Lâm: »Một hôm, chùa bị giặc Hoàng Cân tấn công, tăng chúng sợ quá muốn tan. Chợt có một vị tăng cao tuổi làm đầu bếp múa gậy chạy ra bảo chúng ›Các vị chớ lo, Lão tăng chỉ một gậy là đuổi chúng chạy hết‹. Nghe như vậy ai cũng phì cười vì cho là nói khoát. Vị tăng đó liền múa gậy xông vào đám giặc, tên nào bị ăn gậy đều kinh khiếp chạy loạn. Cuối cùng giặc tan, vị tăng này truyền lại cho chúng võ nghệ rồi sau đó ẩn mất. Người sau cho rằng đó là hiện thân của Khẩn-na-la Phật.«

thiếu lâm tự

Một trong những đại tự viện ở Trung Quốc, nơi Tổ Bồ Đề Đạt Ma ngồi diện bích trong 9 năm—One of the great monasteries in China, where Bodhidharma sat with his face to a wall for nine years. ; (少林寺) I. Thiếu Lâm Tự. Chùa nằm dưới ngọn Ngũ nhũ, chân núi phía bắc núi Thiếu thất, ở phía tây bắc huyện Đăng phong, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, do vua Hiếu văn đế nhà Bắc Ngụy xây dựng vào năm Thái hòa 20 (496, có thuyết nói năm Thái hòa 21) để cúng dường Thiền sư Phật đà người Thiên trúc. Thời Thiền sư Phật đà, ở phía tây chùa có xây tháp xá lợi, phía sau tháp, xây Phiên kinh đài. Không bao lâu, có ngài Lặc na ma đề đến chùa này phiên dịch kinh luận. Năm Hiếu xương thứ 3 (527), ngài Bồ đề đạt ma người Ấn độ đến chùa này, ngồi xoay mặt vào vách mà tu định 9 năm, truyền pháp cho ngài Tuệ khả, sáng lập Thiền tông, sử gọi ngài Đạt ma là Sơ tổ của Thiền tông Trung quốc, chùa Thiếu lâm là Tổ đình. Từ đó, tăng tục nhóm họp rất đông, thiền pháp hưng thịnh. Sau Thiền sư Phật đà, đệ tử ngài là Tăng trù trụ trì chùa này. Sau vì pháp nạn bài Phật của Vũ đế nhà Bắc Chu xảy ra trong năm Kiến đức nên chùa đã bị phá hủy. Trong năm Đại tượng, Tĩnh đế xây dựng lại chùa, đặt tên là Trắc hỗ tự(chùa nhớ đến cha, tức Vũ đế) và thờ 120 vị Bồ tát tăng. Đời Tùy, vua Văn đế ban sắc khôi phục tên cũ(nhưng có thuyết nói Văn đế đổi tên là Trắc hỗ, đời Đường mới lấy lại tên Thiếu lâm). Đến cuối năm Đại nghiệp đời Tùy, trừ ngôi Linh pháp, còn toàn chùa đều bị bọn giặc núi phá hủy. Đầu đời Đường, chúng tăng chùa Thiếu lâm có công giúp Thái tông dựng nước, từ đó, chúng tăng thường luyện tập quyền thuật, Thiền tông và quyền thuật Thiếu lâm trở nên nổi tiếng, được lưu truyền rất rộng. Vua Cao tông và Vũ hậu Tắc thiên đều rất sùng kính, sửa sang cảnh chùa Thiếu lâm trang nghiêm thanh tịnh. Về sau, trải qua các cuộc chiến loạn ở cuối đời Đường đầu thời Ngũ đại, vận chùa dần dần sa sút. Năm Thuần hựu thứ 5 (1245) đời Nam Tống, ngài Tuyết đình Phúc dụ vâng mệnh vua Thế tổ đến trông nom chùa, xây dựng cổng chùa, các vị đệ tử của ngài là Linh ẩn Văn thái, Cổ nham Phổ tựu, Tức am Nghĩa nhượng, Thuần chuyết Văn tài... nối tiếp nhau trụ trì, mỗi vị đều chấn hưng Thiền phong, truyền thừa chính mạch Chùa Thiếu lâm Tháp lâm– mộ tháp ở bên ngoài cổng chùa Thiếu lâmĐộng thượng. Năm Ung chính 13 (1735) đời vua Thế tông nhà Thanh, chùa được trùng tu. Vào cuối đời Đường đầu thời Ngũ đại, chùa Thiếu lâm thuộcvềtông Lâm tế, từ các đời Kim, Nguyên về sau lại trở thành đạo tràng của tông Tào động, đến nay vẫn thế. Năm Dân quốc 18 (1929), bọn quân phiệt Phùng ngọc tường, Phàn chung tú... xua quân lính đến cướp phá, chùa hầu như bị hủy hoàn toàn. Năm Dân quốc 21 (1932), các ông Lâm sâm, Đới truyền hiền, Đỗ nguyệt sênh... góp công của trùng tu. Hiện nay trong chùa còn các kiến trúc như: Cổng chùa (Tam quan), nhà khách, đình Đạt ma, điện Bạch y, điện Địa tạng, điện Thiên Phật... Điện Thiên Phậtcũng gọi gác Tì lô, trong có bức bích họa vẽ 500 vị La hán triều bái đức Phật Tì lô giá na, rộng khoảng hơn 300m2, là tác phẩm đời Minh. Trong điện Bạch y có bức vẽ quyền phổ chùa Thiếu lâm và 13 vị tăng cứu vua Đường, là tác phẩm đời Thanh. Đình Đạt ma là nơi ngài Tuệ khả chặt cánh tay đứng trên tuyết để chờ đợi Tổ Đạt ma truyền pháp, cho nên cũng gọi là Lập tuyết đình. Am Sơ tổ và am Nhị tổ đều ở gần đó. Trong chùa vẫn còn bảo tồn được nhiều thạch khắc, nổi tiếng thì có: Tần vương cáoThiếu lâm tự chủ giáo bi, Vũ hậu thi thư bi, Linh vận Thiền sư công đức tháp minh, Tức am thiền sư bi... [X. Tục cao tăng truyện Q.4, 16; Quảng hoằng minh tập Q.10; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.9; Cảnh đức truyền đăng lục Q.3, 4; Thích thị kê cổ lược Q.2; Tục đăng tồn cảo Q.11; Thiếu lâm tự chí, Ngụy thư Q.114]. II. Thiếu Lâm Tự. Chùa ở dưới ngọn Tử cái thuộc dãy Bàn sơn, nằm về phía bắc huyện Kế, tỉnh Hà bắc, Trung quốc, được xây dựng trong năm Chí chính (1341-1367) đời Nguyên. Trên núi phía đông chùa có nhiều bảo tháp; trên núi phía tây chùa có động Hoa nghiêm rất nổi tiếng.

thiếu lâm vô khổng địch

(少林無孔笛) Gọi đủ:Đông dương Hòa thượng thiếu lâm vô khổng định. Cũng gọi Đông dương Hòa thượng ngữ lục.Ngữ lục, 6 quyển, do ngài Đông dương Anh triều (1428- 1540) thuộc tông Lâm tế Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 81. Nội dung sách này thu chép các pháp ngữ thướng đường, tiểu tham, thị chúng, Phật sự, kệ tụng, tượng tán, đạo hiệu, tạp trứ... do Hòa thượng Đông dương giảng tại các chùa: Long hưng, Đại đức, Diệu tâm, Thụy tuyền, Thiếu lâm, Định tuệ, Đại tiên... Vô khổng địch(ống sáo không có lỗ) chỉ cho cảnh giới giác ngộ của Thiền tông, không thể dùng văn tự hay ngôn ngữ để truyền đạt, giống như ống sáo không có lỗ thì không cách nào thổi được. Ngoài ra, còn có Thiếu lâm vô khổng địch khảo chứng 1 quyển, do ngài Vô trước Đạo trung soạn. Cổng chùa Thiếu lâm THIẾU THẤT LỤC MÔN TẬP Cũng gọi Tiểu thất lục môn. Tác phẩm,1 quyển, do ngài Bồ đề đạt ma soạn vào đời Lương, được thu vào Đại chính tạng tập 48. Nội dung sách này nói về yếu chỉ của Thiền gia, chia làm 6 môn: Tâm kinh tụng, Phá tướng luận, Nhị chủng nhập, An tâm pháp môn, Ngộ tính luận và Huyết mạch luận. Ngoại trừ thiên thứ 3 (Nhị chủng nhập), 5 thiên còn lại có lẽ do người đời sau ngụy tạo. [X. Thiền tịch chí Q.thượng].

thiếu lâm võ (vũ) nghệ

Một vị Tăng từng là đầu bếp của chùa Thiếu Lâm, đã được coi như là người chỉ dùng gậy ba thước mà dẹp tan được loạn Hoàng Cân (Khăn Vàng); tên ngài được đặt cho trường phái võ Thiếu Lâm, mà về sau nầy có 13 vị có công giúp nhà Đường dẹp loạn Vương Thế Sung—Shao-Lin Wu-I, a cook of the Shao-Lin monastery, who is said single-handed to have driven off the Yellow Turban rebels with three-foot staff, and who was posthumously rewarded with the rank of “general”; a school of adepts of the quarter-staff was called after him, of whom thirteen were far-famed.

thiếu nhi

Young child.

thiếu niên

Young man.

thiếu năng lực

Unqualified.

thiếu nợ

To be in debt.

thiếu nữ

Young girl.

thiếu sót

Deficiency.

thiếu sống động

Lifeless

thiếu thất sơn

(少室山) Cũng gọi Quí thất sơn, Phụ thử sơn, Ngự trại sơn, Ngự tái sơn. Núi nằm về phía tây bắc huyện Đăng phong, tỉnh Hà nam, Trung quốc, là ngọn phía tây của Tung sơn, đối diện với núi Thái thất, nhưng nhỏ hơn. Núi cao 2752m, dưới chân núi có thạch thất, đồng thời có 36 ngọn như Triêu nhạc, Vọng lạc, Thái dương, Thiếu dương, Bạch lộc... Vua Hiếu văn đế nhà Bắc Ngụy từng xây chùa cúng dường Thiền sư Phật đà người Thiên trúc ở chân núi phía bắc Thiếu thất, tức chùa Thiếu lâm. Về sau, ngài Bồ đề đạt ma và Tuệ khả đều trụ ở chùa này, Thiền pháp rất thịnh, là ngôi chùa nổi tiếng nhất trong các chùa ở Tung sơn. [X. Tam tài đồ hội Tung nhạc đồ khảo; Cổ kim đồ thư tập thành sơn xuyên điển 56-62].

thiếu thốn

Privation—Want—Lack.

thiếu thời

Early youth.

thiếu thực phẩm

Insufficient food.

thiếu từ bi

Lack of compassion.

thiếu độ lượng

Intolerance—Intolerance is the greatest enemy of any one.

Thiềm quang

(蟾光): tức chỉ cho ánh sáng mặt trăng, vì trong văn hóa cổ đại của Trung Quốc thường lấy con thiềm thừ (蟾蜍, con cóc) để thay thế cho mặt trăng. Cho nên cổ nhân thường dùng từ “ngân thiềm quang mãn (銀蟾光滿, trăng bạc sáng tròn).” Đạo Giáo Trung Quốc dùng chữ thiềm quang để chỉ cho huệ quang (慧光, ánh sáng trí tuệ); còn Khí Công thì chỉ cho ánh sáng vàng ròng. Trong bài thơ Khê Thượng Nguyệt (溪上月) của thi tăng Kiểu Nhiên (皎然, ?-?) nhà Đường có câu: “Thiềm quang tán phố tự, tố ảnh động luân liên (蟾光散浦溆、素影動淪漣, ánh trăng tan bến nước, bóng trắng động sóng chìm).” Hay như trong bài từ Tình Cửu Trường (情久長) của Lữ Vị Lão (呂渭老, ?-?) nhà Tống có đoạn: “Tuế hoa mộ, thiềm quang xạ tuyết, bích ngõa phiêu sương, trần bất động, hàn vô tế (歲華暮、蟾光射雪、碧瓦飄霜、塵不動、寒無際, dịp cuối năm, ánh trăng bắn tuyết, ngói biếc bay sương, bụi chẳng động, lạnh vô cùng).” Trong bài Túy Bồng Lai Cửu Nguyệt Thập Bát Nhật Tây Quắc Lưu Thị Tiếu (醉蓬萊九月十八日西虢劉氏醮) của Khưu Xứ Cơ (丘處機, 1148-1227) nhà Nguyên có câu: “Nhạn ảnh trầm sa, thiềm quang chiếu dạ, huân huân đồng túy (雁影沉沙、蟾光照夜、醺醺同醉, bóng nhạn chìm cát, ánh trăng chiếu đêm, vui vẻ say mèn).” Bản Tiêu Thích Kim Cang Kinh Khoa Nghi Hội Yếu Chí Giải (銷釋金剛經科儀會要註解, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 24, No. 467) quyển 7 cũng có đoạn: “Thanh sơn lục thủy, dữ ngã hà thù, kim sanh Lệ thủy, thiềm quang mãn thái hư (青山綠水、與我何殊、金生麗水、蟾光滿太虛, núi xanh nước biếc, cùng ta khác gì, vàng sanh sông Lệ, ánh trăng khắp hư không).” Hoặc như trong Chứng Đạo Ca Tụng (證道歌頌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1291) lại có câu: “Lục Độ vạn hạnh thể trung viên, chân thể vô lao biện đồng biệt, vạn thủy thiềm quang nhậm khứ lưu, kiểu kiểu thiên tâm duy nhất nguyệt (六度萬行體中圓、眞體無勞辨同別、萬水蟾光任去留、皎皎天心唯一月, Sáu Độ muôn hạnh thể tròn đầy, thật thể chẳng cần phân khác giống, muôn dòng trăng sáng mặc cuốn trôi, vằng vặc giữa trời trăng một đóa).”

Thiền

禪; hoặc Thiền-na (禪那); S: dhyāna; P: jhāna; C: chánnà, chán; J: zenna, zen; Anh ngữ: medita-tion; cũng được dịch nghĩa là Tĩnh lự (靜慮);|Một danh từ được nhiều tôn giáo sử dụng để chỉ những phương pháp tu tập khác nhau, nhưng với một mục đích duy nhất là: đạt kinh nghiệm »Tỉnh giác«, »Giải thoát«, »Giác ngộ.« Trong những trường phái tu tập mật giáo – »mật« (e: esoteric) ở đây có nghĩa là tu tập để tự đạt kinh nghiệm tỉnh giác, không để ý đến những cái rườm rà bên ngoài của tôn giáo, có thể gọi là »bí truyền« – các vị tiền nhân đã nghiên cứu và phát triển những con đường khác nhau thích hợp với cá tính, căn cơ của từng người để đạt đến kinh nghiệm quý báu nói trên. Nếu người ta hiểu »Tôn giáo« là câu trả lời, giải đáp cho những cái »không hoàn hảo«, »không trọn vẹn«, cái »bệnh« của con người thì Thiền chính là liều thuốc trị những bệnh đó.|Dấu hiệu chung của tất cả các dạng tu tập Thiền là sự hướng dẫn con người đạt một tâm trạng tập trung, lắng đọng, như là một hồ nước mà người ta chỉ có thể nhìn thấu đến đáy nếu mặt nước không bị xao động. Tâm trạng bình yên, lắng đọng này có thể đạt được qua nhiều cách khác nhau như luyện tập uốn nắn thân thể theo Ha-tha Du-già (s: haṭhayoga), sự tập trung vào một tấm tranh, một Thăng-ka hoặc âm thanh như Man-tra, một Công án…|Ý chí cương quyết tu tập Thiền sẽ dẫn hành giả đến một tâm trạng Bất nhị, nơi mà những ý nghĩ nhị nguyên như »ta đây vật đó« được chuyển hoá; hành giả đạt sự thống nhất với »Thượng đế«, với cái »Tuyệt đối«, những khái niệm về không gian và thời gian đều được chuyển biến thành cái »hiện tại trường hằng«, hành giả chứng ngộ được sự đồng nhất của thế giới hiện hữu và bản tính. Nếu kinh nghiệm này được trau dồi thâm sâu và hành giả áp dụng nó vào những hành động của cuộc sống hằng ngày thì đó chính là trạng thái mà tất cả những tôn giáo đều gọi chung là »Giải thoát«.|Tiến sĩ khoa tâm lí học kiêm Thiền sư người Anh David Fontana viết tóm tắt rất hay về Thiền và Phi thiền: »Thiền không có nghĩa là: ngủ gục; để tâm chìm lặng vào cõi hôn mê; trốn tránh, xa lìa thế gian; vị kỉ, chỉ nghĩ tới mình; làm một việc gì không tự nhiên; để rơi mình vào vọng tưởng; quên mình ở đâu. Thiền là: giữ tâm tỉnh táo, linh động; chú tâm, tập trung; nhìn thế giới hiện hữu rõ ràng như nó là; trau dồi tấm lòng nhân đạo; biết mình là ai, ở đâu.«|Theo đạo Phật, hành giả nhờ Ðịnh (s: samā-dhi) mà đạt đến một trạng thái sâu lắng của tâm thức, trong đó toàn bộ tâm thức chỉ chú ý đến một đối tượng thiền định thuộc về tâm hay vật. Tâm thức sẽ trải qua nhiều chặng, trong đó lòng tham dục dần dần suy giảm. Một khi hành giả trừ Năm chướng ngại (s: nīvaraṇa) thì đạt được bốn cõi thiền (Tứ thiền định) của sắc giới (s: rūpadhātu; xem Ba thế giới), đạt được Lục thông (s: abhijñā) và tri kiến vô thượng. Tri kiến này giúp hành giả thấy rõ các đời sống trước của mình, thấy diễn biến của sinh diệt và dẫn đến giải thoát mọi Ô nhiễm (s: āśrava). Hành giả đạt bốn cõi thiền cũng có thể chủ động tái sinh trong các cõi Thiên (deva) liên hệ.|Trong giai đoạn một của thiền định, hành giả từ bỏ lòng tham dục và các pháp bất thiện, nhờ chuyên tâm suy tưởng mà đạt đến. Trong cấp này, hành giả có một cảm giác hỉ lạc. Trong giai đoạn hai, tâm suy tưởng được thay thế bằng một nội tâm yên lặng và tâm thức trở nên sắc sảo bén nhọn, xuất phát từ sự chú tâm quán sát. Hành giả tiếp tục ở trong trạng thái hỉ lạc. Qua giai đoạn ba, tâm hỉ lạc giảm, tâm xả bỏ hiện đến, hành giả tỉnh giác, cảm nhận sự nhẹ nhàng khoan khoái. Trong giai đoạn bốn, hành giả an trú trong sự xả bỏ và tỉnh giác.|Tại Trung Quốc, Thiền có một ý nghĩa rộng hơn rất nhiều. Nó bao gồm tất cả phép tu như quán niệm hơi thở (p: ānāpānasati), Bốn niệm xứ (p: sa-tipaṭṭhāna)… với mục đích nhiếp tâm và làm tâm tỉnh giác. Từ phép Thiền do Bồ-đề Ðạt-ma truyền, Thiền Trung Quốc đã phát triển rất mạnh (Thiền tông).|Trong một ý nghĩa bao quát, Thiền cũng không phải là những phương pháp đã nêu trên. Thiền là một trạng thái tâm thức không thể định nghĩa, không thể mô tả và phải do mỗi người tự nếm trải. Trong nghĩa này thì Thiền không nhất thiết phải liên hệ với một tôn giáo nào cả – kể cả Phật giáo. Trạng thái tâm thức vừa nói đã được các vị thánh nhân xưa nay của mọi nơi trên thế giới, mọi thời đại và văn hoá khác nhau trực nhận và mô tả bằng nhiều cách. Ðó là kinh nghiệm giác ngộ về thể sâu kín nhất của thật tại, nó vừa là thể của Niết-bàn và vừa của Luân hồi, sinh tử. Vì vậy, Toạ thiền không phải là một phương pháp đưa con người đi từ vô minh đến giác ngộ, mà là giúp con người khám phá bản thể thật sự của mình đang mỗi lúc hiện diện.

thiền

Jhana (p)—Dhyana (skt)—Tịnh lự hay đình chỉ các tư tưởng khác, chỉ chuyên chú suy nghĩ vào một cảnh)—To meditate—To enter into meditation. Những lời Phật dạy về “Thiền” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Dhyana” in the Dharmapada Sutra: 1) Tu Du-già thì trí phát, bỏ Du-già thì tuệ tiêu. Biết rõ hay lẽ này thế nào là đắc thất, rồi nỗ lực thực hành, sẽ tăng trưởng thêm trí tuệ—From meditation arises wisdom. Lack of meditation wisdom is gone. One who knows this twofold road of gain and loss, will conduct himself to increase his wisdom (Dharmapada 282). 2) Gìn giữ tay chân và ngôn ngữ, gìn giữ cái đầu cao, tâm mến thích thiền định, riêng ở một mình, thanh tịnh và tự biết đầy đủ, ấy là bậc Tỳ kheo—He who controls his hands and legs; he who controls his speech; and in the highest, he who delights in meditation; he who is alone, serene and contented with himself. He is truly called a Bhikhshu (Dharmapada 362). 3) Này các Tỳ Kheo, hãy mau tu thiền định! Chớ buông lung, chớ mê hoặc theo dục ái. Đừng đợi đến khi nuốt hườn sắt nóng, mới ăn năn than thở—Meditate monk! Meditate! Be not heedless. Do not let your mind whirl on sensual pleasures. Don't wait until you swallow a red-hot iron ball, then cry, “This is sorrow!” (Dharmapada 371). 4) Ai nhập vào thiền định, an trụ chỗ ly trần, sự tu hành viên mãn, phiền não lậu dứt sạch, chứng cảnh giới tối cao, Ta gọi họ là Bà-la-môn—He who is meditative, stainless and secluded; he who has done his duty and is free from afflictions; he who has attained the highest goal, I call him a Brahmana (Dharmapada 386). ** For more information, please see Thiền Định and Thiền Na. ; (禪) Phạm: Dhyàna. Pàli:Jhàna. Cũng gọi Thiền na, Đà diễn na, Trì a na.Hán dịch: Tĩnh lự, Tư duy tu tập, Khí ác, Công đức tùng lâm. Chỉ cho trạng thái định tuệ đồng đều, tâm chuyên chú vào 1 đối tượng nào đó, rất vắng lặng để tư duy một cách sâu sắc, rõ ràng. Thiền là pháp tu chung cho cả Đại thừa, Tiểu thừa, ngoại đạo, phàm phu... nhưng mục đích đạt đến và đối tượng tư duy thì đều khác nhau. Thiền và các thứ định khác gọi chung là Thiền định; cũng có thuyết cho Thiền là 1 loại định, cho nên gọi tu thiền trầm tư là Thiền tư. Cương yếu của việc tu hành Phật đạo là tam học giới, định, tuệ, giữ giới thanh tịnh mới có được sự vắng lặng của thiền định; có được sự vắng lặng của thiền định thì chân trí mới khai phát. Vì thiền định là phương pháp tu hành của Phật giáo, cho nên các kinh luận của Đại thừa cũng như của Tiểu thừa, đều có nói rõ và chủng loại Thiền cũng rất nhiều. Trong kinh A hàm căn cứ vào việc có hay không có Tầm, Tứ, Hỉ, Lạc(tìm kiếm, dò xét, mừng rỡ, vui vẻ)mà chia Thiền làm 4 loại: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Tứ thiền thiên của cõi Sắc là nơi những người tu Tứ thiền sẽ sinh đến; Tứ thiền được tu để cầu sinh về Tứ thiền Thiên gọi là Định tĩnh lự; còn Tứ thiền khi sinh ra đã có, được một cách tự nhiên thì gọi là Sinh tĩnh lự. Lại nữa, Hữu lậu tĩnh lự và Vô lậu tĩnh lự cùng tu lẫn lộn thì gọi là Tạp tu tĩnh lự, luận Câu xá quyển 24 chủ trương đây là pháp tu của A la hán hoặc quả vị Bất hoàn. Trong Đạithừathì Thiền là 1 trong 6 Ba la mật, 1 trong 10 Ba la mật, tức Thiền ba la mật(Thiền định ba la mật, Tĩnh lự ba la mật). Thiền là pháp Bồ tát tu để chứng được thực trí Bát nhã hoặc thần thông. Về tướng tu Thiền ba la mật của Bồ tát và các loại tĩnh lự khác nhau, ta có thể thấy trong các kinh luận, như theo kinh Bồ tát địa trì quyển 6 và luận Du già sư địa quyển 43 thì Thiền ba la mật có 9 tướng sau đây: 1. Tự tính thiền(cũng gọi Tự tính tĩnh lự): Chỉ cho tự tính của tĩnh lự, tứcTâm nhất cảnh tính trong đó tâm hoàn toàn tập trung vào 1 đối tượng duy nhất; hoặc chỉ cho Thiền do quán xét tự tính của tâm mà đạt được. 2. Nhất thiết thiền(cũng gọi Nhất thiết tĩnh lự): Chỉ cho Thiền thu nhiếp hết thảy pháp tự hành hóa tha. 3. Nan thiền(cũng gọi Nan hành tĩnh lự): Loại Thiền khó tu.Vì muốn làm lợi ích cho vô lượng hữu tình mà bỏ niềm vui thiền định, sinh lại cõi Dục, cho đến y chỉ tĩnh lự để chứng ngộvô thượng. 4. Nhất thiết môn thiền(cũng gọi Nhất thiết môn tĩnh lự): Môn là cửa ra vào. Tất cả thiền định đều dùng 4 loạiThiền này làm cửa, từ đó ra và vào. 5. Thiệnnhân thiền(cũng gọi Thiện sĩ tĩnh lự): Thiền không đắm trước niềm vui thiền định, đi đôi với 4 tâm vô lượng. Loại thiền này do các chúng sinh có thiện căn thù thắng tu hành nên gọi là Thiện nhân thiền. 6. Nhất thiết hạnh thiền(cũng gọi Nhất thiết chủng tĩnh lự): Thiền thu nhiếp hết thảy hạnh Đại thừa, cho nên gọi là Nhất thiết hạnh thiền. Thiền này có 13 loại là Thiện thiền, Vô kí hóa hóa thiền, Chỉ phần thiền, Quán phần thiền, Tự tha lợi thiền, Chính niệm thiền, Xuất sinh thần thông lực công đức thiền, Danh duyên thiền, Nghĩa duyên thiền, Chỉ tướng duyên thiền, Cử tướng duyên thiền, Xả tướng duyên thiền và Hiện pháp lạc trụ đệ nhất nghĩa thiền. 7. Trừ phiền não thiền(cũng gọi Toại cầu tĩnh lự): Thiền diệt trừ các thứ khổ não của chúng sinh. 8. Thử thế tha thế lạc thiền(cũng gọi Thử thế tha thế lạc tĩnh lự): Thiền mang lại sự khoái lạc cho tất cả chúng sinh trong hiện tại và vị lai. 9. Thanh tịnh tịnh thiền (cũng gọi Thanh tịnh tĩnh lự): Đã dứt hết tất cả hoặc, nghiệp, được quả đại Bồ đề, cho nên gọi là thanh tịnh. Thiền này lại được chia ra làm10 loại như Thiền thế gian thanh tịnh tịnh bất vị bất nhiễm ô, cho đến Thiền phiền não trí chướng đoạn thanh tịnh tịnh... Chín loại thiền nói trên chỉ là Thiền thù thắng do các Bồ tát tu hành, nên gọi là Cửu chủng đại thiền. Theo phẩm Tối tịnh địa đà la ni trong kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 4 thì thành tựu tĩnh lự Ba la mật có 5 tướng, đó là: 1. Nhiếp các thiện pháp, không để cho tán thất. 2. Thường nguyện giải thoát, không chấp trước 2 bên. 3. Nguyện được thần thông, thành tựu các căn lành cho chúng sinh. 4. Vì làm cho pháp giới thanh tịnh nên diệt trừ tâm cấu. 5. Diệt trừ phiền não căn bản của chúng sinh.Trên đây là nói rõ các ý nguyện mong cầu của Bồ tát khi tu tĩnh lự Ba la mật. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 4 thượng có nói về 3 thứ Thiền là Thế gian thiền, Xuất thế gian thiền và Xuất thế gian thượng thượng thiền, trong đó, Xuất thế gian thượng thượng thiền lại được chia làm 9 thứ, tức là Cửu chủng đại thiền. Đối lại, Xuất thế gian thiền có 4 thứ sau đây:1. Quán thiền: Như Cửu tưởng, Bát bối xả, Bát thắng xứ, Thập nhất thiết xứ... đều là Quán thiền. Tức làThiền quán chiếu các cảnh tướng bất tịnh. 2. Luyện thiền: Như Cửu thứ đệ định. Tức rèn luyện thiền Hữu lậu khiến trở thành thiền Vô lậu. 3. Huân thiền: Như tam muội Sư tử phấn tấn. Tức hun đúc cácThiền, khiến thông suốt vô ngại, chuyển biến tự tại. 4. Tu thiền(cũng gọi Đính thiền): Tức xuôi ngược tự tại, tam muội siêu việt vượt vào vượt ra. Bốn thứ Thiền trên đây gọi tắt là Quán luyện huân tu, trong đó Tu thiền là thù thắng nhất. Cũng trong Pháp hoa huyền nghĩa còn ví dụ Căn bản cựu thiền, Luyện thiền, Huân thiền, Tu thiền, Cửu đại thiền với 5 vị(từ sữa cho đến đề hồ) và gọi 3 loại thiền định là Tứ thiền, Tứ vô lượng và Tứ vô sắc là Thập nhị môn thiền (tông Thiên thai chỉ gọi Vị đẳng chí là Thập nhị môn thiền). Thập nhị môn thiền này là Căn bản vị thiền trong Thế gian thiền. Đối lại, tông Thiên thai lấy Lục diệu môn, Thập lục đặc thắng, Thông minh thiền(cũng gọi Thông minh quán, Thông minh quán thiền. Tức quán chung 3 thứ hơi thở, sắc, tâm làm cho chúng sáng suốt, thanh tịnh, lại được 9 thứ gồm 4Thiền, 4Vô sắc, Diệt tận định của Lục thông và Tam minh) làm Căn bản tịnh thiền của thế gian. Phẩm Tập nhất thiết pháp trong kinh Đại thừa nhập lăng già quyển 3, chiaThiền làm 4 loại: 1. Ngu phu sở hành thiền: Thiền của hàng Thanh văn tu hành sau khi ngộ lí Nhân vô ngã. 2. Quán sát nghĩa thiền: Thiền của hàng Bồ tát tu hành sau khi ngộ lí Pháp vô ngã. 3. Phan duyên chân như thiền: Thiền siêu việt tư lự và phân biệt, tâm không khởi tác dụng, tức khắc ngộ chân như như thực.4. Chư Như lai thiền: Thiền ngộ nhập bồ đề của Như lai, vì chúng sinh mà hiển bày tác dụng không thể nghĩ bàn của loại Thiền này. Ngoài ra, Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng của ngài Khuê phong Tông mật chia Thiền làm 5 loại là Ngoại đạo thiền, Phàm phu thiền, Tiểu thừa thiền, Đại thừa thiền và Tối thượng thượng thiền. Chú Duy ma cật kinh quyển 9 thì nêu thuyết của ngài Cưu ma la thập, chia Thiền làm 3 loại là Đại thừa thiền, Tiểu thừa thiền và Ngoại đạo thiền. Ở Trung quốc, trong các tông phái, mỗi tông đều y cứ theo giáo lí của tông mình mà tu Thiền định, nhưng cũng có tông phái tu Thiền do Tổ Bồ đề đạt ma truyền. LoạiThiền này bắt nguồn từ tư tưởng kinh Lăng già, chủ trương truyền riêng ngoài giáo, không lập văn tự. Tông chỉ của Thiền này là dùng tâm truyền tâm từ đức Thích tôn đến nay, tức không y cứ vào chữ nghĩa trong kinh điển, chỉ chuyên dùng phương pháp ngồi thiền, đánh hét... làm cho chúng sinh tỏ ngộ bản lai diện mục của mình. Đó chính là Thiền tông được thành lập sau khi loại Thiền này được truyền đến Trung quốc. Ởđời Đường có các lưu phái thiền Ngưu đầu, thiền Bắc tông, thiền Nam tông...Về sau, thiền Nam tông từng cực thịnh một thời. Đến các tông Lâm tế, Tào động thì mỗi tông đều có tông phong đặc biệt riêng của mình. Ngài Tông mật căn cứ vào đó mà chia Thiền tông đời Đường làm 3 phái (Thiền tam tông), đó là: 1. Tức vọng tu tâm tông: Tông này không quan tâm đến các cảnh tượng bên ngoài, mà chỉ chuyên quán xét nội tâm để diệt trừ các vọng niệm. 2. Mẫn tuyệt vô kí tông: Tông này chủ trương tất cả pháp phàm thánh đềunhư mộng như huyễn, đến cả trí Không cũng chẳng có, khiến cho tâm hoàn toàn dứt bặt (mẫn tuyệt), không một mảy may ý niệm gì (vô kí), vì xưa nay vốn không. Thấu suốt lí này liền được giải thoát. 3. Trực hiển tâm tính tông: Tông này trực ngộ được tính Không, Hữu của tất cả hiện tượng đều là bản tính chân như. Từ lập trường Giáo, Thiền nhất trí, ngài Tông mật chủ trương Thiền do Tổ Bồ đề đạt ma truyền là Tối thượng thượng thiền, hoặc gọi là Như lai thanhtịnhthiền. Nhưng các Tổ sư Thiền môn chủ trương truyền riêng ngoài giáo thì cho rằng gọi Thiền do Tổ Đạt ma truyền là Như lai thiền thì hoàn toàn không thích đáng. Bởi vì từ giữa đời Đường về sau, thiền Đạt ma là thiền Tổ sư truyền cho Tổ sư, y cứ vào đó thì có thể gọi là Tổ sư thiền, cũng gọi là Nhất vị thiền, ý nói là Thiền thuần túy, còn gọi chung Thiền do ngài Tông mật lập ra là Như lai thiền, Ngũ vị thiền. Ngoài ra, đồ chúng của Tổ sư thiền thường chê bai các hạnh thiện là hữu tướng, nhưng cũng do đó mà nảy sinh tư tưởng phản động, chủ trương sự lí song tu, Thiền tịnh cộng hành. Các phái Thiền tông có khi phê bình tông phong của nhau, như ngài Đại tuệ Tông cảo thuộc tông Lâm tế phê bình Thiền phong cố thủ mặc niệm bất động của ngài Hoành trí Chính giác thuộc tông Tào động là thiếu tác dụng hoạt bát bén nhạy chỉ là một loại Mặc chiếu thiền. Còn ngài Hoành trí thì phê bình Thiền phong của ngài Tông cảo là loại Khán thoại thiền, bị kẹt trong công phu tham cứu công án. Cuối đời Tống, Đãi ngộ thiền lấy việc ngồi thiền mong được khai ngộ rất thịnh hành và các ngài Hoành trí cùng ngài Vĩnh bình Đạo nguyên người Nhật bản đều dạy loại Thiền này, cho rằng ngồi thiền là hạnh của Phật, là Đệ nhất nghĩa. Ngoài ra, ngồi thiền một cách ngu si như khúc gỗ, chỉ biết ngồi yên lặng mà tâm địa không mở tỏ thì bị chê là Si thiền. [X.kinh Đạo hành bát nhã Q.2; kinh Lục độ tập Q.7; kinh Hoa nghiêm Q.38 (bản 60 quyển); luận Đại trí độ Q.17; luận Du già sư địa Q.12, 63; luận Câu xá Q.28; Ma ha chỉ quán Q.9, thượng, Q.9 hạ, Q.10 thượng; chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4; Tông kính lục Q.36; Vạn thiện đồng qui tập Q.1, 2; Vãng sinh tập Q.hạ]. (xt. Tứ Thiền, Như Lai Thiền, Định).

thiền ba

Những lượn sóng hay tư tưởng khuấy động trong lúc hành thiền—Disturbing waves, or thoughts during meditation. ; (禪波) Sóng thiền, chỉ cho vọng tưởng trong thiền định. Nếu ví dụ thiền định là mặt nước phẳng lặng bất động thì vọng tưởng là những gợn sóng lăn tăn. [X. Tính linh tập Q.9].

thiền ba la mật

Dhyana-paramita (skt)—Thiền định là hành pháp giúp chúng sanh đạt hoàn toàn tịnh lự, vượt thoát sanh tử, đáo bỉ ngạn. Đây là Ba La Mật thứ năm trong Lục Độ Ba La Mật—The attainment of perfection in the mystic trance, crossing the shore of birth and death. This is the fifth of the six paramitas. ** For more information, please see Lục Độ Ba La Mật.

Thiền ba-la-mật

phiên âm từ Phạn ngữ là Dhyna-pramit, gọi đủ là Thiền-na ba-la-mật, tức Thiền định ba-la-mật, một trong sáu pháp ba-la-mật. Cũng gọi là Thiền độ.

thiền bí yếu pháp kinh

(禪秘要法經) Cũng gọi Thiền kinh bí yếu pháp, Thiền bí yếu pháp. Kinh, 3 quyển, do ngài Cưu mala thập dịch vào đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này nói về phương pháp trọng yếu được áp dụng trong lúc ngồi thiền như: Điều hòacác hoạt động tâm lí, điều hòahơi thở và cách quán xét...

Thiền bản

禪版; J: zemban;|Một tấm gỗ được các thiền sinh thời xưa sử dụng. Trong thời gian tu tập, Toạ thiền lâu dài, thiền sinh thường để thiền bản vào hai bàn tay và chống cằm lên để khỏi ngục đầu xuống ngủ.|Thiền bản cũng đóng một vai trò giáo hoá trong các Công án. Bích nham lục ghi lại trong công án 20 với tên »Thuý Vi thiền bản«:|Thiền sư Long Nha đến Thuý Vi Vô Học, hỏi: »Thế nào là Tây lai ý?« Thuý Vi bảo: »Ðưa thiền bản đây!« Long Nha đưa thiền bản, Thuý Vi cầm thiền bản đập Long Nha. Long Nha la lớn: »Ðánh thì cứ đánh, không có ý của Tổ sư sang.«

thiền bản

(禪板) Cũng gọiỶbản. Tấm bảng chúng tăng dùng để gác tay hoặc dựa lưng cho đỡ mệt lúc ngồi thiền. Thông thường thiền bản dài 54cm, rộng 6cm và dày khoảng 1cm, phía trên có khoan một lỗ tròn nhỏ. Dùng dây xỏ qua lỗ tròn, buộc vào sợi dây nằm ngang ở sau lưng giường dây để mặt bảng hơi nghiêng, có thể dựa lưng; lúc gác tay thì đặt thiền bản nằm ngang trên 2 đầu gối. [X. Bích nham lục tắc 20;Động thượng già lam tạp kí thiền bản; môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].

Thiền bệnh

禪病; J: zenbyō, zembyō;|Có hai nghĩa chính: 1. Chỉ những cảnh giới kinh dị, Ma cảnh xuất hiện trong lúc hành giả Toạ thiền; 2. Sự bám chặt vào kinh nghiệm Kiến tính cũng như tâm thức chấp Không, để tâm trạng rơi vào hư vô. Một dạng nặng của thiền bệnh chính là sự phô trương quá đáng kinh nghiệm đạt được trên con đường tu tập và cho đó là một cái gì »đặc biệt.« Người mang những dấu hiệu của sự ngộ nhập (Ngộ tích) cũng được gọi là »mắc thiền bệnh.«

thiền bệnh

Đứng về lập trường Tổ Sư Thiền, phàm có thể chướng ngại sự kiến tánh đều gọi là thiền bệnh. Nói tóm lại, phàm có sở trụ gọi là bệnh, như trụ nơi có, không, động, tịnh, nói, nín… nói cách khác lọt vào tương đối đều là bệnh. ; Các loại bệnh gây ra bởi người tham thiền mà không hiểu rõ về thiền như vọng tưởng hay vọng kiến—The illnesses of meditation, i.e. wandering thoughts, illusions, or the illusions and nervous troubles of the mystic. ; (禪病) Những người tu thiền vì chưa hiểu rõ bí quyết chân thực của việc tham thiền nên thường phát sinh các thứ bệnh khi tu thiền. Thiền bệnh có 2 loại thân và tâm mà phần nhiều là rơi vào vọng tưởng vọng kiến. Kinh Viên giác (Đại 17, 920 thượng) nói: Bạch đức Thế tôn đại bi! XinNgài hãy nói về Thiềnbệnh khiến cácđại chúng đượcđiều chưa từng có, tâm ý thanh tịnh, được sự an ổn hoàn toàn. Trong tạng kinh có bộ Trị thiền bệnh bí yếu pháp 2 quyển, nói rất rõ ràng về các triệu chứng của Thiền bệnh và những phương pháp chữa trị; kinh Thủ lăng nghiêm thì nêu ra cảnh ma 5 uẩn và trình bày rõ các chứng Thiền bệnh về mặt thân và tâm. [X. chương Thích pháp ứng trong Tục cao tăng truyện Q.19].

thiền chi

(禪枝) I. Thiền Chi. Cành thiền, ví dụ trí tuệ của thiền. II. Thiền Chi. Chi là chống đỡ, là phụ trợ. Chỉ cho sự giúp sức, tạo điều kiện cho việc tọa thiền. Phần Tứ thiền xứ trong luận Tì bà sa quyển 10 (Đại 28, 484 trung) nói: Vì sao nói Thiền chi ? Thiền chi cónghĩagì ? Đáp: Thuận theo nghĩa là Chi, giúp sức nghĩa là Chi, nhiếp thủ nghĩa là Chi. III. Thiền Chi. Chỉ cho các chi phần của thiền, như giác, quán... Luận Giải thoát đạo quyển 4 (Đại 32, 416 thượng) nói: Thành tựu hạnh ngoài vào Sơ thiền; Thiền chi là giác, quán, hỉ, lạc và nhất tâm. IV. Thiền Chi. Chỉ cho các nghành, dòng trong Thiền môn, tức ví dụ sự đông đúc, thịnh vượng trong sự phát triển của Thiền tông; hoặc chỉ cho sự phân phái trong Thiền môn. Chương Thích tuệ tịnh trong Tục cao tăng truyện quyển 3 (Đại 50, 443 trung) nói: Đuốc tuệ vốn sáng soi, Thiền chi sớm xanh tốt. ; (禪支) Thiền làthiền định; Chi là chi phần. Bốn thiền định có tất cả là 18 chi; Sơ thiền gồm 5 chi: Giác, quán, hỉ, lạc và nhất tâm; Nhị thiền gồm 4 chi: Nội tịnh, hỉ, lạc, và nhất tâm; Tam thiền gồm 5 chi: Xả, niệm, tuệ(trí), lạc và nhất tâm; Tứ thiền gồm 4 chi: Bất khổ bất lạc, xả, niệm, và nhất tâm.[X. luận Tạp a tì đàm tâm Q.7]. (xt. Tứ Thiền).

thiền cuồng

Mad Zen—See Cuồng Thiền.

thiền các

(禪閣) I. Thiền các. Gác thiền, tức chỉ cho chùa viện của Thiền tông. Chương Đàm ma mật đa trong Lương cao tăng truyện quyển 3 (Đại 50, 342 hạ) nói: Vào niên hiệu Nguyên gianăm đầu đời Tống, sư (Đàm ma mật đa) đi dần đến đất Thục,không bao lâu ra khỏi khe núi, sư dừng lại ở Kinh châu, tạo lập Thiền các tại chùa Trường sa. II. Thiền Các. Cũng gọi Thiền cáp(cửa nách). Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Tại Nhật bản, các vị quan Nhiếp chính hay Quan bạch vào chùa xuất gia thì được gọi là Thiền các, hoặc gọi là Thiền điện hạ. [X. Sơ tổ Đạo nguyên thiền sư hòa thượng hành lục].

thiền cân

(禪巾) Cũng gọiĐầu tụ. Chỉ cho chiếc khăn của các vị Thiền tăng dùng để chít đầu. Chiếc khăn mà Cư sĩ Duy ma đội trong bức tượng vẽ chính là Thiền cân. Môn Phục chương trong Thiền lâm tượng khí tiên ghi: Kệ rằng: Đầu đội khăn thiền ngồi phương trượng.Đương cơ im lặng khác nghìn trùng; Văn thù cử chúng cùng khen ngợi, Thiên nữ tung hoa giữa cõi không.

thiền cúc

(禪毱) Tức quả cầu lông. Nếu người tọa thiền mà ngủ gật thì bị némbằngquả cầu lông cho tỉnh ngủ. Theo luật Thập tụng quyển 40 thì có 15 trường hợp được ném cầu lông vào người khác: Một làvìthương xót, hai là không để người ấy làm não người khác, ba là ngủ gật, bốn là dựa đầu vào vách, năm là duỗi chân. Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 297 trung) nói: Cầu lông dùng để ném người ngũ gật khiến họ tỉnh ngủ. [X. luận Đại trí độ Q.91; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 2; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 2; Pháp uyển châu lâm Q.32].

thiền cư

1) Một nơi để tu tập thiền định: A meditation abode—See Thiền Đường. 2) Vào Thiền: To dwell in meditation. 3) Thiền Tăng: A hermit monk.

thiền cầu

Quả cầu lông dùng để ném đánh thức người tu thiền ngủ gật (trong Luật Thập Tụng, Đức Phật dạy: “Có thầy tu ngủ gật trong lúc tọa thiền, hãy lấy nước gội đầu. Nếu cứ ngủ gật nữa thì lấy quả cầu lông mà ném. Nếu vẫn cứ còn ngủ gật thì lấy Thiền trượng mà đánh)—A ball of hair or feather used to throw at and awaken those who fell asleep during meditation.

thiền duyệt

Tâm thần khoan khoái vui thích của người nhập vào thiền định—Joy of the mystic trance. ; (禪悅) Niềm vui trongthiền định. Người vào thiền định, tâm được tự tại, an vui. Phẩm Tịnh hạnh trong kinh Hoa nghiêm (Đại 9, 432 trung) nói: Nếu khi thụ trai, nên nguyện cho chúng sinh thiền duyệt là thức ăn, tràn đầy pháp hỉ. Phẩm Phương tiện kinh Duy ma (Đại 14, 539 thượng) nói: Hiện có quyến thuộc, thường ưa xa lìa; tuy mặc đồ trang sức quí giá nhưng dùng tướng hảo nghiêm thân; tuy vẫn ăn uống nhưng lấy thiền duyệt làm vị.

thiền duyệt thực

Sức mạnh nuôi dưỡng tâm thức của Thiền, khi nhập vào thiền định thì thân tâm nhẹ nhàng khoan khoái giúp trưởng dưỡng thân thể và huệ mạng—The nourishing powers and the joy of the mystic trance of Zen. ; (禪悅食) Thức ăn bằng niềm vui thiền định, 1 trong 2 thứ thức ăn, 1 trong 9 thứ thức ăn.Người vào thiền định, thân tâm an vui tự tại, có công năng trưởng dưỡng nhục thể, giúp ích tuệ mệnh, giống như thực vật có công năng nuôi lớn thể xác, duy trì tinh thần, cho nên gọi là Thiền duyệt thực. Phẩm Ngũ bách đệ tử thụ kí trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 27 hạ) nói: Chúng sinh ở cõi nước ấy thường dùng 2 thứ thức ăn: Một là pháp hỉ thực, hai là thiền duyệt thực. Tức ăn bằng niềm vui pháp và niềm vui thiền định. KinhTâm địaquánquyển 5 (Đại 3, 314 hạ) nói: Chỉ có pháp hỉ thiền duyệt thực là thức ăn của các bậc Thánh hiền. (xt. Cửu Thực, Nhị Thực).

thiền gia

Thiền Tông—Thiền Môn. 1) Người tu thiền: Meditator. 2) Phật Tử: Buddhist. 3) Thiền Tông: The Ch'an Sect.

thiền gia qui giám

(禪家龜鑑) Tác phẩm, 1 quyển, do vị tăng người Triều tiên là ngài Thanh hư Hưu tĩnh soạn, được thu vào Vạn tụctạngtập 112. Sách này nói về yếu chỉ của công phu tham thiền và có phụ thêm phần lược giải. Nội dung trình bày về hơn 80 điều mục như: Nhất vật bất sinh bất diệt, Tâm Phật chúng sinh, Thiền giáo nhị đồ, Tổ sư công án, Thoại đầu công phu, Vô sinh không, Giới định tuệ, Bố thí trì giới nhẫn nhục tinh tiến, Trì chú lễ bái niệm Phật, Thính kinh khán kinh; Xuất gia tu đạo, Vô thường, Sám hối, Lâm chung, Tông sư, Ngũ gia gia phong, Lâm tế tông chỉ... Toàn sách có trưng dẫn các kinh và rất nhiều luận thuyết của các nhà; chẳng hạn như kinh Hư không tạng, kinh Tư ích, kinh Niết bàn, kinh Phạm võng, kinh Nhân quả, Truyền đăng lục, các sách của Trang tử và thuyết của các Thiền sư: Lục tổ, Thần hội, Vĩnh gia, Ngưỡng sơn, Vân môn, Bách trượng, Hoàng bá... Ở đầu quyển có lời tựa của soạn giả được viết vào năm Gia tĩnh 43 (1564) đời Minh, ở cuối quyển thì có lời bạt của đệ tử soạn giả là Tùng vân Duy chính được viết vào năm Vạn lịch thứ 7 (1579) đời Minh. Sách này được xem là tác phẩm tiêu biểu của ngài Hưu tĩnh, là sách nhập môn không thể thiếu đối với những người tu Thiền tạiTriều tiên. Ngoài ra, ngài Hưu tĩnh còn soạn Nho gia qui giám, Đạo gia qui giám, cùng với Thiền gia qui giám được gọi chung là Tam Gia Qui Giám. [X. Thiền tịch chí; Lí triều Phật giáo (Cao kiều hanh)].

thiền gian

(禪間) Chỉ cho định Trung gian giữa định Căn bản của Sơ thiền thiên và định Cận phần của Nhị thiền thiên. Thiền định đạt được 4 chi quán, hỉ, lạc và nhất tâm của định Trung gian này thì được gọi là Định Thiền gian vô giác hữu quán; còn Thiền định đạt được 4 chi bất khổ bất lạc, xả, niệm và nhất tâm của Đệ tứ thiền thì gọi là Định Thiền gian vô giác vô quán. [X.luận Xá lợi phất a tì đàm Q.15, 16].

thiền giáo

1) Giáo pháp nhà Thiền: Giáo thuyết xiển dương tông chỉ nhà Thiền (trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật)—The teaching of the Ch'an (Zen) sect. 2) Thiền và Giáo: Thiền Tông (bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền) và Giáo Tông (lấy học và hiểu làm chính yếu)—The esoteric tradition and the teaching of the scriptures. ; (禪教) I. Thiền Giáo. Giáo pháp của Thiền tông. Tức chỉ cho giáo thuyết phát huy yếu chỉ Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật của Thiền. [X. Tục cao tăng truyện Q.16] II. Thiền Giáo. Từ ngữ gọi chung Thiền và Giáo. Tức là Thiền tông và Giáo tông. Chỉ cho Thiền tông chủ trương bất lập văn tự và Giáo tông lấy học vấn làm cốt lõi. Hoặc chỉ cho pháp môn được thuyết minh trong 3 tạng là Giáo và tông chỉ được truyền riêng ngoài giáo là Thiền. [X. Tam quốc Phật pháp truyền thông duyên khởi Q.thượng].

thiền giới

(禪戒) Cũng gọi Đạt ma nhất tâm giới, Đạt ma nhất thừa giới, Thiền môn đại giới, Thiền môn giới, Phật tổ chính truyền bồ tát giới. Chỉ cho giới luật do Thiền môn truyền, tức là giới Bồ tát Đại thừado 28 vị Tổ ở Ấn độ theo thứ tự trao truyền cho nhau. Còn tông Tào động thì lấy 3 giới Qui y, 3 giới Tụ tịnh và 10 giới Trọng cấm gồm 16 điều làm nội dung Thiền giới, cho nên cũng gọi là Thập lục điều giới. Thiền giới bắt nguồn từ kinh Phạm võng, nội dung cụ thể thì lấy Nhất tâm giới văn của Tổ Đạt ma làm căn cứ. Theo điều Thụ giới trong Thiền uyển thanh qui quyển 1 của ngài Tông trách đời Tống thì tham thiền hỏi đạo lấy giới luật làm đầu. Vào đời Đường, Trung quốc đã có thuyết Thiền giới, ngài Tông trách đời Tống lại đề xướng thuyết thụ giới; ngài Vĩnh minh Diên thọ cũng đề xướng giới hạnh, truyền giới Bồ tát cho 4 chúng, đây đều là những bằng chứng về việc hoằng truyền Thiền giới.Giới luật vốn là 1 loại qui luật đạo đức, nhưng đối với Thiền giới lại chủ trương Phật tâm tức giới, nên mới có Phật tâm giới, Phật tính giới... tức lấy tu tập tọa thiền làm việc trì giới; nếu nói theo nghĩa Thiền giới nhất trí thì Thiền giới hoàn toàn không mang ý vị giới pháp của Thiền tông. Ngoài ra, Thiền định và Giới luật, hoặc Thiền tông và Giới luật đều gọi chung là Thiền giới.[X. Vạn thiện đồng qui tập Q.6; Vĩnh minh tự giác thiền sư tự hành lục; Tống cao tăng truyện Q.8; Sa di luật nghi yếu lược].

thiền hoá

(禪化) Sự hóa đạo, giáo hóa trong Thiền môn. Chương Thích huyền cao trong Lương cao tăng truyện quyển 11 (Đại 50, 397 hạ) nói: Đảo cữu Dương bình vương xã thỉnh ngài Huyền cao cùng về kinh đô nước Ngụy, sau khi đến Bình thành thì mở rộng Thiền hóa; Thái tử nước Ngụy là Thác bạt thờ ngài Huyền cao làmthầy. [X. Lan khê Hòa thượng hành thực].

thiền huệ

Thiền dịnh và trí huệ (y vào hai món nầy thì có thể nhiếp hết thảy các hành chứng)—The mystic trance and wisdom. ; (禪慧) Thiền định và trí tuệ, nương nhờ 2 pháp này thì nhiếp được tất cả hành chứng. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 trung) nói: Dùng thiền tuệ sâu xa để mở đường cho mọi người. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1].

thiền hà

1) Thiền định được ví như dòng sông Thiền dập tắt lửa tâm: The dhyana river, i.e. the mystic trance like a river extinguishes the fires of the mind. 2) Sông Ni Liên Thiền chảy ngang qua Bồ Đề Đạo Tràng: The river Nairanjana (Niladyan), which flows past Gaya. ; (禪河) I. Thiền Hà. Gọi đủ:Ấn độ ni liên thiền hà. (xt. Ni Liên Thiền Hà). II. Thiền Hà. Chỉ chothiền định. Vì nước thiền định có nănglựcdiệt tắt lửa lòng(tức phiền não), cho nên ví dụ với sông mà gọi là Thiền hà. Tích lũy Thiền hạnh, lắng tâm dần dần có thể tiêu diệt lửa tâm. Truyền thuật nhất tâm giới văn quyển hạ (Đại 74, 652 hạ) nói: Biển pháp chảy hoài, cuốn trôi lưới vô minh mà không cạn; sông Thiền(Thiền hà) chảy mãi, nhận chìm lòng phiền não màkhôngkhô.

thiền hành

Hành pháp tọa thiền hay hành nghi của thiền gia—The methods employed in meditation; the practices, or disciplines, of the Ch'an school.

Thiền hòa

(禪和): còn gọi là Thiền hòa tử (禪和子), Thiền hòa giả (禪和者); tức chỉ cho người tham Thiền. Như trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 20, phần Tổ Sư Cơ Duyên (祖師機緣), có đoạn: “Tằng đáo khiết trà khứ, vị đáo khiết trà khứ, Triệu Châu lão Thiền hòa, khẩu điềm tâm lí khổ (曾到喫茶去、未到喫茶去、趙州老禪和、口甜心裏苦, từng đến [bảo] uống trà đi, chưa đến [cũng bảo] uống trà đi, Triệu Châu lão Thiền sư, miệng ngọt trong tâm đắng).” Hay trong Thiền Tông Tạp Độc Hải (禪宗雜毒海, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1278) quyển 8, bài Kết Hạ (結夏), lại có đoạn: “Nhất bách Thiền hòa tam thập châu, vô thằng tự phược vạn sơn đầu, thùy thị hộ thân thùy thị sát, bạch vân ảnh lí thiết thuyền phù (一百禪和三十州、無繩自縛萬山頭、誰是護身誰是殺、白雲影裏鐵船浮, một trăm Thiền tăng ba mươi châu, không thừng tự buộc vạn non đầu, ai kẻ hộ thân ai là giết, trắng mây trong bóng thuyền sắt trôi).”

thiền hòa

Thiền Hòa Giả—Thiền Hòa Tử—Bạn đồng tu thiền (lời xưng hô thân tình đạo vị)—Meditation-associates, or fellow monks.

thiền hòa giả

See Thiền Hòa.

thiền hòa tử

See Thiền Hòa.

thiền hóa

Tánh chất chuyển hóa của Thiền—The transforming character of Ch'an.

Thiền Hải Thập Trân

(禪海十珍, Zenkaijicchin): 1 quyển, do Vi Lâm Đạo Bái (爲霖道霈) nhà Minh biên tập, san hành năm thứ 26 (1687) niên hiệu Khang Hy (康熙) nhà Thanh. Vi Lâm Đạo Bái—pháp từ của Vĩnh Giác Nguyên Hiền (永覺元賢)—đặc biệt soạn ra 10 thiên từ trong Thiền Hải Pháp Bảo (禪海法寶), ghi lời niêm vào trong cương tông và luận bình về yếu chỉ của chúng với mục đích làm sách gối đầu cho những người sơ tâm tham học. Mười thiên gồm: Thất Phật Truyền Pháp Kệ (七佛傳法偈), Nhập Đạo Tứ Hành (入道四行) của Bồ Đề Đạt Ma (菩提達磨), Tín Tâm Minh (信心銘) của Tam Tổ Tăng Xán (僧璨), Nhị Chủng Tam Muội (二種三昧) của Lục Tổ Huệ Năng (慧能), Chứng Đạo Ca (證道歌) của Vĩnh Gia (永嘉), Tham Đồng Khế (參同契) của Thạch Đầu (石頭), pháp ngữ của Lâm Tế (臨濟), Bảo Kính Tam Muội (寶鏡三昧) của Động Sơn (洞山), Thập Huyền Đàm (十玄談) của Đồng An (同安), và Cửu Đới (九帯) của Phù Sơn (浮山). Tác phẩm này được san hành tại Thánh Tiễn Đường (聖箭堂) ở Cổ Sơn (鼓山) và tại Nhật có bản san hành vào năm thứ 8 (1695) niên hiệu Nguyên Lộc (元祿).

thiền hải thập trân

(禪海十珍) Gọi đủ: Vi lâm thiền sư thiền hải thập trân.Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Vi lâm Đạo bái biên tập vào đời Minh, được ấn hành vào năm Khang hi 26 (1687) đời Thanh và được thu vào Vạn tục tạng tập 126. Nội dung sách này trích lục cương tông chỉ yếu trong 10 loại pháp bảo của thiền lâm (Thiền hải thập trân): Thất Phật kệ, Nhập đạo tứ hành của Sơ tổ, Tín tâm minh của Tam tổ, Nhị chủng tam muội của Lục tổ, Chứng đạo ca của ngài Vĩnh gia, Tham đồng khế của ngài Thạch đầu, Pháp ngữ của ngài Lâm tế, Bảo kính tam muội của ngài Động sơn, Thập huyền đàm của ngài Đồng an và Cửu đới của ngài Phù sơn, mỗi loại đều có phụ thêm lời bàn để nêu rõ tiêu chuẩn cho người tham thiền học đạo. THIỀN HÒA Gọi đủ: Thiền hòa tử, Thiền hòa giả. Chỉ cho người tham thiền. Thiền quan sách tiến (Đại 48, 1103 hạ) ghi: Anh em hễ mở miệng liền nói: Ta là Thiền hòa, nhưng nếubị người khác hỏi: Thế nào là Thiền? Thì trông đông, ngó tây, giống như kẻ vác biển, miệng chẳng biết nói gì.

thiền học

(禪學) Chỉ cho sự học của Thiền gia, chính là pháp để thấy tính thành Phật. Tức những sách vở giảng về Thiền hoặc để giải thích thêm về mặt văn tự ngôn cú.

thiền học đại hệ

(禪學大系) Tác phẩm, 8 quyển, do Thiền học đại hệ biên soạn cục của Nhật bảnbiênsoạn, được ấn hành từ năm Minh trị 43 đến năm Đại chính thứ 4 (1910-1915). Nội dung sách này chia làm 7 bộ môn: Kinh luận, Giới nhập, Tổ lục, Thanh qui, Truyện kí, Phê phán và Tạp, thu chép các kinh lục có tính đại biểu cho Thiền.

thiền khách

Zen guest. ; (禪客) I. Thiền Khách. Chỉ cho người tham thiền, nhưng không phải chỉ giới hạn ở Thiền tăng, mà cũng bao gồm cả những người tại gia tu hành tham thiền. Lâm tế lục (Đại 47, 506 thượng) ghi: Sư hỏi: Lão hòa thượng ngủ đấy à? - Nghiêm đáp: Làm trang Thiền khách rõ ràng chẳng giống. II. Thiền Khách. Trong các chùa viện Thiền tông, khi vị Trụ trì lên tòa giảng pháp, thì trong chúng tăng chọn lấy 1 vị có tài biện luận hơn người để cùng hỏi đáp với vị Trụ trì, người được tuyển chọn này gọi là Thiền khách. Điều Thướng đườngtrong Sắc tuBách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1119 trung) nói: Những người học thời xưa, vì để giải quyết các nghi vấn nên có hỏi đáp, ban đầu không bị vướng mắc vào ngôn ngữ. Nhưng thời gian gần đây, những người gọi là Thiền khách phần nhiều không rõ nhân quả, tăng thêm thói xấu, lấy việc vấn đáp làm trò vui đùa. Từ đời Tống về sau, các chùa Thiền tông đều đặt ra chức Thiền khách, chùa lớn 2 người, chùa nhỏ 1 người. [X.môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].

thiền khâm

(禪襟) Từ tự xưng của thiền tăng, nghĩa là người mặc áo nhà Thiền. Ngoài ra, từ ngữ này cũng chỉ cho chúng tăng.

thiền kệ

(禪偈) Những câu kệ tụng do các thiện tri thức trong Thiền môn làm ra để chỉ bày phương pháp và cảnh giới tọa thiền. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng, phần 1 (Đại 48, 399 hạ) nói: Giáo là do chư Phật và Bồ tát để lại; Thiền là những câu kệ do cácthiện tri thức soạn thuật. Nhưng kinh Phật thì mở rộng, bao trùm cả 8 bộ chúng trong cõi Đại thiên; còn Thiền kệ thì thu gọn, chỉ y cứ theo 1 loại căn cơ ở phương này(tức Trung quốc- ND). Bao trùm 8 chúng thì mông mênh khó dựa, còn thu gọn vào một căn cơ thì mục đích dễ đạt.

thiền luật

Thiền Tông và Luật Tông—The Ch'an and Vinaya sects, i.e. the Meditative and Disciplinary schools. ** For more information, please see Thiền Tông and Luật Tông.

Thiền lâm

(禪林): tên gọi khác của Thiền Viện (禪院), Thiền Tự (禪寺), Tùng Lâm (叢林); là đạo tràng chuyên tu tập Thiền pháp, là nơi học đồ, đồng đạo ở khắp nơi tập trung về, cùng nhau khích lệ, tinh tấn học đạo. Như trong bài Thiểm Châu Hoằng Nông Quận Ngũ Trương Tự Kinh Tạng Bi (陝州弘農郡五張寺經藏碑) của Dữu Tín (庾信, 513-581) nhà Bắc Chu có đoạn: “Xuân viên liễu lộ, biến nhập Thiền lâm, tàm nguyệt tang tân, hồi thành Định thủy (春園柳路、變入禪林、蠶月桑津、迴成定水, vườn xuân đường liễu, nhập vào rừng Thiền, trăng tơ bến dâu, trở thành nước Định).” Hay trong Tông Thống Biên Niên (宗統編年, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1600) quyển 12 lại có đoạn: “Bách Trượng Thanh Quy, thiên hạ Thiền lâm, tuân nhi hành chi (百丈清規、天下禪林、遵而行之, Bách Trượng Thanh Quy, các Thiền lâm trong thiên hạ, tuân theo mà thực hành).” Hoặc trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 1, phần Thích Ca Sinh Nhật (釋迦生日), cũng có đoạn: “Thích Viêm Đế thanh hòa chi hầu, nãi Như Lai giáng đản chi thời, tường quang xán xán ái Thiền lâm, thụy ái thông thông lung Phạm vũ, kiền sư thành khổn, đặc triển hạ nghi (適炎帝清和之候、乃如來降誕之時、祥光燦燦靄禪林、瑞靄蔥蔥籠梵宇、虔攄誠悃、特展賀儀, đúng Viêm Đế thanh hòa gặp lúc, là Như Lai khánh đản thời kỳ, hào quang rực rỡ ngút Thiền lâm, điềm lành lung linh bao Phạm vũ, cúi thỏa tấc thành, kính bày nghi cúng).” Một số thư tịch liên quan đến Thiền lâm như Thiền Lâm Loại Tụ (禪林類聚, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 67, No. 1299), 20 quyển, do Đạo Thái (道泰), Trí Cảnh (智境) nhà Nguyên biên tập; Thiền Lâm Bảo Huấn Bút Thuyết (禪林寶訓筆說, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1266), 3 quyển, do Trí Tường (智祥) nhà Thanh soạn; Thiền Lâm Bảo Huấn Âm Nghĩa (禪林寶訓音義, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1262), 1 quyển, do Tỳ Kheo Đại Kiến (大建) nhà Minh soạn; Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện (禪林僧寶傳, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1560), 30 quyển, do Huệ Hồng Giác Phạm (慧洪覺範, 1071-1128) nhà Tống soạn; Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252), 4 quyển, do Thạch Cổ Chủ Nhân Vĩnh Giác Nguyên Hiền (石鼓主人永覺元賢, 1578-1657) nhà Minh soạn; Thiền Lâm Bị Dụng Thanh Quy (禪林僃用清規, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1250), 10 quyển, do Tỳ Kheo Nhất Hàm (壹咸) nhà Nguyên biên soạn; Thiền Lâm Bảo Huấn Hợp Chú (禪林寶訓合註, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1263), 4 quyển, do Trương Văn Gia (張文嘉) hiệu đính, Trương Văn Hiến (張文憲) nhà Thanh tham duyệt; Nam Tống Nguyên Minh Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện (南宋元明禪林僧寶傳, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1562), 15 quyển, do Sa Môn Tự Dung (自融) ở Tử Thác Sơn (紫籜山) nhà Thanh soạn; Thiền Lâm Tăng Bảo Thuận Chu (禪林寶訓順硃, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1265), 4 quyển, do Thánh Khả Đức Ngọc (聖可德玉) nhà Thanh soạn, v.v. ; 禪林; J: zenrin;|Một tên khác của Thiền viện, cũng được dùng chỉ giới thiền.

thiền lâm

1) Rừng Thiền: Meditation forest or grove of meditation. 2) Tự viện hay Thiền viện: Pagoda or a monastery. 3) Tự viện hay Thiền viện nhiều như cây trên rừng: Monasteries as numerous as trees in a forest. ; (禪林) I. Thiền Lâm. Cũng gọi Tùng lâm. Tức làthiền viện, thiền tự, là đạo tràng tu hànhthiền pháp; là nơi mà người học từ khắp nơi tụhọpvề để khích lệ nhau tham thiền, học đạo. Ví dụ người về chùa viện tu hành, nhiều như cây trong rừng, nên gọi là Lâm. II. Thiền Lâm. Tức chỉ cho Thiền tông, Thiền môn. THIỀN LÂM BẢO HUẤN Cũng gọi Thiền môn bảo huấn, Thiền môn bảo huấn tập. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Thiện tịnh biên soạn lại vào đời Nam Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 48. Nội dung thu chép các di ngữ giáo huấn của các Thiền sư đời Tống, từ ngài Hoàng long Huệ nam đời thứ 11 đến ngài Phật chiếu Chuyết am đời thứ 16, thuộc hệ thống Nam nhạc, gồm 300 thiên, cuối mỗi thiên đềucóghi rõ xuất xứ. Sách này đầu tiên do 2 Thiền sư Diệu hỉ Phổ giác và Trúc am Sĩ khuê thu chép ở chùa Vân môn tại tỉnh Giang tây, trải qua nhiều năm bị thất tán, đến khoảng năm Thuần hi (1174-1189) đời Nam Tống, ngài Tịnh thiện được 1 vị Lão tăng là Tổ an tặng cho bộ sách này. Nhưng rất tiếc vì quá lâu năm, đã bị mọt làm tổn hại, đầu đuôi thiếu sót, nên ngài Tịnh thiện phải sưu tầm trong các ngữ lục, truyện kí thêm vào để biên soạn lại, tức là bộ Thiền lâm bảo huấn hiện hành. Sách này có các bộ chú thích như Thiền lâm bảo huấn hợp chú 4 quyển, do Trương văn gia kiểm xét đính chính lại, Thiền lâm bảo huấn niêm tụng 1 quyển, do ngài Hành thịnh soạn, Thiền lâm bảo huấn bút thuyết 3 quyển, do ngài Trí tường soạn... Sách này xưa nay rất thịnh hành trong Thiền lâm, thường được xếp vào loại sách nhập môn cho các sa di mới học.[X. Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Thiền tịch chí Q.hạ]. THIỀN LÂM BỊ DỤNG THANH QUI Cũng gọi Bị dụng thanh qui, Trạch sơn thanh qui, Chí đại thanh qui, Bị qui.Thanh qui, 10 quyển, do ngài Trạch sơn Nhất hàm biên soạn, hoàn thành vào năm Chí đại thứ 4 (1311) đời vua Vũ tông nhà Nguyên, được thu vào Vạn tục tạng tập 112.Nội dung sách này gồm có 169 hạng mục nói về các nghi qui, lễ pháp... trong Thiền lâm xưa nay như: Thánh tiết thăng tòa phúng kinh, Tọa thiền, Lăng nghiêm hội, Chuyên sứ thỉnh Trụ trì, Bách trượng qui kính văn, Trì phạm quĩ nghi, Đương đại trụ trì niết bàn, Nhật dụng thanh qui... [X. Thiền tịch chí Q.thượng]. THIỀN LÂM CHỨC VỊ Chỉ cho ngôi thứ các chức vụ được thiết lập trong các chùa viện của Thiền tông, bất luận trên hay dưới đều theo pháp phổ thỉnh, đều tham gia lao động để tự cung, tự cấp, phân công chức vụ để cùng làm.Cứ theo Thiền lâm loại tụ quyển 9 thì các chức vị chấp sự được đặt ra trong thanh qui ngày xưa gồm có: Thủ tọa, điện chủ, Tạng chủ, Trang chủ, Điển tọa, Duy na, Giám viện, Thị giả... Nhưng sự tổ chức của các chùa viện đời sau mỗi ngày thêm to lớn hơn, gia phong mỗi chùa không giống nhau, vị Trụ trì của 1 chùa phần nhiều tùy thời mà đặt ra, tự lập các chấp sự, cho nên danh mục rất nhiều, có tới 23 cho đến 80 loại.Ở Trung quốc, từ đời Diêu Tần về sau, dần dần hình thành chế độ quản lí chùa viện, tùy theo công việc trong chùa mà đặt ra các chức vị như: Thượng tọa, Tự chủ và Duy na, gọi là Tam cương. Trong đó, Thượng tọa là vị Trưởng lão trongđại chúng tỉ khưu, Tự chủ phụ trách công việc xây dựng, quản lí điện đường, còn Duy na thì chiếu theo thanh qui của chùa, chỉ huy các việc hàng ngày. Từ đời Đường về sau, chức vị trong các chùa viện Thiền tông thêm nhiều, người chủ quản 1 chùa tức biểu thị ý nghĩa giữ cho chính pháp trụ lâu ở thế gian, gọi là Trụ trì, hoặc Phương trượng, Đường đầu hòa thượng... Dưới vị Trụ trì là các chấp sự; người làm các việc trong chùa và theo hầu bên cạnh vị Trụ trì, gọi là Thị giả. Theo chương Lưỡng tự trong Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 4 thìtrong các chùa viện lớn của Thiền tông có đặt ra 6 vị Tri sự Đông tự và 6 vị Đầu thủ Tây tự. Các chức vị được xếp bên đông Pháp đường, gọi chung là Tri sự; các chức vị được xếp bêntây Pháp đường, gọi chung là Đầu thủ. Tri sự có nghĩa là người làm các việc, cũng gọi là Chủ sự, Chấp sự. Sáutri sự tức chỉ cho 6 chức vị làĐô tự, Giám tự, Phó tự, Duy na,Điển tọa và Trực tuế. 1. Đô tự(cũng gọi Đô tổng, Đô giám tự, Đô quản, Khố tư): Tức là chức vị cao nhất trông coi tổng quát mọi việc trong chùa. 2. Giám tự(cũng gọi Giám viện, Viện chủ, Tự chủ, Viện tể, Chủ thủ, Quyền quản): Chức vị kế sauĐô tự, có nhiệm vụ giám sát các việc trong chùa. 3. Phó tự(cũng gọi là Khố đầu, Tri khố, Quĩ đầu, Tài bạch, Chưởng tài): Người trông coi, tính toán việc chi thu. Chức vị trên Duy na gọi là Thượng phó tự; chức vị dưới Duy na gọi là Hạ phó tự. 4. Duy na: Gọi tắt của 2 từ Cương duy và Yết ma đà na (Phạm:Karma-dàna, Hán dịch là Thụ sự, cũng gọi làĐô duy na, Hán dịch là Duyệt chúng). Tức là chức vị coi về uy nghi tiến thoáicủa chúng tăng. 5. Điển tọa: Người phụ trách các việc ăn uống,giường tòa... 6. Trực tuế: Người coi về các việc xây cất, cày cấy...; chức vị này tuy hàm ý nghĩa nhiệm kì 1 năm, nhưng cũng có khi nhiệm kì không nhất định là 1 năm. Ngoài ra, trong 6 Tri sự, trừ Đô tự, 5 chức vị còn lại gọi là Ngũ tri sự. Bốn chức: Giám tự, Duy na, Điển tọa và Trực tuế, gọi là Chủ sự tứ viên. Ở giữa Đô tự và Giám tự có đặt thêm 1 chức Đô văn. Người chuyên môn quản lí việc chi thu tiền bạc, thóc gạo... của thường trụ, gọi là Đề điểm. Đầu thủcó nghĩa là người đứng đầu lãnh đạo. SáuĐầu thủ tức là chỉ cho 6 chức vị: Thủ tọa, Thư kí, Tạng chủ, Tri khách, Tri dục và Tri điện. 1.Thủ tọa(cũng gọiĐệ nhất tòa, Tọa nguyên, Thiền đầu, Thủ chúng): Đồng nghĩa với Thượng tọa; chỉ cho người ở địa vị đầu trong đại chúng mà về mặt nghi biểu xứng đáng làm khuôn phép cho đại chúng. Trong đó, người lãnh chúng ở phía trước bản xuất nhập trong Tăng đường(bản này được đặt ở 2 bên khám thờ tượng Thánh tăng ở chính giữa Tăng đường), gọi là Tiền đường thủ tọa; còn người lãnh chúng ở phía sau bản xuất nhập thì gọi là Hậu đường thủ tọa. Trong 2 vị này, lấy Tiền đường thủ tọa làm địa vị cao nhất. Nhưng tại Nhật bản, từ thời đại Đức xuyên về sau, Tiền đường thủ tọa gọi là Tiền đường, Đơn liêu, hoặc Tọa nguyên, còn Hậu đường thủ tọa thì gọi tắt là Thủ tọa. Từ trong các vị Tiền đường thủ tọa chọn ra 1 vị có đức cao vọng trọng, gọi là Danh đức thủ tọa. Vị có đức ngoài các vị Thủ tọa đầu thủ được nghinh thỉnh làm người chỉ đạo đại chúng, gọi là Lập tăng thủ tọa. Các vị tôn túc như Trụ trì thuộc các sơn môn khác được đón mời đến để đảm nhiệm chức vị Thủ tọa, gọi là Khước lai thủ tọa. 2. Thư kí(cũng gọi Ngoại sử, Ngoại kí, Kí thất): Tức người phụ trách việc văn thư. Đối lại, Thư trạng thị giả cũng gọi Nội sử, Nội kí. 3. Tạng chủ(cũng gọi Tri tạng, Tạng ti, Kính tạng đường chủ): Chỉ cho người trông coi việc thu cất tạng kinh như tranh tượng, kinh sách... 4. Tri khách(cũng gọiĐiển khách,Điển tân, Khách ti): Tức người phụ trách việc tiếp đãi các tân khách từ các nơi đến. 5. Tri dục(cũng gọi Dục chủ): Người coi về nhà tắm và việc tắm gội, dưới quyền có chức Dục đầu phụ tá. 6. Tri điện(cũng gọi Điện chủ): Người chuyên trách việc đèn hương và quét tước trên điện Phật và Pháp đường. Trong 6 chức vị Đầu thủ, ngoài Tri điện ra, 6 chức còn lại gọi là Ngũ đầu thủ. Trong đó, 5 vị: Tiền đường thủ tọa, Hậu đường thủ tọa, Đông tạng chủ, Tây tạng chủ và Thư kí, được thay thế vị Trụ trì phụ trách việc Tiểu tham, vì vậy, 5 vị này cũng gọi là Bỉnh phất ngũ đầu thủ(Bình phất nghĩa là tay cầm cây phất trần, tượng trưng cho việc thuyết pháp khai thị). Khi thiền tăng cử hành pháp hội trên điện Phật, hoặc ở Pháp đường, thì vị Trụ trì đứng chính giữa, còn 6 vị Tri sự và 6 vị Đầu thủ chia ban đứng xếp hàng 2 bên. Sáu Tri sự là Đông tự, 6 Đầu thủ là Tây tự, gọi chung là Lưỡng tự, hoặc gọi là Lưỡng ban. Nhưng theo Hoàng bá thanh qui của Nhật bản thì Thủ tọa, Tây đường, Hậu đường, Đường chủ, Thư kí, Tri tạng, Tri khách, Tri dục, Trượng thị và Giám thu là Tây tự; còn Đô tự, Giám tự, Duy na, Phó tự, Điển tọa, Trực tuế, Duyệt chúng, Khách đường chủ, Kì cựu và Cư sĩ là Đông tự. Trong Thiền lâm, chức vi Thị giả tùy theo tính chất của công việc mà có các tên gọi khác nhau. Nếu theo hầu Thánh tăng thờ ở Tăng đường thì gọi là Thánh tăng thị giả; theo hầu bên cạnh vị Trụ trì thì gọi là Phương trượng thị giả. Trong các Phương trượng thị giả, người theo hầu vị Trụ trì để ghi chép pháp ngữ trong các buổi thướng đường, tiểu tham, phổ thuyết, khai thị, niệm tụng... thì gọi là Thiêu hương thị giả, cũng gọi Thị hương; người phụ trách việc thư tín, văn thư... của vị Trụ trì, gọi là Thư trạng thị giả; người tiếp đãi tân khách của vịTrụ trì, gọi là Thỉnh khách thị giả, hoặc gọi là Thị khách; người chuyên trách việc ăn uống của vị Trụ trì, gọi là Thang dược thị giả, hoặc gọi là Thị dược; người quản lí các tài vật của vị Trụ trì, gọi là Y bát thị giả, hoặc gọi là Thị y. Năm chức vụ nói trên, gọi là Ngũ thị giả. Trong đó, 3 vị thị giả: Thiêu hương, Thư trạng và Thỉnh khách, được gọi chung là Sơn môn tam đại thị giả. Ngoài ra, có thuyết cho rằng Cân bình, Ứng khách, Thư lục, Y bát, Trà phạn, Cán biện là 6 thị giả. Khi cử hành pháp hội, các vị thị giả: Thiêu hương, Thư trạng, Thỉnh khách và Thang dược, được xếp kế sau Tây tự đầu thủ, gọi là Lập ban tiểu đầu thủ; còn các vị: Đường đầu thị giả(Phương trượng thị giả), Thánh tăng thị giả, Diên thọ đường chủ, Lô đầu, Chúng liêu liêu chủ... thì gọi là Viện trung tiểu đầu thủ. Lại người ở trongliêu thị giả mà không đảm nhiệm 1 chức vụ nhất định nào, thì gọi là Bất li vụ thị giả. Ngoài ra còn có Bỉnh phất thị giả (do Thánh tăng thị giả kiêm nhiệm), Thị chân thị giả(hầu hạ vong linh các bậc cao đức)... Trong các chức nói trên, thì Đô tự, Duy na, Thiêu hương thị giả là các chức quan trọng, được gọi là Sơn môn tam đại thiền sư. Những vị nghỉ chức Tri sự và những vị thôi chức Thị giả, Tạng chủ và Thư trạng, được gọi là Cần cựu. Kế sau, là Liêu nguyên, người trông coi các liêu. Dưới Liêu nguyên, có Liêu trưởng, Liêu chủ(Tri liêu), Phó liêu, Vọng liêu... Đại chúng sở thuộc các Liêu chủ gọi là Động cước. Từ Liêu nguyên đến người phụ trách các việc lặt vặt, gọi chung là Biện sự. Y cứ vào chức vụ phụ trách, người Biện sự thông thường được gọi là Chủ, hoặc Đầu(tức đứng đầu một việc nào đó). Chẳng hạn như: Các chủ, Tháp chủ(Thị chân), Diên thọ đường chủ (Đường chủ, Niết bàn đường đầu), Phạn đầu, Chúc đầu, Thang đầu, Trà đầu, Thái đầu, Khương đầu, Tương đầu, Mễ đầu, Mạch đầu, Ma đầu, Cốc đầu, Viên đầu(hoặc gọi làViên chủ), Ma đầu(Ma chủ), Thủy đầu, Hỏa đầu, Sài đầu, Khôi đầu, Lô đầu, Oa đầu, Đăng đầu, Dũng đầu, Thụ đầu, Chung đầu, Tịnh đầu(hoặc gọilàTrì tịnh), Trang chủ(cũng gọi Đô trang), Giám thu, Giải viện chủ, Nhai phường hóa chủ... Nghĩa là: Các chủ là người phụ trách trông nom gác để kinh sách, Tháp chủ là người phụ trách việc đèn hương, quét tước tháp Phật và tháp các vị Tổ sư; Diên thọ đường chủ là người phụ trách trông coi nhà dưỡng bệnh, dưỡng lão; Phạn đầu là người phụ trách việc cơm nước; Chúc đầu phụ trách bữa ăn cháo sáng; Thang đầu phụ trách lấy nước nóng; Trà đầu phụ trách việc pha trà, Thái đầu phụ trách hái, nhặt rau; Khương đầu phụ trách việc lấy gừng; Tương đầu phụ trách việc cung cấp nước tương; Mễ đầu trông coi về gạo; Mạch đầu trông coi về lúa; Ma đầu trông coi về vừng (mè), Cốc đầu trông coi về ngũ cốc, Viên đầu phụ trách việc làm vườn, Ma đầu phụ trách việc xay thóc, giã gạo; Thủy đầu phụ trách việc gánh nước, Hỏa đầu phụ trách việc đun nấu, Sài đầu phụ trách việc củi đóm, Khôi đầu phụ trách việc lấy than, Lô đầu phụ trách việc đốt lò sưởi, Oa đầu phụ trách việc rửa cọ nồi niêu xoong chảo..., Đăng đầu phụ trách việc đốt đèn các liêu phòng; Dũng đầu phụ trách việc đóng và bảo quản các loại thùng để lấy và chứa nước, Thụ đầu phụ trách việc chăm sóc cây cảnh..., Chung đầu phụ trách thỉnh chuông, Tịnh đầu phụ trách việc dọn dẹp, quét tước nhà cầu xí; Viên chủ phụ trách việc làm vườn trồng rau; Trang chủ phụ trách việc cày cấy; Giải viện chủ phụ trách việc mua bán, tiếp đãi các quan chức... Nhai phương hóa chủ, tức người đi khuyến hóa trong phố phường, làng xóm để có được các vật dụng về cung cấp cho chúng tăng.Nơi quản lí các việc xây cất, tạo tác gọi là Tu tạo cục, dưới cục này có Giám tác (người giám sát công việc) và Tác đầu(người thực hiện công trình). Chức vị coi sóc giữ gìn giưòng chiếu, áo bát của chúng tăng trong Tăng đường, gọi là Trực đường. Trực ban vào tháng nào, ngày nào theo thứ tự gọi là Trực nguyệt, Trực nhật. Khi cáo hương phổ thuyết, người thuộc lòng các nghi lễ, lãnh đạo những người mới đến tham học, đứng đầu thay thế họ cử hành nghi thức, gọi là Tứ lai tham đầu, hoặc gọi tắt là Tham đầu. Nếu là nghi thức thuộc đại chúng cùng tham gia một lượt thì do vị Thủ tọa đảm nhiệm, người tham đầu phụ tá, gọi là Phó tham, người bổ sung sau, gọi là Vọng tham. Dưới vị Tham đầu, chức vị đứng đầu 1 tổ 3 người, gọi là Tiểu tham đầu. Tham đầu hành giả (Tham đầu của các hành giả) là tên gọi của người chỉ huy ở địa vị đầu trong các hành giả, nhưng khác với Tham đầu. Người đảm nhiệm việc tụng chú trong hội Lăng nghiêm, gọi là Lăng nghiêm đầu; cứ đó suy ra thì còn có Bát nhã đầu, Hoa nghiêm đầu, Di đà đầu... Ngoài ra, khi quan lại đến chùa thỉnh cầu vị Trụ trì thuyết pháp, thì chọn ra 1 người từ trong chúng, thay mặt đại chúng để hỏi đáp với vị Trụ trì, người ấy được gọi là Thiền khách; người tạm thời được bổ sung để hỏi đáp với vị Trụ trì, gọi là Phóng thiền khách. Người luân phiên chấp hành việc chùa gọi là Trực sảnh(sảnh là nơi làm việc chung trong chùa viện). Người đi tuần tra lúc nửa đêm, gọi là Tuần canh. Người được sai đi làm các việc ở ngoài, gọi là Chuyên sứ. Người coi về bếp núc gọi là Hỏa khách, Hỏa điền, Hỏa bạn. Người khiêng kiệu gọi là Kiệu phan. Ngoài ra, những chức phục vụ trong chùa viện, cũng được gọi là Hành giả. Nơi ở của các Hành giả gọi là Hành đường; người đứng đầu Hành đường, gọi là Hành đường chủ, hoặc gọi tắt là Đường chủ. Hành giả có những người đã cạo tóc, cũng có những người để tóc và mang theo gia quyến, rất nhiều chủng loại. Chẳng hạn như Tham đầu hành giả; Phó tham hành giả, Chấp cục hành giả(gọi chung Phương trượng hành giả, Lục cục hành giả...), Khố ti hành giả(phụ tá Đô tự), Đường ti hành giả(phụ tá Duy na), Khố tử(hành giả ở liêu Phó tự), Khách đầu hành giả, Trà đầu hành giả, Hát thực hành giả(tên gọi người xướng các thức ăn và nước uống trong bữa ăn. Hát nghĩa là xướng), Cung đầu hành giả(cũng gọi Cung quá hành giả) tức người phân phối các thức ăn uống), Trực điện hành giả, Chúng liêu hành giả, Môn đầu hành giả. Những hành giả trẻ tuổi gọi là Đồng hành, Đạo giả, Đồng thị, Tăng đồng, hoặc gọi là Khu ô sa di, Sa hát(người xướng các thức ăn uống, tương đương với vị sa di Hát thực), Thính khiếu. Cùng loại với Hành giả là những Tịnh nhân(cũng gọi Khổ hạnh), chỉ cho người tại gia chuyên phục vụ chúng tăng.Trong Thiền lâm có khá nhiều chức vị, giống như 2 ban Văn, Võ của triều đình, để cùng nhau gìn giữ pháp mệnh của chùa viện. Nhưng chế độ chức vị này, từ đời Tống về sau, các tông dung hợp, đối với các chùa viện tương đối lớn nói chung đều theo chế độ này, còn các chùa viện nhỏ thì không có được 1 phần nhỏ của chế độ này. [X.chương Đại chúng trong Sắc tuBách trượng thanh qui Q.4; Thiền uyển thanh qui Q.2, 3, 4, 8; Bách trượng thanh qui chứng nghĩa kí Q.6; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Phật Giáo Giáo Chế, Tùng Lâm).

Thiền Lâm Bảo Huấn

(禪林寳訓, Zenrinhōkun): 2 quyển, do Tịnh Thiện (淨善) nhà Tống thâu tập, san hành vào năm thứ 11 (1378) niên hiệu Hồng Võ (洪武). Ban đầu nó có tên gọi là Thiền Môn Bảo Huấn (禪門寳訓) và chẳng biết khi nào sau đó được đổi thành Thiền Lâm Bảo Huấn. Từ các truyền ký, Ngữ Lục chư vị thánh đức xưa kia, của Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲) và Trúc Am Sĩ Khuê (竹菴士珪) đã biên soạn hơn 100 sự việc đáng làm mô phạm cho hàng học nhân, sau đó Tịnh Thiện bổ sung, biên tập lại làm thành hơn 300 thiên và chia bộ này thành 2 quyển thượng, hạ. Vốn xưa nay tác phẩm này được lưu hành rộng rãi trong Thiền lâm, trong phần cuối sách có Thiền Lâm Bảo Huấn Âm Nghĩa (禪林寳訓音義, Tục Tạng 2, 18, 2) Đại Kiến (大建) nhà Minh hiệu đính, Thiền Lâm Bảo Huấn Hợp Chú (禪林寳訓合注, Tục Tạng 2, 18, 2) do Trương Văn Gia (張文嘉) nhà Thanh hiệu đính, Thiền Lâm Bảo Huấn Niêm Tụng (禪林寳訓拈頌, Tục Tạng 2, 18, 2) do Hành Thạnh (行盛) nhà Thanh soạn, Thiền Lâm Bảo Huấn Thuận Chu (禪林寳訓順硃, Tục Tạng 2, 18, 2) do Thánh Khả Đức Ngọc (聖德可玉) nhà Thanh soạn và Thiền Lâm Bảo Huấn Bút Thuyết (禪林寳訓筆說, Tục Tạng 2, 18, 4) do Trí Tường (智祥) nhà Thanh soạn, v.v.

thiền lâm loại tụ

(禪林類聚) Ngữ lục, 20 quyển, do các ngài Đạo thái, Trí cảnh biên tập vào đời Nguyên được thu vàoVạn tụctạng tập 117. Sách này căn cứ vào các ngữ lục của chư Tổ, Truyền đăng lục... thu chép những cơ duyên ngữ yếu của các Thiền sư mà thành. Nội dung sách này gồm 102 loại như: Đế vương, Tế thần, Nho sĩ, Phật tổ, Pháp thân, Phật tượng, Già lam, Điện đường, Tháp miếu, Trượng thất, Môn hộ, Thiền định, Kinh giáo, Ni nữ, Giới luật, Lễ bái, Duyên hóa, Thần dị, Vấn tật, Phục sức, Pháp khí, Trai chúc, Hương đăng, Sư tử tượng, Qui ngư(rùa, cá)... Trong đó, phần lớn thu chép về sự thị chúng của Thiền gia, sự vấn đáp, thương lượng giữa sư gia và người học, vấn thoại tham cứu, hành thực của Thiền gia... Ngoài ra, trong sách cũng thấy rải rác hành tích của đức Thích tôn, sự hỏi pháp của đệ tử Phật, sự vấn đáp, nghị luận giữa các sư Ấn độ... [X.Thiền tịch chí Q.thượng].

thiền lâm tăng bảo truyện

(禪林僧寶傳) Gọi tắt: Tăng bảo truyện. Truyện kí, 30 quyển, do ngài Tuệ hồng Giác phạm (1071-1128) soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 137.Sách này ghi chép truyện kí của 81 vị Thiền tăng đờiĐường và Tống. Cứ theo bài tựa Tăng bảo truyện trong Thạch môn văn tự thiền quyển 23 thì sách này đã y cứ vào Ngũ gia truyện do Thiền sư Đạt quán Đàm dĩnh soạn mà bổ sung thêm, rồi lại thu chép truyện kí của các vị tăng kiệt xuất thuộc 2 tông Vân môn, Lâm tế mà thành. Cuối sách có phụ thêm Bổ thiền lâm tăng bảo truyện 1 quyển, do ngài Chu phong Am khánh lão soạn, nói về 3 vị: Pháp diễn, Ngộ tân và Hoài chí. Về những tác phẩm tiếp theo để bổ túc cho sách này thì có: Tăng bảo chính tục truyện, 7 quyển, do ngài Tổ tú soạn, Nam Tống Nguyên Minh Thiền lâm tăng bảo truyện, 15 quyển, do ngài Tự dung soạn vào đời Thanh, đều được thu vào Vạn tục tạng tập 137. [X. Phật tổ thống kỉ Q.46; Phật tổ lịch đại thông tải Q.29; Thích thị kê cổ lược Q.4; Thiền tịch chí Q.thượng].

thiền lâm tượng khí tiên

(禪林象器箋) Cũng gọi Thiền tông từ điển thiền lâm tượng khí tiên. Tác phẩm, 20 quyển, mục lục 1 quyển, do ngài Vô trước Đạo trung (1653-1744) người Nhật bản soạn, ấn hành vào năm 1741. Nội dung sách này sưu tập các dụng ngữ liên quan đến quicủ, hành sự, cơ cấu, khí vật... trong Thiền lâm, từ khởi nguồn, biến đổi cho đến ý nghĩa hiện hành của các danh mục trong Bách trượng Hoài hải cổ thanh qui cho đến các thanh qui sau này, mỗi danh mục đều có giải thích rõ ràng, tất cả có 29 loại, gồm 1724 điều. Sách này viện dẫn tất cả 484 bộ nội điển như kinh, luật, luận, sớ, tăng sử, thiềnđăng sử, thi kệ, thanh qui, Thiền gia ngữ lục... và 286 bộ ngoại điển như kinh, sử, tử, tập cùng với các tác phẩm của Trung quốc, Nhật bản về sự tướng Phật giáo, không thiên vị bất cứ tông giáo nào, Lâm tế hay Tào động. Hai mươi chín loại là: Khu giới, điện đường, tọa vị, tiết thời, linh tượng, xưng hô, chức vị, thân chi, tùng quĩ, lễ tắc, thùy thuyết, tham thỉnh, chức vụ, tạp hành, tội trách, báo đảo, phúng xướng, tế cúng, tang tiến, ngôn ngữ, kinh lục, văn sớ, bộ khoán, đồ bài, ẩm đạm, phục chương, bát khí, khí vật và tiền tài.

Thiền Lâm Tự

(禪林寺, Zenrin-ji): ngôi tự viện của Tào Động Tông; hiện tọa lạc tại Ichinomiya-shi (一宮市), Aichi-ken (愛知縣). Vào năm 970 (Thiên Lộc [天祿] nguyên niên), để hồi hướng công đức cầu nguyện siêu độ cho Đằng Nguyên Thật Lại (藤原實賴, Fujiwara-no-Saneyori), quan Chánh Nhất Vị của Tiểu Dã Cung (小野宮), Vĩ Trương (尾張, Owari), người ta đã cho tạc tượng Dược Sư Như Lai và kiến lập một ngôi chùa, lấy tên là Tiểu Dã Viện Cực Lạc Tự (小野院極樂寺). Đương thời chùa này thuộc về Thiên Thai Tông; người khai cơ là Hòa Thượng Hoa Quốc (花國). Vào năm 1019 (Khoan Nhân [寛仁] 3), nhà công khanh Đằng Nguyên Tư Bình (藤原資平, Fujiwara-no-Sukehira) mô phong theo Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), xây dựng ngay trước cổng chùa đền thờ Nhật Cát Thần Xã (日吉神社, Hiyoshi Jinja) để trấn hộ. Đến năm 1525 (Đại Vĩnh [大永] 5), Thiền Sư Tuyên Tẩu Đàm Châu (宣叟曇周) tái hưng chùa, chuyển sang Tào Động Tông và giữ mãi cho đến hôm nay. Tượng thờ chính của chùa là Dược Sư Như Lai, được an trí tại Dược Sư Đường, tương truyền do Tăng Đô Huệ Tín (惠信) tạc nên, là bảo vật vô giá của chùa. ; (禪林寺, Zenrin-ji): còn gọi là Thánh Chúng Lai Nghênh Sơn (聖眾來迎山), tục xưng là Vĩnh Quán Đường (永觀堂), là ngôi chùa trung tâm của Phái Tây Sơn (西山派) thuộc Tịnh Độ Tông; hiện tọa lạc tại Yōgandō-chō (永觀堂町), Sakyō-ku (左京區), Kyoto-shi (京都市). Vào năm 855 (niên hiệu Tề Hành [齊衡] thứ 2), Chơn Thiệu (眞紹) cải biến ngôi sơn trang của Đằng Nguyên Quan Hùng (藤原關雄) thành Vô Lượng Thọ Viện (無量壽院), làm đạo tràng cầu nguyện trấn hộ quốc gia. Sau đó, vào năm 863 (niên hiệu Trinh Quán [貞觀] thứ 5), chùa được ban sắc phong của triều đình với tên gọi là Thiền Lâm Tự; đến năm 877 (niên hiệu Nguyên Khánh [元慶] nguyên niên), Ngự Nguyện Đường (御願堂) được xây dựng, lãnh vức của chùa cũng được mở rộng thêm. Chư vị danh đức như Tông Duệ (宗叡), Thâm Giác (深覺), Tĩnh Biến (靜遍) thay nhau làm cho tông phong của chùa hưng thạnh; nhưng trong khoảng thời gian niên hiệu Thừa Lịch (承曆, 1077-1080), khi Luật Sư Vĩnh Quán (永觀) của Tam Luận Tông đến trú trì chùa, kiến lập Đông Nam Viện (東南院) để giảng thuyết về Tam Luận và tuyên dương pháp môn Niệm Phật. Tượng thờ chính của chùa là A Di Đà Phật có câu chuyện liên quan đến Vĩnh Quán. Sau đó, Tịnh Âm (淨音) của Phái Tây Sơn thuộc Tịnh Độ Tông đến đây trú trì, cải đổi chùa thành đạo tràng Niệm Phật; và từ đó trở đi, chùa trở thành thánh địa của phái này. Trong vụ loạn Ứng Nhân (應仁), chùa cũng bị suy tàn, nhưng đến thời đại Giang Hộ thì phục hưng lại. Bảo vật của chùa liên quan đến Tịnh Độ Giáo có rất nhiều như Sơn Việt A Di Đà Đồ (山越阿彌陀圖), Lai Nghênh Đồ (來迎圖), Đương Ma Mạn Trà La Đồ (當麻曼荼羅圖), Dung Thông Niệm Phật Duyên Khởi (融通念佛緣起), Thích Ca Tam Tôn, 3 bức Thập Đại Đệ Tử, 16 bức Thập Lục La Hán, v.v.

thiền lâm tự

tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chùa là ngôi chùa cổ thứ hai thuộc hệ phái Tào Động, do Hòa Thượng Như Tư Khắc Huyền khai sơn vào cuối thế kỷ thứ 17. Duới thời chúa Nguyễn Phước Hoạt, chùa đã được trùng tu bằng vật liệu kiên cố và vị tổ thứ ba của chùa được ban sắc tứ danh hiệu Thanh Thận Chiêu Quả đại lão Hòa Thượng. Vào đầu thời vua Gia Long, Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu (vợ vua Gia Long) đã cúng dường ngân khoản để trùng tu chùa dưới sự trông nom của Hòa Thượng Mật Hoằng. Dưới triều vua Thành Thái, người Pháp mở đường Nam Giao Tân Lộ, chùa lại phải dời vào mé tây khuôn viên cũ. Cho đến hôm nay, trải qua hơn 50 năm, chùa trở thành chùa tư và theo kiểu truyền tử lưu tôn nên ngày càng trở nên hoang phế. Năm 1957, chùa được Giáo Hội Phật Giáo trùng tu lại—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. This is the second in age among the temples belonging to the T'ao-T'ung Zen Sect in Huế. It was first built by Most Venerable Như Tư Khắc Huyền in the late 17th century. During the reign of Lord Nguyễn Phước Hoạt, the temple was already enlarged with solid construction materials, and the third patriarch of the temple was recognized by the Lord with honourable name Thanh Thận Chiêu Quả Great Most Venerable. During the early years of king Gia Long's reign, Queen Thừa Thiên Cao dedicated fund for the reconstruction of the temple under the supervision of Most Venerable Mật Hoằng. During the reign of king Thành Thái, the French opened the Nam Giao New Highway, so the temple had to be moved to the western part of its ground. Up to the present time, for more than fifty years, Thiền Lâm has been a private temple, changing hands according to familial traditions. It was rebuilt by the Buddhist Congregation in 1957.

Thiền Lão

禪老; tk. 10-11|Thiền sư Việt Nam, thuộc dòng thiền Vô Ngôn Thông đời thứ 6. Sư kế thừa Thiền sư Ða Bảo và truyền pháp cho đệ tử là Quảng Trí. Vua Lí Thái Tông cũng được xem là môn đệ đắc pháp của Sư.|Không biết tên họ và nơi sinh của Sư ở đâu, chỉ biết Sư đến chùa Kiến Sơ yết kiến Thiền sư Ða Bảo và được truyền tâm ấn. Sau đó, Sư đến Từ Sơn trụ trì chùa Trùng Minh trên núi Thiên Phúc, huyện Tiên Du. Tông phong của thiền Vô Ngôn Thông nhờ đạo hạnh của Sư cao vút, học chúng quy tụ lại rất đông.|Vua Lí Thái Tông thường viếng chùa và vấn đạo. Ban đầu, vua hỏi: »Hoà thượng trụ núi này đã bao lâu?« Sư đáp: |但知今日月。誰識舊春秋|»Ðãn tri kim nhật nguyệt|Thuỳ thức cựu xuân thu«|*»Chỉ biết ngày tháng này|Ai rành xuân thu trước«.|Vua hỏi: »Hằng ngày Hoà thượng làm gì?« Sư đáp: |翠竹黃花非外境。白雲明月露全真|»Thuý trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh|Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân«.|*»Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác|Trăng trong mây bạc hiện toàn chân«.|Vua lại hỏi: »Có ý chỉ gì?« Sư đáp: »Lời nhiều sau vô ích.« Vua nhân đây lĩnh hội ý chỉ.|Sau khi về cung, vua sai sứ giả đến chùa rước Sư vào triều làm cố vấn. Khi đến nơi, Sư đã viên tịch. Vua mến tiếc sai trung sứ đến cúng và tặng lễ, sau đó thu cốt xây tháp cúng dường.

thiền lão

Zen Master Thiền Lão—Tên của một nhà sư Việt Nam, có lẽ quê ở miền Bắc Việt Nam; tuy nhiên, quê quán của ngài không ai biết ở đâu. Sư đến chùa Kiến Sơ gặp và trở thành một trong những đệ tử xuất sắc nhất của Thiền sư Đa Bảo. Thiền sư Thiền Lão là pháp tử đời thứ sáu của dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Sau khi Thiền sư Đa Bảo thị tịch, ngài dời về núi Thiên Phúc tại quận Tiên Du và trụ tại chùa Trùng Minh. Lúc ấy tiếng tăm của ngài trải khắp tứ phương. Vua Lý Thái Tông chiếu sắc chỉ triệu ngài về kinh đô làm cố vấn, nhưng khi sắc chỉ vừa đến thì ngài đã thị tịch. Để tôn vinh ngài vua đã cho trùng tu lại ngôi chùa sư ở, xây tháp thờ sư tại phía trước chùa—Name of a Vietnamese monk, probably from North Vietnam; however, his origin was unknown. He went to Kiến Sơ Temple to meet and become one of the most outstanding disciples of Zen Master Đa Bảo. He was the dharma heir of the sixth lineage of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. After Zen master Đa Bảo passed away he moved to Mount Thiên Phúc in Tiên Du district to stay at Trung Minh Temple. His reputation spread all over the place. Later King Lý Thái Tổ sent an Imperial Order to recall him to the capital to be the king's advisor, but when the Imperial Order arrived he had already passed away. To honour him, the king ordered his local mandarin to build a stupa right at the foot of the mountain and to rebuild the temple where he used to stay.

Thiền lưu

(禪流): những người tu tập Thiền Tông, hay nói chung là tu sĩ Phật Giáo. Nam Thạch Văn Tú Thiền Sư Ngữ Lục (南石文琇禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1422) quyển 4, bài Tặng Hổ Kheo Hỷ Tạng Chủ (贈虎丘喜藏主), có đoạn: “Tỳ Lô các hạ quỷ tiên thi, tứ hải Thiền lưu thiết yếu tri, khán tận nguyên lai duy nhất cú, nhược ngôn nhất cú tảo thành nghi (毗盧閣下鬼仙詩、四海禪流切要知、看盡元來惟一句、若言一句早成疑, Tỳ Lô dưới điện linh quỷ thơ, bốn biển Thiền tăng rõ biết cho, xét kỹ xưa nay một câu chỉ, một câu nếu bảo thành nghi ngờ).” Hay trong bài Thích Ca Văn Phật Tán (釋迦文佛贊) của Sở Thạch Phạn Kỳ Thiền Sư Ngữ Lục (楚石梵琦禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1420) quyển 13 có đoạn rằng: “Tam thế Như Lai cọng nhất tâm, nhất tâm bất cách khứ lai câm, Nhiên Đăng thọ ký duyên vô đắc, Bát Nhã đàm không thán thậm thâm, cùng tử nhiếp quy An Dưỡng sĩ, đạo tràng xướng xuất Niết Bàn âm, Vân Môn tối thị tri ân giả, giải hướng Thiền lưu thống xứ châm (三世如來共一心、一心不隔去來今、然燈授記緣無得、般若譚空嘆甚深、窮子攝歸安養士、道場唱出涅槃音、雲門最是知恩者、解向禪流痛處針, ba đời Như Lai cũng một tâm, một tâm chẳng cách xưa nay cùng, Nhiên Đăng thọ ký duyên chẳng có, luận bàn Bát Nhã thật thâm huyền, con khổ thảy về An Dưỡng kẻ, đạo tràng vang xướng Niết Bàn âm, Vân Môn quả đúng tri ân bạn, xoa dịu tu Thiền nhói kim đâm).” Hoặc như trong Kiềm Nam Hội Đăng Lục (黔南會燈錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1591) quyển 2 có câu: “Trân trọng Thiền lưu thân thiết cú, hưu đắc vô thằng tự thảo phược (珍重禪流親切句、休得無繩自討縛, trân trọng tu hành lời thân thiết, chớ để không dây trói buộc mình).” ; (禪流): những người tu tập Thiền Tông, hay nói chung là tu sĩ Phật Giáo. Nam Thạch Văn Tú Thiền Sư Ngữ Lục (南石文琇禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1422) quyển 4, bài Tặng Hổ Kheo Hỷ Tạng Chủ (贈虎丘喜藏主), có đoạn: “Tỳ Lô các hạ quỷ tiên thi, tứ hải Thiền lưu thiết yếu tri, khán tận nguyên lai duy nhất cú, nhược ngôn nhất cú tảo thành nghi (毗盧閣下鬼仙詩、四海禪流切要知、看盡元來惟一句、若言一句早成疑, Tỳ Lô dưới điện linh quỷ thơ, bốn biển Thiền tăng rõ biết cho, xét kỹ xưa nay một câu chỉ, một câu nếu bảo thành nghi ngờ).” Hay trong bài Thích Ca Văn Phật Tán (釋迦文佛贊) của Sở Thạch Phạn Kỳ Thiền Sư Ngữ Lục (楚石梵琦禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1420) quyển 13 có đoạn rằng: “Tam thế Như Lai cọng nhất tâm, nhất tâm bất cách khứ lai câm, Nhiên Đăng thọ ký duyên vô đắc, Bát Nhã đàm không thán thậm thâm, cùng tử nhiếp quy An Dưỡng sĩ, đạo tràng xướng xuất Niết Bàn âm, Vân Môn tối thị tri ân giả, giải hướng Thiền lưu thống xứ châm (三世如來共一心、一心不隔去來今、然燈授記緣無得、般若譚空嘆甚深、窮子攝歸安養士、道場唱出涅槃音、雲門最是知恩者、解向禪流痛處針, ba đời Như Lai cũng một tâm, một tâm chẳng cách xưa nay cùng, Nhiên Đăng thọ ký duyên chẳng có, luận bàn Bát Nhã thật thâm huyền, con khổ thảy về An Dưỡng kẻ, đạo tràng vang xướng Niết Bàn âm, Vân Môn quả đúng tri ân bạn, xoa dịu tu Thiền nhói kim đâm).” Hoặc như trong Kiềm Nam Hội Đăng Lục (黔南會燈錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1591) quyển 2 có câu: “Trân trọng Thiền lưu thân thiết cú, hưu đắc vô thằng tự thảo phược (珍重禪流親切句、休得無繩自討縛, trân trọng tu hành lời thân thiết, chớ để không dây trói buộc mình).”

thiền lạc

Sự hỷ lạc trong thiền định—The joy of abstract meditation.

thiền lễ

(禪禮) Từ gọi chung tọa thiền và lễ sám. Hành giả Thiền tông nương vào tọa thiền và lễ bái Tam bảo để sám hối tội chướng. Chương Thích chí siêu trong Tục cao tăng truyện quyển 20 (Đại 50, 592 thượng) ghi: Chúng tăng thâm cảm lời nói ấy, trong tâm sảng khoái, thực hành đúng theo thiền lễ, thời khóa không bỏ. [X. Duy thức xu yếu Q.thượng].

thiền lục

Ký lục của Thiền Tông—The records of the Ch'an sect.

thiền lữ

1) Bạn đồng tu Thiền: Fellow-meditators. 2) Tăng lữ đồng tu: Fellow-monks.

Thiền môn

(禪門): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Pháp môn Thiền định. (2) Thuộc vào Định Học (定學) trong Tam Học (三學), cũng chỉ Thiền Định Ba La Mật (s: dhyāna-pāramitā, p: jhāna-pāramitā, 禪定波羅蜜) trong Lục Độ (s: ṣaḍ-pāramitā, ṣaṭ-pāramitā, 六度). Như trong Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự (禪源諸詮集都序) quyển Thượng có đoạn: “Vạn hạnh bất xuất Lục Ba La Mật, Thiền môn đản thị lục trung chi nhất, đương kỳ đệ ngũ (, vạn hạnh không ra ngoài Sáu Ba La Mật, Thiền môn chỉ là một trong sáu pháp đó).” (3) Chỉ cho pháp môn của Thiền Tông, còn gọi là Thiền Tông Môn Lưu (禪宗門流), Thiền Tông (禪宗), Phật Tâm Tông (佛心宗), Thiền Gia (禪家). (4) Là từ gọi tắt của Thiền Định Môn (禪定門) trong Phật Giáo Nhật Bản, còn gọi là Thiền Thất (禪室).

thiền môn

1) Pháp Môn Thiền Định nói chung: The meditative method in general. 2) Thiền Ba La Mật: Dhyana paramita—See Lục Độ Ba La Mật. 3) Thiền Tông được Tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền sang Trung Quốc, tâm tâm tương truyền như một trường phái mật giáo: The intuitional school established in China according to tradition by Bodhidharma, personally propagated from mind to mind as an esoteric school. ; (禪門) I. Thiền Môn. Pháp môn thiền định. Chỉ cho 10 môn: Căn bản tứ thiền, Thập lục đặc thắng, thông minh, Cửu tưởng, Bát bối xả, Đại bất tịnh, Từ tâm, Nhân duyên, Niệm Phật và Thần thông. II. Thiền Môn. Một trong Tam học Giới, Định, Tuệ, Thiền môn thuộc về Định học, cũng chỉ cho Thiền ba la mật trong Lục độ. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng (Đại 48, 399 trung) nói: Muôn hạnh không ngoài 6 Ba la mật, Thiền môn chỉ là độ thứ 5 trong 6 độ ấy, há có thể coi chân tính chỉ là1 hạnh Thiền này thôi sao? (xt. Thiền). III. Thiền Môn. Cũng gọi Thiền tông môn lưu, Thiền tông, Phật tâm tông, Thiền gia. Chỉ cho pháp môn của Thiền tông. (xt. Thiền Tông). IV. Thiền Môn. Cũng gọi Thiền thất. Gọi đủ: Thiền định môn. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. (xt. Thiền Định Môn).

thiền môn bí yếu quyết

(禪門秘要訣) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Vĩnh gia Huyền giác (?-713) soạn vào đời Đường. Nội dung giống với Chứng đạo ca cũng của ngài Huyền giác; như vậy; có lẽ Thiền môn bí yếu quyết là bản phác họacủa Chứng đạo ca? Thuyết Tây thiên tứ thất,Đông độ nhị tam(tức 28 Tổ sư Thiền tôngẤn độ và 6 Tổ sư Thiền tông Trung quốc) được nêu ra trong sách này có lẽ đã do người đời sau thêm thắt vào. Dưới tiêu đề có 7 chữ Chiêu giác Đại sư nhất túc giác là chỉ cho ngài Huyền giác, vì ngài Huyền giác được khai ngộ trong 1 đêm ở nơi Lục tổ Tuệ năng, cho nên được khen ngợi là Nhất túc giác(giác ngộ trong 1 đêm). Còn Chiêu giácĐại sư thì rõ ràng cũng chỉ cho ngài Huyền giác. Bản Đôn hoàng số 2165 và số 4037 của ông A. Stein chỉ sao chép 1 phần sách này; còn các bản số 2104 và 2105 của ông P. Pelliot thì sao chép toàn bộ. [X. Thiền tư tưởng sử nghiên cứu thứ 2 (Linh mộc Đại chuyết-D.T.Suzuki).

thiền môn bảo tạng lục

(禪門寶藏錄) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Thiên sách người Triều tiên soạn vào khoảng năm Chí nguyên 30 (1293) đời vua Thế tổ nhà Nguyên. Năm Gia tĩnh 11 (1532) đời vua Thế tông nhà Minh, sách này được ấn hành chung với Thiền môn cương yếu tập, được thu vào Vạn tục tạng tập 113 và Thiền môn toát yếu quyển hạ. Sách này trích lục các ngữ yếu vấn đáp chất nghi về tông thừa trong các bộ Đăng lục như: Cảnh đức truyền đăng lục, Gia thái phổ đăng lục,Truyền pháp chính tông kí... Nội dung bao gồm Thiền giáo đối biện môn 25 tắc, Chư giảng qui phục môn 25 tắc, Quân thần sùng tín môn 39 tắc... Cứ theoĐông sưliệt truyện quyển 1 do ngài Huyễn như Giác ngạn (1820-1894) người Triều tiên soạn, nếu theo phương diện niên đại và tư tưởng mà khảo chứng thì tác giả của sách này có lẽ là ngài Chân tĩnh Pháp am.[X. Thiền tịch mục lục].

thiền môn chư tổ sư kệ tụng

(禪門諸祖師偈頌) Tác phẩm, 4 quyển, do các vị Tử thăng và Như hựu biên soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 16. Nội dung sách này thu chép các bài kệ truyền pháp của chư Tổ như: Tín tâm minh, Huyền trung minh, Tuyết tử ngâm, Tọa thiền minh, Ngũ vị tụng, Thiền nguyệt qui giám, Chí công dược phương, Nhân tông hoàng đế tán tăng, Miễn Phật quả hành cước, Chântính tụng... tất cả hơn 80 hạng mục gồm lời răn dạy của các bậc cổ đức và những bài kệ tụng về tông thừa.

thiền môn cửu sơn

(禪門九山) Cũng gọi Thiền tông cửu sơn, Cửu sơn môn, Cửu sơn thiền môn. Chỉ cho 9 phái Thiền của nước Triều tiên. Vào cuối thời đại Tân la ở Triều tiên, có 9 vị tăng lần lượt đến Trung quốc học đạo, sau khi về nước, sáng lập 9 ngôi chùa Thiền, cũng tức là mở đầu cho 9 phái Thiền, gọi chung là Thiền môn cửu sơn. Tên tông mà 9 phái này qui thuộc trước gọi là Thiền tịch tông, sau gọi là Tào khê tông. Chín phái là: 1. Phái Ca trí sơn: Ngài Đạo nghĩa đến Trung quốc vào năm 784 đời Đường, ở lại đây 37 năm, theo ngài Tây đường Trí tạng –đệ tử Thiền sư Mã tổ Đạo nhất– học tập Thiền Nam tông. Sau khi về nước, sư hoằng dương yếu chỉ Nam đốn ở chùa Bảo lâm, núi Ca trí, quận Trường hưng, tỉnh Toàn la nam, có hơn 800 đệ tử như các vị Anh huệ, Thanh hoán... 2. Phái Thực tướng sơn: Ngài Hồng trắc đến Trung quốc vào khoảng 809-825 đời Đường, nối pháp ngài Tây đường Trí tạng. Sau khi trở về nước, sư khai sáng phái này vào năm 828. Bản sơn là chùa Thực tướng ở núi Trí dị, quận Nam nguyên, tỉnh Toàn la bắc. Đệ tử có các vị Tú triệt, Phiến vân... 3. Phái Xà quật sơn: Ngài Phạm nhật đến Trung quốc vào đời Đường, theo các ngài Diêm quan Tề an và Thương châu Thần giám –đệ tử Thiền sư Mã tổ Đạo nhất– tập thiền.Năm 846, sư trở về nước, sư sáng lập phái này ở chùa Quật sơn, núi Xà quật, quận Giang lăng, tỉnh Giang nguyên. Môn đình phái này thịnh nhất trong Thiền môn cửu sơn. Đệ tử có các vị Lãng viên, Lãng không... 4. Phái đồng lí sơn: Ngài Tuệ triết(cũng gọi Huệ triết) đến Trung quốc vào đời Đường, thờ ngài Tây đường Trí tạng làm thầy. Sư trở về nước năm 839, sáng lập chùa Thái an ở núi Đồng lí, quận Cốc thành, tỉnh Toàn la nam. Đệ tử có vài trăm vị như Đạo sân, Như đại sư... 5. Phái Thánh trụ sơn: Ngài Vô nhiễm đến Trung quốc vào đời Đường, học Hoa nghiêm ở chùa Chí tướng, núi Chung nam, sau được đệ tử Thiền sư Mã tổ là ngài Ma cốc Bảo triệt ấn khả. Sau khi trở về nước, sư ở chùa Thánh trụ, quận Bảo ninh, tỉnh Trung thanh nam, soạn Vô thuật độ luận để xiển dương tông phong. Sư có hơn 2000 đệ tử như các vị: Viên tạng, Linh nguyên, Huyền ảnh... 6.Phái sư tử sơn: Ngài Đạo doãn đến Trung quốc vào đời Đường, theo ngài Nam truyền Phổ nguyện tu tập thiền pháp. Sau khi trở về nước, sư trụ chùa Song phong, tỉnh Toàn la nam. Đệ tử sư là ngài Chiết trung sáng lập chùa Pháp hưng ở quận Nguyên châu, tỉnh Giang nguyên. 7. Phái Hi dương sơn: Ban đầu, ngài Trí sân theo Đại sư Phạm thể học tập Hoa nghiêm, sau lại theo ngài Huệ ẩn là huyền tôn của Tứ tổ Đạo tín học Thiền. Sư khai sáng phái này ở chùa Phụng nghiêm, núi Hi dương, quận Văn thánh, tỉnh Khánh thượng bắc. Có vài trăm đệ tử như các vị: Tính quyên, Mẫn hưu, Dương phu... 8. Phái Phụng lâm sơn: Ngài Huyền dực đến Trung quốc vào đời Đường, theo ngài Chương kính Hoài huy –đệ tử Thiền sư Mã tổ– họcThiền và được ấn khả. Sau khi trở về nước, sư sáng lập chùa Cao đạt ở núi Tuệ mục. Sau khi sư thị tịch vào năm 868, đệ tử của sư là ngài Thẩm hi (855- 923), khai sáng chùa Phụng lâm ở quận Xương nguyên, tỉnh Khánh thượng nam, lâu trở thành 1 phái. 9. Phái Tu di sơn: Ngài Lợi nghiêm đến Trung quốc vào năm 894 đời Đường, theo ngài Vân cư Đạo ưng –đệ tử Thiền sư Động sơn Lương giới– tập Thiền và được ấn khả. Sau khi sư trở về nước vào năm 911, vâng sắc vua Thái tổ nước Cao li, sáng lập chùa Quảng chiếu ở núi Tu di, quận Hải châu, tỉnh Hoàng hải. Có vài trăm đệ tử như các vị: Xử quang, Đạo nhẫn... [X. Thiền môn cửu sơn lai lịch; Triều tiên Phật giáo thông sử; Triều tiên thiền giáo sử; Triều tiên Phật giáo đích tự dữ lịch sử].

thiền môn ngũ tông

Năm tông phái Thiền (Từ Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma đến Lục Tổ Huệ Năng, Thiền Tông Trung Quốc vẫn là một tông duy nhất, nhưng sau đó được chia làm năm tông)—The five Ch'an schools. 1) Lâm Tế Tông: Tông Lâm Tế vẫn còn tồn tại đến hôm nay và rất thành công. Dưới thời nhà Tống, tông nầy chia làm hai nhánh là Dương Kỳ và Hoàng Long—Lin-Ji Sect, which remains and is very successful until this day. During the Sung dynasty, it divided into two sects of Yang-Qi and Hung-Lung. 2) Quy Ngưỡng Tông (đã bị mai một): Kui-Yang Sect, disappeared. 3) Vân Môn Tông (vẫn còn tồn tại đến nay): Yun-Men Sect, remains until this day. 4) Pháp Nhãn Tông (đã du nhập Cao Ly): Fa-Yan Sect, which was removed to Korea. 5) Tào Động Tông (vẫn còn tồn tại đến nay): Tsao-Tung Sect, remains until this day. ** The second already disappeared; the fourth was removed to Koea; the other three remained, the first being the most successful.

thiền môn nhật tụng

(禪門日誦) Tác phẩm, 2 quyển, tác giả cũng như niên đại ấn hành lần đầu tiên đều không rõ. Chỉ được biết có các bản in vào năm Đạo quang 14 (1834) đời Thanh, bản của chùa Dũng tuyền, Cổ sơn, tỉnh Phúc kiến in vào năm Quang tự 12 (1886) đời Thanh, bản in vào năm Quang tự 26 (1900) có bài tựa và bản do Kim lăng khắc kinh xứ in lại nguyên bản của chùa Thiên đồng, tỉnh Chiết giang...nhưng nội dung các bản in trên đều hơi khác nhau. Nội dung sách này, ngoài việc thu chép các pháp yếu, pháp ngữ, cảnh sách, vấn đối, huấn hối văn...của cácĐại sư trong Thiền môn, còn thu chép 1 lượng lớn kinh, luật, kệ, nghi văn, chú...thường dùng trong các chùa việnnói chung, như thần chú Đại Phật đính thủ lăng nghiêm, Bát nhã tâm kinh, Niệm Phật khởi chỉ nghi... Vì thời đại Minh, Thanh các tông phái có xu hướng dung hợp, nhất là 2 tông Thiền và Tịnh độ lại càng rõ ràng. Do đó, tác phẩm này tuy mệnh danh là Thiền môn nhật tụng (khóa tụng hàng ngày trong Thiền môn) nhưng thực thì không còn là Thiền môn thuần túy nữa.

thiền môn niêm tụng tập

(禪門拈頌集) Tác phẩm, 30 quyển, do 2 ngài Tuệ trạm và Chân huấn người Cao li biên tập, là sách tập đại thành các ngữ cú cơ duyên, niệm tụng của Thiền gia trong khoảng thời gian từ đức Thích tôn về sau cho đến các Đại sư đời Đường, Tống. Sách này lấy các thông tập như Cảnh đức truyền đăng lục... và các biệt tập như ngữ lục của các Thiền sư... làm nền tảng, chọn lựa ghi chép các cơ duyên ngữ cú của các bậc Thiền giả từ đức Thích tôn trở xuống đến ngài Dục vương Giới thầm, đệ tử nối pháp Thiền sư Trường linh Thủ trác thuộc đời thứ 21 của hệ thống Tổ Đạt ma, gồm 1125 tắc, đồng thời có phụ thêm niêm cổ, tụng cổ, phổ thuyết, tiểu tham... của các nhà. Tuy cùng một tính chất với Tông môn thống yếu 10 quyển của ngài Tuệ nghiêm Tông vĩnh đời Tống và Tông môn thống yếu tục tập 22 quyển của ngài Cổ lâm Thanh mậu đời Nguyên, nhưng chỉ sách này là còn truyền cơ duyên ngữ cú và niêm tụng, cho nên rất được trân trọng. [X. Thiền tịch mục lục; Triều tiên thiền giáo sử (Hốt hoạt cốc khoái thiên)].

thiền môn sư tư thừa tập đồ

(禪門師資承襲圖) Cũng gọi Bùi hưu thập di vấn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Khuê phong Tông mật (780-841) soạn vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 110. Trangtrongsách này đề là: Trung hoa truyền tâm địa Thiền môn sư tư thừa tập đồ, Nội cung phụng sa môn Tông mật đáp Bùi tướng quốc vấn. Tức sách này là ngài Tông mật trả lời những câu hỏi của quan Tể tướng nhà Đường là Bùi hưu (797-870) về sự truyền thừa và ngôn giáo cạn, sâu của các phái Thiền tông ở thời kì đầu tại Trung quốc. Nội dung sách này, trước nêu Tướng quốc Bùi hưu hỏi, kếnêuThiền sư Tông mật trả lời, sau cùng đến bản văn. Bản văn không chia ra chương tiết, nhưng nay có thể chia làm 3 đoạn để khảo sát như sau:1. Trình bày về nguồn gốc các tông. 2. Nói về giáo chỉ của các tông. 3. Phê bình giáo chỉ các tông. Trong đó, phần nguồn gốc các tông có nói sơ qua sự truyền thừa của các tông như: Tông Ngưu đầu của ngài Tuệ dung (Pháp dung), Bắc tông của ngài Thần tú, Nam tông của ngài Tuệ năng, tông Hà trạch của ngài Thần hội, tông Hồng châu của ngài Đạo nhất... và chủ trương tông Hà trạch là chính thống của Thiền tông. Để thấy rõ hơn về sự truyền thừa ấy nên sách này lại nêu ra hệ phổ như sau: Đạt ma, Tuệ khả, Tăng xán, Đạo tín, Hoằng nhẫn, Tuệ năng, Thần hội, Trí như, Nam ấn, đồng thời ghi thêm đệ tử nối pháp của các nhà. Ngoài ra, sách này lược ghi giáo chỉ của Bắc tông(phụ thêm tông Tịnh chúng của ngài Vô tướng, tông Bảo đường của ngài Vô trụ), tông Hồng châu, tông Ngưu đầu và tông Hà trạch, đối với 3 tông trước có lời bình luận ngắn. Đến việc phê phán giáo chỉ thì trước hết lấy tính chất bất biến và tùy duyên để bàn về các tông, rồi tổng kết (Vạn tục 110, 43 hạ): Nếu nhận ra được minh châu là thể năng hiện thì vĩnh viễn không thay đổi(Hà trạch). Nhưng nói tối là(minh) châu (tông Hồng châu), hoặc chủ trương lìa tối tìm châu (Bắc tông) hoặc nói châu(sáng) và tối đều là không(tông Ngưu đầu), thì đều là chưa thấy châu. Lại y cứ vào sự lập nghĩa của tông Hà trạch mà bàn về đốn ngộ và tiệm tu của các tông để hiển bày ý nghĩa đốn ngộ của tông Hà trạch. [X. Pháp tập biệt hành lục tiết yếu; Thiền sư tưởng sử nghiên cứu 2 (Linh mộc Đại chuyết) – D.T.Suzuki)].

thiền môn toát yếu

(禪門撮要) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Thanh hư đường Hưu tĩnh người Triều tiên biên soạn, do chùa Vân môn, núi Hổ cứ, quận Thanh đạo, tỉnh Khánh thượng bắc khắc bản in vào năm 1907. Nội dung thu chép những Thiền lục của Trung quốc và Triều tiên.Quyển thượng gồm các trứ thuật của Trung quốc, tức luận Huyết mạch, luận Quán tâm, luận Tứ hành của Sơ tổ Đạt ma, luận Tối thượng thừa của Ngũ tổ Hoằng nhẫn, Hoàng bá Đoạn tế thiền sư uyển lăng lục, Hoàng bá sơn Đoạn tế thiền sư truyền tâm pháp yếu, Hoàn sơn Chính ngưng thiền sư thị mông sơn pháp ngữ, Bác sơn Vô dị thiền sư thiền cảnh ngữ. Quyển hạ là các soạn thuật của Triều tiên, tức Phổ chiếu thiền sư tu tâm quyết, Phổ chiếu thiền sư chân tâm trực thuyết, Phổ chiếu thiền sư cần tu định tuệ kết xã văn, Phổ chiếu thiền sư khán thoại quyết nghi luận, Chân tĩnh đại sư thiên sách biên tập thiền môn bảo tạng lục, Thanh phong Trưởng lão thiền môn cương yếu tập, Tây sơn thanh hư thiền giáo thích. Trong đó, phần soạn thuậtcủaTrung quốc ở quyển thượng cũng được thu chép vào Pháp hải bảo phiệt do cư sĩ Bảo quang Lưu vân thuộc Cam lộ xã biên tập và khắc in vào năm Quang tự thứ 9 (1883). Còn phần soạn thuật của Triều tiên ở quyển hạ thì có nhiều loại bản khắc in, trong đó 3 sách: Khuyến tu định tuệkếtxã văn, Khán thoại quyết nghi luận và Thiền môn cương yếu tập là những sách mà từ trước đến nay chưa bao giờ được khắc bản. [X. Tích thúyhiên văn khố thiện bản mục lục giải đề (Xuyên lại Nhất mã); Triều tiên cựu thư khảo (Hắc điền lượng)].

thiền môn đoán luyện thuyết

(禪門鍛煉說) Cũng gọi Thiền lâm đoán luyện thuyết, Đoán luyện thuyết thập tam thiên. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Hối sơn Giới hiển soạn vào đời Minh, ấn hành vào năm Đồng trị 11 (1872) đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 112. Ngài Giới hiển cho rằng rèn luyện Thiền chúng phải như Tôn vũ dụng binh, trong sách ngài liệt kê những phương pháp rèn luyện Thiền chúng gồm 13 hạng mục, theo thứ tự là: Kiên thệ nhẫn khổ, Biện khí thụ thoại, Nhập thất sưu quát, Lạc đường khai đạo, Thùy thủ đoán luyện, Cơ quyền sách phát, Kí xảo hồi hoán, Trảm quan khai nhãn, Nghiên cứu cương tông, Tinh nghiêm thao lí, Ma trị học nghiệp, Giản luyện tài năng và Cẩn nghiêm phó thụ.

Thiền Mông Cầu

(禪蒙求, Zenmōkyū): xem Thiền Uyển Mông Cầu (禪苑蒙求, Zennenmōkyū) bên dưới.

Thiền Mặc Chiếu

(黙照禪): đương thời có từ gọi là Mặc Chiếu Tà Sư (黙照邪師) hay Mặc Chiếu Tà Thiền (黙照邪禪) mà Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲) dùng để phê phán khuynh hướng đang hiện hành trong Thiền Tông. Đây chính là ngôn từ nhằm phê phán những người không nhắm mục đích giác ngộ mà chỉ chuyên im lặng ngồi Thiền, và vì trước tác của Hoằng Trí Chánh Giác (宏智正覺), tức cuốn Mặc Chiếu Minh (黙照銘), nên đối tượng phê phán của Đại Huệ hẳn nhiên là những người thuộc Phái Hoằng Trí. Tuy nhiên, giữa Đại Huệ và Hoằng Trí vốn có mối thâm giao, cho nên đối tượng phê phán không phải là trực tiếp Hoằng Trí mà là các huynh đệ đệ tử của ông như nhóm Chơn Hiết Thanh Liễu (眞歇清了). Có điều dầu sao đi nữa, sự phê phán này rõ ràng là tiền đề nói lên sự khác nhau giữa Thiền phong của Lâm Tế và Tào Động. Vẫn có ít nhiều dị luận, song chúng ta cũng khó phủ định được rằng chính Thiền của Đạo Nguyên (道元) bên Nhật Bản vốn chủ trương "chỉ quản đả tọa" (只管打坐, Shikantaza) đã nối tiếp hệ thống của Thiền Mặc Chiếu này. Nếu từ ý nghĩa ấy mà xét, chúng ta có thể nói rằng đó là nguyên nhân vì sao Đạo Nguyên đã phê phán kịch liệt Đại Huệ.

thiền na

Là thiền quán tịch diệt, quán các pháp phi không phi giả mà vô trụ, như âm thanh ẩn trong chuông trống. ; Dhyana (skt). (A) Thiền Na là thuật ngữ Trung Hoa, do từ tiếng Phạn “Dhyana” mà ra. Thiền Na chỉ sự tập trung tinh thần và sự tĩnh tâm, trong đó mọi sự phân biệt nhị nguyên đều biến mất—Ch'an-na is a Chinese version from the Sanskrit word “Dhyana,” which refers to collectedness of mind or meditative absorption in which all dualistic distinctions disappear. (B) Tịnh lự—Làm vắng lặng dòng suy tưởng. Thiền Na là Ba La Mật thứ năm trong lục độ Ba La Mật (thực tập thiền na để được trí huệ Bát Nhã), trong đó tất cả mọi biện biệt giữa chủ thể và đối tượng, giữa thật và giả, đều bị xóa bỏ—Quiet thought—Quiet meditation—The fifth paramita (to practice dhyana to obtain real wisdom or prajna). In dhyana all dualistic distinctions like subject, object, true, false are eliminated. • Abstract. • Meditation. • Thought. • Reflection. • Profound and abstract religious contemplation. • Get rid of evil. • Quiet meditation. (C) Theo Bách Khoa Từ Điển Minh Triết Phương Đông, có hai định nghĩa về Thiền—According to The Encyclopedia of Eastern Philosophy and Religion, Zen can be defined as both exoterically and esoterically. 1) Theo quan điểm công truyền: Thiền là một phái của Phật giáo Đại Thừa, phát triển ở các thế kỷ thứ sáu và thứ bảy, nhờ sự hòa trộn Phật giáo Thiền do tổ Bồ Đề Đạt Ma du nhập vào Trung Quốc và Đạo giáo. Hiểu theo nghĩa nầy, Thiền là một tôn giáo mang học thuyết và các phương pháp nhằm mục đích đưa tới chỗ nhìn thấy được bản tính riêng của chúng ta, và tới giác ngộ hoàn toàn, như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã trải qua dưới cội Bồ Đề sau một thời kỳ thiền định mãnh liệt. Hơn bất cứ một phái Phật giáo nào, Thiền đặt lên hàng đầu sự thể nghiệm đại giác và nhấn mạnh tới tính vô ích của các nghi lễ tôn giáo. Con đường ngắn hơn nhưng gay go trong tu hành là “tọa thiền.”—Exoterically regarded, Zen, or Ch'an as it is called when referring to its history in China, is a school of Mahayana Buddhism, which developed in China in the 6th and 7th centuries from the meeting of Dhyana Buddhism, which was brought to China by Bodhidharma, and Taoism. In this sense, Ch'an is a religion, the teachings, and practices of which are directed toward self-realization and lead finally to complete awakening or enlightenment as experienced by Sakyamuni Buddha after intensive meditative self-discipline under the Bodhi-tree. More than any other school, Ch'an stresses the prime importance of the enlightenment experience and the useless of ritual religious practices and intellectual analysis of doctrine for the attainment of liberation. Ch'an teaches the practice of sitting in meditative absorption as the shortest, but also steepest, way to awakening. ** Những đặc trưng của Thiền có thể tóm tắt bằng bốn nguyên lý sau đây—The essential nature of Ch'an can be summarized in four short statements: a) Giáo ngoại biệt truyền: Special transmission outside the orthodox teaching. b) Bất lập văn tự: Nondependence on sacred writings. c) Trực chỉ nhân tâm: Direct pointing to the human heart. d) Kiến tánh thành Phật: Leading to realization of one's own nature and becoming a Buddha. ** For more information, please see Thiền Định Ba La Mật, Dhyana, and Tứ Thiền. 2) Theo quan điểm bí truyền: Thiền không phải là một tôn giáo, mà là một nguồn gốc không thể xác định được và không thể truyền thụ được. Người ta chỉ có thể tự mình thể nghiệm. Thiền không mang một cái tên nào, không có một từ nào, không có một khái niệm nào, nó là nguồn của tất cả các tôn giáo, và các tôn giáo chỉ là những hình thức biểu hiện của cùng một sự thể nghiệm giống nhau. Theo nghĩa nầy, Thiền không liên hệ với một truyền thống tôn giáo riêng biệt nào, kể cả Phật giáo. Thiền là “sự hoàn thiện nguyên lai” của mọi sự vật và mọi thực thể, giống với sự thể nghiệm của tất cả các Đại Thánh, các nhà hiền triết và các nhà tiên tri thuộc tất cả mọi tôn giáo, dù có dùng những tên gọi khác nhau đến mấy để chỉ sự thể nghiệm ấy. Trong Phật giáo, người ta gọi nó là “sự đồng nhất của Sanh tử và Niết bàn.” Thiền không phải là một phương pháp cho phép đi đến sự giải thoát đối với một người sống trong vô minh, mà là biểu hiện trực tiếp, là sự cập nhật hóa sự hoàn thiện vốn có trong từng người ở bất cứ lúc nào—Esoterically regarded, Ch'an is not a religion, but rather an indefinable, incommunicable root, free from all names, descriptions, and concepts, that can only be experienced by each individual for him or herself. From expressed forms of this, all religions have sprung. In this sense, Ch'an is not bound to any religion, including Buddhism. It is the primor-dial perfection of everything existing, designated by the most various names, experienced by all great sages, and founders of religions of all cultures and times. Buddhism has referred to it as the “identity of Samsara and Nirvana.” From this point of view, Ch'an is not a method that brings people living in ignorance to the goal of liberation; rather it is the immediate expression and actualization of the perfection present in every person at every moment.

thiền nam tông

See Southern school.

Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự

(禪源諸詮集都序, Zengenshosenshūtojo): 2 quyển, trước tác của Khuê Phong Tông Mật (圭峰宗密) nhà Đường, được san hành vào năm thứ 7 (1062) niên hiệu Gia Hựu (嘉祐) nhà Tống, là tác phẩm thâu tập các yếu ngữ, kệ tụng có liên quan đến huyền nghĩa của Thiền môn từ các trước thuật của chư vị trong hệ thống Thiền Tông, lấy tên là Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập (禪源諸詮集), xem đây như là kho tàng của Thiền với ý nghĩa “Đô Tự (都序)”. Nó còn có tên gọi khác là Thiền Na Lý Hành Chư Thuyên Tập (禪那理行諸詮集), có nghĩa là tập giải thích kỹ lưỡng đạo lý căn nguyên của Thiền. Nói tóm lại, nó luận rõ bản nguyên của Thiền là bản giác chơn tánh của tất cả chúng sanh, chứng được bản nguyên ấy gọi là Tuệ, tu tập bản nguyên ấy gọi là Định và trải qua quá trình lý của Thiền, hành của Thiền và thể của Thiền. Hơn nữa, Thiền có 5 loại: Ngoại Đạo Thiền (外道禪), Phàm Phu Thiền (凡夫禪), Tiểu Thừa Thiền (小乘禪), Đại Thừa Thiền (大乘禪), và Tối Thượng Thừa Thiền (最上乘禪). Về Tối Thượng Thừa Thiền, tác phẩm này giải thích rằng: “Tối Thượng Thừa Thiền diệc danh Như Lai Thanh Tịnh Thiền, diệc danh Nhất Hành Tam Muội, diệc danh Chơn Như Tam Muội, thử thị nhất thiết tam muội căn bản, nhược năng niệm niệm tu tập, tự nhiên tiệm đắc bách thiên tam muội, Đạt Ma môn hạ triển chuyển tương truyền giả, thị thử Thiền dã (最上乘禪亦名如來清淨禪、亦名一行三昧、亦名眞如三昧、此是一切三昧根本、若能念念修習、自然漸得百千三昧、達磨門下展轉相傳者、是此禪也, Tối Thượng Thừa Thiền còn có tên gọi khác là Như Lai Thanh Tịnh Thiền, cũng có tên là Nhất Hành Tam Muội, lại có tên là Chơn Như Tam Muội; đây là căn bản của tất cả tam muội, nếu có thể mỗi niệm tu tập nó, tự nhiên dần dần đạt được trăm ngàn tam muội; pháp môn mà môn hạ của Đạt Ma thay nhau truyền thừa chính là Thiền này)”. Đối với Thiền, Khuê Phong thuộc môn hạ của Hà Trạch Tông (荷澤宗) và từng kế thừa dòng pháp của Toại Châu Đạo Viên (遂州道圓); nhưng đồng thời đối với Hoa Nghiêm Tông (華嚴宗), ông lại kế thừa Thanh Lương Trừng Quán (清涼澄觀) và trở thành vị tổ thứ 5; cho nên ông là nhân vật dung hợp cả Giáo và Thiền. Do đó, trong tác phẩm này ông đã tạo sự điều hòa cuộc đấu tranh giữa các nhà Giáo gia cũng như Thiền gia, làm sáng tỏ cả Giáo và Thiền đều có 2 phương diện đốn tiệm như nhau và phải nói rằng ông là luận giả hệ thống hóa nhất trí tư tưởng Thiền và Giáo. Theo bản Trùng Khắc Thiền Nguyên Thuyên Tự (重刻禪源詮序) của Cổ Nhữ Chu (賈汝舟) với tên gọi Minh Tàng Bản (明藏本), chúng ta biết có bản ấn tạo vào năm thứ 8 (tức năm thứ 7 [1062] niên hiệu Gia Hựu [嘉祐]) niên hiệu Thanh Ninh (清寧). Ngoài ra, còn có bản năm thứ 7 (1303) niên hiệu Đại Đức (大德), Phúc Tống Bản (覆宋版) do Triều Tiên khai bản vào năm thứ 4 (1576) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), v.v. Tại Nhật Bản, cũng có san hành bộ này vào năm thứ 3 (1358) niên hiệu Diên Văn (延文) và năm thứ 11 (1698) niên hiệu Nguyên Lộc (玄祿). Sách chú thích có Thiền Nguyên Tập Đô Tự Trước Bính (禪源集都序着柄) của Hối Am Đại Sư Định Tuệ (晦庵大師定慧) người Triều Tiên, Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự Khoa Mục Tinh Nhập Tư Ký (禪源諸詮集都序科目幷入私記) của Liên Đàm Hữu Nhất (蓮潭有一), v.v.

thiền nguyên chư thuyên tập đô tự

(禪源諸詮集都序) Tác phẩm, 2 quyển hoặc 4 quyển, do ngài Tông Mật (780-841) soạn vào đời Đường được thu vào Đại chính tạng tập 48.Ban đầu, ngài Tông mật có soạn 1 bộ Thiền nguyên chư thuyên tập (cũng gọi Thiền na lí hành chư thuyên tập) 100 quyển, thu chép những ngôn cú kệ tụng của các nhà Thiền tông, sau vì gặp pháp nạn Hội xương (845) và chiến loạn ở cuối đời Đường đầu thời Ngũ đại nên đã bị thất lạc, nay chỉ còn sót lại phần Đô tự, tức là sách này. Ngài Tông mật vốn thuộc cả Thiền tông (Thiền Hà trạch) và Hoa nghiêm tông, cho nênchủ trương Giáo Thiền nhất trí, sách này chính là tác phẩm đại biểu đề xướng chủ trương ấy, là tác phẩm trọng yếu về mặt lịch sử tư tưởng Phật giáo. Sách này gọi nguồn gốc của hết thảy chúng sinh là Bản giác chân tính, Phật tính, Tâm địa và lấy đây làm chủ đề mà triển khai lí luận, tức là phần giáo nghĩa; nương vào giáo nghĩa này để tu chứng khai ngộ chính là Thiền; đây là cội nguồn của Thiền, vì thế gọi là Thiền nguyên.Ởnhiều chỗ, soạn giả lại trưng dẫn Tâm chân như, Tâm sinh diệt...trong luận Đại thừa khởi tín mà chia Thiền thực tiễn làm 5 loại làthiền Ngoại đạo, thiền Phàm phu, thiền Tiểu thừa, thiền Đại thừa và thiền Tối thượng thừa. Về chủ trương Giáo Thiền nhất trí thì soạn giả chia mỗi thứ Giáo và Thiền làm 3 loại, phát minh dung hợp lẫn nhau để chỉ rõ sự nhất trí ấy. Baloại Giáo là: 1. Mật ý y tính thuyết tướng giáo: Giáo y cứ vào tính để nói về tướng. 2. Mật ý phá tướng hiển tính giáo: Giáo phá tướng để hiển bày tính. 3. Hiển thị chân tâm tức tính giáo: Giáo nêu rõ chân tâm chính là tính. Ba tông của Thiền là: 1. Tức vọng tu tâm tông: Tông diệt vọng niệm tu chân tâm. 2. Mẫn duyệt vô kí tông: Tông dứt bặt không dấu vết. 3. Trực hiển tâm tính tông: Tông chỉ thẳng chân tâm thấy tính thành thật.

thiền nguyệt tập

(禪月集) Tác phẩm, 30 quyển, bổ di 1 quyển, do ngài Quán hưu thuật vào đời Đường, đệ tử ngài làĐàm vực biên tập thi văn của ngài mà thành. Trong nguyên bản 30 quyển thì Văn tập 5 quyển đã thất lạc, chỉ còn Thi tập 25 quyển. Ông Mao tấn đời Minh soạn Bổ di 1 quyển. Nội dung gồm: Nhạc phủ cổ đề tạp ngôn, 1 quyển, Cổ phong tạp ngôn cổ ý 5 quyển, Ngũ ngôn luật thi 12 quyển, Thất ngôn luật thi và Thất ngôn tuyệt cú 6 quyển, Thất ngôn luật thi 1 quyển. [X. Tứ khố đề yếu (tập, biệt tập loại)].

Thiền Nham

禪巖; 1093-1163|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 13. Sư nối pháp Thiền sư Ðạo Pháp.|Sư tên Khương Thông, dáng vẻ quắc thước, tiếng nói trong thanh, gia thế vốn làm tăng quan.|Khi triều đình mở khoa thi về Kinh điển Ðại thừa, Sư dự thi và đỗ thủ khoa. Sư tìm đến chùa Ðắc Thành tham vấn Thiền sư Ðạo Pháp và chỉ qua một câu nói, Sư lĩnh hội ngay yếu chỉ. Sư nhân đây mới xuất gia.|Ban đầu, Sư trụ trì chùa Thiên Phúc trong núi Tiên Du, đói thì ăn lá cây, khát thì uống nước suối và cứ như thế sáu năm liên tục. Sau đó, Sư trở về quê trùng tu chùa Trí Quả làng Cổ Châu, Long Biên. Vì Sư cầu mưa linh nghiệm nên vua Lí Thần Tông rất tôn trọng.|Năm Chính Long Bảo Ứng thứ nhất, khoảng giữa xuân, Sư đốt hương từ biệt mọi người ngồi an nhiên thị tịch, tho 71 tuổi.

thiền nham

Thiền sư Thiền Nham (1093-1163)—Zen Master Thiền Nham—Thiền sư Việt Nam, quê ở Bắc Việt. Sau khi thi đỗ Giáp Khoa của triều đình, ngài đến chùa Thành Đạo để tham vấn với Thiền sư Pháp Y. Chỉ sau một câu của thầy, ngài liền lãnh hội, nên xin làm đệ tử. Ngài là Pháp tử đời thứ 13 dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Ban đầu, ngài trụ tại chùa Thiên Phúc trên núi Tiên Du. Về sau ngài trở về quê trùng tu chùa Trí Quả ở Cổ Châu, Long Biên. Trong khoảng niên hiệu Thiên Thuận, triều đình gửi chiếu chỉ triệu hồi ngài về kinh đô cầu mưa. Ngài đã thành công trong việc cầu mưa và tiếng tăm vang vội. Một ngày năm 1163, ngài đốt nến, từ biệt đệ tử, rồi thị tịch, lúc ấy ngài 71 tuổi—A Vietnamese Zen master from North Vietnam. After passing the National First Laureate, he came to Thành Đạo Temple to discuss with Zen master Pháp Y. Only after one sentence from the master, he awakened and insisted to be his disciple. He was the Dharma heir of the thirteenth generation of the Vinitaruci Zen Sect. At first, he stayed at Thiên Phúc Temple on Mount Tiên Du. Later, he returned to his home town to rebuild Trí Quả Temple in Cổ Châu, Long Biên. During the reign of King Thiên Thuận, the Royal Court sent an Imperial Order to summon him to the capital for rain-making praying. He was successful and became famous after this event. One day in 1163, he lit an incense, said good-bye to his disciples, then passed away, at the age of 71.

thiền nhân

Một thành viên của Thiền phái—A member of the Ch'an (Zen) (Meditative or Intuitive) sect. ; (禪人) Cũng gọi Thiền giả. Chỉ cho người chuyên tu thiền định. Luận Hưng thiền hộ quốc quyển thượng (Đại 80, 7 thượng) nói: Tông này lấy giới làm đầu, lấy Thiền làm điểm rốt ráo, nếu người phá giới mà khởi tâm sám hối, dứt bỏ điều ác thì gọi là Thiền nhân. [X. Ma ha chỉ quán Q.5 thượng].

thiền ni

Ni Cô—A nun.

thiền niệm

(禪念) I. Thiền Niệm. Tâm hướng về thiền định, vui thích với tâm niệm thiền định. Tức tâm niệm chán bỏ mọi phiền lụy ở cõi trần. Chương Thích tuệ hoan trong Tục cao tăng truyện quyển 18 (Đại 50, 577 trung) nói: Sư từng kinh hành trên đỉnh núi, lỡ rơi xuống từ sườn núi cao, liền ngồi ngay trên phiến đá, không quên Thiền niệm, sự linh cảm như thế. II. Thiền Niệm.Chỉ cho thiền định và trí tuệ. An lạc hành đạo chuyển kinh nguyện sinh tịnh độ pháp sự tán quyển hạ (Đại 48, 435 trung) nói: Hoặc dạy dùng phúc tuệ diệt chướng, Hoặc dạy Thiền niệm ngồi suy lường; Tất cả pháp môn đều giải thoát, Đặc biệt niệm Phật về Tây phương.

Thiền phong

(禪風): gia phong hay phương pháp đặc biệt để cử xướng Thiền, thường chỉ về người hay tông phái, còn gọi là gia phong, tông phong, môn phong.

thiền phái nhật bản

Japanese Zen sects: (A) Lịch sử Thiền phái Nhật Bản—The history of Japanese Zen sects: Theo Giáo sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, Thiền du nhập vào Nhật Bản bằng nhiều đợt—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, Zen was introduced to Japan several times: 1) Đệ tử của Huyền Trang là Đạo Chiêu (Doshô 629-700), đến Trung Quốc vào năm 654, lần đầu tiên mang Thiền về truyền bá tại Thiền đường Gangôji ở Nara: Hsuan-Tsang's pupil, Dosho, who went to China in 654 A.D., introduced and taught Zen for the first time in the Zen Hall of Gangôji, Nara. 2) Kế đến là Đạo Tuấn (Dosen), một vị luật sư Trung Hoa, đến Nara năm 710 và truyền Bắc Tông. Ngài truyền pháp cho Hành Biểu (Giôhyô) năm 733 và Hành Biểu truyền cho Tối Trừng: Next, Tao-Hsuan, a Chinese Vinaya (discipline) master, came to Nara in 710 A.D. and taught the Zen of the Northern School. He transmitted it to Giôhyô in 733 A.D., who in turn taught it to Saicho (Dengyô Daishi). 3) Một vị Thiền sư Nam tông là Nghĩa Không (Giku), là đệ tử của Diêm Quan Tề An (Enkwan Saian) đến Kyoto và giảng Thiền từ năm 851 đến 858 tại chùa Đàn Lâm Tự (Danrinji) do hoàng hậu của Ta Nga Thiên Hoàng (Danrin) lập nên. Ông thành công mỹ mãn trong công cuộc truyền bá giáo pháp của ông: A special Zen instructor of the Southern School, Giku, a pupil of Ch'i-An, came to Kyoto and taught Zen from 851 to 858 A.D. in Danrinji Temple built by the Empress Danrin. He was successful in his teaching. ***Trong những trường hợp kể trên, sự truyền bá đều được triều đình ủng hộ nhưng không bền lâu. Vị thiền sư sau cùng phải thất vọng bỏ về Trung Quốc năm 858, để lại một thành tích là Lã Sanh Môn (Rashomon), Kyoto, ghi chứng một kỷ lục về sự truyền bá Thiền tại Nhật Bản: In all the above cases the propagation was assisted by the Court but did not continue long. The last-mentioned teacher went home disappointed in 858 A.D., leaving a monument at Rashomon, Kyoto, inscribed: “A record of the propagation of Zen in Japan.” (B) Triết lý Thiền—Zen philosophy: Cốt lõi của Thiền tông được tóm lược như sau: “Cứ nhìn vào trong tâm thì sẽ thấy được Phật quả.” Tông phái nầy nhấn mạnh vào sự thiền định hay thiền quán mà chỉ riêng một điều nầy đã có thể dẫn đến giác ngộ. Thiền sư Dogen, một trong những hình ảnh tiêu biểu của Thiền tông Nhật Bản. Ông đã bắt đầu cuộc sống tu sĩ với sự tìm lời giả đáp cho câu hỏi: “Vì sao có nhiều vị Phật phải hành trì con đường giác ngộ cho mình như thế, trong khi tất cả chúng sanh đều đã sẵn có Phật quả nơi họ?” Không tìm được người nào ở Nhật Bản có thể giải đáp thỏa đáng cho mình, ông đã đi đến Trung Quốc để tìm sự soi sáng. Tại đây, ông đã được giác ngộ bởi một tu sĩ Phật giáo Thiền tông. Khi trở về Nhật Bản, ông truyền bá chủ thuyết: “Tất cả mọi người đều đã được giác ngộ. Về bản chất, họ là những vị Phật. Hành Thiền chính là một hành động của Phật.”—The essence of Zen Buddhism is summed up as follows: “Look into the mind and you will find Buddhahood,” this sect lays great stress on meditation or contemplation which alone can lead one to enlightenment. Zen master Dogen, one of the most important and representative features of Zen Buddhism. Dogen started his monastic life as a monk seeking an answer to the question: “Why did so many Buddhas practise the way of self-enlightenment, although all living beings, by their very nature, already had Buddhahood in them." As nobody in Japan could satisfy him with a convincing answer, he went to China to seek light. There he attained enlightenment under the instruction of a Zen Buddhist monk. On his return to Japan he propagated the following doctrine: “All human beings have already been enlightened. They are Buddhas by nature. The practice of meditation is nothing but the Buddha's act itself.” (C) Các Thiền phái Nhật Bản—Japanese Zen sects: 1) Phái Chân Ngôn: Shingon Sect—Các giáo lý và phương pháp tu tập của phái nầy được đưa vào Nhật Bản từ Trung Quốc bởi Kukai (hay Hoằng Pháp Đại Sư vì ông được biết qua danh hiệu nầy nhiều hơn) vào thế kỷ thứ IX. Pháp môn tu hành của phái Chân Ngôn xoay quanh ba phương thức quán tưởng: mạn đà la, mật chú, và thủ ấn—The doctrines and practices of this sect were brought from China to Japan in the ninth century by Kukai (or Kobo-daishi, as he is more popularly known). Shingon discipline and practice revolve around three meditational devices: the mandala, the mantra, and the mudra. 2) Phái Lâm Tế: Lin-Chi sect—Giáo lý phái Lâm Tế được Vinh Tây Minh Am (1141-1215) thiết lập vững chắc ở Nhật. Phái Lâm Tế đặc biệt mạnh ở Kyoto, nơi có nhiều chùa và tự viện hàng đầu của phái nầy—The teachings of Lin-Chi sect were firmly established in Japan by Fisai Myoan (1141-1215). The Lin-Chi sect is particularly strong in Kyoto, where many of its head temples and monasteries are located. 3) Phái Hoàng Bá: Huang-Po Sect—Thiền phái nầy được Ấn Nguyên đại sư đưa vào Nhật Bản năm 1654. Tổ đình phái nầy xây theo kiểu Trung Quốc là chùa Mampuku gần Kyoto. Phái Hoàng Bá là thiền phái ít có ảnh hưởng nhất ngày nay tại Nhật Bản—This Zen sect was introduced into Japan from China in 1654 by Zen master Yin-Yuan. Its head temple built in the Chinese style, is Mampukuji, near Kyoto. Huang-Po sect is the least influential of the Zen sects in present-day Japan. 4) Phái Tào Động: Ts'ao-Tung sect—Một trong hai thiền phái có thế lực hơn cả ở Nhật Bản, phái kia là Lâm Tế. Có nhiều thuyết nói về nguồn gốc của cái tên “Tào Động.” Một cho rằng đây là chữ đầu của tên của hai vị thiền sư Động Sơn Lương Giới và Tào Sơn Bổn Tịch. Thuyết khác cho rằng chữ Tào chỉ Lục Tổ, vì ngài cũng được biết qua tên Tào Khê Huệ Năng—One of the two dominant Zen sects in Japan, the other being the Lin-Chi. There are several theories as to the origin of the names of Ts'ao-Tung. One is that it stems from the first character in the names of two masters in China, Tung-Shan-Liang-Chih and Ts'ao-Shan-Pen-Chi. Another theory is that the Ts'ao refers to the Sixth Patriarch, who was also known in Japan as Ts'ao-Tzi-Hui-Neng.

thiền pháp

Pháp môn hay tông chỉ nhà Thiền được tìm thấy trong Như Lai Thiền trong các kinh điển, và Tổ Sư Thiền hay Đạt Ma Thiền được Tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền sang Trung Quốc (phép thiền mầu nhiệm được truyền cho nhau bằng tâm ý giữa các vị tổ sư)—Methods of mysticism as found in the dhyanas records in the sutras (Tathagata-dhyanas) and traditional dhyana, or the intuitional method brought to China by Bodhidharma. ; (禪法) Pháp môn Thiền na. Chỉ cho Thiền tông, hoặc chỉ cho tông chỉ của Thiền. Trong hội Linh sơn, đức Phật đưa cành hoa lên dạy đại chúng, trăm vạn ngườivàtrời chẳng ai hiểu được ý của Ngài, chỉ một mình tôn giả Ma haCa diếp mỉm cười, lãnh ngộ ý chỉ của Phật, Phật nói Ta trao cho ông diệu tâm Niết bàn, đây chính là nguồn gốc của Như lai thiền ở đời sau, vì thế gọi là Phật tâm tông. Cái thường được gọi là Thiền pháp chính là chỉ cho Thiền của Phật tâm tông này.

thiền pháp yếu giải

(禪法要解) Cũng gọi Thiền pháp yếu giải kinh, Thiền yếu kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào khoảng năm Hoằng thủy thứ 4 đến năm 14 (402-412) đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này giải thích yếu pháp tu thiền của Bồ tát, trước hết nói về Tịnh quán, Bất tịnh quán, kế đến nói về tướng trừ Ngũ cái, tu Tứ thiền, kế nữa nói rõ về 4 tâm vô lượng Từ, Bi, Hỉ, Xả và sự tu tập Tứ không định, Tứ đế quán; đồng thời nói về 10 việc như tâm chuyên chính, chất trực, tàm quí... và nói về pháp 4như ý túc, 5 thần thông. Cư sĩ Thư cừ Kinh thanh (?- 464) đời Bắc Lương cũng có dịch bộ Thiền pháp yếu giải 2 quyển, nhưng hiện nay không còn. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Xuất tam tạng kí tập Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.4, 15; Pháp kinh lục Q.2].

thiền phòng

1) Nơi hành thiền: Meditation abode, a room for meditation, a cell, a hermitage—See Thiền Đường. 2) Tên thường dùng để gọi “Tự Viện”—A common name for a monastery. ; (禪房) Tĩnh thất của người tu Thiền ở. Thiện kiến luật tì bà sa quyển 2 (Đại 24, 683 thượng) nói: Bấy giờ, Thái tử đi đến Thiền phòng, chỗ của tỉ khưu Đàm vô đức để cầu xin xuất gia.

thiền phạm thiên

Ba cõi trời Phạm Thiên trong cõi Sơ Thiền sắc giới—The three Brahmaloka heavens of the first dhyana. ** For more information, please see Thiên (III) (A). ; (禪梵天) Chỉ cho 3 tầng trời Phạm (Đại phạm thiên, Phạm phụ thiên, Phạm chúng thiên) thuộc Sơ thiền thiên cõi Sắc. Cõi Sắc có 4 tầng trời đều là những nơi mà người tu Thiền định sẽ sinh về, nên gọi là Thiền thiên. Pháp uyển châu lâm quyển 3 (Đại 53, 288hạ) nói: CõiSơ thiền rộng bằng Tiểu thiên thế giới, đến cõi Thiền thứ 4 thì rộng lớn vô biên; nhưng chưa biết trênĐại thiên thế giới khác cũng có Phạm thiên cõi Sơ thiền, cho đến cũng có Sắc cứu cánh thiên hay không? (xt. Tứ Thiền Thiên).

thiền quan

(禪關) I. Thiền Quan. Ngưỡng cửa của Thiền. Thích môn chính thống quyển 3 (Vạn tục 130, 390 hạ) nói: Người mới bước vào ngưỡng cửa của Thiền, tuy thấy phân chia tông phái khác nhau, nhưng nếu theo dòng tìm về cội nguồn, thì thấy cũng không ngoài thiền định được nói trong các kinh luận, có khi cũng chỉ là một hạnh Thánh định như Thiền gia ngày nay mà thôi. II. Thiền Quan. Chỉ cho đạo tràng tọa thiền, tức là Thiền lâm.Cảnh đức truyền đăng lục quyển 18 (Đại 51, 351 thượng) nói: Sau khi bạch Tứ yết ma(tức sau khi thụ đại giới – ND),toàn thể giới định tuệ há bị câu thúc bởi những chuẩn mực? Bấy giờ, tích trượng gõ khắp Thiền quan.

thiền quan sách tiến

(禪關策進) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Vân thê Châu hoành (1532-1615) soạn vào đời Minh, được thu vào Đại chính tạng tập 48 và Vân thêphápvậng tập 14. Nội dung sách này phần trước thu chép những pháp ngữ cốt yếu của các vị Tổ sư gồm 39 chương, tóm lược sự khổ công của chư Tổ gồm 24 chương; phần sau thì thu chép sơ lược các dẫn chứng trong kinh. Phần pháp ngữ cốt yếu của các vị Tổ sư thì thu chép những lời dạy chúng, phổ thuyết của 29 vị Tổ sư như Hoàng bá Hi vận, Huyền sa Sư bị, Nga hồ Đại nghĩa, Vĩnh minhDiên thọ... Phần tóm lược sự khổ công của chư Tổ thì trình bày về sự khổ hạnh và quá trình khai ngộ của các vị Tổ sư, như ngồi trên cành cây là là ra sườn núi, cầm dùi tự đâm, thề không ngủ nghỉ, không theo các duyên, thân miệng đều quên, húc đầu vào cột...; còn phần thu chép sơ lược các dẫn chứng trong kinh thì dẫn dụng các việc nói trong kinh về những người gắng sức tinh tiến tu hành. Sách này lưu hành rất rộng, nói nhiều về hạnh tinh tiến mà người tu thiền nào cũng cần phải đọc.

thiền quyền

Musti (skt)—Dấu hiệu của thiền định được tượng trưng bởi nắm tay trái, tay phải tượng trưng cho trí tuệ (Tượng Đức Phật Thích Ca có hai vị hộ pháp, bên trái là Bồ Tát Phổ Hiền tượng trưng cho thiền định, bên phải là Bồ Tát Văn Thù tượng trưng cho trí huệ)—The meditation fist, the sign of meditation shown by the left fist, the right indicating wisdom. ** For more information, please see Samantabhadra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section and Văn Thù Sư Lợi in Vietnamese-English Section. ; (禪拳) Nắm tay trái. Tượng đức Phật Thích ca có 2 vị Bồ tát đứng hầu 2 bên, bên trái là bồ tát Phổ hiền, biểu trưng cho Thiền định; bên phải làbồ tát Văn thù, biểu trưng cho Trí tuệ. Bởi vì trí tuệ được phối hợp với bên phải, thiền định được phối hợp với bên trái, cho nên tả quyền tức gọi là Thiền quyền.

thiền quán

Dhyana-contemplation—Visualization—Calling to attention—Imagining in the mind. ; (禪觀) Pháp quán tọa thiền. Chỉ cho các pháp quán tu hành khi ngồi thiền. Chương Sư tử tôn giả trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 2 (Đại 51, 214 hạ) nói: Có ngài Ba lợi ca vốn tu Thiền quán.

thiền quán và niệm phật

Thiền quán là phương cách khó thực tập. Phật dạy người tu Thiền trước tiên phải tu phép “Tứ Niệm Xứ,” quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã. Khi đã biết thân, thọ, tâm, pháp đều không sạch, khổ, vô thường và vô ngã, đều giả dối như mộng huyễn, thì chơn tánh sẽ tự hiển bày. Vài người cố gắng thật nhiều để tập trung tư tưởng và loại bỏ những lôi cuốn bên ngoài, nhưng tâm họ vẫn bận bịu đủ thứ. Tuy nhiên, nếu họ cố gắng niệm Phật thì họ có thể dễ dàng đạt đến nhất tâm bất loạn. Hơn nữa, Kinh điển Tịnh Độ đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hành. Nếu có đầy đủ tín, hạnh nguyện và dụng công niệm Phật, thì Phật A Di Đà và Thánh chúng sẽ gia hộ tiếp dẫn về Tây Phương Cực Lạc—Meditation is a difficult way to practise. The Buddha taught: “Zen practitioners who want to cultivate must, first of all, practice the Four Foundations of Mindfulness, to contemplate the body is impure, all feelings as suffering, the ordinary mind as impermanent and all phenomena as lacking self-nature. When we realize that body, feelings, mind and phenomena are impure, the source of suffering, impermanent, without self-nature, false, dream-like and illusory, the True Thusness Nature will manifest itself. Some people have tried very hard to concentrate and abandon all distractions, their mind is still preoccupied with all delusions. However, if they try to focus on recitation the Buddha's name, they can reach single-mindedness. Furthermore, the Pure Land Sutras are simple and easy to understand and practice. If you are utterly sincere in your faith, conducts and vows with all efforts, you will be welcome by Amitabha Buddha and other Saints in the Western Pure Land.

thiền quán về tâm

Meditation on the mind—Qua thiền tập liên tục chúng ta có thể thấy được tâm thanh tịnh. Chỉ có thiền tập liên tục, chúng ta có thể vượt qua trạng thái tâm dong ruổi và xả bỏ những loạn động. Cùng lúc chính nhờ thiền tập mà chúng ta có thể tập trung tư tưởng để quán sát những gì khởi lên trong tư tưởng, trong thân, trong cảm thọ, nghe, nếm, ngửi và tưởng tượng, vân vân. Qua thiền tập liên tục, chúng ta có thể quán sát rằng tất cả là vô thường, từ đó chúng ta có khả năng buông bỏ, và Niết bàn hiển hiện ngay lúc chúng ta buông bỏ tất cả—Through continuous meditation we can perceive our mind clearly and purely. Only through continuous meditation we can gradually overcome mental wandering and abandon conceptual distractions. At the same time we can focus our mind within and observe whatever arises (thoughts, sensations of body, hearing, smelling, tasting and images). Through continuous meditation we are able to contemplate that they all are impermanent, we then develop the ability to let go of everything. Nirvana appears right at the moment we let go of everything.

thiền quán về tâm xả

Meditation on equanimity—Chúng ta nên thực tập thiền quán về tâm xả để giảm thiểu sự phát triển của sân giận người nầy và luyến ái người kia—We should try to achieve equanimity through meditation to reduce developing of anger toward one person and attachment toward another person.

thiền quật

Hang động để hành thiền hay an cư—A cell, or cave, for meditation, or retirement from the world. ; (禪窟) Chỉ cho hang núi, nơi người tu Thiền ở. Tức là nơi cư trú của Thiền tăng. Về sau, từ ngữ Thiền quật được chuyển dụng để chỉ cho các chùa viện của Thiền tông. Phẩm Phân biệt công đức trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 45 hạ) nói: Ở nơi vườn rừng, tắm chỗ ao hồ, đi dạo trong Thiền quật.

thiền sinh

Meditator or Zen student.

Thiền sàng

(禪床): giường ngồi của tu sĩ, giường để ngồi Thiền, như trong bài thơ Tống Thiên Thai Tăng (送天台僧) của Giả Đảo (賈島, 779-843) nhà Đường có câu: “Hàn sơ tu tịnh thực, dạ lãng động Thiền sàng (寒蔬修淨食、夜浪動禪床, rau lạnh ăn lót dạ, sóng đêm động giường Thiền).” Hay như trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, CBETA No. 1295) quyển 20 có đoạn kể vị thị giả hỏi Hòa Thượng Triệu Châu rằng: “Hòa Thượng kiến Đại Vương lai bất hạ Thiền sàng, kim nhật Tướng Quân lai, vi thậm ma khước hạ Thiền sàng. Sư viết: 'Phi nhữ sở tri, đệ nhất đẳng nhân lai, Thiền sàng thượng tiếp, trung đẳng nhân lai, hạ Thiền sàng tiếp, mạt đẳng nhân lai, Tam Môn ngoại tiếp' (和尚見大王來不下禪床、今日將軍來、爲甚麼卻下禪床、師曰、非汝所知、第一等人來、禪床上接、中等人來、下禪床接、末等人來、三門外接, Hòa Thượng thấy Đại Vương đến mà chẳng bước xuống giường Thiền, hôm nay Tướng Quân đến, vì sao Ngài lại bước xuống giường Thiền mà tiếp. Hòa Thượng bảo: 'Ngươi không hiểu đâu, người hạng nhất thì ta tiếp trên giường Thiền; người hạng trung thì ta bước xuống giường Thiền tiếp; người thuộc hạng cùng mạt thì ta ra tận ngoài cửa Tam Quan tiếp').”

Thiền Sơ địa

cũng viết: Sơ thiền, Sơ thiền định, Đệ nhất thiền. Xem Bốn thiền.

Thiền sư

禪師; C: chánshī; J: zenji; |Danh hiệu dành cho những vị đã Giác ngộ và hoằng hoá trong Thiền tông. Thường thường các bậc tôn túc được ban danh hiệu này sau khi viên tịch nhưng cũng có nhiều người được mang danh hiệu trong lúc còn giáo hoá.

thiền sư

Kammatthanacariya (p)—A Zen Master—A meditation teacher. 1) Một vị Thầy dạy Thiền nói chung: A master, or teacher, of meditation, or of the Ch'an school in general. 2) Một vị Thầy đã chứng ngộ và dạy thiền: A Zen master who has already attained self-realization or enlightenment. He was allowed to teach Zen to his disciples. 3) Bậc Thầy Thiền vĩ đại hay danh tiếng. Danh hiệu nầy thường được phong tặng sau khi vị thầy đã viên tịch, mặc dù một vài bậc thầy đã đạt được danh hiệu nầy ngay trong lúc còn sống: A great or renowned Zen master. The title is usually conferred posthumously, though some masters have achieved this distinction during their life time. ; (禪師) Phạm:Dhyàyin. Pàli:Jhàyin. Chỉ cho vị tỉ khưu thông suốt Thiền định. Ở thời đại Phật giáo nguyên thủy, các vị A la hán đều là những người thông hiểu tất cả pháp Thiền; về sau đến thời đại Phật giáo bộ phái, thì giữa các tỉ khưu sản sinh ra các loại nhân tài chuyên môn như: Kinh sư, Luận sư, Luật sư, Tam tạng sư, Pháp sư, Thiền sư... Trong đó, người chuyên tâm chú ý tọa thiền, thông hiểu thiền định, gọi là Thiền sư. Ở Trung quốc, danh hiệu Thiền sư, không phải chỉ chuyên dùng cho các bậc danh đức của Thiền tông, mà các sư thuộc tông Thiên thai, tông Tịnh độ, Tam giai giáo... chuyên tu tọa thiền cũng gọi là Thiền sư. Chẳng hạn như thiên Tập thiền trong Tục cao tăng truyện đã thu chép Đạt ma thiền sư, Tuệ văn thiền sư, Tuệ tư thiền sư, Bảo chí thiền sư, Đạo xước thiền sư, Tín hành thiền sư... Về sau, triều đình cũng ban danh hiệu Thiền sư cho các bậc cao tăng danh đức, như trường hợp Tổ Thần tú của Thiền Bắc tông là người đầu tiên đã được ban thụy hiệu Đại Thông Thiền Sư. Sau, Tổ Tuệ năng của Thiền Nam tông, sau khi thị tịch hơn 100 năm, được ban thụy hiệu Đại Giám Thiền Sư. Lúc còn sống mà được ban hiệu thì có ngài Tông cảo đời Tống là người đầu tiên được ban hiệu Đại Tuệ Thiền Sư.

thiền sư vạn hạnh

Ngày sanh của Thiền Sư không ai biết. Lúc thiếu thời ông đã tỏ ra thông minh đỉnh ngộ phi thường. Ông xuất gia năm 21 tuổi. Ông thị tịch vào đêm trăng tròn năm 1018—Zen Master Vạn Hạnh's date of birth was unknown. At the young age, he was extraordinarily intelligent. He left home at the age of 21. He died on the full moon night of 1018—The author of this poem: Thân như điện ảnh hữu hoàn vô Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô Nhậm vận thịnh suy vô bố úy Thịnh suy như lộ thảo đầu phô! Our life is a simple lightning which comes and goes (appears then disappears). As springtime offers blossoms, only to fade (wither) in the fall. Earthly flourish and decline, O friends, do not fear at all. They are nothing but a drop of dew on the grass of morning!

thiền tam muội

Thiền na và tam muội—Dhyana and samadhi (skt). 1) Thiền na dịch là “tư duy.” Tư duy trong cõi sắc giới thì gọi là thiền—Dhyana is considered meditating. Meditation in the visible or known is called Dhyana. 2) Tam muội dịch là “định.” Tư duy trong cõi vô sắc giới thì gọi là Tam Muội—Samadhi is considered as abstraction. Concentration on the invisible, or supermundane is called Samadhi. ; (禪三昧) Chỉ cho Thiền na và Tam muội. Thiền na, Phạm: Dhyàna, Hán dịch: Tư duy, Tu tập. Tam muội, Phạm: Samàdhi, Hán dịch: Định. Thiền na và Tam muội là cùng 1 thể mà khác tên. Pháp uyển châu lâm quyển 84 (Đại 53, 904 thượng) nói: Bồ tát tu định lại có 10 pháp, không giống với Nhị thừa. Những gì là 10? (...) thứ 8, tu định thì tâm vắng lặng, hơn hẳn các Thiền tam muội của Nhị thừa.

thiền tam tông

(禪三宗) Chỉ cho 3 tông Thiền theo cách tổng phân loại của ngài Khuê phong Tông mật. Trong các tác phẩm Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự và Trung hoatruyền tâm địa thiền môn sư tư thừa tập đồ, ngài Khuê phongTông Mật (780-841), Tổ thứ 5 của tông Hoa nghiêm, chia chung các phái Thiền tông làm 3 tông là: Tức vọng tu tâm tông, Mẫn tuyệt vô kí tông và Trực hiển tâm tính tông. 1. Tức vọng tu tâm tông: Tông dứt vọng niệm tu chân tâm. Tông thiền này do đệ tử của các ngài Nam sân, Bắc tú, Bảo đường, Tuyên thập...và các vị Ngưu đầu, Thiên thai, Huệ trù, Cầu na...đề xướng. Tông này chủ trương ngoại cảnh và nội tâm đều có phần hạn, nếu bỏ quên cảnh mà quán xét tâm thì có thể diệt được các vọng niệm; hễ diệt được vọng niệm thì liền giác ngộ, rõ suốt tất cả. Đây là chỉ cho Thiền bắc tông. 2. Mẫn tuyệt vô kí tông: Tông dứt bặt không dấu vết. Chỉ cho tông phái của các ngài Thạch đầu, Ngưu đầu, Kính sơn... Tông này chủ trương các pháp phàm thánh đều như mộng huyễn, cho nên phải thoát li tất cả chấp trước, oán thân, vui khổ, tất cả vô ngại, rõ suốt xưa nay vốn vô sự, xa lìa điên đảo, chứng được giải thoát. 3. Trực hiển tâm tính tông: Tông chỉ thẳng chân tâm thấy tính thành Phật. Chỉ cho tông Hồng châu và tông Hà trạch. Các tông này chủ trương Hữu, Không đều là chân tính(tức qui tướng vào tính). Chủ trương này lại chia làm 2 loại: a. Cho rằng ngôn ngữ động tác, tham sân từ nhẫn, thiện ác khổ lạc... đều là Phật tính, ngoài những thứ này ra, không có Phật nào khác. Chủ trương không dứt (ác), không tu(thiện) chính là giải thoát. b. Cho rằng vọng niệm vốn vắng lặng, cảnh trần vốn không, tâm rỗng lặng này chính là cái Biết thiêng liêng, mầu nhiệm, sáng suốt vô cùng, đó là chân tính của ta; 1 chữ Biết này chính là cửa của các cái huyền diệu. Đốn ngộ được cái Biết rỗng lặng này thì biết rằng mọi ý niệm đều vô hình; tuy tu đủ muôn hạnh mà lấy vô niệm làm tông, thì tội nghiệp tự nhiên dứt trừ, công dụng tự nhiên tăng tiến.

thiền thiên

Có bốn Thiền Thiên, nơi mà các bậc tu thiền có thể tái sanh về (cõi sắc giới có bốn tầng trời mà người tu thiền sẽ được sanh về đấy)—Dhyana heavens, four in number, where those who practice meditation may be reborn. ** For more information, please see Tứ Thiền.

thiền thiên ma

(禪天魔) Một trong 4 câu cách ngôn của tông Nhật liên, Nhật bản. Ngài Nhật liên chọn lấy 4 tông trái với tông chỉ của mình, nhưng có thế lực nhất trong các tông thịnh hành ở đương thời để phê bình mà lập ra 4 câu cách ngôn. Trong đó, Thiền thiên ma là câu thứ 2, tức chỉ trích chủ trương truyền riêng ngoài giáo, không lập văn tự của Thiền tông, cho rằng không nương theo kinh điển là phủ định giáo pháp do đức Phật nói, vì thế coi Thiền tông là pháp của Thiên ma ngoại đạo. (xt. Tứ Cách Ngôn).

thiền tháp

(禪榻) Cũng gọi Thiền sàng. Chỉ cho chỗ ngồi khi tọa thiền. Tháp là cái ghế hẹp và dài nhưng thấp hơn giường, dùng để ngồi hoặc ngủ. Vật dùng để ngồi ở Tăng đường trong Thiền lâm, gọi là Đơn, hoặc gọi là Đơn vị, hình dáng tuy khácThiền sàng, nhưng cả 2 đều là những vật dùng khi tọa thiền. Đơn vị nghĩa là các chỗ ngồi trong Tăng đường có viết tên mỗi người trên mảnh giấy rồi dán lên vách, lúc vào Tăng đường thì tìm chỗ có dán tên mình trên vách mà ngồi, cho nên họ gọi là Đơn vị. [X. Điều Tọa thiền trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.5].

thiền thất

Thiền Cư—Thiền Đường—Thiền Phòng—Thiện Viện—Meditation hall or room. ** For more information, please see Thiền Đường. ; (禪室) I. Thiền Thất. Nhà Thiền. Tức chỉ cho nơi tu hành tọa thiền. [X. chương Cầu na bạt ma trong Lương cao tăng truyện Q.3]. II. Thiền Thất. Nơi ở của vị Trụ trì, tức phương trượng. Hoặc được chuyển dụng để gọi thay cho vị Trụ trì. [X. Pháp uyển châu lâm Q.18].

thiền thực

See Thiền Duyệt Thực.

thiền toản

(禪鑽) Toản là dùi, Thiền toản là dùi mài nghiên cứu lí thiền. Từ ngữ này được sử dụng để châm biếm người coi thiền lí như một món đồ để dùi mài hòng mưu việc tiến thân. Lang gia đại túy thiên quyển 31 nói: Lã thân công vốn ưa cái học của Thích, đến khi làm Tướng, thích sự vắng lặng, ít tiếp xúc vớicácsĩ đại phu, chỉ giao du với những người có khả năng đàm luận về Thiền, do đó, những kẻ muốn tiến thân, thường thường khăn đóng, áo đạo, lân la cửa Thiền, theo tăng thụ trai, luận bàn lí tính, mong được bán mình, người đời gọi họ là Thiền toản.

thiền trai

(禪齋) Chỉ cho Thiền thất. Thích thị yếu lãm quyển thượng (Đại 54, 263 hạ) nói: Lại có cái gọi là Thiền trai. Trai nghĩa là trang nghiêm, yên tĩnh, như nhà Nho gọi là Tĩnh thất, hoặc gọi là Thư trai.

thiền trí

Thiền định và trí huệ—Meditation and wisdom. ** For more information, please see Thiền Quyền, Samantabhadra, and Văn Thù Sư Lợi.

thiền trượng

Cây gậy dùng đánh thức người hôn trầm khi ngồi tọa thiền (được làm bằng trúc hoặc sậy)—A staff or pole for touching those who fall asleep while assembled in the meditation. ; (禪杖) Cây gậy được sử dụng để chống ngủ gật lúc tọa thiền. Gậy làm bằng tre hoặc lau, một đầu được bọc lại bằng vải. Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 297 trung) nói: Thiền trượng được làm bằng tre hay lau, dùng vật bọc một đầu, sai vị Hạ tọa cầm đi tuần tra, nếu người tọa thiền ngủ gật thì dùng đầu gậy có bao bọc đánh nhẹ vào lưng cho tỉnh ngủ. Ngày nay Thiền trượng là chỉ chung cho cây gậy của chúng tăng dùng. [X. luận Thập tụng Q.40; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 2; môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].

thiền trấn

Một miếng gỗ dùng để gõ đầu vị sư ngủ gục trong lúc hành thiền—The meditation-warden, a piece of wood so hung as to strike the monk's head when he nodded in sleep. ** For more information, please see Thiền Cầu and Thiền Trượng. ; (禪鎮) Một thứ đạocụđược đặt ở trên đầu dùng để chống ngủ gật lúc tọa thiền. Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 297 trung) nói: Thiền trấn được làm bằng thanh gỗ, dùi một cái lỗ ở giữa, xỏ sợi dây nhỏ quàng vào tai, để ở trên đầu cách trán 4 đốt ngón tay. Nếu người tọa thiền ngủ gật thì đầu nghiêng, Thiền trấn sẽ rơi làm cho tỉnh ngủ. Đức Phật dạy: Nếu rơi1 lần cho duỗi 1chân, nếu rơi 2 lần cho duỗi 2 chân, nếu rơi 3 lần thì cho đứng dậy đi dạo. Tượng vẽ Đại sư Thiên thai Trí khải có đặt loại Thiền trấn này. [X.luật Thập tụng Q.40; luận Đại trí độ Q.41; Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn Q.2; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 2; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 2; Pháp uyển châu Q.32; Khí vật môn trong Thiền lâm tượng khí tiên].

thiền tuệ

See Thiền Huệ.

thiền tuỷ

(禪髓) I. Thiền Tủy. Chỉ cho cốt tủy của đạo Thiền. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 (Đại 51, 219 trung) nói: Sau 9 năm, muốn trở về Thiên trúc, sư(tức Tổ sư Đạt ma) mới bảo các đệ tử: Đã đến lúc, các ngươi mỗi người hãy nói sở đắc của mình. Bấy giờ, đệ tử là Đạo phó thưa rằng: Như chỗ thấy của con thì không chấp văn tự, cũng không lìa văn tự, đó là đạo dụng. Sư nói: Ông được phần da của ta. Ni Tổng trì thưa: Nay chỗ hiểu của con như ngài Khánh hỉ thấy cõi Phật A súc, một khi thấy rồi không còn thấy lại nữa. Sư nói: Ngươi được phần thịt của ta. Ngài Đạo dục thưa: Bốn đại vốn không, 5 ấm chẳng phải có, như chỗ thấy của con thì không có một pháp nào để được cả. Sư nói: Ông được phần xương của ta. Cuối cùng, ngài Tuệ khả sau khi lễ bái, đứng yên tại chỗ. Sư nói: Ông được phần tủy của ta. II. Thiền Tủy. Tên khác của kinh Lăng nghiêm. [X. Lăng nghiêm cú giảng lục Q.1].

thiền tâm

Zen mind—Empty mind is Zen mind: Vô tâm là thiền tâm. ; (禪心) Chỉ cho tất cả tâm, tâm sở thiện tương ứng với 2 pháp tàm, quí và 3 thiện căn vô tham, vô sân, vô si mà khởi lên. Kinh Na tiên tỉ khưu quyển thượng (Đại 32, 697 thượng) nói: Dùng thiện tâm nhớ nghĩ chính pháp. [X. kinh Đại phương tiện Phật báo ân Q.6]. THIÊN THẾ THIỀN SƯ Tên chức Tăng quan được đặt ra ở đời Minh. Niên hiệu Hồng vũ năm đầu (1368) đời vua Thái tổ nhà Minh, viện Thiện thế được thiết lập ở chùa Thiên giới tại Nam kinh để quản lí công việc Phật giáo. Ngài Tuệ đàm là Thiện thế thiền sư đời thứ nhất. Hai chức Tả thiện thế và Hữu thiện thế Chánh lục phẩm được đặt ra vào nămHồng vũ 14 (1381) để giám sát các vị tăng phạm giới pháp trong các chùa viện. Vào năm Hồng vũ 22 (1389), vua hạ chiếu ban cho Thiện thế thiền sư chức quyền trông coi các chùa trong nước với mục đích lớn nhất là giúp vua giữ gìn giềng mối và hộ trì đạo pháp. [X. Thích giám kê cổ lượctụctập Q.2].

Thiền Tông

(禪宗, Zen-shū): lược xưng của Tọa Thiền Tông (坐禪宗, Zazen-shū), đối ứng với Giáo Tông, có ý nghĩa là tông phái chuyên tu ngộ đạo theo Thiền pháp của Đạt Ma truyền thừa. Nó còn được gọi là Phật Tâm Tông (佛心宗, Busshin-shū) hay Đạt Ma Tông (達磨宗, Daruma-shū), thuộc một trong 13 tông phái lớn của Phật Giáo Trung Quốc và ở Nhật cũng vậy. Từ ngày xưa ở Trung Quốc hệ thống của những người chuyên tu tọa Thiền được gọi chung là Thiền Tông; vì thế trong đó ngoài Đạt MaTông ra, còn có Thiên Thai Tông và Tam Luận Tông, nhưng từ giữa thời nhà Đường trở đithì chỉ có Đạt MaTông mới được gọi là Thiền Tông mà thôi. Theo truyền thuyết cho rằng ngày xưa khi đức Phật Thích Ca đang ở trên Hội Linh Sơn, lúc ấy ngài cầm cành hoa Kim Ba La Hoa (金波羅華) do chư thiên đem dâng cúng, mà đưa ra trước hội chúng hơn 80.000 người. Đại chúng hết thảy đều ngẩn ngơ im lặng mà không thể nào hiểu được thâm ý của đức Như Lai thế nào. Khi ấy chỉ có một mình Ma Ha Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, 摩訶迦葉) mĩm cười mà thôi. Thấy vậy đức Phật bèn dạy rằng: "Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, nay phó chúc cho Ma Ha Ca Diếp", và truyền trao chánh pháp cho vị này. Đây được xem như là khởi nguyên của Thiền Tông. Câu chuyện này được ghi lại trong Đại Phạm Thiên Vương Vấn Phật Quyết Nghi Kinh (大梵天王問佛決疑經, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 1, No. 27) và không phải là sự thật mang tính lịch sử. Thế nhưng ở Trung Quốc, Thiền từ thời Lục Tổ trở đi thì chú trọng đến vấn đề gọi là “dĩ tâm truyền tâm, giáo ngoại biệt truyền (以心傳心、敎外別傳)”, nên câu chuyện phú pháp tương thừa của Ca Diếp cũng được xem trọng. Ca Diếp sau đó truyền pháp này lại cho A Nan (s: Ānanda, 阿難), từ A Nan đến Thương Na Hòa Tu (s: Śāṇakavāsa,商那和修), Ưu Bà Cúc Đa (s: Upagupta, 優婆毱多), Đề Đa Ca (s: Dhṛtaka, 提多迦), Di Giá Ca (s: Miccaka, 彌遮迦), Bà Tu Mật (s: Vasumitra, 婆須蜜), Phật Đà Nan Đề (s: Buddhanandi, 佛陀難提), Phục Đà Mật Đa (s: Buddhamitra, 伏駄蜜多), Ba Lật Thấp Bà (s: Pārśvika, 波栗濕婆), Phú Na Dạ Xà (s: Puṇyayaśas, 富那夜奢), A Na Bồ Đề (s: Aśvaghoṣa, 阿那菩提, tức Mã Minh [馬鳴]), Ca Tỳ Ma La (s: Kapiñdjala, 迦毘摩羅), Na Già Yên Thích Thọ Na (s: Nāgārjuna, 那伽閼刺樹那, tức Long Thọ [龍樹]), Ca Na Đề Bà (s: Kāṇadeva, 迦那提婆, tức Thánh Thiên [聖天]), La Hầu La Đa (s: Rāhulata, 羅詭羅多), Tăng Già Nan Đề (s: Sañghānandi, 僧伽難提), Ca Da Xá Đa (s: Gayāśata, 迦耶舍多), Cưu Ma La Đa (s: Kumāralabdha, 鳩摩羅多), Xà Dạ Đa (s: Gayata, 闍夜多), Bà Tu Bàn Đầu (s: Vasubandhu, 婆修盤頭, tức Thế Thân [世親]), Ma Nã La (s: Manorhita, 摩拏羅), Hạc Lặc Na (s: Haklenayaśas, 鶴勒那), Sư Tử Bồ Tát (s: Siṁhabhikśu, 師子菩薩), Bà Xá Tư Đa (s: Basiasita, 婆舍斯多), Bất Như Mật Đa (s: Purjamitra, 不如蜜 多), Bát Nhã Đa La (s: Prajñātara, 般若多羅), cho đến Bồ Đề Đạt Ma (s: Bodhidharma, 菩提達磨) như vậy là 28 vị tổ tương thừa, được gọi là Tây Thiên Nhị Thập Bát Tổ (西天二十八祖). Sau khi Bồ Đề Đạt Ma sang miền Đông Độ Trung Hoa thì truyền lại cho Huệ Khả (慧可), rồi Huệ Khả truyền thừa kế tiếp cho Tăng Xán (僧璨), Đạo Tín (道信), Hoằng Nhẫn (弘忍) cho đến Huệ Năng (慧能). Đây được gọi là Đông Độ Lục Tổ (東土六祖). ; (禪宗): lược xưng của Tọa Thiền Tông (坐禪宗, Zazen-shū), còn gọi là Phật Tâm Tông (佛心宗), Đạt Ma Tông (達磨宗), Vô Môn Tông (無門宗); chỉ tông phái của Phật Giáo Đại Thừa, lấy Bồ Đề Đạt Ma (s: Bodhidharma, 菩提達磨, ?-495, 346-495, ?-528, ?-536) làm sơ Tổ, tham cứu bản nguyên của tâm tánh với yếu chỉ “kiến tánh thành Phật (見性成佛, thấy tánh thành Phật)”, chuyên tu ngộ đạo theo Thiền pháp của Đạt Ma truyền thừa. Đây là một trong 13 tông phái của Phật Giáo Trung Quốc, và cũng là một trong 13 tông phái của Phật Giáo Nhật Bản. Từ ngày xưa ở Trung Quốc hệ thống của những người chuyên tu tọa Thiền được gọi chung là Thiền Tông; vì thế trong đó ngoài Đạt MaTông ra, còn có Thiên Thai Tông và Tam Luận Tông, nhưng từ giữa thời nhà Đường trở đithì chỉ có Đạt MaTông mới được gọi là Thiền Tông mà thôi. Theo truyền thuyết cho rằng ngày xưa khi đức Phật Thích Ca đang ở trên Hội Linh Sơn, lúc ấy ngài cầm cành hoa Kim Ba La Hoa (金波羅華) do chư thiên đem dâng cúng, đưa ra trước hội chúng hơn 80.000 người. Đại chúng hết thảy đều ngẩn ngơ im lặng mà không thể nào hiểu được thâm ý của đức Như Lai thế nào. Khi ấy chỉ có một mình tôn giả Ma Ha Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, 摩訶迦葉) mĩm cười mà thôi. Thấy vậy đức Phật bảo với tôn giả rằng: “Ngã hữu chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, phó chúc dữ nhữ (我有正法眼藏、涅槃妙心、實相無相、微妙法門、付囑與汝, ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, thật tướng không tướng, phó chúc cho ngươi)”, và truyền trao chánh pháp cho vị này. Đây được xem như là khởi nguyên của Thiền Tông. Câu chuyện này được ghi lại trong Phẩm Niêm Hoa (拈華品) thứ 2 của Đại Phạm Thiên Vương Vấn Phật Quyết Nghi Kinh (大梵天王問佛決疑經, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 1, No. 27) và không phải là sự thật mang tính lịch sử. Thế nhưng ở Trung Quốc, Thiền từ thời Lục Tổ trở đi thì chú trọng đến vấn đề gọi là “dĩ tâm truyền tâm, giáo ngoại biệt truyền (以心傳心、敎外別傳)”, nên câu chuyện phú pháp tương thừa của Ca Diếp cũng được xem trọng. Ca Diếp sau đó truyền pháp này lại cho A Nan (s: Ānanda, 阿難), từ A Nan đến Thương Na Hòa Tu (s: Śāṇakavāsa,商那和修), Ưu Bà Cúc Đa (s: Upagupta, 優婆毱多), Đề Đa Ca (s: Dhṛtaka, 提多迦), Di Giá Ca (s: Miccaka, 彌遮迦), Bà Tu Mật (s: Vasumitra, 婆須蜜), Phật Đà Nan Đề (s: Buddhanandi, 佛陀難提), Phục Đà Mật Đa (s: Buddhamitra, 伏駄蜜多), Ba Lật Thấp Bà (s: Pārśvika, 波栗濕婆), Phú Na Dạ Xà (s: Puṇyayaśas, 富那夜奢), A Na Bồ Đề (s: Aśvaghoṣa, 阿那菩提, tức Mã Minh [馬鳴]), Ca Tỳ Ma La (s: Kapiñdjala, 迦毘摩羅), Na Già Yên Thích Thọ Na (s: Nāgārjuna, 那伽閼刺樹那, tức Long Thọ [龍樹]), Ca Na Đề Bà (s: Kāṇadeva, 迦那提婆, tức Thánh Thiên [聖天]), La Hầu La Đa (s: Rāhulata, 羅詭羅多), Tăng Già Nan Đề (s: Sañghānandi, 僧伽難提), Ca Da Xá Đa (s: Gayāśata, 迦耶舍多), Cưu Ma La Đa (s: Kumāralabdha, 鳩摩羅多), Xà Dạ Đa (s: Gayata, 闍夜多), Bà Tu Bàn Đầu (s: Vasubandhu, 婆修盤頭, tức Thế Thân [世親]), Ma Nã La (s: Manorhita, 摩拏羅), Hạc Lặc Na (s: Haklenayaśas, 鶴勒那), Sư Tử Bồ Tát (s: Siṁhabhikśu, 師子菩薩), Bà Xá Tư Đa (s: Basiasita, 婆舍斯多), Bất Như Mật Đa (s: Purjamitra, 不如蜜多), Bát Nhã Đa La (s: Prajñātara, 般若多羅), cho đến Bồ Đề Đạt Ma (s: Bodhidharma, 菩提達磨) như vậy là 28 vị tổ tương thừa, được gọi là Tây Thiên Nhị Thập Bát Tổ (西天二十八祖, Hai Tám Vị Tổ Ấn Độ). Sau khi Bồ Đề Đạt Ma sang miền Đông Độ Trung Hoa thì truyền lại cho Huệ Khả (慧可), rồi Huệ Khả truyền thừa kế tiếp cho Tăng Xán (僧璨), Đạo Tín (道信), Hoằng Nhẫn (弘忍) cho đến Huệ Năng (慧能). Đây được gọi là Đông Độ Lục Tổ (東土六祖, Sáu Vị Tổ Trung Hoa). Cụ thể, vào trong khoảng niên hiệu Phổ Thông (普通, 520-527) đời vua Võ Đế (武帝, tại vị 502-449) nhà Lương, Tổ Bồ Đề Đạt Ma từ Nam Thiên Trúc (南天竺) đến Kiến Nghiệp (建業, Nam Kinh [南京] ngày nay), truyền tông này vào Trung Hoa; nên được gọi là Sơ Tổ Thiền Tông Trung Hoa. Ban đầu, Đại Sư đến yết kiến vua Lương Võ Đế, nhưng không khế hợp cơ duyên, bèn vào Thiếu Lâm Tự (少林寺) ở Tung Sơn (嵩山) ngồi xoay mặt vào tường 9 năm; vì vậy người đời gọi Đại Sư là Bích Quán Bà La Môn (壁觀婆羅門). Kế đến, Thần Quang (神光, tức Huệ Khả [慧可]) đứng ngoài tuyết lạnh chặt cánh tay dâng lên để bày tỏ ý chí cầu đạo, cuối cùng được Tổ Sư Đạt Ma truyền tâm ấn cho, làm Tổ thứ 2 của Thiền Tông Trung Hoa. Huệ Khả truyền cho Tăng Xán (僧璨); Tăng Xán truyền cho Đạo Tín (道信) và làm cho tong này hưng thịnh. Môn hạ của Đạo Tín có hai nhân vật kiệt xuất là Hoằng Nhẫn (弘忍) và Pháp Dung (法融). Môn hạ của Pháp Dung thì có Trí Nghiễm (智儼), Huệ Phương (慧方), Pháp Trì (法持), v.v. Vì pháp hệ này trú tại Ngưu Đầu Sơn (牛頭山) ở Kim Lăng (金陵), thế gian gọi là Ngưu Đầu Thiền (牛頭禪) với yếu chỉ là “dục đắc tâm tịnh, vô tâm dụng công (欲得心淨、無心用功, muốn được tâm tịnh, dụng công với vô tâm).” Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn trú tại Hoàng Mai Sơn (黃梅山), Kì Châu (蘄州, Hồ Bắc [湖北]), xiển dương áo chỉ của Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh (s: Vajracchedikā-prajñāpāramitā-sūtra, 金剛般若波羅蜜經); có một số môn đệ xuất sắc như Ngọc Tuyền Thần Tú (玉泉神秀), Đại Giám Huệ Năng (大鑑慧能), Tung Sơn Huệ An (嵩山慧安), Mông Sơn Đạo Minh (蒙山道明), Tư Châu Trí Tiển (資州智侁), v.v. Trong số đồ chúng của Ngũ Tổ, Thần Tú được xem như là thượng thủ, nên gọi là Tú Thượng Tọa (秀上座). Sau khi Ngũ Tổ qua đời, Thần Tú chấn tích ở phương Bắc, vì vậy có tên là Bắc Tú (北秀); được tôn xưng là Tổ của Bắc Tông Thiền (北宗禪). Thiền phái này lấy Trường An (長安), Lạc Dương (洛陽) làm trung tâm, xiển dương đạo pháp và hưng thịnh trong vòng khoảng 100 năm. Môn hạ của Thần Tú có Tung Sơn Phổ Tịch (嵩山普寂), Kinh Triệu Nghĩa Phước (京兆義福), v.v., truyền thừa được 4, 5 đời thì tuyệt dứt. Ngoài ra, Tung Sơn Huệ An khai sáng Lão An Thiền (老安禪); còn Tư Châu Trí Tiển thì cổ xướng Nam Tiển Thiền (南侁禪). Về trường hợp Đại Giám Huệ Năng, nhân một bài kệ mà được Ngũ Tổ ấn khả, truyền cho ý bát, kế thừa làm Lục Tổ. Sau đó, sư đi lánh nạn ở phương Nam, trú tại Tào Khê (曹溪), Thiều Dương (韶陽, Quảng Đông [廣東]), cử xướng Thiền phong, được tôn sùng là Tổ của Nam Tông Thiền (南宗禪). Vì tông phong của Nam Tông và Bắc Tông có khác nhau, nên có thuyết Nam Đốn Bắc Tiệm (南頓北漸). Đệ tử nối dòng pháp của Huệ Năng có hơn 40 người; các nhân vật trứ danh phải kể đến là Nam Nhạc Hoài Nhượng (南嶽懷讓), Thanh Nguyên Hành Tư (青原行思), Nam Dương Huệ Trung (南陽慧忠), Vĩnh Gia Huyền Giác (永嘉玄覺), Hà Trạch Thần Hội (荷澤神會), v.v. Trong đó, Hà Trạch Thần Hội thì khai sáng Hà Trạch Tông (荷澤宗), tận lực đề xướng pháp môn Đốn Ngộ, lấy “nhất niệm bất khởi (一念不起, một niệm không dấy khởi)” để ngồi, và “liễu kiến bản tánh (了見本性, thấy rõ bản tánh)” để Thiền. Nam Nhạc Hoài Nhượng thọ tâm ấn từ Lục Tổ, đến trú tại Bát Nhã Tự (般若寺), tiếp hóa đồ chúng trong vòng 30 năm; kế thừa dòng pháp có 9 vị và Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) được xem như là bậc nhất. Về sau, Mã Tổ cử xướng Thiền pháp tại Cung Công Sơn (龔公山), Giang Tây (江西), cơ phong sắc bén, khai sáng Thiền phong đánh hét độc đáo, được thế gian gọi là Hồng Châu Tông (洪州宗). Mã Tổ chủ trương rằng những hoạt động thường ngày như khởi tâm động niệm, dương lông mày, chớp mắt, v.v., đều là Phật tánh; nên có thuyết gọi là “kiến tánh thị Phật (見性是佛, thấy tánh là Phật)” hay “tánh tại tác dụng (性在作用, tánh ở nơi tác dụng).” Môn hạ của Mã Tổ có hơn 100 người, có các Thiền kiệt xuất như Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海), Nam Tuyền Phổ Nguyện (南泉普願), Tây Đường Trí Tàng (西堂智藏), Đại Mai Pháp Thường (大梅法常), Chương Kính Hoài Huy (章敬懷暉), Đại Châu Huệ Hải (大珠慧海), v.v. Kể từ khi Hoài Hải sáng kiến Thiền sát, lập ra Thanh Quy, Thiền Tông bắt đầu thoát ly khỏi chế độ các Thiền tăng phải nương náu vào chùa Luật Tông. Môn lưu của Bách Trượng có Hoàng Bá Hy Vận (黃檗希運), Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐), v.v. Đệ tử của Hy Vận thì có Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄). Sau này, Nghĩa Huyền chủ xướng ra Tam Huyền Tam Yếu (三玄三要), Tứ Liệu Giản (四料簡), v.v., để tiếp hóa đồ chúng, cơ phong nghiêm mật; môn đồ theo rất đông, hình thành Lâm Tế Tông (臨濟宗). Lúc bấy giờ thuộc cuối thời nhà Đường. Đến nhà Tống, từ Lâm Tế Nghĩa Huyền kinh qua Hưng Hóa Tồn Tương (興化存獎), Nam Viện Huệ Ngung (南院慧顒), Phong Huyệt Diên Chiểu (風穴延沼), Thủ Sơn Tỉnh Niệm (首山省念), Phần Dương Thiện Chiểu (汾陽善沼), truyền cho đến Thạch Sương Sở Viên (石霜楚圓). Trong khi đó, môn hạ Hoàng Long Huệ Nam (黃龍慧南), Dương Kì Phương Hội (楊岐方會) lại hình thành hai phái Hoàng Long và Dương Kì, cùng tồn tại với Tào Động (曹洞), Vân Môn (雲門). Riêng Quy Sơn Linh Hựu thì trú tại Đàm Châu (潭州, Hồ Nam [湖南]), người đến tham học lên đến 1.500; trong đó, Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (仰山慧寂) là nổi tiếng nhất, được gọi là Quy Ngưỡng Tông (潙仰宗). Môn hạ của Thanh Nguyên Hành Tư có Thạch Đầu Hy Thiên (石頭希遷), soạn bản Tham Đồng Khế (參同契); cùng với Mã Tổ được gọi là hai bậc long tượng vĩ đại. Đệ tử của Thạch Đầu lại có Dược Sơn Duy Nghiễm (藥山惟儼), Đơn Hà Thiên Nhiên (丹霞天然), Thiên Hoàng Đạo Ngộ (天皇道悟). Hệ phái của Dược Sơn xuất hiện Vân Nham Đàm Thịnh (雲巖曇晟), Động Sơn Lương Giới (洞山良价), Vân Cư Đạo Ưng (雲居道膺), Tào Sơn Bổn Tịch (曹山本寂), v.v., hình thành nên Tào Động Tông (曹洞宗). Thiên Hoàng Đạo Ngộ thì truyền xuống 3 đời đến Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存), chấn tích ở Tuyết Phong Sơn (雪峰山), Phúc Châu (福州); từ pháp có hơn 50 vị; trong số đó có Vân Môn Văn Yển (雲門文偃) là người phát huy Thiền phong độc diệu, hình thành nên Vân Môn Tông (雲門宗). Bên cạnh đó, có Huyền Sa Sư Bị (玄沙師僃), truyền xuống cho La Hán Quế Sâm (羅漢桂琛), Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益). Văn Ích trú tại Thanh Lương Tự (清涼寺), Kim Lăng (金陵), khai sáng Pháp Nhãn Tông (法眼宗). Hệ thống này có các cao tăng như Thiên Thai Đức Thiều (天台德韶), Vĩnh Minh Diên Thọ (永明延壽), Vĩnh An Đạo Nguyên (永安道原), v.v. Trong đó, Đức Thiều được xem như là Trí Khải tái lai; Diên Thọ thì soạn bộ Tông Kính Lục (宗鏡錄), xem trọng giáo học; còn Đạo Nguyên thì viết bộ Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄), làm sáng tỏ hệ phổ của Đạt Ma Thiền. Trừ các tông phái đã nêu trên, theo Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự (禪源諸詮集都序, Taishō Vol. 48, No. 2015) của Khuê Phong Tông Mật (圭峰宗密) cho biết, các giáo phái Thiền Tông dưới thời nhà Đường có Hồng Châu (洪州), Hà Trạch (荷澤), Bắc Tú (北秀), Nam Tiển (南侁), Ngưu Đầu (牛頭), Thạch Đầu (石頭), Bảo Đường (保唐), Tuyên Thập (宣什, Thiền niệm Phật), Huệ Trù (惠稠), Cầu Na (求那), Thiên Thai (天台), v.v. Trong Viên Giác Kinh Đại Sớ Thích Nghĩa Sao (圓覺經大疏釋義鈔, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 9, No. 245) của Tông Mật có nêu ra 7 tông là Bắc Tông Thiền (北宗禪), Trí Tiển Thiền (智侁禪), Lão An Thiền (老安禪), Nam Nhạc Thiền (南嶽禪), Ngưu Đầu Thiền (牛頭禪), Nam Sơn Niệm Phật Môn Thiền (南山念佛門禪), Hà Trạch Thiền (荷澤禪), v.v. Chủ yếu, từ Đạt Ma cho đến Huệ Năng, trong vòng khoảng 250 năm, Thiền phong của được cử xướng chỉ mang một phong cách duy nhất; Ngữ Lục các Tổ sư thường dẫn cứ kinh điển, nêu rõ thể cách Phật pháp, không bị mắc kẹt vào những đối lập của tông phái; cho nên có thể nói rằng đây là thời kỳ thành lập Thiền Tông. Từ Nam Nhạc, Thanh Nguyên cho đến thời Ngũ Đại cuối nhà Đường, trong khoảng 250 năm, riêng một nhánh Nam Tông Thiền phát triển rực rỡ; nếu nói về mặt tư tưởng, họ đã kiến lập nên tinh thần gọi là “tức tâm thị Phật (卽心是佛, ngay tâm này là Phật)”, “bình thường tâm thị đạo (平常心是道, tâm bình thường là đạo).” Còn về mặt sinh hoạt thực tế, thiết lập quy tắc Thiền viện lấy Tăng Đường làm trung tâm; về phương diện hoằng truyền lưu bố Thiền pháp, họ lấy cách hoạt động linh hoạt để tiếp độ học đồ, lấy cơ dụng đánh hét để tuyên xướng Thiền phong. Dần dà, Ngũ Gia (五家) được thành lập. Thời kỳ này có thể nói là giai đoạn phát triển của Thiền Tông. Trong vòng 320 năm của hai triều đại nhà Tống, Lâm Tế Tông lại cho ra đời hai chi phái Hoàng Long và Dương Kì; hình thành nên hệ thống Ngũ Gia Thất Tông (五家七宗). Trong đó, Phái Hoàng Long được Vinh Tây (榮西, Eisai) truyền vào Nhật Bản; còn về Phái Dương Kì, sau thời Dương Kì Phương Hội có Ngũ Tổ Pháp Diễn (五祖法演), Viên Ngộ Khắc Cần (圜悟克勤), Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲), v.v., tận lực xiển dương Thiền chỉ, tạo thành chủ lưu của Thiền. Trong khi đó, Hoằng Trí Chánh Giác (宏智正覺) của hệ thống Tào Động Tông cùng với Đại Huệ Tông Cảo của Lâm Tế Tông mỗi bên đều cử xướng Mặc Chiếu Thiền (默照禪) và Khán Thoại Thiền (看話禪). Chính trong thời kỳ này, các đạo giáo dung hợp, hình thành khuynh hướng Tam Giáo Nhất Trí (三敎一致), Giáo Thiền Điều Hợp (敎禪調合), Thiền Tịnh Song Tu (禪淨雙修). Vì vậy, Thiền Tông dần dần mất đi tính cách độc lập, trở thành thời kỳ thủ vệ. Từ thời nhà Nguyên, Minh cho đến triều vua Càn Long (乾隆, tại vị 1735-1796) nhà Thanh, trong khoảng 450 năm, là thời kỳ suy yếu của Thiền Tông. Trong thời gian này tuy có Hải Vân Ấn Giản (海雲印簡), Vạn Tùng Hành Tú (萬松行秀), Pháp Am Tổ Tiên (破菴祖先), Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範), v.v., nhưng cũng chỉ thể hiện tư tưởng Nho Thích Điều Hợp, Giáo Thiền Nhất Trí mà thôi. Thiền Tông thời Cận Đại có Hòa Thượng Hư Vân (虛雲, 1839-1958), thọ đến 120 tuổi, một đời hoằng pháp không mệt mỏi, sáng lập tùng lâm rất nhiều, tận lực quảng bá tông phong, là cao tăng thuộc pháp phái của Lục Tổ Huệ Năng. Thiền Tông của Hàn Quốc thì có Cửu Sơn Thiền Môn (九山禪門). Phần lớn chư vị khai tong lập phái đều sang nhà Đường cầu pháp, rồi trở về nước tuyên xướng Thiền phong, tận lực giáo hóa, hình thành 9 tông phái chính. (1) Thời Thiện Đức Nữ Vương (善德女王, tại vị 632-647) của Tân La (新羅), có Pháp Lãng (法朗) sang nhà Đường, theo hầu Tứ Tổ Đạo Tín, sau truyền pháp ở Hải Đông (海東). Dưới thời Huệ Cung Vương (惠恭王, tại vị 765-780), có Thần Hành (神行) sang nhà Đường cầu pháp, tham yết Chí Không (志空), chứng đắc tâm ấn, sau trở về nước hoằng truyền Bắc Tông Thiền ở Đoạn Tục Tự (斷俗寺), vùng Đơn Thành (丹城). Môn hạ của Thần Hành, từ Tuân Phạm (遵範), Huệ Ẩn (惠隱) cho đến thời của Trí Tiển (智侁), được Cảnh Văn Vương (景文王, tại vị 861-875) quy y theo, khai sáng Hi Dương Sơn Phái (曦陽山派). (2) Vào năm thứ 5 (784) đời Tuyên Đức Vương (宣德王, tại vị 781-785), Kê Lâm Đạo Nghĩa (雞林道義) sang nhà Đường, thọ pháp với môn hạ của Mã Tổ là Tây Đường Trí Tàng và Bách Trượng Hoài Hải, thực hành yếu chỉ Nam Đốn, lưu lại bên đó 37 năm; sau đó trở về nước truyền pháp, hoằng hóa; môn hạ theo rất đông, lập ra Ca Trí Sơn Phái (迦智山派). (3) Dưới thời của Hiến Đức Vương (憲德王, tại vị 810-826), có Hồng Trắc (洪陟) sang nhà Đường tham học, nối tiếp dòng pháp của Tây Đường; sau khi về nước thì dừng chân trú tại Nam Nhạc (南岳). Vào năm thứ 3 (828) đời Hưng Đức Vương (興德王, tại vị 827-836), sư khai sáng Thật Tướng Tự (實相寺), cử xướng Thiền phong; môn hạ theo tham học lên đến hơn ngàn người, và hình thành nên Thật Tướng Sơn Phái (實相山派). (4) Nhân vật đồng thời với Đạo Nghĩa sang nhà Đường cầu pháp, có Chơn Giám Huệ Chiểu (眞鑒慧沼), sư được ấn khả của Thương Châu Thần Giám (滄州神鑑), môn hạ của Mã Tổ; sau khi về nước thì sáng lập Song Khê Tự (雙溪寺). Vào năm thứ 6 (814) đời Hiến Đức Vương, Tịch Nhẫn Huệ Triết (寂忍惠哲) cũng sang nhà Đường, thọ pháp của Tây Đường, rồi trở về nước và hoằng pháp, độ chúng ở Đại An Tự (大安寺) thuộc Đồng Lí Sơn (桐裏山), Võ Châu (武州). Pháp hệ do Huệ Chiểu và Huệ Triết truyền thừa được gọi là Đồng Lí Sơn Phái (桐裏山派). (5) Vô Nhiễm (無染) sang nhà Đường cầu pháp, được tâm ấn của Bảo Triệt (寶徹), rồi về nước vào năm thứ 7 (846) đời Văn Thánh Vương (文聖王, tại vị 840-858) và tận lực cổ xúy Thiền pháp. Nhờ đức độ của sư, Hiến An Vương (憲安王, tại vị 858-861), Cảnh Văn Vương đều quy y theo, nên sư sáng lập Thánh Trú Sơn Phái (聖住山派). (6) Vào năm thứ 6 (831) đời Hưng Đức Vương, có Thông Hiểu Phạn Nhật (通曉梵日) sang nhà Đường, theo học Thiền với Diêm Quan Tề An (鹽官齊安), pháp từ của Mã Tổ, được ấn khả của vị này; sau đó trở về nước và khai sáng Xà Quật Sơn Phái (闍崛山派) trên Thiên Thai Sơn (天台山). Về sau, môn nhân của Phạn Nhật là Lãng Không (朗空) cũng theo bước chân thầy sang nhà Đường, tham học với Thạch Sương Khánh Chư (石霜慶諸), pháp hệ của Thanh Nguyên Hành Tư; vị này trở về nước, trú tại Thật Tế Tự (實際寺) ở Nam Sơn (南山) và xiển dương Thiền chỉ. Đây được xem như là truyền thừa sớm nhất của hệ thống pháp phái Thanh Nguyên sang Hàn Quốc. (7) Song Phong Đạo Duẫn (雙峰道允) sang nhà Đường, thọ pháp với Nam Tuyền Phổ Nguyện (南泉普願), môn nhân của Mã Tổ, được vị này ấn chứng cho, và trở về nước cùng năm với Phạn Nhật. Sau này, môn nhân của Đạo Duẫn là Trừng Quán Chiết Trung (澄觀折中) cũng có dịp sang nhà Đường, tham vấn Phổ Nguyện, rồi trở về nước và trú tại Hưng Ninh Thiền Viện (興寧禪院) thuộc Sư Tử Sơn (師子山). Pháp hệ của Đạo Duẫn và Chiết Trung được gọi là Sư Tử Sơn Phái (師子山派). (8) Dưới thời Cảnh Văn Vương, có Liễu Ngộ Thuận Chi (了悟順之) sang nhà Đường, tham học với Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, sau trở về nước, trú tại Thụy Vân Tự (瑞雲寺) hoằng bố Thiền pháp. Đến năm thứ 16 (824) đời Hiến Đức Vương, Viên Giám Huyền Dục (圓鑑玄昱) sang nhà Đường, học Thiền của Mã Tổ với Chương Kính Hoài Huy (章敬懷暉); sau khi trở về nước thì được 4 đời vua Mẫn Ai (閔哀, ?-839), Thần Võ (神武, ?-839), Văn Thánh (文聖, tại vị 840-858) và Hiến An (憲安) đãi ngộ. pháp từ của sư sáng lập ra Phụng Lâm Tự (鳳林寺) và hình thành Phụng Lâm Sơn Phái (鳳林山派). (9) Vào thời kỳ cuối của triều đình Tân La, có Khánh Du (慶猷), Quýnh Vi (迥微) liên tục sang nhà Đường cầu pháp, được yếu chỉ của Vân Cư Đạo Ưng; sau khi về nước thì tận lực cổ xướng Thiền phong, và đây chính là sơ truyền của Tào Động Tông vào đất nước này. Đến triều đình Cao Lệ (高麗), lại có các cao tăng như Lợi Nghiêm (利嚴), Lệ Nghiêm (麗嚴), Khánh Phủ (慶甫), Căng Nhượng (兢讓), Xán U (璨幽), v.v., kế tục hoằng truyền huyền chỉ tông môn. Trong số đó, Lợi Nghiêm đã từng sang nhà Đường, theo làm môn hạ của Đạo Ưng, được ấn khả tâm truyền; sau khi trở về nước, sư được vua Thái Tổ (太祖, tại vị 918-943) quy y theo, kiến lập Quảng Chiếu Tự (廣照寺) ở Tu Di Sơn (須彌山), Hải Châu (須彌山). Đây chính là khai thỉ của Tu Di Sơn Phái (須彌山派). Chín Thiền phái nêu trên được gọi chung là Tào Khê Tông (曹溪宗). Nhờ sự sùng kính Phật pháp của Thái Tổ, sau này các đời vua khác như Định Tông (定宗, tại vị 945-949), Quang Tông (光宗, tại vị 949-975), Văn Tông (文宗, tại vị 1046-1083), Tuyên Tông (宣宗, tại vị 1083-1094), Thần Tông (神宗, tại vị 1197-1204), v.v., liên tiếp hộ trì; nên Thiền Tông nhất thời hưng thịnh cao độ. Tuy nhiên, đến thời Trung Liệt Vương (忠烈王, tại vị 1274-1298, 1298-1308) trở về sau, quốc thế suy yếu, Thiền Tông cũng theo đó mà bị ảnh hưởng, dẫn đến trầm trệ. Về Thiền Tông của Nhật Bản, đầu tiên vào năm thứ 4 (653) niên hiệu Bạch Trĩ (白雉) đời Hiếu Đức Thiên Hoàng (孝德天皇, Kōtoku Tennō, tại vị 645-654), Đạo Chiêu (道昭, Dōshō) sang nhà Đường cầu pháp. Đến năm thứ 8 (736) niên hiệu Thiên Bình (天平), Đạo Tuyền (道璿) của Trung Hoa sang Nhật, hoằng truyền Bắc Tông Thiền. Trong thời gian Tha Nga Thiên Hoàng (嵯峨天皇, Saga Tennō, tại vị 809-823) ở ngôi, có đặc phái cung thỉnh Nghĩa Không (義空) sang Nhật truyền bá Nam Tông Thiền, và bắt đầu mở ra phong thái Thiền Tông Nhật Bản. Đến năm thứ 3 (1187), niên hiệu Văn Trị (文治), Minh Am Vinh Tây (明庵榮西, Myōan Eisai) sang nhà Tống cầu pháp, theo hầu Hư Am Hoài Sưởng (虛菴懷敞), lấy pháp của Phái Hoàng Long truyền vào và khai sáng Lâm Tế Tông Nhật Bản. Vào năm thứ 2 (1223) niên hiệu Trinh Ứng (貞應), Vĩnh Bình Đạo Nguyên (永平道元, Eisai Dōgen) sang nhà Tống, được ấn khả của Thiên Đồng Như Tịnh (天童如淨), rồi quay về nước và trở thành Tổ của Tào Động Tông Nhật Bản. Môn hạ của Đạo Nguyên có Triệt Thông Nghĩa Giới (徹通義介, Tettō Gikai), Hàn Nham Nghĩa Duẫn (寒巖義尹, Kangan Giin); cả hai cũng đã từng sang nhà Tống, sau đó về nước, tận lực cử xướng Thiền phong và lập ra Hàn Nham Phái (寒巖派, còn gọi là Pháp Hoàng Phái [法皇派]). Năm đầu (1235) niên hiệu Gia Trinh (嘉禎), Viên Nhĩ Biện Viên (圓爾辨圓, Enni Benen) sang nhà Tống, đến Kính Sơn (徑山) tham yết Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範), được tâm ấn của vị này; sau khi trở về nước thì sáng lập Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji) ở kinh đô Kyoto và hoằng pháp bố giáo. Đến năm tứ 4 (1246), niên hiệu Khoan Nguyên (寬元), Lan Khê Đạo Long (蘭溪道隆) của Trung Hoa sang Nhật, khai sáng Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji); nhờ vậy Thiền phong ở địa phương Quan Đông (關東, Kantō) nhất thời cực thịnh. Vào năm thứ 4 (1267) niên hiệu Văn Vĩnh (文永), Nam Phố Thiệu Minh (南浦紹明, Nampo Shōmyō) sang nhà Tống, được Hư Đường Trí Ngu (虛堂智愚) ấn chứng cho và trở về bổn quốc. Hai năm sau (1269), cao tăng Đại Hưu Chánh Niệm (大休正念) của Trung Hoa sang Nhật, trú ở hai chùa Kiến Trường (建長, Enchō) và Viên Giác (圓覺, Enkaku), được triều đình cũng như dân chúng kính ngưỡng. Sau đó, một số cao tăng khác sang Nhật truyền đạo như Nhất Sơn Nhất Ninh (一山一寧), Tây Giản Tử Đàm (西磵子曇), Đông Lí Hoằng Hội (東里弘會), Viễn Khê Tổ Hùng (遠谿祖雄), Linh Sơn Đạo Ẩn (靈山道隱), v.v. Cuối cùng 24 dòng phái của Thiền Tông Nhật Bản được hình thành; gồm (1) Phái Thiên Quang (千光派, Vinh Tây), (2) Phái Đạo Nguyên (道元派, Đạo Nguyên), (3) Phái Thánh Nhất (聖一派, Viên Nhĩ), (4) Phái Pháp Đăng (法燈派, Giác Tâm [覺心]), (5) Phái Đại Giác (大覺派, Đạo Long), (6) Phái Ngột Am (兀庵派, Phổ Ninh [普寧]), (7) Phái Đại Hưu (大休派, Chánh Niệm), (8) Phái Pháp Hải (法海派, Tĩnh Chiếu [靜照]), (9) Phái Vô Học (無學派, Tổ Nguyên [祖元]), (10) Phái Nhất Sơn (一山派, Nhất Sơn Nhất Ninh), (11) Phái Đại Ứng (大應派, Nam Phố Thiệu Minh), (12) Phái Tây Giản (西磵派, Tây Giản Tử Đàm), (13) Phái Kính Đường (鏡堂派, Kính Đường Giác Viên [鏡堂覺圓]), (14) Phái Phật Huệ (佛慧派, Linh Sơn Đạo Ẩn), (15) Phái Đông Minh (東明派, Đông Minh Huệ Nhật [東明慧日]), (16) Phái Thanh Chuyết (清拙派, Thanh Chuyết Chánh Trừng [清拙正澄]), (17) Phái Minh Cực (明極派, Minh Cực Sở Tuấn [明極楚俊]), (18) Phái Ngu Trung (愚中派, Ngu Trung Châu Cập [愚中周及]), (19) Phái Trúc Tiên (竺僊派, Trúc Tiên Phạn Tiên [竺僊梵仙]), (20) Phái Biệt Truyền (別傳派, Biệt Truyền Minh Dận [別傳明胤]), (21) Phái Cổ Tiên (古先派, Cổ Tiên Ấn Nguyên [古先印元]), (22) Phái Đại Chuyết (大拙派, Đại Chuyết Tổ Năng [大拙祖能]), (23) Phái Trung Nham (中巖派, Trung Nham Viên Nguyệt [中巖圓月]), (24) Phái Đông Lăng (東陵派, Đông Lăng Vĩnh Dư [東陵永璵]). Trong số đó, trừ 3 phái Đạo Nguyên, Đông Minh, Đông Lăng thuộc về Tào Động Tông, 21 phái khác thuộc Lâm Tế Tông. Ngoài ra, vào năm thứ 3 (1654) niên hiệu Thừa Ứng (承應), Ẩn Nguyên Long Kỷ (隱元隆琦) của Trung Hoa sang Nhật, khai sáng Hoàng Bá Tông (黃檗宗), cùng với Tào Động, Lâm Tế hình thành thế chân vạc của Thiền Nhật Bản. Trong bài tựa của Thiền Tông Chánh Mạch (禪宗正脈, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1593) quyển 1 có đoạn rằng: “Thiền Tông nhất tông, biến mãn hoàn vũ, Phật Tổ dĩ hạ, đắc kỳ truyền giả, tự nhất đăng dĩ chí vô tận đăng yên, ngật kim đãi nhị thiên tự (禪宗一宗、遍滿寰宇、佛祖以下、得其傳者、自一燈以至無盡燈焉、迄今逮二千祀, một tông phái Thiền Tông, đầy khắp hoàn vũ, từ Phật Tổ trở xuống, có người truyền thừa, từ một ngọn đèn đến vô tận ngọn đèn vậy, đến nay đã hai ngàn năm).”

Thiền tông

禪宗; C: chán-zōng; J: zen-shū;|Một tông phái của Phật giáo Ðại thừa tại Trung Quốc. Thiền tông sinh ra trong khoảng thế kỉ thứ 6, thứ 7, khi Bồ-đề Ðạt-ma đưa phép Thiền của đạo Phật vào Trung Quốc, hấp thụ một phần nào của đạo Lão. Tại đây, Thiền tông trở thành một tông phái lớn, với mục đích là hành giả trực nhận được bản thể của sự vật và đạt giác ngộ, như Thích-ca Mâu-ni đã đạt được dưới gốc cây Bồ-đề. Thiền tông là môn phái quan tâm đến kinh nghiệm chứng ngộ, đả phá mạnh nhất mọi nghi thức tôn giáo và mọi lí luận về giáo pháp. Thiền tông chỉ khuyên hành giả Toạ thiền (j: zazen), là con đường ngắn nhất, đồng thời cũng là con đường khó nhất. Những nét đặc trưng của Thiền tông có thể tóm tắt được như sau:|教外別傳。不立文字。直指人心。見性成佛|Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, Kiến tính thành Phật|1. Truyền giáo pháp ngoài kinh điển; 2. Không lập văn tự; 3. Chỉ thẳng tâm người; 4. Thấy tính thành Phật.||H 65: Ðức Phật cầm hoa (拈花; Niêm hoa), Ca-diếp mỉm cười (微笑; vi tiếu). Phật Thích-ca khai sáng một tông mới nằm ngoài giáo pháp, chỉ tâm truyền tâm. Vì vậy mà Thiền tông cũng có tên là Phật tâm tông (佛心宗) hay gọi tắt là Tâm tông.|Bốn tính chất rất rõ ràng dễ nhập tâm này được xem là do Bồ-đề Ðạt-ma nêu lên, nhưng cũng có người cho rằng chúng xuất phát từ Thiền sư đời sau là Nam Tuyền Phổ Nguyện (南泉普願; 749-835), một môn đệ của Mã Tổ. Truyền thuyết cho rằng quan điểm »Truyền pháp ngoài kinh điển« đã do đức Thích-ca áp dụng trên núi Linh Thứu (s: gṛdhrakūṭa). Trong pháp hội đó, Ngài im lặng đưa lên một cành hoa và chỉ có Ma-ha Ca-diếp (s: mahākāśyapa), một Ðại đệ tử, mỉm cười lĩnh hội ý chỉ của cách »Dĩ tâm truyền tâm« (以心傳心; xem Niêm hoa vi tiếu). Ðức Thích-ca ấn chứng cho Ca-diếp là Sơ tổ của Thiền tông Ấn Ðộ. Từ đó, Thiền tông coi trọng tính chất Ðốn ngộ (頓悟; giác ngộ ngay tức khắc) trên con đường tu học.|Thiền tông Ấn Ðộ truyền đến đời thứ 28 là Bồ-đề Ðạt-ma. Ngày nay, người ta không còn tư liệu gì cụ thể về lịch sử các vị Tổ Thiền tông Ấn Ðộ, và thật sự thì điều đó không quan trọng trong giới Thiền. Ðiều hệ trọng nhất của Thiền tông là »tại đây« và »bây giờ.« Ðầu thế kỉ thứ 6, Bồ-đề Ðạt-ma sang Trung Quốc và được xem là Sơ tổ của Thiền tông tại đây. Trong suốt thời gian từ đó đến Lục tổ Huệ Năng (慧能; 638-713), Phật giáo và Lão giáo đã có nhiều trộn lẫn với nhau, nhất là trong phái Thiền đốn ngộ của Huệ Năng, phát triển miền Nam Trung Quốc. Một phái Thiền khác ở phía Bắc, do Thần Tú (神秀) chủ trương, chấp nhận »tiệm ngộ« (漸悟) – tức là ngộ theo cấp bậc – không kéo dài được lâu. Phái Thiền của Huệ Năng phát triển như một ngọn đuốc chói sáng, nhất là trong đời Ðường, đầu đời Tống và sản sinh vô số những vị Thiền sư danh tiếng như Mã Tổ Ðạo Nhất (馬祖道一), Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海), Triệu Châu Tòng Thẩm (趙州從諗), Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄) … và truyền ra các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam (Phật giáo). Thiền phương Nam dần dần chia thành Ngũ gia thất tông (五家七宗; năm nhà, bảy tông), đó là những tông phái thường chỉ khác nhau về cách giáo hoá, không khác về nội dung đích thật của Thiền. Ngũ gia thất tông gồm Tào Ðộng (曹洞), Vân Môn (雲門), Pháp Nhãn (法眼), Quy Ngưỡng (潙仰), Lâm Tế và hai bộ phái của Lâm Tế là Dương Kì (楊岐) và Hoàng Long (黃龍; xem các biểu đồ cuối sách).|Trong các tông này thì có hai tông Lâm Tế và Tào Ðộng du nhập qua Nhật trong thế kỉ 12, đầu thế kỉ 13, đến nay vẫn sinh động và còn ảnh hưởng lớn cho Thiền thời nay. Khoảng đến đời nhà Tống thì Thiền tông Trung Quốc bắt đầu suy tàn và trộn lẫn với Tịnh độ tông trong thời nhà Minh (thế kỉ thứ 15). Trong thời gian đó, Thiền tông đúng nghĩa với tính chất »dĩ tâm truyền tâm« được xem như là chấm dứt. Lúc đó tại Nhật, Thiền tông lại sống dậy mạnh mẽ. Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền (道元希玄), người đã đưa tông Tào Ðộng qua Nhật, cũng như Thiền sư Minh Am Vinh Tây (明菴榮西), Tâm Ðịa Giác Tâm (心地覺心), Nam Phố Thiệu Minh (南浦紹明) và nhiều vị khác thuộc phái Lâm Tế đã có công thiết lập dòng Thiền Nhật Bản. Giữa thế kỉ 17, Thiền sư Trung Quốc là Ẩn Nguyên Long Kì (隱元隆琦) sang Nhật thành lập dòng Hoàng Bá, ngày nay không còn ảnh hưởng. Vị Thiền sư Nhật xuất chúng nhất phải kể là Bạch Ẩn Huệ Hạc (白隱慧鶴), thuộc dòng Lâm Tế, là người đã phục hưng Thiền Nhật Bản trong thế kỉ 18.|Thiền tông Trung Quốc được sáng lập trong thời kì Phật pháp đang là đối tượng tranh cãi của các tông phái. Ðể đối lại khuynh hướng »triết lí hoá«, phân tích chi li Phật giáo của các tông khác, các vị Thiền sư bèn đặt tên cho tông mình là »Thiền« để nhấn mạnh tầm quan trọng của phương pháp Toạ thiền để trực ngộ yếu chỉ.|Thiền bắt nguồn từ Ấn Ðộ nhưng đã trở thành một tông phái độc lập khi được truyền sang Trung Quốc, đặc biệt là sau thời của Lục tổ Huệ Năng. Nơi đây, Thiền tông đã hấp thụ cốt tuỷ của nền văn hoá, triết lí Trung Quốc. Nhà Ấn Ðộ học và Phật học danh tiếng của Ðức H. W. Schumann viết như sau trong tác phẩm Ðại thừa Phật giáo (Mahāyāna-Buddhismus): »Thiền tông có một người cha Ấn Ðộ nhưng đã chẳng trở nên trọn vẹn nếu không có người mẹ Trung Quốc. Cái ›dễ thương‹, cái hấp dẫn của Thiền tông chính là những thành phần văn hoá nghệ thuật, những đặc điểm sắc thái riêng của Trung Quốc, không phải của Ấn Ðộ. Những gì Phật giáo mang đến Trung Quốc – với tư tưởng giải thoát tuyệt đối, trình bày một cách nghiêm nghị khắc khe với một ngón tay trỏ chỉ thẳng – những điều đó được các vị Thiền sư thừa nhận, hấp thụ với một nụ cười thầm lặng đầy thi vị. Thành tựu lớn lao của các Ðại luận sư Ấn Ðộ là nhét ›con ngỗng triết lí‹ vào lọ, thì – chính nơi đây, tại Trung Quốc – con ngỗng này được thả về với thiên nhiên mà không hề mang thương tích.«|Thiền như các vị Thiền sư nhấn mạnh, là trở về với tự nhiên, không hẳn là sự phản đối truyền thống như những học giả sau này thường xác định. Thiền tông phản bác, vứt bỏ những nghi thức rườm rà, những bài luận khó hiểu, bất tận nhưng không phủ nhận nội dung, tinh hoa của chúng. Thiền tông chính là sự tổng hợp độc đáo của hai giáo lí, hai học thuyết nền tảng của Ðại thừa Ấn Ðộ, đó là Trung quán (中觀; s: madhyamaka) và Duy thức (唯識; s: vijñānavāda). Người ta có thể hiểu phần nào những hành động, lời nói, phương pháp hoằng hoá »mâu thuẫn«, »nghịch lí« của các vị Thiền sư nếu nắm được giáo lí của Trung quán và Duy thức. Trong các tập công án của Thiền tông, người ta có thể nhận ra hai loại: 1. Những công án xoay quanh thuyết Thật tướng (實相) của Trung quán tông (s: mādhyamika), tức là tất cả đều là Không (s: śūn-yatā) và 2. Những công án với khái niệm »Vạn pháp duy tâm« (萬法唯心; s: cittamātra) của Duy thức tông.|Công án danh tiếng nhất với thuyết tính Không là Con chó của Triệu Châu (Vô môn quan 1): Tăng hỏi Triệu Châu: »Con chó có Phật tính không?« Triệu Châu trả lời: »Không!« (無).|Một công án không kém danh tiếng theo thuyết Duy thức (Vô môn quan 29): Hai ông tăng cãi nhau về phướn (một loại cờ). Một ông nói: »Phướn động.« Ông khác nói: »Gió động«, và cứ thế tranh cãi. Lục tổ Huệ Năng liền nói: »Chẳng phải gió, chẳng phải phướn, tâm các ông động.« Nghe câu này, hai vị giật mình run sợ.|Tuy không bao giờ trở lại thời vàng son của thế kỉ thứ 7, thứ 8, Thiền tông vẫn luôn luôn gây được một sức thu hút mãnh liệt nơi tín đồ Phật giáo và đóng một vai trò quan trọng trong nghệ thuật Ðông Á. Khoảng vài mươi năm nay, Thiền tông bắt đầu có ảnh hưởng tại phương Tây và Mĩ.

thiền tông

Phật giáo Trung Quốc chia làm năm nhánh là: Thiền, Giáo, Tịnh, Mật, Luật. Tất cả đều có thiền riêng nhưng không xưng là Thiền tông, chỉ có Tổ Sư Thiền mới xưng là Thiền tông, cũng gọi là Tông Môn Thiền. ; The Zen Sect. (I) Thiền Tông Trung Hoa—The Zen Sect in China: (A) Thiền tông, Phật Tâm tông, hay Vô Môn tông, được Tổ Bồ Đề Đạt Ma, Tổ thứ 28 ở Ấn Độ, mang vào Trung Quốc. Thiền được coi như là một trường phái quan trọng của Phật giáo. Tổ Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Hoa vào khoảng năm 470 và trở thành người sáng lập ra phái Mật Tông và Thiền Tông ở đây. Người ta nói ngài đã hành thiền trước một bức tường của Thiếu Lâm tự trong chín năm. Những đệ tử của Bồ Đề Đạt Ma hoạt động mạnh mẽ ở mọi nơi và đã hoàn toàn chiến thắng các tôn giáo bản địa để rồi cuối cùng Thiền tông được đánh giá rất cao ở Trung Quốc—The Ch'an (Zen), meditative or intuitional, sect usually said to have been established in China by Bodhidharma, the twenty-eighth patriarch, who brought the tradition of the Buddha-mind from India. Ch'an is considered as an important school of Buddhism. Bodhidharma came to China about 470 A.D. and became the founder of esoteric and Zen schools there. It is said that he had practised meditation against the wall of the Shao-Lin-Tzu monastery for nine years. The followers of Bodhidharma were active everywhere, and were completely victorious over the native religions with the result that the teachings of Zen have come to be highly respected everywhere in China. • Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma: The first patriarch Bodhidharma. • Nhị Tổ Huệ Khả: The successor of Bodhidharma or the second patriarch was Hui-K'o. • Tam Tổ Tăng Sán: The third patriarch was Sêng-Ts'an. • Tứ Tổ Đạo Tín: The fourth patriarch was T'ao-Hsin. • Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn: The fifth patriarch was Hung-Jên. • Lục Tổ Huệ Năng: The sixth patriarch was Hui-Neng. (B) Triết lý Thiền—Philosophical Zen: a) Theo triết lý chính của Thiền tông, nhìn vào nội tâm, chứ không phải nhìn ra bên ngoài, là cách duy nhất để đạt đến sự giác ngộ mà trong tâm trí con người thì cũng giống như là Phật quả vậy. Hệ tư tưởng nầy chú trọng vào 'trực cảm,' với một đặc điểm là không có ngôn từ nào để tự diễn đạt, không có một phương thức nào để tự giải thích, không có sự chứng minh dài dòng nào về chân lý riêng của mình một cách thuyết phục. Nếu có sự diễn đạt thì chỉ diễn đạt bằng ký hiệu và hình ảnh. Qua một thời gian, hệ tư tưởng nầy đã phát triển triết lý trực cảm của nó đến một mức độ khiến nó vẫn còn là một triết lý độc đáo cho đến ngày nay: According to the Zen sect, the key theory of Zen, to look inwards and not to look outwards, is the only way to achieve enlightenment, which to the human mind is ultimately the same as Buddhahood. In this system, the emphasis is upon 'intuition,' its peculiarity being that it has no words in which to express itself, no method to reason itself out, no extended demonstration of its own truth in a logically convincing manner. If it expresses itself at all, it does so in symbols and images. In the course of time this system developed its philosophy of intuition to such a degree that it remains unique to this day. b) Theo Giáo sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy—Thiền tông nặng về triết lý nhưng không phải là một nền triết học theo nghĩa hạn hẹp của nó. Đây là một học phái có chất tôn giáo hơn tất cả mọi học phái Phật giáo, nhưng lại không phải là một tôn giáo theo nghĩa thông thường của danh từ nầy. Thiền tông không có kinh điển Phật nào, cũng không trì giữ một luật nghi nào do Phật đặc chế ra. Nếu như không kinh, không luật, thì không một học phái nào có thể ra vẻ Phật giáo. Tuy nhiên, theo ý nghĩa của Thiền, ai mà còn chấp trước vào danh ngôn hay luật lệ thì không bao giờ có thể thấu đáo hoàn toàn ý nghĩa chân thật của người nói. Lý tưởng hay chân lý mà Đức Phật chứng ngộ chắc chắn khác hẳn với những gì mà Ngài đã giảng dạy, bởi vì giáo thuyết nhất thiết bị ước định bởi ngôn từ mà Ngài dùng, bởi thính chúng mà Ngài giáo hóa, và bởi hoàn cảnh xãy ra cho người nói và người nghe. Cái mà Thiền nhắm đến là lý tưởng của Phật, minh nhiên và không bị ước định. Học phái nầy còn được gọi là “Phật Tâm Tông.” Phật tâm vốn cũng chỉ là tâm người thường. Chỉ cần nhìn thẳng vào tâm địa đó là có thể đưa hành giả đến giác ngộ viên mãn. Nhưng bằng cách nào? Chủ ý chung của Phật pháp là để hành giả tự thấy đúng và tự đi đúng—Zen has much philosophy, but is not a philosophy in the strict sense of the term. It is the most religious school of all and yet not a religion in the ordinary sense of the word. It has no scripture of the Buddha, nor does it hold any dicipline of the Buddha. Without a sutra (discourse) or a vinaya (Discipline) text, no school or sect would seem to be Buddhistic. However, according to the ideas of Zen, those who cling to words, letters or rules can never fully comprehend the speaker's true idea. The ideal or truth conceived by the Buddha should be different from those taught by him because the teaching was necessarily conditioned by the language he used, by the hearers whom he was addressing, and by the environment in which the speaker and hearers were placed. What Zen aims at is the Buddha's ideal, pure and unconditioned. The school is otherwise called 'the School of the Buddha's Mind.” The Buddha's mind is after all a human mind. An introspection of the human mind alone can bring aspirant to a perfect enlightenment. But how? The general purport of Buddhism is to let one see rightly and walk rightly. c) Thấy đúng hay kiến đạo: Darsana-marga (skt)—Thấy đúng khác biệt với đi đúng. Để phán đoán con đường sắp đi có đúng hay không, trước nhất học vấn hay khoa học là quan trọng—The way of viewing is different from the way of walking. To judge whether the path we are going to take is right or not, first of all, science is important. d) Đi đúng hay tu đạo: Bhavana-marga (skt)—Người ta thường đi mà không thấy. Tôn giáo chú trọng trên thực hành, tức là đi như thế nào, nhưng lại sao lãng việc giáo hóa những hoạt động trí thức để xác định con đường tu tập chân chính, tức là thấy như thế nào: The way of walking or the way of cultivation. People often walk without seeing the way. Religions generally lay importance on practice, that is, how to walk, but neglect teaching the intellectuall activity with which to determine the right way, that is, how to see. e) Với Thiền—With Zen: Càng đi chúng ta càng khám phá ra rằng triết lý quan trọng hơn tất cả những thứ khác. Trong trường hợp mà khoa học không cung ứng một giải đáp thỏa đáng, thì chúng ta phải trông cậy vào phương pháp tư duy của Thiền để soi tỏ vào bất cứ vấn đề nào được nêu ra: As we go on, we discover that philosophy is much more important than anything else. In case science and philosophy do not give a satisfactory result, we must resort to the meditative method of Zen in order to get insight into any given problem. • Trước tiên, hành giả phải tìm thấy con đường rồi bắt đầu đi trên đó. Mỗi bước tiến nhờ vào tư duy sẽ đưa người vượt qua lớp sóng của nhân sinh, tiến lần đến cõi hư không của thiên giới và cuối cùng đạt đến giác ngộ viên mãn như Đức Phật: First, find out your way and begin to walk on it. The foot acquired by meditation can carry you across the wave-flux of human life, and over and above the air region of the heavenly world and finally make you perfect and enlightened like the Buddha. • Quán là con mắt trực thị và đồng thời là bước chân trên con đường chân thực: Contemplation is the eye which gives insight, and, at the same time, the foot which procures a proper walk. • Thiền định và quán là thấu kính trong đó những đối tượng bên ngoài bị hội tụ để rồi phân tán và khắc ấn tượng lên mặt của những âm bản bên trong: Zen (meditation and concentration) is the lens on which diverse objects outside will be concentrated and again dispersed and impressed on the surface of the negative plates inside. • Sự tập trung vào thấu kính nầy chính là định (samadhi) và định càng sâu thì giác ngộ càng mau chóng: The concentration on the lens itself is concentration (samadhi) and the deeper the concentration is, the quicker the awakening of intuitive intellect. • Những gì khắc đậm hơn vào lớp phim âm bản là huệ (prajna) và là căn bản của những hoạt động trí thức. Qua ánh sáng trí huệ rọi ra bên ngoài, hành giả nhìn và thấy lại cái ngoại giới sai biệt lần nữa rồi theo đó mà hành sự thích nghi vào cuộc sống thực tế: The further impression on the negative film is wisdom (prajna) and this is the basis of intellectual activity. Through the light of reflection (prajna) outwardly, i.e., insight, we see and review the outer world of diversity once again so as to function or act appropriately toward actual life. (C) Cương yếu Thiền Tông—Preliminary of the Zen Sect: 1) Theo Kinh Lăng Già, Thiền tông tin vào đốn ngộ, chứ không qua nghi lễ hay kinh điển. Tu thiền trực ngộ bằng tuệ giác bên trong. Truyền thống truyền thừa Mật giáo lấy câu chuyện Đức Phật trong hội Linh Sơn giơ bông hoa, và ngài Ca Diếp trực ngộ bằng cái mỉm cười làm nguồn gốc (dĩ tâm truyền tâm, giáo ngoại biệt truyền)—According to the Lankavatara Sutra, the Zen sects believe in direct enlightenment, disregarded ritual and sutras and depended upon the inner light and personal influence for the propagation of its tenets, founding itself on the esoteric tradition supposed to have been imparted to Kasyapa by the Buddha, who indicated his meaning by plucking a flower without further explanation. Kasyapa smiled in apprehension and is supposed to have passed on this mystic method to the patriarchs. 2) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, Ấn Độ có truyền thống tư duy thực hành trong tất cả các trường phái triết học cũng như tôn giáo do thừa kế giòng Aryan cổ đại. Trong số các trường phái nầy, Du Già là một phái đặc biệt chuyên về tư duy hay tập trung tư tưởng. Hệ thống Du Già là khía cạnh thực hành của triết lý Số Luận (Sankhya), vốn là Nhị Nguyên Luận. Theo Số Luận, thần ngã (atman) và Tự tánh (Prakriti), một đàng thì mù một đàng thì què, không thể hành sự nếu không được hợp nhất. Ngã có tác dụng tri thức, nhưng không thể hoạt động nếu không có tác dụng chất thể của Tự tánh. Khi cả hai hợp lại, mới thấy được con đường và hoạt động tùy ý. Ngã, như kẻ tổ chức một tuồng hát, chỉ chăm sóc diễn viên trình diễn và hoạt động trong vở kịch mà lại nghĩ rằng chính mình đang diễn vở kịch đó, dầu trên thực tế, chỉ có Tự tánh là vận hành và chu tất. Chỉ có tự tu tập mới mang lại tự do, nghĩa là, độc lập của ngã. Phương pháp tự tu tập thực ra là hệ thống Du Già của Patanjali vào thế kỷ thứ hai trước Tây Lịch. Hệ thống Số Luận nguyên lai thuộc tà đạo vì Vô Thần, chỉ thừa nhận sự hiện hữu của Tự Ngã (Atman) mà không nhận có Đại Ngã (Mahatman). Nhưng khi thực hành về tư duy trừu tượng, đối tượng của sự tập trung tư tưởng rất cần thiết và do đó học thuyết này chấp nhận một hình thức của tự nhiên Thần giáo, nhưng không phải là Hữu Thần giáo. Đến giai đoạn sau cùng nầy của tư duy khi sự tách rời hoàn toàn giữa Ngã và Tự tánh đã có hiệu quả, thì đối tượng của tư duy, Brahman, Đại Ngã hay Thượng đế, bất cứ là gì, không còn cần thiết nữa—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, as an inheritance from the ancient Aryan race, India has had the habit of meditation practiced in all schools of philosophy as well as in religion. There are six systems of Indian philosophy, one of which called Yoga, is especially devoted to meditation or concentration. The Yoga system is the practical side of the Sankhya philosophy, which is dualistic. In Sankhya, Self (Atman) and Nature (Prakriti), one blind as it were, and the other lame, cannot function without being united. Self has the intellectual function, but cannot move without the physical function of Nature. When the two combine together, they see the way and move at will. Self, like the promoter of a theatrical play, simply looks on his mate's acting and moving vut curiously thinks that he himself is acting in the moving, though in reality only Nature is moving and achieving. Only self-culture brings about freedom, that is, dependence of Self. The method of self-culture is practically the Yoga system of Patanjali in the second century B.C. The Sankhya system, originally heterodox since it was atheistic, asserted only the existence of the individual Self (Atman) and not of Universal Self (Mahatman). But in the practice of abstract meditation an object of self-concentration was necessary and so the doctrine assumes the form of deism, but not theism. At the end of meditation, when the absolute separation of Self from Nature has been effected, the object of meditation, Brahman, Paramatman or God, whatever it is, is no longer used. 3) Tầm quan trọng của Thiền định trong hệ thống Du Già ở chỗ phát triển và phục hồi những nguyên lý nhị nguyên, và giải thoát trọn vẹn Thần Ngã khỏi Tự tánh, trong khi phái Du Già Duy Tâm Luận của Phật Giáo đặt trọng tâm nơi sự nhất thống của thế giới bên trong và bên ngoài, tổng hợp các hiện hữu nhân quả và giả tạm của chúng ta, và từ đó mà khám phá ra một cách tiêu cực trạng thái Chân Như (Tathata). Dĩ nhiên, Phật giáo có một học thuyết đặc biệt về Thiền. Mặc dù chiều sâu và chiều rộng của thiền quán tùy thuộc nơi căn tính cá nhân, nhưng phương pháp hay nội dung của thiền định do Đức Phật giảng thuyết ở Tiểu và Đại Thừa đều giống nhau. Loại Thiền đặc biệt nầy được gọi là Như Lai Thiền, vì nó là một phần của Thánh giáo. Phát triển cao độ nhất trong Thiền nầy tìm thấy trong chỉ quán (samathavipasyana) của tông Thiên Thai và trong bí mật Du Già của tông Chân Ngôn: The importance of the abstract meditation of the Yoga system is laid upon the evolution and reversion of the dual principles and upon the final liberation of Self from Nature, while that of the idealistic Yogacara School of Buddhism is centered on the unification of the world within and without, on the synthesizing of our causal and illusory existences, and thus negatively discovering the state of Thusness (Tathata). Buddhism, has, of course, a special doctrine of meditation. Although the depth and width of contemplation depend upon one's personal character, the methods or contents of meditation taught by the Buddha are similar in Hinayana and Mahayana. This special meditation is generally called 'Tathagata meditation,' as it forms one part of the sacred teaching. The highest development of it is seen in the perfect 'calmness and insight' (samathavipasyana) of the T'ien-T'ai School and in the mystical Yogacara of the Shingon School. (D) Tập trung tư tưởng—Concentration of thoughts: See Tám Yếu Tố Tập Trung Tư Tưởng. (II) Thiền tông Việt Nam—Vietnamese Zen: Chính ra Khương Tăng Hội là vị Thiền sư Việt Nam đầu tiên; tuy nhiên, thiền phái Việt Nam chỉ bắt đầu được thành lập từ thời Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi mà thôi. Phật giáo Thiền tông có nhiều nhánh tại Việt Nam, là phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, phái Vô Ngôn Thông, và phái Thảo Đường—Hjiang-Jing-Hui was the first Vietnamese Zen master; however, Vietnamese Zen sects only developed at the time of Zen master Vinitaruci. Zen Buddhism has several branches in Vietnam, namely, the Vinitaruci, the Wu-Yun-T'ung, and the Tsao-T'ang. 1) Phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi—Vinitaruci Zen sect: Dòng thứ nhất là dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, được khai sáng bởi một vị Tăng Ấn Độ, đệ tử của Tam Tổ Tăng Xán—The first branch was founded in Vietnam by an Indian monk named Vinitaruci, who was one of the great disciples of the third patriarch, Seng-Ts'an—See Tỳ Ni Đa Lưu Chi and Tăng Xán. 2) Phái Vô Ngôn Thông—Wu-Yun-T'ung Zen sect: Dòng Thiền thứ nhì là dòng Vô Ngôn Thông, được khai sáng bởi Thiền sư Vô Ngôn Thông, một Thiền sư Trung Hoa, đệ tử của Tổ Bách Trượng Hoài Hải—The second branch was founded by a Chinese Zen master named Wu-Yun-T'ung, a great disciple of Pai-Ch'ang-Huai-Hai—See Vô Ngôn Thông, and Bách Trượng Hoài Hải. 3) Phái Thảo Đường—Tsao-T'ang Zen sect: Dòng Thiền thứ ba là dòng Thảo Đường, được khai sáng bởi Thiền sư Thảo Đường, đệ tử của Đức Sơn Tuyên Giám—The third branch was founded by Tsao-T'ang, a disciple of Te-Shan—See Thảo Đường Thiền Sư and Đức Sơn Tuyên Giám. 4) Phái Trúc Lâm—Trúc Lâm Zen sect: Dòng Thiền Trúc Lâm do sơ Tổ Trần Nhân Tông khai sáng—Trúc Lâm Zen sect was founded by the first patriarch Trần Nhân Tông—See Trần Nhân Tông. 5) Phái Lâm Tế—Lin-Chi Zen sect: Phái Lâm Tế được truyền thẳng từ Trung Hoa từ tổ Lâm Tế—The Lin Chi Zen sect was transmitted directly from China from Lin Chi Patriarch. 6) Phái Tào Động—T'ao-T'ung Zen sect: Phái Tào Động được truyền thẳng từ Thiền phái của Lục Tổ ở Tào Khê, Trung Quốc—T'ao-T'ung Zen sect was transmitted directly from T'ao-Tsi, China. (III) Thiền phái Nhật Bản—Japanese Zen sects: Phật giáo Thiền tông có ba nhánh tại Nhật Bản, gọi là Lâm Tế (Rinzai), Tào Động (Soto), và Hoàng Bá (Obaku)—Zen Buddhism has three branches in Japan, namely, the Rinzai, the Soto, and the Obaku—See Thiền Phái Nhật Bản. ; (禪宗) Cũng gọi Phật tâm tông, Đạt ma tông, Vô môn tông. Chỉ cho tông phái Đại thừa tôn ngài Bồ đề đạt ma làm Sơ tổ, tham cứu cội nguồn tâm tính để mong được thấy tính thành Phật, là 1 trong 13 tông của Trung quốc, 1 trong 13 tông của Nhật bản. Từ xưa, Trung quốc lấy hệ thống những người chuyên tâm tọa thiền làm Thiền tông, trong đó bao hàm cả 2 hệ thống Thiên thai và Tam luận, chứ không chỉ giới hạn ở Đạt ma tông; từ giữa đời Đường về sau, Đạt ma tông hưng thịnh, nên khi đề cập đến Thiền tông thì tức là chuyên chỉ cho Đạt ma tông. Về sự truyền thừa của tông này thì Trung quốc lấy việc đức Thích tôn trong hội Linh sơn đưa cành hoa sen lên để dạy chúng và ngài Ca diếp mỉm cười làm khởi nguồn. Thuyết này tuy không có căn cứ sử thực, nhưng Thiền từ Lục tổ Tuệ năng về sau nhấn mạnh việc dùng tâm truyền tâm, truyền riêng ngoài giáo, cho nên đặc biệt coi trọng thuyết Ca diếp phó pháp tương thừa này. Sau ngài Ca diếp, qua các ngài: A nan, Thương na hòa tu, Ưu bà cúc đa, Đề đa ca, Di già ca, Bà tu mật, Phật đà nan đề, Phục đà mật đa, Bà lật thấp bà, Phú na dạ xa, A na bồ đề, Ca tì ma la, Na già ứ lạt thụ na, Ca na đề bà, La hầu la đa, Tăng già nan đề, Già da xá đa, Cưu ma la đa, Xà dạ đa, Bà tu bàn đầu, Ma noa la, Hạc lặc, Sư tử bồ đề, Bà xá tư đa, Bất như mật đa, Bát nhã đa la và Bồ đề đạt ma, tất cả 28 vị, tức là 28 vị Tổ Tây thiên (Ấn độ) của tông này. Ngài Bồ đề đạt ma truyền Thiền pháp đến Trung quốc vào khoảng năm Phổ thông (520-527) đời Lương vũ đế và trở thành Sơ tổ của Thiền tông Trung quốc. Sau, ngài Đạt ma truyền pháp cho ngài Tuệ khả (Thần quang), Tuệ khả truyền cho Tăng xán, Tăng xán truyền cho Đạo tín. Dưới ngài Đạo tín có 2 vị tài trí hơn người là Hoằng nhẫn và Pháp dung. Dưới Pháp dung có Trí nghiễm, Tuệ phương và Pháp trì, vì Pháp hệ này trụ ở núi Ngưu đầu tại Kim lăng, nên người đời gọi là Ngưu đầu thiền, lấy ý muốn được tâm tịnh thì phải vô tâm dụng công làm yếu chỉ. Ngũ tổ Hoằng nhẫn ở núi Hoàng mai tại Kì châu (tỉnh Hồ bắc) xiển dương ý chỉ sâu xa của kinh Kim cương bát nhã, dưới cửa của sư xuất hiện rất nhiều bậc tài trí như: Ngọc tuyền Thần tú, Đại giám Tuệ năng, Tung sơn Tuệ an, Mông sơn Đạo minh, Tư châu Trí sân... Trong các đệ tử của Ngũ tổ thì ngài Thần tú là Đệ nhất thượng thủ, gọi là Tú thượng tọa. Sau khi Ngũ tổ thị tịch, ngài Thần tú truyền bá Thiền pháp ở phương Bắc, vì thế cũng gọi là Bắc Tú, sư có nhiều đệ tử tài giỏi và được tôn làm Tổ của Thiền Bắc tông. Bắc tông lấy Trường an và Lạc dương làm trung tâm, pháp vận hưng thịnh được chừng 100 năm, chủ trương tập trung tinh thần vào việc tu hành Thiền pháp một cách thực tiễn. Dưới ngài Thần tú có các vị Tung sơn Phổ tịch, Kinh triệu Nghĩa phúc... truyền được 4-5 đời thì đoạn tuyệt. Ngoài ra, ngài Tung sơn Tuệ an khai sáng Lão an thiền, còn ngài Tú châu Trí sân thì cũng mở ra Nam sân thiền. Ngài Đại giám Tuệ năng thì nhờ 1 bài kệ mà được Ngũ tổ ấn khả và truyền áo bát cho, kế thừa ngôi vị Đệ lục tổ. Về sau, sư lánh nạn xuống phương nam; trụ ở Tào khê tại Thiều dương (tỉnh Quảng đông), phát huy Thiền phong rất rực rỡ, đó chính là Tổ của Thiền Nam tông. Vì tông phong của 2 tông Nam, Bắc khác nhau, nên có thuyết Nam Đốn Bắc Tiệm. Đệ tử nối pháp của ngài Tuệ năng có hơn 40 vị, trong đó nổi tiếng hơn cả là các vị: Nam nhạc Hoài nhượng, Thanh nguyên Hành tư, Nam dương Tuệ trung, Vĩnh gia Huyền giác, Hà trạch Thần hội... Trong các vị này, ngài Hà trạch Thần hội mở ra Hà trạch tông, cực lực chủ trương pháp môn đốn ngộ, lấy một niệm không khởi làm tọa và thấy rõ bản tính làm Thiền. Ngài Nam nhạc Hoài nhượng được Lục tổ truyền tâm ấn, trụ ở chùa Bát nhã tiếp hóa người học suốt 30 năm, đệ tử nối pháp có 9 vị, đứng đầu là ngài Mã tổ Đạo nhất. Ngài Mã tổ Đạo nhất hoằng dương Thiền pháp ở núi Cung công, tỉnh Giang tây, cơ phong cao vút, mạnh mẽ, khai sáng thiền phong đánh hét, dựng phất trần, người đời gọi là Hồng châu tông. Tông này chủ trương những sinh hoạt hàng ngày của thân tâm như khởi tâm động niệm, nhướng mày, chớp mắt... đều là Phật tính, từ đó có thuyết Kiến tính thị Phật, Tính tại tác dụng. Đệ tử của ngài Mã tổ có hơn trăm vị, nổi tiếng thì có các vị: Bách trượng Hoài hải, Nam tuyền Phổ nguyện, Tây đường Trí tạng, Đại mai Pháp thường, Chương kính Hoài huy và Đại châu Tuệ hải.Từ sau khi ngài Hoài hải sáng lập Thiền viện, đặt ra thanh qui ở núi Bách trượng thì Thiền tông mới thóat li các chế độ Thiền tăng phải ở nhờ trong các chùa Luật. Dưới ngài Bách trượng có các vị Hoàng bá Hi vận, Qui sơn Linh hựu...; dưới ngài Hi vận có Lâm tế Nghĩa huyền. Ngài Nghĩa huyền lập ra Tam huyền tam yếu, Tứ liệu giản... để tiếp hóa đồ chúng, cơ phong nghiêm khắc, môn đồ đông đúc, tự phát triển thành tông Lâm tế, bấy giờ đã là cuối đời Đường. Sang đến đời Tống, lại từ ngài Lâm tế Nghĩa huyền, trải qua các vị: Hưng hóa Tồn tưởng, Nam viện Tuệ ngung, Phong huyệt Diên chiểu, Thủ sơn Tỉnh niệm, Phần dương Thiện chiêu, truyền đến đời thứ 7 là ngài Thạch sương Sở viên, đệ tử của ngài Sở viên là Hoàng long Tuệ nam và Dương kì Phương hội lại diễn sinh 2 phái Hoàng long và Dương kì, đứng ngang hàng với các tông Vân môn, Tào động. Một mình ngài Qui sơn Linh hựu trụ ở Đàm châu (tỉnh Hồ nam), người đến tham học có tới 1.500, đệ tử thì ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch là nổi tiếng hơn cả. Dưới Thiền sư Thanh nguyên Hành tư có ngài Thạch đầu Hi thiên soạn Tham đồng khế, sư và ngài Mã tổ được tôn xưng là Nhị đại Long Tượng (2 bậc Rồng Voi) ở đương thời. Đệ tử ngài Thạch đầu Hi thiên có các vị Dược sơn Duy nghiễm, Đơn hà Thiên nhiên và Thiền hoàng Đạo ngộ. Hệ thống ngài Dược sơn có các vị Vân nham Đàm thịnh, Động sơn Lương giới, Vân cư Đạo ưng, Tào sơn Bản tịch... phát triển thànhtông Tào động. Ngài Thiên hoàng Đạo ngộ truyền được 3 đời đến ngài Tuyết phong Nghĩa tồn, trụ ở núi Tuyết phong Phúc châu, đệ tử nối pháp có hơn 50 người, trong đó, ngài Vân môn Văn yển, phát huy tông trí hình thành tông Vân môn; một vị đệ tử khác của ngài Tuyết phong là Huyền sa Sư bị truyền xuốngđến các vị La hán Quế sâm và Pháp nhãn Văn ích. Ngài Văn ích trụ chùa Thanh lương ở Kim lăng, xiển dương Thiền chỉ, khai sáng ra tông Pháp nhãn, hệ thống này có các vị cao tăng xuất hiện như: Thiên thai Đức thiều, Vĩnh minh Diên thọ, Vĩnh an Đạo nguyên... Trong đó, ngài Đức thiều được gọi là Trí khải tái sinh; ngài Diên thọ soạn Tôngkính lục, xem trọng giáo học; ngài Đạo nguyên soạn Cảnh đức truyền đăng lục, cho biết rõ về hệ phổ của Đạt ma thiền. Trừ các tông phái nêu trên ra, theo Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự của ngài Khuê phong Tông mật thì các giáo phái Thiền tông ở đời Đường gồm có các phái: Hồng châu, Hà trạch, Bắc tú, Nam sân, Ngưu đầu, Thạch đầu, Bảo đường, Tuyên thập(Thiền môn niệm Phật), Huệ trù, Cầu na, Thiên thai... Trong Viên giác sớ sao, ngài Tông mật cũng nêu 7 tông là: Bắc tông thiền, Trí sân thiền, Lão an thiền, Nam nhạc thiền, Ngưu đầu thiền, Nam sơn niệm Phật môn thiền và Hà trạch thiền. Trong Thập di môn, ngài Tông mật lại phân loại làm 5 nhà: Ngưu đầu tông, Bắc tông, Nam tông, Hà trạch tông và Hồng châu tông. Cái mà ngài Tông mật gọi là Ngũ gia, Thất tông tự khác với Ngũ gia, Thất tông do Thiền tông đời sau phân loại, điều này là do thời đại ngài Tông mật sống và bản thân ngài thuộc về tông Hà trạch, cho nên các giáo phái Thiền tông mà ngài thấy lúc bấy giờ cũng khác với các sử liệu Thiền tông đời sau. Tóm lại, từ ngài Đạt ma đến ngài Tuệ năng, trong khoảng thời gian 250 năm, Thiền phong mà tông này nêu cao có 1 phongcách đặc biệt riêng, ngữ lục của các Tổ sư thường trích dẫn và y cứ vào kinh điển mà nêu rõ Phật pháp chỉnh thể, không rơi vào sự đối lập tông phái, có thể gọi đó là thời kì thành lập của Thiền tông. Từ các ngài Nam nhạc, Thanh nguyên cho đến cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại, trong khoảng thời gian 250nămấy, chỉ có Thiền Nam tông độc tôn. Về mặt tư tưởng thì loại bỏ sắn bìm ngôn ngữ văn tự mà kiến lập tinh thần Tức tâm thị Phật, Bình thường tâm thị đạo; về mặt sinh hoạt thực tế thì kiến lập qui chế Thiền viện lấy Tăng đường làm trung tâm. Đối với việc hoằng truyền Thiền pháp, về mặt diễn thuyết thì dùng các cơ pháp linh hoạt sống động để tiếp dẫn người học, dùng các cơ dụng đánh, hét, dựng phất trần, để tuyên dương tông phong. Lâu ngày dần dần phân lập thành Ngũ gia (5 nhà), thời kì này có thể gọi là sự phát đạt của Thiền tông. Trong thời gian 320 năm của 2 đời Bắc Tống và Nam Tống, từtông Lâm tế lại diễn sinh ra 2 phái Hoàng long và Dương kì mà thành là Ngũ gia thất tông (5 nhà 7 tông) của Thiền tông Trung quốc. Trong đó, phái Hoàng long sau được ngài Vinh tây truyền đến Nhật bản; còn phái Dương kì thì sau ngài Dương kì Phương hội, có các cao tăng như Ngũ tổ Pháp diễn, Viên ngộ Khắc cần, Đại tuệ Tông cảo... mở mang Thiền chỉ, hình thành dòng chính của Thiền. Ngoài ra, ngài Hoành trí Chính giác thuộc hệ thống tông Tào động đề xướng Mặc chiếu thiền, còn ngài Đại tuệ Tông cảo thuộc hệ thống tông Lâm tế thì đề xướng Khán thoại thiền. Vào thời kì này, các giáo dung hợp, đưa đến khuynh hướng Tam giáo nhất trí, Giáo thiền điều hợp, Thiền tịnh song tu, tông này dần dần mất tính cách độc lập của mình, đó là thời kì giữ vững sự thành tựu của Thiền tông. Từ Nguyên, Minh cho đến đời vua Càn long nhà Thanh, trong khoảng thời gian 450 năm là thời kì suy đồi của Thiền tông. Trong thời kì này tuy có các vị tông sư 1 đời như Hải vânẤn giản, Vạn tùng Hành tú, Phá am Tố tiên, Vô chuẩn Sư phạm... nối tiếp nhau quật khởi, nhưng nói theo thế mạnh của 1 tông thì kết cục đã rõ là Nho Thích điều hợp, Giáo Thiền nhất trí. Trong các bậc Đại sư Thiền tông thời cận đại thì Hòa thượng Hư vân (1839-1958) là người được suy tôn đứng đầu, với 120 tuổi thọ, một đời hoằng pháp không mỏi mệt, xây dựng nhiều tùng lâm, tận lực chấn hưng Thiền tông, giữ gìn pháp mạch từ thời Lục tổ về sau; soạn các tác phẩm lưu truyền ở đời như: Hư vân hòa thượng pháp vậng, Hư vân hòa thượng thiền thất khai thị lục... Tại Nhật bản, sự lưu truyền Thiền tông bắt đầu với việc ngài Đạo chiêu đến Trung quốc vào đời Đường cầu pháp vào năm Bạch trĩ thứ 4 (653) đời Thiên hoàng Hiếu đức. Năm Thiên bình thứ 8 (732), ngài Đạo tuyền người Trung quốc đến Nhật bản hoằng truyền Thiền Bắc tông; thời Thiên hoàng Sa nga ở ngôi, có sai sứ đến Trung quốc thỉnh ngài Nghĩa không sang Nhật bản hoằng truyền Thiền Nam tông, mở ra tông phong của Thiền tông Nhật bản. Năm Văn trị thứ 3 (1187), ngài Minh am Vinh tây đến Trung quốc vào đời Tống, thờ ngài Hư am Hoài sưởng làm thầy, truyền phápThiền của phái Hoàng long về Nhật bản, mở đầu cho tông Lâm tế ở Nhật bản. Năm Trinh ứng thứ 2 (1223), ngài Vĩnh bình Đạo nguyên đến Trung quốc vào đời Tống, sau khi được ngài Thiên đồng Như tịnh ấn khả, ngài Đạo nguyên trở về Nhật bản, trở thành Tổ của tông Tào động Nhật bản. Đệ tử của sư là các vị Triệt thông Nghĩa giới và Hàm nham Nghĩa doãn, 2 lần đến Trung quốc, sau khi về nước, các ngài truyền pháp rất rộng, về sau, khai sáng riêng phái Hàn nham (cũng gọi phái Pháp hoàng). Niên hiệu Gia trinh năm đầu (1235), ngài Viên nhĩ Biện viên đến Trung quốc tới Kính sơn tham yết ngài Vô chuẩn Sư phạm, được ngài truyền tâm ấn, sau khi trở về Nhật bản, sư sáng lập chùa Đông phúc ở kinh đô (Kyoto), truyền bá Thiền pháp. Năm Khoan nguyên thứ 4 (1246), ngài Lan khê Đạo long người Trung quốc đến Nhật bản, làm Sơ tổ chùa Kiến trường, nhờ đó nên Thiền phong ở Quan đông hưng thịnh. Năm Văn vĩnh thứ 4 (1267), ngài Nam phố Thiệu minh đến Trung quốc, được ngài Hư đường Trí ngu ấn khả rồi trởvềnước hoằng pháp. Năm Văn vĩnh thứ 6 (1269), ngài Đại hưu Chính niệm người Trung quốc đến Nhật bản, trụ các chùa Kiến trường, Viên giác, được triều đình và dân chúng qui kính. Về sau lại có các Đại sư Trung quốc như: Nhất sơn Nhất ninh, Tây giản Tử đàm, Đông lí Hoằng hội, Viễn khê Tổ hùng, Linh sơn Đạo ẩn... nối tiếp nhau đến Nhật bản hoằng truyền đại pháp, nêu cao Thiền phong, mở rộng Thiền pháp, phát triển thành 24 dòng Thiền tông Nhật bản; bao gồm các dòng phái như: Thiên quang (Vinh tây), Đạo nguyên, Thánh nhất(Viên nhĩ), Pháp đăng (Giác tâm), Đại giác(Đạo long), Ngột am (Phổ ninh), Đại hưu(Chính niệm), Pháp hải (Tĩnh chiếu), Vô học(Tổ nguyên), Nhất sơn (Nhất sơn Nhất ninh), Đại ứng(Nam phố Thiệu minh), Tây giản(Tây giản Tử đàm), Kính đường(Kính đường Giác viên), Phật tuệ(Linh sơn Đạo ẩn), Đông minh (Đông minh Tuệ nhật), Thanh chuyết (Thanh chuyết Chính trừng), Minh cực(Minh cực Sở tuấn), Ngu trung(Ngu trung Chu cập), Trúc tiên(Trúc tiên Phạm tiên), Biệt truyền (Biệt truyền Minh dận), Cổ tiên(Cổ tiên Ấn nguyên), Đại chuyết(Đại chuyết Tổ năng), Trung nham (Trung nham Viên nguyệt) và phái Đông lăng (tức Đông lăng Vĩnh dư). Trong đó, trừ 3 dòng phái Đạo nguyên, Đông minh và Đông lăng thuộc Tào động thiền, 21 dòng phái còn lại đều thuộc Lâm tế thiền. Trong 21 dòng phái thì phái Vinh tây(phái Thiên quang) truyền thừa pháp mạch của ngài Hoàng long, còn các phái khác đều kế thừa pháp đăng của ngài Dương kì. Năm Thừa ứng thứ 3 (1654), ngài Ẩn nguyên Long kì cũng từ Trung quốc đến Nhật bản, sáng lập tông Hoàng bá, đến nay vẫn đứng ngang hàng với tông Lâm tế và Tào động thành thế chân vạc. Thiền khởi nguồn từ Ấn độ, nghĩa gốc của Thiền là ngồi nhiếp tâm tĩnh lặng, tư duy thẩm xét để đạt đến trạng thái định tuệ cân bằng. Trước đức Thích tôn, Ấn độ đã có tư tưởng lấy việc sinh lên cõi trời làm mục đích tọa thiền. Đến thời đức Thích tôn mới triển khai loại Thiền lấy việc xa lìa 2 bên khổ, vui để đạt đến niết bàn Trung đạo làm mục đích. Tư tưởng thiền quán của Phật giáo Ấn độ từ đó dần dần phát đạt, đồng thời xuất hiện vô số kinh Thiền. Theo với đà truyền dịch kinh điển, từ cuối đời Đông Hán, Thiền pháp đã truyền vào Trung quốc, nhưng lúc đầu đều là tư tưởng Thiền quán thuộc hệ thống Tiểu thừa. Từ thời ngài Cưu ma la thập đời Đông Tấn về sau, các loại Thiền pháp được truyền vào, đặc biệt lấy pháp môn niệm Phật làm chủ yếu. Đến đời Lưu Tống, ngài Cầu na bạt đà la dịch kinh Lăng già (bản 4 quyển), trong đó nêu ra thuyết 4 loại thiền: Ngu phu sở hành thiền, Quán sát nghĩa thiền, Phạm duyên như thiền và Như lai thiền, kích phát những người nghiên cứu, giảng thuyết Thiền pháp đương thời mở ra con đường khác như 5 loại thiền do người đời sau chủ trương, đó chính là thuyết đã dựa vào thuyết 4 loại thiền trong kinh Lăng già mà ra. Lại nữa, ngài Bồ đề Đạt ma là người khai sáng Thiền tông Trung quốc, tuy chủ yếu y cứ vào Thiền kinh (2 quyển, do ngài Phật đà bạt đà la dịch vào đời Đông Tấn) nhưng Như lai tự tính thanh tịnh thiền mà ngài Đạt ma truyền, chính lại dựa vào thuyết nói trong kinh Lăng già. Ngoài ra, các ngài Tuệ khả, Tăng xán đều được gọi là Lăng già sư, còn các ngài Đạo tín, Hoằng nhẫn lại chịu ảnh hưởng của luận Đại thừa khởi tín, đề xướng thuyết Nhất hạnh tam muội, đến Lục tổ Tuệ năng mới lấy kinh Kim cương bát nhã làm chính tông, bởi vì vào thời ấy kinh Lăng già đã nghiêng nặng về mặt văn cú sớ giải, nên không tránh khỏi bị sa vào vòng danh tướng chi li. Từ giữa đời đường về sau, cơ pháp đánh, hét, dựng phất trần thịnh hành, phạm vi ý nghĩa Thiền được mở rộng, thì không hẳn cứ nhiếp tâm ngồi yên lặng mới là Thiền, mà những động tác bình thường hàng ngày như bổ củi, gánh nước, mặc áo, ăn cơm, uống trà... cũng có thể gọi là Thiền. Tóm lại, sự khácnhaugiữa Thiền tông và các tông khác là ở chỗ Thiền tông không lập kinh điển chính y, mà cho dù có dẫn dụ kinh điển đi nữa thì đó cũng chỉ là phương tiện nhất thời, còn điều chủ yếu nhất là y cứ vào tâm Phật, không lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo để mong chỉ thẳng tâm người, thấy tính thành Phật. Tuy vậy, các Thiền sinh vẫn phải trau dồi học vấn và sự tu chứng để sáng tỏ bản tâm. Và để tránh cho Thiền sinh khỏi bị vướng mắc vào vòng suy tư tính lường, nên trong các tùng lâm có đặt ra thanh qui. Theo 1 qui củ nhất định, các vị Tôn túc và đại chúng ấn định thời gian sinh hoạt tọa thiền; các vị Tôn túc mở bày cơ duyên của chư Phật liệt Tổ để dắt dẫn đại chúng. Đọc tụng kinh điển tuy không phải là việc chủ yếu, nhưng vẫn lấy các kinh Lăng già, Duy ma, Kim cương bát nhã, Thủ lăng nghiêm... làm các kinh quan trọng. Xưa nay các bậc Tôn túc phần nhiều cũng để lại ngữ lục mà đã trở thành các tư liệu tham khảo thiết yếu cho Thiền đồ tu thiền ngộ đạo ở đời sau. [X. Thiền môn sư tư thừa tập đồ; Tổ đường tập Q.17, 20; Cảnh đức truyền đăng lục; Truyền pháp chính tông kí; Ngũ đăng hội nguyên; Thiền môn bảo tạng lục Q.thượng, trung; Bát tông cương yếu Q.hạ; Nhật bản thiền tông sử yếu; Thiền học tư tưởng sử; Nhật bản Phật giáo yếu lãm]. (xt. Ngũ Gia Thất Tông).

thiền tông chính mạch

(禪宗正脉) Tác phẩm, 10 quyển, (hoặc 20 quyển), do ngài Như cẩn biên tập vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 146. Sách này do lược bớt bộ Ngũ đăng hội nguyên của ngài Phổ tế soạn vào đời Tống mà thành. VìNgũ đăng hội nguyên nhiều tập, đồ sộ khó đọc, cơ duyên lại chót vót hiểm hóc, như vách núi đứng cao vạn nhận, đến nổi bậc thượng căn phải chặc lưỡi, còn người hạ căn cũng chẳng biết bám vào đâu, cho nên ngài Như cẩn chỉ chọn lấy những chỗ ngắn gọn, sáng sủa mà biên soạn thành sách này, hầu giúp mọi người hiểu được một cách dễ dàng. [X. Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Duyệt tạng tri tân Q.42].

thiền tông nghệ thuật

(禪宗藝術) Nền nghệ thuật của Phật giáo Thiền tông.Phật giáo truyền sang phươngĐông, đối với các phương diện văn hóa, tư tưởng, văn nghệ... của Trung quốc và Nhật bản có ảnh hưởng rất lớn, trong đó, đặc sắc nổi bật nhất là ảnh hưởng của Thiền tông đối với nền nghệ thuật của 2 nước này. 1. Trung quốc: Tư tưởng hàm súc, ngắn gọn, sắc bén, siêu nhiên độc lập của Thiền tông, đã mở ra cho nền hội họa của Trung quốc 1 thứ họa phong Thiền với những nét chấm phá có khí vận đặc biệt. Trong khoảng thời gian 500 năm từ đời Đông Hán đến đời Lục triều, có các họa sĩ Trương tăng diêu, Cố khải chi, Lục thám vi, Tông thiếu văn... là những người mở đường cho Mặc hí, Họa thiền. Thiền họa chính thức bắt đầu vào đời Đường, có Nam tông và Bắc tông khác nhau. Bắc tông có cha con Lí tư huấn đứng đầu, nét vẽ tề chỉnh, tinh tế, màu sắc đậm đà, vừa trang nghiêm vừa diễm lệ. Còn Nam tông thì tôn Thi Phật Vương duy làm Thủy tổ, Vương duy là người đầu tiên khai sáng trường phái Bát mặc sơn thủy. Kế thừa trường phái này có các họa sĩ Trương tảo và Vương mặc. Người đời phê bình về sự khác nhau giữa 2 trường phái là: Phái Lí tư huấn thì nét vẽ mộc mạc, tinh tế; còn phái Vương duy thì nét vẽ tịch mịch, nửa hư nửa thực. Đến đời Tống thì Thiền họalại đạt đến cảnh giới hư linh rỗng rang, tâm vật hợp làm một, phong cách vẽ siêu nhiên tượng ngoại, vận dụng những khoảng trống, diễn đạt cảnh giới giác ngộ linh diệu, vắng lặng rỗng rang. Thời kì này có các họa sĩ tiêu biểu như: Kinh hạo, Quan đồng, Đổng nguyên, Cự nhiên, cha con Mễ phất... tất cả đều thừa kế họa phong của Nam tông. Ngoài ra còn có Phạm khoan, Giang tham, Quách trung thứ... cũng là những kiện tướng của Nam tông. Trong đó, cha con Mễ phất sáng tạo cách vẽ Vô căn thụ Mông hồng vân, là nổi bật nhất. Lại có Mã viễn với cách vẽ từ một góc cái cây, có ảnh hưởng sâu đậmđốivới nghệ thuật Nhật bản. Đến thời này thì Bắc tông dần dần suy vi. Sang đời Nguyên thì Thiền họa lấy nét tiêu sơ phóng khoáng làm thời thượng. Không nhữngtronglãnh vực hội họa và kĩ xảo hội họa đầy đủ hơn, mà còn kiến lập lí luận hội họa có tính cách hệ thống hơn. Đến đời Minh, Thanh thì Phật giáo suy đồi, họa đàn hứng khởi phong cách phỏng cổ, thiếu hẳn tinh thần sáng tạo, nhưng về mặt nghiên cứu lí luận thì có phần sâu xa bao quát hơn. Đại biểu cho thời kì này có Hòa thượng Thạch đào sống vào đầu đời Thanh. Thời gần đây Thiền tông không chấn hưng lên được, cho nên họa đàn cũng dần dần vắng vẻ. 2. Nhật Bản: Nói một cách đại khái, nghệ thuật Nhật bản chịu ảnh hưởng của Thiền tông sâu rộng hơn so với Trung quốc, tất cả mọi lãnh vực như hội họa, hát tuồng, nghề làm vườn, trà đạo, kiến trúc, kịch nghệ, kiếm đạo, nghề bắn tên... đều thấy ảnh hưởng của Thiền. Văn hóa Thiền tông theo các tác phẩm nghệ thuật Trung quốc được truyền đến Nhật bản vào giữa đời Liêm thương(ngang với thời Tống, Nguyên ở Trung quốc), đồng thời dung hợp với tư tưởng Vũ gia Nhật bản, được quảng đại quần chúng tiếp nhận. Nền mĩ thuật cuối thời Liêm thương đến đầu thời Thất đinh thì lấy hội họa làm chính. Mĩ thuật Thiền tông ở thời kì đầu, lấy chân dung các Tổ sư, những nhân vật tông giáo và Đính tướng họa(vẽ hình tượng các vị cao tăng Thiền tông) làm chủ yếu. Từ thời Liêm thương về sau, 1 loại Thiền cơ họa dần dần thịnh hành, tức đem cáiThiền cơ mà mình đã thể ngộ được vẽ lên bức tranh để tạo hình hóa và cụ thể hóa cái tinh thần của Thiền; đồng thời, từ trong tự nhiên quan và sinh hoạt của Thiền tông dần dần diễn dịch thành 1 loại tranh sơn thủy mới, tức sử dụng màu mực và đường nét đơn giản và dùng kĩ xảo không bạch(khoảng trống) để ngụ ý cảnh của Thiền trong bức tranh mộc mạc, đơn sơ. Lại vì chịu ảnh hưởng cách vẽ một góc của nhà hội họa Mã viễn đời Nam Tống, Trung quốc, nên đã hình thành đặc trưng của 1 loại hội họa so le không đều, không câu nê hình thức mà về sau cũngđãtrở thành dòng chính của nghệ thuật Thiền tông Nhật bản. Nhưng nếu nhìn vào lịch trình phát triển hệ thống hội họa của các danh gia như Như chuyết, Minh triệu, Chu văn, Tuyết chu... thì ta có thể hiểu rõ thời kì này đã do mô phỏng phong cách hội họa của Trung quốc mà dần dần diễn biến thành Thiền họa riêng của Nhật bản. Ngoài ra, trà đạo của Nhật bản đã được dung nhập với tinh thần Thiền mà trở thành đạo sinh hoạt tự nhiên. Trong nghệ thuật kịch nói truyền thống thì những lời đối thoại ngắn gọn, trong sáng, sân khấu và bối cảnh đơn thuần cũng đều ngầm bao hàm triết lí Thiền. Đối với văn học hát bộ nổi tiếng lại càng có ảnh hưởng sâu xa của Thiền, đại biểu là tác phẩm của Ba tiêu, một thi nhân vĩ đại sống vào thế kỉ XVII. Ngoài ra như kiếm đạo, kiến trúc, nghệ thuật bắn tên...cũng thế, hễ nghệ thuật nào được sự khơi mở của Thiền thì đều do đặc tính của chính nghệ thuật ấy mà biểu hiện sự sống động và hoạt bát.

thiền tông quyết nghi tập

(禪宗决疑集) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đoạn vân Trí triệt soạn vào đời Nguyên, được thu vào Đại chính tạng tập 48. Sách này do ngài Trí triệt(đệ tử nối pháp của Thiền sư Vân phong Diệu cao tông Lâm tế) ở phủ Quì, tỉnh Tứ xuyên, đem sự thể nghiệm của chính mình giảng nói cho những người học đạo nghe về công phu dụng tâm và thuyết minh phương pháp tu đạo thực tiễn, để thấu suốt ý chỉ sâu xa của đạo Phật, mong mở tỏ được bản lai diện mục. Toàn thiên chia làm 21 môn: Nguyên trạm lưu thanh môn, Li trần tinh tiến môn, Khước bộ phục thăng môn, Thoái đọa sách lệ môn, Giải đãi miễn cần môn, Chấp ngại quyết nghi môn, Thất chính cứu cánh môn, Triệt để cùng uyên môn, Chỉ bản hoàn chân môn, Thuận tức miễn hoạn môn, Thượng căn lợi khí môn, Thiền lâm tĩnh lự môn, U cư chính mạch môn, Kì viên thánh chúng môn, Giác ngộ huyền tông môn, Qui nguyên thực tế môn, Thể dụng song tu ấm dực vương hóa, Song lâm di giới chúng đẳng tuân y, Sám hối pháp môn Bồ-đề hành nguyện, Ức tích xuất trần thừa huynh cảnh giới và Phục trưng giải nọa chỉ cảnh tức mê. Trong sách bàn nhiều về việc của ngài Triệu châu Tùng thẩm. Sau này, Thiền quan sách tiến của ngài Châu hoành và Hổ giác tập quyển hạ của ngài Tế năng thường dẫn dụng ngữ yếu của ngài Trí triệt. Cứ theo truyền thì ngoài sách này, Tịnh độ cứ yếu trong Tịnh độ thần chung quyển 2 cũng là tác phẩm của ngài Trí triệt. Sách này từng được thu vào Bắc tạng tục nhập tạng chư tập đời Minh, ngoài ra cũng có các bản in vào các năm Khang hi thứ 6 (1667) Khang hi năm 39 (1700) đời Thanh, năm Diên bảo thứ 8 (1680) Nhật bản và Trung hoa Dân quốc năm thứ 9 (1920). [X. Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Tạng bản kinh trực họa nhất mục lục; Thiền tịch chí Q.thượng;Tân soạn thiền tịch mục lục (Câu trạch Đại học đồ thư quán biên)].

thiền tông trực chỉ

(禪宗直指) Tác phẩm, 1 quyển, do cư sĩ Thạch thánh kim (tự Thiên cơ, hiệu Tỉnh trai) soạn vào đời Thanh, các con ông là Tân niên và Tung niên kiểm xét lại và khắc bản, được thu vào Vạn tục tạng tập 112. Sách này là 1 phần trong tác phẩm Truyền gia bảo 4 tập của Thạch thành kim, trang trong đề là Truyền gia bảo thiền tông trực chỉ, dưới đề mục này có ghi thêm 12 chữ Minh tâm kiến tính tu tri, thành Phật thành Tổ yếu pháp(Rõ tâm thấy tính cần biết, yếu pháp thành Phật tác Tổ). Cho nên biết mục đích sách này là nói rộng về pháp cốt yếu rõ tâm thấy tính, thành Phật tác Tổ. Nội dung trước hết là 46 mục yếu pháp nói về mật truyền tham thiền, trong đó trình bày tỉ mỉ rõ ràng về pháp môn dụng công ngộ đạo; kế đến là 10 mục thông chỉ mật truyền Phật pháp, giải thích rõ một số chất vấn của người đời đối với Phật pháp.

thiền tông tạp độc hải

(禪宗雜毒海) Cũng gọi Đại tuệ thiền sư thiền tông tạp độc hải, Phổ giác Tông Cảo thiền sư ngữ lục, Đại tuệ phổ giác thiền sư ngữ lục. Ngữ lục, 2 quyển, do các ngài Pháp hoành và Đạo khiêm biên tập, ấn hành vào niên hiệu Thiệu hưng năm đầu (1131) đời vua Cao tôngnhàTống, được thu vào Vạn tục tạng tập 121. Tên của sách này là từ câu nói của ngài Đại tuệ Tham thiền chẳng được phần nhiều là do tạp độc nhập tâm mà ra. Nội dung sách này thu chép cơ duyên ngữ cú của các bậc tiên đức, Tham thiền cư sĩ truy ức kí, Phương ngoại đạo hữu tán, Phật tổ tán... Về sau, ngài Trọng du Tổ xiển đời Minh biên tập thêm sách này thành 10 quyển, sưu tập nhiều kệ tụng của các Thiền sư, bao gồm Phật đản, Thành đạo, Sơ tổ, Chúng tán... tất cả hơn 30 hạng mục, 732 bài, ấn hành vào năm Hồng vũ 17 (1384), đời Minh. Đến năm Thuận trị 11 (1654) đời Thanh, ngài Mai cốc Hành duyệt tiếp nối sau ngài Tổ xiển, lại biên tập thêm hơn 870 bài nữa. Khoảng năm Khang hi, ngài Ca lăng Tính âm thuộc tông Lâm tế, rút bớt 10 quyển biên tập lại thành 8 quyển và được thu vào Vạn tục tạng tập 114. Nội dung theo thứ tự là: Phật tán, Tạp tán, Đầu cơ, Sao hóa, Tạp kệ, Đạo hiệu, Sơn cư... Quyển 8 có phụ lục 10 bài tụng Phổ minh chăn trâu và 10 bài tụng Lương sơn chăn trâu, ấn hành vào năm Khang hi 53 (1714), là sách tập đại thành các kệ tụng đời Tống, Nguyên.

thiền tông tụng cổ liên châu thông tập

(禪宗頌古聯珠通集) Tác phẩm, 40 quyển, do ngài Pháp ứng biên tập vào đời Nam Tống, ngài Phổ hội biên tập vào đời Nguyên, được thu vào Vạn tục tạng tập 115. Đây là tác phẩm biên tập các bài tụng cổ của các bậc Tổ sư trong Thiền gia xưa nay. Nội dung thu chép Thế tôn cơ duyên 24 tắc, Bồ tát cơ duyên 30 tắc, kệ trong các kinh Đại thừa 62 tắc và Tổ sư duyên 72 tắc. Tất cả các phần biên tập và thêm vào sau này đều có đề 2 chữ Tục thu trên đầu để phân biệt với nguyên bản. [X. Duyệt tạng tri tân Q.42; Thiền tịch chí Q.thượng].

Thiền Tông Vô Môn Quan

(禪宗無門關, Zenshūmumonkan): xem Vô Môn Quan (無門關, Mumonkan) bên dưới.

thiền tăng

Một vị sư của Thiền Tông hay một vị sư tu Thiền—A monk of the Zen (Ch'an) sect, a monk in meditation.

thiền tĩnh

(禪靜) Phạm: Dhyàna. Hán âm: Thiền na. Gọi tắt: Thiền. Hán dịch: Định, Tĩnh lự. Từ ngữ hợp chung cả âm(thiền na) và nghĩa(tĩnh) của tiếng PhạmDhyàna. Chỉ cho trạng thái vắng lặng khiến tâm chuyên chú vào 1 đối tượng để suy tư một cách sâu sắc. Thích môn qui kính nghi quyển thượng (Đại 45, 861 hạ) nói: Hoặc ưa thiền tĩnh thì cho việc lễ bái là thô sơ. Nơi yên lặng thích hợp cho việc tọa thiền, gọi là Thiền tĩnh tọa xứ, hoặc gọi là Thiền xứ, Thiền sở. [X. kinh Đính sinh vương cố sự; Pháp uyển châu lâm Q.71].

thiền tư

Những tư tưởng kỳ bí về thiền—Meditation thoughts; the mystic trance. ; (禪思) Chỉ cho Thiền định. Nghĩa là tư duy trong sự vắng lặng. Thiền uyển thanh qui quyển 9 (Vạn tục 111, 463 thượng) nói: Phi thời không ăn, phi pháp chẳng nói, siêng năng suy nghĩ về nghĩa lí, ôn cũ biết mới, ngồi thì thiền tư, dậy thì phúng tụng. [X.kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Thích môn qui kính nghi Q.trung].

thiền tư tưởng sử nghiên cứu

(禪思想史研究) Tác phẩm, 1 tập, do ông Linh mộc Đại chuyết (D.T. Suzuki) người Nhật bản soạn, được ấn hành vào năm Chiêu hòa 18 (1943). Nội dung tác phẩm này chia làm 7 thiên, chủ yếu nói rõ sự sai khác về ý nghĩa và tính chất trọng yếu giữa 2 dòng phái trong nội bộ tông Lâm tế Nhật bản, tức là Bất sinh thiền của ngài Bàn khuê Vĩnh trác (1622-1693) và Bạch ẩn thiền. Đồng thời cũng tìm hiểu quá trình phát triển tư tưởng của các phái Công án thiền, Đạo nguyện thiền... Ông Linh mộc Đại chuyết còn soạn bộ Thiền tư tưởng sử nghiên cứu 2 (1 tập) ấn hành vào năm Chiêu hòa 26 (1951) nội dung cũng chia làm 7 thiên, 6 thiên trước theo thứ tự các luận văn như: Nhị nhập tứ hành luận, Tuyệt quán luận, Vô tâm luận, Quán môn, Lăng già sư tư kí, Tu tâm yếu luận, Lục tổ đàn kinh... trình bày về phong cách đặc thù của các Tổ sư từ ngài Đạt ma đến các ngài Đạo tín, Hoằng nhẫn, Tuệ năng... của Thiền tông Trung quốc về bối cảnh tư tưởng của Thiền tông ở thời kì đầu. Còn thiên thứ 7 thì liệt kê 7 loại văn hiến có liên quan đến Thiền tông tìm thấy ở Đôn hoàng và hiện được cất giữ tại Bắc bình, London, Paris..., đồng thời kiểm xét lại rất kĩ lưỡng, nhờ đó mà người học giải tỏa được một số thắc mắc về lịch sử tư tưởng Thiền ở thời kì đầu. Bản sửa chữa thêm của sách này được thu vào Linh mộc Đại chuyết toàn tập quyển 2.

thiền tập

Tu hành bằng cách thực tập thiền—The practice of religion through the mystic trance.

Thiền tịch

(禪席): chỗ ngồi để tham học Thiền, hành Thiền; từ đó chỉ chung cho nơi tham vấn Thiền, hay cũng là tên gọi khác của Thiền Viện (禪院). Như trong Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 82, No. 1571) quyển 73, phần Nam Nhạc Hạ Tam Thập Ngũ Thế Tùy Lục (南嶽下三十五世隨錄), Quảng Nhuận Cự Linh Tự Dung Thiền Sư (廣潤巨靈自融禪師), có câu: “Nãi biến lịch chư Thiền tịch, hậu yết Sơn Ông Mân đắc pháp (乃遍歷諸禪席、後謁山翁忞得法, Thiền Sư bèn đi khắp các Thiền đường, sau tham yết Sơn Ông Đạo Mân và đắc pháp [của vị này]).” Hay trong Thiền Lâm Bảo Huấn Âm Nghĩa (禪林寶訓音義, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1262) lại có đoạn: “Thị thời nội sứ Lý Doãn Ninh, tấu thí Biện trạch nhất khu, sáng lập Thiền tịch, tứ ngạch Thập Phương Tịnh Nhân Thiền Viện (是時內使李允寧、奏施汴宅一區、創立禪席、賜額十方淨因禪院, lúc bấy giờ nội sứ Lý Doãn Ninh, tâu lên nhà vua xin cho một khu nhà ở đất Biện, sáng lập nơi tu Thiền, ban cho biển ngạch là Thập Phương Tịnh Nhân Thiền Viện).” Hoặc trong Tân Tu Khoa Phần Lục Học Tăng Truyện (新修科分六學僧傳, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 77, No. 1522) quyển 20, phần Đường Kiểu Nhiên (唐皎然), cũng có đoạn: “Trung niên biến phỏng Thiền tịch, Nam Năng Bắc Tú chi chỉ, giai sở tham khấu (中年遍訪禪席、南能北秀之指、皆所參扣, tuổi trung niên sư đi khắp các Thiền viện, yếu chỉ của Huệ Năng ở phương Nam và Thần Tú ở phương Bắc, đều đã từng tham học qua).”

thiền tịch chí

(禪籍志) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Diệu đế thuộc tông Lâm tế Nhật bản soạn, được thu vào Đại nhật bản Phật giáo toàn thư ấn hành vào tháng giêng năm Đại chính thứ 2 (1913). Nội dung liệt kê 244 bộ sách Thiền của Trung quốc và Nhật bản, đồng thời có giải thích sơ lược, gồm các loại: Đơn lục thiền yếu, Bả đoạn công án, Tông môn toàn sử, Tông môn lược sử, Tùng lâm lễ phạm, Thiền giáo tổng sử, Tông môn tùy bút, Thiền giáo tạp thuyết, Tông sư chú kinh và Thiền tịch chí thập di.

thiền tịnh

1) Thiền Tông và Tịnh Độ Tông: The Zen and the Pure Land sects. 2) Thiền tịnh dịch sang Hoa ngữ có nghĩa là thiền tịnh lự hay yên lặng, kiểm soát tư tưởng: Dhyana in Chinese means quiet or silent meditation, or quieting of thoughts (controlling of thoughts).

thiền tọa

Tọa thiền (kiết già)—To sit (cross-legged) in meditation.

thiền tủy

Kinh Lăng Già dùng từ nầy với nghĩa là tinh túy hay cốt tủy của đạo Thiền, (sau 9 năm diện bích, Tổ Bồ Đề Đạt Ma muốn trở về Ấn Độ; trước lúc ra đi ngài kêu chúng đệ tử lại hỏi: “Về sau nầy nếu có ai hỏi về sở đắc của mình, các ngươi có thể nói được chăng?” Phó Đạo thưa: “Theo con là không chấp văn tự, mà chỉ vận dụng theo đạo.” Tổ nói: “Ngươi đã nắm được phần da của ta.” Ni Tổng Trì thưa: “Theo con hiểu như ngài Khánh Hỷ chỉ thấy Phật A Súc một lần rồi không thấy nữa.” Tổ nói: “Ngươi đã nắm được phần thịt của ta.” Đạo Dục thưa: “Tứ đại đất nước lửa gió vốn không, ngũ ấm chẳng có, nên con thấy không có một pháp nào khả đắc.” Tổ nói: “Ngươi đã được phần xương của ta.” Huệ Khả từ ngoài bước vào làm lễ, rồi đứng đó chớ không nói năng gì cả. Tổ nói: “Ngươi đã nắm được phần tủy của ta rồi vậy.”)—The Lankavara Sutra uses the term with the meaning of the marrow of meditation.

thiền tứ

(禪肆) Chỉ cho các chùa viện Thiền tông do quan phủ lập ra. Cứ theo truyện ngài Tăng trù trong Tục Cao tăng truyện quyển 16 thì vào năm Thiên bảo thứ 3 (552) đời Bắc Tề, vua ban sắclệnh xâytinh xá cho ngài Tăng trù ởtại phía nam Long sơn, cách Nghiệp thành 80 dặm vềphía tây nam, gọi là Vân môn tự, đồng thời hạ chiếu chỉ lập riêng Thiền tứ ở các châu trong khắp nước để tiện lợi cho việc hoằng pháp giảng kinh.

Thiền tử

(禪子): tên gọi khác của người tin Phật, tăng lữ, hay chỉ cho người hành Thiền. Như trong bài thơ Văn Chung (聞鐘) của tăng Kiểu Nhiên (皎然, ?-?) nhà Đường có câu: “Vĩnh dạ nhất Thiền tử, linh nhiên tâm cảnh trung (永夜一禪子、泠然心境中, suốt đêm một Thiền khách, an nhiên tâm cảnh trong).” Hay trong Ngốc Am Phổ Trang Thiền Sư Ngữ Lục (呆菴普莊禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1418) quyển 1, phần Vân Cư Ngữ Lục (雲居語錄), có đoạn: “Thiền tử lâm xuyên hóa đạo quy, nhập môn nhất tiếu triển song mi, phá vi trần xuất đại kinh quyển, đả cổ chùy chung báo chúng tri (禪子臨川化導歸、入門一笑展雙眉、破微塵出大經卷、打鼓椎鐘報眾知, Thiền giả đến sông hóa đạo về, mỉm cười vào cửa dương hàng mi, phá bụi trần tung bao kinh quyển, đánh trống rung chuông báo chúng hay).” Hoặc trong Liễu Am Thanh Dục Thiền Sư Ngữ Lục (了菴清欲禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1414) quyển 7, bài Thứ Vận Tống Mãn Trấn Thành Khang Tứ Thượng Nhân (次韻送滿鎭成康四上人), lại có đoạn: “Thiền tử tâm như mãn nguyệt minh, định càn khôn cú hợp tướng trình, tam thiên lí ngoại thân huề thủ, cửu khúc Hoàng Hà triệt để thanh (禪子心如滿月明、定乾坤句合相呈、三千里外親攜手、九曲黃河徹底清, Thiền tăng tâm như trăng sáng tinh, định càn khôn câu hợp tướng trình, ba ngàn dặm ngoài cùng tay nắm, chín khúc Hoàng Hà tận đáy trong).”

Thiền Uyển Dao Lâm

(禪苑瑤林, Zennenyōrin): xem Thiền Uyển Mông Cầu (禪苑蒙求, Zennenmōkyū) bên dưới.

Thiền Uyển Mông Cầu

(禪苑蒙求, Zennenmōkyū): còn gọi là Thiền Uyển Dao Lâm (禪苑瑤林, Zennenyōrin), Thiền Mông Cầu (禪蒙求, Zenmōkyū), 3 quyển, do Thác Am Chí Minh (錯庵志明) nhà Tống soạn, Tuyết Đường Đức Gián (雪堂德諫) nhà Nguyên chú, Vương Khê (王溪) san hành vào năm thứ 3 (1255) niên hiệu Bảo Hựu (寳祐) nhà Nam Tống. Thác Am Chí Minh, người xuất thân từ Tung Sơn Thiếu Lâm Tự (嵩山少林寺) ở Hà Nam (河南), bắt chước bộ Mông Cầu (蒙求) của Lý Cán (李澣) nhà Đường, biên thuật thành tác phẩm này để cho hàng sơ tâm cầu học biết rõ hành trạng của chư Phật tổ trong vườn Thiền, làm tư lương để soi sáng tâm mình và tìm thấy đạo. Với hình thức đối ngẫu vận ngữ, hai câu 5-6, tổng số chữ là 2.248, từ đức Thế Tôn cho đến Thủ Sơn Tỉnh Niệm (守山省念), Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲), Giác Phạm Huệ Hồng (覺範慧洪), v.v., mỗi hành trạng của mỗi vị đều có 2 câu thêm vào, đây là sách giáo huấn hữu ích cho Thiền môn. Vào năm thứ 3 niên hiệu Bảo Hựu, khi Vương Khê có ý định san hành bộ này, Tuyết Đường Đức Gián (雪堂德諫)―đệ tử của Vạn Tùng Hành Tú (萬松行秀)―viết lời chú giải tường tận về tác phẩm này và giao cho Vương Khê; nhân đó, Vương Khê kết hợp luôn cả phần chú giải này và cho san hành. Tại Nhật Bản, cũng có san hành bộ này vào năm thứ 16 (1639) và 17 (1640) niên hiệu Khoan Vĩnh (寬永).

thiền uyển mông cầu dao lâm

(禪苑蒙求瑤林) Cũng gọi Thiền uyển dao lâm chú, Thiền uyển dao lâm, Thiền uyển mông cầu, Thiền lâm mông cầu, Thiền mông cầu.Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Chí minh soạn vào đời Kim, ngài Đức gián chú thích vào đời Nguyên, được thu vào Vạn tục tạng tập 148. Soạn giả Chí minh phỏng theo Mông cầu của Lí hàn đời Đường, dẫn dụng sử truyện, y theo Tổ lục, sưu tập hành nghiệp của các nhà Thiền tông để làm sách tham khảo cho những người mới phát tâm học đạo tu nghiệp, về sau được ngài Đức gián chú thích thêm. Sách này được biên soạn theo thể văn vần mỗi câu 4 chữ, thu chép từ đức Thích ca trở xuống đến các Thiền sư đời Tống như ngài Tuệ hồng Giác phạm, Thủ sơn Tỉnh niệm... tất cả gồm 562 tắc, phần chú thích của ngài Đức gián dẫn dụng các kinh sách như kinh Phổ diệu, Cảnh đức truyền đăng lục, Ngũ đăng hội nguyên, Nhân thiên nhãn mục... rất tường tận. Kế sau sách này, có Thiền uyển mông cầu thập di 1 quyển, thu chép từ Thiếu lâm xích tướng trở xuống đến Đại qui niệm tụng, cũng theo thể văn vần, mỗi câu 4 chữ, tất cả có 144 tắc, dẫn dụng Bích nham lục, Nhân thiên bảo giám, Lâm gian lục... và có chú thích thêm. Tên soạn giả không được rõ, nhưng căn cứ vào những sách được dẫn dụng thì có thể suy đoán đây là tác phẩm của người đời Tống, cũng được thu vào Vạn tục tạng tập 148.

Thiền Uyển Thanh Quy

(禪苑清規, Zennenshingi): 10 quyển, do Tông Trách (宗賾, ?-?) ở Trường Lô (長蘆) soạn, bản san hành đề năm thứ 2 (1103) niên hiệu Sùng Ninh (崇寧). Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海, 749-814) lần đầu tiên chế ra quy cũ Thiền môn qua bộ Bách Trượng Thanh Quy (百丈清規), nhưng bộ này bị tán thất và đến thời Huy Tông (徽宗, tại vị 1100-1125) nhà Tống thì không còn thấy bóng dáng nó nữa. Thấy vậy, Tông Trách rất cảm hoài, nên mới đi tìm lại những dấu vết về cách thức hành pháp vốn hiện tại đang còn hành trì tại các ngôi chùa xưa lúc bấy giờ, rồi ông biên tập lại thành bản quy định về quy cũ Thiền môn. Vì bản này được hình thành vào năm thứ 2 niên hiệu Sùng Ninh nhà Tống, nên còn được gọi là Sùng Ninh Thanh Quy (崇寧清規). Trong các bản Thanh Quy hiện tồn thì đây được xem như là bản xưa nhất, có thể giúp chúng ta hồi tưởng lại những quy cũ ngày xưa thời Bách Trượng như thế nào, và trở thành bản chuẩn cứ cho các bản Thanh Quy sau này ra đời. Bản này giải thích rất rõ từng chi tiết về hành vi của vị Thiền tăng, các chức vụ, cũng như tác pháp oai nghi tế hạnh hằng ngày. Trong đó còn có những đoạn văn như Quy Kính Văn (龜敬文), Tọa Thiền Nghi (坐禪儀), Tự Cảnh Văn (自警文), v.v. Vào năm thứ 2 (1202) niên hiệu Gia Thái (嘉泰), Ngu Tường (虞翔) cho tái san hành; đến năm thứ 2 (1254) niên hiệu Bảo Hựu (寶祐), Bản Cao Lệ (高麗本, Triều Tiên) bắt đầu xuất hiện. Tại Nhật Bản, có Bản Ngũ Sơn (五山本) được san hành dưới thời Nam Bắc Triều (1336-1392), bản ghi năm thứ 6 (1709) niên hiệu Bảo Vĩnh (寶永), bản ghi năm thứ 8 (1796) niên hiệu Khoan Chính (寛政); và tả bản của Kim Trạch Văn Khố (金澤文庫, Kanazawa-bunko) thuộc giữa thời Liêm Thương (鎌倉, Kamakura, 1185-1333).

thiền uyển thanh quy

(禪苑清規) Cũng gọi Sùng ninh thanh qui, Trùng khắc bổ chú thiền uyển thanh qui, Thiền qui.Thanh qui, 10 quyển, do ngài Trường lôTôngtrách biên tập vào đời Tống, hoàn thành năm Sùng ninh thứ 2 (1103), được thu vào Vạn tục tạng tập 111. Thanh qui có nghĩa là những qui định về qui trình tổ chức và các sinh hoạt hàng ngày của chúng tăng trong Thiền viện. Bộ Thanh qui đầu tiên là Bách trượng cổ thanh qui do Thiền sư Hoài hải (720-814) ở núi Bách trượng soạn vào đời Đường. Đến đời Bắc Tống, bộ Cổ thanh qui đã bị thất lạc, qui tắc Thiền lâm rối loạn, cho nên ngái Tông trách phục hưng tinh thần Bách trượng thanh qui bằng cách sưu tập hành pháp,kệ tụng của cáctùng lâm còn sót lại mà biên soạn lại thành bộThanh qui này. Về sau, các thanh qui do Trung quốc và Nhật bản chế định, đều lấy bộ thanh qui này làm mẫu mực.

Thiền uyển tập anh

禪苑集英|Tên của một quyển sách rất quan trọng của Thiền tông Việt Nam, nói về các »Anh tú vườn thiền«, các vị Thiền sư Việt Nam từ cuối thế kỉ thứ sáu đến đầu thế kỉ thứ 13. Ðây là tài liệu lịch sử Phật giáo cổ nhất hiện còn tại Việt Nam. Người ta không biết rõ tác giả của Thiền uyển tập anh là ai, nhưng có thể xác định được rằng, nó là một tác phẩm được hình thành qua nhiều giai đoạn và Thiền sư Thông Biện (?-1134) chính là người khởi thảo.|Theo dịch giả của Thiền uyển tập anh là Ngô Ðức Thọ và những manh mối được tìm thấy trong chính quyển sách này, người ta có thể xác định được Quốc sư Thông Biện chính là người khởi thảo bản đầu của quyển sách này, bởi vì Sư đã trình bày, chứng tỏ kiến thức quảng bác của mình trong một buổi đàm luận với Linh Nhân Hoàng thái hậu vào năm 1096. Ðoạn trả lời của Thông Biện được ghi lại trong Thiền uyển tập anh không dài lắm nhưng nó chính là một pho sử vô cùng quý báu về Phật giáo của Việt Nam được thâu gọn trong tầm kiến thức của vị Thiền sư lỗi lạc này và bản thảo của Thiền uyển tập anh – có thể mang tên Chiếu đối lục. Sau đó, Thông Biện giao phó công việc biên sửa Chiếu đối lục cho một đệ tử người gốc Trung Quốc là Biện Tài. Nơi truyện của Thiền sư Thần Nghi, người ta có thể biết được rằng, Thiền sư Thường Chiếu – thầy của Thần Nghi – sử dụng Chiếu đối lục để giảng nghĩa hệ thống truyền thừa của Thiền tông tại Việt Nam cho đệ tử trước khi viên tịch. Chiếu đối lục của Thông Biện đến tay Thường Chiếu như thế nào thì không rõ lắm nhưng sau đó, Thường Chiếu có soạn một quyển sách mang tên Nam tông tự pháp đồ – nay đã thất truyền nhưng được ghi lại trong các tác phẩm khác – có lẽ với nội dung tương tự như Thiền uyển tập anh và biểu đồ truyền thừa. Thiền sư Thần Nghi đã nhận hai bộ sách quý này từ chính vị thầy và truyền lại cho đệ tử mình là Thiền sư Ẩn Không. Với những tài liệu còn lại và sự đối chiếu mạch lạc, người ta có thể xác định được rằng, Thiền uyển tập anh được hoàn tất dưới tay Thiền sư Ẩn Không đầu đời Trần.

Thiền viện

禪院; J: zen'en;|Là nơi tu tập của những người theo Thiền tông. Thiền sư Bách Trượng là người đầu tiên sáng lập Thiền viện và những quy củ tổ chức ở đây.

thiền viện

See Thiền Đường. ; (禪院) Cũng gọi: Thiền tự, Thiền sát. Đối lại: Giáo viện, Luật viện. Chỉ chochùa viện chuyên tu thiền quán. Gọi Thiền sát thì Sát nghĩa là Tháp. Các chùa viện đời xưa đều có xây tháp, cho nên chùa viện cũng gọi là Sát. Theo điều Bách trượng qui thằng tụng trong Thiền uyển thanh qui quyển 10, việc thiết lập Thiền viện bắt đầu từ Thiền sư Bách trượng Hoài hải đời Đường, đến đời Tống thì sự phân biệt Giáo và Thiền càng rõ, cho nên chế độ Thiền viện cũng dần dần hoàn bị. Trong Thiền lâm bảo huấn bút thuyết quyển thượng và điều Tống nguyên phong tam niên trong Phật tổ thống kỉ quyển 45, việc xây dựng Thiền viện đều được ghi chép rõ ràng. [X. Tống cao tăng truyện Q.10; Phật tổ thống kỉ Q.41; Phật tổ lịch đại thông tải Q.20; Thiền lâm bảo huấn hợp chú Q.1].

thiền và tịnh độ

Zen and Pure Land—Thiền và Tịnh độ không hai. Nếu liễu ngộ thì liễu ngộ cả hai; ví bằng mê mờ thì mê mờ cả hai, vì dù thiền hay tịnh độ cũng đều quy tâm, ngoài tâm không pháp—Zen and Pure Land have always been non-dual. If we thoroughly understand one, we thoroughly understand both. If we fail to understand one, we will fail on both, Zen or Pure Land focus on “Mind.” There are no dharmas outside the mind.

thiền vị

Mùi vị của Thiền khi nhập vào thiền định, thân tâm có cảm giác mùi vị tuyệt vời, nhẹ nhàng khoan khoái, tịch tĩnh—Meditation-flavour, the mysterious taste or sensation experienced by one who enter abstract meditation. ; (禪味) Cái diệu vi nhẹ nhàng, vắng lặng, thân tâm thanh thản mà Thiền giả cảm nhận khi nhập thiền định, tức niềm vui thiền, là pháp duyệt thiền định. Đại thừa vô sinh phương tiện môn (Đại 85, 1274 trung) nói: Tham đắm thiền vị, rơi vào Nhị thừa.

thiền xá

(禪舍) Chỉ cho sự xả bỏ Hỉ thụ(cảm giác mừng vui), của Đệ tam thiền. Đối với niềm vui mừng vi diệu của Đệ tam thiền, không sinh tâm thiên chấp, không khởi niệm ưa thích, gọi là Thiền xả. Vì trong Đệ nhị thiền, Tầm (tìm kiếm) và Tứ(dò xét), đã dứt bặt, nội tâm thuần tịnh và chuyên nhất, liền sinh ra cảm thụ Hỉ và Lạc. Khi đến Đệ tam thiền, do tiến thêm 1 bước mà xả bỏ cảm thụ Hỉ cho nên gọi là Thiền xả. Kinh Tạp a hàm quyển 14 (Đại 2, 97 thượng) nói: Lìa bỏ tâm Hỉ, trụ ở chính trí chính niệm, tiến lên xả li, đầy đủ Đệ tam thiền. [X. Thanh tịnh đạo luận 4 ; Giải thóat đạo luận Q.5].

Thiền Xương Tự

(禪昌寺, Zenshō-ji): ngôi chùa của Phái Diệu Tâm Tự (妙心寺派) thuộc Lâm Tế Tông; hiệu núi là Long Trạch Sơn (龍澤山); hiện tọa lạc tại Gero-shi (下呂市), Gifu-ken (岐阜縣). Tượng thờ chính là Thích Ca Như Lai, Dược Sư Như Lai, Quan Thế Âm Bồ Tát. Huệ Tâm Tăng Đô Nguyên Tín (惠心僧都源信) là người khai sáng ra chùa. Đến khoảng niên hiệu Vĩnh Hòa (永和, 1375-1379), Trúc Xử Sùng Viên (竹處崇圓) là người khai sơn, lấy tên là Đại Hùng Sơn Viên Thông Tự (大雄山圓通寺). Sau đó, do vì gặp hỏa tai nên chùa trở thành hoang phế; nhưng đến năm 1716 thì Tam Mộc Trực Lại (三木直賴, Mitsuki Naoyori) mới cung thỉnh Minh Thục Khánh Tuấn (明叔慶俊) đến tái kiến lại chùa này, rồi đổi tên hiệu chùa và lưu truyền cho đến nay.

thiền yếu kinh

(禪要經) I. Thiền Yếu Kinh. Cũng gọi Thiền yếu kinh ha dục phẩm, Thiền yếu ha dục kinh. Kinh, 1 quyển, được dịch vào đời Đông Hán(không rõ tên người dịch) thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này dạy hành giả lúc tu định nên thực hành Bất tịnh quán để mong lìa dục và được trí quán thanh tịnh; cũng chính là quán xét về 6 cái ham muốn của chúng sinh đối với người khác giới tính. Đó là: Ham muốn về nhan sắc, ham muốn về dáng dấp, ham muốn về cách đi đứng, và cử chỉ yểu điệu, ham muốn về giọng nói, ham muốn về làn da mịn màng trơn láng và ham muốn về hình tướng người. Đối với 5 cái ham muốn trước thì nên quán xét về tính chất dơ bẩn nhớp nhúa; còn đối với ham muốn về tướng người thì nên quán tưởng những đống xương trắng của người nằm vương vãi trên mặt đất. Kinh này tương đương với phần đầu của Thiền pháp yếu giải do Cưu ma la thập dịch.II. Thiền Yếu kinh. Cũng gọi Thiền pháp yếu giải, Thiền pháp yếu giải kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào khoảng năm Hoằng thủy thứ 4-14 (403-412) đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 15. (xt. Thiền Pháp Yếu Giải). III. Thiền Yếu Kinh. Kinh, 1 quyển, làngụy kinh ở giữa đời Đường. Sách tên là Thiền môn kinh, bài tựa của ngài Tuệ quang ở đầu quyển nói rằng sách này cũng gọi là Thiền yếu kinh. Vì những Thiền giả thuộc hệ thống ngài Đạt ma nhận thấy những khuyết điểm trong các kinh Thiền Tiểu thừa, nên mới soạn ra kinh này, muốn dùng kinh Thiền Đại thừa để bổ túc cho những khuyết điểm của kinh ThiềnTiểu thừa. Kinh này sử dụng hình thức kinh điển, nội dung nêu lên tư tưởng và lập trường của Thiền tông thời kì đầu. Khai nguyên thích giáo lục xếp kinh này vào loại ngụy kinh, tuy nhiên, các Thiền lục như Lịch đại pháp bảo kí, Đốn ngộ yếu môn...đều có trích dẫn kinh này, vì thế mà biết kinh này được lưu hành trong Thiền lâm từ đời Đường đến đời Ngũ đại. Còn trong các kinh sách đào được ở Đôn hoàng, người ta thấy có bản hoàn chỉnh của kinh này, mang số hiệu A.Stein 5532. Học giả Nhật bản là ông Liễu điền Thánh sơn căn cứ vào bản này mà sửa chữalạirồi xếp vào Trủng bản bác sĩ tụng thọ kí niệm Phật giáo sử luận tập.

Thiền Ông

禪翁; 902-979, cũng được gọi là Thiền Ông Ðạo giả|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi, pháp hệ thứ 11. Sư xuất gia và đắc pháp nơi Thiền sư La Quý An. Hai đệ tử danh tiếng của Sư là Vạn Hạnh và Ðịnh Huệ.|Sư trụ trì chùa Song Lâm ở làng Phù Ninh, phủ Thiên Ðức và tịch năm Kỉ Mão, niên hiệu Thái Bình thứ 10, thọ 78 tuổi.

thiền ông đạo giả

Thiền Sư Thiền Ông (902-979)—Thiền Sư Thiền Ông quê làng Cổ Pháp, từ thuở còn rất nhỏ sư đã không thích cuộc đời trần tục. Sư xuất gia và trở thành một trong những đệ tử xuất sắc nhất của Đinh Trưởng Lão. Sư là Pháp tử đời thứ mười một dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Sư thị tịch năm 979, thọ 78 tuổi—Zen Master Thiền Ông (902-979)—A Vietnamese monk from Cổ Pháp. He did not like secular life since he was very young. He left home and became one of the most outstanding disciples of Đinh Trưởng Lão. He was the Dharma heir of the eleventh lineage of the Vinitaruci Zen Sect. He passed away in 979, at the age of 78.

thiền đà ca vương

(禪陀迦王) Thiền đà ca, Phạm:Jĩàtaka. Tên một vị quốc vương ở Nam Thiên Trúc. Bồ tát Long thụ từng dùng kệ tụng trình bày ý chỉ Thập thiện, Thất giác chi, Thập nhị nhân duyên để tặng vị vua này, gọi là Thiền đà ca vương kệ. Trong tạng kinh có Long thụ Bồ tát vị Thiền đà ca vương thuyết pháp yếu kệ. Vị vua này còn có các tên hiệu như: Sa đa bà ha,Ưu đà diên... (xt. Sa Đa Bà Ha Vương).

thiền đăng thế phả

(禪燈世譜) Tác phẩm, 9 quyển, do ngài Sơn ông Đạo mân soạn vào đời Minh, ông Ngô đồng biên tập và ấn hành vào năm Sùng trinh thứ 5 (1632), được thu vào Vạn tục tạng tập 147. Lúc đầu, ngài Đạo mân định sưu tầm các bộ Truyền đăng lục, các bài minh bia đứt đoạn, chắp vá để biên tập các thế hệ Tổ sư Thiền tông, thì tình cờ gặp ông Ngô đồng, người đất Mân (Phúc kiến) cũng đang soạn thuật tác phẩm tương tự như thế, ngài Đạo mân liền hợp tác với ông Ngô đồng rồi sửa chữa thành bộ sách này. Nội dung sách dùng đồ biểu trình bày từ đức Phật Thích ca Mâu ni trở xuống, cho đến các tông phái: Nam nhạc, Qui ngưỡng, Lâm tế, Hoàng long, Dương kì, Hổ khâu, Vân môn, Pháp nhãn, Thanh nguyên, Tào động tất cả các dòng phái nối pháp truyền thừa chính thống và không chính thống. Năm Thuận trị 11 (1654) đời Thanh, ngài Giới am Ngộ tiến (1612-1673) biên soạn và ấn hành bộ Phật tổ tông phái thế phổ 8 quyển mà nội dung phần nhiều rất giống với bộ Thiền đăng thế phổ này của ngài Đạo mân. Vì thế nên Vạn tục tạng chỉ thu chép 1 phần nhỏ những chỗ sai khác với Thiền đăng thế phổ như quyển 1, quyển 5, quyển 6... rồi để vào phần phụ ở sau Thiền đăng thế phổ này.

Thiền Đăng Thế Phổ

(禪燈世譜, Zentōsefu): 9 quyển, do Sơn Ông Đạo Mân (山翁道忞) nhà Minh biên tập, san hành vào năm thứ 3 (1654) niên hiệu Thừa Ứng (承應). Đây là bộ truyền đăng hệ phổ do Mộc Trần Đạo Mân (木陳道忞), pháp từ của Mật Vân Viên Ngộ (密雲圓悟), biên tập vào năm thứ 4 (1631) niên hiệu Sùng Trinh (崇貞). Ban đầu, Đạo Mân có ý muốn biên tập lịch sử truyền đăng kể từ thời nhà Nguyên trở về sau, nhưng các bài minh văn bia bị khuyết mất khá nhiều, định làm thế phổ để thay thế, nhân thỉnh thoảng ông đến Huyện Mân (閩, Tỉnh Phúc Kiến), bắt gặp cuốn thế phổ do Ngô Đồng (呉侗) biên soạn, nương vào các Truyền Đăng Lục để hiệu đính những đúng sai trong đó và hình thành nên bộ sách này. Nó làm sáng tỏ hệ phổ truyền đăng từ thời đức Thích Tôn cho đến 5 tông phái ở Trung Quốc và rất tiện lợi về thông tin mối quan hệ truyền thừa trong Thiền Tông. Tuy nhiên, do vì người ta nhận lầm Thiên Hoàng Đạo Ngộ (天皇道悟) thành Thiên Vương Đạo Ngộ (天王道悟) là pháp từ của Mã Tổ (馬祖), cho nên đã phạm phải sai lầm liệt chung cả 2 tông Vân Môn và Pháp Nhãn đều thuộc môn hạ của Nam Nhạc (南岳).

Thiền đường

禪堂; J: zendō;|Là nơi các vị tăng Toạ thiền trong một Thiền viện. Cũng được dùng chỉ một Thiền viện.

thiền đường

Thiền đường là một căn phòng căn nhà lớn trong tự viện hay thiền viện. Tại các chùa lớn, thường Thiền Đường là một kiến trúc biệt lập chỉ để thực hành tọa thiền, chứ không có các nghi lễ khác—Buddhist meditation hall (center)—Buddhist temple or Zen hall (room) or meditation hall of the Ch'an sect. In large temples, meditation hall is a separate structure, where only meditation is practiced without any other ceremonies. ; (禪堂) I. Thiền Đường. Gọi đủ: Tọa thiền đường. Cũng gọi Tăng đường. (xt. Tăng Đường). II. Thiền Đường. Để phân biệt với Tăng đường nên gọi là Thiền đường. Tăng đường là đạo tràng để ngồi thiền, ngủ nghỉ, ăn uống... còn Thiền đường là đạo tràng chỉ được sử dụng cho việc tọa thiền. III. Thiền Đường. Chỉ cho chùa viện không có Tăng đường, chư tăng tọa thiền ở Pháp đường; chỗ ở của chúng tăng từ vị Duy na trở xuống, gọi là Thiền đường.

thiền đại thừa

Mahayana Meditation—Đây là phương pháp tu thiền định dựa trên kinh điển Đại Thừa. Thiền Đại Thừa là loại thiền đốn ngộ hay thượng thừa thiền. Thiền Đại Thừa nhấn mạnh: “Ai cũng có thể thiền định, đi đến đại ngộ và đạt thành Phật Quả.”—This is the method of practicing meditation which is based on the Mahayana Sutras. Mahayana Meditation is considered as “Instant Awakening Meditation,” or “Supreme Meditation.” Mahayana Meditation emphasizes: “Everyone is able to meditate, is able to be awakened instantly and attain the Buddhahood.”

thiền đầu

(禪頭) I. Thiền Đầu. Vị Thủ tọa của Thiền lâm. Đại quán thanh qui (Đại 81, 612 hạ) nói: Hiệu lệnh tọathiền của Tăng đường là do Thủ tọa đưa ra, chứ không phải do vị Trụ trì, cho nên vị Thủ tọa được gọi là Thiền đầu. II. Thiền Đầu. Phạm:Jantu. Cũng gọi Thiền đậu, Thiền đâu, Thiện đô.Từ dịch âm của tiếng Phạm Jantu, có nghĩa là chúng sinh. [X. kinh Tạp a hàm Q.13, Huyền ứng âm nghĩa Q.1].

Thiền định

xem Tam-ma-bạt-đề.

thiền định

Dhyana and Samadhi (skt). (I) Nghĩa của Thiền Định—The meanings of Samadhi: a) Thiền theo tiếng Phạn là Dhyana. Thiền là một yếu tố của Định; tuy nhiên, cả hai từ được dùng gần như lẫn lộn với nhau: Dhyana is Meditation (Zen), probably a transliteration. Meditation is an element of Concentration; however, the two words (dhyana and samadhi) are loosely used. b) Định theo tiếng Phạn là Samadhi. Định bao trùm toàn bộ bối cảnh của Thiền, để tâm chuyên chú vào một đối tượng mà đạt tới trạng thái tịch tĩnh không tán loạn—Concentration is an interpretation of Samadhi. Samadhi covers the whole ground of meditation, concentration or abstraction, reaching to the ultimate beyond emotion or thinking. ** Có nhiều định nghĩa về Thiền Định—There are several different definitions for Dhyana and Samadhi: 1) Thiền định hay sự phát triển tâm linh, hay quán chiếu về khổ, vô thường và vô ngã. Thiền định trong các trường phái Phật giáo tuy có khác nhau về hình thức và phương pháp, nhưng cùng có một mục tiêu chung là làm tinh thần tập trung, thanh thản và trong suốt như một dòng sông nước trong mà người ta có thể nhìn thấy tận đáy, từ đó ý thức biết được sự thể nghiệm về ngộ, giải thoát và đại giác. Ngoài ra, cố gắng thực tập thiền định thường xuyên nếu hành giả chưa nhập vào chân lý thì ít ra cũng sẽ giúp chúng ta xa rời nhị nguyên phân biệt—Meditation or Mental development, or to meditate upon the implications or disciplines of pain, unreality, impermanence, and the non-ego. Although different in forms and methods in different Buddhist schools, but has the same goal is to concentrate the mind of the cultivators, to calm and to clarify it as one would calm and clarify the surface of a turbulent body of water, so that the bottom of which can be seen. Once the surface of that turbulent water is pacified, one can see it's bottom as when the mind is pacified, one can come to an expierence or a state of awakening, liberation or enlightenment. In addition, diligent repetition of practice of meditation, if the cultivator has not yet become one with the “absolute truth,” dualistic state of mind and distinction between subject and object disappeared in that person. 2) Thiền cũng là quá trình tập trung và thấm nhập nhờ đó mà tâm được yên tĩnh và nhất tâm bất loạn (qui nhất), rồi đi đến giác ngộ: Zen is also a process of concentration and absorption by which the mind is first tranquilized and brought to one-pointedness, and then awakened. 3) Một trong lục Ba La Mật: “Dhyana” is one of the six paramitas—See Lục Độ Ba La Mật and Tứ Thiền. 4) Thiền định để chỉ những giáo lý thiền thuộc về Phật giáo, nhưng áp dụng đặc biệt vào Thiền Tông—The term “Dhyana” connotes Buddhism and Buddhist things in general, but has special application to the Zen (Ch'an) sects. 5) Là một tông phái Phật giáo Đại Thừa, Thiền là một tôn giáo thoát khỏi giáo điều mà chỉ hướng thẳng đến sự tự chứng ngộ. Tỷ như sự tự chứng ngộ của Đức Phật Thích Ca dưới cội cây Bồ Đề sau khi nỗ lực tu tập. Thiền tông Việt Nam bao gồm các phái Lâm Tế, Tào Động, và Trúc Lâm—As a Mahayana Buddhist sect, Zen is a religious free of dogmas or creeds whose teachings and disciplines are directed toward self-consummation. For example, the full awakening that Sakyamuni Buddha himself experienced under the Bodhi-tree after strenuous self-discipline. In Vietnam, Zen sects comprise of Lin-Chi, T'ao-Tung, and Ch'u-Lin. (II) Mục đích của việc hành Thiền—The purposes of Meditation Practices: 1) Thiền không phải là trầm tư mặc tưởng. Ngộ không cốt tạo ra một điều kiện nào đó theo chủ tâm đã định trước bằng cách tập trung tư tưởng mạnh vào đó. Trái lại, Thiền là sự nhận chân một năng lực tâm linh mới có thể phán đoán sự vật trên một quan điểm mới. Pháp tu Thiền với mục đích là dứt khoát lật đổ ngôi nhà giả tạo mà mình đang có để dựng lên cái khác trên một nền móng hoàn toàn mới. Cơ cấu cũ gọi là vô minh, và ngôi nhà mới gọi là giác ngộ. Do đó trong Thiền không hề có việc trầm tư về những câu nói tượng trưng hoặc siêu hình nào thuộc về sản phẩm của ý thức hay cơ trí: Meditation is not a state of self-suggestion. Enlightenment does not consist in producing a certain premeditated condition by intensely thinking of it. Meditation is the growing conscious of a new power in the mind, which enabled it to judge things from a new point of view. The cultivation of Zen consists in upsetting the existing artificially constructed framework once for all and in remodeling it on an entirely new basis. The older frame is call 'ignorance' and the new one 'enlightenment.' It is evident that no products of our relative consciousness or intelligent faculty can play any part in Zen. 2) Phật tử tu tập Thiền định để huấn luyện tâm và kỷ luật tự giác bằng cách nhìn vào chính mình: Buddhists practise meditation for mind-training and self-discipline by looking within ourselves. 3) Tu tập thiền định là tìm cách hiểu rõ bản chất của tâm và sử dụng nó một cách hữu hiệu trong cuộc sống hằng ngày, vì tâm là chìa khóa của hạnh phúc, mà cũng là chìa khóa của khổ đau phiền não: To meditate is to try to understand the nature of the mind and to use it effectively in daily life. The mind is the key to happiness, and also the key to sufferings. 4) Tu tập thiền định trong cuộc sống hằng ngày là giải thoát tinh thần ra khỏi những trói buộc của tư tưởng cũng như những nhiễm ô loạn động: To practice meditation daily will help free the mind from bondage to any thought-fetters, defilements, as well as distractions in daily life. 5) Tu tập thiền định là con đường trực tiếp nhất để đạt tới đại giác: Practicing meditation is the most direct way to reach enlightenment. (III) Những đặc điểm của Thiền—Some characteristics of Zen: 1) Ý niệm căn bản của Thiền tông là đồng nhất tính của hữu và vô. “Chân tướng vô tướng,” “Pháp môn vô môn,” “Thánh trí vô trí.” Sự hỗ tương đồng hóa giữa hai ý tưởng đối lập như đen và trắng, thiện và bất thiện, thanh tịnh và nhiễm ô, vân vân, là kết quả của thâm nhập thiền tư duy sâu thẳm. “Pháp thân không tướng, nhưng hóa hiện mọi hình tướng.” “Kim khẩu không lời, nhưng phát hiện mọi lời.” Những ý niệm cùng loại đó thường bắt gặp trong Thiền tông: The basic idea of Zen is the identity of becoming and non-becoming. “The true state is no special state;” “The gate of Dharma is no gate;” “Holy knowledge is no knowledge.” The mutual identification of two opposed ideas, such as black and white, good and evil, pure and impure, or the like, results from deep meditation. “The ideal body has no form, yet any form may come out of it.” “The golden mouth has no word, yet any word may come out of it.” Ideas of a similar nature are often encountered. 2) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, có một quá trình riêng biệt nơi Thiền tông. Khi định tâm vào tư duy tịnh mặc, một 'công án' được đặt ra cho hành giả để trắc nghiệm khả năng tiến bộ đến tỏ ngộ. Khi nhận một công án, hành giả bắt đầu tĩnh tọa nơi thiền đường. Ngồi thoải mái, chân kiết già, thân ngay ngắn và thẳng lưng, tay kiết thiền ấn, mắt mở nửa chừng. Đây gọi là tọa thiền, có thể kéo dài trong nhiều ngày đêm. Những sinh hoạt hằng ngày như ở, ăn, ngủ, tăm, vân vân đều được giữ có chừng mực. Im lặng được tuyệt đối tuân giữ; tức là khi tọa thiền, thọ thực hay tẩy trần, không ai được nói lời nào cũng như không gây ra tiếng động nào. Thỉnh thoảng có xảy ra cuộc đối thoại gọi là 'vấn đáp' giữa hành giả và thiền sư được mệnh danh là tu học thiền hay 'vân thủy,' hành giả nêu những thắc mắc và vị thiền sư trả lời hoặc bằng ẩn dụ hay quát mắng. Khi hành giả đã sẵn sàng để giải quyết vấn đề, ông ta đến viếng sư phụ nơi phương trượng, trình bày những gì đã thấu hiểu và xin được giải quyết công án. Nếu thiền sư đắc ý, ngài sẽ nhận cho là đắc đạo; nếu không, hành giả lại tiếp tục thiền quán thêm nữa: According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, there is a peculiar process in Zen. To concentrate one's mind in silent meditation, a koan (public theme) is given to an aspirant to test his qualification for progress towards enlightenment. On receiving a theme, one sits in silence in the Zen hall. One must sit at ease, cross-legged and well-posed with upright body, with his hands in the meditating sign, and with his eyes neither open nor quite closed. This is called sitting and meditating, which may go on for several days and nights. So the daily life, lodging, eating, sleeping, and bathing should be regulated properly. Silence is strictly required and kept; that is, while meditating, dining or bathing, no word should be uttered and no noise should be made. Sometimes a public dialogue called 'question and answer' takes place (also called 'the cloud and water,' the name used for traveling student). The aspirant will ask questions of the teacher who gives answers, hints or scoldings. When a student or any aspirant thinks that he is prepared on the problem, he pays a private visit to the teacher's retreat, explains what he understands and proposes to resolve the question. When the teacher is satisfied, he will give sanction; if not, the candidate must continue meditation. (IV) Lợi ích của Thiền Tập—Benefits of meditation practices—Theo Tỳ Kheo Piyananda trong Những Hạt Ngọc Trí Tuệ Phật Giáo, hành thiền có những lợi ích sau đây—According to Bhikkhu Piyananda in The Gems of Buddhism Wisdom, meditation practices have the folowing benefits: 1) Thiền tập diệt trừ được si mê và phát sanh trí tuệ. Ngoài ra, thiền tập còn giúp mang lại sức khỏe, hạnh phúc, và sự lạc quan: Practicing meditation can help practitioners eradicate dullness and bring about wisdom. Besides, meditation also brings about health, happiness, and optimism. 2) Nếu bạn là người bận bịu, thiền tập giúp bạn quét sạch căng thẳng và tìm thấy thư giãn: If you are a busy person, meditation practices can help you to get rid of tension and to find some relaxation. 3) Nếu bạn là người hay lo lắng, thiền tập giúp bạn bình tĩnh và thấy thanh bình dài lâu hay tạm thời: If you are a worried person, meditation practices can help to calm and help you to find either permanent or temporary peace. 4) Nếu bạn là người có quá nhiều vấn đề, thiền tập giúp bạn có can đảm và sức mạnh để đương đầu và khắc phục các vấn đề ấy: If you are a person who has endless problems, meditation practices can help you to develop courage and strength to face and overcome problems. 5) Nếu bạn thiếu tự tin, thiền tập sẽ giúp bạn lấy lại tự tin mà bạn cần. Lòng tự tin là bí quyết của thành công: If you lack self-confidence, meditation practices can help you gain the self-confidence you need. This self-confidence is the secret of success. 6) Nếu bạn sợ hãi trong lòng, thiền có thể giúp bạn hiểu rõ bản chất thực sự của đối tượng làm bạn sợ hãi, từ đó có thể khắc phục được sợ hãi trong lòng: If you have fear in your heart, meditation practices can help you understand the real nature of the objects that are making you afraid, then you can overcome the fear in your mind. 7) Nếu bạn lúc nào cũng bất mãn với mọi thứ, không có thứ gì trên đời nầy vừa ý bạn, thiền tập sẽ giúp bạn có cơ hội để phát triển và duy trì sự “tri túc” nội tâm: If you are always dissatisfied with everything; nothing in life seems to be satisfactory; meditation practices will give you the chance to develop and maintain some inner satisfaction. 8) Nếu bạn hoài nghi và không lưu tâm đến tôn giáo, thiền tập sẽ giúp bạn vượt qua tính hoài nghi và nhìn thấy giá trị thực tiễn trong giáo lý: If you are skeptical and disinterested in religion, meditation practices can help you go beyond your own skepticism and to see some practical value in religious guidance. 9) Nếu bạn thất vọng và thất tình do sự thiếu hiểu biết bản chất về đời sống và thế giới, thiền tập sẽ hướng dẫn và giúp bạn hiểu điều đã làm xáo trộn bạn bởi những thứ không cần thiết: If you are frustrated and heart-broken due to lack of understanding of the nature of life and the world, meditation practices will truly guide and help you understand that you are disturbed by unnecessary things. 10) Nếu bạn là một người giàu có, thiền tập sẽ giúp bạn nhận thức được bản chất thật sự của của cải cũng như cách sử dụng của cải cho hạnh phúc của chính bạn và những người chung quanh: If you are a rich man, meditation practices can help you realize the true nature of your wealth and how to make use of your wealth for your own happiness as well as for others. 11) Nếu bạn là người nghèo, thiền tập sẽ giúp bạn đạt sự mãn ý, không nuôi dưỡng ganh tỵ với những người giàu có: If you are a poor man, meditation practices can help you have some contentment and not to harbour jealousy towards those who have more than you. 12) Nếu bạn là người trẻ đang đứng trước những ngã rẽ cuộc đời, bạn không biết phải bước vào ngã nào, thiền tập sẽ giúp bạn hiểu biết con đường phải đi để tiến tới mục đích mà bạn nhắm tới: If you are a young man at the cross-roads of your life, and do not know which way to turn, meditation practices will help you understand which is the road for you to travel to reach your proper goal. 13) Nếu bạn là người già yếu chán chường cuộc sống, thiền tập sẽ mang lại cho bạn sự hiểu biết sâu xa hơn về cuộc đời; sự hiểu biết này sẽ giảm thiểu nỗi đau đớn của cuộc sống và làm tăng sự vui sống: If you are an elderly man who is fed-up with life, meditation practices will bring you to a deeper understanding of life; this understanding in turn will relieve you from the pains of life and will increase the joy of living. 14) Nếu bạn là người nóng nảy, thiền tập có thể giúp bạn phát triển sức mạnh để khắc phục những yếu điểm nóng giận, hận thù và bất mãn: If you are hot-tempered, meditation practices can help you develop the strength to overcome these weaknesses of anger, hatred and resentment. 15) Nếu bạn hay ganh ghét, thiền tập có thể giúp bạn hiểu được cái nguy hiểm của sự ganh ghét: If you are jealous, meditation practices can help you understand the danger of your jealousy. 16) Nếu bạn là người nô lệ cho năm giác quan, thiền tập có thể giúp bạn học hỏi cách trở nên chủ tể của những giác quan tham dục nầy: If you are a slave to your five senses, meditation practices can help you learn how to become the master of your sense-desires. 17) Nếu bạn nghiện rượu, thuốc lá hay ma túy, bạn có thể nhận thức được cách vượt qua được những thói xấu nguy hiểm nầy: If you are addicted to wine, tobacco, or drugs, meditation practices can help you realize how to overcome the dangerous habits which have enslaved you. 18) Nếu bạn là người ám muội, thiền tập sẽ cho bạn cơ hội trau dồi kiến thức hữu dụng và lợi ích cho cả bạn lẫn bạn bè và gia đình: If you are an ignorant person, meditation practices will give you a chance to cultivate some knowledge that will be useful and beneficial both to you and to your friends and family. 19) Nếu bạn là người tâm tư suy nhược, thiền tập sẽ giúp làm tăng sức mạnh cho tâm bạn để phát triển sức mạnh ý chí hầu khắc phục được những nhược điểm của bạn: If you are a weak-minded person, meditation practices can help strengthen your mind to develop your will-power in order to overcome your weaknesses. 20) Nếu bạn là người trí, thiền tập sẽ mang bạn tới giác ngộ tối thượng. Bạn sẽ nhìn thấy sự vật một cách như thị: If you are a wise person, meditation practices will take you to supreme enlightenment. Then you will see things as they are, and not as they appear to be. (V) Trước khi Thiền quán—Before Meditation: 1) Ăn uống—Foods and Drinks: Nên ăn đồ nhẹ hợp với cơ thể, tránh những chất có nhiều dầu mỡ, chất cay, kích thích thần kinh như cà phê, rượu, thuốc hút, vân vân—Just take light diet, avoid browned, fried, or hot foods, especially those stimulants such as coffee, alcohol or cigarettes, etc. 2) Y phục—Clothing: Y phục phải hợp với thời tiết, tránh đồ bít bùng, chật bó cứng làm máu huyết khó lưu thông điều hòa—Clothes must be fitting to the weather, avoid tight clothes that would make the circulatory system difficult. 3) Nơi chốn—Place: Nơi thiền tập phải an tịnh, không bị loạn động như trong góc phòng, vân vân. Ngày xưa, thường thường thiền đường được xây trong khu rừng xa vắng—Should be quiet, and without distraction such as a quiet corner of the house, etc. In the old days, generally Zen halls were built in a remote forest far away from the real world. 4) Giờ giấc thiền tập—Time for meditation: Buổi tối từ 9 đến 10 giờ hay buổi sáng sớm khoảng từ 5 đến 6 giờ. Đây chỉ là giờ giấc đề nghị, hành giả có thể tập thiền bất cứ lúc nào trong ngày—At night from 9 to 10 p.m., or early in the morning from 5 to 6 a.m. This schedule is only a recommended schedule, practitioners can practice meditation at any time during the day. 5) Thân thể—body: Thân thể phải sạch sẽ. Nếu có thể được nên tắm rữa 15 phút trước giờ thiền tập—Body must be clean. If possible, practitioners should have a bath 15 minutes before meditation. 6) Thế ngồi—Posture: Có hai cách ngồi—There are two types. a) Bán già—Half crossed-legged: • Hàng ma bán già: gác bàn chân mặt lên đùi bên trái như thế ngồi của Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát—Half crossed-legged posture, put the right leg on the left thigh like the posture of Manjusri Bodhisattva. • Kiết tường bán già: gác bàn chân trái lên đùi mặt như thế ngồi của Ngài Phổ Hiền Bồ Tát—Half crossed-legged posture, put the left leg on the right thigh like the posture of Samantabhadra Bodhisattva. b) Kiết già hay Kim Cang tọa: Để bàn chân trái lên đùi phải, gác bàn chân phải lên đùi trái, gót hai bàn chân đều sát vào bụng. Ngồi kiết già khó tập, lúc mới bắt đầu dễ bị mệt mỏi, nhưng tập dần sẽ quen, và khi quen sẽ ngồi được nhiều giờ hơn—Crossed-legged posture, put the left foot on the right thigh, the right foot on the left thigh, both heels close to the abdomen. This posture is difficult to practice at the beginning, but with time it can be done and it would help us to continue sitting for many hours. 7) Vị trí của hai cánh tay—Position of the two arms: Hai cánh tay vòng xuôi, để bàn tay mặt trên bàn tay trái—Join both hands with the open palm of the right hand on that of the left one. 8) Thế lưng—The posture of the back: Luôn giữ cho lưng thẳng—Always keep the back straight. 9) Thế cổ—Neck posture: Cổ phải thẳng nhưng và đầu hơi nghiêng về phía trước—The neck must be straight, but the head slightly inclined forward. 10) Mắt—Eyes: Đôi mắt hơi hé mở, vì nếu mắt mở to thì chúng ta dễ bị ánh sáng và cảnh vật bên ngoài làm nhiễu loạn, còn nếu mắt nhắm thì chúng ta dễ bị hôn trầm—Both eyes slightly open; if widely open we would easily be disturbed; if closed, we could easily feel drowsy. 11) Miệng—Mouth: Miệng ngậm lại, chót lưỡi để trên chân răng hàm trên, răng để thong thả chứ không cắn vào nhau—Close the mouth with the tip of the tongue touching the palate; do not clench your teeth. 12) Điều hòa hơi thở—Normalizing the breathing: Hít không khí sâu vào bằng mũi, rồi thở từ từ ra bằng miệng, chỉ cần thở đều—Deeply inhale the air through the nose and exhale it slowly through the mouth. Just breath regularly. (VI) Xả Thiền—Releasing meditation: Khi xả thiền bạn phải làm ngược lại tất cả, nghĩa là trước hết phải xả tâm, xả tức, rồi xả thân. Sau mỗi lần thiền định mà thấy thân tâm nhẹ nhàng sáng suốt, tức là buổi thực tập đó có kết quả. Khi thực tập mà thấy thân tâm có gì khác thường nên hỏi chuyện với thầy hoặc thiện hữu tri thức để khỏi lạc vào tà pháp—You must reverse the whole process, that is, you must release your mind, then your breathing, and finally your body. Each time you perform the meditation session, you should feel at ease; this means that it has produced good effect. On the contrary, you must ask your master or good knowing advisors why you do not feel good after meditation. 1) Xả Tâm—Release the mind: Phải nhớ lại coi mình đang ngồi ở đâu? Thời gian qua mình làm gì? Mình có bị tán loạn hay hôn trầm hay không?—You should try to remember where you sat, what you did, were you disturbed or drowsy? 2) Xả Tức—Releasing the breathing: Mở miệng thở ra vài hơi thật dài cho khí nóng trong người giảm bớt và để phục hồi lại trạng thái bình thường—Open your mouth and exhale deeply to let out all the heat inside your body and to recover your normal state. 3) Xả Thân—Releasing the body: Từ từ duỗi hai tay, xoa nhẹ lên nhau, rồi áp lên mắt. Nhúc nhích nhẹ cổ và lưng. Uốn lưỡi một vài lần và nuốt chút nước miếng. Sau đó lấy tay xoa lên hai bắp đùi, rồi tháo lần hai chân ra, xoa hai bắp chuối, hai bàn chân. Khi xong nên nhè nhẹ đứng dậy, đi tới đi lui vài vòng sẽ cảm thấy thân khoan khoái, tâm nhẹ nhàng—Slowly stretch out both arms, slightly rub both hands and press them on your eyes. Stir a little bit your neck and back. Curve your tongue a few times and swallow the saliva. Then rub thighs, calves, and feet; extend both legs. After that, slowly stand up and walk a few rounds; you will feel at ease. (VII) Các loại Thiền—Categories of meditation: Có nhiều loại Thiền; tuy nhiên, căn bản có hai loại—There are many sorts of meditation; however, basically there are two kinds. 1) Như Lai Thiền: The Tathagata Zen—See Như Lai Thiền. 2) Tổ Sư Thiền: Patriarchal Zen—See Tổ Sư Thiền. ; (禪定) I. Thiền Định. Thiền (Phạm:Dhyàna) và Định (Phạm: Samàdhi) đều là trạng thái không tán loạn, để tâm chuyên chú vào 1 đối tượng. Hoặc có thuyết cho rằng Thiền là phiên âm tiếng Phạmdhyàna, còn Định là dịch ý của dhyàna, dùng chung cả Phạm và Hán mà gọi là Thiền định. Lại 4 thiền của cõi Sắc và 4 định của cõi Vô sắc hợp chung lại gọi là Tứ thiền bát định. [X. phẩm Đề bà đạt đa kinh Pháp hoa]. (xt. Định, Thiền). II. Thiền Định. Đồng nghĩa: Tọa thiền. Ngũ gia tham tường yếu lộ môn phụ lục (Đại 81, 615 thượng) nói: Nếu người tu thiền định thì trước phải trải bồ đoàn, ngồi kết già. (xt. Tọa Thiền).

thiền định ba la mật

Dhyana-paramita (skt)—Thiền định Ba La Mật là cửa ngõ đi vào hào quang chư pháp, vì nhờ đó mà chúng ta đạt đến định tỉnh cũng như những nội lực thâm diệu, và cũng nhờ đó mà chúng ta có thể dạy dỗ và hướng dẫn những chúng sanh có tâm trí tán loạn—Dhyana paramita is a gate of Dharma-illumination; for with it, we accomplish all balanced states of dhyana and wonderfully profound powers, and we teach and guide distracted living beings. ** For more information, please see Lục Độ Ba La Mật.

Thiền định ba-la-mật

xem Thiền ba-la-mật.

thiền định kiên cố

(禪定堅固) Thiền định vững chắc, 1 trong 5 thứ kiên cố nói trong kinh Đại tập. Khoảng 500 năm thứ 2 sau đức Phật nhập diệt là thời kìThiền định kiên cố, ở thời kì này, các tỉ khưu tu hành trụ trong thiền định kiên cố. Kinh Đại tập quyển 55 (Đại 13, 363 thượng) nói: Trong khoảng 500 năm sau khi ta nhập diệt, các tỉ khưu vẫn được giải thoát kiên cố trong chính pháp của ta; đến 500 năm thứ 2 thì trụ trong thiền định kiên cố trong chính pháp của ta. (xt. Ngũ Ngũ Bách Niên).

thiền định lực bất khả tư nghị

(禪定力不可思議) Năng lực củathiền định không thể nghĩ bàn, 1 trong 5 thứ bất khả tư nghị. Nghĩa là tu hành thiền định, phát được Thần cảnh thông, bay đi tự tại, du hành khắp các Tịnh độ của chư Phật, đó là việc bất khả tư nghị. Nếu vào định Bồ tát thì có thể phát khởi 1 loại thần thông bất khả tư nghị, chỉ trong 1 niệm, có năng lực đạt đến khắp các thế giới trong 10 phương. [X. kinh Hoa nghiêm Q.7 (bản dịch cũ); luận Đại trí độ Q.30; Vãng sinh luận chú Q.hạ]. (xt. Bất Khả Tư Nghị).

thiền định môn

(禪定門) Cũng gọi Thiền môn. I. Thiền Định Môn. Cửa củathiền định. II. Thiền Định Môn. Cũng gọi Thiền thất. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho người nhập Thiền định môn, nghĩa là chư tăng tu thiền định. Người nam cạo tóc, nhuộm áo xuất gia vào Phật môn, gọi là Thiền định môn, người nữ gọi là Thiền định ni. Về sau đượcchuyển dụng để gọi tên của tăng ni đã qua đời. Tại Nhật bản, các vị Thiên hoàng xuất gia vào cửa Phật, chuyên gọi là Thiền địnhPháp hoàng; còn các vị Nhiếp chính, Quan bạch cạo tóc xuất gia thì gọi là Thiền định điện hạ, hoặc gọi là Thiền các. (xt. Thiền Môn).

thiền định quật

(禪定窟) Chỉ cho hang động để tu thiền định của các tỉ khưu. Vì Phật và các đệ tử thường tọa thiền trong các hang động nơi núi rừng nên gọi là Thiền định quật. Chỗ ở của người tu thiền cũng được gọi là Thiền định quật. Kinh Niết bàn (bản Nam) quyển 28 (Đại 12, 792 thượng) nói: Nay đức Như lai ở thành Câu thi na này vào Đại tam muội thiền định quật sâu xa, vì chúng tăng không thấy nên gọi là Đại Niết bàn. Ngài Sư tử hống thưa: Vì sao Như lai nhập Thiền định quật? Nàythiện nam tử! Vì muốn độ thoát các chúng sinh (...) vì khiến cho chúng sinh tôn trọng pháp thiền định đã được nghe, do nhân duyên ấy nên nhập Thiền định quật.

thiền định thập chủng lợi ích

(禪定十種利益) Mười thứ lợi ích của việc tu thiền định. Người tu hạnh Bồ tát, nếu khéo tu tập thiền định thì muôn duyên đều dứt, định tính hiện tiền, được 10 thứ lợi ích sau đây: 1. An trụ nghi thức: Bồ tát tập các thiền định cần phải chỉnh túc uy nghi, tu hành đúng theo pháp thức, lâu rồi thì các căn tịnh lặng, chính định hiện tiền, tự nhiên an trụ mà không cần gắng sức. 2. Hành từ cảnh giới: Bồ tát tập các thiền định, thường giữ tâm từ ái, không khởi niệm tưởng sát hại, đối với các chúng sinh đều giúp cho được an ổn. 3. Vô phiền não: Bồ tát tập các thiền định, các căn tịch tĩnh, thì tất cả phiền não như tham, sân, si... tự nhiên không sinh. 4. Thủ hộ chư căn: Bồ tát tập các thiền định, thường nên giữ gìn các căn như mắt, tai... không để bị các trần như sắc, thanh... lay động. 5. Vô thực hỉ lạc: Bồ tát tập các thiền định, đã được vị thiền duyệt để nuôi đạo thể, cho nên tuy không có việc ăn uống cũng vẫn tự nhiên an vui. 6. Viễn li ái dục: Bồ tát tu tập thiền định, một lòng tịch lặng thì đối với tất cả cảnh ái dục đều không nhiễm trước. 7. Tu thiền bất không: Bồ tát tu tập thiền định, tuy được công đức của các thiền, chứng lí chân không, nhưng không rơi vào cáikhông đoạn diệt. 8. Giải thoát ma quyên: Bồ tát tập các thiền định thì xa lìa được sinh tử, tất cả lưới ma đều không thể trói buộc. 9. An trụ Phật cảnh: Bồ tát tập các thiền định, khai phát vô lượng trí tuệ thông suốt pháp nghĩa rất sâu, đối với tri kiến của Phật tự nhiên sáng tỏ, cho nên tâm vắng lặng, an trụ bất động. 10. Giải thoát thành thục: Bồ tát tập các thiền định, tất cả hoặc nghiệp đều không thể làm cho Bồ tát mê loạn, thực hành đã lâu thì giải thoát vô ngại tự nhiên viên mãn, thành thục. [X.kinh Nguyệt đăng tam muội Q.6].

thiền định tinh tấn

Dhyana and Virya (skt)—Meditation balance and diligence—Hai trong sáu Ba la mật—Two of the six paramitas.

Thiền định độ

xem bờ bên kia.

thiền đốn ngộ

Sudden-enlightened Zen. • Thiền phái được truyền từ Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Theo Thiền sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập I, sự phân hóa dưới thời Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn thành hai tông phái của Huệ Năng và Thần Tú giúp cơ duyên cho Thiền phát triển thuần túy hơn bằng cách tước bỏ những yếu tố không cần thiết, hoặc nói đúng hơn, những yếu tố không tiêu hóa được. Rốt cùng phái Thiền Đốn ngộ của Huệ Năng tồn tại vượt qua Thần Tú, chứng tỏ Thiền Đốn Ngộ ứng hợp một cách tuyệt hảo nhất với nếp tâm lý và cảm nghĩ của người Trung Hoa—Zen sect transmitted from Bodhidharma. According to Zen master D.T. Suzuki in the Essays in Zen Buddhism, Book I, the differentiation of two schools under the fifth patriarch, by Hui-Neng and Shen-Hsiu, helped the further progress of pure Zen by eliminating unessential or rather undigested elements. Eventually the school of Hui-Neng survived the other proves that his Zen was in perfect accord with Chinese psychology and modes of thinking. • Thiền đốn ngộ có bốn đặc tính đặc thù Sudden-enlightened Zen is distinguished by four characteristics: 1) Bất Lập Văn Tự: It is not established by words. 2) Giáo Ngoại Biệt Truyền: It is a special transmission outside the teachings. 3) Trực Chỉ Nhơn Tâm: It directly points to the human mind. 4) Kiến Tánh Thành Phật: Through it one sees one's own nature and becomes a Buddha.

Thiền độ

xem Thiền ba-la-mật.

thiền đới

(禪帶) Cũng gọi Thiện trợ. Sợi dây lưng dùng lúc tọa thiền, thắt ở ngangeo để đề phòng bụng bị lạnh. Cứ theo luật Tứ phần quyển 41 thì ngồi ở chỗ đất trống thường bị đau lưng cho nên may thiền đới phòng hộ. Pháp Xả đọa trong luật Ngũ phần quyển 41 (Đại 22, 29 thượng) nói: Bấy giờ, chúng tăng được nhiều vải bố thí, liền chia cho nhau; các tỉ khưu dùng may tăng già lê, ưu đa la tăng, an đà hội và các áo khác, cũng may thiền đới thắt lưng, cho đến tết các nút áo.Về cách may và sử dụng thiền đới, Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 297 trung) nói: Thiền đới là vật dùng trong lúc ngồi thiền. Kinh chép: Thiền đới nên làm bằng da thuộc, rộng 1 thước, dài 8 thước, đầu có móc, từ sau lưng quấn vòng về phía trước và móc vào 2 đầu gối, để nó không động đậy; vì người mới tập ngồi thiền dễ bị mỏi mệt, cần dùng thiền đới giúp sức để kiểm xét thân, cho nên gọi là Thiện trợ. Dùng xong, phải cất vào chỗ khuất. Thích thị yếu lãm cho rằng thiền đới là vật giúp sức để kiểm xét thân, nhưng thuyết này không thấy nói trong các luật, bởi vậy, Thiền lâm tượng khí tiên y cứ theo đó mà cho rằng vật nói trong luật Ngũ phần là 1 vật khác và đem xếp vào môn Phục chương, còn vật nói trong Thích thị yếu lãm thì được xếp vào môn Khí vật. [X. Đại tỉ khưu uy nghi Q.thượng; luật Ngũ phần Q.20; luật Tứ phần Q.9; luật Thập tụng Q.8; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 1].

Thiền-na ba-la-mật

xem Thiền ba-la-mật.

thiều quang

Beautiful light of spring time.

thiểm

1) Ánh sáng lấp lóe: Flash. 2) Tránh hay lách sang một bên: To get out of the way.

thiểm di

(睒彌) Phạm: Zamì. Cũng gọi Thiêm nhị, Thế di. Hán dịch: Cẩukỉ. Loại cây lá có vị đắng, dùng làm thuốc. Kinh Đà la ni tập quyển 10 (Đại 18, 876) nói: Cây Thế di, Hán dịch là Cẩu kỉ.

thiểm đa

Quỷ—A demon, one of Yama's names. ; (閃多) Cũng gọi Tất lợi đa, Bệ lệ đa, Di lệ đa. Là từ dịch âm lầm của chữ Phạm Preta, tức ngã quỉ. Nếu dịch âm đúng thì phải là Bế đa. Là một trong Bát bộ quỉ chúng.

thiểm điện quang

Ánh chớp lóe lên, dùng để ví với sự mau lẹ mãnh liệt của sự việc—Lightening-flashing, therefore awe-inspiring. ; (閃電光) Ánh chớp lóe sáng rồi tắt liền, ví dụ tình hình mau lẹ, mãnh liệt. Ngũ đăng hội nguyên quyển 7 (Vạn tục tập 138, 127 hạ) nói: Việc này như đập đá xẹt lửa, như tia chớp lóe sáng(thiểm điện quang), hiểu được hay không hiểu được đều không khỏi táng thân mất mạng.

thiển

1) Cạn—Shallow—Superficial. 2) Đơn giản: Simple—Easy. 3) Màu lợt: Light in color.

thiển cận

See Thiển.

thiển học

Cái học nông cạn—Shallow (slight) knowledge.

thiển kiến

Ý kiến nông cạn—Shallow opinion.

thiển lược

Những vấn đề thô thiển và giản lược (ý nói những vấn đề mà Mật giáo ám chỉ Hiển giáo)—Superficial—Simple—Not profound.

thiển lược thâm bí

(淺略深秘) Gọi đủ: Thiển lược thích thâm bí thích. Nhóm từ gọi chung cho Thiển lược(cạn cợt, sơ lược) và Thâm bí(sâu xa, kín đáo) 1 trong 16 huyền môn. Mật giáo giải thích nghĩa của văn kinh chia làm 2 môn: 1. Thiển lược thích: Giải thích một cách nông cạn, sơ lược. Đây là cách giải thích theo lối thông thường ở thế gian. 2. Thâm bí thích: Giải thích một cách sâu xa, kín nhiệm. Đây là cách giải thích nghĩa lí sâu xa, huyền diệu đặc biệt của Mật giáo. Đại nhật kinh sớ quyển 3 (Đại 39, 611) nói: Vì hiểu 2 thứ nghĩa nên được gọi là A xà lê, nghĩa là người phân biệt được 2 thứ thiển lược và thâm bí. Nếu xét thấy người đối thoại chưa đủ trình độ hiểu được cách giải thích thâm bí, thì thuận theo văn mà giải thích theo lối thiển lược thông thường. Còn nếu người đã thành tựu lợi căn trí tuệ thì nên diễn bày lí sâu xa, kín nhiệm để truyền dạy họ. Theo sách đã dẫn quyển 7 thì Thiển lược thích là lời theo ý người khác, còn Thâm bí thích là lời theo ýcủamình. Trong Thâm bí thích lại chia ra 3 lớp cạn sâu, tức Bí mật thích, Bí mật trung bí thích, Bí bí trung bí thích, thêm Thiển lược thích chung ở trên thành 4 lớp. (xt. Thập Lục Huyền Môn).

thiển lạp

Kém tuổi đạo, chỉ các vị Tỳ Kheo tuổi hạ còn ít—Of few years, i.e. youthful in monastic years.

thiển nghĩ

Theo ý kiến thô thiển của tôi—In my humble opinion.

thiển thâm

Cạn và sâu—Shallow and deep.

thiển thảo tự

(淺草寺) Chùa Thiển thảo, vốn thuộc tông Thiên thai Nhật bản, sau độc lập và trở thành tông Quán thế âm. Vị trí chùa ở công viên Thiển thảo, khu Đài đông, Đông kinh, Nhật bản, hiệu sơn môn là Kim long sơn, tên gọi khác là Truyền pháp viện, quen gọi là Thiển thảo Quán âm. Tương truyền, vào năm Thiền hoàng Suy cổ 36 (628), gia thần của Thổ sư thần trung tri là Cối hùng tân thành và Cối hùng vũ thành cùng thả lưới trên sông Cung hộ(vùng hạ du sông Ngung điền), vớt được tượng Quán âm, bèn sửa nhà thành Hương đường để thờ, đây là việc xây chùa đầu tiên ở Nhật bản. Niên hiệu Thiên trường năm đầu (824), trên đường du hóa đến Đông quốc, ngài Viên nhân đã nghỉ đêm ở chùa này, được sự linh ứng chỉ dạy của Tam xã quyền hiện, liền xây dựng điện đường để thờ tượng Quán âm cao 1 thước 8 tấc (Tàu). Trong chùa có cất giữ Đại tạng kinh bản đời Nguyên gồm 5428 quyển. Hiện nay, chùa này có các kiến trúc như: Bản đường (Quán âm đường), Sơn môn, tháp 5 tầng, Luân tạng, Nhị thiên môn, Dược sư đường, Diêm la điện, Đạm đảo Bản đường của chùa Thiển thảo thần minh, Đại bảo điện, Niệm Phật tam muội đường, Tiền bình biện thiên từ, Tiền trủng địa, Truyền pháp viện...

Thiển trí

淺智; C: qiăn zhì; J: senchi; S: alpa-buddhi.|Dạng trí thức nông cạn, để đối chiếu với trí huệ sâu mầu của Đức Phật.

thiển trí

Trí mọn—Shallow (superficial) mind.

thiển tài

Tài mọn—Slight (shallow) talent.

thiển văn

See Thiển học.

thiển ý

Shallow opinion—In my humble opinion.

thiểu

1) Một ít: Few. 2) Giảm thiểu: To decrease—To diminish—To lessen.

thiểu (thiếu) lâm tự

Ngôi tự viện tại Thiếu Thất, thuộc huyện Đăng Phong, tỉnh Hồ Nam, nơi Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã diện bích chín năm—The monastery at Shao-Shih in Têng-Fêng district, Hunan province, where Bodhidharma sat with his face to a wall for nine years.

thiểu (thiếu) thất lục môn tập

Six brief treatises attributed to Bodhidharma , but their authenticity is denied.

thiểu dục tri túc

Thiểu dục là có ít dục lạc; tri túc là biết đủ. Thiểu dục tri túc là ít ham muốn mà thường hay biết đủ. Tri túc là bằng lòng với những điều kiện sinh hoạt vật chất tạm đủ để sống mạnh khỏe tiến tu. Tri túc là một phương pháp hữu hiệu nhất để phá lưới tham dục, để đạt được sự thảnh thơi của thân tâm và hoàn thành mục tiêu tối hậu của sự nghiệp tu tập—Content with few desires. “Thiểu Dục” means having few desires; “tri túc” means being content. Knowing how to feel satisfied with few possessions means being content with material conditions that allow us to be healthy and strong enough to practice the Way. “Knowing how to feel satisfied and being content with material conditions” is an effective way to cut through the net of passions and desires, attain a peaceful state of body and mind and accomplish our supreme goal of cultivation. ; (少欲知足) Cũng gọi Hỉ túc thiểu dục, Vô dục tri túc.Ít muốn biết đủ. Chỉ cho sự tiết chế vật dục. Nghĩa là giảm thiểu dục vọng và biết thỏa mãn với những gì mình đã có. Nếu giải thích từng vế thì Thiểu dục (Phạm: Alpeccha) là đối với những vật chưa được không khởi tâm tham muốn quá phần; còn Tri túc (Phạm:Saôtuwỉa) là đối với những vật đã được thì không chê ít, không sinh tâm hối hận. Thiểu dục tri túc là điều kiện cốt yếu của việc tu đạo, luận Câu xá coi đó là 1 trong 3 cái nhân làm cho thân thanh tịnh(Tam tịnh nhân); kinh Bát nhã niệm trong Trung a hàm quyển 18 và kinh Bát đại nhân giác thì lấy đó làm 2 pháp đầu tiên trong 8 điều giác ngộ của bậc đại nhân. [X. Đại bát niết bàn Q.27 (bảnBắc); luận Đại tì bà sa Q.41].

thiểu khang

Một nhà sư nổi tiếng đời Đường, là đệ tử của Ngài Thiện Đạo—Shao-K'ang, a famous monk of the T'ang dynasty, known as Shan-Tao's disciple—See Thiếu Khang Đại Sư.

thiểu não

Sorrowful—Sad.

thiểu quang

Minor light.

thiểu quang thiên

Parittabhas (skt)—Trời Tứ Phạm hay đệ nhứt thiên trong nhị thiền thiên—The fourth Brahmaloka or the first region of the second dhyana heavens. ; (少光天) Thiểu quang, Phạm: Parìttàbha. Hán âm: Ba lật a bà, Ba lợi đáp, Ba lê đà. Cũng gọi Thiểu diệu thiên, Thiểu phạm thiên, Thủy hành thiên. Một trong 18 tầng trời thuộc cõi Sắc, tức chỉ cho tầng trời thứ nhất trong Nhị thiền thiên của cõi Sắc. Tầng trời này có ít ánh sáng nhất trong Nhị thiền thiên, cho nên gọi là Thiểu quang thiên. Trong Thất thức trụ (7 chỗ an trụ của tâm thức) thì Thiểu quang thiên thuộc về Đệ tam thân nhất tưởng dị thức trụ. Thiên chúng ở tầng trời này là do nghiệp tương ứng vớihạ phẩm của Nhị thiền mà sinh về đây, thân cao 2 do tuần, tuổi thọ 2 đại kiếp. [X. kinh Trường a hàm Q.20; luận Thuận chính lí Q.21, 22; Tứ a hàm mộ sao giải Q.hạ].

thiểu số

Minority.

thiểu thiện căn

(少善根) Phạm: Avaramàtraka-kuzalamùla. Cũng gọi Thiểu thiện. Nghĩa là căn lành ít ỏi, mỏnh manh. Tức chỉ cho các điều thiện khác ngoài việc niệm Phật. Theo kinh A di đà thì từ 1 ngày cho đến 7 ngày niệm danh hiệu của đức Phật A di đà, một lòng không tán loạn, gọi là Đa thiện căn, còn các điều thiện khác thì gọi Thiểu thiện căn, không thể nhờ vào chút ít thiện căn phúc đức nhân duyên mà được sinh về cõi nước Cực lạc của Phật A di đà. Nhưng theo A di đà kinh sớ của ngài Nguyên hiểu thì tâm bồ đề là chính nhân đa thiện căn, còn niệm danh hiệu chỉ là trợ nhân giúp thêm mà thôi. [X. Pháp sự tán Q.hạ; A di đà kinh nghĩa sớ Q.hạ].

thiểu thất

Trên núi Tung Sơn, nơi Tổ Bồ Đề Đạt Ma xây dựng ngôi Thiếu Lâm Tự—Shao-Shih, a hill on the Sung-Shan where Bodhidharma set up his monastery.

thiểu thủy ngư

(少水魚) Cũng gọi Tiểu thủy ngư. Cá ít nước. Nghĩa là con cá sống ở nơi chỉ còn chút ít nước, chưa biết chết lúc nào. Nhóm từ này được dùng để ví dụ sự vô thường nhanh chóng của kiếp người. Phẩm Vô thường trong kinh Pháp cú quyển thượng (Đại 4, 559 thượng) nói: Hôm nay qua rồi, mệnh sống giảm theo; như cá ít nước, làm sao vui được? [X.kinh Xuất diệu Q.3; chương Trụ trì trong Sắc tu bách trượng thanh qui Q.2].

thiểu tài quỷ

Quỷ đói thường ăn cắp vì thiếu thức ăn—Hungry ghosts who pilfer (ăn cắp vặt) because they are poor and get but little food. ; (少財鬼) Quỉ ít của. Tên của 1 trong 3 loại quỉ đói nói trong luận A tì đạt ma thuận chính lí. Vì loại quỉ này chỉ có được chút ít thức ăn, cho nên gọi là Thiểu tài quỉ; lại được chia làm 3 loại là Châm mao, Xú mao và Anh.1. Châm mao quỉ: Quỉ lông kim. Nghĩa là loải quỉ này trên thân có lông cứng nhọn như kim, bên trong thì đâm vào mình, bên ngoài bắn vào người khác, chỉ kiếm được chút ít thức ăn dơ bẩn. 2. Xú mao quỉ: Quỉ lông hôi. Nghĩa là loài quỉ trên thân có mùi hôi thối, da xương, ruột già, dạ dày...như nung nấu, mùi hôi hám xông ra khắp mình. 3. Anh quỉ: Quỉ bướu cổ. Nghĩa là loài quỉ này ở cổ mọc cái bướurất lớn, đau đớn khó chịu nổi, chỉ ăn máu mủ từ cái bứu ấy chảy ra. [X.luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.31]. (xt. Ngã Quỉ).

thiểu tại thuộc vô

(少在屬無) Cũng gọi Thiểu thị thuộc vô. Ít thuộc về không. Nghĩa là vì số lượng quá ít nên xem như không có. Tức đứng về phương diện phần nhiều mà bàn về đại thể. Như luận Câu xá quyển 22 nói: Đem một ít đậu xanh đổ vào trong đống đậu đen, vì íttùythuộc vào nhiều nên gọi là đống đậu đen.

thiểu tịnh thiên

Parttasubhas—Đệ nhất thiên thuộc đệ tam thiền ở cõi sắc giới—The first and smallest heaven (brahmaloka) in the third dhyana region of form. ; (少淨天) Thiểu tịnh, Phạm:Parìttazubhadeva. Hán âm: Ba lật đa thủ bà, Ba lợi đa thủ, Ba lật tu ha. Cũng gọi Ước tịnh thiên. Một trong 18 tầng trời thuộccõi Sắc, chỉ cho tầng trời thứ nhất của Đệ tam thiền thiên. Trong tầng trời này, ý thức cảm nhận niềm vui vi diệu thanh tịnh, vì thế gọi là Tịnh; còn trong Đệ tam thiền thiên thì tầng trời này cảm nhận niềm vui thanh tịnh ít nhất, cho nên gọi là Thiểu tịnh. Trong thất thức trụ thì Thiểu tịnh thiên thuộc về Đệ tứ thân nhất tưởng nhất thức trụ. Thiên chúng ở tầng trời này là do nghiệp tương ứng vớihạ phẩm của Đệ tam thiền mà được sinh về đây, thân cao 16 do tuần, tuổi thọ 16 đại kiếp. [X.phẩm Đao lợi thiên trong Trường a hàm Q.20; luận Câu xá Q.8; luận Lập thế a tì đàm Q.6, 7; luận Thuận chính lí Q.21]. (xt. Thập Bát Sinh Xứ).

thiệm

Trợ cấp—To supply—Supplied.

thiệm bộ

Jambu (skt)—Một loại cây ăn trái ở Ấn Độ (hồng táo)—A fruit tree in India (a rose apple).

thiệm bộ châu

See Thiệm Bộ Đề.

thiệm bộ kim

Jambunada (skt)—Dòng sông Jambunadi sản sanh ra vàng—The produce of gold from the River Jambunadi.

thiệm bộ nại đà kim

Jambunada-suvarna (skt)—Diêm Phù Na Tha—Diêm Phù Tàn Kim—Vàng nơi sông Thiệm Bộ Nại Đà—The gold from the Jambunadi river. ; (贍部捺陀金) Phạm: Jambùnadasuvarịa. Cũng gọi Diêm phù đàn kim. Thiệm bộ là tên cây; Nại đà nghĩa là sông. Tức vàng được sản xuất từ con sông chảy ngang qua khu rừng cây Thiệm bộ.

thiệm bộ quang tượng

Tôn tượng rực rỡ, đặc biệt là tôn tượng của Phật Thích Ca được Ngài Cấp Cô Độc cho đúc—An image of gold glory, especially the image of Sakyamuni attributed to Anathapindaka.

thiệm bộ đề

See Nam Thiệm Bộ Châu in Vietnamese-English Section, and Jambudvipa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

thiệm bộ ảnh tượng

(贍部影像) Cũng gọi Thiệm bộ quang tượng. Chỉ cho tượng Phật đúc bằng vàng Thiệm bộ nại đà. Cứ theo Hữu bộ ni đà na quyển 5, khi đức Thích tôn chưa ở cùng đại chúng thì đại chúng không có uy đức trang nghiêm, cho nên Trưởng giả Cấp cô độc xin được đúc tượng đức Thích tôn, Ngài cho phép. Trưởng giả bèn dùng vàng Thiệm bộ đúc tượng Như lai.

Thiện

善; C: shàn; J: zen; S: kuśala; P: kusala; |Có các nghĩa sau: 1. Đức hạnh, đạo đức tốt, tính tốt, điều thiện, đức tính tốt (s: kusala, kuśala, kalyāna; t: dge ba); 2. Tài giỏi, thông thạo, từng trải, khéo léo; 3. Làm cho hoàn thiện.|[Phật học] 1. Có thể chấp nhận, chính đáng, đúng, chính xác, hài lòng; 2. Việc lành, việc làm tốt lành và quả báo của nó (thiện nghiệp 善業; s: śubham karma, śubha); 3. Như một trạng từ, có nghĩa là hay, giỏi, khéo léo, hoàn thiện; 4. Theo giáo lí của tông Duy thức, »thiện« lập thành 1 trong 5 nhóm thuộc phạm trù »Tâm sở pháp«, gồm 11 »thiện« pháp trong nhóm ấy. Đó là: 1. Tín (信; śraddhā), lòng tin tưởng chắc chắn; 2. Cần (勤) hoặc Tinh tiến (精進; vīrya), siêng năng tu tập; 3. Xả (捨; upekṣā); 4. Tàm (慚; hrī), cung kính tuỳ thuận người có đức hạnh; 5. Quý (愧; apatrāpya, apatrapā), biết sợ quả báo của tội lỗi, biết xấu hổ; 6. Vô tham (無貪; alobha); 7. Vô sân (無瞋; adveśa); 8. Bất hại (不害; ahiṃsā); 9. Khinh an (輕安; praśrabdhi); 10. Bất phóng dật (不放逸; a-pramāda).

thiện

Kusala, Su, Sadhu, or Bhadra (skt). (I) Nghĩa của “Thiện”—The meanings of “Kusala” 1) Thiện là trái với ác: Những hành pháp hữu lậu và vô lậu thuận ích cho đời nầy và đời khác (trên thông với Bồ Tát và Phật, dưới thấu trời và người)—Kusala (skt)—Good—Proper—Right—Wholesome. 2) Đức Hạnh: Virtuous. 3) Giỏi về cái gì: Well—Good at. 4) Sắp lại cho có thứ tự: To put in order. 5) Sửa chữa: To repair. 6) Thiện xảo: Skillful. (II) Những lời Phật dạy về “Thiện” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Kusala” in the Dharmapada Sutra: 1) Như thứ hoa tươi đẹp chỉ phô trương màu sắc mà chẳng có hương thơm, những người chỉ biết nói điều lành mà không làm điều lành chẳng đem lại ích lợi—As a flower that is colorful and beautiful, but without scent, even so fruitless is the well-spoken words of one who does not practice it (Dharmapada 51). 2) Như thứ hoa tươi đẹp, vừa có màu sắc, lại có hương thơm, những người nói điều lành và làm được điều lành sẽ đưa lại kết quả tốt—As the flower that is colorful, beautiful, and full of scent, even so fruitful is the well-spoken words of one who practices it (Dharmapada 52). 3) Như từ đống hoa có thể làm nên nhiều tràng hoa, từ nơi thân người có thể tạo nên nhiều việc thiện—As from a heap of flowers many a garland is made, even so many good deeds should be done by one born to the mortal lot (Dharmapada 53). ; (善) Phạm: Kuzala. Pàli:Kusala. Chỉ cho pháp bạch tịnh(thanh tịnh), có tính an ổn, có năng lực mang lại lợi ích cho mình và người trong đời hiện tại và đời vị lai. Thiện, bất thiện và vô kí(chẳng phải thiện cũng chẳng phải bất thiện)gọi chung là Tam tính. Trong đó, Thiện là bạch pháp (nghĩa là pháp thanh tịnh), Bất thiện là hắc pháp(nghĩa là pháp nhơ nhớp). Nói theo nghĩa rộng thì Thiện chỉ cho tất cả tư tưởng hành vi tương ứng với tâm thiện, hễ hợp với giáo lí Phật giáo thì đều được gọi là Thiện; còn nói theo nghĩa hẹp thì Thiện chỉ cho 1 trong các pháp Tâm sở của tông Pháp tướng, bao gồm: Tín (tin), tàm(thẹn), quí(hổ), vô tham, vô sân, vô si, tinh tiến(gắng sức tiến lên), khinh an(nhẹ nhàng an ổn), bất phóng dật(không buông thả, lêu lổng), hành xả(xả bỏ tiền của giúp đỡ người khác) và bất hại(không làm hại người và sinh vật). Cứ theo các kinh luận thì Thiện có nhiều loại, sau đây sẽ nêu mấy thuyết: I. Nhị Thiện. 1.Chỉ cho hữu lậu thiện và vô lậu thiện. Hữu lậu thiện là bạch pháp, vô lậu thiện là tịnh pháp. Theo luận Câu xá quyển 4, Thành duy thức luận thuật kí quyển 10 và Đại thừa huyền luận quyển 2 thì hữu lậu thiện là thiện thế gian chưa đoạn trừ phiền não, bao gồm 5 giới cấm, 10 điều thiện... y theo các pháp thiện này mà tu thì có thể được quả báo vui ở vị lai. Hữu lậu thiện khác với lí pháp tính vô tướng. Hữu lậu thiện là Thiện tu theo tâm chấp tướng sai biệt giữa mình và người, cho nên cũng gọi là Tướng thiện. Vô lậu thiện thì là thiện xuất thế gian đoạn trừ phiền não, tu theo pháp thiện này thì không mang lại quả báo ở vị lai. Vô lậu thiện nàycũng làthiện đạt được Bồ đềniết bàn. 2. Chỉ cho Chỉ thiện và Hành thiện: Theo pháp giới thứ đệ sơ môn của ngài Trí khải thì chấm dứt hành vi xấu xa, tội ác gọi là Chỉ thiện, thuộc về thiện tiêu cực; trái lại, tích cực tu hành các thắng đức gọi là Hành thiện. Chỉ thiện như không giết hại, không trộm cướp, còn Hành thiện thìnhư phóng sinh, bố thí... 3. Chỉ cho Định thiện và Tán thiện: Theo Quán vô lượng thọ kinh sớ quyển đầu và Quán kinh sớ Huyền nghĩa phần của ngài Thiện đạo...thì tập trung tâmchí để ngăn dứt vọng niệm, thiện căn nhờ tâm định này mà tu được gọi là Định thiện; trái lại, thiện căn do tâm bình thường tán loạn bỏ ác mà tu được thì gọi là Tán thiện. Ngài Thiện đạo cho 13 pháp quán là Định thiện, cho 3 phúc, 9 phẩm là Tán thiện. II. Tam Thiện. 1. Chỉ cho tam phúc: Thế phúc, Giới phúc và Hành phúc. Cũng gọi Thế thiện (Thế tục thiện), Giới thiện và Hành thiện. Theo Quán kinh sớ tự phần nghĩa của ngài Thiện đạo thì Thế phúc là chỉ cho đạo trung tín hiếu đễ, Giới phúc là chỉ cho giới pháp, còn Hành phúc là chỉ cho hạnh tự hành hóa tha của Đại thừa. 2. Chỉ cho Sơ thiện, Trung thiện và Hậu thiện. Có nhiều cách giải thích. Kinh Đại phương quảng bảo khiếp quyển trung nêu 3 loại thiện của Thanh văn, cho rằng Tam thiện hạnh thuộc thân, khẩu, ý là Sơ thiện, Tam học hạnh giới, định, tuệ là Trung thiện và Tam tam muội giải thoát pháp môn Không,Vô tướng,Vô nguyện là Hậu thiện. Lại như 3 phần(3 đoạn) là phần Tựa, phần Chính tông và phần Lưu thông của kinh Pháp hoa cũng là Tam thiện. III. Tứ Chủng Thiện. Theo luận Câu xá quyển 13 thì Tứ chủng thiện là: 1. Thắng nghĩa thiện: Chỉ cho Niết bàn. 2. Tự tính thiện: Tự thể của bản chất thiện, tức chỉ cho Tam thiện căn vô tham, vô sân, vô si và tàm quí. 3. Tương ứng thiện: Chỉ tâm, tâm sở thiện tương ứng với tự tính thiện. 4. Đẳng khởi thiện: Chỉ cho thiện tương ứng với tự tính thiện mà dẫn khởi thiện của thân nghiệp, ngữ nghiệp và 4 tướng, đắc và 2 định vô tâm. Trái với Tứ chủng thiện là Tứ chủng bất thiện, tức Thắng nghĩa bất thiện, Tự tính bất thiện, Tương ứng bất thiện và Đẳng khởi bất thiện. IV. Thất Chủng Thiện. A. Cứ theo Câu xá luận quang kí quyển 2 thì Thất chủng thiện là: 1. Sinh đắc thiện: Chỉ cho cái thiện tiên thiên. 2. Văn thiện: Chỉ cho thiện do nghe pháp mà được. 3. Tư thiện: Chỉ cho thiện do suy tư mà được. 4. Tu thiện: Chỉ cho thiện nhờ tu hành mà được. 5. Học thiện: Chỉ cho thiện sinh khởi ở bậc Hữu học. 6. Vô học thiện: Chỉ cho thiện khởilên ở bậc Vô học. 7. Thắng nghĩa thiện: Chỉ cho Niết bàn. Trong 7 loại thiện trên đây, 4 loại đầu là các loại thiện sinh khởi ở địa vị phàm phu trước Kiến đạo(địa vị mới sinh trí vô lậu), tức Hữu lậu thiện; 3 loại sau cùng là các loại thiện sinh khởi ở địa vị Thánh nhân từ Kiến đạo trở lên, tức Vô lậu thiện. B. Pháp hoa văn cú quyển 7 (hội bản) nêu 7 thứ thiện của Đốn giáo: 1. Thời thiện(cũng gọi Thời tiết thiện): Chỉ cho thiện của Tự phần, Chính tông phần và Lưu thông phần thuộc Đốn giáo. 2. Nghĩa thiện: Chỉ cho lí liễu nghĩa của Đốn giáo, là cái thiện có đầy đủ ý nghĩa sâu xa. 3. Ngữ thiện: Chỉ cho sự thuyết pháp thuộc Đốn giáo, là cái thiện có đủ ngôn ngữ xảo diệu. 4. Độc nhất thiện: Chỉ cho Đốn giáo là giáo thuần nhất không pha trộn, là không chung cho Nhị thừa. 5. Viên mãn thiện: Chỉ cho Đốn giáo là pháp bao hàm cả giới nội, giới ngoại, là giáo viên mãn hoàn toàn. 6. Điều nhu thiện: Chỉ cho Đốn giáo không cực đoan, là cái thiện không thiên lệch về một phía. 7. Vô duyêntừthiện: Chỉ cho Đốn giáo có đầy đủ tướng từ bi, thanh tịnh, vô duyên. V. Thập Nhất Thiện. Tông Duy thức Đại thừa lập ra 11 thứ tâm sở thiện, đó là: Tín, tàm, quí, vô tham, vô sân, vô si, cần, khinh an, bất phóng dật, hành xả và bất hại. VII. Thập Tam Thiện. Cứ theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 3 thì Thập tam thiện là: 1. Tự tính thiện: Chỉ cho 11 thứ thiện như: Tín, tàm, quí...nói trên. 2. Tương thuộc thiện: Chỉ cho các pháp tâm sở khác tương ứng với tự tính thiện. 3. Tùy trục thiện: Chỉ cho tập khí của thiện pháp. 4. Phát khởi thiện: Chỉ cho cái thiện của thân nghiệp và ngữ nghiệp. 5. Đệ nhất nghĩa thiện: Chỉ cho chân như. 6. Sinh đắc thiện: Chỉ cho thứ thiện do tư duy gia hành mà sinh khởi. 7. Phương tiện thiện: Chỉ cho thứ thiện do nghe pháp mà sinh ra tác ý như lí. 8. Hiện tiền cúng dường thiện: Chỉ cho thứ thiện cúng dường Như lai. 9. Nhiêu ích thiện: Chỉ cho loại thiện dùng pháp Tứ nhiếp làm lợi ích cho hữu tình.10. Dẫn nhiếp thiện: Chỉ cho loại thiện dị thục dùng phúc nghiệp bố thí, trì giới... để nhiếp dẫn chúng sinh sinh lên cõi trời, hoặc dùng làm nhân để được Niết bàn. 11. Đối trị thiện: Chỉ cho các loại đối trị như yếm hoại đối trị, Đoạn đối trị, trì đối trị, viễn phần đối trị... 12. Tịnh tĩnh thiện: Chỉ cho vô lậu thiện đoạn hết tất cả phiền não, được Niết bàn vắng lặng. 13. Đẳng lưu thiện: Nhờ năng lực tăng thượng tịch tĩnh mà phát khởi các pháp công đức như thần thông... Ngoài ra, thiện căn mà hàng phàm phu tu được có lẫn lộn cái độc chất của phiền não tham, sân, si... cho nên gọi là Tạp độc thiện. Còn tông Tịnh độ thì ngoài loại thiện niệm Phật tha lực ra, tất cả thiện căn tự lực khác đều gọi là Tạp độc thiện. [X. kinh Tạp a hàm Q.29; phẩm Tựa kinh Pháp hoa Q.1; luận Đại tì bà sa Q.51, 44; luận Thành duy thức Q.5, 10; luận Phẩm loại túc Q.6; luận Đại trí độ Q.37; luận A tì đàm cam lộ vị Q.thượng; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Câu xá Q.15; luận Thuận chính lí Q.36; luận Nhiếp đại thừa Q.13 (bản dịch đời Lương); Bồ tát giới nghĩa sớ Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.7].

thiện bình

Bhadra-kumbha (skt)—See Hiền Bình.

thiện bản đức bản

(善本德本) Từ ngữ gọi chung thiện bản và đức bản, Thông thường chỉ cho cái gốc của thiện căn,công đức. Ý nghĩa của 2 từ này có 2 thuyết đồng và bất đồng. Khi chữ Bản được hiểu là nghĩa, nguyên nhân, nhờ đó màcó đượccác thiện căn, công đức của thắng quả, nêngọi là Thiện bản, Đức bản; còn khi chữ Bảnđược hiểu là nghĩa căn bản thì vì nó là cộirễ của tất cả thiện pháp, công đức nên gọi làThiện bản, Đức bản. Kinh Trường a hàm quyển 9 và kinh Pháp hoa quyển 8 đều cho rằng sự chứa góp các công đức, thiện căn là thiện bản, đức bản, ý nói là căn bản của các điều thiện và muôn đức, tức chỉ rõ sự phân biệt 2 nghĩa thiện bản, đức bản. Tông Thiên thai thì lấy Bát nhã(trí năng chứng) chiếu sáng và Chân như thực tướng (lí sở chứng) làm thiện bản, đức bản. Còn Tịnh độchân tông ở Nhật bản thì cho rằng danh hiệu của Phật A di đà là gốc của tất cả thiện pháp, cho nên gọi là Thiện bản; lại vì đức tột bực được thành tựu viên mãn, mọi tai họa đều được chuyển hóa, cho nên cũng gọi là Đức bản. Tức về danh hiệu của Phật A di đà thì tuy có Tự lực Thánh đạo môn và Tha lực Tịnh độ môn khác nhau, nhưng về cội rễ của các thiện muôn đức thì hoàn toàn giống nhau. Tịnh độ chân tôngcủa Nhật bảncăn cứ vào Thiện bản đức bản nói trong kinh Vô lượng thọ, cho rằng đó là tên của điều nguyện Hệ niệm định sinh(nguyện thứ 20 trong 48 điều nguyện của đức Phật A di đà), mà hành giả Chân môn tu theo, chỉ nhờ vào năng lực của Thiện bản đức này để đạt được nguyện vãng sinh.[X. Pháp hoa văn cú (hội bản) Q.12, 30; Hiển tịnh độ phương tiện hóa thân độ văn loại].

thiện bẩm

Thiện tánh bẩm sinh—Endowment—Innate prospensity.

thiện bổn

1) Thiện căn: Good stock, or roots. 2) Gieo trồng thiện căn: Planting good seed or roots. 3) Thiện căn giác ngộ: Good in the root of enlightenment.

thiện chiêu

(善昭) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Tống, người huyện Thái nguyên, tỉnh Sơn tây, họ Du. Sư thông minh từ thuở nhỏ, đối với tất cả văn tự thường thông hiểu một cách tự nhiên. Lúc sư 14 tuổi, cha mẹ kế tiếp nhau qua đời, sư liền phát tâm xuất gia, thụ giới Cụ túc, tham học 71 vị thạc đức tôn túc ở khắp các nơi. Khi sư đến tham kiến Thiền sư Tỉnh niệm ở núi Thủ sơn tại Nhữ châu thì đại ngộ và được nối pháp của ngài. Sau đó, sư tiếp tục du phương đến Hành tương, Tương miện, quan Quận thú hết sức thỉnh sư về trụ các chùa danh tiếng nhưng sư đều từ chối. Đến khi ngài Thủ sơn Tỉnh niệm thị tịch, sư mới thể theo lời thỉnh của tăng tục Tây hà về trụ ở viện Thái tử tại Phần dương, giảng rộng tông yếu, sử dụng các cơ pháp như Tam cú, tứ cú, Tam quyết, Thập bát xướng... để tiếp dẫn người học, nổi danh một thời. Suốt 30 năm sư không ra khỏi cửa, tăng tục rất tôn kính sư, không dám gọi thẳng tên mà dùng từ Phần dương để gọi thay.Năm Thiên thánh thứ 2 (1024) đời vua Nhân tông nhà Tống, sư thị tịch, thọ 78 tuổi, thụy hiệu Vô Đức Thiền Sư. Sư có các tác phẩm: Phần dương Vô đức thiền sư ngữ lục, Phần dương Chiêu thiền sư ngữ lục, Phần dương Chiêu thiền sư ngữ yếu.[X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.13; Thiên thánh quảng đăng lục Q.16; Kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục Q.1; Thiền lâm tăng bảo truyện Q.3; Liên đăng hội yếu Q.11; Ngũ đăng hội nguyên Q.11; Phật tổ lịch đại thông tải Q.18].

thiện chung

Natural death—Death of old age.

Thiện Châu

善珠; C: shànzhū; J: zenjū, 727-797. |Tăng sĩ tông Pháp tướng Nhật bản, đệ tử của Huyền Phảng (玄昉; j: genbō), là học giả Du-già hành tông cũng như Nhân minh học (因明). Sau khi sư sáng lập chùa Akishino, sư trứ tác nhiều tác phẩm về cả Pháp tướng lẫn Nhân minh. Sư phần nào tin rằng mình là tái sinh của Khuy Cơ.

thiện châu phần dương thiền sư

Shan-Chou-Fen-Yang—See Phần Dương Thiện Châu.

thiện chí

Avyapada-samkappa (p)—Good will.

thiện chính

Good policy.

Thiện căn

善根; C: shàngēn; J: zengon; |Căn lành, đức hạnh lành. Nghiệp nhân lành mang đến kết quả lành. Căn lành, như rễ cây được dùng làm ví dụ cho thiện nghiệp. Theo giáo lí của A-tì-đạt-ma Câu-xá, nền tảng cho người tu thể nhập địa vị Kiến đạo là phát khởi trí tuệ vô lậu (s: kuśala-mūla; p: kusala-mūla). Thông thường được xem là phát khởi ba món: vô tham, vô sân và vô si. Tam thiện căn (三善根).

thiện căn

Là chủng tử Phật tánh. ; Kusala-mula (skt)—Cái thiện của ba nghiệp thân, khẩu, ý có thể sinh ra diệu quả về sau nầy—Good roots—Good qualities (of body, speech and mind), good seed sown by a good life to be reaped later. ; (善根) Phạm: Kuzala-mùla. Pàli:Kusala-mùla. Cũng gọi Thiện bản, Đức bản. Tức là cội rễ sinh ra các pháp lành. Cứ theo kinh Đại câu hi la trong Trung a hàm quyển 7 thì tỉ khưu biết thiện, biết thiện căn, đó gọi là thành tựu kiến, đối với phápđược bất hoại tịnh, được chính kiến, vào trong chính pháp. Ba tính vô tham, vô sân, vô si là thể của thiện căn, gọi chung là Tam thiện căn. Còn Bất thiện căn (Phạm: Akuzala-mùla) thì là tương phản với Thiện căn;tham, sân, si gọi là Tam bất thiện căn, hoặc gọi là Tam độc. Lại vì pháp lành là cội gốc để được quả lành, cho nên cũng có thể được gọi là Thiện căn. [X. phẩm Tựa trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.1; kinh Vô lượng thọ Q.thượng; phẩm Hàng tượng trong kinh Phật bản hạnh tập Q.5; kinh Bi hoa Q.8; phẩm Lô xá na Phật trong kinh Hoa nghiêm Q.4 (bản dịch cũ); phẩm Cụ thiện căn trong kinh Đại bảo tích Q.78; luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; Nhiếp đại thừa luận thích Q.7]. (xt. Tam Thiện Căn).

thiện căn ma

(善根魔) Tham đắm pháp lành mà mình đang tu hành, cứ muốn ở lại đó chứ không chịu tiến lên nữa, là 1 tong 10 loại ma. Loại ma này có năng lực làmchướng ngại chính đạo, làm cho người tu hành không còn conmắt trí tuệ, cho nên phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 42 (Đại 9, 663 thượng) nói: Mất ma thiện căn, tâm không hối tiếc. (xt. Thập Ma).

thiện cảm

Sympathy.

thiện cảm sâu xa

Profound sympathy.

thiện cử

Charitable work.

Thiện duyên

(善緣): duyên lành, duyên tốt. (1) Có duyên với Phật pháp. Như trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 35 có câu: “Túc tạo chư thiện duyên, bách kiếp nhi bất hủ (宿造諸善緣、百劫而不朽, xưa tạo các duyên lành, trăm kiếp vẫn bất hủ).” Hay trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 1, phần Kết Chế (結制), lại có câu: “Nghiệp sơn phiên vi phước hải, ma chướng chuyển tác thiện duyên (業山翻爲福海、魔障轉作善緣, núi nghiệp biến thành biển phước, ma chướng chuyển làm duyên lành).” (2) Chỉ chung cho những nhân duyên tốt. Như trong tác phẩm Âu Bắc Thi Thoại (甌北詩話), phần Tra Sơ Bạch Thi (查初白詩), của Triệu Dực (趙翼, 1727-1814) nhà Thanh, có câu: “Yếm phùng tục khách đàm thi sự, nhàn dữ hương nhân kết thiện duyên (厭逢俗客談時事、閒與鄉人結善緣, chán gặp khách tục bàn thơ chuyện, nhàn với dân làng kết duyên lành).”

Thiện dạ kinh

善夜經; C: shànyè jīng; J: zenya kyō; S: bhadrakalātrī; T: mtshan mo bzang po.|Nghĩa Tịnh dịch, 1 quyển.

thiện dạ kinh

(善夜經) Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung kinh này thuật lại việc Thiên tửChiên đàn ở cõi trời Tam thập tam, vì muốn làm lợi ích chúng sinh nên phái tỉ khưu đến chỗ Phật xin Ngài nói pháp, khiến người nghe đều đoạn trừ phiền não, mau chứngbồ đề. Do đó, đức Phật mới nói kinh này. Danh từ Thiện dạ(đêm tốt lành) nghĩa là công đứccủakinh này có năng lực làm cho những điều bất tường như ác mộng, hiểm nạn đều xa lìa.

thiện giác

See Suprabuddha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

thiện hiện

Sudrsa (skt). 1) Vẻ đẹp đẽ mạnh khỏe hiện ra bên ngoài: Beautiful appearing—Well being—Welfare—Well Manifest—Good manifestation—Healthy in appearance. 2) Tên của Ngài Tu Bồ Đề: Name of Subhuti (Tu Bồ Đề). 3) Ái Thân Thiên: Vị Trời ở cõi dục giới có thân hình tuyệt diệu—The heaven of lovely form in the desire-realm, but said to be above the devalokas. 4) Sudrsa (skt)—Cõi trời thứ bảy trong Phạm giới Thiên—The seventh Brahmaloka, eighth of the Dhyana heavens.

thiện hiện dược vương

(善現藥王) Tên loại cây thuốc mọc ở Hi mã lạp sơn (núi Tuyết) có khả năng chữa trị tất cả các bệnh. Theo phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm quyển 37 (bản dịch cũ) thì cây thuốc Thiện hiện dược vương trên núi Tuyết, hễ người nào mắt trông thấy cây thuốc này thì mắt được thanh tịnh; tai nghe tên cây thuốc này thì tai được thanh tịnh; mũi ngửi mùi thơm cây thuốc này thì mũi được thanh tịnh; lưỡi nếm vị thuốc này thì lưỡi được thanh tịnh; thân chạm vào cây thuốc này thì thân được thanh tịnh; nếu lấy đất ở chỗ cây thuốc này mọc về chữa bệnh, thì bệnh gì cũng khỏi, được khỏe khoắn, khoái lạc.[X. Vãng sinh yếu tập Q.thượng, phần cuối].

Thiện hiện hạnh

善現行; C: shànxiàn xíng; J: zengen gyō; |Theo kinh Hoa Nghiêm, là giai vị thứ 6 trong Thập hạnh của hàng Bồ Tát.

thiện hiện sắc

Sudrsa (skt)—See Thiện Hiện Thiên.

Thiện hiện thiên

xem Năm cõi tịnh cư. ; 善現天; C: shànxiàn tiān; J: zengen ten; |Cõi trời Thiện hiện (s: sudṛśāḥ), cõi trời thứ 6 trong 8 cõi trời trong Tứ thiền thiên (四禪天) của Sắc giới. Cũng được xếp vào 1 trong 17 cõi trời thiền ở Sắc giới.

thiện hiện thiên

Sudrsa (skt)—Cõi Trời thứ ba trong Ngũ Tịnh Cư Thiên—Heaven of Beautiful Presentation, the third heaven in the five pure-dwelling heavens. ** For more information, please see Ngũ Tịnh Cư Thiên. ; (善現天) Thiện hiện, Phạm:Sudfza. Pàli:Sudassa. Hán âm: Tu đề xá, Tu vũ. Cũng gọi Thiện quan thiên, Thiện hảo kiến thiên, Diệu kiến thiên, Khoái kiến thiên, Vô tỉ thiên, Giả sử thiên. Một trong 18 tầng trời cõi Sắc, tầng trời thứ 3 trong 5 tầng trời Tịnh cư, tức là tầng trời thứ 3 trong Đệ tứ thiền cõi Sắc. Thiên chúngở cõi trời này đã được Tạp tu tĩnh lự thượng phẩm, quả đức dễ hiện bày, cho nên gọi là Thiện hiện. Luận Lập thế a tì đàm quyển 7 (Đại 32, 204 trung)nói: Do nghiệp tương ứng với Tứ thiền thượng phẩm, cung kính siêng tu, không trái với hạnh thường tu, huân tu bởi tạp giác phần, nhờ nghiệp này mà được sinh về Thiện hiện thiên. Cứ theo luận Tạp a tì đàm tâm quyển 2 và luận Chương sở tri quyển thượng thì tuổi thọ của thiên chúng cõi trời này là 4 nghìn kiếp, thân cao 4 nghìn do tuần. Còn có các thuyết 3 nghìn kiếp, 2 nghìn đại kiếp... [X. phẩm Đao lợi thiên trong kinh Trường a hàm Q.20; kinh Đại lâu thán Q.1; kinh Khởi thế nhân bản Q.1, 7; luận Lập thế a tì đàm Q.6; luận Thuận chính lí Q.21; luận Tập dị môn túc Q.14; luận Đại tì bà sa Q.136]. (xt. Ngũ Tịnh Cư Thiên, Sắc Giới).

thiện hiện tỉ khâu

(善現比丘) Phạm: Su-derzana. Cũng gọi Thiện kiến tỉ khưu. Vị tỉ khưu trụ ở nước Cứu độ, là 1 trong 55 thiện tri thức mà đồng tử Thiện tài đến tham học. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.19].

Thiện huệ địa

xem Mười địa vị. ; 善慧地; C: shànhuìdì; J: zeneji; S: sādhu-matī; T: legs paḥi blo gros.|Giai vị thứ 9 trong Thập địa của hàng Bồ Tát. Trong giai vị nầy, trí tuệ của Bồ Tát trở nên viên mãn khi chứng đạt được Tứ vô ngại giải (四無礙解), do vậy nên có khả năng giảng pháp khắp mọi nơi, bằng mọi ngôn ngữ mà không ngăn ngại.

thiện huệ địa

Sadhumati (skt)—See Thập Địa Phật Thừa (9). ; (善慧地) Phạm: Sàdhummatì-bhùmi. Địa thứ 9 trong 10 địa vị Bồ tát. Địa này đã được 4Vô ngại giải: Pháp vô ngại giải, Nghĩa vô ngại giải, Từ vô ngại giải và Nhạo thuyết vô ngại giải,có năng lực ở khắp 10 phương dùng 1 âm thanh diễn nói tất cả thiện pháp, khiến người nghe đều sinh tâm vui mừng. Lại ở trong hạnh Lực ba la mật, dứt trừ chướng ngại không muốn thực hành việc mang lại lợi ích cho người khác, đồng thời chứng được Chân như là chỗ nương của trí tự tại. [X. kinh Nhân vương Q.hạ (bản dịch mới); luận Thành duy thức Q.9]. (xt. Thập Địa).

thiện hành

Good deeds.

Thiện Hội

善會|1. Thiền sư Trung Quốc, Giáp Sơn Thiện Hội|2. ?-900; Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông đời thứ hai. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Cảm Thành và sau truyền lại cho đệ tử là Vân Phong.|Sư quê ở Dữ Lãnh, xuất gia từ nhỏ và có hiệu là Tổ Phong. Lớn lên, Sư vân du đây đó tham học, sau lại đến chùa Kiến Sơ thụ giáo nơi Thiền sư Cảm Thành. Ở đây, Sư hầu hạ thầy hết lòng suốt mười năm.|Một hôm, Sư vào thất hỏi: »Trong kinh có nói: Ðức Thích-ca Như Lai đã từng tu hành trải vô số kiếp mới được thành Phật. Nay Thầy dạy rằng: Tâm tức là Phật, con chưa hiểu lẽ đó, cúi xin thầy một phen khai ngộ cho.« Cảm Thành hỏi: »Trong kinh người nào thuyết pháp?« Sư thưa: »Ðâu không phải là Phật thuyết ư?« Cảm Thành bảo: »Nếu là Phật thuyết, tại sao kinh Văn-thù lại nói: ›Ta trụ ở đời 49 năm, chưa từng nói một chữ dạy người.‹ Cổ đức nói: ›Người tìm nơi văn, chấp nơi chứng càng thêm trệ; khổ hạnh cầu Phật là mê, lìa tâm cầu Phật là ngoại đạo; chấp tâm cầu Phật là ma.‹« Sư hỏi: »Như thế, tâm ấy cái gì chẳng phải Phật, cái gì là Phật?« Cảm Thành bảo: »Xưa có người đến hỏi Mã Tổ: ›Tâm tức là Phật, tâm nào là Phật?‹ Tổ bảo: ›Ông nghi cái nào không phải là Phật chỉ xem?‹ Người kia không đáp được, Tổ dạy: ›Ðạt thì khắp tất cả cảnh đều là Phật, chẳng ngộ thì trái xa.‹ Chỉ câu nói nay, ngươi lại hội chăng?« Ngay đây, Sư thưa: »Nay con hội rồi.« Cảm Thành hỏi: »Ngươi hội thế nào?« Sư thưa: »Khắp mọi chỗ không đâu chẳng phải tâm Phật.« và quì xuống lễ bái. Cảm Thành bảo: »Thế là ngươi hiểu đúng rồi!« Nhân đây, Cảm Thành ban hiệu cho Sư là Thiện Hội.|Sau, Sư trụ trì hoằng hoá tại chùa Ðịnh Thiền ở làng Siêu Loại và tịch tại đây năm thứ 3 niên hiệu Quang Hoá đời Ðường.

thiện hội

(善會) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Đường, người ở Hiện đình, Quảng châu, họ Liêu. Năm 9 tuổi, sư cạo tóc ở núi Long nha tạiĐàm châu (huyện Trường sa, tỉnh Hồ nam), năm 20 tuổi thụ giới Cụ túc. Sau đó không lâu, sư đến Giang lăng chuyên tâm nghiên cứu kinh luận, lại đến các nơi Thiền hội tham học. Ban đầu, sư trụ ở chùa Hạc lâm tại Kinh khẩu thuộc Nhuận châu (huyện Trấn giang, tỉnh Giang tô), lúc đó sưgặp ngài Đạo ngô từ Quan nam, Tương châu đến, cùng vấn đáp qua lại với nhau, có rất nhiều chỗ tâm đắc. Sau,theolời khuyên của ngài Đạo ngô, sư đến tham yết ngài Thuyền tử Đức thành ở huyện Hoa đình tại Chế trung (Giang tô), thầy trò khế hợp, sư được nối pháp. Năm Hàm thông 11 (870) đời vua Ý tôngnhà Đường, sư trụ ở Giáp sơn, Lễ châu, Hồ nam mở rộng Thiền phong. Niên hiệu Trung hòanăm đầu (881), sư thị tịch, thọ 77 tuổi, pháp lạp 57, vua ban thụy hiệu Truyền Minh Đại Sư. [X. Cảnh đức truyền đănglụcQ.15; Liên đăng hội yếu Q.21; Phật tổ lịchđạithông tải Q.17, 24; Ngũ đăng hội nguyên Q.5; Thích thị kê cổ lược Q.3; Ngũ đăng nghiêm thống Q.5].

thiện hội thiền sư

Zen Master Shan-Hui—Thiền Sư Thiẹân Hội sanh năm 805, sư xuất gia lúc 9 tuổi và thọ cụ túc giới năm 20 tuồi. Sau khi Thiền sư Đạo Ngô Viên Trí đề nghị sư đến gặp Thuyền Tử, sư đến Hoa Đình làm đệ tử Thuyền Tử. Sư được công nhận là Pháp Tử của Hoa Đình Thuyền Tử—Zen master Shan-Hui was born in 805. He left home at the age of nine and received full ordain at the age of twenty. Following Zen Master T'ao-Wu Yuan-Zhi's recommendation, he came to Hua-Ting to become Chuan-Tzi's disciple. He was recognized as Chuan-Tzi's Dharma heir. • Một hôm sư thượng đường dạy chúng: “Từ có Tổ đến đây người ta hiểu lầm, nối nhau đến nay đều lấy lời Phật, Tổ làm mô phạm dạy người. Như thế, trở thành kẻ cuồng hay người vô trí rồi còn gì. Kia chỉ bày tỏ cho các ngươi 'Không pháp vốn là đạo, đạo không một pháp; không Phật có thể thành, không đạo có thể đắc, không pháp có thể xả.' Cho nên nói 'Trước mắt không pháp, ý tại trước mắt.' (mục tiền vô pháp, ý tại mục tiền). Kia chẳng phải là pháp trước mắt. Nếu nhằm bên Phật, Tổ mà học, người nầy chưa có mắt tự tại, vẫn là thức tánh sanh tử mênh mang không có phần tự do. Ngàn muôn dậm tìm thiện tri thức, cốt có cái thấy chơn chánh hằng thoát khỏi hư dối, định lấy cái sanh tử trước mắt xem là thật có hay thật không? Nếu có người định được lẽ này, hứa nhận ông sẽ giải thoát. Người thượng căn ngay lời nói liền rõ đạo; kẻ căn khí bậc trung, bậc hạ chạy lăng xăng như sóng bủa. Sao chẳng nhằm trong sanh tử mà an định? Sẽ nhận lấy chỗ nào? Lại nghi Phật nghi Tổ thế cái sanh tử cho ông được sao? Người trí sẽ cười ông. Nghe kệ đây: “Lao trì sanh tử pháp Duy hướng Phật biên cầu. Mục tiền mê chánh lý Bác hỏa mích phù âu.” (Nhọc gìn pháp sanh tử Chỉ nhằm bên Phật cầu. Trước mắt lầm lý chánh Trong lửa bọt có đâu). One day Shan-Hui entered the hall and addressed the monks, saying: “Since the time of the ancestors there have been those who misunderstand what has been passed down. Right up to now they have used the words of the Buddhas and ancestors and made them models for study. If people do this then they'll go crazy and have no wisdom at all. The Buddhas and ancestors have instructed you that the dharmaless root is the Way. The way is without even a single Dharma. There is no Buddha that you can become. There is no way that can be attained. Nor is there any Dharma that can be grasped or let go of. Therefore, the ancients said: 'Before the eyes there is no Dharma, but the meaning is before the eyes.' Those who want to study the Buddhas and ancestors haven't opened their eyes. Why do they want to submit to something else and not attain their own freedom? Basicaly it's because they are confused about life and death. They realize they don't have a bit of freedom, so they go thousands of miles to seek our some great teacher. Those people must attain the true eye, not spend their time grasping and discarding spurious views. But are there any here among you of definite attainment who can really hold forth about existence and nonexistence? If there's someone who's definite about this then I invite you to speak out.' 'When persons of high ability hear these words they are clear about what's being said. Those of middle or low ability continue rushing around. Why do't you just directly face life and death? Don't tell me you still want the Buddhas and ancestors to live and die in your place! People who understand will laugh at you. If you still don't get it, then listen to this verse: “Belaboring life and death, Just seeking Buddha's quarter. Confused about the truth before your eyes, Poking a fire to find a cool spot.” • Vị Tăng hỏi: “Từ trước lập ý Tổ và ý kinh, vì sao độ nầy Hòa Thượng nói không?” Sư đáp: “Ba năm chẳng ăn cơm, trước mắt không người đói, tại sao con chẳng ngộ?” Chỉ vì ngộ mê đuổi Xà Lê. Sư bèn nói kệ: “Minh minh vô ngộ pháp Ngộ pháp khước mê nhơn Trường thơ lưỡng cước thùy Vô ngụy diệt vô chơn.” (Rõ ràng không pháp ngộ Pháp ngộ đuổi người mê Duỗi thẳng hai chân ngủ Không ngụy cũng không chơn). • A monk asked: “There has always been meaning attributed to the teaching of the Buddhas and ancestors. Why does the master say there isn't any?” Shan-Hui said: “Don't eat for three years and you won't see anyone hungry.” The monk said: “If no one is hungry, why can't I gain awakening?” Shan-Hui said: “Because awakening has confused you.” Shan-Hui then recited this verse to make his point: “Clear and luminous, no Dharma of awakening, Awakening confuses people. In paradise with two feet and eyes, Nothing false, and nothing true.” • Vào ngày 7 tháng 11 năm 881, sư gọi Tăng chúng lại bảo: “Ta đã nói pháp trong nhiều năm. Mỗi người các ngươi phải nên tự biết mình. Bây giờ ta không còn gì nữa, đã đến lúc ta đi đây. Giữ lấy pháp như lúc ta còn vậy.” Nói xong sư thị tịch, thọ 77 tuổi, được vua phong hiệu “Truyền Minh Đại Sư.”—On the seventh day of eleventh month in the year 881, Shan-Hui called together his principal monks and said: “I've talked extensively for many years. Each of you should know for yourself. Now I'm just an empty form. My time is up and I must go. Take care of the teaching as if I were still here.” Upon saying these words, Shan-Hui suddenly passed away. He received posthumous name "Great Teacher Transmitting Clarity.”

thiện hội thiền sư (việt nam)

Shen-Hui (?-900)—Thiện Hội (?-900), đời thứ hai dòng Vô Ngôn Thông. Ông là một thiền sư nổi tiếng của Phật giáo Việt Nam vào thế kỷ thứ 10. Ông quê tại Điển Lãnh. Thuở nhỏ ông theo sư Tiệm Nguyên với Pháp hiệu là Tổ Phong. Lớn lên, sư vân du khắp nơi để tìm minh sư tham học. Khi đến chùa Kiến Sơ, sư gặp Thiền sư Cảm Thành và trở thành một trong những đệ tử nổi tiếng của sư Cảm Thành. Sư ở lại chùa Kiến Sơ phục vụ Thầy trên mười năm. Một hôm sư hỏi Thầy: “Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng tu hành trải qua vô lượng kiếp mới thành Phật. Nay thầy dạy 'tức tâm tức Phật.' Con không hiểu lẽ đó. Xin thầy khai ngộ cho con.” Sư Cảm Thành hỏi: “Trong kinh người nào nói?” Thiện Hội thưa: “Nếu con không lầm thì tất cả kinh điển đều do Phật dạy.” Sư Cảm Thành nói: “Nếu vậy sao ngài Văn Thù Sư Lợi lại nói rằng Đức Phật trong suốt 49 năm hoằng hóa chưa nói một lời? Con phải luôn nhớ rằng nếu con chấp vào văn tự, con sẽ phải đi vòng vòng mãi chứ không bao giờ thấy Phật.” Qua đó Thiện Hội ngộ và sụp lạy Thầy. Sau khi Thầy Cảm Thành thị tịch, sư tiếp tục hoằng hóa đến khi viên tịch vào năm 900 sau Tây Lịch—Shen-Hui, seond lineage of the Wu-Yun-T'ung Sect. He was a famous Zen Master of the Vietnamese Buddhism in the tenth century. He was from Điển Lãnh. When he was young, he studied with Master Tiệm Nguyên at Đông Lâm Temple with his Dharma name Tổ Phong. When he grew up, he wandered all over the country to seek the right master. When he arrived at Kiến Sơ Temple, he met Zen Master Cảm Thành and became one of the latter's most outstanding disciples. He stayed to serve his master for over ten years. One day he asked his master: “Sakyamuni Buddha had cultivated innumerable aeons to become a Buddha. Now you say that 'Mind is Buddha.' I really don't understand. Please awaken me so that I can be clear.” Zen Master Cảm Thành said: “Who said so in the sutra?” Shen-Hui replied: “The Buddha teach in all the sutras, am I right?” Zen Master Cảm Thành said: “But why Manjusri declared that the Buddha never teachs a word during 49 years. You should always remember that if you attach to words, you will have to go around and around forever, you will never find the Buddha.” Shen Hui awakened right after this instruction. He bowed down to prostrate his Master. Zen Master Cảm Thành gave his name Shen-Hui since that time. After his Master passed away, Zen Master Shen-Hui continued to expand the Buddha dharma until he died in 900.

thiện hữu

dịch từ Phạn ngữ kalynamitra, không chỉ đơn giản là người bạn lành, bạn tốt, mà chỉ chung những người giúp chúng ta sanh khởi các hạnh lành. Sách Tham huyền ký, quyển 6 nói: “Khởi ngã hạnh cố danh thiện hữu.” (Làm sanh khởi công hạnh của ta nên gọi là thiện hữu.) ; Kalyanamitra (skt)—A friend of virtue—The good companion—A friend in good life or one who stimulates to goodness—A religious counselor. ** For more information, please see Thiện Hữu Tri Thức.

thiện hữu thất sự

(善友七事) Bảy việc của người bạn lành. Tức chỉ cho 7 việc mà các Bồ tát thực hành để làm lợi lạc cho tất cả chúng sinh khi các ngài thị hiện ở thế gian. Thiện hữu là người bạn ngay thẳng, có đức hạnh. Luật Tứ phần quyển 41 có nêu ra 7 pháp của thiện hữu và đặc biệt gọi là Thân hữu lợi ích từ mẫn. Lăng nghiêm kinh sớ quyển 17 có giải thích rõ ràng tỉ mỉ 7 pháp ấy như sau: 1. Tao khổ bất xả:Gặp khổ không bỏ. Bồ tát vận dụng tâm Từ bi, thương xót chúng sinh chịu các khổ nãotrong 6 đường, cho nên tùy loại hiện thân để chỉ dạy họ, giúp chúng sinh thoát khỏi khổ não và khi thay thế chúng sinh để chịu khổ thì tâm Bồ tát cũng không xả bỏ. 2. Bần tiện bất khinh: Nghèo hèn không khinh rẻ. Bồ tát vận dụng tâm bình đẳng, thấy chúng sinh tuy không có công đức, không có pháp tài để tự trang nghiêm, nhưng biết họvốnsẵn có pháp thân, đầy đủ mọi công đức, cho nên tâm Bồ tát thường thương xót, nhớ nghĩ mà không sinh tâm khinh mạn. 3. Mật sự tương cáo: Việc kín nói cho nhau biết. Bồ tát thấy bản tính của các chúng sinh tròn sáng, nhưng vì tất cả khách trần phiền não che lấp nên không lộ rõ ra được, bởi thế Bồ tát dùng lời dịu dàng nói cho họ biết giúp họ nhận ra bản tính của chính họ. 4. Đệ tương phú tàng: Che giấu cho nhau. Bồ tát nhận thấy thiện căn của chúng sinh chưa thuần thục, chưa thể tin sâu đạo chân thực, cho nên Bồ tát dùng pháp phương tiện tạm thời chỉ dạy cho họ đợi đến khi thiện căn của họ thành thục, bấy giờ sẽ chỉ cho họ thấyrõlíChân như đích thực.5. Nan tác năng tác: Làm được việc khó làm. Vì dắt dẫnchúng sinh nên Bồ tát làm được những việc mà người khác khó làm, như thân mặc áo rách, tay cầm đồ hốt phân mà không xem đó là việc hèn hạ.6. Nan dữ năng dữ: Cho được những gì khó cho. Bồ tát đem chân lí mà mình đã thể ngộ, phương tiện giáo hóa tất cả chúng sinh mà tâm không sẻn tiếc. 7. Nan nhẫn năng nhẫn: Chịu đựng được những điều khó chịu đựng. Bồ tát thấy chúng sinh vì tạo nghiệp bất thiện nên phải đọa vào đường ác, liền khởi tâm thương xót, dùng phương tiện cứu thoát, dù trải qua thời gian nhiều kiếp đằng đẵng nhưng tâm không mảy may lui sụt.

thiện hữu tri thức

Kalyana-mitra (skt). (I) Nghĩa của Thiện Hữu Tri Thức—The meanings of Good-Knowing Friend (Advisor): • Thiện có nghĩa là hiền và đạo đức, Tri là sự hiểu biết chơn chánh, còn Thức là thức tỉnh, không mê muội và tham đắm nơi các duyên đời nữa. Thế nên, thiện tri thức là người hiền, hiểu đạo, và có khả năng làm lợi lạc cho mình và cho người: Good is kind and virtuous, Friend is a person who is worthy of giving others advice, Knowledgeable means having a broad and proper understanding of the truths, Awakened means no longer mesmerized by destinies of life. Thus, Good Knowledgeable (knowing) Friend or Advisor is a good person who has certain degree of knowledge of Buddhism and has the ability to benefit himself and others. • Người bạn đạo hạnh, người thầy gương mẫu, sống đời đạo hạnh, cũng như giúp đỡ khuyến tấn người khác sống đời đạo hạnh. Người bạn đạo tốt, thực thà, chân thật, có kiến thức thâm hậu về Phật pháp và đang tu tập Phật pháp—Good friend—A good knowing advisor—A friend in virtue, or a teacher who exemplifies the virtuous life and helps and inspires other to live a virtuous life too—Good-Knowing advisor (good and wise advisor—Enlightened teachers or advisors)—A good friend who has a good and deep knowledge of the Buddha's teaching and who is currently practicing the law. Someone with knowledge, wisdom and experience in Buddha's teaching and practicing. A wise counsel, spiritual guide, or honest and pure friend in cultivation. • Đức Phật đã nói về thiện hữu tri thức trong đạo Phật như sau: “Nói đến Thiện Hữu Tri Thức là nói đến Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác và Bích Chi Phật, cùng với những người kính tin giáo lý và kinh điển Phật giáo. Hàng thiện hữu tri thức là người có thể chỉ dạy cho chúng sanh xa lìa mười điều ác và tu tập mười điều lành (see Thập Thiện Nghiệp, and Thập Ác). Lại nữa, hàng thiện hữu tri thức có lời nói đúng như pháp, thực hành đúng như lời nói, chính là tự mình chẳng sát sanh cùng bảo người khác chẳng sát sanh, nhẫn đến tự mình có sự thấy biết chơn thật (chánh kiến) và đem sự thấy biết đó ra mà chỉ dạy cho người. Hàng thiện hữu tri thức luôn có thiện pháp, tức là những việc của mình thực hành ra chẳng mong cầu tự vui cho mình, mà thường vì cầu vui cho tất cả chúng sanh, chẳng nói ra lỗi của người, mà luôn nói các việc thuần thiện. Gần gũi các bậc thiện hữu tri thức có nhiều điều lợi ích, ví như mặt trăng từ đêm mồng một đến rằm, ngày càng lớn, sáng và đầy đủ. Cũng vậy, thiện hữu tri thức làm cho những người học đạo lần lần xa lìa ác pháp, và thêm lớn pháp lành: The Buddha talked about being a Good Knowing Advisor in Buddhism as follows: “When speaking of the good knowledgeable advisors, this is referring to the Buddhas, Bodhisattvas, Sound Hearers, Pratyeka-Buddhas, as well as those who have faith in the doctrine and sutras of Buddhism. The good knowledgeable advisors are those capable of teaching sentient beings to abandon the ten evils or ten unwholesome deeds, and to cultivate the ten wholesome deeds. Moreover, the good knowledgeable advisors' speech is true to the dharma and their actions are genuine and consistent with their speech. Thus, not only do they not kill living creatures, they also tell others not to kill living things; not only will hey have the proper view, they also will use that proper view to teach others. The good knowledgeable advisors always have the dharma of goodness, meaning whatever actions they may undertake, they do not seek for their own happiness, but for the happiness of all sentient beings. They do not speak of others' mistakes, but speak of virtues and goodness. There are many advantages and benefits to being close to the good knowledgeable advisors, just as from the first to the fifteenth lunar calendar, the moon will gradually become larger, brighter and more complete. Similarly, the good knowledgeable advisors are able to help and influence the learners of the Way to abandon gradually the various unwholesome dharma and to increase greatly wholesome dharma. (II) Cổ đức có dạy, “Thời nay muốn tìm minh sư, hay thiện hữu tri thức để gần gũi theo học, còn có chăng trong sách vở hay gương Thánh hiền, chứ còn trong vòng nhân tình đời nay, quả là hiếm có vô cùng.” Các ngài còn dạy thêm năm điều về thiện hữu tri thức như sau—Ancients taught, “Nowadays, if one wishes to find kind friends and virtuous teachers to learn and to be close to them, they may find these people in the shining examples in old books. Otherwise, if one searches among the living, it would be extraordinary hard to find a single person.” They also reminded us five things about good-knowing advisor as follows: 1) Đời nay trong 1.000 người mới tìm ra được một người lành: Nowadays, in 1,000 people, there is one good person. 2) Trong 1.000 người lành mới có một người biết đạo: In a thousand good people, there is one person who knows religion. 3) Trong 1.000 người biết đạo, mới có được một người tin chịu tu hành: In one thousand people who know religion, there is one person who has enough faith to practice religion. 4) Trong 1.000 người tu hành mới có được một người tu hành chân chánh: In one thousand people who practice religion, there is one person who cultivates in a genuine and honest manner. 5) Vậy thì trong 4.000 người mới tìm ra được bốn người tốt: Thus, out of four thousand people, we would find only four good people. (III) Phân loại Thiện Hữu Tri Thức—Categories of Good Knowing Advisors: Theo Thượng Tọa Thích Hải Quang trong Thư Gởi Người Học Phật, có hai loại thiện hữu tri thức—According to Venerable Thích Hải Quang in the Leters to Buddhist Followers, there are two kinds of Good Knowing Advisors: 1) Nhơn gian thiện tri thức—Worldly good knowing advisors: a) Không tham, sân, xấu ác: There is no greed, hatred, evil, and wickedness. b) Giới hạnh tinh chuyên, đầy đủ oai nghi trong đi, đứng, ngồi, nằm: Maintain the precepts one vows to maintain; is always honorable and proper in every aspects of standing, walking, sitting, or lying down. c) Không tham lam tài, sắc, danh, thực, thùy, cũng như lợi lộc, tiền tài, của cải, và xa xỉ: Not to have greed for talent, form, fame, food, sleep, as well as profit, money, wealth, and luxury. d) Không tật đố ganh ghét: Not to have jealousy and envy. e) Không luyến ái xa hoa vật chất như chùa cao miễu rộng, xe cộ, ruộng vườn: Not to have attachment toward luxuries, such as great temples, fancy cars, large lands, etc. f) Tâm thường bình đẳng, nghĩa là xem người thân và kẻ oán như nhau: Mind is always fair and just. This is to say to look upon relatives and enemies as equal. g) Có pháp làm lợi cho mình, tức là hành đúng theo lời Phật dạy, ngôn hành tương ưng, hay nói và làm giống nhau: Having the proper dharma knowledge to benefit self. This is to say to be able to carry out conducts that are true to the Buddha's teachings, speech and action are consistent, or do what is said. h) Có pháp làm lợi cho người, nghĩa là đem chánh pháp của Phật giảng rộng ra và khuyến dắt người người tu niệm: Having proper dharma knowledge to benefit others. That is to say, capable of elaborating on the Buddha Dharma to guide and encourage others to practice and cultivate. i) Tùy theo căn tánh của mỗi người mà dùng pháp thích hợp để giáo hóa cho họ biết rõ phương tiện thiện xảo: Depending on each individual's level of cultivation, use the most appropriate and agreeable dharma to teach and guide that person to know how to apply the skillful means. j) Đủ pháp tổng trì, nghĩa là giữ điều thiện đừng để cho mất; và ngăn điều ác, không cho chúng sanh khởi: Have enough Dharma knowledge to have awareness and mindfulness. This means never lose sight of goodness and never allow evil to surface. k) Lòng luôn luôn nghĩ tưởng tốt hay tùy hỷ với mọi người: The mind always has good and kind thoughts toward others, or rejoices in others' wholesome accomplishments. l) Tu hành trong sạch, không phạm vào giới luật của Phật mà mình đã thọ: Cultivate with purity, do not violate the precepts established by the Buddha that we have vowed to maintain. m) Thân khẩu ý chẳng lầm lỗi: Mind, body and speech do not create transgressions. n) Thuyết pháp hay giảng luận nghĩa lý chi cũng đều khế hợp với ý kinh: Whether expounding the dharma, or explaining the meanings of anything, this should always be consistent and harmonious with the sutra teachings. o) Đặc biệt nhứt là khi thi ân cho người, chẳng cầu báo đáp, vì có cầu báo đáp thì chẳng phải là thi ân, mà là tính toán: Most importantly, when helping others never wish for that favor to be reciprocated, because to do so is not called helping, but is called planning for self-benefits. 2) Chân chánh đại thiện tri thức—Truly great knowing advisor: a) Có trí huệ hơn người: Have greater wisdom than anyone. b) Là người phước đức siêu quần: Are superior in virtues and merits. c) Tuyệt đối không một chỗ nào là không tốt lành cả: Absolutely nothing falls short of goodness and wholesomeness. This means everything they do is aimed toward goodness. d) Không một pháp nào là không biết hay không hiểu: There is no dharma that is not known and understood. e) Làm Thầy Tổ, và làm tai mắt cho cõi Trời Người: Is the Master and Patriarch, and is the eyes and ears for Gods and men. f) Là bậc trụ cột trong Phật pháp: Is the pillar in the Buddha Dharma. g) Cầm chân Đức Phật, là nhà lãnh đạo hay Tổ trong chốn tông môn: Holding on to the Buddha's feet, a leader or Patriarch in a particular dharma tradition. h) Mở cửa chánh đạo: Opens the door to the proper path. i) Trừ dẹp xấu ác: Eliminates evil and wickedness. j) Nối truyền cho Phật pháp ngày một thêm hưng thịnh: Continues the teachings of Buddha and makes the teachings more glorious with each day. k) Trí tuệ siêu quần hơn tất cả tam giới: Wisdom is greater than anyone in the three worlds. l) Giới đức thơm ngát tỏa khắp mọi nơi, người người đều kính ngưỡng: The incense fragrance of that person's virtues is everywhere, admired and respected by many. m) Lấy giáo pháp thậm thâm của Phật mà tuyên lưu đến tha nhân, khiến cho hạt giống Phật được trường tồn: Uses the Buddha's profound teachings to pass on to others; help maintain the Buddha's seeds eternally. n) Là một bậc đại căn, nghĩa là không ai hơn được về tài đức, công đức, và phước đức: At the Highest Cultivated Level. This means unrivaled in talents, virtues, and merits. o) Là một bậc đại hạnh: A great practitioner. p) Là một bậc đại nguyện: A great vow maker. q) Đầy đủ hai phần oai và đức khiến cho trời người trong ba cõi kính yêu: Has both the components of Majesty and Virtues, earning the love and respect of Gods and Men. (IV) Những lời Phật dạy về “Thiện Hữu Tri Thức” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Good Knowing Advisors” in the Dharmapada Sutra: 1) Nếu gặp được người hiền trí thường chỉ bày lầm lỗi và khiển trách mình những chỗ bất toàn, hãy nên kết thân cùng họ và xem như bậâc trí thức đã chỉ kho tàng bảo vật. Kết thân với người trí thì lành mà không dữ—Should you see an intelligent man who points out faults and blames what is blame-worthy, you should associate with such a wise person. It should be better, not worse for you to associate such a person (Dharmapada 76). 2) Những người hay khuyên răn dạy dỗ, cản ngăn tội lỗi kẻ khác, được người lành kính yêu bao nhiêu thì bị người dữ ghét bỏ bấy nhiêu—Those who advise, teach or dissuade one from evil-doing, will be beloved and admired by the good, but they will be hated by the bad (Dharmapada 77). 3) Chớ nên làm bạn với người ác, chớ nên làm bạn với người kém hèn, hãy nên làm bạn với người lành, với người chí khí cao thượng—Do not associate or make friends with evil friends; do not associate with mean men. Associate with good friends; associate with noble men (Dharmapada 78). 4) Được uống nước Chánh pháp thì tâm thanh tịnh an lạc, nên người trí thường vui mừng, ưa nghe Thánh nhơn thuyết pháp—Those who drink the Dharma, live in happiness with a pacified mind; the wise man ever rejoices in the Dharma expounded by the sages (Dharmapada 79). 5) Nếu gặp bạn đồng hành hiền lương cẩn trọng, giàu trí lự, hàng phục được gian nguy, thì hãy vui mừng mà đi cùng họ—If you get a prudent and good companion who is pure, wise and overcoming all dangers to walk with, let nothing hold you back. Let find delight and instruction in his companion (Dharmapada 328). 6) Nếu không gặp được bạn đồng hành hiền lương, giàu trí lự, thì hãy như vua tránh nước loạn như voi bỏ về rừng—If you do not get a prudent and good companion who is pure, wise and overcoming all dangers to walk with; then like a king who has renounced a conquered kingdom, you should walk alone as an elephant does in the elephant forest (Dharmapada 329). 7) Thà ở riêng một mình hơn cùng người ngu kết bạn. Ở một mình còn rảnh rang khỏi điều ác dục như voi một mình thênh thang giữa rừng sâu—It is better to live alone than to be fellowship with the ignorant (the fool). To live alone doing no evil, just like an elephant roaming in the elephant forest (Dharmapada (330).

thiện kiên

(善堅) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế sống vào đờiMinh, ngườiởCôn minh, tỉnh Vân nam, họ Đinh, tự là Cổ đình. Năm 11 tuổi, sư xuất gia ở chùa Ngũ hoa, pháp danh là Thiện hiền. Đầu tiên, sư đến Kim lăng tham yết ngài Vô tế Minh ngộ, được dạy câu Vạn pháp qui nhất; một hôm, sư xem kinh Viên giác, thoắt nhiên tỉnh ngộ. Năm 19 tuổi, sư tham lễ ngài Bá nham mới đổi tên là Thiện kiên. Năm Thiên đức thứ 10 (1435), sư đến núi Ung la ở Quí châu và từ đó đi vào Tứ xuyên. Khoảng năm Chính thống (1436-1449), sư lại đến chùa Long ân tham yết ngài Vô tế và được truyền tâm ấn. Sư từng trụ các chùa nổi tiếng như Đại dung sơn ở Hà bắc, chùa Thiên giới ở Kim lăng... sau, sư về Tứ xuyên sáng lập chùa Qui hóa.Năm Hoằng trị thứ 6 (1493), sư thị tịch, thọ hơn 80 tuổi, người đời gọi sư là Chiên đàn tôn giả. Sư để lại các tác phẩm: Vân thủy thạch tập, Cổ đình tổ sư ngữ lục tập lược 4 quyển. [X. Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.2 (Hư vân)].

thiện kiến

Sudarsana (skt)—Beautiful to see—Good to see. ** For more information, please see Tô Đạt Lê Xá Na.

thiện kiến luật tì sa sa

(善見律毗娑沙) Pàli:Samantapàsàdikà. Cũng gọi Thiện kiến luận, Tì bà sa luật. Luật, 18 quyển, do ngài Tăng già bạt đà la dịch vào đời Nam Tề, được thu vào Đại chính tạng tập 24. Sách này là 1 trong 5 bộ luận của luật bộ Tiểu thừa, nội dung chú thích tạng luật do Thượng tọa bộ Tích lan truyền. Quyển 1 đến quyển 4 nói về các cuộc kết tập kinh điển lần 1, lần 2, lần 3; về sự truyền trì tạng Luật và về việc ngài Ma hi đà –con vua A dục– đến Tích lan truyền đạo. Từ quyển 4 trở đi, chủ yếu là chú thích luật Tứ phần, chia làm 4 thiên: Tỉ khưu giới, Tỉ khưu ni giới, Khiên đà già và Đại đức Xá lợi phất vấn Ưu bali luật ô xuất phẩm. So sánh bộ luật này với bộ luật Nhất thiết thiện kiến (Samantapàsàdikà, tức sách chú thích tạng LuậtPàli, do Luận sư Phật âm soạn ở Tích lan vào đầu thế kỉ V, Tây lịch) bảnPàli Nam truyền thì thấy có rất nhiều chỗ không nhất trí với nhau, vì thế không nên trực tiếp coi Nhất thiết thiện kiến luật bảnPàli là nguyên bản của bộ luật này, chỉ có thể xác định bộ luật này đã căn cứ vào Nhất thiết thiện kiến luật bản Pàli mà có, đại khái là bản sao dịch từ bản Pàli. Lại nữa, pháp Ba dật đề được ghi trong bộ luật này gồm 90 điều và trong pháp Chúng học có phụ thêm những điều về tháp Phật, do đó mà thấy rõ bộ luật này đã chịu ảnh hưởng của luật Tứ phần. Cũng có thuyết cho rằng sách này chính là sách chú thích luật Tứ phần. Tuy nhiên, những câu văn chú thích trong sách này thường không ăn khớp với luật Tứ phần, cho nên giữa các học giả cũng có người không đồng ý. Cứ theo Lịch đại tam bảo kỉ quyển 11 thì Tam tạng Pháp sư(có lẽ chỉ cho ngài Phật âm ?), từng mang tạng Luật đến Quảng châu giao cho đệ tử là Tăng già bạt đà la. Năm Vĩnh minh thứ 6 (488), ngài Tăng già bạt đà la và sa môn Tăng y cùng dịch ra chữ Hán ở chùa Trúc lâm. Đồng thời, sách này ghi rằng khi dịch xong, ngài Tăng già bạt đà la đem hoa thơm cúng dường tạng Luật, rồi chấm một chấm(biểu thị một năm), bấy giờ cộng tất cả đã được 975 chấm, đây chính là thuyết Chúngthánh điểm kí(các Thánh ghi chấm). Ngoài ra, từ năm 1924 về sau, Nhất thiết thiện kiến luật bảnPàli được 2 học giả người Nhật bản là Cao nam Thuận thứ lang và Trường tỉnh Chân cầm cùng chung sức kiểm xét, sửa chữa và xuất bản. Về chú sớ thì có bảnPàli:Sàratthadìpaniỉìkà.[X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, 11; Pháp kinhlục Q.5, Khai nguyên thích giáo lục Q.6; Đại tạng thánh giáo pháp bảo tiêu mục Q.8; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.8; Luật tông cương yếu; Căn bản Phật điển nghiên cứu (Trường tỉnh Chân cầm).

Thiện kiến thiên

xem Năm cõi tịnh cư. ; 善見天; C: shànjiàn tiān; J: zenken ten; S: sudarśanāḥ.|»Tầng trời của cái nhìn thiện«. Tầng trời thứ 7 trong 8 cõi trời thuộc Tứ thiền thiên của Sắc giới. Cũng được xếp vào 1 trong 17 cõi trời thiền ở Sắc giới.

thiện kiến thiên

(善見天) Thiện kiến, Phạm: Sudarzana. Pàli:Sudassana. Hán âm: Tu đề xá na, Tu đà thi ni, Tu đạt lê xá na, Tu đà thi. Cũng gọi Đại thiện kiến thiên, Thiện hảo kiến thiên, Thiện quán thiên, Khoái kiến thiên, Diệu kiến thiên. Một trong 18 tầng trời cõi Sắc, chỉ cho tầng trời thứ 4 trong 5 tầng trời Tịnh cư, tức là tầng trời thứ 2 trong Đệ tứ thiền cõi Sắc. Chư thiên ở cõi trời này nhờ có định lực thù thắng mà cái thấy được rõ suốt, nên gọi là Thiện kiến. Cũng chỉ cho cung điện trong thành Thiện kiến, là nơi ở của trời Đế thích. Cứ theo luận Lập thế a tì đàm quyển 7 thì do nghiệp tương ứng với Tứ thiền tối thượng phẩm, cung kính siêng tu, được huân tập bởi tạp giác phần, nhờ nghiệp này mà được sinh về cõi trời Thiện hiện, nếu nhiều hơn gấp 10 lần thì sinh lên cõi trời Thiện kiến. Luận Tạp a tì đàm tâm quyển 2 và luận Chương sở tri quyển thượng cho rằng thiên chúng ở cõi trời này sống tới 8 nghìn kiếp, thân cao 8 nghìn do tuần. Trong các kinh luận cũng có chỗ nói thọ 4 nghìn kiếp, 40 kiếp, 1500 đại kiếp... [X. phẩm Đao lợi thiên trong kinh Trường a hàm Q.20; kinh Đại lâu thán Q.1, 4; kinh Khởi thế Q.1, 7; luận Lập thế a tì đàm Q.6; luận Thuận chính lí Q.21; luận Tập dị môn túc Q.14]. (xt. Ngũ Tịnh Cư Thiên, Sắc Giới).

thiện kiến thành

Sudarsana (skt)—A Good-To-Behold City—See Thiên Đế Thích Thành. ; (善見城) Cũng gọi Hỉ kiến thành, Thiên đế thích thành. Chỉ chocungthành ở chính giữa cõi trời Đao lợi trên đỉnh núi Tu di, là nơi cư trú của trời Đế thích. Cứ theo luận Đại tì ba sa quyển 133 và luận Câu xá quyển 11 thì 4 mặt thành Thiện kiến mỗi bề rộng 2500 do tuần, cao 1,5 do tuần, đất đai bằng phẳng, được tạo thành bằng vàng ròng và trang nghiêm bằng các thứ báu; mặt đất mềm mại như bông đâu la, gió nhẹ thổi hoa héo đi, rồi rải hoa mới tươi tắn. Thành có nghìn cửa, do 500 vị thần Dược xoa mặc áo màu xanh canh giữ. Trong thành có điện Đại thù thắng, được trang trí bằng các thứ báu vi diệu. Ở 4 góc thành có 4 đài quán, do 4 thứ báu như vàng, bạc... tạo thành. Phía ngoài thành, có 4 khu vườn là: Chúng xa, Thô ác, Tạp lâm, Hỉ lâm, mỗi khu đều chu vi 1000 do tuần, là những nơi chư thiên vui chơi. Ở phía tây nam bên ngoài thành có Thiện pháp đường, là nơi các thiên chúng nhóm họp vào 3 ngày trai để bàn luận rõ việc thiện ác ở cõi người và cõi trời, đồng thời chế phục A tu la. [X.kinh Trường a hàm Q.20; kinh Khởi thế Q.6; kinh Chính pháp niệm xứ Q.26, kinhƯu bà tắc giới Q.1; luận Du già sư địa Q.4].

thiện kiếp

Bhadrakalpa (skt)—Tên khác của Hiền Kiếp—A good kalpa, especially that in which we live—See Hiền Kiếp.

thiện lai

Svagata, or Suvagata (skt)—Welcome! 1) Từ mà các vị Tỳ Kheo Ấn Độ dùng để hoan nghênh những người đến chùa: The term which Indian Bhiksus used to welcome those who come to the monastery. 2) Trong kinh điển Pali có ghi lại, xưa khi muốn nhận ai vào Tăng đoàn, Phật chỉ nói “Thiện lai, Tỳ kheo!”—The Pali scriptures say that the Buddha once accepted his followers into the monkhood, simply by saying “Welcome, monk!” 3) Danh hiệu của Phật: A title of a Buddha—See Thiện Thệ. ; (善來) I. Thiên Lai. Phạm:Svàgata. Pàli:Sàgata. Hán âm: Sa kiệt đà, Sa yết đa, Sa bà yết đa. Lời khách sáo mà các vị tỉ khưu ở Ấn độ dùng để đón khách đến, có nghĩa là: Thật quí hóa ông đã đến!. ĐiềuKhách cựu tương ngộ trong Nam hải kí qui nội pháp truyện nói rằng: Theo lễ phép của chúng tăng trong các chùa ở Ấn độ, khi có khách đến thì đệ tử, học trò phải nói trước với khách là Sa yết đa, khách liền đáp Tốt sa yết đa (Phạm: Susvàgata, Hán dịch: Cực thiện lai). Khi đức Phật gọi tỉ khưu là Thiện lai tỉ khưu thì vị tỉ khưu ấy liền được giới Cụ túc, đó gọi là Thiện lai đắc, là 1 trong 10 thứ nhân duyên được giới; đây là tác pháp đặc biệt chỉ một mình đức Thích tôn truyền trao được mà thôi. Tức là do nguyện lực của người ấy và sức uy thần của Phật, Phật hướng về phía người muốn xuất gia gọi Thiện lai tỉ khưu thì người ấy liền là sa môn, đầy đủ tướng cạo tóc, mặc ca sa, được giới Cụ túc. Từ ngữ Thiện lai tỉ khưu được sử dụng lần đầu tiên khi 5 vị tỉ khưu đứng đầu là ngài Kiều trần như qui y đức Thích tôn. Cứ theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 7 thì lúc đức Phật còn tại thế, những người đắc giới theo tác pháp này gồm 1341 người. Còn theo luật Tứ phần thì trong 8 loại tỉ khưu: Danh tự tỉ khưu, Tương tự tỉ khưu, Tự xưng tỉ khưu, Thiện lai tỉ khưu, Khất cầu tỉ khưu, Trước cát tiệt y tỉ khưu, Phá kết sử tỉ khưu và Thụ đại giới bạch tứ yết ma như pháp thành tựu đắc xứ sở tỉ khưu, loại Thiện lai tỉ khưu được xếp vào hàng thứ 4, là 1 trong các hình thức xuất gia khi chưa chế định tác pháp thụ giới Cụ túc. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 15 (Đại 2, 621 hạ) nói: Theo pháp thường của chư giờ, đức Thế tôn bảo ngài Ca diếp rằng: Thiện lai tỉ khưu! Pháp này vi diệu, khéo tu phạm hạnh. Lúc ấy, tất cả áo xiêm mà ngài Ca diếp và 500 đệ tử mặc trên mình đều biếnlàm ca sa, tóc trên đầu tự rụng, giống như mới cạo tóc được 7 ngày. [X. kinh Thủ trưởng giả trong Trung a hàm Q.9; kinh Phật bản hành tập Q.34; kinh Tì ni mẫu Q.1; luật Tứ phần Q.32; luật Ngũ phần Q.15; luật Ma ha tăng kì Q.23; luật Thập tụng Q.56; Tát bà đa tì ni tì bà sa Q.2; luận Câu xá Q.14]. II.Thiện Lai. Phạm:Svàgata. Pàli:Sàgata. Cũng gọi Sa bà yết đa, Sa già đà, Tu già đà. Tên vị tỉ khưu ở thời đức Phật, là con của Trưởng giả Phù đồ (Phạm: Bodha) ở núi Thất thu ma la (Phạm: Suôsumàragira) thuộc nước Kiêu thiểm tì (Pàli:Kosambì). Vì bẩm tính bạc phúc, phá tán hết gia sản, cuối cùng phải đixin ăn để sống còn, nên người đời gọi sư là Ác lai (Phạm:Duràgata). Về sau này, sư được gặp đức Thích tôn, Ngài bảo đem hoa sen xanh cúng dường chúng tăng, sư liền nhớ lại đời trước mình từng tu Thánh xứ quán. Sau, sư lại được nghe đức Thích tôn giảng nói diệu pháp, chứng được Sơ quả, bèn cạo tóc xuất gia, phát tâm mạnh mẽ, cuối cùng chứng được quả A la hán. Đức Thích tôn bảo sư đến núi Thất thu ma la hàng phục con rồng dữ, sư đến chỗ con rồng, nhập định Hỏa quang, dùng sức thần thông điều phục con rồng. Có lần, sư đến thành Thất la phiệt nhận sự cúng dường của 1 nhà Bà la môn, không biết trong nước có lẫn rượu, nên khi sư uống vào bị say nằm lăn ra đất; đức Phật liền giảng nói về lỗi uống rượu, đây chính là nguyên nhân đức Phật chế giới cấm uống rượu. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.3; kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh A la hán cụ đức; kinh Sa hạt tỉ khưu công đức;Ẩm tửu học xứ trong Hữu bộ tì nại da Q.42; luật Tứ phần Q.16].

Thiện Loan

(善鸞, Zenran, ?-1286 [1296]): vị Tăng của Chơn Tông, sống vào khoảng giữa và cuối thời kỳ Liêm Thương, vị Tổ đời thứ 2 của Hào Nhiếp Tự (毫攝寺) thuộc Phái Xuất Vân Tự (出雲寺派); húy là Thiện Loan (善鸞), thông xưng là Cung Nội Khanh (宮內卿); hiệu Từ Tín Phòng (慈信房), con của Thân Loan (親鸞, Shinran). Sau khi Thân Loan lên kinh đô, thì xảy ra cuộc dao động trong chúng môn đệ của ông ở vùng Quan Đông (關東, Kantō), nên ông mới cử Thiện Loan làm sứ xuống vùng này để trấn an, nhưng sau đó thì Thiện Loan đã trở thành nhân vật trung tâm của nhóm môn đệ ấy, tạo ra rất nhiều điều dị nghị, rồi tố cáo việc làm sai trái của môn đệ lên chính quyền Mạc Phủ ở Liêm Thương. Chính vì lẽ đó, vào năm 1256, Thân Loan đã đoạn tuyệt tình cha con với ông. Về sau, ông làm thủ lãnh của nhóm thầy cúng cầu đảo. Về năm mất của ông, có nhiều thuyết khác nhau, hiện vẫn chưa nhất trí.

thiện luật nghi

Good rules and customs. ; (善律儀) Cũng gọi Luật nghi (Phạm: Saôvara), Thiện giới. Đối lại:Ác luật nghi. Luật nghi thiện. Luật nghi, chỉ cho nghi thức giới luật. Thiện luật nghi chỉ cho Vô biểu sắc mà người thụ giới có được, có công năng ngăn dứt điều sai trái, xấu ác. Các Biệt giải thoát luật nghi như giới Tỉ khưu, giới Tỉ khưu ni, 6 pháp, giới Sa di, giới Sa di ni, giới Ưu bà tắc, giới Ưu bà di, giới Bát quan trai... đều có công năng ngăn ngừa các thứ bất luật nghi; hai loại Định cộng giới và Đạo cộng giới có công năng dứt ác giới dục triền và các phiền não có công năng sinh khởi ác giới; Biệt giải thoát luật nghi, Định cộng giới và Đạo cộng giới được gọi chung là Thiện luật nghi. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 96 thì Thiện luật nghi chỉ có ở cõi Dục và cõi Sắc, chứ khôngcóở cõi Vô sắc. Điều này là vì trong 3 cõi, chỉ ở cõi Dục và cõi Sắc là có đủ các loại pháp ác giới, còn cõi Vô sắc thì do đối lại với ác giới cõi Dục, có đủ tác dụng của Tứ viễn là sở y viễn, sở duyên viễn, hành tướng viễn và đối trị viễn, cho nên không có các pháp ác giới; vì không có ác giới nên cũng không có việc đối trị, do đó cũng không có thiện giới. [X. Luận Đại tì bà sa Q.117; luận Câu xá Q.14, 15; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Thuận chính lí Q.36, 39; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết Q.trung, phần 1; Đại thừa nghĩa chương Q.12].

thiện lân quốc bảo kí

(善鄰國寶記) Tác phẩm, 3 quyển, do vị tăng tông Lâm tế Nhật bản là Thụy khê Chu phụng soạn. Nội dung sách này sưu tập các kí sự và văn thư qua lại giữa Trung quốc, Hàn quốc và Nhật bản từ khi 3 nước bắt đầu giao thông với nhau cho đến năm Minh đức thứ 3 (1392) đời Thiên hoàng Hậu tiểu tùng của Nhật bản. Phần ghi chép trong quyển trung là do người đời sau bổ sung thêm. Về những sách tiếp theo sách này thì có: Tục thiện lân quốc bảo kí 1 quyển, Tục thiện lân quốc bảo ngoại kí 1 quyển và Thiện lân quốc bảo biệt kí 1 quyển. Sách này và 2 tác phẩm Tục thiện lân quốc bảo kí, Tục thiện lân quốc bảo ngoại kí đều được thu vào Cải định sử tịch tập lãm tập thứ 21, Tục quần thư loại từ tập 30 trở lên. [X. Nuy bản thư tịch khảo 4; Quần thư bị khảo 17; Bản triều cao tăng truyện Q.42].

thiện ma mạt lạt nam

Janma-marana (skt)—Sanh tử—Birth and death. ** For more information, please see Sanh Tử and Nhị Chủng Sanh Tử.

thiện mỹ

Beautiful.

thiện nam thiện nữ

(善男善女) Gọi đủ: Thiện nam tử (Phạm: Kulaputra), thiện nữ nhân (Phạm: Kuladuhitri,Kula-duhìtà). Chỉ cho người nam, người nữ có tâm lương thiện. Trong kinh điển, tiếng xưng hô này thường được dùng đối với chúng tại gia. Thiện là từ khen ngợi những người do tin Phật nghe pháp mà tu các thiện nghiệp. Theo kinh Thắng man thì những điều kiện để trở thành thiện nam tử, thiện nữ nhân là xả bỏ ngã chấp, ngã ý, chí tâm qui y đức Phật. Trong A di đà kinh thông tán, ngài Khuy cơ nói rằng: Thiện nam tử,thiện nữ nhân là Ưu bà tắc, Ưu bà di trong tiếng Phạm, tức là những người nam, nữ tại gia giữ gìn 5 giới. Cũng có các thuyết khác, như trong kinh Tạp a hàm quyển 30, các tỉ khưu cũng được gọi là Thiện nam tử. Còn trong kinh điển Đại thừa thì đối với Bồ tát thì gọi là Thiện nam tử, đối với tỉ khưu thì phần nhiều gọi tên, nhưng cũng có khi gọi tỉ khưu là Thiện nam tử. Trong A di đà kinh sớ, ngài Chu hoành đời Minh nêu ra 2 nghĩa của chữ Thiện, một là thiện nhân đời trước, hai là thiện loại đời này, nam nữ chỉ chung cho tăng tục lợi độn và tất cả chúng sinh hữu tình trong 6 đường. Đó là vì hết thảy nam nữ, ngày nay được nghe pháp là nhờ đời trước đã tu nhiều thiện căn, nên gọi là thiện nam, thiện nữ. Các nhà chú thích đời sau phần nhiều y cứ theo 2 thuyết này. Thiện nam, thiện nữ thông thường cũng gọi là thiện nam, tín nữ nay là từ gọi chung các tín đồ.[X. kinh Tạp a hàm Q.31; kinh Thập pháp; chương Chân tử trong kinh Thắng man sư tử hống nhất thừa đại phương tiện phương quảng; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; phẩm Thụ học vô học trong kinh Pháp hoa (bản tiếng Phạm)].

thiện nam tín nữ

Good men and believing (good) women—Good son and good daughter—Believers in Buddhism.

Thiện nam tử

善男子; C: shàn nánzí; J: zennanshi; |Có các nghĩa sau: 1. Người con trai có căn lành, hoặc con trai của gia đình có thiện căn, một trong những danh xưng đức Phật thường gọi đệ tử, tương tự như »người cao quý«. Người có niềm tin chân chính (s: kula-putra); 2. Được dùng để gọi chúng sinh hữu tình hơn là gọi tăng sĩ Phật giáo; 3. Ông, anh.

thiện nam tử

Những đứa con của những gia đình tốt; từ Đức Phật dùng để gọi những người tại gia hay xuất gia mà tín tâm nghe và hành trì Phật pháp—Good sons—Sons of good families—Gentlemen—One of the Buddha's terms to address to his disciples.

thiện nam tử thiện nữõ nhân

Good men and believing women—See Thiện Nam Tử.

Thiện nghiệp

善業; C: shànyè; J: zengyō;|Việc làm tốt, hành động tốt lành, nghiệp lành. Hành xử theo cách để đêm lại kết quả tốt đẹp trong tương lai. Thực hành năm giới hay Mười việc thiện (s: sucarita, śubhaṃ-karma; t: dge baḥi las).

thiện nghiệp

Wholesome karma—Good karma—Good deeds—Skillful action—Kusala karma. ; (善業) Đối lại:Ác nghiệp, Bất thiện nghiệp. Chỉ cho nghiệp thiện. Tức các nghiệp do thân, khẩu, ý tạo tác, có công năng manglại quả thiện. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 90 thì sự kiến tạo nghiệp thiệnlày theo như lí tác ý, như thực biết rõ cảnh sở duyên, đồng thời rõ biếtkết quả. Trái lại, nghiệp ác thì y theo tà tâm chấp trước, đối với cảnh sở duyên không rõ biết đúng như thực. Thông thường có các loại Thiện nghiệp khác nhau như 5 giới cấm, 10 việc thiện... [X. luận Đại tì bà sa Q.24, 29; luận Câu xá Q.15, 16; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Du già sư địa Q.89; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.8; Câu xá luận quang kí Q.15]. (xt. Thập Thiện Thập ác, Thiện).

thiện nghệ

To have experience in one's profession—To be skilled in one's trade.

thiện nguyệt

Ba tháng tốt để ăn trường chay như tháng giêng, tháng năm và tháng chín; vì trong ba tháng nầy quỷ thần sẽ đi rảo để báo cáo về hành vi của thế nhân—Good months, i.e. the first, fifth and ninth; because they are the most important in which to do good works and thus obtain a good report in the spirit realm. ; (善月) I. Thiện Nguyệt. Tháng lành. Tức chỉ cho 3 tháng ăn chay trường trong 1 năm, đó là tháng 1, 5, 9. Trong khoảng thời gian 3 tháng này giữ trường trai, làm việc thiện, vì thế gọi là Thiện nguyệt. Theo điềuThiện nguyệt, chương Chúc li trong Sắc tuBách trượng thanh qui quyển thượng thì 1 ngày trước Thiện nguyệt, trong Thiền viện, vị Duy na phải bảo vị Đường tư hành giả đến thưa vị Trụ trì, Khố ti và treo bảng Thiện nguyệt trước cửa điện, đồng thời sắp đặtđầy đủkinh đơn, sổ ghi luân phiên của chư tăng...; mỗi ngày dóng chuông lớn, lên điện đọc kinh chúc tán, hết tháng mới xong. (xt. Tam Trai, Thần Thông Nguyệt). II. Thiện Nguyệt (1149-1241) Danh tăng Trung quốc thuộc tông Thiên thai sống vào đời Nam Tống, người ở Định hải, Tứ minh (Trấn hải, Chiết giang), họ Phương, tự Quang viễn, hiệu Bách đình. (xt. Bách Đình).

thiện ngôn

Good words.

thiện nha

Sudanta (skt)—Good teeth.

Thiện nhân

善人; C: shànrén; J: zenjin;|Người tốt. Khi tái sinh làm thân người, được kể là sinh vào 1 trong »sáu (hoặc 5) đường«. Thường có nghĩa ngụ ý biểu hiện thiện nghiệp, và như thế, có liên quan đến sự tái sinh trong ba đường thấp kém, biểu hiện cho nghiệp bất thiện.

thiện nhân

1) Nhân do thiện căn mà tạo ra thiện quả: A wholesome cause will produce a wholesome result (good fruit). 2) Một người tốt, tin theo thuyết nhân quả của Phật Giáo và sống một đời thiện lành: A good man—An honest man, especially one who believes in Buddhist ideas of causality and lives a good life.

thiện nhân thiền

(善人禪) Thiền của những người có thiện căn tu, là thứ 5 trong 9 thứ Thiền Đạithừa. Thiền định này bao nhiếp tất cả thiện pháp, được chia làm 5 thứ: 1. Bất vị trước: Không đắm vị. Nghĩa là loại thiền này không tham đắm vị của Thiền định. 2. Từ tâm câu: Từ tâm cùng lúc. Nghĩa là tâm thương nhớ chúng sinh đồng thời sinh khởi với Thiền định. 3. Bi tâm câu: Bi tâm cùng lúc. Nghĩa là tâm thương xót chúng sinh khởi lên đồng thời với Thiền định. 4. Hỉ tâm câu: Tâm mừng rỡ cùng lúc. Nghĩa là tâm mừng rỡ khi thấy chúng sinh lìa khổ được vui khởi lên đồng thời với Thiền định. 5. Xả tâm câu: Tâm không thương không ghét cùng lúc. Nghĩa là tâm bình đẳng sinh khởi đồng thời với Thiền định. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.4, thượng; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.hạ]. (xt. Cửu Chủng Đại Thiền).

Thiện Như

(善如, Zennyo, 1333-1389): vị Tăng của Chơn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng thời đại Nam Bắc Triều, vị Tổ kế thế đời thứ 4 của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), húy là Tuấn Huyền (俊玄), tục danh là Bá Kỳ Thủ Tông Khang (伯耆守宗康), tên lúc nhỏ là Quang Dưỡng Hoàn (光養丸), thông xưng là Đại Nạp Ngôn (大納言), hiệu là Thiện Như (善如); xuất thân từ vùng Kyoto, con trai đầu của Tùng Giác (從覺, người con thứ 2 của Giác Như). Năm1346, ông sao bổn lại bức tranh Thân Loan Truyện Hội (親鸞傳繪). Năm 1351 thì kế chức trú trì Bổn NguyệnTự. Đến năm 1360, ông sao chép cuốn Giáo Hành Tín Chứng Diên Thư (敎行信証延書). Cùng năm đó thì Tùng Giác qua đời, ông vẽ hình tượng cha mình, rồi nhờ Tồn Giác (存覺, Zonkaku) ghi bài tán vào. Năm1375, ông nhường chức lại cho Xước Như (綽如, Shakunyo), rồi năm 1381 thì viết sớ quyên tiền tu sửa miếu đường ở vùng Đại Cốc (大谷).

thiện nữ nhân truyện

(善女人傳) Truyện kí, 2 quyển, do ôngBành tế thanh soạn vào đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 150. Nội dung sách này thu chép sự tích các phụ nữ xưa nay qui y Tam bảo, có để lại những việc tốt đẹp. Quyển thượng thu chép sự tích của 80 người như Dương thiều hoa, Kỉ thị... Quyển hạ thu chép sự tích của 50 người như Hoàng hậu Nhân hiếu Từ tinh, Hạ vân anh...

thiện pháp

Good method—Good law—Good ways. ; (善法) Phạm: Kuzalà dharmà#. Đối lại:Ác pháp. Từ ngữ gọi chung tất cả đạo lí hợp với lẽ Thiện, tức chỉ cho Ngũ giới, Thập thiện, Tam học, Lục độ... Ngũ giới, Thập thiện là thiện pháp thế gian, Tam học, Lục độ là thiện pháp xuất thế gian. Hai loại thiện pháp này tuy có sâu, cạn khác nhau, nhưng đều là các pháp thuận với đạo, ích cho đời, vì thế gọi là Thiện pháp. Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 35 (Đại 24, 382 hạ) nói: Nhân dân trong nước mỗi ngày thấy tăng lên, thiện pháp thì không tổn giảm. [X. Vãng sinh yếu tập Q.trung].

thiện pháp dục

(善法欲) Phạm: Kuzalo dharma-cchanda#. Chỉ cho tham dục duyên theo pháp vô lậu mà khởi. Luận Câu xá quyển 19 (Đại 29, 102 trung) nói: Nếu duyên vô lậu thì chẳng phải là lỗi, như thiện pháp dục, không nên lìa bỏ (...) Trụ ở cõi dưới mà tâm cầu cõi trên, đó là thiện pháp dục, chứ không phải thụy miên. Nhưng, trong Thành dy thức luận thuật kí quyển 6 phần cuối, ngài Khuy cơ nói (Đại 43, 444 thượng): Các sư Tát ba đa cho rằng duyên Vô lậu tham là thiện pháp dục; nay Đại thừa chủ trương yêu thương Phật, tham tịch diệt đều thuộc nhiễm ô. Tức cho rằng thiện pháp dục là thiện của Tiểu thừa, còn Đại thừa thì cho đó là nhiễm ô. [X. luận Du già sư địa Q.21].

Thiện pháp hạnh

善法行; C: shànfăxíng; J: zenhōgyō;|Giai vị thứ 9 trong Thập hạnh (十行) của Bồ Tát đạo.

thiện pháp hữu lậu

Good deeds done in a mortal body is rewarded accordingly in the character of another mortal body.

thiện pháp mạ

(善法駡) Giả mượn danh nghĩa việc thiện để hủy nhục người, hoặc để chê bai, châm biếm người, gọi là Thiện pháp mạ, như nói Ông thực là đại thiện nhân. Trái lại, dùng ác pháp để mắng nhiếc, sỉ vả người gọi là Ác pháp mạ, như nói Mi là đồ súc sinh! . [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung, phần 3].

thiện pháp phái

(善法派) Pàli: Saddhammanikàya. Một phái khác của Phật giáo Thượng tọa bộ ở Miến điện, tiền thân là phái Toàn triền(phái mặc ca sa che kín cả 2 vai), tên gọi này có từ hội nghị Thiện pháp pháp sư do vua Mạnh vân (Bodawpaya, ở ngôi 1782-1819) triệu tập và khai mạc. Thời vua Mẫn đông (Mindon, ở ngôi 1853- 1878), phái này được gọi là Vĩnh phái, A vân phái, Đại chúng phái, Cam phái. Sau, vào thời vua Thi bạc (Thibaw, ở ngôi 1878- 1885) phái này cùng phái Thụy cầm chia ra và chínhthức thành lập, cho đến nay vẫn là 1 phái Phật giáo lớn nhất ở Miến điện. Giáo nghĩa của phái này đặc biệt xem trọng việc tích đức, làm thiện và nghiệp báo; giới luật tương đối rộng rãi, được phép mặc áo bằng tơ lụa, hoặc áo không phải đượcmay bằng những mảnh vải vụn, cũng được nhận tiền tài do tín đồ bố thí. Cơ quan cao nhất của phái này là Hội nghị Thiện pháp pháp sư.

Thiện pháp phương tiện đà-la-ni kinh

善法方便陀羅尼經; C: shànfă fāngbiàn tuóluóníjīng; J: zembō hōben daranikyō; S: sumukha-dhāraṇī; T: sgo bzang po shes bya ba'i gzungs.|Hiện đang lưu hành 5 bản dịch tiếng Hán:|1. Thiện pháp phương tiện đà-la-ni kinh (善法方便陀羅尼經), 1 quyển, dịch giả Vô danh.|2a. Kim Cương bí mật thiện môn đà-la-ni kinh (金剛祕密善門陀羅尼經), 1 quyển, dịch giả Vô danh.|2b. Kim Cương bí mật thiện môn đà-la-ni chú kinh (金剛祕密善門陀羅尼呪經); 1 quyển, dịch giả Vô danh.|3. Hộ mệnh pháp môn thần chú kinh (護命法門神呪經), 1 quyển, Bồ-đề Lưu-chí (菩提流志) dịch.|4. Diên thọ diệu môn đà-la-ni kinh (延壽妙門陀羅尼經), 1 quyển, Pháp Hiền (法賢) dịch.

thiện pháp đường

(善法堂) Tòanhà nằm ở góctây nam ngoại thành Thiện kiến trên đỉnh núi Tu di, là nơi các Thiên chúng cõi trờiĐao lợi hội họp. Cứ vào 3 ngày trai thì chư thiên họp ở tòa nhà này để thảo luận về các việc thiện, ác ở cõi người và cõi trời, đồng thời chế phục A tu la. Theo kinh Khởithế quyển 6 thì tòa nhà này mỗi bề rộng 500 do tuần, có 7 lớp lan can, 7 lớp lưới giăng đều được cấu tạo bằng 7 thứ báu, các cửa ở 4 phía đều có lầu gác đài quán, cũng làm bằng 7 báu, mặt đất trong nhà là ngọc lưu li màu xanh, mềm mại mịn màng như áo Ca chiên lân đề. Chính giữa nhà có 1 cây trụ báu, cao 20 do tuần, dưới trụ đăt tòa ngồi của trời Đế thích, cao 1 do tuần, vuông vức mỗi bề 1,5 do tuần, 2 bên đều đặt tòa ngồi của 16 vị Tiểu thiên vương. Theo Đại đường tây vực kí quyển 4 thì thuở xưa đức Phật từng ở trong nhà này thuyết pháp cho mẫu hậu nghe. [X. kinh Trường a hàm Q.20; kinh Đại bátniết bàn Q.12 (bản Bắc); luận Câu xá Q.11; Bích nham lục tắc Q.89].

Thiện Phục

(善伏, Zempuku, ?-660): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, người vùng Nghĩa Hưng (義興), Giang Tô (江蘇), họ Tương (蔣), thường gọi là Đẳng Chiếu (等照). Năm lên 5 tuổi, ông xuất gia ở An Quốc Tự (安國寺), mặc áo vải thô sơ, ăn uống bần cùng, hằng ngày tụng kinh. Vào năm thứ 3 (629) niên hiệu Trinh Quán (貞觀), ông đi du lịch khắp bốn phương, học pháp hành quán Tịnh Độ với Siêu Pháp Sư (超法師) của Thiên Thai Tông, đến các vùng Quế Châu (桂州), Quảng Châu (廣州), Tuần Châu (循州), v.v., sau cùng gặp Tứ Tổ Đạo Tín (道信), được vị này khai thị pháp môn phương tiện. Vào năm thứ 5 (660) niên hiệu Hiển Khánh (顯慶), ông trú ở Hành Nhạc (衡嶽), một hôm nọ bảo đại chúng rằng: “Nhất thiết vô thường, khí tức nan bảo, dạ thâm các tán, duyên tận thường ly (一切無常、氣息難保、夜深各散、緣盡常離, hết thảy vô thường, hơi thở khó toàn, đêm dày chia tan, duyên hết thường lìa)”. Ngay đêm ấy, ông ngồi xếp bằng ngay ngắn mà thị tịch.

thiện quả

Kết quả thiện diệu nhờ nương vào thiện nghiệp—Good fruit from good cause; good fortune in life resulting from previous goodness. ** For more information, please see Thiện Nhân (1).

thiện quỷ

See Thiện Thần, and Thiên Long Bát Bộ.

thiện quỷ thần

(善鬼神) Đối lại:Ác quỉ thần. Chỉ cho các vịthiệnthần trong trời đất, giữ gìn Phật pháp, che chở đất nước, bao gồm Phạm thiên, Đế thích, Địa kì, Long vương, 16 thiện thần... Cứ theo phẩm Quỉ thần trong kinh Kim quang minh thì các vua quỉ thần Kim cương mật tích, Đại tướngTán chi,quỉThiềnna anh, Khẩn na la, Long vương A nậu đạt, Long vương Sa kiệt la, Vua A tu la, vua Ca lâu la, Thiên thần Đại biện, Thiên thần Công đức... đều là Thiện quỉ thần. Những Thiện quỉ thần này đều có năng lực biến hóa tự tại, có sức rất mạnh mẽ, thường giữ gìn, che chở cho thế gian, hằng đêm không xao lãng. [X.kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Kim quang minhkinh văn cú (hội bản) Q.7].

thiện sanh

1) Sujata (skt)—Sanh ra trong dòng hoàng tộc—Well-born, of high birth. 2) Susambhava (skt)—Tiền thân của Đức Phật Thích Ca—A former incarnation of Sakyamuni.

thiện sanh kinh

See Kinh Lễ Sáu Phương in Appendix A.

thiện sinh

(善生) Phạm:Sìígàlaka. Hán âm: Thi ca la việt. Cũng gọi Thiện sinh đồng tử. Con của 1 Trưởng giả ở thành Vương xá,Ấn độ, vào thời đức Phật. Phật thấy cậu học pháp của Bà la môn, cứ mỗi buổi sáng, tắm rửa sạch sẽ rồi lễ bái 6 phương, Ngài bèn dạy cậu lễ 6 phương theo Phật pháp. [X. kinh Thiện sinh tử].

thiện sự

Good act.

thiện tai

Sadhu (skt)—Lành Thay! Quý hóa thay! (từ dùng để tán thán hay khen ngợi)—Good—Excellent!—See Thiện Lai. ; (善哉) Phạm,Pàli:Sàdhu. Hán âm: Sa độ, Tát. Cũng gọi: Hảo, Thiện, Thiện thành, Thắng, Hoàn, Chính. Lành thay! Tức là lời khen khi hợpvới ý mình. Huyền ứng âm nghĩa quyển 17 cho rằng Tát là tiếng gọi tắt sai lầm của từ Sa độ. Ngày xưa, ở Ấn độ, trong hội nghị, khi biểu quyết1vấn đề gì, đều dùng từ ngữ này để bày tỏ sựtán thành. Đức Thích tôn, hoặc các đức Phật khác, khi tán đồng ý kiến của đệ tử, cũng nói Thiện tai! Như kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 hạ) ghi: Phật nói: Thiện tai! A nan, điều ông hỏi rất hay!. Ngoài ra, khi tác pháp trì giới cũng dùng Thiện tai. Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ bách nhất yết ma quyển 1 (Đại 24, 456 thượng) nói: Sa độ (Hán dịch: Thiện), hễ khi tác pháp, hoặc tùy thời tác bạch việc gì, đều nói Thiện tai, nếu không, sẽ phạm tộiviệt pháp. [X. phẩm Diệu âm trong kinh Pháp hoa Q.7; phẩm Tam giả trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.2; Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ bách nhất yết ma Q.8; luận Đại trí độ Q.53; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.20; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.5].

thiện thay! thiện thay!

Lành thay! Lành thay!—Sadhu (skt)—Good! Excellent!

thiện thiện quốc

(鄯善國) Cũng gọi Lâu lan, Thiền thiện, Nạp phược ba. Tên một nước thời xưa ở Tây vực, nằm về mạn tây La bố bạc (Lob-nor) thuộc Tân cương, tức phía cực đông của con đường NamThiên sơn đời cổ, là điểm xung yếu của trục giao thông Đông Tây. Nước này sản xuất nhiều đá ngọc, dân chúng thì sống bằng nghề chăn nuôi, tin theo Phật giáo. Cứ theo Cao tăng Pháp hiển truyện thì vào đời Đông Tấn ngài Pháp hiển có đến nước này, Quốc vương tin thờ Phật pháp, có hơn 4 nghìn tăng đều tu học Tiểu thừa giáo. Còn theoLạcdươnggià lam kí quyển 5 thì vào thời Bắc Ngụy, các ngài Tống vân, Huệ sinh... từ Thổ cốc hồn đi về phía tây 3 nghìn 5 trăm dặm thì đến nước Thiện thiện. Lại tên gọi Nạp phược ba nói trên chỉ thấy ghi trong Đại đường tây vực kí quyển 12. Nước Thiện thiện từ thời Tiền Hán qua các đời Tào Ngụy, Tây Tấn, Phù Tần, cho đến Bắc Ngụy đều sai sứ đến triều cống Trung quốc. Sau, nước này bị Thổ cốc hồn thôn tính. Đời Tùy đặt trấn Thiện thiện ở thành Hãn nê, sau vì nhà Tùy rối ren nên thành Hãn nê cũng hoang phế. Đến đời Đường, trấn Thiện thiện được đổi thành trấn Thạch thành, lệ thuộc Sa châu. Theo sử chép thì nước Thiện thiện ngoài thành Hãn nê còn có thành Y tuần. Căn cứ theo sự điều tra vào năm 1806 Tây lịch của học giả người Anh tên là A. Stein (Sử thản nhân) và theo Thích thị Tây vực kí được trích dẫn trong Thủy kinh chú quyển 2 của Lịch đạo nguyên, đã suy đoán rằng Ca khắc lí khắc (charkhlik oasis) ở phía tây nam, chỗ giao lưu giữa sông Xa nhĩ thành (Charchan) và sông Tháp lí mộc (Tarim) hiện nay chính là thành Y tuần ngày xưa, còn gò hoang Di lãng (Miran) nằm cách thành này 48km về phía đông thì chính là thành Hãn nê. Nhưng cũng cóthuyết cho rằng Ca khắc lí khắc là thành Hãn nê, Di lãng là thành Y tuần; lại có thuyết chủ trương thành Hãn nê và thành Y tuần thực rachỉlà một. Ngoài ra, từ trong thành lũy của Di lãng và nền cũ của các chùa Phật, tháp Phật, có nhiều cổ vật như kinh điển, tượng đất, bích họa... được phát hiện. Trong cácbức bích họa, có nhiều bức được suy đoán là những tác phẩm của thế kỉ III Tây lịch. [X. hội Mật tích kim cương lực sĩ trong kinh Đại bảo tích Q.10; truyện ngài Trí mãnh trong Xuất tam tạng kí tập Q.15; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.5; Hán thư Tây vực truyện 66 thượng; Ngụy thư liệt truyện 90; Đường thư địa lí chí 33 hạ; Cổ kim đồ thư tập thành duệ điển 52; Tây vực khảo cổ đồ phổ Q.thượng; thiên Tây tạng trong Đông tây giao thiệp sử chi nghiên cứu; Thiện thiện quốc đô khảo (Đại cốc Thắng chân, Thị thôn bác sĩ cổ hi kỉ niệm đông dương sử luận tùng) On Yuan Chwang, vol. II, by T. Watters; Ruins of Desert Cathay Vol. I, by A. Stein; Serindia, Vol. I; Lâu lan thiện thiện vấn đề (Phùng thừa quân).

thiện thuyết nhất thiết giáo phái nguyên lưu cập giáo nghĩa tinh kính sử

(善說一切教派源流及教義晶鏡史) Tạng: Grub mthaḥ thams cad kyi khuṅs daṅ ḥdod tshul ston pa legs bśad śel gyi me loṅ. Cũng gọi Nhất thiết tông nghĩa cương yếu chính thuyết thủy tinh kính, Nhất thiết tông nghĩa minh kính, Tông giáo lưu phái kính sử, Độ quán tông phái nguyên lưu.Tác phẩm, tiếng Tây tạng, nói về lịch sử Phật giáo, do ngài Độ quán khước cát ni mã (Tạng: Thuḥu bkvan blobzaṅ chos kyi ñi ma, 1737-1802, dịch ý là Thiện tuệ Pháp nhật) soạn vào năm Gia khánh thứ 6 (1801) đời vua Nhân tông nhà Thanh. Nội dung sách này chia làm 12 chương, giới thiệu sơ lược các phái tông giáo, 12 chương gồm: 1. Ngoại đạo và các phái Phật giáo ở Ấn độ. Phật giáo Tây tạng thời kì hoằng truyền trước và thời kì hoằng truyền sau, Cổ phái Mật chú (Tạng: Gsaí síags rĩií ma). 3. Phái Ca đương (Tạng: Bka# gdams pa).4. Phái Ca nhĩ cư (Tạng: Bka# brgyud pa).5. Phái Hi giải (Tạng:Shi byed pa). 6. Phái Tát ca (Tạng: Sa skya pa). 7. Phái Tước nam (Tạng: Jo naí pa). 8. Phái Ngạch nhĩ đức (Tạng: Dge lugs pa).9. Bổng giáo (Tạng:Bon po). 10. Nho giáo, Đạo giáo Trung quốc. 11. Các phái Phật giáo Trung quốc. 12.Các phái Phật giáo ở Mông cổ, Hòa Điền và các địa khu trong truyền thuyết như Tiên ba lạp (Shambhala)... Trong đó, về phần Phật giáo Tây tạng, ngoài việc trình bày về nguồn gốc các phái, lịch sử phát triển, giáo nghĩa cương yếu... tác giả còn đứng trên quan điểm của phái Ngạch nhĩ đức mà tác giả tin theo để phê bình và so sánh các phái khác, đôi khi tác giả cũng nói đến lịch sử phát triển, giáo lí... của các phái khác có quan hệ với phái Ngạch nhĩ đức. Tác giả Ni mã nhận thấy nội dung 2 bộ Tông nghĩa giảng thuyết (Tạng: Grub mtha# rnam bzad) do ngài Giả dương hiết ba đa cát (Tạng: Fjam dbyaís bshad pa#i rdo rje, 1648-1721) soạn và Tông nghĩa giảng thuyết (Grab mtha# rnam bzad) do ngài Chương gia la ba đa cát (Tạng: Lcaí kya rol pahi rdo rje, 1717- 1786) đời thứ 15 soạn, đều giới hạn ở hệ thống Phật giáoẤn độ, phạm vi trình bày tương đối hẹp, lại nghĩ đến ưu thế chính trị tuyệt đối của phái Nghạch nhĩ đức lúc bấy giờ sẽ đưa dần giáo phái này đến tình trạng suy bại, mất năng lực tự giác tông giáo, đó là những lí do khiến tác giả soạn sách này. Hiện nay có bản Lạp tát (Lhasa), bản Cách đức khắc gỗbằngtiếng Tây tạng lưu hành ở đời.

Thiện thông

善通; C: shàntōng; J: zentsū; |Thông đạt, tương giao mật thiết với nhau không ngăn ngại.

Thiện Thông Tự

(善通寺, Zentsū-ji): ngôi chùa trung tâm Tổng Bản Sơn của Phái Thiện Thông Tự (善通寺派) thuộc Chơn Ngôn Tông, hiện tọa lạc tại 615 Zentsūji-chō (善通寺町), Zentsūji-shi (善通寺市), Kagawa-ken (香川縣), hiệu núi là Bình Phong Phố Ngũ Nhạc Sơn (屏風浦五岳山); tên gọi chính thức là Bình Phong Phố Ngũ Nhạc Sơn Đản Sanh Viện Thiện Thông Tự (屏風浦五岳山誕生院善通寺). Vốn là nơi linh địa chốn đản sanh của Hoằng Pháp Đại Sư, nên danh hiệu viện được đặt như vậy; còn tên chùa là Thiện Thông Tự. Tên chùa này vốn xuất phát từ tên của người cha Đại Sư là Tá Bá Thiện Thông (佐伯善通). Trong thời kỳ chiến tranh, nơi vùng đất đản sanh của Hoằng Pháp Đại Sư này lại rất nổi tiếng với doanh đô của quân lính; cho nên khi nghe tên Thiện Thông Tự, có nhiều người lại nghĩ đến tên của quân đội hay tên của nơi đóng quân hơn là tên chùa. Vào năm thứ 16 niên hiệu Chiêu Hòa (昭和, Shōwa), theo mệnh lệnh của quân đội, khi toàn thể Chơn Ngôn Tông hợp nhất lại thành một khối, Thiện Thông Tự này cũng đã từng trở thành Tổng Bản Sơn của toàn bộ Tông phái. Điều này cũng có liên quan đến nguồn gốc ra đời của Đại Sư vậy. Vào ngày 15 tháng 6 năm thứ 5 (774) niên hiệu Bảo Quy (寶龜), Hoằng Pháp Đại Sư Không Hải (空海, Kūkai) ra đời ở vùng đất này, là con của Tá Bá Thiện Thông. Sau đó, Đại Sư sang nhà đường cầu pháp, rồi sau khi trở về nước thì nhận được sắc chỉ của triều đình cho phép khai Tông lập giáo Chơn Ngôn Tông vào năm 807, lúc ấy phụ thân của Đại Sư mới lấy nhà của ông mà dâng cúng để làm nên ngôi chùa này. Đây là ngôi chùa tối cổ của Chơn Ngôn Tông và thậm chí còn xưa hơn cả Cao Dã Sơn (高野山, Kōyasan) nữa. Từ năm đầu (1229) niên hiệu Khoan Hỷ (寛喜) trở đi, chùa phụ thuộc vào Đông Tự (東寺, Tō-ji), có đầy đủ cả Kim Đường, Giảng Đường, Hộ Ma Đường và rất hưng thạnh; nhưng vào khoảng thời gian 1275-80 thì lại suy thối, và được Hậu Vũ Đa Thiên Hoàng (後宇多天皇, Gouda Tennō) phục hưng lại. Sau đó, vào năm 1340 thì chùa bị cháy rụi, và vị Tổ thời Trung Hưng của chùa là Hựu Phạm (宥範, Yūhan) đã bỏ hết 22 năm để trùng hưng lại ngôi chùa này. Việc này tương truyền là nhờ sự trợ lực của những nhân vật có quyền thế đương thời như Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏), Trực Nghĩa (直義) và Nghĩa Mãn (義滿), v.v. Tuy nhiên, các đường tháp cũng như già lam của chùa lại một lần nữa bị cháy tan tành do vụ binh loạn giữa hai dòng họ Tam Hảo (三好) và Hương Xuyên (香川) vào năm 1558. Các đường tháp hiện tại là do sự ngoại hộ của các vị lãnh chúa của vùng đất này qua nhiều đời. Ngoài các vị lãnh chúa ra thì lịch đại những vị Thiên Hoàng cũng rất sùng tín với chùa. Nơi Kim Đường của chùa tôn trí bức tượng Dược Sư Như Lai dạng ngồi. Nơi Ngự Ảnh Đường tương truyền là ngự điện của mẹ Đại Sư. Còn chánh điện của chùa thì cũng không lớn lắm, nhưng là kiến trúc điển hình của đầu thời kỳ Giang Hộ. Ngôi Ngũ Trùng Tháp tương truyền do Hoằng Pháp Đại Sư kiến lập nên, nhưng rồi lại bị hỏa tai nên cháy rụi và trải qua một thời gian khá lâu không phục hưng lại, mãi đến năm 1884, nhân lúc Húy Kỵ lần thứ 1050 năm của Đại Sư thì ngôi tháp này mới được làm lễ lạc thành.

Thiện thú

善趣; C: shànqù; J: zenshu; |Cõi giới lành. Tái sinh vào cảnh giới trong lành có được từ kết quả tích tập các thiện nghiệp trong đời trước (s: sugati-gati). Tái sinh làm người, hay chư thiên trong sáu đường (lục đạo 六道). Ngược lại là tái sinh trong các đường dữ (ác đạo 惡道). Một số truyền thống xem tái sinh làm a-tu-la là một trong các đường lành.

thiện thú

(善趣) Phạm: Svarga-gati. Cũng gọi Thiện xứ, Thiện đạo. Đối lại:Ác thú (Phạm:Dur-gati),Ác xứ,Ác ạo. Chỉ cho các cõi nước tốt lành mà những người tạo nghiệp nhân thiện sinh ới. Trung A hàm quyển 12 (Đại 1, 503 thượng) ghi: Bấy giờ, đức Thế tôn bảo các tỉ khưu: Ta dùng thiên nhãn thanh tịnh trông xa hơn người, thấy chúng sinh ấy lúc chết có sắc tốt, sắc xấu, tinh diệu, không tinh diệu, đi đến chỗ thiện, chỗ bất thiện, tùy theo nghiệp nhân mà chúng sinh ấy đã tạo tác, ta thấy đúng như thực. Nếu chúng sinh ấy thành tựu thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, phỉ báng thánh nhân, tà kiến thành tựu nghiệp tà kiến, do nhân duyên này, những chúng sinh ấy, khi thân hoại mệnh chungthì chắc chắn sẽ đi tới ác xứ, sinh vào địa ngục. Trái lại, nếu chúng sinh ấy thành tựu thân diệu hạnh, khẩu diệu hạnh, không phỉ báng thánh nhân, chính kiến thành tựu nghiệp chính kiến, do nhân duyên này, những chúng sinh ấy, khi thân hoại mệnh chung, chắc chắn sẽ đến thiện xứ, sinh lên cõi trời. Vì thế nên biết sinh vào thiện thú hay ácthúđều lấy hành nghiệp thiện, ác làm nền tảng. Về phạm vi của Thiện thú vàÁc thú thì luận Đại trí độ quyển 30 cho rằng trong 6 đường, địa ngục, súc sinh, ngã quỉ thuộc về Ác thú; cõi trời, cõi người và A tu la thuộc về Thiện thú. Đây là thuyết phổ thông. Luận Câu xá quyển 18 cho 2 cõi trời và người là Thiện thú.. [X.kinh Tạp a hàm Q.42; hội Bồ tát tạng trong kinh Đại bảo tích Q.38; kinh Bồ tát hành phương tiện cảnh giới hần thông biến hóa Q.trung; phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa Q.3; hẩm Tựa kinh Bất thoái chuyển pháp luân Q.1; luận Đại tì bà sa Q.176].

thiện thư

(善書) Sách lành. Tức chỉ cho loại sách nói về luân lí, đạo đức để khuyên người làm việc thiện. Nội dung lấytư tưởngnhân quả báo ứng, khuyến thiện trừng ác của 3 giáo Phật, Nho, Đạo làm chính, xưa nay vốn đã lưu hành phổ cập khắp trong dân gian Trung quốc. Tính chất của loại sách này rất mộc mạc, bình dị, cho nên dễ được dân chúng tiếp nhận hơn so với kinh điển chính qui của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, đồng thời y cứ vào đóđểxác lập mục tiêu luân lí và qui phạm sinh hoạt. Công việc sửa văn, biên soạn, chú giải, ấn loát xuất bản... Thiện thư, phần nhiều do giai cấp trí thức hoặc thân sĩ địa phương thực hiện, cho nên thông thường họ được gọi là Thiện nhân. Trong Thiện thư, có truyện đề tên tác giả, cũng có truyện mượn danh thần tiên do cầu cơ giáng bút mà thành nên không có tên tác giả. Trong đó, 3 sách: Thái thượng cảm ứng thiên, Văn xương đế quân âm chất văn và Quan thánh đế quân giác thế chân kinh được lưu thông rộng nhất và được tôn xưng là Ba kinh Thánh của tông giáo dân gian. Trong 3 sách, Thái thượng cảm ứng thiên có tính cách đại biểu nhất. Sau các đời Minh, Thanh, 3 sách này dần dần trở thành trụ cột quan trọng đối với sự sinh hoạt tinh thần và tín ngưỡng tông giáo của người Trung quốc và các Thiện thư thực tiễn hóa các đức mục được nói trong 3 kinh Thánh kể trên chính là loại Công quá cách. Trong các Thiện thư thuộc loại Công quá cách thì Thái vi tiên quân công quá cách, là có tính cách truyền thống nhất. Ngoài ra, Âm chất lục (cũng gọi làLiễu phàm tứ huấn) của Viên liễu phàm (1535- 1608) thì ghi chép một cách cụ thể về sự thực hành Công quá cách, đã có ảnh hưởng rất sâu xa đối với tín ngưỡngtông giáo dân gian từ đời Minh, Thanh về sau. Nếu 1 bộ Thiện thư được ấn loát xuất bản chung mà có đủ 3 kinh Thánh nói trên cộng với Thái vi tiên quân công quá cách và Âm chất lục thì đáng gọi là bộ Thiện thư có đầy đủ tính cách đại biểu. Các Thiện thư được lưu truyền từ trước đến nay có rất nhiều loại. Năm Càn long 50 (1789), Thiện nhân Lưu sơn anh biên tập và phát hành Tín tâm ứng nghiệm lục, nội dung vậng tập các loại Thiện thư trọng yếu, chia làm 9 quyển, thu gom khoảng 150 loại Thiện thư. Loạitùng thư về Thiện thư này Rất được dân gian đón nhận. Còn các Thiện thư được ấn hành từ đời Minh về sau, phần nhiều là nhờ có hấp thu Biến văn thịnh hành trong dân gian đương thời mà được lưu thông rộng rãi.

Thiện thần

(善神): tên gọi chung những vị hộ trì chánh pháp trong Tám Bộ chúng. Như trong Phật Thuyết Tạo Tháp Diên Mạng Công Đức Kinh (佛說造塔延命功德經, Taishō Vol. 19, No. 1026) có câu: “Bi mẫn cứu hộ nhất thiết chúng sanh, chư thiên thiện thần thường lai thủ hộ (悲愍救護一切眾生、諸天善神常來守護, thương xót cứu giúp hết thảy chúng sanh, chư thiên thiện thần thường đến bảo vệ).” Hay trong Thiên Địa Bát Dương Thần Chú Kinh (天地八陽神咒經, Taishō Vol. 85, No. 2897) cũng có đoạn: “Nhược văn thử kinh, tín thọ bất nghịch, tức đắc giải thoát chư tội chi nạn, xuất ư khổ hải, thiện thần gia hộ, vô chư chướng ngại, diên niên ích thọ (若聞此經、信受不逆、卽得解脫諸罪之難、出於苦海、善神加護、無諸障礙、延年益壽, nếu nghe kinh này, tin nhận không trái, tức được giải thoát ách nạn các tội, ra khỏi biển khổ, thiện thần gia hộ, không có chướng ngại, sống lâu thêm thọ).”

thiện thần

Các vị thần hộ trì Chánh Pháp—The good devas or spirits who protect Buddhism—Fortune saints. ** For more information, please see Thiên Long Bát Bộ.

thiện thế viện

(善世院) Cơ quan thống lãnh Phật giáo Trung quốc ở đầu đời Minh. Cứ theo Thái tổ thực lục quyển 25 thì vào tháng giêng niên hiệu Hồng vũ năm đầu (1368) thiết lập viện Thiện thế, ngài Tuệ đàm Giác nguyên, vị tăng phái Đại tuệ thuộc tông Lâm tế, thống lãnh các việc của Phật giáo, đồng thời lập viện Huyền giáo do đạo sĩ Kinh thiện duyệt thống lãnh công việc của Đạo giáo. Thiện thế viện được đặt ở chùa Đại long tường tập khánh tại Long hà, Nam kinh, cho nên chùa này cùng lúc được đổi tên là chùa Đại thiên giới (thường gọi là chùa Thiên giới) với bảng hiệu Thiên Hạ Đệ Nhất Thiền Lâm do vua Thái tổ viết. Ngài Tuệ đàm được ban cho hiệu Diễn Phạm Thiện Thế Lợi Quốc Sùng Giáo Đại Thiền Sư với chức quan Tòng nhị phẩm, đảm nhiệm chức Trụ trì chùa Thiên giới, mặc áo đỏ, thống lãnh mọi việc của Phật giáo và các chùa trong nước. Năm Hồng vũ thứ 4 (1371), chùa Thiên giới được đổi tên là Thiên giới thiện thế thiền viện, năm sau được đổi là Thiện thế pháp môn. Đến tháng 12 năm Hồng vũ 14 (1381), chùa lại được đổi là Thiện thế viện, năm sau sáp nhập với Tăng lục ti mới được thành lập và tên chùa cũng được đổi là Thiện thế viện cùng năm đó. Trong chùa đặt Ti tăng lục, ngài Giới tư giữ chức Tả thiện thế và ngài Tông lặc giữ chức Hữu thiện thế. Năm Hồng vũ 21 (1388), chùa Thiên giới bị nạn lửa thiêu hủy, nên Ti tăng lục phải dời đến chùa Thiên hi, địa chỉ chùa Thiên giới cũng được dời đến Thành nam, nhưng vẫn gọi là Thiên giới thiện thế thiền viện.[X. Kim lăng phạm sát chí Q.16, 39; Thích giám kê cổ lược tục tập Q.2; Minh cao tăng truyện; Cổ kim đồ thư tập thành bác vật vậng biên thần dị điển 64 Thích giáo bộ vậngkhảo 6; Minh đại tăng quan (Long trì thanh, Chi na Phật giáo sử học 4 phần 3)].

Thiện Thệ

(s, p: sugata, 善逝): một trong 10 hiệu của đức Phật; âm dịch là Tu Già Đà (修伽陀), Tô Yết Đa (蘇揭多), Tu Già Đa (修伽多); còn gọi là Thiện Khứ (善去), Thiện Giải (善解), Thiện Thuyết Vô Hoạn (善說無患), Hảo Thuyết (好說), Hảo Khứ (好去). Như Lai (s, p: tathāgata, 如來) nghĩa là cỡi đạo như thật mà khéo đến thế giới Ta Bà (s, p: sahā, j: saba, 娑婆) này; Thiện Thệ là như thật đi qua bờ bên kia, không còn trở lại biển sanh tử chìm đắm nữa. Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 2 giải thích rằng: “Phật nhất thiết trí vi đại xa, Bát Chánh Đạo hành nhập Niết Bàn, thị danh Hảo Khứ (佛一切智爲大車、八正道行入涅槃、是名好去, tất cả trí của đức Phật là xe lớn, Bát Chánh Đạo đi vào Niết Bàn, đó là Hảo Khứ [khéo đi vào]).” Trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 10, No. 279) quyển 50 có đoạn rằng: “Thập phương sở hữu chư thế giới, tất năng chấn động vô hữu dư, vị tằng khủng bố nhất chúng sanh, Thiện Thệ uy thần lực như thị (十方所有諸世界、悉能震動無有餘、未曾恐怖一眾生、善逝威神力如是, mười phương vốn có các thế giới, có thể chấn động không có dư, chưa từng khủng bố một chúng sanh, Thiện Thệ oai thần lực như vậy).”

Thiện thệ

danh hiệu tôn xưng đức Phật. Thiện thệ là một trong 10 danh hiệu tôn xưng đức Phật. Thiện nghĩa là tốt lành; thệ nghĩa là đi qua, không còn trở lại. Thiện thệ nghĩa là bậc đã viên mãn mọi điều tốt lành, mãi mãi không còn chịu nghiệp quả thọ sanh trong luân hồi. ; 善逝; C: shàn shì; J: zenzei; S: sugata.|Một trong 10 danh hiệu của chư Phật. Người hoàn tất việc của mình một cách thiện hảo (tự giác), người đã làm xong tất cả mọi việc (giác tha, giác hạnh viên mãn).

thiện thệ

Sugata (skt)—Đấng Thiện Thệ, một danh hiệu của Phật—The Blessed One—Well departed—A title of a Buddha. ; (善逝) Phạm,Pàli:Sugata. Hán âm: Tu già đà, Tô yết đa, Tu già đa. Cũng gọi Thiện khứ, Thiện giải, Thiện thuyết vô hoạn, Hảo thuyết, Hảo khứ. Một trong 10 hiệu của Phật. Ý nói tiến vào các Tam ma đề (thiền định) rất sâu xa và vô lượng trí tuệ vi diệu. Hảo thuyết nghĩa là đức Phật nói đúng như thực tướng các pháp, đồng thời thường xem xét năng lực trí tuệ của các đệ tử, rồi tùy theo đó mà nóicác pháp thích hợp như: Bố thí, Niết bàn, cho đến 5 uẩn, 12 nhân duyên, 4 đế... để dắt dẫn họ vào Phật đạo. Trong 10 hiệu của Phật thì thứ nhất là Như lai, thứ 5 là Thiện thệ. Như lai nghĩa là nương theo đạo như thực, khéo đến thế giới Sa bà này; Thiện thệ nghĩa là thực sự đến bờ bến kia, không còn lui lại biển sinh tử nữa. Hai từ Như lai và Thiện thệ được sử dụng để nêu tỏ cái đức đi, đến tự tại của chư Phật. [X. kinh Tạp a hàm Q.18; kinh Toạ thiền tam muội Q.thượng; kinh Bồ tát địa trì Q.1; luận Đại trí độ Q.2; luận Du già sư địa Q.83; luận Thanh tịnh đạo Q.7; Đại thừa nghĩa chương Q.20].

Thiện thủ

善取; C: shànqŭ; J: zenshu;| Khéo thông hiểu nghĩa lí.

thiện thủ

To be skilful with one's hands.

thiện tinh

(善星) Phạm: Sunakwatra. Pàli:Suna-kkhatta. Hán âm: Tu na ha đa, Tu na sát đa la. Cũng gọi Thiện tú. Con của đức Thích tôn khi ngài còn là Thái tử. Sau khi xuất gia, Thiện tinh đã đoạn trừ hết phiền não cõi Dục, phát được Thiền định thứ 4. Sau, vì gần gũi bạn xấu, sư bị trụy lạc, đánh mất giải thoát và cho rằng không có pháp Niết bàn; lại sinh khởi tà kiến phủ định nhân quả. Hơn nữa, đối với đức Phật sinh ác tâm, cho nên còn sống mà đã đọa vào địa ngục Vô gián, vì thế gọi là Xiển đề tỉ khưu(tức tỉ khưu không thể thành Phật), cũng gọi Tứ thiền tỉ khưu. Pháp hoa huyềntán quyển 1, phần cuối (Đại 34, 671 hạ) ghi: Kinh nói: Phật có3 người con, một là Thiện tinh, hai là Ưu bà ma da, ba là La hầu la. Cho nên kinh Niết bàn nói: Thiện tinh tỉ khưu là con của Bồ tát khi còn tại gia. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.33 (bản Bắc)].

thiện tri

Vibhavana (skt)—Nhận biết rõ ràng—Clear perception.

Thiện tri thức

善知識; C: shàn zhīshì; J: zenchishiki; S: kalyā-ṇamitra; P: kalyānamitta; hoặc Thiện hữu (善友), Ðạo hữu (道友);|Danh từ chỉ một người bạn đạo. Trong thời Phật giáo nguyên thuỷ, danh từ này được dùng để chỉ một vị tăng đầy đủ những đạo hạnh như nắm vững lí thuyết Phật pháp và tinh thông thiền định, có thể giúp đỡ những vị khác trên con đường tu học.|Ðức Phật Thích-ca Mâu-ni rất quý trọng tình bạn trên con đường giải thoát. Ngài dạy như sau: »Cả một cuộc đời tầm đạo đều lấy tình bạn làm căn bản… Một Tỉ-khâu, một Thiện tri thức, một người bạn đồng hành – từ một vị này người ta có thể mong đợi rằng, ông ta sẽ tinh cần tu học Bát chính đạo để đạt giải thoát cho chính mình và những người bạn đồng hành.«|Dần dần, danh từ này cũng thường được sử dụng để chỉ những người tìm đạo, trong giới Cư sĩ và cả trong Tăng già. Trong những bài thuyết pháp, các vị Thiền sư thường dùng các biểu thị Thiện tri thức, Ðạo lưu… để chỉ những người hâm mộ Phật pháp đang chú tâm lắng nghe.|Người ta thường phân Thiện tri thức thành ba hạng: 1. Giáo thụ thiện tri thức (教授善知識), là những người có khả năng hướng dẫn, dạy dỗ trên con đường tu hành, là bậc thầy; 2. Ðồng hạnh thiện tri thức (同行善知識), là những người đồng chí, đồng hạnh, tức là người bạn tốt, trung thành; 3. Ngoại hộ thiện tri thức (外護善知識), là những người giúp cho những tiện nghi, tạo điều kiện tốt cho người tu hành.

thiện tri thức

Tiếng xưng hô người đủ chánh tri chánh kiến. ; Kalyanamitta (p)—Kalyanamitra (skt)—Good-knowing advisor—A friend of vitue—A well wishing friend—A learned master—A good friend or intimate, one well known and intimate—See Thiện Hữu Tri Thức in Vietnamese-English Section. ; (善知識) Phạm: Kalyàịamitra. Pàli:Kalyàịa-mitta. Hán âm: Ca la mật, Ca lí dã nẵng mật đát la. Cũng gọi Tri thức, Thiện hữu, Thân hữu, Thắng hữu, Thiện thân hữu. Bạn lành, tức chỉ cho người chính trực, có đức hạnh, có năng lực dẫn dắt người khác hướng về chính đạo. Trái lại, người bạn dắt dẫn ta đi vào tà đạo thì gọi là Ác hữu.Cứ theo phẩm Thường đề trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 27 thì người có khả năng nói các pháp không, vô tướng, vô tác, vô sinh, vô diệt và Nhất thiết chủng trí, khiến người nghe vui vẻ tin ưa, gọi là Thiện tri thức. Phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm ghi rằng trong quá trình cầu đạo, đồng tử Thiện tài đã tham phỏng 55 vị Thiện tri thức(thông thường nói chỉ có 53 vị Thiện tri thức), tức trên từ chư Phật, Bồ tát, dưới đến người, trời... bất luận xuất hiện dưới hình thức nào, hễ có năng lực dắt dẫn chúng sinh đi theo con đường bỏ ác, tu thiện để bước vào đạo Phật, thì đều có thể được gọi là Thiện tri thức. Còn Thích thị yếu lãm quyển thượng thì trích dẫn luận Du già sư địa nêu lên 10 thứ công đức của Thiện tri thức là: Điều phục, tịch tĩnh, trừ hoặc, tăng đức, dũng mãnh, kinh phú, giác chân, thiện thuyết, bi thâm và li thoái. Lại theo Luật Tứ phần quyển 41 thì Thiện thân hữu phải có đủ 7 điều kiện là: Cho được cái khó cho, làm được việc khó làm, nhẫn được điều khó nhẫn, đem việc kín bảo cho nhau biết, khuyên nhau không che giấu điều lỗi, gặp khổ nạn không bỏ nhau và nghèo hèn không khinh nhau, gọi là Thiện hữu thất sự(bảy việc của người bạn lành). Trong kinh luận có nêu các loại Thiện tri thức khác nhau, cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 4 hạ của ngài Trí khải thì có 3 loại Thiện tri thức dưới đây: 1. Ngoại hộ: Giúp đỡ ở bên ngoài để bạn được an ổn tu đạo. 2. Đồng hành: Cùng nhau hành động, khích lệ lẫn nhau. 3. Giáo thụ: Nói pháp khéo léo. Theo Câu xá luận tụng sớ quyển 29 của ngài Viên huy thì người bạn cho pháp là Thượng thân hữu, người cho của và pháp là Trung thân hữu, còn người chỉ cho của không thôi thì là Hạ thân hữu; trên đây gọi là Tam hữu. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 18 cũng nêu ra 3 loại Thiện tri thức là Nhận, Pháp và Nhân pháp hợp biện.Cứ theo phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm quyển 36 (bản dịch cũ) thì có 10 loại Thiện tri thức đó là: 1. Thiện tri thức thường giúp đỡ bạn an trụ nơi tâm bồ đề. 2. Thiện tri thức có năng lực khiến bạn tu tập các căn lành. 3. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn tu cácBa la mật một cách rốt ráo. 4. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn phân biệt giảng nói tất cả pháp. 5. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn an trụ và thành thục tất cả chúng sinh. 6. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn có đủ biện tài giải đáp được các nghi vấn. 7. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn không bám níu tất cả sinh tử. 8. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn tu hạnh Bồ tát trong tất cả kiếp mà tâm không chán mỏi. 9. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn an trụ nơi hạnh Phổ hiền. 10. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn tiến sâu vào tất cả trí của Phật. [X.kinh Tạp a hàm Q.27, 36, 45; kinh Tức vị tỉ khưu thuyết trong Trung a hàm Q.10; kinh Xà ni sa trong Trường a hàm Q.5; phẩm Thiện tri thức trong kinh Tăng nhất a hàm Q.11; kinh Thi a la việt lục phương lễ; kinh Đại bát niết bàn Q.23 (bản Nam); phẩm Diệu trang nghiêm vương bản sự trong kinh Pháp hoa Q.7; luận Đại trí độ Q.71, 96]. (xt. TriThức).

thiện tri thức ma

(善知識魔) Ma thiện tri thức, 1 trong 10 thứ ma. Nghĩa là đối với pháp tự mình đã chứng ngộ, khởi ý niệm đắm trước, bỏn sẻn, không chịu mở bày, chỉ dẫn người khác. Phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 42 (Đại 9, 663 thượng) nói: Thiện tri thức ma là đối với pháp chứng được sinh tâm đắm trước. (xt. Thập Ma).

thiện trí

(善智) Cao tăng Trung quốc thuộc Tam giai giáo, sống vào đời Tùy, người ở Giới hưu (Sơn tây) Tây hà, họ Tống. Sư cùng với người anh là Bản tế cùng học ngài Tín hành–Tổ khai sáng của Tam giai giáo–sau, được nối pháp. Sư đặt ra các nghi thức và qui củ của Tam giai giáo, soạn bộ Đốn giáo Nhất thừa 20quyển. Sư tịch vào năm Đại nghiệp thứ 3 (607) đời Tùy Dạng đế, đệ tử antáng sư bên cạnh mộ ngài Tín hành.

thiện trụ

(善住) I. Thiện Trụ. Phạm:Supratiwỉhita. An định, an trụ. Như người thường niệm Quảng đại bảo lâu các thiện trụ bí mật đà la ni, nhờ Đà la ni này có sức đại uy thần nên thành tựu được các công đức thù thắng, đồng thời khiến chúng sinh nghe Đà la ni này, thường được an ổn, xa lìa các nẻo ác. [X.kinh Quảng đại bảo lâu các thiện trụ bí mật đà la ni Q.thượng]. II. Thiện Trụ. Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Nguyên, tự Vô trụ, biệt hiệu Vân ốc. Sư từng nhập thất niệm Phật, tu hạnh Tịnh độ ở chùa Báo ân tại quận Ngô. Sư lại giỏi làm thơ, thường qua lại xướng họa với các thi nhân như Cừu viễn, Bạch đĩnh, Ngu tập, Tống vô... Sư có các trứ tác: An lạc truyện, Cốc hưởng tập. [X. Tứ khố đề yếu Q.166].

Thiện trụ bí mật kinh

善住祕密經; C: shànzhù mìmì jīng; J: zenjū himitsu kyō;|Tên gọi tắt của Đại bảo quảng bác lâu các thiện trụ bí mật đà-la-ni kinh (大寶廣博樓閣善住祕密陀羅尼經).

thiện trụ thiên tử

(善住天子) Một trong các vị Thiên tử của cõi trời Đao lợi. Cứ theo kinh Phật đính tôn thắng đà la ni thì Thiện trụ thiên tử cùng với các đại thiên nhân, thiên nữ đang dạo chơi trong vườn, đêm ấy, trong hư không có tiếng nói, bảo rằng 7 ngày nữa Thiện trụ thiên tử sẽ chết, 7 lần thụ sinh làm súc sinh ở cõi Diêm phù đề, rồi lại phải chịukhổ trong địa ngục. Thiên tử nghe xong, cảm thấy rất kinh sợ và xin trời Đế thích chỉ bảo. Trời Đế thích bèn đem các vòng hoa to lớn, áo trời... đến tinh xá Kì viên cúng dường và cầu đức Phật cứu độ, Phật liền nói Phật đính tôn thắng đà la ni, bảo Thiên tử Thiện trụ đọc tụng để được thoát nạn và kéo dài tuổi thọ.

Thiện tu

善修; C: shànxiū; J: zenshu;|Tu hành chân chính.

thiện tuệ địa

Sadhumati (skt)—See Thập Địa Phật Thừa (9).

thiện tài

Skillful.

Thiện Tài Đồng Tử

(s: Sudhana-śreṣṭhi-dāraka, 善財童子): là vị Bồ Tát cầu đạo trong Phẩm Nhập Pháp Giới (入法界品) của Kinh Hoa Nghiêm, từng đi về phía Nam tham vấn 53 vị thiện tri thức, cho đến Bồ Tát Phổ Hiền (s: Samantabhadra, 普賢) thì thành tựu Phật đạo. Phật Giáo Đại Thừa lấy trường hợp này làm bằng chứng của Tức Thân Thành Phật (卽身成佛); quá trình cầu pháp của Đồng Tử thể hiện các giai đoạn nhập vào pháp giới Hoa Nghiêm. Căn cứ vào Phẩm Nhập Pháp Giới của Cựu Hoa Nghiêm Kinh (舊華嚴經) quyển 45, Thiện Tài Đồng Tử là con tai của trưởng giả Phước Thành (福城), lúc vào bào thai và hạ sanh, có các loại trân bảo tự nhiên hiện ra, nên có tên là Thiện Tài (善財). Về sau, Đồng Tử được Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (s: Mañjuśrī, 文殊師利) dạy dỗ, rồi ngao du đến các nước phương Nam. Ban đầu, Đồng Tử đến Khả Lạc Quốc (可樂國), tham vấn Tỳ Kheo Công Đức Vân (功德雲), nhận pháp môn Niệm Phật Tam Muội (念佛三昧). Tiếp theo, Đồng Tử đã từng tham vấn qua đủ các hạng người như Bồ Tát, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, đồng tử, đồng nữ, Dạ Thiên, Thiên Nữ, Bà La Môn, Trưởng Giả, thầy thuốc, người lái thuyền, quốc vương, tiên nhân, Phật mẫu, vương phi, Thần Đất, Thần Cây, v.v.; lắng nghe và thọ nhận đủ loại pháp môn; cuối cùng đến đạo tràng của Bồ Tát Phổ Hiền thì chứng vào Pháp Giới Vô Sanh (無生法界). Theo Hoa Nghiêm Thám Huyền Ký (華嚴經探玄記, Taishō Vol. 35, No. 1733) quyển 18 cho biết, hành chứng của Đồng Tử thông với Tam Sanh (三生, ba đời) là thấy nghe (đời trước), hành giải (đời này), chứng nhập (đời sau); tức biểu thị trong một đời này, Thiện Tài tu đủ những pháp hành của 5 vị là Thập Tín (十信), Thập Trụ (十住), Thập Hành (十行), Thập Hồi Hướng (十迴向), Thập Địa (十地). Đây chính là nghĩa “Tam Sanh Thành Phật (一生成佛, Thành Phật Ba Đời).” Tuy nhiên, Hoa Nghiêm Tông chỉ có thuyết Nhất Sanh Thành Phật (一生成佛, Thành Phật Một Đời); cho nên khi nói ba đời ở đây biểu thị sự phân vị của pháp môn, thật tế thì trong một đời một niệm đã có ba đời; vì vậy chủ trương ba đời thấy nghe, hành giải, chứng nhập có thể trong một đời mà thành Phật. Do đó, việc thành Phật của Thiện Tài Đồng Tử có hai thuyết là Tam Sanh Thành Phật và Nhất Sanh Thành Phật. Ngoài ra, việc Đồng Tử tham vấn các thiện tri thức biểu thị thứ tự trước sau của nhân quả tiệm chứng (因果漸證, chứng ngộ từ từ theo nhân quả). Có nhiều kệ tán cũng như hình tượng liên quan đến lịch trình cầu đạo của Thiện Tài Đồng Tử, như Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Nhập Pháp Giới Phẩm Tán (大方廣佛華嚴經入法界品讚) của Dương Kiệt (楊傑, hậu bán thế kỷ 11) nhà Bắc Tống, được tìm thấy trong Viên Tông Văn Loại (圓宗文類, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 58, No. 1015) quyển 22; tỷ dụ bài Diệu Đức Viên Mãn Chủ Dạ Thần Tán (妙德圓滿主夜神讚) rằng: “Lâu các trang nghiêm tiếp Thiện Tài, chư thiên vi nhiễu hóa môn khai, Tỳ Lô Hải Tạng ngô thân nhập, tằng kiến Thế Tôn Đâu Suất lai (樓閣莊嚴接善財、諸天圍遶化門開、毗盧海藏吾親入、曾見世尊兜率來, lầu gác trang nghiêm tiếp Thiện Tài, chư thiên quanh nhiễu hóa cửa khai, Tỳ Lô biển tánh ta vào thẳng, từng thấy Thế Tôn Đâu Suất [đến] đây).” Hay tác phẩm Ngũ Tướng Trí Thức Tụng (五相智識頌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 58, No. 1022) của Trung Sư (忠師); như bài tụng rằng: “Kỳ tai bất động Ưu Bà Di, thần biến đa năng xuất định thì, cố vấn Thiện Tài hoàn kiến phủ, nhất luân minh nguyệt ấn thiên trì (奇哉不動優婆夷、神變多能出定時、顧問善財還見否、一輪明月印天池, lạ thay Ưu Bà Di, thần biến đa năng xuất định khi, muốn hỏi Thiện Tài thấy chăng nhỉ, một vầng trăng sáng giữa hồ trời).” Bên cạnh đó, Thiền Sư Phật Quốc Duy Bạch (佛國惟白, ?-?), tu sĩ của Vân Môn Tông sống dưới thời Bắc Tống, cũng có bản Phật Quốc Văn Thù Chỉ Nam Đồ Tán (佛國文殊指南圖讚, Taishō Vol. 45, No. 1891), v.v. Tại các tự viện Thiền Tông, thông thường bên tay trái của Bồ Tát Quán Thế Âm thường có an trí tượng Thiện Tài Đồng Tử. Trong Thiền môn có bài tán về Thiện Tài rằng: “Thiện Tài Đồng Tử, ngũ thập tam tham, siêu sanh tử độ cô hồn, tảo vãng Tây phương, nhược nhơn quy y, Phật Pháp Tăng Tam Bảo, bất đọa Tam Đồ (善財童子、五十三參、超生死度孤魂、早往西方、若人歸依、佛法僧三寶、不墮三途, Thiện Tài Đồng Tử, năm ba lần tham, vượt sanh tử độ cô hồn, sớm qua Tây phương, nếu người quy y, Phật Pháp Tăng Tam Bảo, không đọa Ba Đường).”

thiện tài đồng tử

Sudhana (skt)—Thiện Tài Đồng Tử (trong các chùa , bên trái tượng Quan Âm Bồ Tát có đặt tượng Thiện Tài Đồng Tử), một Phật tử được nói đến trong Kinh Hoa Nghiêm. Tên ông là Sudhana có nghĩa là “Thiện Tài” và lý do ông có tên nầy là vì lúc ông vừa mới sanh ra thì đột nhiên châu báu xuất hiện trong nhà cha ông. Ông là nhân vật chính trong chương cuối cùng và cũng là chương dài nhất trong Kinh Hoa Nghiêm. Trong khi tìm cầu giác ngộ, ông đã viếng thăm và tòng học với 53 vị thiện hữu tri thức và đã trở thành ngang hàng hay bình đẳng với Phật trong một đời (Trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới: “Ngài Văn Thù ở trong khu rừng trang nghiêm có 500 vị đồng tử, mà Thiện Tài là một người phát tâm trong số 500 vị ấy. Thiện Tài sau đó đi về phương nam tham học cùng 53 vị tri thức và chứng nhập pháp giới)—A disciple mentioned in the Avatamsaka Sutra (Kinh Hoa Nghiêm). His name means “Good Wealth” and the reason for him to obtain such name was that when he was born, myriad treasures suddenly appeared in his father's home. The main protagonist in the last and longest chapter of the Avatamsaka Sutra. In seeking enlightenment, he tried to visit and study with fifty-three spiritual advisors and became equal with the Buddha in just one lifetime. ; (善財童子) Phạm: Sudhana-Zrewỉhi-dàraka. Vị Bồ tát cầu đạo nói trong phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm, từng đi về phương nam tham vấn 55 vị thiện tri thức, gặp bồ tát Phổ hiền thì thành tựu Phật đạo. Phật giáo Đại thừa dùng trường hợp này làm ví dụ để chứng minh nghĩa Tức thân thành Phật, còn quá trình cầu đạo của đồng tử Thiện tài thì biểu trưng cho các giai đoạn đi vào pháp giới của Hoa nghiêm. Cứ theo phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm quyển 45 (bản dịch cũ), đồng tử Thiện tài là con của 1 vị trưởng giả ở Phúc thành, từ khi đầu thai đến lúc sinh ra, có rất nhiều thứ trân bảo tự nhiên xuất hiện, vì thế đặt tênlàThiện tài(của cải tốt lành). Về sau, được sự dạy bảo của bồ tát Văn thù, đồng tử Thiện tài đi khắp các nước ở phương nam. Đầu tiên, Thiện tài đến nước Khả lạc tham vấn tỉ khưu Công đức vân, học được môn tam muội Niệm Phật. Sau đó, lần lượt tham vấn các vị Bồ tát, Tỉ khưu, Tỉ khưu ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, Đồng tử, Đồng nữ,Dạ thiên, Thiên nữ, Bà la môn, Trưởng giả, Y sư, Thuyền sư, Quốc vương, Tiên nhân, Phật mẫu, Vương phi, Địa thần, Thụ thần... lắng nghe và lãnh thụ các loại pháp môn, cuối cùng đến đạo tràng Bồ tát Phổ hiền thì Thiện tài chứng nhập pháp giới Vô sinh. Cứ theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 18 thì việc đồngtửThiện tài tham vấn các thiện tri thức có 8 ý nghĩa, đó là: Thiện tri thức là khuôn phép, là duyên thắng hạnh, phá kiến chấp kiêu mạn, xa lìa ma vi tế, nương thành hạnh, nương hiển vị, hiển bày sự sâu rộng và nêu rõ duyên khởi. Sách đã dẫn cũng cho rằng hành chứng của đồng tử Thiện tài suốt cả 3 đời: Kiến văn(đời trước), Giải hành(đời này) và Chứng nhập(đời sau) và lấy đời này của đồng tử Thiện tài làm Giải hành sinh, biểu thị Thiện tài trong 1 đời này tu đủ hành pháp của 5 giai vị: Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng và Thập địa, đây chính là nghĩa Tam sinh thành Phật (ba đời thành Phật), là y cứ vào quả báo cách đời mà nói 3 đời. Nhưng tông Hoa nghiêm còn có thuyết Nhất sinh thành Phật (thành Phật trong 1 đời), cho rằng ba đời (tam sinh) chỉ là từ ngữ biểu thị phần vị pháp môn, chứ thực ra trong một đời 1 niệm cũng có 3 đời, cho nên tông Hoa nghiêm chủ trương 3 đời kiến văn, giải hành, chứng nhập có thể mỗi đời đều tự trong1đời ấy mà thành Phật. Theo đây, việc thành Phật của đồng tử Thiện tài có 2 thuyết: Ba đời thành Phật và một đời thành Phật.Ngoài ra, việc đồng tử Thiện tài tham vấn các thiện tri thức là biểu thị thứ tự trước sau về nhân quả chứng ngộ tiệm tiến. Trong đó, từ lần đầu tiên gặp ngài Văn thù về sau đến vị thiện tri thức thứ 41, là biểu thị nương vào tướng tu hành của các giai vị Tam hiền, Thập thánh. Mười một vị tiếp sau là biểu thị cho tướng hội duyên nhập thực, tức tổng hợp các duyên sai biệt của các giai vị nói ở trước mà cùng vào lí thực tướng, chỉ cho thân chứng Diệu giác. Kế đó, gặp vị thứ 53 là bồ tát Di lặc, là biểu thị tướng nhiếp đức thành nhân, tức là thu nhiếp đức hội duyên nhập thực này để làm chính nhân cho Nhất sinh bổ xứ. Kế nữa là gặp lại bồ tát Văn thù là biểu thị tướng trí chiếu vô nhị, tức gặp bồ tát Văn thù lần đầu là tượng trưng cho Tín trí, sau khi đã tham vấn lần thứ 54, lại gặp bồ tát Văn thù lần thứ 2 là tượng trưng cho Chứng trí. Đến đây, tức biểu thị kết quả sự tầm cầu khắp các pháp môn của đồng tử Thiện tài đã tương ứng với bản trí, thầm hợp không hai, đã lìa tướng phân biệt năng và sở, được chiếu thể và độc lập. Sau cùng, đồng tử Thiện tài gặp bồ tát Phổ hiền là biểu thị tướng hiển bày nhân rộng lớn, tức đã đạt đến Trí, Chứng không hai, cho nên dứt ý quên lời, tất cả đều là Đạo, pháp pháp toàn chân, y chính dung hợp, lớp lớp vô tận, nêu 1 pháp tức viên nhân, hết thảy các pháp đều như thế, đó chính là cảnh giới Phổ hiền rộng lớn. Có rất nhiều kệ tán tụng và tranh vẽ về lịch trình cầu đạo của đồng tử Thiện tài, như Đại phương quảng Hoa nghiêm nhập pháp giới phẩm tán của cư sĩ Dương kiệt đời Bắc Tống, Ngũ tướng tri thức tụng của ngài Trung sư, Văn thù chỉ nam đồ tán của ngài Duy bạch... Những tác phẩm này cũng thường được dùng làm đề tài văn học Phật giáo. Còn trong các chùa viện thuộc Thiền tông thì tượng của đồng tử Thiện tài thường được đặtởbên trái tượng bồ tát Quán thế âm, tức lấy đề tài từ việc đồng tử Thiện tài được bồ tát Quán thế âm giáo hóa khi đồng tử đến bái yết Ngài trong quá trình tham vấn các bậc danh sư. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.55; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.3, 85; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2; môn Linh tượng trong Thiền lâm tượng khí tiên].

thiện tánh

Bản tánh thiện, một trong tam tánh—Good nature—Good in nature, or in fundamental quality, one of the three types of characters. **For more information, please see Tam Tánh.

thiện tâm

a) Tâm thiện lành với những tư tưởng thiện lành: Wholesome mind (good heart—Good mind) withgood thoughts. b) Tâm thiện lành bao gồm những việc làm thiện lành đối với tha nhân, từ bi, bố thí, nhẫn nhục, ái ngữ, yêu thương, tín tâm, luôn nguyện cứu độ tha nhân—Benevolence—Good mind includes beneficial intentions towards others, compassion, loving-kindness, generosity, patience, good speech, tolerance, love, faith, wishing to help others, etc. c) Thiện tâm giúp đẩy lùi những tâm tiêu cực: Wholesome mind can be used to dispel negative minds. ; (善心) Tâm thiền định không suy lường, tức chỉ cho trạng thái tâm chuyên chú vào 1 đối tượng. Ngoài ra, cũng chỉ cho tâm xưa nay vốn thanh tịnh nhờ vào thiền định mà có được. [X. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự].

thiện tâm quán

Contemplation on good heart. 1) Thiện Tâm Quán hay quán yêu thương có thể tẩy trừ sân hận: Contemplation on love can be used to dispel anger. 2) Ganh tỵ có thể vượt qua bằng cách quán sát lòng biết ơn và sự hoan hỷ của tha nhân: Jealousy can be overcome by contemplating on appreciation and rejoicing in the good qualities of others.

Thiện tín

(善信): niềm tin chí thành vào Phật pháp, hay chỉ cho người có niềm tin như vậy. Như trong Kim Cang Kinh Thạch Chú (金剛經石注, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 25, No. 497) có đoạn: “Đản hữu thiện tín chi nhân, giai tri độc tụng Kim Cang tôn kinh, cập khấu kỳ nghĩa lý vân hà (但有善信之人、皆知讀誦金剛尊經、及叩其義理云何, chỉ có người có niềm tin chí thành, đều biết đọc tụng Kim Cang tôn kinh, và hỏi nghĩa lý kinh như thế nào).” Hay trong Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới Lược Sớ (梵網經菩薩戒略疏, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 38, No. 695) quyển 6 lại có đoạn: “Cố tu thường sanh thiện tín, tín ngã cập chúng sanh, thị đương thành chi Phật, chư Phật thị dĩ thành chi Phật (故須常生善信、信我及眾生、是當成之佛、諸佛是已成之佛, vì vậy nên thường sanh niềm tin chí thành, tin ta và chúng sanh, là vị Phật sẽ thành, chư Phật là vị Phật đã thành).” Hoặc trong Thời Thời Háo Niệm Phật (時時好念佛, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1200) cũng có câu: “Thiện tín kiến văn tâm hoan hỷ, ác nhân đỗ lí khởi phong ba (善信見聞心歡喜、惡人肚裏起風波, khéo tin thấy nghe tâm hoan hỷ, người ác trong ruột nỗi phong ba).”

thiện tín

Good faith—Believers in Buddhism.

thiện tín ni

(善信尼) Vị tỉ khưu ni đầu tiên ở Nhật bản, con gái của Tư mã Đạt đẳng, người đứng đầu thônAn bộở Đại hòa, tên tục là Đảo. Năm Thiên hoàng Mẫn đạt 13 (584), Ni sư 11 tuổi, theo vị tăng người Cao Li tên là Huệ tiện xuất gia. Đại thần Tô ngã Mã tử từng kiến tạo tượng Phật, thỉnh một pho tượng Bồ tát Di lặc từ nước Tân la truyền đến về thờ trong chùa, rồi thỉnh Ni sư về làm Trụ trì. Sau, gặp nạn Vật bộ Thủ ốc, Trung thần Thắng hải... hủy diệt Phật pháp, Ni sư tận lực lấy lại 3 tấm ca sa, từng bị giam cầm đánh đập. Về sau, Ni sư đến nước Bách tế học tập giới luật. Sau khi trở về Nhật bản, Ni sư ở chùa Anh tỉnh hóa độ ni chúng. [X. Nhật bản thư kỉ 20, 21; Nguyên hanh thích thư Q.18].

Thiện tính

善性; C: shànxìng; J: zenshō;|Phẩm chất đạo đức tốt. Một trong ba tính của mọi hành nghiệp, hai tính kia là Bất thiện tính (不善性) và Vô kí tính (無記性).

thiện tính

(善性) I. Thiện Tính. Cũng gọi Thiện. Chỉ cho pháp có tính chất thiện, 1 trong 3 tính. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 5 thì bất cứ pháp nào thuận theo lợi ích đời này và đời sau, đều gọi là Thiện, còn như quả vui cõi trời, cõi người tuy thuận theo lợi ích đời này nhưng không thuận theo lợi ích đời sau thì không được gọi là Thiện. Trong 6 chuyển thức(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý)bất cứ thức nào, hễ tương ứng với tín, tàm, quí, vô tham, vô sân, vô si, tinh tiến, khinh an, bất phóng dật, hành xả, bất hại... đều thuộc tính thiện. Luận Câu xá quyển 13 cũng nhân ra 4 loại tính Thiện, trong đó, Thắng nghĩa thiện là chỉ cho Trạch diệt niết bàn, Tự tính thiện chỉ cho tàm, quí và 3 thiện căn vô tham, vô sân, vô si, Tương ứng thiện là chỉ tâm vương, tâm sở tương ứng với Tự tính thiện mà khởi lên và trở thành Thiện tính, còn Đẳng khởi Thiện thì chỉ cho Thiện tính khởi lên từ Tự tính thiện và Tương ứng thiện. [X. luận Đại tì bà sa Q.51, luận Thành duy thức Q.3; luậnThuận chính lí Q.4; Câu xá luận quang kí Q.13]. (xt. Tam Tính, Thiện). II. Thiện Tính. Đối lại: Ác tính. Một trong hai tính chất của phàm phu. Tức chỉ cho tính chất lương thiện có thể hòa nhập với đạo thế gian và xuất thế gian. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 88 thì quả báo sai khác giữa tính thiện và tính ác là: Quả báo của tính ác phải đọa vào 3 đường ác địa ngục, ngã quỉ và súc sinh, còn quả báo của tính thiện thì được sinh vào cõi người, cõi trời, A tu la và được đạo Niết bàn. Trong Quán niệm pháp môn, ngài Thiện đạo chia người có tính thiện làm 5 loại, tức bỏ ác làm thiện, bỏtà làm chính, bỏ hư làm thật, bỏ trái làm phải và bỏ ngụy làmchân, đồng thời cho rằng 5 loại người này nếu qui y Phật pháp thì có năng lực làm lợi mình, lợi người.

thiện túc

Upavasatha, or Posadha (skt). 1) Chỉ trú ngụ nơi điều thiện—Abiding in goodness. 2) Một vị Phật tử (tại gia) giữ được tám giới (bát quan trai giới): A disciple who keeps eight commandments.

thiện tư đồng tử kinh

(善思童子經) Kinh, 2 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật vào thành Tì da li khất thực, Ngài đến nhà Tì ma la cật li xa, có đồng tử Thiện tư, nhờ căn lực đời trước huân tập, nên dâng hoa lễ Phật, nguyện thành bồ đề. Đức Phật liền nói pháp cho đồng tử nghe, nói kệ đối đáp qua lại, đồng tử bèn chứng được vô sinh nhẫn. Ngoài ra, kinh Đại phương đẳng đính vương, do ngài Pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn và kinh Đại thừa đính vương, do ngài Nguyệt bà thủ na dịch vào đời Lương đều là các bản dịch khác của kinh này. THIÊN VÔ ÚY (637-735) Phạm: Zubhakara-siôha. Hán âm: Thú bà yết la tăng ha, Thâu bà ca la. Hán dịch: Tịnh sư tử. Cũng gọi Vô úy tam tạng. Một trong các vị Tổ sư của Mật giáo. Sư và 2 vị Kim cương trí, Bất không được gọi chung là Khai nguyên tam đại sĩ. Sư là người ở nước Ô đồ ở Đông Ấn độ, thuộc dòng Sát đế lợi, là hậu duệ của Cam lộ phạn vương(chú út của đức Thích tôn). Năm 13 tuổi sư lên nối ngôi vua cha, nhưng vì nội loạn nên nhường ngôi xuất gia, đến bờ biển phía nam, gặp ngài Thù thắng Chiêu đề, ngộ được Tam muội Pháp hoa. Sư lại đến chùa Na lan đà, Trung Ấn Độ, theo ngài Đạt ma cúc đa (Phạm: Dharmagupta) học pháp Tam mật du già, được nối pháp và thụ Quán đính làm Thiên nhân sư. Năm Khai nguyên thứ 4 (716) đời Đường, sư vâng mệnh thầy, đi qua Trung á đến Trường an, vua Huyền tông tôn làm Quốc sư, ban sắc cho sư trụ ở viện Nam tháp chùa Hưng phúc, sau, sư dời đến chùa Tây minh. Năm sau, sư vâng sắc dịch kinh ở chùa Bồ đề, dịch kinh Hư không tạng bồ tát năng mãn chư nguyện tối thắng tâm đà la ni cầu văn trì pháp 1 quyển, sa môn Tát đạt đảm nhiệm phần dịch ngữ, ngài Vô trước sửa văn và ghi chép. Sư là người đầu tiên truyền Mật giáo đến Trung quốc, cùng ngài Kim cương trí đặt nền tảng vững chắc cho Mật giáo. Kinh Đại nhật (kinhĐại tì lô giá na thành Phật thần biến gia trì), thánh điển căn bản của Mật giáo, chính đã do sư nói lại, ngài Nhất hạnh ghi chép mà thành. Về sau, ngài Nhất hạnh biên soạn và chú thích thêm, gọi là Đại nhật kinh sớ, 20 quyển. Ngoài ra, sư còn dịch các kinh quan trọng của Mật giáo như: Kinh Tô bà hô đồng tử (3 quyển), kinh Tô tất địa yết ra (3 quyển)... đồng thời sư giới thiệu phương pháp tu hành Quán đính. Các Mật chú trong kinh Đại nhật đều viết bằng tiếng Phạm, sư cũng dịch ra Hán âm. Vì Mật giáo xem trọng văn tự để tụng niệm, quán tưởng chính xác nên sư sáng chế ra cách dịch âm này. Do đó có thể biết lúc bấy giờ sư truyền thụ Mật giáo, nhưng cũng đồng thời dạy cách ghép tiếng Phạm, mở đầu cho việc học chữ Tất đàm, đây là sự kiệntronglịch sử Phật giáo Trung quốc đáng được xem trọng. Sư cũng giỏi về công xảo nghệ thuật, tương truyền sư tự chế ra mô hình, đúc tạo linh tháp bằng đồng pha vàng cực kì trang nghiêm, đặc biệt các Mạn đồ la do sư vẽ rất khéo và đẹp. Năm Khai nguyên20 (732), sư dâng biểu xin trở về Ấn độ, nhưng không được chấp thuận. Đến ngày mồng 7 tháng 11 năm Khai nguyên 23 (735), sư thị tịch tại Thiền thất, thọ 99 tuổi, pháp lạp 80. Vua Huyền tông rất thương tiếc, truy tặng sư chức Hồng lô khanh và ban sắc an táng sư ở chùa Quảng kỉ, núi Tây sơn, Long môn. Đệ tử nối pháp có các vị Bảo tư, Nhất hạnh, Huyền siêu, Nghĩa lâm, Trí nghiêm, Hỉ vô úy, Bất khả tư nghị (người Tân la, tức nay là Triều tiên), Đạo từ(người Nhật bản)... [X. Đại nhật kinh cúng dường thứ đệ pháp sớ Q.thượng; Đại đường đông đô Đại thánh thiện tự cố Trung thiên trúc quốc Thiện vô úy tam tạng hòa thượng bi minh tinh tự; Tục cổ kinh dịch kinh đồ kỉ; Khai nguyên thích giáo lục Q.12; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14; Phật tổ thống kỉ Q.29, 40; Tống cao tăng truyện Q.2].

thiện tịch phật

(善寂佛) Tên đức Phật ở đời quá khứ. Kinh Phật tạng quyển hạ (Đại 15, 797) nói: Trong kiếp A tăng kì thứ 700, được gặp 62 đức Phật đều có danh hiệu là Thiện tịch.

Thiện tịnh

善淨; C: shànjìng; J: zenjō;|Thanh tịnh (s: viśuddha).

thiện vô lậu pháp

Kusalanasrava (skt)—Các đức tính tốt thoát khỏi các lậu hoặc mà hành giả có trí tuệ hưởng được khi họ đắm mình sâu trong hạnh phúc của Thiền định và an trú trong sự hiện hữu như thị (đúng như sự hiện hữu)—Good virtues free from evil flowings by the wise cultivators when they are deeply drunk in the the bliss of the samadhi and abiding in the bliss of existence as it is.

Thiện Vô Uý

善無畏; C: shàn wúwèi; J: zemmui; S: śubhā-karasiṃha, 637-735. |Học giả Ấn Độ truyền bá Mật tông Phật giáo sang Trung Hoa. Được xem là một trong 8 vị tổ của giáo lí Phó thụ bát tổ (傅授八祖) của Chân ngôn tông. Sinh trong một hoàng tộc thuộc vùng Orissa, kế thừa ngôi vào năm 13 tuổi, nhưng sư từ bỏ khi các người anh khởi binh bạo loạn tranh quyền kế vị. Sư xuất gia làm Tăng tại Trúc lâm tinh xá (竹林精舎, s: veṇuvanavihāra) trong chùa Na-lan-đà (那爛陀寺). Theo chỉ đạy của thầy là Đạt-ma Cúc-đa (達磨掬多, s: dharma-gupta), sư dấn thân vào cuộc hành trình sang Trung Hoa qua đường Thổ Phồn (吐蕃, e: turfan), đến nơi vào năm 716. Sư được vua Huyền Tông (玄宗) tiếp kiến năm 717, và bắt đầu dịch kinh tại chùa Tây Minh (西明寺). Khi vua trùng tu lại chùa năm 724, sư dời đến chùa Đại Phúc Tiên (大福先寺) ở Lạc Dương, cộng tác với Nhất Hạnh (一行) dịch Đại Nhật kinh (大日經, s: vairoca-nābhisambodhi). Dù đã nổi tiếng với việc dịch kinh ấy, sư còn dịch những nhiều kinh văn Mật tông quan trọng khác như kinh Tô-tất-địa (蘇悉地經; s: susiddhi). Sư còn tổ chức những nghi lễ cho triều đình và giảng thuyết; một trong những pháp ngữ nầy là Vô Uý tam tạng thiền yếu (無畏三藏禪要). Một số kinh văn khác được soạn ở Trung Hoa dưới sự hướng dẫn của sư. Đồ hình »Ngũ bộ tâm quán« (五部心観) có kể đến hành trạng của Thiện Vô Uý. Cho đến cuối đời, sư thỉnh nguyện được trở về Ấn Độ, nhưng bị từ chối, và sư viên tịch ở Lạc Dương. Sau khi an táng sư trên đồi quanh Long môn vào năm 740, tín đồ Phật tử vẫn tiếp tục thờ phụng nhục thân của sư.

Thiện Vô Úy

(s: Śubhakarasiṃha, j: Zemmui, 善無畏, 637-735): âm dịch là Thú Bà Yết La (戍婆掲羅), Thâu Bà Ca La (輸婆迦羅), ý dịch là Tịnh Sư Tử (淨師子), thường được gọi là Vô Úy Tam Tạng (無畏三藏), là sơ tổ của Mật Giáo; cùng với Kim Cang Trí (s: Vajrabodhi, 金剛智) và Bất Không (s: Amoghavajra, 不空) được gọi là Khai Nguyên Tam Đại Sĩ (開元大士). Tương truyền là vương tử của nước Ô Trà (s: Orissa, 烏茶) ở Đông Ấn hay vương tử của Trung Ấn. Ông từ bỏ vương vị, quy đầu về cửa Phật, học Đại Thừa Phật Giáo ở tu viện Nālandā (娜爛陀寺, Na Lan Đà Tự) và được Đạt Ma Cúc Đa (s: Dharmagupta, 達摩鞠多) truyền trao Mật Giáo cho. Thể theo lời khuyên của thầy, năm 80 tuổi, ông đến kinh đô Trường An (長安) của Trung Quốc; tại đây ông được triều đình rất tin tưởng và tận lực phiên dịch cũng như lưu bố Mật Giáo. Ông đã phiên dịch khá nhiều kinh điển Mật Giáo quan trọng sang Hán ngữ như Đại Nhật Kinh (大日經) 7 quyển, Tô Bà Hô Đồng Tử Kinh (蘇婆呼童子經) 3 quyển, Tô Tất Địa Yết Ra Kinh (蘇悉地羯囉經) 3 quyển, v.v. Ngoài ra, trước tác Đại Nhật Kinh Sớ (大日經疏) 20 quyển của ông cũng rất nổi tiếng. Ông được xem như là vị tổ truyền trì thứ 6 của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản.

thiện vô úy

Vị đầu tiên là Thiện Vô Úy (Subhakarasimha 637-735)—Subhakarasimha (637-735). • Ông từng là một vị vua của xứ Orissa. Ông xuất gia làm Tăng và đến đại học Na Lan Đà nơi Pháp Mật trụ trì. Ông thâm hiểu Du Già, chân ngôn, và ấn quyết, ông khởi hành đi Kasmir và Tây Tạng, và cuối cùng đến Trường An vào năm 716, nơi đó ông được vua Huyền Tôn (685-762) tiếp đón nồng hậu. Ông là người sáng lập ra Mật Tông vào khoảng năm 720: The first arrival was Subhakararimha (637-735), who had been king of Orissa. He joined the Sangha and went to the Nalanda University over which Dharmagupta presided. Well versed in Buddhist concentration (yoga), mystical verses (dharani) and fingers at last came to Ch'ang-An in 716, where he was well received by the Emperor Hsuan-Tsung (685-762). He was the founder of the Tantra School (the secret teaching of Yoga) around 720 A.D.—See Mật Tông. • Vô Hành, một học giả Trung Hoa, du hành sang Ấn Độ, gặp Nghĩa Tịnh tại Na Lan Đà và thâu thập nhiều bản kinh Phạn văn. Ông mất trên đường hồi hương, nhưng những tài liệu thâu thập của ông vẫn được đưa đến chùa Hoa Nghiêm ở Trường An. Khi hay tin đó, Thiện Vô Úy bèn cùng Nghĩa Tịnh chọn lựa vài bản kinh quan trọng, và vào năm 725, khởi dịch kinh Đại Nhật và các kinh khác. Thiện Vô Úy muốn trở về Ấn Độ nhưng không đuợc phép khởi hành, và mất tại Trung Quốc vào năm 735: Wu-Hsing, a learned Chinese, who traveled in India, met I-Ching at Nalanda and collected various Sanskrit texts. He died on his way home, but his collection reached Hua-Yen Monastery in Ch'ang-An. On hearing this Subhakarasimha together with I-Ching selected some of the important texts and in 725 translated the “Great Sun” text (Mahavairocana) and others. He wanted to return to India, but was not allowed to depart and died in 735.

Thiện xảo

善巧; C: shàn qiăo; J: zengyō; S: upāya-(kauśalya).|»(Phương tiện) thiện xảo«. Hướng dẫn chúng sinh tuỳ theo căn tính của họ một cách khéo léo (phương tiện 方便).

thiện xảo

1) Xảo Diệu: Clever—Skillful. 2) Phương Tiện Thiện Xảo: Skillful means. ; (善巧) Cũng gọi Thiện quyền. Gọi đủ: Thiện xảo phương tiện (Phạm: Upàya-kausalya, Hán âm: Âu hòacâu xá la).Tốt lành, khéo léo. Tức chỉ cho phương pháp xảo diệu mà Phật và Bồ tát ứng dụng để giáo hóa chúng sinh. Phật và Bồ tát thuận theo năng lực và căn tính của chúng sinh mà vận dụng mọi phương tiện (phương pháp nói pháp giáo hóa người khác) khéo léo, nhiếp thủ giáo hóa chúng sinh, gọi là Thiện xảo nhiếp hóa. Vì thích ứng với căn cơ chúng sinh mà vận dụng một cách khéo léo các pháp để cứu độ, thì những phương pháp ấy gọi là Thiện xảo phương tiện. [X. kinh Đại bảo tích Q.51; Pháp hoa nghĩa sớ Q.4 thượng]. (xt. Phương Tiện).

thiện xảo an tâm

(善巧安心) Gọi đủ: Thiện xảo an tâm chỉ quán. Pháp quán thứ 3 trong Thập thừa quán pháp của tông Thiên thai. Nghĩa là vận dụng chỉ quán một cách khéo léo khiến cho tâm an trụ trong pháp tính. Pháp quán này, ngoài bậc thượng căn ra, cũng còn là 1 trong các pháp quán mà hàng trung căn và hạ căn phải tu. [X. Ma ha chỉ quán Q.5 thượng]. (xt. Thập Thừa Quán Pháp).

thiện ác

Kusala and akusala (skt)—Good and evil. (I) Nghĩa của “Thiện Ác”—The meanings of “Good and Evil” 1) Thiện là thuận lý: Good is defined as to accord with the right. 2) Ác là nghịch lý: Bad is defined as to disobey the right. (II) Những lời Phật dạy về “Thiện Ác”—The Buddha's teachings on “Good and Evil” 1) Ở chỗ nầy ăn năn, tiếp ở chỗ khác cũng ăn năn, kẻ làm điều ác nghiệp, cả hai nơi đều ăn năn; vì thấy ác nghiệp mình gây ra, kẻ kia sanh ra ăn năn và chết mòn—The evil-doer grieves in this world and in the next; he grieves in both. He grieves and suffers when he perceives the evil of his own deeds (Dharmapada 15). 2) Ở chỗ nầy vui, tiếp ở chỗ khác cũng vui; kẻ làm điều thiện nghiệp, cả hai nơi đều an vui; vì thấy thiện nghiệp mình gây ra, người kia sanh ra an lạc và cực lạc—The virtuous man rejoices in this world, and in the next. He is happy in both worlds. He rejoices and delights when he perceives the purity of his own deeds (Dharmapada 16). 3) Ở chỗ nầy than buồn, tiếp ở chỗ khác cũng than buồn, kẻ gây điều ác nghiệp, cả hai nơi đều than buồn: nghĩ rằng “tôi đã tạo ác” vì vậy nên nó than buồn. Hơn nữa còn than buồn vì phải đọa vào cõi khổ—The evil man suffers in this world and in the next. He suffers everywhere. He suffers whenever he thinks of the evil deeds he has done. Furthermore he suffers even more when he has gone to a woeful path (Dharmapada 17). 4) Ở chỗ nầy hoan hỷ, tiếp ở chỗ khác cũng hoan hỷ, kẻ tu hành phước nghiệp, cả hai nơi đều hoan hỷ: nghĩ rằng “tôi đã tạo phước” vì vậy nên nó hoan hỷ. Hơn nữa còn hoan hỷ vì được sanh vào cõi lành—The virtuous man is happy here in this world, and he is happy there in the next. He is happy everywhere. He is happy when he thinks of the good deeds he has done. Furthermore, he is even happier when he has gone to a blissful path (Dharmapada 18). 5) Hãy gấp rút làm lành, chế chỉ tâm tội ác. Hễ biếng nhác việc lành giờ phút nào thì tâm ưa chuyện ác giờ phút nấy—Let's hasten up to do good. Let's restrain our minds from evil thoughts, for the minds of those who are slow in doing good actions delight in evil (Dharmapada 116). 6) Nếu đã lỡ làm ác chớ nên thường làm hoài, chớ vui làm việc ác; hễ chứa ác nhứt định thọ khổ—If a person commits evil, let him not do it again and again; he should not rejoice therein, sorrow is the outcome of evil (Dharmapada 117). 7) Nếu đã làm việc lành hãy nên thường làm mãi, nên vui làm việc lành; hễ chứa lành nhứt định thọ lạc—If a person does a meritorious deed, he should do it habitually, he should find pleasures therein, happiness is the outcome of merit (Dharmapada 118). 8) Khi nghiệp ác chưa thành thục, kẻ ác cho là vui, đến khi nghiệp ác thành thục kẻ ác mới hay là ác—Even an evil-doer sees good as long as evil deed has not yet ripened; but when his evil deed has ripened, then he sees the evil results (Dharmapada 119). 9) Khi nghiệp lành chưa thành thục, người lành cho là khổ, đến khi nghiệp lành thành thục, người lành mới biết là lành—Even a good person sees evil as long as his good deed has not yet ripened; but when his good deed has ripened, then he sees the good results (Dharmapada 120). 10) Chớ khinh điều ác nhỏ, cho rằng “chẳng đưa lại quả báo cho ta.” Phải biết giọt nước nhểu lâu ngày cũng làm đầy bình. Kẻ ngu phu sở dĩ đầy tội ác bởi chứa dồn từng khi ít mà nên—Do not disregard (underestimate) small evil, saying, “it will not matter to me.” By the falling of drop by drop, a water-jar is filled; likewise, the fool becomes full of evil, even if he gathers it little by little (Dharmapada 121). 11) Chớ nên khinh điều lành nhỏ, cho rằng “chẳng đưa lại quả báo cho ta.” Phải biết giọt nước nhểu lâu ngày cũng làm đầy bình. Kẻ trí sở dĩ toàn thiện bởi chứa dồn từng khi ít mà nên—Do not disregard small good, saying, “it will not matter to me.” Even by the falling of drop by drop, a water-jar is filled; likewise, the wise man, gathers his merit little by little (Dharmapada 122). 12) Người đi buôn mang nhiều của báu mà thiếu bạn đồng hành, tránh xa con đường nguy hiểm làm sao, như kẻ tham sống tránh xa thuốc độc thế nào, thì các ngươi cũng phải tránh xa điều ác thế ấy—A merchant with great wealth but lacks of companions, avoids a dangerous route, just as one desiring to live avoids poison, one should shun evil things in the same manner (Dharmapada 123). 13) Với bàn tay không thương tích, có thể nắm thuốc độc mà không bị nhiễm độc, với người không làm ác thì không bao giờ bị ác—With a hand without wound, one can touch poison; the poison does not afftect one who has no wound; nor is there ill for him who does no wrong (Dharmapada 124). 14) Đem ác ý xâm phạm đến người không tà vạy, thanh tịnh và vô nhiễm, tội ác sẽ trở lại kẻ làm ác như ngược gió tung bụi—Whoever harms a harmless person who is pure and guiltless, the evil falls back upon that fool, like dust thrown against the wind (Dharmapada 125). 15) Một số sinh ra từ bào thai, kẻ ác thì đọa vào địa ngục, người chính trực thì sinh lên chư thiên, nhưng cõi Niết bàn chỉ dành riêng cho những ai đã diệt sạch nghiệp sanh tử—Some are born in a womb; evil-doers are reborn in hells; the righteous people go to blissful states; the undefiled ones pass away into Nirvana (Dharmapada 126). 16) Chẳng phải bay lên không trung, chẳng phải lặn xuống đáy bể, chẳng phải chui vào hang sâu núi thẳm, dù tìm khắp thế gian nầy, chẳng có nơi nào trốn khỏi ác nghiệp đã gây—Neither in the sky, nor in mid-ocean, nor in mountain cave, nowhere on earth where one can escape from the consequences of his evil deeds (Dharmapada 127). 17) Kẻ ngu phu tạo các ác nghiệp vẫn không tự biết có quả báo gì chăng ? Người ngu tự tạo ra nghiệp để chịu khổ, chẳng khác nào tự lấy lửa đốt mình—A fool does not realize when he commits wrong deeds; by his own deeds the stupid man is tormented, like one is lighting fires wherein he must be burnt one day (Dharmapada 136). 18) Việc hung ác thì dễ làm nhưng chẳng lợi gì cho ta, trái lại việc từ thiện có lợi cho ta thì lại rất khó làm—Bad deeds are easy to do, but they are harmful, not beneficial to oneself. On the contrary, it is very difficult to do that which is beneficial and good for oneself (Dharmapada 163). 19) Những người ác tuệ ngu si, vì tâm tà kiến mà vu miệt giáo pháp A-la-hán, vu miệt người lành Chánh đạo và giáo pháp đức Như Lai để tự mang lấy bại hoại, như giống cỏ cách-tha hễ sinh hoa quả xong liền tiêu diệt—The foolish man who slanders the teachings of the Arhats, of the righteous and the Noble Ones. He follows false doctrine, ripens like the kashta reed, only for its own destruction (Dharmapada 164). 20) Làm dữ bởi ta mà nhiễm ô cũng bởi ta, làm lành bởi ta mà thanh tịnh cũng bởi ta. Tịnh hay bất tịnh đều bởi ta, chứ không ai có thể làm cho ai thanh tịnh được—By oneself the evil is done, by oneself one is defiled or purified. Purity or impurity depend on oneself. No one can purify another (Dharmapada 165). ; (善惡) Chỉ cho thiện và ác. Nếu thêm vô kí thì gọi chung là Tam tính. Nói cách thông thường thìThiện chỉ cho thuận lí,Ác chỉ cho trái lí. Nhưng, trong các kinh luận có nhiều thuyết khác nhau. Theo luận Thành duy thức quyển 5 thì hành pháp hữu lậu và vô lậu có năng lực thuận ích cho đời này và đời sau thì là Thiện; trái lại, hành pháp trái nghịch gây tổn hại cho đời này, đời sau thì làÁc. Ranh giới phân chia giữa thiện và ác là ở chỗ thuận ích và trái tổn khác nhau. Hơn nữa, thiện và ác phải xuyên suốt đời này và đời sau, nếu không thì là vô kí(không phải thiện cũng chẳng phải ác). Như quả báo vui ở cõi người, cõi trời, đối với đời này tuy là thuận ích nhưng đối với đời sau lại không là thuận ích, vì thế chẳng phải là thiện, mà là tính vô kí. Lại như quả báo khổ ở ác thú, đối với đời này tuy là trái tổn nhưng đối với đời sau lại không là trái tổn, cho nên cũng chẳng phải ác, mà là tính vô kí. Trong Đại thừa nghĩa chương quyển 12, ngài Tuệ viễn ở chùa Tịnh ảnh đã y cứ vào 5 thừa Nhân, Thiên, Nhị thừa, Bồ tát và Phật để giải thích rõ về danh từ thiện, ác. Đó là: 1. Thuận ích là thiện, trái tổn là ác. Tức cho thiện pháp mà 5 thừa tu hành thuộc về thiện; còn cái nguyên nhân có năng lực dẫn đến quả báo trong 3 đường (địa ngục, ngã quỉ, súc sinh)và chiêu cảm nghiệp báo riêng của quả khổ ở cõi trời, cõi người thì thuộc về ác. 2. Thuận lí là thiện, trái lí là ác. Lí chỉ cho tính không vô tướng. Thiện pháp mà Phật, Bồ tát và Nhị thừa (Thanh văn, Duyên giác)tu hành là thuộc về thiện; còn thiện pháp mà người và trời tu hành là Hữu tướng hành, cho nên thuộc về ác. 3. Thể thuận là thiện, thể trái là ác. Thể là tự thể của mình, tức chỉ cho chân tính của pháp giới. Theo nghĩa này thì tất cả thiện hạnh mà5 thừa duyên tu đều thuộc về ác. Tông Thiên thai lập6 loại thiện ác: 1. Thiện của người, trời: Chỉ cho các việc thiện như 5 giới cấm, 10 điều thiện. Nhưng vì khi quả báo cõi người, cõi trời hết rồi thì vẫn lại đọa vào 3 đường ác(địa ngục, ngã quỉ, súc sinh), cho nên cũng thuộc về ác. 2. Thiện của Nhị thừa: Hàng Nhị thừa có năng lực xa lìa cái khổ trong 3 cõi(Dục, Sắc và Vô sắc) cho nên thuộc về thiện; nhưng hàng Nhị thừa tuy có khả năng tự độ mà không thể độ tha, vì thế cũng là ác. 3. Thiện của Bồ tát Tiểu thừa: Hàng Bồ tát Tiểu thừa có tâm từ bi cứu giúp tất cả, cho nên thuộc về thiện; nhưng vì tự thân vẫn chưa dứt hết phiền não nên cũng thuộc về ác. 4. Thiện của Tam thừa Thông giáo: Tam thừa Thông giáo cùng đoạn phiền não kiến nhẫn nên thuộc về thiện; nhưng vì chưa thấy được lí Trung đạo của Biệt giáo, chưa diệt được một phần vô minh nào, vì thế cũng thuộc về ác. 5. Thiện của Bồ tát Biệt giáo: Bồ tát Biệt giáo có năng lực thấy lí Trung đạo, cho nên thuộc về thiện; nhưng vì Trung đạo mà hàng Bồ tát này thấy là Trung đạo cách lịch(Trung đạo cách lịch chứ không dung thông), chứ không phải Trung đạo viên dung của Viên giáo, cho nên hạnh tu của các vị Bồ tát này còn vướng phương tiện, không hợp với lí, đó cũng thuộc về ác. 6. Thiện của Bồ tát Viên giáo: Chân lí mà hàng Bồ tát Viên giáo thấy được là lí viên dung vi diệu, vốn là thiện tột bậc; nhưng nói theo 2 nghĩa thuận, bội và đạt, trước thì cũng thuộc về ác. Thuận, bội nghĩa là thuận theo viên lí thực tướng là thiện, còn trái ngược lại(bội) thì là ác; Đạt, trước nghĩa là đạt được viên lí này là thiện, còn sinh khởi chấp trước viên lí này thì là ác. Trong đó, dùng nghĩa thứ 2 là đạt, trước để phân biệt thiện ác là thuyết đặc biệt của tông Thiên thai. [X.kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ; Đại thừa nghĩa chương Q.7; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.thượng; Ma ha chỉ quán Q.2, phần 3]. (xt. Thiện,Ác).

thiện ác bất nhị

Good and evil are not dualism—See Bất Nhị. ; (善惡不二) Thiện vá ác chẳng phải hai. Nghĩa là thiện và ác(bất thiện)đều do nhân duyên mà sinh, trong đó đều không có thực thể, mà là tính không bình đẳng, không có sai khác, cũng tức là chẳng hai, là như nhau. Phẩm Nhập bất nhị pháp môn trong kinh Duy ma cật sở thuyết quyển trung (Đại 14, 550 hạ) nói: Thiện, Bất thiện là hai, nếu không khởi thiện, bất thiện mà vô tướng thông suốt thì đó là vào pháp môn Bất nhị. Thông thường, tuy chia thiện ác làm hai, cho thiện là thuận lí, ác là trái lí, hoặc cho rằng thiện có năng lực mang lại thuận ích cho hiện tại và vị lai, còn ác thì trái tổn, đưa đến quả khổ. Nhưng, đứng trên lập trường bát nhã(trí tuệ)mà nhận xét, thì tất cả các pháp đều không có thực thể, đều do nhân duyên sinh. Do đó mà biếtthiện, ác đều là tính không, đều chẳng phải đối lập, mà là bình đẳng như nhau. Nếu nhìn theo lập trường bất nhị của cảnh giới giác ngộ, thì sự đối lập giữa thiện và bất thiện trong thế giới tương đối hoàn toàn không có ý nghĩa thực chất nào, chỉ là sự phân biệt hư dối. Cho nên, nếu dùng trí tuệ diệt trừ sự chấp trước phân biệt tương đối giữa thiện và bất thiện thì thông suốt tất cả pháp đều vô tướng bình đẳng. Cái gọi là Thiện ác bất nhị chính là cảnh giới Bát nhã giác ngộ thông suốt vậy.

thiện ác tứ vị

(善惡四位) Bốn ngôi thứ khác nhau của người nghe pháp. Do tác dụng thiện ác ở đời quá khứ mà ngày nay nghe pháp có 4 ngôi thứ khác nhau: 1. Tác dụng ác thêm nhiều: Ngôi thứ này không được nghe pháp. Như kinh Pháp hoa quyển 7 nói rằng người tăng thượng mạn, trong 200 ức kiếp thường không được nghe pháp. 2. Tác dụng thiện thêm nhiều: Ngôi thứ này thường được nghe pháp. Như các vị Đạibồ tát từ hàng Thập trụ trở lên. 3. Thiện ác giao tế: Lúcbỏ phàm vào thánh, hạng người trong ngôi thứ này nghe pháp rất khó, tình cờ nghe liền ngộ, như bồ tát Thường đề, người tì nữgiàtrong nhà trưởng giả Tu đạt... dù bị ma chướng cản trở, hoặc do hoặc nghiệp của chính mình ngăn ngại sự thấy nghe, nhưng không bao lâu liền ngộ. 4. Thiện ác dung nhau: Thiện ác ở ngôi thứ này, cùng là pháp sinh tử lưu chuyển, cho nên phần nhiều khó được nghe pháp, nhưng nhờ tác dụng ác không tăng thêm, cho nên chẳng phải không nghe pháp, cũng chẳng phải thiện ác giao tế, vì thế tuy được nghe pháp mà không được lợi ích lớn. Sáu đường(địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, A tu la, người, và trời), 4 loài sinh(đẻ bọc, đẻ trứng, đẻ ở chỗ ẩm ướt, tự nhiên hóa sinh), chính là loại này. Căn cứ vào 4 ngôi thứ trên đây, ta có thể biết, trong hạng người thượng căn, có người khó được nghePhậtpháp; còn trong giới phàmphu cũng có người có khả năng nghePhậtpháp. [X. Vãng sinh yếu tập Q.hạ, phần cuối].

thiện ý

Good intention—Good will—Good faith.

thiện đô

Jantu (skt)—Thiền Đầu—Thiền Đậu—Thiền Đâu—Chúng sanh—All living beings.

Thiện Đạo

(善導, Shàn-dào, Zendō, 613-681): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, người hình thành nên Tịnh Độ Giáo Trung Quốc, vị tổ thứ 3 của Tịnh Độ Tông và được liệt vào hàng thứ 5 trong 7 vị cao tăng của Chơn Tông Nhật Bản. Ông xuất thân Lâm Truy (臨淄), Sơn Đông (山東), họ Chu (朱), hiệu Chung Nam Đại Sư (終南大師). Trước khi ông ra đời là thời đại của Văn Đế (文帝), vị vua rất sùng ngưỡng Phật Giáo; vị tổ khai sáng Thiên Thai là Trí Khải Đại Sư (智顗大師) thị tịch trước khi ông ra đời 16 năm; còn Đạo Xước (道綽) thì quy y với Tịnh Độ Giáo trước khi ông sinh ra 4 năm. Nhà dịch kinh nổi tiếng Huyền Trang (玄奘) thì hoạt động cùng thời đại với ông. Lúc nhỏ ông theo xuất gia với Minh Thắng Pháp Sư (明勝法師) ở Mật Châu (密州), tinh thông các kinh Pháp Hoa, Duy Ma, v.v. Vào năm thứ 15 (641) niên hiệu Trinh Quán (貞觀) đời vua Thái Tông nhà Đường, ông đến Huyền Trung Tự (玄中寺) ở Tây Hà (西河), yết kiến Đạo Xước (道綽), tu học sám pháp Phương Đẳng và nghe giảng Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經). Từ đó về sau, ông chuyên tâm niệm Phật, tinh tấn vượt qua mọi khổ nhọc, cuối cùng đạt được Niệm Phật Tam Muội và trong giấc mơ thấy được cảnh giới trang nghiêm của Tịnh Độ. Sau khi Đạo Xước qua đời, ông chuyển đến Ngộ Chơn Tự (悟眞寺) ở phía Nam Chung Nam Sơn (終南山) và nỗ lực tu tập Tịnh Độ. Về sau, ông đến Quang Minh Tự (光明寺) ở Trường An (長安), truyền bá pháp môn này. Ông thường hành trì nghiêm mật, hằng ngày ngồi xếp bằng chấp tay, nhất tâm niệm Phật cho đến khi nào hết sức mới thôi. Trong vòng hơn 30 năm trường, ông không hề nằm ngủ, chẳng mắt nhìn người nữ, không nhận lễ bái của Sa Di, xa lánh danh lợi, chẳng thọ nhận cúng dường, tất cả quần áo đẹp cũng như thức ăn ngon ông đều đem đưa nhà trù cúng cho chúng tăng. Đạo phong của ông vang khắp các châu, mọi người đều ngưỡng mộ, được gọi là Di Đà hóa thân. Ngoài ra, ông cũng đã từng luận tranh với Kim Cang Pháp Sư (金剛法師) về những ưu khuyết của pháp môn Niệm Phật. Dưới thời vua Cao Tông, ông làm chức kiểm tra trong công trình tạo lập tượng Đại Lô Xá Na Phật (大盧舍那佛) ở Long Môn (龍門), Lạc Dương (洛陽). Ông đã từng sống qua một số chùa ở Trường An như Quang Minh Tự (光明寺), Huệ Ân Tự (慈恩寺), Thật Tế Tự (實際寺), v.v. Vào ngày 14 (có thuyết cho là ngày 27) tháng 3 năm thứ 2 niên hiệu Vĩnh Long (永隆), ông thị tịch, hưởng thọ 69 tuổi. Môn nhân của ông có Hoài Cảm (懷感), Hoài Uẩn (懷惲), Tịnh Nghiệp (淨業), v.v. Trước tác của ông để lại có 5 bộ 9 quyển gồm Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ (觀無量壽經疏) 4 quyển, Tịnh Độ Pháp Sự Tán (淨土法事讚) 2 quyển, và Quán Niệm Pháp Môn (觀念法門) 1 quyển, Vãng Sanh Lễ Tán Kệ (徃生禮讚偈) 1 quyển, Ban Chu Tán (般舟讚) 1 quyển, Ngũ Chủng Tăng Thượng Duyên Nghĩa (五種增上緣義), v.v., là những tác phẩm do ông trước tác trong thời gian ở Trường An. ; 善導; C: shàndăo; J: zendō; 613-681. |Vị thứ 3 trong 5 vị tổ Tịnh độ tông và là vị thứ 5 trong 7 vị tổ của Tịnh độ chân tông. Ngài xuất gia khi còn nhỏ tuổi và tu tập thiền quán tưởng A-di-đà và Tịnh độ. Khi nghe tiếng Đạo Xước (道綽), Thiện Đạo đến gặp và nhận giáo lí Tịnh độ từ vị này. Suốt đời Thiện Đạo hiến mình tu tập và hoằng truyền giáo lí nầy. Tương truyền sư đã chép kinh A-di-đà hơn 100.000 lần và vẽ hơn 300 bức tranh về Tịnh độ. Ngoài việc tụng kinh và niệm Phật thường xuyên, sư còn tiền hành các thời khoá thiền quán tưởng đức Phật A-di-đà và Cực lạc quốc của Ngài. Thiện Đạo còn trứ tác 5 tác phẩm trong 9 cuốn, gồm những luận giải khác nhau về kinh Quán vô lượng thọ. Ngài thường được gọi là Quang Minh tự Hoà thượng (光明寺和尚), Chung Nam Đại sư (終南大師)…

thiện đạo

1) Con đường thiện lành: Fortunate realm—White path. 2) Sư Thiện Đạo, người đã giảng giải các bộ luận của Tịnh Độ Tông, ngài cũng giảng về phép tu “lục thời vãng sanh.” Ngài là một trong những cao Tăng vào khoảng năm 681 sau Tây Lịch vào thời nhà Đường. Trong niên hiệu Trinh Quán, nhân thấy bài văn Tịnh Độ Cửu Phẩm Đạo Tràng của ngài Đạo Xước Thiền Sư ở Tây Hà, ngài rất mừng, bảo rằng: “Đây mới chính thật là cửa mầu để đi vào cảnh Phật. Tu các hạnh nghiệp khác xa vời, quanh quất khó thành. Duy có pháp môn nầy mau thoát tử.” Từ đó ngài tinh cần sớm hôm lễ tụng. Ít lâu sau Đại sư đến kinh sư khuyến khích các hàng tứ chúng niệm Phật. Mỗi khi ngài vào thất quỳ niệm Phật, nếu chưa đến lúc kiệt sức, thời quyết không chịu nghỉ ngơi. Lúc ra thất, ngài vì đại chúng mà diễn nói pháp môn Tịnh Độ. Hơn 30 năm, ngài vừa hóa đạo, vừa chuyên tu chưa từng ngủ nghỉ. Hằng ngày đại sư nghiêm trì giới hạnh, không để sai phạm mảy may. Khi được cúng dường thức ăn ngon quý, ngài đem dâng hết cho đại chúng, còn ngài chỉ dùng các món ăn thô dở mà thôi. Tài vật của đàn na tín thí cúng dường, ngài dùng để viết hơn 100.000 ngàn quyển kinh A Di Đà; họa hơn 300 cảnh Tịnh Độ. Số tiền còn lại ngài dùng vào việc trùng tu chùa viện, mua đèn thắp sáng, chứ không để dư. Đệ tử Tăng Tục của ngài lên đến hàng vạn, trong đó có nhiều người hiện tiền chứng được “Niệm Phật Tam Muội,” lúc lâm chung được thoại ứng vãng sanh, số nhiều không kể xiết. Một hôm, ngài bỗng bảo với tứ chúng rằng: “Thân nầy đáng chán, ta sắp về Tây.” Nói xong ngài leo lên cây liễu trước chùa, chắp tay hướng về phương Tây mà chúc nguyện rằng: “Xin Phật và Bồ Tát tiếp dẫn con, khiến cho con không mất chánh niệm, để được sanh về Cực Lạc.” Nguyện xong, ngài gieo mình xuống đất, nhẹ nhàng như chiếc lá rơi, ngồi kiết già ngay thẳng trên mặt đất. Đại chúng vội đến xem, thì ngài đã viên tịch—A monk named Shan-T'ao, in about 681 A.D., during the T'ang Dynasty, a writer of commentaries on the sastras of the Pure Land sect, and one of its literary men. In the Trinh Quán reign period, reading the Pureland text “Nine Levels of Gaining Rebirth” written by Zen Master T'ao-Xuo of Tsi-He region brought him great joy, as he said: “This is truly the magnificent door to enter the Buddha's world. Cultivating other conducts and practices is long and convoluted making them much more difficult to achieve. Only this Dharma Door of Pureland Buddhism will lead to an expedient liberation from the cycle of rebirths.” From that time, the Great Master cultivated and practiced Pureland Buddhism vigorously and diligently. Not long thereafter, the Great Master came to the capital city to encourage all Buddhists to practice Buddha Recitation. Each time he entered his cottage to kneel and practice Buddha Recitation, if he had not exhausted his strength, he did not rest. After completing his practice, for the benefit of great following. He taught and explained the Dharma Door of Pureland Buddhism. For more than thirty years, he cultivated and propagated Pureland Teachings diligently without a day of rest or sleep. Each day he maintained his precepts purely without violating the smallest precept. When receiving offerings of goods and rare delicates, he would give them to his disciples. For himself, he ate only the less desirable foods. With the monetary wealth he received from offerings made by faithful followers. He had over one hundred thousand Amitabha Buddha Sutras hand-copies. He had over 300 pictures of the Pureland drawn. Additionally, with whatever was left of that money, he used for renovating the temple, pagoda, or buying candles to keep the shrine lighted continuously. Thus, he never saved anything he received. His disciples, those of religious ranks as well as lay Buddhists, who followed his virtuous ways were great in number, may be several hundred thousand. Among these people, many attained the “Buddha Recitation Samadhi” during their lifetime, and upon death countless others achieved observable signs and characteristis of them gaining rebirth to the Amitabha Buddha's Pureland. One day, all of a sudden, he said to his mass following: “This body is filled with sufferings, I will soon go West.” After speaking, he climbed on a willow tree in front of the temple. Facing the Western direction with his palms together and made this prayer: “I ask the Buddha and the Bodhisattvas to rescue and deliver me, to aid me so I will not lose my pure mind to gain rebirth to the Ultimate Bliss World.” Immediately following this prayer, light as a leaf falling from a tree, he threw his body to the ground, and sat in the lotus position. Everyone rushed over to see him and that was when he took his last breath. ; (善導) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người huyện Lâm chuy, tỉnh Sơn đông (có thuyết nói người ở Hu di, tỉnh An huy), họ Chu, hiệu Chung nam Đại sư. Sư là Tổ thứ 3 của tông Tịnh độ; cũng chính là người tập đại thành pháiĐàm loan, Đạo xước thuộc tông Tịnh độ. Lúc tuổi nhỏ, sư theo ngài Minh thắng ở Mật châu xuất gia, tụng các kinh Pháp hoa, Duy ma... Sau, sư được đọc kinh Quán vô lượng thọ, vui buồn lẫn lộn, sư liền tu tập 16 pháp quán nói trong kinh này. Năm Trinh quán 15 (641) đời vua Thái tông nhà Đường, sư đến chùa Huyền trung ở Hà tây, yết kiến ngài Đạo xước, tu học Phương đẳng sám pháp và nghe giảng kinh Quán vô lượng thọ. Từ đó về sau, sư chuyên việc niệm Phật, dốc lòng tinh tiến, khổ hạnh, chứng được Niệm Phật tam muội, ở trong định thấy được cảnh trang nghiêm của Tịnh độ. Về sau, sư vào Trường an trụ ở chùa Quang minh, truyền bá pháp môn Tịnh độ.Sư hành trì tinh nghiêm, hàng ngày chắp tay ngồi theo kiểu của người Hồ(người các nước Tây vực), nhất tâm niệm Phật, đến khi mỏi mệt mới thôi. Trong hơn 30 năm, sư không có chỗ ngủ nhất định nào khác, không nhận sự lễ bái của sa di. Sư dùng của cúng dường vào việc viết chép 10 vạn quyển kinh A di đà và vẽ 300 bức tranh Tịnh độ biến tướng; sửa chữa, làm lại các tháp miếu, già lam đã hư hoại. Sư đi hóa đạo ở các châu, mọi người đều ngưỡng mộ đức của sư; hoặc có người tụng kinh A di đà 10 vạn đến 30 vạn biến; hoặc có người trong thời khóa hàng ngày xưng danh hiệu Phật A di đà từ 1 vạn đến 10 vạn biến; hoặc có người chứng được Niệm Phật tam muội vàvãng sinh Tịnh độ. Ngày 14 tháng 3 năm Vĩnh long thứ 2 (681) sư thị tịch, thọ 69 tuổi, đệ tử có các vị Hoài cảm, Hoài huy, Tịnh nghiệp... Sư có các tác phẩm: Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ 4 quyển, Tịnh độ pháp sự tán 2 quyển, Quán niệm pháp môn 1 quyển, Vãng sinh lễ tán kệ 1 quyển, Bát chu tán 1 quyển, Ngũ chủng tăng thượng duyên nghĩa 1 quyển. [X. Tục cao tăng truyện Q.27; Vãng sinh tịnh độ thụy ứng san truyện; Niệm Phật kính; Phật tổ thống kỉ Q.26, 27; Tịnh độ vãngsinhtruyện Q.trung; Long thư tăng quảng tịnh độ văn Q.5; Lạc bang văn loại Q.2; Thần tăng truyện Q.5; Vãng sinh tập Q.thượng; Thích thị kê cổ lược Q.3; Tịnh độ thánh hiền lục Q.2; Loại tụ tịnh độ ngũ tổ truyện; Kim thạch tụy biên 73, 86].

thiện đạo lưu

(善導流) Dòng Thiện đạo. Chỉ cho dòng phái Tịnh độ do ngài Thiện đạo lập ra vào đời Đường, 1 trong 3 dòng phái của Tịnh độ giáo. Y cứ theo chỗ ở của Sơ tổ Đàm loan (476-542), nên cũng gọi là Nhạn môn lưu. Ngài Đàmloantruyền cho ngài Đạo xước (562-645). Ngài Đàm loan học kinh Quán vô lượng thọ từ ngài Bồ đề lưu chi, đồng thời chú thích luận Tịnh độ do ngài Lưu chidịch thành Vãng sinh luận chú 2 quyển; Trong đó, bao gồm cả Thập niệm vãng sinh nói trong Quán kinh lại càng hiển bày rõ giáo nghĩa của ngài Đàm loan. Nhưng vì tông chỉ của Quán kinh rất gần gũi với tông nghĩa tân hưng lúc bấy giờ, cho nên các Đại sư như ngài Tuệ viễn tông Địa luận, ngài Trí khải tông Thiên thai, ngài Cát tạng tông Tam luận...đều dựa vào kiến giải của tông mình mà thừa nhận rằng Quán kinh lấy Quán Phật tam muội làm tông chỉ. Thêm nữa, ngài Chân đế đời Trần dịch luận Nhiếp đại thừa của ngài Vô trước và Luận thích của ngài Thế thân, mở ra tông nhiếp luận, đề xướng Biệt thời ý thú, bài xích Thập niệm vãng sinh của Quán kinh là Phương tiện giáo chỉ có nguyện suông chứ không cóthực hành. Đến đây thì Tịnh độ giáo bỗng khựng lại. Các thuyết như căn cơ tu theo Quán kinh là những hành giả thượng căn, thân độ làỨng hóa thân vàỨng độ...giờ đây chỉ còn nhờ Sơ tổ Đàm loan mà tạm thời lóe ra chút ánh sáng. Về sau, ngài Đạo xước tình cờ đến chùa Huyền trung xem văn bia của ngài Đàm loan mà đi vào pháp mônNiệm Phật và y theo Quán kinh mà soạn bộ An lạc tập, phê bình và bác bỏ các kiến chấp sai lầm; đệ tử của sư là ngài Thiện đạo cũng vì các nhà chưa hiểu nghĩa kinh, xem Quán kinh là lấy quán niệm làm chính, lấy hồi hướng nguyện sinh làm tông chỉ, chứ không phải trực tiếp chỉ dạy hạng phàm phu vãng sinh, cho nên mới soạn Quán kinh tứ thiếp sớ, qui định khuôn phép xưa nay, Tịnh độ giáo nhờ đó được phục hưng. Cho nên, dòng phái này tuy bắt đầu là ngài Đàm loan, rồi ngài Đạo xước kế thừa, nhưng thực ra thì người hoằng dương là ngài Thiện đạo, vì thế gọi là Thiện đạo lưu. Các trứ tác khác của ngài Thiện đạo như Quán niệm pháp môn, Vãng sinh lễ tán, Pháp sự tán, Ban chu tán... đều nhằm mục đích phát huy ý nghĩa sâu xa trong Quán kinh sớ. Ngài Thiện đạo chủ trương Quán kinh đầu tiên nói về yếu môn để dắt dẫn những căn cơ Tịnh độ chưa thuần thục, về sau thì bỏ yếu môn mà hiển bày hoằng nguyện. Tức phán định tông chỉ Quán kinh yếu môn là phương tiện, hoằng nguyện là chân thực, nói rõ Quán kinh tuy lấyquán Phật, niệm Phật làm chính, nhưng mục đích là niệm Phật. Đồng thời, ngài Thiện đạo cho rằng hạnh xưng danh là chính định nghiệp, 1 trong 5 chính hạnh; 4 hạnh còn lại: Đọc tụng, quán sát, lễ bái, tán thán cúng dường thì là trợ nghiệp, tuy giúp thêm cho việc xưng danh nhưng không phải chính nhân của sự vãng sinh. [X. Quán kinh sớ tán thiện nghĩa].

thiện đạo niệm phật giáo chỉ

Theo Ngài Thiện Đạo, hành giả tu theo Pháp môn Tịnh Độ nên biết những điều quan trọng sau đây—According to the Great Master San-Tao, Pureland cultivators should always remember the followings 1) Ngay khi chúng ta đau yếu, dù nặng hay dù nhẹ đi nữa, cũng đều nên khởi tâm nghĩ đến sự vô thường, bởi vì cái chết là một điều tất nhiên, từ vô thỉ đến nay, hoặc trẻ, hoặc già, hoặc trời, người, ma, quỷ hay súc sanh, vân vân, không ai qua khỏi được. Đây là điều tiên quyết cần phải khởi tâm suy nghĩ trước hết: When first coming down with an illness, whether terminal or not, cultivators should immediately reflect upon the matter of impermanence. The reason is death is a natural part of life; from aeons ago untill now, whether young or old, Heavenly or human beings, ghosts, demons, or animals, etc., no one has been able to escape this fate. This is the most important point and should be thought of first. 2) Kế đến là phải một lòng niệm Phật chờ lâm chung: Next, the cultivator must recite the Buddha's name with one mind to wait to die. 3) Lại nữa cũng phải dặn người thân cận, khi có ai đến thăm bệnh thì khuyên họ nên ngồi kế bên niệm Phật, chớ đừng nên bàn nói các chuyện tạp nhạp của thế gian: Moreover, it is necessary to inform those closest to the cultivators if anyone comes to visit, tell him or her to sit by and to recite the Buddha's name; do not indulge in futile discussions of the world, i.e., gossips, politics, etc. 4) Nếu bệnh trở nặng sắp chết, thì phải dặn thân quyến cùng với các người chung quanh không ai được khóc lóc cả: If illness becomes terminal, remind family and relatives as well as those nearby not to cry. a) Ngược lại, phải đồng thanh niệm Phật để hộ niệm cho thần thức của kẻ lâm chung: On the contrary, they must all loudly and purely chant the Buddha's name to aid the recitation of the cultivator's soul. b) Khi nào người bệnh đã qua đời, gia đình phải đợi cho đến khi nào trong mình người lâm chung hoàn toàn dứt hết hơi nóng, cả mình lạnh hết, tức là thần thức đã lìa khỏi thân tứ đại, chừng đó ai muốn khóc thì cứ khóc. Khi người chết, thần thức hay a lại a thức có thể vẫn lẩn quẩn quanh thân xác chừng vài tiếng đồng hồ: After the cultivator has died, family members must wait until all body heat has dissipated completely, until the body has turned cold, then at that time it is alright to cry. If someone has died, the last of that person's consciousness (alaya consciousness) may linger on within the body for several hous or more before leaving. *** See Hộ Niệm.

thiện định

(善定) Chỉ cho những người tu hành từ khi xuất gia theo thứ tự tu học Phật đạo mà lần lượt chứng đượcthiền định của cõi Sắc vàthiền định của cõi Vô sắc. Trời cõi Sắc vàtrờicõi Vô sắc mỗi cõi đều có 4 cảnh giới thiền định, hợp lại gọi chung là Tứ thiền bát định(4 thiền 8 định). [X. Luận Giải thoát đạo Q.2]. (xt. Tứ Thiền Bát Định). THIÊN GIÁC VƯƠNG Thiện giác, Phạm: Suprabuddha. Pàli: Suppabudha. Hán âm: Tô bát ra một đà, Tu ba phật, Tu ba phất. Cũng gọi Thiện ngộ vương. Về vị vua này, các kinh ghi chép đều khác nhau, theo kinh Chúng hứa ma ha đế quyển 2 thì Thiện giác vương là chủ của thành Thiên tí, ở gần nước Ca tì la vệ thuộc Ấn độ xưa, phu nhân là Long nhĩ nễ (Phạm: Lumbinì), sinh được 2 người con gái, cô chị là Ma da (Phạm: Màyà), cô em là Ma ha ma da (Phạm: Mahàmàyà), về sau 2 chị em cùng là phu nhân của vua Tịnh phạn thành Ca tì la vệ, phu nhân Ma da sinh ra Thái tử Tất đạt đa. Còn theo tư liệu Nam truyền như Đại sử (Pàli:Mahà-vaôsa ii)...thì Thiện giác vương là con của vua An xà nan (Pàli: Aĩjana) thuộc chủng tộc Câu lợi (Pàli: Koơiya) ở thành Thiên tí, là anh của 2 bà Ma da và Ba xà ba đề (Pàli:Pajàpati), em của Vương tử Chấp trượng (Pàli: Daịđapànì) lấy con gái của vua Sư tử giáp tên là Cam lộ (Pàli:Amita) làm vợ; về sau, Cam lộ sinh ra Da duđà la (Pàli: Bhaddakaccànà) vàĐề bà đạt đa (Pàli: Devadatta), Da du đà la tức là phu nhân của Thái tử Tất đạt đa. [X. kinh Phật bản hành tập Q.5; phẩm Thí nghệ trong kinh Tu hành bản khởi Q.thượng; kinh Chúng hứa ma ha đế Q.3, 6; Thích ca phổ Q.2].

Thiệp

渉; C: shè; J: shō;|Có sự liên quan với. Có sự quen thuộc với; thân tình với.

thiệp cảnh tâm

(涉境心) Cũng gọi Phân biệt tâm. Tâm phân biệt. Tức đối với sự vật hiện tiền khởi tâm phân biệt sai khác, như phải trái, thiện ác, mình người, lớn nhỏ, đẹp xấu...; tâm phân biệt, thủ xả này là những vọng tưởng tình chấp gây chướng ngạicho việc tu hành Phật đạo.

thiệt

1) Lưỡi: Jihva (skt)—Tongue. 2) Thật: Real—Genuine. 3) Thiệt mất: To lose—To suffer loss. 4) Thiệt hại: Damaged.

thiệt bất lạn

Lưỡi không cháy mất, một từ dùng cho ngài Cưu Ma La Thập. Người ta nói khi hỏa táng, cái lưỡi của ngài không bị cháy—Tongue unconsumed, a term for Kumarajiva, on his cremation his tongue is said to have remained unconsumed.

thiệt căn

The organ of taste. ; (舌根) Phạm: Jihvendriya. Pàli:Jivhendriya. Chỉ cho chỗ nương của thức lưỡi, duyên theo vị cảnh, gọi là Thiệt căn, 1 trong 5 căn, 1 trong 6 căn, 1 trong 12 xứ, 1 trong 18 giới, 1 trong 22 căn. Nói nôm na là cái lưỡi dùng để nếm mùi vị. Nghĩa gốc của chữ Phạmjihvàlà ngọn lửa, tức hàm ý là hay nếm, nghĩa là lúc tế thần bỏ các vật dụng cúng vào trong lửa, ngọn lửa tức là sự nếm của thần.Ởcõi vô sắc không có thiệt căn, chỉ có ở cõi Dục và cõi Sắc. Trong 12 xứ, Thiệt căn gọi là Thiệt xứ (Phạm:Jihvàyatana); trong 18 giới thì gọi là Thiệt giới (Phạm:Jihvà-dhàtu). [X.luận Đại tì bà sa Q.90, 142, 145; luận Câu xá Q.1, 2; luận Du già sư địa Q.54; luận Hiển dương tánh giáo Q.1; luận Phẩm loại túc Q.1; luận Thành duy thức Q.8]. (xt. Nhị Thập Nhị Căn, Thập Nhị Xứ, Thập Bát Giới, Ngũ Căn).

thiệt hiền đại sư

Sua-Sen—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, Thiệt Hiền Đại Sư tự là Tự Tế, hiệu là Tỉnh Am, con nhà họ Thời ở đất Thường Thục. Ngài sống vào đời nhà Thanh. Ngay từ khi còn bé, ngài đã không ăn cá thịt. Sau khi xuất gia, ngài tham cứu câu “Phật Là Ai?” Ngài được tỉnh ngộ và nói rằng: “Tôi đã tỉnh giấc mơ.” Kế tiếp, ngài đóng cửa thất ba năm ở chùa Chân Tịch. Ban ngày duyệt tam tạng kinh điển, ban đêm chuyên trì Phật hiệu. Sau khi ra thất, ngài đến Mậu Sơn lễ xá lợi tháp A Dục Vương. Nhằm ngày Phật nhập Niết Bàn, ngài họp chúng, sắm lễ cúng dường, rồi đốt ngón tay trước tượng Phật, phát bốn mươi tám lời nguyện. Lúc ấy cảm được xá lợi Phật phóng ánh quang minh rực rỡ. Trong phần giáo chúng, ngài thường dạy rằng: “Một chữ nguyện bao gồm cả Tín và Hạnh (see Tín Hạnh Nguyên, and Lục Tín). Lúc lớn tuổi, ngài về trụ trì tại chùa Phạm Thiên, còn gọi là chùa Tiên Lâm ở Hàng Châu. Năm Ung Chánh thứ bảy, ngài thành lập Liên Xả, làm văn phát thệ giữa đại chúng, lấy tôn chỉ “Trọn đời tinh tấn tu Tịnh nghiệp làm kỳ hạn.” Ngài chia khóa tu hằng ngày ra làm “Hai mươi phần trì danh,” “Chín phần quán tưởng,” và một phần lễ sám” cho đại chúng nương theo đó mà tu tập. Có nhà tu Thiền hỏi về đường lối quan yếu của pháp môn Niệm Phật, ngài liền dùng lời kệ khai thị rằng: “Một câu A Di Đà, Là việc đầu công án. Không thương lượng chi khác, Thẳng ngay liền quyết đoán. Ví như đống lửa lớn, Nhảy vào liền cháy tan. Lại như gươm Thái A (bảo kiếm) Xông vào liền đứt đoạn. Sáu chữ gồm nhiếp thâu, Tám muôn tư pháp tạng. Một câu giải quyết xong, Ngàn bảy trăm công án. Mặc ai không thích nghe, Ta tự tâm-tâm niệm. Xin chớ có nhiều lời, Giữ một lòng không loạn.” Niên hiệu Ung Chánh thứ 11, ngày mồng 8 tháng 12 âm lịch, ngài bảo đại chúng rằng: “Tháng tư sang năm ta sẽ đi xa.” Rồi ngài đóng cửa thất, mỗi ngày niệm 100.000 câu Phật hiệu. Sang năm, ngày 12 tháng 4, ngài bảo cùng với các môn đồ rằng: “Từ đầu tháng đến nay ta đã hai lần thấy “Tây Phương Tam Thánh,” chắc là đến lúc vãng sanh. Nói xong, liền làm bài kệ từ giã đại chúng. Qua hôm sau ngày 13 tháng 4, ngài không ăn uống, cứ nhắm mắt ngồi thẳng. Đến canh năm, ngài tắm rửa, thay y hậu. Bữa ấy, nhằm 14, gần giờ ngọ, ngài ngồi nhắm mắt, day mặt về phương Tây, yên lặng. Hàng đạo tục khắp nơi nghe tin, hội về đông như chợ. Đại sư bỗng mở mắt ra, nói: “Tôi về Cực Lạc, không bao lâu sẽ trở lại. Thoát ly sống chết là việc lớn, mỗi người nên cố gắng thanh tịnh niệm Phật.” Dặn dò xong, ngài chắp tay, xướng hồng danh A Di Đà Phật rồi thị tịch. Ngài hưởng dương 49 tuổi—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, Great Master Sua-Sen, the Eleventh Patriarch of Chinese Pureland Buddhism. His self-given name was Tự-Tế and he was also known as Hsing-An. He was a son of the Thời Family of the Thường-Thục region. He lived during the Ch'ing Dynasty. Even as an infant, he never ate fish or meat. After taking the religious path, he examined the concept “Who is Buddha?” Once he became awakened, he said: “I have awakened from a dream.” Thereafter, he went into a three-year retreat at Chân Tịch Temple. During the day he studied and examined the Tripitaka, and at night he engaged in Buddha recitation. After coming out of his retreat, he went to Mậu Sơn to worship the Cari at a pagoda called Ajatasatrou. On the Memorial Day of the Buddha entering Maha-Nirvana, he had a great gathering of Buddhists to worship and to make offerings. Thereafter, he burned a finger before the Buddha' statue and made forty-eight great vows. At that moment his action led the Cari to emit bright lights. While guiding his disciples, he often taught: “The single word Vow encompasses both Faith and Practice.” (see Tín Hạnh Nguyện, and Lục Tín). On December 8th, lunar year, of the eleventh year of Ung-Chánh reign period, he told the great assembly: “In April of next year, I will go far away.” Thereafter, he went into retreat, daily reciting Buddha's name one hundred thousand times. On April 12th of the following year, he told his disciples: “From the beginning of the moth until now, on two separate occasions I have seen Three Saints of the Western Pureland, perhaps my time to gain rebirth is near.” After speaking, he composed a poem to bid farewell to the great assembly. Next day, April 13th, he did not eat or drink, but continued to sit straight with his eyes closed. Then at five in the morning, he bathed and cleaned himself and changed his robe. On that day, the 14th, nearing the noon hour, he sat with his eyes closed peacefully facing the Western direction. Hearing this news, religious rank and lay Buddhists from everywhere gathered in great numbers. The Great Master suddenly opened his eyes and said: “I'm going to the Ultimate Bliss World, it will not be long before I shall return. Finding liberation from life and death is a very important matter, everyone must be diligent in reciting Buddha peacefully and purely.” After giving this instruction, he put his palms together, chanted the virtuous name Amitabha Buddha and then took his last breath. He was only 49 years old.

thiệt hại

Damage—Loss—Harm.

thiệt mạng

To lose one's life—To die.

thiệt thân

To lose one's life.

thiệt thòi

To be detriment of oneself—To suffer loss.

thiệt thức

Thiệt thức phát sinh liền khi thiệt căn tiếp xúc với một vị nào đó, lúc ấy chúng ta mới kinh qua phân biệt giữa vị nầy với vị khác, cũng từ đó dục vọng khởi sinh—Taste consciousness—Tongue consciousness or perception—Gustatory consciousness—The tongue consciousness develops immediately through the dominant condition of the tongue when the tongue faculty focuses on a certain taste. At that very moment, we experience and distinguish between tastes and desire arises. ; (舌識) Phạm:Jihvà-vijĩàna. Pàli:Jivhà-viĩĩàna. Lấy Thiệt căn(cái lưỡi)làm chỗ nương, duyên theo vị cảnh(mùi vị)mà sinh ra tác dụng phân biệt mùi vị, gọi là Thiệt thức (thức lưỡi). Một trong 5 thức, 1 trong 6 thức, 1 trong 8 thức. (xt. Bát Thức, Ngũ Thức, Lục Thức).

thiệt tình

Sincere.

thiệt tướng

Tướng lưỡi rộng dài của Đức Phật, một trong ba mươi hai hảo tướng của Ngài (ý nói không nói dối)—The broad, long tongue of a Buddha, one of the thirty-two physical signs. ; (舌相) I. Thiệt Tướng. Tướng lưỡi, là tướng thứ 27 trong 32 tướng của chư Phật và Chuyển luân thánh vương, tức tướng lưỡi rộng dài (Phạm: Prabhùta-jihvatà). Lưỡi của chư Phật và Chuyển luân thánh vương rộng dài, mềm mại và mịn mỏng, khi thè ra thì che cả mặt và chạm đến chân tóc trên trán, là biểu tượng của sự Nói ắt chân thật và Biện thuyết vô cùng. [X.luận Đại trí độ Q.88]. (xt. Quảng Trường Thiệt Tướng). II. Thiệt Tướng. Tướng thuyết pháp. Tức khi thuyết pháp thì biện tài vô ngại, thao thao bất tuyệt.

thiệu

1) Giới thiệu: To introduce—To present. 2) Tiếp nối: To continue. 3) Truyền trao: To hand down.

thiệu kỳ sở sơn

See Sở Sơn Thiệu Kỳ.

thiệu long

Nối pháp làm cho ngày thêm hưng thịnh—To continue or perpetuate and prosper Buddhist truth, or the Triratna. ; (紹隆) I. Thiệu Long. Thừa kế chính pháp và làm cho chính pháp phát huy rực rỡ. Như Thiệu long Tam bảo, nghĩa là kế thừa Tam bảo Phật, Pháp, Tăng và làm cho Tam bảo hưng thịnh. [X.phẩm Phật quốc kinh Duy ma]. II. Thiệu Long (1077 ?-1136). Cao tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Tống, người Hàm sơn, Hòa châu (tỉnh An huy), Trung quốc. Năm 9 tuổi, sư đã vào viện Phật tuệ chuyên nghiên cứu Luật tạng. Sư từng tham yết ngài Tịnh chiếu Sùng tín ở Trường lô, rồi lần lượt tham phỏng các ngài Trạm đường Văn chuẩn ở núi Bảo phong và Tử tâm Ngộ tân ở núi Hoàng long. Sau, sư đến Giáp sơn (tỉnh Hồ nam) theo hầu ngài Viên ngộ Khắc cần - vị cao tăng của phái Dương kì thuộc tông Lâm tế, trong 20 năm, đồng thời nối pháp của ngài. Năm Kiến viêm thứ 4 (1130), sư trụ Vân nham thiền tự ở núi Hổ khâu tại Bình giang, mở rộng Thiền phong của ngài Viên ngộ, người đương thời gọi sư là Hổ khâu Thiệu long, lâu ngày bèn trở thành một phái, tức phái Hổ khâu. Sau khi Thiền sư Viên ngộ Khắc cần thị tịch, sư cùng ngài Nhã bình biên tập ngữ lục của Thiền sư Viên ngộ. Năm Thiệu hưng thứ 6 (1136), sư thị tịch, thọ 60 tuổi(có thuyết nói 65 tuổi). Học trò là Tự thụy biên soạn Hổ khâu Long hòa thượng ngữ lục 1 quyển, ngài Từ lâm soạn bài minh tháp. Ở Nhật bản, pháp hệ của sư cũng rất hưng thịnh. Chân núi Thiếu thất THIÊU NGUYÊN (?-?) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Hoa nghiêm, sống vào đời Tống. Sách Pháp giới quán môn trí đăng sớ 1 quyển hiện còn là do sư soạn để chú thích bộ Pháp giới quán môn doHòa thượng Đỗ nhuận, Sơ tổ tông Hoa nghiêm soạn vào đời Đường.

thiệu tu long tế thiền sư

Zen master Shao-Xiu-Long-Ji—Thiền sư Thiệu Tu là đệ tử của Thiền sư Quế Sâm, và là sư đệ của thiền sư Văn Ích Pháp Nhãn—Zen master was a disciple of Zen master Kui-Chen, and a Dharma brother of Wen-Yi-Fa-Yan. • Ba vị từ Quế Sâm đi hành hương, trên đường cùng bàn chuyện. Pháp Nhãn chợt hỏi: “người xưa nói: 'Ở trong vạn tượng riêng bày thân' là vạch vạn tượng hay chẳng vạch vạn tượng?” Sư đáp: “Chẳng vạch vạn tượng.” Pháp Nhãn bảo: “Nói cái gì là vạch chẳng vạch?” Sư mờ mịt, trở lại Viện Địa Tạng. Quế Sâm thấy sư trở lại hỏi: “Ngươi đi chưa bao lâu tại sao trở lại?” Sư đáp: “Có việc chưa giải quyết đâu yên leo non vượt suối.” Quế Sâm bảo: “Ngươi leo vượt bao nhiêu non suối, lại chẳng ưa?” Sư chưa hiểu lời dạy bảo, liền hỏi: “Cổ nhơn nói: 'Ở trong vạn tượng riêng bày thân,' ý chỉ thế nào?” Quế Sâm đáp: “ngươi nói người xưa vạch vạn tượng hay chẳng vạch vạn tượng?” Sư thưa: “Chẳng vạch.” Quế Sâm bảo: “Hai cái.” Sư kinh hãi lặng thinh, lại hỏi: “Chưa biết cổ nhơn vạch vạn tượng hay chẳng vạch vạn tượng?” Quế Sâm bảo: “Ngươi nói cái gì là vạn tượng?” Sư liền tỉnh ngộ, lại từ biệt Quế Sâm đi đến chỗ Pháp Nhãn—While traveling with two other friends from Kui-Lin, Fa-Yan suddenly asked Shao-Xiu a question, saying: “The ancients said that the single body is revealed in the ten thousand forms. Did they thus dispel the ten thousand forms or not?” Shao-Xiu said: “They didn't dispel them.” Fa-Yan said: “What do you say dispels or doesn't dispel them?” Shao-Xiu was confused and returned to see Kui-Chen. Kui-Chen asked him: “You haven't been gone long, why have you come back?” Shao-Xiu said: “There's an unresolved matter, so I'm not willing to go traveling to mountains and rivers until it's resolved.” Kui-Chen said: “It's not bad that you travel to difficult mountains and rivers.” But Sha-Xiu did not understand Kui-Chen's meaning, so he asked: “The single body is revealed in the ten thousand forms. What does this mean?” Kui-Chen said: “Do you say the ancients dispelled the ten thousand forms or not?” Shao-Xiu said: “They didn't dispel them.” Kui-Chen said: “It's two.” For a time, Sha-Xiu was lost in thought, and then he said: “I don't know whether the ancients dispelled the ten thousand forms or not.” Kui-Chen said: “What is it you call the ten thousand forms?” Shao-Xiu thereupon attained enlightenment. • Sư thượng đường dạy chúng: “Pháp đầy đủ nơi phàm phu chẳng biết, pháp đầy đủ nơi Thánh nhơn mà Thánh nhơn chẳng biết. Thánh nhơn nếu biết tức là phàm phu, phàm phu nếu biết tức là Thánh nhơn. Hai câu nói nầy một lý mà hai nghĩa. Nếu người biện biệt được chẳng ngại ở trong Phật pháp có chỗ vào. Nếu người biện biệt chẳng, chớ nói không nghi—Zen master Shao-Xiu entered the hall and addressed the monks, saying: “Ordinary people possess it completely but they don't know it. The saints possess it completely but don't understand it. If the saint understands it, then he or she is an ordinary person. If ordinary people understand it, then they are saints. In these forms of speech there is one principle and two meanings. If a person can distinguish this principle, then he will have no hindrance to finding an entrance to the essential doctrine. If he can't distinguish it, then he can't say he has no doubt. Take care!” • Sư hỏi một vị Tăng mới đến: “Ở đâu đến?” Vị Tăng thưa: “Ở Thúy Nham.” Sư hỏi: “Thúy Nham có lời gì dạy đồ chúng?” Vị Tăng thưa: “Bình thường nói 'Ra cửa gặp Di Lặc, vào cửa thấy Thích Ca.'” Sư nói: “Nói thế ấy làm sao được?” Vị Tăng hỏi: “Hòa Thượng nói thế nào?” Sư nói: “Ra cửa gặp ai? Vào cửa thấy ai?” Vị Tăng nghe xong liền tỉnh ngộ—Zen master Shao-Xiu asked a monk: “Where have you come from?” The monk said: “From Shui-Yan.” Shao-Xiu asked: “What does Shui-Yan say to provide instruction to his disciples?” The monk said: “He often say 'Going out—meeting Matreya Buddha. Going in—seeing Sakyamuni.'” Shao-Xiu said: “How can he talk like that?” The monk asked: “What do you say, Master?” Shao-Xiu said: “Going out—who do you meet? Going in—who do you see?” At these words the monk had an insight.

thoa

To rub.

thoai thoải

Gentle slope.

thoang thoáng

Vaguely.

thoang thoảng

Faint perfume.

thoi

1) Một miếng: A piece (of gold)—A bar—A stick. 2) Con thoi (chạy tới chạy lui): Shuttle. 3) Cú đấm bằng tay: To blow—To punch.

thoi thóp

To breath very lightly.

thon

Slim—Slender—Thin.

thong dong

To walk leisurely—Not in a hurry.

Thong dong lục

從容錄; C: cóngróng-lù; J: shōyō-roku;|Tên của một tập Công án, được hai vị Thiền sư Hoằng Trí Chính Giác và Vạn Tùng Hành Tú (萬松行秀; c: wànsōng xíngxiù, 1166-1246) biên soạn trong thế kỉ 12.|Tập công án này được biên soạn vài thập niên sau Bích nham lục của Thiền sư Viên Ngộ Khắc Cần. Thiền sư Hành Tú sử dụng 100 tắc công án và kệ tụng của sư Chính Giác dưới tên Tụng cổ bách tắc làm căn bản và thêm vào Trước ngữ, Bình xướng và vì vậy, mỗi tắc bao gồm 5 phần. Sư sử dụng tập này để dạy tăng chúng tại am Thung Dung (cũng đọc Thong Dong) và vì vậy tập công án này được truyền lại dưới tên này. Năm tắc được trích từ trong kinh sách, phần còn lại là những pháp thoại của các vị Thiền sư đời Ðường, thuộc về Ngũ gia thất tông. Tập này được xuất bản đầu tiên năm 1224, gần một thế kỉ sau Bích nham lục. Hơn hai phần ba của Thong dong lục trùng hợp với Bích nham lục và Vô môn quan và có lẽ vì vậy mà tập này ít được nhắc đến.

thong dong lục

Ts'ung-Jung-Lu—Tập sách 100 công án do Hoàng Trí Chánh Giác, một thiền sư danh tiếng phái Tào Động Trung Quốc biên tập. Nhan đề lấy theo tên của “Am Thong Dong”—Record of Great Serenity—A book of one hundred koans compiled by Hung-Chih-Chêng-Chueh, a reputed Chinese T'ao-Tung Zen master. The title is derived from the name of the Hermitage of Great Serenity.

thong thả

Leisurely.

thoái

To retire—To backslide—To withdraw—To yield—To move (step) back—See Thối.

thoái bồ đề thanh văn

(退菩提聲聞) Một trong 4 loại Thanh văn. Trên đường cầu Phật đạo, giữa đường lui khỏi Đại thừa mà theo Tiểu thừa, nhưng vẫn phát tâm Đại bồ đề, như ngài Xá lợi phất... là hàng chủng tính bất định, tương đương với Thoái đại Thanh văn nói trong Pháp hoa văn cú quyển 4.Danh từ này có xuất xứ từ Pháp hoa quyển hạ của ngài Thiên thân. [X. Pháp hoa huyềntán Q.1,5].

thoái bộ

See Thoái.

thoái chuyển

Thối lui làm mất cái mà mình đã tu chứng được—To withdraw and turn back from any position attained. ; (退轉) Gọi tắt: Thoái. Cũng gọi Thoái đọa, Thoái thất. Chỉ cho hạng người trên đường cầu Phật đạo, đến nửa đường thì tâm bồ đề lui sụt mà rơi vào hàng Nhị thừa phàm phu; hoặc chỉ cho hạng người lui mất giai vị tu hành mà mình đã chứng được. Về thuyết thoái vị, các kinh luận nói đều khác nhau, trong luận Thích tịnh độ quần nghi quyển 4, ngài Hoài cảm đã thu tóm làm 4 thuyết: 1. Tín thoái: Chỉ cho giai vị của 5 tâm trước trong giai vị Thập tín. Vì giai vị 5 tâm này vẫn còn có tâm thoái chuyển, nên dễ sinh tà kiến, dứt mất thiện tâm. 2. Vị thoái: Chỉ cho giai vị của 6 tâm trước trong giai vị Thập trụ. Vì giai vị 6 tâm này vẫn còn có thể thoái chuyển thành Nhị thừa. 3. Chứng thoái: Chỉ cho cácgiai vị phàm phu dưới Thập địa. 4. Hành thoái: Chỉ cho các tâm vị dưới Thất địa, vì các tâm vị này đối với những pháp được nghe còn sinh khiếp nhược, không có năng lực tu học, không thể hằng tu thắng hạnh trong từng niệm, cho nên dễ bị lui sụt. Ngoài ra, về trường hợp thoái chuyển đối với 4 quả Thanh văn, giữa các bộ phái Tiểu thừa cũng có những thuyết khác nhau. Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương Sơ quả chắc chắn không trở lui, 3 quả sau thì có khả năng lui sụt. Kinh lượng bộ thì cho rằng Sơ quả và Tứ quả không thoái chuyển, 2 quả trung gian thì có thể thoái chuyển. Còn Đại chúng bộ và Hóa địa bộ thì đều chủ trương 3 quả đầu có lui sụt, chỉ có 1quả thứ 4 thì không. [X.kinh Đại bảo tích Q.3; phẩm Hiền thánh họcquán trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng; luận Câu xá Q.25; luận Dị bộ tông luân].

thoái chí

Thối chí—Broken-spirited—Discouraged.

thoái duyên

(退緣) Nhân duyên thoái chuyển. Tức chỉ cho những ác duyên gây chướng ngại cho việc tu hành Phật đạo, hoặc khiến phải lui khỏi giai vị tu hành. Câu xá luận quang kí quyển 3 và luận Đại tì bà sa quyển 60 nêu ra 5 thứ thoái duyên của bậc A la hán như sau: 1. Đa doanh sự nghiệp: Quá lo toan về sự nghiệp. 2. Nhạo chư hí luận: Ưa thích sự bàn luận chỉ bàn để mà chơi. 3. Hiếu hòa đấu tranh: Thích giảng hòa về việc đấu tranh. 4. Hỉ thiệp trường đồ: Thích đi xa 5. Thân hằng đa bệnh: Thân thường đau ốm. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng quyển 4 cũng nêu 5 thứ thoái duyên: Việc tăng,Giàn hòa việctranh cãi,Đi xa,Nhiều bệnh, Thích tụng kinh. Luận Tịnh độ của ngài Ca tài thì cho rằng, người phàm phu vì sống ở thế giới Sa bà, do có 5 thứ thoái duyên nên dễ bị thoái chuyển; còn nếu sinh về Tịnh độ phương Tây thì không có 5 thoái duyên nên không thoái chuyển. Năm thoái duyên là: 1. Sự sống ngắn ngủi, nhiều bệnh. 2. Có người nữ và tiêm nhiễm 6 trần. 3. Kết bạn với người xấu ác. 4. Tâm bất thiện và vô kí. 5. Thường không được gặp Phật.

thoái hóa

To retrogress—To retrograde—To degenerate.

thoái khuất

To recede or yield, as is possible to a Bodhisattva facing the hardships of further progress. ; (退屈) Chỉ cho tâm lùi bước, khuất phục. Bồ tát tu hành có 3 thứ cửa ải khó khăn khiến tâm thoái khuất.Đó là:Bồ đề quảng đại khuất, Chuyển y nan chứng khuất. Pháp đối trị 3 thứ thoái khuấtnày gọi là Tam luyện ma. [X.luận Thành duy thức Q.9]. (xt. Tam Thoái Khuất).

thoái khước

To withdraw—To draw back.

thoái lui

To step (draw) back.

thoái một

Tái sanh vào cảnh giới thấp—To be reborn in a lower stage of existence. ; (退沒) Lui mất. Tức từ cõi trên rơi xuống cõi dưới, hoặc từ chỗ vui rơi vào chỗ khổ. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển trung (Đại 40, 46 hạ) nói: Thứ nhất là thoái một, vì phạm giới này mà không có phần đạo quả [X. Vãng sinh luận chú Q.thượng].

thoái nhượng

To give way—To yield.

thoái phàm hạ thừa

(退凡下乘) Phàm tục phải lui, ngồi xe thì xuống. Tức chỉ cho 2 ngôi tháp nhỏ có tên là Thoái phàm và Hạ thừa, do vua Tần bà sa la xây dựng ở chân núi Linh thứu. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 9, lúc còn tại thế, phần nhiều đức Phật nói diệu pháp trên núi Linh thứu, vua Tần bà sa la thường lên nghe pháp. Vì đường lên núi khó đi nên vua cho mở 1con đường nhỏ rộng hơn 10 bước, dài khoảng 5, 6 dặm, xếp thành những bậc đá. Ở khoảng giữa con đường này có xây 2 cây tháp nhỏ, 1 gọi là Hạ thừa, nhà vua đến đây thì xuống xe để đi bộ; 1 gọi là Thoái phàm, người phàm tục đến đây thì phải lui lại, cấm không được đi cùng với vua.

thoái pháp a la hán

(退法阿羅漢) Thoái pháp, Phạm: Parihàịadharma. Chỉ cho các vị độn căn nhất trong các vị đã chứng được quả A la hán; các vị này vì gặp ác duyên như tật bệnh...mà lui mất quả đã chứng được. Là 1 trong 6 loại A la hán, 1 trong 9 Vô học. [X. luận Câu xá Q.25]. (xt. Cửu Vô Học).

thoái quả

(退果) Lui mất quả vị đã chứng. Tức lui mất quả vị Vô học mà nhận lấy quả vị Hữu học, chỉ chung cho 5 pháp trước trong 9 Vô học. Đó là: Thoái pháp, Tư pháp, Hộ pháp, An trụ pháp và Kham đạt pháp. Theo luận Thành duy thức quyển 3 thì A la hán thoái quả vì có 5 nguyên nhân: 1. Thích bận bịu với công việc. 2. Ham đọc tụng kinh điển. 3. Thích phân tích, quyết đoán các luận thuyết của thế tục. 4. Thích đi xa. 5. Luôn đau ốm.

thoái tam muội da tội

(退三昧耶罪) Tội lui mất Tam muội da, 1 trong 3 trọng tội của Mật giáo. Tam muội da tức là bản thệ của chính mình, người thụ giới tu hành mà phạm tội Tam muội da thì tức đã lui mất bản thệ của chính mình. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 11 thì hành giả Chân ngôn phải siêng tu pháp môn của mình, không nên gián đoạn; nếu nửa chừng mà bỏ thì đó chẳng phải tướng tinh tiến, như vậy là cái đáng được sẽ không được, cái được rồi thì lui mất, đối với đạo có trở ngại. Bởi thế hành giả phải nhất tâm tinh tiến, như cứu lửa đang cháy trên đầu. Nhờ tinh tiến không phóng túng, buông thả thì có thể đạt được tri kiến Phật ngay ở đời nay. Trái lại, không siêng năng tiến tới mà nửa chừng bỏ dở thì phạm tội Thoái tam muội da. [X.kinh Đại nhật Q.7; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.1].

thoái thác

To find a pretext (way) to refuse.

thoái toà

(退座) Cũng gọi Thoái tịch. Lui khỏi tòa ngồi. Nghĩa là sau khi kết thúc các nghi thức như pháp hội, Phật sự... thì mỗi người đều trở về liêu phòng của mình, gọi là Thoái tọa.

thoái tọa

Rời chỗ ngồi—To withdraw from one' seat.

thoái viện

(退院) Cũng gọi Thoái cư. Vị Trụ trì thiền viện lui về ẩn tu. Theo chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 3, nếu vị Trụ trì tuổi đã già yếu, tâm lực mỏi mệt, hoặc các duyên không thuận, thì nên tự biết thời rút lui, phải đem tiền của thường trụ, những đồ vật của Phương trượng bàn giao rõ ràng, phải ghi danh mục các vật vào 2 tờ giấy, đóng dấu, kí tên, rồi Trụ trì, Khố tư mỗi người giữ một bản để làm bằng. Đến ngày thoái viện, mời một người trông coi Phương trượng, vị Trụ trì lên Tăng đường từ tạ, từ giã đại chúng rồi xuống tòa, đợi đánh 3 tiếng trống thì lui về. Chế độ Trụ trì được khai sáng ở Trung quốc, luật lệ xuất thế, nhập viện, hoặc sự sinh hoạt trong sạch của Trụ trì cũng như nền kinh tế của Thiền viện đều có qui định rõ ràng bằng minh văn, cho nên việc thoái viện cũng phải được tuân hành theo qui định.

thoái vị

(退位) Đối lại: Bất thoái vị. Khi Bồ tát tu hành Phật đạo, đến lúc đã chứng và thấy được 1 phần chân lí thì đó là Bất thoái vị; trước giai đoạn này thì là Thoái vị. Vì không còn nỗi lo thoái chuyển, nên các Bồ tát từ Sơ địa trở lên đều thuộc về Bất thoái vị. Trái lại, hàng Bồ tát ở các giai vị dưới Thập địa như Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng...vẫn còn mối lo thoái vị. [X. An lạc tập Q.thượng].

thoái đại

Lui bước trước Đại Thừa để chuyển bước sang Tiểu Thừa—To backside from Mahayana and revert to Hinayana.

thoái đại thanh văn

(退大聲聞) Một trong 5 loại Thanh văn. Người vốn đã nhiều kiếp tu tập Đại thừa, nhưng sau vì gặp ác duyên, nhàm chán sinh tử nên lui khỏi Đại thừa, tu theo Tiểu thừa, gọi là Thoái đại Thanh văn, tương đương với Thoái bồ đề Thanh văn nói trong luận Pháp hoa quyển hạ. Như trường hợp ngài Xá lợi phất phát tâm tu tập đạo Bồ tát, sau gặp người Bà la môn xin mắt, ngài than rằng đạo Bồ tát khó thực hành nên rút lui khỏi Đại thừa để nhận lấy quả vị Tiểu thừa. [X. Pháp hoa văn cú Q.4]. (xt. Thanh Văn).

thoán

To usurp (a throne or high position).

thoáng

1) Thoáng: Ventilated—Well-aired. 2) Thoáng qua: Vaguely.

thoáng thấy

To catch sight of.

thoát

1) Giải thoát: To avoid—To let go. 2) Lóc thịt: To take the flesh from the bones. 3) Thoát y: To strip—To undress. 4) Trốn thoát: To escape.

thoát chết

To escape from death.

thoát giam

To escape from prison.

thoát hiểm

Thoát khỏi nguy hiểm—To get out of danger.

thoát khỏi phiền trược

To succeed in disentangling the tangle.

thoát ly

To separate.

thoát nạn

To escape from (get out of) danger.

thoát phàm

To disincarnate.

thoát thai

To be born.

thoát thân

To escape from danger—To run away.

thoát thể

Rũ bỏ nhục thân—To get rid of the body.

thoát trân trước tệ

Cởi bỏ mọi đồ trang sức thơm tho sạch sẽ, để khoác lấy cái áo dính nhiễm bụi dơ, dùng để ví việc Đức Thích Ca Như Lai ẩn tàng báo thân, hiển hiện ứng thân—To doff jewels and don rags, as did the Buddha on leaving home, or putting off of his celestial body for an incarnate, earthly body.

thoát trần

To enter into religion.

thoát tẩu

Tẩu thoát—To flee—To run away.

thoát xà

Dhvaja (skt)—Dịch là phướn—A banner—A flag.

thoát đào

To run away—To flee—To slip away.

thoï

(A) Nghĩa của “Thọ”—The meanings of “Feelings” 1) Cho hay bố thí: Vedana (p & skt)—To give—To confer—To deliver—To hand down. 2) Sống lâu: Jivita (skt)—To live long—Longevity—Long life—Age. 3) Feeling or sensation: Vedanta (p & skt)—To receive—To bear—Thọ là pháp tâm sở nhận lãnh dung nạp cái cảnh mà mình tiếp xúc. Thọ cũng là cái tâm nếm qua những vui, khổ hay dửng dưng (vừa ý, không vừa ý, không vừa ý mà cũng không không vừa ý). Khi chúng ta gặp những đối tượng hấp dẫn, chúng ta liền phát khởi những cảm giác vui sướng và luyến ái. Khi gặp phải những đối tượng không hấp dẫn, thì chúng ta sinh ra cảm giác khó chịu; nếu đối tượng không đẹp không xấu thì chúng ta cảm thấy dửng dưng. Tất cả mọi tạo tác của chúng ta từ thân, khẩu và ý cũng đều được kinh qua nhờ cảm giác, Phật giáo gọi đó là “thọ” và Phật khẳng định trong Thập Nhị nhân duyên rằng “thọ” tạo nghiệp luân hồi sanh tử—Feeling is knowledge obtained by the senses, feeling sensation. It is defined as mental reaction to the object, but in general it means receptivity, or sensation. Feeling is also a mind which experiences either pleasure, unpleasure or indifference (pleasant, unpleasant, neither pleasant nor unpleasant). When we meet attractive objects, we develop pleasurable feelings and attachment which create karma for us to be reborn in samsara. In the contrary, when we meet undesirable objects, we develop painful or unpleasurable feelings which also create karma for us to be reborn in samsara. When we meet objects that are neither attractive nor unattractive, we develop indifferent feelings which develop ignorant self-grasping, also create karma for us to be reborn in samsara. All actions performed by our body, speech and mind are felt and experienced, Buddhism calls this “Feeling” and the Buddha confirmed in the Twelve Nidanas that “Feeling” creates karma, either positive or negative, which causes rebirths in samsara. (B) “Thọ” như những đối tượng của thiền tập—“Feelings” as objects of meditation practices: • Quán chiếu những loại cảm thọ như lạc thọ, khổ thọ và trung tính thọ: To contemplate various kinds of feelings such as pleasant, unpleasant and neutral feelings. • Thấu hiểu những thọ nầy đến đi thế nào: To understand thoroughly how these feelings arise, develop after their arising, and pass away. • Quán chiếu thọ chỉ nẩy sanh khi nào có sự tiếp xúc giữa những giác quan mà thôi (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý): To contemplate that “feelings” only arise when there is contact between the senses. • Quán chiếu những điều trên để thấy rõ rằng dù thọ vui, thọ khổ hay thọ trung tính, hậu quả của chúng đều là “khổ”: To contemplate all of the above to have a better understanding of “feelings.” No matter what kinds of feelings, pleasant, unpleasant or iddiference, they all lead to sufferings. (C) Phân loại Thọ—Categories of Feeling: 1) Thân Thọ: Những thứ lãnh nạp nơi thân hay tam thọ (khổ, lạc, phi khổ phi lạc)—Sensation of physical objects, or three states of sensation (vedana)—Karma of pleasure and pain of the physical body—See Tam Thọ. 2) Tâm Thọ: Những thứ lãnh nạp nơi tâm như ưu và hỷ—Sensation of mental objects—Karma of the mental or the mind, i.e. anxiety, joy, etc.

thoăn thoắt

Very quickly.

Thọ Ông Tông Bật

(授翁宗弼, Juō Sōhitsu, 1296-1380): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, sống vào giữa hai thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura) và Nam Bắc Triều, húy Tông Bật (宗弼), tục danh Đằng Nguyên Đằng Phòng (藤原藤房), đạo hiệu Thọ Ông (授翁), thụy hiệu là Thần Quang Tịch Chiếu Thiền Sư (神光寂照禪師), Viên Giám Quốc Sư (圓鑑國師), Vi Diệu Đại Sư (微妙大師), xuất thân kinh đô Kyoto, con của vị Quyền Đại Nạp Ngôn Đằng Nguyên Tuyên Phòng (藤原宣房). Trước kia ông đã từng phục vụ cho Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇, Godaigo Tennō), làm đến chức Trung Nạp Ngôn (中納言), ngoài công vụ ra ông còn đến tham Thiền với Minh Cực Sở Tuấn (明極楚俊). Ông được Tông Phong Diệu Siêu (宗峰妙超) truyền trao cho y bát và pháp hiệu, và đến năm 1334 thì xuất gia. Khi Huệ Huyền (慧玄) khai sáng Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji), ông theo hầu và kế thừa dòng pháp của vị nầy. Sau khi thầy mình qua đời, ông làm trú trì đời thứ hai chùa nầy.

thoại

1) Chữ: Words. 2) Cuộc đàm thoại: Conversation—Talking. 3) Kiết tường: Điềm lành—Auspicious. 4) Ngọc quý: A precious stone—A jade token. 5) Ngôn ngữ: Language.

Thoại Nham Sư Ngạn

(瑞巖師彦, Zuigan Shigen, ?-?): nhân vật sống vào cuối thời nhà Đường, người vùng Mân Việt (閩越, Tỉnh Phúc Kiến), họ là Hứa (許). Lúc còn nhỏ ông có chí xuất gia, nên mặc áo ca sa và nghiêm trì giới luật. Ông đến tham vấn Nham Đầu Toàn Khoát (巖頭全奯) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông đến sống ở Thoại Nham Viện (瑞巖院) vùng Đài Châu (台州, Tỉnh Triết Giang) và đã từng quy y cho cả dòng họ của Võ Túc Vương Tiền (武肅王錢).

Thoại Tuyền Tự

(瑞泉寺, Zuisen-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Đại Cốc (大谷派) thuộc Tịnh Độ Chơn Tông, hiện tọa lạc tại số 3050 Inami (井波), Nanto-shi (南砺市), Toyama-ken (富山縣); hiệu là Sam Cốc Sơn (杉谷山), hay còn gọi là Tỉnh Ba Đại Ngự Phường (井波大御坊), Tỉnh Ba Biệt Viện (井波別院). Tượng thờ chính là A Di Đà Như Lai. Vào năm 1390 (Minh Đức [明德] nguyên niên), Xước Như (綽如, Shakunyo), vị Tổ đời thứ 5 của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), khai sáng chùa này, sau chùa trở thành nơi cầu nguyện của Hậu Tiểu Tùng Thiên Hoàng (後小松天皇, Gokomatsu Tennō). Đến năm 1581 (Thiên Chánh [天正] 9), chùa gặp phải nạn binh hỏa, bị thiêu cháy tan tành; đến năm 1596 (Khánh Trường [慶長] nguyên niên), nhờ sự hỗ trợ của Tướng Quân Tú Cát (秀吉, Hideyoshi), ông cho dựng nên một ngôi chánh điện tạm thời; tuy nhiên, sau đó thì chùa lại gặp phải biết bao lần hỏa hoạn, song cũng được tái thiết rất nguy nga cho đến ngày nay. Trước ngôi nhà Thái Tử Đường có tấm bia Hậu Tiểu Tùng Đế Tụng Đức (後小松帝頌德), còn lưu lại nét bút của Xước Như. Trong vườn chùa có Đại Cốc Miếu Đường, nơi an trí di cốt của Xước Như. Tượng thờ chính của chùa, A Di Đà Như Lai, là tác phẩm của Thái Trừng (泰澄) dưới thời Bình An. Nơi Thái Tử Đường còn có an trí bức tượng tranh Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi) năm lên 2 tuổi. Hằng năm người ta mở cửa ngôi nhà này và tổ chức thuyết giảng về nguồn gốc bức tranh.

thoại tướng

Dấu kiết tường—Auspicious—Auspicious sign, or aspect.

thoại tượng

Theo Tây Vực Ký của ngài Huyền Trang, thì đây là tượng kiết tường, đặc biệt là bức tượng đầu tiên của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni làm bằng gỗ đàn hương bởi vua Udayana của nước Câu Đàm Thi, một người sống cùng thời với Đức Phật—According to The Great T'ang Chronicles of the western World, composed by Hsuan-Tsang, this is an auspicious image, especially the first image of Sakyamuni made of sandalwood and attributed to Udayana, king of Kausambi, a contemporary of sakyamuni.

thoại tắc

Lời nói của Phật trở thành pháp tắc trong tự viện—Word-norm, the spoken words of the Buddha the norm of conduct. ; (話則) Cũng gọi Thoại đầu, Thoại bính, Thoại bộ, Thoại bá, Thoại đề, Thoại, Tắc. Pháp tắc nói chuyện, được chuyển dụng để chỉ cho Cổ tắc công án và nhân duyên ngộ đạo của người xưa. Tất cả lời nói cơ duyên của Phật tổ vànhân duyên ngộ đạo của cổ nhân đều là những pháp tắc tu hành tham thiền của người đời sau. Bởi thế, trong Thiền lâm, ở dưới tên công án thường thêm 1 chữ Thoại như Đạt ma khuếch nhiên thoại, Triệu châu bá thụ tử thoại, Nam tuyền trảm miêu thoại... Môn Kinh lục trong Thiền lâm tượng khí tiên ghi: Lời nói của Phật tổ là phép tắc cho người học, vì thế gọi là Thoại tắc. Ngoài ra, công án được tạo thành bởi lời nói của các bậc tông tượng trong Thiền lâm, gọi là Thoại đầu công án. [X.phần Bình xướng, tắc 12, Bích nham lục; tắc 1 trong Tổ đình sự uyển Q.7; phần Bình xướng, tắc 21 trong Thung dung lục]. (xt. CôngÁn].

Thoại vân

(瑞雲): hiện tượng xảy ra khi đám mây đi ngang qua gần mặt trời, tạo thành 5 sắc màu trắng, đen, đỏ, vàng, xanh lục; còn gọi là thái vân (彩雲), khánh vân (慶雲), cảnh vân (景雲). Từ xa xưa, thoại vân được xem như là điềm lành, nhưng thực tế là hiện tượng khí tượng mà thôi. Trong Phật Giáo, thoại vân còn được gọi là nhật vựng (日暈, vừng sáng của mặt trời), là hiện tượng thường xảy ra trong những lúc đại lễ quan trọng như Lạc Thành, Khai Nhãn Tượng Phật, v.v.; và có tên gọi là Ngũ Sắc Thái Vân (五色彩雲), Ngũ Sắc Thoại Vân (五色瑞雲), v.v. Hơn nữa, trong các bức tranh Lai Nghênh Đồ (來迎圖), v.v., thường có vẽ hình đức Phật A Di Đà cùng với chư Bồ Tát từ Tây Phương Cực Lạc Tịnh Độ lướt trên đám mây lành năm sắc này đến tiếp rước. Trong Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Chú Giải (地藏本願經科註, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 21, No. 384) quyển 6 có đoạn rằng: “Tây Kinh Tạp Ký vân: 'Thoại vân viết khánh vân, viết cảnh vân; vân ngũ sắc viết khánh, hoặc viết khanh; thử biểu ly Ngũ Trú Phiền Não, hiển Ngũ Phần Pháp Thân chi tường chưng dã' (西京雜記云、瑞雲、曰慶雲、曰景雲、雲五色曰慶、或曰卿、此表離五住煩惱、顯五分法身之祥徵也, Tây Kinh Tạp Ký giải thích rằng: 'Thoại vân còn gọi là khánh vân, cảnh vân; mây năm sắc gọi là khánh, hay khanh; nó biểu hiện cho sự xa lìa Ngũ Trú Phiền Não và hiển lộ điềm lành Năm Phần Pháp Thân').” Trong Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀, Taishō Vol. 49, No. 2035) quyển 22, có đoạn: “Huyền Tông mộng không trung Sở Kim nhị tự, cật triều phỏng vấn, hàm dĩ sư đối, nãi thân chế Đa Bảo Tháp ngạch tứ kiêm mân vi trợ, công tất chi nhật ngũ sắc thoại vân ngưng ư tháp thượng (玄宗夢空中楚金二字、詰朝訪問、咸以師對、乃親製多寶塔額賜縑緡爲助、功畢之日五色瑞雲凝於塔上, vua Huyền Tông mơ thấy trên không có hai chữ 'Sở Kim', mới hỏi triều thần, tất cả đều nhờ sư trả lời; nhà vua bèn ngự chế ban sắc ngạch trợ giúp lụa tiền dựng Tháp Đa Bảo; ngày hoàn tất công trình có đám mây lành năm sắc đọng trên tháp).”

Thoại đầu

話頭; C: huàtóu; J: wato;|Chỉ cái trọng yếu, trung tâm, »chữ đầu« của một Công án. Một công án có thể có một hoặc nhiều thoại đầu và một thoại đầu có thể chỉ là một chữ duy nhất (xem Nhất tự quan).

thoại đầu

Trước khi chưa khởi niệm muốn nói câu thoại, tức là khi một niệm chưa sanh khởi, gọi là thoại đầu. Nếu có khởi niệm cho là nên, cho là không nên, cho là đúng, cho là không đúng, phàm có hai chữ cho là đều chẳng phải thoại đầu.

thoại ứng

Triệu chứng báo trước sự tốt đẹp và sau này sẽ ứng nghiệm đúng với triệu chứng đó, gọi là thoại ứng. ; 1) Đáp ứng điềm lành: Auspicious response. 2) Tên của loài hoa Ưu Đàm: Name of the Udumbara flower. 3) Triệu chứng tốt về vãng sanh, như thấy Phật, Bồ Tát, Thánh chúng hiện thân tiếp rước, hoặc nghe Thiên nhạc, hoặc thấy phướn, lọng, hay hương thơm tỏa khắp, vân vân—Signs and characteristics of gaining rebirth at the last moments, the cultivator is able to see Buddha, Bodhisattvas, and many other enlightened beings surround him or her, or hearing heavenly music playing, banners, or rare incense filling the air, etc.

thoạt

As soon as.

thoạt kỳ thủy

See Thoạt đầu.

thoạt tiên

See Thoạt đầu.

thoạt trông

At first sight.

thoạt đầu

At the commencement (beginning).

thoải

To be gentle (slope).

thoải mái

Ease

thoảng

1) Bay nhè nhẹ trong không khí: To move lightly in the air (perfume). 2) Có lúc: Now and then—From time to time.

thu

1) Cò đầu trọc: A stork. 2) Mùa thu: Autumn—Fall. 3) Thu góp: To collect—To gather. 4) Trả nợ: To pay one's due.

thu ba

Clear and bright eyes of a girl.

thu ba ca la

Subhakarasimha (skt)—Thiện Vô Úy Tam Tạng là tên của một vị Tăng nổi tiếng người Ấn Độ—Name of a famous Indian monk.

thu bà ca la

See Thu Ba Ca La.

thu câu lư na

Suklodana (skt)—Một vị thái tử của thành Ca Tỳ La Vệ, em vua Tịnh Phạn, là cha của Tisya, Đề Bà Đạt Đa, và Nandika—A prince of Kapilavastu, younger brother of Suddhodana, and father of Tisya, Devadatta, and Nandika.

Thu duyên

(收緣): kết liễu các duyên trước, chấm dứt mọi duyên, cũng có nghĩa là chấm dứt mạng sống. Như trong hồi thứ 41 của Tái Sanh Duyên (再生緣) có câu: “Thượng Bản tằng ngôn Khuê Bích tử, Nam Lao tứ bạch dĩ thu duyên (上本曾言奎璧死、南牢賜帛已收緣, Thượng Bản từng bảo rằng Khuê Bích chết, Nam Lao ban cho lụa rồi kết liễu mọi duyên).” Hay trong Kim Cang Tân Nhãn Sớ Kinh Kệ Hợp Thích (金剛新眼疏經偈合釋, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 25, No. 487) quyển 1 có đoạn: “Cự nhĩ thu duyên tẩy túc, phu tòa nhi tọa, nhất niệm bất sanh, vạn lự giai vong, ngũ uẩn ký không, tứ tướng hà hữu, thử hựu Như Lai mật thị hàng tâm pháp dã (遽爾收緣洗足、敷座而坐、一念不生、萬慮皆亡、五蘊旣空、四相何有、此又如來密示降心法也, gấp rút thu duyên rửa chân, trãi tòa mà ngồi, một niệm không sanh, vạn lo đều không, Năm Uẩn đã không, Bốn Tướng sao có, đây là pháp hàng phục tâm do đức Như Lai bí mật dạy cho).”

thu gọn

To put in order.

thu hồi

To take back—To revoke—To withdraw—To recall.

thu kim cương

(秋金剛) Phạm: Zarada-vajra#. Một trong các vị Bồtát thuộc Mạn đồ la Kim cương tát đỏa của Mật giáo. Vị tôn này thường dùng đèn trí tuệ phá tan bóng tối vô minh, cũng dùng phương tiện trao cho chúng sinh, phóng ra vô lượng ánh sáng, cúng dường rộng khắp; vì thân vị Bồ tát này trong sáng như bầu trời mùa thu, ở đây theo nghĩa ánh sáng trí tuệ, cho nên gọi là Thukimcương. [X. kinh Lí thú thích Q. thượng].

thu la

1) Sula (skt)—Thu Na—Mũi tên—A dart—A lance. 2) Sura (skt)—Anh hùng—Hero—Heroic.

thu lộ tử

Sariputra (skt)—See Xá Lợi Phất in Vietnamese-English Section.

thu nhận

See Thu Nạp.

thu nhặt

To gather—To collect.

thu nhỏ

To reduce (in size)—To make something smaller.

thu nạp

To accept—To admit—To receive.

thu phương

(秋方) Bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông được phối hợp với bốn phương Đông Tây Nam Bắc, trong đó, mùa thu được phối với phương Tây, vì thế Thu phương tức chỉ cho phương Tây.

thu phục

To win the heart of the people.

thu thanh

To record.

thu vén

To put in order—To arrange.

thu xếp

To settle (a matter).

thu đoạt

To take hold of—To seize.

thua

To lose.

thua kiện

To lose a lawsuit.

thua kém

To be inferior.

thua thiệt

To suffer loss.

thua tài

Inferior in talent.

thui

Very black.

thui thủi

Lonely—Alone.

thum thủm

To smell bad.

thung dung

Easy—Free and easy.

thung dung lục

(從容錄) Cũng gọi Vạn tùng lão nhân bình xướng Thiên đồng hòa thượng tụng cổ Thung dung am lục, Thiênđồng Giác hòa thượng tụng cổ thung dung am lục. Tác phẩm, 6 quyển, do ngài Vạn tùng Hànhtú soạn vào đời Nam Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 48. Nội dung sách này gồm 100 tắc tụng cổ của Thiền sư Hoành trí Chínhgiác núi Thiênđồng và thêm phần thị chúng, trứ ngữ, bình xướng... của ngài Vạntùng Hành tú mà thành. Thung dung là tên ngôi am mà ngài Hànhtú ở lúc về già. Ban đầu, học trò ngài Hànhtú là Da luật Sởtài –Quân sư của vua Thái Tổ nhà Nguyên là Thành cát Tưhãn– tùy tòng Tháitổ chinh phạt các nước phía tây, buồn vì phải xa cách thầy mình nên Sởtài thường gửi thư xin thầy bình xướng những bài tụng cổ của ngài Thiênđồng. Do đó, ngài Hành tú mới soạn sách này ở am Thung dung, chùa Báoân tại Yên kinh, bảo thị giả là Li tri ghi chép. Năm Nguyên thái tổ thứ 8 (1223), ngài Hànhtú gửi sách này cho Sở tài, năm sau, Sởtài soạn bài tựa. Đó là lí do hình thành tập sách này. Các tắc trong sách đều chia làm 4 phần: Thị chúng, Bản tắc (công án), Tụng cổ (trong văn phụ thêm lời bình ngắn và trứ ngữ) và Bình xướng. Phần thị chúng tương đương với Thùy thị trong Bích nham lục, là phần thuyết minh tông chỉ của mỗi tắc; Bản tắc là cổ tắc công án, trình bày về nhân duyên chứng ngộ của người xưa; Tụng cổ là phần ngài Hoành trí dùng kệ tụng niêm đề, nói rõ về tông chỉ của Bản tắc; Trứ ngữ là phần giải thích và có lời bình ngắn gọn về các ngữ cú của Bản tắc, Tụng cổ; còn phần Bình xướng là bộ phận trọng điểm của sách này. Sách này và Bích nham lục được xem là 2 viên ngọc quí trong Thiền môn, Bích nham lục thuộc hệ thống tông Lâmtế, còn sách này thì thuộc hệ thống tông Tàođộng. Về chú sớ của sách này thì có: - Thung dung lục tụng giải, 1 quyển, của ngài Mặcthiệu. - Thung dung lục sự lược, 17 quyển, của ngài Tùngvân. - Thung dung lục tiếp chủy lục, 2 quyển, của ngài Đỉnhtam. - Thung dung lục bút tước, 1 quyển của ngài Phạmđính.

Thung huyên

(椿萱): Thung hay xuân (椿) là loại cây cao lá rụng thuộc Khoa Chiên Đàn (栴檀), gỗ cứng, thường dùng làm khí cụ rất tốt. Trong Trang Tử (莊子), phần Tiêu Dao Du (逍遙遊) có đoạn rằng: “Thượng cổ hữu đại Thung giả, dĩ bát thiên tuế vi Xuân, bát thiên tuế vi Thu (上古有大椿者、以八千歳爲春、八千歳爲秋, thời xưa có cây thung lớn, lấy tám ngàn năm làm một mùa Xuân, tám ngàn năm làm một mùa Thu)”; vì vậy sau này cây Thung được dùng thể hiện sự trường thọ và mượn thay thế cho người cha. Nơi người cha ở được gọi là Thung Đình (椿庭), Thung Đường (椿堂) hay Thung Phủ (椿府); cho nên người ta hay dùng câu “Thung Đường Trường Thanh (椿堂長青, Cha Lành Sống Mãi [nhà có cây thung xanh mãi])” để chúc thọ cho phụ thân. Bên cạnh đó, Huyên (萱) là loại cây cỏ sống lâu năm, Huyên Thảo (萱草) là loại Kim Châm (金針), tương truyền khi ăn vào thì làm cho người ta quên đi ưu sầu, phiền muộn; nên được gọi là Vong Ưu Thảo (忘憂草, Cỏ Quên Buồn) và thường được dùng thay thế cho người mẹ. Nơi người mẹ cư ngụ được gọi là Huyên Đường (萱堂), tức là nơi có trồng nhiều loại cỏ huyên để giúp cho mẹ quên đi mọi ưu phiền. Nếu như cả cha lẫn mẹ đều song toàn, tức vẫn còn sống thọ, thế gian vẫn thường dùng câu chúc thọ là “Thung Huyên Tinh Mậu (椿萱並茂, Cha Mẹ Cùng Thọ [cây Thung và cây Huyên cùng tươi tốt])”. Trong bài thơ Tống Từ Hạo (送徐浩) của Mâu Dung (牟融) nhà Đường có câu: “Tri quân thử khứ tình thiên cấp, đường thượng thung huyên tuyết mãn đầu (知君此去情偏急、堂上椿萱雪滿頭, Biết người đi mãi tình ngăn cách, nhà vắng mẹ cha tóc bạc đầu)”. Hay trong Nhất Chi Hoa (一枝花), Tử Đệ Mỗi Tâm Kí Thanh Lâu Thọ Nhân Khúc (子弟毎寄青樓受人曲) của Thang Thức (湯式) nhà Minh có đoạn: “Thung huyên suy mại, tùng cúc tiêu điều (椿萱衰邁、松菊蕭條, Mẹ cha suy yếu, tùng cúc tiêu điều)”. Hoặc trong bài Mẫu Đơn Đình (牡丹亭) của Thang Hiển Tổ (湯顯祖) nhà Minh cũng có câu: “Đương kim sanh hoa khai nhất hồng, nguyện lai sanh bả huyên thung tái phụng (當今生花開一紅、願來生把萱椿再奉, Ngày nay đơm hoa nở nụ hồng, nguyện đời sau gặp mẹ cha cung phụng).”

thung huyên

Father and mother.

Thung Đình

(椿庭): chỉ cho người cha, hay nơi người cha ở; vì cây thung (椿, hay xuân) tượng trưng cho sự trường thọ. Như trong phần Hội Giảng (會講) thuộc Kinh Xoa Ký (荊釵記) của Chu Quyền (朱權, 1378-1448) nhà Minh có câu rằng: “Bất hạnh Thung Đình vẫn táng, thâm lại Huyên Đường huấn hối thành nhân (不幸椿庭殞喪、深賴萱堂訓誨成人, không may cha lành qua đời, thảy nhờ mẹ hiền dạy dỗ nên người).” Từ đó, có một số câu được dùng để chúc tụng người cha như: “Thung Đình nhật noãn (椿庭日暖, Thung Đình mỗi ngày một ấm áp, nghĩa là người cha mỗi ngày một mạnh khỏe)”, “Thung Đình trường thanh (椿庭長青, Thung Đình xanh tươi mãi, nghĩa là cha lành vẫn sống mãi)”, v.v.

thuyên

1) Cái nơm cá—A bamboo fishing-trap. 2) Phân giải: To expound—To explain—Discourse.

thuyên biện

1) Bình luận: To comment. 2) Giải thích: To explain.

thuyên chuyển

To transfer.

thuyên chỉ

Giải thích nghĩa lý—To explain the meaning. ; (詮旨) Dụng ngữ của tông Pháp tướng. Thuyên là nương theo lời giải thích mà bàn về ý chỉ sâu xa, tức thông qua cửa ngôn ngữ, văn tự, tư duy... mà nói rõ nghĩa Bảo châu có hình tia lửa lí của tông chỉ. Chẳng hạn Chân như là đế lí trọng yếu của Phật giáo, không thể giải thích bằng lời nói, không thể gọi bằng tên, nhưng vì muốn cho người ta hiểu rõ thể tính và nghĩa lí của nó nên mới cưỡng lập ra tên gọi Chân như, nhờ đó để nói rõ về ý chỉ chân thực thường như bất biến. Còn Chỉ là Phế thuyên đàm chỉ, nghĩa là dứt bỏ ngôn ngữ, văn tự, tư duy, dùng chính trí chứng ngộ ý chỉ chân lí trong nội tâm, tương đương với Li ngôn chân như(Chân như lìa lời nói)trong luận Đại thừa khởi tín. Chẳng hạn như Nhị đế trong 4 lớp chân tục do tông Pháp tướng lập ra, thì Chân đế của lớp thứ 4 chính là Nhất chân pháp giới là loại Chân đế không thể giải thích bằng lời nói, câu văn, mà phải trực chứng bằng Thánh trí nội chứng.

thuyên giảm

To lessen—To diminish—To recede.

Thuyên ngư

筌魚; J: sengyo; là cái nơm cá; |Một biểu thị thường được sử dụng trong Thiền tông, vốn xuất phát từ Trang Tử, một hiền triết của Ðạo giáo. Trang Tử viết như sau trong Trang Tử nam hoa chân kinh (Nguyễn Duy Cần dịch):|筌者所以在魚。得魚而忘筌。蹄者所以在兔。得兔而忘蹄。言者所以在意。得意而忘言。吾安得夫忘言之人而與之言哉|Thuyên giả sở dĩ tại ngư, đắc ngư nhi vong thuyên. Ðề giả sở dĩ tại thố, đắc thố nhi vong đề. Ngôn giả sở dĩ tại ý, đắc ý nhi vong ngôn. Ngô an đắc phù vong ngôn chi nhân nhi dữ chi ngôn tai.|*Có nơm là vì cá, đặng cá hãy quên nơm. Có dò là vì thỏ, đặng thỏ hãy quên dò. Có lời là vì ý, đặng ý hãy quên lời. Ta sao tìm đặng người biết quên lời hầu cùng ta bàn luận!|Như vậy có nghĩa là: hành giả không nên bám chặt vào văn tự và phương pháp bởi vì mục đích không nằm trong đó. Chúng chỉ là những phương tiện nhất thời nhằm hướng dẫn hành giả vượt qua nó để đạt đến đích. Vì thế nên mọi người đều phải quên đi những phương tiện này để có thể trực chứng được đạo, để đạo có cơ hội tự hiển hiện. Chính đức Phật cũng khuyên các đệ tử không nên bám vào ngón tay chỉ trăng mà cho nó là sự thật. Cái nơm của Trang Tử và ngón tay chỉ trăng của đức Phật được nêu ra là cũng vì những lí do trên. Thuyết »Bất lập văn tự« của Thiền tông được lập ra chính là dựa trên cơ sở này.

thuyên ngư

Kinh văn năng thuyên ví như cái nơm, nghĩa lý sở thuyên ví như con cá—Trap and fish, a difficult passage in a book and its interpretation. ; (筌魚) Nơm cá. Nơm là công cụ để bắt cá, cũng chỉ chung cho các phương tiện để đạt đến cứu cánh; Cá tức cứu cánh mà phương tiện được dùng để hoàn thành. Trong kinh Phật, Thuyên thường được dùng để ví dụ kinh văn ngữ cú năng thuyên, còn Ngư được dùng để ví dụ nghĩa lí nội hàm sở thuyên. Tức dùng văn tự ngôn ngữ giải thích rõ ý chỉ để nêu bày đại nghĩa của Phật pháp, cho nên dùng thuyên đề để ví dụ. Nhưng văn tự ngôn ngữ chỉ là phương tiện, khi đã nắm bắt được ý chỉ rồi thì không nên chấp trước văn tự, cũng tức là khi đã đạt được cứu cánh thì cần buông bỏ phương tiện mới được giải thoát, giống như đã bắt được cá thì không cần nơm nữa.

thuyên đề

(筌蹄) Cũng gọi Thuyên đệ. Thuyên là cái nơm dùng để bắt cá; Đề là cái lưới để bắt thỏ. Tức ví dụ cho cái công cụ hoặc thủ đoạn được ứng dụng để đạt đến một mục đích nào đó. Trong Phật giáo, Thuyên đề được ví dụ cho kinh luận hoặc văn tự ngôn ngữ đều là những phương tiện dắt dẫn người tu hành đạt đến cảnh giới Phật, một khi đã đạt mục đích thì nên bỏ phương tiện. Pháp hoa văn cú quyển 1 thượng (Đại 34, 2 trung) nói: Hoặc ẩn hoặc hiển, hoặc quyền hoặc thực, đều là thuyên đề để đạt Phật đạo. [X.bàiTựa Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí].

thuyết

1) Học thuyết: Doctrine—Theory. 2) Thuyết giảng: To speak—To say—To tell. 3) Thuyết phục: To persuade—To convince.

thuyết biến hóa

Evolutionism

thuyết biến thập xứ

(說遍十處) Phật thuyết kinh Hoa nnghiêm ở 10 nơi, từ 10 nơi này vang khắp pháp giới trong 10 phương. Cứ theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 3, đức Tì lô giá na Như lai thị hiện vô tận thân nhiều như mây trong pháp giới, trùm khắp các cõi nước nhiều như bụi nhỏ, thường nói Đại kinh Hoa nghiêm ở 10 nơi sau đây để khiến chúng sinh trở về biển tính. Đó là: 1. Thuyết biến Diêm phù đề: Nói khắp các cõi Diêm phù đề. Nghĩa là ở 7 nơi tại cõi Diêm phùđề, Như lai nói 9 hội kinh này cho đại chúng nghe và ở các cõi Diêm phùđề trong pháp giới khắp 10 phương, Như lai cũng cùng một lúc giảng nói kinh này.2. Thuyết biến bách ức đồng loại nhất giới: Nói khắp trăm ức cõi cùng một loại. Nghĩa là khi đức Như lai giảng nói kinh này trong 100 ức thế giới thì trong mỗi thế giới đều có 100 ức cõi Diêm phù đề, cho đến 10 ức cõi trời Sắc cứu cánh, lúc bấy giờ các chúng sinh đều thấy Như lai giảng nói kinh này. 3. Thuyết biến bị loại thụ hình đẳng sát: Nói khắp bằng các loại hình tướng khác nhau. Nghĩa là đức Như lai biến hiện khắp trong các thế giới bằng tất cả các loại hình tướng khác nhau, như hình cây, hình sông ngòi, hình hồi chuyển, để thuyết pháp. 4. Thuyết biến sát chủng: Nói khắp trong các chủng loại cõi nước. Nghĩa là đức Như lai nói pháp ở thế giới Phổchiếu thập phương xí nhiên bảo quang(Thế giới ánh sáng rực rỡ chiếu soi khắp 10 phương), thế giới này bao hàm 20 lớp thế giới cõi Phật nhiều như bụi nhỏ, cho đến thế giới cõi Phật nhiều như bụi nhỏ bất khả thuyết, là chủng loại của thế giới. 5. Thuyết biến hoa tạng: Nói khắp Hoa tạng. Nghĩa là thủa xưa khi đức Như lai còn ở nhân vị, tu hành nghiêm tịnh, nên thường nói kinh này ở thế giới Hoa tạng.6. Thuyết biến dư sát hải: Nói khắp trong các cõi khác nhiều như nước biển. Nghĩa là ngoài thế giới Hoa tạng ra, đức Như lai còn ở trong các cõi vô tận ở khắp pháp giới trong 10 phương nhiều như các giọt nước biển, thường giảng nói kinh này. 7. Thuyết biến tiền lục loại sát trần: Thuyền tử Hòa thượng Nói khắp trong các cõi nhiều như bụi nhỏ trong 6 loại cõi nước trên. Nghĩa là trong mỗi hạt bụi của 6 loại cõi nước nói trên đều có cõi Phật, Nhưlai diễn nói kinh này ở khắp các cõi Phật ấy. 8. Thuyết biến tận hư không giới: Nói khắp trong các pháp giới cùng tận cõi hư không. Nghĩa là đức Nhưlai thường chuyển pháp luân khắp trong các cõi nước vô biên nhiều như những giọt nước biển trong tận cùng cõi hư không. 9. Thuyết biến do đế võng: Nói khắp như ánh sáng lan tỏa của mành lưới Đế thích. Nghĩa là đức Nhưlai giảng nói kinh này trong các cõi nước nhiều bất tận như bụi nhỏ, giống như ánh sáng của mành lưới trên cung điện trời Đế thích tỏa ra và đan xen nhau lớp lớp vô tận. 10. Dư Phật đồng: Các Phật giống nhau. Nghĩa là đức Như lai thường giảng nói kinh này trong 9 loại cõi nước nhiều như bụi nhỏ, như những giọt nước biển nói trên để điều phục chúng sinh, khiến họ trở về biển tính; một đức Phật như thế, các đức Phật khác trong 10 phương cũng như thế, đều giảng nói kinh này trong vô lượng, vô số, vô biên bất khả thuyết cõi nước.

thuyết chuyên tu vô gián

The doctrine of “Exclusive and uninterrupted practice.”

thuyết chuyển bộ

See Kinh Lượng Bộ.

thuyết chân lý duy tâm

The doctrine of the truth of mind-only.

Thuyết chướng đạo vô sở úy

xem Bốn đức chẳng sợ.

thuyết dục

(說欲) Theo luật qui định, các việc tăng như thụ giới, thuyết giới... các tỉ khưu bắt buộc phải tham dự, nhưng vì bận việc khác cần thiết, không thể tham dự được thì phải nói ý mong muốn tán đồng của mình với 1 vị tỉ khưu khác, nhờ vị ấy đem ra trình bày trước chúng tăng, gọi là Thuyết dục. Vị tỉ khưu trao ý muốn tán đồng của mình cho 1 vị tỉ khưu khác để nhờ đưa ra nói trước đại chúng, gọi là Dữ dục, còn vị tỉ khưu nhận sự ủy thác ấy, gọi là Thụ dục. [X. Tát bà đa bộ tì ni ma đắc lặc già Q.6; luật Thập tụng Q.56].

thuyết giả bộ

(說假部) Phạm: Prajñāpti-vādin. Pàli: Paññatti-vādā. Hán âm: Bát lạp nhã đế bà da na, Bà la nhã để bà đà. Cũng gọi Thi thiết luận bộ, Giả thuyết bộ, Giả danh bộ, Phân biệt thuyết bộ. (Phạm: Vibhajya-vàdin), Đa văn phân biệt bộ. Một trong 20 bộ phái Tiểu thừa. Cứ theo luận Dị bộ tông luân thì phái này chia ra từ Đại chúng bộ khoảng 200 năm sau đức Phật nhập diệt. Phái này chủ trương pháp thế gian và pháp xuất thế gian đều có 1 phần nhỏ là giả, 12 xứ, 18 giới là các pháp tích tụ, thì đều là giả, y cứ vào đó mà đặt tên, gọi là Thuyết giả bộ. Chủ trương của phái này khác với Thuyết xuất thế bộ chủ trương các pháp xuất thế gian đều là chân thực, đồng thời cũng khác với Nhất thuyết bộ vốn cho rằng các pháp thế gian và xuất thế gian chỉ là giả danh, không có thực thể. Cứ theo Bộ chấp dị luận sớ được dẫn trong Tam luận huyền nghĩa kiểm u tập quyển 6 thì ngài Đại ca chiên diên từng soạn luận vào thời đức Phật còn tại thế để phân biệt, giải thích giáo pháp của Phật, khoảng 200 năm sau khi đức Phật nhập diệt, ngài Đại Ca chiên diên từ ao A nậu đạt đến nước Ma ha đà, ra đời trong Đại chúng bộ, cho rằng 12 xứ, 18 giới là giả danh, 5 uẩn là thực nghĩa để phân biệt 3 tạng Thánh giáo, trong chúng có người tin nhận, có người không tin nhận, trong đó, những người tin nhận tự trở thành Phân biệt thuyết bộ. Theo đây thì Thuyết giả bộ là bộ phái do các vị đệ tử của ngài Đại ca chiên diên hoằng dương. Nhưng trong Luận sự của Nam truyền thì không thấy nói đến tên của Thuyết giả bộ, còn Đảo sử và thuyết thứ 3 của ngài Thanh Biện (Phạm: Bhavya) do Tây tạng lưu truyền thì cho rằng Thuyết giả bộ là từ Kê dận bộ tách ra. Pháp hoa kinh huyền tán quyển 1, phần đầu thì đem thuyết của phái này phối hợp với Hiện thông giả thực tông trong 6 tông Tiểu thừa. [X. kinh Xálợiphất vấn; phẩm Phân bộ trong kinh Vănthù sư lợi vấn Q. hạ; luận Thập bát bộ; Dị bộ tông luân luận thuật kí; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Xuất tam tạng kí tập Q.3]. (xt. Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ). THUYẾT GIỚI Giảng nói giới luật cho người thụ giới nghe. Có 2 nghĩa: 1. Chỉ cho sự giải thích giới pháp thông thường. 2. Cứ mỗi nửa tháng, vào ngày Bốtát, lúc vị tỉ khưu Thượng tọa tụng đọc giới bản, nếu trong chúng có tỉ khưu nào phạm tội thì phải ra trước chúng sám hối, cũng gọi là Thuyết giới, những người chưa thụ giới Cụ túc thì không được nghe. Trường hợp thứ 2 này, nếu nói theo phương diện Bố tát thì gọi là Thuyết giới, còn nói theo phương diện tỉ khưu phạm giới sám hối thì gọi là Thuyết tội. Trong 20 Kiền độ của luật Tứ phần, có thiết lập Kiền độ Thuyết giới. (xt. Bố Tát).

thuyết giảng

To preach—Sermon

thuyết giới

Tụng giới mỗi nửa tháng (ngày rằm và 30). Tăng chúng tập hợp lại đọc giới kinh, nói ra những tội lỗi phạm phải và phát lồ sám hối những tội lỗi nầy (tiếng Phạn là “Bố Tát,” làm như vậy sẽ giúp tăng trưởng điều thiện, trừ bỏ điều ác. Tuy nhiên, chỉ những chư Tăng đã thọ cụ túc giới rồi mới được tham dự, còn những vị chưa thọ cụ túc giới thì không)—The bi-monthly reading of the prohibitions for the order and of mutual confession.

thuyết giới kiền độ

(說戒犍度) Cũng gọi Bố tát pháp, Bố tát kiền độ (Phạm: Uposatha-khandaka). Một trong 20 kiền độ. Kiền độ nghĩa là thiên, chương. Pháp bố tát trong luật được thu gom vào 1 thiên, hoặc 1 chương, gọi là Bố tát kiền độ, luật Tứ phần gọi Bố tát kiền độ là Thuyết giới kiền độ. Thuyết giới là y cứ theo tác pháp mà đặt tên, còn Bố tát thì dựa vào công năng mà đặt tên. Trong Kiền độ này có qui định các việc như định ngày giờ thuyết giới bố tát, việc sắp đặt nơi chỗ thuyết giới, chủng loại khác nhau của việc thuyết giới, về sự dữ dục và dữ thanh tịnh của tỉ khưu bị bệnh, tư cách của người tụng giới, sự phạm tội và thuyết giới vào ngày thuyết giới, cho đến qui định về sự quan hệ giữa khách tỉ khưu và cựu tỉ khưu trong giới tràng. Cũng tức là phần nói rõ về các tác pháp trong tăng đoàn cứ nửa tháng 1 lần, tăng chúng nhóm họp nhau, tuyên đọc giới bản, phát lộ sám hối các tội mình đã phạm trong nửa tháng vừa qua... gọi là Thuyết giới kiền độ.[X. luật Tứ phần Q.35, 36; luật Ngũ phần Q.18]. (xt. Nhị Thập Kiền Độ).

thuyết giới nhật

(說戒日) Ngày cử hành nghi thức thuyết giới, cũng tức là ngày Bố tát. Lịch pháp Ấn độ chia mỗi tháng ra làm 2 phần là Bạch nguyệt và Hắc nguyệt. Bạch nguyệt là khoảng thời gian từ khi trăng mới nhú đến khi trăng tròn(từ ngày mồng 1 đến ngày 15 âm lịch); Hắc nguyệt là khoảng thời gian từ khi trăng bắt đầu khuyết đến khi tối đen(tức từ ngày 16 đến ngày 29 hoặc 30 âm lịch). Nghi thức thuyết giới được cử hành vào ngày cuối cùng của Bạch nguyệt và Hắc nguyệt. Tương đương với ngày 15 và 30 mỗi tháng theo âm lịch của Trung quốc.

thuyết giới sư

(說戒師) Chỉ cho vị tỉ khưu đọc tụng giới bản vào ngày thuyết giới mỗi nửa tháng. Thông thường, một vị tỉ khưu Trưởng lão được thỉnh cử làm Thuyết giới sư.

thuyết hư vô

See Nihilism.

thuyết hội mạn đồ la

(說會曼荼羅) Cũng gọi Năng thuyết mạn đồ la. Chỉ cho sự nhóm họp người nói pháp và người nghe pháp(đối cáo chúng)trong hội thuyết pháp của Nhưlai, hoặc chỉ cho bức vẽ về cuộc nhóm hợp thuyết pháp này. Trong Mật giáo, Thuyết hội mạn đồ la phần nhiều chỉ cho hội thuyết pháp của kinh Đại nhật và bức tranh vẽ hội thuyết pháp ấy. Cứ theo kinh Lí thú thì trong hội thuyết pháp của đức Giáo chủ Đại nhật Như lai có 80 câu chi Bồtát chúng, trong đó có 8 vị Đại Bồtát như Kim Cương Thủ là bậc Thượng thủ vây bọc chung quanh, đó chính là Thuyết hội mạn đồ la.

thuyết kinh

To expound the sutras. ; (說經) Giảng nói nghĩa lí kinh điển. Về sau chỉ cho việc giảng nói về các câu vè phổ thông trong nhân gian. Ở Trung quốc, từ đời Đường về sau thịnh hành việc dùng văn tự bình thường, dễ dãi để phối hợp giáo thuyết hoặc những truyện tích trong Phật giáo thành âm khúc mà trở thành văn vè, như các Biến văn thuộc về loại này. Ở Nhật bản thì vào thời Bình an đã có danh xưng Thuyết kinh sư, tức là người giảng giải văn kinh và giáo nghĩa để giáo hóa dân chúng. Từ đời Liêm thương về sau thì Thuyết kinh sư được chức nghiệp hóa. (xt. Thuyết Pháp).

thuyết luân hồi

Metempsychosis.

thuyết minh

To explain clearly.

thuyết minh lý duy tâm

The doctrine of Elucidates the truth of mind-only.

thuyết mặc

Thuyết minh ra là thuyết pháp, mặc dù không nói ra (rời thuyết thì không có lý, rời lý thì không có thuyết. Phật tử chân thuần phải luôn đi trên đường “Trung Đạo.” Lúc nào cần thuyết thì thuyết, lúa nào cần mặc thì mặc)—Speech and silence. ; (說默) Nói pháp và im lặng. Nếu theo nhân duyên thì nên nói, còn nếu theo lí thể thì nên im lặng, 2 thái độ này là Thánh hạnh của Bồ tát. Kinh Tưích phạm thiên sở vấn quyển 3 (Đại 15, 50 hạ) nói: Các ông nhóm họp nên làm 2 việc: Hoặc là nói pháp, hoặc giữ im lặng như bậc Thánh. Ma ha chỉ quán quyển 1, thượng (Đại 46, 3 trung) nói: Nếu ganh nhau nói, nín mà không hiểu giáo ý thì càng cách xa với lí. Lìa nói thì không lí, lìa lí thì không nói. Ngay chỗ nói mà không nói, không nói tức nói. Không hai không khác, ngay nơi sự là chân.

thuyết nghiệp báo

Teaching on karma.

thuyết nhân bộ

Hetu-vadinah (skt)—Tương tự như Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ—Similar to Sarvastivadah—See Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ.

thuyết nhất thiết hữu bộ

(說一切有部) Phạm:Survàsti-vàdin. Pàli:Sabbattivàda. Hán âm: Tát bà a tư để bà địa. Gọi tắt: Tát bà đế ba, Tát bà đa, Tát vệ. Gọi đủ: A li da mộ la tát bà tất để bà đà (Phạm:Àrya-mùla-savarsti-vàda). Hán dịch: Thánh căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ. Gọi tắt: Hữu bộ, Hữu bộ tông, Hữu tông.Cũng gọi Thuyết nhân bộ (Phạm: Hetuvidyà#). Một trong 20 bộ phái Tiểu thừa. Phái này từ Căn bản Thượng tọa bộ tách ra khoảng thời gian đầu của 100 năm thứ 3 sau khi đức Phật nhập diệt. Vì bộ phái này chủ trương tất cả các pháp trong 3 đời (quá khứ, hiện tại, vị lai) đều thật có nên gọi là Thuyết nhất thiết hữu bộ. Người sáng lập bộ phái này là ngài Ca đa diễn ni tử (Phạm: Kàtyàyanìputra, trước hoặc sau kỉ nguyên Tây lịch. Cũng gọi Ca chiên diên ni tử). Theo luận Dị bộ tông luân và Tam luận huyền nghĩa thì sau khi đức Phật nhập diệt, Thượng tọa bộ, từ các ngài Ca diếp, A nan đến ngài Ưu bà quật đa đều chỉ hoằng truyền kinh giáo, đến ngài Phú lâu na mới bắt đầu hơi nghiêng nặng về Tì đàm (luận), đến ngài Ca đa diễn ni tử thì cho Tì đàm là hơn hết và chuyên hoằng truyền A tì đàm, từ đó đối lập với các đệ tử của các bậc Thượng tọa và dẫn đến việc phân hóa. Bởi vì các phái Thượng tọa bộ nói chung đều lấy kinh, luật làm chỗ y cứ then chốt, còn phái này thì chủ yếu lấy các sách luận A tì đàm làm y cứ. Ngài Ca đa diễn ni tử có soạn bộ luận A tì đạt ma phát trí, lập ra 8 kiền độ, phân tích tính tướng các pháp một cách rõ ràng, là vị Luận sư nổi tiếng của phái này. Về sau, có 500 vị A la hán kết tập luận Đại tì bà sa 200 quyển để giải thích văn nghĩa của luận A tì đạt ma phát trí mà tập đại thành giáo nghĩa của phái này. Lại vì văn nghĩa luận Đại tì bà sa quá bao la, pho quyển thì đồ sộ, nên đời sau đã sáng tác các bản giản lược và sách cương mục, trong các sách cương mục bản Hán dịch hiện còn thì có: Luận A tì đàm tâm do ngài Pháp thắng soạn, A tì đàm tâm luận kinh do ngài Ưu ba phiến đa soạn, luận Tạp a tì đàm tâm 11 quyển do ngài Pháp cứu soạn, luận A tì đàm Câu xá 30 quyển do ngài Thế thân soạn, luận A tì đạt ma thuận chính lí 80 quyển và luận A tì đạt ma hiển tông 40 quyển do ngài Chúng hiền soạn. Trong đó, luận Câu xá y cứ vào nghĩa của Kinh bộ mà phê bình thuyết của luận Đại tì bà sa; luận Thuận chính lí và luận Hiển tông thì theo nghĩa cũ mà bài bác thuyết của ngài Thế thân. Ngoài ra, ngài Ngộ nhập soạn luận Nhập a tì đạt ma 1 quyển, các ngài Phật đà đà sa, Đức tuệ, An tuệ, Xứng hữu, Tăng mãn cũng đều soạn Câu xá thích luận để làm sáng tỏ giáo nghĩa của phái này. Bảy bộ luận A tì đạt ma căn bản của phái này là chỉ cho Tập dị môn túc luận củangàiXá lợi phất, Pháp uẩn túc luận của ngài Mục kiền liên, Thi thiết túc luận của ngài Ca chiên diên, Thức thân túc luận của ngài Đề bà thiết ma, Giới thân túc luận của ngài Thế hữu, Phẩm loại túc luận của ngài Thế hữu và Phát trí luận của ngài Ca đa diễn ni tử. Trong đó, 6 bộ luận trước được gọi là Lục túc luận (6 luận chân), còn luận Phát trí thì được gọi là Thân luận (luận mình). Trong 3 tạng, ngoài điểm đặc biệt nghiêng nặng về A tì đạt ma cũng còn truyền trì bộ luật Thập tụng; bộ luật này do 2 ngài Phấtnhã đa la và Cưu ma la thập cùng dịch vào đời Hậu Tần, gồm 61 quyển. Ngoài ra, các bộ luật Hán dịch khác như: Tát bà đa tì ni tì bà sa 9 quyển, Tát bà đa tì ni ma đắc lặc già 10 quyển, Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da 50 quyển, Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ bật sô ni tì nại da 20 quyển... cũng đều là các luật thuộc bộ phái này. Theo Tam luận huyền nghĩa thì sự truyền thừa của phái này là từ ngài Ưu bà quật đa trở xuống đến các ngài Phú lâu na, Mị giả ca, Ca đa diễn ni tử... lần lượt truyền nối nhau; còn Tát bà đa bộ Phật đại bạt đà la sư tông tương thừa lược truyện trong Xuất tam tạng kí tập quyển 20 thì liệt kê 54 vị từ các ngài A nan, Mạt điền địa, Xá na bà tư, Ưu ba quật đến Phật đà tất đạt... Những vị đựơc nêu trên đây tuy chưa hẳn đã được sắp xếp theo thứ tự niên đại ra đời, nhưng dựa vào đó ta cũng có thể thấy một cách đại khái về sự truyền thừa của bộ phái này. Giáo thuyết chủ yếu của bộ phái này là Ba đời có thật, pháp thể hằng có. Ba đời có thật nghĩa là quá khứ, vị lai và hiện tại giống nhau, đều có thực thể. Pháp thể hằng có nghĩa là tất cả các pháp sắc, tâm, tâm sở, hữu vi, vô vi... đều có thực thể. Phái này cũng chủ trương sinh thân của đức Phật là hữu lậu và Phật nói pháp có vô kí ngữ, chỉ lấy Bát chính đạo làm thể của chính pháp luân, phản đối thân Phật có 3 thứ vô biên(lượng, số và nhân), nghĩa là thân Phật xuất hiện ở Già da, khi hóa duyên đã hết thì vĩnh viễn vào Niết bàn tịch diệt. Phái này còn cho rằng Bồ tát phải tu đủ 3 kỳ 100 kiếp mới biết được 4 đế, nhưng chỉ biết tướng chung chứ khôngbiếttướng sai biệt của 4 đế. Ngoài ra, phái này lại chủ trương Sơ quả không thoái chuyển, còn 3 quả sau thì có thoái chuyển, nghĩa là A la hán cũng có thoái chuyển. Phái này cũng phản đối thuyết Tâm tính vốn trong sạch. Thuyết nhất thiết hữu bộ lấy nước Ca thấp di la làm trung tâm, tại Kiện đà la Trung Ấnđộ và các nước vùng Tâyvực, phái này từng đã cực thịnh một thời, là phái có ưu thế nhất trong 20 bộ phái Tiểu thừa. Các bộ luận của phái này được truyền dịch ở Trung quốc rất sớm, vào thời đại Nam Bắc triều, phái này được gọi là Tì đàm tông. Tông này và tông Câu xá hưng khởi thay cho tông này đều được xem là đại biểu cho Phật giáo Tiểu thừa. [X. phẩm Phân bộ trong kinh Văn thù sư lợi vấn Q. hạ; kinh Xálợiphất vấn; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.22; luận Thập bát bộ; luận Bộ chấp dị; luận Tứ đế Q.1; luận Phật tính Q.1; Xuất tam tạng kí tập Q.3; Dị bộ tông luân luận thuật kí; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu; Câu xá luận bảo sớ Q.1; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1; Luận sự tiếngPàli (Katthà vatthu)]. (xt. Thượng Tọa Bộ, Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ).

Thuyết nhất thiết trí

(說一切智) [tạp]: trong 48 lời nguyện của Kinh Vô Lượng Thọ (無量壽經) có lời nguyện thứ 25 là nguyện nói về trí tuệ hiểu biết hết tất cả. Kinh dạy rằng: “Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát bất năng diễn thuyết nhất thiết trí giả, bất thủ chánh giác (設我得佛、國中菩薩不能演說一切智者、不取正覺, nếu như ta thành Phật mà các vị Bồ Tát trong nước của ta không thể nào diễn nói trí tuệ hiểu biết hết tất cả, ta sẽ không thành chánh giác).”

thuyết nhị nguyên

Theological Dualism.

thuyết nhứt thiết hữu bộ

Sarvastivadah (skt)—Gọi tắt là Hữu Bộ, một trong 20 bộ phái Tiểu Thừa, là trường phái dạy về sự hiện hữu hay thực hữu của chư pháp hữu vi và vô vi, trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Trường phái nầy đã phát triển bên Ấn Độ trong nhiều thế kỷ, sau lan truyền rộng rãi qua Trung Hoa và Nhật Bản—Realistic school, Prajnaptivadinah, a branch of the Mahasanghikah (Đại Chúng Bộ), one of the twenty Hinayana sects, the School which preaches the Existence of All Things which held that dharmas have a real existence in the past, present and future. This school took the view of phenomenality and reality, founded on the Prajnapti-sastra. This school flourished in India for many centuries and was widely studied in China and Japan.

thuyết pháp

To teach—To preach—To sermon—To lecture on the Dharma—To tell or expound the law, or doctrine. a) Theo Kinh Duy Ma Cật, khi Mục Kiền Liên vào trong thành Tỳ Xá Lê, ở trong xóm làng nói Pháp cho các hàng cư sĩ nghe, lúc ấy ông Duy Ma Cật đến bảo rằng—According to the Vimalakirti Sutra, one day when Maudgalyayana came to Vaisali to expound the Dharma to lay Buddhists in the street there, Vimalakirti came to him and said: • “Nầy ngài Đại Mục Kiền Liên, nói Pháp cho bạch y cư sĩ, không phải như ngài nói đó. Vả chăng nói Pháp phải đúng như pháp (xứng tánh) mà nói. Pháp không chúng sanh, lìa chúng sanh cấu; Pháp không có ngã, lìa ngã cấu; Pháp không có thọ mạng, lìa sanh tử; Pháp không có nhơn, làn trước làn sau đều dứt; Pháp thường vắng lặng, bặt hết các tướng; Pháp lìa các tướng, không phải cảnh bị duyên; Pháp không danh tự, dứt đường ngôn ngữ; Pháp không nói năng, lìa giác quán; Pháp không hình tướng, như hư không; Pháp không hý luận, rốt ráo là không; Pháp không ngã sở, lìa ngã sở; Pháp không phân biệt, lìa các thức; Pháp không chi so sánh, không có đối đãi; Pháp không thuộc nhân, không nhờ duyên; Pháp đồng pháp tánh, khắp vào các Pháp; Pháp tùy nơi như không có chỗ tùy; Pháp trụ thực tế, các bên hữu, vô thường, đoạn, không động được; Pháp không lay động, không nương sáu trần; Pháp không tới lui, thường không dừng trụ; Pháp thuận 'không,' tùy 'vô tướng,' ứng 'vô tác;' Pháp lìa tốt xấu; Pháp không thêm bớt; Pháp không sanh diệt; Pháp không chỗ về; Pháp ngoài mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; Pháp không cao thấp; Pháp thường trụ không động; Pháp lìa tất cả quán hạnh. Thưa ngài Đại Mục Kiền Liên! Pháp tướng như thế đâu có thể nói ư?—“Maudgalyayana! When expounding the Dharma to these upasakas, you should not preach like that for what you teach should agree with the absolute Dharma which is free from the (illusion of) living beings; is free from the self for it is beyond an ego; from life for it is beyond birth and death and from the concept of a man which lacks continuity (thought seemingly continuous, like a torch whirled around); is always still for it is beyond (stirring) phenomena; is above form for it is causeless; is inexpressible for it is beyond word and speech; is inexplainable for it is beyond intellection; is formless like empty space; is beyond sophistry for it is immaterial; is egoless for it is beyond (the duality of) subject and object; is free from discrimination for it is beyond consciousness; is without compare for it is beyond all relativities; is beyond cause for it is causeless; is identical with Dharmata (or Dharma-nature), the underlying nature (of all things); is in line with the absolute for it is independent; dwells in the region of absolute reality, being above and beyond all dualities; is unmovable for it does not rely on the six objects of sense; neither comes nor goes for it does not stay anywhere; is in line with voidness, formlessness and inactivity; is beyond beauty and ugliness; neither increases nor decreases; is beyond creation and destruction; does not return to anywhere; is above the six sense organs of eye, ear, nose, tongue, body and mind; is neither up nor down; is eternal and immutable; and is beyond contemplation and practice. “Maudgalyayana, such being the characteristics of the Dharma, how can it be expounded?” • Vả chăng người nói Pháp, không nói, không dạy; còn người nghe, cũng không nghe, không được. Ví như nhà huyễn thuật nói Pháp cho người huyễn hóa nghe, phải dụng tâm như thế mà nói Pháp. Phải biết căn cơ của chúng sanh có lợi có độn, khéo nơi tri kiến không bị ngăn ngại, lấy tâm đại bi khen ngợi Pháp Đại Thừa, nghĩ nhớ đền trả ơn Phật, chớ để ngôi Tam Bảo dứt mất, như vậy mới nên nói Pháp—For expounding it is beyond speech and indication, and listening to it is above hearing and grasping. This is like a conjurer expounding the Dharma to illusory men, and you should always bear all this in mind when expounding the Dharma. You should be clear about the sharp or dull roots of your audience and have a good knowledge of this to avoid all sorts of hindrance. Before expounding the Dharma you should use your great compassion (for all living beings) to extol Mahayana to them, and think of repaying your own debt of gratitude to the Buddha by striving to preserve the three treasures (of Buddha, Dharma and Sangha) for ever. b) Cũng theo Kinh Duy Ma Cật, ông Duy Ma Cật đã nhắc nhở Phú Lâu Na về nói pháp phải tùy căn cơ chúng sanh như sau—Also according to the Vimalakirti Sutra, Vimalakirti reminded Purna that expounding Dharma should always be in accordance with sentient beings' faculties: • “Thưa Phú Lâu Na! Ngài nên nhập định trước để quan sát tâm địa của những người nầy, rồi sau mới nói đến nói Pháp. Ngài chớ đem món ăn dơ để trong bát báu, phải biết rõ tâm niệm của các vị Tỳ Kheo nầy, chớ cho ngọc lưu ly đồng với thủy tinh. Ngài không biết được căn nguyên của chúng sanh, chớ nên dùng Pháp Tiểu Thừa mà phát khởi cho họ, những người kia tự không có tì vết, chớ làm cho họ có tì vết, họ muốn đi đường lớn, chớ chỉ lối nhỏ. Ngài chớ nên đem biển lớn để vào dấu chơn trâu, chớ cho ánh sáng mặt trời đồng với lửa đom đóm—“Purnamaitraynaiputra, you should first enter the state of samadhi to examine the minds of your listeners before expounding the Dharma to them. Do not put rotten food in precious bowls. You should know their minds and do not take their (precious crystal for (ordinary) glass. If you do not know their propensities, do not teach them Hinayana. They have no wounds, so do not hurt them. To those who want to tread the wide path do not show narrow tracks. Do not enclose the great sea in the print of an ox's foot; do not liken sunlight to the dim glow of a firefly.” • “Ngài Phú Lâu Na! Những vị Tỳ Kheo nầy đã phát tâm Đại Thừa từ lâu, giữa chừng quên lãng, nay sao lại lấy Pháp Tiểu Thừa dẫn dạy họ? Tôi xem hàng Tiểu Thừa trí huệ cạn cợt cũng như người mù, không phân biệt được căn tánh lợi độn của chúng sanh.”—“Purnamaitryaniputra, these bhiksus have long ago developed the Mahayana mind but they now forget all about it; how can you teach them Hinayana? Wisdom as taught by Hinayana is shallow; it is like a blind man who cannot discern the sharp from the dull roots of living beings.” c) Theo Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết khi ông Ca Chiên Diên diễn nói lại lời Phật thuyết pháp về vô thường, khổ, không và vô ngã, Duy Ma Cật đã nhắc ông Ma Ha Ca Chiên Diên rằng chớ nên đem tâm sanh diệt ra mà nói Pháp thực tướng như sau—According to the Vimalakirti Sutra, Vimalakirti reminded Mahakatyayana not to use mortal mind to preach immortal reality as follows: • “Thưa ngài Ca Chiên Diên! Ngài chớ nên đem tâm hạnh sanh diệt mà nói Pháp thực tướng. Ngài Ca Chiên Diên! Các Pháp rốt ráo không sanh, không diệt, là nghĩa vô thường, năm ấm rỗng không, không chỗ khởi là nghĩa khổ; các Pháp rốt ráo không có, là nghĩa không; ngã và vô ngã không hai, là nghĩa vô ngã; Pháp trước không sanh, nay cũng không diệt, là nghĩa tịch diệt.”—Mahakatyayana said: “Vimalakirti came and said: 'Mahakatyayana, do not use your mortal mind to preach immortal reality. Mahakatyayana, all things are fundamentally above creation and destruction; this is what impermanence means. The five aggregates are perceived as void and not arising; this is what suffering means. All things are basically non-existent; this is what voidness means. Ego and its absence are not a duality; this is what egolessness means. All things basically are not what they seem to be, they cannot be subject to extinction now; this is what nirvana means.” ; (說法) Phạm: Dharma-dezanà. Pàli: Dhamma-desanà. Đồng nghĩa: Thuyết giáo, Thuyết kinh, Diễn thuyết, Pháp thí, Pháp độc, Pháp đàm, Đàm nghĩa, Tán thán, Khuyến hóa, Xướng đạo.Giảng nói Phật pháp để giáo hóa làm lợi ích cho chúng sinh. Việc thuyết pháp của đức Phật là tùy theo năng lực, căn cơ... chúng sinh mà ban cho họ giáo pháp thích hợp để đạt đến hiệu quả trọn vẹn. Trong một hội thuyết pháp, Phật dùng một âm thanh diễn nói giáo pháp, người nghe tùy theo căn cơ mà hiểu sâu, cạn khác nhau. Cứ theo kinh Tư ích phạm thiên sở vấn quyển 2 thì Phật dùng 5 lực dụng mà nói pháp trong 5 trường hợp sau đây: 1. Ngôn thuyết: Lời nói. Nghĩa là Phật dùng lời nói khế hợp với chân lí để nói về các pháp 3 đời, pháp thế gian và xuất thế gian, pháp có tội không tội, pháp hữu lậu vô lậu... 2. Tùy nghi: Nghĩa là Phật tùy theo năng lực, căn tính... của chúng sinh mà nói các giáo pháp thiên, viên, tiệm, đốn... 3. Phương tiện: Nghĩa là Phật dùng phương tiện khéo léo như nói bố thí sẽ được phúc lớn, giữ giới sẽ được sinh lên cõi trời... để khuyến khích chúng sinh tu thiện mà ra khỏi biển khổ. 4. Pháp môn: Nghĩa là đức Phật nói pháp thù thắng để hiển bày đạoBồ đề. 5. Đại bi: Vì cứu độ chúng sinh nên Phật dùng tâm đại bi dắt dẫn họ, đối với người chấp không thì nói có, với người hay oán giận thì nói từ bi... Về tư cách thuyết pháp thì có 5 hạng người gọi là Ngũ thuyết, hoặc Ngũ chủng thuyết nhân. Theo luận Đại trí độ quyển 2, Ngũ chủng thuyết nhân là: Phật, đệ tử Phật, tiên nhân, chư thiên và hóa nhân (Phật, Bồ tát hoặc La hán... ẩn tướng chân thực mà hiển hiện dưới mọi hình tượng để thuyết pháp). Trong Quán kinh sớ huyền nghĩa phần của ngài Thiện đạo thì nêu Ngũ chủng nhân là: Phật, Thánh đệ tử, Thiên tiên, Quỉ thần và biến hóa. Ngoài ra, trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 1 của ngài Trừng quán thì nêu: Phật, Bồ tát, Thanh văn, chúng sinh và khí giới(núi, sông, đất đai...) giảng nói giáo pháp trong kinh Hoa nghiêm, gọi là Ngũ loại thuyết hoặc Ngũ loại thuyết pháp. Còn theo Đại nhật kinh sớ quyển 7 của ngài Nhất hạnh thì Ngũ chủng thuyết chân ngôn là: Như lai, Kim cương tát đỏa, Nhị thừa, chư thiên và Địa cư thiên. Thuyết pháp thuộc về pháp lí, là việc mà người xuất gia phải làm. Theo phẩm Phápsư trong kinh Pháp hoa quyển 4 thì người thuyết pháp phải vào nhà Như lai (có nghĩa là đại từ bi), mặc áo Như lai(nhu hòa nhịn nhục), ngồi tòa Như lai(các pháp không). Kinh Ưu bà tắc giới quyển 2 cũng nêu 16 việc liên quan đến thuyết pháp như: Thời thuyết, Chí tâm thuyết, Thứ đệ thuyết, Hòa hợp thuyết, Tùy nghĩa thuyết... [X. phẩm Tứ nhiếp trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.24; phẩm Quán thếâm bồ tát phổ môn trong kinh Pháp hoa Q.7; luật Tứ phần Q.52; luật Ngũ phần Q.18; luận Thập trụ tì bà sa Q.7; luận Du già sư địa Q.45; luận Đại trí độ Q.1, 28; luận Hiển dương thánh giáo Q.17; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.6 thượng; Pháp uyển châu lâm Q.23]. (xt. Xướng Đạo).

thuyết pháp diệu

(說法妙) Một trong 10 Diệu thuộc Tích môn Pháp hoa do tông Thiênthai lập ra. Chỉ cho các giáo pháp Đại, Tiểu, thiên, viên do đức Như lai diễn nói như: Thập nhị bộ pháp, Tiểu bộ pháp, Đại bộ pháp, Đậu duyên pháp, Sở thuyên pháp, Viên diệu pháp... đều làm cho chúng sinh ngộ nhập tri kiến Phật. Vì các giáo pháp cao siêu, vi diệu mà đức Phật nói một cách thung dung tự tại nên gọi là Thuyết pháp diệu. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.2 thượng]. (xt. Thập Diệu).

thuyết pháp không hợp cơ, làm cho chúng sanh tiếp tục chìm sâu trong biển khổ là một đại tội

If we preach not in accordance with the times and the capacities of sentient beings, which cause them to continue to sink in the sea of sufferings, is a grave sin.

thuyết pháp minh nhãn luận

(說法明眼論) Luận, 1 quyển, do cư sĩ Viên thông người Nhật bản soạn. Mục đích của luận này là nói về tâm đắc của người thuyết pháp, về thứ tự pháp yếu và 3 thân của Phật. Nội dung luận này gồm có 15 phẩm: Trước y, Nhập đạo tràng, Lễ Tam bảo, Thiêu hương, Tọa cao tòa, Phạm bái, Tán hoa, Phạm âm, Tích trượng, Khai nhãn, Thần phân, Biểu bạch, Thích pháp thân, Báo thân và phẩm Ứng thân. Trong đó, phẩm Thích pháp thân là nói rõ pháp tà, pháp chính, sự khác nhau về thời giáo, duyên khởi các pháp, nghĩa 3 tính, lí vô tướng, tạng vô sinh, trí Văn thù, hạnh Phổ hiền, từ bi của bồ tát Quán âm, Tam thánh hòa hợp... là trung tâm của toàn sách. Về pháp hiệu Viên thông của soạn giả, cứ theo lời đầu sách trong Thuyết pháp minh nhãn luận do Lương định viết thì lúc còn sống, Thái tử Thánh đức (574-622) có trụ ở viện Viên thông tại Nam nhạc, vì thế cho rằng sách này là do Thái tử soạn. Nội dung sách này và ý nghĩa chú thích trong Tam kinh nghĩa sớ của Thái tử cũng giống nhau. Nhưng xét theo toàn diện thì sách này được cho là tác phẩm viết vào giữa thời Liêm thương (thế kỷ XII, XIII) về sau, xác lập thuyết Bản địa thùy tích, không phải tác phẩm của Thái tử Thánh đức mà là do người đời sau soạn. [X. Tịnh độ chân tông giáo điển chí Q.1].]

thuyết pháp ngũ đức

(說法五德) Chỉ cho 5 thứ phúc đức mà Hiền giả có được khi thuyết pháp. Đó là: 1. Trường thọ: Sống lâu. Nghĩa là Hiền giả giảng nói về nghĩa then chốt của các pháp lành, làm cho người thích sát sinh nghe pháp rồi, thôi không giết hại nữa, cho nên được sống lâu. 2. Đại phú:Giàu có. Nghĩa là Hiền giả nói về nghĩa quan trọng của các pháp lành, kẻ trộm nghe pháp không ăn trộm nữa mà làm việc bố thí, nên được giàu có. 3. Đoan chính vô tỉ: Xinh đẹp không ai sánh bằng. Nghĩa là Hiền giả nói các thiện pháp, khiến người nghe pháp được hòa khí an tâm, nhan sắc trở nên rạng rỡ, cho nên đẹp đẽ vô song. 4. Danh dựviễn văn: Tiếng tăm lừng lẫy. Nghĩa là Hiền giả nói yếu nghĩa của các pháp lành, khiến người nghe pháp khởi tâm cung kính Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng cho nên tiếng tăm vang xa. 5. Thông minh đại trí:Trí tuệ sáng suốt. Nghĩa là Hiền giả giảng nói các thiện pháp, khiến người nghe pháp, mở tỏ diệu tuệ, cho nên được trí tuệ sáng suốt. [X. kinh Hiền giả ngũ phúc đức].

thuyết pháp phẩm

(說法品) Vị thứ 3 trong Ngũ phẩm đệ tử vị do tông Thiênthai lập ra. Tức người tu hành pháp Viên đốn ở địa vị Quán hành tức(giai vị thứ 3 trong Lục tức vị), ngoài việc thụ trì đọc tụng kinh Pháphoa, còn thuyết pháp giáo hóa người khác, công đức hóa đạo ấy đều qui về chính mình, cho nên quán giải trở thành thù thắng bội phần hơn giai vị trước. [X. phẩm Phân biệt công đức trong kinh Pháp hoa Q.5]. (xt. Ngũ Phẩm Đệ Tử Vị, Lục Tức).

thuyết pháp thụy

(說法瑞) Điềm lành thuyết pháp, 1 trong các điềm tướng tốt lành xuất hiện trước khi đức Phật giảng nói kinh Pháphoa. Kinh Pháphoa là bộ Đại kinh mà đức Phật giảng nói về hoài bão ra đời của Ngài, cho nên trước khi nói hiện 6 tướng điềm lành, gọi là Pháp hoa lục thụy; trong đó, Thuyết pháp thụy là tướng điềm lành thứ nhất. Tức trước khi tuyên thuyết Đại kinh Pháp hoa, đức Phật nói kinhVô lượng nghĩa để làm duyên khởi cho kinh Pháp hoa. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa Q.1; Pháp hoa kinh văn cú Q.2, hạ]

thuyết pháp tứ báng

(說法四謗) Bốn thứ hủy báng vì không hiểu mà nói pháp. Cứ theo Hoanghiêm tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 50, nếu người nói pháp không biết rõ chân như, thì sẽ sinh ra 4 thứ hủy báng sau đây: 1. Tăng ích báng: Hủy báng do làm Cho thêm lên. Nghĩa là không biết lí chân như vắng lặng lìa tướng, tính vốn không có mà lại nói chân như nhất định có, do đó đã hủy báng làm cho chân như thêm lên, cho nên gọi là Tăng ích báng. 2. Tổn giảm báng: Hủy báng do làm cho bớt đi. Nghĩa là chẳng biết lí chân như không thể biến hoại, tính vốn chẳng không mà lại nói là chân như nhất định không, do đó đã hủy báng bằng cách làm cho chân như bớt đi, nên gọi là Tổn giảm báng. 3. Tương vi báng: Hủy báng trái ngược nhau. Nghĩa là chẳng biết lí chân như là cái không tức có, cái có tức không, mà lại nói là chân như cũng có cũng không, chấp cả hai bên trái ngược nhau, cho nên gọi là Tương vi báng. 4. Hí luận báng:Hủy báng bằng cách bàn chơi. Nghĩa là chẳng biết lí chân như đủ 2 đức tính có và không, mà lại nói chân như chẳng phải có chẳng phải không, hai bên đều bất định, cho nên gọi là Hí luận báng.

thuyết pháp vô tận

To be able to preach forever—To be able to explain virtues forever.

thuyết phục

To persuade—To convince.

thuyết quy củ

(說規矩) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nói về khuôn mẫu, phép tắc. Nghĩa là chỉ dạy cho vị tăng trẻ tuổi về các phép tắc, lễ độ trong nhà Thiền, như Huấn đồng hành ghi trong Sắc tu Bách trượng thanh qui, trong Thiền lâm bị dụng thanh qui... thuộc về loại này. [X. môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên].

thuyết thính phương quỹ

(說聽方軌) Những điều mà người nói pháp cũng như người nghe pháp cần lưu ý. Những pháp môn do đức Phật nói có năng lực làm cho chúng sinh chuyển mê khai ngộ, cho nên người nói pháp và người nghe pháp đều phải lưu tâm chú ý. Theo kinh Tư ích phạm thiên sở vấn quyển 2 thì đức Phật dạy có 2 hạng người có thể được phúc vô lượng, một là người chuyên một việc nói pháp, hai là người nhất tâm nghe nhận. Còn Thập địa kinh luận quyển 1 thì cho rằng người nói pháp dùng 2 thứ danh tự và âm thanh để nói, người nghe pháp cũng dùng 2 thứ ấy để nghe. Về hành nghi của sự nói pháp và sự nghe pháp, theo kinh Ưu bà tắc giới quyển 2, nếu người có đủ 8 trí như Pháp trí, Nghĩa trí... thì sự nói pháp của họ có đủ 16 việc như sau: Tùy thời mà nói, hết lòng mà nói, nói pháp theo thứ tự, nói pháp một cách hòa hợp, theo nghĩa mà nói, nói pháp một cách hoan hỷ, theo ý mà nói, nói pháp không khinh thường thính chúng, nói pháp không la mắng thính chúng, nói đúng như pháp, nói pháp lợi mình lợi người, nói pháp không tán loạn, nói pháp hợp nghĩa, nói pháp chân chính, nói pháp rồi không sinh kiêu mạn và nói rồi không cầu quả báo đời sau. Còn người nghe pháp cũng đủ 16 việc: Nghe tùy thời, vui nghe, chí tâm nghe, cung kính nghe, không nghe để tìm lỗi, không nghe vì nghị luận, không vì hơn thua mà nghe, khi nghe không khinh thường người nói, khi nghe không khinh thường pháp, nghe xong không tự khinh mình, khi nghe phải xa lìa 5 loại phiền não, nghe vì thụ trì đọc tụng, nghe vì diệt trừ 5 dục, nghe vì bồi đắp tín tâm, nghe vì điều phục chúng sinh và nghe vì đoạn trừ các căn ám độn. Ngoài ra, theo kinh Đại pháp cự đà la ni quyển 13, Thuyết pháp sư phải có tâm nín nhịn, thương xót, dịu dàng, nhún nhường..., nếu ôm lòng ganh ghét, hơn thua thì sẽ bị đại trọng tội. Nếu đem lòng từ bi nói pháp thì sẽ thành tựu đại công đức, làm cho Phật pháp tồn tại lâu ở đời. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ cũng nói sơ qua về tư cách người nghe pháp, cho rằng người không có căn lành thì không được nghe kinh này; chỉ có những người giữ giới thanh tịnh mới được nghe chính pháp. [X. kinh Đại pháp cự đà la ni Q.17; An lạc tập Q. thượng (Đạoxước); Pháp uyển châu lâm Q.23; Thích thị yếu lãm Q. hạ]. (xt. Thuyết Pháp).

thuyết thính tứ cú

(說聽四句) Chỉ cho 4 câu: Duy thuyết vô thính, Duy thính vô thuyết, Thuyết thính song tồn, Thuyết thính song tịch. Ý nghĩa của 4 câu này là phân biệt sự nói pháp của Phật và sự nghe pháp của chúng sinh. Dụng ngữ này được thấy trong Hoa nghiêm huyền đàm của ngài Trừng quán. Bốn câu này có 2 loại là Đồng giáo và Biệt giáo.A. Nói theo Đồng giáo: 1. Duy thuyết vô thính: Chỉ nói mà không có nghe. Nghĩa là ngoài chân tâm của Phật không có chúng sinh riêng khác, vì chân tâm của chúng sinh chính là chân tâm của Phật, cho nên giáo pháp được nói ra chỉ là sở hiện của Phật. 2. Duy thính vô thuyết: Chỉ có nghe mà không có nói. Nghĩa là ngoài tâm của chúng sinh, không có Phật nào khác, vì chân tâm của Phật chính là chân tâm của chúng sinh, cho nên giáo pháp được nói ra, chỉ là do chúng sinh tự hiện. 3. Thuyết thính song tồn: Có nói và có nghe. Nghĩa là khi chân tâm của Phật hiển hiện thì không cản trở việc hiển hiện của chân tâm chúng sinh, cho nên nói và nghe, cả 2 giáo đều lập. 4. Thuyết thính song tịch: Không có nói cũng chẳng có nghe. Nghĩa là Phật chính là chúng sinh, vì thế chẳng phải Phật; chúng sinh chính là Phật, vì thế chẳng phải chúng sinh; cả hai đều lặng bặt, cho nên người nói pháp không nói, không dạy, người nghe pháp cũng không nghe, không nhận. Trên đây là sự giải thích theo Đồng giáo, thuộc về thuyết Sự lí vô ngại. B. Nói theo Biệt giáo: 1. Duy thuyết vô thính: Chúng sinh hoàn toàn ở trong tâm chư Phật, Quả môn thu nhiếp tất cả pháp không sót, vì thế giáo pháp được nói chỉ là sở hiện của Phật. 2. Duy thính vô thuyết: Phật hoàn toàn ở trong tâm chúng sinh, Nhân môn thu nhiếp tất cả pháp không sót, cho nên giáo pháp được nói chính là do tâm của chúng sinh tự hiện. 3. Thuyết thính song tồn: Chúng sinh và Phật ở trong nhau, mỗi bên đều chân thực, không hư dối, nhân quả giao xen, tùy mỗi Thánh giáo đều ở trong 2 tâm, cho nên Phật trong tâm chúng sinh nói pháp cho chúng sinh trong tâm Phật nghe, còn chúng sinh trong tâm Phật thì nghe Phật nói pháp trong tâm chúng sinh. 4. Thuyết thính song tịch: Khi chúng sinh hoàn toàn ở trong Phật thì chúng sinh giống với Phật chứ chẳng phải chúng sinh; khi Phật hoàn toàn ở trong chúng sinh thì Phật giống với chúng sinh chứ chẳng phải Phật, 2 tướng đều mất, 2 vị đều dung nhau thì tùy mỗi Thánh giáo, đều chẳng phải 2 tâm, cho nên chúng sinh trong tâm Phật không nghe và Phật trong tâm chúng sinh cũng không nói. Trên đây là sự giải thích theo Biệt giáo, thuộc về thuyết Sự sự vô ngại. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.14].

thuyết thông

Khả năng thuyết pháp không trở ngại gọi là “Thuyết Thông” (khả năng giác ngộ tông chỉ thì gọi là “Tông Thông”)—To expound thoroughly, penetrating exposition. ; (說通) Thuyết pháp cho đại chúng nghe một cách thông suốt vô ngại, cũng tức là môn Hóa tha, môn Hướng hạ, tận lực giáo hóa, dắt dẫn chúng sinh. Thuyết thông và Tông thông đều là 2 thông tướng của tất cả Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. Tông thông chỉ cho tự thân tỏ ngộ được tông chỉ. [X. kinh Lănggià Q.3]. (xt. Tông Thông Thuyết Tông).

thuyết thị

To tell and indicate. ; (說示) Giảng giải giáo pháp để chỉ dạy người. Cứ theo Duyma kinh sớ của ngài Tuệ viễn(chùa Tịnh ảnh) thì dùng lời giảng nói giáo pháp, gọi là Thuyết; dùng lời nói chỉ dạy người, gọi là Thị.

thuyết trình

briefing.

thuyết tâm thuyết tánh

Expounding the Mind and Expounding the Nature.

thuyết tương đối

The theory of relativity.

Thuyết tận khổ đạo vô sở úy

xem Bốn đức chẳng sợ.

thuyết tội

Nói ra những tội lỗi mình đã phạm trước chúng Tăng để phát lồ sám hối—To confess sins, or wrong-doing—See Thuyết Giới. ; (說罪) Phạm: Àpatti-pratidezana. Hán âm: A bát để bát lạt bát lạt để đề xá na. A bát để là tội lỗi; bát đạt để đề xá na là đối trước ngưới khác mà nói. Nghĩa là tự nói tội lỗi của mình trước đại chúng để cầu sám hối. Tức vào ngày thuyết giới hoặc ngày tự tứ, tỉ khưu trình bày tội lỗi mà mình đã phạm để cầu được thanh tịnh. Namhải kí qui nội pháp truyện quyển 2 (Đại 54, 217 hạ) nói: Tiếng Phạm là A bát để bát lạt để đề xá na. A bát để là tội lỗi; bát lạt để đề xá na là đối trước người khác mà nói. Nghĩa là nói tội lỗi của mình trước người khác để cầu được thanh tịnh. Tự mình phải nói ra từng tội một thì mới mong tội diệt; nếu nói chung chung thì luật không chấp nhận. Xưa dịch là sám hối thì không liên quan đến thuyết tội.

thuyết tứ chúng quá giới

(說四衆過戒) Cũng gọi Thuyết tứ chúng danh đức phạm quá giới, Thuyết tại gia xuất gia Bồ tát giới, Thuyết tha tội quá giới. Gọi tắt: Thuyết quá giới. Giới nói lỗi của 4 chúng. Tức giới thứ 6 trong 10 giới nặng cấm không được rêu rao, bàn tán về lỗi lầm của 4 chúng tỉ khưu, tỉ khưu ni, Ưu bà tắc và Ưu bà di. Phạm võng kinh bồ tát giới bản sớ quyển 2 có nói rõ lí do Phật chế giới này, cho rằng nói lỗi của 4 chúng có thể hư hoại lòng tin, gây ra hiềm khích, phản bội ân đức Tam bảo, vì thế Phật chế giới này để ngăn cấm việc đó. Phẩm Thụ giới trong kinh Ưu bà tắc giới quyển 3 xếp giới này vào trọng pháp thứ 5 trong 6 trọng pháp của Ưu bà tắc, trọng pháp thứ 6 là giới bán rượu. Theo ý của ngài Nghĩatịch nói trong Bồ tát kinh bồ tát giới bản sớ quyển thượng thì giới này và giới bán rượu là các giới trọng của Bồ tát tại gia, còn đối với tỉ khưu xuất gia thì thuộc về tội khinh. [X. kinh Phạm võng Q. hạ; kinh Bồtát anh lạc bản nghiệp; Bồtát giới nghĩa sớ Q. hạ; Phạm võng kinh Bồtát giới bản thuật kí Q.2]. (xt. Thập Trọng Cấm Giới).

thuyết vãng sanh

The doctrine of rebirth.

thuyết vô cấu xưng kinh sớ

(說無垢稱經疏) Cũng gọi Thuyết vô cấu xưng kinh tán, Thuyết vô cấu xưng kinh tán sớ. Kinh sớ, 6 quyển (hoặc 12 quyển) do ngài Khuycơ (632-674) soạn vào khoảng từ năm Hàm hanh thứ 3 đến thứ 5 (672- 674) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 38. Đây là sách chú thích kinh Thuyết vô cấu xưng (bản dịch khác của kinh Duy ma cật sở thuyết do ngài Cưumalathập dịch) do ngài Huyềntrang dịch. Sách này y cứ vào giáo phán(Ba thời giáo, Tám tông)của tông Pháp tướng mà phối hợp kinh Vô cấu xưng với thời thứ 2(Không), thời thứ 3(Trung đạo) trong 3 thời và với tông thứ 7(Thắng nghĩa giai không tông), tông thứ 8(Ứng li viên thục tông) trong 8 tông; đồng thời dùng kinh này làm giáo thuyết cho thời kì quá độ giữa thời giáo thứ 2 và thời giáo thứ 3 của tông Thiênthai, bắt đầu mở rộng từ lí Không dần dần tiến đến Trung đạo. Sách này nổi tiếng nhờ chú thích trung thành với nguyên văn của kinh.

thuyết vô phân biệt pháp

To preach the Dharma which is without distinction.

thuyết vô thần

Atheism.

thuyết xuất thế bộ

Lokottaravadinah (skt)—Một trong 20 bộ phái Tiểu Thừa, tách ra từ Đại Chúng Bộ, bộ nầy cho rằng các pháp thế gian là kết quả sinh ra do điên đảo hoặc nghiệp, chúng là giả danh, không có thực thể. Chỉ có các pháp xuất thế là không do điên đảo mà khởi—One of the twenty Hinayana sects, a branch of Mahasanghikah, which held the view that all in the world is merely phenomenal and that reality exists outside it. ; (說出世部) Phạm: Lokottara-vàda. Hán âm: Lô câu đa la bà đà, Lô ca úy đa la, Lô câu ba la bà địa (Phạm: Lokottaravàdin). Cũng gọi Xuất thế thuyết bộ, Xuất thế gian ngữ ngôn bộ; Xuất thế gian thuyết bộ, Siêu xuất thế gian gia, Xuất thế bộ. Một trong 20 bộ phái Tiểu thừa, tách ra từ Đại chúng bộ sau khi đứcPhật nhập diệt được 200 năm. Cứ theo Dị bộ tông luân luận thuật kí, trái với chủ trương Ba đời có thật của Thuyết nhất thiết hữu bộ, phái này cho rằng các pháp thế gian chỉ có tên giả chứ khôngcóthể thật, chỉ có pháp xuất thế gian(Niết bàn) mới là chân thực. Tức chủ trương pháp thế gian như Khổ đế và Tập đế là tên giả, pháp xuất thế gian như Đạo đế và Diệt đế là chân thực. Các ngài Khuy cơ và Pháptạng phối hợp phái này với Tục vọng chân thực tông trong 6 tông Tiểu thừa. Có thuyết cho rằng Thuyết xuất thế bộ vốn là cùng một bộ phái với Kê dận bộ, vì chủ trương thế gian hữu lậu là giả, còn xuất thế vô lậu làthật, cho nên cũng gọi là Xuất thế bộ. Sau, vì học thuyết của phái này biến hóa nên dần dần trở thành một bộ phái độc lập. Trong các sách vở Nam truyền cũng như trong Đại chúng bộ truyện, Kinh lượng bộ truyện trong Ấnđộ Phật giáo sử của Đa la na tha (Phạm:Tàranàtha) và trong thuyết thứ 3 của ngài Thanhbiện (Phạm:Bhavya) do Tâytạng truyền... đều không thấy nói đến tên của bộ phái này. [X. phẩm Phân bộ trong kinh Văn Thù sư lợi vấn Q. hạ; luận Dị bộ tông luân; luận Bộ chấp dị; luận Thập bát bộ; Tam luận huyền nghĩa; Câu xá luận bảo sớ Q.1; Hoa Nghiêm ngũ giáo chương Q.1].

thuyết đoạn diệt

Annihilationism—See Đoạn Diệt.

thuyết đạo

(說道) Nghĩa là hiển bày, giảng nói chính đạo. Cứ theo phẩm Dược thảo dụ, kinh Pháp hoa quyển 3 thì 1 trong các danh hiệu của đức Như lai là Thuyết đạo giả (Phạm: Màrgadezika).

thuyết định mạng

Determinism—Fatalism

thuyền

A boat—A ship.

thuyền bát nhã

Prajna boat—The boat of wisdom—Attaining nirvana.

thuyền phiệt

Ý nói Phật giáo như chiếc bè hay chiếc phao cho chúng sanh đang lặn hụp trong biển luân hồi sanh tử—A raft, or a boat, i.e. Buddhism.

thuyền sư

người có khả năng chỉ huy con tàu vượt biển, cũng như thuyền trưởng ngày nay. Xem Đại thuyền sư. ; Thuyền trưởng, ý nói Đức Phật là vị thuyền trưởng cứu độ chúng sanh đáo bỉ ngạn—Captain, i.e. the Buddha as captain of salvation, ferrying across to the nirvana shore. ; (船師) Tên gọi khác của đức Phật. Đức Phật giáo hóa chúng sinh khiến họ vượt qua biển sinh tử mà đến bờ Niết bàn bên kia, giống như vị Thuyền sư (Thuyền trưởng) chuyên chở mọi người vượt biển, từ bờ này đến bờ kia, cho nên ví dụ Phật như Thuyền sư. Còn giáo pháp đức Phật dùng để giáo hóa chúng sinh thì được ví dụ như thuyền bè. [X. kinh Vô lượng thọ; kinh Hoa nghiêm Q.20 (bản dịch đời Tấn)].

thuyền tôn

Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chùa tọa lạc tại ấp Ngũ Tây, làng An Cựu. Chùa Thuyền Tôn là ngôi Tổ Đình lớn, gắn liền với sự khai sáng của Tổ Liễu Quán. Vào năm 1708, chùa chỉ là một mái thảo am mà Tổ dựng lên để tu thiền. Sau khi Tổ viên tịch, ngôi thảo am được xây làm tháp mộ của Tổ, và vào năm 1746 chùa được dựng lên về bên trong khoảng 500 mét. Năm 1808, chùa được Hòa Thượng Đạo Tâm Trung Hậu trùng tu với sự trợ giúp tiền bạc của tín nữ Lê Thị Ta. Sau đó chùa lại bị đổ nát với thời gian. Mãi đến năm 1937, Hòa Thượng Trừng Thủy Giác Nhiên ra sức đại trùng tu toàn diện, gồm chánh điện, tiền đường, đông phòng, tây xá, tạo nên qui mô như ngày nay—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The temple is located at Ngũ Tây hamlet, An Cựu village. This Patriarchal temple was opened by Patriarch Liễu Quán. In 1708, it was only a small thatched temple the patriarch temporarily built for his practice of meditation. After the Patriarch's death, his stupa was built right on the old site of the thatched temple, and in 1746 the temple was rebuilt at a new site, about 500 meters to the back. In 1808, the temple was rebuilt by Most Venerable Đạo Tâm Trung Hậu with the assistance of money from a lay woman named Lê Thị Ta. Later, the temple was ruined with time. Until 1937, Most Venerable Trừng Thủy Giác Nhiên tried his best to rebuild the temple with an overall reconstruction for the main hall, the antechamber, the east-side and west-side rooms, giving the temple the appearance it has today.

thuyền tử hoà thượng

(船子和尚) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, pháp danh là Đức thành. Sư theo hầu ngài Dược sơn Duy nghiễm 30 năm và được nối pháp của ngài. Sư thường đến Hoa đình thuộc tỉnh Chiết Giang, dong chiếc thuyền con tùy duyên tiếp hóa khách qua lại, người đời gọi sự là Thuyền tử Hòa thượng. Sau khi truyền pháp cho Thiền sư Giáp sơn Thiện hội, sư tự lật úp thuyền mà thị tịch. Về nhân duyên sư truyền pháp cho ngài Giáp sơn Thiện hội, giới Thiền lâm gọi là Thuyền tử đắc lân(Thuyền tử được cá). Lân ở đây chỉ cho con cá có vảy màu vàng, ví dụ người ưu việt trong chúng. Tuy được pháp nơi ngài Dược sơn nhưng tính ưa ngao du sơn thủy, nên đã lâu mà sư vẫn không có đệ tử nối pháp để đền đáp ơn thầy, sau nhân ngài Đạo ngô mà được Giáp sơn Thiện hội, ngài Thiện hội nhờ sự hỏi đáp, dạy bảo của sư mà được mở tỏ, sau được ấn khả, trở thành đệ tử nối pháp của sư. [X. Tổ đường tập Q.5; Cảnh đức truyền đăng lục Q.14; Thích thị kê cổ lược Q.3].

Thuyền Tử Ðức Thành

船字德誠; C: chuánzǐ déchéng; J: sensu tokujō; tk. 8-9;|Thiền sư Trung Quốc, đạt yếu chỉ nơi Dược Sơn Duy Nghiễm. Sư chỉ có một người đệ tử ngộ đạo là Giáp Sơn Thiện Hội.|Sư là người tiết tháo độ lượng, làm bạn cùng với Ðạo Ngô Viên Trí và Vân Nham Ðàm Thạnh. Sau khi từ giã thầy và hai bạn, Sư đến bến Hoa Ðình ở sông Ngô Tú Châu sắm thuyền đưa người qua sông. Người ở đó không biết tung tích Sư nên gọi là Hoà thượng Thuyền Tử. Thiền sư Thiện Hội nhân được Ðạo Ngô mách đến yết kiến Sư. Vừa thấy đến Sư liền hỏi: »Ðại đức trụ trì nơi nào?« Thiện Hội đáp: »Chùa tức chẳng trụ, trụ tức chẳng giống.« Sư hỏi: »Chẳng giống, giống cái gì?« Thiện Hội đáp: »Chẳng pháp trước mắt.« Sư hỏi: »Ở đâu học được nó?« Thiện Hội trả lời: »Chẳng phải chỗ tai mắt đến.« Sư cười bảo: »Một câu dù lĩnh hội, muôn kiếp cọc cột lừa. Thả ngàn thước tơ ý đầm sâu, lìa lưỡi câu ba tấc, nói mau! Nói mau!« Thiện Hội vừa mở miệng bị Sư đánh một chèo té xuống nước. Vừa mới leo lên thuyền Sư lại thúc: »Nói mau! Nói mau!« Thiện Hội vừa mở miệng lại bị Sư đánh. Thiện Hội hoát nhiên đại ngộ.|Sư căn dặn Thiện Hội: »Ngươi ra đi phải tìm chỗ ẩn thân mất dấu vết, chỗ mất dấu vết chớ ẩn thân. Ta ba mươi năm ở Dược Sơn chỉ sáng tỏ việc này. Nay ngươi đã được nó, sau chớ ở chỗ xóm làng thành thị, nên vào trong núi sâu bên cạnh đồng để tìm lấy trọn một cái, nửa cái còn lại không thể đoạn đứt.«|Ngay sau khi Ấn khả cho Thiện Hội, Sư tự lật úp thuyền viên tịch.

thuê

To lease—To rent—To hire.

thuê lại

To sub-lease.

thuï

1) Cây: Vrksa (skt)—Tree. 2) Chịu đựng: To endure—To suffer—To bear. 3) Nhận: To receive.

thuý nham

(翠岩) Cao tăng Trung quốc sống vào thời Ngũ đại, pháp hiệu Linh tham, người Hồ châu (Ngôhưng, Chiếtgiang), là đệ tử nối pháp của Thiền sư Tuyết phong Nghĩa tồn. Sư từng trụ núi Thúynham ở Minhchâu (phía đông huyện Ngân, tỉnh Chiết giang), phát huy Thiền pháp. Thúy nham hạ mạt thị chúng là công án thiền nổi tiếng của sư. Vua nước Ngô Việt họ Tiền rất kính ngưỡng sư, từng thỉnh sư đến chùa Long sách ở Hàng châu, ban hiệu Vĩnh Minh ĐạiSư. [X. Cảnh Đức truyền đăng lục Q.18; Ngũ đăng hội nguyên Q.7].

thuý nham hạ mạt thị chúng

(翠岩夏末示衆) Cũng gọi Thúy nham mi mao. Tên công án trong Thiền tông. Vào ngày cuối cùng của hạ an cư (hạ mạt), Thiền sư Thúynham thời Ngũ đại, nói pháp cho các đồng môn nghe về việc từ đầu hạ đến nay có lẽ đã vi phạm Phật pháp và hỏi các đồng môn Lông mày đã rụng hay chưa, do đó hiển bày cơ pháp của Thiền tông được vận dụng một cách linh hoạt. Bích nham lục tắc 8 (Đại 48, 148 trung) ghi: Vào cuối hạ, ngài Thúy nham dạy chúng rằng: Từ đầu hạ đến giờ, Thúynham đã nói chuyện cho các huynh đệ nghe, hãy xem lông mày Thúy nham còn không? Sư Bảophúc nói: Anh trộm nhẹ dạ! Sư Trường khánh nói: Mọc tốt. Sư Vânmôn nói: Đóng cửa!. Truyền thuyết trong Thiền lâm cho rằng nếu ai nói sai Phật pháp thì mắc tội đến rụng hết lông mày. Ngài Thúy nham nhìn lại thời gian 90 ngày hạ an cư vừa qua, sư thường nói pháp cho đại chúng nghe, e rằng có chỗ nói đã rơi vào Đệ nhị nghĩa môn, nên có thể bị tội rụng lông mày. Bởi vì Phật pháp Đệ nhất nghĩa môn là chân lí rốt ráo, cùng tột, không thể dùng lời nói mà diễn đạt được, cũng không chia chẻ, phân biệt bằng những khái niệm tư duy, do đó bất luận nói tâm, nói tính, nói đốn, nói tiệm... cũng chỉ vì muốn giúp người học mà giả đặt đó thôi, đều là Đệ nhị nghĩa môn cả. Nhưng vì hóa đạo đại chúng không thể không nói rộng ý chỉ sâu xa của giáo pháp, chỉ có điều không muốn người học chấp trước vào lời nói để bị kẹt trong đó, cho nên tự đặt câu hỏi lông mày rụng chưa để khéo léo hiển bày chỗ sâu xa của cơ thiền linh hoạt. Nhưng câu hỏi của sư Thúy nham lại dẫn đến những câu trả lời khác nhau giữa 3 vị đệ tử lớn của Thiền sư Tuyết phong Nghĩa tồn. Sư Bảo phúc cho rằng Thúy nham tự biết tội lỗi, như 1 kẻ trộm nhẹ dạ, người ta chưa hỏi mà tự mình đã lựa lời nói trước để cầu thoát tội. Sư Trường khánh thì bảo nhờ câu hỏi đó mà sư Thúy nham đã xoay chuyển được tình thế hiểm nghèo, chẳng những đã không có mối lo rụng hết lông mày, trái lại, còn nhờ thế mà lông mày mọc tốt thêm! Đến câu Đóng cửa của sư Vân môn Văn yển đã khiến các nhà tham thiền xưa nay suy nghĩ nhiều nhất. Bởi vì đóng cửa ở đây có ý chê trách cả 3 vị trước, ý nói nếu không hoàn toàn biết rõ nghĩa chân thực của Phật pháp mà cứ bàn cãi lẽ sâu xa, chia chẻ việc phải trái, thì tốt hơn là cắt đứt mọi dòng, đóng chặt cửa lại! [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.18; Ngũ đăng hội nguyên Q.7; Thung dung lục tắc 71].

Thuý Vi Vô Học

翠微無學; C: cuìwēi wúxué; J: suibi mugaku; tk. 9; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Ðan Hà Thiên Nhiên. Sử sách không ghi lại nhiều về Sư, chỉ kể lại là Sư hoằng hoá giống như thầy mình là Ðan Hà, chẳng để ý gì đến tục lệ, chẳng coi trọng hiểu biết sách vở, chỉ tuỳ cơ dạy chúng nên tự xưng mình là Vô Học. Sư có năm người nối pháp và một trong những người đó là Thiền sư Ðầu Tử Ðại Ðồng.

thuấn nhã đa thần

(舜若多神) Thuấn nhã đa, Phạm:Zùnyatà. Pàli:Suĩĩatà. Hán dịch: Không tính. Chỉ cho thần Hư không. Cũng chỉ cho trời cõi Vô sắc. Liên hoa phong lục trong Tổ đình sự uyển quyển 7 (Vạn tục 113, 97 thượng) nói: Thuấn nhã đa thần, Hán dịch là Không, tức vị thần chủ về hư không. Trời cõi Vô sắc cũng thuộc loại thần này; những gì thuộc về sở hữu của loại thần này cũng không có sắc chất; đã là chất gió thì thể cũng không thấy được, cho nên nói là vốn không, nhờ thần lực của Phật nên có thể tạm thấy. Như vậy rõ ràng cũng có thứ định Tự tại sắc và Vô nghiệp sắc. Nói chư thiên cõi Vô sắc rơi lệ như mưa thì cũng giống như thế.

thuần

1) Thuần hạnh: Không phạm tà dâm—Unadulterated. 2) Thuần nhất: Không pha tạp, chỉ có một chứ không có hai. Thuần nhứt có nghĩa là thuần một thứ chứ không pha tạp—Pure—Unmixed—Solely—Simply—Entirely. 3) Thuần sắc: Chỉ một màu—One-coloured. 4) Thuần tịnh: Pure—Sincere—Unmixed—Entirely.

thuần chân

1) Thành thật: Sincere—True. 2) Tên của một vị khi nghe pháp hỏi Phật những câu hỏi để Phật giải đáp trong kinh: Name of a man who asked the Buddha questions which are replied to in a sutra.

thuần chân thiền sư

Zen Master Thuần Chân (?-1101)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Cửu Ông, huyện Tế Giang, Bắc Việt. Ngài xuất gia làm đệ tử của Thiền sư Pháp Bảo tại chùa Quang Tịnh, và trở thành Pháp tử đời thứ 12 dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Về sau, ngài trụ tại chùa Hoa Quang để chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo. Ngài thị tịch năm 1101—A Vietnamese Zen master from Cửu Ông, Tế Giang district, North Vietnam. He left home and became a disciple of Zen master Pháp Bảo at Quang Tịnh Temple, and became the Dharma heir of the twelfth generation of the Vinitaruci Zen Sect. Later he stayed at Hoa Quang Temple to revive and expand Buddhism. He passed away in 1101.

thuần chính

Honest—Chaste—Pure.

Thuần Hòa Thiên Hoàng

(淳和天皇, Junna Tennō, tại vị 758-764): vị Thiên Hoàng sống vào đầu thời kỳ Bình An, con thứ 7 của Hoàn Võ Thiên Hoàng (桓武天皇, Kammu Tennō), tên là Đại Bạn (大伴) hay còn gọi là Tây Viện Đế (西院帝, Saiin-no-mikado). Ông rất giỏi về Hán Thi, đã từng ra lệnh cho nhóm Lương Sầm An Thế (良岑安世) soạn ra Kinh Quốc Tập (經國集).

thuần hóa

To tame.

Thuần Hựu

(淳祐, Shunnyū, 890-953): vị học tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời Bình An, húy là Thuần Hựu (淳祐), thông xưng là Thạch Sơn Nội Cúng (石山內供), Phổ Hiền Viện Nội Cúng (普賢院內供); xuất thân kinh đô Kyoto, con của quan Hữu Trung Biện Quản Nguyên Thuần Mậu (右中辯菅原淳茂). Ông theo xuất gia với Quán Hiền (觀賢) ở Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji), thọ giới ở Giới Đàn của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), và đến năm 925 thì nhận Truyền Pháp Quán Đảnh của Quán Hiền. Ông được suy cử chức Tọa Chủ Đề Hồ Tự, nhưng vì biết thân mang nhiều bệnh tật, không thể làm việc được nhiều, nên khước từ và lui về ẩn cư ở Thạch Sơn Tự (石山寺), trú tại Phổ Hiền Viện. Tương truyền ông theo hầu Quán Hiền lên Cao Dã Sơn để thông báo cho đại chúng biết việc triều đình hứa khả ban thụy hiệu cho Không Hải Đại Sư vào năm 921, khi ấy ông chạm tay vào đùi gối của Không Hải, đến lúc thả tay ra thì mùi hương thơm vẫn tỏa ngát mãi cho đến suốt đời. Ông đã cho tiến hành nghiên cứu kinh điển và hoàn thành vai trò rất lớn trong việc làm cho Đông Mật phát triển. Đệ tử phú pháp của ông có Nguyên Cảo (元杲), Cứu Thế (救世), Khoan Trung (寬忠), v.v. Trước tác ông để lại có Thai Tạng Tập Ký (胎藏集記) 10 quyển, Thai Tạng Thất Tập (胎藏七集) 3 quyển, Kim Cang Giới Thất Tập (金剛界七集) 2 quyển, Kim Cang Giới Thứ Đệ Pháp (金剛界次第法) 4 quyển, v.v.

thuần khiết

Pure.

thuần kim

Pure gold.

thuần lý

Rational.

thuần mật tạp mật

(純密雜密) Thuần túy bí mật và tạp nhạp bí mật. Chỉ cho các kinh của Mật giáo. Trong Mật giáo, các kinh quĩ được chia làm 2 thứ là Bản(gốc) và Chi(nhánh)khác nhau. Thuần mật thuộc về Bản là pháp môn bí mật do đức Đạinhật Nhưlai trụ Bản địa pháp thân giảng nói cho Nội quyến thuộc nghe trong cung điệnPháp giới, tức là kinh Đạinhật và kinh Kim cương đính; Thuần mật thuộc về Chi thì là các Mật quĩ của các vịtôn Dugià. Còn Tạp mật là các kinh lẫn lộn cả Hiển và Mật do đức Thích ca Nhưlai trong thân Thùy tích ứng hóa giảng nói ở thế giới trần tục. Thuần mật là pháp môn bí mật thuần nhất của Du già thừa được nói rộng ra; còn Tạp mật thì lấy Hiển giáo làm chính, Mật thừa chỉ là nói phụ thêm mà thôi, như phẩm Đà la ni trong kinh Pháp hoa... tức là Chân ngôn đà la ni thuộc phần phụ. Ngoài ra, Đại pháp của Kim cương giới và Thai tạng giới là Thuần mật, còn các tạp bộ Mật giáo là Tạp mật.

thuần nhất

See Thuần (2).

thuần phong

Good morals.

thuần thành

Vatava (p)—Devout.

thuần thục

Used to—Accustomed to—Fruit—Fruition (chín mùi).

thuần túy

See Thuần.

thuần viên độc diệu

(純圓獨妙) Tông Thiên Thai cho cái tinh diệu của Pháphoa so với cái thô diệu của Nhĩ tiền(các kinh Phật nói trước kinh Pháphoa) là diệu vị đề hồ thuần nhất vô tạp, cho nên gọi là Thuần viên độc diệu. Nhĩ tiền nghĩa là trong phán giáo, tông Thiênthai gọi 4 thời trước trong 5 thời 8 giáo là Nhĩ tiền, tức chỉ cho 4 thời trước khi đức Phật nói kinh Pháp hoa. Tông Thiênthai chủ trương trong 4 thời giáo Nhĩ tiền thì thời Hoa nghiêm trong Viên gồm (kiêm) cả Biệt, thời Lộc uyển thì chỉ(đãn) nói Tiểu thừa, thời Phương đẳng thì nói rộng đối(đối) với 4 giáo, thời Bátnhã thì nói cả(đới) 2 giáo Biệt, Viên. Nếu dựa vào thuyết Kiêm, Đãn, Đối, Đới này mà phân biệt tính chất thô, diệu thì Hoa nghiêm 1 thô 1 diệu, Lộc uyển chỉ thô không diệu, Phương đẳng 3 thô 1 diệu, Bát nhã 2 thô 1 diệu, cho nên Viên giáo được nói ở Nhĩ tiền là cái diệu có lẫn thô, chứ không phải cái diệu thuần nhất vô tạp. Còn Viên giáo được nói ở thời thứ 5 là Pháphoa thì mở bày Viên, đó là Thuần diệu. Cho nên nói kinh Pháphoa xóa bỏ cái Thô của 4 vị trước là Kiêm, Đãn, Đối, Đới, mà hiển bày cái Diệu của Nhất Phật thừa thuần viên để thành tựu ý nghĩa Thuần viên độc diệu.

thuần đà

Cunda or Chunda (skt)—Còn gọi là Chu Na, Chuẩn Đa, một người thợ rèn trong thành Câu Thi Na, người đã cúng dường bữa cơm cuối cùng cho Đức Phật. Theo Đức Phật thì những ai cúng dường Đức Phật bữa cơm đầu tiên ngay trước khi Ngài thành đạo, hay bữa cơm sau cùng trước khi Ngài nhập Niết Bàn, sẽ được vô lượng công đức—A metal worker (blacksmith) in Kusinagara, who offered the Buddha the last meal to the Buddha (or from whom the Buddha accepted his last meal). According to the Buddha, those who offered the first meal before He became a Buddha and the last meal before He passed away would have the most meritorious merit. ; (純陀) Phạm,Pàli:Cunda. Cũng gọi Chuẩnđà, Chuna. Tên người thợ rèn ở thành Ba bà (Phạm, Pàli:Pàva)thuộc Trung Ấnđộ vào thời đức Phật còn tại thế, ông là người cuối cùng cúng dường Phật. Cứ theo kinh Du hành trong Trường a hàm quyển 3 thì Thuần đà dâng nấm cây chiên đàn cúng dường Phật. Nấm cây chiên đàn (Pàli: Sùkaramaddava) mà Thuần đà cúng dường Phật đại khái là một loại nấm ở Trung quốc gọi là Mộc nhĩ. Kinh Trường a hàm theo thuyết này, còn các bản dịch như kinh Niết bàn... thì cho là thức ăn thơm ngon. Các học giả phương Tây thời gần đây, căn cứ theo kinh Đại bát niết bàn tiếngPàli, cho rằng thức ăn mà Thuần đà cúng dường Phật thủa ấy là thịt lợn. [X. kinh Tạp a hàm Q.37; luận Đại tì bà sa Q.66; điều Câu thi na yết la quốc trong Đạiđườngtây vực kí Q.6].

Thuần-đà

phiên âm từ Phạn ngữ là Cunda, Hán dịch là “giải diệu nghĩa”, nghĩa là hiểu được nghĩa lý vi diệu.

thuẫn

1) Hậu thuẫn—Support. 2) Mâu thuẫn—To contradict.

thuận

1) Đồng ý, đối lại với “nghịch”: To agree—To consent—To accord with—To comply—To obey—To yield, in contrast with “to resist.”. 2) Tán thành: To be favourable.

thuận buồm xuôi gió

To sail before the wind.

thuận bà bà

(順婆婆) Chỉ cho thiền sư Cảnh đức thuận có tâm lão bà tha thiết. Thiền sư Thuận là đệ tử nối pháp của ngài Tuệnam, Tổ khai sáng phái Hoànglong thuộc tông Lâmtế đời Tống. Vì sư có tấm lòng từ ái, thương quí tất cả mọi người nên trong tùng lâm đều gọi sư là Thuận bà bà. [X. Thiền lâm khẩu thực hỗn danh tập Q. hạ].

thuận bất định thụ nghiệp

(順不定受業) Cũng gọi Bất định thụ nghiệp, Bất định nghiệp. Nghiệp chưa được quyết định, 1 trong 4 nghiệp. Vì nghiệp thiện ác đã tạo thế lực quá yếu kém nên chưa quyết định sẽ phải chịu quả báo vào thời gian nào(hiện tại, quá khứ hay vị lai?).Loại nghiệp này được gọi là Thuận bất định thụ nghiệp. [X. luận Đại tì bà sa Q.124; luận Du già sư địa Q.60]. (xt. Tứ Nghiệp, Định Nghiệp Bất Định Nghiệp).

thuận chu

(順朱) Cũng gọi Thuậtchu. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chu là mực đỏ(son); dùng mực đỏ ghi lại lời dạy, việc làm của bậc tiền bối vào sách vở. Thuận chu nghĩa là làm theo lời dạy của bậc tiên hiền. Cổ tôn túc ngữ lục quyển 39 (Vạn tục 118, 332 thượng) ghi: Hỏi: Nhưlai thiền là thế nào? Sư đáp: Vác ngang cây gậy, buộc chặt giày cỏ. Tăng lại hỏi: Tổ sư thiền là thế nào? Sư đáp: Thượng đại nhân! Rồi nói: Hiểu không? Tăng thưa: Không hiểu! Sư nói: Không hiểu thì hãy làm theo lời dạy của cổ đức (Thuận chu)!.

thuận chuyển

(順轉) Xoay về bên phải. Trong Thiền lâm, khi đại chúng sắp hàng trở về phòng liêu, hoặc đi nhiễu, kinh hành, nếu phải xoay mình thì xoay từ vai trái sang vai phải, gọi là Thuận chuyển. Nhập chúng nhật dụng (Vạn tục 111, 472 thượng) nói: Hoặc kinh hành trong trà đường theo thứ tự trở về chỗ để bát, thuận chuyển theo vai trên, không được xoay lưng mà vào(vai trên là vai trái). Nhưng vai trên trong câu văn trích dẫn trên đây, ngoài trường hợp thuận chuyển, không hẳn đều chỉ cho vai trái. (xt. Thượng Kiên).

thuận cảnh

Favourable circumstances. ; (順境) Đối lại: Nghịch cảnh. Chỉ cho hoàn cảnh thuận theo ý của mình, tức là cảnh giới mình cảm thấy vui sướng. Trái lại, hoàn cảnh trái với thân tâm mình, khiến sinh khởi những cảm giác khổ đau hoặc oán giận thì gọi là Nghịch cảnh, Vi cảnh. Cảnh vốn không có sai khác, nhưng vì tâm mê hoặc của chúng sinh, nên mới phân biệt thuận, nghịch; mà thuận cảnh thì dễ khiến con người sinh ra phiền não tham dục. Pháp giới thứ đệ quyển thượng, phần đầu (Đại 46, 667 hạ) nói: Nếu tâm mê, bám víu lấy tất cả cảnh thuận tình, không nhàm chán thì đó là tham độc.

thuận duyên

The accordant cause in contrast with the resisting accessory cause (nghịch duyên). ; (順緣) Đối lại: Nghịch duyên. Thông thường cho rằng lấy việc thiện tín thuận như cúng dường Phật, tán thán pháp... làm duyên để mong được lợi ích giáo hóa mà hướng thiện, thú nhập Phật pháp là Thuận duyên. Trái lại, lấy những việc ác như hủy báng Phật pháp để làm duyên vào đạo thì gọi là Nghịch duyên (Vi duyên). Bởi thế, thiện duyên là Thuận duyên, còn ác duyên là Nghịch duyên. Cứ theo luận Thích ma ha diễn quyển 7, hễ gặp thuận duyên thì tiến tới thiện thú; còn gặp nghịch duyên thì lui mất đạo tâm mà hướng tới ác thú, giống như mảy lông bị cuốn theo chiều gió mà bay sang đông hoặc sang tây. Ngoài ra, ở Nhậtbản, người trẻ tu các Phật sự để cầu phúc hồi hướng cho người già, gọi là Thuận duyên hoặc Thuận tu; trái lại thì là Nghịch duyên, Nghịch tu. [X. kinh Hoa nghiêm Q.75 (bản dịch mới); kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.6; Khởi tín luận sơ bút trước kí Q.5].

thuận dụ

(順喻) Thuận là tùy thuận, Dụ là thí dụ. Tức tùy thuận thế đế, theo thứ tự mà dụ từ nhỏ đến lớn. Kinh Niết bàn quyển 29 (bản Bắc) liệt kê 8 pháp thí dụ, trong đó thí dụ thứ Nhất là Thuận dụ. Khi dẫn dụng dụ pháp này là lấy thứ tự sinh khởi của vật làm qui tắc tiêu chuẩn cho thí dụ. Như nói khi trời mưa to thì khe ngòi đầy; khe ngòi đã đầy thì ao nhỏ đầy theo; ao nhỏ đầy rồi thì đến sông nhỏ đầy, kế đến sông lớn đầy; các sông lớn đều đầy; các sông lớn đã đầy thì biển lớn dần dần cũng đầy. Tức dùng việc biến hóa theo thứ tự này để dụ cho mưa pháp của Như lai, đợi cho giới pháp của chúng sinh đầy đủ, cho đến giải thoát đầy đủ thì Niết bàn đầy đủ cũng viên thành theo.[X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; kinh Đạibát nhã Q.15, 25, 26; Pháp hoa kinh văn cú Q.5 thượng]. (xt. Thí Dụ).

thuận gió

Favourable wind.

Thuận Hiểu

(順曉, Junkyō, ?-?): vị tăng Mật Giáo Trung Quốc, sống dưới thời nhà Đường, không rõ xuất thân quê quán, môn hạ của Thiện Vô Úy (s: Śubhakarasiṃha, 善無畏), theo Nghĩa Lâm (義林) của Tân La (新羅, Triều Tiên) học tập mật pháp của Chơn Ngôn. Ban đầu ông trú tại Linh Nham Tự (靈巖寺) vùng Thái Nhạc (泰嶽), sau chuyển đến Long Hưng Tự (龍興寺) ở Việt Châu (越州). Vào tháng 4 năm 805 (niên hiệu Vĩnh Trinh [永貞] nguyên niên), nhân hai vị tăng Nhật Bản là Tối Trừng (最澄, Saichō) và Nghĩa Chơn (義眞, Gishin) đến Long Hưng Tự tham bái, ông truyền thọ phép Quán Đảnh cho họ và trao các đồ hình Tam Muội Da (三昧耶), pháp môn niệm tụng, khế ấn, đạo cụ, v.v. Người đời thường gọi ông là Trấn Quốc Đạo Tràng Đại Đức A Xà Lê (鎭國道塲大德阿闍梨).

thuận hoá

(順化) I. Thuận Hóa. Đối lại: Nghịch hóa. Phật, Bồtát dùng phương pháp thuận hợp, thích đáng để giáo hóa làm lợi ích chúng sinh, gọi là Thuận hóa; còn đối với các chúng sinh ương ngạnh, khó dạy thì dùng phương pháp cưỡng bức để giáo hóa thì gọi là Nghịch hóa. Như Phật, Bồ tát ứng theo cơ nghi mà giáo hóa, đều thuộc Thuận hóa. Lại như trong Mật giáo, đức Phật có 3 thứ luân thân, khi ngài dùng Chính pháp luân thân để giáo hóa chúng sinh, gọi là Thuận hóa; trái lại, Ngài dùng Giáo lệnh luân thân để giáo hóa thì gọi là Nghịch hóa. [X. kinh Pháp hoa Q.7; Pháp hoa văn cú kí Q. 10, trung]. (xt. Hóa). II. Thuận Hóa. Cũng gọi là Thuận thế, Thuận tịch, Thuận khứ. Chỉ cho sự qua đời của vị tăng. Đó là nói theo ý nghĩa của đạo lí thế gian mà tử hóa, thị hiện diệt độ. Thích thị yếu lãm quyển hạ nói: Phật giáo gọi chết là niết bàn, viên tịch, qui chân, qui tịch, diệt độ, thiên hóa, thuận thế. [X. Phật tổ thống kỉ Q.28; điều Vong tăng trong Thiền uyển thanh qui Q.7]. (xt. ThiênHóa).

thuận hòa

Harmony—Concord.

thuận hóa

1) Thuận theo đạo đời mà giáo hóa chúng sanh: To accord with one's lessons; to follow the custom. 2) Thị tịch (vị Tăng): To die.

thuận hạ phần kết

Còn gọi là Ngũ Hạ Phần Kết—Also called the five ties in the lower realm—See Ngũ Thuận Hạ Phần Kết, and Ngũ Hạ Phần Kết.

thuận hậu thứ thụ nghiệp

(順後次受業) Phạm: Aparaparyàya-vedanìya- Karma. Kamma. Gọi tắt: Thuận hậu thụ nghiệp, Thuận hậu thứ thụ, Thuận hậu nghiệp. Nghiệp chịu quả báo từ đời thứ 3 về sau, 1 trong 3 thời nghiệp, 1 trong 4 nghiệp. Tức nghiệp thiện ác đã tạo ra ở đời hiện tại, đến đời thứ 3 trở đi mới chịu quả báo, gọi là Thuận hậu thứ thụ nghiệp. [X. luận Đại tì bà sa Q.114]. (xt. Tứ Nghiệp, Định Nghiệp Bất Định Nghiệp). THUẬN HIÊN PHÁP THỤ NGHIÊP Phạm: Dfwỉadharma-vedanìyakarma. Pàli: Dỉỉhadhamma-vedanìyakamma. Cũng gọi là Thuận hiện báo thụ nghiệp, Thuận hiện nghiệp, Thuận hiện báo thụ, Hiện tại thụ nghiệp, Hiện báo. Nghiệp thiện ác tạo tác ở đời hiện tại chịu quả báo ngay ở đời hiện tại, gọi là Thuận hiện pháp thụ nghiệp, là 1 trong 3 thời nghiệp, 1 trong 4 nghiệp. [X. luận Đại tì bà sa Q.114]. (xt. Tứ Nghiệp, Định Nghiệp Bất Định Nghiệp).

thuận liệt

(順列) Xếp hàng theo thứ tự. Khi có pháp hội truyền giới, các giới tử phải đứng xếp hàng theo thứ tự để ấn định thứ tự giới mạch, gọi là Thuận liệt. Quyển sổ ghi họ tên các giới tử dùng để điểm danh khi thụ trai, gọi là Thuận liệt trướng. [X. Thụ giới hội tác pháp trong Hành trì quĩ phạm Q.2].

thuận lòng

To agree—To consent.

thuận lưu

Xuôi theo dòng luân hồi không ngừng nghỉ—To flow with it in continual re-incarnation, or going with the stream of transmigration. ; (順流) Phạm: Anusroto-gàmin. Pàli:Anusota-gàmin. Cũng gọi: Tùy lưu. Đối lại: Nghịch lưu. Xuôi dòng. Nghĩa là chúng sinh thuận theo dòng sinh tử của 3 cõi, 6 đường, trôi lăn trong cõi mê. Nếu chúng sinh khởi phiền não, tạo các nghiệp, thuận theo dòng sinh tử, trái với đạo Niết bàn, thì gọi là Thuận lưu, tức là nhân quả sinh tử lưu chuyển. Trái lại, dứt hoặc chướng trong 3 cõi, ngược với dòng sinh tử, hướng tới đạo Niết bàn, thì gọi là Nghịch lưu, tức là nhân quả hoàn diệt. Theo Ma ha chỉ quán quyển 4 thì người tu hành vì Mười tâm thuận lưu nên điên đảo tạo ác, tích tập khổ lụy sâu nặng, lưu chuyển trong dòng sinh tử, phải dùng 10 tâm nghịch lưu để đối trị những lầm lỗi ấy. Mười tâm thuận lưu gồm: 1. Tâm vô minh tối tăm: Trong tâm chúng sinh bị vô minh làm mê hoặc, vọng chấp nhân ngã, khởi vọng tưởng điên đảo, tạo tác các nghiệp, trôi lăn trong dòng sinh tử. 2. Tâm thuận theo bạn ác bên ngoài: Chúng sinh bên trong có đủ các thứ phiền não, bên ngoài bị bạn ác mê hoặc làm cho mất tâm chính hạnh. 3. Tâm không tùy hỷ: Nghĩa là đối với việc thiện người khác làm, tâm không vui mừng làm theo. 4. Tâm phóng túng 3 nghiệp: Nghĩa là mặc ý tạo các tội ác của 3 nghiệp thân, khẩu, ý. 5. Tâm khởi ác trùm khắp mọi nơi: Những việc ác do chúng sinh tạo ra tuy không rộng, nhưng tâm ác thì bao trùm khắp nơi. 6. Tâm thường nghĩ việc ác: Chúng sinh chỉ khởi tâm ác, tăng trưởng việc ác, ngày đêm không dứt. 7. Tâm giấu kín tội lỗi: Che lấp lỗi của mình, không có tâm hối cải. 8. Tâm không sợ ác đạo: Chúng sinh ngu độn không biết, không sợ bị rơi vào đường ác. 9. Tâm không hổ thẹn: Tạo các nghiệp xấu ác mà tâm không biết hổ thẹn. 10. Tâm nhất xiển đề: Nghĩa là phủ định tất cả đạo lí nhân quả. [X. kinh Niếtbàn Q.36 (bảnBắc); luận Câuxá Q.12; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.4, phần 2]. (xt. Nghịch Lưu, Nghịch Lưu Thập Tâm).

thuận lợi

Favored.

thuận minh châu

(順明珠) Cũng gọi Đồng dị châu. Đối lại: Độc minh châu. Hạt minh châu tùy thuận màu sắc của các vật nó chiếu mà ánh hiện các màu sắc khác nhau. Luận Ma ha diễn quyển 2, khi giải thích về Chân như môn và Sinh diệt môn, có nêu ra 10 tên mà tên thứ 9 là Trung thực, chỉ cho Đệ nhất nghĩa đế. Trung thực lại được chia làm 2 thứ là Đẳng trụ trung thực và Biệt trụ trung thực, đồng thời, dùng Độc minh châu và Thuận minh châu để làm thí dụ. Trong đó, Biệt thụ trung thực là tên khác của Sinh diệt sở nhập. Bởi vì Thuận minh châu là hạt châu tùy thuận sự sai khác mà ánh hiện các màu sắc; nếu đem các vật khác nhau đặt trước hạt châu này thì nó liền thuận theo màu sắc của mỗi vật mà ánh hiện các màu sắc khác nhau; cho nên dùng nó để ví dụ Sinh diệt sở nhập của sự tùy thuận các pháp sai biệt. Cũng thế, Độc minh châu được dùng để dụ cho Chân như sở nhập của vạn pháp nhất như.(xt. Biệt Trụ Trung Thực, Độc Minh Châu).

thuận mệnh

To obey an order.

thuận nghịch

Xuôi theo hay ngược lại, như xuôi theo luân hồi sanh tử hay đi ngược lại để về cõi Niết Bàn—Favourable and contrary—To go with or to resist, e.g. the stream to reincarnation, or to nirvana. ; (順逆) Cũng gọi Nghịch thuận. Thuận theo và trái ngược. Tức những việc như nhân duyên giáo hóa, làm lợi ích... mỗi việc đều có 2 khía cạnh là thuận theo và trái ngược nhau. Chẳng hạn như phương tiện giáo hóa chúng sinh của Phật, Bồtát, có thuận hóa và nghịch hóa khác nhau; lập thứ tự các pháp thì có thuận thứ, nghịch thứ; phân biệt thứ tự các pháp quán thì có thuận quán, nghịch quán; về thuận nghịch của các cảnh ngộ thì có thuận cảnh, nghịch cảnh... Ngoài ra còn có thuận tu, nghịch tu, thuận lưu, nghịch lưu, thuận duyên, nghịch duyên... [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.6; phẩm Nghịch thuận trong kinh Hoa thủ Q.8; luận Đại trí độ Q.47; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4; Ma ha chỉ quán Q.5 thượng].

thuận nghịch tung hoành

(順逆縱橫) Cũng gọi Nghịch thuận tung hoành. Xuôi ngược dọc ngang. Nghĩa là dù trong cảnh ngộ nào, thuận hay nghịch, đều được tự do tự tại, thanh thản tự nhiên, tâm không dao động. Bích nham lục tắc 1 (Đại 48, 140 thượng) nói: Dẫu cho cắt đứt các dòng, đông hiện tây ẩn, xuôi ngược dọc ngang, cho lấy tự tại.

thuận nhẫn

Endurance of obedient following—Giai đoạn thứ ba trong năm giai đoạn nhẫn nhục của Bồ Tát—Là cửa ngõ hào quang chư pháp, vì nhờ thuận nhẫn mà chúng ta chịu tuân thủ lời dạy của chư Phật—The third of the five Bodhisattva stages of endurance. Endurance is a gate of Dharma illumination; for with it we obey the Dharma of all the Buddhas.

thuận phận

Làm theo nhiệm vụ của một vị Bồ Tát—To follow out one's duty; to accord with one's calling; to carry out the line of Bodhisattva progress according to plan.

thuận quyền phương tiện kinh

(順權方便經) Phạm:Strìvivarta-vyàkaraịa-sùtra. Cũng gọi Thuận quyền phương tiện phẩm kinh, Chuyển nữ thân bồ tát kinh, Chuyển nữbồ tát sở vấn thụ quyết kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Trúc pháphộ dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Tên kinh Thuận quyền phương tiện nghĩa là thuận theo ý ưa thích của chúng sinh mà làm cho đạo tâm của họ phát khởi. Trọng tâm của kinh này là những lời đối đáp giữa đệ tử của đức Phật là ngài Tu bồ đề và một vị nữ Bồ tát Đại thừa, nội dung nói rõ pháp màu nhiệm của Đại thừa. Toàn kinh mang đậm sắc thái tư tưởng kinh Duy ma. Bản dịch khác của kinh này là kinh Nhạo anh lạc trang nghiêm phương tiện phẩm, 1 quyển, do ngài Đàm ma da xá dịch.

thuận quán

(順觀) Tức theo thứ tự thuậnmàquán xét 12 nhân duyên, 4 thánh đế, 32 tướng của Phật... gọi là Thuận quán. Trái lại, nếu quán theo thứ tự ngược thì gọi là Nghịch quán. Đức Thích tôn nhờ thuận quán, nghịch quán 12 nhân duyên mà khai ngộ. Theo sự giải thích của luận Đại tì bà sa thì Thuận quán là từ Vô minh quán đến Lão tử, cững tức là từ nhân tới quả quán theo thứ tự thuận. Còn Nghịch quán thì từ Lão tử quán đến Vô minh, tức từ quả tới nhân quán theo thứ tự ngược. Ngoài ra, quán tưởng 32 tướng của đức Phật từ đầu đến chân, gọi là Thuận quán; trái lại, quán tưởng từ chân đến đầu thì gọi là Nghịch quán. Trong Mật giáo, từ chữ A vốn chẳng sinh quán đến các pháp không có nhân, gọi là Thuận quán toàn chuyển; từ các pháp không nhân quán đến vốn chẳng sinh, gọi là Nghịch quán toàn chuyển. [X. luận Đại tì bà sa Q.23; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4; Đại nhật kinh sớ Q.7; Đại thừa nghĩa chương Q.4; Ma ha chỉ quán Q.2, thượng].

thuận tam phần thiện

(順三分善) Chỉ cho Thuận phúc phần thiện, Thuận giải thoát phần thiện và Thuận quyết trạch phần thiện. Thuận là thuận ích; Phần là bộ phận. Thuận phần là thuận ích của bộ phận pháp mà người ta giữ gìn, noi theo. 1. Thuận phúc phần thiện (Phạm: Puịya-bhàgiya): Giữ gìn 5 giới, làm 10 việc thiện, cảm được quả báo tốt đẹp ở thế gian, hoặc thiện căn hữu lậu như các đường lành trời, người... Vì 5 giới, 10 việc thiện là những điều lành có năng lực thuận ích mang lại quả báo tốt đẹp này, cho nên gọi là Thuận phúc phần thiện. 2. Thuận giải thoát phần thiện (Phạm: Mokwa-bhàgìya): Vì nhàm chán sinh tử, ưa thích Niết bàn nên tu các căn lành mà cảm được quả thiện giải thoát. Nếu các chúng sinh muốn ra khỏi 3 cõi, đoạn trừ phiền não hoặc nghiệp, chứng lí Niết bàn chân không, thì phải tu bảy phương tiện. Mà Thuận giải thoát phần thiện chính là 3 phương tiện đầu trong 7 phương tiện, cũng là Thiện của 3 bậc hiền: Ngũ đình tâm, Biệt tướng niệm trụ và Tổng tướng niệm trụ. Vì Bồ tát ở địa vị này tuy chưa hàng phục, diệt trừ được phiền não chướng và sở tri chướng, nhưng đã sinh tâm tin hiểu sâu xa đối với tính Duy thức, đồng thời tu các hạnh thù thắng tự lợi, lợi tha, cho nên gọi là Thuận giải thoát phần thiện. 3. Thuận quyết trạch phần thiện (Phạm:Nirvedha-bhàgiya): Quyết trạch là trí tuệ vô lậu thù thắng thấy lí 4 đế; tức thuận với Thánh đạo vô lậu quyết trạch mà cảm được quả của trí Kiến đạo vô lậu. Như 4 Phương tiện sau trong 7 Phương tiện chính là 4 thiện căn Noãn, Đính, Nhẫn và Thế đệ nhất pháp. Dùng 4 thiện căn này tiếp cận Kiến đạo, có thể thuận với trí quyết trạch Kiến đạo của 1 phần thắng tuệ ấy, quán xét 4 thánh đế, tu 16 hành tướng, có khả năng duyên theo vô gián của Thế đệ nhất pháp, phát sinh trí vô lậu, đây gọi là Thuận quyết trạch phần thiện. Cho nên hàng Thanh văn tu mau nhất cũng phải 3 đời mới được giải thoát; cũng tức là đời thứ nhất sinh khởi Thuận giải thoát phần, đời thứ 2 sinh khởi Thuận quyết trạch phần và đời thứ 3 mới vào Kiến đạo, cho đến được giải thoát rốt ráo.Ngoài ra, theo Câu xá luận hiệu chú thì Phần có nghĩa là phần đoạn, tức 1 phần trong các phúc, hoặc 1 phần trong các quyết trạch... Còn luận Du già sư địa quyển 3 thì hợp 3 thiện này với thiện Vô lậu mà lập thành 4 thiện. Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 13 lại chia Thuận giải thoát phần làm 4 thứ: Y bằng thuận giải thoát phần, Thắng giải thuận giải thoát phần, Ái nhạo thuận giải thoát phần và Thú chứng thuận giải thoát phần. Rồi lại chia Thuận quyết trạch phần làm 6 thứ: Tùy thuận thuận quyết trạch phần, Thắng tiến thuận quyết trạch phần, Thông đạt thuận quyết trạch phần,Dư chuyển thuận quyết trạch phần, Nhất sinh thuận quyết trạch phần và Nhất tòa thuận quyết trạch phần. [X. luận Câu xá Q.18, 22, 23; luận Đại tì bà sa Q.5-7; luận Thành duy thức Q.9; luận Thuận chính lí Q.61; luận Hiển dương thánh giáo Q.17; Câu xá luận quang kí Q.23; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần cuối; Đại thừa pháp tướng tông danh mục Q.1, 6]. (xt. Thất Hiền, Kiến Đạo).

thuận theo

See Thuận lòng.

thuận thành

(順成) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, Đồng dụ thể được dùng để hoàn thành tác dụngnêu chứng cứ cho luận chứng, gọi là Thuận thành. Nhiệm vụ của Đồng thể dụ là kiến lập 1 thứ quan hệ tương thuộc bất li giữa năng chứng và sở chứng. Như luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì nó được tạo tác mà có ra. Nếu nói cái được tạo tác ra là vô thường (Đồng dụ thể), ví như cái bình (Đồng dụ y) thì câu Âm thanh là vô thường là cái muốn được chứng minh(Sở chứng), câu Vì nó được tạo tác mà có ra là cái được dùng để chứng minh (Năng chứng). Sau câu Vì nó được tạo tác mà có ra phải có câu ...là vô thường tiếp theo sau để hoàn thành tác dụng nêu chứng cứ luận chứng, đó là thứ tự tất nhiên không thể đổi dời. Luận thức đầy đủ như sau: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì nó được tạo tác mà có ra. Dụ: Những gì do tạo tác mà có ra đều là vô thường,ví như cái bình. Như vậy, mối quan hệ giữa Những gì do tạo tác mà có ra đều là vô thường là mối quan hệ tự nhiên bất di bất dịch. Các học giả Nhân minh gọi đây là tác dụng Thuận thành. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)].

thuận thượng phần kết

Còn gọi là Ngũ Thượng Phần Kết—Also called the five ties in the higher realm—See Ngũ Thuận Thượng Phần Kết, and Ngũ Thượng Phần Kết.

thuận thảo

Concord.

thuận thế

1) Thị tịch (vị Tăng): To die. 2) Xuôi theo dòng đời—To accord with the world, its ways and customs.

thuận thế ngoại đạo

(順世外道) Phạm: Lokàyata, Lokàyatika. Hán âm: Lộ già da phái, Lô ca da đà phái, Lộ ca dạ đa phái, Lộ ca dã để ca phái. Cũng gọi Thuận thế phái. Một chi phái thuộc Bà la môn giáo ở Ấn Độ thời xưa, chủ trương thuận theo thế tục, đề xướng chủ nghĩa khoái lạc theo Duy vật luận. Phái này và phái A kìtì già đều là các học phái đại biểu cho tư tưởng tự do ở Ấn độ cổ đại. Phái này theo lập trường Duy vật luận, cho rằng 4 nguyên tố đất, nước, lửa, gió hợp lại tạo thành thân tâm con người, sau khi người ta chết, 4 nguyên tố này cũng lìa tan, năng lực của các cảm quan cũng trở về hư không, cho nên con người sau khi chết, tất cả đều trở về hư vô, linh hồn cũng chẳng tồn tại. Cho nên phái này phủ nhận tất cả ý nghĩa về luân hồi, nghiệp báo, phủ nhận việc cúng tế, bố thí, cúng dường... Về phương diện nhận thức thì phái này chủ trương Cảm giác luận, về sinh hoạt thực tiễn thì theo chủ nghĩa khoái lạc, đồng thời, phản đối chủ nghĩa tế tự vạn năng của Bà la môn và có khuynh hướng tư tưởng quỉ biện. Ngoài chủ trương cho thân tâm con người do 4 nguyên tố tạo thành, phái này còn cho rằng tất cả sinh vật, vô sinh vật trong thế gian cũng đều do 4 nguyên tố này tạo thành; 4 nguyên tố có thể được phân tích đến cực vi (đơn vị nhỏ nhất của vật chất) và ngoài cực vi ra trên thế gian không còn bất cứ vật gì khác. Đồng thời lập luận: Con người tuy có tác dụng tinh thần, nhưng đó chẳng qua cũng chỉ là cái trạng thái do sự kết hợp của vật chất mà sinh ra, không hơn không kém, cho nên mục đích cao nhất của đời người là truy cầu khoái lạc. Trong 2 thứ tà kiến đoạn, thường nói trong Phật giáo thì kiến giải của phái này thuộc về Đoạn kiến ngoại đạo. Cứ theo Thành duy thức luận diễn bí quyển 1 phần cuối thìCực vi do ngoại đạo Thuận thế chủ trương có thể được chia làm 3 loại: 1. Cực tinh hư: Chỉ cho tâm và tâm sở. 2. Thanh tịnh: Chỉ cho các căn mắt, tai, mũi, lưỡi... 3. Phi hư tịnh: Chỉ cho các pháp bên ngoài như sắc, thanh, hương, vị... ThuyếtCực vi không phải chỉ ngoại đạo Thuận thế mới có mà học phái Thắng luận trong 6 pháiTriết học cũng có thuyết này, nhưng 2 phái nói đều khác nhau. Ngoại đạo Thuận thế cho rằng ngoài cực vi ra, trên thế gian không còn bất cứ vật gì khác; còn học phái Thắng luận thì ngoài cực vi của 4 đại chủng(4 nguyên tố) ra còn lập các đế Đức, Nghiệp...Lại trong các bộ phái như Thuyết nhất thiết hữu bộ, Kinh lượng bộ... của Phật giáo Tiểu thừa cũng có thuyết Cực vi, nhưng rất khác với thuyếtCực vi của ngoại đạo Thuận thế, ngoài việc khẳng địnhcực vi ra, các bộ phái Phật giáo nói trên còn thừa nhận có tác dụng tinh thần tâm, tâm sở tồn tại. Loại chủ nghĩa khoái lạc Duy vật này đã manh nha ngay từ các thời đại Phệ đà, Phạm thư và Áo nghĩa thư ở Ấn độ thời xưa. Bấy giờ, những người tôn thờ chủ nghĩa này được gọi là tín đồ của Ca nhĩ ngoã ca (Phạm: Càrvàka). Đến nay vẫn chưa khảo chứng được vào thời gian nào ngoại đạo Thuận thế mới trở thành một dòng phái có tư tưởng lớn, chỉ biết một cách đại khái là đồng thời, hoặc trước đức Phật một chút. Có thuyết cho rằng tiếng PhạmLokàyata Càrvàka (Lộ già da ca nhĩ ngõa ca) là tên vị Giáo tổ của giáo phái này. Giáo phái này hoàn toàn không có kinh điển lưu truyền cho đời sau, ngày nay những điều có liên quan đến chủ trương tư tưởng của phái này mà ta được biết, phần lớn thấy rải rác trong kinh điển Phật giáo hoặc sách vở của các học phái khác ở đương thời. Như kinh Sa môn quả trong Trường a hàm quyển 17 có ghi A di đà sí xá khâm bà la hay như Bất lan ca diếp ghi trong luận Đại tì bà sa quyển200 đều là điển hình của ngoại đạo Thuận thế.Cứ theo Từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 4 thì khi ngài Huyền trang đến Thiên trúc, trụ ở chùa Na lan đà tại nước Ma yết đà từng có ngoại đạo Thuận thế đến tranh luận, do đó có thể biết vào thế kỷ VII phong trào tư tưởng của phái này vẫn còn thịnh. Ngoài ra, phẩm An lạc hạnh trong kinh Pháp hoa quyển 5, khi ghi chép về các loại ngoại đạo Phạm chí ni kiền tử, có nêu các tên Lộ già da đà, Nghịch lộ già da đà mà trong Pháp hoa văn cú quyển 8 hạ, ngài Trí khải có giải thích rất rõ. Nghịch lộ già da đà còn gọi là Tả thuận thế ngoại đạo, là một nhánh của ngoại đạo Thuận thế, nghĩa là từ ngoại đạo Thuận thế rơi vào Tả đạo. [X. phẩm Lô già da đà trong kinh Nhập lăng già Q.6; Đại thừa quảng bách luận thích luận Q.2, 3; luận Thành duy thức Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối; Tuệ lâm âm nghĩa Q.15].

thuận thời

Timely—At the right time—Opportune—Seasonable.

thuận thứ

1) Theo thứ tự cấp trật hay tuổi hạ trong giáo đoàn—According to order or rank, one after the other. 2) Vãng sanh về cõi Cực Lạc ngay đời kế tiếp không gián đoạn: The next life in Paradise to follow immediately after this without intervening stages.

thuận thứ sinh thụ nghiệp

(順次生受業) Phạm: Upapadya-vedanìya-karma. Pàli: Upapajja-vedanìya-kamma. Gọi tắt: Thuận sinh thụ nghiệp, Thuận thứ nghiệp, Thuận sinh nghiệp, Thuận thứ sinh thụ. Các nghiệp thiện, ác tạo tác trong đời hiện tại sẽ chịu quả báo ở đời sau, 1 trong 2 thời nghiệp, 1 trong 4 nghiệp. [X. luận Đại tì bà sa Q.114]. (xt. Tứ Nghiệp, ĐịnhNghiệp, BấtĐịnhNghiệp).

thuận thứ vãng sinh

(順次往生) Vãng sinh vào đời kế tiếp đời này, tức là sau khi đời này mệnh chung thì vãng sinh ngay về Tịnh độ cực lạc. Trong 3 nghiệp quyết định(tức Thuận hiện pháp thụ nghiệp, Thuận thứ sinh thụ nghiệp và Thuận hậu thứ thụ nghiệp)nói trong luận Câu xá quyển 15 thì Thuận thứ vãng sinh tức thuộc Thuận thứ sinh thụ nghiệp. Tức nghiệp tạo tác ở đời này thì vào đời kế tiếp chịu quả dị thục, chứ không phải đợi đến đời khác mới chịu quả báo. Tông Tịnh độ của Phật giáo Nhậtbản phần nhiều cho rằng nguyện thứ 18 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà là nguyện thuộc Thuận thứ vãng sinh, còn nguyện thứ 20 là nguyện thuộc Thuận hậu vãng sinh. (xt. Tam Quyết Định Nghiệp).

thuận tiện

Suitable—Favourable—Convenient.

thuận toàn chuyển nghịch toàn chuyển

(順旋轉逆旋轉) Một trong 8 thứ Toàn chuyển thích của Mật giáo, 1 trong 16 huyền môn. Khi quán xét về tướng chữ và nghĩa chữ của 50 chữ cái Tất đàm, hoặc quán nghĩa các chữ chân ngôn thuộc Tự luân quán thì quán thuận theo nghĩa của các chữ, gọi là Thuận toàn chuyển, Thuận quán toàn chuyển; còn quán ngược thứ tự thì gọi là Nghịch toàn chuyển, Nghịch quán toàn chuyển. Như khi quán 5 chữ (a phạ ra ha khư) thuộc Ngũ tự luân quán thì quán vì chữ A vốn chẳng sinh nên chữ Phạ là ngôn thuyết bất khả đắc(không thể nói năng), vì chữ Phạ ngôn thuyết bất khả đắc nên chữ Ra là trần cấu bất khả đắc(không có bụi nhơ); vì chữ Ra trần cấu bất khả đắc nên chữ Ha là nhân nghiệp bất khả đắc(không có nghiệp nhân); vì chữ Ha nhân nghiệp bất khả đắc nên chữ Khư là đẳng không bất không bất khả đắc(giống như hư không). Cứ như thế quán xét thuận theo thứ tựcủa 5 chữ, gọi là Thuận toàn chuyển. Trái lại, Nghịch toàn chuyển là quán chữ Khư đẳng không bất khả đắc nên chữ Ha nhân nghiệp bất khả đắc, cũng thế quán theo thứ tự ngược lên đến chữ A. [X. Đại nhật kinh sớ Q.7; Phạm tự chân ngôn thập lục huyền môn nghĩa; Hồng tự nghĩa toàn đà la ni môn nghĩa].

thuận trung luận

(順中論) Gọi đủ: Thuận trung luận nghĩa nhập đại bát nhã ba la mật kinh sơ phẩm pháp môn. Luận, 2 quyển, do ngài Long thụ (Phạm: Nàgàrjana) soạn, ngài Vô trước giải thích, ngài Bát nhã lưu chi dịch vào đời Bắc Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 30. Nội dung sách này giải thích ý nghĩa chủ yếu của Bát bất và Hí luận vốn là các vấn đề then chốt trong bộ Trung luận do Bồtát Longthụ soạn, đồng thời phá bỏ các thiên chấp Không, Hữu. [X. Trung quán luận sớ Q.1, phần đầu; Khai nguyên thích giáo lục Q.6, 12; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Pháp kinh lục Q.5; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.9].

thuận tu nghịch tu

(順修逆修) Sự tu hành xa lìa mê chấp, hướng tới chân lí, gọi là Thuận tu; trái lại, sự tu hành hướng tới mê chấp mà lìa bỏ chân lí thì gọi là Nghịch tu. Từ ngữ Nghịch tu cũng chỉ cho những người lúc còn sống dự tu trước các Phật sự cho mình để cầu phúc thầm sau khi chết, cũng gọi là Dự tu. Phong tục này rất thịnh hành ở đời Tống, Trung quốc; tại Nhật bản đến nay vẫn còn lưu truyền phổ biến. Ngoài ra, ở Nhật bản còn có việc nhận pháp danh(nghịch danh) lúc còn sống, hoặc người trẻ chết trước, người già làm Phật sự để cầu phúc thầm cho, hoặc tu Phật sự cầu phúc thầm cho người chết nói chung... đều gọi là Nghịch tu.

thuận tâm

See Thuận lòng.

thuận tình

See Thuận lòng.

Thuận Tín

(順信, Junshin, ?-1250): vị Tăng của Chơn Tông sống vào giữa thời Liêm Thương, một trong 24 đệ tử xuất sắc của Thân Loan (親鸞), húy là Tín Hải (信海), hiệu là Thuận Tín Phòng (順信房), xuất thân vùng Ibaraki-ken (茨城縣). Tương truyền vì có điềm linh nghiệm rằng vị Minh Thần của Lộc Đảo (鹿島) quy y theo Thân Loan, nên Đại Cung Ty Tín Thân (信親) mới cho con mình là Tín Quảng (信廣) xuất gia theo Thân Loan. Rồi sau đó, ông đến làm trú trì Vô Lượng Thọ Tự (無量壽寺) ở Điểu Sài (鳥梄). Sau khi Thân Loan qua đời, ông truyền xướng cao phong của thầy mình ở các địa phương phía đông, và cùng với môn đồ Cao Điền (高田) duy trì giáo đoàn. Trước tác của ông có Hạ Dã Duyên Khởi (下野緣起) 2 quyển.

thuận đạo

To confirm the doctrine.

thuật

1) Kỹ thuật: Way or method. 2) Nghệ thuật: Art. 3) Thuật lại: To relate—To tell—To recount—To narrate—Narration.

thuật bà ca

Subhakara (skt)—Một ngư dân đã bị lửa ái dục của chính mình đốt cháy rụi—A fisherman who was burnt up by his own sexual love.

thuật ngữ

Technical terms.

thuốc giải độc

Antidote.

thuốc không quý tiện, lành bịnh là thuốc hay; pháp môn không cao thấp, an lạc là pháp môn đúng

A drug is not good or bad in itself, if it can cure a disease, it is a good medicine; there are no such low-high Dharma-doors, the one which makes your life happier and more peaceful, that's the right dharma-door for you.

thuốc mạnh

Strong medicine.

thuốc tiên

Efficacious medicine.

thuốc trường sanh

Pills of immortality.

thuộc

1) Thuộc lòng: To memorize—To know by heart—To know thoroughly. 2) Thuộc về: To belong to.

thuở nay

Up to now.

thuở trước

Former times—Formerly.

thuở ấy

At that time.

thuợng phẩm hạ sanh

The lowest rank or quality of the highest stage in the Pure Land.

Thuỳ

垂; C: chuí; J: sui;|Có các nghĩa sau: 1. Treo lơ lững, rủ xuống, cúi xuống, hạ xuống, lòng thòng; 2. Chùng xuống, nhỏ từng giọt, chảy từng giọt; 3. Để lại, di tặng, ban cho; 4. Đến sát gần; kết thúc; 5. Chiếu cố; có thiện chí.

Thuỵ Nham Sư Ngạn

瑞巖師彥; C: ruìyán shīyàn; J: zuigan shigen; tk. 9; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Thiền sư Nham Ðầu Toàn Hoát.|Sư họ Hứa, quê ở Mân Việt, xuất gia từ nhỏ. Sư đến tham vấn Nham Ðầu, hỏi: »Thế nào là lí bản thường?« Nham Ðầu đáp: »Ðộng.« Sư thưa: »Khi động thế nào?« Nham Ðầu đáp: »Chẳng phải lí bản thường.« Sư trầm ngâm dây lâu. Nham Ðầu bảo: »Chấp nhận tức chưa khỏi căn trần, chẳng chấp nhận tức hằng chìm sinh tử.« Nghe câu này, Sư lĩnh hội.|Sư đến Ðan Khưu, suốt ngày ngồi trên bàn đá làm như kẻ ngu, hàng ngày tự gọi: »Ông chủ!« Rồi tự đáp: »Dạ.« Lại nói: »Tỉnh táo nhé!« Tự đáp: »Dạ.« Lại nói: »Mai kia mốt nọ đừng để người gạt!« Rồi tự đáp: »Dạ, dạ« (Vô môn quan, công án 12).|Một hôm, có bà lão đến lễ Sư. Sư bảo: »Bà về mau cứu mấy ngàn sinh mệnh.« Bà lão về đến nhà, thấy con dâu xách một giỏ ốc từ ngoài đồng mang về. Bà liền đem xuống hồ thả hết.|Không biết Sư tịch ở đâu, lúc nào.

Thuỷ

水; C: shuĭ; J: sui;|Nước, sông, biển hay đại dương. Một trong Tứ đại (四大).

Thuỷ nga

水鵝; C: shuĭé; J: suiga; |Ngỗng chúa (s: haṃsa), có khả năng rút sữa từ trong nước ra để uống.

Thuỷ thiên

水天; C: shuĭtiān; J: suiten;|Là Varuṇa trong thần thoại Ấn Độ. Là 1 vị thần lão luyện trong tín ngưỡng Vệ-đà, nhân cách hoá của Thượng đế, là đấng sáng tạo và giữ gìn vũ trụ. Sau trở thành chuá tể cuả các thần mặt trời, rồi thành thần của sông biển. Còn được dịch là Thuỷ thân (水神) và Thuỷ vương (水王). Phiên âm là Hoà luân (和輪) và Bà-lâu-na (婆樓那).

Thuỷ thần

水神; C: shuĭshén; J: suijin; S: varuṇa. |Thuỷ thiên (水天).

Thuỷ tinh

水晶(精); C: shuĭjīng; J: suishō; S: sphaṭika. |Pha lê, là một trong bảy thứ châu báu (Thất bảo 七寶).

Thuỷ vương

水王; C: shuĭwáng; J: suiō; S: varuṇa. |Thuỷ thiên (水天).

thà

Better—Rather.

Thành

城; C: chéng; J: jō;|Có 2 nghĩa: 1. Thành phố, thành trì, thành luỹ; 2. Ở Ấn Độ, là khu rừng nơi các vị tu khổ hạnh thực hành khất thực.

thành

1) Hoàn thành: Hoàn tất—To complete—To perfect—To finish. 2) Thành nội: Citadel—A walled town. 3) Thành thực: Sincere—Frank—Truthful—True—Real—Sincerity. 4) Thành trì: A defensive wall. 5) Trở thành: To become—To grow.

thành báu Chánh pháp

(Chánh pháp bảo thành): Chánh pháp do Phật thuyết dạy ví như thành quách xây dựng bằng các món báu.

thành bại

Win or lose—Success or failure.

thành bồ đề bổ quyết

(成菩提補闕) Trong pháp tu của Mật giáo, trên 5 chữ: (ía), (ĩa), (ịa), (na), (ma) đều thêm (aô, chấm am), đồng thời quán tưởng phân bố 5 chữ ấy trong tâm hành giả. Chấm aô là chấm Đại không, biểu thị ý nghĩa chứng bồ đề. Khi quán tưởng phân bố 5 chữ trên thì dùng ấn Tự luân của 3 bộ để gia trì tâm, sau đó tụng chân ngôn. Chân ngôn là: Nẵng mạc (nama#, qui mệnh) tam mãn đa (samanta, phổ biến) một đà nẫm (buddhànà, chư Phật) tam mạo đà (saôboddhà, chính giác), ám (aô, thành bồ đề chủng tử) sa phạ hạ (svàhà, thành tựu).[X. phẩm Tự luân trong kinh Đại nhật, Nhiếp đại nghi]. (xt. Không Điểm).

thành bồ đề tâm

(成菩提心) Gọi tắt: Thành bồ đề. Chỉ cho ấn minh(ấn khế và chân ngôn) mà Mật giáo sử dụng để hiển phát tâm đại bồ đề sẵn có của tất cả chúng sinh hầu giúp mình và người đều thành bồ đề. Trong Mật giáo, lúc tu pháp, hành giả kết tụng các loại ấn minh như Triệu tội, Tồi tội, Trừ nghiệp chướng... có năng lực diệt trừ các tội chướng, làm cho thân tâm thanh tịnh thì mới có thể thành tựu bồ đề. Lại vì kết tụng các loại ấn ngôn này là chỗ rốt ráo của việc tự chứng thành bồ đề nên gọi là Thành bồ đề tâm. Ấn minh này và Ngũ tướng thành thân quán có sự quan hệ hỗ tương, nương tựa lẫn nhau, thành tựu cho nhau. Nói theo không gian thì Thành bồ đề tâm là tự chứng quả vị viên cực (viên mãn cùng tột), công đức đầy đủ của quả vị này được chia làm 5 tướng; còn nói theo thời gian thì y cứ vào thứ tự tu hiển mà thành tựu Ngũ tướng thành thân (Thông đạt bồ đề tâm, Tu bồ đề tâm, Thành kim cương tâm, Chứng kim cương thân, Phật thân viên mãn). Ấn khế này là ấn Liên hoa tam muội da, tức chắp 2 tay để ở giữa rỗng(là một trong các ấn mẫu của Thủ ấn), 2 ngón cái, 2 ngón út chấm đầu vào nhau dựng đứng. Kinh Giáo vương (bản 30 quyển) gọi ấn này là Đại minh ấn, Nguyệt quang ấn. Ấn này cũng là ấn Bát diệp liên hoa, tức 2 ngón trỏ, 2 ngón giữa, 2 ngón vô danh mở ra thẳng đứng, giống như 6 cánh hoa, còn 2 ngón cái và 2 ngón út sáp đầu vào nhau dựng đứng, giống như 2 cánh hoa. Cả 8 cánh hoa này đều tượng trưng cho 8 cánh sen tâm nở rộ. Dùng ấn này đặt ở bên trái đỉnh đầu, vì phía trái tượng trưng cho trí kim cương nên dùng lí ấn hoa sen để gia trì, biểu thị hiển phát trí của tâm bồ đề sẵn có. Chân ngôn là: Án (oô, qui mệnh) chiến nại lô đa lê (candrottare, nguyệt thượng) tam mạn đa bà nại la (samantabhadra, Phổ hiền) chỉ la ni (kèsani, chư tác) ma ha phạ nhật lí ni (mahàvajriịi, như đại kim cương) hồng (hùô, ngã). Đại ý là Tôi nguyện cùng các hữu tình đồng thành Phổ hiền trên vầng trăng, như Đại kim cương. [X. kinh Giáo vương Q.thượng (bản2 quyển); Kim cương tam mật sao Q.1; Chư nghi quĩ bẩm thừa lục Q.6, 13].

thành ca tỳ la vệ

See Kapilavastu in Pali/Sanskrit Section.

Thành Chiếu Tự

(誠照寺, Jōshō-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Thành Chiếu Tự (誠照寺派) thuộc Chơn Tông, hiện tọa lạc tại số 3-2 Hon-chō (本町), Sabae-shi (鯖江市), Fukui-ken (福井縣), hiệu là Thượng Dã Sơn (上野山), thường được gọi là Chinh Giang Bản Sơn (鯖江本山), là một trong 4 ngôi chùa Tổ trung tâm ở vùng Việt Tiền (越前, Echizen). Tượng thờ chính của chùa là A Di Đà Như Lai. Phái Thành Chiếu Tự là một trong 10 phái lớn của Chơn Tông. Khi Thân Loan bị lưu đày đến vùng Việt Tiền, thể theo lời thỉnh cầu của vị hào tộc vùng này, ông thăng tòa thuyết pháp, nên người ta dựng cho ông một ngôi nhà trú ngụ tại đây. Từ đó, Đạo Tánh (道性) cùng với con là Như Giác (如覺) mới thành lập Chơn Chiếu Tự (眞照寺), và đến năm 1438 (Vĩnh Hưởng [永享] 10) thì chùa nhận được sắc phong của Hậu Hoa Viên Thiên Hoàng (後花園天皇, Gohanazono Tennō) với tên gọi cũng như hiệu chùa như hiện tại. Cũng có thuyết cho rằng Như Giác thành lập chúng môn đồ Sabae, rồi dựng nên chùa này. Vào năm 1583 (Thiên Chánh [天正] 11), trong vụ binh hỏa do Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) gây ra, chùa bị thiêu cháy tan tành, nhưng sau đó vị Tổ thứ đời thứ 14 và 15 của chùa là Tú Sơn (秀山), Tú Thành (秀誠) đã phục hưng lại được. Quần thể kiến trúc hiện tại được tái kiến vào năm 1877 (Minh Trị [明治] 10). Đến thời đại Giang Hộ, chùa phụ thuộc vào sự quản lý của Nhật Quang Luân Vương Tự (日光輪王寺), rồi đến thời Minh Trị thì bị lệ thuộc Thiên Thai Tông; nhưng sau đó chùa tách riêng ra và thành lập Phái Thành Chiếu Tự cho đến ngày nay.

thành chánh giác

See Thành Chánh Quả.

thành chánh quả

Thành chánh giác—To attain to perfect enlightenment—To become Buddha.

thành cát tư hãn

(成吉思汗) Chinggi Khan (1167-1227). Thủy tổ của đế quốc Mông cổ, miếu hiệu là Thái tổ, vốn tên là Thiết mộc chân (Temümjin). Vào đầu thế kỉXIII, ông thống nhất các bộ lạc Mông cổ, rồi đem quân đi đánh các nước phía tây, bản đồ trải khắp vùng Trung á đến tận phía nam nước Nga. Theo suy đoán thì trước Thành cát tư hãn, người Mông cổ và các dân tộc chung quanh, phần lớn tôn thờ Tát mãn giáo, sùng bái quỉ linh. Lúc Thành cát tư hãn đang cầm quyền chính thì ngoài Tát mãn giáo, dường như còn có một số tín đồ Thiên chúa giáo và Hồi giáo. Về việc trước đời Nguyên, người Mông cổ đã tiếp nhận Lạt ma giáo hay chưa thì không có một luận thuyết nhất định nào, nhưng điều chắc chắn là sau khi chinh phục toàn cõi Tây tạng thì hẳn nhiên Thành cát tư hãn đã có tiếp xúc với Lạt ma giáo. Theo truyền thuyết, ông đặc biệt tôn sùng ngài Khổng ca ninh bảo (1092-1158) thuộc đời thứ 2 của phái Tát ca, Tây tạng, đồng thời cúng dường Tam bảo. Có thuyết cho rằng điều đó mang ý đồ chính trị, tuy nhiên, nó cũng cho thấy sự quan tâm mật thiết của ông đối với Lạt ma giáo. [X. Thái tổ kỉ trong Nguyên sử Q.1; Tự kỉ trong Tân nguyên sử Q.1; Thái tổ kỉ Q.2- 3; Turkestan down to the Mongol Invasion, 1928, by W.Barthold].

thành công

Success

thành công trong sự cám dỗ

To succeed in tempting.

thành danh

To become famous.

thành duy thức bảo sinh luận

(成唯識寶生論) Cũng gọi Nhị thập duy thức thuận thích luận, Nhị thập duy thức tụng thích luận, Duy thức đạo luận. Tác phẩm, 5 quyển, do ngài Hộ pháp soạn, ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 31. Đây là sách chú thích bộ luận Nhị thập duy thức của ngài Thế thân. Ở Ấn độ có rất nhiều sách chú thích bộ luận Nhị thập duy thức, nhưng ở Trung quốc thì chỉ có bản chú thích này của ngài Thành Cát Tư Hãn - Hộ pháp là được truyền dịch. Trong đó, phần kệ tụng Nhị thập duy thức phần nhiều ngài Nghĩa tịnh đã noi theo Duy thức nhị thập luận do ngài Huyền trang dịch. Trong Duy thức nhị thập luận thuật kí do ngài Khuy cơ soạn cũng có nhiều chỗ giống với sách này. [X. Duy thức nhị thập luận thuật kí Q.thượng].

Thành duy thức luận

成唯識論; S: vijñāptimātratāsiddhi; |Huyền Trang

thành duy thức luận

Vijnaptimatrata-siddhi-sastra (skt)—Pháp Tướng Tông mặc dù là Duy Thức, nhưng lại khác với Nhiếp Luận Tông vốn chỉ là Duy Thức tượng trưng, và sau đó được Pháp Tướng thay thế tại Trung Hoa. Các nhà Duy Thức của Pháp Tướng tông nhìn nhận là truyền thừa về hệ thống chánh thống của ngài Thế Thân, nhưng trên thực tế quả là khó cả quyết. Tam Thập Tụng Duy Thức, bản luận căn bản của tông Pháp Tướng, gồm 30 bài luận được ngài Thế Thân Bồ Tát biên soạn và ngài Huyền Trang đời Đường biên tập gộp lại còn 10 quyển—The Dharmalaksana school, though idealistic, is different from the Samparigraha school, which was representative idealism and was later replaced by the Dharmalaksana (Fa-Hsiang) School in China. The Dharmalaksana idealists profess to have transmitted the orthodox system of Vasubandhu, but in reality this is rather uncertain. Vasubandhu's Trimsika was annotated by ten authorities of whom Hsuan-Tsang and his pupil Ki followed chiefly the opinions of Dharmapala of Nalanda. The Vijnaptimatrata-siddhi-sastra, which is the fundamental treatise of the Dharmalaksana School, was composed by Vasubandhu in 30 books and Hsuan-Tsang during the T'ang dynasty reduced to 10 books. ; (成唯識論) Phạm:Vijĩaptimàtratàsidhi-zàstra. Cũng gọi Duy thức luận, Tịnh duy thức luận.Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Hộ pháp soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường được thu vào Đại chính tạng tập 31. Đây là sách chú thích bộ Duy thức tam thập luận tụng, là 1 trong các sách y cứ trọng yếu của tông Pháp tướng. Khoảng năm 450 Tây lịch, ngài Thế thân soạn Duy thức tam thập luận tụng. Đến khoảng năm 557, 10 vị Đại luận sư Duy thức trong đó ngài Hộ pháp (Phạm: Dharmapàla) là chính, mỗi vị đều chú thích Duy thức tam thập luận tụng thành 10 quyển, cộng chung là 100 quyển. Đến năm Hiển khánh thứ 4 (659), khi ngài Huyền trang phiên dịch Duy thức tam thập luận tụng, theo chủ trương của đệ tử là Khuy cơ, lấy quan điểm của ngài Hộ pháp làm chính, phiên dịch tổng hợp học thuyết của 10 vị Luận sư mà tập thành bộThành duy thức luận này. Nội dung luận này cho rằng thức A lại da là chỗ nương tựa căn bản của sự tồn tại của con người, trong thức A lại da có chứa đựng các chủng tử(hạt giống), do duyên khởi mà hình thành hiện tại, đồng thời lại tạo tác vị lai, do đó triển khai tất cả vũ trụ, chủ trương quán muôn pháp do tâm biến hiện để thể chứng chân lí của các pháp. Nay lược thuật về nội dung ấy như sau:1. Từ quyển 1 đến đoạn trước của quyển 2 là giải thích các bài tụng Do giả nói ngã pháp nhằm bác bỏ sự chấp trước của ngoại đạo và Tiểu thừa cho ngã và pháp là có thật. 2. Từ giữa quyển 2 đến giữa quyển 4 giải thích các bài tụng Sơ A lại gia thức, nói rõ về tướng của thức A lại da. 3. Từ giữa quyển 4 đến giữa quyển 5 giải thích các bài tụng Kế, năng biến thứ 2, nói rõ về tướng của thức Mạt na. 4. Từ giữa quyển 5 đến quyển 7 giải thích các bài tụng Kế, năng biến thứ 3, tâm sở biến hành này, nương nơi thức căn bản, lần lượt nói rõ về tướng năng biến của 6 thức, tâm sở tương ứng của 6 thức, phần vị hiện khởi của các thức... 5. Từ giữa quyển 7 đến giữa quyển 8 giải thích các bài tụng Các thức này chuyển biến, do thức Nhất thiết chủng, do tập khí các nghiệp, lần lượt nói rõ về ý nghĩa tất cả duy thức, về nhân quả của các thức chuyển biến, về lí sinh tử tương tục...6. Từ giữa đến cuối quyển 8 các bài tụng Do các biến kế ấy, nói rõ nghĩa của 3 tính: Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực. 7. Quyển 9, giải thích các bài tụng Tức nương ba tính này, nói rõ về ý nghĩa của 3 vô tính. 8. Quyển 10, giải thích các bài tụng Cho đến chưa khởi thức, nói rõ về tướng của 5 vị. Năm vị tức là thứ tự ngộ nhập tính, tướng Duy thức. Trong nội dung luận này có nhiều chỗ dẫn dụng học thuyết của các vị Luận sư khác thuộc Du già hành phái như Nan đà, Trần na... Các học giả thời cận đại đem sách chú thích Duy thức tam thập luận tụng của ngài An tuệ, 1 trong 10 vị Đại luận sư, so sánh với luận Thành duy thức thì thấy ngoài một phần nhỏ khác nhau, còn chỉ thú thì phần lớn rất giống nhau. Ngoài ra, luận này thường nói đến thuyết Tứ phần (Tướng phần, Kiến phần, Tự chứng phần, Chứng tự chứng phần), nhưng trong các tác phẩm khác của ngài Hộ pháp lại không thấy đề cập đến. Do đó, các học giả cho rằng luận Thành duy thức chưa hẳn đã lấy học thuyết của ngài Hộ pháp làm tiêu chuẩn cơ bản. Hơn nữa, trong luận, chỗ nào cũng thấy phản ánh sự tâm đắc của ngài Huyền trang khi ngài du học Ấn độ, vì thế luận này không phải chỉ là sách dịch thuần túy, mà cũng có thể được xem là tác phẩm soạn thuật của ngài Huyền trang. Luận Thành duy thức không những chỉ là bộ luận y cứ của tông Pháp tướng, mà còn là sách cần thiết cho các nhà nghiên cứu Phật giáo. Luận này có rất nhiều sách chú thích như: Thành duy thức luận thuật kí 20 quyển, Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu 4 quyển và Thành duy thức luận biệt sao 10 quyển, do ngài Khuy cơ soạn; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng 13 quyển, do ngài Tuệ chiểu soạn; Thành duy thức luận diễn bí 14 quyển, do ngài Trí chu soạn... [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.12; Duyệt trạng tri tân Q.39; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3; Ấn độ triết học nghiên cứu Q.5 (Vũ tỉnh Bá thọ); Duy thức học điển tịch (Kết thành Linh văn)].

thành duy thức luận chưởng trung xu yếu

(成唯識論掌中樞要) Gọi tắt: Thành duy thức luận xu yếu, Duy thức luận xu yếu, Duy thức xu yếu, Xu yếu. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Khuy cơ soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 34. Đây là 1 trong 3 bộ chú sớ về Duy thức. Bộ luận sớ này cùng với Thành duy thức luận diễn bí (Trí chu) và Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng (Tuệ chiểu) được gọi chung là Duy thức tam sớ, hoặcDuy thức tam cá sớ. Nội dung sách này, trước hết, trình bày về các nhân duyên như: Sự thành lập truyền nhập, phiên dịch... của luận Thành duy thức, kế đến, giải thích đề mục của luận này và căn cơ được giáo hóa, sau cùng là giải thích chính văn. Trong phần này, những chỗ nào chưa được Thành duy thức luận thuật kí giải thích tường tận thì sách này giải thích lạichorõ ràng hơn, đặc biệt đối với những vấn đề trọng yếu như khoa đoạn trong Duy thức tam thập tụng, nghĩa 5 chủng tính, 3 loại cảnh... đều được giải thích một cách rộng rãi. Trong sách nhiều chỗ có nêu các từ ngữ như như sớ hoặc như Duy thức chương thuyết..., dựa vào đó ta có thể biết sách này dường như hoàn thành sau Thành duy thức luận thuật kí và Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương. Tuy nhiên, trong Thuật kí lại cũng có các từ ngữ như như Xu yếu thuyết hoặc như Biệt chương... Như vậy, cứ đó mà suy thì biết sách này và Thuật kí phải là đồng thời hoàn thành. Về sách chú thích thì có: Thành duy thức luận xu yếu kí 2 quyển, do ngài Trí chu soạn vào đời Đường; Thành duy thức luận xu yếu kí 2 quyển, do ngài Cảnh hưng soạn vào đời Đường. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3; Chư tông chương sớ lục Q.1].

thành duy thức luận diễn bí

(成唯識論演秘) Gọi tắt: Duy thức diễn bí, Diễn bí. Tác phẩm, 7 quyển, hoặc 10 quyển, do ngài Trí chu soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 43. Đây là sách chú thích luận Thành duy thức và Thành duy thức luận thuật kí, là 1 trong 3 bộ sớ về Duy thức. Soạn giả là Tổ thứ 3 của tông Pháp tướng, Trung quốc. Trong sách xiển dương thâm nghĩa của pháp tướng, phát huy ý chỉ sâu xa của Luận, Thuật kí, lời văn dễ hiểu, là bộ sách cần thiết cho những người mới học.

thành duy thức luận học kí

(成唯識論學記) Tác phẩm, 8 quyển, do ngài Thái hiền, vị tăng nước Tân la sống vào đời Đường biên tập, được thu vào Vạn tục tạngtập 80. Đây là sách chú thích bộ luận Thành duy thức do ngài Huyền trang dịch. Nội dung chia làm 3 môn: 1. Hiển tông xuất thể môn: Tường thuật lại cuộc tranh luận về Không, Hữu giữa 2 Luận sư Hộ pháp và Thanh biện, lấy 3 thứ Cảnh, Hành, Quả của Duy thức trung đạo do ngài Hộ pháp trình bày làm tông chỉ của luận Thành duy thức, đồng thời bàn về Xuất thể. 2. Đề danh phân biệt môn: Nói rõ về tên sách, người tạo luận... 3. Giải thích văn nghĩa môn: Lần lượt chú thích các phần như: Giáo khởi nhân duyên phần, Thánh giáo chính thuyết phần, Kết danh hồi thí phần... Ở đầu quyển sách này có ghi hàng chữ Bồ tát tạng A tì đạt ma cổ tích kí quyển 3, phần đầu, do đó mà suy đoán có lẽ sách này là 1 phần của Cổ tích kí.

thành duy thức luận liễu nghĩa đăng

(成唯識論了義燈) Gọi tắt: Duy thức luận nghĩa đăng, Duy thức liễu nghĩa đăng, Liễu nghĩa đăng, Nghĩa đăng. Tác phẩm, 13 quyển, hoặc 7 quyển, do ngài Tuệchiểusoạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 43, là 1 trong 3 bộ sớ của Duy thức. Sách này bác bỏ các dị thuyết khi giải thích luận Thành duy thức, đồng thời trình bày rõ nghĩa chân chính của nguyên tác. Soạn giả là Tổ thứ 2 của tông Pháp tướng, Trung quốc, trong sách phỏng theo học thuyết của ngài Khuy cơ mà chê trách dị nghĩa của các ngài Viên trắc, Viên nghĩa, Phổ quang, Tuệ quán..., phê bình phản bác từng dị thuyết của các nhà, bao gồm các danh mục: Tây minh vân, Yếu tập vân, Hữu thuyết, Hữu thích, Hữu nhân vân, Hữu giải, Hữu vân, Vị tường quyết... Trong đó, Hữu thuyết là chỉ cho thuyết của ngài Khuy cơ, Hữu thích chỉ cho thuyết của ngài Viên trắc, Hữu nhân vân chỉ cho thuyết của ngài Phổ quang, Hữu giải chỉ cho thuyết của ngài Tuệ quán, Hữu vân chỉ cho thuyết của ngài Huyền phạm và Vị tường quyết là chỉ cho thuyết của Nghĩa tịch. Từ xưa đến nay, sách này là sách khó hiểu nhất trong các bộ chú sớ luận Thành duy thức.

thành duy thức luận nghĩa uẩn

(成唯識論義蘊) Cũng gọi Thành duy thức luận uẩn, Thành duy thức luận thuật kí nghĩa uẩn kí, Thành duy thức luận thuật kí nghĩa uẩn, Thành duy thức luận sớ nghĩa uẩn, Duy thức nghĩa uẩn. Tác phẩm, 5 quyển, hoặc 10 quyển, do ngài Đạo ấp soạn vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 78. Đây là sách chú sớ bộ Thành duy thức luận thuật kí do ngài Khuy cơ soạn, nội dung trích lấy những câu văn quan trọng trong thuật kí từ quyển 1 đến quyển 9 rồi chú thích.

thành duy thức luận quán tâm pháp yếu

(成唯識論觀心法要) Cũng gọi Duy thức tâm yếu. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Trí húc (1599-1655) soạn vào đời Minh, thu vào Vạn tục tạng tập 82. Đây là sách chú thích rộng về luận Thành duy thứcVào giữa đời Đường, tông Pháp tướng đã dần dần suy, ngài Trí húc y cứ vào Duy thức khai mông vấn đáp 2 quyển của ngài Vân phong nghiên cứu một cách khái quát về nghĩa Duy thức, đồng thời viện dẫn Đại sớ sao, Tông kính lục..., lại tham khảo thêm các luận Du già, Hiển dương, rồi căn cứ vào các sách chú thích như Tập giải, Chứng nghĩa, Âm nghĩa, Hợp hưởng... được soạn vào đời Minh mà soạn thành sách này. Mục đích toàn sách là xác lập đạo lí Duy thức quán, vì thế mới lấy tên là Quán tâm pháp yếu. Nội dung sách này trước hết nói về duyên khởi và nêu phàm lệ, kế đến là trình bày về tên luận, người làm kệ tụng, người soạn luận, người phiên dịch, sau cùng là lần lượt giải thích bản tụng và trường hàng, cuối sách có lời bạt.

thành duy thức luận thuật kí

(成唯識論述記) Cũng gọi Thành duy thức luận sớ, Duy thức luận thuật kí, Duy thức thuật kí, Thuật kí. Tác phẩm, 10 quyển, hoặc 20 quyển, do ngài Khuy cơ (632-682) soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 43. Đây là sách chú thích luận Thành duy thức. Soạn giả là Sơ tổ của tông Pháp tướng, Trung quốc. Trong sách dùng Luận lí học (Nhân minh) của Phật giáo để phê bình, phản bác Tiểu thừa, ngoại đạo, đồng thời thuyết minh vạn pháp do thức A lại da hiển hiện, dùng thức này để tổ chức nền giáo học Phật giáo. Từ khi xuất hiện về sau, sách này đã trở thành Thánh điển căn bản của Duy thức học ở Trung quốc, đồng thời, tại Nhật bản sách này cũng rất được xem trọng và là yếu điển của tông Pháp tướng và các tông khác. Nội dung sách được chia làm 5 môn: 1. Giáo thời cơ: Chia làm 2 thứ là Thuyết giáo thời hội và Giáo sở bị cơ. 2. Luận tông thể: Lấy Duy thức làm tông và chủ trương thể của Duy thức có 4 lớp.3. Tạng thừa sở nhiếp: Luận Thành duy thức thuộc pháp Nhất thừa và trong 3 tạng thuộc tạng Bồ tát. 4. Thuyết giáo niên chủ: Dùng bài tựa luận Câu xá của ngài Tuệ khải để bàn về niên đại ngài Thế thân và 10 vị đại Luận sư. 5. Bản văn phán thích: Tức theo chính văn mà giải thích ý nghĩa. Về sách chú thích tác phẩm này thì có: Thành duy thức luận nghĩa uẩn 5 quyển của ngài Đạo ấp, Thành duy thức luận nghĩa sớ diễn 26 quyển của ngài Như lí, Thành duy thức luận nghĩa sớ sao 18 quyển của ngài Linh phong... Sách này còn có bản lưu hành đơn gồm 26 quyển. Vì từ đời Nguyên về sau, sách này bị thất truyền, nên sau khi ông Dương văn hội cuối đời Thanh tìm được sách này ở Nhật bản, liền kêu gọi tăng tục góp sức khắc bản in để lưu hành.

thành duy thức luận tuỳ chú

(成唯識論隨注) Cũng gọi Thành duy thức luận tùy sớ. Tác phẩm, 10 quyển, nguyên tác của Đại sư Cao nguyên đời Minh. Có tỉ khưu Minh thiện theo học ngài Cao nguyên, có lần trong pháp hội, Minh thiện xin phép được chú thích theo văn sớ, ngài Cao nguyên chấp thuận, nhưng khi ngài Minh thiện soạn đến quyển thứ 7 thì qua đời, đệ tử nối pháp là Tuệ thiện tiếp tục hoàn thành.Sau khi cha con ông Ngô thuần trai khắc bản lưu hành thì Cung định am cũng từngtu bổ ấn hành. Vu lâm Tiền y am nhân bộ sớ này mà soạn Duy thức tùy sớ dực 2 quyển.

thành gia thất

To get married—To marry.

Thành Hoàng

(城隍): có hai nghĩa khác nhau. (1) Đường hào bảo vệ chung quanh thành quách. Từ Thành Hoàng được tìm thấy đầu tiên trong thư tịch Dịch Kinh (易經), phần Thái Quái (泰卦): “Thành phục ư hoàng (城復於隍, thành lại ở trong hào).” Thuyết Văn Giải Tự (說文解字) giải thích rằng: “Thành, dĩ thạnh dân chi (城、以盛民也, thành trì để bảo vệ dân)” và “Hoàng, thành trì dã (隍、城池也, hoàng là cái hào bảo vệ thành)”, hay “vô thủy viết hoàng (無水曰隍, nơi không có nước gọi là hoàng).” Như vậy, theo nghĩa xa xưa, từ thành hoàng là con sông, cái hào bảo vệ thành quách. Nhân đó, Ban Cố có đoạn văn rằng: “Tu cung thất, tuấn thành hoàng (修宮室、浚城隍, sửa cung thất, đào hào thành).” (2) Tên gọi của vị thần bảo vệ thành trì hay quốc gia, hộ trì dân chúng. Với tư cách là vị thần, từ Thành Hoàng được tìm thấy đầu tiên trong Bắc Tề Thư (北齊書), Truyện Mộ Dung Nghiễm (慕容儼傳): “Thành trung tiên hữu thần từ nhất sở, tục hiệu Thành Hoàng Thần, công tư mỗi hữu kỳ đảo (城中先有神祠一所、俗號城隍神、公私每有祈禱, trong thành có một chỗ thờ thần, thế gian thường gọi là Thần Thành Hoàng, công tư mỗi người đều có cầu nguyện).” Sau thời Tùy Đường (隋唐, 581-907), việc sùng bái Thành Hoàng bắt đầu lưu hành rộng rãi. Trong điều Tuyên Châu Ty Hộ (宣州司戶) của Thái Bình Quảng Ký (太平廣記) gọi Thành Hoàng là úy quỷ (畏鬼, quỷ sợ), cho nên nhận xét rằng: “Mỗi châu huyện tất hữu Thần Thành Hoàng (每州縣必有城隍神, mỗi châu huyện đều có Thần Thành Hoàng).” Đến thời Ngũ Đại (五代, 907-960), Thần Thành Hoàng đã được sắc phong. Tỷ dụ như Thần Thành Hoàng ở Hàng Châu (杭州) được phong là Thuận Nghĩa Bảo Ninh Vương (順義保寧王), ở Hồ Châu (湖州) là Phụ Tục An Thành Vương (阜俗安城王), ở Mông Châu (蒙州) là Linh Cảm Vương (靈感王), v.v. Dưới thời nhà Tống (宋, 960-1127), việc sùng bái Thành Hoàng trở thành tế điển quốc gia. Như trong Tân Thối Lục (賓退錄) của Triệu Dữ Thời (趙與時, ?-?) có đoạn rằng: “Kim kỳ tự cơ biến thiên hạ, triều gia hoặc tứ miếu ngạch, hoặc ban phong tước, vị danh giả hoặc tập lân quận chi xưng, hoặc thừa lưu tục sở truyền, quận dị nhi huyện bất đồng (今其祀幾遍天下、朝家或賜廟額、或頒封爵、未名者或襲鄰郡之稱、或承流俗所傳、郡異而縣不同, ngày nay việc cúng tế Thành Hoàng cùng khắp thiên hạ, triều đình hoặc ban ngạch cho miếu vũ, hay ban phong tước; nơi nào chưa có tên thì hoặc lấy theo tên gọi của quận lân bang, hay theo truyền thuyết lưu truyền ngoài đời, quận khác mà huyện chẳng giống).” Kế thừa nhà Tống đến thời nhà Nguyên (元, 1206-1368), khắp nơi từ trong triều nội cho đến ngoài dân dã đều có thiết lập miếu thời Thần Thành Hoàng; vị thần ở kinh đô được tôn xưng là Hựu Thánh Vương (佑聖王). Đến thời nhà Minh (明, 1368-1662), tín ngưỡng sùng bái Thành Hoàng trở nên cực thịnh. Vào năm thứ 2 (1369) niên hiệu Hồng Võ (洪武), vua Minh Thái Tổ (明太祖, tại vị 1368-1398), phong cho Thành Hoàng ở kinh đô là Thừa Thiên Giám Quốc Ty Dân Thăng Phước Minh Linh Vương (承天鑒國司民升福明靈王), phong cho Thành Hoàng ở Khai Phong (開封), Lâm Hào (臨濠), Thái Bình (太平), Hòa Châu (和州), Trừ Châu (滁州) là Chánh Nhất Phẩm (正一品); cho Thành Hoàng ở các phủ khác là Chánh Nhị Phẩm (正二品); cho Thành Hoàng ở các châu là Chánh Tam Phẩm (正三品); cho Thành Hoàng ở các huyện là Hiển Hựu Bá (顯佑伯), Tứ Phẩm (四品). Chức trách của Thần Thành Hoàng chủ yếu bảo hộ bá tánh trong thành được an toàn, sức khỏe, cũng như giám sát công lao các quan viên trên cõi thế, thay Trời trị ác trừ hung, hộ trì quốc gia, phán quyết việc sống chết, ban việc phước thọ cho con người. Trong phần Quần Tự Khảo (群祀考) của tác phẩm Tục Văn Hiến Thông Khảo (續文獻通考) có dẫn lời của Minh Thái Tổ rằng: “Trẫm thiết Kinh Sư Thành Hoàng, tỷ thống các Phủ Châu Huyện chi thần, dĩ giám sát dân chi thiện ác nhi họa phước chi (朕設京師城隍、俾統各府州縣之神、以鑒察民之善惡而禍福之, Trẫm thiết lập Thần Thành Hoàng ở kinh đô để thống lãnh chư vị thần ở các Phủ Châu Huyện, để giám sát việc tốt xấu của muôn dân mà ban cho họa phước).” Về việc cúng tế Thần Thành Hoàng, theo Chư Thần Thánh Đản Nhật Ngọc Hạp Ký (諸神聖誕日玉匣記), nhà Minh quy định ngày 11 tháng 5 Âm Lịch là ngày đản sinh của Thành Hoàng. Tuy nhiên, do vì Thành Hoàng ở các địa phương có công với người dân, nên ngày đản sinh cũng có khác nhau. Tại Việt Nam, tín ngưỡng Thành Hoàng cũng đã thịnh hành từ xa xưa. Giống như Táo Công và Thổ Công, Thành Hoàng cai quản và quyết định họa phúc của một làng và thường được thờ ở đình làng. Sau khi du nhập vào làng xã Việt Nam, tục thờ Thành Hoàng đã nhanh chóng bám rễ vào trong tâm thức người nông dân Việt, trở nên hết sức đa dạng, thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn.” Ngài là vị thần tối linh, có thể bao quát, chứng kiến toàn bộ đời sống của dân làng, bảo vệ, phù hộ cho dân làng làm ăn phát đạt, khoẻ mạnh. Thành Hoàng có thể là nam thần hay nữ thần, tùy theo sự tích mỗi vùng. Ngài có thể là một vị thần như Phù Đổng Thiên Vương, thần núi như Tản Viên Sơn Thần, thần có công với dân với nước như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Yết Kiêu, Dã Tượng, v.v. Hay có khi là các yêu thần, tà thần, v.v., với nhiều sự tích hết sức lạ lùng, nhiều khi có vẻ vô lý. Tuy nhiên, có khi Thành Hoàng chỉ là một người dân mà theo quan niệm, là người được các vị thần ban cho sứ mệnh để sau này thay họ cai quản làng xã, được gọi là Thành Hoàng sống. Truyền thống tín ngưỡng, cúng tế Thành Hoàng đã thật sự bám sâu vào gốc rễ tâm linh, văn hóa của người dân Việt, như trong tập truyện ngắn Cái Ve của Khái Hưng (1896-1947) có câu chuyện Tế Thành Hoàng: “Người ta đồn ông Thành Hoàng làng Tiền thiêng lắm. Mỗi lần rước Ngài là một lần vất vả khổ sở cho dân Ngài: nào Ngài bay, nào Ngài lùi, nào Ngài quay, có khi Ngài lại đứng ỳ ra nữa. Các quan viên tha hồ xuýt xoa van lạy, khấn khứa ngài đủ các câu, Ngài vẫn làm ngơ như không nghe thấy gì hết. Những lúc ấy nếu không đốt một tràng pháo thật dài để mừng Ngài, thì khó lòng Ngài chịu đi cho. Thế mà năm nào ra giêng vào đám, vẫn hai lượt dân làng Tiền phải rước Ngài, một lượt từ miếu ra đình để ngài chứng kiến việc hội họp ăn uống, và một lượt từ đình trở về miếu để Ngài an nghỉ. Khó khăn nhất, mệt nhọc nhất cho bọn khiêng kiệu là quãng đường qua đình Tràng. Ngài nô giỡn, Ngài chạy cuồng, Ngài nhảy cẫng như vui thích khoái trá về một điều gì. Người ta nói vì đức Thánh Đình Tràng là một vị nữ thần mà Ngài nghịch ngợm thích trêu ghẹo chơi. Dân làng Tiền cũng không ai phàn nàn về cái thiêng của Ngài. Trái lại, người ta còn lấy làm hãnh diện được thờ một vị thần mà khắp vùng đều kinh sợ. Không phải sợ bóng sợ vía, nhưng sợ những sự tác oai hiển hiện trước mắt. Một lần, một đứa trẻ chăn trâu trèo lên cây muỗm trước miếu, đã bị Ngài quật ngã chết tươi. Lại một lần một con bé bế em đi xem rước giơ tay chỉ trỏ kiệu Ngài, bị Ngài hành cho một trận ốm thập tử nhất sinh…”

thành hoàng

(城隍) Chỉ cho vị quan Tư pháp địa phương trong cõi Thần linh theo truyền thuyết nhân gian, không phải loại thần kì được thờ phụng trong Phật giáo. Tục cho rằng người quân tử có lòng nhân từ sau khi chết thì có thể trở thành vị thần này. Vào các dịp cúng tế, vị thần này đi tuần tra toàn phạm vi dưới quyền quản trị của mình, phía trước có 2 vị tướng quân là Tạ tất an(Thất gia) và Phạm vô cứu(Bát gia) đi mở đường. Danh từ Thành hoàng này có xuất xứ từ câu Thành phục vuhoàng, vật dụng sư trong sách Chu dịch, lúc đầu chỉ cho công sự phòng ngự để bảo vệ thành thị. Đến đời Tam quốc, dân gian mới bắt đầu xây miếu, đắp tượng phụng thờ, đến đời Đường thì phong tục này khá phổ biến. Đến đời Minh, vua Thái tổ lại xét các Thành hoàng ở kinh đô, phủ, châu, huyện, rồi theo thứ tự tấn phong các tước vị: Vương, Công, Hầu, Bá... Đến đời Thanh thì việc cúng tế Thành hoàng được đưa vào Tế điển. Các quan mới đến nhậm chức đều được đưa đến làm lễ ra mắt Thành hoàng trước, sau đó mới bắt đầu thi hành nhiệm vụ. Cứ theo Đài loan tỉnh thông chí lễ tục thiên, triều đình nhà Thanh xem Đài loan như một khu khó cai trị, nên khi vừa đưa vào bản đồ liền xây miều thờ Thành hoàng ở các phủ trị, mượn Thần đạo để bổ túc cho việc cai trị giáo hóa.

thành hoàng thần

Vị Thần bảo vệ thành—The city god, protector of the wall and moat and all they contain.

thành hình

To take form—To make shape—To form.

thành khẩn

Sincere—Sincerely

Thành kinh

Tức là Bát thành kinh (八城經), nằm trong bộ Trung A hàm (60 quyển) thuộc Hán tạng, bản Đại Chánh tân tu, quyển 1, kinh số 26.

thành kiến

Prejudice—Biases.

thành kiếp

Vivarta kalpa (skt)—Một trong tứ kiếp, gồm hai mươi tiểu kiếp, thời gian thành lập thế giới---One of the four kalpas, consisting of twenty small kalpas during which worlds and the beings on them are formed (other kalpas are Trụ: Vivarta-siddha kalpa, kalpa of abiding or existence; Hoại: Samvarta kalpa, kalpa of destruction, consisting of sixty four small kalpas when fire, water and wind destroyed everything except the fourth dhyana; Không: Samvarta-siddha kalpa, kalpa of annihilation). ** For more information, please see Tứ Kiếp. ; (成劫) Phạm: Vivarta-kalpa. Chỉ cho kiếp Thành, 1 trong 4 đại kiếp theo quan điểm của Phật giáo. Theo các kinh luận, cuối cùng, khi khí thếgian hoàn toàn hoại diệt, do sức nghiệp của loài hữu tình tăng lên mà sinh ra gió nhẹ, thành lập 3 luân: Phong luân, Thủy luân và Kim luân, trên lớp Kim luân sinh ra các biển, núi, châu(núi Tu di, 7 núi vàng, 4 đại châu...), là chỗ ở của Tứ vương thiên, Đao lợi thiên (2 tầng trời này gọi là Địa cư thiên), nhân loại, bàng sinh; kế đến, thành lập Dạ ma thiên, Đâusuất thiên, Lạc biến hóa thiên, Tha hóa tự tại thiên(4 tầng trời này gọi là Không cư thiên); từ Không cư thiên đếnđịa ngục Vô gián, các loài hữu tình tùy theo nghiệp đã tạo, sẽ lần lượt sinh đến các nơi đó. Thời kì hình thành khí thế gian và hữu tình thế gian này gọi làThành kiếp. [X. luận Đại tì bà sa Q.133, 134]. (xt. Tứ Kiếp).

thành kính

Sincere respect.

thành luận đại thừa sư

(成論大乘師) Chỉ cho các học giả chủ trương luận Thành thực do ngài Cưu ma la thập dịch là bộ luận Đại thừa, đặc biệt chỉ cho các học giả thuộc học phái Thành thực ở đời Lương (Nam triều). Vì ngài Gia tường Cát tạng, ngài Thiên thai Trí khải... cho rằng luận Thành thực thuộc Tiểu thừa, cho nên những vị chủ trương luận này là luận Đại thừa, được gọi là Thành luận Đại thừa sư, để bày tỏ ý phê phán.

thành lập

To establish—To form—To create.

thành ngữ

Idiom.

thành nhân

A grown up person—Adult.

thành niên

Of full age.

thành phần

Components

Thành Phật

成佛; J: jōbutsu;|Một cách trình bày sự chứng ngộ tự tính, Phật tính. Theo Thiền tông thì người ta không thể thành Phật được bởi vì người ta là Phật, nghĩa là chân tính của họ đồng với Phật tính, là Phật tính. Tuy nhiên, phàm phu không tự biết được sự việc tối trọng này và có cảm tưởng như là mình trở thành Phật khi nếm được kinh nghiệm Kiến tính lần đầu. Ðồng nghĩa với »Thành Phật« là »Thành Ðạo«, »Ðạt Ðạo.«

thành phật

Bồ Tát ở ngôi nhân vị, tu hành vạn hạnh, cuối cùng chứng đắc A Nậu Đa La Ta Miệu Tam Bồ Đề (Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác) hay Phật giải thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử—To become Buddha and obtain deliverance from the round of mortality—To become Buddha, as a Bodhisattva does on reaching supreme perfect bodhi. ; (成佛) Phạm: Buddho bhavati. Tạng: Ftshaí-rgya-ba. Cũng gọi Tác Phật, Đắc Phật, Thành đạo, Đắc đạo, Thành chính giác, Thành bồ đề, Chứng bồ đề, Hiện đẳng giác, Đắc Phật quả. Chỉ cho Bồ tát tu hành trong nhiều kiếp, nhân hạnh tròn đầy, hoàn thành đức lợi mình, lợi người mà đạt đến ngôi vị cùng tột.Trong tiếng Phạm, Thành Phật có các từ khác nhau như: Bodhiô spfzate Miếu Thành Hoàng được vẽ trong Tục kỉ văn đời Thanh (nghĩa là chứng Bồ đề tối thượng), Abhisaôbudhyate (nghĩa là hiện Đẳng giác),Buddhatvam avàpnoti (nghĩa là được tính Phật), Bodhiôlabhate, Bodhiprapta(nghĩa là được Bồ đề tối thượng), Buddho vibudhyate(nghĩa là giác ngộvà trở thành Phật)... Tiểu thừa giáo, như luận Đại tì bà sa quyển 143 quyển 176... cho rằng trong 3 thừa Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát thì chỉ có Bồ tát là có khả năng thành Phật. Tam thừa giáo trong Đại thừa cũng lập thuyết Ngũ tính các biệt, chủ trương Thanh văn và Duyên giác không thể trở thành Phật. Nhưng Nhất thừa giáo như kinh Pháp hoa, kinh Niết bàn thì cho rằng Nhị thừa đều thành Phật, hơn nữa, còn chủ trương ngay cả những người phỉ báng Phật pháp như Nhất xiển đề... cũng có thể thành Phật. Lại kinh Cù đàm di trong kinh Trung a hàm quyển 28 và luật Ngũ phần quyển 29, cho rằng người nữ có 5 chướng, không thành Phật được; trái lại, kinh Đạo hành bát nhã quyển 6, kinh Duy ma cật quyển hạ và kinh Pháp hoa quyển 4 thì có thuyết Chuyển nữ thành nam, nghĩa là người nữ cũng có khả năng thành Phật, đây là giáo chỉ đặc hữu của Đại thừa. Ngoài ra, Tiểu thừa giáo chỉ bàn vấn đề nhờ có tu hành mới thành Phật(tu đắc), nhưng Đại thừa giáo thì chủ trương chúng sinh vốn có sẵn nhân thành Phật(tính đắc), do đó cho rằng chúng sinh đều có khả năng thành Phật.Thành Phật phải trải qua thời gian rất lâu dài và qua nhiều thứ bậc khác nhau. Tiểu thừa chủ trương phải qua 3 a tăng kì kiếp và 100 đại kiếp. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 176 thì Bồ tát trong 3 vô số kiếp tu các pháp Bồ đề phần và các hạnh Ba la mật đa, rồi lại trong 100 đại kiếp tu nghiệp tướng hảo(tu phúc nghiệp 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp), vĩnh viễn đoạn trừ tất cả si mê nhiễrn ô và bất nhiễm ô, biết rõ tất cả hạnh tự lợi, lợi tha mới thành Phật. Còn Đại thừa thì cho rằng tu hành phải trải qua 3,7 hoặc 33 a tăng kì kiếp mới thành Phật. TheoNhiếp đại thừa luận thích quyển 9,11 (bản dịch đời Lương), Đại thừa lập các giai vị tu hành từ Thập địa cho đến 40 giai vị, trong 33 vô số đại kiếp chứa góp tư lương phúc đức, trí tuệ, tu 10 hạnh Ba la mật... thành tựu đại bồ đề, hết cõi vị lai lợi lạc vô cùng. Tông Thiên thai cho rằng Biệt giáo phải trải qua thời gian lâu dài mới tiến dần đến quả Phật; nhưng Viên giáo thì ở ngay Sơ trụ(Phát tín trụ)trong Thập trụ cũng có thể thành Phật tức khắc. Tông Hoa nghiêm thì y cứ vào Thắng thân, Kiến văn, Nhất thời, Nhất niệm và Vô niệm mà chủ trương 5 trường hợp thành Phật mau chóng. Đó là: 1. Y cứ vào thắng thân: Tức nhờ vào thân thù thắng của con Luân vương hoặc Đâu suất thiên tử mà thành Phật ngay nơi thân hiện tại. 2. Y cứ vào kiến văn: Tức thấy nghe diệu pháp, tin chắc quyết định, chứng đắc 10 lực của Phật mà được Bồ đề. 3. Y cứ vào nhất thời: Tức như đồng tử Thiện tài ở nơi thiện tri thức, chỉ trong nhất thời chứng được pháp Phổ hiền. 4. Y cứ vào nhất niệm: Tức y cứ vào niệm tục đế, chỉ trong một niệm khế hợp, chứng được pháp Phổ hiền. 5. Y cứ vào vô niệm: Tức hiểu rõ tất cả pháp chẳng sinh chẳng diệt và thấy được Phật chân thực. Ngoài ra, tông Hoa nghiêm còn có thuyết Tam chủng thành Phật. 1. Nói về vị: Vào giai vị Thập giải liền thành Phật. 2. Nói về hạnh: Không theo thứ tự giai vị mà đối với mỗi hạnh được hoàn thành thì liền thành Phật. 3. Nói về lí: Nói theo lí thì xưa nay chúng sinh vốn tức là Phật. Và thuyết Tam sinh thành Phật: 1. Kiến văn sinh: Giai vị Tín thấy nghe giáo pháp. 2. Giải hành sinh: Giai vị tu hành mà được trí tuệ. 3. Chứng nhập sinh: Giai vị được quả Phật tột cùng. Còn kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo quyển hạ thì cho rằng mỗi một giai vị tu hành của Bồ tát đều là Phật, cho nên cảnh giới Thập tín mãn vị gọi là Tín mãn thành Phật; cảnh giới Thập trụ mãn vị gọi làGiải mãn thành Phật; Bồ tát tu hành hoàn thành Thập địa mãn vị gọi là Hành mãn thành Phật; hoàn toàn đạt đến cảnh giới của quả Phật thì gọi là Chứng mãn thành Phật. Bốn giai vị trên đây được gọi là Tứ mãn thành Phật. Trong Mật giáo thì có 3 thuyết Tức thân thành Phật là Lí cụ thành Phật, Gia trì thành Phật và Hiển đắc thành Phật. Thiền tông thì chủ trương Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật, cũng tức là dùng việc tọa thiền thấy suốt tự tâm hiện thực, như vậy thì có thể mở ra manh mối thành Phật. Lại có thuyết Cây cỏ thành Phật. Các nhà Thiên thai y cứ vào nghĩa Nhất sắc nhất hương đều là Trung đạo và các nhàMật giáo thì y cứ vào thuyết Lục đại duyên khởi mà luận về Phi tình thành Phật. Tại Nhật bản thì Tịnh độ chân tông có thuyết Vãng sinh tức thành Phật, cho rằng cùng lúc sinh về Tịnh độ của Phật A di đà tức là thành Phật. Tông Nhật liên thì chủ trương xướng niệm đề mục (tên kinh Diệu pháp liên hoa) tức có thể thụ trì thành Phật. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.16; phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; phẩm Như lai thọ lượng kinh Pháp hoa Q.5; kinh Duy ma cật Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.177; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.7; luận Thành duy thức Q.7; luận Câu xá Q.12; Pháp hoa huyền nghĩa Q.5, hạ; Hoa nghiêm khổng mục chương Q.4; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7, phần đầu]. (xt. Tam Sinh Thành Phật, Tức Thân Thành Phật).

thành phật giải thoát

To become Buddha and obtain deliverance from the round of mortality.

thành phật ngoại tích kệ

(成佛外迹偈) Chỉ cho bài kệ tụng nói trong kinh Đại nhật quyển 2. Khi đức Đại nhật Như lai của Mật giáo vào tam muội Nhất thể tốc tật lực để nói rõ về nghĩa chân thực thành tựu bồ đề thì trước tiên Ngài tuyên thuyết bài kệ này. Văn kệ như sau (Đại 18, 9 trung): Ngã tích tọa đạo tràng, Hàng phục ư tứ ma; Dĩ đại cần dũng thanh, Trừ chúng sinh bố úy. Thị thời Phạm thiên đẳng, Tâm hỉ cộng xưng thuyết; Do thử chư thế gian, Hiệu danh Đại cần dũng. (Xưa ta ngồi đạo tràng, Hàng phục bốn loài ma; Dùng tiếng đại cần dũng, Khiến chúng sinh hết sợ. Bấy giờ các Phạm thiên, Mừng vui cùng khen ngợi. Do đó, người thế gian, Gọi ta Đại cần dũng). [X. Ngũ bộ bí kinh truyền thụ yếu lộ Q.2].

thành quả

Fruit—Result.

Thành sở tác trí

成所作智; S: kṛtyānuṣṭhāna-jñāna;|Năm trí

thành sở tác trí

(成所作智) Phạm:Kftyànuwỉhàna-jĩàna. Cũng gọi Tác sự trí. Chỉ cho trí tuệ do chuyển 5 thức trước (thức mắt, thức tai, thức mũi, thức lưỡi, thức thân)mà có được, là 1 trong 4 trí, là 1 trong 5 trí.Vì 2 cái lợi là tự chứng và hóa tha mà làm nên gọi là Sở tác; vì diệu nghiệp đại bi tùy loại ứng đồng đều được thành tựu nên gọi là Thành. Đức Như lai Bất không thành tựu trong 5 đức Phật của Mật giáo được phối hợp với trí này. (xt. Ngũ Trí, Tứ Trí).

thành sự

To accomplish—To succeed.

thành thánh

To sanctify.

thành thân

See Thành Gia Thất.

thành thân hội

Căn Bản Hội—Yết Ma Hội—Mạn Đà La thuộc hội thứ nhất trong chín hội Mạn Đà La Kim Cương Giới—The first group in the nine Vajradhatu groups. ** For more information, please see Yết Ma Hội. ; (成身會) I. Thành Thân Hội. Cũng gọi Kim cương giới đại mạn đồ la, Yết ma hội, Căn bản hội, Căn bản thành thân hội. Hội căn bản ở chính giữa Cửu giới mạn đồ la thuộc Kim cương giới của Mật giáo. Hội này vẽ uy nghi sự nghiệp và thân yết ma đầy đủ tướng tốt đẹp của các vị tôn, là Đại mạn đồ la trong 4 loại Mạn đồ la. Trong Mạn đồ la này gồm có 5 đức Phật, 4 bồ tát Ba la mật, 16 vị Đại bồ tát, 8 bồ tát Cúng dường, 4 Nhiếp bồ tát, 1.000 đức Phật kiếp Hiền, 20 vị trời thuộc Ngoại kim cương bộ và 4 vị thần lớn, tổng cộng có 1061 vị tôn. Mạn đồ la này nhìn về hướng Đông nam, chính giữa đàn vuông dùng chày Kim cương làm ranh giới, vẽ một vòng tròn lớn, trong vòng tròn có 5 nguyệt luân, nguyệt luân chính giữa có Đại nhật Như lai và 4 bồ tát Ba la mật Kim, Bảo, Pháp, Nghiệp, còn nguyệt luân ở 4 phía thì lần lượt là 4 đức Phật A súc, Bảo sinh, A di đà, Bất không thành tựu với 4 vị Bồ tát thân cận(tức 16 vị Đại bồ tát). Ở 4 góc của 5 nguyệt luân đều có bảo châu, biểu thị ý nghĩa cúng dường. Ở 4 góc của vòng tròn lớn có 4 vị bồ tát Nội cúng dường Hi, Man, Ca, Vũ; 4 góc bên ngoài vòng tròn lớn thì có 4 vị đại thần là thần Đất, thần Nước, thần Lửa và thần Gió, đều ở trong tư thế đang nâng giữ lấy vòng tròn. Ở 4 góc Ngoại viện của hội Thành thân, có 4 vị bồ tát Ngoại cúng dường Hương, Hoa, Đăng, Đồ; ở 4 phía có 4 Nhiếp bồ tát Câu, Sách, Tỏa, Linh. Một nghìn vị Phật của kiếp Hiền được bày xếp ở khoảng giữa 8 vị Bồ tát này. Sau cùng, ở phía ngoài của Ngoại viện đặt 20 vị trời. Trong các pháp tu của Mật giáo, khi vị A xà lê dẫn đệ tử vào đàn tràng hội Mạn đồ la để chuẩn bị truyền trao quán đính thì trước phải khai mở tâm nhãn của đệ tử. Mạn đồ la hội Thành thân này chính là Mạn đồ la được vị A xà lê đặc biệt sử dụng để khơi mở Mạn đồ la vốn có sẵn trong tâm của đệ tử.II. Thành Thân Hội. Một trong các tiết đoạn khi tu các hội Mạn đồ la khác nhau trong pháp tu Kim cương giới của Mật giáo. Tiết đoạn này bắt đầu từ Ngũ tướng thành thân của Kim cương giới pháp thứ đệ đến khi rung chuông thì dừng. Tiết đoạn này dùng bí quán Ngũ tướng tam mật để thành tựu Phật thân, nên cũng gọi là Thành thân hội.

thành thần

To become a spirit (genii).

thành thật

Candid—Frank—Sincere—Honest—Fair—Completely true—Perfect truth.

thành thật luận

(成實論) Phạm:Satyasiddhi-zàstra. Luận, 16 quyển hoặc 20 quyển, do ngài Ha lê bạt ma (Phạm: Harivarman) soạn, ngài Cưu ma la thập dịch vào khoảng năm Hoằng thủy 13 đến 14 (411-412), được thu vào Đại chính tạng tập 32, là kinh điển căn bản của tông Thành thực. Thành thực nghĩa là Thành sự thực Tứ đế. Luận này thuyết minh tất cả hiện tượng tồn tại trong vũ trụ đều chỉ là giả tượng chứ không có thực thể, cuối cùng đều qui về Không, quán xét như thế thì thể ngộ được lí Tứ đế, dùng 8 Thánh đạo diệt trừ tất cả phiền não mà đạt được Niết bàn.Nội dung luận này chia làm 5 tụ: Phát tụ(bài tựa luận) Khổ đế tụ, Tập đế tụ, Diệt đế tụ, Đạo đế tụ(4 tụ này là bản luận), gồm 202 phẩm. Phát tụ có 35 phẩm, trước nói về Tam bảo Phật, Pháp, Tăng, sau nói về lí do tạo luận và pháp nghĩa Tứ đế, đồng thời nêu ra 10 dị thuyết quan trọng về Hữu tướng, Vô tướng để chỉ rõ lập trường của luận này. Khổ đế tụ có 59 phẩm, nói rõ cái khổ của Ngũ thụ uẩn(Ngũ thủ uẩn) và thuyết minh về sắc, thức, tưởng, thụ, hành. Tập đế tụ có 46 phẩm, nói rõ cái nhân của khổ và nghiệp, phiền não. Diệt đế tụ có 14 phẩm, trình bày kiến giải đặc biệt của luận này, nghĩa là nếu diệt hết giả danh tâm, pháp tâm và không tâm thì đạt đến cảnh giới Niết bàn. Đạo đế tụ có 48 phẩm, thuyết minh phương pháp diệt khổ để thực hiện Niết bàn, đó là thiền định và trí tuệ. Trong đó, trí là chân trí không vô ngã, trí này có được sau khi đã diệt hết phiền não. Ngoài ra, còn nói đến thực tiễn không và vô ngã. Lập trường của luận này là chủ trương Nhị thế vô luận(quá khứ và vị lai không thực có), Tính bản bất tịnh luận(tính con người vốn bất tịnh), Vô ngã luận..., đồng thời cho rằng Nhân, Pháp đều không. Giáo thuyết trong toàn luận chẳng những bao trùm các giáo lí trọng yếu của Phật giáo bộ phái(Phật giáo Tiểu thừa) mà còn chứa đựng các kiến giải Đại thừa; phần nhiều đứng trên lập trường Kinh lượng bộ để bài xích sự giải thích của Thuyết nhất thiết hữu bộ về các vấn đề. Trên phương diện lịch sử tư tưởng Phật giáo, luận này được xem là tác phẩm trọng yếu của thời kì quá độ từ Tiểu thừa Không tông hướng tới Đại thừa Không tông. Về vấn đề luận này thực sự là thuộc Đại thừa hay Tiểu thừa thì xưa nay đã có nhiều tranh luận, như 3 vị Đại Pháp sư đời Lương thuộc Nam triều, đứng trên lập trường các kinh Bát nhã, Pháp hoa, Niết bàn... mà phán định luận này là luận Đại thừa; trái lại, phái của Đại sư Gia tường Cát tạng thì đoán địnhluận này thuộc về luận Tiểu thừa. Ở thời Nam Bắc triều đã có một độ xuất hiện học phái Thành thực chuyên giảng bộ luận này. Về số quyển của luận này có nhiều thuyết khác nhau, bản tạng Cao li là 16 quyển, các bản tạng Tống, Nguyên, Minh là 20 quyển. Còn trong các bộ Mục lục kinh thì có các thuyết 14 quyển, 16 quyển, 21 quyển, 24 quyển... Luận này có rất nhiều sách chú thích như: Thành thực luận nghĩa sớ của ngài Tăng đạo đời Tống thuộc Nam triều, Thành thực luận đại nghĩa sớ 8 quyển của ngài Đàm độ đời Bắc Ngụy, Thành thực luận 5 quyển của ngài Linh hựu đời Tùy, nhưng hiện nay phần nhiều đã bị thất lạc, chỉ còn một phần được bảo tồn trong các tác phẩm Đại thừa nghĩa chương của ngài Tuệ viễn đời Tùy. [X. Lương cao tăng truyện Q.7, 8; Lịch đại tam bảo kỉ Q.11; Tục cao tăng truyện Q.5, 7-9].

Thành Thật Tông

(成實宗, Jōjitsu-shū): tên gọi của học phái nghiên cứu dựa trên bộ Thành Thật Luận (s: Satyasiddhi-śāstra, 成實論) của Ha Lợi Bạt Ma (s: Harivarman, 訶利跋摩, khoảng thế kỷ thứ 3-4), do Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) dịch vào khoảng năm 411-412. Ở Trung Hoa thì nó thuộc một chi nhánh của Tam Luận Tông. Trước tiên tông này được môn hạ của La Thập nghiên cứu, rồi Tăng Đạo (僧道) và Tăng Tung (僧嵩) đã thành lập nên 2 hệ thống tư tưởng lớn. Tăng Đạo thì trước tác bộ Thành Thật Luận Nghĩa Sớ (成實論義疏), đóng vai trò chỉ đạo trong việc nghiên cứu về Thành Thật Tông ở vùng phía Nam. Ông có một số đệ tử như Đàm Tế (曇濟), Đạo Lượng (道亮), Đạo Mãnh (道猛), v.v. Đệ tử của Đàm Tế và Đạo Mãnh thì có Pháp Sủng (法寵). Còn đối với Đạo Lượng, người soạn ra bộ Thành Thật Luận Nghĩa Sớ thì có Trí Lâm (智林). Tăng Tung thì quảng bố Thành Thật Luận ở Từ Châu; còn các môn hạ của đệ tử ông là Tăng Uyên (僧淵) như Đàm Độ (曇度), Đạo Đăng (道登), Huệ Cầu (慧球), v.v., thì được tín nhiệm thời Bắc Ngụy. Vào thời Nam Tề thì Tăng Nhu (僧柔), Huệ Thứ (慧次) vâng theo mệnh lệnh của vua Tuyên Văn Vương (宣文王) trước tác bộ Lược Thành Thật Luận (略成實論); sau này môn hạ của họ cũng xuất hiện ra 3 vị đại pháp sư của nhà Lương là Trí Tạng (智藏), Tăng Mân (僧旻) và Pháp Vân (法雲). Trong số 3 người này thì Trí Tạng là người đã đem hết sức mình xiển dương Thành Thật Luận. Vào đời nhà Tùy thì có Trí Thoát (智脫) rất nổi tiếng. Đối với Nhật Bản thì tông này cũng được vương triều Bách Tế (百濟) của Triều Tiên truyền vào, nhưng chỉ phụ thuộc vào Tam Luận Tông, chứ không tồn tại như một tông phái lớn như ở Trung Quốc.

Thành thật tông

成實宗; C: chéngshí-zōng; J: jōjitsu-shū;|Tông phái Phật giáo Trung Quốc, xuất phát từ giáo pháp của Kinh lượng bộ (s: sautrān-tika) Ấn Ðộ. Cơ bản của tông phái này là bộ Thành thật luận (s: satyasiddhiśāstra) của Ha-lê Bạt-ma (s: harivarman) trong thế kỉ thứ 4, được Cưu-ma-la-thập (kumārajīva) dịch ra chữ Hán trong thế kỉ thứ 5.|Ðại diện cho tông phái này là Tăng Ðạo (僧導) và Tăng Khải (僧楷), cả hai đều là đệ tử của Cưu-ma-la-thập, là hai vị đã truyền bá Thành thật tông khắp Trung Quốc và vì vậy, tông này trở thành một tông phái mạnh của Trung Quốc ở đầu thế kỉ thứ 6. Tông phái này khác với Tam luận tông vì các vị Tam luận tông cho rằng luận sư của Thành thật tông đã hiểu sai ý nghĩa của biểu đạt tính Không. Các vị Luận sư quan trọng của Tam luận tông như Pháp Lãng và Cát Tạng đã công kích Thành thật tông mạnh mẽ nên ảnh hưởng của phái này giảm dần.|Tông này được xem là Tiểu thừa vì họ chỉ chuyên tâm nghiên cứu những lời giảng của đức Phật. Quan điểm chính của tông phái này là phủ nhận mọi sự hiện hữu. Tâm thức hay vật chất đều không hiện hữu thật sự. Theo tông phái này, có hai loại chân lí: một loại chân lí »thế gian«, chân lí có tính chất quy ước và chân lí kia là chân lí tuyệt đối. Dựa trên chân lí thế gian, tông này chấp nhận sự hiện hữu của các pháp (s: dharma), các pháp này hiện hành tuỳ thuộc lẫn nhau, vô thường và sẽ bị hoại diệt. Trên phương diện tuyệt đối thì mọi pháp đều trống Không (s: śūnyatā). Như thế, Thành thật tông cũng cho rằng cả ngã lẫn pháp đều không (人法皆空; Nhân pháp giai không) nên cũng có khi tông này được xem là Ðại thừa. Tuy thế, khác với các trường phái Ðại thừa khác – vốn cho rằng có một cái Không làm nền tảng, biến hoá ra mọi hiện tượng (真空妙有; Chân không diệu hữu) – Thành thật tông nhìn nhận tính Không một cách tiêu cực hơn, đó chỉ là sự trống rỗng đằng sau các hiện tượng, thấy rõ được qua sự phân tích, phủ nhận, và vì thế tông này cũng có tên Nhất thiết không tông (一切空宗; sarvaśūnyavāda). Quan điểm về tính Không này còn vướng mắc trong trạng thái phủ định, phủ nhận thế gian, khác hẳn quan điểm tính Không của Tam luận tông Trung Quốc.|Thành thật tông Nhật Bản (jōjitsu-shū) được Cao tăng Triều Tiên là Huệ Quán (慧灌; ek-wan), người đã từng học tại Trung Quốc truyền qua Nhật năm 625. Kể từ đó Thành thật tông được nhiều người nghiên cứu, nhưng không trở thành tông phái hẳn hoi, chỉ được xem là một phần của Tam luận tông.

thành thật tông

Satya-siddhi School of Harivarman—See Thành Thực Tông. ; (成實宗) Cũng gọi Thành luận gia, Thành thực học phái. Tông phái lấy luận Thành thực làm nền tảng, là 1 trong 13 tông ở Trung quốc, 1 trong 8 tông ở Nhật bản. Tông Tổ là ngài Ha lê bạt ma (Phạm: Harivarman), sinh ở Trung Ấn độ, vào khoảng từ 700 năm đến 900 năm sau đức Phật nhập diệt. Lúc đầu, sư tu học giáo nghĩa của Tất bà đa bộ ( Thuyết nhất thiết hữu bộ) thuộc Tiểu thừa nơi ngài Cứu ma la đà, sau đó, học tập, nghiên cứu các bộ phái Đại thừa, Tiểu thừa, rồi soạn luận Thành thực, phê phán lí luận Hữu bộ, chẳng bao lâu chấn động nước Ma yết đà, được nhà vua khen là Tượng Giáo Đại Tông. Về sau, tình hình hoằng pháp của sư tại Ấn độ không được rõ. Vào năm Hoằng thủy thứ 4 (412), luận này được ngài Cưu ma la thập, sống vào đời Diêu Tần, dịch ra chữ Hán, đồng thời giảng cho các học trò như Tăng duệ... nghe, ngài Đàm ảnh chỉnh lí các phẩm, chia làm 5 tụ, ngài Tăng đạo soạn Thành thực luận nghĩa sớ, ngài Đạo lượng soạnThành thực luận sớ 8 quyển. Ngài Tăng đạo xuống miền Nam, trụ ở chùa Sơn đông (chùa Đạo công)tại Thọ xuân, mở tòa giảng, thuyết giảng Tam luận, Thành thực; rồi lại đến Kiến khang giảng diễn, mở đầu phong trào học tập nghiên cứu luận Thành thực ở phương Nam. Học trò ngài Tăng đạo là các vị Tăng uy, Tăng chung, Tăng âm... cũng giỏi luận này. Đồng thời lại có ngài Đạo mãnh vâng sắc trụ chùa Hưng hoàng ở Kiến khang diễn giảng, có thuyết cho rằng ngài Đạo mãnh cũng thuộc hệ thống ngài Tăng đạo; đệ tử ngài Đạo mãnh là các vị Đạo tuệ,Trí hân... cũng lần lượt giảng luận này. Bấy giờ, ngài Tuệ long (429-490), nhận lời thỉnh của vua Minh đế nhà Lưu Tống vào Tương cung giảng Thành thực. Ngài Huyền sướng thì soạn Ha lê bạt ma truyện 1 thiên. Năm Vĩnh minh thứ 7 (489), Cánh lăng văn tuyên vương thỉnh các ngài Tăng nhu, Tuệ thứ giảng Thành thực ở chùa Phổ hoằng, đồng thời soạn Sao Thành thực luận 9 quyển. Đệ tử ngài Tăng nhu, Tuệ thứ là các vị Trí tạng, Tăng mân, Pháp vân là 3 vị Đại pháp sư đời Lương. Ngài Trí tạng soạn Thành thực luận đại nghĩa kí, Thành thực luận nghĩa sớ. Khoảng năm Thiên giám (502-511) đời Lương, Viên đàm doãn soạn Thành thực luận tụ sao 20 quyển, Tuệ diệm soạn Thành thực luận huyền nghĩa 17 quyển, Hồng yển soạn Thành thực luận sớ 10 quyển; ngài Bảo quỳnh soạn Thành thực luận huyền nghĩa 20 quyển, và Thành thực luận văn sớ sao 16 quyển... Tóm lại, phong trào học tập, nghiên cứu và hoằng dương luận Thành thực ở miền Nam đã rất hưng thịnh một thời. Còn ngài Tăng tung – cũng là học trò Đại sư Cưu ma la thập – thì hoằng dương luận Thành thực ở Bành thành, hình thành hệ thống phương Bắc. Học trò ngài Tăng tung có các vị Tăng uyên, Đàm độ, Đạo đăng, Tuệ cầu... đều soạn sớ và hoằng dương luận Thành thực, nhất là ngài Đàm độ giảng Thành thực ở kinh đô Đại đồng thời Bắc Ngụy, có tới hơn 1.000 đồ chúng tới dự, đồng thời soạn Thành thực đại nghĩa sớ 8 quyển. Sang các đời Tùy, Đường cũngcórất nhiềuCao tăng Đại đức tu học và hoằng dương luận Thành thực, như ngài Huyền trang trước khi du học Ấn độ, cũng đã từng tu học, nghiên cứu rất sâu luận này ở Triệu châu. Tại Cao li, Nhật bản, luận Thành thực cũng được các tông phái tu tập và hoằng dương rộng rãi. Tông Tì đàm cho các yếu tố cấu thành giả tướng như Sắc pháp, Tâm pháp... đều là thực thể, vì thế tông này được gọi là Thuyết nhất thiết hữu bộ;tông Câu xá thì chủ trương Vô biểu sắc, Bất tương ứng pháp và Vô vi pháp trong các pháp đều không có thực thể; còn tông Thành thực thì tiến thêm bước nữa cho rằng Sắc pháp, Tâm pháp rốt cuộc cũng là Không; tông này chiavạn hữu thành 5 vị 84 pháp, các pháp này đều là không, nếu thấu suốt thế giới khổ đau này là không thì hoàn toàn giải thoát khỏi sinh tử, gọi là đã đến chỗ cùng tột của việc tu đạo, đó là Diệt đế. Luận Thành thực gồm 202 phẩm có thể được qui nạp vào 5 nhóm: Phát, Khổ, Tập, Diệt, Đạo mà chỗ qui kết chính là Diệt đế. Diệt đế này mọi người đều sẵn có, cho nên gọi là Bản hữu niết bàn, khi tu mà chứng nghiệm được thì gọi là Thủy hữu niết bàn. Bản hữu, Thủy hữu nghĩa tuy khác nhau, nhưng thể thì là một. Vào thời đại Ha lê bạt ma, các luận thuyết về Ngũ tụ, Tứ đế rất là rối rắm, vì thế ngài mớilàmra luận Thành thực để phê bình, bác bỏ các luận thuyết khác. Đại khái các luận thuyết khác ấy gồm có 10 thứ là: 1. Nhị thế hữu vô luận: Quá khứ, vị lai có hay không? 2. Nhất thiết hữu vô luận: Tất cả có hay không? 3. Trung ấm hữu vô luận: Thân trước khi đầu thai có hay không? 4. Tứ đế thứ đệ đắc nhất thời đắc luận: Tứ đế thứ lớp được hay được cùng một lúc? 5. La hán hữu thoái vô thoái luận: La hán có lui sụt hay không lui sụt? 6. Tâm tâm sở tương ứng bất tương ứng luận: Tâm và tâm sở tương ứng hay không tương ứng? 7. Tâm tính tịnh bất tịnh luận: Tâm tính trong sạch hay không trong sạch? 8. Quá khứ nghiệp hữu vô luận: Nghiệp quá khứ có hay không? 9. Phật bảo tăng bảo đồng biệt luận: Phật bảo và tăng bảo là đồng hay khác? 10. Hữu ngã vô ngã luận: Có ngã hay không ngã? Trong các luận thuyết trên cũng sử dụng các danh số như Tứ đế, Tam giới, Ngũ ấm, Thập nhị nhập, Thập bát giới, Thập nhị nhân duyên, Nhị thập nhị căn, Thập thiện nghiệp đạo, cho đến phân biệt pháp tướng như 37 trợ bồ đề pháp, Tứ quả, 27 hiền thánh... nhưng đều chẳng phải lấy việc giải thuyết tính tướng của các danh tướng này làm chính, mà là đối với danh tướng này thêm vào các luận chứng trái ngược, rồi sau mới đưa ra phán đoán. Chẳng hạn như khi giải thích về Tứ đại thì trước hết nêu ra thuyết giả danh về Tứ đại, kế đến nêu thuyết thực hữu(có thật) về Tứ đại, cuối cùng mới chứng minh sự sai lầm của thuyết thực hữu, cứ như thế sau khi lập, phá đối nhau rồi mới đưa ra phán đoán. Phương pháp này có ý thú rất khác với sự tổ chức của luận Câu xá. Bây giờ, hãy so sánh một cách sơ lược chỗ khác nhau giữa Tì đàm và Thành thực về việc lập nghĩa để biết điểm lập nghĩa cốt yếu của tông này: 1. Tì đàm chủ trương 3 đời có thật; còn Thành thực thì cho rằng quá khứ, vị lai không có thực thể, chỉ có pháp sát na hiện tại là có thể dụng của nhân duyên sinh.2. Tì đàm chủ trương pháp thể là có thật; Thành thực thì cho rằng pháp thể trung đạo, nghĩa là pháp hiện tại do nhân duyên sinh ra, chẳng phải có chẳng phải không, không phải thường, không phải đoạn, lìa cả 2 bên, gọi là Thánh trung đạo. 3. Tì đàm chủ trương giữa khoảng Tử hữu và Sinh hữu có Trung ấm; Thành thực thì nói không có Trung ấm. 4. Tì đàm lập 2 loại A la hán là Thoái pháp a la hán và Bất thoái pháp a la hán; Thành thực thì chủ trương Thánh đạo bất thoái; A la hán đạo đã nhổ hết sạch gốc rễ ái dục, cho nên thuộc bất thoái(không lui sụt).5. Tì đàm chủ trương Tứ đại có thật; Thành thực thì cho rằng Tứ đại chỉ là giả danh, nếu lìa sắc... thì không có Tứ đại. 6. Tì đàm chủ trương các căn có thật; Thành thực thì cho rằng các căn là giả danh, nếu lìa Tứ đại thì không có các căn. 7. Tì đàm chủ trương các căn có khả năng chiếu kiến các cảnh; Thành thực thì cho rằng các căn là vô tri. 8. Tì đàm chủ trương Tâm sở có thể riêng; Thành thực thì cho rằng Tâm sở không có thể riêng, thụ, tưởng, hành... đều là tên khác của tâm. 9. Tì đàm chủ trương Tâm và Tâm sở có tương ứng; Thành thực thì cho rằng vì tâm và tâm sở không có thể riêng, cho nên tâm và tâm sở không có tương ứng. 10. Tì đàm chủ trương Tín và Cần chỉ có tính thiện; Thành thực thì cho rằng Tín và Cần thông cả 3 tính thiện, bất thiện, vô kí. 11. Tì đàm chủ trương Vô biểu sắc thuộc về Sắc uẩn; Thành thực thì cho rằng Vô tác (chỉ cho Vô biểusắc) thuộc về Hành uẩn, chứ không thuộc Sắc uẩn. 12. Tì đàm chủ trương Vô biểu nghiệp không bao gồm Ý nghiệp; Thành thực thì cho rằng Vô tác(chỉ cho Vô biểu nghiệp) bao gồm cả 3 nghiệp thân, khẩu, ý, tức 3 nghiệp thân, khẩu, ý đều có khả năng khởi Vô tác.13. Tì đàm chủ trương Si là thể của Vô minh; Thành thực thì cho rằng tâm chấp ngã là thể của Vô minh, nghĩa là các pháp hòa hợp giả gọi là Nhân, Pháp, vì phàm phu không phân biệt được nên mới sinh tâm chấp ngã. 14. Tì đàm chủ trương Nhân không Pháp hữu; Thành thực thì cho rằng Nhân không Pháp không. 15. Tì đàm chia nhỏ 5 cảnh và đều có danh số nhất định, lại lập 46 tâm sở, 6 nhân, 4 duyên, 5 quả, nhiễm ô vô tri, bất nhiễm ô vô tri, thứ tự 5 uẩn là sắc thụ tưởng hành thức; còn Thành thực thì chưa định danh số 5 cảnh, số tâm sở cũng không nhất định, lập 4 duyên, 3 nhân, chia nghiệp chướng, phiền não chướng, báo chướng, còn thứ tự 5 uẩn thì là sắc thức tưởng thụ hành. Tổng hợp các thuyết trên đây ta có thể biết được yếu chỉ của tông Thành thực, khác với thuyết của Tì đàm như Câu xá... mà điểm đặc sắc nổi bật nhất thì không ngoài luận thuyết Tam tâm, Nhị đế, Nhị không, tức nêu ra 3 tâm là Giả danh tâm (tâm chấp trước thân người do 5 uẩn cấu thành là thật có, hoặc chiếc bình do 4 trần sắc hương vị xúc tạo thành là có thật), Pháp tâm(tâm chấp trước 5 uẩn là có thật), Không tâm(tâm duyên theo chỗ không có gì); đồng thời chủ trương nếu diệt trừ được 3 tâm này thì ra khỏi 3 cõi. Nhị đế là chỉ cho Thế đế(hữu ngã) và Đệ nhất nghĩa đế(vô ngã). Nhị không là Nhân không và Pháp không. Nhân không như trong bình không có nước, Nhân do 5 uẩn hòa hợp mà hình thành thuộc về giả nhân ngã; Pháp không như cái bình không có tực thể, 5 uẩn cũng chỉ có giả danh chứ không có thực thể. Tông này lập Pháp tướng phân biệt 5 vị 84 pháp khác với 5 vị 75 pháp của tông Câu xá và 5 vị 100 pháp của tông Duy thức. Năm vị 84 pháp là: 1. Sắc pháp: Có 14 pháp, gồm 5 căn, 5 cảnh và 4 đại. 2. Tâm pháp: Tức tâm vương. 3. Tâm sở pháp: Có 49 pháp, như yếm, hân, miên... 4. Phi sắc phi tâm pháp: Gồm 17 pháp, như lão, phàm phu, vô tác... 5. Vô vi pháp: Gồm 3 pháp, giống với 3 pháp vô vi của tông Câu xá. Tông này chia từ Ngũ thú đến quả vị A la hán thành 27 giai vị tu hành, gọi là Nhị thập thất Hiền Thánh, thứ tự như đồ biểu sau đây:(xem trang 5282) Y cứ vào giáo nghĩa của luận Thành thực như đã được trình bày ở trên mà nhận xét thì tư tưởng giáo lí Thành thực vượt lên trên Tì đàm và thường khi liên quan đến lãnh vực Đại thừa, nhưng đối với vấn đề nên phán định tông này thuộc Đại thừa hay Tiểu thừa thì xưa nay còn có nhiều thuyết khác nhau. Mới đầu, các học giả đều cho luận Thành thực là bộ luận Đại thừa, hoặc xem là sách cương yếu tổng quát về Đại thừa và Tiểu thừa, như các ngài Tăng nhu, Tuệ thứ, cho đến 3 vị đại Pháp sư đời Lương là Trí uy, Tăng mân và Pháp văn đều không phán định luận Thành thực thuộc Tiểu thừa, cho nên các học giả tông Tam luận phần nhiều coi các học giả Thành thực là Thành luận Đại thừa sư. Về sau, tại miền Bắc, ngài Pháp thượng là người đầu tiên phán định tông Thành thực thuộc Tiểu thừa, kế đến, trong Tam luận huyền nghĩa, ngài Cát tạng nêu ra 10 nghĩa chứng minh tông Thành thực thuộc Tiểu thừa, rồi đến các ngài Trí khải, Tuệ viễn cũng cho Thành thực là Tiểu thừa. Từ đó về sau, các học giả đều phán định Thành thực là Tiểu thừa. Việc nghiên cứu về tông Thành thực thịnh hành ở thời đại Nam Bắc triều, đặc biệt vào thời Lương thuộc Nam triều là thịnh hành nhất. Đến đời Đường, sau khi cácLuận sư phánđịnhThành thực là Tiểu thừa thì số người nghiên cứu luận này mỗi ngày một giảm thiểu. Thêm vào đó, xu thế của Phật giáo Đại thừa, sự lưu truyền rộng rãi của Thập địa kinh luận, Nhiếp đại thừa luận và Tam luận học dần dần hưng khởi cũng là những nguyên nhân làm cho tông này suy vi. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.10 thượng; Tam luận du ý nghĩa; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Lương cao tăng truyện Q.6-8; Lịch đại tam bảo kỉ Q.11; Tục cao tăng truyện Q.1, 5-15; Danh tăng truyện sao; Xuất tam tạng kí tập Q.5, 11; Khai nguyên thích giáo lục Q.8]. (xt. Thành Thực Luận).

thành thời

(成時) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Minh, người ở huyện Hấp tại Huy châu, họ Ngô, hiệu là Kiên mật. Thủa nhỏ, sư theo Nho học, năm 28 tuổi, sư nương vào Pháp sư Trí húc xuất gia. Lúc đầu, sư tu cả Thiền tông và Giáo tông. Sư trụ ở núi Ngưỡng sơn, mãnh thú trên núi đều được sư thuần phục. Sư tự soạn Trai thiên pháp nghi, nói rõ về ý chỉ thiên thần hiện thân. Sau sư đến Giang ninh, trụ ở chùa Thiên giới, hoằng dương kinh Pháp hoa, siêng tu tịnh nghiệp, hằng ngày tu theo thời khóa nhất định, dù thời tiết nóng hay lạnh đều không bỏ. Sư khắc in Tịnh độ thập yếu, tự soạn lời tựa, lưu thông rộng rãi, khuyến hóa mọi người tu hành đúng như thực. Sư tịch vào tháng 10 năm Khang hi thứ 17 (1678). Sư có các tác phẩm: Quán vô lượng thọ Phật kinh sơ tâm tam muội môn 1 quyển, Thụ trì Phật thuyết A di đà kinh hành nguyện nghi 1 quyển.

thành thục

To ripe—To mature.

thành thục giả

Bậc đã thành thục; bậc đã chứng đắc; bậc mà bản tánh thiện nổi bậc trên chúng sanh mọi loài—The ripe; those who atain; those in whom the good nature, immanent in all the living, complete their salvation.

thành thử

As a result—Consequently.

thành thực

Honesty—Completely true—Perfect truth—Satyasiddhi (Thành Thật Tông).

thành thực luận

Thành Thực Luận gồm 16 quyển do Ha Lê Bạt Ma biên soạn. Thành Thực có nghĩa là thành lập ra cái nghĩa chân thật trong các kinh. Bộ luận được ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hoa ngữ. Cưu Ma La Thập từng dạy một số đệ tử phải giảng thuyết về luận nầy. Một trong những đồ đệ của Cưu Ma La Thập là Tăng Duệ, khi thảo luận về luận nầy, đã khám phá ra rằng, tác giả Ha Lê Bạt Man đã bác bỏ những chủ điểm của phái A Tỳ Đàm trong nhiều trường hợp, trên bảy lần như vậy. Từ đó, chúng ta có thể xác nhận rằng cả hai tông phái, Hữu Luận và Không Luận, thường giũ vị trí chông chọi nhau, vào trước hay ngay trong thời của tác giả. Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, một số người có thẩm quyền cho rằng bộ luận nầy thuộc Đại Thừa, như ba nhà Phật học danh tiếng thời nhà Lương (502-557) là Pháp Vân, Trí Tạng, và Tăng Mẫn; những học giả khác lại cho rằng bộ luận thuộc Tiểu Thừa. Phải đợi đến thời Đạo Tuyên, một môn đệ nởi tiếng của Huyền Trang, cuối cùng đã giải quyết vấn đề, bằng cách tuyên bố rằng đây là tác phẩm thuộc Tiểu Thừa và Kinh Bộ, bởi vì Thành Thật tông không vượt ngoài trình độ và uy thế của học phái Tỳ Bà Sa. Tuy nhiên, Đạo Tuyên thừa nhận bộ luận nầy là một khuynh hướng nhắm đến giáo lý Đại Thừa—The Satyasiddhi sastra of Harivarman in 16 books. The Satyasiddhi is defined as perfectly establishing the real meaning of the sutra. The sastra was translated into Chinese by Kumarajiva. He often ordered some of his pupils to lecture on this sastra. One of his pupils, Sêng-Jui, while discoursing on it discovered that the author, Harivarman, had refuted the tenets of the Abhidharma School on several occasions, more than seven times. Hence we can assume that the two schools (Realistic and Nihilistic) used to hold antagonistic positions at or before the author's time. According to Prof. Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy, the text was taken by some authorities to be Mahayanistic, as by the three noted savants of the Liang dynasty (502-557), namely Fa-Yun, Chih-Tsang, and Sêng-min. By other authorities such as Chih-I, Chi-Tsang and Ching-Ying it was taken to be Hinayanistic. It was Tao-Hsuan, a famous pupil of Hsuan-Tsang, who finally settled the question by pronouncing that it was Hinayanistic and Sautrantic, because the Satyasiddhi School had not gone beyond the level and influence of the Vaibhasika School. However, he recognized that it had a certain tendency toward the Mahayana doctrine.

thành thực tông

The Satyasiddhi School. (A) Cương Yếu—Preliminary: a) Phái Hoàn Thiện Chân Lý, dựa vào học thuyết của Sautrantika, văn bản chính của trường phái nầy là satyasiddhi của Ha Lê Bạt Ma (Harivarman) vào thế kỷ thứ tư, được dịch sang Hoa ngữ vào thế kỷ thứ năm. Trường phái nầy tin rằng tâm thức chỉ là người vác gánh luân hồi sinh tử. Phái nầy cũng cho rằng Niết bàn chỉ là một sự kiện tâm linh tiêu cực và giải thoát chỉ là hủy diệt—Satyasiddhi sect, based upon the Sautranika's satyasiddhi sastra of Harivarman. This school believes that the consciousness as no more than the bearer of the cycle of existence. This school also believes that Nirvana is a purely negative spiritual event; it is nonbeing. He who has attained liberation is annihilated. • Bên Trung Quốc Thành Thật Tông là một nhánh của Tam Luận Tông: In China it was a branch of the San-Lun Sect. • Không Tông hay tông phái Tiểu Thừa được thành lập sau cùng bên Ấn Độ: The Sunya Doctrine Sect or the last Hinayana Sect formed in India. b) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, Thành Thật tông, đối lập với Câu Xá tông, chủ trương không có gì hiện hữu, kể cà tâm và vật. Đây là một Tiểu Thừa Không Luận hay hư vô luận, và được gọi tên theo một nhan sách của Ha Lê Bạt Man (Harivarman) sống ở Ấn Độ khoảng 250 đến 350 sau Tây Lịch, khoảng một thế kỷ trước Thế Thân. Trong bài tụng mở đầu, tác giả nói rằng ông muốn làm sáng tỏ ý nghĩa chân thật của kinh. Từ đó chúng ta có thể suy ra rằng, nhan sách “Thành Thật Luận” có nghĩa là sự thiết lập toàn vẹn chân lý được phát biểu qua những bài thuyết pháp của Phật: According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, the Satyasiddhi School is opposed to the Kosa Schol in that it asserts that nothing, matter or mind, exists at all. It is a Hinayanistic Negativism or Nihilism and is called after the title of the work by Harivarman who lived in India (250-350 A.D.), about a century before Vasubandhu. The author says in his introductory note that he intended to elucidate the true purport of the sacred literature. From this we can infer that the title “Completion of Truth,” means the complete establishment of the truth propounded in the discourses of the Buddha himself. (B) Lịch sử của Thành Thực Tông—The history of the Satyasiddhi School: a) Trong 18 bộ phái ở Ấn Độ, Thành Thực tông thuộc Kinh Lượng Bộ (Sautrantika), bộ phái nầy theo Kinh Tạng nguyên thủy, chống lại chủ truơng thực hữu luận của Hữu Bộ (Sarvastivada) mà một vài chủ điểm của nó được Thế Thân cem như là những cải cách của các luận sư Tỳ Bà Sa hay của những vị chấp trước vào giáo lý A Tỳ Đàm. Nếu chủ trương thực hữu luận có thể được coi là một sự tách rời khỏi Phật Giáo Nguyên Thủy, thì chủ trương không luận nầy đáng được như là đối lập lại với nó. Thành Thật tông, trên môt phương diện, có thể coi như là một tông phái chính thống của Phật giáo, đặc biệt là vì nó gần gủi với giáo lý nguyên thủy của Phật hơn Hữu Bộ: Vô ngã, vô thường, khổ và Niết Bàn tịch diệt: Of the eighteen schools of Buddhism in India, the Satyasiddhi School belongs to the Sautrantika School which adheres to the originalsacred scripture against the realistic Sarvastivada School, some tenets of which are regarded by Vasubandhu as innocations of the Vaibhasikas or those who adhere to the Abhidharma doctrine. If the realistic doctrine can be called a deviation from original Buddhism, this Nihilistic doctrine should be considered as a reversion to it. This Satyasiddhi School, in a way, can be considered to be an orthodox school of Buddhism, especially because it is much nearer than the Realistic School to the original teaching of the Buddha: “No substance (anatma), no duration (anitya), and no bliss (dukkha) except Nirvana.” b) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, chúng ta biết rất ít, hay không biết gì cả về lịch sử của tông phái nầy ở Ấn Độ. Có lẽ chưa từng có một tông phái nào biệt lập mệnh danh là Satyasiddhi ở Ấn. Nếu có một tông phái mẹ dẻ của Satyasiddhi, thì đấy phải là một tông phái bám chặt vào giáo thuyết nguyên thủy của kinh tạng. Kinh Bộ (Sutravada) hay Kinh Lượng Bộ (Sautrantikavada) được đề cập như là hậu duệ cuối cùng trong 18 bộ phái của Phật giáo. Dù mối liên hệ của Ha Lê Bạt Man với tông phái nầy không được rõ ràng, rất nhiều điểm về giáo lý do Ha Lê Bạt Man đề ra đều mang dấu vết của bộ phái nầy. Hình như nó chiếm một địa vị có ảnh hưởng lớn ở Ấn Độ, bởi vì nó được Thế Thân nhắc đến một cách trực tiếp hay gián tiếp; thực sự Thế Thân chấp nhận chủ điểm của phái nầy trong một vài điểm quan trọng cốt yếu, thí dụ như vấn đề thời gian: According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, we know little or nothing of the history of this school from the Indian side. Perhaps there never was a separate school called Satyasiddhi in India. If there was a mother school to which Satyasiddhi belonged it must have been one which adhered to the original discourse of the sutras. The Sutravadin, or Sautrantikavadin School, is mentioned as the latest offshot among the eighteen schools of Buddhism. Though Harivarman's connection with that school is not known, several points of the doctrine set forth by him can be traced to that school. It seems to have had an influential position in India, for it is referred to directly or indirectly by Vasubandhu, who adopted, in fact, the tenets of the school in some of the important points of contention, e.g., the problem of time. (C) Giáo thuyết—Philosophy: a) See Thành Thực Luận. b) Học thuyết của Thánh Thực Tông được hiểu như là chủ trương Nhân Không (Pudgala-sunyata) và Pháp Không (Sarva-dharma-sunyata). Do đó, nó là một chủ trương Nhị Không, trái ngược với thuyết của Hữu Bô chủ trương Ngã Không nhưng Pháp Hữu. Nhân cách được tạo thành do năm ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) không có bản thể và không có tự ngã, cũng như cái vại trống rỗng không có nước hay tinh thể nội tại. Thêm nữa, vũ trụ gốm có 84 pháp, nhưng tất cả hoàn toàn không có thực tại lưu tồn, cũng như cái vại tự nó khong có thực tại thường hằng. Mỗi một pháp trong ngũ uẩn hay tứ đại kết hợp lại thành vũ trụ, không có bản thể thường hằng và bất biến, chúng chỉ là giả danh: The doctrine of the Satyasiddhi School is generally understood to be the void of self (Pudgala-sunyata) and of elements (sarva-dharma-sunyata). It is, therefore, the twofold void in contrast to the doctrine of the Realistic School (Kosa) which is the void of self (pudgala-sunyata) but the reality of elements (dharma-ta). Personality which is made up of five groups (Form, Perception, Conception, Volition and Consciousness) has no substratum and no individual self, just as an empty jar has no water or inner essence. Again, the universe consists of eighty-four elements, but all of them have no abiding reality at all, just as a jar itself has no permanent reality. Each of the five groups or the four great elements (earth, water, fire and air) of which the universe is composed has no permanent, changeless substance. They are only temporary names. c) Theo Ha Lê Bạt Man, tất cả vạn hữu cuối cùng phải đi đến chân lý của sự tịch diệt tức diệt đế hay Niết Bàn (nirodha satya); do đó sự tịch diệt cứu cánh. Như thế chỉ có tánh không là chân lý cứu cánh. Điều nầy không có nghĩa là tông phái nầy phủ nhận ý thức hay hiện tượng giả hữu của vạn hữu, bởi vì nó thừa nhận 5 bộ loại chia thành 84 pháp, thay vì 75 pháp như Câu Xá Tông: According to Harivarman, all beings should ultimately come to the truth of extinction (nirodha-satya), i.e., Nirvana, which is the final extinction. Thus voidness alone is the ultimate truth. This does not mean that the school denies the common-sense or phenomenal temporary existence of all beings, for it admits the five categories of all elements which are subdivided into eighty-four dharmas, instead of the seventy-five dharmas of the Kosa School. d) Khi phân tách năm cảnh, Thành Thật Tông giản lược chúng vào vi trần, và rồi giản lược thêm nữa cho chúng vào cực vi, và bằng cách lập lại tiến trình như thế, sau cùng tông nầy đạt đến một yếu tố nhỏ nhiệm nhất có một bản chất hoàn toàn khác với những đối tượng ban đầu. Tiến thêm bước nữa, tông nầy đạt đến Không. Như thế Hư Vô Luận của tông nầy là “Chiết Pháp Không” hay cái không trừu tượng. Nói cách khác, bản tính phi hữu được thừa nhận theo tông phái nầy là một thứ phân tích về sự hữu, hay chỉ là một thứ thiên không hay không một chiều, đối nghịch với hiện hữu. Và đây không phải là cái Không siêu việt (bất đản không hay không phải chỉ có không) mà Tam Luận tông đã xiển dương. Chúng ta có thể nói đây là học thuyết về vô thể, hay vô ngã, bởi vì nó phủ nhận hiện hữu của tự ngã và của tất cả các pháp, tâm và sắc. Nói rõ hơn, tâm (citta) không thường tồn, và những tâm sở (caitasika) không tự hữu; tất cả các pháp tâm bất tương ưng (cittaviprayukta) thảy đều giả hữu; pháp vô vi (asamskrita) cũng phi thực. Học thuyết Không ở đây toàn triệt và có thể được coi như là Hư Vô toàn diện (sarva-sunyata), nếu chúng ta nói theo chân lý tuyệt đối. Chỉ ở quan điểm tục đế, chúng ta mới thừa nhận hiện hữu của vạn hữu: Analyzing those five objects the school reduces them to molecules, and further reduces them to even finer atoms, and by thus repeating the process the school finally attains the finest element which has an entirely different nature from the first objects. Going one step further, the school attains the Void. Thus the nihilism of this school is a 'destructed' or abstracted Void. In other words, the non-entity asserted in this school is simply and abstraction from entity, or merely an antithetic Void as against existence. And this is not the synthetic Void or transcendental Void advanced by the San-Lun School. We may call it the doctrine of nothingness or non-ens, for it denies the existence of individual self and of all elements, matter and mind. To speak more clearly, mind (citta) is not abiding, and mental functions (caitasika) have no independence; those dharmas or elements which are neither matter nor mind (citta-viprayukta) are all temporary; the uncreated elements (asamskrita) are also unreal. The doctrine of Void is here complete and it can be taken as total nihilism (sarva-sunyata) if we follow the supreme truth. It is only from the point of view of worldly truth that they admit the existence of all things.

thành trụ hoại không

(成住壞空) Chỉ cho 4 kiếp: Thành, Trụ, Hoại, Không. Đây là quan niệm cơ bản của Phật 19. Thoái tướng (Thoái pháp tướng) 20. Thủ tướng (Thủ hộ tướng) 21. Tử tướng 22. Trụ tướng 23. Khả tiến tướng 24. Bất hoại tướng 25. Tuệ giải thoát tướng (Tuệ giải thoát) 26. Câu giải thoát tướng (Câu giải thoát) 27. Bất thoái tướng Vô Học––– A la hán quả – Tu đà hoàn hướng (Dự lưu hướng) 1. Tùy tín hành 2. Tùy pháp hành 3. Tùy vô tướng hành (Vô tướng hành) –4. Tu đà hoàn quả (Dự lưu quả) –5. Tư đà hàm hướng (Nhất lai hướng) –6. Tư đà hàm quả (Nhất lai quả) –7. A na hàm hướng (Bất hoàn hướng) – A na hàm quả (Bất hoàn quả) – A la hán hướng Hữu Học 8. Trung ấm diệt (Trung ban) 9. Sinh diệt (Sinh ban) 10. Hành diệt (Hữu hành ban) 11. Bất hành diệt (Vô hành ban) 12. Thượng hành chí A ca ni tra diệt (Thượng hành diệt, Lạc tuệ) 13. Chí vô sắc xứ (Lạc định) 14. Chuyển thế 15. Hiện diệt (Hiện ban) 16. Tín giải thoát (Tín giải) 17. Kiến đắc 18. Thân chứng Đồ biểu hai mươi bảy giai vị Hiền Thánh:giáo đối với sự sinh diệt biến hóa của thế giới. Phẩm Tam tai trong kinh Trường a hàm quyển 21, kinh Đại lâu thán quyển 5, kinh Khởi thế quyển 9, kinh Khởi thế nhân bản quyển 9, luận Câu xá quyển 12... đều có ghi rõ về 4 kiếp này. Phần Thị chúng trong Lâm tế lục (Đại 47, 498 trung) nói: Bấy giờ, tất cả vào phàm vào thánh (...) mọi nơi đều hiện cõi nước, thành trụ hoại không. (xt. Tứ Kiếp, Trụ Kiếp, Thành Kiếp, Không Kiếp, Hoại Kiếp).

thành tâm

Frankness—Sincerity.

thành tích

Performance—Result.

thành tín

True and trustworthy—True and reliable.

Thành Tôn

(成尊, Seizon, 1012-1074): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời Bình An, Tự Trưởng đời thứ 30 của Đông Tự, húy là Thành Tôn (成尊), hiệu Tiểu Dã Tăng Đô (小野僧都). Sau khi xuất gia với Nhân Hải (仁海) ở Mạn Trà La Tự (曼荼羅寺, Mandara-ji, tức Tùy Tâm Viện [隨心院]) vùng Tiểu Dã (小野, Ono), ông được thọ phép Quán Đảnh và làm trú trì chùa này. Đến năm 1065, ông hành phép cầu mưa và có linh nghiệm, sau đó ông lại cầu nguyện cho Hậu Tam Điều Thiên Hoàng (後三條天皇, Gosanjō Tennō, tại vị 1068-1072) tức vị, nên rất được sủng kính. Năm 1069, ông làm Quyền Luật Sư, đến năm 1072 thì truyền trao phép Quán Đảnh cho Minh Toán (明算) ở Cao Dã Sơn. Năm sau ông làm Quyền Thiếu Tăng Đô, và năm sau nữa thì làm Tự Trưởng của Đông Tự. Đệ tử của ông có Nghĩa Phạm (義範), Phạm Tuấn (範俊), v.v. Trước tác ông để lại có Chơn Ngôn Phú Pháp Toản Yếu Sao (眞言付法纂要抄) 1 quyển, Tiểu Dã Lục Thiếp Khẩu Quyết (小野六帖口決) 5 quyển, Quán Tâm Nguyệt Luân Ký (觀心月輪記) 1 quyển, Đồ Sư Quán Đảnh Quyết Nghĩa Sao (徒師灌頂決義抄) 4 quyển, v.v.

thành tướng

(成相) Tướng thành, 1 trong 6 tướng. Theo sự giải thích trong Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 4 thì một pháp duyên khởi là các thứ duyên tạo thành, đó là Thành tướng; ví như tòa nhà là do rường cột, ngói gạch, nhân công... tạo thành. (xt. Lục Tướng, Lục Tướng Viên Dung).

Thành Tầm

(成尋, Shōjin, 1011-1081): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sang nhà Tống cầu pháp, cha là con của Đằng Nguyên Thật Phương (藤原實方), mẹ là con của Nguyên Tuấn Hiền (源俊賢); tuy nhiên cũng có nhiều thuyết khác nhau. Năm lên 7 tuổi, ông nhập môn xuất gia với Văn Khánh (文慶, Bunkei, sau này là Trưởng Lại của Viên Thành Tự [園城寺, Onjō-ji]) ở Đại Vân Tự (大雲寺, Daiun-ji) vùng Nham Thương (岩倉, Iwakura), kinh đô Kyōto và học giáo lý Hiển Mật. Sau đó, ông thọ pháp Thai Mật của Hành Viên (行圓, Gyōen) và Minh Tôn (明尊, Myōson); đến năm 1041 (niên hiệu Trường Cửu [長久] thứ 2) thì làm Biệt Đuơng (別當, Bettō) của Đại Vân Tự. Cùng lúc đó, ông còn làm vị tăng hộ trì cho vị Quan Bạch Đằng Nguyên Lại Thông (藤原賴通, Fujiwara-no-Yorimichi). Đến năm 62 tuổi (1072), ông mang bộ Vãng Sanh Yếu Tập (徃生要集) cũng như Tuần Lễ Ký (巡禮記) của Viên Nhân (圓仁, Ennin) và Điều Nhiên (奝然, Chōnen) sang nhà Tống, đi tham bái khắp các nơi, rồi tham gia dịch kinh ở Biện Kinh (汴京, Khai Phong [開封]) và được ban cho hiệu là Thiện Huệ Đại Sư (善慧大師) nhờ ông cầu mưa có linh nghiệm. Vì không được phép trở về nước, ông ủy thác cho đệ tử 527 quyển kinh mang về và cuối cùng qua đời tại Khai Bảo Tự (開寳寺), Phủ Khai Phong. Ngoài tác phẩm Tham Thiên Thai Ngũ Đài Sơn Ký (參天台五台山記), ông còn để lại một số trước tác khác như Quán Tâm Luận Chú (觀心論註), Pháp Hoa Kinh Chú (法華經註), v.v.

thành tầm

(成尋) Cao tăng Nhật bản thuộc tông Thiên thai, người ở Kyoto, là con của ông Đằng nguyên Tá lí. Sư theo người anh họ là Văn khánh học nội điển, ngoại điển và giáo pháp Hiển, Mật, sau, sư chuyên trì tụng kinh Pháp hoa. Năm Diên cửu thứ 4 (1072), sư được 62 tuổi và đến Trung quốc (đời Tống). Sư đi chiêm bái các núi Thiên thai, Ngũ đài, rồi đến Biện kinh, được vua Thần tông nhà Tống ban sắc cho sư trụ ở viện Thái bình hưng quốc truyền pháp. Nhờ cầu mưa linh nghiệm nên được vua ban hiệu Thiện Tuệ Đại Sư, đồng thời giữ chức Giám sự trong Dịch kinh trường. Sư muốn về nước nhưng không được phép, sư bèn gửi 527 quyển kinh luận Đại thừa, Tiểu thừa về Nhật bản. Sau, sư trụ ở chùa Khai bảo. Năm Nguyên phong thứ 4 (1081) sư thị tịch, thọ 71 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Quán tâm luận chú, Pháp hoa kinh chú, Pháp hoa thực tướng quán chú, Quán kinh sao, Tham thiên thai ngũ đài sơn kí. [X. Phật tổ thống kỉ Q.45; Nguyên hanh thích thư Q.16; Bản triều cao tăng truyện Q.67].

thành tự nhiên giác

Đạt được tự nhiên giác ngộ bằng cách giữ lấy chân lý ngay nơi tâm mình—To attain to natural enlightenment as all may do by beholding eternal truth within their own heart.

thành tựu

Siddhi (skt)—Aspire—To accomplish—To fulfill—To undertake—Accomplishment—Fulfilment—Completion—To bring to perfection. ; (成就) I. Thành Tựu. Phạm: Samanvàgana. Pàli: Samannàgama. Đã được một cái gì đó và hiện tại vẫn còn tiếp tục chưa mất, là 1 trong các loại Đắc(được). Đây là giáo nghĩa của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Nhưng các Luận sư trong Hữu bộ cũng có vị chủ trương thuyết khác. Theo luận Câu xá quyển 4 thì Thành tựu và Hoạch đều thuộc về một trong các thứ Đắc. Chưa được hoặc đã mất mà nay được, gọi là Hoạch; đã được mà đến nay vẫn còn tiếp tục không mất, gọi là Thành tựu. Nhưng luận Đại tì bà sa quyển 157 thì cho rằng đắc, hoạch và thành tựu chỉ là khác âm thôi, chứ nghĩa thì đồng. Lại theo luận Đại tì bà sa quyển 162 thì có 7 thuyết về sự khác nhau giữa Đắc và Thành tựu như Chưa được mà được gọi là Đắc, đã được mà được gọi là Thành tựu, Mới được mà được gọi là Đắc; được rồi vẫn tiếp tục gọi là Thành tựu. [X. luận Thuận chính lí Q.12; luận A tì đạt ma hiển tông Q.6; Câu xá luận quang kí Q.4]. (xt. Đắc). II. Thành Tựu. Phạm, Pàli: Saôpanna. Nghĩa là đầy đủ, sở hữu, chi phối. Tức đầy đủ 7 thứ quí báu hoặc giới, định, tuệ và được tự tại đối với các thứ đó, gọi là Thành tựu. Hoặc chỉ cho sự hoàn thành chí nguyện. Mật giáo cho rằng Thành tựu là do dịch ý của từ Tất địa (Phạm:Sidhi). [X. kinh Thành tựu giới trong kinh Trung a hàm Q.5; phẩm Chuyển luân Thánh vương trong kinh Trường a hàm Q.18; kinh A di đà; luận Câu xá Q.4]. III. Thành Tựu. TứcSàdhaịà, tên của một tác phẩm nổi tiếngcủa Ấn độ. Đề mục phụ của sách này là Realization of Life(Hiệnthực cuộc sống), do nhà Văn học, nhà Tư tưởng người Ấn độ thời cận đại là Thái qua nhĩ (Rabindranath, Tagore, 1861-1941) soạn. Sách này do thu góp các bản thảo diễn giảng nhiều lần tại trường đại học Harvard, Hoa kì, vào năm 1913 mà thành. Nội dung sách này bao gồm 8 thiên: Mối quan hệ giữa cá nhân và vũ trụ,Ýthức về linh hồn, Vấn đề cái ác,Vấn đề tự ngã, Sự thực hiện cái đẹp vàSự thực hiện cái vô hạn. Những điều chủ yếu mà tác phẩm nhấn mạnh là: 1. Nền văn hóa đô thị phương Tây đã tạo ra sự đối lập giữa người và ta, giữa người và thiên nhiên; còn văn hóa Ấn độ thì sản sinh ý thức nhất thể dung hợp giữa con người và thiên nhiên. Thế giới hiện tượng tuy thiên sai vạn biệt, nhưng chân lí thì chỉ có một; con người chỉ cần thể ngộ được cái một ấy thì liền hiểu rõ hết tất cả. 2. Bi kịch của kiếp sống con người là do những điều kiện hữu hạn mà lại mong muốn đạt đến kết quả của thế giới vô hạn, vì thế cần phải thể hiện chân lí xả bỏ tất cả để được tất cả trong Áo nghĩa thư. Sự xả bỏ tự ngã mà đức Phật nói giống như nhờ dầu cạn dần mà đèn được sáng. Giải thoátchínhlà từ trong xiềng xích ngu si và tham dục mà thoát ra. Trong tác phẩm tràn đầy nhiệt tình và líluậnphục hưng tinh thần Ấn độ. [X. A. Tagore Reader, 1961, by Maemillan].

thành tựu bảy diệu pháp

Theo Kinh Hữu Học trong Trung Bộ Kinh, Đức Phật đã chỉ dạy về sự thành tựu bảy diệu pháp—According to the Sekha Sutta in the Middle Length Discourses of the Buddha, the Buddha mentioned about seven good qualities: 1) Vị Thánh đệ tử có lòng tin và đặt lòng tin nơi sự giác ngộ của Như Lai: “Ngài là Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.”—Here a noble disciple has faith and he places his faith in the Tathagata's enlightenment thus: “The Blessed One is accomplished, fully enlightened, perfect in true knowledge and conduct, sublime, knower of words, incomparable leader of persons to be tamed, teacher of gods and humans, enlightened blessed.” 2) Vị nầy có lòng tàm, tự xấu hổ vì thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh; tự xấu hổ vì thành tựu ác, bất thiện pháp: He has shame; he is ashamed of misconduct in body, speech, and mind, ashamed of engaging in evil unwholesome deeds. 3) Vị nầy có lòng quý, tự sợ hãi vì thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh; tự sợ hãi vì thành tựu ác, bất thiện pháp: He has fear of wrong doing; he is afraid of misconduct in body, speech, and mind, afraid of engaging in evil unwholesome deeds. 4) Vị nầy là vị đa văn, nhớ nghĩ những điều đã nghe, tích tụ những điều đã nghe. Nghe những pháp nào, sơ thiện, trung thiện, có nghĩa, có văn, nói lên phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh, những pháp như vậy, vị ấy nghe nhiều, thọ trì, đọc tụng bằng lời, được ý suy tư, được chánh kiến thể nhập: He has learned much, remembers what he learned, and consolidates what he has learned. Such teachings as are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, with the right meaning and phrasing, and affirm a holy life that is utterly perfect and pure–such teachings as these he has learned much of, remembered, recited verbally, investigated with the mind and penetrated well by view. 5) Vị ấy sống tinh cần tinh tấn, trừ bỏ các pháp bất thiện, thành tựu các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, không từ bỏ gánh nặng đối với các thiện pháp: He is energetic in abandoning unwholesome states and in undertaking wholesome states; he is steadfast, firm in striving, not remiss in developing wholesome states. 6) Vị ấy có niệm, thành tựu niệm tuệ tối thắng, nhớ lại, nhớ lại nhiều lần những gì đã làm từ lâu, đã nói từ lâu: He has mindfulness; he possesses the highest mindfulness and skill; he recalls and recollects what was done long ago and spoken long ago. 7) Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, thành tựu Thánh thể nhập đưa đến chân chánh đoạn tận khổ đau: He is wise; he possesses wisdom regarding rise and disappearance that is noble and penetrative and leads to the complete destruction of suffering.

thành tựu chúng sanh

Chuyển hóa chúng sanh bằng cách phát triển Phật tánh nơi họ và khiến họ đạt được giác ngộ—To transform all beings by developing their Buddha-nature and causing them to obtain enlightenment.

thành tựu công đức

Achievement of merit.

thành tựu diệu pháp liên hoa kinh vương du già quán trí nghi quỹ

(成就妙法蓮華經王瑜伽觀智儀軌) Gọi tắt: Pháp hoa kinh quán trí nghi quĩ, Thành tựu pháp hoa nghi quĩ, Pháp hoa quán trí quĩ, Pháp hoa nghi quĩ. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Sách này thuộc Bí mật bộ trong kinh điển Mật giáo, nội dung nói về cách thức cúng dường kinh Pháp hoa. Trước hết là kệ tán thán, qui mệnh 28 phẩm kinh Pháp hoa, rồi nêu ra 4 duyên cần phải có để thành tựu pháp này; 4 duyên ấy là: Gần gũi thiện tri thức chân chính, lắng nghe chính pháp, tác ý đúng như lí và theo pháp tu hành pháp; đồng thời nói về cách làm đàn và cách vào đàn, cách quán tưởng, cách cúng dường nghinh thỉnh... Kế đến nói về cách lập đàn tràng như việc chọn đất, làm sạch đất, tô đất, gia trì vật cúng, tắm gội... Sau cùng, nói rõ việc vào đàn tu pháp, vào pháp quán tưởng chân như pháp tính, cho đến 5 pháp cúng dường như tụng chân ngôn, xoa hương, nhập Thực tướng tam ma địa... Trong quá trình này, từ lúc bắt đầu đến 5 pháp cúng dường là y theo Thai tạng giới; còn từ Thực tướng tam ma địa trở xuống thì y theo Kim cương giới.[X. Tục khai nguyên thích giáo lục Q.thượng; Chư a xà lê chân ngôn Mật giáo bộ loại tổng lục Q.thượng].

thành tựu giới hạnh

Theo Kinh Hữu Học trong Trung Bộ Kinh, Đức Phật dạy về Thánh đệ tử thành tựu giới hạnh như sau—According th the Sekha Sutta in the Middle Length Discourses of the Buddha, the Buddha confirmed that in order to possess of virtue, a noble disciple should: 1) Hộ trì các căn: Guard the doors of his sense-faculties—See Hộ Trì Các Căn. 2) Tiết độ trong ăn uống: Be moderate in eating—See Tiết Độ Trong Ăn Uống. 3) Chú tâm cảnh giác: Be devoted to wakefulness—See Chú Tâm Cảnh Giác. 4) Thành tựu Bảy Diệu Pháp: Possess seven good qualities—See Thành Tựu Bảy Diệu Pháp. 5) Lạc trú bốn thiền: Pleasant abiding in the four jhanas—See Tứ Thiền. 6) Sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha: Dwell restrained with the restraint of the Patimokkha. 7) Đầy đủ oai nghi chánh hạnh: Be perfect in conduct and resort. 8) Thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt: See fear in the slightest faults. 9) Thọ lãnh và tu học các học pháp: Train by undertaking the training precepts.

thành tựu hạnh nguyện phổ hiền

To accomplish or undertake the acts and vows of Universally Good Enlightened Beings—See Phổ Hiền Thập Nguyện.

thành tựu nhiên giác

To attain to natural enlightenment as all may do by beholding eternal truth within their hearts.

thành tựu nhất thiết ấn

(成就一切印) Cũng gọi Thành tựu nhất thiết minh. Một trong 6 thứ ấn Phật nhãn ghi trong phẩm Kim cương cát tường đại Thành tựu kinh Dukì. Cách kết ấn khế này là : Hai tay đều kết ấn Bất động kiếm, tay trái ngửa lên, tay phải úp xuống, dùng kiếm (tức ngón trỏ, ngón giữa)cắm vào trong lòng bàn tay(khoảng giữa ngón út, ngón vô danh, ngón cái). Cắm vào trong lòng bàn tay biểu thị ý nghĩa sinh(chúng sinh), Phật(chư Phật) không hai, chúng sinh và chư Phật cùng trụ trong tâm nguyệt luân. Đây là ấn mà Mật giáo sử dụng để biểu thị ý nghĩa nhập ngã, ngã nhập của chư tôn. Ngón út trong ấn tướng là chữ (a), tượng trưng Thai tạng giới. Ngón vô danh là chữ (va) tượng trưng Kim cương giới. Dùng ngón cái(ngón không) đè lên móng ngón út và ngón vô danh là tượng trưng cho việc thêm chấm không lên trên 2 chữ và , tức (aô), (vaô). Trên 2 ngón mà thêm 1 cái chấm không (.), tức là biểu thị ý nghĩa không hai; tay trái là nghĩa không hai của Thai tạng giới, tay phải là nghĩa không hai của Kim cương giới; cả hai bên phải bên trái đặt vào trong lòng bàn tay là biểu thị nghĩa không hai trên không hai. Theo nghĩa thâm bí của Mật giáo, Bản tôn và hành giả vốn là thể không hai củaKim cương giới và Thai tạng giới, vì thế nhập ngã, ngã nhập cũng biểu thị không hai trên không hai. Ngoài ra, ấn này cũng là ấn bí mật được dùng lúc lâm chung. Chân ngôn là: Án (oô) tra tra (ỉa ỉa) tra ô tra ô (ỉu ỉu) trí trí trí trí (ỉitì ỉitì) tra ô tra ô tra ô tra ô (ỉu ỉù ỉu ỉù) phạ nhật la sa đát phạ (Vajrasatva) nhược hồng tông cốc (jja# hùô baô ho#) hiệt lí hác hồng bắc tra hồng (hrì# ha# hùô phaỉ hùô). Kinh Du kì cũng ghi rõ công đức của chân ngôn này là có năng lực thành tựu tất cả ấn, nhiếp phục tất cả các trời, thành tựu tất cả việc; nếu muốn biết trước các việc vị lai thì kết ấn đặt bên eo trái, tụng 108 lượt chân ngôn, xong rồi thì kết ấn mà ngủ, Bản tôn A vĩ xa liền thị hiện tất cả việc lành dữ trong mộng.

thành tựu pháp man

(成就法鬘) Phạm:Sàdhana-màlà. Cũng gọi Thành tựu pháp tập (Phạm: Sàdhana-samuccaya). Tùng thư thu chép các thành tựu pháp, nghi quĩ... nói về việc sùng bái chư tôn của Kim cương thừa (Phạm: Vajra-yàna) trong Mật giáo vào thời kì cuối ở Ấn độ. Người thu tập và niên đại biên soạn đều không rõ. Nội dung tùng thư này gồm 312 loại kinh quĩ được sắp xếp theo thứ tự chư Phật, chư Bồ tát, chư tôn như: Tam muội da vương thành tựu pháp (Phạm:Tri-samaya-ràjasàdhana), Kim cương tòa chí tôn thành tựu pháp ưu ba đề xá nghi quĩ (Phạm: Vajràsana-bhaỉỉàraka-sàdhanopadezavidhi), Thánh lục tự mẫu đại minh thành tựu pháp (Phạm: Àrya-wađakwarìmahàvidyà-sàdhana)... Trong hơn 300 loại thành tựu pháp này, chỉ có 55 loại là còn tên tác giả, gồm 42 người. Theo sự khảo chứng của ông Benoytosh Bhattacharyya mà suy đoán thì tác giả có niên đại xưa nhất là ngài Vô trước (khoảng 300-390 Tây lịch) của phái Du già và người có niên đại gần nhất là ngài A ba ca lạp cấp đa (Phạm: Abhayàkaragupta, 1084-1130). Lại trong các bản chép tay của sách này thì bản viết trên lá bối được cất giữ tại thư viện của trường Đại học Cambridge tại Anh quốc có niên kỉ tương đương với năm 1165, vì thế có thể suy biết niên đại biên soạn sách này là giữa thế kỉ XII. Đến đời cận đại có bản tiếng Phạm do ông Benoytosh Bhattacharyya hiệu đính được xuất bản, đó là:Sàdhanamàlà (Gaekwad’s Oriental Series, No. 26, 41. Baroda, 1925- 1928). Ngoài ra, khoảng năm 1914, M. Henri Maspero tìm thấy ở chùa Phổ an tại huyện Ngân, tỉnh Chiết giang, Trung quốc, các lá bối xưa tương đương với các pháp thứ 217, 252, 253 trong bộ tùng thư này.Trong Đại tạng kinh Tây tạng tuy không có các tác phẩm phiên dịch tương đương với sách này, nhưng trong Bí mật bộ của Đan châu nhĩ thì có rất nhiều tác phẩm tương đương với các Thành tựu pháp được thu gom trong sách này, nhất là các Thành tựu pháp thuộc 220 loại đầu trong sách này gần như giống với thứ tự từng phần được nêu trong Bí mật bộ ấy. [X. Đông bắc Đế quốc Đại học Tây tạng đại tạng kinh tổng mục lục; Catalogue of the Buddhist Sanskrit MSS in the University Library, Cambridge, by C. Bendall].

thành tựu quán đỉnh

(成就灌頂) Cũng gọi Tất địa quán đính, Trì minh tất địa quán đính. Một trong 4 loại quán đính nói trong phẩm Phân biệt hộ ma kinh Cù hê quyển hạ. Trong pháp tu của Mật giáo, khi hành giả kết thúc Tam muội da thứ 3 Thụ minh quán đính thì phải vào đàn tu pháp để tu pháp Hộ ma thành tựu các vị thuốc, Thành tựu mạn đồ la quán đính được truyền thụ lúc đó gọi là Thành tựu quán đính. Pháp Thành tựu quán đính này được nêu rõ trong các kinh quĩ như kinh Cù hê, phẩm Quán đính đàn trong kinh Tô tất địa quyển hạ, Bát tự văn thù nghi quĩ... nhưng trong phẩm Tất địa xuất hiện của kinh Đại nhật quyển 3 thì chỉ mới nêu ra Thành tựu mạn đồ la và Thành tựu pháp của Mạn đồ la này, chứ chưa nói gì đến pháp Thành tựu quán đính. Còn cứ theo phẩm Tứ đại trong hội đầu tiên của kinh Kim cương đính thì Tứ ấn mạn đồ la đều là đàn tràng của Thành tựu quán đính.

thành tựu thế gian

Worldly achievement.

thành ý

Frank idea.

thành đạo

Chứng đạo hay trở thành toàn giác như Phật Thích Ca—To attain the way, or to become enlightened, i.e. the Buddha under the bodhi tree. ; (成道) Gọi đủ: Thành Phật đắc đạo. Cũng gọi Thành Phật, Đắc Phật, Đắc đạo, Thành chính giác. Chỉ cho việc hoàn thành Phật đạo, 1 trong 8 tướng. Tức là Bồ tát hoàn thành việc tu hành, thành tựu quả Phật. Cứ theo truyền thuyết, sau khi qua 6 năm tu khổ hạnh, đức Thích ca ngồi trên tòa Kim cương có trải cỏ Cát tường dưới gốc cây Bồ đề mà thành đạo, nơi này sau được gọi là nơi thành đạo. Nhưng các kinh luận Đại thừa thì cho rằng thành đạo dưới gốc cây là thị hiện tướng Ứng thân thành Phật, chứ Báo thân của Phật thì thành đạo ở trí xứ Ma hê thủ la trên tầng trời Sắc cứu cánh. Về vấn đề đức Thích tôn thành đạo lúc bao nhiêu tuổi thì có nhiều thuyết khác nhau. Kinh Thập nhị du, phẩm Tướng sư chiêm khán trong kinh Phật bản hạnh tập quyển 10, Đảo sử (Pàli:Dìpavaôsa, III), Đại sử (Pàli:Mahàvaôsa, II)... đều cho rằng đức Thích tôn thành đạo lúc 35 tuổi. Cũng có các thuyết cho rằng lúc Ngài 30, 31 tuổi... Còn về ngày tháng thành đạo thì có các thuyết ngày mồng 8, 16 tháng 2, ngày mồng 8 tháng 4... Nếu cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 8 thì ngày Phật thành đạo là ngày mồng 8 nửa sau tháng Phệ xá khư, tức ngày mồng 8 tháng 3 âm lịch; cũng trong Đại đường tây vực kí còn ghi: Thượng tọa bộ cho là ngày 15 nửa sau tháng Phệ xá khư, tức ngày 15 tháng 3 âm lịch. Ở Trung quốc thịnh hành thuyết Lạp bát thành đạo (ngày mồng 8 tháng Chạp) và pháp hội được cử hành vào ngày này gọi là Thành đạo hội, Lạp bát hội, đặc biệt được Thiền tông xem trọng. Còn ở Nhật bản thì pháp hội được cử hành vào ngày đức Thích tôn thành đạo, Thiền tông gọi là Thành đạo kị. Tức từ ngày mồng 1 đến ngày mồng 8 tháng Chạp âm lịch tu Lạp bát tiếp tâm, sáng sớm ngày mồng 8 thì cử hành Thành đạo kị. Theo tông Thiên thai thì Bồ tát Tam giáo phải trải qua 4 giai đoạn tu hành là kiếp a tăng kì thứ nhất, thứ hai, thứ ba và 100 đại kiếp mới thành đạo, gọi là Tứ giai thành đạo. Nhưng, theo Tiểu thừa giáo như Thuyết nhất thiết hữu bộ... thì cho rằng 4 giai đoạn tu hành phải là: 1. Ba a tăng kì kiếp. 2. Một trăm đại kiếp. 3. Ở thân sau cùng, Bồ tát phải đoạn trừ phiền não của 8 địa dưới trong 9 địa. 4. Đoạn trừ 34 tâm kết sử mà thành đạo.[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.23; kinh Đạo hành bát nhã Q.10; kinh Đại bát nê hoàn Q.hạ; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.3; kinh Phật bản hạnh tập Q.25; kinh Thái tử thụy ứng Q.hạ; Tát bà đa tì nitiba sa Q.2; Thập địa kinh luận Q.1; luận Nhập đại thừa Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.103; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7]. (xt. Bát Tướng).

thành đạo hội

Ngày kỷ niệm Phật thành đạo là ngày 8 tháng chạp hàng năm (còn gọi là ngày Lạp Bát)—The annual commemoration of the Buddha's enlightenment on the 8th day of the 12th month.

thành đạt

To succeed—To reach (attain) one's end.

thành đẳng chánh giác

Bậc Bồ Tát tu hành ngôi nhân vị tròn đầy bậc toàn giác hay thành Phật—To attain to perfect enlightenment—To become Buddha.

thành đế

Chân giáo Phật pháp—Truth—The true teaching of Buddhism.

thành, trụ, hoại, không

Formation, stability or development, dissolution or disintegration, and void.

thác

1) Chết: To die. 2) Thác nước: Waterfall (fall). 3) Ký thác: To entrust—To confide. 4) Mang nơi tay: To carry on the palm.

Thác Am Chí Minh

(錯庵志明, Sakuan Shimyō, khoảng thế kỷ 12-13): vị tăng sống dưới thời nhà Kim, xuất thân An Châu (安州, An Tân, Tỉnh Hà Bắc), họ Hác (郝), tự là Bá Hôn (伯昏), hiệu Thác Am (錯庵), Lạc Chơn Tử (樂眞子), không rõ ngày tháng năm sinh và mất, cũng như tông phái. Ông đã từng viết cuốn Hoa Tiêu Nguyệt Tập (花標月集), được vị Thủ Tòa Khiết khích lệ nên xuất gia, rồi nương theo Hương Lâm Tịnh (香林淨) thọ giới Cụ Túc. Sau đó, ông đến tham yết Thắng Tĩnh Phổ (勝靜普) và kế thừa dòng pháp của vị này. Ông đến trú tại Tung Sơn Thiếu Lâm Tự (嵩山少林寺), người đời thường gọi ông là Thác Am Chí Minh. Vào năm thứ 2 (1125) niên hiệu Đại Chánh (大正) đời vua Thái Tông nhà Kim, ông thâu tập tất cả hành trạng của chư vị tôn túc trong Thiền lâm, soạn thành tác phẩm Thiền Uyển Mông Cầu (禪苑蒙求), hay còn gọi là Thiền Uyển Dao Lâm (禪苑瑤林) gồm 3 quyển cho những người sơ tâm học đạo.

thác bát

1) Các Tỳ Kheo đi khất thực: Monks and nuns go for alms (tay bưng bát mà xin ăn). 2) Bát khất thực: An almsbowl. ; (托鉢) Phạm, Pàli: Piịđapàta. Cũng gọi Khất thực, Phân vệ, Đoàn đọa (ý nói thức ăn rơi vào trong bát), Trì bát, Phủng bát. Cầm bát, bưng bát. Tức cầm bát đi trên đường phố để hóa duyên khất thực. Đây là hành nghi mà tăng nhân ở Ấn độ thực hiện hằng ngày để nuôi sắc thân. Tại Trung quốc thời xưa phần nhiều sử dụng từ ngữ Trì bát, Phủng bát, từ đời Tống về sau mới dùng tiếng Thác bát, như ngài Văn khang chùa Khai nguyên làm bài Thác bát ca, vua Thái tổ nhà Minh họa vần theo, còn ngài Vân thê Châu hoành thì soạn Sa di luật nghi yếu lược trình bày về phép thác bát. Trong Thiền lâm, thác bát còn được gọi là La trai. Khi đến giờ dùng cơm cháo, cầm bát đi đến Tăng đường cũng gọi là Thác bát. Trong Thiền lâm, hàng năm vào 2 mùa Đông và Hạ, hoặc khi mất mùa đều thực hiện hành nghi thác bát. Về uy nghi, phép tắc thác bát được qui định chặt chẽ và trong các kinh luận có giải thích tỉ mỉ, rõ ràng.Ngoài ra, trong 12 hạnh Đầu đà có 2 loại Thường hành khất thực và Thứ đệ khất thực. Đời sau gọi Thác bát là Khất thực chính do chuyển hóa từ đây mà ra. [X. kinh A nâu di trong Trường a hàm Q.11; điều Nham đầu toàn khoát trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.16; điều Tịnh độ duy chính trong Tục truyền đăng lục Q.10; Bích nham lục tắc 51; Tăng ni lệnh

Thác chất

(托質): đồng nghĩa với thác sanh (托生), thác thai (s: garbhāvakrānti, p: gabbhāvakkanti, 托胎), tức thác sanh vào trong bào thai mẹ, hoặc chỉ cho sự thác sanh vào trong hoa sen ở thế giới Cực Lạc. Như trong Phật Thuyết A Di Đà Kinh Yếu Giải (佛說阿彌陀經要解) của Ngẫu Ích Trí Húc (蕅益智旭, 1599-1655) có đoạn: “Di Đà thánh chúng, bất lai nhi lai, thân thùy tiếp dẫn, hành nhân tâm thức, bất vãng nhi vãng, thác chất bảo liên hoa dã (彌陀聖眾、不來而來、親垂接引、行人心識、不徃而徃、托質寶蓮也, đức Phật Di Đà và thánh chúng, không đến mà đến, gần gủi tiếp dẫn, tâm thức hành giả, không đi mà đi, thác sanh vào hoa sen báu).” Hay trong Ngẫu Ích Đại Sư Tịnh Độ Tuyển Tập (蕅益大師淨土選集), phần Truyện Ký, Tụng Chửu Sư Vãng Sanh Truyện (誦帚師徃生傳) có đoạn: “Sư toại thị tật, triệu dư trợ kỳ niệm Phật, mạng thị giả trừ phát dục thân; dục tất, đoan tọa, cử thủ nhi thệ, chánh niệm phân minh, thần thanh khí định; việt nhị thời, đảnh hiển thượng noãn, thác chất liên nhụy, vô nghi dã (師遂示疾、召予助其念佛,命侍者除发浴身;浴毕、端坐,举手而逝。召予助其念佛、命侍者除發浴身、浴畢、端坐、舉手而逝、正念分明,神清气定。正念分明、神清氣定、越二时,顶显尚暖。越二時、頂顯尚暖、托质莲蕊,无疑也。托質蓮蕊、無疑也, sư bèn cáo bệnh, mời tôi đến giúp sư niệm Phật, sai thị giả xuống tóc, tắm rửa thân thể; tắm xong, sư ngồi ngay ngắn, vẩy tay chào mà đi, chánh niệm rõ ràng, thần khí trong sáng, định tĩnh; trãi qua hai thời gian, trên đỉnh đầu sư vẫn còn ấm, quả là thác sanh vào nhụy hoa sen, chẳng còn nghi ngờ gì cả).” Cũng như trong Sanh Tử Quan Toàn Tập (生死關全集), Thiên Chuyển Nữ Thành Nam (轉女成男篇) do Cư Sĩ Trần Do Bân (陳由斌) biên soạn có câu: “Cánh hữu dị phương tiện, chuyên niệm A Di Đà, thác chất diệu Liên Hoa, tật đắc bất thối chuyển (更有異方便、專念阿彌陀、托質妙蓮華、疾得不退轉, lại có phương tiện khác, chuyên niệm A Di Đà, thác sanh hoa sen mầu, mau được không thối chuyển).”

thác lâm la

Một trong mười hai đại tướng trong Kinh Dược Sư—One of the twelve generals in the Yao-Shih Sutra (Bhaisajya).

thác oan

To die innocently (injustly).

thác sanh

A womb or a Lotus in Paradise that to which birth is entrusted.

thác sự hiển pháp sinh giải môn

(托事顯法生解門) Môn mượn việc để hiển bày pháp nhờ đó mà sinh ra hiểu biết, là 1 trong 10 huyền môn do tông Hoa nghiêm lập ra. Môn này nói theo Trí, nghĩa là tất cả sự pháp đều làm duyên khởi lẫn nhau, tùy dựa vào 1 pháp mà quán xét thì rõ tất cả sự pháp, có năng lực sinh ra hiểu biết thù thắng Sự sự vô ngại. Lí Sự sự vô ngại chẳng phải là lí luận trừu tượng, mà là sự thực cụ thể, sự thực hiện tượng chính là pháp thể duyên khởi; sự thực chính là chân lí. Sự tướng được hiển bày chính là lí của sự tướng ấy được hiển bày, chứ không phải gá vào cái này mà lại có sự biểu hiện khác. Mục đích của môn này là phá kiến chấp cho rằng sự và lí khác nhau. [X. phẩm Thăng đâu suất thiên cung trong kinh Hoa nghiêm; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.trung; Hoa nghiêm thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.10]. (xt. Thập Huyền Môn).

thác sự quán

(托事觀) Cũng gọi Lịch sự quán. Nương nhờ vào sự để thành quán pháp, 1 trong 3 pháp quán tâm nói trong Chỉ quán nghĩa lệ của tông Thiên thai. Như quán tưởng vua thành Vương xá là tâm vương, nhà là 5 ấm, tâm vương làm ra nhà này, nếu tách 5 ấm ra thì nhà không, không tức là thành Niết bàn. Như thế, mỗi mỗi sự tướng nhập vào tâm mà ngộ giải thành chân lí, cho nên gọi là Thác sự quán. Pháp quán này chính là môn Thác sự hiển pháp sinh giải trong 10 huyền môn của tông Hoa nghiêm. (xt. Tam Quán).

thác thai

Sự thụ thai trong bụng mẹ—A womb—Conception. ; (托胎) Phạm:Garbhàvakrànti. Pàli: Gabbhàvakkanti. Cũng gọi Thác sinh, Nhập thai. Thác sinh vào thai mẹ. Hữu tình thai sinh (từ trong thai mẹ sinh ra)gá vào thai mẹ là khởi đầu cho việc thụ sinh đời này. Thác thai cũng chỉ cho việc thác sinh trong hoa sen ở thế giới Cực lạc; hoặc chỉ riêng cho việc thác thai, 1 trong 8 tướng hóa nghi của 1 đời đức Thích tôn, tức việc đức Thích tôn cỡi voi trắng 6 ngà từ cung trời Đâu suất xuống đi vào sườn bên phải của Ma da phu nhân. Truyền thuyết này trong các kinh điển Đại thừa, Tiểu thừa đều có ghi chép, như phẩm Bồ tát giáng thần trong kinh Tu hành bản khởi quyển thượng, kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 1... đều nói Bồ tát cỡi voi trắng vào thai mẹ; kinh Phổ diệu quyển 2 và luận Di bộ tông luân thì nói tất cả Bồ tát khi vào thai mẹ đều mang hình tướng voi. Hiện nay,Viện Bảo tàng Calcutta của Ấn độ có lưu giữ 3 bức vẽ đức Thích tôn thác thai, là các tác phẩm khoảng thế kỉ II Tây lịch. Trong các chùa viện ở Trung quốc cũng khắc tượng Thích tôn nhập thai, tương đối nổi tiếng thì có tượng khắc trên mặt phía nam của tháp xá lợi ở chùa Thê hà ở tỉnh Giang tô, miêu tả quá trình thác thai của đức Thích tôn được ghi trong kinh Quá khứ hiện tại nhân quả như sau: Trong cung điện, phu nhân nằm nghiêng một bên, ở đầu hiên có voi trắng cỡi mây bay đến, Bồ tát ngồi xếp bằng trên lưng voi, phóng ra 1 luồng ánh sáng tròn lớn. [X. kinh Phật bản hạnh Q.1; kinh Thái tử thụy ứng bản khởi Q.thượng; luận Đại tì bà sa Q.70]. (xt. Bát Tướng).

thác tháp thiên vương

Một trong Tứ Thiên Vương, Bắc Phương Đa Văn Thiên Vương hay Tỳ Sa Môn. Vị Thiên Vương đở nâng chùa tháp trên lòng bàn tay—One of the four deva-kings (maharajas), Northern deva-king who learns much or Vaisravana. He is the deva-king who bears a pagoda on his palm. ; (托塔天王) Phạm: Vaizravaịa. Hán âm: Tì sa môn. Chỉ cho Đa văn thiên vương ở phương bắc, 1 trong 4 vị Thiên vương nói trong kinh Phật. Vị Thiên vương này có uy đức lớn, thống lãnh các La sát, Dạ xoa..., được đức Phật phó chúc hộ trì chính pháp, giữ gìn quốc gia. Vì bàn tay vị Thiên vương này nâng ngôi tháp xá lợi của 1 vị cổ Phật nên thường gọi là Thác tháp thiên vương. Tại Trung quốc, vào các đời Đường, Tống vua từng ban sắc cho các quân khu các châu, phủ xây Thiên vương đường để thờ cúng vị thần này. Đời Nguyên thì hình tượng vị Thiên vương này được vẽ trên cờ rồi xếp vào trong lỗ bạ (cuốn sổ ghi các đồ nhà binh như áo giáp...). (xt. Tứ Thiên Vương, Đa Văn Thiên).

thác tử

(托子) Cái khay trà. Tức cái khay để tách, chén uống trà. Trong Thiền lâm gọi cái khay có thành cao để tách, chén uống trà là Thác tử.

Thác ấm

(托蔭): được che chở, bảo hộ, nhờ ơn, thác sanh. Như trong tiểu thuyết Duyệt Vi Thảo Bút Ký (閱微草堂筆記), chương Hòe Tây Tạp Chí (槐西雜志) 1 của Kỷ Quân (紀昀, 1724-1805) nhà Thanh có câu: “Kim hạnh thác ấm đắc nhất quan, tương cát cư doanh truân tịch hỉ (今幸托蔭得一官、將拮据營窀穸矣, nay may được che chở làm chức quan, sau gặp lúc cùng đường thì đào huyệt mộ vậy).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 4, phần Ca Dương Tán Phật Môn (歌揚讚佛門), Kiều Cổ Xã (喬鼓社), có đoạn: “Thích Ca thị chơn từ phụ, hóa hiện thân hình ly bổ xứ, giá bạch tượng thừa vân khứ, hướng hoàng cung thác ấm Ma Da, cửu long thổ thủy kim bồn dục (釋迦是眞慈父、化現身形離補處、駕白象乘雲去、向皇宮托蔭摩耶、九龍吐水金盆浴, Thích Ca đúng là cha lành, hóa hiện thân hình rời bổ xứ, cỡi voi trắng nương mây đi, hướng hoàng cung gởi chất Ma Da, chín rồng phun nước bồn vàng tắm).”

thách

To dare—To defy--To challenge.

thái

1) Bóng hay sự phản chiếu: Chaya (skt)—A shadow or reflection. 2) Cắt ra từng miếng mỏng: To slice—To cut into slices—To mince. 3) Chọn lựa: To choose. 4) Ngắt: To pick—To gather. 5) Rau cải: Vegetables. 6) Thái Lan: Thailand. 7) Thái quá: Too—Very—Great. 8) Thái mỏng: See Thái (2).

thái bình

Peace.

Thái Bình Hưng Quốc Tự

(太平興國寺, Taiheikōkoku-ji): ngôi danh lam cổ sát hiện tọa lạc trong Ngưỡng Sơn (仰山), cách 80 dặm về phía Nam Huyện Nghi Xuân (宜春縣), Viên Châu (袁州, Tỉnh Giang Tây). Cùng với Quy Sơn (潙山), nơi đây là vùng đất phát xuất của Quy Ngưỡng Tông (潙仰宗). Huệ Tịch (慧寂) là người khai sơn ra chùa này. Nó được kiến lập trong khoảng niên hiệu Hội Xương (會昌, 841-846), ban đầu có tên là Thê Ẩn Tự (棲隱寺) và đến thời nhà Tống thì được đổi thành Thái Bình Hưng Quốc Tự.

thái bình quảng kí

(太平廣記) Tác phẩm, 500 quyển, do các ông Lí phưởng... vâng sắc soạn vào năm Thái bình hưng quốc thứ 2 (997) đời Bắc Tống. Nội dung sách này ghi chép các sự tích thần dị cổ truyền và những truyền thuyết lặt vặt từ xưa chưa được ghi chép. Những sách được trích dẫn có tới 345 loại. Trong tác phẩm này có 30 quyển nói về các truyện tích của Phật giáo.

thái bình đạo

(太平道) ĐạoThái bình, một phái trong Đạo giáo, do Trương giác, người ở Cự lộc (nay là tỉnh Hà Bắc) sáng lập vào khoảng năm Hi bình (127-178) đời Linh đế nhà Hậu Hán. Giáo phái này tin thờ kinh Thái bình, dẫn dụng tư tưởng ngũ hành, dùng bùa chú để chữa bệnh, tín đồ vài mươi vạn người, lấy tên là Thái bình đạo. Niên hiệu Trung bình năm đầu (184), Thái bình đạo khởi binh, chít khăn vàng làm dấu hiệu, vì thế được gọi là Hoàng cân quân, Hoàng cân tặc, sau bị đàn áp và thất bại. Nhưng vẫn lén lút lưu truyền trong dân gian.

thái bạch

Venus.

Thái Bạch Sơn

(太白山): tên gọi khác của Thiên Đồng Sơn (天童山), nơi Như Tịnh trú ngụ. Thái Bạch còn là tên gọi của vị trú trì ở Thiên Đồng Sơn, tức Như Tịnh.

Thái Chính Quan

(太政官, Daijōkan, Ōimatsurigoto-no-Tsukasa): (1) Cơ quan hành chính tối cao trong Luật Lịnh Quan Chế (律令官制), quản chưởng 8 Bộ trở xuống, chuyên trách toàn thể chính vụ. Hàng ngũ quan công khanh được hình thành bởi Thái Chính Đại Thần (太政大臣), Tả Hữu Đại Thần (左右大臣), Đại Nạp Ngôn (大納言, sau này còn có Trung Nạp Ngôn [中納言], Tham Nghị [參議]). Cục Thiếu Nạp Ngôn (少納言局), Cục Tả Hữu Biện Quan (左右辨官局) xử lý về mặt sự vụ kết quả phiên nghị quốc chính của các quan công khanh ấy. Cục Thiếu Nạp Ngôn thì quản lý Cục Ngoại Ký (外記局), chuyên trách về việc tuyên hạ những sắc chiếu, đóng nội ấn, ngoại ấn. Trong khi đó, Cục Tả Hữu Biện Quan thì thống lãnh cả 8 Bộ và chấp hành sự vụ hành chính. Từ cuối thời Bình An trở đi, cơ quan này hữu danh mà vô thật và vẫn tồn tại cho đến cuối thời kỳ Mạc Phủ. (2) Thái Chính Quan (太政官, Dajōkan), cơ quan tối cao của chính phủ vào đầu thời Minh Trị. Nhân phong trào Vương Chính Phục Cổ (王政復古) vào tháng 12 năm 1867 (Khánh Ứng [慶應] 3), việc phục hưng Thái Chính Quan được tiến hành; cho nên vào tháng 1 năm sau, cơ quan đại diện Thái Chính Quan được thiết lập; rồi đến tháng 4 nhuận, trong Chính Thể Thư (政体書), chức chế của Thái Chính Quan được quy định rõ ràng. Về mặt hình thức thì có 3 chức quan gồm: Nghị Chính Quan (議政官, lập pháp), Hành Chính Quan (行政官, hành chính) và Hình Pháp Quan (刑法官, tư pháp); rồi bên dưới Thái Chính Quan còn có 4 chức quan khác như Thần Kỳ (神祇), v.v. Vào năm 1869 (Minh Trị [明治] 2), dưới Thái Chính Quan và Thần Kỳ Quan lại có thêm 6 Bộ. Trong Thái Chính Quan có Chính Viện (政院), Tả Viện (左院), Hữu Viện (右院). Về sau, hai viện tả hữu bị phế bỏ; thay vào đó là Nguyên Lão Viện (元老院) và Đại Thẩm Viện (大審院). Cuối cùng, vào năm 1885 (Minh Trị 18), cơ quan này bị phế bỏ hẳn và sát nhập vào chế độ Nội Các.

Thái Chính Quan Phù

(太政官符, Daijōkampu): trên cơ sở chế độ luật lịnh của nhật bản ngày xưa, đây là bức công văn do vị quan Thái Chính (太政) phát lệnh đến các công sở của những quan hạ cấp, hay công sở của các tiểu quốc vốn trực thuộc quyền quản hạt của vị này. Văn thư này được gởi đến các cơ quan chính vụ nói trên để phát huy hiệu lực công việc thực tế. Dưới thời đại Bình An (平安, Heian), để được thừa nhận các trang viên mới lập, cần phải có Thái Chính Quan Phù hay Dân Bộ Tỉnh Phù (民部省符, văn thư của Dân Bộ Tỉnh [tương đương với Bộ Ngân Khố ngày nay]); cho nên các trang viên như vậy được gọi là Quan Tỉnh Phù Trang (官省符莊, trang viên được cấp văn thư công nhận của quan phủ). Đến cuối thời Bình An, Quan Phù này bị phế bỏ và được thay thế bằng một hình thức đơn giản hơn là Quan Tuyên Chỉ (官宣旨), hay Tuyên Chỉ (宣旨, chiếu chỉ tuyên bố của Thiên Hoàng).

thái cô nguy sinh

(太孤危生) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thái nghĩa là rất; Cô nguy nghĩa là ngọn núi đứng một mình, cao chót vót; Sinh là tiếp vĩ ngữ. Trong Thiền lâm, sự cao chót vót của cô phong không thể bám víu vào đâu mà leo lên ngọn, thường được dùng để ví dụ cho một con đường hướng thượng của cơ phong sắc bén, không thể nương vào ngôn ngữ, tư duy mà đạt đến. Bích nham lục tắc 3 (Đại 48, 142 hạ) nói: Bao trùm trời đất, dò tìm không nhằm, như vậy cũng được, chẳng như vậy cũng được, quá bé nhỏ thay! Như vậy cũng chẳng được, chẳng như vậy cũng chẳng được, Cô phong chót vót thay! Chẳng kẹt 2 đường, thế nào là đúng?

thái căn đàm

(菜根譚) Tác phẩm, 2 quyển, do ông Hồng tự thành soạn vào đời Minh. Hai chữ Thái căn(rễ rau)của tên sách có xuất xứ từ câu Nhai được rễ rau, làm được trăm việc. Sách này dùng hình thức ngữ lục, đứng trên phương diện tư tưởng Nho gia là chính yếu, rồi dựa vào thuyết của LãoTrang và Thiền học mà bàn về đạo làm quan, cách giữ mình, việc đãi nhân xử thế và niềm vui nhàn cư sau khi từ quan. Trong sách thường dùng các từ ngữ của Nho gia và Thiền tông làm thành thơ văn để hiển bày trạng thái tự do tự tại của thân tâm sau khi thấu suốt, thể ngộ cảnh giới của Thiền. Sách này cũng dung hòa tư tưởng của Nho, Phật và Đạo, rất phù hợp với trào lưu Tam giáo hợp nhất của tín ngưỡng dân gian đương thời, cho nên sách được lưu truyền rất rộng trong dân gian cũng như giai tầng trí thức. Cho đến nay, trong hình thức sinh hoạt tông giáo dân gian trong xã hội của người Hoa ở Trung quốc, Hương cảng và Đông nam á vẫn còn bao hàm tư tưởng Tam giáo hợp nhất được trình bày trong tác phẩm này.

thái cổ

Very ancient--Great antiquity.

Thái Cực

(太極): có hai nghĩa chính. (1) Các triết học gia cổ đại gọi Thái Cực là khí hỗn độn lúc ban đầu. Khi Thái Cực vận động thì phân hóa thành âm dương; từ âm dương mà sinh ra 4 thời biến hóa (Xuân, Hạ, Thu, Đông), từ đó xuất hiện các loại hiện tượng tự nhiên, và đó là nguồn gốc của vạn vật vũ trụ. Như trong Dịch Kinh (易經), Hệ Từ Thượng (繫辭上), giải thích rằng: “Dịch hữu Thái Cực, thị sanh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sanh Tứ Tượng, Tứ Tượng sanh Bát Quái (易有太極、是生兩儀、兩儀生四象、四象生八卦, Dịch có Thái Cực, sanh ra Lưỡng Nghi [âm dương], Lưỡng Nghi sanh ra Tứ Tượng [Xuân, Hạ, Thu, Đông], Tứ Tượng sanh ra Bát Quái [Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Li, Khôn, Đoài]).” Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648) nhà Đường giải thích rằng: “Thái Cực vị thiên địa vị phân chi tiền, nguyên khí hỗn nhi vi nhất, tức thị Thái Sơ, Thái Nhất dã (太極謂天地未分之前、元氣混而爲一、卽是太初、太一也, Thái Cực nghĩa là trời đất trước khi chưa phân chia, nguyên khí hỗn tạp mà thành một, tức là Thái Sơ, Thái Nhất vậy).” (2) Chỉ thiên cung, cõi tiên. Như trong Vân Cấp Thất Thiêm (雲笈七籤) quyển 8 có đoạn: “Thái Cực hữu Nguyên Cảnh chi vương, ty nhiếp tam thiên chi thần tiên giả dã (太極有元景之王、司攝三天之神仙者也, thiên cung có vua Nguyên Cảnh, là người cai quản thần tiên của ba cõi trời).”

thái cực

Extreme.

Thái Diễn

(泰演, Taien, ?-?): vị tăng của Pháp Tướng Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời kỳ Bình An, húy Thái Diễn (泰演). Ông từng học cả Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa, đặc biệt tinh thông về Pháp Tướng và Duy Thức. Trong thời gian niên hiệu Đại Đồng (大同, 806-810), ông trú tại Tây Đại Tự (西大寺, Saidai-ji) và tuyên dương Pháp Tướng Tông. Năm 840, ông làm giảng sư của Duy Ma Hội (維摩會). Cuộc luận tranh giữa ông với An Trừng (安澄, Anchō) về vấn đề có không đã trở thành nổi tiếng.

thái dương

Aditya—Sun.

Thái Dương Cảnh Huyền

太陽警玄; C: tàiyáng jǐngxuán; J: taiyō keigen; 943-1027;|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Tào Ðộng, đắc pháp nơi Thiền sư Lương Sơn Duyên Quán. Môn đệ chính truyền của Sư là Thánh Nham Viên Giám, Hưng Dương Thanh Phẩu và đặc biệt là Phù Sơn Pháp Viễn, một vị Thiền sư thuộc tông Lâm Tế. Phù Sơn – vốn là đệ tử kế thừa Diệp Huyện Quy Tỉnh – được Sư truyền trao y bát, sau lại truyền cho Thiền sư Ðầu Tử Nghĩa Thanh. Trong hệ thống truyền thừa của tông Tào Ðộng tại Trung Quốc và Nhật Bản, Ðầu Tử được xem là người kế thừa trực tiếp của Sư.|Không biết Sư quê quán ở đâu, chỉ biết lúc du phương, Sư đến tham học với Thiền sư Lương Sơn Duyên Quán. Gặp Lương Sơn, Sư hỏi: »Thế nào là đạo trường vô tướng?« Lương Sơn chỉ tượng Quán Thế Âm bảo: »Cái này là do Ngô Xử Sĩ vẽ.« Sư đang suy nghĩ để nói tiếp, Lương Sơn lại nói nhanh: »Cái này có tướng, cái kia không tướng.« Sư nhân đây tỉnh ngộ, liền lễ bái. Lương Sơn hỏi: »Sao không nói lấy một câu?« Sư thưa: »Nói thì chẳng từ, sợ sa vào dấy mực.« Lương Sơn cười bảo: »Lời này vẫn còn ghi trên bia.« Sư trình kệ: |我昔初機學道迷,萬水天山覓見知|明今辨古終難會,直說無心轉更疑|蒙師點出秦時鏡,照見父母未生時|如今覺了何所得,夜放烏雞帶雪飛.|Ngã tích sơ cơ học đạo mê|Vạn thuỷ thiên sơn mích kiến tri|Minh kim biện cổ chung nan hội|Trực tiếp vô tâm chuyển cánh nghi|Mông sư điểm xuất Tần thời cảnh|Chiếu kiến phụ mẫu vị sinh thì|Như kim giác liễu hà sở đắc|Dạ phóng ô kê đới tuyết phi.|*Con xưa học đạo cứ sai lầm|Muôn núi ngàn sông kiếm thấy nghe|Luận cổ bàn kim càng khó hội|Nói thẳng vô tâm lại sinh nghi|Nhờ thầy chỉ rõ thời Tần kính|Soi thấy cha mẹ lúc chưa sinh|Hiện nay giác ngộ đâu còn đắc|Ðêm thả gà đen trong tuyết bay.|Lương Sơn nghe kệ khen: »Có thể làm hưng thịnh tông Tào Ðộng.«|Sau khi rời Lương Sơn, Sư đến núi Thái Dương trụ trì, khai đường hoằng hoá. Sư có tinh thần rất kì lạ, từ nhỏ đến lớn chỉ ăn ngày một bữa và trụ trì tại Thái Dương 50 năm mà chưa bao giờ bước qua khỏi ranh giới.|Có một vị tăng hỏi: »Tùng lâm bát ngát, trống pháp ầm ầm, nhằm trên tông thừa nói bày thế nào?« Sư đáp: »Y không có tin tức, đâu cho phù hợp.« Tăng lại hỏi: »Hôm nay tông thừa đã nhờ thầy chỉ dạy, chưa biết pháp tự ai, nối pháp người nào?« Sư đáp: »Lương Sơn chỉ thẳng thời Tần kính, Trước ngọn Trường Khánh một ngôi ngời.« Tăng hỏi: »Thế nào là cảnh Thái Dương?« Sư đáp: »Hạc côi vượn lão kêu vang dội, tùng gầy trúc lạnh toả khói xanh.« Lại hỏi: »Thế nào là người trong cảnh?« Sư hỏi lại: »Cái gì? Cái gì?« Tăng hỏi: »Thế nào là gia phong Thái Dương?« Sư đáp: »Bình đầy nghiêng chẳng đổ, khắp nơi chẳng người đói.«|Ðời nhà Tống, niên hiệu Thiên Thánh năm thứ năm, ngày 16 tháng 7, Sư từ biệt chúng. Ba hôm sau, Sư viết kệ gửi Thị Lang Vương Thự:|Ngô niên bát thập ngũ|Tu nhân chí ư thử|Vấn ngã quy hà xứ|Ðỉnh tướng chung nan đổ|*Ta tuổi tám mươi lăm|Tu nhân đến thế ấy|Hỏi ta đi về đâu|Tướng đỉnh trọn khó thấy.|Sư viết xong liền tịch.|Thái Nguyên Tông Chân|太源宗真; J: taigen sáshin, ?-1370;|Thiền sư Nhật Bản thuộc tông Tào Ðộng, một trong năm vị đại đệ tử của Thiền sư Nga Sơn Thiều Thạc (gasan jōseki, 1275-1365).|Sư kế thừa Nga Sơn trụ trì Tổng Trì tự (sōji-ji) và cũng như thầy mình, Sư lấy thuyết Ðộng Sơn ngũ vị làm lí thuyết căn bản của tông phong. Dòng thiền của Sư được truyền bá rất rộng với hơn trăm lần khai sơn lập tự tại Trung và Ðông Nhật Bản. Về cuối đời, Sư trụ tại Vĩnh Quang tự (yōkō-ji) và sáng lập Phật-đà tự (budda-ji) tại tỉnh Kaga.

thái giám

Eunuch.

thái hiền

(太賢) Danh tăng kiêm học giả thuộc tông Pháp tướng, sống vào đời Đường, người Tân la, Triều tiên, hiệu là Thanh khưu sa môn, cũng gọi là Đại hiền. Lúc tuổi trẻ, sư đến Trung quốc theo ngài Đạo chứng chùa Tây minh học Duy thức. Sư trứ tác rất nhiều, soạn hơn 40 loại sách như Cổ tích kí... không câu chấp môn phái, cố giữ sự công bằng, rất được người đờikính trọng. Sau, sư về nước, truyền bá Duy thức học, người đương thời tôn sư là Hải đông Du già tổ. [X. Tam quốc di sự Q.4; Nghĩa thiên lục].

thái hoa

1) Hái hoa: To pick flowers. 2) Tên khác của hoa sen: Another name for lotus. ; (採華) Cũng gọi Bạch liên hoa. Tên gọi khác của hoa sen, Ấn độ gọi là Phân đà lợi hoa (Phạm: Puịđarìka). Có hai thuyết: 1. Dựa vào sự tích con rùa thiêng thọ 1.000 tuổi dạo chơi trên hoa sen, vì rùa thiêng có xuất xứ từ đất Thái nên gọi hoa sen là Thái hoa. Sử kí qui sách truyện nói: Rùa 1.000 tuổi dạo chơi trên hoa sen. Quán kinh tán thiện nghĩa khải định kí cũng từng nói: Minh vương sắp ra đời, lúc đó sẽ có rùa trắng cỡi hoa sen trắng nghìn cánh hiện ra. Do đó mà có tên gọi Thái hoa. Nhưng trong Giáo hành tín chứng lược tán của ngài Đạo ẩn thì thuyết này không được sử dụng mà cho rằng hoa này trực tiếp gọi là Thái hoa, vì hoa này rất hiếm có, giống như rùa thiêng cũng hiếm có nên gọi là Thái hoa. 2. Vì để nói lên sự thù thắng của hoa này khác hẳn với hoa sen thông thường, cho nên đặc biệt gọi là Phân đà lợi hoa. Quán kinh tán thiện nghĩa (Đại 37, 278 thượng) nói: Phân đà lợi được gọi là Nhân trung hảo hoa(hoa tốt đẹp trong cõi người), cũng gọi là Hi hữu hoa, cũng gọi là Nhân trung thượng thượng hoa, cũng gọi là Nhân trung diệu hảo hoa; hoa này tương truyền gọi là Thái hoa. (xt. Phân Đà Lợi Hoa).

thái huyền chân nhất bản tế kinh

(太玄真一本際經) Kinh, 10 quyển, là bộ kinh của Đạo giáo lưu hành vào khoảng Sơ Đường, Trung Đường. Cứ theo luận Chân chính quyển hạ thì đạo sĩ Lưu tiến hỉ đời Tùy sửa đổi kinh Phật mà soạn ra bản 5 quyển, về sau, đạo sĩ Lí trọng khanh lại soạn rộng thêm thành 10 quyển. Nội dung kinh này là giáo hóa Tam thừa để dắt dẫn vào Nhất thừa, đồng thời cho rằng căn bản của tất cả các pháp là đạo tính phi nhân phi quả. Xét chung toàn kinh chịu ảnh hưởng Phật giáo rất lớn, nhất là chịu ảnh hưởng của tông Tam luận. Tác phẩm này được tạo ra với mục đích chống đối giáo lí Phật giáo.

thái hư

(太虛) Cao tăng Trung quốc sống vào thời đại Dân quốc, người ở Sùng đức, tỉnh Chiết giang, họ Trương, vốn tên là Cam sâm, pháp danh Duy tâm, hiệu là Hoa tử, Bi hoa, Tuyết sơn lão tăng, Tấn vân lão nhân, là người khởi xướng cuộc vận động đổi mới Phật giáo ở thời Trung Hoa Dân Quốc. Năm 16 tuổi sư xuất gia, năm 18 tuổi sư y vào Hòa thượng Kí thiền ở chùa Thiên đồng tại Ninh ba (nay là huyện Ngân) thụ giới Cụ túc, thường qua lại rất thân mật với Pháp sư Viên anh. Năm 19 tuổi, sư đọc Đại tạng ở chùa Tây phương, nhân xem kinh Bát nhã mà tỉnh ngộ. Về sau, sư đến học tại tinh xá Kì hoàn của Dương nhân sơn, cùng học với Âu dương tiệm, Mai quang hi... Nhân ảnh hưởng của tư trào thời đại nên sư chủ trương tẩy trừ các tệ hại đã chất chứa trong Phật giáo từ lâu để hoằng pháp hộ quốc, tiến xa hơn là hưng quốc cứu đời. Năm 1912 (Dân quốc năm đầu), sư đến Quảng châu tuyên dương Phật pháp, được suy tôn làm Trụ trì chùa Song khê ở núi Bạch vân. Sư cùng với Pháp sư Nhân sơn bắt đầu tổ chức Phật giáo hiệp tiến hội, đến Kinh đô yết kiến Tổng thống lâm thời là Tôn trung sơn tiên sinh, trình bày kế hoạch đổi mới Phật giáo, Trung sơn tiên sinh rất khen ngợi và khuyến khích việc ấy. Sư liền đề nghị đổi chùa Kim sơn làm Đại học Phật giáo, nhưng chưa thành công. Năm sau, sư sáng lập Trung quốc Phật giáo hiệp tiến hội tại Nam kinh, sau sáp nhập vào Trung quốc Phật giáo tổng hội. Trong đại hội truy điệu Hòa thượng Kí thiền, sư chủ trương 3 cuộc đổi mới lớn về giáo lí, giáo chế và giáo sản, soạn lời hô hào vận động phục hưng Phật giáo, thiết lập chế độ Tân tăng đoàn. Năm 1914 (năm Dân quốc thứ 3), sư nhập thất ở núi Phổ đà. Một đêm kia, bỗng nghe tiếng chuông khai tĩnh (chuông báo thức buổi sáng sớm) từ ngôi chùa phía trước vọng tới, tâm niệm sư chợt dứt bặt, lại trải qua ngộ cảnh lần thứ 2. Năm 28 tuổi, sư lại trải qua ngộ cảnh lần thứ 3. Trong thời gian nhập thất, sư lần lượt soạn thảo 3 bộ luận: Phật pháp đạo luận, Chỉnh lí tăng già chế độ luận và Thủ lăng nghiêm kinh nhiếp luận. Năm 29 tuổi, sau khi ra thất, sư được đề cử đại diện Pháp sư Viên anh tham dự Đài loan pháp hội, sau đó, sư sang thăm Nhật bản. Khi trở về Trung quốc, sư sáng lập Giác xã tại Thượng hải, làmChủ biên Giác xã tùng thư, năm sau đổi thành nguyệt san Hải triều âm. Năm 32 tuổi, sư có tranh luận về pháp nghĩa với học giả Âu dương tiệm, người chủ trì China nội học viện. Sư vốn phản đối sự ứng dụng phương pháp khảo chứng lịch sử của Tiến hóa luận (Theory of evolution) trong việc nghiên cứu kinh điển Phật. Bởi thế, đối với sự khảo chứng của các học giả Nhật bản cho luận Đại thừa khởi tín, kinh Thủ lăng nghiêm... là ngụy thư, sư đã kịch liệt phản đối. Sư từng soạn Bình Đại thừa khởi tín luận khảo chứng, Phật pháp tổng quyết trạch đàm, cực lực chủ trương Pháp tướng phải y cứ vào Duy thức, đồng thời bênh vực luận Khởi tín. Sư cũng chủ trương 8 tông của Đại thừa là bình đẳng, dùng Thiền, Luật để chấn hưng Phật giáo và mở rộng Phật pháp Đại thừa trên trường quốc tế. Người đương thời coi sư là đại biểu cho phái cách tân và xem ngài Đế nhàn là đại biểu cho phái thủ cựu trong giới Phật giáo. Năm 1924 (Dân quốc năm 13), Liên hiệp hội Phật giáo thế giới được tổ chức tại Lô sơn. Năm sau, sư dẫn đầu phái đoàn đi dự Đại hội Phật giáo Đông nam á tổ chức tại Nhật bản, đồng thời khảo sát các hoạt động của Phật giáo Nhật bản, người Nhật tôn sư là Minh chủ của giới Phật giáo Dân quốc. Năm 1927 (Dân quốc năm thứ 16), sư làm Trụ trì chùa Nam phổ đà ở Hạ môn kiêm Viện trưởng Phật học viện Mân nam. Năm 1928 (Dân quốc năm thứ 17), sư sáng lập hội Phật học Trung quốc tại Nam kinh, đồng thời du hóa các nước như: Anh, Pháp, Đức, Bỉ, Hà lan, Hoa kì... thể theo kiến nghị của các học giả nước Pháp, sư trù hoạch thiết lập viện Phật học thế giới tại Paris. Sư là vị tăng Trung quốc đầu tiên đến Âu Mĩ truyền bá Phật giáo. Kể từ đó, tiếng tăm sư ngày càng trở nên lừng lẫy, trong nước có người coi sư là vị cứu tinh của Phật giáo. Năm 44 tuổi, sư trụ trì chùa Tuyết đậu ở Phụng hóa. Năm sau, sư lại biện luận về pháp nghĩa với học giả Hùng thập lực ở Chi na nội học viện. Năm 49 tuổi, sư viết Ngã đích Phật giáo cách mạng thất bại sử, trong đó, sư trình bày những nguyên nhân đã làm cho cuộc đổi mới Phật giáo bị thất bại. Về sau, sư tích cực trong việc thiết lập một tổ chức trung tâm của Phật giáo. Năm 1943 (Dân quốc năm 32), sư cùng với các cư sĩ Vu bân, Phùng ngọc tường, Bạch sùng hi... tổ chức Trung quốc tông giáo đồ liên nghị hội. Sau khi kháng chiến thành công, sư làm chủ nhiệm Trung quốc Phật giáo chỉnh lí ủy viên hội, ủy viên thiết kế của Quốc dân tinh thần tổng động viên hội. Năm 1946 (Dân quốc năm 35), sư được huân chương Lãnh tụ tông giáo thắng lợi. Ý sư muốn thành lập hội Phật giáo Trung quốc, nhưng tiếc thay chưa đạt thành thì sư đã thị tịch ở hiên Trực chỉ chùa Ngọc Phật tại Thượng hải vào năm 1947 (Dân quốc năm 36), thọ 59 tuổi. Sư một đời khởi xướng việc đổi mới Phật giáo, tận lực phụng sự Phật pháp, tuy sư chưa làm tròn ý nguyện nhưng ảnh hưởng của sư thì rất sâu xa. Sư từng tự nói: Chí nguyện là chỉnh lí chế độ tăng già, còn tu hành thì theo Bồ tát du già giới bản, cho nên trọn một đời sư đều gắng sức thực hiện chủ nghĩa Tam Phật: Phật tăng, Phật hóa, Phật quốc. Trước hết là đề xướng nền giáo dục chúng tăng, bồi dưỡng tăng tài, thiết lập viện Phật học Vũ xương (1922), viện Phật học Mân nam và viện Giáo lí Hán Tạng (1931, chùa Tấn vân ở tỉnh Trùng khánh). Kế đến là sáng lập các tạp chí: Hải triều âm, Phật hóa báo, Phật hóa tân thanh niên... để hoằng dương Phật pháp. Năm 1927 (Dân quốc năm 16), sư bắt tay vào việc tổ chức viện Phật học thế giới để kiến lập Phật giáo nhân sinh, xúc tiến việc Phật giáo hóa thế giới. Đồng thời, phái học tăng đến các nước Tây tạng, Ấn độ, Tích lan... du học để nghiên cứu tiếng Pàli, Phạm và Tây tạng. Sư đã gây dựng và bồi dưỡng rất nhiều tăng tài như các vị: Pháp phưởng, Pháp tôn, Chi phong, Ấn thuận, Đại tỉnh, Đại dũng... Sư có các phẩm: Chỉnh lí tăng già chế độ, Thích tân tăng, Tân đích duy thức quan, Chấn đán Phật giáo suy lạc nguyên nhân luận, Pháp tướng duy thức học, Chân hiện thực luận và rất nhiều loại tác phẩm khác mà sau do các ngài Ấn thuận... thu gom lại và biên thành Thái hư Đại sư toàn thư gồm 64 tập lưu hành ở đời. [X. Thái hư Đại sư niên phổ; Thái hư tự truyện].

thái hư không

Space, where nothing exists. ; (太虛空) Cũng gọi Ngoan không, Thiên không. Chỉ cho bầu hư không bao la, rộng lớn của vũ trụ. Hư không này thường vắng lặng, rốt ráo vô vi vô vật; trong kinh thường dùng hư không này để ví dụ với Niết bàn khôi thân diệt trí của Tiểu thừa, khác với diệu không, đệ nhất nghĩa không của Niết bàn Đại thừa. [X. luận Bồ đề tâm].

thái hư đại sư

Nhà sư Trung quốc nổi tiếng (1889-1947). Ngài đã làm sống lại Phật giáo Trung quốc bằng chủ trương khôi phục Tăng già. Vào năm ông thị tịch 1947, hội Phật giáo Trung quốc do ông lập ra đã có trên 4 triệu môn đồ. Một trong những thành công lớn của ông là hòa hợp được các triết học của các trường phái Pháp Tướng, Hoa Nghiêm và Thiên Thai—A famous Chinese monk (1889-1947). He reformed the Chinese Buddhism by revitalizing the Sangha. In 1947, the year he passed away, the Chinese Buddhist Society founded by him had over 4 million followers. One of his most important achievements was a harmonious blending of philosophies from Fa-Hsiang, Hua-Yen and T'ien-T'ai schools.

thái hư đại sư toàn thư

(太虛大師全書) Tác phẩm, gồm 64 tập, do ngài Ấn thuận chủ biên. Đây là toàn bộ trứ tác của Đại sư Thái hư, người vận động đổi mới Phật giáo chủ yếu của thời Dân quốc. Nội dung toàn tập chia làm 20 bộ môn: Phật pháp tổng học, Ngũ thừa cộng học, Tam thừa cộng học, Đại thừa thông học, Pháp tính không tuệ học, Pháp tướng duy thức học, Pháp giới viên giác học, Luật thích, Chế nghị, Học hạnh, Chân hiện thực luận tông y luận, Chân hiện thực luận tông thể luận, Chân hiện thực luận tông dụng luận, Chi luận, Thời luận, Thư bình, Thù đối, Giảng diễn, Văn tùng và Thi tồn. Tập phụ thêm là Thái hư đại sư niên phổ tập thượng, hạ, do ngài Ấn thuận chủ biên.

thái hậu

Queen mother.

Thái Kinh Nhập Đạo

(泰經入道, Taikyō Nyūdō, ?-1201): tức là Cao Giai Thái Kinh (高階泰經), con của Trưởng Quan Kami vùng Nhược Hiệp (若狹, Wakasa, nay là Fukui-ken [福井縣]), tên Thái Trọng (泰重), làm quan đến chức Chánh Tam Vị. Ông xuất gia vào ngày mồng 6 tháng 9 năm thứ 8 (1197) niên hiệu Kiến Cửu (建久), qua đời ngày 23 tháng 11 năm đầu (1201) niên hiệu Kiến Nhân (建仁).

thái liêm tiêm sinh

(太廉纖生) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thái nghĩa là rất; Liêm tiêm nghĩa là khít khao nhỏ nhiệm; Sinh là tiếng tiếp vĩ ngữ. Ý nói phương pháp tiếp hóa người học của bậc thầy rất thân thiết, tế nhị. Bích nham lục tắc 3 (Đại 48, 142 hạ) nói: Như vậy cũng được, không như vậy cũng được, rất khít khao nhỏ nhiệm (thái liêm tiêm sinh.

thái miếu

Imperial (Royal) temples.

Thái nhiên

泰然; C: tàirán; J: taizen;|Thanh thản, điềm tỉnh; ung dung, không lay động.

thái nhỏ

To cut into small pieces.

Thái Phạm

(泰範, Taihan, 778-?): một trong 10 vị đại đệ tử của Không Hải (空海, Kūkai). Ban đầu ông xuất gia ở Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji), rồi sau đó theo hầu Tối Trừng (最澄, Saichō) trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan). Năm 810, ông làm Tổng Biệt Đương (總別當) của Tỷ Duệ Sơn, cùng với Tối Trừng định ra quy chế Thiền môn. Vào năm 812, ông cùng với Tối Trừng và đồ chúng đến Cao Hùng Sơn Tự (高雄山寺) tự thọ lễ Quán Đảnh với Không Hải. Sau đó, ông không nghe lời khuyên của thầy để trở về núi mà theo hầu Không Hải để học về Mật Giáo, trở thành một trong mấy vị đại đệ tử của Không Hải và tận lực khai sáng Cao Dã Sơn (高野山, Kōyasan).

thái qua nhĩ

(泰戈爾) Tagore, Rabindranath, 1816-1941. Nhà thơ, nhà văn học, nhà tư tưởng Ấn độ. Gọi theo tiếng Bengali thì tên ông làỈhàkur. Ông xuất thân từ một gia đình danh giá ở Calcutta, sớm được giáo dục theo tư tưởng, học thuật truyền thống của Ấn độ. Năm 1877, ông đến nước Anh học tập pháp luật, chịu ảnh hưởng tư tưởng Tây âu thời cận đại. Sau khi về nước, ông thừa kế sản nghiệp to lớn của cha để lại, ngoài ra thì chuyên làm thơ. Ông đem nhiệt tình yêu dân tộc, yêu đất nước của ông và niềm mơ ước lớn lao gửi gấm vào cuộc vận động độc lập cho Ấn độ, người đương thời tôn ông là nhà thơ trữ tình. Về sau, ông có khuynh hướng về quan niệm tự nhiên của Đông phương, từ trạng thái vắng lặng tự nhiên đi vào tông giáo và cảnh giới thầm tưởng thần bí, do đó hình thành phong cách thi ca theo hình thức tùy tưởng và mở ra nền triết học sinh mệnh đặc thù của ông. Ông chủ trương lấy tình yêu thực tiễn làm đệ nhất nghĩa trong sự điều hòa sinh mệnh thần bí. Ông từng đến thăm Trung quốc và Nhật bản. Trong các buổi diễn giảng, ông thường bày tỏ tấm chân tình chan chứa đốivới các dân tộc Á châu, đồng thời nghiêm trọng cảnh báo mối nguy hiểm của sự bắt chước văn hóa Tây phương. Một đời ông viết rất nhiều về thơ, tiểu thuyết, hí khúc, tùy bút, bình luận, triết học luận tập, tông giáo luận tập... chủ yếu ông dùng tiếng Bengali để trứ tác, đa số các tác phẩm của ông đã được dịch ra tiếng Anh. Ông là người châu Á đầu tiên được tặng giải thưởng Nobel văn chương (1913). Ông bình sinh tha thiết chú ý đến việc giáo dục và nghệ thuật của dân chúng Ấn độ. Ông cũng giỏi về hội họa và sáng tác ca khúc. Năm 1901, ông sáng lập trường học ở Shantiniketan, vùng phụ cận Calcutta, tại tiểu bang West Bengal để giáo dục con em. Năm 1921 xây dựng lại thành Đại học, tức Đại học Quốc tế Tagore (sau đổi thành Đại học Quốc lập). Sự ra đời của ngôi trường này đã trở thành một trong các nguyên động lực của cuộc vận động độc lập cho Ấn độ.

thái quá

Excessive—Exaggerated—Immoderate—Exhorbitant.

thái quốc phật giáo

(泰國佛教) Thái quốc (Thailand) nằm giữa bán đảo Trung nam, xưa gọi là Đọa Rabindranath Tagore la bát để (Phạm: Dvàrapati), cũng gọi Xã hòa bát để, Đọa hòa la. Cư dân là dân tộc Thái, vốn định cư ở vùng tây nam tỉnh Vân nam, Trung quốc, nhưng vì bị người Hán áp bức nên dần dần phải dời đến ven sông Mê nam, Mê kông, khoảng thế kỉ VII, chinh phục các vùng lân cận, xây dựng nền tảng vương quốc. Giữa thế kỉ XIII, ở miền thượng du và trung du của sông Mê nam (Menam), các Vương triều Lan na thái (Lanna-thái) và Vương triều Tố khả thái (Sukho-thai, 1257-1436) lần lượt được kiến lập. Đến giữa thế kỉ XIV, hai Vương triều sáp nhập lại lập ra quốc đô, chính thức thống nhất, thành lập Vương triều A du đà (Auodhyà, 1350-1766, cũng gọi Vương triều Đại thành), Trung quốc gọi là Xiêm la. Trước khi thống nhất, tín ngưỡng Phật giáo đã rất hưng thịnh, phong khí tạo tượng Phật, xây chùa viện cũng rất phổ biến. Cứ theo Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 thì thời ngài Nghĩa tịnh Phật pháp ở xứ này đã rất thịnh hành. Phật giáo khoảng trước khi dân tộc Thái lập quốc có thể chia làm 4 thời kì: Thời kì truyền nhập của Phật giáo Thượng tọa bộ (thế kỉ III trước Tây lịch); thời kì truyền nhập của Phật giáo Đại thừa (thế kỉ VIII Tây lịch), thời kì truyền nhập của Phật giáo Bồ cam (thế kỉ XI) và thời kì truyền nhập của Phật giáo Tích lan (thế kỉ XIII), còn lịch sử xác thực thì bắt đầu từ Vương triều Tố khả thái (Sukhothai).Phật giáo ở thời kì đầu của Vương triều Tố khả thái hoằng dương cả Thượng tọa bộ và Đại thừa, vua Lập thái (Thammaraja Luthai, ở ngôi 1374-1370) đời thứ 5 thông hiểu cả nội ngoại điển, vua soạn luận Tam giới, trình bày về vũ trụ quan và nhân sinh quan của Phật giáo; vua còn chủ trì đúc tạo tượng Phật. Tượng Phật bằng đồng được thờ ở chùa Đại xá lợi tại phủ Bành thế lạc và tượng Phật lớn bằng đồng thờ ở chùa Thiện kiến tại Bangkok hiện nay chính là do nhà vua đúc tạo. Giữa thế kỉ XIV, Vương triều Đại thành (1350-1766) thay thế Vương triều Tố khả thái, từng xây dựng chùa Phật đà tối thắng, chùa Ba khảo; vua Đát lai lạc ca (Boroma Trailokanàtha, 1448-1488) lại đổi vương cung cũ thành chùa Phật, đặt tên là chùa Tối thắng biến tri; vua Lạp mã thiết ba để đời thứ 2 (Ramadhipati II, 1491-1529) thì ban sắc tạo tượng Đại Phật cao 16 mét; vua Tụng đàm (Songtham, 1610-1628), lúc còn trẻ đã từng xuất gia, pháp danh là Tịnh pháp, từng ban sắc xây chùa Phật trên núi Tô bàn na, đổi tên là núi Phật túc. Năm 1767, Hoàng gia khuynh đảo, nội loạn liên miên, Miến điện thừa cơ xâm lấn, sau nhờ người Hán là Trịnh chiêu khôi phục nghiệp cũ, kiến lập Vương triều Thôn vũ lí. Trịnh chiêu chính là Lạp mã đời thứ nhất (Rama I), tổ tiên của Vương triều Thái quốc hiện nay. Vua Lạp mã đời thứ nhất từng hiệu đính Tam tạng (1788), cải cách tăng đoàn; vua Lạp mã đời thứ 3 ban sắc phiên dịch Tam tạng (đặc biệt là tạngLuận) ra tiếng Thái; em vua, tức Lạp mã đời thứ 4, từng xuất gia, pháp hiệu là Kim cương trí, chủ trương giữ gìn giới luật một cách nghiêm khắc, sáng lập phái Pháp tông (Dhammayuttika-nikàya), vốn có rất đông chư tăng, vì thế nên gọi là phái Đại tông (Mahà-nikàya), từ đó, tăng đoàn Thái lan chia ra 2 phái, lưu truyền đến nay. Vua Chu lạp long công (Chulalongkorn, 1868-1901) đời thứ 5, dùng tiếng Thái ấn hành kinh điển Pàli, sáng lập học viện chùa Đại xá lợi làm trung tâm nghiên cứu Pàli cao cấp, học viện Hoàng miện là trung tâm nghiên cứu Phật học cao cấp, viện này đồng thời phát hành tạp chí Pháp nhãn cho mãi đến hiện nay; là tờ báo lâu đời nhất của Phật giáo Thái lan; vua Lạp mã đời thứ 6 (1910-1925) có soạn các sách Phật đà giác ngộ thập mạ, Đông phương Do thái...; vua Lạp mã đời thứ 7 (1925-1934), biên lại Tam tạngPàli; vua Lạp mã thứ 8 (1934-1946) từng tổ chức tăng già Phật giáo phỏng theo hình thức Quốc hội, ngoài Tăng vương(VuaSãi) là vị lãnh đạo tối cao ra còn lập Tăng già bộ trưởng, Tăng già nghị hội, Tăng già pháp đình. Trong thời gian từ Lạp mã thứ 4 đến Lạp mã thứ 6, ngôi Đại tháp Phật thống cao khoảng hơn 120 mét, chu vi 240 mét được xây dựng, đây là ngôi tháp Phật lớn nhất ở Thái lan. Hiện nay, Phật giáo làquốc giáo của Thái lan, chư tăng rất được tôn kính, nghi thức của Hoàng gia, nền giáo dục quốc dân và các hình thức sinh hoạt khác nói chung đều lấy Phật giáo làm khuôn mẫu. Hơn nữa còn qui định con trai đến 20 tuổi phải xuất gia một lần; tăng chúng có quyền phát ngôn rất lớn đối với các tầng lớp xã hội. Giống như Phật giáo Tích lan, Phật giáo Thái lan cũng sử dụng Tam tạng Pàli, thời gần đây cũng có ấn hành Tam tạng bằng tiếng Thái, về sau lại tiếp tục in Tam tạng chú thích và các kinh sách ngoài Đại tạng. [X. Đại đường tây vực kí Q.10; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1; Cổ kim đồ thư tập thành biên duệ điển 101; Đông tây giao thiệp sử đích nghiên cứu Nam hải thiên; Thái quốc Phật giáo giản sử (Diễn bồi); Nam truyền Phật giáo sử thiên thứ 3 (Tịnh hải)].

Thái Sơn

(泰山): còn gọi là Đại Tông (岱宗), Đại Sơn (岱山), Đông Nhạc (東嶽), là ngọn núi đứng đầu Ngũ Nhạc (五嶽), tọa lạc tại miền Trung của Tỉnh Sơn Đông (山東省), giáp giới với các tỉnh như Tề Nam (濟南), Trường Thanh (長清), Lịch Thành (歷城), Thái An (泰安), v.v., rộng khoảng hơn 400 dặm vuông, phía Đông là biển lớn, phía Tây tựa vào Hoàng Hà (黃河). Theo Thuật Dị Ký (述異記) của Nhiệm Phưởng (任昉, 460-508) thời Lục Triều (六朝, 220-589), dưới thời Tần (秦, 221-207 ttl.), Hán (漢, 202ttl.-220), truyền thuyết dân gian cho rằng Bàn Cổ (盤古) sau khi chết, đầu là Đông Nhạc, bụng là Trung Nhạc (中岳), tay trái là Nam Nhạc (南岳), tay phải là Bắc Nhạc (北岳), chân là Tây Nhạc (西嶽). Đầu của Bàn Cổ hướng về phía Đông, nên hóa thành Đông Nhạc, vì vậy Thái Sơn trở thành đầu của Ngũ Nhạc. Trong 36 Động Thiên của Đạo Giáo, Thái Sơn được xếp vào hàng Động Thiên thứ hai. Đạo Giáo du nhập vào ngọn Thái Sơn này lúc nào, hiện tại vẫn chưa xác định rõ. Tuy nhiên, trong quyển 94 của Tấn Thư (晉書), Ẩn Dật Truyện (隱逸傳) có ghi rằng vào thời nhà Tấn (晉, 265-316) có Đạo Sĩ Trương Trung (張忠) vào ẩn cư trong Thái Sơn, vậy ta có thể biết được rằng ít nhất ông là vị Đạo Sĩ đầu tiên vào trong núi này. Về miếu vũ trên Thái Sơn, có Đại Nhạc Miếu (岱嶽廟) được kiến lập sớm nhất vào thời Bắc Ngụy (北魏, 386-543). Theo Thủy Kinh Chú (水經注) của Lịch Đạo Nguyên (酈道元, ?-527) nhà Bắc Ngụy cho biết rằng Đại Nhạc Miếu phân làm 3 miếu thượng, trung và hạ. Đến thời nhà Đường (唐, 618-907), cả ba ngôi đều được trùng tu, miếu trung được gọi là Đại Nhạc Quan (岱嶽觀), thế gian gọi là Lão Quân Đường (老君堂), là nơi được Hoàng Đế nhà Đường phái Đạo Sĩ đến thờ tự Thái Sơn Thần. Từ thời nhà Đường, Tống (宋, 960-1279) trở đi, trên Thái Sơn có nhiều công trình kiến trúc được tạo dựng như Thanh Đế Quan (青帝觀), Vương Mẫu Trì (王母池), Thăng Nguyên Quan (升元觀), Bích Hà Nguyên Quân Từ (碧霞元君祠), Ngọc Đế Quan (玉帝觀), Hội Chơn Cung (會眞宮), v.v. Đến thời nhà Minh (明, 1368-1644), Thanh (清, 1644-1912), Đạo Giáo trên Thái Sơn lại càng hưng thạnh hơn thêm và kéo dài cho đến hiện tại. Bên cạnh đó, các tự viện Phật Giáo cũng phát triển trên núi rất nhiều như Linh Nham Tự (靈岩寺), Phổ Chiếu Tự (普照寺), Hóa Quang Tự (光化寺), Tứ Thiền Tự (四禪寺), Song Tuyền Am (雙泉庵), Hàm Thảo Tự (銜草寺), v.v. Lịch đại chư vị đế vương đều tỏ vẻ vô cùng tôn sùng đối với Thái Sơn. Tương truyền xưa kia có xuất hiện 72 vị quân chủ, đều tập trung chư hầu trên núi này để tiến hành lễ tế trời đất gọi là Phong Thiền (封禪). Từ thời thượng cổ các đế vương như Vô Hoài Thị (無懷氏), Thần Nông Thị (神農氏), Viêm Đế (炎帝), Hoàng Đế (黃帝), Nghiêu (堯), Thuấn (舜), v.v., đều đã từng lên núi này hành lễ Phong Thiền, để tạ ơn chư vị thiên thần ủng hộ cho. Kể từ khi Tần Thỉ Hoàng (秦始皇, tại vị 246-210 ttl.) lên núi hành lễ này vào năm 219 trước Công Nguyên trở về sau, Tây Hán Võ Đế Lưu Triệt (西漢武帝劉徹, tại vị 141-87 ttl.), Đông Hán Quang Võ Đế Lưu Tú (東漢光武帝劉秀, tại vị 25-57), Chương Đế Lưu Đạt (章帝劉達, tại vị 75-88), An Đế Lưu Hộ (安帝劉戶, tại vị 106-125), Đường Cao Tông Lý Trị (唐高宗李治, tại vị 649-683), Đường Huyền Tông Lý Long Cơ (唐玄宗李隆基, tại vị 712-756), Tống Chơn Tông Triệu Hằng (宋眞宗趙恆, tại vị 997-1022), v.v., cũng đã từng thân hành lên Thái Sơn làm lễ Phong Thiền. Như trong Sử Ký (史記), Phong Thiền Thư (封禪書) có đoạn: “Thử Thái Sơn đảnh thượng trúc đàn tế Thiên, báo Thiên chi công, cố viết Phong (此泰山頂上築壇祭天、報天之功、故曰封, trên đỉnh Thái Sơn dựng đàn tế Trời để báo đáp công Trời, gọi là Phong),” và “Thử Thái Sơn hạ tiểu sơn thượng trừ địa, báo Địa chi công, cố viết Thiền (此泰山下小山上除地、報地之功、故曰禪, dưới chân Thái Sơn, dọn dẹp sạch trên núi nhỏ để báo đáp công Đất, gọi là Thiền).” Bên cạnh đó, các thi hào, văn nhân qua các thời đại cũng rất kính ngưỡng Thái Sơn, như Khổng Tử (孔子, 552/551-479 ttl.) nhà Chu (周), Tào Thực (曹植, 192-232) nhà Ngụy (魏, 220-265), Tư Mã Thiên (司馬遷, 135-90 ttl.) nhà Hán, Lục Cơ (陸機, 261-303) nhà Tấn, Lý Bạch (李白, 701-762), Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường, Tô Triệt (蘇轍, 1039-1112) nhà Tống, v.v., đều có lưu lại những áng thi văn tuyệt hảo tán tụng về Thái Sơn. Trong Hàn Phi Tử (韓非子), chương Thập Quá (十過) có đoạn rằng: “Tích giả Hoàng Đế hợp quỷ thần ư Thái Sơn thượng, giá tượng xa nhi lục giao long, Tất Phương tinh hạt; Xí Vưu cư tiền, Phong Bá tấn tảo, Vũ Sư lệ đạo, hổ lang tại tiền, quỷ thần tại hậu, Đằng Xà phục địa, Phụng Hoàng phú thượng, đại hợp quỷ thần (昔者黃帝合鬼神於泰山之上、駕象車而六蛟龍、畢方並轄、蚩尤居前、風伯進掃、雨師灑道、虎狼在前、鬼神在後、騰蛇伏地、鳳皇覆上、大合鬼神, xưa kia Hoàng Đế tập hợp quỷ thần trên Thái Sơn, hộ vệ xe voi có sáu con thuồng luồng, quái điểu Tất Phương nâng trục xe, thú thần Xí Vưu ở phía trước, Thần Gió Phong Bá quét dọn đường, Thần Mưa Vũ Sư rưới sách đường, cọp sói ở trước, quỷ thần phía sau, Rắn Bay nép dưới đất, chim Phụng Hoàng núp trên không, các quỷ thần tập hợp rất đông).” Hay như trong Trang Tử (莊子), chương Tiêu Dao Du (逍遙遊) có câu: “Hữu điểu yên, kỳ danh vi bằng, bối nhược Thái Sơn, dực nhược thùy thiên chi vân (有鳥焉、其名爲鵬、背若泰山、翼若垂天之雲, có con chim, tên nó là bằng [đại bàng], lưng nó như núi Thái Sơn, cánh nó như đám mây che trời).” Như trong bài Phi Long Thiên (飛龍篇) của Tào Thực có đoạn miêu tả sự linh thiêng trên núi Thái Sơn rằng: “Thần du thái sơn, vân vụ yểu điệu, hốt phùng nhị đồng, nhan sắc tiên hảo, thừa bỉ bạch lộc, thủ y chi thảo, ngã tri chân nhân, trường quỳ vấn đạo (晨遊泰山、雲霧窈窕、忽逢二童、顏色鮮好、乘彼白鹿、手醫芝草、我知眞人、長跪問道, sớm dạo Thái Sơn, khói mây yểu điệu, chợt thấy hai trẻ, cỡi con hươu trắng, tay nắm cỏ chi, biết là chân nhân, quỳ xuống hỏi đường).” Trong ca dao Việt Nam thường có câu: “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra, một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.” Từ đó, núi Thái Sơn to lớn, vĩ đại kia được ví cho công ơn của người cha đối với con.

thái sơn

Đông Sơn trong tỉnh Sơn Đông thuộc Trung Quốc—The Eastern Sacred Mountain in Shan-Tung province, China. ; (泰山) Cũng gọi Đông nhạc, Đại sơn. Tên núi nằm ở huyện Thái an, tỉnh Sơn đông, Trung quốc, 1 trong Ngũ nhạc. Theo truyền thuyết, núi này là chỗ cư trú của Thái sơn Phủ quân, vị thần chuyên coi việc chiêu hồn. Sau khi được dung hợp với Phậtgiáo, Thái sơn Phủ quân trở thành thư kí của vua Diêm ma, chuyên môn ghi chép những hành vi thiện ác của con người, do đó, núi này trở thành ngọn núi linh thiêng và là đối tượng tín ngưỡng của Đạo giáocũng như của Phật giáo. Trên núi có chùa Thần thông do ngài Tăng lãng sáng lập vào niên hiệu Hoằng thủy năm đầu (351) đời Tiền Tần, ban đầu gọi là Lãng công Cốc sơn tự, đến đời Tùy mới đổi tên là Thần thông tự. Theo truyền thuyết, ngài Nghĩa tịnh từng thụ học ở chùa này. Trên núi có ngôi tháp bằng đá một tầng 4 mặt và tháp Lãng công nhờ kiểu kiến trúc mà nổi tiếng ở đời. Thiên Phật nhai ở lưng chừng núi, có vài trăm pho tượng Phật bằng đá lớn nhỏ được tạo vào đầu đời Đường, nếu so với tượng Phật ở các nơi khác như Vân cương, Long môn thì tượng ở đây ít bị phá hoại nhất. Ngoài ra còn có kinh Kim cương Bát nhã ba la mật được khắc trên vách đá hoa cương, gọi là Thạch kinh dục. Khuôn khổ mỗi chữ khoảng 30cm đến 50cm, đến nay còn khoảng hơn 900 chữ, nét viết rất mạnh mẽ, là di tích của đời Đường. [X. Lương cao tăng truyện Q.5; Thủy kinh chú Q.8; Thái sơn chí].

thái sơn nham

(泰山岩) Tên chùa nằm ở làng Thái sơn, huyện Đài bắc, Đài loan, được sáng lập vào năm Càn long 19 (1754) đời Thanh, do 2 ông Lí tự ngạn và Lí tự nguyên sau khi thỉnh Mã tổ từ Tuyền châu, Phúc kiến về cung phụng ở đây. Ban đầu lấy tên là Phúc sơn nham. Năm Hàm phong thứ 3 (1853), chùa bị thiêu hủy trongmột trận hỏa hoạn, sau đó được xây dựng lại mới đổi tên là Thái sơn nham. Năm Dân quốc 24 (1935), chùa được kiến thiết lại lần thứ 2. Cùng năm ấy, cư sĩ Khưu sáng tiêu thỉnh tượng Phật Thích ca ma ni bằng ngọc trắng từ núi Phổ đà về thờ ở Đại điện, đồng thời đắp tạo tượng bồ tát Quan thế âm, từ đó chùa này trở thành một đạo tràng Phật giáo danh tiếng. Năm Dân quốc 61 (1972), chùa được sửa lại toàn diện.

thái sơn phủ quân

(太山府君) I. Thái Sơn Phủ Quân. Phạm: Citragupta. Hán âm: Chất đa la cấp đa. Hán dịch: Phụng giáo quan. Chỉ cho vị quan trông coi sổ sách của vua Diêm ma ở cõi âm, là 1 trong 16 vị quyến thuộc của Diêm ma thiên chủ được an trí trong viện Ngoại kim cương bộ trên Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Vị tôn này thống lãnh chúng quỉ, hầu vua Diêm ma, tay trái cầm cờ có hình đầu người, tay phải cầm bút; thường sai loài quỉ xem xét các nghiệp thiện ác của con người, ghi chép vào sổ sách, khi người chết được đưa đến trước vua Diêm ma để đối chứng các việc thiện ác mình đã làm lúc còn sống mà Thái sơn Phủ quân đã ghi chép. [X. Đại nhật kinh sớ Q.6; Diêm la vương cúng hành pháp thứ đệ; Pháp uyển châu lâm Q.62; Cổ kim đồ thư tập thành sơn xuyên điển thứ 13]. II. Thái Sơn Phủ Quân. Chỉ cho vị thần núi Thái sơn ở Trung quốc, chuyên trách các việc cõi âm.

thái sơn vương

(太山王) Vị vua thứ 7 trong 10 vị vua ở cõi âm. Cứ theo kinh Dự tu thập vương sinh thất và kinh Địa tạng thập vương thì bản địa của vị vua này là Dược sư Như lai, là vị quan cõi âm có quyền quyết định nơi mà các người tội sẽ sinh đến. Phía trước tòa của vị vua này có cửa thông đến 6 đường: Địa ngục, ngã quỉ, sú sinh, Tu la, nhân gian và cõi trời. Khi người chết đủ 49 ngày của thân trung ấm thì đi qua chỗ tối tăm, đến điện vua Thái sơn để nghe quyết định nơi sinh đến trong đương lai. Nhưng, trong tín ngưỡng dân gian phổ thông thì cho rằng người chết còn phải chịu sự phán xét qua 3 Cảnh bên ngoài của Đại điện Thái sơn nham điện nữa là 8, 9, 10, rồi mới được đi đầu thai chuyển thế. [X. môn Linh tượng trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Thập Vương, Thái Sơn Phủ Quân, Diêm La Thập Điện).

thái thô sanh

Người thô thiển—A ruffian—A rough fellow.

thái thô sinh

(太粗生) Thái là rất, Thô là thô bạo, thô tháo; Sinh là tiếng tiếp vĩ ngữ. Trong Thiền lâm, từ ngữ này thường được sử dụng để tỏ ý chê trách những người tu hành chưa được thuần thục, cử chỉ còn thô tháo, lỗ mãng, thiếu thận trọng. Lâm tế lục (Đại 47, 503 trung) ghi: Một hôm, Sư cùng Phổ hóa đến nhà thí chủ, trong lúc thụ trai,Sư hỏi: Lỗ chân lông hút hết nước biển cả, hạt cải chứa trọn núi Tu di, đó là thần thông diệu dụng hay là bản thể như thế? Phổ hóa đạp đổ bàn cơm. Sư nói: Thô bạo quá! (Thái thô sinh).

thái thúc thị

1) Người hái đậu: Bean-picker. 2) Tên khác của Mục Kiền Liên: Name of Maudgalyayana.

thái thượng

1) The king. 2) The highest.

thái thượng linh bảo nguyên dương diệu kinh

(太上靈寶元陽妙經) Kinh, 10 quyển, do đạo sĩ Đạo giáo y cứ vào kinh điển của Phật giáo Đại thừa mà soạn thành. Cứ theo luận Nhị giáo do ngài Đạo an soạn vào đời Bắc Chu thì Nguyên dương diệu kinh là ngụy tác bằng cách trích lấy những phần cốt yếu trong kinh Pháp hoa mà soạn thành. Như Nguyên dương diệu kinh ở thời ngài Đạo an và Nguyên dương diệu kinh bản hiện còn không giống nhau lắm, bản hiện còn chủ yếu lấy kinh Niết bàn làm tư liệu, chỉ có phẩm Vấn hành trong quyển 4 là vẫn y cứ vào phẩm Tựa của kinh Pháp hoa mà sửa đổi soạn thành. Sửa đổi bằng cách cắt bỏ những nhân danh dụng ngữ của Phật giáo mà thay đổi bằng tên gọi của Đạo giáo.

Thái Thốc

(太簇、太蔟、泰簇): còn gọi là Thái Tộc (太族、泰族), Đại Tộc (大族), Đại Thốc (大蔟), có hai nghĩa chính. (1) Tên gọi âm thứ 2 trong 6 âm thanh thuộc về Dương của 12 luật âm, tương đương với âm Bình Điệu (平調, hyōjō) trong 12 âm luật của Nhật Bản. Như trong chương Thời Tắc Huấn (時則訓) của Hoài Nam Tử (淮南子) có giải thích rằng: “Luật trung Thái Thốc, kỳ số bát (律中太蔟、其數八, âm Thái Thốc trong các luật âm, số của nó là 8).” Trong tác phẩm Đáp Lưu Bá Thằng Vấn Luật Lữ (答劉伯繩問律呂) của Hoàng Tông Hi (黃宗羲, 1610-1695) nhà Thanh còn giải thích thêm: “Thái Thốc trường bát thốn, tích lục bách tứ thập bát phần (太簇長八寸、積六百四十八分, Thái Thốc dài tám tấc, chứa 648 phân).” (2) Người xưa lấy 12 âm luật phối hợp với 12 tháng trong năm; Thái Thốc được phối hợp với tháng Giêng; nên đây là tên gọi khác của tháng Giêng. Như trong Lã Thị Xuân Thu (呂氏春秋), chương Âm Luật (音律) có câu: “Thái Thốc chi nguyệt, dương khí thỉ sanh, thảo mộc phồn động (太蔟之月、陽氣始生、草木繁動, tháng Thái Thốc, khí dương bắt đầu sinh, cỏ cây nảy nở nhiều).” Cao Dụ (高誘, ?-?) nhà Đông Hán (東漢, 25-220) chú thích rằng: “Thái Thốc, chánh nguyệt (太蔟、正月, Thái Thốc là tháng Giêng).” Trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 cũng cho biết rằng: “Chánh nguyệt kiến Dần, viết Nhiếp Đề Cách, hựu viết Thái Thốc, hựu viết Mạnh Tưu (正月建寅、曰攝提格、又曰太簇、又曰孟陬, tháng Giêng kiến Dần, gọi là Nhiếp Đề Cách, lại có tên là Thái Thốc, hay gọi là Mạnh Tưu).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 có giải thích thêm về Thái Thốc rằng: “Dần vi Thái Thốc, Chánh nguyệt chi thần danh Dần; Dần giả, tân dã; Tân giả đồ chi nghĩa; Chánh nguyệt chi thời, sanh vạn vật chi tân đồ, cố vị chi Dần (寅爲太蔟、正月之辰名寅、寅者、津也、津者塗之義、正月之時、生萬物之津塗、故謂之寅, Dần là Thái Thốc, chi của tháng Giêng là Dần; Dần là tân; tân nghĩa là con đường; vào dịp tháng Giêng, mở ra con đường cho vạn vật, nên gọi đó là Dần).” Hay trong Đại Thừa Chỉ Quán Pháp Môn Thích Yếu (大乘止觀法門釋要, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 55, No. 905) quyển 1 có câu: “Đạo Quang lục niên nguyệt tại Thái Thốc nhân nhật Bí Sô Ni Ngộ Đức Thông Viên thư ư Hiếu Viên Am chi Ma Ha Diễn Thất (道光六年月在太簇人日苾芻尼悟德通圓書於孝圓菴之摩訶衍室, ngày mồng 7 tháng Giêng năm thứ 6 [1826] niên hiệu Đạo Quang nhà Thanh, Tỳ Kheo Ni Ngộ Đức Thông Viên viết tại Ma Ha Diễn Thất của Hiếu Viên Am).”

Thái Tuế

(太歲): Mộc Tinh (木星, Jupiter), còn gọi là Tuế Tinh (歲星), Thái Âm (太陰), Tuế Âm (歲陰), Tuế Quân (歲君), Thái Tuế Tinh Quân (太歲星君), là tên gọi của vị thần trong Đạo Giáo Trung Quốc. Ngày xưa ngôi sao này được dùng để đếm tuổi nên có tên gọi như vậy, về sau biến thành một loại tín ngưỡng thần linh. Thái Tuế còn là tên của một trong Lưu Niên Tuế Số Thập Nhị Thần Sát (流年歲數十二神煞), lưu hành trong 12 tháng, với câu kệ là: “Thái Tuế đương đầu tọa, chư thần bất cảm đương, tự thân vô khắc hại, tu dụng khốc đa dương (太歲當頭坐、諸神不敢當、自身無剋害、須用哭爹娘, Thái Tuế ngay đầu tọa, các thần chẳng dám chường, tự thân không nguy hại, nên thương khóc mẹ cha).” Sao này có công năng đè ép các sao Thần Sát, người gặp sao này nếu gặp vận thì xấu nhiều tốt ít, chủ yếu gặp tai nạn bất trắc, nên làm việc phước thiện. Trong dân gian thường có từ “phạm Thái Tuế (犯太歲)”, “xung Thái Tuế (衝太歲)”, “hình Thái Tuế (刑太歲)” hay “thiên xung Thái Tuế (偏衝太歲)”. Tỷ dụ như năm nay là năm con Tỵ (巳, con rắn), người tuổi con rắn là phạm Thái Tuế, tuổi Hợi (亥, con heo) là xung Thái Tuế; tuổi Thân (申, con khỉ) và Dần (寅, con cọp) là thiên xung Thái Tuế. Vì vậy, có câu ngạn ngữ rằng: “Thái Tuế đương đầu tọa, vô hỷ khủng hữu họa (太歲當頭坐、無喜恐有禍, Thái Tuế trên đầu ngự, chẳng vui e có họa).” Cho nên, người ta có tục lệ An Thái Tuế (安太歲), tức cúng sao giải hạn, cầu nguyện được vạn sự bình an, cát tường. Ngay từ buổi đầu, tục lệ An Thái Tuế rất giản dị. Tín đồ nào muốn cúng An Thái Tuế thì nên nhân dịp trước hay sau tiết Xuân, lấy giấy màu hồng hay vàng viết lên dòng chữ như “Bổn niên Thái Tuế Tinh Quân đáo thử (本年太歲星君到此, năm nay Thái Tuế Tinh Quân đến đây)”, “Bổn niên Thái Tuế Tinh Quân thần vị (本年太歲星君神位, thần vị của Thái Tuế Tinh Quân năm nay)”, “Nhất tâm kính phụng Thái Tuế Tinh Quân (一心敬奉太歲星君, một lòng kính thờ Thái Tuế Tinh Quân)”, đem dán trong nhà, hằng ngày dâng hương cầu khấn. Đến cuối năm, nên đem giấy đó ra đốt với ý nghĩa là “tiễn Thần lên Trời.” Tương truyền trong vòng 60 năm, mỗi năm Trời phái một vị thần phụ trách năm ấy, quản lý toàn bộ việc phước họa của con người. Cho nên, trong thời gian 60 năm ấy có 60 vị Thái Tuế. Tín ngưỡng này có từ thời Nam Bắc Triều (南北朝, 220-589), và đến đầu thời nhà Thanh (清, 1616-1911) thì có tên họ rõ ràng của 60 vị thần Thái Tuế Tinh Quân. Tên của mỗi vị ứng vào các năm như sau: (1) Thái Tuế năm Giáp Tý là Kim Biện Tổ Sư (金辦祖師), (2) Thái Tuế năm Ất Sửu là Trần Tài Tổ Sư (陳材祖師), (3) Thái Tuế năm Bính Dần là Đam Chương Tổ Sư (耿章祖師), (4) Thái Tuế năm Đinh Mão là Trầm Hưng Tổ Sư (沉興祖師), (5) Thái Tuế năm Mậu Thìn là Triệu Đạt Tổ Sư (趙達祖師), (6) Thái Tuế năm kỷ tỵ là Quách Xán Tổ Sư (郭燦祖師), (7) Thái Tuế năm Canh Ngọ là Vương Thanh Tổ Sư (王清祖師), (8) Thái Tuế năm Tân Mùi là Lý Tố Tổ Sư (李素祖師), (9) Thái Tuế năm Nhâm Thân là Lưu Vượng Tổ Sư (劉旺祖師), (10) Thái Tuế năm Quý Dậu là Khang Chí Tổ Sư (康志祖師), (11) Thái Tuế năm Giáp Tuất là Thí Quảng Tổ Sư (施廣祖師), (12) Thái Tuế năm Ất Hợi là Nhiệm Bảo Tổ Sư (任保祖師), (13) Thái Tuế năm Bính Tý là Quách Gia Tổ Sư (郭嘉祖師), (14) Thái Tuế năm Đinh Sửu là Uông Văn Tổ Sư (汪文祖師), (15) Thái Tuế năm Mậu Dần là Tằng Quang Tổ Sư (曾光祖師), (16) Thái Tuế năm Kỷ Mão là Long Trọng Tổ Sư (龍仲祖師), (17) Thái Tuế năm Canh Thìn là Đổng Đức Tổ Sư (董德祖師), (18) Thái Tuế năm Tân Tỵ là Trịnh Đán Tổ Sư (鄭但祖師), (19) Thái Tuế năm Nhâm Ngọ là Lục Minh Tổ Sư (陸明祖師), (20) Thái Tuế năm Quý Mùi là Ngụy Nhân Tổ Sư (魏仁祖師), (21) Thái Tuế năm Giáp Thân là Phương Kiệt Tổ Sư (方杰祖師), (22) Thái Tuế năm Ất Dậu là Tương Sùng Tổ Sư (蔣崇祖師), (23) Thái Tuế năm Bính Tuất là Bạch Mẫn Tổ Sư (白敏祖師), (24) Thái Tuế năm Đinh Hợi là Phong Tề Tổ Sư (封齊祖師), (25) Thái Tuế năm Mậu Tý là Trịnh Thang Tổ Sư (鄭鏜祖師), (26) Thái Tuế năm Kỷ Sửu là Phan Tá Tổ Sư (潘佐祖師), (27) Thái Tuế năm canh dần là Ổ Hoàn Tổ Sư (鄔桓祖師), (28) Thái Tuế năm Tân Mão là Phạm Ninh Tổ Sư (范寧祖師), (29) Thái Tuế năm Nhâm Thìn là Bành Thái Tổ Sư (彭泰祖師), (30) Thái Tuế năm Quý Tỵ là Từ Hoa Tổ Sư (徐華祖師), (31) Thái Tuế năm Giáp Ngọ là Chương Từ Tổ Sư (章詞祖師), (32) Thái Tuế năm Ất Mùi là Dương Tiên Tổ Sư (楊仙祖師), (33) Thái Tuế năm Bính Thân là Quản Trọng Tổ Sư (管仲祖師), (34) Thái Tuế năm Đinh Dậu là Đường Kiệt Tổ Sư (唐傑祖師), (35) Thái Tuế năm Mậu Tuất là Khương Võ Tổ Sư (姜武祖師), (36) Thái Tuế năm Kỷ Hợi là Tạ Đảo Tổ Sư (謝燾祖師), (37) Thái Tuế năm Canh Tý là Ngu Khởi Tổ Sư (虞起祖師), (38) Thái Tuế năm Tân Sửu là Dương Tín Tổ Sư (楊信祖師), (39) Thái Tuế năm Nhâm Dần là Hiền Ngạc Tổ Sư (賢諤祖師), (40) Thái Tuế năm Quý Mão là Bì Thời Tổ Sư (皮時祖師), (41) Thái Tuế năm Giáp Thìn là Lý Thành Tổ Sư (李誠祖師), (42) Thái Tuế năm Ất Tỵ là Ngô Toại Tổ Sư (吳遂祖師), (43) Thái Tuế năm Bính Ngọ là Văn Triết Tổ Sư (文哲祖師), (44) Thái Tuế năm Đinh Mùi là Mậu Bính Tổ Sư (繆丙祖師), (45) Thái Tuế năm Mậu Thân là Từ Hạo Tổ Sư (徐浩祖師), (46) Thái Tuế năm Kỷ Dậu là Trình Bảo Tổ Sư (程寶祖師), (47) Thái Tuế năm Canh Tuất là Nghê Bí Tổ Sư (倪秘祖師), (48) Thái Tuế năm Tân Hợi là Diệp Kiên Tổ Sư (葉堅祖師), (49) Thái Tuế năm Nhâm Tý là Kheo Đức Tổ Sư (丘德祖師), (50) Thái Tuế năm Quý Sửu là Chu Đắc Tổ Sư (朱得祖師), (51) Thái Tuế năm Giáp Dần là Trương Triều Tổ Sư (張朝祖師), (52) Thái Tuế năm Ất Mão là Vạn Thanh Tổ Sư (萬清祖師), (53) Thái Tuế năm Bính Thìn là Tân Á Tổ Sư (辛亞祖師), (54) Thái Tuế năm Đinh Tỵ là Dương Ngạn Tổ Sư (楊彥祖師), (55) Thái Tuế năm Mậu Ngọ là Lê Khanh Tổ Sư (黎卿祖師), (56) Thái Tuế năm Kỷ Mùi là Phó Đảng Tổ Sư (傅黨祖師), (57) Thái Tuế năm Canh Thân là Mao Tử Tổ Sư (毛梓祖師), (58) Thái Tuế năm Tân Dậu là Thạch Chính Tổ Sư (石政祖師), (59) Thái Tuế năm Nhâm Tuất là Hồng Sung Tổ Sư (洪充祖師), và (60) Thái Tuế năm Quý Hợi là Ngu Trình Tổ Sư (虞程祖師).

thái tuế

(太歲) I. Thái Tuế. Tên 1 vị hung thần trong quan niệm của người xưa, là tên khác của trị tuế can chi được dùng để ghi lịch cũ. Như gặp năm Giáp tí thì Giáp tí tức là Thái tuế. Về phương diện tập quán, chỉ có 12 chi được coi trọng, cho nên cứ 12 năm là 1 vòng tuần hoàn của Thái tuế.II. Thái Tuế. Tên vị thần trị tuế. Cứ theo Thông điển do ông Đỗ hựu soạn thì vua Đạo vũ đế (386-409) nhà Bắc Ngụy đã lập 12 vị thần năm (tức 12 vị thần Thái tuế) để thờ.

thái tổ

Founder of a dynasty.

thái tử

Kumararaja (skt). 1) Crown prince. 2) Danh hiệu của Đức Phật: An epithet of Buddha. 3) Danh hiệu của Văn Thù Sư Lợi: An epithet of Manjusri.

thái tử hòa hưu kinh

Thái Tử Loát Hộ Kinh—Một tên của bộ kinh Thái Tử A Xà Thế gặp Phật vấn kinh và được Phật thọ ký. Kinh được ngài Trúc Pháp Hộ dịch sang Hoa ngữ khoảng từ 265 đến 316 sau Tây Lịch—One name of the Subahu-pariprccha, translated into Chinese by Dharmaraksa between 265-316 A.D.

thái tử Lưu-ly

hay Tỳ-lưu-ly, là con vua Ba-tư-nặc ở thành Xá-vệ, nước Kiều-tát-la, đồng thời với Phật. Thái tử phế vua cha, tự mình lên ngôi. Vua Ba-tư-nặc phải chạy sang thành Vương-xá nước Ma-kiệt-đà mà nương náu với vua A-xà-thế. Sau khi đuổi vua cha ra khỏi nước, thái tử Lưu-ly xưng vương. Kế đó, nhớ đến mối thù xưa giữa nước mình với nước Ca-tỳ-la-vệ, liền mang quân sang đánh, giết rất nhiều người trong họ Thích-ca.

thái tử tam phi

(太子三妃) Chỉ cho 3 người vợ của Thái tử Tất đạt đa. Theo thiên Hoàng hậu trong Phiên dịch danh nghĩa tập quyển3 thì năm Thái tử Tất đạt 17 tuổi có 3 người vợ là: 1. Cù di (Phạm: Gopì, Hán dịch: Minh nữ), cha của bà là Trưởng giả Thủy quang,bà sinh vào lúc hoàng hôn, ánh mặt trời còn rớt lại chiếu sáng vào trong nhà, vì thế đặt tên cho bà là Cù di, là người vợ đầu tiên của Thái tử. 2. Da du đà la (Phạm:Yazodharà, Hán dịch: Hoa sắc), cha của bà là Trưởng giả Di thí, bà là người vợ thứ 2 của Thái tử, tức là mẹ của La hầu la. 3. Lộc dã, cha của bà là Trưởng giả Thích, bà là người vợ thứ 3 của Thái tử. [X. Thái tử thụy ứng bản khởi Q.thượng].

thái tử thụy ứng bản khởi kinh

(太子瑞應本起經) Cũng gọi Thái tử bản khởi thụy ứng kinh, Thụy ứng bản khởi kinh, Thụy ứng kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Chi khiêm dịch ở nước Ngô, thời Tam quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 3. Kinh này được soạn sớm nhất trong các Phật truyện, về cách sắp xếp nội dung hoặc hình thức trình bày đại khái đều giống với kinh Tu hành bản khởi, cả 2 kinh đều sử dụng thuyết Thái tử 17 tuổi lấy vợ, 19 tuổi xuất gia. Trong kinh nói về nhân địa quá khứ của đức Thích tôn đến việc tế độ 3 anh em Ca diếp sau khi Ngài thành đạo. Về việc miêu tả Thái tử ra chơi 4 cửa thành, tình hình trong cung điện lúc vượt thành, khi từ biệt Xa nặc, nhất là nói về việc hàng ma thành đạo thì khí thế văn chương rất là mạnh mẽ trôi chảy, là đoạn văn chương Phật truyện trọng yếu. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.5; Đại đường nội điển lục Q.2; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.2].

thái âm

Moon.

thái đầu

Vị Tăng lo về việc cung cấp rau cải trong chùa—The monk who has charge of supplying of vegetables in a temple. ; (菜頭) Chức vụ của vị tăng trông coi việc rau quả trong Thiền lâm, gọi là Thái đầu. Chức này được đặt dưới quyền chức Điển tọa. Nhiệm vụ của chức này là lựa bỏ những lá rau héo úa, lá bị sâu ăn, vì nếu lỡ nấu rau có dính côn trùng thì tạo nghiệp sát sinh; nếu cúng dường Tam bảo thức ăn không đúng pháp, đại chúng không biết mà dùng thì có hại rất lớn, cho nên vị Thái đầu phải hết sức thận trọng khi lãnh trách nhiệm này.

thái độ

Attitude

thái độ bất tịnh

Impure attitude

thái độ khoan dung

Tolerance.

thái độ ích kỷ

Selfish attitude

thái ất

Name of a star.

thám

1) Gián điệp: To spy. 2) Mật thám: Secret services. 3) Thám hiểm: To explore—To feel for. 4) Thám sát: To investigate.

thám can ảnh thảo

(探竿影草) Gọi tắt: Thám thảo. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho 2 cách bắt cá. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được vận dụng để thăm dò trình độ của người học, là 1 trong 4 tiếng hét, 1 trong 7 việc tùy thân của tông Lâm tế. Tùy theo tác dụng và mục đích mà Thám can ảnh thảo có 2 cách giải thích như sau: 1. Thám can, ảnh thảo là công cụ của người bắt cá. Thám là thăm dò; Can là cây sào. Nghĩa là buộc lông cánh con chim bồ nông vào đầu cây sào rồi dìm xuống nước thăm dò, dụ cho đàn cá tụ lại một chỗ, sau đó dùng lưới để bắt. Ảnh là bóng; Thảo là cỏ. Nghĩa là cắt cỏ ngâm dưới nước, đàn cá sẽ đến núp dưới bóng đám cỏ ấy, sau đó dùng lưới bắt. Đây đều là pháp phương tiện của người bắt cá dùng để dụ cá tụ vào một chỗ để bắt. 2. Thám can, ảnh thảo là dụng cụ của kẻ ăn trộm. Thám can chỉ cho cái sào tre mà kẻ trộm dùng để luồn qua cửa sổ, hoặc lỗ hổng của tường vách để dò xét động tĩnh trong nhà. Còn ảnh thảo là chỉ cho cái áo tơi có thể ẩn mình, mặc vào rất tiện cho việc ăn trộm, ăn cắp. Trong Thiền gia, Thám can ảnh thảo được chuyển dụng để chỉ cho việc thầy dò xét trình độ của người học. [X. Lâm tế lục khám biện; Thung dung lục tắc 81]. (xt. Tế Tông Thất Sự Tùy Thân, Tế Tông Tứ Hát).

thám hiểm

(探險) Mạo hiểm đi thăm xét những nơi xa xôi.Những cuộc hành trình mà các nhà cầu pháp từng trải, trên thực chất là những cuộc thám hiểm. Như Phật quốc kí của ngài Pháp hiển đời Đông Tấn, Đại đường tây vực kí của ngài Huyền trang đời Đường... đều là những tư liệu ghi chép về địa lí, dân tộc, chính trị, học nghệ, ngôn ngữ, tông giáo, dân tục... của Ấn độ và các nước vùng Tây vực. Từ thế kỉ XIX đến nay, người Âu tây đối với việc nghiên cứu Á châu, về phương diện sưu tầm các tư liệu Phật giáo đã có những đóng góp rất lớn lao. Như các học giả Hodgson, Wright, Bendall, Lévi... đã sưu tập rộng rãi các văn hiến từ Népal, Burgess, Cunningham đã đào bới điều tra nhiều nơi ở Ấn độ; Huc, Csoma de Kôrôs, Sarat Chandra Das, Schlagintweit, Rockhill, Hà khẩu Tuệ hải, Tự bản Uyển nhã, Tuci... thì đến Tây tạng đào bới điều tra; Hackin, Foucher... thì điều tra ở Afghanistan. Ngoài ra, các cuộc thám hiểm của các ông Bower, Le coq, Grünwedel, A. Stein, P. Pelliot... ở vùng Trung á đều rất nổi tiếng ở đời, đồng thời đã phát hiện rất nhiều tư liệu và di tích. Trước cuộc đại chiến thế giới lần thứ 2, người Nhật bản từng đến vùng Hoa bắc như Mãn châu, Mông cổ... điều tra các di tích Phật giáo. Sau chiến tranh, ở các vùng Tây bắc Trung quốc, các nhà thám hiểm cũng đào tìm được nhiều di tích.

thám sát

To scout.

thám thủy

Đo chiều sâu bằng âm thanh, phần dưới gậy để đo chiều sâu—To sound the depth of water, the lower part of a staff, i.e. for sounding depth. ; (探水) Thăm dò mực nước. Tức chỉ cho nhánh cây nhỏ buộc váo đầu gậy để thăm dò mực nước nông hay sâu. Cứ theo môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên, ở đầu dưới cây gậy của Thiền tăng buộcmộtnhánh cây nhỏ dài khoảng 40 cm hướng xuống, khi lội qua dòng nước thì trước phải đặt đầu gậy trong nước để thăm dò xem mực nước cao hay thấp, nhờ đó mà biết dòng nước sâu hay nông, sau đó mới quyết định việc lội qua hay không, vì thế gọi là Thám thủy.

thám đầu

(探頭) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thám đầu vốn có nghĩa là thăm dò. Trong Thiền lâm nó được chuyển dụng để chỉ cho sự khảo xét của Sư gia. Lâm tế lục (Đại 47, 496 hạ) ghi: Sư thướng đường. Có vị tăng ra lễ bái, sư liền hét. Vị tăng nói: Xin Lão hòa thượng chớ dò xét(thám đầu)!.

thám đề

(探題) Cũng gọi Đề giả, Thám đề bác sĩ. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho chức quan cao nhất trong trường nghị luận do vua ban sắc hội họp. Vị Thám đề có nhiệm vụ tuyển chọn luận đề, khiến cho việc hỏi đáp bàn luận tiến hành qua lại, đồng thời, cuối cùng phán định hơn thua, được mất. Khi hội Pháp hoa và hội Duy ma ở Nhật bản luận nghị thì vị Thám đề chọn lấy 10 luận đề để tiến hành bàn luận, đồng thời phán định các vị học tăng dự thi đậu hay rớt. Vì Thám đề là chức vụ quan trọng thống lãnh luận trường nên phải do triều đình ban sắc bổ nhiệm. Chức năng này bắt đầu được đặt ra trong cuộc họp tháng 6 năm Khang bảo thứ 5 (968) ở chùa Diên lịch và đương thời do Luật sư Thiền nghệ đảm nhiệm. Tông Thiên thai Nhật bản cho chức quan này là giai vị học vấn cao nhất. (xt. Thụ Nghĩa).

Thán

歎; C: tàn; J: tan;|1. Thán phục, tán thành, khen ngợi; 2. Thở dài, than van.

thán

1) Tán thán: Thán phục—To admire—To praise—To extol. 2) Ta thán: To sigh. 3) Than: Charcoal—Coal.

thán ba na

Tấm (loại gạo nát)—Broken rice.

thán chân

(嘆真) Cũng gọi Bạch chân. Có nghĩa là tán thán chân dung của Tổ sư. Sau chuyển sang gọi lời đầu tiên trong văn hồi hướng kị Tổ sư là thán chân. [X. Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2].

thán di sao

(嘆异抄) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Duy viên thuộc Chân tông Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 83. Sau khi thầy mình thị tịch (tức ngài Thân loan, Tổ khai sáng của Chân tông), ngài Duy viên cảm thương vì giáo nghĩa của Chân tông bị hiểu một cách sai lệch, cho nên trích dẫn lời thầy nói rõ về chân ý của bản nguyện tha lực và phê phán giới Phật giáo đương thời mà thành sách này. Trong lời bạt có phụ thêm phần ghi chú, chép về truyện kí của những người bị xử tội một cách sai lầm ở thời đại Hậu điểu Vũ viện. Sách này là Thánh điển quan trọng của Chân tông, có rất nhiều bản chú thích.

thán linh

Tán thán công đức của người quá vãng—To praise the spirit of the departed. ; (嘆靈) Đối trước hương linh người chết, khen ngợi những việc làm nhân đức của họ. Điều Phúng tụng, loại Thán linh trong Thiền lâm tượng khí tiên ghi: Người xưa nói rằng hồi hướng cho vong linh, lời đầu tiên là thán linh. Ánh sáng thanh tịnh thông suốt, lặng lẽ chiếu soi, trùm khắp hư không.

thán phật

Tán thán công đức của Phật—To praise Buddha. ; (嘆佛) Cũng gọi Bạch Phật. Khen ngợi công đức của Phật. Trong Thiền môn, bài kệ khen ngợi công đức Phật được đặt ở đầu văn sớ và văn hồi hướng, gọi là Thán Phật, hoặc Thán Phật kệ. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng].

thán phục

To admire.

thán đầu

Vị sư coi về củi lửa trong tự viện—The fire-tender in a monastery. ; (炭頭) Tên chức vụ coi về than củi vào mùa lạnh trong Thiền viện. Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1233 thượng) nói: Chuẩn bị trước than củi để chống rét. Hoặc khuyến hóa thí chủ, hoặc xuất tiền của công quĩ ra mua, phải cho đủ dùng.

thán đức

Tán thán công đức của người khác—To praise the virtue of others. ; (嘆德) Tán thán công đức của Phật, Bồ tát, Tổ sư, các đệ tử Phật... Nếu viết thành văn để đọc tụng thì gọi là Thán đức văn. Ở đầu các kinh thường có đoạn văn khen ngợi công đức của Phật, Bồ tát, Thanh văn (đệ tử Phật)...

thán đức sư

(嘆德師) Trong Mật giáo, khi cử hành Quán đính, người tán tụng công đức của vị Tân a xà lê(Truyền pháp quán đính) và Đại a xà lê (Kết duyên quán đính), được gọi là Thán đức sư. Đây là chức vụ rất danh dự.

tháng

Month.

Tháng Ba âm lịch

có tên gọi khác như Mộ Xuân (暮春), Mạt Xuân (末春), Quý Xuân (季春), Vãn Xuân (晚春), Diểu Xuân (杪春), Khiết Xuân (褉春), Tàm Nguyệt (蠶月), Hoa Nguyệt (花月), Đồng Nguyệt (桐月), Đào Nguyệt (桃月), Quái Nguyệt (夬月), Gia Nguyệt (嘉月), Thần Nguyệt (辰月), Đạo Nguyệt (稻月), Anh Duẩn Nguyệt (櫻筍月), Cô Tẩy (姑洗), Đào Lãng (桃浪), Vu Phong (雩風), Ngũ Dương Nguyệt (五陽月), Đào Quý Nguyệt (桃季月), Hoa Phi Nguyệt (花飛月), Tiểu Thanh Minh (小清明), Trúc Thu (竹秋), Phu Nguyệt (夫月), Mộ Nguyệt (暮月), Thần Nguyệt (辰月), Oa Nguyệt (窩月), Tú Nguyệt (宿月), Thương Nguyệt (商月), Anh Nguyệt (莫月), Linh Nguyệt (靈月), Vân Nguyệt (雲月). Một số câu hay cho tháng Ba như phụng tình hoa tín (鳳情花信, phụng quyến luyến tin tức hoa nở), vũ trạc xuân trần (雨濯春塵, mưa tẩy sạch bụi Xuân), bình tinh điểm lục (萍星點綠, bèo trôi điểm màu xanh), đào vũ phiên hồng (桃雨翻紅, mưa Đào phất phơ màu hồng), tuế hàn linh tiết (歲寒令節, năm rét tiết khó), cấm hỏa lương thần (禁火良辰, cấm lửa dịp tốt). Một số từ dùng cho Tiết Thanh Minh như liễu yên ngưng thoại (柳煙凝瑞, khói liễu đọng điềm lành), lan bội nghênh hy (蘭佩迎禧, ngọc đeo đón điều tốt), xuân thâm bích hải (春深碧海, Xuân sâu thẳm như biển xanh), hoa mãn thiên trì (花滿天池, hoa đầy khắp hồ Trời), phong hoa chánh tú (風花正秀, hoa gió rực rỡ), đồng quan du xuân (童冠遊春, trẻ đội mũ đi chơi Xuân), Lê hoa lạc viện (梨花落院, hoa Lê rơi rụng nơi tòa viện), liễu nhứ phi tường (柳絮飛牆, tơ liễu bay qua tường). Các từ dùng cho tháng Ba nhuận như Tam Xuân nghi cửu (三春宜久, ba tháng mùa Xuân vẫn còn lâu), nhuận quy trừ tận (潤歸除盡, ẩm ướt về dứt sạch). Từ ngữ dùng cho truy điệu vào tháng này là oanh đề hoa lão (鶯啼花老, oanh khóc hoa già cỗi), điệp trướng xuân tàn (蝶悵春殘, bướm buồn Xuân tàn tạ).

Tháng Bảy âm lịch

có tên gọi khác như Mạnh Thu (孟秋), Thủ Thu (首秋), Thượng Thu (上秋), Qua Thu (瓜秋), Tảo Thu (早秋), Tân Thu (新秋), Triệu Thu (肇秋), Lan Thu (蘭秋), Lan Nguyệt (蘭月), Thân Nguyệt (申月), Xảo Nguyệt (巧月), Qua Nguyệt (瓜月), Lương Nguyệt (涼月), Tương Nguyệt (相月), Văn Nguyệt (文月), Thất Tịch Nguyệt (七夕月), Nữ Lang Hoa Nguyệt (女郎花月), Văn Phi Nguyệt (文披月), Đại Khánh Nguyệt (大慶月), Tam Âm Nguyệt (三陰月), Di Tắc (夷則), Sơ Thương (初商), Mạnh Thương (孟商), Qua Thời (瓜時), Tố Thu (素秋), Sơ Thu (初秋), Sương Nguyệt (霜月), Trung Nguyệt (中月), Triệu Nguyệt (肇月). Một số câu hay cho tháng Bảy như vân thu Hạ sắc (雲收夏色, mây thâu sắc màu mùa Hè), nguyệt động Thu thanh (月動秋聲, trăng làm động tiếng Thu), kim phong đãng thử (金風蕩暑, gió Thu quét phăng đi hơi nóng), ngọc luật minh Thu (玉律鳴秋, nhạc ngọc vang vọng mùa Thu), kiểu nguyệt như sương (皎月如霜, trăng sáng như sương), Thu khai ngọc vũ (秋開玉宇, Thu mở nhà ngọc), luật ứng thanh cao (律應清高, nhạc vận thanh cao), thủy thiên nhất sắc (水天一色, nước và trời cùng một sắc màu), phong nguyệt song thanh (風月雙清, gió và trăng đều trong suốt), tam canh thử thối (三更暑退, ba canh oi bức thối lui), nhất chẩm lương sanh (一枕涼生, bên gối hưởng gió mát). Một số từ dùng cho Thất Tịch (七夕) như nhân gian khất xảo (人間乞巧, mọi người xin trí tuệ khôn ngoan), thiên thượng giai kỳ (天上佳期, thời kỳ tốt trên trời). Một số từ dùng cho tháng Bảy nhuận như song tinh nhất hội (雙星一會, hai sao cùng gặp nhau), nhất nhuận quy dư (一閏歸餘, một lần nhuận vẫn còn dư). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như thiền thanh đề mộ (蟬聲啼暮, tiếng ve khóc chiều), cùng vận bi Thu (蛩韻悲秋, tiếng dế buồn mùa Thu).

Tháng Chín âm lịch

có tên gọi khác như Cúc Nguyệt (菊月), Thọ Y Nguyệt (授衣月), Thanh Nữ Nguyệt (青女月), Tiểu Điền Nguyệt (小田月), Bác Nguyệt (剝月), Quán Nguyệt (貫月), Sương Nguyệt (霜月), Trưởng Nguyệt (長月), Tuất Nguyệt (戌月), Hủ Nguyệt (朽月), Vịnh Nguyệt (詠月), Huyền Nguyệt (玄月), Nỉ Giác Nguyệt (禰覺月), Cúc Khai Nguyệt (菊開月), Hồng Diệp Nguyệt (紅葉月), Quý Thu (季秋), Mộ Thu (暮秋), Vãn Thu (晚秋), Cúc Thu (菊秋), Thu Mạt (秋末), Tàn Thu (殘秋), Lương Thu (涼秋), Tố Thu (素秋), Ngũ Âm Nguyệt (五陰月), Cùng Thu (窮秋), Diểu Thu (杪秋), Thu Thương (秋商), Mộ Thương (暮商), Quý Bạch (季白), Vô Xạ (無射), Sương Tự (霜序), Lương Nguyệt (涼月), Tam Thu (三秋), Quý Thương (季商), Cúc Tự (菊序). Một số câu hay cho tháng Chín như hà bàn lạc thúy (荷盤落翠, gương sen không còn sắc xanh biếc), phong cảnh phiêu hồng (楓景飄紅, cảnh cây phong phất phơ màu hồng), giang phong huyến cẩm (江風絢錦, gió sông rực rỡ gấm), ly cúc thư kim (籬菊舒金, cúc bờ rào phô màu vàng óng). Một số từ dùng cho tiết Trùng Dương (重陽) như Tam Thu hầu túc (三秋候足, khí tiết Ba Thu vừa đủ), vạn bảo cáo thành (萬寶告成, muôn điều quý báu đã thành), hoàng hoa mãn kính (黃花滿徑, hoa vàng khắp lối), hồng diệp doanh câu (紅葉盈溝, lá đỏ đầy rãnh nước), thư truyền tặng cúc (書傳贈菊, thư truyền đi tặng hoa cúc), Mạnh Gia lạc mạo (孟嘉落帽, Mạnh Gia rơi mũ), Hoàn Cảnh đăng cao (桓景登高, Hoàn Cảnh lên núi cao), sương lăng cúc nhị (霜淩菊蕊, sương thấm nhụy hoa cúc), tửu túy Thù Du (酒醉茱萸, rượu say Thù Du). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như cùng thanh bi thiết (蛩聲悲切, tiếng dế buồn da diết), nhạn trận hoành không (雁陣橫空, nhạn dàn trận trên không).

Tháng Giêng Âm Lịch

có tên gọi khác như Nguyệt Chánh (月正), Tân Chánh (新正), Mạnh Xuân (孟春), Thủ Xuân (首春), Thượng Xuân (上春), Dần Mạnh Xuân (寅孟春), Thỉ Xuân (始春), Tảo Xuân (早春), Nguyên Xuân (元春), Tân Xuân (新春), Sơ Xuân (初春), Đoan Xuân (端春), Triệu Xuân (肇春), Hiến Xuân (獻春), Xuân Vương (春王), Hoa Tuế (華歲), Tuế Tuế (歲歲), Triệu Tuế (肇歲), Khai Tuế (開歲), Hiến Tuế (獻歲), Phương Tuế (芳歲), Sơ Tuế (初歲), Sơ Nguyệt (初月), Sơ Dương (初陽), Mạnh Dương (孟陽), Tân Dương (新陽), Xuân Dương (春陽), Xuân Vương (春王), Thái Thấu (太簇), Tuế Thỉ (歲始), Vương Chánh Nguyệt (王正月), Sơ Không Nguyệt (初空月), Hà Sơ Nguyệt (霞初月), Sơ Xuân Nguyệt (初春月), Tưu Nguyệt (陬月), Vương Nguyệt (王月), Đoan Nguyệt (端月), Mạnh Tưu (孟陬), Thái Nguyệt (泰月), Cẩn Nguyệt (謹月), Kiến Dần (建寅), Dần Nguyệt (寅月), Dương Nguyệt (楊月), Mạnh Xuân Nguyệt (孟春月), Tam Vi Nguyệt (三微月), Tam Chánh (三正), Mục Nguyệt (睦月), Thượng Nguyệt (上月), Tam Chi Nhật (三之日). Một số câu hay cho tháng Giêng như Tam Dương sơ trưởng (三陽初長, tháng Giêng mới lớn), Tứ Tự cánh đoan (四序更端, bốn mùa trở lại đầu), mai đôi bạch ngọc (梅堆白玉, mai chất đầy ngọc trắng [tuyết]), liễu đĩnh hoàng kim (柳錠黃金, liễu trĩu nặng vàng ròng), tiêu hoa tống lạp (椒花送臘, hoa tiêu tiễn năm cũ đi), canh điểu sơ minh (庚鳥初鳴, chim Vàng Anh bắt đầu hót), Ngọc Luật hồi phù (玉律回夫, nhạc khí Ngọc Luật trở về chăng), duệ Ki tiễn lạp (睿璣餞臘, sao Ki sáng tiễn năm cũ), tiêu chuyển Bắc Đẩu (杓轉北鬥, chuôi sao chuyển Bắc Đẩu), nhân tại Đông phong (人在東風, người nơi gió Đông), nhất thanh trừ cựu (一聲除舊, một tiếng vang trừ năm cũ), vạn hộ cánh tân (萬戶更新, ngàn nhà lại mới mẻ). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như mai tai lệ phấn (梅腮淚粉, mặt hoa mai đầy phấn lệ), liễu nhãn bi thanh (柳眼悲青, mắt liễu buồn trong xanh). Ngữ cú dành cho Thượng Nguyên như cửu thiên nguyệt lãng (九天月朗, chín tầng trời trăng sáng rực), vạn hộ đăng huy (萬戶燈輝, vạn nhà đèn tỏ rạng). Một số từ dùng cho Lập Xuân như Đông phong giải đống (東風解凍, gió Đông làm tan băng), Bắc Đẩu hồi chước (北斗回杓, chùm Bắc Đẩu trở về đuôi).

Tháng Hai âm lịch

có tên gọi khác như Như Nguyệt (如月), Mai Kiến Nguyệt (梅見月), Mai Nguyệt (梅月), Lệ Nguyệt (麗月), Mão Nguyệt (卯月), Hạnh Nguyệt (杏月), Hàm Nguyệt (酣月), Lệnh Nguyệt (令月), Khiêu Nguyệt (跳月), Tiểu Thảo Sanh Nguyệt (小草生月), Y Cánh Trước Giáp Chung (衣更著夾鐘), Trọng Chung (仲鐘), Trọng Xuân (仲春), Trọng Dương (仲陽), Trung Hòa Nguyệt (中和月), Tứ Dương Nguyệt (四陽月), Xuân Trung (春中), Hôn Nguyệt (婚月), Môi Nguyệt (媒月), Đại Tráng (大壯), Trúc Thu (竹秋), Hoa Triêu (花朝), Hoa Nguyệt (花月), Tứ Chi Nguyệt (四之月). Một số câu hay cho tháng Hai như Hải Đường tẩm nguyệt (海棠浸月, hoa Hải Đường ngấm trăng), Dương Liễu lung yên (楊柳籠煙, cây Dương Liễu nhốt khói), liễu khê tiếu bích (柳溪醮碧, khe liễu cúng màu xanh biếc), hoa ổ phi hồng (花塢飛紅, ụ hoa phất phơ màu hồng), oanh ca hoa tự (鶯歌花序, oanh ca đầu hoa), yến tiễn xuân phong (燕剪春風, chim Yến xé gió Xuân), hoa vũ lộng tình (花雨弄晴, mưa hoa đùa giỡn với trời tạnh), thời cánh thường hoa (時竟嚐花, đến lúc lại thưởng thức hoa), dã điểu hổ xuân (野鳥唬春, chim rừng dọa nạt mùa Xuân), ngạn hoa khấp hiểu (岸花泣曉, hoa bên bờ khóc lúc hừng sáng), Đỗ ông hành vũ (杜翁行雨, ông lão họ Đỗ đi trong mưa), hoa tín xuy phong (花信吹風, tin tức hoa nở thổi gió bay). Một số từ dùng cho gió Xuân như Tam Xuân tiền bán (三春前半, một nửa trước của ba tháng mùa Xuân), bách khắc bình phân (百刻平分, trăm khắc phân rõ). Các từ dùng cho tháng Hai nhuận như Trọng Xuân kỷ nhuận (仲春紀閏, Trọng Xuân gặp nhuận), tích vũ lưu hàn (積雨留寒, chứa mưa giữ lại cái lạnh), tự hoa thời lạc (序花時落, hoa tuần tự rơi rụng đúng lúc), dã điểu tranh minh (野鳥爭鳴, chim rừng tranh nhau hót).

Tháng Mười Hai âm lịch

có tên gọi khác như Lạp Nguyệt (臘月), Trừ Nguyệt (除月), Sửu Nguyệt (丑月), Nghiêm Nguyệt (嚴月), Băng Nguyệt (冰月), Dư Nguyệt (餘月), Cực Nguyệt (極月), Đồ Nguyệt (塗月), Địa Chánh Nguyệt (地正月), Nhị Dương Nguyệt (二陽月), Gia Bình Nguyệt (嘉平月), Tam Đông Nguyệt (三冬月), Mai Sơ Nguyệt (梅初月), Xuân Đãi Nguyệt (春待月), Quý Đông (季冬), Mộ Đông (暮冬), Vãn Đông (晚冬), Diểu Đông (杪冬), Cùng Đông (窮冬), Hoàng Đông (黃冬), Lạp Đông (臘冬), Tàn Đông (殘冬), Mạt Đông (末冬), Nghiêm Đông (嚴冬), Sư Tẩu (師走), Đại Lữ (大呂), Tinh Hồi Tiết (星回節), Ân Chánh (殷正), Thanh Tự (清祀), Đông Tố (冬素), Xú Nguyệt (醜月), Gia Bình (嘉平), Tuế Diểu (歲杪), Cửu Đông (九冬), Nghiêm Hàn (嚴寒), Tuế Nguyệt (歲月), Mạt Nguyệt (末月). Một số câu hay cho tháng Mười Hai như tiêu thương tiễn lạp (椒觴餞臘, chén rượu tiêu tiễn cuối năm), mai tín truyền Xuân (梅信傳春, tin cây Mai truyền mùa Xuân đến), cẩm diên thủ tuế (錦筵守歲, tiệc gấm đón năm mới), họa các nghênh Xuân (畫閣迎春, gác vẽ tranh hoa lệ đón Xuân), Mai truyền Xuân ý (梅傳春意, cành Mai truyền ý Xuân), tuyết triệu phong niên (雪兆豐年, tuyết có điềm cho biết năm mới phong phú), khúc tấu Lương Viên (曲奏梁園, tấu khúc Lương Viên), Tây sơn tuyết tễ (西山雪霽, núi Tây tuyết tan), Đông các Mai hương (東閣梅香, gác Đông thơm hoa Mai), hàn tùy lạp khứ (寒隨臘去, lạnh theo cuối năm đi), noãn trục Xuân lai (暖逐春來, hơi ấm cùng mùa Xuân đến), Mai ngạc truyền Xuân (梅萼傳春, đài hoa Mai truyền sắc Xuân), tuế trừ kim tịch (歲除今夕, năm hết đêm nay), Xuân nhập tân niên (春入新年, Xuân vào năm mới), pháo thôi tàn lạp (炮催殘臘, pháo thúc giục cuối năm còn sót), Mai báo tảo Xuân (梅報早春, Mai báo Xuân sớm), nhất niên tương tận (一年將盡, một năm sắp hết), tứ quý vân chung (四季雲終, bốn mùa chấm dứt). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như tinh hồi nguyệt triển (星回月展, sao lùi trăng hiện), phong thảm vân sầu (風慘雲愁, gió thảm mây buồn), diêm khuynh trường lệ (簷傾長淚, mái nghiêng ngấn lệ), thủy kết đôi băng (水結堆冰, nước kết băng trôi). Một số từ dùng cho tháng Mười Hai nhuận như nhuận dĩ thành tuế (潤以成歲, nhuận đã thành năm), hàn bách chu niên (寒迫周年, lạnh đuổi theo trọn năm).

Tháng Mười Một âm lịch

có tên gọi khác như Trọng Đông (仲冬), Trung Đông (中冬), Chánh Đông (正冬), Sướng Nguyệt (暢月), Sương Nguyệt (霜月), Sương Kiến Nguyệt (霜見月), Tý Nguyệt (子月), Cô Nguyệt (辜月), Gia Nguyệt (葭月), Chỉ Nguyệt (紙月), Phục Nguyệt (復月), Thiên Chánh Nguyệt (天正月), Nhất Dương Nguyệt (一陽月), Quảng Hàn Nguyệt (廣寒月), Long Tiềm Nguyệt (龍潛月), Tuyết Nguyệt (雪月), Hàn Nguyệt (寒月), Hoàng Chung (黃鐘, 黃鍾), Dương Phục (陽復), Dương Tế (陽祭), Băng Tráng (冰壯), Tam Chí (三至), Á Tuế (亞歲), Trung Hàn (中寒), Trọng Nguyệt (仲月), Phức Nguyệt (複月), Long Tiềm (龍潛), Long Đông (隆冬), Hỷ Nguyệt (喜月). Một số câu hay cho tháng Mười Một như nhật hành Bắc lục (日行北陸, mặt trời đi về đất Bắc), Xuân đáo Nam chi (春到南枝, Xuân đến trên cành Nam), thiên hàn dục tuyết (天寒欲雪, trời lạnh tuyết sắp rơi), Xuân ý tại Mai (春意在梅, ý Xuân ở cây Mai), hàn sương điểm tuyết (寒霜點雪, sương lạnh lấm chấm tuyết), đống nghiễn ha băng (凍硯呵冰, nghiên mực đóng băng phun tuyết), Mai thổ Nam chi (梅吐南枝, Mai nở cành Nam), ngân hà phiêu tuyết (銀河飄雪, sông ngân thổi tuyết), ngọc vũ phi sương (玉宇飛霜, nhà ngọc bay sương), Tam Dương trình thụy (三陽呈瑞, xuân đến bày điềm lành), Lục Bạch triệu phong (六白兆豐, Lục Bạch [tượng trưng cho Càn, tức là trời] thể hiện điềm phong phú), Nhất Dương lai phức (一陽來複, tháng 11 lại đến nữa), vạn gia chiêu hồi (萬家昭回, muôn nhà trở lại sáng sủa).

Tháng Mười âm lịch

có tên gọi khác như Dương Nguyệt (陽月), Hợi Nguyệt (亥月), Cát Nguyệt (吉月), Lương Nguyệt (良月), Khôn Nguyệt (坤月), Chánh Dương Nguyệt (正陽月), Tiểu Dương Xuân (小陽春), Thần Vô Nguyệt (神無月), Thập Nguyệt (拾月), Thời Vũ Nguyệt (時雨月), Sơ Sương Nguyệt (初霜月), Ứng Chung (應鐘, 應鍾), Sơ Đông (初冬), Mạnh Đông (孟冬), Thượng Đông (上冬), Khai Đông (開冬), Huyền Đông (玄冬), Huyền Anh (玄英), Tiểu Xuân (小春), Đại Chương (大章), Thỉ Băng (始冰), Cực Dương (極陽), Dương Chỉ (陽止), Mạnh Đông (孟冬), Nguyên Đông (元冬), Tiểu Lương (小良), Ứng Nguyệt (應月), Lập Nguyệt (立月), Tiểu Hòa Xuân (小和春), Âm Nguyệt (陰月), Lộ Nguyệt (露月), Phi Âm Nguyệt (飛陰月). Một số câu hay cho tháng Mười như Mai truyền Xuân ý (梅傳春意, Mai truyền ý Xuân), Cúc ngạo sương chi (菊傲霜枝, Cúc ngạo nghễ cành sương), hàn uy vị chấn (寒威未振, uy lực cái lạnh chưa đến nỗi), ái cảnh sơ khai (愛景初開, cảnh đẹp mới bày), đấu tiêu chỉ Bắc (鬥杓指北, chuôi sao về hướng Bắc), nhật ảnh hồi Nam (日影回南, bóng mặt trời trở về hướng Nam), nhật lâm chiết mộc (日臨折木, mặt trời đến bẻ cây), Nam chi nhật noãn (南枝日暖, cành Nam mặt trời ấm), Đông các hàn khinh (東閣寒輕, gác Đông se lạnh), hòa khí như Xuân (和氣如春, khí trời ôn hòa như mùa Xuân). Một số từ dùng cho Lập Đông (立冬) như nguyên anh khải tú (元英啟秀, hoa cỏ khởi sắc), thanh nữ ty hàn (青女司寒, cô gái tự nhiên màu xanh làm chủ cái lạnh), sương lăng Mai nhụy (霜淩梅蕊, sương thấm nhụy hoa Mai), tuyết ngạo sương chi (雪傲霜枝, tuyết cười ngạo cành sương), Dương Xuân tương Hạ (陽春將夏, tháng Mười như Hè), Xuân ý phương xa (春意方賒, ý Xuân còn xa). Một số từ dùng cho tháng Mười nhuận như Tiểu Dương dư nhuận (小陽餘閏, tháng Mười còn nhuận), Dương Nguyệt tăng trưởng (陽月增長, tháng Mười kéo dài). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như phong mộc thanh phân (風木聲分, tiếng gió cây rã rời), tuyết sơn dung lão (雪山容老, dáng núi tuyết già cỗi).

Tháng Năm âm lịch

có tên gọi khác như Trọng Hạ (仲夏), Siêu Hạ (超夏), Trung Hạ (中夏), Thỉ Nguyệt (始月), Tinh Nguyệt (星月), Hoàng Nguyệt (皇月), Nhất Dương Nguyệt (一陽月), Bồ Nguyệt (蒲月), Lan Nguyệt (蘭月), Mang Nguyệt (忙月), Ngọ Nguyệt (午月), Lựu Nguyệt (榴月), Độc Nguyệt (毒月), Ác Nguyệt (惡月), Quất Nguyệt (橘月), Nguyệt Bất Kiến Nguyệt (月不見月), Xuy Hỷ Nguyệt (吹喜月), Cao Nguyệt (皋月), Nhuy Tân (蕤賓), Đoan Dương Nguyệt (端陽月), Thử Nguyệt (暑月), Thuần Nguyệt (鶉月), Minh Điêu (鳴蜩), Hạ Ngũ (夏五), Tiện Nam Nhiễm Nguyệt (賤男染月), Tiểu Hình (小刑), Thiên Trung (天中), Mang Chủng (芒種), Khải Minh (啟明), Úc Chưng (郁蒸), Cấu Nguyệt (垢月), Nhuy Nguyệt (蕤月), Bạc Nguyệt (薄月), Đạm Nguyệt (炎月). Một số câu hay cho tháng Năm như hà kị nghênh phong (荷芰迎風, củ sen đón gió), hòe âm kết duyên (槐陰結緣, bóng hòe kết duyên), lựu hỏa thư hồng (榴火舒紅, hoa Thạch Lựu phô sắc màu hồng đỏ rực), nông tương đăng thử (農將登黍, nhà nông sắp cúng lúa mùa), nguyệt kỷ minh điêu (月紀鳴蜩, tháng ghi nhớ tiếng ve sầu rả rích), trì hà thổ lục (池荷吐綠, hoa sen dưới hồ nhả màu xanh non), liễu hỏa thư đan (柳火舒丹, hoa Liễu phô sắc màu đỏ rực), lan thang thức dục (蘭湯拭浴, Lan nóng phe phẩy tắm), bạc tửu phù thương (薄酒浮觴, rượu nhạt uống chén phạt). Một số từ dùng trong Tiết Đoan Dương (端陽節) như khiết lan tiết giới (潔蘭節屆, tiết Lan thanh khiết), huyền ngải thời tân (懸艾時新, ngải treo luôn mới). Từ dùng cho Hạ Chí như nhật thiên Đông thăng (日偏東升, mặt trời nghiêng lên từ phương Đông), nguyệt chánh Nam Khâu (月正南邱, mặt trăng chính hướng đất Nam Khâu). Một số từ dùng cho tháng Năm nhuận như nhuy tân kỷ nhuận (蕤賓紀閏, tháng Năm ghi nhuận), ngải hổ do huyền (艾虎猶懸, da lông chồn còn treo). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như trì hà lệ lộ (池荷淚露, sen nơi hồ giọt sương lệ), viện trúc bi phong (院竹悲風, hàng tre bên nhà thoảng gió buồn).

Tháng Sáu âm lịch

có tên gọi khác như Thả Nguyệt (且月), Hà Nguyệt (荷月), Thử Nguyệt (暑月), Tiêu Nguyệt (焦月), Phục Nguyệt (伏月), Quý Nguyệt (季月), Mùi Nguyệt (未月), Mộ Hạ (暮夏), Diểu Hạ (杪夏), Vãn Hạ (晚夏), Quý Hạ (季夏), Trường Hạ (長夏), Cực Thử (極暑), Tổ Thử (組暑), Nhục Thử (溽暑), Lâm Chung (林鐘), Tinh Dương (精陽), Độn Nguyệt (遁月), Lâm Chung (林鍾), Cam Chung (甘鍾), Tinh Nguyệt (精月), Đán Nguyệt (旦月), Cửu Hạ (九夏), Đản Thử (但暑), Lệ Nguyệt (荔月), Tổ Nguyệt (祖月). Một số câu hay cho tháng Năm như lục hà hương viễn (綠荷香遠, sen xanh hương ngát xa), liễu ám phong thanh (柳暗風清, liễu râm gió mát), tất suất cư bích (蟋蟀居壁, dế mèn sống nơi tường nhà), Xạ Thảo vi oánh (麝草爲瑩, cỏ Xạ Thảo trong suốt), băng bàn tiến quả (冰盤薦果, mâm băng cúng quả), hồng tảo phất hạm (紅藻拂檻, cỏ hồng phất qua song cửa), bích thọ lâm song (碧樹臨窗, cây xanh đến bên cửa sổ). Một số từ dùng cho Sơ Phục (初伏, chỉ 10 ngày đầu của mùa nóng) như huề cầm tải tửu (攜琴載酒, mang đàn cầm đi chở rượu), trầm lý phù qua (沉李浮瓜, mận chìm dưa nỗi). Một số từ dùng cho Trung Phục (中伏, chỉ 10 ngày giữa của mùa nóng) như viêm phong chánh tích (炎風正積, gió nóng tích tụ), Canh Phục phương trung (庚伏方中, ngay giữa Tam Phục). Một số từ dùng cho Mạt Phục (末伏, chỉ 10 ngày cuối của mùa nóng) như Tam Canh tại hậu (三庚在後, ngay sau Tam Phục), Mạt Phục dư viêm (末伏餘炎, hơi nóng còn lại kỳ Mạt Phục). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như thiền thanh hiệu nguyệt (蟬聲號月, tiếng ve sầu than thở với trăng), yến ngữ bi phong (燕語悲風, chim yến chuyện trò với gió buồn).

Tháng Tám âm lịch

có tên gọi khác như Trọng Thu (仲秋), Trung Thu (中秋), Thu Bán (秋半), Thu Cao (秋高), Quất Xuân (橘春), Thanh Thu (清秋), Chánh Thu (正秋), Quế Thu (桂秋), Hoạch Nguyệt (獲月), Tráng Nguyệt (壯月), Quế Nguyệt (桂月), Diệp Nguyệt (葉月), Thu Phong Nguyệt (秋風月), Dậu Nguyệt (酉月), Nguyệt Kiến Nguyệt (月見月), Hồng Nhiễm Nguyệt (紅染月), Nam Lữ (南呂), Trọng Thương (仲商), Chá Nguyệt (柘月), Nhạn Lai Nguyệt (雁來月), Trung Luật (中律), Tứ Âm Nguyệt (四陰月), Sảng Nguyệt (爽月), Đại Thanh Nguyệt (大清月), Trúc Tiểu Xuân (竹小春), Quán Nguyệt (觀月), Kết Xuân (桔春), Cử Nguyệt (舉月). Một số câu hay cho tháng Tám như châu lộ ngưng bạch (珠露凝白, sương châu đọng thành màu trắng), quế nhụy sanh hương (桂蕊生香, nhụy hoa quế ngát hương), lộ doanh tiên chưởng (露盈仙掌, sương đọng đầy bàn tay tiên), quế trán thiềm cung (桂綻蟾宮, quế khắp cung trăng), lộ châu trích lãnh (露珠滴冷, giọt sương ngọc lạnh băng), quế nguyệt phù hàn (桂月浮寒, trăng quế trôi nỗi lạnh ngắt), thiềm quang chánh mãn (蟾光正滿, ánh sáng trăng tròn đầy), nhạn hoành độ ảnh (雁橫度影, nhạn bay ngang qua còn lưu bóng), thiềm thố trừng quang (蟾兔澄光, ánh trăng sáng tỏ). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như thiền hiệu cổ mộc (蟬號古木, ve khóc cây cổ), yến biệt điêu lương (燕別雕梁, yến giã biệt xà nhà chạm trỗ).

Tháng Tư âm lịch

có tên gọi khác như Phạp Nguyệt (乏月), Hoang Nguyệt (荒月), Dương Nguyệt (陽月), Nông Nguyệt (農月), Càn Nguyệt (乾月), Tỵ Nguyệt (巳月), Úy Nguyệt (畏月), Vân Nguyệt (雲月), Hòe Nguyệt (槐月), Mạch Nguyệt (麥月), Chu Nguyệt (朱月), Dư Nguyệt (餘月), Thủ Hạ (首夏), Hạ Thủ (夏首), Mạnh Hạ (孟夏), Sơ Hạ (初夏), Duy Hạ (維夏), Thỉ Hạ (始夏), Hòe Hạ (槐夏), Đắc Điểu Vũ Nguyệt (得鳥羽月), Hoa Tàn Nguyệt (花殘月), Trọng Lữ (仲侶、仲呂), Thuần Dương (純陽), Thuần Càn (純乾), Chánh Dương Nguyệt (正陽月), Hòa Nguyệt (和月), Mạch Thu Nguyệt (麥秋月), Mạch Hầu (麥候), Mạch Tự (麥序), Lục Dương (六陽), Mai Nhục (梅溽), Mai Nguyệt (梅月), Thanh Hòa (清和), Chu Minh (朱明), Phạp Hạ (乏夏), Xuân Dư (春餘), Hòe Tự (槐序), Anh Tự (櫻序). Một số câu hay cho tháng Tư như Hòe phong mị Hạ (槐風媚夏, gió đưa cây Hòe nịnh hót mùa Hè), mạch Hạ phiên Thu (麥夏翻秋, mùa Hè lúa chuyển sang Thu), ngũ phong mạch thục (五風麥熟, năm gió làm lúa chín), tế vũ mai phì (細雨梅肥, mưa nhẹ làm cho Mai tươi tốt), Chu Minh bố lệnh (朱明布令, Chu Minh ban lệnh), Xích Đế ty quyền (赤帝司權, Xích Đế nắm quyền). Một số từ dùng cho tháng Tư nhuận như nguyệt tiêu kỷ nhuận (月蕭紀閏, trăng tiêu điều tháng năm nhuận), thử khí sơ lai (暑氣初來, khí nóng bắt đầu đến), vân đường nghênh Hạ (雲堂迎夏, nhà mây đón mùa Hè), tuyết sơn tống Xuân (雪山送春, núi tuyết tiễn Xuân đi). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như Mai hoàng sầu vũ (梅黃愁雨, Mai vàng buồn mưa), mạch thục bi phong (麥熟悲風, lúa chín sầu gió). Từ dùng cho Lập Hạ là Hạ hành triệu thỉ (夏衡肇始, mùa Hè thật sự bắt đầu), viêm đức phương tân (炎德方新, khí nóng càng mới), quỳ hoa hướng dương (葵花向陽, hoa Quỳ hướng về mặt trời), trúc diệp thùy âm (竹葉垂陰, lá tre tìm bóng râm), tân hà thiếp thủy (新荷貼水, sen mới bám vào nước), trĩ trúc thành âm (稚竹成陰, tre non thành bóng râm), lục long hành Hạ (六龍行夏, sáu rồng đi khắp mùa Hè), vạn tính thư Hạ (萬姓舒憂, muôn họ thư thả hưởng mùa Hè).

thánh

Arya (skt). 1) Thánh giả: Saint—Sage. 2) Thiêng liêng: Holy. 3) Thánh thần: Gods. 4) Chứng đắc Chính Đạo: One who is wise and good, and is correct in all his characters. 5) Thánh Nhân đối lại với Phàm Nhân: The saint is the opposite of the common or unenlightened man. 6) Tứ Thánh: See Tứ Thánh Quả. ; (聖) I. Thánh. Phạm:Àrya. Pàli:Ariya. Đối lại: Phàm, Tục. Đối với giá trị bình thường của thế tục thì tính chất của Thánh khác hẳn với tục. Nghĩa là những việc làm, lời nói và tư tưởng khác với người thường, người ta cũng cho là Thánh, như hàng tháng không ăn, hàng năm không ngủ nghỉ chẳng hạn. Vào cuối thế kỉ XIII, trước Tây lịch, giống người da trắng từ vùng Tây bắc Ấn độ xâm nhập, chiếm cứ khu vực Ngũ hà, tự xưng làÀrya (Nhã lợi an) và coi giống da đen bị chinh phục là Anàrya (Phi nhã lợi an). Khoảng 1.000 năm trước Tây lịch, ngườiÀrya từPaĩjàb (tức khu vực Ngũ hà) dần dần dời về phía đông, chiếm lãnh các vùng đất màu mỡ ở trung du sông Diêm mâu na và sông Hằng, gọi là Trung quốc (Phạm: Madhyadeza), hoặc Thánh địa (Phạm:Àryàvarta). Văn hóa của người Àrya dần dần hưng thịnh, sau khi chế độ xã hội được xác lập thì dân bản xứ bị chinh phục được xem là nô lệ (Zùdra, Thủ đà la), còn ngườiÀrya thì tự xưng là Bà la môn (Phạm: Brahmaịa), giai cấp trông coi việc cúng tế. Ngoài ra còn có các giai cấp Sát đế lợi (Phạm:Kwatriya, vương tộc, vũ sĩ), Phệ xá (Phạm: Vaizya, dân thường, làm các nghề nông, công, thương). Trong 4 giai cấp thì người Bà la môn coi việc cúng tế là giai cấp cao nhất, cho nên biết quan niệm về Thánh này được kết hợp với giai cấp đặc quyền. Nhưng thế kỉ thứ VI trước Tây lịch là thời kì biến chuyển lớn lao đối với văn hóa Ấn độ, quan niệm Thánh cũng nhân đó mà được khai phóng. Khi trung tâm văn hóa dần dần dời về phíađông thì nước Ma yết đà đã nổi lên là một nước phát triển mạnh ở vùng biên thùy phía đông. Tại các nước mới nổi lên này, quyền lực của các vương tộc rất lớn, công thương nghiệp phát đạt, giai cấp công thương trở nên giàu có, dần dần nắm thực quyền kinh tế trong xã hội. Bấy giờ, cũng xuất hiện các nhà tư tưởng mới không chấp nhận giai cấp Bà la môn, đó là các nhà Sa môn (Phạm:Zramaịa), trong đó người có tính đại biểu nhất là đứcThích tôn. Ngài chủ trương xóa bỏ 4 giai cấp, bất luận là giai cấp nào, hễ gia nhập giáo đoàn thì đều trở thành Thích tử bình đẳng, không căn cứ vào gia thế, thân phận, tài sản để gọi là Thánh, mà lấy Chính đạo là Thánh. Những người tìm cầu Chính đạo hoặc thực hành Chính đạo đều gọi là Thánh. Bởi thế, sự xuất gia cầu đạo của đức Thích tôn cũng gọi là Thánh cầu (Pàli:Ariya-pariyesa). Bát chính đạo cũng gọi là Bát Thánh đạo (Pàli:Ariya-magga); Tứ đế cũng gọi là Tứ Thánh đế (Pàli:Ariya-sacca, chân lí của bậc Thánh). Ngoài ra, cũng có các từ ngữ có chữ Thánh đứng đầu như Thánh trí (Pàli:Ariya-paĩĩa), Thánh giải thoát (Pàli: Ariya-vamutti), Thánh giới (Pàli:Ariyasìla), Thánh thanh văn (Pàli: Ariyasàvaka, Thánh đệ tử)... Chữ Thánh vốn có nghĩa là huyết thống cao quí của dân tộcÀrya, nhưng sau khi được Phật giáo sử dụng thì ý nghĩa thay đổi khác hẳn. II. Thánh. Từ tôn xưng người có học vấn và đức hạnh vượt trội. (xt. Thánh Nhân).

Thánh Bảo

(聖寳, Shōbō, 832-909): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời đại Bình An, Tự Trưởng đời thứ 8 của Đông Tự (東寺, Tō-ji), vị tổ khai sáng Dòng Tiểu Dã (小野流), húy là Thánh Bảo (聖寳), tên tục là Hằng Ấm Vương (恒蔭王), thụy hiệu là Lý Nguyên Đại Sư (理源大師), xuất thân vùng Kyoto, con của Binh Bộ Đại Thừa Cát Thanh Vương (兵部大丞葛聲王). Năm 16 tuổi, ông theo xuất gia với Chơn Nhã (眞雅, Shinga), rồi học Tam Luận, Pháp Tướng và Hoa Nghiêm với Nguyên Hiểu (源曉, Gankyō), Viên Tông (圓宗, Enshū) và Bình Nhân (平仁, Heinin). Năm 869, ông làm việc cho Duy Ma Hội Thụ Nghĩa và luận phá các nghĩa học khác, sau đó đến năm 871 thì thọ nhận pháp Vô Lượng Thọ từ Chơn Nhã và chuyên tu về Mật Giáo. Đến năm 874, ông kiến lập nên Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji), rồi đến năm 880 thì thọ nhận 2 bộ đại pháp từ Chơn Nhiên (眞然, Shinzen) ở Cao Dã Sơn và vào năm 884 thì thọ pháp Quán Đảnh ở Nguyên Nhân (源仁, Gennin) tại Đông Tự. Sau đó, vào năm 890, ông làm Tọa Chủ của Trinh Quán Tự (貞觀寺, Jōgan-ji), rồi năm 905 thì làm Viện Chủ Đông Nam Viện của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), và năm sau thì làm Tự Trưởng cũng như Tăng Chánh của Đông Tự. Các trước tác của ông để lại có Đại Nhật Kinh Sớ Sao (大日經疏鈔), Thai Tạng Giới Hành Pháp Thứ Đệ (胎藏界行法次第), Như Ý Luân Tu Cúng Quỹ (如意輪修軌), Ngũ Đại Hư Không Tạng Thức Pháp (五大虛空藏式法), Tu Nghiệm Tối Thắng Huệ Ấn Tam Muội Da Cực Ấn Quán Đảnh Pháp (修驗最勝惠印三昧耶極印灌頂法).

thánh bảo tạng thần

Một trong các vị chư Thiên, vị có nhiều của cải quý báu, được gọi là Tài Thần, đem của cải đến làm giàu cho chúng sanh—The deva, or devas of the sacred treasury of precious things, who bestows them on the living.

Thánh chúng

(聖眾): chủ yếu chỉ đức Phật, Bồ Tát (s: bodhisattva, p: bodhisatta, 菩薩), Duyên Giác (s: pratyeka-buddha, p: pacceka-buddha, 緣覺), Thanh Văn (s: śrāvaka, p: sāvaka, 聲聞), v.v. Tăng Nhất A Hàm (增壹阿含經, Taishō Vol. 2, No. 125) quyển 45 có nêu ra 6 hạng Thánh chúng, gồm: (1) Tu Đà Hoàn (s: srota-āpanna, p: sotāpanna, 須陀洹, hay Dự Lưu [預流]), (2) Tư Đà Hàm (s: sakṛd-āgāmin, p: sakad-āgāmin, 斯陀含, hay Nhất Lai [一來]), (3) A Na Hàm (s, p: anāgāmin, 阿那含, hay Bất Lai [不來]), (4) A La Hán (s: arhat, p: arahant, 阿羅漢), (5) Bích Chi Phật (s: pratyeka-buddha, 辟支佛), và (6) Phật. Trong Phật Thuyết Tôn Thắng Đại Minh Vương Kinh (佛說尊勝大明王經, Taishō Vol. 21, No. 1413) có đoạn rằng: “Quy mạng nhất thiết chư Phật, nhất thiết tôn pháp, nhất thiết Thánh chúng; hựu phục quy mạng đại bi Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát (歸命一切諸佛、一切尊法、一切聖眾、又復歸命大悲觀自在菩薩摩訶薩, kính lễ hết thảy chư Phật, hết thảy giáo pháp, hết thảy Thánh chúng; lại thêm kính lễ đại bi Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát).” Hay trong Thích Tịnh Độ Quần Nghi Luận (釋淨土群疑論, Taishō Vol. 47, No. 1960) cũng có đoạn: “Do Tịnh Độ nghiệp cảm sanh thời thục, Thánh chúng lai nghênh, quy thú Tịnh Độ, xả Ta Bà uế chất, thành Cực Lạc tịnh thân (由淨土業感生時熟、聖眾來迎、歸趣淨土、捨娑婆穢質、成極樂淨身, do đến lúc nghiệp cảm sanh về cõi Tịnh Độ đã chín, Thánh chúng đến nghinh đón, quay về Tịnh Độ, bỏ chất nhơ nhớp chốn Ta Bà, thành thân trong sạch cõi Cực Lạc).”

thánh chúng

• Tất cả các bậc Thánh—The holy multitude—All the saints, or sacred assembly. • Những vị Bồ Tát Thánh đã vượt thoát phiền não từ sơ địa trở lên—The Bodhisattva saints who have overcome illusion, from the first stage upwards. • Đối với Thánh chúng hay bậc trí, những gì thường phải được xem là một sự lầm lẫn, tức là cái thế giới của các đặc thù nầy, vẫn không biểu hiện là điên đảo hay phi điên đảo: To all the saints, or the wise, what is to be ordinarilyregarded as an error, that is, this world of particulars, appears neither perverted nor unperverted. • Đoàn thể do Đức Phật lập nên gọi là “Thánh Chúng” (Aryan sangha), đó là môi trường tu tập của những người cao quý. Vì truyền thống Bà La Môn đã được thiết lập kiên cố nên giai cấp bấy giờ đã được phân chia thậ là rõ rệt. Bởi lẽ đó, Đức Phật luôn xác nhận rằng trong hàng Tăng chúng của Ngài không có phân biệt giữa Bà La Môn và võ tướng, hay giữa chủ và tớ. Ai đã được nhìn nhận vào hàng Tăng chúng đều được quyền học tập như nhau. Đức Phật dạy rằng không thể gọi một giai cấp nào là cao quý hay không cao được bởi vì vẫn có những người đê tiện trong cái giai cấp gọi là cao quý và đồng thời cũng có những người cao quý trong giai cấp đê tiện. Khi chúng ta gọi cao quý hay đê tiện là chúng ta nói về một người nào đó chứ không thể cả toàn thể một giai cấp. Đây là vấn đề của tri thức hay trí tuệ chứ không phải là vấn đề sinh ra ở trong dòng họ hay giai cấp nào. Do đó, vấn đề của Đức Phật là tạo nên một người cao quý hay Thánh giả (Arya pudgala) trong ý nghĩa một cuộc sống cao quý. Thánh chúng đã được thiết lập theo nghĩa đó. Theo đó thì Thánh Pháp (Arya dharma) và Thánh luật (Arya vinaya) được hình thành để cho Thánh chúng tu tập. Con đường mà Thánh giả phải theo là con đường Bát Thánh Đạo (Arya-astangika-marga) và cái sự thật mà Thánh giả tin theo là Tứ Diệu Đế. Sự viên mãn mà Thánh giả phải đạt tới là Tứ Thánh quả (Arya-phala) và cái toàn bị mà Thánh giả phải có là Thất Thánh Giác Chi (sapta-arya-dharma). Đó là những đức tính tinh thần cả. Người học Phật không nên đánh mất ý nghĩa của từ ngữ “Thánh” nầy vốn được áp dụng cẩn thận vào mỗi điểm quan trọng trong giáo pháp của Đức Phật. Đức Phật, như vậy, đã cố gắng làm sống lại ý nghĩa nguyên thủy của chữ “Thánh” nơi cá tính con người trong cuọäc sống thường nhật: The special community established by the Buddha was called “The Assembly of the Noble” (Arya-sangha), intended to be the cradle of noble persons. Since the Brahmanical tradition had been firmly established, the race distinction was strictly felt. On that account the Buddha often asserted that in his own community there would be no distinction between Brahmans (priests) and warriors or between masters and slaves. Anyone who joined the Brotherhood would have an equal opportunity for leading and training. The Buddha often argued that the word Arya meant 'noble' and we ought not call a race noble or ignoble for there will be some ignoble persons among the so-called Aray and at the same time there will be some noble persons among the so-called Anarya. When we say noble or ignoble we should be speaking of an individual and not of a race as a whole. It is a question of knowledge or wisdom but not of birth or caste. Thus the object of the Buddha was to create a noble personage (arya-pudgala) in the sense of a noble life. The noble community (Arya-sangha) was founded for that very purpose. The noble ideal (Arya-dharma) and the noble discipline (Arya-vinaya) were set forth for the aspiring candidates. The path to be pursued by the noble aspirant is the Noble Eightfold Path (Arya-astangika-marga) and the truth to be believed by the noble is the Noble Fourfold Truth (Catvariarya-satyani). The perfections attained by the noble were the four noble fruitions (Arya-phala) and the wealth to be possessed by the noble was the noble sevenfold wealth (sapta-arya-dhana), all being spiritual qualifications. The careful application of the word Arya to each of the important points of his institution must not be overlooked by a student of Buddhism. The Buddha thus seemed to have endeavored to revive the original meaning of Arya in personality and the daily life of his religious community. ** For more information, please see Tứ Thánh Quả. ; (聖衆) Chỉ cho Phật, Bồ tát, Duyên giác, Thanh văn.Kinh Tăng nhất a hàm quyển 45 nêu 5 bậc: Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán và Bích chi phật, gọi là Thánh chúng. Tịnh độ giáo cho rằng lúc người ta lâm chung thì đức Phật A di đà và Thánh chúng từ Tịnh độ đến đón, gọi là Thánh chúng lai nghinh. Bức tranh vẽ tả cảnh Thánh chúng đến đón, gọi là Thánh chúng lainghinh đồ. [X. kinh Vô lượng thọ; Vãng sinh luận chú Q.hạ].

thánh chúng lai nghinh

Những ai tinh chuyên tu hành niệm Phật, lúc lâm chung sẽ được Đức Phật A Di Đà cùng chư Thánh chúng ở cõi Tịnh Độ đến đón về cõi Tịnh Độ—Amitabha's saintly host come to welcome at death those who call upon him.

thánh chúng lai nghênh

(聖衆來迎) Cũng gọi Lai nghinh dẫn tiếp. Gọi tắt: Lai nghinh, nghinh tiếp. Các Thánh đến đón. Tức hành giả niệm Phật, lúc lâm chung, được đức Phật A di đà và Thánh chúng đến trước đón về Tịnh độ cực lạc. Kinh A di đà (Đại 12, 347 trung) nói: Nếu có người thiện nam, thiện nữ nào nghe nói đến Phật A di đà mà chấp trì danh hiệu của Ngài trong 1 ngày, hoặc 2 ngày, 3 ngày, 4 ngày, 5 ngày, 6 ngày, 7 ngày, một lòng không rối loạn, thì khi người ấy sắp mệnh chung, Phật A di đà và các Thánh chúng sẽ hiện thân ở trước mặt người ấy, lúc người ấy hấp hối mà tâm không điên đảo thì liền được sinh về cõi nước Cực lạc của đức Phật A di đà. Ngoài ra, kinh Vô lượng thọ quyển thượng và phần Thượng phẩm thượng sinh trong kinh Quán vô lượng thọ cũng đều nói rõ rằng người sinh về Tịnh độ, nhờ nguyện lực của Phật A di đà, lúc mệnh chung được Phật và Thánh chúng đến đón. Lại theo kinh Quán Dược vương Dược thượng nhị Bồ tát và kinh Quán Di lặc bồ tát thướng sinh Đâu suất thiên thì biết tình hình chư Phật và Thánh chúng đến đón này không phải chỉ giới hạn ở lãnh vực những người vãng sinh Di đà Tịnh độ, mà những người sinh lên cõi trời Đâu suất cũng có thể được chư Phật Thánh chúng cùng đến đón. Tuy nhiên, bất luận vãng sinh Tịnh độ nào, đều phải lấy lâm chung chính niệm làm điều kiện tiên quyết, đó chính là ý nghĩa câu văn Lúc người ấy mệnh chung, tâm không hề điên đảo trích dẫn ở trên.Về việc đức Phật A di đà đến đón thì kinh Quán vô lượng thọ nói tỉ mỉ rõ ràng về tướng 9 phẩm đến đón như sau: 1. Thượng phẩm thượng sinh: Đức Phật A di đà và các bồ tát Quán thế âm, Đại thế chí, cho đến vô số hóa Phật, trăm nghìn tỉ khưu và vô lượng chư thiên đến đón.2. Thượng phẩm trung sinh: Đức Phật A di đà có các bồ tát Quán âm, Thế chí, vô lượng, đại chúng quyến thuộc tùy tòng đến trước mặt hành giả, cùng với 1.000 hóa Phật đồng thời cầm tay tiếp dẫn. 3. Thượng phẩm hạ sinh: Đức Phật A di đà, bồ tát Quán âm, Thế chí, các quyến thuộc và 500 hóa Phật đến đón. 4. Trung phẩm thượng sinh: Đức Phật A di đà cùng các tỉ khưu, quyến thuộc tùy tòng đến đón. 5. Trung phẩm trung sinh: Đức Phật A di đà cùng với quyến thuộc đến đón. 6. Hạ phẩm thượng sinh: Hóa Phật, hóa Quán thế âm, hóa Đại thế chí đến đón.7. Hạ phẩm trung sinh: Hóa Phật, Bồ tát đến đón. 8. Hạ phẩm hạ sinh: Hoa sen vàng đến trước tiếp dẫn. Trên đây, trong kinh không thấy nói đến Trung phẩm hạ sinh, có thuyết cho rằng người dịch kinh đã bỏ sót. Còn trong Quán kinh sớ định thiện nghĩa của ngài Thiện đạo thì nêu ra 3 duyên và cho rằng Thánh chúng lai nghinh là Tăng thượng duyên, đồng thời cho rằng nhờ được Thánh chúng đến đón mà thoát khỏi mọi chướng ngại, rốt ráo vãng sinh Tịnh độ. Về ý nghĩa đến đón, trong luận Thích tịnh độ quần nghi quyển 2 do ngài Hoài cảm soạn có nói rõ thêm như sau: 1. Đứng về phương diện Chân thân Như lai mà nói thì không có việc đi, đến; nhưng đứng về phương diện Tự chân thùy hóa mà nói thì có đi, về; cho nên việc Như lai đến đón thực ra là sự hóa dụng tùy cơ ứng vật. 2. Thực ra Phật không đến đón, mà tướng chư Phật Thánh chúng lai nghinh chỉ do tự tâm hành giả thấy Phật đến; cũng chính là sự đến đón của Phật là do sức công đức của tự thân hành giả lấy bản nguyện đại bi của Phật làm tăng thượng duyên mà biến hiện ra. [X. kinh Đại A di đà Q.thượng; kinh Xưng tán tịnh độ Phật nhiếp thụ; kinh Quán Phật tam muội hải Q.10; Quán niệm pháp môn; Vãng sinh lễ tán; Hoài cảm truyện trong Phật tổ thống kỉ Q.27; 28].

thánh chúng lai nghênh đồ

(聖衆來迎圖) Gọi tắt: Lai nghinh đồ, Nghinh tiếp mạn đồ la, Nghinh tiếp biến tướng. Bức tranh vẽ cảnh Phật, Bồ tát đến đón rước hành giả lúc hành giả lâm chung. Bức Lai nghinh thường thấy nhất là đức Phật A di đà và 25 vị Bồ tát, vì thế nên còn gọi là Nhị thập ngũ Bồ tát nghinh tiếp đồ. Ở Ấn độ cũng như ở Trung quốc, từ xưa đến nay, tư tưởng cầu mong lúc lâm chung được thấy Phật rất thịnh và cũng rất nhiều trường hợp lúc lâm chung hành giả được Phật và Bồ tát đón tiếp. Như các Ngài Trúc tăng hiển, Tuệ vĩnh, Đàm loan, Đạo xước, Hoài cảm... đều cảm được Phật đến đón. Xưa nay cũng đã có Lai nghinh đồ được tạo lập, như Ngũ thông Mạn đồ la ở đời Tùy, chính là bức Lai nghinh đồ vẽ 1 đức Phật và 50 vị Bồ tát. Những năm gần đây, bức A di đà tam tôn lai nghinh đồ được tìm thấy ở thành Hắc thủy, ở tỉnh Cam Túc, Trung Quốc, là tác phẩm đẹp nhất trong các bức Lai nghinh đồ hiện còn.

thánh chủ

(聖主) Cũng gọi Thánh chúa sư tử. Chỉ cho tôn hiệu của đức Phật. Phật là bậc đứng đầu trong các Thánh nên gọi là Thánh chúa Sư tử, nghĩa là Phật có đức tự tại không sợ hãi, giống như sư tử. PhẩmTựa kinh Pháp hoa (Đại 9, 2 hạ) nói: Thánh chúa Sư tử diễn nói kinh điển. Pháp hoa nghĩa sớ quyển 2 (Đại 34, 473 thượng) ghi: Trung luận nói có 3 loại Thánh: Một là ngoại đạo 5 thần thông, hai là Bích chi la hán, ba là pháp thân Bồ tát. Phật là bậc cao cả nhất trong 3 loại Thánh nên gọi là Thánh chúa.

thánh chủ thiên trung thiên

The holy lord—Deva of devas.

thánh chủng

1) Chủng tử của bậc Thánh Hiền: Tăng chúng (sau khi Đức Phật nhập diệt, các đệ tử lần lượt nối pháp, như hạt giống cây truyền đi mãi mãi)—The holy seed, i.e. the community of monks. 2) Một trong lục chủng tính: One of the six germ-natures or roots of Bodhisattva development—See Lục Chủng Tính. ; (聖種) I. Thánh Chủng. Chủng tử(hạt giống) Thánh Hiền. Sau khi đức Phật nhập diệt, các đệ tử lần lượt nối tiếp giáo pháp của Ngài, cũng như hạt giống của cây cỏ truyền nối nhau không dứt, cho nên dùng hạt giống (chủng tử) để ví dụ. Cũng tức là hạt giống Thánh nhân giữ cho mệnh mạch của Phật giáo được trường tồn. [X. luận Câu xá Q.22]. II.Thánh Chủng. Chi cho Bồ tát Thập địa. Bốn mươi hai giai vị tu hành của Bồ tát được chia làm 6 chủng tính, trong đó, chủng thứ 6 là Thánh chủng tính tức Bồ tát thập địa. [X. phẩm Hiền thánh học quán trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng;Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ, phần đầu]. (xt. Thập Địa, BồTát Giai Vị).

thánh cúng

The holy offerings, or those made to the saints, especially to the Triratna.

thánh cảnh

Auspicious scenes.

thánh duyên

Những điều kiện hay trợ lực giúp đưa đến cuộc sống Thánh Thiện—Holy conditions of or aids to the holy life.

thánh dũng

(聖勇) Phạm:Àryazùra. Nhà văn học Phật giáo Ấn độ sống vào khoảng thế kỉ VI, là thi nhân Phật giáo kế sau ngài Mã minh. Ngài từng dùng Bản sinh đàm làm đề tài và sử dụng tiếng Phạm viết thành bộ Phật giáo cố sự tập (Phạm: Jàtakamàlà, tức luận Bồ tát bản sinh man, do các ngài Thiệu đức và Tuệ tuân cùng dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 3), dùng lời văn lưu loát, bóng bẩy (tương đương với văn vần của Trung Quốc) ca ngợi cuộc đời đức Phật, là 1 tác phẩm hay trong văn học cổ điển Ấn Độ.

thánh giáo

Những lời dạy của Thánh Nhân—The teaching of the sages, or holy one; holy teaching ; (聖教) Phạm;Pàli:Àgama. Hán âm: A cấp ma. Giáo pháp do bậc Thánh nói. Tức chỉ cho giáo lí do đức Phật nói và các sách vở do Thánh hiền soạn thuật. Tam tạng Kinh, Luật, Luận và các trứ tác khác của thánh hiền cũng được gọi chung là thánh giáo. Dị bộ tông luân luận thuật kí (Vạn tục 83, 212 thượng) nói: Thánh có nghĩa là chính, hợp với chính lí gọi là Thánh. Khế lí thông thần cũng gọi là Thánh. Điều mà những lời nói ở đây hiển bày tức là giáo. Thái tử Thánh đức pháp do đức Phật Thế tôn thuyết giảng có năng lực khiến người thực hành trở thành Hiền Thánh, vì thế gọi là Thánh giáo. Những kinh điển do ngài Huyền trang dịch thuật vào đời Đường được gọi chung là Tân dịch Thánh giáo. Ngoài ra, bài tựa Đại đường tam tạng Thánh giáo của vua Đường Thái Tông, bài tựa Đại đường trung hưng tam tạng Thánh giáo của vua Đường Trung Tông và bài tựa Đại tống tân dịch tam tạng Thánh giáo của vua Tống Thái Tông, đều gọi chung Tam tạng và Thánh hiền tập là Thánh giáo. Nhật Bản thì gọi chung các kinh luận nghi quĩ thỉnh từ Trung Quốc về và sách vở được truyền thụ là Thánh giáo. [X. luận Đại tì bà sa Q.71; luận Du già sư địa Q.4, 20, Phật tổ thống kỉ Q.44]

thánh giáo lượng

Chính Giáo Lượng—Những lý luận và chứng cứ cụ thể trong Thánh điển—The argument or evidence of authority in logic, i.e. that of the sacred books. ; (聖教量) Phạm: Àgama hoặc Àgamapramaịa. Cũng gọi Chính giáo lượng, Phật ngôn lượng, Chí giáo lượng (Phạm:Àpt-àgama), Thanh lượng (Phạm: Zabda, cũng gọi là Thánh ngôn lượng). Hàm ý là lấy sách Thánh mà phái mình tôn thờ hoặc lời chỉ dạy của Thánh nhân làm cội nguồn, tiêu chuẩn cho tri thức chính xác. Phật giáo thông thường sử dụng từ ngữ Àgama, còn các phái triết học Bà la môn Phệ đà thì dùng từZabda, đều có nghĩa là lời chỉ dạy của người đáng tin cậy (Phạm:Àpta-nirdeza). Cái gọi là người đáng tin cậy thì trong Phật giáo là chỉ cho đức Phật, Bồ tát và các bậc Hiền Thánh, trong triết học Bà la môn thì chỉ cho các vị Thần tiên nói kinh Phệ đà, hoặc chỉ cho những người Hiện chứng pháp nói trong Phệ đà. Trong các phái triết học ở Ấn độ, trừ phái Thuận thế ngoại đạo, phái Thắng luận, phái luận lí học Phật giáo, còn các phái khác đều chủ trương Thánh giáo lượng là lượng độc lập. Ngoài Hiện lượng và Tỉ lượng ra, Cổ nhân minh trong Phật giáo còn thừa nhận Thánh giáo lượng đem đến sự bảo chứng cho tính xác thực của Hiện lượng và Tỉ lượng. Luận Du già sư địa quyển 15 cho rằng ngôn giáo do bậc Nhất thiết trí nói ra gọi là Thánh giáo lượng. Có 3 điều kiện để được gọi là Thánh giáo lượng,đó là: 1. Không trái với Thánh ngôn. 2. Có khả năng đối trị tạp nhiễm. 3. Không trái với pháp tướng. Nhưng phái luận lí học Phật giáo thuộc Tân nhân minh từ ngài Trần na về sau thì phủ nhận tính độc lập của Thánh giáo lượng, chỉ lập Hiện lượng và Tỉ lượng làm nguồn gốc hoặc tiêu chuẩn chính xác của tri thức. Trong Tập lượng luận, ngài Trần na cho rằng Thánh giáo lượng có thể so sánh biết được từ âm thanh (lời nói) của người đáng tin cậy, cho nên người đáng tin cậy là Tỉ lượng, còn nghe lời nói của người ấy thì là Hiện lượng. Cho nên biết mối quan hệ giữa Thánh giáo lượng và Hiện lượng, Tỉ lượng mà ngài Trần na chủ trương tương phản hẳn với chủ trương của Cổ nhân minh, cho rằng tính chất Thánh giáo của Thánh giáo là do Hiện lượng và Tỉ lượng mà được bảo chứng. Nói cách khác, Thánh giáo lượng đã bao hàm trong Hiện lượng và Tỉ lượng rồi, cho nên không cần phải lập riêng Thánh giáo lượng nữa. [X. luận A tì đạt ma tập Q.7; luận A tì đạt ma tạp tập Q.16; Quán li phẩm trong Tập lượng luận; luận Nhân minh chính lí môn; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.10; Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự Q.thượng; History of Indian Logic, 1921 by S.C. Vidyabhùsana; Indian Logic in the Early School, 1930, by H.N. Randle; Phật giáo luận lí học (Vũ tỉnh Bá thọ)].

thánh giáo tự

(聖教序) Bài tựa Thánh giáo, tức chỉ cho bài tựa do vua soạn. Khi một bộ kinh luận mới được dịch thành, để khen ngợi người dịch, hoàng đế đích thân viết một bài tựa, gọi là Thánh giáo tự. Nổi tiếng nhất là Đại đường tam tạng Thánh giáo tự do vua Đường Thái Tông viết cho ngài Huyền Trang vào năm Trinh Quán 22 (648). Những bài tựa này được viết bằng nhiều thể chữ, như bia Thánh giáo tự do Chử toại lương viết được bảo tồn trong tầng đầu tiên của tháp Nhạn ở chùa Đại từ ân tại Tây An, trở thành viên ngọc của thể chữ chân cho đời sau. Lại như Tập tự Thánh giáo tự của Vương hi chi được viết theo thể Hành thư (hơi đá thảo) do ngài Hoài nhân chùa Hoằng phúc ở Tây An thu tập, là di tích nổi tiếng của thể Hành thư.

thánh giả

Arya (skt)—Bậc Thánh đã bước vào con đường đi đến Niết Bàn—The saint—The holy or saintly one; one who has started on the path to nirvana—See Lục Phàm Tứ Thánh.

Thánh Hiến

(聖憲, Shōken, 1307-1392): vị học tăng của Phái Tân Nghĩa Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, thông xưng là Căn Nham Tiên Đức (根巖先德), Gia Trì Môn Tiên Đức (加持門先德); tự là Định Lâm (定林), hiệu Hoa Hải (華海); xuất thân vùng Hòa Tuyền (和泉, Izumi, thuộc Ōsaka [大阪]). Ông theo hầu Thật Tuấn (實俊) ở Di Lặc Viện (彌勒院) của Căn Lai Tự (根來寺, Negoro-ji), rồi được Tăng Hỷ (增喜) của Trung Tánh Viện (中性院) truyền trao cho Dòng Trung Tánh Viện (中性院流). Sau ông theo học Mật Giáo với Thuận Kế (順繼), Lại Hào (賴豪); rồi tiến hành chỉnh lý lại các giảng luận xưa nay của Phái Tân Nghĩa (新義派) và hình thành học thuyết Gia Trì Môn (加持門) của Lại Du (賴瑜). Ông kế thế làm Tổ đời thứ 4 của Trung Tánh Viện, rồi làm Học Đầu (學頭) của Đại Truyền Pháp Viện (大傳法院), chuyên tâm giáo dưỡng chúng học đồ. Trước tác của ông có Đại Sớ Bách Điều Đệ Tam Trọng (大疏百條第三重) 10 quyển, Thích Luận Bách Điều Đệ Tam Trọng (釋論大疏百條第三重) 10 quyển, Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương Thính Sao (華嚴五敎章聽鈔) 5 quyển, Tự Chứng Thuyết Pháp Thập Bát Đoạn (自証說法十八段), v.v.

thánh hiền

Saints and sages. ; (聖賢) Từ gọi chung Thánh nhân và Hiền nhân. Người tu hành Phật đạo, khi đạt đến giai vị Kiến đạo trở lên, gọi là Thánh; còn người chưa đến Kiến đạo, chỉ mới bỏ các điều ác thì gọi là Hiền. Trong luận Câu xá có nêu thuyết Thất hiền, Thất thánh. Thất hiền cũng gọi là Thất gia hạnh, tức là: Ngũ đình tâm, Biệt tướng niệm trụ, Tổng tướng niệm trụ(trên đây là Tam hiền), Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất pháp (trên 0939252565đây là Tứ thiện căn). Thất thánh là: Tùy tín hành, Tùy pháp hành, Tín giải, Kiến chí, Thân chứng, Tuệ giải thoát và Câu giải thoát. Còn Đại thừa thì có thuyết Tam hiền, Thập thánh. Tam hiền chỉ do Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng; Thập thánh thì chỉ cho Bồ tát từ Sơ địa đến Thập địa. Tập tự Thánh giáo tự của Vương hi chi. Ngoài ra, Thập bát hữu học và Cửu vô học, được gọi chung là Nhị thập thất hiền thánh, nhưng số này đều là các bậc Thánh, chứ không phân biệt Hiền và Thánh. (xt. Hữu Học, A La Hán, Hiền Thánh).

thánh hiệu

Buddha's name—Câu niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”—The recitation of “Namo Amitabha Buddha.”

Thánh Huệ

(聖惠, Shōkei, 1094-1137): vị Tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Bình An, vị Tổ của Dòng Hoa Tạng Viện (華藏院流), húy là Thánh Huệ (聖惠), thông xưng là Hoa Tạng Viện Cung (華藏院宮), Trường Vĩ Cung (長尾宮); là Hoàng Tử thứ 5 của Bạch Hà Thiên Hoàng (白河天皇, Shirakawa Tennō, tại vị 1072-1086). Ông theo xuất gia với Khoan Trợ (寬助) ở Thành Tựu Viện (成就院); đến năm 1112 thì được thọ phép Quán Đảnh ở Quan Âm Viện (觀音院) và trở thành Nhất Thân A Xà Lê (一身阿闍梨). Ông khai sáng Hoa Tạng Viện (華藏院) ở Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji), truyền thừa dòng pháp của Khoan Trợ và sáng lập Dòng Hoa Tạng Viện. Vào năm 1130, ông viếng thăm anh Giác Pháp (覺法), lên Cao Dã Sơn, cùng với bàn luận với Giác Noan (覺鑁), dâng biểu xin triều đình cho xây dựng Truyền Pháp Viện (傳法院). Ông có tín ngưỡng sâu sắc về A Di Đà Phật, nên đã sáng lập Dẫn Nhiếp Viện (引攝院). Năm 1132, nhân lúc Điểu Vũ Thượng Hoàng (鳥羽上皇) lâm trọng bệnh, ông tiến hành tu Khổng Tước Kinh Pháp (孔雀經法) trong cung nội để cầu nguyện cho Thượng Hoàng lành bệnh. Đệ tử phú pháp của ông có Khoan Hiểu (寬曉).

thánh hành

Cuộc sống chân chính của một vị Bồ Tát là tu hành giới định tuệ—The holy bodhisttva life of the monastic commandments, meditation, and wisdom. ** For more information, please see Ngũ Hành (C). ; (聖行) Hạnh tu của Phật, Bồ tát, 1 trong 5 hạnh. Phẩm Thánh hạnh trong kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 11 (Đại 12, 433 hạ) nói: Thánh hạnh là những việc mà Phật và Bồ tát thực hành. Nói theo nghĩa rộng thì Thánh hạnh là kính tin kinh Đại bát niết bàn, bỏ tục xuất gia, giữ gìn Tính trọng giới, Tức thế cơ hiềm giới, trụ trong Bất động địa; lại quán thân vô ngã, được Tứ niệm xứ, trụ nơi Kham nhẫn địa; lại quán Tứ thánh đế, rõ suốt lí thường lạc ngã tịnh, trụ trong Vô sở úy địa, gọi là Thánh hạnh. Đại bát niết bàn kinh sớ quyển 14 (Quán đính) chia Thánh hạnh làm 3 thứ Giới, Định, Tuệ: 1. Giới thánh hạnh: Giữ gìn giới luật, trụ trong Bất động địa. 2. Định thánh hạnh: Được Tứ niệm xứ, trụ trong Kham nhẫn địa. 3. Tuệ thánh hạnh: Quán Tứ thánh đế, trụ trong Vô sở úy địa. [X. luận Đại trí độ Q.18; Pháp hoa huyền nghĩa Q.3 hạ; Ma ha chỉ quán Q.9 thượng]. (xt. Ngũ Hạnh).

thánh kiên

(聖堅) Danh tăng Tây vực, đến Trung Quốc dịch kinh vào đời Đông Tấn. Sư cư trú lâu tại Lương châu, thông hiểu tiếng Hoa, tiếng Hồ. Xuất tam tạng kí tập quyển 2 chưa xếp sư vào hàng dịch giả, chỉ trong phần chú thích của kinh Phương đẳng vương hư không tạng do ngài Đàm vô sấm dịch là có ghi Biệt lục vân Hà nam quốc Khất Phật thời sa môn Thích thánh kiên dịch xuất. Còn Lịch đại tam bảo kỉ quyển 9 thì nói sư có dịch 14 bộ 21 quyển như kinh Phụ nhân ngộ cô... Các sự tích khác về sư thì không được rõ.

thánh linh

Linh hồn hay tâm thức của người quá cố—The saintly spirit of the dead

thánh minh

Sự giác ngộ của bậc Thánh—The holy enlightenment; the enlightenment of saints.

thánh nghi

1) Oai nghi của bậc Thánh: The saintly appearance. 2) Tượng Phật: An image of Buddha.

thánh nghiêm

(聖嚴) Danh tăng Trung Quốc, người ở Nam Thông, Giang Tô, họ Trương, hiệu Tuệ Không. Năm 13 tuổi, sư nương vào Hòa thượng Lãng tuệ ở chùa Quảng giáo xuất gia, 16 tuổi theo học ở viện Phật học chùa Tĩnh an tại Thượng hải, được gần gũi các Pháp sư Đạo nguyên, Bạch thánh, Nam đình... Năm 1949, sư ra Đài loan, dạy học tại các Đại học viện và giảng thuyết ở các chùa tại Cao hùng. Năm 1969, sư du học Nhật bản và đậu Tiến sĩ ở Đại học Lập chính tại Tokyo. Năm 1975, nhận lời thỉnh của Hội Phật giáo Mĩ quốc, sư đến Hoa kì giữ chức Phó hội trưởng của Hội này và trụ trì chùa Đại giác, đồng thời, nhận lời mời đến các trường Đại học và các đài truyền hình ở Mĩ và Canada giảng diễn các chuyên đề, rồi sư xuất bản quí san Thiền tạp chí (Chanmagazine) bằng tiếng Anh. Năm 1978, sư tiếp quản nhà Văn hóa Phật giáo Trung hoa ở Đài bắc, làm Giáo sư Sở nghiên cứu Triết học Đại học Văn hóa Trung Quốc và giữ chức Trưởng sở nghiên cứu Phật học thuộc viện Học thuật Trung Hoa, đồng thời sáng lập Trung tâm Thiền tại New York. Sư còn sáng lập chùa Nông Thiền ở Bắc Đầu, nhà xuất bản Đông Sơ. Những năm gần đây sư có xuất bản các tác phẩm về Thiền bằng tiếng Hoa, tiếng Anh như Thiền môn li châu tập, Thiền môn nghệ ngữ, Phật tâm (bản tiếng Anh)... và nhiều loại sách khác. Sư có các tác phẩm: Giới luật học cương yếu, Tỉ giảo tông giáo học, Cơ đốc giáo chi nghiên cứu, Thế giới Phật giáo thông sử tập.

thánh ngôn

1) Lời nói chính thực đúng đắn của bậc Hiền Thánh: Holy words—The words of a saint or sage. 2) Lời dạy của Phật: The correct words of Buddhism. ** For more information, please see Tứ Thánh Ngôn. ; (聖言) Lời nói ngay thẳng, chân thật. Luận A tì đạt ma tập dị môn túc quyển 10 có ghi 4 Thánh ngôn là: 1. Không thấy nói không thấy. 2. Không nghe nói không nghe. 3. Không hay nói không hay. 4. Không biết nói không biết. (xt. Tứ Thánh Ngôn).

thánh ngôn lượng

Ngôn giáo của Phật thuyết khiến chúng sanh trừ mê khởi tín, theo pháp tu hành được chứng quả, cũng gọi là Thánh giáo lượng. ; Tìm hiểu qua lời nói của Phật và Bồ Tát—Guideline to the teachings of the sages.

thánh ngữ

Aryabhasa (skt). 1) Thánh ngôn hay những lời nói của các bậc Thánh: Sacred speech, language, words, or sayings. 2) Phạn ngữ: Sanskrit—Ngôn ngữ của Ấn Độ—Indian language. ; (聖語) Phạm: Àryabhasa. Cũng gọi Thánh ngôn. I. Thánh Ngữ. Tiếng nói của Ấn Độ đời xưa, là ngôn ngữ chính thức của Trung thiên trúc. Luận Đại tì bà sa quyển 79 (Đại 27, 410 thượng) nói: Có lần đức Thế tôn vì Tứ thiên vương trước dùng Thánh ngữ để giảng nói Tứ thánh đế. Trong 4 vị Thiên vương, có 2 vị nhận hiểu được, còn 2 vị kia không nhận hiểu được. Đức Thế Tôn thương xót muốn đem lại lợi ích cho 2 vị Thiên vương ấy, nên dùng tục ngữ (Cựu bà sa gọi là Tì đà la ngữ) của các nước thuộc biên thùy miền Nam Ấn độ để giảng nói Tứ thánh đế: Hề nê (Khổ đế), Mê nê (Tập đế), Đạp bộ đạt (Diệt đế) và Diệp bộ (Đạo đế). Trong 2 vị Thiên vương ấy, 1 vị lãnh giải được, còn 1 vị thì không. Đức Thế tôn thương xót muốn làm lợi ích cho vị Thiên vương ấy, nên đức Thế tôn lại dùng một thứ ngôn ngữ khác là Miệt lệ xa (Bà sa cũ gọi là Di li xa ngữ) để giảng nói Tứ thánh đế, đó là: Ma xa, Đổ xa, Tăng nhiếp và Ma tát phược đát tì lạt trì. Bấy giờ cả 4 Thiên vương đều hiểu được. Bởi thế nên biết đức Phật dùng Thánh ngữ giảng nói Tứ đế chỉ là trường hợp đặc biệt đối với Tứ thiên vương mà thôi chứ không phải là ngôn ngữ mà đức Phật thường dùng. Đức Phật dùng tục ngữ của nước Ma yết đà đương thời làm Phật ngữ, những kinh văn được ghi chép bằng thứ ngôn ngữ này hiện nay không còn. Loại kinh văn do đức Phật giảng nói bằng A lợi da ngữ (Aryan) ở miền Nam Ấn độ được lưu truyền tại đảo Tích lan chính là Pàli ngữ hiện nay. Bởi thế, tín đồ Phật giáo nước Xiêm la (Thái lan) gọi Phật ngữ Pàli là Ma hô. Trong các luật, Phật từng quở trách việc sử dụng Thánh ngữ, như luật Tứ phần quyển 52 (Đại 22, 955 thượng) nói: Bấy giờ, có tỉ khưu, tự là Dũng mãnh, thuộc dòng Bà la môn xuất gia, đến chỗ đức Thế tôn (...) bạch rằng: Bạch Đại đức! Các tỉ khưu này từ nhiều dòng họ xuất gia, tên gọi cũng khác, phá nghĩa kinh của Phật, xin đức Thế tôn cho phép chúng con dùng ngôn luận mà thế gian ưa thích để sửa chữa kinh Phật. Phật dạy: Các ông là người si mê! Đó chính là điều hủy tổn, dùng ngôn luận ngoại đạo muốnxen lẫn vào kinh Phật. [X. luật Ngũ phần Q.26; luận Thập tụng Q.38]. II. Thánh Ngữ. Chỉ cho ngôn ngữ do bậc Thánh nói ra.

Thánh nhân

聖人; S: ārya-pudgala; P: ariya-puggala;|Danh từ chỉ người đang đi trên Thánh đạo nhưng cũng thường được dùng cho những người có đạo hạnh xuất chúng.

thánh nhân

Saint—Genuine sages. ; (聖人) I. Thánh Nhân. Phạm:Àrya. Cũng gọi Thánh giả, Thánh. Chỉ cho bậc đã chứng được Thánh trí và ở địa vị Kiến đạo trở lên. Vì người ở địa vị Kiến đạo trở lên cuối cùng sẽ hoàn thành Thánh trí vô lậu nên gọi là Thánh nhân. II. Thánh Nhân. Chỉ cho Phật, Bồ tát và những người quyền hóa(phương tiện thị hiện làm người nhưng có đức hạnh cao hơn người). III. Thánh Nhân. Từ tôn xưng các bậc cao tăng, thạc đức. Người Ấn Độ thường tôn xưng các bậc Luận sư là Thánh giả. Tại Nhật bản, các bậc cao tăng cũng được tôn xưng là Thánh nhân.

thánh nhất quốc sư ngữ lục

(聖一國師語錄) Gọi đủ: Thánh nhất quốc sư trụ Đông Phúc Thiền tự ngữ lục. Ngữ lục, 1 quyển, do ngài Đông Phúc Viên nhĩ (1202-1280) thuộc tông Lâm tế Nhật Bản giảng, ngài Hổ quan Sư luyện biên chép, được thu vào Đại chính tạng tập 80. Nội dung sách này thu chép các pháp ngữ, kệ tụng, Phật tổ tán, tự tán... của ngài Viên nhĩ giảng nói khi ngài trụ trì chùa Đông Phúc, có phụ thêm phần thư tín gửi qua lại với các Thiền sư Vô chuẩn Sư phạm và Tây nham Liễu tuệ của Trung Quốc.

thánh pháp

Những lời dạy của chư Hiền Thánh—Những lời Phật dạy—The holy law of Buddha—The law or teaching of the saints or sages.

thánh phúc

Một trong hai phước, thánh phước hay phước của Phật giáo để đối lại với Phạm phước hay phước của Phạm Thiên—One of the two kinds of happiness, holy happiness, that of Buddhism, in contrast with that of Brahma and Brahmanism—See Nhị Phước.

thánh phương

Aryadesa (skt)—A Ly Đà Tề Xá—Tiếng gọi tôn xưng của xứ Ấn Độ nơi Đức Phật đản sanh—The holy land (the land of the sage), India where the Buddha was born (India).

thánh quan âm

(聖觀音) Phạm:Àryàvalokitezvara. Cũng gọi: Chính Quán thế âm bồ tát, Chính Quán âm. Đối lại: Thiên thủ Quán âm, Thập nhất diện Quán âm, Như ý luân Quán âm. Từ ngữ tôn xưng tổng thể bồ tát Quán thế âm. Chính Quán âm là tổng thể của đại bi, Thiên thủ là biệt dụng của đại bi, đây là y cứ vào bản thân của năng biến mà gọi là Chính Quán âm. Vị tôn này được an vị trong Liên hoa bộ của Mạn đồ la Thai tạng giới, thân có màu da người, đầu đội mũ báu, tay trái cầm hoa sen, tay phải hơi xòe ra làm thành hình hoa sen. Ngoài ra còn nhiều loại hình tượng khác. [X. Bổ đà lạc hải hội quĩ].

Thánh Quang

(聖光, Shōkō): tức Biện Trường (辨長, Benchō, 1162-1238), xem chú thích bên trên.

Thánh Quynh

(聖冏, Shogei, 1341-1420): vị Tăng của Tịnh Độ Tông, sống khoảng vào giữa hai thời đại Nam Bắc Triều và Thất Đinh, vị Tổ thời Trung Hưng của Dòng Trấn Tây (鎭西流); húy là Thánh Quynh (聖冏), thông xưng là Tam Nhật Nguyệt Thượng Nhân (三日月上人); hiệu là Tây Liên Xã (西蓮社), Liễu Dự (了譽); thụy hiệu là Thánh Quynh Thiền Sư (聖冏禪師); xuất thân vùng Thường Lục (常陸, Hitachi, thuộc Ibaraki-ken [茨城縣]); con của Bạch Cát Chí Ma Thủ Nghĩa Quang (白吉志摩守義光). Ông bắt đầu xuất gia theo Liễu Thật (了實) ở Thường Phước Tự (常福寺) thuộc vùng Thường Lục, rồi học Tịnh Độ Giáo của Dòng Trấn Tây với Liên Thắng (蓮勝) cũng như Đinh Huệ (定慧); và tu học hết giáo nghĩa của các Tông khác. Sau đó, ông kế thừa trú trì Thường Phước Tự, chỉ đạo dạy dỗ học đồ, viết ra bộ Nhị Tạng Tụng Nghĩa (二藏頌義) và hệ thống hóa Tông nghĩa Tịnh Độ. Hơn nữa, ông đã làm sáng tỏ dòng huyết mạch truyền thừa từ thời đức Thích Ca trở về sau, cũng như Viên Đốn Giới từ thời Viên Nhân (圓仁) trở đi; và nêu rõ tính độc lập của Tịnh Độ Tông. Ông còn chỉnh đốn lại chế độ truyền pháp của Ngũ Trùng Tương Truyền (五重傳承); rồi đến năm 1393, lần đầu tiên ông truyền áo nghĩa cho đệ tử là Thánh Thông (聖聰). Vào năm 1415, thể theo lời thỉnh cầu của Thánh Thông, ông chuyển đến ở tại thảo am ở Tiểu Thạch Xuyên (小石川, Koishikawa), Giang Hộ (江戸, Edo). Trước tác của ông có Thích Tịnh Độ Nhị Tạng Nghĩa (釋淨土二藏義) 30 quyển, Tịnh Độ Nhị Tạng Nhị Giáo Lược Tụng (淨土二藏二敎略頌) 1 quyển, Truyền Thông Ký Nhữu Sao (傳通記糅鈔) 48 quyển, Quyết Nghi Sao Trực Điệp (決疑鈔直牒) 10 quyển, Phá Tà Hiển Chánh Nghĩa (破邪顯正義) 1 quyển, Tịnh Độ Chơn Tông Phú Pháp Truyện (淨土眞宗付法傳) 1 quyển, Hiển Tịnh Độ Truyền Giới Luận (顯淨土傳戒論) 1 quyển, Giáo Tướng Thập Bát Thông (敎相十八通) 2 quyển, v.v.

thánh quân

Good king.

thánh quả

Ariyaphalam (p)—Đạo quả của bậc Thánh, đạt được Bồ Đề hay Niết Bàn—The holy truth—Fruit of the saintly life (bodhi or nirvana)—Holy fruition—Fruit of Arhatship—The fruition of holiness—See Lục Tức Phật (6). ; (聖果) I. Thánh Quả. Quả báo nhờ tu Thánh đạo mà chứng được. Tức chỉ cho Bồ đề niết bàn. [X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.trung, phần đầu]. II. Thánh Quả. Chỉ cho quả A la hán trong 4 quả Sa môn. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2].

thánh sư tử

Tôn hiệu của Đức Phật. Đức Phật là vị vua trong cõi Thánh như sư tử là vua trong muôn thú—The holy lion, Buddha.

thánh sử

Sacred history.

thánh thai

Thai tạng của những bậc Thánh, bọc quấn và trưởng dưỡng chư Bồ Tát, chỉ ba hiền vị Thập trụ, Thập Hạnh, và Thập Hồi Hướng—The womb of holiness which enfolds and develops the bodhisattvas, i.e. the three excellent positions attained in the ten grounds, ten kinds of dedication, and ten necessary activities of a bodhisattva. ** For more information, please see Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, and Thập Trụ. ; (聖胎) Chỉ cho giai vị Tam hiền: Thập trụ,Thánh Quán Âm. Thập hành, Thập hồi hướng trong các giai vị tu hành của Bồ tát. Vì hàng Bồ tát này lấy chủng tính của chính mình làm nhân, bạn tốt làm duyên, lắng nghe chính pháp, tu tập trưởng dưỡng, đến bậc Sơ địa thì thấy đạo mà sinh trong Phật gia, nên gọi là Thánh thai. [X. phẩm Bồ tát giáo hóa trong kinh Nhân vương Q.thượng; Nhân vương kinh sớ (Lương bôn)].

Thánh Thiên

聖天; S: āryadeva; cũng được gọi là »Ðơn nhãn«; |Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem sống trong đầu thế kỉ thứ 8, đệ tử của Ma-ha Tất-đạt Long Thụ (s: nāgārju-na). Trong thế kỉ thứ hai cũng có vị Long Thụ của Trung quán tông và vị này cũng có đệ tử tên Thánh Thiên.|Thánh Thiên là một Tỉ-khâu tu học tại Na-lan-đà. Một hôm Sư nghe có vị Tất-đạt nổi danh tên Long Thụ sống tại Nam Ấn Ðộ liền bỏ đi tìm, được Quán đỉnh vào Bí mật tập hội (s: guhyasamāja-tantra), và ở lại luyện Nghi quỹ (s: sādhana) chung với thầy. Sư đi khất thực luôn luôn được nhiều thức ăn ngon lạ hơn thầy. Long Thụ lấy làm lạ cho Sư ở nhà, tự mình đi. Khi về nhà thì Long Thụ thấy một thần nữ đã dâng cúng bánh trái cho Thánh Thiên và phê bình là mình chưa hết ô nhiễm hẳn như đệ tử. Long Thụ khâm phục môn đệ mình và đặt tên Thánh Thiên. Bài kệ chứng đạo của Thánh Thiên như sau:|Chư Phật cả ba đời,|duy nhất một Tự tính.|Chứng được tự tính này,|là chứng được tâm thức.|Ðể mọi sự diễn ra,|hoà vào với thật tại,|không hề có cơ cấu.|Chính trạng thái buông thỏng,|là đời sống Du-già.|Sau khi Long Thụ chế tạo được nước trường sinh, ông lè lưỡi liếm và đưa cho Sư làm theo. Sư liền cầm bát nước đổ hết vào một gốc cây, cây này bất chợt đâm tược. Long Thụ quát lớn: »Nếu ngươi phí phạm nước bất tử của ta thì phải hoàn lại!« Sư liền cầm một cái thùng, tiểu tiện vào rồi cầm một nhánh cây quậy đưa Long Thụ. »Nhiều quá« Long Thụ nói. Sư liền đổ nửa thùng vào gốc cây, cây này liền ra lá. Long Thụ nghiêm trang bảo: »Nay ngươi đã chứng Ðạo, đừng lưu lại lâu trong Luân hồi (saṃ-sāra)«. Nghe câu này, thân Sư bay vọt lên cao. Ngay lúc này, một người đàn bà đến gần xin Sư một con mắt. Không một chút chần chừ, Sư móc con mắt phải ra trao cho bà này và từ đây mang tên là »Ðơn nhãn« hay »Ðơn nhãn Ðề-bà«. Sau khi thuyết pháp từ trên không trung, Sư đứng ngược đầu xuống đất, chân đối trời rồi biến mất. ; 聖天; S: āryadeva; cũng được gọi là Ðề-bà, Ka-na Ðề-bà, Ðơn nhãn Ðề-bà (s: kāṇadeva); |Học trò của Long Thụ (nāgārjuna) và Ðại luận sư của Trung quán tông (s: mādhyami-ka), tác giả của nhiều bộ luận. Người ta cho rằng Thánh Thiên sinh trong thế kỉ thứ 3 tại Tích Lan và là Tổ thứ 15 của Thiền Ấn Ðộ dưới tên »Ðề-bà một mắt« (kāṇadeva). Tương truyền Sư bị ngoại đạo chống đạo Phật giết. Ngày nay, tác phẩm của Sư chỉ còn được giữ lại trong các bản dịch tiếng Hán và Tây Tạng, phần lớn là các luận đề về giáo pháp của Long Thụ. Truyền thống Tan-tra xem Sư là một trong 84 vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha).|Sư sinh ra trong một gia đình quý tộc tại Tích Lan. Thay vì nhận chức làm quan thì Sư lại gia nhập Tăng-già dưới sự hướng dẫn của Hermadeva. Sau khi học xong các thuyết luận, Sư đi hành hương, viếng thăm những thánh tích của Phật giáo tại Ấn Ðộ. Nhân dịp này, Sư gặp Long Thụ và theo hầu học nhiều năm và khi Long Thụ rời Na-lan-đà đi Trung Ấn, Sư cũng theo thầy. Dần dần, Sư được truyền trao trách nhiệm giảng pháp và được xem là người kế vị Long Thụ. Không rõ là Sư lưu lại Trung Ấn bao nhiêu lâu nhưng trong thời gian này, Sư có thành lập nhiều tu viện. Nghe tin một luận sư lừng danh thuộc dòng Bà-la-môn tung hoành tại viện Na-lan-đà và không một Tỉ-khâu nào đủ tài năng đối đầu tranh luận, Sư liền đến Na-lan-đà một lần nữa và chiến thắng vị Bà-la-môn trong ba vòng tranh luận. Sau nhiều năm trụ tại Na-lan-đà, Sư trở về miền Nam và mất tại Raṅganātha, Kiến-chí (kāñcī).|Tác phẩm Tứ bách luận (catuḥśataka) của Sư gồm 400 câu kệ, với suy luận biện chứng phủ định, giải thích giáo pháp Vô ngã và tính Không. Tập Bách luận (śataśāstra) được xem là bản thu gọn lại của Tứ bách luận, cũng gây ảnh hưởng lớn trong Phật giáo. Trong tập Bách luận Thánh Thiên đã đưa nhiều luận giải đối trị các quan điểm bài bác Phật giáo. Bách luận là một tác phẩm căn bản của Tam luận tông tại Trung Quốc.

Thánh Thông

(聖聰, Shōsō, 1366-1440): vị Tăng của Tịnh Độ Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại Nam Bắc Triều và Thất Đinh, Tổ khai sơn Tăng Thượng Tự (增上寺, Zōjō-ji); húy là Thánh Thông (聖聰), tục danh là Thiên Diệp Dận Minh (千葉胤明); hiệu Đại Liên Xã (大蓮社), Tây Dự (西譽); xuất thân vùng Hạ Tổng (下總, Shimōsa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]), con của Thiên Diệp Thị Dận (千葉氏胤, Chiba Ujitane). Ban đầu, ông học Mật Giáo ở Minh Kiến Tự (明見寺, tức Thiên Diệp Tự [千葉寺]) thuộc vùng Hạ Tổng, nhưng đến năm 1385 thì được Thánh Quynh (聖冏) cảm hóa, rồi quy y theo Tịnh Độ Tông; từ đó trở đi trải qua trong vòng 9 năm, ông theo học Tông Nghĩa với Thánh Quynh ở Thường Phước Tự (常福寺). Vào năm 1393, ông khai sáng Tăng Thượng Tự ở vùng Bối Trũng (貝塚, Kaizuka), Võ Tàng (武藏, Musashi); được dòng họ Thiên Diệp cũng như tầng lớp hào tộc quy y theo rất đông, và nỗ lực bố giáo ở địa phương này. Chính ông đã phổ cập tư tưởng Ngũ Trùng Truyền Pháp của Thánh Quynh, và hết mình giáo dưỡng chúng đệ tử. Trước tác của ông có Tam Kinh Trực Đàm Yếu Chú Ký (三經直談要註記) 48 quyển, Đương Ma Mạn Đà La Sớ (當麻曼荼羅疏) 48 quyển, Triệt Tuyển Trạch Bản Mạt Khẩu Truyền Sao (徹選擇本末口傳鈔) 2 quyển, Vãng Sanh Luận Chú Ký Kiến Văn (徃生論註記見聞) 2 quyển, v.v.

thánh thần

Saint and gods.

thánh tiết

(聖節) Cũng gọi Thiên trường tiết. Chỉ cho ngày sinh của Hoàng đế. Cứ theo luận Hưng thiền hộ quốc quyển hạ thì khoảng 30 ngày trước sinh nhật của Hoàng đế, trong Thiền lâm có lập đạo tràng Thánh tiết, hàng ngày tụng đọc các kinh: Đại bát nhã, Nhân vương, Pháp hoa, Tối thắng để cầu Thánh thọ vô cương. Theo Đại Tống tăng sử lược quyển trung và sự vật kỉ nguyên thì việc chúc mừng sinh nhật Hoàng đế bắt đầu từ đời vua Thái Vũ Đế nhà Bắc Ngụy, còn lập tên tiết thì bắt đầu từ vua Huyền tông nhà Đường. [X. điều Thánh tiết chương Chúc li trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng; Đường thư bản kỉ thứ 5]. (xt. Chúc Thánh).

thánh tiễn đường thuật cổ

(聖箭堂述古) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Vi lâm Đạo bái (1615-1684) biên soạn vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 127. Nội dung sách này thu chép sự tích của các bậc Thánh hiền quá khứ gồm 32 hạng mục như: Tăng đường kí, Đại bát nhã kinh, Hoành trí Chính giác, Vân môn Khuông chân, La hồ Dã lục, Bồ đề đạt ma, Tức tâm minh... mỗi hạng mục đều được bàn rõ và kèm theo lời phê bình.

Thánh triết

(聖哲): chỉ đạo đức tài trí siêu nhân, cũng chỉ cho người có đạo đức tài trí; cũng dùng chỉ cho đế vương. Trong Tả Truyện (左傳), phần Văn Công Lục Niên (文公六年), có đoạn: “Cổ chi vương giả, tri mạng chi bất trường, thị dĩ tinh kiến Thánh triết (古之王者、知命之不長、是以幷建聖哲, vua ngày xưa, biết mạng không lâu dài, cho nên mới lập đạo đức tài trí).” Hay trong Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 3, phần Kiện Đà La Quốc Ca Nị Sắc Ca Vương (健馱邏國迦膩色迦王), lại có đoạn rằng: “Vương nãi tuyên lịnh viễn cận, chiêu tập Thánh triết, ư thị tứ phương bức thấu, vạn lí tinh trì, anh hiền tất tụy (王乃宣令遠近、召集聖哲、於是四方輻湊、萬里星馳、英賢畢萃, nhà vua bèn tuyên lệnh xa gần, chiêu tập tài đức, do đó bốn phương tập trung, vạn dặm bôn ba, hiền sĩ tụ họp).”

thánh trí

Arya-jnana (skt)—Supreme knowledge. • Cái trí tuệ tối thượng hay trí huệ của bậc Thánh, nhờ đó người ta có thể nhìn vào những chỗ thâm sâu nhất của tâm thức để nắm lấy cái chân lý thâm mật bị che khuất mà cái trí tầm thường không thể thấy được: Supreme wisdom, or the wisdom of a saint, whereby one is enabled to look into the deepest recesses of consciousness in order to grasp the inmost truth hidden away from the sight of ordinary understanding. • Phật trí hay trí của các bậc Thánh, trí siêu việt và vượt ra ngoài mọi sự phân biệt—The wisdom of Buddha, or the saints or the sages; the wisdom which is above all particularization, i.e. the wisdom of transcendental truth—Sage-like or saint-like knowledge. ; (聖智) Chỉ cho trí tuệ soi đúng chân đế, xa lìa hư vọng, phân biệt, gọi là Thánh trí. Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40, 843 hạ) nói: Pháp tính vô tướng, cho nên Thánh trí vô tri. Ngoài ra, giáo pháp của đức Phật còn được gọi là Thánh võng (lưới của bậc Thánh), vì nó bao trùm khắp cả chúng sinh, khiến trở về chính pháp nên dùng lưới để ví dụ mà gọi là Thánh võng. Lại nữa, vì pháp do đức Phật nói khế hợp với chính lí nên gọi là Thánh pháp. Còn sự cảm ứng của Phật thì gọi là Thánh ứng.

thánh trí bách tính sự

Aryajnanasvabhavavastu (skt)—Trí tuệ tối thượng như là tạo thành sự kiện tối hậu của hiện hữu—Supreme wisdom as constituting the ultimate fact of existence.

thánh trí nhãn

Aryajnanacakshus (skt)—Con mắt của trí tuệ tối thượng, cũng được gọi là tuệ nhãn—The eye of supreme wisdom, also called the wisdom eye or Prajnanacakshus.

thánh trí phi ngôn ngữ

Chân lý tối hậu chỉ vào sự thể chứng cái trí tuệ tối thượng trong tâm thức sâu thẳm nhất, và không thuộc phạm vi của ngôn từ và cái trí phân biệt; sự phân biệt như thế không thể phát hiện được chân lý tối hậu. Tuy nhiên ngọn đèn ngôn từ là có lợi ích cho việc soi sáng con đường đưa đến chứng ngộ tối hậu—The ultimate truth points to the realization of supreme wisdom in the inmost consciousness, and does not belong to the realm of words and discriminative intellect; thus discrimination fails to reveal the ultimate truth. However, the lamp of words is useful to illuminate the passage to final enlightenment.

thánh trụ tập

(聖胄集) Cũng gọi Huyền môn thánh trụ tập. Tác phẩm, 5 quyển, do ngài Hoa nhạc Huyền vĩ biên soạn vào năm Quang hóa thứ 2 (899) đời Đường. Sách này thu chép các cơ duyên, kệ truyền pháp của các bậc tông sư truyền phương pháp trong lịch sử truyền đăng của Thiền tông từ Bảo lâm truyện (được thành lập vào năm Trinh Nguyên 17 (801) đời Đường) về sau, chủ trương thuyết 28 vị Tổ Tây thiên thuộc hệ thống Bà tu mật. Sách này đã bị thất lạc, hiện nay chỉ còn các mảnh rời rạc. Chỉ biết Bảo lâm truyện quyển 2 tương đương với quyển 2 của sáchnày và căn cứ vào bản Đôn hoàng số 4478 của ông Sử thản nhân (A. Stein) mà có thể biết được đoạn văn bị lược bớt từ quyển 1 đến quyển 2 của sách này. Ngoài ra, căn cứ vào nội dung của Đàn pháp nghi tắc(là Nghi quĩ của Mật giáo do ngài Bất không dịch) bản Bắc kinh chữ Hàm số 29 và Bá hi hòa (P. Pelliot) số 3913, ta có thể biết Đàn pháp nghi tắc là do dẫn dụng quyển 1 của sách này, rồi Mật giáo hóa thêm mà thành Đàn pháp. Ngoài điểm này ra, các chi tiết khác về nội dung sách này thì không rõ. Từ Thánh trụ trong tên sách là chỉ cho Đại sư Thánh trụ, là tiếng kính xưng của vua Vũ Đế nhà Lương đối với Tổ Bồ đề đạt ma. Do đó ta cũng có thể suy đoán nội dung sách này có lẽ đã ghi chép truyện kí của 28 vị Tổ của Tây thiên. [X. Thích thị kê cổ lược Q.3; Đại tạng kinh cương mục chỉ yếu lục Q.8].

thánh tâm

Tâm của bậc Thánh như tâm Phật—The holy mind, that of Buddha.

thánh tích tự

(聖積寺) Chùa ở huyện Nga Mi, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Đây là ngôi chùa lớn nhất nằm dưới chân núi Nga Mi, xưa gọi là Từ Phúc Viện. Cứ theo truyền thuyết thì họ Hiên viên từng hỏi đạo ở đất này. Chùa này qua các đời đã nhiều lần bị hỏa hoạn, đến đời Dân quốc được sửa lại. Chính điện thờ tượng đồng Đại sĩ Phổ hiền cỡi voi, toàn thân cao 1 trượng 6 thước. Hậu điện có tháp đồng, cao khoảng 6,7m, gồm 4 tầng, có đúc hơn 4.700 pho tượng Phật, bên cạnh khắc toàn văn bộ kinh Hoa nghiêm, trong lầu chuông có quả chuông bát quái, cao khoảng 3m, đường kính khoảng 2,5m, nặng khoảng 15.000 cân, do Hòa thượng Biệt truyền quyên góp để đúc vào đời Minh. Thánh tích vãn chung(Tiếng chuông chiều chùa Thánh tích) là 1 trong 10 thắng cảnh ở núi Nga Mi, tương truyền vào những chiều mồng 1 hoặc rằm, tiếng chuông có thể ngân vang tới tận đỉnh vàng Nga Mi.

thánh tính

1) Tánh của bậc Thánh: Saintivity. 2) Câu Xá Luận gọi Thánh Tính là Chính Tính hay một đời sống Thánh thiện không còn bị dục vọng lôi cuốn: The holy nature, according to the Abhidharma-kosa of the passionless life. 3) Duy Thức Luận gọi Thánh Tính là cái tính sanh ra trí vô lậu mà đoạn trừ phiền não: According to the Vijnanamatrasiddhi of enlightenment and wisdom, the holy nature is the nature that produces the passionless or pure wisdom. ; (聖性) Cũng gọi Chính tính. Nhà Duy thức gọi tính phát sinh ra trí vô lậu và đoạn trừ phiền não là Thánh tính, tức là Chính tính mà tông Câu xá thường gọi. Duy thức cho chủng tử của trí vô lậu là thể của Thánh tính, còn Câu xá thì cho tính lìa phiền não là chính tính. Luận Câu xá quyển 11 (Đại 29, 56 hạ) ghi: Chính tính là gì? Khế kinh nói: Đoạn hết tham, đoạn hết sân, đoạn hết si, đoạn hết tất cả phiền não, gọi là Chính tính.

thánh tính li sinh

(聖性離生) Cũng gọi Chính tính li sinh. Phát sinh trí vô lậu, đoạn trừ hết phiền não, mãi mãi xa lìa cái sinh của dị tính (phàm phu). Các nhà Duy thức gọi là Thánh tính li sinh, còn các nhà Câu xá thì gọi là Chính tính li sinh. Hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác vào giai vị Kiến đạo, phát sinh một phần trí vô lậu, đoạn trừ phiền não chướng phân biệt khởi; còn hàng Bồ tát thì phát sinh một phần trí vô lậu, đoạn trừ phiền não chướng và sở tri chướng, do đó được một phần Thánh tính, vĩnh viễn xa lìa cái sinh của phàm phu, vì thế gọi là Thánh tính li sinh. Luận Thành duy thức quyển 9 (Đại 31, 52 trung) nói: Hàng Nhị thừa khi Kiến đạo hiện tiền thì chỉ đoạn được một thứ, được gọi là Thánh tính; hàng Bồ tát khi Kiến đạo hiện tiền thì đoạn cả 2 thứ, được gọi là Thánh tính. Luận Câu xá quyển 23 (Đại 29, 120 hạ) nói: Chứng được Thế đệ nhất pháp, tuy trụ ở địa vị dị sinh nhưng có khả năng đi vào Chính tính li sinh. Tứ giáo nghĩa quyển 6 (Đại 46, 739 thượng) nói: Thánh lấy Chính làm nghĩa, (...), xả bỏ phàm phu tính, được vào Thánh nhân tính. (xt. Chính Tính Li Sinh).

thánh tính ly sinh

Theo Duy Thức Luận, Thánh Tính Ly Sinh là cuộc sống của sự Thánh thiện của các vị Thanh Văn, Duyên Giác, A La Hán hay Bồ Tát, những vị đã đạt được vô lậu trí và dứt bỏ phiền não do phân biệt khởi lên (đã dứt bỏ phiền não và sở tri chướng), đối lại với cuộc sống của phàm phu hay người chưa giác ngộ—According to the Vijnanamatrasiddhi, the life of holiness apart or distinguished from the life of common unenlightened people.

thánh tôn

Vị Thánh được tôn kính như Phật—The holy honored one—Buddha.

thánh tăng

1) Hàng Tăng chúng đức cao đạo trọng đã dứt bỏ mê hoặc, đã chứng đắc chân lý, đối lại với phàm Tăng—The holy monk who has achieved higher merit, in contrasted with the ordinary monk (phàm tăng). 2) Tượng vị Thánh Tăng ở giữa Tăng Đường: The image in the monk assembly room. 3) Trong Phật Giáo Đại Thừa thì coi Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát như là một Thánh Tăng, và tượng của ngài được đặt ở giữa Tăng Đường: In Mahayana Buddhism, Manjusri is considered as a holy monk, his image is placed in the center of the monks' assembly room. 4) Trong Phật Giáo Tiểu Thừa thì Ngài Ca Diếp hay Tu Bồ Đề được coi như là những Thánh Tăng, tượng của các ngài thường được đặt giữa Tăng Đường: In Hinayana Budhism, Kasyapa and Subhuti are considered holy monks, their images are usually placed in he centre of the monks' assembly room. ; (聖僧) Cũng gọi Thượng tăng. Vốn chỉ cho vị tăng đã khai ngộ và có đức hạnh cao quí, về sau chuyển sang chỉ cho tượng Thánh tăng an vị trên tòa trong Trai đường. Thông thường, các chùa viện Tiểu thừa an vị tượng ngài Tân đầu lô, còn các chùa viện Đại thừa thì an vị tượng ngài Văn thù. Khi thụ trai thì đặt 1 tòa trống Không (tức tòa ngồi dành cho Thánh tăng) để cúng dường thức ăn uống, đây là phong tục tập quán thịnh hành ở Ấn độ từ xưa, đời sau thì an trí 1 tượng vẽ hoặc tượng đắp để thay thế. Trong Thiền tông thì chính giữa Tăng đường an trí tượng bồ tát Văn thù, hoặc tượng bồ tát Quán âm, hay tượng các vị: Tân đầu lô, Kiều trần như, Không sinh, Đại ca diếp, hay Bố đại hòa thượng. Phổ biến hơn thì an vị tượng bồ tát Văn thù, gọi là Thánh tăng Văn thù. Còn cỗ khám an vị Thánh tăng trong Tăng đường thì gọi là Thánh tăng khám. Cơm cúng dường Thánh tăng, gọi là Thánh tăng phạn. Người hầu hạ phục vụ Thánh tăng, gọi là Thánh tăng thị giả(cũng gọi Thánh thị, Thị Thánh). Gian dưới ở phía trước Thánh tăng, tức bản đầu ở phía trái sau khi tiến vào Tăng đường, là bản đầu của Thánh tăng thị giả, gọi là Thánh tăng bản đầu, cũng gọi là Tây đường bản đầu. [X. Thụ trai nghi tắc trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1; Thụ thỉnh thiên Thánh tăng bộ trong Pháp uyển châu lâm Q.42; điều Tây tự đầu thủ, chương Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; Điện đường môn, Linh tượng môn trong Thiền lâm tượng khí tiên].

thánh tượng

Chỉ tượng của Đức Phật—The statue of the Buddha. a) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, tất cả những điêu khắc đầu tiên tại Sanci và Barhut không trình bày Phật trong diện mạo con người. Điều đáng lưu ý chúng ta là, những biến cố chính trong đời sống của Đức Phật đã được đưa ra đầy đủ trong điêu khắc mà không mang diện mạo một anh hùng. Làm sao có thể được? Phật khi giáng sinh được tượng trưng bằng đóa hoa sen nở trọn; khi thành đạo tượng trưng bằng cây Bồ Đề có tường rào chung quanh; lúc Ngài thuyết pháp đầu tiên (chuyển Pháp Luân) tượng trưng bằng một bánh xe trên đó đôi khi có thêm dấu hiệu Tam Bảo (Tri-ratna); lúc khất thực tượng trưng bằng một cái bình bát, vân vân. Nếu sự gợi hứng là một phương tiện của nghệ thuật đích thực, các nghệ sĩ Phật tử đầu tiên đã hiểu điều đó khá trọn vẹn và đã dùng ý niệm đó một cách khéo léo cho những mục đích thực tiễn: According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, none of the earlier sculptures of sanchi and Barhut represent the Buddha in huma figure. It is remarkable to us that the principle events of the Buddha's life have been fully given in sculture without a figure of the hero. How was that possible? The Buddha at birthis represented by a full blooming lotus; the Buddha in Enlightenment by the Bodhi tree with a rail around it; the Buddha in his first preaching by a wheel, above which a tri-ratna mark is sometimes added; the Buddha in his beggng round, or mendicancy, by a bowl; and the like. If suggestion be a means of true art, the early Buddhist artists understood it perfectly and utilized the idea skilfully for practical purposes. b) Tuy nhiên, tất cả những điều nầy không nhất thiết có nghĩa rằng các trưởng lão đã tuyệt nhiên không trình bày Đức Phật suốt thời gian Ngài còn tại thế, vì có truyện kể về việc họ đã tạo một bức tượng để cúng dường trong suốt thời gian Ngài vắng mặt. Họ là những người chủ trương hình thức và duy thực, và như thế nếu Phật đang ở ngay trước mặt, họ có quyền miêu tả Ngài bằng hội họa hay điêu khắc. Nhưng bây giờ Ngài đã đi vào Niết Bàn, mà trình bày một người không còn hiện hữu trong thực tại nữa, đó là điều bất xác. Chính do sau nầy, một phát triển khả quan của các nền nghệ thuật Gandhara mà Nam phương Phật giáo bắt đầu có những tượng Phật. Việc nầy có thể xãy ra cùng lúc với việc ghi chép các giáo thuyết của Phật thành văn tự, tức khoảng năm 80 trước Tây Lịch: However, all this does not necessarily mean that the elders did not represent the Buddha at all during his lifetime, for there is a legend which tells of their making an image for the purpose of offering veneration during the Buddha's absence. They were formalistic and realistic, and so if the Buddha was actually before them, they had a right to depict him in painting or sculture. Now that he had passed into Nirvana, however, it was improper to represent the one who no longer really lived. It was after a considerable development of the Gandhara art that the southern school of Buddhism began to have images of Buddha. This was believed at about the same time when the Buddha's teachings were committed to writing, i.e., 80 B.C. c) Các trưởng lão có khuynh hướng duy tâm và tự do tư tưởng, mà chúng ta có thể coi như là những nhà tiền phong của Đại Thừa, hình như không có cuộc hội họp để đọc lại các bài pháp của Phật, cũng không mở rộng các luật nghi của họ vượt ngoài những gì Phật đã thiết định. Họ thường ghi lại những Thánh ngôn bằng ký ức hay bằng văn tự tùy theo sở thích. Họ không ngần ngại xử dụng các tài năng của mình trong hội họa hay điêu khắc để miêu tả hình ảnh Phật theo lý tưởng riêng của mình về cái đẹp và cái toàn như họ đã làm ở nghệ thuật Gandhara: The elders of idealistic and free-thinking tendencies, whom we might regard as the foreunners of the Mahayana, would not hold any meetings for the rehearsal of the Buddha's sermons, nor would they enlarge upon their Vinaya rules beyond what was laid down by the Buddha himself. They would commit those sacred words to memory or to writing as they pleased. They did not hesitate in using their talents in painting or sculture to depict the Buddha's image according to their own ideal of beauty and perfection, as they did in the Gandhara art. d) Ngành tự do tư tưởng cũng có thể được thấy trong các luận giải siêu hình của các nhà Phân Biệt Thuyết (Vaibhasika) hay Tý Bà Sa, trong đó nhiều quan niệm về pháp (dharma) hay thắng pháp (abhidharma) được sưu tập và một số quan niệm tự do đã được tuyển và được khuyến cáo học tập. Mặc dù phái Tỳ Bà Sa thuộc hệ Tiểu Thừa, nhưng đã mở ra một khuynh hướng nhắm tới trường phái tự do tư tưởng. Hạng người tự do tư tưởng như thế cố nhiên can đảm trong việc thích nghĩa, bác học, chú giải, hay hình thành và diễn tả bất cứ quan niệm nào. Tuy nhiên, điều nầy không có nghĩa rằng họ đi xa ngoài các giáo pháp nguyên thủy của Phật: The trend of the free-thinking mind can also be seen in the metaphysical treatises of the Optionalists (Vaibhasikas), in which several opinions about dharmas or higher dharmas (abhidharmas) are gathered together and some optional ones have been selected and recommended for study. Though the Vaishasika School belonged to the Hinayana, it already betrayed a tendency toward the free-thinking school. Such free-thinking people would be bold in exegesis, erudition, annotation, or in forming and expressing opinion. This, however, does not mean that they departed from the original teachings of the Buddha.

thánh tịnh

Những trường phái Phật Giáo và Tịnh Độ—The schools of Buddhism and the Pure Land School.

thánh tịnh nhị môn

(聖淨二門) Chỉ cho Thánh đạo môn và Tịnh độ môn, là 2 pháp môn lớn do tông Tịnh độ y cứ vào giáo pháp của một đức Phật mà phân lập. Nhờ vào năng lực tu hành của chính mình mà đạt được khai ngộ ngay ở thế gian này gọi là Thánh đạo môn; còn tin vào thệ nguyện của Phật A di đà, đồng thời nương nhờ năng lực của thệ nguyện ấy, sau khi chết được Phật tiếp dẫn về Tịnh độ mà khai ngộ thì gọi là Tịnh độ môn, cũng gọi là Vãng sinh tịnh độ môn. Thánh tịnh nhị môn này là bắt nguồn từ Nan dị nhị đạo do bồ tát Long thụ chủ xướng. Về Thánh tịnh nhị môn, trong An lạc tập quyển thượng, ngài Đạo xước đời Đường nói rất rõ. Ngài chủ trương trong đời mạt pháp, lí của Thánh đạo rất sâu xa khó chứng, chỉ có Tịnh độ môn mới mong được tiếp dẫn, cho nên đời sau, Thánh đạo môn được gọi là Tự lực môn, Nan hành đạo; còn Tịnh độ môn thì được gọi là Tha lực môn, Dị hành đạo. [X. Vãng sinh luận chú Q.thượng; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập].

Thánh Võ Thiên Hoàng

(聖武天皇, Shōmu Tennō, tại vị 724-749): vị Thiên Hoàng sống giữa thời Nại Lương, hoàng tử của Văn Võ Thiên Hoàng (文武天皇, Monmu Tennō, tại vị 697-707), tên thật là Thủ (首, Obito). Ông cùng với Quang Minh Hoàng Hậu (光明皇后) rất tin tưởng Phật pháp, đã xây dựng một số ngôi chùa như Quốc Phận Tự (國分寺, Kokubun-ji), Quốc Phận Ni Tự (國分尼寺, Kokubunni-ji), thiết lập Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji) và an trí tượng Đại Phật tại ngôi chùa này.

thánh võng

Lưới Phật Pháp co cụm tất cả chân lý—The holy jala, or net, of Buddha's teaching which gathers all into the truth.

thánh vũ thiên hoàng

(聖武天皇) Vị Thiên hoàng đời thứ 45 của Nhật bản, là Hoàng tử thứ nhất của Thiên hoàng Văn vũ. Vua và Hoàng hậu (Hoàng hậu Quang minh) đều kính tin Phật giáo. Vua xây dựng chùa Quốc phần và đúc tượng Phật Tì lô xá na ở chùa Đông đại để tượng trưng cho lí tưởng thống nhất quốc gia lấy giáo nghĩa kinh Hoa nghiêm làm nền tảng. Thời gian vua ở ngôi, trong triều ngoài nội đều xây chùa, tạo tượng Phật và phong khí viết kinh rất thịnh, nhờ đó mà hình thành nền mĩ thuật Thiên bình, là thời kì mà mĩ thuật Phật giáo Nhật Bản nói chung đạt đến điểm cao nhất. Các di vật, tác phẩm còn lại, đến nay vẫn được bảo tồn ở viện Chính thương trong chùa Đông đại tại Nại lương (Nara). [X. Đông đại tự đại Phật đường duyên khởi bi văn; Nguyên hanh thích thư Q.21; Nhật bản kỉ lược tiền thiên Q.10].

thánh vị

The holy position—The holy life of Buddhism. ; (聖位) I. Thánh Vi. Chỉ cho quả vị Bồ đề do hàng Tam thừa chứng được. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 26 (đại 10, 140 thượng) nói: Nguyện hết thảy chúng sinh, mau được vào Thánh vị. [X. luận Câu xá Q.24]. II. Thánh Vị. Chỉ cho địa vị của các bậc Thánh Sơ quả đã dứt sạch Kiến hoặc. (xt. Tu Đà Hoàn).

thánh y

(聖衣) Chỉ cho y phục của bậc Thánh, là y được may theo qui định do đức Phật đặt ra, gồm có 3 y: Tăng già lê (Đại y), Uất đa la tăng (thất điều y) và An đà hội (ngũ điều y).

thánh điển

1) Điển tịch của Thánh nhân: The sacred canon, or holy classics. 2) Thánh điển Phật Giáo hay Tam tạng Kinh Điển: The Tripitaka. ; (聖典) Sách Thánh. Danh từ Thánh điển, ở Trung Quốc, từ thời Tây Hán về sau, là chỉ cho những sách vở có liên quan đến những lời nói, việc làm của Thánh nhân. Đến nay, trong các tông giáo trên thế giới, từ ngữ Thánh điển là chỉ chung cho kinh điển của thần Thánh. Trong Phật giáo thì chỉ cho Thánh điển của Phật giáo. Trong các Pháp sắc của vua A dục ở Ấn độ, có 7 loại Luật đích tối thắng pháp thuyết là Thánh điển xưa nhất. Về sau, Thánh điển được phân loại làm 9 phần giáo, 12 bộ giáo, qui nạp chung thành 3 tạng (Phạm;Pàli:Piỉaka). Những tên gọi như Bộ, Tạng được thấy trong các văn Kim thạch ở thế kỉ I trước Tây lịch. Ở Ấn độ đời xưa, văn tự bị coi là vật thế tục, Thánh điển chỉ được khẩu truyền qua các thế hệ. Tương truyền, Tam tạng và chú sớ được viết thành sách đầu tiên là vào khoảng thế kỉ I Tây lịch, tức vào thời đại vuaVaỉỉagàmani của nước Tích lan.Ở Trung Quốc thì vào thời đại Bắc Tống việc khắc bản in đã rất thịnh hành và việc chép Thánh điển được coi là một nghi lễ, còn lưu truyền mãi đến ngày nay. Ngoài việc đọc tụng, học hiểu để tăng tiến tín ngưỡng, Thánh điển còn là đối tượng lễ bái, việc nàyvốn đã được lưu truyền ở Ấn Độ. So với Thánh điển của các tông giáo khác thì Thánh điển của Phật giáo đồ sộ hơn, đây là 1 đặc sắc lớn của Phật giáo, vì thế nên đã có học giả gọi Phật giáo là Thư chi tông giáo (SchriftReligion, tông giáo của sách). (xt. Phật Giáo Giáo Điển).

thánh điển không văn tự

The Unwritten Sacred Literature. a) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, toàn bộ kết tập của Thánh điển do đại hội san định chưa được viết trên giấy hay lá thốt nốt suốt thời gian gần 400 năm. Dĩ nhiên, ngay cho đến hôm nay Bà La Môn giáo cũng chưa viết ra văn học Vệ Đà, nhất là những sách mệnh danh là “khải thị lục.” Chúng ta có thể tưởng tượng, đạo Phật đã giản dị noi gương nền tôn giáo xưa hơn, nhưng cũng còn có những lý do khác nữa—According to Prof. Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy, the whole collection of the sacred literature authorized by the Council was not written on paper or palm leaf during a period of about four hundred years. It is well known that Brahmanism has never written down its Vedic literature even to this day, especially those revealed texts called “Hearing” (Sruti). We may imagine that Buddhism simply followed the example of the older religion, but there were other reasons as well. • Trước hết các ngài đã không dám tục hóa âm thanh dịu ngọt và những lời êm ái của Đức Thích Tôn bằng cách đặt chúng vào những văn tự mạo phạm có nguồn gốc ngoại lai. Phật đã có lần cấm dịch những lời của Ngài thành tiếng Sanskrit của Vệ Đà. Thế thì Ngài sẽ í hài lòng hơn nếu viết những lời của Ngài trong mẫu tự của học thuật thế gian, vốn chỉ được dùng cho mục đích thương mại và bình dân. First, they dare not desecrate the sweet voice and kindly words of the Blessed One by putting them down in the profane letters of a foreign origin. The Buddha had once forbidden the translation of his words into the Vedic sanskrit. How much less would it please him to write his words in the foreign Accadian alphabet, which was used only for commercial and popular purposes? • Thứ hai, ngôn ngữ mà các ngài chấp thuận trong đại hội rất có thể là một thứ tiếng hỗn chủng, gần giống tiếng Ba Li, đó là tiếng Hoa Thị (Pataliputra). Thật không thích hợp nếu ngôn ngữ và văn học linh thiêng của các Ngài phải mở ra cho quần chúng, nhất là khi có một số trưởng lão có dị kiến theo khuynh hướng tự do tư tưởng: Secondly, the language they adopted in the council was, in all probability, a commingled one, something like the Pali language, that is, the language of Pataliputra. It was not advisable that their sacred language and literature should be open to the public, especially when there were some dissenting elders of a free-thinking tendency. a) Thứ ba, đặt những Thánh ngôn của Phật vào văn tự có thể coi là mạo phạm cũng như miêu tả thánh tượng bằng hội họa hay điêu khắc. Dù sao, toàn bộ văn học được duy trì trong ký ức và không được phép viết trải qua khoảng bốn thế kỷ: Thirdly, to put the Buddha's holy words to letters might have seemed to them a sacrilege just as depicting his sacred image in painting or sculpture. At any rate, the whole literature was kept in memory and was not committed to writing until about four centuries later. b) Cộng đồng Phật tử, trái hẳn với cộgn đồng Bà La Môn, là một tập hợp của cả bốn giai cấp đến từ mọi phương hướng, và đã không thích hợp cho việc tụng đọc cẩn thận các Thánh ngôn. Kết quả là cuộc lưu truyền thiếu sót. Vì sợ thất lạcvà xuyên tạc từ những giáo thuyết nguyên thủy, nên vua Vattagamani của Tích Lan đã ban lệnh ghi chép toàn bộ văn học viết bằng chữ Tích Lan, khoảng năm 80 trước Tây Lịch: The Buddhist community, quite different from that of the Brahmans, was an assortment of all four castes coming from all quarters, and was not suitable for a serious recital of the holy words. The result was an imperfect transmission. Fearing the loss and distortion of the original teachings, King Vattagamani of Ceylon gave orders to commit the whole literature to writing in Sinhalese characters, about the year 80 B.C.

Thánh điện

聖殿; S: caitya; P: cetiya;|Nơi các vị Tỉ-khâu ngày xưa hội họp và ngồi thiền. Về sau, Thánh điện này không còn được chú trọng và hoà nhập lại thành Chính điện, nơi thờ tượng của đức Phật.

Thánh đạo

聖道; S: ārya-mārga; P: ariya-magga;|Ðạo xuất thế, con đường xuất thế bao gồm bốn cấp bậc. Mỗi cấp lại được phân biệt là: Thánh nhân (s: ārya-pudgala) đi trên đạo và Thánh quả (s: phala) của đạo đó. Bốn cấp của đạo xuất thế là: 1. Dự lưu (s: śrotāpana), người mới nhập dòng; 2. Nhất lai (s: sakṛḍāgāmin), người tái sinh trở lại thế gian này một lần nữa; 3. Bất hoàn (s: anāgāmin), người không bao giờ trở lại thế gian này nữa; và 4. A-la-hán (s: arhat).

thánh đạo

1) Con đường Thánh Thiện: The holy way. 2) Con đường của bậc Hiền Thánh: The way of the saints or sages. 3) Đạo Phật: See Buddhism in English-Vietnamese Section. 4) Bát Thánh Đạo: The Eightfold Noble Path—See Bát Thánh Đạo. ; (聖道) I. Thánh Đạo.Đối lại: Tục đạo. Đồng nghĩa: Xuất thế đạo. Chỉ cho chính đạo của bậc thánh. Tức chính đạo do trí vô lậu đạt được. Kinh Tạp a hàm quyển 22 (Đại 2, 160 trung) nói: Người siêng năng tu tập, mở tỏ được Thánh đạo. Mồng 1 tháng giêng Ngày 19 tháng 2 Ngày 21 tháng 2 Ngày 16 tháng 3 Ngày mồng 4 tháng 4 Ngày mồng 8 tháng 4 Ngày mồng 3 tháng 6 Ngày 13 tháng 7 Ngày 30 tháng 7 Ngày 30 tháng 9 Ngày 17 tháng 11 Bồ tát Di lặc Bồ tát Quán âm Bồ tát Phổ hiền Bồ tát Chuẩn đề Bồ tát Văn thù Đức Phật Thích ca Bồ tát Vi đà Bồ tát Đại thế chí Bồ tát Địa tạng Phật Dược sư Phật A di đà[X. kinh Phương đẳng đại tập Q.3; nhiếp đại thừa luận thích Q.15 (bản dịch đời Lương; luận Câu xá Q.22, 23; luận Thành duy thức Q.5]. II. Thánh Đạo. Cũng gọi Bát chính đạo. Chỉ cho 8 Thánh đạo, tức là: Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh, Chính tinh tiến, Chính niệm và Chính định. (xt. Bát Chính Đạo).

Thánh Đạo Môn

(聖道門, Shōdōmon): môn (門) có nghĩa là pháp môn hay lời dạy, giáo lý, Thánh Đạo Môn có nghĩa là giáo lý dạy người tu tập chứng quả trong hiện đời này nhờ tự lực của bản thân mình. Đặc biệt là từ này dùng để chỉ cho Thiên Thai Tông và Chơn Ngôn Tông. Thánh Độ Môn (聖土門) đối với Tịnh Độ Môn.

thánh đạo môn

Con đường của bậc Hiền Thánh đạt đạo qua quá trình tu tập, đối lại với tịnh độ môn hay sự cứu độ qua niềm tin nơi Đức Phật A Di Đà—The ordinary schools of the way of holiness by the process of devotion, in contrast with immediate salvation by faith in Amitabha. **For more information, please see Nhị Môn (1). ; (聖道門) Tịnh độ giáo chia Phật đạo làm 2 môn là Thánh đạo môn và Tịnh độ môn. 1. Thánh đạo môn: Người ở thế giới này nhờ vào tự lực tu hành mà ngộ đạo thành Thánh, gọi là Thử độ thành Thánh, đó là Thánh đạo môn. 2. Tịnh độ môn: Người nương nhờ nguyện lực của đức Phật A di đà, sinh về Tịnh độ mà ngộ đạo, gọi là Bỉ độ nhập chứng, đó là Tịnh độ môn. Sự phân chia này là căn cứ vào thuyết của ngài Đạo xước đời Đường được nói trong An lạc tập. (xt. Thánh Tịnh Nhị Môn).

Thánh Đạt

(聖達, Shōtatsu, ?-?): vị Tăng của Dòng Tây Sơn (西山流) thuộc Tịnh Độ Tông, sống vào khoảng giữa thời Liêm Thương, húy là Thánh Đạt (聖達). Ông theo hầu Chứng Không (証空), học về Tịnh Độ Giáo của Dòng Tây Sơn. Ông đã từng nỗ lực bố giáo ở Thái Tể Phủ thuộc vùng Trúc Tiền (筑前, Chikuzen), rồi khai sáng Tri Ân Viện (知恩院, Chion-in) ở vùng Phì Tiền (肥前, Hizen). Môn đệ của ông có Hiển Ý (顯意), Thánh Quán (聖觀); và ngay cả vị Tổ của Thời Tông là Nhất Biến (一遍, Ippen) cũng đã từng theo tu học với ông trong vòng 12 năm trường.

thánh đản

Birthday of a saint.

thánh đản nhật

(聖誕日) Ngày đản sinh của chư Phật, Bồ tát, là những ngày lễ quan trọng của giới Phật giáo. Thông thường, người Trung Quốc dùng âm lịch làm chuẩn. Sau đây là những ngày Thánh đản Phật và Bồ tát trong năm(tính theo Âm lịch):

Thánh đế

(聖諦): đế có nghĩa là chân lý, nguyên lý; Thánh đế có nghĩa là chân lý giác ngộ của bậc Thánh. Từ đó, theo nghĩa rộng, nó có nghĩa là Phật đạo, Phật pháp, chân tánh, chân đế.

thánh đế

Lý đạo chân chánh do bậc Thánh sở thuyết, gọi là Thánh đế. ; Đế lý mà các bậc Thánh thấy được; đặc biệt là Tứ Thánh Đế (Thánh đế Khổ, Tập, Diệt, Đạo, chân thực không hư vọng, không điên đảo)—The sacred principles or dogmas, or those of the saints, or sages; especially the Four Noble Truths. ** For more information, please see Tứ Thánh Đế. ; (聖諦) Đế nghĩa là lí chân thực không hư dối; Thánh đế tức chỉ cho tất cả cảnh giới tĩnh lặng mà bậc Thánh thấy biết, đây là nghĩa căn bản của Phật giáo nên cũng gọi là Đệ nhất nghĩa, Chân đế, thuộc nghĩa sâu xa cùng tột trong pháp xuất li thế gian. (xt. Đệ Nhất Nghĩa Đế)

thánh đế hiện quán

(聖諦現觀) Gọi Tắt: Hiện Quán. Chỉ cho giai vị Kiến đạo dùng trí vô lậu quán xét 4 đế. Tức trong 16 tâm Kiến đạo khổ pháp trí nhẫn, hiện thấy cảnh giới đồng đẳng rõ ràng, gọi là Hiện quán, gọi đủ là Thánh đế hiện quán. Thánh đế hiện quán có Kiến hiện quán, Duyên hiện quán và Sự hiện quán. 1. Kiến hiện quán: Dùng trí vô lậu quán xét cảnh giới 4 đế hiện thấy rõ ràng, gọi là Kiến hiện quán. 2. Duyên hiện quán: Trí vô lậu này và tâm, tâm sở tương ứng với trí này cùng duyên theo cảnh giới 4 đế, gọi là Duyên hiện quán. 3. Sự hiện quán: Trí vô lậu và tâm, tâm sở tương ứng với trí này, đồng thời, các pháp Bất tương ứng như sinh, trụ, dị, diệt... cùng thực hiện các việc (sự) như biết, đoạn, chứng, tu đối với 4 đế, gọi là Sự hiện quán. [X. luận Thành duy thức Q.9; luận Du già sư địa Q.55; luận Hiển dương thánh giáo Q.17; Nhiếp đại thừa luận bản Q.trung; luận Đại tì bà sa Q.3, 4, 51, 78, 103]. (xt. Hiện Quán).

thánh đề bà

Aryadeva or Devabodhisattva (skt)—Bồ Tát Đề Bà, người gốc Tích Lan, đệ tử của Ngài Long Thọ. Thánh Đề Bà là tác giả bộ Bách Luận nổi tiếng—A native of Ceylon and disciple of Nagarjuna, famous for his hundred writings and discussions.

thánh đức

Virtue of a saint.

Thánh Đức Thái Tử

(聖德太子, Shōtoku Taishi, 574-622): vị Hoàng Tử của Dụng Minh Thiên Hoàng (用明天皇, Yōmei Tennō, tại vị 585-587), mẹ là Hoàng Hậu Huyệt Huệ Bộ Gian Nhân (穴穗部間人, Anahobe-no-Hashihito). Ông còn được gọi là Phong Thông Nhĩ Hoàng Tử (豐聰耳皇子), Pháp Đại Vương (法大王), Thượng Cung Thái Tử (上宮太子). Thái Tử thông hết thảy học vấn nội ngoại, thâm tín quy y Phật Giáo. Truyền thuyết cho rằng khi người cô là Suy Cổ Thiên Hoàng (推古天皇, Suiko Tennō, tại vị 592-628) lên ngôi thì ông làm Hoàng Thái Tử, trở thành Nhiếp Chính, lãnh đạo chính trị, chế định ra quan vị 12 cấp và hiến pháp 17 điều, phái người đi sứ sang nhà Tùy Trung Hoa. Hơn thế nữa, Thái Tử còn có công rất lớn trong việc nỗ lực làm cho hưng thạnh Phật Giáo, xây dựng rất nhiều tự viện và trước tác bộ Tam Kinh Nghĩa Sớ (三經義疏).

thánh đức thái tử

(聖德太子) Cũng gọi Cứu hộ hoàng tử, Phong thông nhĩ mệnh, Thượng cung thái tử, Thánh vương. Vị hoàng tử thứ 2 của Thiên hoàng Dụng minh, Nhật bản. Ông bẩm sinh thông minh, là Nhiếp chính của Thiên hoàng Suy cổ. Ngoài Nho học, Phật học, ông còn thông suốt cả lịch học, thiên văn, địa lí... Ông từng phái học sinh đến du học ở Trung Quốc vào đời Tùy, tận lực du nhập văn hóa Trung Quốc vào Nhật bản. Ông đặt ra 12 bậc quan (603) và 17 điều Hiến pháp (604) làm nồng cốt cho nền nhân chính ở Nhật bản, điều thứ 2 trong Hiến pháp này qui định lòng tin chân thành đối với Tam bảo. Bình sinh, ông tin thờ Phật pháp, tận lực phát huy tinh thần Đại thừa. Ông thường giảng 3 bộ kinh Pháp hoa, Duy ma và Thắng man, kiến lập các viện Bi điền, Kính điền, phát triển sự nghiệp cứu tế toàn dân. Ông xây dựng 4 ngôi chùa lớn là chùa Tứ thiên vương, chùa Pháp long, chùa Quảng Long và chùa Pháp Hưng, đặt vững nền tảng cho việc truyền bá Phật giáo tại Nhật bản để điều hòa văn hóa Trung Quốc và văn hóa Nhật bản. Ông mất năm 612 (có thuyết nói năm 622), hưởng dương 49 tuổi, được an táng tại Ki trường, Đại phản, Nhật bản. Truyện kí của ông được ghi trong Thượng cung Thánh đức Pháp vương đế thuyết và trong Nhật bản thư kỉ. Vào thời Bình An và Liêm Thương rất thịnh hành truyện tranh về Thái tử Thánh đức. Trong dân gian và các chùa miếu cũng phổ biến việc thờ chân dung hoặc tượng khắc của Thái tử. [X. Thánh đức thái tử truyện lịch Q.hạ; Nhật Bản thư kỉ Q.21; Nguyên hanh thích thư Q.20].

thánh ứng

Sự cảm ứng linh nghiệm của chư Phật và chư Thánh—The influence of Buddha—The response of the Buddha or saints.

tháo

To unbind—To untie—To undo.

tháo gỡ

To disentangle.

tháo lui

To draw back—To retreat—To withdraw.

tháo thân

To get away—To escape.

tháo đậu

(澡豆), tức nước tro, là loại nước làm sạch ngày xưa, có công dụng như xà-phòng ngày nay, được chế biến bằng cách ngâm tro bếp rồi gạn lấy nước trong, sử dụng khi tắm, giặt, rửa... ; (澡豆) Loại bột được dùng để tẩy sạch những vết dơ trên thân thể hoặc quần áo, 1 trong 18 vật dụng của tỉ khưu. Bột này là do nghiền nát các loại đậu như đậu nành, đậu nhỏ, đậu ma sa, hoặc cỏ ca đề bà la, hay hạt lê đầu đà... mà thành. Sau khi thụ trai, các tỉ khưu phải dùng bột này rửa tay cho sạch rồi mới được cầm kinh sách. Cứ theo kinh Đại uy đức thỉnh vấn nếu không dùng táo đậu rửa sạch tay mà cầm kinh, bưng lư hương... thì sau khi chết sẽ bị đọa vào địa ngục Bất tịnh. Lại theo luật Thập tụng quyển 39 thì táo đậu được để trong thùng gỗ. [X. kinh Tố tất địa yết ra Q.hạ; luật Ngũ phần Q.26; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.10; luật Thập tụng Q.38; luật Tứ phần Q.33; luật Ma ha tăng kì Q.33].

Tháp

(s: stūpa, p: thūpa, 塔): âm dịch là Tốt Đổ Bà (窣睹婆、窣堵婆), Tốt Đổ Ba (窣堵波), Tốt Đô Bà (窣都婆), Tẩu Đẩu Bà (藪斗婆), Tẩu Đẩu Ba (數斗波), Tô Thâu Bà (蘇偷婆), Tố Đổ Ba (素睹波), Suất Đô Bà (率都婆), Tốt Đô Bà (卒都婆); dịch tắt là Tháp Bà (塔婆), Thâu Bà (偷婆), Đâu Bà (兜婆), Phật Đồ (佛圖), Phù Đồ (浮圖、浮屠), Phật Tháp (佛塔); ý dịch là cao hiển xứ (高顯處), công đức tụ (功德聚), phương phần (方墳), viên trũng (圓塚), đại trũng (大塚), trũng (塚), phần lăng (墳陵), tháp miếu (塔廟), miếu (廟), quy tông (歸宗), đại tụ (大聚), tụ tướng (聚相), linh miếu (靈廟). Nguyên lai chỉ cho nơi an trí vật Xá Lợi, v.v., của đức Phật, lấy gạch ngói, v.v., dựng thành vật kiến trúc; nhưng đời sau phần lớn hỗn đồng với nghĩa Chi Đề (s: caitya, 支提), mà chỉ chung cho nơi đức Phật Đản Sanh, Thành Đạo, Chuyển Pháp Luân, Nhập Niết Bàn, nơi các đức Phật quá khứ kinh hành, thánh địa liên quan đến tiền sanh của đức Phật, hang Bích Chi Phật (s: pratyeka-buddha, 辟支佛), cho đến những nơi an trí tượng chư Phật, Bồ Tát, hay di cốt của chư vị cao tăng, Tổ sư, v.v. người ta thường lấy đất, đá, gạch ngói, gỗ, v.v., xây dựng nên vật kiến trúc để lễ bái cúng dường. Tuy nhiên, Ma Ha Tăng Kỳ Luật (摩訶僧祇律, Taishō Vol. 22, No. 1425) quyển 33, Pháp Hoa Nghĩa Sớ (法華義疏, Taishō Vol. 34, No. 1721) quyển 11, v.v., phân biệt rõ rằng nơi nào có Xá Lợi đức Phật thì gọi là Tháp, nơi nào không có là Chi Đề. Căn cứ vào đó, 8 ngôi tháp có an trí Xá Lợi đức Phật ở Câu Thi Na (s: Kuśinagara, p: Kusinagara, 拘尸那), Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀), v.v., là Tốt Đổ Ba; còn các ngôi tháp nơi đức Phật đản sanh ở Ca Tỳ La Vệ (s: Kapilavastu, p: Kapilavatthu, 迦毘羅衛), nơi Thành Đạo dưới cây Bồ Đề ở Phật Dà Già Da (s: Buddha-gayā, 佛陀伽耶), nơi Chuyển Pháp Luân ở Vườn Lộc Uyển (s: Mṛgadāva, p: Migadāya, 鹿苑), nơi đại thần thông của Tinh Xá Kỳ Viên (p: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, 祇園精舍), nơi có ba đường bậc cấp báu (khi đức Phật từ trên cung trời Đao Lợi [s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 忉利] xuống) ở gần khúc Nữ Thành (曲女城), nơi tuyên thuyết kinh điển Đại Thừa ở núi Kỳ Xà Quật (s: Gṛdhrakūṭa, p: Gijjhakūṭa, 耆闍崛山), nơi cư sĩ Duy Ma Cật (s: Vimalakīrti, 維摩詰) thị hiện tướng bệnh ở Am La Vệ Lâm (菴羅衛林), nơi đức Phật nhập Niết Bàn ở rừng Sa La (沙羅), v.v., được gọi là Bát Đại Linh Tháp (八大靈塔, tám ngôi tháp lớn linh thiêng), đều thuộc về Chi Đề. Về nguồn gốc tạo dựng tháp, có thể suy tận thời đại đức Phật, như Thập Tụng Luật (十誦律, Taishō Vol. 23, No. 1435) quyển 56 cho biết rằng trưởng giả Tu Đạt (p: Sudatta, 須達) đã từng cầu xin lấy tóc và móng tay của đức Phật, dựng tháp thờ cúng dường. Hay Ma Ha Tăng Kỳ Luật quyển 33 có ghi rằng vua Ba Tư Nặc (s: Prasenajit, p: Pasenadi, 波斯匿) cũng từng bắt chước đức Phật, kiến lập tháp Phật Ca Diếp (s: Kāśyapa Buddha, 迦葉佛) để lễ bái cúng dường. Sau khi đức Phật nhập diệt, có 8 quốc gia như Ba Bà (波婆), Nhân Già La (人遮羅), La Ma Già (羅摩伽), v.v., nhờ Bà La Môn Hương Tánh (香姓) phân chia Xá Lợi cho, các nước ấy đều tự đem trở về dựng tháp cúng dường; và đây được xem như là khởi điểm của việc kiến tạo Tốt Đổ Ba. Ngoài ra, theo A Dục Vương Truyện (阿育王傳, Taishō Vol. 50, No. 2042) quyển 1, Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa (善見律毘婆沙, Taishō Vol. 24, No. 1462) quyển 1, v.v., cũng cho biết thêm rằng sau khi đức Phật diệt độ khoảng 200 năm, nhân dịp quân lâm đến vương quốc Ma Kiệt Đà, vua A Dục (s: Aśoka, p: Asoka, 阿育) đã cho kiến lập 84.000 bảo tháp ở khắp các địa phương của lãnh thổ này. Theo khảo chứng của học giả Nhật Bản là Dật Kiến Mai Vinh (逸見梅榮, Henmi Baiei, 1891-1977), cổ tháp trong di tích Sanchi, ngói tạo tháp ở vị trí trung tâm được vua A Dục làm từ thời xưa. Nếu nói chung về nghĩa của Tháp (gồm Tháp Bà lẫn Chi Đề), có rất nhiều kiến trúc nổi tiếng trên khắp thế giới, tỷ dụ như: (1) Tháp của di tích Bharhut (巴赫特, Ba Hách Đặc) ở miền Trung Ấn, thân tháp đã bị đỗ nát hoàn toàn, chỉ còn lại lan can bằng đá, cổng đá; suy định thuộc loại cổ tháp, được dựng vào khoảng thế kỷ thứ 2 trước CN, dưới thời vua Huân Ca (熏迦). (2) Lan can đá cổ ở vùng phụ cận Đại Tháp Phật Đà Già Da, được dựng vào khoảng thế kỷ thứ 1 trước CN. (3) Các Chi Đề ở những di tích Phật Giáo trứ danh như hang động thứ 10 của Ajanta (阿旃多, A Chiên Đa), hang động thứ 17 của Nāsik (那西克, Na Tây Khắc), ở Kārlī (迦利, Ca Lợi), Bedsā (貝德沙, Bối Đức Sa), v.v., đều được tạo dựng vào khoảng từ thế kỷ thứ 2 đến thứ 1 trước CN; là các di sản tiểu biểu quan trọng của tháp Phật thời cổ đại. (4) Ca Nị Sắc Ca (s: Kaniṣka, p: Kanisika, 迦膩色迦) của nước Kiền Đà La (s, p: Gandhāra, 犍馱羅) thuộc Bắc Ấn, vị vua thống trị vào khoảng thế kỷ thứ 1 sau CN, đã từng kiến lập một ngôi tháp cao đến 32 thước dưới Tuyết Sơn thuộc nước Ca Tất Thí (s: Kapiśa, 迦畢試). Rồi nhà vua lại cho dựng ngôi Tước Ly Phù Đồ (雀離浮圖) ở nước Kiền Đà La, cao hơn 220 thước, gồm 13 cấp; cho nên Lạc Dương Già Lam Ký (洛陽伽藍記, Taishō Vol. 51, No. 2092) quyển 5 gọi đó là “Tây Vức Phù Đồ tối vi đệ nhất (西域浮圖最爲第一, ngôi tháp số một trong những ngôi tháp ở Tây Vức [Ấn Độ]).” (5) Tại địa phương Kiền Đà La còn có một số di tích tháp cổ, đều được kiến tạo vào khoảng thế kỷ thứ 1 trước sau CN cho đến thế kỷ thứ 2, 3 sau CN; như tháp Đạt Nhĩ Mã Lạp Tư Sá (達爾瑪拉茲卡, Darmarajka), Mã Ni Kháp Lạp (瑪尼恰拉, Manikyala), Tháp Khố Đặc Y Ba Hy (塔庫特伊巴希, Takt-i-Bahi), Á Lực Mã Tư Cát Đức (亞力瑪斯吉德, Ali Masjid), v.v. (6) Tại địa phương A Nậu La Đà Bổ La (阿㝹羅陀補羅, Anuradhapura) của Tích Lan (錫蘭, Sri Lanka), vẫn còn mấy tòa cổ tháp, trong đó có Tháp Viên (p: Thūpārāma, 塔園) do vua Thiên Ái Đế Tu (p: Devānampiya-tissa, 天愛帝須) kiến lập, được xem như là ngôi tháp xưa nhất của đất nước này. Lại có Vô Úy Sơn Phật Tháp (p: Abhayagiri, 無畏山佛塔) được vua Bà Tha Già Mã Ni (p: Vaṭṭagāmaṇi, 婆他伽馬尼) kiến lập vào khoảng thế kỷ thứ 1 trước CN, cao hơn 120 thước, đường kính đáy tháp khoảng 115 thước. Ngoài ra, ngôi Lỗ Uyển Duy Lợi Tháp (魯宛維利塔, Ruwanveli) vào khoảng thế kỷ thứ 2 trước CN, được xem như tháp cổ nổi tiếng nhất. (7) Ngôi Thụy Đức Cung Phật Tháp (瑞德宮佛塔, Shwedagon) ở thủ đô Rangoon (蘭貢, Lan Cống), Miến Điện (緬甸, Myanmar), thân tháp cao đến 118 thước. Ngôi Tu Mã Đỗ Tháp (修瑪杜塔, Shwemaudau) ở cố đô Pegu (庇古, Tí Cổ), cao 102 thước; tầng bên ngoài tháp đều được trang sắc bằng vàng ròng, chung quanh có mấy mươi tòa tháp nhỏ. Bên cạnh đó, còn có Tô Lôi Tháp (蘇雷塔, Soolay) ở Rangoon; vùng phụ cận của Mandalay cũng có khoảng 450 ngôi tháp nổi tiếng khác. Tại Pagan có một số như Đạt Tân Vưu Tháp (達濱尤塔, Tapinyu), Cáo Đạt Ba Lâm Tháp (告達巴林塔, Gauda-palin), A Nan Đà Tháp (阿難陀塔, Ānanda), v.v. (8) Tại Thái Lan, có rất nhiều tháp Phật vẫn còn tại cố đô Ayuthia (猶地亞, Do Địa Á). Ngoài ra, ngôi Phỉ Lạp Thác Mỗ Ma Yết Đề Tháp (菲拉托姆麻歇提塔, Phra-Thomma chedi) tại thủ đô Bangkok (曼谷, Mạn Cốc), thân tháp cao đến 125 thước; ngôi Thanh Tự Tháp (青寺塔, Wat Ching), đều là những kiến trúc Phật Giáo trứ danh. (9) Các ngôi Duy Ân Thường Tháp (維恩常塔, Vienchang), Khoa Ma Nghênh Tháp (科摩迎塔, Chom-yong) của Lào, đều là những ngôi tháp cổ quan trọng. (10) Ngôi Bà La Phù Đồ (婆羅浮屠, Buro-Budur) ở xứ Java (爪哇, Trảo Oa) là ngôi tháp có quy mô rộng lớn, hình tứ giác, trên đỉnh có một tòa tháp lớn, chung quanh bao bọc bởi 72 tháp nhỏ với hình dáng tương đồng với tháp lớn kia; trong mỗi tháp có an trí tượng Phật, toàn bộ thể hiện hình dáng Kim Tự Tháp của Ai Cập; mỗi tháp dài rộng 123 thước, cao 42 thước, được xem như là Thánh địa vĩ đại nhất, hùng tráng nhất hiện tồn của Phật Giáo Đại Thừa trên toàn cầu. (11) Tại Nepal (尼泊爾, Ni Bạc Nhĩ), có ngôi Tư ổ Nhã Mỗ Bố Na Đức Tháp (斯塢雅姆布那德塔, Swuyambhūnāth) ở Katmandu (加德滿都, Gia Đức Mãn Đô) cũng rất to lớn, hình trạng giống như bình bát úp xuống; trên có mấy mươi tầng vòng tròn, trên đỉnh tháp có bảo cái. (12) Tháp tại Tây Tạng được gọi là Lạt Ma Tháp (喇嘛塔), nhưng trong nước này có khá nhiều tháp nhỏ. (13) Tại Trung Quốc, ở phương Bắc, Đông Bắc cũng như Mông Cổ, vẫn còn rất nhiều tháp lớn; như Lợi Tự (利寺, Leh) ở Ladakh (拉達克, Lạp Đạt Khắc); ngôi Bố Đạt Lạp Miếu (布達拉廟) ở Nhiệt Hà (熱河). Những ngôi tháp có quy mô hoành tráng tại 4 ngôi chùa ở Đông Tây Nam Bắc của Thẩm Dương (瀋陽), Liêu Ninh (遼寧); tại Đại Tháp Viện Tự (大塔院寺) trên Ngũ Đài Sơn (五臺山) vùng Sơn Tây (山西); Tịnh Minh Tự (淨明寺) ở Thái Nguyên (太原), Sơn Tây; Vĩnh An Tự (永安寺), Diệu Ứng Tự (妙應寺) ở Bắc Bình (北平), v.v. Trong số đó, ngôi tháp ở Đại Tháp Viện Tự cao 86 thước, thuộc loại lớn nhất. Việc kiến tạo tháp Phật tại Trung Quốc khởi đầu từ thời Tam Quốc (三國, nghĩa hẹp là 220-280), tức nhân sự kiện Ngô chúa Tôn Quyền (孫權, tại vị 229-252) cảm đắc Xá Lợi nơi cao tăng Khương Tăng Hội (康僧會, ?-280), vô cùng thán phục, bèn xây tháp cúng dường, lấy hiệu là Kiến Sơ Tự (建初寺). Lúc bấy giờ là năm thứ 3 (240) niên hiệu Xích Ô (赤烏). Tuy nhiên, nếu theo Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀, Taishō Vol. 49, No. 2035) quyển 54 ghi chép, ngôi tháp tại Bạch Mã Tự (白馬寺) được kiến lập vào năm thứ 10 (67) niên hiệu Vĩnh Bình (永平) đời vua Minh Đế (明帝, tại vị 57-75) nhà Đông Hán, là tháp xưa nhất của Trung Quốc. Sau đó, sự tích kiến lập tháp trãi qua các triều đại rất nổi tiếng. Như vào năm thứ 2 (281) niên hiệu Thái Khang (太康) đời vua Võ Đế Tư Mã Viêm (武帝司馬炎, tại vị 266-290) nhà Tây Tấn, tăng sĩ Huệ Đạt (慧達) cảm đắc một tòa bảo tháp cao khoảng 45 thước, rộng 22 thước ở Huyện Mậu (鄮縣), Triết Giang (浙江), bèn dựng tháp để an trí tháp ấy. Đến năm đầu (516) niên hiệu Hy Bình (熙平) đời vua Hiếu Minh Đế Nguyên Hủ (孝明帝元詡, tại vị 515-528) nhà Bắc Ngụy, Linh Thái Hậu họ Hồ sai thợ kiến lập một tòa tháp bằng gỗ cao 9 tầng tại Vĩnh Ninh Tự (永寧寺), Lạc Dương (洛陽); tháp này cao đến 320 thước, cả ngoài trăm dặm đều có thể nhìn thấy được; nơi mái tháp có treo phong linh, thường phát ra âm thanh du dương, thanh thoát khi gió thoảng qua; tiếc thay tháp này hiện không còn nữa. Trong khoảng niên hiệu Chánh Quang (正光, 520-524) đời vua Hiếu Minh Đế Nguyên Hủ, tại Tung Nhạc Tự (嵩嶽寺) ở Tung Sơn (嵩山), Hà Nam (河南), có tạo dựng một ngôi tháp bằng gạch nung, cao khoảng 64 thước, có 12 góc, 15 tầng, được xem như là ngôi tháp tối cổ của Trung Quốc. dưới thời vua Dương Đế (煬帝, tại vị 604-618) nhà Tùy, nhà vua đã từng vì Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-397), kiến lập một ngôi tháp cũng bằng gạch tại Quốc Thanh Tự (國清寺) trên Thiên Thai Sơn (天台山), cao khoảng 74 thước. Chính vua Thái Tông (太宗, tại vị 626-649) nhà Đường cũng từng đáp ứng lời thỉnh cầu của Đại Sư Huyền Trang (玄奘, 602-664) cho dựng một tòa tháp bằng gạch nung cao 58 thước tại Đại Từ Ân Tự (大慈恩寺), Tây An (西安). Ngoài ra, số lượng tháp được tạo dựng ở các tự viện Trung Quốc qua các triều đại, nhiều không thể kể xiết; nhưng nếu nói về loại bằng gỗ hiện tồn thì rất ít. Sau thời nhà Nguyên (元, 1206-1368) trở đi, vì chịu ảnh hưởng của văn hóa Lạt Ma Giáo, dạng thức của tháp cũng biến thành gọi là “hình thức bạch tháp (白塔式).” Dạng thức này vốn xuất phát từ Bắc Ấn và Đại Nguyệt Thị (大月氏), như Bạch Tháp ở Bắc Hải (北海), Bắc Bình (北平); Xá Lợi Tháp (舍利塔) ở Pháp Hải Tự (法海寺) thuộc Giang Đô (江都), Giang Tô (江蘇); Bách Linh Miếu Tháp (百靈廟塔) ở Võ Châu (武川), v.v., đều có quy chế kiến tạo khác xa với truyền thống của Trung Quốc. Về phía Nhật Bản, vào tháng 2 năm thứ 14 (585) đời Mẫn Đạt Thiên Hoàng (敏達天皇, Bidatsu Tennō, tại vị 572-585), đại thần Tô Ngã Mã Tử (蘇我馬子, Soga-no-Umako, ?-626) kiến lập một ngôi tháp trên phía Bắc đồi Đại Đã (大野, Ōno); trên đầu trụ tháp có an trí Xá Lợi do nhóm Tư Mã Đạt (司馬達) dâng cúng. Đây được xem như là tháp đầu tiên tại đất nước Phù Tang này. Đến năm thứ 15 (606) đời Suy Cổ Thiên Hoàng (推古天皇, Suiko Tennō, tại vị 592-628), Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi, 574-622) tạo lập một ngôi Ngũ Trùng Tháp (五重塔, tháp năm tầng) tại Pháp Long Tự (法隆寺, Hōryū-ji), cho đến nay vẫn còn và được đánh giá như là tháp bằng gỗ tối cổ của thế giới. Theo Tục Nhật Bản Kỷ (續日本紀, Shokunihongi) quyển 30 cho biết, vào năm thứ 8 (764) niên hiệu Thiên Bình Bảo Tự (天平寶字), Hiếu Khiêm Thiên Hoàng (孝謙天皇, Kōken Tennō, tại vị 749-758) phát nguyện tạo dựng 1.000.000 ngôi tháp 3 tầng bằng gỗ, cao 15 thước, mãi cho đến năm đầu (770) niên hiệu Bảo Quy (寶龜) mới hoàn thành; đem an trí tại các chùa trên toàn quốc. Về chủng loại của tháp thì có rất nhiều, lấy dạng thức mà phân biệt, có các loại như tháp hình thức như cái bát úp xuống, tháp như khám thờ, tháp hình trụ, tháp nhạn, tháp nhà, tháp không vách, tháp Lạt Ma, tháp 37 tầng, tháp 17 tầng, tháp 15 tầng, tháp 13 tầng, tháp 9 tầng, tháp 7 tầng, tháp 5 tầng, tháp 3 tầng, tháp vuông, tháp tròn, tháp hình lục giác, tháp hình bát giác, đại tháp, tháp Đa Bảo, tháp Du Kỳ (瑜祇), tháp Bảo Khiếp Ấn (寶篋印), tháp 5 vòng tròn, tháp quả trứng, tháp vô phùng, tháp kiểu lầu gác, tháp mái rèm kín, tháp Kim Cang Bảo Tòa (金剛寶座), mộ tháp, v.v. Nếu phân biệt theo vật cất giữ bên trong tháp thì có tháp Xá Lợi, tháp tóc, tháp móng tay, tháp răng, tháp y áo, tháp bình bát, tháp chơn thân, tháp thân bằng tro, tháp thân đã hủy hoại, tháp bình, tháp Hải Hội (海會), tháp Tam Giới Vạn Linh (三界萬靈), tháp một chữ một viên đá, v.v. Nếu lấy vật liệu dựng tháp mà phân biệt thì có tháp bằng gạch nung, tháp bằng gỗ, tháp bằng đá, tháp bằng ngọc, tháp bằng cát, tháp bằng bùn, tháp bằng đất, tháp bằng phân, tháp bằng sắt, tháp bằng đồng, tháp bằng vàng, tháp bằng bạc, tháp bằng thủy tinh, tháp bằng Pha Lê, tháp bằng Lưu Ly, tháp bằng ngà voi, tháp bằng bảo vật, tháp bằng hương, v.v. Nếu lấy ý nghĩa tính chất mà phân biệt thì có tháp cầu phước, tháp báo ân, tháp Pháp Thân, tháp trường thọ, v.v. Nếu theo dạng thái của vị trí bày biện tháp mà phân biệt thì có tháp dạng đứng một mình, tháp dạng đối lập, tháp theo dạng hàng dọc, tháp theo dạng đứng hình vuông, v.v. Trong các dạng thức vừa nêu trên, loại tháp như cái bát úp xuống là tối cổ. Trong Thí Dụ Kinh (譬喻經, Taishō Vol. 4, No. 217) có nêu ra 10 loại công đức thù thắng của việc tạo tháp: (1) Không sanh vào nước biên giới xa xôi; (2) Không chịu sự nghèo nàn khốn khổ; (3) Không có thân ngu si, tà kiến; (4) Có thể đạt được ngôi vị vua của 16 nước lớn; (5) Thọ mạng lâu dài; (6) Có thể đạt được sức mạnh Kim Cang Na La Diên (金剛那羅延); (7) Có thể đạt được phước đức to lớn không sánh bằng; (8) Nhận được từ bi của chư Phật Bồ Tát; (9) Đầy đủ Ba Minh, Sáu Thần Thông, Tám Giải Thoát; (10) Được vãng sanh về cõi Tịnh Độ ở mười phương. Ngoài ra, Phật Thuyết Tạo Tháp Công Đức Kinh (佛說造塔功德經, Taishō Vol. 16, No. 699), Phật Thuyết Tạo Tháp Diên Mạng Công Đức Kinh (佛說造塔延命功德經, Taishō Vol. 19, No. 1026), v.v., cũng nêu ra các công đức như được sống lâu, sanh lên cõi trời, diệt 5 tội Vô Gián, thành Phật, v.v. Riêng trong Hữu Nhiễu Phật Tháp Công Đức Kinh (右繞佛塔功德經, Taishō Vol. 16, No. 700) nhấn mạnh rằng nhiễu quanh tháp thì có thể xa lìa tám nạn, đầy đủ sắc tướng kỳ diệu, có được phước mạng, của báu, cho đến làm thầy của Trời và người, v.v. Đề Vị Kinh (提謂經) cũng nêu ra 5 loại công đức của việc nhiễu quanh tháp: (1) Đời sau có được tướng tốt đoan chánh; (2) Được âm thanh tốt; (3) Được sanh lên cõi Trời; (4) Được sanh vào nhà vương hầu; (5) Chứng quả Niết Bàn. Nhiễu quanh tháp có hình thức nhất định là thường đi nhiễu bên phải, đầu cúi thấp nhìn xuống đất, không được đạp nhầm lên côn trùng trên mặt đất, không được nhìn hai bên phải trái, không được khạc nhổ trước tháp, không được đứng trong tháp nói chuyện với người. Bên cạnh việc tạo tháp, nhiễu tháp như vừa nêu trên, việc tu sửa tháp, quét tháp, lễ bái tháp, v.v., cũng đều có công đức không phải nhỏ. Trong Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 7, chương Ni Ba La Quốc (尼波羅國), có đoạn: “Tinh Xá Tây Nam hữu thạch Tốt Đổ Ba, Vô Ưu vương kiến dã (精舍西南有石窣堵波、無憂王建也, phía Tây Nam Tinh Xá có tháp bằng đá, do vua Vô Ưu kiến lập).” ; 塔; C: tǎ; J: tō; S: stūpa; P: thūpa; dịch nguyên âm là Tháp-bà, dịch nghĩa là Cao hiển xứ, Miếu, Linh miếu, cũng được gọi là Bảo tháp; |Kiến trúc Phật giáo, một trong những đặc trưng của chùa chiền thánh tích đạo Phật.|Từ xưa, tháp trước hết là nơi chứa đựng Xá-lị (s: śarīra) các vị Phật hoặc các bậc Thánh. Tháp cũng được xây dựng tại các thánh tích quan trọng, kỉ niệm cuộc đời của đức Thích-ca Mâu-ni (Lam-tì-ni, Giác Thành, Câu-thi-na, Vương xá). Dưới thời vua A-dục, thế kỉ thứ 3, nhiều tháp được xây để thờ các vị thánh, ngày nay vẫn còn.||H 52: Ba dạng tháp khác nhau (từ trái sang phải): nghệ thuật Ấn Ðộ, nghệ thuật Càn-đa-la và Tây Tạng.|Tháp không nhất thiết là những nơi chứa đựng Xá-lị, đó cũng là nơi chứa đựng kinh điển, tranh tượng. Một trong những tháp lớn nhất còn tới ngày nay là Bô-rô-bu-đua (e: borobudur) tại Nam Dương (indonesia). Tháp cũng là một trong những đối tượng thiền quán, thường thường có nhiều ý nghĩa tượng trưng. Các bậc thang lên tháp đôi lúc biểu hiện cho các khái niệm Ðại thừa, như bốn bậc là từ, bi, hỉ, xả hay mười bậc là Thập địa. Tại Kiến-chí (sāñcī), Ấn Ðộ, người ta tìm thấy những tháp xưa nhất. Ðó là những kiến trúc hình bán cầu xây trên nền hình tròn. Trên bán cầu thường có những kiến trúc bằng đá. Trong tháp thường có những hộp đựng xá-lị, các hộp đó cũng có hình tháp, làm bằng vật liệu quý, đặt ngay tại giữa bán cầu hoặc trên đỉnh. Từ các tháp tại Kiến-chí, người ta xây các kiến trúc tương tự, kể từ đầu Công nguyên. Ngay cả kiến trúc các chùa tại Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam cũng có nguồn gốc từ các tháp này.|Một loại kiến trúc tháp khác, xuất phát từ Càn-đà-la (Tây bắc Ấn Ðộ), trong đó nền hình tròn bằng phẳng nói trên được thay thế bằng một nền hình ống, chia thành nhiều đoạn. Phần bán cầu cũng được kéo dài ra, nhưng so với nền hình ống thì nhỏ hơn trước. Phần nằm trên bán cầu cũng được kéo dài, chia nhiều tầng, biến thành hình nón. Khoảng giữa những năm 150 và 400 sau Công nguyên, phần gốc hình ống lại biến thành vuông và trở thành phổ biến tại vùng Nam Á.|Tại Tây Tạng, kiến trúc tháp có mối liên hệ trực tiếp với giáo pháp Ðại thừa. Bốn bậc thấp nhất của tháp tượng trưng cho bốn tâm từ, bi, hỉ, xả. Trên đó là mười bậc tượng trưng cho mười bậc tu học của Bồ Tát (Thập địa). Trung tâm của tháp gồm có một kiến trúc hay một linh ảnh, tượng trưng cho Bồ-đề tâm (s: bodhicitta). Trên đó là 13 tầng tháp, tượng trưng cho các phương tiện truyền pháp khác nhau, trên đó là một hoa sen năm cánh, tượng trưng cho Ngũ Phật và cao nhất là hình mặt trời tượng trưng cho Chân như.

tháp

(塔) Phạm: Stùpa. Pàli:Thùpa. Hán âm: Tốt đổ bà, Tốt đô bà, Tẩu đẩu bà, Tẩu đẩu ba, Tô thâu bà, Tố đổ ba, Tư thâu pha, Suất đô bà. Gọi tắt: Tháp bà, Thâu bà, Đâu bà, Phật đồ, Phù đồ, Phật tháp. Hán dịch: Cao hiển xứ, Công đức tụ, Phương phần, Viên trủng, Đại trủng trủng, Phần lăng, Tháp miếu, Miếu, Qui tông, Đại tụ, Tụ tướng, Linh miếu. Vốn chỉ cho tòa kiến trúc để an vị xá lợi của Phật, thường được xây bằng gạch, nhưng đến đời sau thì tháp phần nhiều bị lẫn lộn với Chi đề (Phạm:Caitya) mà chỉ chung cho nơi Phật đản sinh, nơi Phật thành đạo, nơi Phật chuyển pháp luân, nơi Phật nhập Niết bàn, nơi kinh hành của Phật quá khứ, thánh địa trong bản sinh đàm của Phật, hang Bích chi phật, cho đến các kiến trúc an vị tượng của chư Phật, Bồ tát, lốt chân Phật, di cốt các bậc Tổ sư cao tăng, được xây cất bằng đất, đá, gạch, gỗ... để làm nơi lễ bái, cúng dường... Nhưng, cứ theo luật Ma ha tăng kì quyển 33 và Pháp hoa nghĩa sớ quyển 11 thì tháp và chi đề khác nhau ở chỗ có xá lợi Phật và không có xá lợi Phật, hễ có xá lợi Phật thì gọi là Tháp, không có xá lợi Phật thì gọi là Chi đề. Theo đó thì 8 ngôi tháp ở Câu thi na, Ma yết đà... có an vị xá lợi Phật là Tốt đổ ba, còn 8 đại linh tháp như tháp ở nơi Phật đản sinh, trong thành Ca tì la, tháp nơi Phật thành đạo dưới gốc cây Bồ đề ở Phật đà già da, tháp nơi Phật chuyển pháp luân ở vườn Lộc dã, tháp nơi Phật hiện đại thần thông ở tinh xá Kì hoàn, tháp nơi Tam đạo bảo giai bên cạnh thành Khúc nữ, tháp nơi Phật thuyết giảng kinh Đại thừa ở núi Kì xà quật, tháp nơi Duy ma thị hiện có bệnh trong rừng Am ma vệ và tháp nơi Phật niết bàn trong rừng Sa la thì thuộc về Chi đề. Về nguồn gốc của việc xây tháp, ta có thể biết đã bắt đầu ngay từ lúc đức Phật còn tại thế, như luật Thập tụng quyển 56 đã ghi: Trưởng giả Tu đạt từng xin tóc và móng tay của đức Phật để xây tháp cúng dường; còn luật Ma ha tăng kì quyển 33 thì ghi: Vua Ba tư nặc vâng lời Phật dạy xây tháp Phật Ca diếp để lễ bái cúng dường. Sau khi đức Phật nhập diệt thì 8 nước như: Nước Ba bà, nước Già la, nước La ma già... giành nhau lấy xá lợi của Phật, do đó, Bà la môn Hương tính phải chia xá lợi Phật làm 8 phần đều nhau cho 8 nước, mỗi nước đều mang về xây tháp cúng dường, đây là những ngôi tháp xá lợi được xây dựng đầu tiên trong lịch sử Phật giáo. Ngoài ra, theo A dục vương truyện quyển 1 và Thiện kiến luật tì bà sa quyển 1, khoảng 200 năm sau Phật nhập diệt, vua A dục nước Ma yết đà Từng xây 84.000 ngôi tháp báu tại các nơi trên khắp lãnh thổ. Cứ theo sự khảo chứng của học giả Nhật bản là Dật kiến Mai vinh thì ngôi tháp bằng gạch trong phần ruột ngôi tháp cổ(như hình vẽ) ở di tích Sơn kì (Sanchi) chính là do vua A dục thủa xưa xây dựng. Nếu nói theo danh nghĩa chung của Tháp(kể cả Tháp bà lẫn Chi đề) thì các nơi trên thế giới córấtnhiều kiến trúc nổi tiếng như:1. Tháp di tích ở Ba hách đặc (Bharhut) thuộc Trung Ấn độ, thân tháp đã hoàn toàn hoại diệt, chỉ còn lan can bằng đá, cửa đá, được suy đoán là ngôi tháp xây dựng vào thời Vương triều Huân ca thế kỉ II trước Tây lịch. 2. Lan can xưa bằng đá ở vùng phụ cận Đại tháp Phật đà già da được kiến tạo vào khoảng thế kỉ I trước Tây lịch. 3. Các di tích Chi đề nổi tiếng của Phật giáo như ở hang thứ 10 tại A chiên đa (Ajantà), hang 17 ở Na tây khắc (Nàsik), ở Ca lị (Kàrlì), ở Cụ đức sa (Bedsà)... đều được kiếntạovào khoảng thế kỉ II đến thế kỉ I trước Tây lịch, là những kiến trúc đại biểu quan trọng cho các tháp Phật kiểu cổ còn lại. 4. Vua Ca nị sắc ca thống lãnh nước Kiện đà la ở miền Bắc Ấn độ vào khoảng thế kỉ I Tây lịch, có kiến tạo tòa tháp cao 32m dưới chân núi Tuyết sơn tại nước Ca tất thí. Vua còn xây tháp Tước li ở nước Kiện đà la, cao hơn 220m, gồm 13 tầng. Lạc dương già lam kí quyển 5 gọi ngôi tháp này làtòatháp bậc nhất trong các tòa tháp ở Tây vực. 5. Địa phương Kiện đà la còn có nhiều nơi di tích cổ tháp (xem hình ở dưới), đều được kiến tạo vào khoảng trước sau Tây lịch đến thế kỉ II, III, như các tòa tháp ở Đạt nhĩ mã lạp tư ca (Dharmarajka), Mã ni cáp lạp (Manikyala), Tháp khố đặc y ba hi (Takt-i-Bahi), Á lực mã tư cát đức (Ali Masjid)... 6. Ở A nâu đà bổ la tại Tích lan (nay là Sri Lanka), hiện còn vài ngôi tháp cổ, trong đó, Tháp viện (Pàli:Thùpàràma, cũng gọi Tháp tự) là do vua Thiên ái đế tu (Pàli:Devànampiya-tissa) kiến tạo, là ngôi tháp xưa nhất trên đảo Tích lan. Còn có Vô úy sơn Phật tháp (Pàli: Abhayagiri) được xây dựng vào khoảng thế kỉ I trước Tây lịch, cao hơn 120m, đường kính ở phần đáy của nền tháp khoảng 115m, đường kính của thân tháp khoảng 86m, do vua Bà tha già mã ni (Pàli:Vaỉỉagamani) là người hộ trì Vô úy sơn tự phái kiến tạo. Còn tháp Lỗ uyển duy lợi (Ruwanvelì) được xây dựng vào khoảng thế kỉ II trước Tây lịch cũng là tòa tháp cổ rất nổi tiếng. 7. Ngôi Phật tháp Thụy đức cung (Shwedagon) ở Ngưỡng quang (Rangoon), ngoại cảnh Đại tháp kiểu bát úp ở Sơn kì, Ấn độ.Tháp Phật xây theo kiểu Kiện đà la Miến điện, thân tháp cao tới 118m. Tháp Tu mã đỗ (Shwemaudau) ở Tì cổ (Pegu) cao 102m, toàn bộ mặt ngoài của tháp được trang sức bằng vàng ròng, chung quanh nền tháp có vài mươi ngôi tháp nhỏ. Ngoài ra, tháp Tô lôi (Soolay) ở Rangoon, 450 tòa tháp ở vùng phụ cận Ngõa thành (Mandalay, xưa gọi là Mạn đức lặc), tháp Đạt tân vưu (Tapinyu), tháp Cáo đạt ba lâm (Gauda-palin), tháp A nan đà (Ànanda)... ở Phạ căn đều là những tháp nổi tiếng của Miến điện. 8. Ở Thái lan, tại vùng Cố đô Ayuthia hiện còn nhiều tòa tháp Phật thời cổ (xem hình dưới). Ngoài ra, tháp Phra-Thomma chedi ở Bangkok, thân tháp cao tới 125m, tháp này và tháp Wat Ching đều là các tòa tháp Phật nổi tiếng trong nước. 9. Ở nước Lào, tháp Vienchang, tháp Chomyong đều là những ngôi tháp cổ quan trọng hiện còn. 10. Ở Java, Indonesia, tháp Buro-Budur là tòa tháp có qui mô to lớn, nền đàn phức tạp, hình 4 góc, trên đỉnh tháp có một tòa đại tháp và 72 ngôi tháp nhỏ có hình dáng giống nhau bao bọc chung quanh đại tháp, trong mỗi tháp đều có tượng Phật, toàn bộ kiến trúc có hình Kim tự tháp kiểu bậc thang, mỗi chiều rộng 123m, cao 42m (nay chỉ còn 31,5m), là Thánh địa hoành tráng nhất, hùng vĩ nhất hiện còn của Phật giáo Đại thừa trên toàn cầu. 11. Tại Nepal, tháp Swuyambhùnàth ở Katmandu là tòa tháp lớn nhất, hình dáng giống như ngôi tháp kiểu bát úp(xem hình dưới), phía trên có tướng luân (tướng bánh xe) mười mấy lớp, trên chóp tháp đặt thiên cái tự hình thành một phong cách riêng. 12. Ở Tây tạng, tháp quen gọi là Lạt ma tháp, nhưng trên đất Tây tạng phần nhiều là tháp nhỏ. 13. Ở phía bắc, đông bắc Trung quốc và ở Mông cổ còn lại nhiều ngôi tháp lớn, như tháp Lợi tự ở Lạp đạt khắc, miếu Bố đạt lạp ở Nhiệt hà, 4 chùa Đông, Tây, Nam, Bắc ở Thẩm dương, tỉnh Liêu ninh, chùa Đại tháp viện ở núi Ngũ đài, tỉnh Sơn tây, chùa Tịnh minh ở huyện Thái nguyên, tỉnh Sơn Tây, chùa Diệu ứng ở Bắc bình... những tòa tháp ở các chùa nêu trên đều có qui mô rộng lớn. Trong đó, ngôi tháp ở chùa Đại tháp viện cao tới 86m, là ngôi tháp lớn nhất. Tại Trung Quốc, tháp Phật được kiến tạo sớm nhất là vào thời Tam quốc. Bấy giờ, vua nước Ngô là Tôn quyền rất thán phục việc ngài Khang tăng hội cảm được xá lợi bèn xây tháp cúng dường vào năm Xích ô thứ 3 (240), gọi là Kiến sơ tự. Nhưng nếu theo Phật tổ thống kỉ quyển 54 thì vào năm Vĩnh bình thứ 10 (67), vua Minh đế nhà Đông Hán đã xây tháp ở chùa Bạch mã, như vậy, tháp chùa Bạch mã là ngôi tháp đầu tiên ở Trung quốc. Về sau, có các sự tích về việc kiến tạo tháp qua các đời tương đối nổi tiếng như: Vào năm Thái khang thứ 2 (281) đời Tây Tấn, ngài Tuệ đạt ở huyện Mậu, tỉnh Chiết giang, cảm được từ trong đất một ngôi tháp Tháp Phật ở Ayuthia tại Thái Lan Tháp Swuyambhùnàth ở Katmandu, Nepal.cao khoảng 45m, rộng khoảng 22m, liền xây tháp ở chỗ đó để ghi nhớ. Vào niên hiệu Hi bình năm đầu (516) đời Bắc Ngụy, LinhThái hậu sai thợ kiến tạo 1 tòa tháp gỗ 9 tầng ở chùa Vĩnh ninh tại Lạc dương, cao tới 320m, cách xa trăm dặm vẫn có thể thấy được, những cái chuông nhỏ treo trên mái kêu leng keng mỗi khi gió thổi, ở xa 10 dặm cũng có thể nghe được. Đây là kiến trúc bằng gỗ to lớn, rất quí, nhưng tiếc thay nay đã không còn. Khoảng năm Chính quang (520-524) đời vua Hiếu minh đế nhà Bắc Ngụy, chùa Tung nhạc ở núi Tung Sơn, tỉnh Hà Nam, xây một tòa tháp gạch cao khoảng 64m, 15 tầng, 12 cạnh, là tòa thápxưa nhất hiện còn tại Trung Quốc. Vua Dượng đế nhà Tùy xây một ngôi tháp gạch ở chùa Quốc thanh tại núi Thiên thai để cúng dường Đại sư Thiên thai. Đây là ngôi tháp hình lục giác, 9 tầng, cao 74m. Vua Thái tông nhà Đường xây một tòa tháp gạch ở chùa Đại từ ân tại Tây an, cao 58m để cúng dường Đại sư Huyền trang. Ngoài ra, những tháp được xây dựng trong các chùa viện qua nhiều triều đại tại Trung Quốc thực không thể kể hết, nhưng các tháp kiến trúc bằng gỗ thì còn lại rất ít. Từ đời Nguyên, Minh về sau, do chịu ảnh hưởng văn hóa Lạt ma, kiểu Bạch tháp trở nên phổ biến, đó là do kiểu tháp Bắc Ấn độ và Đại nguyệt chi diễn biến mà thành, như Bạch tháp ở Bắc hải, Bắc bình, tháp xá lợi ở chùa Pháp hải tại huyện Giang Đô, tỉnh Giang Tây, tháp Bạch linh miếu ở Vũ xuyên... đều khác xa với qui chế tháp Phật truyền thống của Trung quốc. Bởi vì qui chế kiến trúc tháp Phật ở Trung Quốc rất chú trọng sự phối trí nghiêm chỉnh, nền tháp chắc chắn, đẩu củng uyển chuyển, mĩ lệ... như tháp Lục hòa, tháp Hoa ở chùa Lục dung, tháp chùa Nghinh giang, tháp chùa Tam tháp ở Gia hưng... Tại Nhật bản, vào tháng 2 năm Mẫn đạt Thiên hoàng 14 (585) Đại thần Tô mã ngã tử kiến tạo 1 tòa tháp ở phía bắc gò Đại dã, trên đầu trụ tháp đặt xá lợi mà Tư mã đạt thỉnh được. Đây là sự mở đầu cho việc xây tháp ở Nhật bản. Vào năm Suy cổ Thiên hoàng 15 (606), Thái tử Thánhđức làm 1 tòa tháp 5 tầng bằng gỗ ở chùa Pháp long đến nay vẫn còn. Đâylà ngôi tháp gỗ xưa nhất trên thế giới. Lại theo Tục Nhật bản kỉ quyển 30, vào năm Thiên bình bảo tự thứ 8 (764), Thiên hoàng Hiếu khiêm phát nguyện tạo một trăm vạn ngôi tháp bằng gỗ 3 tầng cao 15cm, mãi đến niên hiệu Bảo qui năm đầu (770) mới hoàn thành, tôn trí ở khắp các chùa trên cả nước. Tháp có rất nhiều chủngloại, nếu phân biệt theo kiểu dáng thì cóthápkiểu bát úp, tháp khám, tháp trụ, tháp nhạn, tháp lộ, tháp nhà, tháp không vách, tháp Lạt ma, tháp 37 tầng, tháp 17 tầng, tháp 15 tầng, tháp 13 tầng, tháp 9 tầng, tháp 7 tầng, tháp 5 tầng, tháp 3 tầng, tháp vuông, tháp tròn, tháp hình 6 góc, tháp hình 8 góc, đại tháp, tháp Đa bảo, tháp Du kì, tháp Bảo khiếp ấn, tháp Ngũ luân, tháp hình trứng, tháp vô phùng, tháp kiểu lầu gác, tháp mái dày, tháp tòa Kim cương báu, tháp mộ, tháp gỗ, tháp có góc... Nếu phân biệt theo các vật được đặt trong tháp thì có tháp xá lợi, tháp tóc, tháp móng tay, tháp răng, tháp áo, tháp bát, tháp chân thân, tháp thân tro (đã thiêu), tháp thân vụn(những mẩu xương Tháp 5 tầng ở chùa Pháp long tại Nhật Bản còn lại sau khi thiêu), tháp bình, tháp hải hội, tháp tam giới vạn linh(vong linh chúng sinh trong 3 cõi)... Nếu phân biệt theo chất liệu kiến trúc thì có tháp gạch, tháp gỗ, tháp đá, tháp ngọc, tháp cát, tháp bùn, tháp đất, tháp sắt, tháp đồng, tháp vàng, tháp bạc, tháp thủy tinh, tháp pha lê, tháp lưu li, tháp báu, tháp hương... Nếu phân biệt theo ý nghĩa tính chất thì có tháp cầu phúc, tháp báo ân, tháp pháp thân, tháp thọ... Nếu phân biệt theo vị trí tháp được sắp bày theo các kiểu thì có tháp kiểu cô lập, tháp kiểu đối lập, tháp kiểu bài lập(đứng theo hàng lối), kiểu phương lập(đứng vuông vức theo 4 góc), kiểu củng lập(đứng vòng tròn)... Trong các kiểu tháp thì có tháp kiểu bát úp là xưa nhất. Theo luật Ma ha tăng kì quyển 33 và Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 18, tháp kiểu bát úp được cấu tạo thành bởi các bộ phận: Lan can, nền đàn, thân tháp, bát úp đầu bằng, cột luân tướng, luân tướng, bình báu... Trong các di tích hiện còn thì Đại tháp ở Sơn kì (Sanchi) có cấu trúc điển hình nhất và phù hợp với qui định trong luật nhất(xem hình Đại tháp Sơn kì ở trên). Luật đã dẫn còn nói: Nếu xây tháp để cúng dường Như lai thìphải đầy đủ các bộ phận cấu trúc nói trên; nếu xây tháp cúng dường Độc giác thì không được đặtbình báu; nếu xây tháp cúng dường A la hán thì luân tướng không được làm quá 4 tầng; nếu là tháp của Bất hoàn quả thì luân tướng không được làm quá 3 tầng; nếu là tháp của Nhất lai quả thì luân tướng không được quá 2 tầng; nếu là tháp của ngườiDự lưu quả thì luân tướng không được quá một tầng; nếu là tháp của người lành trong phàm phu thì chỉ được làm đầu bằng chứ không được dùng luân cái. Lan can bao bọc 4 chung quanh tháp là kết giới phạm vi tháp, hồi lang(lối đi vòng quanh) của các Đại tự tháp đời sau chính đã bắt nguồn từ lan can này. Mặt bằng của nền đàn ở Ấn độ thường là hình tròn, nhưng ở Trung quốc và Nhật bản phần nhiều có cấu trúc hình 4 góc hoặc 8 góc. Thân tháp được xây trên nền đàn, như thápDhamekh ở vườn Lộc dã, tháp trong Quật viện A chiên đa, tháp ở vùng Kiện đà la... đều là những tháp cấu trúc theo kiểu cổrất nổi tiếng, nhất là mặt ngoài thân tháp của tháp Dhamekh có khắc các bức tranh và hoa sen rất tinh xảo, còn tháp ở Kiện đà la thì mặt ngoài làm Phật khám để trang nghiêm thân tháp. Đến đời sau, thân tháp dần dần biến thành cấu trúc nhiều tầng, vào khoảng thế kỉ III, IV thì kiểu thân tháp 3 tầng đã xuất hiện; về sau lại có các cấu trúc gồm 5 tầng, 7 tầng, 9 tầng, 13 tầng, 15 tầng, 17 tầng, cho đến 37 tầng. Vấn đề thân tháp diễn biến thành hình thức nhiều tầng có lẽ cũng liên quan và phù hợp với kinh luật. Chẳng hạn như Tì nại da tạp sự quyển 18 (Đại 24, 291 hạ) nói: Số tầng của tướng luân hoặc 1, 2, 3, 4, cho đến 13; tức là thân tháp nhiều tầng và tướng luân nhiều tầng thực ra có quan hệ mật thiết với nhau. Về những ngôi tháp nhiều tầng nổi tiếng hiện còn thì có: Tháp gạch gồm 15 tầng 12 cạnh ở chùa Tung nhạc tại Tung sơn, tháp Tiểu nhạn gồm 15 tầng ở chùa Đại tiến phúc tại Tây an, tháp gạch gồm 15 tầng ở chùa Hương Tích, Tây An, Trung Quốc; tháp đá gồm 13 tầng ở chùa Tịnh từ ở Thượng khánh bắc đạo, Hàn quốc; tháp đá gồm 13 tầng ở chùa Bát nhã tại chùa Đại hòa, Nhật bản... Các tháp cổ nổi tiếng từ 13 tầng trở xuống tại các nước Phật giáo còn rất nhiều không thể kể xiết... Kiểu bát úp là thể bán cầu úp xuống, giống như cái bát úp. Phần mộ ở Trung Quốc và các nước Đông phương nói chung từ xưa đã có hình dáng cái gò nhỏ, rất phù hợp với kiểu bát úp của tháp Phật. Nhưng đến đời sau thì hình bán cầu của bát úp dần dần cao thêm, như tháp Dhamekh ở vườn Lộc dã, các tháp ở Kiện đà la và Tích lan, hình bát úp đều rất cao. Còn như tháp Ổ đức khương ở Phra- Prang thì hình bát úp đã cao bằng quả đạn đại bác. Nhưng tháp ở Tây tạng thì ngược lại, phía trên phình rộng ra, phía dưới thì thu nhỏ lại, giống hình cầu. Ở Trung Quốc và Nhật bản thì hình dáng bát úp đã rút lại đến mức cực nhỏ, chỉ còn hình thức mà thôi. Tướng luân cũng gọi là Bàn cái, Thừa lộ bàn, Luân cái là kiến trúc hình chiếc mâm tròn, chồng thành nhiều lớp trên đầu bằng, ở giữa có cây cột xuyên qua, trên chóp có lọng che. Ở Ấn Độ cổ đại đã có tướng luân, số luân(vòng tròn) có nhiều lớp, như ngôi tháp Tước li ở Kiện đà la có 13 lớp tướng luân, ngôi tháp ở chùa Vĩnh ninh tại Lạc dương, Trung Quốc, có 30 lớp, còn Đại tháp ở Sơn kì (Ấn độ) thì chỉ có 3 luân. Các chùa viện ở Nhật Bản thường có tháp 9 tướng luân, cho nên cũng gọi là Cửu luân. Ngoài tháp hình bát úp ra còn có nhiều kiểu tháp như: 1. Tháp Đa bảo: Bắt nguồn từ tháp đức Phật Đa bảo nói trong phẩm Kiến bảo tháp kinh Pháp hoa, tức là ngôi tháp được phụ thêm trên bảo tháp 1 tầng nói chung. 2. Tháp Du kì: Tháp được kiến tạo căn cứ theo kiểu tháp được nói trong kinh Du kì, là biến dạng của bảo tháp phổ thông, tức ở chính giữa và 4 góc trên nóc tháp có lập 5 tướng luân, trên mỗi tướng luân đều có thêm 5 luân. 3. ThápBảo khiếp ấn: Nền đàn và thân tháp mang hình dạng núi Tu di, trên thân tháp có lọng che hình vuông, bên trong có cất giữ Đà la ni Bảo khiếp ấn. 4. Cột tướng luân: Kiểu tháp căn cứ theo kiểu tháp nói trong kinh Vô cấu tịnh quang đà la ni, tức chỉ tạo dựng phần tướng luân có hình dáng cột tháp và được coi đó là tháp. 5. Tháp có thân hình cái bình: Như tháp bảo bình, tháp uyển, tháp năng tác... 6. Tháp Ngũ luân(cũng gọi Ngũ luân tháp bà, Ngũ luân bình tháp bà): Phần nhiều là kiểu tháp được Mật giáo sử dụng. Tức chồng xếp 5 tảng đá có hình dángvuông, tròn, tam giác, bán nguyệt và bảo châu, trên đó lần lượt viết chữ chủng tử của Ngũ đại , theo thứ tự tượng trưng cho 5 đại: Đất, nước, lửa, gió, không. 7. Tháp cái lọng:Tức tháp được tạo lập bằng cách dựng câytrụ vuông, trên đầu trụ làm lọng che và đặt bảo châu trên chóp cây trụ. 8. Tháp LụcĐịa tạng: Tháp được tạo lập bằng cách trên cây trụ vuông an vị Lục địa tạng. 9. Tháp vô phùng: Tức chỉ dùng 1 tảng đá bia làm bia mộ của vị tăng quá cố; hoặc dùng 1 khối đá có hình quả trứng làm bia mộ thì gọi là Noãn tháp. 10. Tháp gỗ: Trên tấm ván nhỏdài khắc hình dạng tháp Ngũ luân, thông thường dựngtrên đất mộ để cầu âm phúc cho người chết. 11. Tháp có góc cạnh: Cũng là biến dạng của tháp Ngũ luân, tức trên cây cột hình 4 góc nhỏ và dài ghi văn kinh tiếng Phạm, thông thường dùng trong hội cúng dường khi khánh thành nhà cửa, được dựng ở trước nhà. 12. Tháp kiểu lầu gác: Như tháp gỗ ở huyện Ứng, tỉnh Sơn tây, tháp gạch ở chùa Khai Nguyên, huyện Định, tỉnh Hà Bắc, tháp lưu li ở chùa Hựu quốc, phủ Khai phong, tỉnh Hà nam, Trung quốc... là những di tích tháp kiểu lầu gác nổi tiếng còn lại. 13. Tháp mái dày: Như tháp chùa Tung nhạc tại Tung sơn, tỉnh Hà nam và tháp chùa Thiên ninh ở Bắc bình. 14. ThápLạt ma: Như tháp trắng ở chùa Diệu ứng tại Bắcbình. 15. Tháp Kim cương bảo tọa: Như tháp chùa Chân giác ở Bắc bình. Ngoài các kiểu tháp nói trên, còn có hình tháp cao chót vót đến tận mây, là tượng trưng cho Phật giáo của Nhật bản. Lại trong các loại kiểu tháp ghi trên, phần nhiều là các kiểu tạo tháp đặc thù chỉ Nhật Bản mới có. Ở Trung Quốc, dáng vẻ bề ngoài của tháp Phật thông thường được chia làm 2 loại là hình tháp tầng và hình tháp mái. Trong các di tích tháp đời Đường thì tháp Đại nhạn 7 tầng hình 4 góc ở chùa Từ ân tại huyện Tây An, tỉnh Thiểm Tây, là đại biểu cho hình tháp tầng; còn tháp Tiểu nhạn 13 mái hình 4 góc ở chùa Tiến phúc là đại biểu cho hình tháp mái. Nếu phân biệt theo những vật được đặt ở bên trong thì tháp có các loại như sau:1. Tháp xá lợi(cũng gọi tháp Phật): Tức nghĩa gốc của Tốt đổ ba (Phạm:Stùpa), là tháp thờ xá lợi được kết thành sau khi hỏa thiêu thân đức Phật. 2. Tháp thờ tóc: Tháp được kiến lập để cúng dường tóc của Phật. 3. Tháp thờ móng tay: Tức tháp được xây để cúng dường móng tay, móng chân của Phật. Loại tháp này bắt đầu từ Trưởng giả Tu đạt. 4. Tháp thờ răng: Tháp cúng dường răng của đức Phật. 5. Tháp chân thân: Tháp cúng dường chân thân(nhục thân)của các bậc cao tăng, như tháp chân thân của ngài Tịnh tạng ở núi Tung Sơn được xây dựng vào đời Đường, tháp chân thân của ngài Ma đằng được kiến tạo vào đời Hậu Tấn... đều là các di tích nổi tiếng. 6. Tháp khôi thân: Tức sau khi bậc cao tăng được hỏa thiêu, phần tro (khôi) còn lại được thu gom và xây tháp để thờ. 7. Tháp toái thân: Tức không đặt toàn thân hoặc toàn bộ tro than sau khi hỏa thiêu, mà chỉ đặt một phần vào trong tháp để thờ, như tháp Toái thân của ngài Huyền trang, tức tháp Từ ân, ở Nhật nguyệt đàm. 8. Tháp phổ thông(cũng gọi Phổ đồng, tháp Hải hội): Tức tháp thờ chung di cốt của chúng tăng. Tháp Đại Nhạn, Tháp Tiểu Nhạn Tháp TừÂn ở Nhật nguyệt đàm9. Tháp tam giới vạn linh: Tức tháp thờ chung di cốt của những người hữu duyên vô duyên. 10. Tháp một chữ một viên đá: Tức khắc hoặc viết một chữ của các kinh như kinh Pháp hoa... lên một hòn đá nhỏ, rồi chôn xuống đất, sau đó xây tháp lên trên để cúng dường. Ngoài ra, kinh Quán hư không tạng bồ tát cũng nói đến 4 tòa tháp của đức Phật là tháp tóc, tháp áo, tháp bát và tháp răng ở trên cõi trời Đao lợi, gọi là Đế thích tứ tháp. Bốn tháp này được ghi trong Thích ca Như lai thành đạo kí chú quyển hạ thì tháp áo được thay thế bằng tháp mũi tên.Còn phẩm Pháp sư trong kinh Pháp hoa thì cho rằng kinh là Pháp thân của Như lai, vì thế cũng nên xây tháp cúng dường. Những tháp cất giữ tiêu biểu điển hình là tháp sắt ở Nam thiên trúc, trong đó kinh Kim cương đính được cất giữ; tháp Nam ở chùa Vân cư, núi Phòng sơn, Trung quốc, ở dưới chôn giấu 180 tấm bia kinh lớn và 4080 tấm bia kinh nhỏ. Ngoài ra, ở bên trong tháp hoặc ở thân tháp cũng khắc hoặc vẽ hình đồ 8 tướng thành đạo của đức Phật, như bức phù điêu Bát tướng thành đạo được khắc ở nền đàn của tháp xá lợi chùa Thê hà ở tỉnh Giang tô là di tích rất nổi tiếng. Nếu phân biệt theo nguyên liệu kiến trúc thì đại khái tháp có các chủng loại sau đây:1. Tháp gạch: Các di tích hiện còn ở Tích lan, Miến điện và các nước vùng Tây vực đại đa số là tháp gạch. Ở Trung quốc, di tích tháp nổi tiếng hiện còn, có giá trị về nghệ thuật kiến trúc rất cao là tòa tháp gạch gồm 15 tầng, có hình 12 cạnh ở chùa Tung nhạc, núi Tung sơn, phủ Đăng phong, tỉnh Hà nam, rất tráng lệ, hùng vĩ. Còn có tháp gạch gồm 13 tầng, 8 cạnh ở chùa Thiên ninh tại Bắc bình, tháp gạch 9 tầng ở chùa Trùng hưng, huyện Trâu, tỉnh Sơn Đông, tháp Lục hòa ở chùa Khai hóa tại Hàng châu... đều là những ngôi tháp gạch rất lớn, cao đến mấy mươi mét. 2. Tháp gỗ: Như ngôi tháp Tước li ở Ấn Độ do vua Ca nị sắc ca kiến tạo nói ở trên, ngôi tháp chùa Vĩnh ninh ở Lạc Dương, Trung Quốc... đều là những tháp được kiến trúc bằng gỗ rất lớn. Nhưng những ngôi tháp gỗ đời xưa hiện nay rất hiếm thấy, vì dễ bị gió mưa, binh lửa tàn phá nên ít còn tồn tại. Ngôi tháp bằng gỗ xưa nhất hiện còn tại Trung quốc là tháp Thích ca ở chùa Phật cung, huyện Ứng, tỉnh Sơn Tây, được tạo lập vào năm Thanh ninh thứ 2 (1056) đời Liêu. Tháp gồm 5 tầng, hình 8 góc, cao tới 115m, cấu trúc rất chắc chắn. Thời Tháp gạch ở chùa Tung nhạc Tháp Thích ca làm bằng gỗ xưa nhất tại Trung Quốc vua Thuận đế nhà Nguyên, huyện Ứng bị động đất lớn suốt 7 ngày mà tòa tháp này vẫn sừng sững bất động. Còn ngôi tháp gồm 9 tầng, có hình 8 góc ở chùa Thiên ninh, huyện Chính định, tỉnh Hà bắc, cũng là tòa tháp cổ làm bằng gỗ rất nổi tiếng. Riêng Nhật bản, vì những trận động đất thường xảy ra nên phần nhiều tháp đều được kiến trúc bằng gỗ, trong đó, tòa tháp 5 tầng ở chùa Pháp long, do Thái tử Thánh đức tạo lập vào năm Suy cổ Thiên hoàng 15 (606) là nổi tiếng. 3. Tháp đá: Ở Ấn độ từ xưa phần nhiều tháp được cấu trúc bằng đá. Tại Trung Qquốc, như các ngôi tháp hiện còn ở quần thể hang đá Vân cương tại Đại đồng phần nhiều cũng được kiến tạo bằng đá. Tòa tháp đá 4 cửa ở chùa Thần thông, huyện Tế Nam, tỉnh Sơn đông, là tòa tháp cổ được kiến tạo vào năm Đại nghiệp thứ 7 (611) đời vua Dượng đế nhà Tùy; tháp Bắc ở chùa Vân cư, núi Phòng sơn, tỉnh Hà Bbắc, được xây dựng bằng đá hoa màu trắng và tháp Trấn Quốc bằng đá ở chùa Khai nguyên, Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến cũng là những tòa tháp đá tiêu biểu điển hình. Tại Hàn quốc, vào thời đại Tân la, cũng có nhiều ngôi tháp được tạo lập bằng đá, như tháp Thích ca ở chùa Phật quốc, tháp 13 tầng ở chùa Tịnh huệ, tháp Xá lợi ở chùa Hoa nghiêm... Tại Nhật bản, tháp được cấu trúc bằng đá sớm nhất là ngôi tháp đá 13 tầng. Những tháp đá hiện còn là ngôi tháp ở chùa Thạch tháp tại Cận Giang và ngôi tháp gồm 7 tầng ở chùa Oánh Sơn là nổi tiếng. 4. Tháp ngọc: Loại tháp này còn rất ít. Năm Khang Hi 19 (1709), vua Thánh tổ có sai thợ khắc 1 tòa tháp ngọc gồm 8 tầng, cao khoảng 3m, thếp thành 3 màu vàng, lục và trắng, gọt dũa tinh vi, trong mỗi tầng tháp có khắc vài pho tượng Phật, nét khắc kì diệu, đáng được gọi là Quốc bảo, rất tiếc sau vì thế cuộc biến thiên, tòa tháp bị lưu lạc, cuối cùng đã bị bán cho một người Mĩ chuyên sưu tầm đồ cổ. 5. Tháp bùn, tháp đất: Như phẩm Phương tiện, kinh Pháp hoa (Đại 9, 8 hạ) nói: Hoặc dựng miếu bằng đá, chiên đàn và trầm thủy, cây có hương thơm và các vật liệu khác như gạch, gốm, bùn, đất... Năm Kiến bảo thứ 4 (1217) đời Thiên hoàng Thuận đức, Pháp thân vương Đạo trợ của Nhật bản từng tạo lập 84.000 ngôi tháp bằng đất. 6. Tháp sắt: Ngôi tháp bằng sắt nổi tiếng được nói trong kinh điển là ngôi tháp ở NamThiên trúc, tức Nam Thiên Thiết Tháp, ở bên trong có tàng trữ kinh Kim cương đính. Theo Nhập đường cầu pháp tuần lễ kí quyển 3, tháng 9 năm Lân đức thứ 2 (665) đời Đường cao tông, chùa Pháp vân kiến tạo 1 tòa tháp bằng sắt gồm 7 tầng cao tới 1 trượng. Nhưng ngôi tháp bằng sắt nổi tiếng hiện còn thìcó ngôi tháp sắt ở chùa Thiết tháp, huyện Tế ninh, tỉnh Sơn Tháp Trấn quốc ở chùa Khai nguyên Tháp Thích ca, chùa Phật Quốc, Hàn Quốcđông, ngôi tháp sắt ở chùa Cam lộ, huyện Trấn giang, tỉnh Giang tô... 7. Tháp bằng đồng: Vua nước Ngô việt là Tiền hoằng thúc, ngưỡng mộ di phong tạo tháp của vua A dục, bắt đầu từ năm Hiển đức thứ 2 (955) đời Hậu Chu, ròng rã 10 năm, đúc tạo 84000 tòa tháp bằng đồng cao khoảng 20 cm, bên trong để kinh Bảo khiếp ấn tâm chú rồi ban tặng các nước, xa gần đều khen là đẹp, người đời gọi là tháp Tiền hoằng thúc. 8. Tháp bằng vàng: Ở Ấn độ đời xưa đã có phương pháp tạo lập tháp Phật bằng vàng, nhưng loại tháp này rất ít, vì nguyên liệu quá quí hiếm. 9. Tháp bằng bạc: Giống như tháp bằng vàng, tháp bạc cũng thuộc loại quí hiếm. Cứ theo Xuất tam tạng kí tập quyển 8, một người Bà la môn ở thành Hoa thị, nước Ma yết đà, Trung ấn độ, từng tạo lập 1 tòa tháp bằng bạc trong nhà mình, cao khoảng 3 trượng, rộng 8 thước, trong tháp đặt 4 khám thờ, mỗi khám một pho tượng bằng bạc cao hơn 3 thước. 10. Tháp bằng thủy tinh: Như tòa tháp xá lợi bằng thủy tinh ở phường Thực tạng, huyện Bản bản của Nhật bản là tòa tháp nổi tiếng và được xem là quốc bảo của Nhật bản.11. Tháp bằngpha lê, bằng xà cừ, mã não, lưu li và tháp Đa bảo được trang nghiêm bằng các thứ quí báu nói trong phẩm Phương tiện và phẩm Bảo tháp trong kinh Pháp hoa. 12. Tháp bằng hương: Tức dùng các loại hương liệu nghiền thành bột rồi nhào lẫn với bùn, sau đó nặn thành những ngôi tháp nhỏ, cao từ 1 đến 20cm trở lên, trong tháp đặt kinh văn chép tay để cúng dường lễ bái, gọi là Pháp xá lợi. Theo Đại đường tây vực kí quyển 9 thì phong tục này đã thịnh hành ở Ấn Độ từ xưa. Nếu nói theo tính chất của việc tạo lập tháp thì phổ biến nhất là: 1. Tháp cầu phúc: Vì Phật giáo thường nói việc tạo lập tháp Phật sẽ được công đức phúc báo rất thù thắng, cho nên tín chúng phần nhiều góp phần vào việc tạo tháp là để cầu phúc báo. Người cầu phúc thường tùy tài lực của mình mà xây tháp bao nhiêu tầng, tối thiểu là 3 tầng, tối đa là 13 tầng. Nổi tiếng là các tháp Bảo thúc, tháp Lục hòa ở Hàng Châu, tháp sắc chùa Hựu quốc và tháp Niết bàn chùa Tướng quốc ở phủ Khai phong... 2. Tháp báo ân: Tạo lập tháp để báo đáp ơn của Phật, nên gọi là tháp Báo ân. Tháp Báo ân nổi tiếng nhất là tòa tháp trong chùa Báo ân phía ngoài cửa Trung Hoa tại Nam kinh, bắt đầu xây dựng vào năm Vĩnh lạc 11 (1413) đời vua Thành tổ nhà Minh đến năm Tuyên đức thứ 7 (1432), ròng rã 19 năm mới hoàn thành. Thân tháp cao khoảng hơn 100m, hình 8 góc, gồm 9 tầng, mỗi tầng đều có hành lang. Trên mặt ngoài tháp gắn gạch men trắng rất mịn, mỗi viên gạch có 1 tượng Phật, mái che mỗi tầng tháp lợp bằng ngói lưu li 5 màu, trên chóp tháp của tầng trên cùng đặt mũ báu bằng vàng ròng, nặng 2000 lạng. Mỗi góc tháp treo 1 quả chuông nhỏ có lưỡi gà, mỗi khi gió thổi thì các chuông khua leng keng, tựa hồ như tiếng từ tầng mây phát ra. Tim tháp có hình ba la, ở trên đặt quả cầu bằng vàng. Tháp Báo ân ở chùa Báo ân qui mô cực kì hoành vĩ, tráng lệ, bộ Đại Anh bách khoa toàn thư cũng miêu tả rất rõ về tòa tháp này. 3. Tháp Pháp thân: Tháp được tạo dựng để thờ xá lợi của pháp thân. Như đã nói ở trên, Ấn độ từ xưa đã tạo lập tháp hương, bên trong để văn kinh chép tay hoặc kệ Pháp thân, vì thế nên gọi tháp Pháp thân. Chữ (vaô) của tiếng Phạm trong Mật giáo là chủng tử của pháp giới, hình ngoài củachữnày giống nhưngôi tháp tròn, cho nên cũng gọi là tháp Pháp thân. 4. Tháp thọ: Tức bia mộ được tạo dựng trước lúc còn sống. Ngoài ra, khu đất được chọn lựa để dự định xây tháp, gọi là Tháp sự.Nếu phân biệt về vị trí tháp được sắp xếp thì đại khái chia ra: 1. Tháp đứng một mình: Tức tháp đơn thuần độc lập, là kiểu thápphổ biến nhất. 2. Tháp đứng đối diện nhau: Như 2 tòa tháp Đại nhạn và Tiểu nhạn ở huyện Trường An, tỉnh Thiểm Tây đứng trông nhau. 3. Tháp đứng theo hàng thẳng: Như 3 tòa tháp ở chùa Trà thiền, huyện Gia hòa, tỉnh Chiết giang, được xây dựng vào cuối đời Đường, đã nhiều lần bị đổ nát, năm Quang tự thứ 2 (1876) được làm lại. 4. Tháp đứng theo hình vuông: Như 4 tòa tháp ở 4 cửa tại huyện Thẩm dương, tỉnh Liêu ninh, gọi là Thẩm Dương Tứ Tháp. Đó là: Tháp Bắc của chùa Pháp luân phía ngoài cửa Địa tạng, tháp Nam của chùa Quảng từ ở phía ngoài cửa Đức thịnh, tháp Tây của chùa Diên thọ ở phía ngoài cửa Ngoại nhương và tháp Đông của chùa Vĩnh quang ở phía ngoài cửa Phủ cận.5. Tháp đứng theo hình tròn: Như 5 ngôi tháp của chùa Ngũ tháp ở phía ngoài cửa Tây trực thành phố Bắc bình. Chùa Ngũ tháp vốn có tên là chùa Chân giác, phía sau chùa có 1 đài tòa Kim cương bảo bằng phẳng hình vuông, trên có 5 ngôi tháp nhỏ đứng theo hình vòng tròn, trong mỗi tháp an vị 1 tôn tượng Như lai bằng vàng. 6. Kiểu tháp đứng chia cách: Như 7 ngôi tháp của viện Kim cương bảo tháp ở núi Tây sơn, Bắc bình, đứng theo hàng lối của những quân cờ, 7 tháp đều do những tảng đá ngọc xếp lên mà thành. Ngôi tháp ở chính giữa hình vuông gồm 13 tầng là tháp lớn nhất; ở 4 góc mỗi góc dựng 1 tháp, lớn vừa; 2 ngôi tháp ở mặt trước là các tháp hình tròn, hơi nhỏ. Tháp là phần quan trọng nhất trong kiến trúc chùa viện, cho nên tại Ấn độ từ xưa, đối với việc phối trí tháp đã có qui chế nhất định. Như luật Ma ha tăng kì quyển 33 ghi rằng: Trong 1 già lam, tháp không được xây dựng ở phía nam hoặc phía tây, mà phải đặt ở phía đông hoặc phía bắc; nhưng phòng tăng thì ngược lại, phải cất ở phía nam hoặc phía tây. Trong các tượng chư tôn của Mật giáo, có nhiều vị dùng tháp làm hình Tam muội da (Gọi tắt: Tam hình) hoặc làm vật cầm tay, như Đại nhật Như lai và Đa văn thiên. Năm ngôi tháp của chùa Ngũ tháp của Kim cương giới lấy bảo tháp làm hình Tam muội da; còn Đại nhật Như lai của Thai tạng giới thì lấy tháp Ngũ luân làm hình Tam muội da. Lại vì Mật giáo cho rằng Đại nhật Như lai biểu thị cho pháp giới thể tính trí, cho nên Tam hình tháp của Ngài cũng gọi là Pháp giới pháp. Ngoài ra, vật cầm tay trong tay thứ 30 của bồ tát Di lặc và vật cầm tay của trời Đa văn đều là tháp báu; cũng có khi trên mũ báu của bồ tát Di lặc có đặt tháp Ngũ luân. Các kinh điển cũng như các giáo thuyết xưa nay đều cho rằng việc tạo lập tháp có công đức rất lớn, như kinh Vô lượng thọ quyển hạ nói xây tháp tạo tượng là nhân hạnh vãng sinh Tịnh độ. Còn kinh Thí dụ thì nêu 10 quả báo thù thắng của việc lập tháp như sau: 1. Không sinh vào nơi biên quốc. 2. Không bị nghèo khó, khốn khổ. 3. Không bị thân phận ngu si, tà kiến. 4. Có thể làm vua 16 nước lớn. 5. Thọ mệnh lâu dài. 6. Có sức mạnh như Kim cương na la diên.7. Được phúc đức rộng lớn không ai sánh bằng. 8. Được chư Phật, Bồ tát rủ lòng thương xót.9. Có đầy đủ 3 minh, 6 thông và 8 Giải thoát. 10. Được sinh về Tịnh độ trong 10 phương. Ngoài ra, kinh Tạo tháp công đức và kinh Tạo thápdiên mệnhcũngnêu các công đức như: Sống lâu, sinh lên cõi trời, diệt trừ 5 tội Vô gián, thành Phật... Kinh Hữu nhiễu Phật tháp công đức thì cho rằng đi vòng quanh tháp xa lìa được 8 nạn, đầy đủ sắc tướng vi diệu, được của báu, phúc đức, cho đến được làm thầy trời, người... Kinh Đề vị cũng nêu rõ nhiễu tháp có 5 công đức như sau: 1. Đời sau được thân tướng đoan chính, đẹp đẽ. 2. Được tiếng nói dịu dàng, trong trẻo. 3. Được sinh lên cõi trời. 4. Được sinh vào nhà vương hầu. 5. Được đạo Nê hoàn. Nhưng đi vòng quanh tháp cũng có 1 hình thức nhất định, như phải đi theo chiều bên phải làm chuẩn, khi đi quanh tháp phải cúi đầu nhìn xuống để tránh dẵm lên các côn trùng bò trên mặt đất, không được liếc nhìn 2 bên, không được khạc nhổ trước tháp, không được dừng lại giữa đường nói chuyện với người khác. Ngoài ra, không chỉ giới hạn ở việc xây tháp, đi quanh tháp mà làm các việc như tu sửa tháp, quét tước tháp, lễ bái tháp... cũng đều được công đức rấtlớn. [X. kinh Du hành trong Trường a hàm Q.4; kinh Tăng nhất a hàm Q.19; kinh Khởi thế Q.2; kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.1; Phật sở hành tán Q.5; kinh Bát đại linh tháp danh hiệu; luật Tứ phần Q.52; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.8; Du già luận kí Q.21; Đại đường tây vực kí Q.2; Lương cao tăng truyện Q.1; Thích ca phương chí; Quảng hoằng minh tập Q.15, 17; Lạc dương già lam kí Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.7; Nhật bản thư kỉ Q.20; Phù tang lược kí Q.30; History of Indian and Eastern Architecture, vol. I, II, by J. Fergusson; A History of Fine Art in India and Ceylon, by V.A. Smith]. (xt. Tháp Đầu).

tháp loan

(塔鑾) Dhàtu Luang. Tên tháp, nằm về phía Bắc thành phố Viên chăn, nước Lào, là ngôi Đại tháp xá lợi do vua Sethathirath xây dựng trên nền 1 ngôi tháp nhỏ cũ vào năm 1566. Tháp tọa lạc trên khu đấtrộngmấy trăm mẫu, có hình vuông, chia làm 3 tầng, trên 1 cái nền cũng hình vuông bằng phẳng, tầng đáy 4 mặt có lối đi vòng quanh, từ đông sang tây rộng 60m, từ nam đến bắc rộng 58m. Ở chính giữa của mỗi bên có cửa ra vào, phía ngoài cửa ra vào ở 4 mặt đều có xây Lễ đình, 4 chung quanh tầng thứ 2 có 30 ngôi tháp nhỏ hình vuông; chính giữa tầng thứ 3 là 1 ngôi tháp lớn cao nhọn hình vuông, phần dưới có hình cánh hoa sen, phần giữa có cây cột đàn hình vuông 3 bậc, phần trên giống như cái bình vuông nhô lên cao nhọn dần, tiếp giáp đỉnh tháp dài nhọn. Phần trên của tháp lớn được dát vàng thếp, trông xa như vàng ngọc sáng chói, hoa lệ trang nghiêm, là kiến trúc vĩ đại nhất qua các đời của nước Lào, có phong cách đặc biệt, khác với tháp Phật hình tròn truyền thống của vùng Đông nam á. Trong tháp lớn thờ xương xá lợi của Phật, có chỗ nói thờ tóc của Phật. Năm 1873, tháp bị tổn hại bởi bị bọn cướp Dung nô (Yunnan), trải qua mấy lần sửa chữa, đến năm 1930 mới phục hồi được cảnh quan cũ. Tín đồ Phật giáo nước Lào coi tòa tháp này là biểu tượng thanh khiết của Phật. Hằng năm vào trung tuần tháng 11, tín đồ Phật giáo trên toàn nước Lào vân tập về đây cử hành lễ hội rất long trọng. [X. Nam truyền Phật giáo sử (Tịnh hải)].

Tháp miếu

塔廟; C: tǎmiào; J: tōbyō; |Chùa và miếu, Tháp.

tháp nhĩ tự

(塔爾寺) Tạng: Sku#bum. Cũng gọi Kim ngõa tự, Tháp nhi tự. Chùa trên núi Tháp sơn, vùng ngoại ô ở Tây ninh, tỉnh Thanh hải. Đây là nơi giáng sinh của Đại sư Tông khách ba – Tổ sư khai sáng Hoàng giáo, cũng là trung tâm tông giáo của vùng Mông Tạng hiện nay. Chùa được bắt đầu xây dựng vào năm Gia tĩnh thứ 19 (1560) đời Minh, là 1 trong 6 ngôi tự viện lớn của Hoàng giáo (5 chùa kia là chùa Sắc lạp, chùa Triết bạng, chùa Trát thập luân bố, chùa Cam đan ở Tây tạng và chùa Lạp bốc lăng ở tỉnh Cam túc, Trung quốc). Phía trước chùa có 1 gốc cây chiên đàn, theo truyền thuyết, cây này mọc lên từ chỗ chôn cái nhau của ngài Tông khách ba sau khi ngài sinh ra, trên các lá của cây này hiện lên vô số tượng Phật. Từ Sku#bum (10 vạn thể, ý nói 10 vạn tượng Phật) chính là từ đây mà ra. Kiến trúc toàn chùa dựa theo thế núi, dần dần lên cao, có hơn 1000 viện lớn nhỏ, hơn 4500 tăng phòng, dung chứa được mấy nghìn người, giống như một đô thị tông giáo, trung tâm trong đó là Đại kinh đường, Đại kim ngõa tự và Tiểu kim ngõa tự. Đại kinh đường là cơ quan quyền lực cao nhất của tổ chức tông giáo mà chùa Tháp nhĩ, là kiến trúc nóc bằng theo kiểu Tây tạng, chiếm diện tích 1981m2, được xây dựng vào năm Vạn lịch 34 (1606) đời Minh, sau nhiều lần được mở rộng thêm, đến năm Dân quốc thứ 2 (1913), chùa bị phá hủy và năm Dân quốc thứ 6 (1917) được xây dựng lại. Trong Đại kinh đường có 108 cây cột lớn, phần đầu các cột có điêu khắc các hình vẽ rất đẹp, 4 vách có treo tượng Phật, các bức vẽ sự tích Phật giáo, các bức vẽ sinh hoạt tông giáo đều rất sinh động. Trong Kinh đường có thể dung chứa 3000 người tụng kinh, tại đây có 1 tòa tháp đúc bằng vàng ròng, cao khoảng 6, 7 mét, bên trong an trí tro xương của ngài Tông khách ba. Bốn vách có giá để kinh, khám thờ Phật... Dưới Đại kinh đường, thiết lập 4 Đại trát thương(học viện) là: 1. Tham ni trát thương(Học viện của Hiển tông): Thuộc bộ môn nghiên cứu giáo nghĩa của Hiển tông được thành lập sớm nhất và có qui mô lớn nhất, đồng thời nghiên cứu Nội minh. 2. Cư ba trát thương(Học viện của Mật tông): Thuộc bộ môn nghiên cứu giáo nghĩa của Mật tông, đồng thời nghiên cứu Nhân minh. 3. Đinh khoa trát thương(Học viện của Thời luân): Thuộc bộ môn nghiên cứu thiên văn, lịch pháp, bói toán... 4. Mạn ba trát thương (Viện Y học): Thuộc bộ môn nghiên cứu y dược trị bệnh. Đại kinh đường là Kinh đường của Tham ni trát thương, cũng là đại lễ đường để toàn thể Lạt ma của 4 Trát thương nhóm họp tụng kinh. Đại kim ngõa là phần tinh hoa của chùa Tháp nhĩ, chỗ tinh hoa nhất là chính điện, bên ngoài được gắn bằng gạch sứ màu xanh biếc rất mịn. Trên tường có nhấn vô số trân châu, mã não, vàng bạc, đá quí, ngọc biếc, ánh sáng tỏa ra 4 phía. Chính điện thờ tượng ngài Tông khách ba, trong điện treo vô số đèn dầu nhỏ, dây tơ rủ xuống, như những chùm sao lấp lánh; trước tượng treo 2 ngọn đèn lớn được xỏ toàn bằng trân châu, thắp bằng dầu tô, không bao giờ tắt, ánh vàng rực rỡ, làn khói hương uốn quanh, là nơi thiêng liêng nhất của chùa Tháp nhĩ. Phía sau Đại điện có tủ xếp kinh, bên trong tàng trữ Cam châu nhĩ và Đan châu nhĩ, là kinh điển chủ yếu của Hoàng giáo. Kinh điển vốn được cất giữ ở Tây tạng, sau mới được dời đến đây, là của báu của chùa này. Trên nóc Đại kim ngõa tự lợp toàn bằng ngói vàng, phía trên có mấy mươi cột kinh cao từ 1 đến 2m, được làm toàn bằng vàng, số lượng vàng tính chung có tới 100.000 lượng trở lên, có hình cái bình, hình tháp, hình lọng... đúc rất tinh khéo, đẹp đẽ, dưới những tia ánh sáng mặt trời, vàng ngọc ánh lên chiếu soi muôn trượng, thật đáng gọi là Thánh địa của Phật giáo, kho báu của Thanh hải. Tiểu kim ngõa tự cũng gọi là điện Đại hộ pháp, được xây dựng vào năm Sùng trinh thứ 4 (1631) đời Minh, là hình ảnh thu nhỏ của Đại kim ngõa tự, nhưng phong cách thì khác với Đại kim ngõa tự. Trước chùa có 8 tòa tháp đứng sừng sững. Vào thời Hoàng đế Ung chính nhà Thanh, Niên canh nghiêu dẹp yên được loạn La bốc tạng đan tân, vì chúng tăng trong chùa cũng tham gia cuộc phản loạn, cho nên Niên canh nghiêu định giết hết, nhưng nhờ có Trấn hải bảo thiên tổng cầu xin, nên Niên canh nghiêu chỉ giết 8 vị Lạt ma lớn chủ chốt trong việc này, sau chia ra chôn ở 8 chỗ trong nội tự của chùa, xây 8 tòa tháp trắng để an trí di hài của 8 vị. Sự cấu trúc của Tiểu kim ngõa giống như tòa tháp Lạt ma phóng lớn, ngói lợp cũng bằng đồng có mạ vàng, ánh sáng chói lọi, phản ánh lẫn với ánh sáng của Đại kim ngõa tự. Các tượng thần thờ trong chùa phần nhiều lộ vẻ phẫn nộ, biểu trưng dáng uy nghiêm của thần Hộ pháp, trên các cột đều được quấn bằng nguyên tấm da hổ, ở phía sau điện thì cất giữ những mặt nạ bằng gỗ đầy vẻ hung ác, là những vật dùng để diễn tuồng xua đuổi tà thần, ác quỉ. Do sự sùng kính của người Tây tạng đối với ngài Tông khách ba nên chùa này trở thành thánh địa bất khả xâm phạm trong ý nghĩ của các thiện nam tín nữ thuộc 2 dân tộc Tây tạng và Mông cổ, giống như Thánh địa Jerusalem của Gia tô giáo và Hồi giáo. Tín đồ Lạt ma giáo phần lớn đều phát nguyện trong một đời ít ra cũng phải đến chùa này chiêm ngưỡng lễ bái một lần. Ở bậc thềm trước chùa có lót những tấm gỗ thông dày dùng để quì lạy. Hằng năm vào ngày rằm tháng giêng theo lịch Tây tạng, chùa có tổ chức Đại hội thắp đèn, triển lãm hoa tô du, rất đông người tham dự. [X. The Buddhism of Tibet or Lamaism, 1895; Dao Kloster Kumbam in Tibet, 1906, by Filchner; Mông tạng Phật giáo sử của Diệu chu].

tháp sám pháp

(塔懺法) Pháp sám hốitháp được thực hành theo kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo. Vào đời Tùy, có 1 thời gian pháp sám này bị cấm không được cử hành. Tục cao tăng truyện quyển 2 (Đại 50, 435 hạ) nói: Vào đầu năm Khai hoàng 13, ở Quảng châu có vị tăng cử hành Tháp sám pháp, dùng 2 miếng da viết 2 chữ Thiện, Ác, rồi bảo người gieo quẻ, nếu được chữ Thiện thì tốt, còn thực hành Tự phác sám pháp(tự đánh mình) để diệt tội, nhưng nam nữ lộn xộn, nói càn là làm theo hạnh bí mật. Các cư sĩ ở Thanh châu hưởng ứng cùng nhau thực hành, bị quan ti kiểm tra, cho là yêu dị. Họ nói: Tháp sám pháp này y cứ vào kinh Chiêm sát; còn Tự phác sám pháp thì theo các kinh dạy 5 vóc gieo sát đất, như núi lớn sụp đổ. Bấy giờ, quan ti tâu lên vua, vua sai quan Nội sử thị lang là Lí nguyên tháo đến chùa Đại hưng thiện hỏi các vị Đại đức. Có các sa môn Pháp kinh, Ngạn tông... trả lời rằng: Kinh Chiêm sát thấy có 2 quyển, ở đầu quyển có ghi do ngài Bồ đề đăng dịch ở nước ngoài, lời văn giống như văn cận đại, trong các tạng cũng có chép và lưu truyền; tra xét trong các bộ mục lục kinh đều không thấy chính danh và tên người dịch, dịch vào lúc nào và dịch ở đâu... Tháp sám lại khác với các kinh, cho nên Chùa Tiểu Kim Ngõa nằm trong phạm vi chùa Tháp nhĩ.Một trong những tượng làm bằng tô du ở chùa Tháp nhĩkhông thể thực hành theo. Nghe vậy, vua vua liền ban lệnh cấm chỉ.[X. Tam quốc di sự Q.3, 4].

tháp sử

(塔史) Pàli: Thùpavaôsa. Tác phẩm ở ngoài các kinh điển của Phật giáo Thượng tọa bộ phương Nam, do vị tỉ khưu tên là Vàcissara người Tích lan soạn vào thế kỉ XIII. Nội dung sách này chủ yếu nói về cuộc đời đức Phật Thích ca mâu ni và về việc phân chia xá lợi sau khi Ngài nhập diệt; ngoài ra cũng thu chép lịch sử tòa đại tháp ở Anuràdhapura.

tháp tự kiên cố

(塔寺堅固) Thời kì chùa tháp được xây dựng một cách kiên cố, 1 trong 5 lần 500 năm, 1 trong 5 cái kiên cố. Chỉ cho 500 năm lần thứ 4 sau khi đức Phật nhập diệt, là thời kì tạo lập chùa tháp kiên cố, tức thuộc thời kì mạt pháp. Thuyết này có xuất xứ từ kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 55. (xt. Ngũ Ngũ Bách Niên).

tháp viện tự

(塔院寺) Cũng gọi Đại bảo tháp viện tự. Chùa nằm về phía nam chùa Hiển thông trên núi Ngũ đài, tỉnh Sơn tây. Núi Ngũ đài là Thánh địa của Phật giáo Trung quốc, chùa Phật và những di tích cổ ở núi này thực không thể kể hết, nhưng trong 5 ngọn (Ngũ đài) của toàn núi thì chỉ có chùa này là có tháp thờ xá lợi Phật và tháp thờ tóc bồ tát Văn thù do vua A dục thiết trí, do đó mà nổi tiếng. Vào năm Vĩnh lạc thứ 5 (1407) đời Minh, vua Thành tổ ban sắc sai quan Thái giám Dương thăng trùng tu đại tháp và bắt đầu làm chùa. Năm Vạn lịch thứ 6 (1578), Thái hậu hạ lệnh cho Trung tướng Phạm giang, Lí hữu xây dựng lại, cảnh chùa nguy nga tráng lệ, đứng đầu Ngũ đài. Xá lợi tháp cũng gọi là Bạch tháp, cao hơn 86m, hình thái kiến trúc đặc biệt khác lạ.

tháp đầu

(塔頭) Chỉ cho chỗ xây tháp của vị Tổ sư khai sơn trong Thiền tông. Khi vị cao tăng thị tịch, vì quí mến đức hạnh của thầy, không nỡ xa tháp, nên các đệ tử trụ trong một căn nhà nhỏ mới được dựng lên ở bên cạnh, gọi là Tháp đầu chi viện. Đến đời sau, nhất là ở Nhật Bản, những chùa viện chi nhánh trực thuộc chùa gốc hoặc chùa viện nằm trong khuôn viên của chùa gốc, cũng gọi là Tháp đầu. [X. điều Động sơn Lương giới trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.15; Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục; môn Khu giới trong Thiền lâm tượng khí tiên].

tháp ấn

(塔印) Cũng gọi Suất đô ba ấn. Ấn biểu thị cho tháp là ấn khế của Đại nhật Như lai thuộc Kim cương bộ, Thai tạng bộ trong Mật giáo và của Bản tôn Thích ca Như lai trong kinh Pháp hoa. Tháp ấn có 3 loại: Lí tháp, Trí tháp và Tâm tháp. Vô sở bất chí ấn là Phật bộ tháp ấn biểu thị cho Lí tháp được thành hình bằng một chữ của Đại nhật Như lai thuộc Thai tạng giới. Ngoại ngũ cổ ấn là Kim cương bộ tháp ấn biểu thị cho Trí tháp được hình thành bằng 5 chữ của Đại nhật Như lai thuộc Kim cương giới. Pháp hoa ấn thuộc Tâm tháp của đức Tì lô giá na là Liên hoa bộ tháp ấn, biểu thị cho hoa sen chưa nở của Bản tôn Thích ca mâu ni Như lai trong kinh Pháp hoa. Vì 3 ấn này được phối hợp với 3 bộ nên gọi là Tam bộ tháp ấn. Trong đó, Vô sở bất chí ấn là biểu thị cho các ấn khế lục đại, tứ mạn và tam mật, được chia làm 2 là Khai tháp ấn(ấn mở tháp) và Bế tháp ấn(ấn đóng tháp). Cách kết Khai tháp ấn là: Hai tay chắp, để rỗng ở giữa, đầu 2 ngón trỏ châu vào nhau, 2 ngón cái mở ra, bấm vào 2 đốt trên của 2 ngón trỏ; cách kết Bế tháp ấn thì cũng chắp 2 tay, để rỗng ở giữa, đầu 2 ngón trỏ châu vào nhau, đầu 2 ngón cái sáp vào nhau và đặt ở đầu của 2 ngón trỏ. Ngoại ngũ cổ ấn biểu thị cho ấn khế của Ngũ trí ngũ Phật, 2 ngón giữa dựng thẳng chấm đầu vào nhau, 2 ngón trỏ co lại như hình lưỡi câu, đặt bên cạnh 2 ngón giữa, 2 ngón út dính liền và dựng đứng, 2 ngón cái như chày kim cương 5 chĩa. Pháp hoa ấn là ấn khế biểu thị Kim, Thai bất nhị, có 2 loại ấn tướng. Ấn tướng thứ nhất là trước kết ấn Vô sở bất chí, sau là hơi đưa 2 ngón cái vào trong lòng 2 bàn tay. Ấn tướng thứ hai giống với Khai tháp ấn của Vô sở bất chí ấn, tức giống với Đại nhật Như lai kiếm nói trong Thánh Quán tự tại bồ tát tâm chân ngôn Du già quán hành nghi quĩ. [X. Ấn quyết sao Q.3 (Thuần du); Kim cương phong lâu các nhất thiết du già du kì kinh tu hành pháp Q.2 (An nhiên); Tổng trì sao Q.7]. (xt. Ngũ Cổ Ấn, Vô Sở Bất Chí Ấn). THÁP CHỦ Chỉ cho chức vụ coi việc phụng thờ tượng gỗ, tượng vẽ, phần mộ các Tổ sư trong Thiền lâm. Tức là vị tăng giữ gìn tháp trong chùa viện Thiền tông, hoặc điều khiển nhữngngườicoi giữ tháp. (xt. Tháp Đầu).

Thát Đát

(韃靼, Dattan): tên của một bộ tộc ngày xưa, còn gọi là Tháp Tháp Nhĩ (塔塔爾), được tìm thấy sớm nhất trong các ký lục dưới thời nhà Đường. Sau khi Thành Cát Tư Hãn (成吉思汗) chinh phục bộ tộc Tháp Tháp Nhĩ, Thát Đát trở thành tên gọi của chung của các bộ tộc Mông Cổ. Dưới thời nhà Minh, Thát Đát là tên gọi các bộ tộc hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn ở miền Đông; phía Đông có bộ tộc Ngột Lương Cáp (兀良哈), phía Tây tiếp giáp với bộ tộc Ngõa Lạt (瓦剌). Đức vua lớn lên gọi là Khả Hãn (可汗); có các quan Tri Viện (知院), Thừa Tướng (丞相), v.v. Trung tâm hoạt động đầu tiên của bộ tộc Thát Đát là Hòa Lâm (和林, tức là Cáp Nhĩ Hòa Lâm [哈爾和林] của nước Mông Cổ ngày nay). Vào năm thứ 8 (1410) niên hiệu Vĩnh Lạc (永樂), vua Thành Tổ (成祖, tại vị 1402~1424) thân chinh lên vùng sa mạc phía Bắc, quân thần của nhà vua bèn phân tán ra hoạt động ở các địa khu rộng lớn như Liêu Đông (遼東), Tuyên Phủ (宣府), Cam Túc (甘肅). Từ sau niên hiệu Thiên Thuận (天順, 1457-1464) nhà Minh, bộ tộc này dần dần vào địa khu Hà Sáo (河套). Dưới thời Gia Tĩnh (嘉靖, 1522-1566) nhà Minh, bộ tộc Yêm Đáp (俺答) cường thịnh, nên vào năm thứ 29 (1550) cùng niên hiệu trên, bộ tộc này đã từng vây khốn kinh đô. Tuy nhiên, thủ lãnh của họ là A Lỗ Đài (阿魯台), Yêm Đáp Hãn (俺答汗), v.v., đã từng được nhà Minh phong hiệu, và dâng cống phẩm. Ngoài ra, những người dân Thổ Nhĩ Kỳ cư trú ở một phần phía Nam nước Nga, nguyên xưa kia cũng có nguồn gốc quan hệ với người Mông Cổ; cho nên đây cũng là từ dùng để gọi dân Thổ Nhĩ Kỳ.

Thâm

深; C: shēn; J: shin;|Sâu sắc, uyên thâm, không dò được- đặc biệt đề cập đền giáo pháp.

thâm

1) Đen: Black. 2) Sâu: Deep—Profound.

thâm bát nhã

(深般若) Cũng gọi Thậm thâm bát nhã, Thực tướng bát nhã. Chỉ cho lí của chân như sâu xa, mầu nhiệm. Tức giáo pháp của chư Phật là pháp vi diệu tối tôn, tối thượng mà cả trong lẫn ngoài ba nghìn thế giới đều không có gì sánh được, cho nên gọi là Thâm bát nhã.

thâm bí

Sâu sắc, bí ẩn, huyền diệu, trái với nông cạn—Deep—Profound—Abstrue, in contrast with “shallow.”

thâm bí a xà lê

1) Tên gọi Đức Đại Nhật Như Lai: Name of the Vairocana. 2) Những vị sư đã được thụ pháp quán đỉnh ở Đức Đại Nhật Như Lai: Bhiksus who have already received the initiation ceremony from Vairocana (esoterics). ; (深秘阿闍梨) Đối lại: Hiển lược a xà lê. Cũng gọi Thâm bí sư. Chỉ cho đức Đại nhật Như lai, hoặc chỉ cho người được Đại nhật Như lai thụ quán đính cho. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 3, vì bản nguyện nên đức Phật Tì lô giá na trụ ở thế giới gia trì, phổ hiện Mạn đồ la bi sinh, gọi là Thâm bí a xà lê. Cũng Đại nhật kinh sớ quyển 15 thì cho rằng người được Phật quán đính cho thì gọi là Thâm bí a xà lê, còn người do bậc thầy thế gian trao cho quán đính thì gọi là Hiển lược a xà lê. Ngoài ra, theo Đại nhật kinh sớ diễn áo sao quyển 2, Hiển lược a xà lê và Thâm bí a xà lê có 3 nghĩa: 1. A xà lê của đàn truyền pháp quán đính sự nghiệp (Tam muội da thứ 4) là Hiển lược a xà lê; A xà lê của đàn tịch nhiên bí mật trở lên (Tam muội da thứ 5) là Thâm bí a xà lê. 2. A xà lê sự nghiệp đến A xà lê Tì lô giá na cứu cánh đều có đủ cả 2 nghĩa thâm bí và hiển lược. 3. A xà lê thấ đế lí từ Sơ địa trở lên là Thâm bí a xà lê; còn A xà lê Địa tiền lục vô úy chưa thấy đế lí là Hiển lược a xà lê.[X. phẩm Bí mật mạn đồ la kinh Đại nhật Q.5].

thâm canh

Late into the night.

thâm diệu

See Thâm Bí.

thâm huyền

1) Màu đen đậm: Deep black—Dark. 2) Sâu sắc: Deep—Abstrue.

thâm hành

Hành nghiệp thâm mật từ bậc sơ địa Bồ Tát trở lên—Deep or deepening progress, that above the initial bodhisattva stage.

thâm hành a xà lê

A xà lê từ bậc sơ địa Bồ Tát trở lên—Acarya who has attained stages above the initial bodhisattva stage. ; (深行阿闍梨) Đối lại: Thiển hành a xà lê. Thâm hành là sự nghiệp tu hành sâu xa, bí mật, tức sự nghiệp tu hành từ Sơ địa trở lên. Có 2 nghĩa rộng và hẹp: Nói theo nghĩa hẹp, A xà lê từ Sơ địa trở lên đã chứng ngộ chân lí 4 đế, đồng địa vị với Đại nhật Như lai, gọi là Thâm hành a xà lê; còn nói theo nghĩa rộng thì Thâm hành a xà lê từ Đệ nhị vô úy trở lên, cũng gọi Xuất thế gian thâm hành a xà lê. Cứ theo Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao quyển 5, nếu người có trí nghiệp viên mãn đồng với Tì lô giá na –trí tức là quán xét tự thân là thân nghiệp của Đại nhật, tức quán tự thân đồng với Tát đỏa – nếu người được như thế thì gọi là Thâm hành a xà lê. [X. Đại nhật kinh sớ Q.3; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.2]. (xt. Thập Trùng Thâm Hành).

thâm khang

Hố sâu—A deep or fathomless pit.

thâm khanh

(深坑) Vốn chỉchocái hố sâu tối tăm, kín mít. Trong Phật giáo, từ ngữ Thâm khanh được sử dụng để dụ cho hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác chứng niết bàn và những người đã hủy hoại căn lành, hệt như người rơi xuống hố sâu, mãi mãi không có cách nào thoát ra được. Theo kinh Hoa nghiêm quyển 50-52 (bản 80 quyển) thì trí tuệ của Như lai như một cây đại dược thụ vương (cây vua thuốc lớn), có khả năng mang lại lợi ích cho tất cả hữu tình, nhưng đối với hàng Nhị thừa và những chúng sinh đã hủy hoại thiện căn thì không giúp được gì.

Thâm khí

(深器): biết rõ là bậc pháp khí, hiểu rõ là người xuất chúng. Như trong Tục Đăng Tồn Cảo (續燈存稿, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1585) quyển 11 có đoạn rằng: “Tây Kinh Bảo Ứng Nguyệt Nham Vĩnh Đạt Thiền Sư, Phần Châu Lưu thị tử, thọ nghiệp ư lí chi Thiên Ninh, mỗi dĩ sanh tử vi khích lệ; vãng kiến Linh Nham, Nham thâm khí chi (西京寶應月岩永達禪師、汾州劉氏子、受業於里之天寧、每以生死爲激勵、往見靈巖、巖深器之, Thiền Sư Nguyệt Nham Vĩnh Đạt ở Bảo Ứng, Tây Kinh, là con nhà họ Lưu ở Phần Châu, thọ giáo với Thiên Ninh ở quê nhà, thường lấy việc sống chết để khích lệ mình; Thiền Sư đến gặp Linh Nham, Ngài biết đây là người xuất chúng).” Hay như trong Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 80, No. 1565) quyển 5 có đoạn viết về Thiền Sư Thanh Nguyên Hành Tư (青原行思, ?-740): “Tổ thâm khí chi, hội hạ học đồ tuy chúng, sư cư thủ yên (祖深器之、會下學徒雖眾、師居首焉, Tổ biết là bậc pháp khí, trong chúng đệ tử tuy đông, nhưng Thiền Sư vẫn là người đứng đầu).” Trong Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 81, No. 1571) quyển 20 cũng có đoạn ghi lại hành trạng của Thiền Sư Vĩnh Minh Diên Thọ (永明延壽, 904-975) như sau: “Tầm trú Thiên Thai Sơn Thiên Trụ Phong, cửu tuần tập định, hữu ô loại xích yến, sào ư y triệp trung, kị yết Thiều Quốc Sư, nhất kiến nhi thâm khí chi, mật thọ nguyên chỉ (尋往天台山天柱峰、九旬習定、有烏類斥鷃、巢於衣襵中、暨謁韶國師、一見而深器之、密授元旨, Thiền Sư tìm đến trú tại đỉnh núi Thiên Trụ, Thiên Thai Sơn, tu Thiền định trong chin tuần; có loài chim sẻ đen như quạ, làm tổ trong chéo áo Thiền Sư; sau Thiền Sư đến tham yết Thiều Quốc Sư, chỉ mới gặp mà Quốc Sư đã biết là bậc xuất chúng, bèn bí mật truyền trao cho huyền chỉ).” ; (深器): biết rõ là bậc pháp khí, hiểu rõ là người xuất chúng. Như trong Tục Đăng Tồn Cảo (續燈存稿, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1585) quyển 11 có đoạn rằng: “Tây Kinh Bảo Ứng Nguyệt Nham Vĩnh Đạt Thiền Sư, Phần Châu Lưu thị tử, thọ nghiệp ư lí chi Thiên Ninh, mỗi dĩ sanh tử vi khích lệ; vãng kiến Linh Nham, Nham thâm khí chi (西京寶應月岩永達禪師、汾州劉氏子、受業於里之天寧、每以生死爲激勵、往見靈巖、巖深器之, Thiền Sư Nguyệt Nham Vĩnh Đạt ở Bảo Ứng, Tây Kinh, là con nhà họ Lưu ở Phần Châu, thọ giáo với Thiên Ninh ở quê nhà, thường lấy việc sống chết để khích lệ mình; Thiền Sư đến gặp Linh Nham, Ngài biết đây là người xuất chúng).” Hay như trong Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 80, No. 1565) quyển 5 có đoạn viết về Thiền Sư Thanh Nguyên Hành Tư (青原行思, ?-740): “Tổ thâm khí chi, hội hạ học đồ tuy chúng, sư cư thủ yên (祖深器之、會下學徒雖眾、師居首焉, Tổ biết là bậc pháp khí, trong chúng đệ tử tuy đông, nhưng Thiền Sư vẫn là người đứng đầu).” Trong Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 81, No. 1571) quyển 20 cũng có đoạn ghi lại hành trạng của Thiền Sư Vĩnh Minh Diên Thọ (永明延壽, 904-975) như sau: “Tầm trú Thiên Thai Sơn Thiên Trụ Phong, cửu tuần tập định, hữu ô loại xích yến, sào ư y triệp trung, kị yết Thiều Quốc Sư, nhất kiến nhi thâm khí chi, mật thọ nguyên chỉ (尋往天台山天柱峰、九旬習定、有烏類斥鷃、巢於衣襵中、暨謁韶國師、一見而深器之、密授元旨, Thiền Sư tìm đến trú tại đỉnh núi Thiên Trụ, Thiên Thai Sơn, tu Thiền định trong chín tuần; có loài chim sẻ đen như quạ, làm tổ trong chéo áo Thiền Sư; sau Thiền Sư đến tham yết Thiều Quốc Sư, chỉ mới gặp mà Quốc Sư đã biết là bậc xuất chúng, bèn bí mật truyền trao cho huyền chỉ).”

thâm kinh

Thâm Tạng—Gọi chung các kinh điển Đại Thừa, thuyết giảng về sự thậm thâm của chánh pháp—Profound sutras, or texts, those of Mahayana. ; (深經) Đồng nghĩa: Thâm tạng. Từ ngữ gọi chung các kinh điển Đại thừa. Những kinh điển này giảng nói về lí sâu xa của thực tướng các pháp nên gọi là Thâm kinh. Phẩm Pháp cúng dường kinh Duy ma (Đại 14, 556 trung) nói: Những kinh sâu xa (Thâm kinh) do chư Phật nói. [X. An lạc tập Q.thượng].

thâm lý

Nguyên lý thậm thâm—Profound principle, law or truth.

thâm lệ

(深勵) Vị tăng thuộc Tịnh độ chân tông của Nhật bản, Giảng sư phái Đại cốc, tự là Tử úc, hiệu Qui châu, hiệu khác là Thùy thiên xã. Sư sinh ở chùa Đại hạnh tại Dưỡng phố thuộc quận Bản tỉnh, Việt tiền vào năm Khoan diên thứ 2 (1749). Sư bẩm tính thông minh, được ngài Thọ thiên trụ ở chùa Vĩnh lâm thuộc đinh Kim tân thu nhận làm đệ tử nối pháp. Sau, sư đến tham học các ngài Tuệ lâm, Tùy tuệ ở Kyoto, thờ ngài Tùytuệ làm thầy; đồng thời, theo ngài Tùy tuệ đến Bá ma tham cứu nghĩa sâu xa; lại theo các bậc long tượng của các tông như ngài Trí đạo, Long sơn... chuyên tâm nghiên cứu các học thuyết Tính Tướng và Hiển Mật. Năm Khoan chính thứ 3 (1791), sư giữ chức Nghĩ giảng; năm Khoan chính thứ 6 (1794), sư được thăng chức Giảng sư. Năm Văn hóa 14 (1817), sư thị tịch ở chùa Vĩnh lâm, thọ 69 tuổi, thụy hiệu là Hương Nguyệt Viện. Lúc sinh tiền, sư soạn thuật rất nhiều, có các tác phẩm lưu truyền ở đời như: Tịnh độ tam bộ kinh giảng nghĩa 20 quyển, Giáo hành tín chứng giảng nghĩa 20 quyển, Văn loại tụ sao giảng nghĩa 10 quyển, Tuyển trạch tập nhị thập ngũ cá dị đồng biện...

thâm ma xá na

Smasana (skt)—Nơi vứt xác người chết—Place for disposing of the dead.

Thâm mật

深密; C: shēnmì; J: shinmitsu;|Giáo pháp sâu sắc, thâm diệu.

thâm mật

See Thâm Bí.

Thâm mật giải thoát kinh

深密解脱經; C: shēnmì jiĕtuō jīng; J: shin-mitsu gedatsukyō; S: saṃdhinirmocana-sūtra|Tên bản dịch của Bồ-đề Lưu-chi dịch từ Saṃdhinirmocana-sūtra; gồm 5 quyển. Xem Giải thâm mật kinh (解深密經).

Thâm mật kinh

深密 (蜜) 經; C: shēnmì jīng; J: shinmikkyō;|Giải thâm mật kinh (解深密經; s: saṃ-dhinirmocana-sūtra).

thâm nhiễm

Imbued (a)—Impragnated.

thâm nhập

Nyanti (skt)—Ni Diên Để—Tên riêng của tham (lòng tham có khả năng đi sâu vào cái cảnh mà nó muốn, lại có thể đi sâu vào tự tâm nên gọi là thâm nhập)—Deep entering—To infiltrate—To penetrate into, or the deep sense, i.e. desire, covetousness, cupidity.

thâm nhập vào đại trí của ngài văn thù sư lợi bồ tát

To penetrate the great wisdom of Manjusri Bodhisattva.

thâm niên

Length of service—Seniority.

thâm pháp

See Thâm Pháp Môn.

thâm pháp môn

Pháp môn sâu sắc—Profound truth or method.

thâm pháp nhẫn

Pháp nhẫn sâu sắc (người nghe được pháp nầy thì trụ vững không thối chuyển)—Patience or perseverance in faith and practice.

thâm sa đại tướng

(深沙大將) Cũng gọi Thâm sa thần, Thâm sa thần vương, Thâm sa đại vương, Thâm sa đồng tử, Thâm sa bồ tát. Chỉ cho vị thần trừ diệt các tai nạn. Có thuyết cho rằng vị thần này là Đa văn thiên, cũng là hóa thân của bồ tát Quán thế âm. Về hình tướng của vị thần này, trong Mật giáo, thông thường có 2 thuyết: Một là hình tướng thần vương, tay trái cầm con rắn màu xanh, cánh tay phải co lại, bàn tay giơ lên để ở trước ngực phía bên phải. Hai là hình tướng thần vương, 2 tay bưng bát, trong bát đựng cơm trắng. Chủng tửlà (a) hoặc (hùô), ấn khế là Kim cương hợp chưởng, hình Tam muội da là 3 cái mâu, hoặc 3 con rắn. Có thuyết cho rằng Thâm sa đại tướng là thuộc hạ của trời Tì sa môn, đứng đầu 7000 Dược xoa, hình tướng thì đầu là những ngọn lửa, miệng phun ra máu, xâu những cái đầu lâu làm chuỗi anh lạc đeo ở cổ, dùng da thú làm áo, da voi làm quần cụt, dùng đứa trẻ con làm bụng và rốn, chân đạp lên hoa sen. Lại theo Thâm sa đại tướng nghi quĩ thì vị thần này có 3 sứ giả. Sứ giả trên trời là Tịnh mãn, sứ giả ở hư không là đại tiên Phược tư và sứ giả dưới đất là Thủy hỏa lôi tự tại vương. Thần này có năng lực diệt trừ 3 thứ tai nạn và 3 thứ chấp trước. Theo truyền thuyết, ngài Huyền trang đời Đường đi Ấn độ cầu pháp, lúc vượt sa mạc Gobi gặp rất nhiều nguy hiểm, nhưng nhờ Thâm sa đại tướng bảo vệ nên ngài đã qua sa mạc bình an. [X. Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.1; Đồ tượng sao Q.10].

thâm sa đại tướng nghi quỹ

(深沙大將儀軌) Cũng gọi Thâm sa đại tướng Bồ tát nghi quĩ. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung nghi quĩnàynói về pháp tu Thâm sa đại tướng, cho rằng vị thần này là hóa thân của bồ tát Quán thế âm, nếu trì tụng chân ngôn của Ngài thì các ác nghiệp đều bị tiêu diệt.

thâm sâu

Profound.

thâm sơn cùng cốc

Remote area (place).

thâm thiền định lạc

(深禪定樂) Chỉ cho niềm tin sâu xa mầu nhiệm của Thiền định thứ 3, tương ứng với lạc thụ (cảm giác vui) của Thiền định là Sơ thiền, Nhị thiền và Tam thiền. Trong đó, Thiền thứ 3 là Li hỉ diệu lạc, tức lìa niềm vui mừng ở Thiền thứ nhất và Thiền thứ 2, là niềm vui mầu nhiệm chính niệm chính tri, trụ trong tự địa. Vì thâm tâm hành giả cùng là một niềm vui thuần nhất mầu nhiệm, là niềm vui bậc nhất của Thiền định, nên gọi lạc thụ của thiền định này là Thâm thiền định lạc. Phẩm Hóa thành dụ kinh Pháp hoa quyển 3 (Đại 9, 23 trung) nói: Chúng con từ năm trăm muôn ức cõi nước đến đây, xả bỏ niềm vui thiền định sâu xa (thâm thiền định lạc) là vì cúng dường Phật. Lại Thâm thiền định còn có nghĩa là trong các thứ thiền định có sâu, cạn khác nhau, thiền định cõi trên thù thắng hơn thiền định cõi dưới, vì thế đối lại với cõi dưới mà gọithiền định cõi trên là Thâm thiền định.

thâm thù

Deep hatred

thâm thúy

Deep—Profound.

thâm trí

Trí thâm sâu—Profound knowledge or wisdom.

thâm tâm

1) Tự đáy lòng: Bottom of one's heart. 2) Một trong tam tâm, cái tâm cầu Phật, cầu Pháp sâu nặng: One of the three minds, profound mind engrossed in Buddha-truth, or thought, or illusion, etc. ; (深心) Phạm: Adhyàzaya. Cũng gọi Thâm tín. Chỉ cho tâm sâu xa cầu Phật đạo, là 1 trong 3 tâm. Phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma quyển thượng (Đại 14, 538 trung) nói: Thâm tâm là tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, những chúng sinh có đầy đủ công đức sẽ sinh đến cõi nước của Ngài (...) Theo trực tâm thì phát được hạnh, theo phát hạnh thì được thâm tâm, theo thâm tâm thì ý điều phục. Kinh Hoa nghiêm quyển 24 (bản 60 quyển) có liệt kê tên của 10 thứ Thâm tâm (Đại 9, 55 thượng): Mười thâm tâm là những gì? –Một là tâm thanh tịnh, hai là tâm mạnh mẽ nhạy bén, ba là tâm chán xa, bốn là tâm lìa dục, năm là tâm không lui sụt, sáu là tâm bền vững, bảy là tâm sáng suốt, tám là tâm tinh tiến, chín là tâm thù thắng và mười là tâm rộng lớn. Kinh Quán vô lượng thọ cho rằng nếu có chúng sinh muốn sinh về Tịnh độ mà phát ba tâm thì liền được vãng sinh, Thâm tâm là 1 trong 3 tâm đó. Ngài Thiện đạo giải thích Thâm tâm là tâm tin sâu. Ngoài ra, Thâm tâm cũng chỉ cho tâm mê chấp bền vững không lay chuyển của phàm phu, như phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa cho rằng chúng sinh có nhiều tham muốn mà tâm bám dính vào rất sâu chắc, khó gỡ ra được. [X. kinh Hoa nghiêm Q.35 (bản 80 quyển); kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo Q.thượng; luận đại trí độ Q.71]. (xt. Tam Tâm).

thâm tín

Tin tưởng sâu xa—Deep faith.

thâm tạng

See Thâm Kinh.

thâm tịnh

Thanh tịnh sâu sắc—Profound pure. ; (深淨) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Vân môn, sống vào đời Nam Tống, người ở Ôn châu (nay là tỉnh Chiết giang). Sư đến chùa Trung thiên trúc tham yết ngài Si thiền Nguyên diệu và được nối pháp. Sau, sư nhận chức Trụ trì chùa Quang hiếu ở Ôn châu. Người đời gọi sư là Dĩ am Thâm tịnh. Sư có để lại các tác phẩm Dĩ am Thâm tịnh hòa thượng ngữ yếu 1 quyển, được thu vào Tục cổ tôn túc ngữ yếu quyển 2 (Vạn tục tạng tập 119). [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.16].

Thâm viễn

深遠; C: shēnyuăn; J: shin'on, jinnon;|1. Thâm diệu; thâm diệu và có ảnh hưởng sâu rộng; 2. Trí tuệ sâu mầu.

thâm áo

See Thâm Bí.

thâm ố

To hate deeply.

Thâm-trập kinh

深蟄經; C: shēnzhé jīng; J: shinchūkyō;|Một cách gọi khác của Thâm mật kinh (深蜜經), tên gọi tắt của kinh Giải thâm mật (解深密經; s: saṃdhinirmocana-sūtra).

thân

Kaya or Tanu (skt). 1) Làm cho dài ra: To draw out—To stretch—To expand. 2) Thân ái: To love—Beloved. 3) Thân quyến: Family—Relatives. 4) Thân thích: Personally related—Intimate. 5) Thân hình: Kaya, or tanu, or deha (skt)—Physical existence—Body—The self—The sense or organ of touch. 6) Thân là một đối tượng của Thiền: Mục đích đầu tiên của thiền tập là để nhận thức bản chất thật của thân mà không chấp vào nó. Đa phần chúng ta nhận thân là mình hay mình là thân. Tuy nhiên sau một giai đoạn thiền tập, chúng ta sẽ không còn chú ý nghĩ rằng mình là một thân, chúng ta sẽ không còn đồng hóa mình với thân. Lúc đó chúng ta chỉ nhìn thân như một tập hợp của ngũ uẩn, tan hợp vô thường, chứ không phải là nhứt thể bất định; lúc đó chúng ta sẽ không còn lầm lẫn cái giả với cái thật nữa: The first goal of meditation practices is to realize the true nature of the body and to be non-attached to it. Most people identify themselves with their bodies. However, after a period of time of meditation practices, we will no longer care to think of yourself as a body, we will no longer identify with the body. At that time, we will begin to see the body as it is. It is only a series of physical and mental process, not a unity; and we no longer mistake the superficial for the real—See Ngũ Uẩn. • Tỉnh thức về hơi thở: Anapanasati (p)—Mindfulness of your breathing. • Tỉnh thức về thân trong những sinh hoạt hằng ngày, như đi, đứng, nằm, ngồi, nhìn ai, nhìn quang cảnh, cúi xuống, duỗi thân, mặc quần áo, tăm rữa, ăn uống, nhai, nói chuyện, vân vân. Mục đích là chú ý vào thái độ của mình chứ không chạy theo những biến chuyển: Mindfulness of your body in daily life activities, such as mindfulness of your body while walking, standing, lying, sitting, looking at someone, looking around the environments, bending, stretching, dressing, washing, eating, drinking, chewing, talking, etc. The purpose of mindfulness is to pay attention to your behavior, but not to run after any events. 7) Theo Kinh Duy Ma Cật, khi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát vâng mệnh của Đức Phật đi thăm bệnh cư sĩ Duy Ma Cật, nên mới có cuộc đối đáp về “thân” như sau—According to the Vimalakirti Sutra, Manjusri Bodhisattva obeyed the Buddha's command to call on Upasaka Vimalakirti to enquire after his health, there was a converssation about the “body” as follows: • Văn Thù hỏi cư sĩ Duy Ma Cật: “Phàm Bồ Tát an ủi Bồ Tát có bệnh như thế nào?”—Manjusri asked Vimalakirti: “What should a Bodhisattva say when comforting another Bodhisattva who falls ill?” • Duy Ma Cật đáp: “Nói thân vô thường, nhưng không bao giờ nhàm chán thân nầy. Nói thân có khổ, nhưng không bao giờ nói về sự vui ở Niết Bàn. Nói thân vô ngã mà khuyên dạy dắt dìu chúng sanh. Nói thân không tịch, chứ không nói là rốt ráo tịch diệt. Nói ăn năn tội trước, chứ không nói vào nơi quá khứ. Lấy bệnh mình mà thương bệnh người. Phải biết cái khổ vô số kiếp trước, phải nghĩ đến sự lợi ích cho tất cả chúng sanh, nhớ đến việc làm phước, tưởng đến sự sống trong sạch, chớ nên sanh tâm buồn rầu, phải thường khởi lòng tinh tấn, nguyện sẽ làm vị y vương điều trị tất cả bệnh của chúng sanh. Bồ Tát phải an ủi Bồ Tát có bệnh như thế để cho được hoan hỷ.”—Vimalakirti replied: “He should speak of the impermanence of the body but never of the abhorrence and relinquishment of the body. He should speak of the suffering body but never of the joy in nirvana. He should speak of egolessness in the body while teaching and guiding all living beings (in spite of the fact that they are fundamentally non-existent in the absolute state). He should speak of the voidness of the body but should never cling to the ultimate nirvana. He should speak of repentance of past sins but should avoid slipping into the past. Because of his own illness he should take pity on all those who are sick. Knowing that he has suffered during countless past aeons he should think of the welfare of all living beings. He should think of his past practice of good virtues to uphold (his determination for) right livelihood. Instead of worrying about troubles (klesa) he should give rise to zeal and devotion (in his practice of the Dharma). He should act like a king physician to cure others' illnesses. Thus a Bodhisattva should comfort another sick Bodhisattva to make him happy.” • Ngài Văn Thù Sư Lợi! Bồ Tát có bệnh đấy phải quán sát được các pháp như thế. Lại nữa, quán thân vô thường, khổ, không, vô ngã, đó là huệ. Dù thân có bệnh vẫn ở trong sanh tử làm lợi ích cho chúng sanh không nhàm mỏi, đó là phương tiện.—Manjusri, a sick Bodhisattva should look into all things in this way. He should further meditate on his body which is impermanent, is subject to suffering and is non-existent and egoless; this is called wisdom. Although his body is sick he remains in (the realm of) birth and death for the benefit of all (living beings) without complaint; this is called expedient method (upaya). • Lại nữa, ngài Văn Thù Sư Lợi! Quán thân, thân không rời bệnh, bệnh chẳng rời thân, bệnh nầy, thân nầy, không phải mới, không phải cũ, đó là huệ. Dù thân có bệnh mà không nhàm chán trọn diệt độ, đó là phương tiện—Manjusri! He should further meditate on the body which is inseparable from illness and on illness which is inherent in the body because sickness and the body are neither new nor old; this is called wisdom. The body, though ill, is not to be annihilated; this is the expedient method (for remaining in the world to work for salvation). ; (身) I. Thân. Phạm:Kàya. Hán âm: Ca da. Căn thứ 5 trong 6 căn, tức là Thân căn. Chỉ cho làn da ngoàicủa khí quan xúc giác và cơ năng của nó. Nhưng Hữu bộ thì cho rằng Thân căn là vật chất nhỏ nhiệm(tịnh sắc) mà mắt không thể thấy được, cũng tức là chỉ cho thắng nghĩa căn. Tuy nhiên, thông thường chữ Thân trong thân và tâm gọi chung là thân tâm, thân và ngữ(hoặc khẩu), ý gọi chung là thân ngữ ý(thân khẩu ý) là chỉ cho thân thể, nhục thể. II. Thân. Nghĩa tập hợp. Tức chữ phụ thêm ở cuối câu, biểu thị số nhiều, như Lục thức thân.III. Thân. Phạm:Zarìra. Thân cốt, di cốt. (xt. Xá Lợi).

thân an tâm lạc

Ease of body and joy of heart.

thân bình đẳng

Same in body—Đức Phật nói: “Ta và chư Như Lai đều cũng như nhau về thân thể.”—The Buddha said: “All Tathagatas and I are the same as regards the body.”

thân bịnh

Physical sickness.

thân chúng sanh thân phật

Sentient beings' bodies-Buddha's body—Theo Kinh Duy Ma Cật thì ông Duy Ma Cật đã dùng phương tiện hiện thân có bệnh để thuyết pháp hóa độ chúng sanh. Do ông (Duy Ma Cật) có bệnh nên các vị Quốc Vương, Đại thần, Cư sĩ, Bà la môn cả thảy cùng các vị Vương tử với bao nhiêu quan thuộc vô số ngàn người đều đến thăm bệnh. Ông nhơn dịp thân bệnh mới rộng nói Pháp—According to the Vimalakirti Sutra, Vimalakirti used expedient means of appearing illness in his body to expound about sentient beings' bodies and the Buddha's body to save them. Because of his indisposition, kings, ministers, elders, upasakas, Brahmins, et., as well as princes and other officials numbering many thousands came to enquire after his health. So Vimalakirti appeared in his sick body to receive and expound the Dharma to them, saying: • “Nầy các nhân giả! Cái huyễn thân nầy thật là vô thường, nó không có sức, không mạnh, không bền chắc, là vật mau hư hoại, thật không thể tin cậy. Nó là cái ổ chứa nhóm những thứ khổ não bệnh hoạn. Các nhân giả! Người có trí sáng suốt không bao giờ nương cậy nó. Nếu xét cho kỹ thì cái thân nầy như đống bọt không thể cầm nắm; thân nầy như bóng nổi không thể còn lâu; thân nầy như ánh nắng dợn giữa đồng, do lòng khát ái sanh; thân nầy như cây chuối không bền chắc; thân nầy như đồ huyễn thuật, do nơi điên đảo mà ra; thân nầy như cảnh chiêm bao, do hư vọng mà thấy có; hân nầy như bóng của hình, do nghiệp duyên hiện; thân nầy như vang của tiếng, do nhân duyên thành; thân nầy như mây nổi, trong giây phút tiêu tan; thân nầy như điện chớp sanh diệt rất mau lẹ, niệm niệm không dừng; thân nầy không chủ, như là đất; thân nầy không có ta, như là lửa; thân nầy không trường thọ, như là gió; thân nầy không có nhân, như là nước; thân nầy không thật, bởi tứ đại giả hợp mà thành; thân nầy vốn không, nếu lìa ngã và ngã sở; thân nầy là vô tri, như cây cỏ, ngói, đá; thân nầy vô tác (không có làm ra), do gió nghiệp chuyển lay; thân nầy là bất tịnh, chứa đầy những thứ dơ bẩn; thân nầy là giả dối, dầu có tắm rửa ăn mặc tử tế rốt cuộc nó cũng tan rã; thân nầy là tai họa, vì đủ các thứ bệnh hoạn khổ não; thân nầy như giếng khô trên gò, vì nó bị sự già yếu ép ngặt; thân nầy không chắc chắn, vì thế nào nó cũng phải chết; thân nầy như rắn độc, như kẻ cướp giặc, như chốn không tụ, vì do ấm, giới, nhập hợp thành—“Virtuous ones, the human body is impermanent; it is neither strong nor durable; it will decay and is, therefore, unreliable. It causes anxieties and sufferings, being subject to all kinds of ailments. Virtuous ones, all wise men do not rely on this body which is like a mass of foam, which is intangible. It is like a bubble and does not last for a long time. It is like a flame and is the product of the thirst of love. It is like a banana tree, the centre of which is hollow. It is like an illusion being produced by inverted thoughts. It is like a dream being formed by fasle views. It is like a shadow and is caused by karma. This body is like an echo for it results from causes and conditions. It is like a floating cloud which disperses any moment. It is like lightning for it does not stay for the time of a thought. It is ownerless for it is like the earth. It is egoless for it is like fire (that kills itself). It is transient like the wind. It is not human for it is like water. It is unreal and depends on the four elements for its existence. It is empty, being neither ego nor its object. It is without knowledge like grass, trees and potsherds. It is not the prime mover, but is moved by the wind (of passions). It is impure and full of filth. It is false, and though washed, bathed, clothed and fed, it will decay and die in the end. It is a calamity being subject to all kinds of illnesses and sufferings. It is like a dry well for it is prusued by death. It is unsettled and will pass away. It is like a poisonous snake, a deadly enemy, a temporary assemblage (without underlying reality), being made of the five aggregates, the twelve entrances (the six organs and their objects) and the eighteen realms of sense (the six organs, their objects and their perceptions). • Các nhân giả! Hãy nên nhàm chán cái thân nầy, chớ tham tiếc nó, phải nên ưa muốn thân Phật. Vì sao? Vì thân Phật là Pháp Thân, do vô lượng công đức trí tuệ sanh; do giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến sanh; do từ bi hỷ xả sanh; do bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, và phương tiện sanh; do lục thông, tam minh sanh; do 37 phẩm trợ đạo sanh; do chỉ quán sanh; do thập lực, tứ vô úy, thập bát bất cộng sanh; do đoạn trừ tất cả các pháp bất thiện, tu các pháp thiện sanh; do chân thật sanh; do không buông lung sanh; do vô lượng pháp thanh tịnh như thế sanh ra thân Như Lai—“Virtuous ones, the (human) body being so repulsive, you should seek the Buddha body. Why? Because the Buddha body is called Dharmakaya, the product of boundless merits and wisdom; the outcome of discipline, meditation, wisdom, liberation and perfect knowledge of liberation; the result of kindness, compassion, joy and indifference (to emotions); the consequence of (the six perfections or paramitas) charity, discipline, patience, zeal, meditation and wisdom, and the sequel of expedient teaching (upaya); the six supernatural powers; the three insights; the thirty-seven stages contributory to enlightenment; serenity and insight; the ten transcendental powers (dasabala); the four kinds of fearlessness; the eighteen unsurpassed characteristics of the Buddha; the wiping out of all evils and the performance of all good deeds; truthfulness, and freedom from looseness and unrestraint. So countless kinds of purity and cleanness produce the body of the Tathagata. • Nầy các nhân giả, muốn được thân Phật, đoạn tất cả bệnh chúng sanh thì phải phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác—Virtuous ones, if you want to realize the Buddha body in order to get rid of all the illnesses of a living being, you should set your minds on the quest of supreme enlightenment (anuttara-samyak-sambodhi).” • Như vậy, trưởng giả Duy Ma Cật vì những người đến thăm bệnh, mà nói pháp làm cho vô số ngàn người đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác—Thus the elder Vimalakirti expounded the Dharma to all those who came to enquire after his health, urging countless visitors to seek supreme enlightenment.

thân chứng

(身證) Phạm:Kàya-sàkwin. Pàli:Kàya-sakkhin. Cũng gọi Thân chứng na hàm, Thân chứng bất hoàn. Chỉ cho bậc Thánh lợi căn trong quả Bất hoàn, nương vào Diệt tận định mà chứng pháp tương tự như Niết bàn, thân được niềm vui tịch lặng, là 1 trong 7 bậc Thánh, 1 trong 27 bậc Hiền Thánh. Luận Đại tì bà sa quyển 152 (Đại 27, 776 trung) nói: Đức Thế tôn an lập Thân tác chứng, gọi là Tưởng thụ diệt giải thoát. Vì vô tâm nên ở thân chẳng phải tâm, là cái do thân lực sinh khởi chứ không phải tâm sinh khởi, cho nên đức Thế tôn nói là Thân chứng. Về tên gọi Thân chứng có 2 thuyết: 1. Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương định Diệt tận là định Vô tâm, nếu trong thân sinh được định Diệt tận thì thân được niềm vui vắng lặng, gọi là Thân chứng. 2. Kinh lượng bộ thì cho rằng sau khi xuất định, duyên theo sự tĩnh lặng của định Diệt tận, cho rằng sự tĩnh lặng này rất giống pháp Niết bàn, do đạt được trí hiện tiền mà chứng đắc sự tĩnh lặng của thân, gọi chung là Thân chứng. Đại thừa bèn căn cứ vào thí dụ để đặt tên gọi Thân chứng. [X. luận Tạp a tì đàm tâm Q.5; luận Câu xá Q.24, 25; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.13; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.1 phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.17, phần đầu]. (xt. Bất Hoàn Quả).

thân có tám vạn loại trùng

chỉ thân xác thịt dễ hư hoại, thối rửa của chúng sanh, là chỗ nương náu, chui rúc của muôn loại vi trùng.

Thân Căn

(s, p: kāyendriya, 身根): một trong 5 căn, 6 căn, 12 xứ, 18 giới, 22 căn; gọi tắt là thân (身); tức chỉ cho tịnh sắc căn trong thân thể, chứ không phải căn phù trần của nhục thể. Về ngữ nghĩa của thân, theo Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm (大乘法苑義林章, Taishō Vol. 45, No. 1861) quyển 3 lấy Phạn ngữ kāya (âm dịch là Ca Da [迦耶]) với nghĩ là tích tập (積集, gom chứa, tập trung), y chỉ (依止, nương vào, dừng lại). Thân Căn là nơi nhiều pháp của các căn y chỉ, nhiều pháp đều tích tập nơi Thân Căn này, nên có tên là Ca Da. Trong 12 Xứ, Thân Căn này có tên là Thân Xứ (s: kāyāyatana, 身處); trong 18 Giới là Thân Giới (s: kāya-dhātu, 身界). Thông thường, cái gọi là thân, đều chỉ chung cả đống thịt, hoàn toàn khác với Thân Căn. Trong các luận thư, gân thịt, v.v., gọi là Phù Trần Căn (扶塵根); còn đối với Thân Căn vốn có thể xúc tác thì gọi là Thắng Nghĩa Căn (勝義根). Thân Căn chỉ tồn tại trong Dục Giới (s: kāma-dhātu, 欲界) và Sắc Giới (s: rūpa-dhātu, 色界), còn trong Vô Sắc Giới (s: ārūpa-dhātu, 無色界) thì không. A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (阿毘達磨大毘婆沙論, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 90 cho rằng Thân Căn của Địa Ngục không giống như của con người. Như trong Pháp Hoa Tam Muội Sám Nghi (法華三昧懺儀, Taishō Vol. 46, No. 1941), phần Sám Hối Thân Căn Pháp (懺悔身根法), có đoạn: “Quy hướng Phổ Hiền Bồ Tát cập nhất thiết Thế Tôn thiêu hương tán hoa, thuyết thân quá tội bất cảm phú tàng, dĩ thị nhân duyên linh ngã dữ pháp giới chúng sanh, Thân Căn nhất thiết trọng tội tất cánh thanh tịnh (歸向普賢菩薩及一切世尊燒香散華、說身過罪不敢覆藏、以是因緣令我與法界眾生、身根一切重罪畢竟清淨, quy hướng về Bồ Tát Phổ Hiền và hết thảy Thế Tôn đốt hương rãi hoa, bày rõ tội sai lầm của thân không dám che giấu, lấy nhân duyên này khiến con cùng với chúng sanh trong pháp giới, hết thảy tội nặng của Thân Căn cuối cùng được trong sạch).”

thân căn

Kayendriya (skt)—Một trong ngũ căn—The organ of touch, one of the five organs of sense. ; (身根) Phạm,Pàli:Kàyendriya. Gọi tắt: Thân. Chỉ cho tịnh sắc(vật chất rất nhỏ nhiệm) tiếp thu lấy xúc cảnh vô kiến hữu đối, là chỗ nương gá của thức thân. Ở đây chỉ cho tịnh sắc căn trong thân thể chứ không phải nói về phù trần căn của nhục thể; là 1 trong 5 căn, 1 trong 6 căn, 1 trong 12 xứ, 1 trong 18 giới, 1 trong 22 căn. Theo Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 3 thì nghĩa của chữ Thân là lấy theo nghĩa chứa nhóm, nghĩa nương tựa của tiếng Phạm Kàya (Hán âm: Ca da). Các đại chủng và tạo sắc khác như nhãn căn... tuy cũng đều chứa nhóm, nhưng Thân căn là chỗ nương tựa của các căn và nhiều pháp, tức nhiều pháp đều chứa nhóm trong thân căn, cho nên đặc biệt gọi Thân Là Kàya. Thân căn này, trong 12 xứ được gọi là Thân xứ (Phạm: Kàyàyatana), trong 18 giới, gọi là Thân giới (Phạm:Kàya-dhàtu). Thông thường gọi Thân là chỉ chung cho khối thịt, khác hẳn với Thân căn. Trong các luận Tì bà sa... gân, thịt... được gọi chung là Phù trần căn, đối với Thân căn có tác dụng năng xúc thì gọi là Thắng nghĩa căn. Thân căn chỉ tồn tại ở cõi Dục và cõi Sắc, cõi Vô sắc thì không. Luận Đại tì bà sa quyển 90 cho rằng Thân căn ở địa ngục khác với Thân căn ở cõi người, nghĩa là trong địa ngục cho dù bị cắt đứt ra từng lóng đốt, cho đến rữa nát ra cũng vẫn có Thân căn. [X. luận Đại tì bà sa Q.144; luận Du già sư địa Q.3, 54; luận Thành duy thức Q.10; luận Câu xá Q.4; Câu xá luận quang kí Q.2, 4; Thành duy thức luận thuật kí Q.3, phần đầu, 10 phần cuối; Phật gia danh tướng thông thích Q.thượng (Hùng thập lực)].

thân danh

Body and fame.

thân duyên

(親緣) Duyên gần gũi. Chỉ cho mối quan hệ mật thiết giữa đức Phật A di đà và hành giả niệm Phật, là 1 trong 3 duyên. Hằng ngày nếu hành giả miệng thường niệm Phật thì Phật liền nghe; thân thường lễ kính Phật thì Phật liền thấy, tâm thường nghĩ đến Phật thì Phật liền biết, ý thường nhớ nghĩ đến Phật thì Phật cũng thường nhớ nghĩ đến hành giả. Như vậy thì 3 nghiệp của Phật và 3 nghiệp của hành giả không lìa bỏ nhau, mối quan hệ khắng khít này gọi là Thân duyên. (xt. Tam Duyên).

thân giáo sư

Thầy bổn sư—Upadhyaya (skt)—One's own teacher. ; (親教師) Phạm:Upàdhyàya. Pàli:Upajjhàya. Hán âm: U ba đà da. Gọi tắt: Thân giáo. Chỉ cho bậc thầy mà mình được gần gũi để thụ giáo. Chữ Upàdhyàya, Hán dịch là Hòa thượng, thông thường chỉ cho: 1. Vị thầy lúc truyền giới, cũng gọilà Giới hòa thượng. 2. Tại Ấn độ, chỉ chung cho bậc sư phụ. Ngoài ra, Lạt ma giáo Tây tạng, trong 4 giai vị, giai vị cao nhất, tức giai vị thứ 4, gọi là Thân giáo sư, quyền lực chỉ kém Đạt lai lạt ma và Ban thiền lạt ma mà thôi. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.23; Bí tạngkí]. (xt. Hòa Thượng).

thân giới tâm huệ

Thân mình giữ gìn giới hạn, tâm mình giữ cho trong sáng—Controlled in body and wise in mind.

thân gần cuối

(hậu biên thân): là thân gần kế với thân tối hậu, sau chót của một vị Bồ Tát. Bồ Tát sau khi thọ thân này rồi mới thọ thân tối hậu và thành Phật. Xem thân sau cùng.

Thân huyên

(親萱): từ chỉ cho người mẹ. Huyên (萱) là loại cây cỏ sống lâu năm, Huyên Thảo (萱草) là loại Kim Châm (金針), tương truyền khi ăn vào thì làm cho người ta quên đi ưu sầu, phiền muộn; nên được gọi là Vong Ưu Thảo (忘憂草, Cỏ Quên Buồn) và thường được dùng thay thế cho người mẹ. Nơi người mẹ cư ngụ được gọi là Huyên Đường (萱堂), tức là nơi có trồng nhiều loại cỏ Huyên để giúp cho mẹ quên đi mọi ưu phiền. Cho nên “thân huyên dĩ thệ (親萱已逝)” có nghĩa là mẹ hiền đã qua đời.

thân hà

Hiranyavati (skt)—Sông Ni Liên Thiền—Nairanjana River.

thân hành

To come in person.

thân hành niệm tu tập

Theo Kinh Thân Hành Niệm trong Trung Bộ Kinh, Tu tập thân hành niệm là khi đi biết rằng mình đang đi; khi đứng biết rằng mình đang đứng; khi nằm biết rằng mình đang nằm; khi ngồi biết rằng mình đang ngồi. Thân thể được xử dụng thế nào thì mình biết thân thể như thế ấy. Sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và các tư duy về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy mà nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất và định tĩnh. Như vậy là tu tập thân hành niệm—According to the Kayagatasati-Sutta in the Middle Length Discourses of the Buddha, cultivation of mindfulness of the body means when walking, a person understands that he is walking; when standing, he understands that he is standing; when sitting, he understands that he is sitting; when lying, he understands that he is lying. He understands accordingly however his body is disposed. As he abides thus diligent, ardent, and resolute, his memories and intentions based on the household life are abandoned. That is how a person develops mindfulness of the body.

thân hình

Body.

thân hình quý báu

Precious body.

thân hình vô gián địa ngục

(身形無間地獄) Cũng gọi Hình vô gián địa ngục. Ngục Vô gián thứ 5 trong 5 loại địa ngục Vô gián. Ngục Vô gián thứ 5 là địa ngục A tì trong 8 địa ngục lớn. Vô gián là không xen hở, không lìa cách. Chiều rộng của địa ngục này là 84.000 do tuần, thân hình của các chúng sinh chịu khổ trong địa ngục này cũng cao 84.000 do tuần, bởi thế thân hình chúng sinh đầy ắp khoảng không gian của địa ngục, không xen kẽ, không cách hở, cho nên gọi là Thân hình vô gián địa ngục.

thân hữu

Người bạn thân—An intimate friend. ; (親友) Cũng gọi Thiện tri thức. Đồng nghĩa: Thiện hữu, Thắng hữu. Chỉ cho người bạn thân thiện, chính trực và có đức. Cứ theo kinh Quán vô lượng thọ thì đức Thích ca Như lai gọi hành giả niệm Phật là hoa phân đà lợi(hoa sen trắng) trong loài người, bồ tát Quán thế âm và bồ tát Đại thế chí là các Thắng hữu của người này.[X. kinh Niết bàn Q.25 (bản Bắc); luận Câu xá Q.10]. (xt. Thiện Trí Thức).

thân hữu lậu

Temporal (worldly) impure body.

thân hữu thất pháp

(親友七法) Cũng gọi Thiện hữu thất sự. Bảy pháp của người bạn thân. Tức chỉ cho 7 pháp lành của người muốn trở thành người chính trực, có đức. Cứ theo Thích thị yếu lãm quyển hạ thì 7 pháp lành ấy là: 1. Làm được những việc khó làm. 2. Cho được vật khó đem cho. 3. Nhịn được điều khó nhịn. 4. Nói cho bạn biết về những việc bí mật của mình. 5. Che giấu lẫn nhau. 6. Gặp khổ nạn không bỏ nhau. 7. Nghèo cùng không khinh nhau. [X. luật Tứ phần Q.41].

thân khí

Thân thể người ta chứa đựng 12 phần như da, thịt, máu, tóc, vân vân—The body as a utensil, i.e. containing all the twelve parts, skin, flesh, blood, hair, etc. ; (身器) Thân như đồ dùng. Tức ví dụ thân thể của hữu tình chúng sinh giống như đồ vật, có khả năng dung chứa các pháp, cho nên gọi là Thân khí. Theo Câu xá luận tụng sớ sao quyển 22 thì Thân chỉ cho y thân(thân làm chỗ nương) của người tu hành; Khí là ví dụ Y thân. Giáo pháp nương vào thân mà vận chuyển, giống như nước tùy theo đồ vật chứa đựng mà có hình dạng khác nhau. Đại minh tam tạng pháp số quyển 48 liệt kê 36 vật cấu thành thân thể loài hữu tình, trong đó da dày, da mỏng, máu, thịt, gân, mạch, xương, tủy, mỡ lá, mỡ nước, não, màng mỏng... là 12 vật của Thân khí. Thân khí thanh tịnh có 3 nguyên nhân: 1. Thân tâm xa lìa: Thân xa lìa sự chung chạ của tướng, tâm xa lìa sự suy tìm (1 trong các pháp tâm sở)bất thiện, 2 điều này là do biết đủ, ít muốn mà được. 2. Biết đủ, ít muốn: Thường biết đủ, không tham muốn nhiều. 3. Trụ nơi 4 Thánh chủng: Chỉ cho áo mặc, cơm ăn, đồ nằm ngồi được bao nhiêu cũng tự biết đủ và thích dứt ác ưa tu thiện, 4 pháp này là nhân sinh ra các bậc Thánh, cho nên gọi là Thánh chủng. [X. luận Câu xá Q.22; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 3; Câu xá luận tụng sớ luận bản Q.22].

thân khẩu thất chi

(身口七支) Bảy chi của thân và miệng. Chỉ cho 7 ác nghiệp trong 10 ác nghiệp, tức 3 ác nghiệp giết hại, trộm cướp, gian dâm của nghiệp thân và 4 ác nghiệp 2 lưỡi, ác khẩu, nói dối, nói thêu dệt của nghiệp khẩu, vì thân 3 miệng 4 nên gọi là Thân khẩu thất chi. Nếu lại thêm 3 ác nghiệp tham lam, giận dữ và ngu si của nghiệp ý thì thành 10 ác nghiệp, gọi là Thân tam khẩu tứ ý tam (Thân 3 miệng 4 ý 3).

thân kim cang

(Kim cang thân): Thân bền chắc không gì có thể làm hư hoại được, cũng không tự hư hoại theo thời gian. Đây là cách nói để ví với thân Phật.

thân kiến

Satkayadrshti (skt). • Ảo tưởng cho rằng thân mình là có thật, một trong ngũ kiến—The illusion of the body or self, one of the five wrong views. • Ý tưởng về một cái ngã, một trong tam kết. Có hai cách mà người ta có thể đi đến cái quan niệm cho rằng có sự hiện hữu thực sự của một cái ngã, một là sự tưởng tượng chủ quan, hai là quan niệm khách quan về thực tính—Thought of an ego, one of the three knots. There are two ways in which one comes to conceive the real existence of an ego, the one is subjective imagination and the other the objective conception of reality. • Tưởng rằng cái ngã cuả chính mình là lớn nhất và là tái sản quí báu nhất:Tin rằng cái ta là lớn nhât và vị đại nhất, nên mục hạ vô nhân. Chỉ có cái ta là quý báu nhứt mà thôi, người khác không đáng kể. Mình tìm fử để chà đạp hay mưu hai người khác—Believe that our self is our greatest and most precious possession in a nix in our eyes. We try by all means to satisfy to our self, irrespective of others' interest of rights. ** For more information, please see Ngã Kiến, Ngũ Kiến Vi Tế, and Tam Kết.

thân liên

1) Hoa sen trong thân, như tâm hay tám cánh sen trong loài hữu tình—The lotus in the body, i.e. the heart, or eight-leaved lotus in all beings. 2) Thân liên cũng tiêu biểu cho Thai Tạng Pháp Giới—It also represents the Carbhadhatu, which is the matrix of the material world out of which all beings come.

Thân Loan

(親鸞, Shinran, 1173-1262): vị tăng sống vào đầu thời kỳ Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), vị tổ sư khai sáng ra Tịnh Độ Chơn Tông Nhật Bản, con đầu của Hoàng Thái Hậu Cung Đại Tấn Nhật Dã Hữu Phạm (宮大進日野有範), thông xưng là Xước Không (綽空), Thiện Tín (善信). Ban đầu ông đầu sư với Từ Viên (慈圓), sau trở thành đệ tử của Pháp Nhiên (法然, Hōnen). Vào năm 1207 (năm đầu niên hiệu Thừa Nguyên [承元]), do vì pháp môn niệm Phật bị đàn áp nên ông bị lưu đày đến địa phương Việt Hậu (越後, Echigo), và trong khoảng thời gian này ông tự xưng là kẻ ngu ngốc và sống cuộc đời phi tăng phi tục. Cũng chính trong giai đoạn này, ông đã cưới vị Ni Huệ Tín (慧信) làm vợ. Đến năm 1211 (năm đầu niên hiệu Kiến Lịch [建曆]), ông được xá tội, và năm sau ông trở về kinh đô. Nơi đây ông gặp Thường Lục Quốc Đạo Điền Hương (常陸國稻田郷) ở vùng Quan Đông (關東, Kantō), lấy giáo nghĩa Tín Tâm Vi Bổn (信心爲本, tín tâm làm gốc) và tiến hành truyền đạo bố giáo. Các tác phẩm của ông để lại cho hậu thế có Giáo Hành Tín Chứng (敎行信証), Duy Tín Sao Văn Ý (唯信抄文意), Tịnh Độ Văn Loại Tụ Sao (淨土文類聚抄), Ngu Ngốc Sao (愚禿抄), v.v. Ôngđược ban cho thụy hiệu là Kiến Chơn Đại Sư (見眞大師). ; 親鸞; J: shinran; 1173-1262;|Cao tăng người Nhật, sáng lập Tịnh độ chân tông (j: jōdo-shin-shū) của Phật giáo Nhật Bản. |Ông là học trò của Pháp Nhiên (法燃; j: hōnen, Tịnh độ tông) nhưng có quan điểm khác thầy. Giáo pháp của tông này không còn giống Phật pháp nguyên thuỷ là bao nhiêu. Ba ngôi báu (Tam bảo; s: triratna) được đơn giản hoá thành lời thệ nguyện của đức Phật A-di-đà (s: amitābha, amitāyus) – nói chính xác hơn là lời nguyện thứ 18 trong 48 lời nguyện của Ngài. Ngôi báu thứ ba của Tam bảo là Tăng-già bị bác bỏ, các đệ tử của ông hoàn toàn là những Cư sĩ, chính ông lập gia đình. Theo Thân Loan thì sự tu tập thuần tuý theo Tự lực vô bổ. Ông quan niệm rằng, mọi người đều cần sự giúp đỡ từ bên ngoài (Tha lực) của đức A-di-đà và giải thoát chỉ có thể đạt được với sự giúp đỡ của Ngài. Ông quy tất cả các phương pháp tu hành về một: là Niệm Phật, niệm danh hiệu của Phật A-di-đà và cho rằng, đó chính là sự báo ân đối với vị Phật này và ngay cả cách niệm Phật này cũng trở thành dư thừa nếu niềm tin của người niệm danh nơi Ngài đủ mạnh, vững chắc.|Thân Loan quan niệm rằng, người tu hành Phật đạo có thể sống tại gia. Ông bị Tăng-già tại Kinh Ðô (kyōto) trục xuất và bị đày đi đến một tỉnh miền Bắc bởi vì sống chung với một phụ nữ. Theo yêu cầu của thầy, ông cưới vợ để chứng minh rằng, Giới luật dành cho tăng chúng không phải là điều kiện chính yếu để đạt giải thoát. Việc này gây sự bất hoà và chia rẽ trong giới đệ tử của Pháp Nhiên vì đa số tăng sĩ muốn giữ giới độc thân.|Sau đó Thân Loan sống bên lề xã hội, cùng với những kẻ mà theo ông là không biết phân biệt thiện ác. Thân Loan cho rằng Phật A-di-đà là vị sẵn sàng hơn cả cứu độ những người »kém cỏi« vì những người này không có gì khác hơn là lòng tin nơi A-di-đà. Còn những người »giỏi giang« hơn thì hay bị rơi vào ý nghĩ – theo ông là mê lầm – là nhờ thiện nghiệp hay Công đức tự tạo mà có thể đạt giải thoát. Ông chỉ biết đến thệ nguyện thứ 18 của Phật A-di-đà và vì vậy có nhiều khác biệt với Tịnh độ tông và Pháp Nhiên.

thân loan

(親鸞) Tổ khai sáng của Tịnh độ chân tông Nhật bản, người Kyoto, họ Đằng nguyên. Sư mồ côi cha mẹ từ nhỏ, theo ngài Từ viên ở viện Thanh liên cạo tóc xuất gia. Từ đó sư đổi tên nhiều lần như: Phạm yến, Xước không, Thiện tín, Ngu thốc Thân loan... Sau, sư đến núi Tỉ duệ và Nam đô học tập, nghiên cứu các tông, nhưng chưa được thỏa mãn. Niên hiệu Kiến nhân năm đầu (1208), bấy giờ đã 29 tuổi, sư đến tham vấn ngài Pháp nhiên ở Cát thủy mới đạt được túc chí và dốc toàn lực vào pháp môn Niệm Phật tha lực. Nhưng pháp môn niệm Phật của ngài Pháp nhiên bị chê bai nên thầy trò đều đắc tội. Sau, ngài Thân loan được phép trở về Kyoto, bèn đến các vùng Tín nùng (huyện Trường dã), Hạ dã (huyện Bản mộc), Thường lục (huyện Thứ thành)... thuyết pháp giáo hóa, tín đồ qui y rất đông. Niên hiệu Nguyên nhân năm đầu (1224), sư soạn Giáo hành tín chứng 6 quyển tại thảo am Đạo điền ở Thường lục, trở thành Thánh điển căn bản của Chân tông sau này. Sau, niên hiệu Nguyên nhân năm đầu được lấy làm kỉ nguyên khai tông lập phái. Năm 60 tuổi, trên đường trở về Kyoto, sư sáng lập chùa Cẩm chức ở Mộc bộ thuộc Cận giang(huyện Tư hạ). Sau khi đến Kyoto, sư ra sức giáo hóa và soạn thuật tại các chùa Cương kì, Cát thủy, Ngũ điều tây động viện... Năm Hoằng trường thứ 2 (1262), sư thị tịch, thọ 90 tuổi. Đệ tử an táng sư ở Đại cốc, thụy hiệulàKiến Chân Đại Sư. Sau khi làm đệ tử ngài Pháp nhiên, được thầy cho phép, sư lấy ni Huệ tín làm vợ, đó là khởi nguồn cho chế độ lấy vợ của Chân tông. Con trai của sư là Thiện loan (Nghĩa tuyệt) và con gái là ni Giác tín đều nổi tiếng ở đời. Đệ tử của sư có các vị: Chân Phật, Tính tín, Duy viên... Sư để lại các tác phẩm: Giáo hành tín chứng, Tịnh độ văn loại tụ sao, Ngu thốc sao, Nhập xuất nhị môn kệ tụng, Nhất niệm đa niệm văn ý, Duy tín sao văn ý... và rất nhiều loại tán khác. [X. Thiện tín thánh nhân Thân loan truyện hội; Thập di cổ đức truyện Q.7, 9; Tịnh độ chân tông thánh giáo mục lục].

thân lí giác

(親裏覺) Chỉ ý niệm thường nhớ nghĩ đến thân thích, làng xóm... là 1 trong 8 thứ ác giác. Theo phẩm Ác giác (Bất thiện giác) trong luận Thành thực quyển 14 nói, nếu người Xuất gia nhớ nghĩ đến họ hàng, làng xóm thì tâm sinh tham đắm, do tham đắm lại sinh tâm thủ hộ, bởi vậy không nên sinh Thân lí giác, mà phải nhớ nghĩ đến tất cả chúng sinh đang sống chết trong vòng luân hồi, tất cả đều là thân thích xóm làng, không nên thiên chấp. Vả lại, tất cả chúng sinh trong vòng sống chết đều là thân thích, xóm làng nên đau buồn khóc lóc lệ đã thành biển, nếu lại tham đắm thì khổ hoạn vô cùng. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.13]. (xt. Bát Giác).

thân mao thượng mi tướng

Lông trên thân Phật xoắn ngược lên trên, một trong ba mươi hai tướng hảo của Phật—The hairs on Buddha's body curled upwards, one of the thirty-two marks.

thân mê hoặc

(親迷惑) Sáu thứ Hoặc (phiền não) là Nghi và Năm kiến(Biên kiến, thân kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến) trong 10 thứ Hoặc do Kiến đạo đoạn trừ, gọi là Thân mê hoặc. Vì đều do thân mê đối với lí Tứ đế mà khởi các phiền não, cho nên gọi là Thân mê hoặc.

thân mình bất tịnh, thân người cũng bất tịnh, chỉ có thân phật là thanh tịnh

Our own bodies being impure and disgust, the bodies of others are likewise, only the Buddha-body is forever pure.

thân mẫu

Mother.

thân mật

Intimate—Familiar. ; (身密) Phạm: Kàya-guhya. Một trong 3 mật(tức thân mật, khẩu mật, ý mật). Tam mật của Mật giáo có chia ra Pháp Phật tam mật và Chúng sinh tam mật. Trong Pháp Phật tam mật thì tất cả hình sắc là Thân mật; còn trong Chúng sinh tam mật thì người tu hành thân kết ấn khế để triệu thỉnh Thánh chúng, gọi là Thân mật. Trong Hiển giáo thì chúng sinh trong 1 hội hoặc thấy thân Phật màu vàng ròng, màu bạc trắng, màu các thứ báu, hoặc thấy thân Phật cao 1 trượng 6 thước, hoặc thấy thân Phật cao 1 dặm, 10 dặm, trăm nghìn muôn ức dặm, cho đến vô biên vô lượng trùm khắp hư không, điều này đại khái trời, người không thể biết được, không thể hiểu được, cũng gọi là Thân mật. (xt. Tam Mật).

thân mến

Beloved—Dear.

thân mệnh

Body and life (bodily life).

thân mục

To see with one's eyes.

Thân Nghiêm

(親嚴, Shingon, 1151-1236): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng đầu và giữa thời Liêm Thương, trú trì đời thứ 98 của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), Tự Trưởng đời thứ 55 của Đông Tự (東寺, Tō-ji), húy là Thân Nghiêm (親嚴), thông xưng Đường Kiều Đại Tăng Chánh (唐橋大僧正), Tùy Tâm Viện Đại Tăng Chánh (隨心院大僧正), Việt Hậu Đại Tăng Chánh (越後大僧正), xuất thân vùng Kyoto, con của vị Trưởng Quan Kami vùng Phi Đạn (飛驒, Hida) là Trung Nguyên Thân Quang (中原親光). Ông theo hầu Chuyên Niệm (專念), học về Mật Giáo; đến năm 1181 thì thọ phép Quán Đảnh với Hiển Nghiêm (顯嚴) ở Pháp Trú Tự (法住寺). Ông đã từng tu phép cầu mưa ở Thần Tuyền Uyển (神泉苑) để cầu nguyện cho cung phi sinh sản an toàn. Vào năm 1228, ông làm Tự Trưởng, Pháp Vụ cũng như Hộ Trì Tăng của Đông Tự. Năm 1229, ông nhận tuyên chỉ của triều đình ban cho Tùy Tâm Viện (隨心院) ở vùng Tiểu Dã (小野, Ono) trở thành ngôi chùa Môn Tích. Đến năm 1235, ông làm Biệt Đương của Đông Đại Tự.

thân nghiệp

xem ba nghiệp. ; Kaya-sankhara (p)—Thân nghiệp tiêu biểu cho kết quả của những hành động của thân trong tiền kiếp. Tuy nhiên, thân nghiệp khó được thành lập hơn ý và khẩu nghiệp, vì như có lúc nào đó mình muốn dùng thân làm việc ác thì còn có thể bị luân lý, đạo đức hay cha mẹ, anh em, thầy bạn, luật pháp ngăn cản, nên không dám làm, hoặc không làm được. Vì thế nên cũng chưa kết thành thân nghiệp được. Hai nghiệp khác là khẩu và ý nghiệp—The karma operating in the body (the body as representing the fruit of action in previous existence. Body karma is difficult to form than thought and speech karma, for there are times when we wish to use our bodies to commit wickedness such as killing, stealing, and commiting sexual misconduct, but it is possible for theories, virtues as well as our parents, siblings, teachers, friends or the law to impede us. Thus we are not carry out the body's wicked karma—The other two karmas are the karma of the mouth and of the mind). ** For more information, please see Tam Nghiệp. ; (身業) Phạm: Kàya-karman. Pàli: Kàya-kamma. Một trong 3 nghiệp, chỉchocác nghiệp do thân tạo tác, được chia làm 3 loại là thiện, ác và vô kí. Thân ác nghiệp chỉ cho giết hại, trộm cướp, gian dâm; trái lại, không giết hại, không trộm cướp, không gian dâm là Thân thiện nghiệp. Còn các nghiệp chẳng phải thiện, chẳng phải ác, không có năng lực cảm quả thì là Thân nghiệp vô kí. Thân nghiệp lại có Biểu nghiệp và Vô biểu nghiệp khác nhau. Biểu nghiệp chỉ cho tất cả động tác được bày tỏ ra, như huơ tay, giơ chân... đều thuộc Biểu nghiệp. Vô biểu nghiệp chỉ cho các nghiệp không bày tỏ ra, nhưng do năng lực của Biểu nghiệp mà tự sinh thế lực phòng ngừa điều sai trái, xấu ác. Thuyết nhất thiết bộ Tiểu thừa cho rằng Thân nghiệp và Ngữ nghiệp gọi chung là Tư dĩ nghiệp, chủ trương Biểu nghiệp lấy hình sắc làm thể, Vô biểu nghiệp lấy Vô biểu sắc làm thể. Kinh bộ thì chủ trương Biểu nghiệp lấy tâm sở Tư (chỉ cho Động thân tư) làm thể, còn Vô biểu nghiệp thì lấy chủng tử của tâm sở Tư làm thể. Các nhà Duy thức Đại thừa cũng lấy Động phát thắng tư (Động thân tư, Phát ngữ tư) là thể của nghiệp, chủ trương Biểu nghiệp và Vô biểu nghiệp đều là giả lập, chứ chẳng phải có thật; tức cho rằng Biểu nghiệp được giả lập dựa theo sự sinh diệt nối tiếp nhau của các sắc tướng như tay, chân tựa hồcóbày tỏ ra..., còn Vô biểu nghiệp thì được giả lập dựa theo phần vị của chủng tử thuộc tâm sở Tư. Tông Thành thực thì chủ trương thể của nghiệp là pháp chẳng phải sắc chẳng phải tâm. [X. luận Chúng sự phân A tì đạt ma Q.5; luận Câu xá Q.1, 13; luận Thành duy thức Q.1; luận Đại bà sa Q.113; luận Thành thực Q.7; Câu xá luận quang kí Q.13; Thành duy thức luận thuật kí Q.2, phần đầu; Đại thừa nghĩa chương Q.7; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3, phần cuối]. (xt. Nghiệp).

thân nghiệp công đức

(身業功德) Chỉ cho thân nghiệp của đức Phật A di đà có đầy đủ các công đức tướng hảo vi diệu, là 1 trong 8 thứ công đức của Phật thuộc 29 thứ trang nghiêm ở Tịnh độ cực lạc. Bài kệ trong luận Tịnh độ của ngài Thiên thân có câu (Đại 26, 231 thượng) : Ánh tướng hảo một tầm, sắc tượng vượt quần sinh, đó là ý nghĩa thành tựu công đức trang nghiêm thân nghiệp. Theo Vãng sinh luận chú của ngài Đàm loan thì 3 nghiệp thân, khẩu, ý trang nghiêm của Phật là đối trị 3 nghiệp hư vọng của chúng sinh; như chúng sinh do Thân kiến mà chịu thân thấp hèn, xấu xí, 8 nạn, trôi lăn trong 3 đường, nếu được thấy thân tướng sáng chói, tốt đẹp của Phật A di đà thì thoát khỏi sự trói buộc của thân nghiệp mà được thân nghiệp rốt ráo bình đẳng. Cứ theo luận chú lược sao của ngài Liễu huệ người Nhật thì công đức thân nghiệp rốt ráo bình đẳng này là nhờ vào các nguyện thứ 12 và 33 trong 48 nguyện của Phật A di đà mà thành tựu.

thân người khó được

It is difficult to be reborn as a human being—Trong các trân bảo, sinh mạng là hơn, nếu mạng mình còn là còn tất cả. Chỉ mong sao cho thân mạng nầy được sống còn, thì lo chi không có ngày gầy dựng nên cơ nghiệp. Tuy nhiên, vạn vật ở trên đời nếu đã có mang cái tướng hữu vi, tất phải có ngày bị hoại diệt. Đời người cũng thế, hễ có sanh là có tử; tuy nói trăm năm, nhưng mau như ánh chớp, thoáng qua tựa sương, như hoa hiện trong gương, như trăng lồng đáy nước, hơi thở mong manh, chứ nào có bền lâu? Phật tử chơn thuần nên luôn nhớ rằng khi sanh ra đã không mang theo một đồng, nên khi chết rồi cũng không cầm theo một chữ, suốt đời làm lụng khổ thân tích chứa của cải, rốt cuộc vô ích cho bản thân mình trước cái sanh lão bệnh tử. Sau khi chết di, của cải ấy liền trở qua tay người khác một cách phủ phàng. Lúc ấy không có một chút phước lành nào để cho thần thức nương cậy về kiếp sau, cho nên phải đọa vào tam đồ ác đạo. Cổ đức có dạy: “Thiên niên thiết mộc khai hoa dị, nhất thất nhơn thân vạn kiếp nan.” Nghĩa là cây sắt ngàn năm mà nay nở hoa cũng chưa lấy làm kinh dị, chớ thân người một khi đã mất đi thì muôn kiếp cũng khó mà tái hồi. Vì thế, Phật tử chơn thuần nên luôn nhớ những gì Phật dạy: “Thân người khó được, Phật pháp khó gặp. Được thân người, gặp Phật pháp, mà ta nở để cho thời gian luống qua vô ích, quả là uổng cho một kiếp người.”—Of all precious jewels, life is the greatest; if there is life, it is the priceless jewel. Thus, if you are able to maintain your livelihood, someday you will be able to rebuild your life. However, everything in life, if it has form characteristics, then, inevitably, one day it will be destroyed. A human life is the same way, if there is life, there must be death. Even though we say a hundred years, it passes by in a flash, like lightening streaking across the sky, like a flower's blossom, like the image of the moon at the bottom of a lake, like a short breath, what is really eternal? Sincere Buddhists should always remember when a person is born, not a single dime is brought along; therefore, when death arrives, not a word will be taken either. A lifetime of work, putting the body through pain and torture in order to accumulate wealth and possessions, in the end everything is worthless and futile in the midst of birth, old age, sickness, and death. After death, all possessions are given to others in a most senseless and pitiful manner. At such time, there are not even a few good merits for the soul to rely and lean on for the next life. Therefore, such an individual will be condemned into the three evil paths immediately. Ancient sages taught: “A steel tree of a thousand years once again blossom, such a thing is still not bewildering; but once a human body has been lost, ten thousand reincarnations may not return.” Sincere Buddhists should always remember what the Buddha taught: “It is difficult to be reborn as a human being, it is difficult to encounter (meet or learn) the Buddha-dharma; now we have been reborn as a human being and encountered the Buddha-dharma, if we let the time passes by in vain we waste our scarce lifespan.”

thân nhân

Relatives.

thân nhân duyên

(親因緣) Nhân duyên gần gũi, tức chỉ cho nhân duyên thứ nhất trong 4 nhân duyên, là nhân duyên trực tiếp, thân mật, có năng lực sinh ra các pháp hữu vi. Tông Duy thức gọi là Thân nhân duyên, ý nói có khả năng thân sinh ra tự quả, biện biệt tính chất sinh ra chủng tử nhân duyên của tự thể. Vì các pháp vốn không có tự tính, phải nương vào pháp thân nhân duyên khác mà sinh khởi, tức chủng tử sinh hiện hành, hiện hành huân chủng tử, 3 pháp đồng thời và làm nhân quả lẫn nhau, đây là nghĩa chân thực về duyên khởi của Đại thừa. [X. luận Thành duy thức Q.7]. (xt. Tứ Duyên).

thân nhãn

See Thân Mục in Vietnamese-English Section.

thân nhĩ

To hear with one's own ears.

thân như ý thông

Rddhividhi-jnana (skt)—See Thân Túc Thông.

thân nhẫn

Patience of the body—Endurance or forebearing of the body.

thân nhẫn ý nhẫn

To forebear in both the body and the mind—Nếu muốn thành tựu quả vị Bồ Tát, chúng ta phải thực hành thân nhẫn ý nhẫn—If we want to accomplish the Bodhisattvahood, we should always be forebearing in both the body and the mind.

thân nhập

Một trong lục nhập. Cũng là một trong thập nhị nhơn duyên—The sense of touch, one of the six senses. Also one of the links in the chain of causation. ** For more information, please see Lục Nhập and Thập Nhị Nhơn Duyên.

thân nhật

Candra (skt). 1) Mặt Trăng: The moon. 2) Tên của một vị trưởng lão: Name of an elder. ; (申日) Hán dịch: Thủ tịch. Tên một vị Trưởng giả ở thành Vương xá, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ, con ông tức là đồng tử Nguyệt quang. Thân nhật từng cng với nhóm Lục sư ngoại đạo như Bất lan ca diếp... âm mưu hãm hại đức Phật bằng cách giả vờ thỉnh Phật đến nhà nhận sự cúng dường, lén đào hầm lửa trước và trộn thuốc độc vào cơm để hại Phật. Tuy biết quỉ kế của Thân nhật nhưng vì thương xót tính ngông cuồng ngu dại của ông ta nên đức Phật vẫn nhận lời. Bấy giờ, Thân nhật có 1 người con tên là Nguyệt quang, mới 16 tuổi nhưng kiến thức cao siêu lại thêm có đức, bèn khuyên can cha và ca ngợi công đức của Phật, cho rằng thân Phật là thân kim cương bất hoại, Thân nhật không nghe, cứ sai người đi đón rước Phật. Đức Phật vừa đến nơi liền dùng thần lực hóa hiện ra các thứ trang nghiêm, lúc đó hầm lửa bỗng biến thành ao tắm, Thân nhật kinh hãi, ăn năn tội lỗi, nhóm Lục sư ngoại đạo cũng đều hỗ thẹn và tìm đường rút lui. Đức Phật liền giảng Bát giải, Tứ đế, Lục độ, Tam thoát... cho Thân nhật nghe, Thân nhật khai ngộ, chứng được pháp nhẫn bất thoái chuyển. [X. kinh Thân nhật; kinh Nguyệt quang đồng tử; Thân nhật nhi bản kinh; Huyền ứng âm nghĩa Q.8].

Thân niệm xứ

một pháp trong Tứ niệm xứ (gồm có: thân, thọ, tâm và pháp). Thân niệm xứ dạy quán thân là bất tịnh, bằng cách quán tưởng các món tạo thành thân như: da, thịt, xương, gân, ruột, gan, tim, phổi... để thấy rằng hết thảy đều là bất tịnh, không thường còn. Cũng quán tưởng thân người sau khi chết tan rã, hôi thối, không thường còn.

thân niệm xứ

(身念處) Phạm: Kàyasmfty-upasthàna. Pàli:Kàye kàyànupassi viharatì. Cũng gọi Thân niệm trụ, Thân quán. Quán xét tự tướng bất tịnh của thân, là 1 trong 4 niệm xứ. Cũng quán xét cộng tướng khổ, không, vô thường, vô ngã, để đối trị tịnh điên đảo trong 4 điên đảo. Cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 43 thì trong thân con người có 36 thứ vật bất tịnh như tóc, lông, răng, ghét gúa, nước dãi, da dày, da mỏng... nếu quán xét kĩ từng vật trong 36 vật dơ bẩn này thì xa lìa được sự đắm đuối về ái dục. (xt. Tứ Niệm Trụ).

thân nầy là một khối ung sang bất tịnh

This body is an impure mass of ulcers.

thân nầy là trung tâm bão của khổ đau phiền não

This body is the storm center of sufferings and afflictions.

thân nộ ba lâm

Yasti-vana (skt)—Trượng Lâm—Rừng Thân Nộ Ba nơi mà ngoại đạo đã dùng một trong những cây trong đó để đo Đức Phật và cuối cùng phải ném bỏ, vì càng đo Đức Phật càng cao thêm—Groves of staves, said to have grown from the staff (of 16 foot bamboo pole) with which the heretic measured the Buddha and which he threw away, because the more he measured the higher the Buddha grew. Another part of the legend is that the forest grew from the bamboo which heretics left behind in chagrin.

thân phần

(身分) I. Thân Phần. Chỉ cho 1 bộ phận của thân thể hoặc toàn bộ thân thể. Kinh Đại bi không trí kim cương đại giáo vương nghi quĩ quyển 2 (Đại 18, 592 trung) nói: Người tu Du già phải khéo suy tính, cho đến thân phần ẩm thực không sinh ra tạp loạn, như Thân phần cúng dường nói trong Di giáo kinh luận là chỉ cho Thân nghiệp cúng dường như thức ăn uống, áo mặc, đồ nằm, thuốc thang... [X. luận Đại tì bà sa Q.177]. II. Thân Phần. Chuyên chỉ cho nam căn. Luật Thập tụng quyển 1 (Đại 23, 1 hạ) nói: Kẻ ngu si này mở các cửa hữu lậu, thà để thân phần (nam căn) vào miệng rắn độc chứ quyết không để nó vào nữ căn.

thân phận

Condition.

thân phụ

Father.

thân quang

Ánh sáng phát ra từ chính thân Phật hay thân các vị Bồ Tát—The glory or halo shining from the person of a Buddha or Bodhisattva. ; (親光) I. Thần Quang. Cũng gọi Uy thần quang. Ánh sáng của Phật linh diệu không thể nghĩ bàn. Quang minh tượng trưng cho trí tuệ, trí của Phật xa lìa tất cả tướng phân biệt hư vọng, không thể nghĩ bàn, vì thế quang minh của Phật cũng lìa hình tướng, cho nên gọi là Thần quang. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Tán A di đà Phật kệ (Đàm loan)]. II. Thần Quang. Thiền tông gọi ánh sáng xưa nay của chính mình là Thần quang. Thiền gia qui giám (Vạn tục 112, 463 hạ) nói: Thần quang chẳng mờ, xưa nay sáng rỡ, vào được cửa này, chẳng còn hiểu biết. III. Thần Quang. Tên của ngài Tuệ khả, Tổ thứ 2 của Thiền tông, lúc còn trẻ. (xt. Tuệ Khả).

thân quyến

See Thân (3).

thân sau cùng

(tối hậu thân): tức là lần thọ thân cuối cùng của một vị Bồ Tát trước khi thành tựu quả Phật. Vị Bồ Tát này cũng được gọi là Bồ Tát Nhất sanh bổ xứ.

thân sơ

Close and far.

thân sắc

Countenance.

thân sắt tri lâm

(申瑟知林) Phạm: Yawỉi-vana. Pàli: Yaỉỉhi-vana, Laỉỉhi-vana. Cũng gọi: Thân nộ lâm, Thân nộ ba lâm, Già việt lâm, Từ tự lâm. Hán dịch: Trượng lâm. Rừng gậy, là khu vườn rừng ở phía ngoài thành Vương xá, nước Ma yết đà, thuộc Trung Ấn độ đời xưa. Cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 38 thì khi đến nước Ma yết đà giáo hóa, đức Phật đã từng trụ ở khu vườn rừng này, vua Tần bà sa la và các Tiểu vương, quần thần đều đến nghe đức Phật thuyết pháp. Về nguyên do tại sao khu vườn rừng này có tên là Trượng lâm thì Thích ca phương chí quyển hạ (Đại 51,963 hạ) ghi: Thân sắt tri lâm (Hán dịch là Trượng lâm – rừng gậy) có rất nhiều hang núi. Thủa xưa có người dùng chiếc gậy tre dài 1 trượng 6 thước để đo lường thân Phật, thân Phật luôn cao hơn đầu gậy; do đó, người ấy ném gậy rồi bỏ đi, gậy mọc rễ, lan ra khắp núi. Ngoài ra, về vị trí khu rừng này, theo kinh Trung a hàm quyển 11, Trượng lâm ở cách thành Vương xá 1 do diên; còn phẩm Độ bình sa vương trong kinh Trung bản khởi quyển thượng cũng ghi cách thành La duyệt kì 40 dặm(tức 1 do diên). Tuy nhiên, cũng còn nhiều ghi chép khác nữa.

thân sở duyên duyên

(親所緣緣) Đối lại: Sơ sở duyên duyên. Tông Duy thức chia Sở duyên duyên trong 4 duyên làm 2 loại là Thân sở duyên duyên và Sơ sở duyên duyên. Duyên không xa lìa thể năng duyên và là chỗ nưong gá của sự suy nghĩ trong Kiến phần(chủ thể có năng lực nhận thức đối tượng khách quan), gọi là Thân sở duyên duyên. [X. luận Thành duy thức Q.7]. (xt. Tứ Duyên, Sơ Sở Duyên Duyên).

thân tam khẩu tứ ý tam

(A) 1) Thân tam: Kaya-karmas (skt)—Ba giới về thân—The three commandments dealing with the body: a. Không sát sanh: Not to kill or prohibiting taking of life—Chúng ta chẳng những không phóng sanh cứu mạng, mà ngược lại còn tiếp tục sát sanh hại mạng nữa, chẳng hạn như đi câu hay săn bắn, vân vân—We do not free trapped animals; but, in contrast, we continue to kill and murder innocent creatures, such as fishing, hunting, etc. b. Không trộm cắp: Not to steal or prohibiting stealing—Chúng ta chẳng những không bố thí cúng dường, mà ngược lại còn lại tiếp tục ích kỷ, keo kiết, trộm cắp nữa—We do not give, donate, or make offerings; but, in contrast, we continue to be selfish, stingy, and stealing from others. c. Không tà dâm: Not to commit adultery or prohibiting commiting adultery—Chúng ta chẳng những không đoan trang, chánh hạnh, mà ngược lại còn tiếp tục tà dâm tà hạnh nữa—We do not behave properly and honorably; but, in contrast, we continue to commit sexual misconduct or sexual promiscuity. 2) Khẩu tứ: Vac-karmas (skt)—Bốn giới về—The four dealing with the mouth: a. Không nói dối: Not to lie—Chúng ta chẳng những không nói lời ngay thẳng chơn thật, mà ngược lại luôn nói lời dối láo—We do not speak the truth; but, in contrast, we continue to lie and speak falsely. b. Không nói lời đâm thọc: Not to exaggerate—Chúng ta không nói lời hòa giải êm ái, mà ngược lại luôn nói lưỡi hai chiều hay nói lời xấu ác làm tổn hại đến người khác—We do not speak soothingly and comfortably; but, in contrast, we continue to speak wickedly and use a double-tongue to cause other harm and disadvantages. c. Không chửi rũa: Not to abuse—Chúng ta chẳng những không nói lời ôn hòa hiền dịu, mà ngược lại luôn nói lời hung ác như chữi rũa hay sỉ vả—We do not speak kind and wholesome words; but, in contrast, we continue to speak wicked and unwholesome words, i.e., insulting or cursing others. d. Không nói lời vô tích sự: Not to have ambiguous talk—Chúng ta không nói lời chánh lý đúng đắn, mà ngược lại luôn nói lời vô tích sự—We do not speak words that are in accordance with the dharma; but, in contrast, we continue to speak ambiguous talks. 3) Ý tam: Moras-karmas (skt)—Ba giới về ý—The three dealing with the mind: a. Không ganh ghét: Not to be covetous—Chúng ta không chịu thiểu dục tri túc, mà ngược lại còn khởi tâm tham lam và ganh ghét—We do not know how to desire less and when is enough; but we continue to be greedy and covetous. b. Không xấu ác: Not to be malicious—Chúng ta chẳng những không chịu nhu hòa nhẫn nhục; mà lại còn luôn sanh khởi các niềm sân hận xấu ác—We do not have peace and tolerance toward others; but, in contrast, we continue to be malicious and to have hatred. c. Không bất tín: Not to be unbelief—Chúng ta chẳng những không tin luật luân hồi nhân quả; mà ngược lại còn bám víu vào sự ngu tối si mê, không chịu thân cận các bậc thiện hữu tri thức để học hỏi đạo pháp và tu hành—We do not believe in the Law of Causes and Effetcs, but in contrast we continue to attach to our ignorance, and refuse to be near good knowledgeable advisors in order to learn and cultivate the proper dharma. (B) 1) Thân tam: Kaya-karmas (skt)—Ba giới về thân—The three commandments dealing with the body: a. Không sát sanh: Not to kill. b. Không trộm cắp: Not to steal. c. Không tà dâm: Not to commit adultery. 2) Khẩu tứ: Vac-karmas (skt)—Bốn giới về ý—The four dealing with the mouth: a. Không nói dối: Not to lie. b. Không nói lời hung dữ: Not to insult. c. Không nói lời đâm thọc: Not to exaggerate. d. Không nói lưỡi hai chiều: Not to speak with a double-tongue. 3) Ý tam: Moras-karmas (skt)—Ba giới về ý—The three dealing with the mind: a. Không tham: Not to be greedy. b. Không sân: Not to be hatred. c. Không si: Not to be ignorant.

thân tam muội

The embodiment of samaya—The symbol of a Buddha or bodhisattva.

thân thanh tịnh

(身清淨) Chỉ cho thân nghiệp xa lìa các hành vi phiền não, ô nhiễm. Tức không giết hại, không trộm cướp, không gian dâm, là 1 trong 3 thứ thanh tịnh. [X. luận Câu xá Q.16; luận Tập dịmôn túc Q.6]. (xt. Thanh Tịnh ).

thân thiết

Intimate—Familiar.

thân thiện

Friendly.

thân thuộc

Relatives.

thân thành

Thân như là thành trì của tâm—The body as the citadel of the mind.

Thân thích

(親戚): sự thân cận, gần gủi về mặt huyết thống. Theo Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648), học giả thời nhà Đường của Trung Quốc, thân thích được giải thích là “Thân chỉ tộc nội, thích ngôn tộc ngoại (親指族內、戚言族外, thân là chỉ cho những người trong gia tộc, thích là chỉ cho những người ngoài gia tộc).” Cho nên, thân thích gồm 2 loại: những người thân thuộc hệ huyết thống trực tiếp (直系血親, trực hệ huyết thân) và hệ huyết thống gián tiếp (旁系血親, bàng hệ huyết thân). Câu “luân trung thân thích (倫中親戚)” có nghĩa là sự gần gủi trong luân thường đạo lý.

thân thích

Relatives.

thân thông

See Thân Túc Thông.

thân thắng

(親勝) Phạm: Bandhazri. Hán âm: Bạn độ thất lợi, Bạn đồ thất lợi.Một trong 10 vịđạiLuận sư Duy thức. Sự tích về sư không được rõ, tương truyền sư là người cùng thời đại với ngài Thế thân. Sư có soạn Lược thích về tác phẩm Duy thức tam thập tụng của ngài Thế thân, vì rất khế hợp với ý của tác giả nên các Luận sư đời sau đều y cứ vào bộ lược thích, nhưng đáng tiếc hiện nay sách này đã thất truyền.

thân thể

(身體) Phạm:Kàya. Hán âm: Ca da. Hán dịch: Tích tập, y chỉ. Chỉ cho chỗ nương gá(y chỉ) của thức thân, Phật giáo gọi là Thân căn, hoặc gọi tắt là Thân, 1 trong 5 căn, 1 trong 6 căn, 1 trong 12 xứ, 1 trong 18 giới. Các căn như mắt, tai... tuy đều là chứa nhóm, nương gá, nhưng các căn đều phải nương vào Thân mới thành lập được, vì thế mới đặc biệt gọi Thân là Ca da. Trong 12 xứ gọi là Thân xứ (Phạm:Kàyàyatana) trong 18 giới gọi là Thân giới (Phạm:Kàyadhàtu). Trong các luận như luận Đại tì bà sa, để phân biệt Thân căn với thân gồm xương, thịt, gân, mạch... gọi thân xương, thịt... là Phù trần căn. Đối lại với Phù trần căn, Thân căn có tác dụng xúc giác, gọi là Thắng nghĩa căn. [X. luận Phẩm loại túc Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3 phần đầu]. (xt. Thân Căn).

thân thụ

(身受) Chỉ cho 3 cảm thụ khổ, vui, không khổ không vui(tức khổ, lạc, xả)của nhục thân hoặc cảm giác do 5 thức trước(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân)cảm nhận. Thụ là sự kết hợp của 3 thứ: Căn(cảm quan), Cảnh(đối tượng), Thức(cảm giác). Thụ (Phạm: Vedanà) của Phật giáo tương đương với cái mà người ta thường gọi cảm thụ. (xt. Thụ)

thân thức

Kaya-vijnana (skt)—Body consciousness—Tactile consciousness—Thân thức phát triển khi điều kiện nổi bậc trong đó thân tiếp xúc với đối tượng bên ngoài. Thân căn nằm khắp các nơi trong cơ thể—Tacticle sensation consciousness—Body consciousness develops when the dominant condition in which the body faculty meets an object of touch. The location of the body faculty is throughout the entire body. Cognition of the objects of touch, one of the five forms of cognition. ** For more information, please see Bát Thức. ; (身識) Phạm:Kàya-vijĩàna. Pàli:Kàya-viĩĩàna. Chỉ cho tâm thức nương gá vào thân căn để nhận biết đối tượng tiếp xúc, 1 trong 5 thức, 1 trong 6 thức, 1 trong 18 giới. Các đối tượng (cảnh)mà thân thức tiếp xúc gồm 11 thứ: Đất, nước, lửa, gió, tính trơn, tính ráp, tính nặng, tính nhẹ, lạnh, đói và khát. Lại nữa, về đại chủng mà 5 sắc căn(tức Thắng nghĩa căn)mắt, tai, mũi, lưỡi, thân nương gá có phải là chỗ mà thân thức duyên theo hay không thì luận Đại tì bà sa quyển 127 có nêu ra 2 thuyết: Thuyết thứ nhất cho rằng 5 sắc căn không thể va chạm, cho nên không phát ra thân thức, do đó mà đại chủng là chỗ nương gá trong hiện tại cũng không có nghĩa phát ra thân thức. Thuyết thứ hai cho rằng đại chủng mà thân căn nương gá rất gần, cho nên không thể phát ra thân thức, còn đại chủng của các sắc căn khác thì đều là sở thức của thân thức. Đại chủng của thân căn nương gá là cảnh sở duyên của thân thức khác, cho nên cũng được gọi là sở thức của thân thức. Ngoài ra, thân thức bị trói buộc ở cõi Dục có đủ 3 tính thiện, bất thiện và vô kí; ở Sơ thiền cõi Sắc thân thức tương ứng với các phiền não do Tu đạo đoạn trừ, thuộc về hữu phú vô kí; còn tại cõi Vô sắc thì vì không có thân căn làm chỗ nương gá nên không sinh thân thức. [X. luận Thức thân túc Q.3, 6; luận Phẩm loại túc Q.1; luận Đại tì bà sa Q.71, 73; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Câu xá Q.2; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.2]. (xt. Đại Chủng, Ngũ Thức).

thân tiên nhãn

The eye that precedes the body—The ability to regulate our physical actions even before we are conscious of them.

thân tiền hữu

Antecendent Existence Body—Tiền có nghĩa là trước, khởi thủy hay đầu tiên. Hữu có nghĩa là đang có, đang mang, hay đang nhận lấy. Thân Tiền Hữu là cái thân xác tứ đại hiện tại, thể chất hay phi thể chất, do các nghiệp duyên tiền kiếp tạo thành mà chúng sanh chúng ta đang mang lấy hiện giờ. Thân tiền hữu nầy sẽ phải lần lượt trải qua bốn giai đoạn, sanh, lão, bệnh, và tử. Thân tiền hữu chỉ sống còn được trong một thời gian nào đó, chớ không được bền vững hay trường cửu. Bởi lẽ hễ có sanh tất có diệt. Không có bất cứ một loại chúng sanh nào trong tứ sanh có thể vượt qua định luật vô thường bất di bất dịch nầy, kể cà các bậc Thiên Tiên—Antecedent means before, the origin, or the beginning, etc. Existence means it is inhabited currently, and used presently, etc. The antecedent existence body is the present form body, physical or non-physical, created from various karmasand predestined affinities that each sentient being accumulated in the past. In turn, this antecedent existence body will pass through these four stages of impermanence: birth, old age, sickness, and death. The antecedent existence body will remain only for a definite period of time, but it will not be permanent or eternal because there is birth, then there must be death. There is absolutely no being of the four types of sentient beings, with an antecedent existence body, can overcome this inevitable fate of these four unchanging laws of impermanence including the Heavenly Fairies.

thân trung hữu

Antara-bhava (skt)—Intermediate Existence Body. (A) Nghĩa của Thân Trung Hữu—The meanings of the Intermediate Existence Body: Giai đoạn giữa lúc chết và lúc đi đầu thai. Đây là tiến trình chết và tái sanh trong vòng 49 ngày. Hễ có thân tiền hữu, thì đương nhiên là phải có thân trung hữu và thân hậu hữu. Trung có nghĩa là ở khoảng giữa, ở giữa của hai khoảng đời nầy và đời sau. Hữu là hiện có, hay đang mang lấy. Vì cái quả báo do nghiệp tội của thân tiền hữu đã gây tạo là có chứ không phải là Không. Chính thế nên mới được gọi là Hữu. Thân Trung Hữu là thân kế sau của thân tiền hữu. Nói cách khác, tất cả các loại chúng sanh hữu tình sau khi mạng chung tức là đã bỏ thân tiền hữu rồi. Khi đó thân xác hoàn toàn bị hư hoại, ngũ ấm chia lìa, tứ đại phân ly, thần thức liền thoát ngay ra khỏi xác thân tiền hữu, trước khi chưa thọ lấy thân hậu hữu tức là thân của đời sau, thì thần thức nầy ở vào trong giai đoạn thọ cảm lấy một cảnh giới khác. Trong lúc nầy, thần thức ở vào trong một giai đoạn chuyển tiếp ngắn và mang lấy một thân thể khác gọi là thân trung hữu—Bardo stage—The intermediate stage between death and rebirth. It's the 49-day-long process death and rebirth. If there is an antecedent existence body, then, naturally, there has to be an Intermediate Existence Body and an After Existence Body. Intermediate means middle, or in between two lives of the present and future. Existence means present, or currently inhabitating. Because the karmic retribution are concrete and not emptiness. Thus, because of the genuineness of karmic consequences, it is called Existence. The intermediate existence body means the body to be inhabited after the antecedent body. In other words,once a sentient being's dstiny ends, he or she must abandon the antecedent existence body. Once this happens, that body will decay, the five aggregates will separate, and that person's spirit will leave the antecedent existence body. And before inhabiting the after existence body or the body of the future life, the spirit of this individual will exist in a period where it will take on a new realm. During this time, the spirit will enter a transitional period as they immediately exist as another entity or inhabit a different body called intermediate existence body—For more information, please Antara-bhava in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. (B) Các giai đoạn thọ báo của Thân Trung Ấm—Various stages of retributions of the intermediate existence body: a) Giai đoạn 49 ngày đầu hay thời kỳ minh định nghiệp báo—The first 49 days or the period of determination of karmic retributions: Theo Thượng Tọa Thích Hải Quang trong Thư Gởi Người Học Phật, thân trung hữu do năm ấm vi tế kết thành, cho nên nó còn có tên là Thân Trung Ấm. Thân trung ấm nầy có nhiều hình sắc khác nhau, nhưng đại khái có hai loại chánh: loại hình sắc xinh đẹp, và loại hình sắc xấu xí. Trước khi thân trung ấm thọ cảm lấy thân hậu ấm sẽ phải trải qua một thời gian dài 49 ngày để minh định nghiệp báo, tức là cảm thọ lấy các nghiệp nhân, hoặc thiện hoặc ác, mà kẻ ấy đã gây tạo trong lúc còn mang thân tiền hữu. Kinh Địa Tạng có dạy rằng: “Quỷ vô thường không hẹn mà đến, thần hồn vơ vẩn mịt mù chưa rõ là tội hay là phước, trong 49 ngày như ngây như điếc, hoặc ở tại các ty sở để biện luận về nghiệp quả, khi thẩm định xong, thời cứ y theo nghiệp mà thọ lấy quả báo.”—According to Venerable Thích Hải Quang in the Philosophical Conversations with Buddhist Followers, the intermediate existence body is formed by five infinitesimally small aggregates; therefore, it is also called the Intermediate Skandha Body. The intermediate skandha body has many different characteristics, but, in general, there are two types of form appearances: one is having a beautiful form appearance, the other is having a dreadful form appearance. Before the intermediate skandha body assumes the after existence body or the future body, it must pass through a period of forty-nine days in order to determine each individual's karmic retribution, i.e., judgment day. This is to assume responsibilities for the various karmic activities, whether wholesome or unwholesome, taken when the individual still had the antecedent existence body or when still alive. The Ksitigarbha Sutra taught: “The great demon of impermanence makes no appointments yet it comes, the spirits of the dead are confused and delirious not knowing whether meritorious or transgression. For forty-nine days, their existence is like darkness and deafness, not knowing what will happen, or they may be at various underworld courthouses to go on trials for their karma. Once decisions are made, they will follow their karma to reap the karmic retributions.” b) Giai đoạn thọ thân hậu hữu—The period of transition beyween life: Thân trung hữu hay thân trung ấm không liền được đi đầu thai chuyển kiếp sau khi thoát ra khỏi xác thân tiền hữu, mà bắt buộc phải trải qua 49 ngày để thẩm định nghiệp quả. Nói cách khác, ngay sau khi thần thức thoát ra khỏi xác thân tiền hữu và trở thành thân trung hữu, liền bị nghiệp nhân dẫn dắt tùy theo nghiệp báo mà đi đầu thai chuyển kiếp, tức là thọ lấy thân hậu hữu tương xứng với tội phước mà thân tiền hữu đã gây ra, để tiếp tục trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi. Chính vì thế mà Kinh Địa Tạng dạy: “Như sau khi người đã chết, lại có thể trong vòng 49 ngày thân quyến vì người ấy mà tu tạo nhiều phước lành, thời có thể làm cho người chết đó ra khỏi hẳn chốn ác đạo, được sanh lên cõi trời hoặc trong cõi người, hưởng lấy sự vui sướng mà thân quyến hiện tại cũng được rất nhiều lợi lạc.” Như vậy, nếu thân nhân người quá cố biết rằng lúc đương đời người nầy đã gây tạo nhiều ác nghiệp, tất phải thọ báo nơi địa ngục. Vì thương xót người quá vãng nên đứng ra làm các công đức, phước lành như bố thí, phóng sanh, và trì tụng kinh chú, rồi đem nhữõng công đức ấy mà hồi hướng cho hương linh người quá cố trong khi người ấy vẫn còn mang thân trung ấm chớ chưa đi đầu thai chuyển kiếp. Làm được như vậy, hương linh người quá cố sẽ được tội tiêu, chướng diệt, lìa hẳn chốn ác đạo mà sanh về cõi trời người, thọ lấy những điều an vui sung sướng—The antecedent existence body or the skandha existence body is not reborn (reincarnated) into another life, but must pass through a period of 49 days of determination of karmic retributions or transition between life. In other words, right after the spirit escapes from the antecedent existence body and becomes the intermediate existence body, it is led by that individual's karmic effect, depending on the karmic retributions (various merits and transgressions created when that being still had the antecedent existence body) to get reborn into the next life in the six realms of existence. Thus, the Ksitigarbha Sutra taught: “Supposing once a person dies, within the first forty-nine days, for that person's benefit, loved ones are willing to cultivate and form many meritorious and wholesome practices, then it is possible to free completely that spirit of the dead from the various evil paths to be reborn in Heaven or in the Human realm to reap the various luxuries and hapiness. Not only that, but the curently living loved ones will also benefit greatly. Family and friends know when alive, their loved one who died recently, had created many unwholesome karmic deeds, and will have to endure the karmic retributions of hell. Through love and compassion for their loved one, they follow the Buddha's 'eachings, take the person's place to practice various virtuous, meritorious, and wholesome deeds such as make donations, charity work, free trapped animals, chant sutras, recite Buddha's name and mantras, etc. Thereafter, use thse merits and virtues to dedicate and pray for the deceased spirit when that spirit still exists with the intermediate existence body and has not yet been reborn or reincarnated to another life. If family and friends are able to do all these, the deceased's intermediate skandha body will be able to eradicate and overcome his or her transgressions to varying degrees. That person will be able to abandon the evil paths and be reborn to Heaven or Human realms to enjoy the various happiness and luxuries. c) Trường hợp thọ báo đặc biệt của thân trung hữu—Special and unique karmic retribution conditions of the intermediate existence body: Thường thì thân trung hữu phải trải qua một thời gian chuyển tiếp là bốn mươi chín ngày, sau đó mới cảm thọ lấy thân hậu hữu. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp đặc biệt mà thân trung hữu không cần phải trải qua giai đoạn chuyển tiếp thông thường nầy. Những chúng sanh nầy sau khi đã bỏ thân tiền hữu rồi thì thần thức hoặc liền được siêu thoát về các cõi trời tương xứng như trời dục giới, sắc giới và vô sắc giới; hoặc bị đọa thẳng xuống địa ngục, chớ không phải trải qua giai đoạn 49 ngày thông thường của thân trung ấm—As usual, the intermediate existence body must go through seven cycles with seven days in each cycle. Only thereafter, the spirit is able to receive the future body. However, there are special situations where the intermediate body does not need to go through that ordinary transitional period. These sentient beings, after leaving their antecedent bodies, their spirits will immediately be liberated to the appropriate heavens accordingly to their merits and spiritual achievements, or be condemned to hell immediately without having to pass through the ordinary transitional period of forty-nine days of the intermediate skandha body: • Chúng sanh khi còn mang thân tiền hữu đã gây tạo những nghiệp nhân cực thiện, tức gieo nhân thập thiện bậc thượng thuộc các cõi trời dục giới, sắc giới và vô sắc giới: When the sentient beings were alive with antecedent body, they created an extraordinary amount of wholesome karma, planted the fruit of the ten wholesome deeds to the highest level with regard to the various Heavens of Desires, Form, and Formlessness. • Chúng sanh khi còn mang thân tiền hữu đã gây tạo những nghiệp nhân cực ác, như phạm tội tứ trọng hay ngũ nghịch, thập ác, thuộc đại địa ngục A Tỳ: When the sentient beings were alive with antecedent body, they created an extraordinary amount of unwholesome karma, the most evil and wicked deeds, such as guilty of violating the four offenses, five betrayals, ten evils, belonging to the great Avichi Hell—See Tứ Đọa, and Ngũ Nghịch. • Ngoài ra, còn có một loại chúng sanh ngoại hạng, không cần phải trải qua giai đoạn thân trung ấm và cũng không bị lệ thuộc vào trong ba cõi sáu đường, đó là những chúng sanh khi còn mang thân tiền hữu đã y theo pháp Phật tu hành, như niệm Phật và phát lòng Tín Nguyện cầu sanh Cực Lạc. Các chúng sanh ấy sau khi bỏ thân tiền hữu rồi thì thần thức liền siêu thoát ngang qua ba cõi, nương theo nguyện lực nhiếp thọ của chư Phật, Bồ Tát, trong khoảng sát na, lập tức được hóa sanh ngay về cõi nước Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, ngự trên tòa sen báu, vĩnh viễn thoát khỏi các cảnh luân hồi sanh tử: Besides, there is one more type of sentient beings who are beyond limits; they also do not need to go through the transition period, do not experience having the intermediate body, nor are they a part of the three worlds and the six realms of existences. These sentient beings are those when alive with the antecedent body, followed the Buddha Dharma to cultivate and practice Buddha Recitation by developing Faith and Vow to gain rebirth to the Ultimate Bliss World. After abandoning the antecedent body, their spirits will transcend through the Three Worlds, relying on the rescuing vow powers of the Bodhisattvas and Buddhas. Within a split moment, they will transform to gain rebirth to the Ultimate Bliss Worldof the Amitabha Buddha and attain a place in the jeweled lotus throne and eternally escape from the conditions of the cycle of rebirths, life, death, etc. (C) Đặc điểm của Thân Trung Ấm—Special characteristics of the Intermediate skandha body: Thân trung ấm chỉ lưu trụ được bảy ngày. Như không tìm được chỗ thọ sanhtrong thời hạn ấy thì phải chết đi sống lại, nhưng đại khái không quá bảy lần tức 49 ngày thì phải thọ sanh lấy thân hậu hữu. Thân trung hữu khi chết đi, hoặc sanh trở lại y như thân trước, hoặc do nơi nghiệp nhân chiêu cảm có thể biến đổi thành ra thân trung hữu của loài khác trước khi thọ thân hậu hữu. Khi thân trung hữu sắp diệt để thọ lấy thân hậu hữu, bấy giờ tùy theo các hành nghiệp đã gây tạo mà cảm thấy có nhiều tướng trạng khác nhau. Những kẻ gây nghiệp sát, như lúc sanh tiền chuyên nghề giết heo, dê, vân vân thì lúc đó tự nhiên thấy toàn là những loài vật ấy. Hoặc mắt thấy có những kẻ hàng thịt tay còn cầm dao, búa làm thịt, hoặc tai nghe tiếng thú vật kêu la. Bởi do túc nghiệp chiêu cảm nên thân trung ấm tự nhiên sanh tâm yêu thích, muốn đến nơi ngắm nhìn. Khi đến nơi rồi liền bị các cảnh sắc đó làm cho trở ngại không thể nào thoát ly được. Trong chớp mắt, thân trung hữu liền bị diệt mà thọ lấy thân hậu hữu—Usually, the intermediate body will remain only for seven days. If it is unable to find a place to get reborn within that time, then it must die and come back to life again as an intermediate body. But, in general, this period will not last more than seven cycles of seve days each before it is able to be reborn and acquire an after existence body. When the intermediate body dies, it can return just as it was before or depending on the karmic reflection, it can transform and change into an intermediate body of another realm before it acquires an after existence body through reincarnation. When the intermediate body is nearing extinction and is about to be reincarnated, at that time, depending on the various karma created by the individual, each will see and perceive different realities, i.e., while living those who created many karma of killing various animals such as slaughtering pigs, goats, etc., then at this time, suddenly all they will see is those various animals they have killed in the past. They may see butchers slaughtering animals or the sounds of animals screaming in agony. Because this is a reflection of the karma they created. Suddenly, the intermediate body will give rise to the state of joy and yearning to be near what they are seeing and hearing. Upon reaching their destination, they will be impeded by their environment and will no longer be able to free themselves from it. In a split moment, their intermediate body is dead as they acquire the after existence body. (D) Thân Trung Ấm sanh về các đường ác—Intermediate Existence Body born to the evil paths: Trong Kinh Đại Bảo Tích, Đức Phật dạy: “Những chúng sanh nào tạo nên ác nghiệp, lúc sắp lâm chung sắp bị đọa vào ác đạo, tự nhiên có lòng buồn thảm, kinh sợ. Tùy theo nghiệp của mình chiêu cảm mà tự thấy tướng trạng của các đường ác hiện ra.”—In the Great Heap Sutra, the Buddha taught: “Those sentient beings who committed evil karma, when they are about to die, and are going to fall into evil paths. They will feel extremely sad and terrified. Depending on the reflection of their individual karma, they will see different images of the various evil paths appear.” a) Thân trung ấm sắp sửa chuyển sanh về cõi A Tu La, thì sẽ thấy những vườn cây khả ái, xinh đẹp, trong đó có những vòng lửa lẫn lộn chuyển xoay. Nếu thấy cảnh tượng đó mà đem lòng vui vẻ đi đến xem, tức là bị sanh về nẻo nầy. Thân trung ấm nào sắp sửa chuyển thân vào nẻo A Tu La, do sức nghiệp chiêu cảm tự nhiên trước mặt thấy một vùng ánh sáng lờ mờ, liền khởi lòng ưa thích, đi vào trong đó, liền bị thọ sanh: The intermediate body is about to be born in th Asura realm will see various beautiful and irresistible gardens. In these gardens, there are a variety of rings of flames rolling around everywhere. When seeing these images and they bring joy and elation to the spirit, this means that spirit will be born in this realm. The intermediate body about to enter the Asuras, through a recollections of the spirit karmic power, suddenly will see a large area of dim light, develop a yearning for it, go into that domain and reborn. b) Thân trung ấm sắp sanh vào loài chó heo thường thấy nhiều cô gái đẹp, liền sanh tâm ưa thích chạy theo. Do nhân duyên đó mà bị thác sanh vào cõi ấy: The intermediate body is about to be born as a dog or pig will often see amny beautiful young ladies; the spirit will give rise to attachment and yearning to chase after them. Consequently, this spirit will be born in that realm. c) Thân trung ấm sắp đọa vào các loài bàng sanh tự nhiên cảm thấy có luồng gió mãnh liệt cuốn xoay không sao cưỡng lại được. Hoặc thấy vô số quỷ thần đến gần, hoặc thấy sấm chớp phủ lên đầu ghê rợn, hoặc thấy sương giăng mù mịt, núi lở, nước cuốn ầm ầm, thần thức sợ hãi, chạy trốn vào trong rừng bụi, hang đá để ẩn thân, hoặc thấy những hố lớn màu trắng, đỏ, đen, liền nhào xuống ẩn núp. Ngay khi đó là thần thức đã bị lọt vào trong bào thai, vừa mở mắt đã thấy mình thọ thân dị loại như chồn, beo, rắn, vân vân: The intermediate body is about to be born as other types of animals will feel suddenly there is a gust of wind twisting so forcefully it is impossible to oppose it. Or it may see infinite demons spreading and coming closer, or terrifying thunders and lightening overhead, etc. Or it may see fog covering, mountain splitting, water crashing, and the spirit will be terrified as it runs away into trees, bushes, and caves, in order to hide or it may see three large holes with the colors of white, red, and black, and will jump to hide. At that very moment, the spirit has entered the womb, when eyes are open, it will realize it has acquired the body of various animals such as a fox, leopad, snake, etc. d) Thân trung ấm sắp sửa đọa vào đường ngạ quỷ, thình lình thấy trước mặt hiện ra một bãi sa mạc rộng lớn thênh thang, không cây cối, hoặc chỉ thấy toàn là những hang hố, cây cỏ khô héo. Lúc ấy tự thấy mình bị gió nghiệp thổi đến nơi đó, trong khi thảng thốt, liền bị thác sanh về đường ngạ quỷ, chịu nhiều nóng bức, đói khát vô cùng. Thân trung ấm nào thấy ánh sáng màu đỏ nhạt, khởi niệm ưa thích muốn vào dạo chơi trong đó. Ngay khi đi vào liền thọ thân loài ngạ quỷ: Those intermediate bodies about to be condemned to the path of hungry ghost suddenly will see before them appear a vast and endless desert, without any vegetation or see only holes, dead and dry weeds, etc. The intermediate body which sees a great area of faded red light, feels a yearning and a wish to go there to play. The moment of entry is when the spirit is at at the point of rebirth in the realm of Hungry Ghosts. e) Thân trung ấm sắp sanh về đường địa ngục, bên tai bỗng nhiên nghe có tiếng những bài ca hát hết sức buồn rầu, bi thảm, đó là những tiếng kêu la rên siết của tội nhân dưới địa ngục; kế đến lại thấy cảnh giới mù mịt, tối tăm hiện ra trước mặt, nhà cửa sắc đen hoặc trắng đượm đầy màu tang chế, âm u, hoặc thấy hang hố sâu thẳm, đường xá lờ mờ. Lúc ấy thấy chính mình bị các loài quỷ dữ tay cầm binh khí xua đuổi đi vào trong đó, khi vào rồi thì thân không được tự do, liền bị thác sanh vào trong địa ngục, tùy theo nghiệp báo, chịu vô lượng thống khổ. Thân trung ấm nào thấy ánh sáng mờ đục như khói đen, khởi niệm ưa thích muốn vào dạo chơi trong đó. Ngay khi bước vào liền bị thọ thân địa ngục, chịu vô lượng nỗi thống khổ: The intermediate body is about to be born in Hell suddenly will begin hearing sounds of very sad and melancholy songs, these are the sounds of prisoners aginizing and screaming in hell; next darkness will appear, houses made out of black and white iron, very melancholy looking, similar to being at a funeral. It may see deep holes and caves; the roads are unclear. At that time, it will see itself getting chased by ferocious demons with weapong in hand forcing it to enter these areas. Once it is in there, it will lose all freedom and will be reborn in the realm of hell. Depending on each spirits' karmic retribution, it must endure infinite pains and sufferings. The intermediate body which sees a great area of murky light similar to black smokes, feels a yearning and a wish to go there to play. The moment of entry is when the spirit is at the point of rebirth in Hell. • Thân trung ấm sắp sửa bị đọa vào địa ngục hàn băng, do nơi sức nghiệp chiêu cảm, thân thể bỗng nhiên sanh ra nóng bức không kham, gặp hơi lạnh ở nơi hàn ngục xông lên, tự cảm thấy mát mẻ dễ chịu, liền khởi lòng ưa thích vội bay tìm đến nơi đó để cho được mát mẻ, liền bị thác sanh vào đó: The intermediate body about to be condemned to glacial hell through the reflection of the spirit's karmic power, suddenly will feel like an intolerable inferno. It then encounters the cold air rising from the glacial hell and will feel cool and refreshed. Its thoughts give rise to yearning and immediately will fly in search of that place to be cool. Once reaching this place, it is reborn. • Thân trung ấm sắp sửa bị đọa vào viêm nhiệt địa ngục, do sức nghiệp chiêu cảm, bổng nhiên thân thể cảm thấy lạnh lẽo vô cùng, khó thể kham nổi. Gặp hơi nóng ở hỏa ngục xông lên, tự nhiên cảm thấy ấm áp dễ chịu, liền khởi lòng ưa thích, vội vã tìm bay xuống nơi đó để sưởi ấm, ngay khi ấy là lúc thọ sanh: Intermediate body is about to be condemned to the inferno hell, through the reflection of the spirit's karmic power, suddenly will feel an extreme and intolerable cold. It then encounters the hot air rising from the inferno hell and will feel warm and comfortable. Its thoughts give rise to yearming and immediately will fly in search for that warmth. Once reaching this place, it is reborn. • Thân trung ấm sắp sửa bị đọa vào địa ngục xú uế (hôi thúi), do nơi sức nghiệp chiêu cảm, bỗng cảm nhận được một mùi thơm ngào ngạt đến mức không kham. Bấy giờ trong tâm liền khởi niệm muốn tìm một mùi hôi thúi nào đó để lấn át mùi thơm kia. Gặp hơi thúi từ ngục phẩn uế xông lên, liền sanh tâm niệm ưa thích, liền bay đến nơi. Do nhân duyên đó, liền bị thác sanh trong ngục phẩn uế: The intermediate body about to be condemned to the odorous hell (foul smelling hell), through the reflection of the spirit's karmic power, suddenly will sense and intolerable and strong fragrance (perfume wishes to fine that it vecomes nauseous. At that time, its mind wishes to find other foul smelling odor to neutralize that good scent. It then encoulters the foul odor rising from odorour . As a result, it is reborn in the odorous hell.

thân trung ấm

Thần thức chúng sanh sau khi chết đi vào giai đoạn trung gian chuyển tiếp trước khi thọ sanh vào một đời sống mới. Trong giai đoạn này, chúng sanh mang thân trung ấm. Điều này có được nhắc đến trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển 8. ; Ấm trước đã hết, ấm sau chưa sanh, có thân huyễn hóa nơi khoảng giữa gọi là thân trung ấm, vì thiện nghiệp ác nghiệp bằng nhau chưa rõ đầu thai sanh nơi nào, trung ấm này mỗi bảy ngày một sanh tử để đợi nghiệp duyên chuyển biến rồi đi đầu thai, có thể kéo dài 49 ngày. ; Intermediate Existence Body—See Thân Trung Hữu.

thân tu tâm chẳng tu

Body cultivates but the mind does not—Thân tu tâm chẳng tu nghĩa là có một số người muốn có hình tướng tu hành bằng cách cạo tóc nhuộm áo để trở thành Tăng hay Ni, nhưng tâm không tìm cầu giác ngộ, mà chỉ cầu danh, cầu lợi, cầu tài, vân vân như thường tình thế tục. Tu hành theo kiểu nầy là hoàn toàn trái ngược với những lời giáo huấn của Đức Phật, và tốt hơn hết là nên tiếp tục sống đời cư sĩ tại gia—Body cultivates but mind does not meaning, there are people who have the appearance of true cultivators by becoming a monk or nun, but their minds are not determined to find enlightenment but instead they yearn for fame, notoriety, wealth, etc just like everyone in the secular life. Thus, cultivating in this way is entirely contradictory to the Buddha's teachings and one is better off remaining in the secular life and be a genuine lay Buddhist.

thân tâm

Thân tâm là chánh báo của loài hữu tình—Body and mind, the direct fruit of the previous life. 1) Thân: Trong ngũ uẩn, sắc uẩn là thân—The body is rups, the first skandha. 2) Tâm: bao gồm bốn uẩn, thọ, tưởng, hành, thức—Mind embraces other four, consciousness, perception, action, and knowledge.

thân tâm bất tương ứng

Action non-interrelated with mind.

thân tâm giải thoát

Getting free of body and mind.

thân tâm nhất như

(身心一如) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Đồng nghĩa: Sắc tâm bất nhị, Tính tướng bất nhị, Thân tâm như nhất. Thân và tâm là một. Thân chỉ cho sắc thân, thân thể; Tâm chỉ cho tâm linh, tinh thần. Thân tâm nhất như nghĩa là thân và tâm là cùng một thể như nhau, chứ không phải là hai thể khác nhau, tức là một thể hai mặt, thân là thân của tâm, tâm là tâm của thân. Ngoại đạo Tiên ni (Pàli: Senika) ở Ấn độ đời xưa cho rằng thân là vô thường và sinh diệt, chỉ có tâm là thường trụ bất biến, đây tức là đối với thân thì khởi đoạn kiến(thấy dứt hẳn), đối với tâm thì khởi thường kiến(thấy còn mãi). Thân và tâm, thiện ác và khổ vui đều liên quan mật thiết với nhau, không cái nào có thể tồn tại một cách độc lập, nếu thân là vô thường sinh diệt thì tâm cũng thế; nếu tâm là thường trụ bất diệt thì thân cũng vậy, cho nên Thân tâm nhất như là chân tướng của pháp giới.

thân tâm não

(身心惱) Cũng gọi Thân khổ tâm khổ. Thân thể thì đau đớn, khổ sở, tâm thần thì lo âu, buồn bực. Theo luận Đại trí độ quyển 22 thì Thân não nghĩa là thân bị trói buộc, giam cầm, tra tấn...; còn tâm não thì chỉ cho sự lo sầu, sợ hãi sinh ra do các nguyên nhân như dâm dục, sân hận, keo tham, ghen ghét... Cũng luận Đại trí độ quyển 19 lại cho rằng thân khổ là chỉ cho 404 thứ bệnh như thân đau, đầu nhức..., còn tâm khổ thì chỉ cho sự lo sầu, giận dữ, sợ hãi, buồn bực, ghen ghét, nghi kị... Luận Tịnh độ, khi nói về sự trang nghiêm ở Tịnh độ Cực lạc, cho rằng (Đại 26, 231 thượng): Vĩnh viễn xa lìa mọi khổ não của thân và tâm(thân tâm não), thường được an vui không gián đoạn. Còn trong Tịnh độ luận chú quyển thượng thì ngài Đàm loan giải thích là: Thân não chỉ cho đói khát, lạnh nóng, sát hại...; tâm não chỉ cho phải trái, được mất, ba độc(tham, sân, si...).

Thân tâm thoát lạc

(身心脫落, shinjindatsuraku): thoát lạc (脫落) nghĩa là cởi bỏ đi, nới lỏng, nghĩa là cả thân cũng như tâm đều thoát ly khỏi mọi ràng buộc, và đạt đến tận cùng cảnh giới của đại ngộ. Đạo Nguyên cho rằng pháp môn Chỉ Quản Đả Tọa (祗管打坐, shikantaza) là thân tâm thoát lạc, không phải thông qua môi giới của Tọa Thiền mà đạt đến cản giới giác ngộ, mà chính hình thức của Tọa Thiền là bóng dáng của thân tâm thoát lạc. Trong Bảo Khánh Ký (寶慶記) có đoạn rằng: “Tham Thiền giả, thân tâm thoát lạc dã; bất dụng thiêu hương lễ bái niệm Phật tu sám khán kinh, chỉ quản đả tọa nhi dĩ (參禪者、身心脫落也、不用燒香禮拜念佛修懺看經、祗管打坐而已, người tham Thiền thì [cần phải] thân tâm giải thoát, không cần phải đốt hương, lễ bái, niệm Phật, sám hối, hay đọc kinh làm gì; chỉ chuyên tâm ngồi Thiền mà thôi).”

thân tâm thoát lạc

(身心脫落) Cũng gọi Thoát lạc thân tâm. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thân tâm trút bỏ. Nghĩa là thân tâm trút bỏ tất cả phiền não vọng tưởng mà hòa nhập với cảnh giới tự tại mầu nhiệm của chân không vô ngã. Đây cũng là lời mà Thiền sư Như tịnh ấn khả, chứng minh cho vị tăng người Nhật là Đạo nguyên. Lời bạt trong Thiên đồng Như tịnh thiền sư ngữ lục (Vạn tục 124, 495 thượng) ghi: Nhân lúc vào Thiền đường, sư quở trách vị tăng ngồi thiền ngủ gục rằng: Phàm người tham thiền, thân tâm thoát lạc, chỉ biết ngủ gục thế là sao? Ta nghe lời ấy, thình lình đại ngộ, liền đi thẳng đến phương trượng đốt hương lễ bái: Sư hỏi: Lễ bái việc gì vậy? Ta thưa: Thân tâm thoát lạc rồi! Sư nói: Thân tâm thoát lạc, thoát lạc thân tâm. Ta thưa: Việc này là tài khéo tạm thời, Hòa thượng chớ vội tin chắc! Sư nói: Ta không tin chắc ông. Ta thưa: Rốt cuộc không tin chắc là thế nào? Sư bảo: Thoát lạc! Thoát lạc! Ta bèn thôi. Có thuyết cho rằng Thân tâm thoátlạc là môn hướng thượng(cầu giác ngộ), còn Thoát lạc thân tâm là môn hướng hạ (độ chúng sinh).

thân tâm vô thường

Impermanence of the body and mind—Có người cho rằng luận thuyết “Thân Tâm Vô Thường” của đạo Phật phải chăng vô tình gieo vào lòng mọi người quan niệm chán đời, thối chí. Nếu thân và tâm cũng như sự vật đều vô thường như vậy thì chẳng nên làm gì cả, vì nếu có làm thành sự nghiệp lớn lao cũng không đi đến đâu. Mới nghe tưởng chừng như phần nào có lý, ký thật nó không có lý chút nào. Khi thuyết giảng về thuyết nầy, Đức Phật không muốn làm nản chí một ai, mà Ngài chỉ muốn cảnh tỉnh đệ tử của Ngài về một chân lý. Phật tử chơn thuần khi hiểu được lẽ vô thường sẽ giữ bình tĩnh, tâm không loạn động trước cảnh đổi thay đột ngột. Biết được lẽ vô thường mới giữ được tâm an, mới cố gắng làm những điều lành và mạnh bạo gạt bỏ những điều ác, cương quyết làm, dám hy sinh tài sản, dám tận tụy đóng góp vào việc công ích cho hạnh phúc của mình và của người—Some people wonder why Buddhism always emphasizes the theory of impermanence? Does it want to spread in the human mind the seed of disheartenment, and discourage? In their view, if things are changeable, we do not need to do anything, because if we attain a great achievement, we cannot keep it. This type of reasoning, a first, appears partly logical, but in reality, it is not at all. When the Buddha preached about impermanence, He did not want to discourage anyone, but warning his disciples about the truth. A true Buddhist has to work hard for his own well being and also for the society's. Although he knows that he is facong the changing reality, he always keeps himself calm. He must refrain from harming others, in contrast, strive to perform good deeds for the benefit and happiness of others. a) Thân Vô Thường—The human body is changeable: Vạn sự vạn vật không ngừng thay đổi, chứ không bao giờ chịu ở yên một chỗ. Cuộc đời nay còn mai mất, biến chuyển không ngừng nghỉ. Thân con người cũng vậy, nó cũng là vô thường, nó cũng nằm trong định luật “Thành Trụ Hoại Không.” Thân ta phút trước không phải là thân ta phút sau. Khoa học đã chứng minh rằng trong thân thể chúng ta, các tế bào luôn luôn thay đổi và cứ mỗi thời kỳ bảy năm là các tế bào cũ hoàn toàn đổi mới. Sự thay đổi làm cho chúng ta mau lớn, mau già và mau chết. Càng muốn sống bao nhiêu chúng ta lại càng sợ chết bấy nhiêu. Từ tóc xanh đến tóc bạc, đời người như một giấc mơ. Thế nhưng có nhiều người không chịu nhận biết ra điều nầy, nên họ cứ lao đầu vào cái thòng lọng tham ái; để rồi khổ vì tham dục, còn khổ hơn nữa vì tham lam ôm ấp bám víu mãi vào sự vật, đôi khi đến chết mà vẫn chưa chịu buông bỏ. Đến khi biết sắp trút hơi thở cuối cùng mà vẫn còn luyến tiếc tìm cách nắm lại một cách tuyệt vọng—All things have changed and will never cease to change. The himan body is changeable, thus governed by the law of impermanence. Our body is different from the minute before to that of the minute after. Biological researches have proved that the cells in our body are in constant change, and in every seven years all the old cells have been totally renewed. These changes help us quickly grow up, age and die. The longer we want to live, the more we fear death. From childhood to aging, human life is exactly like a dream, but there are many people who do not realize; therefore, they continue to launch into the noose of desire; as a result, they suffer from greed and will suffer more if they become attached to their possessions. Sometimes at time of death they still don't want to let go anything. There are some who know that they will die soon, but they still strive desperately to keep what they cherish most. b) Tâm Vô Thường—Impermanence of the mind: Thân ta vô thường, tâm ta cũng vô thường. Tâm vô thường còn mau lẹ hơn cả thân. Tâm chúng ta thay đổi từng giây, từng phút theo với ngoại cảnh, vui đó rồi buồn đó, cười đó rồi khóc đó, hạnh phúc đó rồi khổ đau đó—Not only our body is changeable, but also our mind. It changes more rapidly than the body, it changes every second, every minute according to the environment. We are cheerful a few minutes before and sad a few minutes later, laughing then crying, happiness then sorrow.

thân tín

Trustworthy.

thân túc thông

Thân như ý thông—The power to transfer onself to various regions at will, also to change the body at will—The power to transfer the body through space at will.

thân tướng

Bodily form (the body).

thân tọa

Thân như Phật Tòa—The body as the throne of Buddha.

thân tộc

Relatives on the father's side.

thân tứ đại

The physical body—The physical body possessed the four elements of air, water, dirt, and fire.

thân vân

1) Vô số thân Phật lơ lững như mây trên đầu chúng sanh: The numberless bodies of Buddhas, hovering like clouds over men. 2) Phật biến hóa vô số hình thức để cứu độ chúng sanh như mây tỏa khắp trên đầu chúng sanh: The numberless forms which the Buddhas take to protect and save men, resembling clouds. 3) Chư Thánh chúng nhiều vô số như mây: The numberless saints compared to clouds. ; (身雲) Mây thân, tức ví dụ thân Phật vô lượng vô số vô biên, hoặc ví dụ thị hiện các thứ thân che khắp chúng sinh như mây. Cũng ví dụ các vị tôn nhiều như mây. Hồng tự nghĩa (Đại 77, 406 hạ) nói: Già na Như lai tự thụ dụng, hóa ra các thứ thần biến, hiện vô lượng Thân vân.

thân vô hại lực tam muội

(身無害力三昧) Cũng gọi Vô hại lực thân tam muội. Tam muội làm cho hành giả có được thân vô ngại, năng lực tự tại, không gì có thể gây chướng nạn, gia hại. Đức Đại nhật Như lai an trụ trong Tam muội này, tuyên thuyết Tam minh chân ngôn, chân ngôn này cũng gọi là Vô ngại vô hại vô đẳng lực. [X. phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật; Đại nhật kinh sớ Q.13].

thân xa

Thân như một cỗ xe, trên đó chuyên chở tiền nghiệp đi vào con đường luân hồi sanh tử—The body as a vehicle, which with previous karma carries one into the path of transmigration.

thân yêu

Dear.

thân ái

See Thân (2).

thân điền

Trên thân chính là chỗ gieo trồng và sanh sản thiện hay ác nghiệp cho kiếp lai sinh—The body regarded as a field which produces good and evil fruit in the future existence.

thân đăng

Đốt thân mình làm đèn để cúng dường Phật, như việc làm của Đức Dược Vương Bồ Tát nói trong Kinh Pháp Hoa—The body as a lamp burnt in offering to a Buddha, i.e. the Medicine King in the Lotus Sutra.

thân đầu la

Sindura (skt)—Trò ảo thuật của ảo tưởng hiện ra và biến mất trong không trung—The trick of the illusionist who disappears in the air and repappears. ; (申頭羅) Phạm:Sindùra. Chỉ cho người huyễn bay đi trong hư không. Phần chú thích trong kinh Ương quật ma la quyển 2 (Đại 2, 522 trung) nói: Thân đầu la là người huyễn ở nước ngoài, làm người bay, đùa giỡn trong hư không, đi về qua lại rất nhanh chóng.

thân độ

Chánh Báo—Thân ta hôm nay chính là kết quả trực tiếp của tiền nghiệp; hoàn cảnh xung quanh chính là kết quả gián tiếp của tiền nghiệp—Body and environment (the body is the direct fruit of the previous life; the environment is the indirect fruit of the previous life). ** For more information, please see Chánh Báo and Nhị Báo. ; (身土) Chỉ cho thân thể và quốc độ mà phàm phu hoặc Phật, Bồ tát lãnh thụ. Tức chính báo và y báo. (xt. Y Chính Nhị Báo).

thân độ tứ y

(身土四依) Chỉ cho 4 cõi nương ở của thân Phật nói trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 10, đó là: 1. Sắc thân y sắc tướng độ: Sắc thân nương ở cõi sắc tướng. Như lai tùy loại ứng hóa, thị hiện sắc thân với tướng tốt đẹp, cao 1 trượng 6, nương ở các cõi sắc tướng phàm thánh ở chung như thế giới Sa bà, đó chính là thân độ có sắc tướng như núi sông, đất liền, cho nên gọi là Sắc thân y sắc tướng độ. 2. Sắc thân y pháp tính độ: Sắc thân nương ở cõi Pháp tính. Thân tướng tốt đẹp cao 1 trượng 6 của Như lai là thân mà đương thể tức là pháp tính, cho nên cõi nước mà Như lai nương ở cũng chính là cõi Thường tịch quang(chỉ cho Tịnh độ của chư Phật) vì thế gọi là Sắc thân y pháp tính độ.3. Pháp thân y pháp tính độ: Pháp thân nương ở cõi Pháp tính. Thân Pháp tính của Như lai, chẳng phải tâm chẳng phải sắc, giống như hư không, trùm khắp mọi nơi mọi chốn, cho nên cõi nước mà Như lai an trụ chính là cõi Thường tịch quang, vì thế gọi là Pháp thân y pháp tính độ.4. Pháp thân y sắc tướng độ: Pháp thân nương ở cõi sắc tướng. Thân Pháp tính của Như lai, trùm khắp hết thảy các cõi nước, thân và độ dung nhiếp nhau, sự và lí giao thoa nhau, sắc tức chẳng phải sắc, tướng tức chẳng phải tướng và chẳng lìa các cõi, vì thế gọi là Pháp thân y sắc tướng độ.

thân độc

Sindhu, Indus, Sindh (skt)—Hiền Thủ—Ấn Độ.

Thân, khẩu, ý

身口意; S: kāya-vāk-citta;|Ba khái niệm quan trọng (thân thể, lời nói, ý niệm) trong đạo Phật, có ý nghĩa rất sâu xa. Từ thời Phật giáo nguyên thuỷ, khi luận về Nghiệp (s: karma), người ta đã chia ra ba loại Nghiệp do thân, khẩu, ý sinh ra. Ðến Kim cương thừa, ba thành phần trên đây của con người trở thành ba phép tu luyện thiền định. Mục đích cuối cùng của hành giả qua phương pháp tu tập các Nghi quỹ là chứng được Ba thân Phật (s: trikāya). Hành giả bắt Ấn (s: mudrā) thuộc thân, thực hành Thiền định (s: samādhi) thuộc ý và tụng đọc Man-tra (Thần chú) thuộc khẩu để chứng được ba thân đó. Sau đây là mối liên hệ:|Phạm vi Phương pháp Chứng ngộ||Thân Bắt ấn Ứng hoá thân|Khẩu Man-tra Báo thân|Ý Thiền định Pháp thân||Phép chia ba thành phần này thường được biểu diễn bởi ba âm OṂ ĀḤ HŪṂ. Ba thành phần và ba âm đó đóng vai trò tuyệt đối quan trọng trong các phép hành trì Nghi quỹ (s: sādhana) và là bước đi cần thiết để tạo linh ảnh. OṂ được xem là có sắc trắng, đặt tại trán và đại diện cho Thân. ĀḤ có sắc đỏ, đặt tại cổ, đại diện cho Khẩu và HŪṂ sắc xanh, đặt tại tim, đại diện cho Ý. Ba khuynh hướng xấu ác của ba thành phần này chính là tham, sân và si, là ba nguyên nhân trói buộc trong Luân hồi. Sau khi được chuyển hoá, Thân khẩu ý được biểu diễn bằng ba Kim cương chử (s: vajra; t: dorje) tượng trưng cho thể tính đích thật của ba thành phần. Trong các tranh trình bày đức Phật (Thăng-ka), người ta hay thấy mặt sau bức tranh các âm OṂ ĀḤ HŪṂ đặt tại trán, cổ và tim.|Giáo pháp tu luyện biến Thân khẩu ý thành Ba thân được trình bày trong hệ thống Ðại thủ ấn (s: mahā-mudrā) và trong Ðại cứu kính (t: dzogchen) của Phật giáo Tây Tạng, gồm có bốn phép tu đặc biệt: 1. Quy y tam bảo (t: kyabdro) và phát Bồ-đề tâm (s: bodhicitta); 2. Quán tưởng đến Kim cương Tát-đoá (s: vajrasattva) để rửa sạch thân khẩu ý; 3. Tích tụ phúc đức (s: puṇya) bằng cách quán niệm Man-đa-la (s: maṇḍala); 4. Hoà nhập tự ngã vào một dòng tu dưới sự hướng dẫn của một Ðạo sư (s: guru).|Cần biết thêm rằng rất nhiều phép tu của Phật giáo Tây Tạng đều nằm trong mối liên hệ chung với ba thành phần Thân khẩu ý. Ðặc biệt trong ba thành phần này thì Khẩu đóng một vai trò trung gian giữa Thân và Ý.

thâu la ấn

(thâu la ấn) Thâu la, Phạm:Sùla. Chỉ cho ấn tướng hình cây kích. Thâu la nghĩa là cây kích, 1 trong các loại binh khí.

thâu lan già

(偷蘭遮) Pàli:Thullaccaya,Thùlaccaya. Cũng gọi Thâu lan giá da, Thâu la giá, Tát thâu la, Thổ la giá, Tốt thổ la. Gọi tắt: Thâu lan. Phạm:Sthùlàtyaya. Hán âm: Tốtthổ la để dã. Hán dịch: Đại tội, trọng tội, Thô tội, Thô ác, Thô quá, Đại chướng thiện đạo. Chỉ cho các tội nếu xúc phạm sẽ cấu thành Ba la di, Tăng tàn nhưng chưa thành Ba la di, Tăng tàn. Những tội không thuộc Ngũ thiên như Ba la di... ngoại trừ tội Đột cát la, tất cả nhân tội, quả tội còn lại hoặc nhẹ hoặc nặng đều gọi chung là Thâu lan giá, là 1 trong 6 tụ, 1 trong 7 tụ giới do đức Phậtchế định. Thâu lan giá được chialàm2 loại chính và phụ là Độc đầu, phương tiện. 1. Độc đầu thâu lan(cũng gọi Tự tính thâu lan, Căn bản thâu lan): Tức tội lỗi đã thành tựu, có công năng dứt mất gốc lành. 2. Phương tiện thâu lan(cũng gọi Tòng sinh thâu lan): Muốn phạm Ba la di hoặc Tăng tàn mà bày ra phương tiện, nhưng cuối cùng không thành tức là Nhân tội. Còn có 2 loại: Thâu lan giá đứng sau trọng tội Tăng tàn và Thâu lan giá đứng sau khinh tộiĐề xá ni. Về phép sám hối tội này, thì Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma quyển hạ, Tát bà đa tì ni ma đắc lặc già quyển 3 và Tăng yết ma quyển trung chia làm 3 phẩm: Phá pháp luân tăng, lấy trộm 4 tiền, lấy trộm thức ăn của chúng tăng... là các tội thuộc Thượng phẩm; Phá yết ma tăng, lấy trộm 3 tiền trở xuống và xúc chạm lẫn nhau có cách y phục là các tội thuộc Trung phẩm; Ác tâm chửi mắng chúng tăng, lấy trộm 1 tiền, sử dụng tóc người, ăn máu thịt chúng sinh, khỏa thân mặc áo ngoại đạo, là các tội thuộc Hạ phẩm.Tội thượng phẩm phải ở trong phạm vi kết giới, đối trước tất cả đại chúng mà sám hối; tội trung phẩm phải ra ngoài phạm vi kết giới, đối trước 4 vị tỉ khưu mà sám hối; còn tội hạ phẩm thì chỉ đối trước 1 vị tỉ khưu mà sám hối cũng được. Về nghiệp báo phải chịu khi phạm tội này, thì phẩm Ngũ thiên sự trong Mục liên vấn giới luật trung ngũ bách khinh trọng sự (Đại 24, 972 trung) nói: Phạm tội Thâu lan giá, như chư thiên ở cõi trời Đâu suất thọ 4.000 tuổi, đọa vào địa ngục Nê lê, bằng 50 ức, 60 nghìn năm ở nhân gian. Thiện kiến luật tì bà sa quyển 9 cho rằng sau khi phạm tội này đọa vào ác đạo là đặc biệt nói về trọng tội của Thâu lan giá.

thâu thạch

(thâu thạch) Loại hợp kim do đồng và đá lô cam luyện thành, có thể dùng để đúc tượng Phật và các đồ thờ Phật. Phạm ngữ tạp danh ghi tiếng Phạm của Thâu thạch làRìti, Hán âmLí để.Phiên dịch danh nghĩa đại tập thì ghi tiếng Phạm của Thâu thạch là Ràcaka#. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 81 cho rằng Thâu thạch là bạch kim, đứng thứ nhì sau vàng. ĐiềuYết nhã cúc xà quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 5 ghi rằng ở nước Yết nhã cúc xà có tượng Phật được đúc bằngthâu thạch. Điều Bà la ni tư quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 7 cũng nói ở chùa Lộc dã tại nước Bà la ni tư có thờ tượng Phật bằng thâu thạch. Còn Xuất tam tạng kí tập quyển 12 (Đại 55, 92 trung) thì ghi: Nước Lâm ấp dâng tượng Phật Vô lượng thọ bằngthâu thạch.

thâu tâm

(偷心) Tiếng dùng trongThiền lâm. Tâm trộm cắp. Trong Thiền lâm, từ này được sử dụng để chuyên chỉ cho tâm hướng ngoại tìm cầu, phân biệt, cũng là lời chê trách tâm động niệm. Hư đường lục quyển 3 (Đại 47, 1011 thượng) ghi: Vị tăng nói: Đêm nay, học nhân nhờ uy quang của đại chúng, xin hỏi một câu có được không? Đáp rằng: Con quỉ thâu tâm bị người ghét. Đối với tâm hướng ngoại tìm cầu không dừng, gọi là Thâu tâm vị chỉ, Thâu tâm do vị chỉ.

Thâu đạo

偸盜; C: tōudào; J: tōtō;|Lấy những vật thuộc về người khác; lấy trộm (p: adinnādāna), dồng nghĩa với Bất dữ thủ (不與取). Trong Phật pháp, tội nầy được xếp là một trong Thập ác (十惡), và là giới cấm căn bản trong Ngũ giới (五戒).

thâu đạo

(偷盜) Phạm:Adattàdàna. Pàli:Adinnàdàna. Dịch mới: Không cho mà lấy (Bất dữ thủ).Trộm cướp. Nghĩa là dùng sức mạnh cướp đoạt hoặc lén lấy tài vật của người khác. Trong 10 hành vi ác(Thập ác) của thân, khẩu, ý thì thâu đạo, sát sinh, tà dâm thuộc về thân. Thâu đạo là hành vi bị giới luật nghiêm cấm, nếu thâu đạo đến mức nghiêm trọng như lấy trộm từ 5 tiền trở lên thì phạm tội Ba la di(là tội nặng giống như chặt đầu), đâylà tội nặng chỉ đứng sau tội giết hại trong thập ác và ngũ giới. Theo phẩm Thập địa trong kinh Hoa nghiêm quyển 24 (bản dịch cũ) thì tội thâu đạo khiến chúng sinh phải đọa vào 3 đường ác, nếu được sinh trong loài người thì cũng phải chịu 2thứquả báo: Một lànghèo túng, cùng quẫn; hai là bị trộm mất tiền bạc, của cải.

Thâu-lan-già

xem Du-lan-già.

thèm

To desire—To fust for—To covet.

thèm khát

Greedy.

thèm muốn

See Thèm.

thèm thuồng

Covetous.

thét

To shout—To scream—To roar.

thê

1) Cái thang: A ladder—Stairs. 2) Nghỉ ngơi: Rest.

thê chỉ

Tức là cư trú.

thê hà tự

(栖霞寺) Chùa nằm về phía tây dưới chân ngọn Trung phong thuộc Nhiếp sơn, cách huyện Nam kinh, tỉnh Giang tô 23 km về mạn đông bắc, là 1 trong các ngôi chùa cổ nổi tiếng ở vùng Giang nam. Chùa này cùng với chùa Ngọc tuyền ở Kinh châu, chùa Linh nham ở Tế nam và chùa Quốc thanh ở Thiên thai được gọi chung là Tứ đại tùng lâm.Cứ theo Pháp độ truyện trong Lương cao tăng truyện quyển 8 thì chùa vốn là ngôi am tranh của ẩn sĩ Minh tăng thiệu (tức Minh trưng quân). Sau khi Minh tăng thiệu qua đời, ngài Pháp độ sửa thành chùa, đặt tên là tinh xá Thê hà, đây chính là nguồn gốc chùa Thê hà. Mới đầu, Tăng thiệu mộng thấy trong hang núi có hào quang nhiều màu của đức Như lai, định tạo lập động thờ Phật, nhưng chưa thực hiện được thì ông qua đời. Người con thứ của Tăng thiệu là Trọng chương nối chí cha, bắt đầu đục vách đá của ngọn núi phía tây làm động thờ Phật, rồi cùng với ngài Pháp độ đúc tượng Phật Vô lượng thọ ngồi, cao 3 trượng, 1 thước, 5 tấc, kể cả tòa ngồi thì cao 4 trượng, đồng thời, đúc tượng 2 vị Bồ tát, cao 3 trượng, 3 tấc. Ngài Pháp độ tiếp tục đục mở hơn 10 hang khám và đúc tượng Phật Thích ca, Thái tử Văn huệ nhà Nam Tề và Văn hiến vương Dự chương cũng góp công hoàn thành phúc nghiệp. Rồi Thái tể Giang hạ là Vương hoắc cơ, Tuệ tĩnh vương Lâm xuyên... cũng tham gia và khắc ức vạn hóa thân Phật, đó chính là Thiên Phật Động lừng danh. Lúc ấy, có ngài Tăng lãng, người Liêu đông, Cao li, đến đây, thờ ngài Pháp độ làm thầy, sau kế thừa chùa Thê hà. Ngài tinh thông Hoa nghiêm, Tam luận, được tôn làm Sơ tổ tông Tam luận tại Giang nam, Lương vũ đế rất tôn kính ngài. Thời vua Cao tổ nhà Đường, chùa được xây dựng thêm 49 tòa đường vũ, đổi tên là chùa Công đức, thời vua Cao tông, chùa lại được đổi tên là chùa Ẩn quân thê hà. Trong pháp nạn Hội xương (848), chùa bị phá hủy, sau được làm lại và đổi tên là chùa Diệu nhân. Về sau, tên chùa được đổi đi đổi lại nhiều lần, đến năm Hồng vũ 25 (1392) đời Minh, chùa lại được gọi là Thê hà tự. Vào cuối đời Thanh bị quân Thái bình thiên quốc phá hủy. Đến đầu năm Dân quốc (1912), Thiền sư Trung ương xây dựng lại, qui mô hoành tráng, tuy không bằng thời xưa nhưng vẫn là ngôi chùa nổi tiếng ở Nam kinh. Trong chùa hiện có tòa tháp bằng đá cao 5 tầng, hình bát giác, Thiên Phật động, Thiên khai động... là những danh thắng. Tháp 5 tầng là 1 trong các tháp xá lợi do vua Văn đế nhà Tùy xây dựng đầu tiên vào niên hiệu Nhân thọ năm đầu (601), sau được xây dựng lại vào đời Hậu Đường.Từ nền tháp đến thân tháp đều được chạm trổ rất tinh xảo đẹp đẽ, đặc biệt bứcphù điêu khắc Thích ca bát tướng thành đạo nét khắc cực kì mĩ lệ. Thiên Phật động nằm về phía sau chùa, khám thờ Đại Phật ở trong có pho tượng Phật bằng đá rất lớn, tức là tượng đức Phật Vô lượng thọ do ngài Pháp độ và cư sĩ Trọng chương cùng tạo lập. Tất cả có hơn 200 khám thờ Phật, La hán, Nhân vương, Thiên bộ... phần lớn được đục mở vào đời Đường. Về qui mô các hang động và khám thờ ở đây, so với các hang động ở Đại đồng và Long môn thì nhỏ hơn, nét tinh vi cũng không bằng, nhưng đây là những hang động duy nhất của thời Nam triều, cho nên rất quí giá về mặt lịch sử nghệ thuật của Phật giáo. Ngoài cửa chùa có tấm bia Minh trưng quân được tạo lập vào năm Thượng nguyên thứ 3 (676) đời Đường, bài minh do vua Cao tông ngự chế, văn bia do nhà thư pháp trứ danh đời Đường là Cao chính thần viết, là 1 trong các tấm bia xưa ở Giang nam.

thê lương

Lonely—Desolate.

thê quang

Ánh sáng của Đức Như Lai ngừng nghỉ hay Niết Bàn của Đức Phật (khi Như Lai diệt độ thì trường quang của ngài cũng tắt theo)—To bring his light to rest, the Buddha's nirvana.

thê thân

To take one's rest—To retire from the world.

thê thảm

Tragic.

thê thần

To rest the spirit, or mind, be unperturbed.

thê đăng

Bậc thang, ý nói tiệm giáo, đối lại với đốn giáo—Ladder rungs, or steps, used for the school of gradual revelation in contrast with the full and immediate revelation.

thêm

1) To augment—To increase—To add. 2) Further.

thêm bớt

To increase and to diminish.

thêm thắt

Thêu dệt—To embroider—To exaggerate (a story).

thêm thắt câu chuyện

To embroider the story.

thênh thang

Immense—Vast—Spacious.

thêu dệt

See Thêm Thắt.

thì giờ

Time.

thì thầm

To whisper—To murmur.

thìn

The fifth year in the Earth's stem—See Mười hai con giáp.

thình lình

All of a sudden—Unexpectedly—Suddenly—All at once.

thí

1) Bố thí: Dana (skt)—To give alms—To bestow—To give—Charity—See Bố Thí in Vietnamese-English Section, and Dana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. 2) Thí dụ: a) So sánh: To compare—To allegorize—Resembling—Parable—Metaphor—Simile. b) A-Ba-Đà-Na: Lấy pháp mình đã biết để làm sáng tỏ cái pháp chưa biết—The avadana section of the canon 3) Thí phát: Cạo tóc—To shave the hair.

thí ba la mật

(施波羅蜜) Phạm:Dàna-pàramità. Cũng gọi Bố thí ba la mật, Đàn ba la mật, Đàn na ba la mật. Bố thí tiền tài, giáo pháp và sự can đảm một cách viên mãn, rốt ráo, là 1 trong 6Ba la mật, 1 trong 10Ba la mật. Thí ba la mật của Bồ tát có 9 tưởng là: Tự tính thí, Nhất thiết thí, Nan hành thí, Nhất thiết môn thí, Thiện sĩ thí, Nhất thiết chủng thí, Toại cầu thí, Thử thế tha thế nhạo thí và Thanh tịnh thí.

thí chẩn

See Thí.

thí chủ

Danapati (skt)—Tiếng Phạn gọi là Đàn Viêt Bát Để. 1) Người chủ làm việc bố thí, người tự mình bỏ ra của cải để cúng dường: An almsgiver. 2) Người hộ trì Phật pháp: A patron of Buddhism. ; (施主) Phạm:Dàna-pati. Hán âm: Đàn việt, Đàn na bát để, Đà na bà. Cũng gọi Bố thí gia. Còn cả Phạm và án ghép chung thì gọi là Đàn việt thí chủ, Đàn na chủ, Đàn chủ.Chỉ cho những tín đồ bố thí thức ăn, áo mặc cho chúng tăng hoặc xuất tiền của để cử hành pháp hội... Trong kinh Thiện sinh thuộc Trường a hàm quyển 11 (Đại 1, 72 thượng) nói: Đàn việt nên đem 5 việc cung phụng Sa môn, Bà la môn(...) một là thân làm từ thiện, hai là miệng nói từ thiện, ba là ý nghĩ từ thiện, bốn là bố thí đúng thời, năm là cửa luôn mở rộng. Này Thiện sinh! Nếu đàn vua Tỳ Thi (hang đá Đôn hoàng)việt đem 5 việc nàycung phụng Sa môn, Bà la môn thì Sa môn, Bà la môn phải đem 6 pháp dạy họ, (...) một là ngăn ngừa, giữ gìn không cho họ làm điều ác, hai là truyền dạy điều thiện, ba là dạy giữ tâm thiện, bốn là nói chohọnghe những điều họ chưa được nghe, năm là điều nghe rồi khiến cho họ khéo hiểu, sáu là chỉ bày con đường sinh thiên. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 24 thì nói thí chủ bố thí được 5 công đức: 1. Tiếng tăm lan khắp 4 phương, mọi người đều khen ngợi. 2. Nếu vào trong chúng hội, lòng không hổ thẹn, cũng không sợ hãi. 3. Được mọi người kính ngưỡng, ai thấy cũng vui mừng. 4. Sau khi mệnh chung, hoặc sinh cõi trời, được trời kính trọng, nếu sinh trong loài người sẽ là người tôn quí. 5. Trí tuệ hơn người, đời hiện tại hết phiền não, không còn thụ sinh đời sau.

thí dụ

See Thí (2). ; (譬喻) Gọi tắt: Thí, Dụ. Nêu ra 1 sự kiện hoặc 1 sự vật có thật, 1 câu chuyện ngụ ngôn, hoặc lập 1 giả thiết để so sánh thuyết minh ngõ hầu giúp người ta dễ dàng hiểu rõ ý nghĩa nội dung của giáo pháp, gọi là Thí dụ. Thí dụ trong tiếng Phạm có 4 từ: Upamà, Dfwỉànta, Udàharaịa và Avadàna. Giữa 4 từ này có điểm khác nhau.Upamà nghĩa là loại suy, tức biểu thị sự so sánh, tương tự, đồng nhất, như các thí dụ: Hỏa trạch dụ(dụ nhà lửa), Dược thảo dụ(dụ cỏ thuốc) trong kinh Pháp hoa. Dfwỉànta và Udàharaịa đều là những tiếng dùng trong Nhân minh, là thí dụ chứng minh thực tế sau khi đã trình bày 1 giáo thuyết nào đó. CònAvadàna thì là 1 trong 9 thể tàikinhhoặc 1 trong 12 thể tài kinh. Khi thuyết pháp, đức Phật dùng rất nhiều thí dụ một cách khéo léo để nói rõ yếu chỉ của giáo pháp. Nói cách tổng quát, phần nhiều các thí dụ nêu ra những sự thực hiện tại, nhưng đôi khi cũng nêu ra những ví dụ giả thiết. Như dùngvầngtrăng tròn đểthí dụ khuôn mặt rạng rỡ của người nào đó; dùng vật nhỏ trước mắt làm thí dụ để suy ra vật lớn hơn, hoặc sử dụng cảnh thô, pháp thô làm thí dụ để hiển bày cảnh tế, pháp tế, hoặc căn cứ vào điểm giống nhau của bộ phận(hay toàn thể)để loại suy, thí dụ. Cứ theo phẩm Sư tử hống bồ tát trong kinh Đại bát niết bàn quyển 29 (bản Bắc), dựa theo những phương thức thí dụ khác nhau có thể chia làm 8 loại: 1. Thuận dụ: Thí dụ được đặt ra thuận theo thứ tự sinh khởi của sự vật. 2. Nghịch dụ: Thí dụ được đặt ra ngược với thứ tự sinh khởi của sự vật. 3. Hiện dụ: Thí dụ được đặt ra theo sự thực trước mắt. 4. Phi dụ: Thí dụ được đặt ra theo sự kiện giả thiết. 5. Tiên dụ: Thí dụ được nêu ra trước khi trình bày sự kiện được ví dụ, tức trước nêu thí dụ, sau nói giáo pháp muốn hiển bày.6. Hậu dụ: Thí dụ được nêu ra sau khi đã trình bày sự kiện được thí dụ; tức trước nói giáo pháp, sau nêu thí dụ. 7. Tiên hậu dụ: Thí dụ được nêu ra trước và sau khi sự việc được trình bày; tức trước và sau khi nói rõ giáo pháp đều dùng thí dụ để hiển bày. 8. Biến dụ: Toàn bộ nội dung thí dụ khế hợp với toàn bộ nội dung sự kiện muốn ví dụ hiển bày; tức mỗi phần của toàn bộ nội dung thí dụ được sử dụng để thuyết minh 1 sự việc tương ứng của nội dung giáo pháp; nếu dùng thực vật làm thí dụ thì nói từng giai đoạn của cây ấy từ lúc nứt mầm cho đến khi trổ hoa, kết quả để ví dụ cho từng giai đoạn từ khi xuất gia đến lúc thành đạo của đệ tử Phật. Những thí dụ nổi tiếng thường thấy trong các kinh luận thì có: I. Thí dụ nêu rõ sự tồn tại của các hiện tượng đều không có thực thể, tất cả chỉ là không. Như kinh Đại phẩm bát nhã nêu ra 10 dụ là: 1. Dụ như huyễn(trò ảo thuật). 2. Dụ như dương diệm(sóng nắng). 3. Dụ như bóng trăng dưới đáy nước. 4. Dụ như hư không. 5. Dụ như tiếng vang trong hang núi. 6. Dụ như thành Kiện thát bà(thành quách thấy trên mặt biển lúc mặt trời mọc). 7. Dụ như mộng (chiêm bao). 8. Dụ như bóng(bóng không có thật). 9. Dụ như hình ảnh trong gương. 10. Dụ như biến hóa. Trong 10 thí dụ trên, 9 thí dụ trước là nói không để phá trừ kiến chấp cho các pháp là có, còn thí dụ sau cùng thì dùng không bất sinh bất diệt để nói về không, tức chân không. II. Những thí dụ nêu rõ thân thể của con người là không và vô thường. Phẩm Phương tiện trong kinh Duy ma cật sở thuyết quyển thượng nêu ra 10 dụ, gọi là Duy ma kinh thập dụ, Thập chủng dụ thân. Đó là: Đám bọt nước, bong bóng nước, ánh lửa, cây chuối, ảo thuật, chiêm bao, bóng dáng, tiếng vang, mây nổi và tia chớp. Trong 10 dụ trên, 5 dụ trước mỗi dụ tương ứng với 1 thành phần của 5 ấm, còn 5 dụ sau thì chung cho toàn bộ 5 ấm. III. Những thí dụ nói về thứ tự của sự giáo hóa trong một đời của đức Phật: 1. Phẩm Bảo vương Như lai tính khởi trong kinh Hoa nghiêm quyển 34 (bản dịch cũ) nói: Mặt trời mới mọc, trước hết chiếu trên các đỉnh núi lớn, kế đến chiếu các núi, sau cùng chiếu tất cả mặt đất. Việc này được dùng để ví dụ sự xuất hiện của Phật, theo thứ tự giáo hóa Bồ tát, Duyên giác, Thanh văn và người có căn cơ thấp kém, gọi là Hoa nghiêm kinh tam chiếu, Hoa nghiêm tam chiếu. 2. Phẩm Thánh hạnh trong kinh Đại bát niết bàn quyển 14 (bản Bắc) nói: Từ bò có sữa, qua trình tự tinh chế, lần lượt được lạc(cao sữa), sinh tô(bơ), thục tô(kem) và đề hồ(phó mát). Việc này được dùng để ví dụ từ Phật có 12 thể tài kinh, lại từ 12 thể tài kinh có Tu đa la, từ Tu đa la có kinh Phương đẳng, từ kinh Phương đẳng có kinh Bát nhã ba la mật, lại từ kinh Bát nhã ba la mật có kinh Niết bàn. Tức chỉ cho 5 thời thuyết pháp, giáo hóa của đứcPhật: Thời Hoa nghiêm(nhũ), thời A hàm (lạc), thời Phưong đẳng(sinh tô), thời Bát nhã(thục tô) và thời Pháp hoa Niết bàn(đề hồ).3. Niết bàn kinh hội sớ quyển 13 của ngài Quán đính đời Tùy căn cứ vào kinh luận à các thuyết của các Luận sư xưa nay mà cho rằng bò là giáo chủ của kinh Niết bàn, sữa là giới thánh hạnh, lạc là định thánh hạnh, sinh tô là Tứ đế tuệ thánh hạnh, thục tô là Nhị đế tuệ thánh hạnh và đề hồ là Nhất thực đế tuệ thánh hạnh. IV. Thí dụ hiển bày sự đoạn hoặc tu hành khác nhau giữa Tam thừa. Kinh Ưu bà tắc giới quyển 1 dùng việc 3 con thú là thỏ, ngựa và voi lội qua sông để ví dụ sự cạn sâu trong việc tu hành đoạn hoặc của hàng Tam thừa Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. Nghĩa là khi qua sông, thỏ và ngựa vì sức yếu nêntuy đến được bờ bên kia, nhưng lội nước không sâu, chỉ có voi là chân đến tận đáy sông. Cũng thế, Thanh văn, Duyên giác hiểu đạo còn nông cạn, chỉ có Bồ tát là hiểu sâu nhất. V. Thí dụ nêu rõ đức Phật tùy theo căn cơ của chúng sinh mà nói các giáo pháp khác nhau, như 7 thí dụ trong kinh Pháp hoa: 1. Hỏa trạch dụ. 2. Cùng tử dụ. 3. Dược thảo dụ. 4. Hóa thành dụ. 5. Y châu dụ. 6. Kế châu dụ. 7. Y tử dụ(Y sư dụ). VI. Thí dụ hiển bày Như lai tạng. Kinh Như lai tạng, luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính quyển 1 và Đại minh tam tạng pháp số quyển 34 nêu ra 9 thí dụ là: Dụ hoa sen, dụ tổ ong, dụ lúa mì, dụ vàng ròng, dụ nhà nghèo có kho báu, dụ hạt của quả am ma la, dụ tượng bằng vàng bọc trong dẻ rách, dụ cô gái nghèo mang thai quí tử và dụ đúc tượng bằng vàng ròng. VII. Thí dụ nêu rõ sự thù thắng của tam muội Niệm Phật. Kinh Quán Phật tam muội hải quyển 10 nêu các thí dụ:Vàng diêm phù đàn của ông trưởng giả, ấn báu của vua, ngọc như ý của trưởng giả, tiên nhân tụng chú, hạt minh châu của lực sĩ và núi Kim cương lúc kiếptận... Ngoài ra còn rất nhiều thí dụ khác rải rác trong các kinh luận mà ởđây không thể thu chép hết được.

thí dụ bộ

(譬喻部) Chỉ cho Kinh lượng bộ trong 18 bộ phái Tiểu thừa ở Ấn độ. Vì Bản sư của bộ này là ngài Cưu ma la đa có soạn luận Dụ man nói rộng về các thí dụ nên người đời gọi các sư thuộc bộ này là Thí dụ sư, bộ phái truyền thừa thì gọi là Thí dụ bộ.

thí dụ kinh

(譬喻經) Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 4.Kinh này là đức Phật nói cho vua Thắng quang(vua Ba tư nặc) ở thành Xá vệ nghe. Nội dung kinh thuật rằng thủa xưa có người bị voi dữ rượt đuổi giữa nơi đồng không mông quạnh, đang lúc nguy cấp thì gặp được cái giếng khô, người ấy liền bám theo rễ cây lần xuống để tránh voi dữ. Bấy giờ có 2 con chuột, 1 con màu đen, 1 con màu trắng, thay nhau nhấmrễ cây, 4 bên giếng có 4 con rắn độc, còn dưới đáy giếng thì có rồng độc. Trong lòng người ấy rất lo sợ, vừa sợ rồng, rắn, lại thêm nỗi sợ rễ cây bị đứt. Lúc đó, có 5 giọt mật ong từ trên cành cây rơi vào trong miệng, đàn ong cũng bay đến đốt, lại có lửa ở đồng hoang đốt cháy cây đại thụ bên giếng, thật vô cùng nguy hiểm. Trong thí dụ trên, đồng trống dụ cho vô minh, người dụ cho dị sinh (phàm phu), voi dụ cho vô thường, giếng khô dụ cho sinh tử, rễ cây dụ cho mệnh sống, 2 con chuột dụ cho ngày và đêm,nhấmrễ cây dụ cho niệm niệm diệt, 4 rắn độc dụ cho 4 đại, 5 giọt mật dụ cho 5 dục, ong dụ cho nghĩ bậy, lửa dụ cho già bệnh, thật rất đáng sợ, nên lánh xa 5 dục để cầu giải thoát.

thí dụ luận sư

Nhật Xuất Luận Giả—Thí Dụ Sư—Vị tổ đầu tiên của Kinh Lượng Bộ (trong số 18 bộ Tiểu Thừa)—Reputed founder of the Sautrankita school.

thí dụ lượng

Những thí dụ trong kinh điển theo lý luận giúp người hiểu được giáo lý—The example in logic.

thí dụ sư

See Thí Dụ Luận Sư. ; (譬喻師) Phạm:Dfwỉàntika. Cũng gọi Thí dụ luận sư, Thí dụ bộ sư, Thí dụ giả. Chỉ cho ngài Cưu ma la đa (Phạm: Kumàralàta) bản sư của kinh lượng bộ và những người thừa kế ngài. Theo Thành duy thức luận thuật kí quyển 2, phần đầu, trong 100 năm sau khi đức Phật nhập diệt, ở nướcĐát xoa sí la thuộc Bắc thiên trúc có ngài Cưu ma la đa soạn 900 bộ luận. Bấy giờ có 5 vi Đại luận sư người đời ví như mặt trời mọc, dắt dẫn thế gian, nên gọi là Nhật xuất giả, cũng gọi là Thí dụ sư. Ngài Phật đà đề bà (Phạm: Buddhadeva, Giác thiên) cũng theo thuyết của ngài Cưu ma la đa, nên cũng được gọi là Thí dụ sư. Theo luận Dị bộ tông luân thì Kinh lượng bộ là từ Thuyết nhất thiết hữu bộ chia ra khoảng 400 năm sau khi đức Phật nhập diệt. Sự phân phái này xảy ra khoảng sau khi kết tập luận Đại tì bà sa, trước đó gọi là Thí dụ sư, là 1 phái riêng có thế lực, được xem là 1 thứ dị nghĩa tiến bộ trong Thuyết nhất thiết hữu bộ, về sau Kinh lượng bộ tập đại thành học thuyết của phái này, rồi các ngài Vô trước, Thế thân lại căn cứ vào luận thuyết của Kinh bộ mà tổ chức giáo học các phái Du già Pháp tướng.

thí huệ

To bestow kindness, or charity.

thí hành

Hành pháp bố thí (tài thí, pháp thí, và vô úy thí)—The practice of charity—See Tam Bố Thí, Tứ Bố Thí, Ngũ Bố Thí, Thất Bố Thí, and Bát Bố Thí. ; (施行) Thực hành bố thí tài vật cho người. Kinh Phạm chíÁt ba la diên vấn chủng tôn (Đại 1, 877 thượng) ghi: Đức Phật dạy: Trong kinh của ta lấythí hành làm gốc, bố thí cho những người làm điều lành là gieo hạt giống lớn nhất. Những người được thiên hạ tôn quí đều do bố thí cho người làm điều lành mà được, chứ không phải do dòng dõi mà có.

thí hóa

Bố thí chân lý giáo hóa chúng sanh, hay bố thí và giáo hóa—To bestow the transforming truth.

Thí Hộ

(s: Dānapāla, j: Shigo, 施護, khoảng thế kỷ thứ 10): vị tăng dịch kinh dưới thời nhà Tống, xuất thân Ô Chấn Nẵng Quốc (s: Udyāna, 烏塡曩國) ở miền Bắc Ấn Độ, người đời thường gọi là Hiển Giáo Đại Sư (顯敎大師), năm sanh và mất không rõ. Vào năm thứ 5 (980) niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) đời vua Thái Tông nhà Bắc Tống, ông cùng với Tam Tạng Thiên Tức Tai (天息災) nước Ca Thấp Di La (迦濕彌羅) thuộc miền Bắc Ấn Độ sang vùng Biện Kinh (汴京, Khai Phong), dừng chân trú tại Dịch Kinh Viện (譯經院, cơ quan dịch kinh do triều đình lập nên) của Thái Bình Hưng Quốc Tự (太平興國寺) và dốc hết toàn lực cho việc phiên dịch kinh điển. Tác phẩm cọng dịch có Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương Kinh (大乘莊嚴寳王經) 4 quyển, Cấp Cô Trưởng Giả Nữ Đắc Độ Nhân Duyên Kinh (給孤長者女得度因緣經) 3 quyển, Quảng Thích Bồ Đề Tâm Luận (廣釋菩提心論) 4 quyển, Đại Thừa Nhị Thập Tụng Luận (大乘二十頌論) 1 quyển, Lục Thập Tụng Như Lý Luận (六十頌如理論) 1 quyển, Nhất Thiết Như Lai Chân Thật Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Tam Muội Đại Giáo Vương Kinh (一切如來眞實攝大乘現證三昧大敎王經) 30 quyển, Nhất Thiết Như Lai Kim Cang Tam Nghiệp Tối Thượng Bí Mật Đại Giáo Vương Kinh (一切如來金剛三業最上祕密大敎王經) 7 quyển, Thủ Hộ Đại Thiên Quốc Độ Kinh (守護大千國土經) 3 quyển, Biến Chiếu Bát Nhã Ba La Mật Kinh (遍照般若波羅蜜經) 1 quyển, v.v., gồm 115 bộ và 225 quyển.

thí hộ

Danapala (skt)—Vị Tăng xứ Udyana, người đã dịch 111 bộ kinh sang Hoa ngữ. Năm 982 sau Tây Lịch, ngài được ban tước hiệu Minh Tín Đại Sư—A native of Udyana who translated into Chinese some 111 works. In 982 A.D. he received the title of Great Master and brilliant expositor of the faith.

thí khai phế

Theo Kinh Pháp Hoa, đây là từ mà tông Thiên Thai dùng để chỉ ba thời giáo thuyết của Đức Phật—According to the Lotus Sutra, this is a term which the T'ien-T'ai sect used to indicate the three periods of Buddha's teaching. 1) Thí Thời: Trước thời kỳ Pháp Hoa, Đức Phật đã nói về Tam thừa giáo, đây Ngài chỉ dùng phương tiện thiện xảo để giúp người đi vào Chánh Đạo Nhất Thừa Giáo, nên gọi là “vị thực thí quyền”—Bestowing the truth in Hinayana and other partial forms. 2) Khai Thời: Thờ kỳ Đức Phật “khai quyền hiển thực” để giúp chúng sanh hiểu rõ Tam Thừa chỉ là phương tiện của Nhất Thừa—Opening of the perfect truth like the Lotus, as in the Lotus Sutra. 3) Phế Thời: Đức Phật chỉ dạy nên “phế quyền lập thực” một khi đã biết rõ Tam Thừa chỉ là phương tiện cho Nhất Thừa—Abrogating the earlier imperfect forms. ; (施開廢) Dụng ngữ gọi tắt của 3 từ: Thực thi quyền(Thi), Khai quyền hiển thực (Khai) và Phế quyền lập thực (Phế), do tông Thiên thai dùng để nói về sự hóa đạo trong một đời của đức Phật. Pháp hoa huyền nghĩa thích thêm quyển 1, phần đầu của ngài Trạm nhiên dựa theo 3 thí dụ hoa sen mà nói về 3 nghĩa Thi, Khai, Phế như sau (Đại 33, 816 hạ): Từ sự mà nói thí dụ liên hiện (sen hiện), vì thuận với thí dụ cho nên trước Thi, sau Khai, lại trước Khai sau Phế.

thí kinh

(試經) Thí kinh. Chỉ cho chế độ thi cử kinh điển được thiết lập vào đời Đường để ngăn ngừa việc tự ý xuất gia và khống chế số lượng tăng ni trong nước, tức lúc độ tăng thì người này phải đọc tụng kinh luận và trình bày nghĩa lí để thử nghiệm học lực. Điều Thí kinh độ tăng trong Phật tổ thống kỉ quyển 51 (Đại 49,452 hạ) nói: Đầu năm Cảnh long, vua Trung tông nhà Đường ban chiếu cho trong nước thi kinh độ tăng, vị tăng tên Đồng đại nghĩa ở chùa Linh ẩn, huyện Sơn âm, tụng kinh Pháp hoa đậu hạng nhất. Do đây mà được biết chế độ thi kinh bắt đầu vào thời vua Đường Trung tông tại vị (705-710). Về sau, vào năm Chí đức thứ 2 (757) đời vua Túc tông, nếu người bạch y, cư sĩ tụng được 500 tờ kinh thì cho phép xuất gia làm tăng. Thời vua Đại tông, đối với người trẻ tuổi phải thi cả 3 môn kinh, luật, luận. Thời vua Tuyên tông, vua ban sắc hằng năm độ tăng, y theo tam học giới, định, tuệ, người nào có đạo tính và thông hiểu pháp môn thì được chọn cấp độ điệp. Về sau, vào các đời Tống, Nguyên, Minh, triều đình cũng tiếp tục thi hành chế độ này.

thí lâm

Một trong bốn cách tống táng, lâm táng, hay tống táng bằng cách đem xác người chết bỏ vào trong rừng—One of the four kinds of burial, to give to the forest, i.e. burial by casting the corpse into the forest.

thí mạng

To risk (venture) one's life.

thí nghịch

To kill a superior.

thí nguyện ấn

(施願印) Phạm: Varada-mudrà. Cũng gọi Dữ nguyện ấn, Mãn nguyện ấn.Ấn tướng mà Phật và Bồ tát dùng khi ban phát các vật cần thiết cho chúng sinh tùy theo ýmongmuốn của họ.Khi kết ấn này, tay trái nắm lại thành quyền, cầm lấy chéo áo,đặt ở trên rốn. Tay phải duỗi thẳng 5 ngón, lòng bàn tay hướng ra ngoài và chúi xuống. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 13 thì khi bắt ấn này, nhờ thần lực của Như lai mà tất cả Phật đều mãn nguyện. Bảo sinh Như lai thuộc Kim cương giới và Bảo chàng Như lai của Thai tạng giới đều kết ấn này.

thí ngạ quỷ hội

(施餓鬼會) Cũng gọi Thí ngã quỉ thực, Thí thực hội, Thủy lục hội, Khán sơn thủy lục, Minh dương hội. Gọi tắt: Thí ngã quỉ. Chỉ cho pháp hội cúng thí cho quỉ đói ăn.Kinh Cứu bạt diệm khẩu đà la ni do ngài Bất không dịch vào đời Đường nói: Một đêm, ngài A nan đang ngồi tư duy ở nơi vắng vẻ thì có ác quỉ Diệm khẩu(miệng bốc lửa) đến báo rằng 3 hôm nữaNgài sẽ mệnh chung và rơi vào đường quỉ đói. Ngài A nan rất kinh hãi, liền hỏi ngã quỉ làm cách nào để thoát khỏi khổ nạn, ngã quỉ bảo nếu ngày mai mà bố thí cho trăm nghìn quỉ đói, trăm nghìn vịBà la môn..., mỗi vị 1hộc thức ăn uống, đồng thời cúng dường Tam bảo thì được thêm tuổi thọ. Ngài A nan bạch đức Phật về việc này, Phật liền dạy 1 bàiĐà la ni và nói về pháp thí thực. Đây chính là nguồn gốc của pháp Thí ngã quỉ ở đời sau. Trước ngài Bất không, ngài Thực xoa nan đà có dịch kinh Cứu diện nhiên ngã quỉ thần chú 1 quyển và Cam lộ đà la ni 1 quyển. Kinh Cứu diện nhiên ngã quỉ thần chú là bản dịch khác của kinh Cứu bạt diệm khẩu ngã quỉ đà la ni do ngài Bất không dịch.Pháp hội Thủy lục (Pháp hội cúng thí thức ăn cho khắp các hữu tình ở dưới nước (thủy) và ở trên cạn(lục) để cứu các quỉ đói) đầu tiên ở Trung quốc là do vua Vũ đế nhà Lương tổ chức. Lợi sinh chí trong Thích môn chính thống quyển 4 (Vạn tục 130, 401 hạ) nói: Pháp thí thực tất cả trời, người đều không biết, chỉ có đức Như lai vì lòng đại bi bao trùm khắp cả, không nỡ thấy hết thảy hàm linh chịu khổ não đói khát, nên Ngài mượn nhân duyên quỉ vương Diện nhiên, sai tôn giả A nan trì chú vào 1 nắm thức ăn rồi bố thí cho quỉ này. Hiện nay nghi thức cúng thí lưu hành trong giới xuất gia, tại gia, gọi là Thí ngã quỉ thực(cho quỉ đói ăn). Về quỉ vương này, trong kinh, luật có 3 tên gọi khác nhau: 1. Kinh Niết bàn gọi là Khoáng dã quỉ (quỉ đồng hoang). 2. Kinh Diệm khẩu gọi là Diệm khẩu quỉ(quỉ miệng lửa). 3. Luật Tì nại da gọi là Ha lợi đế mẫu, đều do đức Như lai khéo dùng phương tiện quyền xảo biến hiện ra. Những ghi chép về Thí ngã quỉ đầu tiên được thấy trong Thích thị yếu lãm của ngài Đạo thành. Về sau, có Thí thực pháp do ngài Tuân thức soạn vào đời Tống và Thí thực tu tri do ngài Nhân nhạc soạn. Vào đời Nam Tống thì có cư sĩ Như như Nhan bính soạn Thí thực văn, Thạch chi Tông hiểu soạn Thí thực thông lãm. Đến đời Nguyên, ngài Trung phong Minh bản soạn Cam lộ môn... Điều Nguyệt phần tu tri thất nguyệt trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 7 (Đại 48, 1155 thượng) nói: Ngày 15 giải chế(kết thúc an cư), buổi chiều, cử hành hội Vu lan bồn, phúng kinh thí thực.

thí phát

Cạo tóc theo như Đức Phật Thích Ca, người đã dùng lưỡi gươm bén cắt bỏ tóc hàm ý cắt đứt mọi hệ lụy với trần thế—To shave the hair, following Sakyamuni, who cut off his locks with a sharp sword or knife to signify his cutting himself off from the world.

thí quả cảm ngũ bất tử

(施果感五不死) Bố thí quả được phúc báo 5 lần thoát chết.Kinh Phó pháp tạng quyển 3 ghi:Ở thời đức Phật Tì bà thi, có vị tỉ khưu bị đau đầu, tôn giả Bạt câu la bố thí cho vị ấy 1 quả Ha lê lặc, vị tỉ khưu liền hết bệnh. Nhờ công đức bố thí này mà ngài Bạc câu la được hưởng phúc lạc ở cõi trời, cõi người trong 91 kiếp và không hề bị đau ốm. Về sau, tôn giả Bạc câu la được sinh trong nhà 1 người Bà la môn, mẹ mất sớm, cha lấy vợ lẽ, tôn giả bị dì ghẻngượcđãi, ghét bỏ, 5 lần bà ta hãm hại mà tôn giả đều thoát chết. Lớn lên, tôn giả xuất gia học đạo và chứng quả A la hán. Năm lần bị hại và thoát chết là: 1. Đặt trên vỉnướng bánh không chết: Lúc tôn giả còn nhỏ, dì ghẻ làm bánh, tôn giả đòi ăn, dì ghẻ đặt tôn giả lên vỉ nướng bánh đang nóng đỏ, nhưng không thiêu hại được tôn giả. 2. Bỏ vào nồi nước nóng không chết: Dì ghẻ nấu thịt, tôn giả đòi ăn, bà ta tức giận, ném tôn giả vào nồi nước sôi, nhưng không giết hại được tôn giả. 3. Bỏ xuống sông không chết: Dì ghẻ đi chợ, tôn giả đòi đi theo, dìghẻrất ghét, liền ném tôn giả xuống sông nhưng không bị chết đuối. 4. Cá nuốt không chết: Trong dòng nước sâu, tôn giả bị con cá lớn nuốt vào trong bụng nhưng không chết. 5. Dao cắt không chết: Sau khi tôn giả bị cá nuốt vào bụng thì ông chài lưới được, đem ra chợ bán, gặp cha tôn giả mua đưa về và mổ bụng cá, cứu tôn giả thoát chết.

thí thiết

Thiết lập hay bắt đầu—To start, to establish, or to set up.

thí thiết luận

(施設論) Phạm:Prajĩapti-zàstra.Luận, 7 quyển, do ngài Pháp hộ và ngài Duy tịnh dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 26.Luận này tức là bản dịch của phần Nhân thi thiết môn trong Thi thiết túc luận, 1 trong 6 bộ Túc luận thuộc Luận bộ Tiểu thừa. Trong đó, 4 quyển đầu do ngài Hộ pháp dịch, 3 quyển sau do ngàiDuy tịnh dịch. Nội dung trình bày về Nhân sai biệt của nghiệp báo thế gian, gồm 14 chương. Trong đó, đầu quyển nêu lên môn thứ nhất là Thế gian thi thiết trong Đối pháp đại luận,tứcchương 1, văn chú thích nói (Đại 26, 514 thượng): Thấy trong Thích luận có môn này, còn nguyên bản tiếng Phạm thì thiếu; 13chươngcòn lại là Nhân thi thiết môn trong Đối pháp đại luận, giải thích về 7 thứ báu của Luân vương, tướng điềm lành lúc đức Phật mới sinh, nhân quả của hữu tình, sự khinh trọng của 3 độc, sự sai biệt của các pháp thế gian, núi sông, biến hóa, thần thông...

thí thiết luận bộ

Karmikah (skt)—Trường phái chủ trương trì giới vượt trên kiến thức—The school of Karma, which taugh the superiority of morality over knowledge.

thí thiết túc luận

(施設足論) Phạm:Prajĩàpti-pàda. Gọi đủ: A tì đạt ma thi thiết túc luận. Luận, là 1 trong 6 bộ Túc luận thuộc Luận tạng căn bản của Hữu bộ, Tiểu thừa; có thuyết cho rằng do ngài Đại ca đa diễn na, hoặc do ngài Đại mục kiền liên soạn. Luận Câu xá quyển 1 (bản dịch cũ) gọi luận này là luận Phân biệt giả danh. Luận Thi thiết 7 quyển do ngài Pháp hộ dịch vào đời Bắc Tống chính là bản dịch lược bớt của luận này. Bản dịch hoàn chỉnh của Thi thiết túc luận hiện nay chỉcóbản dịch Tây tạng được thu vào Đan châu nhĩ. Nội dung gồm: 1. Thế gian thi thiết. 2. Nhân thi thiết. 3. Nghiệp thi thiết. Luận Thi thiết bản Hán dịch chính là1 phần của chương thứ 2 Nhân thi thiết.

thí thân

To sacrifice one's life.

thí thực

1) Cúng dường thức ăn cho chư Tăng: To bestow food on monks. 2) Bố thí thức ăn cho quỷ đói: To bestow food on hungry ghosts. ; (施食) I. Thí Thực. Đem bố thí thức ăn uống cho người khác. Kinh Phật vị Thủ catrưởng giả thuyết nghiệp báo sai biệt nói rằng bố thí thức ăn uống được 10 công đức như sau: Được sống lâu, thân xinh đẹp, được mạnh khoẻ, được yên vui và biện tài vô ngại, không sợ hãi, không biếng nhác, được mọi người kính ngưỡng, ai cũng thương mến, đầy đủ phước báo, chết được sinh cõi trời, mau chứng niết bàn.Các kinhluậnkhác như kinh Vị tằng hữu nhân duyên quyển thượng, kinh luật dị tướng quyển 11... đều cho rằng thí thực được rất nhiều công đức. Trong Chư hồi hướng thanh qui thức quyển 1, ngoài Thí ngã quỉ, còn có Vu lan bồn kết duyên thí thực, Vu lan bồn vong giả truy tiến thí thực, Thí thực, Thời chính thí thực, Lâm thời thí thực lược hồi hướng, Thí thực lược hồi hướng, Thí thực lược thông hồi hướng... II. ThíThực. Cũng gọi Xướng thực. Xướng kệ chú nguyện khi thụ thực trong Thiền lâm. Thiền uyển thanh qui quyển 1 ghi: Khi ăn cháo, xướng kệ thí chúc (Vạn tục 111, 441 hạ): Chúc hữu thập lợi, nhiêu ích hành nhân; quả báo sinh thiên, cứu cánh thường lạc(Kệ cho cháo:Cháo có 10 điều lợi, lợi ích cho người tu hành, quả báo được sinh cõi trời, rốt ráo thường yên vui). Sách này còn ghi: Cháo là phương thuốc hay, tiêu trừ bệnh đói khát; cho, nhận đều mát mẻ, cùng thành đạo vô thượng. Giờ thụ trai thì xướng: Tam đức lục vị, thí Phật cập tăng; pháp giới nhân thiên, phổ đồng cúng dường(Ba đức 6 vị, cúng Phật và tăng; pháp giới trời, người, cúng dường đều khắp). Đây là kệ thí trai, xướng xong thì hành giả thỉnh trai.

thí thực hoạch ngũ phúc báo

(施食獲五福報) Bố thí thứcăn được năm phúc báo. Cứ theo kinh Thí thực hoạch ngũ phúc báo thì bố thí thức ăn cho người sẽ được 5 phúc báo như sau: 1. Người trong 7 ngày không ăn thì chết, nếu bố thí thức ăn thì mệnh sống của họ được kéo dài, tức là thí mệnh. Người thí mệnh này sẽ được phúc báo đời đời sống lâu, giàu có vô lượng. 2. Người không có ăn thì thân thể tiều tụy, nếu bố thí thức ăn thì dung mạo của họsẽtươi tắn, tức là thí sắc. Người thí sắc này sẽ được phúc báo đời đời xinh đẹp, mọi người trông thấy đều ưa thích. 3. Người không được ăn thì thân gầy sức yếu, nếu bố thí thức ăn thì sẽ làm tăng thể lực của họ, tức là thí lực. Người thí lực này sẽ được phúc báo đời đời nhiều sức khoẻ, không tổn hao. 4. Người không được ăn thì lòng buồn rầu, thân bất an, nếu bố thí thức ăn thì giúp họ được an ổn, tức là thí an. Người thí an này sẽ được phúc báo đời đời yên vui, không gặp tai nạn. 5. Người không được ăn thì sức yếu ớt, không thể nói năng; nếu bố thí thức ăn thì giúp họ nói được, tức là thí biện. Người thí biện này sẽ được phúc báo đời đời trí biện thông suốt, người nghe vui vẻ.

thí tài

Tài thí—To give money to the poor. ; (施財) Đồng nghĩa: Tài thí, đạt thấn. Bố thí tài vật. Khi có người(thí chú, đàn việt) bố thí tài vật thì vị Duy na, sau khi tác bạch Thánh tăng, đến trước vị Thủ tọa vấn an và xin xướng kệ thí tài, rồi đến chỗ để kiền chùy, gõ 1 tiếng, vị Thủ tọa xướng kệ thí tài. ĐiềuPhó chúc phạn trong Thiền uyển thanh qui quyển 1 (Vạn tục 111, 441 hạ) ghi: ... (Duy na) gõ 1 tiếng kiền chùy, vị Thủ tọa xướng kệ thí tài rằng: Tài pháp nhị thí, đẳng vô sai biệt, đàn ba la mật, cụ túc viên mãn(tài thí và pháp thí như nhau, không khác, bố thí ba la mật trọn vẹn, hoàn toàn). Xong rồi, vị Thủ kho hay vị Duy na theo thứ tự phân chia tài vật.

thí tăng

Cúng dường một vị Tăng—To give alms to a monk.

thí vô uý

(施無畏) Phạm: Abhaya-dàna. Cũng gọi Vô úy xả, Vô úy thí. Dứt trừ sự sợ hãi cho người, 1 trong 3 thí.Phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7 nói rằng Bồ tát Quán thế âm thường cứu độ chúng sinh trong những lúc họ gặp tai nạn nguy cấp, làm cho họ không sợ hãi, nênNgài có hiệu là Thí vô úy giả. Phật, Bồ tát dùng các phương tiện uy lực để trừ khử sự sợ hãi sư tử, hổ báo, chó sói, nước trôi, lửa cháy, giặc cướp... mang lại an ổn cho chúng sinh.

thí vô uý bồ tát

(施無畏菩薩) Thí vô úy, Phạm: Abhayaô-dada. Gọi đủ: Thí nhất thiết vô úy Bồ tát. Vị tôn thứ 3 của viện Trừ cái chướng trong Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Vị tôn này lấy việc diệt trừ sự lo âu sợ hãi cho tất cả chúng sinh làm bản thệ, mật hiệu là Tự tại kim cương. Về hình tượng, vị tôn này mình màu da người, ngồi trên hoa sen đỏ, tay phải kết ấn Thí vô úy, tay trái nắm lại thành kim cương quyền đặt trên đầu gối. Chân ngôn là: Qui mệnh A bội diên (abhayaô, vô uý) na na (dada, thí) sa ha (svàhà).

thí vô uý ấn

(施無畏印) Phạm: Abhayaô-dada mudrà. Chỉ cho ấn khế biểu thị sự bố thí cho tất cả chúng sinh niềm an vui không sợ hãi.Khi kết ấn, tay phải giơ lên, 5 ngón duỗi thẳng, bàn tay hướng ra ngoài, tay trái nắm lại, cầm lấy 2 góc áo ca sa để ở trên rốn. Bất không thành tựu Như lai thuộc Kim cương giới và Khai phu hoa Như lai thuộc Thai tạng giới của Mật giáo cũng kết ấn này. Bài chân ngôn được tụng khi kết ấn này là: Na ma tam mạn đa bột đà nẫm (Nama# samanta buddhànàm, qui mệnh phổ biến chư Phật) tát bà tha (sarvathà, biến nhất thiết xứ) nhĩ na nhĩ na (jina, jina, thắng) bội dã na giả na (bhaya nazna, trừ khủng bố) sa ha (svàhà, thành tựu). Nghĩa là năng lực thù thắng của Như lai trùm khắp tất cả mọi nơi, diệt trừ hết thảy phiền não sợ hãi.

thí vô yếm tự

See Na Lan Đà Tự.

thí vô úy

Abhayandada or Abhayadana (skt)—Còn gọi là Thí Vô Úy Giả hay Thí Vô Úy Tát Đỏa. 1) Người bố thí sự vô úy: Làm cho người khác không còn lo âu sợ hãi—The bestower of fearlessness. 2) Một danh hiệu của Đức Quán Thế Âm (vì ngài là chỗ nương tựa của chúng sanh, khiến họ không còn sợ hãi nữa): A title of Kuan-Yin. 3) Một vị Bồ Tát trong Thai Tạng Giới: A bodhisattva in the Garbhadhatu.

thí ân

See Thi ân.

Thí độ

xem Đàn Ba-la-mật.

thích

1) Cắt: To cut. 2) Favored—To be fond of—To prefer—To like—To love. 3) To explain (giải thích). 4) To tattoo (xâm). 5) To assassinate (hành thích). 6) Đá: To kick. 7) Vừa Đến: To reach—To go to. 8) Thích Hợp Với: To accord with. 9) Thình lình: Suddenly. 10) Phóng thích: To set free—To unloose. 11) Thích Già: Sakyamuni (skt)—See Thích Ca. 12) Đạo Thích Ca: Buddhism. 13) Thích Tử: Buddhist. ; (釋) I. Thích. Gọi đủ: Thích ca. Thích ca là tên gọi dòng họ của đức Phật, cho nên các đệ tử xuất gia theo Phật được gọi là Thích tử, đồng thời bỏ họ thế tục lấy theo họ Thích ca, ọi là Thích thị, đây là chủ trương của ngài Đạo an đờiĐông Tấn. Ngoài ra, giáo pháp của đức Thích tôn(tức Phật giáo), gọi là Thích giáo; các dòng phái(tức Phật môn) vâng theo giáo pháp của Phật, gọi là Thích gia, Thích môn; Phật giáo và Đạo giáo gọi chung là Thích đạo.II. Thích. Đối với các kinh do đức Thích tôn nói và các luận do các Tổ sư Ấn độ soạn, tín đồ Phật giáo các nước đem ra chú thích, cũng gọi là Thích, người chú thích thì gọi là Thích gia.

thích ca

Sakya (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, bộ tộc hay gia đình Thích Ca, người ta nói từ Thích Ca lấy từ danh từ “Saka” có nghĩa là thực vật, nhưng theo Hoa ngữ có nghĩa là mạnh, có sức lực, và được giải thích bằng chữ “Năng.” Dòng họ Thích Ca đã rày đây mai đó (dân du mục) dọc theo thung lũng đồng bằng Ấn Hà,sau đó chiếm cứ một khu vực vài ngàn dặm vuông nằm theo triền đồi xứ Népal và những vùng thảo nguyên về phía nam. Kinh đô là thành Ca Tỳ La Vệ. Vào thời Đức Phật còn tại thế, bộ tộc được đặt dưới sự quyền cai trị của Kosala, một vương quốc lân cận. Về sau nầy, muốn cho vượt trội hơn Bà La Môn, những Phật tử đã dựng nên một dòng họ huyền thoại—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, the clan or family of the Buddha, said to be derived from Saka, vegetables, but interpreted in Chinese as powerful, strong, and explained by “Neng.” The clan, which is said to have wandered hither from the delta of the Indus, occupied a district of a few thousand square miles lying on the slopes of the Nepalese hills and on the plains to the south. Its capital was Kapilavastu. At the time of the Buddha, the clan was under the suzerainty of Kosala, an adjoining kingdom. Later Buddhists, in order to surpass Brahmans, invented a fabulous line of five kings: (I) Một dòng họ huyền thoại Vivartakalpa khởi đầu bởi Thiên Tam Muội Đa—A fabulous line of five kings of the Vivartaklapa headed by Mahasammata. (II) Theo sau đó là năm vị Luân Vương, và vị vua đầu tiên là Đảnh Sanh Vương: Followed by five Cakravarti, the first being Murdhaja. (III) Theo sau đó là mười chín (19) vua khác, bắt đầu với vua Xả Đế và cuối cùng là vua Đại Thiên—Then came nineteen kings, the first being Catiya, the last Mahadeva. (IV) Sau đó được kế vị bởi các triều đại của 5.000 vị vua—These were succeeded by dynasties of 5,000 kings. (V) 7.000 vị vua—7,000 kings. (VI) 8.000 vị vua—8,000 kings. (VII) 9.000 vị vua—9,000 kings. (VIII) 10.000 vị vua—10,000 kings. (IX) 15.000 vị vua—15,000 kings. (X) Sau đó vua Cồ Đàm mở đầu 1.100 vị vua, cuối cùng bởi vua Iksvaku, ngự trị vùng Potala—After which king Gautama opens a line of 1,100 kings, the last, Iksvaku, reigning at Potala. (XI) Với dòng vua cuối cùng Iksvaku, người ta nói dòng Thích Ca khởi đầu. Bốn người con của Iksvaku ngự trị vùng Ca Tỳ La Vệ. Thích Ca Mâu Ni là dòng dõi bảy đời của Iksvaku. Về sau thành Ca Tỳ La Vệ bị Trì Quốc tiêu diệt, bốn người sống sót của dòng họ lập nên những vương quốc Udyana, Bamyam, Himatala, và Sambi—With Iksvaku, the sakyas are said to have begun. His four sons reigned at Kapilavastu. Sakyamuni was one of his descendants in the seven generations. Later, after the destruction of Kapilavastu by Virudhaka, four survivors of the family founded the kingdoms of Udyana, Bamyam, Himatala, and Sambi. ; (釋迦) Phạm:Zàkya. Hán dịch: Năng nhân. Dòng họ của đức Phật, 1 trong 5 họ của Ngài. Tộc Thích ca là 1 trong các dân tộc ở Ấn độ đời xưa, thuộc giai cấp Vũ sĩ, là con cháu của vua Cam giá (Phạm: Jkwvàka) thuộc hệ thống Nhật chủng (Phạm:Sùryavaôsa). Đức Phật xuất thân từ chủng tộc này, cho nên gọi là Thích ca mâu ni (Phạm: Zàkya-muni, tức là bậc Thánh của chủng tộc Thích ca).

thích ca bà

Sakra (skt)—Thiên vương.

thích ca bát tướng nuy văn khố

(釋迦八相倭文庫) Truyện kí, 57 tập, do ông Vạn đình Ứng hạ (1818-1890) người Nhật bản soạn. Nội dung sách này lấy phụ nữ làm đối tượng để cải biên những truyện có liên quan đến cuộc đời của đức Thích tôn. Nhân danh, địa danh trong sách đều dùng theo tên cũ, nhưng ngôn hạnh của các nhân vật thì đều được Nhật bản hóa. Từ năm Hoằng hóa thứ 2 đến năm Khánh ứng thứ 4 (1845- 1868) liên tục ấn hành mỗi lần 1 tập. Ở đầu mỗi tập đều có lời tựa của chính tác giả. Những tranh minh họa trong 23 tập trước do Ca xuyên Phong quốc vẽ, từ tập 24 trở đi thì do Ca xuyên Quốc trinh vẽ. Tác giả Vạn đìnhỨng hạ vốn có tên là Phục bộ trường Tam lang, ngoài sách này, ông còn có các tác phẩm: Thần đại tảo diêm Thỉ Xuy Khánh Huythảo, Nhật liên kí húc y, Trung nghĩa giáo giới xích tùng đàm,Cát diệp cửu trùng cẩm, Giáo huấn vũ tạng đăng, Hiếu ác lưỡng diện kính, Anh hùng ngũ đại lực...

thích ca bồ tát

Sakya-bodhisattva (skt)—Một trong những tiền kiếp của Phật Thích Ca—One of the previous incarnation of the Buddha.

thích ca di danh

(釋迦异名) Các danh hiệu khác của đức Thích ca. Trong thế giới Sa bà, đức Như lai có vô số danh hiệu, như Nhất thiết nghĩa thành, Viên mãn nguyệt, Sư tử hống, Thích ca mâu ni, Đệ nhất tiên, Tì lô giá na, Cù đàm thị, Đại sa môn, Đạo sư...

thích ca giáp thị

(釋迦夾侍) Giáp thị, cũng gọi Hiếp sĩ, tức chỉ cho 2 vị Thánh đứng hầu 2 bên đức Thích ca Trung tôn. Đại thừa lấy 2 Bồ tát Văn thù, Phổ hiền làm giáp thị của Phật Thích ca, do thứ tự thắng, liệt nên ngài Văn thù ở bên trái(phép thế tục Ấn độ chuộng bên trái), ngài Phổ hiền ở bên phải. Nếu y theo pháp môn lí trí, định tuệ thì ngài Phổ hiền ở bên trái, ngài Văn thù ở bên phải. Tiểu thừa thì lấy 2 vị A la hán Ca diếp và A nan làm giáp thị của Phật Thích ca, theo giới lạp cao, thấp nên ngài Ca diếp ở bên trái, ngài A nan ở bên phải.

thích ca kinh

(釋迦經) Đối lại: Lô xá na kinh. Chỉ cho giáo pháp do đức Phật Thích ca nói ra, tức giáo pháp phương tiện thích ứng với căn cơ của chúng sinh mà thuyết giảng, như kinh Pháp hoa, kinh Niết bàn... Đây là 1 trong 2 giáo do Pháp sư Mẫn đời Đường phán lập.

Thích Ca Mâu Ni

(s: Śākya-muni, p: Sakya-muni, 釋迦牟尼): ý là bậc Thánh nhân xuất thân từ dòng họ Thích Ca; còn gọi là Thích Ca Văn Ni (釋迦文尼), Xa Ca Dạ Mâu Ni (奢迦夜牟尼), Thích Ca Mâu Nẵng (釋迦牟曩), Thích Ca Văn (釋迦文); gọi tắt là Thích Ca (釋迦), Mâu Ni (牟尼), Văn Ni (文尼); ý dịch là Năng Nhân (能仁), Năng Nhẫn (能忍), Năng Tịch (能寂), Tịch Mặc (寂默), Năng Mãn (能滿), Độ Ốc Tiêu (度沃焦), hay Thích Ca Tịch Tĩnh (釋迦寂靜), Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn (釋迦牟尼世尊), Thích Tôn (釋尊); là đấng giáo tổ của Phật Giáo. Nguyên do xưng hiệu của Ngài có thể tìm thấy trong Quán Chư Dị Đạo Phẩm (觀諸異道品) của Phật Bản Hạnh Tập Kinh (佛本行集經, Taishō Vol. 3, No. 190) quyển 20, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự (根本說一切有部毘奈耶雜事, Taishō Vol. 24, No. 1451) quyển 20, A Tỳ Đàm Bát Kiền Độ Luận (阿毘曇八犍度論, Taishō Vol. 26, No. 1543) quyển 30, v.v. Đức Thích Tôn vốn là Thái Tử của vua Tịnh Phạn (s: Śuddhodana, p: Suddhodana, 淨飯) thành Ca Tỳ La Vệ (s: Kapilavastu, p: Kapilavatthu, 迦毘羅衛) thuộc miền Bắc Ấn Độ. Thành này hiện tại ở vùng phụ cận Tilori-Kot (提羅里克, Đề La Lí Khắc) thuộc phía Nam Nepal (尼泊爾, Ni Bạc Nhĩ), phía Đông Bắc sông Rapti (拉布提, Lạp Bố Đề). Diện tích tiểu quốc này khoảng 320 m2, thuộc vào vương quốc Kiều Tát La (s: Kauśala, Kośalā, p: Kosala, 憍薩羅). Đương thời Bắc Ấn thực hành chế độ Cộng Hòa quý tộc, phân thành 10 bang thành nhỏ, trong đó chọn ra vị lãnh đạo có thế lực nhất, và lúc bấy giờ vua Tịnh Phạn là vị lãnh tụ tối cao. Hoàng hậu Ma Da (s: Māyā, 摩耶), mẫu thân của đức Phật, là con gái của chủ Thành Thiên Tý (s: Devadaha, 天臂) thuộc bộ tộc Cư Lợi (居利) lân quốc. Trước khi hạ sinh Thái Tử, theo tập tục đương thời, phu nhân phải quay trở về Thành Thiên Tý để chờ ngày lâm bồn, dọc đường khi đang dừng chân nghỉ tại vườn Lâm Tỳ Ni (s, p: Lumbinī, 藍毘尼), ngay dưới gốc cây Vô Ưu (s: aśoka, 無憂), nàng hạ sinh Thái Tử. Theo Tu Hành Bản Khởi Kinh (修行本起經, Taishō Vol. 3, No. 184) quyển Thượng, Phẩm Giáng Thân (降身品), khi đản sanh, đức Thích Tôn đi bảy bước, đưa tay lên nói rằng: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn, Tam Giới giai khổ, ngô đương an chi (天上天下、唯我爲尊、三界皆苦、吾當安之, trên trời dưới đất, chỉ ta trên hết, Ba Cõi là khổ, ta sẽ làm yên).” Ngoài ra, các điển tịch như Vị Tằng Hữu Pháp Kinh (未曾有法經) của Trung A Hàm Kinh (中阿含經, Taishō Vol. 1, No. 26) quyển 8, dị xuất bồ tát bản khởi kinh (異出菩薩本起經, Taishō Vol. 3, No. 188), Phẩm Dục Sanh Thời Tam Thập Nhị Thụy (欲生時三十二瑞品) của Phổ Diệu Kinh (普曜經, Taishō Vol. 3, No. 186) quyển 2, Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh (過去現在因果經, Taishō Vol. 3, No. 189) quyển 1, Chúng Hứa Ma Ha Đế Kinh (眾許摩訶帝經, Taishō Vol. 3, No. 191) quyển 3, Phẩm Thọ Hạ Đản Sanh (樹下誕生品) của Phật Bản Hạnh Tập Kinh (佛本行集經, Taishō Vol. 3, No. 190) quyển 8, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự (根本說一切有部毘奈耶雜事, Taishō Vol. 24, No. 1451) quyển 20, A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (阿毘達磨大毘婆沙論, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 70, v.v., đều có ghi lại nhiều tướng lạ khác nhau khi đức Thích Tôn hạ sanh. Sau khi trở về cung, Thái Tử được đặt cho tên là Tất Đạt Đa (s: Siddhārtha, p: Siddhattha, 悉達多), hay Tát Bà Tất Đạt (s: Sarva-siddhārtha, p: Sabba-siddhattha, 薩婆悉達), Tát Bà Ngạch Tha Tất Đà (s: Sarvārtha-siddha, 薩婆額他悉陀), Tát Bà Hạt Thích Tha Tất Đà (薩婆曷刺他悉陀), Tất Đạt La Tha (悉達羅他), Tất Đạt (悉達); ý dịch là Nhất Thiết Nghĩa Thành (一切義成), Nhất Thiết Sự Thành (一切事成), Tài Cát (財吉), Cát Tài (吉財), Thành Lợi (成利), Nghiệm Sự (驗事), Nghiệm Nghĩa (驗義). Sau khi sanh con được 7 ngày, phu nhân qua đời, Thái Tử được dì Ma Ha Ba Xà Ba Đề (s: Mahāprajāpatī, 摩訶波闍波提) nuôi dưỡng cho đến khi khôn lớn. Theo Phẩm Tập Học Kỷ Nghệ (習學技藝品) của Phật Bản Hạnh Tập Kinh quyển 11, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Phá Tăng Sự (根本說一切有部毘奈耶破僧事, Taishō Vol. 24, No. 1450) quyển 3, v.v., cho biết rằng thưở thiếu thời Thái Tử từng theo học tập văn chương với Bà La Môn Tỳ Xa Mật Đa (s: Viśvamitra, 毘奢蜜多), học võ nghệ với Sàn Đề Đề Bà (s: Kṣāntideva, 羼提提婆), hết thảy đều thông hiểu. Khi trưởng thành, Thái Tử kết hôn với Da Du Đà La (s: Yaśodharā, p: Yasodharā, 耶輸陀羅), con gái của Thiện Giác Vương (s: Suprabuddha, 善覺王)—thành chủ của Thiên Tý Thành, hạ sanh La Hầu La (s, p: Rāhula, 羅睺羅). Theo Phẩm Du Quán (遊觀品) của Tu Hành Bản Khởi Kinh quyển Hạ cho biết rằng Thái Tử từng ra bốn cửa thành dạo chơi, thấy các hình tượng già, bệnh, chết, vị Sa Môn (s: śramaṇa, p: samaṇa, 沙門), v.v., thâm cảm được nỗi thống khổ cũng như vô thường của kiếp người, bèn dấy khởi ý chí xuất gia tu đạo. Năm lên 29 tuổi (có thuyết cho là 19), nữa đêm Người rời khỏi vương cung, tự cởi bỏ áo mão để trở thành Sa Môn. Ban đầu, Thái Tử cầu đạo với tiên nhân Bạt Già Bà (s: Bhārgava, 跋伽婆) của nước Tỳ Xá Ly (s: Vaiśālī, p: Vesālī, 毘舍離), rồi đến thọ giáo với các hiền giả A La La Ca Lam (s: Ārāḍa-kālāma, 阿羅邏迦藍), Uất Đà Ca La Ma Tử (s: Udraka-rāmaputra, 鬱陀迦羅摩子) ở Thành Vương Xá (s: Rājagṛha; p: Rājagaha, 王舍城). Cuối cùng, Người đến Khổ Hạnh Lâm ở thôn Ưu Lâu Tần La (s: Uruvilvā, 優樓頻羅) thuộc phương Nam thành Già Da (s, p: Gayā, 伽耶) của vương quốc Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀), bắt đầu cuộc sống khổ hạnh trong vòng 6 năm, và có 5 người thị giả do vua Tịnh Phạn phái đến cùng tu. Trong thời gian này, mỗi ngày Người chỉ ăn một hạt mè, một hột lúa mạch, đến nỗi thân hình khô gầy, tâm thể suy kiệt, nhưng cuối cùng vẫn không thành đạo; nên Người mới ngộ được rằng khổ hạnh không phải là nhân đạt đến đạo quả, bèn rời khỏi khu rừng này. Lúc bấy giờ, 5 người cùng tu ngộ nhận rằng Thái Tử thối thất đạo tâm, nên bỏ đi. Thái Tử đến tắm rửa bên dòng sông Ni Liên Thuyền (s: Nairañjanā, 尼連禪), thọ nhận bát sữa cúng dường của cô mục nữ. Sau khi phục hồi thể lực, Người đến dưới cây Tất Bát La (s: pippala, 畢鉢羅) ở thôn Già Da, lấy cỏ Cát Tường trãi thành tòa Kim Cang, ngồi Kiết Già xoay mặt về hướng Đông, thân ngay thẳng chánh niệm, tâm tĩnh lặng mặc chiếu, tư duy về đạo giải thoát. Sau 49 ngày, vào lúc trời hừng sáng ngày mồng 8 tháng 12, Người hoát nhiên đại ngộ, lúc đó là 35 tuổi (có thuyết cho là 32). Do nhân duyên này, cây Tất Bát La được gọi là Bồ Đề Thọ (s: bodhivṛkṣa, 菩提樹). Sự kiện đức Thích Tôn hàng phục ma quân, cho đến thành đạo được ghi lại trong các điển tịch như La Ma Kinh (羅摩經) của Trung A Hàm Kinh quyển 56, Lục Niên Cần Khổ Phẩm (六年勤苦品) và Hàng Ma Phẩm (降魔品) của Tu Hành Bản Khởi Kinh quyển Hạ, Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh quyển 3, phật bản hạnh tập kinh quyển 26~30, Ngũ Phần Luật (五分律, Taishō Vol. 22, No. 1421) quyển 15, v.v. Sau khi thành đạo, đức Phật đến vườn Lộc Dã (s: Mṛgadāva, p: Migadāya, 鹿野, tức Lộc Uyển), Thành Ba La Nại (s: Vārāṇasī, p: Bārāṇasī, 波羅奈), độ cho 5 vị thị giả đã từng cùng tu với Ngài trước đây. Các vị này sau trở thành những Tỳ Kheo nổi tiếng là A Nhã Kiều Trần Như (p: Ājñāta-Kauṇḍinya, p: Aññā-Koṇḍañña, 阿若憍陳如), A Thấp Bà Thị (s: Aśvajit, Aśvaka; p: Assaji, 阿濕婆恃), Bạt Đề (s: Bhadrika, p: Bhaddiya, 跋提), Ma Ha Nam (s, p: Mahānāma, 摩訶男), Bà Sa Ba (s: Bāṣpa, p: Vappa, 婆沙波, tức Thập Lực Ca Diếp [s: Daśabala-kāśyapa, p: Dasabala-kassapa, 十力迦葉]). Liên quan đến sự tích đức Phật lần đầu tiên chuyển Pháp Luân, diễn thuyết Tứ Thánh Đế (s: catvāri-āryasatyāni, p: cattāri-ariyasaccāni, 四聖諦), Bát Chánh Đạo (s: āryāṣṭāṇga-mārga, p: ariyāṭṭhaṅgika-magga, 八正道), v.v., Chuyển Pháp Luân Kinh (轉法輪經) của Tạp A Hàm Kinh (雜阿含經, Taishō Vol. 2, No. 99) quyển 15, Ngũ Phần Luật quyển 15, Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự quyển 39, v.v., có ký lục đầy đủ. Như trong Pháp Hoa Kinh Thông Nghĩa (法華經通義, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 31, No. 611) quyển 4 có đoạn rằng: “Thích Tôn sơ ư Lộc Uyển, tam chuyển Tứ Đế pháp luân, độ tham thị ngũ nhân, nhi Kiều Trần tiên ngộ, dĩ tối sơ đắc độ (釋尊初於鹿苑、三轉四諦法輪、度參侍五人、而憍陳先悟、以最初得度, đức Thích Tôn ban đầu tại Lộc Uyển, ba lần chuyển bánh xe pháp thuyết Tứ Đế, độ năm người hầu cận tham học, mà Kiều Trần Như ngộ trước, là người đắc độ đầu tiên).” Sau này, đức Phật tự xưng là Như Lai (s, p: tathāgata, 如來). Có rất nhiều ngữ nghĩa của từ này, nhưng nghĩa chung nhất của nó là “thừa như thật chi đạo, nhi thiện lai thử Ta Bà thế giới (乘如實之道、而善來此娑婆世界, mang đạo như thật mà khéo đến thế giới Ta Bà này).” Sau khi chuyển Pháp Luân lần đâu tiên, đức Thích Tôn đến nước Ma Kiệt Đà, hóa độ 3 anh em Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp (s: Uruvilvā-kāśyapa, 優樓頻羅迦葉), Na Đề Ca Diếp (s: Nadi-kāśyapa, 那提迦葉), Già Da Ca Diếp (s: Gayā-kāśyapa, 伽耶迦葉) của phái Bái Hỏa Giáo (拜火敎) và cả ngàn đệ tử của họ. Tiếp theo, Ngài hóa độ Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗) và Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana; p: Moggallāna, 目犍連) thuộc Phái Ngụy Biện của Lục Sư Ngoại Đạo; về sau chính hai vị này trở thành đệ tử thượng túc của đức Phật. Sau đó, tại Thành Vương Xá, vua Tần Bà Ta La (s, p: Bimbisāra, 頻婆娑羅) quy y theo đức Phật; nhà vua cho xây dựng Tinh Xá trong vườn trúc do Trưởng giả Ca Lan Đà (s: Kalanda, 迦蘭陀) dâng cúng, lấy tên là Ca Lan Đà Trúc Lâm Tinh Xá (迦蘭陀竹林精舍). Đến đây, giáo đoàn Phật Giáo phát triển với thế lực mạnh. Về sau, đức Phật có trở về cố hương Ca Tỳ La Vệ một lần, số người quy y theo rất đông, trong đó có người em cùng cha khác mẹ Nan Đà (s, p: Nanda, 難陀), con trai La Hầu La, người em họ Đề Bà Đạt Đa (s, p: Devadatta, 提婆達多), người thợ hớt tóc Ưu Ba Ly (s, p: Upāli, 優波離), v.v., mọi người đều xuống tóc xuất gia. Ngài thuyết pháp cho trưởng giả Tu Đạt Đa (s, p: Sudatta, 須達多) ở Thành Xá Vệ (s: Śrāvastī, p: Sāvatthī, 舍衛), nhân đó trưởng giả kiến lập ngôi Đại Tinh Xá trong khu rừng do Thái Tử Kỳ Đà (s, p: Jeta, 祇陀) tặng, để dâng cúng đức Phật. Đây gọi là Kỳ Hoàn Tinh Xá (p: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, 祇洹精舍) hay Kỳ Viên Tinh Xá (祇園精舍). Vào lúc này, vua Ba Tư Nặc (s: Prasenajit, p: Pasenadi, 波斯匿) cũng phát tâm quy y với đức Phật. Sau khi vua Tịnh Phạn băng hà, đức Phật lại trở về cố hương lần nữa. Về sau, bà di mẫu Ma Ha Bà Xà Ba Đề (s: Mahāprajāpatī, p: Mahāpajāpatī, 摩訶波闍波提), công chúa Da Du Đà La (s: Yaśodharā, p: Yasodharā, 耶輸陀羅) cũng xuống tóc xuất gia, và đây được xem như là khởi đầu cho giáo đoàn Tỳ Kheo Ni (s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī, 比丘尼); trong đó Ma Ha Bà Xà Ba Đề là Tỳ Kheo Ni đầu tiên. Từ đó về sau, đức Thích Tôn đi khắp Ấn Độ thuyết pháp giáo hóa, bất luận giàu nghèo, sang hèn, nam nữ, thảy đều được hưởng ân huệ giáo pháp của Ngài. Giáo pháp ấy ảnh hưởng rất lớn đối với văn hóa cũng như tôn giáo Ấn Độ. Sau khi Ngài thành đạo, những nơi Ngài đã từng trãi qua Kết Hạ An Cư, đều được ghi rõ trong Tăng Già La Sát Sở Tập Kinh (僧伽羅剎所集經, Taishō Vol. 4, No. 194) quyển Hạ. Theo đó, đức Phật đã từng trú qua các nơi như nước Ba La Nại, núi Linh Thứu (s: Gṛdhrakūṭa, p: Gijjhakūṭa, 靈鷲山), núi Ma Câu La (s: Makula, 摩拘羅), cõi Trời Ba Mươi Ba, cõi quỷ thần, vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc (祇樹給孤獨) ở Thành Xá Vệ, Chá Lê Sơn (柘梨山), v.v. Theo Phật Thuyết Bát Đại Linh Tháp Danh Hiệu Kinh (佛說八大靈塔名號經, Taishō Vol. 32, No. 1685), đức Phật từng tu khổ hạnh trên núi Tuyết Sơn, sau từng sống tại rừng Tỳ Sa (毘沙), đỉnh núi Nhã Lí (惹里), các tụ lạc Đại Dã (s: Aḷāvī, 大野), Mao Nỗ (尾努), v.v. Hơn nữa, học giả Anh quốc T.W. Rhys Davids (1843-1922) căn cứ vào tích truyện Phật Giáo của Tích Lan, Miến Điện, bản pháp cú kinh chú (p: Dhammapada atthakathā, 法句經註) tiếng Pāli, v.v., cho rằng sau khi kiến lập vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, đức Phật đã từng trú tại Đại Lâm (p: Mahā-vana, 大林) của Thành Tỳ Xá Ly (s: Vaiśāli, 毘舍離), núi Ma Câu La, Tăng Ca Xá (p: Saṅkissa, 僧迦舍), Ba Lợi Lôi Nhã Tạp (s: Parileyyaka, 巴利雷雅卡), Mạn Đặc Lạt (p: Mantala, 曼特剌), v.v. Ngoài ra, Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 3, Phân Biệt Công Đức Luận (分別功德論, Taishō Vol. 25, No. 1507) quyển 2, Cao Tăng Pháp Hiển Truyện (高僧法顯傳, Taishō Vol. 51, No. 2085), v.v., cũng có ký lục như vậy. Tổng hợp các tư liệu trên, chúng ta có thể suy ra rằng địa phương hoằng pháp của đức Phật phần lớn tập trung tại hai thành Xá Vệ và Vương Xá. Về những sinh hoạt cuối đời của Ngài, Tăng Nhất A Hàm Kinh (增壹阿含經, Taishō Vol. 2, No. 125) quyển 26, Phật Thuyết Nghĩa Túc Kinh (佛說義足經, Taishō Vol. 4, No. 198) quyển Hạ, Xuất Diệu Kinh (出曜經, Taishō Vol. 4, No. 212) quyển 16, Tỳ Ni Mẫu Kinh (毘尼母經, Taishō Vol. 24, No. 1463) quyển 4, Ngũ Phần Luật quyển 3, 21, 25, Tứ Phần Luật (四分律, Taishō Vol. 22, No. 1428) quyển 46, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Phá Tăng Sự quyển 13, 14, Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa (善見律毘婆沙, Taishō Vol. 24, No. 1462) quyển 2, v.v., có ký lục rõ ràng. Lúc bấy giờ, Đề Bà Đạt Đa muốn bức bách đức Phật phải nhường lại giáo đoàn tăng chúng cho ông, nhưng ý đồ không thành, bèn phá tăng hoại Phật. Thêm vào đó, vua Lưu Ly (琉璃), con của vua Ba Tư Nặc, sau khi tức vị, tấn công Thành Ca Tỳ La Vệ, cố hương của đức Phật, diệt vong dòng họ Thích Ca. Vào năm cuối cùng khi đức Phật còn tại thế, Ngài rời nước Ma Kiệt Đà, đi về phía Bắc sông Hằng, kinh qua Tỳ Xá Ly, đến Thành Ba Bà (s: Pāvā, 波婆), thọ nhận bữa cơm cúng dường của người thợ vàng Thuần Đà (s, p: Cunda, 純陀), và nhân vì ăn loại nấm Tô Ca Lạp Ma Đạt Phạt (s: sūkaramaddava, 蘇迦拉摩達伐, tức nấm cây Chiên Đàn) mà mắc bệnh. Trước khi lâm chung, Ngài đến tắm lần cuối cùng tại dòng sông Câu Tôn (p: Kakuṭṭha, 拘孫河), rồi đến rừng Sa La Song Thọ (沙羅雙樹) ở Thành Câu Thi Na (s: Kuśinagara, p: Kusinagara, 拘尸那), đầu xoay về hướng Bắc, mặt hướng phía Tây, nằm thế cát tường. Vào nữa đêm, Ngài để lại lời giáo huấn cuối cùng cho chúng đệ tử, rồi sau đó thì an nhiên nhập diệt. Ban đầu, di cốt của đức Thích Tôn được an trí tại Thiên Quan Tự (s: Makuṭabandhana-cetiya, 天冠寺) của bộ tộc Mạt La (s, p: Malla, 末羅), sau đó hỏa táng. Khi tham gia lễ Trà Tỳ có sứ đoàn của 8 nước, gồm Câu Thi Na Yết La (拘尸那揭羅), Ba Bà (波婆), Giá La (遮羅), La Ma Già (羅摩伽), Tỳ Lưu Đề (毘留提), Ca Tỳ La (迦毘羅), Tỳ Xá Ly (毘舍離), Ma Kiệt Đà (摩揭陀), v.v., do vấn đề phân phối Xá Lợi (s: śarīra, p: sarīra, 舍利) mà nảy sinh đấu tranh lẫn nhau. Sau đó, nhờ sự điều đình của Bà La Môn Hương Tính (s: Doṇa, 香姓) mà được yên ổn, cho nên người này có được bình Xá Lợi. Từ đó, mỗi nước dựng tháp cúng dường, và đây là phát xuất của truyền thống thập tháp (10 ngôi tháp) ngày nay. Năm đức Phật nhập diệt, tại Hang Thất Diệp (s: Sapta-parṇa-guhā, 七葉窟) của Thành Vương Xá, cuộc kết tập kinh điển lần đầu tiên được tiến hành. Đương thời, Ma Ha Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, p: Mahākassapa, 摩訶迦葉) là người triệu tập chủ yếu; A Nan (s, p: Ānanda, 阿難) và Ưu Ba Ly (s, p: Upāli, 優波離) thì tụng đọc các Kinh Luật của Phật thuyết trên cơ sở từng được nghe qua, rồi được đại chúng thảo luận, hiệu đính để trở thành tiêu chuẩn cho Kinh Luật đời sau. Về sau, trãi qua biết bao biến thiên, giáo pháp của đức Thích Tôn được phân thành hai hệ thống chính, truyền bá khắp nơi: Nam Truyền chủ yếu là tiếng Pāli và Bắc Truyền chủ yếu là kinh điển Hán dịch. Liên quan đến năm tháng xác thật đức Phật đản sanh, xuất gia, thành đạo, lần đầu chuyển Pháp Luân, tuổi thọ, nhập diệt, v.v., trong kinh điển có nhiều thuyết khác nhau. Về tuổi thọ, có 4 thuyết chính: (1) Tam Thế Đẳng Phẩm (三世等品) của Bồ Tát Tùng Đâu Thuật Thiên Giáng Thần Mẫu Thai Thuyết Quảng Phổ Kinh (菩薩從兜術天降神母胎說廣普經, Taishō Vol. 12, No. 384, tức Bồ Tát Xử Thai Kinh [菩薩處胎經]) quyển 23 cho là thọ 84 tuổi. (2) Bát Nê Hoàn Kinh (般泥洹經, Taishō Vol. 1, No. 6) quyển Hạ cho là 79 tuổi. (3) Thọ Lượng Phẩm (壽量品) của Kim Quang Minh Kinh (金光明經, Taishō Vol. 16, No. 663) quyển 1, Phật Thuyết Bát Đại Linh Tháp Danh Hiệu Kinh (佛說八大靈塔名號經, Taishō Vol. 32, No. 1685), Đại Bát Niết Bàn Kinh (p: Mahāparinibbāna-sutta, 大般涅槃經) bản tiếng Pāli, truyền thống của Miến Điện, v.v., cho là 80. (4) A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (阿毘達磨大毘婆沙論, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 126 cho là hơn 80. Về niên đại đản sanh của Ngài, học giả hiện đại cũng có nhiều suy định khác nhau. Học giả Nhật Bản Vũ Tỉnh Bá Thọ (宇井伯壽, Ui Hakuju, 1882-1963) cho rằng năm Phật đản sanh là 466 trước CN. Trung Thôn Nguyên (中村元, Nakamura Hajime, 1912-1999) cũng ý cứ vào thuyết này, sau lấy sử liệu mới phát hiện của Hy Lạp, sau khi khảo chứng thì cho là năm 463 trước CN. Về ngày tháng đản sanh của đức Phật, có 5 thuyết khác nhau. (1) Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Vol. 1, No. 1) quyển 4, Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh (過去現在因果經, Taishō Vol. 3, No. 189) quyển 1, Phật Bản Hạnh Tập Kinh (佛本行集經, Taishō Vol. 3, No. 190) quyển 7, Tát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa (薩婆多毘尼毘婆沙, Taishō Vol. 23, No. 1440) quyển 2, v.v., cho là ngày mồng 8 tháng 2. (2) Bồ Tát Giáng Than Phẩm (菩薩降身品) của Tu Hành Bản Khởi Kinh (修行本起經, Taishō Vol. 3, No. 184) quyển Thượng cho là ngày mồng 7 hay 8 tháng 4. (3) Thái Tử Thụy Ứng Bản Khởi Kinh (太子瑞應本起經, Taishō Vol. 3, No. 185) quyển Thượng, Dị Xuất Bồ Tát Bản Khởi Kinh (異出菩薩本起經, Taishō Vol. 3, No. 188), Sanh Phẩm (生品) của Phật Sở Hành Tán (佛所行讚, Taishō Vol. 4, No. 192) quyển 1, Phật Thuyết Thập Nhị Du Kinh (佛說十二遊經, Taishō Vol. 4, No. 195), Phật Thuyết Quán Tẩy Phật Hình Tượng Kinh (佛說灌洗佛形像經, Taishō Vol. 16, No. 695), v.v., thì cho là ngày mồng 8 tháng 4. (4) Điều Kiếp Tỷ La Phạt Tốt Đổ Quốc (劫比羅伐窣堵國條) của Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 6 thì cho là ngày mồng 8 hậu bán tháng Vesākhā. (5) Thượng Tọa Bộ (上座部) cho là ngày 15 hậu bán tháng Vesākhā. Về ngày tháng xuất gia của đức Phật, có 5 thuyết. (1) Trường A Hàm Kinh cho là ngày mồng 8 tháng 2. (2) Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh quyển 2 cho là ngày mồng 7 tháng 2. (3) Xuất Gia Phẩm (出家品) của Tu Hành Bản Khởi Kinh quyển Hạ cho là ngày mồng 7 tháng 4. (4) Thái Tử Thụy Ứng Bản Khởi Kinh quyển Thượng, Phật Thuyết Quán Tẩy Phật Hình Tượng Kinh, v.v., cho là mồng 8 tháng 4. (5) Bản Sanh Kinh Phật Truyện (本生經佛傳) bản tiếng Pāli cho là ngày thứ 15 của tháng A Sa Trà (s: Āsāḷhā, 阿沙荼). Về ngày tháng thành đạo của Ngài, có 4 thuyết. (1) Trường A Hàm Kinh quyển 4, Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh quyển 3, Tát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa quyển 2, v.v., cho là ngày mồng 8 tháng 2. (2) Bản Đại Sử (p: Mahāvaṃsa, 大史) tiếng Pāli cho là ngày trăng tròn tháng Vesākhā. (3) Đại Đường Tây Vức Ký quyển 8 cho là ngày mồng 8 hậu bán tháng Vesākhā. (4) Thượng Tọa Bộ cho là ngày 15 hậu bán tháng Vesākhā. Về ngày tháng lần đầu tiên chuyển Pháp Luân, có 2 thuyết. (1) Bồ Tát Xử Thai Kinh quyển 7 cho là ngày mồng 8 tháng 2. (2) Đại Tỳ Bà Sa Luận quyển 182 cho là ngày mồng 8 của tháng Ca Lật Để Ca (s: Kārttika, 迦栗底迦, hay Ca Hi Na [迦絺那]). Về ngày tháng nhập diệt của Ngài, có 6 thuyết khác nhau. (1) Trường A Hàm Kinh quyển 4 cho là ngày mồng 8 tháng 2. (2) Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 1, Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa quyển 1, v.v., cho là ngày 15 tháng 2. (3) Bài tựa của Nhất Thiết Thiện Kiến Luật (p: Samantapāsādikā, 一切善見律) bản tiếng Pāli, Luật Tạng (p: Vinaya-piṭaka, 律藏) tiếng Pāli, chương thứ 3 của Đại Sử, Điều Câu Thi Na Yết La Quốc (拘尸那揭羅國條) của Đại Đường Tây Vức Ký quyển 6, v.v., cho là ngày 15 hậu bán tháng Vesākhā. (4) Tát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa quyển 2 cho là ngày mồng 8 tháng 8. (5) Đại Tỳ Bà Sa Luận quyển 191, Đại Đường Tây Vức Ký quyển 6 viện dẫn truyện của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (s: Sarvāstivādin, p: Sabbatthivādin, 說一切有部), cho là ngày mồng 8 hậu bán tháng Ca Lật Để Ca. (6) Phật Thuyết Quán Tẩy Phật Hình Tượng Kinh cho là ngày mồng 8 tháng 4. Bên cạnh đó, liên quan đến niên đại nhập diệt của đức Thích Tôn, cũng có nhiều thuyết bất đồng. Như học giả Vũ Tỉnh Bá Thọ của Nhật thì chủ trương là năm 386 trước CN. Tiến Sĩ Trung Thôn Nguyên cho là năm 383 trước CN. Pháp sư Ấn Thuận (印順, 1906-2005) của Trung Hoa thì chủ trương năm 390 trước CN. Tổng hợp tất cả những thông tin vừa nêu trên, ngày tháng đản sanh, xuất gia, thành đạo của đức Phật có thể phân thành 3 thuyết chính: (1) ngày 8 tháng 2, (2) ngày 8 tháng 4, (3) ngày 15 tháng 2. Ngày tháng nhập diệt cũng được chia thành 3 thuyết: (1) ngày 8 tháng 2, (2) ngày 15 tháng 2, (3) ngày 8 tháng 8. Ngoài ra, Nhị Giáo Luận (二敎論) của Đạo An (道安, 312[314]-385) nhà Bắc Chu, Câu Xá Luận Bảo Sớ (俱舍論寶疏) quyển 1, v.v., so sánh tháng của lịch Ấn Độ và lịch Trung Quốc, cho rằng tháng 2 của Ấn Độ tương đương với tháng 4 của Tàu. Thêm vào đó, vào ngày mồng 1 mỗi tháng của lịch Ấn Độ thì tương đương với ngày 16 âm lịch của Trung Quốc; ngày cuối tháng thì tương đương với ngày 15 của tháng kế tiếp theo lịch của Trung Quốc.

thích ca mâu ni

Sakyamuni (skt)—See Thích Ca. ; (釋迦牟尼) Phạm: Zàkya-muni. Pàli: Sakya-muni. Cũng gọi Thích ca văn ni, Xa ca dạ mâu ni, Thích ca mâu nẵng, Thích ca văn. Gọi tắt: Thích ca, Mâu ni, Văn ni. Hán dịch: Năng nhân, Năng nhẫn, Năng tịch, Tịch mặc, Năng mãn, Độ ốc tiêu.Phạm Hán: Thích ca tịch tĩnh, cũng gọi Thích ca mâu ni thế tôn, Thích tôn. Đức Thích tôn ra đời khoảng thế kỉ V trước Tây lịch, sinh trong dòng họ Thích ca, là Thái tử con vua Tịnh phạn (Phạm: Zuddhodana) và Hoàng hậu Ma da (Phạm: Màyà), thành Ca tì la vệ (Phạm:Kapilavastu), thuộc Bắc Ấn độ, được đặt tên là Tất đạt đa (Phạm: Siddhàrtha,Pàli: Siddhattha), cũng gọi Tát bà tất đạt (Phạm: Sarva-siddhàrtha,Pàli:Sabbasiddhattha). Sau khi sinh được 7 ngày thì Hoàng hậu Ma da qua đời, Thái tử được di mẫu (em gáicủaHoàng hậu Ma da)là Ma ha ba xà ba đề (Phạm:Mahàprajàpatti) nuôi nấng nên người. Theo phẩm Tập học kĩ nghệtrong kinh Phật bản hạnh tập quyển 11 và Hữu bộ tì nại da phá tăng sự quyển 3, lúc còn nhỏ, Thái tử theo người Bà la môn tên Tì sa mật đa la (Phạm: Visvamitra,Thể quang giáp) học tập văn chương và theo ông Sằn đề đề bà (Phạm: Kwàntideva,Đồng thần) học tập vũ nghệ, mọi môn đều thông hiểu. Khi lớn lên, Thái tử cưới con gái vua Thiện giác (Phạm: Suprabuddha) ở thành Thiên tí (Phạm: Devadaha) tên là Da du đà la (Phạm: Yazodharà) làm vợ, sinh con là La hầu la (Phạm:Ràhula). Theo phẩm Du quan trong kinh Tu hành bản khởi quyển hạ, một hôm Thái tử đi dạo 4 cửa thành, thấy các người già, người bệnh, người chết và sa môn, Ngài cảm nhận sâu xa nổi thống khổ và vô thường của đời người, từ đó Thái tử đã lập chí xuất gia tu đạo. Năm 29 tuổi (có thuyết nói 19 tuổi), nữa đêm Thái tử ra khỏi cung vua tìm đường giải thoát như vị sa môn mà Thái tử đã thấy ngoài cửa thành. Trước hết, Thái tử đến hỏi đạo nơi đạo sĩ Bạt già đà (Phạm:Bhàrgava) ở nước Tì xá li (Phạm:Vaizàlì), sau đó, Thái tử đến thành Vương xá (Phạm: Rajagfha) thỉnh vấn các đạo sĩ: A la la ca lam (Phạm: Àràđa-kàlàma) và Uất đà ca la ma tử (Phạm: Udraka-ràmaputra). Vì những điều đã học được từ các đạo sĩ trên không thể đưa đến giải thoát nên Thái tử bèn đến rừng Khổ hạnh ở thôn Ưu lâu tần loa (Phạm:Uruvilvà), phía nam thôn Già da (Phạm:Gayà) thuộc nước Ma yết đà (Phạm:Magadha), mở đầu cuộc sống khổ hạnh trong 6 năm. Sau thời gian này, Thái tử nhận ra rằng khổ hạnh không phải là nhân đắc đạo nên từ bỏ, ra khỏi rừng khổ hạnh, đến sông Ni liên thiền (Phạm: Nairaĩjanà) tắm gội, đồng thời tiếp nhận bát cháo sữa do cô gái chăn bò cúng dường. Sau đó, Thái tử đến gốc cây Tất bát la (Phạm:Pippala) ở thôn Già da, trải cỏ cát tường làm tòa kim cương, ngồi kết già xoay mặt về hướng đông, đoan thân chính niệm, tĩnh tâm lặng soi, tư duy về đạo giải thoát. Sau 49 ngày, vào rạng sáng ngày mồng 8 tháng 12, Thái tử hoát nhiên đại ngộ, bấy giờ Thái tử đã 35 tuổi(có thuyết nói 30). Sau khi thành đạo, đức Thích tôn đến vườn Lộc dã (Phạm:Mfgadava) gần thành ba la nại (Phạm:Bàràịasì), nói pháp Tứ đế độ cho 5 vị thị giả cùng tu khổ hạnh với Ngài ở rừng khổ hạnh, nhưng khi thấy Ngài không tu khổ hạnh nữa thì 5 vị bỏ Ngài mà đến vườn Lộc dã này. Đây là lần thuyết pháp đầu tiên của đức Phật mà trong sử gọi là Sơ chuyển pháp luân. Năm vị thị giả này chính là 5 vị tỉ khưu nổi tiếng: A nhã kiều trần như (Phạm:Ajĩatakauịđinya), Bạt đề (Phạm:Bhadrika), Bà sa ba (Phạm: Bàwpa), Ma ha nam (Phạm: Mahànàma) và A thuyết thị (Phạm: Azvajit). Rời vườn Lộc dã, đức Thích tôn đến nước Ma yết đà hóa độ 3 anh em: Ưu lâu tần loa ca diếp (Phạm:Uruvilvà-kàzyapa), Na đề ca diếp (Phạm:Nadi-kàzyada), Già da ca diếp (Phạm:Gaỳa-kàzyada), thuộc giáo phái thờ lửa và 1000 đệ tử của họ. Rồi Ngài lại hóa độ Xá lợi phất (Phạm: Zàriputra) và Mục kiền liên (Pàli: Moggallàna), thuộc 1 trong 6 phái ngoại đạo. Quốc vương thành Vương xá là Tần ba sa la qui y đức Thích tôn. Vua kiến lập tinh xá trong vườn trúc do Trưởng giả Ca lan đà (Phạm:Kalanda) hiến tặng để cúng dường đức Thích tôn. Sau, đức Thích tôn trở về thành Ca tì la vệ, ở đây có nhiều người qui y xuất gia, như Nan đà, La hầu la, Đề bà đạt đa, người thợ hớt tócƯu ba li... Ngài lại độ cho Trưởng giả Tu đạt đa (Phạm: Sudatta) ở thành Xá vệ (Phạm: Zravastì), Trưởng giả tạo lập một đại tinh xá trong khu rừng cây do Thái tử Kì đà (Phạm:Jeta) ở thành Xá vệ tặng để cúng dường đức Thích tôn, làm nơi an trụ và hoằng pháp lâu dài. Vua nước Xá vệ là Ba tư nặc (Phạm: Prasenajit) cũng qui y đức Thích tôn vào thời gian này. Sau khi vua Tịnh phạn băng hà, đức Thích tôn lại trở về cố quốc. Lần này, di mẫu Ba xà ba đề, Da du đà la và một số phụ nữ dòng họ Thích trong hoàng tộc cũng thế phát xuất gia. Sau đó, đức Thích tôn lần lượt thuyết pháp giáo hóa ở nhiều nơi thuộc Ấn độ, bất luận giàu nghèo, sang hèn, nam nữ đều được giáo hóa. Trong khoảng thời gian 44 năm kể từ sau khi đức Thích tôn thành đạo, Ngài đã lần lượt an cư ở những nơi như: Nước Ba la nại, trên núi Linh thứu (Phạm: Gfdhrakùỉa), núi Ma câu la (Phạm: Makula), Trời 33,vườn Cấp cô độc, núi Chá lê... Còn theo kinh Bát đại linh tháp danh hiệu thì đức Thích tôn từng trụ ở rừng Tì sa, núi Nhạ lí, núi Đại dã (Phạm: Aơàvì), tụ lạc Vĩ nỗ... Lại học giả người Anh là T.W.Rhys Davids (1843-1922), căn cứ vào Phật truyện của Tích lan và Miến điện, Pháp cú kinh chú (Dhammapada atthakathà) bằng tiếngPàli..., cho rằng từ khi vườn Cấp cô độc được kiến lập trong rừng cây của Thái tử Kì đà về sau, đức Thích tôn từng trụ ở Đại lâm (Pàli:Mahà-vana) gần thành Tì xá li, núi Ma câu la, Tăng ca xá (Pàli:Saíkìssa), Ba lợi lôi tạp ca (Pàli: Prrileyyaka), Mạn đặc lạt (Pàli: Mantala)... Trong một năm cuối cùng còn tại thế của đức Thích tôn, Ngài rời nước Ma yết đà, vượt qua sông Hằng đi về phía bắc, qua Tì xá li, đến thành Ba bà (Phạm:Pàvà), nhận sự cúng dường lần cuối cùng của người thợ kim hoàn tên là Thuần đà (Phạm: Cunda). Sau đó, đức Thích tôn xuống sông Câu tôn (Pàli:Kakuỉỉhà) tắm gội lần sau cùng, rồi Ngài lại đi đến thành Câu thi na yết la (Phạm:Kuzinagara), tới rừng cây Sa la song thụ, nằm theo dáng cát tường, đầu hướng về phía bắc. Nửa đêm, đức Thích tôn răn dạy các đệ tử lần cuối cùng, sau đó Ngài an nhiên nhập tịch. Di thể đức Thích tôn ban đầu được đặt ở chùa Thiên quan (Phạm: Makuỉaban= dhana-cetiya) của dòng họ Mạt la (Phạm, Pàli:Malla) và được hỏa táng. Nhưng do vấn đề phân phối di cốt, 8 nước là Câu thi na yết la, Ba bà, Già la, La ma già, Tì lưu đề, Ca tì la, Tì xá li và Ma yết đà khởi tranh chấp. Sau nhờ Bà la môn Hương tính (Pàli:Doịa) đứng ra dàn xếp mới được ổn thỏa, theo đó 8 nước được chia di cốt đều nhau, còn Bà la môn Hương tính thì được chiếc bình dùng để chia xá lợi, còn những người ở thôn Tất bát (Phạm: Pipphalivana) vì đến chậm nên chỉ được phần tro. Các nước đều xây tháp cúng dường, đó là nguồn gốccủa10 ngôi tháp hiện nay. Ngay trong năm đức Thích tôn nhập diệt, cuộc kết tập kinh điển lần thứ nhất được cử hành ở hang Thất diệp gần thành Vương xá. Ngài Đại ca diếp (Phạm: Mahàkàzyapa) làm chủ tọa, ngài A nan (Phạm:Ànanda) tụng lại kinh, ngài Ưu ba li (Phạm:Upàli) tụng lại luật; sau đó, đại chúng thảo luận, kiểm xét, sửa chữa mà thành là chuẩn tắc cho kinh luật đời sau. Từ đó về sau, trải qua nhiều biến thiên, giáo pháp của đức Thích tôn bèn chia làm 2 hệ thống là hệ thống Nam truyền lấy tiếng Pàli làm chính và hệ thống Bắc truyền lấy kinh điển Hán dịch làm chính. Cả 2 hệ thống đều được truyền bá rộng rãi ở đời sau.Năm tháng xác thực về đản sinh, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân lần đầu, tuổi thọ, nhập diệt... của đức Thích tôn trong các kinh điển có nhiều thuyết khác nhau. Về tuổi thọ của đức Thích tôn có các thuyết sau: 1. Phẩm Thế đẳng trong kinh Bồ tát xử thai cho rằng Ngài thọ 84 tuổi. 2. Kinh Bát nê hoàn quyển hạ nói Ngài thọ 79 tuổi. 3. Phẩm Thọ lượng trong kinh Kim quang minh quyển 1, kinh Bát đại linh tháp danh hiệu, kinh Đại bát niết bàn (Mahàparinibbàna-sutta) bằng tiếng Pàli và truyền thuyết của Miến điện cho rằng Ngài thọ 80 tuổi. 4. Luận Đại tì bà sa quyển 126 nói Ngài thọ hơn 80 tuổi. Về niên đại đản sinh của đức Thích tôn thì giữa các học giả hiện đại cũng có nhiều suy đoán. Học giả Phật giáo Nhật bản là ông Vũ tỉnh Bá thọ cho rằng năm 466 trước Tây lịch là năm Phật đản; ông Trung thôn nguyên y cứ vào thuyết này, sau dùng các sử liệu Hi lạp mới được phát hiện để khảo chứng rồi sửa lại là năm 463 trước Tây lịch. Về ngày tháng đản sinh của đức Thích tôn thìcó các thuyết sau đây: 1. Kinh Trường a hàm quyển 4, kinh Quá khứ hiện tại quyển 1, kinh Phật bản hạnh tập quyển 7 và Tát bà đa tì ni tì bà sa quyển 2 cho rằng đức Thích tôn đản sinh vào ngày 8 tháng 2. . Phẩm Bồ tát giáng thân trong kinh Tu hành bản khởi quyển thượng, cho là ngày mồng 7 tháng 4, hoặc ngày mồng 8 tháng 4. 3. Kinh Thái tử thụy ứng bản khởi quyển thượng, kinh Dị xuất bồ tát bản khởi, phẩm Sinh trong Phật sở hành tán quyển 1, kinh Thập nhị du và kinh Quán tẩy Phật hình tượng... đều cho là ngày mồng 8 tháng 4. 4. ĐiềuKiếp tỉ la phạt tốt đổ quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 6 cho là ngày mồng 8 của nửa sau tháng Vệ tắc (Pàli: Vesàkhà), tương đương với ngày mồng 8 tháng 3 âm lịch Trung quốc. 5. Thượng tọa bộ cho rằng đức Thích tôn đản sinh vào ngày 15 của nửa sau tháng Vệ tắc, tức ngày trăng tròn, tương đương với ngày 15 tháng 3 âm lịch Trung quốc. Về ngày tháng xuất gia của đức Thích tôn có các thuyết sau đây: 1. Kinh Trường a hàm quyển 4 cho là ngày mồng 8 tháng 2. 2. Kinh Quá khứ hiện tại quyển 2 cho là ngày mồng 7 tháng 2. 3. Phẩm Xuất giakinhTu hành bản khởi quyển hạ cho là ngày mồng 7 tháng 4. 4. Kinh Thái tử thụy ứng bản khởi quyển thượng và kinh Quán tẩy Phật hình tượng cho là ngày mồng 8 tháng 4. 5. Kinh Phật truyện bản sinh tiếngPàli cho là ngày 15 A sa trà (Pàli:Asàơhà). Về ngày tháng thành đạo của đức Thích tôn có các thuyết sau: 1. Kinh Trường a hàm quyển 4, kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 3 và Tát bàđa tì ni tì bà sa quyển 2 đều cho rằng đức Thích tôn thành đạo vào ngày mồng 8 tháng 2. 2. Đại sử (Mahàvaôsa) tiếngPàli cho là ngày trăng tròn tháng Vệ tắc. 3. Đại đường tây vực kí quyển 8 cho là ngày mồng 8 của nửa tháng sau tháng Vệ tắc.4. Thượng tọa bộ cho là ngày 15 của nửa sau tháng Vệ tắc. Về ngày tháng chuyển pháp luân lần đầu của đức Thích tôn có các thuyết sau: 1. Kinh Trường a hàm quyển 4 cho rằng đức Thích tôn chuyển pháp luân lần đầu vào ngày mồng 8 tháng 2. 2. Kinh Đại bát niết bàn quyển 1 và Thiện kiến luật tì bà sa quyển 1 đều cho là ngày 15 tháng 2. 3. Bài tựa trong Nhất thiết thiện kiến luật (Samantapàsàdikà) bằng tiếngPàli, Luật tạng (Vinaya-piỉaka) tiếngPàli, Đại sử chương 3, điều Câu thi na yết la quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 6, đều cho là ngày 15 của nửa sau tháng Vệ tắc.4. Tát bà đa tì ni tì bà sa quyển 2 cho là ngày mồng 8 tháng 8. 5. Luận Đại tì bà sa quyển 191 cho là ngày mồng 8 của nửa sau tháng Ca lạt để ca. 6. Kinh Quán tẩy Phật hình tượng cho là ngày mồng 8 tháng 4. Sau hết, về niên đại nhập diệt của đức Thích tôn cũng có nhiều thuyết khác nhau. Ông Vũ tỉnh bá thọ người Nhật chủ trương năm 386 trước Tây lịch, ông Trung thôn nguyên chủ trương 383 trước Tây lịch; còn ngàiẤn thuận của Trung quốc thì chủ trương năm 390 trước Tây lịch. Tóm lại, tổng hợp các điểm trình bày trên, về ngày tháng đức Thích tôn đản sinh, xuất gia, thành đạo có thể chia làm 3 thuyết: 1. Mồng 8 tháng 2. 2. Mồng 8 tháng 4. 3. Ngày 15 tháng 2. Về ngày tháng nhập diệt cũng chia làm 3 thuyết: 1. Mồng 8 tháng 2. 2. Ngày 15 tháng 2. 3. Mồng 8 tháng 8. Ngoài ra, luận Nhị giáo của ngài Đạo an đời Bắc Chu, Câu xá luận bảo sớ quyển 1...so sánh nguyệt phần giữa lịch Ấn độ và âm lịch Trung quốc cho rằng tháng 2 của Ấn độ tương đương với tháng 4 của Trung quốc; ngày mồng 1 mỗi tháng của lịch Ấn độ tương đương với ngày 16 của âm lịch Trung quốc, ngày cuối tháng tương đương với ngày 15 tháng kế của lịch Trung quốc, nửa tháng trước gọi là phần đen, nữa tháng sau gọi là phần trắng. (xt. Phật TruyệnĐiển Tịch, Phật Diệt Niên Đại, Lịch).

thích ca mâu ni như lai

Sakyamuni Thus Come One—Sakyamuni Tathagata—Vị Phật thứ bảy trong bảy vị cổ Phật—The seventh of the seven ancient Buddhas. ** For more information, please see Thích Ca Mâu Ni Phật in Vietnamese-English Section.

thích ca mâu ni như lai tượng pháp diệt tận chi kí

(釋迦牟尼如來像法滅盡之記) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Pháp thành dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Nội dung nói về lịch sử Phật giáo các nước như Vu điền..., tức vào thời vua đời thứ 7 của nước Vu điền là Tì tả da ngật đa, La hán Tăng già bà nhĩ đà na dùng phương thức tiên đoán để trình bày về sự hưng phế của Phật giáo nước Vu điền, cho đến việc tượng pháp diệt hết. Sách này chỉ là một phần Hán dịch trong nguyên bản tiếng Tây tạng, do học giả người Pháp là ông P.Pelliot tìm thấy ở Đôn hoàng, Trung quốc, là tư liệu quí giá cho việc nghiên cứu về Phật giáo các nước vùng Tây vựcđờixưa và là sách tham khảo quan trọng để nghiên cứu nguyên bản tiếng Tây tạng.

thích ca mâu ni phật

1) Đức Phật lịch sử, người đã sanh ra trong dòng họ Thích Ca—Nhà Thông Thái của dòng họ Thích Ca—Phật Thích Ca Mâu Ni, vị Phật lịch sử đã sáng lập ra Phật giáo. Ngài tên là Cồ Đàm Sĩ Đạt Đa, đản sanh năm 581-501 trước Tây lịch, là con đầu lòng của vua Tịnh Phạn, trị vì một vương quốc nhỏ mà bây giờ là Nepal và kinh đô là Ca Tỳ La Vệ. Vào tuổi 29 Ngài lìa bỏ cung điện và vợ con, ra đi tìm đường giải thoát chúng sanh. Vào một buổi sáng lúc Ngài 35 tuổi, Ngài đã thực chứng giác ngộ trong khi đang thiền định dưới cội Bồ đề. Từ đó về sau, Ngài đã đi khắp các miền Ấn Độ giảng pháp giúp người giải thoát. Ngài nhập diệt vào năm 80 tuổi—Sakyamuni Buddha—The historical Buddha, who was born into the Sakya clan—The Sage of the Sakyas—A title applied to the Buddha—Historical founder of Buddhism, Gautama Siddhartha, the Buddha Sakyamuni, who was born in 581-501 BC as the first son of King Suddhdana, whose small kingdom with the capital city of Kapilavastu was located in what is now Nepal. At the age of twenty nine, he left his father's palace and his wife and child in search of the meaning of existence and way to liberate. One morning at the age of thirty five, he realized enlightenment while practicing meditation, seated beneath the Bodhi tree. Thereafter, he spent the rest 45 years to move slowly across India until his death at the age of 80, expounding his teachings to help others to realize the same enlightenment that he had. 2) Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Thích Ca Mâu Ni là vị Thánh của dòng họ Thích Ca. Chữ Thích Ca có nghĩa là nhân từ hay tịnh mặc, là một vị sống độc cư, hay bậc tịch tĩnh trong dòng họ Thích Ca. Sau 500 hay 550 kiếp, cuối cùng Đức Thích Ca Mâu Ni đạt được quả vị Bồ tát, sanh vào cung trời Đâu Suất, và vào ngày 8 tháng tư giáng trần bằng bạch tượng, vào hông phải của Hoàng Hậu Ma Da vợ vua Tịnh Phạn. Năm sau vào ngày 8 tháng hai Hoàng Hậu hạ sanh ngài trong vườn Lâm Tỳ Ni, ở phía đông thành Ca Tỳ La Vệ, nay thuộc Népal. Ngài là con vua Tịnh Phạn, dòng dõi Sát Đế Lợi, cai trị thành Ca Tỳ La Vệ. Hạ sanh ngài được bảy ngày thì Hoàng Hậu Ma Da qua đời, ngài được bà dì tên Ba Xà Ba Đề nuôi nấng dạy dỗ. Ngài vâng lệnh vua cha kết hôn cùng công chúa Da Du Đà La, được một con trai tên La Hầu La. Sau đó Ngài lìa bỏ gia đình ra đi tìm chân lý, trở thành một nhà tu khổ hạnh, cuối cùng vào năm 35 tuổi Ngài chứng ngộ và nhận thức rằng giải thoát khỏi vòng sanh tử không phải do khổ hạnh, mà do nơi giới đức thanh tịnh; những điều nầy ngài giải thích trong Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo. Cộng đồng Tăng Sĩ của ngài dựa trên đức hạnh và trí tuệ, được biết đến như là Đạo Phật, và Ngài cũng được biết đến như là vị Phật. Ngài nhập diệt khoảng năm 487 trước Tây Lịch, khoảng 8 năm trước Khổng Tử. Tên tộc (gia đình) của ngài là Cồ Đàm, người ta nói Cồ Đàm là tên của toàn bộ tộc—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms composed by Professor Soothill, Sakyamuni, the saint of the sakya tribe. Muni is saint, holy man, sage, ascetic, monk; it is interpreted as benevolent, charitable, kind, also as one who dwells in seclusion. After 500 or 550 previous incarnations, Sakyamuni finally attained to the state of Bodhisattva, was born in the Tusita heaven, and descended as a white elephant, through her right side, into the womb of the immaculate Maya, the purest woman on earth; this was on the 8th day of the 4th month; the following year on the 8th day of the 2nd month he was born from her right side painlessly as she stood under a tree in the Lumbini garden. He was born the son of King Suddhodana, of the Ksatriya caste, ruler of Kapilavastu, and Maya his wife; that Maya died seven days later, leaving him to be brought up by her sister Prajapati; that in due course he was married to Yasodhara who bore him a son, Rahula; that in search of truth he left home, became an ascetic, severely disciplined himself, and finally at 35 years of age, under a tree, realized that the way of release from the chain of rebirth and death lay not in asceticism but in moral purity; this he explained first in his four dogmas, and eightfold noble way. He founded his community on the basis of poverty, chastity, and insight or meditation, and it became known as Buddhism, as he became known as Buddha, The Enlightened. His death was probably in or near 487 B.C., a few years before that of Confucius in 479. The sacerdotal name of his family is Gautama, said to be the original name of the whole clan, Sakya being that of his branch; his personal name was Siddhartha, or Sarvarthasiddha.

thích ca mạn đồ la

(釋迦曼荼羅) Chỉ cho Mạn đồ la lấy đức Thích ca Như lai làm trung tâm mà kiến lập. Theo phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật quyển 5 thì đàn Thích ca sư tử gọi là Đại nhân đà la, đàn màu vàng tươi, rất đẹp, 4 cạnh bằng nhau, chính giữa vẽ chày kim cương, trên chày đặt hoa sen, trên hoa sen đặt bình bát. Nếu là hình Phật thì vẽ Phật Thích ca cầm bát, có kim cương vây quanh, bên phải đặt ca sa, bên trái đặt tích trượng. Còn Thích ca văn ni Phật kim cương nhất thừa tu nghi quĩ pháp phẩm thì nói rằng: Nếu muốn báo đáp ân đức vô thượng của đức Thích tôn thì nên kiến lập Mạn đồ la, chính giữa vẽ tượng Phật Thích ca mâu ni, ngồi kết già trên đài sen trắng; ở 4 góc, vẽ 4 bồ tát: Văn thù, Phổ hiền, Quán âm và Di lặc, đều ngồi bán già trên hoa sen. Trước tượng Phật có bình bát của Như lai, bên phải Phật đặt hiền bình có cắm hoa, bên trái đặt bảo loa, phía sau Phật để tích trượng, 4 vật này đều được đặt trên hoa sen, có ngọn lửa bao quanh. Đây chính là Thích ca mạn đồ la. Ngoài ra, kinh nhất thiết công đức trang nghiêm vương, phẩm Mạn đồ la trong kinh Đại phương quảng Mạn thù thất lợi... đều có nói về cách vẽ Thích ca mạn đồ la.

thích ca như lai thành đạo kí

(釋迦如來成道記) Tác phẩm, 2 quyển, do Vương bột soạn vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 130. Nội dung nói về sự tích giáo hóa trong một đời của đức Thích ca mâu ni và về việc hoằng dương giáo pháp sau khi Ngài nhập diệt. Năm Vạn lịch thứ 6 (1578) đời Minh, ngài Minh đắc viết bài tựa, đánh giá rất cao bằng những lời như sau: Sách này rút gọn mà không qua loa, bao quát mà không sót, thật là ngọc khiết vàng ròng, là ánh sao lung linh, là mặt trời rực sáng. Ngài Đạo thành đời Đường có soạn Thành đạo kí chú, 2 quyển.

thích ca niệm phật

(釋迦念佛) Cũng gọi Thích ca đại niệm Phật, Đại niệm Phật. Xướng niệm danh hiệu Phật Thích ca mâu ni, hồi hướng nguyện chứng Đại bồ đề, là 1 trong các pháp môn niệm Phật. Phẩm Như lai thần lực trong kinh Pháp hoa quyển 6 (Đại 9, 52 thượng) nói: Cũng nên lễ bái, cúng dường Phật Thích ca mâu ni, các chúng sinh cõi kia nghe âm thanh trong hư không, liền chắp tay hướng về thế giới Sa bà xướng niệm rằng: Na mô Thích ca mâu ni Phật! Na mô Thích ca mâu ni Phật! Rồi cùng nhau từ xa rải vào thế giới Sa bà các thứ hoa thơm, anh lạc, phướn lọng và các vật quí báu nghiêm thân. Ở đây, xưng niệm danh hiệu đức Phật Thích ca mâu ni là biểu trưng ý nghĩa qui mệnh.

thích ca pháp

(釋迦法) Chỉ cho pháp đàn cúng dường Phật Thích ca mâu ni, 1 trong các pháp tu của Mật giáo. Tức bí pháp thờ đức Phật Thích ca mâu ni làm Bản tôn mà tu các pháp Tăng ích, Trừ chướng nạn và Trị bệnh. Kinh Đà la ni tập quyển 2 nói: Nếu các Chú sư muốn cúng dường chư Phật trong 10 phương, muốn tránh khỏi tất cả chướng nạn, quỉ nạn và trị tất cả bệnh tật đau đớn thì nên tu hành pháp này. Còn Thích ca văn ni Phật kim cương nhất thừa tu hành nghi quĩ pháp phẩm thì nói về tác pháp, cho rằng nghi thức cúng dường, khuyến thỉnh phụng tống của pháp tu này đều y cứ theo Như lai bộ; như kinh Tô tất địa... nói: Lấy Phật nhãn tôn làm bộ Mẫu, lấy Nan thắng phẫn nộ làm Minh vương Kết hộ. Ngoài ra, kinh Đại nhật, kinh quĩ của Thai tạng bộ và kinh Đà la ni tập quyển 1, tuy cũng có nói về ấn tướng và chân ngôn của Phật Thích ca nhưng điển cứ liên quan đến Thích ca pháp thì rất ít

thích ca phát khiển

(釋迦發遣) Phát khiển, đối lại: Chiêu hoán. Thích ca phát khiển. Nghĩa là đức Phật Thích ca ở uế độ Sa bà khuyên bảo chúng sinh cầu sinh về Tịnh độ của đức Phật A di đà. Phần Huyền nghĩa trong Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ (Đại 37, 246 trung) nói: Ngưỡng mong đức Thích ca ở phương này phát khiển, đức Di đà ở cõi kia đến đón. Cõi kia kêu gọi, nơi này khuyên bảo, lẽ nào không đi?.

thích ca phát tâm

(釋迦發心) Sự phát tâm của đức Phật Thích ca khi còn là Bồ tát ở địa vị tu nhân. Luận Đại trí độ quyển 4 và luận Câu xá quyển 18 nói: Cách nay 3 đại a tăng kì kiếp có đức Phật hiệu là Thích ca mâu ni, lúc bấy giờ đức Thích tôn vẫn còn là Bồ tát, lần đầu tiên Ngài phát tâm, nguyện cầu thành Phật và nay Ngài là Phật Thích ca mâu ni đúng như nguyện. Nhưng, theo phẩm Hóa thành dụ trong kinh Pháp hoa quyển 3 thì trong 1 kiếp quá khứ rất lâu xa, có đức Phật hiệu là Đại thông trí thắng Như lai, khi chưa xuất gia, Ngài có 16 vương tử, sau đều xuất gia làm sa di, được nghe kinh Pháp hoa và đều thành Phật; trong đó, vị vương tử thứ 10 chính là đức Thích ca Như lai sau này. Lại nữa, cũng phẩm Hóa thành dụ, kinh Pháp hoa (Đại 9, 25 thượng) nói: Đã từng cúng dường trăm nghìn muôn ức chư Phật, tịnh tu phạm hạnh, cầu Vô thượng chính đẳng chính giác. Như vậy, trường hợp trên không phải là lần phát tâm đầu tiên. Ngoài ra, theo kinh Bi hoa quyển 2, 3 thì thủa xưa vào thời vua Vô tránh niệm nước San đề lam, Phạm chí Bảo hải có người con xuất gia thành đạo hiệu là Bảo tạng Như lai. Bấy giờ, Phạm chí Bảo hải khuyên vua Tránh niệm và 1000 vương tử phát tâm, nhà vua làm theo lời khuyên và phát tâm nguyện cầu sinh cõi Phật thanh tịnh, còn 1000 vương tử thì nguyện cầu sinh vàothế giới trược ác. Cuối cùng, Phạm chí Bảo hải cũng phát 500 đại nguyện và cầu sinh vào thế giới trược ác, đó chính là đức Phật Thích ca sau này, là Phật thứ 4 trong 1000 Phật kiếpHiền.

thích ca phương chí

(釋迦方志) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Đạo tuyên soạn vào niên hiệu Vĩnh huy năm đầu (650) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Toàn sách chia làm 8 thiên: Phong cương, Thống nhiếp, Trung biên, Di tích, Du lí, Thông cục, Thời trụ và Giáo tướng. Nội dung trình bày về các khu vực và thời kì truyền bá Phật giáo, về tướng trạng 4 châu và núi Tu di trong truyền thuyết Phật giáo, về tuyến đường giao lưu của Phật giáo giữa Trung quốc và Ấn độ, về lược truyện 16 vị tăng, tục đến Ấn độ cầu pháp và về những truyện tích Ấn độ lưu truyền ở Trung quốc. Ngoài việc dẫn dụng các kinh truyện Phật giáo, sách này còn tham khảo 1 số sách sử, kinh thư Đạo giáo.

thích ca phả

(釋迦譜) Tác phẩm, 5 quyển (hoặc 10 quyển), do ngài Tăng hựu soạn vào đời Lương, được thu vào Đại chính tạng tập 50. Nội dung trích dẫn nhiều kinh luật Đại, Tiểu thừa, nói về các truyền thuyết liên quan đến các thế hệ của dòng họ Thích ca, sử tích một đời của đức Phật Thích ca mâu ni và sự truyền bá Phật pháp từ sau khi Phật nhập diệt cho đến thời đại vua A dục. Toàn sách được chia làm 34 điều, phụ thêm ý kiến ngắn gọn của soạn giả, mỗi điều đều có nêu điển cứ, văn trích dẫn. Đây là tác phẩm soạn thuật Phật truyện đầu tiên ở Trung quốc, nhưng đáng tiếc hơi dài dòng, luộm thuộm, vì thế, ngài Đạo tuyên đời Đường có soạn Thích ca thị phổ giản lược hơn. Sách này có 2 bản quảng và lược, bản Cao li là bản lược, gồm 5 quyển, còn 3 bản Tống, Nguyên, Minh là bản quảng, gồm 10 quyển.

thích ca phật đài

Thích Ca Phật Đài là một tượng đài đẹp nổi tiếng của thành phố Vũng Tàu, tọa lạc phía tây bắc sườn núi Lớn ở Vũng Tàu. Đây là công trình kiến trúc của hệ phái Phật Giáo Nguyên Thủy, được xây dựng vào năm 1961. Nơi đây gồm hai khu vực: Thiền Lâm Tự ở phía dưới và Thích Ca Phật Đài ở phía trên. Theo từng bậc đá men sườn núi có nhiều pho tượng về sự tích Đức Phật: Tượng Đức Phật Thích Ca Đản Sinh, Thích Ca xuất gia, Thích Ca Thành Đạo, và cây Bồ Đề được Đại Đức Narada cung thỉnh từ Tích Lan về trồng tại đây vào ngày 2 tháng 11 năm 1960. Ở trung tâm là tượng Phật Thích Ca ngồi kiết già trên một tòa sen, cao 10 mét 20, đường kính 6 mét, khánh thành ngày 10 tháng 3 năm 1963. Ở đây còn có tháp xá lợi bát giác, cao 19 mét, bốn phía đặt bốn đỉnh lớn, đất bên trong đỉnh được mang về từ Tứ động tâm (Ấn Độ): Nơi Phật Đản Sanh, Phật Thành Đạo, Phật Chuyển Pháp Luân, Phật Nhập Niết Bàn—Name of a famous statue of Sakyamuni Buddha, or Sakyamuni Buddha Monument, a famous beautiful scenery of Vũng Tàu City, located on the northwest slope of Mount Lớn in Vũng Tàu City. It is an architectural monument of the Theravada Sect, being built in 1961. There are two sections in the area: Thiền Lâm Pagoda is located at the foot of the mountain whereas the Sakyamuni Buddha Monument is on the slope. Along the stone stairs of the mountain slope, one can see many statues illustrating Lord Buddha's biography. That is, the statue of Sakyamuni Buddha at His Holy Birth, that of Sakyamuni entering the monkhood and one statue cast to memorize His Great Enlightenment. One can see also Bo-tree brought from Sri Lanka and planted in the area by Most Venerable Elder Narada on November 2nd, 1963. At the center of the area is placed a Sakyamuni Buddha statue sitting in meditation in cross-legged posture on the lotus pedestal, 10.20 meters high and 6 meters in diameter. The statue was inaugurated on March 10, 1963. Also in this area stands the octogonal stupa for Buddha's relics, 19 meters high, with four great cauldrons situated in four corners of the stupa. Inside the cauldrons is the soil brought from the four places where Lord Buddha was born, where he received is Great Enlightenment, where he set the Dharma wheel moving and where he reached Parinirvana.

thích ca sư tử

Sakyasimha (skt)—The lion of the Sakyas, i.e. the Buddha.

thích ca thị phả

(釋迦氏譜) Cũng gọi Thích thị lược phổ, Thích ca thị lược phổ. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đạo tuyên soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 50. Nội dung sách này được chia làm 5 khoa: Sở y hiền kiếp, Thị tộc căn nguyên, Sở thác phương thổ, Pháp vương hóa tướng và Thánh phàm hậu dận. Nội dung trên y cứ vào Tam tạng Đại, Tiểu thừa để trình bày về thời gian xuất thế của đức Thích ca, về truyền thuyết tộc phổ của Ngài, về những khu vực Ngài sáng lập giáo pháp, về quá trình truyền giáo và về sự hưng phế của Phật giáo sau khi Ngài viên tịch. Đại ý tuy giống với Thích ca phổ do ngài Tăng hựu soạn vào đời Lương thuộc Nam triều nhưng lời văn ngắn gọn hơn, kết cấu rõ ràng mạch lạc, giúp cho người sau dễ hiểu hơn. [X.Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8].

thích ca tì lăng già ma ni bảo

(釋迦毘楞伽摩尼寶) Phạm: Zakràbhi lagna-maịi-ratna. Cũng gọi Thích ca tì lăng già bảo, Thích ca tì lăng già thắng ma ni bảo, Tì lăng già ma ni bảo châu, Tì lăng già bảo. Chỉ cho vật báu trang sức đeo ở cổ của trời Đế thích thường phóng ra ánh sáng. Thích ca tì lăng già thông thường được dịch là Đế thích trì, nghĩa là sở hữu của trời Đế thích, cũng dịch là Năng thắng, Li cấu. Ma ni là từ gọi chung các châu báu. Trong kinh cũng cho đây là vật trang nghiêm của Phật và Bồ tát. Theo kinh Đại phương quảng bảo khiếp quyển thượng thì bảo châu Tì lăng già ma ni trên cổ trời Đế thích chiếu sáng khắp cung trời 33. Bảo châu thanh tịnh này được ví dụ cho trí tính của Bồ tát có năng lực hiển hiện tất cả mọi việc. Còn theo phẩm Nhẫn giảo lượng trong kinh Đại pháp cự đà la ni quyển 5 thì trên đỉnh núi Tu di có 3 thứ báu là Uy hoa, Thích ca tì lăng già và Bảo tinh, trong đó, Tì lăng già bảo có màu vàng ròng, do thiện căn sinh ra, tự nhiên chiếu sáng vượt qua cõi trời Đao lợi, trời Dạ ma, trời Đâu suất, đỉnh núi Tu di và trụ lại ở Phạm cung. Bồ tát từ cõi Diêm phù đề sinh lên cung trời Đâu suất, nhờ năng lực thiện căn nên vật báu này tự nhiên sinh ra ở trong hộp, tất cả ma sự tự nhiên hoại diệt.

thích ca tôn

Bậc Chí Tôn của dòng họ Thích Ca, ý nói Phật Thích Ca—The honoured one of the Sakyas, i.e. Sakyamuni.

thích ca tượng

(釋迦像) Tượng đức Phật Thích ca mâu ni được điêu khắc hoặc vẽ tranh để lễ bái cúng dường. Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 28 và kinh Quán Phật tam muội hải quyển 6 thì vào thời đức Phật còn tại thế, vuaƯu điền và vua Ba tư nặc đều đã đúc tượng Phật bằng vàng ròng. Nhưng việc này có lẽ là truyền thuyết của người đời sau. Trước khi có tượng Phật, người Ấn độ thường dùng bánh xe pháp, cây Bồ đề, tháp xá lợi... để tượng trưng cho đức Phật và các bức tranh bản sinh đàm, cho đến khoảng kỉ nguyên Tây lịch thì ở vùng Kiện đà la thuộc Bắc Ấn độ mới thấy xuất hiện tượng Phật Thích ca trong nhiều tư thái, tượng ngồi tư duy với 2 bàn tay chồng lên nhau, tượng ngồi hàng ma tay phải kết ấn Xúc địa(chạm đất), tượng ngồi thuyết pháp 2 tay kết ấn chuyển pháp luân đặt ở trước ngực... Trong Phật truyện thường thấy tượng Phật đản sinh, nhập Niết bàn và tượng Thích ca khổ hạnh, Thích ca xuất sơn... đề tài vẽ rất phong phú. Theo Lí hoặc luận của Mâu tử trong Hoằng minh tập quyển 1 và truyện Trúc pháp lan trong Lương cao tăng truyện quyển 1 thì vào thời vua Minh đế nhà Hậu Hán ở Trung quốc đã có vẽ tượng Phật. Lại theo truyện ngài Khang tăng hội trong Xuất tam tạng kí tập quyển 13, bài tán tượng Thích ca văn Phật của ngài Chi đạo lâm đời Đông Tấn chép trong Quảng hoằng minh tập quyển 10 thì người ta biết được là từ đời Tam quốc về sau, việc tạo lập tượng Phật đã dần dần thịnh hành. Vào năm Kiến nguyên thứ 2 (366) đời Phù Tần, sa môn Lạc tôn đục hang đá tạo tượng Phật ở núi Minh sa tại Đôn hoàng, đây là sự nghiệp đục hang đá tạc tượng Phật đầu tiên ở Trung quốc. Kế đến, Thư cừ Mông tốn ở Bắc Lương mở đục điện hang tại núi Tam nguy nằm về phía đông núi Minh sa để tạo lập tượng Phật, dần dần hang đá đạt đến số nghìn, đó chính là Đôn hoàng thiên Phật động, cũng gọi là Mạc cao quật. Thời Bắc Ngụy, vua Văn thành đế sai ngài Đàm diệu đục mở 5 hang đá lớn (hang 16 đến hang 20) ở núi Vân cương nằm về phía tây bắc Bình thành. Đến đời các vua Hiến văn và Hiếu văn cũng tiếp tục đục mở, gồm 20 hang, phần lớn là thờ tượng Phật Thích ca. Vào năm Thái hòa 19 (495) đời Bắc Ngụy, sau khi dời đô đến Lạc dương, hang đá và tượng Phật bắt đầu được tạo lập ở Long môn, đến các đời Tùy, Đường tiếp nối, trong đó, phần lớn cũng tạo tượng Phật Thích ca. Đầu đời Đường về sau, Mật giáo truyền vào, đồng thời cũng truyền vào cách vẽ tượng Thích ca và Thích ca mạn đồ la. Trong mạn đồ la Thai tạng giới, Thiên cổ lôi âm Như lai ngồi ở phương bắc viện Trung đài bát diệp, là vị chủ tôn của viện Thích ca ở phương đông. Trong đó, hình tượng Ngài ở viện Trung đài bát diệp là màu vàng ròng, tay trái nắm lại và ngửa lên để ở dưới rốn, bàn tay phải úp xuống đặt trên đầu gối, ngồi trên hoa sen báu, tức là tướng của Pháp thân Tì lô giá na lìa nóng bức được mát mẻ, an trụ trong định tịch lặng; vì đặt ở Trung đài cho nên gọi là Đệ nhất trùng Thích ca. Còn hình tượng trong viện Thích ca cũng màu vàng ròng, đắp ca sa màu càn đà, tay trái cầm 1 góc áo ca sa, đầu ngón tay cái và ngón vô danh của tay phải bấm vào nhau làm thành hình tròn, 3 ngón còn lại dựng đứng, đây tức là tướng thuyết pháp của đức Tì lô giá na nói pháp môn tự chứng; vì đặt riêng ở lớp thứ 3 cho nên gọi là Đệ tam trùng Thích ca. Trong khoảng thời gian từ đời Bắc Ngụy đến các đời Đường, Tống, Thiên Phật động ở Đôn hoàng đã được đục mở thêm nhiều lần, trong đó, khám thờ Phật ở mặt chính của độngNthứ 120 (theo biên hiệu của Pelliot) có thờ tượng Phật Thích ca theo kiểu dáng Trung Ấn độ, động thứ 111 thờ tượng Phật Thích ca và Phật Đa bảo ngồi chung theo kiểu dáng dung hợp Trung Ấn và Bắc Ngụy. Ông A.Stein người Anh cũng từng tìm thấy ở đây bức tranh thêu Phật thuyết pháp trên núi Linh thứu và bức tranh thêu Phật Thích ca thuyết pháp bằng lụa có tô màu.

thích ca viện

(釋迦院) Một trong các viện thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, lấy đức Thích ca Như lai(đức Thích ca Như lai này không phải là sinh thân Phật, mà là Pháp thân Phật biến hóa ra) làm chủ tôn, cho nên gọi là Thích ca viện. Vị trí của viện này nằm ở lớp thứ 2 phía đông, tức phía trên viện Biến tri, tượng trưng cho đức thuyết pháp lợi sinh, phương tiện nhiếp hóa của Đại nhật Như lai. Viện này gồm có 39 vị tôn, trong đó, Thích ca Như lai là Phật bảo, Bồ tát Quán tự tại là Pháp bảo và Bồ tát Hư không tạng là Tăng bảo, biểu thị ý nghĩa Tam bảo cụ túc. Thích ca Như lai ngồi trên hoa sen trắng, tượng trưng ý nghĩa tuy Ngài xuất hiện giữa cõi đời 5 trọc ác, ứng hiện đồng với chúng sinh, nhưng tự thể thanh tịnh của Ngàithì không biến đổi. Về Mạn đồ la của viện Thích ca, các kinh quĩ nói khác nhau, Mạn đồ la hiện nay nêu như sau: Cúng dường vân hải, Như lai tiếu. Trí câu hi la, Như lai ngữ Ưu bà lê, Như lai thiệt Ca chiên diên, Trừ chướng Phật đính A nan, Cao Phật đính Câu hi la, Tối thắng Phật đính. Bảo phúc Bích chi Phật Luân phúc Bích chi Phật, Thắng Phật đínhNhư lai nha, Bạchtản cái Phật đính Quán tự tại, Thích ca vô năng thắng Hư không tạng, Thích ca vô năng thắng phi.Như lai thước khấtđể, Nhất thiết Như lai bảo Chiên đàn hương Bích chi Phật, Như lai hào tướng Đa ma la hương Bích chi Phật Đại mục kiền liên, Chuyển luân Phật đínhTu bồ đề, Quang tụ Phật đính Ca diếp, Vô lượng thanh Phật đính Xá lợi phất, Như lai bi Như lai hỉ, Như lai mẫn Như lai xả, Như lai từ Viện này bày xếp 8 vị Phật đính: Trừ chướng Phật đính, Cao Phật đính, Tối thắng Phật đính... Phật đính biểu thị ý nghĩa quả đức sâu kín. Vì Thích ca Như lai tuy là Phật hóa thân nhưng biểu thị nghĩa quả đức sâu xa cùng với Pháp thân bản địa không hai, cho nên được bày ở viện này. Còn Như lai Nha, Như lai Hào tướng cũng được xếp trong viện này là vì biểu thị nghĩa Tự tính pháp thân của Thích ca Như lai xưa nay vốn thường trụ. Hai tôn vị Vô năng thắng và Vô năng thắng phi biểu thị cho đức hàng phục 4 ma, thành đạo dưới gốc cây Bồ đề của Thích ca Như lai

thích ca vô sư

(釋迦無師) Đức Thích ca không có thầy mà tự ngộ. Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 14 thì có lần Phạm chí hỏi đức Phật rằng: Thầy của Ngài là ai? Ngài nương vào ai để xuất gia học đạo?. Đức Phật đáp rằng (Đại 2, 618 hạ): Ta không có thầy dạy, cũng không ai bằng ta; độc tôn không ai hơn, đã lạnh không còn ấm.

thích ca văn

Thích Ca Văn Ni—Sakyamuni, the saint of the Sakya tribe—See Thích Ca Mâu Ni.

thích ca văn ni

See Thích Ca Mâu Ni.

thích ca đa bảo

(釋迦多寶) Đức Thích ca Như lai và Đa bảo Như lai. Theo phẩm Bảo tháp trong kinh Pháp hoa quyển 4 thì lúc đức Phật Thích ca đang giảng nói kinh Pháp hoa trên núi Linh thứu, từ dưới đất có tòa tháp báu nhô lên, đức Phật Đa bảo ngồi trong tháp phát ra âm thanh lớn, chứng minh những lời đức Thích ca nói là chân thực, không hư dối, đồng thời chia nửa tòa ngồi cho Phật Thích ca. Tại Trung quốc, theo đà thịnh hành của tín ngưỡng Pháp hoa, các chùa phần nhiều tạo lập tháp Đa bảo, trong đó an vị 2 đức Phật, Phật Thích ca ngồi bên phải, Phật Đabảongồi bên trái.

thích ca đại bát ấn

(釋迦大鉢印) Gọi tắt: Bát ấn, Như lai bát. Ấn tướng có hình bát báu của Phật Thích ca. Trong Thai tạng nghi quĩ thứ đệ, phần nói về viện Thích ca, chưa đề cập đến ấn minh(ấn tướng và chân ngôn) này, mà ấn minh này có xuất xứ từ hội Như lai thân, tượng trưng cho đức trì bát của Đại nhật Như lai. Theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật thì ấn tướng này là: Hai bàn tay ngửa ra đặt nơi rốn. Đại nhật kinh sớ quyển 13 thì cho rằng tay trái cầm lấy 2 chéo áo ca sa, biểu thịýnghĩa đồng với Như lai, cũng có năng lực khiến tất cả chúng sinh chẳng phải là pháp khí đều trở thành pháp khí.

thích ca đề bà nhơn đà la

Sakra-devendra or Sakro-devanamindra (skt)—Thích Đề Hoàn Nhơn—Thích Đế (Indra).

thích chí

Satisfied—Content—Pleased.

thích chủng

Chủng tử Thích Ca—Bộ tộc Thích Ca hay những đệ tử của Thích Ca, đặc biệt là chư Tăng Ni—The Sakya-seed—The Sakya clan—The disciples of Sakyamuni, especially monks and nuns. ; (釋種) Cũng gọi Cù đàm chủng, Cam giá chủng, Nhật chá chủng. Chủng tộc Thích ca thuộc giai cấp Sát đế lợi, một chủng tộc được tôn quí ở Ấn độ. Cứ theo kinhTrường a hàm quyển 13 và Hữu bộ tì nại da phá tăng sự quyển 2, phần cuối, thì vua Thanh ma (Phạm: Okkàka) của thành Sa chỉ đa, nước Kiêu tát la, sinh ra 4 vương tử có đại năng lực, từng trụ ở trong rừng Trực thụ tại phía nam Tuyết sơn, vì thế mà cho rằng Thanh ma là tổ tiên của Thích chủng. Lời chú thích trong kinh Trường a hàm quyển 13 (Đại 1, 83 thượng) ghi: Thích, Hán dịch là Năng, vì sống trong rừng Trực thụ nên gọi là Thích; Thích cũng dịch là Trực. Lại theo phẩm Hiền kiếp vương chủng trong kinh Phật bản hạnh tập quyển 5 thì Thích ca tính còn gọi là Xa di kì da (Phạm:Zakiya). Vì y theo nghĩa Năng thì gọi là Thích ca, còn y theo nghĩa Trực thụ thì gọi là Xa di kì da. Vua Thanh ma thuộc vương tộc nổi tiếng trong các chủng tộc người Aryan, dòng họ Thích con cháu của ông cũng chính là dân tộc Aryan thuần túy. Có thuyết cho rằng chủng tộc Thích ca là Tái tộc trong các chủng tộc người Đột na ni nhĩ (Turanians). Nhưng Tái tộc xâm chiếm Ấn độ vào khoảng 250 năm trước Tây lịch, lúc đó Phật giáo đã hưng khởi rồi, cho nên thuyết này không thích đáng

thích cung

Cung điện Thích Ca, chính từ nơi đó Thái Tử Sĩ Đạt Đa đã ra đi tìm đạo và đã thành Phật—The Sakya palace, from which prince Siddhartha went forth to become Buddha. ; (釋宮) Chỉ cho cung điện của họ Thích ca. Phẩm Dũng xuất trong kinh Pháp hoa quyển 5 (Đại 9, 41 hạ) nói: Khi đức Như lai là Thái tử, ra khỏi Thích cung, đi đến thành Già da cách đó không xa, ngồi ở đạo tràng, thành Vô thượng chính đẳngchính giác.

thích danh

(釋名) Giải thích ý nghĩa của danh mục. Xưa nay các nhà chú thích cho rằng Thích danh, Xuất thể, Nghĩa tướng... đều là các khoa mục về giải thích. Khi giải thích kinh điển, ngài Trí khải lập ra Ngũ trùng huyền nghĩa (5 lớp nghĩa sâu xa); huyền nghĩa thứ nhất là Thích danh, tức giải thích danh nghĩa của đề mục kinh điển. Theo Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3 thì Thích danh của Ấn độ có 2 loại, đó là: 1. Hữu nghĩa danh: Y cứ theo nghĩa mà đặt tên, vìthếphải căn cứ vào nghĩa mà giải thích tên ấy. 2. Vô nghĩa danh: Không đặt nặng vấn đề ý nghĩa mà chỉ y cứ vào tập quán thông thường người đời đã quen gọi để đặt tên. Ngoài ra, lời văn giải thích chính văn trong kinh luận thì gọi là Thích văn.

thích danh tự tam muội

(釋名字三昧) Phạm: Adhivacana-praveza. Cũng gọi Nhập danh tự tam muội,Đẳng nhập tăng ngữ tam muội. Chỉ cho Tam muội có năng lực giải thích tên gọi của các pháp, 1 trong 108 Tam muội. Luận Đại trí độ quyển 47 (Đại 25, 399) nói: Các pháp tuy không nhưng dùng danh tự(tên gọi) để giải thíchnghĩacác pháp khiến người hiểu được, đó gọi là Thích danh tự tam muội.

thích dụng

Practical—Applicable.

thích gia

1) Người thuộc gia đình Thích Ca—The Sakya family. 2) Người giảng kinh nói pháp: The expounders of Buddhist sutras or scriptures. ; (釋家) Đối lại: Kinh gia, Luận gia. Chỉ cho người chú thích văn nghĩa các kinh, luật, luận; hoặc chỉ cho người tu hành Phật đạo, cũng tức là Phật gia.

thích giám kê cổ lược tục tập

(釋鑒稽古略續集) Gọi tắt: Kê cổ lược tục tập. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Huyễn luân soạn vào đời Minh, được thu vào Đại chính tạng tập 49. Sách này biên soạn tiếp theo bộ Kê cổ lược, lấy sự tích của hơn 430 vị tăng làm trung tâm để ghi chép lịch sử Phật giáo trong khoảng thời gian 364 năm kể từ niên hiệu Chí nguyên năm đầu (1264) đời Nguyên đến năm Thiên khải thứ 7 (1627) đời Minh thì dừng, trong đó nói về sự hưng suy của Phật giáo, về chính sách đối với tông giáo và về mối quan hệ giữa Phật giáo và Đạo giáo qua các triều đại.

thích giáo

Phật Giáo—Buddhism—The teaching of the Buddha (Sakyamuni). ; (釋教) Đồng nghĩa: Phật giáo. Chỉ cho giáo pháp của đứcThích tôn. Danh từ này đặc biệt được sử dụng ở Trung quốc từ khi Phật giáo và Đạo giáo được gọi chung bằng tên vị Giáo tổ của mỗi giáo là ThíchLão nên gọi là Thích giáo. Như Khổng trĩ khuê thư tinh đáp (Đại 52, 73 trung) ghi: Đã để tâm nơi Thích Lão, chẳng dám nói đồng dị. Lại như Ngụy thư... đặt ra thiên ThíchLão chí, cũng thuộc trường hợp này.

thích giáo bộ vị khảo

(釋教部彙考) Gọi đủ: Cổ kim đồ thư tập thành Thích giáo bộ vậng khảo. Tác phẩm, 7 quyển, do Tưởng diên tích biên tập vào đời Thanh, được thu vào Vạn tụctạngtập 33. Đây là bộ lịch sử Phật giáo Trung quốc viết theo thể biên niên, bắt đầu từ khi đức Thích ca giáng sinh ở nước Ca tì la vệ thuộc Thiên trúc vào đời vua Trang vương nhà Chu năm thứ 9, trải qua các đời Tần, Hán cho đến đời Minh, Thanh, trong đó ghi chép các chính sách và đường lối của các triều đại đối với Phật giáo. Trong quyển 7 còn có Phật quốc kí nói về Phật giáo ở các nước Thiện thiện, Vu điền, Sư tử (Tích lan)... và 3 bài văn ngắn:Nguồn gốc họ Thích, Phật vào Trung quốc, Phật pháp vào Trung quốc... Nội dung bộ sách này rất phong phú, là tư liệu tham khảo tốt cho việc nghiên cứu Phật giáo Trung quốc.

thích giáo chính mậu

(釋教正謬) Tác phẩm, 1 quyển, do ông Ngải ước sắt địch cẩn, nhà truyền giáo người Anh, cư sĩ Tam nhãn dịch. Soạn giả đứng trên lập trường Cơ đốc giáo để phê bình Phật giáo, cho rằng giáo pháp của Phật giáo có điều trái với chính lí, đặc biệt dùng thuyết Đại thừa chẳng phải Phật nói làm luận đề chủ yếu. Nội dung gồm 20 chương: Kinh điển, Giáo thừa, Thích ca mâu ni, Luân hồi, Tam bảo, Sa môn, Thập ác, Công đức, Ngẫu tượng, Tịnh độ, Quán âm, Thế giới, Chư thiên,Địa ngục, Du già, Trì chú, Tông môn, Chỉ quán, Niết bàn và Vô thường. Sách này do thư viện Anh Hoa ởHương cảng ấn hành vào năm Đồng trị thứ 7 (1868). Sau, giới Phật giáo Nhật bản có soạn Thích giáo chính mậu sơ phá 1 quyển, Thích giáo chínhmậu tái phá 1 quyển của ông Dưỡng đệ Triệt định, Thích giáo chính mậucược xích 2 quyển của ông Nam khê, Thích giáo chính mậu biện bác của ông Nam điều Thần hưng...

thích giáo tam tự kinh

(釋教三字經) Tác phẩm, 1 quyển, do Xuy vạn lão nhân soạn vào đời Minh, Mẫn tu chú thích. Sách này được soạn theo thể tài Tam tự kinh của Khu thích tử cuối đời Tống. Toàn sách gồm có 183 bài kệ, chia làm 10 đoạn lớn, trong đoạn lớn thứ 5 lại chia làm 10 đoạn nhỏ theo thứ tự trình bày 10 tông phái Đại và Tiểu thừa. Nội dung tác phẩm rất phong phú, trước hết giải thích nghĩa pháp giới, kế đến tường thuật các nhân duyên giáng sinh, xuất gia tu đạo và chứng đạo của đức Phật, thứ tự Phật giảng thuyết kinh Hoa nghiêm, A hàm...; tiếp theo, trình bày về lịch sử truyền thừa Phật pháp ở Ấn độ, Trung quốc, khái quát về 10 tông rồi giải thích nghĩa 5 uẩn, 6 căn, 12 xứ..., cuối cùng khuyên mọi người theo thứ tự tín, giải, hành, chứng mà tu học, đồng thời nói về cuộc đời và sự nghiệp của các bậc cổ đức để khuyên dạy người tu học đời sau. Vào cuối đời Thanh, sách này từng được kiểm xét biên soạn lại, Cư sĩ Dương nhân sơn soạn bài tựa. Theo lời bài tựa này thì khi Đại sưẤn quang nhập thất tại núi Phổ đà, ngài có cải chính 3/10 văn trong sách này và chú giải 7/10.Về sau, cư sĩ Dương nhân sơn lại sửa chữa bản cải chính của Đại sưẤn quang, đồng thời đặt lại tên là Phật giáo sơhọc khóa bản. Hiện nay có bản chú giải bằng văn bạch thoại của Pháp sư Nam đình, tức là bộ Thích giáo tam tự kinh giảng thoại. Ngoài ra, Pháp sư Nam đình cũng giảng rộng sách này trong tiết mục Tiếng nói Phật giáo trên đài phát thanh Dân bản.

thích giáo vị môn tiêu mục

(釋教彙門標目) Gọi đủ: Đại minh Thích giáo vậng môn tiêu mục. Mục lục, 4 quyển, do ngài Tịch hiểu soạn vào đời Minh, là tổng mục của bộ Đại minh Thích giáo vậng mục nghĩa môn. Đại minh Thích giáo vậng mục nghĩa môn(cũng gọi Thích giáo vậng mục nghĩa môn, Pháp tạng tư nam), là sách giải nói về các tựa đề kinh luận trong Đại tạng kinh, toàn sách gồm 41 quyển, nội dung tuy hoàn bị nhưng tiếc là không được lưu hành rộng rãi. Nay y cứ vào mục lục này ta có thể thấy đại khái cách tổ chức của bộ Đại minh thích giáo vậng mục nghĩa môn là y cứ vào thứ tự 5 thời phán giáo của tông Thiên thai mà chia làm 8 bộ: Hoa nghiêm, A hàm, Phương đẳng, Bát nhã, Pháp hoa, Niết bàn, Đà la ni và Thánh hiền trứ thuật. Khi ngài Trí húc soạn bộ Duyệt tạng tri tân có tham khảo Thích giáo vậng mục nghĩa môn.

thích gây gỗ

To be quarrelsome.

thích hoan tuỳ phiền não

(戚歡隨煩惱) Tiểu thừa chia Tùy phiền não làm 2 loại là Thích tùy phiền não và Hoan tùy phiền não. Thích tùy phiền não cũng gọi là Thích hành chuyển tùy hoặc. Thích nghĩa là lo âu; tức khi tùy hoặc hiện hành thì tương ứng với Ưu thụ căn(giác quan lo âu) như ghen ghét, hối hận, bực tức... Hoan tùy phiền não, cũng gọi là Hoan hành chuyển tùy hoặc. Hoan nghĩa là vui mừng; tức khi tùy hoặc hiện hành thì tương ứng với Hỉ thụ căn(cảm giác vui) như bỏn sẻn, kiêu căng... Loại trước lấy ghen ghét làm đại biểu, loại sau lấy bỏn sẻn làm đại biểu. Câu xá luận kí quyển 21 (Đại 41, 319 hạ) nói: Trong Tùy phiền não gồm có 2 loại: Một là Thích, hai là Hoan. Ghen ghét thường biểu lộ Thích, còn bỏn sẻn thì biểu lộ Hoan.

thích hoá vô phương

(適化無方) Chỉ cho việc giáo hóa tùy theo căn cơ, trình độ của chúng sinh chứ không câu nệ vào một phương thức nhất định nào. Bồ tát ra vào đường sinh tử, giáo hóa chúng sinh, khiến tỏ ngộ tính Không, đó là trí phương tiện quyền biến khéo léo, cũng là pháp môn do đức Như lai thích ứng với cơ duyên của chúng sinh mà đặt ra. Chư Phật, Bồ tát xuất hiện ở đời là nhằm diệt trừ căn bệnh kiến chấp, ngu hoặc của chúng sinh, tuy giảng nói vô lượng kinh giáo nhưng ý của Phật chỉ là mở bày lí Trung đạo thực tướng tam đế. Nếu người nương vào pháp Khai mà được ngộ thì dùng pháp Khai để dắt dẫn; nếu người nương vào Hợp mà có thể đắc đạo thì dùng Hợp để thuyết giáo. Đó chính là thích nghi với căn cơ chúng sinh mà hóa độ, không thể chấp chặt một pháp nào, nếu không thì sẽ chướng ngại đạo và trở thành thuốc độc

thích huyết tế cơ

(刺血濟饑) Chích lấy máu để cứu đói, là sự tích nhân duyên từ đời quá khứ giữa đức Thế tôn và 5 vị tỉ khưu Kiều trần như... Thuở xưa, ở cõi Diêm phù đề có vị Quốc vương tên là Di khư la bạt la, từ bi nhân hậu, thường đem 10 điềuthiện dạybảo nhân dân, đến cả các loài dịch quỉ chuyên hút khí huyết của người cũng giữ gìn thân, khẩu, ý và làm theo 10 điều thiện, nhưng lâu ngày không tránh khỏi sự đói khát, khốn khó. Một hôm, 5 quỉ Dạ xoa đến chỗ vua xin được giải cứu, vì thương xót 5quỉ Dạ xoa nên nhà vua tự chích lấy máu ở 5 chỗ trên thân để cho 5 quỉ Dạ xoa uống. Nhà vua lại bảo 5 quỉ Dạ xoa rằng sau khi thành Phật sẽ dùng máu giới, định, tuệ của pháp thân để diệt trừ các dục tham, sân, si, của họ, khiến cho họ được cảnh giới Niết bàn an ổn. VuaDi khư la bạt la chính là tiền thân của đức Thế tôn, còn 5 Dạ xoatứclà 5 vị tỉ khưu. Cho nên lúc đức Thế tôn mới thành đạo, 5 vị tỉ khưu nhờ nhân duyên ấy mà được độ đầu tiên.

thích hóa

Thích ứng sự giáo hóa vào hoàn cảnh thật—To adapt teaching to circumstances

thích hùng

Buddha, the hero of the Sakyas.

thích hợp

Rational—Suitable—Appropriate—Fitting—To suite—To fit—To be consonant (agreeable) with.

thích khen ghét chê

Fond of praise, but loathing of criticism.

thích khẩu

Pleasant to the taste.

thích luân

Một biểu hiện của đất hay địa luân—Sakra's wheel, the discuss of Indra, symbol of the earth. ; (釋輪) Cũng gọi Nhân đà la luân. Tức Kim cương luân (địa luân), màu vàng, hình vuông, chủng tử là (a), là 1 trong 5 trí luân của Mật giáo. Phần chú thích trong Du kì kinh sớ quyển 3 (Đại 61, 500 thượng) nói: Trời Đế thích tên là Nhân đà la, Hán dịch là Đế, cũng dịch là Chủ, ở trong Thiện pháp đường trên đỉnh núi Diệu cao, bên trong có 37 vị tôn thuộc Mạn đồ la Kim cương giới thường trụ. Mạn đồ la này gọi là Thích luân.

thích luận

The Prajna-paramita-sutra; explanatory discussions, or notes on foundation treaties—See Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (Prajan Paramita Sutra). ; (釋論) I. Thích Luận. Từ gọi tắt của luận Đại trí độ. Đây là chủ trương của Hiển giáo, vì Hiển giáo cho rằng luận Đại trí độ là tác phẩm giải thích kinh Đại phẩmBát nhã. Còn Mật giáo thì cho Thích luận là từ gọi tắt của luận Thích ma ha diễn, vì luận này là sách chú thích luận Đại thừa khởi tín. II. Thích Luận. Từ gọi chung các sách giải thích kinh điển.III. Thích Luận. Đối lại: Tông luận. Tóm tắt một cách khái quát tông chỉ của một bộ kinh để kiến lập pháp nghĩa, gọi là Tông luận; còn giải thích văn nghĩa của một bộ kinh thì gọi là Thích luận.

thích lâm địa ngục

(刺林地獄) Chỉ cho địa ngục mà tội nhân bị trừng trị giữa rừng gai nhọn, là nơi chịu khổ báo của những người phạm tội nói ác, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, nói lời bất nghĩa, nói lỗi kinh điển, hủy báng nghị luận sư... Cứ theo kinh Quán Phật tam muội hải quyền 5 thì địa ngục này rộng 8000 do tuần, đầy dẫy gai sắt nhọn, ở đầu mỗi cáigailại có 12 lưỡi kiếm, trên các cây thì có kìm sắt lớn rất nóng. Lúc sắp chết, tội nhân thấy cổ họng cháy bỏng, miệng lưỡi khô rát, nghĩ rằng nếu được gai nhọn đâm vào cổ họng khiến các mạch máu tuôn chảy như sông thì thật sung sướng. Khi ý niệm ấy vừa khởi lên thì ngục tốt La sát liền theo đó hóa thành cha mẹ của tội nhân, tay cầm hạt châu, trên hạt châu có gai, hình dáng như miệng người sắp nhỏ giọt nước xuống, tội nhân trông thấy rất mừng, tự nghĩ mình đã được toại nguyện thì liền tắt thở mệnh chung, rơi vào giữa rừng gai, ngục tốt La sát kéo lưỡi tội nhân ra, khiến 80 con bò sắt dùng lưỡi cày lớn bằng sắt cày nát lưỡi; các cây trong rừng gai bị gió thổi đánh vào thân tội nhân, trong khoảng 1 ngày 1 đêm, trải qua 600 lần chết đi sống lại. Chịu hết tội khổ, được sinh trong loài người, mặt mũi xấu xí, nói năng ngượng nghịu, thân thể ghẻ lở, máu mủ chảy ra lênh láng; trải qua 500 đời bị người kinh tởm. Về sau, những điều người ấy nói không được ai tin, sau được gặp thiện tri thức, mới biết phát tâm bồ đề.

thích lão chí

(釋老志) Gọi đủ: Ngụy thưThíchlãochí.Sử kí, 1 thiên, do Ngụythâusoạn vào đời Bắc Tề, được thu vào Ngụy thư quyển 114, là sách sử đầu tiên ghi chép về Thích và Lão. Toàn sách được chia làm 2 phần Phật và Đạo, trong đó Phật giáo chiếm phần lớn, lấy các đời Bắc Ngụy, Đông Ngụy và Bắc Tề làm chính thống, trình bày tỉ mỉ, rõ ràng, về quá trình Phật giáo truyền vào Trung quốc, tình hình phát triển, mối quan hệ giữa triều đình Bắc Ngụy với Phật giáo và chính sách đối với Phật giáo. Ngoài ra, những ghi chép nói về trạng huống kinh tế của các chùa viện thời Bắc Ngụy, nhất là về chế độ Tăng kì hộ và Phật đồ hộ... là các tư liệu quan trọng cho các việc nghiên cứu lịch sửPhật giáoTrung quốc. Còn phần Đạo giáo thì trình bày về quá trình phát triển và cuộc cải cách của Khấu khiêm.

thích lão truyện

(釋老傳) Gọi đủ: Nguyên sử Thích lão truyện. Sử truyện, do nhân sĩ Tống liêm soạn vào đời Minh, được thu vào Nguyên sử quyển 202. Nội dung nói về tình hình Phật giáo và Đạo giáo ở đời Nguyên. Nửa phần trước nói về sự sùng tín Lạt ma giáo của nhà vua, về chính sách của các Hoàng đế các đời đối với tông giáo, về cơ cấu và trạng huống của Phật giáo. Nửa phần sau nói về sự quan hệ giữa đạo sĩ Khâu xử cơ của Toàn chân giáo với nhà vua và tình hình truyền đạo. Đồng thời nêu ra sự chi phí hao tổn trong việc cúng Phật và thói tham lam cửa quyền của giới tăng quan đời Nguyên.

thích lượng luận

(釋量論) Phạm: Pramàịa-varttika. Tạng: Tshađ-marnam-#grel. Cũng gọi Quảng thích lượng luận bản tạng.Tác phẩm, do Đại luận sư Nhân minh học là ngài Pháp xứng củaẤn độ soạn. Luận này cùng với 6 trứ tác khác về Nhân minh của ngài Pháp xứng được gọi chung là Nhân minh thất luận(Bảy bộ luận về Nhân minh). Đây là sách chú thích bộ Tập lượng luận của ngài Trần na, người cải cách Cổ nhân minh thành Tân nhân minh. Toàn sách rút gọn 6 phẩm nói trong Tập lượng luận làm 4 phẩm, đó là: 1. Phẩm Vị tự tỉ lượng(cũng gọi phẩm Tự nghĩa tỉ lượng): Nói rõ về các điều kiện mà người lập luận phải có đủ để dẫn sinh ra trí Tỉ lượng, như Chính nhân. 2. Phẩm Thành lượng(cũng gọi phẩm Thành lập lượng sĩ phu): Trình bày rõ ý nghĩa của bài tụng Qui kinh trong Tập lượng luận, thành lập lí Như lai và lượng sĩ phu. 3. Phẩm Hiện lượng: Nói rõ về định nghĩa của Hiện lượng, sự sai khác giữa Hiện lượng và Tự hiện lượng... 4. Phẩm Vị tha tỉ lượng (cũng gọi phẩmTha nghĩa tỉ): Giải thích rộng và ưu khuyết điểm của nhân Năng lập và nói rõ vềcác phương tiện khiến người khác sinh ra trí Tỉ lượng. Đây là sách giáo khoa bắt buộc trong học trình của phái Cách lỗ (Hoàng giáo) Tây tạng.

thích lữ

Tín đồ Phật giáo—Tăng lữ—Follower or disciple of the Buddha—Buddhist comrade—Buddhists. ; (釋侶) Chỉ cho những người tu hành đạo Phật. Nếu theo nghĩa rộng thì chỉ chung cho tất cả tín đồ Phật giáo, còn theo nghĩa hẹp thì chỉriêngcho tăng lữ. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hànhsự sao quyển hạ, phần 3 (Đại 40, 141 hạ) nói: Sa môn thích lữ là khách của 3 cõi.

thích ma ha diễn luận

(釋摩呵衍論) Gọi tắt: Thích luận. Luận, 10 quyển, do bồ tát Long thụ của Ấn độ soạn, ngài Phiệt đề ma dịch vào đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Đây là sách chú thích bộ luận Đại thừa khởi tín. Nội dung gồm những điểm như: Nói về chỉ thú tạo luận, phân biệt các luận, chia các luận đã tạo trong một đời làm 10 loại, xếp luận Đại thừa khởi tín vào loại Nhiếp nghĩa, nói rõ sự sai khác về tạng: Chung thì luận Khởi tín thuộc các tạng, riêng thì thuộc tạng A tì đạt ma, phân biệt kinh, cho luận Khởi tín là chỗ nương của các kinh; nói về tác giả của luận Khởi tín, về bản thì ngài Mã minh là Phật đại quang minh, về nhân thì Ngài là bồ tát Địa thứ 8; sau hết, chia luận Khởi tín làm 5 phầnđể giải thích, đó là: Phần Nhân duyên, phần Lập nghĩa, phần Giải thích, phần Tu hành tín tâm và phần Khuyến tu lợi ích. Trong phần Lập nghĩa, lập 33 pháp môn, chia làm 2 mục là Tu hành chủng nhân hải và Tính đức viên mãn hải để bàn rõ về nghĩa cạn, sâu. Tư tưởng Tính đức viên mãn hải trong quyển 10 rất giống với Mật giáo. Đại sư Hoằng pháp người Nhật bản đã y cứ vào luận này để phát huy giáo nghĩa Chân ngôn. Luận Thích ma ha diễn tương truyền do ngài Long thụ soạn, nhưng vấn đề chân ngụy vẫn chưa ngã ngũ. Có thuyết cho rằng luận này do vị tăng người Nhật bản là Viên nhân căn cứ vào khẩu truyền của vị tăng người Tân la tên Trân thông mà thành lập; hoặc có thuyết cho rằng soạn giả luận này vốn là Sa môn Nguyệt trung trụ ở núi Đại không, nước Tân la; lại thuyết khác cho rằng trong các chữ đặc biệt kì lạ của các bài chú trong luận này có nhữngchữ giống với văn tự thời Vũ tắc thiên, cho nên suy đoán rằng sách này được thành lập vào thời đại Vũ chu. Luận này có rất nhiều sách chú thích, trong đó có các bộ quan trọng là: 1. Thích ma ha diễn luận kí, 1 quyển, do ngài Thánh pháp soạn vào đời Đường. 2. Thích ma ha diễn luận sớ, 3 quyển, do ngài Pháp mẫn soạn vào đời Đường. 3. Thích ma ha diễn luận tán huyền sớ, 5 quyển, do ngài Phápngộ soạn vào thời Tống. 4. Thích ma ha diễn luận kí, 6 quyển, do ngài Phổ quán soạn vào đời Tống. 5. Thích ma ha diễn luận thông huyền sao, 4 quyển, do ngài Chí phúc soạn vào đời Tống. Trên đây 1, 2, 3 được thu vào Vạn tục tạng tập 72; 4 và 5 được thu vào Vạn tục tạng tập 73.

thích ma nam

Sakya-Mahanama Kulika (skt)—Thái tử Kulika, một trong năm vị đệ tử đầu tiên của Phật—One of the first five of the Buddha's disciples, prince Kulika.

thích ma phạm

(釋魔梵) Chỉ cho Thích đề hoàn nhân, chủ của cõi trời Đao lợi; Thiên ma, chủ của 6 tầng trời cõi Dục và Phạm thiên vương, chủ của thế giới Sa bà, là 3 vị Đại chủ trong hàng ngũ trời. Cứ theo kinhTạp a hàm quyển 40 thì Nhân đà la trí tuệ thông minh, có khả năng quán thông nghìn thứ nghĩa, cho nên gọi là Thiên nhãn(nghìn mắt). Thiên ma, cũng gọi là Thiên tử ma, trụ ở cõi trời Tha hóa tự tại(là tầng trời thứ 6 cao nhất trong cõi Dục), có khả năng làm trở ngại những điều thiện của người, ghen ghét pháp hiền thánh, gây não loạn, làm cho người tu hành không thành tựu được thiện căn xuất thế. Phạm thiên vương trụ ở tầng thứ 3 của trời Sơ thiền thuộc cõi Sắc, tự chủ độc lập, cho mình là cha của chúng sinh, do tự nhiên mà có chứ không ai tạo ra, tất cả chúng sinh đều do trời Phạm vương hóa sinh ra.

thích môn

Phật Giáo—Cửa dẫn vào Thích giáo—The School of Sakyamuni—Buddhism. ; (釋門) Cũng gọi Thích gia. Đồng nghĩa: Phật môn. Môn phái tu hành theo giáo pháp của đức Thích tôn. Tập cổ kim Phật đạo luận hành, quyển ất (Đại 52, 374 hạ) nói: Năm chúng của Thích môn giảm 300 vạn, hoàn tục làm quân dân.

thích môn chính thống

(釋門正統) Tác phẩm, 8 quyển, do ngài Tông giám biên tập vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 130. Sách này lúc đầu do ông Khải am Ngô khắc kỉ soạn, nhưng chưa xong thì ông qua đời; sau do ngài Tông giám tiếp tục hoàn thành. Nội dung biên tập truyện kí củacác tông sư tương thừa thuộc tông Thiên thai và chủ trương tông này là chính thống của Thích môn. Phỏng theo Sử kí, Hán thư, sách này chia làm 5 phần: Bản kỉ, Thế gia, Chư chí, Liệt truyện và Tải kí.

thích môn chương phục nghi

(釋門章服儀) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đạo tuyên soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung nói về chất liệu, cách may vá và giặt giũ pháp phục. Toàn sách chia làm 10 thiên: Chế ý thích danh, Lập thể bạt tục, Thắng đức kinh viễn, Pháp sắc quang tục, Tài chế ứng pháp, Phương lượng chàng tướng, Đơn phức hữu cứ, Phùng chế tài thành, Bổ hoành thánh giáo và Gia pháp hành hộ. Chú sớ sách này cóỨng pháp kí, 1 quyển, do ngài Nguyên chiếu soạn.

thích môn hiếu truyện

(釋門孝傳) Truyện kí, 1 quyển, do ngài Cao tuyền Tính đôn tông Hoàng bá Nhật bản soạn. Nội dung trình bày vắn tắt về truyện kí của những người con có hiếu hạnh trong Phật môn tại 3 quốc gia: Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản. Toàn sách chia làm 51 mục: Lan bồn thắng hội, Khải Phật cung thân, Khải mẫu đoạn sát... nói về sự tích hiếu dưỡng cha mẹ; sau mỗi sự tích đều có thêm một bài tán. Thể tài sách này phỏng theo hình thức Truy môn sùng hành lục của ngài Vân thê Châu hoành.

thích môn quy kính nghi

(釋門歸敬儀) Gọi tắt: Qui kính nghi. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Đạo tuyên soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung nói về phép tắc lễ bái qui kính trong Phật giáo. Toàn sách chia làm 10 thiên: Kính bản giáo hưng, Tế thời hộ pháp, Nhân cơ lập nghi, Thừa tâm hành sự, Kí duyên chân tục, Dẫn giáo trưng tích, Ước thời khoa tiết, Uy nghi hữu tự, Công dụng cảm thông và Trình khí trần tích. Sách chú thích có: Hộ pháp kí, 2 quyển, do ngài Ngạn khởi soạn vào đời Tống (nay chỉ còn quyển thượng), Thông chân kí, 3 quyển, do ngài Liễu nhiên soạn.

thích môn sự thủy khảo

(釋門事始考) Tác phẩm, 1 quyển (không rõ soạn giả), được thu vào Tục sử tịch tập lãm quyển 47 của Nhật bản. Nội dung nói về nguồn gốccácsự vật trong Phật giáo, gồm 64 điều như: Giáo pháp lưu thông, Đông tây du hóa, Độ giả xuất gia, Hỏa táng phong pháp..., phần phụ lục có ghi tên các tăng quan.

thích môn tự kính lục

(釋門自鏡錄) Truyện kí, 2 quyển, do ngài Hoài tín soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Nội dung sưu tập các sự tích về nhân quả báo ứng để khuyên răn người đời. Toàn sách chia làm 10 loại, gồm 73 điều, 2 chương Nhã, Cáo, sự tích 71 người (có thêm 14 người). Phần nhiều là các sự tích từthời Nam Bắc triều đến đời Đường, là tư liệu giá trị cho việc tìm hiểu tín ngưỡng Phật giáo ở thời kì này. Sách này còn giữ được các tư liệu mà các sách khác không ghi chép, như sự tích về tín đồ Tam giai giáo. Sau khi truyền đến Nhật bản, sách này được ngài Huyền trí chùa Khánh chứng soạn thêm tục bổ, phụ vào cuối quyển hạ.

thích mạc

1) Bênh vực và chống đối: Pro and con. • Thích: Thích ý, vui thích, hay bênh vực—Pro. • Mạc: Không thích ý, không vui thích, hay chống đối—Con. 2) Thuận và nghịch: According and contrary (to wishes). • Thích: Thuận—According. • Mạc: Nghịch—Contrary. ; (適莫) Thích là vừa ý, mạc là không vừa ý. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 273 hạ) nói: Đi lại, tới lui không bị ràng buộc, tùy ý, tự tại, thích cũng không, mạc cũng không, không ta không người, chẳng tranh chẳng biện. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển hạ (Đại 37, 110 thượng) nói: Đối với chúng sinh, không thân không sơ, gọi là Vô thích mạc.

thích mệnh

The sovereign commands of the Buddha.

thích na

Ratna (skt)—Bảo (vật quí)—Precious thing—Jewel.

thích na già la

Ratnakara (skt). 1) Kho báu vật: A jewel mine—The jewel heap. 2) Tên của một cư dân cùng thời với Đức Phật trong thành Tỳ Xá Lê: Name of a native of Vaisali, contemporary of Sakyamuni. 3) Tên của vị Phật hay Bồ Tát: Name of a Buddha or Bodhisattva. 4) Tên của vị Phật thứ 112 trong hiền kiếp: Name of the 112th Buddha of the present kalpa.

thích na thi khí

Ratnasikhin (skt)—See Thi Khí (3) and (4).

thích nghi

1) Giải thích những nghi nan: Explanation of doubtfull points—Solution of doubts. 2) Thích hợp: Appropriate—Suitable.

thích nghi luận

(釋疑論) Luận, 1 quyển, do ông Đới an đạo (Đới quì 335?-396) soạn vào đời Đông Tấn, được thu vào Quảng hoằng minh tập quyển 16 trong Đại chính tạng tập 52. Thuở thiếu thời, An đạo đã xem trọng thiện hạnh, nhưng tự biết chưa thể từ trong biển khổ mà thoát ra được, do đó sinh ra hoài nghi về thuyết thiện ác báo ứng của Phật giáo. Khoảng năm Thái nguyên 19 (394) đời Hiếu vũ đế ông viết luận này, mượn lời hỏi đáp giữa An xử sĩ và Huyền minh tiên sinh để nói lên rằng thuyết làm thiện được phúc, tạo ác chịu họa chỉ là phương tiện quyền nghi của Thánh nhân khuyên bảo người đời làm thiện, lánh ác mà thôi, chứ thực thì họa phúc của con người đã do số mệnh định đoạt cả rồi, không thể nào thay đổi được. Ông An đạo gởi luận này đến ngài Tuệ viễn ở Lô sơn. Đệ tử ngài Tuệ viễn là Chu tục chi (Đạo tổ) bèn soạn bài Nạn thích nghi luận để bác bỏ thuyết của An đạo.

thích nghĩa

(釋義) Giải thích ý nghĩa của các kinh luận. Các tông giải thích văn của kinh luận và chân ngôn bằng nhiều thể thức khác nhau. Như ngài Trí khải tông Thiên thai giải thích kinh Pháp hoa sử dụng 4 thích: Nhân duyên thích, Ước giáo thích, Bản tíchthích và Quán tâm thích. Còn tông Chân ngôn thì dùng 4 thích: Thiển lược thích, Bí mật thích, Bí mật trung bí thích và Bí bí trung bí thích.

thích nguy hiểm

To be fond of danger.

thích nhiên

Unexpectedly—Naturally—Suddenly.

thích nữ

1) Những người nữ trong dòng họ Thích Ca: The women of the Sakya clan. 2) Những vị nữ tu trong đạo Phật: Nuns in Buddhism. ; (釋女) Chỉ cho các cô gái dòng họ Thích. Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 26: Thuở xưa, sau khi chinh phục dòng họ Thích, vua Lưu li hạ lệnh tuyển chọn 500 Thích nữsungvào cung, các Thích nữ tức giận, oán than, không chịu tuân lệnh; nhà vua nghe được việc ấyliền nổi nóng, sai quần thần chặt đứt chân tay các Thích nữ ném xuống hố sâu. Lúc các Thích nữ chịu hình phạt, bèn xưng niệm danh hiệu Phật trong nỗi đau đớn, đức Phật thương xót nổi khổ ấy liền cùng các tỉ khưu đến giảng nói pháp mầu nhiệm cho các Thích nữ nghe,các Thích nữ nghe đức Phật dạy bảo, tâm sáng ý tỏ, xa lìa trần cấu, được pháp nhãn tịnh, đồng thời mệnh chung, đều sinh lên cõi trời.

thích phong

Phong tục Phật Giáo—The custom of Buddhism.

thích phạm

Đế Thích và Phạm Thiên, cả hai đều là chư thiên hộ pháp—Indra and Brahma (both protectors of Buddhism). ; (釋梵) Cũng gọi Phạm thích. Chỉ cho Đế thích và Phạm thiên. Sau khi qui y đức Phật, 2 vị Thiên vương này trở thành thiện thần giữ gìn Phật pháp thường được nói đến trong các kinh luận. Kinh Quán Vô lượng thọ (Đại 12, 341 trung) nói: Mục liên đứng hầu bên trái, A nan đứng bên phải, các trời: Thích, Phạm, Hộ thế thì đứng giữa hư không, rải hoa trời xuống như mưa để cúng dường.

thích sư

Đạo Sư Thích Ca—Phật—The Sakya Teacher—Buddha.

thích sư tử

Sư tử Thích Ca, ý nói Đức Phật—The lion of the Sakyas, Buddha. ; (釋師子) Phạm: Zàkya-siôha. Đức hiệu của đức Thích tôn, vì Ngài là vua trong cõi người, được tự tại vô úy trong 3 cõi, giống như sư tử chúa giữa các loài thú, nên gọi là Thích sư tử. Kinh Lược xuất quyển 1 (Đại 18, 224 thượng) nói: Dưới cội Bồ đề, chứng được Nhất thiết chủng trí vô tướng tối thắng, dũng mãnh Thích sư tử.

thích tam báo luận

(釋三報論) Cũng gọi Tam báo luận. Luận, 1 quyển, do ngài Lô sơn Tuệ viễn (334-416) soạn vào đời Đông Tấn, được thu vào Hoằng minh tập quyển 5 trong Đại chính tạng tập 52. Khoảng năm Thái nguyên 19 (394) đời Đông Tấn, Đới quì soạn luận Thích nghi, ngờ vực về thuyếtnhân quả báo ứng của Phật giáo, do đó ngài Tuệ viễn mới soạn luận Tam báo để giải tỏa mối nghi ngờ của người đời. Ngài cho rằng nghiệp báotức là quả báocủa các hành vi thiện ác, căn cứ vào thời gian chịu báo có trước, sau mà chia quả báo làm 3 loại: 1. Hiện báo: Chịu quả báo ở đời này. 2. Sinh báo: Chịu quả báo ở đời sau. 3. Hậu báo: Chịu quả báo trong vô lượng đời ở vị lai. Ngài Tuệ viễn cho rằng nếu khôngcó thuyết Tam báo trên đây thì những hiện tượng trên thế gian như: Người làm lành chịu khổ, kẻ làm ác lại được vinh hoa phú quí... sẽ là lí thường nhiên không thể nào giải thích được.

thích tam phá luận

(釋三破論) Cũng gọi Đáp đạo sĩ giả xưng Trương dung tam phá luận. Luận, 1 quyển, do sa môn Tăng thuận soạn vào thời Nam Bắc triều, được thu vào Hoằng minh tập quyển 8 trong Đại chính tạng tập 52. Tam phá luận là do một nhân sĩ của Đạo giáo mượn tên của Trương dung người đời Lưu Tống chủ trương Tam giáo đồng nguyên mà soạn ra. Trong Thích tam phá luận, ngài Tăng thuận nêu ra 19 mục để phê bình và bác bỏ sự sai lầm của Tam phá luận, chi ra chủ trương sai trái của Đạo giáo.Nội dung sách này hơi phiền tỏa, giải thích cũng có nhiều chỗ miễn cưỡng, chẳng hạn như âm Hán của chữ Buddha là Phù đồ, ngài Tăng thuận cho rằng Phù đồ là tượng vẽ linh thiêng, mầu nhiệm nổi trên biển mà đến! Cuộc đời ngài Tăng thuận không được rõ, có thuyết cho rằng ngài sống đồng thời với Lưu hiệp (446?-520?), vì Lưu hiệp cũng soạn luậnDiệthoặc để phê bình và bác bỏ luận Tam phá.

thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn

(釋禪波羅蜜次第法門) Gọi tắt: Thiền ba la mật. Cũng gọi Tiệm thứ chỉ quán, Thứ đệ thiền môn. Tác phẩm, 10 quyển, do Đại sư Trí khải giảng vào đời Tùy, ngài Pháp thận ghi chép, về sau, ngài Quán đính biên soạn, chỉnh lí thêm, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Nội dung nói rõ về Tiệm thứ chỉ quán trong 3 loại Chỉ quán. Toàn sách chia làm 10 chương, đó là: 1. Tu thiền ba la mật đại ý: Nói đại ý toàn sách, bàn sơ lược về 10 phi tâm, đồng thời nêu rõ 4 thệ nguyện rộng lớn của Bồ tát.2. Thích thiền ba la mật danh: Giải thích, lựa chọn sự phiên dịch danh từ Thiền ba la mật. 3. Minh thiền ba la mật môn: Nói rõ về sự khác nhau của 2 môn thiền là Sắc môn, Tâm môn và sự khác nhau giữa 3 môn thiền là Thế gian thiền, Xuất thế gian thiền, Xuất thế gian thượng thượng thiền. 4. Biện thiền ba la mật thuyên thứ: Nói về thứ tự các giai đoạn tu thiền từ lúc mới phát tâm đến khi thành quả Phật. 5. Giản thiền ba la mật pháp tâm: Nói rõ tâm pháp chia làm 4 thứ: Hữu lậu, vô lậu, cũng hữu lậu cũng vô lậu, chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu và nói Phật dùng nhân duyên của 4 tất đàn để nói pháp này. 6. Phân biệt thiền ba la mật tiền phương tiện: Chỉ dạy tiền phương tiện tu thiền cho người muốnkhaiphát nội tâm, an tâm tu tập. Trước hết nói pháp phương tiện bên ngoài dùng để định tâm bên ngoài (tức 25 phương tiện), kế đến nói pháp phương tiện bên trong để định tâm bên trong. 7. Thích thiền ba la mật tu chứng: Thiền có 4 thứ là Thế gian thiền, Cũng thế gian cũng xuất thế gian thiền, Xuất thế gian thiền và Chẳng phải thế gian chẳng phải xuất thế gian thiền, đồng thời nói rõ về 9 loại Thiền là: Cửu tưởng, Bát niệm, Thập tưởng, Bát bối xả, Bát thắng xứ, Thập nhất thiết xứ, Cửu thứ đệ định, Sư tử phấn tấn tam muội và Siêu việt tam muội. 8. Hiển thị thiền ba la mật quả báo. 9. Tòng thiền ba la mật khởi giáo. 10. Kết hội thiền ba la mật qui thú. Ba chương này và đoạn duyên lí vô lậu, tướng tu chứng phi thế gian, phi xuất thế gian thiền không thấy giải thích

thích thú

Pleasant—The tone of pleasure—Interesting.

thích thị

Họ của bộ tộc Thích Ca—The Sakya clan or family name. ; (釋氏) Dòng họ Thích ca, tức chỉ cho tăng ni xuất gia bỏ họ tên cũ của mình mà lấy họ Thích và được dùng để gọi chung tăng ni. Đây là chủ trương của ngài Đạo an đời Đông Tấn đề xướng. Vì vào các đời Ngụy, Tấn, sa môn xuất gia đều theo họ của thầy, cho nên đều khác nhau; ngài Đạo an cho rằng xuất gia làm tăng là kế thừa chủng tộc Thích ca, bởi vậyđềunên lấy Thích chủng làm họ. Nhưng bấy giờ không phải ai cũng chấp nhận chủ trương này. Đến khi kinh Tăng nhất a hàm được dịch ra, thấy trong quyển 21 có nói (Đại 2, 658 hạ): Bốn sông lớn chảy vào biển rồi thì không còn tên cũ mà chỉ gọi là biển. Ở đây cũng như thế, có bốn dòng họ. Những gì là bốn? Là Sát lợi, Bà la môn, Trưởng giả và Cư sĩ; nếu đã cạo bỏ râu tóc, mặc ba áo pháp, xuất gia học đạo trong chính pháp của Như lai thì không còn gọi theo họ cũ mà chỉ gọi là Sa môn Thích ca tử, thì chủ trương cũ của ngài Đạo an phù hợp với kinh, từ đó trở thành qui tắc nhất định. Từ Cao tăng truyện của các đời Lương, Đường, Tống của Trung quốc, cho đến Nguyên hanh thích thư, Bản triều cao tăng truyện... của Nhật bản, chư tăng được ghi chép đều đặt chữ Thích trước tên, từ đó Thích thị được dùng để gọi chung cho tăng ni. Còn Chân tông ở Nhật bản thì mỗi khi có người chết cũng đặt chữ Thích trên pháp danh.

Thích Thị Kê Cổ Lược

(釋氏稽古略, Shakushikeikoryaku): 4 quyển, do Giác Ngạn Bảo Châu (覺岸寳洲) nhà Tống biên, san hành vào năm thứ 23 (1544) niên hiệu Gia Tĩnh (嘉靖) nhà Minh. Là bộ sử truyền ký do vị Thiền tăng Giác Ngạn ở Ngô Hưng (呉興) thâu lục, đây cũng là sử thư biên niên giống như Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải (佛祖歷代通載). Với trung tâm là cương quy của các triều đại Trung Quốc, tác phẩm này thuật rõ sự tích của vườn Thiền, bao trùm các sự thật lịch sử trong ngoài Tam Giáo. Vào năm thứ 14 (1354) niên hiệu Chí Chánh (至正), nó được tái biên, và sau đó được san hành vào các năm thứ 11 (1638) niên hiệu Sùng Trinh (崇貞), thứ 12 (1886) niên hiệu Quang Tự (光緒), thứ 3 (1663) niên hiệu Khoan Vĩnh (寬永), v.v.

thích thị kê cổ lược

(釋氏稽古略) Gọi tắt: Kê cổ lược. Sử truyện, 4 quyển, do ngài Bảo châu Giác ngạn soạn vào năm Chí chính 14 (1354) đời Nguyên, được thu vào đại chính tạng tập 49. Sách này được soạn theo thể biên niên, ghi chép việc Phật giáo truyền vào Trung quốc và lịch sử phát triển qua các thời đại cho đến đời Tống. Quyển 1 ghi chép Quốc triều đồ và Thích ca văn Phật tông phái Tổ sư thụ thụ đồ lược của Ngũ tổ Hoằng nhẫn(Sơ đồ nói về sự truyền thừa của các vị Tổ sư thuộc tông phái Thích ca văn Phật do Ngũ tổ Hoằng nhẫn soạn), nói về Tam hoàng (Thiên hoàng, Địa hoàng, Nhân hoàng), Ngũ đế(Thái hiệu, Hoàng đế, Thần nông, Thiếu hiệu và Chuyên húc hoặc Phục hi, Thần nông, Hoàng đế, Đường nghiêu và Ngu thuấn) cho đến đời Tây Tấn và trình bày sử tích của đức Phật Thích ca và 28 vị Tổ Tây thiên. Quyển 2 ghi chép lịch sử Phật giáo từ đời Đông Tấn đến đời Tùy, gồm truyện kí của các ngài Đạo an, Cưu ma la thập, Phó đại sĩ, Đạt ma... Quyển 3 ghi chép lịch sử Phật giáo từ đời vua Cao tổ nhà Đường cho đến thời Ngũ đại(Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu), trình bày về Từ ân giáo, Hiền thủ giáo, Mật giáo... Quyển 4 ghi chép lịch sử Phật giáo từ đời Tống thái tổ đến Nam Tống. Năm Sùng trinh 11 (1638), ngài Huyễn luân biên tập Thích giám kê cổ lược tục tập, 3 quyển, ghi chép lịch sử Phật giáo từ niên hiệu Chí nguyên năm đầu (1264) đời Nguyên đến năm Thiên khải thứ 7 (1627) đời Minh.

thích thị lục thiếp

(釋氏六帖) Cũng gọi Nghĩa sở lục thiếp. Tác phẩm, 24 quyển, do ngài Nghĩa sở đời Ngũ đại, phỏng theo Lục thiếp của Bạch cư dị mà biên soạn trong khoảng thời gian 10 năm từ năm Khai vận thứ 2 (945) đời Hậu Tấn đến niên hiệu Hiển đức năm đầu (954) đời Hậu Chu. Nội dung sách này thu chép, biên soạn về các việc liên quan đến Phật giáo (Thích thị), như Tam bảo Phật, Pháp, Tăng, các thần hộ pháp, vua tôi, cho đến chùa viện, điện tháp, chim muông, cây cỏ... tất cả đều có nêu điển cứ. Toàn sách chia làm 50 bộ,tổng cộng gồm 440 môn. Sau khi hoàn thành, sách được dâng lên triều đình, vua Thế tông nhà Hậu Chu ban sắc cho sử quán ban hành, đồng thời, ban cho ngài Nghĩa sở hiệu Minh Giáo Đại Sư.

thích thị mông cầu

(釋氏蒙求) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Linh tháo soạn vào đời Tống, được thu vàoVạn tục tạngtập 148. Soạngiảphỏng theo sách Mông cầu của Lí hàn đời Hậu Tấn, dùng thể văn vần, mỗi câu 4 chữ để ghi chép sự tích các bậc Cao tăng Phật giáo từ đời Hán, Ngụy về sau đểdễghi nhớ. Quyển thượng gồm 118 câu, từ Ma đằng vào Hán, Tăng hội đến Ngô, Tuệ tắc hũ đá, Bảo ý bình đồng... trở xuống; quyển hạ gồm 96 câu, từ Lâm hựu hội giao, Khả dục nhìn vách, Pháp khai thuốc hay, Đàm thiên giỏi Dịch... về sau. Cuối quyển có phụ lời bạt nói về chỉ thú của sách, mục đích để khuyên nhủ hàng hậu tiến trẻ kế thừa hành tích của Thánh hiền.

thích thị nghi niên lục

(釋氏疑年錄) Niên phổ, 12 quyển, do ông Trần viên (Tân hội) soạn vào năm Dân quốc 27 (1938). Nội dung sách ghi chép năm sinh, năm mất hoặc niên đại gần đúng của 2800 vị tăng từ đời Lưỡng Tấn(Tây Tấn và Đông Tấn) cho đến đầu đời Thanh. Nếu có nhiều vị tăng cùng tên thì ở trước tên các vị ấy có thêm tên đất, tên chùa để phân biệt. Nếu vị tăng nào có biệt hiệu, hoặc đặt trước tên, hoặc đặt sau tên thì trong sách này đều được đặt ở trước tên để tiện việc tra cứu. Năm sinh thì dùng năm tháng Tây lịch; phần thông kiểm thì đều dùng chữ cuốicủatên vị tăng làm số nét để giảm thiểu phiền phức và mất thì giờ trong việc tra tìm, đó đều là những đặc sắc của sách này. Ngoài ra, sách này còn dẫn cứ có tới hơn 700 loại sách vở, trong đó bao gồm từ 2 đến 3 trăm tư liệu thuộc ngữ lục; sự sưu tập rất rộng rãi, phong phú, khảo đính thận trọng, nghiêm cẩn. Trong các loại Nghi niên lục từ Tiền đại hân đến nay, tương truyền đây là tác phẩm hay nhất. Năm Dân quốc 66 (1977), sách này được Đỉnh văn thư cục ảnh ấn ở Đài Bắc tái bản.

thích thị thông giám

(釋氏通鑒) Gọi đủ: Lịch đại biên niên thích thị thông giám. Sử truyện, 12 quyển, do ngài Bản giác soạn vào đời Tống, được thu vàoVạn tục tạng tập 131. Đây là bộ thông sử của Phật giáo được soạn theo thể biên niên, ghi chép các sự kiện lịch sử của Phật giáo trong khoảng thời gian từ năm 26 (1027 trước Tây lịch) đời vua Chiêu vương nhà Chu, đến niên hiệu Kiến long năm đầu (960) đời vua Thái tổ nhà Tống gồm hơn 1900 năm. Vào năm Hàm thuần thứ 6 (1270) đời Nam Tống, ông Tiến phúc Dụng thố có viết lời tựa và vào năm Thiên khải thứ 6 (1626) đời Minh, các ông Tất hi chí, Tất để khang cũng soạn bài tựa cho sách này.

thích thị yếu lãm

(釋氏要覽) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Đạo thành biên soạnvào năm Thiên hỉ thứ 3 (1019) đời Bắc Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 54. Nội dung sách này thu chép các từ ngữ về các khái niệm cơ bản của Phật giáo, về các nghi tắc, pháp qui tự viện, về chế độ tăng quan... rồi trích dẫn nội, ngoại điển để giải thích. Toàn sách gồm 27 thiên, chia làm 679 mục. Quyển thượng gồm 9 thiên: Tính thị(họ), Xưng vị(tên gọi), Cư xứ(chỗ ở), Xuất gia, Sư tư(thầy trò), Thế phát(cạo tóc), Pháp y(áo pháp), Giới pháp và Trung thực(ăn đúng giờ Ngọ). Quyển trung gồm 9 thiên: Lễ số, Đạo cụ, Chế thính (cấm chỉ và cho phép), Úy thận(sợ hãi và thận trọng), Cần giải(Siêng năng và biếng nhác), Tam bảo, Tư hiếu(nghĩ về đạo hiếu), Giới thú(đi tới các cõi) và học tập. Quyển hạ gồm 9 thiên: Thuyết thính(nói và nghe), Tháo tĩnh (động và tĩnh), Tránh nhẫn (tranh cãi và nín nhịn), Nhập chúng(hòa nhập chúng tăng), Trạch hữu(chọn bạn), Trụ trì, Tạp kí(ghi vặt), Chiêm bệnh(xem bệnh) và Tống chung(đưa ma). Sách này là tư liệu tham khảo rất quí cho việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo.

thích tàn bạo

To be fond of cruelty.

thích tâm

(刺心) Tâm gai nhọn. Chỉ cho tâm hối tiếc sau khi làm việc thiện và tâm sợ hãi sau khi phạm tội ác, là vọng tâm thứ 40 trong 60 vọng tâm nói trong kinh Đại nhật, giống như cảm giác ghê rợn khi đến gần đống gai ngọn nên gọi là Thích tâm. Cách đối trị tâm này là chân thành sám hối các tội ác đã tạo và tiếp tục làm các điều thiện để nuôi dưỡng tâm vui mừng.

thích tông

(釋宗) Tông chỉ được thành lập do y cứ vào văn giải thích của các bậc Thầy, như tông Thiên thai y cứ vào Tam đại bộ, Ngũ tiểu bộ của Đại sư Trí khải và những trứ tác của các ngài Kinh khê Trạm nhiên, Tứ minh Tri lễ... mà lập tông chỉ, gọi là Thích tông. Cũng giống như các tông Hoa nghiêm, Chân ngôn, Tịnh độ... y cứ vào các kinh mà lập tông chỉ, gọi là Kinh tông; còn các tông như Câu xá, Thành thực, Tam luận... y cứ vào luận mà lập tông chỉ thì gọi là Luận tông.

thích tú phật tượng

(剌綉佛像) Chỉ cho tượng Phật được thêu trên lụa. Giới Phật giáo Nhật bản gọi hình tượng Phật, Bồ tát thêu trên lụa là Tú Phật, hoặc Phùng Phật. Nghệ thuật thêu tượng đã phát triển từ đời xưa ở Ấn độ và Trung quốc, sau được truyền vào Nhật bản đồng thời với Phật giáo. Hiện nay, chùa Cựu khuyến tu ở Nhật bản có cất giữ bức tranh Thích Ca Như Lai Thuyết Pháp được tạo vào thời đại Bình an, có người ngờ rằng đây là bức tranh thêu có xuất xứ từ đời Đường, Trung quốc.

thích tạng

The tripitaka—The Buddhist scriptures—The Sakya thesaurus. ; (釋藏) Chỉ cho 3 tạng Kinh, Luật, Luận của Thích giáo.

Thích tử

(釋子): Thích (釋) là từ gọi tắt của Thích Ca (s: Śākya, 釋迦), đệ tử xuất gia của đức Phật được gọi là Thích tử. Từ này còn dùng để chỉ cho giáo đồ Phật Giáo sau khi đức Phật diệt độ; còn gọi là Thích chủng tử (釋種子), Thích Ca tử (釋迦子). Như trong Tứ Phần Luật (四分律, Taishō Vol. 22, No. 1428) quyển 36 giải thích rằng: “Ư ngã pháp trung, tứ chủng tánh Sát Lợi, Bà La Môn, Tỳ Xá, Thủ Đà, dĩ tín kiên cố, tùng gia xả gia học đạo, diệt bổn danh, giai xưng vi Sa Môn Thích tử (於我法中、四種姓剎利、婆羅門、毘舍、首陀、以信堅固、從家捨家學道、滅本名、皆稱爲沙門釋子, trong pháp của ta, bốn dòng họ là Sát Lợi, Bà La Môn, Tỳ Xá, Thủ Đà, lấy niềm tin kiên cố, từ nhà bỏ nhà học đạo, bỏ hẳn tên mình, đều gọi là Sa Môn, đệ tử dòng họ Thích).” Cho nên, Thích tử và Phật tử đồng nghĩa với nhau. Trong Tạp A Hàm Kinh (雜阿含經, Taishō Vol. 2, No. 99) quyển 18 có đoạn: “Nhược dục vi phước giả, ưng ư Sa Môn Thích tử sở tác phước (若欲爲福者、應於沙門釋子所作福, nếu người nào muốn làm phước, nên làm phước nơi Sa Môn Thích tử).” Hay trong bài thơ Ký Kiểu Nhiên Thượng Nhân (寄皎然上人) của Vi Ứng Vật (韋應物, 737-792) nhà Đường lại có đoạn: “Ngô Hưng lão Thích tử, dã tuyết cái tinh lô, thi danh đồ tự chấn, đạo tâm trường yến như (吳興老釋子、野雪蓋精廬、詩名徒自振、道心長晏如, Ngô Hưng lão Thích tử, tuyết phủ mái chùa sơ, thơ hay tự chấn động, đạo tâm sáng như xưa).” Hoặc trong Phật Thuyết Mục Liên Ngũ Bách Vấn Kinh Lược Giải (佛說目連五百問經略解, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 44, No. 750) quyển Hạ, Phẩm Tam Y Sự (三衣事品) thứ 11, cũng có đoạn: “Tất đương thế trừ tu phát, phi trước Ca Sa, viên đảnh phương bào, danh vi Thích tử Tỳ Kheo (必當剃除鬚髮、披著袈裟、圓頂方袍、名爲釋子比丘, tất phải cắt bỏ râu tóc, mang áo Cà Sa, đầu tròn áo vuông, gọi là Thích tử Tỳ Kheo).” ; Phật vốn dòng họ Thích-ca nên đệ tử Phật về sau đều lấy tên trong đạo theo họ Thích, gọi là Thích tử. Vì thế Thích tử có nghĩa là đệ tử Phật.

thích tử

Sakyaputriya (skt)—Con Phật, chỉ một vị Tăng, học và thực hành giáo lý nhà Phật—Buddha's son—Monk—A person who understands and practice deeply the philosophy (teaching) of Buddhism. ; (釋子) Cũng gọi Thích chủng tử, Thích ca tử. Chỉ cho các đệ tử xuất gia của đức Thích tôn, hoặc chỉ chung cho tín đồ Phật giáo từ sau khi đức Thích tôn nhập diệt. Luật Tứ phần quyển 36 (Kiền độ Già thuyết giới thứ 9 trong Tiểu phẩm Luật tạng Pàli) (Đại 22, 824 hạ) nói: Ở trong giáo pháp của ta, có 4 chủng tính Sát lợi, Bà la môn, Tì xá, Thủ đà, nếu lòng tin vững chắc, xuất gia học đạo, từ bỏ tên cũ thì đều gọi là Sa môn Thích tử. Duy ma nghĩa kí quyển 2, phần cuối của ngài Tuệ viễn đời Tùy cũng nói (Đại 38, 465 hạ): Người nữ hoặc cấu, nên gọi là phi pháp khí; tỉ khưu dứt ác, nên gọiSa môn; từ Phật Thích tôn giáo hóa mà sinh ra, cho nên gọi là Thích tử

thích ý

Agreeable—Satisfied—Content—Pleased.

thích ăn ngon

To be fond of good food.

thích điển

Kinh điển Thích Giáo—The scriptures of Buddhism. ; (釋典) Những lời thuyết pháp của đức Thích tôn được kết tập lại thành kinh, do đó, đời sau mới gọi chung các kinh sách của Phật giáo là Thích điển.

thích đáng

Appropriate—Suitable.

thích đảo

Đá lộn nhào—To kick over.

thích đầu nhập giao bồn

(刺頭入膠盆) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Rơi vào bồn chứa keo toàn thân bị dính chặt, ví dụ người bị văn tự ngôn ngữ trói buộc(vì chấp trước) không thoát ra được. Nếu người học cho rằng văn tự mà mình thấy, ngôn giáo mà mình nghe chính là Phật pháp cùng tột, rồi miệt mài trong đó, tư duy, ngâm vịnh, đến nỗi bị trói buộc, rốt cuộc không thể buông bỏ để cầu chứng ngộ; giống như người bị vấp, ngã vào bồn đựng keo, chân tay bị dính chặt, không cách nào gỡ ra được.

thích đế

Sakra or Indra (skt)—Đế vương của ba mươi ba tầng trời—Lord of the thrity three Heavens.

Thích Đề Hoàn Nhân

(s: Śakra Devānāmindra, 釋提桓因): Thích Đề Hoàn Nhân (釋提桓因), còn gọi là Đế Thích Thiên (s: Indra, p: Inda, 帝釋天, Trời Đế Thích), Năng Thiên Chủ (能天主), Thiên Chủ Đế Thích (天主帝釋), Thiên Đế Thích (天帝釋), Thiên Đế (天帝), Đao Lợi Thiên Vương (忉利天王); âm dịch là Thích Ca Đề Hoàn Nhân Đà La (釋迦提桓因陀羅); còn có các tên gọi khác như Nhân Đà La (因陀羅), Kiều Thi Ca (憍尸迦), Ta Bà Bà (娑婆婆), Thiên Nhãn (千眼), v.v. Nguyên lai, Ngài là vị thần của Ấn Độ Giáo, thời cổ đại Ấn Độ gọi là Nhân Đà La. Vì được thần cách hóa như là ánh sáng chớp của sấm sét, dưới thời đại Veda, vị này được xem như là có sức mạnh nhất trong các vị thần, thường hay đánh nhau với ác thần A Tu La. Người Trung Quốc thường gọi là Ngọc Hoàng Đại Đế (玉皇大帝). Theo các kinh luận cho biết, xưa kia vị này là người dòng dõi Bà La Môn ở nước Ma Già Đà (摩伽陀), nhờ có phước đức tu tập hạnh Bố Thí, được sanh lên cung trời Đao Lợi (s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 忉利), làm Thiên chủ của 33 cõi trời. Trời Đế Thích trú tại Thành Thiện Kiến (善見城), cung điện tối cao của cõi Trời Ba Mươi Ba, nơi có ngọn Tu Di Sơn (須彌山) cao nhất trên mặt đất, và cai trị địa giới. Cùng với Phạm Thiên, vị trời này được xem như là vị thần bảo vệ của Phật Giáo. Hai bên Trời Đế Thích có 10 vị Thiên tử hầu hạ thường xuyên. Về cõi Trời Ba Mươi Ba, do vì trước kia vị trời này đã cùng với 32 người khác tu tập thiện nghiệp tại nước Ma Kiệt Đà. Tương truyền xưa kia, sau khi đức Phật Ca Diếp qua đời, có một người nữ phát tâm tu sửa tháp của Ngài, rồi lại có thêm 32 người khác trợ lực. Tất cả sau khi qua xả bỏ báo thân này thì cùng được sanh cõi Trời Đao Lợi. Do đó, chung quanh cõi Trời này có 32 cung điện của 32 người kia; còn ở giữa là Đế Thích, tổng cọng là 33. Ngài có 3 vị phu nhân tên Viên Sanh (園生), Thiện Pháp (善法), Xá Chi (赦支). Tại phía Đông Bắc của cung điện Trời Đế Thích có cây Viên Sanh; phía Tây Nam có Thiện Pháp Đường (善法堂). Trời Đế Thích thường tập trung chư Thiên thuyết pháp tại đây. Nếu Trời Đế Thích đi nữa, chư Thiên vẫn cung kính chỗ ngồi của Ngài, xem như Ngài có mặt. Tuổi thọ của Ngài rất dài, một ngày một đêm trên cõi Trời ấy bằng 100 năm dưới cõi người, tính 36.000 năm của con người làm 1 tuổi của Ngài. Mỗi nữa tháng vào các ngày trai giới, Trời Đế Thích thường hạ lịnh Tứ Thiên Vương, Thái Tử, Thị Giả, v.v., thám sát thiên hạ vạn dân, xem thử thiện ác, tà chánh thế nào. Nếu nghe chúng sanh nhiều việc ác, không hiếu thuận cha mẹ, không kính trọng thầy tổ, không bố thí cho người nghèo khốn, tức làm cho chư Thiên buồn phiền, giảm tổn đi, và làm cho chúng A Tu La tăng trưởng. Và ngược lại, nếu nghe chúng sanh làm các việc thiện nhiều, hiếu thuận cha mẹ, tôn kính thầy tổ, siêng năng tu tập trai giới, bố thí cho người nghè khốn, nhờ vậy chư thiên vô cùng hoan hỷ, số lượng tăng thêm; và chúng A Tu La giảm xuống. Sau khi đức Phật thành đạo, Trời Đế Thích trở thành thần thủ hộ cho Ngài. Khi đức Phật lên cung Trời Đao Lợi thuyết pháp cho mẫu thân, Trời Đế Thích tạo thành bậc cấp bằng 7 thứ báu, đích thân Ngài cầm lọng báu che đức Phật đi từ trên xuống. Sau đó, Trời Đế Thích cung thỉnh Phật thuyết pháp trong cung điện. Ngài từng hóa hiện ra nhiều thân hình để hóa độ, khuyên răn mọi người làm lành tránh dữ, bố thí, cúng dường. Ngài tuy là vua của tất cả chư Thiên, thống lãnh muôn loài, như từ tâm vô lượng. Tương truyền có một con quỷ Dạ Xoa thân hình rất nhỏ, nhan sắc đen thùi, xấu xí, hung ác, ngồi trên ngai của Trời Đế Thích. Thấy vậy chư Thiên tức giận, muốn đánh đuổi con quỷ ấy đi. Trời Đế Thích bảo rằng: “Vị này tên là Trợ Sân Quỷ (助瞋鬼, quỷ giúp cho sân hận).” Bèn trịch áo, bày vai bên phải, tay cầm lò hương thưa với quỷ Dạ Xoa rằng: “Thưa đại tiên, tôi là Trời Đế Thích đây.” Thưa như vậy ba lần. Nghe xong, thân hình quỷ Dạ Xoa biến nhỏ dần và tiêu mất. Cho nên, dù làm vua cõi Trời đi nữa, nhưng Trời Đế Thích cũng không bao giờ làm tổn thương muôn vật, lấy đức từ để hóa độ chúng sanh. Về hình tượng, vị này thường thể hiện hình trời người, cỡi voi trắng, tay phải cầm cây chày báu Tam Cô, hay cây Chày Kim Cang; tay trái đặt trên bắp vế.

thích đề hoàn nhơn

Sakro-devanamindra or Indra (skt)—Trời Đế Thích, cai trị cõi trời ba mươi ba tầng, được Phật tử coi như thấp hơn Phật, nhưng lại là một vị thiên long hộ pháp—Sakra the Indra of the devas, the sky-god. The god of the nature-gods, ruler of the thirty-three heavens, considered by Buddhists as inferior to the Buddhist saint, but as a deva-protector of Buddhism.

thích địa thành trăn

(刺地成榛) Cắm gậy xuống đất thành rừng cây trăn. Theo Cao tăng Pháp hiển truyện thì vào khoảng thế kỉ IV, cách tinh xá Kì hoàn ở Thiên trúc về phía tây bắc khoảng 3 km có một khu rừng cây trăn gọi là Đắc nhãn mộc(cây được mắt sáng). Duyên khởi khu rừng này là: Lúc đức Phật còn tại thế, có 500 người mù ở nhờ trong tinh xá, đức Phật nói pháp cho họ nghe, nhờ đó mắt họ được sáng trở lại, tất cả đều vui mừng và đem những cây gậy mà họ vẫn thường dùng cắmxuống đất, rồi đính lễ đức Phật. Về sau, những cây gậy ấy dần dần mọc lan ra và trở thành khu rừng cây trăn cao lớn, um tùm, người đời không ai dám chặt. Chư tăng trong tinh xá Kì hoàn, sau khi thụ trai thường vào khu rừng này để tọa thiền.

thích ứng

Adaptability—Appropriate—The adaptability of body, mental factors and consciousness.

thích ứng với mọi người

To get along with people.

Thích-ca

釋迦; S: śākya; P: sakka; |Dòng dõi quý tộc, gốc của vị Phật lịch sử Tất-đạt-đa. Dòng Thích-ca là dòng cai trị một trong 16 vương quốc của Ấn Ðộ thời bấy giờ, ngày nay thuộc miền Nam Nepāl. Kinh đô thời đó là Ca-tì-la-vệ (s: kapilavastu), là nơi đức Phật sinh ra và trưởng thành. Vua cha của Phật là Tịnh Phạn (s, p: sud-dhodana), trị vì tiểu vương Thích-ca.|Thời bấy giờ, tiểu vương dòng Thích-ca có một hội đồng trưởng lão tham gia quốc sự, nhưng tiểu vương này bị phụ thuộc vào nước Kiêu-tát-la (s: kośala). Ngay trong thời đức Phật còn tại thế, tiểu vương Thích-ca bị một quốc vương của Kiêu-tát-la đem quân xâm chiếm và tiêu diệt gần hết. Sau khi Phật thành đạo và trở lại Ca-tì-la-vệ giảng dạy, nhiều vị trong dòng dõi Thích-ca xin gia nhập Tăng-già. Tại đó, người thợ cạo Ưu-bà-li (upāli) xin gia nhập, trở thành tăng sĩ trước và vì vậy được xem cao quý hơn các vị lĩnh đạo trong hoàng gia gia nhập sau.

Thích-ca Mâu-ni

釋迦牟尼; S: śākyamuni; P: sakkamuni; dịch nghĩa là »Trí giả trầm lặng của dòng Thích-ca« (Mâu-ni);|Một tên khác của Tất-đạt-đa Cồ-đàm (s: siddhārtha gautama) là người sáng lập Phật giáo. Tất-đạt-đa mang tên này sau khi Ngài từ bỏ các vị thầy và tự mình tìm đường giải thoát. Danh hiệu »Thích-ca Mâu-ni« thường được dùng để chỉ vị Phật lịch sử đã từng sống trên trái đất này, nhằm phân biệt với các vị Phật khác.||H 64: Thích-ca Mâu-ni, Trí giả trầm lặng của dòng Thích-ca

Thích-ma-nam

Một trong năm vị tỳ-kheo thuộc nhóm ông Kiều-trần-như, quy y trước nhất với Phật tại Lộc Uyển, gần thành Ba-la-nại. Vị này trước vốn là vương tử dòng họ Thích, con người chú ruột của thái tử Tất-đạt-đa.

Thích-đề-hoàn-nhân

phiên âm từ Phạn ngữ là Śakrodevnm Indrah, gọi đủ là Thích-ca Đề-hoàn Nhân-đà-la, là tên gọi của vị Thiên Đế-thích, tức vị vua ở cõi trời Đao-lợi, còn gọi là cõi trời Ba mươi ba (Tam thập tam thiên), thuộc Dục giới.

thính

1) Powdered grilled rice. 2) Keen—Sharp—Acute(of smelling or hearing). 3) Nghe: To hear—To listen.

thính chúng

(聽衆) Đại chúng nghe thuyết pháp. Theo Pháp hoa văn cú quyển 2 hạ thì trong hội thuyết pháp của đức Phật, thính chúng được chia làm 4 loại là Phát khởi chúng, Đương cơ chúng,Ảnh hưởng chúng và Kết duyên chúng. Còn về loại người nghe pháp, theo luận Trí độ quyển 100 thì chia làm 2 loại: 1. Chỉ nghe chứ không tin nhận làm theo.2. Nghe và tin nhận làm theo. Lại theo Thích thị yếu lãm quyển 1 thì Thính có thể phân biệt làm 3 phẩm: 1. Thần thính: Nghe bằngthần. 2. Tâm thính: Nghe bằng tâm. 3. Nhĩ thính: Nghe bằng tai. (xt. Tứ Chúng).

thính giáo

Nghe và phụng hành Phật pháp—To hear the Buddha's doctrine—Those who hear and obey the Buddha's doctrine. ; (聽教) I. Thính Giáo. Nghe giáo pháp. II. Thính Giáo. Đối lại: Chế giáo. Luật sư Đạo tuyên y cứ vào tạng Luật mà lập ra thuyết Chế giáo và Thính giáo, cho rằng pháp do đức Phật theo lí mà chế định, gọi là Chế giáo; còn pháp tùy nhân duyên, phong tục mà cho phép thì gọi là Thính giáo. Như 4 giới trọng cấm là thuộc về Chế giáo, 12 pháp đầu đà thì thuộc về Thính giáo. Chỉ giữ 3 áo là Chế giáo, ngoài 3 áo được cất giữ áo khác là Thính giáo. (xt. Chế Thính Nhị Giáo). III. Thính Giáo. Trong Thiền tông Trung quốc, mỗi đêm, sau giờ tọa thiền, trước khi đi ngủ, chúng tăng được phép tùy ý đàm luận tại các liêu xá, gọi là Thính giáo. [X.môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên].

thính giả

Listener—Auditor.

thính hơi

To have a good nose for smelling or finding things out.

thính khiếu

(聽叫) Cũng gọi Thính hô. Chỉ cho chức vị hầu cạnh vị Trụ trì, nghe lời gọi, làm theo sự sai bảo và truyền đạt mệnh lệnh của vị Trụ trì đến các liêu phòng. [X.điều Bản trướng thức trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.7; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].

thính kinh lâu

(聽經樓) Lầu nghe kinh, do vua Thành tổ nhà Minh xây dựng. Sau cuộc biến loạn Tĩnh nan, vua Thành tổ dạy dân hướng thiện bằng cách xây dựng Thính kinh lâu ở các ngã tư đại lộ trong đô thành, hằng đêm, thỉnh các vị tăng lên lầu tụng kinh giảng nghĩa, dân chúng trải chiếu dưới đất ngồi nghe. Nhưng sau khi dời đô về Bắc kinh thì việc này dần dần bị phế bỏ, cáckinh lâu đổ nát, chỉ còn 1lầu ở Bắc môn kiều và 1 ở gần Thập miếu. Đầu năm Gia tĩnh đời vua Thế tông, chúng tăng trùng tu lại, nhưng người đương thời không biết đó là nền cũ của Thính kinh lâu.[X. Nhân hải kí; Bích lí tạp tồn Q.thượng (Đổng cốc).

thính pháp ngũ bất tác di ý

(聽法五不作异意) Khi nghe pháp không nên khởi 5 ý khác. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 44 thì các Bồ tát khi muốn nghe pháp, đối với vị pháp sư thuyết pháp, không nên sinh ra 5 thứ ý nghĩ khác, mà nên lắng tai nghe với tâm thuần tịnh. Còn nếu sinh tâm khinh thường đối với vị pháp sư, không muốn nghe chính pháp do vị ấy nói thì chắc chắn sẽ mất trí tuệ thù thắng. Năm thứ ý khác ấy là: 1. Ư hoại giới bất tác dị ý: Không được khởi ý niệm so lường sự phá giới phạm luật của vị pháp sư thuyết pháp. 2. Ư hoại tộc bất tác dị ý: Không được có ý niệm khác so lường đối với dòng họ thấp hèn của vị pháp sư thuyết pháp. 3. Ư hoại sắc bất tácdị ý: Không được khởi ý niệm so lường dung mạo xấu xí của vị pháp sư thuyết pháp. 4. Ư hoại văn bất tác dị ý: Không được khởi ý niệm so đo về văn từ thiếu trau chuốt của vị pháp sư nói pháp. 5. Ư hoại mĩ bất tác dị ý: Không được khởi ý niệm so đo về lời nói quê mùa, thô kệch của vị pháp sư, chê là lời thuyết pháp không bóng bảy, đẹp đẽ.

thính quan

Auditory organ—Organ of hearing.

thính tai

To have a keen sense of hearing—To be quick of hearing.

thính thị

Audio-visual.

thính văn

Nghe và phụng hành—To hear and to obey.

thò

To put (stretch) out.

thòng

To drop a rope.

thòng lọng

Runing-knot—Slip-knot—Noose.

thóa mạ

To revile and to spit into someone's face

thóc

Maize—Millet.

thóc gạo

Paddy and rice.

thóc tán

Giống như hạt kê nát—Like scattered millet.

thóc tán vương

Vua cai trị xứ Tán Thóc—Scattered kings, or rulers who own allegiance to a supreme sovereign, as Scattered country means their territories.

thói

Manner—Habit.

thói quen

Habit.

thói xấu

Vice—Bad habit.

thói đời

Ways of the world.

thô

Sthula (skt)—Coarse—Rude—Rough—Crude—Unrefined—Immature.

thô bạo

Unmannerly—Rude.

thô bỉ

Rustic—Boorish.

thô kệch

Rustic.

thô ngôn

1) Lời nói thô ác—Coarse, rude, rough, immature words or talk—Evil words—Rough outline, preliminary words. 2) Thô Tế Nhị Thừa—Immature and Mature yanas: a) Immature Yana: Tiểu Thừa—Hinayana. b) Mature Yana: Đại Thừa—Mahayana. ; (粗言) Cũng gọi Thô ngữ. Lời nói thô ác, hoặc chỉ cho giáo thuyết thô thiển. Trong phán giáo xưa nay có 2 thuyết là Đại thừa giáo và Tiểu thừa giáo, trong đó, Tiểu thừa giáo được gọi là Thô ngôn. Hoặc chia làm hai môn là Khuyến (thiện) môn và Giới (ác) môn khác nhau. Trong đó, giáo pháp của Giới môn cũng gọi là Thô ngôn. Phẩm Phạm hạnh trong kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc)quyển 20 (Đại 12, 485 thượng) nói: Thô ngữ và nhuyến ngữ đều qui về đệ nhất nghĩa, vì thế con nay qui y đức Thế tôn. [X. phẩm Phạm hạnh trong kinh Đại bát niết bàn Q.18 (bản Bắc)]. (xt. Đầu Tử Nhất Thiết Phật Thanh).

thô ngữ

See Thô Ngôn.

thô nhân

1) Hành nhân Tiểu thừa là thô nhân, hành giả Đại thừa là tế nhân—The immature man of Hinayana, who has a rough foundation, in contrast with the mature or refined man of the Mahayana. 2) Nhị Giáo Thiên Thai—Four schools of the T'ien-T'ai: a) Thô Giáo—Immature schools: • Tạng Giáo: Tripitaka Teaching. • Thông Giáo: Interrelated teaching. • Biệt Giáo: Differentiated Teaching. b) Tế Giáo—Mature schools: • Biệt Giáo: Complete or Final Teaching. ; (粗人) Chỉ cho hành giả Tiểu thừa; trái lại, hành giả Đại thừa gọi là Tế nhân. Luận Đại trí độ quyển 39 (Đại 25, 345 hạ)nói:Trong pháp Thanh văn, 10 điều bất thiện là tội nghiệp, trong Ma ha diễn thấy những việc do thân, khẩu, ý tạo tác là tội. Vì sao vậy? Vì có tạo tác, có trông thấy đều là hư dối. Thô nhân thì tội thô, Tế nhân thì tội tế. Giáo phán của tông Thiên thai dựa theo đây mà có thuyết Thô nhân. Tức 3 giáo Tạng, Thông, Biệt trong 4 giáo là Thô nhân, còn Viên giáo là Tế nhân. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 1 (Đại 33, 820 thượng) nói: Tế nhân, Thô nhân cả 2 đều phạm lỗi, nếu đứng về phương diện lỗimà nóithì cả 2 đều gọi là Thô nhân.

thô thiển

Gross—Awkwark and superficial.

thô tướng

Theo khởi Tín Luận đây là sáu thô tướng vô minh (chưa giác ngộ)—The six grosser or cruder forms of unenlightenment or ignorance mentioned in the sastra on the Prajna Sutra.

thô tướng phật

Rudimentary aspect of the Buddha.

thô tục

Ill-mannered—Coarse.

thô xan dị bão tế tước nan cơ

(粗餐易飽細嚼難饑) Cũng gọi Thô thực dị bão tế tước nan cơ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nuốt trửng mau no, nhai kĩ lâu đói. Nghĩa là nuốt trửng thức ăn thì tuy chóng no bụng nhưng không dễ hấp thụ; còn từ từ nhai kĩ thì lâu mới đói, hơn nữa lại được thưởng thức được vị ngon của thức ăn và bổ dưỡng thân thể. Trong Thiền lâm nhóm từ này được sử dụng để chuyển sang chỉ cho việc tu hành nếu bền bỉ và liên tục thì có khả năng thể ngộ, cuối cùng, chắc chắn sẽ đắc đạo. ĐiềuĐâu suất tam quan tắc 48 trong Vô môn quan (Đại 48, 298 hạ) nói: Nếu hạ được 3 chuyển ngữ này thì đến đâu cũng làm chủ, gặp duyên liền ngộ; nếu chưa được như thế thì nuốt trửng mau no, nhai kĩ lâu đói (thô xan dị bão, tế tước nan cơ).

thô ác ngữ

Lời nói thô bỉ xấu ác phỉ báng người khác—Coarse, evil and slanderous language.

thô ác uyển

Vườn thô ác là một trong bốn vườn của Trời Đế Thích, khi nào muốn đánh nhau thì vào trong vườn nầy, muốn thứ vũ khí nào thì lập tức vũ khí ấy hiện ra—The rough and evil park, one of Indra's four parks, that of armaments and war. ; (粗惡苑) Phạm: Pàruwyaka. Cũng gọi Thô sáp viên. Một trong 4 khu vườn (vườn Chúng xa, vườn Thô ác, vườn Tạp lâm, vườn Hỉ lâm) của trời Đế thích. Cứ theo phẩm Đao lợi thiên cung trong kinh Trường a hàm quyển 20, kinh Chính pháp niệm xứ quyển 25 và luận Câu xá quyển 11 thì tầng trời thứ 2 trong 6 tầng trời cõi Dục là trời Đao lợi(cũng gọi Tam thập tam thiên) ở trên đỉnh núi Tu di, do trời Đế thích thống lãnh. Trên đỉnh núi Tu di có Thiện kiến đường, ở 4 phía của Thiện kiến đường đều có vườn rừng, là nơi du ngoạn, vui chơi của chư thiên; Thô ác uyển chính là khu vườn ở phía đông của Thiện kiến đường. Khi chư thiên muốn đánh nhau thì vào vườn này và tùy theo nhu cầu của họ mà hiện ra các thứ binh khí như áo giáp, mũ trụ, dao, gậy... Luận A tì đạt ma thuận chính lí quyển 31 (Đại 29, 519 thượng) nói: Vườn Thô ác, lúc các trời muốn đánh nhau thì theo nhu cầu của họ, giáp, gậy...hiện ra. [X.luận Đại trí độ Q.8]. (xt. Tứ Uyển)

thôi

1) Ngừng: To cease—To stop—To recede from—To decline—To resign. 2) Thôi thúc: To push away.

thôi công quy bổn

Bỏ những công đức nhỏ để trở về với những điều căn bản—To put off minor merit for the sake of fundamentals.

Thôi Hạo

(崔浩) Tể tướng nhà Bắc Ngụy, người Thanh hà (Sơn đông), tự Bá uyên. Ông theo cha là Thôi hoành học kinh sử, bách gia, lập chí thực hiện lí tưởng chính trị, xã hội của Nho gia.Năm Thái thường thứ 8 (423), vì hộ giá vua Thái tông và vua băng trên đường đi nên ông bị bãi chức. Về sau, ông kết giao với Đạo sĩ Khấu khiêm và cả 2 người đều được Thái vũ đế trọng dụng. Họ cùng nhau ra sức thuyết phục Thái vũ đế qui y đạo Thiên sư. Thôi hạo lại đi xa hơn nữa là xúi dục nhà vua hủy diệt Phật giáo. Do đó, vào năm Thái bình chân quân thứ 7 (446), Thái vũ đế hạ chiếu chỉ phá Phật. Sau, Thôi hạo biên soạn quốc sử, trong đó dùng các từ tỏ vẻ xem khinh bộ tộc họ Hồ, vua nổi giận, ra lệnh chém đầu!

thôi miên

Hypnotize.

thôi thúc

To urge—To press.

thôn thượng chuyên tinh

(村上專精) Học giả Phật giáo sử thuộc phái Đại cốc Tịnh độ chân tông Nhật bản, người huyện Binh khố, hiệu Bất trụ đạo nhân. Ông tốt nghiệp trường đào tạo giáo sư thuộc chùa Bản nguyện, lần lượt giảng dạy Phật học ở Đại học tông Tào động, Triết học quán(Đại học Đông dương), đồng thời sáng lập Phật giáo giảng thoại sở, phát hành các tạp chí Giảng diễn hội, Phật giáo giảng diễn tập... Năm Minh trị 27 (1892), ông lại ấn hành Phật giáo sử lâm, mở đường cho việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo. Năm Minh trị 29 (1894), vì phát biểu ý kiến của mình về vấn đề cải cách phái Đại cốc thuộc Chân tông nên ông bị tước bỏ học vị và giáo chức. Năm Minh trị 34 (1899), ông soạn luận Phật giáo thống nhất, chủ trương Đại thừa chẳng phải Phật nói, xúc phạm điều cấm kị của Bản sơn, nên ông tự động bỏ tăng tịch, nhưng sau lại phục hồi. Năm Minh trị 38 (1903), ông mở trường Cao đẳng Đông dương dành cho nữ sinh. Năm Đại chính thứ 6 (1917), ông làm Giáo sư dạy môn Triết học Ấn độ tại Đại học Đông kinh; năm Đại chính 15 (1926), ông làm Hiệu trưởng Đại học Đại cốc. Năm Chiêu hòa thứ 4 (1929), ông qua đời thọ 79 tuổi. Ông có các tác phẩm: Nhật bản Phật giáo sử cương, Phật giáo luận lí học, Chân tông toàn sử, Hòa Hán Phật giáo niên khế, Nhân minh học toàn thư, Phật giáo thống nhất luận bao gồm 5 bộ: Đại cương luận, Nguyên lí luận, Phật đà luận, Giáo hệ luận và Thực tiễn luận

thôn thượng thiên hoàng

(村上天皇) Vị thiên hoàng đời thứ 62 của Nhật bản, lên ngôi năm Thiên khánh thứ 9 (946) do Thiên hoàng Chu tước nhường ngôi. Niên hiệu Thiên lịch năm đầu (947), ông lễ ngàiĐịnh trợ thụ pháp Thân tâm ấn, truyền Đại quánTì lô, đồng thời ban sắc xây tháp 5 tầng và cổng Tây đại ở chùa Đề hồ hạ. Ông làm vua 21 năm. Vào năm Khang bảo thứ 4,Ông nhường ngôi rồi xuất gia, pháphúy là Giác trinh. Không bao lâu ông mất, hưởng dương 42 tuổi.

thôn thổ bất đắc

(吞吐不得) Cũng gọi Thôn thổ bất hạ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nuốt vào chẳng được, nhả ra không xong. Nhóm từ này được sử dụng để ví dụ hoàn cảnh khó khăn, khó xử, tiến thoái lưỡng nan, giống như người ngậm một vật trong miệng, nuốt đã chẳng vào, mà nhả cũng không ra, cực kì khó chịu, cũng ví dụ trong hoàn cảnh không thể nào đáp ứng được. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được chuyển dụng để chỉ việc tuy cho diệu dược của Phật pháp, nhưng nếu thiếu đạo tâm thì cũng khó tiêu thụ, xử trí được. Tắc 83, Thung dung lục (Đại 48, 280 hạ) nói: Thuốc hay từng qua miệng ra sao? (Nuốt chẳng vào, nhả không ra, thôn bất nhập, thổ bất xuất).

Thôn Điền Châu Quang

(村田珠光, Murata Shukō, 1422-1502): một trà nhân nổi tiếng sống giữa hai thời đại Thất Đinh (室町, Muromachi) và Chiến Quốc (戰國, Sengoku), húy là Châu Quang, xuất thân vùng Nại Lương (奈良, Nara). Ban đầu ông là vị tăng của Xưng Danh Tự (稱名寺) vùng Nại Lương, nhưng vì ông rất say mê trong việc uống trà, nên đã bỏ chùa đi ngao du. Sau ông lên kinh đô, đến tham Thiền với Tông Thuần (宗純), khai sáng ra hình thức Trà Lễ của Thiền Viện, và hiểu được áo nghĩa của Trà Thiền Nhất Vị (Trà và Thiền cũng một vị), và tương truyền ông là người khai sáng ra Wabicha (侘茶). Ông từng giao du với những bậc thầy liên ca như Tâm Kính (心敬), Tông Kỳ (宗祇), và hình thành nên lý luận độc đáo của Wabicha (侘茶). Đệ tử ông có Tông Châu (宗珠), Thiệu Trích (紹滴), Tông Lý (宗理), v.v.

thông

(A) Nghĩa của “Thông”—The meanings: 1) Đi qua: To pass through—To pervade. 2) Hiểu rõ: To know thoroughly—Quick at hearing—Clever—Sharp—Wise. 3) Phổ thông: General—Universal. 4) Rõ ràng: Clear. 5) Thông suốt: To understand—To comprehend—To perceive. 6) Thông tin: To communicate. 7) Current. 8) Free. 9) Without hindrance—Unimpeded. (B) Các loại “Thông”—Categories: 1) Ngũ Thông: The five supernatural powers—See Ngũ Thần Thông and Ngũ Thông. 2) Lục Thông: The six supernatural powers—See Lục Thông. 3) Thập Thông: The ten supernatural powers—See Thập Thông.

Thông Biện

通辯; ?-1134|Thiền sư Việt Nam đời thứ 8 dòng Vô Ngôn Thông, đắc pháp nơi Thiền sư Viên Chiếu. Môn đệ lừng danh của Sư là Ðạo Huệ.|Sư họ Ngô, quê ở Ðan Phượng (Hà Ðông). Sư học với Thiền sư Viên Chiếu, thầm nhận được ý chỉ, về sau đến trụ tại Quốc Tự trong kinh đô Thăng Long, lấy hiệu là Trí Không.|Ngày rằm tháng hai năm 1096, Hoàng Thái hậu Phù Thánh Cảm Linh Nhân đến chùa thiết lễ trai tăng và hỏi ý nghĩa Phật pháp, hỏi về các dòng thiền. Sư trả lời uyên thâm, thông suốt. Thái hậu hoan hỉ ban hiệu là Thông Biện Ðại sư và bái phong làm Quốc sư. Nội dung trả lời của Sư rất được các nhà nghiên cứu lịch sử Phật giáo sau này quan tâm, xem là thông tin quan trọng của thế kỉ thứ 12 về việc truyền thừa của đạo Phật tại Việt Nam. Sư được xem là một trong những tác giả của Thiền uyển tập anh, một quyển sách rất quan trọng của Thiền tông Việt Nam.|Nhờ sự giáo hoá của Sư, về sau Thái hậu cũng là người ngộ đạo. Lúc tuổi cao, Sư về trụ trì chùa Phổ Minh, thường dạy người kinh Pháp hoa, nên có có hiệu là Ngô Pháp Hoa. Ngày rằm tháng hai năm Giáp Dần (1134), đời Lí Thần Tông, Sư lâm bệnh rồi tịch.

thông biện

Thiền sư Thông Biện (?-1134)—Zen master Thông Biện—Thiền sư Việt Nam, quê ở Bắc Việt. Ngài là đệ tử của Thiền sư Viên Chiếu, và là Pháp tử đời thứ tám dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Về sau, ngài tới Thăng Long và trụ tại chùa Quốc Tự với tên Trí Không. Lúc về già, ngài trở về Từ Liêm và trụ tại chùa Phổ Minh thuyết pháp. Ngài thường khuyến tấn đệ tử tụng kinh Pháp Hoa. Hầu hết cuộc đời, ngài chấn hưng và hoằng hóa tại Bắc Việt. Ngài thị tịch năm 1134—A Vietnamese Zen master from North Vietnam. He was a disciple of Zen master Viên Chiếu. He became the Dharma heir of the eighth generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. Later, he went to Thăng Long and stayed at Quốc Tự Temple with the name Trí Không. When he was old, he returned to Từ Liêm to stay at Phổ Minh Temple to preach Buddha Dharma. He always encouraged his disciples to recite the Lotus Sutra. He spent most of his life to revive and expand Buddhism in North Vietnam. He passed away in 1134.

thông biệt

(通別) Cũng gọi Thông cục. Thông là cùng chung một nghĩa tướng; Biệt là mỗi mỗi khác nhau; còn Cục thì có nghĩa hạn cục ở một bộ phận nào đó. Từ ngữ Thông Biệt trước nay thường được dùng trong các nghĩa môn. Trong 5 thời giáo của mình, ngài Tuệ quán đời Lưu Tống lập các danh mục Tam thừa biệt giáo, Tam thừa thông giáo; trong Tam luận huyền nghĩa, ngài Cát tạng chia ra Thông luận, Biệt luận để phá trừ sự mê lầm của Đại thừa và Tiểu thừa; trong Duy ma kinh sớ quyển 21, ngài Trí khải chia 3 quán Không, Giả, Trung làm Thông tướng và Biệt tướng; trong luận Tịnh độ quyển thượng, ngài Ca tài chia nhân của sự vãng sinh làm Thông nhân, Biệt nhân; trong Phạm võng bồ tát giới quyển thượng, ngài Nghĩa tịch cũng chia pháp thụ giới làm Thông thụ và Biệt thụ. Ngoài ra, xưa nay còn có Thông tự biệt tự, Thông giải biệt giải... những ví dụ chứng minh còn nhiều, không thể kể hết. [X.luận Thập bát không; phẩm Tự thể tướng trong luận Phật tính Q.2; Đại thừa nghĩa chương Q.2; Thắng man bảo quật Q.thượng, phần đầu].

thông biệt nhị tự

The general and specific introductions to a sutra. 1) Thông Tự: Chứng tín tự nói rộng ra tới cả các kinh khác hay lời tựa chung—General introduction. • Như Thị Ngã Văn: Thus Have I heard, being the general introduction in every sutra. 2) Biệt Tự: Phát Khởi Tự hay lời giới thiệu hạn hẹp trong một bộ kinh—Specific introduction.

thông báo

To inform—To advise—To warn.

thông cảm

To comprehend—To understand.

thông dung

(通容) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Phúc châu (tỉnh Phúc kiến), họ Hà, hiệu Phí ẩn. Thủa nhỏ, sư đã thông minh khác thường, năm 14 tuổi, sư xuất gia học thông kinh luận. Sư lần lượt tham yết các ngài Vô minh Tuệ kinh và Viên trừng. Năm Thiên khải thứ 2 (1622) sư tham yết ngài Mật vân Viên ngộ được ấn chứng và nối pháp của ngài. Về sau, sư lần lượt trụ Vạn phúc Thiền tự ở núi Hoàng bá, Liên phong viện, chùa Thiên ninh ở Chiết giang, chùa Siêu quả ở Giang tô, Phúc nghiêm thiền tự, Vạn thọ thiền tự, chùa Duy ma, viện Hưng phúc ở núi Nghiêu phong... Ở đâu sư cũng khôi phục lại các cảnh chùa xưa và truyền bá Thiền pháp của ngài Viên ngộ. Đệ tử nối pháp của sư có 64 vị như Ẩn nguyên Long kì...Năm Thuận trị 18 (1661) đời Thanh, sư thị tịch, thọ 69 tuổi. Sư có các tác phẩm: Ngũ đăng nghiêm thống 25 quyển, Ngũ đăng nghiêm thống giải hoặc biên 1 quyển, Tổ đình kiềm chủy lục 2 quyển. [X. Kính sơn Phí ẩn hòa thượng kỉ niên lục; Tổ đình chỉ nam Q.hạ; Cao tăng trích yếu Q.1].

thông dâm

To commit adultery.

thông dạ

Tụng niệm suốt đêm—The whole night, i.e. to recite or intone throughout the night. ; (通夜) Đồng nghĩa: Triệt dạ, Chung dạ. Suốt đêm, thâu canh. Suốt đêm (từ lúc mặt trời lặn đến lúc mặt trời mọc) không ngủ. Có hai trường hợp: 1. Các chùa viện tổ chức pháp hội cầu nguyện, thuyết pháp suốt đêm. 2. Đêm trước ngày tiễn đưa người chết, bạn bè, thân thuộc ngồi bên cạnh linh cữu suốt đêm để an úy. [X.kinh Trường a hàm Q.2; môn Tiết thời trong Thiền lâm tượng khí tiên].

thông dụng

In common or general use.

thông dự

(通豫) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Côn sơn, tỉnh Giang tô, họ Trần, cũng gọi Bản dự, tự Lâm cao, người đời gọi sư là Lâm cao Thông dự thiền sư. Năm 20 tuổi, sư lễ ngài Nghiêu phong Trạm xuyên cầu xuất gia, sau khi thụ giới Cụ túc, sư đi các nơi tham học, đắc pháp nơi ngài Thiên ẩn Viên tu ở Khánh sơn. Sau, sư ra trụ trì chùa Thạch tưu ở núi Chung sơn tại Kim lăng, sau đó dời đến trụ ở núi Bảo nham tại Vũ lâm, núi Nghiêu phong tại Cô tô;năm Sùng trinh 11 (1638), sư lại dời đến chùa Trúc lâm ở Giáp sơn tại Trấn giang, trùng tu các điện đường, mở rộng tông phong, mọi việc làm đều chân thực, đủ làm khuôn phép cho đồ chúng noi theo. Năm Thuận trị thứ 3 (1646) đời Thanh, sư tịch, thọ 59 tuổi. Sư có tác phẩm: Tông môn thành phạm 4 quyển và Ngữ lục.

thông gian

Adulterous—Adultery (n)—Adulterer.

Thông Giác Thuỷ Nguyệt

通覺水月; 1637-1704|Thiền sư Việt Nam, thuộc tông Tào Ðộng truyền sang miền Bắc, pháp hệ thứ 36. Sư nối pháp Thiền sư Nhất Cú Tri Giáo và truyền lại cho đệ tử là Chân Dung Tông Diễn.|Sư họ Ðặng, quê ở Thanh Triều, huyện Ngự Thiên, phủ Tiên Hưng. Sư trước học Nho giáo nhưng không hài lòng. Năm 20 tuổi, Sư xuất gia cầu đạo, vân du khắp nơi nhưng không tìm được nơi khế hợp. Sau, Sư quyết chí sang Trung Quốc tu học.|Chuyến du học này gặp đầy trở ngại, một trong hai đệ tử đi theo lâm bệnh, mất giữa đường và khi đến núi Phụng Hoàng, Sư phải ở ngoài chờ ba tháng mới vào được cổng chùa yết kiến Thiền sư Nhất Cú Tri Giáo.|Nhất Cú gặp Sư hỏi: »Trước khi cha mẹ sinh, trong ấy thế nào là Bản lai diện mục của ngươi?« Sư thưa: »Mặt trời sáng giữa hư không.« Nhất Cú bảo: »Ba mươi gậy, một gậy không tha«, và cho phép Sư nhập chúng.|Sáu năm trôi qua, một hôm, Nhất Cú gọi Sư vào Phương trượng hỏi: »Ðã Kiến tính chưa?« Sư lễ bái và trình kệ:|Viên minh thường tại thái hư trung|Cương bị mê vân vọng khởi long|Nhất đắc phong xuy vân tứ tán|Hằng sa thế giới chiếu quang thông.|*Sáng tròn thường ở giữa hư không|Bởi bị mây mê vọng khởi lồng|Một phen gió thổi mây tứ tán|Thế giới hà sa sáng chiếu thông.|Nhất Cú đưa tay điểm vào đầu Sư, ban hiệu là Thông Giác Ðạo Nam Thiền sư và nói kệ sau để truyền tông Tào Ðộng tại Việt Nam:|Tịnh trí thông tông, từ tính hải khoan|Giác đạo sinh quang, chính tâm mật hạnh|Nhân đức vi lương, huệ đăng phổ chiếu|Hoằng pháp vĩnh trường.|Nhất Cú căn dặn: »Ngươi về nên tinh tiến làm Phật sự, giảng thuyết đề cao chính pháp, không nên chần chờ để tâm theo vọng trần, trái lời Phật, Tổ dặn dò. Ngươi thành tâm đi muôn dặm đến đây nay ta cho một bài kệ để gắng tiến:|Quế nham suy phức tục truyền đăng|Thu nhập trường không quế bích đằng|Trì nhĩ viên lai khai bảo kính|Từ dư quy khứ thị kim thằng|Thuỵ thâm Phượng lĩnh thiên trùng tuyết|Cáp thụ An Nam nhất cá tăng|Dạ bán cẩm hà sơn hậu khởi|Hạo tòng thiên tế thức tăng hằng.|*Rừng quế gương xưa đền nối sáng|Thu về đâu đấy ngát mùi hương|Vì người xa đến treo gương báu|Từ biệt ta về chỉ đạo Thiền|Ai vào núi Phụng nghìn trùng tuyết|Dường có An Nam một vị tăng|Nửa đêm áo gấm ra sau núi|Như ở chân trời thấy mặt trăng«.|Từ biệt thầy, Sư cùng với đệ tử trở về Việt Nam. Về đến Việt Nam, Sư đi khắp các thắng cảnh như Yên Tử, Quỳnh Lâm và sau, Sư dừng chân tại Ðông Sơn ở huyện Ðông Triều, trụ tại chùa Hạ Long. Dân chúng xa gần nghe danh Sư đều đến xin quy y, tăng chúng đua nhau đến tham học.|Sắp tịch, Sư gọi Tông Diễn đến nói kệ:|Thuỷ xuất đoan do tẩy thế trần|Trần thanh thuỷ phục nhập nguyên chân|Dữ quân nhất bát cam lộ thuỷ|Bái tác ân ba độ vạn dân.|*Nước cốt tuôn ra rửa bụi trần|Sạch rồi nước lại trở về chân|Cho ngươi bát nước cam lộ quý|Ân tưới chan hoà độ vạn dân.|Sau, Sư nói kệ truyền pháp:|山織錦水畫圖。玉泉涌出白酡酥|岸上黃花鶯弄語。波中碧水鰈群呼|月白堂堂魚父醉。日紅耿耿繭婆晡|Sơn chức cẩm thuỷ hoạ đồ|Ngọc tuyền dũng xuất bạch đà tô|Ngạn thượng hoàng hoa oanh lộng ngữ|Ba trung bích thuỷ điệp quần hô|Nguyệt bạch đường đường ngư phủ tuý|Nhật hồng cảnh cảnh kiển bà bô.|*Núi dệt gấm, nước vẽ hình|Suối ngọc chảy, tuôn rượi đà tô|Bờ cúc nở hoa hoàng oanh hót|Nước trong sóng biếc cá điệp nhào|Trăng sáng rỡ ràng ông chài ngủ|Trời soi rừng rực kén nằm nhơ.|Nói kệ xong, Sư bảo: »Nay ta lên chơi trên núi Nhẫm Dương. Nếu bảy ngày không trở về, các ngươi tìm thấy chỗ nào có mùi thơm là ta ở đấy.« Chúng bùi ngùi mà không dám theo. Sau đúng bảy ngày, chúng cùng nhau đi tìm thì nghe gió thổi mùi hương ngào ngạt, thấy Sư ngồi kết già trên một tảng đá trong hang. Bấy giờ là ngày 6 tháng 3 năm Giáp Thìn, niên hiệu Chính Hoà thứ 20 đời vua Lê Hi Tông.

Thông Giám

(通鑑, Tsugan): xem Tư Trị Thông Giám (資治通鑑, Shijitsugan) bên dưới.

thông giáo

Giai đoạn thứ hai trong Thiên Thai Hóa Pháp Tứ Giáo, cho rằng vạn hữu là “Không,” nhưng chưa đạt được lý “Trung Đạo”—The second stage in the T'ien-T'ai four periods od teaching, which held the doctrine of “Void,” but had not arrived at the doctrine of the “Mean.” ** For more information, please see Thiên Thai Hóa Pháp Tứ Giáo. ; (通教) Một trong 4 giáo của tông Thiên thai, tức giáo thứ 2 của 4 giáo Hóa pháp trong 5 thời 8 giáo. Giáo này lấy nhân duyên tức không nói trong 2 thời Phương đẳng, Bát nhã và Tứ đế vô sinh làm giáo chỉ. Trong Tứ giáo nghĩa quyển 1, Pháp hoa huyền nghĩa quyển 3 hạ và Tứ niệm xứ quyển 2 của ngài Trí khải, chữ Thông của Thông giáo có các giải thích khác nhau: Cứ theo Tứ giáo nghĩa quyển 1 thì Thông của Thông giáo có 8 nghĩa: 1. Giáo thông: Đây là giáo pháp 3 thừa cùng tu. 2. Lí thông: Ba thừa cùng thấy lí thiên chân(thiên về bên không). 3. Trí thông: Ba thừa cùng được Nhất thiết trí khéo độ. 4. Đoạn thông: Ba thừa cùng đoạn trừ Kiến hoặc, Tư hoặc trong 3 cõi. 5. Hạnh thông: Ba thừa cùng tu hạnh kiến, tư vô lậu. 6. Vị thông: Ba thừa cùng trải qua các giai vị Can tuệ cho đến Bích chi Phật. 7. Nhân thông:Ba thừa cùng lấy 9 vô ngại làm nhân. 8. Quả thông: Ba thừa cùng được 9 thứ giải thoát và 2 thứ Niết bàn. Sở dĩ giáo pháp này được gọi là Thông giáo chứ không gọi là Cộng giáo là vì giáo ý chẳng những gần thì chung cho Nhị thừa, mà xa còn thông với Biệt giáo, Viên giáo.Theo Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 3 hạ thì Thông của Thông giáo có 2 nghĩa: 1. Nghĩa ba thừa cùng học: Tức 3 thừa của Tạng giáo đều có sở học khác nhau là Tứ đế, Thập nhị nhân duyên và Lục độ; còn 3 thừa của Thông giáo cùng tu Đế, Duyên, Độ, đều thấy lí Đương thể tức không nên gọi là Thông. 2. Nghĩa riêng về Bồ tát có Thông tiền Thông hậu: Bồ tát của Thông giáo có 2 loại là Lợi và Độn, Bồ tát độn căn và Bồ tát của Tạng giáo nói trên, cùng chứng Niết bànđãn không, gọi là Thông tiền Tạng giáo, Độn đồng Nhị thừa(độn căn giống như Nhị thừa); còn các Bồ tát lợi căn khi nghe thuyết Đương thể tức không thì biết ngay nghĩa bất đãn không, thông với lí Trung đạo thực tướng nói trong Biệt giáo và Viên giáo sau đó, gọi là Thông hậu Biệt, Viên. Như vậy chỉ riêng với Bồ tát mới có nghĩa Thông tiền thông hậu, cho nên gọi là Thông giáo.Cứ theo Tứ niệm xứ quyển 2 thì Thông có 3 nghĩa, gọi là Tam thông. Đó là: 1. Nhân quả đều thông: Chỉ cho hàng Tam thừa cùng tu nhân và cùng được quả giống nhau. 2. Nhân thông quả không thông: Chỉ cho hàng Bồ tát lợi căn, ban đầu thì Tam thừa cùng học, về sau theo thứ tự được tiếp nhập vào Biệt giáo, Viên giáo. 3. Thông Biệt Thông Viên: Chỉ cho người mượn Thông giáo để mở đường, tuy vốn là căn cơ Biệt, Viên, nhưng dùng Đương thể tức không của Thông giáo làm phương tiện để mở đường cho trí hiểu biết về Trung đạo của Biệt giáo, Viên giáo. Trong 4 giáo Hóa pháp thì Tạng giáo và Thông giáo có khác nhau, vì Tạng giáo cho rằng giáo pháp của mỗi thừa trong 3 thừa đều khác nhau, quán pháp cũng bất đồng, như Thanh văn quán 4 đế, Duyên giác, quán 12 nhân duyên, Bồ tát tu hạnh 6 độ; giai vị tu hành cũng đều khác nhau, mục đích chính là giáo hóa Nhị thừa, mục đích phụ là giáo hóa Bồ tát; còn Thông giáo thì 3 thừa cùng tu Bát nhã, cũng quản lí nhân duyên tức không, đoạn hoặc, chứng trí và giai vị tu hành đều giống nhau, mục đích chính là giáo hóa Bồ tát, mục đích phụ là giáo hóa Nhị thừa, vì thế nên Tạng giáo và Thông giáo khác nhau. Nhưng tông Thiên thai cho rằng Tạng giáo và Thông giáo đều là giáo thuộc 3 cõi, đều đoạn trừ Kiến hoặc và Tư hoặc, thấy Không lí thiên chân, chỉ ra khỏi Phần đoạn sinh tử trong 3 cõi; trong đó, căn cơ của Tạng giáo thuộc về độn căn, tức chia chẻ sắc mới biết không, nên gọi là Chuyết độ(vụng độ)trong 3 cõi; đối lại với hàng độn căn của Tạng giáo, căn cơ của Thông giáo thuộc về lợi căn, tức quán đương thể chính là không, chứ không cần chia chẻ sắc mới thấy không, cho nên được gọi là Xảođộ(khéo độ) trong 3 cõi. Hơn nữa, Thông giáo tuy nói Không nhưng trong đó tự bao hàm lí Trung đạo, cho nên Bồ tát thấy lí ấy mà được tiếp nhận vào Biệt giáo, Viên giáo ở sau, gọi là Biệt tiếp Thông, Viên tiếp Thông. Đây chính là lí do cắt nghĩa tại sao Thông giáo lại được xem là cánh cửa đầu tiên của Đại thừa. Ngoài ra, nếu phối hợp giai vị tu hành của các Bồ tát nói trên thì Thập địa là 10 địa của 3 thừa tu chung, Thanh văn và Bồ tát độn căn ở Địa thứ 7, Duyên giác ở Địa thứ 8 đều là khôi thân diệt trí. Trong hàng Bồ tát lợi căn thì các vị thuộc về Thượng căn ở Địa thứ 4, các vị thuộc trung căn ở Địa thứ 5 hoặc Địa thứ 6, các vị thuộc hạ căn ở Địa thứ 7, hoặc Địa thứ 8 được tiếp nhập vào Biệt giáo, Viên giáo sau Thông giáo, cho nên Bồ tát Địa thứ 9 và Phật Địa thứ 10 không có Phật và Bồ tát thực tại gọi là Hữu giáo vô nhân, Quả đầu vô nhân. [X. Tam luận huyền nghĩa; Pháp hoa huyền luận Q.3]. (xt. Thập Địa, Hóa Pháp Tứ Giáo].

thông giáo tứ môn

(通教四門) Bốn môn quán của Thông giáo. Sở học của hành giả thuộc Thông giáo, tuy cùnglà lí các pháp như huyễn; nhân duyên tức không, nhưng về pháp quán thì có 4 môn khác nhau.Đó là: 1. Hữu môn(cũng gọi Thực môn): Các pháp như huyễn tức không, vì thế Hữu chính là Không, Không cũng chính là Hữu. Tuy nhiên, Hữu môn dùng Hữu tức không làm con đường vào đạo. Nghĩa là tuy chủ trương các pháp nghiệp quả thiện ác đều như huyễn như hóa, như bóng trong gương không có thực tính, nhưng vẫn có nhận biết về các tướng hư dối. 2. Không môn(cũng gọi Bất thực môn): Dùng cái Không của Tức hữu làm con đường vào đạo; cũng chính là cái như huyễn như hóa vốn tự chẳng thực, vì chẳng thực nên là không, như tìm bắt bóng trong gương, chẳng thể nào được. 3.Diệc hữu diệc không môn(cũng gọi Diệc hữu diệc bất thực môn): Tức chiếu rọi suốt cả Không và Hữu mà vào đạo. Nghĩa là các pháp như huyễn nên gọi là Hữu, huyễn bất khả đắc nên gọi là Không; như bóng trong gương tuy thấy đấy nhưng thực thì không thấy được, tuy không thấy được nhưng mà có thấy. 4. Phi hữu phi không môn (cũng gọi Phi thực phi bất thực môn): Chẳng phải thật chẳng phải chẳng thật. Nghĩa là cái có giả không thể nắm bắt được, cái không giả cũng không thể có được, như vậy, ngăn cả Không, Hữu mà vào đạo; tức cả 2 bên đều bỏ. Theo Tứ giáo nghĩa quyển 3 thì 4 môn này của Thông giáo chính là 4 môn được nói trong luận Đại trí độ quyển 1. Đó là: Tất cả thật, Tất cả chẳng thật,Tất cả cũng thật cũng chẳng thật, Tất cả chẳng thật chẳng phải chẳng thật. [X.luận Đại trí độ Q.2; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.8, hạ].

thông giải thập như thị

(通解十如是) Cũng gọi Tổng thích Thập như thị. Phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa quyển 1 nêu ra 10 từ ngữ Như thị,gọi là Thập như thị, nhưng không giải thích chi tiết, các vị Luận sư nhiều đời mới y cứ vào Thập như thị mà giải thích rõ hơn, trong đó, tương đối nổi tiếng thì có các vị như Pháp dao đời Lưu Tống, Huyền sướng đời Tiêu Tề, Pháp vân đời Lương... Đại sư Thiên thai Trí khải tổng hợp thuyết của các Luận sư và giải thích chung trong bộ Ma ha chỉ quán quyển 5 của ngài, gọi là Thông giải. Ngài Trí khải lại lập ra thuyết mới, rồi đứng về 4 phươngdiện: Pháp giới, Phật giới, Li hợp và Vị thứ mà lần lượt giải thích Thập như thị, gọi là Biệt giải tứ loại.Thập như thị thông giải là: 1. Tướng như thị (cũng gọi Như thị tướng): Chỉ cho các hình tướng được thấy từ bên ngoài, như những hành vi thiện ác hiển hiện rõ ràng. 2. Tính như thị(cũng gọi Như thị tính): Chỉ cho bản tính ở bên trong không thấy được, bản tính các pháp đều không giống nhau, không thay đổi được, như cây gỗ có tính lửa, gặp duyên liền phát; tính này cũng chỉ cho lí tính, Phật tính. 3. Thể như thị(cũng gọi Như thị thể): Chỉ cho thể chất của chúng sinh, như 5 uẩn, 12 xứ...đều lấy sắc và tâm làm thể. 4. Lực như thị(cũng gọi Như thị lực): Chỉ cho công năng của các pháp, như gạch, đất có thể dùng làm vật liệu xây đắp tường vách. 5. Tác như thị(cũng gọi Như thị tác): Chỉ cho sự tạo tác của 3 nghiệp thân, khẩu, ý. 6. Nhân như thị(cũng gọi Như thị nhân): Chỉ cho nghiệp nhân (dịch mới là Đẳng lưu nhân) đưa đến quả báo, tức các việc làm nhơ nhớp ở đời trước trở thành hạt giống nghiệp thiện ác ở đời sau. 7. Duyên như thị (cũng gọi Như thị duyên): Duyên chỉ cho cái nhân giúp đỡ thêm (nhân phụ), như dùng hạt ngũ cốc làm nhân, nắng mưa, đất nước làm duyên, nhân duyên hòa hợp, hạt giống nhờ đó nẩy mầm và trưởng thành tốt tươi. 8. Quả như thị(cũng gọi Như thị quả): Chỉ cho nhân nhơ nhớp ở quá khứ nay được quả tương ứng (dịch mới là Đẳng lưu quả). Thời gian cách nhau giữa nhân và quả này có 3: a. Nhân và quả cách nhau giữa 2 đời quá khứ và hiện tại. b. Nhân và quả cách nhau giữa 2 đời hiện tại và vị lai. c. Trong đời hiện tại nhân quả đều có. 9. Báo như thị(cũng gọi Như thị báo): Chỉ cho quả báo khổ, vui ở vị lai (dịch mới là Dị thục quả) do nghiệp nhân thiện ác mang lại. Giữa nhân báo và quả báo này phải cách nhau 1 đời trở lên. 10. Bản mạt cứu cánh đẳng như thị (cũng gọi Như thị bản mạt cứu cánh đẳng): Tức Tướng trong các Như thị nói trên là Bản, Báo là Mạt, Bản Mạt đều do nhân duyên hòa hợp mà sinh ra, vì thế Bản Mạt đều Không, Không là chỗ cực trí bình đẳng của các pháp. Chín loại Như thị trước đều thuộc về Sự, còn Bản mạt cứu cánh đẳng như thị thì thuộc về Lí. Nếu giải thích rõ theo 3 đế Không, Giả, Trung của tông Thiên thai, từ Không đế mà quán thì Bản Mạt đều là chân không; từ Giả đế mà quán thì Bản Mạt đều là diệu giả; từ Trung đế quán thì Bản Mạt đều là pháp giới Trung đạo. Cho nên biết 3 đế của Bản Mạt cứu cánh bình đẳng này tức là Thực tướng, còn 9 thứ Như thị trước thì là Các pháp; hợp chung Thực tướng và Các pháp lại thì chính là tông Thiên thai dùng Thập như thị để giải thích rõ yếu lí Chân như tính không của thực tướng các pháp vậy.[X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.2 thượng, 3 thượng; Pháp hoa văn cú Q.3 hạ; Pháp hoa nghĩa sớ Q.4; Thụ quyết tập Q.hạ; Thập như thị nghĩa tư kí]. (xt. Thập Như Thị, Biệt Giải Tứ Loại Thập Như Thị).

thông giới

Universal precept.

thông hiền

(通賢) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Đương hồ, tỉnh Chiết giang, hiệu Phù thạch, họ Triệu. Năm 19 tuổi, sư xin phép cha mẹ đến núi Phổ đà, lễ yết ngài Thiệu tông cầu xuất gia, do ngài Vân thê Châu hoành truyền giới Sa di. Về sau, sư đi tham học các nơi, đến chùa Kim túc học ngài Mật vân Viên ngộ vài năm và theo ngài đến đất Mân. Sau, sư bái biệt ngài Viên ngộ, đến trụ ở am Phổ tịnh, ít lâu sau, sư lại dời đến ở chùa Đông tháp tại tỉnh Chiết giang 3 năm. Trong thời gian ấy thì ngài Viên ngộ dời chùa Kim túc đến trụ chùa Thiên đồng, sư cũng theo đến Thiên đồng yết kiến ngài Viên ngộ và ở lại đó 1 năm. Sau, sư đến Vũ nguyên nhập thất. Khi nghe tin ngài Viên ngộ lâm bệnh, sư lại về tham yết và làm đệ tử nối pháp của ngài. Sau đó, sư mở rộng Thiền phong của ngài Mật vân Viên ngộ ở nhiều nơi và trong nhiều năm,không biết mỏimệt. Năm Khang hi thứ 6 (1667), sư thị tịch, thọ 75 tuổi. Sư để lại tác phẩm: Thạch phù thiền sư ngữ lục 10 quyển. [X. Tục đăng chính thống Q.33; Ngũ đăng toàn thư Q.67; Thiên đồng tự chí].

thông hiểu

To understand thoroughly.

thông hoặc

Hai thứ kiến hoặc và tư hoặc, cho rằng hình tướng bên ngoài là thực—Two all pervading deluders (taking appearance for reality) due to seeing and thinking wrongly: 1) Kiến hoặc: Seeing wrongly—See Kiến Hoặc. 2) Tư hoặc: Thinking wrongly—See Tư Hoặc. ** For more information, please see Kiến Hoặc Tư Hoặc. ; (通惑) Đối lại: Biệt hoặc. Phiền não chung. Trong 3 thứ hoặc do tông Thiên thai lập ra thì Kiến tư hoặc là những phiền não chung của hàng Tam thừa Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát cùng đoạn trừ, cho nên gọi là Thông hoặc. Còn Trần sa hoặc và Vô minh hoặc thì do Bồ tát Biệt giáo phải đoạn trừ, vì thế gọi là Biệt hoặc. (xt. Tam Hoặc).

thông huyền bách vấn

(通玄百問) Cũng gọi Thông huyền vấn đáp tập. Tác phẩm, 1 quyển, của ngài Thông huyền Viên thông đời Tống, ấn hành vào năm Thuần hựu thứ 4 (1244), được thu vào Vạn tục tạng tập 119. Nội dung sách này là 100 câu hỏi của ngài Viên thông ở am Thông huyền, phủ Quảng tín, tỉnh Giang tây và lời đáp của ngài Vạn tùng Hành tú. Sau mỗi lời đáp của ngài Hành tú, đệ tử ngài là sư Lâm tuyền Tòng luân lần lượt phụ thêm kệ tụng, do Sinh sinh đạo nhân là Từ lâm ấn hành. Người đời thường gọi chung Thông huyền bách vấn và Thanh châu bách vấn của ngài Thanh châu Nhất biện là Thông huyền Thanh châu nhị bách vấn và lưu hành song song.

Thông Huyễn Tịch Linh

通幻寂靈; J: tsūgen jakurei; 1322-1391; |Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Tào Ðộng, một trong năm vị đại đệ tử của Thiền sư Nga Sơn Thiều Thạc (gasan jōseki, 1275-1365).|Trong năm vị đại đệ tử này thì Sư là thượng thủ. Lúc còn nhỏ Sư đã đọc Kinh và năm lên 17, Sư xuất gia cầu đạo. Ban đầu, Sư đến học với Thiền sư Minh Phong Tố Triết (1277-1350) tại chùa Ðại Thừa (daijō-ji). Nơi đây, Sư tu tập không kể ngày đêm và vì vậy được tăng chúng cũng như dân dã xung quanh tôn kính. Sau hơn mười năm tu tập với Minh Phong, Sư chuyển sang Tổng Trì tự (sōji-ji) tu học với Thiền sư Nga Sơn và ngay tại đây, Sư triệt ngộ và được Nga Sơn Ấn khả.|Song song với bạn đồng học Thái Nguyên Tông Chân (taigen sáshin, ?-1370), Sư rất thành công trong việc truyền bá dòng thiền Tào Ðộng. Sư khai sáng và trụ trì nhiều thiền viện lớn và nhiều thiền sinh đến tham học dưới sự hướng dẫn của Sư – khắc khe nhưng nhiệt tình. Trong số các vị đệ tử thì Liễu Am Huệ Minh (了菴慧明; j: ryōan emyō) trội hơn hết. Liễu Am lần lượt trụ trì Tổng Trì tự, Vĩnh Trác tự (yōtaku-ji) và sau khai sáng Tối Thừa tự (saijō-ji) tại Sagami.

thông huệ

Thần thông và trí tuệ, mọi phép thần thông đều dựa vào trí tuệ làm thể (thông cũng tức là tuệ)—Supernatural powers and wisdom, the former being based on the latter.

thông hành

Con đường dẫn tới Niết Bàn—The thoroughfare, or path which leads to nirvana.

thông hóa

Phổ lực giáo hóa—Perspicacious, or influence teaching; universal powers of teaching.

thông hội

To harmonize differences of teaching.

thông kiên

(通肩) Gọi đủ: Thông lưỡng kiên. Cũng gọi Thông phi. Đắp ca sa phủ kín cả 2 vai.Khi đắp ca sa để lộ vai bên phải, gọi là Thiên đản hữu kiên; còn đắp ca sa mà trùm kín cả 2 vai thì gọi là Thông kiên. Khi tu cúng dường trước đức Phật và sư tăng thì đắp ca sa theo phép Thiên đản hữu kiên để làm việc được dễ dàng; còn khi đi khất thực, tọa thiền, tụng kinh, kinh hành...thì đắp ca sa theo phép Thông kiên để biểu thị tướng phúc điền. Lại khi đi khất thực, như vừa nói ở trên, thì đắp ca sa phủ kín 2 vai, nhưng nếu giữa đường gặp Tam sư như Hòa thượng...thì phải để lộ vai bên phải ra. Trong tượng Phật, có nhiều tượng đắp ca sa theo hình thức Thông kiên. [X.kinhXá lợi phất vấn; Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.thượng; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ; phần 1]. (xt. Thiên Đản Hữu Kiên).

thông kì

(通奇) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Minh, người Hợp châu (Hợp xuyên, Tứ xuyên), họ Thái,tự Lâm dã, người đời gọi sư là Lâm dã Thông kỳ thiền sư. Thuở nhỏ, sư y vào người chú ở chùa Kim chung là Đạo nhiên làm đồng hành (chú tiểu), thường sống lặng lẽ. Năm 17 tuổi, sư lễ ngài Liên phong ở Kiềm châu cầu xuất gia; năm 19 tuổi, sư rời đất Thục đi về phía nam, ý muốn nghiên cứu giáo điển đến nơi đến chốn, nên trụ lại ở Đương hồ tại tỉnh Hồ bắc, định đóng cửa để xem kinh giáo, nhưng đột nhiên bị bệnh kiết lị gần chết, mới nhận ra rằng cái học kinh luận chẳng phải là pháp cứu cánh; tình cờ nghe bài kệ tham thiền của ngài Thiên đồng (Vạn tục 139, 517 thượng): Khi một niệm chưa sinh, hãy thử xem hình dạng thì tựa hồ có chỗ tỉnh. Một hôm, sư trượt chân ngã xuống lầu, bỗng tỉnh ngộ, liền đến tham yết ngài Thiên đồng Viên ngộ ở Ngô môn và được ngài truyền tâm ấn. Sau đó, sư lần lượt xiển dương Thiền pháp tại các chùa danh tiếng như Thông huyền, Đông tháp, Thê chân, Thiên đồng... Năm Thuận trị thứ 9 (1652) đời Thanh, sư thị tịch, thọ 58 tuổi. Sư có tác phẩm: Lâm dã hòa thượng ngữ lục 8 quyển. [X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.8; Ngũ đăng nghiêm thống Q.24, Ngũ đăng toàn thư Q.67].

thông luận gia

(通論家) Tên khác của tông Nhiếp luận. Tức chỉ cho các Luận sư hoằng thông bộ luận Nhiếp đại thừa của ngài Vô trước. An lạc tập quyển thượng của ngài Đạo xước và phần Huyền nghĩa trong Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ của ngài Thiện đạo đời Đường, đều có đề cập đến Thông luận gia.

thông lí

(通理) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Thanh, người ở Tân hà, tỉnh Hà bắc, họ Triệu, tự Đạt nhiên. Sư xuất gia từ thủa nhỏ, theo ngài Tòng hiển Như trân học tập kinh luận. Năm 20 tuổi, sư y vào ngài Đức chương ở chùa Tụ vân tại núi Đàm chá thụ giới Cụ túc, chuyên học Luật bộ. Sau, sư ẩn cư tại núi Diệu phong thuộc tỉnh Hồ bắc, chú thích các kinh như kinh Pháp hoa... khi đọc đoạn văn Thập như thị trong phẩm Phương tiện, sư hiểu rõ được ý nghĩa của 2 thứ trí Quyền và Thực, nhờ đó mà thông suốt các kinh. Sư lại theo Luật chủ Động ông chùa Tụ vân học luật Tứ phần, được chính truyền của Luật tông Nam sơn. Rồi sư vào kinh đô giảng rõ ý chỉ Ngũ giáo Thập tông của Hoa nghiêm, nên sư được tôn làm Tổ Trung hưng Hoa nghiêm ở đời Thanh. Sư từng xem Hoa nghiêm đại sớ của ngài Trừng quán, giảng kinh Báo ân ở am Vạn duyên trên núi Ngũ đài, cảm được bồ tát Văn thù hiện đến. Năm Càn Long 18 (1753), sư vâng mệnh vua trông coi việc ấn loát của Ti Tăng lục ở Phật lâu trong vườn Viên minh, được vua ban cho áo đỏ. Năm Càn long 44 (1779), lúc vua Cao tông được 70 tuổi, sư cùng Ban thiền lạt ma đời thứ 6 vào kinh để luận về đại nghĩa Phật pháp, Lạt ma tặng sư lụa thơm, mạn đáp... Sau, sư được sắc phong danh hiệu Xiển Giáo Thiền Sư. Năm Càn long 47 (1782), sư thị tịch, thọ 82 tuổi. Sư có các tác phẩm: Lăng nghiêm kinh chỉ chưởng sớ 10 quyển, Lăng nghiêm kinh huyền thị 1 quyển, Pháp hoa kinh chỉ chưởng sớ 7 quyển, Pháp hoa kinh khoa văn 1 quyển, Pháp hoa kinh huyền thị 1 quyển, Pháp hoa kinh sự nghĩa 1 quyển và Phổ môn phẩm biệt hành sớ 1 quyển.

thông lĩnh

(葱嶺 ) Tên dãy núi trên cao nguyên Pamir, phía tây nam tỉnh Tân cương, Trung quốc, là trục giao thông chủ yếu nằm giữa các rặng núi ở đại lục Á tế a, từ xưa đã được gọi là nóc nhà của thế giới. Phía nam giáp Bắc Ấn độ, phía đông giáp nước Ô sát (Usa, hoặc Osh), phía tây giáp nước Hoạt (Kunduz) thuộc Afghanistan, phía bắc giáp Thiên sơn mà chia Tây vực thành 2 phần. Điều Hoạt quốc trong Đại đường tây vực kí (Đại 51, 940 thượng) nói: Núi Thông lĩnh nằm ở giữa châu Nam thiệm bộ, phía nam giáp núi Đại tuyết, phía bắc giáp Nhiệt hải thiền tuyền, phía tây giáp Hoạt quốc, phía đông giáp nước Ô sát. Đông, tây, nam,bắc mỗi bề dài mấy nghìn dặm, ngọn núi chập chùng mấy trăm lớp, hang sâu hiểmhóc,ngọn cao chót vót, lúc nào cũng có băng tuyết, gió lạnh cắt da. Vì cây hành(chữ Hán gọi cây hành là Thông) xanh rờn trên các sườn núi, là sản vật chủ yếu ở đây, nên gọi là Thông lĩnh(núi trồng hành). Trong 4 con sông lớn thì 2 sông Phược sô và Đồ đa bắt nguồn từ núi Thông lĩnh. Sự giao thông giữa Trung quốc và Ấn độ có 2 đường Nam, Bắc, đường phía bắc phần nhiều phải đi qua giữa các núi non trùng điệp của rặng núi này.Con đường mà các vị cao tăng như ngài Pháp hiển đời Đông Tấn, ngài Xà na quật đa, Đạt ma cấp đa đời Tùy, Huyền trang, Tuệ siêu, Ngộ không... đời Đường đi về phía tây đến Ấn độ, hoặc đi sang phía đông đến Trung quốc phải trải qua phần nhiều đều thuộc khu vực dãy núi này. [X. Thích ca phương chí Q.thượng; Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng; Giải thuyết tây vực kí].

thông lệ

General rule.

thông lợi

Trí thông minh sắc bén như lưỡi dao, có thể xuyên qua chân lý—Intelligence keen as a blade, able to penetrate truth.

thông lực

Tác dụng của sức mạnh thần thông không chướng ngại—The capacity to employ supernatural powers without hindrance. a) Thần Thông: Thông lực của chư Phật và chư Bồ Tát—Buddhas or Bodhisattvas, etc, have spiritual or transcendent power. b) Nghiệp Thông: Thông lực của quỷ thần đạt được bằng nghiệp lực—Demons have magical powers acquired through their karma. ; (通力) Lực dụng không thể nghĩ bàn của thần thông hay nghiệp thông. Thần thông mà Phật, Bồ tát và các tiên nhân ngoại đạo đạt được có 5 thông, 6 thông khác nhau; các thông lực này gọi là Thần thông. Còn thông lực mà các loại quỉ thần, hồ li... có được thì gọi là Nghiệp thông, do nghiệp lực sinh ra. Theo Hoa nghiêm đại sớ quyển 3 ghi thì Thông lực có 3 thứ: 1. Báo đắc thông lực: Chư thiên trong 3 cõi đều có 5 thứ thần thông, quỉ thần cũng có tiểu thông. Loại thần thông này do quả báo tự nhiên cảm được. 2. Tu đắc thông lực: Các bậc Thánh tam thừa nhờ tu Tam học mà cảm được 6 thông, các tiên nhân ngoại đạo tu thiền cũng cảm được 5 thông. 3. Biến hóa thông lực: Bậc Thánh Tam thừa có khả năng biến hiện các thứ thần thông lực. Luận Đại tì bà sa quyển 89 (Đại 27, 509 thượng) nói: Chúng ta đều do Phạm vương hóa ra, từ ngài mà sinh, ngài là cha chúng ta, cho nên do thông lực, ngài khởi lên niệm này. (xt. Ngũ Thông, Thần Thông, Nghiệp Thông).

thông minh

Intelligent.

thông minh hay ngu dốt

Intelligent or stupid—Intelligent or simple.

thông minh huệ

See Thông Minh Tuệ. ; (通明慧) Tức chỉ cho Lục thông, Tam minh và Tam tuệ. Lục thông(cũng gọi Lục thần thông): Tức thứ diệu dụng tự tại vô ngại do năng lực định tuệ của Phật, Bồ tát thị hiện ra. Đó là: Thần túc thông chứng (bay đi tự tại), Thiên nhĩ thông chứng (nghe rất xa), Tri tha tâm thông chứng (biết rõ tâm niệm người khác), Túc mệnh thông chứng (biết các việc ở đời trước), Thiên nhãn thông chứng (thấy rất xa) và Lậu tận thông chứng (Thần thông do dứt hết các phiền não mà có). Tam minh:Tức trí tuệ sáng suốt, nhờ đến địa vị Vô học, trừ hết ngu tối, đối với 3 việc(hơi thở, sắc, tâm) thông suốt vô ngại mà có được 3 loại trí này. Đó là: Túc mệnh trí chứng minh(trí biết rõ các việc đời trước), Sinh tử trí chứng minh(Trí biết rõ việc sống chết) và Lậu tận trí chứng minh(trí thấy rõ lí 4 đế như thực nhờ đã dứt hết phiền não). Tam tuệ: Chỉ cho Văn tuệ, Tư tuệ, Tu tuệ; là 3 thứ tác dụng tinh thần phân biệt sự và lí. Tức trí tuệ do nghe chính pháp, suy tư về chính pháp và tu hành chính pháp mà thành. (xt. Tam Minh, Tam Tuệ, Lục Thông).

thông minh thiền

(通明禪) Cũng gọi Thông minh quán thiền, Thông minh quán. Một trong các loại Thiền định. Chỉ cho pháp thiền quán xét hơi thở, sắc và tâm mà bậc Thánh A lahán thực hành khi tu 9 định thứ đệ: Bốn định cõi Sắc, 4 định cõi Vô sắc và định Diệt tận. Khi tu thiền định này, hành giả phải quán xét chung hơi thở, sắc, tâm và thấy rõ suốt một cách vô ngại, cho nên gọi là Thông minh; lại nữa, tu định này cũng được 6 thông, 3 minh, cho nên gọi Thông minh. Kinh Đại phương đẳng đại tập từ quyển 22 trở đi có luận về pháp thiền này, nhưng chưa có tên Thông minh thiền.Ở Trung quốc, các Thiền sư miền Bắc trước thời ngài Thiên thai Trí khải tu chứng được loạiThiền này, từ đó mới có tên Thông minh thiền. Ma ha chỉ quán quyển 9 thượng (Đại 46, 121 thượng) nói: Kế đến là Thông minh thiền phát tướng, khi tu đặc thắng quán tuệ thì hầu như thấy hết 36 vật và chứng tướng cũng gồm đủ. Khi tu Thông minh, khi chứng vi tế rõ ràng, Hoa nghiêm cũng có tên gọi này. Đà la ni Đại tập biện bảo cự chính là Thiền định này; thỉnh Quán âm cũng là ý này. Khi tu chung 3 việc thì có năng lực phát ra 3 thông, 6 thông. Tướng tu chứng loại thiền này như sau: 1. Lúc vào Sơ thiền: Dứt lìa 5 cái(5 phiền não tham dục, sân khuể, thụy miên, trạo hối, nghi), có đủ 5 chi: Giác, quán, hỉ, an, định, xem 3 việc: Hơi thở, sắc, tâm như đám bọt nước. 2. Lúc vào Nhị thiền: Dứt trừ 5 cái, có đủ 3 chi: Hỉ, an, định, xem 3 việc như mây nổi.3. Lúc vào Tam thiền: Dứt trừ 5 cái, có đủ 5 chi: Niệm, xả, tuệ, an, định,xem 3 việc như bóng. 4. Lúc vào Tứ thiền: Dứt lìa 5 cái, có đủ 4 chi: Niệm, xả, không khổ không vui, định, xem 3 việc như tượng như gương. 5. Lúc vào định không xứ: Diệt hết 3 việc, thấy tất cả đều không. 6. Vào định Thức xứ: Đoạn diệt cái Không ấy, duyên theo thức. 7. Vào định Vô sở hữu xứ: Đoạn diệt thức, duyên theo vô sở hữu. 8. Vào định Phi tưởng phi phi tưởng: Đoạn diệt vô sở hữu, duyên theo Phi tưởng phi phi tưởng. 9. Vào định Diệt tận: Đoạn trừ 3 thứ thụ tưởng như Phi tưởng phi phi tưởng... thân chứng pháp diệt thụ tưởng. [X. Pháp giới thứ đệ Q.thượng].

thông minh tuệ

Trong Lục Thông, có ba loại “Minh” và ba loại “Tuệ”—In the six supernatural powers, there are three types of knowledge and three types of prajna. ** For more information, please see Lục Thông.

thông môn

(通門) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh, người Thường thục, tỉnh Giang tô, họ Trương, hiệu Mục vân, người đời gọi sư là Mục vân Thông môn thiền sư. Sư vốn là người thông minh, học rộng, giỏi văn chương, thư họa. Sư theo ngài Động Văn ở chùa Hưng Phúc tại Ngu Sơn. Ban đầu, sư tham yết ngài Vô dị Nguyên lai, sau, sư đến chùa Kim túc tham yết ngài Mật vân Viên ngộ và được truyền tâm ấn. Năm Vạn lịch thứ 8 (1580), sư ra trụ ở Cổ nam thiền viện, huyện Gia Hưng, tỉnh Chiết giang, người đến theo học rất đông. Sư từng hoằng pháp ở các chùa danh tiếng như Thê chân, Mai khê, Hưng phúc, Cực lạc, Hạc lâm, Thiên đồng cảnh đức... Về sau, sư ẩn tu hơn 10 năm, chỗ ở không nhất định. Năm Khang Hi thứ 10 (1671), sư thị tịch ở tĩnh thất Thạchhồ, thọ 73 tuổi. Sư có các tác phẩm: Mục vân hòa thượng ngữ học 20 quyển, Mục vân hòa thượng thất hội dư lục 6 quyển. [X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.8; Ngũ đăng nghiêm thống Q.24; Ngũ đăng toàn thư Q.67].

thông mẫn

Wise—Clever.

thông nhẫn

(通忍) Cao tăng Trung Quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh, người ở Tì lăng, Thường châu (Giang tô), họ Trần, hiệu Triều tông, người đời gọi sư là Triều tông Thông nhẫn thiền sư. Năm 20 tuổi, sư theo ngài Độc Tri ở am Trường Sinh, huyện Tĩnh Giang, tỉnh Giang tô xuất gia, được nghe thuyết Vô sinh. Sau, sư đến chùa Kim túc tham yết ngài Mật vân Viên ngộ, làm thị giả hầu ngài. Năm Sùng trinh thứ 4 (1631), sư theo ngài Viên Ngộ đến núi A dục vương, ngài Viên ngộ nhìn vào lời dạy của Thiền sư Đại thiên được khắc trên tấm bia chùa mà bảo sư rằng (Vạn tục 139, 514 hạ): Hổ dữ trong núi ăn thịt để sống, tại sao không ăn thịt nó? Toàn thân sư đẫm mồ hôi như mưa, ngồi nằm không yên.Hai ngày sau, tình cờ từ bên ngoài bước vào liêu, bỗng có chỗ ngộ, liền thưa ngài Viên ngộ rằng: Chỉ người tự nhận ra mình mới là thân, lại trình kệ và được ấn khả. Về sau, sư lần lượt hoằng pháp ở các chùa danh tiếng như: Kỳ đà lâm ở Kim lăng, chùa Linh hựu ở Hải diêm, viện Linh thạch ở Phúc châu, chùa Thượng sinh ở núi Tào sơn tại Bồ điền, chùa Nam hoa ở Tào khê tại Quảng đông, chùa Bảo hoa, núi Cung công, tỉnh Giang tây... Năm Thuận trị thứ 5 (1648) đời Thanh, sư thị tịch, hưởng dương 45 tuổi.Sư có tác phẩm: Triềutông thiền sư ngữ lục 10 quyển. [X. Tục chỉ nguyệt lục Q.19; Hoằng Sơn chí Q.2].

thông niệm phật

Niệm chung danh hiệu chư Phật ba đời—To call on the Buddhas in general, not not limit to any specific Buddha. ; (通念佛) Đối lại: Biệt niệm Phật. Thông niệm Phật là niệm chung danh hiệu của chư Phật trong3đời, còn Biệt niệm Phật là chỉ niệm riêng danh hiệu của một đức Phật. (xt. Niệm Phật).

thông phật giáo

(通佛教) Phật giáo chung. Nghĩa là lí Phật giáo là thông suốt toàn bộ nền Phật giáo, chứ không thiên về một tông một phái nào.

thông suốt

To penetrate (understand) thoroughly.

Thông Thiền

通禪; ?-1228|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông pháp hệ thứ 13. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Thường Chiếu và truyền lại cho đệ tử là Tức Lự.|Sư họ Ðặng, quê ở làng Ốc, An La. Sư cùng Thiền sư Thần Nghi thờ Thường Chiếu làm thầy.|Một hôm, Sư vào thất hỏi: »Làm thế nào để biết rõ Phật pháp?« Thường Chiếu đáp: »Phật pháp không thể biết rõ, đây đâu có pháp để biết. Chư Phật như thế, tu tất cả pháp mà không thể được.« Sư nhân đây lĩnh ngộ ý chỉ.|Sau, Sư về cố hương trụ trì chùa Lưỡng Pháp, học chúng đến rất đông. Niên hiệu Kiến Trung thứ 4 đời Trần Thái Tông, Sư viên tịch.

thông thiền thiền sư

Zen Master Thông Thiền (?-1228)—Thiền sư Việt Nam, quê ở An La, Bắc Việt. Ngài là đệ tử của Thiền sư Thường Chiếu tại chùa Lục Tổ. Sau khi trở thành pháp tử đời thứ 13 dòng Thiền Vô Ngôn Thông, ngài trở về làng cũ để chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo cho đến khi ngài thị tịch vào năm 1228—A Vietnamese Zen master from An La, North Vietnam. He was a disciple of Zen master Thường Chiếu at Lục Tổ Temple. After he became the dharma heir of the thirteenth generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect, he returned to his home town to revive and expand Buddhism there. He passed away in 1228.

thông thuộc

To know perfectly.

thông thái

A learned man—Savant—A well-known scholar.

thông thân biệt thân

(通申別申) Trình bày toàn thể gọi là Thông thân, trình bày một sự kiện đặc biệt thì gọi là Biệt thân. Bộ luận hiển bày rõ ràng giáo nghĩa trong các kinh, gọi là Thông thân luận; trái lại, bộ luận chỉ trình bày rõ giáo nghĩa của một bộ kinh đặc biệt thì gọi là Biệt thân luận. Chẳng hạn như Trung luận và Nhiếp đại thừa luận là các luận thuyết minh chung về giáo nghĩa các kinh Đại thừa, cho nên thuộc Thông thân luận; còn luận Đại trí độ thì chỉ giải thích riêng bộ kinh Bát Nhã, cho nên thuộc Biệt thân luận.Trong Tam luận huyền nghĩa, ngài Cát tạng nói rằng: Luận có Thông luận và Biệt luận. Luận phá chung mê chấp của Đại thừa, Tiểu thừa và diễn bày giáo nghĩa Đại thừa, Tiểu thừa, gọi là Thông luận; nếu luận chỉ phá riêng mê chấp của Đại thừa, Tiểu thừa và trình bày giáo nghĩa của Đại thừa, Tiểu thừa thì gọi là Biệt luận. Trong Tứ giáo nghĩa, ngài Trí khải cũng liệt kê các luận Đại thừa thuộc Thông thân(như luận Nhiếp đại thừa, luận Thành duy thức, Trung luận...); các luận Tiểu thừa thuộc thông thân(như A tì đàm, Thành thực...); các luận Đại thừa thuộc Biệt thân (như luận Đại trí độ); các luậnTiểu thừa thuộc Biệt thân (như luận A tì đàm tì bà sa)khác nhau. Còn trong Tịnh độ giáo, đối với bộ luận Tịnh độ của ngài Thế thân thì rốt cuộc thuộc về Tam kinh thông thân (trình bày chung giáo nghĩa của cả 3 bộ kinh Tịnh độ là kinh Vô lượng thọ, kinh Quán vô lượng thọ và kinh A di đà) hay thuộc về Vô lượng thọ kinh biệt thân(chỉ trình bày giáo nghĩa riêng của kinh Vô lượng thọ)? Về vấn đề này, từ xưa đã có nhiều ý kiến khác nhau.

thông thân thị thủ nhãn

(通身是手眼) Tiếng dùng trong Thiền lâm.Vốn chỉ cho toàn thân đều là tay, toàn thân đều là mắt; trong Thiền lâm, nhóm từ này được sử dụng để nêu rõ ý quên mất sự đối lập chủ khách mà đạt đến cảnh giới nhất như. Bích nham lục tắc 89 (Đại 48, 213 hạ) ghi: Ngài Vânnham hỏi ngài Đạo ngô: Bồ tát Đạibi dùng nhiều tay nhiều mắt để làm gì?.Ngài Đạo ngô đáp: Giống như người lúc nửa đêm vói tay về sau lưng mò chiếc gối.Ngài Vân nham nói: Tôi hiểu rồi. Ngài Đạo ngô hỏi: Ông hiểu cái gì? Ngài Vân nham đáp: Toàn thân là tay mắt. Ngài Đạo ngô bảo: Đã nói thì phải nói cho cùng tột, ông mới chỉ nói được 8 phần. Ngài Vân Nham hỏi lại: Vậy sư huynh hiểu thế nào?. Ngài Đạo Ngô nói: Toàn thân là tay mắt!. [X. Bích nham lục tắc 18; Thung dung lục tắc 54].

thông thạo

Expert.

thông thụ biệt thụ

(通受別受) Cũng gọi Tổng thụ biệt thụ. Khi thụ giới, thụ tổng quát gọi là Thông thụ; còn thụ riêng từng phần một thì gọi là Biệt thụ. Như lúc thụ Tam qui, trước hết qui y Phật, kế đến qui y Pháp, sau cùng qui y Tăng, tuần tự theo thứ lớp như thế, thụ riêng từng phần một, đó là Biệt thụ. Nếu cùng lúc, thụ tổng quát xướng đủ qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng thì là Thông thụ. Cũng như lúc thụ Thập giới, trước hết thụ giới không giết hại, kế đến thụ giới không trộm cắp, cho đến sau cùng thụ giới không cất giữ vàng bạc châu báu, theo thứ tự như thế, thụ riêng từng giới một thì là Biệt thụ; còn nếu xướng: Một không giết hại, hai không trộm cắp, cho đến mười không nắm giữ vàng bạc châu báu, cùng lúc thụ đủ 10 giới, gọi là Thông thụ. Khi thụ Bồ tát tam tụ tịnh giới cũng có chia ra Thông thụ và thụ, thụ tổng quát Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới, Nhiếp chúng sinh giới, gọi là Thông thụ; còn nếu y cứ riêng vào Nhiếp luật nghi giới mà thụ các thứ giới khác nhau của 7 chúng như 5 giới, 8 giới, 10 giới, giới Cụ túc thì gọi là Biệt thụ. Tức là Nhiếp thiện pháp giới, Nhiếp chúng sinh giới chỉ có Thông thụ, còn Nhiếp luật nghi giới thì có cả Thông thụ và Biệt thụ. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.16; Phạm Võng kinh Bồ Tát giới bản sớ Q. thượng (Nghĩa tịch); Luật tông cương yếu Q. thượng; luận Hiển giới Q. trung]. (xt. Tam TụTịnhGiới, ThụGiới).

thông tri

To notify—To advise—To announce.

thông tuý

(通醉) Thiền tăng Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người ở Nộigiang, tỉnh Tứxuyên, họ Lí, tự Trượng tuyết. Sư lễ ngài Thanh nhiên ở núi Cổ tự cầu xuất gia và được độ. Một hôm, sư đọc kinh Pháp hoa đến câu (Đại 9, 9 thượng): Dù chỉ đưa một tay lên, hoặc lại hơi cúi đầu (...) cũng đều thành Phật đạo liền kỳ vọng đắc đạo, nên sư đến núi Nga mi tu niệm. Sau, sư nghe biết đạo phong ngài Mật vân Viên ngộ, bèn chuyển sang tu thiền, ở ẩn tại núi Cổ tự để đọc ngữ lục của các thiền sư, tham yết đệ tử nối pháp của ngài Viên ngộ ở Vạn phong là Thiền sư Phá sơn Hải minh. Mùa thu năm Sùng trinh thứ 9 (1636), sư đến chùa Thiên đồng tham yết ngài Viên ngộ được đại ngộ, sư trở về Vạn phong được thiền sư Hải minh ấn khả. Niên hiệu Vĩnh lịch năm đầu (1647), sư lánh nạn đến Tuân nghĩa; năm Vĩnh lịch thứ 3 (1649), sư đổi thiền viện Long hưng ở thượng lưu sông An lạc tại tỉnh Giang tây thành Vũ môn và lấy đó làm đạo tràng hoằng dương Thiền pháp, nhóm các Thiền sinh từ khắp nơi về giảng truyền suốt 12 năm, các học trò sư như Triệt cương... ghi chép hạnh nghiệp của sư trong thời gian này mà tập thành Kỉ niên lục 1 quyển. Sư từng gom chép các pháp ngữ và hành trạng của tăng tục xưa nay gồm 1010 vị, trải hơn 30 năm, tập thành bộ Cẩm giang thiền đăng 20 quyển và mục lục 1 quyển (1627). Năm Khang hi 34 (1695) đời Thanh, sư thị tịch, thọ 86 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Ngữ lục 12 quyển, Lí trung hành 1 quyển, Thanh tùng thi tập 1 quyển, Tạp trứ văn 2 quyển. [X. Tân tục cao tăng truyện Q.24; Minh quí Điềnkiềm Phật giáo khảo Q.1, 2).

thông tuệ

See Thông Huệ.

Thông Tải

(通載, Tsūsai): xem Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải (佛祖歷代通載, Bussorekidaitsūsai) ở trên.

thông vi

(通微) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh, người ở huyện Gia Hưng, tỉnh Chiết Giang, họ Trương, tự là Vạn Như, người đời gọi sư là Vạn Như Thông Vi thiền sư. Năm 19 tuổi, sư xuất gia và thụ giớiCụ túc ở chùa Hưng thiện. Ban đầu, sư tham yết ngài Văn cốc, lại lần lượt tham yết các bậc danh túc. Một hôm, sư tình cờ xem kinh Lăng nghiêm đến câu (Đại 19, 111 trung): Cái gì trả về được thì tự nhiên chẳng phải là ông, cái không trả về được chẳng phải ông thì là ai? tựa hồ có chỗ được. Sư bèn đến chùa Kim túc tham yết ngài Mật vân Viên ngộ, nhưng qua thời gian khá lâu mà không khế hợp. Một hôm, sư vào thành, thấy người nhà bên đường đánh mắng đứa ở (Vạn Tục 141, 202 thượng): Nào! Xem mày giấu ở đâu?, sư bỗng toàn thân hớn hở được ngộ,sau được nối pháp ngài Viên ngộ. Năm Sùng trinh 13 (1640), sư khai pháp ở viện Như như, sau dời đến ở Tào sơn tại Bồ châu, sau lại dời đến núi Longtrì hoằng hóa hơn 10 năm. Năm Thuận trị 14 (1657) đời Thanh, sư thị tịch,thọ64 tuổi. Sư có tác phẩm: Vạn như Vi thiền sư ngữ lục 10 quyển, hiện được thu vào Minh tục tạng tập 70. [X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.8; Ngũ đăng toàn thư Q.66; Tục chỉ nguyệt lục Q.19].

thông vinh

Thiền Sư Thông Vinh—Zen Master Thông Vinh—Thiền sư Việt Nam, quê ở Hải Dương. Thuở nhỏ ngài xuất gia tại chùa Hàm Long. Về sau, ngài theo làm đệ tử Hòa Thượng Phúc Điền và trở thành Pháp tử đời 44 dòng Lâm Tế. Phần lớn cuộc đời ngài chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo tại Bắc Việt. Ngài thị tịch hồi nào và ở đâu không ai biết—A Vietnamese Zen master from Hải Dương. He left home at his young age to go to Hàm Long Temple to become a monk. Later, he became a disciple of Most Venerable Phúc Điền. He was the Dharma heir of the 44th generation of the Linn-Chih Zen Sect. He spent most of his life to revive and expand Buddhism in North Vietnam. His whereabout and when he passed away were unknown.

thông vân

(通雲) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh, người tỉnh Giangtô, họ Từ, tự Thạch kì, người đời gọi sư là Thạch kì Thông vân thiền sư. Từ nhỏ, sư đã nhiều bệnh. Sau, sư cầu xuất gia ở chùa Nam quảng, học thông nội điển và ngoại điển. Một hôm, tình cờ sư xem bài kệ do ngài Trung phong Minh bản viết trên vách chùa Hộ quốc ở huyện Gia định, tỉnh Giang Tô mà có cảm ngộ, sư bèn đến tham yết ngài Trạm nhiên Viên trừng chùa Hiển thánh, rồi lại tham yết ngài Mật vân Viên ngộ, thường trình lên chỗ thấy biết của mình, nhưng lần nào cũng bị ngài Viên ngộ quát mắng. Một hôm, sư vừa bước vào thất chưa kịp mở miệng thì ngài Viên ngộ đã giơ gậy lên đánh, sư liền đại ngộ, những điều nghi ngờ trước nay bỗng tan biến hết. Năm Sùng trinh 14 (1641), sư trụ Linh thứu thiền tự ở tỉnh Chiết giang, mở rộng Thiền pháp. Sau, sư còn lần lượt hoằng pháp, giáo hóa ở các chùa như Tịnh cư thiền tự ở núi Cảnh tinh thuộc huyện Thiên Thai, chùa Tư Thánh, núi Tuyết Đậu, Phổ Nhuận thiền viện, Hương Sơn thiền tự, Mật ấn thiền tự, núi Phổ Đà, tỉnh Chiết Giang... Năm Khang Hi thứ 2 (1663) đời Thanh, sư thị tịch, thọ 70 tuổi. Sư có tác phẩm: Tuyết đậu Thạchkì thiền sư ngữ lục 15 quyển.

thông vấn

(通問) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh, người ở Ngôgiang, tỉnh Giangtô, họ Du, hiệu Nhượcam, người đời gọi sư là Nhược am Thôngvấn thiền sư. Thân phụ sư đã nhiều tuổi, lo không con nên đến chùa Thứu phong mở hội Vô già 100 ngày cầu tự, sau sinh ra sư đúng theo sở nguyện. Lúc ấu thơ sư đã mất nơi nương tựa, năm 16 tuổi mới lập chí học hành, đọc nhiều sách vở. Một hôm, tình cờ sư xem kinh Lăng nghiêm, tựa hồ như có chỗ ngộ, sư liền đến Khánh sơn tham yết ngài Tham ẩn Viên tu, đã lâu mà không khế hợp. Năm 24 tuổi sư bị ép buộc kết hôn, bèn nửa đêm đi đến chùa Lí An tại Nam Giản lễ ngài Pháp vũ Phật thạch cầu xuất gia, rồi đến chùa Kim túc thờ ngài Mật vân Viên ngộ làm thầy, không được khế hợp, sư lại trở về Khánh sơn. Một hôm, sư nghe tiếng gió thổi ngoài sườn núi mà có chỗ tỉnh ngộ. Sau, sư trụ chùa Lí an, lại dời đến Giáp sơn, qua lại các vùng thuộc Giang đông, lấy việc khôi phục những ngôi chùa đã hoang phế và tạo hoàn cảnh yên ổn cho tăng ni tu học làm nghĩa vụ chính. Năm Thuận Trị 12 (1655) đời Thanh, sư thị tịch ở chùa Ứngthiên tại Namtầm, tỉnh Giang Tô, hưởng thọ 52 tuổi. Sư để lại các trứ tác: Ngũ hội ngữ lục 12 quyển, Tục Đăng tồn cảo 20 quyển, Khánh thất hậu lục 1 quyển. [X. Chính nguyên lược tập Q.2; Ngũ đăng toàn thư Q.68; Tục chỉ nguyệt lục Q.19].

thông điệp

Message—Diplomatic note.

thông điệp bất tử

Immortal message—The Buddha's teaching is an immortal message to all of us.

thông điệp vượt thời gian

Timeless message.

thông đạo quán

(通道觀) Tháng 5 năm Kiến đức thứ 3 (574) đời Vũ đế nhà Bắc Chu phế bỏ Phật giáo và Đạo giáo, vì muốn bồi dưỡng và bảo tồn nghĩa lí căn bản của 2 tông giáo này nên các nhân sĩ thiết lập Thông đạo quán, chọn các nhân tài ưu tú trong giới tăng lữ, đạo sĩ đã bị bắt buộc hoàn tục trong pháp nạn để làm học sĩ ở Thông đạoquán, mặc áo, đội mũ, cầm hốt, đi giày, giảng Lão Trang, Chu dịch, kiêm nghiên cứu kinh Phật. Những học giả trong Thông đạo quán thuộc giới tăng lữ Phật giáo thì có Phổ khoáng, Nhậm đạo lâm, Ngạn tông...Khi Vũ đế mất vào năm Kiến đức thứ 7 (578) thì Thông đạo quánvẫn còn, về sau, nó bị bãi bỏ vào lúc nào thì không được biết. [X. Truyện ngài Đạo an trong Tục cao truyện Q.23; Đại đường nội điển lục Q.5; Vũ đế kỉ trong Chu thư Q.5; Hán Ngụy Lưỡng Tấn Nam Bắc triều Phật giáo chương 14].

thông đạt

Hiểu rõ—To pervade—To perceive—To understand thoroughly.

thông đạt bồ đề tâm

Đạt được Bồ Đề Tâm nhờ vào vị Thầy (A Xà Lê) dạy dỗ, một trong Ngũ Tướng Thành Thân—To attain to the enlightened mind; the stage where one understands the truth, one of the five stages in Vairocana Buddhahood. ** For more information, please see Ngũ Chuyển, and Ngũ Tướng Thành Thân.

thông đạt phật đạo

Entering the Buddha Path—Theo Kinh Duy Ma Cật, chương tám, phẩm Phật Đạo, cư sĩ Duy Ma cật đã nói về “Thông Đạt Phật Đạo” như sau—According to the Vimalalkirti Sutra, chapter eighth, the Buddha Path, Upasaka Vimalakirti explained to Manjusri Boshisattva about “Entering the Buddha Path” as follows: • Bấy giờ ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi ông Duy Ma Cật rằng: “Bồ Tát thế nào là thông đạt Phật đạo?”—Manjusri asked Vimalakirti: “How does a Bodhisattva enter the Buddha path?” • Duy Ma Cật đáp: “Bồ Tát thực hành phi đạo (trái đạo) là thông đạt Phật đạo.”—Vimalakirti replied: “If a Bodhisattva treads the wrong ways (without discrimination) he enters the Buddha path.” • Văn Thù Sư Lợi hỏi: “Thế nào là Bồ Tát thực hành phi đạo?”—Manjusri asked: “What do you mean by a Bodhisattva treading the wrong ways?” • Duy Ma Cật đáp: “Nếu Bồ Tát gây năm tội vô gián mà không buồn giận, đến ở trong địa ngục mà không có tội cấu; đến trong loài súc sanh mà không có những lỗi vô minh kiêu mạn; đến trong ngạ quỷ mà vẫn đầy đủ công đức; đến cảnh sắc và vô sắc giới mà không cho là thù thắng; hiện làm tham dục mà không nhiễm đắm; hiện làm giận dữ mà đối với chúng sanh không có ngại gì; hiện cách ngu si mà dùng trí tuệ điều phục tâm mình; hiện làm hạnh tham lam bỏn xẻn mà bỏ tất cả của cải, không tiếc thân mạng; hiện pháp giới cấm mà ở trong tịnh giới, đến như tội bé nhỏ cũng hết lòng sợ sệt; hiện làm thù hận mà thường từ bi nhẫn nhục; hiện làm lười biếng mà siêng tu các công đức; hiện làm loạn ý mà thường niệm định; hiện làm ngu si mà thông đạt trí tuệ thế gian và xuất thế gian; hiện làm dua dối mà phương tiện thuận theo nghĩa các kinh; hiện làm kiêu mạn mà đối với chúng sanh mình cũng như cầu đó; hiện làm tất cả phiền não mà lòng thường thanh tịnh; hiện vào trong chúng ma mà thuận theo trí tuệ của Phật, không theo đạo giáo khác; hiện làm hàng Thanh Văn mà nói các pháp chưa từng nghe cho chúng sanh; hiện vào hàng Bích Chi Phật mà thành tựu lòng đại bi, giáo hóa chúng sanh; hiện vào hạng nghèo nàn mà có tay đầy đủ công đức; hiện vào hạng tàn tật mà đủ tướng tốt để trang nghiêm thân mình; hiện vào hạng hèn hạ mà sanh trong dòng giống Phật, đầy đủ các công đức; hiện vào hạng người ốm yếu xấu xa mà được thân Na la diên (kim cang), tất cả chúng sanh đều muốn xem; hiện vào hạng già bệnh mà đoạn hẳn gốc bệnh, không còn sợ chết; hiện làm hạng giàu có mà xem là vô thường, không có tham đắm; hiện có thê thiếp, thế nữ mà tránh xa bùn lầy ngũ dục; hiện nơi hạng đần độn mà thành tựu biện tài, vẫn giữ tổng trì; hiện vào tà tế mà dùng chánh tế độ chúng sanh; hiện vào khắp các đạo, để đoạn đứt nhơn duyên; hiện vào Niết Bàn mà không bỏ sanh tử. Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Nếu Bồ Tát làm được những việc trái đạo như thế, đấy là thông suốt Phật đạo.”—Vimalakirti replied: “(In his work of salvation) if a Bodhisattva is free from irritation and anger while appearing in the fivefold uninterrupted hell; is free from the stain of sins while appearing in (other) hells; is free from ignorance, arrogance and pride while appearing in the world of animals; is adorned with full merits while appearing in the world of hungry ghosts; does not show his superiority while appearing in the (heavenly) worlds of form and beyond form; is immune from defilements while appearing in the world of desire; is free from anger while appearing as if he were resentful; uses wisdom to control his mind while appearing to be stupid; appears as if he were greedy but gives away all his outer (i.e. money and worldly) and inner (i.e. bodily) possessions without the least regret for his own life; appears as if he broke the prohibitions while delighting in pure living and being apprehensive of committing even a minor fault; appears as if he were filled with hatred while always abiding in compassionate patience; appears as if he were remiss while diligently practicing all meritorious virtues; appears as if he were disturbed while always remaining in the state of serenity; appears as if he were ignorant while possessing both mundane and supramundane wisdoms; appears as if he delighted in flattering and falsehood while he excels in expedient methods in conformity with straightforwardness as taught in the sutras; shows arrogance and pride while he is as humble as a bridge; appears as if he were tormented by troubles while his mind remains pure and clean; appears in the realm of demons while defeating heterodox doctrines to conform with the Buddha wisdom; appears in the realm of sravakas where he expounds the unheard of supreme Dharma; appears in the realm of pratyeka-buddhas where he converts living beings in fulfillment of great compassion; appears amongst the poor but extends to them his precious hand whose merits are inexhaustible; appears amongst the crippled and disabled with his own body adorned with the excellent physical marks (of the Buddha); appears amongst the lower classes but grows the seed of the Buddha nature with all relevant merits; appears amongst the emaciated and ugly showing his strong body to the admiration of them all; appears as an old and ill man but is actually free from all ailments with no fear of death; appears as having all the necessities of life but always sees into impermanence and is free from greed; appears to have wives, concubines and maids but always keeps away from the morass of the five desires; appears amongst the dull-witted and stammerers to help them win the power of speech derived from the perfect control of mind; appears amongst heretics to teach orthodoxy and deliver all living beings; enters all worlds of existence to help them uproot the causes leading thereto; and appears as if entering nirvana but without cutting off birth and death; Manjusri, this Bodhisattva can tread heterodox ways because he has access to the Buddha path.”

thông đạt tâm

See Thông đạt Bồ đề tâm. ; (通達心) Cũng gọi Thông đạt bản tâm. Gọi đủ: Thông đạt bồ đề tâm. Một trong Ngũ tướng thành thân quán. Chỉ cho hành giả đầu tiên nhờ sự khai thị của vị A xà lê mà quán xét thông suốt tâm bồ đề sẵn có đầy đủ tính đức của mình. Đây là giai vị tu pháp quán Tâm nguyệt luân. Tức quán tưởng tâm mình trụ trong Tam ma địa, miệng tụng chân ngôn Tự tính thành tựu; quán tưởng hình dáng tâm mình giống như vầng trăng, ẩn trong lớp sương mỏng. Sương mỏng tượng trưng cho vô minh, vầng trăng tượng trưng cho tâm bồ đề thanh tịnh sẵn có; hành giả cứ theo đó mà quán thì dần dần sẽ gột sạch vọng tưởng vô minh. (xt. Ngũ Tướng Thành Thân Quán).

thông đạt vị

(通達位) Cũng gọi Kiến đạo vị, Kiến vị, Kiến địa.Chỉ cho giai vị thông đạt chân như, là 1 trong 5 giai vị tu hành(Duy thức ngũ vị) để ngộ nhập Chân như duy thức do tông Duy thức lập ra. Tức ở giai vị này, Bồ tát đã chứng được trí Vô phân biệt, dứt trừ tất cả tâm phân biệt về năng thủ, sở thủ, thể nhập pháp giới bình đẳng. Nghĩa là trongThế đệ nhất pháp(1 trong 4 giai vị Thiện căn), hành giả nương theo định Vô gián, sinh khởi trí như thực thượng phẩm, ấn chứng lí không của năng thủ, sở thủ, được trí vô phân biệt căn bản, xa lìa tâm sở đắc(tâm còn thấy có cái để được), chứng biết rõ ràng chân lí Nhân không, Pháp không, đoạn trừ tùy miên phân biệt về Phiền não chướng và Sở tri chướng, chân chính trụ trong thực tính Duy thức gọi là Thông đạt vị. Theo luận Thành duy thức quyển 9 thì giai vị này có Chân kiến đạo và Tướng kiến đạo khác nhau. Chân kiến đạo là trí vô phân biệt căn bản, thực chứng chân như của tính Duy thức, đoạn trừ Tùy miên phân biệt, tuy trải qua nhiều sát na mới được rốt ráo nhưng tướng của các sát na ấy bằng nhau, cho nên gọi chung là Nhất tâm chân kiến đạo. Còn Tướng kiến đạo thì thuộc về trí Hậu đắc, tức chứng được tướng Duy thức. Tướng kiến đạo lại còn có Hành tướng tướng kiến đạo và Cửu tâm tướng kiến đạo khác nhau. Hành tướng tướngkiến đạo lại chia làm 3 tâm tướng kiến đạo và 16 tâm tướng kiến đạo. Khi Bồ tát vào Chân kiến đạo và Tướng kiến đạo thì liền sinh trong nhà Như lai, trụ nơi Cực hỉ địa (Sơ địa). [X. phẩm Chân thực trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận]. (xt. Kiến Đạo).

thông đồ

Con đường rộng mở (đưa đến Niết Bàn)—Thoroughfare, an open way that leads to nirvana. ; (通途) Đối lại: Biệt đồ. Con đường chung. Nghĩa là phổ thông, cộng thông. Nói chung, nghĩa lí, giáo thuyết cộng thông của Phật giáo, gọi là Thông đồ giáo nghĩa; nếu giáo nghĩa chỉ hạn cuộc trong một tông phái đặc biệt, nhất định thì gọi là Biệt đồ giáo nghĩa. Biệt đồ giáo nghĩa là giáo thuyết riêng của một tông, cho nên đặc biệt chú trọng hơn về những điểm khác với diệu tâm của các tông khác. Như chủ trương phàm phu vãng sinh Báo độ chính là giáo thuyết biệt đồ của tông Tịnh độ.

thông đồng

To collute.

thù

1) Đặc thù: Surpassing—Extraordinary—Special. 2) Đơn vị cân lượng tương đương với một phần hai mươi bốn (1/24) lượng: A weight equal to the tweny-fourth part of a tael. 3) Đồng tiền thời cổ: A small ancient coin. 4) Giết hại: To kill. 5) Hiếm hoi: Rare. 6) Khác biệt: Different. 7) Tàn sát: To exterminate. 8) Thù địch: To be hostile. 9) Thù Tạc: Đền đáp—To requite.

thù diệu thân

Sắc thân thù diệu, tên của Thù Thắng Diệu Thân Như Lai, vị Phật thứ 729 trong 1000 vị Phật trong Hiền kiếp—Surpassingly wonderful body, i.e. Padmottara, the 729th Buddha of 1000 Buddhas of the present kalpa.

thù hoàn

To pay a vow—To repay.

thù hằn

Revengeful—Vindictive—Hostile.

thù nghịch

Hostile—Unfriendly.

thù nhân cảm quả

(酬因感果) Đền đáp công đức của nhân hạnh mà cảm được quả báo. Báo thân trong ba thân tức là thân Thù nhân cảm quả. (xt. Tam Thân, Nhân Quả).

thù oán

Hatred.

thù thắng

Visesa (p & skt)—Lỗi lạc—Siêu việt nhất trên đời—Vượt trội—Xuất chúng—Distinction—Exalted—Excellence—Extraordinary—Rare—Superiority—Surpassing—Transcendent. ; (殊勝) Tính cách siêu tuyệt, hiếm có của một sự kiện gọi là Thù thắng. Như trong kinh thường tán thán Tịnh độ cực lạc, vì đức Phật A di đà đã phát 48 đại nguyện độ khắp các chúng sinh, bất cứ ai, hễ có một niệm thiện thì đều được vãng sanh, hóa sinh trong hoa sen, đó thật là một việc hiếm có.

thù thắng trì

Ao Thù Thắng hay ao báu ở ngay trước cung điện của vua Trời Đế Thích (theo Câu Xá Luận, trong tòa thành lớn nơi trời Đế Thích đóng đô, có điện Thù Thắng, trước điện có ao Thù Thắng, với vô số châu báu đầy đủ trang nghiêm, che khắp Thiên cung)—The surpassing lake of Indra. ; (殊勝池) Chỉ cho cái ao nằm ở phía trước điện Thùthắng của trời Đếthích. [X. kinh Lục ba la mật Q.3; luận Câu xá Q.11].

thù thắng điện

Cung điện của vua Trời Đế Thích—The surpassing palace of Indra. ; (殊勝殿) Cung điện của trời Đếthích. Trong điện có nhiều bảo vật vi diệu trang sức đầy đủ trang nghiêm, hơn hẳn các thiên cung khác, nên gọi là Thù thắng.

thù trí a la bà

Jyotirasa (skt)—Dịch là “quang vị” hay mùi vị của ánh sáng; người ta nói đây là tên riêng của Kharostha—Translated as the flavour of the light, said to be the proper name of Kharostha.

thù trưng già

Một trong những loại khổ hạnh, mặc rách rưới và ăn những thứ rác bỏ—One of several kinds of ascetics who dressed in rags and ate garbage.

thù tạc

To offer wine.

thù vặt

Thù ghét ai vì chuyện nhỏ nhặt—To bear a grudge against someone for a petty thing.

thù y

Chiếc áo rất nhẹ của chư Thiên—The gossamer clothing of the devas, or angels. ; (銖衣) Áo rất nhẹ. Thù là tên của một dụng cụ dùng để cân nặng, nhẹ ở Ấn độ thời xưa, chỉ cho đơn vị cực nhỏ, nhẹ. Cho nên Thù y được dùng để ví dụ cái áo rất nhẹ. Kinh Phật cho rằng áo của các người trời có trọng lượng từ vài thù đến nửa thù.

thù ân

Exceptional favour.

thù để sắc ca

Jyotiska (skt)—See Thụ Đề Ca.

thù địch

Adversary—Enemy—Foe.

thùng rác

Garbage box.

thùy

1) Rũ xuống—Droop—Let down—Pass down. 2) Ngủ: To sleep.

thùy dục

Desire for sleep.

thùy ngữ

Thùy Thị—Tuyên bố—To make an announcement.

thùy phát

(垂髮) Tóc xõa. Nghĩa là tóc rủ xuống 2 vai. Trong các bức vẽ hình tượng Phật, Bồtát, thông thường những vị có hình tướng Bồ tát thì ngoài búi tóc trên đỉnh đầu, thường có vị rủ tóc xuống 2 vai, như Minh vương bất động nói trong phẩm Cụ duyên, kinh Đại Nhật quyển 1. Hình tượng Minh vương này là: Tóc xõa xuống vai bên trái, 1 mắt nhìn trừng trừng, hiện tướng lẫm liệt, giận dữ, có lửa hừng bao quanh thân. Nhưng theo luật qui định thì Bồtát xuất gia và tỉ khưu đều phải cạo tóc chứ không được để tóc dài. (xt. Thế Phát).

Thùy Thu

(垂秋): đến gần mùa Thu, tức chỉ cho sự tàn lụi, băng hoại, suy tàn, thời mạt pháp. Phật pháp thùy Thu (佛法垂秋) nghĩa là đang thời kỳ mạt pháp. Như trong Nam Tống Nguyên Minh Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện (南宋元明禪林僧寶傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1562) quyển 6 có câu: “Tượng Pháp thùy Thu, danh lợi căn thâm, như tượng một thâm nê, châu trầm cự hải (像法垂秋、名利根深、如象沒深泥、珠沉巨海, thời Tượng Pháp sắp tàn, gốc danh lợi sâu nặng, như voi lún bùn sâu, hạt châu chìm biển lớn).” Hay trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 13 có đoạn: “Thiết niệm đạo pháp thùy Thu, chánh tông đạm bạc, lại ngô sư thừa đại bi nguyện luân, cao thụ pháp tràng, tông thuyết kiêm sướng, Chỉ Quán song vận, Tỳ Ni độc yết, Tịnh Độ chuyên môn, sử cuồng tử tri quy (切念道法垂秋、正宗澹薄、賴吾師乘大悲願輪、高豎法幢、宗說兼暢、止觀雙運、毗尼獨揭、淨土專門、使狂子知歸, thiết nghĩ đạo pháp lu mờ, chánh tông phai nhạt, nhờ Thầy ta nương bánh xe nguyện đại bi, dương cao cờ pháp, tông môn và giáo thuyết cùng tuyên xướng, Chỉ và Quán đều vận hành, Luật nghi xem trọng, Tịnh Độ chuyên môn, khiến cho người con điên biết quay về).” Hay như trong Sa Di Luật Nghi Tỳ Ni Nhật Dụng Hợp Tham (沙彌律儀毗尼日用合參, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1120) có câu: “Cao tăng dĩ Phật pháp vi kỷ nhiệm, cố văn ngọ hậu cử thoán, tri pháp vận thùy Thu, cố thế khấp nhi bi thán dã. Kim nhân thể nhược đa bệnh, dục số số thực giả, hoặc bất năng trì thử giới; cố cổ nhân xưng vãn thực vi dược thạch, thủ liệu bệnh chi ý dã (高僧以佛法爲己任、故聞午後舉爨、知法運垂秋、故涕泣而悲嘆也、今人體弱多病、欲數數食者、或不能持此戒、故古人稱晚食爲藥石、取療病之意也, vị cao tăng lấy pháp Phật làm trách nhiệm của mình, nên sau buổi trưa nghe nấu ăn, mới biết vận thế Phật pháp suy tàn, vì vậy rơi lệ mà buồn than vậy. Người đời nay thân thể suy yếu nhiều bệnh, muốn ăn nhiều lần, nên không thể giữ giới này được, vì vậy người xưa gọi buổi ăn chiều là Dược Thạch, với ý để trị bệnh vậy).”

thùy thị

See Thùy Ngữ. ; (垂示) Cũng gọi Thùy ngữ, Thùy thuyết, Thị chúng. Thùy thuyết thị chúng (dạy bảo đại chúng). Trong Thiền lâm, vị thầy giảng nói tông yếu cho đệ tử, đại chúng nghe là Thùythị. Khi giảng dạy pháp yếu, trước dùng các câu ngắn gọn, sáng sủa để nêu rõ những điểm then chốt muốn nói, cũng gọi là Thùy thị, như Bích nham lục, Thung dung lục... đều trước hết thùy thị, kế nêu bản tắc, rồi sau cùng mới bình xướng. Ngoài ra, sau khi thùy thị, vị thầy tiếp nhận những lời thưa hỏi của người học để giải đáp những nghi nan của họ, gọi là Sách ngữ, Sách thoại, Câu ngữ, Câu thoại. [X. phẩm Định tuệ trong Lục tổ đại sư pháp bảo đàn kinh; Lâm tế Nghĩa huyền thiền sư ngữ lục; Thiền lâm bảo huấn; môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên].

thùy thủ

(垂手) Đối lại: Bất thùy thủ. Rủ tay xuống. Trong Thiền lâm, khi tiếp dắt người học, bậc thầy dùng môn hướng hạ(tức Đệ nhị nghĩa môn), ân cần, tha thiết chỉ dạy với tất cả niềm thương mến, giống như cha mẹ rủ đôi tay vỗ về con trẻ, cho nên gọi là Thùy thủ. Cùng nghĩa với dụng ngữ này còn có Nhập triềnthùy thủ, Thùy thủ vị nhân, Bất thùy thủ(nghĩa là trong tâm chỉ có chí thượng cầu bồ đề chứ không có nguyện hạ hóa chúng sinh). Bởi vậy, nếu dùng cả 2 dụng ngữ Thùy thủ bất thùy thủ làm một thì tức dùng thay cho dụng ngữ Xuất thế bất xuất thế. Ngoài ra, Thùy thủ còn chỉ cho chức vị của 2 ban Đông, Tây, vì chức vị của 2 ban này đứng ở 2 bênTrụ trì, giống như 2 tay của vịTrụ trì rủ xuống. [X. Bích Nham lục tắc 2, tắc 4].

thùy tích

Từ bản địa của chư Phật và chư Bồ Tát mà thị hiện ra nhiều thân thể để tế độ chúng sanh (với dấu tích còn để lại)—Traces—Vestiges—Manifestations or incarnations of Buddhas abd Bodhisattvas in their work of saving the living. ; (垂迹) Từ bản thể(Bản địa), Phật, Bồ tát thị hiện ra các thứ thân hình để cứu độ chúng sinh. Tư tưởng này bắt nguồn từ thuyết Bản tích nhị môn của kinh Pháp hoa và thuyết Bản địa gia trì của kinh Đại nhật, như những điều được nói trong phẩm Thọ lượng của kinh Pháp hoa và trong Tứ trùng mạn đồ la Thai tạng giới của kinh Đại nhật chính là sự biểu hiện đầy đủ tư tưởng này. Pháp thân, Báo thân trong 3 thân Phật là Bản địa, còn Hóa thân là Thùy tích. Đứng về phương diện Thùy tích mà nói thì các trời, các thần ở viện Ngoại kim cương thuộc lớp thứ 4 của Thai tạng giới, kinh Đại nhật, trong tín ngưỡng của Ấn độ từ nghìn xưa, đều là Thùy tích của Đại nhật Như lai. Phật giáo Nhậtbản đặc biệt nhấn mạnh tư tưởng Bản địa thùy tích này. Vì lúc Phật giáo mới truyền vào Nhậtbản, để dung hợp với tín ngưỡng Thần đạo cố hữu truyền thống của Nhậtbản, các vị cao tăng Nhật bản như Hànhcơ, Tốitrừng, Khônghải... mới đề xướng tư tưởng này, cho rằng Phật và Bồtát của Phật giáo là Phật Bản địa (Phật gốc), còn các thần của Thần đạo Nhật Bản là Phật Thùy tích(Phật ngọn – Phật hóa thân), đó là khởi đầu của tư tưởng Thần Phật tập hợp của Phật giáo Nhật bản. Trường hợp này cũng giống như lúc Phật giáo mới truyền vào Trung quốc. Bấy giờ, để tránh bị tư tưởng Nho gia truyền thống bài xích, nên 1số vị cao tăng đem dung nhiếp những tín điều cơ bản của Phật giáo với Nho gia, như đem Ngũ giới phối hợp với Ngũ thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.Chú duy ma kinh tự (Đại 38, 327 thượng) nói; Nhưng cửa kín khó mở, Thánh ứng khác nhau, không có Bản địa thì không thể Thùy tích, chẳng nhờ Thùy tích thì không nương vào đâu để hiển Bản địa, Bản, Tích tuy khác, nhưng Bất tư nghị thì là một. (xt. Bản Địa Thùy Tích).

thú

1) Thú Vật: Animal—Beast. 2) Nơi Đi Đến (đặc biệt về tái sanh): Destination—Destiny especially on rebirth). ** For more information, please see Ngũ Thú. ; (趣) Phạm,Pàli:Gati. Hán dịch: Đạo. Chỉ cho sự sinh tồn hoặc thế giới sinh tồn mà chúng sinh sẽ sinh đến tùy theo những hành vi(nghiệp) do chính họ đã tạo tác. Đại khái, Thú được chia ra mấy loại sau đây: 1. Lục thú(cũng gọi Lục đạo): chỉ cho địa ngục, ngã quỉ, súc sinh (bàng sinh) A tu la, người và trời. 2. Ngũ thú(cũng gọi Ngũ đạo): Lục thú nếu bỏA tu la thì thành Ngũ thú. Đại thừa phần nhiều nói Lục thú, Thuyết nhất thiết hữu bộ thì nói Ngũ thú. Khi nói Ngũ thú thìA tu la được thu nhiếp vào các thú ngã quỉ, trời... Ngũ thú cũng gọi là Ngũ ác thú, đối lại với Tịnh độ vô lậu, tức uế độ hữu lậu, cũng chính là thế giới mê lầm. 3. Lục thú trên đây được chia làm hai loại Thiện thú và Ác thú: a. Thiệnthú:Chỉ cho3thú trời, người vàA tu la, đều do nghiệp thiện sinh ra, cho nên gọi là Tam thiện thú, cũng gọi là Tam thiện đạo. b. Ác thú: Chỉ cho 3 thú địa ngục, ngã quỉ và súc sinh, đều do nghiệp ác sinh ra, cho nên gọi là Tam ác thú, cũng gọi là Tam ác đạo. Tam ác thú cũng gọi là Tam đồ(Đồ nghĩa là đường, cũng có nghĩa là cực kì khổ sở, lầm than), chỉ cho hỏa đồ(con đường lửa đốt), đao đồ(con đường dao đâm) và huyết đồ(con đường uống máu), thông thường, theo thứ tự, tương đương với địa ngục, ngã quỉ và súc sinh. Tam ác thú nếu thêmA tu la thì thành Tứ ác thú. Ngoài ra, về nghĩa Thú, các sách vở đều giải thích khác nhau. Luận Câu xá quyển 8 giải nghĩa là nơi đi tới. Đại thừa nghĩa chương quyển 8, phần cuối giải thích Thú là do đối lại với Nhân mà nói, nhân thường hướng tới quả, mà quả thì do nhân thú mới có, vì thế gọi là Thú. Còn nhiếp đại thừa luận thích(Vô tính) quyển 4 thì giải thích chữ Thú trong 62 kiến thú là chỉ cho nghĩa phẩm loại. (xt. Lục Đạo).

thú bác ca

(戍博迦) Phạm:Jìvaka. Cũng gọi Nhung bác ca, Cù ba ca, Oa ba kiết. Vị La hán thứ 9 trong 16 vị La hán. Vị Thánh này cùng với 900 vị A la hán quyến thuộc cùng ở trong núi Hương túy, giữ gìn chính pháp, làm lợi ích hữu tình. Theo bức tượng do Đại sư Thiền nguyệt Quán hưu vẽ vào đời Đường thì Ngài ngồi nghiêng trên tảng đá, tay trái cầm quạt, tay phải co 3 ngón, ngửa bàn tayđặt trên đầu gối, ánh mắt rực sáng nhìn đăm đăm về phía trước. Thi hào Tô đông pha khen rằng: Bảy ngày một kiếp, Ba đời sát na; Chăm chỉ nghĩ gì, Co tay ngồi lặng; Ngài Thú Bác CaNgười co đã trụ, Người tin thì chưa. Ai hay trụ giữa co và tin này. Trong 16 vị La hán được truyền ở Tây tạng, ngài Thúbácca được xếp vào vị thứ 15.[X. phẩm Trìchính pháp trong kinh Đại bi Q.2; Đại A la hán Nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kí; La hán đồ tán tập].

thú chủ

Pasupati (skt)—Bát Du Bát Đa. 1) Chúa tể loài thú hay loài súc sanh: Lord of the animals, or herds. 2) Tên của một chi phái ngoại đạo: Name of a non-Buddhist sect.

thú chủ ngoại đạo phái

(獸主外道派) Phạm:Pàzupata. Một trong các phái Thấp Bà thuộc Ấn độ giáo. Nói theo nghĩa rộng thì phái này khác với phái Thấp bà tất đàn (Phạm: Zaiva-siddhànta), riêng chỉ cho tông phái sùng bái Thấp bà (Phạm:Ziva) là Thú chủ. Còn nói theo nghĩa hẹp thì chỉ cho giáo phái được thành lập trước thế kỷ VIII, xưa gọi là ngoại đạo Đại tự tại thiên (Phạm: Màhezvara). Phái này chủ trương thần Chủ tể (Thấp bà) làĐộng lực nhân (Phạm:Kàraịa), còn ngã cá nhân của Thú và thế giới tự nhiên là kết quả (Phạm:Kàrya) của động lực nhân ấy. Muốn hiểu rõ lí này thì phải siêng tu Dugià, thực hành các nghĩa vụ, tuân thủ các qui định, nhờ đó mà thoát khỏi sự khổ của cuộc sống hiện tại, đó là tông chỉ căn bản của phái này.

Thú Dã Thám U

(狩野探幽, Kanō Tanyū, 1661-1674): nhà danh họa sống đầu thời Giang Hộ, con trai đầu của Thú Dã Hiếu Tín (狩野孝信), cháu của Vĩnh Đức (永德); tên húy là Thủ Tín (守信), sau lấy pháp hiệu là Thám U Trai (探幽齋). Ông có tài năng vẽ tranh rộng lớn, là nhà hội họa nổi tiếng của chính quyền Mạc Phủ, và đã làm cho môn phong phồn vinh nhờ tài năng của ông. Ông đã để lại khá nhiều bức tranh vẽ trên tường ở một số nơi như Thành Nhị Điều (二條城, Nijō-jō), Thành Danh Cổ Ốc (名古屋城, Nagoya-jō), phương trượng của Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji), Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji), v.v.

thú dữ

Ferocious beast.

thú nhận

To avow—To admit—To confess (one's fault).

thú thật

To confess the truth.

thú tánh

Animal nature—Animality—Bestiality.

thú tịch

Cõi Niết bàn được hiểu theo trường phái Tiểu Thừa—The destiny of nirvana, as understood by the Hinayana.

thú tội

Confession—See Thú Nhận.

thú vật

See Thú.

thú vị

Pleasant—Agreable—Interesting.

thú đạo

Cảnh thú—Tirracchana (p)—Phật giáo đồ tin rằng cảnh thú là cảnh bất hạnh và chúng sanh bị sanh vào cảnh thú vì tạo nghiệp bất thiện trong quá khứ. Dù cảnh thú không khổ như địa ngục, nhưng nó cũng được xếp vào cảnh bất hạnh vì nơi nầy khổ đau nhiều hơn hạnh phúc, và nơi nầy chúng sanh không có điiều kiện thuận tiện để tạo tác công đức thiện nghiệp—Buddhists believe that animal realm is a woeful plane into which beings may be reborn as a result of their past evil kammas. Although the animal realm does not involve as much misery as the hells, it is included in the woeful planes because the suffering there greatly exceeds the amount of happiness, and it does not provide suitable conditions for the performance of meritorious deeds.

thúc

1) Thúc cùi chỏ: To elbow. 2) Chú: Uncle—A father's younger brother.

thúc ca bà

Suka (skt)—Chim két—A parrot.

Thúc hốt

(倐忽): trong chớp nhoáng, trong thoáng chốt, chỉ thời gian biến chuyển nhanh đến nỗi không thể lường được. Như trong Quy Sơn Đại Viên Thiền Sư Cảnh Sách (潙山大圓禪師警策) của Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐, 771-853) có đoạn: “Thí như xuân sương, hiểu lộ, thúc hốt tức vô, ngạn thọ, tỉnh đằng, khởi năng trường cửu (譬如春霜曉露、倐忽卽無、岸樹、井藤、豈能長久, ví như sương mùa xuân, móc buổi sáng, cây bên bờ, dây leo ở giếng, làm sao bền lâu ?).” Hay như trong Khổng Triều Bá Ca (孔廟柏歌) của Hồ Kỳ Nghị (胡其毅, ?-?) nhà Minh có câu: “Lễ nhạc sơ truyền tam bách tải, phong trần thúc hốt câu thiên cải (禮樂初傳三百載、風塵倐忽俱遷改, lễ nhạc mới truyền ba trăm năm, gió bụi thoáng chốt đều biến đổi).” Câu “lão niên thúc hốt (老年倐忽)” có nghĩa là trong thoáng chốc tuổi già lại đến.

thúc ly

Sukla or Sukra (skt). 1) Màu trắng bạc: Silvery white. 2) Nửa mảnh trăng tròn: The waxing half of the moon.

thúc lô nhị nghĩa

(束蘆二義) Hai nghĩa của bó lau. Tông kính lục quyển 47 dùng bó lau để ví dụ sự quan hệ giữa 6 căn và 6 trần. Có 2 nghĩa: 1. Hỗ tương y: Nương tựa lẫn nhau. Nghĩa là những cây lau trong bó lau nương tựa lẫn nhau, ví dụ 6 căn và 6 trần nhờ vào nhau mà cấu thành ô nhiễm, phiền não. Căn nương vào trần mà phát sinh cái biết hư dối, trần nương vào căn mà có các tướng giả, gọi là Hỗ tương y. 2. Thủ trung không: Đều là không. Nghĩa là những cây lau và bó lau vốn hư giả, chẳng thật, chúng không có tự tính, ví dụ căn và trần đều không có tự tính, tất cả đều không, gọi là Thủ trung không. [X. luận Thành duy thức Q.3].

thúc mẫu

Aunt (wife of one's father's younger's brother).

thúc phụ

Uncle.

thúc thúc ma la

Sisumara (skt)—Cá sấu—A crocodile.

thúc thủ

To be at the end of one's resources.

thúc đẩy

Motivation

thúi

Rotten—Stinking.

thúy nham

Thiền sư Trung Hoa—Chinese Zen master—Nhân ngày hạ mạt, Thúy Nham nói với Tăng chúng: “Từ đầu mùa an cư đến nay, tôi vì chư huynh đệ nói khá nhiều. Coi thử lông mi của tôi còn không?” Sư muốn nhắc lại truyền thuyết cho rằng người nào giảng sai giáo pháp của Phật sẽ rụng hết lông mày. Trong suốt mùa an cư kiết hạ, tuy Thúy Nham giảng nói nhiều cho chư huynh đệ nhưng không một lời nói năng nào giải thích được đạo pháp là gì, vậy có lẽ lông mi của sư đã rụng hết rồi. Đây là một lối nhấn mạnh Thiền không ăn nhập gì với kinh điển vậy—At the end of one summer retreat, Ts'ui-Yen made the following remark: “Since the beginning of this summer retreat, I have talked much; see if my eyebrows are still there.” This refers to the tradition that when a man makes false statements concerning the Dharma of Buddhism he will lose all the hair on his face. As Ts'ui-Yen gave many sermons during the summer retreat for the edification of his pupils, while no amount of talk can ever explain what the truth is, his eyebrows and beard might perhaps by this time have disappeared altogether. This is a way of emphasis of no connection between Zen and Sutras.

Thúy Nham Linh Tham

(翠巖令參, Suigan Reisan, ?-?): xuất thân vùng Hồ Châu (湖州, Tỉnh Triết Giang), pháp từ của Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存). Ông sống tại Thúy Nham Sơn (翠巖山), Minh Châu (明州, Tỉnh Triết Giang) và cử xướng Thiền phong của mình rất mạnh mẽ. Ông được ban cho Tử Y và hiệu là Vĩnh Minh Đại Sư (永明大師).

Thúy Vi Vô Học

(翠微無學, Suibi Mugaku, ?-?): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, pháp từ của Đơn Hà Thiên Nhiên (丹霞天然). Ông đã từng sống ở Thúy Vi Tự (翠微寺), thuộc Chung Nam Sơn (終南山), Kinh Triệu (京兆, Tỉnh Thiểm Tây). Tuân chiếu của vua Hy Tông, ông vào cung nội thuyết pháp, được ban tặng Tử Y và hiệu là Ứng Chiếu Đại Sư (應照大師).

thúy vi vô học thiền sư

Zen Master Shui-Wei-Wu-Xue—See Vô Học Thúy Vi Thiền Sư.

thăm

To pay a visit—To visit—To call on.

thăm dò

To feel—To sound out.

thăm hỏi

To inquire—See Thăm.

thăm hỏi ai

To inquire after someone's well-being.

thăm thẳm

Very deep.

thăm viếng

See Thăm.

thăng

đơn vị đo lường ngày xưa, bằng một phần mười của đấu. ; Đi lên—To ascend—To rise—To raise.

Thăng giáng

昇降; C: shēngxiáng; J: shōkō; |Lên và xuống.

thăng giáng

To ascend and to descend.

thăng hà

To die (talk of king).

thăng thiên

Externalists believe that their founder ascended to heaven (not dying) in the Ascension Day.

thăng thưởng

To promote and to reward.

Thăng tiến đạo

xem Tứ đạo thánh nhân.

thăng toà

(升座) Tiếng dùngtrongThiền lâm. Nghĩa là lên tòa cao. Tức chỉ cho bậc thầy lên tòa cao thuyết pháp. Theo qui tắc xưa thì Thăng tòa đồng nghĩa với Thướng đường, nhưng đến đời sau thì có phân biệt khác nhau. [X. điều Thướng đường trong Lâm tế lục; môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên].

thăng trầm

To ascend and descend—Ups and downs—Vicissitudes—Rise and fall.

thăng trật

To be promoted.

thăng tọa

Đăng đàn thuyết pháp—To ascend the platform to expound the sutras—To ascend the seat (platform), or to go up to the Dharma Hall to preach or to expound the sutras.

thăng đường

See Thăng Tọa in Vietnamese-English Section.

Thăng-ka

T: thaṅ-ka;|Tranh vẽ trong Phật giáo Tây Tạng. Các Thăng-ka thường là vải lụa được cuốn tròn. Tranh này phần lớn lấy nội dung là giáo pháp, hay cuộc đời đức Phật. Vẽ tranh này, người ta phải chú ý đến ba nguyên tắc: sức truyền lên người xem, sự hài hoà và chi tiết bức tranh. Người ta cho rằng việc đặt vẽ Thăng-ka cũng như bản thân vẽ Thăng-ka mang lại rất nhiều phúc đức.|Thăng-ka được vẽ bằng màu lấy trong thiên nhiên và là đối tượng hay phương tiện để thiền định và tạo linh ảnh, như tranh vẽ Vòng sinh tử (s: bhavacakra), cuộc đời và tiền thân đức Phật (Bản sinh kinh). Ngoài ra, Thăng-ka cũng trình bày lại hình ảnh các vị giáo chủ các tông phái để các đệ tử chú tâm lúc quy y. Tuy nhiên, nội dung quan trọng nhất của Thăng-ka chính là phương tiện để thiết tưởng (e: visualize) linh ảnh lúc hành trì các giáo pháp Tan-tra, Nghi quỹ (s: sādhana). Ðến thế kỉ 16 tại Tây Tạng vẫn tiếp tục hình thành các trường phái vẽ Thăng-ka khác nhau, trong đó khuynh hướng vẽ của phái Cát-mã Ca-nhĩ-cư (t: karma-kagyu) là nổi tiếng nhất.

thơ

Poetry.

thơ dại

Childlike—Nạve—Innocent.

thơ ngây

See Thơ Dại.

thơ thẩn

To stroll.

thơ yếu

Young and weak.

thơ ấu

Young.

thơi

Thảnh thơi—Leisurely—Free.

thơû

To respire—To breath.

thư

Book.

thư cừ kinh thanh

(沮渠京聲) Em họ của Thư cừ Mông tốn, vua nước Bắclương, người Hungnô, được phong tước An dương hầu. Ông là người thông minh, học rộng nhớ dai, đọc rất nhiều sách, giỏi đàm luận. Thuở thiếu thời, ông từng vượt sa mạc đến nước Vuđiền học tiếng Phạm, được gặp ngài Phậtđàtưna ở Cù ma đế Đại tự học kinh Thiền yếu bí mật trị bệnh (Trị thiền bệnhbí yếu pháp). Sau, ông trởvề Hà tây, gặp ngài Đàmvôsấm đến Hà tây, ông hết lòng lễ kính đón rước, thưa hỏi ngài nhiều điều. Vào năm Nguyêngia 16 (439), nhà Ngụy thôn tính Lương châu, ông chạy xuống miền Nam đến đất Tống; cảm thấy chán ngán việc đời, ông thường lui tới các chùa tháp, phiên dịch kinh điển. Các kinh điển do ông dịch hiện còn gồm 16 bộ 17 quyển như: Kinh Thiền yếu bí mật trị bệnh, kinh Bát quan trai, kinh Quán dilặcbồtát thướng sinh Đâu suất thiên... Năm Đại minh thứ 8 (439), ông lâm bệnh và qua đời. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.14; truyện ngài Đàm vô sấm trong Lương cao tăng truyện Q.2; Cư sĩ truyện Q.4].

thư cừ mông tốn

(沮渠蒙遜) Người sáng lập nước Bắc Lương trong 16 nước vùng Ngũhồ thuộc Nam Bắc triều thời Ngụy Tấn, Trung quốc, người Hung nô.Ban đầu, ông ủng hộ phản tướng của Lữquang là Đoàn nghiệp. Đến năm Long an thứ 5 (401) đời Đông Tấn, ông tự lập ở Trương dịch. Năm Nghĩa hi thứ 8 (412), ông chiếm cứ Cô tang, xưng là Hà tây vương. Năm Nguyên hi thứ 2 (420), ông diệt Tây lương, đánh chiếm Đôn hoàng, thiết lập và bảo vệ sự giao thông với các nước Tâyvực, làm cho dân trong nước đông đúc, giàu có. Thời gian ông ở ngôi, Phật giáo rất hưng thịnh, ông thỉnh ngài Đàm Vô sấm phiên dịch 20 bộ kinh như: Phương đẳng, Niếtbàn... do các ngài Tuệtrung và Đạolãng ghi chép.

thư hùng

Female and male.

thư kí

(書記) Cũng gọi Thư trạng, Ký thất, Ngoại sử, Ngoại ký. Một trong 6 vị Đầu thủ của Thiền lâm, là chức vụ coi về văn sớ, thư tín, các loại giấy tờ liên quan đến sơn môn. Thư kývốn là vịThư trạng trong Cổ thanh qui, tất cả giấy tờ, thư tín, văn sớ cầu đảo... đều thuộc trách nhiệm của vị này. Những tùng lâm danh tiếng thời xưa, khi lãnh sắc chỉ của vua, vị trụ trì phải dâng biểu tạ. Khi vị Trụ trì thị tịch cũng phải có biểu tâu trình. Hoặc khi vua ban vật gì, hoặc hỏi việc gì... đều phải dâng biểu. Mà vị trụ trì thì chuyên nắm giữ Đại pháp, việc văn tự ít có nghiên cứu, vì thế đặc biệt đặt ra chức Thư ký, chuyên trách việc giấy tờ, văn sớ trong tùng lâm. Nhưng thời xưa không có tên Thư ký mà chỉ có Thư trạng; danh từ Thư ký là lấy ý từ chức Mạc phủ thư kí thất tham quân của Nguyên nhung, trong Thiền lâm đặc biệt gọi là chức Thư ký, chứ không phải Thiền sư Bách trượng đặt ra. [X. điều Tây tự đầu thủ thư kí, chương Luỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q. hạ; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].

thư ký

Vị Tăng thư ký phụ tá viện chủ—Clerk assisting the head monk.

thư mạt quốc

(沮末國) Cũng gọi Tả mạt quốc, Thả mạt quốc, Chiết ma đà na quốc (Calmadana). Tên một nước xưa ở Tâyvực tại Xa nhĩ thành (Chanchan) nằm về phía tây nam Labốmặcnhĩ (Lopnor) thuộc Tân cương hiện nay. Theo Tây vực liệt truyện thứ 66 trong Hán thư và Lạc dương già lam kí quyển 5 thì nước này vào đời Hán chỉ có 230 hộ gia đình với 1610 nhân khẩu, vào thời Bắc Ngụy thì dân cư cũng chỉ có 100 nhà mà thôi. Theo Đại Đường tây vực kí quyển 12, khi ngài Huyền trang đi Ấn độ, qua đây thì nước này thành quách vẫn y nguyên như xưa, nhưng người thì vắng tanh, không còn một ai. Và Đại đường tây vực kí gọi nước này là Niết Mạt (.......), cũng có chỗ gọi là Thấp mạt ( ), có lẽ đã viết lầm từ chữ Thư Mạt (.......). [X. luận Phá tà Q. hạ; Bắc sử tây vực liệt truyện thứ 85; Thông điển Q.191; Văn hiến thông khảo Q.336; Ruins of Desert Cathay, vol. I, by A.Stein].

thư ngọc

(書玉) VịLuật tăng Trung quốc sống vào đời Thanh, người Vũtiến, tỉnh Giangtô, họ Đường, tự Nghikhiết, hiệu Phậtam. Thuở nhỏ, sư thông hiểu Nho học. Một hôm, sư nghe vị tăng tụng phẩm Hành nguyện mà nảy chí xuất gia. Năm 22 tuổi, sư theo ngài Tự khiêm cạo tóc ở núi Gia sơn tại Kinh khẩu, siêng năng tu học, ít lâu sau, sư y vào ngài Kiến nguyệt Độc thể chùa Long xương, núi Bảo hoa ở Kim lăng thụ giới Cụ túc, đồng thời gần gũi ngài để nghiên cứu Luật bộ. Năm Khang hi 22 (1683), sư cùng với ngài Định am Đức cơ đến chùa Chiêu khánh ở Hàng châu giảng về giới, rồi từ đó sư trụ ở chùa này chủ trì việc giảng luận suốt 38 năm, mỗi năm hoằng giới 2 lần vào mùa Xuân và mùa Đông, tăng tục từ khắp nơi nhóm họp, có tới hơn vạn người thụ giới Cụ túc. Năm Khang hi 39 (1700), chùa bị hỏa hoạn, năm sau được xây dựng lại. Năm Khang hi 52 (1713), chùa được vua ban cho Long tạng. Năm Khang hi 60 (1721) sư thị hiện có bệnh, ngồi nói kệ rồi nhập định thị tịch, hưởng thọ 77 tuổi. Sư có các tác phẩm: Phạm võng kinh Bồtát giới sơ tân 8 quyển, Tì ni nhật dụng thiết yếu hương nhũ kí 2 quyển, Sa di luật nghi yếu lược thuật nghĩa 2 quyển, Nhị bộ tăng thụ giới nghi thức 2 quyển, Yết ma nghi thức 2 quyển. [X. Đại chiêu khánh luật tự chí Q.1, 2, 8; Tân tục cao tăng truyện Q.29; Trung quốc Phật giáo sử Q.4].

thư nhàn

Unoccupied—Free.

thư thả

To have leisure time—To have spare time.

thư trinh

(書禎) Vị Luật tăng Trung quốc sống vào cuối đời nhà Minh đầu đời Thanh, người ở Lộc phong, tỉnh Vân nam, họ Vương, tự Tĩnh quán. Sư tinh thông Nho học, nhưng có chí xuất trần, nên theo ngài Tâm điền chùa Tâylâm ở Thúyphong xuất gia. Học thông nội điển, vân du khắp nơi. Năm Sùng trinh 17 (1644), sư đến Kimlăng, gặp lúc chùa Báoân của ngài Tammuội Tịchquang mở đàn giới, nhân đó được giới, cảm thấy điềm lành trên đỉnh tháp có ngọn lửa màu tía bay lên, nên được gọi là Ngũ đạo sư tử nhi. Sư bèn dừng lại ở núi Bảohoa biên soạn Luật bộ, giúp sư Kiếnnguyệt Độcthể – học trò ngài Tịchquang– hoằng dương giới luật, hoặc làm Giáo thụ, hoặc làm Yết ma nên được phó chúc áo Tăng già lê. Trong năm Khang hi (1662-1722) đời Thanh, sư từng xây cất Luật đường, nhận lời thỉnh cầu của Tịnh độ thiền lâm ở quận Hoài, sư đến mở đàn giới, những người cầu giới nối nhau đến, các bậc vương công khanh tướng kính mộ đạo phong của sư cũng thường tùy tòng. Đến năm 70 tuổi sư chuyên việc trứ thuật. Sư không những chuyên tinh tạng Luật mà còn thông hiểu Thiền học, có lần ở trong định, sư đến núi Thiênthai thấy các vị A la hán hiện điềm lạ. Theo truyền thuyết, khi hoàn thành bộ Yết ma sớ sao, sư từng nằm mộng thấy mình lễ tháp ngài Đạotuyên nên được tôn xưng là Hậu thân ngài Trígiả, ngài Namsơn tái lai. Sư cócáctác phẩm: Tùy cơ Yết ma sớ sao 6 quyển, Tì ni cam lộ trạch yếu 10 quyển, Luật học nhật vân yếu bản. [X. Điền thích kỉ Q.3; Tân tục cao tăng truyện Q.29].

thư trạng thị giả

(書狀侍者) Cũng gọi Nội kí, nội sử, Thị trạng. Một trong 3 đại thị giả, 1 trong 5 vị thị giả, là chức Thị giả phụ trách công việc khởi thảo viết chép các văn thư đi và đến của vị Trụ trì, cùng tất cả giấy tờ sách vở có liên quan đến Thiền gia. Điều Thị giả trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1131 hạ) nói: Hễ vị Trụ trì cần viết thư thăm hỏi qua lại, hay những việc cần đến văn chữ, thì trước hết(Thư trạng thị giả) phải thảo trình đầy đủ; nếu thiếu chức Thư kí thì tất cả các loại văn kiện, sổ sách, giấy tờ trong sơn môn đều do Thư trạng thị giả đảm nhiệm. [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].

thư tôm bùa ngải

Talisman.

thư tả

(書寫) I. Thư Tả. Phạm: Lekhana. Chỉ cho việc viết chép kinh điển, là pháp hạnh thứ nhất trong 10 pháp hạnh. Về phương pháp hành nghi thụ trì kinh điển thì phương pháp hành nghi thứ nhất chính là Thư tả kinh điển. II. Thư Tả. Chỉ cho người tinh thông kinh luận, viết chép hoằng thông Phật pháp và là bậc thầy của mọi người, 1 trong 5 loạiPháp sư.

Thư đạo

書道; J: shodō; cũng gọi là Thư pháp;|Nghệ thuật viết chữ; một trong những tu tập đạo của giới hâm mộ thiền Nhật Bản. Thư đạo được xem là nghệ thuật cốt tuỷ của tất cả các nghệ thuật bởi vì nơi đây, tâm trạng của nghệ sĩ được thể hiện một cách rõ ràng, hoàn thiện. Trong Thư đạo, người ta không chủ ý đến việc »viết đẹp« mà muốn gói gém vào tác phẩm một tâm trạng, một biểu tượng cô đọng của nghệ thuật, của cuộc sống. Những đặc điểm của Thư đạo nêu trên người ta có thể tìm thấy ở những Mặc tích, »dấu mực«, những tác phẩm được xem là tiêu biểu nhất của nghệ thuật này.

thưa

To reply—To answer politely.

thưa gởi

To talk in a very respectful way.

thưa thớt

Scattered—Thin.

thưû

1) Chuột: Musa (skt)—A mouse—A rat. 2) Đây (đối lại với “bỉ” là kia): This—Here, in contrast with “that,” “there.” 3) Thử nghiệm: To test—To try—To attempt.

Thương

傷; C: shāng; J: shō;|Có hai nghĩa: 1. Vết thương, bị thương; 2. Đau khổ thể xác và tinh thần – đặc biệt là đau khổ về tinh thần hay sự xúc cảm.

thương

1) Bị thương: To injure—Wound. 2) Màu xanh biếc: Azure—Grey. 3) Tên của một loài quỷ Dạ Xoa: Name of a Yaksa. 4) Thương mại: Trade—Merchant. 5) Thương nghị: To trade. 6) Thương thảo: To consult. 7) Tổn thương: Hurt—Harm—Distress. 8) Trời: The heavens. 9) Yêu thương: To love.

thương ai sâu đậm

To love someone deeply.

thương chủ

người dẫn đầu một đoàn người đi buôn bán bằng đường bộ hoặc bằng đường thủy.

thương chủ thiên tử sở vấn kinh

(商主天子所問經) Cũng gọi Thương chủ thiên tử vấn kinh, Thương chủ thiên tử kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này thuật lại việc khi đức Phật ở tại núi Kì xà quật gần thành Vương xá, ngài Vănthùsưlợi vâng lời Phật dạy đáp những câu hỏi về pháp yếu của chư thiên như Thươngchủ... và nói về các thành tựu như: Các Bồtát nhập Nhất thiết trí, đạt đến tất cả pháp rốt ráo, đầy đủ 6 độ... Thương chủ thiên tử còn thưa hỏi đức Phật về ý nghĩa vô sinh, sau đó được Phật thụ kí sẽ thành Phật trong vị lai.

thương di quốc

(商彌國) Cũng gọi Xa di quốc, Song mị thành, Xa ma yết la xà quốc, Chiết tiết mạc quốc, Câu vị quốc, Câu vĩ quốc, Câu vệ quốc. Tên một nước thời xưa ở Tây vực. Về nguyên âm Thương di có nhiều thuyết khác nhau, hoặc là Zàmbì, Zàmhì, Sambì, Zama... Theo Đại đường tây vực kí quyển 12 thì nước này có diện tích từ 2500-2600 dặm, núi sông xen kẽ nhau, gò đống cao thấp, trồng lúa và các loại hạt khác, sản xuất nhiều nho. Khí hậu lạnh lẽo, tính người chất phác, thường không có lễ nghĩa, mưu trí thấp kém, kĩ năng nông cạn, văn tự giống như văn tự củanước Đổ hóa la, nhưng tiếng nói thì khác, dân cư phần nhiều mặc áo dạ. Quốc vương thuộc dòng họ Thích nên sùng kính Phật pháp, dân chúng thuần tín và đều nghe lời dạy bảo của vua. Trong nước có 2 ngôi già lam, tăng đồ rất ít. Vị trí nước này ở khoảng vùng Chitra thuộc Pakistan hiện nay, tức phía bắc Peshawar, phía nam rặng núi Hindukush. [X. VãngNgũ thiên trúc quốc truyện (Tuệ siêu); Lạc dương già lam kí Q.5; Ngộ không nhập trúc kí; điều Kiếp tỉ la phạt tốt đổ quốc trong Đạiđường tây vực kí Q.6; Hán thư tây vực truyện thứ 66 thượng; Bắc sử tây vực liệt truyện thứ 85; Đường thư tây vực liệt truyện thứ 146 hạ; Buddhist Records of the Western World, vol. II, by S.Beal; On Yuang Chwang, vol.II, by T.Watters].

thương gia

A merchant—A business-person.

thương hòa khí

Phá hoại sự hòa hợp—To disturb the harmony.

thương hại

To have pity (mercy--compassion) on—To pity—To feel pity.

thương khư

(商佉) Phạm: Zaíkha. Phễu lớn và phễu nhỏPàli:Saíkha. I. Thương Khư. Cũng gọi Nhương khư, Hướng khư, Sương khư, Thắng khư, Thương ca, Thương xí la, Thưởng khởi la. Hán dịch: Loa, Bối, Kha. Chỉ cho loại động vật bò sát sống dưới đáy biển, là tên gọi chung loài động vật bề ngoài có vỏ cứng như con ốc, con sò, con hến... Trong đó, loài ốc(loa) có đuôi dài giống như cái thoi dệt vải, tục gọi là ốc tù và, vỏ của nó được dùng làm tù và, khi thổi thì phát ra tiếng vangđirất xa, cho nên nhà Phật dùng nó để ví dụ tiếng thuyết pháp mạnh mẽ của đức Phật, gọi là Pháp loa(tù và pháp). (xt. Pháp Loa). II. Thương Khư. Tên của vị Chuyển luân thánh vương sẽ thống trị thế giới khibồtát Di Lặc ra đời.Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 44 thì vị vua này ở tại cõi Diêm phù đề, có đầy đủ 7 thứ báu, dùng chính pháp giáo hóa nhân dân, đất nước giàu có yên vui, nhân dân đông đúc. Vua có vị Đại thần tên là Tu phạm ma (Phạm: Brahmàyu), Đại thần phu nhân tên là Phạm ma việt (Phạm:Brahmavatì). Bồtát Dilặc sẽ giáng sinh vào gia đình này, cuối cùng xuất gia thành đạo. Về sau, vua nghe Ngài Dilặc thuyết pháp, liền nhường ngôi cho Thái tử rồi xuất gia và được đạo quả. [X. kinh Chuyển luân thánh vương tu hành trong Trường a hàm Q.6; kinh Di lặc hạ sinh; kinh Di Lặc đại thành Phật; Huyền ứng âm nghĩa Q.2].

thương khư ấn

(商佉印) Ấn khế biểu thị cho pháp loa. Thương khư, Phạm:Zaíkha, nghĩa là cái tù và, là 1 trong 14 ấn căn bản Bất động. Ấn Thương khư của Nhưlai là biểu thị đức tuyên giảng đại pháp của Đại nhật Như Lai, trong pháp tu Thai tạng giới, ấn này là 1 trong các ấn minh (ấn khế và chân ngôn) của hội Như Lai thân, kết ấn và tụng chân ngôn này thì đầy đủ tất cả nguyện lành, nói đại pháp thì khắp 10 phương đều nghe được. Theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật quyển 4 thì ấn này được kết như sau: Hai tay chắp để rỗng ở lòng bàn tay, co 2 ngón cái, dùng 2 ngón trỏ giữ lấy.

thương long huyệt

Hang rồng xanh quấn lấy miếng ngọc bùa phép, mà chỉ có người gan dạ lắm mới đạt được—The cave of the azure or green dragon, where it lies curled over the talismanic pearl, which only a hero can obtain.

thương lượng

Thương thảo hay bàn luận với nhau, như học trò bàn đạo với thầy—To consult—To discuss together (between master and pupil)—To negotiate. ; (商量) Vốn chỉ cho việc bàn tính giữa các nhà buôn với nhau để trả giá khi mua bán sản phẩm. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được sử dụng với nghĩa là hỏi đáp, bàn bạc khi người học tham thiền hành đạo. Như Tổ đình sự uyển quyển 1 cho rằng xem xét lường biết chân ý của Phật Tổ, cũng giống như các thương gia tính toán, cân nhắc, khiến cho không mất mức trung bình và đều thể hiện được ý của các Ngài. Phần Bình xướng trong Bích nham lục tắc 38 (Đại 48, 176 trung) ghi: Một hôm ngài Nam viện vào trong vườn hỏi ngài Phong Huyệt: - Một gậy của phương Nam phải thương lượng thế nào? Ngài Phong huyệt đáp: Phải thương lượng kì đặc. Rồi hỏi lại : - Về việc này, Hòa thượng thương lượng ra sao? Ngài Namviện cầm gậy lên, nói: - Ngay khi bị ăn gậy là vô sinh nhẫn, cơ hội đến không nhường thầy! Còn từ ngữ Thương lượng hạo hạo địa trong Thiền lâm là hình dung trạng huống hỏi đáp, bàn bạc sôi nổi, gay gắt. Cũng có khi được dùng với ý quở trách khẩu đầu thiền (thiền cửa miệng). Thung dung lục tắc 12 (Đại 48, 234 hạ) ghi: Ngài Địatạng hỏi ngài Tu sơn chủ: - Từ đâu đến? Ngài Tu Sơn đáp: - Từ phương nam đến. Ngài Địa Tạng lại hỏi: - Gần đây, Phật pháp ở phương nam thế nào? Ngài Tusơn đáp: - Thương lượng hạo hạo địa!. [X. Lâm tế lục thị chúng; Cảnh đức truyền đăng lục Q.7].

thương mạc ca

(商莫迦) Phạm: Zyàmaka. Pàli: Sàma, Suvaịịa-sàma. Cũng gọi Thiểm ma ca, Thiểm ma, Thiểm thi, Thiểm tử, Thiểm. Hán dịch: Kim. Tên của đức Thích tôn khi còn tu hạnh Bồ tát ở nhân vị ( ). Theo kinh Bồ tát thiểm tử thì ở đời quá khứ có vị Bồ tát tên là Nhất thiết diệu thấy nước Ca di có một trưởng giả, vợ chồng đều mù, cô đơn khổ sở, không con, nhưng lại nguyện vào núi tu vô thượng tuệ, nên Bồ tát giúp đỡ bằng cách sinh làm con trong gia đình này, tên là Thiểm. Thiểm hầu hạ cha mẹ rất hiếu thảo; có lần cha mẹ khát muốn uống nước, Thiểm bèn mặc da nai mang bình đến bờ suối, gặp lúc vua nước Ca Di vào núi săn bắn, lầm tưởng Thiểm là nai nên bắn mũi tên độc vào giữa ngực. Thiểm la lớn, vua kinh hãi chạy đến trước Thiểm tạ tội, Thiểm không than đau mà chỉ lo cho cha mẹ, nên nhờ vua nuôi dưỡng cha mẹ rồi tắt thở. Vua cho người dẫn cha mẹ Thiểm đến chỗ xác chết của Thiểm, cha ôm chân, mẹ ôm đầu, ngước mặt lên trời kêu gào. Trời Đế thích cảm động vì lòng hiếu thảo chí thành của Thiểm nên dùng thuốc thần rót vào miệng Thiểm, mũi tên liền tự bật ra và Thiểm sống lại, cha mẹ vừa kinh ngạc vừa vui mừng mở to 2 mắt. Xét trong chuyện này thì Thiểm chính là đức Thích Tôn, bà mẹ mù là Ma da phu nhân, người cha mù là phụ vương Duyệt đầu đàn, vua nước Ca di là A nan, trời Đế thích là Dilặc. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2, từ Hóa quỉ tử mẫu đi về hướng bắc hơn 50 dặm, đến nơi có 1 ngôi tháp, đó chính là chỗ Thương mạcca gặp vua nước Ca Di. [X. kinh Lục độ tập Q.5; kinh Tạp bảo tạng Q.1].

thương mại

Người buôn bán, giai cấp thứ ba trong bốn gia cấp ở Ấn Độ thời Đức Phật còn tại thế—A trader, the third of the four castes in India at the time of the Buddha—See Tứ Giai Cấp Ấn Độ.

thương mến

To love—To cherish.

thương mệnh

Sự tổn thương đến sinh mệnh—Injury to life.

thương na hoà tu

(商那和修) Phạm:Zàịa-vàsin. Pàli:Sàịa-vasì. Cũng gọi Xà na bà số, Xá na ba tư, Xá na hòa tu, Xá na bà tư, Du thế kì, Xa nặc ca (Phạm:Zàịaka), Thương nặc ca phụ sa (Phạm:Zàịaka-vàsa). Hán dịch: Thai y, Tự nhiên y, Ma y. Đệ tử ngài Anan,Tổ thứ 3 được phó pháp tạng. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 1 và Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 2, ngài Thương na hòa tu là người nước Ma đột la, họ Tì xá đa, ở trong thai mẹ đến 6 năm mới sinh ra. Sư được ngài A nan truyền cho 84.000 pháp tạng, đều nhớ giữ hết; sư đi du hóa các nơi, đến núi Mạn đà ở nước Ma đột la hóa độ 2 con rồng, rồi xây cất trụ xứ tăng ở chỗ này. Sau đó, sư đến nước Kế tân hiện 500 tam muội như định Phấn tấn... hóa độ ngài Ưu ba cúc đa và đệ tử, rồi bay lên hư không hiện Thập bát biến mà nhập Niết bàn.Do nguyện lực đời trước, trong thời gian từ khi còn ở trong thai mẹ đến khi vào Niết bàn, ngài Thương na hòa tu thường mặc áo thương na(áo thai, áo tự nhiên), không hề cởi ra, do đó mà đặt tên là Thương na hòa tu. Đó là căn cứ vào tiếng Phạm Zàịa, Hán âm là Thương na, Xa na, Thiết nhã ca, Xa nặc ca, Hán dịch là Đại ma (vải gai thô to);Vàsin, Hán âm là Hòa tu, Hán dịch là Y(áo). Theo Đại sử (Pàli:Mahàvaôsa, IV) thì ngài Thương na hòa tu vốn có tên là Tam phù đà (Pàli:Sambhùta), Tam bồ già, Tham phục đa, dịch ý là đã sinh ra. Sư cùng với ngài Ưu bà đa đến thành Tì xá li ngăn cản việc đề xướng và áp dụng 10 điều phi pháp (Thập sự phi pháp) của các tỉ khưu Bạt Kì (Pàli: Vajji). [X. phẩm Ưu ba cúc đa trong kinh Hiền ngu Q.13; kinh Xálợiphất vấn; kinh Đạt ma đa la thiền Q. thượng; luật Ngũ phần Q.30; Đại đường tây vực kí Q.7]. (xt. Thập Sự Phi Pháp).

thương na hòa tu

Sanakavasa or Sanavasa (skt)—Còn gọi là Na Hòa Tu, Thương Nặc Ca, Thương Nặc Ca Phược Sa, Xá Na Ba Tư, người em trai và cũng là đệ tử của ngài A Nan. Một vị A La Hán, mà theo Eitel, trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, cho là vị tổ thứ ba ở Ấn Độ, gốc Ma Thâu Đà, người đã chủ trì cuộc kết tập kinh điển lần thứ hai. Theo truyền thống Tây Tạng, ông được gọi là “Thiết Nặc Ca” vì khi sanh ra ông đã được trùm bởi áo Thiết nặc Ca (có thuyết nói Thương Nặc Ca là tên một loại áo. Khi ngài đổi đời mặc áo “thiết nặc ca” nên nhân đó mà gọi áo “thiết nặc ca” là áo gai. Theo Tây Vực Ký, Thương Na Hòa Tu khi còn ở kiếp trước đã lấy cỏ “thiết nặc ca” làm áo, và bố thí cho chúng Tăng vào ngày giải an cư kiết hạ. Ngài thường mặc chiếc áo nầy trong năm trăm thân. Ở đời hậu thân, ngài và chiếc áo cũng theo thai ra đời. Thân thể lớn dần, chiếc áo cũng rộng theo. Khi ngài được A Nan độ cho xuất gia, thì chiếc áo trở thành pháp phục. Khi ngài thọ cụ túc giới thì chiếc áo trở thành chiếc Cà sa 9 mảnh. Khi tịch diệt ngài phát nguyện sẽ để lại chiếc áo cho hết thảy di pháp của Đức Thích Ca, nguyện lưu cái áo lại cho đến khi đạo pháp của Đức Thích Ca truyền tận áo mới bị mục nát)—A younger brother and disciple of Ananda. An arhat, whom Eitel, in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, gives as the third patriarch, a native of Mathura, and says: “A Tibetan tradition identifies him with yasas, the leader of the II Synod. Because of his name he is associated with a hemp or linen garment, or a covering with which he was born.

thương nghị

To negotiate—To discuss.

thương nhân

(商人) Người buôn bán. Chỉ chung cho những người sống bằng nghề thương mãi. Phật giáo và giai cấp thương nhân(giai cấp thứ 3 trong 4 giai cấp của xã hội Ấnđộ đời xưa) vốn có quan hệ rất sâu xa. Những người đầu tiên cúng dường thức ăn cho đức Phật chính là 2 thương nhân tên là Đềvị (Pàli:Tapussa) và Bà lê ca (Pàli:Bhallika. Trong giáo đoàn của đức Phật có rất nhiều người xuất thân từ giai cấp thương nhân; chủ lực của tín đồ tại gia cũng là thương nhân ở các đô thị. Có thể nói thương nhân là nền tảng của Phật giáo nguyên thủy, còn nông dân thì ít người tin đạo, đây là 1 trong các nguyên nhân khiến Phật giáo diệt vong ở Ấn Độ. Đến các đoàn Bồtát của Phật giáo Đại thừa cũng lấy giai cấp thương nhân đô thị làm chính, cho nên lúc bấy giờ đã sản sinh ra các nền văn minh đô thị. Sau kỉ nguyên, đại khái tập đoàn thương nhân (Phạm:Gaịa) đã được hình thành. Cứ theo Thiên nghiệp thí dụ (Phạm:Dìvyàvadàna) thì do sự giao dịch giữa tập đoàn thương nhân cảng Sử lỗ ba lạp ca bờ biển phía tây và các thuyền buôn Hải dương nên đã lập ra pháp cấm chỉ độc quyền, độc chiếm. Những nhà đại tư sản trong giới thương nhân gọi là Tư sản giả (Phạm:Gfhapati). Trong giới tư sản giả thì bao gồm Mậu dịch thương (Phạm:Sàrthavàha), Đại hàng hải giả (Phạm: Mahà-navika), Hương liệu thương (Phạm:Gandhika)...Ngoài ra còn có Công tượng (Phạm: Àvesani), Nhiễm vật thương (Phạm:Rajaka)...

thương nhân tâm

(商人心) Tâm lái buôn, 1 trong 60 vọng tâm nói trong kinh Đại nhật quyển 1, là tâm muốn cho các học thuyết trong, ngoài đều đầy đủ để tùy nghi sử dụng và truyền dạy. Tâm này giống như người lái buôn trước đầu cơ tích trữ các loại hàng hóa, chờ khi vật giá leo thang thì bán ra để thu lời lớn, cho nên gọi là Thương nhân tâm. Phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 2 hạ) nói: Thế nào là thương nhân tâm? Nghĩa là trước thu góp các pháp, sau mới phân tích.

thương nhớ

To mourn over.

thương nặc ca phược sa

Sanakavasa or Sanavasa (skt)—See Thương Na Hòa Tu.

thương thuyết

To enter into (upon) negotiations—To negotiate.

thương tiếc

To lament—To regret—To mourn for.

thương tâm

Heart-rending (stricken—Gripping—piercing)—Pitiful.

thương tật

Thương tàn—Wounded and crippled.

thương tổn

To deteriorate—To wound someone's pride—Harmful.

thương xót

To commiserate—To have pity on—To pity—To feel pity for—To take pity for---To have mercy on someone.

thương yêu

Love—To be affectionate to.

thương yêu lẫn nhau

To love one another—Buddha spent all his life to teach all of us how to love one another.

thương yết la

Sankara (skt). 1) Kiết tường—Auspicious. 2) Tên của Thần Siva, dịch là Cốt Tỏa: Name for “Siva,” interpreted as “Bone-chains.” 3) Tên của vị ngoại đạo, một triết gia nổi tiếng vào thế kỷ thứ tám sau Tây Lịch, người nổi tiếng chống lại đạo Phật: Sankaracarya, the celebrated Indian philosopher of the eighth century A.D. who is known as a great opponent of Buddhism. ; (商羯羅) I. Thương Yết La. Phạm: Zaịkara. Cũng gọi: Thưởng ca la. Hán dịch: Cốt tỏa. Xâu chuỗi xương do ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa thờ phụng khi cúng tế. Ngoài ra cũng chỉ cho Thương yết la thiên, tức là Cốt tỏa thiên, là tên khác của trời Đại tự tại.Theo truyền thuyết, trời Đại tự tại từng xuống nhân gian giáo hóa, dắt dẫn người đời, sau khi trở về cõi trời, tín chúng tưởng nhớ nên tạo lập hình tượng khổ hạnh của ngài gầy gò, những đốt xương liền nhau như các vòng móc của chuỗi xích(tỏa) để thờ cúng, gọi là Cốt tỏa. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q. thượng]. (xt. Cốt Tỏa Thiên). II. Thương Yết La. Phạm: Zaịkara. Cũng gọi Thương yết la A xà lê (Phạm: Zaịkaràcàrya), Thương ca lạp. Nhà triết học thuộc phái Phệ đàn đa ở Ấnđộ, nhà cải cách Bà la môn giáo. Ông sinh ở Ma lạp ba nhĩ tại nam Ấn độ, sống và hoạt động vào khoảng thời gian từ năm 700 đến 750, hoặc có thuyết cho là từ năm 780 đến năm 820 Tây lịch. Ông thường đi khắp cõi Ấnđộ, thành lập giáo đoàn, tiến hành các hoạt động truyền giáo. Trực tiếp noi theo phương thức minh tưởng của Phệ đà và lí luận Vạn pháp nhất thể của Áo nghĩa thư, lại hấp thu tư tưởng Phật giáo Đại thừa và một phần giáo nghĩa của Kìna giáo mà cải cách Bà la môn giáo thành Ấn độ giáo; tạo thành lực xung kích rất lớn đối với Phật giáo và Kìna giáo, đồng thời thổi vào tư tưởng giới Ấnđộ một luồng gió mới, mà cho đến nay vẫn còn là dòng chính trong tư trào Ấnđộ. Hệ thống Nhất nguyên luận tuyệt đối(hoặc Thuần túy bất nhị luận) do ông kiến lập, cho rằng thế giới hiện tượng đều là huyễn tướng (Phạm: Màyà) chứ chẳng phải chân thực, chỉ có tinh thần cá nhân(Ngã) và nguyên tắc tối cao(Phạm) mới là sự tồn tại chân thực đồng nhất bất nhị.Những luận điểm chủ yếu của Thương yết la như sau: 1. Phạm luận: Thương yết la chủ trương Phạm tuy là chân thực và chỉ có một, nhưng vì trí tuệ của mỗi người có khác nhau, nên Phạm được thể hiện cũng chia ra Thượng phạm và Hạ phạm bất đồng. a. Thượng phạm: Phạm biểu hiện ở bậc Thượng trí là loại tinh thần tuyệt đối và có thật, đặc tính của Phạm này là: Vô đức, vô hình, vô sai biệt, vô thuộc tính. b. Hạ phạm: Phạm biểu hiện ở bậc Hạ trí vô minh, đặc tính của Phạm này là: Hữu đức, hữu ý chí, nhân cách tính, lúc này có vô số hữu tình tồn tại. 2. Thế giới quan: Có 2 cách nhìn. a. Nhìn từ môn Chân đế: Thế giới là sản phẩm của sự huyễn hóa mê vọng, cũng tức là tâm thức động thì sinh ra muôn vật, tâm thức lắng yên thì tất cả đều không. b. Nhìn từ môn tục đế: Thế giới lúc ban đầu chỉ có Phạm, bấy giờ tuy Phạm có vô lượng chủng tử lực nhưng vẫn chưa phát triển thành Danh sắc, trạng thái tối tăm tự nhiên này gọi là Phi biến dị(chẳng đổi khác). Sau khi tiếp tục kéo dài trong một thời kì, Phạm mới dùng ý chí của tự thân, phát huy năng lực của chủng tử mà biến thế giới phi biến dị thành thế giới hiện tượng thiên sai vạn biệt, gọi là Dĩ biến dị (đã đổi khác). Rồi trải qua một thời kì nữa, Phạm lại thu hồi trạng thái dĩ biến dị này và hồi phục thế giới Vị biến dị(chưa đổi khác), cứ như thế không ngừng lập đi lập lại nhiều lần, đó là Hạ phạm thế giới quan của Thương yết la. 3. Hữu tình quan: Nhìn từ lập trường Thượng trí thì hoàn toàn không có hữu tình, mà chỉ có một Tối thượng ngã (Phạm: Haramàtman) duy nhất thường trụ. Nhưng nhìn từ lập trường của Hạ trí thì vì Hạ phạm có nhân cách tính nên mới có thế giới Hạ phạm xuất hiện, đồng thời từ đó sinh ra vô số hữu tình, gọi là Cá nhân ngã (Phạm: Jivàtman). Những hữu tình này vì vô minh nên mang thêm các tính chất: Năm thứ gió, 11 căn, nhục thể... giống như bóng trăng trong nước ánh hiện ra các hiện tượng thiên sai vạn biệt. 4. Giải thoát quan: a. Nói theo Đệ nhất nghĩa đế thì bậc Thượng trí có chân ngã thường trụ, có ánh sáng, cho nên không cần phải tu hành mới chứng ngộ, đó là Thoát quan chân thực (tức vô thân giải thoát, Phạm: Videha mukti), nghĩa là đạt đến thế giới Phạm. b. Nói theo tín ngưỡng của Hạ phạm thì hàng Hạ trí phải tu tịch tĩnh, tiết chế, lìa dục, cúng tế, khổ hạnh... và sau khi thân diệt thì từ thiên đạo mà nhập vào thế giới Phạm. Ông có các trứ tác: Phạm kinh (Phạm: Brahma-sùtra) chú, Bạc già phạm ca (Phạm:Bhagavad-gìta) chú, Ngã chi giác tri (Phạm: Àtman-bodha) Vấn đáp man (Phạm: Upadeza-sahasrì), Ngũ phần pháp...

thương yết la chủ

(商羯羅主) Phạm: Zaịkara-svàmin. Hán âm: Thương yết la tắc phạ di. Hán dịch: Cốt tỏa. Cũng gọi Thương yết la chủ bồ tát. Học giả Nhân inh người Ấn Độ, học trò ngài Trầnna, sống vào thế kỉ VI, ra đời kế sau ngài Thế Thân, Trần Na... Cái học của sư lấy Nhânminh làm tông chỉ, giải thích luận Nhân minh chính lí môn của thầy mình là bồ tát Trần Na, soạn luận Nhân Minh nhập chính lí 1 quyển để phá đổ tà thuyết của ngoại đạo, đồng thời phục hưng Nhân minh học. Thương yết la vốn là tên khác của trời Đại tự tại, cha mẹ sư nhờ cầu xin vị trời này mà sinh được sư nên đặt tên là Thương yết la chủ. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q. thượng; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.1]. (x. Cốt Tỏa Thiên).

thương điếm

Trading place.

thương đàm

To negotiate.

Thương-na Hoà-tu

商那和修; S: śānavāsin;|Tổ thứ 3 của Thiền tông Ấn Ðộ

Thương-yết-la-chủ

商羯羅主; C: shāngjiéluózhŭ; J: shōkarashu; S: śaṃkarasvāmin|Nhà luận lí học Ấn Độ vào cuối thế kỉ thứ 6. Sư là đệ tử của Trần-na (s: dignāga) và là tác giả của Nhân minh nhập chính lí luận (因明入正理論, s: nyāyapraveśa-śāstra), một trong những tác phẩm chủ yếu về luận lí học ở Đông á.

Thượng Tọa Định

(定上座, Jō Jōza, ?-?): nhân vật sống cuối thời nhà Đường, vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc. Cuối phần Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄), theo ký lục của Lâm Tế Lục (臨濟錄) cho thấy, ông thuộc pháp từ của Lâm Tế. Còn trong Bích Nham Lục (碧巖錄) thì sau khi đắc pháp, ông có vấn đáp với ba nhân vật Nham Đầu Toàn Khoát (巖頭全奯), Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存) và Khâm Sơn Văn Thúy (欽山文邃).

thước

1) Chim ác là: Magpie—Jay—Daw. 2) Nấu chảy kim loại—To melt metal. 3) Sáng rực: Bright—Glistening—Flashing—Shining.

thước ca la

Sakraditya (skt)—Chước Ca Bà La—Chước Ca La—Chước Yết La. 1) Luân: Cakra (skt)—Vòng bánh xe—A wheel. 2) Núi Tu Di: See Meru in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Sumeru Mountain in English-Vietnamese Section. 3) Một vị vua của xứ Ma Kiệt Đà sau thời Phật Thích Ca. Vị nầy đã xây một tháp thờ Phật tại đây—A king of Magadha, some time after Sakyamuni's death, to whom he built a temple. ; (爍迦羅) Phạm: Cakra. Pàli:Cakka. Cũng gọi Chước yết la, Chước ca la, Chước ca bà la. Nghĩa là kim cương, cứng chắc, bánh xe sắt... Chẳng hạn như từ ngữCakravàđa của tiếng Phạm là chỉ cho núi Thiết vi (núi sắt bao quanh). Lại như kinh Lăng nghiêm quyển 3 (Đại 19, 119 trung) nói: Tâm thước ca la không chuyển động, thì thước ca là có nghĩa là tinh tiến, kiên cố. Lại thước ca la nhãn nghĩa là mắt kim cương, mắt sắc sảo, tức chỉ cho con mắt sáng suốt thấy rõ tà chính, phân biệt được hay dở... [X. Bích nham lục tắc 9; Tuệ lâm âm nghĩa Q.42; Huyền ứng âm nghĩa Q.23].

thước ca la a dật đa

See Thước Ca La.

thước cạt để

See Thước Ngật Để.

thước ngật để

Sakti (skt)—Tướng hay dấu hiệu—A tally or sign.

thước sào

1) Tổ chim ác là: A magpie's net. 2) Nơi dùng cho thiền tập: Sometimes applied to a place of meditation.

thước sào hoà thượng

(鵲巢和尚) Thiền sư Trung quốc, tên là Đạo lâm, thuộc tông Ngưu đầu, sống vào đời Đường, người ở Phú dương, Hàng châu, họ Phan (có thuyết nói họ Ông). Sư từng thấy trên núi Tần vọng có cây tùng cao lớn, tàn tán uốn tròn như cái lọng, sư bèn trụ trên tàn cây ấy, cho nên người đương thời gọi sư là Điểu khòa thiền sư(Thiền sư ổ chim), bên cạnh sư có chim khách(thước) đến làm tổ, cho nên cũng gọi là Thước sào thiền sư (Thiền sư tổ chim khách). (xt. Điểu Khỏa Đạo Lâm).

thước viên

Trúc Lâm—Vườn có nhiều chim ác là, ám chỉ vườn Trúc Lâm—Magpie garden, applied to Venuvana. ; (鵲園) Phạm: Veịuvana kàraịđaka nivàpa. Chỉ cho rừng trúc Ca lan đà. Tiếng Phạm: Kàraịđaka, Hán dịch là Thước (chim khách), là loài chim có giọng hót hay, vì thế rừng trúc Ca lan đà được dịch là Trúc lâm thước viên. Trong các kinh vốn không có từ ngữ Thước viên, nhưng vì chùa Kê tước của vua A dục cũng gọi là Tước viên, cho nên dựa theo đồng âm mà gọi là Thước viên. Chẳng hạn như bài tựa Nội điển bi minh tập trong Quảng hoằng minh tập quyển 20 (Đại 52, 244 hạ) nói: Thước viên khéo dụ, Mã uyển rộng tuyên, từ Mã uyển dẫn trên đây là chỉ cho chùa Bạch mã ở đời Hán.

thước yết la

Sakra (skt)—Thích Ca La—Thích Yết La—Xa Yết La. 1) Tên của Trời Đế Thích: Name of Indra. 2) Tên của một xứ vùng bắc Ấn: Name of a country north of India.

thước yết la giáo

Giáo pháp của Trời Đế Thích—Indra's dharma.

thước đổ lư

Satru (skt)—Tên của một loài quỷ (kẻ thù)—Name of a demon, enemy.

thướt tha

Slender.

thườn thượt

Very long.

thường

1) Thường hằng: Nitya (skt)—Eternity—Prolonged—Constant Permanent—Constant and eternal. 2) Bình thường: Normal—Ordinary—Regular—Often. 3) Bồi thường: To make amends—To compensate—To repay.

thường ba la mật

Thường là Ba La Mật đầu tiên trong Tứ Ba La Mật—Eternity—The first of the four paramitas, the others are Bliss (Lạc), Personality (Ngã), Purity (Tịnh)—See Thường Lạc Ngã Tịnh.

thường bàn đại định

(常盤大定) Học giả nghiên cứu Phật giáo Trung Quốc, người huyện Cung Thành, Nhật Bản, hiệu Lựu Khâu, thuộc phái Đại Cốc, Chân Tông.Năm 17 tuổi, ông vào chùa Đạo nhân ở phố Tiên đài, năm 29 tuổi tốt nghiệp môn triết học, khoa Văn thuộc trường Đại học Đông kinh. Ông lần lượt làm giáo sư các trường: Trung học Chân tông, Đại học Thiên thai tông, Đại học Nhật liên tông, Đại học Chân tông, Đại học Phong sơn, Đại học Đế quốc Đông kinh... Ông suốt đời nghiên cứu Phật giáo Trung quốc. Từ năm Đại chính thứ 9 (1920) trở đi, ông từng đến Trung quốc 5 lần, nghiên cứu sử tích Phật giáo. Năm Chiêu hòa thứ 6 (1931), ông nghỉ dạy ở Đại học Đế quốc Đông kinh. Sau, ông làm Bình nghị viên của học viện văn hóa Đông phương thuộc trường đại học Nghĩa thục Khánh ứng, đồng thời kiêm nhiệm giáo sư Đại học Đông dương. Năm Chiêu Hòa 14 (1939), ông sáng lập viện Phật học Nhật bản và tự làm Hiệu trưởng. Năm Chiêuhòa 20 (1945), ông qua đời, thọ 76 tuổi. Ông có các tác phẩm: Ấn độ văn minh sử, Thích ca mâu ni truyện, Chi na Phật giáo sử tích 6 tập; Chi na Phật giáo sử tích bình giải 6 tập; Chi na Phật giáo sử tích bình giải (Anh văn) 5 tập (soạn chung với Tiến sĩ Quan Dã), Chi na văn hóa sử tích 12 tập, Chi na văn hóa sử tích giải thuyết 12 (soạn chung với Tiến sĩ Quan dã). [X. Đạo nhân tự tàng bi văn; Đại nhân danh sự điển].

thường bất khinh bồ tát

Sadaparibhuta (skt)—Theo Phẩm 20 Kinh Pháp Hoa, Thường Bất Khinh Bồ Tát là tiền thân Phật Thích Ca, Ngài luôn chào hỏi và tán thán những người Ngài gặp và nói “Tôi không dám khinh các Ngài vì các Ngài rồi đây sẽ thành Phật.” Thường Bất Khinh Bồ Tát là tiền thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni—According to the Lotus Sutra, Chapter 20, Never Despite (Never Slighted) Bodhisattva was the previous incarnation of the Buddha. Bodhisattva who constant greeted all beings he met and praised that they were destined for Buddhahood. Never Despite (slighted others) Bodhisattva, a former reincarnation of Sakyamuni Buddha. ; (常不輕菩薩) Thường bất khinh, Phạm: Sadàparibhùta. Cũng gọi: Thường bị khinh mạnbồtát. Gọi tắt: Bất khinhtồtát. Vị Bồ tát nói trong phẩm Thường bất khinh bồ tát kinh Pháp hoa, là vị Bồ Tát tỉ khưu ra đời vào thời Tượng pháp của đức Phật Uy âm vương ở quá khứ, chính là tiền thân của đức Thích tôn. Vị Bồ tát này mỗi khi thấy các tỉ khưu, tỉ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di thì đều lễ bái, khen ngợi và nói rằng (Đại 9, 184 hạ): Tôi rất cung kính quí vị, không dám khinh nhờn, vì sao? Vì quí vị đều thực hành đạo Bồ tát và sẽ được thành Phật. Mọi người nghe rồi cũng có người tức giận, lấy gạch, ngói, gậy gộc đánh, ném, nhưng Bồ tát thường bất khinh vẫn cung kính, cho đến thấy 4 chúng từ xa cũng lại lễ bái khen ngợi như trước, vì thế nên 4 chúng tăng thượng mạn gọi Ngài là Thường bất khinh. Lúc vị Bồ tát này lâm chung, nghe đức Phật Uy âm vương giảng nói kinh Pháp hoa, được 6 căn thanh tịnh, thọ mệnh tăng thêm, lại giảng nói kinh Pháp hoa cho người khác nghe, hiển hiện thần thông, nên làm cho 4 chúng tăng thượng mạn qui phục, cuối cùng Bồ tát Thường bất khinh được thànhPhật. Bồ tát Thường bất khinh thời bấy giờ nay chính là đức Thích tôn, 4 chúng tăng thượng mạn là chỉ cho 500 Bồ tát như Bạt đà ba la..., 500 tỉ khưu ni như Sư tử nguyệt..., 500 ưu bà tắc như Tư Phật... trên hội Pháp hoa của đức Thích tôn. Sự thụ kí của vị Bồtát này là thị hiện chúng sinh đều có Phật tính, cũng tức là1 trong các vị Bồtát quan trọng biểu hiện tinh thần của Phật giáo Đại thừa. Hạnh thường bất khinh cũng là hạnh tu của các hành giả chí thành xưa nay. Như trong Lịch đại tam bảo kỉ quyển 12 có ghi, ngài Tín hành đời Tùy, gặp bất kì ai trên đường đều lễ bái. Trong luận Niệm Phật tam muội bảo vương quyển thượng, có lập một môn Niệm vị lai Phật cho thấy rõ rằng hạnh bất khinh trong kinh Pháp hoa và hạnh niệm Phật chỉ là một. [X. kinh Thiêm phẩm diệu pháp liên hoa Q.6; luận Pháp hoa Q. hạ; Pháp hoa kinh văn cú Q.10 thượng; Pháp hoa kinh huyền tán yếu tập Q.34].

Thường Chiếu

常照; ?-1203|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái thiền Vô Ngôn Thông, pháp hệ thứ 12. Sư kế thừa Thiền sư Quảng Nghiêm và truyền pháp lại cho Thông Thiền và Thần Nghi.|Sư họ Phạm, quê ở làng Phù Ninh. Ðời vua Lí Cao Tông, Sư có giữ một chức quan nhưng sau đó từ chức, xuất gia tu học với Thiền sư Quảng Nghiêm ở chùa Tịnh Quả. Trong hội Quảng Nghiêm, Sư là người đứng đầu chúng và ở lại hầu thầy nhiều năm.|Rời Quảng Nghiêm, Sư đến phường Ông Mạc trụ trì một ngôi chùa cổ nhưng sau lại dời về chùa Lục Tổ ở làng Dịch Bảng, phủ Thiên Ðức. Học chúng quy tụ về ngày càng đông. Danh tiếng Sư vang khắp tùng lâm.|Ngày 24 tháng 9 niên hiệu Thiên Gia Bảo Hựu thứ hai, Sư có chút bệnh gọi chúng lại nói kệ phó chúc:|道本無顏色。新鮮日日誇|大天沙界外。何處不爲家|Ðạo bản vô nhan sắc|Tân tiên nhật nhật khoa|Ðại thiên sa giới ngoại|Hà xứ bất vi gia.|*Ðạo vốn không màu sắc|Ngày ngày lại mới tươi|Ngoài đại thiên sa giới|Chỗ nào chẳng là nhà.|Nói xong, Sư ngồi Kết già thị tịch.

thường chiếu

Tên của một thiền viện tân lập, tọa lạc tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Biên Hòa, Nam Việt Nam. Thiền viện được Thiền Sư Thích Thanh Từ sáng lập năm 1974, mang tên một danh sư Việt Nam thời Lý. Thiền viện hiện nay được mở rộng, là trung tâm của các thiền viện nổi tiếng trong vùng như Viên Chiếu (1974), Linh Chiếu (1974), Huệ Chiếu (1975), và Phổ Chiếu (1975)—Name of a newly built Ch'an Institute, located in Phước Thái village, Long Thành district, Biên Hòa province. The Ch'an Institute was built in 1972 by Most Venerable Thích Thanh Từ, and was named after a Vietnamese famous Master in the Lý dynasty. Nowadays, the enlarged Cha'n Institute is the center of other famous Ch'an Institutes, i.e. Viên Chiếu (1974), Linh Chiếu (1974), Huệ Chiếu (1975), and Phổ Chiếu (1975).

thường chiếu thiền sư

Zen Master Thường Chiếu (?-1203)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Phù Ninh, Bắc Việt. Ngài là một viên quan của triều đình, nhưng xuất gia và trở thành đệ tử của Thiền sư Quảng Nghiêm tại chùa Tịnh Quả. Ngài là pháp tử đời thứ 12 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Về sau, ngài đến làng Ông Mạc và trụ tại một ngôi chùa cổ. Phần đời còn lại của ngài, ngài dời về chùa Lục Tổ trong vùng Thiên Đức để hoằng hóa Phật giáo cho đến khi ngài thị tịch vào năm 1203—A Vietnamese Zen master from Phù Ninh, North Vietnam. He was a mandarin of the royal court before he left home and became a disicple of Zen master Quảng Nghiêm at Tịnh Quả Temple. He was the dharma heir of the twelfth generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. Later, he went to Ông Mạc village and stayed at an old temple for some years. He spent the rest of his life to expand Buddhism at Lục Tổ Temple in Thiên Đức. He passed away in 1203.

thường chuyển như thị kinh

(常轉如是經) Lời ngài Bát nhã đa la, Tổ thứ 27 trong 28 vị Tổ phó pháp tương thừa của Thiền tông Ấn độ. Tức lời ngài Bát nhã đa la tự nói những hành vi hàng ngày chính là trạng thái hợp với chân như thực tướng và dùng kinh điển ví dụ cho chân như thực tướng, đồng thời cho rằng tự thân và các pháp dung hợp thành một thể. Thung dung lục tắc 3 (Đại 48, 229 thượng) ghi: Tổ nói: Bần đạo thở vào không trụ ấm giới, thở ra không dính mắc các duyên, thường chuyển như thị kinh trăm ngàn muôn ức quyển.

thường chân

(常真) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Liêu, từng ở chùa Khai nguyên tại Triệu châu, thuộc tỉnh Hàbắc. Sư có soạn bộ Câu xá luận tụng sớ sao 8 quyển, làsách chú thích Câu xá luận tụng sớ của ngài Viên Huy đời Đường. Sau, ngài Nghĩa thiên người Cao li mang bộ sớ sao này về nước rồi khắc in ở chùa Hải Ấn.

thường có

Frequent.

thường cảnh

Cảnh giới lìa bỏ tất cả mọi tướng sanh diệt—The eternal realm.

thường dân

Civilian.

thường dùng

In current (common) use.

thường dạ đăng

(常夜燈) Cũng gọi Thường minh đăng, Vô tận đăng, Thường đăng minh, Thường đăng. Chỉ cho ngọn đèn không phân ngày đêm, không ngừng thắp sáng cúng dường trước Phật. Thắp đèn vốn là để cúng Phật, mà Phật là bậc đã đạt được đại giác ngộ, đại giải thoát, bậc đã chứng được Niết bàn, bản tính thường trụ, vốn không có cái mà phàm phu gọi là ngày đêm sáng tối khác nhau. Nhưng vì muốn cho người bố thí được phúc, cho nên pháp thắp đèn cúng Phật cũng nên thắp ngày đêm không dứt, thường cháy không tắt. Sự tích người đàn bà nghèo cúng đèn ghi trong kinh Hiền Ngu quyển 3 có lẽ đã bắt nguồn từ Trường dạ đăng. [X. phẩm Vấn Phật sự trong kinh Mục liên vấn giới luật trung ngũ bách khinh trọng sự Q. thượng; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q. hạ, phần 4]. (xt. Trường Minh Đăng).

thường hay

Consistently

Thường Hiểu

(常曉, Jōgyō, ?-866): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời Bình An, húy là Thường Hiểu, thông xưng là Tiểu Lật Thê Luật Sư (小栗栖律師), Nhập Đường Căn Bản Đại Sư (入唐根本大師). Ban đầu ông theo Phong An (豐安) ở Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji) học về Tam Luận, đến năm 815 thì thọ giới, rồi sau đó thọ phép Quán Đảnh với Không Hải (空海, Kūkai). Vào năm 829, ông làm Đạo Sư cho Ngự Trai Hội, rồi năm 838 thì sang nhà Đường cầu pháp với tư cách là Lưu Học Tăng học về Tam Luận, rồi được Linh Tiên (靈仙), vị tăng sang nhà Đường trước ông, phó chúc lại các di phẩm tại Hoài Nam (淮南). Sau ông thọ phép Quán Đảnh với Văn Tế ở Thê Linh Tự (栖靈寺), Dương Châu (揚州), theo học Tam Luận với Nguyên Chiếu (元照) ở Hoa Lâm Tự (華林寺), và đến năm 839 thì trở về nước. Năm sau, ông cho an trí tượng Thái Nguyên Soái Minh Vương (太元帥明王) tại Pháp Lâm Tự (法琳寺), vùng Vũ Trị (宇治, Uji), rồi được sắc chỉ cho phép lập Tu Pháp Viện (修法院) để trấn hộ quốc gia, và cùng năm đó thì tiến hành pháp tu Thái Nguyên Soái tại Thường Ninh Điện (常寧殿) trong cung nội. Trước tác của ông để lại có Tôn Thắng Phật Đảnh Thứ Đệ (尊勝佛頂次第), Nhập Đường Căn Bổn Đại Sư Ký (入唐根本大師記), Tấn Quan Thỉnh Lai Lục (進官請來錄), A Tra Bà Câu Thứ Đệ (阿吒婆倶次第) 1 quyển.

thường hành

1) Những phương pháp bình thường: Ordinary procedures. 2) Thường xuyên tu hành—Constantly doing, or practising.

thường hành tam muội

(常行三昧) Cũng gọi Bát chu tam muội. Một trong 4 loại Tam muội do tông Thiênthai lập ra, là phương pháp hành đạo dựa theo kinh Bát chu tam muội bằng cách đi nhiễu quanh đạo tràng từ 7 cho đến 90 ngày để mong được thấy Phật. Nhất hạnh tam muội nói trong kinh Văn thù bát nhã tức là Thường tọa tam muội, là pháp đặc biệt chỉ chuyên việc ngồi; còn Thường hành tam muội thì trái lại, là pháp đặc biệt chỉ chuyên việc đi nhiễu. Khi tu pháp này, một mình ở nơi vắng vẻ, thường đi khất thực, không nhận thỉnh riêng, trang nghiêm đạo tràng, sắm sửa các vật cúng như hương đèn, hoa thơm, quả ngọt..., tắm gội thân thể. Trong thời gian tu hành, đi bộ chung quanh tượng Phật A di đà, miệng xưng niệm danh hiệu Phật A di đà, tâm tưởng niệm Phật A di đà, tức mỗi bước đi, mỗi tiếng niệm đều tưởng nhớ Phật A di đà, gọi là Tam muội. Hoàn thành Tam muội này liền được thấy chư Phật, cho nên cũng gọi là Phật lập tam muội(tức trạng thái thiền định thấy Phật đứng trước mặt hành giả). Trong Bát chu tam muội hành đạo vãng sinh tán do ngài Thiện đạo soạn, Bát chu được dịch là Thường hành đạo, vì 3 nghiệp hành đạo không gián đoạn nên gọi là Thường hành đạo. Còn trong Quán niệm pháp môn thì có nói rõ về pháp Bát chu tam muội thấy Phật. Từ đời Tống trở về sau, Liên xã niệm Phật được thịnh hành chính đã kế thừa pháp này mà có. Tại Nhậtbản thì tu 4 thứ Tam muội là các pháp Tam muội đầu tiên do Tổ khai sáng tông Thiênthai là ngài Tối trừng lập ra ở núi Tỉ duệ. [X. Ma ha chỉ quán Q.2, thượng]. (xt. Bát Chu Tam Muội).

thường hành tam muội đường

(常行三昧堂) Gọi tắt: Thường hành đường. Cũng gọi: Thường hành Phật lập tam muội viện, Bát chu tam muội viện, A di đà tam muội đường. Chỉ cho ngôi nhà được thiết lập dành cho việc tu hành pháp Niệm Phật tam muội, pháp này dựa theo kinh Bát chu tam muội và thờ Phật A di đà làm Bản tôn. Pháp Bát chu tam muội bắt đầu được thực hành do ngài Tuệ viễn đời Đông Tấn, tinh xá Bát nhã đài ở Lô sơn là nơi mở đầu cho các đạo tràng tu theo pháp này. Đến đời Đường, ngài Thừa viễn thiết lập đạo tràng Bát chu ở Hành sơn, học trò ngài Thừa viễn là sư Pháp chiếu thì lập đạo tràng ở chùa Trúc lâm trên núi Ngũ đài, cả hai đạo tràng đều tu Bát chu tam muội. Ngài Viên nhân người Nhật bản đến núi Ngũ đài tu tập pháp Niệm Phật tam muội; sau khi trở về Nhật bản, ngài kiến lập Thường hành tam muội đường ở núi Tỉ duệ, bắt đầu tu pháp Niệm Phật không gián đoạn. [X. Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí Q.3; luận Hiển giới Q. thượng].

thường hằng

Permanent—Constantly.

thường kiến

quan điểm sai lầm cho rằng thân tâm này với các pháp thế gian là thường tồn, không dứt mất, chẳng hạn như cho rằng mỗi con người đều có một linh hồn bất diệt. ; Eternalism—Holding to the view of permanence or immortality—Permanence—The view that holds personality as permanent—See Nhị Kiến (B) (2). ; (常見) Phạm:Nityadfwỉi, Zàzvatadfwỉi. Pàli:Sassata-diỉỉhi. Cũng gọi: Thường tà kiến, Thường luận. Đối lại: Đoạn kiến. Một trong 2 thứ kiến chấp. Tức kiến chấp chủ trương thế giới là thường còn không biến đổi, cái Ta của con người là bất diệt, cái ta của con người sau khi chết cũng không tiêu mất, lại có khả năng tái sinh và diễn lại hiện trạng tương tục, tức nói Ta là thường còn; chấp trước kiến giải này gọi là Thường kiến. Đại tuệ thư (Đại 47, 923 trung) nói: Thường kiến có nghĩa là không hiểu tất cả pháp đều không, chấp trước các pháp hữu vi ở thế gian là rốt ráo. Ngoại đạo chủ trương Thường kiến này gọi là Thường kiến ngoại đạo. Kiến giải về Thường kiến có nhiều thứ khác nhau, tức trong kiến giải thừa nhận cái Ta quá khứ, vị lai và thế gian làthường, những người chấp cái Ta quá khứ và thế gian là thường, thì có một phần thường và hết thảy thường khác nhau.; còn những người chấp vị lai là thường thì có hữu tưởng và vô tưởng khác nhau. Trong 62 kiến chấp thì 18 kiến chấp là Quá khứ(tiền tế) phân biệt kiến, 44 kiến chấp còn lại là Vị lai (hậu tế) phân biệt kiến. Trong đó, 4 thứ Biến thường luận, 4 thứ Nhất phần thường luận (thuộc Quá khứ phân biệt kiến), 16 thứ Hữu tưởng luận, 8 thứ Vô tưởng luận, 8 thứ Phi tưởng phi phi tưởng luận(thuộc Vị lai phân biệt kiến) và Cực vi thường trụ luận chấp cực vi là thường trụ đều thuộc về Kế thường luận. Trong các kinh luận thường chỉ bày rõ việc dùng Không quán đối trị Thường kiến.Đức Thích tôn thì chẳng thiên về Thường kiến (Hữu kiến), mà cũng không thiên về Đoạn kiến(Vô kiến). Còn thuyết Linh hồn bất diệt thì thuộc về Thường kiến, Hư vô chủ nghĩa thì thuộc về Đoạn kiến; đức Thíchtôn thì xa lìa 2 bên Hữu, Vô mà chủ trương Trung đạo. Thường kiến và Đoạn kiến đều chẳng phải Trung đạo, đều là Biên kiến, Thiên kiến, là Ác kiến thứ 2 trong 5 Ác kiến. [X. kinh Tạp a hàm Q.34; kinh Niết bàn Q.27 (bản Bắc); luận Đại tì bà sa Q.49; luận Du già sư địa Q.6]. (xt. Đoạn Kiến).

thường lưu

(常流) Cũng gọi Thường phàm. Chỉ cho nhân vật phàm tục. Thung dung lục tắc 47 (Đại 48, 256 hạ) ghi: Cây bách trước sân, phướn gió trên sào, như một đóa hoa nói lên ý xuân man mác, như một giọt nước nói lên biển cả mênh mông, thế gian sinh cổ Phật, khác xa thường lưu, không rơi vào nói năng, suy nghĩ.

thường lạc ngã tịnh

Bốn phẩm chất của cuộc đời Đức Phật được giảng trong Kinh Niết Bàn—The four paramitas of knowledge—Four noble qualities of the Buddha's life expounded in the Nirvana Sutra—Four transcendental realities in nirvana (Eternity, Bliss, Personality or true self, Purity). ; (常樂我淨) I. Thường Lạc Ngã Tịnh. Cũng gọi Niết bàn tứ đức. Chỉ cho 4 đức của Niết bàn Đại thừa và pháp thân Như lai. Sự giác ngộ đạt đến cảnh giới Niết bàn là sự giác ngộ vĩnh viễn không biến đổi, được gọi là Thường; cảnh giới ấy không có các khổ não, chỉ có an vui, gọi là Lạc; được tự do tự tại, không một mảy may bó buộc, gọi là Ngã; không có phiền não nhiễm ô, gọi là Tịnh. [X. kinh Niết bàn Q.23 (bản Bắc); luận Phật tính Q.2]. (xt. Tứ Đức). II. Thường Lạc Ngã Tịnh. Chỉ cho 4 kiến giải sai lầm vì phàm phu không biết chân tướng của mình và thế giới vốn là vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh mà sinh ra. Thường là hiểu lầm rằng con người sẽ tồn tại vĩnh viễn; Lạc là cho rằng đời người là khoái lạc; Ngã là tưởng lầm mình có tự do, tự chủ, là cái ta chủ thể có thể nắm bắt được; Tịnh là cho rằng thân tâm mình trong sạch. Đây cũng là 4 cái điên đảo. Cho nên Phật giáo thời kì đầu ở Ấn độ đã dạy tu tập 4 Niệm xứ để đối trị 4 cái điên đảo này, đó là: Quán thân là bất tịnh, Cảm thụ là khổ, tâm là vô thường, các pháp là vô ngã. (xt. Tứ Điên Đảo).

thường lập thắng phan

Avanamita-vaijayanta (skt)—Danh hiệu của Đức Phật mà ngài A Nan sẽ thành sau nầy—Ever errect victorious banner—Name of Ananda's future Buddha-realm.

Thường Lục

(常陸, Hitachi): tên gọi của một tiểu quốc ngày xưa, nay thuộc đại bộ phận của Ibaraki-ken (茨城縣).

thường lục thiên đức tự ngữ lục

(常陸天德寺語錄) Gọi đủ: Nguyệt pha thiền sư trụ Thường lục châu Đại tông sơn Thiên đức tự ngữ lục. Ngữ lục, 4 quyển, do ngài Nguyệt pha Đạo ân (1637-1716) thuộc tông Tào động Nhật bản soạn, các vị Nguyên trạm... biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 82. Nội dung thu chép các pháp ngữ của ngài Đạo ấn khi trụ chùa Thiên đức gồm: Nhập môn, thướng đường, tiểu tham, phổ thuyết, trà thoại, cơ duyên, niêm cổ, tụng cổ, pháp ngữ, khai quang, niêm hương, Phật sự, thị kệ, ca, thư...

thường lực

Lực không bao giờ mất—Unfailing powers.

thường một

Luôn luôn bị chìm đắm trong biển sanh tử—Ever drowning in the sea of mortality.

thường một chúng sinh

(常沒衆生) Cũng gọi Thường một phàm phu. Chỉ cho chúng sinh thường chìm đắm trong cõi mê không thoát ra được. Kinh Niết bàn quyển 32 (bản Bắc) ví dụ sông như biển lớn sinh tử, tắm gội như việc xuất gia thụ giới có công năng thanh tịnh, giặc cướp như phiền não, ví dụ việc hái hoa như dùng hoa thất tịnh làm nhân để cầu quả Niết bàn. Từ các ví dụ trên mà nêu ra 7 hạng người bên sông Hằng: Xiển đề, người trời, nội phàm, 4 quả, Duyên giác, Bồ tát và Phật. Bảy hạng người này, có người xuống sông để tắm gội, có người xuống sông vì sợ giặc cướp, có người xuống sông để hái hoa. Trong đó, hạng người thứ nhất vì sức yếu đuối lại không biết bơi nên bị chìm trong sông; giống như hạng người Xiển đề gần gũi bạn ác, nghe theo tà pháp, vì nghiệp ác sâu nặng lại không có đức tin nên chìm đắm trong sông sinh tử. Hạng người thứ hai tuy có đủ sức khỏe, đã 1 lần ra khỏi, nhưng vì chưa tập bơi lội nên bị chìm lại, giống như người trời tuy tiến lại lui, đã từng gần gũi bạn lành, lại có tín tâm, nhưng lại gặp bạn ác, nghe theo tà pháp nên lại chìm trong sông sinh tử. Hai hạng người nói trên đều là phàm phu, thường chìm đắm trong sông sinh tử không thoát ra được.

thường nghiệp

Acinna (p)—Habitual karma—See Nghiệp Thường.

thường nhãn

Mắt thịt của phàm phu—The ordinary physical eye.

thường niên

Yearly—Annually.

thường niệm

Luôn luôn ức niệm (theo Kinh Pháp Hoa, nếu có chúng sanh có nhiều dâm dục, mà biết thường xuyên niệm tụng Quán Thế Âm Bồ Tát, thì có thể lìa bỏ dâm dục)—Always remembering; Always repeating.

thường niệm phật

(常念佛) Cũng gọi Bất đoạn niệm Phật. Niệm Phật liên tục không ngừng trong thời gian dài. Tức trong số ngày cố định hoặc trong 12 thời hằng ngày, liên tiếp niệm danh hiệu Phật A di đà không gián đoạn. Đây là pháp tu tập của tông Tịnh độ, tương đương với Thường hành tam muội trong 4 loại tam muội. Pháp này y cứ theo lời dạy trong kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 346 thượng): Dốc lòng như thế, khiến cho tiếng niệm không dứt, đầy đủ 10 niệm, xưng Na mô A di đà Phật. Quán vô lượng thọ kinh sớ quyển 4 (Đại 37, 272 trung) nói: Một lòng chuyên niệm danh hiệu Diđà, đi đứng ngồi nằm, bất luận thời gian lâu mau, niệm niệm không bỏ, đó gọi là Chính định nghiệp. (xt. Niệm Phật, Thường Hành Tam Muội).

thường niệm quan âm

(常念觀音) Nhớ nghĩ Quán âm tương tục không ngừng trong thời gian dài. Phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa quyển 7 (Đại 9, 57 thượng) nói: Nếu có chúng sinh nào đa dâm mà thường niệm cung kính bồ tát Quán thế âm thì lìa được dâm dục. Thường niệm là thường khởi tâm chính niệm. Chính niệm có 2 mặt là Sự và Lí. 1. Thường niệm về mặt Sự: Ngày đêm, đi đứng ngồi nằm đều niệm thần lực của Quán âm không lúc nào quên. 2. Thường niệm về mặt Lí:Y cứ vào 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên mà có khác nhau, nhưng đều lấy Quán âm làm thể của chính niệm. a. Nói theo Tạng giáo thì dùng Bất tịnh quán và Cửu tưởng quán để xa lìa tâm dâm.b. Nói theo Thông giáo thì xem các cảnh giới nam nữ đều do nhân duyên sinh ra, quán tự tính không để diệt tình dục. c. Nói theo Biệt giáo thì trước hết quán tức không để phá chấp có thật, kế đến quán có giả để phá chấp tướng không, sau cùng quán chẳng có chẳng không để lìa 2 bên không, giả mà thuận theo Trung đạo. d. Nói theo Viên giáo thì xem tất cả cảnh giới vốn dung thông nhất vị không có thể tính riêng, năng ái, sở ái đều là pháp tính, thực tướng, không có mình, người khác nhau, rốt ráo vô tướng, cho nên tâm ái trước liền diệt, đó là cách không đoạn mà tự trừ. [X. Ma ha chỉ quán Q.9 thượng; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.9, phần 2].

Thường Phước Tự

(常福寺, Jōfoku-ji): ngôi tự viện của Tịnh Độ Tông, hiệu núi là Thảo Địa Sơn (草地山); tên chính thức là Thảo Địa Sơn Liên Hoa Viện Thường Phước Tự (草地山蓮華院常福寺); hiện tọa lạc tại số 1222 Urizura (瓜連), Naka-shi (那珂市), Ibaraki-ken (茨城縣). Chùa được Liễu Thật Thượng Nhân (了實上人), Tổ thứ 6 của Tịnh Độ Tông, sáng kiến trong khoảng thời gian niên hiệu Diên Nguyên (延元, 1336-1339). Sau đó, vào năm 1388 (Gia Khánh [嘉慶] 2), Tăng Phòng bị cháy rụi, vị Tổ đời thứ 2 của chùa là Liễu Dự Thượng Nhân (了譽上人) mới dời chùa về khu di tích Thành Qua Liên (瓜連城) và tái kiến lại như cũ. Từ đó về sau, chùa kết thâm giao với nhà Thiên Hoàng, chính quyền Mạc Phủ, nên đã phát triển rực rỡ. Chùa quản lý khoảng hơn 100 ngôi chùa con và hưng thịnh tột đỉnh. Tuy nhiên, vào năm 1871 (Minh Trị [明治] 4), chùa bị tước đi ấn tín cũng như khá nhiều đất đai sở hữu, cho nên phải chịu cảnh hoang phế. Về sau, các đời Trú Trì đã tận lực lập kế hoạch tái kiến chùa và kiến trúc hiện tại được xây dựng vào năm 1973 (Chiêu Hòa [昭和] 48).

thường quang

ánh hào quang thường tỏa chiếu ra từ nơi thân Phật, cũng gọi là Thân quang, khác với Phóng quang là ánh hào quang phóng ra khi có những nhân duyên nhất định. ; Ánh sáng không ngừng của hóa thân Phật—The constant or eternal light—The unceasing radiance (halo) of the Buddha's body. ; (常光) Cũng gọi Viên quang, Trượng quang, Thường quang nhất trượng, Thường quang nhất tầm. Vòng hào quang của Phật, 1 trong 32 tướng của Phật. Tức ánh sáng thường bao quanh bên thân Phật, Bồ tát, chiếu sáng suốt ngày đêm. Theo luận Đại tì bà sa quyển 177 thì ánh sáng chiếu ra xa mỗi phía 1 tầm (8 thước Tàu) bao quanh thân Phật, thường chiếu sáng ngày đêm, gọi là Thường quang. Kinh điển Đại thừa thì cho rằng Thường quang của chư Phật soi sáng khắp 10 phương, chứ không giới hạn ở 1 tầm. Luận Đại trí độ quyển 8 cho rằng Phật chỉ hiện ánh sáng 1tầm là vì chúng sinh độn căn bạc phúc ở cõi đời 5 trược ác, có đôi mắt bé nhỏ không thể thấy xa rộng hơn; nếu những chúng sinh lợi căn phúc lớn thì sẽ thấy được vô lượng ánh sáng của Như lai. Còn ánh sáng của đức Phật A di đà thì vì hành nguyện ở Nhân vị nên Thường quang của Ngài chiếu khắp các thế giới trong 10 phương. Nếu chúng sinh thấy được Thường quang của Phật thì chắc chắn sẽ chứng A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Kinh Bình đẳng giác gọi Thường quang của Phật là Đầu quang (ánh sáng của đầu), kinh Quán vô lượng thọ quyển 1 thì gọi Thường quang của Phật là Thân quang (ánh sáng của thân). Thường quang và Thần thông quang có khác nhau. Thần thông quang là ánh sáng phát ra lúc lâm chung, như đức Thích ca Như lai khi muốn nói giảng kinh Pháp hoa thì ánh sáng do Ngài phóng ra chiếu sáng 18000 cõi nước ở phương Đông, đây tức là Thần thông quang. Lại kinh Đại pháp cự đà la ni quyển 4 cho rằng Thường quang và Phóng quang có khác nhau, lúc bình thường chỉ có Thường quang, nếu khi có nhân duyên mới phóng quang khác. Vì nếu Phật thường phóng ra ánh sáng khác lạ thì thế gian sẽ không có mặt trời, mặt trăng, các vì sao, ngày đêm thời tiết, trăng tròn, trăng khuyết cho đến xuân, hạ, thu, đông khác nhau. [X. kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.1; phẩm Phật bất tư nghì pháp trong kinh Hoa nghiêm Q.30 (bản dịch cũ)]. (xt. Tam Thập Nhị Tướng, Quang Minh).

thường số

(常數) I. Thường Số. Chỉ cho lí pháp thông thường. Triệu luận (Đại 45, 61 trung) nói: Đạo niết bàn mầu nhiệm tận cùng thường số, dung hợp hai nghi, rửa sạch muôn vật, trời người đồng đều, một khác như nhau. II. Thường Số. Chỉ cho vận mệnh nhất định. [X. Bản triều cao tăng truyện Q.31].

thường thân

Thân thường trụ của Phật—Permanent or eternal body of the Buddha—Eternal Buddha-body (Dharmakaya).

thường thường

Usually—Ordinarily—Always—Generally.

thường tinh

(常惺) Danh tăng Trung Quốc, sống vào thời Dân quốc, người ở huyện Như cao, tỉnh Giang Tô, họ Chu, tên Tịch tường, sau sư nối pháp giòng chùa Quang Hiếu mới đổi tên là Ưutường, thường tự kí tên là Trĩ thủy sa môn. Sư mồ côi từ thủa nhỏ, năm 12 tuổi, nương vào Trưởng lão Tự thành ở chùa Phúc thành xuất gia. Năm 20 tuổi, sư vào học tại Đại học Hoa nghiêm ở Thượng hải, ít lâu sau, đến núi Bảo hoa thụ giới Cụ túc. Sư từng theo ngài Nguyệt hà học Hoa nghiêm và theo ngài Đế nhàn học Thiên thai. Sau, sư quyết tâm cải cách chế độ tăng già, chấn hưng giáo dục tăng sĩ, liên kết chặt chẽ với Đại sư Thái hư. Năm 1925, chùa Nam Phổ đà thỉnh sư sáng lập viện Phật học Nam mân, đồng thời thỉnh sư giữ chức Trụ trì chùa này. Về sau, sư còn trụ trì các chùa danh tiếng khác như chùa Quang hiếu, chùa Vạn thọ... Năm 1939, sư thị tịch ở Thượng hải. Sư có các tác phẩm: Phật pháp khái luận, Viên giác kinh giảng nghĩa, Đại thừa khởi tín luận tâm văn kí; Nhân minh nhập chính lí luận yếu giải.

thường tinh tấn bồ tát

Nitya Bodhisatvas.

thường toạ tam muội

(常坐三昧) Cũng gọi Nhất hạnh tam muội. Một trong 4 loại tam muội do tông Thiênthai lập ra, là pháp tu dựa theo kinh Vănthù sư lợi sở thuyết bát nhã ba la mật. Tức đặt 1 chiếc giường dây trong căn nhà yên tĩnh hoặc nơi vắng vẻ, bên cạnh không có tòa ngồi nào khác, trong thời gian 90 ngày ngồi kiết già, không cử động, chỉ ngồi thẳng không dựa vào cạnh giường, ngoài những lúc kinh hành, ăn uống, đại tiểu tiện ra, thường phải ngồi ngay thẳng, tập trung tâm ý vào một đức Phật, thời khắc nối nhau, không bỏ phế cho dù chốc lát; nếu các chướng trong ngoài nổi dậy như buồn ngủ, mệt mỏi, bệnh tật... làm mất chính niệm mà muốn tập trung trở lại thì phải thường xuyên xưng niệm danh hiệu của 1 đức Phật, hổ thẹn sám hối, chí tâm qui y. Nếu trong thời gian 90 ngày ấy chuyên cần không biếng nhác, không buông lơi, niệm niệm không gián đoạn thì phá trừ được nghiệp chướng, hiểnphátlí thực tướng, gọi là Thường tọa tam muội. (xt. Nhất Hạnh Tam Muội).

thường trí

Trí tuệ vĩnh hằng. Thực tướng của chư pháp là lìa bỏ sinh diệt mà thành vô tướng, cái trí chứng được thường cảnh vô tướng gọi là thường trí—Eternal knowledge, not conditioned by phenomena, abstract. ; (常智) Cũng gọi Thường trụ trí. Tức chứng được trí tuệ chân thực, không sinh diệt biến đổi. Thực tướng các pháp vốn vô tướng, lìa sinh diệt, trí chứng được thường cảnh vô tướng này, đã dứt bặt duyên lự, thì gọi là Thường trí vô duyên. Thiên thai tứ giáo nghi (Đại 46, 779 thượng) nói: Thường cảnh vô tướng, thường trí vô duyên. Thường cảnh tức là đối tượng do Thường trí chiếu soi, là cảnh giới lìa tất cả tướng sinh diệt.

thường trụ

1. Chúng (Tăng, Ni) ở trong Tòng lâm đều là người thường trụ, nghĩa là chủ nhân của Tòng lâm, quyền lợi và nghĩa vụ của đại chúng đều bình đẳng. 2. Thường trụ Tam bảo thì cho tượng Phật là Phật bảo, kinh Phật là Pháp bảo, Tăng Ni hiện tiền là Tăng bảo. Thường trụ Tam bảo này cũng đại diện cho Phật giáo thọ nhận sự quy y của Phật tử. ; Pháp không sinh diệt không biến thiên gọi là thường trụ—Permanent—Eternal—Eternal existence—Nothing having been created nothing can be destroyed—Always abiding. ; (常住) I. Thường Trụ. Phạm:Nitya-sthita. Gọi tắt: Thường. Đối lại: Vô thường. Chỉ cho cái kéo dài suốt 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai thường hằng tồn tại, vĩnh viễn không sinh diệt biến đổi. Chương Tự tính thanh tịnh trong kinh Thắng man và kinh Niết bàn quyển 34 (bản Bắc) đều cho rằng Pháp thân Như lai là thường trụ bất biến. Còn phẩm Bồ đề trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 3 lại đi xa hơn nữa mà chủ trương chẳng những Pháp thân mà ngay cả Báo thân và Ứng thân của Như lai cũng là thường trụ bất biến, Pháp thân là bản tính thường (vĩnh viễn bất biến về mặt bản chất),Báo thân là Vô gián thường (thụ hưởng niềm vui không dứt) và Ứng thân là tương tục thường (vì giáo hóa chúng sinh mà biến hiện, sinh diệt liên tục không hạn định). Phẩm Vô biến dị trong luận Phật tính quyển 4 lại y cứ vào 3 thân thường trụ mà đề ra thuyết Thập chủng nhân duyên, nghĩa là 3 thân này thường sinh khởi các việc lợi ích ở thế gian, cho nên gọi là Thường trụ, đó là do dựa vào 10 loại nhân duyên sau đây:1. Nhân duyên vô biên: Trải qua vô lượng kiếp đến nay xả thân cầu Chính pháp, vì Chính pháp là vô cùng vô tận, cho nên nhờ nhân vô cùng mà chiêu cảm quả vô cùng, quả tức 3 thân, nên là Thường. 2. Chúng sinh giới vô biên: Lúc mới phát tâm đã phát 4 thệ nguyện rộng lớn, khởi 10 đại nguyện vô tận, nếu chúng sinh không bao giờ hết thì nguyện của Như Lai cũng không baogiờ hết; chúng sinh đã không bao giờ hết thì Hóa thân cũng thường ở thế gian để giáo hóa, dẫn dắt chúng sinh, cho nên là Thường. 3. Đại bi vô biên: Nhưlai đầy đủ các công đức, tâm đại bi thường trụ, ơn cứu giúp chúng sinh không có bờ mé, cho nên là Thường. 4. Như ý túc vô biên: Người thế gian chứng được 4 Thần túc còn có khả năng sống lâu đến 40 tiểu kiếp, huống chi Như lai là bậc thầy có đại thần túc, có khả năng sống lâu tự tại, trải trăm nghìn ức kiếp, rộng độ chúng sinh, nên là Thường. 5. Vô phân biệt trí vô biên: Xa lìa 2 chấp sinh tử, Niết bàn, tương ứng với Đệ nhất nghĩa đế, chẳng lay động, không ra vào, nên là Thường. 6. Hằng tại Thiền định vô tán: Như lai thường hằng ở trong thiền định, không có gì phá hoại được, nên là Thường. 7. An lạc thanh lương: Yên vui mát mẻ, đó là đạo giải thoát, nên là Thường. 8. Hành ư thế gian bát pháp bất nhiễm: Sống giữa thế gian mà không nhiễm trước tám pháp. Nghĩa là trước khi thành đạo, Phật tuy sống trong thế gian, tương ứng với sinh tử, nhưng không bị phiền não làm cho nhơ nhuốm và không có các duyên vọng tưởng, cho nên là Thường. 9. Cam lộ tịch tĩnh viễn li tử ma: Cam lộ vắng lặng xa lìa ma chết. Nghĩa là quả Phật thường vui, cho nên vắng lặng, vì vắng lặng nên xa lìa ma chết, xa lìa ma chết nên là Thường. 10. Bản tính pháp nhiên vô sinh vô diệt: Bản tính tự nhiên, không sinh không diệt. Nghĩa là pháp thân chẳng phải xưa không mà nay có, xưa có mà nay không, mà là xưa nay vốn tự nhiên như thế, cho nên là Thường. [X. kinh Tạp a hàm Q.30; Nhiếp đại thừa luận thích Q.13 (bản dịch đời Lương); Phật địa kinh luận Q.7; luận Thành duy thức Q.10; Đại bát niết bàn kinh sớ Q.8]. (xt. Tam Thường, Vô Thường). II. Thường Trụ. Trong các chức vụ của Tùng lâm, trụ chúng đảm trách việc điều hành tất cả sự vụ hàng ngày, được gọi chung là Thường trụ. Ngoài ra, những vật cúng dường chúng tăng thụ dụng hàng ngày gọi là Thường trụ (tức Thường trụ vật).

thường trụ giáo

(常住教) Cũng gọi Song lâm thường trụ giáo. Một trong 5 thời giáo. Ngài Tuệ quán đời Lưu Tống thuộc Nam triều và cư sĩ Lưu cầu đời Tiêu Tề chia sự giáo hóa một đời của đức Phật làm Tiệm giáo và Đốn giáo, trong Tiệm giáo lại y cứ vào thứ tự 5 thời mà lập thành 5 thời giáo. Thường trụ giáo tức là sự giáo hóa trong thời Niết bàn thứ 5 của đức Phật. Nghĩa là khi Phật sắp niết bàn, Ngài giảng nói kinh Đại niết bàn trong 1 ngày 1 đêm, dạy rõ rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tính, Pháp thân thường trụ. Trong phán giáo, thường trụ là giáo nghĩa thuộc bậc tối cao. (xt. Ngũ Thời Giáo).

thường trụ nhứt tướng

Chân lý phía sau vạn hữu là thường trụ nhứt tướng—The eternal unity or reality behind all things.

thường trụ tâm nguyệt luân

(常住心月輪) Chỉ cho tâm bồ đề thường trụ của chúng sinh vốn trong sáng như vầng trăng tròn. Pháp quán trong kinh Kim cương giới của Mật giáo, quán tưởng tâm người ta là vầng trăng thanh tịnh tròn sáng, lìa các phiềnnão năng chấp, sở chấp nhơ nhớp; y theo pháp quán này mà chiếu rọi tâm mình, mở bày trí tuệ, khiến cho tâm bồ đề bị khách trần che lấp được lắng trong thanh tịnh, giống như ánh sáng của vầng trăng tròn chiếu khắp hư không, không phân biệt chỗ nào. Đây là lấy vầng trăng làm thể của sự tròn sáng, giống như tâm bồ đề của mọi người vốn thường trụ tròn sáng, thanh tịnh, đồng thời nhờ sự quán tưởng này mà mở bày tâm mình. [X. kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q. trung].

thường trụ tương tự quá loại

(常住相似過類) Tiếng dùng trong Nhân minh. Lỗi thứ 14 trong 14 lỗi Tự năng phá do Tổ của Cổ nhân minh là ngài Túc mụ thành lập. Trong tiến trình biện luận của Nhân minh, người vấn nạn (địch giả)muốn bác bỏ Tông (mệnh đề) chính xác của người lập luận (lập giả)nên lập ra một luận thức (lượng) khác (có vẻ như đúng nhưng thực ra là sai) để chứng minh đối phương có lỗi, nhưng trái lại, lại tự chuốc lấy lỗi. Chẳng hạn như đệ tử Phật lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì được tạo tác mà có. Dụ: Giống như cái bình. Tín đồ ngoại đạo muốn bác bỏ luận thức này bèn lập 1 luận thức khác như sau: Tông: Âm thanh là thường. Nhân: Vì hằngkhông bỏtự tính. Dụ: Giống như hư không. Ý của luận thức này đại khái cho rằng âm thanh vô thường là tính chất vô thường thường hợp với tự tính, đó là vì các pháp hằng không bỏ tự tính của chúng, cho nên âm thanh phải là thường trụ; theo đó, Tông do đối phương lập ra là trái với tỉ lượng, cho nên có lỗi Tự tông (Tông có vẻ như đúng nhưng thực ra là sai). Đệ tử Phật có thể bác lại rằng: Âm thanh xưa không mà nay có, tạm có rồi lại không, cho nên gọi là Vô thường, chứ chẳng phải có tự tính riêng hợp với vô thường, do đó Nhân dùng để chứng minh trong luận thức này không thành lập được, vì thế đối phương đã phạm lỗi tương tự như thường trụ chứ không phải thường trụ. Lỗi này tương đương với Thường mạn nói trong phẩm Đạo lí nạn thuộc luận Như thực của ngài Thế Thân. [X. luận Nhân minh chính lí môn; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.8; Nhân minh thập tứ tương tự quá loại lược thích (Duy Hiền, Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 21]. (xt. Thập Tứ Quá loại, Nhân Minh).

thường trụ vật

(常住物) Cũng gọi Thường trụ tăng vật, Thường trụ, Thường thập. Vật của thường trụ, tức chỉ cho những vật cung cấp cho chúng tăng thụ dụng. Các tư cụ như già lam, phòng xá... cung cấp cho chúng tăng các nơi thụ dụng chính là Thường trụ vật. Nếu ai chiếm Thường trụ vật làm của riêng, hoặc mua bán đổi chác thì phạm đại tội. Thường trụ tiền là tiền bạc chung của chùa viện. Theo Tứ phần luật hành sự sao quyển trung, tăng vật được chia làm 4 loại: 1. Thường trụ thường trụ vật: Vật thường trụ do chúng tăng thường trụ sử dụng, như chùa viện, phòng xá, nhà kho, bếp núc... 2. Thập phương thường trụ vật: Vật thường trụ được dành cho chúng tăng 10 phương sử dụng. 3. Hiện tiền hiện tiền vật: Vật thường trụ mà chúng tăng hiện tiền được thụ dụng. 4. Thập phương hiện tiền vật: Những vật do chúng tăng 10 phương hiện tiền được thụ dụng, tức chỉ cho những vật do vị tăng qua đời để lại. Hai loại vật sau (3, 4) là những vật thuộc quyền sử dụng của chúng tăng hiện diện.[X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.44; luật Tứ phần Q.50]. (xt. Tăng Vật).

thường trực

Standing—Permanent.

thường tuý thiên

(常醉天) Phạm: Sadàmatta. Cũng gọi Thường túy thần, Thường phóng dật thiên, Hằng túy thiên, Hằng kiêu thiên, Hỉ lạc thiên. Trời thường say. Tức chỉ cho vị thần Dạ xoa ở tầng thứ 3 trên núi Tu di lúc nào cũng say sưa. Vị tôn này chủ về đức bản mê của trời Y xá na. Bản mê tức là say sưa rượu vô minh 3 độc(tham, sân, si), là cội nguồn của các phiền não sinh tử, cho nên gọi là Thường túy. Đây là quyến thuộc của trời Y xá na trong Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, được đặt ở phía đông bắc của viện Ngoại kim cương bộ. Chủng tử là (sa), hình Tam muội da làcây kích. Hình tượng vị tôn này là thân màu da người, ngồi trên cái chiếu tròn, tay trái cầm bát rượu, tay phải nắm lại để trên đầu gối. [X. luận Câu xá Q.11; luận Du già sư địa Q.2; Thai tạng giới mạn đồ la tôn vị hiện đồ sao tư Q.6].

thường tùy học phật

To follow the teachings of the Buddha at all times—Đây là hạnh nguyện thứ tám trong Phổ Hiền Thập Hạnh Nguyện. Thường tùy học Phật là chúng ta sẽ giống như Phật Tỳ Lô Giá Na, phát tâm tu hành tinh tấn không trễ lui, đem thân khẩu ý thanh tịnh, tùy theo căn tánh của chúng sanh mà hóa độ cho họ được thành thục—This is the eighth of the ten conducts and vows of Samantabhadra bodhisattva. To follow teachings of the Buddha at all times means that we will be like Vairocana Thus Come One, vow never retreat from vigor. We should utilize our pure body, mouth and mind to learn and to preach Buddha-dharma, according to the living beings' levels.

thường tại linh thứu sơn

(常在靈鷲山) Cũng gọi Thường tại Linhsơn. Thường ở trên núi Linhthứu. Tức nhục thân của đức Thíchtôn tuy 80 tuổi đã vào Niết bàn, nhưng pháp thân của Ngài vẫn thường thuyết pháp trên núi Linh thứu. Núi Linhthứu là nơi đức Thíchtôn thuyết pháp nên rất nổi tiếng. Từ ngữ trên đây được thấy trong phẩm Thọ lượng kinh Pháphoa quyển 5 (Đại 9, hạ 43): Vì tâm chúng sinh lưu luyến, ngưỡng mộ, nên Như lai thường hiện thân nói pháp cho họ nghe; năng lực thần thông như thế, trải a tăng kì kiếp, thường ở tại núi Linhthứu và ở các nơi khác.

thường tịch

Thân thể lìa bỏ tướng vô diệt và dứt hết mọi não phiền, hay sự tịch tịnh vĩnh hằng nơi Niết Bàn—Eternal peace—Nirvana.

Thường tịch quang

(常寂光): từ gọi tắt của Thường Tịch Quang Độ (常寂光土), là cõi Tịnh Độ nơi pháp thân của chư Phật Như Lai an trú, một trong 4 quốc độ của giáo thuyết Thiên Thai Tông, còn gọi là Tịch Quang Tịnh Độ (寂光淨土), Tịch Quang Quốc (寂光國), Tịch Quang Độ (寂光土), Tịch Quang (寂光). Thế giới an trú của chư Phật là bản tánh chân như, không biến hóa, sanh diệt (tức thường [常]), không bị phiền não nhiễu loạn (tức tịch [寂]) và có ánh sáng trí tuệ (tức quang [光]), cho nên có tên gọi là Thường Tịch Quang Độ. Đây là quốc độ chư Phật tự chứng bí tạng tối cùng cực, lấy pháp thân, giải thoát và bát nhã làm thể, đầy đủ 4 đức Thường (常), Lạc (樂), Ngã (我) và Tịnh (淨). Trong Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hành Pháp Kinh (觀普賢菩薩行法經, Taishō 9, 393) có đoạn rằng: “Thích Ca Mâu Ni Phật danh Tỳ Lô Giá Na Biến Nhất Thiết Xứ, kỳ Phật trú xứ danh Thường Tịch Quang, Thường Ba La Mật sở nhiếp thành xứ, Ngã Ba La Mật sở an lập xứ, Tịch Ba La Mật diệt hữu tướng xứ, Lạc Ba La Mật bất trú thân tâm tướng xứ (釋迦牟尼佛名毘盧遮那遍一切處、其佛住處名常寂光、常波羅蜜所攝成處、我波羅蜜所安立處、淨波羅蜜滅有相處、樂波羅蜜不住身心相處, đức Phật Thích Ca Mâu Ni Phật có tên là Tỳ Lô Giá Na Biến Nhất Thiết Xứ [Tỳ Lô Giá Na Biến Hết Thảy Các Nơi], trú xứ của Phật ấy tên là Thường Tịch Quang, nghĩa là nơi được nhiếp thành của Thường Ba La Mật, nơi được an lập của Ngã Ba La Mật, nơi diệt hết các tướng có của Tịch Ba La Mật và nơi không trú vào tướng thân tâm của Lạc Ba La Mật)”. Hơn nữa, quốc độ này được phân thành Phần Chứng (分證) và Cứu Cánh (究竟) với 3 phẩm thượng, trung, hạ. Theo lời dạy trong quyển 1 của Duy Ma Kinh Lược Sớ (維摩經略疏) cho biết rằng cõi của Diệu Giác Pháp Thân (妙覺法身) cư trú là Thượng Phẩm Tịch Quang Độ (上品寂光土), cõi của Nhất Sanh Đẳng Giác (一生等覺) là Trung Phẩm Tịch Quang Độ (寂光土), cõi của Viên Giáo (圓敎) từ sơ trú trở lên là Hạ Phẩm Tịch Quang Độ (寂光土). Ngoài ra, vị tăng nhà Bắc Tống là Tứ Minh Tri Lễ (四明知禮) lấy hai cõi Thật Báo (實報) và Tịch Quang (寂光) phối hợp thành Thỉ Giác (始覺) và Bản Giác (本覺), để xướng ra thuyết “Tịch Quang Hữu Tướng (寂光有相, Tịch Quang Có Tướng)”; ngược lại vị tăng Tịnh Giác (淨覺) lại tuyên xướng thuyết “Tịch Quang Vô Tướng (寂光無相, Tịch Quang Không Tướng).” Trong Phật Thuyết A Di Đà Kinh Yếu Giải (佛說阿彌陀經要解) của Đại Sư Ngẫu Ích Trí Húc (蕅益智旭, 1599-1655) nhà Thanh có đoạn rằng: “Phục thứ, chỉ thử nguyện trang nghiêm nhất thanh A Di Đà Phật, chuyển Kiếp Trược vi Thanh Tịnh Hải Hội, chuyển Kiến Trược vi Vô Lượng Quang, chuyển Phiền Não Trược vi Thường Tịch Quang, chuyển Chúng Sanh Trược vi Liên Hoa hóa sanh, chuyển Mạng Trược vi Vô Lượng Thọ; cố nhất thanh A Di Đà Phật, tức Thích Ca Bổn Sư ư Ngũ Trược ác thế, sở đắc chi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề pháp (復次、只此信願莊嚴一聲阿彌陀佛、轉劫濁爲清淨海會、轉見濁爲無量光、轉煩惱濁爲常寂光、轉眾生濁爲蓮華化生、轉命濁爲無量壽、故一聲阿彌陀佛、卽釋迦本師於五濁惡世、所得之阿耨多羅三藐三菩提法, lại nữa, chỉ lấy nguyện này trang nghiêm một tiếng niệm A Di Đà Phật, chuyển Kiếp Trược thành Hải Hội Thanh Tịnh, chuyển Kiến Trược thành Vô Lượng Quang, chuyển Phiền Não Trược thành Thường Tịch Quang, chuyển Chúng Sanh Trược thành hoa sen hóa sanh, chuyển Mạng Trược thành Vô Lượng Thọ; cho nên một tiếng niệm A Di Đà Phật là pháp A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề do đức Bổn Sư Thích Ca chứng đắc ở đời ác có Năm Trược).” Hay như trong Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư Tông Luận (靈峰蕅益大師宗論) quyển 6, phần Cảnh Tâm Cư Sĩ Trì Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Kiêm Khuyến Nhân Tự (警心居士持地藏本願經兼勸人序) có câu: “Nhất niệm mê Thường Tịch Quang Độ tiện thành A Tỳ Địa Ngục, nhất niệm ngộ A Tỳ Địa Ngục tiện thị Thường Tịch Quang Độ (一念迷常寂光土便成阿鼻地獄、一念悟阿鼻地獄便是常寂光土, một niệm mê bèn thành Địa Ngục A Tỳ, một niệm ngộ tức là Thường Tịch Quang Độ).”

Thường Tịch Quang Độ

(常寂光土): còn gọi là Tịch Quang Tịnh Độ (寂光淨土), Tịch Quang Quốc (寂光國), Tịch Quang Độ (寂光土), Tịch Quang (寂光); tức chỉ cho cõi Tịnh Độ nơi pháp thân của chư Phật Như Lai cư trú. Thế giới của chư Phật cư trú là chân như bản tánh, không sanh diệt, biến hóa (thường); không có sự nhiễu loạn của phiền não (tịch, vắng lặng); mà có ánh sáng trí tuệ (quang); nên gọi là Thường Tịch Quang Độ. Quốc độ này là cõi tự chứng của Phật, vô cùng bí tàng; lấy Pháp Thân, giải thoát, Bát Nhã làm thể; đầy đủ, trọn vẹn 4 đức là Thường (常), Lạc (樂), Ngã (我), Tịnh (淨). Như trong Phật Thuyết Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hành Pháp Kinh (佛說觀普賢菩薩行法經, Taishō Vol. 9, No. 277) có đoạn rằng: “Thích Ca Mâu Ni danh Tỳ Lô Giá Na, biến nhất thiết xứ, kỳ Phật trú xứ danh Thường Tịch Quang, Thường Ba La Mật sở nhiếp thành xứ, Ngã Ba La Mật sở an lập xứ, Tịnh Ba La Mật diệt hữu tướng xứ, Lạc Ba La Mật bất trú thân tâm tướng xứ (釋迦牟尼名毘盧遮那、遍一切處、其佛住處名常寂光、常波羅蜜所攝成處、我波羅蜜所安立處、淨波羅蜜滅有相處、樂波羅蜜不住身心相處, Phật Thích Ca Mâu Ni tên là Tỳ Lô Giá Na, biến khắp tất cả nơi chốn, trú xứ của đức Phật đó tên là Thường Tịch Quang, là trú xứ được nhiếp thành bởi Thường Ba La Mật, trú xứ được an lập bởi Ngã Ba La Mật, trú xứ của Tịnh Ba La Mật diệt tướng có, trú xứ của Lạc Ba La Mật không trú vào tướng thân tâm).” Lại nữa, quốc độ này có khác nhau về phần chứng và cứu cánh, nên phân thành 3 phẩm Thượng, Trung và Hạ. Theo thuyết của Duy Ma Kinh Lược Sớ (維摩經略疏, Taishō Vol. 38, No. 1778) quyển 1 cho biết, cõi của Diệu Giác Pháp Thân (妙覺法身) cư trú là Thượng Phẩm Tịch Quang Độ (上品寂光土); cõi của Đẳng Giác Nhất Sanh (等覺一生) là Trung Phẩm Tịch Quang Độ (中品寂光土), cõi của Viên Giáo Sơ Trú (圓敎初住) trở lên là Hạ Phẩm Tịch Quang Độ (下品寂光土). Vị tăng Tứ Minh Tri Lễ (四明知禮, 960-1028) của Thiên Thai Tông, sống vào thời Bắc Tống, lại lấy hai cõi Thật Báo (實報) và Tịch Quang phối với Thỉ Giác (始覺) và Bản Giác (本覺), đề xướng thuyết Tịch Quang Hữu Tướng (寂光有相). Trong khi đó, tăng sĩ Tịnh Giác (淨覺) cùng thời đại này lại đưa ra thuyết Tịch Quang Vô Tướng (寂光無相). Trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 26 có đoạn rằng: “Pháp tánh hải trung, bổn vô xuất một, Thường Tịch Quang Độ, an hữu khứ lai, nhân thế biến thiên nhậm vận, Phật quốc tịnh uế tùy tâm (法性海中、本無出沒、常寂光土、安有去來、人世變遷任運、佛國淨穢隨心, biển pháp tánh trong, vốn không hiện mất, Thường Tịch Quang Độ, sao có đến đi, cõi đời đổi thay phó mặc, nước Phật sạch nhớp tùy tâm).”

thường tịch quang độ

Thường Tịch Quang Tịnh Độ, trú xứ của chư Phật (Theo Kinh A Di Đà, thì đây là cõi nước không phải ai cũng vãng sanh về được, cũng không thể bỗng nhiên niệm vài tiếng “namo” không chí thành mà được. Thân Như Lai không thể thân cận với những ai căn lành cạn cợt. Đây không phải là nơi của những hạng người phước đức mỏng manh có thể hưởng thọ được)—The realm where permanent tranquility and enlightenment reign—Buddha Parinirvana—The realm of spirit where all are in perpetual peace and glory. The realm of eternal rest and light, and of eternal spirit (dharmakaya), the abode of Buddhas. T'ien-T'ai fourth Buddhaksetra. ; (常寂光土) Cũng gọi Tịch quang tịnh độ, Tịch quang quốc, Tịch quang độ, Tịch quang. Chỉ cho cõi nước ánh sáng thường vắng lặng. Tức tịnh độ do pháp thân của chư Phật Như lai an trụ, 1 trong 4 độ theo thuyết của tông Thiên thai. Thế giới của Phật an trụ thuộc về bản tính của chân như, không sinh diệt biến hóa (Thường), vắng bặt sự nhiễu loạn của phiền não(Tịch) và có ánh sáng trí tuệ(Quang), cho nên gọi là Thường tịch quang độ. Đây là cõi nước tối cực bí tạng do Phật tự chứng, lấy pháp thân, giải thoát, bát nhã làm thể, đầy đủ 4 đức Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Kinh Quán Phổ hiềnbồ tát hành pháp (Đại 9, 392 hạ): Đức Phật Thích ca mâu ni được gọi là Tì lô giá na biến nhất thiết xứ, nơi Ngài an trụ gọi là Thường tịch quang, có đủ 4 đức Thường ba la mật, Lạc ba la mật, Ngã ba la mật và Tịnh ba la mật. Ngoài ra, cõi này có Phần chứng và Cứu cánh khác nhau, chia làm 3 phẩm thượng, trung, hạ. Theo Duy ma kinh lược sớ quyển 1, cõi do Diệu giác pháp thân an trụ là Thượng phẩm tịch quang độ, cõi do bậc 1 đời nữa bước lên địa vị Đẳng giác an trụ là Trung phẩm tịch quang độ, còn cõi do bồ tát Viên giáo từ Sơ trụ trở lên an trú là Hạ phẩm tịch quang độ. Ngài Tứ minh Tri lễ đời Bắc Tống lại phối hợp Thực báo độ và Tịch quang độ với Thủy giác và Bản giác mà đề xướng thuyết Tịch quang hữu tướng; còn ngài Tịnh giác đời Bắc Tống thì đề xướng thuyết Tịch quang vô tướng. [X. luận Nhiếp đại thừa Q.15 (bản dịch đời Lương); Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ Q. thượng; Pháp hoa văn cú Q.9, thượng; Quán vô lượng thọ kinh sớ diệu tông sao Q.1]. (xt. Hóa Độ).

thường vô thường

(常無常) Thường và vô thường. Thường, Phạm: Nitya, cũng gọi Thường trụ (Phạm:Nityasthita), đối lại với Vô thường. Tức 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai thường hằng bất biến, không sinh không diệt, nối nhau chẳng dứt. Lí pháp tính duyên khởi và pháp thân Nhưlai đều là thường trụ bất biến. Thường cũng là một trong 4 điên đảo và 4 đức. Thông thường, phần nhiều Thường trụ được gọi là pháp Vô vi. Nhưng theo phẩm Bồ đề Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 3 và Phật địa kinh luận quyển 7 thì tuy Pháp thân, Báo thân và Ứng thân của Nhưlai đều là thường trụ, nhưng vì ý nghĩa khác nhau nên có thuyết Tam thường, đó là: 1. Tự tính thân(Pháp thân chân như): Tuyệt đối bình đẳng, về mặt bản chất là tự tính thường(bản tính thường, ngưng nhiên thường), vĩnh viễn không biến đổi. 2. Thụ dụng thân(Báo thân): Vô gián thường(Bất đoạn thường) thụ dụng niềm vui không gián đoạn. 3. Biến hóa thân(Hóa thân, Ứng thân): Thân biến hiện ra để giáo hóa chúng sinh, tuy có sinh diệt nhưng có năng lực biến hiện tương tục vô hạn, cho nên gọi là Tương tục thường. Tuy nhiên, 2 thân sau trong 3 thân được trình bày trên đây hoàn toàn không phải thuộc về Thường như nguyên ý của pháp vô vi. Lại cứ theo phẩm Vô biến dị trong luận Phật tính quyển 4, 3 thân của Như Lai thường sinh khởi các việc lợi ích cho thế gian nên gọi là Thường trụ. Thường trụ này nhờ 10 nhân duyên dưới đây mà được liên tục không dứt. Đó là: 1. Nhân duyên vô biên. 2. Chúng sinh vô biên. 3. Đại bi vô biên. 4. Như ý túc vô biên. 5. Vô phân biệt trí vô biên. 6. Thường hằng tại thiền định và không tán loạn. 7. An vui mát mẻ. 8. Thực hành 8 pháp thế gian mà không bị ô nhiễm. 9. Cam lộ vắng lặng, xa lìa ma chết. 10. Bản tính tự nhiên, không có sinh diệt.Mười loại nhân duyên này hiển bày rõ thể dụng của 3 thân Nhưlai là thường hằng không gián đoạn. Còn theo Đại bát niết bàn kinh sớ quyển 8 thì trong các Thường, có cái ở thế gian tương tục không gián đoạn mà gọi là Thường và Tam vô vi thường. Tam vô vi thường là: Đoạn được phiền não gọi là Số duyên thường; Sự duyên sai biệt là Phi số duyên thường, không thuộc 2 loại trên thì gọi là Hư không thường. Bốn loại Thường này (Thường trụ và Tam vô vi thường) đều không bằng Như lai thường. Vì Như lai thường tức là diệu hữu, vốn tự có và không có đối đãi, Thường này chiếu thực, là chân thường chẳng phải thường chẳng phải vô thường, ngay nơi biên mà trung đầy đủ 3 chấm, không dọc không ngang, cho nên Như lai thường là bậc nhất trong các Thường. Ngoài ra, còn có các thuyết như: Thế gian tướng thường trụ, Phật tính thường trụ... Đối lại với Thường là Vô thường, Phạm: Anitya, cũng gọi là Phi thường. Tức sự sinh diệt biến hóa mà không có cách nào giữ cho nó ở nguyên trạng thái đồng nhất dù chỉ trong giây lát. Tất cả các pháp hữu vi đều có đủ 4 tướng sinh, trụ, dị, diệt, theo với dòng thời gian trôi chảy mà tồn tại, cho nên gọi là Vô thường. Tất cả pháp hữu vi đều thuộc vô thường, vì thế gọi là Chư hành vô thường, là 1 trong 3 pháp ấn (3 biểu trưng cơ bản của Phật giáo). Theo luận Đại trí độ quyển 43 thì có 2 thuyết Vô thường, đó là: 1. Pháp hữu vi dừng lại 1 sát na ở hiện tại, rồi tức khắc lại chìm vào quá khứ (sát na diệt), đây gọi là Niệm niệm vô thường (Sát na vô thường). 2. Pháp hoại diệt một cách liên tục, chẳng hạn như con người, khi thọ mệnh hết thì tử diệt, đây gọi là Tương tục vô thường(Nhất kì vô thường). Luận Kim thất thập quyển thượng có ghi thuyết của học phái Số luận, chủ trương 2 thứ vô thường là Tạm trụ vô thường và Niệm niệm vô thường. Thuyết này cho rằng chuyển biến là vô thường, tự tính là Thường trụ, thuyết này có khác với thuyết của Phật giáo.Luận Biện trung biên quyển trung y cứ vào 3 tính Biến kế, Y tha và Viên thành mà lập ra 3 loại vô thường như sau: 1. Biến kế sở chấp tính: Chỉ cho vô tính vô thường(vô vật vô thường), thể của nó hoàn toàn không có. 2. Y tha khởi tính: Vì do nhân duyên mà sinh ra nên có sinh có diệt, thuộc về Sinh diệt vô thường(Khởi tâm vô thường). 3. Viên thành thực tính: Thuộc về Chân như, là Cấu tịnh vô thường (Hữu cấu vô cấu vô thường). Để ví dụ tính chất hư dối, ngắn ngủi của vô thường thì nói: Như chiêm bao, như ảo thuật, như bọt nước, như cái bóng, như hạt móc(sương), như tia chớp...; để ví dụ sự đáng sợ đối với vô thường thì nói: Vô thường lang (chó sói vô thường), vô thường hổ(cọp vô thường)...Khi chết đến nơi thì ví dụ là vô thường sát quỉ, vô thường phong (gió vô thường), vô thường đao(dao vô thường), vô thường sứ... Ngoài rà còn có các dụng ngữ về vô thường như: Sinh giả tất diệt(có sinh ắt có diệt), thịnh giả tất suy(có thịnh thì có suy), hội giả định li(có hợp thì có tan)... Còn quán tưởng về vô thường thì gọi là Vô thường quán, Phi thường quán; bài kệ nói rõ về ý nghĩa vô thường, gọi là Vô thường kệ; nhà viện nuôi bệnh tăng, gọi là Vô thường viện, Vô thường đường, cái khánh được đánh lúc lâm chung, gọi là Vô thường khánh. [X.kinh Tạp a hàm Q.12, 30; kinh Niết bàn Q.34, 39 (bản Bắc), chương Tự tính thanh tịnh trong kinh Thắng man, phẩm Phương tiện kinh Pháphoa Q.1; Nhiếp đại thừa luận thích Q.13 (bản dịch đời Lương; luận Thành duy thức Q.10; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4]. (xt. Tam Vô Vi, Vô Thường).

thường vô thường nhị thân

(常無常二身) Thường thân và Vô thường thân, là 2 loại thân của Nhưlai. Thường thân là Phật thân thường trụ; tức chỉ cho Chân thân, Pháp thân của Nhưlai. Vì thường thân là lí thể thường trụ của Niết bàn, không có các hiện tượng sinh diệt biến dịch như sinh lão bệnh tử... cho nên gọi là Thường thân. Vô thường thân là thân ứng hóa phương tiện; tức chỉ cho Ứng thân, Hóa thân, Sinh thân của Như Lai. Vô thường thân là thân phương tiện thị hiện để giáo hóa chúng sinh, có các hiện tượng sinh diệt biến dịch như sinh lão bệnh tử... cho nên gọi là Vô thường thân. [x. kinh Niết bàn Q.34 (bản Bắc)]. (xt. Nhị Thân).

thường xuyên

Unceasingly without a break.

thường đạo

1) Đạo lý bình thường: Regular way. 2) Đạo lỳ vĩnh cữu: Way of eternity—Enternal way.

thường đề bồ tát

(常啼菩薩) Thường đề, Phạm: Sadàprarudita. Hán âm: Tát đà ba luânbồtát. Cũng gọi: Phổ từbồtát, Thường bibồ tát.Vị Bồtát được nói trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 27. Lí do tại sao vị Bồtát này được gọi là Thường đề(thuờng kêu khóc) thì có nhiều thuyết khác nhau: Có thuyết cho rằng vì thấy con người sống trong đời ác trược phải chịu khổ não nên Bồtát xót thương mà khóc; có thuyết cho rằng vì sinh vào thời đại không có Phật, nhưng vì lợi ích chúng sinh mà tìm cầu Phật đạo nên Bồtát buồn rầu than khóc suốt 7 ngày đêm trong rừng vắng vẻ, thiên long quỉ thần bèn gọi Bồtát là Thường đề; có thuyết cho rằng thuở nhỏ Bồtát hay khóc nên đặt tên là Thường đề. Vị Bồtát này thường dùng tâm mạnh mẽ tu hạnh Bát nhã ba la mật. Cứ theo phẩm Tát đà ba luân bồ tát trong kinh Đạo hành bát nhã quyển 9, trong giấc mộng, Bồ tát Thường đề nghe ở phương đông có Đại pháp Bát nhã ba la mật, liền đi về hướng đông cầu pháp, trải qua 2 vạn dặm thì đến nước Kiện đà việt (Phạm:Gandhavati), gặp bồ tát Đàm vô kiệt (Phạm:Dharmodgata) và được pháp của Ngài. Kiện đà việt ở đây là chỉ cho Kiện đà la (Phạm: Gandhàra) ở Bắc Ấn độ. Còn trước khi luận Đại tì bà sa được biên soạn thì Bát nhã đã được lưu hành ở vùng Kiện đà la; y cứ vào sự thực này mà suy cứu thì bồ tát Tát đà ba luân có khả năng là một nhân vật có thật,và Bồ tát Thường đễ đãtừ phía tây Ấn độ xa xôi đến Kiện đà la cầu pháp Bát nhã ba la mật. Lại vị Bồ tát này vì lợi ích chúng sinh mà trải qua nhiều gian khổ để cầu Bát nhã ba la mật, cho nên được xếp vào 1 trong 16 vị thiện thần giữ gìn Bát nhã. [X. luận Đại trí độ Q.96].

thường đồ

Quy tắc thông thường—Regular ways or methods. ; (常途) Chỉ cho những qui tắc và đạo lí phải được tuân thủ trong các sinh hoạt bình thường, cũng tức là lí bất biến. Trong kinh Phật, thườngđồchỉ cho đạo mà chư Phật và lịch đại Tổ sư xưa nay đã thực hành. Thung dung lục tắc 24 (Đại 48, 242 hạ) ghi: Cá chép của Đônghải, ba ba của Nam Sơn, lừa của Phổ hóa kêu, chó của Tử hồ sủa, không rơi vào thường đồ, không thực hành dị loại, hãy thử nói xem là chỗ đi của hạng người nào?. Ngoài ra, theo lập trường của Mật giáo thì Hiển giáo là Thường đồ, nghĩa là giáo lí, giáo nghĩa của Hiển giáo nói chung thuộc về những qui tắc cố định thông thường và phổ thông hóa, không bằng giáo lí thù thắng của Mật giáo, bởi thế phương thức tu chứng tuân theo giáo thuyết, nghĩa lí của Hiển giáo được Mật giáo gọi là Thuận thường đồ.

thường, vô thường

Phật tánh phi thường phi vô thường, chấp thường là thường kiến ngoại đạo, chấp vô thường là đoạn kiến ngoại đạo.

thưởng

1) Khen thưởng: To reward—To compensate. 2) Thưởng thức: To enjoy—To contemplate.

thưởng công

To requite (compensate) someone's services.

thưởng hoa

To enjoy the flower.

thưởng ngoạn

To admire.

thưởng nguyệt

To admire the moon.

thưởng thức

To enjoy.

thược

(勺) Chỉ cho cái phễu, cái môi được sử dụng khi tu pháp Hộ ma trong Mật giáo. Có 2 loại phễu lớn và phễu nhỏ. -Loại phễu lớn(cũng gọi là Chú thược) dùng để rót vật cúng như tô du vào lò. - Loại phễu nhỏ(cũng gọi là Tả thược, Tế thược) thì dùng để rót vật cúng sang phễu lớn, hay rót trực tiếp vào trong lò.Cứ theo Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ thì phễu lớn có hình dáng giống như quả lựu, chiều dài kể cả phễu và cán là 1 thước 8 tấc (Tàu); phễu nhỏ hình tròn, chiều dài bằng với phễu lớn. Phễu nhỏ hình tròn biểu thị đức viên mãn của Phật, phía trong phễu có khắc hình hoa sen nở 8 cánh, hoặc khắc chày kim cương; hoa sen nở tượng trưng cho Đại nhật của Thai tạng, chày Kim cương, tức chày 5 chĩa, tượng trưng cho Đại nhật củakim cương. Cũng có khi vẽ bánh xe báu, tức là hình Tam muội da của đức Đại nhật, biểu trưng cho quả thể của Phổ môn, cho nên dùng hình tròn. Phễu lớn có hìnhquả lựu, lấy ý nghĩa bên trong quả lựu có rất nhiều hột, tượng trưng cho Kim cương tát đóa có đầy đủ muôn đức; phía trong phễu khắc chày 3 chĩa, là hình Tam muội da của Kim cương tát đóa, tức là tâm bồ đề thanh tịnh tiêu biểu cho tâm, Phật và chúng sinh cả 3 đều bình đẳng. Lại vì phễu nhỏ biểu thị cho quả của Đạinhật, còn phễu lớn thì biểu thị cho đức Nhân của Kim cương tát đóa, cho nên phễu lớn không được trực tiếp rót các vật cúng như tô du(dầu)... mà trước phải dùng phễu nhỏ rót vào phễu lớn, tức hàm ý là Kim cương tát đóa nhận lãnh giáo sách của đức Tì lô giá na mà thi hành sự nghiệp Hộ ma.[X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.4; phẩm Bổ khuyết thiểu pháp trong kinh Tô tất địa yết ra Q. hạ; Đại nhậtkinh sớ Q,20; Hộ ma bí yếu sao Q.6].

thược ca la a dật đa vương

(鑠迦羅阿逸多王) Thước ca la a dật đa, Phạm:Zakràditya. Hán dịch: Đế nhật. Cũng gọi Thước ca la điệt đa vương. Tên vị vua của vương triều Cấp đa ở Ấn độ. Vào đầu thế kỷ V Tây lịch, nhà Vua sáng lập chùa Na lan đà ở phía bắc thành Vương xá để cúng dường tỉ khưu Hạt la xã bàn xã (Phạm: Ràjavaôza) an trụ. Về sau, trải qua nhiều đời, các vua đều tiếp nối nhau xây dựng thêm, nên chùa này đã trở thành trung tâm của Phật giáo Ấn độ. Đại đường tây vực kí quyển 9 (Đại 51, 923 trung) nói: Sau khi đức Phật nhập Niết bàn khoảng hơn 800 năm, tiên vương nước này là Thước ca la a dật đa, kính trọng Nhất thừa, tôn sùng Tam bảo, chọn nơi phúc địa, xây dựng ngôi chùa này. Có thuyết cho rằng vị quốc vương này chính là vua Tân nhật; vua Tân nhật từng tặng cho ngài Thế thân 1 lạc xoa vàng khi ngài dùng luận Câu xá bác bỏ luận Tì già la của ngoại đạo. [X. Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện].

thược khất để

(鑠乞底) Phạm:Zakti. Pàli:Satti. Cũng gọi Thước ngật để, Thước để. Chỉ cho cái giáo dài, hoặc chỉ cho cây kích. Mật giáo đặt thước khất để trong Mạn đồ la, hoặc dùng làm vật cầm của Minh vương Bất động. Ở Ấn độ, thước khất để tượng trưng cho ý nghĩa uy lực, tính lực, đầu tiên thấy trong các Áo nghĩa thư như Tư phệ đạt tu đạt la Áo nghĩa thư (Phạm: Zvetàzvataropaniwad). Trong Ấn độ giáo, vật này vốn được dùng để tượng trưng cho uy lực của thần Chúathượng, về sau cũng dùng vật này ngụ cho thần phối ngẫu sánh đôi với thần Chúa thượng, do đó bèn nhân cách hóa mà chuyển biến thành là sùng bái Tính lực nữ thần, trong Ấn độ giáo hiện nay có pháp Tính lực sùng bái nữ thần Đỗ nhĩ gia (Phạm:Durgà) là thần phối ngẫu của thần Thấp bà (Phạm:Ziva). Trong Mật giáo có thuyết nói về vị Bồ tát tên là Nhưlai thước khất để e có lẽ đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng này mà ra. [X. kinh Tô tất địa yết ra Q. hạ; kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương Q. hạ; Đại nhật kinh sớ Q.6; Tuệ lâm âm nghĩa Q.35]. (xt. Như Lai Thước Khất Để).

thược kê mô nễ

(鑠雞謨你) Dịch âm khác của Thích ca mâu ni. Kinh Đà la ni tập quyển 1 (Đại 18, 794 trung) nói: Trung tâm Đế thù la thi, Thước kê mô nễ là Đạo tràng chủ.

thượng

1) Uttara (skt)—Superior. 2) Above—Upper. 3) High. 4) To ascend.

thượng bối

Superior or highest class.

thượng bối quán

Phép quán tưởng thứ 14 trong 16 phép quán của trường phái A Di Đà, cho những người thành tâm cầu về Tịnh Độ với lòng vị tha thâm sâu—The fourteen of the sixteen contemplations of the Amitabha school, with reference to those who seek the Pure Land with sincere, profound and altruistic hearts.

thượng chuyển

The upward turn in transmigration—Những hành động theo đúng chân lý đưa đến sự chuyển hóa theo chiều hướng đi lên—Acts in accordance with the primal true, or Buddha-nature (when the good prevails over the evil) cause upward turn in transmigration. ; (上轉) Cũng gọi Thượng chuyển môn. Đối lại: Hạ chuyển. Chuyển hướng lên. Thủy giác vì tự lợi mà hướng lên, gọi là Thượng chuyển; Bản giác vì lợi tha mà hướng xuống, gọi là Hạ chuyển. Tức hành giả chân ngôn phát tâm tu hành chuyển hướng đến quả Phật bồ đề, đó là nghĩa từ nhân đến quả. Luận Thích ma ha diễn quyển 2 (Đại 32, 610 thượng) nói: Các pháp thanh tịnh có năng lực, các pháp ô nhiễm không năng lực, hướng vốn chuyển lên trên, gọi là Thượng chuyển môn. [X. Đại nhật kinh sớ chỉ tâm sao Q.1]. THƯỢNG GIAN Gian trên. Chỉ cho chỗ ngồi phía trên trong Thiền viện. Khi nhìn vào Thiền đường thì phía bên phải mình là Thượng gian;Pháp đường,Phương trượng(hướng nam) thì phía đông mình là Thượng gian, Tăng đường(hướng đông) thì phía bắc mình là Thượng gian, Khố ti(hướng tây)thì phía nam mình là Thượng gian. [X. chương Chúc li trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1; Thiền lâm tượng khí tiên Q.2].

thượng căn

Superior character or capacity. ; (上根) Chỉ cho căn khí thượng đẳng, tức người có các căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân rất bén nhạy, hoặc chỉ cho người tu hành Phật đạo có năng lực đặc biệt hơn người. Cũng chỉ cho người tu đạocó5 căn: Tín, tiến, niệm, định và tuệ sắc bén.

thượng cầu bồ đề, hạ hóa chúng sanh

Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh, một trong những đại nguyện của một vị Bồ Tát—Above to seek bodhi, below to save (transform) beings, one of the great vow of a Bodhisattva.

thượng cầu bổn lai chân diện mục

Trên cầu Phật tánh nguyên thủy (to seek for the original or Buddha-nature)—See Thượng Cầu Bồ Đề, Hạ Hóa Chúng Sanh.

thượng cầu hạ hoá

(上求下化) Trên cầu bồ đề, dưới hóa độ chúng sinh, là nội dung của hạnh Bồtát. Thắng tư duy phạm thiên sở vấn kinh luận (Đại 26, 337 hạ) nói: Lợi mình lợi người, tu hành như thực, tự cầu bồ đề và hóa độ chúng sinh, giúp họ cùng chứng bồ đề. Thượng cầu bồ đề là lợi mình, hạ hóa chúng sinh là lợi người, muôn hạnh của Bồtát không ngoài2điều này. Bồtát Đại thừa lúc mới phát tâm lập thệ nguyện rộng lớn, tự cầu bồ đề làm cho cõi Phật thanh tịnh, dùng tâm đại bi đi đến những nơi khổ nạn để giáo hóa, dắt dẫn tất cả chúng sinh.[X. Tứ niệm xứ Q.4; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 2; Vãng sinh yếu tập Q. thượng, phần cuối; Chính tu quán kí Q. thượng]. (xt. Bồ Đề Tâm).

thượng cổ

Antiquity.

thượng du

High region.

Thượng giới

上界; C: shàngjiè; J: jōkai;|1. Sắc giới, Vô sắc giới, không kể Dục giới (theo Du-già luận 瑜伽論); 2. Viết tắt của Thiên thượng giới (天上界), cõi trời phía trên; 3. Cảnh giới của chư thiên ở các cõi trời như Nhân-đà-la (s: śakra) hay Đế-thích (s: indra).

thượng giới

Heaven. ; (上界) I. Thượng Giới. Đối lại: Dục giới. Chỉ cho trời cõi Sắc và cõi Vô sắc, 1 trong 5 loại trời thuộc Ngoại kim cương bộ trong Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Các cõi trời này là chỗ ở của Vô lượng vua trời như Ma hê thủ la... và các Thiên hậu (vợ trời). [X. Kim cương đính kinh Du già thập bát hội chỉ qui]. II. Thượng Giới. Đối lại: Hạ giới. Cũng gọi Thiên thượng giới. Một trong 6 đường. Tức bao gồm các tầng trời cõi Vô sắc, cõi Sắc và cõi Dục. (xt. Thiên). III. Thượng Giới. Tức chỉ cho tầng trời phía trên trong các tầng trời. Như tầng trời Không cư là thượng giới của tầng trời Địa cư; trời cõi Sắc là thượng giới của trời cõi Dục...

thượng giới thiên

The devas of the regions of form and formlessness.

Thượng hành

上行; C: shàngxíng; J: jōgyō;|1. Đi về hướng trên. Đi ngược dòng về phía trên, có khuynh hướng ngược dòng để lên phía trên; 2. Công hạnh của một chúng sinh căn cơ bậc thượng. Công hạnh cao tột; 3. Tên của một vị Bồ Tát trong kinh Pháp Hoa.

thượng hành bồ tát

Visista-caritra (skt). • Tùng Địa Dõng Xuất Bồ Tát-Bodhisattva, who suddenly rose out of the earth as Buddha was concluding one of his Lotus sermons. He is supposed to have been a convert of the Buddha in long past ages and to come to the world in its days of evil. • Sau khi trải qua nhiều gian khổ và khó khăn trong việc truyền bá Nhật Liên tông, Nhật Liên cũng viết được nhiều tác phẩm. Trong “Khai Mục Sao,” ông có lời nguyện trứ danh của ông là “Ta sẽ là cột trụ của Nhật Bản, ta sẽ là con mắt của Nhật Bản, ta sẽ là huyết mạch của Nhật Bản.” Qua đây, ông tự nhận ông là Bồ Tát Thượng Hành là vị mà Đức Phật phó thác cho công việc bảo vệ chánh pháp: After undergoing so many hardships and troubles, Nichiren wrote several works. In the Eye-opener, his famous vows are found: “I will be the pillar of Japan; I will be the eyes of Japan; I will be the vessel of Japan.” Here he became conscious of himself being the Distinguished Action Bodhisattva (Visistacaritra) with whom the Buddha entrusted the work of protecting the Truth. ; (上行菩薩) Thượng hạnh, Phạm:Vizesta-càritra. Cũng gọi Chủng chủng hạnhbồtát. Chỉ cho vị Bồtát thứ nhất trong các vị Bồtát từ trong đất vọt lên. Cứ theo phẩm Tòng địa dũng xuất trong kinh Pháp hoa; đang lúc diễn ra hội Hư không của kinh Pháp hoa, thì từ trong lòng đất của thế giới Sa bà vọt lên vô lượng vô số Bồ tát. Chúng Bồ tát này từ vô số kiếp đến nay đã được đứcPhật giáo hóa, tu tập Phật tuệ, vì cầu Phật đạo nên trụ trong hư không dưới mặt đất. Nay từ trong đất hiện lên là để chứng minh thọ lượng của đức Phật lâu dài, lại được đức Thích tôn phó chúc việc truyền bá kinh Pháp hoa. Trong số các Bồ tát này có 4 vị Đạo sư mà vị thứ nhất chính là Thượng hạnh bồ tát. Vì công hạnh của Ngài thù thắng, là bậc tối thượng trong chúng nên gọi là Thượng hạnh bồ tát.[X. phẩm Nhưlai thần lực trong kinh Pháphoa; Pháphoa kinh cú giải Q.5; Pháp hoa nghĩa sớ Q.10].

thượng hương

(上香) Dâng hương vào lư trước Phật. Pháp dâng hương chia làm 2 thứ là tuyến hương và đàn hương. 1. Tuyến hương:Đặt cây hương ở giữa hai ngón trỏ và 2 ngón giữa, rồi dùng ngón cái đè lấy một đầu cây hương cho vững. Khi cầm hương thì để trước ngực, khi giơ hương lên thì phải ngang với chân mày. 2. Đàn hương:Dùng ngón cái và ngón trỏ của 2 tay cầm 2 đầu cây hương, 3 ngón còn lại xòe ra và giơ cao lên ngang chân mày, sau đó đặt hương vào lư. Cây đàn hương thứ nhất dùng tay trái cầm lên, tay phải đặt vào lư hương; cây thứ 2 dùng tay phải cầm lên, tay trái đặt vào lư hương; cây thứ 3 giống như cây thứ nhất.

Thượng hạ bát đế

上下八諦; C: shàngxiàbādì; J: jōgehachitai;|Tám chân lí (bát đế 八諦) trên và dưới. Bốn chân lí trên thuộc về Sắc giới (色界) và Vô sắc giới (無色界); bốn chân lí dưới thuộc về Dục giới (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).

thượng hạ hoa nghiêm tự

(上下華嚴寺) Chỉ cho 2 ngôi chùa Hoa nghiêm thượng và Hoa nghiêm hạ trong khu vực Đạiđồng, tỉnh Sơntây, Trung quốc. Hai chùa này đều được xây dựng vào đời Liêu và là 2 chùa xưa nhất, lớn nhất trong nội thành, có phong cách rất đặc trưng của Trung quốc. Đại hùng bảo điện của chùa Hoa Nghiêm thượng cực kì hoành tráng được xây cất vào đời Kim (1115-1234). Trên đàn Tu di trong Nội điện, những pho tượng Phật tạo vào đời Minh được sắp xếp rất chỉnh tề; trên các vách chung quanh còn bảo tồm được các bức bích họa to lớn được vẽ vào đời Thanh, màu sắc rất tươi đẹp.Chùa Hoa nghiêm hạ thì còn giữ được 31 pho tượng Phật được đắp tạo vào thời kì đầu, nổi tiếng trong nước. Ngoài ra, năm Trùng hi thứ 7 (1038) đời vua Hưng Năm tượng Phật trong Đại hùng bảo điện chùa Hoa nghiêm thượng Điện Bạc già giáo tạng của chùa Hoa nghiêm hạ tông nhà Liêu, có xây điện Bạc già giáo tạng, sau được xây lại làm Đại hùng bảo điện.

thượng hạng

First class (rate).

thượng hảo hạng

First rate quality.

thượng khách

Most honoured guest.

thượng khẩn

Extremely urgent—most immediate.

thượng kiên

(上肩) Vai trên. Chỉ cho chỗ ngồi trên trong nhà Thiền. Chẳng hạn như người thuộc Đông tự cho tòa Phật ở trên thì lấy vai bên phải của mình làm thượng kiên, còn người thuộc Tây tự thì lấy vai bên trái làm thượng kiên. Ở Trung quốc, từ đời Tần, Hán về trước cho bên phải là thượng, đời sau đã thay đổi, các tùng lâm phần nhiều lấy bên trái làm thượng, cho nên cũng gọi Thượng kiên là Tả kiên, như điều Trụ trì niệm tụng nhật dụng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2 ghi (Đại 48, 1121 thượng): Thuận theo tả kiên mà chuyển, đứng vào các vị trí đã định. [X. luật Ma ha tăng kì Q.35; Chiến quốc sách Triệu sách]. (xt. Kiên Thứ).

thượng kiên thuận chuyển

(上肩順轉) Thượng kiên, chỉ cho vai bên trái, tức di chuyển thuận theo vai bên trái. Điều Nhật dụng quĩ phạm trong Sắc tu Bách trượng thanh quyển 2 (Đại 48, 1144 hạ) ghi: Thuận theo vai bên trái mà di chuyển (thượng kiên thuận chuyển), nếu là cửa trước thì từ phía nam mà vào. Luật Ma ha tăng kì quyển 35 (Đại 22, 506 hạ) nói: Khi đi không được ngoái lại sau lưng, nếu cần phải nhìn lại thì nênxoay mặt về phía bên phải. Người xưa chuộng bên phải, người đời sau chuộng bên trái, Thiền lâm theo người đời sau nên di chuyển thuận theo vai trái. [X. điều Trụ trì nhật dụng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; môn Lễ tắc trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Thượng Kiên).

thượng kiếp

The superior life.

thượng lí thiên

(尚理篇) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Cảnh long soạn vào đời Minh. Vào năm Chính thống thứ 5 (1440), Đạo sĩ Mục thượng giới ở miếu Ngũ thánh, phủ Ứng thiên, có vẽ 1 bức tranh giảng lễ giữa Thiền sư Hoàng long và Lã động tân, gọi là Thần hóa đồ, đồng thời có phụ thêm phần giải thích về sự tưởng nhớ hư vọng, cho rằng Thiền sư Hoàng long rất hâm mộ đạopháp của Lã động tân. Những người kiến thức nông cạn thời đó phần nhiều bị mê hoặc, cho nên ngài Cảnh long mới soạn Thượng lí thiên để bác bỏ sự ngụy tạo của Đạo sĩ Mục thượng giới.

thượng lưu

1) Đi ngược dòng sanh tử để đến Niết Bàn: Urdhvasrotas (skt)—The flow upwards—To go upwards against the stream of transmigration to parnirvana. 2) Thượng nguồn: Up-stream.

thượng lưu xã hội

High society.

thượng lạc kim cương

(上樂金剛) Cũng gọi Thắng lạc kim cương. Vị bản tôn được thờ phụng khi tu pháp Vô thượng du già mật ở Mật viện tại Lạp tát hạ, Tây tạng. Hình tượng là 2 vị tôn được đặt trên tòa sen 2 tầng. Minh vương Thượng lạc kim cương có 3 mặt, mỗi mặt đều có 3 mắt, tất cả có 12 tay, 2 tay chính ôm Minh phi Kim cương hợi mẫu, còn các tay khác thì cầm các vật, lõa thể, phần thân dưới đeo chuỗi anh lạc bằng những cái đầu lâu, 2 chân đạp trên thân người. Cũng có hình tượng của vị tôn này được tạo với 4 mặt 6 tay. Phái Ca nhĩ cư khi tu pháp phần nhiều thờ vị Bản tôn này.

thượng lộ

To set out (start) on one's way.

thượng mao thành

(上茅城) I. Thượng Mao Thành. Phạm: Kuzàgrapura. Hán âm: Củ xa yết la bổ la. Tên tòa thành nằm chính giữa nước Ma yết đà thuộc Trung Ấn độ, đây là tòa thành cũ của thành Vương xá nước Ma yết đà, vì thế cũng gọi là Cựu vương xá thành. Đất trong thành này mọc nhiều cỏ tranh có mùi thơm thượng hảo, cho nên được đặt tên là Thượng mao thành. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 9 thì 4 chung quanh thành này có núi cao bao bọc, chiều đông tây dài, chiều nam bắc hẹp, chu vi thành hơn 150 dặm, nền cũ trong nội thành chu vi hơn 30 dặm. Nói về mặt địa thế thì đây là chỗ rất hiểm yếu đối với kế hoạch quốc Thượng mao thành còn được gọi là Sơn thành (Phạm:Girivfja,Pàli:Giribbaja), hiện nay chỉcòn2 bức tường phía nam và phía bắc của nội thành. Thành này vốn là thủ đô của nước Ma yết đà, đến thời vua Tần bà sa la thì vì trong thành thường bị hỏa hoạn, hơn nữa, nước Phệ xá li thường bất chợt đến cướp phá, cho nên nhà vua phải dời đô đến thành Vương xá mới. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.8; luận Đại trí độ Q.3; Cao tăng Pháp hiển truyện]. (xt. Vương Xá Thành). II. Thượng Mao Thành. Phạm: Kuzi-nagara. Hán âm: Câu thi na yết la. Đây là nơi quê hương của chủng tộcLực sĩ Mạtla (Phạm,Pàli:Malla), một trong 16 nước lớn ở Ấnđộ vào thờiđức Phật. Phía bắc thành này là nơi đức Thích tôn nhập Niết bàn. (xt. Câu Thi Na Yết La).

thượng nguyên

The fifteen of the first moon.

thượng ngươn

The Superior world.

thượng nhân

Một người có thượng trí, thượng đức và thượng hạnh—A man of superior wisdom, virtue and conduct. ; (上人) Phạm: Puruwarwbha. Từ tôn xưng bậc cao tăng có đầy đủ trí tuệ và đức hạnh, xứng đáng làm thầy chúng tăng và mọi người. Thích thị yếu lãm quyển thượng cho rằng bậc bên trong có trí đức, ngoài có thắng hạnh, ở trên mọi người, gọi là Thượng nhân. Phẩm Kiên cố trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 17 thì cho rằng: Nếu bậc Đại Bồtát nhất tâm tu hành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, giữ gìn tâm không để tán loạn thì gọi là Thượng nhân. Ở Nhật bản, từ Thượng nhân đặc biệt được tông Tịnh độ và tông Nhật liên sử dụng, đồng thời cho rằng Thánh nhân quan trọng hơn so với Thượng nhân. Vì thế nên Chân tông Nhật bản gọi Tông tổ Thân loan là Thánh nhân, còn gọi các tổ kế tiếp là Thượng nhân. Từ thời Trung thế về sau, triều đình Nhật bản dùng từ Thượng nhân làm tăngvị để sắc ban cho các bậc cao tăng. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.39; luận Thập trụ tì bà sa Q.15; luận Đại trí độ Q.73]. Một trong 3 phép thụ giới của Đại thừa giới. Chỉ cho giới được nhận lãnh trước chư Phật và Bồtát, là giới chân thực thượng phẩm. Kinh Bồtát anh lạc bản nghiệp quyển hạ (Đại 24, 1020 hạ) nói: Các Phật tử! Có 3 cách thụ giới: 1. Thụ giới trước chư Phật và Bồ tát hiện tại, được giới chân thực thượng phẩm. 2. Thụ giới khi chư Phật và Bồtát đã diệt độ (...) 3. Sau khi Phật diệt độ (...), tu học tất cả giới Bồ Tát, đó là hạ phẩm.

Thượng phiền não

上煩惱; C: shàngfánnăo; J: jōbonnō;|1. Trạng thái cường thịnh của căn bản phiền não; 2. Phiền não hiện hành (theo Khởi tín luận 起信論, Thắng-man kinh 勝鬘經).

thượng phiền não

Distress of present delusions. ; (上煩惱) I. Thượng Phiền Não. Phiền não chi mạt(cành ngọn) do vô minh căn bản(gốc rễ) sinh ra. Cũng chỉ cho phiền não trong 10 hoặc lớn phát sinh mạnh mẽ. Thắng man bảo quật quyển trung, phần cuối (Đại 37, 52 trung) nói: Các phiền não từ Tứ trụ sinh khởi, vì chúng thô to, mạnh mẽ nên gọi là Thượng, bởi vậy, ở đây nói tất cả Thượng phiền não. Tứ trụ và Thượng phiền não làm chỗ nương, chỗ gieo trồng, phiền não đã sinh ra nương vào đó mà tồn tại, cho nên gọi là Y. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 23, 578 trung) nói: Thượng phiền não nhiều hơn số cát sông Hằng, nương nơi vô minh mà khởi sai biệt. II. Thượng Phiền Não. Phiền não sinh khởi ngay ở hiện tiền cũng gọi là Thượng phiền não.

thượng pháp ưng xả, hà huống phi pháp

Theo Kinh Kim Cang, Đức Phật dạy—According to the Diamond Sutra, the Buddha taught: • Chúng sanh không nên chấp vào tướng ta, tướng người, tướng chúng sinh, tướng thọ giả, tướng vô pháp, và cũng không chấp vào tướng không phải là phi pháp—Sentient beings should not attached to the concept of self, others, affliations and incessantness, not to the concept of doctrines, nor no doctrines. • Tại vì sao? Nếu tâm còn chấp vào tướng, tức là chấp có ta, có người, có chúng sinh, có thọ giả. Nếu cố chấp vào pháp tướng, cũng tức là chấp có ta, chấp có người, chấp có chúng sinh, và chấp có thọ giả—Why? One who grasps a concept is attached to the self, others, affiliations and incessantness. One who grasps doctrine is attached to the self, others, affiliations and incessantness. • Bởi vậy không nên chấp là pháp, không nên chấp là phi pháp—One who grasps no-doctrines is attached to the self, others, affiliations and incessantness. Therefore, do not attach to the concept of doctrines or no-doctrine. • Vì lẽ đó, cho nên Như Lai thường nói: “Tỳ Kheo các ông nên hiểu rằng 'Pháp của ta nói ra, cũng ví như cái bè khi sang qua sông, thế nên Thượng Pháp ưng xả, hà huống phi pháp!' (chính pháp có khi còn nên bỏ, huống là phi pháp.)”—Thus, the Tathagata always says: “You, Bhikshus, should be aware that my teaching is a raft. It can be cast aside. How much more should you cast aside non-Buddhist teachings?”

thượng phương

Heaven—Also see Thượng thủ.

Thượng phẩm

上品; C: shàngpǐn; J: jōbon;|Tầng lớp trên, thứ bậc trên. Thường dùng để nói đến căn cơ của hành giả. Đối nghịch với Trung phẩm (中品) và Hạ phẩm (下品).

thượng phẩm

The high quality—High rank (class)—First quality.

thượng phẩm liên thai

(上品蓮台) Đài sen thượng phẩm. Chỉ cho đài sen trong đó những người vãng sinh Cực lạc thuộc bậc thượng phẩm được hóa sinh. Trong 3 phẩm vãng sinh Cực lạc thì những người thuộc Thượng phẩm sinh, được hóa sinh trong hoa sen lớn bằng bảy báu trong ao Bảy báu, cho nên gọi là Thượng phẩm liên đài.

thượng phẩm liên đài

Phẩm cao nhất trên cõi Tịnh Độ, nơi mà những vị vãng sanh hiện ra như những hoa sen trong ao thất bảo. Khi những hoa sen nầy nở thì các vị ấy sẽ chuyển hóa thành những chúng sanh trong cõi Tịnh Độ—The highest stages in the Pure Land where the best appear as the lotus flowers on the pool of the seven precious things. When the lotuses open they are transformed into beings of the Pure Land.

thượng phẩm thượng sanh

Reborn in the uppermost of the Lotus grade—Tái sanh vào cõi cao nhất trên Tịnh Độ (tùy theo nghiệp lực)—The highest quality of the incarnated beings with corresponding to karma—The highest grade in the Pure Land.

thượng phẩm trung sanh

The middle rank or quality of the incarnated beings with corresponding to karma.

Thượng Sam Cảnh Thắng

(上杉景勝, Uesugi Kagekatsu, 1555-1623): còn gọi là Trường Vĩ Cảnh Thắng (長尾景勝, Nagao Kagekatsu), vị Võ Tướng sống dưới thời đại An Thổ Đào Sơn (安土桃山), con của Trường Vĩ Chính Cảnh (長尾政景), con nuôi của Thượng Sam Khiêm Tín (上杉謙信). Sau khi Khiêm Tín qua đời, ông làm việc cho tướng quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi, 1537-1598), được liệt vào hàng ngũ của Ngũ Đại Lão (五大老).

Thượng sinh

上生; C: shàngshēng; J: jōshō;|Tái sinh ở trong cõi tốt lành hơn. Chẳng hạn tái sinh vào Sắc giới thay vì Dục giới.

Thượng sinh kinh

上生經; C: shàngshēng jīng; J: jōshō kyō;|Viết tắt của Di-lặc thượng sinh kinh (彌勒上生經).

thượng sĩ

The superior disciple who become spiritually perfect profiting himself and others. ; (上士) I. Thượng Sĩ. Cũng gọi là Đại sĩ. Tên khác của Bồtát – Bồ tát xa lìa mê chấp tà kiến, thấy pháp lí chân chính, là bậc tu hành viên mãn hạnh lợi mình lợi người, cho nên gọi là Thượng sĩ. Thích thị yếu lãm quyển thượng (Đại 54, 261 thượng) ghi: Luận Du già nói; Người không tu hạnh lợi mình, lợi người gọi là Hạ sĩ; người có tu hạnh lợi mình mà không tu hạnh lợi người, gọi là Trung sĩ; còn người tu hành cả 2 hạnh lợi mình và lợi người thì gọi là Thượng sĩ. [X. Vĩnh gia chứng đạo ca]. II. Thượng Sĩ. Bậc thượng căn cũng gọi là Thượng sĩ.

thượng sư

(上師) Cũng gọi Kim cương thượng sư. Danh từ của Phật giáo Tâytạng dùng để tôn xưng người có trí đức cao sâu, giới hạnh thù thắng, xứng đáng làm khuôn mẫu cho mọi người. Người Tây Tạng gọi các bậc ấy là Lạt ma. Lạt ma là Hán âm của tiếng Tây Tạng Bla-ma, vốn là 1 danh từ ghép, gồm bla (thượng) và ma(nhân), tức chỉ cho người thượng đức, tương đương với tiếng Phạm Guru, nghĩa là Sư tượng, Sư phạm, là từ ngữ mà người Ấnđộ đời xưa hoặc người tu hành nói chung dùng để tôn xưng thầy của mình. Phật giáo Tây tạng đặc biệt sùng bái Lạt ma. Trong sinh hoạt thường ngày của người Tây tạng, hễ có các việc như cưới xin, mừng thọ, ma chay, đau ốm, tai nạn cho đến dời nhà đi xa... đều đặc biệt trước thỉnh Lạt ma cầu nguyện rồi sau mới thực hiện. Còn những người xuất gia tu hành thì ngoài việc qui y Tam bảo Phật, Pháp, Tăng ra, còn phải đặc biệt qui y Lạt ma, do đó mà có tác pháp Tứ qui y; đồng thời đem thân khẩu ý của chính mình cúng dường, qui y Thượng sư, cho rằng phụng sự Lạt ma cũng ngang với phụng thờ Tam bảo. Nói theo Pháp thống thì Mật giáo Tây tạng rất xem trọng mối quan hệ kế thừa sự nghiệp của thầy, cho rằng Kim cương thượng sư là đại biểu cho đức Đại nhật Như lai trong hệ thống Sư sư tương thừa, cho nên nếu truyền trao Mật pháp thì phải có Kim cương thượng sư quán đính, nghi quĩ tu trì Mật pháp cũng phải thỉnh Kim cương thượng sư gia trì trước. Lại vì Mật giáo coi trọng Tâm pháp tương truyền, cho nên sự truyền trao Mật pháp cũng do Thượng sư và đệ tử bí mật truyền trao.Theo sự qui định của Mật thừa, vị Thượng sư đảm nhiệm chức vị Quĩ phạm sư (A xà lê) phải có đủ các điều kiện sau đây:1. Phải có Mật pháp quán đính của Kim cương thượng sư căn bản trong hệ truyền thừa chính thống. 2. Từ Kim cương Phật đến vị Thượng sư căn bản của chính mình, sự truyền thừa quán đính Mật pháp suốt thời gian ấy, đều phải đầy đủ không thiếu, không được gián đoạn. 3. Phải thụ đại quán đính Bản tôn(quán đính A xà lê), tinh thông Phật pháp Hiển mật và Bồ đề tâm học, đồng thời có đủ các tài liệu về các pháp tu như Hỏa cúng, Đàn thành..., luyện tập thành thục các pháp tu nói trong các kinh quĩ. 4. Khi bản thân mình có năng lực truyền trao Mật pháp, phải có sự cho phép của vị Kim cương thượng sư căn bản mới được đảm nhiệm chức vị Thượng sư A xà lê, truyền pháp quán đính cho người. Có đủ các điều kiện như đã trình bày ở trên rồi, theo tập quán của Tâytạng, bấy giờ mới có thể được gọi là Nhân ba thiết, nghĩa là Đức Phật chuyển thế.

thượng thú

The higher gati—The higher directions of transmigration.

thượng thượng nhân

(上上人) Từ ngữ do tông Tịnh độ Nhậtbản dùng để khen ngợi người tu hạnh niệm Phật, là 1 trong 5 thứ danh dự. Vị tổ khai sáng tông Tịnh độ Nhật bản là ngài Nguyênkhông đã căn cứ vào kinh Quán vô lượng thọ mà gọi người niệm Phật là hoa phân đà lợi(hoa sen trắng) trong loài người, vì hoa phân đà lợi là loại tối thượng, tối thắng trong các loài hoa, cho nên dùng để ví dụ cho nguời tu hạnh niệm Phật, là hạnh tối thượng, tối thắng trong các hạnh tu mà gọi là Thượng thượng nhân. [X. kinh Niết bàn Q.33 (bản Bắc)].

Thượng thượng phẩm

上上品; C: shàngshàngpǐn; J: jōjōhon;|Thứ nhất (thượng 上) trong hàng cao cấp nhất (thượng phẩm 上品). Bậc cao nhất trong chín hạng thường được đề cập trong kinh văn Phật giáo để phân loại các giới bằng phẩm lượng. Thuật ngữ nầy thường được dùng để nói đển căn cơ của chúng sinh (theo Nhiếp Đại thừa luận 攝大乘論).

Thượng thủ

上首; C: shàngshǒu; J: jōshu;|1. Cao quý nhất, quan trọng nhất; 2. Giai vị cao nhất, hoặc người đang trên giai vị đó. Người đứng đầu, lĩnh đạo, thủ lĩnh.

thượng thủ

người đứng đầu, dẫn đầu hay giữ cương vị tôn quý nhất trong một tập thể. ; President—Presiding elders—An abbot. ; (上首) Phạm: Pramukha. Pàli: Pamukha. I. Thượng Thủ. Chỉ cho người ở địa vị cao nhất trong đại chúng. Lúc đức Phật còntạithế đã có tên gọi này rồi, từ Thượng thủ cũng thấy rải rác trong kinh điển Hán dịch. Sau, trong Thiền lâm, đôi khi từ ngữ Thủ tọa được dùng thay cho Thượng thủ, tuy nhiên, ý nghĩa tôn trọng không thay đổi. [X. phẩm Kim cương trong kinh Đại phẩm Bát nhã Q.4; kinh Quán vô lượng thọ; luận Pháp hoa Q. thượng]. II. Thượng Thủ. Chỉ cho pháp tối thượng trong các pháp môn. Chẳng hạn như kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni quyển 2 gọi 15 thứ Tam muội như Yếm li nhất thiết pháp tam muội, Siêu quá nhất thiết pháp tam muội... là thượng thủ trong tất cả Tam muội; lại gọi 53 Đà la ni môn như Quán chư pháp tính đà la ni môn, Phát bồ đề tâm đà la ni môn...là thượng thủ của tất cả Đà la ni môn.[X. kinh Pháp hoa Q.5; luận Đại trí độ Q.45; Đại nhật kinh sớ Q.12]. III. Thượng Thủ. Chỉ cho ngài Ưu ba li, đệ tử của đức Phật. Ưu ba li, Phạm:Upàli, Hán dịch là THƯỢNG THỦ. Hóa sinh, hoặc dịch là Thượng thủ. Vì ngài giữ luật vào bậc nhất, làm kỉ cương cho đại chúng nên gọi là Thượng thủ. Sau khi đức Phật nhập diệt, Ngài cùng với 500 vị Thánh tăng kết tập tạng Luật trong động Tát bát la. [X. kinh Phó pháp tạng nhân duyên Q.1].

thượng thủ công đức

(上首功德) Chỉ cho công đức vi diệu, thù thắng không có công đức nào hơn, là 1 trong 8 thứ công đức của Phật trong 29 thứ trang nghiêm cõi Tịnh độ cực lạc. Bậc Thượng thủ ở Tịnh độ ấy là đức Phật A di đà mà sự tối tôn, tối thắng, vi diệu của Ngài hơn tất cả mọi người, không ai vượt qua được. Trong Vãng sinh luận chú quyển thượng (Đại 40, 832 trung), ngài Đàm loan nói: Như núi chúa Tu di, thù thắng vi diệu không núi nào hơn. Hai câu này gọi là Trang nghiêm thượng thủ công đức thành tựu. Vì sao Phật đã phát khởi nguyện này? Vì thấy có Như lai, trong chúng có kẻ ngang ngược như Đề bà đạt đa; hoặc có quốc vương không biết kính trọng đức Phật, hoặc có người thỉnh Phật, nhưng vì bận nhiều việc nên quên mất. Có những việc tựa như năng lực bậc thượng thủ không thành tựu như thế, cho nên nguyện rằng: Khi tôi thành Phật, nguyện tất cả mọi người không ai dám sinh tâm ngang hàng với tôi, chỉ có một đấng Pháp vương, không có vua thế tục. Vì thế nói rằng: Như núi chúa Tu di, thù thắng vi diệu không núi nào hơn. [X. kinh Vô lượng thọ Q. hạ].

thượng thừa

Supreme Yana—Mahayana—See Đại thừa.

thượng thừa du già

Mahayana-Yoga.

thượng thừa mật tông

The Mahayana Esoteric school.

thượng thừa thiền

The Mahayana meditation—Attainment of the highest realization of Mahayana truth—To realize the unreality of the ego and of all things. ; (上乘禪) Chỉ cho thứ thiền đốn ngộ tự tâm. Thiền tông tự cho mình vượt lên trên Đại thừa và Tiểu thừa, cho nên lập riêng Thượng thừa thiền. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục thì thiền có cấp bậc sâu cạn khác nhau, người ngộ lí Ngã không thiên chân mà tu thiền thì gọi là Tiểu thừa thiền; người ngộ chân lí Ngã pháp giai không mà tu thiền là Đại thừa thiền. Nếu ngộ ngay tâm mình xưa nay vốn thanh tịnh, vốn không phiền não, tâm này chính là Phật, theo đó mà tu thiền thì chính là Thượng thừa thiền.

thượng toà

(上座) Phạm: Sthavira. Pàli:Thera. Hán âm: Tất tha bệ la, Tát đề na. Cũng gọi: Trưởng lão, Thượng lạp, Thủ tọa, Thượng tọa, Trụ vị. Một trong Tam cương. Chỉ cho vị tăng hay vị ni có tuổi hạ cao, ở địa vị trên. Kinh Tì ni mẫu quyển 6 y cứ vào tuổi hạ cao hay thấp mà lập ra 4 bậc: Hạ tọa, Trung tọa, Thượng tọa và Kì cựu trưởng túc. Rồi qui định từ chưa có hạ lạp nào 19 hạ, gọi là Trung tọa; từ 20 hạ đến 49 hạ, gọi là Thượng tọa. Từ 50 hạ trở lên, được quốc vương, trưởng giả, người xuất gia kính trọng thì gọi là Kì cựu. Nhưng Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3 thì cho rằng đủ 10 hạ là Tất tha bệ la, đó là vì từ bậc Trung tọa trở lên gọi chung là Thượng tọa.Theo Tập dị môn túc luận quyển 4 thì Thượng tọa có 3 loại như sau: 1. Sinh niên thượng tọa (Phạm:Jatisthavina): Chỉ cho Tôn trưởng, Kì cựu. 2. Thế tục thượng tọa (Phạm:Saôvftisthavira): Người có tài sản, địa vị, quyền hành thế tục. 3. Pháp tính thượng tọa (Phạm: Dharma-sthavira): Người có tuổi hạ khá cao, trí tuệ giải thoát, đã chứng quả A la hán.Còn Thích thị yếu lãm quyển thượng thì nêu thuyết Tứ chủng thượng tọa, đó là: 1. Tăng phòng thượng tọa: Tức chỉ cho Tam cương thượng tọa nói trong các luật.2. Tăng thượng tọa:Tức Thượng tọa ở trên đàn, hoặc chỉ cho vị Thủ tọa trong giới đàn khi truyền giới. 3. Biệt phòng thượng tọa: Tức chỉ cho vị Thủ tọa của các liêu trong Thiền lâm. 4. Trụ gia thượng tọa: Chỉ cho vị Thượng tọa coi về trai tịch. Ngoài ra, Thượng tọa cũng là từ gọi chung các tỉ khưu. [X. luật Tứ phần Q.54; luật Thập tụng Q.39; Thiền uyển thanh qui Q.1; môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên].

thượng toà bộ

(上座部) Phạm:Àrya-sthavira-nikàya. Pàli:Thera-vàda. Cũng gọi Đồng diệp bộ. Hán âm: Tha kệ la bộ, Thể tì lí, Tha tì lợi dữ. Một trong các phái của Phật giáo bộ phái. Theo kinh điển Bắc truyền thì sau khi đức Phật nhập diệt hơn 100 năm, các tỉ khưu thuộc phái tiến bộ như Đại thiên (Phạm,Pàli:Mahàdeva) đề xướng 5 điều giáo nghĩa và bị phái bảo thủ phản đối, do đó, giáo đoàn đã chia ra thành Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Khoảng các năm đầu thứ 300 sau Phật nhập diệt, từ Thượng tọa bộ bảo thủ lại chia ra Thuyết nhất thiết hữu bộ(gọi tắt là Hữu bộ),không bao lâu, Thượng tọa bộbảo thủbị thế lựcHữu bộ chèn ép nên phải dời đến Tuyết sơn (Phạm: Himàlaya), gọi là Tuyết sơn bộ. Về sau, từ Hữu bộ lại chia ra 8 bộ, Thượng tọa bộ trước sau gồm 11 bộ(Hữu bộ, Bản thượng tọa bộ, Độc tử bộ, Pháp thượng bộ, Hiền trụ bộ, Chính lượng bộ, Mật lâm sơn bộ, Hóa địa bộ, Pháp tạng bộ,Ẩm quang bộ và Kinh lượng bộ). Nhưng theo kinh điển Nam truyền thì nguyên nhân đưa đến sự chia rẽ đầu tiên là do ý kiến khác nhau về 10 điều liên quan đến giới luật, nên Thượng tọa bộ trước sau đã chia thành 12 bộ. Trong hệ thống Thượng tọa bộ thì Hữu bộ có thế lực lớn nhất và có thể nói là đại biểu cho lí luận của Thượng tọa bộ. Vào khoảng thế kỷ III trước Tây lịch, Thượng tọa bộ đã từ Ấn độ truyền đến các nước như Tíchlan... sau gọi là Nam truyền Thượng tọa bộ, đến nay vẫn thịnh hành. [X. luận Dị bộ tông luân; luận Đại tì bà sa Q.99; Tam luận huyền nghĩa; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu]. (xt. Đại Thiên Ngũ Sự, Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ, Ấn Độ Phật Giáo, Bộ Phái Phật Giáo).

thượng toà thập pháp

(上座十法) Chỉ cho 10 pháp của Thượng tọa, tức THƯỢNG TỌA THẬP PHÁP 10 điều kiện mà bậc Thượng tọa phải có. Cứ theo luật Thập tụng quyển 50 thì Thượng tọa thập pháp gồm: 1. Có chỗ cư trú. 2. Không sợ hãi, không có gì ngăn trở được. 3. Dứt trừ được phiền não. 4. Kiến thức sâu, uy tín cao, có năng lực làm cho người khác sinh tâm thanh tịnh.5. Có khả năng biện luận, không ai hơn được. 6. Không có trệ ngại, nghĩa lí rõ ràng. 7. Người nghe tin nhận. 8. Khéo léo, khoan thai khi vào nhà người. 9. Có khả năng giảng nói pháp sâu xa cho người tại gia nghe, phân biệt các đạo, khuyên họ thực hành bố thí, giữ gìn trai giới, khiến họ bỏ ác theo thiện. 10. Tự quán xét lí Tứ đế, được an vui trong hiện pháp, không có khuyết điểm. (xt. Tam Cương, Thượng Tọa).

Thượng toạ

上座; C: shàngzuò; J: jōza; S: sthavira; P: the-ra;|I. Chỉ một người cao tuổi đã đạt bốn tiêu chuẩn sau: 1. Ðức hạnh cao; 2. Nắm vững tất cả giáo lí căn bản của Phật pháp; 3. Nắm vững các phép Thiền định; 4. Người đã diệt Ô nhiễm (s: āśrava), Phiền não (s: kleśa) và đạt Giải thoát (s: vimokṣa).|Danh hiệu Thượng toạ được dùng sau này không hẳn là theo tất cả các tiêu chuẩn trên, thường chỉ để dùng cho các Tỉ-khâu có danh tiếng, cao tuổi hạ (Hoà thượng).|II. Trong Thiền tông, là danh hiệu kính cẩn để gọi thầy của mình; |III. Chỉ cho Thượng toạ bộ.

Thượng toạ bộ

上座部; C: shàngzuòbù; J: jōzabu; S: sthavira-vāda; P: theravāda;|Trường phái thuộc Trưởng lão bộ (s: sthavi-ravāda), xuất phát từ Phân biệt bộ (s: vibhajyavādin), do Mục-kiền-liên Tử-đế-tu (p: moggaliputta tissa) thành lập (Kết tập). Phái này được Ma-hi-đà đưa về Tích Lan năm 250 trước Công nguyên và được các sư tại Ðại Tự (mahāvihāra) tu tập. Về giới luật cũng có nhiều bất đồng trong nội bộ phái Thượng toạ bộ. Ngày nay Thượng toạ bộ được lưu hành tại các nước Tích Lan, Miến Ðiện, Thái Lan, Campuchia và Lào.|Thượng toạ bộ là trường phái Tiểu thừa duy nhất còn lưu lại đến ngày nay, tự xem là dạng Phật giáo nguyên thuỷ nhất. Thượng toạ bộ cho rằng các kinh điển viết bằng văn hệ Pā-li của mình là ngữ thuyết của chính đức Phật (Tam tạng). Giáo pháp của Thượng toạ bộ chủ yếu gồm Tứ diệu đế, Bát chính đạo, Mười hai nhân duyên và thuyết Vô ngã. Thượng toạ bộ nhấn mạnh khả năng từng người tự giải thoát bằng cách kiên trì giữ giới luật và sống một cuộc đời phạm hạnh. Hình ảnh cao quý của Thượng toạ bộ là A-la-hán. Giáo pháp của Thượng toạ bộ có khuynh hướng phân tích, trong đó A-tì-đạt-ma (s: abhidharma) đóng một vai trò quan trọng. Ngoài ra bộ Thanh tịnh đạo (p: visuddhi-magga) và Di-lan-đà vấn đạo kinh (p: milinda-pañha) cũng rất được phổ biến. Luận sư xuất sắc của Thượng toạ bộ là Phật Âm (p: buddhagosa), Hộ Pháp (p: dhammapāla), A-na-luật (anuruddha) và Phật-đà Ðạt-đa (buddhadatta).

thượng trung hạ pháp

The three dharmas systems or vehicles of Bodhisattvas (Bồ tát), Prayetka-buddhas (Duyên giác) and Sravakas (Thanh văn).

thượng trung hạ phẩm

Superior, middle, and lower class, grade, or rank.

Thượng Trực Biên

(尚直編, Shōjikiben): 2 quyển, trước tác của Không Cốc Cảnh Long (空谷景隆) nhà Minh, san hành vào năm thứ 5 (1440) niên hiệu Chánh Thống (正統). Không Cốc Cảnh Long―pháp từ của Sư Tử Lâm Thiên Như Duy Tắc (師子林天如惟則), pháp hệ của Trung Phong Minh Bổn (中峰明本)―phản bác thuyết bài xích Phật Giáo của Nho Giáo nhà Tống và Chu Tử và khẳng định rõ rằng đạo của chư vị thánh nhân của 3 tôn giáo Nho, Phật, Đạo là kết hợp trời đất với đức, ánh sáng với trời trăng, tất cả đều là tư lương để chứng đạo nguyên sơ.

thượng tuần

The first ten days of the month.

Thượng tâm

上心; C: shàngxīn; J: jōshin;|1. Trong Bồ Tát trì địa kinh (菩薩地持經), đây là trạng thái tinh thần của thiền định trong cõi trời Vô sắc (無色界天); 2. Thượng tâm phiền não (上心煩惱).

Thượng tâm hoặc

上心惑; C: shàngxīnhuò; J: jōshinwaku;|Thượng tâm phiền não.

Thượng tâm phiền não

上心煩惱; C: shàngxīn fánnăo; J: jōshin bon-nō;|Cũng viết Thượng tâm hoặc: 1. Theo trong Tam vô tính luận, phiền não tái sinh khởi sau khi trực quán được diệu đế; 2. Thượng phiền não.

thượng túc

A superior disciple or follower. ; (上足) Chỉ cho hàng đệ tử thượng thủ, tức hàng đệ tử ưu tú trong các môn phái, pháp hội.

thượng tế

To place offering on an altar.

thượng tọa

Venerable—A monk or a nun who has from twenty to forty nine years of renunciation—See Tam Cương (B) (2).

Thượng Tọa Bộ

(s: Sthaviravāda, p: Theravāda, j: Jōzabu, 上座部): nghĩa đen là “Con Đường Của Các Bậc Trưởng Lão”, là bộ phái Phật Giáo sống còn xưa nhất; trong nhiều thế kỷ qua nó là tôn giáo chiếm ưu thế của Sri Lanka (Tích Lan, khoảng 70% dân số) cũng như hầu hết lục địa Đông Nam Á (Cam Bốt, Lào, Miến Điện, Thái Lan). Bộ phái này cũng được thực hành với mức độ ít hơn ở Tây Nam Á như Trung Quốc, Việt Nam, Bangladesh, Phi Luật Tân, Mã Lai Á và Indonesia. Trong khi đó, gần đây nó cũng chiếm được đa số ở Singapore và Úc Châu. Ngày nay, tín đồ Phật Giáo Thượng Tọa Bộ trên khắp thế giới lên đến hơn 100 triệu và trong những thập niên gần đây, Thượng Tọa Bộ bắt đầu cắm gốc rễ ở phương Tây. Thượng Tọa Bộ chủ yếu phát xuất từ trường phái Vibhajjavāda (分別說部, Phân Biệt Thuyết Bộ) vốn xuất hiện giữa nhóm Trưởng Lão (s: sthavira, p: thera, 長老) tại Đại Hội Kết Tập Kinh Điển lần thứ 3 (250 sau công nguyên) trong suốt thời gian trị vì của A Dục Vương. Sau Đại Hội Kết Tập này, tín đồ của Phân Biệt Thuyết Bộ dần dần tách thành 4 nhóm: Mahīśāsaka (化地部, Hóa Địa Bộ), Kāśyapīya (飲光部, Ẩm Quang Bộ), Dharmaguptaka (法藏部, Pháp Tạng Bộ) và Tāmraparnīya (銅鍱部, Đồng Diệp Bộ). Thượng Tọa Bộ xuất thân từ Đồng Diệp Bộ, có nghĩa là “dòng truyền thừa Tích Lan”. Những ký sự về nguồn gốc của Thượng Tọa Bộ cho biết rằng bộ phái này nhận giáo lý vốn được đồng ý trong Đại Hội Kết Tập Kinh Điển lần thứ 3 và giáo lý này của trường phái Phân Biệt Thuyết Bộ. Bản thân tín đồ Phân Biệt Thuyết Bộ xem họ là sự tương tục của các Trưởng Lão chính thống và sau đó đại hội tiếp tục đề cập đến họ là “Chư Trưởng Lão (The Elders)”, mặc dầu giáo điển của họ có lẽ tương tự với các vị Trưởng Lão xưa, nhưng có thể không đồng nhất. Vào thế kỷ thứ 7, hai nhà chiêm bái Trung Hoa là Huyền Trang (玄奘, 602-664) và Nghĩa Tịnh (義淨, 635-713) có đề cập đến trường phái Phật Giáo ở Tích Lan là “Sthaviravāda”. Khi tiếng Pāli được dùng rộng rãi và chiếm ưu thế, khoảng thế kỷ 11, tên Pāli “Theravāda” của bộ phái này được sử dụng thay thế cho tên Sanskrit. Theo truyền thống Tích Lan, Phật Giáo được Ma Sẩn Đà (p: Mahinda, 摩哂陀)—con của A Dục Vương thuộc vương triều Khổng Tước (s: Maurya, 孔雀)—truyền vào Tích Lan đầu tiên như là một phần của hoạt động truyền giáo dưới kỷ nguyên A Dục Vương. Ma Sấn Đà thiết lập tu viện Mahavihara ở Anuradhapura. Sau này tu viện này phân chia thành 3 nhóm phụ dưới tên gọi của các trung tâm tu tập như Mahavihara, Abhayagirivihara và Jetavanavihara. Vào năm 1164, dưới sự hướng dẫn của 2 vị tu sĩ thuộc nhóm tu tập trong rừng của Mahavihara, vua Tích Lan đã hợp nhất tất cả tỳ kheo khắp Tích Lan lại thành phái Mahavihara. Vài năm sau khi Ma Sấn Đà đặt chân lên xứ sở này, Tăng Già Mật Đa (p: Saṅghamittā, 僧伽蜜多)—con gái của A Dục Vương và cũng là em gái của Ma Sấn Đà—đến Tích Lan. Cô hình thành giáo đoàn Ni đầu tiên tại đây, nhưng giáo đoàn này tuyệt diệt vào khoảng giữa thế kỷ thứ 10. Vào năm 429, thể theo yêu cầu của vua nhà Hán Trung Quốc, vị ni từ Anuradhapura được phái đến Trung Quốc để thiết lập giáo đoàn Ni. Sau đo, giáo đoàn này lan rộng sang Triều Tiên. Vào năm 1996, 11 vị Ni Tích Lan có chọn lọc kết hợp với một số Ni Hán Quốc, được một nhóm tăng sĩ Theravāda truyền thọ Tỳ Kheo Ni giới tại Ấn Độ. Việc này nảy sinh sự bất đồng giữa những người có quyền uy về Luật Tạng Thượng Tọa Bộ về vấn đề thọ giới này có đúng pháp hay không. Dưới thời A Dục Vương trị vì, một đoàn truyền giáo được phái đến Kim Địa Quốc (s: Suvarṇa-bhūmi, p: Suvaṇṇa-bhūmi, 金地國), tương truyền nơi đó đã có sự hiện diện truyền giáo của Soṇa và Uttara. Tuy nhiên, kiến giải của các học giả thì hoàn toàn khác nhau về vị trí vùng đất này. Người ta tin rằng Kim Địa Quốc có thể thuộc một nơi nào đó trong khu vực bao gồm Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt và bán đảo Mã Lai. Dân tộc thiếu số Mon là một trong những nhóm người sớm nhất trú ngụ ở Miến Điện và đã từng là tín đồ của Theravāda từ thế kỷ thứ 3. Những phát hiện về khảo cổ cho biết rằng dân tộc này có quan hệ mật thiết với Nam Ấn và Tích Lan. Người Miến Điện chọn tôn giáo và văn bản viết của dân tộc Mon khi họ chinh phục Thaton, vương quốc người Mon, vào năm 1057. Theo truyền thống địa phương, đây là địa vức của Kim Địa Quốc được giáo đoàn của triều đình A Dục Vương viếng thăm. Dân tộc Mon cũng là một trong những sắc tộc định cư tại Thái Lan. Người Thái lấy tôn giáo Mon để chinh phục Haripunjaya, vương quốc người Mon, vào năm 1292. Một số giáo phái chính ở các nước Phật Giáo Thượng Tọa Bộ ngày nay như Tích Lan có Siam Nikaya, Amarapura Nikaya, Ramañña Nikaya; Miến Điện có Thudhamma Nikaya, Shwekyin Nikaya, Dvara Nikaya; Thái Lan có Maha Nikaya, Thammayut Nikaya; Bangladesh có Sangharaj Nikaya, Mahasthabir Nikaya, v.v.

thượng tọa bộ

Sthaviravadin or Theravada—Phật Giáo Nguyên Thủy— Thượng Tọa Bộ: Mahasthavirah or Sthavirah—The elders—Một trăm năm sau ngày Phật nhập diệt, những bậc kỳ lão trong Tăng đoàn đã họp nhau trong hang núi để cùng kết tập luật bộ. Tại cuộc hội nghị ở Tỳ Xá Lê, đã có một số Tăng lữ bất đồng ý kiến trầm trọng với một số Tăng lữ khác những điểm quan trọng liên quan tới giáo pháp. Số Tăng lữ có những ý kiến khác biệt tuy chiếm đa số nhưng họ lại bị một số Tăng lữ khác lên án và gọi là Ác Tỳ Kheo và kẻ thuyết phi pháp đồng thời đã trục xuất họ. Trong lịch sử Phật giáo, số Tỳ Kheo nầy được gọi là Đại Chúng Bộ vì trong cuộc hội tập họ đã chiếm đa số và phản ảnh được ý kiến của đại đa số tục chúng. Những Tăng lữ đã xua đuổi những vị nầy đã tự xưng là Thượng Tọa Bộ hoặc Trưởng Lão vì họ tự cho là đại biểu chính thống giáo nghĩa Phật Giáo Nguyên Thủy. Giáo lý của Đức Phật theo trường phái nầy rất đơn giản. Ngài dạy chúng ta 'tránh mọi điều ác, làm các điều lành và giữ cho tâm ý thanh sạch.' Có thể đạt được những điều nầy bằng sự hành trì giới, định, tuệ. Giới hay giữ hạnh kiểm tốt là nền tảng chủ yếu của sự tiến bộ trong đời sống con người. Một người tại gia bình thường phải tránh sát sanh, trộm cắp, tà dâm và uống các chất cay độc. Nếu trở thành tu sĩ thì phải sống đời độc thân, tuân thủ cụ tục giới, tu tập thiền định để trau dồi tuệ giác—Elder disciples who assembled in the cave after the Buddha's death. The elder monks or intimate disciples. At the council held at Vaisali, certain monks differed widely from the opinions of other monks on certain important points of the dharma. Though the monks that differed formed the majority, they were excommunicated by the others who called them Papa-Bhikkhus and Adhamma-vadins. In Buddhist history, these Bhikkhus were known as Mahasanghikas because they formed the majority at the council or probably because they reflected the opinions of the larger section of the laity. The Bhikkhus who excommunicated them styled themselves Sthaviras or the Elders, because they believed that they represented the original, orthodox doctrine of the Buddha. We have seen that Mahasanghikas coined the term Mahayana to represent their system of belief and practice, and called the Sthaviras Hinayana. The teaching of the Buddha according to this school is very simple. He asks us to 'abstain from all kinds of evil, to accumulate all that is good and to purify our mind.' These things can be accomplished by the practice of what are called sila, samadhi, and prajna. Sila or good conduct is the very basis of all progress in human life. An ordinary householder must abstain from murder, theft, falsehood, wrong sexual behavior and all intoxicating drinks. To become a monk, one must live a life of celibacy, observe complete silas, practise meditation, and cultivate prajna—Nam Tông từ Ấn Độ truyền về phương Nam (Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt)—See Nhị bộ.

Thượng Tộ

(尚祚, Shōso, ?-1245): vị học tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa thời Liêm Thương, húy là Thượng Tộ (尚祚), tự là Giác Thể (覺体), Giác Thiền (覺禪). Ông vào nhập môn tu học với Giác Hải (覺海) trên Cao Dã Sơn, chuyên tâm nghiên tầm cực ý của Mật Giáo, cùng với Đạo Phạm (道範) ở Chánh Trí Viện (正智院) tiến hành nghiên cứu. Về sau, ông khai sáng Tâm Nam Viện (心南院) để dẫn dắt đàn hậu tấn. Ông không những chỉ nghiên cứu về Mật Giáo, mà còn an trí tượng A Di Đà Phật, và tìm hiểu về Tịnh Độ Giáo. Ông được xem là một trong 8 nhân vật kiệt xuất của Cao Dã Sơn.

thượng vị

(上味) Chỉ cho vị ngon nhất. Vãng sinh yếu tập quyển trung nói rằng: Do bố thí thức ăn uống cho chúng sinh nên đức Phật A di đà cảm được tướng thượng vị; dưới lưỡi của Ngài có 2 hạt bảo châu tiết ra nước cam lộ, thấm trên lưỡi, chư thiên, loài người và hàng Bồtát Thập địa đều không có lưỡi này, cũng không có vị này. Còn kinh Lăng nghiêm thì cho tô lạc đề hồ là vị tối thượng trong các vị của thế gian.

thượng y

xem ba tấm pháp y. ; Uttara-samghati (skt)—Y ngoài có 25 mảnh—The superior or outer robe described as of twenty-five patches.

Thượng Đường

(上堂, Jōdō): đến Tăng Đường (僧堂) để ăn cơm cháo. Trong Chương Thạch Thê Hòa Thượng (石梯和尚章) của Hội Yếu (會要) 5 có đoạn rằng: “Sư kiến thị giả thác bát thượng đường, nãi hô vân: 'thị giả', giả ứng 'nặc'; sư vân: 'thậm xứ khứ ?', vân: 'thượng đường trai khứ' (師見侍者托鉢上堂、乃呼云、侍者、者應諾、師云、甚處去、云上堂齋去, Thầy thấy vị thị giả mang bình bát lên nhà ăn, bèn gọi rằng: 'này thị giả !' Người thị giả đáp: 'dạ'; thầy hỏi: 'đi đâu vậy ?' Đáp: 'lên nhà ăn cơm')”. Bên cạnh đó, từ này còn có nghĩa là lên Pháp Đường (法堂) để thuyết pháp. Ngày xưa, nghi thức này được tiến hành hằng ngày hai thời sáng và tối; nhưng sau này nó được tiến hành vào buổi sáng với thời gian quy định với các tên gọi như Tứ Tiết Thượng Đường (四節上堂), Ngũ Tham Thượng Đường (五參上堂), v.v. Từ này còn được gọi là Triêu Tham (朝參), Đại Tham (大參), Phổ Thuyết (普說) và Thăng Tòa (陞座). Trong phần Bách Trượng Quy Thằng Tụng (百丈規繩頌) của Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規) 10 có đoạn rằng: “Kỳ hạp viện đại chúng, triêu tham tịch tụ, trưởng lão thượng đường thăng tòa, chủ sự đồ chúng nhạn lập trắc linh (其闔院大眾、朝參夕聚、長老上堂陞座、主事徒眾鴈立側聆, đại chúng trong toàn viện ấy đều buổi sáng tham vấn, buổi tối tập trung, vị trưởng lão lên tòa thuyết pháp, tất cả đồ chúng đứng ngay ngắn một bên lắng nghe).”

thượng đường

Vị trụ trì Tòng lâm mỗi ngày hai lần sớm chiều lên pháp đường giải đáp sự tham vấn của Tăng chúng, gọi là thượng đường. ; Đi đến sảnh đường thuyết pháp—To go to the hall to expound the Buddha's teaching (the doctrine)—To go to a temple for the purpose of worship or bearing presents to the monks. ; (上堂) Tiếng dùng trong Thiền lâm. I. Thướng Đường. Lên Pháp đường thuyết pháp. Thời xưa, vị Trưởng lão trụ trì có thể thướng đường bất cứ lúc nào, nhưng từ thời Trung thế về sau thì có Định kì thướng đường và Lâm thời thướng đường khác nhau: 1. Đán vọng thướng đường: Thướng đường vào các ngày mồng 1, 15 mỗi tháng. 2. Ngũ tham thướng đường: Thướng đường vào các ngày mồng 5, 10, 20, 25 mỗi tháng, lại thêm Thướng vọng thướng đường nữa, cứ cách khoảng 5 ngày thướng đường một lần, cho nên gọi là Ngũ tham thướng đường. 3. Cửu tham thướng đường: Mỗi 3 ngày thướng đường một lần, thì mỗi tháng có khoảng 9 lần thướng đường, vì thế gọi là Cửu tham thướng đường. 4. Thánh tiết thướng đường: Thướng đường vào ngày sinh của Hoàng đế. 5. Xuất đội thướng đường:Vị trụ trì đi khuyến hóa, sau khi trở về chùa thì thướng đường. 6. Nhân sự thướng đường: Trong chùa phát sinh các việc đặc biệt khó khăn thì vị trụ trì thướng đường thuyết pháp.7. Tạ Bỉnh phất thướng đường:VịTrụ trì thướng đường để cảm tạ công lao của vị Đầu thủ bỉnh phất đã thuyết pháp thay cho mình. 8. Tạ Đô tự trai thướng đường:Để cảm tạ công lao thiết trai của vị Đô tự, vị trụ trì đặc biệt thướng đường thuyết pháp. 9. Đại hành trang nghiêm thướng đường: Thướng đường thuyết pháp để truy tiến cho thân trung ấm của Hoàng đế. Trong các Thướng đường trên đây thì ngày Ngũ tham thướng đường (Ngũ thướng đường) được gọi là Ngũ tham nhật (tham nghĩa là tham gia), hợp chung với Đán vọng gọi là Ngũ đán vọng. Khi vị trụ trì thăng tòa thướng đường, đại chúng nên đứng dậy nghe pháp. Sau khi thướng đường thuyết pháp, đại chúng đến Trai đường thụ cúng, gọi là Thướng đường trai. [X. Tổđình sự uyển Q.8; chương Chúc li trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q. thượng; môn Tọa vị trong Thiền lâm tượng khí tiên]. II. Thướng Đường. Chỉ cho Chúc quốc thướng đường, Tấn sơn thướng đường(nghi thức thuyết pháp cầu nguyện cho đất nước thanh bình, yên vui, ngày vị trụ trì nhậm chức).

thượng đường bài

(上堂牌) Bảng yết thị báo trước việc thướng đường. Tức chỉ cho tấm bảng yết thị chiều dài 2 thước 3 tấc, chiều ngang 1 thước 3 tấc treo ở cửa trước của Pháp đường để thông báo cho đại chúng biết về ngày giờ thướng đường. Mỗi khi đến ngày mồng 1, 15 thì vị Thị giả dặn vị hành giả khách đầu nhớ treo Thướng đường bài để báo cho chúng tăng biết. [X. Chư bài pháp trong Tăng đường thanh qui].

thượng đẳng

Superior—Supreme.

thượng đẳng thần

Supreme Deities.

thượng đế

God or Creator—Ngoại đạo tin rằng có cái gọi là “Thượng Đế” sáng tạo mọi thứ, có quyền năng thưởng phạt. Nói cách khác, mọi sự vật, họa phúc, xấu tốt, vui khổ trên thế gian đều do quyền năng của một đấng tạo hóa tối cao, một vị chúa tể duy nhất sáng tạo có quyền thưởng phạt—Externalists believe that there exists a so-called “God” who creates all creatures and has the almighty power to punish and reward them. In other words, everything in this world whether good or bad, lucky or unlucky, happy or sad, all come from the power of a supreme Creator, the only Ruler to have the power of reward and punishment.

Thượng địa

上地; C: shàngdì; J: jōchi, jōji; S: upari-bhūmi.|Cảnh giới cao trong công phu tu tập, cảnh giới cao của tâm thức Hạ địa (下地; theo Du-già luận 瑜伽論)

thượt

Thườn thượt—Very long.

thạc học

Man of great learning.

thạc pháp sư

(碩法師) Danh tăng Trung quốc sống vào đời Đường. Sư tinh thông Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận. Sư từng soạn Trung luận sớ 12 quyển. Trong Trung luận sớ kí của mình, ngài An trừng (763-814) người Nhật bản, 1 học giả Tam luận, sống vào thời Bình an, đã trích dẫn kiến giải của sư ở nhiều chỗ. Cứ theo các sách vở của Nhật bản thì sư là đệ tử ngài Cát tạng, nhưng không thấy được nói đến trong các bộ Cao tăng truyện. Ở đây, căn cứ vào các tư liệu trên, đồng thời khảo chứng chung về tư tưởng, học thuyết của sư thì có lẽ sư là Tuệ trách Pháp sư (580-636) trụ trì chùa Thanh thiền đời Đường. Cứ theo Tục cao tăng truyện quyển 3 thì ngài Tuệ trách là người ở Giang lăng thuộc Kinh châu, họ Lí. Từ nhỏ sư đã thông minh khác thường, lúc 12 tuổi đã làm chủ tọa các hội giảng pháp. Trong năm Khai hoàng (581-600) sư trụ ở chùa Giang lăng, sang đời Đường thì dời đến trụ chùa Thanh thiền. Năm Trinh quán thứ 10 sư thị tịch, hưởng thọ 57 tuổi. Sư có các tác phẩm: Trung luận sớ 12 quyển, Tam luận du ý nghĩa, Bát nhã đăng luận.

thạc sĩ

Doctor—One who has passed the Doctorate Degree.

thạc đức

High virtue.

thạch

Stone—Rock. 1) Họa Thạch: A painting of a rock (though the water of the water-colour rapidly disappears, the painting remains). 2) Nan Thạch Thạch Liệt: Ngay cả đá mà chạm mạnh hay bị vặn vẫn phải bể—Even a rock meeting hard treatment will split.

thạch bát

Bốn bát bằng đá rất nặng mà tứ thiên vương dâng lên cho Đức Phật nhân ngày Phật thành đạo. Phật lấy xong bèn chồng bốn cái lên nhau, rồi ấn xuống thành một cái (có thể vì vậy mà từ đó về sau chỉ có Đức Phật mới có thể dùng bát đá chứ các đệ tử không được phép dùng)—The four heavy stone begging-bowls handed by the four devas to the Buddha on his enlightenment, which he miraculously received one piled on the other. ; (石鉢) Bát bằng đá. Tức chỉ cho bát của Phật. Lúc đức Phật mới thành đạo, có 4 vị Thiên vương đến, mỗi vị dâng cúng Phật 1 chiếc bát bằng đá màu xanh, sau khi tiếp nhận, Phật dùng thần lực hợp thành một bát, đó là chiếc bát đá có 4 vành rõ ràng. Đệ tử Phật thì phần nhiều dùng bát sắt, bát sành, chứ không được sử dụng bát đá. Đến khi đức Phật sắp nhập diệt, Ngài phó chúc bát này cho tôn giả A nan. [X. kinh Phổ diệu Q.7; kinh Phóng bát; luật Ngũ phần Q.15; luận Đại trí độ Q.26, 35; điều Sư tử quốc trong Cao tăng Pháp hiển truyện; Pháp uyển châu lâm Q.98]. (xt. Phật Bát, Bát).

thạch bích kinh

Kinh khắc trên vách đá vào khoảng năm 829 sau Tây Lịch, đời nhà Đường, tại Trùng Huyền Tự, ở Tô Châu do Bạch Cư Dị làm bia. Kinh Thạch Bích gồm Kinh Pháp Hoa 69.550 chữ, Kinh Duy Ma 27.092 chữ, Kinh Kim Cang 5.287 chữ, Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni 3.020 chữ, Kinh A Di Đà 1.800 chữ, Kinh Phổ Hiền Hạnh Pháp 6.990 chữ, Kinh Thực Tướng Pháp Mật 3.150 chữ, và Kinh Bát Nhã Tâm Kinh 258 chữ—Sutras cut in stone in 829 A.D. during the T'ang dynasty in the Ch'ung Hsuan temple, Soo-Chow, where Po-Chu-I put up a tablet. They consist of 69,550 words of the Lotus Sutra, 27,092 of the Vimalakirti Sutra, 5,287 of the Diamond Sutra, 3,020 of the Unisha-Vijaja-Dharani-Sutra, 1,800 of Amitabha Sutra, 6,990 of the Samantabhadra's practices, 3,150 of the Esoteric Reality Dharma (???), and 258 of the Prajna Heart Sutra. ; (石壁經) Kinh được khắc trên vách đá. Cứ theo Long hưng Phật giáo biên niên thông luận quyển 24, vào năm Trường khánh thứ 4 (824) đời Đường, khi làm quan Thứ sử Hàng châu, Bạch cư dị từng khắc kinh Pháp hoa lên vách đá chùa Vĩnh phúc ở địa phương, dài khoảng 19m, từ trên xuống dưới khoảng 2m. Từ năm Trường khánh thứ 2 (822) đến năm Thái hòa thứ 3 (829), các ngài Thanh hoảng, Thanh hải... khắc xong Thạch bích kinh ở viện Pháp hoa chùa Trùng huyền tại Tô châu, do vị tăng trong chùa là Khế nguyên viết chữ, Bạch cư dị làm bia tán thán. Tính ra khắc được các kinh như kinh Pháp hoa, kinh Duy ma cật, kinh Kim cương bát nhã, kinh Phật đính tôn thắng đà la ni, kinh A di đà, kinh Quán phổ hiền bồ tát hành pháp, kinh Thực tướng pháp mật và Bát nhã tâm kinh, tổng cộng trên 10 vạn lời. Ngoài ra, theo A di đà kinh nghĩa sớ văn trì kí quyển hạ, Long thư tăng quảng tịnh độ văn quyển 1..., chùa Long hưng ở huyện Tương dương, tỉnh Hồ bắc có bia khắc kinh A di đà do Trần nhân lăng đời Tùy viết chữ, đến đời Tống, ngài Linh chi Nguyên chiếu cũng bắt chước khắc bia kinh A di đà và dựng ở phía sau Đại điện chùa Sùng phúc ở Tây hồ. Lại nữa, trong khuôn viên Tông tượng thần xã ở huyện Phúc cương tại Nhật bản cũng có bia kinh A di đà được khắc phỏng theo bia kinh ở chùa Long hưng tại Tương dương, Trung quốc. [X. Phật tổ thông tải Q.2; Kê cổ sử lược Q.3].

thạch bích vô ngại

(石壁無礙) Vách đá không ngăn ngại. Nghĩa là sức thần thông của Phật, Bồ tát có năng lực đi xuyên qua vách đá một cách tự tại không chướng ngại. Kinh Lăng gìà quyển 2 (Đại 16, 489 hạ) nói: Thân ý sinh ví như ý thức đi lại, nhanh chóng không ngại, vì thế gọi là Ý sinh. Giống như ý thức đi lại, vách đá cũng không ngăn ngại.

thạch chung sơn thạch quật

(石鍾山石窟) Cũng gọi Kiếm xuyên thạch quật. Tên hang đá ở núi Thạch chung, nằm về phía tây nam huyện Kiếm xuyên, tỉnh Vân nam, Trung quốc. Dọc theo sườn núi, một số khám thờ và tượng Phật được xoi đục, chia làm 3 khu: Chùa Thạch chung (8 hang động), Sư tử quan (3 chỗ) và thôn Sa đăng(4 chỗ). Tương truyền ở đây có tượng của các vua nước Nam chiếu là Các la phượng (ở ngôi 748-779) và Dị mâu tầm (ở ngôi 779-808) được khắc trên vách đá. Hiện còn các đề kí của vua nước Nam chiếu là Phong hựu được khắc vào năm Thiên khải thứ 11, của vua nước Đại lí là Đoàn trí hưng được khắc vào năm Thịnh đức thứ 4 (1179) và của các đời Nguyên, Minh ở Trung quốc. Các tượng được khắc trong quần thể hang động này chủ yếu là tượng Phật, Bồ tát, Vương giả, Hậu phi, Văn lại, thị tòng... Đây là 1 trong những di sản nghệ thuật của người dân Bạch tộc ở vùng Đại lí đời xưa của Trung quốc, cũng là tư liệu trọng yếu để nghiên cứu về tôn giáo, văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Vân nam. (xt. Thạch Quật).

Thạch Củng Huệ Tạng

石鞏慧藏; C: shígòng huìcáng; J: shakkyō ezō; tk. 8/9; |Thiền sư Trung Quốc, truyền nhân của Mã Tổ.|Trước khi xuất gia, Sư làm nghề thợ săn. Một hôm nhân đuổi bầy nai qua am Mã Tổ, gặp Tổ đứng trước, Sư hỏi: »Hoà thượng có thấy bầy nai chạy qua đây không.« Tổ không đáp hỏi: »Ông là người gì?« Sư đáp: »Thợ săn.« Tổ hỏi: »Ông bắn giỏi không?« Sư đáp: »Bắn giỏi.« Tổ hỏi bắn một lần được mấy con, Sư giật mình nói mỗi mũi chỉ bắn được một con. Nghe Mã Tổ nói mỗi mũi bắn được một bầy, Sư nói: »Sinh mệnh của chúng, đâu nên bắn một bầy?« Tổ hỏi: »Ông đã biết như thế sao không tự bắn?« Sư thưa: »Nếu dạy tôi bắn tức không chỗ hạ thủ.« Mã Tổ nói: »Chú này phiền não vô minh nhiều kiếp, ngày nay đã đoạn.« Ngay lúc đó, Sư ném cung bẻ tên, tự cạo đầu quy y (xem thêm câu chuyện của Sa-va-ri-pa).|Sư cùng Thiền sư Tây Ðường Trí Tạng đi dạo, Sư hỏi: »Sư đệ biết bắt hư không chăng?« Tạng đáp: »Biết.« Tạng liền lấy tay chụp hư không. Sư thấy thế bảo: »Làm như thế sao bắt được hư không!« Tạng hỏi: »Sư huynh làm sao bắt được?« Sư liền nhéo mũi Trí Tạng một cái mạnh. Tạng đau quá la: »Giết chết lỗ mũi người ta! Buông ngay!« Sư bảo: »Phải như thế mới bắt được hư không.« Trí Tạng về phòng và đến khuya rõ chuyện.|Không biết Sư tịch ở đâu, lúc nào.

thạch cựu thiền sư

Zen master Shih-Chiu—Thiền sư Thạch Cựu, một trong những đệ tử nổi bậc của Mã Tổ vào thời nhà Đường—Zen master Shih-Chiu was one of the most outstanding disciples of Ma-Tsu during the T'ang dynasty. • Một hôm có một vị Tăng đến hỏi Thạch Cựu: “Trong tay Bồ Tát Địa Tạng có hạt minh châu, là ý nghĩa gì?” Thạch Cựu hỏi lại: “Trong tay ông có hạt minh châu không?” Vị Tăng đáp: “Con không biết.” Thạch Cựu bèn nói kệ—One day a monk asked him: “There is a jewel in the palm of Ksitigarbha Bodhisattva. What does it mean?” He asked the monk: “Do you have a jewel in your hand?” The monk replied: “I don't know.” He then composed the following verse: “Bất thức tự gia bảo Tùy tha nhận ngoại trần Nhật trung đào ảnh chất Cảnh lý thất đầu nhân.” (Báu nhà mình chẳng biết Theo người nhận ngoại trần Giữa trưa chạy trốn bóng Kẻ nhìn gương mất đầu). “Don't you know you have a treasure at home? Why are you running after the externals? It is just like running away from your own shadow at noon time. Or the man is frightened when not seeing his head in the mirror, after putting the mirror down.”

thạch hoả

(石火) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho tia lửa bắn ra khi cọ vào hòn đá, ví dụ sự sinh diệt nhanh chóng. Vạn thiện đồng qui tập quyển hạ (Đại 48, 986 trung) nói: Vô thường nhanh chóng, niệm niệm đổi dời, tia lửa đá (thạch hỏa), đèn trướcgió, nước chảy, bóng xế, giọt sương, ánh chớp, không đủ để ví dụ.[X. Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.13, 31; Bích nham lục tắc 7, 95].

thạch hỏa

Ánh lửa do đá tóe ra, ví với sự khởi diệt nhanh chóng của vô thường—Tinder or lighted tinder, i.e. of but momentary existence.

thạch khê

(石溪) Danh tăng Trung quốc sống vào cuối đời Minh, người ở Vũ lăng tỉnh Hồ nam, họ Lưu. Sư nổi tiếng về thư họa, là 1 trong 4 vị tăng trứ danh ở cuối đời Minh (Minh mạt tứ tăng) trong lịch sử hội họa Trung quốc. Thủa nhỏ, sư thích thư họa, Phật học. Lúc quân Thanh tiến vào cửa ải, sư đã hơn 30 tuổi, bỏ việc thi cử, tham gia phong trào chống Thanh. Năm 40 tuổi, sư xuất gia làm tăng, lấy Pháp danh là Khôn tàn, tự Thạch khê, Giới khưu, hiệu là Bạch thốc, tự xưng là Tàn đạo nhân. Điện trụ đạo nhân. Thạch đạo nhân... Sư trụ ở núi Ngưu thủ, thụ y bát nơi Lãng trượng nhân ở Kim lăng. Về sau, sư tham cứu Thiền học và riêng thờ ngài Vân thê làm thầy. Sư từng đến Nam kinh, rất siêng sáng tác, từng nhiều lần nhập thất tham thiền, rất được giới tăng sĩ đương thời kính trọng. Sư có nhiều họa phẩm lớn, nét vẽ sơn thủy của sư chủ yếu bắt nguồn từ Hoàng công vọng và Vương mông, tạo cảnh kì đặc, khí vận bao la, nhất là về nhân vật, hoa cỏ. Năm 40 tuổi, sư trở thành 1 họa sĩ tài ba, khai sáng ra phái Kim lăng. Về già, sư nhiều bệnh, thị tịch tại Tổ đường chùa U thê núi Ngưu thủ, không rõ tuổi thọ. Có thuyết cho rằng sư tịch vào năm Khang hi 31 (1692) về sau, hưởng thọ hơn 80 tuổi.

Thạch Khê Tâm Nguyệt

(石溪心月, Shitsukei Shingetsu, ?-1254): vị tăng của Phái Dương Kì và Tùng Nguyên thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Thạch Khê (石溪), xuất thân Mi Sơn (眉山, Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Vương (王). Ông xuất gia và kế thừa dòng pháp của Yểm Thất Thiện Khai (掩室善開). Sau đó, ông khai đường thuyết pháp tại Báo Ân Thiền Tự (報恩禪寺), Phủ Kiến Khang (建康府, Tỉnh Giang Tô). Ông đã sống qua một số nơi như Năng Nhân Thiền Tự (能仁禪寺) ở Phủ Kiến Khang, Thái Bình Hưng Quốc Thiền Tự (太平興國禪寺) ở Tương Sơn (蔣山), Vân Nham Thiền Tự (雲巖禪寺) ở Hổ Kheo Sơn (虎丘山) thuộc Phủ Bình Giang (平江府, Tỉnh Giang Tô), Linh Ẩn Tự (靈隱寺) ở Phủ Lâm An (臨安府, Tỉnh Triết Giang), Vạn Thọ Tự (萬壽寺) ở Kính Sơn (徑山). Trong khoảng thời gian này, ông viết lời trước ngữ cho Bát Phương Châu Ngọc Tập (八方珠玉集). Ông được gọi là Phật Mẫu Thiền Sư (佛母禪師). Vị thị giả của ông là Trú Hiển (住顯) biên tập bộ Thạch Khê Hòa Thượng Ngữ Lục (石溪和尚語錄) 3 quyển. Ông thị tịch vào năm thứ 2 (1254) niên hiệu Bảo Hựu (寶祐).

thạch khí thời đại tông giáo

(石器時代宗教) Tông giáo ở thời đại Đồ đá, là chủ thể của tông giáo thời Tiền sử. Những di tích tông giáo của thời đại Bảndập kinh A di đà khắc trên đá.Một phần trong bức tranh chùa Báo ân do Thạch khuê vẽ T 5171 Đồ đá được phát hiện ước tính đã có từ 32.000 năm đến 17.000 năm trước kỉ nguyên Tây lịch ở chỗ sâu trong động đá, nơi có các di chỉ(nền cũ) của các xã hội nguyên thủy như miền tây nam nước Pháp, miền tây bắc Tây ban nha, đảo Sicile và đoạn phía nam dãy núi Ural... Trong đó có vẽ và khắc hình các động vật và người đi săn; hình người phần nhiều là phụ nữ, vóc dáng đơn giản đường nét nổi bật. Tượng thạch khắc thuộc thời đại Đồ đá tìm thấy trong động Frois Frènes ở vùng Ariege nước Pháp, có phụ thêm mặt nạ hình thú trong tư thế đang múa, có người cho đó là hình tượng thầy mo đang làm phép và gọi là Điệu múa thần đuổi tà; cũng có người cho rằng đó là vị thần chúa tể của các loài thú và gọi là Thú chủ; cũng có người cho đó là vị thần chủ trì việc thụ thai. Những điều trên đây đều cho thấy quan niệm về tông giáo ở thời kì đầu có liên quan trực tiếp với nền kinh tế săn bắn lúc bấy giờ, phản ảnh việc kiếm sống và sinh hoạt của con người hoàn toàn kì vọng vào pháp thuật và tông giáo. Trong các di chỉ thuộc thời đại Đồ đá mới (7.000 năm trước Tây lịch) ở Catal Hüyük tại vùng Anatolia của Tiểu á, người ta đã phát hiện 40 thần đàn, điều đó cho thấy thời kì này đã xuất hiện nghi thức sùng bái xếp thành hàng lối có thứ tự, tầng lớp, chủ thần đều là thần nữ, giữa các thần đàn được trang sức bằng vòng tròn có hình bò mộng và vú người nữ vây chung quanh, trong vòng tròn có đặt xương đầu của chim ưng, của con chồn và xương hàm dưới của lợn rừng. Theo sự giám định của các nhà chuyên môn thì đó là đại biểu tượng trưng cho mối liên quan giữa sự sinh sản và tử vong, biểu hiện đầy đủ quan niệm về tông giáo ở thời kì này đã phản ảnh hình thái ý thức của nền kinh tế chăn nuôi; động vật không còn là đối tượng để săn bắn mà thậm chí trở thành đối tượng của sự sùng bái. Ngoài nhu cầu kiếm ăn và sinh sản, con người đã bắt đầu coi trọng vấn đề tử vong; quan niệm Thần nhân đồng hình (Anthropomorphisme) dần dần đã hình thành, những nghi thức tông giáo tương đối đã phức tạp hơn, không còn lấy hiện tượng pháp thuật của tông giáo làm chính. Những người ở hang động trên đỉnh núi thuộc thời đại Đồ đá cũ và các ngôi mộ ở thôn Bán pha, huyện Tây an thuộc thời đại Đồ đá mới tại Trung quốc, cũng cho thấy đương thời đã có quan niệm rõ ràng về linh hồn và nghi thức chôn cất có tính cách tông giáo với 1 hình thức nhất định, chẳng hạn như đầu của các thi hài đều xoay về 1 hướng cố định. Trường hợp trước(tức người ở hang động trên đỉnh núi) thì trên các thi hài có rải bột sắt màu đỏ, còn trường hợp sau(tức những ngôi mộ ở thôn Bán pha) thì trong mộ còn có những phẩm vật được chôn theo ở thời kì đầu rất phong phú.

thạch không tự thạch quật

(石空寺石窟) Những hang đá nằm trên núi Song long phía tây bắc huyện Trung ninh, tỉnh Ninh hạ, Trung quốc, là một quần thể hang động gồm 4 thạch quật: Thạch không tự quật(cũng gọi Vạn Phật tự), Thụy Phật động, Bách tử Quan âm động và Linh quang động. Về thời gian bắt đầu đục mở các hang động thì có 3 thuyết là vào đời Đường, đời Tây hạ và đời Nguyên, nhưng nhận xét theo phong cách đắp tượng và hình thức hang động thì có khả năng nhất là chúng đã bắt đầu khai tạc vào đời Đường. Những hang động được đục mở trong ngọn núi nham thạch, cửa động xoay hướng Nam, cao khoảng 25 mét, sâu khoảng 7,24 mét, rộng 12 mét. Người đời gọi là Cửu gian vô lương điện(Ngôi điện chín gian không córường). Trên vách chính đục 3 chiếc khám thờ Phật, khám chính giữa thờ 5 tượng Phật, Bản tôn là tượng Phật Thích ca ngồi đắp bằng đất. Khám Phật ở 2 bên cũng thờ 5 tượng Phật, nhưng có lẽ đã do người đời sau đắp thêm. Trên nền đài ở phía trước 2 vách đông và tây mỗi bên đều có 3 hàng tượng Phật bằng đất, mỗi hàng có 8, 9 pho, cũng ngờ là do người đời sau đắp thêm. Vách chính có vẽ 2 lớp bích họa trong và ngoài, bích họa lớp ngoài vẽ các sự tích Phật giáo, nét bút rất tế nhị. Trên vòm nóc hang đá có vẽ đồ án sen Tây vực. Hiện nay, phần lớn quần thể hang động này đã bị sa mạc lấp vùi.

thạch khắc a di đà kinh

(石刻阿彌陀經) Kinh A di đà được khắc trên đá. Tức chỉ cho tấm bia trên đó có khắc kinh A di đà. Nổi tiếng nhất là tấm bia khắc kinh A di đà dựng ở chùa Long hưng, huyện Tương dương, tỉnh Hồ bắc, Trung quốc, người đời gọi là Tương dươngthạch kinh. Cứ theo điều A di đà kinh thoát văn trong Long thư tăng quảng tịnh độ văn quyển 1 (Vạn tục 107, 371 hạ) thì Thạch khắc A di đà kinh ở Tương dương, do Trần nhân lăng ở đời Tùy viết chữ, nét chữ thanh thoát, mềm mại ai cũng ngắm nhìn. Từ nhất tâm bất loạn trở xuống có câu Chuyên trì danh hiệu, dĩ xưng danh cố, chư tội tiêu diệt, tức thị đa thiện căn phúc đức nhân duyên. Bản lưu truyền đời nay bỏ mất 21 chữ này. A di đà kinh nghĩa sớ văn trì kí quyển hạ (Vạn tục 33, 135 hạ) cũng nói: Triều tán lang Trần nhân lăng viết bia ở chùa Long hưng tại Tương châu, đem kinh Thạch khắc A di đà về Tiền đường. Người soạn sớ (Nguyên chiếu) được bản kinh ấy vui mừng khôn xiết, liền khắc vào đá dựng ở phía sau Linh chi đại điện, về sau bị thiêu hủy trong binh lửa, đáng buồn thay! Suy lại đời Lương Trần cách đời Tấn chưa xa, có thể nghiệm biết được sự thật. Căn cứ vào đây thì biết đời Tùy có Trần nhân lăng khắc kinh A di đà trên mặt bia, dựng ở chùa Long hưng tại Tương dương tỉnh Hồ bắc; ngài Nguyên chiếu đời Tống phỏng theo đó mà khắc lại, dựng ở phía sau điện Phật của chùa Sùng phúc tại Linh chi. Hiện nay, trong khuôn viên của Tôn tượng thần xã ở nước Trúc tiền, Nhật bản, cũng còn có bia kinh giống như vậy. [X. A di đà kinh nghĩa sớ quyển hạ].

thạch kinh

(石經) Cũng gọi Thạch khắc kinh, Thạch khắc, Thạch tạng. Chỉ cho kinh văn được khắc trên mặt đá. Kinh Đại bảo tích quyển 78 và kinh Chính pháp niệm xứ quyển 48 đều có ghi chép việc khắc kinh kệ trên vách đá. Tại Trung quốc, thạch kinh có quan hệ với Nho gia rất sớm, nổi tiếng hơn cả là thạch kinh Hi bình đời Hán và thạch kinh Khai thành được khắc vào năm Khai thành thứ 2 (837) đời vua Văn tông nhà Đường tại Trường an. Còn về kinh Phật thì 1 mặt chịu ảnh hưởng phong khí mở đục hang đá đời Bắc Ngụy, mặt khác, vì muốn cho Chính pháp trụ ở đời lâu dài nên đã phỏng theo Nho gia mà thực hiện việc khắc thạch kinh. Trong các thạch kinh của Phật giáo hiện còn, về niên đại thì thạch kinh đời Bắc Tề là xưa nhất, còn về qui mô thì thạch kinh Phòng sơn, Hà bắc (Thạch kinh sơn tạng kinh) là lớn nhất, hiện còn hơn 4000 bản thạch kinh, khắc tổng cộng vài nghìn quyển kinh Phật. Thạch kinh có các hình thức khác nhau, như khắc trên mặtvách đá, khắc trên sườn núi, khắc trên những tấm bia, hoặc trên các cột đá... Thạch kinh trên mặt vách, gọi là Bích diện khắc, như trên mặt vách của hang đá ở núi Bắc hưởng đường(cũng gọi Cổ sơn), tỉnh Hà nam, có khắc kinh Duy ma cật, kinh Thắng man, Một phần thạch kinh bằng 6 thứ tiếng ở cửa ải Cư Dungkinh Bột, kinh Di lặc thành Phật..., vách phía ngoài có khắc văn phát nguyện của Khai quốc công tên là Đường ung, là những thạch kinh được khắc từ năm Thiên thống thứ 4 (568) đến năm Vũ bình thứ 3 (572) đời Bắc Tề. Lại trên vách tháp Quá nhai ở cửa ải Cư dung, tỉnh Hà bắc, có các thạch kinh như kinh Phật đính tôn thắng đà la ni, kinh Phật đính phóng vô cấu quang minh nhập Phổ môn quan sát nhất thiết Như lai tâm đà la ni... được khắc vào năm Chí chính thứ 5 (1345) đời Nguyên. Những thạch kinh này được khắc theo 2 thể chữ lớn và nhỏ bằng 6 thứ tiếng: Phạm, Hán, Mông cổ, Hồi hột, Tây tạng và Tây hạ, có thể đối chiếu để xem, đây là tư liệu về ngữ văn vô cùng quí giá và rất được coi trọng. Ngoài ra, phẩm Pháp diệt tận trong phần Nguyệt tạng kinh Đại tập, kinh Thắng man, kinh Pháp hoa và kinh Niết bàn được khắc trong động Đại trụ, núi Bảo sơn ở tỉnh Hà nam vào năm Khai hoàng thứ 9 (589) đời Tùy; Thập thiện nghiệp đạo kinh yếu lược, khắc trong tháp Phồn ở phủ Khai phong, tỉnh Hà nam vào năm Thái bình hưng quốc thứ 2 (977) đời Tống; phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa được khắc ởchùa Vân nham tại Tô châu, tỉnh Giang tô vào khoảng năm Hi ninh (1068-1077) đời Tống; kinh Tứ thập nhị chương được khắc trong tháp Lục hòa ở Hàng châu, tỉnh Chiết giang vào năm Thiệu hưng thứ 5 (1135) đời Nam Tống, kinh Niết bàn được khắc trong động Hương sơn tại Long môn, tỉnh Hà nam vào đời Đường..., tất cả những thạch kinh này cũng đều thuộc về Bích diện khắc. Thạch kinh được khắc trên sườn núi gọi là Ma nhai khắc, như kinh Đại tự Kim cương bát nhã khắc tại Thạch kinh dục ở chân núi Thái sơn, tỉnh Sơn đông... đều thuộc Ma nhai khắc, niên đại và người khắc đều không rõ, có thuyết cho là do ông Đường ung, có thuyết nói do ông Vi tử thâm khắc, gồm hơn 900 chữ theo thể đại tự, nét chữ mạnh mẽ, nổi tiếng nhất trong loại thạch kinh. Một bộ của kinh Đại bát nhã khắc ở động Ánh Phật thuộc núi Tồ Thạch kinh ở núi Thái sơn Kinh Kim cương khắc ở núi Thái sơn lai, tỉnh Sơn đông vào niên hiệu Vũ bình năm đầu (570) đời Bắc Tề và phẩm Thành tựu, kinh Hoa nghiêm khắc ở núi Ốc lai, Liêu châu, tỉnh Sơn tây đều thuộc về Ma nhai khắc. Thạch kinh được khắc trên tấm bia, gọi là Bi bản khắc, Thạch bản khắc, thường được khắc trên 2 mặt tấm đá và cất giữ trong thạch thất. Như ở núi Phòng sơn tại tỉnh Hà bắc có tàng trữ 85 bộ thạch kinh là kinh Chính pháp niệm xứ, kinh Đại bát nhã, kinh Đại niết bàn, kinh Đại bảo tích, luận Thành duy thức, luận A tì đạt ma tạp tập... được khắc trong thời gian 480 năm, từ khoảng năm Đại nghiệp (605- 616) đời Tùy đến năm Đại an thứ 10 (1094) đời Liêu, đều rất nổi tiếng. Hiệp hội Phật giáo Trung quốc ở đại lục, từng tiến hành cuộc điều tra, đào bới, in thác bản(bản dập lại) các thạch kinh ở Phòng sơn trong 3 năm, vào năm Dân quốc 47 (1958) thì hoàn thành công việc, tính ra in thác bản hoàn chỉnh được 15.000 trang thạch kinh, in không hoàn chỉnh 780 trang thạch kinh; bia kinh, cột kinh, đề danh, đề kí... hơn 70 trang. Loại bản đá của thạch kinh chủ yếu phân bố ở vùng Hoa bắc như núi Bảo sơn, núi Thái sơn, núi Hưởng đường... Kinh Hoa nghiêm (60 quyển) được khắc ở núi Phong dục, tỉnh Sơn tây vào khoảng năm Thiên bảo (550- 559) đời Bắc Tề, khắc trên hơn 120 mặt tấm bia, mỗi tấm bia cao khoảng 1,3 mét, rộng 0,6 mét, được chôn dưới lòng đất của dãy hồi lang. Ở Triều tiên, Nhật bản cũng có thạch khắc nhưng không thịnh hành bằng Trung quốc. Triều tiên từ xưa đã lưu hành thạch kinh, nay còn kinh Hoa nghiêm ở chùa Hoa nghiêm, núi Trí dị, quận Cầu lễ, tỉnh Toàn la nam, được khắc vào thời Tân la Văn vũ vương (661-680), nhưng nay chỉ còn sót lại 11 mảnh mà thôi. Ngoài ra, chùa Thạch quật ở Khánh châu, tỉnh Khánh thượng bắc còn cất giữ di phẩm thạch kinh, nhưng không rõ tên kinh. Ở Nhật bản, thạch kinh xưa nhất là bia khắc kinh Niết bàn ở sườn núi Trí xuyên do ông Đại hòa vũ khắc vào năm Bảo qui thứ 9 (778), trên có bài kệ Chư hành vô thường, thị sinh diệt pháp, sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc và hơn 80 chữ văn kinh. Thạch kinh A di đà khắc ở Tông tượng thần xã tại huyện Phúc cương là khắc phỏng theo bia kinh A di đà ở chùa Long hưng, huyện Tương dương, tỉnh Hồ bắc, Trung quốc, vì so với kinh A di đà phổ thông thì nhiều hơn 21 chữ nên nổi tiếng ở đời. Theo truyền thuyết, thạch khắc này được truyền đến Nhật bản vào năm Kiến cửu (1190-1198) từ triều Tống của Trung quốc, hiện là quốc bảo của Nhật bản. Lại nữa, tại nghĩa trang Thượng vĩ, thôn Thượng tỉnh điền, quận Phong hậu đại dã có chôn giấu 3 bộ kinh Tịnh độ, được khắc vào năm Lịch ứng thứ 2 (1339). Còn chùa Đại kính ở Đại phản (Osaka) cũng có cất giữ một phần của kinh Quán vô lượng thọ tam bối vãng sinh, được khắc vào niên hiệu Khánh an năm đầu (1648). [X. Hán ngụy thạch kinh khảo; Thạch khắc Phật kinh kí; Đường Tống thạch kinh khảo; Bắc Tống thạch kinh khảo dị; Phật tổ thống kỉ Q.42; Cổ kim đồ thư tập thành chức phương điển thứ 11; Hải đông kim thạch uyển 2; China Phật giáo sử tích bình giải Q.1, 3]. (xt. Thạnh Kinh Sơn Tạng Kinh, Thạch Bích Kinh).

thạch kinh sơn

Kinh được khắc trong núi đá Bạch Đái Sơn, vào đời nhà Tùy ở Trụy Châu bên Tàu—The hill with the stone sutras, which are said to have been carved in the Sui dynasty in Pai-Tai-Shan, west of Cho-Chou, China.

Thạch kinh sơn tạng kinh

(石經山藏經) Tạng kinh ở núi Thạch kinh. Đây là thạch kinh có qui mô lớn nhất trong các di vật hiện còn tại Trung quốc, thuộc loại Bi bản khắc(khắc trên mặt bia). Thạch kinh sơn, tên cũ là Bạch đới sơn, Vân cư sơn, tọa lạc ở huyện Phòng sơn, tỉnh Hà bắc. Vì ngài Tĩnh uyển (Minh báo kí ghi là Trí uyển) đời Tùy là người đầu tiên khởi xướng sự nghiệp khắc Thạch kinh tạng ở trong động núi này, cho nên mới đổi tên là Thạch kinh sơn. Lại vì dãy núi quanh co liền nhau, những ngọn núi thì cao đẹp, nên cũng được gọi là Tiểu tây thiên. Ở ngọn núi phía đông có chùa tên là chùa Vân cư, thông thường gọi là chùa Thạch kinh. Khoảng năm Đại nghiệp (605-616), sa môn Tĩnh uyển chùa Trí tuyền tại U châu, sợ tam tai kiếp Hoại ập đến làm cho Đại pháp tiêu mất như nạn diệt Phật đời Bắc Chu, Bắc Tề, nên ngài phát nguyện tạo Thạch khắc Đại tạng kinh, cất giữ ở trong núi để truyền lại cho đời sau. Bấy giờ, ngài từng được Hoàng hậu của vua Tùy Dạng đế giúp đỡ. Sang đời Đường, vào năm Trinh quán 13 (639), chí nguyện chưa hoàn thành mà ngài đã viên tịch, các đệ tử nối tiếp sự nghiệp của ngài, trải qua 4 đời: Huyền đạo, Nghi công, Huệ xiêm (có chỗ ghi là Huệ ngộ) và Huyền pháp khắc xong 4 bộ kinh lớn: Kinh Chính pháp niệm xứ 70 quyển, kinh Đại bát Niết bàn 40 quyển, kinh Đại hoa nghiêm 80 quyển và kinh Đại bát nhã 520 quyển, gọi là Tứ đại bộ kinh. Sự kiện lớn lao này được ghi trong Tứ đại bộ kinh thành tựu bi kí do cư sĩ Triệu tuân nhân soạn vào năm Thanh ninh thứ 4 (1058) đời Liêu và trong Tục bí tạng thạch kinh tháp kí, do cư sĩ Phương chí soạn vào năm Thiên khánh thứ 7 (1117), trong đó cóghi rõ ràng lời phát nguyện, ngày khởi công, quá trình thực hiện và họ tên của những người tham gia công cuộc khắc kinh. Về sau, lại có các vị Khả nguyên, Hưng tông, Triệu tuân nhân, Đạo tông, Thông lí... nối tiếp nhau san khắc, mãi đến năm Đại an thứ 10 (1094) đời Liêu, trải qua thời gian 480 năm mới hoàn thành, tính ra khắc được 80 quyển kinh Đại bát nhã còn lại (trước đó, các ngài Huyền đạo... mới khắc được 520 quyển), kinh Đại bảo tích 120 quyển, kinh Hoa thủ, kinh Phật danh, kinh Tâm địa quán, luận Đại trí độ, luận Thành duy thức, luận A tì đạt ma tạp tập... tất cả gồm 85 bộ kinh luận kể từ ngài Tĩnh uyển, là sự nghiệp khắc kinh chưa từng có trong lịch sử, người đời gọi là Phòng sơn thạch kinh. Sự nghiệp khắc kinh này đến năm Khang hi 30 (1691) đời Thanh mới đình chỉ. Trong đó, những kinh được khắc vào đời thịnh Đường, Liêu, Kim... có số lượng nhiều nhất. Trải qua thời gian gần 1000 năm, khắc hơn 1000 bộ kinh, hơn 3400 quyển, bản khắc đá lớn nhỏ tất cả gồm hơn 1 vạn 5 nghìn tấm. Đây là thạch khắc tạng kinh qui mô nhất hiện còn tại Trung quốc. Số kinh thạch khắc này được chia ra cất giữ ở trong 9 động đá tại núi Thạch kinh (Phòng sơn) và trong địa huyệt (được chôn dưới đất) phía tây nam chùa Vân cư. Ngoài 1 số ít bị gió mưa làm tổn hại, phần lớn vẫn còn đầy đủ, là những vật thực rất tốt để y cứ trong việc nghiên cứu xã hội, kinh tế, lịch sử Phật giáo, diễn biến thư pháp, nghệ thuật thạch khắc ở vùng đất này vào thời cổ đại, đồng thời cũng là chỗ dựa quí báu để khảo đính tạng kinh bản gỗ. Ngoài ra, ở chùa Vân cư và trên núi Thạch kinh còn giữ được 8 ngôi tháp đá hình vuông được kiến tạo vào đời Đường và 1 tòa tháp gạch 8 góc kiểu mái kín đời Liêu, cho thấy sự thành tựu của nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc trong thời kì này. Nhân hải kí quyển thượng nói: Thạch kinh được cất giữ trong 7 nham động và 3 địa huyệt. Ở động thì chốt bằng cửa đá, ở huyệt thì trấn bằng phù đồ(tháp), xưa nay binh lửa không xâm nhập được. Tử bá lão nhân tập quyển 15 nói: Dưới đèn đọc bia kinh khắc trên vách đá ở chùa Trùng huyền của quan Thứ sử Tô châu là Bạch cư dị đời Đường, bỗng nhớ về tôn giả Tĩnh uyển đời Tùy, khắc kinh trên đá thành Đại tạng, trộm so sánh hơn kém, khôn xiết buồn thương. [X. Hàm sơn lão nhân mộng du tập Q.22; điều Trí uyển trong Minh báo kí Q.thượng].

Thạch Liêm

石溓; 1633-1704|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông →Tào Ðộng đời thứ 29. Sư là người đầu tiên truyền tông Tào Ðộng sang miền Trung Việt Nam.|Sư quê ở Giang Tây, học vấn uyên bác, rành thiên văn địa lí, thư, thi pháp và cả hội hoạ. Sư sớm xuất gia tu hành và là môn đệ của Thiền sư Giác Lãng thuộc tông Tào Ðộng.|Ðược lời mời của Thiền sư →Nguyên Thiều, Sư sang Việt Nam ngày 15 tháng giêng năm Ất Hợi, niên hiệu Khang Hi thứ 34 (1695). Ngày 28 tháng giêng, Sư đến Thuận Hoá và mồng 1 tháng 2, Sư gặp chúa Nguyễn Phúc Chu.|Chúa Nguyễn thỉnh Sư ở chùa Thiên Mụ để dạy đệ tử và thường đến thưa hỏi đạo lí. Ngoài ra, các Thiện tri thức tham vấn Sư rất nhiều, hoặc trực tiếp thưa hỏi, hoặc gián tiếp qua thư từ. Sư cũng không ngần ngại trả lời những bức thư này với tất cả tấm lòng và nhiều bức thư trả lời của Sư vẫn được lưu truyền đến ngày nay.|Nhưng đáng tiếc là Sư hoằng hoá hai năm ở Việt Nam và sau đó trở về Trung Quốc và viên tịch tại đây. Tông Tào Ðộng do Sư truyền sang không rõ người Việt Nam thừa kế trong phái xuất gia, còn trong giới Cư sĩ thì có chúa Nguyễn Phúc Chu, hiệu Hưng Long và Thiều Dương Hầu, anh thứ ba của chúa. Ðệ tử nối pháp người Trung Quốc thì có ba vị được nhắc đến là Hưng Liên Quả Hoằng (sang Việt Nam trước thầy), Hưng Triệt và Hoàng Thần.

thạch lưu

Một biểu hiện của nhiều trẻ nít qua quả lựu vì nó có nhiều hột; đây cũng là dấu hiệu trên tay của Quỷ Tử Mẫu Thần, vị được Phật chuyển hóa—The pomegranate, symbol of many children because of its seeds; a symbol held in the hand of Hariti, the deva-mother of demons, converted by the Buddha.

thạch lặc

(石勒) Tên vị Hoàng đế đời thứ nhất của nhà Hậu Triệu trong 16 nước Ngũ hồ, Trung quốc, người ở Thượng đảng, Yết tộc (nay là tỉnh Sơn tây), tự là Thế long. Năm 14 tuổi, ông đi buôn bán ở Lạc dương. Lớn lên, làm nghề ăn trộm, theo quân Hung nô Lưu uyên, Uyên cho làm Lãnh binh, thường đánh phá quân nhà Tấn, chiếm cứ nước Tương (nay là huyện Hình thai, tỉnh Hà bắc) làm căn bản. Năm Thái hưng thứ 3 (319), Lặc phản bội Lưu uyên, tự xưng là Triệu vương. Không bao lâu, ông diệt Lưu diệu tự lên làm vua, thống lãnh 10 châu như Kí, Tần, Tính, Dự..., là nước cườngthịnhnhất trong 16 nước. Bản tính Thạch lặc hung hãn, thích giết chóc, dân đều ghê sợ, ngài Phật đồ trừng dùng Phật pháp giáo hóa ông, tính nóng dần giảm bớt.Năm Hàm hòa thứ 5 (330), ông xưng đế, 3 năm sau thì qua đời, thụy hiệu là Minh đế, miếu hiệu là Cao tổ, niên hiệu Thái hòa, Kiến bình. [X. Tấn thư Q.104, 105; Ngụy thư Q.95].

thạch lựu

(石榴) Tên loại trái cây mà thần Quỉ tử mẫu cầm ở tay. Trong tất cả các loại trái cây làm vật cúng thì thạch lựu là quí nhất. Phẩm Phụng thỉnh cúng dường trong kinh Cù hê (Đại 18, 768 hạ) nói: Trong các loại quả, thạch lựu là trên hết; trong các căn, Tì đa la căn là nhất. Có thuyết cho rằng thạch lựu là quả cát tường; vì thạch lựu 1 hoa mà nhiều quả, 1 quả có 1000 hạt, bởi vậy mà gọi Quỉ tử mẫu là mẹ của 1000 đứa con (có thuyết nói 500 con, hoặc 10.000 con), cho nên thạch lựu được gọi là quả cát tường. (xt. Cát Tường Quả).

Thạch Môn Hiến Uẩn

(石門献蘊, Sekimon Kenon, ?-?): nhân vật sống dưới thời Ngũ Đại, vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, pháp từ của Thanh Lâm Sư Kiền (青林師虔), người Kinh Triệu (京兆, thuộc Tỉnh Thiểm Tây), được gọi là Đại Ca Hòa Thượng (大哥和尚). Ban đầu ông sống ở Lan Nhã (蘭若) thuộc Nam Nhạc (南岳), sau chuyển đến Đàm Châu (潭州), Tỉnh Hồ Nam (湖南省). Ông được vua nước Sở tiếp đãi rất trọng hậu, khai sáng Thạch Môn Tự (石門寺) ở Nhượng Châu (襄州, thuộc Tỉnh Hồ Bắc).

Thạch Môn Uẩn Thông

(石門蘊聰, Sekimon Unsō, 965-1032): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, xuất thân vùng Nam Hải (南海, Tỉnh Quảng Đông), họ là Trương (張). Sau khi xuất gia, ông đến tham yết Bách Trượng Đạo Thường (百丈道常), và cuối cùng được đại ngộ dưới trướng của Thủ Sơn Tỉnh Niệm (首山省念). Ngoài ra ông còn đến tham vấn Động Sơn Thủ Sơ (洞山守初) ở Nhượng Châu (襄州, Tỉnh Hồ Bắc), Đại Dương Sơn Cảnh Diên (大陽山警延) ở Dĩnh Châu (郢州, Tỉnh Hồ Bắc), cũng như Trí Môn Sư Giới (智門師戒) ở Tùy Châu (隨州, Tỉnh Hồ Bắc), và vào năm thứ 3 (1006) niên hiệu Cảnh Đức (景德), ông đến trú tại Thạch Môn Sơn (石門山) vùng Nhượng Châu. Đến năm thứ 4 (1020) niên hiệu Thiên Hy (天禧), ông chuyển đến Thái Bình Hưng Quốc Thiền Tự (太平興國禪寺) ở Cốc Ẩn Sơn (谷隱山). Đồ chúng tập trung đến tham học với ông lên đến cả ngàn người. Ông đã từng kết thâm giao với Hàn Lâm Dương Văn Ức (翰林楊文億), Trung Sơn Lưu Quân (中山劉筠), v.v. Vào ngày mồng 8 tháng 3 năm thứ 10 niên hiệu Thiên Thánh (天聖), ông thị tịch, hưởng thọ 68 tuổi và được ban cho thụy hiệu là Từ Chiếu Thiền Sư (慈照禪師). Ngữ lục của ông có Thạch Môn Sơn Từ Chiếu Thiền Sư Phụng Nham Tập (石門山慈照禪師鳳巖集), 1 quyển.

Thạch Môn Văn Tự Thiền

(石門文字禪, Sekimonmojizen): 30 quyển, trước tác của Giác Phạm Huệ Hồng (覺範慧洪) nhà Tống, Giác Từ (覺慈) biên tập, san hành vào năm thứ 25 (1597) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆). Là tập thơ văn của Huệ Hồng―người có thiên tài về văn chương, tác phẩm này rất phong phú với các loại cổ thi, hài luật, ngũ ngôn luật thi, thất ngôn luật thi, ngũ ngôn tuyệt cú, lục ngôn tuyệt cú, thất ngôn tuyệt cú, kệ, tán, từ, phú, đề, bạt, sớ, thư, văn bia tháp, hành trạng, truyền ký, văn tế, v.v. Sau khi san hành với lời tựa của Đạt Quán (達觀), bộ này được nhập vào trong Minh Bản Tục Tạng Kinh (明本續藏經) và trùng san vào năm thứ 20 (1681) niên hiệu Khang Hy (康熙).

thạch môn văn tự thiền

(石門文字禪) Gọi tắt: Văn tự thiền. Cũng gọi: Quân khê tập. Tác phẩm, 30 quyển, do ngài Tuệ hồng (1071-1128) soạn vào đời Tống, ngài Giác từ biên tập, được thu vào Tống thi sao quyển 4, Tứ bộ tùng san 108. Nội dung sách này thu chép những thơ văn, từ, sớ, minh... của ngài Tuệ hồng Giác phạm chùa Thạch môn ở Quân khê, tỉnh Giang tây. Bài tựa do ngài Đạt quán soạn vào tháng 8 năm Vạn lịch 25 (1597) đời Minh, nói: Thiền như mùa Xuân, văn tự như hoa; Xuân nhờ có hoa, tất cả hoa là Xuân; hoa nhờ có Xuân, tất cả Xuân là hoa. Lại nói: Thiền và văn tự có 2, nên Đức sơn, Lâm tế đánh hét xen lẫn nhau, chưa bao giờ chẳng phải là văn tự; Thanh lương, Thiên thai sớ kinh, soạn luận, chưa bao giờ không phải là Thiền. Sách này dùng cái học của vô học, văn tự của bất lập văn tự để phát huy yếu chỉ của thiền. Trong sách dạt dào thiền vị, rất là đáng đọc.

thạch mật

(石蜜) Phạm:Phàịita. Tên khác của đường phèn. Luật Ngũ phần quyển 5 cho là 1 trong 5 thứ thuốc. Phẩm Phân biệt thiêu hương trong kinh Tô tất địa yết ra quyển thượng thì cho là 1 trong 5 thứ hương. Thiện kiến luật quyển 17 (Đại 24, 795 trung) nói: Đất Quảng châu có loại thạch mật đen (đường phèn đen) là đường mía, cứng như đá nên gọi là Thạch mật... Già ni Trung quốc gọi là Mật. Kinh Chính pháp niệm xứ quyển 3 (Đại 17, 17 thượng) nói: Như nước cho vào nồi nấu, lần đầu gạn chất dơ ra, gọi là Phả ni sa. Nấu lần thứ 2 thì đường từ từ đặc lại, gọi là Cự lữ. Lại nấu lần thứ 3 thì đường đặc hẳn, trở thành màu trắng, gọi là Thạch mật. Bản thảo cương mục kí nói: Thạch mật cũng gọi là đường sữa, đường tuyết trắng, tức là đường trắng, sản xuất ở Ích châu (tỉnh Tứ xuyên) và Tây nhung. Dùng nước, sữa bò, bột gạo hòa với đường cát nấu thành bánh, có màu vàng lợt, cứng và nặng, chủ trị bệnh nóng trong người, làm tươi mát buồng phổi, giúp ích tân dịch của ngũ tạng.

thạch mật tương

(石蜜漿) Tức là nước đường phèn. Đường phèn (thạch mật)hòa với nước thì thành Thạch mật tương. Luận Đại trí độ quyển 3 (Đại 25, 83 trung) nói: Người thợ gốm bố thí 3 thứ là nệm để ngồi, đèn sáng và nước thạch mật (thạnh mật tương) để cúng dường Phật và tỉ khưu tăng. (xt. Thạch Mật).

thạch ngư

(石魚) Cá đá, tức là quả trống bằng đá có hình con cá. Trong tùng lâm, đánh thạch ngư để báo về giờ giấc cho đại chúng biết. [X. môn Bái khí trong Thiền lâm tượng khí tiên].

thạch nữ

Người nữ đá, chỉ người phụ nữ không còn khả năng giao hợp và sanh con nữa—A barren woman—A woman who is incompetent for sexual intercourse. ; (石女) Phạm: Vandhyà, Bandhyà. Pàli:Vaĩjhà. Dịch mới: Hư nữ. Con gái đá, tức chỉ cho đàn bà không có con, không thể hành dâm. Kinh Đại niết bàn (bản Bắc) quyển 25 (Đại 12, 515 trung) nói: Ví như thạch nữ vốn không thể có con, dù có gắng bao nhiêu công đức, vô lượng nhân duyên đi nữa, cũng không thể có con. Tâm cũng như thế, vốn không có tướng tham, dù tạo tác các duyên, tham cũng không do đâu mà sinh ra được. Luận Nhân minh nhập chính lí (Đại 32, 11 hạ) nói: Tự ngữ tương vi(mình tự mâu thuẫn với lời nói của mình), chẳng hạn như nói mẹ tôi là thạch nữ. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển trung, phần 1, tiết 2 (Đại 40, 287 hạ) nói: Thạch nữ, căn không thể hành dâm. Ngoài ra, Thiền môn cơ ngữ, tức các câu nói có tính cách cơ thiền, thường dùng thạch nữ đối lại với mộc nhân(người gỗ) để dụ chỉ cho việc xa lìa tình thức và diệu dụng thiên chân vô tác. Như Phổ đăng lục quyển 5 (Vạn tục 137, 52 thượng) nói: Thạch nữ múa khúc trường thọ, mộc nhân hát bài ca thái bình. Lại từ ngữ thạch nữ nhi được sử dụng để ví dụ những sự vật không bao giờ tồn tại, như lông con rùa, sừng con thỏ. Phẩm Quán chúng sinh trong kinh Duy ma cật sở thuyết quyển trung (Đại 14, 547 trung) nói: Như lốt chân chim trong hư không, như con của thạch nữ (thạch nữ nhi). [X. luận Đại tì bà sa Q.16; luận Du già sư địa Q.6; Câu xá luận quang kí Q.19; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.5].

thạch nữ nhi

Con của Thạch Nữ, danh từ dùng để chỉ một việc không thể xãy ra được—Son of a barren woman, an impossibility.

thạch phật

(石佛) I. Thạch Phật. Cũng gọi Thạch Phật tượng, Thạch tượng. Chỉ cho tượng Phật được khắc bằng đá. Trong các hang đá, trên vách núi ở Trung quốc, Ấn độ, Tây vực... đều có thể thấy những thạch Phật với qui mô rất lớn, có tượng cao tới 17m, cũng có tượng nhỏ đến 2cm. Còn ở Nhật bản, Triều tiên thì vì hoàn cảnh địa lí bị giới hạn, thiếu Tượng Phật Thích ca bằng đá đào được ở Mạt thố la Tượng Phật bằng đá đào được ở Kiện đà la nguyên liệu về đá, nên có rất ít các di phẩm và kĩ thuật điêu khắc cũng không được tinh xảo bằng Trung quốc, Ấn độ. Về nguyên liệu đá dùng để tạo lập tượng Phật cũng tùy theo chất lượng sản xuất ở mỗi nơi mà có khác nhau, như ở vùng Kiện đà la thuộc miền Bắc Ấn độ phần nhiều dùng những phiến đá có màu xanh lục, Trung Ấn độ thì dùng nham thạch màu trắng; Tích lan, Miến điện thì dùng đá Đại lí, các tượng Thạch Phật màu trắng được truyền lại từ thời Lục triều của Trung quốc chính là thuộc loại đá này. Thạch Phật được chia làm 3 loại là Viên điêu, Phù điêu và Tuyến điêu. Phong khí tạc thạch Phật thịnh hành ở thời Bắc Ngụy, các thời Bắc Tề, Bắc Chu nối tiếp. Đặc sắc nghệ thuật điêu khắc ở các thời kì này là nét mạnh mẽ, cứng cáp, còn thạch Phật khắc vào thời Đường thì vốn nổi tiếng về nét đầy đặn, phúc hậu. Ở Ấn độ, các di phẩm về thạch Phật hiện còn có nhiều, trong đó, tượng Phật Thích ca ngồi, tượng Bồ tát đứng được cất giữ trong viện bảo tàng ở Mathurà (Mạt thố la) thuộc châu Liên hợp và tượng Bồ tát đứng (chung quanh tòa ngồi có bài minh cho biết tượng được tạo lập vào thời Đại vương Ca nị sắc ca năm thứ 3) hiện được cất giữ trong viện bảo tàng ở vườn Lộc dã (Phạm: Mfgadàva) cũng thuộc châu Liên hợp là xưa nhất. Theo sự khảo chứng thì đây là những thạch Phật được tạo lập vào thời kì đầu của thế kỉ II Tây lịch.Tại Tích lan, xưa nay cũng thịnh hành việc tạo lập thạch Phật, ở Polonnaruwa còn có tượng ngài A nan đà đứng cao khoảng 6m và ở Awkana còn tượng Phật Thích ca đứng cao khoảng 15m. Còn ở Bà la phù đồ (Bara-budur) tại đảo Java, Indonesia, có khắc 504 pho tượng Phật bằng đá. Tại Trung quốc, theo Lương cao tăng truyện quyển 13 và Pháp uyển châu lâm quyển 12, vào niên hiệu Kiến hưng năm đầu (313) đời vua Mẫn đế nhà Tây Tấn, 2 tượng Thạch Phật đầu tiên là tượng Phật Duy vệ, Phật Ca diếp nổi lên ở cửa sông Hỗ độc tại Tùng giang, quận Ngô, do mấy mươi vị như Chu ưng, Bạch ni... rước về thờ ở chùa Thông huyền, tượng cao 7 thước (Tàu). Thư cừ Mông tốn ở Bắc Lương đục mở núi Tam nguy tại Sa châu để tạo tượng Phật là 1 sự kiện nổi tiếng. Thời vua Văn thành đế nhà Bắc Ngụy, ngài Đàm diệu đục mở 5 khám thờ trên vách đá của động Vân cương ở Đại đồng, tỉnh Sơn tây, gọi là chùa Linh nham, trong mỗi khám thờ tạc một pho tượng Phật, đó là những khám thờ đầu tiên ở Vân cương. Tượng thạch Phật lớn nhất ở Vân cương là tượng Bản tôn Thích ca ngồi khắc ở mặt chính của động Đại Phật thứ 5 ở chính giữa, cao khoảng 17m, đoan nghiêm hùng vĩ. Bởi vì tầng nham thạch ở Vân cương thuộc tầng lớp sa nham, rất thích hợp cho việc khắc tạo đại khám, đại Phật, thêm vào đó là chí hướng vĩ đại của vua Thác bạt nhà Bắc Ngụy mà qui mô hoành tráng của hang động đã khiến cho những tác phẩm thạch khắc ở Vân cương trở thành bậc nhất thế giới. Ngoài ra, như động đá Long môn ở tỉnh Hà nam, núi Ngọc hà ở tỉnh Sơn đông, núi Thiên long ở tỉnh Sơn tây, núi Nam hưởng đường ở tỉnh Hà bắc... cũng đều có khắc tạo tượng thạch Phật. Những tượng thạch Phật nói trên đều được khắc tạo ở miền Bắc Trung quốc, trái lại, ở miền Nam tương đối ít hơn, có lẽ miền nam ít sườn núi thích hợp cho việc khắc tạo những tượng thạch Phật to lớn. Tuy nhiên, cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 40 thì vào năm Khai nguyên 18 (730) đời Đường, sa môn Hải thông đục đá ở bãi Đại giang thuộc Gia châu, tạo lập tượng Di lặc, làm gác 9 tầng để che phủ, đây chính là chùa Lăng vân. Tượng Đại Phật này hiện còn ở núi Lạc sơn tỉnh Tứ xuyên, gần sông Dâu, 1 chi nhánh sông Dương tử, cao 71m, được khắc tạo trên 1 vách núi lớn, hiện nay cây cối mọc um tùm, rêu phong kín mít, trông giống như 1 ngọn đồi đứng chênh vênh, là tượng thạch Phật lớn nhất thế giới. [X. Hữubộtì nại da tạp sự Q.3; điều Phạm diễn na quốc trong Đại đường tây vực kí Q.1; Tục cao tăng truyện Q.1, 25; Quảng hoằng minh tập Q.2, 15; Ngụy thư Q.114; A History of Fine Art in India and Ceylon by V. Simth; Barabudur by N. J. Krom]. (xt. Thạch Quật). II. Thạch Phật. Cũng gọi Lão tăng nham, Tiếp khách tăng.Tên 1 ngọn núi trong dãy núi Nhạn đãng, huyện Lạc thanh, tỉnh Chiết giang, dưới chân núi có chùa Thạch Phật.

thạch quật

(石窟) Cũng gọi Thạch quật tự viện, Thạch thất, Quật tự, Quật viện, Quật điện. Hang đá, Động đá. Tức đục mở các sườn núi, vách đá thành hang động, đồng thời tạc tượng Phật để thờ làm các chùa viện. Nguồn gốc các thạch quật này rất sớm, ngay từ thế kỉ I, II trước Tây lịchở Ấn độ đã có rồi. Trong các tậpdu kí của các ngài Pháp hiển, Tống vân, Huyền trang... khi đến Ấn độ cũng có ghi chép về việc đục mở các thạch quật tự viện, trong đó có những thạch quật tự viện vẫn còn được bảo tồn cho đến ngày nay. Ở Trung quốc, việc đục mở các thạch quật, dựa vào những gì đã được tìm thấy hiện nay mà suy đoán, thì vào khoảng năm Kiến nguyên thứ 2 (366) đời Tiền Tần, sa môn Lạc tôn đã bắt đầu đục mở thạch quật ở núi Minh sa tại huyện Đôn hoàng, tỉnh Cam túc; từ khởi điểm đó, đã bao nhiêuthế hệ sau nối tiếp, cho mãi đến thế kỉ XV, trải hơn một nghìn năm mà việc đục mở thạch quật vẫn không suy giảm, rải rác khắp miền Tây, miền Bắc Trung quốc, từ Cao xương, Khố xa ở Tân cương, Đôn hoàng, Thiên thủy ở Cam túc, Vân cương ở Đại đồng, Long môn ở Lạc dương, núi Thiên long ở Thái nguyên, núi Hưởng đường ở Hà nam, Thiên Phật nhai ở Tế nam, núi Thê hà ở Nam kinh, động Phi lai ở Hàng châu, cho đến động Vạn Phật ở Liêuninh... qui mô đều rất hoành tráng. Trong đó, thạch quật Đôn hoàng nhờ bích họa mà nổi tiếng khắp thế giới, còn Vân cương, Long môn thì nhờ thạch khắc mà trứ danh ở đời. Ngoài ra, ở vùng Giang tô, Chiết giang... cũng có các thạch quật với qui mô tương đối nhỏ hơn. Ở Tây vực và vùng Bamian ở Afghanistan cũng có nhiều thạch quật được đục mở vào thế kỉ V đến thế kỉ VIII Tây lịch, trong đó có những pho tượng Phật cao 53m và 35m là chủ yếu; phần lớn các thạch quật đều có bích họa, nhưng hiện nay còn sót lại rất ít. Tại Tích lan thì trên núi Sư tử (Sìgiriya) có thạch quật được đục mở vào thế kỉ V, trong đó có bích họa. Triều tiên thì có Thạch quật am ở Khánh châu được kiến trúc vào thời đại Tân la, do xếp những tảng đá mà thành, bên trên phủ đất, chứ không phải do đục mở sườn núi, nên tính chất khác với các thạch quật nói trên. Còn Nhật bản thì không tạo lập thạch quật tự viện. Sau đây chỉ giới thiệu sơ lược những thạch quật ở Ấn độ và Trung quốc hiện còn.Ở Ấn độ, có nơi dùng thạch quật làm Lễ bái đường (Phạm:Caitya, Chi đề) hoặc được xem là Tăng viện (Phạm: Vihàra, tinh xá), nhưng phần nhiều thì được sử dụng làm Lễ bái đường, đồng thời ở phía trước thạch quật kiến tạo một phòng ốc thông thường dùng làm tăng phòng. Tương truyền, đức Thích tôn từng thuyết pháp trong động Đế thích (thạch thất tinh xá) ở phía đông thành Vương xá. Theo Đại đường tây vực kí quyển 10, già lam Hắc phong do vua Dẫn chính nước Kiêu tát la xây dựng cúng dường bồ tát Long mãnh chính là tự viện dưới hình thức thạch quật. Những thạch quật hiện còn ở Ấn độ phần nhiều nằm rải rác ở miền Tây Ấn độ, trong đó, thạch quật Bà ha da (Bhàjà) nằm về phía đông cách thành phố Bombay hiện nay khoảng 80 km và thạch quật Bối đắc tát (Bedsà) cách thạch quật Bhàjà về phía nam khoảng 8km, đều được đục mở vào khoảng năm 175 trước Tây lịch, là những thạch quật xưa nhất trong những thạch quật hiện còn cho đến ngày nay. Hai thạch quật Na tây khắc (Nàsik) nằm cách thành phố Bombay hiện nay khoảng 193km và thạch quật Ca lợi (Kàrle) nằm cáchBhàjà về phía đông khoảng 6km, đều được đục mở vào khoảng kỉ nguyên Tây lịch. Các điêu khắc được bảo tồn trong 4 thạch quật nói trên đều rất đơn giản, nhưng không có tượng Phật. Còn các thạch quật được đục mở từ Vương triều Cấp đa (Phạm: Gupta) về sau thì có: A chiên đa (Phạm:Ajantà), Y la lạp (Ellora, nằm cách thành phố Bombay về mạn đông bắc khoảng hơn 400km), Ba cách hách (Phạm: Bàgh), Cam hách thụy (Phạm: Kànheri, trên đảo Salsette, cách Bombay về phía đông bắc khoảng 32km...), trong các thạch quật này có rất nhiều tượng A di đà, Quan âm, Đa la..., A chiên đa và Ba cách hách còn có bích họa. Trong đó, A chiên đa có qui mô rất lớn, gồm có 29 hang động lớn nhỏ, được đục mở trong khoảng mấy trăm năm, từ thế kỉ II trước Tây lịch đến thế kỉ VII sau Tây lịch, nhờ các bức bích họa mà nổi tiếng ở đời, là tinh hoa của nền mĩ thuật Ấn độ. Quần thể Y la lạp thì hiện còn 32 hang động lớn nhỏ, từ hang thứ 1 đến hang 12 thuộc các vật của Phật giáo, được đục mở từ thế kỉ VI đến thế kỉ VIII Tây lịch (có thuyết nói thế kỉ IV đến thế kỉ VII). Ngoài ra còn có các hang động lớn nhỏ như Udayagiri, Khandagiri... đều có thờ hình tháp hoặc tượng Phật và trang nghiêm bằng các bức bích họa. Tại Trung quốc thời gần đây, một chuỗi các hang độngđãđược phát hiện, nhất là động Thiên Phật ở Đôn hoàng được người đời chú ý và rất được các học giả Đông, Tây coi trọng, liên tục đến nghiên cứu, đến nay đã có Đôn Hoàng Học được thành lập. Do đó, nghệ thuật thạch quật cũng đã trở thành một khâu không thể thiếu trong lịch sử nghệ thuật của Trung quốc, trong đó cất chứa các sử liệu vănhiến quí giá về Phật giáo, văn học và lịch sử, chiếm1 địa vị rất quan trọng trong lịch sử văn hóa và học thuật Trung quốc, không những nó có thể bổ khuyết cho các phần trống thiếu về văn hóa, lịch sử trong khoảng 600 năm từ thời Bắc Ngụy đến thời Bắc Tống, mà còn giúp sửa chữa những chỗ sai lầm trong nhiều kinh điển. I. Động Thiên Phật ở Đôn hoàng: Năm Quang tự thứ 5 (1879), sở Điều tra địa chất của Hung gia lợi (Hungary) do ông I. de Lóczy dẫn đầu đến thăm dò Đôn hoàng, đã phát hiện những bích họa ở động Thiên Phật, đoàn người đã hết sức kinh ngạc và cho là mình đã tìm ra của báu. Sau khi trở về Âu châu, đoàn Điều tra công bố tin này cho thế giới, đó là lần đầu tiên các học giả thế giới biết có bích họa ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng. Năm Quang tự 26 (có thuyết nói năm 25– 1900, 1899), đạo sĩ Vương viên lục tìm thấy thạch thất cất chứa kinh sách được đóng kín, lúc đầu, đạo sĩ họ Vương không dám mở. Năm Quang tự 33 (1907), ông Sử thản nhân (A. Stein), người Hung gia lợi gốc Anh nghe tin tìm đến, trả tiền cho đạo sĩ Vương viên lục rồi lén mở thạch thất, chọn lấy những cuốn kinh quan trọng chép tay khoảng 3.000 quyển và 3.000 quyển thuộc các loại sách khác lấy mang đi. Năm sau, ông Bá hi hòa (P. Pelliot) người Pháp, lại đến lấy đi hơn3.000 bản sách viết tay nữa, rồi lục soát các hang động, những bức Đức Phật và vị tăng một mắt trong hang động thứ 17 họa trên vách ở Ajantà Không có cách nào lấy đem đi thì chụp ảnh đánh số. Khi triều đình nhà Thanh biết, đến thu nhặt những sách còn sót lại thì chỉ còn khoảng 8 hoặc 9 nghìn quyển đưa về cất giữ ở thư viện Bắc kinh. Trong thời gian ấy, còn có người Hoa kì, người Nhật bản đến, hoặc niêm yết các bích họa, hoặc tìm mua lại những tác phẩm lưu lạc trong dân gian. Đến nay những kinh điển và bích họa được cất giấu trong thạch thất tại Đôn hoàng phần lớn đã có mặt ở các thư viện, bảo tàng viện của các nước Pháp, Anh, Mĩ, Đức, Nhật... Thiên Phật động, cũng gọi là Mạc cao quật (Dmag-mgo), Thiên Phật nham, Lôi âm tự, tọa lạc ở chân núi Minh sa, thuộc huyện Đôn hoàng, tỉnh Cam túc, bắt đầu được đục mở từ thế kỉ IV đến thế kỉ XIV thì ngưng. Quần thể hang động này được chia làm 2 hàng cho đến 4 hàng trên dưới men theo sườn núi, tính ra có tới hơn 400 hang động lớn nhỏ, chạy dài 1,6 km, được chia làm 3 bộ phận lớn: Chính giữa, Nam, Bắc. Trong đó, số hang động ở bộ phận chính giữa tương đối ít và qui mô nhỏ hơn, không có dấu vết trang sức, nay đã hoang phế. Những hang động thuộc bộ phận phía Bắc thì có chứng tích cho thấy đã được sử dụng làm phòng tăng. Còn bộ phận phía Nam thì chạy dài suốt 930m, ở hai đầu, mỗi đầu có một động lớn, trước động xây điện, trong đó tôn trí tượng Phật ngồi cao trên 24m. Thiên Phật động vốn do sa môn Lạc tôn khai sáng vào năm Kiến nguyên thứ 2 (366) đời Tiền Tần, ngài Pháp lãng và Đông dương vương tiếp nối, Lí quảng trùng tu. Về sau, trong khoảng mấy trăm năm, từ các đời Bắc Ngụy, Tùy, Đường, Ngũ đại, cho đến đời Tống... lần lượt sửa sang mở rộng thêm. Đến đời Tống Nhân tông thì người Tây hạ xâm nhập, binh lửa liên miên; đời Minh lại bị nạn Hồi giáo đánh phá, hủy hoại tượng Phật, khám thờ Phật bị sỏi cát lấp vùi; đến giữa đời Thanh, đạo sĩ trụ trì, cho mãi đến khi nhóm người Âu châu như A.Stein, P.Pelliot đến cướp đi những bảo vật như đã nói ở trên thì người đời mới biết đến Thiên Phật động. Phần chủ yếu trong thạch quật là bích họa, tượng đắp và thạch thất cất giữ kinh sách đủ loại và được viết bằng các thứ tiếng: Hán, Khư lô, Hồi cốt, Khang cư, Cổ hòa điền, Cưu tư, Tây tạng... Kinh thì gồm phần lớn là kinh Phật, nhưng cũng có kinh của Đạo giáo, Ma ni giáo, Cảnh giáo và các bản bia kinh. Bích họa thì được chia làm các thể loại: 1. Kinh biến đồ: Chỉ cho những sự tích kinh Phật. 2. Bản sinh cố sự: Nói về các sự tích tiền thân của Phật. 3. Tôn tượng: Chỉ cho những tượng Phật, Bồ tát và thị giả... 4. Cúng dường nhân: Chỉ cho thí chủ, tức những người cúng dường đi từng hàng và cảnh xe, ngựa... 5. Trang sức đồ án: Bao gồm hoa trời, giếng trời, sông núi, hoa văn... 6. Phi thiên: Chỉ cho các người trời đang bay trong hư không. 7. Kĩ nhạc vũ dũng: Tức các nghệ nhân biểu diễn âm nhạc và các điệu múa... II. Những Hang Động Ở Núi Mạch Tích: Được đục mở từ thế kỉ V đến thế kỉ XI Tây lịch. Đây là kho báu của nghệ thuật Phật giáo được kiến tạo sau khi Trung quốc đã hấp thụ tinh hoa văn hóa Ấn độ. Quần thể hang động này nằm cách huyện Thiên thủy, tỉnh Cam túc 45 km về phía đông, ở đầu cực tây của dãy núi Tần lãnh, người địa phương gọi là Mạch tích nhai kì phong (núi Mạch tích kì lạ). Đỉnh núi nhọn như hình cái dùi, thân núi thẳng tắp, trông giống như một đống lúa trong làng xóm, vì thế gọi là Mạch tích sơn(núi chứa lúa mạch). Núi cao 142 mét, trên đỉnh có tháp, dưới chân núi có chùa, 4 chung quanh thân núi thì toàn là thạch khắc như khám thờ và hang động, tất cả có 194 chỗ, gồm trên 1000 pho tượng Đại Phật, được bảo tồn từ các đời Bắc Ngụy, Tùy, Đường, Ngũ đại cho đến đời Tống trở lại đây. Nhưng vì bị các trận động đất hủy hoại và mưa gió xâm lấn nên phần ở chính giữa đã đứt nát, chỉ còn lại 2 sườn Đông và Tây. Sườn phía đông, tiêu biểu là động Niết bàn (đục mở vào cuối đời Bắc Ngụy), hiên Nghìn Phật (đầu đời Bắc Ngụy), Thượng thất Phật các(gác 7 Phật trên), Trung thất Phật các(gác 7 Phật ở giữa)và Ngưu nhi đường. Các hang động này vẫn còn giữ gìn được nguyên trạng. Trong đó, Thượng thất Phật các là 1 hang động đục cheo leo trên sườn núi, cách đất hơn 50m, mặt chính rộng 30m, cao 16m, sâu 7m, là hang động có qui mô lớn nhất trong các thạch quật thuộc sườn phía đông. Các bích họa trong động này mang đầy đủ phong cách các đời Tùy, Đường. Sườn phía tây có 3 hang động lớn, trong đó, động Vạn Phật có qui mô lớn nhất (được đục mở vào cuối đời Bắc Ngụy), động Thiên đường thì cao nhất (cũng đục vào cuối đời Bắc Ngụy), động này rất hiểm trở, không ai dám lên. Trong thạch quật này có văn kì nguyện của ông Trương nguyên bá, được khắc vào năm Cảnh minh thứ 3 (502) đời Bắc Ngụy, là dấu tích mực xưa nhất hiện còn. [X. truyện Huyền cao trong Lương cao tăng truyện Q.11; Thái bình quảng kí Q.397 (Ngọc đường nhàn thoại)]. (xt. Mạch Tích Sơn).III. Những Hang Động Chùa Bính Linh: Cũng gọi chùa Du lâm. Quần thể hang động nằm trong núi Tiểu tích thạch bên Bắc ngạn sông Đổng ở huyện Vĩnh tĩnh, tỉnh Cam túc, được đục mở từ thế kỉ V đến thế kỉ IX. Có 2 chùa Thượng và Hạ. Chùa Thượng được xây cất vào đời Đường, vốn có tên là chùa Long hưng, đời Bắc Tống gọi là chùa Linh nham. Chùa Bính linh là dịch âm theo tiếng Tây tạng, có nghĩa là Mười vạn Phật, đồng nghĩa với ĐộngNghìn Phật, Núi Vạn Phật. Vào đời Nguyên, chùa Bính linh là tự viện Lạt ma của Mật giáo Tây tạng. Từ chùa Thượng đi bộ dọc theo hang núi khoảng 2km mới đến chùa Hạ; chùa Hạ được sáng lập vào năm Diên xương thứ 2 (513) đời Bắc Ngụy, là Thánh địa của Thiền lâm từ khoảng Bắc Ngụy đến Tùy, Đường. Nay chỉ còn lại điện Phật không nguyên vẹn và những thạch khắc trên sườn núi. Những hang động vốn được nối liên nhau bằng đường đi qua những tấm ván gỗ bắc ngang như cầu treo, nhưng nay đã mục nát. Sử liệu sớm nhất nói về quần thể thạch quật này là Thủy kinh chú quyển 2 của Lịch đạo nguyên (469?-527) đời Bắc Ngụy; ngoài ra, như Pháp uyển châu lâm quyển 53 cũng có ghi chép. Nếu thuyết chủ trương những hang động này được đục mở vào thời đại Tư mã viêm đời Tây Tấn là đúng thì đây là di tích thạch quật có niên kỉ xưa nhất trong những di tích hang động ở các nơi hiện còn. Thông thường cho rằng công cuộc đục các hang động này được bắt đầu từ đời Bắc Ngụy, đến đời Đường thì cực thịnh, qua các đời Tống, Nguyên, Minh đến giữa đời Thanh thì bắt đầu suy vidần và cuối cùng bị quên lãng. Tính ra, quần thể thạch quật chùa Bính linh có 36 hang động, 88 tòa khám thờ Phật, phong cách đại khái cũng giống như các hang động ở Đôn hoàng, Vân cương, Long môn, nhưng các khám thờ Phật đục trên vách đá thì nhiều hơn và đặc sắc là phần lớn theo kiểu hình tháp của Ấn độ. Người đứng ra đục mở là chủ công đức cầu phúc, vì đất Vĩnh tĩnh từ xưa là vùng quân sự quan trọng, cũng như đất Hà tây vào đời Tống, là cứ điểm đề phòng sự xâm nhập của người Tây hạ, Thổ phồn, cho nên các chủ công đức hộ trì thạch quật phần nhiều là các tướng lãnh quân đội. Trong các thạch quật này, tượng đắp bằng đất là chính, cũng có nhiều bích họa đời Tống, Minh, nhất là bích họa đời Minh, có thể bổ sung cho những bích họa ở Đôn hoàng đã bị mất mát; màu sắc đậm đà, nét bút mạnh mẽ, khác xa với phong cách bích họa Đôn hoàng. Ngoài ra, thạch quật này thuộc loại nham hồng sa, không thích hợp cho việc điêu khắc, vả lại, đã trải qua nhiều sương nắng, gió mưa thiên nhiên và binh lửa do con người gây ra, nên nhiều tượng Phật đã bị tổn hại. So với các thạch quật ở các nơi khác thì thạch quật ở đây được phát hiện muộn hơn. Do đó, cũng được bảo trì hoàn chỉnh hơn. Bính linh tự thạch quật cùng với Mạch tích sơn thạch quật và Đôn hoàng thiên Phật động đều là những di sản văn hóa quan trọng của vùng Tây bắc Trung quốc. (xt. Bính Linh Tự Thạch Quật). IV. Hai Thạch Quật Nam và Bắc: Hai hang động tuy cách xa nhau vài trăm km nhưng đều do quan Thứ sử Kinh xuyên là Hề sĩ (tự là Khang sinh) lần lượt đục mở vào các năm Vĩnh bình thứ 2 (509) và thứ 3 (510) vào những năm cuối đời Bắc Ngụy. Thạch quật Bắc nằm về phía tây bắc cách trấn Tây phong, huyện Khánh dương, tỉnh Cam túc 40km, ở chỗ 2 con sông Bồ và Như, chi nhánh của sông Kinh, gặp nhau. Sườn đá cao 14m, dài 110m, tính tất cả có 281 hang khám, trong đó có 34 khám được kiến tạo vào đời Bắc Ngụy, 38 cái kiến tạo vào đời Tùy và 131 cái kiến tạo vào đời Đường; từ đời Tống về sau có hơn 20 hang động được đục mở và hơn 50 hang không rõ niên đại. Hiện còn các bài minh nói về việc tạo tượng và những đề kí của khách tham quan, từ đời Tùy đến đời Thanh, có tất cả hơn 140 văn kiện, thư pháp của các thời đại đều có đặc điểm riêng; đây là các tư liệu có thể giúp cho việc nghiên cứu lịch sử thạch quật. Thạch quật Nam nằm ở trên vách núi, cách huyện lị Kinh xuyên, tỉnh Cam túc khoảng 6 km về phía nam, được đục mở vào đầu đời Bắc Ngụy, ở trong thạch quật đều có khắc tượng Phật nổi hoặc tượng đắp, nhưng tượng Phật phần nhiều đã bị người ngoài lấy trộm, còn lại không bằng 1 phần 10 tượng vốn có trước đó. (xt. Bắc Thạch Quật Tự, Nam Thạch Quật Tự). V. Những Hang Động ở Long Môn: Quần thể thạch quật này nằm cách thành Lạc dương, tỉnh Hà nam khoảng 14km, được đục mở từ thế kỉ V đến thế kỉ VIII, xưa gọi là Y khuyết, vì núi Hương sơn ở phía đông và núi Long môn ở phía tây đứng đối nhau, trông xa giống cái lầu canh, sông Y lại chảy qua theo hướng tây nam, vì thế nên có tên là Y khuyết. Trên vách đá của 2 sườn núi dọc theo sông Y có đục mở hơn 13 vạn Phật động, có hình dáng trông giống như cái tổ ong, tượng Phật bằng đá tổng cộng có 142289 pho, qui mô rất lớn, pho tượng lớn nhất cao 17,14m, pho nhỏ nhất thì chỉ có 2cm. Những hang động chủ yếu thì ở sườn núi phía tây có 28 chỗ, sườn núi phía đông có 7 chỗ. Trong đó, tượng được tạo lập vào đời Đường chiếm 60% và đời Bắc Ngụy chiếm 30%. Thạch quật Long môn bắt đầu được đục mở vào năm Thái hòa 18 (494) đời Bắc Ngụy, trải qua các đời Bắc Tề, Bắc Chu, Tùy, Đường nối tiếp nhau đục mở trên 400 năm. Những hang động này cùng với các hang động Vân cương và hang động ở huyện Củng đều do 1 đời Bắc Ngụy dùng sức nhà nước để tạo lập. Trong đó, động Cổ dương, động Tân dương, động Liên hoa, động Ngụy tự, chùa Thạch quật... là những hang động lớn có tính cách tiêu biểu cho đời Bắc Ngụy, trước sau hết 24 năm, sử dụng hơn 80 vạn công nhân, đủ thấy công trình lớn lao khó tưởng tượng. Về sau, các đời Đông Ngụy, Bắc Tề, Tùy, Đường đều nối tiếp nhau đục mở, đặc biệt vua Cao tông và Vũ hậu nhà Đường dụng công nhiều nhất. Trong động Tân dương có tượng Phật Thích ca mâu ni ngồi cao 8,4m, chất phác hồn hậu, trên vòng hào quang sau lưng có khắc hoa sen, ánh lửa, hoa văn khắc nổi, khí tượng trang nghiêm; hai bên khắc tạo 11 pho tượng Bồ tát, Thiên vương, lực sĩ, người cúng dường... Về phong cách thì từ vẻ mộc mạc, mạnh mẽ của nét tạo tượng Vân cương đã dầndầnthay đổi và nhường chỗ cho vẻ thanh tú mĩ lệ, bộ diện thì từ tinh thần nghiêm khắc đến ôn hòa; về phục sức thì quần dài, ống tay áo rộng, kĩ xảo điêu khắc này về sau đã ảnh hưởng đến nghệ thuật điêu khắc tượng Phật ở thời đại Phi điểu của Nhật bản. Kế đến là động Cổ dương (cũng gọi động Lão quân), với qui mô to lớn, tạo tượng tinh xảo, cho nên được gọi là bậc nhất Long môn; trên 4 vách có khám Phật kiểu khắc nổi; trên vách động cũng có các bài minh kí, thi văn... Còn các thạch quật chùa Phụng tiên thì có tính cách tiêu biểu nhất trong các hang động đời Đường ở Long môn, tượng Đại Phật Lô xá na trong chùa này chính là tượng Phật lớn nhất trong quần thể hang động Long môn, qui mô khắc tạo hiếm thấy ở đời, nhất là nét khắc vẻ trang nghiêm, hiền từ và tính duệ trí của tượng Phật thì nổi bật, xứng đáng đại biểu cho nền điêu khắc đời Đường. (xt. Long Môn Thạch Quật). VI. Những Hang Động Ở Núi Thiên Long: Quần thể thạch quật nằm cách huyện Thái nguyên, tỉnh Sơn tây khoảng 40 km về phía tây, được đục mở từ thế kỉ VI đến thế kỉ VIII. Núi Thiên long vốn có tên là núi Phương sơn, nhưng khi nhà Bắc Tề xây chùa Thiên long trên núi này nên mới đổi tên là Thiên long sơn. Núi này thuộc tầng sa nham Thủy bình, nên thích hợp cho việc đục mở hang động, tuy qui mô không lớn bằng Vân cương, Long môn, nhưng cùng với thạch quật ở núi Hưởng đường đều là tiêu biểu cho nền văn hóa Phật giáo Bắc Tề. Những thạch quật này được đục mở trên đất Bắc Tề, vào khoảng Tùy, Đường có gác Mạn sơn và động Cửu liên là nổi tiếng. Động Cửu liên do 9 hang động nối liền nhau mà thành, phía trong, phía ngoài động có tượng Phật và phù điêu, tất cả đều dựa vào thế núi mà được kiến tạo thành. Gác Mạn sơn có 3 tầng trong đó có cất giữ 2 pho tượng Phật bằng đá, là những tác phẩm đời Bắc Ngụy; giữa khoảng vách đá 2 bên, có khắc vô số khám thờ Phật, nhưng tiếc thay, phần nhiều đã bị người ngoài lén vào đục lấy đem đi, rất đáng tiếc! [X. China Phật giáo sử tích bình giải Q.3].VII. Những Hang Động Ở Vân Cương: Quần thể thạch quật nằm ở núi Vũ chu, bờ lũy Vân cương, cách huyện Đại đồng, tỉnh Sơn tây khoảng 17km về mạn bắc, được đục mở từ thế kỉ V đến thế kỉ VI. Bắt đầu vào niên hiệu Hòa bình năm đầu (460), sa môn Đàm diệu vâng sắc của vua Văn thành đế nhà Bắc Ngụy đục mở 5 hang động lớn, suốt 34 năm, tức đến năm Thái hòa 18 (494) đời vua Hiếu văn đế mới hoàn thành, về sau, mãi đến cuối đời Tùy, các hang động vẫn tiếp tục được đục mở, tất cả được hơn 20 chỗ và hàng trăm khám Phật lớn nhỏ. Vì khoảng giữa các thạch quật có 2 hang núi ngăn đôi, nên các học giả Nhật bản như Thường bàn Đại định và Quan dã trinh mới đánh số động và chia làm 3 khu: Khu Đông gồm 4 hang động từ 1 đến 4; khu Giữa gồm 9 hang động từ số 5 đến số 13 và khuTây gồm 7 hang động, từ số 14 đến số 20. Trong đó, kế hoạch ở động thứ 3 rất là hoành tráng, 1 sân phía trước khoảng 48m, cao khoảng 13m; mặt tiền của động thứ 5 có lầu gác 5 gian 4 tầng, chiều đông tây khoảng 23m, chiều nam bắc khoảng 19m. Tượng đức Bản tôn Thích ca ngồi ở chính giữa, cao 18m, đường kính của 2 đầu gối khoảng 17m, khí thế trang nghiêm hùng vĩ, là tượng Phật bằng đá to nhất ở Vân cương. Mặt tiền động thứ 6 cũng tạo lập lầu 5 gian 4 tầng, mỗi gian đều rộng 15m, ở vách sau có đặt khám thờ Phật lớn, ở chính giữa chia làm 2 lớp, đều có khắc tượng Phật ngồi, mạnh mẽ cứng cáp; trên mặt các vách đều có khắc điện đường, tượng Phật, Bồ tát, tranh truyện Phật, phi thiên, hóa Phật, tháp 5 tầng... không có chỗ nào để trống. Kĩ xảo điêu khắc tinh luyện, đáng gọi là bậc nhất ở Đại đồng. Trong động thứ 11 có khắc 7 pho tượng đứng của 7 đức Phật quá khứ, tư thái dung mạo rất đẹp. Tạo tượng ở động thứ 18 hùng vĩ, có thể gọi là đứng đầu thạch quật Vân cương. Nhìn chung 20 hang động thì 5 hang động đầu tiên do sa môn Đàm diệu vâng sắc đục mở (tức từ động 16 đến 20) có qui mô lớn nhất, khí tượng rất hùng vĩ. Trong mỗi động đều có khắc tượng Phật bằng đá cao từ 16m trở lên, rất trang nghiêm vĩ đại, cũng cho thấy phong cách tạo tượng hào phóng và thuần phác ở thời kì đầu, cấu tưởng phong phú, điêu khắc mĩ lệ, phát huy nét nghệ thuật đang hưng thịnh của thời Bắc Ngụy. Về phần tế nhị, tuợng Phật tuy có nét giống với kiểu Trung Ấn độ, hoặc kiểu Tát san Ba tư, nhưng diện mạo đại trượng phu môi dày, mũi cao, mắt dài, hàm bạnh... thì rõ ràng đã chịu ảnh hưởng Thác bạt của Bắc Lương. Nhờ tầng nham ở Đại đồng thuộc đá sa nham của tầng mặt nước bằng, rất thích hợp cho việc đục hang động và tạo tượng với qui mô lớn, thêm vào đó là khí tượng hùng tráng và niềm tin sắt đá của dòng họ Thác bạt, nên đã thành tựuđược1 trong 3 kho báu lớn của nghệ thuật Phật giáo Trung quốc cổ đại. (xt. Đại Đồng). VIII. Những Hang Động Ở Huyện Củng: Quần thể thạch quật nằm cách huyện Củng, tỉnh Hà nam khoảng 1km về phía tây bắc, được đục mở từ thế kỉ thứ VI. Hang động được đục mở trên sườn núi Mang, nhìn ra sông Lạc. Vào thời Bắc Ngụy, ở núi này có chùa Hi huyền, về sau vì rất nhiều hang động được đục mở nên đổi tên là Thạch quật tự. Những động đá này bắt đầu được khai tạc vào khoảng năm Cảnh minh (500-503) đời Tuyên vũ đế nhà Bắc Ngụy, về sau, qua các đời Đông Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Tề... kế tiếp nhau đục mở; đến Cao tông nhà Đường lại đục mở rất nhiều khám thờ Phật, gọi là chùa Tịnh độ. Qua các đời Tống, Minh, Thanh thì có lúc tiếp tục khai tạc, có lúc lại bỏ. Hiện nay, trên sườn núi phía sauđiệnPhật có 5 hang động và 3 tượng Phật lớn khắc ngay vào sườn núi, 1.000 khám thờ Phật lớn và 238 khám nhỏ. Trong 5 hang động thì động thứ 5 là lớn nhất. Trong đó, trừ các khám Phật lớn nhỏ, còn có các tượng Phật, Bồ tát, La hán, các bài minh đời Đường, tranh ngàn Phật và những nhân vật cúng dường đứng xếp hàng, tranh của vua và Hoàng hậu lễ Phật, tranh các người trời tấu nhạc... tất cả đều được khắc nổi, nét khắc tinh xảo, thanh tú, nội dung phong phú, bảo tồn hoàn chỉnh, rất hiếm thấy trong các hang động hiện còn trên toàn cõi Trung quốc. Trong mỗi hang động đều có kiến trúc các cột hình vuông lớn, đây là thủ pháp Bắc Ngụy kế thừa các động Vân cương, Long môn. Trên vách núi có khắc Hậu Ngụy Hiếu văn đế cố Hi huyền tự bi (Bia ghi về chùa Hi huyền cũ của vua Hiếu văn nhà Hậu Ngụy), vì thế biết chùa này do Hiếu văn đế nhà Bắc Ngụy sáng lập, lại do tấm phù điêu khắc vua và Hoàng hậu lễ Phật mà biết chắc rằng quần thể thạch quật ở huyện Củng này có quan hệ mật thiết với hoàng thất Bắc Ngụy. Ngoài ra, 3 pho tượng lớn khắc trên sườn núi ở khoảng giữa 2 động 4 và 5 và các khám Phật lớn đã bị hủy hoại đến quá phân nửa. Còn tượng đức Bản tôn Thích ca đứng thì từ đầu gối trở xuống đã bị chôn trong đất, tượng Bồ tát đứng hầu bên trái đã bị mất, còn vị Bồ tát đứng hầu bên phải thì phần trên đã bị hủy hoại, nhưng đều mang nét đặc sắc của nghệ thuật đắp tượng thời Bắc Ngụy. IX. Những Hang Động Ở Núi Nam Hưởng Đường, Tỉnh Hà Bắc Và Ở Núi Bắc Hưởng Đường, Tỉnh Hà Nam. Quần thể thạch quật của núi Bắc Hưởng đường nằm ở huyện Vũ an, tỉnh Hà nam và quần thể thạch quật của núi Nam Hưởng đường nằm ở trấn Bành thành, phía tây nam huyện Từ, tỉnh Hà bắc, cách núi Bắc Hưởng đường khoảng 15km về phía đông nam. Hai quần thể thạch quật này còn được gọi là Bắc Hưởng đường tự và Nam Hưởng đường tự, đều được đục mở vào thời đại Bắc Tề (thế kỉ VI), có khả năng vào đời Văn tuyên đế nhà Bắc Tề. Núi Hưởng đường cũng gọi là Cổ sơn, Thạch cổ sơn, Phủ sơn. Quần thể thạch quật của núi Bắc Hưởng đường có 3 hang động lớn nằm ở phía nam, giữa và phía bắc núi cùng với 4 hang động nhỏ và 4 cái khám nhỏ. Hang động lớn ở phía nam (động khắc kinh) rộng 4m, sâu 3,3m, 3 mặt mỗi mặt đều có 1 khám thờ, trong mỗi khám thờ đều an vị 7 pho tượng Phật(tượngThất Phật), trong đó, pho tượng ngồi kết ấn Thí vô úy và ấn Dữ nguyện, đứng hầu bên cạnh là các tượng Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. Mặt vách bên trong khắc toàn bộ kinh Duy ma cật sở thuyết do ngài Cưu ma la thập dịch và kinh Vô lượng nghĩa. Trên sườn núi bên ngoài động thì khắc các kinh Thắng man, kinh Bột, kinh Di lặc thành Phật, đặc biệt có bài kí khắc kinh của Đại tướng quân Phiêu kị là Đường ung. Theo bài kí này thì biết rằng các kinh được khắc từ năm Thiên thống thứ 4 (568) đến năm Vũ bình thứ 3 (572) đời Bắc Tề, so với Thạch kinh Phòng sơn thì sớm hơn khoảng 40 năm. Các kinh được khắc theo thể đại tự, nét bút rất sắc sảo, cứng cáp. Động lớn khoảng giữa(động Thích ca) thì rộng 7,8m, sâu 7m, trên vách chung quanh có nhiều tượng Phật, khám thờ Phật, bài kí tạo tượng được khắc vào đời Minh, cùng với các bức phù điêu hoa cỏ, các loài cầm thú quí lạ... hình thức chất phác. Còn hang động lớn phía bắc(động Đại Phật) rộng 13,3m, sâu 12,5m, chính giữa có 1 cây cột hình vuông lớn, mặt chính và bên phải, bên trái đều có an vị 1 tượng Phật và 2 vị Bồ tát; trong bảo đàn có đặt lư hương, sư tử. Mặt chính trên đàn có tượng Phật ngồi, cao gần 4m, đoan nghiêm hồn hậu, thần khí siêu thoát, bộ diện bình dị không trang sức đã trải qua hơn 1000 năm, mưa nắng dãi dầu mà vẫn y nhiên sáng sạch như mới. Ba hang động nói trên đều được mở vào đời Bắc Tề. Qua các đời Tùy, Đường cho đến đời Minh... tiếp tục được mở đục thêm, hoặc hang động, hoặc khám Phật, hoặc kinh văn... Quần thể thạch quật ở núi Nam Hưởng đường được chia làm 2 lớp trên và dưới, lớp dưới có 2 động lớn là động Hoa nghiêm và động Bát nhã; lớp trên có 5 động nhỏ là động Không, động Củng môn, động Thích ca, động Lực sĩ và động Thiên Phật. Trong đó, động Hoa nghiêm nằm về phía đông bắc của lớp dưới, mỗi bề rộng 6,35m, cao 4,7m có diện tích lớn nhất. Trong động có tượng Phật thuyết pháp dưới gốc cây, những người cúng dường Phật và Bồ tát, tượng Thái tử Tất đạt đa và ngựa Kiền trắc, khám thờ Phật và khắc kinh Hoa nghiêm... tất cả đều là khắc nổi. Tượng Phật trăm dáng nghìn vẻ tạo hình rất đẹp; bức phù điêu ở phần trên của cửa vào được xem là mở đầu cho tranh vẽ Tịnh độ A di đà. Động Bát nhã nằm ở phía tây nam của lớp dưới, rộng 6,2m, sâu 6,55m, cao 4,6m, cấu tạo giống như động Hoa nghiêm, cũng có khám thờ Phật, tranh khắc nổi Phật Thích ca thuyết pháp dưới gốc cây và Tịnh độ A di đà, khắc kinh Bát nhã, kinh Văn thùbát nhã... Còn 5 động nhỏ thì động Không vuông khoảng 3m, chia làm 2 căn trước và sau; động Củng môn rộng 2,2m, sâu 2,35m, cao 2m; động Thích ca rộng 2,1m, sâu 2,3m, cao 2,5m; động Lực sĩ, đại khái cũng to bằng động Thích ca, cấu tạo cũng giống nhau; động Thiên Phật rộng 3,6m, sâu 3,4m, trên vách động có khắc tượng Phật, phi thiên, tay cầm đàn tì bà, hoặc đang thổi sáo... [X. China văn hóa sử tích giải thuyết 5; China Phật giáo sử tích đạp tra kí (Thường bàn Đại định)]. X. Những Hang Động Ở Núi Thạch Chung Tỉnh Vân Nam: Cũng gọi Kiếm xuyên thạch quật. Quần thể hang động nằm trong núi Thạch chung, gần Sa khê thuộc vùng thượng lưu sông Kim sa, phía tây nam huyện Kiếm xuyên, tỉnh Vân nam, do người nước Nam chiếu thuộc Bạch tộc, sống ở vùng biên giới tỉnh Vân nam đục mở từ đời Đường đến đời Tống. Quần thể thạch quật này được chia làm 3 khu: Khu chùa Thạch chung(8 động), khu cửa ải Sư tử(3 động) và khu thôn Sa đăng(4 động). Trong các động ở khu chùa Thạch chung thì động thứ 1, thứ 2 có khắc tượng người chủ cúng dường hoặc tượng vương giả, rồi động chư Phật, động Thích ca, động Bồ tát, nét khắc tuy chưa đạt nhưng là di phẩm quí trọng của nghệ thuật khắc đá đời Tống, Nguyên. Trong động thứ 8 có tấm biển hiệu hình chữ nhật đề là Nam chiếu Thịnh đức năm thứ 4 (1179), có lẽ là văn phát nguyện đục mởcáchang động này. Trong các hang động ở khu cửa ải Sư tử,có khắc tên Đại thánh Thánh trục; Đại thánh Thánh trục có thể là 1 loại tín ngưỡng dân gian ở địa phương. Trong động Phật thứ 2 của khu thôn Sa đăng có đề khắc Nam chiếu thiên khải năm 11; năm Thiên khải 11 tươngđươngkhoảng niên hiệu Hội xương năm đầu (841) đời vua Vũ tông nhà Đường. Như vậy có lẽ hang động này là tác phẩm thạch khắc thuộc thời kì đầu tiên ở Kiếm xuyên. Lại nữa, nhờ thạch quật Kiếm xuyênmà có thể hiểu rõ thực trạng của Phật giáo Nam chiếu. Phật giáo được truyền vào Nam chiếu từ đời Đường, lấy tín ngưỡng Quan âm làm trung tâm, là Phật giáo Đại thừa chịu ảnh hưởng văn hóa của dân tộc Hán. Ngoài ra, cũng chịu ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo Tây tạng, Ấn độ, và Thái lan mà hiển hiện 1 phong cách đặc biệt khác. [X. Khang hi kiếm xuyên châu chí Q.2, 17].XI. Sườn Núi Nghìn Phật Ở Quảng Nguyên Thuộc Tỉnh Tứ Xuyên. Sườn núi nằm về bờ tây sông Gia lăng, cách huyện lị Quảng nguyên, tỉnh Tứ xuyên về phía bắc 4km. Tương truỵền, vào năm Hàm phong thứ 4 (1854) đời Thanh, ở đây có 1 vạn 7 nghìn pho tượng khắc bằng đá, nay chỉ còn hơn 400 khám thờ và khoảng 7 nghìn pho tượng, như vậy, trong khoảng hơn 100 mấy mươi năm mà số tượng đá ở đây đã bị hủy hoại quá phân nửa. Quần thể hang động nơi đây được đục mở vào đời Đường, qua các đời Ngũ đại, Tống, Nguyên, Minh tiếp tục đục mở dần mà thành. Qui mô to lớn của các thạch quật ở đây có thể sánh ngang với những thạch quật ở Long môn tại Lạc dương. [X. Tứ xuyên Phật giáo ma nhai tạo tượng đích nghệ thuật giá trị cập kì hiện huống (Ôn đình khoan, Hiện đại Phật giáo tùng san 20)]. (xt. Quảng Nguyên Thiên Phật Nhai Ma Nhai Tạo Tượng). XII. Những Hang Động Ở Tây Hồ Thuộc Hàng Châu: Quần thể thạch quật nằm rải rác khắp các vùng chung quanh Tây hồ như núi Tướng đài, động Thạch ốc, động Yên hà, núi Phi lai, núi Ngọc hoàng, núi Từ vân, núiBảo thạch... Những tượng Phật được khắc tạo trong những thạch quật có khoảng 1 nghìn pho, về qui mô cũng như số lượng tuy không sánh được với các thạch quật Mạc cao ở Đôn hoàng, thạch quật núi Mạch tích, thạch quật Vân cương ở Đại đồng, thạch quật Long môn ở Lạc dương... nhưng đứng về phương diện nghệ thuật tạo tượng của các đời Ngũ đại, Tống, Nguyên mà nói thì thạch quật Tây hồ cũng chiếm 1 địa vị quan trọng, hơn nữa, đã có ảnh hưởng rất lớn đối với nền điêu khắc, hội họa của miền Nam Trung quốc. Tượng và khám ở sườn núi Tướng đài được khắc vào năm Thiên phúc thứ 7 (942), nhà Hậu Tấn đời Ngũ đại, đây là khu thạch quật đượcđụcmở sớm nhất và cũng được bảo tồn 1 cách tương đối hoàn chỉnh. Trong động Thạch ốc có 3 khám thờ, theo Lưỡng chiết kim thạch chí thì hang động này do những người cúng dường khác nhau, tiếp nối mở đục mà thành, là những tác phẩm vào khoảng đầu đời Ngũ đại đến đời Tống. Trong đó, 500 pho tượng La hán và tượng Bồ tát Quan âm Thủy nguyệt, trên phương diện đề tài, đều là tiền lệ của nghệ thuật điêu khắc. Số lượng tạo tượng ở động Yên hà rất nhiều, đề tài cũng bề bộn, thời đại thì dài dặc. Trong đó, tượng 500 vị La hán rất đặc sắc, mỗi vị biểu lộ 1 tư thái khác nhau: Vị thì trầm tư, vị nhập định, có vị trông lên, có vị nhìn xuống... không vị nào giống vị nào, đây là trường hợp mở đầu cho hình thức 16 vị La hán lưu hành ở đời Tống, Minh... Ngọn Phi lai là nơi qui mô lớn nhất, khắp núi, chỗ nào cũng có tượng Phật khắc bằng đá, những tượng tương đối còn hoàn chỉnh thì có khoảng 280 pho, rất quí giá. Ngoài ra, những quần thể thạch quật khác như Thiên Phật nhai ở Tế nam, tỉnh Sơn đông, núi Vân môn ở Thanh châu, núi Đà sơn, động Vạn Phật ở huyện Nghĩa tại Liêu ninh, Đoạn nhai ở Quế lâm, tỉnh Quảng tây, chùa Bảo nham ở chân núi Lâm lư, huyện Bình thuận, tỉnh Sơn tây (69 bức phù điêu Thủy lục trong động thứ 5 có thể cho thấy rõ thực trạng Phật giáo đời Minh), thạch quật Đại túc ở Tứ xuyên (có 10 chỗ quan trọng: Bắc sơn, Bảo đính, Nam sơn, Thạch môn thôn, Thạch triệu sơn, Diệu cao tự, Thư thành nham, Thất củng kiều, Phật an kiều, Triều dương động, Ngọc than...) đều rất nổi tiếng và giá trị nghiên cứu cũng rất cao. Rồi đến các di tích Phật giáo ở chân núi phía nam dọc theo dãy núi Thiên sơn, phần lớn đều là các chùa viện thạch quật, như động Thiên Phật Khố mộc thổ lạt ở Khố xa (Kucha) tại Tân cương, Tân tân Thiên Phật động, Khố tư ca hạp Thiên Phật động, Mê ngụy Thiên Phật động và Cưu tư (Kizil) Thiên Phật động... được đục mở từ thế kỉ IV, V đến thế kỉ VIII, IX. Trong đó, Cưu tư Thiên Phật động có tính tiêu biểu hơn cả, là chùa viện thạch quật lớn nhất ở vùng Tây vực, tọa lạc bên Bắc ngạn sông Mộc trát đặc, chiều đôngtâychạy dài 2km, gồm 3 quần thể thạch quật (Khắc đôn nhĩ, Đài đài nhĩ, Ôn ba thập) với hơn 200 hang động, trong đó chứa đựng các bích họa về truyện tiền thân của đức Phật, rất đậm sắc thái Iran. Còn Bối sa khắc lỗ khắc

thạch quật am

(石窟庵) Một trong các kiến trúc thạch quật nổi tiếng của Hàn quốc, là kiệt tác cao nhất về nghệ thuậtthạchkhắc ở Tân la. Am nằm ở sườn phía đông đỉnh núi Thổ hàm trên mặt nước biển 600m, cách thành phố Khánh châu thuộc tỉnh (đạo) Khánh thượng bắc 16km, phía tây nam am có chùa Phật quốc nổi tiếng. Am này do ngài Kim đại thành sáng lập vào năm Tân la Cảnh đức vương thứ 10 (751), phỏng theo hình thức thạch quật Vân cương và Long môn của Trung quốc, được đục mở dựa theo vách núi, nhưng các khối đá hoa cương sử dụng trong am lại được đưa từ nơi khác đến. Thạch quật theo thứ tự được chia ra 3 khu: Tiền thất, Phi đạo và Viên thất. Tiền thất là các tượng điêu khắc Thiên long bát bộ chúng, 2 bên Phi đạo là Kim cương lực sĩ và Tứ đại thiên vương. Ngay phía sau chính giữa Viên thất có một đài sen thạch khắc, trên đài sen là tượng điêu khắc Phật Thích ca. Ngay chính giữa phía sau Bản tôn, có khắc tượng Quan thế âm 11 mặt đứng, 2 bên Quán âm là tượng đứng của 10 vị đệ tử lớn như A nan..., ở gần cửavàocủa Viên thất có 4 tượng điêu khắc là Văn thù, Phổ hiền, Đế thích thiên và Phạm thiên. Giếng trời (một loại khung trang trí)trên vòm nóc thất cũng bằng đá, có khắc hoa sen rất trang nghiêm. Ở phía trước tượng Quan âm vốn có một tòa tháp 5 tầng, nhưng hiện nay không còn. Nhờ cách xa làng xóm nên thạch quật này đã tránh được nạn binh lửa qua nhiều thời đại. Vào thời kì người Nhật chiếm cứ, thạch quật này được sửa chữa 3 lần, nhưng vì tu bổ tùy tiện nên đã làm cho phần tạo hình nguyên thủy bị phá hoại. Đến năm 1962, chính phủ Hàn quốc đã xếp thạch quật này vào hàng những di sản văn hóa quí trọng của quốc gia, đồng thời cho trùng tu toàn diện. Có thuyết cho rằng phía trước thạch quật này vốn có một ngôi chùa Thạch Phật, nhưng rất tiếc đã bị đổ nát, Thạch quật am này chính là phần phụ thuộc của ngôi chùa ấy. Lại có chỗ nói thạch quật này cũng có tên là Thạch Phật tự. [X. Triều tiên Phật giáo chi tự dữ lịch sử].

thạch quật tự

(石窟寺) Chùa nằm cách huyện lị huyện Củng tỉnh Hà nam về phía tây bắc 1km. Sau lưng chùa là núi Mang, trước mặt chùa là sông Lạc. Vì ở trên sườn núi sa nham có đục rất nhiều hang đá nên gọi là Thạch quật tự. Chùa được sáng lập vào năm Hi bình thứ 2 (517) đời Bắc Ngụy, có thuyết nói chùa được xây cất vào khoảng năm Cảnh minh (500-503), vốn có tên là Hi huyền tự, đời Tống đổi là Thập phương Tịnh độ tự, đời Thanh mới đổi tên như hiện nay. Các đời Đông Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Tề, Tùy, Đường, Bắc Tống... tiếp nối nhau mở hang động, tạo tượng. Hiện nay còn 5 hang động với 7743 pho tượng Phật và mấy mươi thiên đề kí. Hang động thứ nhất nhỏ hơn cả, chỉ rộng khoảng 4m2, 2 bên phía trong cửa có khắc bức tranh Vua và Hoàng hậu lễ Phật, 3 vách còn lại khắc tượng Phật và các sự tích tiền thân của Phật. Ở góc vách khắc hình thần vương, quái vật, kĩ nhạc. Tranh Vua và Hoàng hậu lễ Phật được chia làm 3 lớp 6 nhóm, mỗi lớp có các vị tỉ khưu và tỉ khưu ni đi trước dẫn đường, vua, hoàng hậu và những người tùy tùng tiền hô hậu ủng, phản ảnh tín ngưỡng tông giáo của nhà vua. Các tượng điêu khắc này phần nhiều đã bị phá hư, rồi người sau tu bổ lại và chính vì thế mà làm mất đi cái vẻ mặt nguyên bản, nhưng hình ảnh thì đơn giản, sinh động, là các tượng khắc tương đối vẫn hoàn chỉnh trong các phù điêu hiện còn ở Trung quốc. Hang động thứ 2, thứ 3, dựa vào sự cấu tạo của chúng mà suy đoán thì gần như là các tác phẩm của cùng một người. Mỗi mặt của cây cột vuông ở chính giữa có khám thờ Tam tôn Phật và 2 vị La hán. Trên 4 mặt vách đều khắc tượng Phật thiên thể, chư thiên tấu nhạc và đoàn người cúng dường xếp thành hàng. Hang động thứ 4 gồm hai hang Đông và Tây. Hang Đông có Tam tôn Phật được khắc tạo vào đời Bắc Ngụy, phía trên có bài minh khắc vào tháng 10 niên hiệu Hàm hanh năm đầu (670) đời Đường, ở 2 bên đều có khám thờ Phật. Trên vách mé tây mặt trước của hang Tây cũng có 3 khám lớn nhỏ thờ Phật, một trong 3 cỗ khám ấy có bài minh được khắc vào tháng 8 năm Càn phong thứ 2 (667) đời Đường. Trên vách ngăn đôi 2 hang Đông và Tây còn có khám thờ Phật 3 tầng, trong có bài minh cho biết các tượng Phật trong khám 3 tầng này đều được khắc tạo vào các năm Long sóc thứ 2 (662) và Long sóc thứ 3 (663) đời Đường. Bởi vì lúc đầu, trong các thạch quật này chỉ khắc có Tam tôn Phật mà thôi, đến đời Đường mới đục mở thêm nhiều Phật khám. Hang động thứ 5 có hình vuông, diện tích lớn nhất, rộng khoảng 7m, thiên tỉnh (khung trang trí trên vòm nóc động) cũng cao khoảng 7m. Trên mặt vách ở 2 bên phía ngoài của cửa vào có khắc tượng Kim cương lực sĩ, vách phía đông đã đổ nát, vách phía tây thì có khám thờ Phật cỡ nhỏ, trong đó có các bài minh được khắc vào các năm Diên tải năm đầu (694), Cửu thị năm đầu (700) và Hàm thông thứ 8 (867). Ở chính giữa có cây cột vuông khoảng 3m, ở4mặt đều có khắc khám thờ Phật cỡ lớn. Trên vách 3 phía đông tây bắc ở trong hang động, mỗi vách đều đục mở 4 khám thờ Phật, an trí Tam tôn Phật, phần trên đều tạo tượng Phật thiên thể. Trên vách ở 2 bên cửa vào phía trước cũng giống như hang thứ 2 và thứ 3, trên đó có 3 lớp phù điêu, khắc tranh nhân vật cúng dường xếp thành hàng, trên mặt vách cũng khắc tượng Phật thiên thể và tranh chư thiên tấu nhạc... Tóm lại, đặc sắc chung của 5 thạch quật trên đây là trong mỗi thạch quật có làm cột hình vuông, nhìn vào thủ pháp thì đây là thừa kế nghệ thuật thạch khắc Vân cương, Long môn, được đục mở, kiến tạo vào thời Bắc Ngụy mà thành. Nhưng không rõ hoặc vì đã lâu đời mà bị phá hủy, hay vì đã qua nhiều lần tô đắp mà hiện tại chỉ có bài minh tạo tượng ở thạchquật thứ nhất được khắc vào năm Thiên bình thứ 3 (536) đời Đông Ngụy là còn, ngoài ra các bài minh khác khắc vào đời Bắc Ngụy thì không thấy nữa. Giữa các vách đá của động thứ 4, thứ 5 có khám thờ Phật, bên trong thờ 3 tượng Phật ma nhai(tức tượng được khắc vào sườn núi) lớn, hơn phân nửa các Phật khám to lớn đã bị phá hoại, tượng Bồ tát đứng hầu bên trái đã mất; còn phần trên của tượng Bồ tát đứng hầu bên phải cũng bị hư hại, tuy nhiên vẫn còn biểu hiện rất rõ cái đặc chất của nghệ thuật điêu khắc thời Bắc Ngụy. Bản tôn là tượng Phật Thích ca đứng, hiển thị phong cách Bắc Ngụy, nhưng từ đầu gối trở xuống đã bị chôn vùi trong đất. Ngoài ra, trong tấm bia được khảm vào vách bên ngoài đạiđiện của chùa này còn giữ được bài tháp minh và lời tựa của ngài Diễn công (Minh diễn), 1 bậc Đại đức của Thiền tông đời Đường, đồng thời, sân trước của chùa cũng còn giữ được tấm bia của Đại sư Bảo nguyệt chùa Tịnh độ được dựng vào tháng 12 năm Thiệu thánh thứ 3 (1096) đời Tống. [X. Cổ kim đồ thư tập thành chức phương điển 434]. (xt. Thạch Quật, Củng Huyện Thạch Quật).

thạch sương

(石霜) I. Thạch Sương (807-888). Chỉ cho Đại sư Phổ hội Khánh chư sống vào đời Đường. Ngài trụ ở núi Thạch sương 20 năm, mở mang Thiền phong, trong số đại chúng tham học, có nhiều vị tăng ngồi mãi không nằm, sừng sững như những gốc cây, người đời gọi là Thạch sương khô mộc chúng (Chúng cây khô ở Thạch sương). (xt. Khánh Chư). II. Thạch Sương (986-1039). Thiền sư Trung quốc sống vào đời Tống, là pháp tôn đời thứ 6 của ngài Lâm tế Nghĩa huyền, người Toàn châu, tỉnh Quảng tây, họ Lí, tên là Sở viên, tự Từ minh, trụ ở núi Thạch sương, thuộc Đàm châu, tỉnh Hồ nam.Thủa nhỏ, sư là một Nho sinh, năm 22 tuổi xuất gia ở chùa Ẩn tĩnh tại Tương sơn, nối pháp ngài Phần dương Thiện chiêu. Sau đó, sư đi tham họccác nơi như Sơn tây, Giang tây, Hồ nam... giao du rất rộng. Dưới sư, mở ra 2 phái Dương kì và Hoàng long. Năm Bảo nguyên thứ 2 (1039) đời vua Nhân tông nhà Tống, sư tịch, thọ 54 tuổi. Đệ tử xây tháp thờ sư ở núi Thạch sương. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.12; Tục truyền đăng lục Q.3]. (xt. Sở Viên).

Thạch Sương Khánh Chư

石霜慶諸; C: shíshuāng qìngzhū; J: sekisō kei-sho; 807-888/889;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Ðạo Ngô Viên Trí.|Sư con nhà họ Trần, quê ở Tân Cang, Lô Lăng. Ban đầu Sư theo học Luật nhưng cho đây không phải là pháp môn đốn ngộ, bèn đến Quy Sơn Linh Hựu và làm chức giữ kho (tri khố). Một hôm Sư sàng gạo, Quy Sơn đến bảo: »Vật của thí chủ chớ để rơi rớt.« Sư thưa: »Chẳng dám rơi rớt.« Quy Sơn lượm từ dưới đất một hạt gạo lên hỏi: »Chẳng rơi rớt, đây là cái gì?« Sư không đáp được, Quy Sơn lại nói: »Chớ xem thường một hạt này, trăm ngàn hạt đều từ một hạt này sinh.« Sư thưa: »Trăm ngàn hạt từ một hạt này sinh, chẳng biết hạt này từ đâu sinh?« Quy Sơn cười ha hả rồi trở về phương trượng. Buổi chiều, Quy Sơn thượng đường bảo: »Ðại chúng! Trong gạo có sâu, các ngươi hãy khéo xem!«|Sau, Sư đến Ðạo Ngô. Sư hỏi: »Thế nào chạm mắt là Bồ-đề?« Ðạo Ngô gọi: »Sa-di!« Sư ứng: »Dạ!« Ðạo Ngô bảo: »Thêm nước trong tịnh bình«. Im lặng giây lâu Ðạo Ngô lại hỏi Sư: »Vừa rồi hỏi cái gì?« Sư toan thuật lại, Ðạo Ngô liền đứng dậy đi. Sư nhân đây có tỉnh.|Một hôm, Ðạo Ngô nói với chúng: »Ta trong tâm có một vật để lâu thành bệnh, có người nào hay vì ta dẹp?« Sư thưa: »Tâm vật đều không, trừ đó càng thêm bệnh.« Ðạo Ngô nói: »Lành thay! Lành thay!«|Sau đó khoảng hai năm, Sư rời Ðạo Ngô, đến Lưu Dương ở ẩn, sáng đi tối về không ai hay. Sau, Ðộng Sơn Lương Giới nhân lời nói của một thiền khách biết được Sư tại đây và từ đây chúng quanh lại thỉnh Sư trụ trì núi Thạch Sương. Sư trụ ở Thạch Sương 20 năm, dạy môn đệ rất kỉ luật, học chúng thường ngồi chẳng nằm vì vậy người ta thường gọi là »Chúng cây khô« (石霜枯木眾; Thạch Sương khô mộc chúng). Vua Ðường Hiến Tông quý trọng đạo hạnh của Sư, ban cho tử y (ca-sa tía), nhưng Sư từ chối không nhận.|Niên hiệu Quang Khải năm thứ tư (889), ngày 20 tháng 2 năm Mậu Thân, Sư có chút bệnh rồi tịch, thọ 82 tuổi, 59 tuổi hạ. Vua sắc phong là Phổ Hội Ðại sư, tháp hiệu Kiến Tướng.

thạch sương sơn

(石霜山) Cũng gọi Sương hoa sơn. Tên núi, nằm cách huyện Lựu dương, tỉnh Hồ nam 46km về phía tây nam. Phía nam giáp Lễ lăng, phía bắc giáp núi Động dương. Trên núi có chùa Sùng thắng, là nơi Thiền sư Phổ hội Khánh chư đời Đường đã cư trụ trong 20 năm. Vào năm Bảo nguyên thứ 2 (1039) đời vua Nhân tông nhà Bắc Tống, khi Thiền sư Sở viên thị tịch cũng được an táng ở núi này. Ngài Sở viên lúc cuối đời tuy có dời đến chùa Hưng hóa ở Đàm châu, nhưng thời kì sư mở mang tông phong Lâm tế đến độ toàn thịnh lại diễn ra ở Thạch sương, vì vậy nên an táng sư ở núi này. Trong các tùng lâm đương thời, tông Lâm tế là hưng thịnh nhất; dưới cửa ngài Sở viên lại mở ra 2 phái Hoàng long và Dương kì, vì thế ngài Thạch sương Sở viên rất nổi tiếng. [X. Đại minh nhất thống chí Q.63; Đại thanh nhất thống chí Q.276].

Thạch Sương Sở Viên

(石霜楚圓, Sekisō Soen, 986-1039): tức Từ Minh Sở Viên (慈明楚圓), vị tổ đời thứ bảy của Lâm Tế Tông Trung Quốc, người vùng Toàn Châu (全州, thuộc Tỉnh Quảng Tây), họ là Lý (李). Hồi nhỏ ông là thư sinh, đến năm lên 22 tuổi ông xuất gia tại Ẩn Tỉnh Tự (隱靜寺), Tương Sơn (湘山, thuộc Tỉnh Giang Tây ngày nay), rồi đến tham vấn với Thiện Chiêu (善昭) ở Phần Dương (汾陽) và kế thừa dòng pháp của vị nầy. Ngoài ra, ông còn đến tham yết với Đường Minh Tung (唐明嵩) nữa. Lần đầu tiên ông hóa đạo tại Nam Nguyên Sơn Quảng Lợi Thiền Viện (南源山廣利禪院), ở Viên Châu (袁州, thuộc Tỉnh Giang Tây ngày nay), rồi chuyển đến trú tại các chùa thuộc vùng Đàm Châu (潭州) như Thạch Sương Sơn Sùng Thắng Thiền Viện (石霜山崇勝禪院), Nam Nhạc Sơn Phước Nghiêm Thiền Viện (南岳山福嚴禪院), Hưng Hóa Thiền Viện (興化禪院). Đến năm thứ hai (1039) niên hiệu Bảo Nguyên (寳元), ông viên tịch, hưởng thọ 54 tuổi. Môn nhân của ông là Hoàng Long Huệ Nam (黃龍慧南) biên tập cuốn Từ Minh Thiền Sư Ngữ Lục (慈明禪師語錄) 1 quyển, ngoài ra còn có Từ Minh Thiền Sư Ngữ Yếu (慈明禪師語要) 1 quyển. Dòng pháp từ của ông có Hoàng Long Huệ Nam (黃龍慧南) và Dương Kì Phương Hội (楊岐方會) là hai nhân vật kiệt xuất nhất; sau nầy hai người đã phân thành 2 dòng phái khác là Dương Kì (楊岐) và Hoàng Long (黃龍). ; 石霜楚圓; C: shíshuāng chǔyuán; J: sekisō soen; 986-1039, còn được gọi là Từ Minh (慈明);|Thiền sư Trung Quốc tông Lâm Tế, nối pháp của Thiền sư Phần Dương Thiện Chiêu. Sư có nhiều đệ tử đắc pháp nhưng có hai vị trội hơn hết, sáng lập ra hai hệ phái trong tông Lâm Tế là Hoàng Long Huệ Nam và Dương Kì Phương Hội.|Sư họ Lí quê ở Toàn Châu, xuất gia năm 22 tuổi. Mẹ Sư khuyến khích Sư đi du phương. Nghe danh Phần Dương là thiện tri thức bậc nhất, Sư tìm đến bất chấp mọi khó khăn. Phần Dương thấy Sư liền thầm nhận cho nhập hội.|Sư ở hai năm mà chưa được riêng dạy, mỗi lần vào thưa hỏi chỉ bị mắng chửi, nghe Phần Dương chê bai những vị Tôn túc khác, hoặc dùng những lời thô kệch. Một hôm Sư trách: »Từ ngày đến bây giờ đã hai năm mà chẳng được dạy bảo, chỉ làm tăng trưởng niệm thế tục trần lao, năm tháng qua nhanh việc mình chẳng sáng, mất cái lợi của kẻ xuất gia.« Phần Dương nhìn thẳng vào mặt Sư mắng: »Ðây là ác tri thức dám chê trách ta« và cầm gậy đánh. Sư toan la cầu cứu, Phần Dương liền bụm miệng Sư. Sư bỗng nhiên đại ngộ, nói: »Mới biết đạo Lâm Tế vượt ngoài thường tình.« Sư ở lại hầu hạ thầy bảy năm.|Sau, Sư trụ ở Thạch Sương. Nhân ngài giải hạ, Sư dạy chúng:|Ngày xưa làm trẻ con, hôm nay tuổi đã già, chưa rõ ba tám chín, khó đạp đường ngôn ngữ khéo léo. Tay quét Hoàng hà khô, chân đạp Tu-di ngã, phù sinh thân mộng huyễn, mệnh người đêm khó giữ. Thiên đường địa ngục đều do tâm tạo ra, núi Nam tùng ngọn Bắc, ngọn Bắc cỏ núi Nam. Một giọt thấm vô biên, gốc mầm mạnh khô kháo, tham học vào năm hồ, chỉ hỏi hư không thảo. Chết cởi áo trời hạ, sinh đắp mền trăng đông, rõ ràng người vô sự, đầy đất sinh phiền não.|Sư nói xong hét một tiếng rồi xuống toà.|Sư hoằng hoá tại Thạch Sương, môn phong Lâm Tế rất thịnh hành. Một hôm, sau khi thăm người bạn đạo Lí Công xong, Sư cùng thị giả trở về. Giữa đường, Sư bảo thị giả: »Ta vừa bị bệnh phong.« Nhìn thấy Sư bị bệnh phong giật méo qua một bên, thị giả dậm chân nói: »Tại làm sao lúc bình thường quở Phật mắng Tổ, hôm nay lại như vậy?« Sư bảo: »Ðừng lo, ta sẽ vì ngươi sửa lại ngay«. Nói xong, Sư lấy tay sửa miệng lại ngay như cũ và nói: »Từ nay về sau chẳng nhọc đến ngươi.«|Năm 1041, Sư đến Hưng Hoá. Ngày mùng năm tháng giêng, Sư tắm gội xong từ biệt chúng rồi ngồi kết già an nhiên thị tịch, thọ 54 tuổi, 32 tuổi hạ.

thạch sương sở viên thiền sư ngữ lục

(石霜楚圓禪師語錄) Gọi đủ: Từ minh thiền sư ngũ hội trụ trì ngữ lục. Cũng gọi: Từ minh hòa thượng ngữ lục. Ngữ lục, 1 quyển, do ngài Thạch sương Sở viên soạn vào đời Tống, ngài Hoàng long Tuệ nam biên lại, được thu vào Vạn tục tạng tập 120. Nội dung biên tập các pháp ngữ thị chúng, thướng đường của ngài Sở viên nói ở chùa Quảng lợi tại Viên châu, ở núi Đạo ngô tại Đàm châu, ở viện Sùng thắng tại núi Thạch sương thuộc Đàm châu, ở chùa Phúc nghiêm tại núi Nam nhạc và các phần cơ duyên, khám biện, kệ tụng... Trong phần kệ tụng, ngoài Tam quyết tam cú, Tam huyền tam yếu của tông Lâm tế ra, còn có Ngũ vị tụng của tông Tào động. Ngoài ra, Cổ tôn túc ngữlụcquyển 11 trong Vạn tục tạng tập 118 có trích in các ngữ yếu của ngài Sở viên, lấy tên là Từ minh thiền sư ngữ lục.

thạch sương thiền sư

Zen master Shi-Shuang—See Khánh Chư Thiền Sư.

thạch sương thất khứ

(石霜七去) Bảy chữ khứ(đi, bỏ qua)của ngài Thạch sương. Đệ tử nối pháp của Thiền sư Thạch sương Khánh chư (807-888) đời Đường là ngài Cửu phong Đạo kiền dùng 7 ngữ cú mà Thiền sư Thạch sương lúc sinh tiền thường nói khi khai thị người học để xét nghiệm Thủ tọa, đồng thời cho rằng 7 câu này là thái độ tu hành mà người học cần phải có. Trong 7 ngữ cú này, chữ cuối của mỗi ngữ cú đều là chữ Khứ, vì thế gọi chung là thất khứ. Đó là: 1. Hưu khứ (thôi đi): Đình chỉ tất cả mọi hành vi động tác. 2. Hiết khứ (nghỉ đi, dứt đi): Dứt bặt tất cả kiến giải phân biệt, đối lập như thân với tâm, năng với sở... 3.Lãnh tưu tưu địa khứ (lạnh mát rời rợi đi): Dập tắt tất cả sự nhiệt não về mêngộ, phàm thánh để đạt đến cảnh giới mát rợi.4. Nhất niệm vạn niên khứ (hãy như một niệm vạn năm đi): Giữ gìn một niệm như như bất động. 5. Hàn khôi khô mộc khứ(tro lạnh cây khô đi): Không còn mảy may hình thức phân biệt.6. Cổ miếu hương lư khứ (lò hương miếu cũ đi): Hãy trừ bỏ hết chấp trước, giống như tàn nhang trong miếu xưa bay hết. 7. Nhất điều bạch luyện khứ (một loạt trắng tinh đi): Trong quá trình lãnh ngộ Phật pháp, bất luận đối với Chính vị (tiêu biểu chokhông giới chân như) hay Thiên vị (tiêu biểu cho sắc giới hiện tượng) đều phân minh rõ ràng, không có bất cứ một vết nhơ nghi ngại nào, giống như tấm lụa trắng phau thuần khiết không nhuộm màu vậy.[X. Hư đường tập, tắc 38; Thiết văn thụ hòa thượng bách tắc bình tụng].

thạch tháp

(石塔) Cũng gọi Thạch tốt đổ ba, Thạch tháp bà, Suất tháp bà, Thạch phù đồ, Thạch phật đồ.Một trong các loại tháp bà (Phạm: Stùpa). Vốn là vật kiến trúc được tạo lập để thờ xá lợi Phật, về sau thường được dùng làm bia mộ, như tháp mộ, đá mộ, bia mộ, nên cũng gọi là Thạch bi, được xây dựng để kỉ niệm người chết và tiêu biểu cho đức của họ. Theo kinh Du hành trong Trường a hàm quyển 3, đức Phật dạy trong thế gian có 4 hạng người nên xây tháp để ghi nhớ, đó là Như lai, Bích chi phật, Thanh văn, và Chuyển luân vương. Và để nêu rõ sự sai biệt giữa Như lai và phàm phu, sự cấu tạo tháp cũng có tầng bậc khác nhau. Như tháp Ngũ luân trong Thai tạng giới của Mật giáo là hình Tam muội da tượng trưng đức Đại nhật Như lai. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 9 thì biết Ấn độ đã có chế độ tháp mộ rất sớm. Ở Trung quốc xưa nay vốn có chế độ bia mộ được dựng theo lăng mộ, bậc vua chúa và người giàu có còn tạc người bằng đá, thú vật bằng đá, cửa khuyết bằng đá..., sau khi Phật giáo truyền đến thì lại dựng thêm bia tháp. Từ thời Lục triều về sau sự tạo lập tháp mộ đã lưu hành rộng rãi, những tháp hiện còn phầnnhiều được tạo lập từ các đời Tùy, Đường về sau. Thạch tháp có rất nhiều chủng loại, như tháp 4 góc 7 tầng, 6 góc 5 tầng, 13 tầng, 9 tầng..., hình dáng và số tầng đều có khác nhau; lại có loại tháp vô phùng, 1 trong đó mang hình quả trứng, gọi là Noãn tháp. [X. phẩm Tứ ý đoạn trong kinh Tăng nhất a hàm Q.19; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.18; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2; Bạch mã tự trong Lạc dương già lam kí Q.4; Pháp uyển châu lâm Q.29; Lâm gian lục Q.thượng; môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Tháp).

thạch thất hành giả

(石室行者) Chỉ cho Thiền sư Thạch thất Thiện đạo thuộc hệ thống ngài Thanh nguyên Hành tư đời Đường. Thạch thất nghĩa là nhà giã gạo. Ngài Thiện đạo nối pháp Thiền sư Trường tề khoáng ở Đàm châu, sau khi thụ giới, sư tham yết ngài Thạch đầu Hi thiên được đại ngộ. Sau khi đắc pháp thì gặp đúng lúc pháp nạn, sư liền bỏ hình thức tăng mà làm hành giả (người chưa xuất gia) và ở trong nhà giã gạo. Tuy sư ở trong nhà giã gạo mà vẫn không quên việc xiển dương Phật pháp, vì thế trong Thiền lâm gọi sư là Thạch thất hành giả. [X. Thiền lâm khẩu thực hỗn danh tập Q.thượng].

thạch thất quốc

(石室國) Chỉ cho nước Đát xoa thủy la (Phạm: Takwazila, Hán dịch là Tiệt đầu quốc) nằm về phía đông nam nước Kiện đà la, Bắc Ấn độ. Thời quá khứ xa xưa, đức Thích tôn còn là Bồ tát từng ở nước này đem đầu của mình bố thí cho người. Vì ứng hợp với truyền thuyết bố thí đầu, cho nên từ chữ Thủy la (Phạm:Zilà) có nghĩa là Thạch biến thành chữ Thi la (Phạm: Ziras) có nghĩa là Đầu. (xt. Đát Xoa Thủy La Quốc).

thạch trụ

Stone pillar.

thạch tượng

(石象) Chỉ cho con voi khắc bằng đá hoặc voi đã hóa thành đá. Cứ theo Đại minh nhất thống chí thì trong trang trại voi ở phủ Hà nam có thạch tượng, đó là do thời Đông Hán các vị tăng từ Tây trúc dùng voi chở kinh Phật đến Lạc dương, sau hóa thành đá.

Thạch Vũ Minh Phương

(石雨明方, Sekiu Myōhō, 1593-1648): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, tự là Thạch Vũ (石雨), sinh ngày 29 tháng giêng năm thứ 21 (1593) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆) nhà Minh, xuất thân Võ Đường (武塘), Phủ Gia Hưng (嘉興府, Tỉnh Triết Giang), họ là Trần (陳). Ông đến tham học và xuất gia với Tây Trúc Tông (西築宗). Vào năm thứ 43 (1615) niên hiệu Vạn Lịch, ông đến tham yết Trạm Nhiên Viên Trừng (湛然圓澄) ở Thạch Phật Tự (石佛寺), Gia Hưng (嘉興). Tu hành khắc khổ trong vòng 7 năm, cuối cùng ông kế thừa dòng pháp của vị này. Đến năm thứ 5 (1632) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), ông làm trú trì Thiên Hoa Tự (天華寺) ở Phủ Thiệu Hưng (紹興府, Tỉnh Triết Giang) và sau đó từng sống qua các chùa khác như Vân Môn Thánh Hiển Tự (雲門聖顯寺), Bảo Thọ Sơn Quang Hiếu Tự (寶壽山光孝寺) ở Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), Di Sơn Tây Thiền Tự (怡山西禪寺), Tuyết Phong Tự (雪峰寺) ở Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), Linh Sơn Tự (靈山寺) ở Đinh Châu (汀州, Tỉnh Phúc Kiến), Phổ Minh Tự (普明寺) ở Phủ Kiến Ninh (建寧府, Tỉnh Phúc Kiến), Linh Phong Tự (靈峰寺) ở Khảo Đình (考亭), Long Môn Sơn Ngộ Không Tự (龍門山悟空寺) ở Hàng Châu, Đông Tháp Quảng Phước Tự (東塔廣福寺) ở Phủ Gia Hưng (嘉興府, Tỉnh Triết Giang), Cao Đình Sơn Phật Nhật Tự (皐亭山佛日寺) ở Hàng Châu, Tượng Điền Tự (象田寺) và Lan Ngạc Sơn Tự (蘭萼山寺) ở Phủ Thiệu Hưng (紹興府). Vào ngày mồng 8 tháng giêng năm thứ 5 (1648) niên hiệu Thuận Trị (順治), ông thị tịch, hưởng thọ 56 tuổi đời và 35 hạ lạp. Môn nhân là Viễn Môn Tịnh Trú (遠門淨住) biên tập bộ Thạch Vũ Thiền Sư Pháp Đàn (石雨禪師法檀) 20 quyển và soạn bản Hành Trạng (行狀).

thạch vũ thiền sư pháp đàn

(石雨禪師法檀) Cũng gọi Thạch vũ pháp đàn. Tác phẩm, 20 quyển, do ngài Thạch vũ Minh phương soạn vào đời Minh, ngài Viễn môn Tịnh trụ biên tập, ấn hành vào năm Thuận trị thứ 6 (1649) đời Thanh. Nội dung sách này biên tập các ngữ lục, phổ thuyết, thị chúng, cơ duyên, cho đến các bài tụng cổ, tán, pháp ngữ, thi kệ, tự, kí, minh, bạt, sớ, thư vấn, Phật sự, tế văn, tạp trứ, hành trạng của ngài Minh phương đã giảng dạy hoặc biên soạn, bắt đầu từ chùa Phật nhật ở phủ Hàng châu, qua đến 13 đạo tràng tại 6 phủ, tất cả gồm 15 hội.

Thạch Ðầu Hi Thiên

石頭希遷; C: shítóu xīqiān; J: sekitō kisen; 700-790; |Thiền sư Trung Quốc, đắc đạo nơi Thanh Nguyên Hành Tư. Môn đệ của Sư có ba vị danh tiếng là Dược Sơn Duy Nghiễm, Ðan Hà Thiên Nhiên và Thiên hoàng Ðạo Ngộ.|Sư ở Hồ Nam và Mã Tổ ở Giang Tây là hai vị thầy danh tiếng nhất đương thời. Sử sách ghi lại rằng »Mã Ðại sư hoằng hoá tại Giang Tây, Thạch Ðầu Hoà thượng tại Hồ Nam và Thiện tri thức đều đến hai nơi này. Ai không yết kiến hai vị này là uổng công tu hành«.|Sư họ Trần, quê ở Cao Yếu, Ðoan Châu. Sư mộ đạo từ nhỏ, nhân nghe Lục tổ Huệ Năng giáo hoá tại Tào Khê Sư liền đến. Ðến chưa bao lâu thì Tổ báo tin sắp tịch, khuyên Sư đến Thanh Nguyên Hành Tư tham vấn. Sư đến Thiền sư Hành Tư và nhân đây ngộ đạo. Sau, Sư đến Hoành Nhạc tại Nam Tự cất am tranh ở. Cạnh chùa có đồi đá cao nên thời nhân kính trọng gọi Sư là Hoà thượng Thạch Ðầu.|Có vị tăng hỏi: »Thế nào là giải thoát?« Sư đáp: »Ai trói ngươi?« Tăng hỏi: »Thế nào là →Tịnh độ?« Sư đáp: »Cái gì làm nhơ ngươi?« Tăng hỏi: »Thế nào là →Niết-bàn?« Sư đáp: »Ai đem sinh tử cho ngươi?«|Ðời Ðường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ sáu, ngày rằm tháng chạp Sư viên tịch, thọ 91 tuổi, được 63 tuổi hạ. Vua sắc phong là Vô Tế Thiền sư, tháp hiệu Quy Sơn.

thạch đào

(石濤) Danh tăng Trung quốc sống vào đời Minh, người ở Thanh tương, tỉnh Quảng tây, có thuyết nói người ở Quế lâm. Sư nổi tiếng về thư họa, là 1 trong 4 vị tăng trứ danh cuối đời Minh (Minh mạt tứ tăng) trong lịch sử hội họa Trung quốc. Sư vốn là Chu nhược cực, tôn thất (họ vua) của triều Minh. Từ nhỏ, thấy mầm mống nội loạn của nhà Minh, sư đã gửi mình nơi cửa Phật. Sư từng theo học ngài Bản nguyệt. Ngoài Phật học, sư còn theo học cả thư họa, thi văn(viết các kiểu chữ, vẽ tranh, làm thơ, soạn văn). Sau khi nhà Minh diệt vong, sư xuất gia làm tăng, lấy pháp danh là Nguyên tế, sau đổi thành Đạo tế, hiệu Đại địch tử, Thanh tương lão nhân. Về già, sư lấy các biệt hiệu là Hạt tôn giả, Lão đào, Chi hạ tẩu và tự xưng là Khổ qua hòa thượng. Sư bẩm tính ngay thẳng, không ưa bợ đỡ người khác, từng nuôi chí phản Thanh phục Minh(đánh đổ nhà Thanh, khôi phục nhà Minh). Sau thấy vận thế nhà Minh đã hết, sư bèn vân du các nơi Tiêu tương, Động đình, Lô sơn... Lúc trung niên, sư thường ở Tuyên thành thuộc tỉnh An huy và thường du ngoạn Hoàng sơn, tự cho rằng mình đã lãnh hội được tính Hoàng sơn, tranh sơn thủy của sư lấy Hoàng sơn làm cốt mạch, từ đó mở ra phái Hoàng sơn.Về già, sư định cư ở Dương châu, giao du rất rộng, tiếng tăm ngang với Thạch khê Khôn tàn, được gọi chung là Nhị thạch. Bình sinh, sư giỏi về hội họa, nhất là tranh sơn thủy, lan, trúc, hình thức trang nhã, cổ kính, người đương thời suy tôn sư là Giang Nam Đệ Nhất. Sư cũng giỏi về thư pháp, khắc ấn, nhất là kiểu chữ Lệ, thơ văn cũng hay. Những họa phẩm của sư phần nhiều mang đậm ý Thiền, ảnh hưởng rất lớn đối với đời sau. Sau có các tác phẩm: Đại địch tử đề

thạch đầu hi thiên

(石頭希遷) Cũng gọi Vô tế đại sư. Thiền sư Trung quốc sống vào đời Đường, người ở Cao yếu, Đoan châu (Cao yếu, Quảng đông), họ Trần. Sư thông minh lanh lợi từ thủa nhỏ. Vì dân làng sợ hãi quỉ thần nên thường giết trâu, nấu rượu để cúng tế, gây rất nhiều tệ hại. Sư liền phá bỏ miếu thờ thần, dắt trâu đem về. Sư từng lễ các ngài Lục tổ Tuệ năng và Thanh nguyên Hành tư làm thầy, được Thanh nguyên Hành tư ấn khả. Khoảng đầu năm Thiên bảo (742-755), sư trụ ở chùa Hành sơn nam, kết am tọa thiền trên tảng đá phía đông chùa, do đó, người đời gọi sư là Thạch đầu hòa thượng. Sư tự cho rằng pháp môn của mình không bàn thiền định có tinh tiếnhay không, mà chỉ cần rõ suốt tri kiến của Phật, chính là Tức tâm tức Phật; tâm, Phật, chúng sinh, bồ đề, phiền não, tên tuy khác nhưng thể thì là một. Các Thiền sư Hoài nhượng... đều kính trọng sư. Bấy giờ, ở tỉnh Giang tây, đứng đầu là ngài Mã tổ; ở tỉnh Hồ nam, đứng đầu là ngàiThạch đầu, người học từ 4 phương phần nhiều đều qui tụ dưới tòa của 2 ngài. Tháng 12 năm Trinh nguyên thứ 6 (790), sư thị tịch, thọ 91 tuổi. Sư có các tác phẩm: Tham đồng khế 1 thiên, Thảo am ca 1 thiên.

Thạch Đầu Hy Thiên

(石頭希遷, Sekitō Kisen, 700-790): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, còn được gọi là Vô Tế Đại Sư (無際大師), người vùng Cao Yếu (高要), Đoan Châu (端州, Cao Yếu, Quảng Đông), họ Trần (陳). Ông bản tánh rất thông minh, lanh lợi, nhân thấy người dân trong làng thường giết bò tế quỷ thần, nhiều lần như vậy, ông bèn phá đền thờ thần rồi dẫn bò về nhà. Ban đầu ông theo hầu hạ Huệ Năng (慧能), rồi sau khi thầy mình qua đời, ông chuyển sang làm đệ tử của Thanh Nguyên Hành Tư (青原行思) ở Cát Châu (吉州, Tỉnh Giang Tây), và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm đầu niên hiệu Thiên Bảo (天寳, 742-755), ông sống tại Nam Tự (南寺), Hành Sơn, làm am tranh trên tảng đá ở phía Đông chùa mà ngồi Thiền, nên được người đời gọi là Hòa Thượng Thạch Đầu (石頭). Đương thời ở Giang Tây (江西), Mã Tổ là chủ, còn ở Hồ Nam (湖南) Thạch Đầu là chủ, học đồ ở bốn phương đều tập trung về pháp tịch của 2 vị này. Tuy nhiên, giống như Thiên Hoàng Đạo Ngộ (天皇道悟), Đơn Hà Thiên Nhiên (丹霞天然) cũng đã từng tu hành dưới trướng của Mã Tổ, rồi Ngũ Duệ Linh Mặc (五洩靈黙) mà sau này được xem như là đệ tử của Mã Tổ, cũng có đến tham yết Thạch Đầu, sự qua lại giữa môn hạ của hai nhân vật này rất thường xuyên, và ta cũng thấy rằng họ có cùng một tư tưởng như nhau. Vào tháng 12 năm thứ 6 niên hiệu Trinh Nguyên (貞元) nhà Đường, ông thị tịch, hưởng thọ 91 tuổi. Trước tác của ông có Tham Đồng Khế (參同契), Thảo Am Ca (草庵歌).

thạch đầu hy thiên thiền sư

Ông sanh vào khoảng năm 700 sau Tây Lịch, quê ở làng Cao Yếu, quận Đoan Châu (bây giờ là phía Tây của Quảng Châu). Ông họ Trần. Người ta kể lại khi thọ thai ông, mẹ ông tránh ăn thịt. Khi còn rất nhỏ mà sư đã không bao giờ làm phiền ai. Đến lúc lớn khôn, lúc nào sư cũng tự an ổn vui tươi, không khi nào tỏ vẻ không bằng lòng. Nơi ông ở dân chúng kinh sợ quỷ thần nên giết bò mua rượu tế lễ. Sư một mình đi vào rừng sâu, phá đàn và thả bò đi. Khi xuất gia, sư đến Tào Khê thọ giáo với Lục Tổ Huệ Năng, nhưng chưa thọ cụ túc giới. Khi Lục Tổ tịch, ông về thọ giáo với sư huynh Hành Tư (cũng là một đại đệ tử của Lục Tổ). Ông trở thành đại đệ tử của Thiền Sư Hành Tư, và từ đó ông cũng trở thànhø một trong những thiền sư hàng đầu của Trung Quốc vào thời đại nhà Đường. Ông có tên Thạch Đầu (đầu hòn đá) do sự kiện ông sống trong một cái am mà ông tự xây trên một tảng đá lớn và phẳng. Ba trong số năm Thiền phái Trung Hoa ngày nay có nguồn gốc từ Thạch Đầu và những người kế tục ông. Ông tịch vào năm 790 sau Tây Lịch—Shih-T'ou-Hsi-T'ien was born in 700 A.D. in Cao-Yao hamlet, Duan-Chou district (west of present-day Kuang-Chou). His last name was Chen. It is said that when Shi-Tou's mother became pregnant she avoided eating meat. When he was a small child he was untroublesome. As a young man he was magnanimous. The people where he grew up feared demons and performed debased sacrifices of oxen and wine. He would go alone into the deep woods and destroy the ceremonial altars, seize the oxen, and drive them away. Later, Shi-Tou went to Tao-Xi to become a disciple of the Sixth Patriarch Hui-Neng, but did not undergo full ordination as a monk. When the Sixth Patriarch died, Shi-Tou obeyed Hui-Neng's request to go to study with Xing-Si (also one of the great disciples of the Sixth Patriarch). He later became one of the great disciples of Xing-Si Zen Master, and since then he also became one of the leading Chinese Zen masters during the T''ang dynasty. He acquired the name Shih-T'ou or rock-top from the fact that he lived in a hut he had built for himself on a large flat rock. Three of the five traditional schools of Chinese Zen traced their origins through Shi-Tou and his heirs. He died in 790 A.D.

thạch địa tạng

(石地藏) Chỉ cho tượng củabồ tát Địa tạng được tạc bằng đá. Tại Nhật bản, tượngbồ tát Địa tạng bằng đá thường được an trí bên lề đường, gọi là Nhu Phật.

thạnh

Upadana (p)—Growing.

thả

1) Trả tự do: To let go—To set free—To free—To release—To discharge. 2) Giải phóng: To liberate. 3) Hơn nữa: Moreover—yet—Meanwhile. ; (且) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thả bao hàm các ý nghĩa: Vả lại, vả chưng,hãy thế, tạm hãy thế, hãy còn, vẫn còn... Trong các sách vỡ Thiền tông như Ngữ lục hoặc Truyền đăng lục... thường có dụng ngữ thả như thả trụ (hãy tạm dừng), thả mạc (tạm thời không cần đến, hoặc hãy bỏ), thả đạo(hãy nói thử xem), thả hỉ (tất cả đều đáng mừng, hoặc dù sao cũng đáng mừng), thả như(ví dụ như, chẳng hạn như), thả thuyết(lời nói chuyển sang câu khác), thả trí(hãy tạm gác qua 1 bên)... cách dùng cũngnhư ý nghĩa của các từ này không nhất định.

thả chim

To release or let a bird go.

thả cửa

As one pleases.

thả hỉ một giao thiệp

(且喜沒交涉) Thả hỷ là vẫn đáng mừng; Một giao thiệp là chẳng liên quan gì. Tức điều đó cũng tốt, nhưng chẳng liên quan gì cả. Thiền tông thường dùng nhóm từ này để phủ định những câu nói mới nghe tựa hồ rất hay, rất đúng, nhưng thực chất thì chẳng liên quan gì cả. [X. Bích nham lục tắc 5; Thung dung lục tắc 49].

thả hỷ

So be it—Granted.

Thả như

且如; C: qiěrú; J: shonyo;|Giống như, như là.

thả trôi

Moving about without being guided—Driven by wind or water—To adrift at the mercy of the waves.

Thả ước

且約; C: qiěyuē; J: shaaku;|Theo quan điểm nầy, từ phương diện nầy.

thải

To discharge—To eliminate—To fire—To dismiss.

thải hồi

See Thải.

thảm

1) Carpet. 2) Tragic.

thảm khốc

Tragic—Cruel—Terrible.

thảm sầu

Grievous—Sad—Sorrowful.

thảm thiết

Tragic.

thảm thê

Thê thảm—Painful—Piteous.

thảm thương

Pitiful.

thảm trạng

Tragic (painful) situation.

thảm đạm

Ảm đạm—Sad—Gloomy.

thản

Bình thản—Unevenful—Even.

thản nhiên

Unimpressionable—Unmoved—Emotionless—Even-mindedness.

thản nhiên không chút động tâm trước những đau thương hay cái chết của người khác

To remain emotionless before the suffering or the death of others.

Thản phục

(坦腹): để lộ bụng ra thấy rốn, nằm phơi bụng. Trong Thế Thuyết Tân Ngữ (世說新語), phần Nhã Lượng (雅量) của Lưu Nghĩa Khánh (劉義慶, 403-444) nhà Tống thời Nam Triều có đoạn: “Khích Thái Phó tại kinh khẩu, khiển môn sinh dữ Vương Thừa Tướng thư, cầu nữ tế. Thừa Tướng ngữ Khích Tín: 'Quân vãng đông sương, nhậm ý tuyển chi.' Môn sinh quy bạch Khích viết: 'Vương gia chư lang giai khả hỷ.' Văn lai mích tế, hàm tự căng trì, duy hữu nhất lang tại đông sàng thượng thản phục ngọa, như bất văn. Khích công vân: 'Chánh thử hảo.' Phỏng chi, nãi thị dật thiểu, nhân giá nữ dữ yên (郄太傅在京口、遣門生與王丞相書、求女壻。丞相語郄信:君徃東廂、任意選之。門生歸白郄曰:王家諸郎亦皆可嘉。聞來覓壻、咸自矜持、唯有一郎在東牀上坦腹臥、如不聞。郄公雲:正此好、訪之、乃是逸少、因嫁女與焉, khi Khích Thái Phó đang ở kinh đô, sai môn sinh đem thư đến cho Vương Thừa Tướng cầu kén rễ. Thừa Tướng bảo Khích Tín rằng: 'Ngươi cứ qua bên nhà đông, tùy ý chọn lựa.' Môn sinh trở về thưa lại với Khích Thái Phó rằng: 'Các chàng trai của vương gia đều có thể vui mừng thuận theo.' Nghe vậy, ông bèn đến xem mặt chàng rễ, ai ai cũng háo hức chờ đợi, duy chỉ có một chàng nằm phơi bụng thản nhiên trên giường phía đông, như thể chẳng nghe thấy gì cả. Khích Thái Phó bảo: 'Quả đúng người này rồi !' Hỏi ra mới biết chàng ta là người sống ít ham muốn, do đó ông gả con gái cho anh ta).” Từ đó, xuất hiện từ “đông sàng thản phục (東牀坦腹)” hay “thản phục đông sàng (坦腹東牀)”, được dùng dể chỉ cho người chồng của con gái mình, tức chú rễ. Như trong Tùy Đường Diễn Nghĩa (隋唐演義) hồi thứ 6 của Trử Nhân Hoạch (褚人獲, ?-?) nhà Thanh, có đoạn rằng: “Ngã thị Lý phủ trung tiểu thư đích bảo mẫu, nhân lão da, phu nhân yếu sính công tử đông sàng thản phục, đản ngã gia tiểu thư … thệ nguyện giá nhất cá thiện võ năng văn, túc trí đa mưu đích kỳ nam tử (我是李府中小姐的保母、因老爺、夫人要聘公子東牀坦腹、但我家小姐…誓願嫁一個善武能文、足智多謀的奇男子, tôi là bảo mẫu của tiểu thư trong phủ họ Lý; nhân lão gia và phu nhân cần kén chàng rễ công tử, nhưng tiểu thư nhà tôi … lại thề nguyện lấy một chàng trai đặc biệt khéo võ nghệ, giỏi văn chương, túc trí đa mưu).”

thản sơn

(坦山) Cao tăng Nhật bản thuộc tông Tào động, người ở Bàn thành (huyện Phú đảo), họ Nguyên, hiệu Hạc sào, Giác tiên. Sư kiêm học tập Nho học, Phật học và Y học. Năm Minh trị thứ 5 (1872), sau khi vào cửa Phật, sư làm chức Giáo đạo. Sau vì vi phạm luật xuất bản nên bị tước bỏ tăng tịch. Không bao lâu, theo lời thỉnh của Bản nguyện ở Trúc địa, sư khai giảng kinh Phật. Năm Minh trị 11 (1878), sư sáng lập Phật tiên xã tại Tokyo để chỉ dạy người học. Năm sau, sư làm Giảng sư môn Triết học Ấn độ ở trường Đại học Tokyo, dạy chương trình Phật giáo. Năm Minh trị 13 (1880), sau khi được khôi phục tăng tịch, sư trụ ở chùa Tối thừa. Sư từng giữ các chức Tổng giám và Quản trưởng Đại lí Đại học lâm của tông Tào động. Năm Minh trị 25 (1892) sư tịch, thọ 74 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Thủ lăng nghiêm kinh giảng nghĩa, Tâm thức luận, Thời đắc sao, Hoặc bệnh đồng nguyên luận, Hạc sào tập... tất cả được thu vào Thản sơn Hòa thượng toàn tập.

Thản Văn

坦文; C: tănwén; J: tanbun; K: tanmun, 900-975;|Học giả chính của Hoa Nghiêm tông trong thời Cao Li (k: koryŏ).

thảng hoặc

By chance---Occasionally.

thảnh nữ li hồn

(倩女離魂) Tên công án trong Thiền lâm. Cô gái xinh đẹp hồn lìa khỏi xác. Đây là một câu chuyện quái đản được ghi trong Tiễn đăng tân thoại quyển thượng như sau: Thảnh nương đã hứa hôn với một người tên là Vương trụ, nhưng sau cha nàng cự tuyệt, Thảnh nương vì uất ức mà thành bệnh. Vương trụ cũng rất oán hận mà bỏ nhà đi đến kinh đô; giữa đường bỗng gặp Thảnh nương, 2 người bèn đưa nhau đến đất Thục. Sau khi sống với nhau trong 5 năm, Thảnh nương sinh được 2 con, 2 vợ chồng lại dắt 2 con trở về nhà nhạc gia tạ lỗi.Nhưng thực ra từ khi Vương trụ bỏ nhà ra đi, Thảnh nương vẫn còn bị bệnh nằm trong khuê phòng, chỉ còn hơi thở thoi thóp. Bởi vậy, khi thấy Vương trụ và Thảnh nương dắt 2 con trở về, mọi người đều kinh ngạc. Bấy giờ, cô gái nằm liệt trên giường bệnh trong phòng nghe tin cũng rất vui mừng và đi ra đón họ. Hai vị Thảnh nương mới nhập lại làm một. Thảnh nương đi với Vương trụ thực ra chỉ là hồn của cô gái đang bệnh nằm liệt giường đã lìa khỏi xác mà thôi. Vô môn quan tắc 35 (Đại 48, 297 trung) nói: Ngũ tổ hỏi vị tăng: Thảnh nữ li hồn, cô nào là thật? Thiền tông mượn câu chuyện li kì trên đây làm công án, mục đích khiến người học tham cứu bản tính của tự tâm con người rốt cuộc là chân hay vọng, thiện hay ác, hoặc thân, tâm là một hay khác. [X. chương Ngũ tổ trong Chính thống lục Q.6; Chiết trung lục Q.15; Đạo thụ lục Q.86].

thảnh thơi

Disengaged—Free.

thảo

1) Cỏ: Grass—Herbs—Plants. 2) Hiếu thảo: Filial.

thảo am

Ngôi nhà tranh dùng làm tự viện hay chỗ an cư kiết hạ—A thatched hut as a monastery or retreat—A thatched hut for meditation.

Thảo dã

(草野): có ba nghĩa. (1) Cánh đồng cỏ dại mọc um tùm, thảo nguyên hoang sơ. Như trong bài Thái Sơn Lương Phủ Hành (泰山梁甫行) của Tào Thực (曹植, 192-232) nhà Ngụy thời Tam Quốc có đoạn: “Bát phương các dị khí, thiên lí thù phong vũ, kịch tai biên hải dân, ký thân ư thảo dã (八方各異氣、千里殊風雨、劇哉邊海民、寄身於草野, tám phương đều khác khí, ngàn dặm lạ gió mưa, tội thay dân ven biển, gởi thân chốn đồng hoang).” (2) Miền quê, dân gian, dân dã, đối nghĩa với triều đình. Như trong tác phẩm Luận Hành (論衡), phần Thư Giải (書解) của Vương Sung (王充, 27-97) nhà Hán có đoạn: “Tri ốc mãn giả tại vũ hạ, tri thất chính giả tại thảo dã, tri kinh khóa giả tại Chư Tử (知屋滿者在宇下、知失政者在草野、知經課者在諸子, người biết được nhà đầy khi ở dưới mái nhà, người biết được mất việc quan khi ở chốn dân dã, người biết được kinh điển nhờ các hiền triết).” (3) Chỉ bá tánh bình dân, thảo dân. Như trong Minh Sử (明史), Điền Thọ Dân Truyện (田壽民傳), có đoạn: “Thử hà đẳng sự, tại triều giả bất ngôn nhi thảo dã ngôn chi, ngô bối quý tử hĩ (此何等事、在朝者不言而草野言之、吾輩愧死矣, đây là chuyện gì, nơi triều đình thì không nói mà hạng thảo dân lại nói, bọn ta xấu hổ chết đi được).”

thảo hoàn

Còn gọi là Mao Hoàn, chiếc nhẫn làm bằng cỏ. Mật giáo dùng trong các nghi lễ—A grass finger-ring used by the esoteric sect. ; (草環) Cũng gọi Mao hoàn, Chỉ xuyến. Chỉ cho chiếc nhẫn được làm bằng cỏ tranh sử dụng khi tu pháp trong Mật giáo.Cứ theo kinh Tô tất địa quyển 1, nếu khi hành giả cúng dường, trì tụng hộ ma mà đeo thảo hoàn vào ngón vô danh bên tay phải thì chẳng những trừ diệt được các tội chướng mà làm việc gì cũng thành tựu.Tại Nhật Bản, 3 dòng Tiểu dã, các dòng Thai mật(Mật giáo do tông Thiên thai Nhật bản truyền)đến nay vẫn còn sử dụng thảo hoàn.

thảo hài

(草鞋) Cũng gọi Mang hài. Giày cỏ, là loại giày mà chư tăng ngày xưa mang khi đi hành cước (du phương tham học). Do đó, tiền lộ phí mà các vị tăng cần dùng khi đi hành cước cũng được gọi là Thảo hài tiền. Chương Nam tuyền Phổ nguyện trong cảnh đức truyền đăng lục quyển 8 (Đại 51, 257 hạ) ghi: Sư nói: Tiền uống nước đã tạm xong, thế còn thảo hài tiền thì bảo ai trả.

thảo hạ

(草賀) Chúc mừng đơn giản. Trong Thiền Tông, khi vị Trụ trì làm lễ nhập viện thì vị tri sự thượng thủ trước nói sơ qua vài lời chúc mừng, gọi là Thảo hạ. Sau khi vị Trụ trì khai đường xuống tòa thì đại chúng trong toàn chùa lại chúc mừng, gọi triển hạ.[X. điều Nhập viện trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.3].

thảo hệ tỉ khâu

(草系比丘) Thảo hệ, Phạm: Kuza-vandhana. Vị tỉ khưu bị trói bằng cỏ. Thí dụ chỉ cho tỉ khưu nghiêm giữ giới cấm. Đại trang nghiêm kinh luận quyển 3 nói: Có nhiều tỉ khưu đi giữa đường gặp giặc cướp, chúng liền dùng cỏ tươi trói họ lại;tháp xá lợi của ngài Cưu ma la thập ở chùa Thảo đườngvì sợ làm đứt sự sống của cỏ nên các tỉ khưu không dám cởi trói. Câu chuyện này được dùng để ví dụ việc giữ gìn giới cấm một cách nghiêm chính. Kinh Phạm võng quyển hạ (Đại 24, 1007 trung) nói: Nếu các Phật tử giữ gìn giới cấm thì đi đứng nằm ngồi, ngày đêm 6 thời đọc tụng giới này, giống như kim cương, như mang phao nổi vượt qua biển cả, như tỉ khưu bị trói bằng cỏ tươi(Thảo hệ tỉ khưu). [X. phẩm Sa di thủ giới tự sát trong kinh Hiền ngu Q.5; Pháp uyển châu lâm Q.9].

thảo khấu

Bandit—Pirate.

thảo luận

To dispute—To debate—To discuss.

thảo lí hán

(草裏漢) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Người trong cỏ, nghĩa là vì đi trong lùm cỏ um tùm rậm rạp mà bị lạc đường. Thiền tông dùng từ ngữ này để chỉ cho người bị rơi vào đệ nhị nghĩa môn. Phần chú thích trong Bích nham lục tắc 36 (Đại 48, 174 trung) nói: Vì không thể hạ mình nên phạm nhiều khiếm khuyết, thảo lí hán!.

thảo mộc

Cây cỏ đều nhận nước mưa như nhau, ý nói tất cả chúng sanh đều bình đẳng thọ nhận Phật pháp (nhận nhiều hay ít còn tùy ở căn cơ của mỗi người)—Herbs and trees, equally recipients of rain, as all humanity is of the Buddha's truth. . ; (草木) Cỏ cây. Ví dụ tất cả chúng sinh lãnh nhận giáo pháp của Phật giống như cỏ cây được mưa móc thấm nhuần. (xt. Tam Thảo Nhị Mộc).

thảo mộc quốc độ tất giai thành phật

(草木國土悉皆成佛) Cũng gọi Thảo mộc thành Phật, Phi tình thành Phật, Vô tình thành Phật, Vô tình hữu tính. Các loài phi tình, vô tình như cỏ, cây, ngói, đá, đất, nước... đều thành Phật. Trong các tông Phật giáo, Tiểu thừa giáo không nói về vô tình hữu tính, thảo mộc thành Phật. Trong Đại thừa giáo thì các Nhất thừa giáo như Hoa nghiêm, Thiên thai, Mật tông... đều chủ trương thảo mộc thành Phật. Tông Hoa nghiêm cho rằng Phật Tì lô giá na có đủ 10 thân, Phật và định dung hợp 3 thế gian, cho nên khí thế giancũng có nghĩa thành Phật. Tính của chân như thông cả tình, phi tình, thảo mộc thuộc về y báo cũng có Phật tính. Lại như trong Hoa nghiêm, đồng tử Thiện tài lễ lầu quán của ngài Di lặc liền được pháp môn Tam muội; kinh Vô lượng thọ có cây báu nói pháp, nước biển, cây báu của thế giới Liên hoa đều có thể nói pháp, vì thế cũng có Phật tính. Giáo thuyết Thảo mộc thành Phật của tông Thiên thai y cứ vào kinh Pháp hoa Niết bàn mà được thành lập, vì thế mà có thuyết Nhất sắc nhất hương, vô phi trung đạo, chủ trương tất cả mọi việc đều có lí trung đạo. Mật tông cho rằng cỏ cây đất nước đều là Pháp thân của Đại nhật Như lai, lấy lục đại làm Phật tính, chủ trương nghĩa phi tình thành Phật. Bởi vì Mật giáo cho rằng y báo, chính báo của 10 giới đều do 6 đại(đất, nước, lửa, gió, không, thức) mà thành, cho nên nếu nói về 5 đại Thì đó là Phật thể bản sơ; còn nếu nói về thức đại thì cũng là 5 trí của tính đức. Cây cỏ tuy không có thức đại nhưng tự thể của chúng chính là Phật vốn có từ xưa đến nay, hơn nữa còn có công đức giác tri, cho nên cũng có đủ nghĩa phát tâm thành Phật. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.16; Hoa nghiêm đại sớ sao Q.30; Thai tông nhị bách đề Q.7].

thảo mộc thành phật

Hai tông Thiên Thai và Chân Ngôn lập ra lý “Ngay cả chúng vô tình như cỏ cây thảo mộc cũng có thể thành Phật” (tuy nhiên, theo Kinh Hoa Nghiêm thì chân như tùy duyên ở loài hữu tình gọi là Phật tánh, ở loài vô tình gọi là Pháp tánh. Phật tánh và pháp tánh sai biệt nên không có cái lý loài vô tình thành Phật)—Even herbs and trees (inanimate things—chúng vô tình) have Buddha-nature and can become Buddha, a T'ien-T'ai and Chên-Yen (Shingon) doctrine.

thảo phạn

(草飯) Chỉ cho cơm thô sơ. Điều Thỉnh lập tăng thủ tọa trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1133 hạ) nói: Vẫn đến các liêu xá của Khố ti thăm hỏi, Phương trượng chuẩn bị thảo phạn, xin xem đó là dược thạch.

thảo sáng

(草創) Bắt đầu sáng lập. Lúc mới bắt đầu tạo tác sự vật, gọi là Thảo sáng, như Thảo sáng khai sơn, nghĩa là chùa viện nhà tháp mới được xây dựng. Ngoài ra, Thảo sáng còn chỉ cho nghĩa soạn bản thảo, mới soạn bản thảo còn phải sửa chữa, cho hoàn chỉnh mới thành văn.

thảo sớ

(草疏) Văn sớ dùng trong Thiền lâm, phần nhiều được viết theo thể văn biền ngẫu, câu 4 chữ câu 6 chữ đối nhau, nhưng đôi khi cũng dùng văn xuôi. Thảo được hiểu là bản thảo; Thảo sớ chỉ cho văn sớ do mình tự soạn. [X. môn Văn sớ trong Thiền lâm tượng khí tiên].

thảo thư kinh

(草書經) Chỉ cho kinh điển viết bằng lối chữ thảo. Đan duyên tổng lục quyển 15 và Quan trung kim thạch kí quyển 1 của Tất nguyên đều có nói về thảo thư Tâm kinh được khắc trên đá, thạch khắc này hiện còn trong Bi lâm(rừng bia)ở Trường an, tương truyền do Phò mã Trịnh vạn quân đời Đường viết. Thông thường, các bia đá khắc văn kinh Phật giáo rất ít khi được viết bằng lối chữ thảo, chẳng hạn trong các kinh Phật chép tay xưa đào được ở Đôn hoàng thì phần nhiều được viết bằng thể chữ khải(chữ viết ngay ngắn, rõ ràng), chỉ có loại sách chú thích như Đại thừakhởi tín luận lược thuật (được viết vào năm Bảo ứng thứ 2 –763– đời Đường), Đại thừa khởi tín luận quảng thích, Pháp hoa huyền tán... là được viết bằng lối chữ thảo.

thảo toà

(草座) Cũng gọi Mao tọa. Nệm để ngồi được tết bằng cỏ, 1 trong các loại tọa cụ mà vị Trưởng lão sử dụng khi ngồi trước Phật. Thảo tọa có nguồn gốc từ sự tích Phật trải cỏ cát tường để ngồi khiNgài thành đạo. Thảo tọa mà đời sau sử dụng bắt chước hình dáng cỏ cát tường có những tua rủ xuống 4 chung quanh, chiều dài khoảng 40cm, chiều ngang Thảo thư kinhkhoảng 20cm, 2 tấm đặt liền nhau, khi thu lại thì chồng lên, 2 đầu có những tua rủ xuống, giống như cỏ. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Chư Phật yếu tập Q.thượng; Tăng cương thức Q.hạ].

thảo y văn thù

(草衣文殊) Chỉ cho tượng bồ tát Văn thù mặc áo bằng cỏ. Khác với tượng bồ tát Văn thù của Hiển giáo và Mật giáo, tượngbồ tát Văn thù trong Thiền tông thân màu đen,tóc dài, mặc áo bằng cỏ bồ, để trần vai bên phải, tay phải cầm quyển kinh tiếng Phạm, tượng này gọi là Thảo y Văn thù. Có lẽ tượng này đã do quan Thái úy Lã huệ khanh sai họa sĩ vẽ vào khoảng năm Nguyên phong (1078- 1084) đời Tống khi ông du ngoạn núi Ngũ đài.

Thảo Ðường

草堂; tk. 11|Thiền sư Trung Quốc thuộc Vân Môn tông người đã đem dòng thiền này đến Việt Nam. Sư là môn đệ của Thiền sư Tuyết Ðậu Trọng Hiển, không biết vì lí do gì sang ở Chiêm Thành và bị vua Lí Thánh Tông bắt làm tù binh năm 1069 trong cuộc chiến tranh với Chiêm Thành. Khám phá ra Thảo Ðường là một Cao tăng, bị bắt trong lúc đi truyền giáo pháp, Lí Thánh Tông phong làm Quốc sư. Ðến 50 tuổi, Sư có chút bệnh, ngồi kết già viên tịch.|Thảo Ðường lập ra một dòng Thiền, đó là dòng thiền thứ ba của Việt Nam, bên cạnh Tì-ni-đa Lưu-chi và Vô Ngôn Thông. Thiền sư Tuyết Ðậu có đặc điểm là dung hợp Phật giáo và Nho giáo và cũng như thầy mình, Thảo Ðường và các môn đệ sau này thiên về văn chương và trí thức. Dòng Thảo Ðường truyền được sáu thế hệ, trong đó thế hệ thứ hai phải kể Lí Thánh Tông, một nhà vua kiệt xuất. Trong phái này có cả hai Thiền sư Minh Không và Giác Hải, vốn thuộc dòng Vô Ngôn Thông nhưng lại theo học với phái Thảo Ðường, đồng thời lại có khuynh hướng Mật tông kì bí. Hai nhà vua Lí Anh Tông và Lí Cao Tông cũng được xem là thuộc phái Thảo Ðường.

thảo ăn

Generous with food.

thảo đan

(草單) Gọi tắt: Đơn. Chỉ cho tờ giấy ghi chép văn thư, tức các thư từ được sử dụng trong Thiền lâm, cũng chỉ cho quyển sổ ghi giới lạp khi an cư.

thảo đường

1) Căn nhà lợp bằng tranh—The thatched hall (building). 2) Chánh điện trong ngôi Thảo Đường Tự, tại Trường An nơi ngài Cưu Ma La Thập dịch kinh sách: The building in the Thatched Hall monastery at Ch'ang-An where Kumarajiva translated sutras. ; (草堂) I. Thảo Đường (?-?) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Vân môn sống vào đời Tống, là Sơ tổ của phái Thảo đường thuộc Thiền tông Việt nam, tương truyền sư là đệ tử ngài Tuyết đậu Trùng hiển. Vào khoảng giữa thế kỉ XI, sư đến nước Chiêm thành hoằng pháp, bị người Chiêm bắt nhập ngũ làm lính. Khi vua Lí thánh tông (ở ngôi 1054-1072) của Việt nam đem quân đánh Chiêm thành, nhiều lính Chiêm bị bắt làm tù binh đưa về Việt nam, trong đó có sư. Về sau, vua Thánh tông phát hiện bèn thả sư ra và thỉnh về trụ trì chùa khai quốc tại Thăng Long(nay là Hà Nội). Sư bắt đầu khai giảng kinh điển, mở rộng tông phong, chủ yếu truyền Tuyết đậu bách tắc và đề xướng giáo nghĩa Thiền Tịnh Nhất Trí. Sau, sư truyền giới cho vua Thánh Tông, đồng thời truyền thụ Thiền tông tâm pháp, nhờ đó mà vua Thánh tông ngộ đạo và phong cho sư làm Quốc sư. Bấy giờ, đệ tử qui y sư rất đông, từ đó mở ra phái Thảo đường, chia làm 3 chi hệ là Lí triều thánh tông, Bát nhã và Ngô xá, trở thành phái thứ 3 của Thiền tông Việt nam(hai phái kia là phái Tì ni đa lưu chi và phái Vô ngôn thông). Chi hệ Lí triều Thánh tông chỉ lưu truyền trong nội bộ triều đình, đến Tổ thứ 3 là ngài Đỗ vũ thì pháp hệ chấm dứt. Chi hệ Bát nhã do Thiền sư Bát nhã sáng lập, đến đầu thế kỉ XIII thì pháp hệ cũng chấm dứt. Chi hệ Ngô xá do Thiền sư Ngô xá kiến lập, truyền được 5 đời thì cáo chung. Phái ThiềnThảo đường được 3 vị vua triều Lí là Thánh tông, Anh tông (ở ngôi 1138-1175) và Cao tông (ở ngôi 1176-1210) kính ngưỡng, theo thứ tự là đệ tử đời thứ nhất, đời thứ ba và đời thứ năm của Thiền sư Thảo đường. Sau, triều Lí bị diệt (1225) thì phái Thiền này cũng dần dần suy vong theo.II. Thảo Đường (1057-1142). Thiền sư Trung quốc thuộc phái Hoàng long, tông Lâm tế, sống vào đời Tống; người ở Bảo Xương, Nam Hùng thuộc tỉnh Quảng Đông, họ Hà, người đời gọi sư là Thảo đường Thiện thanh. Từ nhỏ, sư đã tham yết Thiền sư Pháp tư ở chùa Hương vân. Năm Nguyên phong thứ 4 (1081), sư thi kinh được độ, lễ yết ngài Đại qui Mộ triết, sau sư đến tham học ngài Hối đường Tổ tâm và được nối pháp. Năm Chính hòa thứ 5 (1115), sư xiển dương Thiền pháp ở núi Hoàng long, tỉnh Giang Tây. Sư lần lượt trụ ở Tào sơn, Sơ sơn và chùa Lặc đàm ở Long Hưng (Giang Tây).Năm Thiệu Hưng 12 (1142), sư thị tịch ở chùa Lặc đàm, thọ 86 tuổi, pháp lạp 62. Có thuyết cho rằng sư chính là Sơ tổ Thiền phái Thảo đường của Thiền tông Việt nam.Sư để lại tác phẩm: Thảo đường Thanh hòa thượng ngữ yếu 1 quyển. [X. Liên đăng hội yếu Q.15; Gia thái phổ đăng lục Q.6; Ngũ đăng hội nguyên Q.17; Thích thị kê cổ lược Q.4].

thảo đường thiền phái

(草堂禪派) Cũng gọi Tuyết đậu minh giác phái. Một trong các phái Thiền tông của Phật giáo Việt nam ở thời kì đầu. Theo truyền thuyết, đệ tử của Thiền sư Tuyết đậu Trùng hiển (980-1052) là ngài Thảo đường đem hệ thống Thiền của Thiền sư Tuyết đậu thuộc tông Vân môn Trung Quốc truyền vào Việt nam, được vua Thánh tông triều Lí (ở ngôi 1054-1072), phong làm quốc sư, trụ ở chùa Khai quốc tại Thăng Long (Hà Nội), sáng lập phái Thảo đường, chủ yếu truyền Tuyết đậu bách tắc và đề xướng giáo nghĩa Thiền Tịnh Nhất Trí. Lại có thuyết cho rằng người sáng lập phái này là ngài Thảo đường Thiện thanh (1057- 1142), đệ tử của Thiền sư Hối đường Tổ tâm đời thứ 12 thuộc hệ thống Nam nhạc Hoài nhượng. Chi hệ của phái này chia làm 3 chi: Lí triều Thánh Tông, Bát nhã và Ngô xá (có thuyết cho là Ngộ xá). Chi hệ Thánh tông do vua Thánh tông triều Lí sáng lập, chỉ lưu truyền trong nội bộ triều đình Việt nam, truyền đến vị tổ thứ 3 là ngài Đỗ vũ thì pháp hệ dứt. Chi hệ Bát nhã do Thiền sư Bát nhã sáng lập, truyền được 3 thế hệ: Thế hệ thứ nhất là Thiền sư Bát nhã; thế hệ thứ 2 gồm 2 vị là Thiệu minh và Phạm âm; thế hệ thứ 3 gồm 4 vị là Trương tam tạng, Hải thường, Nguyễn thức và Hoàng đế Cao tông triều Lí. Đến đầu thế kỉ13 thì pháp hệ chấm dứt. Chi hệ Ngô xá do Thiền sư Ngô xá sáng lập, truyền đến Nhị tổ Không lộ và Định giác, vua Anh tông (đệ tử ngài Định giác), đến Tứ tổ Chân huyền và Đỗ thường thì pháp hệ chấm dứt. Phái Thảo đường được các vị Hoàng đế Thánh tông, Anh tông (ở ngôi 1138- 1175) và Cao tông (ở ngôi 1176-1210) triều Lí kính ngưỡng, theo thứ tự là đệ tử đời thứ 1, đời thứ 3 và đời thứ 5 của Thiền sư Thảo đường. Đến năm 1225, nhà Lí bị lật đổ thì phái này cũng dần dần suy vong theo.[X. thiên Nhân vật trong An mam chí lược Q.15].

thảo đường tự

See Thảo Đường (2). ; (草堂寺) Cũng gọi Khuê phong tự. Chùa ở chân núi phía bắc núi Khuê Phong, phía đông nam huyện Hộ, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Cứ theo mục Du hành nam kí trong Thạch mặc tuyên hoa quyển 7 của Triệu hàm đời Minh thì ở phía tây hang Cao quan là chùa Thảo đường, vua Diêu hưng nhà Hậu Tần rước ngài Cưu ma la thập đến chùa này dịch kinh, bấy giờ gọi là vườn Tiêu dao. Đầu năm Thiên bảo đời Đường, Thiền sư Phi tích trụ ở chùa này để hoằng pháp và soạn thuật. Về sau, Ngũ tổ tông Hoa nghiêm là ngài Khuê phong Tông mật trụ trì, gọi là chùa Thảo đường, sau lạiđổi tên là Thê thiền tự. Phía tây chùa có tháp xá lợi của ngài Cưu ma la thập được xây bằng đá, thân tháp cao 2,32m, hình bát giác cao 12 tầng, được khắc và nạm bằng loại đá ngọc 8 màu, thường gọi là Bát bảo ngọc thạch tháp. Tầng dưới của tháp là tòa núi Tu di, đài mây ở tầng 3 có khắc hoa văn mạn thảo (cỏ bò lan trên mặt đất), rất tinh khéo đẹp đẽ, nên người đời Tống làm đình để che cho tháp, nay vẫn còn. Nếu nhìn vào y phục của tượng Phật và tác phong khắc tạo mà nhận xét thì có vẻ như đây là tác phẩm đời Đường. Vào những năm đầu đời Bắc Chu, chùa được chia làm 4 chùa, về sau bị phá hủy và được xây dựng lại vào thời vua Chiêu tông nhà Đường, từ đời Tống về sau cũng được trùng tu nhiều lần. Hiện nay chỉ còn 3 gian đại điện, phía đông tây mỗi bên 2 gian, ở phía trước điện có 1 tấm bia được dựng vào đời Thanh, 2 tấm bia đời Minh, 1 quả chuông đời Nguyên, Sơn môn, ở phía sau điện xếp đống những mảnh vỡ của gạch ngói và bia đá, cột kinh Tôn thắng đà la ni đời Đường và những mảnh vụn bia Thiền sư Khuêphong Tông mật nằm lẫn trong đó; giữa các vách bên trong và bên ngoài điện có rất nhiều bia đá của nhữngngườiđời Tống, đời Nguyên. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, 8, 10, 14; Tây an thắng tích sử lược; Đại minh nhất thống chí Q.32].

thấm

To blot—To permeate—To absorb—To soak up.

thấm nhuần

To impregnate.

thấm qua

To go through.

thấm thoát

Time flies.

Thấp

濕; C: shī; J: shitsu;|1. Sự ẩm ướt, hơi ẩm; bị ẩm ướt; sự ẩm ướt, không khí ẩm thấp; 2. Vật có tính lỏng, hay thay đổi; điểm đặc thù của nước; 3. Tính bầy nhầy, kết dính; 4. Tính lỏng, độ chảy loãng (s: drava, dravatva).

thấp

1) Nơi thấp: Low. 2) Ướt: Wet—Humid—Moist. 3) Thấp sanh hay loài sanh ra bởi sự ẩm thấp như sâu bọ và cá, vân vân: The class of beings produced by moisture, such as fish and worm, etc—See Tứ Sanh.

thấp bà phái

(濕婆派) Phạm:Zaiva. Phái thờ thần Thấp bà (Phạm: Ziva) làm chủ thần, có lẽ đã hình thành ào thế kỉ II, 1 trong các hệ phái của Ấn độ giáo, cùng với phái Tì thấp nô và phái La ma đều là các tông phái được sùng tín rộng rãi nhất ở Ấn độ hiện nay. Phái Thấp bà lại chia làm 2 biệt phái lớn là Thú chủ ngoại đạo (Phạm:Pàzupata) và Thấp bà tất đàm (Phạm:Zaiva-siddhànta). Từ 2 phái lớn này còn chia ra rất nhiều chi phái nhỏ.

thấp bà thiên

(濕婆天) Thấp bà, Phạm:Ziva. Cũng gọi Lỗ đạt la (Phạm:Rudra). Hán dịch: Hoang thần. Thần hủy diệt, thần khổ hạnh, thần nhảy múa, là 1 trong 3 vị chủ thần của Ấn độ giáo. Vị thần này được ghi chép trong quyển đầu của Lê câu phệ đà thuộc các Thánh điển của Bà la môn giáo ở Ấn độ xưa. Thấp bà thiên là thần cách lưỡng cực, có đủ 2 mặt là phá hoại khủng bố và ban ân cứu tế vạn bệnh, tượng trưng cho cảnh bão táp mưa sa thê thảm do gió mùa gây ra ở Ấn độ và cảnh xanh tươi khi vạn vật sống lại sau gió mưa. Vị thần này có rất nhiều tên khác nhau, nhưng từ thời đại Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata) về sau, đều gọi là Thấp bà thiên, thường thấy nhất là trong Thánh điển Phú lan na (Phạm: Puràịa). Theo truyền thuyết, vị thần này có năng lực hàng ma rất lớn, lửa thần của con mắt thứ 3 ở trên trán có năng lực thiêu hủy tất cả, thần từng đốt 3 tòa thành của yêu ma và của Ái thần thành tro bụi. Lại nghe nói Thần này quanh năm tu khổ hạnh trên núi Hi mã lạp sơn, cũng giỏi khiêu vũ, được gọi là Vũ vương(vua nhảy múa). Thấp bà thiên chuyên về việc phá hoại, đối lập với Phạm thiên sáng tạo và thần Tì thấp nô (Phạm: Viwịu) thần trông coi gìn giữ vũ trụ, do đó trong Ấn độ giáo có thuyết Tam thần nhất thể (Phạm: Trimùrti = 3 thần cùng một thể). Thấp bà thiên là thần chính của phái Thấp bà và tượng trưng bằng sinh thực khí nam tính, vì Ấn độ giáo cho rằng hủy diệt chính là nghĩa tái sinh, cho nên mới tượng trưng Thần Thấp bà trong tư thế đang khiêu vũ bằng sinh thực khí nam tính để biểu thị ý nghĩa năng lực sinh sản và rất được giáo đồ sùng bái. Trong Phật giáo, Thấp bà thiên thường được thấy xuất hiện trong tư thế của Đại tự tại thiên và Ma hê thủ la thiên, có quan hệ mật thiết với Mật giáo tả đạo ở đời sau. (xt. Đại Tự Tại Thiên).

thấp bà tất đàn phái

(濕婆悉檀派) Phạm: Zaiva-siddhànta. Chi phái của phái Thấp bà trong Ấn độ giáo. Nói theo nghĩa rộng thì phái Thấp bà tất đàn là chỉ chung cho các tông phái tôn thờ A cấp ma (Phạm: Àgama) làm Thánh điển y cứ, tức gồm các phái: 1. Phái Thấp bà tất đàn(theo nghĩa hẹp).2. Phái Thấp bà ở Tháp mễ nhĩ (Phạm: Tamil). 3. Phái Thấp bà ở Ca thấp di la (Phạm: Casmìra). 4. Phái Phệ lạp thấp bà (Phạm: Vira Zaiva). 5. Phái Tất thát nhĩ (Phạm:Sittar). Phái Thấp bà tất đàn theo nghĩa hẹp được coi là Thấp bà điển hình, cho nên cũng gọi tắt là Thấp bà phái. Giáo lí của phái này lấy Thú chủ (Phạm: Pazupati, tức Thấp bà), Thú (Phạm:Pazu, tức ngã cá nhân) và Thằng sách (Phạm:Paza, tức sự trói buộc của đời hiện tại) làm 3 nguyên lí. Nghĩa là những sợi dây Vô tri (Phạm: Ànava), Nghiệp (Phạm: Karman) và Huyễn (Phạm:Màyà) trói buộc năng lực tinh thần(tức Thú, ngã cá nhân) tiềm tàng xưa nay vốn thường trụ, trùm khắp; Tính lực (Phạm:Sakti) trở thành ân sủng của Thấp bà, dần dần cắt đứt sự trói buộc của những sợi dây kia(thằng sách) làm cho ngã cá nhân được giải thoát. Vì cầu cởi bỏ được sự trói buộc, con người phải gắng sức thực hành minh tri(trừ diệt vô tri), thực tu Du già (Phạm:Yoga). Ngoài ra, điều đặc biệt đáng được lưu ý là trong Thánh điển A cấp ma có bao hàm tư tưởng sùng bái Tính lực của phái Thấp bà.

thấp cao

Low and high.

thấp hèn

Base—Low.

thấp kém

low.

thấp ma

(濕麽) Cũng gọi Sa ma, Sa mãng, Táp ma, Ma. Chỉ cho chữ (sma) trong 42 chữ cái Tất đàm. Chữ Thấp ma có nghĩa là nhớ nghĩ. Kinh Đại bát nhã ba la mật đa quyển 145 (Đại 7, 82 thượng) nói: Vào môn chữ Táp ma ngộ tất cả pháp, tính nhớ nghĩ của chữ này không thể tưởngtượng được. Kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni quyển 3 (Đại 19, 535 thượng) nói: Kế ấn chữ Sa mãng thì nhớ nghĩ không tán loạn, không quên mất. Vì ở đầu chữ Smfti tiếng Phạm là chữSma nên mới có thuyết trên đây. Luận Đại trí độ quyển 48 (Đại 25, 408 hạ) nói: Nếu nghe chữ Thấp ma thì biết các pháp cứng chắc như kim cương. Nghĩa cứng chắc này là vì trong tự mẫu của chữAsman (nghĩa là đá) tiếng Phạm cũng có chữSma. Khi đọc chữ Thấp ma thì có năng lực đi sâu vào môn Bát nhã ba la mật. [X. kinh Hoa nghiêm Q.76 (bản 80 quyển); kinh Hoa nghiêm Q.31 (bản 40 quyển); kinh Hải ý bồ tát sở vấn tịnh ấn pháp môn Q.12].

thấp sanh

Nhờ vào khí ẩm thấp mà sanh ra, một trong tứ sanh—Form of moisture or water-born, born in damp or wet place, as worms and fishes, one of the four forms of birth. **For more information, please see Tứ Sanh.

Thấp sinh

濕生; C: shīshēng; J: shitsushō;|(Các loài) sinh nơi ẩm thấp; như muỗi và các côn trùng khác. Một trong Tứ sinh (四生).

thấp sinh hoá sinh

(濕生化生) Từ nơi ẩm ướt sinh ra và hóa hiện sinh ra, là 2 trong 4 phương thức xuất sinh của loài hữu tình. Thấp sinh cũng gọi Nhân duyên sinh, nghĩa là từ nơi ẩm thấp sinh ra, như các loài mèn dế, thiêu thân, muỗi mòng, mối đất, sâu mè... sinh ra từ những chỗ ẩm ướt, hôi thối như đống phân, cống rãnh, nhà cầu, thịt rữa, cháo thiu, cỏ rậm, mương ao, sông ngòi... Hóa sinh là do nghiệp lực tự nhiên sinh chứ không cần nương gá vào đâu, như các Thiên chúng và hữu tình trong địa ngục, hữu tình trung ấm(thân sau khi chết và trước khi sinh) cũng như một số trong loài người. (xt. Tứ Sinh).

thấp thoáng

appear and disappear—To appear vaguely.

thấp thỏm

Restless—Anxious.

Thất bách kết tập

七百結集; C: qībăi jiéjí; J: shichihyaku keketsujū;|Lần kết tập thứ hai của Phật giáo (với sự tham dự của bảy trăm vị A-la-hán) tại Tì-xá-li (s: vaiśālī). Đệ nhị kết tập (第二結集).

Thất bách tập pháp

七百集法; C: qībăi jífǎ; J: shichihyaku shūhō;|Lần kết tập thứ hai của Phật giáo (với sự tham dự của bảy trăm vị A-la-hán) tại Tì-xá-li (s: vaiśālī). Đệ nhị kết tập (第二結集).

thất bát hành

(七八行) Chỉ cho phương pháp tu hành Thất giác chi và Bát thánh đạo. Thất giác chi là: Niệm, trạch pháp, tinh tiến, hỉ, khinh an, định và xả. Bát chính đạo là: Chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm và chính định. (xt. Thất Giác Chi, Bát Chính Đạo).

Thất Bảo

(七寶): xem Thất Trân (七珍) bên dưới.

Thất bảo

七寶; C: qībăo; J: shichihō;|Bảy loại châu báu. Nhiều kinh luận Phật học đề cập đến bảy loại châu báu khác nhau. Thông dụng nhất là: 1. Vàng (金), bạc (銀), lưu li (琉璃), pha lê (頗胝迦), xa cừ (硨磲), xích châu (赤珠), mã não (碼瑙); 2. San hô, hổ phách, như ý châu (s: cintāmaṇi), kiṃśuka, śakrābhilagna, ngọc lục bảo, kim cương; 3. Vàng, bạc, lưu li, san hô, hổ phách, xa cừ, mã não….

thất bảo

xem bảy báu. ; (七寶) Phạm:Saptaratnàni. Bảy thứ quí báu. I. Thất Bảo. Cũng gọi Thất trân. Chỉ cho 7 thứ ngọc báu quí giá ở thế Tranh Thập Vương gian. Các kinh nói về 7 thứ báu có khác nhau. Theo kinh A di đà và luận Đại trí độ quyển 10 thì 7 báu là: 1. Vàng. 2. Bạc. 3. Lưu li, cũng gọi là Tì lưu li, Phệ lưu li, thuộc loại ngọc xanh. 4. Pha lê, cũng gọi Phả chi ca, Hán dịch là thủy tinh. Chỉ cho thủy tinh màu đỏ, thủy tinh màu trắng. 5. Xà cừ, thường được coi là mã não. Chỉ chung cho loại ngọc trai, hoặc san hô trắng. 6. Xích châu, cũng gọi Xích chân châu. 7. Mã não, chỉ cho loại ngọc có màu xanh thẫm, nhưng khác với mã não mà đời sau thường gọi. Kinh Pháp hoa quyển 4 thì cho rằng 7 thứ báu là vàng, bạc, lưu li, xa cừ, mã não, chân châu và mai khôi. [X. kinh Xưng tán tịnh độ Phật nhiếp thụ; kinh Vô lượng thọ Q. thượng]. (xt. Bảo).II. Thất Bảo. Từ gọi chung 7 thứ báu của Chuyển luân Thánh vương. Đó là luân bảo(bánh xe), thượng bảo(voi), mãbảo(ngựa), châu bảo(ngọc), nữ bảo(con gái), cư sĩ bảo, cũng gọichủ tạng bảo(chủ kho) vàchủ binh thần bảo(tướng quân). [X. kinh Trường a hàm Q.3; kinh Hoa nghiêm Q.34 (bản dịch cũ)]. (xt. Chuyển Luân Thánh Vương).

thất bảo chúc

(七寶粥) Cũng gọi Phật chúc. Cháo bảy báu dâng cúng Phật. Hằng năm, vào ngày mồng 8 tháng 12 âm lịch, các chùa Phật thường dùng những vật như đậu, hồ đào... nấu cháo cúng Phật và mọi người để kết duyên, gọi là Thất bảo chúc, tức Lạp bát chúc(cháo ngày mồng 8 tháng chạp). Hiện nay, Thất bảo chúc đã phổ biến trong dân gian.Bài tiểu tựa trong tập thơ Giang hương tiết vật của Ngô tôn khải nói: Lạp bát chúc, cũng gọi là Thất bảo chúc, vốn là vật cúng trong nhà tăng, nhưng nay thì ở nhà các cư sĩ cũng nấu loại cháo này.

thất bảo hoa

(七寶華) Chỉ cho hoa sen bằng bảy thứ báu. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 278 trung) nói: Được sinh về cõi nước của Phật Vô lượng thọ, ở trong hoathất bảo tự nhiên hóa sinh.

thất bảo ngục

(七寶獄) Chỉ cho lao ngục có 7 thứ báu trang nghiêm. Nếu có người ngờ vực trí Phật,nhưng nhờ gốc lành của tự lực mà được sinh về cõi Giải mạn ở biên địa của thế giới Cực lạc phương tây trong hình thức thai sinh, thì trong khoảng thời gian 500 năm không được thấy Tam bảo, không được thụ pháp lạc, giống như ở trong lao ngục được làm bằng 7 thứ báu. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 278 trung) nói: Ví như Chuyển luân Thánh vương, có cung thất riêng, tranghoàng bằng 7 thứ báu, kê giường, giăng màn, treo các phướn lụa. Nếu có tiểu vương tử nào đắc tội với vua thì bị giam vào cungthất ấy, khóa bằng khóa vàng, cung cấp đầy đủ thức ăn uống, quần áo, giường chiếu, chăn gối, hoa thơm, kĩ nhạc, hệt như vua Chuyển luân, không thiếu thốn một thứ gì.

thất bảo tháp

(七寶塔) Tháp bảy báu, cũng chính là tháp Đa bảo. Lúc đức Phật Thích ca đang nói kinh Pháp hoa trên núi Linh thứu, bỗng từ trong đất nhô lên một ngôi tháp Thất bảo, cao 500 do tuần, toàn thân xá lợi của đức Đa bảo Như lai ngồi ở trong tháp. [X. phẩm Kiến bảo tháp trong kinh Pháp hoa].

thất bảo thụ lâm

(七寶樹林) Cũng gọi Thất bảo hàng thụ. Chỉ cho khu rừng cây ở Tịnh độ Cực lạc do 7 thứ báu tạo thành. [X. phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa Q.2; Pháp hoa kinh huyền tán Q.5, phần đầu; A di đà kinh yếu giải (Trí húc)]. (xt. Thất Trùng Hàng Thụ).

thất bất khả tị

(七不可避) Chỉ cho 7 sự kiện mà chúng sinh không thể nào tránh khỏi, đó là sinh, lão, bệnh, tử, tội báo, phúc báo(đã có nghiệp thiện thì không thể tránh khỏi quả vui sinh vào đường lành), nhân duyên(tức nhân thế nào thì sẽ cảm quả thế ấy, đó là lí tự nhiên không thể tránh khỏi). [X. phẩmÁc hạnh trong kinh Pháp cú thí dụ Q.2;Kinhluật dị tướng Q.7; Pháp uyển châu lâm Q.69].

thất bất thiện luật nghi

(七不善律儀) Đối lại: Thất thiện luật nghi. Chỉ cho 7 giới ác bất luật nghi là giết hại, trộm cướp, tà dâm, nói dối, hai lưỡi, nói ác, nói thêu dệt. Trong 7Bất thiện luật nghi này, mỗiBấtthiệnluật nghi đều được phối hợp với 3 phẩm tâm thượng, trung, hạ thì có 21 thứ, lại phối hợp với 3 phiền não tham, sân, si thì thành 36 thứ, rồi lại phối hợp với 3 phẩm tâm thì thành vô lượng sai biệt. [X. luận Thành thực Q.8; Đại thừa nghĩa chương Q.7]. (xt. Thất Thiện Luật Nghi).

thất bệnh

(七病) Bảy thứ bệnh do tắm rửa mà tránh khỏi. Cứ theoĐộng thượng già lam tạp kí thì tắm rửa có các lợi ích như sau: 1. Bốn đại an ổn. 2. Trừ được bệnh gió. 3. Trừ bệnh tê thấp. 4. Trừ được lạnh giá. 5. Giải được khí nóng. 6. Trừ cáu ghét nhơ nhớp. 7. Thân thể khoan khoái, cặp mắt sáng trong.

Thất Bồ-đề phần

xem Bảy giác chi.

thất chi

(七支) I. Thất Chi. Bảy chi phần, tức 3 nghiệp ác của thân và4 nghiệp ác của khẩu. Ba nghiệp ác của thân là giết hại, trộm cướp, tà dâm; 4 nghiệp ác của khẩu là nói dối, nói thêu dệt, nói ác, nói 2 lưỡi. Vì có 7 chi phần ác nên gọi là Chi, là 7 điều ác trước trong 10 điều ác. II. Thất Chi. Chỉ cho 7 chi phần thuộc voi báu của Chuyển luân Thánh vương, tức 4 chân, đầu, dương vật và đuôi. [X. kinh Đại tát già ni kiền tử sở thuyết Q.3].

thất chi luận pháp

(七支論法) Phạm: Saptabhaígì-naya. Bảy hình thức phán đoán của chủ nghĩa bất định trong triết học Kì na giáo, Ấn độ. 1. Hữu(có): Phán đoán khẳng định. 2. Vô(không): Phán đoán phủ định. 3. Hữu, Vô(cũng có, cũng không): Kết hợp cả phán đoán khẳng định và phán đoán phủ định. 4. Phi hữu phi vô(chẳng phải có chẳng phải không), không thể nói. 5. Hữu, không thể nói: Kết hợp giữa hình thức phán đoán thứ 1 và thứ 4. 6. Vô, không thể nói: Kết hợp giữa hình thức phán đoán thứ 2 và thứ 4. 7. Hữu, Vô, không thể nói (cũng có, cũng không, cũng không thể nói): Kết hợp giữa các hình thức phán đoán thứ 3 và thứ 4. Bảy hình thức phán đoán nói trên chỉ có thể thành lập trong điều kiện đặc biệt nhất định, cho nên ở đầu mỗi hình thức phán đoán đều phải đặt thêm 2 chữ hoặc hứa(có lẽ, chắc là).

thất chu hành từ

(七周行慈) Chỉ cho 7 cảnh tu Từ bi quán. Pháp quán thứ 2 trong Ngũ đình tâm quán là Từ bi quán, mục đích khuyến khích những người đa sân tu từ bi để đối trị sân độc. Có 7 cảnh thực hành, tức ban phát tam lạc (thượng lạc, trung lạc, hạ lạc) cho mọi người, đó là Thất chu hành từ. Chu nghĩa là cùng khắp, nghĩa là oán thân bình đẳng, hoặc là thực hành việc ban cho cùng khắp. Bảy cảnh là: Thân thượng phẩm, thân trung phẩm, thân hạ phẩm, người không oán thân, oán hạ phẩm, oán trung phẩm và oán thượng phẩm.

thất chuyển cửu lệ

(七轉九例) Thất chuyển cũng gọi Thất thanh, Thất lệ, hoặc Tô mạn đa thanh (Subanta), chỉ cho sự biến hóa của các tiếp vĩ ngữ về mặt văn pháp trong những danh từ tiếng Phạm. Cửu lệ cũng gọi Nhị cửu vận, Đinh ngạn đa thanh (Tií-anta), chỉ cho sự biến hóa của các động từ trong tiếng Phạm, tất cả có 18 thứ biến hóa. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Thành duy thức luận xu yếu Q.thượng phần đầu]. (xt. Bát Chuyển Thanh).

thất chuyển thức

(七轉識) Gọi tắt: Thất chuyển, Chuyển thức, Chuyển tâm. Bảy chuyển thức, tức chỉ cho 7 thức trước trong 8 thức. Du già hành phái và tông Duy thức chủ trương thuyết 8 thức, gọi 5 thức trước, ýthức và mạt na thức nương vào thức A lại da mà sinh diệt chuyển biến là Thất chuyển thức. Năm thức trước cũng gọi là Ngũ chuyển thức, duyên theo 5 cảnh sắc, thanh... do thức A lại da biến ra, hành tướng thô động, chuyển ở bên ngoài, phân biệt rõ các cảnh hiện tại. Ý thức thứ 6 duyên theo tất cả cảnh ở quá khứ, vị lai, chuyển ở bên trong lẫn bên ngoài, phân biệt kĩ các cảnh tướng, chung cả 3 tính thiện, ác, vô kí, tương ứng với 6 nhóm tâm sở. Thức mạt na thứ 7, duyên theo Kiến phần của thức A lại da, là tính hữu phú vô kí, tương ứng với Xả thụ, đồng thời cũng tương ứng với 4 phiền não căn bản, hằng tính lường so đo với ngã tướng, liên tục không gián đoạn. Tóm lại, Thất chuyển thức có đủ 4 nghĩa năng huân và đủ các điều kiện huân thành chủng tử của A lại da thức(hiện hành huân chủng tử).[X. luận Du già sư địa Q.63; luận Thành duy thức Q.2].

thất chuyển đệ bát hỗ vi nhân quả

(七轉第八互爲因果) Bảy chuyển thức và thức thứ 8 làm nhân quả lẫn nhau. Tức 7 chuyển thức(từ nhãn thức đến mạt na thức) và thức thứ 8(A lại da thức) trong quá trình năng sinh, sở sinh, năng huân và sở huân làm nhân quả lẫn cho nhau. Khi mối quan hệ giữa năng sinh và sở sinh là chủng tử sinh hiện hành, thì thức thứ 8 là nhân của năng sinh và 7 chuyển thức là quả của sở sinh; còn khi mối quan hệ giữa năng huân và sở huân là hiện hành huân chủng tử, thì 7 chuyển thức là nhân của năng huân và thức thứ 8 là quả của sở huân. Mối quan hệ nhân quả này là đồng thời chứ không phải khác thời.[X.luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.3]. (xt. Tam Pháp Triển Chuyển Nhân Quả Đồng Thời).

thất chân như

(七真如) Phạm: Sapta vidhà# tathatà#. Cũng gọi Thất chủng như như, Thất như.Bảy loại chân như khác nhau được thành lập theo nghĩa năng thuyên. Đó là: 1. Lưu chuyển chân như (Phạm: Pravftti-tathatà), cũng gọi Sinh chân như, Sinh như như, Luân chuyển như như, Sinh khởi chân thực. Nếu nói theo tướng thì sinh tử lưu chuyển chẳng phải lấy tự tại... làm nhân, tức do các nhân duyên phân biệt, y tha mà khởi, đây là chân thực không hư dối. 2. Thực tướng chân như (Phạm: Lakwana-tathatà), cũng gọi Tướng chân như, Tướng như như, Không như như. Nghĩa là thực tướng do chân lí nhân vô ngã, pháp vô ngã của tất cả các pháp hiển bày.3. Duy thức chân như (Phạm:Vijĩaptitathatà), cũng gọi Liễu biệt chân như, Thức chân như, Thức như như, Duy thức như. Nghĩa là nếu nói theo tướng thì Duy thức chân như chỉ cho trí quán duy thức vô lậu. 4. An lập chân như (Phạm:Saônivezatathatà), cũng gọi Y chỉ chân như, Y chỉ như, An lập chân thực. Tức là Khổ thánh đế. Nếu nói theo tướng thì chỗ mà ngã và ngã sở chấp trước là chỉ cho khí thế gian, chúng sinh thế gian. 5. Tà hành chân như (Phạm:Mithyàpratipatti-tathatà), cũng gọi Tà hành như, Tà hành như như, Tà hành chân thực. Tức là Tập thánh đế. Nếu nói theo tướng thì khát ái là nhân của mọi khổ não. 6. Thanh tịnh chân như(cũng gọi Thanh tịnh như, Thanh tịnh như như, Thanh tịnh chân thực). Tức là Diệt thánh đế. Nghĩa là sự thanh tịnh rốt ráo dứt hẳn phiền não chướng và sở tri chướng. 7. Chính hành chân như (Phạm: Samyak-pratipatti-tathatà), cũng gọi Chính hành như, Chính hành như như, Chính hành chân thực. Tức Đạo thánh đế. Nghĩa là con đường diệt khổ, như Bát chính đạo... [X. kinh Giải thâm mật Q.3, 6]. (xt. Chân Như).

Thất chúng

(七眾): 7 hạng đệ tử hình thành nên giáo đoàn xuất gia và tại gia của đức Phật, gồm: (1) Tỳ Kheo (s: bhikṣu, p: bhikkhu, 比丘); (2) Tỳ Kheo Ni (s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī, 比丘尼); (3) Sa Di (s: śrāmaṇera, p: sāmaṇera, 沙彌); (4) Sa Di Ni (s: śrāmaṇerikā, p: sāmaṇerā, sāmaṇerī, 沙彌尼); (5) Thức Xoa Ma Na (s: śikṣamāṇa, p: sikkhamānā, 式叉摩那); (6) Ưu Bà Tắc (s, p: upāsaka, 優婆塞); và (7) Ưu Bà Di (s, p: upāsikā, 優婆夷). Như trong Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 10 có giải thích rằng: “Phật đệ tử thất chúng, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Học Giới Ni, Sa Di, Sa Di Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di; Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di thị cư gia, dư ngũ chúng thị xuất gia (佛弟子七眾、比丘、比丘尼、學戒尼、沙彌、沙彌尼、優婆塞、優婆夷、優婆塞、優婆夷是居家、餘五眾是出家, bảy chúng đệ tử của Phật là Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Học Giới Ni [tức Thức Xoa Ma Na], Sa Di, Sa Di Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di; Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di là cư sĩ tại gia, còn năm chúng kia là xuất gia).” Trong bài văn Đông Dương Song Lâm Tự Phó Đại Sĩ Bi (東陽雙林寺傅大士碑) của Từ Lăng (徐陵, 507-583) nhà Trần (陳, 557-589) thời Nam Triều (南朝, 420-589) có câu: “Thất chúng phàn hiệu, ai du thanh thọ (七眾攀號、哀踰青樹, bảy chúng khóc thảm thiết, buồn ngút cây xanh).” Hay như trong bài Thống Lược Tịnh Trú Tử Tịnh Hạnh Pháp Môn Tự (統略淨住子淨行法門序) của Đạo Tuyên (道宣, 596-667) nhà Đường cũng có khẳng định rằng: “Dĩ Tam Quy thất chúng, chế ngự tình trần (以三歸七眾,制御情塵, lấy ba phép Quy Y bảy chúng để chế ngự ô nhiễm bụi trần).” ; 七衆; C: qīzhòng; J: shichishu;|Bảy chúng đệ tử Phật. Gồm: 1. Tỉ-khâu, 2. Tỉ-khâu-ni, 3. Ưu-bà-tắc (cư sĩ nam), 4. Ưu-bà-di (cư sĩ nữ), 5. Sa-di (沙彌): Tăng trẻ chưa đủ tuổi thụ giới Tỉ-khâu, 6. Sa-di ni (沙彌尼): Ni chưa đủ tuổi thụ giới Tỉ-khâu-ni. Trong ni giới, đặc biệt có số người trong dạng chuyển tiếp, là sa-di-ni đã lớn tuổi, chuẩn bị thụ giới Tỉ-khâu-ni, được gọi là Thức-xoa-ma-na (式叉摩那; s: śikṣamāṇā, p: sikkhamānā). Hai nhóm đầu tiên thực hành toàn bộ giới luật đức Phật đã chế. Hai nhóm cư sĩ chỉ giữ năm giới (五戒). Thức-xoa-ma-na ngoài giới sa-di còn phải thực hành thêm Sáu học pháp (六法); Sa-di và sa-di-ni giữ Mười giới (十戒).

thất chúng

(七衆) Cũng gọi Đạo tục thất chúng. Chỉ cho 7 loại đệ tử(gồm xuất gia và tại gia) tạothành giáo đoàn của đức Thích tôn. Đó là: 1. Tỉ khưu (Phạm: Bhikwu, Pàli: Bhikkhu), cũng gọi Bật sô, Khất sĩ. Chỉ cho người nam xuất gia đủ 20 tuổi. 2. Tỉ khưu ni (Phạm: Bhikwunì,Pàli: Bhikkhunì), cũng gọi Bật sô ni, Khất sĩ nữ. Chỉ cho người nữ xuất gia đủ 20 tuổi. 3. Sa di (Phạm: Zràmaịera, Pàli: Sàmaịera), cũng gọi Cần sách nam. Chỉ cho người nam xuất gia chưa đủ 20 tuổi. 4. Sa di ni (Phạm:Zràmaịerikà,Pàli: Sàmịerì), cũng gọi Cần sách nữ. Chỉ cho người nữ xuất gia chưa đủ 20 tuổi. 5. Thức xoa ma na (Phạm: Zikwamàịa, Pàli:Sikkhamàna), Hán dịch là Học pháp nữ. Từ ngữ này được dùng để gọi các Sa di ni học giới trong 2 năm trước khi chính thức trở thành các Tỉ khưu ni. 6. Ưu bà tắc (Phạm,Pàli:Upàsaka), Hán dịch là Cận sự nam. Chỉ cho nam tín đồ tại gia. 7. Ưu bà di (Phạm, Pàli:Upàsikà), Hán dịch là Cận sự nữ. Chỉ cho nữ tín đồ tại gia. Bảy chúng nói trên, thêmCận trụ(người thụ Tam qui, thụ trì giới một ngày một đêm), gọi là Bát chúng; hoặc thêmCận trụ nam, Cận trụ nữ, gọi là Cửu chúng. [X. kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.hạ; luật Ma ha tăng kì Q.2, 24; luận Đại tì bà sa Q.123].

thất chúng nịch thủy

(七衆溺水) Bảy chúng đắm chìm. Kinh Niết bàn quyển 32 (bản Bắc) có nêu 7 ví dụ về 7 loại chúng sinh như sau: 1. Hạng người thứ nhất xuống nước, vì không biết bơi nên liền bị chìm; ví dụ cho Nhất xiển đề vào sông sinh tử liền bị chìm ngay. 2. Hạng người thứ 2 xuống nước, tuy bị chìm nhưng lại ngoi lên, ngoi lên rồi lại chìm; ví dụ cho hạng trời và người có lúc tiến lên, nhưng lại trở lui. 3. Hạng người thứ 3chìm rồi liền ngoi lên, ngoi lên rồi không bị chìm nữa; ví dụ cho hàng Nội phàm đầy đủ 4 thiện căn: Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất pháp, vĩnh viễn không bị rơi vào 3 đường ác nữa. 4. Hạng người thứ 4 xuống nước liền chìm, chìm rồi ngoi lên, ngoi lên liền dừng lại, quán sát khắp 4 phương; ví dụ cho hàng Thanh văn. 5. Hạngngườithứ 5 xuống nước liền chìm, chìm rồi ngoi lên, ngoi lên liền dừng lại, dừng lại quán sát các phương, quán sát rồi đi; ví dụ cho hàng Duyên giác. 6. Hạng người thứ 6xuống nước liền bơi đi, đến chỗ cạn thì dừng lại, ví dụ Bồ tát.7. Hạng người thứ 7 bơi đến bờ kia, leo lên núi lớn, không còn sợ hãi, lìa các giặc oán, hưởng sự yên vui to lớn, ví dụ chư Phật.

thất chủng biện

(七種辯) Cũng gọi Thất biện. Bảy biện tuệ thù thắng của Bồ tát. A. Theo phẩm Huyễn thính trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 8 và luận Đại trí độ quyển 55 thìthất biện là: 1. Tiệp tật biện: Biện luận mau lẹ, vì Bồ tát đối với tất cả pháp đều thông suốt vô ngại. 2. Lợi biện: Biện luận rất sắcsảo, vì Bồ tát thâm nhập tất cả pháp. 3. Bất tận biện: Biện luận thao thao như dòng nước chảy, vì Bồ tát rõ suốt thực tướng các pháp nên giảng nói bất tận. 4. Bất khả đoạn biện: Vì trong Bát nhã không có các hí luận nên không thể dùng các vấn nạn để làm gián đoạn tài biện luận của Bồ tát. 5. Tùy ứng biện: Tùy theo yêu cầu của chúng sinh mà nói pháp, vì Bồ tát đã dứt hẳn pháp ái. 6. Nghĩa biện: Bồ tát giảng nói về sự lợi ích hướng tới Niết bàn. 7. Nhất thiết thế gian tối thượng biện: Nói tất cả những việc bậc nhất ở thế gian, tức chỉ cho Đại thừa. B. Cứ theo kinh Đại bát nhã quyển 99 thì thất biện là: 1. Vô ngại biện: Tươngđươngvới Lợi biện.2. Vô đoạn tận biện: Tương đương với Bất tận biện. 3. Vô sơ mậu biện: Tương đương với Bất khả đoạn biện. 4.Ứngbiện: Tương đương với Tùy ứng biện.5. Tấn biện: Tương đương với Tiệp tật biện.6. Chư sở diễn thuyết phong nghĩa vị biện: Tương đương với Nghĩa biện. 7. Nhất thiết thế gian tối thắng diệu biện: Tương đương với Nhất thiết thế gian tối thượng biện.

thất chủng bất tịnh

(七種不淨) Bảy thứ nhơ nhớp đối với sự tham đắm thân phần của mình và người. Đó là: 1. Chủng tử bất tịnh: Hạt giống bên trong là nghiệp nhân phiền não và hạt giống bên ngoài là di thể của cha mẹ, đều là nhơ nhớp. 2. Thụ sinh bất tịnh: Khi cha mẹ giao cấu, tinh huyết hòa hợp là nhơ nhớp. 3. Trụ xứ bất tịnh:Ở trong bào thai 10 tháng là chỗ nhơ nhớp. 4. Thụ đạm bất tịnh:Ở trong thai, ăn uống máu huyết nhơ nhớp của mẹ. 5. Sơ sinh bất tịnh: Lúc sinh ra máu me bẩn tưởi. 6. Cử thể bất tịnh: Dưới lớp da mỏng khắp mình toàn là những vật nhơ nhớp. 7. Cứu cánh bất tịnh: Sau khi chết, bỏ thây ngoài nghĩa địa, dòi bọ rúc rỉa, hôi thối, nhớp nhúa.

Thất chủng chân như

七種眞如; C: qīzhǒng zhēnrú; J: shichishu shinnyo;|Bảy loại chân như được đề cập trong bài luận về mười tám loại tính Không (Thập bát Không luận 十八空論). Đó là: Sinh chân như (生眞如), Tướng chân như (相眞如), Thức chân như (識眞如), Y chỉ chân như (依止眞如), Tà hạnh chân như (邪行眞如), Thanh tịnh chân như (清淨眞如) và Chính hạnh chân như (正行眞如).

Thất chủng hữu lậu

xem Bảy lậu hoặc.

thất chủng lập đề

(七種立題) Chỉ cho 7 cách đặt tên kinh.Tông Thiên thai cho rằng tất cả tên kinh không ngoài 3 yếu tố Nhân, Pháp và Dụ, trong đó, lại do đơn, phức và cụ túc khác nhau mà có phân biệt, tức đơn 3, phức 3 và cụ túc 1, cộng chung là 7 thành phần. 1. Đơn nhân lập đề: Như kinh Phật thuyết A di đà. Phật là người năng thuyết, A di đà là người sở thuyết. Đây là dùng quả và nhân của 2 thế giới để đặt tên kinh. 2. Đơn pháp lập đề: Như kinh Niết bàn. Niết bàn là pháp sở thuyết trong kinh. Đây là dùng pháp để đặt tên kinh. 3. Đơn thí lập đề: Như kinh Phạm võng. Phạm võng là mành lưới của Phạm thiên, dùng các mắt lưới để ví dụ các tiết mục của giới luật giao xen nhau vô tận. Đây là dùng ví dụ để đặt tên kinh. 4. Nhân pháp lập đề: Như kinh Văn thù vấn bát nhã. Văn thù là Nhân(người), Bát nhã là pháp. 5. Pháp thí lập đề: Như kinh Diệu pháp liên hoa. Diệu pháp là pháp, liên hoa là ví dụ.6. Nhân thí lập đề: Như kinh Như lai sư tử hống. Như lai là người, sư tử là ví dụ.7. Cụ túc lập đề: Như kinh Đại phương quảng Phậthoa nghiêm. Đại phương quảng là pháp, Phật là người và hoa nghiêm là ví dụ.(xt. Đơn Tam Phức Tam Cụ Túc Nhất).

thất chủng lễ phật

(七種禮佛) Bảy cách lễ Phật. Cứ theo phần Nghi thức bộ thứ 7 trong Pháp uyển châu lâm quyển 20 thì Tam tạng Lặcna ma đề ở TrungẤn độ truyền đến Trung quốc 7 cách lễ Phật, trong đó có đúng sai, sâu cạn khác nhau, muốn cho người ta biết 2 cách lễ ngã mạn và cầu danh trong đó là sai, còn 5 cách kia là đúng. Bảy cách lễ Phật ấy là: 1. Ngã mạn lễ: Người lễ Phật tuy thân lễ lạy nhưng trong lòng thì ngã mạn. 2. Cầu danh lễ(cũng gọi là Xướng họa lễ): Người lễ Phật chỉ vì cầu danh chứ không có tâm ân trọng. 3. Thân tâm lễ: Người lễ Phật, miệng xướng danh hiệu Phật, tâm quán tưởng tướng tốt đẹp của Phật, thân nghiệp ân cần, cung kính cúng dường, không có niệm khác. 4. Phát trí thanh tịnh lễ: Người lễ Phật, tuệ tâm sáng suốt, đạt đến cảnh giới Phật, trong ngoài thanh tịnh, rỗng suốt vô ngại, khi lễmột đức Phật tứclàlễ tất cả các Phật, lễ tất cả các Phậtchính là lễ một đức Phật, vì pháp thân chưPhậtthể vốn dung thông, cho nênhễlễ một lạy thì cùng khắp pháp giới, lễ Phật như thế, lễ pháp, lễ tăng cũng giống như thế. 5. Biến nhập pháp giới lễ: Người lễ Phật, quán xét các pháp như thân tâm của chính mình, từ xưa đến nay không lìa pháp giới, chư Phật chẳng lìa tâm ta, tâm ta chẳng lìa chư Phật, tính tướng bình đẳng, vốn không thêm bớt, nay lễ một đức Phật tức lễ khắp các đức Phật, giống như trong ngôi nhà treo trăm, nghìn tấm gương, có người đến soi gương thì gương đều hiện bóng, không tấm gương nào không soi, không hình bóng nào không hiện, chính quán như thế thì công qui về pháp giới, đức dụng thì vô biên. 6. Chính quán tu thành lễ: Người lễ Phật nhiếp tâm chính niệm, tuy đối trước thân Phật nhưng đó chính là mình lễ thân Phật trong thân của chính mình. 7. Thực tướng bình đẳng lễ: Người lễ Phật, trong chính quán vừa nói trên vẫn còn có lễ có quán, mình, người khác nhau, một lễ ở đây bây giờ là không mình không người, phàm thánh là một, lễ dụng chẳng hai.

thất chủng ngữ

(七種語) Bảy loại ngữ(lời nói)mà đức Phật sử dụng khi thuyết pháp cho chúng sinh nghe, được nêu trong kinh Niết bàn quyển 35 (bản Bắc). Đó là: 1. Nhân ngữ: Đức Phật ngay nơi nhân hiện tại nói về quả vị lai, như nói chúng sinh thích giết hại, cho đến ưa làm theo tà kiến, đó chính là nhân, người ấy sẽ chịu quả báo địa ngục. 2. Quả ngữ: Đức Như lai ở ngay quả hiện tại mà nói về nhân quá khứ, như thấy chúng sinh nghèo cùng xấu xí thì nói đó đều do người ấy đời trước phá giới, ghen ghét, sân hận, không biết hổ thẹn mà ra. 3. Nhân quảngữ: Như lai nói một việc từ nhân ở quá khứ cho đến quả ở vị lai, như nói 6 nhập xúc ở hiện tại của chúng sinh là do nghiệp ở quá khứ làm nhân, 6 nhập xúc hiện tại khởi tạo hoặc nghiệp sẽ chiêu cảmquảở quả vị lai. 4. Dụ ngữ: Đức Phật vì chúng sinh độn căn nên khéo dùng ví dụ để dẫn dắt, như ví dụ thân Phật là Sư tử vương. 5. Bất ứng ngữ: Như lai thuyết pháp y cứ vào lí chân đế và tục đế, chân đế là nói tất cả pháp lìa tính lìa tướng, tất cả đều là Trung đạo; tục đế thì nói các pháp thế gian, xuất thế gian mỗi pháp đều rõ ràng, không thể đoạn diệt. Nói cả 2 đế như thế mà đế nào cũng tương ứng với lí. Tuy nhiên, cũng có khi Như lai nói trời đất có thể hợp lại, sông chẳng chảy về biển, núi từ 4 phương ập đến, cây Sa la có thể thụ 8 giới...; những lời nói này không tương ứng với lí, vì thế nên gọi là Bất ứng ngữ.6. Thế lưu bố ngữ: Như lai tùy thuận ngôn ngữ phổ thông ở thế gian, như nói nam nữ, xe ngựa, phòng xá, thành ấp... 7. Như ý ngữ: Đối với chúng sinh, hễ có điều gì dạy bảo thì Như lai đều dùng phương tiện nói những lời vừa ý mọi người.

thất chủng nhị đế

(七種二諦) Chỉ cho 7 thứ chân đế và tục đế. Đó là: 1. Hai đế của Tam tạng giáo: Các thực pháp như ấm, giới, nhập... tạo thành sum la muôn tượng là tục đế, lí thể lãnh hội được do diệt trừ tục đế này là chân đế; tức chủ trương cho rằng các pháp có sinh thật, diệt thật, vì thế cũng gọi Thực hữu nhị đế, Sinh diệt nhị đế. 2. Hai đế của Thông giáo: Có giả là tục đế, có giả tức không là chân đế; chủ trương không thừa nhận có sinh thật, diệt thật, cũng gọi Vô sinh diệt nhị đế. 3. Hai đế của Biệt tiếpThông: Lấy có giả làm tục đế; hàng Biệt tiếpThông theo giáo pháp Biệt giáo, thấy lí Đãn trung, được tiếp vào Biệt giáo, lấy cái họ thấy là chân đế, tức lấy có giả chính là không và bất không làm chân đế, cũng gọi Đơn tục phức chân nhị đế, Huyễn hữu không bất không nhị đế. 4. Hai đế của Viên tiếp Thông: Tục đế đồng với Thông giáo; hàng Viên tiếp Thông theo giáo pháp Thông giáo, thấy lí Bất đãn trung, được tiếp vào Viên giáo, lấy điều họ thấy làm chân đế, tức cho có giả chính là không bất không, tất cả pháp không bất không là chân đế. 5. Hai đế của Biệt giáo:Lấy có giả và có giả tức không làm tục đế, Trung đạo chẳng có chẳng không là chân đế. 6. Hai đế của Viên tiếp Biệt: Tục đế đồng Biệt giáo ở trước, hàng Viên tiếp Biệt theo giáo pháp Biệt giáo, ngộ nhập lí Bất đãn trung, được tiếp vào Viên giáo, lấy điều họ thấy làm chân đế, tức hợp chung Đãn trung và Bất đãn trung làm chân đế. 7. Hai đế của Viên giáo: Lấy có giả và có giả tức không làm tục đế, tất cả pháp có, không và chẳng có chẳng không là chân đế. [X. phẩm Thánh hạnh trong kinh Đại bát Niết bàn Q.13 (bản Bắc); Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2, hạ; Đại bát niết bàn kinh sớ Q.15].

thất chủng sinh tử

(七種生死) Sự sinh tử luân hồi của chúng sinh trôi lăn trong 6 đường cõi mê được chia làm 2 thứ là Phần đoạn sinh tử và Biến dịch sinh tử. Các bộ luận y cứ vào 2 thứ sinh tử này mà lập ra thuyết mới là thuyết Thất chủng sinh tử. Đó là: A. Theo thuyết của luận Hiển thức và Ma ha chỉ quán quyển 7, thượng, thì Phần đoạn sinh tử y cứ vào 3 cõi: Dục, Sắc và Vô sắc, cho nên có 3 thứ sinh tử khác nhau; thêm vào 3 thứ này có 4 thứ sinh tử của giới ngoại là Phương tiện, Nhân duyên, Hữu hữu và Vô hữu mà thành 7 thứ sinh tử. B. Theo thuyết của Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 7, phần 1, và thuyết của Đại minh tamtạng pháp số quyển 30 thì Thất chủng sinh tử là: 1. Phần đoạn sinh tử: Quả báo trong 3 cõi, về thọ mệnh có phần hạn dài ngắn, về thân thì có hình đoạn lớn nhỏ, đều không tránh khỏi sinh tử. 2. Lưu nhập sinh tử: Chúng sinh từ lúc bắt đầu có thức thì quên chân theo vọng, trôi vào biển khổ sinh tử, chìm nổi không dừng. 3. Phản xuất sinh tử: Nếu chúng sinh phát tâm tu hành, bỏ vọng về chân thì có thể ra khỏi sinh tử, đạt đến Niết bàn. 4. Biến dịch sinh tử(cũng gọi Phương tiện sinh tử): Nhân dời quả đổi, gọi là biến dịch. Nghĩa là các bậc A la hán, Bích chi Phật, Bồ tát... đã ra khỏi sinh tử của 3 cõi Dục, Sắc, Vô sắc mà sinh vào các cõi Phương tiện... y cứ vào lúc đoạn hoặc chứng quả, vì nhân dời quả đổi nên gọi là Sinh tử. 5. Nhân duyên sinh tử: Các Bồ tát từ Sơ địa trở lên đều lấy líbất tư nghị của sở quán làm nhân, lấy chân vô lậu trí của năng quán làm duyên, cùng phá hoặc vô minh, rồi vì hóa độ chúng sinh mà thị hiện sinh tử. 6. Hữu hậu sinh tử: Vì Bồ tátĐệ thập địa(Pháp vân địa) còn một phẩm vô minh cuối cùng chưa đoạn trừ nên còn có một lần Biến dịch sinh tử. 7. Vô hậu sinh tử: Bồ tát Đẳng giác phá trừ một phẩm vô minh phiền não cuối cùng, rốt ráo hết hẳn, chứng nhập địa vị Diệu giác, không thụ thân sau. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.17]. (xt. Sinh Tử).

thất chủng sám hối tâm

(七種懺悔心) Chỉ cho 7 thứ tâm được tỏ bày lúc sám hối, đó là: 1. Sinh đại tàm quí tâm: Sinh tâm rất hổ thẹn. Nghĩa là hổ thẹn rằng mình và đức Thích ca Như lai cùng là phàm phu mà nay đức Thế tôn đã thành Phật trải qua nhiều kiếp, trong khi mình vẫn còn luân hồi sinh tử, không biết đến bao giờ mới ra khỏi.2. Sinh khủngbố tâm: Sinh tâm sợ hãi. Nghĩa là các nghiệp do thân, khẩu, ý của lũ phàm phu như ta tạo tác thường tương ứng với tội lỗi, vì nhân duyên ấy nên sau khi chết sẽ phải đọa vào các đường địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, chịu vô lượng khổ, do đó mà sinh sợ hãi. 3. Sinh yếm li tâm: Sinh tâm chán lìa. Nghĩa là lũ chúng ta trôi lăn trong sinh tử, hư giả chẳng thật, như đám bọt nước chợt nổi chợt tan, trôi chảy qua lại. Hơn nữa, thân này là do các khổ gom lại, tất cả đều nhơ nhớp, do đó mà sinh tâm chán lìa. 4. Phátbồ đềtâm: Phát tâm bồ đề. Nghĩa là muốn thành tựu thân Như lai thì phải nên phát tâm bồ đề để cứu độ chúng sinh, đối với thân mệnh và tài vật đều không sẻn tiếc. 5. Oán thân bình đẳng tâm: Coi kẻ oán người thân đều bình đẳng. Nghĩa là đối với tất cả chúng sinh khởi tâm từ bi, không có tướng mình, người, bình đẳng cứu độ, dùng tâm này để sám hối. 6. Niệm báo Phật ân tâm: Tâm nhớ nghĩ báo ân Phật. Nghĩa là Như lai đã vì chúng ta mà tu hành khổ hạnh trong vô lượng kiếp xa xưa, ân đức ấy thật khó báo đền; cho nên ngay trong đời này phải dũng mãnh tinh tiến, không tiếc thân mệnh, rộng độ chúng sinh, lên ngôi Chính giác, nên luôn nhớ nghĩ như thế. 7. Quán tội tính không: Tính chất của tội vốn không, không có thực thể, chỉ do nhân duyên điên đảo mà sinh. Quán xét như thế thì biết được tội tính xưa nay vốn không, cho nên tội cũng là không. [X. Từ bi thủy sám pháp Q.thượng].

thất chủng thiện

(七種善) Chỉ cho 7 thứ thiện là Sinh đắc thiện, Văn thiện, Tư thiện, Tu thiện, Học thiện, Vô học thiện và Thắng nghĩa thiện, do ngài Phổ quang y cứ vào luận Câu xá mà lập ra. Sinh đắc thiện là thiện tâm nhậm vận sinh khởi mộtcách tự nhiên. Ba thiện Văn, Tư, Tu cũng gọi Tam tuệ, là 3 thứ thiện trong các thiện nhờ gia hành như phát tâm tu hành vàoKiến đạo, trì giới, tu quán... mà có được. Văn thiện do nghe mà thành gọi là Văn tuệ; Tư thiện do suy tư mà thành gọi là Tư tuệ; Tu thiện do tu định mà thành gọi là Tu tuệ. Bốn thứ trên đây đều thuộc hữu lậu thiện. Còn vô lậu thiện thì được chia làm 2 thứ làhữu vi và vô vi. Trong đó, Học thiện và Vô học thiện thuộc vô lậu hữu vi. Học thiện do giai vị Hữu học của Tứ hướng, Tam quả sinh khởi; còn Vô học thiện thì chính làVô học vị, là thiện do quả A la hán sinh khởi. Thắng nghĩa thiện thuộc vô lậu vô vi, là pháp Niết bàn của Trạch diệt vô vi. [X. luận Câu xá Q.4, 22; Câu xá luận quang kí Q.1]. (xt. Tam Tính).

thất chủng thụ thai

(七種受胎) Chỉ cho 7 cách thụ thai theo thuyết của luật Thiện kiến tì bà sa quyển 6.Đó là: 1. Tương xúc thụ thai: Khi người nữ có kinh nguyệt, ưa thích người nam, nếu người nam giao hợp(tương xúc) với người nữ thì người nữ sinh tâm tham đắm mà mang thai. 2. Thủ y thụ thai: Như trường hợp 2 vợ chồng Ưuđàdi cùng xuất gia, sau đó Ưuđàdi đến chỗ vợ, vì cả 2 đều chưa dứt tình cảm ái dục, nên khi nói chuyện với nhau tinh dục thoát ra làm dơ quần áo, người vợ được quần áo này(thủ y) mà thụ thai.3. Hạ tinh thụ thai: Thủa xưa, có một Đạo sĩ đi tiểu tiện tinh trùng chảy ra theo nước tiểu(hạ tinh), có con naicáiuống nhằm nước ấy liền mang thai, sau sinh ra Đạo sĩ Lộc tử. 4. Thủ ma thụ thai: Như trường hợp Thiểm bồ tát, cha mẹ đều mù, xuất gia học đạo, nghe theo lời dạy củaĐế thích, lấy tay xoa(thủ ma) dưới rốn mà thụ thai, sinh ra Thiểm tử. 5. Kiến sắc thụ thai: Có người con gái đến tuổi có kinh nguyệt, dục tình rất mạnh, chỉ nhìn người nam (kiến sắc) mà thụ thai. 6. Văn thanh thụ thai: Như loài chim cò trắng đều là con mái, không có con trống, khi mùa xuân đến, khí dương lan khắp, tiếng sấm vừa vang thì cò trắng lắng nghe liền thụ thai. 7. Khứu hương thụ thai: Như con trâu cái chỉ ngữi hơi(khứu hương) con trâu đực liền thụ thai.

thất chủng thực

(七種食) Bảy thứ thức ăn của mắt, mũi, lưỡi, thân, ý và niết bàn. Tức mắt lấy ngủ làm thức ăn, tai lấy tiếng làm thức ăn, mũi lấy mùi thơm làm thức ăn, lưỡi lấy vị làm thức ăn, thân lấy trơn láng làm thức ăn, ý lấy pháp làm thức ăn và niết bàn lấy không buông lung làm thức ăn. Vì 7 thứ trên có công năng làm lợi ích cho thân tâm, nuôi lớn và phát triển thân tâm, nên gọi là Thực.

Thất chủng tác pháp

xem bảy hình thức yết-ma.

thất chủng tịnh

(七種淨) I. Thất Chủng Tịnh. Tên khác của Thất tịnh hoa. (xt. Thất Tịnh Hoa). II. Thất Chủng Tịnh. Chỉ cho 7 tướng thanh tịnh nguyện cầu tịnh độ của Bồ tát Sơ địa. Đó là: 1. Đồng thể tịnh:Đây là nói về thể không sai khác của các cõi nước. Tức tất cả Báo ứng độ lấy Pháp tính độ làm thể, tất cảỨng độ lấy Chân độ làm thể. Các độ trongỨng độ cũng đều đồng thể không khác. 2. Tự tại tịnh: Đây là nói về thể thanh tịnh của các cõi nước. Tức như thể tính trong sáng của viên ngọc thanh tịnh có công năng hiển bày tính chất đẹp, xấu của nó một cách tự tại, vì thể của cõi nước thanh tịnh, cho nên nhiễm tịnh viên thông, pháp giới bình đẳng. 3.Trang nghiêm tịnh:Đây là nói về tướng của cõi nước. Tức dùng thần biến tự tại để trang nghiêm Tịnh độ, lại thường có ánh sáng, chiếu phá mê tối, gom chứa các thứ báu để trang nghiêm. 4. Thụ dụng tịnh:Đây nói về Dụng của cõi nước. Tức khi thụ dụng cảnh giới Tịnh độ thì diệt được phiền não, sinh ra Thánh đạo. 5. Trụ xứ chúng sinh tịnh: Đây là nói về người cư trú để hiển bày tính chất thù thắngcủacõi nước. Tức là chúng sinh có vô lượng công đức trí tuệ đầy khắp Tịnh độ.6. Nhân tịnh:Đây là nói về nhân để nêu rõ quả. Tức đức nghiệp mà chúng sinh ở Tịnh độ có được chính là nhờ tu pháp môn Tam muội tịnh độ. 7. Quả tịnh:Đây là nói nhìn vào nhân mà rõ quả. Tức y cứ vào đức nghiệp của Tam muội tịnh độ, tùy theo tâm ưa thích của chúng sinh mà thị hiện các thứ quả. [X. Thập địa kinh luận Q.3; Đại thừa nghĩa chương Q.19].

thất chủng tự tính

(七種自性) Cũng gọi Thất chủng tính tự tính. Chỉ cho 7 tự tính của các pháp nhiễm tịnh. Đó là: 1. Tập tính tự tính (Phạm:Samudayasvabhàva), cũng gọi Tập tự tính. Nghĩa là tính gom góp thiện ác mà thành tựu các pháp nhiễm tịnh. 2. Tính tự tính (Phạm: Bhàvasvabhàva):Tính tự giữ gìn của các pháp. 3. Tướng tính tự tính (Phạm: Lakwaịa-svabhàva), cũng gọi Tướng tự tính. Nghĩa là tướng trạng của các pháp mỗi tướng đều có tính khác nhau. 4. Đại chủng tính tự tính (Phạm: Mahà-bhùta-svabhàva), cũng gọi Đại tính tự tính. Nghĩa là cái nhân làm ra tất cả sắc pháp cũng chính là cái tính riêng của mỗi chủng trong 4 đại chủng (đất, nước, lửa, gió). 5. Nhân tính tự tính (Phạm: Hetusvabhàva), cũng gọi Nhân tự tính. Chỉ cho tính của nhân gần sinh khởi các pháp. 6. Duyên tính tự tính (Phạm: Pratyaya-svabhàva), cũng gọi Duyên tự tính. Tức tính của trợ duyên giúp cho việc sinh khởi các pháp. 7. Thành tính tự tính (Phạm: Niwpatti-svabhàva), cũng gọi Thành tự tính. Chỉ cho thực tính của các pháp, tức là tâm Như lai tạng tự tính thanh tịnh thành tựu các pháp thanh tịnh. [X. kinh Lăng già a bạt đa la bảo Q.1; kinh Nhập lăng già Q.1; ăng già kinh thông nghĩa Q.1].

thất chủng viên mãn

(七種圓滿) Cũng gọi Thất chủng viên đức. Chỉ cho 7 đức viên mãn của pháp thân Phật là Thuộc tự tâm viên mãn, Cụ thường trụ viên mãn, Cụ thanh tịnh viên mãn, Vô công dụng viên mãn, Năng thí hữu tình đại pháp lạc viên mãn, Biến hành vô y chỉ viên mãn và Bình đẳng lợi đa sinh viên mãn. Bảy thứ viên mãn này có xuất xứ từ phần Quả trí trong Nhiếp đại thừa luận bản quyển hạ, nhưng các tên gọi đều được biểu thị bằng kệ tụng.Ý nghĩa Thất chủng viên mãn được giải thích rộng như sau: 1. Thuộc tự tâm viên mãn: Tất cả pháp đều thuộc tự tâm của Phật, đức tự tại vô ngại viên mãn. 2. Cụ thường trụ viên mãn: Thân Như lai viên mãn trọn đủ đức thường trụ. 3. Cụ thanh tịnh viên mãn: Phật đã vĩnh viễn diệt trừ tập khí nhơ nhớp của phiền não, cho nên đức thanh tịnh của Phật viên mãn. 4. Vô công dụng viênmãn: Đối với tất cả Phật sự, Như lai có đức vô công dụng đầy đủ. 5. Năng thí hữu tình đại pháp lạc viên mãn: Pháp thân Phật trụ ở cõi Phật thanh tịnh, không những thụ dụng đại pháp lạc mà còn ban phát đại pháp lạc cho tất cả hữu tình, viên mãn đầy đủ đức tự tại. 6. Biến hành vô y chỉ viên mãn: Phật đã xa lìa các nhơ nhớp, cho nên Ngài đi khắp thế gian mà không mảy may bị nhơ nhớp bám dính, trái lại đều chuyển thành trong sạch thông suốt. 7. Bình đẳng lợi đa sinh viên mãn: Phật dùng muôn đức làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh một cách như nhau và hoàn toàn đầy đủ.

thất chủng vô thường

(七種無常) Chỉ cho 7 thứ vô thường được nêu trong kinh Lăng già quyển 4.Bảy thứ vô thường này là của tất cả ngoại đạo chứ không phải Phật pháp. Đó là: 1. Tác xả vô thường: Vì sắc(vật chất) do 4 đại tạo ra, tạo rồi thì xả bỏ, nên là vô thường. 2. Xứ hoại vô thường: Xứ là hình dáng các sắc; ngoại đạo cho rằng 4 đại và các sắc do 4 đại tạo ra rốt ráo không hoại diệt, nhưng hình dáng bề ngoài như dài, ngắn... thì hoại diệt, cho nên là vô thường. 3. Sắc tức vô thường: Mục trên cho rằng hình dáng bề ngoài biến hoại nên là vô thường, còn mục này thì cho hình sắc tức là vô thường; đức Phật bác bỏ ý kiến này và cho rằng mục này cũng giống như mục Xứ hoại vô thường ở trước. 4. Chuyển biến vô thường: Chủ trương 4 đại và các sắc do 4 đại tạo ra là thường trụ, chỉ cósắc tướng chuyển biến là vô thường. 5. Tính vô thường: Ngoại đạo chấp trước tự tính của vô thường là bất hoại và dầu bất hoại nhưng lại có năng lực hủy hoại tất cả các pháp, làm cho các pháp vô thường, cũng giống như cậy gậy đập nát gạch ngói, hủy hoại vật khác nhưng tự nó thì bất hoại. 6. Tính vô tính vô thường: Tính của 4 đại đều không có tự tính, tướng năng tạo và sở tạo đều biến hoại, đó là vô thường. 7. Bất sinh vô thường: Tất cả pháp xưa nay vốn chẳng sinh, chẳng sinh tức vô thường; đức Phật bác bỏ quan niệm này cho rằng đã chẳng sinh thì làm gì còn có sinh diệt? Nói là vô thường nhưng thực ra chẳng thành vô thường.

thất chủng y

(七種衣) Chỉ cho 7 thứ áo. 1. Mao y:Áo may bằng lông loài vật. 2. Dã ma y:Áo may bằng sợi cây gai hoang. 3. Thô bố y:Áo may bằng vải thô. 4. Bạch chiên y:Áo may bằng loại giạ trắng. 5. Trữ bố:Áo may bằng vải gai trồng. 6. Thượng mao y: Áo may bằng lông chim. 7. Thi quyên y:Áo may bằng lụa sống. [X. Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da Q.18].

thất chủng đại

(七種大) Bảy năng lực lớn lao của Bồ tát. Cứ theo kinh Bồ tát địa trì quyển 8 thì Bồ tát có 7 năng lực to lớn, đó là: 1. Pháp đại: Pháp là pháp do chư Phật nói. Chỉ cho Bồ tát có năng lực thụ trì pháp trong 12 bộ kinh, là tối thượng tối đại.2. Tâm đại: Tâm là tâm rộng lớn của chư Phật. Chỉ cho Bồ tát có năng lực phát tâm Vô thượng chính đẳng chính giác. 3. Giải đại: Giải là hiểu rõ. Chỉ cho Bồ tát có năng lực hiểu rõ 12 bộ kinh, nhờ đó biết suốt nghĩa lí các pháp, hoàn toàn không nghi ngại. 4. Tịnh tâm đại: Bồ tát đã hiểu rõ 12 bộ kinh, nương vào đómà tu hành nên có năng lực xa lìa các hoặc nhiễm, vượt qua tất cả giải hành, tâm được thanh tịnh. 5. Chúng cụ đại: Phúc đức và trí tuệ mà Bồ tát tu hành đều là công cụ để thành Phật, rốt ráo chứng được Vô thượng bồ đề. 6. Thời đại: Thời là thời số. Chỉ cho Bồ tát trải qua 3 a tăng kì kiếp tu hành lục độ, cuối cùng sẽ được Vô thượng bồ đề. 7. Đắc đại: Chỉ cho Bồ tát nhờ 6 công đức trước làm nhân mà chứng được quả Bồ đề vô thượng.

thất chủng định danh

(七種定名) Chỉ cho 7 tên khác của thiền định, đó là: 1. Tam ma hi đa (Phạm: Samàhita). Hán dịch làĐẳng dẫn. 2. Tam ma địa (Phạm: Samàdhi). Hán dịch làĐẳng trì, Hán âm là Tam muội. 3. Tam ma bát để(Phạm:Samàpatti). Hán dịch là Đẳng chí. 4. Đà na diễn na (Phạm: Dhyàna), cũng gọi Thiền na, gọi tắt là Thiền. Hán dịch là Tĩnh lự. 5. Chất đa ế ca a yết la đa (Phạm: Cittaikàgratà). Hán dịch là Tâm nhất cảnh tính. 6. Xa ma tha (Phạm: Zamatha). Hán dịch là Chỉ. 7. Hiện pháp lạc trụ (Phạm:Dfwỉadharma-sukha-vihàra), cũng gọi Hiện pháp lạc hành. (xt. Tam Muội).

Thất Cá Điều Chế Giới

(七箇條制誡, Shichikajōseikai): Bảy Điều Răn Dạy của Pháp Nhiên Phòng Nguyên Không (法然房源空) đối với chúng đệ tử; còn gọi là Thất Cá Điều Khởi Thỉnh Văn (七箇條起請文). Kể từ khi Nguyên Không tuyên xướng nghĩa của Tịnh Độ Tông vào năm 1175 (An Nguyên [安元] nguyên niên) cho đến khi trước tác cuốn Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập (選擇本願念佛集) vào năm 1198 (Kiến Cửu [建久] thứ 9), ông bắt đầu chính thức công bố xướng đạo; trong vòng 10 năm trường, môn hạ ông tạp lẫn những hạng vô trí bất thiện, bao gồm cả chư tăng của giáo đoàn Phật Giáo cũ; cho nên chân ý của Nguyên Không bị truyền thừa sai lạc khá nhiều; cuối cùng phải chịu hậu quả bị phê phán mãnh liệt từ phía Phật Giáo Nam Đô Bắc Lãnh. Vào tháng 10 năm 1204 (Nguyên Cửu [元久] nguyên niên), đồ chúng của Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan) tố cáo lên Tọa Chủ Chơn Tánh (眞性), yêu cầu đình chỉ nhóm Chuyên Tu Niệm Phật. Trước tình huống đó, vào ngày mồng 7 tháng 11, đối với chúng môn đồ lấy hiệu là Niệm Phật Thượng Nhân (念佛上人), Nguyên Không đưa ra 7 điều răn dạy. Nếu ai phản lại những điều này, họ không phải là môn nhân, là quyến thuộc của ma, cấm không được vãng lai thảo am ở vùng Cát Thủy (吉水, Yoshimizu). Ngày hôm ấy, Nguyên Không và đệ tử có 80 người, đến ngày mồng 8 có 61 người, rồi đến ngày mồng 9 có thêm 49 người nữa, tổng cọng là 190 người cùng nhau ký tên vào cuối bản Thất Cá Điều Chế Giới này, và thệ nguyện bảo vệ những điều răn dạy của tôn sư. Nguyên bản hiện được bảo tồn tại Nhị Tôn Viện (二尊院), Kyoto. Có bản đề năm 1824 (Văn Chính [文政] thứ 7). Bản này được thâu lục vào Tịnh Độ Tông Toàn Thư (淨土宗全書) 9, phần Tông Điển Bộ 3 của Quốc Dịch Đại Tạng Kinh (國譯大藏經), Nhật Bản Cổ Điển Toàn Tập (日本古典全集), Pháp Nhiên Thượng Nhân Toàn Tập (法然上人全集) 6, Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ (日本思想大系) 10.

Thất câu chi Phật mẫu sở thuyết Chuẩn-đề đà-la-ni kinh

七倶胝佛母所説准提陀羅尼經; C: qī jùzhī fómǔ suǒshuō zhǔntí tuóluóníjīng; J: shichi kutei butsumo josetsu jundei darani kyō;|Kinh. Có nhiều bản dịch: 1. Thất Câu chi Phật mẫu tâm Đại Chuẩn-đề đà-la-ni kinh (七倶胝佛母心大准提陀羅尼經). Viết tắt là Đại Chuẩn-đề đà-la-ni kinh (大准提陀羅尼經), 1 quyển, Địa-bà Ha-la (地婆訶羅; s: divākara) dịch; 2. Thất Câu chi Phật mẫu Chuẩn-đề đại minh đà-la-ni kinh (七倶胝佛母准提大明陀羅尼經), 2 quyển, Kim Cương Trí (金剛智; s: vajrabodhi) dịch; 3. Thất Câu chi Phật mẫu sở thuyết Chuẩn-đề đà-la-ni kinh (七倶胝佛母所説准提陀羅尼經), viết tắt là Chuẩn-đề đà-la-ni kinh (准提陀羅尼經), 1 quyển, Bất Không dịch. Bản dịch nầy cấu trúc trong sáng hơn bản dịch trước. Luận giải bằng tiếng Hán của Hoằng Tán (弘贊) gồm có: Thất Câu chi Phật mẫu sở thuyết Chuẩn-đề đà-la-ni kinh hội thích (七倶胝佛母所説準提陀羅尼經會釋) và Trì tụng Chuẩn-đề chân ngôn pháp yếu (持誦準提眞言法要).

thất câu chi phật mẫu tôn

(七俱胝佛母尊) Phạm: Sapta-koỉi-buddha-màtf. Gọi tắt: Thất câu chi. Một trong các hóa thân củabồ tát Quán âm, tức tên khác của Quán âm Chuẩn đề, là mẹ của Liên hoa bộ, chủ về đức sinh ra công đức của chư tôn thuộc Liên hoa bộ, vì thế gọi là Phật mẫu tôn. Hình tượng vị tôn này thânmàu vàng nhạt, có 18 tay, khắp mình có các nếp hoa văn gấm là màu trắng. [X. kinh Thất câu chi Phật mẫu sở thuyết chuẩn đề đà la ni].

thất cú đáp

(七句答) Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho 7 cách đáp. Cứ theo luận Đại thừa a tì đạt ma tập quyển 7 thì trong pháp đối luận Nhân minh có 7 cách hỏi đáp. Tức như đối với câu hỏi A là B, hoặc B có là A không thì có 7 cách đáp như sau: 1. Thuận tiền cú đáp (Phạm: Pùrvadàka): Cách đáp thuận theo câu trước và chỉ khẳng định câu trước; chẳng hạn như: A là B, nhưng B chưa hẳn là A.2. Thuận hậu cú đáp (Phạm: Pascàtpàdaka): Trái với cách đáp 1 thuận theo câu trước, cách đáp 2 này thuận theo câu sau và chỉ khẳng định câu sau. Thí dụ như B là A, nhưng A chưa hẳn là B. 3. Nhị cú đáp: Tức đáp bằng 2 câu Hoặc A chẳng phải B, hoặc B chẳng phải A.4. Tam cú đáp: Tức đáp bằng 3 câu Hoặc A chẳng phải B, hoặc B chẳng phải A, hoặc A cũng là B. 5. Tứ cú đáp: Gọi Tứ cú phân biệt, tức dùng Hoặc A mà chẳng phải B, hoặc B mà chẳng phải A, hoặc A mà cũng là B, hoặc chẳng phải A chẳng phải B. 6. Thuật khả cú đáp: Hoàn toàn đáp bằng chữ Đúng. 7. Già chỉ cú đáp: Cách đáp bằng cách ngăn chặn lời hỏi của đối phương, làm cho họ không thành lập được câu hỏi. [X. A tì đạt ma tạp tập luận Q.15]. (xt. Tứ Cú Phân Biệt).

Thất Cưu Sào

(室鳩巢, Muro Kyūsō, 1658-1734): Nho gia của phái Chu Tử Học, sống vào khoảng giữa thời Giang Hộ; tên là Trực Thanh (直清); tự Sư Lễ (師禮); thông xưng là Tân Trợ (新助); biệt hiệu Thương Lãng (滄浪); xuất thân Giang Hộ. Ban đầu, ông phục vụ cho Tiền Điền Cương Kỷ (前田綱紀, Maeda Tsunanori), Phiên chủ Phiên Gia Hạ (加賀藩, Kaga-han), rồi vâng mệnh vị này, ông lên kinh đô Kyoto học với Mộc Hạ Thuận Am (木下順庵). Vào năm 1711 (Chánh Đức [正德] nguyên niên), nhờ Tân Tỉnh Bạch Thạch (新井白石) suy cử, ông làm Nho quan cho chính quyền Mạc Phủ. Sau đó, ông làm chức quan Thị Giảng (侍講) cho Tướng Quân Đức Xuyên Cương Cát (德川綱吉, Tokugawa Tsunayoshi) và viết cuốn Lục Dụ Diễn Nghĩa Đại Ý (六諭衍義大意). Trong thời kỳ Phái Cổ Học bộc phát mạnh mẽ, ông đã tận lực giữ gìn Chu Tử Học và trước sau vẫn với tư cách là nhà Chu Tử Học nghiêm cẩn. Trước tác của ông có Tuấn Đài Tạp Thoại (駿台雜話), Xích Tuệ Mỹ Nhân Lục (赤穗美人錄), Hiến Khả Lục (獻可錄), v.v.

thất cảnh giới

(七境界) Gọi đủ: Thất chủng đệ nhất nghĩa cảnh giới.Chỉ cho 7 thứ cảnh giới do chư Phật chứng được đến chỗ cùng tột, gọi chung là Đệ nhất nghĩa đế. Đó là: 1. Tâm cảnh giới: Tâm là lí tâm trung đạo. Cảnh giới này do lí tâm trung đạo của chư Phật và Bồ tát tạo ra. 2. Tuệ cảnh giới: Tuệ là tuệ tính. Nghĩa là tuệ tính của chư Phật, Bồ tát chiếu soi rõ ràng. 3. Trí cảnh giới: Trí là trí dụng. Nghĩa là trí lực của chư Phật, Bồ tát hiện tiền, rõ biết tất cả muôn pháp. 4. Kiến cảnh giới: Kiến là chính kiến. Nghĩa là chính kiến của chư Phật và Bồ tát hiện tiền, không có tà vọng. 5. Quá nhị kiến cảnh giới(cũng gọi Siêu nhị kiến cảnh giới): Nhị kiến là Đoạn kiến, Thường kiến. Tức chư Phật, Bồ tát vượt qua Đoạn kiến, Thường kiến. 6. Quá Phật tử địa cảnh giới(cũng gọi Siêu tử địa cảnh giới): Tử địa nghĩa là các vị Bồ tátĐăng địa(địa)coi chúng sinh như con(tử) của mình nên gọi là Tử địa. Tức là chư Phật, Bồ tát đã vượt qua Thập địa, thành Chính giác. 7. Nhập Như lai địa nội hành cảnh giới(cũng gọi Như lai tự đáo cảnh giới): Nội hành là hành vi của Quả thượng. Nghĩa là Như lai đã thấu suốt tận đáy nguồn của pháp tính, thành tựu nhị lợi, thành tựu pháp thế gian, pháp xuất thế gian thượng thượng. Bảy cảnh giới trên đây, 6 cảnh giới trước chung cho cả Phật và Bồ tát, còn cảnh giới sau cùng thì là cảnh giới riêng của Như lai. [X. kinh Nhập lăng già Q.2; Đại minh tam tạng pháp số Q.29].

thất cấu

(七垢) Chỉ cho 7 thứ phiền não hay làm nhơ nhớp tâm chúng sinh, đó là: Dục cấu, kiến cấu, nghi cấu, mạn cấu, kiêu cấu, tùy miên cấu và xan cấu. [X. luận Du già sư địa Q.14].

thất diệp quật

(七葉窟) Phạm: Sapta-parịa-guhà. Hán âm: Tát đa ban na cầu ha. Cũng gọi Thất diệp thụ quật, Thất diệp thụ lâm thạch thất, Sát đế sơn quật, Xà đế thạch thất, Thất diệp huyệt, Thất diệp nham, Thất diệp viên. Tên của động đá nằm trong núi Tì bà la (Pàli:Vebhàra), gần thành Vương xá, Trung Ấn độ; là 1 trong 5 tinh xá thuộc thành Vương xá. Vì trước cửa hang động có cây Thất diệp nên gọi là Thất diệp quật. Chỗ này vốn là linh tích đánh dấu nơi đức Thích tôn thuyết pháp, sau khi đức Phật nhập diệt, tôn giả Ca diếp triệu tập 500 vị Hiền thánh về họp tại đây, các ngài A nan đà, Ưu ba li, Ca diếp... là những bậc Thượng thủ, kết tập 3 tạng Kinh, Luật, Luận, an cư 3 tháng, hoàn thành đại sự. Cứ theo Pháp hoa văn cú quyển 1 thì 5 tinh xá là chỉ cho Tì bà la bạt thứ, Tát đa ban na cầu ha, Nhân đà thế la cầu ha, Tát pha thứ hồn trực ca bát bà la và Kì xà quật sơn. Nhưng Chỉ quật dịch thổ tậpquyển 21 thì hợp chung Tát đa ban na cầu ha và Tì bà la bạt thứ làm một gọi là Tì bà la bạt thứ tát đa ban na cầu ha, rồi thêm tinh xá Trúc viên mà thành 5 tinh xá. [X. kinh Tạp a hàm Q.39; Đại đường tây vực kí Q.9]. (xt. Ngũ Tinh Xá Thập Tháp).

thất diệp thụ

(七葉樹) Phạm: Sapta-parịa. Hán âm: Tát đa ban la na. Loại cây cao xanh quanh năm, lá kép giống như bàn tay, do 7 lá nhỏ hình thành nên gọi là Thất diệp. Nơi kết tập kinh điển lần đầu tiên của hật giáo được gọi là hang Thất diệp, vì trước cửa hang có cây Thất diệp rất to. [X. Phiên Phạm ngữ Q.9; Chỉ quật dịch thổtập Q.10].

thất diệt tránh

(七滅諍) Phạm: Saptàdhikaraịa-Zamathà#. Cũng gọi Thất diệt tránh pháp, Thất chỉ tránh pháp. Chỉ cho 7 cách cắt đứt sự tranh luận giữa tăng ni, đó là: 1. Hiện tiền tì ni (Phạm:Saômukhavinaya), cũng gọi Diện tiền chỉ tránh luật. Nghĩa là 2 bên tranh chấp phải giáp mặt nhau để giải quyết vấn đề, bằng cách dẫn chứng giáo pháp Tam tạng để giải quyết, hoặc trước mặt dẫn chứng các điều chế của giới luật để giải quyết. 2. Ức niệm tì ni (Phạm: Smftivinaya), cũng gọiỨc chỉ tránh luật. Nghĩa là khi tranh luận muốn biết có tội hay không thì nên hỏi phạm nhân có nhớ hay không, nếu không nhớ thì được miễn, nhưng chỉ với điều kiện người ấy trong đời sống bình thường là người tốt, thường gần gũi thiện tri thức. 3. Bất si tì ni(Phạm:Amùđha-vinaya), cũng gọi Bất si chỉ tránh luật. Nghĩa là nếu người phạm giới tinh thần không ổn định, thì đợi họ trở lại bình thường, rồi mới yết ma khiến họ sám hối tội lỗi. 4. Tự ngôn tì ni (Phạm: Pratijĩàkàraka), cũng gọi Tự phát lộ chỉ tránh luật. Nghĩa là khi tỉ khưu phạm tội, phải bảo họ tự nói rarồi mới trị tội. 5. Mịch tội tướngtì ni (Phạm: Tatsvabhàvaisìya), cũng gọi Bản ngôn trị tì ni, Cư chỉ tránh luật. Nghĩa là khi người phạm tội không thú thật, trình bày mâu thuẫn thì nêu tội trạng của họ ra, khiến suốt đời phải tuân thủ 8 pháp, không được độ người hoặc nhận người y chỉ. 6. Đa nhân mịch tộitướng tì ni(Phạm: Yad-bhùyasikìya), cũng gọi Đa mịch tì ni, Triển chuyển chỉ tránh luật. Nghĩa là khi nhiều người tranh cãi lẫn nhau, không dễ quyết đoán để chấm dứt, thì phải thỉnh các vị tăng có đức, nương vào số đông để phán định đúng sai. 7. Như thảo phú địa tì ni (Phạm: Tfịa-prastàraka), cũng gọi Thảo phục địa, Nhưkhí phẩn tảo chỉ tránh luật. Nghĩa là sau khi 2 bên tranh cãi đều nhận ra lỗi lầm của mình, thì như cỏ rạp trênmặtđất, cùng chí tâm phátlộ, xin lỗi nhau và sám hối.[X. kinh Chu na trong Trung a hàm Q.52; Tứ phần tăng giới bản; luật Tứ phần Q.47; luật Ma ha tăng kì Q.40; luật Thập tụng Q.53; luật Ngũ phần Q.23]. (xt. Tứ Tránh).

thất diệt tránh pháp

xem bảy pháp dứt sự tranh cãi.

thất diệu

(七曜) Chỉ cho 7 thiên thể: Mặt trời, mặt trăng, sao Hỏa, sao Thủy, sao Mộc, sao Kim và sao Thổ. Theo kinh Tú diệu quyển thượng thì phần tinh túy của Thất diệu bay lên trời, phóng ra ánh sáng cùng khắp, phần linh thiêng thì giáng xuống, coi về các việc tốt xấu, lành dữ ở nhân gian. Thất diệu gồm: 1. Nhật tinh: Mặt trời (Phạm:Àditya). 2. Nguyệt tinh: Mặt trăng (Phạm: Soma). 3. Hỏa tinh: Sao Huỳnh hoặc (Phạm: Aígaraka). 4. Thủy tinh: Sao Thần (Phạm:Budha). 5. Mộc tinh: Sao Tuế (Phạm: Bfhaspati). 6. Kim tinh: Sao Thái bạch (Phạm: Zukara). 7. Thổ tinh: Sao Trấn (Phạm: Zanaizcara). Thông thường, 7 sao này được dùng về phương diện lịch pháp và chiêm tinh. Bảy sao này thêm 2 thực tinh là La hầu (Phạm: Ràhu) và Kế đô (Phạm:Ketu) thì gọi là Cửu chấp hoặc Cửu diệu. Chấp Diệu gọi tắt của Cửu chấp Thất diệu. Pháp tu cúng tế Thất diệu gọi là Thất diệu cúng. [X. kinh Thủ hộ đại thiên quốc độ Q.trung, Thất diệu nhương tai quyết; Thất diệu tinh thần biệt hành pháp].

Thất diệu nhương tai quyết

七曜攘災決; C: qīyào răngzāi jué; J: shichiyō jōsai ketsu;|Một quyển, Kim-câu-tra (金倶吒; s: koṅta) dịch.

thất diệu pháp

(七妙法) Phạm: Sapta sat-puruwa-dharmà#. Cũng gọi Thất pháp, Thất tri, Thất thiện, Thất thiện pháp. Chỉ cho 7 pháp mầu nhiệm, đó là: 1. Tri pháp: Biết hết các pháp nói trong kinh, tức hiểu rõ giáo pháp năng thuyên có 12 bộ kinh khác nhau. 2. Tri nghĩa: Phân biệt rõ nghĩa lí được giảng giải trong giáo pháp, không bị văn tự làm trở ngại. 3. Tri thời: Biết hết thời nghi tu hành thích hợp, thích nghi tu Chỉ thì tu Chỉ, thích nghi tu Quán thì tu Quán, cho đến tùy nghi mà nói, nín, tụng niệm, truyền trao.4. Tri túc: Biết tiết chế, biết hạn lượng, tức biết hết tiết lượng về việc ăn, mặc, đi, đứng, ngồi, nằm... 5. Tri tự: Biết mình, tức biết rõ đức của mình nhiều hay ít, biết rõ về tín tâm, giới hạnh, nghe nhiều, bố thí và các phần về dòng họ, biện tài... 6. Tri chúng: Biết rõ hết sự sai khác về dòng họ và thân phận của đại chúng tập họp để quyết định đối cơ thuyết pháp như thế nào. 7. Tri tôn ti(cũng gọi Tri bổ đặc già la hữu thắng hữu liệt). Nghĩa là biết người khác hơn mình hay bằng mình. Tức biết rõ đức hạnh của mọi người hơn kém thế nào. [X. kinh Niết bàn Q.15 (bản Bắc)]. (xt. Thất Tri).

thất duy

(七惟) Bảy phương pháp không dẫn đến sự suy thoái. Đó là: 1. Duy kinh đạo: Chỉ cho sự quán xét về lí vô thường. 2. Duy nhân sinh: Chỉ cho sự quán về cái khổ. 3. Duy tinh tiến: Chỉ cho sự quán xét về lìa bỏ. 4. Duy khiêm hư: Chỉ cho sự quán xét về lí vô ngã. 5. Duy hàng ý: Chỉ cho sự quán xét về lìa tình. 6. Duy khu trung: Chỉ cho sự quán xét về dơ bẩn. 7. Duy tự quán: Chỉ cho sự quán xét về sự diệt. [X. kinh Bát nê hoàn Q.1].

thất dạ đãi

(七夜待) Gọi đủ: Thất dạ đãi đại sự. Mỗi tháng lấy 7 đêm từ đêm17 đến đêm 23, mỗi đêm phối hợp với 6 bồ tát Quán thế âm vàbồ tát Đại thế chí, mỗi đêm trụ trong Tam muội của mỗi vị tôn mà lễ bái để cầu cho các nguyện được thành tựu. Đêm 17 là Thiên thủ Quán âm, đêm 18 là Chính quán âm, đêm 19 là Mã đầu Quán âm, đêm 20 là Thập nhất diện Quán âm, đêm 21 là Chuẩn đề Quán âm, đêm 22 là Như ý luân Quán âm và đêm 23 là bồ tát Đại thế chí. [X. Thậpthất thông ấn tín, Thập kết nhị; Tu nghiệm thâm bí hành pháp phù chú tập Q.4].

thất dịch kinh điển

(失譯經典) Cũng gọi Vô dịch kinh điển, Khuyết dịch kinh điển. Chỉ cho các kinh điển mất tên người dịch, tức là những kinh điển không ghi tên người dịch. Phật giáo Trung quốc đến đời PhùTần, có ngài Đạo an (314-385) soạn Tông lí chúng kinh mục lục (hiện nay không còn) thì dừng, nói chung, các kinh điển được lưu truyền đại khái không có ghi tên kinh và tên người dịch, như các bộ kinh chép tay xưa từ đầu đờiĐườngvề trước hiện còn, không bộ nào có ghi tên người dịch ở đầu quyển, cho nên đến thời ngài Đạo an tuy có kiểm xét lại tên kinh, tên người dịch, nhưng vẫn còn nhiều kinh điển rất khó định rõ tên người dịch. Thất dịch kinh điển đa số là những trứ tác được truyền dịch vào thời kì đầu. Cứ theo sự điều tra của ngài Tăng hựu đời Lương thuộc Nam triều thì trong khoảng thời gian 300 năm từ đời Đông Hán đến giữa thời Nam Bắc triều, ở Trung quốc đã có tới hơn 2.000 bộ kinh điển được truyền dịch, trong đó, số kinh điển thất dịch ước chừng nhiều gấp 3 lần số kinh điển đã biết tên người dịch. Đến đầu đời Tùy, khi Phí trường phòng biên tập sửa chữa bộ Lịch đại tam bảo kỉ, bèn y cứ vào các bộ mục lục ngụy tác như: Hán đại Phật kinh mục lục, Chu sĩ hành hán lục, Đạo tổ lục, Thủy hưng lục... mà gán tên các nhà dịch kinh đời trước như An thế cao, Pháp cự... vào 1308 bộ kinh điển thất dịch. Các bộ mục lục kinh đời sau, như Đại đường nội điển lục, Khai nguyên thích giáo lục..., tuy có đính chính thêm bớt đôi chút, nhưng đại khái vẫn dẫn dụng những mục lục sai lầm của Tam bảo kỉ, nên đã tạo thành cục diện rối ren, lộn xộn trong lịch sử truyền dịch của Trung quốc. Về con số các kinh điển thất dịch thì các bộ mục lục kinh được biên tập qua các đời đều có ghi chép, nhưng mục lục được nêu thì có khác. Xuất tam tạng kí tậpquyển 3 của ngài Tăng hựu ghi các kinh điển thất dịch do ngài Đạo an xét định, có liệt kê 142 bộ; ngài Tăng hựu còn biên soạn Tân tập tục soạn thất dịch tạp kinh lục, trong đó ghi 1306 bộ. Ngài Bảo xướng đời Lương soạn Chúng kinh mục lục, liệt kê 321 bộ thất dịch; ngài Pháp kinh đời Tùy soạn Chúng kinh mục lục, ghi 431 bộ thất dịch; Phí trường phòng đời Tùy soạn Lịch đại tam bảo kỉ, liệt kê 309 bộ thất dịch, Đại đường nội điển lục và Cổ kim dịch kinh đồ kỉ thì ghi theo con số của Lịch đại tam bảo kỉ; Đại chu san định chúng kinh mục lục liệt 424 bộ; Khai nguyên thích giáo lục của ngài Trí thăng đời Đường ghi 741 bộ; Đại chính tân tu đại tạng kinh của Nhật bản hiện nay thì ghi 143 bộ thất dịch. Những bộ kinh lục nêu trên, như Đại đường nội điển lục, Khai nguyên thích giáo lục... đều chịu ảnh hưởng của Tam bảo kỉ, cho nên số kinh điển thất dịch trong đó được nêu đều giảm nhiều so với Xuất tam tạng kí tập. Còn Pháp kinh lục, Vũ chu lục... thì thu chép những bản hiện còn trong số các kinh điển thất dịch, nên số kinh mục được nêu cũng ít hơn so với Xuất tam tạng kí tập. Đại chính tạng thì một mặt sử dụng con số của Khai nguyên lục, mặt khác lại chỉ thu tập các bản kinh thất dịch hiện còn, cho nên kinh thất dịch được nêu ít nhất. [X. bộ thứ hai, chương 2 trong Phật thư giải thuyết đại từ điển Phật điển tổng luận (Tiểudã Huyềndiệu)].

thất giai phật danh

(七階佛名) Cũng gọi Thất giai Phật danh kinh, Lễ sám, Lễ sám văn, Lễ Phật sám hối văn, Lục thời phát nguyện pháp. Tác phẩm, 1 quyển, do Tổ khai sáng Tam giai giáo là ngài Tín hành (540-594) soạn vào đời Tùy, nói về cách lễ sám của Tam giai giáo. Hiện nay có vài ba bản chép tay đào được ở Đôn hoàng mang các số hiệu 59, 236, 306... của A.Stein được cất giữ ở bảo tàng viện nước Anh, nội dung, thứ tự của các bản in đều hơi khác nhau. Quyển Quán Dược vương Dược thượng bồ tát kinh Phật danh trong kinh lục cũng chính là tên khác của sách này, quảng bản là 1 quyển 30 tờ hoặc 1 quyển 31 tờ, còn lược bản thì 1 quyển 6 tờ. Có thuyết cho rằng quảng bản chính là bản gốc của sách này. Ngoài ra, trong lời Bạt của một bản chép tay đào được ở Đôn hoàng có ghi thêm niên hiệu Thái bình hưng quốc đời vua Thái tông nhà Bắc Tống.

Thất Giác Chi

(s: saptapodhyaṅgāni, p: satta-pojjharigā, 七覺支): còn gọi là Thất Đẳng Giác Chi, Thất Biến Giác Chi, Thất Bồ Đề Phần, Thất Bồ Đề Phần Bảo, Thất Giác Phần, Thất Giác Ý, Thất Giác Chí, Thất Giác Chi Pháp, Thất Giác Ý Pháp, gọi tắt là Thất Giác, là 1 trong 37 phẩm trợ đạo, gồm có:(1). Trạch Pháp Giác Chi (s: dharma-pravicaya-sambodhyaṅga, 擇法覺支): nghĩa là chọn lựa sự đúng sai của pháp, lấy cái đúng và bỏ đi cái sai,(2). Tinh Tấn Giác Chi (s: virya-sambodhyaṅga, 精進覺支): là chọn lựa pháp đúng đắn và tinh tấn chuyên tâm tu tập pháp ấy,(3). Hỷ Giác Chi (s: srīti-sambodhyaṅga, 喜覺支): an trú trong pháp vui đúng đắn,(4). Khinh An Giác Chi (s: prasrabdhi-sambodhyaṅga, 輕安覺支): là đoạn trước tà ác đạt được sự nhẹ nhàng an lạc của thân tâm và tăng trưởng thiện căn,(5). Xả Giác Chi (s: supeksā-sambodhyaṅga, 捨覺支): là xả bỏ đi tâm phan duyên với ngoại cảnh và quay trở về sống bình an,(6). Định Giác Chi (s: sammādhi-sambodhyaṅga, 定覺支): là nhập vào thiền định, tâm và cảnh trở thành một, làm cho tâm không tán loạn gọi Định Giác Chi,(7). Niệm Giác Chi (s: smṛti-sambodhyaṅga, 念覺支): khi tu tập đạo pháp, trú trong chánh niệm và thường làm quân bình trí tuệ. Khi tâm được bình lặng với 3 Giác Chi Trạch Pháp, Tinh Tấn và Hỷ, hành giả quán sát các pháp khích lệ tâm mình. Khi tâm bị dao động thì dùng tâm Khinh An Giác Chi để nhập vào thiền định và làm cho tâm được an tịnh. Trong khi đó 3 Giác Chi trước thuộc về Tuệ và 3 Giác Chi sau thuộc Định còn Giác Chi cuối cùng thuộc về cả Định và Tuệ.

Thất giác chi

xem Bảy giác chi. ; 七覺支; C: qījuézhī; J: shichikakushi; S: sapta-bodhy-angāni.|Bảy giác chi.

thất giác chi

(七覺支) Phạm: Saptabodlyaígàni. Cũng gọi Thất đẳng giác chi, Thất biến giác chi, Thất bồ đề phần,Thất giác phần, Thất giác ý, Thất giác chí, Thất giác chi pháp, Thất giác ý pháp. Gọi tắt: Thất giác. Hành pháp thuộc nhóm thứ 6 trong 37 đạo phẩm. Giác nghĩa là trí tuệ bồ đề; vì 7 pháp này có công năng giúp cho trí tuệ bồ đề khai triển, nên gọi là Giác chi. Thất giác chi gồm: 1. Niệm giác chi: Trong tâm sáng suốt, luôn nghĩ đến thiền định và trí tuệ. 2. Trạch pháp giác chi: Nhờ vào năng lực trí tuệ, lựa chọn pháp chân chính, gạt bỏ pháp hư dối. 3. Tinh tiến giác chi: Đối với việc tu hành pháp chân chính, gắng sức, không biếng nhác. 4. Hỉ giác chi: Được pháp chân chính, tâm sinh vui mừng. 5. Khinh an giác chi(cũng gọiỶgiác chi): Chỉ cho trạng thái thân tâm an ổn, khoan khoái, nhẹ nhàng. 6. Định giác chi: Vào thiền định mà tâm không tán loạn. 7. Xả giác chi: Tâm không nghiêng lệch, không chấp trước, luôn ở trong trạng thái cân bằng, không thái quá, không bất cập.

Thất giác ý

xem Bảy giác chi.

thất giới

(七界) Cũng gọi Thất tâm giới, Thất thức giới. Bảy giới. Tức chỉ cho 6 thức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý trong 18 giới và thêm ý căn trong 6 căn. Trong 12 xứ thì ý căn bao nhiếp cả 6 thức kia mà trở thành 1 ý xứ. Trong 18 giới nói riêng 6 thức thì ý căn chỉ có tên gọi, chứ ngoài 6 thức không có thể riêng, nên được xếp vào 6 thức. Vì thế biết từ ngữ Thất giới tuy có 7 tên nhưng thực chất chỉ có 1 hoặc 6, do đó, ngoài 6 thức còn thêm ý căn để lập thuyết Thất giới. Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương tự tính không biết tự tính, vì không chấp nhận 2 tâm cùng khởi lên một lượt, cho nên chỉ nói 6 thức tâm vương, thì tầng tự giác của tâm tự biết ắt ẩn mất, nhưng muốn thuyết minh tầng tự giác này nên theo thời gian lần lượt dùng thuyết Tự tính tri tha tính, và ngoài 6 thức còn lậpý căn là 6 thức ở quá khứ đã tàn lụi.

thất hiền

(七賢) I. Thất Hiền. Cũng gọi Thất gia hành vị. Đối lại: Thất thánh. Chỉ cho bảy vị Phương tiện từ Kiến đạo trở xuống của Thanh văn do tông Câu xá thuộc Tiểu thừa thành lập. Đó là: 1. Ngũ đình tâm vị: Tu 5 pháp quán: Bất tịnh, từ bi, duyên khởi, giới phân biệt và sổ tức, theo thứ tự đối trị tham, sân, si, chấp ngã và tán loạn. 2. Biệt tướng niệm trụ vị: Quán xét tự tính và tướng chung của 4 đối tượng: Thân, thụ, tâm, pháp để đối trị 4 điên đảo: Tịnh, lạc, thường, ngã. 3. Tổng tướng niệm trụ vị: Quán xét chung thân, thụ, tâm, pháp và tu các hành tướng vô thường, khổ, không, vô ngã. 4. Noãn pháp vị. 5. Đính pháp vị. 6. Nhẫn pháp vị. 7. Thế đệ nhất pháp vị: Quán xét cảnh 4 đế của 3 cõi, tu 16 hành tướng, cho đến địa vị sinh ra thiện căn tối thắng ở thế gian.Ba vị trước là Tam hiền, cũng gọi Ngoại phàm; 4 vị sau là Tứ thiện căn, cũng gọi Nội phàm. Vì chưa sinh ra trí vô lậu nên chưa được gọi là Thánh. Vì đã nhập vào vị Phương tiện gia hành thuộc chính tính li sinh, nên cũng gọi là Thất phương tiện, Thất gia hành. Tông Pháp tướng lập Ngũ vị, 2 giai vị đầu tiên là Tư lương và Gia hành được gọi chung là Thất phương tiện. II. Thất Hiền. Chỉ cho Thất hiền của Đại thừa. Đó là: 1. Người mới phát tâm. 2. Người tu hành ở địa vị hữu tướng. 3. Người tu hành ở địa vị vô tướng. 4. Người tu hành ở địa vị Phương tiện. 5. Người tu hành ở địa vịTập chủng tính.6. Người tu hành ở địa vị Tính chủng tính.7. Người tu hành ở địa vị Đạo chủng tính.Thất hiền này đều đã điều tâm thuận đạo ở Địa tiền, cho nên gọi là Thất hiền.

thất hoa bát liệt

(七花八裂) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Bảy tiêu hao, tám rách nát, hàm ý là tan tành, tơi tả, nhưng cũng được dùng với ý tán thưởng sự tự tại thông đạt không chướng ngại. Thất hoặc bát biểu thị số nhiều. Phần bình xướng, tắc 9trong Bích nham lục quyển 1 (Đại 48, 149 hạ) nói: Vừa hỏi đến thì dường như đã đến chỗ cùng cực; nhưng vừa chạm tới thì 7 tiêu 8 rách(thất hoa bát liệt), ngồi ở chỗ bụng rỗng lòng cao. Về các dụng ngữ tương tự như dụng ngữ trên, còn có thất tung bát hoành, thất xuyên bát huyệt, thất thông bát đạt, thất điên bát đảo, thất chi bát tiết, thất linh bát lạc, thất ao bát đột...

thất hương thang

(七香湯) Loại nước thơm được nấu bằng 7 vị thuốc: Trần bì, phục linh, địa cốt bì, nhục quế, đương qui, chỉ xác và cam thảo. Ở Trung quốc, phong tụcuốngloại nước này đã có từ rất sớm trong dân gian, Luật tong gọi là Cam lộ thang, Thiền gia cũng có dùng, vào ngày Phật đản tắm Phật có nấu Thất hương thang cúng dường đại chúng.

thất hải

(七海) Bảy biển. Núi Tu dicó 7 lớp núi vàng bao bọc, ở khoảng giữa các núi ấy có 8 lớp biển. Ngoài lớp biển nước mặn, thì 7 lớp biển còn lại đều chứa đầy nước 8 công đức, được gọi chung là Thất hải. THẤT HẮC SƠN Chỉ cho 7 ngọn Hắc sơn ở khoảng giữa từ phía bắc thành Tì xá li, Trung Ấn độ, đến núi Hương túy (Phạm: Gandhamadana) thuộc dãy Hi mã lạp nhã ở Bắc Ấn độ. Phẩm Diêm phù đề trong luận Lập thế a tì đàm quyển 1 ghi tên của 7 ngọn núi này như sau: Núi Tiểu hắc,núi Đại hắc, núiĐa li ngưu, núi Nhật quang, núi Ngân, núi Hương thủy và núi Kim biên. Nếu người lên đỉnh núi Kim biên, đứng xoay mặt hướng bắc, trông về nơi xa thẳm thì chỉ thấy màu tối đen. Theo luận Câu xá quyển 11 thì các núi thuộc dãy Hi mã lạp nhã trên chóp núi thường có tuyết trắng bao phủ, cho nên gọi là Tuyết sơn. Còn các núi ở phía nam thì trên đỉnh không có tuyết phủ, thay vào đó là cây cối um tùm, rậm rạp, chỉ toàn một màu tối đen, cho nên gọi là Hắc sơn.

thất hữu

(七有) Tất cả Hữu(các cõi tồn tại) được chia làm 7 loại là: 1. Địa ngục hữu, cũng gọi Bất khả hữu. 2. Súc sinh hữu, cũng gọi Bàng sinh hữu.3. Ngã quỉ hữu, cũng gọi Quỉ giới hữu. 4. Nhân hữu. 5. Thiên hữu. 6. Nghiệp hữu, cũng gọi Hành hữu. 7. Trung hữu. Bảy cõi trên đây được gọi là Hữu vì trong 5 đường như địa ngục... y cứ vào nghĩa quả báo tồn tại nên gọi là Hữu; Nghiệp hữu là nhân của quả báo ấy nên gọi là Hữu; Trung hữu(thân trung ấm) là phương tiện đi tới quả báo ấy nên gọi là Hữu.

thất hữu y phúc nghiệp

(七有依福業) Chỉ cho 7 cách thực hành bố thí để thành tựu phúc nghiệp. 1. Bố thí cho người đi xin. 2. Bố thí cho người lỡ đường. 3. Bố thí cho người bị bệnh. 4. Bố thí cho người săn sóc bệnh nhân. 5. Đem vườn rừng bố thí cho các chùa. 6. Đem thức ăn uống bố thí cho chúng tăng.7. Tùy theo thời tiết nóng, rét mà bố thí thức ăn, áo mặc cho người nghèo khổ... Luận Câu xá quyển 18 (Đại 29, 96 trung) ghi: Như trong Thất hữu y phúc nghiệp thì trước nói nên bố thí cho người đi xin, người tu hành, người bệnh, người săn sóc bệnh, vườn rừng, thức ăn thường dùng và các thực phẩm thích hợp với các mùa nóng, lạnh... Rồi lại nói nếu có người nam, người nữ có đầy đủ lòng tin thanh tịnh thực hành những điều được nói trong Thất hữu y phúc nghiệp trên đây thì được phúc đức không thể tính lường.

thất kim sơn

(七金山) Chỉ cho 7 lớp núi nằm ở khoảng giữa núiTu di và núi Thiết vi, vì 7 lớp núi này đều do vàng báu cấu tạothành,nên có tên là Thất kim sơn. Đó là: 1. Du kiện đạt la sơn (Phạm: Yugaôdhara): Cao 4 vạn do tuần, bao quanh núi Tu di. 2. Y sa đà la sơn (Phạm: Ìwàdhara): Cao 2 vạn do tuần, bao quanh núi Du kiện đạt la. 3. Khiết địa lạc ca sơn (Phạm: Khadiraka). 4. Tô đạt lê xá na sơn (Phạm: Sudarzana). 5.Át thấp phượcyết noa sơn(Phạm: Azvakarịa). 6. Tì na đát ca sơn (Phạm:Vinataka). 7. Ni dân đạt la sơn (Phạm: Nimiôdhara). Bảy lớp núi vàng này, theo thứ tự, lớp sau bao quanh lớp trước, độ cao cũng giảm, lớp sau chỉ cao bằng nửa lớp trước. Nhưng kinh Trường a hàm quyển 18 và kinh Khởi thế quyển 1 đều ghi chép khác nhau.

thất kiến

(七見) Chỉ cho 7 vọng kiến là tà kiến, ngã kiến, thường kiến, đoạn kiến, giới đạo kiến, quả đạo kiến và nghi kiến. Kiến nghĩa là không hiểu chính lí, cho quấy là phải, lấy tà làm chính, cố chấp những quan niệm không chính xác, như thế gọi là Kiến. 1. Tà kiến: Chối bỏ lí nhân quả, thiện ác. 2. Ngã kiến: Không biết thân này là do 5 uẩn giả hòa hợp, mà vọng chấp có ngã chủ tể. 3. Thường kiến: Không biết thân mình và ngoại vật đều vô thường, cuối cùng đều hoại diệt, nhưng lại vọng chấp chúng là thường trụ bất biến. 4. Đoạn kiến: Chẳng biết bản tính các pháp thường trụ bất hoại, trái lại, khởi kiến chấp đoạn diệt, cho rằng thân này chết rồi không còn tiếp tục tái sinh nữa. 5. Giới đạo kiến(cũng gọiKiến thủ kiến): Không biết giới chân chính của Như lai, vọng chấp giới bò, giới chó, chẳng tu chính nhân, lại cho các giới bò, chó là thật. 6. Quả đạo kiến: Chẳng biết chính nhân, chính quả, cho bất thiện là diệu thiện, lấy các khổ hạnh như bôi tro, trát trấu lên mình, nằm trên gai nhọn... làm chính hạnh, rồi vọng chấp được chút ít thì cho đó là quả cao tột. 7. Nghi kiến: Đối với các lí chân thực tâm sinh nghi ngại, do dự không quyết.

thất la bà

(失羅婆) Phạm: Zravaịa. Hán dịch: Ngưu tú, Cát tường tú, Vô dung tú. Một trong 28 ngôi sao. Vì sự vận hành của sao Thất la bà và mặt trăng không có liên quan với nhau, nên trong lịch pháp Ấn độ không có ngôi sao này. Nhưng vì Thất la bà là ngôi sao tốt lành nhất nên được xếp vào 1 trong 28 ngôi sao. Cứ theo phẩm Thuyết tinh đồ trong kinh Ma đăng già quyển thượng và phẩm Tinh tú trong kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 41, thì chòm sao này có 3 ngôi (Trung quốc thì cho rằng có 6 ngôi), hình dáng giống như đầu bò, họ Phạm, thuộc về thần Phong phạm ma. Trong Mạn đồ la của Mật giáo, vị thần này được gọi là Đối chủ. Hình tượng vị tôn này bàn tay phải ngửa lên, đầu ngón tay rủ xuống, tay trái cầm hoa sen, trên hoa có hạt châu màu đỏ. Kinh Bảo tinh đà la ni quyển 4 (Đại 13, 556 thượng) nói: Người nào sinh nhằm sao Thất la bà (Hán dịch là Ngưu tú) thì trên ống chân phải nhất định có 2 cái đốm, người này có tước vị bổng lộc, không bệnh tật, được mọi người yêu mến, sau khi chết được sinh cõi trời.

thất long vương

(七龍王) Chỉ cho 7 vị vua Rồng, đó là: Liên hoa long vương,Ế la diệp long vương, Đại lực long vương, Đại hống long vương, Tiểu ba long vương, Trì dịch thủylong vương và Kim diện long vương.

thất lưu

(七流) Bảy dòng. Là sự phânloại phiền não. Các phiền não Kiến hoặc và Tư hoặc làm cho chúng sinh nổi trôi trong biển sinh tử, bậc Thánh Tứ quả dần dần ngăn dứt dòng trôi chảy này để tiến lên, vì có 7 phiền não được ngăn dứt, cho nên gọi là Thất lưu. Đó là: 1. Kiến đế sở diệt lưu: Hàng Sơ quả vào Kiến đạo, vì đã dứt trừKiến hoặc của cõi Dục nên không còn bị trôi lăn trong cõi Dục nữa. 2. Tu đạo sở diệt lưu: Hàng Nhị quả, Tam quả ở giai vị Tu đạo, tu quán Tứ đế, diệt được Tư hoặc của cõi Dục, nên không còn bị trôi lăn trong cõi Dục nữa. 3. Viễn li sở diệt lưu: Hàng Tứ quả tu quán Tứ đế, diệt sạch Kiến hoặc, Tư hoặc không sót, cho nên xa lìa 3 cõi, không bị trôi lăn nữa. 4. Số sự sở diệt lưu: Hàng Tứ quả quán xét thấy 5 uẩn, 18 giới tất thảy đều rỗng lặng, hết sạch các hoặc Kiến, Tư, không còn bị trôi lăn trong 3 cõi nữa. 5. Xả sở diệt lưu: Hàng Tứ quả đã thấy các pháp 5 uẩn... đều không, pháp được thấy là không đã không thì cũng bỏ luôn tâm thấy không, năng và sở đều mất, không còn thương ghét, bình đẳng một vị, chứng quả Vô học, không còn trôi lăn trong 3 cõi.6. Hộ sở diệt lưu: Hàng Tứ quả đã hết sạch Kiến hoặc, Tư hoặc, chứng quảVô học, đối với quả đã chứng được, sợ mình lui sụt mất, nên khéo giữ gìn, không để cho tập khí Kiến, Tư có cơ hội tái sinh khởi, thì không còn trôi lăn trong 3 cõi. 7. Chế phục sở diệt lưu: Hàng Tứ quả đã cắt đứt sự trói buộc của các phiền não Kiến, Tư, nhưng quả trói buộc sắc thân vẫn còn, vì thế nên phải chế phục tập khí Kiến, Tư, vĩnh viễn không cho sinh khởi nữa, có như thế thì sự trôi lăn trong 3 cõi mới được chấm dứt hoàn toàn.

Thất lậu

xem Bảy lậu hoặc.

thất lậu

(七漏) Chỉ cho 7 phiền não hữu lậu. Tức kiến lậu, tu lậu, căn lậu, ác lậu, thân cận lậu, thụ lậu và niệm lậu. Lậu nghĩa là rò rỉ, tức tên khác của phiền não, nghĩa là tất cả phiền não thường rò rỉ, tuôn chảy. 1. Kiến lậu: Chỉ cho cáctà kiến được đoạn trừ ở giai vị Kiến đạo. 2. Tu lậu: Các phiền não như tham, sân, si được trừ ở giai vị Tu đạo. 3. Căn lậu: Chỉ cho các phiền não nương vào các căn như mắt, tai, mũi, lưỡi... mà sinh ra. 4.Ác lậu: Các phiền não nương vào tất cả ác sự, ác pháp như ác tượng, ác vương, ác tri thức, ác quốc... mà sinh ra. 5. Thân cận lậu: Các phiền não nương vào 4 thứ gần gũi là quần áo, thức ăn uống, thuốc thang và phòng xá mà sinh ra. 6. Thụ lậu: Thụ gồm khổ thụ, lạc thụ, xả thụ có công năng sinh ra tham, sân và si. 7. Niệm lậu: Niệm là tà niệm. Niệm lậu và thụ lậu đều là nhân của lậu. Niệm lậu hòa hợp với ác lậu, thân cận lậu và thụ lậu mà sinh các phiền não.

thất lễ

(七禮) Gọi đủ: Thất kính lễ. Chỉ cho việc lễ bái 7 loại Phật, Bồ tát. Pháp sự tán quyển hạ của ngài Thiện đạo (Đại 47, 438 thượng) ghi: Nam mô Bản sư Thích ca mâu ni Phật... Nhất thiết Tam bảo, nay con cúi đầu đính lễ, hồi hướng nguyện sinh về cõi nước Vô lượng thọ. Nam mô Thập phương tam thế tận hư không biến pháp giới vi trần sát độ trung nhất thiết Tam bảo, nay con cúi đầu kính lễ, hồi hướng nguyện sinh về cõi nước Vô lượng thọ. Nam mô Tây phưong cực lạc thế giới A di đà Phật, nguyện cùng chúng sinh sinh về cõi nước An lạc. (...).Khắp vì 4 ân, 3 cõi,Đế vương, Nhân vương, sư tăng, phụ mẫu, thiện tri thức, pháp giới chúng sinh, đoạn trừ 3 chướng, cùng được sinh về cõi nước Phật A di đà, kính lễ tất cả Hiền Thánh, hồi hướng nguyện sinh về cõi nước Vô lượng thọ.

thất lợi

(室利) I. Thất Lợi. Phạm:Zrì. Cũng gọi Sư lợi, Thi lợi, Thất lí, Thất li. Hán dịch: Thắng, Cát tường, Đức, Hảo thiện gia lương. Chỉ cho sự tốt lành, thù thắng. Hoa nghiêm kinh sớ quyển 12 (Đại 35, 591 thượng) nói: Tiếng Phạm Thất lợi, một tên mà 4 nghĩa: Thủ, thắng, cát tường, đức. Hoa nghiêm kinh sớ quyển 7 (Đại 35, 552 thượng) nói: Vì tiếng Phạm có bao hàm 2 nghĩa làcát tường và Thủ (...). Phần sau dịch Bạt đà thất lợi là Hiền thủ ( ), chữ ( ...) này âm đồng mà nghĩa khác với chữ (...) ở trên, tức chữ (...) này nghĩa là đứng đầu, còn chữ (...) ở trên nghĩa là giữ gìn. Cho nên trong phẩm Pháp giới, Thất lợi được dịch là Thủ hộ (giữ gìn, che chở), đó là do tiếng phương ngôn của các dịch giả, nhưng dịch như vậy thì không được dung thông lắm. Còn nếu hiểu theo nghĩa thì tăng trưởng uy lực chính là Phổ hiện cát tường. II. Thất Lợi. Gọi đủ: Văn thù sư lợi. Tứ minh giáo hành lục quyển 4 (Đại 46, 895 thượng) nói: Bồ tát Bổ xứ A dật đa còn bị cư sĩ Duy ma cật bẻ gãy, Thượng thủ Thất lợi đành chịu khuất phục trước Am đề già.

thất lợi la đa

(室利邏多) Phạm:Zrìràta hoặcZrìlabdha. Hán dịch: Thắng thụ. Người ở miền Tây Ấn độ, đệ tử của ngài Cưu ma la ra đa, là Luận sư trung hưng Kinh bộ. Đối với ngài Mã minh ở Đông thiên (trúc), ngàiĐề bà ở Nam thiên, ngài Cưu ma la ra đa ở Bắc thiên, ngài Long thụ ở Trung thiên, sư được gọi là Tây thiên Thất lợi la đa, 1 trong 5 vị Đại luận sư. Người được gọi là Thượng tọa trong luận Thuận chính lí của ngài Chúng hiền chính là chỉ cho sư. Sư từng soạn luận Tì bà sa của Kinh bộ ở nước A du đà, nhưng hiện nay đã thất truyền. Kinh bộ chia ra 2 bộ là Căn bản và Chi mạt, trong đó, Kinh bộ chi mạt tôn sư làm Tổ khai sáng. Năm sinh, năm mất của sư không rõ. Cứ theo sự suy đoán thì sư sinh và hoạt động vào khoảng thế kỉ IV Tây lịch.

thất lợi phất thệ

(室利弗逝) Phạm:Zrìboja. Cũng gọi Thi lợi phất thệ. Tên đất, tương đương với đông bộ đảo Sumatra trong quần đảo Mã lai hiện nay, lấy Balembang làm thủ ấp. Từ những năm cuối thời Lục triều, cho đến các đờiĐường, Tống, Trung quốc, nơi này nhờ Phật giáo thịnh hành mà nổi tiếng. Khi ngài Nghĩa tịnh đến Ấn độ thì nơi này chính là một đô thành lớn ở vùng Nam hải, là thủ đô của nước Mạt la du (Malaya) đương thời; trước khi đi Ấn độ, ngài Nghĩa tịnh đã lưu lại đây 2 tháng.Ở dưới điều Mạt la du quốc trong Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện quyển hạ có ghi chú (Đại 51, 7 hạ): Nay đổi là Thất lợi phật thệ.

Thất mạn

七慢; C: qīmàn; J: shichiman;|Bảy loại kiêu mạn: 1. Mạn (慢; s: māna): Đối với người kém mình mà cho mình hơn; chưa được bằng người mà cho là bằng; 2. Quá mạn (過慢; s: ati-māna): Đối với người bằng mình mà cho là hơn, đối với người hơn mình mà cho mình bằng; 3. Mạn quá mạn (慢過慢; s: mānāti-māna): Đối với người hơn mình mà cho rằng mình hơn họ; 4. Ngã mạn (我慢; s: asmi-māna, ātma-māna): Tự hào có một hợp thể là ngã và ta là sở hữu cái ngã đó; 5. Tăng thượng mạn (增上慢; s: adhi-māna): Chưa chứng đạo mà kiêu hãnh cho rằng mình đã chứng đắc rồi; 6. Ti mạn (卑慢; s: avamāna, ūna-māna): Đối với người tài giỏi, kiêu hãnh cho rằng mình kém họ ít thôi; 7. Tà mạn (邪慢; s: mithyā-māna): Mình không có đức hạnh, trí huệ mà kiêu hãnh cho rằng mình có đủ các điều ấy (theo A-tì-đạt-ma câu-xá thích luận 阿毘達磨倶舎釋論).

thất mẫu thiên

(七母天) Cũng gọi Thất ma đát lí thiên, Thất mẫu nữ thiên, Thất tỉ muội, Thất mẫu. Chỉ cho 7 nữ quỉ, quyến thuộc của Diệm ma thiên hoặc của Đại hắc thiên. Đại nhật kinh sớ quyển 16 cho rằng Thất mẫu thiên là quyến thuộc của trời Diệm ma. Còn Đại nhật kinh nghĩa quyển 7 thì liệt kê toàn bộ tên gọi của Thất mẫu thiên như sau: 1. Tả muộn noa (Phạm: Càmuịđà). 2. Kiều phệ lí(Phạm:Kauverì). 3. Phệ sắt noa vi (Phạm:Viwịavì). 4. Kiều ma lí(Phạm:Kaumàrì). 5. Yến nại lợi(Phạm:Indrì). 6. Lão nại lí(Phạm:Raudrì). 7. Mạt la hi nhĩ (Phạm:Bràhmì). Líthú thích quyển hạ thì cho rằng Thất mẫu thiên là quyến thuộc của trời Đại hắc. Chân ngôn chung của Thất mẫu thiên là Na ma tam mạn đa bộc đà nam mang đát lí tệ sa phạ hạ. Tướng ấn là tay trái nắm lại, ngón tay cái dựng thẳng thành ấn chùy (cái dùi). Chủng tử là (mà).

thất nan

(七難) I. Thất Nạn. Chỉ cho 7 nạn nói trong phẩm Thụ trì kinh Nhân vương bát nhã quyển hạ, đó là: 1. Nhật nguyệt thất độ nạn: Sự vận hành của mặt trời, mặt trăng không đúng thời, hoặc mặt trời đỏ xuất hiện, mặt trời đen xuất hiện, hoặc nhật thực không có ánh sáng. 2. Tinh tú thất độ nạn: Hai mươi tám vì sao vận hành không đúng thời, sao kim, sao chổi... đều biến hiện. 3. Tai hỏa nạn: Lửa lớn thiêu đốt sạch cõi nước, nhân dân. 4. Vũ thủy biến dị nạn: Nước lũ cuốn trôi và nhận chìm trăm họ. 5.Ác phong nạn: Gió bảo thổi mạnh làm chết nhân dân, đất nước, núi sông, cây cối cùng lúc đều bị tiêu diệt. 6. Kháng dương nạn: Tức các loại thảo mộc bị khô hạn, ngũ cốc thất thu. 7.Ác tặc nạn: Giặc cướp từ các nơi kéo đến xâm chiếm đất nước, chiến tranh tàn phá, nhân dân lầm than. II. Thất Nạn. Bảy nạn nói trong kinh Dược sư lưu li quang Như lai bản nguyện công đức, đó là: 1. Nhân chúng tật dịch nạn: Dân chúng bị bệnh dịch. 2. Tha quốc xâm bức nạn: Nước khác đến xâm chiếm, áp bức. 3. Tự giới phản nghịch nạn: Nhân dân trong nước làm phản. 4. Nhật nguyệt bạc thực nạn: Nhật thực,nguyệt thực xảy ra. 5. Tinh tú biến quái nạn: Các vì sao biến hiệnđiềm quái gở. 6. Phi thời phong vũ nạn: Mưa gió trái mùa.7. Quá thời bất vũ nạn: Quá thời không mưa(hạn hán). III. Thất nạn. Bảy nạn nói trong phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa, đó là: Nạn lửa, nạn nước, nạn La sát, nạn dao gậy(bị đánh chém), nạn quỉ, nạn gông cùm và nạn oán giặc. IV. Thất Nạn. Bảy nạn nói trong kinh Đà la ni tập quyển 10, đó là: Nạn vua, nạn giặc, nạn nước, nạn lửa, nạn La sát, nạn quỉ Đồ chỉ nễ và nạn thuốc độc.

thất nghịch tội

(七逆罪) Cũng gọi Thất già tội, Thất già. Gọi tắt: Thất nghịch. Chỉ cho 7 trọngtội là những hành vi không thuận đạo lí, gây trở ngại cho việc thụ giới: 1. Làm thân Phật chảy máu. 2. Giết hại cha. 3. Giết hại mẹ. 4. Giết Hòa thượng. 5. Giết A xà lê. 6. Phá yết ma chuyển pháp luân tăng. 7. Giết hại bậc Thánh. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 2, phần 1 (Đại 46, 184 trung) ghi: Nói Ngũ nghịch là giết cha, giết mẹ, giết A la hán, phá tăng và làm thân Phật chảy máu (...). Trong Đại thừa thêm giết Hòa thượng, giết A xà lê thành Thất nghịch. Vì hòa thượng và A xà lê là thầy truyền giới, nếu sát hại các vị ấy thì đối với giới sư hiện tiền cũng không sinh tâm ân trọng, do đó không được thụ giới, cho nên gọi là Già tội.

thất nhân minh

(七因明) Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho 7 qui định về những điều kiện quan trọng của cuộc nghị luận do Luận sư Di lặc thuộc Cổ nhân minh ở Ấn độ lập ra, đó là: Luận thể tính, luận xứ sở, luận sở y, luận trang nghiêm, luận đọa phụ, luận xuất li và luận đa sở tác pháp. 1. Luận thể tính (Phạm:Vàda):Đề mục nghị luận có 6 tính chất: Ngôn luận, thượng luận, tránh luận, hủy báng luận, thuận chính lí luận, giáo đạo luận. 2. Luận xứ sở(Phạm:Vàdàdhiwỉhàna): Nơi chỗ để nghị luận. Có 6 nơi: a. Trước mặt vua. b. Trước người chấp lí. c. Giữa đám đông. d. Trước bậc Hiền triết. e. Trước các vịSa môn, Bà la môn thông hiểu pháp nghĩa. g. Trước người ưa thích pháp nghĩa. 3. Luận y sở(Phạm:Vàdàdhikaraịa): Chỗ y cứ của sự lập luận, gồm có: Nghĩa sở thành lập và Pháp năng thành lập, gọi tắt là Sở lập Năng lập. Sở lập có 2: Tự tính và Sai biệt; Năng lập có 8: Lập tông(mệnh đề), Biện nhân(lí do), Dẫn dụ(thí dụ),Đồng loại, Dị loại, Hiện lượng, Tỉ lượng và Chính giáo lượng. 4. Luận trang nghiêm (Phạm: Vàdàlaôkàra):Thái độ và sự trau chuốt ngôn từ nghị luận. Có 5 việc: a. Thông thạo cách lập tông của mình và của người. b. Ngôn từ phong phú. c. Không khiếp sợ, nhút nhát. d. Dày dạn, nghiêm túc. e. Tỏ ra xứng đáng. 5. Luận đọa phụ(Phạm:Vàdanigraha): Nguyên nhân khiến nghị luận thất bại. Có 3 nguyên nhân: a. Xả ngôn: Bỏ lập luận của mình. b. Khuất ngôn: Khuất phục trước lập luận của đối phương. c. Ngôn quá: Ngôn luận sai lầm hoặc nghĩa lí quanh co. 6. Luận xuất li (Phạm: Vàdani#= saraịa):Xét kĩ xem lập luận có thành lập được hay không, nếu thấy không thành lập được thì rút ra trước để tránh chuốc lấy thất bại. Có 3 cách xem xét: a. Xem xét được, thua. b. Xem xét thời gian và đại chúng. c. Xem xét mình có khéo léo hay không. 7. Luận đa sở tác pháp (Phạm:Vàde bahukarà dharmà): Lúc nghị luận cần có 3 niềm tin: a. Thông thạo cách lập tông của mình và của đối phương thì đối với tất cả các đề tài đều có khả năng nghị luận. b. Mạnh mẽ dày dạn, không nhút nhát khiếp sợ thì nghị luận trước đám đông một cách dễ dàng. c. Biện tài thao thao thì sẽ giải đáp được tất cả các vấn nạn.

thất như lai

(七如來) Chỉ cho 7 đức Như lai được xướng lễ trong pháp hội cúng thí ngã quỉ, đó là: 1. Bảo thắng Như lai. 2. Đa bảo Như lai. 3. Diệu sắc thân Như lai. 4. Quảng bác thân Như lai. 5. Li bố úy Như lai. 6. Cam lộ vương Như lai. 7. A di đà Như lai. Danh hiệu của 7 đức Như lai trên được nêu trong Du già yếu tập lại hơi khác, tức là: Bảo thắng Như lai, Li bố úy Như lai, Quảng bác thân Như lai, Diệu sắc thân Như lai, Đa bảo Như lai, A di đà Như lai và Quảng đại uy đức tự tại quang minh Như lai. Ngoài ra, trong các pháp hội cúng thí ngã quỉ hiện nay, danh hiệu của 7 đức Như lai này thường được viết trên 7 lá phan 5 màu, rồi treo ở chung quanh khu rạp cúng thí ngã quỉ, gọi là Thất Như lai phan.

thất nhật luân xuất

(七日輪出) Một mặt trời cho đến 7 mặt trời lần lượt xuất hiện, đó là tướng báo hiệu kiếp Mạt.Cứ theo Pháp uyển châu lâm, khi 1 mặt trời xuất hiện thì các loại cỏ cây đều héo rụng. Khi 2 mặt trời xuất hiện thì nước trong 4 biển lớn từ phạm vi 100 do tuần cho đến 700 do tuần, đều tự nhiên khô cạn. Khi 3 mặt trời xuất hiện thì nước trong 4 biển từ phạm vi 1000 do tuần cho đến 7000 do tuần đều lần lượt cạn hết. Khi 4 mặt trời xuất hiện thì nước trong 4 biển lớn sâu1000 do tuầncũng đều khô cạn. Khi 5 mặt trời xuất hiện thì nước 4 biển lớn rộng 7000 do tuần cũng đều cạn hết. Khi 6 mặt trời xuất hiện thì mặt đất này dày 68.000 do tuần đều bốc khói, từ núi Tu di cho đến 3000 thế giới Đại thiên, cho đến 8 địa ngục lớn đều bị thiêu đốt sạch, nhân dân chết hết, chư thiên ở 6 tầng trời cõi Dục cũng đều mệnh chung, cung điện đều không. Khi 7 mặt trời xuất hiện thì quả đất và núi Tu di dần dần lở đổ, trong phạm vi hàng nghìn do tuần không còn sót một vật; núi non đều trống rỗng, các vật báu vỡ nát, các tia lửa tung tóe làm rúng động đến cõi Phạm thiên, các ác đạo đều tiêu sạch.

thất nhật tác đàn pháp

(七日作壇法) Cũng gọi Thất nhật cúng dường đàn pháp. Tác pháp đắp đàn đất trong 7 ngày 7 đêm, trên đàn có vẽ Mạn đồ la chư tôn khi cử hành Quán đính hoặc Hộ ma trong Mật giáo. Đây là một trong các loại đàn pháp. Khi pháp sự kết thúc thì đàn này thường bị phá hủy. Trong thời gian làm đàn, trong vòng 3 ngày đầu, nếu xảy ra chướng nạn thì ngưng; từ ngày thứ tư trở đi, nếu có chướng nạn thì tu pháp Trừ tai để diệt, rồi lại tiếp tục làm pháp sự. Trong 7 ngày lập đàn, trước hết phải chọn đất, chọn ngày giờ, loại bỏ các vật ô uế trong đất nơi lập đàn, rồi thực hành tác pháp ghi trong các kinh quĩ của Mật giáo như kinh Đà la ni tập... Các tác pháp như đào đất, sửa đất... là y cứ theo nghi thức xây dựng nhà cửa ở Ấn độ cổ đại. Mật giáo ở Ấn độ, khi thực hành pháp tu của các vị tôn khác để truyền pháp Quán đính, thì vị A xà lê y theo phép làm đàn này để làm đàn Mạn đồ la mới.

thất niệm

(失念) Phạm:Musita-smftità. Cũng gọi Vong niệm. Đối lại: Niệm. Tên của tâm sở(tác dụng tâm), 1 trong 100 pháp. Chỉ cho tác dụng tâm không có khả năng ghi nhớ rõ ràng cảnh sở duyên và các thiện pháp. Tông Duy thức coi Thất niệm là 1 trong 8 đại phiền não thuộc 20 phiền não. Về thể tính của Thất niệm thì có 3 thuyết: 1. Theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 1 thì Thất niệm lấy Niệm làm thể, do đó, Thất niệm là một phần của Niệm. 2. Theo luận Du già sư địa quyển 58 thì Thất niệm lấy đẳng lưu của Si làm thể, vì thế Thất niệm là một phần của Si. 3. Tổng hợp 2 thuyết nói trên thì Thất niệm lấy một phần của Niệm và Si làm thể.

thất nữ kinh

(七女經) Cũng gọi Thất nữ bản kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Lúc đức Phật trụ trong vườn cây Phân nho đạt tại nước Câu lưu, có 7 cô gái Bà la môn, tính tình ngạo mạn, kiêu xa, đức Phật quở trách và nói về nhân duyên của 7 cô gái con quốc vương thủa xưa mà thành kinh này. Đức Phật dạy rằng sở dĩ người nữ phần nhiều bị đọa địa ngục là do tính nhiều ghen ghét mà ra, nếu biết ngăn ngừa thì tâm ý trở nên tốt đẹp, nhờ đó mà có thể sinh cõi trời.

thất phan cộng giải

(七番共解) Chỉ cho 7 pháp được sử dụng để giải thích Ngũ trùng huyền nghĩa của tông Thiên thai. Tông Thiên thai lập ra 5 lớp: Danh, Thể, Tông, Dụng và Giáo, rồi dùng 7 cách: Tiêu chương, Dẫn chứng, Sinh khởi, Khai hợp, Liệu giản, Quán tâm và Hội dị để lần lượt giải thích. Đó là: 1. Tiêu chương: Tức nêu danh. 2. Dẫn chứng: Trích dẫn văn kinh để làm chứng cứ. 3. Sinh khởi: Nói rõ thứ tự, lớp lang. 4. Khai hợp: Sự khai hợp phân biệt các loại. 5. Liệu giản:Đưa ra lời hỏi đáp để lựa chọn. 6. Quán tâm: Thực tế chính là quán tâm.7. Hội dị: Hội thích các điểm khác nhau. Pháp hoa huyền nghĩa quyển1(Đại 33, 682 thượng) nói: Tiêu chương giúp cho dễ ghi nhớ, là vì khởi tâm nhớ nghĩ; dẫn chứng cứ lời Phật nói là giúp để khởi tâm tin; sinh khởi khiến không rối loạn là để khởi tâm định; còn khai hợp, liệu giản, hội dị là để khởi tâm tuệ; quán tâm tức nghe rồi làm liền, là để giúp khởi tâm tinh tiến. Năm tâm đã lập thì thành tựu 5 căn, bài trừ 5 chướng thì thành tựu 5 lực, cho đến tiến vào 3 cửa giải thoát.

thất pháp bất khả tị

(七法不可避) Chỉ cho 7 pháp không thể tránh khỏi, đó là: Sinh, già, bệnh, chết, tội, phúc, nhân duyên. Pháp uyển châu lâm quyển 69 giải thích: 1. Sinh bất khả tị: Nương vào nghiệp nhân thiện ác đời trước mà sinh ra đời này chịu quả báo khổ, vui không thể tránh khỏi. 2. Lão bất khả tị: Đã có sinh thì không thể tránh khỏi già. 3. Bệnh bất khả tị: Đã có sinh thì không thể tránh khỏi tật bệnh. 4. Tử bất khả tị: Đã có sinh thì không thể tránh khỏi chết. 5. Tội bất khả tị: Đã tạo nhiều nghiệp tội thì không thể tránh khỏi quả khổ ác đạo.6. Phúc bất khả tị: Đã tạo nghiệp thiện thì không thể tránh khỏi quả vui thiện đạo.7. Nhân duyên bất khả tị: Do nhân như thế, hòa hợp với duyên như thế mà sinh ra quả lành dữ, họa phúc, nghèo giàu, thọ yểu... là đạo lí tự nhiên, không thể tránh khỏi.

thất phân biệt

(七分別) Nhà Duy thức chia tác dụng nhận biết của tâm thức làm 7 thứ phân biệt là Hữu tướng, Vô tướng, Nhậm vận, Tầm cầu, Tứ sát, Nhiễm ô và Bất nhiễm ô. Luận Du già sư địa quyển 1 giải thích: 1. Hữu tướng phân biệt: Đối với nghĩa đã tiếp nhận ở quá khứ, khi các căn thành thục và thạo về danh ngôn mà khởi lên phân biệt. 2. Vô tướng phân biệt: Người chỉ theo sự dắt dẫn của quá khứ và như trẻ thơ... thông thạo về danh ngôn mà khởi lên phân biệt.3. Nhậm vận phân biệt: Đối với cảnh giới hiện tiền, tùy theo thế lực của cảnh, tự do, tự tại chuyển biến mà khởi lên phân biệt.4. Tầm cầu phân biệt: Xem xét, tìm cầu các pháp mà khởi lên phân biệt. 5. Tứ sát phân biệt: Đối với điều đã tìm cầu, đã quán sát, lại thêm dò xét an lập mà khởi lên phân biệt. 6. Nhiễm ô phân biệt: Do nuối tiếc quá khứ, ước vọng tương lai, chấp trước hiện tại mà khởi lên phân biệt. 7. Bất nhiễm ô phân biệt: Chẳng hạn như các pháp thiện, vô kí... đều thuộc về Bất nhiễm ô phân biệt, là sự phân biệt khởi lên do tương ứng với xuất li phân biệt, vô khuể phân biệt, vô hại phân biệt, hoặc với bất kì một pháp thiện nào như Tín... Luận Du già sư địa quyển 8 cho rằng 7 phân biệt này đều lấy Tầm Tứ làm thể. Còn 7 Phân biệt nói trong luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 2 thì 3 phân biệt đầu đều khác với các phân biệt nói trong luận Du già sư địa; tức Hữu tướng phân biệt là chấp lấy tướng cảnh giới ở quá khứ và hiện tại; Vô tướng phân biệt khởi lên do mong cầu cảnh vị lai; Nhậm vận phân biệt nghĩa là Ngũ thức thân tự tại chuyển biến ở cảnh giới của chính nó. Bốn phân biệt còn lại là Tầm cầu phân biệt, Tứ sát phân biệt, Nhiễm ô phân biệt và Bất nhiễm ô phân biệt đều lấy sự tính toán, phân biệt làm tự tính.

thất phúc thần

(七福神) Bảy vị phúc thần của người Nhật bản thường ban cho tài bảo. Tín ngưỡng này thịnh hành trong dân gian vào cuối thời kì Thất đinh. Bảy vị thần ấy là: 1. Đại hắc thiên: Vốn không phải là Phúc thần, nhưng vì lòng tôn kính Tam bảo, che chở, giữ gìn 5 chúng, không để họ bị hao tổn, cầu gì cũng như ý, nên được liệt làm 1 trong các vị Phúc thần. 2. Huệ tỉ tu: Tín ngưỡng Tây cung từ thời Trung cổ diễn biến thành Phúc thần. 3. Tì sa môn thiên: Vốn là vị thần hộ pháp của Phật giáo, cũng diễn biến thành thần ban phúc. 4. Biện tài thiên: Vị thần làm cho tuổi thọ con ngườităng thêm, giúp cho thân thể con người đầy đủ, viên mãn. 5. Phúc lộc thọ: Hóa thân của sao Nam cực, là thần coi về việc trường thọ(hoặc phúc, lộc, thọ). 6. Thọ lão nhân: Cũng là sao Nam cực được thần cách hóa, tượng trưng cho ý nghĩa sống lâu. 7. Bố đại hòa thượng: Thiền sư Khế thử (?-916) người Trung quốc, sống vào thời Ngũ đại, được xem là hóa thân của Bồ tát Di lặc và được thờ làm vị Phúc thần. Trong 7 vị nói trên thì Đại hắc thiên, Tì sa môn thiên và Biện tài thiên là 3 vị thuộc Thiên bộ của Phật giáo; Phúc lộc thọ và Thọ lão nhân đều là thần Diên thọ của Trung quốc, 2 vị này cùng với Bố đại Hòa thượng đều là những nhân vật trong tranh tiêu biểu cho Đạo giáo và Phật giáo được lưu hành ở đời Tống.

thất phương tiện

(七方便) I. Thất Phương Tiện. Cũng gọi Thất phương tiện vị, Thất hiền, Thất hiền vị, Thất gia hành vị. Chỉ cho 7 giai vị trước khi vào ngôi Kiến đạo của hàng Thanh văn, đó là: Ngũ đình tâm quán, Biệt tướng niệm trụ, Tổng tướng niệm trụ, Noãn pháp, Đính pháp, Nhẫn pháp và Thế đệ nhất pháp. II. Thất Phương Tiện. Tông Thiên thai căn cứ vào Tứ giáo mà thành lập 2 loại Thất phương tiện: 1. Y cứ theo ý nghĩa 3 cỏ, 2 cây nói trong phẩm Dược thảo dụ, kinh Pháp hoa mà thành lập các thừa: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa của Tạng giáo, Thông giáo và Biệt giáo.2. Y cứ theo ý nghĩa đoạn trừ Kiến hoặc và Tư hoặc mà thành lập các thừa giáo gồm: Thanh văn, Duyên giác của Tạng giáo, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát của Thông giáo và Bồ tát của Biệt giáo, Viên giáo.

thất phần hoạch nhất

(七分獲一) Bảy phần được hưởng một. Nghĩa là truy tiến, hồi hướng phúc lợi cho cha mẹ, thân tộc đời quá khứ, nhưng nếu những người ấy lúc còn sống không tin đạo đức, chẳng tu nhân thiện, gây nhiều tội ác thì chỉ được hưởng một phần trong bảy phần tất cả công đức lợi ích thánh sự.

thất phần toàn đắc

(七分全得) Bảy phần được hưởng trọn vẹn. Nếu bố thí cúng dường để cầu phúc cho người khác mà mình siêng năng gìn giữ sạch sẽ, dâng cúng Phật và tăng thì người khác được hưởng một phần công đức, bảy phần công đức còn lại thì chính mình được hưởng, cộng chung là 8 phần công đức. Nguồn gốc của thuyết này không được rõ, có lẽ đã chịu ảnh hưởng thuyết chia thân thể làm 8 phần (Phạm:Awỉaíga, tức là ngực, đầu, 2 mắt, lời nói, ý nghĩ, 2 chân, 2 tay, 2 đầu gối) của người Ấn độ. Ngoài ra, còn có thuyết Thất phần hoạch nhất.

Thất Phật

(七佛, bảy vị Phật): hay còn gọi là Quá Khứ Thất Phật (過去七佛, bảy vị Phật đời quá khứ). Phật Giáo lấy 6 vị Phật trong thời quá khứ và đức Phật Thích Ca, hình thành Thất Phật; gồm Tỳ Bà Thi Phật (s: Vipaśyin-buddha, p: Vipassin-buddha, 毘婆尸佛), Thi Khí Phật (s: Śikhin-buddha, p: Sikhin-buddha, 尸棄佛), Tỳ Xá Phù Phật (s: Viśvabhū-buddha, p: Vessabhū-buddha, 毘舍浮佛), Câu Lưu Tôn Phật (s: Krakucchanda-buddha, p: Kakusandha-buddha, 拘留孫佛), Câu Na Hàm Mâu Ni Phật (s: Kanakamuni-buddha, p: Konāgamana-buddha, 拘那含牟尼佛), Ca Diếp Phật (s: Kāśyapa-buddha, p: Kassapa-buddha, 迦葉佛), và Thích Ca Mâu Ni Phật (s: Śākyamuni-buddha, p: Sakyamuni-buddha, 釋迦牟尼佛). Như trong Trường A Hàm (長阿含經) quyển 1 có đoạn: “Thất Phật tinh tấn lực, phóng quang diệt ám minh (七佛精進力、放光滅闇冥, bảy Phật sức tinh tấn, phóng quang diệt tối tăm).” ; 七佛; C: qīfó; J: shichibutsu; S: sapta-tathā-gata.|Bảy đức Phật thời quá khứ, gồm đức Phật Thích-ca Mâu-ni (釋迦牟尼) và sáu vị Phật tiền bối: 1. Tì-bà-thi Phật (毘婆尸佛; s: vi-paśyin; p: vipassin), 2. Thi-khí Phật (尸棄佛; s: śikhin; p: sikkhin), 3. Tì-xá-phù Phật (毘舎浮佛; s: viśvabhū; p: vessabhū), 4. Câu-lưu-tôn Phật (拘留孫佛; s: krakuc-chanda; p: kondañña), 5. Câu-na-hàm Mâu-ni Phật (拘那含牟尼佛; s: kanakamuni; p: konāgamana) và 6. Ca-diếp Phật (迦葉佛; s: kāśyapa; p: kassapa).

thất phật

(七佛) Cũng gọi Quá khứ thất Phật. Chỉ cho Phật Thích ca và các đức Phật đã xuất hiện trước khi Ngài ra đời. Gồm có 7 vị, đó là: Phật Tì bà thi, Phật Thi khí, Phật Tì xá phù, Phật Câu lưu tôn, Phật Câu na hàm mâu ni, Phật Ca diếp và Phật Thích ca mâu ni. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 1 thì 7 đức Phật quá khứ này mỗi vị đều có nói kệ đắc pháp, gọi là Thất Phật thuyết kệ. phẩm Thập bất thiện trong Tăng nhất a hàm].

thất phật bát bồ tát

(七佛八菩薩) Chỉ cho 7 đức Phật và 8 vị Bồ tát. Thuyết này có xuất xứ từ kinh Thất Phật bát bồ tát thần chú kinh quyển 1. Thất Phật là: Phật Duy vệ, Phật Thức, Phật Tùy diệp, Phật Câu lưu tần, Phật Câu na hàm mâu ni, Phật Ca diếp và Phật Thích ca mâu ni. Bát Bồ tát là: Văn thù sư lợi, Hư không tạng, Quán thế âm, Cứu thoát, Bạt đà hòa, Đại thế chí, Đắc đại thế và Kiên dũng.

Thất Phật danh hiệu công đức kinh

七佛名號功德經; C: qīfó mínghào gōngdé jīng; J: shichibutsu myōgō kudoku kyō;|Tên gọi tắt của Thụ trì thất Phật danh hiệu sở sinh công đức kinh (受持七佛名號所生功德經).

Thất Phật danh kinh

七佛名經; C: qīfó ming jīng; J: shichibutsu myō kyō;|Tên gọi tắt của Thụ trì thất Phật danh hiệu sở sinh công đức kinh (受持七佛名號所生功德經).

thất phật dược sư

(七佛藥師) Cũng gọi Thất cung y vương. Chỉ cho 7 đức Phật Dược sư, đó là: 1. Thiện danh xưng cát tường vương Như lai. 2. Bảo nguyệt trí nghiêm quan âm tự tại vương Như lai. 3. Kim sắc bảo quang diệu hạnh thành tựu Như lai. 4. Vô ưu tối thắng cát tường Như lai. 5. Pháp hải lôi âm Như lai. 6. Pháp hải thắng tuệ du hí thần thông Như lai. 7. Dược sư lưu li quang Như lai. Bảy đức Phật này trụ trong các thế giới ở phươngĐông cách đây bằng số cát của 4 sông Hằng cho đếnbằngsố cát của 10 sông Hằng, mỗi vị khi còn ở địa vị tu nhân đều phát nguyện cứu giúp chúng sinh khổ não. Nhưng trong kinh Dược sư lưu li quang Như lai bản nguyện do ngài Huyền trang dịch, chỉ nói về một đức Phật Dược sư ở phươngĐông chứ không nêu tên 7 vị Phật. Về vấn đề này, từ xưa đã có nhiều nghị luận. Có thuyết cho rằng Thất Phật Dược Sư là 7 vị khác nhau, có thuyết thì cho là tên khác hoặc là phân thân của 1 Phật Dược sư.

thất phật dược sư pháp

(七佛藥師法) Cũng gọi Thất Phật dược sư ngự tu pháp, Thất đàn ngự tu pháp. Chỉ cho pháp bí mật của Thai mật Nhật bản thờ Thất Phật dược sư làm Bản tôn để tu các pháp Tức tai và Tăng ích. Pháp này được thành lập do y cứ vào kinh Dược sư thất Phật bản nguyện và kinh Dược sư bản nguyện. Cứ theo kinh Dược sư lưu li quang vương thất Phật bản nguyện công đứcquyển hạ, nếu người nào có điều cầunguyện, nên tạo hình tượng 7 đức Phật Dược sư, cúng dường hương hoa, treo cờ phướn, dâng các thức ăn uống và kĩ nhạc,ngồi ngay thẳng trước tượng Phật tụngchú, trong 7 ngày giữ 8 giới quan trai, tụng đủ 1008 biến, thì người ấy được các đức Như lai che chở, nghiệp chướng được diệt trừ, tai nạn qua khỏi, tuổi thọ tăng thêm và mọi điều mong cầu đều được như ý.

Thất Phật kinh

七佛經; C: qīfó jīng; J: shichibutsu kyō;|Kinh, một quyển, Pháp Thiên (法天) dịch, nằm trong bộ A-hàm. Là một trong năm bản dịch của kinh nầy, ghi chép hành trạng của bảy vị Phật thời quá khứ. Tên gọi đầy đủ là Phật thuyết thất Phật kinh (佛説七佛經).

thất phật kinh

(七佛經) Kinh, 1 quyển, do ngài Pháp thiên dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Kinh này có 5 bản dịch khác nhau, nội dung rất giống truyện Phật Thích ca, là truyện kí về 7 đức Phật, nói về dòng dõi, họ tên... đặc biệt ghi chép sự tích của Phật Tì bà thi rất rõ ràng.

thất phật thông giới kệ

(七佛通戒偈) Chỉ cho các bài kệ tụng về giới luật chung của 7 đức Phật quá khứ, cho đến nay vẫn còn được tín đồ Phật giáo truyền tụng. Về ý nghĩa của các kệ tụng này, phẩm Tựa trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 1 (Đại 2, 551 thượng) nói: Nghĩa của Tứ hàm, trong 1 bài kệ đều có đủ lời dạy của chư Phật, lời dạy của Bích chi Phật và Thanh văn. Sở dĩ như thế là vì các điều ác chớ làm thì cấm giới đầy đủ, đạo hạnh thanh bạch; các điều thiện vâng làm thì tâm ý trong sạch; tự tịnh ý mình thì trừtà điên đảo; đó là lời chư Phật dạy, diệt trừ ngu hoặc. Vì chư Phật mới ra đời, các đệ tử đều thanh tịnh, cho nên các Ngài không cần đặt ra giới cấm riêng, mà chỉ dùng 1 bài kệ chung làm giới cấm, cho nên gọi là Thông giới, cũng gọi là Lược giới. Theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 44 thì các bài kệ tụng của 7 đức Phật quá khứ là: 1. Kệ của Phật Tì bà thi: Nhẫn nhục vi đệ nhất, Phật thuyết vô vi tối; Bất dĩ thế tu phát, Hại tha vi sa môn. (Nhịn nhục là bậc nhất, Đạo vô vi (Niết bàn) cao tột; Xuất gia não hại người, Không phải là sa môn). 2. Kệ của Phật Thí kết (Thi khí): Nhược nhãn kiến phi tà, Tuệ giả hộ bất trước; Khí tổn ư chúng ác Tại thế vi hiệt tuệ. (Mắt thấy điều tà bậy, Người trí không dính mắc; Vứt bỏ các việc ác, Là bậc tuệ trong đời). 3. Kệ của Phật Tì xá la bà(Tì xá bà): Bất hại diệc bất phi, Phụng hành ư đại giới; Ư thực tri chỉ túc, Tòa sàng diệc phục nhiên; Chấp chívichuyên nhất, Thị tắc chư Phật giáo. (Không hại, không làm trái, Vâng giữ các đại giới, Ăn uống biết dừng đủ, Giườngchiếu cũng như thế; Phải giữ chí chuyên nhất, Là lời chư Phật dạy). 4. Kệ của Phật Câu lâu tôn: Thí như phong thái hoa, Kì sắc thậm hương khiết; Dĩ vị huệ thí tha, Đạo sĩ du tụ lạc, Bất phỉ báng ư nhân, Diệc bất quán thị phi, Đãn tự quán thân hành Đế quán chính bất chính. (Như ong hút mật hoa, Hương sắc hoa không tổn; Lấy vị ban cho người, Tỉ khưu vào làng xóm, Chớ nên dèm chê người, Không bàn chuyện phải quấy, Chỉ xét hành vi mình Xem chính hay bất chính). 5. Kệ của Phật Câu na hàm mâu ni: Chấp chí mạc khinh hí, Đương học tôn tịch đạo; Hiền giả vô sầu ưu, Đương diệt chí sở niệm. (Giữ tâm chớ bàn suông, Nên học đạo vắng lặng; Người trí không buồn sầu, Diệt trừ mọi tà niệm). 6. Kệ của Phật Ca diếp: Nhất thiết ác mạc tác, Đương phụng hành kì thiện; Tự tịnh kì chí ý, Thị tắc chư Phật giáo. (Phải tránh mọi việc ác, Vâng làm các điều lành; Giữ tâm ý trong sạch, Là lời chư Phật dạy). 7. Kệ của Phật Thích ca Mâu ni: Hộ khẩu ý thanh tịnh, Thân hành diệc thanh tịnh; Tịnh thử tam hành tích, Tu hành tiên nhân đạo. (Giữ miệng, ý trong sạch, Thân hành cũng trong sạch, Ba nghiệp đều trong sạch, Là tu đạo Như lai). Bài kệ Thông giới mà Phật giáo đời sau thường dùng là bài kệ của Phật Ca diếp, nhưng về mặt văn từ có hơi khác nhau, tức như 4 câu trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 1 do tôn giả A nan dẫn: Chư ác mạc tác, Chúng thiện phụng hành; Tự tịnh kì ý, Thị chư Phật giáo.

thất phật tán bái già đà

(七佛贊唄伽陀) Phạm: Sapta-jina-stava. Cũng gọi Thất Phật phạm tán, Thất thắng giả tán. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Pháp thiên dịch vào đời Tống, được thu vào Đại tạng tập 32. Nội dung sách này gồm các bài kệ tụng bằng tiếng Phạm tán thán công đức của 7 đức Phật quá khứ. Vì sách này toàn là các bài tụng tán chữ Hán phiên âm tiếng Phạm chứ không có dịch ý, cho nên từ xưa không ai hiểu được nghĩa. Sau này nhờ có Tiến sĩ Thần lượng Tam lang người Nhật khôi phục lại nguyên bản tiếng Phạm và dịch ra tiếng Nhật thì người ta mới hiểu nghĩa.

Thất Phật Đà la ni thần chú kinh

(七佛陀羅尼神咒 經) Cũng gọi Thất Phật thần chú kinh, Thất Phật bát bồ tát đại đà la ni thần chú kinh, Thất Phật thập nhất bồ tát đà la ni kinh, Thất Phật sở thuyết thần chú kinh, Quảng tế chúng sinh thần chú. Kinh, 4 quyển (mất tên người dịch), 1 trong những kinh điển Mật bộ thuộc Mật giáo tạp bộ, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Kinh này được xem như nguồn gốc của Mật giáo thuần túy ở đời sau.

thất quan âm

(七觀音) Vì mục đích giáo hóa làm lợi ích cho chúng sinh, nênbồ tát Quán thế âm đã biến hóa ra 7 loại thân, đó là: Thiên thủ Quán âm, Mã đầu Quán âm, Thập nhất diện Quán âm, Thánh Quán âm, Như ý luân Quán âm, Chuẩn đề Quán âm và Bất không quyên sách Quán âm.

Thất Sanh Tự

(室生寺, Murō-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Thất Sanh Tự (室生寺派) thuộc Chơn Ngôn Tông, hiệu là Thất Sanh Sơn Tất Địa Viện (室生山悉地院), hiện tọa lạc tại Murō-mura (室生村), Uda-gun (宇陀郡), Nara-ken (奈良縣). Năm 681 (niên hiệu Thiên Võ [天武] thứ 10), thể theo ý nguyện của Thiên Võ Thiên Hoàng (天武天皇, Temmu Tennō), tương truyền Dịch Tiểu Giác (役小角, En-no-Ozunu) sáng lập ra chùa này. Trong khoảng thời gian niên hiệu Bảo Quy (寳龜, 770-780), Hiền Cảnh (賢璟, Kenkyō, 705-793) của Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji) quản lý chùa và đệ tử của ông là Tu Viên (修圓, Shūen, 771-835) kiến lập các ngôi đường tháp vào khoảng thời gian niên hiệu Thiên Trường (天長, 824-834). Vào năm 824 (niên hiệu Thiên Trường thứ 1), Không Hải (空海, Kūkai) đến chùa này, dâng cúng bảo châu Ma Ni và biến nơi đây thành đạo tràng của Chơn Ngôn Mật Giáo. Sao đó, Kiên Tuệ (堅慧, Kene) đến trú trì, làm cho chùa trở nên hưng thạnh, và chùa đã trãi qua một thời gian khá dài phụ thuộc vào sự quản lý của Hưng Phước Tự. Dưới thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), các vị Luật tăng của Đường Chiêu Đề Tự (唐招提寺, Tōshōdai-ji) cũng như Tây Đại Tự (西大寺, Saidai-ji) đã từng đến trú trì ở đây. Đến thời đại Giang Hộ (江戸, Edo), vào năm 1694 (niên hiệu Nguyên Lộc [元祿] thứ 7), Hộ Trì Viện Long Quang (隆光, Ryūkō, 1649-1724) đến làm trú trì, cho nên chùa trở thành đạo tràng của Phái Phong Sơn (豐山) thuộc Chơn Ngôn Tông, và nhờ sự hiến cúng tịnh tài của Quế Xương Viện (桂昌院, mẹ của Tướng Quân Đức Xuyên Cương Cát [德川綱吉, Tokugawa Tsunayoshi]), các đường vũ của chùa được tu sửa lại hoàn chỉnh. Vào thời Cận Đại, Phái Phong Sơn tách riêng ra khỏi chùa và nơi đây trở thành ngôi chùa trung tâm của Phái Thất Sanh Tự. Khuôn viên chùa rất u nhã, người nữ bị cấm không được đến tham bái. Chùa chưa từng bị hỏa tai hay binh hỏa, cho nên các ngôi đường tháp vẫn còn giữ lại nét ngày xưa. Kim Đường (金堂) là kiến trúc được dựng vào đầu thời Bình An (平安, Heian), bên trong ở giữa thờ tượng đứng Thích Ca Như Lai, bên phải nhìn vào có tượng Dược Sư Như Lai và Địa Tạng Bồ Tát, bên trái có tượng Văn Thù Bồ Tát Và Thập Nhất Diện Quan Âm; tất cả đều những kiệt tác đầu thời Bình An. Ngoài ra, còn có tượng Thập Nhị Thần Tướng, thuộc thời đại Liêm Thương. Ngũ Trùng Tháp được kiến lập từ khoảng cuối thời đại Nại Lương (奈良, Nara) cho đến đầu thời Bình An. Chánh Điện là Quán Đảnh Đường (灌頂堂), tôn trí tượng Như Ý Luân Quan Âm (cuối thời Bình An). Ngự Ảnh Đường (御影堂) là Đại Sư Đường (大師堂), được kiến tạo dưới thời Liêm Thương. Bên cạnh đó, còn có Di Lặc Đường (彌勒堂), Hộ Ma Đường (護摩堂), Nhà Kho, v.v. Bảo vật của chùa có các tượng Phật trong Kim Đường, tượng ngồi Thích Ca Như Lai (đầu thời Bình An), tượng đứng Di Lặc Bồ Tát (thời đại Nại Lương), những pháp cụ Mật Giáo, v.v.

Thất sinh

七生; C: qīshēng; J: shichishō;|1. Bảy đời, tái sinh vào trong thế gian bảy đời; 2. Là số lần mà một vị Dự lưu (預流) sẽ phải tái sinh trong cõi luân hồi.

thất sinh

(七生) Chỉ cho 7 lần thụ sinh ở cõi người, cõi trời, là do sự chuyển đồi sai lầm tư tưởng Cực thất phản hữu mà ra.

thất thiên

(七篇) Pàli:Satta àpattikhandhà. Cũng gọi Thất tụ. Chỉ cho 7 nhóm tội. Giới luật được chia làm 7 khoa là Ba la di, Tăng tàn, Thâu lan già, Ba dật đề,Đề xá ni, Đột cát la vàÁc thuyết. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung, phần 1]. (xt. Thất Tụ). I. Thất Thiện. Gọi đủ: Thất xứ thiện. II. Thất Thiện. Các kinh điển Đại, Tiểu thừa do Phật nói có 7 thiện, gọi là Thất thiện. Về thất thiện này, các kinh luận Đại, Tiểu thừa giải thích cóhơikhác nhau. A. Theo phẩm Tam thiện trong luận Thành thực thì Thất thiện là: 1. Thời thiện: Giáo pháp được nói trong 3 thời sơ, trung, hậu của 1 bộ kinh đều rất sâu xa. 2. Nghĩa thiện: Nghĩa của Phật pháp rất có lợi ích, là đạo xuất thế có lợi ích đời này, đời sau. 3. Ngữ thiện: Tùy theo phương ngôn, tục ngữ của mỗi nơi mà chỉ bày chính nghĩa. 4. Độc pháp: Chỉ nói vì Niết bàn vô dư.5. Cụ túc: Các pháp viên mãn, không đợi các kinh khác mới thành. 6. Thanh tịnh điều nhu: Lời nói thanh tịnh nên gọi là thanh tịnh, nghĩa thanh tịnh nên gọi là điều nhu. 7. Phạm hạnh: Đạo này có năng lực đưa đến Niết bàn. B. Theo phẩm Tựa trong kinh Pháp hoa và Pháp hoa văn cú quyển 3giải thích thì Thất thiện(cũng gọi Đốn giáo thất thiện, Đại thừa thất thiện) là: 1. Thời tiết thiện: Ba phầnTựa, Chính tông và Lưu thông của Đốn giáo đều thiện. 2. Nghĩa thiện: Trí tuệ của Nhị thừa không thể lường biết lí liễu nghĩa 3. Ngữ thiện: Dùng 8 âm(rất hay, dịu dàng, hòa nhã, trịnh trọng, mãnh mẽ, chân chính, sâu xa, vô cùng)đểtrình bày, hội lí nói thẳng, làm đẹp lòng Bồ tát. 4. Độc nhất thiện: Thuần nhất, không chung cho Nhị thừa. 5. Viên mãn thiện: Thuyết minh pháp mãn tự trong 3 cõi, ngoài 3 cõi. 6. Điều nhu thiện: Không có dấu vết thiên lệch. 7. Vô duyên từ thiện: Tức hạnh vô duyên đại từ thanh tịnh. Nghĩa thất thiện này tuy chung cho cả kinh điển Đại, Tiểu thừa, nhưng pháp thể thì tùy theo kinh luận mà có khác, như kinh Tiểu thừa giải thích Độc nhất là Niết bàn vô dư, kinh Pháp hoa thì giải thích Độc nhất là pháp Viên đốn Nhất thừa. C. Phẩm Danh tự công đức trong kinh Niết bàn(bản Bắc) cũng có nói về Thất thiện như sau (Đại 21, 385 thượng): Thượng ngữ cũng thiện, Trung ngữ cũng thiện, Hạ ngữ cũng thiện, nghĩa vị sâu xa của văn tự cũng thiện, phạm hạnh thanh tịnh thuần nhất đầy đủ, tạng báu kim cương tròn trịa không thiếu.

thất thiện luật nghi

(七善律儀) Đối lại : Thất bất hiện luật nghi. Gọi tắt: Thất luật nghi. Chỉ cho 7 giới luật: Không giết hại, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không nóihai lưỡi, không nói ác và không nói thêu dệt. Ba điều trước là luật nghi xa lìa tội ác của nghiệp thân, 4 điều còn lại là luật nghi xa lìa tội lỗi của nghiệp khẩu; thêm 3 điều không tham, không sân, không tà kiến của nghiệp ý nữa thì gọi là Thập thiện giới. Thập địa kinh luận quyển 4, đã y cứ vào các luật nghi này mà nói về 3 thứ Nhân li, Quả hành li, và Đối trị li. Nói về giới không giết hại thì Nhân li là nhân xa lìa tâm giết hại; Quả hành li là xa lìa hành vi giết hại; Đối trị li là dùng tâm từ bi và tâm an ổn đối trị tâm giết hại, nghiệp giết hại khiến xa lìa 2 việc này. Đối với các luật nghi còn lại cứ suy đây thì rõ. Bảy luật nghi này nếu hợp lại thì thành một thiện luật nghi duy nhất, nếu mở rộng ra thì thành 7 luật nghi của 2 nghiệp thân và khẩu. Nếu mỗi luật nghi được chia theo 3 phẩm tâm thượng, trung, hạ thì thành 21 thứ; đem phối hợp với 3 thiện căn vô tham, vô sân, vô si thì thành 63 thiện luật nghi.

thất thiện sĩ thú

(七善士趣) Chỉ cho 7 nơi mà bậc Thánh Bất hoàn (thiện sĩ) hướng tới. Bậc Thánh Bất hoàn đã đoạn trừ hết phiền não cõi Dục, cho nên không còn ác nghiệp tạp hành và chứng Niết bàn. Có 3 thứ Niết bàn là Sinh ban, Trung ban và Thượng lưu ban. Sinh ban lại được chia làm 3 loại là Sinh ban, Hữu hành ban và Vô hành ban; Trung ban cũng được chia làm 3 loại là Tốc ban, Phi tốc ban và Kinh cửu ban, 6 loại này hợp chung với Thượng lưu ban, gọi là Thất thiện sĩ thú. Thú nghĩa là hành, vì hành thiện và trụ ở cõi trên, không còn trở lại cõi Dục, nên gọi là Thiện sĩ thú. Theo thuyết của luận Đại tì bà sa quyển 175 thì sở dĩ Thượng lưu ban không lập riêng vì phải thụ sinh nhiều đời, hành tướng của loại này dễ biết, cho nên không chia ra; còn Sinh ban và Trung ban mỗi loại đều là sự sai biệt trong một đời, hành tướng khó biết, cho nên cần chia ra. Tuy nhiên, cũng có thuyết lập riêng Thượng lưu ban làm 3 loại là Toàn siêu ban, Bán siêu ban và Biến một ban, gộp chung với 4 loại: Trung ban, Sinh ban, Hữu hành và Vô hành ban, gọi là Thất thiện sĩ thú.

thất thánh

(七聖) Cũng gọi Thất thánh nhân, Thất thánh giả, Thất sĩ phu, Thất trượng phu. Chỉ cho 7 bậc Thánh thuộc các giai vị Kiến đạo, Tu đạo, Vô học đạo. Các luận nói về Thất thánh đều khác nhau. Cứ theo luận Câu xá quyển 25 thì Thất thánh là: 1. Tùy tín hành: Bẩm tính nhiều đức tin, được gặp Như lai hoặc đệ tử Phật giảng nói chính pháp, chỉ bảo răn dạy, theo đó mà tu gia hạnh, được vào Kiến đạo. 2. Tùy pháp hành:Bẩm tính nhiều tư duy, tự mình nương vào chính pháp mà tu gia hạnh để vào Kiến đạo. 3. Tín giải: Bậc thánh Tùy tín hành vào giai vị Tu đạo (16 tâm). 4. Kiến chí: Bậc thánh Tùy pháp hành vào giai vị Tu đạo. 5. Thân chứng: Tuy chưa dùng trí tuệ để trừ sạch các lậu hoặc, nhưng thân đã chứng 8 giải thoát. 6. Tuệ giải thoát: Thân tuy chưa chứng 8 giải thoát, nhưng đã vận dụng trí tuệ dứt hẳn các lậu hoặc. 7. Câu giải thoát: Thân đã chứng 8 giải thoát, đồng thời cũng dùng tuệ đoạn trừ hẳn các lậu; tức giải thoát được cả phiền não chướng và sở tri chướng.

Thất thánh giác

xem Bảy giác chi.

thất thánh tài

(七聖財) Cũng gọi Thất tài, Thất đức tài, Thất pháp tài. Chỉ cho 7 Thánh pháp để thành tựu Phật đạo. Đó là Tín, Giới, Tàm, Quí, Văn, Thí và Tuệ. Vì 7 pháp được gìn giữ này có công năng trợ giúp cho sự nghiệp thành Phật nên gọi là Tài(của cải). 1. Tín tài: Tin nhận chính pháp. 2. Giới tài: Giữ gìn giới luật. 3. Tàm tài: Tự hổ thẹn không dám làm các việc xấu ác. 4. Quí tài: Tâm sinh hổ thẹn khi làm điều bất thiện. 5. Văn tài: Có khả năng nghe chính giáo.6. Thí tài: Lìa bỏ tất cả không đắm trước. 7. Định tuệ tài: Thu nhiếp tâm không tán loạn, chiếu soi rõ các pháp.

thất thú

(七趣) Chỉ cho 7 nơi mà chúng sinh tùy theo nghiệp nhân sẽ sinh tới. Đó là: 1. Địa ngục thú (Phạm: Narakagati). 2. Ngã quỉ thú (Phạm:Preta). 3. Súc sinh thú (Phạm: Tiryagyoni). 4. Nhân thú (Phạm: Manusya). 5. Thần tiên thú (Phạm:Rwi). 6. Thiên Thú (Phạm: Deva). 7. A tu la thú (Phạm:Asura).

thất thú ma la ngư

(室獸摩羅魚) Thất thú ma la, Phạm: Zizumara. Tên khoa học: Delphilnus gangeticus. Cũng gọi Thất thu ma la ngư, Thất thủ ma la ngư. Hán dịch: Sát tử ngư, Ngạc ngư. Một trong các loại cá sấu sống ở biển hoặc ở sông Hằng, Ấn độ. Cứ theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 24 thì tính của loài cá sấu này rất hung dữ, thân hình giống như voi, dài hơn 2 trượng, có 4 chân, răng rất sắc, hễ có con cầm thú nào sa xuống sông thì bị nó cắn đứt ngang lưng.Câu xá luận quang kí quyển 2 (Đại 41, 34 hạ) nói: Cá này thuộc loại bàng sinh, nhỏ thì dài 2 trượng, lớn thì cả trăm thước. Trong kinh luận thường có sự tích bản sinh con khỉ dùng trí lừa loài cá này.

thất thường trụ quả

(七常住果) Chỉ cho 7 tên gọi được lập ra dựa theo sự chứng đắc quả vị Phật, là quả thường trụ bất sinh bất diệt. Đó là: 1. Bồ đề: Nghĩa là tri giác, cũng tức là quả Trí. 2. Niết bàn: Nghĩa là vắng lặng, cũng tức là quảĐoạn. 3. Chân như: Nghĩa là lìahư vọng và không đổi dời. 4. Phật tính: Nghĩa là chiếu soi không biến đổi. 5. Am ma la thức: A ma la, Hán dịch làvô cấu(không cấu bẩn), là thức được hiển lộ khi lìa chướng, tức là Bạch tịnh vô cấu thức.6. Không Như lai tạng: Không tương ứng với vọng nhiễm, hàm chứa vô lượng công đức. 7. Đại viên kính trí: Có năng lực hiển hiện sắc thân và cõi nước, lìa các điên đảo, thành tựu viên mãn, soi sáng khắp muôn vật.Những quả thường trụ này tuy có 7 tên gọi nhưng thể thì chỉ là một, trong sáng tròn đầy, cứng chắc bất động, như kim cương thường trụ không hoại diệt

thất thất trai

(七七齋) Cũng gọi Thất thất kị, Lũy thất trai, Thất thất nhật, Trai thất nhật. Trai nghi được thiết cúng vào ngàythứ 49 sau khi người chết. Trong khoảng 49 ngày sau khi người qua đời, thân thuộc vì họ cứ 7 ngày cúng trai một lần, hoặc chỉ cho ngày truytiến lần thứ 7, gọi là Thất thất trai. Khoảng thời gian từ sau khi chết đến khi chịu báo gọi là Trung hữu(Trung ấm), tuổi thọ của Trung hữu chỉ được 7 ngày là chết; chết rồi sống lại, nếu chưa được duyên sinh thì cứ chết đi sống lại như thế cho đến tuần 7 ngày thứ 7 (49 ngày), từ đây về sau nhất định được duyên sinh mới thụ báo. Trong thời gian này, thân nhân vì người quá cố tu pháp truy phúc, có thể chuyển được nghiệp xấu thành tốt.

thất thập chân thật luận

(七十真實論) Phạm:Tattva-saptati. Luận, do Bồ tát Thiên thân soạn. Tác phẩm này được soạn ra với mục đích bác bỏ luận Kim thấtthập của phái Số luận (Tăng khư), hiện nay đã thất truyền. Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện (Đại 50, 190 thượng)nói: Ngoại đạo thân đã hóa đá, ngài Thiên thân lại càng buồn bã, bèn soạn luận Thất thập chân thực để bác bỏ luận Tăng khư do ngoại đạo soạn, từ đầu đến cuối đều bị phá, không câu nào đứng vững được.

thất thập không tính luận

(七十空性論) Luận, dobồ tát Long thụ soạn, được dẫn dụng trong Quán nhân duyên môn của luận Thập nhị môn (do ngài Cưu ma la thập dịch). Nội dung luận này nói về các pháp không có tự tính, đề xướng tư tưởng Trung đạo tính không. Ý chỉ chủ yếu và phương pháp luận chứng của luận này đại thể cũng gần với Trung luận. Toàn sách có 73 bài kệ tụng. Bàitụngthứ nhất là Tổng luận, tức phần tông yếu. Từ bài tụng thứ 2 đến bài tụng 71 trình bày nội dung của bài tụng Tổng luận thứ nhất, là phần trung tâm của luận này. Trong đó, từ bài tụng thứ 2 đến bài tụng thứ 66, đứng trên quan điểm thế tục, nói về tính sinh diệt biến hóa của sự tồn tại; còn từ bài tụng thứ 67 đến 71 thì đứng trên lập trường thắng nghĩa đế, trình bày cảnh giới không sinh diệt, biến hóa. Hai bài tụng cuối là phần Khuyến tín đắc ích(khuyên tin theo được lợi ích) là phần kết luận của tác phẩm này. Cho nên tên sách Thất thập là chỉ cho bài tụng thứ 2 đến bài 71. Luận này chỉ có bản Tạng dịch chứ không có bản Hán dịch và nguyên bản tiếng Phạm cũng không còn.

thất thập ngũ pháp

(七十五法) Cũng gọi Tiểu thừa thất thập ngũ pháp. Chỉ cho 75 pháp của tông Câu xá thuộc Tiểu thừa, được chia thành 5 loại.Đó là: I. Sắc pháp có 11 thứ: 1. Nhãn căn (Phạm: Cakwur-indriya). 2. Nhĩ căn (Phạm: Zrotrendriya). 3. Tị căn (Phạm: Ghràịendriya). 4. Thiệt căn (Phạm: Jihvendriya). 5. Thân căn (Phạm: Kàyendriya). 6. Sắc cảnh (Phạm:Rùpa-viwaya). 7. Thanh cảnh (Phạm: Zabda-viwaya). 8. Hương cảnh (Phạm: Gandhaviwaya). 9. Vị cảnh (Phạm: Rasa-viwaya). 10. Xúc cảnh (Phạm: Sprawỉavyaviwaya). 11. Vô biểu sắc (Phạm:Avijĩapti-rupa). Trong 11 thứ trên, 5 thứ trước có công năng phát sinh thức và thu lấy cảnh nên gọi là 5 căn; 5 thứ kế tiếp là cảnh giới sở duyên(đối tượng) của 5 căn, nên gọi là 5 cảnh; Vô biểu sắc là thiện nghiệp và ác nghiệp nương theo sự phát động của thân, khẩu, là 1 loại sắc pháp vô hình phát sinh trong thân, là nghiệp nhân cảm nhận quả báo khổ, vui, có công năng ngăn điều quấy, dứt điều ác. II. Tâm pháp có 1 thứ: Chỉ cho 6 thức Tâm vương (Phạm: Citta): Tác dụng chung để nhận biết cảnh, do nương vào các căn mà sinh ra. III. Tâm sở hữu pháp gồm 46 thứ. Chia làm 6 nhóm: 1. Biến đại địa pháp (Phạm:Mahàbhùmikà dharmà#), có 10 thứ: -Thụ (Phạm:Vedanà): Tác dụng lãnh nạp 3 cảnh khổ, vui,xả(khôngkhổkhông vui).-Tưởng (Phạm: Saôjĩa): Tác dụng tưởng tượng sự vật. -Tư (Phạm:Cetanà): Tác dụng tạo tác các nghiệp. -Xúc (Phạm:Sparza): Tác dụng tiếp xúc với cảnh. -Dục (Phạm: Chanda): Tác dụng mong cầu.-Tuệ (Phạm:Prajĩà): Tác dụng lựa chọn pháp thiện ác. -Niệm (Phạm:Smfti): Tác dụng ghi nhớ không quên. - Tác ý (Phạm:Manasikàra): Tác dụng khiến tâmsởchú ý đến đối tượng. -Thắng giải (Phạm: Adhimokwa): Tác dụng hiểu rõ sự lí. -Tam ma địa (Phạm: Samàdhi, Hán dịch: Định): Tác dụng khiến tâm, tâm sở chuyên chú vào một cảnh không tán loạn. Mười thứ trên đây cùng khởi lên với tất cả tâm vương thiện, bất thiện, vô kí, cho nên gọi là Biến đại địa pháp, gọi tắt là Đại địa pháp. 2. Đại thiện địa pháp(Phạm:Kuzalamahà-bhùmikà-dharmà#), gồm 10 thứ: -Tín (Phạm:Zradhà): Tác dụng làm cho tâm, tâm sở lắng trong thanh tịnh. -Bất phóng dật (Phạm: Apramàda): Tác dụng dứt ác làm thiện. -Khinh an (Phạm: Prazrabdhi): Tác dụng khiến thân tâm nhẹ nhàng, an ổn. -Hành xả (Phạm:Upekwà): Tác dụng khiến thân tâm lìa bỏ ý nghĩ chấp trước các pháp và trụ trong bình đẳng, là xả thuộc về Hành uẩn. -Tàm (Phạm:Hrì): Tác dụng tự thẹn khi tạo tội. -Quí (Phạm:Apatràpya): Tác dụng xấu hổ với người khác khi mình tạo tội. -Vô tham (Phạm: Alobha): Tác dụng không tham đắm cảnh thuận. -Vô sân (Phạm: Advewa): Tác dụng không tức giận trước cảnh nghịch. -Bất hại (Phạm:Ahiôsà): Tác dụng không gây tổn hại cho người khác. -Cần (Phạm: Vìrya): Tác dụng siêng năng tu tập các thiện pháp. Mười pháp trên đây khởi lên đồng loạt với tất cả tâm thiện, nên gọi là Đại thiện địa pháp. 3. Đại phiền não địa pháp (Phạm: Kleza-mahà-bhùmikà-dharmà#), gồm 6 thứ: -Vô minh (Phạm: Avidyà): Lấy ngu si làm tính. -Phóng dật (Phạm:Pramàda): Tác dụng buông lơi đối với pháp ác. -Giải đãi (Phạm:Kausìdya): Tác dụng thờ ơ đối với pháp thiện. -Bất tín (Phạm:Azraddhya): Tác dụng không làm cho tâm lắng trong thanh tịnh. -Hôn trầm (Phạm:Styàna): Tác dụng khiến cho tâm mờ tối, nặng nề. -Trạo (điệu) cử (Phạm: Auddhatya): Tác dụng làm cho tâm xao động. Sáu thứ trên thường khởi lên với tâm ác và tâm hữu phú vô kí, nên gọi là Đại phiền não địa pháp. 4. Đại bất thiện địa pháp (Phạm: Akuzala-mahà-bhùmikau-dharmà#), gồm có 2 thứ: -Vô tàm (Phạm: Ahrìkya): Tác dụng không biết tự thẹn. -Vô quí (Phạm: Anapatràpya): Tác dụng không xấu hổ với người khác. Hai pháp trên đây tương ứng với tất cả tâm bất thiện, nên gọi là Đại bất thiện địa pháp. 5. Tiểu phiền não địa pháp (Phạm: Parìtta-kleza-bhùmikà-dharmà#), gồm 10 thứ: -Phẫn (Phạm:Krodha): Tác dụng làm cho dấy lên sự giận dữ. -Phú (Phạm: Mrakwa): Tác dụng che giấu lỗi của mình. -Khan (Phạm: Màtsarya): Tác dụng bỏn sẻn đối với việc bố thí tiền của và giáo pháp. -Tật (Phạm:Ìrwyà): Tác dụng ganh ghét. -Não (Phạm:Pradàsa): Tác dụng khư khư giữ các việc xấu ác, làm não loạn thân tâm.-Hại (Phạm:Vihiôsà): Tác dụng gây tổn hạichongười khác. -Hận (Phạm:Upanàha): Tác dụng kết oán không buông tha đối với cảnh phẫn hận.-Siểm (Phạm:Màyà): Tác dụng nịnh nọt làm cho tâm, tâm sở xiên xẹo. -Cuống (Phạm:Zàthya): Tác dụng gạt gẫm người khác. -Kiêu (Phạm: Mada): Tác dụng kiêu căng, ngạo mạn, khinh thường người khác. Mười pháp trên đây chỉ do giai vị Tu đạo đoạn trừ và cũng chỉ tương ứng với vô minh của ý thức, hiện hành riêng rẽ, chứ không khởi 10 pháp cùng một lượt, vì thế gọi là Tiểu phiền não địa pháp. 6. Bất định địa pháp(Phạm:Aniyatabhùmikà-dharmà#), gồm có 8 thứ: -Tầm (Phạm: Vitarka): Tác dụng tìm tòi sự lí một cách thô tháo. -Tứ (Phạm: Vicara): Tác dụng dò xét sự lí một cách tế nhị. -Thụy miên (Phạm: Middha): Tác dụng làm cho tâm, tâm sở mờ tối. -Ác tác (Phạm:Kaukftya): Tác dụng nghĩ nhớ đến việc đã làm khiến cho tâm truy hối. -Tham (Phạm: Ràya): Tác dụng tham đắm cảnh thuận ý. -Sân (Phạm:Pratigha): Tác dụng bực tức đối với cảnh trái ý. -Mạn (Phạm: Mana): Tác dụng khiến tâm cao ngạo, lấn lướt người khác. -Nghi (Phạm: Vicikitsà): Tác dụng khiến tâm do dự không quyết đối với chân lí. Tám pháp nói trên không thuộc về 5 nhóm trước, nhưng chung cho cả 3 tính thiện, ác, vô kí, cho nên gọi là Bất định địa pháp. IV. Tâm bất tương ứng hành pháp gồm 14 thứ: 1. Đắc (Phạm: Pràpti): Thực pháp khiến cho được các pháp nơi thân. 2. Phi đắc (Phạm:Apràpti): Thực pháp khiến cho các pháp lìa khỏi thân. 3. Chúng đồng phận (Phạm: Nikàyasa-bhàga): Thực pháp tùy theo chỗ hướng tới mà khiến cho được cùng một quả báo. 4. Vô tưởng quả (Phạm: Àsaôjĩika): Thực pháp làm cho tâm, tâm sởở cõi trời Vô tưởng đều diệt. Đây là Niết bàn do ngoại đạo chấp trước. 5. Vô tưởng định (Phạm: Àsaôjĩisamàpatti): Định vô tâm tu được nhờ chứng đắc Vô tưởng quả. 6. Diệt tận định (Phạm: Nirodhasamàpatti): Định vô tâm mà bậc thánh Bất hoàn hoặc A la hán nhập vào để tạm thời ngưng mọi hoạt động tâm lí. 7. Mệnh căn (Phạm: Jivitendriya): Thực pháp duy trì thọ mệnh. 8. Sinh (Phạm:Jàti): Thực pháp làm cho các pháp sinh khởi. 9. Trụ (Phạm:Sthiti): Thực pháp làm cho các pháp không đổi dời. 10. Dị (Phạm:Anyathàtva): Thực pháp làm cho các pháp suy hao, đổi khác. 11. Diệt (Phạm:Vyaya): Thực pháp làm cho các pháp tiêu diệt hết. 12. Danh thân (Phạm: Nàma-kàya): Tên gọi như sắc, thanh... 13. Cú thân (Phạm: Pada-kàya): Chỉ cho các câu nói như Các pháp là vô thường. 14. Văn thân (Phạm: Vyaĩjana-kàya): Chỉ cho văn tự là chỗ nương của danh thân và cú thân, vì có 2 thành phần trở lên nên gọi là Thân. Mười bốn thứ nói trên là các pháp chẳng phải sắc chẳng phải tâm, cũng không tương ứng với tâm, cho nên gọi là Tâm bất tương ứng hành pháp. V. Vô vi pháp có 3 thứ: 1. Trạch diệt vô vi (Phạm: Pratisaôkhyà-nirodha): Pháp tịch diệt do sức lựa chọn của chínhtrí mà được. 2. Phi trạch diệt vô vi (Phạm: Apratisaôkhỳa-nirodha): Pháp tịch diệt không phải nhờ sức lựa chọn của chính trí, chỉ do thiếu duyên sinh mà hiện. 3. Hư không vô vi (Phạm:Àkàza): Lấy vô ngại làm tính, dung chứa muôn vật và trùm khắp mọi nơi. Ba pháp này không có sự tạo tác của 4 tướng sinh, trụ, dị, diệt, cho nên gọi là Vô vi pháp. Luận Đại tì bà sa quyển 42 nói về 3 pháp vô vi hơi khác với 3 pháp ở đây. Cũng có chỗ chia 75 pháp làm Sắc phi sắc, Hữu kiến vô kiến, Hữu đối vô đối.

thất thập nhị thiên

(七十二天) Chỉ cho 72vị trời do kết hợp Thái sơn phủ quân, Ngũ đạo đại thần, Đại cát tường thiên và 69 vị trời mà thành. Sáu mươi chín vị trời tức là: Bất động, 4Đại minh vương, 12 vị trời, 7 sao Bắc đẩu, 12 cung thần, 5 sao và 28 sao.

thất thập nhị tự

(七十二字) Bảy mươi hai chữ. Thủa kiếp sơ, Phạm thiên được 72 chữ, đem xuống dạy cho thế gian, nhưng người thế gian đều không tin, Phạm thiên bèn nuốt 70 chữ chỉ giữ lại 2 chữ để ở 2 bên trong miệng, tức là chữ A và chữ Âu. Các sách của ngoại đạo đều dùng 2 chữ này đặt ở đầu quyển, A nghĩa là không, Âu nghĩa là có, tức tất cả các pháp đều không ngoài 2 nghĩa có và không. Cho nên 2 chữ này được viết ở đầu sách để biểu thị tướng tốt lành.

thất thập nhị uy nghi

(七十二威儀) Chỉ cho uy nghi của sa di, như phép thờ thầy, phép bạch thầy, phép nhập chúng... tất cả có 72 pháp .

thất thập thất trí

(七十七智) Bảy mươi bảy trí. Trong 12 chi duyên khởi, trừ Vô minh, 11 chi còn lại, mỗi chi đều y cứ vào trí quán xét thuận nghịch 3 đời và pháp tính thường trụ, thì mỗi chi trong 11 chi đều có 7 trí, cộng chung thành 77 trí. Bảy trí là trước quán xét do duyên sinh ở đời này mà có lão tử, là trí biết duyên sinh lão tử; kế đến quán xét chẳng pháp nào không có duyên sinh mà có lão tử, là trí biết chẳng lão tử nào mà không có duyên sinh, cứ như thế ở quá khứ, vị lai cũng đều quán 2 quán thuận, nghịch; lại biết khắp pháp sinh khởi, biết có Phật, không Phật, pháp tính thường trụ, đó là trí Pháp trụ. Như vậy, trong 11 chi, lấy chi Sinh làm thí dụ thì 7 trí là: Trí biết duyên sinh lão tử, trí biết chẳng lão tử nào không có duyên sinh, trí biết duyên sinh lão tử ở quá khứ, trí biết ở quá khứ không lão tử nào mà không có duyên sinh,trí biết duyên sinh ở vị lai, trí biết ở vị lai không lão tử nào mà chẳng có duyên sinh và trí Pháp trụ. Mười chi còn lại mỗi chi cũng đều có 7 trí, tổng cộng 77 trí.Tên của mỗi trí đều được ghi rõ ràng, đầy đủ trong luận Thành thực quyển 15, 16.

thất thắng sự

(七勝事) Cũng gọi Thất thắng pháp, Như lai thất thắng sự, Thất chủng tối thắng, Thất chủng vô thượng. Chỉ cho 7 việc thù thắng chỉ Phật mới có. Đó là: 1. Thân thắng:Thân Như lai được trang sức bằng 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, sức mạnh của một lóng xương có thể địch lại sức mạnh của 1 vạn 8 nghìn con hương tượng Y la bát na, chúng sinh vui mừng nhìn thân Như lai không hề nhàm chán. 2. Như pháp trụ thắng: Như lai an trụ đại đạo như pháp mà tu chính hạnh. Tức Như lai đã tự được lợi ích, lại hay thương xót cứu giúp, làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh.3. Trí thắng: Như lai thành tựu 4 trí vô ngại, thù thắng vô thượng. 4. Cụ túc thắng: Như lai viên mãn đầy đủ chính giới, chính mệnh, chính hạnh và chính kiến thù thắng vô thượng. 5. Hành xứ thắng: Như lai tu 3 Tam muội, 9 Định thứ đệ... mà Thanh văn và Duyên giác không thể sánh kịp. 6. Bất khả tư nghị thắng: Sức uy thần của Như lai không thể nghỉ bàn, vượt trên tất cả. 7. Giải thoát thắng: Như lai đã đoạn trừ vĩnh viễn phiền não chướng và sở tri chướng, đồng thời dứt hẳn tập khí của tất cả phiền não, đối với trí và duyên đều được tự tại. Bảy thắng sự trên, theo thứ tự, tương đương với 7 vô thượng: Thân vô thượng, Đạo vô thượng, Trí vô thượng, Chính vô thượng, Trụ vô thượng, Thần lực vô thượng và Đoạn vô thượng nói trong luận Du già sư địa (Biệt dịch Địa trì luận quyển 3).

Thất thức

七識; C: qīshì; J: shichishiki;|1. Bảy thức, ngoại trừ A-lại-da thức (阿頼耶識). Chuyển thức (轉識); 2. Đệ thất thức (第七識): Thức thứ bảy, Mạt-na thức (s: manas), nơi có khuynh hướng chấp giữ bản ngã.

thất thức thập danh

(七識十名) Mười tên gọi của thức Mạt na thứ bảy. Thức Mạt na có 10 tên gọi khác nhau, đó là: Thất thức, Chuyển thức, Vọng tướng thức, Tương tục thức, Vô minh thức, Giải thức, Hành thức, Vô úy thức, Hiện thức và Trí chướng thức.

thất thức trụ

(七識住) Phạm: Saptavijĩàna-sthitaya#. Cũng gọi Thất thức xứ, Thất thức chỉ xứ, Thất thần thức chỉ xứ. Chỉ cho 7 chỗ mà thần thức của loài hữu tình thích dừng ở tùy theo quả báo thụ sinh trong 3 cõi. Đó là: 1. Thân di tưởng di thức trụ(cũng gọi Thân dị tưởng di như nhân nhất phần thiên): Chỉ cho thế giới của loài người, 6 tầng trời cõi Dục và trừ các vị trời Sơ thiền thuộc cõi Sắc ở kiếp đầu tiên; hữu tình ở những nơi này thân tướng, dung mạo đều khác, các ý tưởng khổ, vui, không khổ không vui cũng đều khác nhau, nên gọi Thân dị, Tưởng dị. 2. Thân dị tưởng nhất thức trụ(cũng gọi Thân dị tưởng nhất như Phạm chúng thiên vị kiếp sơ khởi): Chỉ cho tầng trời Phạm chúng thuộc Sơ thiền cõi Sắc ở kiếp đầu tiên; hữu tình ở cõi này đều tự tưởng rằng mình do Đại phạm vương sinh ra, Đại phạm vương cũng tưởng rằng Phạm chúng ở đây đều do mình sinh ra. Vì cùng chấp mộtnhân không có tưởng khác, nên gọi là Tưởng nhất; nhưng thân hình của Đại phạm vương cao lớn, dung mạo, uy đức, ngôn ngữ, ánh sáng, áo mũ... mỗi mỗi đều khác với Phạm chúng, nên gọi là Thân dị. 3. Thân nhất tưởng dị thức trụ(cũng gọi Thân nhất tưởng dị như Cực quang tịnh thiên): Chỉ choĐệ nhị thiềncủacõi Sắc. Thân tướng, dung mạo củahữu tình ở cõi này không khác nhau, tưởng vui và tưởng không khổ không vui xen lẫn nhau, nên gọi là Thân nhất tưởng dị. 4. Thân nhất tưởng nhất thức trụ(cũng gọi Thân nhất tưởng nhất như Biến tịnh thiên): Chỉ choĐệ tam thiền thuộc cõi Sắc; hữu tình ở cõi này thân tướng không khác nhau và chỉ có ý tưởng vui thôi, nên gọi là Tưởng nhất. 5. Không vô biên xứ thức trụ: Vượt ngoài tất cả các cõicó sắc chất. 6. Thức vô biên xứ thức trụ: Vượt ngoài tất cả các cõi Không vô biên. 7. Vô sỡ hữu xứ thức trụ: Vượt ngoài tất cả các cõi Thức vô biên. Ba thức trụ sau là 3 tầng trời dưới của cõi Vô sắc. Bảy nơi nói trên là chỗ an trụ của thức, là những nơi mà loài hữu tình đều mong được sinh đến để an trụ, cho nên gọi là Thức trụ.

thất tinh như ý luân

(七星如意輪) Chỉ cho Quán âm Như ý luân có kèm theo 7 ngôi sao. Bảy sao gồm: Tham lang, Cự môn, Lộc tồn, Văn khúc, Liêm trinh, Vũ khúc vá Phá quân. Bí pháp thờ Thất tinh Như ý luân để tu, gọi là Thất tinh Như ý tu pháp. Cứ theo kinh Thất tinh Như ý luân bí mật yếu, vào thời đức Phật tại thế, nước Câu thi la dấy binh vây thành Ca di, vua Ba tư nặc liền saisứđến xin Phật cứu giúp, Phật bèn dạy lập hỏa đàn thất tinh trong đạo tràng Như ý bảo luân ban đa la, làm đúng như pháp một ngày một đêm, bọn giặc ngoại xăm tự nhiên rút lui. Y theo đó, người ta thường tu pháp này để đẩy lui quân địch.

thất tri

(七知) Chỉ cho phạm hạnh biết đầy đủ bảy pháp lành. Cứ theo phẩm Phạm hạnh trong kinh Niết bàn quyển 15 (bản Bắc), trên hội Niết bàn, đức Phật bảo các vị Bồ tát rằng trụ trong Đại thừa biết 7 pháp lành được gọi là phạm hạnh đầy đủ. Thất tri gồm: 1. Tri pháp: Biết pháp năng thuyên 12 bộ kinh. 2. Tri nghĩa: Biết nghĩa do tất cả văn tự ngôn ngữ trong kinh giảng nói. 3. Tri thời: Biết rõ lúc nào nên tu tịch tĩnh, tinh tiến, xuất định, cúng dường Phật, sư trưởng, bố thí, nhẫn nhục, bát nhã... 4. Tri túc: Biết dừng đủ đối với việc ăn mặc, thuốc men, đi đứng, ngồi nằm... 5. Tri tự: Biết rõ giới pháp, đa văn, trí tuệ, chính niệm, thiệnhạnhcủa mình. 6. Tri chứng: Biết phân biệt các chúng Sát lợi, Bà la môn, cư sĩ, sa môn... để tùy cơ nói pháp, hỏi đáp với họ. 7. Tri nhân tôn ti: Biết rõ sự khác nhau giữa những người có lòng tin và những người không có lòng tin, cũng biết sự tôn ti giữa tự độ và tha độ.

thất tri kinh

(七知經) Cũng gọi Thất trí kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Kinh này có 4 bản dịch khác nhau, ngoài bản dịch của ngài Chi khiêm, 3 bản còn lại là: 1. A. (Aíguttara-nikàya-Tăng chi bộ) VII.64 Dhammaĩĩù. 2. Kinh Thiện pháp trong phẩm Thất pháp của Trung a hàm (Đại chính tạng tập 1). 3. PhẩmĐẳng pháp thứ 39 trong kinh Tăng nhất a hàm (Đại chính tạng tập 2). Trong 4 bản dịch trên, bản dịch này của ngài Chi khiêm là ngắn nhất, nội dung nói rằng nếu tỉ khưu biết rõ 7 pháp (tri pháp, tri nghĩa, tri thời, tri tiết, tri kỉ, tri chúng, tri nhân) thì sẽ được chứng ngộ.

Thất Trân

(七珍): hay Thất Bảo (七寶), tức là 7 loại trân bảo quý giá của thế gian. Các kinh điển giải thích về 7 loại trân bảo này có khác nhau, như A Di Đà Kinh (阿彌陀經), Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 10, v.v., giải thích Thất Bảo là: (1) Vàng; (2) Bạc; (3) Lưu Ly (瑠璃、琉璃), thuộc loại ngọc xanh; (4) Pha Lê (頗梨), ý dịch là Thủy Tinh, chỉ loại Thủy Tinh màu đỏ, trắng, v.v.; (5) Xa Cừ (車渠), trong các kinh điển thường gộp chung loại này với Mã Não (碼瑙), chỉ cho loại San Hô trắng; (6) Xích Châu (赤珠, hạt châu đỏ), hay Xích Chơn Châu (赤眞珠); (7) Mã Não, loại ngọc có màu xanh đậm. Bên cạnh đó, Pháp Hoa Kinh (法華經) quyển 4 cho Thất Bảo là: Vàng, Bạc, Lưu Ly, Xa Cừ, Mã Não, Chơn Châu và Mân Côi (玫瑰). Như trong Di Đà Phật Minh (彌陀佛銘) của Lương Trầm Ước (梁沉約, ?-?) thời Nam Triều có câu: “Nguyện du bỉ quốc, thần kiều mộ tưởng, Thất Trân phi tiện, tam đạt tư ngưỡng (願遊彼國、晨翹暮想、七珍非羨、三達斯仰, nguyện rong chơi nước ấy, ngày trông đêm nhớ, bảy báu chẳng ham, ba lần đạt đến sự khát ngưỡng).” Hay trong Ngọc Thanh Hành (玉清行) của Liễu Bí (柳泌, ?-820) nhà Đường lại có câu: “Thất Trân phi mãn tòa, Cửu Dịch chước như tuyền (七珍飛滿座、九液酌如泉, Bảy Báu bay đầy tòa, Chín Dịch rót như suối).” Trong Tịnh Độ Tùy Học (淨土隨學) quyển hạ của Cổ Côn Pháp Sư (古崑法師) nhà Minh có câu: “Nhất thanh Phật hiệu vi vi tụng, Thất Bảo Liên Hoa đại đại khai (一聲佛號微微誦、七寶蓮花大大開, một danh hiệu Phật tụng nho nhỏ, hoa sen bảy báu lớn dần khai).”

Thất trân

七珍; C: qīzhēn; J: shichichin, shicchin;|Bảy thứ châu báu, bảy thứ ngọc quý, có nghĩa như Thất bảo (七寶).

Thất trùng hàng thọ

(七重行樹): bảy lớp hàng cây, từ xuất hiện trong A Di Đà Kinh (阿彌陀經). Con số 7 ở đây chỉ cho các phương Đông, Tây, Nam, Bắc, trên, dưới và ở giữa; thể hiện ý nghĩa viên mãn. Theo Đại Sư Ngẫu Ích Trí Húc (蕅益智旭, 1599-1655) nhà Minh giải thích trong A Di Đà Kinh Yếu Giải (阿彌陀經要解, 1 quyển, Taishō No. 1762), là “Thất trùng biểu thất khoa đạo phẩm (七重表七科道品, bảy lớp biểu thị cho bảy khoa đạo phẩm).” Như vậy, Thất Khoa Đạo Phẩm ở đây là 37 Phẩm Trợ Đạo, gồm: (1) Tứ Niệm Xứ (s: catvāri smṛti-upasthānāni, p: cattāro sati-patṭḥānāni, 四念處), tức Thân Niệm Xứ (s: kāya-smṛty-upasthāna, p: kayekāyānupassi viharati atāpi sampajāno satimā, 身念處), quán thân thể là bất tịnh; Thọ Niệm Xứ (s: vedanā-smṛty-upasthāna, p: vedanāsu vedanānupassi viharati ātāpi sampajāno satimā, 受念處), quán sự thích ghét của các tác dụng thọ cảm, hết thảy đều là khổ; Tâm Niệm Xứ (s: citta-smṛty-upasthāna, p: citte cittānupassi viharati ātāpi sampajāno satimā, 心念處), quán tâm là sinh diệt, vô thường; Pháp Niệm Xứ (s: dharma-smṛty-upasthāna, p: dhammesu dhammānupassi viharati ātāpi sampajāno satimā, 法念處), quán hết thảy các pháp là vô ngã. (2) Tứ Chánh Cần (s: catvāri prahāṇāni, p: cattāri sammappadhānāni, 四正勤), tức siêng năng tinh tấn đoạn trừ các điều ác đã sanh; siêng năng tinh tấn làm cho không sanh khởi các điều ác chưa sanh; siêng năng tinh tấn làm cho sanh khởi các điều thiện chưa sanh; siêng năng tinh tấn làm cho tăng trưởng các điều thiện đã sanh. (3) Tứ Như Ý Túc (s: catur-ṛddhipāda, p: catu-iddhipāda, 四如意足), tức Dục Như Ý Túc, Tinh Tấn Như Ý Túc, Tâm Như Ý Túc, Tư Duy Như Ý Túc. (4) Ngũ Căn (s: pañcendriyāni, 五根), tức Tín Căn (s: śradhendriya, 信根), niềm tin vào Tam Bảo, đạo lý Tứ Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-ariya-sacca, 四諦), v.v.; Tấn Căn (s: vīryendriya, 進根), hay còn gọi là Tinh Tấn Căn, siêng năng dũng mãnh tu các pháp lành; Niệm Căn (s: smṛtīndriya, 念根), nghĩ nhớ đến các pháp đúng; Định Căn (s: samādhīndriya, 定根), năng lực khiến cho tâm dừng lại một chỗ, không bị tán loạn; Tuệ Căn (s: prajñendriya, 慧根), nhờ có định mà trí tuệ quán xét sanh khởi, cho nên biết được như thật chân lý. (5) Ngũ Lực (s: pañca-bala, 五力), tức Tín Lực (s: raddhā-bala, 信力), năng lực tin tưởng; Tinh Tấn Lực (s: vīrya-bala, 精進力), năng lực cố gắng tinh tấn; Niệm Lực (s: smṛti-bala, 念力), năng lực bảo trì; Định Lực (s: samādhi-bala, 定力), năng lực chú tâm tập trung vào Thiền định; Tuệ Lực (s: prajñā-bala, 慧力), năng lực chọn lọc trí tuệ. (6) Thất Giác Chi (s: saptapodhyaṅgāni, p: satta-pojjharigā, 七覺支), tức Trạch Pháp Giác Chi (s: dharma-pravicaya-sambodhyaṅga, 擇法覺支), nghĩa là chọn lựa sự đúng sai của pháp, lấy cái đúng và bỏ đi cái sai; Tinh Tấn Giác Chi (s: virya-sambodhyaṅga, 精進覺支), là chọn lựa pháp đúng đắn và tinh tấn chuyên tâm tu tập pháp ấy; Hỷ Giác Chi (s: srīti-sambodhyaṅga, 喜覺支), an trú trong pháp vui đúng đắn; Khinh An Giác Chi (s: prasrabdhi-sambodhyaṅga, 輕安覺支), là đoạn trước tà ác đạt được sự nhẹ nhàng an lạc của thân tâm và tăng trưởng thiện căn; Xả Giác Chi (s: supeksā-sambodhyaṅga, 捨覺支), là xả bỏ đi tâm phan duyên với ngoại cảnh và quay trở về sống bình an. (7) Bát Chánh Đạo (s: āryāṣṭāṇga-mārga, āryāṣṭāṇgika-mārga, p: ariyāṭṭhaṅgika-magga, 八正道), tức Chánh Kiến (s: samyag-dṛṣṭi, p: sammā-diṭṭhi, 正見); Chánh Tư Duy (s: samyak-saṃkalpa, p: sammā-saṅkappa, 正思惟); Chánh Ngữ (s: samyag-vāc, p: sammā-vācā, 正語); Chánh Nghiệp (s: samyakkarmanta, p: sammā-kammanta, 正業); Chánh Mạng (s: samyag-ājīva, p: sammā-ājīva, 正命); Chánh Tinh Tấn (s: samyag-vyāyāma, p: sammā-vāyāma, 正精進); Chánh Niệm (s: samyak-smṛti, p: sammā-sati, 正念); Chánh Định (s: samyak-samādhi, p: sammā-samādhi, 正定). Cho nên thất trùng hàng thọ còn có nghĩa là bảy lớp chồng chất các pháp môn tu tập giải thoát, nhờ vậy hành giả mới có thể an nhiên, tự tại.

thất trạch tâm

(室宅心) Tâm nhà cửa. Tướng tâm giữ giới, tu thiện để phòng hộ tự thân; giống như người xây cất nhà cửa để che chở cho mình, nên gọi là Thất trạch tâm, 1 trong các tâm tự lợi của Thanh văn, là tâm thứ 35 trong 60 tâm.Phẩmtrụ tâm trong kinh Đại nhật (Đại 18, 3 thượng) nói: Thấttrạchtâm là gì? Là pháp tu theo để tự giữ mình. Hành giả nên dùng Hóa tha tâm phẩm cứu giúp tất cả chúng sinh làm phương pháp đối trị tâm này.

Thất trị pháp

xem bảy hình thức yết-ma.

thất trọng hành thụ

(七重行樹) Chỉ cho 7 lớp hàng cây, là loại cây báu ở thế giới Cực lạc. Kinh A di đà (Đại 12, 346 hạ) nói: Cõi nước Cực lạc có 7 lớp lan can, 7 lớp lưới giăng, 7 lớp hàng cây đều là các vật báu bao quanh, vì thế cõi nước ấy có tên là Cực lạc.Kinh Quán vô lượng thọ cũng có nói về quán tưởng cây báu, nhưng không thuyết minh cụ thể về thất trùng. Quán Vô lượng thọ kinh sớ quyển 3 của ngài Thiện đạo đời Đường cho rằng thất trùng không phải là 7 lớp cây báu mà chỉ cho 1 cây, từ gốc thân cho đến hoa quả đều bằng 7 lớp báu: Vàng ròng, vàng tía, bạc trắng, mã não, san hô, bạch ngọc và chân châu.

Thất trục

(七軸): bảy quyển, như trong bài kệ xưng tán Pháp Hoa Kinh có câu: “Lục vạn dư ngôn thất trục trang, vô biên diệu nghĩa quảng hàm tàng (六萬餘言七軸裝、無邊妙義廣含藏, hơn sáu vạn lời thành bảy quyển, vô biên nghĩa mầu rộng hàm tàng).” Hay trong Cổ Lâm Thanh Mậu Thiền Sư Thập Di Kệ Tụng (古林清茂禪師拾遺偈頌, CBETA No. 1413) quyển Hạ cũng có câu: “Thất trục Liên Kinh lục vạn ngôn, Linh Sơn nhất hội thượng y nhiên, hoàng kim tự hữu hoàng kim giá, bảo sở phân minh tại mục tiền (七軸蓮經六萬言、靈山一會尚依然、黃金自有黃金價、寶所分明在目前, bảy quyển Liên Kinh sáu vạn lời, Linh Sơn nhất hội vẫn muôn đời, vàng ròng vốn có vàng ròng giá, chỗ báu rõ ràng trước mắt mình).”

thất tuỳ miên

(七隨眠) Cũng gọi Thất sử. Chỉ cho 7 Tùy miên. Trong 6 tùy miên (tham, sân, si, mạn, nghi, kiến) thì Tham tùy miên được chia làm 2 thứ là Dục tham và Hữu tham cộng chung là 7 tùy miên. Tùy miên là tên khác của phiền não căn bản, theo đuổi hữu tình mà sinh khởi và vì hình tướng của các phiền não này rất nhỏ nhiệm nên gọi là Tùy miên. Dục tham là tham đắm cảnh 5 dục vi diệu ở ngoài cõi Dục; Hữu tham là tham của cõi Sắc và cõi Vô sắc, tức tham đắm thiền định và y thân của 2 cõi ấy, cho nên gọi là Hữu tham.

Thất tài

七財; S: saptadhanāṇi; cũng được gọi là Thất thánh tài;|Bảy của báu của một tu sĩ đạo Phật, bao gồm: |1. Tín tài (信財; śraddhādhana): lòng tin vững chắc là của quý; 2. Giới tài (戒財; śīladhana): lấy giới luật thanh tịnh làm của báu; 3. Tàm tài (慚財; hrīdhana): cung kính tuỳ thuận người có đức hạnh là tài của; 4. Quý tài (愧財; apatrāpya-, apatrapādhana): biết sợ quả báo của tội lỗi, biết xấu hổ; 5. Văn tài (聞財; śrutadhana): lấy việc nghe nhiều lời thuyết pháp, sự hiểu rộng làm tài của; 6. Xả tài (捨財) hoặc Thí tài (施財; tyāgadhana): xem bố thí là tài của riêng; 7. Huệ tài (慧財; prajñādhana): Trí huệ là tài của.

Thất tâm giới

七心界; C: qī xīn jiè; J: shichishinkai;|Gồm nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý thức, cộng thêm ý căn (thức thứ bảy). Bảy loại nầy được rút ra từ mười tám giới (Thập bát giới).

thất tình

(七情) Chỉ cho 7 thứ tình cảm của con người. Tình là đầu mối của thị phi, nguồn gốc của lợi hại. Thất tình có 3 thuyết khác nhau:1. Hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục(mừng, giận, thương, vui, yêu, ghét, muốn). 2. Hỉ, nộ, ưu, tư, bi, khủng, kinh(mừng, giận, lo, nghĩ, buồn, sợ, hãi). 3. Hỉ, nộ, ưu, cụ, ái, tăng, dục(mừng, giận, lo, sợ, yêu, ghét, muốn).

thất tình lục dục

(七情六欲) Thất tình chỉ cho 7 thứ tình cảm mà mọi người đều có, đó là mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét và muốn. Còn Lục dục, theo luận Đại trí độ quyển 2 là chỉ cho 6 thứ dục vọng của phàm phu đối với người khác phái, đó là: Sắc dục(muốn vì nhan sắc), hình mạo dục(muốn vì vóc dáng), uy nghi dục (muốn vì cử chỉ), ngôn ngữ âm thanh dục (muốn vì giọng nói),tế hoạt dục(muốn vì làn da láng mịn) và nhân tướng dục(muốn vì tướng người khêu gợi); hoặc chỉ cho nhãn dục (muốn vì cặp mắt), nhĩ dục(muốn vì đôi tai), tị dục(muốn vì cáimũi), thân dục(muốn vì thân hình) và ý dục(muốn vì ý hợp). Từ ngữ Thất tình lục dục hiện nay được sử dụng rộng rãi chính là dùng theo từ Lục dục trong kinh điển Phật để chỉ chung cho tình cảm, dục vọng... của con người.

thất tông

(七宗) I. Thất Tông. Chỉ cho 7 tông: Luật, Pháp tướng, Tam luận, Hoa nghiêm, Thiên thai, Chân ngôn và Thiền. Tức trong 8 tông bỏ 2 tông Câu xá và Thành thực, rồi thêm Thiền tông mà thành 7 tông. II. Thất Tông. Chỉ cho 7 phái của Thiền tông. Từ Lục tổ Tuệ năng về sau, Thiền tông chia ra 5 phái là Tào động, Vân môn, Pháp nhãn, Lâm tế và Qui ngưỡng, rồi từ Lâm tế lại chia ra 2 phái là Dương kì và Hoàng long, đời sau gọi là Thất tông.

thất tăng

(七僧) Bảy vị tăng giữ các chức vụ quan trọng khi cử hành đại pháp hội của giới Phật giáo Nhật bản. Đó là: Giảng sư, Độc sư, Chú nguyện sư, Tam lễ sư, Bái sư, Tán hoa sư vàĐường đạt. Đại pháp hội do 7 vị tăng này cử hành được gọi là Thất tăng pháp hội.

thất tăng trai

(七僧齋) Theo phép của các nước Tây vực, đem tiền tài, hoặc ruộng vườn bố thí cho chùa viện, nhưng trai thực thì thường chỉ cúng cho 7 vị tăng, gọi là Thất tăngtrai.

thất tướng lân mẫn

(七相憐愍 ) Chỉ cho 7 tướng thương xót của Bồ tát đối với các loài hữu tình. Theo phẩm Như pháp trụ định tâm trong kinh Bồ tát thiện giới quyển 8, Bồ tát đối với các loài hữu tình khởi 7 tướng thương xót là: 1. Vô úy lân mẫn: Bồ tát đối với hữu tình dùng năng lực không sợ hãi, khởi tâm thương xót, tùy theo 3 nghiệp thân, ngữ, ý của chúng sinh mà mang lại lợi ích an vui cho họ. 2. Chân thực lân mẫn: Bồ tát thương xót và làm lợi ích cho tất cả hữu tình một cách chân thực, đúng pháp, chứ không vì phiền não ái trước, không bao giờ khuyến hóa các hữu tình theo những điều phi pháp, phi luật, phi hiền thiện hạnh, trái với chân lí. 3. Bất sầu lân mẫn: Bồ tát ân cần thương xót các hữu tình, tùy nhu cầu của họ mà phát khởi tất cả sự nghiệp lợi ích mà không lo buồn, hối hận. 4. Bất cầu lân mẫn:Đối với các hữu tình, Bồ tát không đợi họ cầu xin, mà tự mình khởi tâm thương xót, làm lợi ích cho họ.5. Bất ái lân mẫn: Bồ tát không khởi tâm ái nhiễm mà thương xót các hữu tình, làm lợi ích cho họ mà không cầu báo ân, cũng không mong quả báo ở đương lai. 6. Quảng đại lân mẫn: Tâm thương xót của Bồ tát rất sâu rộng, dù gặp nhiều khó khăn, bất lợi, nhưng thà tự mình chịu khổ, chứ không bỏ sự nghiệp mưu lợi ích an vui cho chúng sinh. 7. Bình đẳng lân mẫn: Bồ tát dùng các tướng trạng công đức thương xót đối với các hữu tình như đã nói trên để làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh một cách bình đẳng, không phân biệt.

thất tịnh hoa

(七淨華) Cũng gọi Thất tịnh. Dùng hoa để ví dụ cho 7 đức tính thanh tịnh. Theo ngài Cưu ma la thập thì thất tịnh hoa là: 1. Giới tịnh: Trước sau đều thanh tịnh. Tức mọi hành vi của thân, khẩu đều không có lỗi xấu nhỏ nào, trong tâm không khởi ý nghĩ ô nhiễm, cũng không chấp tướng, cũng không nguyện thụ sinh. Đem sự can đảm không sợ hãi đến cho người, không hạn cuộc chúng sinh nào. 2. Tâm tịnh: Tâm Tam thừa chế phục phiền não, tâm đoạn kết, cho đến tâm Tam thừa lậu tận, gọi là Tâm tịnh. 3. Kiến tịnh: Thấy tính chân thực của các pháp, không sinh khởi vọng tưởng. 4. Độ nghi tịnh: Tức kiến giải sâu sắc, dứt hết nghi hoặc. 5. Phân biệt đạo tịnh:Tức khéo phân biệt phải quấy, hợp đạo thì làm, không đúng đạo thì bỏ. 6. Hành đoạn tri kiến tịnh:Hành chỉ cho 4 hành khổ khó, khổ dễ, vui khó, vui dễ; Đoạn là đoạn trừ các kết hoặc. Tức người chứng Vô học tận trí, Vô sinh tríthìthấy biết được những gì nên thực hành, những gì nên đoạn trừ, đều thông suốt một cách rõ ràng. 7. Niết bàn tịnh. Ngoài ra, theo Duy ma nghĩa kí quyển 3, phần cuối của ngài Tuệ viễn đời Tùy thì Thất tịnh đức thanh tịnh như hoa, vì thế gọi là Thất tịnh hoa. Hoa này chỉ lấy nghĩa thanh tịnh. Trong Thất tịnh đức thì Giới tịnh, Định tịnh, Kiến tịnh, Độ nghi tịnh và Đạo phi đạo tịnh trong Đại, Tiểu thừa đều giống nhau, còn 2 tịnh đức sau thì hơi khác. Trong pháp Tiểu thừa, tịnh đức thứ 6 là Hành tịnh, tịnh đức thứ 7 là Hành đoạn trí tịnh. Còn trong pháp Đại thừa thì tịnh đức thứ 6 là Hành đoạn trí tịnh, tịnh đức thứ 7 là Tư lương bồ đề phần pháp thượng thượng tịnh. Duy ma kinh lược sớ quyển 9 của ngài Trạm nhiên đời Đường phối hợp Thất tịnh hoa với Bát chính đạo và Hành vị tam đạo.

thất tối thắng

(七最勝) Chỉ cho 7 điều tối thắng. Tất cả các hạnh như bố thí... không phải đều là ba la mật đa, mà phải có tối thắng(hơn hết) mới thành Ba la mật đa. Thất tối thắng là: 1. An trụ tối thắng: An trụ trong chủng tính Bồ tát. 2. Y chỉ tối thắng: Nương tựa vào tâm đại bồ đề. 3.Ýquả tối thắng: Thương xót tất cả loài hữu tình. 4. Sự nghiệp tối thắng: Thực hành tất cả sự nghiệp, không giới hạn ở một hạnh nào.5. Xảo thiện tối thắng: Trụ nơi trí vô tướng, rõ suốt tất cả pháp như huyễn như hóa, xa lìa chấp trước. 6. Hồi hướng tối thắng: Hồi hướng về Vô thượng bồ đề. 7. Thanh tịnh tối thắng: Không để bị phiền não chướng và sở tri chướng xen lẫn.

thất tổ

(七祖) Chỉ cho 7 vị Tổ sư truyền thừa pháp thống của các tông. Các tông như Tịnh độ, Hoa nghiêm, Mật giáo... đều có lập thuyết Thất tổ. I. Thất Tổ. Thất tổ của tông Tịnh độ (Liên xã), chỉ cho 7 vị: Lô sơn Tuệ viễn, Trường an Thiện đạo, Nam nhạc Thừa viễn, Trường an Pháp chiếu, Thiếu khang, Diên thọ và Tỉnh thường. Hoặc trừ Thủy tổ Tuệ viễn ra, thêm ngài Tông trách lập thành Thất tổ. Ngoài ra, Tịnh độ chân tông của Nhật bản cũng lập Thất tổ, gọi là Thất cao tổ hoặc Thất cao tăng, chỉ cho 7 vị là các ngài Long thụ, Thiên thân (Thế thân) người Ấn độ, Đàm loan, Đạo xước, Thiện đạo người Trung quốc và ngài Nguyên tín, Pháp nhiên (Nguyên không) người Nhật bản.II. Thất Tổ. Thất tổ của tông Hoa nghiêm, chỉ cho 7 vị: Mã minh, Long thụ, Pháp thuận, Trí nghiễm, Pháp tạng, Trừng quán và Tông mật. Ngày xưa, tông Hoa nghiêm chỉ lập 5 vị Tổ đời Đường, nhưng vì ngài Mã minh soạn luận Đại thừa khởi tín, ngài Long thụ soạn luận Thập trụ tì bà sa, là các bộ luận hoằng truyền giáo chỉ Hoa nghiêm, cho nên ngài Tịnh nguyên đời Tống vâng sắc lập ngài Mã minh và Long thụ làm 2 vị Sơ tổ mà thành thuyết Thất tổ. III. Thất Tổ. Thất tổ của Mật giáo: Tức 7 vị Tổ là Đại nhật Như lai, Kim cương tát đỏa, Long mãnh, Long trí, Kim cương trí, Bất không và Huệquả. Cũng có chỗ trừ Đại nhật Như lai, Kim cương tát đỏa, thêm ngài Thiện vô úy và ngài Nhất hạnh mà thành lập thuyết Thất tổ.

thất tổ thánh giáo

(七祖聖教) Thánh giáo của 7 vị tổ do Tịnh độ chân tông Nhậtbảnlập ra, là từ gọi chung 13 bộ luận thích về Tịnh độ do 7 vị Tổ soạn thuật. Đó là: 1. Thập trụ tì bà sa luận Dị hành phẩm 1 quyển, Thập nhị lễ 1 quyển của ngài Long thụ.2. Luận Vãng sinhtịnh độ 1 quyển của ngài Thiên thân. 3. Vãng sinh luận chú 2 quyển, Tán A di đà Phật kể 1 quyển của ngài Đàm loan. 4. An lạc tập 2 quyển của ngài Đạo xước. 5. Quán kinh sớ 4 quyển, Pháp sự tán 2 quyển, Quán niệm pháp môn 1 quyển, Vãng sinh lễ tán 1 quyển và Ban chu tán 1 quyển của ngài Thiện đạo. 6. Vãng sinh yếu tập 3 quyển của ngài Nguyên tín. 7. Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập của ngài Nguyên không.

thất tụ

(七聚) Cũng gọi Thất phạm, Thất tội tụ, Thất thiên. Tướng phạm giới được chia làm 7 loại, tức tóm thu các giới điều thuộc 5 thiên và ngoài 5 thiên vào làm 7 loại. Đó là: 1. Ba la di (Phạm:Pàràjika): Hán dịch là đoạn đầu (chặt đầu). 2. Tăng già bà thi sa (Phạm: Saôghàvazewa), tức Tăng tàn. Tăng gọi đủ là Tăng già; Tàn là dịch nghĩa của Bà thi sa. 3. Thâu lan giá(Phạm:Sthùlàtyaya), dịch ý là rất chướng ngại cho thiện đạo. 4. Ba dật đề(Phạm:Pàyattika hoặc Pràyazcittika), dịch ý là rơi. 5. Ba la đề đề xá ni (Phạm Pratidezanìya), dịch ý là hướng vào người ấy mà sám hối. 6. Đột cát la(Phạm: Duwkfta), Hán dịch làÁc tác. 7.Ác thuyết(Phạm:Durbhàwita). Thuyết Thất tụ có nhiều điểm khác nhau, như kinh Tì nimẫu quyển 3 dùng Ni tát kì ba dật đề thay choÁc thuyết. Còn luận Luật nhị thập minh liễu thì liệt kê thất tụ là: 1. Ba la di tụ: Gồm 4 Ba la di. 2. Tăng già đê thi sa tụ: Gồm 13 Tăng già đê thi sa. 3. Thâu lan già da tụ: Thâu lan già da do không đủ tính chất của cả 3 tụ sinh ra. 4. Ni tát kì ba la dật ni kha tụ: Gồm 30 Ni tát kì ba la dật ni kha. 5. Ba la dật ni kha tụ: Gồm 90 Ba la dật ni kha. 6. Ba đê để xá ni tụ: Gồm 4 Ba đê để xá ni. 7. Phi lục tụ sở nhiếp tội: Tội và học đối không đủ tính chất của Lục tụ sinh ra.

thất tử

(七子) Bảy người con, là ví dụ cho lòng từ bi của đức Phật. Kinh Đạiniết bàn (bản Bắc) quyển 20 (Đại 12, 481) nói: Ví như một người có bảy đứa con, một trong bảy đứa ấy bị bệnh thì cha mẹ quan tâm đến nó nhiều hơn, chứ không phải yêu thương các conmột cách thiên vị. Đại vương!Như lai cũng thế, đối với các chúng sinh chẳng phải không có tâm bình đẳng, nhưng với người có tội thì tâm nghiêng nặng về người ấy nhiều hơn. Ngoài ra, về thuyết Thất tử còn có các thuyết khác nhau; như có thuyết cho rằng Thất tử là chúng sinh trong 6 đường và người có tội; hoặc cho rằng Thất tử là Bồ tát Lục trụ và Ngoại phàm Thập tín; hoặc chủ trương Thất tử là Tứ quả, Duyên giác, Thanh văn và hàng Ngoại phàm...

thất uế hành

(七穢行) Chỉ cho 7 hạnh nhơ nhớp. Cứ theo kinh Xuất diệu quyển 10, khi giáo pháp của Như lai sắp hoại diệt thì có 7 việc nhơ nhớp là: 1. Trăm năm giữ giới bị người ác phá: Có người trì giới cả trăm năm, nhưng chỉ trong khoảng thời gian búng đầu ngón tay đã bị ác tri thức phá hoại. 2. Thực hành tâm từ bi đã lâu rồi bị sân tâm phá hoại: Có người tu hành tâm bình đẳng từ nhẫn đã lâu, bỗng nghịch cảnh hiện tiền, không an nhẫn được, tức giận nổi lên, làm cho căn lành hoại diệt. 3. Hèn kém không theo lời thầy chỉ dạy: Chỉ cho những người tu được chút ít hạnh lành rồi cho đó là Đạo, họ đều là những kẻ hèn kém xấu xa, chẳng tu uy nghi, không nghe lời dạy bảo của Sư trưởng. 4. Tranh nhau hơn thua: Không tu hành chính giáo, vọng khởi nhân ngã, tranh cãi, hủy báng lẫn nhau để tranh giành hơn thua, không biết bỏ tà về chính. 5. Làm náo loạn mọi người: Chỉ cho người xuất gia tham cầu lợi dưỡng, kiêu căng ngạo mạn, chê bai lẫn nhau, tranh đấu không thôi, chẳng biết hoằng truyền giáo pháp. 6. Ham đắm danh lợi: Người xuất gia ham đắm danh lợi, chỉ lo cung phụng cho thân, không chịu siêng năng tu tập, đến đỗi thân mang nhiều bệnh, không thể lưu thông Phật pháp. 7. Phàm thánh đều bị hủy nhục: Dạy đạo không rõ ràng, lấy ngụy làm chân, lấy tà làm chính, phải trái không rành, thánh phàm một duộc, do đó, từ tăng phàm phu đến bậc A la hán, đều bị người đời khinh rẻ, hủy nhục...

thất vô kí

(七無記) Tiểu thừa chia pháp Vô kí làm 2 thứ là Hữu phú vô kí và Vô phú vô kí, trong đó, Vô phú vô kí lại được chia làm 6 thứ Dị thục, Uy nghi, Công xảo, Thông quá, Tự tính và Thắng nghĩa, rồi cộng chung Hữu phú vô kí gọi là Thất vô kí. (xt. Tam Tính).

thất vật

(七物) Chỉ cho 7 vật cần thiết dùng vào việc tắm gội trong các tăng viện thời xưa. Đó là: đốt lửa, nước sạch, bột đậu, dầu dừa, tro, cành dương và áo lót. Theo Động thượng già lam tạp kí thì dùng 7 vật trên đây tắm gội sẽ tiêu trừ 7 thứ bệnh, có được 7 phúc báo

thất xứ bình mãn tướng

(七處平滿相) Cũng gọi Thất xứ long mãn tướng, Thất xứ mãn túc tướng. Chỉ cho đức tướng của Như lai có 7 chỗ bằng phẳng và đầy đặn, 1 trong 32 tướng của Phật. Bảy chỗ là: 2 lòng bàn chân, 2 lòng bàn tay, 2 vai và cổ. Đó là những tướng vi diệu cảm được do đức Phật khi còn tu nhân đã bố thí không tiếc, bất luận người nhận cólàphúc điền hay không là phúc điền. Đây là 1 thứ tổng tướng biểu thị ý nghĩa đức Phật đã dứt hết 7tùy miên, đầy đủ 7 thánh tài, khiến tất cả chúng sinh được lợi ích diệt tội sinh thiện.

thất xứ tam quán kinh

(七處三觀經) Kinh, 1 quyển hoặc 2 quyển, do ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán, được thu vào Đại chính tạng tập 2. Nội dung kinh này thu chép các tiểu kinh nói về tu đạo, tu quán. Kinh này có 2 bản in: 1. Bản Cao li, 1 quyển, thu chép tất cả 30 bộ tiểu kinh. 2. Ba bản đời Tống, Nguyên, Minh, 2 quyển, thu chép tất cả 47 bộ tiểu kinh. Nói theo 3 bản Tống. Nguyên, Minh thì kinh thứ nhất(gọi là Thất xứ tam quán kinh) và nửa sau của kinh thứ 3(Vônhãn) nói về 7 chỗ và 3 quán. Bảy chỗ là: Sắc đế, Sắctập, Sắc tận, Sắc diệt, Sắc vị Sắc xuất yếu và Sắc khổ. Ba quán là: Quán sắc, quán 5 ấm, quán 6 suy. Vì thế có tên là kinh Thất xứ tam quán.

thất xứ thiện

(七處善) Gọi tắt: Thất thiện. Bảy phương diện quán xét các pháp một cách đúng như thực, 1 trong các pháp quán. Thuyết này nói trong kinh A hàm và Nhất thiết hữu bộ. Từ 7 phương diện mà quán xét mỗi uẩn trong 5 uẩn một cách như thực, ví dụ như Sắc thì quán xét bản thân sắc(quả) và nguyên nhân(nhân)sinh ra sắc, tướng trạng tiêu diệt(diệt) con đường thực tiễn(đạo đối trị) đưa đến Diệt, thành là phương diện khả ái(ái vị) chấp trước đối tượng và phương diện bất khả ái(quá hoạn) hiềm ghét đối tượng, thậm chí vượt lên trên 2 phương diện(xuất li) mà quán xét một cách như thực.

thất xứ thuyết

(七處說) Cũng gọi Hoa nghiêm thất xứ thuyết. Bảy chỗ đức Phật nói kinh Hoa nghiêm. Cứ theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 1, thì 7 chỗ bao gồm 3 chỗ ở nhân gian và 4 chỗ trên cõi trời. Đó là: I. Chỗ thứ nhất: Bồ đề đạo tràng. Lúc mới thành Chính giác ở Bồ đề đạo tràng A la nhã tại nước Ma kiệt đề(Ma yết đà), đức Phật nói về pháp môn Y báo chính báo của Như lai ở đây, gồm có 6 phẩm kinh: 1. Phẩm Thế chủ diệu nghiêm. 2. Phẩm Như lai hiện tướng. 3. Phẩm Phổ hiền tam muội. 4. Phẩm Thế giới thành tựu. 5. Phẩm Hoa tạng thế giới. 6. Phẩm Tì lô giá na. II. Chỗ thứ hai:Điện Phổ quang minh. Ở điện Phổ quang minh bên cạnh Bồ đề đạo tràng, đức Phật 3 lần nhóm hội, giảng nói tất cả 18 phẩm kinh. Lần thứ nhất tại đây, đức Phật giảng nói các pháp môn như Thập tín... gồm 6 phẩm kinh: 1. Phẩm Như lai danh hiệu. 2. Phẩm Tứ thánh đế. 3. Phẩm Quang minh giác. 4. Phẩm Bồ tát vấn minh. 5. Phẩm Tịnh hạnh. 6. Phẩm Hiền thủ. Lần thứ hai tại đây, đức Phật giảng nói pháp môn Đẳng giác, gồm 11 phẩm kinh: 1. Phẩm Thập định. 2. Phẩm Thập thông. 3. Phẩm Thập nhẫn, 4. Phẩm A tăng kì. 5. Phẩm Thọ lượng. 6. Phẩm Bồ tát trụ xứ. 7. Phẩm Phật Bất tư nghị. 8. Phẩm Thập thân tướng hải. 9. Phẩm Như lai tùy hảo quang minh. 10. Phẩm Phổ hiền hạnh. 11. Phẩm Như lai xuất hiện. Lần thứ ba tại đây, đức Phật nói về pháp Li thế gian, tức phẩm Li thế gian. III. Chỗ thứ 3: TrờiĐao lợi. ĐứcPhật giảng nói các pháp môn như Thập trụ... trên chóp núi Tu di, nơi ở của trời Đế thích, gồm 6 phẩm kinh: 1. Phẩm Thăng tu di sơn. 2. Phẩm Sơn đính kệ tán. 3. Phẩm Thập trụ. 4. Phẩm Phạm hạnh. 5. Phẩm Phát tâm công đức. 6. Phẩm Minh pháp. IV. Chỗ thứ tư: Trời Dạ ma. Đức Phật giảng nói các pháp môn như Thập hạnh ở cung trời Dạ ma, gồm có 4 phẩm kinh: 1. Phẩm Thăng Dạ ma thiên. 2. Phẩm Dạ ma kệ tán. 3. Phẩm Thập hạnh. 4. Phẩm Thập vô tận tạng. V. Chỗ thứ năm: Trời Đâu suất. Đức Phật giảng nói các pháp môn như Thập hồi hướng..., gồmcó3 phẩm kinh: 1. Phẩm Thăng Đâu suất thiên. 2. Phẩm Đâu suất kệ tán. 3. Phẩm Thập hồi hướng. VI. Chỗ thứ sáu: Trời Tha hóa. Tại cung trời này, đức Phật giảng nói pháp môn Thập địa, tức phẩm Thập địa. VII. Chỗ thứ bảy: Rừng Thệ đa. Ở trong vườn Cấp cô độc, Đức Phật giảng nói pháp môn Nhậpphápgiới, tức phẩm Nhập pháp giới. Trên đây là 39 phẩm của bộ kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) được giảng nói trong 9 hội tại 7 chỗ(thất xứ cửu hội). Còn 34 phẩm của kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) thì được nói trong 8 hội tại 7 chỗ, tức gộp chung 2 chỗ trời Tha hóa và điện Phổ quang minh (lần thứ 2) làm 1 hội, còn 8 hội, thành là Thất xứ bát hội(7 chỗ 8 hội).

thất xứ trưng tâm

(七處徵心) Chỉ cho 7 chỗ gạn hỏi về tâm. Trên hội Lăng nghiêm, đức Phật gạn hỏi ngài A nan về 7 chỗ ở của tâm và mắt, ngài A nan lần lượt trả lời 7 chỗ, nhưng đều bị đức Phật bác, gọi là Thất xứ trừng tâm. Trước lúc hội Lăng nghiêm diễn ra, ngài A nan đi khất thực bị nàng Ma đăng già dùng bùa chú mê hoặc, gần mất giới thể, Phật ở xa biết rõ việc gì đang xảy ra cho ngài A nan, nên Phật sai bồ tát Văn thù đem thần chú Thủ lăng nghiêm đến cứu A nan đưa về. Trên hội Lăng nghiêm, đức Phật gạn hỏi ngài A nan về chỗ ở của tâm và mắt, ngài A nan thưa mắt ở ngoài, tâm ở trong, đến khi nghe đức Phật giải thích tâm không phải ở trong thì ngài A nan lại trả lời là tâm ở ngoài. Cuộc vặn hỏi như thế cứ diễn ra liên tục, dồn ngài A nan đến chỗ không còn chấp trước được nữa mới thôi. Bởi vì đức Phật muốn phá trừ tâm phan duyên vọng tưởng của ngài A nan, làm cho tâm vọng tưởng ấy không còn chỗ nào để bám níu, nương tựa, nên Phật luôn bác lời luận đáp của ngài A nan để chỉ ra rằng chân tâm thanh tịnh mầu nhiệm này bao trùm khắp mọi nơi, không ở đâu mà không đâu chẳng ở. 1. Tâm ở trong thân: Đầu tiên, ngài A nan trả lời Tâm ở trong thân, mắt ở ngoài thân. Đức Phật bảo: Nếu tâm ở trong thân thì đáng lẽ phải nhìn thấy tim,gan, tì, vị... ở trong thân trước rồi mới thấy các cảnh vậtởbên ngoài. Nếu chẳng thấy các vật ở trong thân thì lẽ đâu tâm lại ở trong thân? 2. Tâm ở ngoài thân: Ngài A nan dùng đèn sáng làm ví dụvà nói: Tâm của chúng sinh ở bên ngoài thân nên không thấy trong thân, giống như đèn sáng ở bên ngoài căn phòng, cho nên không soi sáng được trong phòng. Đức Phật gạn hỏi: Nếu nói tâm ở ngoài thân thì thân và tâm khác nhau, đều không biết nhau, nhưng thật ra hễ thân biết thì tâm cũng biết và hễ tâm biết thân cũng biết, như vậy lẽ nào tâm ở ngoài thân? 3. Tâm núp sau con mắt: Ngài A nan dùng việc đeo kính làm ví dụ và thưa: Tâm núp phía sau con mắt, nếu khi mắt thấy cảnh vật thì tâm liền phân biệt theo mà không có chướng ngại, giống như đeo kính thì mắt vẫn thấy vật mà không có chướng ngại. Đức Phật nhận thấy ngài A nan ví dụ sai và quở rằng: Nếu kính ví dụ mắt thì mắt cũng nhìn thấy được; nếu mắt thấy được thì cũng đồng với cảnh rồi! Nếu mắt đồng với cảnh thì tâm khác với cảnh và cảnh khác với tâm, vậy lẽ nào tâm núp sau con mắt mà có thể phân biệt được? 4. Tâm ở trong chỗ tối: Ngài A nan lại chấp tâm ở trong chỗ tối và bạch Phật rằng: Thân của các chúng sinh, tạng phủ ở trong, khiếu huyệt ở ngoài, như con giờ đây, mở mắt thấy sáng là thấy bên ngoài, nhắm mắt thấy tối là thấy bên trong. Đức Phật hỏi gạn: Khi nhắm mắt thấy tối thì cái cảnh tối ấy có đối trước mắt không? Nếu có đối thì cái tối ở ngay trước mắt, làm sao mà thành ở trong? Còn nếu không đối trước mắt thì làm sao gọi là thấy được? 5. Tùy theo hợp với chỗ nào thì tâm ở đó: Sau 4 lần bị Phật bác, ngài A nan thưa: Tùy theo hợp với chỗ nào thì tâm ở đó, đức Phật lại gạn hỏi: Ông nói tùy theo hợp với chỗ nào thì tâm ở đó, nếu tâm không có thể tính thì không hợp được; còn nếu tâm có thể tính thìhãythử lấy tay tự đánh vào thân ông, chắc chắn tâm ông sẽ giác biết, vậy tâm giác biết ấy từ trong thân ra hay từ bên ngoài vào? Nếu từ trong ra thì tâm ở trong thân, còn nếu ở ngoài vào thì đáng lẽ tâm phải thấy cái mặt của ông. Tâm chẳng phải ở trong ở ngoài thì không có ra vào, ra vào đã không thì làm sao có thể tính; nếu không có thể tính thì cái gì tùy hợp? 6. Tâm ở khoảng giữa: Ngài A nan bạch Phật: Tâm ở khoảng giữa căn và trần. Phật lại hỏi: Nếu tâm ở khoảng giữa căn và trần thì thể tính của tâm gồm cảcăn và trần hay không gồm cả căn và trần? Nếu gồm cả căn và trần thì căn có biết mà trần thì không biết, căn và trần đối lập, ranh giới giữa có biết và không biết rạch ròi, như vậy làm sao nói được là ở khoảng giữa? Còn nếu không gồm thì chẳng thuộc căn, trần, tức không có thể tính, làm sao có khoảng giữa? 7. Tâm không bám dính vào đâu: Sau cùng, ngài A nan trả lời: Tất cả không bám dính, gọi đó là tâm. Nhưng đức Phật lại vặn hỏi Nếu nói không bám dính gọi đó là tâm, tức là tâm ông không bám dính vào tất cả sự vật hiện tượng thuộc thủy lục không hành trên thế gian này, nhưng những sự vật hiện tượng ấy là có hay không có? Nếu nói là không có thì cũng đồng với lông rùa sừng thỏ, làm sao còn có vật để không bám dính mà nói là không bám dính? Còn nếu nói là có thì vật có tâm cũng có, làm sao mà nói không bám dính được?

Thất yết ma

xem bảy hình thức yết-ma.

thất yết ma

(七羯磨) Yết ma, Phạm: Karman. Pàli: Kamma. Chỉ cho 7 tác pháp trị phạt các tỉ khưu phạm tội, đó là: 1. Ha trách(quở trách). 2. Tẩn xuất(đuổi ra khỏi tăng đoàn). 3. Y chỉ(nương tựa). 4. Bất chí bạch gia(không được đến nhà bạch y). 5. Bất kiến cử(có lỗi không chịu thừa nhận). 6. Bất sám cử(có tội không chịu sám hối). 7.Ác kiến bất xả cử(có ác kiến không chịu bỏ).

Thất ác

七惡; C: qī è; J: shichiaku;|Bảy hành vi xấu ác: ba thuộc về thân và bốn thuộc về khẩu.

thất ích

(七益) Chỉ cho 7 lợi ích giáo hóa của Thánh nhân. Đó là: 1. Nhị thập ngũ hữu quả báo lợi ích (Địa thượng thanh lương ích): Quả báo lợi ích trong 25 Hữu(cõi tồn tại). Nghĩa là bậc Thánh có khả năng tùy theo căn cơ, trình độ của mỗi một chúng sinh trong 25 Hữu để giáo hóa, khiến họ được lợi ích trông thấy trước mắt, hoặc lợi ích âm thầm kín đáo.2. Nhị thập ngũ hữu nhân hoa khai phu ích(Tiểu thảo ích): Lợi ích hoa nhân 25 Hữu nở rộ. Nghĩa là bậc Thánh biết rõ trong tâm của mỗi chúng sinh có nhiều nhân, tùy theo chỗ họ sinh khởi 25 Hữu mà ứng cơ giáo hóa, khiến họ được lợi ích trông thấy trước mắt hay âm thầm kín đáo.3. Chân đế tam muội tích pháp ích (Trung thảo ích): Sự lợi ích dùng Tam muội chân đế phân tích các pháp. Nghĩa là bậc Thánh đối vớihàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác, có khả năng ứng cơ giáo hóa khiến họ phân tích sắc, chứng nhập không, giúp họ được lợi ích trông thấy hoặc âm thầm. 4. Tục đế tam muội ngũ thông ích (Thượng thảo ích): Ích lợi được 5 thần thông. Nghĩa là đối với hàng Bồ tát thuộc Tạng giáo tu 6 độ, bậc Thánh có khả năng ứng cơ giáo hóa khiến họ chứng được 5 thần thông, qua lại trong 6 đường, nhờ đó họ được lợi ích trông thấy hoặc âm thầm. 5. Chân đế tam muội thể pháp ích (Tiểu thụ ích): Lợi ích dùng Tam muội chân đế thể nhập pháp không. Nghĩa là bậc Thánh đối vớihàng Tam thừa của Thông giáo, có khả năng ứng cơ giáo hóa khiến họ thể hội sắc chứng nhập không, do đó được lợi ích rõ rệt hoặc âm thầm. 6. Tục đế tam muội lục thông ích (Đại thụ ích): Lợi ích được 6 thần thông nhờ Tam muội tục đế. Nghĩa là bậc Thánh đối với hàng Bồ tát của Biệt giáo, có khả năng ứng cơ giáo hóa, khiến họ tu học hằng sa Phật pháp, ra khỏi Giả để thuyết pháp lợi sinh, nhờ đó họ được lợi ích rõ rệt hay âm thầm. 7. Trung đạo vương tam muội ích (Tối thực sự ích): Lợi ích nhờ Tam muội vương trung đạo. Nghĩa là bậc Thánh đối với hàng Bồ tát của Viên giáo, có khả năng ứng cơ giáo hóa, khiến họ tu Tam quán không theo thứ tự mà được lợi ích trông thấy trước mắt, hoặc âm thầm kín đáo.

thất đa la thụ

(七多羅樹) Đa la thụ, Phạm:Tàla. Cao gấp 7 lần cây đa la. Đa la là tên loài thực vật cao to, cây cao nhất có thể lên tới 25m. Vì thế, khi ví dụ về sự cao to của vật thể nào đó, người nói Cao gấp 7 lần cây đa la (Thất đa la thụ). Như phẩm Dược vương trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 53 hạ) nói: Ngồi trên đài 7 báu, bay lên hư không, cao bằng bảy lần cây đa la(Thất đa la thụ).

thất điên đảo

(七顛倒) Chỉ cho 7 thứ vọng kiến làm đảo lộn sự lí. Đó là: 1. Tưởng đảo: Tưởng phi lí. 2. Kiến đảo: Tức tà kiến. 3. Tâm đảo: Tức vọng tâm, tà thức. 4. Ư vô thường thường đảo: Tức đối với pháp thế gian vô thường mà khởi thường kiến. 5. Ư khổ lạc đảo: Đối với các khổ ở thế gian mà khởi lạc kiến. 6. Ư bất tịnh tịnh đảo: Đối với pháp bất tịnh ở thế gian mà khởi tịnh kiến. 7. Ư vô ngã ngã đảo: Đối với pháp vô ngã ở thế gian mà khởi ngã kiến.

Thất điều

七條; C: qītiáo; J: shichijō; S: uttara-āsanga;|Một trong ba y (三衣) mà Tỉ-khâu và Tỉ-khâu-ni được phép sử dụng. Đó là y phục may bằng những mảnh vải chắp lại với nhau và có bảy điều (đường may dọc).

thất đoạn diệt luận

(七斷滅論) Cũng gọi Thất đoạn kiến luận, Thất sự đoạn diệt tông. Chỉ cho 7 thứ luận thuyết đoạn diệt của ngoại đạo, 1 trong 16 tông ngoại đạo, là kiến chấp thứ 7 trong 62 kiến chấp. Cứ theo Thành duy thức luận thuật kí quyển 6, phần cuối thì Thất đoạn diệt là: 1. Ngã có sắc, cái do 4 đại chủng thô tạo ra là tính, sau khi chết là đoạn diệt, rốt ráo không có, thấy thân sau khi chết rõ có mà hóa ra không, cho nên cái ngã của ta hay của người đều do đại chủng thô tạo ra, sau khi chết là đoạn diệt... 2. Ngã ở các tầng trời cõi Dục sau khi chết là đoạn diệt. 3. Ngã ở các tầng trời cõi Sắc sau khi chết là đoạn diệt. 4. Ngã ở cõi Không vô biên sau khi chết là đoạn diệt. 5. Ngã ở cõi Thức vô biên sau khi chết là đoạn diệt. 6. Ngã ở cõi Vô sở hữu sau khi chết là đoạn diệt. 7. Ngã ở cõi Phi tưởng phi phi tưởng sau khi chết là đoạn diệt.

thất đường già lam

(七堂伽藍) Cũng gọi Tất đường già lam. Chỉ cho chùa viện có 7 tòa nhà chủ yếu. Chữ thất biểu thị ý nghĩa hoàn chỉnh. Nếu các tòa nhà của chùa viện tượng trưng cho mặt Phật thì thất đường chỉ cho đỉnh đầu, mũi, miệng, 2 mắt, 2 tai; hoặc tương đương với đầu, ngực, sinh thực khí, 2 tay, 2 chân của thân thể. Tuy nhiên, không hẳn chỉ giớihạn ở thất đường, các chùa lớn đều có rất nhiều tòa nhà, như trong Nam hải kí qui nội pháp truyện có nói chùa Na lan đà ở Ấn độ có 8 tòa viện, gồm 300 phòng xá. Cũng như chùa Trúc lâm trên núi Ngũ đài của Trung quốc có 6 tòa viện, chùa Đại hoa nghiêm có 12 viện. Những ngôi chùa này đều không hạn cuộc ở con số thất đường.

thất đại

(七大) Cũng gọi Thất đại tính. Thể tính của vạn pháp sắc tâm được chia làm 7 thứ là địađại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, không đại, kiến đại và thức đại. Địa, thủy, hỏa, phong gọi là Tứ đại, là thể của sắc pháp(vật chất), thêm không đại thành Ngũ đại, lại thêm thức đại thành Lục đại. Đại có nghĩa là trùm khắp pháp giới. Sự sinh thành của muôn pháp không ngoài 4 đại, nương vào hư không mà kiến lập, nương vào kiến(thấy), mà có giác(biết), nhờ thức mà phân biệt rõ các sự vật. Loài vô tình chỉ có 5 đại trước, loài hữu tình thì đủ cả 7 đại; nhưng khi nêu 7 pháp thì gồm nhiếp cả muôn pháp. Trong đó, địa đại là tính cứng của muôn pháp, hỏa đại là tính nóng, thủy đại là tính ướt, phong đại là tính động, không đại là tính thông suốt, kiến đại là tính hay biết và thức đại là tính phân biệt. Năm đại trước thuộc về 6 cảnh, kiến đại thuộc về 6 căn, thức đại thuộc về 6 thức, cho nên 7 đại và 18 giới chỉ khác nhau ở chỗ mở rộng ra hay rút gọn lại mà thôi. Bảy đại trên không phải mỗi đại đều có thực tính độc lập mà là do Chân tính Như lai tạng tùy duyên phát động ra. [X. kinh ĐạiPhật đính thủ lăng nghiêm Q.3].

thất đế

(七諦) Chỉ cho 7 đế lí chân thực. 1.Ái vị đế(cũng gọi Vị đế,Ái thực): Chỉ cho lí của Tập đế, đối với các pháp hữu lậu sinh tâm ưa thích, đó chính là nhân của sinh tử lưu chuyển. 2. Quá hoạn đế(cũng gọi Hoạn đế, Khổ thực): Chỉ cho lí của Khổ đế, tức các quả hữu lậu đầy dẫy những quá hoạn như 4 khổ, 8 khổ... 3. Xuất li(cũng gọi Li đế, Giải thoát thực): Chỉ cho lí của Đạo đế, Bát chính đạo là nhân diệt khổ, là đạo đối trị để ra khỏi sinh tử. 4. Pháp tính đế(cũng gọi Pháp đế, Pháp thực): Chỉ cho lí của Diệt đế, tức là lí chân như pháp tính do nhân vô ngã, pháp vô ngã hiển bày. 5. Thắng giải đế(cũng gọi Giải đế, Giải thực): Chỉ cho lí của Đạo đế, tức tư duy và hiểu rõ cái lí do nhân không, pháp không hiển bày chính là hành tướng của cái Không. 6. Thánh đế(cũng gọi Thánh thực): Chỉ cho lí của Diệt đế, tức tất cả cảnh giới vắng lặng mà bậc Thánh chứng biết. 7. Phi thánh đế(cũng gọi Phi thánh thực): Chỉ cho lí của Khổ đế và Tập đế, tức cảnh giới trong đó phàm phu bị trói buộc. Luận Phát trí quyển 8 thì cho rằng Thất xứ thiện là Thất đế và giải nghĩa có chỗ khác nhau. [X. luận Du già sư địa Q.46; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2, phần cuối]. (xt. Đế).

Thất địa

七地; C: qīdì; J: shichiji;|Địa thứ bảy trong Thập địa (十地). Còn gọi là Viễn hành địa (遠行地). Gồm một phần của Tu đạo vị (修道位) trong Du-già hành tông.

thất địa

(七地) Chỉ cho 7 giai đoạn tu hành từ Bồ tát địa đến Phật địa. Đó là: 1. Chủng tính địa: Hạt giống Phật đạo thành tựu bất hoại. 2. Giải hành địa: Theo thứ tự tiến tu hạnh phương tiện, đối với đạo xuất thế được hành giải. 3. Tịnh tâm địa: Tức Sơ địa. Người đến địa vị này, trên thực tế, đã chứng được một phần chân như, xa lìa hoặc Vô minh trụ địa, từ đó khởi tâm tin thanh tịnh mong cầu bồ đề. 4. Hành tích địa: Tức từ Nhị địa trở lên cho đến Thất địa, trong thời gian này bắt đầu tu chính đạo. 5. Quyết định địa: Tức Đệ bát địa. Người đến địa vị này, quyết định hướng tới Vô thượng bồ đề. 6. Quyết định hành địa: Tức Đệ cửu địa.Từ địa trước lại tiến lên hơn nữa. 7. Tất cánh địa: Tức Thập địa và Như lai địa. Thập địa nhân hạnh viên mãn, Như lai địa quả đức cùng tột, cho nên gọi là Tất cánh địa. Trong Thất địa nói trên thì Chủng tính địa và Giải hành địa, theo Đại thừa nghĩa chương, là các giai vị Bồ tát Địa tiền; Hoa nghiêm khổng mục chương quyển 2 thì cho rằng Chủng tính địa là Thập giải trở xuống, còn Giải hành địa thì là Thập hạnh, Thập hồi hướng. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.10; Đại thừa nghĩa chương Q.12].

thất địa trầm không nan

(七地沈空難) Chỉ cho Bồ tát Địa thứ 7 trong Thập địa bị chìm đắm trong lí Không. Trong 10 Địa, Bồ tát Viễn hành địa trụ trong vô tướng quán, trên không cầu bồ đề, dưới không độ chúng sinh, chìm đắm trong lí tất cả không tịch, vì thế không thể khởi hạnh Lục độ. Đó là vì Bồ tát ở cõi này chìm đắm trong nạn Không, nếu sinh về Tịnh độ an lạc thì thoát được nạn này. [X. luận Đại trí độ Q.10; Vãng sinh luận chú Q.hạ; Vãng sinh luận chú dực giải Q.7; Vãng sinh luận chú hiểm thâm nghĩa kí Q.5].

thấu tam quan

(透三關) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vượt qua được 3 cửa ải quan trọng. Tam quan chỉ cho 3 cảnh giới tham thiền từ thấp đến cao. Nếu hành giả diệt sạch được phàm tình, thấy suốt tính chất hư dối không thật của các pháp, ngộ được cội nguồn tâm tính(mặt mày thật xưa nay hoặc bản địa phong quang) của chính mình thì gọi là Phá sơ quan(phá cửa ải đầu tiên), cũng gọi là Phá bản tham, hoặc gọi là Kiến tính. Kế đến, sau khi kiến tính, lại dụng công tu trì, thì chẳng những không bị Hữu làm trở ngại, mà còn chẳng chấp trước Không, đây gọi là Thấu trùng quan(qua cửa ải thứ hai), cũng gọi Đại tử đại hoạt(chết lớn sống lớn). Sau đó, lại dụng công tôi luyện, bèn đạt đến cảnh giới Tịch chiếu bất nhị, không hữu vô ngại thì dù 5 dục ngay trước mắt, cũng nhậm vận tự như, không mất bản tính, đây chính là Thấu mạt hậu lao quan(vượt qua cửa ải khó khăn cuối cùng).

thầm

1) To whisper (thì thầm). 2) Secretly.

thần

1) Bình Minh: Dawn—Morning. 2) Nhân Thần: Human spirit. 3) Thiên Thần: A spirit—A deva—god—Divinity—Deity—The celestial spirit—Divine—Spiritual—Supernatural—Inscrutable spiritual powers. ; (神) Phạm: Deva. Một thứ đối tượng của tín ngưỡng tông giáo siêu việt nhân cách. Thông thường, Thần được coi là 1 loài tồn tại không có thân thể vật chất, nhưng không phải không có hình tượng thân thể; Thần không bị hạn chế bởi qui luật tự nhiên, có thể gây ảnh hưởng đối với thế giới vật chất, ngay cả làm chúa tể 1 phần nhất định hoặc toàn bộ thế giới vật chất. Trong quá trình phát triển quan niệm về Thần từ tông giáo nguyên thủy đến tông giáo cao đẳng, lần lượt đã tiến từ: Sùng bái Tự nhiên (Animatism), sùng bái Tinh linh (Animism) đến sùng bái Nhân cách thần. Sùng bái Tự nhiên có nghĩa là xem bản thân thế giới tự nhiên là Thần, như sùng bái mặt trời thì có tâm tôn kính và sợ hãi đối với mặt trời. Sùng bái Tinh linh thì đối với tinh linh của vật tự nhiên sinh lòng kính sợ, mà xem như Thần. Đó là do lòng sùng bái tự nhiên dần dần tiến hóa mà thành, nhưng vẫn chưa đến giai đoạn sùng bái Nhân cách thần. Sùng bái Nhân cách thần tức là những hiện tượng tự nhiên được nhân cách hóa, hoặc linh hồn người chết được Thần hóa, do 2 trường hợp ấy mà đưa đến phong tục sùng bái Nhân cách thần; từ loại Đa thần giáo này phát triển đến Giao thế thần giáo (thần tối cao từ A được thay thế thành B), Đơn nhất thần giáo(trong nhiều thần có 1 thần là Thần tối cao), Duy nhất thần giáo(tin 1 vị Thần duy nhất tồn tại tuyệt đối). Ngoài ra, như Phiếm thần luận thì chỉ chú trọng sự phản tỉnh có tính lí luận để cầu phát triển, nhưng phủ định tính nhân cách. Sau khi người Aryans xâm nhập Ấn độ, đến thời đại Lê câu phệ đà (Phạm:Fg-veda), các hiện tượng tự nhiên được thần cách hóa mà trở thành những thần tự nhiên, lại vì chiến tranh phải tiêu diệt quân địch nên mới sản sinh ra Nhân đà la (Phạm: Indra), tính cách các thần này thuộc Đa thần giáo hoặc Giao thế thần giáo. Cho đến sau khi các sinh hoạt xã hội được ổn định, do sự chế định qui ước mà có thần Luật pháp (Phạm:Varuịa) xuất hiện. Về sau, Đa thần giáo vốn đã có từ xưa đến nay không thể nào đáp ứng được các nhu cầu thông thường một cách đầy đủ, nên lại có khuynh hướng tìm cầu một vị thần tối cao cho việc thống nhất các thần. Thời đại Phạm thư (Phạm: Bràhmaịa), một mặt do nhu cầu một vị thần tối cao tạo ra muôn vật (Phạm:Prajàpati, Tạo vật chủ) mà sản sinh thuyết Sáng tạo, mặt khác thì nảy sinh Hoài nghi luận, Vô thần luận và khuynh hướng Phiếm thần luận cũng đồng thời xuất hiện. Tiến hơn nữa cũng sản sinh Hữu (Phạm:Sat), Vô (Phạm:Asat) và nguyên lí Nhất nguyên siêu việt Hữu vô, hoặc nguyên lí vũ trụ hay cá thể như Phạm (Phạm: Brahman), Ngã (Phạm: Àtman), các nguyên lí trên thuộc tư tưởng của Bà la môn giáo (Brahmanism). Đến đời sau, các tín ngưỡng dân gian địa phương dung hợp mà hình thành Ấn độ giáo (Hinduism). Trong tông giáo này có thuyết Tam thần nhất thể (Phạm:Trimùrti, Tam vị nhất thể): Phạm thiên (Phạm:Brahàm, là Phạm được nhân cách hóa, tức thần sáng tạo của Ấn độ giáo), Tì thấp nô (Phạm:Viwịu, thần duy trì) và Thấp bà (Phạm:Ziva, thần phá hoại). Phật giáo thì phủ định thuyết Thần sáng tạo(thuyết Thần ý)mà chủ trương pháp Nhân duyên, Duyên khởi là nguyên lí căn bản của thế giới. Do điểm này mà Phật giáo bị phê bình là Vô thần luận. Đến đời sau, khi các thần Ấn độ được du nhập Phật giáo thì các loại Thiên giới cũng được thu dụng và Phạm thiên là đại biểu. Trong Bà la môn giáo và Ấn độ giáo, Phạm thiên là thần tối cao, nhưng trong Phật giáo thì Phật là tối cao. Phật giáo cho rằng Thiên giới(cõi trời)tuy cao hơn nhân giới (cõi người) nhưng vẫn thuộc mê giới(lục đạo), vẫn không thoát khỏi luân hồi chuyển sinh, một khi hết phúc đức thì lại bị rơi xuống các cõi dưới. Trái lại, Phật đã dứt mê, ngộ đạo, thoát li luân hồi chuyển sinh, cho nên vượt ra ngoài các trời, các thần mà tồn tại, gọi là Siêu thần (Phạm: Atideva), Thiên trung thiên (Phạm: Devàtideva), Thiên trung chi tối tôn, Thiên nhân sư... Nếu đứng trên lập trường của Phật giáo mà nhận xét thì từ Thần được chia làm những nghĩa sau đây: 1. Nghĩa thần ngã, linh hồn: Tiếng Phạm làÀtman, cũng tức là 1 trong 25 đế do học phái Số luận lập ra, nhưng quan điểm của Phật giáo thì khác với quan điểm của học phái Số luận. Học phái Số luận cho rằng Thần ngã, Linh hồn là tinh thần thuần túy, có thật, thường trụ và tồn tại độc lập; Phật giáo thì cho rằng Thần ngã, Linh hồn là cái ngã lìa uẩn mà chủ trương các pháp vô ngã, cho nên phản đối thuyết Thần ngã của phái Số luận. 2. Nghĩa tinh thần: Như kinh Hiếu tử (Đại 16, 780 trung): Khi mệnh chung thì Thần đi, trụ ở Thái sơn. 3. Chỉ cho các loài có sinh mệnh: Như kinh Tạp a hàm quyển 38 (Đại 2, 281 thượng) ghi: Ta đối với tất cả Thần, ngăn lòng nghĩ giết hại. 4. Chỉ cho tác dụng phân biệt của thức: Như chi Thức (Phạm: Vijĩàna, Pàli:Viĩĩàịa) trong 12 nhân duyên. 5. Chỉ cho các loài có tác dụng linh thiêng mầu nhiệm: Tiếng Phạm,Pàli là Devatà, như cácthầnRồng, thần A tu la, thần Quỉ tử mẫu, thần cây... thường được nói đến trong các kinh. Kinh Na tiên (Đại 32, 694 thượng) nói: Cây ấy lớn lên có thần. Còn kinh Quán đính quyển 12 thì ghi (Đại 12, 533 hạ): Chư thiên thiện thần...

thần biến

1) Những hiện tượng thần kỳ làm thay đổi những chuyện tự nhiên (thần là bên trong, biến là bên ngoài): Miracles or supernatural influences causing the changes in natural events. 2) Sự biến hóa kỳ diệu, như lực biến hóa của Phật, có thể tự biến hóa mình và biến hóa nơi người khác: Miraculous transformations, e.g. the transforming powers of a Buddha, both in regard to himself and others. 3) Những tác động kỳ diệu của Phật, như rắn độc không hại được, rồng lửa không đốt cháy được, vân vân: The Buddha's miraculous acts, e.g. unharmed by poisonous snakes, unburnt by dragon fire, etc. ** For more information, please see Thần Thông, Ngũ Thần Thông, and Lục Thông. ; (神變) Phạm: Vikurvaịa. Thần thông biến hiện. Vì hóa độ chúng sinh nên Phật, Bồ tát dùng năng lực siêu nhân (năng lực thần thông)không thể nghĩ bàn biến hiện ra các thứ hình tướng và động tác bên ngoài. Nói theo nghĩa hẹp thì thông thường dùng thân thể để biểu hiện, tức chỉ cho Thần túc thông trong 6 thứ thần thông; còn nói theo nghĩa rộng thì bao gồm cả thân, ngữ, ý. Kinh Đại bảo tích quyển 86 nêu ra 3 loại thần biến(chỉ cho 3 cách thị hiện)là Thuyết pháp(ý), Giáo giới(ngữ)và Thần thông(thân). Đối lại với thần biến của Thần túc thông, còn có 18 thứ khác như chấn động cho đến phóng ánh sáng chói lọi... gọi là Thập bát biến, Thập bát thần biến. [X. kinh Trường a hàm Q.1; kinh Thái tử thụy ứng bản khởi Q.hạ; Pháp hoa văn cú Q.1 hạ]. (xt. Thập Bát Biến).

thần biến gia trì

(神變加持) Phạm:Vikfiịitàdhiwỉa. Cũng gọi Thần lực sở trì, Phật sở hộ niệm. Vì giáo hóa chúng sinh nên Phật, Bồ tát thị hiện trên thân các Ngài những thứ biến hóa không thể nghĩ bàn. Nhờ sức gia trì của thần biến này mà chúng sinh được lợi ích. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1].

thần biến nguyệt

See Thần Túc Nguyệt.

thần bản phật tích

(神本佛迹) Đối lại: Bản địa thùy tích. Một trong những chủ trương mà chỉ Phật giáo Nhật bản mới có. Thông thường, thuyết Bản địa thùy tích là Phật bản thần tích, tức Phật, Bồ tát là bản địa, thần kì là thủy tích, hóa hiện, nhưng Nhật bản lại chủ trương Thần bản Phật tích, tức cho thần kì là bản địa, Phật, Bồ tát là thùy tích. Thuyết này thịnh hành ở Nhật bản vào thời Nam Bắc triều đến thời đại Thất đinh. (xt. Bản Địa Thùy Tích).

thần bổn

Original spirit.

thần chí

Spirit and will.

Thần chú

神咒; S: dhāraṇī;|Ðà-la-ni, Man-tra

thần chú

Rddhi-mantra (skt)—Dharani—Đà La Ni hay những lời chú thần bí—Dharani, or magic or divine incantations.

Thần Chủ

(神主, Kannushi, Kamunushi): xưa kia, từ này được dùng để chỉ cho người đứng đầu trong các chức vụ Thần Quan (神官, Shinkan); nhưng hiện tại thì đồng nghĩa với Thần Quan, là người đứng giữa trong khi hành lễ tế Thần; còn gọi là Tế Chủ (祭主). Thần Quan là vị quan lại (công vụ viên) chuyên trông coi việc tế tự, trước Đệ Nhị Thế Chiến thì chỉ có chức quan ở Thần Cung Ty (神宮司) của Y Thế Thần Cung (伊勢神宮, Ise Jingū) mới được gọi như vậy. Sau khi thi hành Hiến Pháp Nhật Bản, chức Thần Quan không tồn tại. Cho đến thời đại Giang Hộ (江戸, Edo, 1600-1867), chức quan nữ tồn tại với danh xưng như Vật Kỵ (物忌, Y Thế Thần Cung, Lộc Đảo Thần Cung [鹿島神宮, Kashima Jingū]), Kỵ Tử (忌子, Gia Mậu Thần Xã [賀茂神社, Kamo Jinja]), v.v. Tuy nhiên, do vì chính sách tôn giáo của chính phủ Minh Trị có ảnh hưởng mạnh tư tưởng Nho Giáo, Thần Chức nữ tánh không còn tồn tại nữa. Về sau, với tư tưởng nam nữ bình quyền, cọng thêm vấn đề người kế thừa đền thờ Thần Xã (do các vị Thần Chức chết trong chiến trận, hay đi lâu không về, v.v.), Thần Chức nữ tánh được tái công nhận.

thần cung

(神供) Tác pháp cúng dường các quỉ thần trong Mật giáo. Khi tu pháp Hộ ma thì bày đàn Thần cúng ở nơi thanh tịnh bên ngoài đạo tràng, tụng chân ngôn của Thập nhị thiên và các quỉ thần, đồng thời dâng các cúng vật. Loại pháp tu này gọi là Thần cúng pháp. [X. Đại nhật kinh sớ Q.8; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.6; Chư tôn yếu sao Q.11].

thần cúng

Những phẩm vật tế thần—Offerings placed before the gods or spirits.

thần căn

The vital spirit as the basis of body life.

Thần cơ

(神機): có hai nghĩa chính. (1) Chỉ máy dệt vải. (2) Chỉ cho cơ vận, thời cơ. Như trong Đáp Phục Hy Thư (答伏羲書) của Nguyễn Tịch (阮籍, 210-263) nhà Ngụy thời Tam Quốc có câu: “Nhược lương vận vị hiệp, thần cơ vô chuẩn (若良運未協、神機無准, nếu vận tốt không gặp thì thời cơ không đúng).” Hay trong truyện Tái Sanh Duyên (再生緣), hồi thứ 63 lại có câu: “Ngộ triệt thần cơ nhất niệm chơn, tiện tùng Cực Lạc chuyển kim luân (悟徹神機一念眞、便從極樂轉金輪, rõ biết thần cơ một niệm chơn, bèn từ Cực Lạc chuyển pháp luân).” Trong Sở Thạch Phạn Kỳ Thiền Sư Ngữ Lục (楚石梵琦禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1420) quyển 1, phần Phật Nhật Phổ Chiếu Huệ Biện Sở Thạch Thiền Sư Lục Hội Ngữ Lục Tự (佛日普照慧辯楚石禪師六會語錄序) có câu: “Đại Huệ đề xướng Viên Ngộ chi đạo ư Kính Sơn, thần cơ diệu dụng, quảng đại vô ngại (大慧提唱圜悟之道於徑山、神機妙用、廣大無礙, Đại Huệ đề xướng, Viên Ngộ truyền đạo ở Kính Sơn, thần cơ mầu nhiệm, rộng lớn không ngăn ngại).” Hoặc trong Ngốc Am Phổ Trang Thiền Sư Ngữ Lục (呆菴普莊禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1418) quyển 3 có đoạn: “Vạn duyên tịch tức, nhất tánh dung thông, đại dụng toàn chương, thần cơ độc lộ, cổ Phật dữ lộ trụ giao tham (萬緣寢息、一性融通、大用全彰、神機獨露、古佛與露柱交參, vạn duyên lặng dứt, một tánh thông suốt, đại dụng lộ rõ, thần cơ hiện bày, Phật xưa cùng cột trụ tham vấn).”

thần cốt

Spiritual bones.

thần diệt bất diệt luận tranh

(神滅不滅論爭) Sự tranh luận về vấn đềthầnthức diệt hay bất diệt. Từ khi Phật giáo truyền vào Trung quốc cho đến thời đại Lục triều, giữa những người tin thờ Phật giáo và những người phê phán Phật giáo nảy sinh các kiến giải khác nhau, trong đó, lấy thuyết Luân hồi báo ứng của Phật giáo làm chủ đề để tiến hành cuộc tranh luận, gọi là Thần diệt bất diệt luận tranh. Trước hết, những người thừa nhận thuyết Luân hồi báo ứng của Phật giáo cho rằng sau khi người ta chết, linh hồn(thần thức)ở trong thể xác không tử diệt theo mà sẽ tiếp tục chuyển sang nương gá trong 1 thể xác khác. Đồng thời, con người qua 3 đời(quá khứ, hiện tại, vị lai)luân hồi trong 5 đường hoặc 6 đường nhất định sẽ chịu thân phận tương ứng với nghiệp báo thiện ác mà mình đã tạo tác. Trái lại, những người chủ trương Thần diệt thì đứng trên lập trường tư tưởng truyền thống của Trung quốc, phủ nhận thuyết 3 đời, luân hồi báo ứng, tâm thần bất diệt mà cho rằng con người sau khi chết thì tâm thần ắt tan diệt theo nhục thể. Thuyết Thần bất diệt đầu tiên được thấy trong luận Lí hoặc của Mâu dung người đất Ngô ở thời đại Tam quốc. Nhưng có tính cách đại biểu nhất là chủ trương của ngài Lô sơn Tuệ viễn (334-416) đời Đông Tấn, trong luận Sa môn bất kính vương giả quyển 5 do ngài soạn có thuyết Hình tận thần bất diệt(Hình thể chết đi, tâm thần không diệt theo),ngài dùng mối quan hệ giữa củi và lửa để ví dụ mối quan hệ giữa thể xác và tâm thần, cho rằng tâm thần từ một thể xác này luân hồi sang một thể xác khác và tiếp tục tồn tại, giống như lửa đốt cháy củi, thanh củi này cháy hết thì lửa liền bén sang thanh củi khác, tiếp tục đốt cháy. Đệ tử ngài Tuệ viễn là Tông bính (375-443) soạn luận Minh Phật, nêu ra 2 nghĩa Thần bất diệt, một là thần thức luân hồi bất diệt, hai là thần thức pháp thân thường trụ. Có người cho rằng nghĩa Thần thức pháp thân thường trụ dung hợp thuyết Phật tính trong kinh Niết bàn với tư tưởng Đạo gia, xem Phật tính là tâm hư tĩnh vô vi trong cảnh giới lí tưởng của Đạo gia, tâm này chính là thần thức; lại Phật tính (ở đây chỉ cho pháp thân) thường trụ cũng hàm ý là tâm thần bất diệt. Ngoài ra, ngài Tông bính còn liên kết thần thức bản thể luân hồi với thần thức pháp thân, nói rõ trong quá trình luân hồi, con người dần dần dứt trừ phiền não thì thần thức luân hồi cũng có thể trở về thần thức pháp thân xưa nay vốn thanh tịnh; khi trở thành trạng thái chỉ có thần thức pháp thân thì con người liền thành Phật. Căn cứ vào những văn hiến như:1. Luận Sa môn bất kính vương giả quyển 5 của ngài Tuệ viễn. 2. Các bức thư của Hà thừa thiên (370- 447) bác bỏ luận Sa môn bất kính vương giả và luận Minh Phật. 3. Các bức thư Hà thừa thiên gửi cho người chủ trương Thần bất diệt là Nhan diên chi (384-456)... ta có thể hiểu rõ hơn về tình hình vặn hỏi lẫn nhau giữa những người chủ trương Thần diệt và Thần bất diệt.Các học giả đều cho rằng Thần diệt luận bắt nguồn từ tư tưởng truyền thống của Trung quốc, nhưng nói theo quan điểm của những người chủ trương Thần bất diệt thì việc những người chủ trương Thần diệt phủ định sự tồn tại của linh hồn và tinh linh, không khác gì phản lại truyền thống Nho gia; bởi vì khi Nho gia thực hành nghi thức cúng tế tông miếu là đã nghiễm nhiên thừa nhận sự tồn tại của tinh linh. Cho nên nhữngngườiphủ nhận sự tồn tại của thần thức sau khi chết là đã tự phản lại đạo Nho chính thống mà mình tin thờ. Ngoài ra, những người chủ trương Thần bất diệt coi thần thức bản thể của luân hồi và linh hồn sau khi chết là một, đây chính là điểm mà họ thường bị nhắm vào để phê bình. Nhưng sở dĩ có luận thuyết cho là một này là vì thần thức bản thể luân hồi có nguồn gốc từ Thần trong quan niệm truyền thống của Trung quốc. Song, loại thần thức bản thểluân hồinày thực ra là trái với luận thuyết vô ngã của Phật giáo, vốn phủ định thực thể tồn tại. Tóm lại, quan điểm Thần bất diệt được trình bày ở trên cũng chẳng phải được đặt nền tảng trên sự lí giải chính xác của Phật giáo mà chỉ là sự giải thích đặc thù do người Trung quốc suy diễn ra để giúp cho chính mình dễ dàng tiếp nhận thuyết nghiệp báo luân hồi của Phật giáo. Thời vua Lương vũ đế thuộc Nam triều, ông Phạm chẩn có soạn Thần diệt luận đã gây ra cuộc luận chiến kịch liệt giữa các học giả. Phạm chẩn cho rằng thân xác và tâm thần là một thể, thân xác là chất của tâm thần, tâm thần là dụng của thân xác, khi thân xác diệt mất thì tâm thần cũng diệt theo. Chủ trương này chẳng những phủ định thuyết nghiệp báo luân hồi mà còn phủ định cả sự tồn tại của tinh linh quỉ thần, là chủ trương phản Phật giáo điển hình, khiến các nhân sĩ tin Phật đương thời xôn xao và soạn sách bác bỏ. Như người em bên ngoại của Phạm chẩn là Tiêu sâm (476-513) soạn Nạn thần diệt luận, Tào tư văn soạn Nạn Phạm Trung thư thần diệt nghĩa, Thẩm ước soạn Thần bất diệt nghĩa, Nạn Phạm chẩn thần diệt nghĩa, Lương vũ đế soạn Đại Lương Hoàng đế lập thần minh thành Phật nghĩakí, Đại Lương Hoàng đế sắc đáp thần hạ Thần diệt luận... Vì vua Lương vũ đế thành tâm tin Phật nên Phật giáo đương thời cực kì hưng thịnh, bởi vậy, phản ứng đối với Thần diệt luận của Phạm chẩn cũng rất dữ dội. [X. Hoằng minh tập Q.1-5, 8-10; Quảng hoằng minh tập Q.22; Hán ngụy lưỡng tấn nam bắc triều Phật giáo sử, hạ (Thang dụng đồng)]. (xt. Tam Giáo Luận Hành).

thần diệu

Mysterious—Mystic—Miraculous—Occult—Marvellous—Recondite.

Thần Duệ

(神叡, Shinei, ?-737): vị tăng của Pháp Tướng Tông Nhật Bản, sống dưới thời Nại Lương, húy Thần Duệ (神叡), thông xưng là Phương Dã Tăng Đô (芳野僧都), xuất thân nhà Đường (Trung Quốc, ?). Ông theo hầu Nghĩa Uyên (義淵, Gien) ở Long Cái Tự (龍蓋寺) vùng Đại Hòa (大和, Yamato), thông hiểu cả Pháp Tướng, Duy Thức và Tam Luận. Vào năm 693, ông theo sứ sang Tân La (新羅, Shiragi, Triều Tiên). Sau khi trở về nước, ông trú tại Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji), đến năm 717 thì làm Luật Sư, danh tiếng vang khắp cùng với Đạo Từ (道慈, Dōji) ở Đại An Tự (大安寺, Daian-ji). Năm 729, ông được thăng chức Thiếu Tăng Đô, và tương truyền ông có sự cảm ứng của Hư Không Tạng Bồ Tát tại Hiện Quang Tự (現光寺, Genkō-ji) vùng Cát Dã (吉野, Yoshino). Ông được kính ngưỡng như là một trong 6 vị tổ của Pháp Tướng Tông Nhật Bản.

thần dược

Marvellous cure.

thần dược thụ

(神藥樹) Cây thuốc thần, loại cây thần kì có công năng trừ độc xua tà nói trong kinh Thiện tín. Theo kinh này, có cây thần dược tên là Ma đà kì chủ yếm, bấy giờ trong nước có muôn ngàn thứ độc hại, mọi người không dám đi bậy. Lúc ấy có con rắn thần to lớn, mình dài 120 trượng, bò đi kiếm ăn; lại có con trùng đầu đen, thân dài 5 trượng, trên đường đi gặp con rắn thần, rắn liền ngóc đầu lên định ăn thịt trùng, bỗng ngửi thấy mùi thơm của cây thuốc thần liền co đầu toan bỏ chạy, nhưng mình rắn bị vướng vào cây thuốc thần, bèn đứt làm 2 đoạn, nửa phần đầu còn sống chạy thoát được, còn nửa phần đuôi thì thối rữa. Về sau, hễ nghe mùi hôi của con rắn này thì các chất độc đều tiêu tan. [X.Kinhluật dị tướng Q.3].

thần giao cách cảm

Telepathy.

thần hoán

(神煥) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Nam Tống, người ở An cát (nay là huyện Hàng, tỉnh Chiết giang), tự là Nghiêu văn. Thủa nhỏ, sư theo học ngài Tuệ giác, đức hạnh và học vấn đều hơn mọi người. Khoảng năm Thiệu hưng (1131-1162), sư đến chùa Giác ngộ ở Tư khê (về phía bắc huyện Vụ nguyên, tỉnh An huy) để giảng dạy, những lúc rỗi rảnh thì sư soạn thuật, giải thích rõ các bản văn khó hiểu, nêu những nghĩa mà các bậc hiện tiền chưa nói hết, tất cả gồm 100 chương, người đời gọi là Hoán bách chương. Bấy giờ, sự thờ cúng chư thiên ở các nơi chưa phân định vị thứ, sư bèn tham cứu Đại tạng kinh, biên soạn Chư thiên truyện. Sư còn soạn An lạc kí 1 quyển, Viên giác sớ 2 quyển lưu hành ở đời.[X. Thích môn chính thống Q.7; Phật tổ thống kỉ Q.15].

thần học

Theology.

thần hồn

Spirit—Soul.

thần hộ mạng

Externalists believe that each one of them has a so-called Guardian Angel to protect them.

Thần Hộ Tự

(神護寺, Jingo-ji): ngôi chùa của Chơn Ngôn Tông Cao Dã Sơn, hiện tọa lạc tại Sakyō-ku (左京區), Kyōto-shi (京都市). Tiền thân của chùa này là Cao Hùng Sơn Tự (高雄山寺, Takaosan-ji), do dòng họ Hòa Khí (和氣, Waki) sáng lập nên vào khoảng năm 784 khi Trường Cương Kinh (長岡京) dời đô. Trước và sau khi Tối Trừng (最澄, Saichō) sang nhà Đường cầu pháp, Hòa Khí Quảng Thế (和氣廣世) đã từng cung thỉnh ông đến chùa này để thuyết giảng Kinh Pháp Hoa cũng như mở Đàn Quán Đảnh. Vào năm 806 (niên hiệu Đại Đồng [大同] nguyên niên), sau khi trở về nước, Không Hải (空海, Kūkai) cũng tiến hành lễ Quán Đảnh của hai bộ Thai Tạng tại chùa này; sự việc Tối Trừng và đệ tử ông đăng đàn thọ pháp Quán Đảnh được ghi lại trong cuốn Quán Đảnh Lịch Danh (灌頂歷名) do chính tay Không Hải viết. Đến năm 824 (niên hiệu Thiên Trường [天長] nguyên niên), Hòa Khí Thanh Ma Lữ (和氣清麻呂, Waki-no-Kiyomaro, 733-799) dời Thần Nguyện Tự (神願寺) đến Cao Hùng Sơn Tự, lấy tên là Thần Hộ Quốc Tộ Chơn Ngôn Tự (神護國祚眞言寺, Jingokokusoshingon-ji, gọi tắt là Thần Hộ Tự), trở thành ngôi chùa được cấp ngạch của triều đình và là đạo tràng trấn hộ quốc gia. Tượng thờ chính, Dược Sư Như Lai, ở Kim Đường rất nghiêm nghị, là tượng Phật có đặc trưng của nền văn hóa đầu thời Bình An (平安, Heian). Trong hai lần chùa bị hỏa hoạn vào năm 994 (niên hiệu Chánh Lịch [正曆] thứ 5) và 1149 (niên hiệu Cửu An [久安] thứ 5), may thay tượng Phật vẫn còn nguyên vẹn; nhưng cảnh quan của chùa thì bị suy tàn. Vào mùa Thu năm 1168 (niên hiệu Nhân An thứ 3), đau xót trước trước cảnh điêu tàn của chùa khi đến viếng thăm, Văn Giác (文覺, Bunkaku) có dâng lời thỉnh cầu Hậu Bạch Hà Viện (後白河院) hỗ trợ phục hưng chùa, nhưng thất bại. Đến năm 1182 (niên hiệu Thừa An [承安] thứ 3), được sự trợ duyên của Tướng Quân Nguyên Lại Triều (源賴朝, Minamoto-no-Yoritomo), mục đích phục hưng chùa được hoàn thành. Quần thể kiến trúc hiện tồn có Đại Sư Đường (大師堂, còn gọi là Nạp Lương Phòng [納涼房]) được tái kiến dưới Thời Đại Đào Sơn (桃山時代, Momoyama-jidai); Tỳ Sa Môn Đường (毘沙門堂), Ngũ Đại Đường (五大堂), Minh Vương Đường (明王堂), Lầu Chuông, Kim Đường (金堂), Tháp Đa Bảo (多寳塔). Quốc bảo của chùa có các tượng Nguyên Lại Triều, Bình Trùng Thạnh (平重盛, Taira-no-Shigemori), Đằng Nguyên Quang Năng (藤原光能, Fujiwara-no-Mitsuyoshi), Thích Ca Như Lai, Dược Sư Như Lai, Ngũ Đại Hư Không Bồ Tát (五大虛空菩薩), đồ hình Lưỡng Giới Mạn Trà La (兩界曼茶羅, còn gọi là Cao Hùng Mạn Trà La [高雄曼茶羅]), danh sách Quán Đảnh (thủ bút của Không Hải), Tứ Thập Ngũ Cá Điều Khởi Thỉnh Văn (四十五箇條起請文) của Văn Giác, Phạn Chung, v.v.

Thần Hội

(神會, Jinne, 720-794): vị Thiền tăng của Tịnh Chúng Tông (淨眾宗) Trung Quốc, sống dưới thời nhà Đường, người Phụng Tường (鳳翔), Thiểm Tây (陝西), nguyên gốc Tây Vức, họ Thạch (石). Năm 30 tuổi, ông đến làm môn hạ của Vô Tướng (無相) ở Tịnh Chúng Tự (淨眾寺) vùng Thành Đô (城都). Sau đó, ông được thầy ấn khả cho, tiếp nối quản lý Tịnh Chúng Tự, nỗ lực xiển dương tông phong của mình, chủ xướng thuyết “tức tâm thị Phật (卽心是佛, ngay nơi tâm này là Phật)”. Vào năm thứ 10 niên hiệu Trinh Nguyên (貞元) đời vua Đức Tông, ông thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi đời và 36 hạ lạp. Đệ tử của ông là Ích Châu Nam Ấn (益州南印) truyền pháp cho Toại Châu Đạo Viên (遂州道圓) và Đạo Viên truyền lại cho Khuê Phong Tông Mật (圭峰宗密). ; 神會|Hà Trạch Thần Hội.

thần hội

(神會) I. Thần Hội (668-760). Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, là Tổ khai sáng của tông Hà trạch, người ở Tương dương (tỉnh Hồ bắc), họ Cao.Thủa nhỏ, sư học Ngũ kinh, LãoTrang, Chư sử, sau theo ngài Hạo nguyên xuất gia ở chùa Quốc xương, đọc tụng các kinh dễ dàng như trở bàn tay. Năm 13 tuổi, sư tham yết Lục tổ Tuệ năng. Sau khi tổ Tuệ năng thị tịch, sư đi tham phỏng khắp nơi, lặn lội nghìn dặm. Năm Khai nguyên thứ 8 (720), sư vâng sắc trụ chùa Long hưng ở Nam dương, phát huy Thiền pháp, người đương thời gọi sư là Nam dương Hòa thượng. Sau khi Lục tổ nhập diệt khoảng 20 năm, yếu chỉ đốn ngộ của Tào Khê bị chìm lặng, người học ở 2 kinh (Nam kinh và Bắc kinh) đều hướng theo ngài Thần tú, do các vị như Phổ tịch... tiếp nối nhau nêu cao Thiền chỉ. Ban đầu, sư đến Lạc dương định chấn hưng Thiền phong của Lục tổ, nên vào năm Khai nguyên 20 (732), sư mở Đại hội Vô già ở chùa Đại vân tại Hoạt đài, tỉnh Hà nam, luận chiến với Sùng viễn ở Sơn đông. Sư chỉ trích pháp môn của ngài Thần tú Sư thừa là bàng, pháp môn là tiệm, muốn xác lập sự truyền thừa chính thống và tông chỉ của hệ thống Nam tông Tuệ năng. Đồng thời, vào năm Thiên bảo thứ 4 (745), sư soạn Hiển tông kí, định rõ 2 môn Nam đốn, Bắc tiệm, tức cho rằng Nam Năng là Đốn tông, Bắc Tú là Tiệm giáo, danh từ Nam đốn Bắc tiệm bắt nguồn từ đó. Sư cực lực công kích Tiệm môn của ngài Thần tú, do đó mà Nam tông mỗi ngày một thịnh, còn Bắc tông thì suy yếu nặng nề. Năm Thiên bảo 12 (753), sư bị quan Ngự sử là Lô dịch tấu gian, nên phải vâng sắc rời khỏi chùa Hà trạch ở Lạc dương, dời đến ở tại Dặc dương(tỉnh Giang tây), Vũ đương(tỉnh Hồ bắc). Năm sau, sư dời đến trụ ở Tương dương, rồi lại chuyển đến trụ viện Bát nhã chùa Khai nguyên tại Kinh châu. Loạn An sử nổi lên, 2 kinh đều rơi vào tình trạng vô luật pháp, bấy giờ ở các phủ lớn đều có lập đàn độ tăng, gom góp tiền lệ phí cấp độ điệp để sung vào quân nhu. Các giới đàn này thỉnh sư làm đàn chủ, thu được bao nhiêu tài vật đều sung vào quân nhu. Sau khi dẹp loạn, an bình trở lại, vua Túc tông ban chiếu thỉnh sư vào trong cung cúng dường, đồng thời xây dựng Thiền viện trong chùa Hà trạch thỉnh sư đến ở, cho nên người đời gọi sư là Hà Trạch Đại Sư. Sư trụ chùa Hà trạch vẫn xiển dương tông phong của Lục tổ. Niên hiệu Thượng nguyên năm đầu (760), sư nhập tịch, thọ 93 tuổi. Có thuyết cho rằng sư nhập tịch vào niên hiệu Càn nguyên năm đầu (758), thọ 75 tuổi. Vua ban thụy hiệu Chân Tông Đại Sư. Năm Trinh nguyên 12 (796), Hoàng thái tử triệu tập các Thiền sư, xác định tông chỉ của Thiền môn, suy tôn sư là Tổ thứ 7 của Thiền tông. Vua cho dựng bia kỉ niệm sư ở chùa Thần long. Dòng pháp của sư gọi là Hà trạch tông, đệ tử của sư có rất nhiều người tài giỏi, như các vị Vô danh, Pháp như... [X. Lục tổ đại sư pháp bảo đàn kinh; Viên giác kinh đại sớ sao Q.3 hạ; Tống cao tăng truyện Q.8; Cảnh đức truyền đăng lục Q.6; Hà trạch đại sư Thần hội truyện (Hồ thích chi)]. II. Thần Hội (720-794). Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Tịnh chúng, sống vào đời Đường, người ở Phụng tường, tỉnh Thiểm tây, nguyên quán ở Tây vực, họ Thạch. Năm 30 tuổi, sư đến tham học ngài Vô tướngở chùa Tịnh chúng, phủ Thành đô, tỉnh Tứ xuyên, sau được ngài Vô tướng ấn khả và kế thừa trông coi chùa Tịnh chúng, tận lực mở mang tông phong, đề xướng thuyết Tức tâm thị Phật, tùy theo căn cơ thượng, trung, hạ của người học mà tiếp dẫn vào đạo một cách cá biệt. Năm Trinh nguyên thứ 10 (794), sư thị tịch, thọ 75 tuổi, pháp lạp 36. Đệ tử sư là các vị: Ích châu Nam ấn truyền pháp cho Toại châu Đạo viên, Đạo viên truyền pháp cho Khuê phong Tông mật. Ngoài ra, còn có các vị như Na đề... [X. Tống cao tăng truyện Q.9].

thần hội hoà thượng di tập

(神會和尚遺集) Gọi đủ: Hồ thích giáo Đôn hoàng Đường tả bản Thần hội hòa thượng di tập. Tác phẩm, 1 tập, do thư viện Á đông ở Thượng hải ấn hành vào năm Dân quốc 19 (1930). Nội dung sách này chia làm 4 quyển, ngoài ra còn có 4 bài bạt, 1 thiên Thần hội truyện và phụ lục 1 quyển (tức Thần hội ngữ lục trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 28). Đây là công trình ông Hồ thích tìm trong các bản thảo đào được ở Đôn hoàng các tư liệu về Hòa thượng Thần hội rồi so sánh, sửa chữa thêm, đồng thời y cứ vào các bộ sách khác lưu truyền ở đời như Cảnh đức truyền đăng lục, Cao tăng truyện... để sửa chữa bổ sung và phụ thêm phần trình bày về tư tưởng, hành trạng và tác phẩm của ngài, cũng có đính chính những chỗ lầm lẫn trong các tác phẩm ấy mà biên soạn thành sách này. Các bản viết tay ở Đôn hoàng được thu chép trong sách này gồm có: Thần hội ngữ lục quyển 1 còn sót lại (nửa trước của Pelliot số 3488), Thần hội ngữ lục quyển 2 còn sót lại (luận Bồ đề đạt ma nam tông định thị phi – nửa sau của Pelliot số 3047), Thần hội ngữ lục quyển 3 còn sót lại (Pelliot số 3488), Đốn ngộ vô sinh bát nhã tụng không hoàn chỉnh (A. Stein số 468). Năm 1949, học giả người Pháp là ông Jacques M.Gernet xuất bản bản dịch tiếng pháp của sách này có đính chính hơn 60 chỗ lầm lẫn trong đó, đồng thời còn phụ thêm điển cứ về ngữ cú của toàn sách và phần khảo chứng nhân danh, địa danh. Năm Dân quốc 57 (1968), Hồ thích kỉ niệm quán thuộc viện Nghiên cứu Trung ương ở Trung quốc cho ấn hành lại bộ Thần hội hòa thượng di tập bản chép tay đời Đường ở Đôn hoàng do Hồ thích kiểm xét lại, có thu chép các tư liệu gốc từ năm Dân quốc 19 (1930) về sau và 2 bài luận văn nghiên cứu: Tân giáo định đích Đôn hoàng tả bản Thần hội hòa thượng di trứ lưỡng chủng(Bản chép tay 2 tác phẩm của Hòa thượng Thần hội còn sót lại tìm thấy ở Đôn hoàng mới được kiểm xét lại) và Thần hội hòa thượng ngữ lục đích đệ tam cá Đôn hoàng tả bản: Nam dương hòa thượng vấn đáp tạp trưng nghĩa, Lưu trừng tập (Bản chép tay thứ 3: Nam dương hòa thượng vấn đáp tạp trưng nghĩa, Lưu trừng tập trong ngữ lục của Hòa thượng Thần hội tìm thấy ở Đôn hoàng). Những tư liệu gốc bản Đôn hoàng mới được kiểm xét lại gồm có: Nam dương hòa thượng Đốn giáo giải thoát thiền môn trực liễu tính đàn ngữ(văn kiện thứ 2 trong Pelliot số 2045), luận Bồ đề đạt ma Nam tông định thị phi(văn kiện thứ nhất trong Pelliot số 2045), Nam dương hòa thượng vấn đáp tạp trưng nghĩa (A.Stein số 6557) và 5 bài Ngũ canh chuyển. Điểm then chốt của 2 bài luận văn này là: 1. Bài Nam dương Hòa thượng Đốn giáo giải thoát thiền môn trực liễu tính đàn ngữ là bản thảo do ông Hồ thích soạn bằng cách kiểm xét và đối chiếu giữa bản Đôn hoàng Hòa thượng Đốn giáo giải thoát Thiền môn trực liễu tính đàn ngữ do ông D.T. Suzuki người Nhật đã phát hiện trong thư viện quốc lập ở Bắc bình và văn kiện thứ 2 Pellliot số 2045, mà cho là lời ngài Thần hội nói rõ về ý chỉ thiền Vô niệm. Hồ thích còn dựa vào điểm văn tự, tư tưởng giữa Đàn ngữ và Lục tổ Đàn kinh rất gần nhau mà cho rằng Đàn kinh do chính Thần hội soạn. 2. Ông Hồ thích cho rằng 5 bài thi ca Nam tông định tà chính ngũ canh chuyển ở sau Đàn ngữ và bài thơ Đường luật thể 5 chữ là do ngài Thần hội làm ra, nên mới chép thêm vào. 3. Lại hợp chung tấm ảnh số 2045 của P.Pelliot do ông D.T. Suzuki chụp với 2 bản sao số 3047, 3488 của Pelliot trong bản năm 1930, bổ sung cho Luận Bồ đề đạt ma Nam tông định thị phi 1 quyển, chỉ ra rằng luận này là do ngài Thần hội soạn để giúp Nam tông giành lấy địa vị chính thống trong Thiền môn, do đó mới khảo xét, sửa chữa luận này và công bố trong Đại hội Vô già được tổ chức tại chùa Đại vân ở Hoạt đài vào năm Khai nguyên 20 (732), luận này được lưu truyền rất rộng ở đương thời. 4. Lại dùng A.Stein số 296 in ảnh trong Minh sa dư vận do Thỉ xuy Khánh huyngười Nhật bản biên tập và A.Stein số 468 đã có để bổ sung cho Đốn ngộ vô sinh bát nhã tụng(cũng gọi Hà trạch đại sư hiển thị kí).5. Lại hợp chung A.Stein số 6557 do Nhập thỉ Nghĩa cao người Nhật tìm thấy và P.Pelliot số 3047 vốn có để hoàn thành Nam dương Hòa thượng vấn đáp tạp trưng nghĩa 1 quyển(cũng gọi Nam tông Hà trạch thiền sư vấn đáp tạp trưng), đồng thời giả thiết rằng quyển này chính là Hà trạch Hòa thượng thiền yếu 1 quyển.

thần hội hà trạch

Shen-Hui-He-Ze (670-762)—Thần Hội Hà Trạch, họ Cao, sanh năm 670 sau Tây Lịch, xuất gia năm 14 tuổi. Ông là một trong những đệ tử nổi bật của Lục Tổ Huệ Năng. Ông mạnh mẽ ủng hộ cho vị trí của Lục Tổ trong lịch sử Thiền Tông Trung Hoa. Thần Hội dẫn đầu Thiền Phái truyền lại bởi Lục Tổ Huệ Năng ở phương Nam, và mạnh mẽ tấn công phái Thần Tú phương Bắc. Ông đưa ra hai lý do để tấn công phái Thần Tú—Shen-Hui-He-Ze, surname was Kao. He was born in 670 A.D., and left home at the age of 14. He was one of the eminent disciples of the Sixth Patriarch. He strongly supported and promoted Hui-Neng's place in Chinese Zen history. Shen-Hui led the Southern school, and strongly attacked what became widely known as the Northern school, the school associated with Shen-Xiu. Shen-Hui put forward two reasons for his attack on the Northern school: 1) Lý do thứ nhất, ông tấn công về sự không chính thống của phái Thần Tú và mạnh mẽ cho rằng Huệ Năng mới là người truyền thừa y bát chính thống từ Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Dĩ nhiên cuộc tranh luận tự nói lên rằng ông chính là Thất Tổ của dòng Bồ Đề Đạt Ma—The first reason, he attacked the legitimacy as the Dharma heir of Hung-Jen and proposed that the honour belonged to Hui-Neng. Of course the argument was self-serving, since Shen-Hui could claim to be the true Seventh Patriarch of the Bodhidharma line. 2) Lý do thứ nhì mà ông tấn công phái Thần Tú, ông cho rằng thiền phái của Thần Tú là “tiệm môn,” rất xa lạ với thiền phái “đốn ngộ” mà Lục Tổ Huệ Năng đã truyền lại—The second reason, for attacking Shen-Xiu was his Dharma gate was gradual, which was fundamentally at odds with what Shen-Hui regarded as the genuine Zen of his teacher, Hui-Neng. • Năm mười bốn tuổi, khi đang là Sa Di ở chùa Ngọc Tuyền, sư tìm đến yết kiến Lục Tổ Huệ Năng. Tổ hỏi: “Tri thức từ phương xa nhọc nhằn tìm đến, có đem được bổn (gốc) theo chăng? Nếu có gốc phải biết chủ, thử nói xem?” Sư thưa: “Lấy không trụ làm gốc, thấy tức là chủ.” Tổ bảo: “Sa Di đâu nên dùng lời đó.” Sư thưa: “Hòa Thượng ngồi thiền là thấy hay chẳng thấy?” Tổ cầm gậy đánh sư ba gậy, hỏi: “Ta đánh ngươi đau hay chẳng đau?” Sư thưa: “Cũng đau cũng chẳng đau.” Tổ nói: “Ta cũng thấy cũng chẳng thấy.” Trong khi bị đánh, Thần Hội nghĩ: “Vị Thầy nầy thật vĩ đại. Thật khó mà gặp được một người như vậy dù trong nhiều kiếp. Đã gặp rồi không thể bỏ lỡ dịp may ngàn đời—Zen master He-Ze-Shen-Hui of the Western Capital came from Xiang-Yang, when he was a novice monk at the age of fourteen. At his first meeting with the Sixth Patriarch. The Sixth Patriarch asked Shen-Hui: “You have come on an arduous journey from afar. Did you bring what is fundamental? If you have what is fundamental then can you see the host. Let's see what you have to say.” Shen-Hui said: “I take no abode as the fundamental. What is seen is the host.” The Sixth Patriarch said: “This novice is talking nonesense!” He then took his staff and struck Shen-Hui. As he was being beaten, Shen-Hui thought: “This Master is such a great and wise sage. It is difficult to meet such a person even after many kalpas of time. Having met him today how can I lament my life?” • Một hôm Tổ bảo đại chúng: “Ta có một vật không đầu không đuôi, không tên không họ, không lưng không mặt, các ngươi biết chăng?” Sư bước ra thưa: “Ấy là bản nguyên của chư Phật, là Phật tánh ngươi là không tên không họ, nguơi lại kêu là bản nguyên, Phật tánh. Ngươi lại đi lấy tranh che đầu, cũng chỉ thành tông đồ của hàng tri giải.” Sư lễ bái lui ra—Once, the Sixth Patriarch addressed the congregation, saying: “I have something which has no head or tail. It is nameless and can't be described. It has no back and no front. Do any of you know what it is?” Shen-Hui came forward and said: “It is the source of all things. It is the Buddha-nature of Shen-Hui.” The Sixth Patriarch said: “I said that it has no name and no description. How can you say it is the source of the Buddha-nature?” Shen-Hui bowed and retreated. • Năm 760, Sư thị tịch trong lúc đang ngồi thiền. Tháp của sư được đặt tại Long Môn—In 760, he passed away while sitting in meditation. His burial stupa was located at Dragon Gate.

thần hội ngữ lục

(神會語錄) Sách thu gom các pháp ngữ của ngài Thần hội, Tổ khai sáng tông Hà trạch đời Đường. Bản hoàn chỉnh này đã thất truyền. Cứ theo Lạc kinh Hà trạch Thần hội đại sư thị chúng được thu chép trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 28 và Hà trạch đại sư hiển thị kí được thu chép trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 30 thì được biết ngài Thần hội chỉ soạn có Nam tông Hà trạch thiền sư vấn đáp tạp trưng 1 quyển và Hà trạch hòa thượng thiền yếu 1 quyển. Nhưng, những năm gần đây, qua các tư liệu tìm thấy ở Đôn hoàng, ta có thể biết chắclàtác phẩm của ngài Thần hội ít ra cũng có 3 ấn bản sau đây:1. Thần hội hòa thượng di tập 4 quyển, do ông Hồ thích xuất bản vào năm Dân quốc 19 (1930). Năm Dân quốc 57 (1968), Hồ thích kỉ niệm quán thuộc viện Nghiên cứu Trung ương, Trung quốc, in lại.2. Hà trạch thiền sư ngữ lục, do ông D.T.Suzuki người Nhật xuất bản vào năm Chiêu hòa thứ 7 (1932), nội dung của bộ ngữ lục này giống với quyển thứ nhất trong bản Hồ thích, nhưng ở cuối quyển có ghi việc sa môn Bảo trân và phán quan Triệu khán lâm cùng theo ý của Bắc đình Trương đại phu mà kiểm xét lại ngữ lục này vào năm Trinh nguyên thứ 8 (792) đời Đường. Ngoài ra còn ghi lược truyện của các Tổ Thiền tông từ Sơ tổ Đạt ma đến Lục tổ Tuệ năng và Đại thừa đốn giáo tụng tinh tự của ngài Thần hội. 3. Hòa thượng đốn giáo giải thoát thiền môn trực liễu đàn ngữ, 1 pho 4tập, do D.T. Suzuki xuất bản vào năm Chiêu hòa thứ 10 (1935). Bản này Suzuki có tham khảo Hồ thích, kiểm xét đối chiếu và sửa sang thêm và chia toàn sách làm một số chương tiết, đồng thời phụ thêm bản Đôn hoàng và Lục tổ đàn kinh tập giải thuyết của bản chùa Hưng thánh. [X. Đôn hoàng kiếp dư lục (Trần viên) Q.13; Đường đại trường an dữ tây vực văn minh (Hướng đạt); Đường đại văn hóa sử (La hương lâm); Thiền tông sử nghiên cứu (Vũ tỉnh Bá thọ); Hà trạch Thần hội thiền sư khảo (Sơn kì hoành, Trung quốc chi xã hội dữ tông giáo)]. (xt. Thần Hội Hòa Thượng Di Tập).

Thần Kinh

(神京): (1) Đế đô, thủ đô. Như trong bài Phụng Hòa Biệt Việt Vương (奉和別越王) của Trương Đại An (張大安, ?-?) nhà Đường có câu: “Lệ nhật khai phương điện, giai khí tích thần kinh (麗日開芳甸、佳氣積神京, trời đẹp bày thơm cõi, khí tốt tụ kinh đô).” Hay trong bài Tiểu Trùng Sơn (小重山) của Hòa Ngưng (和凝, 898-955) thời Ngũ Đại có đoạn: “Xuân nhập thần kinh vạn mộc phương, cấm lâm oanh ngữ hoạt, điệp phi cuồng (春入神京萬木芳、禁林鶯語滑、蝶飛狂, xuân đến đế đô cây cỏ thơm, vườn cấm oanh líu lo, bướm bay rối rít).” Trong bài Võ Xương Khởi Nghĩa Chơn Sử (武昌起義真史) của Tào Á Bá (曹亞伯, 1875-1937) cũng có câu: “Bỉnh nhĩ bạch mao, báo nhĩ tiên đức, trùng tân Cửu Đỉnh, tái điện thần kinh (秉爾白茅、報爾先德、重新九鼎、再奠神京, giữ vững ý chí người, báo đáp đức lớn người, trùng tu mới Cửu Đỉnh, tái thiết chốn thần kinh).” (2) Giống như tiên cảnh, kinh đô của tiên nữ. Như trong Vân Cấp Thất Thiêm (雲笈七籤) quyển 42 có đoạn: “Chiêu chơn hạ lưu, quán ngã ngọc sương, vũ quần phân phân, y ngã tiên thường, việt quá thủy hỏa, phi đăng thần kinh (招眞下流、灌我玉霜、羽裙紛紛、衣我仙裳、越過水火、飛登神京, mời Chơn Quân xuống dòng, rưới sương ngọc ta, quần long phấp phới, mặc áo tiên ta, vượt qua nước lửa, bay lên tiên cảnh).”

Thần Kì Quan

(神祇官, Jinkikan, Kamuzukasa, Kamizukasa): (1) Tên gọi một cơ quan quốc gia được thiết lập theo Luật Lịnh Chế thời cổ đại. Từ Thần Kì (神祇) ở đây, Thần (神) tức là Thiên Thần (天神); Kì (祇) là Địa Kì (地祇); cho nên theo Luật Lịnh Chế thời xưa thì Thần Kì Quan là vị quan chuyên trách việc cúng tế Thiên Thần và Địa Kì, quản lý chung các đền thờ Thần Xã trên toàn quốc. Vị này có địa vị trên các chức quan, thậm chí trên cả Thái Chính Quan (太政官), người lo việc hành chính. Tứ Đẳng Quan (四等官) gồm Bá (伯), Phó (副, Đại Phó [大副] và Thiếu Phó [少副]), Hữu (佑, Đại Hữu [大佑] và Thiếu Hữu [少佑]) và Sử (史, Đại Sử [大史] và Thiếu Sử [少史]). Tuy nhiên, trên thực tế thì chức Thần Kì Quan nằm dưới Thái Chính Quan. (2) Tên gọi một cơ quan quốc gia được thiết lập vào đầu thời Minh Trị (明治, Meiji, 1868-1911). Vào tháng 4 năm 1868 (Khánh Ứng [慶應] 4) nhuận, thể theo Chính Thể Thư (政体書), Thần Kì Quan được chính thức thiết lập; là cơ quan chưởng quản các sự việc liên quan đến tế tự, Thần Kì, chúc từ, v.v.

thần linh

Divinity.

thần lực

Abhijna (skt)—Abhinna (p)—Supernatural power(s)—Spiritual power(s)—Awesome spiritual power(s)—See Thần Thông. ; (神力) Phạm: Fddhi. Pàli:Iddhị. Cũng gọi Thần thông lực. Các thứ năng lực thần biến không thể nghĩ bàn do Phật và Bồ tát thị hiện. Trong các kinh có nhiều chỗ nói về việc Phật và Bồ tát hiển hiện thần lực, như phẩm Như lai thần lực trong kinh Pháp hoa quyển 6 ghi rằng: Đức Thế tôn ở trước trăm ức vạn chúng trời, người hiện đại thần lực, thè lưỡi rộng dài đến tận cõi trời Phạm thế, từ tất cả lỗ chân lông của Ngài đều phóng ra vô lượng vô số ánh sáng nhiều màu, chiếu soi hết thảy các thế giới trong 10 phương. Pháp hoa văn cú quyển 29 của ngài Trí khải (Đại 34, 141 hạ) nói: Thần là không lường được, Lực là tài dùng; không lường được thì thể của thiên nhiên sâu, tài dùng thì sức chuyển biến lớn. Pháp hoa kinh huyền nghĩa tán quyển 10 của ngài Khuy cơ (Đại 34, 841 thượng) nói: Diệu dụng vô phương gọi là Thần, uy thế có công năng phá dẹp gọi là Lực.

thần lực của chư phật

The Buddhas' spiritual powers.

Thần minh

(神明): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Tức thiên thần địa kỳ; không đo lường được gọi là thần, sáng trong như kính gọi là minh; là tên gọi chung của chư vị thần linh trong trời đất. Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648), nhà kinh học, sống dưới thời nhà Đường, giải thích rằng: “Vạn vật biến hóa, hoặc sanh hoặc thành, thị thần minh chi đức (萬物變化、或生或成、是神明之德, vạn vật biến hóa, hoặc sinh nở hoặc lớn lên, là đức của thần minh).” Như trong Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh (佛說無量壽經, Taishō Vol. 12, No. 360) có đoạn: “Nhật nguyệt chiếu kiến, thần minh ký thức, cố hữu tự nhiên tam đồ vô lượng khổ não, triển chuyển kỳ trung, thế thế lũy kiếp, vô hữu xuất kỳ (日月照見、神明記識、故有自然三塗無量苦惱、展轉其中、世世累劫、無有出期, trời trăng chiếu thấy, thần minh ghi biết, cho nên tự nhiên có Ba Đường vô lượng khổ não, xoay vần trong đó, đời đời bao kiếp, không có lúc ra).” Hay trong Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh (藥師琉璃光如來本願功德經, Taishō Vol. 14, No. 450) lại có đoạn: “Sát chủng chủng chúng sanh, giải tấu thần minh, hô chư võng lượng, thỉnh khất phước hựu (殺種種眾生、解奏神明、呼諸魍魎、請乞福祐, giết các loại chúng sanh, tâu trình thần minh, gọi quỷ gỗ đá, cầu xin ban phước).” (2) Đặc biệt chỉ cho Thần Thái Dương (太陽神). Như trong Sử Ký (史記), phần Phong Thiền Sư (封禪書), có đoạn rằng: “Trường An Đông Bắc hữu thần khí, thành ngũ thái, nhược nhân quan miến yên, hoặc viết Đông Bắc, thần minh chi xá; Tây phương, thần minh chi mộ dã (長安東北有神氣、成五采、若人冠絻焉、或曰東北、神明之舍、西方、神明之墓也, phía Đông Bắc Trường An có thần khí, tạo thành năm màu, giống như người đội vương miện vậy; hoặc gọi Đông Bắc, là nhà của Thần Thái Dương; phương Tây là mộ của Thần Thái Dương).” (3) Trí sáng như thần. Như trong Hoài Nam Tử (淮南子), phần Binh Lược Huấn (兵略訓), có đoạn: “Kiến nhân sở bất kiến vị chi minh, tri nhân sở bất tri vị chi thần; thần minh giả, tiên thắng giả dã (見人所不見謂之明、知人所不知謂之神、神明者、先勝者也, thấy người ở chỗ không thấy được gọi là minh [sáng suốt], biết người ở chỗ không biết được gọi là thần; thần minh là cái biết trước vậy).” (4) Chỉ cho thần thánh, đấng cao siêu. Như trong bài thơ Thượng Lô Tam Thập Di Dĩ Ngôn Kiến Truất (上盧三拾遺以言見黜) của Từ Di (徐夤, ?-?) thời Ngũ Đại có câu: “Tật nguy tất yểm thần minh dược, tâm hoặc đa hiềm chánh trực ngôn (疾危必厭神明藥、心惑多嫌正直言, bệnh nguy ắt chán thần thánh thuốc, tâm mê lại ghét nói ngay lời).”

thần minh

The intelligent or spiritual nature—The spirits of heaven and earth, the gods. ; (神明) Không cách nào suy nghĩ phân biệt được gọi là Thần; soi thấy được gọi là Minh. 1. Chỉ cho các thần trong trời đất, vì các thần có năng lực xét biết rõ ràng thiện ác chính tà một cách đúng như thực nên gọi là Thần minh. 2. Chỉ cho thần thức của chúng sinh (chủ thể của linh hồn, tinh thần).

Thần Nghi

神儀; ?-1216|Thiền sư Việt Nam thuộc dòng thiền Vô Ngôn Thông thứ 13, nối pháp Thiền sư Thường Chiếu.|Sư họ Quách, quê ở Ngoại Trại, xuất thân từ một gia đình mộ đạo. Sau khi xuất gia, Sư đến học với Thiền sư Thường Chiếu.|Lúc Thường Chiếu sắp tịch, Sư hỏi: »Mọi người đến thời tiết này, vì sao đều theo thế tục mà chết?« Thường Chiếu bảo: »Ngươi nhớ được mấy người không theo thế tục?« Sư thưa: »Một mình Tổ (Bồ-đề) Ðạt-ma.« Thường Chiếu hỏi: »Có những đặc biệt gì?« Sư thưa: »Một mình đạp trên sóng mà trở về Tây.« Thường Chiếu hỏi: »Núi Hùng Nhĩ là nhà ai?« Sư thưa: »Chỉ là nơi chôn chiếc gậy trong hòm mà thôi.« Thường Chiếu bảo: »Lừa người lấy lợi, đứng đầu là Thần Nghi.« Sư hỏi: »Ðâu thể nói Tống Vân truyền dối, việc vua Trang Ðế quật mồ thì sao?« Thường Chiếu bảo: »Một con chó lớn sủa láo.« Sư hỏi: »Hoà thượng cũng tuỳ tục chăng?« Thường Chiếu bảo: »Tuỳ tục.« Sư hỏi: »Vì sao như thế?« Thường Chiếu đáp: »Ấy là cùng người đồng đều.« Sư nhân đây bỗng nhiên tỉnh ngộ, lễ bái thưa: »Con đã hiểu lầm rồi.« Thường Chiếu liền hét.|Sau đó Thường Chiếu lấy bản đồ truyền thừa của Thiền sư Thông Biện ra vì Sư giảng nghĩa.|Sau khi Thường Chiếu tịch, Sư về trụ trì chùa Thắng Quang ở làng Thị Trung, Kim Bài. Ðồ chúng theo học rất đông.|Ngày 18 tháng 2 năm Bính Tí, niên hiệu Kiến Gia thứ 6 đời Lí Huệ Tông, Sư gọi đệ tử là Ẩn Không đến lấy bản đồ của Thường Chiếu trao cho và dặn: »Phương này hiện nay tuy loạn, ngươi khéo giữ bản dồ này, cẩn thận đừng để binh lửa làm hại, ắt là tổ phong của ta không mất vậy«. Nói xong, Sư tịch.

thần ngã

Purusa or Atman (skt). 1) Cái thực ngã mà ngoại đạo chấp rằng khi thân chết thì thần ngã xuất ra: The soul, the spiritual ego, or permanent person, which by non-Budhists was said to migrate on the death of the body. 2) Thần Thức cũng là cái tâm thức tối thượng sản sanh mọi hình thức của sự hiện hữu: Purusa is also the Supreme Soul or Spirit, which produces all forms of existence. ; (神我) Phạm: Puruwa. Cũng gọi Thần ngã đế, Ngã tri giả. Gọi tắt: Thần, Ngã. Chỉ cho bản thể tinh thần của cá nhân, đế thứ 25 trong 25 đế do học phái Số luận ở Ấn độ lập ra. Tức chủ trương cho rằng Ngã là Thực ngã thường trụ độc tồn, thụ dụng các pháp. Vì đối với Tự tính, phái Số luận lập ra 25 đế và lấy Tự tính đế (Phạm:Prakftì) đầu tiên trong 25 đế làm bản tính, 23 đế ở khoảng giữa là biến dị (đổi khác), còn Thần ngã đế thứ 25 thì chẳng phải bản tính cũng chẳng phải biến dị, thể của nó là có thật, thường còn, thanh tịnh và độc lập, thường được 24 đế còn lại bao bọc chung quanh. Nguyên tố căn bản (tức Tự tính) là nhân của chất liệu căn bản, nếu kết hợp với Thần ngã thì từ nguyên tố căn bản sẽ triển khai ra thế giới hiện tượng. Mà khi nguyên tố căn bản kết hợp với Thần ngã thì Thần ngã sẽ bị vật chất trói buộc; nhưng khi được giải thoát thì Thần ngã thoát li khỏi nguyên tố căn bản, tồn tại độc lập, trở thành cái thuần túy xưa nay vốn thanh tịnh. Theo học thuyết phái Số luận thì sự tồn tại của Thần ngã được chứng minh qua 5 tình hình sau đây: 1. Vì người khác mà tích tụ (Phạm: Saôghàtaparàrthatvàt): Tất cả sự tụ tập mà người thế gian thấy được đều chẳng phải tự thân chúng có như vậy, chẳng hạn như giường chiếu chẳng phải tự thân chúng có ra như thế, nhưng vì đáp ứng nhu cầu cần dùng của người khác mà tụ tập lại thành vật.2. Vì khác với 3 đức (Phạm: Triguịàdiviparyaryàt): Ba đức chỉ cho Hỉ, Ưu, Ám. Ngoài Thần ngã, 24 đế kia đều không lìa 3 đức, đó là người mù; còn Thần ngã thì thấy biết được tự tính, khác với 3 đức, là cái Ngã thường trụ. 3. Vì là nương gá (Phạm: Adhiwỉhànàt, cũng gọi Chi phối): Nếu nương gá vào Thần ngã thì thân này có tác dụng; nếu không thì thân này cũng không có tác dụng. Thần ngã có khả năng chi phối thân thể có tính vật chất, 24 đế còn lại thì cần phải nương vào Thần ngã mới thành ý nghĩa, cho nên Thần ngã là cái có thật. 4. Vì có người ăn (Phạm: Bhoktfbhavàt): Hai mươi bốn đế kia giống như thực phẩm, còn Thần ngã thì như người ăn; có thực phẩm thì phải có người ăn để thưởng thức mùi vị. 5. Vì độc tồn mà gắng sức (Phạm: Kaivalyartham pravftte#): Nếu không có Thần ngã thì con người dù có gắng sức đến đâu đi nữa(chẳng hạn như gắng sức cầu giải thoát) rốt cuộc cũng vô hiệu, nhân quả báo ứng cũng mất ý nghĩa, vì thế biết chắc chắn Thần ngã có thật trong con người. Phật giáo phản đối luận thuyết nói trên mà chủ trương Thần ngã là cái Ngã lìa uẩn và dùng quan điểm các pháp vô ngã để phê phán và phá dẹp các luận thuyết vọng chấp Thần ngã. [X. luận Kim thất thập Q.thượng; phẩm Phá thần trong Bách luận Q.thượng; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối].

thần ngã ngoại đạo

(神我外道) Một trong 10 thứ ngoại đạo. Như học thuyết của phái Số luận, Thắng luận trong 6 pháiTriết học ở Ấn độ chủ trương người, trời mỗi loài đều là một thực thể thường trụ độc tồn, thực thể này vừa thụ dụng các pháp, vừa là thực ngã chủ tể vạn hữu. Những phái chủ trương thuyết này, Phật giáo đều gọi là Thần ngã ngoại đạo. [X. luận Kim thất thập Q.thượng; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối]. (xt. Thần Ngã, Số Luận Học Phái).

thần nhân

Gods (spirits) and men. ; (神人) Một trong 10 danh hiệu của Phật được nêu trong kinh Bồ tát bản nghiệp. Thần nhân và Đại thánh nhân, Đại sa môn, Chúng hựu, Dũng trí, Thế tôn, Năng nho, Thăng tiên, Thiên sư, Tối thánh được gọi chung là Phật thập danh. Kinh Hoa nghiêm quyển 42 (bản dịch mới) cũng nêuPhật thập danh nhưng khác với Phật thập danh ghi trên. Đó là: Như lai, Phật, Pháp sư, Nhất thiết trí, Sở y xứ, Đạo sư, Đại đạo sư, Quang minh, Thập lực tự tại và Nhất thiết kiến giả. Ngoài ra, người đời gọi Thần nhân thì phần nhiều chỉ cho các Tiên nhân có sức thần thông.

thần nữ

A devi, a female spirit, a sorceress.

thần phưởng

(thần phưởng) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường. Ban đầu, sư trụ ở chùa Pháp hải, tinh thông kinh luận Đại, Tiểu thừa. Năm Trinh quán 19 (645), ngài Huyền trang bắt đầu dịch kinh ở chùa Hoằng phúc, sư vâng sắc làm người chứng nghĩa, về sau, học trò của sư thường được mời tham gia dịch trường. Khoảng năm Hiển thánh, lúc ngài Huyền trang dịch luận Đại tì bà sa ở chùa Đại từ ân, sư giữ việc ghi chép; còn khi ngài Huyền trang dịch kinh Đại bát nhã ở cung Ngọc hoa thì sư tham gia nhuận văn. Lúc còn trẻ, sư rất kính tin kinh Địa tạng thập luân, năm Vĩnh huy thứ 2 (651), ngài Huyền trang dịch lại kinh này, sư làm bút thụ(người ghi chép). Sư để lại các tác phẩm: Thành duy thức luận yếu tập 10 quyển, Địa tạng thập luân kinh sớ 3 quyển, nay đều thất truyền. Người đời gọi sư là Đại thừa Phưởng, hoặc Phưởng pháp sư. [X. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.6].

thần phần

(神分) Cũng gọi Thần hạ. Chia pháp thí cho các thần trong trời đất. Vì loại trừ chướng ngại do các thần xấu ác gây ra nên khi tu hành pháp Mật giáo để cầu xin sự bảo hộ của các vị thiện thần, đặc biệt hướng tới các trời hoặc thần kì tụng kinh, khiến các vị ấy nhờ nghe Phật pháp mà được pháp lạc. Thông thường đều tụng Bát nhã tâm kinh 1 quyển, gọi là Phân thần tâm kinh, tụng lúc bắt đầu tu pháp hoặc sau khi biểu bạch.

thần phận tâm kinh

Lúc khuyến thỉnh thần kỳ hay trừ tà ma khi đọc kinh—Divinely distributed Sutra, when publicly recited to get rid of evil spirits—See Bát Nhã Tâm Kinh.

thần phật

Deity and Buddhas.

thần phật phân li

(神佛分離) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Vào tháng 3 năm Khánh ứng thứ 4 (1868), chính phủ Nhật bản ra thông cáo Tế chính nhất trí, Thần kì quan tái hưng(Tông giáo và chính trị hợp nhất, phục hưng địa vị Thần kì). Từ đó, phong tập Thần Phật hợp nhất từ trước đến nay bắt đầu suy đồi. Minh trị Duy tân lấy việc khôi phục vương quyền từ ngàn xưa làm lí tưởng chính trị của ông và lấy tinh thần sáng nghiệp thần vũ làm nền tảng, cho nên bắt đầu cuộc vận động tông giáo phục hưng Thần đạo, hợp nhất tông giáo chính trị và tách rời Phật với thần, vua ban lệnh buộc các xã tăng và Biệt đương ở các Thần xã(tự viện) phải hoàn tục. Các thần của thần xã cũng thoát li sự chi phối của Phật giáo và được đặt dưới sự chỉ huy của các quan thần kì, loại bỏ các thần hiệu mang tính cách Phật hiệu như Quyền hiện, Minh thần, Bồ tát... Ngoài ra còn loại bỏ tượng Phật, tượng tăng, kinh điển, pháp cụ... Trái lại, địa vị của quan thần kì được đề cao, các Thần chức được đãi ngộ ngang với quan lại nhà nước, trở thành chính sách lấy Thần kì làm trung tâm, lấy thần đạo làm quốc giáo. Chính sách Thần Phật phân li này đã phát triển thành cuộc vận động bài trừ Phật giáo một cách quá khích, tình hình cực kì nghiêm trọng. Phật giáo Nhật bản ở Giang hộ được sự che chở của Mạc phủ, từ lâu vẫn được an ổn, bỗng trải qua biến cố này, các nhân sĩ bèn thức tỉnh và lấy việc phục hưng Phật giáo làm nhiệm vụ của mình.

thần phật tập hợp

(神佛習合) Cũng gọi Thần Phật hỗn hào. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho tư tưởng coi Thần Phật hỗn hợp cùng một thể, là tư tưởng chỉ có trong Phật giáo Nhật bản và cũng là sự biểu hiện đồng hóa giữa Phật giáo và tín ngưỡng Thần kì vốn có của Nhật bản. Sau khi Phật giáo truyền vào Nhật bản, giữa tín ngưỡng Thần kì và Phật giáo thường có mối bất hòa. Về sau, cả 2 dần dần điều hòa. Vào thời đại Nại lương (Nara), chùa chiền phụ thuộc vào Thần xã(đền thờ thần), tức ở các xã lớn có thiết lập chùa Thần cung. Thông thường, trong Thần xã phong khí cung kính cho thần, hoặc độ người làm tăng rất hưng thịnh. Đến thời đại Bình an, lại sinh ra tác pháp đọc kinh trước thần. Lại như Bát phan Bồ tát, tức là tên hiệu thần lại thêm vào danh hiệu Phật. Sau Trung kì, tư tưởng này càng sâu đậm, từ đó sinh ra thuyết Thần là Phật hóa hiện, đây chính là bối cảnh thành lập thuyết Bản Địa Thùy Tích. Vào thời kì này, chữ Thần thường được đặt trước danh hiệu Quyền hiện mà cho rằng Thần là thân thùy tích quyền xảo biến hóa của Phật, Bồ tát bản địa. Trong chùa Thần cung thì sinh ra Xã điện mang sắc thái Phật giáo sâu đậm, các Xã điện phần nhiều lấy pháp hội làm chính, Xã tăng đồng thời thờ cúng thần kì, tu trì Phật sự. Trái lại, trong khuôn viên các tự viện cũng cúng tế thần thủ hộ tự viện, gọi là Trấn thủ. Theo đà tiến triển của thuyết Bản địa thùy tích mà dần dần lấy giáo nghĩa của tông Thiên thai và tông Chân ngôn làm giáo lí cho Thần Phật tập hợp. Về sau, giáo nghĩa tông Thiên thai sinh ra Sơn vương nhất thực thần đạo và giáo nghĩa tông Chân ngôn sinh ra Lưỡng bộ tập hợp thần đạo. Từ cuối thời kì Bình an đến thời kì Liêm thương lại phối hợp các thần kì với tên gọi của các Phật ở các nơi. Ngoài ra còn lấy tư tưởng Bản địa thùy tích làm nền tảng mà sản sinh ra mĩ thuật thùy tích. Lại do ảnh hưởng của tượng Phật mà bắt đầu tạo tượng thần, rồi sinh ra rất nhiều tượng quyền hiện. Lại lấy bức họa Chư Phật bản địa làm cơ sở mà vẽ ra Bản địa mạn đồ la. Lúc này, kiểu kiến trúc thần xã cũng chịu ảnh hưởng kiểu kiến trúc các chùa Phật. Nhưng từthờiNam Bắc triều trở đi, đối với chủ trương Phật bản thần tích(Phật gốc thần ngọn) từ trước đến giờ, lại sản sinh chủ trương Thần bản Phật tích(Thần gốc Phật ngọn). Đây là chủ trương phản lại thuyết Bản địa thùy tích như Thần đạo luận của Bắc hoàng Thân phòng. Cát điền Kiêm câu thời Thất đinh đề xướng Duy nhất thần đạo. Đến thời Giang hộ, giữa các học giả Quốc học nhen nhóm tư tưởng phục hưng Thần đạo, tiến tới bài bác Phật giáo. Thời Minh trị Duy tân, sau khi lệnh Thần Phật phân li được công bố, cuộc vận động Phế Phật hủy Thích đã có lúc đạt đến cực điểm, biến thành phong trào quá khích: Tượng Phật, kinh Phật, pháp cụ đều bị thiêu hủy, tiến tới đập phá chùa chiền, bán chùa, bán pháp... từ đó, thuyết Bản địa thùy tích dần dần cáo chung. [X.Chư thần bản hoài tập Q.đầu; Xuân nhật xã cát xã kí; Nguyên hanh thích thư Q.18; Nhật bản Phật giáo sử chi nghiên cứu]. (xt. Thần Phật Phân Ly).

thần phục

To give in—To yield—To submit.

Thần Quan

(神官, Shinkan): với tư cách là quan lại của quốc gia, đây là người phụng sự cho vị Thần nào đó, hay người phụng chức ở các nơi tế tự Thần. Hiện tại, ở Nhật không còn hiện hữu chức Thần Quan nẫy nữa. Trong các thư tịch xưa liên qua đến Thần Đạo của Nhật Bản, đây là từ thỉnh thoảng có thấy vài nơi, dùng để chỉ cho Thần Chức (神職, người chuyên lo việc tế tự của Thần Xã), và hiện tại vẫn được dùng trong ngôn ngữ thường ngày. Vào đầu thời Minh Trị (明治, Meiji, 1868-1911), khi chức Thần Kì Quan (神祇官) được tái thiết lập, tất cả Thần Chức đều trở thành quan lại. Sau trận bại chiến của Nhật trong cuộc Chiến Tranh Đại Đông Á, chức Thần Quan đã bị phế bỏ.

Thần Quang

神光|Huệ Khả

Thần quang

(神光): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Tên gọi khác của một kinh huyệt. Như trong tác phẩm Thiên Kim Yếu Phương (千金要方) do Tôn Tư Mạc (孫思邈, 581-682) nhà Đường sáng tác, có đoạn: “Thổ ẩu túc trấp thôn toan, cứu Thần Quang, nhất danh Đảm Mộ, Bách Tráng (吐嘔宿汁吞酸、灸神光、一名膽募、百壯, nôn mữa, giữ nước, ợ chua, lấy ngải cứu đốt huyệt Thần Quang, có tên khác là Đảm Mộ, Bách Tráng).” Trong Châm Cứu Giáp Ất Kinh (針灸甲乙經) có giải thích rằng: “Nhật Nguyệt, Thắng Mộ dã (日月、膽募也, huyệt Nhật Nguyệt là Thắng Mộ).” Cho nên, huyệt Thần Quang còn có tên là Nhật Nguyệt. (2) Đồng nghĩa với tinh thần. Như trong tác phẩm Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn (黃帝內經素問), phần Bổn Bệnh Luận (本病論) có câu: “Thần ký thất thủ, thần quang bất tụ (神旣失守、神光不聚, thần đã không giữ được, thì tinh thần không tụ lại được).” (3) Chỉ cho công năng của thị giác. Như trong tác phẩm Thẩm Thị Dao Hàm (審視瑤函) của Phó Nhân Vũ (傅仁宇, ?-?) nhà Minh giải thích rằng: “Thần quang giả, vị mục trung tự nhiên năng thị chi tinh hoa dã (神光者、謂目中自然能視之精華也, thần quang có nghĩa là tinh hoa trong con mắt tự nhiên có thể nhìn thấy được).” (4) Chỉ Huệ Khả (慧可, 487-593), hiệu là Thần Quang, Tổ sư thứ 2 của Thiền Tông Trung Hoa. (5) Ánh sáng, hào quang linh thiên, thần thánh. Như trong Ngự Tuyển Ngữ Lục (御選語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1319) quyển 7 có đoạn: “Khả dĩ phổ độc diệu chi thần quang, viên huyễn hữu chi vạn hạnh, sở vị vô thành chi thành, vô tu chi tu (可以普獨耀之神光、圓幻有之萬行、所為無成之成、不修之修, có thể riêng tỏa sáng ấy thần quang, tròn giả huyễn ấy muôn hạnh, đó gọi không thành mà thành, không tu mà tu).” Hay trong Thứ Trung Vô Uấn Thiền Sư Ngữ Lục (恕中無慍禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1416) quyển 5 lại có đoạn: “Độc Cô Tiêu Độc Cô Tiêu, nhất đạo thần quang thấu Cửu Tiêu, Niết Bàn sanh tử vô nhị pháp, Tam Thừa Thập Địa hà tu siêu (獨孤標獨孤標。一道神光透九霄。涅槃生死無二法。三乘十地何須超, Độc Cô Tiêu Độc Cô Tiêu, một đạo hào quang thấu Cửu Tiêu, Niết Bàn sanh tử không hai pháp, Ba Thừa Mười Địa cần gì siêu).”

thần quang

Ánh sáng của chư thiên—Deva light—The light of the gods. ; (神光) Phạm: Bandhy-prabha, Prabhàmitra. Cao tăng Ấn độ trụ ở chùa Na lan đà, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ, sống vào khoảng giữa thế kỉ VI, là Luận sư phái Du già hành của Phật giáo Đại thừa. Tương truyền, sư là học trò của bồ tát Hộ pháp, sư có soạn Phật địa kinh luận. Trong luận, sư chia kinh Phật địa làm 3 phần: Giáo khởi nhân duyên phần, Thánh giáo sở thuyết phần và Y giáo phụng hành phần để chú thích, gọi là Thân quang tam phân khoa kinh. Cách phân chia này giống với thuyết Tam phân khoa kinh do ngài Đạo an (314-385) sáng lập vào đời Tấn ở Trung quốc. Tam phân khoa kinh của ngài Đạo an tức là chia phần chính văn trong mỗi bộ kinh làm 3 phần là Tự phần, Chính tông phần và Lưu thông phần. Về sau, các nhà chú thích kinh đều dùng theo phương pháp này. [X. Giải thâm mật kinh sớ Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần đầu; Đại minh tam tạng thánh giáo mục lục (bản dịch tiếng Anh)]. (xt. Tam Phân Khoa Kinh).

thần sa nộ nhãn tình

(神沙怒眼睛) Thần sa là quỉ thần theo hầu vua Diêm ma; Nộ nhãn tình là trợn mắt giận dữ. Thần sa nộ nhãn tình là từ ngữ được sử dụng để miêu tả dung mạo đáng sợ hãi, giận dữ cực độ.

Thần Sát

(神煞): hay Thần Sát Tinh (神煞星), là tên gọi những ngôi sao chiếu mạng quyết định việc tốt xấu của con người. Một số sao Thần Sát thường dùng như: (1) Thiên Ất Quý Nhân (天乙貴人), người gặp sao này thì có duyên với mọi người, với người lớn hơn mình, với người khác phái, thích xã giao. (2) Thiên Y (天醫), người gặp sao này thì có năng lực rất mạnh như học tập, lý giải, quán sát, mô phỏng, tâm hiếu kỳ, tâm nghiên cứu, trực giác, v.v. (3) Thiên Đức (天德), người gặp sao này thì có tài trí mưu lược xuất sắc, tâm vinh dự cao, năng lực lớn, phàm mọi việc gặp hung dữ hóa thành tốt, được quý nhân giúp đỡ. (4) Nguyệt Đức (月德), người gặp sao này thì có duyên với mọi người, xã giao, tâm cung kính, tâm trách nhiệm, năng lực thích ứng cao. (5) Nguyệt Đức Hợp (月德合), người gặp sao này thì có năng lực quán sát, đối ứng, bàn chuyện kinh doanh rất mạnh. (6) Phước Tinh (福星), người gặp sao này thì trong đời này có tiền tài dư dật, kinh tế không bao giờ gặp nguy cơ, có quý nhân giúp đỡ, thường có phước, có năng lực làm thân, kết duyên lành với mọi người. (7) Văn Xương (文昌), người gặp sao này thì có năng lực viết lách, văn nghệ, học tập. (8) Tam Kỳ Quý (三奇貴), người gặp sao này thì có năng lực học tập tinh chuyên, sức tập trung mạnh, đầu óc làm việc linh mẫn, cơ trí nhạy bén, dễ thành nhân tài có kỹ năng chuyên nghiệp, như công trình sư, nhà tư vấn, v.v. (9) Lục Tú (六秀), là ngôi sao có năng lực viết văn trác việt, người gặp sao này thì có năng lực học tập, tư duy rất mạnh, thuộc nhà nghệ thuật ở trạng thái tĩnh như họa sĩ, nhà thư pháp, sáng tác khúc từ, v.v. (10) Thập Linh Nhật (十靈日), là ngôi sao thuộc về tôn giáo, người gặp sao này thì có trực giác linh nhuệ, khéo quán sát lời nói, nhìn sắc mặt người, năng lực lãnh ngộ, khéo hiểu ý người, v.v. (11) Khôi Cương (魁罡), người gặp sao này thì về ăn uống nên thận trọng, chớ ăn thịt bò, chó; duyên hôn nhân rắc rối, tai tiếng, có đủ tinh thần độc lập tự chủ, năng lực tổ chức mạnh. (12) Học Đường (學堂), người gặp sao này thì có năng lực bắt chước, sáng tác, tưởng tượng, lý giải. (13) Học Sĩ (學士), người gặp sao này thì có tâm nghiên cứu, lòng hiếu kỳ, muốn tìm hiểu, có năng lực học thuộc lòng, nhớ dai. (14) Kim Quỹ (金匱), người gặp sao này thì có đầy đủ năng lực sáng tác, lãnh ngộ, cầm quyền, quyết đoán, quy hoạch. (15) Tấn Thần (進神), người gặp sao này thì có ý thức chủ quan rất mạnh, kiêu ngạo, tự phụ, không chịu phục tùng bất cứ ai, nóng nảy. (16) Lộc Thần (祿神), người gặp sao này thì có thân thể tráng kiện, tinh thần vững mạnh, sức chiến đấu bền bỉ, cả hai vợ chồng đều tạo nên sự nghiệp vẻ vang. (17) Bối Lộc (背祿), đại diện cho những người xem thường tổ tiên, ly hương biệt xứ, không được hưởng phúc ấm của tổ tông. (18) Kiến Lộc (建祿:代表建功立業白手自足,不得雙視庇蔭,不宜合夥生意), đại diện cho những người tạo công lập nghiệp tay trắng một mình, không được phúc ấm của song thân. (19) Chuyên Lộc (專祿), đại diện cho những người thân thể tráng kiện, tinh thần vững mạnh, sức chiến đấu bền bỉ, cả hai vợ chồng đều tạo nên sự nghiệp vẻ vang. (20) Quy Lộc (歸祿), đại diện cho những người giao tế rộng rãi, tài lộc đầy đủ, tránh chuyện vay mượn, có thể tránh kiện tụng. (21) Hoa Cái (華蓋), người gặp sao này thì có tâm cầu học, tự động tìm tòi, tự ngộ để đạt đến kết quả cao, có thiên tánh về mỹ thuật, thiết kế, trang hoàng, âm nhạc; về phương diện văn học thì rất hứng thú và có thiên tài; đây là ngôi sao chỉ chuyên về nghệ thuật, tôn giáo, nên có tánh nghiên cứu, muốn tìm cầu, năng lực học tập, tính chất mẫn cảm. (22) Cô Thần (孤辰), người gặp sao này thì có tánh cách cô đơn, trầm mặc, không nói nhiều, tâm trong sạch, ít ham muốn, thường an phận, không có tâm cầu tiến. (23) Quả Tú (寡宿), người gặp sao này thì có duyên với người khác phái rất ít, duyên hôn nhân cũng mong manh, chủ nghĩa độc thân. (24) Nguyên Thần (元辰), là sao hao tổn, miệng tiếng. (25) Kim Dư (金輿), là sao về tài của cùng với quan hệ phối ngẫu, được hỗ trợ về chuyện phối ngẫu, kỹ thuật. (26) Kim Tinh (金星), người gặp sao này thì anh minh, trí tuệ, dũng cảm, quả quyết, kiên nhẫn, cương nhu đều có đủ, chú trọng vinh dự, quyền uy. (27) Thiên Xá (天赦), người gặp sao này thì một đời bị kiện tụng cửa quan, lao ngục, tai hại ngoài ý muốn, một đời thường đều có thể gặp xấu hóa tốt, có kinh động nhưng không nguy hiểm. (28) Phước Tinh (福星), người gặp sao này thì có quý nhân tương trợ, kinh tế phát triển, một đời tài lộc, ăn uống sung túc, có duyên xã giao, năng lực kết duyên lành. (29) Tướng Tinh (將星), người gặp sao này thì hiển đạt về quan quyền, có thể nắm quyền bính trong tay, có năng lực quản lý, quyết đoán, cơ trí. (30) Dịch Mã (驛馬), là sao đổi dời, đi xa, biến động. (31) Âm Dương Sát (陰陽煞), người gặp sao này thì nên tiến hành duyên hôn nhân chậm, không nên sớm, mới có thể trừ được lo âu thay đổi chuyện hôn nhân, nên thận trọng trong việc giao tế với người khác phái, mới có thể tránh được chuyện thị phi, tranh giành. (32) Kiếp Sát (劫煞), người gặp sao này thì có cơ trí linh mẫn, phản ứng nhạy bén, tâm háo thắng. (33) Quải Kiếm Sát (掛劍煞), người gặp sao này thì dễ mắc phải các bệnh tật về gân cốt, đường ruột, cơ quan vận động, v.v., hằng ngày nên đề phòng các vật kim loại bén nhọn, vật nguy hiểm gây thương tích; dễ bị thương tích đánh đập, ngã quỵ, té xuống đất. (34) Câu Giao (勾絞), là sao phiền phức về chuyện cảm tình, hôn nhân. (35) Đào Hoa (桃花), đại diện cho sức hấp dẫn, thu hút, năng lực thưởng thức, trang sức, có duyên xã giao. (36) Thiên Hỷ (天喜), là sao vui sướng, như ý, có cảm giác thâm sâu, năng lực hòa đồng, tình người. (37) Hồng Diễm (紅艷), là sao nghệ thuật lãng mạn, có đủ năng lực thưởng thức, thiết kế trang phục, trang hoàng, có duyên với người khác phái. (38) Hồng Loan (紅鸞), người gặp sao này thì có duyên với người khác phái, tư tưởng lãng mạn, có năng lực phối hợp sắc màu nghệ thuật tranh tĩnh vật. (39) Lưu Hà (流霞), người gặp sao này thì trong quá trình sinh sản dễ gặp nguy hiểm, lưu sản, dễ mắc bệnh tuần hoàn huyết dịch về tim mạch. (40) Vong Thần (亡神), là sao ẩn tàng, không lộ hiện tung tích, người gặp sao này thì giỏi về mưu lược, vui, buồn, tức giận đều không thể hiện ra ngoài sắc mặt. (41) Dương Nhận (羊刃), là sao về chức võ, chủ yếu người gặp sao này thì có tâm háo thắng, không chịu khuất phục, dõng mãnh, đảm đương, lanh lẹ. (42) Huyết Nhận (血刃), là sao thương tích ngoài ý muốn, bất ngờ, người gặp sao này thì hằng ngày nên thận trọng về bỏng lửa, thương tích đánh đập, các vật kim loại, bén nhọn, chú ý về giao thông. (43) Phi Nhận (飛刃), là sao gặp công kích bất ngờ, tranh tụng, thị phi. (44) Cách Giác (隔角), là sao chủ về việc kiện tụng cửa quan, miệng tiếng, thị phi; nếu gặp Hình Xung (刑沖) thì ắt sẽ có tai họa về kiện tụng, lao ngục. (45) Không Vong (空亡), kim loại rỗng thì kêu to, lửa trống thì sẽ phát lớn, cây rỗng thì mục, đất rỗng thì lỡ sụt; người gặp sao này thì vô duyên với thân thích, nên tinh tấn tu hành. Ngoài ra, còn có 12 ngôi sao Thần Sát, được gọi là Lưu Niên Tuế Số Thập Nhị Thần Sát (流年歲數十二神煞), lưu hành trong 12 tháng, gồm: (1) Thái Tuế (太歲), có câu kệ rằng: “Thái Tuế đương đầu tọa, chư thần bất cảm đương, tự thân vô khắc hại, tu dụng khốc đa dương (太歲當頭坐、諸神不敢當、自身無剋害、須用哭爹娘, Thái Tuế ngay đầu tọa, các thần chẳng dám chường, tự thân không nguy hại, nên thương khóc mẹ cha).” Sao này có công năng đè ép các sao Thần Sát, người gặp sao này nếu gặp vận thì xấu nhiều tốt ít, chủ yếu gặp tai nạn bất trắc, nên làm việc phước thiện. (2) Thái Dương (太陽), có câu kệ rằng: “Thái Dương cát tinh chiếu, cầu tài ngộ trân bảo, âm dương hữu hòa hợp, định cảm phước lai bảo (太陽吉星照、求財遇珍寶、陰陽有和合、定感福來保, Thái Dương sao tốt chiếu, cầu tài gặp của báu, âm dương có hòa hợp, tất có phước đến nhà).” Người gặp sao này chủ yếu chiếu sáng hóa tốt, lấy lễ đãi người, thông minh cần mẫn, có chuyện vui giáng lâm. (3) Tang Môn (喪門), câu kệ là: “Tang Môn tối vi hung, hiếu phục trùng trùng phùng, phá tài tinh ngoại hiếu, nùng huyết kiến tai nghinh (喪門最爲凶、孝服重重逢、破財幷外孝、濃血見災迎, Tang Môn thật rất hung, tang phục lại trùng phùng, phá tài thêm bất hiếu, máu chảy thấy tai ương).” Người gặp sao này chủ yếu có đám tang, khóc lóc, hiếu sự hay hung tai, bị trộm cướp, con nhỏ sợ bị mất mạng vì xe cộ. (4) Thái Âm (太陰), câu kệ là: “Thái Âm nhập mạng lai, thiêm hỷ hựu tấn tài, quý nhân tương tiếp dẫn, canh tác ngộ tài phong (太陰入命來、添喜又進財、貴人相接引、耕作遇財豐, Thái Âm gặp mạng này, thêm vui lại có tài, quý nhân thường giúp đỡ, canh tác gặp của hay).” Sao này chủ yếu tích tụ tài của hoặc thuộc loại ngũ quỷ đem tài của đến, người gặp sao này kinh doanh rất tốt, mỗi ngày càng phát tài, rất hợp với người nữ. (5) Quan Phù (官符), có câu kệ là: “Quan Phù nhập mạng hung, khẩu thiệt quan ty trùng, phá tài kiêm ngoại hiếu, tác phước đảo thương cùng (官符入命凶、口舌官司重、破財兼外孝、作福禱蒼窮, Quan Phù gặp mạng hung, miệng tiếng chốn quan trường, phá tài thêm bất hiếu, làm phước cầu khắp cùng).” Người gặp sao này thường gặp kẻ tiểu nhân, tất gây ồn ào nơi cửa quan, chọn bạn nên cẩn thận, nên khuyên kẻ tiểu nhân làm phước. (6) Tử Phù (死符), bài kệ rằng: “Tử Phù nhập mạng lai, hiếu phục trùng trùng phùng, phụ mẫu thê nhi khắc, tác phước miễn tai ương (死符入命來、孝服重重逢、父母妻兒剋、作福免災殃, Tử Phù gặp mạng đây, tang phục lại chất chồng, mẹ cha vợ con khắc, làm phước miễn tai ương).” Sao này chủ yếu có tai họa đột xuất như hình phạt của quan ty, bệnh tật, tranh đấu, phá tài, v.v. Người gặp sao này nên thận trọng khi đi băng qua khe nước, nên tìn đường vòng mà đi. (7) Tuế Phá (歲破), bài kệ rằng: “Tuế Phá nhập mạng lai, nhật nguyệt phá tiền tài, lục súc hữu tổn thất, hợp gia vĩnh vô tai (歲破入命來、日月破錢財、六畜有損失、合家永無災, Tuế Phá gặp mạng đây, trời trăng phá tiền tài, gia súc có tổn thất, cả nhà hết ương tai).” Tuế Phá có nghĩa là xung phá Thái Tuế, chủ yếu làm hao phá tài vật cũng như trong nhà nhiều tai họa kéo dài trong nữa năm. (8) Nguyệt Đức (月德), bài kệ rằng: “Nguyệt Đức nhập mạng lai, tứ quý tấn hoành tài, tại gia dã vô sự, xuất lộ dã vô tai (月德入命來、四季進橫財、在家也無事、出路也無災, Nguyệt Đức gặp mạng đây, bốn mùa thêm tiền tài, trong nhà cũng vô sự, ra đường chẳng hung tai).” Sao này chủ yếu là đức của người lớn, được gọi là Long Đức (龍德), nhờ bố thí, làm việc thiện tạo lợi lạc, trăm việc gặp xấu hóa thành tốt. (9) Bạch Hổ (白虎), bài kệ rằng: “Bạch Hổ khiếu nhai nhai, nhân đinh tổn huyết tài, ngưu sự tài quá khứ, mã sự hựu tấn lai (白虎叫涯涯、人丁損血財、牛事才過去、馬事又進來, Bạch Hổ kêu hoài hoài, người thêm tổn tiền tài, chuyện trâu về quá khứ, chuyện ngựa lại về đây).” Sao này chủ yếu có tai họa về tang lễ, phá tài, họa về xe cộ, thương tật; nếu có hóa giải thì sẽ nhẹ bớt; nếu không hóa giải thì quá xấu. (10) Phước Đức (福德), bài kệ rằng: “Phước Đức nhập mạng du, niên nguyệt tấn tứ ngưu, thiêm hộ tinh tấn khẩu, tài hỷ lưỡng toàn chu (福德入命遊、年月進四牛、添戶並進口、財喜兩全週, Phước Đức đến mạng chơi, năm tháng tăng bò trâu, thêm nhà lại thêm người, tài vui cả hai tròn).” Sao này chủ yếu tốt đẹp, hanh thông, vui vẻ, có thiên tướng, được trời phù hộ, đến đâu gặp xấu hóa tốt, đại thành công. (11) Điếu Khách (吊客), bài kệ rằng: “Điếu Khách nhập mạng hung, nội ngoại hiếu phục phùng, quan tai tinh nùng huyết, tiểu khẩu đa tao độn (吊客入命凶、內外孝服逢、官災並濃血、小口多遭迍, Điếu Khách đến mạng hung, trong ngoài tang phục chung, tai vạ máu loang chảy, thận trọng miệng tiếng tăm).” Sao này chủ yếu về tang phục, chuyện hung tai, bệnh tật, lo buồn khóc than, trộm cắp, tai nạn về cốt nhục. (12) Bệnh Phù (病符), bài kệ rằng: “Bệnh Phù nhập mạng hung, hiếu phục trùng trùng phùng, phụ phục hữu hình khắc, tác phước miễn tai ương (病符入命凶、孝服重重逢、父服有刑剋、作福免災殃, Bệnh Phù đến mạng hung, tang phục lại trùng phùng, thân phụ mang hình phạt, làm phước miễn tai ương).” Sao này chủ yếu bệnh kéo dài lâu, trong một năm hay vài tháng, kỵ thấy xe tang hoặc ăn các đồ tang lễ, nên cúng tế thì có thể giải được.

thần sắc

Appearance—Aspect.

Thần Thanh

(神清, Shinsei, ?-820): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, người vùng Xương Minh (昌明, thuộc Chương Minh, Tứ Xuyên), họ Chương (章), tự Linh Dữu (靈庾). Lúc nhỏ ông học Nho điển, nghe nhiều, nhớ kỹ, rất rành về thi văn, sau lớn lên xuất gia ở Khai Nguyên Tự (開元寺) vùng Miên Châu (緜州, thuộc Miên Dương, Tứ Xuyên), chuyên tâm nghiên cứu kinh luận. Về sau ông vào làm việc trong Đại Nội, rất được đãi ngộ. Đến cuối đời ông từ chức trở về núi ẩn tu, sống tại Huệ Nghĩa Tự (慧義寺) vùng Tử Châu (梓州, thuộc Tam Đài, Tứ Xuyên), chuyên tâm giảng diễn và trước tác. Đến năm thứ 15 niên hiệu Nguyên Hòa (元和), ông thị tịch, không rõ hưởng thọ bao nhiêu tuổi. Trước tác của ông có hơn 10 loại như Pháp Hoa Huyền Tiên (法華玄箋), Thích Thị Niên Chí (釋氏年誌), Bắc Sơn Tham Huyền Ngữ Lục (北山參玄語錄), v.v.

thần thanh

(神清) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người ở Xương minh (Chương minh, Tứ xuyên), họ Chương, tự là Linh dữu. Thủa nhỏ, sư học Nho, nghe nhiều, nhớ dai, giỏi văn thơ. Sư xuất gia ở chùa Khai nguyên tại Miên châu (Miên dương, Tứ xuyên) lúc tuổi trưởng thành, ra sức học kinh luận, sử truyện. Sau, nhờ tài văn chương mà sư làm quan trong đại nội, rất được ưu đãi. Lúc tuổi già, sư từ quan trở về núi xưa, trụ chùa Tuệ nghĩa ở Tử châu (Tam đài, Tứ xuyên), chuyên việc giảng thuyết và trứ tác. Năm Nguyên hòa 15 (820), sư tịch, không rõ tuổi thọ. Sư có các tác phẩm: Pháp hoa huyền tiên, Thích thị niên chí, Bắc sơn tham huyền ngữ lục, tất cả hơn 10 loại.

thần thiệt

Lips and tongue.

thần thoại

Myth

thần thuật

Magic.

thần thái

(神泰) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường. Lúc đầu, sư trụ ở chùa Phổ cứu tại Bồ châu, đến tháng 6 năm Trinh quán 19 (645) đời vua Thái tông nhà Đường, ngài Huyền trang bắt đầu dịch kinh ở chùa Hoằng phúc tại kinh đô, sư cùng với 11 vị tăng khác như ngài Linh nhuận... cùng đến dịch trường, làm chức vụ chứng nghĩa. Năm Hiển khánh thứ 2 (657), vua ban sắc cho sư trụ chùa Tây minh. Tháng 4 năm sau, vua ban sắc triệu 7 vị thuộc Phật giáo và Đạo giáo vào cung Hợp bích để biện luận với nhau, sư lập ra Cửu đoạn tri nghĩa đã phá đổ luận thuyết của Đạo sĩ. Về sau, sư lại trụ ở chùa Thê nghiêm và chùa Đại từ ân ở Bồ châu. Sư có các tác phẩm: Câu xá luận sớ, 20 quyển (có thuyết nói 30 quyển), Nhiếp đại thừa luận sớ, 20 quyển, Chưởng trân luận sớ, 2 quyển, Quán sở duyên duyên luận sớ, 1 quyển, Đạo phẩm chương, 1 quyển, Thập nhị duyên khởi chương, 1 quyển. Trong đó Câu xá luận sớ cùng với 2 bộ sớ của các ngài Phổ quang, Pháp bảo được gọi chung là Câu xá tam đại sớ, nhưng rất tiếc không còn đầy đủ, hiện nay chỉ còn 7 quyển mà thôi. [X. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.6, 8; Khai nguyên thích giáo lục Q.8].

thần thánh

Sacred—Deities and saints.

Thần thông

(s: abhijñā, p: abhiññā, 神通): âm dịch là Tác Tuần (作旬); ý dịch là thần thông lực (神通力), thần lực (神力), thông lực (通力), thông (通), v.v.; nghĩa là nương vào việc tu tập Thiền định mà đạt được tác dụng tự tại vô ngại, siêu việt con người, không thể nghỉ bàn. Có 5 loại thần thông (Ngũ Thần Thông [五神通], Ngũ Thông [五通]) là Thần Túc Thông (神足通), Thiên Nhãn Thông (天眼通), Thiên Nhĩ Thông (天耳通), Tha Tâm Thông (他心通), Túc Mạng Thông (宿命通). Nếu cọng thêm Lậu Tận Thông (漏盡通) thì trở thành Lục Thần Thông (s: ṣaḍ-abhijñāḥ, 六神通, hay Lục Thông [六通]). Ngoài ra, cũng có khi chỉ riêng Thần Túc Thông là thần thông. Theo A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (阿毘達磨俱舍論, Taishō Vol. 29, No. 1558) quyển 27, Lục Thông thì lấy tuệ (慧) làm bản chất (tự tánh); trong đó Ngũ Thần Thông nhờ tu Tứ Thiền (s: catvāri dhyānāni, p: cattāri jhānāni, 四禪) mà chứng được; không phải chỉ có bậc Thánh mới chứng đắc, mà ngay cả phàm phu cũng có thể chứng được. Tuy nhiên, đối với trường hợp Lậu Tận Thông thì chỉ có bậc Thánh mới có được. Theo Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 28, Bồ Tát có Ngũ Thông, Phật thì có Lục Thông. Thành Thật Luận (成實論, Taishō Vol. 32, No. 1646) quyển 16 còn cho biết rằng ngoài Phật Giáo ra, ngoại đạo cũng có thể đạt được Ngũ Thông. Vị tiên chứng đắc được Ngũ Thông được gọi là Ngũ Thông Tiên Nhân (五通仙人). Đại Thừa Nghĩ Chương (大乘義章, Taishō Vol. 44, No. 1851) quyển 20 có nêu lên 4 phương pháp đạt được thần thông. (1) Nhờ quả báo sanh lên cõi Thiền thứ tư mà đạt được Báo Thông (報通, thần thông có được nhờ quả báo); (2) Tiên nhân nhờ năng lực của thuốc, có được Nghiệp Thông (業通, do nghiệp mà đạt được năng lực thần thông) tự do bay trên không. (3) Bà La Môn nhờ trì chú mà đạt được Chú Thông (咒通); (4) Nhờ tu Thiền định mà chứng được thần thông gọi là Tu Thông (修通). Trong đó, Nghiệp Thông và Chú Thông thuộc về thần thông của ngoại đạo. Tông Kính Lục (宗鏡錄, Taishō Vol. 48) quyển 15 lại chia thần thông làm 5 loại khác: (1) Đạo Thông (道通), là thần thông đạt được sau khi ngộ lý Trung Đạo (s: madhyamā-pratipad, p: majjhima-paṭipadā, 中道), lấy vô tâm để ứng với muôn vật mà biến hiện vạn hữu. (2) Thần Thông (神通), là năng lực thần thông nương vào sự tĩnh tâm của Thiền định, quán sát tư duy mà biết được mạng sống đời trước, v.v. (3) Y Thông (依通), là năng lực thần thông nương vào dược liệu, hộ phù hay chú, v.v., mà có được. (4) Báo Thông (報通), là năng lực thần thông nương vào quả báo mà có được. (5) Yêu Thông (妖通), là năng lực thần thông của hàng yêu quái. Trong Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 12, chương Khiết Bàn Đà Quốc (朅盤陀國), của Huyền Trang (玄奘, 602-664) nhà Đường, có đoạn: “Thời Khiết Bàn Đà quốc, hữu đại La Hán, diêu quán kiến chi, mẫn kỳ nguy ách, dục vận thần thông, chửng tư luân nịch (時朅盤陀國、有大羅漢、遙觀見之、愍其危厄、欲運神通、拯斯淪溺, lúc bấy giờ ở nước Khiết Bàn Đà, có một vị đại La Hán, xa quán thấy như vậy, thương xót tai ách của họ, muốn vận thần thông, cứu vớt sự chìm đắm ấy).” Vua Lý Nhân Tông (李仁宗, tại vị 1072-1127) có bài thơ rằng: “Giác Hải tâm như hải, Thông Huyền đạo hựu huyền, thần thông kiêm biến hóa, nhất Phật nhất thần tiên (覺海心如海、通玄道又玄、神通兼變化、一佛一神仙, Giác Hải tâm như hải, Thông Huyền đạo lại huyền, thần thông và biến hóa, bên Phật bên thần tiên).” Hay trong bài Lục Quán Đường Tán (六觀堂贊) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống có câu: “Ngã quán chúng sanh, thần thông tự tại (我觀眾生、神通自在, ta quán chúng sanh, thần thông tự tại).” ; 神通; S: ṛddhi; P: iddhi; cũng được gọi là Như ý thông, Thần túc thông;|Thần thông siêu nhiên, một trong Lục thông (sáu thắng trí). Người ta hiểu thần thông với các khả năng như sau: năng lực biến ra nhiều người, lấy dạng hình người khác, tàng hình, xuyên qua đất đá, đi trên nước, rờ mặt trời mặt trăng, đến những tầng trời cao nhất, cứu độ người đang hiểm nguy… Những khả năng này được xem là kết quả phụ của các phép tu thiền định. Tuy nhiên tăng, ni không được dùng các khả năng này để biểu diễn hay lạm dụng. Phạm những quy định này có thể bị loại ra khỏi Tăng-già.

thần thông

Abhijna (skt)—Abhinna (p)—Sức mạnh kỳ diệu bao gồm sự hiểu biết, kỹ xảo, thông minh, trí nhớ, vân vân. Thần thông là những thứ mà sự tưởng tượng của xã hội văn minh trần tục hiện nay cho là phi thường, hay những thứ mà sự tưởng tượng trong các tôn giáo phương tây cho là siêu nhiên; thần lực đạt được bằng trí tuệ sáng suốt, được thấy qua Kinh A Di Đà, và không thể nghĩ bàn—Miracle powers include knowing, skillful, clever, understanding, conversant with, remembrance, recollection. Miracles mean ubiquitous supernatural power, psychic power, high powers, supernormal knowledges, or superknowledge. Miraculous Powers are what the Western religious imagination would regard as miraculous or supernatural, attainable only through penetrating insight, as seen in the two Amitabha Sutras as inconceivable—Supernatural science or faculty of a Buddha: 1) Thiên nhãn thông: Dibba-cakkhu—Khả năng thấy không ngăn ngại, thấy chúng sanh biến mất rồi xuất hiện, ti tiện và cao quý, đẹp xấu, tùy theo nghiệp lực của họ—Seeing to any distance—Ability to see without hindrances. Ability to see beings vanishing and reappearing, low and noble ones, beautiful and ugly ones, seeing beings are reappearing according to their deeds (karma). 2) Thiên nhĩ thông: Dibba-sota—Khả năng nghe được âm thanh của trời và người, xa hay gần—Hearing to any distance—Ability to hear sound both heavenly and human, far and near. 3) Tha tâm thông: Ceto-pariya-nana—Khả năng xuyên suốt tâm trí của người khác. Người nầy nhìn biết tâm tham, tâm sân, tâm mê mờ, cũng như tâm đắm nhiễm, tâm phát triển, tâm tập trung tâm giải thoát của người khác, hay ngược lại—Penetrating men's thoughts—Ability to know the minds of other beings, by penetrating them with one's own mind. This person knows the greedy mind, hate mind and deluded mind, shrunken and distracted mind, developed mind and free mind of others or vice sersa. 4) Thần túc thông: Iddhi-vidha—Khả năng đi xuyên qua tường vách, núi non, cũng như đi trên không, trên nước mà không chìm như đi trên đất—Magical powers—Taking any form at will—Ability to pass through walls and mountains, just as if through the air—Ability to walk on the water without sinking, just as if on the earth. 5) Lậu tận thông: Asavakhaya—Khả năng hủy diệt phiền não ngay trong đời nầy kiếp nầy bằng trí tuệ—Ability to extinct all cankers (afflictions) in this very life, extinction of cankers through wisdom. 6) Túc mạng thông: Pubbe-nivasanus-sati (skt)—Khả năng nhớ lại tiền kiếp, có thể từ một đến năm hay một trăm, một ngàn đời—Knowing their state and antecedents—Ability to remember former existences, may be from one to five or even to hundred or thousand births ; (神通) Phạm:Abhijĩà. Pàli:Abhiĩĩà. Hán âm: Tuần. Cũng gọi Thần thông lực, Thần lực, Thông lực, Thông. Năng lực siêu nhân, tự tại vô ngại không thể nghĩ bàn do tu thiền định mà được. Thần thông gồm có 5 thứ(Ngũ thông, Ngũ tuần, Ban đầu tuần)là Thần túc thông, Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông và Túc mệnh thông, nếu thêm Lậu tận thông nữa thì thành 6 thần thông (Lục thông). Ngoài ra, cũng đặc biệt chỉ cho Thần túc thông là Thần thông. Nói một cách rõ ràng hơn thì Lục thông là: 1. Thần túc thông(cũng gọi Thần cảnh trí chứng thông, Thần cảnh thông, Thân như ý thông, Như ý thông, Thân thông): Theo luận Đại trí độ quyển 5, 28 thì Thần túc thông có 3 thứ: a. Năng đáo(đi như bay): Theo ý muốn có thể đến bất cứ nơi nào. b. Chuyển biến(biến hóa): Thay đổi tướng trạng theo ý muốn. c. Thánh như ý(tùy ý tự tại): Chuyển biến các đối cảnh (6 cảnh) của thế giới bên ngoài theo ý muốn. Trong đó, loại thứ 3 chỉ riêng Phật mới có. 2. Thiên nhãn thông (cũng gọi Thiên nhãn trí chứng thông, Thiên nhãn trí thông): Tác dụng thấy suốt tất cả các việc xa gần, khổ vui, thô tế ở thế gian. 3. Thiên nhĩ thông(cũng gọi Thiên nhĩ trí chứng thông, Thiên nhĩ trí thông): Tác dụng nghe được tất cả âm thanh ở thế gian. 4. Tha tâm thông(cũng gọi Tha tâm trí thông, Tri tha tâm thông): Tác dụng có năng lực(năng lực biết rõ tâm người khác)biết rõ tất cả việc thiện ác mà người khác nghĩ tưởng trong tâm. 5. Túc mệnh thông(cũng gọi Túc trụ tùy niệm trí chứng thông, Túc trụ trì thông, Thức túc mệnh thông): Tác dụng có sức rõ suốt tất cả trạng thái sinh tồn của mình và người khác trong đời quá khứ. 6. Lậu tận thông(cũng gọi Lậu tận trí chứng thông): Năng lực giác ngộ dứt hết sạch các phiền não, vĩnh viễn không còn tái sinh trong cõi mê. Trong 6 thông trên đây, 3 thông (Túc mệnh thông, Thiên nhãn thông, Lậu tận thông) của Phật và A la hán rất thù thắng, cho nên gọi là Tam minh. Thiên nhãn(mắt trời) là năng lực thần thông thấy suốt thời gian sinh tử của chúng sinh và các loại tình huống ở đời vị lai, gọi là Sinh tử trí chứng minh. Theo luận Câu xá quyển 27 thì 6 thần thông đều lấy Tuệ làm bản chất(tự tính), trong đó, 5 thần thông là nhờ tu Tứ thiền mà được, không phải chỉ riêng bậc Thánh mới có mà phàm phu cũng có thể có; nhưng Lậu tận thông thì chỉ bậc Thánh có được. Theo luận Đại trí độ quyển 28 thì Bồ tát chỉ có 5 thần thông, Phật mới có đủ 6 thần thông. Luận Thành thực quyển 16 cho rằng, ngoài Phật giáo ra, ngoại đạo cũng có 5 thần thông. Những Tiên nhân được 5 thần thông gọi là Ngũ thông tiên nhân. Ngoài ra, sức thần thông của quỉ súc hoặc chư thiên cũng được chia ra 2 loại là Sinh đắc(sinh ra đã có) và Tu đắc(nhờ tu Thiền định mà được). Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 20, phần đầu, có 4 phương pháp chứng được thần thông là: 1. Báo thông: Do quả báo sinh về cõi trời Tứ thiền mà tự nhiên được. 2. Nghiệp thông (sức thần thông do nghiệp mà có): Các người tiên nhờ năng lực của thuốc(tiên dược)mà tự do bay đi trong hư không. 3. Chú thông: Thần thông do Bà la môn nhờ vào sức trì chú mà được. 4. Tu thông: Nhờ tu thiền định mà được sức thần thông. Trong đó, Nghiệp thông và Chú thông là thần thông thuộc ngoại đạo. Tông Kính lục quyển 15 chia Thông lực thành Ngũ chủng thông (Ngũ thông): 1. Đạo thông: Sức thần thông dùng vô tâm ứng vật, biến hiện ra vạn hữu sau khi giác ngộ lí Trung đạo. 2. Thần thông: Sức thần thông nhờ thiền định tĩnh tâm, tư duy quán xét mà biết được đời quá khứ... 3. Y thông: Sức thần thông nhờ vào thuốc, bùa hộ thân hoặc trì chú mà có. 4. Báo thông: Sức thần thông do quả báo của nghiệp mà được. 5. Yêu thông: Sức thần thông của loài yêu quái. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.34; phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Pháp hoa Q.5;kinh Đại tát ni kiển tử sở thuyết Q.7, 8; phẩm Thập thông trong kinh Hoa nghiêm Q.28 (bản dịch mới); luận Tập dị môn túc Q.15; luận Đại tì bà sa Q.70].

thần thông kim cang

See Hỏa Tụ Phật Đảnh.

thần thông lực

The resulting supernatural powers.

thần thông nguyệt

See Thần Túc Nguyệt ; (神通月) Cũng gọi Thần biến nguyệt, Thần túc nguyệt, Tam trường trai nguyệt. Chỉ cho tháng giêng, tháng 5 và tháng 9 hàng năm là 3 tháng trì trai tu thiện nên gọi là Tam trường trai nguyệt. Cứ theo Thích môn chính thống quyển 4 thì trong 3 tháng này, chư thiên dùng Thần túc thông đi tuần trong thiên hạ để xem xét các việc thiện ác của chúng sinh, vì thế, thời gian này nên giữ trai tịnh, làm các việc thiện để tu phúc đức có lợi cho quả báo về sau. Pháp uyển châu lâm quyển 88 trích dẫn thuyết trong kinh Đề vị nói rằng tháng giêng nên dùng tiểu dương sự khiến vạn vật sinh sôi nảy nở, tháng 5 dùng đại dương sự để nuôi lớn muôn vật và tháng 9 dùng tiểu âm sự để thu giấu vạn vật, đó đều là theo đạo khí tự nhiên mà sinh ra và tàn diệt. Trong thời gian 3 tháng này nếu trì trai tu thiện thì muôn vật cũng đồng cảm, được nhờ sự giúp ích lớn. Theo Phạm võng kinh sớ và Thích thị yếu lãm quyển hạ thì thời gian tháng giêng trời Đế thích dùng gương chiếu xuống châu Nam thiệm bộ soi xét các việc thiện ác của loài người; tháng 2, tháng 3 và tháng 4 thì chiếu soi 3 châu kia, đến tháng 5 lại chiếu Nam châu, tháng 6, tháng 7, tháng 8 chiếu xuống 3 châu còn lại, tháng 9 lại chiếu xuống Nam châu, vì thế tháng giêng, tháng 5 và tháng 9 nên trì trai tu thiện. Từ ngữ Tam trường trai nguyệt đã thấy rất sớm trong kinh Phạm võng quyển hạ, nhưng trong kinh chỉ nói trong 3 tháng này không được phạm các giới sát sinh, trộm cắp, phá trai, là vì trong thời gian này cần phải thụ trì giới thanh tịnh. Còn như các kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn quyển 2, kinh Quán đính quyển 12 và luận Đại trí độ quyển 13 đều nói giống nhau, nhưng không hề có thuyết Chư thiên dùng thần túc thông đi xem xét các việc thiện ác dưới nhân gian. Cho nên các học giả hiện đại chủ trương những điều được ghi trong Pháp uyển châu lâm, Thích môn chính thống và Thích thị yếu lãm có lẽ đã do chịu ảnh hưởng tư tưởng của Đạo giáo mà ra. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.12; điều Thiện nguyệt trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1].

thần thông quang

(神通光) Cũng gọi Viên quang, Hiện khởi quang, Phóng quang. Ánh sáng phát ra trên thân Phật, Bồ tát, thường hằng bất diệt, chẳng phải là ánh sáng tầm thường, cho nên gọi là Thần thông quang. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa (Đại 9, 2 trung) nói: Phật phóng ánh sáng từ sợi lông trắng ở giữa 2 đầu chân mày, chiếu soi 1 vạn 8 nghìn thế giới ở phương Đông. Trong luận Vãng sinh có từ ngữ Tướng hảo quang nhất tầm(Ánh sáng từ tướng tốt đẹp phóng ra một tầm) tức 8 thước Tàu, đó là luận theo Ứng thân Phật nên nói là ánh sáng một tầm; nếu nói theo Báo thân Phật thì ánh sáng không phải chỉ một tầm. Lại nữa, ánh sáng này chẳng phải chỉ có năng lực chiếu soi 10 phương mà còn biến hiện ra nhiều thứ, làm các Phật sự khiến cho chúng sinh được lợi ích. Thần thông quang gồm có nhiều loại, nếu phân biệt thì ánh sáng phát ra từ toàn thân Phật, gọi là Cử thân quang; ánh sáng phát ra từ một tướng hảo, gọi là Tùy nhất tướng quang; ánh sáng phát ra từ sợi lông trắng ở giữa 2 đầu chân mày, gọi là Bạch hào quang, Mi gian quang; ánh sáng phát ra từ lỗ chân lông gọi là Mao khổng quang; ánh sáng phátratừ 2 bên cổ gọi là Viên quang; còn ánh sáng phát ra từ trên thân của Phật, Bồ tát thì gọi chung là Thân quang, Sắc quang, Ngoại quang, Thần thông quang. [X. luận Đại trí độ Q.8, 34; Vãng sinh yếu tập Q.trung].

thần thông thừa

Tên gọi Chân Ngôn giáo, tức thừa giáo dựa vào sức gia trì thần biến của Như Lai—The supernatural or magic vehicle, i.e. the esoteric sect or Shingon. ; (神通乘) Chỉ cho Mật giáo. Giáo pháp Tam mật có năng lực nhanh chóng cho nên ví dụ gọi là Thần thông thừa. Mục đích của Phật giáo là vượt qua biển sinh tử, đạt đến cảnh giới giải thoát, vì thế, nếu dùng giáo pháp để phân biệt thì Nhị thừa có thể dụ là xe dê, Đại thừa Hiển giáo có thể ví dụ là xe ngựa; so sánh với 2 loại xe trên thì Mật giáo có thể được gọi là Thần thông thừa (xe thần thông). Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 579 hạ) nói: Ngài Long thụ cho rằng như người đi xa, nếu ngồi xe do dê kéo thì lâu mới đến, nếu ngồi xe do ngựa kéo thì đi nhanh hơn; nhưng nếu dùng xe thần thông thì chỉ trong nháy mắt đã đến chỗ mình muốn.

thần thông tự

(神通寺) Chùa ở cách huyện Tế nam, tỉnh Sơn đông, Trung quốc, khoảng 46km, về phía đông nam. Vào niên hiệu Hoằng thủy năm đầu (351) đời Tiền Tần, ngài Tăng lãng dời đến núi Thái sơn, kết giao với ẩn sĩ Trương trung. Không bao lâu, vua nhà Tần là Phù kiên ban chiếu vời Trương trung, Trương trung vâng mệnh về kinh, nhưng đến núi Hoa âm thì qua đời. Ngài Tăng lãng bèn cất tinh xá, làm thạch thất trong núi Côn luân thuộc hang Kim dư ở phía tây bắc Thái sơn, với vài mươi ngôi nhà trong ngoài, có hơn 100 người nghe tiếng tăm đến ở. Phù kiên, Mộ dung đức, Hiếu vũ đế nhà Tấn... đều kính ngưỡng đức hạnh của ngài Tăng lãng, Phù kiên muốn thỉnh sư, nhưng sư đều từ tạ không đi. Về sau, Mộ dung đức nhân danh là vua Đông Tề cấp cho sưthuế tô của 2 huyện, tiếng tăm của sư càng lừng lẫy. Người đương thời gọi hang núi Kim dư là Lãng công cốc(hang núi ông Lãng), gọi chùa là Lãng công cốc sơn tự. Thời Bắc Chu, chùa bị phá hủy, đến đời Tùy được xây dựng lại, đổi tên là Thần thông tự. Năm Trinh quán 15 (641), ngài Nghĩa tịnh được 7 tuổi, từng ở chùa này thị giả các ngài Thiện ngộ và Tuệ trí, được các ngài dạy dỗ. Về sau, sự thay đổi của chùa như thế nào thì không rõ, còn hiện nay đã hoang vắng, nhưng những di vật thời xưa thì còn rất nhiều, như tháp 4 mặt, tháp Lãng công, các tháp mộ của các vị Trụ trì qua các đời Kim, Nguyên và các bia Nguyên, Minh. Trong đó, tháp 4 mặt bằng đá được kiến trúc vào năm Vũ định thứ 2 (544) đời Đông Ngụy chỉ kém Thạch khuyết kiến trúc bằng đá vào đời Hán. Tháp Lãng công thường được gọi là tháp Long hổ, 4 mặt của cây trụ trong ruột tháp có khắc tượng Phật, có thuyết cho rằng tháp được kiến trúc vào thời Trung Đường, có thuyết lại nói vào cuối đời Đường. Còn trên sườn núi cheo leo lưng chừng núi ở mé tây chùa có Thiên Phật Nhai, khắc vài trăm pho tượng Phật bằng đá lớn nhỏ, là những tác phẩm khoảng đầu đời Đường. Lại có tượng Phậtdo vị tăng tên là Tháp bốn mặt ở chùa Thần Thông Tháp Lãng Công chùa Thần Thông Minh đức khắc tạo, trên có bài minh được khắc vào khoảng năm Trinh quán đời Đường. So với hang đá ở cácnúi Vân cương, Long môn, Thiên long... thì hang đá ở đây ít bị tổn hại hơn, rất được các thức giả kính trọng. [X. Lương cao tăng truyện Q.5; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Thái sơn chí; China Phật giáo sử tích bình giải Q.1].

thần thức

• Linh Hồn—Soul—The intelligent spirit—Consciousness—Incomprehensible or divine wisdom. • Về những vấn đề tâm lý học, Phật giáo không chấp nhận sự hiện hữu của một linh hồn được cho là chân thật và bất tử. Vô ngã áp dụng cho tất cả vạn hữu (sarva dharma), hữu cơ hay vô cơ: With regard to the psychological question, Buddhism does not admit the existenceof a soul that is real and immortal. Anatma or non-self refers to all things (sarva-dharma), organic and inorganic. • Theo Nhân Sinh, cũng không có linh hồn, không có cái ngã chơn thật nào là bất tử: In the case of human beings, there will accordingly to be no soul, no real self that is immortal. • Còn trong trường hợp chỉ chung cho vạn hữu, cũng không có bản thể, không có bản chất nào mà không biến dịch. Bởi vì không có một cách ngã chân thực theo không gian, nghĩa làkhông có thực thể, nên không bao giờ có thường hằng—While in the case of things in general, there will be no noumenon, no essence which is unchangeable. Because there is no real self spatially, i.e., no substance, there will be no permanent, i.e., no duration. Therefore, no bliss, is to be found in the world. ; (神識) Cũng gọi Linh hồn. Tâm thức của loài hữu tình linh thiêng mầu nhiệm không thể nghĩ bàn, cho nên gọi là Thần thức. Thần thức giới không thể dùng vật chất mà thấy được, cũng không đến được bằng thể vật chất, chỉ có thể dùng hành vi thể nhập để thể hiện. Kinh Lăng nghiêm quyển 8 (Đại 19, 144 trung) nói: Lúc lâm chung trước hết thấy lửa hừng khắp các thế giới trong 10 phương, thần thức người chết bay đi, theo khói mà rơi vào địa ngục Vô gián. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.7; kinh Đại bảo tích Q.109].

thần tiên

(A) Nghĩa của Thần Tiên—The meanings of Deities and immortals—Thần và Tiên—Spirit-rsis who roam the air—Spirit genii—Deities and immortals. (B) Năm loại Thần Tiên—Five kinds of Deities and immortals: 1) Thiên Tiên: Deva. 2) Thần Tiên: Spirit. 3) Nhân Tiên: Human immortals. 4) Địa Tiên: Earth or cave immortals. 5) Quỷ Tiên: Preta immortals.

thần tiên ngoại đạo

Extenalist deities and immortals.

thần tiên ngũ thông

Tức là những vị tiên nhân lánh mình vào núi, tu thiền định, được trường thọ và đắc năm phép thần thông: 1. Thiên nhãn thông, 2. Thiên nhĩ thông, 3. Túc mạng thông, 4. Tha tâm thông, 5. Thần túc thông. Tuy nhiên, ngũ thông này không đồng với ngũ thông của Phật và Bồ Tát.

thần tiên tư tưởng

(神仙思想) Chỉ cho tư tưởng thần bí của Trung quốc đời xưa. Người ta đều mong sống mãi không chết, từ đó mới có các sự tích về việc tu tiên, luyện thuốc. Theo khảo chứng, vào thế kỉ III trước Tây lịch thì tư tưởng thần tiên kết hợp với tín ngưỡng núi non đã lưu hànhởcác nơi tại Trung quốc, người ta có thể thấy thần tiên núi Côn luân trong Sở từ, tiên nhân núi Miểu cô xạ trong Trang tử. Tư tưởng này có nguồn gốc ở bán đảo Sơn đông, do Hải thị thẩn lâu(lâu đài do hơi loài sò sinh ra trên mặt biển) dọc theo bờ biển phía bắc mà nảy sinh. Theo Sử kí thì Uy vương và Tuyên vương nước Tề, Chiêu vương nước Yên trong thời đại Chiến quốc đều đã từng sai các phương sĩ(người học phép tiên và các thuật trừ tà) ra biển, tìm đến đảo Bồng lai, núi Tam thần để hái thuốc trường sinh bất tử. Từ đó về sau, các phương sĩ hoạt động mạnh mẽ, thuật trường sinh và thuyết luyện kim đan rất thịnh hành. Tần thủy hoàng và Hán vũ đế cũng từng sai sứ ra biển tìm tiên, nhưng không ai tìm được. Sau khi tín ngưỡng Tam thần sơn suy đồi thì chuyển sang tôn sùng Ngũ nhạc (5 quả núi cao tiêu biểu cho 5 phương ở Trung quốc, tức là Hành sơn nam nhạc, Hoa sơn tây nhạc, Trung sơn trung nhạc, Thái sơn đông nhạc và Hằng sơn bắc nhạc), đồng thời phát triển thành thuật trường sinh. Cát hồng đời Tấn tập đại thành tư tưởng này bằng cách soạn bộ Bão phác tử, trong đó bàn về thuật trường sinh như thuốc tiên, phép luyện kim đan, tịch cốc(không ăn các loại hạt cây như lúa, bắp...), Thai tức pháp(phương pháp hô hấp)... Bấy giờ có nhiều phần tử trí thức đối với tư tưởng thần tiên cũng có hứng thú, điều này có thể thấy qua Đào hoa nguyên kí của Đào uyên minh, Dưỡng sinh luận của Kê khang... Đến những năm cuối đời Đông Hán, Trương lăng kết hợp thuyết Thần tiên với thuyết Âm dương rồi dựa vào huyền lí của Đạo gia mà thành lập Đạo giáo, đồng thời cho rằng chân nhân của Đạo gia chính là thần tiên của Đạo giáo. Đến đây, thuyết Thần tiên đã dung hòa vào Đạo giáo. Thuyết Thần tiên từ đời Đường về sau phần nhiều phụ thuộc vào Đạo giáo.

thần triêu

Một trong ba thời trong ngày, buổi sáng—The morning period, the first of the three divisions of the day—See Tam Thời (A).

thần triều

(晨朝) Phạm:Pùrvàhịa. Pàli: Pubbaịha. Cũng gọi Thanh đán, Thần đán, Bình đán.Chỉ cho giờ Thìn, tức hiện nay khoảng 8 giờ sáng. Có thuyết cho rằng Thần triêu là từ giờ Mão đến giờ Tị, tức nay là khoảng từ 6 đến 10 giờ sáng, là 1 trong 6 thời. Trong các chùa viện, vào giờ này siêng tu Phật sự, gọi là Thần triêu, hoặc gọi là Thần khóa, Triêu khóa, Tảo khóa. Trong Vãng sinh lễ tán kệ của ngài Thiện đạo cho rằng Thần triêu là thời thứ 5 trong 6 thời.[X. kinh A di đà ; kinh Bát nhã lí thú; Tăng tàn pháp trong luật Ma ha tăng kì Q.6].

thần trí

Cái trí thông hiểu tất cả sự việc, từ vật chất đến phi vật chất—Spirit and intelligence—Spiritual wisdom—Divine wisdom which comprehends all things, material and immaterial. ; (神智) I. Thần Trí. Trí tuệ thấy suốt sự lí một cách tự tại vô ngại. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng Đại 12, 270 trung) nói: Thần trí rỗng suốt, uy lực tự tại. II. Thần Trí (1042-1091). Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Bắc Tống, người ở Bình dương, Ôn châu, họ Diệp, pháp danh Tòng nghĩa, tự Thúc đoan, thụy Thần trí. Sư xuất gia năm 8 tuổi, 17 tuổi, tụng kinh Pháp hoa được độ làm tăng, theo học ngài Phù tông Kế trung ở Tứ minh. Về sau, sư trụ các chùa: Đại vân, Chân bạch, Ngũ phong, Bảo tích, Diệu quả... người đến theo học rất đông. Trong các tập giải do sư chú thích bổ sung, sư ức đoán kinh Phật theo ý mình để nghị luận tông phái khác, như bàn về việc vọng phán Hoa nghiêm của ngài Hiền thủ, luận về việc chuyên dùng Duy thức của ngài Từ ân, bài bác sự hoang đường trong việc truyền thừa giữa 28 vị Tổ Thiền tông. Về già, sư trụ ở chùa Thọ thánh, phát huy tông phong rực rỡ. Tuy sư xuất thân từ phái Sơn gia nhưng lại khác với Sơn gia chính thống, dùng nghĩa của chính mình làm nòng cốt, cho nên người đời sau gọi sư là Hậu sơn ngoại. Năm Nguyên hựu thứ 6 (1091), sư tịch, hưởng dương 50 tuổi. Sư có các tác phẩm: Tam đại bộ bổ chú 14 quyển; Quang minh văn cú tân kí 7 quyển, Quán kinh sớ vãng sinh kí 4 quyển. [X. Thích môn chính thống Q.5; Phật tổ thống kỉ Q.22].

thần tài

The goddess of fortune.

thần tán thiền sư

Zen master Shen-Tsan—Thần Tán Thiền Sư là một trong những đệ tử nổi bậc của Thiền Sư Bách Trượng. Ngài xuất gia lúc tuổi còn nhỏ. Sau khi ngộ đạo với Tổ Bách Trượng , ngài còn vị bổn sư chưa thấu đạo (nhưng rất kiêu ngạo và không muốn nghe lời khuyên của đệ tử, vì nghĩ rằng đệ tử làm sao hơn thầy được). Vì thế ngài trở về quê tìm cách cảnh tỉnh bổn sư. Một hôm bổn sư đang ngồi xem kinh bên khung cửa, vì trời lạnh nên ông lấy giấy dán kín cửa lại. Thần Tán đi ngang thấy một con ong cứ bay đập vào tờ giấy để tìm lối ra, nhưng chui ra không được. Thần Tán đứng ngoài cửa sổ ngâm một bài kệ: “Không môn bất khẳng xuất Đầu song dã thái si Bách niên táng cố chỉ Hà nhật xuất đầu thì?” (Cửa không chẳng chịu ra Lại mê muội vùi đầu vào song cửa Trăm năm vùi đầu vào tờ giấy cũ ấy Cũng không có ngày nào ra được?) Zen master Shen-Tsan was one of the outstanding of Zen master Bai-Zhang. He left home to become a monk at the young age. After attaining enlightenment, he bid farewell to Master Bai-Zhang and returned to his home town hoping to help his former teacher (who was too proud to take advice from his student, as he thought disciples would never surpass their teacher) get awakened. One day, his old teacher was reading the sutra by the window. Because it was too cold outside, he sealed the window with paper. This incidentally entrapped a bee inside the room. When Shen-Tsan passed by the abbot's room and notice the bee banging itself against the taped window, trying to find its way out, he composed the following verses: “The gateless gate is there, Why don't you get out, how stupid of you! Even though you poke your nose into The old paper for hundreds of years, When can you expect to set free?”

thần tình

Marvellous—Miraculous.

thần tích

Story of a god.

thần tính

Divinity—Deity.

Thần Tú

(神秀, Jinshū, 605-706): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, xuất thân Huyện Úy Dân (尉民縣), Biện Châu (汴州, phía Nam Khai Phong, Hà Nam), họ Lý (李), thân cao 8 thước, mắt rộng mày dài, có đức tướng uy nghiêm. Theo bia văn của Trương Thuyết (張說), lúc nhỏ ông đã đọc các kinh sử (Nho học), học rộng nghe nhiều. Vào năm thứ 8 (625) niên hiệu Võ Đức (武德), ông xuất gia tại Thiên Cung Tự (天宮寺), Lạc Dương (洛陽). Sau đó, ông đi tìm thầy học đạo, đến Song Phong Tự (雙峰寺) ở Huyện Hoàng Mai (黃梅縣), Kì Châu (蘄州) tham yết Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (弘忍), thề nguyện chịu đựng tất cả khổ nhọc chỉ một lòng cầu đạo mà thôi. Lúc đó ông đã 50 tuổi. Nhờ đức nhẫn thụyc ấy, trong chúng ai cũng kính phục và trở thành Thượng Tọa trong chúng môn hạ hơn 700 người của Ngũ Tổ; cho nên ông có tên gọi là Thượng Tọa Thần Tú. Ông cũng có quan hệ thân thiện với Đại Giám Huệ Năng (大鑒慧能). Bài kệ nổi tiếng của ông là “thân thị bồ đề thọ, tâm như minh kính đài, thời thời cần phất thức, mạc sử nhạ trần ai (身是菩提樹、心如明鏡臺、時時勤拂拭、莫使惹塵埃, thân là cây bồ đề, tâm như đài gương sáng, hằng ngày siêng lau quét, chớ để nhuốm bụi trần)”. Vào tháng 10 năm thứ 2 (675) niên hiệu Thượng Nguyên (上元) đời vua Cao Tông nhà Đường, khi Hoằng Nhẫn viên tịch, ông chuyển đến Đương Dương Sơn (當陽山) ở Giang Lăng (江陵) giáo hóa, chúng đạo tục quy tụ về rất đông, từ đó đạo phong và tiếng tăm của ông càng vang xa. Trong thời gian niên hiệu Cửu Thị (久視, 700), Tắc Thiên Võ Hậu (則天武后) nghe tiếng của ông, cho triệu vào cung nội và cho xây dựng ở Đương Dương Sơn ngôi Độ Môn Tự (度門寺). Đến khi vua Trung Tông lên ngôi, vua lại càng trọng hậu ông và vị quan Trung Thư Lệnh Trương Thuyết (張說) cũng lấy lễ bái ông làm thầy. Vua Duệ Tông (睿宗) thì rất kính mộ ông, cho nên ông được gọi là Tam Đế Quốc Sư (三帝國師), được suy cử làm Pháp Chủ của Trường An và Lạc Dương trong vòng 6 năm. Chính ông đã từng tâu lên Võ Hậu cho triệu thỉnh Huệ Năng, nhưng Huệ Năng cố từ, trả lời rằng ông đã có duyên với Lãnh Nam (嶺南) rồi, nên không đến Đại Dữu Lãnh (大庾嶺) nữa, từ đó trong Thiền môn có câu “Nam Năng Bắc Tú (南能北秀, phía Nam có Huệ Năng, phía Bắc có Thần Tú)”. Ông thị tịch vào tháng 2 năm thứ 2 niên hiệu Thần Long (神龍) tại Thiên Cung Tự ở Lạc Dương (洛陽), hưởng thọ 101 tuổi. Ông được ban cho thụy hiệu là Đại Thông Thiền Sư (大通禪師), là người được nhận thụy hiệu Thiền sư sớm nhất. Thiền phong của ông chủ yếu là tiệm ngộ, thuyết về ly niệm và xem trọng Ngũ Phương Tiện (五方便), trái ngược với chủ trương đốn ngộ của Huệ Năng bên Nam Tông Thiền. Trong khi Nam Tông Thiền được phổ cập ở Hoa Nam (華南) và Giang Tây (江西), Bắc Tông Thiền của Thần Tú thì hưng thạnh ở Hoa Bắc (華北), hai kinh đô Trường An (長安) và Lạc Dương (洛陽) cũng như địa phương Giang Nam (江南). Môn nhân Đạo Tuyền (道璿) của ông là người đến Nhật Bản sớm nhất, cho nên những Thiền tăng thời kỳ đầu của Nhật Bản đều thuộc hệ thống này. Pháp từ của ông có Tung Sơn Huệ Tịch (嵩山慧寂), Kinh Triệu Nghĩa Phước (京兆義福), v.v. Trước tác của ông có Quán Tâm Luận (觀心論) 1 quyển, Đại Thừa Vô Sanh Phương Tiện Môn (大乘無生方便門) 1 quyển, Hoa Nghiêm Kinh Sớ (華嚴經疏) 30 quyển, Diệu Lý Viên Thành Quán (妙理圓成觀) 3 quyển. Kì Vương Phạm (岐王範), Yến Quốc Công Trương Thuyết (燕國公張說) và Trưng Sĩ Lô Hồng (徴士盧鴻) mỗi người soạn một bài bia minh. ; 神秀; C: shénxiù; J: jinshū; ~ 605-706, cũng được gọi là Ngọc Tuyền Thần Tú;|Thiền sư Trung Quốc, một trong những môn đệ xuất sắc của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Theo truyền thuyết, Sư thua cuộc trong việc chọn người nối pháp của Hoằng Nhẫn và Huệ Năng được truyền y bát. Sư vẫn tự xem mình là người nối pháp của Hoằng Nhẫn và sáng lập Bắc tông thiền, một dòng thiền vẫn còn mang đậm sắc thái Ấn Ðộ với bộ kinh Nhập Lăng-già làm căn bản.|Sư thuở nhỏ đã thông minh hơn người. Ban đầu, Sư học Nho giáo nhưng không hài lòng, sau đó (năm 46 tuổi) đến núi Hoàng Mai nhập hội của Hoằng Nhẫn. Nơi đây, Sư là môn đệ xuất sắc của Ngũ tổ (Sử sách có ghi lại tên của 11 người đệ tử của Hoằng Nhẫn đã giáo hoá danh tiếng). Sau khi Hoằng Nhẫn viên tịch, Sư rời Hoàng Mai và đi du phương gần 20 năm. Sau, khi Vũ Hậu là Tắc Thiên mời đến kinh đô, Sư chần chừ rồi nhận lời. Nơi đây, Sư giáo hoá rất nhiều người, danh tiếng lừng lẫy.|Năm Thần Long thứ hai (706), Sư viên tịch. Vua sắc phong là Ðại Thông Thiền sư. Ðến giữa thế kỉ 8, vương triều công nhận Sư là người thừa kế Ngũ tổ, nhưng dòng Thiền của Sư tàn lụi sau vài đời, có lẽ vì liên hệ chính trị nhiều với vương triều. ; (神秀) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, người ở Úy thị, Biện châu (phía nam phủ Khai phong, tỉnh Hà nam), họ Lí. Sư mình cao 8 thước Tàu, lông mày rậm, mắt đẹp, có uy đức vòi vọi, từ nhỏ đã xem kinh sử, học rộng nghe nhiều. Khi đã xuất gia thụ pháp liền tìm thầy học đạo. Sau, sư đến chùa Đông sơn ở núi Song phong thuộc Kì châu, tham yết Ngũ tổ Hoằng nhẫn, thệ nguyện kham khổ, bổ củi, gánh nước để cầu đạo. Ngũ tổ rất kính trọng sư, cho làm Giáo thụ sư, vì ở vào địa vị cao nhất trong số môn nhân của Ngũ tổ cho nên sư được gọi là Thần tú Thượng tọa. Sư rất gần gũi với ngài Đại giám Tuệ năng, có khải phát lẫn nhau. Bài kệ sau đây là bài kệ nổi tiếng của sư: Thân thị Bồ đề thụ, Tâm như minh kính đài; Thời thời cần phất thức, Mạc sử nhạ trần ai. (Thân như cây Bồ đề, Tâm là đài gương sáng; Thường siêng năng lau chùi, Chớ để dính bụi bặm.) Tháng 10 năm Thượng nguyên thứ 2 (675) đời Đường, Tổ Hoằng nhẫn thị tịch, sư dời đến núi Đương dương tại Giang lăng hoằng pháp, đức hạnh của sư cao cả, tiếng tăm vang dội, chúng tăng theo về rất đông. Vũ hậu Tắc thiên nghe danh sư liền triệu sư vào Nội đạo tràng, đặc biệt kính trọng, ban sắc xây chùa Độ môn ở núi Đương dương để biểu dương đức hạnh của sư. Khi vua Trung tông lên ngôi cũng rất kính trọng sư, quan Trung thư lệnh là Trương thuyết giữ lễ đệ tử. Sư từng tâu lên Vũ hậu triệu thỉnh ngài Tuệ năng và tự viết thư mời, nhưng ngài Tuệ năng từ chối, đáp rằng mình có duyên với Lĩnh nam nên không vượt qua dãy núi Đại dữu, do đây mà trong Thiền môn có từ ngữ Nam Năng Bắc Tú. Tháng 2 năm Thần long thứ 2 (706), sư thị tịch ở chùa Thiên cung tại Lạc dương, thọ 102 tuổi, vua ban thụy hiệu Đại Thông Thiền Sư, là thụy hiệu đầu tiên trong Thiền môn. Dòng pháp của sư hưng thịnh ở vùng Trường an, Lạc dương. Sư nêu cao Thiền chỉ, chủ trương thuyết Tiệm ngộ, ngài Tuệ năng thuộc thiền Nam tông thì chủ trương Đốn ngộ, vì thế trong lịch sử Thiền tông có danh xưng Nam Đốn Bắc Tiệm. Đệ tử sư là ngài Đạo tuyền là người đầu tiên đến Nhật bản, cho nên những người tu thiền ở thời kì đầu tại Nhật bản phần nhiều thuộc hệ thống của sư. Đệ tử nối pháp có các vị: Phổ tịch ở Tung sơn, Nghĩa phúc ở Kinh triệu... Môn đình hưng thịnh 1 thời, người đời gọi sư là Tổ của thiền Bắc tông. Nhưng dòng pháp của sư chỉ được vài đời thì suy vi. [X. Tống cao tăng truyện Q.8; Cảnh đức truyền đăng lục Q.4; Ngũ đăng hội nguyên Q.2].

thần tú

Shen-Hsiu (606-706)—Một trong những đệ tử nổi tiếng cũa Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, vị kia là Lục Tổ Huệ Năng. Sau khi ngũ tổ thị tịch, hai trường phái được hai vị thành lập, dòng thiền phương bắc và dòng thiền phương nam. Thần Tú đã truyền bá thiền về phương bắc và được biết đến như Tiệm Giáo; dù được Hoàng Triều nức lòng bảo trợ vẫn không tồn tại được bao lâu, chẳng bao lâu sau thì dòng thiền phương bắc tàn rụi, và được thay thế bởi dòng thiền của Lục tổ Huệ Năng được biết với tên dòng Thiền Trung Hoa. Chính dòng thiền của Lục Tổ Huệ Năng đã nẩy sanh ra các dòng Lâm Tế, Thiên Thai, vân vân—One of the most famous disciples of the Fifth Patriarch Hung-Jen, the other being Hui-Neng. After Hung-Jen passed away, the rival schools founded by the two men, the North and the South. Shen-Hsiu spread Zen Buddhism in northern China. His lineage called the Northern School and became known as the Gradual Teaching; although patronized by the reigning Emperor, did not last very long, soon later it died out and was replaced by the Hui-Neng School which became known as the Chinese Ch'an School, or Suden School of Hui Neng, which sprang the present Lin-Chi, Soto, and T'ien-T'ai schools of Zen—Shen-Hsiu is the author of this Poem: **Thân thị Bồ đề thọ, Tâm như minh cảnh đài Thời thời thường phất thức, Vật xử nhạ trần ai. (Thân là cây Bồ Đề, Tâm như đài gương sáng Luôn luôn siêng lau chùi Chớ để dính bụi bặm). **The body is like the bodhi tree, The mind is like a mirror bright, Take heed to keep it always clean, And let no dust accumulate on it.

thần túc

chỉ Tứ thần túc, cũng gọi là Tứ như ý túc (四如意足; Phạn ngữ: catvra ṛddhipdḥ), bao gồm: 1. Dục (Phạn ngữ: chanda) thần túc, sự tập trung ý chí mạnh mẽ; 2. Tinh tấn (Phạn ngữ: vỵrya) thần túc, nghị lực mạnh mẽ; 3. Tâm (Phạn ngữ: citta) thần túc, sự chú tâm; 4. Trạch pháp (Phạn ngữ: mỵmṃs) thần túc, chú tâm vào sự tra xét, tìm tòi. ; Rddhipada (skt)—Magic powers.

thần túc nguyệt

Thần Biến Nguyệt—Thần Thông Nguyệt—Tam trường trai nguyệt trong tháng giêng, tháng năm, và tháng chín, vì trong những tháng nầy chư Thiên đi khắp thế giới để kiểm soát—The first, fifth, and ninth months, when the devas go on circuit throughout the earth.

thần túc thông

Rddhipada or Rddhi-Saksatkriya (skt)—Thần Cảnh Trí Thông—Như Ý Thông—Thần thông xuất hiện bất cứ đâu, bay hay đi theo ý mình không ngăn ngại—Deva-foot ubiquity—Supernatural power to appear at will in any place, to fly or go without hindrances, to have absolute freedom. ** For more information, please see Thần Thông. ; (神足通) Cũng gọi Như ý túc thông, Thần cảnh trí thông, Thần cảnh trí chứng thông. Năng lực thần thông được tự tại như ý, 1 trong 5 thần thông, 1 trong 6 thần thông. Theo luận Đại tì bà sa quyển 141 thì có 3 thứ thần dụng: 1. Vận thân thần dụng: Thân lướt trong hư không giống như chim bay, cũng hệt như vị tiên bay vẽ trên vách. 2. Thắng giải thần dụng: Ở xa mà thấy như gần, nhờ vào năng lực này, trụ ở châu Diêm phù đề mà tay với tới mặt trời mặt trăng, hoặc trong khoảng thời gian co duỗi cánh tay mà tới được tầng trời Sắc cứu cánh. 3. Ý thế thần dụng: Thức mắt đến đỉnh cõi Sắc, hoặc lên đến tầng trời Sắc cứu cánh, hoặc vượt qua vô biên thế giới. Còn theo luận Đại trí độ quyển 5 thì có 3 thứ Như ý: 1. Năng đáo, lại chia làm 4 loại: a. Thân có thể bay đi như chim, không bị chướng ngại. b. Dời xa lại gần, không đi mà đến. c. Biến mất ở nơi này, xuất hiện ở nơi kia.d. Chỉ trong một ý nghĩ đã đến nơi. 2. Chuyển biến: Lớn biến thành nhỏ, nhỏ biến thành lớn; một biến ra nhiều, nhiều biến thành một, tất cả các vật đều có thể chuyển biến được. Sự chuyển biến của ngoại đạo cùng lắm không quá 7 ngày, còn sự chuyển biến của Phật và các đệ tử thì lâu mau, xa gần đều tự tại. 3. Thánh như ý: Tức năng lực quán tưởng vật bất tịnh không đáng ưa thuộc 6 trần là tịnh, quán tưởng vật thanh tịnh đáng ưa là bất tịnh. Pháp Thánh như ý này chỉ Phật mới có. Các kinh luận khác có rất nhiều chỗ bàn về Như ý, nhưng đại khái thì đều giống nhau, chỉ khác nhau về chi tiết.[X. kinh Tăng nhất trong Trường a hàm Q. 9; luận Câu xá Q.27; luận Du già sư địa Q.37; phẩm Lục thông trí trong luận Thành thực Q.16]. (xt. Thập Bát Biến, Thần Thông).

thần túc trí thông nguyện

(神足智通願) Nguyện được thần thông bay đi không gì làm chướng ngại, là nguyện thứ 9 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà. Hàng Thánh chúng có thể dùng Thiên nhãn trông thấy suốt các cõi Tịnh độ trong 10 phương, hoặc dùng Thiên nhĩ nghe được những âm thanh ở các Tịnh độ xa xăm ấy, nhưng nếu thân muốn đến tận nơi thì không được như ý. Vì sao? Vì núi sông ngăn cách, hoặc đường biển đường bộ đều dứt, chỉ có thể trông thấy từ xa. Cho nên đức Phật A di đà mới phát nguyện này, nguyện cho tất cả chúng sinh vãng sinh Tịnh độ đều được Thần túc thông để chỉ trong khoảng thời gian một bữa ăn thẳng đến vô lượng thế giới trong 10 phương.

Thần Tăng

(神僧): những cao tăng có hành trạng thần bí, kỳ đặc, không thể luận bàn, không thể tư duy được. Trong bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (大正新脩大藏經) có thâu lục bộ Thần Tăng Truyện (神僧傳, Taishō No. 2064), 9 quyển với 208 vị Thần Tăng, bắt đầu từ nhân vật đầu tiên là Ma Đằng (摩騰) cho đến người cuối cùng là Đảm Ba (膽巴).

thần tăng truyện

(神僧傳) Truyện kí, 9 quyển, do vua Thành tổ soạn vào đời Minh, được thu vào Đại chính tạng tập 50. Nội dung sách này thu chép truyện kí của các bậc danh tăng do thần dị mà nổi tiếng. Tuy các bậc dị tăng có thần dị vạn biến vượt trội các vị tăng bình thường, xưa nay đều có truyện kí, nhưng lại nằm rải rác trong các kinh, nếu muốn xem thì lời văn trong Tam tạng quá đồ sộ, bao la, khó xem hết được, cho nên người đời phần nhiều không biết hết. Do đó, soạn giả xem kĩ các truyện, tập hợp thành sách này. Toàn truyện thu chép 208 vị như các ngài Ma đằng, Trúc pháp lan, Đạo an...

thần tịch tham khấu

(晨夕參扣) Sớm, tối gõ cửa thầy, cầu xin dạy bảo. Bích nham lục tắc 96 (Đại 48, 219 thượng) ghi: Gần đây, nghe tin Đại sư Đạt ma trụ ở chùa Thiếu lâm, liền đến chỗ ngài sớm, tối gõ cửa cầu xin chỉ dạy (Thần tịch tham khấu), nhưng ngài chỉ ngồi thẳng quay mặt vào vách, không dạy bảo lời nào.

thần tọa

Chỗ ngồi của chư Thiên—Deva or spirit throne.

thần tốc

Lightning speed.

Thần Tử Vinh Tôn

(神子榮尊, Shinshi Esion, 1195-1272): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, hiệu là Thần Tử (神子), có thuyết cho rằng ông có húy là Khẩu Quang (口光), tự là Vinh Tôn (榮尊), họ là Bình (平). Ông xuất thân ở vùng Trúc Hậu (筑後, Chikugo, thuộc Fukuoka-ken [福岡縣]), con của Bình Liêm Lại (平廉賴). Năm lên 7 tuổi, ông theo hầu đệ tử của Vinh Tây là Nguyên Lâm (元淋, tức Nghiêm Lâm [嚴林]), rồi xuống tóc xuất gia và học giáo quán của Mật Giáo, sau đó ông đến hầu hạ người đệ tử nối dòng của Vinh Tây là Vinh Triêu (榮朝, Eichō) ở Trường Lạc Tự (長樂寺, Chōraku-ji) thuộc vùng Thượng Dã (上野, Ueno, thuộc Gunma-ken [群馬顯]). Vào năm đầu (1225) niên hiệu Gia Trinh (嘉禎), ông cùng với Thánh Nhất Quốc Sư Viên Nhĩ (聖一國師圓爾) lên thuyền sang nhà Tống cầu pháp, đến tham vấn chư lão túc ở khắp nơi, rồi làm môn hạ của Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範) ở Kính Sơn (徑山) mà tham cứu Thiền chỉ, và ba năm sau thì ông trở về nước. Vào năm đầu (1240) niên hiệu Nhân Trị, ông sáng lập ra Vạn Thọ Tự (萬壽寺, Manju-ji) và hoằng dương Thiền phong của mình. Chính tự bản thân ông đã từng đi du hóa khắp các nơi, rồi khai sáng ra các chùa như Triêu Nhật Tự (朝日寺), Báo Ân Tự (報恩寺), Diệu Lạc Tự (妙樂寺), v.v. Đến cuối đời thì ông lên Kinh Đô Kyoto và quy y cho Nhị Điều Tướng Quốc (二條相國). Đến ngày 28 tháng 12 năm thứ 9 niên hiệu Văn Vĩnh (文永) thì ông viên tịch, hưởng thọ 78 tuổi.

thần văn biểu bạch

(神文表白) Nghi thức tu pháp của Mật giáo. Tức trước khi tu pháp, tụng thần phân để cầu chư thiên thiện thần bảo hộ. Kế đến đối trước Trụ trì Tam bảo đọc văn biểu bạch. Nội dung văn biểu bạch gồm 6 việc: 1. Tán thán thể tính của việc tu thiện. 2. Khen ngợi thiện ý của thí chủ. 3. Nguyện thành tựu bồ đề. 4. Nguyện thành tựu nguyện vọng của thính chúng. 5. Hồi hướng căn lành tu được cho hữu tình trong pháp giới. 6. Cầu xin chư thiên tăng thêm uy quang.

thần văn biểu bạch nguyện văn

(神文表白願文) Văn tùy nguyện được đọc sau khi biểu bạch. Văn nguyện này được soạn theo ý của thí chủ, cho nên gọi là Tùy nguyện văn.

thần vương hình

(神王形) Hình tượng uy nghiêm của thần Hộ pháp, 1 trong các loại tượng đắp của Phật giáo. Thông thường, hình tượng này có đội mũ sắt, mặc áo giáp. Đối lại với hình tượng sống động có dáng vẻ phẫn nộ thì Thần vương hình lại có dáng vẻ điềm tĩnh. Loại Thần vương hình này có thể thấy trong tranh vẽ Tứ thiên vương như Tì sa môn thiên và Đế thích thiên.

thần vực

Cảnh giới chứng ngộ chân thật, không thể nghĩ bàn—The realm of spirit, of reality, surpassing thought, supra-natural.

Thần Xã

(神社, Jinja): cơ quan tế tự được thiết lập trên cơ sở tín ngưỡng của Thần Đạo; thường làm bằng gỗ. Cơ sở này khác với lễ bái đường, nơi thuyết pháp, truyền đạo của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo và các tự viện Phật Giáo. Về nguồn gốc, Thần Xã vốn là tế đàn gọi là Thần Li (神籬, Himorogi), được thiết lập tạm thời vào những lúc tế cúng, tiến hành ở các vùng đất cấm địa (tục gọi là Thần Thể Sơn [神体山])—Bàn Tọa (磐座, Iwakura), nơi trú ngụ của chư vị Thần. Nguyên lai, Thần Xã cũng giống như Ngự Nhạc (御嶽, Utaki) ở Xung Thằng (沖繩, Okinawa). Đối với các đền thờ Thần Xã kế tục từ thời Cổ Đại đến nay, vẫn có Thần Xã không có điện thờ chính. Đó là các đền thờ kiến lập Bái Điện (拜殿) ngay trước nơi Bàn Tọa, vùng đất cấm túc, núi rừng hay hoang đảo; tỷ dụ như trường hợp Đại Thần Thần Xã (大神神社), Thạch Thượng Thần Cung (石上神宮), Tông Tượng Đại Xã (宗像大社), v.v.; hay nơi hoàn toàn không có điện thờ như Phi Lang Thần Xã (飛瀧神社). Tín ngưỡng cho rằng Thần thường ngự nơi điện thờ vốn hình thành từ khi kiến thiết Xã Điện (社殿, điện thờ của Thần Xã). Trong quá trình kiến thiết, cũng có ảnh hưởng của các tự viện Phật Giáo. Những ngôi đền thờ Thần Xã cổ xưa thì do một nhân duyên nào đó, người ta thiết lập nên Xã Điện ở nơi gần với ngự thần thể; tỷ dụ như Việt Mộc Nham Thần Xã (越木岩神社). Mặt khác, trường hợp khi cần phải có ngôi đền thờ Thần Xã mới, khi thôn làng hình thành, người ta tạo dựng ngôi đền ở nơi thích hợp để tôn thờ các Phân Linh (分靈), Thị Thần (氏神). Cho nên, cũng có nhiều phương pháp chọn lựa vị trí để tôn tạo Thần Xã. Tỷ dụ, theo nhân duyên mà chọn lựa, như trường hợp nơi phát xuất đầu tiên của một dòng tộc, như Thái Tể Phủ (太宰府, Dazaifu), nơi đầu nguồn của dòng họ Quản (菅); hay chọn nơi thanh tịnh (kỵ ô uế), như vùng đất xây dựng Minh Trị Thần Cung (明治神宮); hoặc chọn nơi tham bái dễ dàng, thuận tiện, như trường hợp Nhị Hoang Sơn Thần Xã (二荒山神社) vốn tọa lạc trên đỉnh núi, nhưng lại có Xã Điện ở nơi khác để tiện tham bái hơn. Tùy theo từng vị trí, Xã Điện có thể ở trên biển, đỉnh núi, hay thậm chí vào thời hiện đại này, ngay trên nóc tòa nhà cao tầng vẫn có. Với nghĩa rộng, tại tư gia vẫn có thiết Thần Bằng (神棚), hình thức đền thờ thu nhỏ. Về kiến trúc, hầu hết các đền thờ Thần Xã đều có quần thể kiến trúc chung nhất, gồm: Điểu Cư (鳥居, Torii, cổng chính màu đỏ dẫn vào đền thờ), Tham Đạo (參道, Sandau, Sandō), Đăng Lung (燈籠, Tōrō, đèn lồng bằng đá), Bạch Khuyển (狛犬, Komainu), Thủ Thủy Xá (手水舍, Teuzuya, nơi rửa tay trước khi vào tham bái), Bái Điện (拜殿, Haiden, thường an trí trước điện thờ chính), Tệ Điện (幣殿, Heiden, nơi có đặt thùng đựng tiền cúng dường công đức, gọi là Tái Tiền Sương [賽錢箱], có trường hợp được nhất thể hóa với Bái Điện và Bổn Điện), Bổn Điện (本殿, điện thờ chính, nơi Thần trấn tọa), Thần Lạc Điện (神樂殿, Kaguraden), Vũ Điện (舞殿, Mahidono, Midono), Hội Mã Điện (繪馬殿, Emaden), Sự Vụ Sở (事務所, Jimusho, văn phòng làm việc điều hành), Nạp Trát Sở (納札所, Nōsatsusho, nơi thâu nạp các thẻ bài cầu nguyện hay thẻ bùa cũ), v.v.

thần ám

Tâm hôn ám không có niềm tin—The darkened mind without faith.

thần án

(thần án) Cao tăng Trung quốc, sống vào cuối đời Đường, đầu đời Ngũ đại, người ở Đại lương, họ Lí. Thủa nhỏ, sư đã không ưa mùi thịt cá tanh hôi, thích nghe tiếng chuông chùa. Năm 12 tuổi, sư nhuốm bệnh rất nặng, nằm mộng thấy thần nhân cho thuốc uống liền hết bệnh. Năm sau, sư lại mộng thấy vị Phạm tăng bảo rằng (Đại 51, 351 thượng): Đã đến lúc xuất gia!, sư bèn lễ Thiền sư Đạo qui ở núi Bạch lộc thuộc Vệ châu (Hà nam) xin xuất gia và tham học các vị Thiền đức. Đến khi sư tham yết ngài Tuyết phong Nghĩa tồn thì cơ duyên khế hợp, hoátnhiên đại ngộ, được truyền tâm ấn. Sau khi ngài Tuyết phong thị tịch, Vương diên bân ở đất Mân thường đến thưa hỏi sư về pháp yếu, đồng thời xây dựng Thiền viện Dũng tuyền ở núi Cổ sơn cách Phủ thành 20 dặm, thỉnh sư về an trụ. Tại đây, sư mở mang tông chỉ suốt hơn 30 năm. Khoảng năm Thiên phúc (936-944), sư thị tịch, thụy hiệu Hưng Thánh Quốc Sư. Sư để lại các tác phẩm: Cổ sơn tiên Hưng thánh quốc sư hòa thượng pháp đường huyền yếu quảng tập 1 quyển. [X. Tổ đường tập Q.10; Cảnh đức truyền đăng lục Q.18; Ngũ đăng hội nguyên Q.7].

Thần đạo

神道; J: shintō;|Tôn giáo truyền thống của Nhật Bản bắt đầu từ Công nguyên. Trong thế kỉ thứ 5, 6, Thần đạo chịu ảnh hưởng của Nho giáo và Phật giáo Trung Quốc. Từ Phật giáo, Thần đạo thu nhận thêm một số tư tưởng triết học và giới luật. Năm 1868, Thần đạo trở thành quốc giáo, nhà vua được xem là có thiên mệnh. Năm 1945, Thần đạo mất tính chất quốc giáo và kể từ năm 1946, nhà vua không còn tự cho mình có tính thần quyền.|Thần đạo thời nguyên thuỷ tin tưởng đa thần: mỗi con sông, ngọn núi, mỗi hiện tượng thiên nhiên đều do một vị thần (kami) trấn giữ. Các vị thần quan trọng nhất là cha trời mẹ đất, là hai vị đã tạo nên hải đảo Nhật Bản và các vị thần khác. Thần Amaterasu Omikami được xem là vị đại thần quan trọng nhất do cha trời mẹ đất sinh ra, vị này thống lĩnh mặt trời, cho con cháu xuống đất thống lĩnh từng hòn đảo của Nhật và dựng nên vương quốc vĩnh viễn tại đó. Ðó là huyền thoại xây dựng nước Nhật và hoàng gia, trở thành quan niệm của Thần đạo. Ðến năm 1868, Thần đạo vẫn đóng một vai trò phụ thuộc bên cạnh Phật giáo. Hơn thế nữa, Thần đạo chịu ảnh hưởng của Thiên Thai tông (j: tendai), Chân ngôn tông (j: shingon) và các vị thần Thần đạo được xem là hoá thân của chư Phật và Bồ Tát. Từ thế kỉ 16 đến giữa thế kỉ 19, dưới thời Ðức Xuyên (tokugawa), Thần đạo bắt đầu kết hợp với Khổng giáo, một lí do là vì Khổng giáo tôn sùng quyền lực của triều đình. Cũng trong thời gian đó, Thần đạo bị chia thành nhiều bộ phái khác nhau, dựa trên niềm tin mỗi nơi mỗi khác. Người ta tìm thấy 13 khuynh hướng khác nhau với nhiều khía cạnh khác nhau về phong tục, trong đó có cả nhóm chuyên thờ thần núi và thực hành phép chữa bệnh đồng cốt.

thần đạo

1) Tên gọi chung ba đạo: Thiên Đạo, A Tu La Đạo, và Quỷ Đạo—The spirit world of devas, asuras and pretas. 2) Tâm Lý Học coi “Thần Đạo” như là linh hồn hay thần thức của chúng hữu tình: Psychology, or doctrine concerning the soul. 3) Thần Đạo hay quốc đạo của Nhật Bản: Shintoism, the way of the Gods, a Japanese national religion. 4) Đạo Thần Diệu hay Đạo Phật: The Teaching of Buddha. ; (神道) I. Thần Đạo. Đạo thần kì, mầu nhiệm tức Phật đạo. II. Thần Đạo. Gọi chung Thiên đạo, A tu la đạo và quỉ đạo trong Lục đạo. III. Thần Đạo. Thần là thần linh, tức là tinh linh của loài hữu tình. Đạo của thần linh ấy gọi là Thần đạo. Tam luận huyền nghĩa (Đại 45, 1 hạ) nói: Thần đạo sâu kín, người mê hoặc nhiều tối tăm; đối với nghĩa kinh cao siêu chưa hiểu, lí dù có hợp nhưng vẫn còn mờ tối, chỉ có Phật tông mới đạt đến chỗ cùng tột.IV. Thần Đạo. Chỉ cho tông giáo có sẵn ở Nhật bản. Tông giáo này đặc biệt chú trọng việc kính thần, cúng tế, là 1 tông giáo thần xã điển hình.

Thần Đỉnh Hồng Nhân

(神鼎洪[鴻]諲, Shintei Kōin, ?-?): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Tống, xuất thân Tương Thủy (襄水, Tỉnh Hồ Bắc), họ là Ung (扈). Sau khi xuất gia, ông đến tham học với Thủ Sơn Tỉnh Niệm (首山省念) và kế thừa dòng pháp của vị này. Về sau, ông đến trú tại Thần Đỉnh Sơn (神鼎山) ở Đàm Châu (潭州, Tỉnh Hồ Nam). Ông có để lại tác phẩm Thần Đỉnh Sơn Đệ Nhất Đại Nhân Thiền Sư Ngữ Lục (神鼎山第一代諲禪師語錄) 1 quyển.

thẩm duyệt

To examine carefully.

thẩm kiến

Sự hiểu biết sâu xa—Profound insight.

thẩm quyền

Power.

thẩm thấu

Absorption.

Thẩm Tường

(審祥, Shinjō, ?-?): vị tăng của Hoa Nghiêm Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Nại Lương. Ông sang nhà Đường cầu pháp, theo học Hoa Nghiêm Tông với Pháp Tạng (法藏), đến trong khoảng thời gian niên hiệu Thiên Bình (天平, 729-749) thì trở về nước và trú tại Đại An Tự (大安寺, Daian-ji). Năm 740, thể theo lời cung thỉnh của Lương Biện (良辨, Rōben) ở Kim Chung Tự (金鐘寺, Konshō-ji), ông làm Giảng Sư đầu tiên giảng về Hoa Nghiêm Kinh (華嚴經) và tạo cơ sở tư tưởng để đúc tượng Đại Phật Lô Xá Na (盧舍那) ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji). Ông có khá nhiều kinh luận, tàng thư của ông được gọi là Thẩm Tường Sư Kinh (審祥師經) và thỉnh thoảng có người đến thỉnh kinh. Trước tác của ông có Hoa Nghiêm Khởi Tín Quán Hành Pháp Môn (華嚴起信觀行法門) 1 quyển. ; 審祥; C: shěnxiáng; J: shinshō; tk. 8;|Cao tăng Trung Quốc thuộc tông Hoa nghiêm, đã đem giáo lí của tông này truyền sang Nhật và được ở đây xem là Sơ tổ (Hoa nghiêm tông).

thẩm vấn

To interrogate—To examine—To inquire.

thẩm định

To judge.

thẩn khí lâu

See Quỷ Thành.

thẩn thơ

To stroll.

thẩn thờ

To look haggard.

thậm

1) Sâu: Deep—Profound—Abstruse. 2) Cực xa: Extreme—Very.

thậm hi hữu kinh

(甚希有經) Kinh, 1 quyển, do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 16. Kinh này đức Phật theo lời thưa hỏi của tôn giả A nan mà giảng nói khi Ngài ở trên núi Linh thứu. Nội dung kinh này nói về việc xây tháp cúng dường xá lợi của Phật thì công đức ấy thù thắng hơn nhiều so với công đức cúng dường chúng tăng 4 phương. Bản dịch khác của kinh này là phẩm Giáo lượng công đức và phẩm Chúc lụy trong kinh Vô thượng y do ngài Chân đế dịch vào đời Lương. (xt. Kinh Vô Thượng Y).

thậm ma xá na

Smasana (skt)—See Thi Đà Lâm.

thậm thâm

Sự thậm thâm của Phật pháp—Profundity of Buddha-truth.

thậm thâm quán

(甚深觀) Tạng: Zab-mo#i lta-ba. Thậm thâm quán, Phật giáo Tây tạng gọi là Trung quán (Phạm: Màdhyamika), tương đương với tiếng Phạm Gambhìradarzana,đối lại với Quảng đại hành của Du già hành. Phật giáo Tây tạng đặc biệt quí trọng việc đem học vấn truyền trao cho nhau, đến vị Khai tổ của Hoàng giáo là Tông khách ba thì về mặt truyền thừa có 3 loại, tức nói theo tông nghĩa học của Hoàng giáo. Ba loại truyền thừa tức là 3 phái: Thậm thâm quán, Quảng đại hành và Gia trìkì đảo trao truyền cho nhau, Hoàng giáo được thành lập bởi sự tổng hợp thống nhất của Thậm thâm quán và Quảng đại hành, còn sự truyền thừa thứ 3 là của Na lạc ba (Tạng:Naro-pa), ở Tây tạng thì có sự truyền thừa cho nhau giữa Mã nhĩ ba (Tạng: Mar-pa) –Mật lặc (Tạng:Mi-la)– Đạt bảo cáp giải (Tạng: Drags-po lha-rje)... Ta có thể thấy điều này qua sự truyền thừa của phái Ca nhĩ cư, phái Ca nhĩ mã... Nói theo giáo học của học vấn Hoàng giáo thì giáo học Thậm thâm quán là để tiến vào Trung luận (Phạm: Madhyamakàvatàra); Quảng đại hành thì lấy luận Hiện quán trang nghiêm (Phạm: Abhisamayàlaôkàra) làm đại biểu, vì thế sự nghiên cứu Hiển giáo học bộ phải lấy 2 luận trên đây làm trung tâm. Nguồn gốc và sự phát triển về giáo học của Thậm thâm quán là từ ngài Văn thù - Long thụ - Đề bà; còn nguồn gốc và sự phát triển của Quảng đại hành thì từ ngài Di lặc - Vô trước - Thế thân; nguồn gốc và sự phát triển của 2 tư trào này cũng giống hệt như nguồn gốc và sự phát triển của 2 trào lưu lớn của Phật giáo Đại thừa ở Ấn độ. [X. Tây tạng Phật giáo nghiên cứu; The Buddhism of Tibet by Waddell].

thậm tín

Deep faith.

thận

1) Quả thận: Kidney. 2) Thận trọng: Attentive—Careful—Cautious—Heedful.

thận na phất đát la

Jinaputra (skt)—Vị Luận Sư đã viết bộ Du Già Sư Địa Thích Luận, ngài Huyền Trang đã dịch sang Hoa ngữ vào khoảng năm 654 sau Tây Lịch—Author of the Yogacaryabhumi-sastra-karika, translated by Hsuan-Tsang around 654 A.D.

thận ngôn

Careful in speech.

thận trọng

Discreet—Careful—Cautious—Prudent.

thập

1) Mười: Dasa (skt)—Ten. 2) Thâu thập: To collect—To gather—To pick up—Gathered up. ; (十) Số mười. Viên giáo Hoa nghiêm dùng số 10 để nói về số lượng của các pháp. Số 10 biểu thị cho sự viên mãn vô tận. [X. Hoa nghiêm thám huyền kí Q.3; Diễn mật sao Q.5].

thập (bất) hối giới

The ten rules which produce (no) regrets: 1) (Không) sát sanh: (Not) to kill. 2) (Không) trộm cắp: (Not) to steal. 3) (Không) gian dâm: (Not) to fornicate. 4) (Không) nói dối: (Not) to lie. 5) (Không) nói lỗi người: (Not) to tell of a fellow-Buddhist's sins. 6) (Không) uống, cũng không buôn bán rượu: (Not) to drink nor deal in wine. 7) (Không) ca ngợi mình và làm mất uy tín người: (Not) to praise oneself and discredit others. 8) (Không) hèn hạ thô lỗ: (Not) to be mean nor rude. 9) (Không) sân hận: (Not) be angry. 10) (Không) hủy báng Tam Bảo: (Not) to defame the Triratna.

thập ba la mật

Mười Ba La Mật được các Bồ Tát tu hành giác ngộ—Ten perfections—Ten paramitas cultivated by a bodhisattva who is aspirant for full enlightenment: (A) Đại Thừa Thập Ba La Mật—Mahayana Ten Parimitas: 1) Bố thí Ba la mật: Dana-paramita (skt)—Giving-paramita or generosity or charity (tài thí, pháp thí, vô úy thí). 2) Trì giới Ba la mật: Sila-paramita (skt)—Holding Precepts Paramita or morality or discipline (tự mình giữ giới, khuyên người giữ giới và phát tâm vô thượng). 3) Nhẫn nhục Ba la mật: Kshanti-paramita (skt)—Patience paramita or forebearance. 4) Tinh Tấn Ba La Mật: Virya-paramita (skt)—Effort—Vigor paramita or enegy or exertion (bất thối và nói viết pháp tối thắng khiến người nghe được về cõi Chánh giác). 5) Thiền Định Ba La mật: Dhyana-paramita (skt)—Meditation paramita or contemplation (luôn giữ chánh định, giáo hóa chúng sanh, nhập chơn pháp giới). 6) Bát nhã hay Trí Huệ Ba La Mật: Prajna-paramita (skt)—Wisdom paramita or prajna wisdom (hiểu rõ chơn lý). 7) Nguyện Ba la mật: Pranidana-paramita (skt)—Vow paramita or vow for Bodhicitta (Nguyện tu từ bi và hóa độ chúng sanh đồng đắc quả vị Phật). 8) Lực Ba la mật: Bala-paramita (skt)—(dùng sức trí huệ khiến cho chúng sanh đắc nhập pháp Đại thừa)—Power paramita or strength or manifestations of the ten powers. 9) Phương tiện Ba la mật: Upaya-paramita (skt)—(hiểu rõ cách giúp ích cho chúng sanh đáo bỉ ngạn)—Expedient paramita or right methods or means. 10) Trí Ba la mật: Jnana-paramita (skt)—Hiểu rõ các pháp, giữ vững trung đạo—Knowledge paramita or knowledge of the true definition of all dharmas. (B) Tiểu Thừa Thập Ba La Mật—Hinayana Ten Paramitas: 1) Bố Thí: Dana (p)—Generosity. 2) Trì Giới: Sila (p)—Keeping precepts—Morality. 3) Xuất Gia: Nekkhamma (p)—Renunciation. 4) Trí Tuệ: Panna (p)—Wisdom. 5) Tinh Tấn: Viriya (p)—Vigor—Energy. 6) Nhẫn Nhục: Khanti (p)—Patience. 7) Chân Thật: Sacca (p)—Truthfulness. 8) Quyết Định: Aditthana (p)—Strong determination. 9) Tâm Từ: Metta (p)—Loving-kindness. 10) Tâm Xả: Upekkha (p)—Equanimity. ; (十波羅蜜) Phạm:Daza-pàramità. Gọi đủ: Thập ba la mật đa. Hán dịch: Thập thắng hạnh, Thập độ, Thập đáo bỉ ngạn. Mười hạnh thù thắng mà Bồ tát phải tu tập đầy đủ để đạt đến Đại niết bàn. I. Thập Ba La Mật. Sáu Ba la mật thêm 4 Ba la mật: Phương tiện, nguyện, lực, trí thành 10 là: 1. Thí ba la mật (Phạm: Dànapàramità): Có 3 thứ là Tài thí, Pháp thí và Vô úy thí. 2. Giới ba la mật (Phạm: Zìlapàramità): Giữ giới và thường tự xét. 3. Nhẫn ba la mật (Phạm: Kwàntipàramità): Nhẫn nại chịu sự bức hại. 4. Tinh tiến ba la mật (Phạm:Viryapàramità): Gắng sức tiến tu, không biếng nhác. 5. Thiền ba la mật (Phạm: Dhyànapàramità): Tập trung tư tưởng khiến tâm an định. 6. Bát nhã ba la mật (Phạm:Prajĩàpàramità): Mở ra trí tuệ chân thực, hiểu rõ thực tướng các pháp. 7. Phương tiện ba la mật (Phạm: Upàya-pàramità): Dùng các phương pháp gián tiếp để khơi mở trí tuệ. 8. Nguyện ba la mật (Phạm: Praịidhàna-pàramità): Thường giữ gìn nguyện tâm và thực hiện các nguyện tâm ấy trong việc tu tập hằng ngày. 9. Lực ba la mật (Phạm: Balapàramità): Năng lực bồi dưỡng những thiện hạnh thực tiễn và phân biệt chân ngụy. 10. Trí ba la mật (Phạm: Prajĩàpàramità): Trí tuệ có năng lực rõ biết tất cả các pháp. MườiBa la mật đều lấy tâm bồ đề làm nhân. Kinh Giải thâm mật quyển 4 cho rằng lí do ngoài 6 Ba la mật còn thiết lập thêm 4 Ba la mật là vì Phương tiện ba la mật giúp đỡ cho 3 Ba la mật Thí, Giới và Nhẫn; Nguyện ba la mật là giúp đỡ cho Tinh tiến ba la mật; Lực ba la mật là giúp đỡ cho Thiền ba la mật; Trí ba la mật là giúp đỡ cho Bát nhã ba la mật. Mật giáo đem 10 Ba la mật phối hợp với 10 vị Bồ tát và đặt ở viện Hư không tạng trong Mạn đồ la Thai tạng giới để biểu thị cho phúc đức và trí đức của bồ tát Hư không tạng. Tức về phía bên phải an vị 5 Bồ tát Thí, Giới, Nhẫn, Tinh tiến và Thiền, thuộc về Liên hoa bộ, biểu thị Phúc môn; về phía bên trái an vị 5 Bồ tát Bát nhã, Phương tiện, Nguyện, Lực và Trí, thuộc về Kim cương bộ, biểu thị Trí môn. Lại đem 10 ngón tay phối hợp với 10 Ba la mật, tức Thí là ngón út bên phải, Giới là ngón vô danh bên phải, Nhẫn là ngón giữa bên phải, Tinh tiến là ngón trỏ bên phải, Thiền là ngón cái bên phải, Bát nhã là ngón út bên trái, Phương tiện là ngón vô danh bên trái, Nguyện là ngón giữa bên trái, Lực là ngón trỏ bên trái và Trí là ngón cái bên trái. Thủ ấn của mỗi Ba la mật như hình vẽ dưới đây: Thí ba la mật Giới ba la mật Nhẫn ba la mậtII. Thập Ba La Mật. Mười Ba la mật được nêu trong Phật truyện kinh Bản sinh tiếngPàli là: Đàn (Thí), Thi(Giới), Bát nhã, Tì lê da(tinh tiến), Sằn đề(nhẫn), Xả thế(phủ nhận thế gian và tự kỉ), Chân thực(không nói lời dối trá làm hại chân thực), Quyết ý(ý mình đã quyết không để lay động), Từ(không màng lợi riêng, vì tất cả hữu tình mà trụ nơi từ tâm), Xả(không vì khổ vui mừng giận mà động tâm). Giai vị tu hành 10 đức mục này được gọi là Ba la mật địa (Phạm: Pàramitàbhùmi).

thập ba la mật bồ tát

(十波羅蜜菩薩) Chỉ cho 10 vị Bồ tát: Đàn ba la mật, Giới ba la mật, Nhẫn nhục ba la mật, Tinh tiến ba la mật, Thiền na ba la mật, Bát nhã ba la mật, Phương tiện ba la mật, Nguyện ba la mật, Lực ba la mật và Trí ba la mật trong viện Hư không tạng của Mạn đồ la Thai tạng giới thuộc Mật giáo. Năm vị tôn trước lấy phúc đức trang nghiêm làm bản thệ, được quả đức của Quán âm bộ, thuộc Thiên thủ Quán âm. Còn 5 vị tôn sau thì lấy trí tuệ trang nghiêm làm bản thệ, được quả đức của Kim cương bộ, thuộc bồ tát Kim cương tạng. Kinh Quán tự tại tối thắng tâm minh vương thì bỏ 4 vị: Bát nhã, Phương tiện, Nguyện, Lực và thêm 4 vị: Từ, Bi, Hỉ, Xả là 10 Ba la mật.

Thập biến xứ

xem Mười nhất thiết nhập.

thập biến xứ

Ten objects for the attainment of absorption—See Mười Biến Xứ. ; (十遍處) Phạm: Dazakftsnàyatanàni. Cũng gọi Thập nhất thiết nhập, Thập nhất thiết xứ, Thập biến nhập, Thập biến xứ định. Chỉ cho 10 pháp trùm khắp tất cả mọi nơi. Tức nương vào thắng giải tác ý, quán xét 10 pháp: Đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, đỏ, trắng, không và thức trùm khắp mọi nơi, cho nên gọi là Địa biến xứ cho đến Thức biến xứ. Sau khi hành giả tu Bát giải thoát, Bát thắng xứ thì đối với sắc... được tướng thanh tịnh, đối với cảnh sở quán được chuyển biến tự tại, nhưng vẫn chưa trùm khắp, cho nên còn phải tu định này. [X. luận Câu xá Q.29; phẩm Ngũ thông trong luận Giải thoát đạo].

thập báo pháp kinh

(十報法經) Gọi đủ: Trường a hàm Thập báo pháp kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Kinh này cùng với các kinh Chúng tập, kinh Tăng nhất trong Trường a hàm đều tập hợp, sắp xếp các pháp số được truyền trì trong giáo đoàn vào thời kì đầu của Phật giáo. Bản dịch khác của kinh này là kinh Thập thượng. Nội dung, theo kinh Thập thượng được chia làm 10 môn: Thành pháp, Tu pháp, Giáo pháp, Diệt pháp, Thoái pháp, Tăng pháp, Nan giải pháp, Sinh pháp, Tri pháp và Chứng pháp, tổng thu tất cả 550 pháp số.

thập bát biến

Thần thông biến hóa hiển hiện trong Thập bát giới (Lục căn, Lục trần, Lục thức), gọi là Thập bát biến. ; (十八變) Cũng gọi Thập bát thần biến. Chỉ cho 18 thứ thần biến do chư Phật, Bồ tát, La hán... nương vào năng lực tự tại của thiền định mà thị hiện ra. Có 2 thuyết như sau: I. Thuyết của phẩm Uy lực trong luận Du già sư địa quyển 37: 1. Chấn động (Phạm: Kampana): Tức làm rúng động khắp tất cả thế giới. 2. Xí nhiên (Phạm:Jvalana): Tức trên thân phát ra lửa hừng, dưới thân tuôn ra nước lạnh, lại vào định Hỏa giới, từ khắp trên thân phát ra những ngọn lửa. 3. Lưu bố (Phạm: Spharaịa): Cũng gọi Biến mãn, tức ánh sáng tràn ngập. 4. Thị hiện (Phạm:Vidarzana): Cũng gọi Hiển thị, tức thị hiện các cõi Phật, các đường ác, thể theo ý muốn của tất cả đại chúng tham dự pháp hội. 5. Chuyển biến (Phạm: Anyatìbhàvakaraịa): Tức chuyển biến lửa thành nước, nước thành lửa, cho đến chuyển biến cỏ lá, phân bò, bùn đất, cát sỏi, gạch ngói... thành thức ăn uống, quần áo, xe cộ, ma ni, lưu li... 6. Vãng lai (Phạm: Gamanàgamana): Tức theo ý muốn, đi lại nhanh chóng, xuyên qua núi đá, tường vách... cho đến khắp trong 3 nghìn thế giới đại thiên mà không hề bị ngăn trở. 7. Quyển (Phạm: Saôkwepa): Tức thu rút tất cả núi Tuyết thành một vật nhỏ như cực vi(đơn vị vật chất bé nhỏ nhất). 8. Thư(Phạm:Prathana): Tức đànra, làmchomột cực vi thành một vật thể cực lớn như tất cả núi Tuyết. 9. Chúng tượng nhập thân (Phạm: Sarvarùpa-kàrya-pravezana): Tức làm cho tất cả sắc tướng như đại chúng hiện tiền, cho đến các núi rừng, đất liền, biển cả... đều vào trong thân mình. 10. Đồng loại vãng thú (Phạm: Sabhàgatopasaôkrànti): Tức đi vào trong chúng Sát đế lợi, chúng Bà la môn, cho đến chư thiên... thị hiện cùng sắc loại, hình lượng, ngôn ngữ như họ mà giảng nói chính pháp cho họ nghe. 11. Hiển (Phạm:Àvirbhàva): Tức trăm nghìn lần hiện thân một cách tự tại trước đại chúng. 12. Ẩn(Phạm:Tirobhàva): Tức cũng trăm nghìn lần tự tại ẩn thân. 13. Sở tác tự tại (Phạm:Vazitvakaraịa): Tức đi về qua lại trong tất cả các cõi hữu tình một cách tự tại vô ngại. 14. Chế tha thần thông (Phạm:Pararddhy-abhibhavana): Tức có năng lực chế phục, ngăn chận thần thông do người khác biến hiện. 15. Năng thí biện tài (Phạm: Pratibha-dàna): Tức khi biện tài của chúng sinh đã cùng tận thì cấp năng lực biện tài cho họ. 16. Năng thí ức niệm (Phạm: Smftidàna): Tức nếu khi chúng sinh đã quên mất chính pháp thì cấp cho họ năng lực ghi nhớ. 17. Năng thí an lạc (Phạm: Sukhadàna): Tức có năng lực mang lại cho người nghe pháp niềm an vui khiến thân tâm họ được nhẹ nhàng, lợi ích; cũng có năng lực tiêu trừ các chướng nạn như tai họa, dịch bệnh của các cõi. 18. Phóng đại quang minh (Phạm: Razmi-pramokwana): Tức dùng năng lực thần thông phóng ra vô lượng ánh sáng, làm các Phật sự để mang lại lợi ích cho vô lượng chúng sinh. II. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 10, phần 2, căn cứ vào phẩm Diệu trang nghiêm vương bản sự trong kinh Pháp hoa quyển 7 mà liệt kê 18 thứ thần biến là: Hông bên phải ra nước, hông bên trái ra lửa, hông bên trái ra nước, hông bên phải ra lửa, trên thân ra nước, dưới thân ra lửa, dưới thân ra nước, trên thân ra lửa, đi trên nước như đi trên đất, đi trên đất như đi trên nước, ẩn trong hư không rồi hiện ở trên đất, ẩn trên đất lại hiện trong hư không, đi giữa hư không, đứng giữa hư không, ngồi giữa hư không, nằm giữa hư không, hiện thân to lớn đầy ắp hư không, hiện thân lớn trở thành nhỏ. [X. Pháp hoa kinh huyền tán Q.10; Giáo thừa pháp số Q.38; Đại tạng pháp số Q.63; Chân ngôn quảng minh mục Q.3].

Thập bát bất cộng pháp

xem Mười tám pháp không chung cùng với hai thừa.

thập bát bất cộng pháp

Mười tám món công đức của Phật, chẳng chung cùng với hai thừa Thanh Văn và Duyên Giác nên gọi là Bất Cộng—The eighteen distinctive characteristics or unique qualities of Buddhas, so called because they are not similar to those of Sravakas and Pratyeka-buddhas. There are two definitions: (A) Tiểu Thừa Thập Bát Bất Cộng Pháp: Mười tám Bất Cộng Pháp của Tiểu Thừa—The eighteen characteristics defined by the Hinayana: 1) (10) Thập Lực: ten kinds of power. 2) (4) Tứ Vô Úy: Four Fearlessnesses. 3) (3) Ba Niệm Trụ: Three kinds of mindfulness. 4) (1) Phật Đại Bi: Đại bi của Phật—The Buddha's great pity. (B) Đại Thừa Thập Bát Bất Cộng: Mười tám điều không lỗi theo Đại Trí Độ Luận—The eighteen distinctive characteristics defined by the Mahayana or eighteen kinds of perfection, according to the Sastra on the Prajna-Paramita-Sutra: 1) Thân Vô Thất: Thân Không Lỗi—Perfection of body—Impacability of action. 2) Khẩu Vô Thất: Miệng Không Lỗi—Perfection of speech—Impacability of speech. 3) Niệm Vô Thất: Ý Không Lỗi—Perfection of memory—Impacability of mind. 4) Vô Dị Tưởng (đối với hết thảy chúng sanh đều bình đẳng không có tư tưởng khác): Không có tư tưởng phân biệt—Impartiality or universality—Having no discriminatory thoughts. 5) Vô Bất Tri Dĩ Xả (xả bỏ mọi pháp không chấp trước): Chẳng phải không biết chuyện xả bỏ—Entire self-abnegation—Unfailing discernment and relinquishment. 6) Vô Bất Định Tâm: Không bao giờ có tâm tán loạn—Ever in samadhi or unfailing concentration. 7) Dục Vô Diệt: Ý muốn cứu độ chúng sanh không hề nhàm chán và không cùng tận—Never diminishing will to save—Endless volition, or desire of saving beings. 8) Tinh Tấn Vô Diệt: Tinh Tấn Không Suy Giảm—Endless zeal or vigor. 9) Niệm Vô Diệt: Niệm Không Giảm hay tỉnh thức không cùng tận—Endless thought or endless mindfulness. 10) Huệ Vô Diệt: Tuệ Không Giảm—Endless wisdom. 11) Giải Thoát Vô Diệt: Giải Thoát Không Giảm hay giải thoát không cùng tận—Endless salvation or liberation. 12) Giải Thoát Tri Kiến Vô Diệt: Giải Thoát Tri Kiến Không Giảm hay không cùng tận—Endless insight into salvation or endless liberated knowledge and vision. 13) Nhất Thiết Thân Nghiệp Tùy Trí Huệ Hành: Mọi Thân Nghiệp Đều Làm Theo Trí Tuệ—Deeds are accordant with wisdom—All actions are in accordance with knowledge and wisdom. 14) Nhất Thiết Khẩu Nghiệp Tùy Trí Huệ Hành: Mọi Khẩu Nghiệp Đều Làm Theo Trí Tuệ—All speech is accordant with wisdom or knowledge and wisdom. 15) Nhất Thiết Ý Nghiệp Tùy Trí Huệ: Mọi Ý Nghiệp Đều Làm Theo Trí Tuệ—Mind is accordant with wisdom or all thoughts are in accordance with knowledge and wisdom. 16) Trí Huệ Tri Quá Khứ Thế Vô Ngại: Trí Tuệ Biết Đời Quá Khứ Không Bị Ngăn Ngại—Omniscience in regard to the past or unobstructed insight into the past. 17) Trí Huệ Tri Vị Lai Vô Ngại: Trí Tuệ Biết Đời Vị Lai Không Bị Ngăn Ngại—Omniscience in regard to the future of unobstructed insight into the future. 18) Trí Huệ Tri Hiện Tại Thế Vô Ngại: Trí Tuệ Biết Đời Hiện Tại Không Bị Ngăn Ngại—Omniscience in regard to the present or unobstructed insight into the present. ; (十八不共法) I. Thập BátBấtCộng Pháp. Gọi đủ: Thập bát bất cộng Phật pháp. Chỉ cho 18 pháp công đức mà chỉ riêng Phật mới có chứ không chung cho hàng Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác. A. Mười tám pháp được nêu trong phẩm Quảng thừa kinh Đại phẩm bát nhã quyển 5, đó là: 1. Thân vô thất: Thân không có lỗi. Phật từ vô lượng kiếp đến nay, giữ giới thanh tịnh, vì công đức này đầy đủ, tất cả phiền não hết sạch nên thân không có lỗi. 2. Khẩu vô thất: Miệng không có lỗi. Phật có vô lượng trí tuệ biện tài, pháp Phật nói ra tùy theo các cơ nghi khiến cho họ đều chứng ngộ. 3. Niệm vô thất: Ý nghĩ không có lỗi. Phật tu các thiền định rất sâu xa, tâm không tán loạn, đối với các pháp tâm không dính dấp, được sự an ổn đệ nhất nghĩa. 4. Vô dị tưởng: Không có ý tưởng khác. Phật đối với tất cả chúng sinh bình đẳng hóa độ, không có tâm lựa chọn, phân biệt.5. Vô bất định tâm: Tâm thường ở trong định. Phật đi đứng ngồi nằm thường không lìa thắng định sâu xa, thường nhiếp tâm trụ trong thiện pháp, đối với thực tướng các pháp không thoái thất. 6. Vô bất tri kỉ xả tâm: Thường ý thức xả tâm của mình. Đối với các cảm thụ như khổ, vui... Phật biết rõ các tướng sinh trụ diệt của chúng trong từng niệm và an trú trong vắng lặng bình đẳng, tức thường ở trạng thái tâm không khổ không vui (xả tâm).7. Dục vô giảm: Ý muốn không giảm. Phật đầy đủ các thiện pháp, luôn muốn hóa độ chúng sinh, tâm không chán bỏ. 8. Tinh tiến vô giảm: Tinh tiến không giảm. Thân tâm của Phật đều tinh tiến, vì độ chúng sinh nên thường thực hành các phương tiện, không dừng nghỉ. 9. Niệm vô giảm: Tâm niệm không giảm. Pháp và tất cả trí tuệ của chư Phật 3 đời tương ứng đầy đủ, không có thoái chuyển. 10. Tuệ vô giảm: Tuệ không giảm. Phật có đầy đủ tất cả trí, vả lại, còn trí tuệ của 3 đời không bị chướng ngại, nên tuệ không khuyết giảm. 11. Giải thoát vô giảm: Giải thoát không giảm. Phật xa lìa tất cả chấp trước, có đầy đủ 2 loại giải thoát hữu vi, vô vi, tất cả phiền não tập khí đều hết sạch, cho nên giải thoát không khuyết giảm. 12. Giải thoát tri kiến vô giảm: Giải thoát tri kiến không giảm. Phật thấy biết các tướng giải thoát, rõ suốt không bị ngăn ngại.13. Nhất thiết thân nghiệptùy trí tuệ hành: Tất cả hành động của thân đều được trí tuệ soi sáng, chỉ dẫn. 14. Nhất thiết khẩu nghiệp tùy trí tuệ hành: Tất cả lời nói từ miệng Phật phát ra đều theo trí tuệ. 15. Nhất thiết ý nghiệp tùy trí tuệ hành: Tất cả ý nghĩ đều được trí tuệ hướng dẫn. Ba pháp trên đây là khi Phật khởi động 3 nghiệp thân, khẩu, ý trước hết xem xét, cân nhắc đúng sai, lợi hại rồi sau mới thực hành theo trí tuệ, cho nên không sai lầm, đều mang lại lợi ích cho chúng sinh. 16. Trí tuệ tri kiến quá khứ thế vô ngại vô chướng:Trí tuệ thấy biết đời quá khứ không bị chướng ngại. 17. Trí tuệ tri kiến vị lai thế vô ngại vô chướng: Trí tuệ thấy biết đời vị lai không bị chướng ngại. 18. Trí tuệ tri kiến hiện tại thế vô ngại vô chướng: Trí tuệ thấy biết đời hiện tại không bị ngăn ngại. B. Chỉ cho 18 Pháp: 10 lực, 4 vô sở úy, 3 niệm trụ và đại bi mà chư Phật tu được ở giai vị Tận trí lúc các Ngài vừa thành đạo, là những pháp mà các bậc Thánh khác không có. Được 10 lực, diệt trừ hết các hoặc tập khí; được 4 vô sở úy, thuyết pháp không sợ sệt; được 3 niệm trụ, không sinh tâm vui mừng, buồn lo; được đại bi, duyên theo tất cả hữu tình, thấy rõ hành tướng 3 khổ. Mười lực là: Xứ phi xứ trí lực, nghiệp dị thục trí lực, tĩnh lự giải thoát đẳng trì đẳng chí trí lực, căn thượng hạ trí lực, chủng chủng thắng giải trí lực, chủng chủng giới trí lực, biến thú hành trí lực, túc trụ tùy niệm trí lực, tử sinh trí lực và lậu tận trí lực. Bốn vô sở úy là: Chính đẳng giác vô úy, lậu vĩnh tận vô úy, thuyết chướng pháp vô úy và thuyết đạo vô úy. Ba niệm trụ là: Đối với người cung kính nghe pháp, Phật giữ tâm bình đẳng, đối với người không cung kính nghe pháp, Phật giữ tâm bình đẳng, đối với người cung kính nghe pháp và không cung kính nghe pháp, Phật cũng giữ tâm bình đẳng. C. Mười tám pháp bất cộng của Phật theo thuyết của các Luận sư khác: Luận Đại trí độ quyển 26 nêu: Nhất thiết trí, công đức vô lượng, đại bi, trong trí tuệ được tự tại, trong định được tự tại, biến hóa tự tại, thụ kí vô lượng, thụ kí không hư dối, lời nói chẳng trái, trí tuệ không giảm, thường làm bố thí, thường xem xét chúng sinh, chẳng mất niệm, không còn tập khí phiền não, không thể đúng như pháp nói ra lỗi của Phật, không thấy được tướng trên đỉnh đầu của Phật, dưới lòng bàn chân mềm mại, được thần thông ba la mật, chuyển tâm chúng sinh khiến cho vui mừng được độ. Nói một cách đại khái, các pháp bất cộng này đều lấy nghĩa trí tuệ làm chính. [X. kinh Văn thù sư lợi vấn Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.17]. II. Thập Bát Bất Cộng Pháp của Bồ Tát.Mười tám Bất cộng pháp nói trong kinh Bảo vũ quyển 4, đó là: 1. Làm việc bố thí không theo người khác chỉ bảo. 2. Giữ giới không theo người khác chỉ bảo.3. Tu nhẫn không theo người khác chỉ bảo. 4. Tinh tiến không theo người khác chỉ bảo.5. Tĩnh lự không theo người khác chỉ bảo.6. Bát nhã không theo người khác chỉ bảo.7. Thực hành nhiếp sự, thu nhiếp được tất cả hữu tình. 8. Hiểu rõ hồi hướng. 9. Dùng phương tiện khéo léo là chính, tự tại khiến tất cả hữu tình tu hành, lại có năng lực thị hiện trong Tối thượng thừa mà được xuất li. 10. Không lui sụt Đại thừa. 11. Khéo thị hiện ở nơi sinh tử niết bàn mà được an vui, lời nói thuận thế tục. 12. Trí tuệ dẫn đường, tuy hiện tiền khởi các thứ thụ sinh, nhưng không tạo tác và xa lìa các lỗi lầm. 13. Đầy đủ 10 điều thiện của 3 nghiệp thân, khẩu, ý. 14. Vì nhiếp thụ các hữu tình nên thường không lìa bỏ, thường nhịn chịu được tất cả các khổ uẩn. 15. Có năng lực thị hiện tất cả những điều mà thế gian ưa thích. 16. Tuy sống giữa những ngu phu khổ não và Thanh văn, nhưng không mất tất cả trí tâm, như kim cương cứng chắc, thanh tịnh trang nghiêm. 17. Nếu khi nhận ngôi vị Pháp vương thì dùng lụa buộc và nước rưới lên đầu. 18. Không xa lìa chính pháp của chư Phật mà thường thị hiện tâm mong cầu. Phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm quyển 26 (bản dịch mới) có nêu thuyết Mười pháp bất cộng của Bồ tát giống với 10 pháp Bất cộng nói trong kinh Bảo vũ. Kinh Phấn tấn vương vấn quyển hạ, cũng nêu 18 pháp Bất cộng của Bồ tát và cũng có nhiều chỗ giống với các thuyết trên.[X. kinh Tự tại vương bồ tát Q.hạ; Hoa nghiêm kinh sớ Q.52; Đại thừa nghĩa chương Q.16].

Thập bát bất cụ pháp

xem Mười tám pháp không chung cùng với hai thừa.

thập bát chi

(十八支) Cũng gọi Thập bát thiền chi, Thập bát chi lâm, Thập bát tĩnh lự chi. Chỉ cho 18 thứ công đức của 4 thiền định cõi Sắc được ghi trongPháp giới thứ đệ quyển thượng, đó là: 1. Năm chi thuộc định Sơ thiền thiên: a. Giác chi(Tầm chi): Hành giả ở cõi Dục nương vào Vị đáo địa, phát khởi các pháp tịnh sắc thuộc Sơ thiền cõi Sắc, tiếp xúc với thân căn cõi Dục, tâm bỗng tỉnh ngộ, liền sinh thức thân, biết rõ sắc xúc này.b. Quán chi (Tứ tâm): Hành giả đã chứng được công đức Sơ thiền, dùng tâm vi tế phân biệt sắc pháp trong thiền định này, thấy các công đức mầu nhiệm và cảnh giới rõ ràng mà ở cõi Dục chưa thấy. c. Hỉ chi: Khi hành giả mới phát thiền thì sinh mừng(hỉ), tư duy niềm vui ở cõi Dục đã xả bỏ rất ít, nay được Sơ thiền, lợi ích rất nhiều, mừng rỡ vô lượng. d. Lạc chi: Lúc hành giả phát Sơ thiền, tâm mừng rỡ đã dứt, thì bỗng nhiên tĩnh lặng, đượcniềm vui khoan khoái. e. Nhất tâm chi (Định chi): Lúc hành giả mới chứng thiền, vì tâm nương theo pháp giác quán hỉ lạc nên có sự tán động nhỏ nhiệm, nếu tâm hỉ lạc(mừng vui) dứt bặt, thì tự nhiên tâm và định hợp nhất. 2. Bốn chi định thuộc Nhị thiền thiên: a. Nội tịnh chi(Nội đẳng tịnh chi): Hành giả muốn lìa Sơ thiền, nên diệt trừ giác quán, giác quán đã diệt thì nội tâm yên tịnh.b. Hỉ chi: Lúc hành giả vừa được nội tịnh thì thoát khỏi nỗi lo về giác quán, được định thù thắng và mừng rỡ vô lượng do nội chứng. c. Lạc chi: Tâm mừng rỡ của hành giả đã dứt thì tâm an nhiên tĩnh lặng, được niềm vui khoan khoái. e. Nhất tâm chi: Tâm mừng vui của hành giả đã dứt thì tâm và định hợp nhất, lóng lặng bất động. 3. Năm chi định thuộc Tam thiền thiên: a. Xả chi: Khi hành giả muốn lìa Đệ nhị thiền nên trừ diệt niềm mừng rỡ của Nhị thiền, mừng rỡ đã diệt thì sinh niềm vui vẻ của Đệ tam thiền; nếu chứng được niềm vui vẻ của Tam thiền thì xả bỏ sự mừng rỡ của Nhị thiền, không sinh tâm hối tiếc. b. Niệm chi: Hành giả đã phát được niềm vui vẻ của Đệ tam thiền thì vui vẻ từ bên trong sinh khởi, cần phải dứt ái niệm thì vui vẻ được tăng trưởng. c. Tuệ chi: Hành giả đã phát được niềm vui vẻ của Đệ tam thiền, nhưng niềm vui vẻ vi diệu này rất khó tăng trưởng, nếu không phải là giải tuệ thiện xảo thì không thể dùng phương tiện để nuôi lớn. d. Lạc chi: Hành giả đã phát niềm vui Đệ tam thiền rồi, nếu khéo dùng 3 chi Xả, Niệm, Tuệ để giữ gìn niềm vui ấy thì nó sẽ bao trùm khắp thân; nếu lìa Tam thiền thì các cõi khác không còn niềm vui khắp thân. e. Nhất tâm chi: Nếu tâm vui vẻ của hành giả đã dứt bặt thì tâm tự hợp nhất với định, lóng lặng bất định. 4. Bốn chi định của Tứ thiền thiên: a. Bất khổ bất lạc chi: Khi hành giả muốn lìa Đệ tam thiền nên trừ diệt niềm vui thì định bất động và xả cùng lúc phát khởi, cho nên trong tâm vắng lặng, không khổ không vui. b. Xả chi: Hành giả đã được định chân thực bất động của Đệ tứ thiền, thì xả bỏ niềm vui khó xả của Đệ tam thiền, không sinh tâm hối tiếc. c. Niệm thanh tịnh chi: Hành giả đã được định chân thực của Đệ tứ thiền, nhớ nghĩ lỗi của các cõi dưới, lại nghĩ đến công đức của chính mình, dùng phương tiện giữ gìn nuôi lớn, không để định này lui mất mà tiến vào phẩm thù thắng. d. Nhất tâm chi: Hành giả đã được định của Đệ tứ thiền, dùng 2 chi Xả và Niệm ở trước để hộ trì thì tâm không còn chỗ nương, tự nhiên vắng lặng, nhất tâm trụ định, giống như gương sáng chẳng động, nước trong không sóng, yên lặng chiếu soi, muôn tượng đều hiện. [X. luận Du già sư địa Q.11; luận Hiển dương thánh giáo Q.2; Tạp tập luận Q.9; luận Câu xá Q.28].

thập bát chủng không

Eighteen kinds of Emptiness—See Mười Tám Hình Thức Của Không.

thập bát chủng tâm vô nhân

Eighteen Rootless Consciousnesses—See Mười Tám Loại tâm Vô Nhân.

thập bát cụ pháp

Eighteen unique qualities of Buddhas—See Thập Bát Bất Cộng.

Thập bát giới

xem Mười tám giới.

thập bát giới

Astadasa dhatavah (skt). (I) Eighteen spheres (six senses, their six objects, and corresponding kinds of consciousness: (A) Lục Căn: Six senses—See Lục Căn in Vietnamese-English Section. (B) Lục Cảnh: Six objects corresponding to the six senses—See Lục Cảnh in Vietnamese-English Section. (C) Lục Thức: Six sense-data or six consciousness—For more information, please see Lục Thức in Vietnamese-English Section and Loka (E) in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. (II) Eighteen realms—Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Ba, Đức Phật đã giải thích cho ông A Nan vì sao bản tính của Thập Bát Giới là Như Lai Tạng diệu chân như tính—In the Surangama Sutra, book Three, the Buddha explained to Ananda the reasons why he said that the eighteen realms were basically the wonderful nature of true suchness, the treasury of the Thus Come One: 1-2-3) Nhãn Sắc Thức Giới: Cakshu-rupa-vijnana-dhatu (skt)—The realm of eye, form, and consciousness: a) Ông A Nan! Ông đã rõ, con mắt và sắc làm duyên, sinh ra nhãn thức. Cái thức đó nhân sinh mắt, lấy mắt làm giới, hay nhân sinh sắc, lấy sắc làm giới?: Ananda! As you understand it, the eyes and form create the conditions that produce the eye-consciousness. Is the consciousness produced because of the eyes, such that the eyes are its realm? Or is it produced because of form, such that form is its realm? • Ông A Nan! Nếu nhân mắt sinh, không có sắc và không, không thể phân biệt; dù có thức dùng để làm gì?: Ananda! If it were produced because of the eyes, then in the absence of emptiness and form it would not be able to make distinctions; and, so even if you had a consciousness, what use would it be? • Cái thấy của ông, nếu phi các màu xanh, vàng, đỏ, trắng, không thể chỉ bày ra, vậy từ đâu lập ra giới hạn: Moreover, Ananda, your seeing is neither green, yellow, red, nor white. There is virtually nothing in which it is represented. Therefore, what is the realm established from? • Nếu nhân sắc sinh, khi nhìn hư không, không có sắc, đáng lẽ thức diệt, sao lại biết hư không?: Suppose it were produced because of form. In emptiness, when there was no form, your consciousness would be extinguished. Then, why is it that the consciousness knows the nature of emptiness? • Nếu khi sắc tướng thay đổi, ông cũng biết nó thay đổi, mà thức của ông không thay đổi, thì đâu lập được giới?: Suppose a form changes. You are also conscious of the changing appearance; but your eye-consciousness does not change, where is the boundary established? • Nếu theo sắc thay đổi, thức là cái thay đổi, không thể có giới hạn: If the eye-consciousness were to change when form changed, then there would be no appearance of a realm. • Nếu không thay đổi, nhãn thức là cái thường hằng, vậy đã từ sắc sinh ra, lẽ không biết được hư không là gì?: If it were not to change, it would be constant, and given that it was produced from form, it should have no conscious knowledge of where there was empty. • Nếu gồm cả hai thứ mắt, sắc cùng sinh, nói hợp, chặng giữa lại phải ly; nói ly, hai bên phải hợp, thể tính tạp loạn, làm sao thành giới?: Suppose the eye-consciousness arose both from the eyes and from form. If they were united, there would still be a point of separation. If they were separated, there would still be a point of contact. Hence, the substance and nature would be chaotic and disorderly; how could a realm be set up? b) Vậy ông nên biết, mắt và sắc làm duyên sinh nhãn, và thức giới, ba chỗ đều không thực có. Ba giới mắt, sắc và nhãn thức vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that as to the eyes and form being the conditions that produce the realm of eye-consciousness, none of the three places exists. Thus, the eyes, form, and the form realm, these three, do not have their origin in causes and conditions, nor do their natures arise spontaneously. 4-5-6)Nhĩ Thanh Thức Giới: Srota-sabda-vijnana-dhatu (skt)—The realm of ear, sound, and consciousness: a) Ông A Nan! Ông đã rõ, tai và tiếng làm duyên, sinh ra nhĩ thức. Cái thức đó nhân tai sinh, lấy làm giới, hay nhân tiếng sinh lấy tiếng làm giới?: Ananda! As you understand it, the ear and sound create the conditions that produce the ear-consciousness. Is this consciousness produced because of the ear such that the ear is its realm, or is it produced because of sound, such that sound is its realm? • Ông A Nan! Nếu nhân tai sinh, hai tướng động tĩnh đã không hiện tiền, cái căn không thành tri giác. Tri giác không thành, cái thức hóa ra hình tướng gì? Nếu cái tai không có động tĩnh, không thành cái nghe, làm sao hình cái tai xen với sắc, chạm với trần, mà gọi được là thức giới. Cái nhĩ thức giới lại từ đâu mà lập ra được?: Ananda! Suppose the ear-consciousness were produced because of the ear. The organ of hearing would have no awareness in the absence of both movement and stillness. Thus, nothing would be known by it. Since the organ would lack awareness, what would characterize the consciousness? You may hold that the ears hear, but when there is no movement and stillness, hearing cannot occur. How, then, could the ears, which are but physical forms, unite with external objects to be called the realm of consciousness? Once again, therefore, how would the realm of consciousness be established? • Nếu nhân tiếng sinh, thức nhân tiếng mà có, không quan hệ gì đến cái nghe, như thế chính cái tướng của tiếng sẽ mất. Thức do tiếng sinh, dù cho tiếng nhân nghe mà có tướng, thì cái nghe phải nghe được thức: Suppose it was produced from sound. If the consciousness existed because of sound, then it would have no connection with hearing. Without hearing, then the characteristic of sound would have no location. Suppose consciousness existed because of sound. Given that sound exists because of hearing, which causes the characteristic of sound to manifest, then you should also hear the hearing-consciousness. • Nếu không nghe được, thức giống như tiếng. Thức đã bị nghe, thì cái gì biết nghe cái thức? Còn nếu không biết, hóa ra như cỏ cây. Không lẽ tiếng và nghe xen lộn thành trung giới. Giới đã không có địa vị ở giữa, thì tướng trong và ngoài từ đâu mà thành lập được?: If the hearing-consciousness is not heard, there is no realm. If it is heard, then it is the same as sound. If the consciousness itself is heard, who is it that perceives and hears the consciousness? If there is no perceiver, then in the end you would be like grass or wood. Nor is it likely that the sound and hearing mix together to form a realm in between. Since a realm in between could not be established, how could the internal and external characteristics be delineated? b) Vậy ông nên biết, tai và tiếng làm duyên sinh nhĩ thức giới, ba chỗ đều không thực có. Ba giới tai, tiếng, và nhĩ thức vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that as to the ear and sound creating the conditions which produce the realm of the ear-consciousness, none of the three places exists. Thus, the ear, sound, and sound-consciousness, these three, do not have their origin in causes and conditions, nor do their natures arise spontaneously. 7-8-9) Tỷ Hương Thức Giới: Ghrana-gandha-vijnana-dhatu (skt)—The realm of nose, smell, and consciousness: a) Ông A Nan! Ông đã rõ, mũi và mùi làm duyên sinh ra tỷ thức. Cái thức đó nhân mũi sinh, lấy mũi làm giới; hay nhân mùi sinh, lấy mùi làm giới?: Moreover, Ananda, as you understand it, the nose and smell create the conditions that produce the nose-consciousness. Is this consciousness produced because of the nose, such that the nose is its realm? Or, is it produced because of smell, such that smell are its realm? • Ông A Nan! Nếu nhân mũi sinh, ý ông lấy gì làm tỷ căn? Cái mũi bằng thịt hay cái tính ngửi biết?: Suppose, Ananda, that the nose-consciousness were produced because of the nose, then in your mind, what do you take to be the nose? Do you hold that it takes the form of two fleshy claws, or do you hold it is an inherent ability of the nature which perceives smells as a result of movement? • Nếu lấy cái mũi bằng thịt, thịt tức là thân căn, thân biết gọi là xúc. Thân không phải là mũi. Xúc là trần của thân. Vậy không có cái gì đáng gọi là mũi, sao lập được giới?: Suppose you hold that it is fleshy claws which form an integral part of your body. Since the body's perception is touch, the sense organ of smelling would be named 'body' instead of 'nose,' and the objects of smelling would be objects of touch. Since it would not even have the name 'nose,' how could a realm be established for it? • Nếu lấy tính ngửi biết làm tỷ căn, ý ông muốn lấy cái gì làm biết ngửi? Nếu lấy chất thịt làm biết ngửi, thì cái mà thịt biết được là xúc chứ không phải tỷ căn. Nếu lấy hư không làm biết ngửi, thì hư không tự có biết, còn chất thịt lẽ ra không có biết. Như vậy đáng lẽ hư không mới thực là ông. Thân ông không phải có biết, thì ông A Nan biết nương vào đâu: Suppose you held that the nose was the perceiver of smells. Then, in your mind, what is it that perceives? Suppose it were the flesh that perceived. Basically, what the flesh perceives is objects of touch, which have nothing to do with the nose. Suppose it were emptiness that perceived. Then emptiness would itself be the perceiver, and the flesh would have no awareness. Thus, empty space would be you, and since your body would be without perception, Ananda would not exist. • Nếu lấy mùi làm biết ngửi, cái biết thuộc về mũi, nào có quan hệ gì đến ông?: If it is the smell that perceives, perception itself would lie with the smell. What would that have to do with you? • Nếu các mùi thơm thúi sinh ở mũi của ông, không phải ở cây y-lan hay chiên đàn mà ra, vậy khi không có hai thứ đó, ông thử ngửi mũi ông xem thơm hay thúi? Mùi thúi không phải thơm, mùi thơm không phải thúi. Nếu ngửi được cả hai mùi thơm thúi, thì một mình ông lẽ ra phải có hai mũi, và đứng trước tôi hỏi đạo, phải có hai A Nan, vậy ai là ông?: If it is certain that vapors of fragrance and stench are produced from your nose, then the two flowing vapors of fragrance and stench would not arise from the wood of Airavana or Chandana. Given that the smell does not come from these two things, when you smell your own nose, is it fragrant, or does it stink? What stinks does not give off fragrance; what is fragrance does not stink. Suppose you say you can smell both the fragrance and the stench; then you, one person, would have tow noses, and I would now be addressing questions to two Anandas. Which one is you? • Nếu mũi có một, thơm thúi không phải hai, thúi là thơm, thơm thành thúi, hai tính không có, vậy theo đâu mà lập giới?: Suppose there is one nose; then fragrance and stench would not be two. Since stench would be fragrance and fragrance would become stench, there would not be two natures, thus what would make up the realm? • Nếu nhân mùi sinh, cái tỷ thức nhân mùi mà có. Như con mắt thấy được, không nhìn con được mắt. Vậy tỷ thức nhân mùi mà có, lẽ ra không biết được mùi. Nếu biết được, không phải do mùi sinh. Còn nếu không biết, không phải là thức. Nếu mùi không có cái biết mùi thì không thành được giới hạn cái thức. Nếu không biết mùi, thì không phải do mùi mà lập ra giới. Không có tỷ thức là chặng giữa, thì nội căn, ngoại trần không thể thành lập, và các tính ngửi biết chỉ là hư vọng: If the nose-consciousness were produced because of smells, it follows that it is in existence just because of smells. Just as the eyes can see but are unable to see themselves, so, too, if it exists because of smells, it would not be aware of smells. If it is aware of smells, then it is not produced from smells. If it had no awareness, the realm of smelling would not come into being. If the consciousness were not aware of smells, then the realm would not be established from smells. Since there is no intermediate realm of consciousness, there is no basis for establishing anything internal or external, either. Therefore, the nature of smelling is ultimately empty and false. b) Vậy ông nên biết, mũi và mùi làm duyên sinh tỷ thức giới, ba chỗ đều không thực có. Ba giới mũi, mùi và tỷ thức vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that, as to the nose and smells being the conditions which produce the realm of the nose-consciousness, none of the three places exists. Thus, the nose, smells, and the realm of smelling, these three, do not have their origin in causes and conditions, nor do their natures arise spontaneously. 10-11-12) Thiệt Vị Thức Giới: Jihva-rasa-vijnana-dhatu (skt)—The realm of tongue, flavors, and consciousness: a) Ông A Nan! Ông đã rõ, lưỡi và vị làm duyên sinh ra thiệt thức. Cái thức đó nhân lưỡi sinh, lấy lưỡi làm giới; hay nhân vị sinh, lấy vị làm giới?: Moreover, Ananda, as you understand it, the tongue and flavors create the conditions that produce the tongue-consciousness. Is the consciousness produced because of the tongue, such that the tongue is its realm, or is it produced because of the flavors, such that the flavors are its realm? • Ông A Nan! Nếu nhân lưỡi sinh, thì các vị trong thế gian ngọt như mía, chua như me, đắng như huỳnh liên, mặn như muối, cay như gừng và quế, mấy thứ đó đều không có vị. Ông thử tự nếm lưỡi ông, xem ngọt hay đắng? Nếu đắng thì cái chi đến nếm lưỡi. Lưỡi đã không tự nếm, thì lấy cái chi mà biết vị? Nếu không đắng, lưỡi không sinh ra được vị, sao lập thành giới?: Suppose, Ananda, that it were produced because of the tongue. Then all the sugar, black plums, Huang-lien, salt, wild ginger, and cassia in the world would be entirely without flavor. Also, when you taste your own tongue, is it sweet or bitter? Suppose the nature of your tongue were bitter. Then, what would it be that tasted the tongue? Since the tongue cannot taste itself, who would have the sense of taste? If the nature of the tongue were not bitter, there would be no flavor engendered by it. Thus, how could a realm be established? • Nếu nhân vị sinh, thì thiệt thức tự mình đã là vị, giống như lưỡi, không thể tự nếm vị mình được, sao biết là vị hay không phải vị? Lại tất cả các vị không phải do một vật sinh ra. Các vị đã do nhiều vật sinh ra, lẽ ra thức có nhiều thể: If it were produced because of flavor, the consciousness itself would be a flavor. The case would be the same as with the tongue-organ being unable to taste itself. How could the consciousness know whether it had flavor or not? Moreover, flavors do not all come from one thing. Since flavors are produced from many things, the consciousness would have many substances. • Nếu thức thể là một, và thể do vị sinh ra, thì đáng lẽ những vị mặn, nhạt, chua, cay hòa hợp cùng nhau sinh ra các tướng sai khác, đồng là một vị, không có phân biệt. Đãõ không có phân biệt, không gọi là thức, sao còn gọi là Thiệt-Vị-Thức Giới? Chẳng lẽ hư không sinh ra tâm thức của ông? Còn nói lưỡi và vị hòa hợp nhau mà sinh, thì cái chặng giữa căn trần đã không có tự tính, làm sao sinh được giới?: Suppose that the consciousness were of a single substance and that the substance was definitely produced from flavor. Then, when salt, bland, sweet, and pungent were combined, their various differences would change into a single flavor and there would be no distinctions among them. If there were no distinctions, it could not be called consciousness. So, how could it further be called the realm of tongue, flavor, and consciousness? Nor can it be that empty space produces your conscious awareness. The tongue and flavors could not combine without each losing its basic nature. How could a realm be produced? b) Vậy ông nên biết, lưỡi và vị làm duyên sinh thiệt thức giới, ba chỗ đều không thực có. Ba giới lưỡi, vị và thiệt thức vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that, as to the tongue and flavors being the conditions and that produce the realm of tongu-consciousness, none of the three places exists. Thus, the tongue, flavors, and the realm of the tongue, these three, do not have their origin in causes and conditions, nor do their natures arise spontaneously. 13-14-15) Thân Xúc Thức Giới: Kaya-sparshtavya-vijnana-dhatu (skt)—The realm of body-consciousness, objects of touch: a) Ông A Nan! Ông đã rõ, thân và xúc làm duyên sinh ra thân thức. Cái thức đó nhân thân sinh, lấy thân làm giới hạn, hay nhân xúc sinh, lấy xúc làm giới?: Moreover, Ananda, as you understand it, the body and objects of touch create the conditions that produce the body-consciousness. Is the consciousness produced because of the body, such that the body is its realm, or is it produced because of objects of touch, such that objects of touch are its realm? • Nếu nhân thân sinh, tất không có hai cái duyên giác quán hợp ly, thân còn biết gì nữa?: Suppose, Ananda, that it were produced because of the body. When there was no awareness of the two conditions of contact with and separation from objects of touch, what would the body be conscious of? • Nếu nhân xúc sinh, chắc không có thân ông, ai không có thân mà biết hợp, biết ly được?: Suppose it were produced because of objects of touch. Then you would not need your body. Without a body, what could perceive contact with and separation from objects of touch? b) Ông A Nan! Vật không thể biết xúc, thân mới biết có xúc. Xúc biết thân, thân biết xúc. Đã là xúc thì không phải là thân. Đã là thân, tức không phải là xúc. Hai tướng thân và xúc vốn không có xứ sở. Hợp với thân thì thành ra tự thể tính của thân. Ly với thân thành ra những tướng hư không. Nội căn và ngoại trần đã không thành, cái giữa là thức làm sao lập được? Giữa đã không lập được, tính trong ngoài là không, vậy từ đâu mà lập được cái giới sinh ra thức của ông?: Ananda! Things do not perceive objects of touch. It is the body that perceives objects of touch. What the body knows is objects of touch, and what is aware of objects of touch is the body. What is objects of touch is not the body, and what is the body is not the objects of touch. The two characteristics of body and objects of touch are basically without a location. If it united with the body, it would be the body's own substance and nature. If it were apart from the body, it would have the same appearance as empty space. Since the inside and the outside don't stand up, how can one set up a middle? The middle cannot be set up either. The inside and the outside are by nature empty. From what realm, then, is your consciousness born? c) Vậy ông nên biết, thân và xúc làm duyên sinh thân thức giới, ba chỗ đều không thực có. Ba giới thân, xúc, và thân thức vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that, as to the body and objects of touch being conditions that produce the realm of body-consciousness, none of the three places exists. Thus, the body, objects of touch, and the realm of the body, thse three, do not have their origin in causes and conditions, nor do their natures arise spontaneously. 16-17-18) Ý-Pháp-Thức Giới: Mano-dharma-vijnana-dhatu (skt)—The realm of mind, dharmas, and consciousness: a) Ông A Nan! Ông đã rõ, ý và pháp làm duyên sinh ra ý thức. Cái thức đó nhân ý sinh, lấy làm giới, hay nhân pháp sinh, lấy làm giới?: Moreover, Ananda, as you understand it, the mind and dharmas create the conditions that produce the mind-consciousness. Is this consciousness produced because of the mind, such that the mind is its realm, or is it produced because of dharmas, such that dharmas are its realm? • Ông A Nan! Nếu nhân ý sinh, trong ý ông chắc có suy nghĩ mới phát minh ý ông. Nếu không có sự vật ở ngoài, ý không sinh ra được. Lìa các pháp duyên, ý không có hình tướng. Vậy thức dùng để làm gì? Thức tâm của ông giống hay khác các tư tưởng và các sự rõ biết. Nếu đồng với ý, sao gọi là do ý sinh. Nếu khác với ý, đáng lẽ không biết gì. Nếu thế, sao nói là do ý sinh. Nếu có biết, sao lại chia ra thức và ý? Nguyên đồng và khác còn không lập được, sao lập được giới?: Supose, Ananda, that it were produced because of the mind. In your mind there certainly must be thoughts; these give expression to your mind. If there are no dharmas before you, the mind does not give rise to anything. Apart from conditions, it has no shape; thus, what use would the consciousness be? Moreover, Ananda, is your conscious awareness the same as your mind-organ, with its capacity to understand and make distinctions, or is it different? If it were the same as the mind, it would be the mind; how could it be something else that arises? If it were different from the mind, it should thereby be devoid of consciousness. If there were no consciousness, how would it arise from the mind? If there were consciousness, how would it differ from the mind? Since it is by nature neither the same nor different, how can a realm be established? • Nếu từ pháp trần sinh, các pháp trong thế gian, không rời năm trần. Ông hãy xem các sắc pháp, thanh pháp, hương pháp, vị pháp và xúc pháp, các tướng trạng đều phân minh, để đối với năm căn, các thứ đó đều không phải về phần trần cảnh của ý căn: Suppose it were produced because of dharmas. None of the dharmas of the world exists apart from the five defiling objects. Consider the dharmas of form, the dharmas of sound, the dharmas of smell, the dharmas of taste, and the dharmas of touch, each has a clearly distinguishable appearance and is matched with one of the five organs. They are not what the mind takes in. • Nếu thức của ngươi nhất định từ pháp trần ra, thì ngươi hãy xem xét hình tướng của mỗi pháp như thế nào? Suppose your consciousness were indeed produced through a reliance on dharmas. Take a close look at them now. What does each and every dharma look like? • Nếu lìa sắc, không, thông, nghẽn, ly, hợp, và sanh diệt, ngoài các tướng nầy chẳng có sở đắc: Underlying the characteristics of form and emptiness, movement and stillness, penetration and obstruction, unity and separation, and production and extinction there is nothing at all. • Sanh thì các pháp sắc không cùng sanh, diệt thì các pháp sắc không cùng diệt, vậy cái nhân sanh ra đã không, làm sao có thức? Thức đã chẳng có, giới từ đâu lập?: When there is production, then form, emptiness, and all dharmas are produced. When there is extinction, then form, emptiness, and all dharmas are extinguished. Since what is causal does not exist, if those causes produce the consciousness, what appearance does the consciousness assume? If there is nothing discernable about the consciousness, how can a realm be established for it? • Vì thế ông nên biết ý căn, pháp trần làm duyên với nhau sanh ra ý thứ giới, ba chỗ đều không, tức ý căn, pháp trần, ý thức giới vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên: Therefore, you should know that, as to the mind and dharmas being the conditions that produce the realm of the mind-consciousness, none of the three places exists. Thus, the mind, dharmas, and the realm of the mind, these three, do not have their origin in causes and conditions, nor do their natures arise spontaneously. ; (十八界) Phạm: Awỉàdaza dhàtava#. Cũng gọi Thập bát trì. Chỉ cho 18 pháp trong thân con người là: Sáu thức năng y, 6 căn sở y và 6 cảnh sở duyên. Giới nghĩa là chủng loại, chủng tộc. Vì 18 chủng loại này đều có tự tính khác nhau cho nên gọi là Thập bát giới. Tức 6 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý(có công năng phát sinh nhận biết), 6 cảnh đối tượng của sự nhận biết là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp và 6 thức là thức mắt, thức tai, thức mũi, thức lưỡi, thức thân, thức ý. Trong 18 giới trừ 6 thức thì thành Thập nhị xứ, mà 6 thức thực tế cũng từ ý xứ mà được triển khai ra. Theo đây thì Thập bát giới hoặc Thập nhị xứ gồm thâu hết thảy pháp. [X. luận Đại tì bà sa Q.71; luận Câu xá Q.1]. (xt. Thập Nhị Xứ).

thập bát hội

(十八會) Gọi đủ: Kim cương đính kinh du già thập bát hội; Kim cương đính kinh thập bát hội. Chỉ cho 18 hội thuyết pháp trong kinh Kim cương đính (Đại bản 10 vạn bài kệ): 1. Hội Nhất thiết Như lai chân thực nhiếp giáo vương: Thuyết trên cõi trời Sắc cứu cánh. 2. Hội Nhất thiết Như lai bí mật chủ du già: Cũng thuyết trên cõi trời Sắc cứu cánh. 3. Hội Nhất thiết giáo tập du già: Thuyết ở cung điện Pháp giới. 4. Hội Hàng tam thế kim cương du già: Thuyết trên đỉnh Tu di lô. 5. Hội Thế gian xuất thế gian kim cương du già: Thuyết trong không giới nước Ba la nại. 6. Hội An lạc bất không tam muội da chân thực du già: Thuyết trên cung trời Tha hóa tự tại. 7. Hội Phổ hiền du già: Thuyết trong cung điện của bồ tát Phổ hiền. 8. Hội Thắng sơ du già: Thuyết trong cung điện của bồ tát Phổ hiền. 9. Hội Nhất thiết Phật tập hội noa cát ni giới võng du già: Thuyết ở cung điện Chân ngôn. 10. Hội Đại tam muội da du già: Thuyết ở cung điện Pháp giới. 11. Hội Đại thừa hiện chứng du già: Thuyết trên cõi trời A ca ni tra. 12. Hội Tam muội da tối thắng du già: Thuyết ở Bồ đề tràng không giới. 13. Hội Đại tam muội da chân thực du già: Thuyết ở Mạn đồ la đạo tràng Kim cương giới. 14. Hội Như lai tam muội da chân thực du già: Thuyết ở Mạn đồ la đạo tràng Kim cương giới. 15. Hội Bí mật tập hội du già: Thuyết ở nơi Dụ sư bà già. 16. Hội Vô nhị bình đẳng du già: Thuyết trong cung điện Pháp giới. 17. Hội Như hư không du già: Thuyết ở cung điện Thực tế. 18. Hội Kim cương bảo quan du già: Thuyết ở cõi trời Đệ tứ tĩnh lự. [X. Kim cương đính kinh du già thập bát hội chỉ qui; kinh Kim cương đính nhất thiết Như lai nhiếp chân thực đại thừa hiện chứng đại giáo vương; Kim cương đính kinh đại du già bí mật tâm địa pháp môn nghĩa quyết Q.thượng].

thập bát hữu

(十八有) Đối lại: Thập bát không. Chỉ cho 18 vọng chấp (có) bị phá bằng 18 không. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 3, phần 1 (Đại 46, 220 hạ) ghi: Phá 18 Hữu, nói 18 không. Mười tám không là: Nội không, ngoại không, nội ngoại không, không không, đại không, đệ nhất nghĩa không, hữu vi không, vô vi không, tất cánh không, vô thủy không, tán không, tính không, tự tướng không, chư pháp không, bất khả đắc không, vô pháp không, hữu pháp không, vô pháp hữu pháp không. (xt. Thập Bát Không).

thập bát hữu học

(十八有學) Cũng gọi Thập bát học nhân. Chỉ cho 18 bậc Thánh hữu học. Đó là: Tùy tín hành, Tùy pháp hành, Tín giải, Kiến chí, Thân chứng, Gia gia, Nhất gián, Dự lưu hướng, Dự lưu quả, Nhất lai hướng, Nhất lai quả, Bất hoàn hướng, Bất hoàn quả, Trung ban, Sinh ban, Hữu hành ban, Vô hành ban và Thượng ban. Thuyết trên đây được thấy trong kinh Phúc điền thuộc Trung a hàm quyển 30, trong đó, những người độn căn trong giai đoạn Kiến đạo là Tùy tín hành, cũng gọi Tín hành; hàng lợi căn là Tùy pháp hành, cũng gọi Pháp hành. Những người Tùy tín hành, khi vào giai vị Tu đạo thì gọi là Tín giải, người Tùy pháp hành khi vào giai vị Tu đạo thì gọi là Kiến chí, cũng gọi Kiến đáo hoặc Kiến đắc. Trong quả Bất hoàn, người được định Diệt tận, gọi là Thân chứng. Trong Nhất lai hướng, người dứt được 3 phẩm cho đến 4 phẩm Tu hoặc ở cõi Dục, gọi là Gia gia. Trong Bất hoàn hướng, người đã đoạn 7 phẩm, cho đến 8 phẩm hoặc, chỉ còn phẩm hoặc thứ 9 làm gián cách trụ quả, gọi là Nhất gián, cũng gọi Nhất chủng, Nhất chủng tử. Tam hướng tam quả của hàng Hữu học, gọi là Dự lưu hướng cho đến Bất hoàn quả. Trong 7 loại Bất hoàn, 5 loại bậc Thánh thụ sinh nơi cõi Sắc, gọi là Trung ban cho đến Thượng lưu ban. Đại thừa nghĩa chương quyển 17, phần đầu cho rằng Tùy tín, Tùy pháp, Tín giải và Kiến chí thống nhiếp tất cả hàng Hữu học, các bậc còn lại đều từ 4 bậc này khai triển ra. Tuy nhiên, các kinh luận nói về điểm này có khác nhau. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 5, phần đầu, trừ Tùy tín, Tùy pháp ra mà thay vào đó bằng Thất cực phản hữu và A la hán hướng. Luận Thuận chính lí quyển 65 thì bỏ Thân chứng, thêm nhập A la hán hướng, còn thứ tự sắp xếp thì đầu tiên là Tứ hướng tam quả, kế là Tùy tín hành, Tùy pháp hành, Tín giải, Kiến chí, Gia gia, Nhất gián, Trung ban, cho đến Thượng lưu ban, đây là thuyết củaHữu bộ. Còn phẩm Phân biệt hiền thánh trong luận Thành thực quyển 1 thì liệt kê Tùy tín hành, Tùy pháp hành, Tùy vô tướng hành, Tu đà hoàn, Hành tư đà hàm, Tư đà hàm, Hành a na hàm, A na hàm, Trung ấm diệt giả, Hữu sinh hữu diệt giả, Hữu bất hành diệt giả, Hữu hành diệt giả, Hữu thượng hành chí A ca ni tra diệt giả, Hữu chí vô sắc xứ giả, Hữu chuyển thế giả, Tíngiải thoát, Kiến đắc và Thân chứng, đây là thuyết Thập bát hữu học của luận Thành thực. [X. luận Đại trí độ Q.22; luận Câu xá Q.24]. (xt. Hữu Học).

Thập bát không

xem Mười tám nghĩa không.

thập bát không

(十八空) Phạm:Awỉàdaza-zùnyatà#. Mười tám thứ không được lập ra để phá các loại tà kiến. Đó là: 1. Nội không (Phạm: Adhyàtma- zùnyatà): Chỉ cho 6 chỗ bên trong như mắt... không có ngã, ngã sở và không có các pháp như mắt... 2. Ngoại không (Phạm: Bahirdhàzùnyatà): Chỉ cho 6 chỗ bên ngoài như sắc... không có ngã, ngã sở và các pháp như sắc... 3. Nội ngoại không (Phạm: Adhyàtma-bahirdhà-zùnyatà): Tức nói chung 12 chỗ trong và ngoài như 6 căn, 6 cảnh không có ngã, ngã sở và không có các pháp như 6 căn, 6 cảnh... 4. Không không (Phạm: Zùnyatàzùnyatà): Không bị vướng mắc vào 3 không nói trên. 5. Đại không (Phạm:Mahà-zùnyatà): Tức các thế giới trong 10 phương không có tướng định phương vị đây kia, xưa nay. 6. Đệ nhất nghĩa không (Phạm: Paramàrtha-zùnyatà), cũng gọi Thắng nghĩa không, Chân thực không. Tức lìa các pháp ra thì không có thực tướng Đệ nhất nghĩa đế nào khác, không chấp trước thực tướng. 7. Hữu vi không (Phạm: Saôskftazùnyatà): Tức pháp do nhân duyên sinh ra và pháp tướng của nhân duyên đều không. 8. Vô vi không (Phạm: Asaôskftazùnyatà): Không bám dính vào pháp niết bàn.9. Tất cánh không (Phạm: Atyantazùnyatà), cũng gọi Chí cánh không. Tức dùng hữu vi không, vô vi không phá tất cả pháp, rốt ráo không còn gì. 10. Vô thủy không (Phạm: Anavaràgra-zùnyatà), cũng gọi Vô hạn không, vô tế không, Vô tiền hậu không. Tức tất cả pháp tuy sinh khởi từ vô thủy nhưng cũng xa lìa tướng chấp thủ đối với pháp này(pháp vô thủy). 11. Tán không (Phạm: Anavakarazùnyatà), cũng gọi Tán vô tán không, Bất xả không, Bất xả li không. Tức các pháp chỉ do giả hòa hợp mà có, cho nên rốt cuộc thì không có tướng chia lìa tan diệt. 12. Tính không (Phạm: Prakftizùnyatà), cũng gọi Bản tính không, Phật tính không. Tức tự tính các pháp là không. 13. Tự tướng không (Phạm: Svalakwaịa-zùnyatà), cũng gọi Tự cộng tướng không, Tướng không. Tức tướng tổng biệt, đồng dị của các pháp đều không. 14. Chư pháp không (Phạm: Sarvadharma-zùnyatà), cũng gọi Nhất thiết pháp không. Tức tất cả pháp uẩn, xứ, giới... tự tướng bất định, lìa tướng chấp thủ. 15. Bất khả đắc không (Phạm: Anupalambha-zùnyatà), cũng gọi Vô sở hữu không. Tức trong các pháp do nhân duyên sinh, không có ngã và pháp. 16. Vô pháp không (Phạm: Abhàvazùnyatà), cũng gọi Vô tính không, Phi hữu không. Tức nếu các pháp đã hoại diệt thì không có tự tính, các pháp vị lai cũng vậy. 17. Hữu pháp không (Phạm: Svabhàva-zùnyatà), cũng gọi Tự tính không, Phi hữu tính không. Tức các pháp chỉdo nhân duyên mà có, cho nên cái có ở hiện tại tức chẳng phải có thật. 18. Vô pháp hữu pháp không (Phạm: Abhàva-svabhàva-zùnyatà), cũng gọi Vô tính tự tính không. Tức hết thảy pháp sinh diệt và pháp vô vi trong 3 đời đều không có thật. [X. phẩm Tựa trong kinh Đại phẩm Bát nhã Q.1; kinh Phóng quang bát nhã Q.1; kinh Quang tán bát nhã Q.1; kinh Đại bát nhã Q.479; 480; kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa Q.thượng; luận Đại trí độ Q.31].

thập bát không luận

(十八空論) Luận, 1 quyển, do ngài Chân đế dịch vào đời Trần, được thu vào Đại chính tạng tập 31. Nội dung đầu tiên giải thích nghĩa của 18 thứ không, nói rõ 18 không này được thu vào pháp nghĩa 16 không, 14 không. Kế đến giải thích 7 chân như, nói rõ ý nghĩa chân thực của 10 thắng trí. Thực ra, luận này giải thích phẩm Tướng và phẩm Chân thực trong luận Trung biên phân biệt của ngài Thiên thân, do đó mà người xưa lầm cho luận này là tác phẩm của ngài Long thụ, tuy nhiên, đến nay vẫn chưa rõ ai là tác giả. Nội dung luận này ngoài điểm bao hàm luận Trung biên phân biệt ra, các phần khác cũng rất quan trọng, nhất là về mặt lịch sử phát triển Duy thức học đáng được chú ý.

thập bát khế ấn

(十八契印) Cũng gọi Thập bát đạo khế ấn, Thập bát đạo. Chỉ cho 18 thứ ấn tướng thông dụng trong các pháp tu của Mật giáo, là hình cơ bản của ấn tướng; tức là hình tướng chắp tay chủ yếu mà người tu hành Mật giáo sử dụng khi quán pháp, được chia thành 6 pháp, thứ tự sắp xếp theo nghi thức tiếp đãi khách quí của Ấn độ. Đó là: 1. Hộ thân pháp: Cũng gọi Trang nghiêm hành giả pháp, tức là pháp Trừ uế tịnh thân. Tất cả có 5 ấn, trước hết kết ấn Tịnh tam nghiệp để làm cho 3 nghiệp của chính hành giả được trong sạch; kế đến kết ấn Tam muội da của Phật bộ, Liên hoa bộ và Kim cương bộ cầu sự gia bị cho 3 nghiệp thân, khẩu, ý được vững chắc; sau hết kết ấn Bị giáp hộ thân cầu được mặc áo giáp mũ trụ của Như lai để trang nghiêm thân hành giả. 2. Kết giới pháp: Kết giới tức là hạn định phạm vicủađạo tràng bằng cách lập các bức tường ở 4 phía. Có 2 ấn cho việc này là Địa kết ấn làm cho nơi ở được vững chắc và Tứ phương kết ấn xây tường hoặc hàng rào bao bọc 4 phía, đề phòng người ngoài xâm nhập. 3. Đạo tràng pháp: Khu đất đã được kết giới thì nên lập đạo tràng để trang nghiêm. Có 2 ấn cho việc này là ấn Đạo tràng quán và ấn Đại hư không tạng. Nhờ năng lực gia trì của ấn ngôn (ấn khế và chân ngôn) này mà thân độ của đạo tràng sở quán và vật cúng dường sở tưởng (được nghĩ tưởng đến) đều chân thực không khác. 4. Khuyến thỉnh pháp: Khi đạo tràng đã được kiến lập xong thì chính thức cung thỉnh Bản tôn thánh chúng giáng lâm đạo tràng. Trong đó, trước hết kết ấn Bảo xa lộ (một loại xe lớn) để dâng xe 7 báu đón rước Hải hội bản tôn, kế đến kết ấn Thỉnh xa lộ để cung thỉnh Chư Tôn ngồi xe đến đạo tràng, sau cùng kết ấn Nghinh thỉnh Bản tôn để tiếp rước Chư Tôn rời xe vào đạo tràng. 5. Kết hộ pháp: Sau khi Bản tôn thánh chúng vào đạo tràng thì kết Bộ chủ ấn(ấn Minh vương) của 3 bộ thuộc pháp tu để xua đuổi tà quỉ, làm cho đạo tràng vững chắc, đồng thời, kết ấn Hư không võng, giăng lưới kim cương cứng chắc trên hư không che phủ đạo tràng, khiến cho người vào đạo tràng không bị chướng nạn; sau hết, kết ấn Hỏa viện(tường lửa) bao bọc chung quanh để bảo vệ đạo tràng. 6. Cúng dường pháp: Trước hết kết ấn Át già, dùng nước thơm rửa 2 chân cho đến tắm gội thân thể của Thánh chúng; kế đến kết ấn Hoa tọa đặt tòa hoa sen nở rộ tròn đầy để Thánh chúng an tọa; sau hết kết ấn Phổ cúng dường, dâng các vật cúng để cúngdường khắp các Thánh chúng. Sáu pháp nói trên hợp chung thành 18 khế ấn(như hình vẽ ở sau), căn cứ theo sự ghi chép trong Thập bát khế ấn, tương truyền tác giả của pháp này là ngài Huệ quả của Trung quốc, hoặc là ngài Không hải của Nhật bản. Hình Tướng Của Mười Tám Khế Ấn: Từ xưa, đối với ý nghĩa tượng trưng của con số 18, có nhiều thuyết khác nhau. Có thuyết cho rằng số 18 biểu thị cho Thập Đại hư không tạng Bộ chủ (Mã đầu) Hoa tọa Phổ cúng dường Bảo xa lộ Tứ phương kết Thỉnh xa lộ Hư không võng Đạo tràng quán Nghinh thỉnh Hỏa viện Át già Tịnh tam nghiệp Phậtbộ tam muội da Liên hoa bộ tam muội da Kim cương bộ tam muội da Bị giáp hộ thân Địa kếtbát không của Bát nhã, hoặc biểu thị Thập bát giới, tượng trưng cho đức pháp thân của Như lai, hoặc biểu thị 5 đức Phật 4 vị Bồ tát của Kim cương giới và 9 vị tôn trong viện Trung đài bát diệp của Thai tạng giới, hoặc biểu thị hành nghi chung của Thập bát hội Kim cương giới. Pháp tu kết 18 khế ấn cúng dường Bản tôn, gọi là Thập bát đạo pháp, gọi tắt Thập bát đạo. Thập bát đạo niệm tụng thứ đệ pháp được tu hành trước tiên trong Tứ độ gia hạnh, cũng gọi tắt là Thập bát đạo. Bản tôn của pháp tu này thông thường được định theo phép Tung hoa chọn Phật (tung hoa lên các tượng Phật, hễ hoa dính vào đức Phật nào thì thờ đức Phật ấy làm Bản tôn). Thập bát đạo pháp là pháp Tô tất địa mà Thai mật Nhật bản tu riêng, còn Đông mật thì thu nhiếp chung vào pháp Kim cương giới. Ấn tướng và chân ngôn của Thập bát khế ấn như sau: 1. Tịnh tam nghiệp ấn: Liên hoa hợp chưởng, tức ngón tay dựng đứng, 2 bàn tay chắp lại. Chân ngôn là: Án tát phạ bà phạ du đà tát phạ đạt ma tát phạ bà phạ du độ hám(Qui mệnh tự tính thanh tịnh nhất thiết pháp tự tính thanh tịnh ngã). 2. Phật bộ tam muội da ấn: Hư tâm hợp chưởng, tức có 2 ngón trỏ, bấm vào đốt trên của 2 ngón giữa, 2 ngón cái bấm vào đốt dưới của 2 ngón trỏ. Chân ngôn là: Án đát tha nghiệt đô nạp bà phạ dã sa phạ ha(Qui mệnh Như lai phát sinh thành tựu viên mãn). 3. Liên hoa bộ tam muội da ấn (cũng gọi Bát diệp ấn): Hư tâm hợp chưởng, tức 2 ngón trỏ, 2 ngón giữa và 2 ngón vô danh đứng dựng mở ra. Chân ngôn là: Án bả na mô nạp bà phạ dã sa phạ ha (Qui mệnh liên hoa phát sinh thành tựu viên mãn). 4. Kim cương bộ tam muội da ấn: Tay trái úp, tay phải ngửa, lưng 2 tay áp sát, 2 ngón cái và 2 ngón út móc vào nhau, 3 ngón ở giữa như chày 3 chĩa. Chân ngôn là:Án phạ nhật lô nạp bà phạ dã sa phạ ha(Qui mệnh Kim cương phát sinh thành tựu viên mãn). 5. Bị giáp hộ thân ấn(cũng gọi Bị giáp ấn, Hộ thân tam muội da): Hai tay kết nội phược, 2 ngón giữa dựng đứng bấm đầu vào nhau, co 2 ngón trỏ như hình móc câu, 2 ngón cái dựng thẳng, 2 ngón vô danh dính vào nhau. Chân ngôn là: Án phạ nhật la nghĩ nhĩ bát la nẫm bả đá dã sa bà hạ(Qui mệnh Kim cương hỏa cực uy diệu thành tựu). 6. Địa kết ấn (cũng gọi Kim cương quyết): Ngón vô danh, ngón giữa bên trái ép sát vào ngón vô danh, ngón giữa bên phải, các ngón út, ngón trỏ, ngón cái còn lại giao nhau. Chân ngôn là: Án chỉ lí chỉ lí phạ nhật la phạ nhật lí bộ luật mãn đà mãn đà hồng phát tra(Qui mệnh cấm phạt cực cấm phạt kim cương kim cương định kiên cố kết phược cực kết phược tồi phá khủng bố).7. Tứ phương kết ấn(cũng gọi Kim cương tường ấn). Ấn tướng giống như ấn Địa kết ở trên, nhưng 2 ngón cái dang ra. Chân ngôn là: Án tát la tát la phạ nhật la bát la ca la hồng phát tra (Qui mệnh kiên cố cực kiên cố kim cương tường khủng bố). 8. Đạo tràng quán: Ấn tướng là Như lai quyền ấn, 1 trong 6 Quyền ấn, tức nắm tay phải nắm lấy ngón cái của nắm tay trái. Chân ngôn là: Án bộ khiếm, chuyển uế độ hữu tướng tuần hoàn biến thành Tịnh độ tịch tĩnh vô vi, có nghĩa đầy khắp pháp giới.9. Đại hư không tạng ấn: Chắp 2 tay, 2 ngón giữa ép sát nhau, hai ngón trỏ giao nhau như hình báu. Chân ngôn là: Án nga nga nẳng tam bà phạ nhật la hộc (Qui mệnh hư không sinh kim cương hoan hỉ). 10. Bảo xa lộ ấn(cũng gọi Tống xa lộ ấn): Hai tay giao nhau bên trong và ngửa bàn tay, cạnh 2 ngón trỏ giao nhau, 2 ngón cái bấm vào chân đốt dưới của ngón trỏ. Chân ngôn là: Án đô rô đô rô hồng. Đô rô (turu turu) là tiếng chuyển động của xe; Hồng là chủng tử của sứ giả Kim cương, cũng là chủng tử của bánh xe. 11. Thỉnh xa lộ ấn: Ấn tướng giống như ấn Bảo xa lộ, nhưng ngón cái không dính vào ngón trỏ. Chân ngôn là: Na ma tất để la dã địa vĩ ca nẫm đát tha nghiệt đa án phạ nhật lãng ngân nhĩ dã yết lợi sa dã sa phạ ha(Qui mệnh tam thế chư Như lai, qui mệnh kim cương thân triệu thỉnh thành tựu).12. Nghinh thỉnh ấn (cũng gọi Nghinh thỉnh Bản tôn ấn, Triệu thỉnh ấn): Kết nội phược, ngón trỏ bên phải dựng giống như cái móc. Chân ngôn là: Án nhĩ nẵng nhĩ ca ế hê hi sa phạ ha (Qui mệnh nhân giả triệu thỉnh). 13. Bộ chủ ấn(cũng gọi Bộ chủ kếtgiới ấn, Tịch trừ kết giới ấn): Chắp 2 tay, co 2 ngón trỏ, 2 ngón vô danh để vào lòng bàn tay, lưng 2 đầu ngón dính nhau, 2 ngón cái dựng đứng dang ra. Chân ngôn là: Án a mật lí đô nạp bá phạ hồng phát tra sa phạ ha(Qui mệnh cam lộ phát sinh tồi phá khủng bố).14. Hư không võng ấn (cũng gọi kim cương võng ấn). Ấn tướng giống như ấn Địa kết ở trên, nhưng 2 ngón cái bấm vào 2 ngón trỏ. Chân ngôn là: Án vĩ sa phổ la nại lạc khất xoa phạ nhật la bán nhạ la hồng phát tra(Qui mệnh quảng phổ ủng hộ kim cương võng tồi phá khủng bố). 15. Hỏa viện ấn(gọi đủ là Kim cương hỏa viện ấn): Tay trái che trên lưng tay phải. Chân ngôn là: Án a tam mãng nghĩ nhĩ hồng phát tra(Qui mệnh vô đẳng hỏa tồi phá khủng bố). 16. Át già ấn: Hai tay bưng đồ đựng nước át già(nước thơm). Chân ngôn là: Nẵng mạc tam mãn đa một đà nam nga nga sa mãng sa phạ ha(Qui mệnh phổ biến chư Phật hư không đẳng vô đẳng thành tựu). 17. Hoa tọa ấn: Ấn tướng giống như ấn Liên hoa bộ tam muội da ở trên. Chân ngôn là: Án ca ma la sa phạ ha (Qui mệnh liên hoa thành tựu). 18. Phổ cúng dường ấn: Hai tay kết Kim cương hợp chưởng, đầu 2 ngón trỏ dính vào nhau như hình báu, 2 ngón cái dựng đứng. Chân ngôn là: Án a mô ca bố nhạ ma ni bả nạp ma phạ nhật lệ đát tha nghiệt đa vĩ lộ chỉ đế tam mãn đa bát la tát la hồng(Qui mệnh bất không cúng dường bảo châu liên hoa kim cương Như lai thắng quán phổ biến thư triển năng mãn nguyện). [X. Vô lượng thọ Như lai tu quán hạnh cúng dường nghi quĩ; Như ý luân quĩ; Bảo sách sao Q.3; Thập bát khế ấn nghĩa thích sinh khởi].

thập bát khổ

(十八苦) Mười tám khổ. Kinh Bồ tát địa trì quyển 7 nêu 18 khổ là: Ngu si báo khổ, hành khổ, sở nhiếp cứu cánh khổ, nhân khổ, sinh khổ, tự tác khổ, tha tác khổ, ác giới khổ, ác kiến khổ, bản nhân khổ, đại khổ, địa ngục khổ, thiện thú nhiếp khổ, nhất thiết tính khổ, vô trí khổ, tăng trưởng khổ, thụ khổ và bỉ uế khổ. Luận Xá lợi phất a tì đàm quyển 12 cũng liệt kê 18 thứ khổ: Lão, tử, ưu, bi, khổ, não, đại khổ tụ, vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu và sinh.

thập bát la hán

(十八羅漢) Chỉ cho 18 vị A la hán trụ mãi trong thế gian để hộ trì chính pháp. Vì các ngài là những bậc Chân nhân đáng nhận sự cúng dường của trời và người nên cũng gọi là Thập bát Ứng thân. Trong kinh điển có chép về Thập lục La hán chứ không có thuyết Thập bát La hán. Những người đầu tiên đã vẽ tượng Thập bát La hán là các vị Trương huyền và Quán hưu sống vào thế kỉ X Tây lịch. Về sau, sa môn Giác phạm và Đại văn hào Tô đông pha đều có làm kệ tán thán Thập bát La hán, nhất là 18 bài kệ tán của Tô đông pha, mỗi bài đều có nêu tên vị La hán. Ngoài Thập lục La hán, tôn giả Khánh hữu được lấy làm vị La hán thứ 17 và tôn giả Tân đầu lô là vị La hán thứ 18. Trên thực tế, tôn giả Khánh hữu chính là ngài Nan đề mật đa la, người soạn Pháp trụ kí; còn tôn giả Tân đầu lô chính là Tân độ lô phả la đọa, vốn đã là vị đầu tiên trong 16 vị La hán, vì không thuộc kinh điển, lại cũng không hiểu tiếng Phạm nên lập thêm lầm như thế. Nhưng do đó mà Thập lục La hán đã dần dần phát triển thành Thập bát La hán. Từ đời Nguyên trở đi, trong Đại điện của nhiều chùa viện đều có thờ Thập bát La hán và đắp vẽ hoặc chạm khắc tượng La hán, nói chung phần nhiều cũng lấy Thập bát La hán làm chính, từ đó, Thập bát La hán ở Trung quốc phổ biến hơn Thập lục La hán nhiều. Ngoài ra Tượng 18 vị La hán đắp bằng đất ở chùa Báo ân, huyện Thọ, tỉnh An huy, Trung quốc còn có chỗ thêm tôn giả Ca diếp và tôn giả Quân đồ bát thán thành 18 La hán; các vùng ở Tây tạng có nơi thêm ngài Đạt ma đa la, Bố đại hòa thượng, hoặc thêm 2 tôn giả Hàng long và Phục hổ, hoặc thêm 2 vị Ma da phu nhân và Di lặc. [X. Phật tổ thống kí Q.33]. (xt. Thập Lục La Hán).

Thập Bát Nê Lê

(十八泥犁): xem Thập Bát Địa Ngục(十八地獄) bên trên.

thập bát pháp giới

See Thập Bát Giới.

thập bát sinh xứ

(十八生處) Cũng gọi Thập bát thiên. Chỉ cho 18 tầng trời cõi Sắc là những nơi sinh đến của người tu Tứ thiền định: I. Ba tầng trời Sơ thiền: 1. Phạm chúng thiên: Phạm nghĩa là thanh tịnh. Tầng trời này không có dục nhiễm, gồm dân chúng của Thiên chủ cõi Sơ thiền. 2. Phạm phụ thiên: Tầng trời này gồm các quan liêu phụ tá của Thiên chủ Sơ thiền. 3. Đại phạm thiên: Tầng trời này là chủ của cõi trời Sơ thiền, tên tiếng Phạm làZikhi-brahman (Thi khí), đứng đầu 3 nghìn thế giới đại thiên. II. Ba tầng trời Nhị thiền: 1. Thiểu quang thiên: Tầng trời này có ánh sáng ít nhất. 2. Vô lượng quang thiên: Tầng trời này có vô lượng ánh sáng. 3. Quang âm thiên: Tầng trời này dùng ánh sáng làm ngôn ngữ. III. Ba tầng trời Tam thiền: 1. Thiểu tịnh thiên: Những lạc thụ trong ý thức của tầng trời này thanh tịnh. 2. Vô lượng tịnh thiên: Sự thanh tịnh ở tầng trời này thù thắng hơn cõi trời Thiểu tịnh không thể tính lường. 3. Biến tịnh thiên: Những lạc thụ ở tầng này là thù thắng nhất, sự thanh tịnh lan tràn khắp. IV. Chín tầng trời Tứ thiền: 1. Vô vân thiên: Các tầng trời nói trên nương vào mây mà trụ, còn tầng trời này thì ở trên mây, cho nên gọi là Vô vân. 2. Phúc sinh thiên: Những người tu phúc đức thù thắng được sinh về tầng trời này.3. Quảng quả thiên:Quả báo của tầng trời này rộng lớn không cõi trời nào sánh bằng. 4. Vô tưởng thiên: Chư thiên cõi trời này có quả báo từ khi sinh ra đến khi chết đi, các hoạt động tâm tưởng đều ngưng. 5. Vô phiền thiên: Chư thiên cõi trời này đã lìa nỗi khổ ở cõi Dục và niềm vui ở cõi Sắc nên không còn phiền não. 6. Vô nhiệt thiên: Tầng trời này xét về tâm cảnh thì không có chỗ nương, thường mát mẻ tự tại, không có các nhiệt não. 7. Thiện kiến thiên: Chư thiên ở đây thấy suốt các thế giới trong 10 phương, trong sạch không có trần cấu. 8. Thiện hiện thiên: Tầng trời này không có chướng ngại. 9. Sắc cứu cánh thiên: Chư thiên tầng trời này quán xét đến chỗ cùng cực của các trần.[X. Thiên thai tứ giáo nghi]. (xt. Sắc Giới).

thập bát sư

(十八師) Chỉ cho 18 nhà ngoại đạo Ấn độ sống cùng thời đại với đức Phật, tức là 3 nhóm Lục sư Nhất thiết trí, Thần thông và Vi đà. 1. Nhất thiết trí lục sư: Gồm Phú lan na ca diếp, Mạc già lê câu xá lê tử, San xà da tì la chi tử, A kì đa sí xá khâm bà la, Ca la cưu đà ca chiên diên và Ni càn đà nhã đề tử. Nhóm ngoại đạo này cố chấp tà lí, phát khởi tà trí, nhưng lại có biện tài vô ngại nhờ trí tuệ sinh ra. 2. Thần thông lục sư: Chỉ cho 6 người như Tu bạt đà... được thiền định thế gian, phát 5 thần thông, là nhờ tutuệ mà sinh ra. 3. Vi đà lục sư(cũng gọi Văn tự ngoại đạo): Chỉ cho 6 người như A lan ca lan... có khả năng đọc tụng 18 kinh trong 4 bộ Vi đà, là do văn tuệ sinh ra. [X. Chú duy ma cật kinh Q.3; Ma ha chỉ quán Q.10 thượng, Bách luận sớ Q.thượng; Tứ giáo nghĩa Q.2].

thập bát trọng địa ngục

(十八重地獄) Mười tám tầng địa ngục. 1. Theo kinh Thập bát nê lê thì 18 tầng địa ngục là: Tiên tựu hồ, Cư lô tốt lược, Thừa cư đô, Lâu, Bàng tốt, Thảo ô ti thứ, Đô ý nan thả, Bất lô đô ban hô, Ô cánh đô, Nê lô đô, Ô lược, Ô mãn, Ô tịch, Ô hô, Tu kiện cừ, Mạt đầu càn trực hô, Khu bô đồ và Trầm mạc. 2. Theo kinh Vấn địa ngục thì mười tám địa ngục là: Nê lê, Đao sơn, Phí sa, Phí thỉ, Hắc thân, Hỏa xa, Hoạch thang, Thiết sàng, Ngại sơn, Hàn băng, Bác bì, Súc sinh, Đao binh, Thiết ma, Băng địa ngục, Thiết sách, Thư trùng và Dương đồng. Trong Thất tu loại cảo của Lang anh đời Minh cho rằng 6 căn, 6 trần, 6 thức không có nơi chốn là 18 tầng địa ngục.

thập bát tuệ quán

Theo Thanh Tịnh Đạo, có mười tám pháp tuệ quán—According to The Path of Purification, there are eighteen Principal Insights of the abandoning by substitution of opposites. 1) Đoạn thường tưởng bằng quán vô thường: The abandoning of the perception of permanence, through the means of the contemplation of impermanence. 2) Đoạn lạc tưởng bằng quán khổ: The abandoning of the perception of pleasure, through the means of the contemplation of pain. 3) Đoạn ngã tưởng bằng quán vô ngã: The abandoning of the perception of self, through the means of the contemplation of not self. 4) Đoạn khoái cảm bằng quán ly dục: The abandoning of delight, through the means of the contemplation of dispassion (revulsion). 5) Đoạn tham bằng quán ly tham: The abandoning of greed, through the means of the contemplation of fading away. 6) Đoạn sinh bằng quán diệt: The abandoning of originating, through the means of the contemplation of cessation. 7) Đoạn chấp thủ bằng quán từ bỏ: The abandoning of grasping, through the means of the contemplation of relinquishment. 8) Đoạn cái tưởng nguyên vẹn bằng quán hoại: The abandoning of the perception of compactness, through the means of the contemplation of destruction. 9) Đoạn tích lũy bằng quán diệt: The abandoning of accumulation, through the means of contemplation of fall. 10) Đoạn tưởng bền bỉ bằng quán biến đổi: The abandoning of the perception of lastingness, through the means of the contemplation of change. 11) Đoạn tướng bằng quán vô tướng: The abandoning of the sign, through the means of the contemplation of the signless. 12) Đoạn dục bằng quán vô dục: The abandoning of desire, through the means of the contemplation of the desireless. 13) Đoạn tà giải bằng quán không: The abandoning of misinterpreting, through the means of the contemplation of voidness. 14) Đoạn tà giải do chấp thủ vào một cái lõi kiên cố bằng quán đi sâu vào tăng thượng tuệ: The abandoning of misinterpreting due to grasping at a core, through the means of insight into states that is higher understanding. 15) Đoạn tà giải do mê mờ bằng chánh tri kiến: The abandoning of misinterpreting due to confusion, through the means of correct knowledge and vision. 16) Đoạn tà giải do y cứ các hành bằng quán nguy hiểm trong các hành: The abandoning of misinterpreting due to reliance on formations, through the means of the contemplation of danger in them. 17) Đoạn phi tư duy bằng quán tư duy: The abandoning of non-reflexion, through the means of the contemplation of reflexion. 18) Đoạn tà giải do trói buộc bằng quán quay đi: The abandoning of misinterpreting due to bondage, through the means of the contemplation of turning away.

thập bát tông

(十八宗) Chỉ cho 18 tông của Phật giáo Nhật bản. Tức là tông Hoa nghiêm, tông Tam luận, tông Pháp tướng, Luật tông, tông Câu xá, tông Thành thực, tông Thiên thai, tông Tịnh độ, Chân tông, tông Nhật liên, tông Lâm tế, tông Tào động, tông Hoàng bá, tông Tu nghiệm và Thời tông.

Thập Bát Tằng Địa Ngục

(十八層地獄): xem Thập Bát Địa Ngục(十八地獄) bên trên.

thập bát viên tịnh

(十八圓淨) Cũng gọi Thập bát viên mãn, Thập bát cụ túc. Chỉ cho 18 thứ công đức viên mãn thù thắng của Tịnh độ(Thụ dụng độ) nơi chư Phật an trụ. Đó là: 1. Sắc tướng viên tịnh(cũng gọi Hiển sắc viên mãn, Sắc loại cụ túc): Cõi thụ dụng của chư Phật phóng ra ánh sáng chiếu soi khắp tất cả thế giới. 2. Hình mạo viên tịnh (cũng gọi Hình sắc viên mãn, Tướng mạo cụ túc, Trang nghiêm cụ túc): Những nơi chư Phật du hóa và những nơi chư Phật an trụ, đều có đầy đủ các thứ trang nghiêm vi diệu. 3. Lượng viên tịnh(cũng gọi Phân lượng viên mãn, Lượng cụ túc): Tịnh độ của chư Phật rộng lớn vô biên, không thể nào đo lường được. 4. Xứ viên tịnh(cũng gọi Phương sở viên mãn, Phương sở cụ túc): Tịnh độ là nơi chốn vượt ngoài 3 cõi, không có Khổ đế và Tập đế. 5. Nhân viên tịnh(cũng gọi Nhân viên mãn, Nhân cụ túc): Tịnh độ là do công năng thiện pháp xuất thế gian sinh khởi, chứ chẳng phải lấy Tập đế của pháp thế gian làm nhân. 6. Quả viên tịnh(cũng gọi Quả viên mãn, Quả cụ túc): Tịnh độ lấy trí Thanh tịnh tự tại duy thức của Như lai và Bồ tát làm thể tính, chứ không phải lấy Khổ đế làm thể tính.7. Chủ viên tịnh(cũng gọi Chủ viên mãn, Chủ cụ túc): Tịnh độ được Như lai hộ trì, Như lai thường an trụ chính giữa Tịnh độ. 8. Trợ viên tịnh (cũng gọi Phụ dực viên mãn, Bạn cụ túc, Trợ bạn cụ túc): Tịnh độ là trú xứ an lạc của các vị đại Bồ tát, trong đó các Bồ tát thường giúp ích Phật đạo, thường tu hành chính pháp và dạy người khác tu hành chính pháp. 9. Quyến thuộc viên tịnh (cũng gọi Quyến thuộc viên mãn, Quyến thuộc cụ túc): Tịnh độ này là nơicóvô lượng bát bộ chúng tuần hành. 10. Trì viên tịnh (cũng gọi Trụ trì viên mãn, Trụ trì cụ túc): Trong Tịnh độ, các Bồ tát và quyến thuộc giữ gìn pháp vị hỉ lạc rộng lớn để nuôi lớn pháp thân. 11. Nghiệp viên tịnh(cũng gọi Sự nghiệp viên mãn): Các vị Bồ tát làm tất cả việc ích lợi cho hàng Nhị thừa và phàm phu. 12. Lợi ích viên tịnh(cũng gọi Nhiếp ích viên mãn, Thuận nhiếp cụ túc): Tịnh độ này xa lìa tất cả phiền não, tai nạn và sự trói buộc của 3 cõi. 13. Vô bố úy viên tịnh(cũng gọi Vô úy viên mãn, Vô úy cụ túc): Tịnh độ này xa lìa sự xâm nhập quấy nhiễu của các loài ma như Thiên ma, Tử ma nên không có sợ hãi.14. Trụ xứ viên tịnh(cũng gọi Trụ xứ viên mãn, Trụ chỉ cụ túc): Tịnh độ này là nơi nương ở của Như lai, cũng là nơi nương ở có đầy đủ tất cả sự trang nghiêm thù thắng. 15. Lộ viên tịnh(cũng gọi Lộ viên mãn, Đạo lộ cụ túc): Tịnh độ này dùng 3 tuệ văn, tư, tu trong chính pháp Đại thừa làm con đường qua lại thông suốt. 16. Thừa viên tịnh(cũng gọi Thừa viên mãn, Thừa cụ túc): Tịnh độ này lấy Xa ma tha(Chỉ)và Tì bát xá na(Quán) làm đạo pháp sở thừa. 17. Môn viên tịnh (cũng gọi Môn viên mãn, Môn cụ túc): Tịnh độ này lấy 3 cửa giải thoátKhông,Vô tướng, Vô nguyện làm cửa đi vào. 18. Y chỉ viên tịnh(cũng gọi Y trì viên mãn, Y trụ viên tịnh, Y trì cụ túc): Tịnh độ này lấy Đại liên hoa vương có vô lượng công đức làm y chỉ. [X. luận Nhiếp đại thừa Q.hạ; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.26; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.18].

thập bát vấn

Theo Thiền Sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận Tập II, Thập Bát Vấn của Phần Dương Thiện Chiểu là đường lối thực hành của giáo lý Thiền cho đến khoảng thế kỷ thứ mười. Phần Dương Thiện Chiểu sống vào khoảng cuối thế kỷ thứ mười, là môn nhân của Thủ Sơn Tĩnh Niệm. Sự xếp loại trong Thập Bát Vấn tuy không có tính cách khoa học nhưng các câu hỏi rất là sáng sủa vì chúng phác họa cách thức học tập của Thiền thời bấy giờ—According to Zen Master D.T. Suzuki in the essays in Zen Buddhism, Book II, The Eighteen Kinds of Question, compiled by Shan-Chao of Fen-Yang, the way Zen teaching was practiced until about the tenth century. Fen-Yang-Shan-Chao lived at the end of the tenth century and was a disciple of Sheng-Nien of Shou-Shan. The classification in the work is unscientific but the “Questions” are illuminating in many ways as they illustrate how Zen was studied in those days. 1) Thỉnh Ích: Câu hỏi xin chỉ dạy. Thông thường là câu hỏi của đệ tử hỏi thầy, muốn hiểu rõ những vấn đề như Phật Đà, Tổ Bồ Đề Đạt Ma sang Tàu làm gì, yếu chỉ của Phật pháp, Pháp thân, vân vân: The question asking for instruction. This is what is generally asked by a novice of the master, wishing to be enlightened on such subjects as Buddha, the signification of Bodhidharma's visit to China, the essence of the Buddhist teaching, the Dharmakaya, etc. 2) Trình Giải: Người hỏi cầu xin thầy ấn chứng bằng cách bày tỏ điều kiện tinh thần của riêng mình. Một Thầy Tăng hỏi Triệu Châu: “Thầy nói gì với một người không mang cái gì hết?” Y đang phân tích tâm trạng của riêng mình. Triệu Châu đáp: “Thì cứ mang theo.”—The question in which the questioner asks for the master's judgment by describing his own mental condition. When a monk said to Chao-Chou, “What do you say to one who has nothing to carry about?” He was analyzing his own state of mind. To this Chao-Chou replied, “Carry it along.” 3) Sát Biện: Người hỏi muốn biết rõ lập trường của Bổn Sư. Một nhà sư đến kiếm Đồng Phong cư ngụ tại một thảo am trên núi, hỏi: “Nếu có con cọp bỗng nhiên hiện ra ở đây, thầy sẽ làm gì?” Am chủ liền rống lên như một con cọp; nhà sư kia có vẻ hoảng sợ; thấy thế am chủ cả cười ha hả: The question whereby the questioner attempts to see where the master stands. A monk came to Tung-Fêng who lived in a mountain hut and asked him, “If a tiger should suddenly appear here, what would you do?” The hut-keeper roared like a tiger; the monk behaved as if terrified; whereupon the keeper laughed heartily. 4) Đầu Cơ: Trong câu hỏi nầy, người hỏi cho thấy y vẫn còn có chỗ nghi ngờ về sự thành đạt của mình và y diễn tả ước muốn được xác chứng của mình. Một nhà sư hỏi Thiên Hoàng Đạo Ngộ: “Tôi phải làm gì khi bóng mờ của nghi tình chưa dứt?” Đạo Ngộ đáp: “Giữ lấy một cái cũng còn cách xa chỗ trúng.”—The question in which the questioner shows that he still has a doubt as to his attainment and expresses his desire for confirmation. A monk asked Tao-Wu of T'ien-Huang, “What shall I do when there is still a shadow of doubt?” Tao-Wu replied, “Even oneness when held on to is wide of the mark.” 5) Thiên Tích: Câu hỏi mà người hỏi nóng lòng muốn thấy ra thái độ của thầy. Một nhà sư hỏi Triệu Châu: “Vạn pháp quy nhất; nhất quy về đâu?” Triệu Châu nói: “Khi ở Thanh Châu, tôi có may được một chiếc áo nặng bảy cân.”—The question whereby the questioner is anxious to find out the master's attitude. A monk asked Chao-Chou, “All things are reducible to the One; but where is the One reducible?” Chao-Chou replied, “When I was in the district of Ch'ing I had a robe made that weighed seven pounds.” 6) Tâm Hành: Người hỏi vì không biết tiếp tục học Thiền như thế nào. Một nhà sư hỏi Hưng Hóa: “Kẻ học nầy không phân biệt nổi đen với trắng, xin sư soi sáng cho.” Câu hỏi vừa xong thì sư cho một tát bên thân: The question asked by one who is at a loss as to how to go on with his study of Zen. A monk asked Hsing-Hua: “I am unable to distinguish black from white. Pray enlighten me somehow.” The question was hardly out when the master gave him a good slashing. 7) Thám Bạt: Câu hỏi được hỏi với ý định thăm dò sở đắc của thầy. Loại câu hỏi nầy chắc chắn đã thịnh hành khi các Thiền viện được dựng lên khắp nơi và các nhà sư bái phỏng từ thầy nầy sang thầy khác. Một nhà sư hỏi Phong Huyệt: “Kẻ ấy không hiểu mà chưa từng có chút nghi, thế là làm sao?” Sư đáp: “Khi con linh qui trèo lên đất bằng, nó không thể không để lại dấu vết nơi đất bùn.”—The question asked with the intention to probe into the attainment of the master. This kind of question must have been in vogue when Zen monasteries were every where established and the monks travelled from one master to another. A monk asked Fêng-Hsueh, “How is it that one who understand not, never cherishes a doubt?” Fêng-Hsueh replied: “When a tortoise walks on the ground, he can not help leaving traces in the mud.” 8) Bất Hội: Hỏi vì không hiểu; ở đây có vẻ không khác với loại câu “Tâm Hành.” Một nhà sư hỏi Huyền Sa: “Tôi là một người mới nhập tòng lâm; mong sư chỉ thị tôi cần phải học tập như thế nào.” Huyền Sa đáp: “Nhà ngươi có nghe dòng suối rì rào kia chăng?” Vị sư đáp: “Bẩm, có!” Huyền Sa nói: “Vậy theo lối đó mà vào.”—The question of ignorance. This does not seem to differ from the sixth question. A monk asked Hsuan-Sha: “I am a new comer in the monastery; please tell me how to go on with my study.” Hsuan Sha replied: “Do you hear the murmuring stream?” The monk said: “Yes, master.” Hsuan-Sha said: “If so, here is the entrance.” 9) Kình Đảm: Người hỏi có quan điểm nào đó về Thiền và muốn biết nhận xét của thầy ra sao: “Tôi chẳng làm gì được với thế trí biện thông; xin sư cho một thoại đầu của Thiền.” Khi nhà sư hỏi như vậy, ông thầy liền giáng cho một đòn rất nặng: The question proposed by one who has his own view of Zen and wishes to see how the master takes it. A monk asked his master: “As to worldly knowledge and logical cleverness, I have nothing to do with them; please let me have a Zen theme.” The master gave him a hearty blow. 10) Trí: Trong câu hỏi nầy có đặc ra lời nói của một bậc lão túc. Một nhà sư hỏi Vân Môn: “Trừng mắt lên mà cũng không thấy bờ mé thì làm sao?” Vân Môn bảo: “Xem kìa?”—The question in which an ancient master's saying is referred to. A monk said to Yun-Mên: “What would one do when no boundaries are seen, however wide the eyes are open?” Said Yun-Mên: “Look!” 11) Cố: Câu hỏi có chứa đựng những lời nói trong kinh. Một nhà sư hỏi Thủ Sơn: Theo kinh nói hết thảy chúng sanh đều có Phật tính; vậy sao chúng sanh không biết?” Thủ Sơn đáp: “Biết chứ.”—The question containing words from the sutras. A monk asked Shou-Shan: “According to the sutra, all beings are endowed with the Buddha-nature; how is it then that they know it not?” Shou-Shan replied: “They know.” 12) Tá: Câu hỏi gồm có những đối chiếu với một sự thực đã biết. Một nhà sư hỏi Phong Huyệt: “Biển cả có châu làm sao nhặt được?” Phong Huyệt đáp: “Lúc Võng tượng đến chói chan ánh sáng; chỗ Li lâu đi sóng vỗ trùm trời. Càng cố giữ nó càng tan, càng cố thấy nó càng tối.”—The question containing references to a known fact. A monk asked Fêng-Hsueh: “The ocean is said to contain the precious gem; how can a man lay hands on it?” Fêng-Hsueh replied: “When Wang-Hsiang comes, its brightness is dazzling; when li-lou goes, the waves roll as high as the sky. The more one tries to take hold of, the farther it vanishes; the more one attempts to see it, the darker it grows.” 13) Thật: Câu hỏi bắt đầu bằng một lối nhận xét trực tiếp. Một nhà sư hỏi Tam Thánh: “Kẻ học nầy chỉ thấy Hòa Thượng là Tăng, đâu là Phật? Đâu là Pháp?” Tam Thánh đáp: “Đây là Phật, đây là Pháp, biết chăng?”—The question starts from an immediate fact of observation. A monk as San-Shêng: “I see that you belong to the Brotherhood, what is the Buddha? What is the Dharma?” San-Shêng replied: “This is the Buddha, this is the Dharma, do you know?” 14) Giả: Câu hỏi chứa đựng một trường hợp giả thiết. Một nhà sư hỏi Kính Sơn: “Đức Phật nầy ngồi trong Điện; cái nào là Đức Phật kia?” Kính Sơn đáp: “Đức Phật này ngồi trong Điện.”—The question containing a hypothetical case. A monk asked Ching-Shan: “This Buddha sits in the Hall; what is the other Buddha?” Ching Shan replied: “This Buddha sits in the Hall.” 15) Thẩm: Câu hỏi bộc bạch một nghi tình thực thụ. Một vị sư hỏi Tổ sư: “Hết thảy các pháp bản lai đều là hữu; như vậy cái gì là Vô?” Tổ sư đáp: “Câu hỏi của ngươi rất phân minh; hỏi ta làm gì?”—The question embodying a real doubt. A monk asked his master: “All things are such as they are from he beginning; what is that which is beyond existence?' The master replied with id solution: “Your statement is quite plain; what is the use of asking me?” 16) Trưng: Câu hỏi có ý định bức bách. Một vị sư hỏi Mục Châu: “Tổ sư từ Ấn sang đây để làm gì?” Mục Châu cắt nghĩa: “Hãy nói, để làm gì?” Vị sư không đáp. Mục Châu bèn đánh cho: The question with an aggressive intent. A monk asked Mu-Chou: “The Patriarch came from India and what did he design to do here?” Mu-Chou retorted: “You tell; what did he design?” The monk gave no reply, so Mu-Chou struck him. 17) Minh: Câu hỏi được nêu lên một cách đầy đủ và chính xác. Một triết gia ngoại đạo hỏi Phật: “Tôi không hỏi hữu ngôn hay vô ngôn.” Đức Phật ngồi im lặng. Triết gia nầy nói: “Đức Thế Tôn quả đại từ, đại bi. Ngài khơi sáng những mây mờ mê hoặc cho tôi, chỉ cho tôi lối vào Chánh đạo.”—The question plainly and straightforwardly stated. A non-Buddhist philosopher asked the Buddha: “Words or no-words, I ask neither.” The Buddha remained silent. The philosopher said: “The Blessed One is indeed full of mercy and compassion. He has cleared off clouds of confusion for my sake, showing me how to enter upon the path.” 18) Mặc: Câu hỏi không diễn thành lời. Một triết gia ngoại đạo đến kiếm Phật và đứng trước ngài mà không nói một tiếng. Phật liền bảo: “Quá nhiều rồi ông ơi!” Triết gia này tán thán Phật, nói: “Do lòng từ bi của Đức Thế Tôn mà nay tôi được vào Đạo.”—The question not expressed in words. A non-Buddhist philosopher came to the Buddha and stood before him without uttering a word. The Buddha then said, “Abundantly indeed, O philosopher!” The philosopher praised the Buddha saying, “It is all owing to the Blessed One's mercy that I now enter upon the path.” ; (十八問) Cũng gọi Phần dương thập bát vấn. Chỉ cho 18 câu hỏi mà những người học đặt ra khi tham vấn bậc thầy do Thiền sư Phần dương Thiện chiêu đời Tống chia làm 18 loại. (xt. Phần Dương Thập Bát Vấn).

thập bát vật

(十八物) Chỉ cho 18 thứ vật dụng mà vị tỉ khưu Đại thừa thường mang theo bên mình khi đi du phương khất thực. Đó là: 1. Dương chi: Tăm xỉa răng, dương chi còn có tác dụng giúp cho việc tiêu hóa. 2. Tảo đậu: Bột đậu xanh, đậuđỏ dùng để rửa tay(thời xưa chưa có xà phòng). 3. Tam y: Ba tấm áo ca sa. 4. Bình: Đồ đựng nước uống. 5. Bát: Tức bát đựng thức ăn. 6. Tọa cụ: Tấm vải để trải trên đất hay trên giường khi ngồi nằm. 7. Tích trượng: Cây gây trên đầu có đeo những cái vòng bằng kim loại. 8. Hương lư: Lò đốt hương. 9. Lộc thủy nang: Túi lọc nước may bằng vài lớp vải để lựa bỏ những con trùng trong nước trước khi dùng. 10. Thủ cân: Khăn lau tay. 11. Đao tử: Dao cạo râu tóc, cắt móng tay, cắt vải may vá... 12. Hỏa toại: Vật dùng để lấy lửa. 13. Nhiếp tử: Cái nhiếp dùng để nhổ lông mũi. 14. Thằng sàng: Giường bện bằng dây.15. Kinh Phật: Kinh mang theo để đọc tụng hằng ngày. 16. Luật: Giới bản. 17. Tượng Phật. 18. Tượng Bồ tát. Mười tám vật nói trên tỉ khưu Đại thừa phải giữ gìn, nếu thiếu 1 vật thì phạm tội khinh cấu; nếu lìa 3 áo thì phạm tội xả đọa, thuộc trọng cấu(tội nặng), lìa bát thì phạm tội đột cát la, thuộc về trung cấu (tội nặng vừa), ngoài ra đều thuộc khinh cấu(tội nhẹ). [X. kinh Phạm võng Q.hạ]. (xt. Lục Vật).

thập bát ý cận hạnh

(十八意近行) Gọi đủ: Thập bát ý cận hành thụ. Gọi tắt: Thập bát ý thụ, Thập bát ý hành. Chỉ cho 18 thứ cảm thụ dùng ý thức làm duyên gần mà sinh khởi. Tức 3 cảm thụ: Hỉ(mừng), ưu(lo), xả(không mừng không lo), lấy ý thức làm duyên gần, mỗi thụ đều hiện hành trong 6 cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp mà sinh khởi 18 cảm thụ. Sáu thứ hỉ ý cận hành theo thứ tự là Sắc hỷ ý cận hành cho đến Pháp hỉ ý cận hành; 6 thứ ưu ý cận hành theo thứ tự là Sắc ưu ý cận hành cho đến Pháp ưu ý cận hành và 6 thứ xả ý cận hành theo thứ tự là Sắc xả ý cận hành cho đến Pháp xả ý cận hành. [X. kinh Tạp a hàm Q.17; luận Đại tì bà sa Q.139].

thập bát đại kinh

(十八大經) Cũng gọi Thập bát chủng đại kinh, Thập bát chủng kinh thư, Thập bát đại luận, Thập bát minh xứ. Từ ngữ gọi chung 18 bộ kinh luận của ngoại đạo ở Ấn độ, tức 4 bộ kinh Phệ đà, 6 bộ luận và 8 bộ luận. Bốn kinh Phệ đà (Phạm:Veda) gồm: Lê câu phệ đà (Phạm: Fg-veda), Dạ nhu phệ đà (Phạm: Yajurveda), Sa ma phệ đà (Phạm: Sama-veda) và A thát bà phệ đà (Phạm: Atharvaveda). Sáu luận (Phạm: Veda-aíga) gồm: Luận Thức xoa (Phạm:Zikwà), luận Tì già la (Phạm: Vyàkaraịa), luận Kha lạt ba (Phạm: Kalpa), luận Thụ để sa (Phạm: Jyotiwa), luận Xiển đà (Phạm: Chandas) và luận Ni lộc đa (Phạm: Nirukta). Tám luận gồm: Luận Kiên vong bà(có chỗ gọi là Mi vong bà), luận Na tà ni tát đa (Phạm: Naya-vistara?), luận Y để để ha bà (Phạm: Jtihàsa), luận Tăng khư (Phạm: Saôkhya), luận Khóa già (Phạm:Garga?), luận Đà nâu (Phạm: Dhanur), luận Kiện thát bà (Phạm:Gandharva) và luận A du (Phạm:Àyur-zàstra). [X. Bách luận sớ Q.thượng; Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện].

thập bát đạo

(十八道) Gọi đủ: Thập bát đạo ấn khế. Chỉ cho 18 ấn khế của Mật giáo. Vì tu 18 ấn ngôn(ấn khế và chân ngôn) có thể đạt đến ngôi vị giác ngộ của quả Phật, cho nên gọi là Thập bát đạo(đạo nhân); lại do 18 ấn khế đều là trí ấn quả địa nội chứng của Như lai, cho nên gọi là Thập bát quả(đạo quả). Có thuyết cho rằng Thập bát đạo là hành nghi chung của Kim cương đính thập bát hội; hoặc biểu thị cho Ngũ Phật tứ ba la mật(hoặc gọi là Cửu hội) Kim cương giới và Cửu tôn của viện Trung đài bát diệp Thai tạng giới để hiển bày ý nghĩa sâu xa của hành quỹ Kim cương, Thai tạng Lưỡng bộ bất nhị. Ngoài ra, trong Mật giáo, pháp tu kết 18 ấn khế cúng dường Bản tôn, gọi là Thập bát đạo pháp, gọi tắt là Thập bát.

Thập Bát Địa Ngục

(十八地獄): còn gọi là Thập Bát Tằng Địa Ngục (十八層地獄), Thập Bát Trùng Địa Ngục (十八重地獄), Thập Bát Nê Lê (十八泥犁). Theo truyền thuyết dân gian Trung Quốc, vua Diêm La (閻羅) là đứng đầu các địa ngục, 18 vị thuộc hạ Phán Quan Theo chủ quản 18 tầng địa ngục. Sau khi truyền vào nước này, Phật Giáo đã lấy tư tưởng này để dùng và giải thích về các tầng địa ngục. Mười Tám Tầng Địa Ngục trong Thập Bát Nê Lê Kinh (十八泥犁地獄) do An Thế Cao (安世高) nhà Đông Hán dịch, lấy sự dài ngắn, tội hình, đẳng cấp, sự nhẹ nặng trong thời gian thọ tội để bài liệt thành. Mỗi địa ngục so với địa ngục trước tăng thêm nỗi khổ lên 20 lần, tăng tuổi thọ thêm 1 lần. Mười Tám Tầng Địa Ngục này có âm dịch Phạn văn như: Quang Tựu Cư (光就居), Cư Hư Thối Lược (居虛倅略), Tang Cư Đô (桑居都), Lâu (樓), Phòng Tốt (房卒), Thảo Ô Ti Thứ (草烏卑次), Đô Lô Nan Đán (都盧難旦), Bất Lô Bán Hô (不盧半呼), Ô Cánh Đô (烏竟都), Nê Lô Đô (泥盧都), Ô Lược (烏略), Ô Mãn (烏滿), Ô Tạ (烏藉), Ô Hô (烏呼), Tu Kiện Cư (須健居), Mạt Đô Can Trực Hô (末都干直呼), Khu Thông Đồ (區通途), Trần Mạc (陳莫). Chữ “tầng (層)” trong Mười Tám Tầng Địa Ngục không phải chỉ cho phương trên dưới về mặt không gian, mà đối với thời gian cũng như hình pháp vốn bất đồng, cho nên nó có ý nghĩa về mặt thời gian nhiều hơn. Tầng địa ngục thứ nhất lấy tuổi thọ con người 3750 năm là 1 ngày, 30 ngày là 1 tháng, 12 tháng là 1 năm, tội quỷ chịu hình phạt ở chốn địa ngục này đến 1 vạn năm (tức 135 ức năm trên cõi người). Thời gian thọ hình phạt ở các tầng địa ngục sau thì lấy thời gian thọ hình ở đia ngục trước tăng lên gấp hai lần. Thuyết về Mười Tám Tầng Địa Ngục vốn phát xuất từ Bà La Môn Giáo của Ấn Độ ngày xưa và về sau có những thay đổi khác. Quán Phật Tam Muội Hải Kinh (觀佛三昧海經) quyển 5 có nêu rõ 18 loại địa ngục (s: naraka, niraya, p: niraya, 地獄) nhỏ như A Tỳ Địa Ngục (阿鼻地獄), 18 Địa Ngục Lạnh (十八寒地獄, Thập Bát Hàn Địa Ngục), 18 Địa Ngục Tối Tăm (十八黑闇地獄, Thập Bát Hắc Ám Địa Ngục), 18 Địa Ngục Nóng Ít (十八小熱地獄, Thập Bát Tiểu Nhiệt Địa Ngục), 18 Địa Ngục Vòng Tròn Đao (十八刀輪地獄, Thập Bát Đao Luân Địa Ngục), 18 Địa Ngục Vòng Tròn Kiếm (十八劍輪地獄, Thập Bát Kiếm Luân Địa Ngục), 18 Địa Ngục Xe Lửa (十八火車地獄, Thập Bát Hỏa Xa Địa Ngục), 18 Địa Ngục Phân Sôi (十八沸屎地獄, Thập Bát Phí Thỉ Địa Ngục), 18 Địa Ngục Vạc Nước Sôi (十八鑊湯地獄, Thập Bát Hoạch Thang Địa Ngục), 18 Địa Ngục Sông Tro (十八灰河地獄, Thập Bát Hôi Hà Địa Ngục), 18 Địa Ngục Đá Nhọn (十八尖石地獄, Thập Bát Tiêm Thạch Địa Ngục), 18 Địa Ngục Hang Thép (十八鐵窟地獄, Thập Bát Thiết Quật Địa Ngục), 18 Địa Ngục Uống Nước Đồng (十八飲銅地獄, Thập Bát ẩm Đồng Địa Ngục), v.v. Trong Lương Thư (梁書) có kể câu chuyện Lưu Tát Hà (劉薩河) người Hồ do bị bệnh nặng mà chết, nhưng 10 ngày sau thì sống lại và ông tự cho rằng đã đi qua 18 tầng địa ngục. Như vậy, đến thời nhà Lương, tín ngưỡng về 18 tầng địa ngục đã rất thịnh hành và lưu truyền trong dân gian Trung Quốc. Ngoài ra, tên gọi của 18 tầng địa ngục này có khác nhau tùy theo các thư tịch kinh điển. Theo Gián Địa Ngục Kinh (間地獄經), 18 tầng địa ngục là Nê Lê Địa Ngục (泥犁地獄), Đao Sơn Địa Ngục (刀山地獄, Địa Ngục Núi Đao), Phí Sa Địa Ngục (沸沙地獄, Địa Ngục Cát Sôi), Phí Thỉ Địa Ngục (沸屎地獄, Địa Ngục Phân Sôi), Hắc Thân Địa Ngục (黑身地獄, Địa Ngục Thân Đen), Hỏa Xa Địa Ngục (火車地獄, Địa Ngục Xe Lửa), Hoạch Thang Địa Ngục (鑊湯地獄, Địa Ngục Vạc Nước Sôi), Thiết Sàng Địa Ngục (鐵床地獄, Địa Ngục Giưòng Sắt), Cái Sơn Địa Ngục (蓋山地獄, Địa Ngục Vung Núi), Hàn Băng Địa Ngục (寒冰地獄, Địa Ngục Băng Lạnh), Bác Bì Địa Ngục (剝河地獄, Địa Ngục Lột Da), Súc Sanh Địa Ngục (畜生地獄, Địa Ngục Súc Sanh), Đao Binh Địa Ngục (刀兵地獄, Địa Ngục Đao Binh), Thiết Ma Địa Ngục (鐵磨地獄, Địa Ngục Mài Sắt), Băng Địa Ngục (冰地獄, Địa Ngục Băng), Thiết Sách Địa Ngục (鐵册地獄, Địa Ngục Sách Sắt), Thư Trùng Địa Ngục (蛆蟲地獄, Địa Ngục Con Giòi), Dương Đồng Địa Ngục (烊銅地獄, Địa Ngục Nấu Đồng). Trong Thủy Lục Toàn Đồ (水陸全圖) có Bạt Thiệt Địa Ngục (拔舌地獄, Địa Ngục Kéo Lưỡi), Tiễn Đao Địa Ngục (剪刀地獄, Địa Ngục Dao Cắt), Thiết Thọ Địa Ngục (鐵樹地獄, Địa Ngục Cây Sắt), Nghiệt Kính Địa Ngục (孽鏡地獄, Địa Ngục Kính Yêu), Chưng Lung Địa Ngục (蒸籠地獄, Địa Ngục Lồng Hơi Nóng), Đồng Trụ Địa Ngục (銅柱地獄, Địa Ngục Trụ Đồng), Đao Sơn Địa Ngục (刀山地獄, Địa Ngục Núi Đao), Băng Sơn Địa Ngục (冰山地獄, Địa Ngục Núi Băng), Du Oa Địa Ngục (油鍋地獄, Địa Ngục Nồi Dầu), Ngưu Kháng Địa Ngục (牛坑地獄, Địa Ngục Hầm Trâu), Thạch Áp Địa Ngục (壓石地獄, Địa Ngục Đá Đè), Thung Cữu Địa Ngục (舂臼地獄, Địa Ngục Cối Xay), Huyết Trì Địa Ngục (血池地獄, Địa Ngục Hồ Máu), Uổng Tử Địa Ngục (枉死地獄, Địa Ngục Chết Uổng), Trách Hình Địa Ngục (磔刑地獄, Địa Ngục Phanh Thây), Hỏa Sơn Địa Ngục (火山地獄, Địa Ngục Núi Lửa), Thạch Ma Địa Ngục (石磨地獄, Địa Ngục Mài Đá), và Đao Cứ Địa Ngục (刀鋸地獄, Địa Ngục Cưa Dao). Tại thành của Phong Đô Quỷ (酆都鬼), hai bên đại điện của Thiên Tử có chia thành Đông Địa Ngục và Tây Địa Ngục. Đông Địa Ngục gồm Ma Thôi Địa Ngục (磨推地獄, Địa Ngục Mài Kéo), Oạt Tâm Địa Ngục (挖心地獄, Địa Ngục Móc Tim), Hỏa Lạc Địa Ngục (火烙地獄, Địa Ngục Áp Lửa), Hàn Thủy Địa Ngục (寒水地獄, Địa Ngục Nước Lạnh), Đao Sơn Địa Ngục (刀山地獄, Địa Ngục Núi Đao), Xa Liệt Địa Ngục (車裂地獄, Địa Ngục Xe Nghiền), Thư Trùng Địa Ngục (蛆蟲地獄, Địa Ngục Con Giòi), Bác Bì Địa Ngục (剝皮地獄, Địa Ngục Lột Da). Tây Địa Ngục có Đối Thung Địa Ngục (碓舂地獄, Địa Ngục Cối Xay), Cứ Giải Địa Ngục (鋸解地獄, Địa Ngục Cưa Xẻ), Du Oa Địa Ngục (油鍋地獄, Địa Ngục Nồi Dầu), Bạt Thiệt Địa Ngục (拔舌地獄, Địa Ngục Kéo Lưỡi), Bổ Kinh Địa Ngục (補經地獄, Địa Ngục Vá Dây), Chuyển Luân Địa Ngục (轉輪地獄, Địa Ngục Chuyển Luân), Súc Sanh Địa Ngục (畜生地獄, Địa Ngục Súc Sanh) và Hoạch Thang Địa Ngục (鑊湯地獄, Địa Ngục Vạc Nước Sôi).

thập bình đẳng tâm

Ten kinds of equanimity of great enlightening beings—See Mười Tâm Bình Đẳng Của Chư Đại Bồ Tát.

thập bất cầu hạnh

Mười hạnh không cầu để phá mười chướng ngại lớn, cũng như mọi trở ngại và cản trở khác—Ten non-seeking practices which help eliminate the ten major obstacles as well as all other obstructions and impediments—See Ten Non-seeking practices.

thập bất hối giới

Ten rules which produce regrets—See Mười Giới Bất Hối.

thập bất nhị môn

(十不二門) I. Thập Bất Nhị Môn. Chỉ cho 10 pháp môn Bất nhị do tông Thiên thai lập ra để nêu rõ ý nghĩa đại cương của pháp Quán tâm. Tức ngài Trạm nhiên căn cứ vào Tích môn thập diệu trong Pháp hoa huyền nghĩa của Đại sư Trí khải mà lập ra 10 môn Bất nhị từ Sắc tâm bất nhị cho đến Thụ nhuận bất nhị, gọi là Thập bất nhị môn. Thông thường cho rằng Thập bất nhị môn không tương dung nhau mà đối lập nhau, nhưng đứng trên lập trường của Viên giáo Pháp hoa mà nhận xét thì Thập bất nhị môn là hiển bày sự viên dung lẫn nhau, một thể không tách rời. Bởi vậy, một niệm hiện thực của phàm phu tự vốn viên mãn tất cả pháp trong vũ trụ; nếu quán xét tự thân là Không, không có thực thể, chỉ là hiện tượng hư giả thì có thể ngộ nhập lí Thập diệu. Sự thành lập Thập bất nhị môn có thứ tự trước sau, nội dung đại để như sau: 1. Sắc tâm bất nhị môn: Được y cứ vào Cảnh diệu trong Thập diệu mà lập ra. Đối tượng quán chiếu của trí tuệ gồm thu trong một niệm. Phân tích ra thì có 2 loại là Sắc pháp và Tâm pháp. Nhưng vì tất cả pháp trong vũ trụ đều thu nhiếp vào trong một niệm của phàm phu nên nói ngoài tâm không có pháp. Ngoài ra, cho dù chỉ là một mảy bụi cũng viên mãn đầy đủ tất cả vũ trụ, cho nên nói Sắc pháp và Tâm pháp là bất nhị, không thể phân chia. 2. Nội ngoại bất nhị môn: Được y cứ vào Trí diệu và Hành diệu mà lập ra. Đối tượng do trí tuệ quán chiếu tuy có chia ra trong ngoài(một niệm tâm pháp ở bên trong thuộc chính mình và tất cả hiện tượng ở bên ngoài mình), nhưng nói theo lí Tam thiên, Tam đế thì thực không có phân biệt trong ngoài, cho nên gọi là Bất nhị. Cũng chính là 3 pháp:Tâm bên trong và Phật, chúng sinh bên ngoài viên dung nhau, bản chất không khác nhau. 3.Tu tính bất nhị môn: Được căn cứ vào Trí diệu và Hành diệu mà lập ra. Tính đức của một niệm xưa nay vốn đầy đủ tất cả, nhưng phải nhờ năng lực trí tuệ và sự tu hành thực tiễn của hậu thiên mới hiển hiện được, cho nên mối quan hệ giữa tính và tu hệt như mối quan hệ giữa nước vàsóng, tức là nương vào tu để tỏ tính, nương vào tính để khởi tu, cho nên là Bất nhị.4. Nhân quả bất nhị môn: Được căn cứ vào Vị diệu và Tam pháp diệu mà lập ra. Tuy do tu đức mà có nhân vị và quả vị khác nhau, nhưng đó cũng chỉ là 3 nghìn các pháp xưa nay sẵn đủ, về mặt hiện tượng tuy có sai khác, nhưng về mặt bản thể thì nhân và quả thực không khác nhau. 5. Nhiễm tịnh bất nhị môn: Được căn cứ vào Cảm ứng diệu và Thần thông diệu mà lập ra. Do nhân quả khác nhau nên có thể chia làm Nhiễm và Tịnh, nhưng đó cũng chỉ là 2 mặt loại trừ nhau và sử dụng nhau giữa pháp tính và vô minh. Cũng tức là khi pháp tính biến thành vô minh và tạo tác thì tạo ra 9 cõi mê, còn khi vô minh biến thành pháp tính mà tạo tác thì tùy duyên mà có tác dụng giáo hóa tự do tự tại, cho nên gọi là Nhiễm tịnh mê ngộ vô biệt. 6. Y chính bất nhị môn: Được căn cứ vào Cảm ứng diệu và Thần thông diệu mà lập ra. Đối với Tịnh đã nói trên, tuy có Phật thân chính báo(Tì lô giá na Phật) và Phật độybáo(Thường tịnh quang độ) khác nhau, nhưng đứng về mặt lí mà nói thì Y báo và Chính báo đã sẵn đủ trong nhất tâm, cho nên không có Y báo, Chính báo khác nhau. 7. Tự tha bất nhị môn: Được căn cứ vào Cảm ứng diệu và Thần thông diệu mà lập ra. Tự chỉ cho Phật thi hành giáo hóa, Tha chỉ chúng sinh được giáo hóa. Phật tùy theo căn cơ chúng sinh mà giáo hóa, chúng sinh cũng thuận theo sự giáo hóa của Phật, đó là vì chúng sinh xưa nay vốn đã sẵn đủ lí 3 nghìn, nên Phật mới dùng lí 3 nghìn làm quả và hoàn thành việc giáo hóa, cho nên sự cảm ứng của tự tha là bất nhị.8. Tam nghiệp bất nhị môn: Được căn cứ vào Thuyết pháp diệu mà lập ra.Đức Phật ắt dùng 3 nghiệp thân, khẩu, ý để giáo hóa chúng sinh, mà 3 nghiệp này không ngoài sự biểu hiện lí 3 nghìn sẵn có, lí 3 nghìn này không khác gì với lí 3 nghìn sẵn đủ của chúng sinh, vì thế 3 nghiệp của Phật và 3 nghiệp của chúng sinh không khác nhau mảy may. 9. Quyền thực bất nhị môn: Được căn cứ vào Thuyết pháp diệu mà lập ra. Tác dụng 3 nghiệp của Phật khi giáo hóa là tùy theo đối tượng mà giảng nói pháp phương tiện hay pháp chân thực nhưng 3 nghiệp của Phật thì thu nhiếp vào trong một niệm về lí là đồng nhất, cho nên Quyền pháp và Thực pháp do 3 nghiệp biểu hiện là bất nhị.10. Thụ nhuận bất nhị môn: Được căn cứ vào Quyến thuộc diệu và Lợi ích diệu mà lập ra. Đối với các căn cơ đại tiểu, quyền thực, đức Phật đều ban cho lợi ích quyền thực, nhưng chúng sinh nhận lãnh vốn có đủ các căn cơ phi quyền phi thực mà thành quyền thực, nên Phật ban cho cũng vốn đủ phi quyền phi thực để tùy theo các căn cơ quyền thực mà giáo hóa. Đây chính là cùng sinh ra trên mặt đất, cùng được thấm nhuần trong một trận mưa, cho nên gọi là Thụ nhuận bất nhị.[X. Thập bất nhị môn chỉ yếu sao; Thập bất nhị môn luận giảng nghĩa]. II. Thập Bất Nhị Môn. Cũng gọi: Thập bất nhị môn nghĩa, Thập bất nhị môn luận, Bản tích bất nhị môn, Bản tích thập diệu bất nhị môn, Pháp hoa bản tích bất nhị môn, Pháp hoa thập diệu bất nhị môn, Diệu pháp liên hoa kinh bản tích thập diệu bất nhị môn, Pháp hoa huyền kí thập bất nhị môn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Kinh khê Trạm nhiên (711-782) soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Tác phẩm này là 1 tiết trong Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 14 của ngài Trạm nhiên. Đây là sách chú thích Bản tích thập diệu trong bộ Pháp hoa huyền nghĩa của ngài Trí khải. Nội dung chia làm 10 pháp môn có quan hệ đối nhau là Sắc tâm, Nội ngoại, Tu tính, Nhân quả, Nhiễm tịnh, Y chính, Tự tha, Tam nghiệp, Quyền thực và Thụ nhuận, trong mỗi pháp môn lại viện dẫn luận điểm của Chỉ quán để nói rộng về ý chỉ chủ yếu của Tam thiên, Tam đế mà xác lập nghĩa chân thực của 10 pháp môn như Bản tích bất nhị, Giáo quán nhất như, Giải hành song tu... Vì thế, có thể nói, sách này đã tổng quát tông thú Giáo quán giúp nhau trong 2 bộ sách chủ yếu của tông Thiên thai là Pháp hoa huyền nghĩa và Ma ha chỉ quán mà trở thành then chốt trong các sách vở của tông này. Vào đời Tống, tông Thiên thai hưng thịnh, sách này càng được các nơi suy tôn, quí trọng, các bậc danh đức tông Thiên thai như Nghĩa tịnh, Thanh nguyên, Tông dục, Tri lễ... đều đã thuyết giảng sách này nhiều lần. Tác phẩm này có rất nhiều sách chú thích, nổi tiếng hơn cả thì có: Thập bất nhị môn nghĩa, 1 quyển, của ngài Đạo thúy, Thập bất nhị môn thị châu chỉ, 2 quyển, của ngài Nguyên thanh, Thập bất nhị môn chú, 2 quyển, của ngài Tông dục, Thập bất nhị môn chỉ yếu sao, 2 quyển, của ngài Tri lễ.

thập bất nhị môn chỉ yếu sao

(十不二門指要鈔) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Tứ minh Tri lễ (959-1028) soạn vào đời Bắc Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Đây là tác phẩm quan trọng chú giải Thập bất nhị môn của ngài Trạm nhiên được coi là giáo nghĩa chính thống của tông Thiên thai đời sau. Ngài Trạm nhiên đời Đường từng soạn Huyền nghĩa thích tiêm, giải thích Bản môn thập diệu và Tích môn thập diệu trong Pháp hoa huyền nghĩa của Đại sư Trí khải. Lại ấn hành riêng Thập bất nhị môn để giải thích rõ chữ Giải trong Tích môn thập diệu và chữ Hành trong Bản môn thập diệu, cả 2 đều quan trọng như nhau, không thể chỉ chú ý một bên nào. Ngoài ra còn có sách chú thích của phái Sơn ngoại. Ngài Tứ minh Tri lễ soạn Chỉ yếu sao này chính là để phê phán sự giải thích của phái Sơn ngoại, nhấn mạnh tính cách quan trọng của Thập bất nhị môn. Trong sách tuyên dương thuyết Tính cụ của tông Thiên thai, đặc biệt cho rằng đối cảnh của quán pháp chẳng những chỉ có chân tâm mà còn có cả vọng tâm.

Thập bất thiện

xem Mười điều ác.

thập bất thiện nghiệp

Akusala-kammapatha (p)—Ten unwholesome courses of action—See Mười Bất Thiện Nghiệp Đạo.

Thập Bất Thiện Nghiệp Đạo

(十不善業道): xem Thập Ác (十惡) bên trên.

thập bất tri cảnh

(十不知境) Chỉ cho 10 việc mà bậc Thánh chứng được quả vị Tiểu thừa không thể biết, vì chưa dứt được Bất nhiễmôvô tri. Mười việc ấy là: 1. Vị: Chỉ cho mùi vị của các pháp. 2. Thế: Thế lực của sự tăng tổn. 3. Thục: Sự thành thục của các vật. 4. Đức: Đức dụng của các vật. 5. Số: Chỉ cho số lượng của sự vật. 6. Lượng: Lượng lớn, nhỏ. 7. Xứ: Các nơi xa, gần. 8. Thời: Thời gian lâu, mau. 9. Đồng: Sự giống nhau giữa sự vật. 10. Dị: Sự khác nhau giữa sự vật. [X. Truyền thông kí nhu sao Q.6].

thập bất trung đạo

Mười điều phản bác Trung Đạo—Ten negations in five pairs: 1) Bất Sanh Bất Tử: Không sanh không chết—Neither birth nor death. 2) Bất Tuyệt Bất Hằng: Không đoạn không hằng—Neither end nor permanence. 3) Bất Đồng Bất Dị: Không giống không khác—Neither identity nor difference. 4) Bất Khứ Bất Lai: Không đến không đi—Neither coming nor going. 5) Bất Nhân Bất Quả: Không nhân không quả—Neither cause nor effect.

thập bất tăng trưởng nghiệp

(十不增長業) Chỉ cho 10 thứ nghiệp không thêm lớn. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 9 thì Thập bất tăng trưởng nghiệp là: 1. Mộng sở tác nghiệp: Nghiệp được tạo tác trong mộng, chẳng phải cố ý tạo tác, cũng chẳng phải do thân, khẩu gây ra, cho nênlàBất tăng trưởng nghiệp. 2. Vô tri sở tác nghiệp: Nghiệp do người không hay biết gây ra, không do ý tư duy sinh khởi. 3. Vô cố tư sở tác nghiệp: Nghiệp do thân, khẩu tạo tác một cách không cố ý, nghĩa là không có ý suy tính trước. 4. Bất lợi bất sác sở tác nghiệp: Các nghiệp tạo tác không vì lợi lộc, cũng không tạo tác luôn luôn. 5. Cuồng loạn sở tác nghiệp: Nghiệp thân, khẩu do người cuồng loạn, ngây dại tạo tác, vốn chẳng phải cố ý, cũng không hay biết. 6. Thất niệm sở tác nghiệp: Những việc do người đã mất chính niệm, cũng như người ngu si đần độn gây ra, không do ý thức phát khởi. 7. Phi nhạo dục sở tác nghiệp: Nghiệp tạo tác không phải do tâm ưa muốn thích làm.8. Tự tính vô kí nghiệp: Nghiệp do vô kí tính(tính không thiện không ác) gây ra. 9. Hối sở tổn nghiệp: Trước tạo nghiệp, sau sinh tâm hổ thẹn, ăn năn sửa đổi thành thiện, nghiệp được giảm nhẹ. 10. Đối trị sở tổn nghiệp: Nghiệp đã gây ra liền dùng phương tiện đối trị, nghiệp bị tổn giảm.

thập bất tịnh

(十不淨) Phạm: Daza-azubha. Pàli: Dasa-asubha. Chỉ cho 10 trạng thái dơ bẩn của xác chết từ sự rữa nát đến thành xương trắng. Đó là: Sình trướng, bầm xanh, thối rữa, nát vụn, chim thú ăn còn thừa, vung vãi, chém chặt lìa ra, máu me, dòi bọ và xương khô. Nếu thoát được sự đắm trước dục thể, quán xét 10 thứ bất tịnh của nhục thân thì gọi là Thập bất tịnh tưởng. [X. luận Thanh tịnh đạo 6; luận Giải thoát đạo Q.3].

thập bồ tát hạnh

See Mười Hạnh Bồ Tát and Thập Hạnh Bồ Tát.

thập cam lộ minh

(十甘露明) Cũng gọi Thập cam lộ chân ngôn A di đà đại chú, Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bản đắc sinh tịnh độ thần chú, Vô lượng thọ Như lai căn bản đà la ni, A di đà đại đà la ni, A di đà đại thân chú, Cam lộ đà la ni chú. Chỉ cho chân ngôn của A di đà Như lai. Vì trong bài chú có 10 câu A mật lật đa, được dịch là cam lộ, cho nên gọi là Thập cam lộ minh. [X. Vô lượng thọ căn bản đà la ni trong Vô lượng thọ Như lai quán hành cúng dường nghi quĩ]. (xt. Cam Lộ).

Thập Can

(十干): Mười Can, còn gọi là Thiên Can (天干), là 10 yếu tố được giải thích theo thứ tự cách đọc âm của tiếng Nhật, Trung Quốc, Triều Tiên, thuộc Ngũ Hành (五行), Ngũ Phương (五方), âm dương, gồm: (1) Giáp (甲, kō, jiǎ, gap, Mộc [木], đông, dương); (2) Ất (乙, otsu, yǐ, eul, Mộc, đông, âm); (3) Bính (丙, hei, bǐng, byeong, Hỏa [火], nam, dương); (4) Đinh (丁, tei, dīng, jeong, Hỏa, nam, âm); (5) Mậu (戊, bo, wù, mu, Thổ [土], trung ương, dương); (6) Kỷ (己, ki, jǐ, gi, Thổ, trung ương, âm); (7) Canh (庚, kō, gēng, gyeong, Kim [金], tây, dương); (8) Tân (辛, shin, xīn, sin, Kim, tây, âm); (9) Nhâm (壬, jin, rén, im, Thủy [水], bắc, dương); (10) Quý (癸, ki, guǐ, gye, Thủy, bắc, âm). Trong 10 Can này, Giáp-Kỷ, Ất-Canh, Bính-Tân, Đinh-Nhâm, Mậu-Quý tạo thành 5 nhóm, giữa hai Can ấy có mối quan hệ rất mật thiết với nhau. Khi hai Can này gặp nhau thì tạo thành nhất thể, được gọi là Can Hợp (干合). Từ mối quan hệ này quyết định vị trí của Đức Thần (德神, tức Tuế Đức Thần [歳德神]). Tự bản thân của những Can thuộc về dương là Đức Thần, riêng những Can thuộc về âm, là Can Hợp mới trở thành Đức Thần. Vào thời nhà Ân (殷, khoảng 1600-1046 tcn), người ta cho rằng có tồn tại 10 mặt trời, mỗi ngày thay nhau mọc, tuần hoàn trong 10 ngày và tương truyền 10 Can được đặt tên theo các mặt trời ấy. Mặt trời tuần hoàn trong 10 ngày được gọi là tuần (旬); các danh từ Thượng Tuần (上旬), Trung Tuần (中旬) và Hạ Tuần (下旬) cũng phát xuất từ đây. Thiên Can kết hợp với Địa Chi (地支, tức Thập Nhị Chi [十二支, Mười Hai Chi]), gồm Tý (子), Sửu (丑), Dần (寅), Mão (卯), Thìn (辰), Tỵ (巳), Ngọ (午), Mùi (未), Thân (申), Dậu (酉), Tuất (戌), Hợi (亥), được gọi là Can Chi (干支), được dùng để biểu thị lịch pháp, v.v. Cứ hai yếu tố Can thuộc một yếu tố của Ngũ Hành và tương đương với âm hay dương. Tại Nhật Bản, dương (陽) được xem là huynh (兄, anh), âm (陰) là đệ (弟, em); tỷ dụ như Giáp là “ki-no-e (木の兄, mộc huynh)”, Ất là “ki-no-to (木の弟, mộc đệ)”. Cách đọc chữ Can Chi (干支) là “eto (えと)” cũng phát xuất từ cách đọc “eto (えと)” của từ “huynh đệ (兄弟)”. Chư vị Thánh nhân cũng như các nhà thiên văn học Trung Quốc quan sát cho biết rằng Can Giáp tượng trưng cho khí trời mát mẻ, cây cỏ tươi tốt; Ất là khí trời ấm áp, chim chóc, sâu bọ nhảy hót; Bính là ánh mặt trời chiếu khắp, thường có ánh Thái Dương; Đinh là ánh nắng chói chan, gió nóng bức, cảm giác tỏa nóng; Mậu là vật đến cùng cực thì phản ứng lại, chuyển sang quá độ; Kỷ là khí nóng tăng dần, khí lưu chẳng ổn định; Canh là khí trời chuyển mát, dễ sanh gió và sương mù; Tân là khí trời trở lạnh, dễ đọng mưa móc; Nhâm là trời lên lạnh ngắt, nước tràn sông hồ; Quý là khí trời âm hàn, ẩm thấp, tối tăm.

thập chi

Mười nhánh ác—The ten branches of evils: (A) Thân Tam: See Thất Chi (A) in Vietnamese-English Section. (B) Khẩu Tứ: See Thất Chi (B) in Vietnamese-English Section. (C) Ý Tam: Three sins of the mind: 1) Tham: Greed. 2) Sân: Anger. 3) Si: Ignorance.

thập chi luận

(十支論) Cũng gọi Thập chi mạt luận, Thập chi. Chỉ cho 10 bộ luận lấy luận Du già sư địa làm gốc để trình bày các nghĩa lí chi phần. Đó là: 1. Luận Bách pháp minh môn: Cũng gọi luận Lược trần danh số, do ngài Thế thân soạn. 2. Luận Đại thừa ngũ uẩn: Cũng gọi luận Thô thích thể nghĩa, luận Y danh thích nghĩa, do ngài Thế thân soạn. 3. Luận Hiển dương thánh giáo: Cũng gọi luận Tổng bao chúng nghĩa, do ngài Vô trước soạn. 4. Luận Nhiếp đại thừa: Cũng gọi luận Quảng bao đại nghĩa, do ngài Vô trước soạn, có Thích luận(luận chú thích) của ngài Thế thân, Vô tính. 5. A tì đạt ma tập luận và Tạp tập luận: Tập luận do ngài Vô trước soạn, ngài Sư tử giác chú thích; còn Tạp tập luận thì do ngài An tuệ hợp chung Tập luận và bản chú thích của ngàiSư tử giác mà thành. 6. Luận Biện trung biên: Cũng gọi luận Li tịch chương trung, do bồ tát Di lặc soạn, ngài Thế thân làm Luận thích. 7. Luận Nhị thập duy thức: Cũng gọi luận Tồi phá tà sơn, do ngài Thế thân soạn, đồng thời viết Luận thích. 8. Luận Tam thập duy thức: Cũng gọi luận Cao kiến pháp chàng, do ngài Thế thân soạn bản tụng, 10 vị Luận sư như ngài Hộ pháp... viết Thích luận, nay chỉ còn bản tụng lưu hành ở đời. 9. Luận Đại thừa trang nghiêm: Cũng gọi luận Trang nghiêm thể nghĩa, do bồ tát Di lặc soạn bản tụng, ngài Thế thân làm Thích luận. 10. Luận Phân biệt du già: Cũng gọi luận Nhiếp tán qui quán, do bồ tát Di lặc soạn bản tụng, ngài Thế thân làm Thích luận. Trong 10 bộ luận trên đây, chỉ có luận Phân biệt du già là không được truyền dịch. Đến đời sau, có chỗ bỏ luận Nhiếp đại thừa mà thay bằng luận Chính lí môn của ngài Trần na, thành Thập chi luận. [X. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.1, phần đầu; Đại tạng pháp số Q.58].

thập chú

Ten Small Mantras: 1) Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni: As-You-Will Jewel King Dharani. 2) Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú: Disaster Eradicating Auspicious Spirit Mantra. 3) Công Đức Bảo Sơn Thần Chú: Meritorious Virtue Jewelled Mountain Spirit Mantra. 4) Phật Mẫu Chuẩn Đề Thần Chú: Jwun Ti Spirit Mantra. 5) Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Đà La Ni: The Resolute Light King Dharani of Holy Limitless Life. 6) Dược Sư Quán Đảnh Chân Ngôn: Medicine Master's True Words for Anointing the Crown. 7) Quán Âm Linh Cảm Chân Ngôn: Kuan Shi Yin's Efficacious Response True Words. 8) Thất Phật Diệt Tội Chân Ngôn: The True Words of Seven Buddhas for Eradicating Offences. 9) Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú: Spirit Mantra For Rebirth in the Pure Land. 10) Thiện Thiên Nữ Chú: Good Goddess Mantra.

thập chướng

Mười chướng ngại mà bất cứ Bồ Tát nào cũng đều phải vượt qua—Ten hindrances that any Bodhisattva must overcome before achieving enlightenment: 1) Dị sanh tánh chướng: Chướng ngại vì tưởng rằng những cái không thật là thật—The common illusions of the unenlightened, taking the seeming for real. 2) Tà hạnh chướng: Common unenlightened conduct. 3) Ám độn chướng: Ignorant and dull ideas. 4) Vi tế hiện hành phiền não chướng: The illusions that things are real and have independent existence. 5) Hạ thừa Niết bàn chướng: The lower ideals in Hinayana of nirvana. 6) Thô tướng hiện hành chướng: The ordinary idea of pure and impure. 7) Tế tướng hiện hành chướng: The idea of reincarnation. 8) Vô tướng gia hành chướng: The continuation of activity even in the formless world. 9) Lợi tha Bất dục hành chướng: No desire to act for the salvation of others. 10) Chư pháp vị đắc tự tại chướng: Non-attainment of complete mastery.

thập chỉ

(十指) I. Thập Chỉ. Mười ngón tay. Trong ấn Liên hoa hợp chưởng(chắp tay hoa sen) của Mật giáo, 10 ngón tay biểu thị 10 Ba la mật, 10 pháp giới. Kinh Nhiếp vô ngại cho rằng 5 ngón của bàn tay trái tượng trưng cho 5 trí của Thai tạng hải, còn 5 ngón của bàn tay phải thì tượng trưng cho 5 trí của Kim cương hải; tay trái là Định, tay phải là Tuệ, 10 ngón là 10 độ, hoặc 10 pháp giới, 10 chân như. Kinh Đại nhật quyển 3 cho tay trái biểu thị nghĩa Tam muội, tay phải biểu thị nghĩa Bát nhã, 10 ngón tay biểu thị đầy đủ nghĩa 10 Ba la mật, cũng ví dụ cho Nhất thiết trí ngũ luân. (xt. Tịnh Tam Nghiệp Ấn). II. Thập Chỉ. Mười ngón chân. Kinh Tịnh ấn pháp môn quyển 17 nói: Bồ tát Hải ý vâng lời Phật dạy, từ 10 ngón chân phóng ra 10 nghìn tia sáng.

thập chủng bất thiện nghiệp

Ten kinds of unwholesome karma—See Thân Tam Khẩu Tứ Ý Tam.

thập chủng bất tư nghị pháp

(十種不思議法) Chỉ cho 10 pháp không thể nghĩ bàn của đức Phật, có 2 thuyết: I. Theo phẩm Như lai bất tư nghị trong kinh Đại thừa Bồ tát tạng chính pháp quyển 7 thì 10 pháp ấy là: 1. Thân tướng tối thắng không thể nghĩ bàn.2. Âm thanh vi diệu không thể nghĩ bàn.3. Đại trí tột cùng không thể nghĩ bàn. 4. Ánh sáng mầu nhiệm không thể nghĩ bàn.5. Giới định tròn đầy không thể nghĩ bàn.6. Thần túc rộng lớn không thể nghĩ bàn.7. Mười thứ trí lực không thể nghĩ bàn. 8. Bốn vô sở úy không thể nghĩ bàn. 9. Tâm đại từ bi không thể nghĩ bàn. 10. Bất cộng Phật pháp không thể nghĩ bàn.II. Theo phẩm Phật bất tư nghị pháp trong kinh Hoa nghiêm quyển 30 (bản dịch cũ) thì 10 pháp là: 1. Cõi nước của chư Phật không thể nghĩ bàn.2. Thệ nguyện thanh tịnh của chư Phật không thể nghĩ bàn. 3. Chủng tính của chư Phật không thể nghĩ bàn. 4. Chư Phật xuất thế không thể nghĩ bàn. 5. Pháp thân của chư Phật không thể nghĩ bàn. 6. Âm thanh của chư Phật không thể nghĩ bàn. 7. Trí tuệ của chư Phật không thể nghĩ bàn.8. Thần lực tự tại của chư Phật không thể nghĩ bàn. 9. Sự an trụ vô ngại của chư Phật không thể nghĩ bàn. 10. Sự giải thoát của chư Phật không thể nghĩ bàn.

thập chủng bất tịnh

(十種不淨) Mười thứ bất tịnh ghi trong luận Thuyết pháp minh nhãn quyển thượng, đó là: 1. Thân bất tịnh: Vì thân ở trong bùn nhơ sinhtử nên là bất tịnh. 2. Khẩu bất tịnh: Miệng nói những lời phiền não, hí luận nên là bất tịnh. 3. Ý bất tịnh: Ý sinh khởi các niệm xấu ác, vọng tưởng bất tịnh. 4. Hành bất tịnh: Du hành trong các cõi uế tạp của 6 đường luân hồi. 5. Trụ bất tịnh: Ở trong nhà lửa 3 cõi, trôi lăn sống chết. 6. Tọa bất tịnh: Ngồi trong ngục sinh tử nhơ nhớp. 7. Ngọa bất tịnh: Nằm trong nhà trọ của 4 khổ vô thường. 8. Tự hành bất tịnh: Không tu hành tính giới chân truyền của Như lai, chỉ giữ các giới phương tiện thô thiển. 9. Hóa tha bất tịnh: Dạy người chỉ chăm hành trì những điều thiện của môn phương tiện tạm thời một cách uổng công. 10. Sở kì bất tịnh: Chỉ mong cầu quả hữu lậu bất tịnh.

thập chủng bổ đặc già la

(十種補特伽羅) Bổ đặc già la, Phạm:Pudgala. Hán dịch: Hữu tình. Cũng gọi Nhân(người). Loài hữu tình tội nghiệp sâu nặng, luân hồi sinh tử khó được thân người, vì thế Phật nói 10 loại khác nhau. Đó là: 1. Bất chủng thiện căn: Chỉ cho các hữu tình trong đời trước cũng như trong đời hiện tại không trồng căn lành bồ đề, chỉ làm các việc tệ ác. 2. Vị tu phúc nghiệp: Các hữu tình chưa từng tu các nghiệp phúc đức như bố thí, trì giới... phần nhiều là làm những việc ác. 3. Tạp nhiễm tương tục: Bị tham, sân, si tạp loạn làm cho nhơ nhớp, nối tiếp không dứt. 4. Tùy ác hữu hành: Thuận theo bạn ác, quen làm các việc xấu xa. 5. Bất úy hậu thế khổ quả: Không sợ quả khổ đời sau. Nghĩa là chỉ gây nghiệp ác mà không sợ quả báo khổ đau, sống chết ở vị lai. 6. Mãnh lợi tham dục: Tham muốn mạnh mẽ. Nghĩa là tham cầu các dục lạc không biết chán đủ. 7. Mãnh lợi sân khuể: Giận dữ mạnh mẽ. Nghĩa là khi gặp nghịch cảnh thì nổi cơn thịnh nộ mà không biết kiềm chế. 8. Mãnh lợi ngu si: Ngu si cùng cực. Nghĩa là không rõ các cảnh mê hoặc, khởi các tà kiến, miệt thị chính pháp. 9. Kì tâm mê loạn: Trong tâm mê loạn: Không làm chủ được tâm mình, mê hoặc cuồng loạn, tạo các nghiệp bất thiện. 10. Thủ ác tà kiến: Chấp chặt kiến giải tà ác, không tin chính pháp Như lai. [X. kinh Địa tạng thập luân Q.5].

thập chủng cảnh giới

(十種境界) Cũng gọi Thập chủng chứng tướng. Gọi tắt: Thập cảnh giới. Chỉ cho 10 cảnh giới do bồ tát Viên giáo giai vị Thập tín chứng được, nói trong Pháp hoa tam đại bộ độc giáo kí quyển 5, đó là: 1. Thấy các việc do thần lực hóa hiện. 2. Thấy các hóa sự biến hiện. 3. Thấy bồ tát Phổ hiền thuyết pháp. 4. Thấy Phật ở phương đông. 5. Thấy Phật trong 10 phương. 6. Thấy các cõi Phật ở 10 phương. 7. Thấy Phật và các cõi nước. 8. Thấy đức Thế tôn ngồi trên tòa. 9. Thấy phân thân của đức Thích ca. 10. Thấy tháp Phật Đa bảo. Trong giai vị Thập tín, mỗi mỗi giai vị đều có 10 cảnh giới, tổng cộng thành 100 pháp, 100 pháp này chính là căn bản của tất cả pháp môn về sau. [X. kinh Quán Phổ hiền bồ tát hành pháp; Pháp hoa huyền nghĩa Q.5, thượng; Tứ giáo nghĩa Q.6].

thập chủng diễn thuyết

(十種演說) Mười đề tài mà ngoại đạo Biến hành đã diễn nói cho đồng tử Thiện tài nghe, đó là: 1. Diễn nói các thứ nghề nghiệp ở thế gian, khiến chứng được đầy đủ tất cả trí xảo đà la ni. 2. Diễn nói về 4 nhiếp phương tiện, khiến chứng được đầy đủ tất cả trí đạo. 3. Diễn nói các pháp Ba la mật, khiến hồi hướng tất cả trí vị. 4. Khen ngợi tâm đại bồ đề, khiến không mất đạo ý vô thượng. 5. Khen ngợi các hạnh Bồ tát, khiến đầy đủ nguyện tịnh Phật quốc độ, hóa độ chúng sinh. 6. Diễn nói về việc tạo các nghiệp ác, sẽ phải chịu các khổ báo ở địa ngục... khiến sinh tâm chán lìa ác nghiệp. 7. Diễn nói về việc cúng dường chư Phật, trồng các căn lành, quyết định được quả Nhất thiết trí, khiến phát khởi tâm vui mừng. 8. Tán thán tất cả công đức của Như lai ứng chính đẳng giác, khiến ưa thích thân Phật, cầu nhất thiết trí. 9. Ngợi khen uy đức của chư Phật, khiến nguyện được thân Phật bất hoại. 10. Ngợi khen thân tự tại của Phật, khiến cầu thể đại uy đức của Như lai không gì che phủ được. [X. kinh Hoa nghiêm Q.67 (bản dịch mới)].

thập chủng giáo thể

(十種教體) Mười thể tính của giáo nói trong Hoa nghiêm huyền đàm của ngài Trừng quán. 1. Âm thanh ngôn ngữ thể: Lấy ngữ nghiệp làm giáo thể, tức lấy ngôn từ luận thuyết của Phật làm giáo thể. 2. Danh cú văn thân thể: Y cứ vào sự kiện mà lập danh(danh từ), nhiều danh hợp lại thành cú(câu nói), hợp các nghĩa củacáccâu nói lại thành văn; thân có nghĩa tụ tập, dùng 3 cách này làm thể để giảng rõ giáo pháp. 3. Thông thủ tứ pháp thể: Lấy chung 4 pháp: Thanh, danh, văn và cú làm thể. 4. Thông nhiếp sở thuyên thể: Gom chung những nghĩa lí đã được trình bày rõ ràng làm giáo thể. 5. Chư pháp hiển nghĩa thể: Lấy tất cả các pháp thế gian tỏ rõ được nghĩa lí làm giáo thể. 6. Nhiếp cảnh vi tâm thể: Thu nhiếp các cảnh làm tâm thể. Nghĩa là 5 pháp trước chỉ do tâm hiển hiện, cho nên lấy nhất tâm làm giáo thể. 7. Hội duyên nhập thực thể: Hợp các duyên vào thực thể. Nghĩa là gom chung 6 môn trước vào Nhất thực và lấy đó làm giáo thể. 8. Lí sự vô ngại thể: Lấy chân như làm lí, giáo pháp làm sự, cả 2 không ngăn trở nhau, cho nên được dùng làm giáo thể. 9. Sự sự vô ngại thể: Văn viên thì nghĩa cũng viên, đều đầy đủ 10 huyền môn, nên được dùng làm giáo thể. 10. Hải ấn bính hiện thể: Thể Hải ấn hiện rõ. Nghĩa là dùng tam muội Hải ấn của Như lai làm giáo thể. Hoa nghiêm huyền đàm quyển 7 phân tích thêm, cho rằng 5 giáo thể trước chỉ bao hàm Thể, 5 giáo hàm sau thì bao hàm cả Thể và Tính; 4 loại trước chung cho cả Tiểu thừa, 6 loại sau chỉ thuộc Đại thừa; 7 loại trước chung cho cả Tam thừa, 3 loại sau chỉ thuộc Nhất thừa; 8 loại trước chung cho nghĩa Đồng giáo nhất thừa, 2 loại sau thì thuộc nghĩa Biệt giáo nhất thừa.

thập chủng hoá bất thất thời

(十種化不失時) Chỉ cho 10 cách giáo hóa do đức Phật đáp ứng đúng với thời và cơ của chúng sinh mà thực hiện, không để lỡ mất. Đó là: 1. Thành đẳng chính giác hóa bất thất thời: Như lai xuất hiện trong thế gian, sau khi thành Phật đạo, tùy cơ ứng cảm, thích hợp duyên mà thực hiện việc giáo hóa. 2. Thành thục hữu duyên hóa bất thất thời: Duyên đã chín mùi thì giáo hóa, không để lỡ mất. Nghĩa là khi Như lai biết rõ thiện căn của chúng sinh đã thành thục, thì tùy thời hóa độ, khiến đều được giải thoát. 3. Thụ Bồ tát kí hóa bất thất thời: Giáo hóa để trao kí biệt cho Bồ tát không để lỡ mất thời. Nghĩa là khi biết rõ các vị Bồ tát đã trải qua nhiều kiếp tu phạm hạnh, công nghiệp thành tựu, Như lai liền thụ kí thành Phật cho các vị Bồ tát ấy. 4. Thị hiện thần lực hóa bất thất thời: Thị hiện năng lực thần thông mà giáo hóa, không để lỡ mất thời. Nghĩa là Như lai tùy theo chỗ ưa thích của chúng sinh mà thị hiện năng lực uy thần, khiến họ sinh tâm tin ưa mà được khai ngộ. 5. Thị hiện Phật thân hóa bất thất thời: Thị hiện thân Phật mà hóa độ, không để lỡ thời. Nghĩa là Như lai thuận theo điều chúng sinh ưa thích, hiện thân tướng tốt đẹp, khiến đều được lợi lạc. 6. Trụ ư đại xá hóa bất thất thời: Trụ nơi tâm đại xả mà giáo hóa, không để lỡ mất thời. Nghĩa là Như lai tu hạnh tùy thuận vô trước, có tâm đại xả, tùy duyên giáo hóa lợi ích tất cả chúng sinh, không hề có ý tưởng năng hóa(người giáo hóa)và sở hóa(người được giáo hóa). 7. Nhập chư tụ lạchóabất thất thời: Vào các xóm làng giáo hóa, không để lỡ mất thời. Nghĩa là vì lòng đại bi, Như lai tùy duyên nhiếp hóa, đi vào khắp thành ấp, xóm làng, mang lợi ích đến cho tất cả.8. Nhiếp chư tịnh tín hóa bất thất thời: Giáo hóa những người có lòng tin thanh tịnh không để lỡ mất thời. Nghĩa là Như lai có trí tuệ vô ngại, biết rõ tâm thanh tịnh của chúng sinh và tùy duyên nhiếp hóa.9. Điều ác chúng sinh hóa bất thất thời: Điều phục, giáo hóa những chúng sinh bạo ác, không để lỡ thời. Nghĩa là Như lai dùng năng lực uy thần lớn, điều phục các chúng sinh bạo ác, khiến chúng bỏ ác tu thiện, không để lỡ thời cơ. 10. Hiện Phật thần thông hóa bất thất thời: Hiện thần thông của Phật mà giáo hóa, không để lỡ mất thời. Nghĩa là năng lực thần thông mà Như lai thị hiện không thể nghĩ bàn, chỉ trong một niệm có thể làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, không mất thời cơ.

thập chủng hạnh

(十種行) Cũng gọi Tọa thiền nhân thập chủng hành. Mười hạnh của người tọa thiền nói trong phẩm Hành môn luận Giải thoát đạo quyển 4, đó là: 1. Linh quán xứ minh tịnh: Quán xứ phải trong sáng. Nghĩa là người ngồi thiền muốn có hiệu quả trước hết phải ăn uống điều độ, không no không đói, kế đến phải tùy thuận thời tiết, không sớm không trễ và chỉnh đốn uy uy, không được biếng nhác; tu 3 hạnh này phải dụng tâm quán xét rõ ràng thì các duyên dứt bặt, tâm thường vắng lặng, an trụ trong thiền định. 2. Biến khởi quán chư căn: Khởi quán khắp các căn. Nghĩa là người ngồi thiền muốn có hiệu quả thì phải quán xét khắp 5 căn tín, tiến, niệm, định, tuệ, không để lui mất, tương ứng với định, tâm không biếng nhác, liền xa lìa các lỗi nghi, cái... Tam muội được hiện tiền. 3. Hiểu liễu ư tướng: Hiểu tướng rõ ràng. Nghĩa là người tọa thiền muốn đạt được định thì phải hiểu rõ tướng tưởng nghĩ của ý thức, khiến không nhanh không chậm, điều hòa vừa phải thì không sinh vọng tưởng, dễ vào thiền định. 4. Chế linh tâm điều: Chế phục khiến tâm điều hòa. Nghĩa là người ngồi thiền muốn đạt được định thì phải tinh tiến chế phục tâm mình, điều hòa thích đáng, không để quá độ khiến tâm tán loạn thì được tướng định hiện tiền, Tam muội thành tựu. 5. Chiết phục giải đãi: Khắc phục tính lười biếng. Nghĩa là người tọa thiền nếu vì không được thắng định nên tâm mất hứng thú, trở thànhbiếngnhácmà muốn ngủ nghỉ thì lúc đó phải quán xét kĩ công đức các thiền định, hăng hái tiến tới, tướng định sẽ hiện tiền, đạt được Tam muội. 6. Tâm vô vị trước: Tâm không hứng thú ưa thích. Nghĩa là người ngồi thiền, vì tuệ căn chậm lụt lại ít phương tiện, không được tịch lặng, cho nên đối với thắng định tâm không có hứng thú và ưa thích. 7. Tâm hoan hỉ: Tâm vui mừng. Nghĩa là người tọa thiền, đối với thắng định, nếu tâm không ưa thích thì nên quán sinh, lão, bệnh, tử và các đường ác khiến tâm sợ hãi, sau đó nghĩ đến các công đức của Phật, pháp, tăng, khích lệ thân tâm, làm cho vui mừng mong được thiền định. 8. Tâm định thành xả: Tâm định xả bỏ. Nghĩa là người tu thiền muốn đạt được định thì phải điều phục các căn, tư duy đúng như lí, tâm an trụ trong vắng lặng (định), xả bỏ tất cả hạnh không chân chính. 9. Cận học định nhân: Gần gũi người tu định. Nghĩa là người tọa thiền phải xa lìa những người không tu uy nghi, không tập tịch tĩnh, mà thường gần gũi những người an trụ trong vắng lặng, uy nghi chỉnh tề, nguồn tâm thanh tịnh, tịch tĩnh; nên nghe theo lời răn dạy của những người này để thành tựu đạo nghiệp chính định. 10. Nhạo trước an định: Ưa thích sự an định. Nghĩa là người tọa thiền muốn đạt được định thì đối với những người đã được định thiện, hiểu rõ duyên khởi, trụ trong yên lặng, nên ngưỡng mộ cung kính, mong được chỉ bảo để khởi tâm định.

thập chủng hữu y hành luân

(十種有依行輪) Chỉ cho 10 hành nghiệp nếu chúng sinh nương nhờ vào mà tu hành đạo Bồ đề thì có thể phá dẹp được tất cả phiền não hoặc nghiệp. Hữu y hành là hành nghiệp có thể nương tựa được; Luân là bánh xe, có nghĩa phá dẹp. Mười hành nghiệp ấy là: 1. Cụ túc tịnh tín: Đầy đủ lòng tin thanh tịnh. 2. Cụ túc tàm quí: Đầy đủ tâm hổ thẹn. 3. An trụ luật nghi: Thu nhiếp thân, khẩu, ý, an trụ trong giới luật thanh tịnh. 4. An trụ từ tâm: An trụ nơi tâm từ bình đẳng. 5. An trụ bi tâm: An trụ trong bi tâm bình đẳng. 6. An trụ hỉ tâm: An trụ trong tâm vui mừng. 7. An trụ xả tâm: An trụ trong tâm xả bỏ.8. Cụ chính qui y: Đầy đủ qui y chân chính. Nghĩa là khi mới phát tâm tu hành, phải nương tựa vào Tam bảo Phật, Pháp, Tăng. 9. Cụ túc tinh tiến: Đầy đủ tinh tiến. Nghĩa là phải luôn tinh tiến, siêng chăm tu học.10. Thường nhạo tịch tĩnh: Thường ưa thích sự vắng lặng. Nghĩa là thường một lòng lặng lẽ, tư duy đúng như lí để dứt mọi vọng tưởng.

thập chủng không tướng hồi hướng tâm

(十種空相回向心) Chỉ cho 10 tướng Không mà Bồ tát ở giai vị Vô tận công đức tạng hồi hướng trong Thập hồi hướng biết rõ khi dùng tất cả thiện căn quán xét về chỗ mình hồi hướng. Mười tướng Không ấy là: 1. Rõ biết tất cả thế giới chúng sinh không có chúng sinh. 2. Biết tất cả pháp không thọ mệnh. 3. Biết tất cả pháp không có người tạo tác.4. Ngộ tất cả pháp không có ngã(bổ đặc già la). 5. Rõ biết tất cả pháp không có tức giận, tranh cãi. 6. Quán tất cả pháp đều do nhân duyên sinh, không có trụ xứ. 7. Biết tất cả vật đều không có chỗ nương. 8. Rõ biết tất cả các cõi đều không có chỗ trụ. 9. Quán tất cả hạnh Bồ tát đều không nơi chỗ. 10. Thấy tất cả cảnh giới đều không có.

thập chủng kiến

(十種見) Chỉ cho 10 thứ tà kiến nói trong luận Du già sư địa quyển 8, đó là: 1. Tát ca da kiến, Hán dịch:Thân kiến. Nghĩa là trong 5 uẩn vọng sinh chấp trước, chấp có ngã(ta)và ngã sở(của ta). 2. Biên kiến: Người ngoại đạo đối với thân 5 uẩn khởi chấp đoạn chấp thường, chấp một bên nào thì ngã kiến cũng tăng trưởng. 3. Tà kiến: Người ngoại đạo không rõ nhân quả của pháp Tứ đế, tà tâm suy tính, cho rằng không có lí ấy, dứt mất căn lành xuất thế gian. 4. Kiến thủ kiến: Đối với 62 kiến chấp, ngoại đạođềucho mỗi mỗi kiến chấp của mình là tối thượng, là thắng diệu, là chân thực, ngoài ra đều là hư vọng, hơn nữa còn cho rằng nhờ kiến chấp này mà được thanh tịnh giải thoát. 5. Giới cấm thủ kiến: Ngoại đạo đối với các giới mình thụ trì vọng chấp cho là tối thượng, là thắng diệu, là chân thực, ngoài ra đều hư dối, hơn nữa còn cho rằng nhờ thụ trì giới này mà được thanh tịnh giải thoát. 6. Tham kiến: Đối với tất cả cảnh vừa ý ở cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc đều đắm trước, bám lấy mà khởi các kiến chấp. 7. Khuể kiến: Đối với tất cả cảnh trái ý thì nổi tâm tức giận, làm hại các hữu tình khác, đối với những việc mà người khác ưa thích không khởi tâm giúp đỡ, lại làm các việc mà người khác không ưa thích. 8. Mạn kiến: Tâm sinh kiêu mạn, cho mình là hơn tất cả mọi người. 9. Vô minh kiến: Không biết gì về lí chân thực, chỉ chấp chặt tà kiến. 10. Nghi kiến: Đối với lí của các đế, tâm do dự, không quyết định.

thập chủng kiến phật

(十種見佛) Bồ tát tu hạnh thù thắng, hợp với hạnh Phật, được thấy 10 Phật, phân minh, rõ ràng, gọi là Thập chủng kiến Phật. Cứ theo phẩm Li thế gian trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 51 thì Thập chủng kiến Phật là: 1. An trụ thế gian thành chính giác Phật vô trước kiến: Như lai nương đạo như thực thị hiện thành Chính giác, an trụ ở thế gian, không đắm trước Niết bàn, không đắm trước sinh tử, Bồ tát thấy không đắm trước như Phật. 2. Nguyện Phật xuất sinh kiến: Như lai nương nguyện mà xuất sinh, không chỗ nào không hiện, Bồ tát thấy xuất sinh như Phật.3. Nghiệp báo Phật thâm tín kiến: Như lai tu nhân thiện nghiệp muôn hạnh, cảm được quả báo tướng hảo trang nghiêm, quả báo của tịnh nghiệp này đều từ thâm tín trong nhân mà khởi, Bồ tát thấy thâm tín như Phật. 4. Trụ trì Phật tùy thuận kiến: Như lai tùy thuận chúng sinh, dùng thân xá lợi trụ ở thế gian, mãi mãi không hoại, Bồ tát thấy tùy thuận như Phật. 5. Niết bàn Phật thâm nhập kiến: Như lai nhờ đi sâu vào cảnh giới sinh tử niết bàn nên hóa thân của ngài có năng lực thị hiện diệt độ, Bồ tát thấy thâm nhập như Phật.6. Pháp giới Phật phổ chí kiến: Thân Như lai đầy khắp pháp giới thanh tịnh, đến tất cả mọi nơi, Bồ tát thấy đến khắp như Phật.7. Tâm Phật an trụ kiến: Tâm Như lai vắng lặng bất động, an trụ trong chân tính, Bồ tát thấy an trụ như Phật. 8. Tam muội Phật vô lượng vô y kiến: Tam muội vô lượng thanh tịnh của Như lai, vô niệm vô y, thường hiện ở trước, Bồ tát thấy vô lượng vô y như Phật. 9. Bản tính Phật minh liễu kiến: Chân tính bản giác của Như lai thanh tịnh vắng lặng, rỗng suốt rõ ràng, Bồ tát thấy rõ ràng như Phật. 10. Tùy nhạo Phật phổ thụ kiến: Như lai tùy ý ưa thích của mình và người khác, ban cho tất cả thân, Bồ tát thấy ban cho khắp như Phật.

thập chủng như lai tạng

(十種如來藏) Mười loại Như lai tạng do luận Thích ma ha diễn quyển 2 căn cứ vào thuyết Như lai tạng của luận Đại thừa khởi tín mà lập riêng. Đó là: 1. Đại tổng trì Như lai tạng: Tạng này tóm thu tất cả các tạng, viên mãn bình đẳng, là gốc của tất cả Như lai tạng. 2. Viễn chuyển viễn phược Như lai tạng: Như lai tạng này không có nhân mê lầm, quả mê lầm, cũng không có nhân giác ngộ, quả giác ngộ, chỉ 1 vị thanh tịnh, viên mãn.3. Dữ hành dữ tướng Như lai tạng: Tạng này có công năng phát sinh sức lưu chuyển, che phủ pháp thân Như lai. 4. Chân như chân như Như lai tạng: Tạng này chỉ có chân như chứ không có gì khác, chẳng phải chỗ sở chứng của trí chính thể mà cũng chẳng phải cảnh sở duyên của ý thức. 5. Sinh diệt chân như Như lai tạng: Tạng này chính là chân như bất sinh bất diệt bị sinh diệt làm nhiễm ô, vì thế gọi là Sinh diệt chân như Như lai tạng. 6. Không Như lai tạng: Tất cả pháp nhiễm ô là huyễn hóa sai biệt, thể dụng không thật, tác dụng chẳng phải chân, cho nên gọi là Không. Cái Không này có công năng che phủ thực đức chân thể của Như lai, nên gọi là Không như lai tạng. 7. Bất không Như lai tạng: Tức tất cả pháp thanh tịnh xa lìa hư ngụy, thể dụng đều chân thực, gọi là Bất không. Bất không này thường bị cái Không làm ô nhiễm. 8. Năng nhiếp Như lai tạng: Tức tâm tự tính thanh tịnh trong Vô minh tạng có công năng thu nhiếp tất cả mọi công đức.9. Sở nhiếp Như lai tạng: Tức tạng ra khỏi tất cả các nhiễm pháp vô minh và được bậc giác ngộ viên mãn nhiếp trì. 10. Ẩn phú Như lai tạng: Pháp thân Như lai bị phiền não che phủ.

thập chủng pháp hành

(十種法行) Phạm: Daza-dharma-caryà#. Gọi tắt: Thập pháp hành. Chỉ cho 10 phương pháp và hành nghi liên quan đến việc thụ trì kinh điển. Đó là: 1. Thư tả: Viết chép. Nghĩa là sao chép kinh điển giúp cho việc lưu thông rộng rãi.2. Cúng dường: Tôn kính cúng dường nơi có kinh điển hoặc có tháp Phật. 3. Thí tha: Bố thí cho người khác. Nghĩa là nói chính pháp cho người khác nghe, đồng thời cho họ các kinh điển để giáo hóa. 4. Đế thính: Chăm chúlắngnghe người khác đọc tụng kinh văn. 5. Phi độc: Mở đọc. Nghĩa là tự mình mở kinh điển đọc tụng. 6. Thụ trì: Nhận giữ. Nghĩa là nhận lãnh giáo pháp, ghi nhớ không quên. 7. Khai diễn: Diễn nói giáo pháp cho người khác nghe, khiến họ tin hiểu. 8. Phúng tụng: Đọc tụng, tuyên dương kinh văn, khiến người sinh tâm vui vẻ. 9. Tư duy: Suy nghĩ về pháp nghĩa do đức Phật nói. 10. Tu tập hạnh: Tu tập pháp do đức Phật nói.

thập chủng phát tâm

(十種發心) Mười loại phát tâm. Chúng sinh vì mê lầm nên niệm niệm khởi tâm, tham đắm các cảnh, nghiệp báo khác nhau, khổ vui sai biệt, đều do phát tâm không đồng thuần nhất. Cứ theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 35 thì 10 loại phát tâm là: 1. Phát tâm địa ngục: Chúng sinh niệm niệm khởi tâm tham sân, làm 10 điều ác thượng phẩm, thực hành địa ngục đạo. 2. Phát tâm súc sinh: Chúng sinh khởi tâm muốn có nhiều quyến thuộc, ngu si tham trước, làm 10 điều ác trung phẩm, thực hành đạo súc sinh. 3. Phát tâm ngã quỉ: Chúng sinh khởi tâm muốn được nổi tiếng, bên trong không có thực đức, chỉ biết dua nịnh, làm 10 điều ác hạ phẩm, thực hành đạo ngã quỉ. 4. Phát tâm hạ phẩm thập thiện: Hạ phẩm là sau khi làm điều thiện sinh tâm hối tiếc. Chúng sinh niệm niệm muốn hơn người, khinh người trọng mình, bên ngoài tỏ ra nhân nghĩa, thực hành đạo Tu la. 5. Phát tâm trung phẩm thập thiện: Trung phẩm là sau khi làm việc thiện khởi tâm hơi hối tiếc. Chúng sinh niệm niệm ưa thích thế gian, tu hành 5 giới, thực hành đạo làm người.6. Phát tâm thượng phẩm thập thiện: Thượng phẩm là khi thực hiện 10 điều thiện thì lúc định làm, lúc đang làm và lúc làm rồi, tâm đều không hối tiếc. Chúng sinh niệm niệm cầu sinh lên cõi trời, thu nhiếp các căn bên trong, không đắm cảnh trần bên ngoài, tu hành đạo trời. 7. Phát tâm Dục giới chủ: Dục giới chủ tức Tha hóa tự tại thiên chủ. Chúng sinh niệm niệm phô trương uy thế, chiếm đoạt thành quả hóa tha của người để tự vui chơi, tu hành đạo ma. 8. Phát tâm thế trí: Chúng sinh niệm niệm muốn được trí tuệ nhạy bén, biện luận thông suốt, không tin giáo pháp xuất thế, tu hành ngoại đạo. 9. Phát tâm Phạm thiên: Chúng sinh niệm niệm nhàm chán các trần cảnh ở cõi Dục, muốn được niềm vui thắng diệu trên cõi trời Phạm mà thực hành đạo Sắc giới và Vô sắc giới. 10. Phát tâm vô lậu: Chúng sinh niệm niệm nhàm chán và muốn thoát li nỗi sinh tử thế gian, đoạn trừ các vọng hoặc tham,sân, si... thường tu nhân vô lậu và tu hành đạo Nhị thừa(Thanh văn thừa và Duyên giác thừa).

thập chủng phương tiện

(十種方便) Chỉ cho 10 phương tiện khéo léo của người tu hạnh Bồ tát được nói trong phẩm Li thế gian kinh Hoa nghiêm quyển 40 (bản dịch cũ). Kinh Hoa nghiêm quyển 56 (bản dịch mới) gọi là Thập chủng cần tu. Đó là: 1. Bố thí phương tiện: Phương tiện bố thí. Nghĩa là Bồ tát bố thí không mảy may xẻn tiếc, xả bỏ cả thân mệnh tài sản mà không có tâm cầu báo đáp. 2. Trì giới phương tiện: Phương tiện giữ giới. Bồ tát giữ tất cả giới, tâm không nhiễm trước. 3. Nhẫn nhục phương tiện: Phương tiện nhẫn nhục. Bồ tát xa lìa các phiền não sân hận, ngã mạn, nhẫn tất cả cái xấu ác, trong tâm không lay động. 4. Tinh tiến phương tiện: Phương tiện tinh tấn. Ba nghiệp của Bồ tát không tán loạn, tất cả việc Bồ tátlàmđều không lui sụt cho đến rốt ráo. 5. Thiền định phương tiện: Phương tiện thiền định. Bồ tát xa lìa 5 dục và các phiền não, đối với thiền định, Bồ tát thường tu tập. 6. Trí tuệ phương tiện: Phương tiện trí tuệ. Bồ tát xa lìa phiền não ngu si, tu tập tất cả công đức, có năng lực khai phát tuệ giải. 7. Đại từ phương tiện: Phương tiện đại từ. Bồ tát vận dụng tâm đại từ bình đẳng, làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh. 8. Đại bi phương tiện: Phương tiện đại bi. Bồ tát biết các pháp không có tự tính, dùng tâm đại bi bình đẳng, chịu khổ thay cho tất cả chúng sinh. 9. Giác ngộ phương tiện: Phương tiện giác ngộ. Bồ tát dùng trí tuệ vô ngại biết rõ 10 căn tính của chúng sinh. 10. Chuyển bất thoái phương tiện: Phương tiện thuyết pháp không trở lui. Bồ tát quay bánh xe pháp vô thượng, giáo hóa, dẫn dắt chúng sinh, khiến y theo giáo pháp mà tu học, tăng trưởng bồ đề, không trở lui khỏi giai vị tu hành.

thập chủng phật âm

Ten types of Buddha's voice—See Âm Thanh Của Đức Như Lai, and Tứ Chủng Phật Âm.

thập chủng quyết định giải

Ten kinds of certain understanding—See Mười Thứ Quyết Định Giải.

Thập chủng quảng đại phương tiện

(十種廣大方便) Mười thứ trí rộng lớn mà Bồ tát đạt được sau khi an trụ trong 10 pháp. Theo kinh Hoa nghiêm thì 10 thứ trí ấy là:1. Tri nhất thiết chúng sinh tâm hành trí: Trí biết rõ các hoạt động tâm lí của tất cả chúng sinh. 2. Tri nhất thiết chúng sinh nghiệp báo trí: Trí biết rõ nghiệp báo của tất cả chúng sinh. 3. Tri nhất thiết Phật pháp trí: Trí biết tất cả pháp của Phật. 4. Trí nhất thiết Phật pháp thâm mật lí thú trí: Trí biết lí thú sâu kín của tất cả Phật pháp. 5. Tri nhất thiết đà la ni môn trí: Trí biết tất cả các môn Đà la ni. 6. Tri nhất thiết văn tự biện tài trí: Trí biết tất cả văn tự và biện tài. 7. Tri nhất thiết chúng sinh ngữ ngôn âm thanh từ biện thiện xảo trí: Trí biết các ngôn ngữ, âm thanh, lời lẽ, biện luận khéo léo của tất cả chúng sinh. 8. Ư nhất thiết thế giới trung phổ hiện kì thân trí: Trí biết thân hiện khắp trong tất cả thế giới. 9. Ư nhất thiết chúng hội trung phổ hiện ảnh tượng trí: Trí biết các ảnh tượng hiện khắp trong tất cả chúng hội. 10. Ư nhất thiết thụ sinh xứ trung cụ nhất thiết trí: Trong tất cả các nơi thụ sinh, Bồ tát đều có đầy đủ Nhất thiết trí.

thập chủng quỷ

(十種鬼) Chỉ cho 10 loại quỉ nói trong kinh Lăng nghiêm quyển 8. Tức là : 1. Quái quỉ: Loài quỉ nương gá vào vật, tức tinh quái của vàng bạc, cây cỏ... vì nguyên nhân đời trước tham muốn nhiều, lấy các vật phi nghĩa, bất chính, nên phải chịu quả báo này. 2. Bạt quỉ: Loài quỉ nương gá vào gió, vì nguyên nhân đời trước đa dâm, hễ thấy sắc là thân tâm động loạn, như gió thổi vật, nên chịu quả báo này. 3. Mị quỉ: Loại quỉ gá vào loài súc sinh, thành tính súc sinh, tức các loài tinh như chồn cáo, hay mê hoặc người. Vì nguyên nhân đời trước lừa gạt người, chỉ nhờ dối trá làm cho con người rối loạn, nên phải chịu quả báo này. 4. Cổ độc quỉ: Loại quỉ nương gá vào cácloài có nọc độc và trở thành tính, tức các trùng độc như rắn, rết... hay hại người. Vì nguyên nhân đời trước nhiều oán và kết oán trong tâm, ôm lòng ác độc không bỏ nên phải chịu quả báo này. 5. Lệ quỉ: Loài quỉ này thường nhập vào người có thể chất suy yếu, tinh thần bạc nhược, khơi dậy những nỗi khổ não, như các chứng bệnh dịch, bệnh phổi, bệnh nhiệt... Vì nguyên nhân đời trước đa sân, tâm thường tức giận, cho nên phải chịu quả báo này. 6. Ngã quỉ: Loài quỉ này nương gá vào khí làm chất, không gặp thức ăn uống, thường chịu khổ đói khát. Vì nguyên nhân đời trước kiêu mạn, bên trong không có thực đức, nhưng lại lên mặt khinh người, ngạo vật, nên phải chịu quả báo này. 7. Yếm quỉ: Loài quỉ nhờ vào những việc hư đản, mờ ám để làm cho tâm trí người bị mê hoặc. Vì nguyên nhân đời trước có nhiều mưu gian, giả hiện người có đức để gạt gẫm người khác, nên phải chịu quả báo này. 8. Vọng lượng quỉ: Loài quỉ nương gá vào núi sông, là tinh quái của cây, đá. Vì nguyên nhân đời trướctàkiến, vọng sinh chấp trước, tự cho là sáng suốt, nên chịu quả báo này. 9. Dịch sử quỉ: Loài quỉ nương gá vào các cảnh rõ ràng mà thành hình tướng cụ thể và bị sai khiến làm các việc nặng nhọc như gánh cát, vác đá... Vì nguyên nhân đời trước làm các việc trái phép, bất chính, nhiễu hại người vô tội... nên phải chịu quả báo này. 10. Truyền tống quỉ: Loài quỉ này thường nhập vào người để truyền nói các việc lành dữ, họa phúc... Vì nguyên nhân đời trước kiện tụng, che giấu tội của mình, bị người tố cáo, cho nên chịu quả báo này.

thập chủng sở quán pháp

(十種所觀法) Chỉ cho 10 pháp sở quán của Bồ tát ở 5 giai vị Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa và Đẳng giác được nói trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển thượng. Đó là: I. Mười pháp sở quán của giai vị Thập tâm(Thập trụ): 1. Hậu tập nhất thiết thiện căn: Quán xét sâu rộng tất cả thiện căn, như 4 thệ nguyện rộng lớn. 2. Tu tập tất cả thiện hạnh: Quán xét và tu tập tất cả hạnh lành, như 4 niệm xứ.3. Thiện tập Phật đạo pháp: Khéo tu tập theo pháp Phật đạo, như quán xét 10 nhất thiết nhập. 4. Nhất thiết Phật tiền thụ pháp nhi hành: Ở trước tất cả Phật nhận lãnh pháp mà tu hành, như quán xét Bát thắng xứ. 5. Tu chư thanh bạch pháp: Tu các pháp trong trắng, như Bát đại nhân giác. 6. Vị chư Phật sở hộ: Được chư Phật che chở, như quán xét Bát giải thoát. 7. Quảng chính pháp: Mở rộng chính pháp, như tu pháp Lục hòa kính. 8. Tín hỉ đại pháp: Kính tin, ưa thích đại pháp, như quán xét Tam không. 9. Tâm trụ tứ đẳng pháp: Tâm trụ trong 4 pháp bình đẳng, như dùng pháp 4 đế giáo hóa chúng sinh. 10. Hảo cầu Phật công đức: Ưa cầu công đức của Phật, như quán 6 niệm. II. Mười pháp sở quán của giai vị Thập hành tâm: 1. Tự đắc nhất thiết chủng trí: Tự được Nhất thiết chủng trí, như tu 4 chính pháp. 2. Vị đắc tự thân hữu đại lực: Để tự thân có sức mạnh mẽ,nên cầnquán xét Tứ như ý túc. 3. Nguyện vô úy cụ túc: Nguyện đầy đủ vô úy nên quán xét ngũ căn. 4. Cầu cụ túc Tam bảo: Cầu đầy đủ Tam bảo nên quán 5 phần pháp thân. 5. Vị hóa nhất thiết chúng sinh: Để giáo hóa tất cả chúng sinh nên tu Bát chính đạo.6. Đắc đại từ bi: Được đại từ bi như tu 7 quán môn nhập nhất tướng. 7. Vị đắc tứ vô ngại: Để được 4 vô ngại nên quán 5 thiện căn. 8. Nhập nhất thiết Phật quốc trung hành: Đi vào tất cả cõi Phật như 4 hóa pháp. 9. Vi ư nhất niệm trung chiếu nhất thiết pháp: Chỉ trong một niệm chiếu soi tất cả pháp, như quán 12 nhân duyên trong 3 đời. 10. Vị tự tại chuyển đại pháp luân: Chuyển đại pháp luân trong tư thế tự tại, như Bồ tát Tam bảo. III. Mười pháp sở quán của giai vị Hồi hướng tâm: 1. Nhị đế chính trực: Hai đế ngay thẳng, tức học tập Đệ nhất nghĩa đế. 2. Thâm đệ nhất nghĩa trí: Trí Đệ nhất nghĩa sâu xa, như 5 thần thông. 3. Thuần chí: Tức Tứ bất hoại tịnh trong Vô sinh tuệ. 4. Lượng đồng Phật lực: Lượng ngang với Phật lực, như Tam tướng. 5. Thiện kế lượng chúng sinh lực: Năng lực khéo tính lường chúng sinh, như quán xét sắc 5 ấm. 6. Phật giáo hóa lực: Năng lực giáo hóa của Phật, như 12 nhập. 7. Thú hướng vô ngại trí: Hướng tới trí vô ngại, như quán xét 18 giới. 8. Tùy thuận tự nhiên trí: Thuận theo trí tự nhiên, như quán nhân quả. 9. Năng thụ Phật pháp tăng: Có năng lực lãnh thụ Phật pháp tăng, như quán 2 Không đế. 10. Dĩ tự tại tuệ hóa nhất thiết chúng sinh: Dùng tuệ tự tại hóa độ tất cả chúng sinh, như quán xét Trung đạo đệ nhất nghĩa đế. IV. Mười pháp sở quán của giai vị Thập địa tâm: 1. Hoan hỉ địa trụ Trung đạo đệ nhất nghĩa đế tuệ: Hoan hỉ địa trụ trong trí tuệ Trung đạo đệ nhất nghĩa đế, như quán xét 20 tâm hoan hỉ. 2. Kim cương hải tạng pháp bảo: Như tự làm 10 điều thiện, bảo người làm 10 điều thiện, khen ngợi 10 điều thiện. 3. Nhập như huyễn tam muội: Vào tam muội Như huyễn, như 12 môn thiền. 4. Biến hành Pháp bảo tạng: Tu hành khắp tạng Pháp bảo, như quán 37 đạo phẩm. 5. Nhập Pháp giới trí quán: Như quán xét 16 đế. 6. Đạt hữu pháp duyên cố khởi trí: Đạt được hữu pháp duyên nên khởi trí, như quán xét 10 thứ Thập nhị nhân duyên, 10 thứ chiếu sáng. 7. Tận quả báo vô chướng vô ngại trí: Trí hết quả báo không chướng không ngại, như dùng trí 3 không quán xét 2 tập trong 3 cõi. 8. Bất tư nghị vô công dụng quán: Quán vô công dụng không thể nghĩ bàn: Như quán đại dụng của trí phương tiện vô tướng. 9. Nhập pháp tế trí: Như quán 40 biện tài tất cả hạnh công đức đều thành tựu. 10. Vô ngại trí quán: Trí quán vô ngại, như vô lượng trận mưa pháp thấm nhuần hết thảy chúng sinh. V. Mười pháp tâm sở hành của Đẳng giác tâm: Như ở Dũng phục định, Bồ tát vào tam muội Pháp quang tu hành 10 pháp: 1. Học năng lực biến thông không thể nghĩ bàn của chư Phật. 2. Nhóm họp quyến thuộc của Bồ tát 3. Tu lại các pháp môn đã thực hành khi trước. 4. Thuận theo tất cả cõi Phật thăm hỏi hết thảy Phật. 5. Từ biệt cha mẹ vô minh. 6. Đi vào các lớp huyền môn. 7. Hiện giống như Phật hiện tất cả hình tướng. 8. Đầy đủ 2 loại Pháp thân. 9. Không còn 2 tập. 10. Lên đỉnh núi Trung đạo đệ nhất nghĩa đế.

thập chủng tam pháp

(十種三法) Chỉ cho 10 loại Ba pháp, đó là: Ba đạo (hoặc, nghiệp, khổ), Ba thức(Am ma la thức, A lê da thức, A đà na thức), Ba Phật tính (Chính nhân Phật tính, Liễu nhân Phật tính, Duyên nhân Phật tính), Ba Bát nhã(Thực tướng bát nhã, Quán chiếu bát nhã, Văn tự bát nhã), Ba bồ đề(Thực tướng bồ đề, Thực trí bồ đề, Phương tiện bồ đề), Ba Đại thừa(Lí đại thừa,Tùy đại thừa, Đắc đại thừa), Ba thân (Pháp thân, Báo thân, Ứng thân), Ba Niết bàn (Tính tịnh niết bàn, Viên tịnh niết bàn, Phương tiện niết bàn), Ba ngôi báu(Phật, Pháp, Tăng), Ba đức(Pháp thân đức, Giải thoát đức, Bát nhã đức). Trong các kinh luận, có rất nhiều trường hợp nói về 3 pháp, căn cứ vào 10 loại 3 pháp liệt kê ở trên để thuyết minh thủy chung của nhân quả, nếu lấy vô minh làm đầu thì theo thứ tự từ 3 đạo cho đến 3 đức; nếu lấy pháp tính làm đầu thì thứ tự sẽ ngược lại là từ 3 đức cho đến 3 đạo. Trong Pháp hoa huyền nghĩa quyển 5, hạ, ngài Trí khải đem 3 quĩ là Chân tính, Quán chiếu và Tư thành phối hợp với 10 loại 3 pháp, chẳng hạn như Pháp thân phối với Chân tính quĩ, Bát nhã phối với Quán chiếu quĩ, Giải thoát phối với Tư thành quĩ. Cứ theo đó thì các loại 3 pháp, tên khác nhau mà nghĩa thì giống nhau. Lại cứ theo Kim quang minh huyền nghĩa quyển thượng thì 10 loại 3 pháp về mặt không gian có vô hạn ý nghĩa, trong 1 loại 3 pháp đồng thời có đủ 9 loại 3 pháp kia. Còn về mặt thời gian thì phối hợp với 3 vị: Bản hữu(3 đạo, 3 thức), Đương hữu(3 thức, 3 ngôi báu) và Hiện hữu(6 loại 3 pháp kia).

thập chủng thiện pháp

(十種善法) Chỉ cho 10 pháp lành của Bồ tát. I. Mười pháp lành của Bồ tát Nhật dụ ghi trong kinh Bảo vũ quyển 5: Phá vô minh, thường giác ngộ hữu tình, ánh sáng chiếu khắp 10 phương, sinh ra các pháp lành, diệt hết các lậu(phiền não), tạo ra ánh sáng, ánh sáng che khuất ngoại đạo, hay thị hiện cao thấp, phát khởi các nghiệp thiện và được các thiện nhân ưa mến II. Mười pháp lành nói trong kinh Trừ cái chướng bồ tát sở vấn: 1. Mười pháp lành của bồ tát Nguyệt dụ: Đều sinh vui mừng, mọi người ưa thấy, pháp lành tăng trưởng, pháp ác tổn giảm, tất cả đều khen ngợi, thể tướng thanh tịnh, ngồi xe Tối thượng, thường tự trang nghiêm, du hí pháp lạc, có đại thần thông. 2. Mười pháp lành của bồ tát Hải đạo sư dụ: Được người tín nhiệm, được người tôn kính, chỉ dẫn khéo léo, làm chỗ nương tựacho người khác, thường cứu mệnh cho người, khéo chuẩn bị tư lương, có nhiều của báu, sự mong cầu không biết đủ, làm người dẫn đường, khéo đưa đến thành Nhất thiết trí. 3. Mười pháp lành của bồ tát Thủy dụ: Thấm nhuần xuống phía dưới, gieo trồng hạt giống pháp, tin ưa vui mừng, nhổ gốc phiền não, tự thể thanh tịnh, dập tắt lửa phiền não, ngăn lấp dòng khát ái, rộng sâu không bến bờ, cao thấp đều tràn đầy và rửa sạch các bụi bẩn. 4. Mười pháp lành của bồ tát Liên hoa dụ: Lìa các ô nhiễm, không đồng với cái ác, hương giới lan tỏa, bản thể thanh tịnh, nét mặt vui tươi, mềm mại mượt mà, người trông thấy đều được tốt lành, nở rộ đầy đủ, thành thục thanh tịnh và vừa sinh ra đã được tưởng nhớ giữ gìn. 5. Mười pháp lành của bồ tát Hỏa dụ: Đốt cháy củi phiền não, thành thục Phật pháp, làm khô bùn phiền não, như đống lửa lớn, làm ra ánh sáng chiếu soi, có năng lực khiến sợ hãi, có năng lực an úy, có lợi cho mọi người cùng hưởng, được người cúng dường, không ai khinh nhờn.

thập chủng thiện xảo trí

(十種善巧智) Chỉ cho 10 thứ trí tuệ khéoléođức Phật dùng làm phương tiện để tùy căn cơ giáo hóa chúng sinh được nói trong kinh Hoa nghiêm. Đó là: 1. Trí tuệ thiện xảo rõ suốtPhật pháp sâu xa. 2. Trí tuệ thiện xảo sinh ra Phật pháp rộng lớn. 3. Trí tuệ thiện xảo tuyên giảng các pháp môn của Phật pháp. 4. Trí thiện xảo chứng nhập Phật pháp bình đẳng. 5. Trí tuệ thiện xảo biết rõ chỗ sai biệt của Phật pháp. 6. Trí tuệ thiện xảo hiểu rõ chỗ không sai biệt của Phật pháp. 7. Trí tuệ thiện xảo thâm nhập Phật pháp trang nghiêm. 8. Trí tuệ thiện xảo dùng một phương tiện mà vào Phật pháp. 9. Trí tuệ thiện xảo dùng vô lượng phương tiện mà vào Phật pháp. 10 Trí tuệ thiện xảo biết Phật pháp vô biên không sai khác.

Thập Chủng Thông Hiệu

(十種通號): xem Thập Hiệu (十號) bên dưới.

thập chủng trì danh

Trì danh là pháp tu Tịnh Độ phổ thông nhứt hiện nay. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm, có mười cách trì danh khác nhau—Oral recitation is the most common Pure Land method at the present time. According to Most Venerable Thích Thiền Tâm, there are ten variants in oral recitation: 1) Phản Văn Trì Danh: Phương pháp nầy, miệng vừa niệm, tai vừa nghe vào trong, kiểm soát từng chữ từng câu cho rành rẽ rõ ràng, hết câu nầy đến câu khác. Nghe có hai cách, hoặc dùng tai nghe, hoặc dùng tâm nghe. Tuy nghe vào trong nhưng không trụ nơi đâu, lần lần quên hết trong ngoài, cho đến quên cả thân tâm cảnh giới, thời gian không gian, chỉ còn một câu Phật hiệu. Cách thức phản văn khiến cho hành giả dễ gạn trừ vọng tưởng, mau được nhứt tâm. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Chân Giáo thể phương nầy Thanh tịnh do nghe tiếng. Muốn chứng vào tam muội, nên như thế mà tu hành” chính là ý trên đây—Reflecting the name recitation. With this technique, the ear catches the sound as the mouth recites, examining each individual word and each individual phrase, to make sure they are clear and distinct, phrase after phrase. There are two ways of hearing, with the ears or with the mind. Although the ears 'hear deep inside,' the sounds do not reside anywhere. The practitioner gradually forgets everything inside and out, even body, mind, realm, time and space, with only the Buddha's name remaining. This technique of 'reflecting the name,' makes it easy for the cultivator to filter out deluded thoughts and Surangama Sutra expresses this very idea when it states, in the words of the Bodhisattva Manjusri: “This common method of concentrating the mind on its sense of hearing, turning it inward, is most feasible and wise.” 2) Sổ Châu Trì Danh: Đây là cách thức miệng vừa niệm, tay vừa lần chuỗi. Ban đầu ý niệm còn ràng buộc nơi tràng hạt, sau lần buông bỏ đi đến cảnh nhứt tâm. Phương pháp sổ châu khiến cho niệm lực mạnh mẽ, ví như người yếu chân đi núi, nhờ nương cây gậy mà tiến bước lên cao mãi. Niệm cách mấy lần lại cần phải ghi số mỗi thời hoặc mỗi ngày là bao nhiêu câu. Ghi số có điểm lợi là bắt buộc người tu phải giữ định số, trừ được bệnh biếng trễ; nhưng cần chú ý đừng quá tham mau tham nhiều mà niệm không được rành rẽ rõ ràng. Người xưa tuy niệm nhiều nhưng cũng ở trong sự rành rõ, do nhờ hai điểm là thuần thục và định tâm. Ngẫu Ích Đại Sư, vị tổ thứ chín của Liên Tông, từng khai thị: “Muốn đi đến cảnh giới 'nhứt tâm bất loạn,' không có cách chi kỳ diệu khác. Trước tiên hành giả cần phải lần chuỗi ghi số, niệm niệm rành rẽ rõ ràng, mỗi ngày hoặc ba muôn, năm muôn, cho đến mười muôn câu, giữ khóa trình quyết định chẳng thiếu, thề một đời không thay đổi. Niệm như thế lâu ngày lần lần thuần thục, không niệm vẫn tự niệm, chừng ấy ghi sổ hay không ghi sổ cũng được. Và niệm như thế kèm thêm tín nguyện tha thiết, mà không được vãng sanh, thì chư Phật ba đời đều mang lỗi nói dối. Khi đã vãng sanh, tất cả pháp môn đều được hiện tiền. Nếu như ban sơ vì cầu cao tự ỷ, muốn tỏ ra không chấp tướng, muốn học theo lối viên dung tự tại, đó là tín nguyện chẳng bền sâu, hành trì không hết sức; dù có giảng suốt mười hai phần giáo, giải ngộ một ngàn bảy trăm công án, cũng là việc ở bên bờ sanh tử mà thôi.” Lời khuyên dạy nầy thật là cây kim chỉ nam cho người niệm Phật—Counting Rosary Beads Recitation. In this method, as the mouth recites, the hand fingers the rosary. At first, thoughts are tied to the rosary beads, but later on they gradually move away from the beads, leading to the state of one-pointedness of mind. This technique increases the power of recitation in the same way that a cane enables a mountain climber with weak legs to ascend higher and higher. With this technique, we should write down the number of recitations per session or per day. This has the advantage of forcing us to keep an exact count, eliminating the affliction of laziness. However, we should take care not to be too ambitious, attempting to achieve too much too soon, or our recitation will not be clear and distinct. The ancients, while reciting the Buddha's name over and over, did so in a clear, distinct manner thanks to two factors: correct understanding, and correct concentration of mind. Elder Master Ou-I, the Ninth Patriarch of Pure Land once taught: “There is no better or loftier way to reach the state of one-pointedness of mind. At first the practitioner should finger the rosary, keeping an exact count, while reciting the Buddha' name over and over in a clear, distinct manner, 30,000, 50,000 up to 100,000 times each day, maintaining that number without fail, determined to remain constant throughout his life. Such recitation will, in time, become second nature, not reciting being reciting. At that time, recording or not recording no longer matters. If such recitation, accompanied by earnest Faith and Vows, did not lead to rebirth in the Pure Land, the Buddhas of the Three Periods (past, present and future) would all be guilty of false speech. Once we are reborn in the Pure Land, all Dharma methods will appear before eyes. If at the outset we seek too high a goal, are over-confident and eager to show that we are not attached to forms and marks, preferring to study according to the free and perfect method, we reveal a lack of stability and depth in our Faith and Vows as well as perfunctoriness (làm lấy lệ) in our practice. Even if we were to lecture exhaustively on the Twelve Divisions of the Dharma and become enlightened to the 1,700 Zen koans, these would merely be activities on the fringes of life and death.” This advice is indeed a hand-guide for the Pure Land practitioners. 3) Tùy Tức Trì Danh: Niệm Phật thầm hay niệm se sẽ tiếng, nương theo hơi thở, mỗi hơi thở ra vào đều một câu Phật hiệu; đó là ý nghĩa của tùy tức trì danh. Bởi mạng sống con người liên quan với hơi thở, nếu biết nương theo đây mà niệm, thì khi sống hằng không rời Phật, lúc lâm chung tấc hơi vừa tắt, liền về cảnh giới Liên Bang. Nhưng nên chú ý là phương thức nầy khi tập đã thuần thục, cần niệm ra tiếng, chớ không nên chỉ niệm thầm. Như thế niệm lực mới mạnh, ý nguyện cầu vãng sanh dễ được phát khởi. Bằng không, ý niệm vãng sanh sẽ khó tha thiết và sợ e lại lạc vào công dụng Ngũ Đình Tâm Quán của Tiểu Thừa—Breath-by-Breath Recitation. This technique consists of reciting silently or softly, with each breath, inhaling or exhaling, accompanied by one recitation of th Buddha's name. Since life is linked to breath, if we take advantage of breath while practicing Buddha Recitation, we will not be apart from Amitabha Buddha in life and at the time of death, when breath has stopped, we will be immediately reborn in the Pure Land. The practitioner should remember, however, that once he has mastered this technique, he should recite aloud as well as silently. In this way, the power of recitation will be strengthened and the will to be reborn in the Pure Land more easily developed. Otherwise, his resolve will not be earnest and he might stray into the practice of the “Five Meditations to calm the mind” of the Theravada tradition. 4) Truy Đảnh Trì Danh: Khi dùng cách nầy, nên niệm nho nhỏ tiếng, mỗi chữ mỗi câu đều kế tiếp nhau liên tỏa chặt chẽ, thành hình thế chữ sau đuổi theo chữ trước, câu nầy gối đầu câu kia nên gọi là “Truy Đảnh.” Áp dụng phương thức như thế, nhờ sự kín đáo bền chặt, trung gian không xen hở, nên tạp niệm không có chỗ xen vào. Dùng đến pháp nầy thì tình ý khẩn trương, tâm miệng dũng tiến, oai lực của chánh niệm bao trùm tất cả, khiến cho nghiệp tưởng vô minh tạm thời chìm lắng, ánh mầu tam muội bộc phát chiếu xa. Từ xưa người tu tịnh nghiệp trong lúc tình tưởng mênh mang rối loạn, thường dùng cách thức nầy—Continuously Linked Recitation. With this technique, the practitioner recites softly, each word following the one immediately before, each phrase closely following the previous phrase. During this practice, through discretion and patience, there are no empty time frames and therfore 'sundry thoughts' cannot intrude. The cultivator's feelings and thoughts are intense, his mind and mouth move boldly forward reciting the Buddha's name, the power of right thought embraces everything, temporarily subduing ignorance and delusive thought. Thus, the light of transcendental samadhi breaks through and shines forth. From early times, Pure Land pratitioners would avail themselves of this method when their emotions and thoughts wandered or were in a state of confusion. 5) Giác Chiếu Trì Danh: Niệm Phật theo giác chiếu là một mặt niệm Phật, một mặt hồi quang soi trở lại chân tánh của mình. Do niệm như thế, hành giả sẽ đi vào cảnh giới hư linh siêu tuyệt, chỉ còn cảm giác thân tâm của mình cùng chân tâm Phật ngưng đọng thành một khối, sáng tròn rực rỡ, đầy rộng mênh mang. Khi đó phòng nhà vật dụng thảy đều ẩn mất, cho đến thân giả tứ đại của ta cũng không biết rơi lạc vào chỗ nào. Niệm theo đây thì báo thân chưa mãn đã chứng tịch quang, Phật hiệu vừa tuyên liền vào tam muội. Đem thân phàm phu mà dự vào cảnh thánh, thật không chi mau lẹ hơn phương pháp trên đây. Song chỉ tiếc, nếu chẳng phải bậc thượng thượng căn tất không thể lãnh hội thực hành, nên phần độ cơ của cách thức nầy vẫn còn sơ hẹp—Enlightened, Illuminating Recitation. With this technique, the practitioner on the one hand recites the Buddha's name and on the other hand, returns the light and illumines his True Nature. He thus enters into the realm of ultimate transcendental emptiness; what remains is only the consciousness that his body-mind and the True Mind of the Buddha have become one, all-illuminating and all-encompassing. At that time, meditation rooms, cushions, gongs and all else have disappeared. Even the illusory, composite body is nowhere to be found. With this practice, even while our present retribution body is not yet dead, silent illumination is attained. Uttering the Buddha's name, the practitioner immediately achieves the state of samadhi. There is no swifter method for common mortals to enter the realm of the saints. Unfortunately, we cannot understand or practice this method unless we are of the highest capacity. Therefore, its scope is rather modest and limited. 6) Lễ Bái Trì Danh: Phương thức nầy là vừa lạy vừa niệm Phật. Hoặc niệm một câu, lạy một lạy, hoặc một mặt niệm, một mặt lạy, không luận câu Phật nhiều hay ít. Cách lễ Phật lại phải hết sức nhẹ nhàng chậm rãi, lễ niệm song hành, thân miệng hợp nhất. Nếu thêm vào đó ý thành khẩn tha thiết, thì thành ra ba nghiệp đều tập trung, ngoài câu Phật hiệu, không còn một tơ hào vọng niệm. Phương pháp nầy có sở năng phá trừ hôn trầm, công đức và hiệu lực rất to lớn, vì hành giả vận dụng cả ba nghiệp để trì niệm. Cư sĩ Vương Nhật Hưu khi xưa từng áp dụng cách trên đây, mỗi ngày đêm ông lễ niệm trung bình là một ngàn lạy. Nhưng dường như đây là lối niệm đặc biệt của hạng người tâm lực tinh tấn, thiếu khả năng tất khó vững bền, bởi lạy lâu thân thể mõi mệt dễ sanh chán nãn. Cho nên thông thường, cách thức nầy chỉ hợp kiêm dụng, khó bề chuyên dụng—Bowing to the Buddha Recitation. This technique consists of making bows as we recite the Buddha's name. Either we recite once before each bow or we bow as we recite, regardless of the number of recitations. The bowing should be supple yet deliberate, complimenting recitation, bowing and reciting perfectly synchronized. If we add a sincere and earnest mind, body, speech and mind are gathered together. Except for the words Amitabha Buddha, there is not the slightest deluded thought. This method has the ability to destroy the karma of drowsiness. Its benefits are very great, because the practitioner engages in recitation with his body, speech and mind. A lay practitioner of old used to follow this method, and each day and night, he would bow and recite and average of one thousand times. However, this practice is the particular domain of those with strong mind-power. Lacking this quality, it is difficult to persevere, because with extended bowing, the body easily grows weary, leading to discouragement. Therefore, this method is normally used in conjunction with other methods and is not practiced in exclusively. 7) Ký Thập Trì Danh: Đây là cách niệm ký số, cứ lấy mỗi mười câu làm một đơn vị. Người hơi ngắn có thể niệm thành hai lượt, mỗi lượt năm câu; hoặc chia ra ba lượt, hai lượt ba câu, một lượt bốn câu. Sau khi niệm đủ mười câu, đều lần qua một hạt chuỗi. Niệm theo lối nầy, tâm đã niệm Phật, lại còn phải ghi nhớ số. Như thế dù không chuyên cũng bắt buộc phải chuyên, nếu không chuyên thì số mục liền sai lạc. Cho nên pháp nầy đại để là một phương tiện cưỡng bức cho hành giả chuyên tâm, rất có công hiệu với những kẻ có nhiều tạp niệm. Ấn Quang Đại Sư thường khuyên các liên hữu áp dụng cách thức trên đây—Decimal Recording Recitation. This is the inscription technique of Buddha Recitation, taking each ten utterances of the Buddha's name as a unit. Individuals with short breath spans can divide the ten utterances into two subunits (five utterances each) or three smaller subunits (two three utterance units and one four-utterance unit). One rosary bead is fingered after each group of ten utterances is completed. With this practice, the mind must not only recite, it must also remember the number of utterances. In this way, if we are not diligent we must become so; otherwise, it will be impossible to avoid mistakes. This technique, in general, is an excellent expedient forcing the cultivator to concentrate his mind and is very effective with those subject to many errant thoughts. Elder Master Yin Kuang used to recommend it to Pure Land practitioners. 8) Liên Hoa Trì Danh: Lấy bốn sắc hoa sen xanh, vàng, đỏ, trắng, vừa niệm vừa tưởng, luân lưu chuyển tiếp, là danh nghĩa của lối niệm trên đây. Hành giả khi niệm câu Phật hiệu thứ nhứt, tưởng trước mặt mình hiện ra một đóa sen xanh to lớn, phóng ánh sáng xanh. Câu thứ hai, tưởng đóa sen vàng. Cho đến câu thứ ba, thứ tư, là hoa sen đỏ, trắng, màu nào phóng quang ánh sáng ấy. Kế tiếp lại tưởng hoa sen màu xanh, cứ như thế mà luân lưu mãi. Đồng thời khi hoa hiện, lại tưởng có hương sen thanh nhẹ phảng phất xung quanh. Bởi có nhiều hành giả trong Liên Hoa Tông dùng mọi pháp thức vẫn khó ngăn được tạp niệm, nên cổ nhân mới phát minh ra lối niệm nầy. Đây là cách dùng hình sắc thay đổi để buộc tâm tưởng cho chuyên nhứt, và hình sắc nầy lại lấy tướng hoa sen nơi ao thất bảo ở cõi Cực Lạc “Một câu Di Đà, một đóa bảo liên,” bởi hoa sen Tịnh Độ hiện thành không rời hoa sen công đức của tâm niệm Phật. Và khi mạng chung, thần thức của hành giả sẽ nương theo hoa sen báu ấy mà sanh về Cực Lạc. Chư liên hữu nếu thấy có duyên với phương thức trên đây, nên áp dụng để mau đi vào niệm Phật diệu liên hoa tam muội—Lotus Blossom Recitation. As he recites, the practitioner contemplates the four colours of the lotus blossom (blue, yelow, rd, and white), one colour after another without interruption. With his first utterance of the Buddha's name, he visualizes a huge, blue lotus blossom before his eyes, emitting a blue light. With the second utterance, he visualizes a yellow lotus blossom, emitting a yellow light. The third and fourth utterances are accompanied, respectively, by visualization of red and white lotus flowers, each colour emitting its own light. He then repeats the visualization in the same sequence. As the flowers appear, he imagines a vague, lingering touch of pure, soft lotus fragrance. Ancient masters devised this method because many practitioners in the T'ien-T'ai School, despite using all available techniques, found it difficult to stem their errant thoughts. This method uses various forms and colours to focus mind and thought. These forms and colours take the marks of lotus blossoms in the Seven-Jewel Pond of the Pure Land (one utterance of the Buddha's name, one jewelled lotus blossom), because the lotus blossom appearing in the Pure Land are inseparable from the lotus blossoms created by virtues of reciting mind. At the time of death, the mind-consciousness of the practitioner relies on these jewelled lotus blossoms to achieve rebirth in the Western Pure Land. Should the Pure Land cultivator discover that he has an affinity with this technique, he should apply it and quickly enter the Wonderful Lotus Blossom Buddha Recitation Samadhi. 9) Quang Trung Trì Danh: Vì có hành giả khi nhắm mắt niệm Phật, thường bất chợt thấy những hình tướng ô uế, hoặc màu sắc đen tối xao động nổi lên, nên cổ đức mới truyền dạy cho cách thức nầy. Đây là phương pháp vừa niệm Phật, vừa tưởng mình đang ngồi giữa vùng ánh sáng trong suốt to rộng. Khi tâm đã an định trong vùng quang minh ấy, hành giả cảm thấy thần trí sáng suốt mát mẽ, không những tạp tưởng trừ dứt, mà các tướng uế sắc cũng tiêu tan. Rồi chánh niệm do đó được bền lâu, và tam muội cũng do đó lần lần thành tựu. Đây tuy là phương tiện đặc biệt chuyên trừ tướng uế ác nhưng dù không có nghiệp bệnh ấy, nếu muốn tinh thần thơ thới để đi sâu vào niệm Phật tam muội, hành giả cũng nên áp dụng cách thức nầy—Recitation Amidst Light. This method was specially designed for certain practitioners who, as soon as they close their eyes to recite, suddenly see filthy forms and marks (ugly grimacing faces, for example), or dark forms and colours swirling around. With this technique, the practitioner, while reciting the Buddha's name, visualizes himself seated in the middle of an immense, brilliant zone of light. Within that zone of light, when his mind has quieted down, the practitioner feels bright and refreshed. At that time, not only have deluded thoughts been annihilated, filthy, evil forms have also disappeared. After that, right thought is reinforced and samadhi is, in time, achieved. Although this is a special expedient to destroy evil deluded marks, even the practitioner who is not in this predicament can apply this method to clear his mind and enter deeply into the Buddha Recitation Samadhi. 10) Quán Phật Trì Danh: Pháp quán tưởng trong Quán Kinh rất trọng yếu, công đức cực kỳ to rộng, nhưng chưa phải là phương tiện phổ thông cho chúng sanh thời mạt pháp hành trì. Nhưng vì không muốn bỏ công đức đặc biệt của quán pháp, nên cổ nhân đã thể dụng trong mười sáu phép quán, lựa cách thức dễ tu tập nhứt, lấy trì danh làm chánh, quán Phật làm phụ, gọi là Quán Phật Trì Danh. Hành giả mỗi ngày sau khi niệm Phật, lại để riêng một thời tịnh tâm quán tưởng sắc tướng quang minh của Phật A Di Đà. Cách quán Phật nầy rút lựa phép quán thứ mười ba trong Quán Kinh, tưởng Đức A Di Đà thân cao một trượng sáu, sắc vàng ròng, đứng bên bờ ao thất bảo. Nếu chưa quán tưởng được ao thất bảo, hành giả có thể tưởng Đức Phật đứng trong vùng ánh sáng giữa hư không trước mắt mình, tay trái đưa ngang ngực bắt ấn kiết tường, tay mặt buông sẻ xuống theo thể tiếp dẫn. Muốn quán Phật cho thành tựu, trước tiên nên quán đại khái toàn thân, kế chỉ chuyên tâm quán tưởng lông trắng giữa đôi mày. Tướng bạch hào nầy rỗng không trong suốt như bạch ngọc, có tám cạnh, xoay về bên hữu cao thành năm vòng. Bạch hào là tướng căn bản trong ba mươi hai tướng hảo, khi tướng ấy quán thành, do sự cơ cảm, các tướng kia đều lần lượt hiện rõ. Tuy nhiên, muốn được phần chắc chắn hành giả cũng nên duyệt xem trong kinh, để ghi nhớ rõ 32 tướng tốt của Phật trước khi dụng công. Phương pháp trên đây sở dĩ để trì danh vào phần chánh, vì nếu quán tưởng không thành vẫn còn phần trì danh để bảo đảm cho sự vãng sanh. Nhưng thật ra, trì danh cũng giúp quán tưởng, quán tưởng lại phụ lực cho trì danh; hai phần nầy hổ tương đưa hành giả đến chỗ song song thành tựu. Pháp thức nầy tuy có phần khó hơn các lối khác, song nếu thành tựu thì công đức to rộng vô biên, nên xin đưa ra sau cùng để làm duyên khuyến tấn—Contemplation of the Buddha Recitation. The methods of contemplation taught in the Meditation Sutra are very important and lead to immense virtue, but they are not a popular expedient for sentient beings in the Dharma-Ending Age. Nevertheless, since the ancient masters did not wish to see the special benefits of the meditation method go unused, they selected the easiest of the Sixteen Contemplations (Contemplation of Amitabha Buddha) and combined it with Oral Recitation to form the Contemplation of the Buddha-Oral Recitation technique. Recitation is predominant, with contemplation of the Buddha occupying a subsidiary position. Each day, after reciting the Buddha's name, the practitioner reserves a special period of time for concentrating his mind and contemplating the Embellishments and Light of Amitabha Buddha. This method derived from Contemplation Number Thirteen in the Meditation Sutra, in which Amitabha Buddha is visualized as some sixteen feet tall and of golden hue, standing at the edge of the Seven-Jewel Pond. If the practitioner cannot yet visualize the Seven-Jewel Pond, he can picture Amitabha Buddha standing before his eyes in a zone of light, in open space, the left hand held at chest level and forming the auspicious mudra, the right arm extending downward in the position of welcoming and guiding. To be successful in this meditation, it is necessary, at the outset, to visualize the body of Amitabha Buddha in general, then concentrate on the urna (white mark between the eyebrows). This mark is empty and transparent, like a white gem with eight facets. The urna is the basic mark among the thirty-two auspicious marks of the Buddhas. When this visualization is successful, thanks to the affinity thus created between Amitabha Buddha and the practitioner, other marks will appear clearly, one after another. However, to ensure success, the practitioner should read through the Meditation Sutra, memorizing the thirty-two auspicious marks of Amitabha Buddha before commencing his practice. With this method, Buddha Recitation should be primary, because if the practitioner does not succeed at visualization, he can still fall back on recitation to ensure rebirth in the Pure Land. In fact, recitation aids visualization and visualization complements recitation, so that these two aspects work in parallel, leading the practitioner toward the desired goal. Although this technique is somewhat more difficult than the others, if it can be accomplished successfully, immeasurable benefits are achieved. It is therefore described here at the very end, to foster diligent practice.

thập chủng tu tam muội pháp

(十種修三昧法) Chỉ cho 10 pháp tu Tam muội trong phẩmThập pháp hiện tiền tam muội của kinh Đại tập hiềnhộ quyển 5.Đó là: 1. Tồi chiết ngã mạn: Phá diệt ngã mạn. Tức người tu hành trước hết phải dẹp bỏ tâm ngã kiến và kiêu mạn, đối với Tam bảo và tất cả chúng sinh đều khởi tâm cung kính. 2. Tri ân niệm báo: Biết ơn nhớ báo. Tức người tu hành trước hết phải nhận biết các ơn đức của trời đất, cha mẹ, không lúc nào quên để mong báo đền. 3. Tâm vô tật đố: Tâm không ghen ghét. Tức người tu hành tâm không xiên xẹo, đối với người khác không sinh tâm ganh ghét, kèn cựa xấu xa. 4. Đoạn trừ nghi hoặc: Dứt trừ ngờ vực. Tức người tu hành phải dùng chính tri, chính kiến của chư Phật để trừ tâm nghi hoặc. 5. Thâm tín bất hoại: Tin sâu không hoại. Tức người tu hành phải có niềm tin sâu xa, đối với chính pháp giữ gìn vững chắc.6. Tinh cầu vô quyện: Siêng năng không mỏi mệt. Tức người tu hành phải chăm chỉ tiến lên, không sinh tâm biếng nhác, mỏi mệt. 7. Thường hành khất thực: Thường đi xin ăn. Tức người tu hành phải đi xin ăn để bỏ tâm kiêu căng ngã mạn, đồng thời giúp thí chủ chứa góp phúc lợi. 8. Thiểu dục tri túc: Ít muốn, biết đủ. Tức người tu hành lìa tham, ít muốn, thường tự biết đủ. 9. Nhạo vô sinh pháp nhẫn: Ưa thích vô sinh pháp nhẫn. Tức người tu hành đối với pháp không sinh không diệt, khởi tâm mong cầu, an nhẫn không lùi sụt. 10. Thường niệm tam muội: Người tu hành nên kính thờ những bậc đã chứng được Tam muội, tức khởi tưởng nhớ Phật, thường nghĩ đến Tam muội, tu tập không lùi.

thập chủng tính

(十種性) Mười chủng tính của tất cả chúng sinh. Đó là: 1. Phàm phu tính: Chỉ cho hạng người phàm phu chưa cầu Phật đạo, vì khởi các thứ dị kiến, nhận tính khác nhau trong 5 đường nên Tân dịch là Dị sinh. 2. Tín hành tính: Chỉ cho những người nghe và tin lời dạy của thiện tri thức, rồi tu hành theo đúng lời dạy ấy. Giai vị này tương đương với giai vị Văn tuệ, Tư tuệ trong Tam tuệ và các giai vị Ngũ đình tâm, Biệt tướng niệm trụ, Tổng tướng niệm trụ trong Thất phương tiện. 3. Pháp hành tính: Chỉ cho người không đợi nghe lời dạy của thiện tri thức, trực tiếp y theo giáo pháp do đức Phật nói mà tu hành. Giai vị tương đương với giai vị Tu tuệ trong Tam tuệ và giai vị Tứ thiện căn sau trong Thất phương tiện. 4. Bát nhẫn tính: Tức giai vị 15 tâm trước trong 16 tâm Kiến đạo. Vì có đầy đủ 8 nhẫn, 7 trí nên gọi là Bát nhẫn tính, tức giai vị khởi trí vô lậu quán Tứ đế và quán Không, không gián đoạn, cũng không ngưng trệ. Lại vì quán lí Tứ đế và tướng không của Tứ đế nên cũng gọi là Vô tướng hành. 5. Tu đà hoàn tính: Chỉ cho quả Dự lưu, tương đương với tâm thứ 16. Vì mới dự vào dòng Thánh nên được gọi là Dự lưu.6. Tư đà hàm tính: Tức quả Nhất lai. Chỉ cho bậc thánh quả thứ 2, là giai vị đã đoạn trừ phẩm Tu hoặc thứ 6 ở cõi Dục. Vì vẩn còn lại 3 phẩm trong 9 phẩm Tu hoặc và phải thụ sinh trong cõi Dục một lẫn nữa nên gọi là Nhất lai. 7. A na hàm tính: Tức quả Bất hoàn, là bậc thánh quả thứ 3, đã đoạn hết 9 phẩm Tu hoặc, không còn trở lại cõi Dục nữa nên gọi là Bất hoàn. 8. A la hán tính: Đoạn hết tất cả Tư hoặc, quả báo trong một đời đã hết, vĩnh viễn vào Niết bàn không trở lại 3 cõi nữa, vì thế cũng gọi là Bất sinh. 9. Bích chi Phật tính: Tức Duyên giác, bậc thánh đã đoạn sạch tập khí. 10. Phật chủng tính: Chủng tính có khả năng thành tựu Phật quả tròn đầy, tự lợi, lợi tha. Lìa bỏ 9 tính trước(chỉ có tự lợi) trái với tâm Bồ đề Vô thượng, nhập chủng tính Phật thuận ứng đại bồ đề, tức là được tam muội Tịnh ấn, vì Tam muội này thanh tịnh, cho nên vượt hơn hàng Thanh văn, Duyên giác, ban phát quang minh cho tất cả chúng sinh, vì thế được ví dụ với bảo châu thanh tịnh.

thập chủng y

(十種衣) Chỉ cho 10 loại y phục mà chúng tỉ khưu có thể sử dụng để mặc. Theo hình dáng mà phân biệt thì gọi là Tam y, hoặc Ngũ y; còn theo chất liệu mà phân biệt thì gọi là Thập chủng y. Thập chủng y là: 1. Câu xá y (Phạm:Kauza), cũng gọi Cao thế da y, Kiêu xa da y (Phạm: Kauzeya): Áo may bằng tơ tằm(vải lụa). 2. Kiếp bối y (Phạm:Karpàsa), cũng gọi là Cát bối y, Kiếp ba dục y: Áo may bằng vải bông. 3. Khâm bà la y (Phạm: Kambara): Áo may bằng vải lông dê. Có chỗ gọi là Hệ xa (Phạm:Keza, lông tóc) Khâm bà la y. 4. Sô ma y (Phạm: Kwauma): Loại áo may bằng vải gai. 5. Xoa ma y (Phạm: Kwama), còn gọi Tiêm ma y, cũng may bằng vải gai. 6. Xá nâu y (Phạm:Zàịa), cũng gọi Xa na y, Phiến na y: Áo may bằng vỏ cây giống như gai. 7. Ma y: Áo vải gai. 8. Sí di la y (Phạm:Cìra): Áo may bằng vải vỏ cây. 9. Câu nhiếp la y, cũng gọi Câu già la y, Cưu di la y: Áo may bằng lông chim Câu sí la (Phạm:Kokila) và bằng lông chim Cưu na la (Phạm:Kuịàla)... 10. Sấn la bát ni y (Phạm:Zaraparịi, cũng gọi là Sấm la bán ni y, Sai ba la ni y, Xí la bà ni y. Tức áo được làm bằng cỏ, cũng có khi dùng sợi tăm hoang làm sợi ngang và cỏ gai làm sợi dọc. Luận Ma ha tăng kỉ quyển 28 chỉ nêu có 7 loại y, còn Thiện kiến luật tì bà sa thì nêu 6 loại.

thập chủng y quả

(十種依果) Chỉ cho 10 loại y quả, tức 10 thứ công đức mà người tu Bồ tát thừa đạt được nói trong kinh Hoa nghiêm quyển 36 (bản dịch cũ).Y quả tức là hạnh trước nương vào hạnh sau, hoặc các hạnh nương nhau đều được tăng trưởng, cũng tức là quả tương y. Mười yquả là: 1. Bồ đề tâm y quả: Rốt ráo không quên tâm bồ đề. 2. Thiện tri thức y quả: Bạn tốt tùy thuận hòa hợp. 3. Thiện căn y quả: Nuôi lớn các căn lành.4. Chư ba la mật y quả: Tu hành các độ một cách rốt ráo. 5. Nhất thiết pháp y quả: Nương vào tất cả pháp, vĩnh viễn ra khỏi sinh tử. 6. Chư nguyện y quả: Phát khởi các đại nguyện nuôi lớn bồ đề. 7. Chư hạnh y quả: Tu tập rộng các hạnh. 8. Bồ tát y quả: Được Nhất sinh bổ xứ của Bồ tát. 9. Cúng dường Phật y quả: Cúng dường Phật và lòng tin vững bền. 10. Nhất thiết Như lai y quả: Như lai có năng lực trao cho chính giáo khiến lìa điên đảo. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 17 cho rằng Thập chủng y quả là điểm tựa để phát khởi các hạnh, nên cho đây là bậc nhất trong các hành tướng của Tín vị và đặt ở đầu 2000 hành pháp Phổ hiền, lại phân tích rõ về thứ tự như sau: 1. Bồ đề tâm y quả được xếp lên đầu, vì tâm bồ đề là gốc của muôn hạnh, nếu không quên mất tâm Bồ đề thì các hạnh khác mới được tăng trưởng. 2. Tuy bên trong có thắng tâm, nhưng nếu bên ngoài không có bạn tốt thì hạnh cũng không thành, nếu không thuận bạn tốt thì vô công chứ chẳng phải y quả, cho nên phải dùng tùy thuận hòa hợp mới thành y quả. 3. Nếu không có căn lành đời trước thì không thể thuận tu, nên cần phải nương vào căn lành đời trước để tăng thêm hạnh mới.4. Nếu chưa thể tu hành rốt ráo thì cũng không thể tu rộng các độ. 5. Nếu lí pháp không thông suốt rỗng rang thì đến đâu cũng thấy trệ ngại, cho nên nương tất cả pháp thì đều được xuất li. 6. Nếu không có đại nguyện thì sẽ rơi vào tịch lặng, không tăng trưởng bồ đề. 7. Nếu không tu hành thắng tiến thì không thể được rốt ráo. 8. Vì bên ngoài rất cần nương vào bạn tốt, cho nên phải coi hàng Bồ tát ngoài Bồ tát Nhất sinh bổ xứ là các huynh trưởng, mới xứng đáng làm nơi nương tựa. 9. Cúng dường Phật để thành niềm tin vững chắc. 10. Chỉ có đức Như lai là chỗ nương rốt ráo, vì Ngài có năng lực ban cho chính giáo để xa lìa điên đảo.

thập chủng đà la ni

Mười thứ Đà-La-Ni của chư Bồ Tát được Phật dạy trong Kinh Hoa Nghiêm (Phẩm 38—Ly Thế Gian)—Ten kinds of mental command of Enlightening Beings mentioned by the Buddha in The Flower Adornment Sutra (Chapter 38—Detachment from the World). 1) Văn trì Đà La Ni, vì trì tất cả các pháp chẳng quên mất: Mental command of retaining what they hear, as they retain all teachings without forgetting. 2) Tu hành Đà-La-Ni, vì như thiệt khéo quán tất cả các pháp: Mental command of practice, as they skillfully observe all things as they really are. 3) Tư duy Đà-La-Ni, vì biết rõ tánh của tất cả các pháp: Mental comand of reflection, as they comprehend the nature of all things. 4) Pháp quang minh Đà-La-Ni, vì chiếu bất tư nghì Phật pháp: Mental command of light of the teachings, as they alumine the inconceivable attributes of Buddhahood. 5) Tam muội Đà-La-Ni, vì ở khắp chỗ hiện tại tất cả Phật nghe chánh pháp tâm chẳng loạn: Mental command of concentration, as their mind are not distracted as they hear the teachings of all Buddhas of the present. 6) Viên Âm Đà La Ni, vì hiểu rõ bất tư nghì âm thanh ngữ ngôn: Mental command of universal sound, as they understand inconceivable numbers of uterances. 7) Tam Thế Đà La Ni, vì diễn nói tam thế những Phật pháp bất tư nghì: Mental command of all times, as they expound the inconceivable Buddha teachings of all times. 8) Chủng Chủng Biện Tài Đà La Ni, vì diễn nói vô biên những Phật pháp: Mental command of various intellectual powers, as they expound boundless Buddha teachings. 9) Xuất Sanh Vô Ngại Nhĩ Đà La Ni, vì đều có thể nghe được pháp bất khả thuyết của chư Phật đã nói: Mental command of producing unobstructed ears, as they hear all the teachings of untold Buddhas. 10) Nhứt thiết Phật pháp Đà La Ni, vì an trụ nơi lực vô úy của Như Lai: Mental command of all qualities of Buddhahood, as they are firmly established in the powers and fearlessnesses of the enlightened.

thập chủng đại thừa luận

(十種大乘論) Luận, do ngài Tăng xán soạn vào đời Tùy.Bản luận này là do thu tập và chỉnh lí các bài thuyết giảng khi soạn giả trụ ở chùa Đại hưng thiện mà thành. Nội dung luận chia làm 10 mục: Thông, Bình, Nghịch, Thuận, Tiếp, Tỏa, Mê, Mộng, Tương tức và Trung đạo. Trong sách có viện dẫn văn kinh luận, mỗi mỗi đều có điển cứ. Tác phẩm này là 1 trong các sách nhập môn của người học đương thời. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.12].

thập chủng đắc giới duyên

(十種得戒緣) Mười duyên được giới Cụ túc theo thuyết của Hữu bộ Tiểu thừa. Đó là: 1. Tự nhiên đắc: Tự nhiên phát được giới Cụ túc. Nghĩa là Phật và bậc Duyên giác, lúc phát ra Tận trí thì tự nhiên được giới Cụ túc mà không cần thầy truyền thụ.Điều này chỉ xảy ra với Phật và bậc Duyên giác mà thôi. 2. Kiến đế đắc (cũng gọi Kiến đạo đắc):Khi lên đến giai vị Kiến đạo quán xét lí 4 đế mà được. Tức khi đức Thế tôn mới thành đạo, lúc độ cho 5 vị tỉ khưu, đứng đầu là ngài A nhã kiều trần như, các vị này nghe lí 4 đế mà tự được giới. 3. Thiện lai đắc: Đến đây được. Đức Phật thấy căn cơ của ngài Da xá đã thuần thục, nên gọi Tỉ khưu đến đây!(Thiện lai tỉ khưu!), ngài Da xá liền được giới ngay tại chỗ. Trường hợp này chỉ có Phật mới làm được. 4. Tự thệ đắc: Tự mình thề mà được. Nghĩa là tự thệ nguyện vững chắc mà được giới. Như ngài Đại Ca diếp tin nhận Phật là bậc Đại sư, tự phát lời thề mà được giới. Việc tự thệ đắc giới chỉ có ngài Ca diếp mới làm được. 5. Luận nghị đắc: Do luận nghị mà được. Nghĩa là cùng vấn đáp luận nghị với Phật mà được giới, như trường hợp ngài Tô đà di. 6. Thụ trọng đắc(cũng gọi Kính trọng đắc, Bát kính đắc): Do kính trọng mà được. Nghĩa là do thụ trì 8 pháp tôn trọng (Bát kính) mà được giới, như trường hợp tỉ khưu ni Đại ái đạo, di mẫu của Phật. 7. Khiểntín đắc(cũng gọi Khiển sứđắc): Do đưa tin mà được. Nghĩa là do Phật sai đi đưa tin mà được giới, như trường hợp ni Pháp thụ. 8. Biên ngũ đắc(cũng gọi Ngũ nhân đắc): Do 5 người mà được. Nghĩa là ở vùng biên giới ít chư tăng, nếu không thể truyền giới đầy đủ Tam sư, Thất chứng(gồm 10 người) như theo qui định chính thức thì được phép tác pháp truyền giới với 4 vị tăng và 1 vị Yết ma. 9. Yết ma đắc(cũng gọi Thập chúng đắc): Do 10 người được. Nghĩa là ở những nơi đô hội có đông chư tăng phải lập đủ Tam sư, Thất chứng(gồm 10 người), y theo qui định thực hành yết ma tác pháp truyền giới.10. Tam qui đắc: Do 3 qui y mà được. Nghĩa là nghe 3 qui y Tam bảo Phật, Pháp, Tăng mà được giới. Như 16 vị Hiền Thánh 3 lần nghe qui y Tam bảo mà được giới Cụ túc.Mười duyên đắc giới trên đây có xuất xứ từ luật Thập tụng quyển 56, luận Tạp tâm quyển 3, luận Câu xá quyển 14, nhưng duyên đắc giới thì tùy theo các luật, luận mà có chỗ giống nhau, có chỗ khác nhau.

thập chủng đắc địa tam muội

(十種得地三昧) Mười công năng do Bồ tát tu đắc địa tam muội mà đạt được. Đó là: 1. Quảng đại vô biên: Rộng lớn vôbiên. Chỉ cho công đức trí tuệ của Bồ tát không thể nghĩ bàn, hành nguyện trang nghiêm vô lượng vô biên. Ví như Đại địa trùm khắp 10 phương, không có giới hạn. 2. Tồn tế chúng sinh: Dung nạp cứu giúp chúng sinh sống còn. Chỉ cho tâm từ bi rộng lớn của Bồ tát thực hành 6 độ, cứu giúp tất cả hữu tình trong pháp giới. Như mặt đất rộng lớn bao la, dung chứa tất cả chúng sinh, giúp cho sinh tồn. 3. Ân bất vọng báo: Ơn chẳng mong được báo đền. Nghĩa là Bồ tát làm lợi cho tất cả chúng sinh, nhưng tâm không mong được báo đáp. Ví như đại địa sinh ra và nuôi nấng muôn vật cũng không cầu được đền trả. 4. Phổ năng dung thụ: Có khả năng dung nạp khắp. Nghĩa là đối với vô lượng vô biên pháp do đức Phật nói, Bồ tát có khả năng nhất tâm thụ trì, không bỏ sót pháp nào. Ví như đại địa, dù trời đổ mưa bao nhiêu cũng có khả năng tiếp nhận. 5. Chúng sinh y chỉ: Chúng sinh nương tựa. Nghĩa là Bồ tát có thể làm nơi nương tựa cho tất cả hữu tình. Ví như đại địa có khả năng làm chỗ nương tựa cho hết thảy muôn vật. 6. Năng sinh thiện chủng: Có khả năng sinh ra các hạt giống lành. Nghĩa là Bồ tát dùng sức phương tiện, có thể khiến tất cả chủng tử thiện căn của hết thảy hữu tình đều được nhờ mưa pháp mà nảy nở. Ví như hết thảy hạt giống ở thế gian đều nương vào đất mà sinh trưởng. 7. Như lai bảo khí: Như đồ chứa của báu. Nghĩa là Bồ tát dùng sức phương tiện có thể giúp hết thảy hữu tình tu tập tất cả của báu công đức thiện pháp, tùy theo căn khí, đều nhờ Bồ tát mà được thành tựu. Ví như đại địa là đồ chứa các của báu. 8. Năng xuất chúng dược: Có khả năng sinh ra các loại thuốc. Nghĩa là sự nói pháp của Bồ tát có năng lực tiêu trừ tất cả bệnh phiền não của hữu tình. Ví như đại địa sinh ra tất cả các loại thuốc thần diệu, có khả năng chửa khỏi tất cả các chứng bệnh. 9. Bất khả khuynh động: Không thể nghiêng động. Nghĩa là Bồ tát dùng năng lực thiền định chịu đựng mọi cảnh thuận,nghịch, tất cả các duyên bên trong cũng như bên ngoài đều không thể nhiễu loạn. Ví như đại địa, không một sức gì làm nghiêng động được. 10. Bất kinh bất úy: Không kinh hãi sợ sệt. Nghĩa là Bồ tát dùng năng lực thiền định và trí tuệ, an trụ trong chính lí, hoàn toàn không sợ hãi sự xâm hại của tà ma ngoại đạo. Ví như đại địa, tuy gặp bão táp sấm sét cũng vẫn an nhiên tự tại.

thập công đức

Mười công đức---The ten merits (powers) commended by the Buddha to his bhiksus: 1) Tinh tấn: Zealous progress. 2) Tri túc: Contentment with few desires. 3) Kiên trì (bất thối): Courage. 4) Học tu và chia xẻ: To learn and to teach. 5) Vô úy: Fearlessness. 6) Trì giới: Perfect observance of the commandments and fratenity's regulations. 7) Toàn định: Perfect meditation. 8) Thông hiểu hoàn toàn: Perfect understanding of the dharma. 9) Toàn huệ: Perfect wisdom. 10) Toàn giác: Perfect liberation. ; (十功德) Cũng gọi Thập đức, Thập sự công đức. Chỉ cho 10 thứ công đức mà Bồ tát tu hành kinh Đại bát niết bàn đạt được nói trong phẩm Quang minh biến chiếu cao quí đức vương bồ tát, kinh Đại bát niết bàn. Đó là: 1. Nhập trí công đức: Tức đạt được công đức quán xét, hiểu tỏ, hướng tới chỗ chân thực. Nếu biện biệt cho rõ thì có 5 tướng: a. Được nghe những điều chưa nghe. b. Nghe rồi thì làm lợi ích. c. Dứt được lòng ngờ vực. d. Tâm tuệ ngay thẳng không xiên xẹo. e. Biết được tạng sâu kín của Như lai. Trong đó, (a) là văn tuệ, (b) và (c) là tư tuệ, (d) là tu tuệ, (e) là chứng trí. 2. Khởi thông công đức: Đạt được diệu dụng tùy duyên. Có 5 tướng: a. Được những điều chưa được. b. Đến những chỗ chưa đến. c. Nghe những điều chưa nghe. d. Thấy những điều chưa thấy. e. Biết những điều chưa biết. Trong đó, (a) và (b) là thân thông, (c) là thiên nhĩ thông, (d) là thiên nhãn thông, (e) là tha tâm thông, túc mệnh thông. 3. Đại vô lượng công đức: Tâm giáo hóa rộng lớn. Tức là tâm đại bi vô duyên của Bồ tát, như hư không, không phân biệt, có năng lực mang lại lợi ích cho tất cả chúng sinh.4. Thập lợi ích thành tựu công đức: Thành tựu 10 lợi ích, kiến lập hạnh đức. Có 10 thứ khác nhau: a. Gốc sâu khó nhổ. b. Nơi tự thân sinh ý tưởng quyết định. c. Không thấy có ruộng phúc và chẳng phải ruộng phúc. d. Tu tịnh độ của Phật. e. Diệt trừ hữu dư. g. Đoạn trừ nghiệp duyên. h. Tu thân thanh tịnh. i. Rõ biết các duyên. k. Lìa oán địa. l. Trừ 2 bên (có, không...) 5. Ngũ sự báo quả thành tựu công đức: Quả báo thù thắng tròn đủ, tức thành tựu 5 bậc: a. Đầy đủ các căn. b. Không sinh nơi biên địa; thường tùy loại giáo hóa. c. Được chư thiên ưa mến. d. Được tất cả đại chúng người, trời cung kính cúng dường. e. Được trí túc mệnh (tức trí biết rõ đời trước). Trong đó (a) và (b) thuộc về báo, (c) và (d) thuộc về phúc, (e) thuộc trí. 6. Tâm tự tại công đức: Được tam muội Kim cương, là bậc nhất trong các Tam muội, làm việc gì cũng thông suốt, không bị trở ngại. 7. Tu tập đối trị công đức: Tức khéo tu tập 4 pháp xa lìa lỗi lầm: a. Gần gũi thiện tri thức. b. Chuyên tâm nghe pháp. c. Tập trung tâm tư duy. d. Tu hành đúng như pháp. 8. Đối trị thành tựu công đức: Kiến lập công đức giải thoát, có 8 việc: a. Đoạn sắc, thụ, tưởng, hành và thức. b. Lìa thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến và giới cấm thủ kiến. c. Thành tựu niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, niệm giới, niệm xứ, niệm thiên. d. Tu tri định, tịch định, thân tâm lạc định, vô lạc định và thủ lăng nghiêm định. e. Giữ tâm bồ đề. g. Gồm 4 pháp: đại từ, đại bi, đại hỉ, đại xả. h. Tin thuận nhất thực, tức Nhất Đại thừa.i. Tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tức diệt tham, sân, si, biết tất cả pháp vô ngại. 9. Tu tập chính đạo công đức: Tức khởi tu thượng thuận, gồm 5 pháp: a. Tín tâm. b. Trực tâm. c. Giới tâm. d. Gần bạn lành. e. Nghe nhiều. 10. Chính đạo thành tựu công đức: Tức tu tập 37 phẩm trợ đạo, nhập vào thường, lạc, ngã, tịnh của Đại niết bàn, tuyên thuyết kinh Đại niết bàn, hiển bày Phật tính. Nếu bàn chung về sự quan hệ giữa Thập công đứcnàyvà Ngũ hạnh thì cả 2 đều là các pháp trước sau do các giai vị Bồ tát tu hành; nếu bàn riêng thì Ngũ hạnh là các pháp tu của hàng Bồ tát trước giai vị Sơ địa, còn Thập chủng công đức là các pháp tu của Bồ tát từ Sơ địa trở lên.

thập công đức luận

(十功德論) Chỉ cho 10 việc công đức ghi trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 43, do đức Phật giảng nói để ngăn chặn các tỉ khưu bàn luận các việc thế tục vô ý nghĩa, khiến họ tư duy về chính pháp hầu lìa bỏ các đường ác. Đó là: 1. Tinh tiến siêng năng. 2. Ý muốn biết đủ. 3. Có tâm mạnh mẽ. 4. Nghe nhiều và nói pháp cho người khác.5. Không sợ hãi. 6. Đầy đủ giới luật. 7. Thành tựu tam muội. 8. Thành tựu trí tuệ. 9. Thành tựu giải thoát. 10. Thành tựu giải thoát kiến tuệ. Nếu bàn về 10 việc trên đây thì tất cả đều được thấm nhuần, mang lại nhiều lợi ích, tu hành phạm hạnh, được đến chỗ tận diệt vô vi, là then chốt của việc đạt đến Niết bàn.

thập cú nghĩa

(十句義) I. Thập Cú Nghĩa. Chỉ cho 10 tinh thần cơ bản do Tăng đoàn Phật giáo kiến lập. Cứ theo luật Tứ phần quyển 1, Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da quyển 1 và luận Thập tụng quyển 1 thì Thập cú nghĩa là: 1. Thu nhiếp và hộ trì chúng tăng. 2. Làm cho chúng tăng hoan hỉ. 3. Khiến cho chúng tăng được an vui. 4. Người nào chưa tin thì làm cho tin. 5. Người tin rồi thì làm cho niềm tin ấy tăng trưởng. 6. Người nào khó điều phục thì gắng sức điều phục. 7. Người có tâm hổ thẹn thì an vui. 8. Dứt hữu lậu ở hiện tại. 9. Dứt hữu lậu trong tương lai. 10. Làm cho chính pháp ở lâu nơi đời. II. Thập Cú Nghĩa. Phạm: Daza padàrthà#. Chỉ cho 10 phạm trù dùng để trình bày về thực thể thuộc tính và nguyên lí sinh thành, hoại diệt của tất cả mọi hiện tượng trong vũ trụ, là chủ trương của học phái Thắng luận (Phạm:Vaizewika) ở Ấn độ, do ngài Tuệ nguyệt (Phạm: Maticandra) đề xướng. Đó là: 1. Thực(Phạm:Dravya)cú nghĩa: Thực thể của các pháp, cũng là thể sở y(chỗ nương) của 9 cú nghĩa còn lại, gồm có 9 nguyên tố: Đất, nước, lửa, gió, hư không, thời gian, phương hướng, ngã và ý. Chín nguyên tố này hình thành vạn hữu, 5 nguyên tố trước thuộc vật chất, nguyên tố thời gian, phương hướng thuộc thời, không gian, ngã và ý là chỉ cho nguyên tố tâm lí. 2. Đức (Phạm: Guịa) cú nghĩa: Chỉ cho thuộc tính và công năng của Thực cú nghĩa. Tức các nghĩa tính chất, trạng thái, số lượng... của sự vật, gồm 24 thứ: Sắc, vị, hương, xúc, số lượng, biệt thể, hợp, li, bỉ thể, thử thể, giác, lạc, khổ, dục, sân, cần dũng, trọng thể, dịch thể, nhuận, hành, pháp, phi pháp, và thanh(thuyết xưa không có 7 tính từ trọng thể trở xuống). 3. Nghiệp (Phạm: Karma) cú nghĩa : Chỉ cho động tác của thực thể, gồm có 5 thứ: Thủ nghiệp, xả nghiệp, khuất nghiệp, thân nghiệp và hành nghiệp(tức là các động tác lấy, bỏ, co, duỗi, đi...), 5 thứ nghiệp(hành động)bao hàm tất cả vận động. 4. Đồng (Phạm:Sàmànya)cú nghĩa: Tức hữu tính nên cũng gọi Hữu cú nghĩa, là nguyên lí của các nguyên nhân đồng loại hỗ tương của sự vật; là nhân để biết 3 thứ Thực, Đức, Nghiệp, cùng là Hữu, cùng để giải thích trí. 5. Dị (Phạm: Vizewa) cú nghĩa : Nguyên lí tạo cho vạn hữu tất cả tính đặc thù, tính cá biệt, khiến chúng sinh ra các nguyên nhân sai khác(dị), cho nên mới tạo ra sự sai khác giữa 9 thứ Thực cú nghĩa. 6. Hòa hợp (Phạm: Samavàya) cú nghĩa: Kết hợp 5 nguyên lí độc lập nói trên, tức chỉ cho nguyên lí hệ thuộc khiến tất cả có mối quan hệ cộng đồng. 7. Hữu năng (Phạm: Zakti)cú nghĩa: Hòa hợp với 3 cú nghĩa Thực, Đức, Nghiệp, quyết định nhân phải tạo tự quả cộng đồng hoặc cá biệt. 8. Vô năng (Phạm: Azakti) cú nghĩa: Hòa hợp với 3 cú nghĩa Thực, Đức, Nghiệp, quyết định phải có nhân để không tạo các quả khác ngoài việc tạo tự quả 3 cú nghĩa nói trên. 9. Câu phần (Phạm: Sàdfzya) cú nghĩa: Một pháp thể có nhân vừa đồng vừa khác, tức sự quan hệ giữa pháp giống nhau và khác nhau, ngoại trừ cú nghĩa đồng, dị cực đoan, còn tất cả sự quan hệ khác đều bao hàm trong cú nghĩa này. 10. Vô thuyết (Phạm: Abhàva) cú nghĩa: Đối với nguyên lí của 9 thứ tồn tại nói trên, thì Vô thuyết cú nghĩa trở thành nguyên lí phi tồn tại. Hãy lấy Thực, Đức, Nghiệp làm ví dụ, nếu nhân duyên chưa hòa hợp thì có Vị sinh vô của cái chưa sinh; năng lực nhân duyên hết thì có Dĩ diệt vô của cái đã diệt; có 1 phương thì có cánh hỗ vô của phương khác; có sự bất hòa hợp giữa Tính và Thực, Đức, Nghiệp cho nên có bất hội vô, vì không có nhân nên có tất cánh vô của bất sinh trong quá khứ, hiện tại và vị lai.

thập cúng dường

Theo Kinh Pháp Hoa, có mười thứ lễ vật cúng dường—According to The Lotus Flower Sutra, there are ten kinds of offerings: 1) From (1) to (6)—See Lục Cúng Cụ. 7) Tràng Phan Bảo Cái: Pennants and Banners. 8) Quần Áo: Clothes. 9) Đàn dành cho lễ hội: Musical instruments for ceremonies. 10) Hợp Chưởng: Anjali (skt)—Salutation with joined palms—See Anjali in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

thập cảnh

Ten stages or objects in meditation: 1) Phiền não: Life's distress and delusion. 2) Bịnh hoạn: Dhukha—Sickness—Its cause and cure. 3) Nghiệp tướng: Age-long karmic influences. 4) Ma quân: Mara affairs—How to overthrow their rule. 5) Thiền định: The condition of meditation and concentration (Dhyana and Samadhi). 6) Chư kiến: Various views and doubts that arise. 7) Mạn: Pride in progress and the delusion that one has attained nirvana. 8) Nhị thừa Thanh Văn: Sravakas—Temptation to be content with the lower nirvana. 9) Nhị Thừa Duyên Giác: Pratyeka-buddhas. 10) Bồ Tát: Bodhisattvahood. ; (十境) Cũng gọi Chỉ quán thập cảnh, Thập chủng quán cảnh. Mười cảnh sở quán của Thập thừa quán pháp trong tông Thiên thai. Đó là: 1. Ấm giới nhập cảnh(cũng gọi Ấm nhập giới cảnh, Ấm nhập cảnh, Ấm vọng cảnh): Tức lấy 5 ấm, 12 nhập, 18 giới làm đối tượng để quán xét. Khi tu chính quán thì chỉ lấy Thức ấm trong 5 ấm làm đối tượng, tức lấy tâm tán động hiện thực hàng ngày làm đối tượng mà quán tưởng lí của tâm này tức Không, Giả, Trung. Vì thân của hành giả do 5 ấm và 12 nhập hợp thành, thường tự hiện trước, cho nên đặc biệt lấy nó làm cảnh đầu tiên để quán xét. 2. Phiền não cảnh: Tức quán xét cảnh do các hoặc(phiền não) tham, sân, si... dẫn khởi. Năm ấm, 12 nhập... là theo các phiền não mà sinh khởi, cho nên phải quán tham, sân, si, là nguyên nhân của chúng. 3. Bệnh hoạn cảnh(cũng gọi Bệnh cảnh): Bệnh hoạn do 4 đại không điều hòa hoặc do tuquánmà phát khởi, dùng nó làm đối cảnh, quán xét tướng bệnh, nguyên nhân của bệnh và phương pháp trị bệnh. 4. Nghiệp tướng cảnh(gọi tắt là Nghiệp cảnh): Quán 3 cảnh trên đều là các nghiệp tướng do phiền não thiện, ác của chính mình đã gây ra từ xưa, nay hiện hành, bởi thế, đối với cảnh này không nên vui mừng, cũng không nên sợ hãi mà phải quán xét rõ ràng, thì các cảnh tướng ấy tự nhiên tiêu diệt.5.Ma sự cảnh (gọi tắt là Ma cảnh): Khi quán xét nghiệp tướng mà cái ác tiêu diệt thì thiên ma sợ hãi và gây nhiễu loạn thêm, vì thế phải quán tưởng biết rõ sự chết. 6. Thiền định cảnh(cũng gọi Thiền môn cảnh, Thiền phát cảnh, Thế thiền cảnh, Thiền cảnh): Khi quán xét để diệt trừ ma sự nhưng chân trí vẫn chưa sinh, sẽ khởi các thiền định như Tứ thiền, Thập lục đặc thắng, Thông minh thiền... nhưng nếu đắm trước vào thiền vị này thì sẽ thành chướng ngại cho Chỉ quán, cho nên phải lần lượt quán xét các cảnh thiền. 7. Chư kiến cảnh(gọi tắt là Kiến cảnh): Khi quán xét các cảnh có thể sinh kiến giải tương tự chân lí, hoặc khi nghe pháp mà sinh ra trí giải tương tự diệu ngộ, nhưng đó đều thuộc tà kiến, thiên kiến chứ không phải chân lí, nếu đắm trước thì sẽ chướng ngại cho Chỉ quán, bởi vậy cần phải quán xét các kiến giải một cách sâu sắc. 8. Tăng thượng mạn cảnh (Cũng gọi Thượng mạn cảnh, Mạn cảnh): Khi quán xét các kiến giải trên đã biết là sai lầm thì có thể lại lầm tưởng chính trạng thái ấy là Niết bàn, rồi sinh tâm kiêu mạn mà chướng ngại Chỉ quán, cho nên phải quán xét tăng thượng mạn. 9. Nhị thừa cảnh: Khi kiến và mạn ngưng lặng thì sẽ sinh tâm mãn túc mà thiên chấp lí rỗng lặng, không thể nào tiến vào Đại thừa mà lại rơi vào Nhị thừa, cho nên phải quán xét Nhị thừa. 10. Bồ tát cảnh: Khi tâm Nhị thừa lắng xuống thì đồng thời sẽ sinh tâm Bồ tát Tạng, Thông, Biệt mà chướng ngại Chỉ quán, vì thế lại phải quán xét cảnh này. Như đã trình bày ở trên, theo thứ tự quán xét 10 cảnh tướng, cuối cùng sẽ phát sinh trí giải thực tướng Viên giáo. Trong 10 thì Ấm nhập cảnh thường tự hiện trước mắt chúng sinh, vì thế Thập thừa quán pháp trước hết phải dùng cảnh này làm đối tượng quán xét. [X. Ma ha chỉ quán Q.5, thượng; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.3, hạ; Tứ giáo nghi Q.11].

thập cẩm

Miscellaneous.

thập cửu chấp kim cương

(十九執金剛) Chỉ cho 19 vị Chấp kim cương được xếp vào hội tòa thuyết pháp của kinh Đại nhật, là Nội quyến thuộc của đức Đại nhật Như lai. Đó là: Hư không vô cấu, Hư không du bộ, Hư không sinh, Bị tạp sắc y, Thiện hạnh, Trụ nhất thiết pháp bình đẳng, Ai mẫn vô lượng chúng sinh, Na la diên lực, Đại na la diên lực, Diệu, Thắng tấn, Vô cấu, Nhận tấn, Như lai giáp, Như lai cú sinh, Trụ vô hí luận, Như lai thập lực sinh, Vô cấu nhãn và Kim cương thủ bí mật chủ. Mười chín vị tôn này biểu thị đức đại trí của Như lai, nếu phân biệt kĩ thì 18 vị Chấp kim cương đều là Biệt đức, còn vị Kim cương thủ bí mật chủ thứ 19 là Tổng đức. Trong các vị tôn Biệt đức, nếu phân biệt theo tự chứng, hóa tha thì 6 vị Kim cương đầu là tự chứng, 3 vị kim cương thứ 7, thứ 8, thứ 9 là các vị tôn hóa tha, 9 vị còn lại thì chung cả tự chứng và hóa tha. Con số 19 này được triển khai từ Nội chứng thập cửu bố tự của Bất động minh vương. Bất động minh vương chính là Giáo lệnh luân thân của Thai tạng giới.

thập cửu thuyết pháp

(十九說法) hỉ cho 19 thứ thân do bồ tát Quán thế âm thị hiện ra để tùy theo căn cơ và chủng loại của chúng sinh mà thuyết pháp: Đó là: Thân Phật, thân Bích chi Phật, thân Thanh văn, thân Phạm vương, thân Đế thích, thân Tự tại thiên, thân Đại tự tại thiên thân Thiên đại tướng quân, thân Tì sa môn, thân Tiểu vương, thân Trưởng giả, thân Cư sĩ, thân Tể quan, thân Bà la môn, thân Tứ chúng(tỉ khưu, tỉ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di), thân Tứ phụ nữ(thân phụ nữ Trưởng giả, thân phụ nữ Cư sĩ, thân phụ nữ Tể quan, thân phụ nữ Bà la môn), thân Đồng nam đồng nữ, thân Thiên long bát bộ (thân trời, thân rồng, thân Dạ xoa, thân Càn thát bà, thân A tu la, thân Ca lâu la, thân Khẩn na la, thân Ma hầu la già) và thân Chấp kim cương.

thập di vãng sinh truyện

(拾遺往生傳) Cũng gọi Nhật bản thập di vãng sinh truyện. Truyện kí, 3 quyển, do ngài Tam thiện Vi khang người Nhật bản biên soạn, được thu vào Đại Nhật bản Phật giáo toàn thư. Nội dung thu chép sự tích của 95 vị được vãng sinh Tịnh độ mà trong Tục bản triều vãng sinh truyện còn bỏ sót.

thập diễn thuyết môn

Ten kinds of exposition of the inumerable facets of the Teaching of the Buddhas—See Mười Môn Diễn Thuyết Vô Lượng Của Chư Phật.

thập diệu

The ten wonders or incomprehensibles: 1) Cảnh diệu: The universe, sphere, or whole, embracing mind, Buddha, and all things as a unity. 2) Trí diệu: A Buddha's all embracing knowledge arising such universe. 3) Hạnh diệu: Buddha's deeds, expressive of his wisdom. 4) Vị diệu: His attainment of all the various Buddha stages (thập trụ và thập địa). 5) Tam pháp diệu (Giới, Định, Huệ): His three laws (Truth, Wisdom and Vision). 6) Cảm ứng diệu: His response to appeal (his spiritual response or relation to humanity. To him, all beings are his children). 7) Thần thông diệu: His supernatural powers. 8) Thuyết pháp diệu: His preaching. 9) Quyến thuộc diệu: His supernatural retinue. 10) Lợi ích diệu: The blessing derived through universal elevation into Buddhahood. ; (十妙) Chỉ cho 10 nghĩa siêu việt, thù thắng không thể nghĩ bàn của chữ Diệu trong đề kinh Diệu pháp liên hoa (kinh Pháp hoa). Khi giải thích kinh Pháp hoa, ngài Trí khải lần lượt thuyết minh Tích môn thập diệu, Bản môn thập diệu và Quán tâm thập diệu như sau: I. Thập diệu của Tích môn: 1. Cảnh diệu: Cảnhđối tượng của trí là Diệu. 2. Trí diệu: Trí tuệ quán chiếu là Diệu. 3. Hạnh diệu: Hạnh tu giác ngộ thực tiễn là Diệu. 4. Vị diệu: Giai vị của giai đoạn thực tiễn là Diệu. 5. Tam pháp diệu: Tức Tam quĩ: Chân tính, Quán chiếu, Tư thành là Diệu. 6. Cảm ứng diệu: Căn cơ của chúng sinh và sự ứng hiện của Phật là Diệu. 7. Thần thông diệu: Nghiệp thân của Phật là Diệu. 8. Thuyết pháp diệu: Nghiệp khẩu của Phật là Diệu. 9. Quyến thuộc diệu: Người gần gũi đức Phật được Ngài giáo hóa là Diệu. 10. Lợi ích diệu(cũng gọi Công đức lợi ích diệu): Hiệu quả sự giáo hóa của Phật khiến chúng sinh được lợi ích là Diệu. Thập diệu trên đây lại được chia làm Tự hành(tự mình cầu bồ đề) và Hóa tha (giáo hóa, dắt dẫn người khác). Từ 1 đến 4 là nhân tự hành, 5 là quả tự hành, 6 đến 8 là năng hóa(giáo hóa người khác), 9, 10 là sở hóa(người được giáo hóa). II. Thập diệu của Bản môn: 1. Bản nhân diệu: Nhân tu hành của Bản Phật là Diệu. 2. Bản quả diệu: Quả của Bản Phật là Diệu. 3. Bản quốc độ diệu: Cõi nước của Bản Phật an trụ là Diệu. 4. Bản cảm ứng diệu: Bản Phật dùng trí giác ngộ cứu độ chúng sinh và căn của chúng sinh được cứu độ ứng hợp nhau, nên nói là Diệu. 5. Bản thần thông diệu: Thần thông mà Bản Phật thị hiện để cứu độ chúng sinh lúc Ngài mới thành đạo là Diệu. 6. Bản thuyết pháp diệu: Lần thuyết pháp đầu tiên lúc Bản Phật mới thành đạo là Diệu. 7. Bản quyến thuộc diệu: Những người đầu tiên được Bản Phật giáo hóa là Diệu. 8. Bản niết bàn diệu: Niết bàn của Bản Phật là thường trụ, xưa nay vốn đầy đủ, khác với Niết bàn được thị hiện để giáo hóa người, vì thế gọi là Diệu. 9. Bản thọ mệnh diệu: Bản Phật có năng lực tự tại thị hiện thọ mệnh dài, ngắn khác nhau, nên gọi là Diệu. 10. Bản lợi ích diệu: Lợi ích mà Bản Phật mang lại cho chúng sinh là Diệu. Mười diệu trên đây lại được chia làm 2 loại là Tự hành và Hóa tha: 1 là nhân tự hành, 2, 3, 8, 9 là quả tự hành, 4, 5, 6 là năng hóa, 7, 10 là sở hóa. Mục đích của Tích môn là đoạn trừ mê vọng để ngộ được Trung đạo, cho nên nói rõ về nhân tự hành; trái lại, mục đích của Bản môn là biểu thị Bản Phật đã thành Phật từ rất lâu xa, là quá trình Bồ tát tăng trưởng trí tuệ Trung đạo và dần dần giảm thiểu sinh tử biến dịch, vì thế nên nói rõ về quả tự hành. Như vậy, tuy Bản, Tích khác nhau nhưng cảnh giới bất khả tư nghị thì giống nhau. III. Thập diệu của Quán tâm: Về Thập diệu của Quán tâm tuy trong Pháp hoa huyền nghĩa không nói rõ, nhưng có thể dựa vào thuyết Thập bất nhị môn của ngài Trạm nhiên để lí giải. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.2 thượng đến Q.7 hạ; Pháp hoa kinh luân quán; Pháp hoa thập môn quán tâm thập diệu thích].

thập diệu sinh khởi thứ đệ

(十妙生起次第) Chỉ cho sự quan hệ thứ tự sinh khởi của Tích môn thập diệu và Bản môn thập diệu. I. Thứ tự sinh khởi của Tích môn thập diệu là: 1. Lấy cảnh diệu làm đầu, vì đó là cảnh thể thực tướng của nhân, chẳng phải do Phật, trời, người làm ra, mà xưa nay vốn tự nhiên như thế, là chỗ chư Phật tôn sùng. 2. Thể của trí diệu là trí năng quán, nhưng người mê đối với lí cảnh thực tướng lại khởi hoặc, còn người hiểu lí thì nhờ đó mà sinh ra trí, vì thế Trí diệu được xếp sau Cảnh diệu. 3. Trí là gốc của hành, nhờ mắt trí(mắt nhìn trước) mà khởi động chân hành(chân đi trước), cho nên Hành diệu được xếp thứ 3. 4. Thể của Vị diệu là đức tướng của tri hành, nhờ nương vào 3 pháp mà bước lên các giai vị. 5. Tam pháp diệu là pháp thực hành, là nơi an trụ Vị diệu, cho nên được xếp sau Vị diệu. 6. Trụ nơi 3 pháp rồi, vắng lặng mà thường chiếu soi các căn cơ trong 10 cõi, nếu có cơ cảm thì ắt sẽ tương ứng, cho nên xếp Cảm ứng diệu sau Tam pháp diệu. 7. Tùy cơ nghi nên trước dùng thân nghiệp thị hiện thần thông, khiến đối cơ tỉnh biết, đây là thể củaThần thông diệu. 8. Nếu căn cơ có thể nhận lãnh giáo pháp thì Phật liền dùng khẩu nghiệp thuyết pháp, cho nên Thuyết pháp diệu được xếp sau Thần thông diệu. 9. Nếu người nhận pháp vào đạo thì trở thành quyến thuộc của pháp, vì thế Quyến thuộc diệu được xếp thứ 9. 10. Lợi ích diệu được xếp sau cùng, vì nếu quyến thuộc tu hành như thực, thì đều nhổ được gốc sinh tử, khai phát tri kiến của Phật, được lợi ích lớn. II. Thứ tự sinh khởi của Bản môn thập diệu. 1. Trước nhờ nhân hành mà đến quả Phật.2. Thành quả Phật nên có cõi nước. 3. Cực quả ở cõi nước, có năng lực chiếu soi căn cơ. 4. Nếu căn cơ khởi động thì sự giáo hóa được đặt bày, đặt bày thì có thần thông. 5. Dùng thần thông đánh thức căn cơ. 6. Căn cơ tỉnh rồi thì thuyết pháp. 7. Căn cơ nghe pháp, trở thành quyến thuộc. 8. Quyến thuộc được độ rồi thì duyên hết vào Niết bàn. 9. Vì niết bàn nên mới luận về thọ mệnh dài ngắn. 10. Lợi ích do thọ mệnh dài, ngắn mang lại, cho đến các lợi ích Chính pháp, Tượng pháp... sau khi Phật diệt độ.

thập duyên sinh cú

(十緣生句) Chỉ cho 10 câu trình bày về 10 hiện tượng do nhân duyên sinh ra. Mười câu này có xuất xứ từ phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật quyển 1. Đó là: 1. Huyễn: Chỉ cho các hình tượng do nhà ảo thuật làm ra. 2. Dương diệm: Sóng nắng do sự hòa hợp của các nhân duyên như hơi nóng, hư không, bụi bặm giữa đồng hoang hiện ra như tướng nước. 3. Mộng: Những cảnh tượng thấy trong chiêm bao. 4. Ảnh: Bóng dáng trong gương. 5. Càn thát bà thành: Lâu đài trên mặt biển do hơi của con thẩn(loài sò lớn) ánh lên ánh sáng mặt trời hiện ra. 6. Hưởng: Tiếng dội lại trong các hang sâu, khe núi. 7. Thủy nguyệt: Bóng trăng trong nước. 8. Phù bào: Bọt nổi trên mặt nước. 9. Hư không hoa: Người bị bệnh mắt thấy trong hư không có các thứ hoa. 10. Toàn hỏa luân: Vòng lửa do người cầm cây đuốc quay tròn. Những hiện tượng trên đây đều ví dụ cho các pháp do nhân duyên sinh, không có tự tính. Y cứ vào 10 câu này quán xét các pháp không tự tính, gọi là Thập duyên sinh cú quán, Thập duyên sinh quán, Thập dụ quán. Tức là 10 quán môn để ngăn dứt tình chấp. Đại nhật kinh sớ quyển 3 cho rằng môn quán này có 3 lớp: 1. Không quán: Quán xét tất cả pháp do nhân duyên sinh đều là không. 2. Tâm quán: Quán xét muôn pháp đều từ tâm hiển hiển. 3. Bất tư nghị quán: Quán xét tâm chẳng phải một chẳng phải khác, xả bỏ tình chấp phàm phu thì không thể nghĩ bàn.

thập dạ

(十夜) Cũng gọi Thập dạ pháp yếu, Thập dạ niệm, Ngự thập dạ. Hội niệm Phật 10 ngày 10 đêm do tông Tịnh độ của Phật giáo Nhật bản tổ chức vào tháng 10 hàng năm theo lịch cũ (tức âm lịch). Kinh Đại vô lượng thọ (Đại 12, 277 hạ)nói: Ở cõi Sa bà này tu thiện 10 ngày 10 đêm công đức lớn hơn ở các cõi Phật khác làm thiện 1000 năm. Kinh A di đà cổ âm thanh vương đà la ni (Đại 12, 352 trung) nói: Nếu có người thụ trì danh hiệu của Phật A di đà, một lòng vững chắc, nhớ nghĩ không quên, 10 ngày 10 đêm trừ bỏ tán loạn, tinh tiến siêng năng tu tập Tam muội niệm Phật (...) trong 10 ngày, chắc chắn được thấy Phật A di đà.

thập dụ

(十喻) Chỉ cho 10 thí dụ hiển bày các pháp đều không và thân người vô thường. I. Mười thí dụ giải thích lí các pháp là không. 1. Huyễn dụ (Phạm: Màyà-upama): Dụ các pháp không thật có, như những vật do nhà ảo thuật làm ra. 2. Diệm dụ (Phạm: Marìci-upama): Dụ các pháp không thật có, như dợn(sóng) nắng. 3. Thủy trung nguyệt dụ (Phạm: Udaka-candra-upama): Dụ các pháp không thật có, như bóng trăng trong nước. 4. Hư không dụ (Phạm: Àkàzaupama): Dụ các pháp không thật có, như hư không. 5. Hưởng dụ (Phạm: Pratizrutka): Dụ các pháp không thật có, chỉ như tiếng vang trong hang sâu, khe núi... 6. Kiện thát bà thành dụ (Phạm: Gandharva-nagara-upama): Dụ các pháp không thật có, như lâu đài trên mặt biển do hơi con thẩn(loại sò lớn) sinh ra. 7. Mộng dụ (Phạm: Svapna-upama): Dụ các pháp không thật có, như cảnh trong giấc mộng. 8. Ảnh dụ (Phạm: Pratibhàsaupama): Dụ các pháp không thật có, như bóng sáng, có đó mà không nắm bắt được. 9. Kính trung tượng dụ (Phạm: Pratibimba-upama): Dụ các pháp không thật có, như hình bóng trong gương. 10. Hóa dụ (Phạm: Nirmita-upama): Dụ các pháp không thật có, như các vật do sức thần thông biến hóa ra. II. Mười sự tướng ví dụ thân người là không, là vô thường. 1. Thân này như đám bọt nước, không thể nắm bắt. 2. Thân này như bong bóng trên mặt nước, tồn tại không bao lâu. 3. Thân này như ngọn lửa, từ khát ái mà sinh. 4. Thân này như cây chuối, không cứng chắc.5. Thân này như huyễn, từ điên đảo mà sinh. 6. Thân này như mộng, do hư vọng mà thấy.7. Thân này như bóng sáng, từ nghiệp duyên hiện. 8. Thân này như tiếng vang, thuộc các nhân duyên. 9. Thân này như đám mây nổi, tan biến trong chốc lát. 10. Thân này như tia chớp, biến diệt trong nháy mắt.

thập giải thoát

(十解脫) Chỉ cho 10 thứ giải thoát. I. Thập Giải Thoát. Mười tướng lìa trói buộc của Bồ át: 1. Giải thoát phiền não. 2. Giải thoát tà kiến. 3. Giải thoát xí nhiên. 4. Giải thoát ấm giới nhập. 5. Giải thoát vượt ra ngoài địa vị Thanh văn, Duyên giác. 6. Giải thoát vô sinh pháp nhẫn. 7. Giải thoát không đắm trước tất cả cõi Phật, tất cả chúng sinh, tất cả các pháp. 8. Giải thoát trụ vô lượng vô biên nơi an trụ của các Bồ tát. 9. Giải thoát lìa tất cả các hạnh Bồ tát mà trụ ở địa vị Như lai. 10. Giải thoát ở trong một niệm biết rõ tất cả các pháp ở trong 3 đời. [X. kinh Hoa nghiêm Q.38 (bản dịch cũ); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.17]. II. Thập Giải Thoát. Cũng gọi Thập chủng bất tư nghị giải thoát. Chỉ cho 10 tướng tự tại vô ngại của Phật nói trong kinh Hoa nghiêm quyển 31 (bản dịch cũ). Đó là: tất cả chư Phật đều có năng lực hiện bất khả thuyết bất khả thuyết chư Phật xuất thế trong một vi trần cho đến hiện các Phật sự của tất cả chư Phật 3 đời trong một vi trần, gọi chung là Thập chủng vô ngại giải thoát. Đây là đối lại với việc lấy lìa trói buộc làm giải thoát của Bồ tát nói ở trên mà cho rằng tác dụng tự tại vô ngại là giải thoát của Như lai. [X. Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.4, phần cuối].

thập giải thoát môn

Ten doors of liberation—See Mười Cửa Giải Thoát Của Chư Đại Bồ Tát.

thập giảng

(十講) Cũng gọi Pháp hoa thập giảng. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Tức giảng 10 thời kinh 10 quyển, trong đó giảng kinh Vô lượng nghĩa 1 quyển, kinh Pháp hoa 8 quyển, kinh Phổ hiền 1 quyển, vào các buổi sáng và buổi chiều trong 5 ngày, gọi là Thập giảng. Các pháp hội giảng kinh này được sáng lập và lưu hành ở núi Tỉ duệ vào cuối năm Diên lịch 17 (798) thời Thiên hoàng Hoàn vũ của Nhật bản.

Thập Giới

(十界): 10 loại thế giới mê và ngộ, gồm: (1) Địa Ngục Giới (地獄界, thế giới Địa Ngục), (2) Ngạ Quỷ Giới (餓鬼界, thế giới Ngạ Quỷ), (3) Súc Sanh Giới (畜生界, thế giới Súc Sanh) hay Bàng Sanh Giới (傍生界), (4) Tu La Giới (修羅界, thế giới A Tu La), (5) Nhân Gian Giới (人界, thế giới con người), (6) Thiên Thượng Giới (天上界, thế giới trên trời), (7) Thanh Văn Giới (聲聞界, thế giới Thanh Văn), (8) Duyên Giác Giới (緣覺界, thế giới Duyên Giác), (9) Bồ Tát Giới (菩薩界, thế giới Bồ Tát) và (10) Phật Giới (佛界, thế giới Phật). Trong đó, 6 thế giới đầu là cõi mê muội của hàng phàm phu, hay còn gọi là thế giới luân hồi của Lục Đạo; 4 thế giới sau là cõi giác ngộ của bậc Thánh; cho nên 10 thế giới này được gọi là Lục Phàm Tứ Thánh (六凡四聖, sáu cõi phàm và bốn cõi thánh). Hay 9 cõi đầu là nhân và cõi cuối cùng là quả, nên có tên gọi là Cửu Nhân Nhất Quả (九因一果, chín cõi nhân một cõi quả). Hơn nữa, Mật Giáo lấy Ngũ Phàm Ngũ Thánh (五凡五聖) làm Mười Pháp Giới (十法界). Ngũ Phàm là Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Người, A Tu La, và Trời. Ngũ Thánh gồm Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Quyền Phật (權佛) và Thật Phật (實佛). Trong Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư Tông Luận (靈峰蕅益大師宗論) quyển 4, phần Diệu An Thuyết (妙安說) có đoạn: “Phù tâm tuy tùy duyên cụ thành Thập Giới, kỳ tánh nhưng phi Thập Giới, do hỏa tùy duyên cụ hữu hương xú, kỳ tánh nhưng phi hương xú dã (夫心雖隨緣具成十界、其性仍非十界、猶火隨緣具有香臭、其性仍非香臭也, phàm tâm tuy tùy duyên hình thành đầu đủ Mười Giới, nhưng tánh của nó không phải là Mười Giới, giống như lửa tùy duyen có đầy đủ thơm thối, nhưng tánh của nó không có thơm thối vậy).”

Thập giới

十戒|Giới

thập giới

(I) Thập Giới: Mười Cảnh Giới hay mười bậc chúng sanh—The ten realms, or states of existence: 1) Địa ngục: The realm of Hell. 2) Ngạ quỷ: The realm of Hungry ghosts. 3) Súc sanh: The realm of Animals. 4) A-tu-la: The realm of Asuras. 5) Nhơn: The realm of Human beings. 6) Thiên: The realm of Gods (Devas). 7) Thanh văn: The realm of Hearers (Sravakas). 8) Duyên Giác: The realm of those who practice the twelve links (Pratyeka-buddha). 9) Bồ Tát: The realm of Bodhisattvas. 10) Phật: The realm of Buddhas. (II) Thập Giới: Mười giới của Sa Di hay Sa Di Ni—Ten basic prohibitions binding on novice monks and nuns: (A) Mười giới Sa Di—The ten commandments (precepts) observed by a novice (laity): 1) Không sát sanh: Chẳng giết mạng sống—Not to kill living beings (abstinance from taking life). 2) Không trộm cắp: Chẳng lấy của không cho—Not to steal, or not to take what is not been given (abstinance from taking what is not given). 3) Không dâm dục: Abstinance from unchasity. a) Không tà dâm (tại gia): Not to commit adultery. b) Không có hành vi dâm dục (xuất gia): Not to commit misconduct in sexual matters (monks and nuns). 4) Không nói dối: Chẳng nói láo—Not to lie—Abstinance from lying. 5) Không uống rượu: Not to drink liquor, beer or wine—Abstinance from taking fermented liquor. 6) Không ăn trái thời: Not to eat food out of regulated hours—Abstinance from taking food in unprescribed time. 7) Không dùng những chất kích thích như hành tỏi hoặc dầu thơm: Not to use garlands or perfumes. 8) a) Không nằm giường cao nệm rộng: Not to sleep on high or broad beds. b) Không mang đồ trang sức, cũng như không thoa nước hoa: Not to wear adornments and perfumes. 9) Không ca hát, đờn địch, nhảy múa: Not to take part in singing, dancing or playing musical instrument. 10) Không tích trử vàng bạc ngọc ngà: Not to possess or store gold, silver or ivory. (B) Sáu Giới Tập Sự theo Phật Giáo buổi ban sơ—Six rules for a probationer of early Buddhism: See 1 to 6 in (A). (C) The six ways of rebirth (gati) and the four holy ways of rebirth (hells, hungry ghosts, animals, asuras, men, devas, Sravakas or hearers, Pratyeka-Buddhas, Bodhisattvas, and Buddhas)—See Lục Đạo Tứ Thánh. ; (十戒) Chỉ cho 10 giới của Tiểu thừa, Đại thừa. I. Thập Giới. Cũng gọi Sa di giới, Sa di ni giới, Cần sách luật nghi, Cần sách nữ luật nghi. Chỉ cho 10 giới mà sa di, sa di ni thuộc Tiểu thừa phải thụ trì. Đó là: 1. Không sát sinh, 2. Không trộm cắp, 3. Không dâm dục, 4. Không nói dối, 5. Không uống rượu, 6. Không dùng hương hoa trang điểm thân, 7. Không hát múa xem nghe hát múa, 8. Không ngồi nằm trên giường cao rộng, 9. Không ăn phi thời, 10. Không cất giữ vàng bạc của báu. II. Thập giới. Chỉ cho 10 giới thiện chung cho cả Tiểu thừa và Đại thừa. (xt. Thập Thiện ThậpÁc). III. Thập Giới. Chỉ cho 10 trọng giới của Đại thừa nói trong kinh Phạm võng. Đó là: 1. Không giết hại, 2. Không trộm cướp, 3. Không gian dâm, 4. Không nói dối, 5. Không bán rượu, 6. Không nói lỗi của các Bồ tát tại gia, xuất gia và tỉ khưu, tỉ khưu ni, 7. Không khen mình chê người, 8. Không bỏn xẻn, 9. Không từ chối sự tạ tội của người khác, 10. Không hủy báng Tam bảo, Phật, Pháp, Tăng. Mười giới trên được tông Thiên thai sử dụng làm Viên đốn giới. IV. Thập Giới. Cũng gọi Thập chủng hộ trì, Phòng hộ thập nguyện. Chỉ cho 10 giới khác mà Bồ tát giữ gìn, đó là: 1. Cấm giới: Giữ 4 giới nặng. 2. Thanh tịnh giới: Giữ gìn không phạm Tăng tàn. 3. Thiện giới: Giữ gìn ba dật đề. Ba giới trên thuộc Luật nghi giới. 4. Bất thuyết giới: Thiền định làm phát sinh Vị lai thiền, Căn bản thiền... không thiếu sót giới luật như sự hạnh, tính hạnh; giới này thuộc Định cộng giới. 5. Bất tích giới: Đối lại với Đạo cộng giới thuộc Tích không quán, hiển bày Đạo cộng giới thuộc Thể không quán. 6. Đại thừa giới: Tu cả hạnh lợi mình và lợi người. 7. Bất thoái giới: Vì cứu độ chúng sinh mà Bồ tát sử dụng phương tiện khéo léo làm nhữngviệctrái đạo nhưng không bỏ mất giới cấm. 8. Tùy thuận giới: Tức giới thuận theo đạo lí và cơ nghi của chúng sinh. 9. Tất cánh giới: Đại pháp rốt ráo không gì hơn. 10. Cụ túc thành tựu Ba la mật giới: Đầy đủ tất cả, không pháp nào không có. Sáu giới (từ 5 đến 10) trên thuộc Đạo cộng giới. [X. kinh Niết bàn Q.11 (bản Nam); Đại bát niết bàn kinh nghĩa kí Q.5 (Tuệ viễn); Ma ha chỉ quán Q.4, thượng]. V. Thập Giới. Cũng gọi Đại luận thập giới. Chỉ cho 10 giới mà Bồ tát phải nhớ nghĩ. Đó là: 1. Bất khuyết giới: Giữ gìn các tính giới như 4 giới nặng... không khuyết tổn hủy phạm, thường phải hộ trì như giữ gìn hạt minh châu. Nếu phạm tịnh giới thì như cái đồ dùng bị sứt mẻ không sử dụng được nữa.2. Bất phá giới: Giữ gìn 13 pháp Tăng tàn không được phạm, nếu có hủy phạm thì như chiếc bình bị nứt rạn, tuy không dùng được nhưng vẫn còn có thể hàn vá lại. 3. Bất xuyên giới: Giữ gìn Ba dật đề..., nếu có hủy phạm thì như cái bình đã thủng, không đựng được nước, phải hàn vá lại. 4. Bất tạp giới: Giữ gìn Định cộng giới, tâm an trụ trong thiền định, không khởi các ý nghĩ ham muốn. 5. Tùy đạo giới: Hàng Sơ quả Thanh văn, tùy thuận lí 4 đế phá được Kiến hoặc, không còn phân biệt. 6. Vô trước giới: Hàng Nhị thừa thấy lí chân đế, thành được đạo Thánh, đối với các Tư hoặc không còn nhiễm trước. 7. Trí sở tán giới: Bồ tát ở các thế giới giáo hóa, dắt dẫn chúng sinh, được các bậc trí khen ngợi. 8. Tự tại giới: Bồ tát giáo hóa độ sinh, nhờ có diệu dụng mà được tự tại vô ngại trong các thế gian. 9. Tùy định giới: Bồ tát theo định Thủ lăng nghiêm, hiện các uy nghi, dắt dẫn chúng sinh; tuy có biến hiện nhưng thường tĩnh lặng tự nhiên. 10. Cụ túc giới: Bồ tát giữ giới Trung đạo đệ nhất nghĩa đế, dùng trí huệ Trung đạo thâm nhập tất cả pháp, không giới nào không có. [X. Ma ha chỉ quán Q.4 thượng; Bồ tát giới nghĩa sớ Q.thượng]. VI. Thập Giới. Chỉ cho 10 giới Bồ tát thụ trì ghi trong phẩm Bồ tát thập vô tận tạng, kinh Hoa nghiêm quyển 12 (bản dịch cũ). Đó là: 1. Nhiêu ích giới(cũng gọi Phổ nhiêu ích giới): Tức làm lợi ích cho khắp tất cả chúng sinh. 2. Bất thụ giới: Tức không nhận giữ các giới của ngoại đạo. 3. Vô trước giới(cũng gọi Bất trụ giới): Tức không cầu thụ sinh và trụở trong 3 cõi.4. An trụ giới(cũng gọi Vô hối hận giới): Tức không tạo tác tội Vô gián, vĩnh viễn không phạm tất cả giới, tâm không hối hận. 5. Bất tránh giới(cũng gọi Vô vi tránh giới): Tức đối với các giới cấm do đức Phật chế định, tâm thường giữ gìn, không dám trái phạm. 6. Bất não hại giới: Không học các thứ tà pháp như huyễn thuật, bùa chú và chế các thứ thuốc làm hại chúng sinh. 7. Bất tạp giới(cũng gọi Vô tạp uế giới): Tức không chấp trước biên kiến, không giữ tạp giới, một lòng chuyên giữ giới thoát li sinh tử. 8. Li tà mệnh giới(cũng gọi Vô tham cầu giới): Tức Bồ tát không vì tâm tham cầu mà hiện tướng khác người, khoe mình có đức, chỉ vì muốn có đầy đủ pháp xuất li sinh tử mà giữ giới. 9. Li ác giới(cũng gọi Vô quá thất giới): Tức một lòng giữ giới, không tự cao tự đại. 10. Thanh tịnh giới(cũng gọi Vô hủy phạm giới): Tức thụ trì giới thanh tịnh, không hủy phạm, mãi mãi đoạn trừ 10 điều ác, đầy đủ 10 điều thiện. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.6; Hoa nghiêm kinh sớ Q.24]. VII. Thập Giới. Chỉ cho 10 giới của Bồ tát thụ trì, đó là: 1. Giới không bỏ tâm bồ đề. 2. Giới xa lìađịavị Nhị thừa. 3. Giới quán xét làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. 4. Giới khiến tất cả chúng sinh trụ trong Phật pháp. 5. Giới tu tất cả điều Bồ tát cần phải học.6. Giới vô sở đắc đối với tất cả pháp. 7. Giới hồi hướng tất cả thiện căn cho Bồ đề. 8. Giới không đắm trước thân của tất cả Như lai. 9. Giới tư duy tất cả pháp lìa chấp thủ. 10. Giới chư căn luật nghi. [X. kinh Hoa nghiêm Q.53 (bản dịch mới); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí 17]. VIII. Thập Giới. Cũng gọi Câu mật chi trọng giới. Chỉ cho 10 giới trọng của Bồ tát thụ trì được nói trong Vô úy tam tạng thiền yếu. Đó là: 1. Không để tâm bồ đề lui sụt. 2. Không bỏ Tam bảo. 3. Không hủy Tam bảo và kinh điển Tam thừa. 4. Không sinh tâm nghi ngờ đối với các kinh điển sâu xa của Đại thừa. 5. Không làm cho những chúng sinh đã phát tâm bồ đề rơi vào Nhị thừa. 6. Đối với những người chưa phát tâm thì cũng nói pháp như thế, khiến họ không phát tâm Nhị thừa. 7. Đối với Tiểu thừa và những người tà kiến không nên vội nói Đại thừa sâu xa, vi diệu.8. Không phát khởi các pháp tà kiến. 9. Ở trước ngoại đạo, không nên tự nói mình có diệu giới Vô thượng bồ đề. 10. Đối với các việc tổn hại hoặc không mang lại lợi ích cho tất cả chúng sinh, đều không nên làm, không bảo người làm và thấy người khác làm không hùa theo. [X. Đại nhật kinh sớ Q.17]. (xt. Thập Trọng Cấm Giới). ; (十界) Chỉ cho 10 thế giới mê và ngộ. Tức là: Địa ngục giới, Ngạ quỉ giới, Súc sinh giới, (Bàng sinh giới), Tu la giới, Nhân gian giới, Thiên thượng giới, Thanh văn giới, Duyên giác giới, Bồ tát giới và Phật giới. Trong đó, 6 giới trước thuộc thế giới mê của phàm phu, tức là thế giới 6 đường luân hồi. Còn 4 giới sau thuộc thế giới giác ngộ của các bậc Thánh. Đây chính là Lục phàm tứ thánh(6 phàm 4 thánh). Hoặc 9 giới là Nhân, giới thứ 10 là Quả, gọi là Cửu nhân nhất quả(9 nhân 1 quả). Mật giáo thì lấy 5 phàm 5 thánh làm 10 pháp giới, đó là 10 pháp giới của Mật giáo. Năm phàm là: Địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, người, A tu la và trời(là một), còn5 Thánh là: Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Quyền Phật, Thực Phật. Cũng có khi chia làm 4 loại, theo thứ tự là: Tứ thú nhân thiên, Nhị thừa, Bồ tát, Phật. Lại có khi chia làm 5 loại, theo thứ tự là: Tam ác đạo(tam đồ), Tam thiện đạo, Nhị thừa, Bồ tát, Phật. Tông Thiên thai cho rằng 10 giới mỗi giới đều có quyền, thực; quyền và thực về bản chất là một thể, do đó, 10 giới đều là chân thực, cho nên gọi là Thập giới quyền thực. Trong 10 giới, hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác thông thường được xem là không thể nào thành Phật, nhưng kinh Pháp hoa quyển 1 cho rằng vẫn có thể thành Phật, bởi vậy nên có thuyết chúng sinh trong 10 giới đều thành Phật, tức Thập giới giai thành. Tông Thiên thai cho rằng Phật giới là chân lí bình đẳng, 9 giới còn lại là sai biệt, là vọng pháp do lí tùy duyên mà sinh ra, cho nên phải đoạn phá, gọi là Duyên lí đoạn cửu. Đây là Phương tiện giáo của Biệt giáo nói ra, chứ chẳng phải pháp chân thực do Viên giáo chủ trương.

thập giới chân thật

(十界真實) Cũng gọi Thập giới quyền thực. Mười giới là chân thực. Đây là luận thuyết của tông Thiên thai. Theo Biệt giáo thì 10 giới là đối đãi nhau, 9 giới là vọng, Phật giới là chân thực. Viên giáo thì cho rằng tuy nói 9 giới là quyền, Phật giới là thực nhưng đó chỉ là cách phân chia tổng quát, nếu bàn kĩ hơn thì trong 10 giới mỗi giới đều có đủ cả quyền, thực và bản chất của quyền, thực là đồng thể, cho nên 10 giới đều là chân thực. Vì việc phân chia quyền, thực của 10 giới có 3 nghĩa: 1. Đứng về phương diện sự dụng của mê ngộ mà nói thì 9 giới là quyền, chỉ có Phật giới là thực. 2. Đứng về phương diện nghĩa môn của tu tính mà nói, nếu y cứ theo nghĩa tùy duyên thì 10 giới đều là quyền, nếu y cứ vào nghĩa bất biến thì 10 giới đều thực. 3. Đứng về phương diện pháp thể của tu tính mà nói thì tùy duyên và bất biến đều là 10 giới chân thực. Ở đây cho 10 giới chân thực là nói theo nghĩa thứ 3. [X. Thiên thai nhị bách đề Q.6].

thập giới chúng sanh năng thành phật

The teaching of Lotus Sutra of universalism, that all become Buddha.

thập giới giai thành

(十界皆成) Chúng sinh trong 10 pháp giới đều sẽ thành Phật, vì vậy cũng gọi là Thập giới giai thành Phật, là từ ngữ biểu trưng nét đặc sắc của kinh Pháp hoa. Trong 5 thời giáo, thì thời thứ 4 đức Phật tuyên thuyết kinh Bát nhã để chuyển hóa Nhị thừa thành Bồ tát, khiến họ hiểu biết tất cả kho pháp bảo của Phật, gột rửa và đãi lọc mọi tình chấp khác nhau về Tiểu thừa và Đại thừa. Đến thời Pháp hoa Niết bàn, Phật nói Thập giới giai thành, tuyên bố tất cả chúng sinh đều có Phật tính.[X. Ma ha chỉ quán Q.6, phần 3; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng]. (xt. Thập Giới).

thập giới hạnh

Ten virtues—Ten commandments—Ten Precepts—See Thập Giới.

thập giới hỗ cụ

(十界互具) Chỉ cho 10 cõi, từ cõi Phật đến cõi địa ngục... trong mỗi cõi đều có đủ 10 cõi kia. Đây là thuyết của tông Thiên thai. Một tâm đã có khả năng tạo ra nhân quả của 10 cõi thì tâm người có đầy đủ 10 cõi và có thể biết tâm tính của 10 cõi cũng thế. Bất cứ một cõi nào trong 10 cõi cũng đều đầy đủ 10 cõi kia, cộng chung thành100 cõi. Trong 100 cõi này mỗi cõi đều có đủ 10 như: Tính, tướng, thể, lực, tác, nhân, duyên, quả, báo, bản mạt cứu cánh, tổng cộng là 1000 như, gọi là Bách giới thiên như.(xt. Nhất Niệm Tam Thiên, Thập Giới).

thập giới mạn đồ la

(十界曼荼羅) Cũng gọi Thập giới đại mạn đồ la, Thập giới khuyến thỉnh đại mạn đồ la. Bản tôn của tông Nhật liên ở Nhật bản. Là bức tranh vẽ 10 cõi do ngài Nhật liên, Tổ khai sáng của tông Nhật liên, Nhật bản, vẽ khi sư bị lưu đày đến Tá độ. Nội dung bức tranh được trình bày như sau: Ở chính giữa viết đề mục: Nam mô Diệu pháp Liên hoa kinh, bốn chung quanh viết danh hiệu Chư tôn, các thiện thần và 10 cõi, bao bọc đề mục để hiển bày diệu lí Nhất thể bất nhị. Bức Mạn đồ la này biểu hiện toàn thể thọ lượng của Bản Phật, tướng hiện tại thường trụ của 10 cõi và của bản tâm chúng sinh, vì thế, trong 1 Mạn đồ la có đủ 10 cõi, tròn đầy 3000, lí tột cùng vô thủy vô chung.

thập giới nhất niệm

(十界一念) Mười cõi một niệm. Nghĩa là 10 cõi có đủ trong 1 niệm hay là trong 1 niệm có đầy đủ 10 cõi. Đây là giáo chỉ của tông Dung thông niệm Phật ở Nhật bản. Dung thông viên môn chương (Đại 48, 4 thượng) nói: Một người là tất cả mọi người, tất cả mọi người là một người. (...) Một hạnh gồm tất cả hạnh, tất cả hạnh trong một hạnh. (...) đó gọi là Tha lực vãng sinh (...), 10 cõi trong một niệm dung thông niệm Phật, (...) trăm nghìn vạn biến, công đức tròn đầy. Tức y cứ vào thuyết Nhất niệm tam thiên, Thập giới hỗ cụ của tông Thiên thai và thuyết Viên dung vô ngại, cùng lí Tương tức tương nhập của tông Hoa nghiêm để giải thích ý chỉ dung thông niệm Phật. Thập giới nhất niệm, tức 10 cõi có đủ trong 1 niệm, 1 niệm sinh khởi 10 cõi, 10 cõi trong 1 niệm, 1 niệm gồm 10 cõi, dung thông triệt để, không hai không khác. (xt. Nhất Niệm Tam Thiên, Thập Giới Hỗ Cụ, Dung Thông Niệm Phật Tông).

thập giới nhất tâm bình đẳng đại niệm

(十界一心平等大念) Mười cõi từ cõi Phật đến cõi địa ngục đều do tâm tạo ra, vì thế thể tính của 10 cõi là bình đẳng, không sai khác. Quán xét lí bình đẳng này gọi là Thập giới nhất tâm bình đẳng đại niệm. (xt. Thập Giới).

thập giới năng hoá bồ tát

(十界能化菩薩) Bồ tát giáo hóa 10 cõi. Tức Bồ tát từ Sơ địa trở lên có khả năng hiện thân trong 10 cõi để giáo hóa chúng sinh. Thập giới là nói số chẵn, thực ra chỉ có 9 cõi, trừ cõi Phật.(xt. Thập Giới).

thập giới phạm võng kinh

Kinh Phạm Võng định nghĩa thập giới như sau—The Sutra of Brahma Net has another definition for ten commandments as follow: 1) Từ 1 đến 5—From 1 to 5: See Ngũ Giới. 11) Không nói tội của chư Tăng Ni trong giáo đoàn: Not to speak the sins of those in orders. 12) Không khen mình chê người: Not to vaunt (praise) self and depreciate others. 13) Không xan tham: Not to be avaricious. 14) Không sân giận: Not to be angry. 15) Không hủy báng Tam Bảo: Not to slander the Triratna.

thập giới trì luật pháp thể

(十戒持律法體) Pháp thể nghĩa là thân thể hộ trì Phật pháp, chỉ cho người xuất gia tu hành. Thập giới trì luật pháp thể là từ ngữ tôn xưng vị Pháp sư thụ 10 giới có năng lực giữ gìn không vi phạm.

thập giới đồ

(十界圖) Cũng gọi Thậpphápgiới đồ. Chỉ cho tranh vẽ chung cảnh giới 4 Thánh và 6 đường. Bức vẽ được trình bày như sau: Trong một vòng tròn lớn vẽ 10 vòng tròn nhỏ, trong mỗi vòng tròn nhỏ vẽ 10 cõi theo thứ tự Phật, Bồ tát... Ở trung tâm củavòng tròn lớn vẽ một vòng tròn, trong vòng tròn này vẽ chữ Tâm ( ) biểu thị nghĩa 10 cõi chỉ do một tâm tạo ra. Vòng tròn vẽ các cõi này là căn cứ vào bức vẽ Ngũ thú sinh tử luân trong Hữu bộ tì nại da quyển 34 mà diễn rộng ra. Tại Nhật bản, ngoài Thập giới đồ vẽ chung 10 cõi, còn có các bức vẽ riêng mỗi cõi. Như bức tranh Thập giới được cất giữ ở chùa Lai nghinh tại Nhật bản, nguyên do vẽ bức tranh này là khi Thiên hoàng Viên dung xem Vãng sinh yếu tập, ông rất cảm động, bèn ban sắc cho ngài Nguyên tín vẽ sự tướng của 2 cõi Tịnh độ và Uế độ, tất cả có 30 bức. Trong đó, 15 bức Tứ thánh đồ đã bị binh lửa thiêu hủy, nay còn 15 bức Lục đạo giới đồ. Tức 4 bức vẽ 4 địa ngục Đẳng hoạt, Hắc thằng, Chúng hợp, A tị, 3 bức vẽ 3 đường ngã quỉ, súc sinh, A tu la, 4 bức vẽ về cõi người như bất tịnh tướng, khổ tướng, vô thường tướng... và 1 bức vẽ cõi trời, cộng tất cả 12 bức, thành bức vẽ chung về 6 đường. Thêm 2 bức tranh về sự tích kinh Thí dụ, kinh Ưu bà tắc giới và 1 bức vẽ điện vua Diêm ma cộng chung là 15 bức. Thuyết khác cho rằng tương truyền tranh này do Cự thế Kim cương vẽ, là tác phẩm đại biểu cho trường phái tả thực ở thời đại Liêm thương.

Thập Hiệu

(十號): 10 danh hiệu của đức Phật Thích Ca cũng như các đức Phật khác, còn gọi là Như Lai Thập Hiệu (如來十號), Thập Chủng Thông Hiệu (十種通號), gồm: (1) Như Lai (s, p: tathagāta, 如來), âm dịch là Đa Đà A Già Đà (多陀阿伽陀), nghĩa là cỡi đạo như thật mà đến và thành chánh giác. (2) Ứng Cúng (s: arhat, p: arahant, 應供), âm dịch là A La Hán (阿羅漢), nghĩa là xứng đáng để thọ nhận sự cúng dường của trời, người. (3) Chánh Biến Tri (s: samyaksaṃbuddha, p: sammāsambuddha, 正徧知), âm dịch là Tam Miệu Tam Phật Đà (三藐三佛陀), nghĩa là biết đúng đắn, cùng khắp tất cả các pháp. (4) Minh Hạnh Túc (s: vidyā-caraṇa-saṃpanna, p: vijjācaraṇa-sampanna, 明行足), tức Tam Minh (三明) là Thiên Nhãn (天眼), Túc Mạng (宿命), Lậu Tận (漏盡) và hạnh nghiệp của thân miệng được viên mãn, đầy đủ. (5) Thiện Thệ (s, p: sugata, 善逝), có nghĩa là lấy hết thảy các trí làm cổ xe lớn và hành Bát Chánh Đạo (s: āryāṣṭāṇga-mārga, āryāṣṭāṇgika-mārga, p: ariyāṭṭhaṅgika-magga, 八正道) để nhập Niết Bàn (s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃). (6) Thế Gian Giải (s: lokavid, p: lokavidū, 世間解), nghĩa là biết rõ hai loại thế gian có chúng sanh và không phải chúng sanh; cho nên biết rõ sự diệt tận của thế gian và con đường thoát ra khỏi thế gian. (7) Vô Thượng Sĩ (s, p: anuttara, 無上士), như trong các pháp, Niết Bàn là trên hết, trong tất cả chúng sanh, Phật là đấng tối thượng. (8) Điều Ngự Trượng Phu (s: puruṣa-damya-sārathi, p: purisa-damma-sārathi, 調御丈夫), là đại bi và đại trí của Phật, có khi dùng lời nhu hòa, có khi dùng lời bi thiết hay tạp ngữ, v.v., lấy đủ các loại phương tiện để điều ngự người tu hành, giúp cho họ nhập Niết Bàn. (9) Thiên Nhân Sư (s: śāstā devamanuṣyanaṁ, p: satthā devamanussānaṁ, 天人師), nghĩa là bậc thầy hướng dẫn chúng sanh việc gì nên làm, việc gì không nên làm, cái nào là thiện, là không thiện, khiến cho họ giải thoát khỏi phiền não. (10) Phật Thế Tôn (s, p: buddha-bhagavat, 佛世尊), nghĩa là bậc tự giác tỉnh chính minh, giác tỉnh mọi người, biết và thấy hết thảy các pháp trên đời, có đầy đủ các đức; cho nên được mọi người tôn trọng, cung kính. Như trong Đế Thích Sở Vấn Kinh (帝釋所問經, Taishō No. 15) có câu: “Ngã Phật Thế Tôn Thập Hiệu cụ túc, Như Lai, ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn (我佛世尊十號具足、如來、應供、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛世尊, đức Phật Thế Tôn chúng ta có đủ Mười Hiệu là Như Lai, ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn).”

Thập hiệu

十號|Mười danh hiệu

thập hiệu

Mười danh hiệu của Phật—The ten titles of a Buddha: 1) Như Lai: Tathagata (skt)—Thus Come One—Như Lai là bậc đã hoàn toàn phản bổn hoàn nguyên. Bậc ấy dù có xuất hiện nơi đời, nhưng đã hoàn toàn thoát khỏi mọi hệ lụy và trói buộc của trần tục—One who is completely original in nature. He appeared in this world, yet he was not really here since he was completely free from all bondage and attachments. 2) Ứng Cúng: A-La-hán—Arhat (skt)—Người xứng đáng nhận sự cúng dường của chúng sanh và chư thiên—One Worthy of Offerings—One who can take offerings from all sentient beings, including heavenly beings. 3) Chánh Biến Tri: Samyak-Sambuddha (skt)—Người hiểu biết thông suốt vạn pháp—One of Proper and Pervasive Knowledge—One who has deep and complete understanding of all dharmas; all knowing. 4) Minh Hạnh Túc: Vidya-carana-Sampanna (skt)—Người có đủ đầy trí đức—One Complete in Clarity and Conduct—One who possesses all wisdom and virtue—The Buddha was praised as not only perfect in knowledge, but also perfect in conduct (or not only perfect in conduct, but also perfect in wisdom). 5) Thiện Thệ: Sugata (skt)—Người luôn hướng thiện, không bao giờ thối chuyển—One who is always on the path toward goodness; never regreesing toward evil. 6) Thế Gian Giải: Lokavit (skt)—Đấng có hiểu biết toàn diện về cả lý thuyết lẫn thực hành cho chúng sanh trong tam giới (dục, sắc, và vô sắc giới)—Well Gone One who understands the World—One who has total understanding of theory and practice for all beings in the three worlds (desire, form, and formless). 7) Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu: Anuttara Purusa-Damya-Sarathi (skt)—Người đứng trên cả mọi loài trong ba cõi—Unsurpassed Knight—Taming and Subduing Hero—One who stands the highest among all beings in the Three Worlds. 8) Thiên Nhơn Sư: Sasta-deva-Manusyanam (skt)—Thầy dạy khắp trời người, dẫn dạy chúng sanh điều quấy lẽ phải. Bậc có thể dạy cho chúng sanh chánh kiến chánh tri thức để từ đó họ có thể có được trí tuệ hóa giải vô minh mà đạt thành giác ngộ—Teacher of Gods and Humans—One who is the master of all humans and heavenly beings, teaching them what is right and what is wrong. One who is able to give all sentient beings the proper view and knowledge so they may gain wisdom to see through ignorance, to attain enlightenment. 9) Phật: Buddha-lokanatha—Bhagavan (skt)—Vị đã đạt được giác ngộ tối thượng—Buddha—One who has attained the Ultimate or Supreme Enlightenment—The Awakened One. 10) Thế Tôn: Lokanatha (skt)—Đấng được chúng sanh trong các cõi kính trọng—World Honored One—One who has the most respect by all realms of existence. ; (十號) Cũng gọi Như lai Thập hiệu, Thập chủng thông hiệu. Chỉ cho 10 đại tôn hiệu của chư Phật. Đó là: 1. Như lai (Phạm:Tathàgata, Hán âm: Đa đà a già đà): Nương đạo như thực (Như) mà đến(lai) và thành chính giác. 2. Ứng cúng (Phạm: Arhat, Hán âm: A la hán): Xứng đáng nhận sự cúng dường của người, trời. 3. Chính biến tri (Phạm: Samyaksaôbuddha, Hán âm: Tam miệu tam phật đà): Có năng lực biết rõ đúng đắn (chính) khắp(biến) tất cả pháp. 4. Minh hành túc (Phạm: Vidyàcaraịa-saôpanna): Tức Tam minh (Thiên nhãn, Túc mệnh, Lậu tận) và hành nghiệp của thân khẩu thảy đều viên mãn. 5.Thiện thệ (Phạm: Sugata): Dùng Nhất thiết trí làm cỗ xe lớn, đi trên 8 con đường chân chính mà vào Niết bàn. 6. Thế gian giải (Phạm: Loka-vid): Biết rõ 2 loại thế gian là Chúng sinh thế gian và Phi chúng sinh thế gian, cho nên biết thế gian diệt và con đường ra khỏi thế gian. 7. Vô thượng sĩ (Phạm: Anuttara): Trong các pháp, Niết bàn là vô thượng, trong tất cả chúng sinh, Phật cũng là vô thượng. 8. Điều ngự trượng phu (Phạm: Puruwa-damya-sàrathi): Phật là bậc Đại từ, Đại trí, có khi dùng lời dịu dàng, có khi dùng lời bi thiết, tạp ngữ... dùng mọi phương tiện điều phục, chế ngự người tu hành (trượng phu) khiến họ đến Niết bàn. 9. Thiên nhân sư (Phạm: Zàstà devamanuwyànàô): Chỉ dạy chúng sinh điều gì nên làm, điều gì không nên làm, việc này là thiện, việc này là bất thiện... giúp họ giải thoát phiền não. 10. Phật Thế tôn (Phạm: Buddhabhagavat): Tức tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, thấy biết tất cả các pháp trong 3 đời. Tôn hiệu thứ 10 này cũng có chỗ chia làm 2 là Phật, Thế tôn, tức đầy đủ mọi đức và được người đời cung kính tôn trọng. Ngoài ra, trong các kinh luận cũng có chỗ hợp chung Thế gian giải, Vô thượng sĩ làm 1 tôn hiệu, hoặc Phật, Thế tôn hợp làm 1 hiệu, hoặc Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu hợp làm 1 tôn hiệu... [X. luận Đại trí độ Q.2, 21; Đại thừa nghĩa chương Q.20, phần cuối].

thập huyền diệu lý

See Thập Huyền Môn.

thập huyền duyên khởi

Theo tông Hoa Nghiêm, có mười pháp môn huyền diệu nương nhau tạo thành sự biểu lộ của thế giới lý tưởng và duyên khởi—According to The Avatamsaka School, there are ten theories that independently cause the manifestation of the ideal world: (A) Lý tắc “Một trong tất cả, tất cả trong một” hay “Tương nhập tương dung.” (một là tất cả, tất cả là một)—The principle of “One-in-all and all-in-one. 1) Vì mọi loài cũng như mọi vật đều được hiện khởi do nội thức, nên căn nguyên là một: Because all beings as well as all things are manifested from ideation, the source is one. 2) Vì mọi loài cũng như mọi vật đều không có bản tính quyết định hay vận hành tự tại, nên vô ngã là chân lý tối thượng: Because all beings as well as all things have no determinate nature, all move freely, selflessness being the ultimate truth. 3) Vì lý duyên khởi chỉ cho sự tương y tương quan, nên tất cả đều cộng đồng liên hệ: Because the causation theory means interdependence or interrelation, all are co-related. 4) Vì tất cả đều có chung pháp tánh hay Phật tánh, nên tất cả đều có khả năng chứng đắc như nhau: Because the Dharma-nature (dharmata) or the Buddha-nature (Buddha-svabhava) is possessed in common by all, they have similar liability. (B) Linh Tinh—Miscellaneous. 5) Vì thế giới hiện tượng được cho là mộng huyễn, nên thế giới nhất chân có thể bàng bạc khắp mọi nơi không bị ước thúc: Because the phenomenal world is said to be as a dream or illusion, the world of One-Truth can be molded in any way without restraint. 6) Vì thế giới hiện tượng được coi là bóng mờ hay ảo ảnh, nên thế giới nhất chân bàng bạc khắp nơi: Because the phenomenal world is said to be as shadow or image, the world of One-Truth can be molded in any way. 7) Vì trong sự giác ngộ của Phật, những căn nhân của hiện khởi được coi như vô hạn, những cảm quả là vạn trạng vô biên, nhưng chúng không chướng ngại nhau mà lại còn cộng tác để hình thành một toàn thể nhịp nhàng: Since the Enlightenment of the Buddha, the causes of production are known to be boundless, the effects are manifold or limitless, but they do not hinder each other; rather they cooperate to form a harmonious whole. 8) Vì sự giác ngộ của Phật là tối thượng và tuyệt đối, nên sự chuyển hóa của thế giới là theo ý chí của Ngài: Because the Buddha's Enlightenment is ultimate and absolute, the transformation of the world is at his will. 9) Vì tác dụng thiền định thâm áo của Phật, sự chuyển hóa của thế giới là tùy theo ý của Ngài: Because of the function of the Buddha's profound meditation the transformation of the world is at his will. 10) Vì năng lực siêu nhiên khởi lên từ sự giải thoát, sự chuyển hóa thế giới là tự tại: Because of the supernatural power originating from deliverance, the transformation of the world is free.

thập huyền môn

Để thuyết minh khả tính của thế giới “Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới,” tông Hoa Nghiêm đã đề ra mười Huyền Môn—In order to elucidate the possibility of the realm of Fact and fact world perfectly harmonized,” the Hua-Yen School set forth the “Ten Profound Theories.” 1) Đồng Thời Cụ Túc Tương Ưng Môn: Nói về sự cộng đồng liên hệ, trong đó vạn vật cộng đồng hiện hữu và đồng thời hiện khởi. Tất cả đều cộng đồng hiện hữu, không những chỉ quan hệ không gian mà cả trong quan hệ thời gian; không có sự phân biệt giữa quá khứ, hiện tại và vị lai, mỗi thời bao hàm các thời phần khác. Mặc dù chúng có vẻ sai biệt trong thời gian, nhưng tất cả đều được hợp nhất thành một thực thể, theo quan điểm viên dung—The theory of co-relation, in which all things have co-existence and simultaneous rise. All are co-existent not only in relation to space, but also in relation to time. There is no distinction of past, present and future, each of them being inclusive of the other. Distinct as they are and separated as they seem to be in time, all beings are united to make over entity from the universal point of view. 2) Quảng Hiệp Tự Tại Vô Ngại Môn: Nói về tự do toàn vẹn, trong đó mọi loài, thông minh hay ngu độn, đều tương giao với nhau không chướng ngại. Năng lực của tất cả nội hàm cũng như ngoại trương đều vô hạn như nhau. Một nghiệp, dù nhỏ bao nhiêu cũng bao hàm tất cả mọi nghiệp. Một và tất cả đều tương giao một cách tự do và bất tuyệt—The theory of perfect freedom in which all beings “broad and narrow” commune with each other without any obstacle. The power of all beings as to intension and extension is equally limitless. One action, however small, includes all actions. One and all are commutable freely and uninterruptedly. 3) Nhất Đa Tương Dung Bất Đồng Môn: Nói về sự hỗ tương nhiếp nhập của những sự thể bất đồng. Tất cả những hiện hữu bất đồng đều có những điểm tương đồng. Nhiều ở trong một, một ở trong nhiều và tất cả ở trong nhất thể—The theory of mutual penetration of dissimilar things. All dissimilar existences have something in common. Many in one, one in many, and all in unity. 4) Chư Pháp Tương Tức Tự Tại Môn: Nói về tự do, nghĩa là vượt ngoài những sai biệt kỳ cùng, trong đó tất cả các pháp đều hỗ tương đồng nhất. Đây là sự đồng nhất phổ biến của vạn hữu. Thực ra, hỗ tương đồng nhất là tự tiêu hủy. Khi đồng nhất ta với kẻ khác, ta có thể hòa hợp với kẻ khác. Tự tiêu hủy và tự đồng hóa với cái khác tạo thành một đồng nhất hóa tổng hợp. Đây là lý thuyết hay thực hành đặc biệt của Đại Thừa, áp dụng cho bất cứ lý thuyết hay thực hành nào. Hai lý thuyết đối nghịch hay những sự kiện khó dung hợp thường được kết lại thành một. Thông thường do phương pháp này mà người ta đi đến một giải pháp êm đẹp cho một vấn đề. Do kết quả của sự hỗ tương nhiếp nhập và hỗ tương hòa hợp, chúng ta có khái niệm “Một trong tất cả, tất cả trong một. Một ở đàng sau tất cả, tất cả ở đàng sau một. Lớn và nhỏ, cao hay thấp, cũng vận chuyển nhịp nhàng với nhau. Ngay cả những đóng góp khiêm nhường nhứt vào công cuộc hòa điệu, cũng không ai có thể tách khỏi hay biệt lập một mình được—The theory of freedom, i.e., freedom from ultimate disctinctions, in which all elements are mutually identified. It is a universal identification of all beings. Mutual identification is, in fact, self-negation. Identifying oneself with another, one can synthesize with another. Negating oneself and identifying oneself with another constitute synthetical identification. This is a peculiar theory or practice of Mahayana. It is applied to any theory and practice. Two opposed theories or incompatible facts are often identified. Often a happy solution of a question is arrived at by the use of this method. As the result of mutual penetration and mutual identification. We have the concept “One in All, All in One. One behind All, All behind One.” The great and small, the high or low, moving harmoniously together. Even the humblest partaking of the work in peace, no one stands separately or independently alone. It is the world of perfect harmony. 5) Ẩn Mật Hiển Liễu Câu Thành Môn: Nói về thuyết tựu thành, nhờ đó mà cái ẩn mật và cái biểu hiện cùng tạo thành một toàn thể bằng hỗ tương chi trì. Nếu cái nầy ở trong thì cái kia ở ngoài hay ngược lại. Cả hai hỗ trợ lẫn nhau tạo thành một nhất thể—The theory of complementarity by which the hidden and the manifested will make the whole by mutual supply. If one is inside, the other will be outside, or vice versa. Both complementing each other will complete one entity. 6) Vi Tế Tương Dung An Lập Môn: Nói về sự thành lập bằng hỗ tương nhiếp nhập của những vật chất vi tiểu và ẩn áo. Nói một cách tổng quát, một sự thể càng vi tiểu và ẩn áo, người ta càng khó mà nhận ra nó. Những sự thể vi tế hay ẩn áo vượt ngoài lãnh hội của một người cũng phải thể hiện lý thuyết về “một trong nhiều và nhiều trong một.”—The theory of construction by mutual penetration of minute and abstruse matters. Generally speaking, the more minute or abstruse a thing is, the more difficult it is to be conceived.. Things minute or abstruse beyond a man's comprehension must also be realizing the theory of one-in-many and many-in-one. 7) Nhân Đà La Võng Cảnh Giới Môn: Nói về sự phản chiếu nội tại, như trong lãnh vực được bao quanh bằng lưới của trời Đế Thích (mỗi mắt lưới là một viên ngọc thạch lấp lánh), ở đó những hạt ngọc phản chiếu rực rỡ lẫn nhau. Cũng vậy, những sự kiện thực tế của thế giới đều chen lẫn và chiếu rọi lẫn nhau—The theory of inter-reflection, as in the region surrounded by the Indra net (a net decorated with a bright stone on each knot of the mesh), where the jewels reflect brilliance upon each other, according to which the real facts of the world are mutually permeating and reflecting. 8) Thác Sự Hiển Pháp Sinh Giải Môn: Nói về sự thuyết minh chân lý bằng những điển hình thật sự. Chân lý được biểu lộ trong sự vật và sự vật là nguồn gốc của giác ngộ—The theory of elucidating the truth by factual illustrations. Truth is manifested in fact and fact is the source of enlightening. 9) Thập Thế Cách Pháp Dị Thành Môn: Nói về “sự thành tựu từ đa thù của 10 thời gian tạo thành một thực thể.” Quá khứ, hiện tại, và vị lai, mỗi thời đều chứa đựng ba thời, như thế tạo thành chín thời, chúng hợp chung lại thành một thời duy nhất, chín và một là mười thời. Mười thời, tất cả đều khác biệt, nhưng nhiếp nhập lẫn nhau, hoàn thành cái lý tắc một-trong-tất-cả. Tất cả những lý thuyết khác, chính yếu liên hệ với sự hỗ tương nhiếp nhập nầy trong bình diện “hàng ngang,” nhưng lý thuyết nầy lại liên hệ với mọi “quan hệ hàng dọc” hay thời gian, nghĩa là mọi loài bị phân tách dọc theo chín thời, mỗi thời tự đầy đủ để cuối cùng tất cả đều tương quan tương liên trong một thời độc nhất; một thời độc nhất được hình thành bằng chín thời kia—The theory of “variously completing ten time-periods creating one entity.” Each of past, present and future contains three periods thus making up nine periods which altogether form one period, nine and one, ten periods in all. The ten periods, all distinct yet mutually penetrating, will complete the one-in-all principle. All other theories are concerned chiefly with the mutual penetration in “horizontal plane,” but this theory is concerned with the “vertical connection,” or time, meaning that all beings separated along the nine periods, each complete in itself, are, after all, interconnected in one period, the one period formed by the nine. 10) Duy Tâm Hồi Chuyển Thiện Thành Môn: Nói về sự thành tựu của những thiện đức mà nhờ đó, chủ và tớ cùng hoạt động một cách nhịp nhàng và xán lạn. Nếu cái nầy là chủ thì tất cả những cái khác sẽ hoạt động như là thần tử của nó, nghĩa là theo lý tắc “nhứt tức nhất thiết, và nhất thiết tức nhứt.” Chúng tạo thành một toàn thể viên toàn trên thực tế, cái nầy cái kia xen lẫn nhau—The theory of completion of virtues by which the chief and the retinue work together harmoniously and brightly. If one is the chief, all others will work as his retinue, i.e., according to the one-in-all and all-in-one principle, they really form one complete whole, penetrating one another. ; (十玄門) Cũng gọi Thập huyền duyên khởi. Gọi đủ: Thập huyền duyên khởi vô ngại pháp môn, Hoa nghiêm nhất thừa thập huyền môn, Nhất thừa thập huyền môn. Gọi tắt: Thập huyền. Chỉ cho 10 môn sâu xa, mầu nhiệm biểu thị tướng của Sự sự vô ngại pháp giới, nếu thông suốt được nghĩa này thì có thể nhập vào biển huyền diệu của kinh Hoa nghiêm, cho nên gọi là Huyền môn; muời môn này làm duyên cho nhau mà khởi, vì thế gọi là Duyên khởi. Mười môn tương tức tương nhập, làm tác dụng cho nhau, không ngăn ngại lẫn nhau. Tông Hoa nghiêm lấy thuyết Thập huyền môn và Lục tướng viên dung làm giáo lí căn bản, xưa nay gọi chung là Thập huyền Lục tướng, cả 2 hội thông mà cấu thành nội dung trung tâm của Pháp giới duyên khởi. Thập huyền chính là theo 10 phương diện để thuyết minh tướng của pháp giới Sự sự vô ngại trong 4 pháp giới, biểu thị hiện tượng và hiện tượng nhất thể hóa(tương tức), dung hòa vào nhau mà không trở ngại (tương nhập), hệt như những mắt lướikết hợp với nhau, tức dùng 10 Huyền môn để biểu thị ý nghĩa sâu xa của Pháp giới duyên khởi. Thập huyền môn lại được chia làm Cổ thập huyền(Thập huyền cũ) và Tân thập huyền(Thập huyền mới). Ngài Trí nghiễm chủ trương Nhất thừa thập huyền môn, ngài Pháp tạng soạn Hoa nghiêm ngũ giáo chương kế thừa thuyết này, đó là Cổ thập huyền. Thập huyền môn nói trong Hoa nghiêm kinh thám huyền kí của ngài Pháp tạng được ngài Trừng quán trình bày lại trong Hoa nghiêm huyền đàm quyển 6, đó là Tân thập huyền. Sau đây là nói sơ qua về các môn của Tân thập huyền: 1. Đồng thời cụ túc tương ứng môn: Tất cả hiện tượng đồng thời tương ứng, đồng thời đầy đủ, theo lí duyên khởi mà thành lập, một và nhiều dung hợp nhau thành một thể, không có trước sau sai khác. 2. Quảng hiệp tự tại vô ngại môn: Sự đối lập giữa rộng và hẹp về không gian tựa hồ như mâu thuẫn nhau, nhưng chính sự mâu thuẫn đối lập ấy lại là môi giới của sự tương tức tương nhập, vì thế là tự tại viên dung vô ngại. 3. Nhất đa tương dung bất đồng môn: Về tác dụng của hiện tượng thì trong một có nhiều, trong nhiều dungchứamột, tướng một và nhiều không ngăn ngại, nhưng thể của chúng thì khác nhau, không đánh mất tướng một và nhiều. 4. Chư pháp tương tức tự tại môn: Về thể của hiện tượng thì một và tất cả đắp đổi là không và hữu, cả 2 đều nhất thể hóa, dung nhiếp lẫn nhau một cách tự tại vô ngại.5. Ẩn mật hiểu liễu câu thành môn: Về hiện tượng duyên khởi thì khi lấy một làm hữu mà hiển hiện ra tướng, thì nhiều là không và ẩn kín không hiện. Tức ẩn và hiển nhất thể hóa lẫn nhau đồng thời thành lập, tất cả pháp và một pháp là nhất thể của nhau. 6. Vi tế tương dung an lập môn: Khi dựa vào lí tương nhập để nói hiện tượng duyên khởi thì đặc biệt chú trọng ở điểm không hoại tự tướng. Tức trong mỗi hiện tượng, đem nhỏ hòa vào lớn, dùng một bao nhiếp nhiều, nhưng lớn và nhỏ hòa nhập vào nhau mà không loạn, không hoại tướng một và nhiều, trật tự vẫn rõ ràng. 7. Nhân đà la võng pháp giới môn: Muôn tượng sum la, mỗi mỗi hiển phát lẫn nhau, lớp lớp vô cùng tận, giống như mành lưới của Nhân đà la(mành lưới bằng ngọc châu báu trong cung điện của trời Đế thích). 8. Thác sự hiển pháp sinh giải môn: Nghĩa lí sâu xa, mầu nhiệm nương vào sự pháp nhỏ nhặt mà được hiển bày, sự được nương và lí được hiển không 2 không khác. 9. Thập thế cách pháp dị thành môn: Trong mỗi 3 đời quá khứ, vị lai, hiện tại đều có 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai, hợp chung thành 9 đời. Chín đời này cũng chỉ thu nhiếp vào trong một niệm, hợp 9 đời với 1 niệm thành 10 đời. Thời gian của 10 đời này tuy có gián cách, nhưng thời này thời kia tương tức tương nhập, trước sau, dài ngắn đồng thời hiển hiện đầy đủ, thời và pháp không lìa nhau. 10. Chủ bạn viên minh cụ đức môn: Trong các hiện tượng duyên khởi, hễ nêu một hiện tượng nào thì hiện tượng ấy là chủ, tất cả hiện tượng khác là bạn, cứ như thế làm chủ bạn lẫn nhau, đầy đủ mọi đức.Thứ tự của Cổ thập huyền và Tân thập huyền hơi khác nhau, tức trong Tân thập huyền, Quảng hiệp tự tại vô ngại môn được dùng thay cho Chư tạng thuần tạp cụ đức môn trong Cổ thập huyền và Chủ bạn viên minh cụ đức môn thay cho Duy tâm hồi chuyển thiện thành môn. Lí do Cổ thập huyền được đổi thành Tân thập huyền có lẽ vì muốn tránh sự lẫn lộn giữa Chư tạng thuần tạp cụ đức môn và Lí sự vô ngại; đồng thời Duy tâm hồi chuyển thiện thành môn cũng chỉ nói lên cái lí các pháp vô ngại chứ chẳng phải hiển bày cái tướng các pháp vô ngại. [X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.10; Hoa nghiêm nhất thừa thập huyền môn]. (xt. Tứ Pháp Giới, Hoa Nghiêm Thập Nghĩa).

thập huyền đàm

(十玄談) Tác phẩm, 1 quyển, do Thiền sư Đồng an Thường sát soạn vào đời Đường, được thu vào Cảnh đức truyền đăng lục quyển 29 và Liên đăng hội yếu quyển 30. Nội dung nói về yếu chỉ của tông môn và chỉ ra con đường quan trọng mà người học phải đi theo. Sách được viết theo thể kệ tụng 7 chữ, chia làm 10 chương, tức 10 Huyền, đó là: Tâm ấn, Tổ ý, Huyền cơ, Trần dị, Phật giáo, Hoàn hương khúc, Phá hoàn hương khúc, Hồi cơ, Chuyển vị và Chính vị tiền. Nhưng theo sự sai khác của bản in Cảnh đức truyền đăng lục (Tổ đình sự uyển, bản đời Tống, bản Cao li, bản chùa Thiên ninh, bản đời Nguyên, bản đời Minh) thì tên gọi Thập huyền có hơi khác. Như bản đời Tống không có Tổ ý, Chuyển vị, bản đời Nguyên gọi Phật giáo là Diễn giáo... Về các bản chú thíchsáchnày thì có: -Thập huyền đàm chú, do ngài Tuyết sầm người Triều tiên soạn. -Thập huyền đàm giả danh chú, do ngài Chỉ nguyệt Tuệ ấn soạn.

thập huệ chương cú

(十慧章句) Cũng gọi Thập tuệ, Thập tuệ kinh, Sa di thập tuệ chương cú. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Nghiêm phật điều soạn vào đời Đông Hán. Chính văn sách này đã thất lạc, nay chỉ còn bài tựa được thu vào Xuất tam tạng kí tập quyển 10.Ngài Đạo an đã sao chép Lục độ yếu mục của ngài Khang tăng hội hợp chung với sách này mà thành bộ Thập pháp cú nghĩa. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.4].

thập hành

See Thập Hạnh.

thập hành ấm ma

Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật đã nhắc nhở ông A Nan về mười hành ấm ma—According to the Surangama Sutra, the Buddha remined Ananda about the ten states of formation skandha. 1) Hai thứ vô nhân: Two theories on the absence of cause—See Nhị Chủng Vô Nhân Luận. 2) Bốn thứ biến thường—Four theories regarding pervasive permanence—See Tứ Chủng Biến Thường. 3) Bốn thứ điên đảo: Four upside-down theories—See Tứ Chủng Điên Đảo. 4) Bốn thứ hữu biên: Four theories regarding finiteness—See Tứ Chủng Hữu Biên. 5) Bốn thứ kiểu loạn: Four kinds of sophistry—Lại các thiện nam, trong tam ma địa, chính tâm yên lặng kiên cố. Ma chẳng tìm được chỗ tiện, cùng tột căn bản của các loài sanh. Xem cái trạng thái u thanh, thường nhiễu động bản nguyên. Trong tri kiến, khởi so đo chấp trước. Người đó bị đọa vào bốn thứ điên đảo, bất tử kiểu loạn, biến kế hư luận—Further, in his practice of samadhi, the good person's mind is firm, unmoving, and proper and can no longer be disturbed by demons. He can thoroughly investigate the origin of all categories of beings and contemplate the source of the subtle, fleeting, and constant fluctuation. But if he begins to speculate on what he knows and sees, he could fall into error with four distorted, false theories, which are total speculation based on the sophistry of immortality. a) Một là người đó xem cái bản nguyên biến hóa; thấy cái chỗ thay đổi gọi là “biến,” thấy cái chỗ nối nhau gọi là “hằng,” thấy cái chỗ bị thấy gọi là “sinh;” chẳng thấy chỗ bị thấy gọi là “diệt;” chỗ tương tục không đoạn gọi là “tăng;” chỗ tương tục gián đoạn gọi là “giảm;” mỗi cái có chỗ sinh gọi là “có;” mỗi cái có chỗ diệt gọi là “không.” Lấy lý xem xét dụng tâm thấy riêng. Có người đến cầu pháp hỏi nghĩa, đáp: “Tôi nay cũng sinh, cũng diệt, cũng có, cũng không, cũng tăng, cũng giảm.” Các thời đều nói lộn xộn, khiến cho người nghe quên mất chương cú—First, this person contemplates the source of transformations. Seeing the movement and flow, he says there is change. Seeing the continuity, he says there is constancy. Where he can perceive something, he says there is production. Where he cannot perceive anything, he says there is destruction. He says that the unbroken continuity of causes is increasing and that the pause within the continuity are decreasing. He says that the arising of all things is existence and that the perishing of all things is nonexistence. The light of reason shows that his application of mind has led to inconsistent views. If someone comes to seek the Dharma, asking about its meaning, he replies, “I am both alive and dead, both existent and nonexistent, both increasing and decreasing.” He always speaks in a confusing way, causing that person to forget what he was going to say. b) Hai là người đó xem xét tâm kỹ càng, cái chỗ xoay vần không có. Nhân không mà có chứng được. Có người đến hỏi, chỉ đáp một chữ, không ngoài chữ “không,” không nói gì cả—Second, this person attentively contemplates his mind and finds that everything is nonexistent. He has a realization based on nonexistence. When anyone comes to ask him questions, he replies with only one word. He only says “no,” Aside from saying “non,” he does not speak. c) Ba là người đó xem xét kỹ càng cái tâm của mình, cái gì cũng có chỗ, nhân “có” mà chứng được. Có người đến hỏi chỉ đáp một chữ “phải.” Ngoài chữ “phải” ra không nói gì cả—Third, this person attentively contemplates his mind and finds that everything is existent. He has a realization based on existence. When anyone comes to ask him questions, he replies with only one word. He only says “yes.” Aside from saying “yes,” he does not speak. d) Bốn là người đó đều thấy hữu, vô, vì cái cảnh phân hai, tâm cũng kiểu loạn. Có người đến hỏi lại đáp “cũng có” tức là “cũng không,” trong “cũng không” chẳng phải “cũng có.” Vì so đo chấp trước kiểu loạn hư vô, nên đọa lạc ngoại đạo và mê lầm tính Bồ Đề—Fourth, this person perceives both existence and nonexistence. Experiencing this branching, his mind becomes confused. When anyone comes to ask questions, he tells them, “Existence is also nonexistence. But within nonexistence there is no existence.” It is all sophistry and does not stand up under scrutiny. Because of these speculations, which are empty sophistries, he will fall into externalism and become confused about the Bodhi nature. 6) Mười sáu thứ hữu tướng: The sixteen ways in which forms can exist after death—Lại có thiện nam, trong tam ma địa, chính tâm yên lặng kiên cố. Ma chẳng tìm được chỗ tiện, cùng tột căn bản của các loài sanh. Xem cái trạng thái u thanh, thường nhiễu động bản nguyên. Chỗ lưu vô tận, khởi so đo chấp trước. Người đó bị đọa vào điên đảo hữu tướng sau khi chết. Hoặc tự kiên cố thân, nói sắc là ngã, hoặc thấy ngã viên mãn, trùm khắp quốc độ. Nói ngã có sắc. Hoặc kia tiền cảnh duyên theo ngã ứng dụng. Nói sắc thuộc ngã. Hoặc ngã nương ở trong cái hành tướng tương tục, nói ngã ở sắc. Đều so đo chấp trước rằng sau khi chết có tướng. Như vậy xoay vần có mưới sáu tướng. Từ ấy hoặc chấp rằng rốt ráo phiền não, rốt ráo Bồ Đề, hai tính cách đều đi đôi, chẳng có xúc ngại nhau. Vì so đo chấp trước sau khi chết rồi có tướng, đọa lạc ngoại đạo, mê lầm tính Bồ Đề—Further, in his practice of samadhi, the good person's mind is firm, unmoving and proper and can no longer be disturbed be demons. He can thoroughly investigate the origin of all categories of beings and contemplate the source of the subtle, fleeting and constant fluctuation. But if he begins to speculate the endless flow, he could fall into error with the confused ideas that forms exist after death. He may strongly identify with his body and say that form is himself; or he may see himself as perfectly encompassing all worlds and say that he contains form; or he may perceive all external conditions as contingent upon himself and say that form belongs to him; or he may decide that he relies on the continuity of the formations skandha and say that he is within form. In all these speculations, he says that forms exist after death. Expanding the idea, he comes up with sixteen cases of the existence of forms. 7) Tám thứ vô tướng: Eight ideas about nonexistence of forms—Lại các thiện nam, trong tam ma địa, chính tâm yên lặng kiên cố. Ma chẳng tìm được chỗ tiện. Cùng tột căn bản của các loài sinh. Xem cái trạng thái u thanh, thường nhiễu động bản nguyên. Trong chỗ diệt trừ sắc, thụ, tưởng, khởi so đo chấp trước, sau khi chết đọa vào vô tướng điên đảo. Thấy sắc diệt, hình không sở nhân. Xem tưởng diệt, tâm không chỗ buộc. Biết cái thụ diệt, không còn nối liền. Tính ấm tiêu tan, dù có sinh lý, mà không thụ tưởng, đồng như cây cỏ. Cái chất ấy hiện tiền, còn không thể được, huống là khi chết mà lại còn các tướng? Nhân đó so đo, sau khi chết, tướng không có, như vậy xoay vần, có tám vô tướng. Từ đó cho rằng: niết bàn, nhân quả, tất cả đều không, chỉ có danh từ, hoàn toàn đoạn diệt. Vì so đo chấp trước sau khi chết, đọa lạc ngoại đạo, mê lầm tính Bồ Đề—Further, in his practice of samadhi, the good person's mind is firm, unmoving and proper, and can no longer be disturbed by demons. He can thoroughly investigate the origin of all categories of being and contemplate the source of the subtle, fleeting and constant fluctuation. But if he begins to speculate on the skandhas of form, feeling, and thinking, which have already ended, he could fall into error with the confused idea that forms do not exist after death. Seeing that his form is gone, his physical shape seems to lack a cause. As he contemplates the absence of thought, there is nothing to which his mind can become attached. Knowing that his feelings are gone, he has no further involvements. Those skandhas have vanished. Although there is still some coming into being, there is no feeling or thought, and he concludes that he is like grass or wood. Since those qualities do not exist at present, how can there be any existence of fors after death? Because of his examinations and comparisons, he decides that after death there is no existence. Expanding the idea, he comes up with eight cases of the nonexistence of forms. From that, he may speculate that Nirvana and cause and effect are all empty, that they are mere names and ultimately do not exist. Because of those speculations that forms do not exist after death, he will fall into externalism and become confused about the Bodhi nature. 8) Tám phủ định: Eight kinds of negation—Lại các thiện nam, trong tam ma địa, chính tâm yên lặng kiên cố. Ma chẳng tìm được chỗ tiện. Cùng tột căn bản của các loài sinh. Xem cái trạng thái u thanh, thường nhiễu động bản nguyên. Đối trong hành ấm còn, , và thụ tường diệt, chấp cả có và không, tự thể phá nhau. Sau khi chết ngưới ấy đọa vào luận Cu-Phi, khởi điên đảo. Trong sắc, thụ, tưởng, thấy có và chẳng phải có. Trong cái hành ấm thiên lưu, xem không và chẳng không. Như vậy xoay vần cùng tột ngũ ấm, 18 giới. Tám cái tướng cu-phi, hễ theo được một cái đều nói: “chết rồi có tướng không tướng.” Lại chấp rằng các hành tính chất hay dời đổi, tâm phát ra thông ngộ, có không đều không, hư thật lầm lỗi. Vì so đo chấp trước chết rồi đều không, hậu lai mời mịt, không thể nói được, đọa lạc ngoại đạo, mê lầm tính Bồ Đề—Further, in his practice of samadhi, the good person's mind is firm, unmoving and proper and can no longer be disturbed by demons. He can thoroughly investigate the origin of all categories of beings and contemplate the source of the subtle, fleeting and constant fluctuation. In this state where the skandha of formation remains, but the skandhas of feeling and thinking are gone, if he begins to speculate that there are both existence and nonexistence, thus contradicting himself, he could fall into error with confused theories that deny both existence and nonexistence after death. Regarding form, feeling and thinking, he sees that existence is not really existence. Within the flow of the formations skandha, he sees that that nonexistence is not really nonexistence. Considering back and forth in this way, he thoroughly investigates the realms of these skandhas and derives an eightfold negation of forms. No matter which skandha is mentioned, he says that after death, it neither exists nor does not exist. Further, because he speculates that all formations are changing in nature, an “insight” flashes through his mind, leading him to deny both existence and nonexistence. He cannot determine what is unreal and what is real. Because of these speculations that deny both existence and nonexistence after death, the future is murky to him and he cannot say anything about it. Therefore, he will fall into externalism and become confused about the Bodhi nature. 9) Bảy chỗ đoạn diệt: Seven theories on the cessation of existence—Lại các thiện nam, trong tam ma địa, chính tâm yên lặng kiên cố. Ma chẳng tìm được chỗ tiện. Cùng tột căn bản của các loài sinh. Xem cái trạng thái u thanh, thường nhiễu động bản nguyên. Đối về sau không có, khởi so đo chấp trước. Người đó bị đọa vào luận bảy thứ đoạn diệt. Hoặc chấp cái thân mất, hoặc cái dục diệt tận, hoặc cái khổ mất, hoặc cực lạc mất, hoặc cực xả mất. Như vậy xoay vần cùng tột bảy chỗ hiện tiền tiêu diệt, mất rồi không còn nữa. Vì so đo chấp trước chết rồi đoạn diệt, nên đọa lạc ngoại đạo, mê lầm tính Bồ Đề—Further, in his practice of samadhi, the good person's mind is firm, unmoving and proper and can no longer be distrubed by demons. He can thoroughly investigate the origin of all categories of beings and contemplate the source of the subtle, fleeting, and constant fluctuation. But if he begins to speculate that there ie no existence after death, he could fall into error with seven theories of the cessation of existence. He may speculate that the body will cease to exist; or that when desire has ended, there is cessation of existence; or that after suffering has ended, there is cessation of existence; or that when bliss reaches an ultimate point, there is cessation of existence; or that when renunciation reaches an ultimate point, there is cessation of existence. Considering back and forth in this way, he exhaustively investigates the limits of the seven states and sees that they have already ceased to be and will not exist again. Because of these speculations that existence ceases after death, he will fall into externalism and become confused about the Bodhi nature. 10) Năm Niết Bàn: Five kinds of immediate Nirvana—See Ngũ Niết Bàn. • Thập Hạnh: Ten necessary activities or practices of a Bodhisattva—See Thập Hạnh Bố Tát.

thập hạnh

Quá trình tu chứng của giáo môn từ ngôi Sơ hạnh đến ngôi Thập hạnh, thuộc giai đoạn thứ nhì của Tam Hiền. ; (十行) I. Thập Hạnh. Cũng gọi Thập hạnh tâm. Chỉ cho 10 hạnh tu lợi người từ giai vị 21 đến giai vị 30 trong 52 giai vị tu hành của Bồ tát. Đó là: 1. Hoan hỉ hạnh: Bồ tát dùng vô lượng diệu đức của Như lai để tùy thuận 10 phương. 2. Nhiêu ích hạnh: Bồ tát khéo làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. 3. Vô sân hận hạnh: Bồ tát tu hạnh nhịn nhục, không tức giận, khiêm nhường cung kính, không hại mình hại người, đối với oán địch thường nín nhịn. 4. Vô tận hạnh(cũng gọi Vô khuất nhiễu hạnh): Bồ tát tu hạnh tinh tiến, phát tâm độ tất cả chúng sinh, đến đại Niết bàn, không biếng nhác, xao lãng. 5. Li si loạn hạnh: Bồ tát thường trụ trong chính niệm không tán loạn, đối với tất cả pháp không si loạn. 6. Thiện hiện hạnh: Bồ tát biết rõ pháp không, 3 nghiệp vắng lặng, không trói buộc, không tham đắm, nhưng cũng không bỏ việc giáo hóa chúng sinh. 7. Vô trước hạnh: Trải qua vô lượng kiếp cúng Phật cầu pháp, tâm không chán đủ, nhưng cũng dùng tâm vắng lặng quán xét các pháp, cho nên không đắm trước tất cả pháp. 8. Tôn trọng hạnh: Bồ tát tôn trọng thiện căn trí tuệ... thảy đều thành tựu, nhờ đó lại càng tiến tu hạnh lợi mình lợi người. 9. Thiện pháp hạnh: Bồ tát chứng được 4 môn Đà la ni vô ngại, thành tựu các thiện pháp giáo hóa người khác để hộ trì chính pháp, làm cho hạt giống Phật không bị dứt mất.10. Chân thực hạnh: Bồ tát thành tựu lời nói Đệ nhất nghĩa đế, nói đúng như việc làm, làm đúng như lời nói, nói và làm phù hợp nhau, sắc tâm đều thuận. Tu thập hạnh có 4 mục đích: 1. Nhàm chán các pháp hữu vi. 2. Cầu đạo Bồ đề, đầy đủ Phật đức. 3. Muốn cứu độ chúng sinh trong đời hiện tại và ở đời vị lai. 4. Cầu thực tế, chứng pháp như. Ngoài ra, về việc Bồ tát tu 10 hạnh này ở giai vị nào, thì trong các kinh luận có thuyết cho rằng 1 trong 3 Hiền vị, có thuyết cho là Tính chủng tính trong 6 chủng tính, lại có thuyết cho là Tư lương vị trong 5 vị... [X. phẩm Thập hạnh trong kinh Hoa nghiêm Q.11 (bản dịch cũ); kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.8; Đại thừa nghĩa chương quyển Q.14; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2]. II. Thập Hạnh. Chỉ cho 10 hạnh tu của Bồ tát đó là: 1. Tín: Kính tin Phật, Pháp. 2. Bi: Trừ diệt khổ đau cho chúng sinh. 3. Từ: Ban vui cho chúng sinh, đối với các chúng sinh khởi chúng sinh duyên, biết chúng sinh không có thực thể, không tự tính mà khởi pháp duyên, quán xét 5 uẩn là không mà khởi vô duyên. 4. Xả: Bên trong xả bỏ thân mệnh, bên ngoài xả bỏ tài vật để bố thí, giúp chúng sinh an tâm. 5. Bất bì quyện: Bồ tát tu hành các hạnh thế gian, xuất thế không biết mỏi mệt. 6. Tri kinh thư: Bồ tát biết rõ 5 môn học (Ngũ minh). 7. Tri thế trí: Bồ tát hiểu biết ý nghĩa của các việc thực tế ở thế gian. 8. Tàm quí: Đối với tội lỗi sinh tâm thẹn hổ. 9. Kiên cố lực: Bồ tát có năng lực bền vững, giữ gìn Phật đạo, khôngđể lui sụt. 10. Cúng dường: Bồ tát cúng dường chư Phật và tu hành đúng theo lời dạy của Phật.[X. kinh Hoa nghiêm Q.23 (bản dịch cũ); kinh Bồ tát địa trì Q.3,7; Thập địa kinh luận Q.3]. III. Thập Hạnh. Chỉ cho 10 hạnh bao nhiếp các thiện pháp. Đó là: 1. Từ bi hạnh(không giết hại). 2. Thiểu dục hạnh(không trộm cướp). 3. Tịnh phạm hạnh(không tà dâm). 4. Đế ngữ hạnh(không nói dối). 5. Minh tuệ hạnh(không uống rượu). 6. Hộ pháp hạnh(không nói lỗi của người khác). 7. Tức ác suy thiện hạnh (không khen mình chê người). 8. Tài pháp câu thí hạnh(không bỏn xẻn chính pháp và tài vật). 9. Nhẫn nhục hạnh(không tức giận). 10. Tán thán Tam bảo hạnh(khen ngợi Tam bảo). [X. Thiền giới thiên]. IV. Thập Hạnh. Chỉ cho 10 hạnh ác do 3 nghiệp thân, khẩu, ý tạo ra, gọi là Thập ác. (xt. Thập Thiện Thập Ác).

thập hạnh bồ tát

Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật đã nhắc nhở ngài A Nan về mười hạnh cần thiết của Bồ Tát—In the Surangama Sutra, the Buddha reminded Ananda about the ten necessary activities, or practices of a Bodhisattva: 1) Hoan hỷ hạnh: The conduct of happiness • Hạnh hoan hỷ tùy thuận mười phương—The practice of joyful service, or giving joy. • Đức Phật nói với A Nan: “Ông A Nan! Người thiện nam đó thành Phật tử rồi, đầy đủ diệu đức của vô lượng Như Lai. Tùy thuận mười phương chúng sanh để ban bố đức mầu. Đó gọi là hoan hỷ hạnh—The Buddha told Ananda: “Ananda! After these good men have become sons of the Buddha, they are replete with the limitlessly many wonderful virtues of the Thus Come Ones, and they comply and accord with beings throughout the ten directions. This is called the conduct of happiness.” 2) Nhiêu ích hạnh: The conduct of benefitting. • Hạnh làm lợi ích cho tha nhân, hay thường làm việc lợi ích cho tất cả chúng sanh—The practice of beneficial service, or beneficial practice. • Đức Phật bảo ngài A Nan: “Khôn khéo có thể lợi ích tất cả chúng sanh gọi là nhiêu ích hạnh.”—The Buddha told Ananda: “Being well able to accommodate all living beings is called the conduct of benefitting.” 3) Vô sân hận hạnh: The conduct of non-opposition. • Nết hạnh không giận hờn; tự giác ngộ cho mình, giác ngộ cho người, chẳng trái nghịch—The practice of never resenting, or non-opposition. • Đức Phật bảo ngài A Nan: “Tự giác, giác tha được khỏi chống trái, gọi là vô sân hận hành.”—The Buddha told Ananda: “Enlightening oneself and enlightening others without putting forth any resistence is called the conduct of non-opposition.” 4) Vô tận hạnh: The conduct of endlessness. • Làm việc lợi tha vô tận (tùy cơ loại của chúng sanh mà hiện cái thân mình để cứu độ chúng sanh mãi mãi)—The practice of indomitability, or without limit in helping others. • Đức Phật bảo ngài A Nan: “Xuất sinh chủng nầy, loại khác, cho đến mãi mãi trong tương lai. Bình đẳng với ba đời, thông đạt mười phương, gọi là vô tận hạnh.”—The Buddha told Ananda: “To undergo birth in various forms continuously to the bounds of the future, equally throughout the three periods of time and pervading the ten directions is called the conduct of endlessness.” 5) Ly si loạn hạnh: The conduct of freedom from deluded confusion. • Lìa khỏi tánh ngu si, rối loạn—The practice of nonconfusion. • Đức Phật bảo A Nan: “Tất cả hợp đồng các pháp môn, được không sai lầm gọi là ly si loạn hạnh.”—The Buddha told Ananda: “When everything is equally in accord, one never makes mistakes among the various dharma doors. This is called the conduct of freedom from deluded confusion.” 6) Thiện hiện hạnh: The conduct of wholesome manifestation. • Nết hạnh khéo hiện, nhờ rời khỏi tánh ngu si mê loạn mà có thể hiện ra các tướng ở trong đồng loại để cứu độ họ—The practice of good manifestation, or appearing in any form at will to save sentient beings. • Đức Phật bảo ngài A Nan: “Trong chỗ 'đồng' đó, hiện ra các 'dị.' Mỗi mỗi tướng dị, đều thấy đồng. Đó gọi là thiện hiện hành.”—The Buddha told Ananda: “Then within what is identical, myriad differences appear; the characteristics of every difference are seen, one and all, in identity. This is called the conduct of wholesome manifestation.” 7) Vô trước hạnh: The conduct of non-attachment. • Nết hạnh không chấp trước, nghĩa là ở trong cõi trần mà chẳng bị nhiễm trước—The practice of nonattachment, or unimpeded practice. • Đức Phật bảo ngài A Nan: “Như vậy cho đến mười phương hư không đầy vi trần, trong mỗi vi trần hiện mười phương thế giới. Hiện vi trần, hiện thế giới, mà chẳng lưu ngại nhau. Đây gọi là vô trước hạnh.”—The Buddha told Ananda: “This continues until it includes all the dust motes that fill up empty space throughout the ten directions. In each and every mote of dust there appear the worlds of the ten directions. And yet the appearance of worlds do not interfere with one another. This is called the conduct of non-attachment.” 8) Tôn trọng hạnh: The conduct of veneration. • Còn gọi là “Nan Đắc Hạnh.” Nết hạnh tôn trọng Bát Nhã—The practice of exalting the paramitas amongst all beings, or the practice of that which is difficult to attain. • Đức Phật bảo ngài A Nan: “Các thứ biến hiện đều là đệ nhất ba la mật đa, đó gọi là tôn trọng hành.”—The Buddha told Ananda: “Everything that appears before one is the foremost paramita. This is called the conduct of veneration.” 9) Thiện pháp hạnh: The conduct of wholesome Dharma. • Nết hạnh phép lành, đức viên dung để làm thành quy tắc của chư Phật mười phương—The practice of good teaching, or perfecting the Buddha-law by complete virtue. • Đức Phật bảo ngài A Nan: “Như vậy viên dung, có thể thành tựu quy tắc của các Đức Phật mười phương, đó gọi là thiện pháp hành.”—The Buddha told Ananda: “With such perfect fusion, one can model oneself after all the Buddhas of the ten directions. This is called the conduct of wholesome dharma.” 10) Chơn thật hạnh: The conduct of true actuality. • Nết hạnh chơn thật của vạn hữu đều hiện ra trong giai đoạn nầy—The practice of truth, or manifest in all things the pure, final and true reality. • Đức Phật bảo ngài A Nan: “Mỗi mỗi đều thanh tịnh, không mê lậu. Nhất chân vô vi, tính bản nhiên. Đó gọi là chân thật hạnh.”—The Buddha told Ananda: “To then be pure and without outflows in each and every way is the primary truth, which is unconditioned, the essence of the nature. This is called the conduct of true actuality.”

thập hạnh nguyện phổ hiền

Ten vows of conduct of Samantabhadra Bodhisattva—See Phổ Hiền Hạnh Nguyện, and Kinh Hoa Nghiêm Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện in Appendix A.

thập hạnh phổ hiền

Samantabhadra's Ten Practices—See Phổ Hiền Hạnh Nguyện.

thập hạnh tiên

(十行仙) Cũng gọi Thập chủng tiên. Chỉ cho 10 loại tiên nhân, đó là: 1. Địa hành tiên: Các tiên nhân sống trên mặt đất, chỉ ăn các thứ hạt của cây cỏ. 2. Phi hành tiên: Các tiên nhân ăn tùng, bách... vì cỏ cây nhẹ nên thân thể cũng nhẹ, bay đi trong hư không mà không rơi xuống đất. 3. Du hành tiên: Các tiên nhân uống đan sa liên tiếp nên hóa cốt, sống lâu, thân thể cứng chắc; lại có khả năng chuyển hóa vật, khiến nghèo hèn thành giàu sang, tự tại dong chơi trong nhân gian để giáo hóa mọi người. 4. Không hành tiên: Các tiên nhân rèn luyện mọi cử chỉ hành vi không ngừng, có khả năng lướt đi trong hư không, tinh khí viên thành. 5. Thiên hành tiên: Các tiên nhân khuấy ao trời uống thần dịch, giữ chắc tinh hoa, lâu năm thành tựu thì lìa được nhân dục(lòng ham muốn của loài người). 6. Thông hành tiên: Hớp tinh khí của mặt trời, mặt trăng, nhờ công phu lâu ngày phát ra linh tri, biết suốt tình ý của chúng sinh.7. Đạo hành tiên: Tu luyện chú thuật không ngừng, nhờ đó pháp thuật viên thành. 8. Chiếu hành tiên: Chuyên tâm tưởng niệm không ngừng, cho nên phát ra dụng mà chiếu sáng cảnh giới. 9. Tinh hành tiên: Chuyên hành giao cấu(thuật lấy âm bỏ dương) không ngừng, người này cảm người kia ứng, hút tinh khí của người kia để làm cho mình cứng chắc. 10. Tuyệt hành tiên: Tâm chuyên nghĩ việc biến hóa cây đá, cho nên thân như cây khô, dứt hẳn công dụng hữu vi. [X. kinh Thủ lăng nghiêm Q.8; Đại minh tam tạng pháp số Q.43].

thập hải

Ten oceans—See Mười Thứ Hải Của Chư Đại Bồ Tát. ; (十海) I. Thập Hải. Chỉ cho 10 cảnh giới mà đức Phật khai ngộ, rộng lớn vô biên như biển cả khó suy lường được nên dùng biển(hải) để ví dụ.Cứ theo phẩm Lô xá na Phật trong kinh Hoa nghiêm quyển 2 (bản dịch cũ) thì Thập hải là: 1. Thế giới hải: Nơi đức Phật giáo hóa. 2. Chúng sinh hải: Chúng sinh được giáo hóa. 3. Pháp giới phương tiện hải: Pháp giới này có 4 nghĩa: Lí tính(bản tính chân thực xưa nay vốn sẵn có), nhiễm sự(các hiện tượng mê), li cấu(lìa các phiền não) và tịnh dụng (tác dụng của bồ đề thanh tịnh). 4. Điều phục hải: Căn dục của chúng sinh được Phật điều phục. 5. Phật hải: Người chủ của việc giáo hóa nhiều vô lượng, thuyết pháp khắp nơi. 6. Ba la mật hải: Phương pháp thực hành do đức Phật nói và hành vi thực hành của Ngài. 7. Pháp môn hải: Giáo pháp do Phật chỉ dạy và pháp do Phật tu hành chứng ngộ.8. Hóa thân hải: Những hình tướng mà Phật biến hiện tùy theo đối tượng giáo hóa.9. Phật danh hiệu hải: Tùy theo đối tượng mà thị hiện các danh hiệu. 10. Phật thọ lượng hải: Tùy theo đối tượng mà Phật thị hiện thọ lượng dài, ngắn tự tại. Trong kinh Hoa nghiêm quyển 3 (bản dịch cũ) cũng có thuyết Ngũ hải thập trí, nhưng tên hơi khác với phẩm Như lai hiện tướng trong kinh Hoa nghiêm quyển 6 (bản dịch mới). [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3].II. Thập Hải. Chỉ cho 10 đức nhân của Bồ tát sâu rộng như biển nói trong kinh Hoa nghiêm quyển 6 (bản dịch mới). Đó là: 1. Nhất thiết bồ tát thệ nguyện hải: Biển thệ nguyện của tất cả Bồ tát. 2. Nhất thiết bồ tát phát thú hải: Biển phát thú của tất cả Bồ tát. 3. Nhất thiết bồ tát trợ đạo hải: Biển trợ đạo của tất cả Bồ tát. 4. Nhất thiết bồ tát thừa hải: Biển pháp môn của tất cả Bồ tát. 5. Nhất thiết bồ tát hạnh hải: Biển hạnh của tất cả Bồ tát. 6. Nhất thiết bồ tát xuất li hải: Biển xuất li của tất cả Bồ tát. 7. Nhất thiết bồ tát thần thông hải: Biển thần thông của tất cả Bồ tát. 8. Nhất thiết bồ tát ba la mật hải: Biển ba la mật của tất cả Bồ tát. 9. Nhất thiết bồ tát địa hải: Biển địa của tất cả Bồ tát. 10. Nhất thiết bồ tát trí hải: Biển trí của tất cả Bồ tát.

Thập Hắc Nghiệp Đạo

(十黑業道): xem Thập Ác (十惡) bên trên.

thập hệ phược

Ten bonds—See Mười Điều Ràng Buộc.

thập hồi hướng

Quá trình tu chứng của giáo môn từ ngôi Sơ hồi hướng đến ngôi Thập hồi hướng, thuộc giai đoạn thứ ba của Tam Hiền. ; Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật đã nhắc nhở ngài A Nan về thập hồi hướng như sau—In the Surangama Sutra, book Eight, the Buddha reminded Ananda about the ten transferences as follows: 1) Cứu hộ nhất thiết chúng sanh, ly chúng sanh hồi hướng: Transference apart from appearances—Người thiện nam đó, đã mãn túc thần thông, thành Phật sự rồi, thuần khiến tinh chân, xa lìa các lưu hoạn. Nên độ chúng sanh, diệt trừ tướng độ, xoay tâm vô vi đến đường Niết Bàn. Đó gọi là cứu hộ nhất thiết chúng sanh, ly chúng sanh tướng hồi hướng—When these good persons replete with spiritual penetrations, have done the Buddhas' work, are totally pure and absolutely true, and remain distant from obstacles and calamities, then they take living beings across while casting aside the appearance of taking them across. They transform the unconditioned mind and go toward the path of nirvana. This is called the transference of saving and protecting living beings, while apart from the appearance of living beings. 2) Bất hoại hồi hướng: Transference of indestructibility—Bỏ cái đáng bỏ, xa lìa cái đáng xa lìa, gọi là bất hoại hồi hướng—To destroy what should be destroyed and to remain what should be behind is called the transference of indestructibility. 3) Đẳng nhất thiết Phật hồi hướng: Transference of sameness with all Buddhas—Bản giác trạm nhiên, giác trí đã đồng ngang với chư Phật—Fundamental enlightenment is profound indeed, an enlightenment equal to the Buddhas's enlightenment. 4) Trí nhất thiết xứ hồi hướng: Transference of reaching all places—Tinh chân phát minh, địa vị đồng với địa vị của chư Phật—When absolute truth is discovered, one's level is the same as the level of all Buddhas. 5) Vô tận công đức tạng hồi hướng: Transference of the treasury of inexhaustible merit and virtue—Thế giới và Như Lai xen vào nhau được không chướng ngại—Worlds and Thus Come Ones include one another without any obstruction. 6) Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng: Transference of the identity of all good roots—Đối với đồng Phật địa, trong địa vị đều sinh nhân thanh tịnh. Nương theo nhân ấy phát huy để lấy đạo Niết Bàn—Since they are identical with the Buddha-ground, they create causes which are pure at each and every level. Brilliance emanates from them as they rely on these causes, and they go straight down the path to Nirvana. 7) Tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sanh hồi hướng: Transference of contemplating all living beings equally—Chân căn đã thành, mười phương chúng sanh đều là bản tánh của ta. Tính viên mãn thành tựu, chẳng sót mất chúng sanh—When the true roots are set down, then all living beings in the ten directions are my own nature. Not a single being is lost, as this nature is successfully perfected. 8) Chân như tướng hồi hướng: Transference of the appearance of True Suchness—Tức tất cả pháp xa lìa hết thảy tướng. Tức và ly, hai cái đều không mắc—All dharmas are themselves apart from all appearances, and yet there is no attachment either to their existence or to separation from them. 9) Vô phược giải thoát hồi hướng: Transference of liberation—Được chân như mười phương không ngăn ngại—That which is thus is truly obtained, and thee is no obstruction throughout the ten directions. 10) Pháp giới vô lượng hồi hướng: Transference of limitlessness of the Dhama Realm—Tính đức đã thành tựu hoàn toàn, pháp giới không còn hạn lượng—When the virtue of the nature is perfectly accomplished, the boundaries of the dharma realm are destroyed. ** For more information, please see Ten kinds of Dedications expounded by the Buddhas of past, present and future (The Flower Adornment Sutra—Chapter 25—Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 25—Thập Hồi Hướng). ; (十回向) Cũng gọi Thập hồi hướng tâm. Gọi tắt: Thập hướng. Chỉ cho 10 giai vị, từ giai vị thứ 31 đến 40 trong 52 giai vị tu hành của Bồ tát: 1. Cứu hộ nhất thiết chúng sinh li chúng sinh tướng hồi hướng: Tức giai vị thực hành Lục độ, Tứ nhiếp, cứu hộ tất cả chúng sinh, kẻ oán, người thân đều bình đẳng. 2. Bất hoại hồi hướng: Giai vị đã có được niềm tin bất hoại đối với Tam bảo,hồi hướng căn lành này, khiến chúng sinh được lợi ích tốt đẹp. 3. Đẳng nhất thiết Phật hồi hướng: Giống như sự hồi hướng của chư Phật 3 đời, tu hành không đắm trước sinh tử, không lìa bỏ bồ đề. 4. Chí nhất thiết xứ hồi hướng: Đem các thiện căn đã tu được hồi hướng đến khắp tất cả các nơi từ Tam bảo cho đến chúng sinh để làm lợi ích cúng dường. 5. Vô tận công đức tạng hồi hướng: Tùy hỉ tất cả thiện căn vô tận, hồi hướng làm Phật sự để được vô tận công đức thiện căn.6. Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng: Hồi hướng các thiện căn đã tu, được Phật che chở, thành tựu tất cả căn lành bền vững. 7. Tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sinh hồi hướng: Tức nuôi lớn tất cả gốc lành để hồi hướng làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. 8. Như tướng hồi hướng: Thuận theo tướng chân như mà hồi hướng các thiện căn đã thành tựu. 9. Vô phược vô trước giải thoát hồi hướng: Tức đối với tất cả pháp không để bị vướng mắc, trói buộc, được tâm giải thoát, đem thiện pháp hồi hướng, thực hànhhạnhPhổ hiền, đầy đủ mọi đức. 10. Pháp giới vô lượng hồi hướng: Tức tu tập tất cả thiện căn vô tận, đem hồi hướng các thiện căn này để nguyện cầu vô lượng công đức trong pháp giới sai biệt.Hồi hướng hàm ý là dùng tâm đại bi cứu hộ tất cả chúng sinh. Thập hồi hướng thuộc về Giải hành trụ trong 13 Trụ, Tư lương vị trong 5 vị, 10 giai vị sau trong Tam hiền và Đạo chủng tính trong 6 Chủng tính. [X. kinh Hoa nghiêm Q.15-22 (bản dịch cũ); phẩm Thánh hiền danh tự trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5, thượng].

thập khoa

(十科) Bộ Tục cao tăng truyện 30 quyển, do ngài Đạo tuyên soạn vào đời Đường, được chia làm 10 khoa theo hạnh tu của các bậc cao tăng trong truyện. Đó là: 1. Phiên dịch: Phiên dịch tiếng Phạm ra chữ Hán, như ngài Bảo xướng đời Lương, ngài Bồ đề lưu chi đời Bắc Ngụy... 2. Giải nghĩa: Thấu hiểu ý nghĩa sâu xa trong các kinh do đức Phật giảng nói, như ngài Tăng mân, Tuệ trừng... đời Lương. 3. Tập thiền: Các vị chuyên tu tập thiền định, như ngài Đạo trân đời Lương, ngài Pháp sung đời Tùy... 4. Minh luật: Gồm các vị hiểu rõ ý nghĩa của giới luật do đức Phật chế định, như ngài Giác lãng đời Tùy, ngài Tuệ tiển đời Đường... 5. Cảm thông: Gồm các vị hiển hiện thần diệu cảm ứng, như Thiền sư Vạn tứ, Thiền sư Nguyên Khuê đời Đường. 6. Di thân: Gồm các vị trọng pháp quên mình, phát tâm mạnh mẽ, phấn chấn tinh tiến, một niềm cầu đạo, đến nổi bỏ thân mệnh cũng không tiếc, như các ngài Pháp khoáng, Đạo hưu... đời Đường. 7. Đọc tụng: Gồm các vị chuyên đọc tụng văn kinh để cầu diệt tội sinh phúc, hoặc cầu tâm địa mở tỏ, hiển phát trí tuệ, như ngài Thiện tuệ, Tuệ thuyên đời Đường. 8. Hộ pháp: Chỉ cho các vị phát đại nguyện giữ gìn Phật pháp truyền lại cho đời sau, mong cầu giáo pháp của đức Phật trường tồn. Như ngài Đàm vô tối đời Nguyên Ngụy, ngài Tăng mãnh đời Tùy... 9. Hưng phúc: Chỉ cho các vị chuyên tạo phúc lợi, như các ngài Trí thông, Tuệ vân... đời Đường. 10. Tạp khoa: Chỉ cho các vị gồm tu cả 9 khoa nói ở trên, lại nghiên cứu cả kinh sách thế gian, ngôn ngữ răn đời, lễ nhạc văn chương... đều thông hiểu, như ngài Tuệ thường đời Tùy, ngài Bảo nham đời Đường...